|
Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2025, 07:42:33 pm - Tên sách: Những năm sóng gió cuộc đời
- Tác giả: Trần Hiến - Nhà xuất bản: Công an nhân dân - Năm xuất bản: 2003 - Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian LỜI NHÀ XUẤT BẢN Nhà văn Lê Tri Kỷ khi viết dòng tựa cho một cuốn tiểu thuyết tình báo của mình: "Kính tặng những người đã chết không để lại tên, những người còn sống không muốn nêu tên", ông thấm thía lắm với số phận của những cán bộ cách mạng hoạt động trên mặt trận đặc biệt này. Nhà xuất bản Công an Nhân dân nhận bản thảo hồi ký của nhà tình báo Trần Hiến từ tay của bạn bè đồng đội ông. Chúng tôi rất trân trọng nghĩa tình đồng chí của họ. Những cán bộ lão thành, vào sinh ra tử vì tổ quốc, bây giờ tuổi cao sức yếu vẫn dành dụm trí lực, tiền bạc vào một việc "Cố gắng không để thế hệ sau quên hoặc không biết những con người như Trần Hiến". Trong quá trình biên tập sách chúng tôi rất cảm ơn sự giúp đỡ của Tổng cục II - Bộ Quốc phòng, Phòng Quân báo Quân khu 9 và Ban Liên lạc Tình nghĩa Quân báo Khu 8 và Phân liên khu Miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, các sự kiện xảy ra trong cuốn sách này đã gần nửa thế kỷ, sự nhớ của tác giả và đồng đội ông có thể có điểm chưa chính xác. Rất mong bạn đọc xa gần góp ý bổ sung. Xin trân trọng giời thiệu cùng bạn đọc. NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 03:00:03 pm LỜI GIỚI THIỆU Trong lịch sử kháng chiến lâu dài của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20 - dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ - đánh thắng hai kẻ thù đế quốc hùng mạnh nhất, giữ vững nền độc lập thống nhất tổ quốc, đã xuất hiện không biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hữu danh và vô danh, những người đã làm rạng rỡ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phần lớn những chiến công của anh hùng liệt sĩ vô danh ngành Tình báo Quân sự và Điệp báo Công an Nhân dân dù có Tổ quốc với ngành chủ quản biết và ghi nhận. Ngoài ra, họ chấp nhận hy sinh tất cả, bởi vì trước khi nhận nhiệm vụ họ đều nhận thức rất rõ họ là người chiến sĩ vô danh trong trận chiến thầm lặng này. Trong số chiến sĩ vô danh đó có anh Trần Hiến. Theo lời, anh kể trong hồi ký, anh sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông nội anh đã bị giặc Pháp giết hại trong phong trào nông dân biểu tình chống thuế ở Thừa Thiên - Huế năm 1908. Cha anh là một thầy giáo nghèo có khí tiết, nhưng chẳng may ông mất sớm vào năm 1927. Hơn mười tuổi anh đã mồ côi cha, và từ đó với vốn liếng mảnh bằng tiểu học, anh lăn lộn vào đời, làm đủ mọi nghề để kiếm sống cho bản thân và góp phần nuôi mẹ và em sống ở vùng quê nghèo cơ cực. Với trí thông minh, tinh thần ham học hỏi và giàu nghị lực, anh đã tự học thêm tiếng Pháp để sau này trở thành sĩ quan phiên dịch cho cơ quan tình báo (2e bureau) quân đội viễn chinh Pháp đóng ở Cần Thơ, khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta năm 1945. Và cũng chính ở Cần Thơ, anh tham gia cách mạng: ngành tình báo hoạt động trong lòng địch, lập được nhiều thành tích xuất sắc, phục vụ đắc lực cho lãnh đạo quân sự Miền Tây Nam bộ, giành thế chủ động chiến trường gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề nghiêm trọng. Với thành tích đó, anh được Tỉnh ủy Cần Thơ kết nạp Đảng ngay trong lúc anh còn đang hoạt động trong hàng ngũ địch. Rất tiếc, do bị lộ từ cơ sở khác, anh thoát ra vùng giải phóng trong một tình thế hết sức hiểm nghèo, tính mạng như "ngàn cân treo sợi tóc" trước mũi súng kẻ thù. Đọc "Những năm sóng gió cuộc đời" của anh Trần Hiến cũng như những ý kiến của đồng đội cũ nói về anh, tôi thật hết sức xúc động trước nhân cách một chiến sĩ tình báo trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng sản mà anh đã chọn cũng như trong quan hệ "đối nhân xử thế" với đồng chí đồng đội, với gia đình và nhân dân, kể cả số người trong hàng ngũ kẻ thù, trong những ngày kháng chiến gian khổ ở chiến trường Miền Tây Nam Bộ. Anh Trần Hiến nay đã đi xa, nhưng những điều anh nghĩ, những việc anh làm, anh đã ghi lại trung thực trong hồi ký, thật là những bài học đáng để chúng ta suy gẫm về công tác của người tình báo hoạt động âm thầm trong lòng địch. Là người hoạt động nhiều năm ở ngành tình báo - có lúc ở ngay trong hàng ngũ địch - tôi hết sức thông cảm những khó khăn nguy hiểm mà những chiến sĩ tình báo chúng ta phải vượt qua để giành chiến thắng có khi chỉ trong gang tấc, cũng như những hy sinh oanh liệt thầm lặng của họ, góp phần không nhỏ cho cuộc chiến thắng vĩ đại của dân tộc trong đại thắng mùa xuân lịch sử năm 1975. Họ không có tượng đồng bia đá, nhưng mãi mãi chiến công của họ Tổ quốc và dân tộc không bao giờ quên. Với lòng kính trọng người chiến sĩ Tình báo đã quá cố, tôi xin viết mấy lời như thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh Trần Hiến và xin trân trọng giới thiệu quyển hồi ký này với bạn đọc. Ngày 26 tháng 3 năm 2001 Thiếu tướng NGUYỄN VĂN KHIÊM (Sáu Trí) Nguyên Chỉ huy trưởng Đoàn J22, đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 03:01:58 pm (https://iili.io/q3KEqJ9.jpg) Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 03:07:42 pm CHƯƠNG 1 LÀNG KẺ LỪ - QUÊ TÔI Thuận Hóa - xứ sở quê tôi - là miền đất cũ của "hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm. Một gái thuyền quyên dễ mấy mươi". Đã có được ghi vào lịch sử từ đầu thế kỷ thứ 16. Làng Niêm Phò của tôi hiện nay là hợp tác xã Quảng Thọ, thuộc xã Quảng Thanh, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Con người ở Thuận Hóa thì: "Đàn ông khá kiên cường, đàn bà hơi mềm mại; Trai thì trọng đức, tài, lương, gái thì quý nết đoan trang kiệm cần". Đó là một vùng đất "Địa linh nhân kiệt". Quê hương tôi, không phải là "chùm khế ngọt", ít nhất là lúc tôi sinh ra và lớn lên. Khắp 400 hộ dân của làng nằm bên bờ sông Bồ, rải rác dài 1 km. Ngoài 6 nhà thờ các họ Trần, Nguyễn, Lê, Mai, Võ, Nguyễn, chỉ có 3 ngôi nhà ngói: bà Bát Liên, bà Tư Tố, ông Cửu Nĩ là những người có máu mặt, có đất ruộng cho lãnh canh thu tô, còn lại toàn là nhà tranh vách đất cả. Để sinh sông, cứ ba năm một lần lại quận cấp chia đất công cho mỗi tráng đinh (con trai đến tuổi 18) mỗi người 1 sào để canh tác. Trừ năm, ba nhà trung nông có trâu có cày, hầu hết phần đất quận cấp cho nông dân, nông dân lại giao cho địa chủ để trừ nợ chồng chất năm này sang năm khác để lãnh canh ngay trên phần ruộng của mình được cấp, lại vay thêm nợ mới, chờ đến ngày gặt, đong lúa trả nợ, không trả đủ lại làm giấy vay nữa. Cuộc sống của bần cố nông không có gì là ngon ngọt, mặc dù đất ruộng làng tôi được phân loại là "thượng đẳng điền" lúc đóng thuế! Nhà tôi nghèo không biết tự đời nào. Mẹ tôi lấy cha tôi vì thương anh học trò khó. Ngoại tôi chỉ có mẹ tôi là con một. Lúc lấy chồng, ngoại tôi cho mẹ tôi một miếng đất không đầy 10 thước thổ (khoảng 2/3 sào Bắc bộ). Trên mảnh đất nho nhỏ ấy cha tôi cất một mái nhà tranh, ban đầu cũng 3 gian hai chái, các năm sau không đủ tiền lợp nhà, thu gọn lại còn 3 gian. Quanh nhà, phía trước có một gốc khế chua, cây bưởi the và bụi tầm vông cạnh ngõ. Phía sau là giây mướp đắng, vài bụi chuối chát. Ngoài ra còn một gốc mai vàng và dăm bụi chè xanh mà mẹ tôi không ngừng chăm sóc nâng niu vì là sở thích của cha tôi. Hương vị không có gì là ngọt ngào, béo bở, màu sắc chẳng có gì rực rỡ, phô trương, nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi, vì đó là hương vị quê hương. Chảy ngang trước làng tôi có con sông Bồ, một nhánh của sông Hương, khiêm tốn góp phần đổ nước ra Ngã ba Đình, để dồn ra cửa Thuận An, phá Tam Giang, trước khi hòa vào biển cả. Nhờ vậy con sông Bồ nước ngọt quanh năm, vừa cung cấp nước uống, tắm giặt và tưới mát cho ruộng vườn, không cần đào giếng, khơi ao. Cha tôi thường hay lên nguồn đốn củi và kiếm thuốc, đã nói với tôi "Nước sông Bồ chẳng những ngọt mà còn trong lành; bởi vì tận nguồn có mọc cây Xương bồ (Thạch xương bồ là một vị thuốc quí). Tôi chưa có dịp nào kiểm tra lại, nhưng vẫn tin chất nước sông Bồ là ngon lành thật. Vị ngọt của nước sông Bồ đã đọng lại trong người dân Kẻ Lừ, có lẽ suốt đời không quên được. Năm 1958, chuyện trò về quê hương, anh Vịnh tức Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tâm sự: "Sau nầy đánh xong giặc, mình chỉ muốn về nhà làm ruộng, không gì sướng bằng trưa nắng, cuốc đất xong, lau ráo mồ hôi, cùng nhau xuống Bến Chùa, leo cây dừa, nhảy xuống sông tắm một cái cho đã!" tình cảm quê hương lắng trong tim một vị danh tướng... Trong bối cảnh lịch sử ấy, tôi sinh ra (nghe bà Bô Hán kể lại) ngày 12/11 năm Ất Mão (1915). Cha tôi là Trần Cảnh, một nhà nho ngheo, làm thầy giáo "dạy quốc ngữ" đầu tiên ở trường làng lúc bấy giờ gọi là Học xá (nằm ngay đầu cầu Thanh Hữu phía bắc hiện nay). Mẹ tôi là Nguyễn Thị Khuy, chị Hai tôi là Nguyễn Thị Cháu (gọi là Cháu chị), chị Ba tôi là Nguyễn Thị Don (gọi là Cháu em), em Út tôi là Nguyễn Thị Hợi. Ngoài ra, trên tôi còn có hai người anh đã chết lúc tôi còn bé. Tôi không biết tên, vì vậy, tôi là đứa con trai "thúi háy" duy nhất của gia đình, nên được nuông chiều nhiều nhất. Mẹ tôi, các chị tôi nhường nhịn cơm để tôi ăn. Tôi cũng đã biết điều đó lúc lên tám, lên mười và cảm nhận tình thương đó đến suốt đời. Năm 1979, nghỉ hưu, tôi về thăm quê, cha mẹ, chị Hai tôi không còn nữa. Chị Ba tôi còn sống, nhưng tuổi đã bảy mươi, vẫn thức suốt đêm và quạt muỗi cho tôi ngủ như hồi còn tấm bé. Cha tôi thường dạy tôi: "Gia bần tri hiếu tử" (Nhà nghèo mới biết con hiếu thảo). Nay tôi còn hiểu rộng ra: "Nhà nghèo mới biết rõ tình chị thương em, anh em ruột thịt càng yêu mến nhau hơn". Từ tuổi thiếu nhi, bên cạnh tình thương gia đình, tình thương làng xóm cũng để lại trong lòng tôi nhiều tình cảm khó phai. Tôi nhớ năm 1928, cha tôi mất, mẹ tôi, chị tôi phải chạy từng loong gạo cuối cùng để cho cả hai gia đình cùng có cháo ăn đỡ đói. Cô É, người bà con bên ngoại cho mượn nồi để dành cho cả khoanh cơm hông trong nồi, và còn nhiều bà con khác cho củ nưa, củ khoai ăn qua bữa. Tình nghĩa xóm làng đã dạy cho tôi tình nghĩa đồng bào, "lá lành đùm lá rách" như một bài học về đạo lý ở đời. Dân Kẻ Lừ chúng tôi là tấm gương nhỏ phản chiếu lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam, từ Bắc chí Nam: Nghèo tiền tài nhưng vẫn giàu nhân nghĩa, vì vậy, rất nhạy cảm với phong trào cách mạng. Một trong những phong trào Cách mạng của Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng gắn liền với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, là phong trào chống sưu cao, thuế nặng năm 1908 mà đỉnh cao là cuộc biểu tình của nông dân sáu huyện Thừa Thiên, kéo đến trước Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, ngày 9/3 âm lịch năm 1908. Bác Hồ lúc đó là cậu học sinh Nguyễn Tất Thành 18 tuổi, ở trường Quốc học, đứng lên phiên dịch yêu sách của nông dân cho viên Khâm sứ Pháp biết. Cuộc biểu tình của nông dân Thừa Thiên bị thực dân đàn áp dã man. Cậu học sinh Nguyễn Tất Thành bị đuổi ra khỏi trường. Ông nội tôi là Trần Tín, tham gia biểu tình đã mất tích từ ngày ấy... Tôi còn nhỏ, đến ngày tảo mộ cuối năm, không thấy mả ông nội, hỏi mẹ tôi, mẹ tôi kể: Ông nội chết từ lúc mẹ chưa sinh ra con. Ngày đó, có cậu ấm Mộng cỡi con ngựa tía về các làng rủ dân làng đi kêu giảm thuế. Dân làng mình cử ra hai người: Ông nội tôi và ông Trùm ở Xóm Đình. Hai người kéo nhau đi, nhưng lúc về chỉ còn có một ông Trùm. Cha tôi đi kiếm xác 3 ngày không gặp, từ đó lấy ngày 13/3 Âm lịch là ngày giỗ kỵ ông nội tôi. Mẹ tôi nói: "Dân làng có hẹn: Rủi ai chết thì dân làng lập miễu thờ. Nhưng có ai dám mô?". Tôi không dám hỏi cha tôi, vì cha tôi nghiêm nghị, hiền nhưng ít nói, từ khi bỏ dạy học trường công, cắt tóc ngắn, cắt móng tay, đi làm ruộng thì lầm lì suốt ngày, không nói, chỉ để dành buổi chiều dạy học cho trẻ em nghèo lối xóm biết thêm chữ quốc ngữ, dạy thêm chữ nho cho lớp học sinh lớn tuổi, bắt mạch hốt thuốc cho người nghèo không lấy tiền, gọi là cứu nhẤn Độ thế, để đức lại cho con cháu. Khi nào buồn chỉ biết mê bạn trong hội "Tư Văn" uống rượu làm thơ để tỏ chí hướng. Ngày 9/3 Âm lịch, tức là ngày 10/4/1998 trở thành ngày giỗ ông nội tôi, mở đầu cho truyền thống yêu nước, thương nòi của gia đình tôi. Và, mong con cháu sau này ghi nhớ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 03:09:15 pm Cha tôi mất sớm, lại ít nói về mình, nên tôi không hiểu lắm qua việc làm và quan hệ, giao thiệp hằng ngày, mẹ tôi kể lại tôi mới biết đôi chút.
Cha tôi sanh năm Ngọ (1876). Là học trò nghèo, thi nhiều lần không đỗ, trở về dạy học trường làng, lúc đầu dạy chữ nho, sau dạy chữ quốc ngữ cho con em nhà nghèo trong xã, và các nơi lân cận. Còn tôi mỗi lần đi học ở trường về, cha tôi bảo tôi cùng ngồi học chung với môn đệ của cha. Ông không dạy riêng cho tôi điều gì cả. Những câu ông giảng theo sách chữ nho, đến nay tôi còn nhớ. Giảng về sử, ông nhắc đi nhắc lại: "Tổ tiên ta là họ Hồng Bàng" (Hồng Bàng thị, tương truyền Thập bát thế, ghi xưng Hùng Vương). Để chống lại môn sử của Pháp dạy ta: "Nos ancêtres sont les Gaulois" (Tổ tiên chúng ta là người Gôloa). Giảng về động cơ học tập, ông nói: "Học dĩ phá ngu, học dĩ thành nhân chi mỹ" (Học để phá cái ngu, cái dốt, học để trở thành người tốt), để chống lại quan niệm hồi đó là học để ra làm quan, làm thầy thông, thầy ký. Nhưng in sâu nhất vào trong tâm trí tôi là cái đạo lý làm người, theo cha tôi là: "Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" hoặc "Phú quí bất dâm, bần tiện lạc, nam nhi đáo thử thị hào hùng" (Giàu sang không tham lam, nghèo khó không dời đổi, quyền thế không chịu khuất phục - Giàu sang không ham, nghèo khó vẫn vui, làm trai như thế mới anh hùng) và "Tri vị tri chi, bất tri vị bất tri" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết), "Quốc dĩ dân vi bổn, dân dĩ nông vi bổn" (nước lấy dân làm gốc, dân lấy nghề nông làm gốc). Chỉ bấy nhiêu cũng đủ làm định hướng cho cuộc đời tôi, luôn luôn thấy mình còn dốt, chưa tốt. Như mọi thầy đồ khác: Trong nhà có sẵn một nghiên mực tàu, mấy quản bút lông, một mẩu son (đá đỏ) để khuyên và phê học trò khi làm bài tốt, và một cái roi mây. Nhưng cái roi mây ấy nằm im trên kèo nhà, không bao giờ cha tôi dùng đến. Mỗi khi tôi không ngoan ông chỉ dí cái quạt giấy vào đầu mà tôi đã tìm đường lánh! Kể ra từ những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, cha tôi là một ông đồ nho mà cắt tóc ngắn, biết chữ quốc ngữ, không được dạy trường công thì mở lớp dạy riêng cho con em nhà nghèo, lĩnh ruộng địa chủ về làm để kiếm sống, cũng được kể là một nhà nho tiến bộ, vì vậy, cha tôi được dân làng và học trò mến mộ, lúc cha tôi mất, nhà tranh vách đất, chật chội, nhưng học trò và bạn bè đến lễ viếng có đến hằng trăm. Tôi lạy mỏi rã rời cả gối để đáp lễ cả trường, từ thầy giáo đến học trò. Bạn tôi, anh Vịnh phải lạy thay cho tôi được nghỉ. Uy tín của cha tôi không phải do tiền tài và danh vọng mà có, chỉ nhờ đạo đức và cách sống có tình người: Một bài học cho con cháu sau nầy... Nhưng người mà tôi yêu quí, thương nhớ nhứt vẫn là mẹ tôi. Mẹ tôi kém cha tôi 5 tuổi, sinh năm Hợi (1881). Ông ngoại tôi là Nguyễn Tánh, chỉ sinh được một mình mẹ tôi, nên chiều ý con gái gả con cho một học trò nghèo khó, không có miếng đất cắm dùi, cả nghĩa đen nghĩa bóng. Vì vậy, mẹ tôi phải làm một gánh hàng xáo mua chịu lúa về, xay giã, dần, sàng, gánh đi chợ bán lấy tấm cám nuôi chồng con. Hai chị lớn của tôi cũng phụ giúp mẹ tôi, tôi và người em gái tôi chỉ là người ăn không. Năm tôi lên 10 tuổi (1925) học lớp nhì (cours Moyen lère Année) trường quận, đã ý thức được cuộc sống khó khăn của gia đình. Vì vậy, mỗi lần đi học về, tôi vội vã chạy đến phụ giúp mẹ tôi xay lúa, giã gạo. Mẹ tôi đẽo cho tôi một cái chày vồ nhỏ, làm bằng gỗ cây gáo cho nhẹ vừa sức tôi. Mỗi lần xay lúa chị tôi chỉ đổ đầy một nửa cối xay thôi. Tôi phải ráng sức bước hai bước mới đẩy được cối, để quên mệt, tôi vừa xay lúa vừa ôn bài. Và, có lúc tập làm thơ. Luật làm thơ Đường, tôi đã thuộc lòng, nhờ cha tôi dạy. Mẹ tôi không biết chữ, nên không đọc sách làm thơ được. Nhưng mỗi lúc mẹ tôi ru em tôi, tôi vẫn nghe mẹ hát với giọng u buồn, thầm kín nhưng sâu lắng, nói lên tiếng nói của trái tim đôn hậu của mình. Ngoài bài hát ru con quen thuộc của Bình Trị Thiên: "À ơi! Ru con con ngủ cho muồi Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu" Mẹ tôi còn hát những câu khác, tôi còn nhớ kỹ cho đến nay: "À ơi! Chẳng tham ruộng cả ao liền Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ!" Hoặc: "À ơi, ru con, con ngủ cho rồi Nước non chưa gánh mẹ ngồi ru con!" Mỗi khi có ông xẩm mù, xóc xách cặp sến, dò dẫm chống gậy đi ngang qua nhà. Mẹ tôi không bao giờ quên bảo tôi đem bỏ đồng xu vào tay ông và dẫn vào nói về cho cả nhà cùng nghe với đám đông trẻ em lối xóm. Một bài vè duy nhất mà khách nghe không bao giờ chán: bài vè Thất thủ kinh đô: "Kể từ khi ngày thất thủ kinh đô Thằng Tây qua giăng giây thép, họa địa đồ nước Nam!" Và còn nhận xét chua cay qua sự thất bại của phong trào Cần Vương: "Nước Nam có bốn anh hùng: Tường gian, Kim láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!" Những câu vè của ông xẩm mù, giọng hát của mẹ tôi, cộng với những câu giảng theo sách sử của cha tôi tuy không nhiều lắm, nhưng lại là những bài học luân lý đầu tiên bổ ích cho cả đời tôi về lòng yêu nước, thương dân, về chí: "Khinh tài, trọng nghĩa". Tôi nhớ kỹ, Tết năm 1927, chiều 30, mụ Lê chuyên đi đòi nợ cho mụ Tư Tố đến nhà tôi. Trên bàn thờ chỉ có vài cây nhang lèo tèo và cây đèn (dầu hoa kỳ) leo lét, không bánh tét, không cỗ bàn, chỉ có vài bông vạn thọ cắm chung với cấy chuối con để trang trí. Chỉ ba đồng bạc nợ, mụ Lê đột nhiên nằm lăn trên sân réo chửi, đòi xiết bàn thờ. Mẹ tôi không nói gì, biểu tôi đem chiếc chiếu cũ tôi đang trải trên tấm phản ra cho mụ nằm. Tôi ngạc nhiên, mẹ tôi bảo "Cứ đem ra trải cho mụ nằm đi, mụ phải chửi to, nếu không chủ nợ sẽ không cho mụ tiền ăn Tết". Mụ Lê lặng lẽ lăn trên chiếu nằm im thin thít. Do thông cảm cảnh nghèo khổ của nhau (mụ Lê có đứa con tên Sâm, sau này cũng theo cách mạng). Mấy ngày Tết, trên bàn thờ chỉ có được khay bánh in do Bộ Hán đem cúng ông bà. Con gà mái nở với mấy cái trứng đang ấp vẫn nằm im trên ổ, cha tôi không cho đụng tới. Tôi hỏi, mẹ bảo: để mồng ba Tết làm cúng đưa ông bà luôn. Sáng mồng ba, tôi dậy sớm thắc thỏm chờ xem mổ gà. Trên bộ ván đẹp duy nhứt, ba người bạn thơ, rượu của cha tôi đã ngồi sẵn. Vẫn những người bạn thân thuộc trong làng cùng hội Tư Văn với cha tôi: Ông Bộ Hán (cha anh Vịnh, bạn tôi), ông Cửu Giêng (chết trước 1945) và bác Khóa Đạt. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 20 Tháng Hai, 2026, 03:17:10 pm Bác Khóa Đạt cũng biết làm thuốc Bắc như cha tôi. Mấy bác đang nói với nhau về cuốn "Nhật ký chìm tàu" của Nguyễn Ái Quốc. Tôi nghe nhưng không tin là có thật, vì nghe đọc câu thơ lục bát: "Nước Nga có chuyện lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do". Tôi buột miệng hỏi họ: "Đã chìm tàu rồi mần răng còn có nhật ký được?". Bác Khóa giải thích: "Thì người ta cuộn nhật ký lại bỏ vào chai, đóng kín nút lại, thả trôi trên biển nên người ta nhặt". Tôi không hỏi nữa. Trên bàn còn mấy cuốn tân thử, loại sách chữ nho, in từ Hương Cảng, chữ nhỏ in giấy trắng tinh. Tôi biết một quyển. Ngoài bìa "Vạn pháp tinh lý", tên tác giả là "Mạnh Đức Tư Cưu" (Montesquieu). Dịch giả: "Lương Khải Siêu".
Con gà mái mổ, mây quả trứng được luộc lên, đem cúng, xé phay rồi dọn lên mâm và một chai rượu "ích thọ", cha tôi dành đến hôm nay mới khui uống. Đang suy nghĩ, bỗng nghe cha tôi rung đùi ngâm bài thơ "Đầu xuân khai bút" của mình tựa đề "Tự thuật" để mọi người góp ý: Tự thuật Bốn mươi lăm tuổi gẫm hơn người Hơn kẻ ba mươi với bốn mười Hơn mặc áo dài thêm tốn vải Hơn năm cúng mẹ phí nhiều xôi Hơn điều lếu láo đông người ghét Hơn việc tầm phào lắm kẻ cười Các cụ hơn ta, ta chẳng biết Biết ta hơn được bấy nhiêu lời Bác Khóa thấy tôi chăm chú nghe hỏi tôi có biết làm thơ không? Cha tôi trả lời thay tôi: "Hắn cũng biết làm thơ rồi đó". Rồi bảo tôi đọc bài thơ của tôi làm cho các bác nghe. Tôi cất cao giọng: Vịnh cái cối xay Con tạo vần xoay, tớ cứ xay Xay đi xay lại tháng qua ngày Lưng mòn, răng rụng thân nào quản Họng lỗ, tay chai, dạ chẳng sai Nghèo khó hết lòng cùng kẻ khổ Lợi danh mặc kệ mấy người say! Giàu sang ai đó, dừng ta hỏi Không tớ làm sao nở mặt mày? Tôi đọc xong, bác Khóa tán thưởng: "Hay! thằng này có chí khí" rồi bác hỏi tôi ngày tháng năm sinh để chấm cho tôi 1 số "tử vi". Chấm xong, bác vỗ đùi "Quí tử". Thú thật hồi đó, tôi chưa tin vào tướng số, cho là thầy bói đoán mò. Nghe nói "Quí tử", tôi không biết là lời khen hay tiếng rủa, nên tôi đưa vai chỉ vào miếng vá hỏi lại: "Quí tử hay không, con không biết, nhưng bác coi lại chấm số đến chừng nào con mới có áo lành để mặc Tết hả bác?" Bác nhìn vào bản số rồi đáp gọn: "Đến 50 tuổi, mi tha hồ có áo mà mặc". Tôi ngẫm nghĩ: năm mươi tuổi, mà nay mới 12, chờ còn lâu lắm. A, có lẽ sau này mình sẽ là thợ may cũng nên! Sau này, tôi không làm thợ may, nhưng đến tuổi 50, nhờ Bác Hồ, tôi và cả con cháu tôi có áo lành để mặc, ngày thường cũng thế, kể chi ngày tết! Bữa cơm đạm bạc cúng tiễn ông bà là ngày mồng ba Tết năm 1927, không ngờ lại là bữa tiệc cuối cùng của cha tôi, để chia tay bạn bè và gia đình. Tôi hôm mồng bốn Tết, nhân đi bốc thuốc cho người ốm, mụ Bát Tiên ở trong xóm, khi về nhà cha tôi đau liệt giường, và đến ngày mồng 9 Tết, đã thở hơi thở cuối cùng vào 9 giờ sáng. Cụ Tiểu Cao, vị Thủ chỉ của làng, lúc cha tôi ốm cho 2 củ sâm Cao Ly. Đến lúc cha tôi mất ông đến thăm và nói: "Con người như rứa mà chết đi, còn nhiều người đáng chết lại không chết". Tôi rất cảm kích biết cụ là một nhà Khoa bảng, có lòng yêu nước, đã từng tính theo Vua Hàm Nghi lên biên phòng, nhưng không được đi. Cha tôi mất gia đình tôi đã nghèo càng nghèo hơn, và khổ càng khổ hơn trước. Tất cả lại đè lên vai mẹ tôi và chị hai tôi. Ruộng lúa ngoài đồng đến kỳ gặt hái cũng không gặt được. Gia đình thiếu nợ, mụ Tư Tố cho người cắm vẽ quanh ruộng lúa cha tôi đã làm, không cho mẹ tôi đem về hạt nào để nuôi con. Năm sau, tôi thi đỗ được mảnh bằng Tiểu học, rồi bỏ học luôn, mặc dù tôi được tiếng là học giỏi và ham học nhất nhì trong làng. Đó cũng là hoàn cảnh xã hội đã buộc tôi phải tìm phương kiếm sống, đánh bật tôi khỏi mảnh đất Kẻ Lừ, tuy không béo bở đối với tôi, nhưng vẫn vô vàn thương nhớ, vì là nơi chôn rau cắt rốn của tôi, và bao đời cha ông tôi. "Dù ta đi đâu cũng nhớ cái làng ta ở, cái chỗ ta sinh. Nhớ đò ngang dưới bến, nhớ trường học với ngôi đình!" Một câu hát mà thầy tôi đã dạy cho cả lớp hát một bài ca không thể nào quên được. Kẻ Lừ, cái tên tục của làng Niêm Phò, không rõ xuất xứ từ đâu. Theo cụ Tiểu Cao, ngày trước, quanh làng mọc đầy lau sậy, nên cụ đặt tên là Lô Giang. Nhưng nhiều người cho là ngày trước ngoài nghề làm ruộng còn làm nghề đan lờ, đan đó để đơm bắt cá đồng, từ "lờ" dần dần nói trại ra "lừ", biến thành thói quen lâu đời: "Làng Kẻ Lừ". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:10:27 pm CHƯƠNG 2 TÔI ĐI Ở Cửa Tùng, một nơi nghỉ mát lý tưởng, hồi đó dành cho những vua chúa, quan Tây, quan ta. Lọt thỏm vào hàng chục biệt thự nghỉ mát của thực dân cất theo hai đường đất đỏ ở trên dãy đồi cao, những rặng phi lao xanh mát, chỉ có một chiếc nhà thừa lượng rộng rãi, lợp mái tranh mà thực dân Pháp đã cho cất từ đời Duy Tân để an trí nhà vua trẻ tuổi lúc bấy giờ, vẫn là nhà nghỉ mát cho Bảo Đại, và cách đó không xa, trên mỏm đồi nhìn xuống bãi biển, cái nhà bưu điện nền vuông, có hành lang 3 phía, cạnh sau, ngăn làm 3 phòng ở cho gia đình viên Chủ sự Bưu điện, ông công chức này tên Cáp, người cùng làng, là người chủ đầu tiên mướn tôi làm người giúp việc. Tôi là nhân công 15 tuổi, vị thành niên gọi là có học vấn, dễ sai bảo, mặt mũi sáng sủa, sức khỏe tốt, làm được bất cứ việc gì trong nhà, tiền công rẻ mạt: đúng là một người đầy tớ mà bất cứ ông chủ nào cũng mong ước. Dù là một người giúp việc cho ông Chủ sự Bưu điện, tôi vẫn tự hào là một thành viên trong gia đình cần thiết không ai thay thế được, nên vẫn làm ra vẻ ta đây với tôi tớ trong nhà, với các chú trạm đưa thơ của nhà bưu điện, cùng sống chung trong mấy gian nhà bếp. Công việc hàng ngày cũng khá vất vả nhưng không nặng nhọc. Buổi sáng dậy trước 5 giờ, kéo 20 thùng nước ở cái giếng sâu 10m lên cho đầy bể cạn, quét dội cái cầu tiêu chung, lên mở 3 cái cửa vào phòng Bưu điện, quét phòng, ngồi trực điện tín (chưa có điện thoại) và ngồi gần ghi-sê (guichet) để bán tem, nhận điện tín, ngân phiếu, phát thư, báo chí và bưu kiện mỗi khi có người tới lãnh. Khách hàng phần đông là người Pháp, nhất là về mùa hè, nên tôi trở thành nhân viên phục vụ đắc lực cho ông Chủ sự, vì tôi đã học tiếng Pháp ở trường lại luôn luôn đem theo bên mình cuốn tự điển Gfuzier, phần thưởng lúc còn đi học, để tra cứu, có khi học thuộc lòng cho thỏa mãn tính hiếu học; Chiều ăn cơm xong, tôi dắt đứa con trai ông Chủ sự đi tắm biển, tối lại đốt đèn, dạy con ông chủ học chữ quốc ngữ. Đêm trải bao tải (dùng đựng bưu kiện) xuống nền nhà, làm đệm êm đánh một giấc đến sáng. Tiền lương được lãnh mỗi năm 5 đồng bạc Đông Dương với một bộ quần áo vải quyến (vải hồ trắng). Tôi cũng không một chút gì thắc mắc, ngược lại vẫn biết ơn nhà chủ biết trọng tôi, cho tôi ngồi ăn cùng mâm như người nhà. Cái tôi cho là sướng nhứt là được làm việc để có mà ăn, ăn khỏi trả tiền cơm, khỏi nhờ mẹ lo cho từng bữa như lúc còn ở nhà. Và mẹ tôi chắc cũng yên tâm về tôi không phải đi mò của, bắt ốc, hái rau, câu cá, ăn cơm bữa đói bữa no. Cái hạnh phúc của tuổi trẻ không cần tìm đâu xa lạ. Ba năm sống trong gia đình ông Chủ Cáp (1930 - 1933), tôi đã vui vì đã trả ơn được cho chủ, một công chức tận tụy với chức vụ và gia đình. Có một lần ông suýt bị đổi đi Ban Mê Thuột nơi mà chỉ có những người công chức bị "phốt" (faute) mới chịu đày đi đến đó. Nhà Bưu điện, mỗi năm mới có 1 lần quan Thanh tra đến, viên Thanh tra này tên là Martini, người Pháp đảo Corse vốn nghiện thuốc phiện. Y đến làm việc 3 ngày, tất nhiên tôi phải giấu mặt vì không phải là người trong biên chế. May là sổ sách kế toán hàng ngày tôi đều cập nhật không chỗ nào chê được. Hắn đòi ông Cáp phải mua thuốc phiện tím loại nhứt làm quà cho hắn. Nhưng ông Cáp không tìm mua được. Hắn xét tủ sắt thấy có thừa 200 đồng và chiếc xuyến vàng đeo tay. Hắn lập biên bản, kiến nghị tịch thu và đổi ông Cáp đi Ban Mê Thuột. Tối, thấy mặt ông Cáp có vẻ buồn, tôi hỏi mới vỡ lẽ là trong biên bản gởi lên Tổng cục Bưu điện trung ương, bên cạnh cột nhận xét của viên Thanh tra, có một cột dành riêng cho lời khiếu nại của đương sự. Tôi thức suốt đêm đó để điền vào cột khiếu nại bằng tiếng Phập: nêu rõ thái độ hách dịch của Martin với cấp dưới quyền, giải thích số tiền và nữ trang trong tủ sắt là của riêng tư gia đình ông Cáp, vì lẽ tất nhiên ở vùng hẻo lánh này không có chỗ nào an toàn hơn để giữ gìn cho tài sản khỏi bị mất trộm. Tháng sau, Tổng Cục Bưu điện gởi trả lại biên bản, chấp nhận lời khiếu nại của ông Cáp là hợp lý. Uy tín của người "giúp việc" lại được tăng thêm, nhưng tiền công vẫn không thay đổi. Ông Cáp bảo tôi cố gắng làm việc cho tốt đế đủ 18 tuổi ông sẽ cho vào biên chế nhà nước làm nhân viên phát thư (facteur) của ngành Bưu điện. Tôi ậm ừ cho xong chuyện nhưng lòng vẫn không ham, vì nhớ lại một câu ngày trước cha tôi nói lúc thấy tôi chăm chú học tiếng Pháp: "Học cho lắm rồi cũng làm đầy tớ cho hắn mà thôi" (từ "hắn" ám chỉ thực dân Pháp). Dù sao qua sự, việc khiếu nại có kết quả tốt, tôi vẫn phục cách làm việc có nề nếp, trọng lẽ công bằng của Tổng Cục bưu điện Đông Dương hồi đó và cho rằng đó là cái lý do tồn tại lâu dài của một cơ sở kinh doanh có tầm cỡ lớn. Nhà Bưu điện Cửa Tùng ngoài 3 tháng hè ra, hầu như vắng khách, khách thường xuyên là ông Alfred, nhà hàng bán cơm tây, hai quan chức hải quan Pháp gọi là Tây Đoan. Một lính nhị thừa sai già người Pháp L. Cardière vừa làm Cha xứ họ Di Loan vừa là chủ nhiệm tờ báo "Amis du vieux Huế", các nữ tu dòng Mến Thánh giá cũng dưới quyền cai quản của ông ta. Ngoài ra, hằng tuần cũng có một người trung niên ở làng Xuân Mỵ, bên kia bờ sông Bến Hải, thường mặc áo dài đen, tay cầm cái ô đen đến để nhận một tập báo tiếng Pháp từ bên Pháp gởi về. Tôi đã quên mất tên người ấy. Tôi thích đọc sách nhưng ở nơi nầy là một thi trấn nhỏ, không tìm đâu ra sách báo để đọc. Nhân một hôm, tập báo của ông khách làng Xuân Mỵ xổ băng, nhìn lại trong gói có 6 tờ Humanité (Nhân Đạo) và 1 tờ Humanité du dimanche (Nhân Đạo chủ nhật) từ tuần trước ở Pháp gởi sang. Tôi giở một tờ ra đọc thấy tin tức bên Pháp cũng hay, nên say sưa với tờ báo, quên đàng trước có ông khách đang nhìn vào. Ngẩng đầu lên thấy ông khách áo đen đang mỉm cười, tôi vội vàng xin lỗi, xếp vội đống báo lấy giây buộc lại trao cho khách, ông khách cười nói nhỏ nhẹ: "Chú em cứ coi đi, hễ báo về thì chú em cứ việc xé băng ra mà đọc. Đọc xong, để lại đó, khi nào anh tới nhận chú em đưa cũng được". Từ đó tôi được dịp tha hồ đọc báo Nhân Đạo, chữ nào không biết, giở cuốn tự điển Gruzier ra tra nghĩa. Mục đích là để biết tin tức bên Pháp và đồng thời trau dồi thêm Pháp văn. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:11:28 pm Trong những năm 30, báo "Nhân Đạo chủ nhật" của Đảng Cộng sản Pháp đều có phát hành phụ trương nhỏ kèm theo, các phụ trương đó in theo cỡ sách nhỏ, để dành lại, có thể đóng thành sách tuyên truyền bỏ túi. Tôi nhớ rõ có quyển: "La classe et la lutte des classes" (Giai cấp và giai cấp đấu tranh), tập "1" "ABC du communisme" sau nầy đồng chí Hải Triều dịch là chủ nghĩa Cộng sản sơ giải và một sách khác nữa, ví dụ: "Manifeste du parti communiste" (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản) hay "La jeunesse d'avant garde" (Đoàn Thanh niên tiền phong) tên gọi đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp thời đó v.v... Vô hình trung tôi hiểu dần tuy chưa biết về chủ nghĩa Cộng sản, về các khái niệm đấu tranh giai cấp, phân hóa giai cấp, chủ nghĩa Tư bản lũng đoạn, chủ nghĩa thực dân qua sách báo tuyên truyền của Đảng Cộng sản Pháp, bắt đầu hiểu được ý nghĩa các phong trào binh biến Đô Lương, các vụ thực dân Pháp thông qua tên Tuần vũ Tôn Thất Hối khủng bố phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh mà chúng gọi là Cộng sản nổi dậy làm loạn, tất nhiên hiểu còn lắm điểm khá mơ hồ. Ví dụ: tôi hiểu các tầng lớp trung gian không riêng gì tiểu tư sản, mà ở một nước thuộc địa như nước ta, quan lại, tổng lý, thậm chí địa chủ cũng chỉ là tầng lớp trung gian vì họ đều là những kẻ "nằm trên đe dưới búa" mà thôi. Dù hiểu về giai cấp còn nông cạn, nhưng cũng nhờ đọc đi đọc lại nhiều lần nên ý thức dân tộc vốn có truyền thống trong gia đình nung nấu tuổi thanh niên khá sớm... Bọn Pháp ở Cửa Tùng có thói quen đặt mua bánh mì ở Huế, hằng ngày đều gởi theo con đường bưu phẩm ra Cửa Tùng. Hôm đó tờ giấy báo bọc 4 ổ bánh mì rách dọc đường, khi chú Thà phụ trạm mang về rơi đâu mất 1 chỉ còn 3. Hằng ngày tên Phó Đoan, tây lai tên là Jean đến nhà Bưu điện để lãnh bánh, thấy chú Thà đưa cho nó thiếu một ổ, nó tát chú Thà một cái và mắng to bằng tiếng Pháp: "sale race" (nòi giống dơ bẩn). Tôi đang ngồi soạn thơ từ bên trong bàn nghe vậy, liền bật dậy, chống hai tay nhảy qua bàn đứng sững trước mặt thằng Tây hỗn láo, đưa ngón tay điểm vào mặt nó: "Dis donc de quelle race est ta mère?" (này, mầy nói tao nghe, mẹ mầy là nòi giống gì?). Thấy mặt tôi khá giận dữ và thấy câu tôi hỏi sỗ sàng mà có lý, nó rút lui ngay mặc dù nó có đủ quyền lực của một Tây Đoan, gã có súng sáu đeo bên hông...
Ba năm sống ở Cửa Tùng đã giúp tôi lớn lên về thể xác và tinh thần. Tôi đã hiểu thế nào là kiếm sống, thế nào là thân phận tôi đòi, biết rõ mặt mũi từng thằng Tây, thường xuyên tiếp xúc với nó, thấy nó chẳng có gì là ghê gớm lắm, nhứt là về nhận thức. Tôi phải cảm ơn gia đình ông chủ Cáp vì cũng là người dân Kẻ Lừ như tôi. Một chân trời mới đã mở rộng ra: Cách mạng không phải chỉ đóng khung trong một nước. Cửa Tùng không phải chỉ giúp cho tôi nhìn thấy biển cả lần đầu tiên trên đời, mà còn giúp cho tôi thấy cả đại dương cách mạng mà tôi đang lặn hụp trên bãi cát trắng. Cảm ơn người thầy mặc áo dài mang chiếc ô đen mà tôi không còn nhớ tên, nhớ mặt. Lòng tốt con người không bao giờ mất. Trong đời tôi có biết bao người thầy mà tôi đã quên tên! Đầu năm 1932, do lòng tốt của một người bà con trong họ nhưng ở khác làng nhân đến thăm gia đình tôi, thấy tôi đã lớn, và có sức khỏe tốt, nên giới thiệu cho tôi một chỗ làm mới: chủ là một nhà quyền quí (cháu nội Vĩnh quốc công Nguyễn Hữu Độ) gọi bà Thánh Cung (vợ của vua Đồng Khánh) bằng cô. Mỗi tháng được lãnh 3 đồng tiền công, một cục xà bông "mạc xây" 72 phần đầu, mỗi năm cũng được một bộ quần áo mới. Từ công năm: 5 đồng đến công tháng: 3 đồng kể ra cũng hấp dẫn với con nhà nghèo (hồi đó, lương công nhân lãnh 5 đồng/tháng) ăn cơm nhà chủ khỏi trả tiền. Thấy khá hấp dẫn, mẹ tôi đồng ý, hơn nữa không đi xa khỏi tỉnh nhà, chỉ ở làng Kim Long ngoại thành Huế thôi. Người chủ mới là một nhà quí tộc: ông hương Đồng, cháu đích tôn của quan Khâm sai đại thần kinh lược Bắc kỳ Nguyễn Hữu Độ, cha vợ của vua Đồng Khánh, thay mặt triều đình Huế bên cạnh Thống sứ Bắc Kỳ để cai trị xứ nầy theo định nghĩa là đất được bảo hộ, ngay tại giữa lòng Hà Nội để ra oai, tác phúc với nhân dân miền Bắc. Thực chất chỉ là bù nhìn do phủ Thống sứ giật giây. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:12:11 pm Năm 1932, khi tôi bước vào dinh cơ ở Kim Long có cái cổng đề mấy chữ lớn "Vĩnh quốc Công từ môn" thì tôi cũng đã biết rằng Nguyễn Hữu Độ cũng đã chết từ lâu. Cái vườn rộng mấy mẫu trồng cây ăn trái, cây kiểng xum xuê, chỉ là hương hỏa để lại cho Nguyễn Hữu Đồng, người cháu thừa tự của ông ta. Nguyễn Hữu Đồng dốt đặc cán mai vẫn được tập ấm tước "Hồng lô tự khanh" tức là quan "Tứ phẩm triều đình" (cỡ cấp phó Vụ trưởng bây giờ). Bà chủ là con một quan tri phủ, khác chồng ở chỗ tối ngày ngồi đọc cuốn sách chữ nho, sai bảo đầy tớ, phu xe và còn giờ rảnh thì đóng cửa lại đánh ghen với ông chồng có vợ bé giấu ở một đồn điền khác. Hai đứa con: một gái, một trai cũng dốt không kém cha, cần có người kèm cặp. Ông chủ lại có một cậu em vợ thay ông để đi lãnh thầu công việc làm cầu đường của Sở lục lộ (công chánh) Huế. Người ở thường xuyên là một đầy tớ gái chuyên nấu bếp, một anh phu xe lực lưỡng với chiếc xe kéo sơn đen có gọng đồng ở hai căng kéo, một phương tiện đi lại của các quan lớn có bài ngà, một trang sức không thể thiếu trong giao tiếp. Ngày đầu tiên tôi vẫn được giới thiệu là: anh giúp việc. Cồng việc hàng ngày cũng không khác trước: sáng dậy sớm quét sạch 5 căn phủ thờ rộng cỡ 100m2, đi xe đạp khoảng 30km đến công trường chấm công cu-li, chiều về tắm rửa dạy học cho hai đứa con ông chủ, tối ngủ bảo vệ luôn cái phủ thờ rộng rãi có đủ các hương án, ngai vàng... làm chỗ ngồi cho bà Thánh Cung mỗi khi về cúng giỗ cha. Vì là người giúp việc kiêm thầy dạy học cho con; nên tôi đặc cách được ngồi cùng mâm cơm dọn cho hai ông bà chủ. Dù sao cũng đỡ tủi thân vì hằng tháng được lãnh 3 đồng để mua gạo nuôi mẹ và em gái. Hơn nữa, tôi tìm hiểu thêm công việc xây cất cầu đường giúp chủ tính toán lại để tiết kiệm vật tư và có sáng kiến đề xuất với chủ phương pháp ráp cầu Kim Long trên bờ, dùng giây cáp kéo sang bờ kia, rút ngắn thời gian thi công nửa tháng, chủ được thưởng 300 đồng, công nhân được hưởng một bữa cháo vịt. Tôi chẳng được xu nào mà vẫn vui vì được khen hay, thấy mình không phải vô dụng. Vì lo thủ nhà từ đường nên tôi phải học thêm cách têm trầu; mời nước (cho phù hợp với khách quí phái), thắp nhang đốt trầm ở bàn thờ trong các ngày lễ lớn của gia đình do Bộ Lễ tổ chức. Cộng với sức khỏe tốt, vì nhờ thường xuyên luyện tập các bài võ cổ truyền như quyền, roi được học lỏm từ nhỏ, có tính siêng năng, hoạt bát nên được ông bà chủ ưa. Một lần bà Thánh Cung đi chiếc kiệu 8 người khiêng có 2 quạt lông, hai tán vàng đi kèm để dự ngày giỗ của Nguyễn Hữu Độ, bà bước vào phủ thờ, ngồi yên trên chiếc ngai vàng có nệm thêu hình con phượng, vẫy tôi lại gần: "Mi lại đây tao hỏi, mi có muốn vô làm hộ vệ cho ngài Ngự (chỉ Bảo Đại) không?". Tôi khoanh tay trả lời không chút do dự: "Dạ bẩm Ngự, con quê mùa lắm, ở nơi cung cấm không đặng mô, sợ lỡ dại nói năng thất thố, mất đầu!". Bà già cười bộ mặt trát đầy phấn nhăn lại vẫy tay cho lui. Thế là thoát nạn khỏi làm đầy tớ cho nhà vua, mà ở quê tôi bà con thường nguyền rủa hơn là tâng bốc. Hơn nữa hồi đó tôi được tin Bảo Đại đi Đà Lạt ve vãn vợ kỹ sư công chánh Desmaret bị ông này bắn què giò, phải đi máy bay sang Pháp điều trị, phao tin là ngài Ngự đi săn voi bị voi quật què cẳng. Vốn tính cả tin nên tôi sống cuộc đời đầy tớ gần ba năm, hãnh diện vì được ngồi ăn cùng mâm với ông bà chủ, nếu không có một việc đột biến làm thay đổi ngay quan niệm của tôi đối với bà chủ: Hôm đó, chị Nụ, người đầu bếp, còn trẻ bưng mâm cơm lên rồi khoanh tay đứng nhìn, thấy tôi rón rén gắp thức ăn vào chén không dám đưa đũa gắp món ăn ở đằng xa mình, sợ thiếu lễ phép chị bỏ xuống bếp. Chờ tôi ăn xong, bưng mâm xuống bếp chị bảo tôi: "Chắc anh ăn chưa no phải không? Thôi ngồi xuống, nghe tôi nói đây: Anh tội gì ngồi ăn mâm trên để phải đói. Xuống đây, ngồi ăn với tụi tôi có phải sướng hơn không. Nè tôi nói cho anh biết: mỗi lần dọn mâm lên bà chủ cũng biểu tôi xoay dĩa rau muống và nước mắm về phía anh ngồi, còn dĩa thịt luộc và canh thì để ngay trước mặt ông bà, vì họ biết anh lễ phép, không dám với đũa gắp xa đó đa". Như bị gáo nước lạnh dội ngay vào đầu, tất cả những tình cảm dành cho nhà quí phái nầy bỗng tan biến. Tôi đứng lặng, buồn rầu nhìn chị Nụ: "Cảm ơn chị đã cho tôi biết sự thật". Đêm đó dạy xong hai đứa trẻ học bài, tôi cũng ôn lại bài bọc về tình cảm giai cấp mà tôi vừa nhận được lúc ban chiều, lặng lẽ ngồi viết một bức thư dài hai trang giấy "cảm ơn lòng tốt ông bà chủ, vì cuộc sống không cho phép tôi ở lại hầu hạ ông bà chủ được, xin từ giã ông bà và để lại cuốn tự điển Gruzier của tôi tặng lại cho hai em để các em học tốt hơn".
Tôi tin rằng dù bằng lao động chân tay, tôi cũng tìm được cách sống xứng đáng. Biết mình đang thất nghiệp, tôi ôm gói quần áo trong tay, lòng tôi vẫn nhẹ nhàng thanh thản, tin tưởng ở sức mình, ở tương lai... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:13:41 pm 1935, năm khủng hoảng thất nghiệp. Ở Huế không dễ gì kiếm việc làm. Tôi phải nhờ người bạn của cha tôi là ông Võ Bá Cường gởi gắm đến ông Tham tá Thân Trọng Phát làm chủ công đoạn đường sắt (chef de subdivision) Trung kỳ để xin một chân cu li đường sắt. Ở ga gần không có, tôi được gởi đi Tiên Yên, một ga đường sắt trên sông Bến Hải để nhận việc. Làm cu li kíp lương công nhựt mỗi ngày là 0,18 đồng. Tiên Yên có ga xe lửa, có cầu Kim Môn, đội trưởng kíp làm đường sắt tên Cảnh dưới quyền có Cai Trinh. Tôi rủ Lê Phòng người cùng làng, cố nông cùng đi xin và đều được nhận làm cu li công nhựt. Công nhân của đội, gọi là một kíp có khoảng 20 người, công trường bắt đầu từ ga Đông Hà đến ga Sa Lung. Hễ có chỗ cần dọn cỏ, đắp nền, nắn đường, xiết bù lon thì đội phải kéo đến. Thời giờ bắt đầu từ 5 giờ rưỡi đến 11 giờ rưỡi, chiều 15 - 17 giờ (tổng cộng 10 giờ trên công trường). Công việc đúng là lao động nặng: vác đường sắt, tà vẹt, cuốc chim, nện nền đường, xà beng nạy đường, kềm to để vặn bù lon v.v... Chỉ mới 10 ngày đầu, tôi và anh Lê Phòng là nông dân có sức khỏe (đã quen đạp guồng nước, cuốc đất rang) vẫn nổi rộp phồng da tay, nứt gót chân vì đứng trên đường sắt nung nóng dưới ánh nắng suốt ngày. Tuy vậy, dần dần vẫn quen việc, tôi mượn thêm sách kỹ thuật bảo dưỡng đường sắt của, ông sếp Cảnh để học thêm các bài toán kỹ thuật nắn độ cong đường sắt cho phù hợp với tốc độ đoàn tàu, kỹ thuật ngắm đường v.v... để trau dồi nghề nghiệp thêm. Hằng tháng lãnh lương được 5,40 đồng nếu làm suốt 30 ngày trả tiền cơm 2,40 đồng còn lại 3 đồng gởi về nhà giúp mẹ. Để khỏi rách áo quần, chúng tôi ở trần bận quần đùi để làm dưới ánh nắng. Hồi đó có phong trào đấu tranh của công nhân toàn ngành đường sắt đòi tăng lương công nhân tăng 2 xu/ngày. Cuộc đấu tranh có kết quả chúng tôi được lãnh 0,20 đồng/ngày. Bước đầu hiểu được cuộc sống tập thể và sức mạnh của sự đoàn kết đấu tranh cho miếng cơm, manh áo hằng ngày dù chỉ để kiếm thêm 2 xu nhỏ. Đấu tranh cho sự bất công trong thái độ đối xử hằng ngày giữa Cai kíp với anh em công nhân, dù biết rằng cuộc đấu tranh đó nhiều khi phải chịu thiệt thòi cho bản thân. Tôi còn nhớ rõ: một hôm, anh Khánh người cùng đứng đâu lưng chèn tà vẹt với tôi bị Cai Trinh gây sự, giơ cù nèo định đánh, lấy cớ là Khánh chèn chưa chặt làm ẩu. Nghe tiếng Cai Trinh mắng chửi tôi hiếu ngay lý do: Cai Trinh định trả thù Khánh về canh bạc hồi hôm hắn mượn tiền Khánh, Khánh không cho, nên giờ hắn ra oai. Không nói gì, tôi buông ngay cuốc chim, xoay người lại co chân lấy thế, chỉ ngay vào mặt Cai Trinh: "Mi mà hạ cù nèo xuống là tao cho đá lọt xuống mương ngay đa". Thấy bộ vó tôi khá hùng dũng, hắn rút lui ngay tức tốc đi báo cáo với Đội Cảnh. Tan tầm, Đội Cảnh kêu tôi lại cho tôi nghỉ việc. Tôi bỏ đi không một lời thanh minh. Tôi lại thành thất nghiệp nhưng không buồn chán, vì dù sao tôi cũng học thêm một nghề, hơn nữa trong thời gian làm kíp tôi đã làm quen với một thiếu nữ cũng nghèo như tôi và tôi dự tính về thưa với mẹ hỏi cô: ấy làm vợ. Nhớ lại buổi hẹn hò đầu tiên dưới gầm cầu Tiên Yên ở bờ Bắc. Trên trăng, dưới nước, cảnh khá thơ mộng, chúng tôi cùng dựa lưng vào móng cầu nhìn, xuống sông Bến Hải không nói một lời. Đến khi nghe tiếng gà gáy sáng, giật mình, nàng vụt chạy về: "Thôi chết, em chưa đóng cửa bếp, sợ chủ biết thì khổ thân em". Cô ấy tên Nụ, một cái tên thường đặt cho người con gái để đi ở đợ, chủ dễ kêu, còn tên trong căn cước khai sinh là Phan Thị Tuyết sinh năm 1913 ở làng Mai Xá thị, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Làng đó chỉ là một thôn nhỏ giữa làng Mai Xá rộng lớn có con sông Phương Hàn chạy ra Cửa Việt. Mai Xá thị chỉ có vài chục túp lều tranh, quanh năm làm nghề đánh dậm bắt cá để sống qua ngày. Mẹ cô mất sớm, cha cô ở vậy nuôi ba con. Cô là con cả, em gái gần cô tên Hạnh cũng đi ở đợ trên tỉnh, còn một cậu em út tuổi thiếu nhi. Cha cô, người lùn có tật méo miệng, làm nghề chèo đò. Nuôi sống gia đình nhờ chiếc đò ngang đưa khách sang sông Phương Hàn, một bến đò cách Cửa Việt khoảng 6km. Cả gia đình sống trong một túp lều tranh sát bến đò. Tôi quen Nụ lúc Nụ đi ở cho một người Cai kíp ở bên cầu Tiên Yên, nơi chúng tôi ăn cơm tháng. Trước khi đi ở nhà ông Cai, Nụ đã đợ cho một ông Tây đồn điền tên Rocher có trang trại ở dầu cầu phía Nam cầu Tiên Yên. Nàng cũng có học chữ quốc ngữ nhưng không biết tiếng Tây, hò giã gạo thì giọng rất ấm áp và đối đáp cũng khá nhanh nhẹn. Tôi quen nàng qua một buổi hò đối đáp ở cối gạo nhà ông cai Pháp. Nàng không đẹp, có thể nói là xấu cũng không sai. Nhưng mãi cho đến nay, khi không còn tưởng tượng nổi bộ mặt nàng ra sao nữa, tôi vẫn nhớ kỹ một câu hò nàng kể cho tôi nghe khi hai đứa ngồi chờ đò ở bến đò chợ Chùa trên đường về thăm quê nàng. Nàng kể: "Chèo đò ngang này cũng đáo để lắm, bên kia bến đò có một ông Cố đạo nuôi một anh bồi, hằng ngày sai anh bồi lên tỉnh mua bánh mì và rượu chát về cho ông ăn uống vì ông chỉ ăn cơm tây. Hôm đó anh bồi về thì đò đã tách bến. Anh ta lên giọng kêu đò quay lại. Đò đã ra xa, cô lái đò chần chờ mãi mới cho đò quay lại đón anh ta. Anh ta bước xuống đò, tay xách chai rượu, nách cặp hai ổ bánh mì hùng hổ sấn tới gần cô lái đò, giáng vào má cô gái một cái tát tai: "Mi không biết tao là ai răng? Để tao kêu đò lâu rứa!". Cô lái đò biết anh bồi cậy thế ông Cố đạo nên im thin thít. Đò vừa ra giữa sông, cô lái đò cất cao giọng hò mái đẩy: "Ôi anh ơi, quốc gia thủy thổ anh đây, anh ham chi hai ổ bánh mì, giang tay đánh thiếp, khổ làm ri hỡi trời!". Cả đò đều nhìn vào mặt anh bồi, anh bồi cúi gằm mặt không dám ngừng nhìn ai cả. Câu chuyện ở bến đò chợ Chùa từ năm xưa vẫn còn mãi đến hôm nay (đã hơn nửa thế kỷ)
Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:14:29 pm Tôi chỉ đến Phương Hàn được vài tuần, nên không biết rõ về gia đình bên nhà gái. Ông già cô Nụ tính tình chất phác, bộc trực nhưng thương con và chàng rể tương lai. Tôi nhớ lần đầu tôi khom lưng bước vào túp lều thì đằng sau lưng cả đám chàng trai làng đi theo muốn gây sự. Tôi không sợ đám đông ấy vì biết mình thừa sức đánh lại nếu có đứa làm càn. Tôi vừa bước vào nền nhà bỗng có người sấn lại, cầm tay trái tôi kéo ra sân. Tôi trụ mình xuống, đưa ngay bàn tay phải lên phạt dọc cánh tay trái, thế là thoát, ông già vội đến sập các liếp cửa xuống để cho tôi khỏi bị tấn công. Tôi hỏi ngay cô Nụ: "Ở đây có ai là Tộc trưởng không, em mời đến ngay cho anh gặp". Ông già lách ra một lát sau dẫn về một ông già đầu bạc. Tôi rót rượu mời cụ rồi lễ phép khoanh tay thưa gởi nhờ cụ che chở. Cụ gật đầu biểu chống cửa lên. Bọn thanh niên không còn nữa. Tôi yên lòng ở lại vài ngày rồi trở về làng, thưa với mẹ đem trầu cau đến hỏi vợ. Cũng có trầu cau nhưng lễ cưới cũng đơn giản cha mẹ đôi bên có gặp nhau, không cần cỗ bàn, khách khứa, thế là yên bề gia thất. Nụ về quê chồng, hằng ngày vẫn gánh hàng ra chợ bán kiếm sống. Tôi được anh Vịnh giới thiệu sang Huế làm bồi cho Linh mục JB Thích, con thứ hai của cụ Thượng Mại, mỗi tháng được 7 đồng, ăn cơm với bồi bếp trường Providence, nơi Cha Thích ở và dạy học. Mỗi tuần chiều thứ bảy lội bộ về nhà. Ăn ở với nhau hơn một năm, Nụ sinh được con trai đầu lòng. Cả nhà đều vui mừng vì đã có người nối dõi. Nhà nghèo không có buồng riêng. Mẹ tôi cùng tôi tạo dọn cái chuồng heo bỏ trống sau bếp cạnh gốc cây mít bên rào nhà hàng xóm làm nơi ở cữ. Mẹ tôi làm bà mụ, có quần cũ làm tã lót và cái nôi đan bằng tre cật nứa mây cả hàng chục năm còn gác trên giàn bếp sau khi mẹ tôi sinh xong cô Hợi em tôi, được đem xuống lau chùi sạch sẽ để làm nôi cho đứa cháu đích tôn. Chưa đầy hai tuần, Nụ đã dậy gánh hàng xén ra chợ bán để kiếm thêm tiền chợ. Tiền lương của tôi được 7 đồng tôi mua 7 hộp sữa cho con, còn lại 3 đồng rưỡi phụ mẹ tôi để mua gạo. Con trai tôi èo uột thuộc loại suy dinh dưỡng, vợ tôi không đủ sữa cho con bú. Tôi biết vậy nên không dám làm gì sứt mẻ đồng lương và cũng không nói ra cho ai biết đồng lương và nghề nghiệp của mình, một loại ở đợ với danh nghĩa con nuôi Cha cố, một chức nghiệp chẳng có gì phô trương. Chúng tôi sống nghèo mà vẫn vui như vậy cho đến một ngày: đó là một chiều thứ bảy, tôi vừa cuốc bộ 12km từ Huế về làng, vừa bước chân vào ngõ đã nghe tiếng cãi vã trong nhà. Mẹ tôi đang mắng vợ tôi, tôi nhanh chân bước tới thấy mẹ tội và vợ tôi đang giằng nhau cây tre chống cửa. Tôi hỏi, em gái tôi nói: "Chiều mô đi chợ về cũng rứa cả". Tôi bước lại gần Nụ quát to: "Em nhịn mẹ không đặng à!". Nụ làm thinh. Tôi đến gần bên mẹ tôi đang ru thằng con tôi ngủ. "Mẹ nuôi cháu không có sữa đặng không?" Mẹ tôi bảo "Cháu tao tao nuôi, không bỏ cho ai nuôi cả". Đêm đó, cân nhắc bên hiếu, bên tình, tôi thảo tờ ly hôn đưa cho Nụ: "Em đọc xong suy nghĩ rồi ký tên vào". Nụ chỉ thắc mắc ra đi lấy chồng thì cả chồng và mẹ chồng đều đến tận nhà rước dâu, nay bỏ nhà chồng trở về một mình sợ cha không nhận nữa. Tôi nói cho Nụ rõ: "Nếu Nụ thuận ly hôn, tôi sẽ đích thân dẫn về nhà giao lại cho thầy, đừng sợ". Hôm sau thức dậy, Nụ giao cho tôi tờ thuận ly hôn có ký tên cả hai vợ chồng. Tôi hẹn Nụ sang gặp Cha Thích xin phép rồi trở về đưa nàng về quê. Hành trang lúc đi lấy chồng cũng như khi trở về nhà cũ vẫn không có gì khác nhau, không đầy một khăn gói buộc chéo quàng vai, nhờ tôi mang giúp. Chúng tôi dậy sớm nấu cơm bới đầy một mo cau, cùng nhau lên ga Văn Xá mua vé tàu đến ga Đông Hà, theo đường hỏa, đi xa bộ một quãng tìm một cái cống có bóng mát, dỡ mo cơm bới ra cùng ăn với muối mè. Bữa cơm cuối cùng chúng tôi ăn chung với nhau, không nói điều gì xúc phạm nhau thêm nữa. Xong bữa cơm, chúng tôi cùng nhau men theo bờ con sông Cửa Việt về làng Phương Hàn. Tôi biết việc đưa nàng về quê sẽ gặp nhiều phản ứng về phía ông bố vợ. Tôi sẽ trình bày không giấu giếm hoàn cảnh cơ cực của gia đình và chờ ông già cho ý kiến và sẵn sàng chịu một cây tre chống cửa vào đầu. Chúng tôi đang ở đầu làng Mai Xá chỉ còn 2km sẽ đến bến đò Phương Hàn. Gió đồng thổi lộng, trời nắng chang chang. Nàng bỗng cầm tay tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi nói rõ: "Thôi chúng mình chia tay nhau nơi đây, anh khỏi cần đưa em về nhà nữa. Anh về nhà thì thầy em đánh anh đến chết thôi. Anh ráng làm có tiền để nuôi con". Tôi hỏi: "Ở làng em có người yêu không?". "Có, anh ấy tên Sanh là giáo viên". Dù sao lấy chồng người làng vẫn tốt hơn, tôi kết luận. Bất thần tôi ôm nàng vào hai tay, ôm hôn thắm thiết. Chúng tôi đã gặp nhau không một lời thề thốt, hẹn hò, không kịp có một cái hôn say đắm thì nàng đã chạy biến về nhà lo đóng cửa bếp. Bây giờ xa nhau chẳng lẽ không để cho nhau dư vị một nụ hôn? Nàng đã lấy chồng không một đôi bông tai của chồng để làm của riêng, ra đi để lại cho nhà chồng một đứa con trai để nối dõi tông đường, thế là quá đủ. Phận gái 12 bến nước, gặp bến đục, phải chọn bến trong hơn. Thế thôi.
Sau này tôi có hỏi thăm biết rằng nàng đã có chồng, có con, tôi không mong gì hơn nữa. Tôi trở về nhà ngay theo chuyến tàu đêm. Nhìn đứa con trai còn nằm ngủ trên chiếc nôi ngon lành, mẹ tôi vẫn thức ru cháu. Tôi không nói gì. Mẹ tôi vẫn không hỏi tôi kết quả chuyến đi. Thằng con trai vẫn không hay biết gì về mẹ nó. Nó đang ngủ say và dù thức dậy cũng thế thôi. Nó mới 4 tháng rưỡi, bú sữa bò, thiếu ăn, thiếu thuốc và thiếu cả tình thương của mẹ cha! Từ năm 1930 đến 1935, tôi đã lớn lên về thể xác cũng như về tinh thần đủ sức đương đầu với những khó khăn thử thách, nghèo khổ và thất nghiệp. Cuộc sống còn lắm khó khăn, nhưng tôi vẫn tin vào sức mình, vào bạn bè, vào làng xóm quê hương. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:16:48 pm CHƯƠNG 3 TÔI LÀM BÁO 1936... Khủng hoảng và thất nghiệp, mất mùa và đói kém ở khắp nơi! Tôi sống trong khung cảnh ấy từ nhỏ đến lớn, nên cũng quEn, không thấy buồn tủi khi bị mất việc. Vả chăng lao động nặng nề 10 tiếng một ngày vất vả hơn cả nông dân trên đồng ruộng, mà chỉ lãnh được 0,20 Đồng một ngày công thì khó nuôi được gia đình. Phải tìm cách khác để sinh sống, miễn đừng làm đầy tớ cho người khác. Sẵn có năng khiếu từ nhỏ, quen học người lớn đan dát, tôi xin ông cậu ruột một cây tre, tự chẻ ra vót nan đan một chiếc ghe câu vừa một người ngồi, mua sắm chỉ và lưỡi câu để làm hai cần câu đi câu cá trên sông Bồ, góp phần cùng gia đình để sống qua ngày. Một hôm, anh Vịnh ở Huế về thăm. Tôi biết anh đã đi hoạt động Cách mạng từ mấy năm trước, nhờ ông Cha Thích (con cụ Tiểu Cao người cùng làng) xin cho một chân bồi trường Thiên Hựu (Providence) để có bình phong hoạt động ở Huế. Thấy hoàn cảnh tôi không có việc làm, sống lây lất, nên bảo tôi sang Huế, anh sẽ giới thiệu với ông Cha Thích để làm bồi thay anh, trước là để tôi có tiền lương ổn định, sau là để anh rảnh chân chạy lo công việc. Tôi hiểu ý anh nên theo anh. Linh mục JM Thích là người con thứ hai cụ Tiểu Cao, bỏ nhà quan, theo nhà thờ, lúc nhỏ học trường Dòng, lớn lên vào Chủng Viện, được Giáo Hội đào tạo thành Linh Mục Thiên Chúa giáo. Linh mục Thích vốn biết cha tôi, nên nhận lời ngay. Thế là từ một anh cu li thất nghiệp, tôi trở thành một người bồi phòng cho trường Thiên Hựu mà Cha Thích, giảng viên Triết học trường tư thục Thiên Hựu, thuộc dòng Thừa Sai Pháp. Công việc hàng ngày cũng nhàn hạ hơn làm công nhân. Dọn phòng cho Cha Thích và tiếp tay với anh em bồi bếp khác khi làm tổng vệ sinh toàn trường. Tôi được Cha Thích cho mỗi tháng 7 đồng để nuôi mẹ, nuôi con, nuôi em. Hàng tháng tôi trích 3 đồng 50 để mua 7 hộp sữa Nestlé còn hơn 3 đồng đem về nhà cho mẹ mua gạo. Nhà trường cho ăn cơm chung với bồi bếp, khỏi trả tiền cơm. Trường Thiên Hựu là một trường có hai tầng lầu được khá khang trang so sánh với tất cả các trường tư thục khác của kinh thành Huế. Giáo viên hầu hết là các Linh mục, Thừa sai Pháp. Chỉ có Cha Thích và ông Tạ Quang Bửu là giáo viên người Việt. Mỗi người đều có phòng ở riêng trên lầu hai. Tôi ở ngay trên cái chuồng cu nằm ngay đầu cầu thang nhìn ra sân thượng, rất thoáng mát, được nhìn bao quát bọn phía chân trời kinh thành Huế. Tôi lại có điều kiện để rèn luyện thêm thân thể và tự học Pháp văn, vì sẵn có thư viện nhà trường, tha hồ đọc sách. Cũng tại trường Thiên Hựu này, tôi được đọc bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp, Tư bản luận của Mác-Engel, Nguyễn Ái Quốc, sách bằng tiếng Pháp. Nhờ tình cờ lọt thân vào giữa đống sách Triết học và Thần học của Aristote, của St Thomas d'Aquin, của St Augustin trong tủ sách Cha Thích. Ở đây, sách cấm không bị mật thám dòm ngó tới. Tính hiếu học là vốn cổ truyền của cha ông gieo lại cho tôi nên phần nào đó, tôi được thỏa mãn, không mất tiền, không sợ bị lộ. Năm 1936, cũng là năm ở Pháp có phong trào Chính phủ Bình dân lên cầm quyền, chính sách thuộc địa của Pháp cũng buộc phải nới rộng hơn: cho phép tự do xuất bản báo chí ở Huế. Phía Cộng sản cho xuất bản tờ "Nhành lúa". Ngày 15/1/1937, tờ "Nhành lúa" ra đời. Lúc đó có các đồng chí Phan Đăng Lưu, Hải Triều, Tố Hữu chủ trương. Nguyễn Xuân Lữ làm chủ nhiệm. Phía Công giáo, do Linh mục Thích chủ trương, cũng xin xuất bản tờ "Vì Chúa". Hai tờ báo có hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, trớ trêu thay lại có chung một trụ sở trong ngôi nhà trệt, cất hình chữ L ở góc đường An Cựu, cạnh trường Thiên Hựu. Một cánh về phía trường Thiên Hựu là tòa soạn báo "Vì Chúa", cánh bên kia nhìn ra đường cái là tòa soạn báo "Nhành lúa". Ban biên tập báo, "Vì Chúa" chỉ có mấy người: ông Cảnh, một ông Công giáo tư sản bán nước mắm, có nhà ở phủ Cam làm Chủ nhiệm, chịu bỏ vốn ra để có tên tuổi trên báo, không viết được bài nào. Linh mục Thích là Chủ bút. Tòa soạn có hai anh: Cương Minh, quê ở Thanh Hóa, phụ trách bình luận thời sự quốc tế, Bùi Tuân, gốc Bình Định làm nhiệm vụ phóng viên, và một thư ký đánh máy Nguyễn Quí Biền, người Quảng Bình. Tôi đang làm bồi dọn phòng, bỗng nhiên Cha Thích đưa tôi một bài báo tiếng Pháp, trích trong tờ báo "La Croix" (Thập tự) biểu tôi dịch ra một đoạn ngắn không đầy nửa cột báo. Tôi dịch xong, Cha Thích nhìn tôi khen: "Con viết được đó. Thôi từ mai, con khỏi làm bồi ở trường nữa. Con chuyển sang làm báo đi. Về nhà ông Cảnh mà ở, lương vẫn 7 đồng/tháng, ăn ở luôn nhà Chủ nhiệm báo". Tôi mừng rơn, vì được thoát khỏi chân bồi, trở thành nhà báo, một trí thức "ngang hông". Cha Thích giới thiệu tôi vào Đoàn Hướng đạo sinh (Routier) Lý Thường Kiệt, ở đó chỉ toàn là công chức, thừa phái làm việc cho Chính phủ Nam Triều. Tôi được dịp tìm hiểu thêm về phong trào Hướng đạo sinh và thực tế chỉ sinh hoạt có hai lần. Một lần họp ở Thành Hội do anh Trần Thanh Đạm là huynh trưởng, một lần đi cắm trại ở Bạch Mã do Cha Thích hướng dẫn. Tôi làm thêm về kỹ thuật cắm trại và làm trinh sát của hướng đạo sinh, nhưng vẫn thấy mình lạc lõng giữa đám đông con ông cháu cha, thầy thông, thầy ký. Dù sao biết thêm một số kiến thức về hoạt động trinh sát và khi cắm trại ngoài trời cũng có ích cho một thanh niên ham thích hoạt động xã hội. Nói cho công bằng, tờ báo "Vì Chúa" cũng là một tờ báo thuần túy theo giáo lý Công giáo và Linh mục Thích là một bậc tu sĩ thuần túy có lòng thương người theo kiểu Giám mục Bienvenue trong tác phẩm "Những người khốn khổ" (Les misérables) của Victor Hugo, ông không muốn làm chính trị, nhưng chính ông lại là người đã viết cuốn sách "Mặt nạ Cộng sản", mà hồi đó, tôi đọc cũng đã tỏ ý không tán thành rồi. Trong cuốn đó, tôi nhớ một chuyện mà tôi đã phản ứng. Chuyện kể về một nữ giáo viên Liên Xô, trong giờ dạy về tình dục, đã bị một học sinh cưỡng dâm tại lớp. Đọc xong, tôi hỏi: "Cha đi Nga bao giờ mà biết chuyện đó?" Cha Thích giải thích: "Thì mình cũng dịch theo báo La Croix đã đăng!". Tôi bảo: "Con không tin". Ông lặng thinh. Nhưng có một lần, chừng vào năm 1939, viên toàn quyền Decoux ghé thăm Tiểu Chủng Viện An ninh, đã gặp Cha Thích. Sau cuộc gặp đó, Cha Thích nói với tôi: "Decoux nó muốn cho báo mình 10.000 đồng, nhưng mình không nhận, mình không muốn làm chính trị, chỉ muốn viết báo "Vì Chúa" mà thôi". Bắt đầu viết báo, nhờ tủ sách của Cha Thích, tôi có cơ sở để tìm hiểu về chủ nghĩa Cộng sản và phong trào chống thực dân đế quốc, lẫn đạo lý Thiên Chúa giáo và Giáo hội Vatican, nhận thức vẫn còn quá nông cạn, chưa đủ để tranh luận, phân biệt chân lý, nhưng vẫn thừa nhận, tuy chống Cộng về tư tưởng, Cha Thích vẫn lấy quan điểm "Mến Chúa. Yêu người" mục đích cuộc sống cho đến trọn đời, và chưa bao giờ thấy ông ta lên tiếng bài bác các nhà làm Cách mạng cả. Tết năm 1940, ông còn lấy 15 đồng tiền của con chiên xin Cha làm lễ, biểu tôi đem biếu cụ Phan Bội Châu, nhân lúc gần đây Cụ túng thiếu vì số người gửi tiền ủng hộ Cụ đăng trên báo "Tiếng Dân" ngày càng thưa dần. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:18:46 pm Từ ngày vợ đầu ly hôn, để lại đứa con 4 tháng tuổi cho mẹ tôi nuôi, tôi đi làm ở Huế, hằng tuần vẫn về thăm nhà. Một năm sau, tôi gặp lại người mà cha mẹ tôi đã chọn cho tôi hồi còn nhỏ. Người con gái cùng quê đó là Võ Thị Tường, gọi là "Chắc con", con gái út vợ kế của ông Võ Bá Cường, thường gọi là Lý Cường, bạn của ba tôi, người đã giúp xin việc cho tôi đi làm phu kíp. "Chắc con" lớn hơn tôi hai tuổi, lúc gặp thì đã có đứa con trai với anh Nguyễn Văn Bức, con nhà giàu. Gia đình là bà giáo Hoàng, mẹ của Bức, không đồng ý vì lẽ không môn đăng hộ đối, không cưới. "Chắc con" về với gia đình, ở nhờ nhà ông anh ruột, là anh Võ Hòa, làm thơ ký Sở Trường Tiền.
Tôi gặp "Chắc con", thấy hoàn cảnh ấy, nên "cạp lại rổ rá" giúp nhau đỡ khổ trong cuộc sống, vì đôi bên đều nghèo như nhau. Tất nhiên không cần làm đám cưới, nhưng vẫn xin giấy Giá thú ở làng. Viên Hương Kiểm (tôi nhớ như là Kiểm Lẫm) nhà ở xóm Đình, bắt tôi phải biện đủ một chai rượu, một mâm trầu cau và 0,20 đồng lệ phí mới cấp giấy kết hôn. Tôi bàn với vợ, tụi mình lấy nhau, đã có con với nhau rồi, dù không giấy tờ cũng không ai bắt mình phải xa nhau, không cần phải biện lễ cho ai hết. Thế là xong chuyện. Ông nhạc tôi đặt tên cho đứa con trai cháu ngoại, lấy họ tôi: Trần Phụ Nguyên. Tôi chỉ xin sửa lại chữ lót: Trần Anh Nguyên, ý muốn cho đứa con lớn lên sẽ là anh của đứa con tôi với Nụ là Dũng. Và mong cả hai con sau này trở nên người anh dũng để góp sức với đời. "Chắc con" từ khi mang tai tiếng với Bức, bây giờ lại đem con về làng ở chung với mẹ ruột, bà nhạc tôi, cùng một họ với tôi. Có thêm vợ con, tôi phải kiếm thêm việc làm để nuôi sống những miệng ăn mới. Tôi xin làm "thầy cò", tức là thợ sửa bản in nháp (correcteur de morasse) cho tờ nguyệt san "Giáo dục Tạp chí" của Bộ Học (Giáo dục) Chính phủ Nam Triều, do ông Nguyễn Khoa Toàn, Tham tri, làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, lại làm thêm Phóng viên thường trú cho tờ báo: "Tin Mới" ở Hà Nội, do bác sĩ Nguyễn Tấn Gi - Trọng làm Chủ bút. Thế vẫn không đủ sống, vẫn sống quen nếp sống ở thành thị, quên mất cuộc sống chân lấm tay bùn,; nên tôi phải tìm thêm việc cho vợ tôi, chẻ nan, đan sáo để bán lại cho Cha Thích, vẽ tranh tứ bình, một phần để tiêu khiển, một phần để giúp cho vợ tôi có công ăn việc làm. Tôi ghi nhớ công ơn của người cha đỡ đầu. Có một bận, gia đình hết gạo ăn, tiền tháng tôi đưa về cho cả hai gia đình là 60 đồng, vợ tôi nướng sạch trong một sòng tài bàn náo đó. Tôi túng quá, phải làm liều. Tuy viết báo hằng ngày tôi vẫn chăm lo dọn phòng cho Cha Thích, ăn cơm chung với Cha, nên biết rõ trong tủ Cha còn để dành một xấp nhiễu màu tím của một con chiên biếu Cha. Cha để dành sau nầy nếu được phong Giám mục thì sẽ may áo. Tôi dọn tủ rồi đánh cắp xấp nhiễu đưa cho vợ tôi về bán để mua gạo. Tối giấu luôn cái tội trọng đó. Mấy tháng sau, nhân một ngày lễ tụng nào đó. Cha Thích mở tủ không thấy xấp vải hỏi tôi, tôi phải thú thật. Vị Linh mục đáng kính ấy chỉ nhìn tôi, thông cảm, không nói một lời. Chuyện đó làm tôi nhớ lại thái độ của Giám mục Bienvenue, khi thấy cái chân đèn bạc bị lấy cắp. Khác với ông Chủ bút, ông Chủ nhiệm Cảnh, một con chiên gọi là ngoan đạo, sáng nào cũng rước Chúa vào lòng tại lễ sớm Nhà thờ Phủ Cam thì được Bùi Tuân đặt cho cái biệt hiệu "Tartuffe", một nhân vật đạo đức giả của Molière. Tôi ở trong nhà ông ta, nên cũng đồng tình với nhận định đó. Điều kỳ lạ là buổi chiều, hai vợ chồng cãi vã vì chuyện ông Cảnh tằng tịu với người tớ gái, thì sáng hôm sau, ông Cảnh vẫn quì gối trước bàn nguyện, hít hà đọc kinh, đấm ngực và lên rước Chúa vào lòng. Bản tính hay tò mò, lại được huấn luyện về thủ đoạn trinh sát của Hướng đạo sinh, tôi thấy ngay trong trường Thiên Hựu cũng có hiện tượng đáng theo dõi. Một Linh mục Thừa sai, rậm râu nhưng tuổi còn trẻ, giáo viên nhà trường tên là Douchet, có một chiếc xe hơi riêng, do gia đình bên Pháp gửi cho, đến cuối tuần, tự lái xe lên Phủ Cam, đón một cô gái gia đình có đạo, chở đi chơi đến tận khuya mới về. Sáng sớm hôm sau, tôi vẫn thấy vị Linh mục trẻ tuổi ấy, vẫn mặc áo lễ, vào nhà thờ làm lễ Chúa không chút ngần ngại. Tôi đem thắc mắc lên hỏi Cha Thích, Cha cau mày, nhưng vẫn nghiêm trang đáp: "Không sao cả, nếu họ có tội biết ăn năn hối cải thì Chúa vẫn tha tội cho họ". Vì đã có nghiên cứu giáo lý, nên tôi hỏi nhẹ: "Nhưng họ đâu có thì giờ để dí xưng tội mà được tha?" - "Trong trường hợp nào đó, họ có thể rước lễ trước, xưng tội sau vẫn được". Không nói ra, nhưng tôi thầm nghĩ: "Thế là Chúa vẫn dễ bị con chiên qua mặt. Hay là điều lệ Giáo hội vẫn có khoản để bao che cho tín đồ?". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:19:51 pm Tôi còn nhớ mãi câu chuyện tôi được giải nhất trong cuộc thi ca do báo "Vì Chúa" tổ chức, vào đầu năm 1938. Ban Giám khảo do nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm chủ khảo. Tôi viết một bài ca "Nam Bình", nhan đề "Maria cầu Mẹ" được giải nhất. Tôi hớn hở bước vào văn phòng tòa soạn để lãnh giải. Ông Cảnh bắt tay tôi chúc mừng và trao cho tôi chiếc lộc bình (lọ hoa) bằng đồng là giải thưởng. Tôi ôm cái bình cổ vừa bước ra khỏi cửa tòa soạn, thì bỗng đâu bà vợ chủ nhiệm chặn lại, nói với tôi giọng con buôn: "Này anh Hiến! Anh nhà tranh vách đất đem cái ni về chưng ở mô? Thôi, để lại cho tôi. Tôi cho anh 15 đồng, về mua gạo mà ăn, còn hơn". Tôi bực mình chần chờ một lát, suy nghĩ lại cũng đúng, đành chịu. Dù sao, cũng phải thừa nhận bà ta hiểu đúng tim đen mình. Hai ông bà chủ nhiệm chắc đã bàn bạc kỹ trước khi trao tặng phẩm cho người trúng giải. Chúa ở trên trời đâu biết những ngóc ngách nầy của con người trần thế!
Trong những bạn cùng tòa soạn, tôi còn ghi nhớ mãi những nét tính cách từng người viết báo "Vì Chúa", nhưng không một ai bán nước hại dân. Tôi nhớ anh Bùi Tuân, một phóng viên khá sắc sảo, nhà nghèo, không nhà, hai vợ chồng sống dưới chiếc đò dưới cầu Phủ Cam. Anh ta có đạo, nhưng không ngần ngại đặt tên cho chủ nhiệm Cảnh là "Tartuffe" (đạo đức giả) mà không sợ tôi nói hành. Có một lần, năm 1939, Tuân đại diện cho báo đến dự cuộc họp, do Sogny triệu tập các báo ở Huế, để bắt các báo vận động đồng bào đi lính cho Pháp để đánh đuổi quân Xiêm (Thái Lan) đang gây hấn ở Đông Dương. Đi họp về, Tuân kể lại: "Các báo không nói gì, chỉ riêng cụ Huỳnh Thúc Kháng ở báo "Tiếng Dân" lên tiếng: "Quân Xiêm có đánh Đông Dương thì nước Pháp mới có đủ quân lính súng đạn để đánh lại, còn người Việt Nam chúng tôi, đến cái rựa, cái mác cũng không có đủ dùng, lấy chi mà chống lại nó". Đó cũng là tâm trạng chung của giới cầm bút. Hồi đó phóng viên Cường Minh vô thần, không vợ, không con. Lấy bàn viết làm giường ngủ, lấy tình bạn làm thú vui, chuyên bình luận thời sự quốc tế. Năm 1939, cũng là năm chủ nghĩa phá xít hoành hành ở châu Âu: Đức tấn công Pháp, ở châu Á Nhật đang xâm lược Trung Quốc; Cường Minh đã có một lời nhận xét khá sắc sảo: "Cái hiểm họa của thế giới, suy rộng ra là tinh thần chủng tộc, thu hẹp lại là nghĩ mình hơn mọi người!". Cũng trong năm, Cường Minh đã từ giã cái thế giới đầy hiểm họa này, nhưng câu nói đó đã theo tôi suốt cả cuộc đời, như một phương ngôn. Chúng tôi đã lo cho anh yên nghỉ dưới chân núi Ngự Bình, và thay lời điếu văn, đã có hai bài thơ ngắn khóc anh trên tờ "Vì Chúa" trang nhất, nơi trang trọng nhất. Trong số cộng tác viên, có anh Trần Ngọc Giao, người Bình Định, tuổi trẻ, có một vợ, một con, cũng vô thần và vô sản, anh cũng mất ở Huế, và chúng tôi đã góp tiền để tiễn gia đình anh trở về quê. Tuy đau ốm, anh vẫn cố viết cho báo. Tôi nhớ mãi hai bài thơ tứ tuyệt cuối cùng của anh đả kích bọn tham nhũng, hồi đó chúng tôi gọi là lũ tham quan ô lại. Hai bài thơ ấy, đến nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi: VỊNH ĐAU BỤNG Nào có ăn gì sung sướng đâu! ........ Cơm thì xoàng xĩnh cháo cùng rau, Cớ sao bụng vẫn sinh đau nhỉ? Đến nỗi mày nhăn, mặt phải cau?! ......... Đến nỗi mày nhăn mặt phải cau! Bất bình trời hỡi! Cớ làm sao? Những phường ăn bẩn ních đầy bụng, Sao chẳng làm cho chúng nó đau! Hai bài thơ ấy cũng được đăng trang nhất của tờ báo "Vì Chúa". Với danh nghĩa là con nuôi Cha Thích, tôi dọn phòng ngủ cho cha và được ăn cơm chung với Cha khỏi trả tiền. Là một nhà báo, tôi lo sắp xếp bài vở qua lại tòa soạn và nhà in "Viễn đệ" làm việc như một thơ ký tòa soạn thực thụ, nên được trả lương cao hơn các phóng viên khác. Viết bài cho báo, tôi chọn ngay cái bút danh là "Học Trai", cái biệt hiệu mà cha tôi đã đặt cho tôi lúc còn đi học. Nghề viết báo đa dạng, khi thiếu thơ thì làm thơ, khi vắng bài thời sự thì tổng hợp tin tức để viết, có khi chen vào viết truyện dài, vì tác giả ốm, nằm bịnh viện. Thông thường khi dịch đăng những bài của báo "La Croix" tờ báo Công giáo của Pháp, chủ yếu là tờ "Nhân đạo" (Humanité), nên tôi đã có những bài viết khá thú vị, đến nay tôi còn tâm đắc. Lục trong tủ sách Cha Thích có cuốn "L'Orgine du monde" (Nguồn gốc thế giới). Giải thích quả đất hình thành từ một đám tinh vân, tác giả là một tu sĩ người Anh ở thế kỷ 17, được các báo chí tiến bộ đánh giá là một nhà triết học theo học thuyết Darwin, có xu hướng duy vật lịch sử, tôi dịch đăng luôn trên tờ "Vì Chúa" liên tiếp hàng chục số. Cha Thích không phản đối. Dù sao tác giả cũng là một tu sĩ Thiên chúa giáo, lấy từ nhan đề ở Mỹ vạch trần hàng tá bọn chủ tư sản. Một bài báo nhan đề "Lịch sử cây đèn dầu Hoa Kỳ" bóc trần thực chất thủ đoạn bóc lột nhân dân Đông Dương của tập đoàn tư bản lũng đoạn dầu lửa của Rockefeller, thông qua các hãng Shell và Mobiloil chủ yếu là lấy nội dung từ một bài báo "Hunanité du Dimanche" kết hợp với thực tế cuộc sống ở vùng nông thôn quê nhà. Bài ấy được tờ báo Lao Động (báo của Đảng) hồi ấy xuất bản tại Hải Phòng, đăng lại nguyên văn choán cả trang ba. Đó là một vinh dự bất ngờ mà tôi không dám đem khoe. Ngoài ra, để hưởng ứng phong trào chống bọn tham nhũng và bọn mật thám Pháp, tôi đã viết một bài "Cuộc đời con chó săn" và một bài "Cải vòng luẩn quẩn của hai chai bia" dưới dạng trào phúng (Nhân cơ hội tòa soạn báo "Vì Chúa" dọn theo Cha Thích ra ở Tiểu Chủng Viện An Ninh thuộc phủ Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị). Bài sau này tôi giấu tên thật, nhưng không biết do một thủ đoạn nào đó, viên tri phủ Vĩnh Linh, người bị đả kích trong cốt truyện đã biết ngay tôi là tác giả, gởi trát đòi tôi hầu tòa, hăm dọa bỏ tù "mọt gông". Tôi vẫn bình tĩnh với một lập luận đanh thép để tự bào chữa: "Đúng là bài cùa tôi viết, nội dung câu chuyện cũng có thật, nhưng tôi không nêu tên quan. Nay quan phủ bỏ tù tôi, hóa ra làm cái việc "Lạy ông tôi ở bụi này" sao? Phiền thật, nhưng không phải cho tôi, mà cho thanh danh của ngài đó!". Trần Mậu Trinh, viên tri phủ Vĩnh Linh, quen ăn hối lộ mỗi lá đơn là 0,20 đồng kèm hai chai bia "con cọp", buộc phải để tôi ra về thong dong với một lời tiễn không dễ lọt tai mấy: "Đồ xỏ lá!". Nghe đâu, Trần Mậu Trinh, sau này, năm 1945, đã bị nhân dân Vĩnh Linh xử tội tử hình. Đúng là với những kẻ tham ô, công luận phải được kết thúc bằng công lý. Tin ấy do cụ Duyên, ông thầy đờn, chú của nữ nghệ sĩ nhân dân Châu Loan cho biết, lúc hai chú cháu ra hội diễn ở Nhà hát Nhân dân Hà Nội năm 1957. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:22:14 pm Từ năm 1940, vì cuộc sống của gia đình, tôi phải chữa bản nháp cho tờ tạp chí "Giáo Dục" in ở nhà in báo Tiếng Dân. Từ làm anh thợ sửa bản nháp, dần dần chịu khó học hỏi thêm, nhân một dịp thiếu bài điền vào cột trống, tôi tự ý làm một bài thơ tám câu đưa cho ông Huân đạo Trần Đình, cháu nội của Trần Tiến Thành xem, và được duyệt y cho đăng. Thế là từ một anh thợ sửa bản nháp, tôi chuyển lên làm thơ ký tòa soạn, hữu danh vô thực. Tiền công trả theo tháng, nhưng làm việc tùy hứng, miễn sao tờ tạp chí ra đều đặn hàng tháng là được. Công việc biên tập chỉ có sửa chữa bản nháp, liên hệ kịp thời với nhà in, và dịch những bài báo bằng Pháp văn của ông Tham tri Nguyễn Khoa Toàn ra Việt văn để đăng trên tạp chí. Nguyễn Khoa Toàn là anh em với Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, nhưng xu hướng chánh trị cũng như phong cách hoàn toàn khác nhau. Hải Triều là một nhà tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng sản, dịch và viết sách về cách mạng vô sản, sống rất giản dị, ngược lại, Toàn là một con người hãnh tiến, làm quan Nam Triều, nhưng chỉ nói chuyện bằng tiếng Pháp, ham thích hội họa và chỉ vẽ tranh khỏa thân. Tôi còn nhớ, để thử tài, lần đầu tiên ông giao cho tôi dịch một bài ông viết "Về cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp sư phạm: "qui nạp và diễn dịch" (la lutte entre deux méthodes pédagogiques: l'induction et la déduction) viết bằng Pháp văn, dùng toàn những danh từ triết học, vừa khó hiểu, vừa tối nghĩa, hẹn trong một tuần cho xong. Tôi đem về nhà hết lật từ điển Petit Larousse" lại đến từ điển Pháp-Việt Đào Duy Anh để tra cứu. Gặp một chữ khá hiểm hóc: "Amorphisme" - Tôi lật cả sách vở, không tìm đâu ra chữ nghĩa để dịch cho được. Tôi dịch liều là: "Thuyết vô hình tượng!". Đến nay, tôi vẫn không biết đúng hay sai. Nhưng đọc xong bản dịch của tôi, Toàn khen hay và còn tán tụng, "C'est un type très érudit" (một tay rất uyên bác!), làm tôi nghe kể lại cũng nở mũi như "chó ngáp phải ruồi". Có một lần vui chuyện, Toàn rủ tôi làm đơn xin vào làm thừa phái (một ngạch quan lại Nam Triều, ngang bậc với thơ ký bậc 7 của Chính phủ Bảo hộ Pháp, nhưng được mang thẻ bài ngà với hàng chữ "Hàn Lâm viện đãi chiếu" đeo lủng lẳng trước ngực như mọi quan chức Nam Triều). Tôi cười và lắc đầu, xin "cảm ơn" lòng tốt của quan lớn. Thật ra cũng khó giải thích lý do từ chối cho một vị đường quan. Đối với tôi thì thật đơn giản. Tôi được trả lương mỗi tháng hơn 40 đồng. Mỗi tuần chỉ làm việc hai ngày là xong chuyện. Thì giờ còn lại, tôi làm cho báo "Vì Chúa", tùy thích muốn về làng lúc nào cũng được. Thanh niên trong làng tôi vẫn biết tôi thích đua ghe và biết một vài miếng võ "mèo quào" nên hay rủ tôi đi trong các cuộc đình đám, có đấm đá nhau. Làm công chức thì gò bó, giờ giấc không chịu được. Mỗi sáng, bất kể trời mưa, nắng, tôi vẫn đội nón lá, mang áo tơi (nếu trời mưa) đi bộ từ quê lên dinh (thành phố) với đôi guốc mứt lẹp kẹp. Đến Bộ Học (Bộ Giáo dục) tôi ngồi vào một góc của cái nhà kiểu bánh ít, cột lim cũ kỹ, máng nón lá vào cây đinh trên cột, quay lưng lại các quan chức, đang ngỗi chễm chệ ở cái bàn đặt giữa nhà theo thứ tự: Thượng thư (Bộ trưởng) ngồi bàn trong cùng, có lính "anh danh" đứng hầu điếu đóm. Lần lượt các quan tham tri (tẩm phẩm) tá, lý (tứ phẩm hoặc tùng tam) Huấn đạo v.v... theo thứ tự ngạch, bậc của triều đình. Mỗi sáng, đúng 7 giờ, chiếc còi xe hơi bóp tay nghe kêu trước cổng báo hiệu quan thượng thơ đến văn phòng Bộ. Thượng thư Bộ học (giáo dục) lúc bấy giờ là ông Trần Thanh Đạt - anh của nhà văn Trần Thanh Mại và nhà thơ Trần Thanh Tịnh. Thấy cụ Thượng thơ đang đủng đỉnh xuống xe, mang áo gấm, đi hài thêu, khoan thai bước lên thềm, thì trong nầy các quan, bất kể lớn nhỏ, đều đứng nghiêm chỉnh trước bàn làm việc, đưa tay sửa lại vành khăn đóng chữ "nhơn" cho ngay giữa trán, sờ lại cổ áo đã gài nút cổ áo chưa, sửa lại bài ngà đeo lủng lẳng trên khuy áo bên phải cho ngay ngắn, bày hàng chữ đỏ ra ngoài. Xong xuôi, khoanh hai tay trước ngực, lẳng lặng cúi đầu, đứng ra hai bên chừa hàng giữa cho cụ Thượng bước vào. Tôi phớt lờ, cứ ngồi trong góc, tranh tối, tranh sáng, cặm cụi sửa bài vở, như không biết có chuyện gì xảy ra sau lưng mình. Tôi nhớ rõ, một lần cụ Thượng dừng lại hỏi ông Toàn câu gì đó tôi nghe không rõ. Chỉ nghe ông chủ báo đáp: "Bẩm cụ", "xừ" đó là người thuê ngoài vào làm để sửa bài cho kịp lên khuôn". Thế là từ đấy, không nghe cụ thượng hỏi han đến nữa.
Động cơ nào đã thúc đẩy tôi có thái độ khinh mạn ấy? Hồi ấy, tôi không phân tích, chỉ biết tâm trạng mình vốn từ lâu đã ghét cảnh giàu sang quyền quí, đối lập với cảnh đói khát, nghèo nàn ở quanh làng xóm thân thương. Chỉ đơn giản thế thôi, mà 17 tuổi tôi đã không màng chức thư ký nhà giây thép, 19 tuổi đã từ chối vào cung nội làm thị vệ cho Bảo Đại, và 25 tuổi đã từ chối cái bài ngà hàn lâm viện đãi chiếu của Nam Triều. Cũng có một phần không kém quan trọng là, cái câu "Học để làm người tốt" cha tôi đã dạy. Như một động cơ tốt thúc đẩy tôi tìm cho được con đường lý tưởng chân chính của một thanh niên trong cảnh nước mất nhà tan? Cái động cơ ấy cũng được luôn luôn các bạn bè thân thích nhen nhúm ngọn lửa nhiệt tình qua phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Châu Trinh, để tang cụ Phan Bội Châu trong sinh viên, học sinh ở Huế v.v... Biết mình không thể dửng dưng đứng ngoài cuộc, tuy không phải là đảng viên, lại viết báo Công giáo, tôi vẫn tùy sức giúp đỡ cho bạn bè, mỗi khi cần và có thể làm được. Tháng 4 năm 1937, phong trào đón Gôđa (Gustin Godard - Nghị sĩ Đảng xã hội Pháp trong Mặt trận Bình dân Pháp) sang kinh lý Đông Dương, đến Huế. Tôi cũng đi. Nhưng vừa lên đò ở Bến Tượng, vào khoảng hơn 7 giờ sáng, thì ở bến đò đã có một mật thám, đứng bên cạnh có ông Bát Vân, lính Thừa Phủ, người cùng làng. Gặp tôi, ông kéo riêng, nói nhỏ: "Mật thám cho đón bắt những ai đi đón Gôđa đó". Tôi giật mình, bước lên bến đò đã thấy anh Nguyễn Hùng lững thững đi tới, tôi chặn lại, tin cho anh biết. Anh cho tôi rõ: "Cuộc mít tinh thất bại, vì bọn mật thám đã cho lính giải tán, và chúng đã bắt anh Vịnh (Nguyễn Chí Thanh) đi rồi". Anh dặn tôi: "Cứ đứng đây, có anh em nào về thì chỉ cho họ con đường khác để tránh bọn mật thám". Nhờ vậy, tôi đã chỉ cho hai anh Hoàng và Tiềm, ở làng Thanh Lương thoát lưới mật thám. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Ba, 2026, 08:23:32 pm Sau vụ biểu tình đón Gustin Godard, Sogny - chánh sở mật thám Trung kỳ vẫn gia tăng khủng bố những đảng viên nào đã lộ mặt hoạt động công khai từ năm 1936, công việc làm báo tự do cho tôi nhiều dịp giúp đỡ bạn bè hoạt động cách mạng, thoát khỏi bàn tay mật thám. Năm 1938, tình cờ về thăm nhà, tôi được dịp làm nhân chứng một cảnh xét nhà người hàng xóm, do hai tên lính lệ ở huyện Quảng Điền đem trát về đòi bắt Nguyễn Bật và xét nhà, có chứa đồ quốc cấm. Nguyễn Bật vắng nhà. Chúng cho gọi tôi sang làm nhân chứng để xét nhà. Trong nhà chỉ còn lại bà cụ già, tuổi ngoài 80 (mợ Bó) và mấy đứa em của Bật. Tôi biết nhà Bật có tài liệu tuyên truyền trên bàn thờ để chuyền tay nhau đọc. Tôi đi thẳng lên nhà trên, vén sáo tre với tay lên bàn thờ, lấy cuốn "Giai cấp và giai cấp đấu tranh" của Hải Triều và cuốn "Gót sắt" của Jack London, lận vào trong bụng. Đoạn, ra ngồi tiếp hai tên lính lệ. Hai chú lính này đưa lịnh xét nhà cho tôi xem, rồi nói: "Phải làm gấp, không thể chờ Nguyễn Bật được, vì còn phải xuống bắt và xét nhà Nguyễn Húng nữa cho kịp về trình bẩm quan nội trong ngày mai". Tôi thay mặt chủ nhà, rót nước mời hai thầy, với tay lấy chai không dưới bàn, móc túi ra 0,20 đồng chạy xuống bếp nói to với Giáp, em gái Bật, cố ý để cho hai tên lính nhà trên nghe rõ: "Này mi cầm hai giác đi mua cho tao chai rượu mau đem về đây nghe". Rồi cúi xuống dặn nhỏ: "Tin ngay cho Húng biết lính huyện xuống khám xét nhà". Em Giáp gật đầu, cầm chai chạy đi. Tôi trở lại tiếp chuyện hai chú lính. Rượu về, lại tiếp tục chén chú chén anh, cốt kéo dài thời gian. Lát sau thấy Giáp thập thò đầu lên vẫy tôi. Tôi bước ra em nói: "Xong rồi". Tôi mỉm cười nói to: "Thôi đủ rồi không cần mua thêm rượu nữa". Xét nhà xong, tôi ký vào biên bản, vui vẻ tiễn hai chú lính ra cửa. Trong bụng vẫn còn lận hai cuốn sách cấm, nhờ vậy anh Húng đã kịp trốn thoát và di chuyển tài liệu đi nơi khác (tôi chỉ biết việc đó sau này, khi nghe bà mẹ anh Húng), dì Mít kể lại, sau ngày tập kết ra miền Bắc gặp nhau (Nguyễn Bật vào Đảng năm 1937). Tết Canh Ngọ năm 1990 có vào thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm tôi cũng có nhắc lại câu chuyện đó.
Cũng trong năm 1938, hình như vào mùa hè, cũng tình cờ, tôi được chú Bát Văn cho biết thằng Sogny biết có cái "Tỉnh ủy tỉnh tổ" gì đó của Cộng sản đang đóng ở bãi tắm Thuận An. Hắn chờ cho các tay tổ quy tụ về đó sẽ bắt trọn ổ. Đã 6 giờ chiều, tôi bỏ bữa cơm chiều, đạp xe một mạch về cửa Thuận An, dắt xe qua đập, tôi tìm cái quán giải khát, cất lều ngay trên bãi cát trắng. Tôi vào lều, gặp ngay các anh Lâm Mộng Quang, Hải Triều và Vịnh ở trong lều. Anh Quang ở tù Côn Đảo về, biết cha tôi và tôi lúc còn học sinh, nên xoa đầu tôi như hồi còn nhỏ. Xong mấy anh kéo nhau đi ra ngoài, để anh Vịnh ở lại tiếp tôi, tôi vội vàng cho anh biết tin tức hệ trọng đó. Anh cười nhìn tôi trìu mến, nói: "Mi chắc chưa ăn cơm, thôi chuyện để đó tối kể tiếp. Tao làm cơm, tụi mình ăn đã. Tao cũng đói rồi". Anh lấy trứng gà ra làm ốp- la, chiên lại cơm xúc ra hai đĩa, hai anh em cùng ăn cơm chiều. Đêm đó, anh đem chiếc chiếu ra, trải giữa bãi cát, hai anh em nằm ôm nhau ngủ như hồi còn bé. Tôi thuật lại câu chuyện Sogny biết "cái tỉnh ủy, tỉnh tổ gì đó của cộng sản" cho anh nghe. Anh chăm chú nghe, rồi bảo: "Được, từ nay có tin chi thì cho tao biết, đừng sợ, không can chi mô". Đêm đó, tôi kể lại cho anh nghe về công việc của tôi để anh yên lòng. Cũng cần nói rõ, anh Vịnh là người rất quý bạn và tin bạn. Khi tôi bắt đầu viết báo, tôi mua được 2,5m vải simili trắng, may cho một bộ "comlê" và một cái cà-vạt ca rô để tiện cho ra vẻ nhà báo. Thấy tôi có bộ đồ tây trắng tinh, ra vẻ thầy chú, anh nói ngay: "Hiến, tao cần bộ đồ hơn mi, mi đưa tao mặc thử coi". Tôi cởi ngay, thấy anh mặc vừa vặn, tôi lấy cả cái nón trắng và đôi giày bata trắng đưa anh luôn. Tôi đã rõ anh cần có bộ đồ sang trọng, để dễ bề hoạt động cách mạng ở vùng đô thị. Năm 1939, anh Vịnh bị bắt, bị xử chung với một số đồng chí khác và đày đi Ban Mê Thuột. Phiên tòa xử lại Phủ Thừa do ông Nguyễn Hữu Mai là chánh án. Với tư cách nhà báo, tôi có đến dự phiên xử. Chỉ là hình thức, chánh án chỉ việc đọc bản án, không có luật sư bào chữa, các bị can không ai thèm nói một lời, vì biết rõ tòa án Nam Triều chỉ là bù nhìn, có nói cũng bằng thừa, công chúng không có ai đến nghe cả. Trong thời gian anh bị bắt, địch cấm người nhà đến thăm. Tôi theo dõi anh đi làm cỏ-vê, vận động lính canh cho bà cụ (mẹ anh Vịnh) vào cho hai mẹ con gặp nhau, chừng hai tiếng, dặn dò mọi việc ở nhà. Ngậm ngùi chia tay nhau, vì thấy mình bất lực trước uy quyền của thực dân... Tờ báo "Vì Chúa" sống nhờ tiền độc giả, có khi nhờ vào tiền lương, tiền lễ của cha J.M Thích, không có trợ cấp của giáo hội cũng như Chính phủ bảo hộ. Đúng như tục ngữ nói: "Ăn cơm nhà vác tre ngà cho quan" mà vẫn tự hào một cách dại dột. Tuy vẫn tranh luận về giáo lý với Cha chủ bút, nhưng tôi vẫn khâm phục về lối sống thanh bạch vì lòng nhân ái của vị Linh mục đáng kính ấy. Cuối cùng, nhân lễ Noel năm 1939, Cha Thích tổ chức lễ rửa tội cho tôi tại một ngôi nhà nguyện nhỏ của Tiểu chủng viện An Ninh (Cửa Tùng), không kèn, không trống, không có vợ con, gia đình biết, không cho lối xóm hay. Nhân dịp này, Cha Thích đã soạn riêng một bản thánh ca để các tu sĩ đồng ca trong buổi lễ. Lần đầu tiên được rước Chúa vào lòng, tôi vẫn chờ mãi sự biến chuyển ở trong người, nhưng vẫn không thấy gì khác lạ. Nhìn trên bàn thờ Chúa, tôi vẫn cứ nhớ mãi một câu mà tôi đã đọc đâu đó: "Không phải Chúa xây dựng con người theo hình ảnh Chúa, mà chính con người đã xây dựng Chúa theo hình ảnh con người". Tôi vẫn ở trong thế giằng co giữa có Chúa và không có Chúa, trên con đường cứu rỗi phân biệt đúng sai để tìm ra chân lý, con đường đó - lạy Chúa - lại không có sẵn trong kinh thánh! Nhân loại đang xâu xé nhau, gây tội ác và bất công khắp nơi, phải chăng cũng đều do ý Chúa mong muốn? Để cho lũ ác quỷ hoành hành, bắt con cháu Ađam và Eva luôn luôn gánh chịu tội của tổ tông tự muôn đời nay? Đó là câu hỏi thường trực trong tâm hồn tôi, không thể, nào tự giải đáp được. Nghiên cứu giáo lý người ta thường nêu thắc mắc ở chỗ Chúa Jésus chết chôn đã ba ngày sống lại, hay đức bà Maria đồng trinh mà sinh con, nhưng tôi lại nêu thắc mắc về khía cạnh sự công bằng của Chúa hay nói đúng hơn, theo giáo lý của giáo hội La Mã: Lẽ nào một tên nhà giàu bóc lột áp bức nhà nghèo suốt đời, trước lúc chết ăn năn hối lỗi, xưng tội vẫn được trực tiếp lên thẳng thiên đường! Trong lúc một người suốt đời sống lương thiện, không chịu phép rửa tội chết đi vẫn vĩnh viễn ở ngoài thiên đường không được thấy Chúa? Một người làm ân mà không cần báo ân, một người làm phước để mong được hưởng phước đời sau, thì nên trọng ai hơn? Hơn nữa, sự bất công ở ngay trong giáo hội, cách đối xử giữa linh mục và thừa sai, lính mục bản xứ cũng có sự phân biệt rõ rệt. Với tư cách phóng viên nhà báo tôi đã theo Cha Thích khắp ở họ đạo ở ba tỉnh Bình Trị Thiên, đi đâu cũng thấy cha tây thì ăn cơm nhà trên, cha ta ăn cơm nhà dưới, cách biệt nhau! Tôi hỏi, Cha Thích chỉ làm thinh. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:40:05 pm Nhưng một viên chức họ đạo ở Bình Đức (Quảng Bình) đã nói rõ: "Vì họ là tây, còn ta là ta. Ở Nghệ An đã có hai linh mục bản xứ vì thắc mắc đã bị đày đi Côn Đảo rồi đó!". Thì ra chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cũng không buông tha cho đạo lý của Chúa trời. Ngay trong hàng giáo phẩm có lẽ vì những thắc mắc cố hữu, tôi không bao giờ được chịu phép thêm sức (Confirmation) nghĩa là được chính thức xác nhận là một con chiên của Chúa, một nghi lễ cần thiết cho mọi người công giáo có đức tin.
Ngày 22/9/1940, quân Nhật ở Hoa Nam tràn vào Đông Dương, để dọn đường cho quân Nhật tràn xuống phía Nam, ở Huế, viên Tổng lãnh sự Nhật gởi thiệp mời các báo ở Huế, đến dự một buổi tiệc chiêu đãi tại khách sạn Moriri (nay là Hương Giang) một nhà hàng lớn nhất ở Huế dành riêng cho người Âu. Tờ báo "Vì Chúa" đã dời văn phòng tòa soạn theo Cha Thích về Huế. Tôi được Cha Thích cử đi dự. Tôi lại đến tòa soạn tạp chí "Giáo dục", Nguyễn Khoa Toàn cũng trao cho tôi một tấm thiệp khác, tương tự. Tôi đút luôn hai tấm thiệp vào túi áo. Thừa biết ý họ là muốn có người đi thay trong thế "trên đe dưới búa". Dù sao cũng đã biết ăn cơm Tây ngon như thế nào, chỉ hiềm áo quần tây từ khi cho anh Vịnh rồi tôi chưa làm cách nào để có tiền sắm thêm một bộ khác. Sực nhớ có người bà con là Mai Duận (em anh Xuẩn) đang làm thư ký lục bộ, nhà ở Bến Ngự, tôi cuốc bộ lên hỏi mượn. Duận sẵn sàng đem bộ comlê tropical sang nhất, cả cà vạt và đôi giày da vàng cho tôi mượn. Sửa soạn xong vừa tối: đôi giày hơi chật, vì bàn chân có ngón to bè của tôi không quen gò bó trong giày dép. Cuối cùng tôi vẫn cuốc bộ từ Bến Ngự đến khách sạn Morin vừa kịp 7 giờ tối. Giờ chiêu đãi ghi trong giấy. Trước khi vào tiệc, ngồi chờ ở sa-lông uống saké (rượu ngọt của Nhật) thấy ngọt như rượu mít, tôi uống luôn hai ly. Thằng Sogny, người Pháp, duy nhất được mời, là chánh sở mật thám Trung kỳ, một tên Pháp người Corse đi lính mạch-lô sang Đông Dương trở thành cáo già thực dân, ngồi cạnh tôi, can ngăn tôi bằng tiếng Pháp: "Assez, jeune homme" (thôi, bạn trẻ). Muốn chọc tức nó, tôi chìa ngay ly cho người phục vụ uống tiếp một ly nữa: dù sao nó đến để làm phận sự của nó chứ chẳng còn quyền hành gì đối với bọn Nhật cả. Buổi tiệc khoảng 12 người tham dự, cả chủ lẫn khách - không có cụ Huỳnh Thúc Kháng, chủ báo "Tiếng dân". Pháp chỉ có một mình Sogny, phía chủ tiệc có tổng lãnh sự Nhật, một tên Nhật khác được giới thiệu là một nhà văn vừa đi du lịch Tây Ban Nha về. Tên phiên dịch là Đạt. Tôi không hề ăn cơm tây, nên không biết cả cách dùng khăn, muỗng, nĩa, dao thế nào cho phải cách. Nhưng nhờ thói quen quan sát, tôi cứ nhìn cách làm của người ngồi bên trái mà xử sự. Bữa ăn cũng trót lọt, chỉ có một lần ăn món gà quay, tôi ăn chưa xong đã gác cả dao và nĩa, anh phục vụ bàn vội dọn cất ngay, tôi không dám giữ lại. Nhưng mục đích chính của bữa tiệc là để cho viên Tổng lãnh sự Nhật công bố việc quân đội Thiên Hoàng đã vào Đông Dương và sẽ đánh bại quân đồng minh, yêu cầu các báo chí được phép đăng tin, do hãng thông tấn Domiz cung cấp tất cả các báo đều nhất thiết đăng ngay lên trang nhất. Nghe tên Đạt phiên dịch xong, tôi nhìn quanh bàn, tất cả đều im phăng phắc. Đúng là một tối hậu thư, không cần bàn cãi. Riêng mình tôi, "điếc không sợ súng". Tôi đứng lên thanh minh: "Tờ báo tôi đại diện là báo hằng tuần, hằng tháng mới ra một số, tin tức đến với bạn đọc thường chậm trễ hơn các báo hằng ngày. Vì vậy, chỉ đăng tin tổng hợp ở mục thời sự. Nếu đăng trên trang đầu, sợ tin tức lạc hậu với tình hình phát triển chiến sự, làm trò cười cho độc giả. Vì vậy xin để y như cũ". Nghe dịch xong, viên Tổng lãnh sự Nhật gật đầu. Tôi liếc nhìn tên Sogny, y nhếch mép. Xong việc, tên Tổng lãnh sự Nhật xô ghế đứng lên, mọi người lục tục thở phào ra khỏi bàn tiệc, không một lời bàn tán. Một sức nặng mới đè lên vai mọi người. Hai bàn chân tôi tê dại vì sức ép của đôi giày da khác chủ. Vừa ra tới cửa, tên Đạt đâm bổ ra giữ tôi lại. Tuy không quen biết y vẫn vồn vã mời tôi lên phòng y chơi, nếu tôi đồng ý đi làm cho Nhật. Đang bực mình với đôi giày, tôi gắt: "Thôi cảm ơn, tôi chỉ muốn tự do". Ra khỏi khách sạn, khách khứa lên xe ra về. Tôi ngồi phịch xuống bên lề đường, kéo mạnh đôi giày ra khỏi chân, buộc chùm đôi giày vắt ngang vai, thong thả cuốc bộ về Bến Ngự, trả lại bộ đồ sang trọng cho chủ nó, thích thú mặc lại chiếc quần cháo lòng và chiếc áo vải thâm, lẹp kẹp lê guốc trở về với túp lều tranh cạnh dốc Nam Giao. Nói cho đúng, nếu không có đôi giày da, tôi vẫn từ chối lời mời cộng tác với Nhật, bởi vì qua theo dõi thời cuộc hằng ngày, nhất là vào đầu năm 1940, tôi đã có dịp đến thăm cụ Phan Bội Châu, và qua cụ cũng hiểu là Nhật Bản chẳng ủng hộ thiết thực gì cho phong trào Đông Du do Cụ đề xướng, mặc dù Cụ đã từng gặp Khuyển Đăng Nghi, Thủ tướng Nhật. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:40:56 pm Cụ Phan sống ẩn dật trong căn nhà lá ở dốc Bến Ngự, cất trước mặt chùa Từ Đàm, cách nơi tôi ở chừng 300m. Tôi hồi còn đi học thường nghe và đọc thơ cụ, qua báo "Tiếng Dân", qua các cuộc bình thơ của cha tôi với các nhà nho sính thơ văn. Những bài như "Người vợ góa khóc chồng": "Có người hỏi thiếp đã có chồng chưa? Thiếp gạt mắt thưa rằng xưa vẫn có..." nói lên nỗi lòng người dân mất nước, vì nước mất tên. Tôi còn nhớ thuộc lòng từ năm mới lên mười, nhưng đồng thời cũng nghe nói đến bài luận "Pháp Việt đề huề", mà bọn mật thám năm 1927 đã in xuyên tạc và phát cho học sinh, lúc có phong trào học sinh Huế bãi khóa, hướng về Cụ, nên tôi cũng không ham chủ thuyết đó lắm. Vì vậy, tuy đi ngang nhà Cụ nhiều lần, tôi vẫn không ghé hỏi thăm. Tôi cũng biết Cụ Sống thanh đạm, từ chối mọi ân huệ của thực dân Pháp, chủ yếu nhờ các nhà hảo tâm từ Bắc chí Nam gởi tiền ủng hộ Cụ. Đến năm 1940, phong trào ủng hộ Cụ có phần giảm sút, một phần do thủ đoạn bao vây của Sogny nên cuộc sống của Cụ có khó khăn hơn trước. Nhân một buổi Cha Thích khoe với tôi vừa được con chiên đến xin làm lễ 15 đồng, tôi gợi ý đến hoàn cảnh Cụ Phan, vị linh mục liền đưa ngay tôi 15 đồng, biểu tôi nhân danh nhà báo đến biếu Cụ, sẵn tiền biếu tôi bỏ thêm tiền túi mua một gói trà Song Hỷ đến thăm Cụ Phan. Lần đầu tiên bước vào nhà Cụ, tôi không khỏi bỡ ngỡ: một cái nhà tranh nhỏ, theo lối nông thôn có hai chái hai bên. Ở ngay phòng giữa, tranh treo hai bên đối diện. Tranh, vẽ bằng mực tàu to cỡ bằng một tờ giấy báo trải rộng. Bên trái là chân dung Lê Nin (ảnh bán thân) họa theo hình danh nhân thế giới trong tự điển Petit Larousse của Pháp. Bên phải là chân dung Khổng Tử, như hình vẽ trong Quốc văn giáo khoa thư của các trường tiểu học thời bấy giờ. Ở phía sau gian có kê một cái bàn con và hai chiếc ghế tựa cho khách ngồi. Cụ Phan vẫn ngồi trên chiếc phản gỗ, ở giữa có một ấm nước pha sẵn, một cái điếu thuốc lào. Tôi lễ phép khoanh tay cúi chào Cụ, đưa phong bì dựng 15 đồng và một gói trà Song Hỷ dâng lên Cụ bằng cả hai tay. Nói rõ mục đích đến để chúc thọ Cụ và mong được Cụ chỉ bảo thêm. Cụ Phan gọi pha trà rồi kêu hai chú bé trạc 12, 13 tuổi lên biểu đọc thơ cho khách nghe. Một chú tên Chắc. Bài thơ Đường luật 8 câu vịnh "Chó săn". Cụ chăm chú quan sát tôi, trong lúc tôi nghe thơ. Thật ra tôi đã biết trước đó là cách thức Cụ thử lòng khách, vì Cụ thừa biết thủ đoạn của Sogny thường cho mật thám dò la Cụ. Tôi vẫn nghe thơ liên hệ với nội dung bài báo tôi đã viết đả kích bọn mật thám với nhan đề "Cái chết của con chó săn" đăng trên báo "Vì Chúa". Thấy tôi không có gì bối rối mà còn tỏ ra thích thú nghe đọc thơ, cụ Phan biểu tôi ngồi lên tấm phản gần Cụ rồi hỏi chuyện. Tôi nói rõ tấm lòng mến mộ Cụ từ nhỏ, và đọc thuộc lòng bài thơ "Người vợ góa khóc chồng" (sau này báo "Tiếng dân" đăng là "Tại sao mi không lấy chồng"), bài "Bắc thang lên hỏi ông trời" đăng trên báo "Tiếng dân" gần đây cho Cụ nghe, nhờ Cụ giải thích thêm cho rõ hơn một số ý thơ. Dần dần, hỏi Cụ thêm về các hoạt động của Cụ ở nước ngoài mà tôi đã được nghe nói trên bảo chí, những nhân vật quan trọng mà Cụ từng tiếp xúc. Qua câu chuyện, Cụ đã cho tôi biết Cụ có gặp Khuyển Dưỡng Nghị, Nguyễn Ái Quốc. Cụ hỏi tôi nhà ở đâu. Tôi nói rõ là ở dốc Nam Giao cũng gần đây. Cụ thân mật nói: "Nếu chú (cụ đã đổi xưng hô) ở gần đây thì chúng ta kết bạn vong niên, thỉnh thoảng sang nói chuyện thi phú cho vui". Chừng một tiếng đồng hồ, sợ Cụ mệt, tôi cáo từ Cụ để ra về.
Cụ lấy một bản thảo viết tay trao cho tôi. Tôi liếc nhìn. Hai tập giấy học sinh trắng kẻ ngang, đóng liền nhau, bên trang ngoài đề to một hàng chữ "Nhãn sinh quan cách mạng hay là để đi tìm triết lý của cuộc sống". Tôi buột miệng hỏi: "Cụ cũng biết chữ quốc ngữ à?" - "Mình đã học hồi bị giam ở Hỏa Lò. Nhưng trong nầy có một số chữ tôi mượn người ta chữa bằng tiếng Tây. Tôi không biết tiếng Tây. Chú đem về xem lại có chỗ nào sai, chú sửa giùm cho". Tôi cầm tập bản thảo, hẹn Cụ sẽ trả lại sau hai tuần. Cụ vui vẻ đứng lên lấy gậy tiễn tôi đi một vòng sau nhà. Đến góc sau phía bên chái trái, gần hàng rào, thấy một cái bia mộ đề mấy chữ "Ấu Triệu Nương nương chi mộ" (bằng chữ Hán) Tôi quay sang hỏi: "Cụ thờ Bà Triệu sao không xây trước nhà mà xây sau nhà?" Cụ lắc đầu: Không phải, đây là mộ của một nữ đồng chí đã hy sinh". Tôi lặng người, không muốn gợi nỗi đau thêm cho Cụ nữa. Tôi về nhà đọc bản thảo và cũng có trao cho cụ Bùi Tuân đọc. Thật ra về các quan điểm triết học cũng như các cuộc thảo luận về nhân sinh quan và thế giới quan, vì nghề nghiệp, tôi cũng có tham gia đôi ba lần, nên tôi đọc toàn bộ bản thảo viết tay dầy 2 tập cũng không thấy gì mới mẻ hơn những điều tôi biết qua. Những buổi nói chuyện giữa cha tôi và các bạn bè của cha tôi, qua những sách về kinh điển mà tôi đã đọc lén lút với bạn bè hoặc công khai trên báo chí. Nhưng qua tài liệu, tôi hiểu biết hơn về xu hướng chánh trị và lý tưởng mà nhà cách mạng tiền bối ôm ấp cho đến cuối cuộc đời, tổng kết những ước mơ của ông cha ta, kết hợp những tinh hoa cổ truyền của triết học phương Đông với lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Tài liệu đề cập đến các mối quan hệ xã hội, giai cấp dân tộc, không nói đến cách thức điều hành để có một xã hội tương lai công bằng hợp lý hơn, không có dân tộc nầy áp bức dân tộc khác, không có giai cấp này bóc lột giai cấp khác, không có người nầy bóc lột người khác. Xây dựng một thế giới đại đồng, không có đồng tiền ngự trị. Nam nữ bình quyền, người già yếu được xã hội săn sóc, người đau được chữa trị, trẻ con được học hành không mất tiền. về. Tam Cang ngũ thường cụ không nói đến chữ trung quân, tứ đức, tam tòng của phụ nữ. Đọc đến đoạn tài liệu phê phán chủ nghĩa phát xít, phê phán những người đề xướng chủ nghĩa dân tộc (ethnologie) tôi thấy tiếng Pháp trong ngoặc đơn chứa không sát nghĩa, nên khi trả lại bản thảo, tôi thận trọng đề nghị nên bỏ chữ (ethnologie) mà thay vào một chữ khác, chữ Racisme chẳng hạn thì phù hợp hơn. Tôi dại dột giải thích cho Cụ biết ethnologie là nhân chủng học, một khoa học không liên quan gì đến chủ nghĩa phát xít cả. Cụ cắt ngang lời tôi một cách nghiêm khắc: "Chú nói rứa là mới biết một chưa biết mười, thử hỏi nếu các nhà khoa học không bày ra cái môn Nhân chủng học thì làm gì thằng Hitler có cớ để tuyên truyền cho chủ nghĩa phát xít?". Với trình độ hiểu biết của tôi, tôi đành im lặng không dám cãi. Nhưng đó là bài học cho tôi nhớ đời. Sự hiểu biết của một người bao giờ cũng có những hạn chế nhất định. Tôi cứ băn khoăn mãi một điều là Cụ đưa cho tôi đọc tài liệu đó có phải chăng là để nhờ tôi sửa lại những chữ tiếng Pháp hay là vì mục đích tuyên truyền lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa cho một nhà viết báo Công giáo? Dù sao về nhân sinh quan tôi vẫn thấy Cụ đúng, có phải chăng Cụ đã bỏ suốt cả cuộc đời làm cách mạng để tìm đường cứu nước, và mãi đến cuối đời mới tìm ra được lý tưởng cho cuộc đời của mình? Bức tranh Lênin vẫn nhìn xuống Cụ đang ngồi trầm lặng. Trán cao, đầu hói mấy sợi tóc bạc suốt dồn ra phía sau, chòm râu dài rậm nhiều sợi còn đen, với đôi mắt quắc thước vẫn nhìn tôi đăm đăm như gửi cả tình thương nước, thương dân vào tuổi trẻ. Tôi chào Cụ ra về, không ngờ đó là buổi cuối cùng tôi được gặp Cụ. Do tòa soạn báo phải di chuyển địa điểm, tôi phải đi vắng mấy tháng để lo công việc. Đến khi trở về Huế thì Cụ đã từ trần. Tôi hỏi lại Bùi Tuân, được biết: chủ tang lễ là cụ Tôn Quang Phiệt. Cụ Phan mất 20/10/1940. Trời Huế đổ cơn mưa to, như khóc người chí sĩ. Cuộc đấu tranh để tìm ra một lý tưởng chân chính cho cuộc đời trong người tôi vẫn còn tiếp diễn. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:41:36 pm Vào cuối thập kỷ 30, Tòa thánh Vatican đã tấn phong một Giám mục mới: Giám mục Ngô Đình Thục, con cụ Ngô Đình Khả, một gia đình vọng tộc Công giáo ở phủ Cam (Huế). Thục là em của Ngó Đình Khôi, một Tổng đốc khét tiếng sát Cộng ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, anh của Ngô Đình Diệm, một Thượng thơ Bộ lại của Nam Triều bị Phạm Quỳnh hất cẳng, đang về ngồi nhà ở ven bờ sông Phủ Cam. Đó là một lễ lớn cho giới công giáo ở Huế. Cha Thích sai tôi đến tìm hiểu để viết một bài phóng sự đưa lên báo "Vì Chúa". Bước vào ngôi nhà kiểu bát úp của dòng họ Ngô Đình, bên cạnh phủ Cam. Tôi chìa thơ tay của Cha Thích cho gia đình và bẩm báo. Ngô Đình Diệm, viên quan "Lại Bộ thượng thứ" của Vua Bảo Đại, đang bị viên toàn quyền Pasquier cho về vườn, ngồi chơi xơi nước, từ trên lầu ba bước xuống nhận thư, đọc xong liền chỉ cho tôi chiếc bàn ở phía sau phòng khách, có đủ tiện nghi để viết lách. Xong, y liền bước lên lầu, để mặc tôi ngồi viết bài cho báo. Khoảng một giờ sau, vẫn viên quan về vườn đó lẹp kẹp đi xuống đưa cho tôi một bài báo của viên bộ trưởng thuộc địa Paul Reynault viết, biểu tôi dịch cho y xem. Bài báo chẳng liên quan gì đến vụ tấn phong Giám mục cả. Tôi đặt tờ báo lên bàn suy nghĩ: "Hay là Cha Thích muốn cho ta làm thư ký riêng cho Diệm?". Để làm gì? Trưa hôm đó, trở về nhà, ngôi nhà ở số 1 đường Jules Ferry là nơi trường tư thục Pellerin dành riêng cho Cha Thích ở, tôi hỏi lại Cha, Cha gật đầu, muốn tôi làm thư ký riêng cho Diệm! Tôi nói rõ cảm xúc ban đầu của tôi cho Cha biết: "Ông Diệm là con người kiêu ngạo, chỉ nhìn người bằng nửa con mắt thôi, con không chịu làm việc với con người như thế!". Và, ngay từ trưa hôm đó, tôi không bước tới ngôi nhà từ đường của họ Ngô nữa. Buổi tường thuật lễ tấn phong tân giám mục vẫn được viết, nhưng không cần phải có bàn tay của Diệm nhúng vào. Con người của Diệm không có gì hấp dẫn, thuộc tướng Ngũ đoản. Lúc lên làm thượng thơ Bộ Lại thay Nguyễn Hữu Bài, trong dịp "năm cụ khi không rớt cái ình" thì Bài đã cảnh cáo Diệm: "Tui như chiếc dây thung, nên không đứt, chú như sợi dây thép, căng lắm thì đứt di đa". Thời kỳ Diệm làm tri huyện Quảng Điền, nhân ngày Tết. Ông Nghè Tố, một điền chủ trong làng tôi đem biếu một khay quả đầy bánh thuẫn, Diệm cho lính lệ nhận đem cho ngựa ăn ngay trước mặt người biếu. Vì vậy, Nghè Tố cho là quan huyện thanh liêm, tôi thì cho là thái độ ấy là ngạo mạn. Vì vậy, có ấn tượng không tốt về viên thượng thư "về vườn" ấy. Vào đầu những năm 40, có một lần Sogny cho lính đến xét cằn nhà Cha Thích đang ở, thì ra bọn mật thám nghi ngờ Cha giấu Ngô Đình Diệm ở trong nhà, Cha Thích là Cha linh hồn của Diệm, người mà Diệm thường đến để xưng tội với Chúa. Trong sách kinh bổn dạy cho con chiên bao gồm 10 điều răn và 7 trọng tội, không có khoản nào đề cập đến tội phản nước, hại dân, ôm chân đế quốc, vì thế cho nên lúc bị mật thám Pháp vây bắt, Diệm đã chạy vào Tổng lãnh sự Nhật ở Huế, và sau 1945, chạy sang Mỹ ẩn vào một dòng tu, để nuôi dưỡng ý chí sát Cộng vốn có trong gia đình họ Ngô. Từ ngày mẹ vợ tôi mất (năm 1941), tôi để cho vợ tôi về làng, ở căn nhà mẹ vợ tôi để lại. Một mình tôi phải làm để nuôi hai gia đình. Mẹ tôi với em gái, con trai tôi ở riêng xóm trên, vợ tôi với con riêng, con chung (Nguyên, Bé, Gái, Anh và em) một chị vú, ở xóm giữa. Tôi thu nhập hàng tháng 60 đồng chia cho gia đình ở xóm dưới 45 đồng, xóm trên 15 đồng kể như cũng đủ sống ở nông thôn. Vì lương một thầy giáo làng hồi đó chỉ 15 đồng/tháng. Phần tôi ăn cơm với Cha Thích khỏi trả tiền. Mỗi tuần đến chiều thứ bảy về làng, sáng thứ hai lên làm việc, thành thông lệ. Không biết vì một lý do gì, hôm đó tôi phá thông lệ về làng vào một ngày giữa tuần. Đã 9 giờ tối, tôi bước vào nhà, vợ tôi không có nhà chỉ có mấy đứa nhỏ đã đi ngủ. Chị vú (mụ Bực) còn thức, cho tôi biết là mụ phó Thỉu đến kêu đi đánh bài đâu đó. Tôi quay ra đi xuống xóm dưới có gốc cây bàng. Mụ phó Thỉu ở một cái nhà tranh cất sau nhà họ. Tôi bước vào trong nhà chỉ có cái đèn hoa kỳ, dọi ánh sáng leo lét: một bóng người dỡ liếp nhà bếp vụt chạy ra. Tôi liếc nhìn đoán biết là ai, nhưng tôi vẫn gọi mụ phó Thỉu ra. Mở cửa ra tôi thấy vợ tôi, tôi không nói gì, chỉ nói với mụ phó Thỉu: "Chị đi kêu thằng Bức tới nhà tôi, bàn chuyện tử tế, bằng không, tôi tới nhà nó sẽ phá nhà nó cho coi". Mụ phó Thỉu ra đi. Vợ tôi lặng lẽ ra về. Về nhà đợi một lát không đầy 15 phút. Mụ phó Thỉu và Bức cùng đến nhà tôi (nhà vợ tôi ở). Tôi mời Bức ngồi lên phản, đối diện với tôi, rồi thong thả rót từng tiếng một: "Tôi biết anh còn nặng nợ với Chắc con, không phải chỉ là vì "người tình cũ không rủ cũng tới" mà vì còn có thằng Nguyên, con anh, tôi đã khai sinh và đặt tên cho nó, nhưng hôm nay tôi trả nó lại cho anh, anh đem nó về nuôi nấng cho nên người. Anh giàu có chắc đủ sức làm việc đó, còn phần Chắc con và mấy đứa con tôi anh nên cắt đứt đi để tôi lo liệu việc nhà tôi". Đêm đó tôi về ngủ riêng nhà mẹ tôi, trằn trọc thâu đêm và quyết định ra đi, tìm một cuộc sống mới, ít nhất cũng đỡ hơn trước. Kể từ đấy, tôi không còn gặp lại Bức. Sau nầy, được biết anh ta theo con đường chống phá Cách mạng leo lên đến cấp Trưởng công an ngụy quyền tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và chạy sang Mỹ trước 30-4-1975
Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:42:27 pm CHƯƠNG 4 DẠY TRƯỜNG TƯ VÀ ĐI THÔNG DỊCH Năm 1943, hai ngày ba đêm đi tàu suốt từ ga Huế đến ga Sài Gòn, lần đầu tiên tôi xa làng xóm, xa quê nhà, không biết giờ nào trở lại, miếng cơm manh áo còn mong manh, tương lai còn mờ mịt, tuy bản thân đã trưởng thành hẳn về năm tháng. Đàng sau tôi, cả làng Kẻ Lừ thân thương, cả gia đình 9 miệng ăn đang chờ đợi. Hành trang để phiêu bạt vào Nam của tôi, ngoài thân thể chỉ có giỏ mây xách tay, cái nón "cát trắng", đôi dép quai hai màu den trắng chen nhau. Tiền túi dành dụm vừa đủ mua chiếc vé tốc hành. Tôi giữ kỹ bức thư của Cha Thích gởi gắm tôi cho thầy Donatien, hiệu trưởng trường Taberd Saigon. Trường đang cần một giáo viên dạy Việt văn. Tất cả đang còn phía trước. Nhưng đầu óc tôi thì đang quay lại đằng sau. Những kỷ niệm, không phải thời thơ ấu, mà chỉ mới gần đây đã thúc đẩy tôi ra đi. Dù sao con tàu đang chạy không thể vô cớ dừng lại vì một nỗi buồn riêng của hành khách. Tôi không thể mang nỗi buồn theo mãi với cuộc đời. Tôi nhớ đến mẹ tôi, một người mẹ đã trên hai chục năm nay chắt chiu từng hạt gạo để nuôi con, nay lại phải một mình nuôi cháu nội, vì đứa con trai độc nhất của gia đình, vạn bất đắc dĩ phải ra đi, tìm cách sinh sống nơi xa lạ. Buổi tiễn đưa diễn ra lặng lẽ một buổi chiều. Con tôi đã đi ngủ sớm. Mẹ tôi đứng dưới bụi tầm vông trước ngõ, tần ngần nhìn tôi, rồi chép miệng: "Thôi con không nói mạ cũng biết, con cứ đi đi, để thằng Xiềng mạ lo cho. Con ở nhà chỉ thêm khổ, không khéo con bị bắt, lại càng khổ thêm". Mẹ tôi tưởng tôi cùng làm cách mạng như các bạn tôi đã bị bắt nên lo cho tôi, vì thấy tôi thường hay giúp đỡ bạn bè. Thành phố Sài Gòn, được báo chí ca tụng là "hòn ngọc Viễn Đông", năm ấy đang bị quân Nhật tràn xuống chuẩn bị hất cẳng thực dân Pháp đang thất trận ở chính quốc. Trường tư thục Taberd của nhà dòng Huynh đệ Lasalle bị quân Nhật chiếm đóng, phải rời các lớp học đến ở chung với Đại chủng viện, nơi đào tạo các linh mục các xứ dòng trong. Hiệu trưởng Donatien là một thầy dòng người Pháp, khá hiền lành, với vẻ mặt đăm chiêu và dáng đi khập khểnh, đọc thơ giới thiệu của Cha Thích xong, không hỏi thêm học vấn điều gì, gọi thầy François quản trị nhà trường lên và giao cho thầy François lo liệu việc tiền lương và nơi ăn ở cho thầy giáo mới. Không mặc cả, tôi được trả ngay lương 200 đồng/tháng. Mỗi tuần dạy 11 tiết. Trừ tiền ăn tại trường hết 80 đồng. Còn 120 đồng trả tiền ngày 30 cuối tháng. Biết tôi mới vào chưa có tiền, hiệu trưởng biểu ứng trước cho tôi 120 đồng, để mua sắm. Tôi viết thư về ngay cho vợ biết tôi đã tới nơi, để gia đình yên tâm và tôi gởi ngay ngân phiếu 60 đồng, dặn vợ chia làm 3 phần, 2 phần vợ giữ, 1 phần giao lại cho mẹ tôi, để nuôi đứa con trai dầu lòng. Lúc tôi từ giã gia đình ra đi, vợ tôi có hỏi tôi nên đặt tên đứa con gái sơ sinh của tôi tên gì? Tôi bảo sẽ đặt cho nó sau. Nhưng rồi liền nhớ tới con, tôi ghi thêm vào cuối thư: "Em đặt tên cho con là Hoài Thương". Bức thư ngắn gọn vừa đủ cho vợ tôi hiểu. Thiếu những lời lẽ nồng thắm và hàng ngàn cái hôn! Dạy học là nghề của cha tôi, nhưng tôi mới đặt chân vào một lớp học chính quy, không hiểu biết về sư phạm, những hiểu biết của tôi không ngoài những bài báo đăng ở Giáo dục tạp chí của Nguyễn Khoa Toàn, nhưng kiến thức về Việt văn của tôi không ngoài những sách vở tôi đã đọc trộm ở thư viện trường Thiên Hựu trong thời gian làm bồi! Tất cả những kiến thức ấy còn trong bụng tôi, được thế nào hay thế ấy. Ngoài ra, tôi chẳng có một cuốn sách giáo khoa nào để làm vốn. May nhờ lớp học sinh trường thầy dòng, phần đông là con ông cháu cha thi trượt trường công gởi vào học, cộng với mấy ông thầy dòng, thạo tiếng Pháp, tiếng Latinh, nhưng thiếu sách sư phạm về quốc ngữ, nên không có những yêu cầu vượt ngoài khả năng làm tôi phải bối rối. Bài dạy theo chương trình của nhà trường, chỉ quanh quẩn mấy bài dịch từ Pháp văn ra Việt văn, hoặc ngược lại độ 10 dòng. Để đổi món tôi thử ra một số bài tập luận văn, hoặc ngữ pháp nên cũng đơn giản so với chương trình trung học (hồi đó gọi là chương trình tú tài). Cái khó nhất đối với tôi là phải hướng dẫn học sinh trước giờ lên lớp, phải đứng lên đọc thuộc kinh cầu nguyện "Lạy Chúa" bằng tiếng La tinh. Về khoản này, tôi yêu cầu một thầy dòng là giáo viên đảm trách thay tôi. Mỗi lần lên lớp học sinh đều trạc lứa tuổi tôi (20 đến 30 tuổi) cũng không làm cho tôi ngán ngại. Chỉ ngại một nỗi, chiếc áo lương (the) đen từ chiếc áo dòng cũ của Cha Thích cho tôi, được anh Giai thợ may, bạn tôi, người làng Xuân Tùy cắt vào may lại cho tôi, không lấy tiền công, đã quá cũ. Qua một đoàn đường xe lửa đã sờn vai, cứ mỗi lần đứng lên bục giảng, cựa mạnh, vai áo cứ muốn rách tung ra! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:43:04 pm Giữa đất Sài Gòn hoa lệ, tôi sống với lớp học trong một dòng tu ăn ở như những tu sĩ, ngăn cách với thế giới bên ngoài. May sao, tôi lại gặp anh Mai Xuẫn (với gia đình chung sông ở Thị Nghè, anh Xuẫn làm tham tá ở Ba Son cùng với người con Mai Thùy đang học trường Rosel, dạy thợ máy lái tàu ngay tại xưởng Ba Son, một xưởng quân cảng lớn nhất của Pháp ở Đông Dương) thật là "Tha hương ngộ cố tri", người xưa đã nói nơi đất khách gặp bạn cũ là một niềm vui lớn, chúng tôi vừa là bạn thân, vừa là bạn học, vừa là người làng có tình bà con với nhau: vợ tôi gọi mẹ anh Xuẫn (O Viên Phu) bằng cô ruột: O Viên đối xử với tôi cũng như người mẹ nuôi. Hơn thế, tôi với anh Xuẫn đều là những thanh niên có chí hướng: yêu nước, thương nòi. Nỗi vui, buồn, sướng, khổ đều thổ lộ tâm sự cho nhau biết. Hồi ấy, máy bay Mỹ có đến ném bom Sài Gòn, Ba Son là mục tiêu của chúng. Chiếc tuần dương hạm Lamote Piquet, niềm tự hào duy nhất của hải quân Pháp ở Viễn Đông, bị trúng bom nằm trên bờ sông Sài Gòn. Mỗi lần, sau một đợt dội bom, tôi lại chạy qua Thị Nghè hỏi thăm tình hình. Trường Taberd cũng nằm kề Ba Son, nên phải sơ tán về Mỹ Tho, ở chung với trường St.Joseph, một cơ sở của dòng Huynh đệ tại thành phố Mỹ Tho. Tôi lại dọn về Mỹ Tho, gia đình anh Mai Xuẫn cũng sơ tán về Mỹ Tho, vì sở Ba Son cũng đóng cửa. Đầu năm 1945, vợ con tôi, trừ Dũng còn ở với bà và cô ở làng, đã kéo nhau vào Sài Gòn, tất cả lên ở nhờ chị Ba Chắc (chị vợ tôi). Chị Ba có chồng là anh Quận lái xe tải và buôn bán ở Brélinh (Lộc Ninh). Trường sơ tán về Mỹ Tho, tôi mướn một gian nhà lá ở góc sau nhà thờ Mỹ Tho trả mỗi tháng 15 đồng, rồi gởi thơ lên Brélinh, bảo vợ và mấy đứa con về dưới ấy. Thời cuộc dồn dập, ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trường học đóng cửa, cho học sinh nghỉ hè sớm. Bọn Nhật buộc các công sở phải treo cờ Nhật thay cờ Pháp, chúng gởi thư đến mượn trường Taberd ở Mỹ Tho, để cho quân lính Nhật ở. Nhà trường hoang mang không biết dọn đi đâu, hiệu trưởng Taberd hồi này là thầy Cyprien một điền chủ ở Trà Vinh, được gởi đi học ở Pháp và La Mã từ nhỏ, rất thạo tiếng Anh, tiếng La tinh và tiếng Pháp, nhưng nói tiếng Việt như người mới học, đã gặp riêng tôi để hỏi ý kiến nên đối phó bằng cách nào? Tôi gợi ý: "Thầy cứ cho treo cờ trắng, vàng của Vatican lên thay cho cờ Pháp. Nếu bọn Nhật hỏi thì nói rằng: "Nhà trường thuộc chủ quyền của tòa thánh La Mã, chắc bọn Nhật chẳng dám động đến đâu?". Cyprien làm theo lời tôi khuyên, quả nhiên hôm sau, một viên thiếu tá Nhật, kéo lê chiếc gươm dài đến trường, Cyprien tiếp đón nó, nói chuyện trực tiếp bằng tiếng Anh, và sau đó quả nhiên viên sĩ quan Nhật đồng ý để yên, không đả động đến chuyện treo cờ Nhật, và mượn nhà cho lính Nhật ở nữa. Uy tín của tôi nhờ vậy mà được nâng lên trước mắt các thầy dòng. Mặc dù không có học sinh, nhà trường vẫn trả đủ lương hàng tháng cho tôi chỉ đến trường để dịch sách cho có việc. Trong thời kỳ này, tôi rảnh việc nên làm quen với anh chị lao công của trường và có dịp biết nội tình nhà trường hơn trước: chú Bút, người Nghệ An, cho tôi biết: trong thời kỳ Mỹ ném bom ở Sài Gòn, có hai phi công người Anh bị Nhật bắt nhốt ở trại giam đã vượt ngục. Trường đã tổ chức cho hai phi công trốn thoát. Một thầy dòng tên Vincent, cứ mỗi tối lại cởi áo thầy dòng mặc âu phục, nhảy rào ra đi với gái. Tôi hỏi sao chú không báo cho trường biết? Chú Bút nói: "Mặc kệ nó, nói mần chi!"
Từ đó, tôi hiểu thêm mặt trái của một dòng tu. Có những việc thế tục trong dòng tu mà các đấng bề trên cũng như Đức Chúa Trời đều không thấy! Nhưng không thể qua mắt những người lao động bình thường như chú Bút. Từ tháng 6/45, tình hình thời cuộc dồn dập. Anh Xuẫn cùng với vợ và hai con: Xuân, Quang đã dọn về Cần Thơ, nương náu với anh Phan Tùng Ngâm, bạn cột chèo, đang làm ở hãng lúa gạo Saric ở Bình Thủy, ngoại thành Cần Thơ, để Chùy ở lại với tôi. Tiễn anh bạn xuống bến tàu lục tỉnh, tôi căn dặn anh Xuẫn về Cần Thơ chuẩn bị trước, nếu quân Pháp trở lại chiếm Nam Bộ, tôi sẽ xuống Cần Thơ cùng nhau tham gia kháng chiến. Trước mắt tham gia Thanh niên Tiền phong là lực lượng rộng rãi và đông đúc nhất. Thế là anh Mai Xuẫn tham gia Thanh niên Tiền phong ở Cần Thơ, tôi tham gia Thanh niên Tiền phong ở Mỹ Tho. Được bố trí vào đoàn Lý Thường Kiệt. Tôi được anh Lương người quê miền Bắc hay bận chiếc áo thâm dài, hơn tôi chừng 10 tuổi, chỉ đạo phong trào. Sau khi khảo sát sơ qua trình độ, được biết Đoàn Lý Thường Kiệt là một Đoàn bao gồm hầu hết là công chức và sinh viên phần lớn là ở xóm nhà thờ Mỹ Tho. Nhiệm vụ của tôi cũng khá đơn giản, biết gì nói nấy, miễn sao nhen nhóm lòng yêu nước cho đoàn viên. Ban đêm thì cùng nhau vác gậy tầm vông đi tuần tra canh gác trong phạm vi thành phố Mỹ Tho, dọc theo con đường Bourdet, dinh tỉnh trưởng quanh theo bờ sông ngang cầu quay trở về giáp với con đường Bourdet ở ngã ba bến đò qua Rạch Miễu. Trụ sở thì nằm chờ thay đổi phiên gác ở ngay nhà ông Phán chủ sở Bưu điện Mỹ Tho, cha của anh Lai, một học sinh ở Taberd với tôi. Tuy tham gia Thanh niên Tiền phong ở Mỹ Tho, nhưng tôi và anh Xuẫn vẫn thường xuyên gặp nhau ở Sài Gòn để dự cuộc mít tinh ngày 25/8/1945 do Mặt trận Việt Minh tổ chức ở vườn Ông Thượng (tức Tao Đàn hiện nay). Ngày 26/8/1945, tôi được anh Hai Đen chỉ huy Thanh niên Tiền phong ở Mỹ Tho, giao nhiệm vụ phải thuyết phục hiệu trưởng Cyprien hạ lá cờ trắng vàng của Vatican xuống làm lễ treo cờ đỏ sao vàng trong sân trường St.Joseph (Taberd). Vì vừa dự lễ ở Sài Gòn về, tôi nói cho Cyprien biết niềm tự hào của dân tộc ta có một quốc kỳ để phụng sự và việc treo cờ Vatican trước đây chỉ là một thủ đoạn đối phó với bọn Nhật, không thể tách trường ra khỏi đất nước Việt Nam được. Đây là vinh dự lớn không bao giờ có được, Cyprien đồng ý và giao cho tôi chuẩn bị một bài diễn văn để ông ta đọc, giao cho thầy François dặn dò các tu sĩ và bồi bếp tập sắp hàng để mai làm lễ treo cờ Việt Nam. Tôi dặn chú Bút chuẩn bị lấy vải đỏ và vàng để may cờ. Ngôi sao tôi vẽ theo kiểu cũ: 5 cánh mập. Buổi lễ chào cờ tại trường diễn ra đúng theò nghi thức. Tu sĩ và công nhân viên nhà trường sắp thành hai hàng đứng trước, hai trung đội Thanh niên Tiền phong của Đoàn Lý Thường Kiệt mang tầm vông, có mấy cây súng mút đi đầu từ ngoài cổng trường tiến vào rẽ sang hai bên cột cờ, đứng thành hai cánh hai bên hàng tu sĩ thành hình chữ U, dưới chân cột cờ có đặt bàn thờ Tổ quốc. Hiệu trưởng Cyprien đọc diễn văn tôi đã viết sẵn, chữ chân phương đủ các dấu hỏi, ngã... Tuy nhiên, lần đầu tiên đọc diễn vãn trước công chúng bằng tiếng mẹ đẻ ông ta cũng có phần lúng túng, quên mất các dấu đọc như tiếng La tinh. Buổi lễ chào lá cờ Tổ quốc cờ đỏ sao vàng đầu tiên được thượng lên cột cờ trường đạo (trước nay chỉ quen với cờ tam sắc và cờ trắng, vàng của những chân trời xa lạ). Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:43:57 pm Trong không khí tưng bừng của ngày độc lập tôi được động viên viết bài cho phòng Thông tin Mỹ Tho. Tôi viết về những ngày độc lập của đất nước, ca tụng Hai Bà Trưng đã mở đầu cho kỷ nguyên phất cờ giành độc lập lần đầu tiên cho dân tộc ta, để động viên phụ nữ tham gia kiến quốc. Một bà cụ đang mải mê ngắm ảnh Bác Hồ và khen: "Đúng Cụ Hồ là bậc Nghiêu - Thuấn, mắt cụ có hai tròng", tôi lướt tới ngước nhìn ảnh Bác: gương mặt gầy gò, trán cao, râu ba chòm. Tôi hiểu ngay Cụ Hồ Chí Minh chính là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã viết "Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp" và là cậu học sinh Nguyễn Tất Thành mà tên trùm mật thám Trung kỳ Sogny đã dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt theo dõi từ lâu! Con thuyền cách mạng Việt Nam đã có người vững tay lèo lái. Niềm tin ấy đã giúp tôi vượt qua nhiều thử thách sau này.
Đời sống của chúng tôi lúc này có khó khăn nhiều hơn trước nhưng không một ai kêu ca, vì kể cả bà con nghèo trong xóm nhà thờ chúng tôi đang ở, hàng tháng tôi vẫn mượn trước tiền lương của nhà trường để mua gạo ăn. Áo quần rách nát cả. Vợ tôi mua được một chiếc bao tải (bao tải đựng gạo, bột mì) về cắt ra may cho tôi và Chùy mỗi người một cái quần đùi để mặc, nhưng vẫn chờ đón một tương lai tốt đẹp hơn. Dòng tu kín của các dì phước nhường lại cho đoàn Thanh niên Tiền phong Lý Thường Kiệt cái phòng bé nhỏ ở góc trường để chúng tôi làm trụ sở Thanh niên Tiền phong, ở đó, thay vì học chính trị, tôi bắt đầu hướng dẫn cho đoàn viên một vài đường roi Thừa Thiên cho phù hợp với gậy tầm vông, vì tôi nghĩ, nếu giặc Pháp trở lại thì nói chánh trị chẳng bằng múa gậy tầm vông vào đầu chúng. Tôi lại cùng Jacques Lê Văn Đức, một nhà công giáo có thế lực ở Mỹ Tho, do cha xứ ở Mỹ Tho là Cha Barbier, một linh mục dòng "Thừa vô phép", không thể vận động chống Pháp được, nên chúng tôi rủ thêm Cha Hiền, Cha Sở họ Xoài Hột thành lập nhóm công giáo kháng chiến Nam Bộ và cùng tham gia Ban vận động sáng lập Hội. Hội bao gồm chừng vài trăm đại biểu ở quanh các họ đạo Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa, Mỹ Tho... Cuộc họp cả ngày, buổi trưa đại biểu đều ăn hủ tíu. Về phía chánh quyền có giới thiệu một người của Quốc gia Tự vệ Cuộc Sài Gòn cử tham gia: anh Kiều Công Cung. Xác định rõ mục đích là: vận động đồng bào giáo dân tham gia kháng chiến nếu Pháp manh tâm trở lại đất Nam Bộ. Hội nghị cử một đoàn ra Hà Nội để báo cáo tình hình và vận động đồng bào công giáo cả nước hưởng ứng. Trưởng đoàn là một đại biểu Sài Gòn tên Luật. Tôi không rõ kết quả chuyến đi đó về sau ra sao! Nhưng sau nầy, trong kháng chiến, Cha Luật đã bị bọn phản động ám hại, mất tại vùng nông thôn tỉnh Sa Đéc. Được biết Cha Sang, em của Cha Luật người gốc Thủ Thừa - Long An đều tích cực hoạt động cách mạng và đều bị thực dân Pháp ám hại. Ông Jacques Lê Văn Đức về sau cùng gia đình sang Pháp cả. Còn Cha Hiền sau nầy ở lại vùng Pháp chiếm đóng, tôi không gặp lại nữa, vì không thấy cần thiết. Ngày 23/9, thực dân Pháp, dựa vào quân Anh giải giới quân Nhật, giải thoát cho bọn Pháp bị Nhật giam giữ đã tấn công ta tại Sài Gòn rồi lan dần ra vùng phụ cận. Đầu tháng 10/45, Mặt trận Chợ Đệm bị phá vỡ, thương binh được chở về bịnh viện Mỹ Tho, vợ tôi cùng bà con xóm nghèo chia nhau mua đồ tiếp tế săn sóc thương binh, vợ tôi nấu một nồi cháo của biển gánh vào, gặp anh Vọng, nguyên là lính thủy vào Cộng hòa Vệ binh, bị thương ở bụng, viên đạn xuyên suốt người, nhưng không đụng cơ quan nội tạng nào cả. Chúng tôi đã từng quen biết nhau ở nhà anh Xuẫn ở Thị Nghè, sau nầy, nghe đâu anh Vọng ở lại hoạt động ở Sài Gòn. Chùy có gặp. Tiếng súng đồng tàu Richelieu của Leclerc đã chở quân Pháp cập cảng Vũng Tàu. Thành phố Mỹ Tho chuẩn bị kháng chiến. Tôi cũng định đem vợ con đi sơ tán nhưng còn phân vân, không nơi nương tựa. Một chiều, tôi đang đi đến trường học Collège Mỹ Tho, thì thấy Lai, học sinh lớn tuổi, có học với tôi, đang nối dây chuối đo lường, quanh thành trường học. Tôi nói thì Lai bảo, phải đo để biết rõ địa hình sau này tổ chức trinh sát cho tiện. Tôi hỏi Lai có biết chỗ nào ở nông thôn giúp tôi sơ tán vợ con không? Lai bảo tôi: "Thầy đừng đi sơ tán làm gì, cứ ở đây làm cơ sở cho tụi con hoạt động". Tôi gật đầu, nghĩ cũng có lý, nhưng vẫn không yên tâm nên đưa vợ và con sơ tán ra ngoại ô ở một trại cưa bỏ trống, vắng chủ. Chùy cũng theo chị ra ở trại cưa tham gia du kích. Nửa đêm 25/10, tôi thức dậy, vì tiếng nổ nghe gần, tiếng súng liên thanh tiếp tục từng hồi. Tôi thức đến sáng, bận áo dài vào, soạn sẵn các tập bài làm của học sinh, những tu sĩ còn tiếp tục học tiếng Việt định ôm vào trường để làm việc. Vừa ra khỏi cửa liếp đã thấy hai thằng lính Tây, mặc áo quần rằn ri dị hợm, tôi chưa từng thấy, áo quần liền nhau, tay cầm tiểu liên chỉa vào ngực tôi, hỏi giấy tờ tùy thân. Trong hai thằng Tây rằn ri, có một thằng là học sinh cũ trường Taberd. Tôi hiểu ngay, thế là bọn Pháp bị Nhật bắt đã được bọn Anh thả, nay mặc áo quần rằn ri trở lại hoành hành xuống chiếm Mỹ Tho. Tôi chỉ vào những tập học sinh đang ôm trong nách, nói bằng tiếng Pháp: "Tôi là giáo viên trường Taberd, đang chuẩn bị tới trường". Thế là chúng đẩy tôi đi trước, chúng đi sau, mũi súng vẫn chĩa vào lưng tôi. Chỗ tôi ở cách cổng trường 200m ngăn cách bởi khuôn viên nhà thờ Mỹ Tho. Đến trường, tôi thấy lúc nhúc đầy xe cộ và lính Pháp. Chúng đã đổ bộ và đồn trú ngay tại trường St.Joseph (Taberd tản cư về). Chúng dẫn tôi đến một lớp học gần cổng, đã dọn sẵn làm văn phòng quân đồn trú. Một thằng quan hai Pháp còn trẻ, hỏi cung tôi. Tôi lặp lại như trước. Chúng cho mời thầy hiệu trường Cyprien ra nhận bảo lãnh cho tôi. Nó nói: "Thôi được, nhưng quân đội làm nhiệm vụ, cấm anh không được ra khỏi cổng, nếu muốn sống!". Thế là tôi bị giam lỏng trong một lớp học phía sau, gần nhà bếp. Cũng may, lo cho vợ con không biết ra sao, nhất là cái ăn ai lo cho! Tôi lại được gặp anh em bồi bếp của nhà trường để trò chuyện đỡ buồn, nhờ nhắn tin ra ngoài cho vợ biết. Hằng ngày chúng tôi ngồi nhìn ra cửa sổ về phía văn phòng quân đồn trú, xem đồng bào ai bị bắt đến và ai bị dẫn đi. Phiên dịch cho viên trung úy Pháp chỉ huy văn phòng chính là đốc phủ Tâm, một tên địa chủ khét tiếng chống Cộng ở vùng Cai Lậy ai cũng biết, đi đôi giày da vàng, bận đồ tuýt-xo (tussor), đội nón cối, dáng người thấp lùn, trạc hơn năm mươi tuổi, lưng hắn khoác khẩu súng săn hai nòng, mỗi lần hắn dẫn người vào rồi lại dẫn ra là y như là người ấy bị đem đi bắn. Hôm đó, chúng tôi đếm cả ngày có 16 đồng bào bị đem đi bắn. Chú Bút nhìn tôi chằm chằm vào mặt, nói: "Để như ri thì chắc dân mình chết hết! Hay là thầy xin đi làm thông ngôn đi để cứu đồng bào mình?". Tôi thấy bất bình vì lời đề nghị của chú Bút động đến lời thề thiêng độc lập ngày 2/9. Nhưng trước sự việc nhãn tiền, tôi chỉ làm thinh suy nghĩ. Đêm đó thầy hiệu trưởng Cyprien bước vào phòng tôi đang ở (như bị quản thúc) khuyên tôi nên đi làm phiên dịch cho bọn Pháp, vì họ thiếu người, nên viên quan tư chỉ huy tiểu đoàn 2 (2è bataillon/6è RIC/9è DIC) đóng quân tại Mỹ Tho đã có yêu cầu nhà trường giúp tìm được người đáng tin cậy. Đã đến lúc thầy cũng phải làm việc để có lương nuôi sống gia đình, vì nhà trường không có học sinh. Nên cũng không thể trả lương cho thầy giáo nữa. Thấy quẫn bức quá, tôi xin hẹn lại 3 hôm, để trả lời. Vợ con tôi từ nơi sơ tán tạm, nay cũng đã kéo về nhà, và cũng đã một lần đến thăm tôi, đứng ngoài chấn song sắt nhìn vào, thấy tôi vẫn tự do, không bị trói, cùm gì nên chắc cũng yên tâm. Thế là tôi được về nhà bàn tính với vợ. Do đồng tiền eo hẹp, tản cư về vợ tôi đã trả căn nhà lá cọ số 15, góc sau đường nhà thờ để thuê một căn nhà lá hẹp hơn, tối tăm hơn nhưng rẻ hơn căn nhà mướn trước đây một chút, một trong 3 căn nhà lá của bà Dậu, nằm sát bên ngôi biệt thự xinh xắn của một ông dược sĩ, bọn Pháp đã sung công làm chỗ ở cho tên đại úy chỉ huy hậu cứ của 6è RIC thành phố Mỹ Tho. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:44:41 pm Đêm hôm đó, tôi còn nhớ suốt đời, vì là đêm quyết định cả số phận của cả gia đình tôi, kể cả sinh mệnh chính trị của tôi: Bé, Gái, Anh, Em bốn đứa con nhỏ dại của tôi đã ôm nhau ngủ trên bộ ván gỗ tạp duy nhất của căn nhà, dưới ngọn đèn hoa kỳ leo lét mà vợ tôi đã vặn thấp xuống cho đỡ khói và đỡ tốn dầu. Tôi dẫn vợ ra trước cổng thì thầm, to nhỏ, mặc dù phố xá đều im lìm, tối tăm như địa ngục.
Chúng tôi không nhìn rõ mặt nhau, nhưng không bỏ sót một chữ nào trong câu chuyện tâm tình đó: - Nhà trường không trả lương cho anh nữa! Thầy Cyprien bảo anh phải đi làm thông ngôn cho tụi Pháp mới có tiền để ăn. Em tính răng chừ? Im lặng kéo dài. Vợ tôi biết cảnh túng quẩn đó hơn tôi. Đã một tháng rồi, vay 200 đồng của nhà trường vẫn chưa trả được. - Anh tính thể này! Em cứ đem con đi tản cư, còn anh mượn cái xe kéo bỏ không của chú Tám (chồng chị Tám là du kích đã bị bắn chết đêm Pháp đổ bộ, chiếc xe còn để ở nhà) anh kéo xe kiếm tiền để nuôi con có được không? - Ô hay! Phố xá còn ai đi nữa mà anh kéo xe? Còn em và các con đi sơ tán dựa vào ai mà sống? Tụi mình có bà con mô mà dựa? Để phá sự im lặng, tôi lắc đầu kể chuyện một ngày 16 đồng bào bị đốc phủ Tâm bắt dần đi bắn, và câu gợi ý của chú Bút, như vớ được cái sào lúc chết đuối, vợ tôi tán thành ngay. - Liệu sau này ăn nói sao với anh em kháng chiến? - Tôi đặt lại câu hỏi để vợ tôi giải đáp. - Miễn mình hết lòng cứu giúp đồng bào bị bắt thì em chắc không ai nói chi mô. Tôi quyết định ngay. Thôi được, nếu lịch sử có Pêtrus Ký làm thông ngôn cho Pháp mang tiếng là bán nước, thì tại sao ta lại không dám làm thông ngôn mà không bán nước? Ăn thua là ở lòng mình. Ông ơi! Cha ơi! Hãy giúp con đừng phản bội cha, ông. Lạy Chúa! Chúa hãy rõ lòng con, đừng để con phản lại Tổ quốc của con! Hôm sau, tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ. Đến hôm thứ ba tôi gặp Cyprien, nói quyết định của tôi, nhưng với điều kiện, tôi không trực tiếp làm giấy giao kèo tự nguyện làm thông ngôn cho quân đội Pháp mà chính nhà trường giao tôi cho quân đội Pháp mượn làm phiên dịch không công (Interprète bénévole) cho đến ngày tựu trường phải trả về lại cho nhà trường để tiếp tục dạy học. Đêm đó, đến gặp tại phòng tôi ở, Cyprien dẫn theo cả viên thiếu tá chỉ huy tiểu đoàn 2 (2è Bataillon/6è RIC). Bản giao kèo được ký, một bên là thầy Cyprien, giám hiệu nhà trường, một bên là thiếu tá Duboval, chỉ huy Tiểu đoàn 2/6è RIC/ 9è DIC để cho thầy giáo Trần Hiến được làm phiên dịch không công cho quân đội Pháp trong thời gian nhà trường không có học sinh, đến lúc nào học sinh tựu trường, phải trả lại cho nhà trường để tiếp tục dạy học. Lương hằng tháng tạm thời được tính là 350 đồng. Cả ba người đều có ký tên vào ba bản, mỗi bên giữ một bản. Ký xong, hai người ra về, thỏa mãn. Riêng một mình tôi nằm lại trong lớp học tạm thời làm phòng giam những người bị bắt, gác tay lên trán với nỗi buồn man mác. Thế là mình đã ký tên vào bản giao kèo bán mình cho quỷ dữ. Lạy Chúa cho con đủ sức mạnh để đối đầu với quỷ sứ! Quỷ sứ không có nanh có vuốt nhưng có đủ mọi thủ đoạn tinh vi, và vũ khí tân kỳ! Hôm sau, tới văn phòng chỉ huy, tôi được làm quen với những ông chủ mới. Chỉ huy trung đội, chỉ huy kiêm sĩ quan tình báo của tiểu đoàn là trung úy Cousson, một sĩ quan Pháp đã tham gia chiến tranh chông phát xít Đức, mới đăng vào đạo quân viễn chinh của Leclerc. Anh ta còn trẻ, thích ra lịnh nhưng cũng biết phục thiện. Một người Pháp mới! Tôi tạm thời phân loại bọn Pháp làm hai hạng: bọn Pháp cũ, gốc ở thuộc địa, bọn Pháp mới theo De Gaulle từ Pháp sang, để có thái độ thích ứng. Binh sĩ Pháp trong trung đội chỉ huy tiểu đoàn (Section de Commandement) hầu hết là bọn Pháp mới, đăng ký vào quân viễn chinh vì lý do ham tiền và ham gái ở xứ lạ, chỉ biết phong trào Việt Minh qua bộ máy tuyên truyền của thực dân xuyên tạc. Còn viên Thiếu tá Duboval, chỉ huy tiểu đoàn là một sĩ quan kỳ cựu của quân đội Pháp đóng ở Lạng Sơn và đã rút sang Trung Quốc theo chân tướng Alexandry khi Nhật tràn vào Đông Dương, đến khi tướng Leclerc đem quân viễn chinh Pháp trở lại Đông Dương thì cũng trở lại theo gót Leclerc sung vào sư đoàn 9è DIC của tướng Valluy, đổ bộ vào Sài Gòn tràn xuống các tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu từ Mỹ Tho, Cần Thơ, theo con đường thủy, vì các cầu Bến Lức, Tân An đã bị phá sập. Buổi đầu, tiếp xúc với binh sĩ Pháp, tôi hiểu ngay là bọn Pháp mới khinh bọn Pháp cũ là không có tham gia phong trào của Tướng De Gaulle, ngồi yên hưởng thành quả chiến công của người khác. Trao đổi với Trung úy Cousson, tôi hiểu viên sĩ quan trẻ này có hai cái sở thích gái và thích ngắm nghía cây súng trường Mauser mà anh ta đã lấy từ kho vũ khí của bọn Đức sửa lại làm súng săn, luôn luôn mang vào vai khi ra trận, về Việt Minh, anh ta cho là Cộng sản dã man, ham giết người, cướp của nên phải diệt trừ không thương xót. Tôi chỉ ngay vào ngực tôi: "Tôi cũng là Việt Minh đây, nếu diệt trừ hết Việt Minh thì lấy ai cho các anh cai trị?". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:45:14 pm Chiều hôm ấy có việc làm ngay. Oái oăm thay, việc đầu tiên trong binh nghiệp phiên dịch lại nhằm vào việc làm đối với một học sinh lớn tuổi của tôi là anh Hoàng Hữu Hải, con của Giáo sư Nghĩa có vợ đầm, khi giặc Pháp đến Mỹ Tho, anh Hải ở lại thành phố, vào làm việc ngay cho Sở mật thám Mỹ Tho. Tai họa xảy đến cho anh là có người đã báo cho Cousson biết nhà Hải là nơi Việt Minh đóng, tàng trữ lựu đạn và chất nổ để hoạt động nội thành. Được tin, một mặt cho một toán tới bao vây nhà, mặt khác, cho người tới ngay sở Mật thám Mỹ Tho để bắt Hải. Tôi nhận ngay việc đến Sở Mật thám bắt Hải, với ý đồ muốn cứu học trò khỏi cơn hiểm nghèo. Cousson đồng ý, nhưng cử thêm một lính Pháp mang súng theo tôi. Vừa ra khỏi văn phòng độ 200m, tôi gặp ngay Hải đang hớt hơ phóng xe đạp đi ngược lại, vẻ mặt trắng bệnh. Nhìn thấy tôi, Hải khựng lại, tôi biết ý hất hàm yề phía Hải rồi ra dấu cho Hải quẹo về phía Trung Lương (ngoại ô thành phố). Thấy Hải quẹo về phía đó rồi, tôi lại cùng tên lính đi về phía Sở Mật thám. Lẽ tất nhiên Hải vắng mặt, tôi không nói gì thêm, về báo cáo lại. Toán lính đi bao vây và xét nhà Hải cũng đã về bắt theo một chú bé trạc 15 tuổi. Tang vật gồm có một số chai đựng chất gây nổ, mấy quả lựu đạn "lô can" có đuôi. Một vài tên lính còn chốt lại tại nhà Hải, làm bẫy chuột bắt nguội Hải trở về nhà. Cuộc hỏi cung bắt đầu công việc phiên dịch. Em bé bị Pháp bắt tại nhà Hải tất nhiên bị tình nghi. Tôi quên mất em tên gì. Chỉ nhớ nội dung cuộc đấu trí giữa Cousson và em thiếu niên Việt Nam bị bắt. Cousson hỏi bằng tiếng Pháp: "Tu es agent de liaison Viet minh?" Tôi dịch: "Mầy là liên lạc viên Việt Minh?". Em lắc đầu. Tôi nhìn kỹ. Đôi môi em mím lại, đôi mắt em nhìn trân vào mặt Cousson, không nhìn tôi, tin chắc rằng với cử chỉ ấy viên sĩ quan Pháp không cần phiên dịch. Em vẫn lặp lại cái lắc đầu. Cousson mất bình tĩnh, nói với tôi: "Il ment, donnez lui une gifle!" (Nó nói láo, hãy cho nó một cái tát). Tôi nín thinh, hai tay buông xuôi mắt nhìn thẳng vào mắt viên trung úy. Cousson bình tĩnh lặp lại câu hỏi như cũ với tôi. Tôi vẫn đứng yên, tay buông xuôi. Đến lần thứ ba một tên lính Pháp sợ Cousson mất thể diện, bước lên tát em bé một cái, em bé chúi nghiêng người. Tôi quay mặt nhìn ra cửa sổ nhìn bầu trời xanh. Cuộc hỏi cung tạm kết thúc, em bé được dẫn trở lại phòng giam, một lớp học để trống ở bên cạnh. Khi đã bình tĩnh hẳn, Cousson kêu tôi lại, nhỏ nhẹ hỏi tôi: "Tại sao tôi biểu anh đánh mà anh không nghe lịnh tôi?". Tôi nghiêm chỉnh trả lời từng tiếng một: "Tôi là thầy giáo không bao giờ đánh học trò. Hơn nữa, trong bản hợp đồng tôi chỉ làm nhiệm vụ phiên dịch, không làm công việc của tên đao phủ!". Cousson nhìn tôi, tôi nhìn thẳng vào đôi mắt nâu của nó, đôi mắt ấy, chưa vẩn đục, chưa mất hết tình người. Tôi tin thế!
Và quả thật! Từ buổi ban đầu ấy, mãi suốt thời gian tôi làm phiên dịch cho Cousson, chưa bao giờ nó sai bảo tôi đánh người, và bản thân nó cũng chưa bao giờ đánh ai trước mặt tôi. Có lẽ nó sợ bị cấp dưới, một trí thức bản xứ khinh khi chăng? Trong "Kinh Cựu ước", có câu chuyện David thắng người khổng lồ Goliat. Ở đây, một thiếu niên Việt Nam bị khóa tay cũng đã thắng một sĩ quan Pháp vũ trang tận răng bằng những cái lắc đầu. Nhưng chưa hết, đến chiều chú bé bị giam rống lên, ôm bụng kêu ca, đòi đi cầu. Tôi sai một tên lính Pháp dẫn ra khoảng đất rộng phía sau trường, có sẵn một dãy hố xí che tạm thời bằng lá. Một tiếng sau, tên lính ôm súng chạy vô hốt hoảng báo cáo: Thằng bé Việt Minh đã chuồn mất! Tôi không ngạc nhiên. Trời đã hoàng hôn. Hố xí che bằng lá phía trước kia, phía sau không có hàng rào, nhà trường làm tạm thời cho học sinh sử dụng lúc mới sơ tán đến, cách xa trường lớp. Người chiến thắng trận đầu không ngờ ấy là một học sinh 15 tuổi: chiến công thầm lặng của một chiến sĩ vô danh! Nếu em ấy đến nay còn sống cũng khoảng 60 tuổi, có thể tự hào một cách chính đáng... Tôi có thiếu sót, sau nầy tập kết ra Bắc, tôi đã có dịp gặp Hải vài lần, nhưng không hỏi han đến em bé thông minh, dũng cảm ấy. Hải có biệt hiệu là Hắc Hổ. Tôi được biết, sau khi trốn khỏi, lên Sài Gòn vẫn tiếp tục hoạt động kháng chiến trong lòng địch. Đêm hôm ấy, toán lính chốt "làm bẫy chuột" ở nhà Hải rút về, giao lại cho bọn lính kín Mỹ Tho, do một tên Cò tây lai, vốn trước đây sống ở Mỹ Tho, chỉ huy. Sáng hôm sau một anh phu kéo xe, dừng lại gần cổng nhà anh Hải, không rõ vì lý do gì, bọn lính kín bắt giữ đánh đập, đến 9 giờ, tên Cò tây lai dẫn đến văn phòng quân Pháp đóng, ỷ mình là chánh sở mật thám, trong lúc Trung úy Cousson đi vắng, hắn tự tiện lôi anh xe kéo, tự mình vừa đánh vừa hỏi cung. Bọn lính Pháp thấy cách đánh người tàn bạo của tên chánh sở mật thám tây lai đều tỏ vẻ khó chịu. Tôi tới gần, hỏi: "Tại sao anh đánh nó?". Tên mật thám nói: "Nó là Việt Minh". Tôi bắt nó đỗ xe gần nhà tên Hải. Tôi quay lại hỏi người bị bắt: "Anh làm gì mà bị bắt?". Người kéo xe nói: "Tôi kéo xe đi ngang đó, thấy mệt, ngồi nghỉ xả hơi, không ngờ bị ông nầy bắt không biết tại sao?". Tôi dịch lại tiếng Pháp cho cả văn phòng đều nghe. Bọn lính nghe rõ, lên tiếng phản đối. Tôi nói với tên chánh sở mật thám: "Hôm nay ông chủ đi vắng, có việc gì chiều ông đến, để người bị bắt lại đó, chúng tôi sẽ điều tra. Thấy bất lợi, nó bỏ đi ra không chào ai cả. Cousson về, bọn lính kể lại. Cousson ra lịnh ngay: "Từ nay về sau tôi đi vắng, không cho tên nào vào đây lộng quyền cả nghe chưa? Đây là lịnh của tôi". Nhìn thấy anh phu xe mồm miệng còn đầy máu, Cousson bảo: "Thôi đủ rồi, thả nó ngay!". Bọn lính thích thú thi hành lệnh. Tôi rót ngay ở bi-đông ra một ly rượu Rhum, đưa cho người phu xe uống trước khi anh chắp tay chào từ biệt. Một anh lính trẻ bình luận: "Tên mật thám đúng là một tên thực dân chính cống!" (C'est un vrai colonialiste). Giữa lính Pháp mới và bọn Pháp cũ có mâu thuẫn, có thể lợi dụng được, vẫn có ích cho nước cho dân. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:45:54 pm Tôi vẫn bán tín bán nghi về việc bọn chỉ điểm chỉ cho bọn Pháp vây bắt nhà Hải? Nhà của một giáo sư có vợ đầm, có danh vọng ở Mỹ Tho. Tôi kiểm lại, trừ bọn lính kín cũ làm cho sở mật thám Mỹ Tho, bọn chỉ điểm cho quân đội viễn chinh Pháp, ở Mỹ Tho đã có những ai? Mấy tuần đầu là tên đốc phủ Tâm khét tiếng chống Cộng mà nhân dân Nam Bộ ai cũng biết. Nhưng từ khi có tôi làm phiên dịch thì bọn Pháp chỉ sử dụng nó như một thông tin viên danh dự (honorable correspondant) khi cần mới hỏi đến. Phục vụ cho Cousson, sĩ quan chỉ huy kiêm sĩ quan tình báo của tiểu đoàn 2 (2è bataillon/ 6è RIC/ 9è DIC), ngoài tôi là phiên dịch viên không công, chỉ còn cô giáo Mỹ, một cô giáo không có học trò, một phụ nữ không còn trẻ và không có "co", quan hệ với Cousson khá mập mờ nhưng không có gì khó hiểu, và làm đầy tớ sai vặt. Có một anh tên Hai, tuổi chừng 30, thuộc loại vô sản lưu manh xin vào làm lính đầu đỏ (Partisan) để nuôi thân. Trong ba người đó, ai là người chỉ điểm vụ nầy? Tôi đang phân vân suy nghĩ thì bỗng có lịnh của Cousson phải chuẩn bị để ngày mai trung đội sẽ mở một cuộc bố ráp vùng ngoại vi thành phố Mỹ Tho. Tôi hỏi Hai: "Mầy có biết đi bắt ai không?". Hai muốn tân công: "Tôi biết đi xét nhà ông Năm... ở đường Xoài Hột". Sáng hôm sau, tôi kêu Hai xách súng đi theo tôi tới nhà ông Năm. Nhà lá ở chơ vơ giữa cánh đồng trống. Một con đường hẻm nhỏ dẫn vào nhà chừng 200m. Tôi thầm nghĩ: nhà hội họp của Việt Minh ở chỗ nầy nếu bị bao vây chạy ra đồng trống khó thoát. Tôi bước vào nhà, chỉ một ông già khoảng ngoài 50 tuổi tiếp tôi. Vì có Hai đi mang theo súng, đội mũ đỏ, nên tôi nói ngay: "Tôi nghe nói nhà ông có chứa Việt Minh nên đến hỏi ông: ông có chứa Việt Minh hay tài liệu Việt Minh nên đưa ra ngay thì khỏi bị bắt, khỏi bị liên lụy", ông già chỉ ngay cuốn sách đạo Cao Đài để giữa bàn nước trả lời: "Mấy cậu ơi! Nhà tôi theo đạo Cao Đài, đừng vu oan giá họa cho tôi, tội nghiệp". Tôi chỉ Hai rồi nói trỏng: "Thôi ông đã không chỉ, để chiều Tây nó tới xét nhà có tài liệu Việt Minh thì ông đừng trách chúng tôi đa". Tôi chỉ cuốn sách đạo Cao Đài dầy cộm trên bàn: "Tài liệu đó ông cứ để yên, chiều tụi tui tới mà không có thì đừng trách". Nói xong tôi dẫn Hai ra về, không chào hỏi gì cả. Đến chiều, hai tiểu đội lính Pháp cùng tôi đến căn nhà đó y như kế hoạch càn quét đã định. Cuốn sách Cao Đài còn để nguyên trên bàn nước. Bọn lính lục xét khắp nhà chẳng có tài liệu, vũ khí gì. Ông già vẫn đứng rót nước trắng ra tách mời khách đàng hoàng. Tôi cầm cuốn sách Cao Đài nói với Cousson: "Tung tin sai. Ông già theo đạo Cao Đài một tôn giáo chống Việt Minh". Tôi quay sang nói với ông già: "Chúng tôi tịch thu cuốn sách của ông để làm tang chứng". Dĩ nhiên Cousson đồng ý rút lui quân, không bắt tù binh, chỉ có một chiến lợi phẩm độc nhất: cuốn sách truyền bá đạo Cao Đài. Cụ già Năm tiễn khách, nét mặt có vẻ đắc thắng! Cũng nội chiều hôm ấy. Cousson đưa cho tôi một lá đơn của cô giáo Mỹ, trong đơn có yêu cầu quân đội Pháp cho cô ta cái vườn và nhà ở của ông giáo, ba anh Hải, để cô dọn đến ở, gọi là trả công cho cô đã báo tin cho nhà chức trách quân sự Pháp để diệt hang ổ Việt Minh ở Châu Thành Mỹ Tho. Cousson hỏi ý kiến tôi. Tôi đọc kỹ tờ đơn xin cấp nhà. Tôi nói với Cousson: "Kể ra chỉ điểm viên cũng có công đấy! Nhưng ban thưởng nhà đất không thuộc thẩm quyền của quân đội. Hơn nữa, ông giáo sư Nghĩa là công dân Pháp, vợ ông là người Pháp. Việc làm của Hải, hai ông bà đang ở Pháp không đồng tình. Nếu chúng ta đụng tới việc này thêm nhiều phiền phức đụng đến luật dân sự. Nhà binh không thể giải quyết!". Cousson đồng ý với lời nhận xét của tôi. Trả lại đơn cho cô giáo Mỹ. Người đàn bà ấy có cái tên thật đẹp (Mỹ!) nhưng hình dáng không đẹp chút nào, tính cách thì quả là xấu. Đến nay, nếu còn sống, bà ta chắc cũng đã đến tuổi 70. Có thể tự kết luận được rồi. Còn nếu chết, cũng là may cho con cháu. Hải, thì đến nay còn sống, đã nghỉ hưu ở thành phố Hồ Chí Minh, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của đời mình trong hai cuộc kháng chiến đầy gian khổ lắm tự hào của dân tộc ta... Chúng tôi có mấy lần gặp nhau, nhưng ít nói vì Hải có tật bẩm sinh lãng tai, nhưng do cùng hoạt động trong lòng địch, chúng tôi thông cảm nhau nhiều qua ánh mắt. Tôi có suy nghĩ về Hải là người lai Tây, có hai giòng máu, có hai nước để yêu, nhưng ở đây, yêu nước Việt Nam bị xâm lược lại là vấn đề chính nghĩa. Hải đã chọn con đường chính nghĩa.
Một sự cố trong gia đình xảy đến cho vợ chồng tôi: thằng Anh, đứa con trai lên 5 tuổi, em của Gái bị sốt rét ác tính đã chết đột ngột tại nhà thương thí Mỹ Tho. Do hậu quả mấy tháng trời vợ tôi vào Sài Gòn không có nhà tạm trú phải nương náu ở Brélinh cách Lộc Ninh 12 km, cách Bù Đốp 6km, là đồn điền cao su của Pháp, có tiếng ma thiêng nước độc. Ở tại đó chưa đầy 6 tháng, cháu Anh đã bị sốt rét vàng da, ỏng bụng, về Mỹ Tho vẫn thường sốt liên miên. Nhưng do thiếu thốn và dốt nát về thuốc men, chúng tôi cũng không để ý nhiều về căn bệnh của con. Hôm chúng tôi đưa con đến bịnh viện thì cơn sốt ác tính lên trầm trọng, các bà Sơ đều lắc đầu nhìn chúng tôi ái ngại. Thấy con rên xiết quá, tôi nghiền nát viên kí-ninh vàng của bịnh viện cho để dành: "Con cố gắng uống để sống với ba nghe con". Nó gật đầu cố nuốt viên thuốc đã nghiền nát hòa trong nước, rất đắng. Xong, nó trợn mắt nhìn tôi lần cuối và lịm đi. Ẵm con trên tay, tôi xiết đầu nó vào đầu tôi, nói thầm vào tai nó: "Con ơi! Con không sống với ba mạ, được về với ông bà, nói với ông và cố rằng: Ba còn sống thì không bao giờ phản bội lại cha, ông đâu! Con có thiêng thì phò hộ cho ba để làm việc cứu nước giúp dân con nhé!". Nó đã tắt thở. Nhưng chợt nghĩ lại, nếu quả thật có thiên đường cũng phải để cho con được vào cho con khỏi chịu thiệt thòi thân nó ở đời sau. Và, tôi lấy cái khăn tay thâm nước nhỏ vào trán nó, làm lễ rửa tội cho nó y như sách kinh của Công giáo đã chỉ vẽ. Dù sao, cũng không sao, không có Chúa hay có Chúa thì con trai tôi vẫn không bị thiệt thòi hơn. Cuộc sống hiện tại, cái khổ cái nghèo đã theo đuổi chúng tôi từ Trung vào Nam và con cái tôi cũng chung gánh. Đám tang con tôi không kèn, không trống: một chiếc quan tài mua vội, dán giấy hồng đỏ thay sơn. Bốn đĩa sành cắm 4 cây nến trắng, bà con giáo dân lối xóm hầu hết là phụ nữ con nhà nghèo khuyên tôi vào cầu xin Cha xứ Barbier cho đem quan tài vào nhà thờ xin làm lễ cầu hồn cho con tôi, mà tôi vẫn chưa kịp đặt tên thánh. Nhưng Cha xứ Barbier, một ông già rậm râu như tên gọi, không biết vì lẽ gì khăng khăng từ chối. Với những đồng tiền còn lại trong túi, tôi nhờ ông già gác nhị tì ở gần bờ sông trên đường lên Xoài Hột, cách thị xã độ 3 km, với tấm bia nhỏ bằng xi-măng xây nấm mộ: "TRẦN TUẤN ANH (1941-1945) Làng Niêm Phò - tỉnh Thừa Thiên", những mong sao sau này tìm lại được hài cốt con. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Tư, 2026, 08:46:33 pm Mặc dù làm cho Pháp, tôi vẫn cùng vợ con cố gắng ăn tiêu dè xẻn đủ trả tiền nhà, tiền ăn, đừng làm gì cho bà con lối xóm dị nghị, oán ghét. Có lần viên đại úy Charroy chỉ huy thị trấn (Commandant de la place) đóng cạnh nhà tôi, thấy gia đình tôi ăn ở chật chội trong một gian nhà lá tối tăm, bảo tôi nên dọn về ở nhà ông bác sĩ Tươi, hay ông trạng sư Tho có phố lầu bỏ trông, vì chủ đi tản cư. Vợ tôi cũng muốn dọn về chỗ nhà cao cửa rộng. Tôi nhắc lại: "Lịnh chánh phủ không ai được đụng đến nhà đồng bào tản cư, mình không nên trái lịnh". Vợ tôi nghe ra không nói gì thêm. Chỉ có đại úy Charroy là thắc mắc, không hiểu tại sao tôi không sớm dọn nhà. Tôi đành phải nói khéo với ông ta: "Chúng tôi cảm ơn lòng tốt của đại úy, nhưng chúng tôi không muốn đi xa vì gần đại úy chúng tôi thấy an toàn hơn".
Nói dối nhiều khi cũng cần thiết, miễn không thấy xấu hổ với lương tâm. Khoảng trung tuần tháng 11/1945, có lịnh trung đội phải hành binh càn quét cấp tốc ở thị trấn Tân Hiệp, cách Mỹ Tho 12km về phía Sài Gòn. Cả cái trung đội - tiểu đoàn bộ 2è Bataillon. 6è RIC lên xe từ sáng sớm. Đến một cái đình làng khoảng 3km trên đường đi Bến Tranh, bắt đầu triển khai cuộc vây ráp. Đến một cái nhà lá, một tên lính Pháp, quẹt diêm vào đế giày đưa lên mái toan đốt, tôi nhanh tay ngăn lại, hỏi: "Tại sao mày đốt nhà?". Nó chỉ vào đường hào giao thông bên cạnh nói: "Trạm trú của Việt Minh". May sao dưới hầm còn một đống phân trâu còn ướt, có lẽ chủ nhà mới đổ vội xuống hầm sáng nay. Tôi chỉ vào đống phân: "Không phải là chiến hào đầu, đó là nông dân đào cho súc vật xuống tránh bom đạn đó. Mầy thấy không? Súc vật vừa phóng uế đó. Chả là trước đây, bọn Nhật - Mỹ đánh nhau hay thả bom bừa bãi lắm nên dân quê họ sợ trâu, bò chết mà!". Cũng may, nhờ đống phân trâu, nên các lập luận "bố láo" của tôi cũng trót lọt. Tên lính Pháp vốn là nông dân nên gật đầu thông cảm. Hú vía! Toán quân bố ráp vây cái đình làng, bắt dẫn theo 48 người nam giới. Vì lính Pháp mới sang, nên chúng không bắt phụ nữ. Số người bị bắt đem về văn phòng tiểu đoàn để hỏi cung. Ngồi sau chiếc bàn, Cousson bắt đầu thực hành bài giảng về tiếng Việt của tôi hôm trước. Nó hất hàm nhìn 48 người đang đứng hai hàng trước phòng, bắt đầu cho vào từng người và hỏi: "Demandez lui s'il est Tan-nin ou Zou-kít?" (Anh hỏi nó là thanh niên hay du kích?). Tôi phiên dịch, cố nói chậm rãi, sợ giọng trọ trẹ khó nghe, dễ hiểu lầm. "Anh phải nói là thanh niên đừng nói là du kích nghe". Người bị hỏi gật đầu đáp gọn: "Dạ, thanh niên!". Cousson đắc ý "Bon". Rồi chỉ sang đứng bờ tường bên phải nó. Tôi hiểu ngay ý định nó muốn phân loại, nếu ai là du kích sẽ cho đứng sang bên trái sẽ đem đi xử bắn như trước kia. "Dịch và diệt". Tôi nhận thức ngay trách nhiệm, nên hết sức chủ ý truyền đạt ý định của mình cho người nghe hiểu rõ. Lặp đi lặp lại 48 lần với từng người bị bắt. Cuối cùng, tất cả đều đứng sang bên phải. Họ đều là thanh niên tiền phong, mặc dù có người đã ngoài 50 tuổi có để hàm râu đen nhánh. Cousson tỏ vẻ khoái trí vì mình đã hiểu được tiếng bản xứ, hoặc ít ra cũng làm cho dân bản xứ thấy được thiện chí của mình, nên hắn đúng lên vung tay: "Bon bon, cà va!". Tất cả đều được tạm giam để làm thủ tục cấp giây thông hành tạm ra về. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm, dẫn tất cả 48 người vào lớp học bên cạnh, ít nhất cũng được ngủ ngon giấc sau một ngày vất vả. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, thấy đói bụng mới sực nhớ là chiều hôm qua, lần đầu tiên tham gia hành quân với bọn Pháp, đầu óc khá căng thẳng nên không nghĩ đến chuyện lo cho dạ dày. Còn 48 đồng bào bị giam chắc vừa sợ hãi lo âu, còn đói hơn mình nữa! Không cần đánh tiếng, tôi xuống ngay nhà bếp, gặp anh Cuistot (lính đầu bếp), bụng phệ, đang đánh trần bên cái bếp dã chiến đốt dầu lửa. Nồi sữa ca-cao đang được quậy đảo nghi ngút khói. Tôi đến gần, lấy hết vốn liếng ngôn ngữ xã giao chào anh lính trình bày rõ hoàn cảnh mấy anh nhà quê bị bắt trong cuộc vây ráp đang nhịn đói từ hôm qua. "Họ là nông dân chính cống, không phải Việt Minh. Anh hiểu chứ?". Anh đầu bếp cũng dễ tính, đồng tình ngay. Thế là tôi được nhận một thùng giấy to đựng bánh "bích quy" lạt Balan và một xô nhôm đầy sữa ca-cao. Một tay xách xô sữa ca-cao, vai vác thùng bánh khẩu phần sáng của một trung đội. Tôi cảm ơn lòng nhân đạo của anh lính Pháp, khệ nệ xách vác kéo ngang sân trường bất kể ai dòm ngó. Dù sao một thầy giáo không bị học trò khinh khi lao động nặng để làm việc thiện. Đặt thức ăn sáng trước cửa lớp học phòng giam, tôi mở cửa phòng xách từng thứ vào. Anh em bị giam cũng đã đứng lên cả. Tôi chỉ vào thức ăn nói: "Mấy anh, mấy chú ăn sáng đi, chắc bụng đói lắm rồi. Đây là ăn trước bọn nó, thức ăn còn nguyên vẹn. Sữa ca-cao còn ngon hơn sữa cà phê, không phải bơ thừa, sữa cặn đâu!" Tôi lấy hết can đảm, nói thêm: "Bởi vì nói thật ra, nếu là bơ thừa sữa cặn thì đến phần tôi trước đã, chưa đến phần các anh đâu". Tôi mỉm cười chua chát với mình. Xong lấy cái ca đem sẵn, tôi múc một phần sữa ca-cao, mở thùng bánh ra, bốc lấy một cái đưa lên miệng ăn, nâng ca lên uống ực một hơi, xong đặt ca xuống nói: "Tôi xin vô phép ăn uống trước để bà con yên tâm, không phải là thuốc độc, cứ tự nhiên ăn uống đi, chờ làm thủ tục giấy má, nhà binh Pháp sẽ thả bà con về quê cũ". Tôi đi ra, biết rằng gần 100 con mắt nhìn theo tôi, nhưng cứ đi thẳng xuống bếp nhận lãnh khẩu phần ăn sáng của mình. Theo luật Hướng đạo sinh tôi có quyền thắt thêm một cái nút vào buổi rạng đồng nầy. Còn luật giáo hội La Mã thì sao? Tôi không rõ. Nhưng Đức Chúa lòng lành vô biên chắc chẳng nỡ trách tôi đâu. Vì đó là việc phải làm của mọi người và mọi người đều làm được cả. Nhưng sự đời không đơn giản như tôi nghĩ. Đúng bảy giờ, tôi vừa bước vào văn phòng Ban chỉ huy, bỗng nghe thấy lao xao trước cổng sắt. Tôi vội chạy ra. Một tên lính Pháp ôm súng gác cổng đang tranh cãi với một phụ nữ nông dân, trạc 40 tuổi, thân gầy như que củi, mạnh ai nấy nói, thấy tôi ra anh lính trẻ mừng rơn, giao người đàn bà cầm lá đơn cho tôi. Tôi dẫn chị phụ nữ vào văn phòng, chị ta bước tới cầm đơn đặt trước mặt Cousson. Cousson đưa tôi dịch, tôi lướt xem qua vì lá đơn khá dài, khoảng hết hai trang giấy kẻ. Tóm tắt: chị ta có người chồng bị bắt trong cuộc hành binh ở Tân Hiệp vừa qua, chị ta mất chồng và mất luôn túi nữ trang 12 lượng vàng và hột xoàn. Mất chồng và tiếc của nên chị làm đơn kêu oan chồng và xin được nhận lại đồ nữ trang nói trên. Tôi dịch lại cho Cousson nghe, Cousson hỏi: "Chị biết ai lấy vàng không?". Nghe tôi dịch câu hỏi chị chỉ ngay ngón trỏ tay phải vào ngực tôi, mắt quắc lên hét to: "Thằng Việt gian nầy lấy!". Tôi đỏ mặt, nhưng cố trấn tĩnh dịch lại đúng từng chữ cho Cousson nghe. Cousson phì cười, vì trong cuộc hành binh tôi ở bên cạnh nó. Tôi đã bình tĩnh nhớ lại câu cách ngôn cổ của Ấn Độ: "không có lửa sao có khói?". Tôi nói với Cousson: dù sao đã có đơn kiện thì phải có xét xử. Cousson lập tức tập hợp toàn trung đội, mang theo cả ba-lô và sac marin (túi bao to đựng quân trang) trên lưng mỗi tên lính. Tập hợp xong, viên trung úy trẻ tuổi gọi viên thượng sĩ trực ban đến biểu đi xổ tung từng ba-lô, túi sắc ra thềm nhà. Không có vật gì quí giá cả. Chỉ có những chiếc đồng hồ đeo tay của cá nhân, đây đó vài chiếc nhẫn, chiếc vòng đồng hồ đeo tay không đáng giá. Đúng là lính mới, chúng còn khá ngây thơ hoặc chưa kịp tiêm nhiễm thói quen đời lính tẩy. Cousson chỉ cho chị phụ nữ đến nhìn kỹ từng đống áo quần của lính. Chị cũng nhìn qua không lục lạo gì trong đồ lính thêm. Tôi nói với Cousson: "Còn một chỗ chưa xét", "ở đâu?", "ở nhà tôi". Tôi đáp. Cousson cười chỉ chị nông dân, chị nghe tôi nói lắc đầu. Cousson đưa tờ đơn cho tôi bảo: "Thôi kết thúc câu chuyện đi!". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:47:51 pm Tôi dẫn chị vào văn phòng và hỏi thật chị muốn gì cứ nói đi. Chị nói muốn gặp mặt chồng. Tôi cầm tờ đơn đi vào phòng giam đưa cho chồng chị và hỏi có thật chị mất vàng không? Ông chồng lắc đầu tỏ vẻ bực: "Chúng tôi nghèo xác nghèo xơ, dân tản cư có vàng có hột xoàn gì đâu? Chắc nó bịa để đi thăm tôi đó thôi". Tôi dẫn chồng ra cho chị gặp mặt. Ông chồng là người có râu đen, độ 50 tuổi, cũng nói là thanh niên lúc hỏi cung, gặp vợ đã không hôn mà tay giáng một cái tát vào vợ mặt hiền, la lên: "Mày đặt chuyện tầm bậy, tao nhờ ổng mà khỏi chết, sắp được thả rồi mầy viết đơn tầm bậy, ổng giam lại biết chừng nào về nhà". Tôi vội xông đến can thiệp, vì thấy cái tát thứ hai sắp giáng xuống. Tôi an ủi ông chồng, bảo cứ yên tâm xong giấy tờ thông hành mới ra đi được. Bà vợ lúc đó mới tươi tỉnh nét mặt, thú thật là vì chồng bị bắt, nhờ người ta viết đơn giùm rồi bịa chuyện mất vàng và hột xoàn cho to chuyện để mong được tiếp nhận và được gặp chồng. Tôi không nhắc lời chị mắng tôi là Việt gian đã lấy cắp của chị trước mặt một sĩ quan Pháp, vì sợ chị mắc cỡ, thầm tâm tôi cũng kính phục chị dám mắng Việt gian trước mặt người đại diện quân đội viễn chinh ngay chốn ba quân!
Sau này, mãi mấy tháng đầu năm 1946, mỗi lần tôi trở về thăm nhà, vợ tôi vẫn khoe với tôi, trong lúc tôi xa nhà, chị phụ nữ có chồng được thả, mỗi lần đi chợ Mỹ Tho, vẫn mang đến cho khi nải chuối, khi quày dừa, vì thấy vợ con tôi sống đạm bạc trong căn nhà lá nghèo nàn quá! Tôi dặn vợ tôi: "Người ta đến thăm là tốt rồi, nhưng họ cũng nghèo, em đừng nhận quà cáp gì cả, không nên!". Đến cuối tháng 11/1945, quân đội Pháp tạm củng cố việc phòng thủ ở thành phố Mỹ Tho. Trung đoàn 6è RIC/9è DIC đã chiếm xong hai vị trí xung yếu nhất ở miền Tây Nam Bộ: Mỹ Tho và Cần Thơ. Ban chỉ huy trung đoàn đóng tại Mỹ Tho, lấy mật danh là PC.Eléphant (hành dinh Con voi). Theo tôi biết: đóng tại Mỹ Tho có Tiểu đoàn 2 và Đại đội Trợ chiến (C.A.C) đóng tập trung ở dinh tỉnh trưởng. Trường Collège và Ban chỉ huy ở trường St.Joseph (Taberd). Phía bên kia cầu quay, có đại đội lính đầu đỏ (Partisans) thu hút bọn đầu trộm đuôi cướp, vô sản lưu manh. Tên tây lai Leroy lúc đó được phong hàm chuẩn úy, chỉ huy bọn đầu đỏ, dòm ngó về Bến Tre, quê quán nó ở Bình Đại, mấy năm sau nó lên hàm quận trưởng, rồi đại tá tỉnh trưởng. Chỉ huy khu vực Mỹ Tho là đại úy Charroy, ở sát gia đình tôi ở; Nói cho công bằng, viên sĩ quan này đã lớn tuổi, tính nết điềm đạm, dễ tiếp xúc, vì biết lẽ phải trái. Hoạt động của 6è RIC triển khai theo chiến tuyến dọc theo con đường số 4, nhằm tấn công vào khu vực miền Tây Nam Bộ. Toàn bộ nỗ lực của chúng trong tháng 11/1945 là nhằm khai thông con đường Mỹ Tho - Sài Gòn dễ điều các đơn vị thiết giáp và pháo binh xuống yểm hộ cho bộ binh. Đến cuối tháng 11/1945, công binh Pháp đã bắc xong hai cầu Bến Lức và Tân An, đã bị ta phá sập sau ngày rút lui khỏi chiến tuyến chợ Đệm. Tiểu đoàn 2/6è RIC lại được lịnh điều ngược về Sài Gòn một dại đội trong đó có tiểu đoàn bộ dọc đường từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, qua các thị trấn dọc đường số 4 đồng bào đều tản cư theo chủ trương của kháng chiến "Vườn không nhà trống", chỉ một số tiệm chạp phô của Hoa kiều là mở cửa đón khách qua đường, ung dung tự tại dưới lá cờ thanh thiên bạch nhựt của Tàu Tưởng, một cơ hội để hốt bạc... của nghề thương mãi. Đơn vị có tôi đi theo, trú đêm tại hậu cứ của Sư đoàn 9 (9è DIC) trên đường Angier đầu cầu Thị Nghè, có các kho vũ khí đạn dược và xăng dầu của sư đoàn, đã bị Lê Văn Tám đốt rụi (khoảng đầu tháng 12/1945). Hôm sau đơn vị lại tiếp tục hành binh đánh chiếm Thủ Đức. Trừ trường dòng "Anh- Em", các tu sĩ còn ở lại, ở thị trấn nổi tiếng về thịt bò 7 món này không còn bóng dáng một người đàn ông, nên không có tiếng súng đạn. Tôi nhớ lại Coussòn vừa đặt lưng xuống đi-văng, trong một căn phố vắng chủ để nghỉ trưa đã nói với tôi như ra lịnh, tuy vẫn dùng cách xưng hô anh, tôi, không mày tao mi tớ: "Cherchez-moi une Con Gái" (Anh tìm cho tôi một cô gái). Tôi biết thằng này đang nổi máu lính tây, vì thiếu cô giáo Mỹ bên cạnh như trước đây ở Mỹ Tho. Nhếch mép cười, tôi đáp: "Dân chúng tản cư hết nếu có con gái thì tôi đâu để đến phần anh! Hơn nữa chỉ có phụ nữ bị giang mai mới không chịu tản cư". Nó thở dài thất vọng. Trở lại thị xã Mỹ Tho, sau hai ngày hành binh cấp tốc, để nới rộng phạm vi chiếm đóng Sài Gòn, tháng 12/1945, kể như Mỹ Tho khá yên tĩnh, trừ hai chi tiết: một tu sĩ dòng "Anh-Em" phá giới theo làm lính đầu đỏ cho bọn Pháp, ở Thủ Thừa (Tân An) bị du kích bắn gãy tay, vào thăm trường St.Joseph cũ, gặp tôi, năn nỉ xin vào làm phiên dịch không công như tôi. Tôi hỏi anh ta, anh có ruộng vườn ở Thủ Thừa không? Anh bảo là có. Tôi khuyên anh nên rút kinh nghiệm về làm vườn mà sống yên thân hơn, đi lính thêm khổ thân. Thành thật tự thâm tâm, tôi cũng muốn về vườn sống mà không có đất. Anh ta rút lui. Cũng trong thời gian đó, tin tức về kho đạn Thị Nghè bị đốt, nhà cháy, đạn nổ kéo dài cả tuần, tin bay về tận Mỹ Tho. Bọn Pháp bắt đầu nơm nớp lo sợ "Việt Minh tấn công tận hang ổ chúng". Ngày 24/12, đáng lẽ là nghỉ lễ Noel, nhưng đơn vị lại cấp tốc hành quân mở rộng chiếm đóng quốc lộ 4 và đánh chiếm Cai Lậy. Xe GMC chở lính phải đi rất chậm phần sợ Việt Minh bắn tỉa, phần phải tránh những chiến hào chữ chi ngay trên quốc lộ 4, cứ 500m, có chiến hào, khi bên phải, khi bên trái làm chậm bước tiến quân. Nhưng đến nửa đường, đành phải kéo đi bộ, vì cầu Long Định bị phá sập. Đốc phủ Tâm vẫn đội nón cối, mặc bộ đồ tussor, súng hai nòng khoác vai, trên đường đi vắng tanh, không một nông dân nào xuất hiện. Đến thị trấn Cai Lậy vừa đúng trưa ngày 24/12/1945. Sân vận động Cai Lậy còn cháy dang dở, do Việt Minh đốt trước khi rút lui. Thị trấn Cai Lậy vào năm 1945, hầu hết các nhà đều lợp lá, trừ một vài tiệm chạp phô bằng ngói của Hoa kiều là mở cửa, có lá cờ "Thanh thiên bạch nhựt" treo phất phơ trước mái, làm bùa hộ mệnh. Một tên lính Pháp còn trẻ măng đang đưa báng súng dộng vào cửa tủ một phụ nữ gầy ốm đang khóc lóc van xin. Tôi đến gần can tên lính. Tên lính trẻ lại chĩa súng vào tôi hăm dọa. Tôi phanh ngay áo ngực, dứt tung cái áo ra trước mũi súng, thét vào mặt nó: "Tao không muốn mày trở thành tên ăn cướp". Nó lườm tôi rồi thu súng về. Cousson vừa bước vào thấy vậy, cho tên lính một cái tát xiêu người, xử luôn: 7 ngày giam! Tên lính đứng nghiêm nhận kỷ luật. Đêm hôm đó, cả đại đội ăn lễ "Giáng Sinh" giữa sân chợ, có một đại úy, trung úy làm lễ thánh. Tất cả đều đứng xem lễ. Bên cạnh tôi vẫn có tên lính bị phạt tù, cả người sĩ quan trẻ đã phạt tù nó. Tất cả người phạm tội, người xét xử nó, và người ngăn cản không cho phạm tội ác đều đấm ngực ba cái nói lên "Lỗi tại tôi" và tự cho mình là người có thiện chí. Thành kính tưởng nhớ giờ phút Chúa hài đồng ra đời, với lời thánh ca: "Vinh quang Chúa trên các từng trời, hòa bình cho những người có thiện chí trên trái đất". Ngọn lửa ở sân vận động còn đỏ rực ở góc đông thị trấn. Chiến tranh đang lan tới trên đất phì nhiêu ở miền Tây không biết ngày nào chấm dứt. Tôi chợt nghĩ đến Đồng Tháp Mười và Mỹ An Thiên Hộ. Lạy Chúa con đã lo ra rồi! Lúc nào Chúa sẽ đoái hoài đến đất nước của con đang bị ngọn lửa chiến tranh thiêu đốt sáng cả góc trời cao! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:48:37 pm Vài ngày sau, đơn vị tiếp tục đánh chiếm thị trấn Cái Bè và mở một cuộc hành binh cấp tốc vào Thiên Hộ, vì được tin Linh mục thừa sai người Pháp ở Cái Bè đã bị Việt Minh bắt đi và giam ở đó. Cuộc hành binh không có kết quả. Nhà không, vườn trống, không một tiếng súng không một tù binh. Hai đại đội lính đầu đỏ vẫn theo chân Cousson. Viên trung úy giao cây súng trường Mauser được tân trang thành súng săn cho tôi để chứng tỏ sự tin cẩn. Thấy tên lính Hai liếc nhìn với vẻ thèm muốn, tôi tháo đạn bỏ vào túi mình, giao ngay cây súng cho Hai mang, dặn thêm: "Ông quan hai cưng cây súng lắm, nòng đã thoa đầy mỡ bò, đừng bắn bậy bạ mà chết với ông ta!". Súng đã tháo đạn, nhưng tôi vẫn phòng xa vì cỡ đạn 7,9 không thiếu. Lính của 2è Bataillon đều trang bị súng trường Mauser.
Sau khi ăn Tết tây (1946) tại Mỹ Tho, toàn đơn vị 2è Bataillon lại tiếp tục hành binh bằng đường sông, sang đóng tại Vĩnh Long. Văn phòng ban chỉ huy tiểu đoàn đóng gần chợ, cạnh bên bờ con rạch nhỏ Cầu Lầu. Cái văn phòng luật sư nào đó (sau nầy nghe nói là của Luật sư Thọ) biên thành hành dinh tiền phương P.C.A (Poste de commandement avancé) Vĩnh Long đã được chiếm từ trước tháng 12/1945. Viên sĩ quan chỉ huy thị trấn Vĩnh Long (Commandant đe la place Vĩnh Long) là đại úy Savariy, một người Pháp gốc đảo Corse, có một vết thẹo dài trên má. Có dưới quyền một dại đội lính đầu đỏ. Savany, sau này lên thiếu tá chỉ huy 2è Bureau của quân đội Pháp ở miền Nam. Sáng 3/4/1946, đơn vị Tiểu đoàn 2/6è RIC được lịnh cấp tốc xuống tàu L.C.M hành binh về hướng Tây, để đánh chiếm thị xã Sa Đéc. Từ 9/1945, Sa Đéc là nơi chiếm đóng của Đệ tam sư đoàn Nguyễn Hòa Hiệp (sau nầy theo Pháp) trước khi Pháp khởi hấn chiếm Sài Gòn. Cuộc hành binh của 2è Bataillon/6è RIC, có quân số gần hai đại đội đi trên 3 chiếc tàu há mồm L.C.M. phải phá cản lục bình tàu mới tiến được vào thị xã. Thị xã không lớn lắm. Đồng bào đã tản cư trước. Còn ở lại thị xã, tôi nhận thấy chỉ có hai gia đình. Một là gia đình ông Ngỡi ở trên con đường chính nối liền hai cầu ở hai đầu phố chính. Cô con gái bác sĩ Ngỡi gọt cam mời các sĩ quan Pháp ăn gồm có ba người trong ban chỉ huy: thiếu tá Duboval chỉ huy tiểu đoàn, một đại úy chỉ huy phó và trung úy Cousson chỉ huy trung đội văn phòng, chuẩn úy Darían (cháu nội đô đốc Darían, một người chỉ huy cao cấp hải quân Pháp). Trong khi các sĩ quan Pháp quây quần ăn cam, tôi bỏ đi vì cảm thấy khó chịu trước cảnh một trí thức ở lại đón tiếp quân xâm lược, trong khi tất cả đồng bào đều tản cư. Đi đến con đường thứ hai song song với con đường chính, tôi thấy một toán lính, độ ba tên, đang lục lạo trong một căn phố có bảng đề "Phước sanh đường". Vào nhà thấy có các hộc tủ nhỏ đựng những vị thuốc Bắc. Một bà cụ đang run run nhìn bọn Pháp sục sạo. Một ông cụ đang đắp chăn nằm co ro trên sạp. Một tên lính đưa đến cho tôi một tập giấy giới thiệu và một con dấu đựng trong cái túi vải: "Mặt trận Việt Minh Sa Đéc" - "Hội phụ lão cứu quốc". Tôi hiểu ngay cụ già là Hội trưởng hội phụ lão cứu quốc. Tôi hỏi bà cụ, ai nằm trong chăn. Bà cụ đáp, ông tôi đang lên cơn sốt rét đó. Tôi giải thích cho tên lính Pháp biết, hai ông bà già này đang bị bịnh, còn cái tập giấy kia là các toa đơn thuốc của hiệu thuốc bắc, không phải truyền đơn của Việt Minh. Nói xong tôi liệng cái túi và tập giấy ra sân có cái hầm cá vồ và cái cầu tiêu bắc ngưng trên hầm. Tôi lấy thêm hòn đá bỏ vô túi cho nặng, bỏ cả tập giấy giới thiệu vào buộc miệng túi lại. Lợi dụng lúc đi cầu, tôi quăng ngay túi vải xuống hầm cá để phi tang. Tôi chú ý nghe lác đác đây đó một vài tiếng súng mút nổ. Đến con đường đất song song bên cạnh lộ cái, một toán lính đang lục lạo trong một gian nhà lá không người, tôi bước xem một cái va-li cũ đã mở toang nằm dưới đất, một số áo quân cũ đã vứt tung tóe, chỉ còn một quyển từ điển Pháp - Việt của Đào Duy Anh đóng bìa da còn nguyên. Tôi lật ra thấy có tên người chủ cuốn sách ở trang đầu, ghi Trần Bửu Kiếm (thư ký ƯBKC/HC Nam Bộ, những ngày đầu kháng chiến chống Pháp) không có cái bóng dáng nào của Đệ tam sư đoàn hữu danh vô thực của Nguyễn Hòa Hiệp. Cuộc hành binh kết thúc trong ngày. Duboval cho bố trí hai trung đội gác hai đầu cầu, hai đầu phố chính rồi ra lịnh cho toàn đơn vị xuống tàu trở về Vĩnh Long. Binh sĩ xuống hai chiếc L.C.M đi trước, chiếc thứ ba để dành cho ban chỉ huy. Tôi bước xuống theo dưới tàu, nằm sóng sượt 7 tử thi lính Pháp, trong đó tôi nhận thấy có một thượng sĩ văn phòng ban chỉ huy. Bảy mạng công dân của nước Pháp với khẩu hiệu vang lừng "Tự do, Bác ái, Bình đẳng" đã hy sinh cho cái gì ở đây? Những binh sĩ còn sống, ngao ngán nhìn, và lẩn tránh ra sau lái. Một trung đội công binh làm nhiệm vụ lập lại các cầu bị phá sập dọc hai lộ Mỹ Tho - Bắc Mỹ Thuận và Vĩnh Long - Sa Đéc. Trung đội văn phòng được nghỉ một ngày. Trừ trung úy Cousson có một phòng riêng ở phía sau văn phòng, tất cả binh sĩ đều nằm trong gian nhà rộng phía trước như xấp cá mòi. Tôi trèo lên gác lửng nhỏ, nơi đựng các tài liệu bắt được của Việt Minh trong mấy ngày qua, vất bừa bãi ngổn ngang chật cả gác, dưới ngọn đèn tròn chạy máy nổ, tôi giở đại một tài liệu ở bên cạnh để xem cho đỡ buồn. Một biên bản hội nghị chi bộ xã, đề ngày 23/12/1945, xã chỉ cách thị trấn Cai Lậy 2km, phía đông trên kinh Xáng số 12. Tôi không còn nhớ toàn bộ nội dung biên bản. Nhưng điều sâu đậm trong lòng tôi có hai điểm: Sát ngày Cai Lậy bị đánh chiếm, nhân dân đều tản cư vào sâu trong Mỹ An, Thiên Hộ, Năm Ngàn, Dương Văn Dương (Đồng Tháp Mười) chỉ còn chi bộ ở lại ngày cuối cùng để họp bàn phân công đối phó với địch, một khi Cai Lậy bị chiếm. Chi ủy xã gồm bảy đồng chí, phân công 4 đồng chí ở lại nắm dân, trong đó có một đồng chí nữ. Một niềm hy vọng tràn ngập tim tôi, chi bộ ở xã còn hoạt động thì cấp trên không thể nào bỏ rơi cuộc kháng chiến này được, hơn nữa còn Bắc bộ, Trung bộ, Bác Hồ không thể nào để yên cho quân Pháp dày xéo Nam Bộ được. Ý thức kháng chiến của tôi không đơn độc. Đã 8 giờ tốỉ, bọn công binh làm đường lên Sa Đéc giải về năm thanh niên bắt gặp trên đường hành quân. Trời đã về đêm, trung úy Cousson ra lịnh tạm giam ở phòng nhỏ phía trước nhà khách, để hôm sau bắt đầu hỏi cung. Sáng hôm sau, trời sáng, tôi thức dậy nghe tiếng lao xao dưới phòng ngủ bọn lính Pháp. Hỏi ra mới vỡ lẽ: năm người trong phòng giam không còn nữa, một người trốn thoát, bốn người bị mấy tên lính gác dẫn đi bắn hết. Cousson biết chuyện, nhún vai, chết hay trốn đối với nó đều là như không quen biết, thế thôi! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:49:05 pm Thời gian gần Tết, tôi được cho về Mỹ Tho, nghỉ phép với gia đình. Trường vẫn chưa có học sinh. Binh lính Pháp vẫn còn đóng chốt. Hỏi thăm Chùy, thấy vắng mặt. Vợ tôi bảo nó sợ nặng gánh gia đình nên đã tự động xin đi làm phiên dịch cho C.A.C (Compagnie d'accompagnement tức đại đội trợ chiến của Trung đoàn 6è RIC) nên đã lên đường cùng đơn vị đi Cần Thơ từ đầu tháng 1, và nghe đâu bị thương đang điều trị tại Cần Thơ. Tôi giận quá la lên: "Anh đã bảo nó đừng đi đâu hết, cứ ở nhà, để một mình anh đi làm là đủ, tại sao em để cho nó đi, cho đến nông nỗi nầy?".
Vợ tôi thấy tôi to tiếng, lặng im. Một ý nghĩ lại đến với tôi: Phải xuống ngay Cần Thơ thăm nó, khuyên nó điều trị cho mạnh rồi ở luôn Cần Thơ, trên đường móc nối với anh Xuẫn, đang làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Bình Thủy (Cần Thơ). Tôi sang gặp đại úy Charroy, xin giấy phép đi Cần Thơ. Charroy đang tiếp một người Pháp dân sự: kỹ sư công chánh Fournier. Fournier có chiếc xe Traction avant đang định đi Cần Thơ. Charroy gởi tôi đi tới Vĩnh Long. Tới đó tôi sẽ xin phép đơn vị để sang Cần Thơ trong ngày. Hôm đó vào hạ tuần tháng 1/1946, tôi quá giang Fournier đến bến Bắc Mỹ Thuận. Một viên đại úy Pháp đứng ở thanh chắn ngang bến không cho xe vào bến Bắc. Hai chiếc xe nồi đồng (AM) gắn súng 37mm cũng dừng lại ngoài cảng. Tôi hiểu chiếc phà nhỏ không đủ sức chở loại xe này. Fournier dừng xe xuống chào viên đại úy và chìa công lịnh ra, xin vào bến phà, viên đại úy không cho. Hai bên cãi nhau. Tôi cũng xuống xe đến gần. Không biết Fournier đã hỏi gì chỉ nghe viên đại úy đáp: "Je sers la France" (tôi phục vụ nước Pháp) - lúc ấy Fournier nổi cáu thật sự: "Si tu n'es pas payé à la fin du mois, peux tu servir la France? Tu es ici, parce que tu es payé pour çà! C'est tout!" (Nếu cuối tháng nầy không được trả lương, liệu mày còn phục vụ nước Pháp được không? Mày ở đây là vì mày được trả lương để làm việc đó, thế thôi!). Bỗng nghe có tiếng: "Hélo! Jules!" (Này bọn kia!) từ dưới bến phà vọng lên. Một sĩ quan Pháp đứng trên mô đất cao bên bến phà đang vẫy tay chúng tôi xuống, xung quanh có một nhóm sĩ quan khác. Viên đại úy bỏ chỗ gác chạy xuống, tôi và Fournier cũng rảo bước theo. Vừa chừng nhìn rõ môi trên viên sĩ quan có chòm râu kiểu Hitler, nhưng rậm hơn, sâu rọm dài hơn, trên cầu vai có 4 ngôi sao đại tướng tập đoàn quân. Tôi hiểu ngay, trước mặt tôi chính là viên tướng lừng danh, là người giải phóng Paris, trên các báo chí Pháp. Và hiện nay là tư lệnh tối cao quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương: Leclerc, xung quanh là nhóm sĩ quan tùy tùng. Thấy mọi người đã vây quanh, Leclerc quay mặt đối diện với sông Cửu Long chuyển cây gậy (trique) uy quyền màu đen có ngôi sao bạc, cầm sang ở tay trái, dùng tay phải dang thẳng ra phía bên kia chân trời, khoát một vòng từ bờ sông phía Nam sang phía Bắc, bao quát cả một vùng rộng lớn Đồng Tháp Mười hoang dã mênh mông, lớn tiếng như hô trước ba quân: "Je vais balayer cà en quatre semaines" (Ta sẽ quét sạch vùng này trong vòng 4 tuần lễ!). Nã Phá Luân đứng trước đạo kỵ binh viễn chinh của đế quốc Pháp, trước triển vọng rút quân qua Địa Trung Hải để về Pháp, cũng đã dùng giọng nói như vậy để nâng cao sĩ khí ba quân: "Hỡi tướng sĩ! Từ trên đỉnh các Kim tự tháp, 40 thế kỷ đang chiêm ngưỡng các ngươi!" (Du haut de cette pyramide, 40 siècles vous contemplent) lên giây cót cho binh sĩ trước triển vọng rút quân hay giọng nói tướng của một ông tướng! Dù sao tôi vẫn không tin và không thích giọng điệu huênh hoang khoác lác đó. Tôi tin vào lịch sử: sông Cửu Long với Rạch Gầm và Xoài Hột đã nhận chìm 4 vạn quân Xiêm! Đồng Tháp Mười với các nghĩa binh Trương Định, Nguyễn Trung Trực mà tôi đã dọc sử lúc dạy môn lịch sử: "Bao giờ Đồng Tháp Mười hết cỏ thì mới hết người dân chống Tây". Tôi vẫn tin vào lịch sử: các cuộc viễn chinh Thành Cát Tư Hãn ở phương Đông, rốt cuộc với Thoát Hoan chui vào ống cống thoát chết; Nã Phá Luân ở phương Tây, cuối cùng phải rút chạy khỏi nước Nga thất bại ê chề! Đó là niềm tin của con người luôn bị cái nhục mất nước dày xéo ám ảnh tâm can..., Chờ xem thực hư chân giả. Hay chỉ là một kế nghi binh của một tướng tài ba thao lược? Leclerc nghỉ lại đêm ở Vĩnh Long, tại biệt thự của Giám mục Ngô Đình Thục có đủ tiện nghi, giường Hồng Kông gọng đồng bóng loáng, lò xo nhún nhảy, ghế tràng kỷ gỗ mun, cẩn xà cừ óng ánh thay vì xa-lông tiếp khách. Viên tổng tư lịnh Pháp hội ý với sĩ quan chỉ huy khu vực: đại úy Savany, chỉ thị phải đón giám mục Thục còn đang tản cư ở chợ Lách trở lại tòa giám mục Vĩnh Long. Tôi được biết tin ấy qua Cousson, Tết 1946, nhằm ngày 2/2/1946. Tôi xin phép đơn vị quá giang xe chở bánh mì tiếp tế Cần Thơ. Tôi mua ổ bánh mì, đến Cần Thơ vào bịnh viện nhà binh Pháp thăm Chùy. Bịnh viện Cần Thơ để dành cho quân viễn chinh Pháp 3 nhà để làm quân y viện. Khoảng 50 thương bịnh binh. Chùy đang nằm trên giường sắt, thấy tôi đến, mừng rỡ, mặt lốm đốm vết đen vì mảnh lựu đạn, may không hỏng mắt. Tôi không rầy nó, chỉ dặn ráng điều trị cho lành, rồi xin thôi việc ở lại Cần Thơ, tìm gặp anh Mai Xuẫn, nhắc lại lời hẹn trước (ở Cần Thơ tìm cách tham gia công tác và chờ tôi xuống cùng tham gia kháng chiến cho có bạn) Chùy đồng ý và đưa cho tôi xem chiếc mề đay "Croix de guerre" Leclérc đã đích thân gắn cho nó tại giường bịnh, lúc hắn đến thị sát Cần Thơ. Mề đay được Leclerc ký duyệt ngày 15/11/1946. Thế là Leclerc đã xuống miền Tây. Chiến sự ở đây phải chăng đã đến thời kỳ quyết định trở nên quyết liệt hơn. Phải chi có anh Vịnh (tức Nguyễn Chí Thanh) ở đây chỉ bảo cho tôi những điều cần phải làm. Tôi biết anh đang là Chủ tịch Việt Minh Trung bộ và Chủ tịch Hội thanh niên Việt Nam. Nhưng biết làm sao được, phải tự mình xoay sở miễn đừng mất gốc... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:50:11 pm CHƯƠNG 5 VÀO TRẬN Ngày 2/3/1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp khóa I, bầu Chính phủ Liên hiệp kháng chiến tại Hà Nội, do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Cùng ngày đó, ở Sài Gòn, tướng Leclerc ra lịnh: tung quân mở đầu chiến dịch "Bến Tre". Kế hoạch đã vạch chu đáo, về lực lượng tham chiến toàn bộ sư đoàn 9 bộ binh (9è DIC) trụ cột của quân đội viễn chinh Pháp đã tập trung về Sài Gòn để tham gia chiến dịch. Sư đoàn 2 thiết giáp (2è DBL), con cưng của Leclerc, đã từng được viên tướng này huấn luyện, tuyển mộ và tập dượt trên sa mạc Sahara trong những ngày kháng chiến chống Đức ở châu Phi, khi ông ta còn là một trung úy thiết giáp, cũng đã lên đường trên con lộ số 10, vượt qua biên giới Miên Lào để tiến công vào vĩ tuyến 16, ngang Trung bộ, theo con đường số 9 làm gọng kềm thứ hai của chiến dịch, về mặt ngoại giao, tướng Salan đã thay mặt Leclerc đến Trùng Khánh ký hiệp định Pháp - Trung với Tưởng Giới Thạch để quân Pháp thay thế quân Tưởng giải giới quân Nhật từ Vĩ tuyến 16 trở ra. Mãi mấy tháng sau, đọc báo "Caravelle" tôi mới hiểu âm mưu đó của viên tướng tài nước Pháp. Sáng 2/3/1946, tôi thức dậy cùng đơn vị 2è BM theo lịnh báo động hành binh, mang cả hành trang cá nhân theo, hành trang của tôi cũng đơn giản, ngoài bộ quần đùi, áo sơ-mi cụt tay, màu đất xám rộng thùng thình, lấy từ kho quân trang của bọn Đức phát xít để lại cho quân Pháp, còn nguyên vẹn ở Berlin, tôi chỉ còn một bộ đồ treilly rằn ri áo liền quần, dầy như mo cau, màu cứt ngựa của lính Mỹ, hành trang cấp phát dư thừa của quân đội Mỹ, sau chiến tranh đem cho quân Pháp theo kế hoạch Marshall để giải quyết hàng ứ đọng, gọi là viện trợ của đồng minh về vũ khí và quân dụng cho Pháp để lấy lại thuộc địa Đông Dương. Tất cả cái tài sản ấy được bố thí dây chuyền đến tận tay tôi đều gói gọn với chiếc chăn dạ xám trong cái ba-lô nhảy dù của Mỹ, lủng lẳng những dây đai khóa sắt và túi nhỏ đựng linh tinh. Tôi thu gọn nhanh và rảo theo hàng lính, nện gót giày đinh trên đường phố Sài Gòn. Tôi đã ghét gót giày đinh từ lúc đọc truyện "Gót sắt" của J.London, vì vậy lúc cấp phát quân trang tôi đã năn nỉ với tên OD (Officier de détails) để được đổi lấy đôi giày đế cao su đen, mặc dù đôi giày đã cũ, chắc của một tên lính nào đã chết để lại. Từ nơi trú quân ở doanh trại của 11e-RIC cũ, tôi đi thẳng ra bờ sông Bến Nghé (Quai de Belgique - nay là Bến Chương Dương). Mấy chiếc tàu há mồm L.M.C đã đậu nằm chờ trung đội xuống tàu. Tôi hỏi một tên lính bên cạnh: "Chúng ta đi đâu? - "Tham gia chiến dịch Bến Tre". "Bến Tre sao không xuất phát từ Mỹ Tho, mà phải lên Sài Gòn? Một viên hạ sĩ đứng cạnh vỗ vai tôi: "Ba ngày nữa chúng ta sẽ đổ bộ ở Bắc Kỳ!". Tôi quay lại tên lính, hắn gật đầu. Tôi nhìn ra sông Sài Gòn thấy những chiếc LCT, LCI v.v... loại tàu đổ bộ cỡ lớn đang đậu hàng dọc. Thế là rõ! Leclerc đem quân ra đánh Bắc, trong lúc Tổng hành dinh còn đóng ở Sài Gòn, đánh Bến Tre thì chúng không huy động số tàu lớn như thế này. Tôi quyết định ngay: xốc lại chiếc ba-lô trên vai, tôi nói với tên lính trẻ ban nãy: "Tao còn gia đình ở đây, phải lên gặp chỉ huy cái đã". May mà chỉ huy đơn vị Duboyal và Cousson không đi chiếc LCM này, nên tên lính thông cảm gật đầu. Tôi ba chân bốn cẳng phóng như bay khỏi chiệc tàu há mồm sắp rời bến, đi ngược lên phía đường Gatinat (nay là Đồng Khởi), không biết đi đâu, nhưng nhứt định không ra Bắc, vừa xa gia đình vừa không có ai quen biết, cái chết cầm tay! Phải: trở lại Mỹ Tho. với vợ con cái đã. Đi hết con đường Catinat trước mắt đã hiện sừng sững nhà thờ Đức Bà, tôi thấy bên tay phải một cái cổng mở sẵn, có một số đông người đang đứng coi tờ cáo thị, trong căn phòng rộng ăn thông ngang cổng vào. Thì ra có tờ cáo thị tuyển chọn phiên dịch viên làm hợp đồng cho quân đội viễn chinh Pháp, hợp đồng ba tháng ký lại một lần, lương bổng, cấp bậc sẽ được hưởng tương đương như binh sĩ Pháp. Sẵn công lệnh của đại úy Charroy cấp còn giá trị, tôi bước vào phòng thi tuyển. Một chục người đang lố nhố ngồi chờ. Trên bàn chấm thi, một viên thiếu tá và một đại úy Việt ngồi hỏi vấn đáp từng người, rồi hội ý cho điểm, định cấp bậc luôn, thủ tục gọn và nhẹ. Nội dung thi càng thi vị hơn: một cuốn Kim Vân Kiều đặt ở trên bàn, thí sinh chỉ việc lật ra bất cứ trang nào, chấm ngón tay vào trang, đọc lên hai câu lục bát được chỉ trúng rồi dịch ra bằng tiếng Pháp cho giám khảo nghe. Giám khảo hội ý rồi nói luôn cấp bậc, lương được hưởng cho thí sinh biết. Viên đại úy hỏi họ, tên rồi ghi luôn vào tờ hợp đồng đối với cấp bậc, lương được hưởng giao cho người trúng tuyển phân công về đơn vị nào đó, cho luôn giấy đi đường. Nhìn viên thiếu tá người cao to, da mặt tai tái của loại cạo giây và cuốn Kim Vân Kiều dở sẵn, 2 câu: "Thoắt trông nhờn nhợt màu da, ăn gì to lớn đẫy đà làm sao?" Tôi dịch: Du pre-mier regard, Il a un visage pâlot, Qu'est ce qu'il a bouffé pour être si grand et si gros! Đây cũng là loại tú bà giống đực mà thôi! Vì phân tán tư tưởng, tôi dịch lầm lẫn giống đực và giông cái trong ngữ pháp, và nhận ngay một kết quả xứng đáng về cấp bậc: Đội xếp (sergent chef). Tôi không quan tâm đến giám khảo và các thí sinh khác và cũng dửng dưng với cái lon mới của nhà binh, từ một nhà giáo, bị bắt làm phiên dịch không công, không ngạch bậc nay trở thành một phiên dịch hợp đồng trong ngạch nhà binh, quân đội viễn chinh Pháp, hằng tháng lãnh lương của kẻ thù dân tộc! Sau này sẽ ăn nói với đồng bào làm sao đây? Một câu hỏi của viên đại úy làm tôi tỉnh giấc mơ, quyết định ngay: "Cho tôi về Cần Thơ. Gia đình tôi ở đó". Thật ra gia đình tôi ở Mỹ Tho. Nhưng lời hứa với anh Xuẫn làm tôi tỉnh ngộ, làm sao cũng còn cách tham gia kháng chiến, tôi đã dặn Chùy tìm anh Xuẫn ở Cần Thơ, chờ tôi xuống. Định hướng, ý định và định mệnh đã gặp nhau, trong một tích tắc ấy phải chăng đó là thời cơ quyết định cho cuộc đời tôi? Thời cơ ấy xảy ra vào chiều ngày 2/3/1946, viên thiếu tá sau này tôi được biết là một trạng sư, "thầy kiện Chín tự do? còn viên đại úy là Báu, nguyên là một thầy giáo dạy trường Bassac Cần Thơ. Những người có cấp bậc cao nhất trong hàng ngũ phiên dịch nhà binh Pháp hồi đó. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:51:44 pm Với đầy đủ giấy tờ BTL quân đội Pháp cấp trong tay không sợ bị bắt vì tôi bỏ việc, tôi đứng chờ ở Boulevard De la Somme (nay là Đại lộ Lê Lợi), chặn xe nhà binh để quá giang về thẳng Cần Thơ, không dừng lại ở Mỹ Tho để thăm vợ con nữa. Tôi nóng được gặp bạn để bàn việc kháng chiến ngay tại Cần Thơ, nơi mà anh Mai Xuẫn đã có vị trí công tác: Chủ tịch UBKCHC xã Long Tuyền. Xe đỗ lại tại Collège Cần Thơ, nơi Ban tham mưu đóng, gọi là CBM (đại đội tham mưu), ở đó tôi được biết là đơn vị, trung đoàn lục quân thuộc địa số 43 (43è RIC) thuộc sư đoàn 3 (3è DIC) đã đến thế chân cho 6è RIC/9è DIC, hành dinh ban chỉ huy (P.C) đóng tại hai căn nhà có tầng lầu đúc gần dinh tỉnh trưởng, có cờ tam sắc treo cao, lấy tên là p.c Opiniâtre. Tôi bước vào văn phòng ban chỉ huy trình giấy công lệnh. Sĩ quan lên họp trên tầng lầu cả, tên lính làm tùy phái (planton) biểu tôi ngồi chờ gặp đại úy Nogret chỉ huy phòng 2 (2è B.) của trung đoàn. Tôi ngồi bệt xuống chân cầu thang, lục đống tài liệu cũ chất đầy ở một góc, lật qua vài chồng biết ngay nơi đây là văn phòng quốc gia tự vệ cuộc tỉnh Cần Thơ. Một tập tài liệu cũ của Sở Mật thám Liên bang Đông Dương còn sót lại trong đống hồ sơ. Bìa giấy xám, đóng thành tập đầy một trăm trang, ngoài bìa in chữ đậm NGUYỄN ÁI QUỐC. Tôi dở ra đọc chăm chú từng trang, thì ra đây là bản báo cáo của viên Chánh sở mật thám Liên bang Đông Dương, ký tên là Arnoux gởi về Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp điều tra về cuộc đời và quá trình hoạt động của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, từ khi ở Nghệ An, có tên là Nguyễn Tất Thành đến khi tham gia Đảng cộng sản Đệ tam quốc tế ở Pháp, và học trường Phương Đông ở Nga và về tham gia cách mạng ở Trung Quốc, cộng sự viên của Borodine ở Quảng Châu. Những nét lớn đó, tôi cũng đã từng nghe nói đến lúc còn ở quê nhà từ miệng các bậc tiền bối cách mạng. Nhưng thấm thìa nhất, ăn sâu vào tâm khảm của tôi là câu kết luận của Arnoux, tên trùm mật thám Đông Dương đã đánh giá về Bác Hồ của chúng ta một cách chính xác, đầy lòng khâm phục "C'est un révolutionnaire de profession. Avec cet homme, on ne pourrait ni avec l'argent, ni avec les honneurs l’acheter" (Đó là một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Với con người ấy, không thể dùng tiền tài, danh vọng mà mua chuộc được). Câu kết luận của tền trùm mật thám xứ này đã trở thành một hành trang quý báu cho tôi mang theo đến suốt đời. Đó là một nhân chứng phẳn diện của cách mạng Việt Nam, nhưng là một nhân chứng lịch sử làm nổi bật đạo đức và công lao của lãnh tụ cách mạng nước ta. Chân lý bao giờ cũng là chân lý. Kẻ thù dù muốn xuyên tạc cũng không thể nào che lấp được...
Sáng 27/10/1945 Cần Thơ bị Pháp chiếm lại từ tuần cuối tháng 10/1945, cùng với Mỹ Tho. Cần Thơ là điểm đầu cầu đổ bộ (tête de pont) đầu tiên của quân viễn chinh Pháp lên miền Tây Nam Bộ. Hai chiếc thông báo hạm loại 2 (aviso de 2è classe) I'Avalanche và l'Annamite đã từ Vũng Tàu chở quân đi vào sông Cửu Long qua Cửa Đại, đổ quân lên Mỹ Tho, đêm 26/10 và tiếp tục chạy ngược sông Tiền Giang vòng qua Vàm Nao, chạy xuôi theo Hậu Giang, bắn vài phát pháo vào Long Xuyên, nhưng không ghé, về Cần Thơ dừng lại ở Cầu Bắc, và cho một cánh khác của trung đoàn 6è RIC đổ bộ lền Cần Thơ. Tháp tùng cánh này có những công chức thực dân cũ bị Nhật cầm tù ở Sài Gòn, từ tháng 3/1945, trong đó có De Montaigut (tỉnh trưởng cũ của Cần Thơ), Fanova (chánh sở mật thám ở miền Tây), Carlotte đi theo. Từ đầu tháng 11/1945 đến cuối tháng 2/1946, trước khi trung đoàn 43è RIC (thuộc sư đoàn 3è DIC) của tướng Nyo đến thay quân cho 6è RIC thuộc sư đoàn 9è DIC của tướng Valluy rút về Sài Gòn để đi đánh Hải Phòng theo kế hoạch "chiến dịch Bến Tre" của Leclerc, thì các tỉnh lỵ Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên, Trà Vinh đều bị quân Pháp chiếm đóng. Một số thị trấn lớn như: Cái Vồn, Cầu Kè, Bình Thủy, Ô Môn, Chắc Băng, Thới Bình, Phước Long, Cà Mau cũng đã có đồn bót Pháp đóng. Như thế là Leclerc không có ý định khoác lác khi nói ở Mỹ Thuận rằng hắn sẽ quét sạch vùng này trong vòng 4 tuần lễ! Nhưng chiếm đất chưa phải là chiếm được lòng dân. Thành phố Cần Thơ, ngày tôi về 3/3/1946, rất vắng đồng bào. Dân cư chủ yếu là gia đình ăn theo bọn lính đầu đỏ (Partisan), lính đầu xanh (lính tập), lính Pháp, công chức chưa có mấy ai. Chủ yếu là bọn lính kín, trí thức còn lại vài ba người trùm chăn chờ thời thế! Tôi tìm người quen. Chùy cho tôi biết anh Mai Xuẫn cùng phái đoàn ông Trần Văn Luân và cả vợ con đều lên đường đi Xiêm theo ông Trần Văn Giàu. Một người cháu bà con gọi tôi bằng cậu: Nguyễn Đăng Dinh, làm lâm nghiệp đang thất nghiệp, vợ là cô giáo, theo đạo Tin Lành, cả hai vợ chồng không làm gì về phía Việt Minh, nên tôi không thể lộ tâm sự. Phải chờ thôi! Hơn nữa, lúc này quân Pháp đang tràn tới như nước vỡ bờ, người dân không ai dại gì hở môi nói đến hai tiếng Việt Minh với Việt gian. Trung đoàn 43è RIC rải quân chốt các thị xã ở miền Tây, trừ thị xã Hà Tiên được giao cho hải quân Pháp đánh chiếm và quân quản, vẫn theo sách vở: chiếm lĩnh trận tuyến. Ban chỉ huy hành quân chung vẫn là P.C. Opiniâtre, tức là chỉ huy trung đoàn 43è RIC, đóng tại thành phố Cần Thơ, chưa phân chia theo quân khu. Chỉ huy trưởng là đại tá Cluset, có hai phó là trung tá Le Nulzec, lính thường gọi là "ông Năm Chấm phết" vì què một cẳng, và Rossignol, có tình nhân là vợ viên tây đoan Cần Thơ. Tham mưu trưởng là thiếu tá Berdel, trưởng phòng 2 là đại úy Nogret. Phòng 2 cùng làm chung với văn phòng ban chỉ huy do đại úy Nogret chỉ đạo. Phòng 5 (An ninh quân sự) do đại úy Lotte chỉ đạo. Giúp việc cho văn phòng có một thượng sĩ, vài tên cai và binh nhất người Pháp. Trong số đó người tôi có thiện cảm ban đầu, sau trở thành bạn thầm lặng là binh nhất Zédenberg, dân Paris đã từng tham gia du kích chống phát xít ở Pháp. Đó là một thanh niên trạc ngoài tuổi hai mươi, có học vấn và để râu mép, có cái cằm chẻ đôi và đôi mắt sâu thẳm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:52:19 pm Tình cảm đầu tiên đến với tôi trong một buổi hỏi cung Việt Minh. Tôi đang ngồi dịch tài liệu. Bọn Pháp và một phiên dịch viên nào đó đang hỏi cung một người tình nghi là Việt Minh ở phòng sau, tôi thấy Zédenberg mặt đỏ bừng đến gần tôi, nói trong cơn bất bình, không kềm chế được: "les salauds" (bọn đểu cáng). Tôi hỏi nó muốn ám chỉ ai đểu cáng? Nó chỉ tay về phía sau đang có tiếng rên la và nói: Ils se comportent comme les Boches!" (Chúng nó đối xử không khác gì bọn Đức). Hỏi ra thì nó cho biết, nó đã từng kháng chiến, nên biết rõ cái ngón đòn tra tấn của bọn Đức như thế nào, nên không muốn nhìn xem cảnh ấy tái diễn trước mắt nữa! Tôi chú ý, từ đó về sau, không bao giờ Zédenberg tham gia vào một cuộc tra tấn Việt Minh bằng cực hình cả. Dù sao, đó cũng là một thanh niên Pháp tốt, có thể tin được, và tôi đã không lầm. Giúp việc cho văn phòng chỉ huy, mới đầu chỉ có ba phiên dịch viên làm theo hợp đồng ba tháng như tôi, nằm trong ngạch. Một là thiếu úy Nguyễn Tư Long, hơn tôi 10 tuổi, nguyên là kỹ sư nông lâm ở Thủ Dầu Một. Người thứ hai là trung sĩ Thạnh, nhỏ hơn tôi năm tuổi, người ở Thị Nghè - Sài Gòn. Thạnh chỉ làm một hợp đồng sau 3 tháng Thạnh xin thôi luôn. Người thứ ba là tôi. Khi biết tin anh Mai Xuẫn đã đi Xiêm, tôi cũng đã gởi thư về trường Taberd xin trở về dạy, nhưng thầy François thay lời hiệu trưởng Cyprien đã viết thư trả lời: trường chưa khai giảng, khuyên tôi cứ tiếp tục làm phiên dịch cho nhà binh và nhớ gởi thơ trả nợ 200 đồng cho nhà trường mà tôi đã vay mua gạo chưa trả. Vì vậy tôi đành nán lại chờ thời cơ thích hợp, dù sao cũng phải đảm bảo vợ con có, gạo đủ ăn. Thiếu úy Long, người thấp lùn, chỉ cao hơn 1,50m, mập tròn như hột mít. Có vợ là cô giáo Tiếp, người Cần Thơ, không có con, có thể vì Long có bịnh kinh niên, hay méo miệng, nháy mắt, tính nết Long rất kỹ lưỡng trong công việc cũng như chọn bạn. Tôi may mắn được anh ta tin tưởng thật sự (tiếc thay anh đã mất trong thời kỳ chống Mỹ, tôi không còn được gặp lại). Anh đã tâm sự với tôi: "Anh nguyên là Chủ tịch ủy ban lâm thời thị xã Thủ Dầu Một". Tôi cũng tin vậy, không cần kiểm tra. Đến nhà anh ở gần cầu quay Mỹ Tho, tôi thấy anh có một tủ sách Pháp văn khá tốt. Điều tôi phát hiện trong tủ sách có cả một bộ "Tư bản" đóng gáy da, chữ mạ vàng, nhưng tôi không nói gì, đúng là một trí thức đáng trọng, về sau anh đã trở thành có ích cho công tác, không cần khoe khoang, hoặc đòi hỏi gì như mọi người trí thức có lòng yêu nước chân chính. Thế là, ngay trong hàng ngũ địch, tôi cũng đã tìm được người để kết bạn bốn phương, không sợ phải bán mất linh hồn cho quỷ dữ, mà còn tạo cơ hội cho tôi đóng góp công sức vào kháng chiến ở Nam Bộ.
Bộ máy kềm kẹp của thực dân Pháp thế đó cũng chưa có gì là ghê gớm, như người ta vẫn tưởng. Trừ bọn lính của trung đoàn 43è RIC rải rác khắp các tỉnh: Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu v.v... Riêng ở Cần Thơ chỉ có ngoài đại đội tham mưu (C.E.M) trú quân tại trường Collège Cần Thơ (nay là trường Châu Văn Liêm) do đại úy J. Lespinasse chỉ huy. Lespinasse làm chỉ huy khu vực Cần Thơ, đến 6/1946 thì kiêm luôn tỉnh trưởng Cần Thơ thay F. Bonhomme de Montaigut cho đến 10/1946. Đóng bên cạnh Collège ở xóm Xã Bắc, có một trung đội lính khố đỏ do thiếu úy Hiền chỉ huy, chủ yếu để phục dịch cho bọn Pháp ở CEM trong đó có Cao Văn Viên, lúc đó làm cai (Caporal). Tiểu đoàn 1 thuộc 43è RIC đóng tại nhà bác sĩ Hành, gần nhà thờ công giáo, do thiếu tá De la Prade chỉ huy (thiếu tá De la Prade nguyên là đại tá quân du kích Pháp ở chiến khu Vercors sau khi Đức quốc xã bại trận, được biên chế vào quân chính quy, nên phải hạ hai cấp, vì lẽ đó, trong hàng ngũ binh sĩ Pháp thuộc phái De Gaulle, De la Prade bị tình nghi là đảng viên Cộng sản Pháp). Chỉ huy đại đội 63è CR (đại đội sửa chữa cơ giới) đóng ở Cái Khế (gần công an tỉnh Cần Thơ hiện nay) có đại úy Inocenti, một sĩ quan lớn tuổi, đôn hậu. Bên kia cầu Bắc, Cái Vồn (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long)), có một trung đội đóng bót, có hai xe xích có súng đại liên quay trên 180° và một khẩu đội pháo 75mm dã chiến, chỉ huy đồn là trung úy Campadieu có nhiệm vụ bảo vệ bến phà và con đường nối Vĩnh Long - Cần Thơ. Ở Bình Thủy và Cái Răng thuộc vòng ngoài Cần Thơ, có hai đồn đều có bố trí pháo 75mm (dã chiến) kiểu cũ của quân đội Pháp, chỉ huy đồn Cái Răng, ở bót Hãng rượu, có đại úy Gilles đi đâu cũng dẫn theo một con chó berger to tướng. Đầu tóc Gilles cũng vàng hoe không khác gì lông chó của ông ta. Tôi quên mất tên của viên trung úy chỉ huy đồn Bình Thủy. Vài tháng sau, chiếc Bắc Cần Thơ đã chở được xe thiết giáp qua sông nên được thêm một peloton/2è Spahis về đóng tại Cái Tắc. Về lực lượng lính "bản xứ" theo quân Pháp gọi, chưa có cái sắc lính nào khác được thành lập, ngoài bọn lính đầu đỏ (đội calô màu dỏ), tuyển ồ ạt trong đám đầu trộm đuôi cướp, gồm một đại đội dưới quyền chỉ huy của một trung úy tên Massart mà đồng bào gọi là "quan hai điên" vì tánh nết thô bạo, háo sát. Nhiệm vụ của đại đội đó là càn quét ngoại ô thành phố và thực hiện các vụ hành quân theo lịnh của đại tá Cluset, đại đội này đóng ở cầu Tham Tướng, sau này biên chế thành quân commandos, là nỗi khủng khiếp của đồng bào. Dưới quyền Massart có hai thượng sĩ đầu đỏ là ách Kiệt và ách Phẩm: Kiệt làm sếp bót Tham Tướng, Phẩm làm sếp bót Rạch Ngông (bị quân ta trừng trị năm 1948). Về lực lượng cảnh sát, lúc đầu chỉ có bọn lính kín cũ, do quan thầy chúng tập hợp lại và tuyển dụng thêm. Cần Thơ là Tây đô, cho nên Sở mật thám Liên bang ở các tỉnh miền Tây vẫn đặt tại đây, lấy tên là Sở cảnh sát đặc biệt miền Tây (P.S.O). Chỉ huy lúc đầu là Fanova, đến đầu năm 1946 là Jacquemin, một tên tây lai khá gian hùng, lần lượt đến năm 1949 là Pansept, Gautheret, Ribes và Bandy. Gautheret và Ribes bị Tình báo Cần Thơ trừng trị. Dưới quyền Jacquemin năm đó có Trương Thành cần, Thế, điều tra viên. Châu Vân Sáu, giữ hồ sơ lưu trữ. Còn thám tử có Nguyễn Văn Tài, biện Ên, Lâm Tấn Nhàn và một số tên khác thuộc loại vô danh tiểu tốt. Trong đó có Châu Văn Sáu (V.12) là cơ sở tình, báo Cần Thơ, còn Én, Tài, Nhàn là bọn ác ôn, liên tiếp bị biệt động Cần Thơ trừng trị trong các năm 1947, 1949, 1950. Dần dà chúng tuyển thêm người vào tổ chức vây ráp, lùng sục. Chúng bận áo sơ-mi quần đen, đồng bào gọi là lính "áo đen", bọn cảnh sát giao thông cũng được thành lập, gọi là lính áo trắng, phần lớn bọn này là cầu an, một số có tham gia kháng chiến, như Đội Nghề v.v... Và cuối năm 1946, bọn Pháp có tổ chức lại hệ thống lính tập (gọi là lính bánh tiêu) vì đội mũ bê rê vàng dẹp như cái bánh tiêu. Bọn này chỉ chuyên làm nhiệm vụ canh gác công sở, nhà tù, do chính quyền dân sự sử dụng. Bọn mật thám lính kín, thuộc Sở mật thám Liên bang Đông Dương của Pháp cũng được phân ra làm hai ngành cánh sát đặc biệt (P.S: Police spéciale) và cảnh sát hình sự (P.J: Police Judiciaire). Bọn ác ôn hầu hết đều nằm trong ngành cảnh sát đặc biệt. Ở Cần Thơ và Vĩnh Long, thuộc hệ thống tình báo chuyên nghiệp của Pháp, còn có hai văn phòng tình báo trá hình (đồng bào ta gọi là 2è Bureau vô hình) mà sĩ quan đều ăn mặc thường phục, lấy tên là Sở Nghiên Cứu lịch sử (SEH: Service d'études historiques). Chỉ huy SEH ở Vĩnh Long là một đại úy biết tiếng Việt, nhưng vẫn sử dụng phiên dịch, khi giao dịch tiêp xúc thường dẫn theo một con chó berger để tự bảo vệ. Ở Cần Thơ chỉ huy là một trung úy còn trẻ tên là Bon. Một chi tiết làm tôi nhớ mãi tính nhạy bén của nhân dân ta. Mới về Cần Thơ lập văn phòng tình báo chưa đầy một tháng, có lần trung úy Bon mặc thường phục như hàng ngày đi dạo phố rồi nhảy lên chiếc xe kéo ngồi, anh xe kéo hắn ta về đặt ngay tại trước văn phòng làm việc ở cạnh Collège Cần Thơ. Bon ngạc nhiên, gọi phiên dịch ra hỏi tại sao anh phu xe biết chỗ anh ta làm việc. Anh phu xe nheo mắt trả lời: "Ông là ông Hai "Bông", "Đơ bê" vô hình tôi còn lạ gì!". Bon thuật lại chuyện đó, nửa ngạc nhiên, nửa khâm phục. Giúp việc cho Bon, có một số người Việt như: Lê Đăng Khoa tự Phi, Trương Hữu Điền, Nguyễn Hữu Tỷ tự Giáo Tỷ, Lê Ngọc cầu, những người này được SEH sử dụng như nhân viên "tay đôi" (agent double) vừa làm cho Việt Minh vừa làm cho Pháp, trong đó có tên bị ta vạch mặt và bị ta xử án, cũng có người trung kiên bị đòn tra tấn và chết trong khám của thực dân Pháp, còn lại trắng đen cuối cùng vẫn được nhân dân phần rõ, không chờ "kháng chiến thành công"... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:53:12 pm Tháng 4/1946, Bộ Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp có chủ trương thành lập các tiểu đoàn BVN (Bataillon Vietnamien). Trại được đặt tại Bình tây (gần hãng rượu Bình Tây cũ) ở Chợ Lớn. Tôi được điều động cùng một đại úy Pháp lên Chợ Lớn để tổ chức trại. Chừng hơn trăm lính đầu đỏ mới mộ, phần lớn là người Khmer, ở đồng bằng sông Cửu Long. Tôi hơi lo ngại, vì ở một trại lính mới mộ thì chẳng biết làm thế nào để thực hiện ý đồ kháng chiến cứu quốc, như Cụ Hồ kêu gọi. Viên đại úy định đưa tôi làm chỉ huy đơn vị, tôi từ chối với lý do: là tôi nói tiếng Huế, binh sĩ người Khmer và người Nam Bộ khó nghe rõ. May sao ở trên bổ sung trên trung úy Tần, một sĩ quan xuất thân từ Đồng tử quân (Enfant de troupe) có gia đình lính tập cũ của Pháp, tuy thuộc ngạch lính bản xứ, nhưng là người Nam Bộ có học, có trường lớp hẳn hoi, nên có phong độ chỉ huy hơn tôi. Viên đại úy thấy tôi nói có lý nên chấp nhận trả tôi trở về với đơn vị 43è RIC ở Cần Thơ. Sau nầy huấn luyện xong 3 tiểu đoàn BVN thì trung úy Tần, đến giữa năm 1947 cũng về Cần Thơ làm ở văn phòng liên lạc Hòa Hảo (Bureau de liaison Hòa Hảo), về thực chất là cơ quan do thám và chỉ đạo binh sĩ giáo phái Hòa Hảo, dưới quyền chỉ huy của một thiếu tá Pháp. Còn 3 tiểu đoàn BVN đầu tiên là: BVN 1, BVN 3, BVN 5 là lực lượng ngụy quân đầu tiên do Pháp thành lập tại Đông Dương, sau khi tái chiếm Nam Bộ. Năm 1947, 3 tiểu đoàn đó được phân bổ rải rác: 1 ở Cần Thơ, 5 ở Sóc Trăng, 3 ở Rạch Giá để tập dượt và dần dần thay thế cho quân Pháp rảnh tay tung ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện âm mưu "Dùng người Việt đánh người Việt".
Cuối tháng 4/1946, tôi trở về Cần Thơ, với hy vọng tìm cách liên lạc được với kháng chiến, mặc dù đã biết tin quân Pháp đã tiến vào Hà Nội, chính phủ ta đang họp bàn với Pháp ở Đà Lạt, thông qua báo chí hàng ngày, 6 năm đi ở đợ và 6 năm làm báo, dù còn non nớt, nhưng nhờ đọc trộm báo "Nhân Đạo" nên cũng đã giúp cho tôi có những nhạy bén hiểu biết phần nào về ý đồ quân xâm lược và bọn đế quốc. Về mặt tuyên truyền, Leclerc cũng đã cho in sẵn những tờ báo, truyền đơn tâm lý chiến ngay từ khi bắt đầu khởi hấn phục vụ cho tuyên truyền tâm lý chiến, từ tháng 10/1945 quân Pháp đã cho máy bay đầm già (morane) rải ở đồng bằng sông Cửu Long (Mỹ Tho, Cần Thơ) những tờ truyền đơn kêu gọi công chức hồi cư với chánh phủ lâm thời Nam Kỳ tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng. Những tờ báo "lá cải" với cái tiêu đề in đậm nét chữ trung hiếu cả chữ quốc ngữ với chữ Hán, trong đó có những nội dung xuyên tạc phong trào kháng chiến của nhân dân ta, chia rẽ Bắc, Nam. Bọn binh sĩ Pháp, cho tôi biết là những tờ truyền đơn, báo chí đó, cùng những cuốn sách nhỏ nhan đề "guérilleros" (du kích) nói về kinh nghiệm chống chiến tranh du kích của đại tá Thompson ở Mã Lai, đều được in từ Pháp chở sang, và người chịu trách nhiệm là thiếu tá Paul Lang một người Việt. Sau đó tôi hỏi thêm một tu sĩ dòng "Anh - Em", mới biết rằng Paul Lang chính là Đinh Nhữ Hàn, giáo viên dạy Việt văn ở trường Taberd trước tôi, năm 1942, đã bỏ theo phong trào De Gaulle và gia nhập quân đội viễn chinh Pháp, lúc quân này tập kết ở các thuộc địa Pháp ở Ấn Độ để chuẩn bị sang tái chiếm Đông Dương. Vận mệnh oái oăm đã đưa cả hai giáo viên Việt văn của trường tư thục công giáo Taberd, kẻ trước người sau, bằng đường đi khác nhau, đều vào làm cho quân đội viễn chinh của tướng Leclerc, với những cương vị và nhiệm vụ khác nhau, với những ý đồ khác nhau hẳn. Tôi không biết Đình Nhữ Hàn nhưng nhìn trong tập niên biểu của nhà trường, tôi thấy vẻ mặt anh ta trong ảnh cũng vẫn trẻ trung sáng sủa. Tôi có suy nghĩ: Cuộc đời anh ta sau nầy có được kết thúc tốt đẹp không? Điểm kết thúc bao giờ cũng phụ thuộc vào điểm xuất phát, phải lựa cho đúng chỗ đứng ngay từ lúc ban đầu. Khác với tài liệu tuyên truyền của quân Pháp, báo chí công khai lúc ban đầu tập trung ở Sài Gòn xuất bản, chia làm hai phe rõ rệt. Phần đông, đứng đầu là tờ "Việt Bút", đều có chung lập trường đòi thống nhất đất nước, đòi quân Pháp phải tôn trọng Sơ Ước 6/3. Chỉ có một ít tờ lá cải, trong đó có tờ "Phục Hưng" với một số tên bồi bút trong đó có Hiền - Sĩ (sau này bị chị Lan Mê Linh trừng trị) của nhóm đòi thành lập Chánh phủ Nam kỳ tự trị. Một số nơi, bọn phòng nhì còn tổ chức những cuộc đập phá, cướp của những người "dân Bắc kỳ", chỉ cần phân biệt theo giọng nói: "Tân Sơn Nhứt hay Tân Sơn Nhất". Qua dư luận báo chí cũng đủ rõ. Đồng bào Nam Bộ vẫn tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, tin tưởng ở chân lý "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" ngay từ những ngày đầu kháng chiến, cách xa sự chỉ đạo của Trung ương. Tất nhiên, tôi cũng không thể tách mình ra khỏi tâm lý chung của dân tộc. Vì vậy, tôi vẫn hy vọng sớm muộn gì cũng bắt được liên lạc vì qua chuyện trò với binh sĩ Pháp, tôi biết thêm hai sự kiện xảy ra tại Cần Thơ: + Một là: Vào cuối năm 1945, khi quân Pháp mới đóng quân ở nhà việc (maison commune) trụ sở hội tề thời Pháp về sau biến thành hãng rượu Cái Ráng, đã có một đơn vị Việt Minh xông vào đồn, một người dùng dao găm đâm vào người đại úy Rouan chỉ huy đồn và bị binh sĩ Pháp bắn chết. Binh lính định dùng súng bắn lại toán Việt Minh còn lại đang bỏ chạy, nhưng Rouan cản lại. Bọn Pháp nói Rouan là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Sau này tôi tìm hiểu thêm thì biết đơn vị tấn công vào bót hãng rượu Cái Răng là công an xung phong của Cần Thơ, mà người chỉ huy bị bắn chết là Lê Bình (Đảng viên Cộng sản chỉ huy Quốc gia Tự vệ Cuộc Cần Thơ). Còn Rouan là đảng viên Cộng sản Pháp, sau khi bị thương về Sài Gòn điều trị, ở tại nhà một đại tá Pháp, chủ bút tờ báo "Lendemain", một tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp xuất bản tại Sài Gòn. Sau khi bình phục, Bộ chỉ huy Pháp cho Rouan về Pháp nghỉ luôn. Sự việc đó đã có có đăng ở tờ "Tiếng súng kháng địch" cơ quan ngôn luận của Quân khu 9 hồi chín năm. + Sự kiện thứ hai là viên đại tá Dessert, chỉ huy lục quân Pháp ở Cần Thơ, trên đường đi Rạch Gòi ngang cống Cao Hột, bị phục kích, lật xe và chết tại đó. Việc này xảy ra lúc tôi đi vắng, nghe kể lại, xác Dessert được tẩm liệm vào chiếc quan tài bằng kẽm và chở về Sài Gòn, để đưa về Pháp, ở hành dinh Cần Thơ, có treo cờ rủ để tang, và sau đó, lấy tên Dessert đặt tên cho đường Hàng Xoài (nay là đại lộ Hòa Bình). Tôi nhớ lại một tên nhân viên phòng nhì tên Giáo Tỷ, đem đến cho đại úy Nogret tin tức về đơn vị Việt Minh đã tổ chức phục kích chiếc xe của Dessert đi trên đường Rạch Gòi, chỉ vào điểm xảy ra trận phục kích trên tấm bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100.000 và nói là quân Việt Minh trang bị 2 súng trung liên FM và một ít súng mút. Nogret ghi ngay vào báo cáo: có hai lính Nhật tham dự trận phục kích Dessert. Tôi hỏi sao đại úy biết có lính Nhật, tài vậy? Nogret mỉm cười, trả lời: "Ở đâu có Việt Minh ở đó có lính Nhật đào ngũ sang Việt Minh. Việt Minh không biết bắn súng trung liên!". Tôi ngước mặt nhìn ra vẻ thán phục. Trong thâm tâm, tôi suy nghĩ: "Làm tình báo mà suy diễn thì chưa hẳn là đúng. Nhưng có lẽ động cơ của ông ta là quan trọng hóa khu vực ông ta đảm trách và xin thêm kinh phí cho quỹ đen cũng nên!". Tôi thường hay lật ngược vấn đề trong các cuộc tranh luận và tự tranh luận để tìm ra chân lý. Nói trắng ra, là một thói xấu trong cuộc sống bình thường, dễ mất cảm tình, nhưng cũng cần thiết khi phải sống chung đụng trong môi trường phức tạp. Lẽ tất nhiên, tôi phải tìm hiểu về ông quan thầy "Nogret" người cao đến 1m70, tóc chải ngược, đôi mắt nâu màu cà phê dưới đôi mày rậm, cái mũi quặm theo kiểu mỏ vẹt, dòm cái miệng với đôi môi mỏng dính, mỗi khi sắp giận dữ thì hai khóe kéo xuống theo hình chữ nhân. Những lúc đó, báo hiệu cơn bão tố sẽ bùng lên, và tôi nhìn vào đôi khóe môi đó để điều chỉnh liều lượng báo cáo cho đúng mức: đôi má có vết hằn dài từ trên xuống làm cho người thấy già trước tuổi, gương mặt theo kiểu dao cạo, nếu nhìn nghiêng, ông ta có thói quen hay hút thuốc lá tự vấn kiểu sâu kèn. Binh sĩ kháo nhau là ông ta theo phái tam điểm: một hội kín ở châu Âu. Thường không bỏ buổi lễ nào ở nhà thờ đạo ngày chủ nhật, nhưng xem người ta đi lễ hơn là xem Cha Cố làm lễ, còn ít hơn nhìn tượng Chúa. Binh sĩ cho tôi biết ông ta là sĩ quan tình báo chuyên nghiệp (đến nay 1975 tôi nghe nói là Nogret đã lên cấp thiếu tướng tình báo của quân đội Pháp), vì vậy ông ta không tin được cấp dưới nào cả. Và, tất nhiên, tôi cũng được ông ta chú ý nhiều hơn mấy người khác, theo tôi nghĩ... Trong hàng ngũ quân thù, đó là đối tượng tôi cần đối phó nhiều hơn hết, nhưng tôi lại rất ít biết về ông ta. Cũng may mà tôi qua mặt ông ta một cách trót lọt trong bao năm ông ta có mặt tại Cần Thơ, với đủ quyền sinh sát, trên cả tên Chánh mật thám Jacquemin. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:54:08 pm Tháng 5/1946, mặc dù đang thời kỳ Pháp mới trở lại, các tổ chức kháng chiến đều giạt ra ngoài thành phố Cần Thơ. Nhưng vì có ngày lễ sinh nhật Bác, truyền đơn bắt đầu xuất hiện trên đường phố, theo lịnh của Việt Minh bãi công và bãi thị khắp nơi, để kỷ niệm ngày 1/5 và 19/5, hai ngày lễ lớn trong tháng. Truyền đơn do Chủ tịch ủy ban quận bộ Việt Minh Cần Thơ: Lâm Văn Phận ký tên (ông Phận sau này là bố vợ tôi). Hôm đó, tôi đang đi trên đường Nguyễn Trãi, thì có mấy bà vợ lính đang níu kéo anh chàng thanh niên, bận quần đùi, ở trần và dẫn theo anh chàng trai độ tuổi 18 mặt khờ khạo đi theo, không chống cự. Gặp tôi đang bận bộ đồ lính Tây đi ngang, họ kéo chàng thanh niên lại giao cho tôi. Họ trao người bị bắt với cuộn truyền đơn kêu gọi bãi thị, nói là của chàng trai rải trước mặt họ. Bàn giao xong, không cần tôi hỏi gì thêm, họ yên tâm xách giỏ đi chợ, không đếm xỉa gì tới truyền đơn. Tôi nhìn anh thanh niên: trai nông thôn mới lớn, quần đùi, đầu trần ngực trần, chân đất. Vừa đi tôi vừa hỏi: "Sao anh dại dột rải truyền đơn trước mặt vợ lính?". Anh trả lời: "Tui đâu có biết, thấy đàn bà đi chợ thì rải thôi". Tôi hỏi thêm: "Thế anh ở đại đội nào? Ai sai anh đi?" - "Tôi ở đại đội Trần Đăng ở Bình Thủy". (Sau này tôi mới biết, đúng là có tên Trần Đăng, nguyên là thủ lĩnh TNTP Cần Thơ, tổ chức một đại đội du kích hoạt động vùng ngoại thành Cần Thơ). Đi ngang văn phòng chỉ huy (ở ngay vườn hoa Tam giác, bên cạnh đường Nguyễn Trãi), thay vì dẫn vào Sở làm, tôi dẫn luôn ra phía cầu đôi Cái Khế. Đi ngang qua, góc đường Pasteur, tôi chỉ vào phòng tôi ở, dặn: "Lần sau nếu có việc gì muốn làm thì đến kiếm tôi tại đó, đừng đi bậy mà bị bắt". Tôi đẫn anh đi. Anh hỏi tôi: "Anh dẫn tôi đi đâu?". Tôi nói: "Cứ đi theo tôi sẽ ổn thôi". Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi, tôi cũng nhìn anh ta ngạc nhiên không kém. Lạ thật, một chàng trai không kém sức lực, bị một đám vợ lính tay không bắt mà không vùng vẫy, đi với một "Việt gian" tay không mà vẫn ngoan ngoãn đi theo. Thật ra, tôi cũng mong chàng trai cho tôi một quả đấm để bỏ chạy. Tại sao có những con người hiền lành như vậy mà vẫn đi bộ đội đánh Tây? Đi đến cầu đôi Cái Khế, một tên lính Pháp ôm cây súng tiểu liên Sten chặn mọi người qua cầu để hỏi giấy thông hành. Chàng thanh niên trần trụi chắc không có giấy tờ tùy thân, tôi đi sát anh ta ra vẻ thân mật, đi ngang tên lính Pháp, đưa hai ngón tay lên ca-lô để đáp lại cái đứng nghiêm đập gót giày của tên lính rồi chỉ phía bên kia cầu đôi, đường đi Bình Thủy, vừa xô vào lưng chàng trai trẻ "Allez vous en" (anh đi đi) trước mặt tên lính gác. Anh thanh niên rảo bước nhanh qua cầu, qua khỏi còn nhìn lại tôi. Anh ta ngạc nhiên vì thái độ của tôi, hay vì sợ bị bắt theo? Tôi vẫn nghĩ mãi điều đó trong đầu, mong đợi ngày chàng trai trở lại kiếm tôi, như tôi đã dặn. Đó là cơ hội để có thể móc ráp với lực lượng kháng chiến ở đây.
Nước rạch Cái Khế vẫn đổ ra vàm Cần Thơ ngày ngày không mệt mỏi. Mắt tôi nhìn về phía Bình Thủy, mỗi khi ra cầu đôi mong gặp lại gương mặt trai trẻ ấy. Tôi không dám mạo hiểm vượt qua cầu, vì ngay bên cạnh rạch Cái Khế là vùng không bảo đảm an ninh cho binh sĩ đi lẻ tẻ... Tôi vẫn không nản chí. Cuối tháng 6/1946, sáng sớm vừa đến văn phòng làm việc, thì tên giáo Tỷ đã đến, đặt một hồ sơ lên bàn và đem theo 6 súng, bó trong một bao tải, báng súng đều bị cháy cả, tôi hỏi thì hắn nói là Tên Việt Minh này bị bắt với 6 cây súng cất trong vựa lúa bị cháy, tang vật và hồ sơ đem nạp lên đây để nhà binh định liệu, còn tên Việt Minh thì ông quan ba ở Cái Răng giữ lại tại bót, chiều đem bắn. Tôi đọc qua hồ sơ bị can tên là Hồ Văn Mến. Tôi giật mình trong hồ sơ của Sở mật thám đưa qua có danh sách những người vượt Côn Đảo trong đó có tên đó. Tôi vào báo cáo lại với trung úy Nogret biết về đề nghị Cái Răng phải giải người luôn lên để thẩm vấn. Nogret gật đầu đồng ý và biểu tôi phải đích thân giải can phạm. Chỉ huy bót Cái Răng là đại úy Gilíes đưa người bị bắt cho tôi áp giải về Cần Thơ mà hắn còn tỏ vẻ hối tiếc! Người bị bắt được đưa ra thùng sau chiếc 4x4. Tôi nhảy lên cùng ngồi, vì không thể để anh ta ngồi một mình được, trong hai tay đã bị còng số 8 khóa chặt với nhau. Đó là một con người vóc dáng bình thường, còn thanh niên. Tôi gợi chuyện, khoảng đường đi độ 12km, nên không thể chần chờ. Tên lính Pháp, lái xe ngồi cách cabin không biết tiếng Việt. Tôi vào đề ngay, căn cứ vào hồ sơ đã đọc qua, không cần anh trả lời. Hồ sơ anh tên là Hồ Văn Mến, trùng tên với danh sách tù binh vượt Côn Đảo. Anh biết tiếng Pháp, chắc ông quan ba sẽ hỏi trực tiếp, không cần phiên dịch. Vậy tôi dặn anh mấy điều cần nhớ, có lợi cho anh thôi. Một là anh khai tên là Nguyễn Văn Mến, tự Hai Mến. Họ Nguyễn không phải họ Hồ. Hai là về tang chứng: 6 cây súng cháy sém là do Việt Minh giấu trong đống rơm ngoài ruộng cách xa nhà dân đến 300m. Việt Minh về họp đun lửa nấu trà lửa bén rơm nên cháy đống rơm rồi họ bỏ chạy luôn. Ba là ông quan ba có hỏi anh làm chức vụ gì trong Việt Minh thì cứ nói là TNTP (tôi lập lại kinh nghiệm cũ ở Mỹ Tho). Người bị bắt gật đầu. Quả nhiên Nogret đồng ý không xử bắn mà chỉ phạt tù. Chuyện đó tôi không nhớ tới vì đã cách xa nhau gần 40 năm trời. Và, tôi có thói quen không bận tâm nhớ tới những việc gì không trực tiếp liên quan đến công tác, nhứt là tên những người mà mình đã giúp đỡ. Năm 1984, tình cờ về Cái Da (phường Hưng Phú - Cần Thơ), một người bạn cũ nhắc lại tôi mới nhớ, và được biết thêm đồng chí Hồ Văn Mến là em đồng chí Hồ Văn Mai, tỉnh ủy viên cũ của Cần Thơ hồi năm 1946, được chỉ thị của Đảng gom súng lại để tổ chức lực lượng võ trang chiến đấu tại Cần Thơ, chẳng may cháy nhà, bị bọn Việt gian phát giác, tố cáo lên đồn Cái Răng nên bị bắt. Điều tôi canh cánh bên lòng là chuyện phải bắt liên lạc với kháng chiến. Tôi lục hồ sơ của địch có sẵn về các nhân vật Việt Minh có tên tuổi tại Cần Thơ. Lác đác cũng có nhiều gia đình trí thức, công chức cũ tản cư trở về thành phố. Tôi mong mỏi gặp người có thân nhân còn ở trong kháng chiến để làm quen. Tôi biết rõ vị trí của tôi, không dễ gì tiếp xúc với đồng bào một cách thân ái cởi mở được. Cuối tháng 5/1946, vợ con tôi từ Mỹ Tho đã tìm đến Cần Thơ ở với tôi, được bố trí ở căn phố số 9 ở dãy phố trệt, vách ván, gọi là phố 18 căn, trên đường Lộ Mới, được bọn Pháp đặt tên là đường Capitaine d'Hers, để tưởng nhớ viên quan Ba sen đầm bị Nhật Bản giết chết hồi tháng 3/1945. Cùng dãy phố có vợ chồng chú Tư Ngà (Trần Phước Ngà), lớn hơn tôi 10 tuổi, vốn là người từ Chắc Băng (Vĩnh Thạnh - Rạch Giá) tản cư về ở hai căn số 2 và 4. Chú Tư Ngà đã nhường căn số 2 cho một bà trung niên ở cùng hai cô con gái. Cô chị tên Phấn, cô em tên Phết. Cô Phấn 28 tuổi, đã có một con, chồng là địa chủ Bạc Liêu, nay thôi chồng về ở với mẹ. Cô em có chồng địa chủ lớn ở Rạch Giá. Hiện đang ở vùng kháng chiến. Qua chú Tư Ngà và Tám Dinh, tôi biết bà mẹ chính là vợ của ông Lâm Văn Phận, trước kia là giáo viên giám thị trường Collège Cần Thơ, là người đã ký tên vào tờ truyền đơn, kêu gọi bãi thị mà chàng thanh niên đã rải trước mặt vợ lính. Mấy hôm sau, tôi lại gặp hai chị em vào văn phòng ban chỉ huy quân sự tìm gặp tham mưu trưởng là thiếu tá Berdel. Tôi được gọi lên để phiên dịch, mới rõ là hai chị em lên để xin lại căn nhà trên rạch Cái Khế, bị quân đội Pháp niêm phong, vì là nhà vắng chủ. Đã là gia đình kháng chiến, thì dù muốn hay không gia đình vẫn có liên lạc với kháng chiến. Tôi thấy có hy vọng. Lợi dụng một hôm, hai cô vắng nhà tôi qua nhà gặp bà mẹ. Bà rót nước mời tôi uống. Qua vài câu hỏi xã giao, biết tôi đã rõ là ông Phận đang ở trong Khu nên bà chủ động hỏi tôi: "Ông nhà tôi ở trong bưng cực khổ quá muốn hồi cư, ông liệu có được không?". Tôi đáp: "Thôi bà ơi! Đi kháng chiến đáng lẽ là công việc của bọn thanh niên tụi tôi, ông nhà đã đi thì thôi, kêu lại làm chi?" Bà làm thinh. Đôi bên đều có thế thủ, kéo dài tình trạng ấy đến bao giờ? Phải tìm cơ hội nắm chớp lấy thời cơ để xông vào trận đánh.. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:55:15 pm CHƯƠNG 6 ĐOÀN "SÁT GIAN ĐẢNG" Không phải ngẫu nhiên, mà trong hai lần xâm lược và tái xâm lược nước ta, đều có bàn tay của một Giám mục Thiên chúa giáo. Lần đầu Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) dẫn đường cho Pháp xâm lược, mượn cớ giúp Gia Long, lần này, Giám mục kiêm Đô đốc Thủy quản Cao ủy Pháp D'Argenlieu, bản thân dẫn hạm đội quân Viễn chinh Pháp sang tái xâm lược Đông Dương, bắt đầu từ Nam Bộ. Nếu vai trò của đại tướng Leclerc, nổi lên từ hàng đầu trong những ngày đầu năm với cái "chiến dịch Bến Tre" khét tiếng trong sư đoàn 9BB (9è DIC) và câu tuyên bố "sẽ bình định Đông Dương trong vòng 3 tháng" trước công luận với báo chí Sài Gòn ngày 12/1/1946, thì đến tháng 6/1946, vai trò của Leclerc đã lu mờ hẳn, nhường chỗ cho những âm mưu xảo quyệt mới của Thực dân Pháp do thầy tu phá giới Thierry D'Argenlieu thực hiện. Trên bàn hội nghị, Hiệp định Sơ bộ 6/3 đã ký kết, nhưng ở Nam Bộ quân Pháp vẫn không ngừng khủng bố ngày nào. Hội nghị Đà Lạt đã bế tắc, kết thúc ngày 12/5/1946. Ngày 31/5/1946, Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ ta lên đường sang Paris để tiến hành đàm phán trực tiếp với Chính phủ Pháp. Để đặt Chính phủ ta trước "sự việc đã rồi", Thierry D'Argenlieu một mặt đã cử đại tá Nguyễn Văn Xuân, dân Tây, sang Pháp để vận động ủng hộ chủ trương của Cao ủy Pháp, mặt khác cho ra đời ngày 1/6/1946, một chính phủ bù nhìn tại Nam Bộ, với danh nghĩa là: "Chính phủ Nam Kỳ tự trị", bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng, hòng chia cắt Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam. Tôi được tin tức qua báo chí công khai xuất bản tại Sài Gòn. Trong một tờ báo hàng ngày, tôi còn nhìn thấy ảnh chụp chiếc quạt giấy với 6 chữ Hán "Dĩ bất biến ứng vạn biến" Hồ Chủ Tịch tặng cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước để dặn dò trước khi Bác lên đường sang Pháp. Qua báo chí, tôi còn nhớ dư luận vẫn đòi hỏi thống nhất nước nhà, ngừng khủng bố đồng bào và đả đảo Chính phủ bù nhìn. Trong giới trí thức, trừ một số người mất gốc, những người còn ở thành phố, hầu hết đều "trùm chăn" không ra cộng tác với Pháp. Vì vậy, tôi vẫn giữ được niềm tin và thắng lợi của Cách mạng. Tình cờ, một buổi sáng, nhân đọc một tờ báo cáo của Sở Mật thám Pháp Cần Thơ đưa sang, tôi được biết có một người tên là Hai Tắng, dáng người đi cà niễng, có nốt ruồi dưới mắt trái, đang vào Cần Thơ đế tổ chức ban ám sát của Việt Minh ngay trong nội thành. Tôi nhớ kỹ nội dung bản tin, nhưng tìm người thì khó, tìm một người trong một thành phố rộng lớn vào bậc nhất nhì Nam Bộ thì quả là không dễ. Hơn nữa, đã gặp chưa chắc được tin cậy, hay ngược lại có thể nguy hại đến bản thân... Tình cờ, một sự tình cờ thú vị, một buổi sáng vào khoảng 7 giờ, tôi đang ngồi ở nhà số 9, nhìn xéo căn bên kia, phía căn nhà số 2 đối diện, căn nhà mà bà giáo Phận đang ở nhờ chú Tư Ngà, chợt thấy một người trạc tuổi tôi, dáng thấp, vai cà niễng đi ra, như tài liệu đã tả. Linh tính giác quan thứ sáu nơi tôi trỗi dậy, tôi vụt chạy sang bà Giáo, hỏi: - Thưa bà, có phải anh Hai Tắng vừa vào đây không? - Ủa, sao ông biết Hai Tắng? Tôi không trả lời, xin lỗi rồi cáo lui, vội bước nhanh ra ngõ: đứng trước chàng thanh niên đang xâm xúi bước đi. Tôi đi như chạy đến gần ngã ba thì bắt kịp. Tôi gọi to: "Anh Táng!". Anh ta dừng bước quay lại, nhìn tôi đôi mắt gườm gườm. Tôi lúc ấy mặc binh phục màu cứt ngựa. Tôi đến gần anh vỗ vai anh, nói nhỏ bên tai, đủ anh nghe: "Anh Hai nè, tôi biết anh có việc muốn làm ăn ở Cần Thơ nếu anh muốn tôi giúp anh, anh cứ hẹn ngày giờ, địa điểm, chúng ta gặp nhau sẽ nói chuyện sau. Anh, đồng ý đi, tùy anh quyết định, tôi không nói nhiều". Anh chàng nhìn kỹ tôi từ đầu đến chân, thấy tôi mặc binh phục, nhưng vẻ mặt nho nhã, không ra con nhà lính, anh tần ngần giây lát rồi nói ngay: "Đồng ý, chiều chủ nhật, đúng 2 giờ, tôi chờ anh ở Đàn Tiên". Nói xong bỏ đi ngay. Đàn Tiên là vườn hoa của một công chức cũ có tiền xây dựng thành một biệt thự xinh xắn, có vườn hoá, có hòn non bộ, có ao sen để cùng bạn bè thưởng ngoạn, cách bót Cụ giáo Phận chừng nửa km, bên rạch Cái Khế. Đúng hẹn, tôi mặc thường phục, quần kaki dài, áo sơ mi trắng, tay không lững thững đi tới Đàn Tiên, tôi đoán chắc Tắng sẽ chờ tôi, và tất nhiên có đem theo vệ sĩ (sau này Tăng cho biết có đem theo hai chiến sĩ phục kích ở chỗ hẹn để phòng bất trắc). Nhưng tôi vẫn tin tưởng vào lòng thành của mình nên không ngại. Chúng tôi bắt tay nhau rồi đi ngay vào câu chuyện. Tôi bắt đầu: "Theo tài liệu Sở Mật thám thì tôi biết anh vào đây là để tổ chức ban ám sát của Việt Minh. Nếu đúng vậy thì công việc anh định làm đã lọt vào tay lính kín, và chúng đang theo dõi anh. Tôi đề nghị: một là nếu anh chưa tin tôi thì thôi, anh nên phòng xa đi nơi khác mà làm, đừng nấn ná ở Cần Thơ nữa, chúng sẽ bắt anh. Hai là nếu anh tin tôi thì cho tôi tham gia, nếu chúng có bắt anh thì anh cứ nói thẳng với tụi nó, anh là người của tôi, muốn bắt thì phải cho tôi biết. Tôi sẽ bảo lãnh cho anh. Anh suy nghĩ kỹ rồi cho tôi biết ý của anh". Trong khi chờ đợi Tắng trả lời, tôi chăm chú nhìn xuống ao sen, có đóa sen tịnh đế mới chớm nở, một loại hoa quí, tôi đã nghe tiếng nhưng trước nay chưa hề thấy. Tôi nhớ đến một bài ca Kim Tiền, điệu Huế mà tôi đã học được từ nhỏ: "Hoa sen đẹp biết bao... Gần bùn mà chắng hôi tanh mùi bùn". Gửi trọn niềm tin, giữ trọn danh tiết, và tôi tự cảm nhận lòng mình đang yên tâm, thanh thản khi tin chắc sẽ được chấp nhận. Quả nhiên, chưa đầy một phút, Tắng gật đầu đồng ý, và cho tôi biết luôn là anh có nhiệm vụ vào tổ chức "Đoàn Sát gian đảng" ở nội thành, nhưng mới được vài người hưởng ứng. Sở dĩ Sở Mật thám biết vì anh đã có tiếp xúc sơ bộ với một người quen làm lính kín, nhưng nó chưa biết gì nhiều về tổ chức. Mới nghe nói tên "Sát gian đảng", tôi nghe hơi rợn người. Sau nghĩ lại có lẽ do câu thành ngữ "Trời bất dung gian" từ cửa miệng của đồng bào Nam Bộ, nên cấp trên đã cho tổ chức đội võ trang ngay trong vùng tề ngụy có cái tên răn đe ấy cho bọn Việt gian kiêng sợ. Thì ra cũng kịp thời vì ở Cần Thơ, Nogret cũng đã bắt đầu cho tổ chức những trò hề chính trị mới: Thành lập một phong trào "dân chủ Đông Dương" để hưởng ứng cái Ghính phủ Nam kỳ tự trị và mời tên Cao Văn Trạng, một nhà thầu khoán giàu có, chủ hãng xe đò "Cao Văn" làm chủ tịch. Thật ra cái phong trào ấy chỉ mới trong ý đồ của tên đại úy Nogret Trưởng phòng Nhì. Cao Văn Trạng được mời cũng gật đầu cho yên thân, nhưng cuối cùng, nghe lời thuyết phục của Hai Tắng, hắn bỏ trốn lên Sài Gòn ở luôn, không về Cần Thơ nữa. Phong trào chết ngay từ trong trứng nước! Đó là thành tích chính trị đầu tịên của "Sát gian đảng". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Năm, 2026, 08:55:57 pm Sau này anh Ba Quang (đại tá Trần Nhật Quang, Tham mưu phó Quân khu 9), một trong ba người chủ xướng tổ chức "Sát gian đảng" tháng 6/1946, đã nói với tôi: "Anh Bảy Tuệ (tức là đồng chí Phan Trọng Tuệ) chánh ủy Khu 9 hồi đầu 9 năm đã chỉ thị cho chúng tôi phải nhanh chóng thành lập đơn vị võ trang để trừ gian diệt tề trong các vùng địch tạm chiếm. Anh chỉ thị cho anh Quang cùng với anh Hoàng Hà (sau này là đại tá giám đốc Công an Minh Hải) và anh Vĩnh (hy sinh năm 1948) cùng bàn thảo tại nhà anh Tắng, ở Rạch Đường Sân, Vĩnh Thuận, Rạch Giá. Tổ chức thành đoàn công tác lấy tên là "Sát gian đảng", định triển khai ở 4 thị xã: Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Trước hết là tổ chức ở Cần Thơ. Anh cũng đã gọi một anh thợ khắc dấu, cho xuống ghe tam bản, chở vòng quanh để giấu địa điểm: khắc một con dấu có hình đầu lâu và hai xương chéo bên dưới, bên trên đầu lâu là hình bàn tay chụp xuống có những giọt máu chảy xuống đầu lâu; Thật là rùng rợn, đầy chất Sherloc Homes. Đoàn có nội quy gồm 25 điểm, trong đó có những quy định khá nghiêm ngặt. Ví dụ: Cấm không được quan hệ kết hôn với Việt gian, cấm đồng đội không được kết hôn với nhau. Tôi xem bản nội quy và con dấu "Sát gian đảng" thấy khá buồn cười, nhưng không phát biểu ý kiến với anh Tăng, vì mình mới được móc ráp với tổ chức kháng chiến của Khu là đã vượt quá yêu cầu rồi.
Buổi hội ý tuần sau, vẫn hẹn nhau tại địa điểm Đàn Tiên. Chúng tôi bàn ngay vào việc tổ chức S.G.Đ ở Cần Thơ, tôi được cho biết là ở Cần Thơ dự tính tổ chức một trung đội, mới có được 4 tổ: Hồng, Hoàng, Việt, Phi hoạt động ở ngoại ô: Đầu Sấu, Xóm Chài, Cây Da. Chúng tôi bàn với nhau thành lập một tiểu đội lấy tên là Tiểu đội Thanh (muốn tránh màu đỏ dễ gây chú ý cho địch) chuyên trách hoạt động ở nội thành, tự phần công nhau: Tắng Tiểu đội trưởng, tôi Tiểu đội phó. Tiểu đội trưởng lo mọi mặt giao dịch với cấp trên và chỉ huy diệt ác, trừ gian. Tiểu đội phó chịu trách nhiệm cung cấp địch tình và bảo vệ nội bộ, chỉ cần vài đội viên để làm liên lạc, không cần biết mặt các đội viên khác. Tắng đồng ý và nói đã có hai đội viên nữ, giao cho tôi lập thành một nhóm chuyên về liên lạc và địch tình. Đó là hai cô Lâm Thị Phấn, 28 tuổi, con bà giáo Phận, và Bùi Thị Nhụy, 17 tuổi, người ở Cái Vồn, con ông Bùi Hà Đông. Thế là hôm tiếp theo, chúng tôi họp cả 4 người và phân công cụ thể. Theo đề nghị của tôi, chúng tôi đồng ý lấy bí danh bằng chữ Thanh: Tắng bí danh Thanh Nguyên, Hiến bí danh Thanh Đình, Phấn bí danh Thanh Phong, Nhụy bí danh Thanh Hương. Sau này, năm 1947, Tắng chuyển công tác binh vận, thì tôi đặt thêm bí số để giữ bí mật hơn: Tôi bí số 32, Phấn bí số 29 Nhụy bí số 18 (lấy tuổi ta + 1 cho dễ nhớ). Tất nhiên, trong tiểu đội Thanh còn nhiều đội viên khác, nhưng do cần giữ bí mật tôi không tiện tiếp xúc. Điều lý thú nhất trong cuộc chiến đấu đầu tiên trong lòng địch, tờ truyền đơn ra mắt đồng bào của tổ chức "Sát gian đảng", tôi tiếp nhận từ tay đại úy Nogret, trưởng Phòng Nhì của ban chỉ huy Pháp đóng ở Cần Thơ trao cho. Hôm đó vào khoảng tháng 7/1946, tôi đến văn phòng thấy bọn Pháp đứng bàn tán xôn xao, tên Cantin (Pháp lai Malgache) làm sếp khám Cần Thơ mang lại một tờ truyền đơn Việt Minh. Bộ mặt vốn đen xì biến thành bạc phếch. Nó ngước đôi mắt trắng dã lên giải thích cho Nogret và bọn Pháp vây quanh biết rằng: nó nhận được tờ truyền đơn từ một bàn tay bí mật dán vào sau lưng nó, khi đến làm việc nhờ nhân viên dưới quyền phát hiện, nó mới biết. Tờ tố cáo ra mắt đồng bào in mực tím có ghi rõ nội quy cả 25 điểm của "Sát gian đảng", không có ai ký tên. Nhưng con dấu in hình đầu lâu có hai ống xương bắt chéo bên dưới và bàn tay rỏ máu bên trên, in bằng mực đỏ, đủ nói lên quá nhiều nỗi khiếp sợ của người xem. Nogret trao cho tôi xem rồi dịch, dịch xong nó giải thích cho Cantin và thuộc hạ rằng đây chỉ là trò bịp trẻ con, không đáng sợ. Tuy nhiên, sau đó Cantin ra về, thì Nogret gọi ba phiên dịch viên đến gần tấm bản đồ thành phố Cần Thơ, tỷ lệ 1/25.000 treo trên vách, lấy cây thước kẻ khoanh một vòng từ cầu Cái Đôi theo rạch Cái Khế đến Rạch Ngỗng, rạch Bần, cầu Tham Tướng quanh lại sông Cần Thơ và dặn kỹ: "Chúng mày nên nhớ đi một mình đừng bao giờ ra khỏi ranh giới này, ngoài chu vi này thuộc về vương quốc của Hồ Bá Phúc, và Trần Nhật Quang". Nghe đại úy dặn dò, một mặt tôi có phần nể nó vì nó cũng có quan tâm đến mạng sống của cấp dưới, nhưng mặt khác tôi cũng nhận thức được sức mạnh tâm lý cú đấm đầu tiên mà tổ chức tình báo ta đánh vào tâm khảm của tên trùm đầu sỏ của Đệ nhị phòng Pháp ngay trên mảnh đất miền Tây Nam Bộ. Một vấn đề nảy sinh ngay trong óc tôi: Ai đã cung cấp cho nó biết tên Hồ Bá Phúc và Trần Nhật Quang? Hồ Bá Phúc là Ủy viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Cần Thơ thì nhiều người biết đã đành nhưng anh Trần Nhật Quang chỉ huy tổ chức "Sát gian đảng" thì làm sao nó biết dược? Tôi kiểm điểm lại những người lui tới vàn phòng Ban chỉ huy quân sự, trong đó có Phòng Nhì, do Nogret điều khiển. Về phía người Việt chỉ có ba người phụ nữ, thường mặc áo dài đen, hai người Hoa là trưởng ban hội Triều Châu: má Chín Xuân ở Cái Răng và trưởng ban Quảng Đông, má Chín Đông trưởng ban Cần Thơ, không kể hai công chức của sở lính kín P.S là Tài và giáo Tỷ (giáo Tỷ vừa làm cho Sở Mật thám vừa làm cho 2è Bureau) mà tôi đã tìm hiểu lai lịch và hành tung từ lúc mới đến Cần Thơ. Qua dư luận bà con lối xóm tôi ở, bằng phương pháp loại dần, cuối cùng cơ quan cũng phát hiện được kẻ gian, có biện pháp đối phó kịp thời, đảm bảo bí mật tổ chức, an toàn công tác. Muốn đánh được giặc, trước hết phải bảo vệ mình, không thể nào khác. Qua đó biết rõ thêm về đối tượng tác chiến hiểu rõ thêm về đồng đội của mình. Thời gian từ tháng 3/1946 đến tháng 9/1946, cả địch và ta đang ở thế vừa đàm phán xoay quanh Hiệp định 6/1 và 14/9 vừa chuẩn bị đánh nhau trên chiến trường ở cả hai miền. Riêng ở miền Nam, bọn Pháp ráo riết mọi mặt để hòng thiết lập lại chế độ thuộc địa như cũ. Vì vậy, bất chấp dư luận báo chí công khai phản đối ngày 1/6/1946, chúng đã đưa ra cái chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh cầm đầu. Thực chất vẫn là con rối do Phòng Nhì của thiếu tá Savany nặn ra và đạo diễn. Savany lúc này đã được thăng cấp thiếu tá và từ Vĩnh Long điều lên Sài Gòn làm trưởng Phòng Nhì của quân lực Pháp ở miền Nam Việt Nam. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:38:11 pm Vào thời gian 7/1946, quân đội Pháp ở Cần Thơ cũng nhận thêm các phương tiện tuyên truyền là một chiếc xe bít bùng có đầy đủ máy phóng thanh và hai loa truyền thanh, những thiết bị kỹ thuật hiện đại nhất chưa từng thấy ở mảnh đất miền Tây. Nogret gọi các phiên dịch đến và phân công tôi với các xe, và lên xe cầm micro kêu gọi đồng bào ủng hộ Chính phủ Nam Kỳ tự trị vừa ra mắt đồng bào. Tôi lắc đầu bảo: "Tôi nói giọng Huế, dân Nam Bộ nghe không được đâu". Thiếu úy phiên dịch Long cũng ủng hộ lời tôi nói. Một phiên dịch mới tuyển, trung sĩ Nuôi người công giáo đứng ra lãnh trách nhiệm lên gào thét vào micro thay tôi. Đêm đó, anh Tắng xông vào nhà ở đường Cầu Xéo, xóm Nhà Thờ. Tắng định thuyết phục anh ta thôi cái trò tuyên truyền bịp bợm đồng bào, Nuôi đang tắm ở nhà sau vội xách áo quần chui qua vách líp qua nhà hàng xóm. Hôm sau, hắn đến văn phòng mặt tái mét, thuật lại từng chi tiết về việc Việt Minh xông thẳng vào nhà để ám sát anh ta, may nhờ anh ta có chút nghề võ phi thân qua tường thoát nạn. Mọi người ở văn phòng ban chỉ huy, kể cả đại úy Nogret đều được một trận cười muốn vỡ bụng. Người thích thú nhất, không nói ra ai cũng biết là tôi! Cũng may, Nogret cũng không muốn hành tội thêm bộ hạ của mình, cho chuyển ngay xe tuyên truyền và loa phóng thanh về cho Tiểu đoàn 1/43è RIC, đóng ở bót nhà ông Hành, toàn quyền sử dụng. Từ đó chiếc xe và loa được thiếu tá chỉ huy Tiểu đoàn cho vào kho luôn, không bao giờ thấy xuất hiện ở Cần Thơ.
Nếu tôi nhớ không lầm thì chiến công đầu của "Sát gian đảng" có diệt địch và thu chiến lợi phẩm là trận đánh chiếc đò máy tiếp tế cho Cầu Kè. Trận này tôi không tham gia như đã phân công, hoàn toàn do anh Tắng trực tiếp chỉ huy tác chiến. Theo anh kể lại: anh đã cùng hai anh đội viên khác là Nhân và Nghĩa, giả làm hành khách, quá giang chiếc đò máy từ bên Cần Thơ. Chiếc đò máy do nhà binh trưng dụng để tiếp tế cho bót Cầu Kè (nay thuộc tỉnh Trà Vinh) chở đẩy vải đen về phân phát cho vợ con lính ở quanh bót. Đến gần cù lao Lục Sĩ Thành, chiến sĩ ta tấn công tên Cai xếp (hạ sĩ) Pháp, tước khẩu tiểu liên hiệu Sten, hất xác tên Pháp xuống sông. Xong, uy hiếp hại tài công cho lái chiếc đò máy vào cù lao và phân phát vải cho đồng bào đang thiếu mặc, xong trận thắng, Tắng về thuật lại cho tôi biết và tặng cho tôi chiếc đồng hồ đeo tay hình chữ nhật, hiệu Zénit. Anh bảo: "Tôi thấy anh làm Việt gian mà đến chiếc đồng hồ đeo tay cũng không có, nên trước khi liệng xác thằng Tây xuống sông, tôi còn tước lại của nó chiếc đồng hồ này để tặng anh, anh có dám đeo không?". Cảm động vì tấm lòng ưu ái của bạn, tôi đeo ngay vào tay, và nói: "Anh đã dám giết nó lấy cho tôi, tôi sợ gì mà không dám đeo!". Và qua thật, tôi đã đeo nó luôn bên mình, ngay cả khi đi làm việc, cho mãi năm 1951, vì cũ quá không còn sửa được nữa. Đó là trận giao thông chiến đầu tiên, tiểu liên chiến lợi phảm đầu tiên và cũng là tên lính Pháp đầu tiên bị "Sát gian đảng" trừng trị ở Khu 9. Sau khi quân Pháp dở thói tráo trở vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6/3, tiến công chiếm đóng Hà Tiên, Rạch Giá 9/3. Chiến công tuy nhỏ nhưng cũng góp thêm một cột mốc của lịch sử kháng chiến Cần Thơ, và của ngành Tình báo ta trong thời còn non trẻ. Không bao lâu sau trận đoạt tàu cướp súng đó, Tiểu đội Việt của "Sát gian đảng" do đồng chí Việt Dũng chỉ huy lại tiếp tục tổ chức một trận phục kích trên đường Cái Răng - Cần Thơ, đánh bọn lính Miên gian đi trên xe đổi gác ở bót Vườn Bông. Tốp lính khiếp sợ vứt súng chạy tán loạn, ta lượm được 4 cây súng mút Anh, rút về rạch Đầu Sấu. Tắng thường độc lập tác chiến. Tôi nhớ có một lần, Tắng đi ngang qua nhà thiếu úy Hiền, thấy hắn đang ngồi một mình, có cây súng Sten treo tòn teng trên cột vách, liền xông vào bắn chết ngay tên thiếu úy, rồi xách tiểu liên đi ra. Tắng khoe với tôi, nhưng tôi không lấy việc đó làm thích thú vì thấy quá mạo hiểm... Một lần khác, nghe tôi nói giáo Thạch là bí thư Dân xã Đảng Cần Thơ, ngay đêm đó Tắng xông vào nhà hạ sát ngay tên phản động vì căm thù Hòa Hảo đã giết chết bố anh hồi năm 1945. Cùng trong thời gian đó, các tiểu đội khác, tuy mới hình thành, quân số còn rất ít, vẫn cố gắng len lỏi vào hoạt động nội thành. Tiểu đội Hoàng, gồm các thiếu niên dưới 16 tuổi do Hoàng Thanh (Võ Xuân Vi) và Hoàng Thám (Nguyễn Hữu Lộc), tiểu đội trưởng và tiểu đội phó chỉ huy, cả hai đều hy sinh năm 1948, trong lúc ném lựu đạn giết giặc. Tờ truyền đơn của "Sát gian đảng" dán vào lưng Sếp khám Cantin là do một chiến sĩ nhỏ tuổi của Tiểu đội Hoàng, chiến sĩ đó là Nguyễn Văn Nhâm. Tiểu đội Hồng có Nguyễn Huy Quỳnh, gọi là Quỳnh xụi chỉ huy. Tuy què một chân vẫn len lỏi ra tận Cầu Bắc đến gần lính Miên gian kề khẩu súng Rouleau nhỏ xíu vào mang tai tên lính, bóp cò. Đạn không nổ. Quỳnh vất súng bỏ chạy, tên lính cũng hoảng hồn ôm súng chạy về ngả khác (Quỳnh sau này là đại úy Cục 2 về hưu ở nhà 40 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội, từ trần năm 1998 ở tại thành phố Hồ Chí Minh). Tiểu đội Phi, do Hổ chỉ huy cũng tổ chức được một đội viên đưa làm bồi cho tên đại tá Cluset, định đầu độc nhà ăn của sĩ quan Pháp. Nhưng vì thuốc độc bốc mùi hăng quá, Cluset đưa cho con chó berger ăn thử súp, con chó chết lăn quay. Anh bồi tên là Phấn bỏ trốn. Năm sau, tôi gặp Phấn ở Cái Đôi (Phú Hữu - Cần Thơ). Phấn cho biết khi chuyện bại lộ, anh bỏ trốn, chỉ lấy được của Cluset một số tiền chừng 18.000 đồng... Phấn sau này chết bịnh ở quê nhà. Còn đồng chí Hổ, sau làm sĩ quan liên lạc bốn bên, năm 1975 chuyển ngành về làm thông tin văn hóa Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Những hoạt động vũ trang trong lòng địch tuy còn thơ ngây, nhưng cũng nói lên được chí khí quật khởi của đồng bào vùng đô thị Cần Thơ trong buổi đầu kháng chiến. Thực tế hoạt động của "Sát gian đảng" đã làm cho các cơ quan đầu não của Pháp ở miền Tây lo sợ trước một kẻ địch vô hình, đã chận tàu xe cướp súng, giết lính Pháp và còn mưu toan đầu độc cả sĩ quan cao cấp Pháp ngay tại căn cứ chỉ huy, lại còn dán bố cáo cảnh cáo trước ngay trên lưng chúng. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:40:40 pm Trong lúc đó, tin tức các nơi đưa về lác đác có một số đồn bót ở Nam Bộ, Việt Minh đã sử dụng lính lê dương đào ngũ, giả làm sĩ quan Pháp đi kiểm tra, cướp đồn, đoạt súng buộc địch phải đề phòng cẩn mật hơn.
Cũng trong thời gian này, bà giáo Phận, nhờ công sức của hai cô con gái, đã xin về ở lại ngôi nhà ngói cũ ở số 37, đường Paul Emery (nay 81-83, Hoàng Văn Thụ, Cần Thơ). Viện lý do bảo đảm an toàn, tôi cũng được đại úy Lespinasse, chỉ huy đại đội văn phòng tham mưu kiêm chỉ huy thành phố Cần Thơ, dành cho tôi một căn phòng nhỏ bên phải ngôi nhà kiên cố đó. Tôi dùng căn phòng để viết báo cáo mật ban đêm, tránh khỏi cặp mắt bọn mật thám. Việc giao dịch bàn bạc công tác của tiểu đội Thanh với anh Tắng và cô Hai Phấn cũng thuận tiện hơn trước. Dư luận bắt đầu lan rộng đến tai vợ tôi và cả bọn Phòng Nhì Pháp về mối quan hệ đó, cho là tôi mê gái. Tất nhiên tôi không cải chính, ngược lại mỗi khi giao dịch với bọn Pháp, tôi vẫn tươi cười: "Tôi xin giới thiệu, bà Elise, người yêu tôi". Elise là tên Tây đặt theo một quí phái hồi đó của cô Hai Phấn. Ngặt một nỗi tôi không biết giải thích sao cho vợ tôi hiểu, chỉ cười trừ mà thôi. Là một phụ nữ từng trải, vợ tôi cũng phải làm thinh chịu đựng. Một hôm, ăn cơm tỏi xong, tôi đến định ở lại ban đêm viết báo cáo, bà Giáo Phận và con gái giới thiệu tôi với một người trung niên mặt mũi đầy đặn, có cục thịt thừa nhò ở bên dái tai, cô con gái nói: "Đây là anh Ba Nghi, học trò cũ của ba em. Tối nay, anh xin ngủ lại một đêm, mai đi sớm, xin ông nhường cái phòng cho anh ấy một đêm được không? Anh ấy ngủ ngoài sợ bất tiện lắm". Tôi bắt tay người đàn ông ấy và đáp : "Được thôi, tôi sẵn sàng". Qua các báo cáo của Sở Mật thám, và các tin tức tôi thu lượm được, tôi biết rất rõ Ba Nghi là một lính áo trắng, theo Việt Minh từ tháng 8/1945, là người tình cũ của cô Hai Phấn, hoa hậu ở Cần Thơ, trước kia, và nay là trung đội trưởng trong đại đội địa phương Cái Vồn, do anh Phạm Tấn Khương, lính kèn cũ của Pháp chỉ huy. Đêm ấy, anh Ba Nghi ngủ lại phòng ngủ của tôi, còn tôi về nhà ngủ. Nằm chung với vợ, tôi vẫn nghĩ một bài thơ đề tặng cho Ba Nghi sáng hôm sau, trước lúc chia tay. Bài thơ làm theo kiểu cũ, nặng điển tích, nhưng cốt sao nói được tâm sự của mình mà khỏi bị lộ bí mật: Bài thơ đó có mấy câu sau: "Trên bước chinh trường gặp gỡ nhau Mùi chi lan mới bén quen màu Đó gươm bách chiến gươm mài bén Đây bút thiên quân giá vẫn cao Chim Việt, cành Nam thường vẫn nhớ Ngựa Hồ đất Bắc dễ quên đâu! Chén trà tiễn bạn hôm nay nhé Chén rượu mừng công hẹn buổi sau! Anh Ba Nghi ra đi được mấy hôm, bỗng có một cô gái liên lạc khoảng 18 tuổi đến gặp cô Hai Phấn, nhắn mượn tôi một bộ đồ sĩ quan Pháp. Tôi chỉ là thượng sĩ phiên dịch, nhưng vẫn lấy quân phục màu cứt ngựa của kho quân trang Pháp cấp cho về thuê cắt may lại cho đẹp, có 4 túi ngoài như áo sĩ quan. Tôi hiểu ngay dụng ý của Ba Nghi, chỉ dặn dò cô liên lạc: "Nói với anh Ba phải cẩn thận nghe cô, đừng để mất". Một tuần sau, cô liên lạc đem trả lại, bộ quần áo là ủi phẳng phiu, chỉ rách một đường dài ở nách. Sau này, vào khoảng cuối năm 1946, tôi có dịp gặp anh Ba Nghi lại tại đại đội địa phương Cái Vồn. Anh Ba cho biết, anh đã mượn bộ đồ sĩ quan cho anh Bé, một hàng binh lê dương của đơn vị bạn ở Vĩnh Long, giả dạng trung úy Pháp đi kiểm tra đồn bót. Anh Ba Nghi đóng vai phiên dịch viên, đi thẳng vào bót, bắt bọn lính sắp hàng hai để điểm danh tập thể dục, thừa cơ anh em xông vào cướp súng mang đi. Đó là một đồn bót lẻ ở vùng Cái Vồn (bót Cai tổng Giỏi). Từ dạo đó đến nay đã 43 năm ròng, tôi đành thất hứa, chưa có dịp nào ngồi lại uống chén rượu mừng công năm ấy. Ba Nghi sau 9 năm cũng có đi tập két, trở về công tác Sở lương thực thành phố Hồ Chí Minh, cũng đã nghỉ hưu ở quận Bình Thạnh. Trong thời gian Hội nghị Fontainebleau đang họp ở Pháp, bọn chỉ huy quân đội Pháp ở miền Tây Nam Bộ lên giây cót tinh thần cho binh sĩ "bản xứ" ở các đồn bót lẻ, tổ chức một vòng tuần du bằng tàu lửa (xà lúp chạy bằng củi đốt) trên các kinh xáng, liên kết các đồn bót với nhau. Viên trung tá Nulzec, chỉ huy phó, dẫn tôi cùng đi kiểm tra các đồn Ngã Năm, Phước Long, Thới Bình, Chắc Băng ở giữa vùng rộng lớn đồng bằng miền Tây Nam Bộ. Mỗi đồn chỉ có một vài tên Pháp chỉ huy, ngoài ra chỉ là lính Partisan, phần lớn là người địa phương đó, gần một trung đội. Le Nulzec đến đồn nào cũng lập ra công thức đã nghĩ sẵn: "Anh em binh sĩ phải hết lòng phục vụ quân đội Pháp. Đừng nghe lời của Việt Minh Cộng sản tuyên truyền, đừng đi chơi lẻ tẻ ra ngoài đồn mà bị Việt Minh giết chết. Phải tin vào sức mạnh của nước Pháp". Do vậy công việc phiên dịch cũng không có gì khó khăn. Đến đồn Chắc Băng (Vĩnh Thuận, Kiên Giang hiện nay) có sẵn một phiên dịch, nên tôi được miễn làm phận sự. Tôi chú ý lắng nghe lời dịch của anh bạn đồng nghiệp mới. Thay vì dịch sát nghĩa của viên trung tá đã truyền đạt, anh ta nói: "Tụi bây đừng láng cháng mang súng đi bố ráp ngoài đồn mà bị Việt Minh giết chết đa!". Tôi bỗng có cảm tình ngay với giọng Bắc của anh ta. Đến lúc giải lao, tôi tìm anh phiên dịch để bắt chuyện, bỏ luôn cả giấc ngủ trưa để tâm sự với người bạn mới. Anh tên là Trần Huy, nguyên là thư ký Tòa sứ Lạng Sơn, bị ham cờ bạc thua, phải thụt két, rồi trốn vào Nam Bộ về ở Trà Vinh làm thư ký cho luật sư làm công chức kiểm lâm, tản cự về Rạch Giá, xin làm phiên dịch cho viên trung úy Lacroix rồi theo nó đến đóng ở đồn Chắc Băng. Có vợ con gốc Trà Vinh. Tôi đem tờ báo ra cùng xem tin tức và cùng bàn luôn thời sự. Báo chí công khai hồi đó cũng lên tiếng đả kích Chính phủ Nam Kỳ tự trị và đòi thống nhất 3 kỳ. Tôi hỏi ý kiến anh Huy, Huy trả lời dứt khoát: Nam Kỳ tự trị là cái quái gì? Là người Việt Nam ai lại không muốn thống nhất đất nước? Thái độ quan điểm giọng nói thể hiện rõ nội tâm. Tôi thành thật bày tỏ nguyện vọng muốn kết bạn tri kỷ. Huy đồng ý ngay. Tuy nhiên, với công tác tôi vẫn còn giữ ý. Tôi nói với Huy: "Chúng ta đã là bạn tri kỷ thì tôi chỉ xin Huy một điều, sau nay nếu có ai đó nhân danh tôi đến nhờ Huy giúp đỡ một việc gì đó, Huy có sẵn sàng không?". Huy gật đầu tán thành. Tôi nói thêm: "Tuy nhiên, muốn biết người đó là người của tôi không thì cần có khẩu hiệu để nhận nhau. Khẩu hiệu đó là. Hỏi "Thống" đáp "Nhất". Huy cũng nhất trí. Trước khi từ biệt tôi nói thêm: "Anh Huy này, tôi với anh đều có hoàn cảnh bất đắc dĩ cả, chỉ mong sao giữ trọn tình bạn đừng quên nhau, và nhất là đừng quên giúp đồng bào mỗi khi làm được. Đồng bào ta đang khổ sở lắm, phải không anh". Tuy nhiên, vì nhiều công việc khác dồn dập, mãi đến cuối năm 1947 tôi mới được gặp lại Huy, và nhờ chú Tư Ngà, vốn đã quen nhau từ hồi ở Chắc Băng, móc ráp lại trở thành một cơ sở phục vụ có kết quả cho ngành Quân báo Phân Liên Khu miền Tây Nam Bộ sau này. Đất nước đã thống nhất, như ý muốn của Trần Huy, chúng tôi có dịp gặp lại nhau nhưng kiểm điểm lại tôi vẫn chưa làm được gì để đền đáp tương xứng công lao và tấm lòng của người bạn tri kỷ, lớn hơn tôi 10 tuổi. Thật đáng hổ thẹn. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:41:40 pm Ngày 1/8/1946, Hội nghị Fontainebleau đang họp thì có tin bọn thực dân Pháp ở Đông Dương tổ chức Hội nghị Liên bang Đông Dương ở Đà Lạt, phái đoàn của ta rời Fontainebleu và không trở lại nữa. Ở miền Tây Nam Bộ bọn Pháp vẫn tổ chức các cuộc càn quét xung quanh các thị xã và mưu toan phát súng cho địa chủ để chúng mộ lính lập thêm đồn bót, mở rộng vùng chiếm đóng.
Văn phòng tổ chức "SGĐ" của ta do anh Quang trực tiếp chỉ huy thường xuyên, đóng ở vùng Đầu Sấu và Rạch Bà Tồn, cách nội thành chừng vài ba km. Một đội viên Tiểu đội Thanh - tên Phúc - tấn công một tên lính Pháp ở nhà Dưỡng lão, để mưu toan đoạt súng, bị nó bắt dẫn về Phòng Nhì, Phúc còn là học sinh, may nhờ có chị cậu ta là người công giáo quen với Nogret đến bảo lãnh nên được tha về. Để đối phó với các cuộc càn quét hàng ngày, tôi phân công: Thanh Phong (Hai Phấn) và Thanh Hương (Nhụy) thay phiên đem tin tức về cơ quan mỗi khi xảy ra các cuộc hành binh cấp tốc. Do có nhiều bà con ở Đầu Sấu, nên công tác liên lạc cũng khó giữ bí mật. Một hôm bọn lính Đầu đỏ ở bót Tham Tướng càn quét vùng Đầu Sấu, bắt được một anh tự vệ tên Cảnh, bị đòn đau, anh ta khai là có liên lạc với cô Hai Phấn, con gái ông giáo Phận ở Cần Thơ, Thanh Phong liền bị Nogret gọi lên văn phòng để đối chất với tên Cảnh. Để điều tra vụ này, Nogret nghe nói cô Phấn là tình nhân của tôi, nên không gọi tôi mà cho gọi thiếu úy Long lên làm phiên dịch. Tôi ngồi làm việc mà cứ phập phồng lo sợ suốt buổi. Tuy nhiên nhờ thiếu úy Long mớm cung. Cảnh phải khai lại là: anh ta chỉ nghe người ta nói cô Hai Phấn có quen thân với ông Ách Hiến (hồi này tôi đã lên lon) nếu rủi bị bắt thì cứ khai cho cô Hai, thế nào ông Ách Hiến cũng bảo lãnh cho. Vì vậy Thanh Phong được tha về. Tuy nhiên Nogret vẫn còn tiếc rẻ: "Chuyện đáng nghi lắm, tao muốn giam bà ta lại, để điều tra thêm". Hú vía! Tôi thở phào, không cần che giấu tình cảm trước mặt Nogret, bắt chặt tay Long người bạn lớn hơn tôi 10 tuổi. Cảnh sau đó bị kết án đầy đi Côn Đảo (sau này tôi được biết Cảnh trong một nhóm tù chính trị vượt Côn Đảo về Bạc Liêu, sau Hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, có thời gian làm Giám đốc nhà máy Diêm cầu Đuống tỉnh Bắc Ninh). Tôi cũng rút kinh nghiệm, không phân công Thanh Phong làm liên lạc, dồn công việc cho Thanh Hương, mới 17 tuổi, chưa bị lộ. Sau đó ít lâu, một điền chủ ở Long Mỹ, ông Cả Chánh lên xin gặp Nogret để xin cấp phát súng về mộ lính, lập đồn bót, giữ điền địa của ông ta. Nogret đồng ý, Cả Chánh có chiếc tam bản đậu ở Cầu Xéo, ông ta có một súng rouleau, kiểu St.Etienne mang theo trong mình. Đêm đó, được tôi báo, Tắng liền rủ thêm Hai Méo (có tật méo miệng) xuống tam bản gặp Chánh để cảnh cáo. Hai người vừa bước xuống mũi tam bản thì Cả Chánh hốt hoảng cầm súng bắn ra, viên đạn trượt trên da bụng Hai Méo, để tự vệ, Tắng bắn trả, rồi cõng Hai Méo chạy thoát. Cả Chánh trúng đạn chết trong tam bản. Hôm sau, đại úy Nogret được tin báo, cho thu hồi khẩu súng rouleau lại và gọi hai đứa con của Cả Chánh đến. Hai cậu con Cả Chánh là Sơn và Điền tuổi vào khoáng 20, 18 được Nogret động viên đi tìm Việt Minh đế trả thù cho cha. Tôi phiên dịch, nhưng hai cậu đều hiểu tiếng Pháp, sốt sắng nhận lời. Thấy hai cậu còn trẻ, tôi rút kinh nghiệm, không vội báo cáo cho Tắng biết, chỉ dặn Nhụy (Thanh Hương) tìm cách làm quen và theo dõi. Không ngờ trong quá trình tìm hiểu, Nhụy và Sơn lại gắn bó và yêu nhau tha thiết, xin làm lễ cưới. Nghĩ lại nội dung 25 điều của "SGĐ" cấm lấy Việt gian, tôi lập luận: "Sơn là con địa chủ, bản thân tuy có nhận nhiệm vụ đi trả thù cha, nhưng chưa có hành động gì Việt gian cả, nên không ngăn cản ta muốn cũng cản được đôi lứa yêu nhau". Sau đó, Sơn xin vào làm phiên dịch cho bọn lính thiết giáp 2è SPAHIS và cũng là một cơ sở tốt cho ta, cung cấp một tài liệu về kế hoạch tuần tra của xe thiết giáp A.M ngày đêm ở thành phố Cần Thơ, giúp cho một đơn vị chủ lực tỉnh Cần Thơ (E.122) đột nhập tập kích vào tận khu bệnh viện Cần Thơ năm 1948, thu được một số kết quả, tránh thương vong. Sơn hoạt động đến năm 1952 thì bị bọn phán gián Pháp bắt tại Cần Thơ, giam giữ ở Sài Gòn và chúng trao trả cho ta năm 1954 ở miền Bắc (cả Nhụy và Sơn sau hòa bình lập lại đều có gặp tôi, gia đình họ ở TP.HCM, P17.Q.Bình Thạnh). Nhớ hồi mới gặp nhau, Nhụy có hỏi quan điểm của Sơn: "Với cái chết của cha, Sơn thấy thế nào?? Sơn trả lời: "Ổng chết thì ổng chịu. Ai biểu ông nhận súng của Tây làm gì!". Một điển hình lý thú về công tác tư tưởng và tổ chức trong lòng địch. Ngày 14/9/1946, thỏa hiệp án đã ký kết ở Pháp giữa Hồ Chủ tịch và Moutet, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, thay mặt cho Chính phủ Pháp, Hồ Chủ Tịch được đưa về nước trên một chiến hạm Pháp, treo quốc kỳ Việt Nam. Trong lúc Bác đang trên đường về Tổ quốc thì ở Nam Bộ bọn Pháp vẫn không ngừng càn quét, khủng bố đồng bào. Tôi nhớ, có nơi vội gởi phái đoàn ra hiệp thương với bọn Pháp và bị chúng bắt giam lại. Một hôm tại nhà cụ giáo Phận, một người bà con với cụ giáo Phận ở Phong Điền, xã Trường Long, tên là anh Hai Rép đến trao cho tôi một bức thơ, tôi ngạc nhiên vì thấy thơ có dấu son đỏ chót của Bộ Tư lệnh Quân khu 9, do đồng chí Phan Trọng Tuệ, Chính trị Bộ chủ nhiệm Quân khu ký tên, nội dung vắn tắt trên một trang giấy pelure nhỏ, động viên tôi tích cực công tác và đề ra 2 yêu cầu cho biết chủ trương thi hành Thỏa hiệp án của bọn chỉ huy quân đội Pháp ở miền Tây Nam Bộ và cung cấp ngay cho Bộ Tư lệnh một bản đồ quân sự của thành phố Cần Thơ. Cô Hai Phấn (Thanh Phong) cũng nhận được thơ của cụ giáo Phận, lúc này là chủ tịch Liên Việt tỉnh Cần Thơ, động viên con gái hết lòng vì nước, cô Hai đọc xong thư của cha, đưa cho tôi xem. Tôi còn nhớ mấy câu thơ cuối. Cụ trích dẫn hai câu thơ của Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi, trước lúc sang Trung Quốc: "Thương cha con phải lo cho nước Đừng để giang sơn chịu thiệt thòi!" Đêm hôm đó, tôi ở lại một đêm viết báo cáo, sáng hôm sau giao cho anh Hai Rép mang về Khu. Tỏi nói rõ: bọn Pháp không có thực tâm thi hành Thỏa hiệp án đâu, bằng chứng là có vài nơi ta gởi phái đoàn, thì bọn Pháp bắt giam lại. Ta không nên mắc mưu nó. Và, để cung cấp bản đồ tôi phải nhờ một thanh niên học sinh, có cảm tình với kháng chiến là cơ sở của ta, tên Phước Kiếng, cùng tôi thức suốt đêm để vẽ lại bản đồ thành phố Cần Thơ, theo tỉ lệ 1/25.000, đến sáng vẽ xong, tôi để Phước trở về nhà, một mình tiếp tục ghi lại các căn cứ, đồn bót Pháp có đủ phương tiện cùng đơn vị đóng quân và nhiều chi tiết khác. Sau này anh Trần Nhật Quang cho tôi biết, năm 1947 anh ra Bắc cùng với phái đoàn Nam Bộ ở chiến khu Việt Bắc. Trong một hội nghị Quân báo, anh đem bản đồ địch tình Quân khu ra trình với đầy đủ chi tiết. Nhiều đồng chí hỏi làm sao anh nắm vững địch tình như thế, anh cười bảo là nhờ bạn bè quen biết sống ở đô thị cho tin. Nghe anh nói, tôi cũng rất tự hào về công tác của ngành mình đã có tiếng vang ra miền Bắc, trong đó mình cũng có phần đóng góp. Và, ngay trong tháng 9/1946, Bộ Tư lệnh Quân khu 9, lúc đó dưới quyền của Khu bộ trưởng Huỳnh Phan Hộ, Chánh ủy Phan Trọng Tuệ đã không gởi phái đoàn ra họp với Pháp ở Cần Thơ như các nơi khác đã làm, chỉ sai một cụ già ngoài 60 tuổi, có chòm râu dê, người nhỏ thó, ngực mang mề đay Pháp "Croix de guerre" đến chỉ huy sở của bọn Pháp để đưa thơ thôi. Ông cụ đưa thơ rồi ra về, trước con mắt nể vì của chỉ huy Sở, ông cụ còn hiên ngang vén ống quần lên "trút bầu tâm sự" vào cánh cửa lớn đang mở rộng, trước con mắt kinh ngạc của bọn lính Tây còn trẻ măng đứng gác cổng!... Tôi cũng thích thú nhìn theo cảnh tượng đó. Một hình ảnh khá tượng trưng cho tình cảm của đồng bào Nam Bộ đối với quân xâm lược được trang bị tận răng! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:43:59 pm Ngày 1/10/1946, Ban chỉ huy tổ chức "SGĐ" triệu tập Tiểu đội Thanh về văn phòng đóng tại Rạch Cái Nai (bên bờ Đông sông Cần Thơ). Chúng tôi gồm có Tắng, Phân, Nhụy và tôi, xuống chiếc ghe tam bản thường trực tại bến ngã ba Lộ Mới, do một thanh niên, anh Lân, lái và giữ tam bản làm phương tiện giao thông. Theo anh Tắng cho biết thì tiểu đội Thanh còn có ba trạm liên lạc, do anh bán lúa lấy tiền tạo dựng nên, một bàn may tại kinh Xáng Cụt (bên rạch Cái Khế), một vựa mắm tại Cầu Củi (gần nhà đèn), và một vựa củi tại Cầu Xéo (xóm Nhà Thờ). Những việc đó sau này tôi mới được biết. Lần đầu ra xa thành phố, tôi đem theo cây súng rouleau để tự vệ (của Cả Chánh còn để tại văn phòng làm việc của tôi) nhằm phòng xa, khi gặp nhóm lính kín chặn đường làm ẩu. Tam bản vừa đến nơi, tôi xách cái túi có súng theo lên văn phòng ban chỉ huy. Tiếp chúng tôi ở văn phòng chỉ có một thanh niên, trạc 20 tuổi, dáng thư sinh. Tắng giới thiệu cho biết đó là anh Vĩnh, chỉ huy phó của Đoàn "SGĐ". Tôi thấy thái độ của anh khá lạnh nhạt nên cũng không vồn vã. Giới thiệu xong, tất cả đều kéo nhau xuống bếp, chỉ còn anh Vĩnh và tôi nói chuyện. Câu chuyện mang tính chất thẩm tra nhiều hơn là tâm tình. Đây lần đầu tôi tiếp xúc với ban chỉ huy đơn vị nên cũng chưa rõ cách đối xử như thế nào cho phải phép, ở vùng gọi là tự do, nghe xong một câu chất vấn theo giọng cấp trên, tôi lặng lẽ đứng lên, rút trong túi cây súng ra đặt trên mặt bàn, tay chỉ, miệng nói thong thả, từng tiếng một:
"Đây là khẩu súng tôi mang theo để tự vệ, có đủ sáu viên đạn còn tốt, nếu các anh tin tôi để tôi tham gia kháng chiến thì cứ để tôi giúp các anh, nếu các anh không tin tôi, thì sẵn súng đạn đó, anh cứ cầm lấy bắn tôi đi. Đừng nghi ngờ mất công. Có thằng Hiến cũng tốt, không có thằng Hiến thì cách mạng vẫn cứ thành công". Tôi nhìn thẳng vào mắt Vĩnh chờ đợi. Vĩnh hơi cụp mắt xuống, đằng sau bếp, Tắng cùng anh Quang đi lên. Quang chìa tay cho tôi, tôi bắt tay Quang xong, ngồi xuống. Vĩnh rút lui ra sau bếp. Nhụy mang lên một đĩa vú sữa vừa hái trên cây xuống. Quang phổ biến chỉ thị của Khu: Kể từ nay quân đội ở Nam Bộ đều lấy tên chung quân đội cả nước là: Vệ Quốc Đoàn. Sát Gian Đảng lấy tên là Vệ Thám Phòng. Các tiểu tiểu đội vẫn giữ nguyên biên chế, các chiến sĩ và cán bộ đều phải viết lý lịch quân nhân theo mẫu sẵn. Mỗi người phải viết lý lịch trong ngày cho xong, nộp văn phòng rồi sẽ trở về vị trí chiến đấu. Tôi gặp riêng anh Quang, hỏi: "Trường hợp tôi có nên viết lý lịch không?". Anh Quang nói cho tôi yên lòng: "Anh cứ viết như mọi người, lý lịch sẽ gởi về Khu quản lý, không sợ mất đâu". Chúng tôi chia ra mỗi người một góc, ngồi viết. Tôi viết lý lịch mà cứ phập phồng trong ngực. Suy nghĩ chừng nửa tiếng, để phỏng đoán khả năng, cuối cùng tôi quyết định: cứ viết điểm cơ bản, theo đúng yêu cầu, lược qua những chi tiết, nhất là những đóng góp trong quá trình của tôi trước năm 1945. Lấy 2/9/1945 làm điểm mốc như mọi người. Rủi lý lịch có rơi vào tay giặc thì kể như chuyện hên xui, xác suất không phải là nhỏ, vì văn phòng còn nằm trong vùng càn quét hằng ngày trong hoạt động của bọn đầu đỏ của thằng quan hai điên Massart. Quả có vậy, năm sau, 1947, bọn lính đầu đỏ do tên ách Phẩm chỉ huy đến bố ráp vùng An Phú Trung (Phú Hữu, Cần Thơ), bao vây văn phòng đóng tại đình. Trung đội võ trang Vệ Thám Phòng chiến đấu ác liệt với địch tại ngã ba An Phú Trung, anh Vĩnh bị trúng đạn xuyên cổ, hy sinh tại chỗ và đã được anh em Vệ Thám Phòng, nhân dân địa phương chôn cất chu đáo tại đình An Phú Trung (Hòa bình lập lại, hài cốt đồng chí Vĩnh được di dời về quê nhà ở tỉnh Vĩnh Long. Các việc an táng, di dời đồng chí Vĩnh đều có đồng chí Trần Nhật Quang trực tiếp chứng kiến, lo liệu chu toàn). Nghe tin Vĩnh hy sinh, tôi vừa thương vừa lo, thương một thanh niên còn trẻ mà đã hy sinh quá sớm (sau này tôi mới biết tên thật đồng chí Nguyễn Văn Vỹ, cháu ruột Thiếu tướng Nguyễn Văn Tây, tự Thanh Sơn, quê ở xã Trà Côn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, còn lo là lo hão số phận bản lý lịch quân nhân của tôi, có nằm ở văn phòng Vệ Thám Phòng và có lọt vào tay địch hay không? Hoạt động của Vệ Thám Phòng trong tháng 10/1946 chủ yếu là: nắm tình hình địch càn quét đồng thời gây tiếng vang để thức tỉnh đồng bào vùng tạm chiếm. Sau khi đã có thỏa hiệp án, đôi bên đang chờ chủ trương mới để thi hành, thì đến cuối tháng 9/1946, bọn Pháp ở đồn Bình Thủy mang một trung đội càn quét vùng Miễu Ông, bị du kích ta bắn chết tên trung sĩ làm cho tình hình căng thẳng thêm. Hoạt động nổi ở nội thành, chủ yếu là tìm đủ mọi cách không cho quân địch nống ra khỏi đồn bót. Bằng lựu đạn do BCX9 chế tạo, các chiến sĩ Vệ Thám Phòng, chủ yếu là tiểu đội Hoàng phân công đi đánh lẻ tẻ các địa điểm ca nhạc và ăn nhậu của lính Pháp. Mở đầu bằng trận ném lựu đạn vào Bar Kim Long do anh Tắng trực tiếp thực hiện, tôi, Phấn và Nhụy đứng hẳn về bên lề đường để trinh sát, theo dõi kết quả trận đánh. Trời chạng vạng tối, lính Pháp đang ăn nhậu trong Bar, Tắng rút quả lựu đạn trong túi quần ra, đập mạnh đầu kim hỏa xuống lề đường thấy nhá lửa mới liệng vào trong quán. Một tiếng nổ vang rền, nhưng kết quả chỉ 2 lính Tây bị thương nhẹ, vì mảnh lựu đạn lớn gây tiếng nổ hơn là gây thương tích. Tiếp sau đó, lựu đạn của Tiểu đội Hoàng (gồm trên chục em toàn ở độ tuổi 13, 14, 15 với bình phong: bán báo, bán đậu rang, đánh giày, học sinh...) do em Hoàng Thanh chỉ huy, liên tục nổ ra ở nhiều nơi khác nhau như Casino dancing, trường College, chợ Cái Răng, chợ Cao Đài, chợ Hàng Dừa... tuy hiệu quả giết giặc chưa cao (chỉ 1 tên Cai Kèn chết) nhưng tinh thần quả cảm của các em đã gây tiếng vang vô cùng to lớn làm khiếp đảm bọn mật thám và quân Pháp khắp thành phố Cần Thơ, điển hình các trường hợp chiến đấu hy sinh anh dũng từ cuối 1946 đến 1947: - Em Trần Văn Đổng bị bắt, bị tra tấn vô cùng dã man vì có 2 quả lựu đạn trong mình, đã dõng dạc đối đáp với bọn mật thám Jacquemin: "Các thầy tra khảo tôi làm gì cho mất công, tôi làm việc này là để cho con cháu các thầy hưởng độc lập, tự do thật sự mai sau...". Không khai thác được gì ở em, chúng đem em ra bắn ở cầu tàu. - Em Hoàng Thám, một học sinh vừa đỗ tiểu học (CEPCI) là con ông Trưởng tòa Đạt, bị địch bắt ở chợ Hàng Dừa, chúng ôm chặt em, em rút lựu đạn đập ngay xuống đất chia mảnh lựu đạn nổ với 2 tên mật thám. - Em Đặng ném lựu đạn ở chợ Cái Răng và cũng chia mảnh lựu đạn với giặc và hy sinh tại đây. - Em Hoàng Thanh, hy sinh ở chợ Cao Đài trong một trận ném lựu đạn, xác em được bọn Pháp đem về nhà xác Nhà thương Cần Thơ, âm mưu gài bẫy bắt chúng ta ra tìm lấy xác em, nhưng Tiểu đội Việt Dũng đã mưu trí lấy được xác em đem về chôn an toàn ở Nghĩa trang Cầu Nhiêm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:44:57 pm Ban chỉ huy Pháp chỉ thị cho các binh sĩ phải cắm trại đến giờ giới nghiêm không một ai ra khỏi thành, các tiệm nhảy, nhậu có lính Pháp đến mua vui vẫn phải mở cửa, nhưng canh phòng cẩn mật, lấy lưới sắt bao kín các cửa sổ. Hơn nữa, chúng ra lệnh cho các sĩ quan dưới quyền được bắn bỏ những người nào có mang truyền đơn và vũ khí vào thành phố mà không cần xét xử.
Chỉ mãi đến đầu năm 1947, sau khi chuyển Ban chỉ huy hành quân (PC Opiniâtre) thành Ban chỉ huy miền Tây (Zone Ouest), cai quản theo lãnh thổ chúng mới ban hành lịnh thiết quân luật. Lập pháp trường để xử bắn công khai những tội danh khủng bố, những ai bị bắt có mang vũ khí, lựu đạn trong người không có giấy phép, mua bán và tàng trữ vũ khí, đạn dược, có hành vi khủng bố bị bắt tại trận, có tham gia hoạt động vũ trang, lật đổ tại thành phố. Hồi đó ở Cần Thơ, các tư chức, công chức thích ngâm vịnh, có thành lập Hội Tao Đàn, họ tổ chức tại nhà ông chủ Bưu điện Cần Thơ, trước mặt nhà máy đèn. Họ đều là những người đứng tuổi, có gia đình nên không thể lìa bỏ gia đình tham gia kháng chiến, nhưng vẫn có lòng yêu nước, ghét Tây, tuy không ai nói ra. Tôi cũng được rủ tham gia các buổi xướng họa đó, vì họ thấy tôi thích ngâm thơ. Tôi nhỏ tuổi hơn nên vẫn xưng là đàn em, hậu bối. Thành viên chủ yếu là các nhà giáo, một số ít công chức, một nhà kỹ nghệ gia, ông chủ lò gạch Phú Hừu bên kia sông. Hôm đầu tiên có tiếng lựu đạn nổ ở Bar Kim Long, mọi người đều xôn xao bàn tán. Hôm đó không biết ai đề xướng ra thơ: "Vịnh trái lựu đạn" và thách nhau dùng vần chết (tử vận). Tôi trẻ hơn, nên cũng nghĩ nhanh hơn, ứng khẩu đọc và ngâm tám câu thơ: "Trái chi khi nổ lại kêu oàng Nhắm mắt bưng tai vội mở choàng Ngoài mặt đen xì trông tựa sắt Trong lòng đỏ rực giống như vàng Bày ra giữa chợ dân kêu giặc Liệng trúng vào đồn lính hét toang! Trùm kín trong chăn bừng tỉnh giấc Trái chi khi nổ lại kêu oàng?" Nghe tôi ngâm xong tất cả đều khen hay, cho là đúng vần khó họa, nên không ai họa lại, cũng không ai vỗ tay, trong ánh mắt họ bên cạnh chỗ tán thưởng còn có chỗ nghi ngờ. Một bài thơ khiêu khích chăng? Không ai dám tin một thượng sĩ Phòng Nhì Pháp! Buổi tiếp xúc ban đầu với anh Vĩnh còn theo mãi tôi như một ám ảnh. Điều duy nhất làm cho tôi vững tâm là: Lương tâm! Sau này tôi được biết, hầu hết các thành viên của Hội Tao Đàn có chân trong Liên Việt, trong Hội công chức cứu quốc. Quyền yêu nước đâu phải riêng ai? Niềm tin vào sức mạnh của phong trào cách mạng ở vùng tạm bị chiếm bắt nguồn từ đó. Tôi chẳng có ý định tuyên truyền, càng không có ý định khiêu khích. Đột nhiên muốn nói lên cảm xúc của mình về chiến công của đồng đội. Lúc này bọn lính đầu đỏ ở bót Tham Tướng hay bố ráp vùng Đầu Sấu và Rạch Bà Tồn nên văn phòng đơn vị phải di dời phía bên kia sông Cần Thơ, ở Xóm Chài, đối diện với Chợ Cá. Mỗi khi cần đưa tin qua bến đò là tới. Tháng 11/1946, tôi sang báo cáo địch tình với anh Ba Cự, chánh văn phòng. Theo lệnh của anh Quang, anh Ba Cự phải bàn cách đổi súng với các đơn vị tác chiến để lấy súng mút ngắn nòng cho tiện với cỡ đạn hiện có. Sau này tôi hỏi anh Quang, anh cho biết do đơn vị SGĐ đã làm tốt công tác binh vận trong hàng ngũ áo trắng (cảnh sát giao thông) nên mỗi lần anh em lính đi tập về, cố ý để rơi dạn ở gốc cây, dọc đường các chiến sĩ ta cứ men theo các gốc cây lượm về khá nhiều. Vì vậy anh Quang chỉ thị phải đổi súng cho thống nhất với cỡ đạn hiện có, và giao cho anh Ba Cự làm việc ấy. Ba Cự giao nhiệm vụ cho tôi sang Cái Vồn, thảo luận với đại đội anh Chín Khương (Phạm Tấn Khương), nguyên là lính tập thổi kèn (nên anh em thường gọi là Khương kèn) để đổi súng trường Anh lấy súng mút. Nếu ảnh nhất trí thì sẽ cho tiến hành sau. Cùng đi với tôi có Hai Phấn, nên tôi hiểu ngay ý đồ cấp chỉ huy là muốn giúp cho Phấn, Nghi có cơ hội gặp nhau. Tôi nhớ rõ, hôm đó gần ngày 11/1, tức là ngày lễ đình chiến Pháp - Đức trong thế chiến thứ nhất. Nước Pháp cho là lễ chiến thắng, nên binh lính, công chức đều được nghỉ, lợi dụng có ngày chủ nhật, tôi xin phép được nghỉ ba ngày để đi góp lúa ruộng ở vùng Cái Vồn. Biết ở Cái Vồn có đồn Pháp đóng, Nogret cho phép nghỉ, nhưng dặn tôi theo thói quen nghề nghiệp: "Mày qua Cái Vồn có tin tức gì của bộ đội Việt Minh thì về cho tao biết nghe!". Tôi gật đầu như thường lệ mỗi khi được chỉ thị của cấp trên. Cô Phấn, Nhụy xuống chiếc tam bản, do anh Lân chèo từ bến Rạch Cái Khế đến cây điệp ở ngã ba đường Lộ Mới, băng qua sông Bassac (Sông Hậu) chèo ngược lên Rạch Tân Quới, bờ bắc Sông Hậu. Tôi ngồi riêng chiếc xuồng con, do cô giao liên mượn áo hôm trước, đi trước dẫn đường. Đại đội địa phương Cái Vồn đóng ở Rạch Tân Quới, kể ra cũng không phải ở ngoài tầm đại bác đồn Cái Vồn. Tôi được tiếp xúc với anh Chín Khương lần đầu, nhưng tâm tình cởi mở, thẳng thắn. Có lẽ nhờ chiếc áo nhà binh tôi gởi cho anh Ba Nghi mượn và bài thơ tôi làm tặng Ba Nghi đến nghỉ tại Cần Thơ đã giới thiệu trước con người tôi với người bạn mới quen sơ. Anh Chín Khương không chút ngần ngại dẫn tôi đi xem nơi ăn, ở, súng máy, súng trường của đơn vị và đồng ý việc đổi súng. Đơn vị anh trang bị khá tốt so với các đơn vị khác thời đó nhờ lấy được súng của địch. Làm việc xong, để hai cô Phấn, Nhụy thăm bà con, thỏa mãn tình cảm. Trước khi đi, tôi chợt nhớ lời dặn của Nogret, nên bàn với anh Chín Khương cách đối phó nếu bị nó chất vấn moi tin. Chúng tôi cũng thừa biết, là dù sao, chúng vẫn cho người theo dõi hành trình của tôi, và không thể không có kế hoạch chuẩn bị trước. Theo đề nghị của tôi, anh Khương nhất trí cho các đơn vị dời ngay chỗ đóng quân nội trong ngày, và treo một lá cờ trên nóc miếu hoang vắng ở giữa đồng ruộng, cách dân cư để nghi binh. Trước lúc chia tay, chúng tôi ôm chầm lấy nhau và anh Chín còn đứng trên bến vẫy chào mãi cho đến khi chiếc xuồng khuất dạng. Có lẽ anh Chín thông cảm hoàn cảnh hoạt động gian khổ cam go của người chiến sĩ trong lòng địch. Trong kháng chiến mọi người đều có cái ranh giới sống chết, cần phải vượt khỏi cho riêng mình, nhưng tôi vẫn thèm muốn cái không khí trong lành của môi trường tự do, công khai gọi nhau bằng đồng bào, đồng chí, trong tình nghĩa anh em. Trong 20 năm sống ở miền Bắc, tôi đã nhiều lần gặp chị Chín, một đảng viên suốt đời làm chị nuôi quân không mệt mỏi, nhưng không có dịp nào được gặp lại anh Chín, sau lần gặp gỡ đầu tiên đó. Trong kháng chiến chống Mỹ, anh vẫn tiếp tục cầm súng, là một thượng tá đơn vị thông tin và đã ngã xuống trên chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:45:33 pm Đúng như chúng tôi dự kiến, trở về Cần Thơ, đập ngay vào mắt tôi là chiếc tam bản anh Lân giữ mọi ngày, vẫn neo ở gốc cây điệp, hôm nay bị kéo lên bờ, mui bị xé nát, anh Lân hôm đưa chúng tôi qua Tân Quới, đã vội chèo tam bản không trở về Cần Thơ, nay biệt tăm. Rõ ràng có bàn tay Jacquemin, tất nhiên không phải ngoài ý muốn của Nogret. Tôi đến văn phòng trả phép và trình diện với Nogret. Nogret hỏi tôi ngay: "Bộ đội địa phương ở Cái Vồn hiện đóng ở đâu?". Nhờ chuẩn bị trước nên tôi trả lời trót lọt. Tên cáo già tình báo không để lỡ cơ hội làm bàn. Ba ngày sau, Nogret gọi tôi lên xạc một trận: "Mày đưa tin láo, ba chiếc Potez (loại máy bay bốn cánh cũ kỹ của không quân Pháp ở Đông Dương, trước thế chiến I, còn lại 26 chiếc) đã quần ba vòng bắn phá đầu rạch mày chỉ trên bản đồ, rốt cuộc không có một Việt Minh nào cả! Nguồn tin mày có giá trị bằng "dê-rô (số không)". Tôi vờ sửng sốt: "Lạ thật, theo mấy gã nhà quê chỉ, quả thật tôi có thấy cờ đỏ sao vàng ở xa trên mái ngói mà! Tôi đâu dám đến gần, có mà mất đầu!". Hắn nhún vai, nhưng không tin. Không tin chưa hẳn là khẳng định. Chỉ cần rút kinh nghiệm. Dầu sao, tôi vẫn tự hào là đã cho bọn Tây một vố hao xăng, tốn của. Cái tự hào của đứa con nít tập làm khôn? Thế là hai lần nó đã có nghi về hoạt động của tôi.
Vào khoảng tháng 12/1946, tôi đã đặt vấn đề chuyển công tác. Tôi xin ra mặt trận cầm súng chiến đấu với quân thù. Nếu cần đảm bảo, tôi hứa sẽ mang theo một cây đại liên 13,2 và kéo theo một hàng binh Pháp. Tôi có cơ sở để thực hiện vì hồi đó cạnh ngay trong ngôi nhà cụ giáo Phận, bọn Pháp có sử dụng mấy căn phòng phía sau nhà làm kho vũ khí 151è RI. Thủ kho là một viên chuẩn úy già, khoảng ngoài 45 tuổi, râu ria xồm xoàm ra vẻ tang thương. Cô Hai Phấn ở chung nhà nên thường lân la bắt chuyện bằng tiếng Pháp bập bẹ của nữ sinh lớp nhì (cours moyen), anh ta tự xưng là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Tên anh ta là David. Tôi nghe nói lại, đến gặp David, hỏi thẳng: "Anh ta đảng viên Cộng sản à? Tôi khó tin quá!". David lặng lẽ móc trong túi quần ra cái ví, lấy ra một tấm giấy bìa, màu xanh lá cây, khổ dài giống như cái giấy thuế thân, hồi thực dân trước 1946. Tôi đọc thấy dòng chữ in: Parti communiste Français Carte d'adhérant. Sau đó có họ tên tuổi, sinh quán v.v... Thấy đúng là David, tôi trả lại, nhìn thẳng vào đôi mắt hỏi: "Có tấm thẻ này, mỗi tháng anh nhận thêm phụ cấp lương bao nhiêu?". Thấy tôi hỏi ngớ ngẩn, David tròn xoe mắt nhìn tôi không đáp. David biết đâu tôi đã nảy sinh dự kiến rủ anh đào ngũ, nhưng trước hết là phải thẩm tra lại vì sợ anh ta là một agent provocateur (nhân viên khiêu khích) của Phòng Nhì. Sau đó anh ta cho biết anh có giữ lô súng gì mới lạ như ba-du-ca (Basooka), móc-chê, trọng liên 13.2 v.v... Tôi trình bày khả năng địch vận của tôi để mong được cấp chỉ huy cho chuyển công tác. Không ngờ anh Ba Quang mỉm cười lắc đầu: "Anh tưởng đưa một người vào hàng ngũ địch dễ lắm sao mà đòi rút ra? Tôi thất vọng nhưng không oán trách vì hiểu là anh có lý. Sau đó đồng chí cấp trên còn nói: "Đưa một người hoạt động trong lòng địch còn khó hơn đưa một trung đoàn vào tác chiến". Có thể là các anh muốn cho tôi yên tâm công tác? Vào năm 1946, miền Tây được tăng viện thêm một tiểu đoàn của 151è RI (Trung đoàn lục quân của chính quốc) và 2è Peloton de Spahis (đơn vị kỵ binh thiết giáp) chuyên làm việc tuần tra các trục đường lộ chính, gồm cả lính Maroc (Bắc Phi) và Pháp, sử dụng xe nồi đồng AM (Autơ mitrailleur) loại xe chạy bánh cao su nồi đồng úp trên nóc xe và khẩu pháo "bô pho 37mm" và loại xe thiết giáp bánh xích (Half-tract). Chúng tôi cũng không bỏ lỡ cơ hội. Tôi hiểu bọn Maroc cũng là nông dân, hầu hết vì sinh kế mà đi lính cho Pháp. Một lần, có một anh xưng tên là Mohamed Ali Ben (cái đuôi tên dài quá, tôi không nhớ được) khoảng ngoài 30 tuổi, nói khá thạo tiếng Pháp đến phòng tôi nói chuyện chơi, chuyện trò một hồi, tôi đưa cho anh tấm truyền đơn mà tôi đang giữ trong tài liệu Việt Minh, do quân Pháp đi bố ráp bắt được. Truyền đơn viết bằng tiếng Ả Rập, phía sau có phần dịch bằng tiếng Việt, kêu gọi binh lính Phi Châu, nhận được truyền đơn này hãy trở về với hàng ngũ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ai cầm truyền đơn này đi vào vùng giải phóng sẽ được tiếp đón tử tế, mọi người phải có nhiệm vụ bảo đảm an toàn tính mạng và đưa người cầm truyền đơn này đến Ủy ban kháng chiến để được giúp đỡ. Tôi đưa truyền đơn cho Mahamed bảo: "Nhờ anh dịch giúp ra bằng tiếng Pháp cho tôi". Mohamed hỏi: "Thời gian nào phải trả lại cho ông?". "Tùy anh, cũng không gấp lắm". Bẵng đi một tháng, không thấy Mohamed trở lại. Tôi hỏi anh lính khác. Anh ta đáp: "Mohamed nó không trở lại nữa đâu. Cách đây không lâu, hắn đi tuần trên đường đi Sài Gòn, rồi đào ngũ luôn, cũng may cho hắn". Thanh Hương và Thanh Phong cũng không chịu ngồi yên chờ làm nhiệm vụ làm liên lạc. Hai cô đã tranh thủ làm quen với bọn chỉ huy Pháp và tranh thủ chài trung úy Compadier ở bót Cái Vồn để anh ta mời đến bót chụp hình kỷ niệm. Bọn Spahis cạnh nhà do một tên Ách (thượng sĩ) Pháp chỉ huy cũng cho hai cô lên ngồi trên xe thiết giáp để chụp hình, nhưng "pô" hình đó đã kịp thời chuyển về cho văn phòng làm tư liệu cho Bộ Tư lệnh, Khu 9 nghiên cứu công sự và vũ khí của địch. Thanh Hương (Nhụy) cũng tranh thủ làm quen với Sơn, phiên dịch cho bọn Spahis, sau này cũng là đầu mối quan trọng, trong những năm đầu mới xây dựng. Cô Phấn (Thanh Phong) cũng tìm cách giao dịch với nhiều nhân vật có tai mắt ở Cần Thơ, kể cả những tên thực sự ác ôn, như tên Tài lính kín. Nhiều lần cô ta ngồi một mình ngâm nga bài "Mắng Việt gian" một cách say sưa. Nội dung cũng như âm thanh của bài hát không có gì hấp dẫn lắm. Bắt gặp nhiều lần, tôi buộc phải thành thật: "Em này (tôi đã đổi cách xưng hô thân mật hơn, từ khi cùng đứng trong một tổ chức SGĐ), bài hát này không có gì hấp dẫn đối với bọn Việt gian cả, nhứt là đối với thằng Tài em cần phải cảnh giác hơn nữa". Quả thực tôi đã có ác cảm với tên tay sai đắc lực của Jacquemin từ trước. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:46:21 pm Vì dư luận Cần Thơ đã nói nhiều về thành tích chống Việt Minh của hắn. Hắn khá bảnh trai, có sức cuốn hút thiếu nữ, trán khá phẳng, điểm xuyết một cái bớt tròn bằng đồng tiền ở bên trái. Nhiều khi ngồi tiếp chuyện với nó, tôi nảy ra ý nghĩ ngông cuồng: bắn một phát súng sau gáy vào cái bớt nâu ấy thì không thể nào chệch được, nhưng tôi phải tự kềm chế mình để khỏi lộ ra ánh mắt. Thanh Phong biết rõ tôi ghét Tài, nhưng lại nghĩ là tôi ghen. Tôi nghĩ không muốn mình bị hiểu lầm, một lần tôi phải nói thật: "Em à! Nói về tình thương thì anh cam đoan thương em hơn cả bản thân anh, nhưng cũng phải nói thật với em rằng, nếu em phản bội tổ quốc thì anh sẽ là người đầu tiên bắn chết em!". Sự quen biết giữa hai chúng tôi không phải sự tình cờ, tình yêu đến như cú sét đánh ở trong các trang tiểu thuyết mơ mộng. Lúc đầu, do nhu cầu tìm mối để nối lại dây liên lạc với kháng chiến, nên tôi biết rõ lai lịch cô Hai Phấn từ khi mới đến ở căn phố hai dãy 18 căn hộ mới. Tôi lui tới nhà bà giáo Phận, có ý đồ sẵn, và cũng không giấu giếm vợ tôi: "Mình ở đây tứ cố vô thân, lại làm cho nhà binh, nếu không kết thân với một gia đình có người đi kháng chiến thì khó sống được yên ổn với bà con!". Vợ tôi cũng đồng ý như vậy, nên không nghi ngại gì. Đến khi chúng tôi cùng ở trong một tổ chức SGĐ thì mối quan hệ đối phó trước đây trở thành quan hệ tình cảm thật sự. Nhứt là từ khi Thanh Phong suýt bị ở tù vì làm liên lạc đưa tin về cơ quan giúp tôi. Nhưng tình cảm anh em đồng đội dù thắm thía vẫn chưa tổn thương đến tình nghĩa vợ chồng. Tôi cũng dư biết Thanh Phong vẫn còn chồng con ở Bạc Liêu, và tôi còn vợ con bên cạnh. Tuy vậy, nếu không tỏ rõ tình yêu vô vọng của mình cho Thanh Phong biết, không khéo nàng sẽ rơi vào tay dụ dỗ của tên Tài cũng nên. Để đến lúc đó thật nan giải. Do vậy, tôi đã làm một bài thơ tỏ tình đưa cho Thanh Phong, giá trị bài thơ không đáng một xu, nên tôi chỉ còn nhớ hai câu cuối:
"Yêu nhau biết chẳng cùng nhau trọn Cũng cứ yêu nhau đỡ lạnh lòng..." Đó là câu thơ duy nhất và đáng nhớ mãi đến bây giờ khi tôi không còn ở tuổi nói chuyện yêu đương, vơ vẩn nữa. Thanh Hương nhỏ hơn 13 tuổi, sau khi Thanh Phong bị tình nghi, thì Thanh Hương chỉ là người duy nhất làm liên lạc cho tôi với văn phòng Vệ thám phòng, và anh Tắng (Thanh Nguyên), dạo này nghe tin được điều đi công tác khác. Tôi một mình phải độc lập tác chiến, Thanh Hương có mở một cái quán bán cà phê và bóng bàn ở ngã ba Cái Khế, gần chỗ trước kia có treo tam bản của đội. Khách chơi bóng bàn, phần lớn là binh sĩ Pháp trẻ tuổi. Có một hạ sĩ Pháp, năng lui tới làm đối thủ của Thanh Hương, và đâm ra thầm yêu trộm nhớ, nó muốn Thanh Hương cho nó độc quyền, Thanh Hương không đồng ý, hai người cãi vã nhau, cu cậu nổi giận tát cho Hương một cái tát vào má (tát nhẹ thôi). Thế mà, cô gái 17 tuổi khóc bù lu bù loa đến tận nơi tôi làm việc mách chuyện, tưởng tôi có quyền can thiệp, bênh vực cho cô ta trước bao nhiêu con mắt kinh ngạc của bọn Pháp trong 2è B. Tôi khoát tay cô em, xin phép nói chuyện riêng với cô ta. Khi chỉ có hai người, tôi hỏi: "Vậy thằng này nó tát em ở má nào?". "Nó tát em ở má trái". Tôi cười: "Em về đi, chìa má bên mặt cho nó tát thêm một cái cho tương xứng. Kẻ thù tát ta má trái, ta đưa thêm má phải cho nó tát. Kinh Thánh dạy vậy. Em hiểu tại sao không? Đối với kẻ thù ta không khóc khi bị tát, ta phải cười để đánh nó đau hơn". Thanh Hương rút khăn tay lau mắt, mếu máo gật đầu ra về. Thế là cô bé đã hiểu, thế nào là nuốt giận làm lành vì sự nghiệp chung. Tôi thương Thanh Hương như một em gái, thật sự đáng trọng. Nhưng sự đời không đơn giản như tôi nghĩ. Nhân một buổi chiều chủ nhật nhận được tin ở văn phòng tình báo triệu tập tôi về gấp để báo cáo tình hình, Thanh Hương phải mượn xuồng chở tôi vào ngã ba Đầu Sấu. Làm việc xong phải đưa tôi trở về Cần Thơ cho kịp sáng thứ hai đi làm. Trời chưa sáng, chúng tôi phải vào nghỉ tạm ở quán cà phê của má cô ta, chờ sáng sẽ về nhà. Bất ngờ vợ tôi ập đến tru tréo ngay trước quán. Tôi giận quá vì bị vợ ghen không đúng chỗ, lại sợ cô ta làm ầm mang tai tiếng với lối xóm, nên tôi nắm tóc vợ tôi lồi hẳn về nhà, không một lời giải thích, vì chẳng biết lấy lời lẽ gì để thanh minh được. Tôi chỉ sợ làm lộ chuyện tôi đi họp đến tai bọn lính kín, nhất là đến tai Nogret. Nhưng nói rõ cho vợ tôi hiểu thì không dám. Mặt khác, nghĩ đến hoàn cảnh Thanh Hương bị hàm oan, phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi thấy mình có lỗi, nên cũng đành chịu lỗi. Cuối năm 1946, tình hình Phật giáo Hòa Hảo trở nên phức tạp rối ren hơn. Quân lính do Năm Lửa (tên tục của Trần Văn Soái) cầm đầu, kéo nhau về Cái Vồn đầu thú với bọn Pháp. Tôi đã biết việc Năm Lửa sắp đầu Pháp, thông qua một việc xảy ra trong 2è B: Hôm đó, Nogret dẫn đến một anh mang quân hàm thượng sĩ phiên dịch viên là Văn Phú nói là ở Sài Gòn mới gởi về. Được ít hôm, thấy anh ta vắng mặt. Tôi hỏi thì trung úy Long cho biết là anh ta được đưa về Cái Vồn để làm việc với Năm Lửa. Năm Lửa đang trên đường chuyển quân từ Sa Đéc về Cái Vồn. Quân ta biết tin cũng có đánh mấy lần, nhưng không ngăn chặn được. Văn Phú sau này đóng vai thiếu tá của quân đội Hòa Hảo, gọi là lực lượng bổ túc của quân Pháp, làm tham mưu cố vấn cho Năm Lửa. Hắn là một phần tử thuộc nhóm Đệ tứ nắm Dân Xã Đảng, đảng phái chính trị lãnh đạo lực lượng Hòa Hảo (Hòa bình lập lại năm 1975, hắn được chánh quyền cách mạng tha cho sinh sống tại Thốt Nốt, Hậu Giang). Đầu năm 1947, hôm đó buổi chiều đi làm về, bỗng thấy Thanh Hương hớt hải đến tìm tôi khóc và năn nỉ: "Anh Hai phải đi cứu chị em ngay nếu không Năm Lửa sẽ chặt đầu nội 9 giờ sáng mai!". Tôi hỏi chị nào? Thì cô ta nói rõ đó là người con gái đầu lòng của ông bác, nguyên Chủ tịch Cái Vồn, Bùi Hà Thanh, đã bị bọn Pháp rải truyền đơn treo giá 5.000 đồng cho ai chỉ điểm nơi ông ta đang ẩn náu. Cô gái ấy tên Bùi Thị Nương, làm cứu thương Việt Minh, hiện đang bị bọn Năm Lửa giam giữ. Tôi viện lý do trời sắp tối, chờ sáng sẽ hay. Nhưng Thanh Hương khóc lên nức nở. "Đến sáng thì còn gì chị em mà mong anh cứu!". Tôi dẫn Nhụy qua nhà Thanh Phong, hỏi cặn kẽ thêm rồi hội ý với Thanh Phong, Thanh Phong cũng đồng ý nên cứu cô ta, chỉ mong đợi và tin tưởng ở tôi thôi. Thấy vậy tôi quyết định đi gấp, để quân phục và nai nịt cây súng sáu vào thắt lưng to bản của Mỹ cho ra vẻ quân phong, rồi cùng Nhụy đạp xe ra cầu Bắc để sang Cái Vồn cho kịp chuyến phà cuối. Cứu người là khẩn thiết, kế hoạch phương án sẽ tùy cơ ứng biên, không thể chần chờ. Vừa đi tôi vừa hỏi đường. May chỗ Năm Lửa đóng quân ở rạch Trà Kiết, Nhụy đã quen thuộc từng rạch con, xóm nhỏ. Biết là bọn Hòa Hảo mới về đầu thú, nên nể sợ oai Tây, tôi mượn lốt oai hùm, đi đến trạm gác nào cũng xưng danh láo hiện là người ở Bộ Tham mưu Pháp, muốn vào gặp trực tiếp "ông Tổng" (Năm Lửa) để bàn việc cần. Thế là phải qua gần mười ải. Gần đến tổng hành dinh, tên lính Hòa Hảo vào thông báo, còn lại hai anh em, tôi hỏi nhỏ Nhụy: "Em biết bơi không?". Nhụy gật đầu: "Nếu có gì khác thường nếu thấy anh nhảy xuống sông thì em sẽ nhảy theo ngay nhé!". Cô gái lại gật đầu đồng ý. Tuy thế, chưa chạm trán Năm Lửa thì tôi vẫn chưa quyết định. Tôi vững tin việc tôi đang làm là chính nghĩa. Vả chăng ở tuổi 30 tràn nhựa sống thích mạo hiểm là đặc tính của lớp thanh niên. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:47:44 pm Tôi được dẫn vào một ngôi nhà lá nhỏ, kiểu nhà trung nông, có bộ bàn ghế nhỏ, một tấm phản rộng làm giường ngủ và nơi ngồi xếp bàn tròn nói chuyện quanh ấm trà. Người tiếp chuyện tôi không phải là Năm Lửa mà là viên đại đội trưởng Đại đội I, tự xưng là Năm Hổ. Tôi đã nghe tên anh ta, vốn là một nông dân mù chữ, nhưng tính tình khẳng khái, được Năm Lửa tin dùng, trong số 10 anh em kết nghĩa cùng Năm Lửa lúc còn là dân dao búa, đứng bến xe giành khách. Năm Hổ rót nước mời tôi, rồi hỏi tôi lý do muốn gặp "ông Tổng". Nghe tôi trả lời xong, Năm Hổ bỏ đi một lát sau trở lại hỏi: "Ngài sang đây bọn Pháp có biết không?". Tôi hiểu ngay bọn này vốn sợ Pháp nên mới ra đầu thú Pháp, liền nhanh miệng đáp ngay: "Có chứ, tôi đi đâu thì phải xin phép nhà binh trước. Ngay ở bót Cái Vồn, trung úy Compadieu cũng biết rõ tôi". Hắn lại bỏ đi, lát sau trở lại hỏi thêm: "ông trung úy đồn trưởng Cái Vồn có biết ngài vào đây không?" - "Có chứ, ông trung úy Compadieu tôi gặp có dặn tôi vào đây gặp ông Tổng thì phải về đồn ngay, ông ta bảo lính căng mùng sẵn cho tôi". Năm Hổ ngồi tiếp chuyện tôi đến gần nửa đêm, cuối cùng bảo lính đem chiếu ra dọn chỗ để chúng tôi ngủ tạm mỗi người một góc, với ngọn đèn dầu và thanh kiếm tuốt trần để trên bàn. Tôi biết không hy vọng ra về trong đêm nay, kể cả tính mạng cũng chưa biết có còn đến sáng mai không.
Nhưng tôi tin ở việc tôi làm, nhất là tin vào tính tình bộc trực khẳng khái của Năm Hổ, nếu có gì nguy hiểm, chắc thế nào anh ta cũng không thể giấu kín được trước mặt tôi được. Tôi đã chiếm được cảm tình của anh ta, đến đỗi có lúc chúng tôi trao đổi vũ khí tùy thân cho nhau xem, và tôi đã hứa cung cấp đạn 7,65 cho cây remington của Năm Hổ, vì anh ta thiếu đạn: "Mai, anh (Năm Hổ đã đổi cách xưng hô) sẽ gặp thầy kiện Dậu, tham mưu trưởng và nói chuyện với ông ta. Anh cứ ngủ cho tỉnh người đã". Tôi để nguyên áo quần, giày vớ, súng và thắt lưng to bản trong mình, nhắm mắt đánh một giác tới sáng. Có lẽ do đầu óc quá căng thẳng, nghe tiếng một, hai và huỳnh huỵch trước sân, tôi tỉnh dậy. Chừng 30 binh sĩ Hòa Hảo đang tập bồng súng chào theo kiểu Nhật Bổn. Súng mút Anh còn mới. À! Họ muốn khoe mã với quân đội Pháp đây! Tôi mỉm cười nhìn họ diễn tập. Năm Hổ đến dẫn tôi đi sang nhà bên cạnh. Trong nhà, một gã đàn ông mảnh khảnh và cao, trạc tuổi ngoài 40, đang ngồi chễm chệ sau chiếc bàn giấy. Năm Hổ chào rồi đi ra. Tôi đến gần nhìn thẳng vào mặt vị tham mưu trưởng có bộ mặt cạo giấy hơn là võ biền. Anh ta không bắt tay tôi mà bắt đầu bằng một cử chỉ đầy hăm dọa: "Anh cởi súng ra". Không nói một tiếng, tôi tháo thắt lưng, đặt cả lên bàn giấy và nói: "Tôi vào đây mang súng chỉ là thói quen của quân nhân thôi. Tôi đến đây để xin các ông làm việc nghĩa, tha chết cho một người phụ nữ, chắc các ông đã hiểu rồi, không có mục đích gì ám muội cả". - Anh có biết đó là con gái của một chủ tịch Việt Minh không? - Biết. - Biết sao ông lại xin tha? - Xin lỗi, cô ta chỉ là một nữ cứu thương. Không lẽ các ông lại giết chết một nữ cứu thương sao? - Anh đang đêm đột nhập vào căn cứ quân sự của chúng tôi, như thế là đáng tội chết. Anh có biết việc anh làm là có tội không? - Biết. - Biết sao anh dám làm? Tôi cho mổ bụng để xem gan anh bao lớn nào! - Xin lỗi, tôi nói chuyện với ông tham mưu trưởng, một đạo quân của nhà Phật. Tôi dám vào đây là vì biết rất rõ tôn chỉ mục đích của Phật giáo là: lấy từ bi làm gốc, nên không nỡ bắt tội một người đến để xin cứu mạng cho một người khác theo đúng tôn chỉ của nhà Phật. Hơn nữa ông là luật sư, ông hẳn thừa biết luật quốc tế cấm hành hình người phụ nữ, cho đó là hành động dã man. Tên lính gác bồng súng cùng với cô Nhụy ngẩng cổ nhìn theo. Tham mưu trưởng không trả lời, chuyển sang nói với tôi bằng tiếng Pháp "Parlons français...". "Anh biết không, chúng nó là quân ô-hợp, không có kỷ luật, kỷ cương thì làm sao mà chỉ huy chúng được? Thôi, anh hãy về đi, chuyện cô Nương để chúng tôi tính lại sẽ thả về sau!". Thế là rõ! Sợ hùm, sợ luôn cứt hùm. Tôi là cục cứt hùm, nên ông tham mưu trưởng cũng không dám động tới. Ông ta có biết đâu, về thực chất, tôi chỉ là cục cứt hùm dỏm! Miệng hùm gan sứa thôi! Không đáng mổ mà xem! Tôi ra trước cửa trao đổi với Nhụy, Nhụy đã tranh thủ gặp Nương trước, nên khăng khăng bảo tôi xin thả Nương về một lần, cho chắc chắn. Tôi thảo luận với tham mưu trưởng: "Trước sau gì các ông cũng tha cho cô ta thôi. Đã vậy thì ông nên cho cô ta về cùng một lần với chúng tôi cho an toàn và giữ được ân nghĩa về sau nữa". Dậu chấp thuận, tôi xiết tay anh ta, một trí thức biết trọng lẽ phải. Vì vậy, sau này có Văn Phú về làm tham mưu, Năm Lửa không dùng anh ta nữa. Gặp anh ta thất nghiệp ở Long Xuyên. Có người biểu tôi nên làm nhục anh ta một trận để trả thù. Tôi đã làm ngược lại, kéo anh ta vào tiệm uống cà phê, như một đôi bạn cũ. Tục ngữ có câu: "Oan gia nên cởi không nên buộc". Chắc gì còn gặp lại nhau mà mang nặng oán hờn. Thế là: thế không đặng đừng, vì thương vì muốn chuộc lỗi với cô con gái bị nghi oan, tôi đã trở thành người hiệp sĩ, cứu một phụ nữ thoát khỏi lưỡi dao của đao phủ. Về con người, tôi không có gì phải ân hận "Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã" nhưng về mặt nghiệp vụ tình báo, tôi đã phạm một sai lầm thô thiển nhất! Tự vạch áo cho kẻ thù xem lưng! Chỉ sau chuyến đi hào hiệp kiểu "Don Quichotte" đó, tôi bị Nogret gọi về văn phòng 2è Bureau Zone Ouest (Phòng Nhì miền Tây). Lúc này tôi chuyển về Secteur Cần Thơ (khu vực Cần Thơ) tuy cùng nằm trong một thành phố Cần Thơ, nhưng có phân biệt cấp khu vực, dưới cấp miền. Đại úy Nogret chau mày nghiêm khắc chỉnh tôi một trận: "Hãy kể mọi chuyện ngay từ đầu. Ai xúi mày làm chuyện đó?". Tôi tự nhủ: "Sếp đã biết hết rồi. Tất nhiên ông ta còn có mạng lưới tình báo viên cộng với báo cáo của ban liên lạc Hòa Hảo nữa. Thế là tôi thuật lại mọi chuyện, trừ cái đầu mối chính. Tôi bắt đầu: "Có người nhà cô ả, người sắp bị Năm Lửa đem đi chặt đầu, đến năn nỉ tôi cứu giúp. Vì lòng nhân ái, tôi đã đi, không kịp báo cáo với cấp trên v.v...". Cuối báo cáo, tôi kết luận: "Tôi biết cô ta là con chủ tịch Việt Minh, nhưng vì cô ta vô tội, (tôi dùng chữ: "Innocente") nên tôi phải cứu". Nogret ngồi nghe tôi nói, không cắt lời, chừng nghe câu kết luận cuối cùng, hắn vừa gục đầu vừa cười mỉa: "Innocente, Innocente!" (Vô tội, vô tội) vẻ khá cay độc. Tôi nổi cơn tự ái, đáp lại thẳng thừng: "Nếu cứu người vô tội mà ông không muốn thì lần sau tôi sẽ phải cứu những người có tội hay sao?". Nhưng thấy mình sẵng giọng quá, tôi xuống giọng nhỏ hơn, như tự nói với mình mà cũng đủ cho Nogret nghe rõ: "Dù sao, đó là một phụ nữ và người đẹp với tôi như ông đã biết", vẻ mặt Nogret hòa dịu hẳn. Dù sao nó cũng nói thật với mình. Thoát nạn từ đó! Nhưng tôi chắc Nogret đã ghi nhận thêm một điểm nghi vấn trong hồ sơ theo dõi nhân viên. Mãi một năm sau tôi mới thấm thìa cú đòn đểu cáng của tên cáo già đó. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:48:32 pm Cuối năm, anh Quý, chồng cô Phết, về ăn Tết với gia đình bên vợ. Thanh Phong nói với tôi, biết Quý cũng là cán bộ Ban tình báo Khu 9 có biết anh Ba Quang và Hai Tắng. Qua câu chuyện gia đình, anh Quý nói cho tôi biết anh Ba Quang và mấy anh ở Khu nhận xét về tôi tốt, nhưng nhắn nhủ tôi phải xử sự như một Việt gian chính cống, được ăn hối lộ và nếu không đánh đập ai thì cũng không được cứu ai, trừ những người được mấy anh giới thiệu. Tôi ngồi nghe chỉ im lặng, nhưng sau đó trong báo cáo viết cho anh Ba Quang, tôi nói rõ: "Bảo tôi đừng cứu người thì khó, nhưng còn làm được, còn bảo tôi được ăn hối lộ thì nhất định tôi không làm trừ khi có chỉ thị cụ thể có ký tên đóng mộc hẳn hoi". Sau này, tập kết ra miền Bắc, sau chỉnh huấn, tôi nhắc việc đó cho anh Quang nhớ: "May hồi đó tôi không làm theo yêu cầu của mấy anh bằng không đến ngày nay qua chỉnh huấn, tôi tránh sao cho khỏi bị xử lý?". Có vấn đề thuộc về quan điểm, lập trường, không thể chỉ thị mệnh lệnh gò ép được.
Dù đúng hay sai, về mặt nghiệp vụ, điều an ủi lớn cho tôi là sau 40 năm xa cách, đến khi hòa bình, trở về thăm Cần Thơ thì được thấy cô Nương đã có gia đình và có 11 con đang công tác. Nương gặp tôi òa khóc, và bảo mấy con ra chào cậu Hai. Tôi được biết trong thời kỳ xa vắng, Nương có dịp ra Huế có cố gắng tìm kiếm hỏi thăm tin tức của tôi... Cuộc đời là thế đấy! Nương vẫn sống hạnh phúc với chồng con: trai có, gái có, đứa út cũng đang học thi vào Đại học, lúc tôi đến nhà, một biệt thự xinh xắn, ở số 1, Mậu Thân, Cần Thơ. Quả đất tròn, đất nước thống nhất, tình cảm cuộc đời, tình cảm con người đi đâu vẫn gặp nhau bất chấp mọi biến cố ngăn cách. Cuối năm 1946, cái chính phủ bù nhìn, do Phòng Nhì Pháp dựng lên theo lịnh của Cao ủy Cố đạo D'Argenlieu lại càng suy sụp. Thủ tướng bù nhìn bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đặt lên ghế, không kèn không trống, ngày 1/6/1946, ngồi chưa nóng đít, thì ba tháng sau, ngày 10/11/1946, đã thành thây ma bị thắt cổ chết trong phòng ngủ, cuốn sách y học Pháp còn để dở trên bàn, đúng vào trang dạy cách cấp cứu người bị thắt cổ. Savany, thiếu tá trưởng Phòng Nhì quân lực Pháp ở miền Nam hỏi khắp quanh Sài Gòn nhưng không còn ai muốn nhảy vào cái ghế Thủ tướng bị bỏ trống đó, nên quay sang nhờ các tỉnh lẻ. Đúng vài hôm sau, Nogret ở Cần Thơ, triệu tập các phiên dịch lại hỏi ý kiến, nên giới thiệu ai vào chân Thủ tướng? Tôi cùng có mặt hôm đó. Tôi hỏi sao không kiếm ở Sài Gòn, trí thức còn dễ kiếm hơn ở Cần Thơ. Nogret bảo đã kiếm rồi, nhưng các nhà trí thức, như kỹ sư cầu công Lưu Văn Lang, luật sư Trịnh Đình Thảo đều từ chối cả. Điểm lại ở Cần Thơ, trí thức về thành chưa có mấy người, chỉ có bác sĩ mổ mắt Lê Văn Hoạch, đã từng làm cò dưới thời Nhật, bác sĩ Sang chủ tịch Ủy ban lâm thời huyện Châu Thành mới hồi cư. Tôi và Long giới thiệu bác sĩ Sang, Nogret không đồng ý, bỗng nhìn sang tôi: "Hay là hãy đưa Trần Hiến lên ghế Thủ tướng? Bộ vó làm được đó!". Tôi giật nẩy mình: "Không được đâu! Tôi nói tiếng Huế, dân chúng Sài Gòn không nghe được đâu. Hãy chọn người khác đang sống ở Cần Thơ. Tôi và Long cùng có ý kiến. Hoạch đã từng làm cảnh sát cho bọn Nhật, sợ ông ta thân Nhật bài Pháp, không nên giới thiệu". Tên cáo già tình báo Pháp đáp: "Nó đã quen làm tay sai rồi thì dễ sai bảo hơn, còn bác sĩ Sang đã từng làm Chủ tịch cho Việt Minh thì sẽ có cảm tình với Việt Minh hơn". Thế là Lê Văn Hoạch được mời đến văn phòng 2è B. Pháp ở Cần Thơ để chuẩn bị lên Sài Gòn nhận ghế Thủ tướng, kế vị Nguyễn Văn Thinh. Ở đây không có chuyện mua quan bán tước. Chỉ là chuyện kiếm không ra con người chịu bán nước buôn dân trong lúc đất nước còn bị xâm lăng. Tôi từ chối ghê thủ tướng bù nhìn vì muốn xứng đáng là một chiến sĩ Vệ quốc đoàn, đang đánh địch trong lòng địch. Thủ tướng bù nhìn không giúp cho tôi thấy rõ địch tình hơn ở đây. Hơn nữa, từ nhỏ tôi đã ớn các chuyện quan quyền "Lợi danh mặc kệ mấy ngươi suy". Như thế là dại hay khôn? Tùy cách suy nghĩ của từng người, riêng tôi không bao giờ hối tiếc điều đó cả, trong cả lúc khó khăn nhất của cuộc đời. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Năm, 2026, 08:49:50 pm CHƯƠNG 7 ĐOÀN TÌNH BÁO 19/12/1946, mọi cuộc đàm phán đã chấm dứt. Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Giặc chiếm Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ rút về căn cứ Việt Bắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Cuộc kháng chiến toàn quốc của toàn dân, toàn diện và trường kỳ bắt đầu. Ở miền Nam, thực dân Pháp tổ chức thêm quân đội bù nhìn và giáo phái, chuyển chiến thuật tấn công theo trận tuyến thành chiếm đóng theo lãnh thổ. Ở Cần Thơ, quân đội Pháp với sự đầu hàng của Năm Lửa, đã tăng thêm lực lượng bổ sung (Forces suppletives) tuy ô hợp nhưng vẫn giúp thêm chúng động lực kềm kẹp nhân dân ta, chẳng những ở đô thị mà còn mở rộng ra một số vùng cơ động xung yếu và nông thôn. Quân đội chính qui Pháp chiếm đóng miền Tây Nam Bộ có 43è RIC là quân chủ lực, còn có 3è RAC pháo binh, 2è SPAHIS thiết giáp khinh kỵ, lại vừa được tăng viện thêm 1 đơn vị của 15è REI lục quân chính quốc, chủ yếu đóng ở Vĩnh Long, Sa Đéc. Quân bù nhìn BVN (tiểu đoàn lính Việt), có Tiểu đoàn 1 đóng ở Cần Thơ, chủ yếu là ở Xóm Chài, Bình Thủy có văn phòng của Ba Gà Mổ đóng làm văn phòng giao dich của Năm Lửa ở đường Phan Đình Phùng thành phố Cần Thơ (gần Viện Kiểm sát hiện nay). Ban chỉ huy hành quân (BCC) đổi thành Zone Ouest (ZO) tức Bộ chỉ huy miền Tây Nam Bộ bao gồm cả đồng bằng sông Cửu Long (9 tỉnh miền Tây), do đại tá Cluset làm Tư lệnh với các sĩ quan thuộc hạ trung tá Rossignol, thiếu tá Berdel, đại úy Nogret. Để theo dõi lực lượng Hòa Hảo, có một văn phòng liên lạc Hòa Hảo (Bureau de liaison auprès des HH) do một thiếu tá Pháp điều khiển, đại úy Bùi Quang Tân làm phó. Lúc này Nguyễn Dũng Định, người cháu họ của tôi, cũng xin được làm phiên dịch viên ở đó. Tôi vẫn theo dõi nhưng chưa vội tổ chức, vì biết tình hình nó tuy tốt nhưng có phần nhút nhát chưa thể làm công tác tình báo được. Tôi nghĩ vậy, do kinh nghiệm bản thân. Bước vào đầu năm 1947, tôi được điều xuống Secteur Cần Thơ đóng ở ngôi nhà thuộc sở hữu của bên vợ đồng chí Châu Văn Liêm trước đây và sau này là nhà của Xã Long (hiện nay là cơ quan thương binh xã hội tỉnh Cần Thơ). Tiếng là Secteur (Quân khu) nhưng lại do một chỉ huy phó Zone Ouest, trung tá Rossignol điều khiển. Tại ngôi nhà bánh ít của Xã Long là văn phòng 2è B. và 5è B. thuộc Secteur Cần Thơ. Chỉ huy 2è B. là đại úy Fallon, một người mập tròn, dáng phúc hậu, trạc chừng chưa đến 35 tuổi, hay đi nhà thờ; chỉ huy 5è B. (phòng an ninh quân đội) là đại úy Lotte để râu mép, độ tụổi 40, dáng bề ngoài dễ mến. Fallon người tỉnh Lorraine, miền Đông nước Pháp, có vợ và hai con, còn ở Pháp. Lotte thì tôi được biết, trước khi về Cần Thơ ông ta chỉ huy một đồn ở Long Mỹ, có người con bị quân ta giết chết. Lotte đã nổi khùng đem cả anh em tù binh bị giam tại Long Mỹ treo lên xà nhà vừa uống rượu vừa cầm cây tầm vông vạt nhọn đâm vào đít từng người cho đến chết. Thủ đoạn thật man rợ. Mỗi lần nhìn râu mép với đôi mắt giễu cợt của Lotte, tôi lại nhớ đến câu chuyện do thượng sĩ Laurent kể lại: Fallon đến Cần Thơ nhận việc có đem theo một phiên dịch viên còn trẻ, chừng 19 tuổi, tên Nguyễn Văn Bình, cấp bậc trung sĩ, Bình lớn lên ở nhà trẻ mồ côi Cù Lao Giêng, thuộc các nữ tu Thiên Chúa giáo, nên có đạo và tính phục tùng cấp trên vô điều kiện, rất được Fallon tin yêu. Tôi cũng tranh thủ tình cảm của Bình. Trung úy Long cũng ở Secteur nhưng làm phiên dịch cho Nogret, có thêm một phiên dịch mới tuyển, cấp bậc trung sĩ, ghiền á phiện tên là Dung. Thế là vào đầu năm 1947, trong căn nhà bánh ít của Xã Long là toàn bộ bộ máy kềm kẹp quân sự của khu vực Cần Thơ, gồm có 2 đại úy Fallon (2è B.), đại úy Lotte (5è B.), Laurent (thượng sĩ), Zédenberg (hạ sĩ) và ba phiên dịch viên có: Trung úy Long, thượng sĩ Hiến, trung sĩ Bình. Toàn bộ đều được chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm. Và, một tấm được chuyển về văn phòng Tình báo cho anh Ba Quang làm hồ sơ để theo dõi. Về phương tiện tình báo, vào thời kỳ đó, so với nay thật khác xa. So với ta, tất nhiên Pháp hơn hẳn. Sách vở kỹ thuật có một quyển sách "hướng dẫn sĩ quan tình báo" (guide de l'officier de renseignements), sách "thám mã" (décryptement) có sách phương pháp mật mã, thám mã và viết mực hóa học. Một số sách về du kích chiến tranh (guérilleros) kinh nghiệm của đại úy Thompson ở Mã Lai, và cả mấy thùng tài liệu không ai dùng đến. Có lần bọn Pháp lục ra thì là các mẫu về máy bay Đức, đồng minh các kiểu dùng cho trinh sát nhận dạng và ghi tên thêm vào các đặc điểm mới. Các bản đồ hình vảy cá chụp từ trên không để thám sát địa hình... chưa có máy ghi âm chỉ có các ống dòm qua cửa sổ kiểu vọng kính tàu lặn. Tính tôi vốn tò mò, nên tìm hiểu kỹ thuật tình báo một nước văn minh tiến bộ nhiều chừng nào, tôi càng thích thú phấn chấn hơn. Dù sao, thủ đoạn tình báo của địch cũng được bóc trần không có gì đáng sợ, nhưng có biết trước càng dễ tránh đòn. Đó là cách học lóm thuở còn thiếu niên, bắt chước các anh lớn đi học lóm các bài thiệu, côn, quyền của ông thầy dạy võ... Nhưng so với ta thì rõ ràng tôi đã bắt đầu vào nghề từ con số không. Học của địch để đánh địch. Bắt buộc phải thế thôi! Tuy vậy trong cách làm của tôi phải vận dụng ngược lại về phân loại, giá trị tài liệu, địch đánh số theo thứ tự giá trị A, B, C, D... hoặc giá trị nguồn tin 1, 2, 3, 4 v.v... tôi đánh dấu theo trình tự ngược lại. Đọc sách hướng dẫn thám mã, tôi thấy có câu: "Toutes les encres magiques sont révélables par la teinture d'iode" (Các mực mật đều được giải mã bằng i-ốt). Tôi vắt óc suy nghĩ: Thế thì ta tìm ra một loại mực khi nhúng teinture d'iode thì bị xóa mờ ngay có được không? Và, cứ thế mà tìm tòi, hoàn thiện công tác không mệt mỏi và tất nhiên không khoe khoang. Có lẽ nhờ vậy mà có một lần, năm 1949, cô Xuân đi liên lạc bị bọn Ba Cụt bắt, có tài liệu trong người vẫn không bị phát hiện. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:00:53 pm Kiểm điểm lại vào năm 1947 về mặt tổ chức, Tiểu đội Thanh được thêm một đội viên mới, lớn hơn tôi mười tuổi là chú Tư Ngà, do Tư Quý (cháu ruột chú Tư Ngà) giới thiệu. Tôi chấp nhận, giao nhiệm vụ giữ hộp thư liên lạc với văn phòng, kiêm việc đứng bến xe đò để lấy tin tức Hòa Hảo, vì tình hình mới, lực lượng Hòa Hảo có thể lộng hành nhân dịp Năm Lửa về đầu thú Pháp. Bố trí như vậy kể cũng thích hợp. Vì chú Tư Ngà vốn là bạn cũ, từng trải cơn ấm lạnh với Năm Lửa, thời còn lại chung một chiếc hủ lô cán nhựa đường. Và chú Tư vẫn tỏ ra một cách xứng đáng với nhiệm vụ được giao, trong hoàn cảnh tù đày tra tấn vẫn không khuất phục giặc. Đến nay chú đã 84 tuổi vẫn sống trọn niềm trung hiếu với Đảng với Dân. Tôi còn nhớ chú chọn bí danh bí số gì dễ ghi vào hồ sơ mật, chú bảo bí danh Việt Hà, bí số 52. Tôi tôn trọng chú, không ép chú lấy chữ Thanh làm bí danh. Chú quê ở Chắc Băng, làm "từng khạo" (tức là quản lý) cho ban biện Phú (cha Quí), và đã làm thủ lãnh TNTP hồi còn ở Chắc Băng, nên cũng biết rõ Hai Tắng. Thế là tôi yên tâm và hoàn toàn tin tưởng ở chú. Tổ công tác thì đủ bốn người: Tôi Thanh Phong, Thanh Hương và Việt Hà. Trong Tiểu đội Thanh, anh Tắng được điều đi phụ trách công tác binh vận ở Rạch Giá, anh Hai Méo cũng được điều đi công tác ở đơn vị khác, anh Lân biệt tin từ ngày chiếc tam bản bị phá lủng, nghe đâu được rút về văn phòng. Có lẽ còn nhiều anh em khác, nhưng phần tôi chỉ nắm chắc bốn người để làm tốt công tác tình báo, tôi không yêu cầu gì khác hơn, tôi biết vậy cũng yên lòng. Nhưng trong lúc đó thì có lịnh thuyên chuyển vị trí ở cấp trên. Đúng là có sự thay đổi về tổ chức. Tôi cảm nhận điều đó. Một hôm vào khoảng giữa năm 1947, tôi cùng Thanh Hương, Thanh Phong được triệu tập về văn phòng đóng ở Ngã Bát Đầu Sấu. Ở văn phòng đã có dư luận bàn tán xôn xao về một vụ hối lộ bị phát giác. Anh Cần nguyên là lính mạch-lô ở Thông báo hạm La Marne bị máy bay Mỹ ném bom đắm ở đầu Rạch Cần Thơ, sau Cách mạng tháng Tám về công tác ở Ban Tình báo Cần Thơ, được điều về làm trưởng thành Bộ Tình báo Cần Thơ mà tôi đã có lần gặp mặt lúc về văn phòng báo cáo tình hình. Anh Cần đã bị bắt về tội nhận hối lộ con buôn và đưa ra Tòa án Quân Sự tỉnh Cần Thơ chờ ngày xét xử. Anh Ba Quang lúc đó vẻ bối rối bảo tôi: "Cần bị bắt không ai điều khiển văn phòng, hay là anh về làm thay cần?". Tôi giật nảy mình. "Tôi về sao được, vả chăng khả năng tôi cùng lắm chỉ làm chạy việc chuyên môn thôi". Người Trưởng Tình báo Thành bộ phải có giao dịch tiếp xúc rộng rãi và biết lãnh đạo chung mới được, tôi chịu thôi!". Lúc đó tôi chỉ nghĩ đến số phận anh Cần, còn đâu nghĩ đến chuyện khác nữa, nghe nói tội ăn hối lộ là xử đến mức tử hình! Tôi nghĩ vừa thương vừa giận cho anh ấy. Ngồi trên chiếc xuồng chèo ban đêm đến dự phiên tòa, khoảng 10 giơ đêm, chưa đến pháp trường, đã nghe hai tiếng nổ lớn. Mọi người xôn xao cả lên. Tưởng là mọi việc đã xong! Riêng tôi vẫn chưa tin. Sau nầy tôi mới rõ: anh Cần chỉ cho về làm thường dân, mua bán máy may sinh sống ở Chắc Băng. Và nay đang ở quận 3 thành phố Hồ Chí Minh. Nghe anh Ba Quang thuật lại chuyện cũ: "Hồi đó Cần chỉ phạm có mỗi tội: Chặn chiếc tam bản của Hoa kiều lấy vài trăm bạc để mua vải cho anh em, mà bị ông Ngô Hồng Giỏi ngồi ghế Chánh án kết tội tử hình! Nghĩ mà tức cười. Muốn xóa án đâu phải chuyện dễ, phải lập mưu bắn khống hai phát đạn để kể như xử rồi!". Tôi đã có dịp tìm đến anh Cần ở thành phố Hồ Chí Minh, sau ngày hòa bình lập lại, nhắc lại chuyện cũ, anh thú thật: "Đúng là mình có bắt nó phải đưa cho mình 250đ. Lúc đó thấy anh em mình không có quần áo mặc, nên thương quá, định mua vải về sắm cho anh em mỗi người một bộ đồ, nào tôi có tư túi gì cho cam!" Cũng có thể chuyện cũ không ai nhắc tới, nhưng biết đâu lại chẳng là bài học cho những người còn sống tới hôm nay?!
Anh Cần ra đi, anh Phan Thành Miêng về thay thế. Tôi được chỉ định làm phó cho anh Miêng. Trưởng đoàn Tình báo Thành bộ Cần Thơ vẫn trực thuộc Ban Tình báo Quân khu 9. Đó là vào những tháng đầu năm 1947, Ban Tình báo Quân khu 9 từ trước đến nay vẫn do một đảng viên 40, anh Hai Hoàng (Hai A), tên thật là Nguyễn Văn Hoàng, người gốc Cờ Đỏ, phụ trách. Anh Nguyễn Văn Phấn, Phó ban được cử đi học lớp huấn luyện nghiệp vụ tình báo đầu tiên mở ở vùng cực Nam Trung bộ. Lớp học do đồng chí Thanh Sơn (Nguyễn Văn Tây), một đảng viên năm 1930 phụ trách. Huấn luyện viên có một đại tá người Nhật tên Quốc, đứng lớp. Tôi chỉ được cho biết đại khái là như vậy, cũng đủ thấy Đảng đã nắm công tác tình báo ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Anh Ba Phấn đi học về vào khoảng đầu năm 1947, trải qua các chặng đường mò mẫm về tổ chức. Từ Tình báo xung phong, đến Sát gian đảng, Vệ thám phòng và Đặc vụ, Mật vụ mãi đến năm 1949 mới trở lại đúng vai trò của nó là Tình Báo Quân Sự với tên gọi là Quân báo. Mò mẫm về tổ chức, mò mẫm về nghiệp vụ bao nhiêu việc cần phải vắt óc ra mà làm không thể nhờ ai làm giúp, làm thay cũng không thể tin vào may rủi. Đó là nghiệp chướng, chẳng có gì khoác lác! Nhiều lúc nhắm mắt lại nghĩ tới chuyện cũ vừa ớn lạnh, vừa thích thú, như vừa trải qua một cơn thử thách trong giấc mộng!... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:01:48 pm Năm 1947, cuộc chiến tranh lan rộng toàn cõi Việt Nam, thực dân Pháp vẫn bám chặt ý đồ lập lại chế độ thuộc địa ở xứ Nam Kỳ, Thủ tướng bù nhìn Nam Kỳ tự trị, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, được đặt lên ghế vừa hơn ba tháng đã thắt cổ chết. Đệ Nhị phòng ở Cần Thơ theo lịnh Sài Gòn lựa chọn được bác sĩ mổ mắt Lê Văn Hoạch đưa lên thay thế. Có còn hơn không! Mặt khác, Việt Minh sau thỏa hiệp án lại tăng cường hoạt động ngay tại nội thành, ở những nơi có binh sĩ Pháp tụ tập ăn chơi. Tình hình đó đã đẩy Bộ tư lệnh Pháp ở Nam Bộ đi đến một quyết định mới: các đơn vị quân viễn chinh Pháp, từ trước vẫn triển khai kế hoạch bố trí quân lực theo tuyên với ranh giới tiền phương và hậu cứ co giãn tùy đà tiến triển tuyến hành quân đến nay không còn thích hợp nữa, vì vậy Nam Bộ được phân chia thành ba vùng (Zone): Từ sông Tiền, sông Hậu trở xuống Cà Mau, Rạch Giá là vùng miền Tây. Từ Chợ Lớn xuống Tân An, Mỹ Tho là vùng miền Trung (Zone Centre), từ Sài Gòn trở ra là vùng miền Đông (Zone Est). Miền Tây chỉ gồm 8 tỉnh, Hà Tiên gọi là Quartier autonome (Tiểu khu tự trị), thuộc quyền chỉ huy của Hải quân Pháp. Quyền sinh sát ở từng vùng do tư lệnh vùng (Commandant de la Zone) định đoạt, cao nhất là quyền xử bắn công khai, không cần qua Tòa án xét xử. Chủ trương đó nhằm đối phó với những hoạt động táo bạo của Việt Minh mà chúng ghép vào tội "quân khủng bố" (les terroristes). Tội danh cũng đơn giản như đã nói trên. Để giao cho viên Tư lịnh vùng quyền tối thượng đó, một chế độ quân quản được ban hành, ở Cần Thơ từ khi viên tỉnh trưởng là F.Bonhomme de Montagut theo chân bọn lính viễn chinh Pháp trở về làm tỉnh trưởng dân sự, nhưng về thực chất mọi quyền định đoạt đều do giới quân sự Pháp điều khiển, đến tháng 6/1946 đại tá Cluset đã cử đại úy J.Lespenerse nguyên là chỉ huy thành phố Cần Thơ lên làm tỉnh trưởng. Đến tháng 4/1949 mới cho một tỉnh trưởng người Việt lên thay, cũng là thời kỳ chấm dứt chế độ quân quản, giao từng phần cho viên chức người Việt điêu hành, dưới sự giám sát của quân đội Pháp. Đầu năm 1947, lực lượng Hòa Hảo Năm Lửa về đầu thú làm tăng thêm lực lượng bổ sung cho quân đội Pháp để kềm kẹp đồng bào ngoại ô Châu Thành Cần Thơ. Chủ trương của Pháp là để cho Hòa Hảo đóng vùng ngoại ô để làm rào cản ngăn chặn Việt Minh tấn công xâm nhập thành phố, vì vậy, chỉ thuận cho Năm Lửa có một văn phòng đại diện tại thành phố Cần Thơ, dưới sự chỉ huy của Ba Gà Mổ, một tên ác ôn khét tiếng, nhưng Năm Lửa vẫn cho một ban ám sát hoạt động ngay trong nội thành Cần Thơ, tổ chức tống tiền và thủ tiêu những người chúng tình nghi là thân Việt Minh, làm xôn xao dư luận. Trước đó chừng một tháng, một tổn thất đã đến với chúng tôi. Anh Ba Nhì, một nhân viên Bưu điện thành phố bị bắt cóc ban đêm về Xóm Chài. Ba hôm sau, chị Ba đi dọc theo bờ sông tìm xác chồng vớt được, xác trôi tấp vào bungalô, bụng bị mổ, lá gan bị xẻo mất một miếng. Chị nhận được chồng là nhờ thấy có răng cửa bịt vàng còn nằm nguyên trong miệng. Tôi biết anh Ba Nhì là nhờ sự giới thiệu của anh Tắng, vào khoảng tháng 7/1946, nhân dịp chúng tôi kéo về văn phòng đóng tại Rạch Bà Tồn, mỗi lần vào thành Cần Thơ phải qua cái bãi trống đổ rác ở gần cầu Tham Tướng. Chúng tôi lấy nhà anh Ba Nhì làm nơi nghỉ chân, uống nước, thủ tiêu giấy tờ của Việt Minh cấp rồi trở về thành phố. Thành lệ quen, sau tôi được biết anh Ba Nhì được cài vào làm thông tín viên cho tay trung úy Bon, trưởng Phòng Nhì Vô hình của bọn Pháp ở Cần Thơ. Lúc nghe tin anh Ba Nhì bị Hòa Hảo bắt, tôi đã dẫn chị Ba đến ngay văn phòng trung úy Bon nhờ can thiệp với Ba Gà Mổ. Nhưng không kết quả.
Lúc đám tang anh Ba Nhì, tôi cũng có mặt đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Trước nấm mồ mới đắp, tôi cắm lên mộ một nhánh phượng đỏ và khấn thầm: "Tôi còn sống sẽ quyết tâm rửa hận cho anh. Mong anh yên giấc". Chẳng bao lâu sau, một hôm đại úy Fallon đưa chưa tôi xem một bản danh sách chừng vài trăm chữ ký của công chức thành phố gởi lên đại tá Cluset, kiến nghị nhà binh Pháp phải ra lịnh giải tán ban ám sát của Hòa Hảo vừa mới thành lập, chủ trương bắt cóc và tống tiền công chức, tạo nên không khí khủng bố ở thành phố Cần Thơ, ai ai cũng lo sợ. Fallon bảo tôi phải truy tầm cho được cái ban ám sát đó nội trong tuần. Tôi hỏi: "Sao ông quan năm không giao cho Jacquemin làm việc này vì đó chính là phần việc của hắn?". Fallon cười đáp: "Dĩ nhiên rồi, nhưng Jacquemin chịu bó tay không làm được?". "À, sợ Hòa Hảo!". Tôi nhận lời, nhưng cũng không tin mò ra manh mối. Tôi đem việc đó bàn với chú Tư Ngà. Chú gật đầu: "Cậu để cho tôi vài ngày". (Quả không ngờ, cho đến nay tôi cũng chưa biết hết chú Tư đã dùng cách nào mà nắm hết tình hình như vậy). Vài hôm sau chú cho biết: "Ban ám sát của Hòa hảo do Ba Dò và Sáu Hiếu cầm đầu. Hiện nay hai thằng đó đang ở phòng số 7 nhà ngủ Tây Đô". Tôi đến gặp Fallon hỏi trước: "Tình hình Jacquemin nắm tin về bọn ám sát của Hòa Hảo đã đến đâu rồi, ông biết không?". Fallon cười ruồi: "Jacquemin nói vẫn chưa tìm ra. Nó bảo bọn ám sát đó đã rút về Cái Vồn cả rồi, tao nghi là nhân viên của Jacquemin phịa chuyện, vì sợ đụng Hòa Hảo". Tôi thuật lại tình hình cho Fallon biết, và dặn đại úy đừng vội nói ngay cho Jacquemin biết. Nếu nó muốn biết thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ có cách. Fallon gật đầu, gọi điện thoại cho Jacquemin. Chừng nửa giờ sau Jacquemin đến, Fallon chỉ Jacquemin đến hỏi tôi. Thấy vẻ mặt Jacquemin hơi tái xám, tôi biết là mấy ngày này, Cluset đang đôn đốc nó phải tìm cho ra bọn ám sát Hòa Hảo, bằng không thì "thu xếp vali cút về ngay Sài Gòn trong 3 ngày" (theo lời của Fallon nói). Tôi mỉm cười bảo nó "Ban ám sát của Năm Lửa còn ở Cần Thơ, nếu ông muốn bắt thì sai nhân viên đi cũng được, cắt tiết gà cần gì đến dao mổ trâu". Nói hỏi: "Anh cho tôi biết, nên sai ai đi?". Tôi buông thõng: "Tài! Ông cho Tài đến gặp tôi, mọi chuyện sẽ xong tức khắc". Nó mừng rỡ xiết tay tôi, lắc lắc. Mười lăm phút sau, Tài đến gặp tôi. Tôi nhìn thẳng vào cái bớt tròn trên trán hắn. Cái trán cao, phẳng lì chứng tỏ con người biết tính toán thiệt hơn, biết giấu kín những ý nghĩ đen tối của mình. Tôi mỉm cười chìa tay cho nó bắt, mời ngồi rồi thong thả buông từng tiếng một, có lựa chọn, cân nhắc kỹ hậu quả của từng lời nói: "Chúc mừng thầy sẽ thành công. Chắc ông Chánh Sở đã nói cho thầy biết thầy đến gặp tôi có chuyện gì rồi?". Nó gật đầu. "Thế là mọi chuyện có thể kết thúc ngắn gọn". Tôi nói tiếp: "Tôi chúc thầy thành công, vì đây là dịp để thầy trả lại món nợ cũ cho Ba Dò". Mặt nó tái đi, rồi tối sầm. Tôi đọc thoáng qua đôi mắt tối sầm của nó đang nghĩ: "Chà thằng cha Một Huế này ghê thật. Chuyện Ba Dò tát tai mình ba cái ở sòng bạc Nam Hưng làm sao mà cha biết được ta? Chắc là có người của 2è B. báo cáo". Để cho thấm đòn xong, tôi lại hỏi: "'Thầy biết nơi nó trốn chớ?". Tài lắc đầu. Tôi buông thõng: "Biết chỗ nó thì dễ, nhưng bắt nó không dễ đâu! Thầy dám bắt nó không?". Máu anh hùng nổi lên: "Biết chỗ thì tôi bắt nó về đây cho ông coi". "Thôi được, nó ở phòng số 7 nhà ngủ Tây Đô, chắc thầy đã biết. Hiện nó còn ở đó, nhưng nó có hai đứa, cả Ba Dò và Sáu Hiếu, trưởng, phó ban ám sát của Năm Lửa đó, bắt nó thì thầy có công to lắm đa! Nhưng coi chừng nó có súng đó!", vẻ mặt Tài tỏ ra phân vân. Đúng là nó có cây P.38 và đã từng làm cho Tài nể sợ, không dám đánh, lại khi bị tát tai. "Thôi công việc cuối cùng là do thầy liệu định. Tôi khuyên thầy nên lấy một chiếc xe con hoặc xe Jeep mà đi đừng đem theo nhiều người mà đánh động nó. Thầy đi ngang qua tiệm cơm Hải Nam, bọn Tây đang ăn nhậu tại đó, rủ vài thằng cùng đi cho nó oai, chỉ cần cho chúng vài chai "vang" là đủ". Tôi mỉm cười chìa tay chúc nó: "Mã đáo thành công". Tài làm đúng theo kế hoạch của tôi gợi ý. Không đầy một giờ sau, vào khoảng 10 giờ, tôi đang ngồi chờ ở văn phòng 2è B. thì bỗng có một chiếc xe "Traction avant" sơn màu đen xông vào ngay trước tam cấp. Mở cửa xe, Tài dẫn một người trạc chừng 30 tuổi, gầy và cao, hai tay bị còng bước lên thềm. Tôi kịp liếc nhìn lại sau, hai binh sĩ Pháp mặt đỏ gay đang từ trong xe chui ra. Thời giờ quá cấp bách, phải tranh thủ từng phút, không thể để cho bọn Ba Gà Mổ kịp đối phó, không cần thủ tục lấy khẩu cung, tôi cố nhìn người bị bắt hỏi: "Anh là Ba Dò hả?" - "Dạ phải". Thế là đủ. "Còn Sáu Hiếu đâu?". Tài trả lời thay: "Dạ hắn trốn thoát rồi!". Không nói một lời, tôi vào báo cáo với đại úy Fallon. Đại úy Fallon rạng rỡ nét mặt: "Bon, bon, très bon". Hắn cầm dây nói cho trung úy Massart ngay: "Anh có công việc làm rồi. Sẽ đem tới ngay tức khắc". Mọi sự nhà binh đã tính toán đâu vào đấy, Massart chỉ cần chờ cú dây nói là chuẩn bị ngay đội hành hình (peloton d'exécution). Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:02:37 pm Hai giờ rưỡi chiều hôm đó, vừa đến sở làm, tôi đụng đầu ngay Năm Lửa ở ngay cửa. Vẫn bệ vệ với đôi ria mép đánh brillnatine bóng loáng, theo sau lưng có cả tham mưu trưởng Võ Thế Cường, với quân hàm thiếu tá, và đại đội trưởng Ba Gà Mổ, tên du đãng bất trị, bộ mặt rỗ chằng, đã từ chối lời can thiệp của trung úy Bon xin tha chết cho anh Ba Nhì hồi tháng trước. Fallon vẫn chưa đến làm việc, bọn Pháp trong văn phòng vẫn phớt tỉnh, không ai thèm mời chúng ngồi cả. Tôi bước vào thấy vậy, liền đến bắt tay cả bọn rồi nói: "Ông Tổng đến thăm chúng tôi, nhưng thủ trưởng chúng tôi hôm nay đến chậm. Các ngài chịu phiền chờ một lát. Nếu không có điều gì cần thì các ngài cứ về đi, tôi sẽ thông báo lại sau cũng được". Tay Ba Gà Mổ vội kéo tôi ra ngoài hè hỏi cộc lốc: "Ông có biết chúng bắt Ba Dò dẫn đi đâu không?" - "Ông đi tìm ông Tài lính kín mà hỏi". Không biết có phải vì thế mà bọn Hòa Hảo cứ theo sát Tài và sau nhiều lần chết hụt, nên cuối cùng Tài phải xin đổi về Sài Gòn vào đầu năm 1948, và cũng lại bị biệt động của ta trừng trị vào năm 1949 ngay tại giữa đường Lộ Mới, Cần Thơ. Thật quả "Ác nhân ác báo".
Nay kể lại chuyện đó, có ý kiến cho đó là một thủ đoạn, "đâm bị thóc, thọc bị gạo". Trở về Cần Thơ năm 1976, nghe nói Sáu Hiếu còn sống, tôi không buồn hỏi thăm sức khỏe, sống hay chết, 40 năm cũng đủ cho con người rút ra kết luận rồi. Võ Thế Cường tên thật là Phạm Cự Lượng thì trở thành điên khùng, con cháu phải nhốt y vào khung củi mới cho ăn được. Bọn cơ hội, ác ôn trong Phật giáo Hòa Hảo, khét tiếng hung tàn một thuở, vẫn còn để lại vết nhơ cho Đạo khó rửa sạch ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Dù sao, trước nấm mồ anh Ba Nhì, tôi đã thực hiện lời hứa trả thù cho anh và cũng từ đó không còn nghe xuất hiện cái "ban ám sát Hòa Hảo", nỗi kinh hoàng của đồng bào thành phố Cần Thơ hồi 9 năm kháng chiến chống Pháp. Nếu tôi nhớ không lầm, thì bản án hành quyết đầu tiên ban hành ở Cần Thơ cũng là bản án xử tử công khai một em bé dưới 16 tuổi tên là Trần Đổng, đó là vào khoảng tháng 6 năm 1947. Tôi được biết việc đó nhờ Zédenberg, người hạ sĩ trẻ tuổi, có hàng ria mép, thường lẩn tránh mấy cuộc tra tấn tù binh. Nói cho công bằng, từ khi Fallon chỉ huy phòng 2è B. thì những cuộc tra tấn tù binh kể như không còn nữa. Bản án đã được làm theo một thủ tục gọn nhẹ. Sở Cảnh sát đặc biệt của Jacquemin điều tra, thẩm vấn, luận tội rồi chuyển thẳng lên đại tá Cluset tư lệnh vùng. Cluset đưa cho đại úy Nogret, sĩ quan tình báo trợ lý cho Cluset xem rồi ký quyết định thi hành với một lời phê vô cùng đơn giản: "Terroriste, demain 9 heures à fusiller au marché" (khủng bố, sáng mai 9 giờ sáng đem bắn tại chợ). Văn phòng 2è B. của Secteur Cần Thơ không hề được hỏi ý kiến. Fallon buộc lòng phải phái Zédenberg sang Sở Cảnh sát đặc biệt nắm tình hình cụ thể về báo lại mới biết tin quan trọng đó. Tôi được nghe Zédenberg thuật lại, vẻ mặt còn đầy cảm phục: "Thật là Gavroche chính cống (Gavroche là tên nhân vật thiếu niên dũng cảm của quân cách mạng trong tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của nhà văn Pháp Victor Hugo). Mới 16 tuổi đầu, bị đòn, tra tấn vẫn không khai báo, nghiến răng chịu đựng, địch đưa ảnh Bác Hồ bắt bước qua, đã tránh sang một bên, cúi xuống lượm đưa cao lên trán". Thế là ngày mai đem ra xử bắn một vị thành niên. Luật pháp của quân viễn chinh Pháp là thế đấy! Sáng hôm sau, toàn thể cơ quan, kể cả hàng ngũ công chức đều được mời ra pháp trường để xem xử bắn một Việt Minh con! Tôi tránh không đi dự, giành phần trực cơ quan. Thâm tâm tôi chưa biết Trần Đổng là ai, nhưng cảm nhận nỗi buồn: không có cách nào cứu được một mạng sống, một em bé vô cùng dũng cảm. Tôi linh cảm đó là một chiến sĩ của tiểu đội Hoàng. Điều linh cảm ấy cũng ấy đúng. Năm 1984, mồng 4 Tết, nhân ngày họp mặt truyền thống đầu năm của ban Quân khu 9 tại nhà của anh Ba Phấn, 6 Xô Viết Nghệ Tĩnh, thành phố Cần Thơ, tôi gặp anh Nguyễn Văn Hai, tự Nhâm, một đồng đội cũ của Trần Đổng, tôi được anh Nhâm kể cho biết thêm: "Sáng hôm đó vào khoảng tháng 5, tháng 6 gì đó - vì đó là mùa lập công chúc thọ Bác Hồ - Trần Đổng mà anh em thường gọi là "Đổng lù" vì nó mập ú, mặc quần xà-lỏn, ở trần, nó nhét hai trái lựu đạn vào túi quần lên đường lập công. Xuất phát từ ngọn cây da, nơi tiểu đội Hoàng trú quân, đi ngang qua đồn cây da, lính Hòa Hảo mới lập bót ở Vàm, anh ta vào quán mua thêm một đòn đánh tét, nhét vào túi quần để ăn cho chắc dạ. Rủi gặp bọn lính Hòa Hảo, anh bị chúng bắt đánh đập rồi dẫn qua bót lính Cần Thơ cho xét hỏi. Phần sau anh không thuật lại vì không biết gì hơn. Tôi hỏi: "Anh có ra tận pháp trường tiễn Đổng không?". Anh bảo: "Có, tôi có ra chứng kiến, nhưng lịnh trên không cho manh động. Quan khách đông lắm, công chức Cần Thơ cũng được địch cho nghỉ việc để đi xem xử bắn lần đầu tiên ở Cần Thơ. Một hàng lính 12 người, ta gọi là lính tập, giương súng lên, theo lịnh của một tên ách Tây. Lính xếp hàng bên phía chợ, Trần Đổng được cột vào một cọc trụ dựa theo lan can sắt của cầu lục tính. Đằng sau Đổng là vàm sông Cần Thơ liền với sông Hậu. Không có ghe thuyền qua lại. Im lặng, mọi người nín thở, hồi hộp. Bỗng Trần Đổng hơi cúi mình để cho bàn tay phải bị cột, cách xa khuỷu đàng sau vươn lên trước, tay giật mạnh mảnh khăn bịt mắt, quắc mắt thét lên: "Việt Nam độc lập muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm!". Tiếng hô to, át hẳn tiếng hô "Feu" của viên quan chỉ huy đội hành quyết. Tiếng nổ rời rạc có lẽ vì lính mới tập chưa quen bắn vào đồng bào của mình, nên kết quả chỉ có hai viên đạn trúng ngực, 10 viên khác vô tình hay cố ý bay lạc hướng. Viên quan phải kết thúc buổi hành quyết bằng một phát súng sáu ban ơn (coup de grâce). Bọn Pháp chuẩn bị trước: phía cuối đường đã có chiếc xe hồng thập tự đậu sẵn, thi hài Đổng được đem chôn ở ngã ba Tham Tướng". Bọn Pháp ở văn phòng trở về đúng 10 giờ, từ ngoài đường tôi đã nghe tranh cãi xôn xao. Cả Nogret cũng theo về cùng Fallon, Lotte, Zédenberg, Laurent nói: "Nó gan dạ đấy chứ! Gần chết mà còn hô khẩu hiệu". Số đông đều tán đồng. Riêng Nogret vẫn khư khư: "Gan dạ gì, tao thấy đến phút cuối da mặt nó xanh lên (au dernier moment, il a un visage pâle). Tôi ngước nhìn nó, gương mặt nó vốn lầm lì bỗng tái xanh lên. Tôi nhìn thẳng vào nó. Nó cúi xuống tránh ánh mắt tôi. Thế là rõ ai đã làm cho nó sợ? Một em bé Việt Minh! Câu chuyện chưa kết thúc. Trong phòng họp nổi lên cuộc tranh luận sôi nổi. Đó là viên hạ sĩ quan Zédenberg nêu lên ý kiến: "Liệu xử bắn mội vị thành niên có vi phạm luật pháp quốc tế không?". Không một ai dám trả lời cả! Sau khi Nogret về văn phòng của Zone, cuộc tranh luận đã bớt hẳn, và chuyển sang hướng khác thiết thực hơn. Liệu cấp Zone nhận hồ sơ hình sự từ Sở lính kín không qua cấp quân sự có thẩm quyền chẳng hạn Secteur, vì sự việc xảy ra trên địa bàn Secteur như vậy có đúng nguyên tắc không? Nhờ cuộc tranh luận đó mà sau này cả đại úy Fallon và đại úy Lotte tích cực kiến nghị với đại tá Cluset và được Cluset đồng ý, mọi hồ sơ xét xử phạm nhân từ nay về sau, khi trình lên Cluset phải thông qua 2è B. và 5è B. Secteur thẩm tra lại. Đó là một thắng lợi mãi về sau, tôi mới đánh giá hết và biết ơn những người có lương tri trong hàng ngũ gọi là quân thù, trước hết là hạ sĩ Zédenberg. Sẽ là bất công nếu không thấy điều đó. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:03:35 pm Tôi còn nhớ rõ, lần đầu tiên tôi được Fallon giao cho một tập hồ sơ nghiên cứu, đã có ghi chữ duyệt bằng bút chì đỏ của Culset bên cạnh: "Chef de section de guérilleros, demain matin, 9 heures à fusiller au marché"1 (Trung đội trưởng du kích, sáng mai, 9 giờ sáng đem bắn tại chợ). Tôi lại hỏi: "Nếu đại tá đã quyết định thì xem lại có ích gì?". Fallon bảo: "Anh cứ xem lại kỹ nếu có chỗ nào có nghi vấn thì đề nghị đại tá ân xá". Tôi nhìn người tù nhân đang ngồi bó gối ủ rũ mà lòng tê tái. Hồ sơ dày cộm, làm thành ba tập biên bản, đánh máy có khẩu cung, có lời khai dấu chấm phẩy đầy đủ. Tên người hỏi cung, tên người trả lời đều viết rõ ràng, có ký tên đầy đủ sau câu viết theo đúng luật: Tôi xác nhận khai đúng sự thật, hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng chế, ép buộc cả luật và lệ!". Lướt qua lần đầu, không có gì đáng bắt bẻ về hình thức, thủ tục.
Tôi đọc kỹ lần thứ hai. Tên họ tôi nhớ chừng như Nguyễn Văn Hoàng, quê quán ở xã Thới Thạnh (Gái Răng) bị bắt tại nhà đang hội họp trung đội du kích bí mật. Sau đây là lời khai tóm tắt: Chức vụ: trung đội trưởng. Vũ khí: có đủ súng trường Anh, hai khẩu FM Bren (súng trung liên), và bản dịch bằng tiếng Pháp là: "Chef de section de guérilleros". Tôi đọc lại lời khai và hỏi người bị bắt: "Có đúng như vậy không?" - "Dạ đúng!". Thế là hết hy vọng! Trung đội trưởng du kích bí mật lại có vũ khí trang bị đủ một trung đội thì đúng vào loại tội danh khủng bố rồi! Tôi lật từng trang lần thứ ba, đến trang cuối cùng, có một tờ chứng minh có mộc đóng dấu son đỏ. Tôi đọc: anh Nguyễn Văn Hoàng là đội viên du kích dự bị xã Thới Thạnh. Lật lại bản dịch chứng minh thư: Le nommé Nguyễn Văn Hoàng chef de section de guérilleros. Tôi sợ mình hoa mắt, tôi đọc lại kỹ như lần trước. Tôi mừng như bắt được vàng. Đọc lại tờ chứng minh thấy có ghi hai điểm: có vết ruồi ở... Tôi nhìn kỹ anh chàng không có nốt ruồi ở đâu cả! Nhìn lại bản dịch bằng tiếng Pháp. Có lẽ thấy không cần thiết, nên người dịch miễn ghi câu đó vào bản dịch. Tôi chựng lại một phút để suy nghĩ, rồi cuối cùng, biểu anh phạm nhân đứng lên, thong thả tôi rót từng tiếng vào tai anh: "Anh nghe cho kỹ đây, mà trả lời thành thật với tôi. Chỉ có nói thật mới cứu được mạng sống cho anh. Tờ giấy này đâu phải của anh?". Anh thú thật là tờ giấy chứng minh thư không phải của anh ta. Một người nào đó đã giắt nó vào tàu lá chuối rồi bỏ chạy. Bọn lính kín bắt gán cho anh và bắt anh khai như nó đã viết trong lời hỏi cung. Tôi hỏi thêm: "Tại sao khi tới đây, tôi đâu có đánh đập gì anh mà anh gật đầu". - "Dạ phải! Tôi nghe chúng nói đến 2è B. gặp ông thì phải đúng như đã khai, nếu nói sai thì chết không kịp ngáp". Tôi nhìn anh thông cảm: "Thế thì anh cứ nhận đại cái tên đã ghi trong chứng minh thư như là của anh đi. Như thế có lợi cho anh hơn là khai lại tên khác". Anh gật đầu. Tôi hớn hở cầm tập hồ sơ đến gặp Fallon, và nói gã: "Bọn lính kín làm ăn ẩu quá! Chứng minh thư ghi là đội viên du kích dự bị mà chúng dám dịch là trung đội trưởng du kích còn gán cho anh ta là cả trung đội binh sĩ có cả vũ khí nữa! Thật là quá lắm, suýt nữa đem ra pháp trường xử bắn oan một con người". Fallon chưa tin kêu trung úy Long đến để xác minh. Trung úy Long cũng thừa nhận là tôi nói đúng. Được thể tôi tươi cười với đại úy: "Lần này tôi xin cam đoan nếu dịch sai tôi chịu tội thay cho bị cáo". Fallon cũng vui vẻ, lần đầu tiên việc yêu cầu chuyển giao cho Secteur thẩm tra trước khi có quyết định cuối cùng đem lại sự thành công. Cluset đồng ý tha ngay bị cáo. Và xát xà phòng cho Jacquerin một trận nên thân. Bọn chúng giận tím mặt, nhưng không có cách nào thanh minh được tội cẩu thả trong công tác điều tra, suýt nữa bắn nhầm một người không có tội chết. Ngày nay, nếu anh thanh niên ấy còn sống cũng đã ngoài sáu mươi tuổi. "Cầu mong anh con cháu đầy đủ vui vầy. Kể chuyện đời cho con cháu nghe...". Uy tín tôi thực sự được nâng cao dưới con mắt bọn Phòng Nhì Pháp. Mọi chuyện thẩm tra hồ sơ can phạm đều đưa qua tôi. Sau cùng chẳng nhớ rõ bao lâu, tôi lại được chuyển giao thẩm tra lại vụ mua bán đạn dược: "Trafic de munition" cũng vẫn nét chữ viết đỏ ngay bên lề hồ sơ "Trafiquant de munition, demain matin, 9 heures à fusiller au marché" (mua bán đạn dược, sáng mai, 9 giờ đem bắn tại chợ). Hình như đã thành một định hình trong đầu óc viên đại tá Cluset. Tất nhiên hồ sơ cũng được thẩm tra lại. Nếu không có gì phát hiện mới thì thi hành ngay, không cần chờ lệnh mới. Tôi giấu tên người thanh niên đó. Nhưng biết rõ nghề nghiệp là hớt tóc, có cái lều hớt tóc cùng xóm nơi tôi ở. Lý do nêu ra khá đơn giản: lính kín bắt được trong lều anh, ngay trong tủ đựng gạo chừng vài chục viên đạn súng trường. Lần này tôi yêu cầu Sở Cảnh sát đặc biệt cho cả nhân viên đến đối chứng. Tôi hỏi: "Có quả thật thầy kiếm mấy chục viên đạn này trong hũ gạo nhà nó phải không?". Anh nhân viên đáp: "Phải". Tôi quyết định kiểm tra ngay tại hiện trường. Để có nhân chứng, tôi rủ cả Laurent cùng đi. Rồi tôi, Laurent, thầy lính kín Nhàn, anh bị cáo mua đạn và một tên lính áp tải cùng đi đến nhà anh thợ hớt tóc, quả thật là một cái lều xơ xác che mưa nắng trên bờ rạch. Ngoài cái phòng nhỏ để hành nghề hớt tóc, phía sau có cái bếp, có hũ gạo. Chúng tôi cùng đi vào, mang theo mấy chục viên đạn tang vật. Tới nơi, tên Nhàn đi nhanh vào sau bếp, chỉ ngay vào hũ gạo nói: "Đây, tôi kiếm được trong hũ này". Tôi nói thêm: "Anh hãy diễn tả việc anh đã làm cho tôi rõ". Tôi dịch câu yêu cầu của tôi cho Laurent nghe. Laurent gật đầu. Nhàn đi ra cửa diễn tả lại, hắn đi thẳng xuống bếp, thọc tay ngay vào hũ gạo moi các viên đạn ra. Tôi hỏi đột ngột: "Thầy làm sao biết trong hũ gạo có đạn mà móc ra?". Hắn ngớ người lúng túng hồi lâu. Tôi dịch lại câu hỏi của tôi cho Laurent nghe, Laurent quan sát thấy thái độ Nhàn đứng ngớ người vì câu tôi hỏi. Tôi hỏi tiếpi: "Lúc anh xem hũ gạo có người nào làm chứng không?". Nhàn lắc đầu: "Không!". Tôi kết luận: "Thế là rõ. Anh cho tôi biết, cách đây mấy ngày, anh có chơi "xì-dách" với anh kia không?" - "Có" - "Được rồi, anh có mượn tiền của hắn không?", vẻ mặt Nhàn xịu xuống: "Có" - "Và hắn không cho, anh dọa trả thù phải không?". Nhàn làm thinh (Quái lạ! Chuyện cờ bạc vay mượn tiền sao ông ta cũng biết cả?) Ra về, tôi giữ Nhàn lại nhìn vào bộ mặt thầy bói bài có đôi mắt nheo nheo của nó, tôi nói nhỏ nhẹ: "Thôi anh tự viết đi. Tôi không lấy cung anh đâu, anh viết anh có nhận chơi xì-dách, bị thiếu 300 đồng. Hỏi mượn nó không cho, nên muốn cho nó biết tay một lần. Thế thôi, tôi sẽ xí xóa chuyện vu oan vá họa cho người khác đi. Bằng không, có tờ trình sẵn đây, tôi cứ phép công tôi làm đa!". Nhàn ngồi im phăng phắc, rồi cũng viết lời khai như tôi đã mớm. Tôi làm xong biên bản kiểm tra hiện trường, có Laurent chứng kiến. Kết luận đây là một vụ án không đủ chứng cớ để buộc tội kèm theo bản dịch lời khai của lính kín Nhàn gửi lên đại úy Fallon để trình đại tá Cluset xét lại vụ án. Kết quả tha bổng bị cáo. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:04:28 pm Nhân chuyện này tôi lại nhớ một chuyện nữa vì mua đạn dược. Người bị bắt cũng là anh thợ hớt tóc ở phường Cái Khế. Tên anh là Nguyễn Văn Điều. Hồ sơ của anh cũng khá đầy đủ, đã thú nhận: Nhân viên binh vận đã mua của bọn lính Âu Phi ở đại đội sửa chữa cơ khí 63è CR. Đúng 360 viên đạn mút Anh. Biên bản, khẩu cung đều hợp lệ. Tang vật gồm có: một rổ sảo đầy ắp 360 viên đạn mới toanh. Tôi hỏi người lính kín áp tải: "Tang vật gồm cả cái rồ sảo nữa à?". "Dạ đúng vậy. Bắt được tại nhà y nguyên một rổ sảo". Tôi nhìn Điều phân vân. Người gầy gò, quần áo tả tơi, mặt mày tím bầm. Tôi hỏi: "Lời khai của anh đấy à?" - "Dạ" - "Đúng vậy à?" - "Dạ". Kinh nghiệm cũ, chắc là sợ bị đòn lần thứ hai. "Không bị bức cung à?" - "Dạ, không ạ". Bên lề hồ sơ chữ son đỏ chói của Cluset: "Mua đạn dược, sáng mai, 9 giờ, đem bắn tại chợ". Tôi phân vân, cuối cùng cũng xin với Fallon cho xét lại vụ án với lý do đơn giản: "Đây là vụ án mua bán đạn dược khá lớn. Có người mua thì cần phải hỏi ai bán? Sẽ tìm ra nhiều manh mối". Cluset đồng ý ngay khi nghe Fallon báo cáo lại. Tôi thở phào, cho giam lại để chiều xét xử tiếp. Ngồi trước bàn làm việc, tôi bóp trán suy nghĩ: "Có người mua, phải có người bán... Người mua người bán, trăm người bán, vạn người mua!". Bỗng một tia sáng lóe lên trong đầu tôi... Có người mua không người bán đã có sao đâu? Tôi chụp vội điện thoại, quay cật lực tổng đài xin cho đại đội 63è CR. Chỉ huy 63è CR là một trung úy Pháp còn trẻ vừa mới đến thay thế đại úy già Inocenti về Pháp. Ngựa non háu đá, ham lập công, nhưng sợ kỷ luật. Tôi gọi lén gặp tôi có chuyện cần bàn gấp, gấp lắm, quan hệ đến uy tín và danh dự của đơn vị. Nửa giờ sau, viên trung úy trẻ tuổi bước vào. Tôi đứng lên bắt tay mời ngồi: "Có chuyện mới đây; đơn vị anh xưa nay vốn có kỷ luật, bỗng nhiên ông quan năm chuyển sang cho tôi cái này (tôi chỉ tập hồ sơ dày cộm). Thôi khỏi cần đọc, tôi báo cáo tóm tắt cho anh nắm. Chả là còn một tên Việt Minh nào đó bị lính kín cho ăn đòn liền khai là mua ở đơn vị anh 360 viên đạn đúng là 3 cơ số đạn cá nhân. Tôi bất ngờ quá. Chẳng lẽ có ba binh sĩ anh lại bán hết trọi cả cơ số đạn phát cho cá nhân sao? Tôi không thể tin, có lẽ nào đơn vị anh vẫn được tiếng là có kỷ luật trong quân khu kia mà. Trung úy chộp ngay lời tôi: "C'est vrai, très discipliné". "Thế anh có dám đảm bảo là đơn vị anh không mất một viên đạn nào không?".
- "Tôi cam đoan như vậy". Thế thì tốt quá! Có thể cho kiểm tra được chứ? Bao giờ, chiều nay nhé? Được, chiều nay, anh cứ xuống kiểm tra. Đúng 15 giờ, đơn vị tôi sẽ có mặt. Tôi tin ở tài tháo vát của anh! Đôi bàn tay siết chặt, thân thiện! Không biết ông trung úy cảm ơn tôi hay ngược lại. Một cái bắt tay cởi mở, không chút xã giao. Tôi vào văn phòng báo cáo lại với đại úy Lotte, ông quan ba có đôi ria mép hiền hậu. Đại úy Lotte và đại úy Fallón đều ngồi chung một phòng. Vì vậy, mỗi khi báo cáo công việc đều trình bày cho cả hai cùng biết, tùy mỗi việc mà đứng trước bàn này hay bàn khác. Đại úy Lotte là trưởng phòng 5, phòng an ninh quân đội, phòng này ít việc bận rộn hơn, nên mỗi khi có việc là Lotte hăm hở làm ngay. Tôi trình bày phương án kiểm tra. Lotte đồng ý, không thêm bớt. Trình tự kiểm tra được tiến hành như sau: Tôi nhớ lại năm 1947, đại úy Lotte đã tỏ rõ uy lực của phòng 5, khi xử lý một vụ hiếp dâm của trung đội công binh Pháp đóng lại bót thầy Phận. Hôm đó, 16 tên còn lại trong section de génie kêu một chị bán bún bò gánh vào trại, rồi đè chị xuống thay phiên nhau làm nhục. Tôi cho người nhà đón chị và biểu chị lên ngay Phòng Nhì Pháp tố cáo. Tôi dịch lá đơn đưa ngay cho đại úy Lotte xem. Đại úy Lotte một mặt cho nạn nhân vào trạm xá quân y để khám bệnh, và ngay chiều hôm đó chở chị về bót công binh Pháp để nhìn bọn lính đã hiếp chị. Chị chỉ đúng 10 tên. Đại úy cho bắt giam và sau đó xét xử ngay: 2 tên bị 5 năm tù, 7 tên bị 1 tháng tù giam. Viên thiếu úy chỉ huy trung đội biết tôi đã tố cáo việc hiếp dâm tập thể, hắn hăm dọa tôi: "Atention chef! Tu vas recevoir un poignard dans le dos!" (Coi chừng sếp! Mày sẽ bị một dao găm vào sau lưng!). Lotte biết chuyện đó, liền báo cáo với chỉ huy Zone, cho chuyển ngay trung đội công binh Pháp ra làm nhiệm vụ trực tiếp ở chiến trường Compagnie Franc-tieur (đơn vị bị kỷ luật chiến trường) đổi đi Sa Đéc. Lần này tôi lại có dịp nhờ đại úy trưởng phòng 5. Trước hết kiểm tra sổ sách kho quân trang, tập trung chú ý đến đạn súng trường. Đối chiếu sổ sách và thực tế phát hiện vừa thiếu. Thứ đến, cho binh sĩ tập hợp, thành đội ngũ chỉnh tề, có đầy đủ vũ khí đạn dược cá nhân, rồi cho điểm danh từng người, chú ý cơ số đạn dành cho cá nhân. Phát hiện thừa thiếu, xử lý kỷ luật cá nhân luôn. Thật là gọn nhẹ, cuộc tuần tra kéo dài không đến một tiếng. Binh sĩ tại đơn vị chỉ có một trung đội lính Âu Phi nhờ tài tháo vát của trung úy chỉ huy, mọi việc đều sắp xếp ổn thỏa. Đạn trong kho không thiếu một viên. Cơ số đạn cá nhân mang theo mỗi người đều có đủ 120 viên quanh thắt lưng. Ký tên vào biên bản đại úy Lotte, trung úy chỉ huy đơn vị và tôi. Nhận xét tốt, nút sâm banh được khui, ra về ai cũng thỏa mãn. Người thỏa mãn nhất là tôi. Hôm sau, tôi tới sở làm việc sớm để kết thúc hồ sơ. Chỉ cần lấy thêm lời phản cung của Điều là xong việc. Công việc phản cung cũng không khó lắm. Bị đánh đập buộc phải khai. Người bắt Điều là Nhạn. Tôi hỏi Điều có hay chơi xì-dách hay không?. "Có" - "Được rồi, cứ nói là mượn tiền cờ bạc không cho nên trả thù cho bõ ghét!". Đã có tiền lệ rồi. Kết thúc hồ sơ, tôi tin chắc rằng, dù oan hay không Điều cũng sẽ được tha bổng. Giữ biên bán kiểm tra đạn được của quân dội Pháp, có đóng dấu mực tím, với lời buộc tội của Điều tra viên Sở Cảnh sát đặc biệt thì ông đại tá Cluset sẽ tin ai hơn? Hơn nữa, cái rổ sảo được 360 viên đạn làm bằng chứng cũng có chỗ đáng ngờ. Một Việt Minh chính cống, không dại đựng 360 viên đạn trong cái rổ sảo để chờ lính kín đến bắt bất ngờ. Quả nhiên, ngày hôm sau Điều được thả. Câu chuyện chưa kết thúc. Tối hôm đó, tôi đang ngồi trong nhà, cái nhà lá bọn Pháp cất tạm bên hông bót, thì thấy Điều đang đứng ngoài cửa, có thêm một người đàn ông trọng tuổi, khăn đóng áo dài, bước vào đặt lên bàn hai chai rượu và một bao thơ. Tôi mở bao thơ đựng 3000 đồng (tiền Đông Dương hồi đó, thế là nhiều lắm, gấp 4 tháng lương của tôi). Tôi nhìn anh ta hỏi: "Anh là ai, đến đây có việc gì?" người đàn ông tự xưng là khóm trưởng khóm Cây Khế. Anh đến để đền ơn cứu mạng cho thằng Điều, một mình anh ta không dám đi. Tôi nghĩ đến cảnh lý hào áp bức ở quê nhà. Tỏi nghiêm sắc mặt nói: "Tôi làm việc công, ngay gian phải làm cho rõ. Điều không có tội, nào tôi có công gì? Anh làm viên chức nhà nước mà còn nhận của đút lót thì còn ra gì nữa? Trước mặt tôi anh đưa ba ngàn, sau lưng tôi anh còn lấy bao nhiêu nữa!". Gã khóm trưởng vái lia lịa. Tôi kêu Điều lại gần, đưa hai chai rượu và ba ngàn bạc bảo anh mau mang về. Quay lại anh khóm trưởng: "Anh phải từ bỏ ngay cái lệ này bằng không anh sẽ biết tay tôi". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:05:53 pm Sáng hôm sau, Điều lại đến, lần này có cả bà cụ mẹ anh đi theo. Điều mang theo hai con vịt và một chục trái ổi sá lỵ. Tôi thấy bà cụ già đến, mời bà cụ giáo ra tiếp chuyện.
Nhớ đến mẹ, tôi ứa nước mắt. Mẹ hiện giờ ở đâu? Tình mẹ thương con ở đâu cũng có và giống nhau. Tôi đang bàng hoàng trong nỗi nhớ và tình thương, thì bỗng theo dấu hiệu của bà cụ, Điều sụp xuống lạy. Tôi giật nẩy mình tránh sang một bên, miệng lắp bắp: "Anh lạy ai, anh làm tôi tổn thọ mất". Tôi mời hai mẹ con cùng ngồi, rót nước mời uống, rồi giải thích: "Tôi đã nói, tôi không có công lao gì hết. Anh không có tội thì dĩ nhiên anh được thả. Đó là công lý. Anh đừng nói với ai hết, làm tôi tổn thọ thêm. Bây giờ tôi xin nhận, vì cụ cũng như mẹ tôi, bà cụ đã đến tôi không thể từ chối. Tôi nhận hai trái ổi sá lỵ để nhớ bà cụ đưa cho. Còn tất cả xin mang về thôi, đừng làm cho tôi mang thêm tội. Thực tình tôi không muốn từ chối một tấm lòng, nhưng buộc lòng phải giữ khoảng cách không phải thờ ơ. Hòa bình lập lại năm 1955. Nhân dịp đơn vị tôi tập kết ở Sầm Sơn. Tôi và Thanh Phong xin anh Ba Phấn một cái giấy giới thiệu đến gặp Ban chỉ huy E55, nơi quản lý các tù binh được Pháp giao trả ở Hà Nội, xin bảo lãnh cho chú Tư Ngà và Tư Quý đang ở đó. Tình cờ chú Tư cho biết là Điều cũng được trao trả một lượt với chú. Tôi hỏi: "Điều hớt tóc sao bị bắt". Thì hắn vẫn tiếp tục mua đạn cho ban binh vận. Chúng tôi bật cười: "Kháng chiến cũng là một nghiệp chướng!". "Đã mang lấy nghiệp vào thân", về sau, Điều được về công tác ở ban thống nhất cho đến khi nghỉ hưu, trở về Cần Thơ sum họp với gia đình, rồi mất vào năm 1980. Thật đáng trách trong bao nhiêu năm sống trên đất Bắc, chúng tôi chưa có dịp gặp nhau. Trừ một lần duy nhất: làm giấy xác nhận cho Điều! Vô tình chăng? Hay bận rộn công việc, đều có đủ lý do cả. Anh Điều mất đi để lại cho đời 8 đứa con hiện sinh sống tại Cần Thơ. Dù sao, các cháu sau này khỏi vất vả đi tìm mua từng viên đạn súng mút mà cha cháu đã chịu bao cảnh tra tấn tù đày, thậm chí đã trả bằng sinh mạng để đổi lấy tự do độc lập để cho con cháu hôm nay! Một việc cuối cùng, kết thúc hồ sơ khủng bố, vào năm 1947. Lúc đó là 6 giờ kém 10. Tôi dẹp đống hồ sơ cho gọn, đứng lên phủi áo ra về. Bỗng lù lù trước cổng một anh lính kín dẫn vào một chú bé con. Hồ sơ đặt lên bàn. Tôi chụp cái ca-lô xanh, đặt lên đầu, sửa lại cho ngay ngắn cái chóp chào mào ngay giữa trán, hơi nghiêng về bên trái theo đúng mốt, thầm nghĩ: chỉ còn 10 phút chẳng đủ thì giờ liếc qua hồ sơ. Thôi dẹp đến mai vậy. Cho dẫn phạm nhân vào khám. Theo thói quen, tôi liếc qua trang đầu vẫn thấy bút chì đỏ quen thuộc của đại tá Cluset. Nó ám ảnh tôi, không buông tha tôi: "Lanceur de grenades, Pris en flagrant délit. Demain matin, 9 heures fusiller au marché" (Thủ phạm ném lựu đạn. Bị bắt tại trận. Sáng mai 9 giờ, xử bắn tại chợ). Tôi nhìn xuống chú bé con. Đúng là một cậu bé bán đậu phộng rang, đánh giày, hoặc bán báo thường gặp trên đường phố Cần Thơ. Tuổi chừng 15, 16. Áo quần rách bươm tả tơi vì các trận đánh đòn xé thịt, mặt bầm tím. Cậu ta gục đầu ngồi bó gối bên vách, có lẽ không còn sức đứng gượng được. Bộ mắt cắt híp lại như con khỉ con! Tôi buộc lòng phải đọc lại toàn bộ hồ sơ! Bọn sĩ quan Pháp chắc hẳn đồng tình không cho xử bắn một vị thành niên, trái với pháp luật quốc tế. Tôi đọc khá nhanh: Nguyễn Văn Nhâm, tự Hai, 16 tuổi, trường hợp bị bắt: bắt tại trận khi sắp ném lựu đạn ở ngã tư đường Saintenoy - Delanoue. Lựu đạn đã rút chốt an toàn, tìm thấy chốt an toàn trong túi quần đùi. Kèm theo tang vật: một quả lựu đạn kiểu mãng cầu (đã tháo ngòi) một cái khoen khóa chốt an toàn. Người theo dõi và bắt can phạm: Nguyễn Văn Thanh. Trong lời khai của bị cáo, đã nhận cả tội trạng người hỏi cung và can phạm, không bị bức cung. Tôi chỉ vào chữ ký tên hỏi cậu bé: "Chữ ký tên của mày phải không?". Cậu bé ngước lên nhìn và gật đầu. Tôi nghĩ: "Còn nước còn tát! Không nên thất vọng". Tôi rà lại các chứng cớ buộc tội: tang vật rành rành, không thiếu mà còn thừa! À, một ánh chớp lóe lên. Sao lại thừa? À cái chốt an toàn! Tôi xấp lại hồ sơ, ba chân bốn cẳng chạy vội vào phòng sếp. May còn kịp, hai đại úy Fallon và Lotte đang ngồi tán gẫu, chắc họ đợi kim chỉ đúng 6 giờ chiều. Tôi không kịp rập gót chân, nói ngay: "Báo cáo đại úy, xin hoãn hồ sơ này để thẩm tra lại đã!". Fallon hơi cau mày: "Tại sao lại hoãn, liệng lựu đạn, bắt tại trận thì hoãn sao được? Mày tốt cũng tốt vừa vừa thôi chứ. Chẳng lẽ mày thân Việt Minh sao?". Đại úy Lotte mỉm cười binh vực tôi: "Il est trop bon pour être Việt Minh" (Nó quá tốt để trở thành Việt Minh). Thế là hai cấp trên này đã có đánh giá về tôi qua kết quả các cuộc điều tra từ trước. Tôi càng yên tâm. Đột ngột tôi hỏi lại: "Hai ngài chắc chắn đã trải qua chiến tranh chống bọn Đức, chắc đã từng ra trận mạc, và từng ném lựu đạn qua phòng tuyến địch?". "Đành rồi, nhưng sao nữa?". Tôi hỏi hai ngài: "Có lần nào hai ngài rút chốt an toàn để ném lựu đạn đi, rồi cất cẩn thận chốt an toàn vào túi quần không?" - "Cái gì, cất chốt an toàn sau khi đã ném lựu đạn đi? Động tác này chắc không có đa!" - Thế thì xin hai ngài xem đây!". Tôi vạch đúng dòng ghi biên bản: "Đã bắt được cả chốt an toàn của lựu đạn nằm trong túi quần của thủ phạm". Tôi nói tiếp: "Đáng nghi ngờ hơn nữa là thằng bé con bị bắt không có phản ứng tự vệ, hoảng hốt buông ngay trái lựu đạn ra. Vì sao, vẫn là một vị thành niên, cần có thẩm tra lại kỹ để khỏi có hậu quả xấu về sau". Fallon cầm máy nói quay lên phòng đại tá, báo cáo lại tình hình, chờ một lát, Fallon nói lại cho biết: "Đại tá đồng ý cho hoãn lại 24 tiếng để thẩm tra hồ sơ. Nếu không phát hiện cái gì mới, 9 giờ sáng hôm sau, cứ y lịnh mà thi hành". Tôi vẫn cố chấp hiểu theo cách của tôi: "Được rồi, mỗi ngày làm 8 tiếng, 24 có đủ 3 ngày, may ra có thể kết thúc được". Fallon tròn xoe mắt: "Anh là quân nhân, đang thời buổi chiến tranh. Đại tá bảo 24 tiếng là cho anh một ngày để làm việc đó, kể từ 6 giờ chiều ngày mai, nếu không làm rõ vấn đề thì kể như không có gì bàn cãi nữa. Thế thôi!" - "Nhưng gấp quá, đại úy có cho tôi được toàn quyền hành động không?" - "Được cho anh toàn quyền. Muốn cần ai giúp cứ nói. Đóng cửa phòng lại mà làm việc, không một ai được quấy rầy anh, kể cả tôi! Miễn sao đúng 6 giờ chiều mai, có kết quả. Tôi ôm hồ sơ về phòng. Tên lính kín Nhàn mang súng đứng chờ để giải chú bé về khám. Đường về nhà không xa... Tôi lững thững cuốc bộ về để có thì giờ suy nghĩ. Dù sao cũng không để cho một cậu bé bị bắn, vô nhân đạo quá. Hơn nữa, biết đâu đây là một đồng đội trong Tiểu đội Hoàng. Tôi nói rõ cho chú Tư biết, và nhờ chú giúp cho hai việc: Một là tìm hiểu lai lịch tên chỉ điểm Nguyễn Văn Thanh, hai là tìm hiểu dư luận ở Cần Thơ về vụ ném lựu đạn. Nếu cần trong đêm nay, hoặc sáng mai, 6 giờ sáng cho tôi biết tin tức, thì giờ quá gấp. Chú gật đầu. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:10:09 pm Đêm đó, tôi thao thức suy nghĩ kế hoạch tác chiến ngày mai. Điểm lại những chỗ sơ hở của hồ sơ, và tìm cho ra điểm để đột phá. Sáng hôm sau dậy sớm, đi ngang qua căn phố chú Tư Ngà, chú kêu vào uống nước trà luôn tiện cho biết: tên Thanh nguyên là một du kích bị bắt vì đánh bài tây giam ở xã đội Long Tuyền, trốn trại mang theo một trái lựu đạn, ra đầu thú với Jacquemin, được làm chỉ điểm viên cho tên Nhàn. Hắn theo dõi Nhâm, và bắt quả tang liệng lựu đạn. Nhâm là một đội viên của Tiểu đội Hoàng. Tôi hình dung ngay việc phải làm: "Nhờ chú kiếm cho tôi hai người làm chứng, người của mình, ở gần nơi liệng lựu đạn càng tốt" - "Họ phải nói sao khi bị hỏi?" - "Cái đó chú chờ tới trưa, 11 giờ tôi sẽ về nói cho chú rõ". Thật tình tôi chẳng biết nói sao, phải chờ cách phản cung của bị cáo. Trên đường đến sở làm, tôi hình dung công việc: phải lập một tòa án binh giả, ít nhất để uy hiếp tinh thần tên phản bội, ngoài ra tùy cơ ứng biến. Nhưng bọn Jacquemin bị thất bại mấy vụ rồi. Tất cả đối phó. Tốt nhất, phải giữ vai trò đạo diễn, không để bút tích của mình trong hồ sơ. Đúng 7 giờ, tôi đến sở. Do đã được Fallon cho biết trước, các nhân viên văn phòng đều chờ tôi phân công. Thượng sĩ Laurent đã viết sẵn giấy, sai lính qua khám lớn, dắt can phạm về. Tên Thanh chỉ điểm viên cũng đang chờ sẵn đợi lịnh. Tôi nói với Laurent và trung sĩ phiên dịch Nguyễn Văn Bình: "Hôm nay chúng ta sẽ mở phiên tòa hỏi cung, các bị cáo và nhân chứng. Làm việc nghiêm túc suốt ngày, không ai được ra vào phòng hỏi cung". Tôi phân công: "Thượng sĩ Laurent sẽ chủ tọa phiên tòa, trung sĩ Bình làm phiên dịch. Trong lúc hỏi cung, nội bất xuất, ngoại bấp nhập. Muốn giữ kỷ luật phải xin C.E.M cho 3 binh sĩ bản xứ, chọn người có tầm vóc cao, có mang súng và ma-trắc theo để thị uy, ăn mặc chỉnh tề. "Phiên tòa" sẽ mở ngay tại phòng họp lớn sát với phòng khách. Chỉ một chiếc bàn đặt chính giữa ba cái ghế tựa cho Laurent, tôi và Bình hỏi cung. Một cái ghế để trống trước bàn để người hỏi cung vịn vào làm vành móng ngựa. Hai tên lính Miên gian to con đứng sau lưng ôm súng tư thế nghiêm, thắt lưng có treo lủng lẳng chiếc dùi cui sơn trắng. Một tên lính khác cũng ôm súng gác trước cửa phòng. Cấm không cho bất cứ khách hay nhân viên nào quấy rầy trong lúc đang làm phận sự. Tôi cho dẫn bị cáo Nhâm và cả người tiên cáo (Thanh) vào. Cũng như hôm qua, Nhâm vẫn bận quần đùi rách. Tôi chỉ vào góc phòng ngồi bó gối chờ...
Thanh vênh váo xấn vào đưa tay vịn vào lưng tựa chiếc ghế duy nhất còn trống, định ngồi. Tôi nghiêm sắc mặt: "Anh khoan ngồi. Hãy nghe phổ biến nội dung. Hãy nghe cho kỹ, phải trả lời cho đúng theo câu hỏi, không nói thêm nói bớt, nói thiếu. Phải được phép mới nói, không được phép cắt ngang lời người khác. Không tự tiện di chuyển khi đang làm việc, muốn đi đâu phải xin phép trước. Vi phạm nội quy sẽ bị nghiêm trị!" (đại thể là dùng uy vũ để khuất phục người khác). Bình dịch bản nội quy tôi sáng chế cho Laurent cùng nghe. Chiếc bàn làm tòa án do Laurent chủ tọa. Tôi ngồi bên cạnh Laurent, tiếp giáp với chỗ ngồi của Bình phiên dịch viên. Laurent hỏi nhỏ tôi: "Par òu commencer?" (ta bắt đầu từ đâu?). Tôi chỉ ngay mặt tên chỉ điểm. Thế là Laurent nhìn vào giấy lấy khẩu cung, bắt đầu hỏi: "Nom et prénom?". Bình phiên dịch : "Anh cho biết họ tên?". Tên Thanh đáp: "Dạ Nguyễn Văn Thanh". Bình đọc lại và viết lên giấy. Laurent đọc: "Profession". Bình phiên dịch: "Nghề nghiệp?". Thanh đáp: "Chỉ điểm viên". Bình dịch: "Informateur". Tôi ngăn lại nói nhỏ bên tai Laurent: "Demandez lui la profession qu’il tien dans les rangs Việt Minh". Laurent gằn to lên. Bình dịch lại: "Anh nói kỹ nghề nghiệp anh làm trong hàng ngũ Việt Minh kia!". Nét mặt Thanh trở nên xanh tái. Thế là cú đòn có hiệu quả. Im lặng nửa phút, hắn bắt đầu buông thõng: "Dân quân du kích" (quái quỷ thế nào mà nó biết mình ở trong Việt Minh ra, bọn Phòng Nhì gớm thật!). Bình dịch xong, Laurent trố mắt, không hiểu ra sao cả. Một tên chỉ điểm viên lại là dân quân du kích! Người tố cáo lại trở thành bị cáo chăng? Laurent hất hàm hỏi tôi. Tôi nói nhỏ vào tai viên thượng úy già: "Demandez lui l'armemenl individuel d un guérillero?". Nghe qua lời phiên dịch lại, Thanh đáp một cách rụt rè: "Thì dân quân du kích đứa thì có cây súng mút, đứa có vài trái lựu đạn. Thế thôi". Tôi liếc nhìn vào bản viết dịch lại của phiên dịch. Thấy đoạn viết "vài trái lựu đạn" dịch là "quelques grenades" thiếu chữ "s" (chỉ số nhiều). Tôi nhắc lại: "Bình quên rồi sao? Vài là số nhiều phải thêm chữ s vào chữ grenades". Bình gật đầu sửa lại lỗi chính tả. Tôi nhắc Laurent hỏi thêm "phải hỏi nó Việt Minh giao cho loại vũ khí gì, khi đi canh gác?". Laurent hỏi, Bình dịch, Thanh trả lời: "lựu đạn". Anh được Việt Minh giao vài trái lựu đạn để canh gác hả? Nói cụ thể là hai hay ba?" - "Dạ, một trái ạ" - "Sao lại một vài thì ít nhất phải là hai trái chứ?" - "Dạ, hai trái". Tôi nhắc lại: "Việt Minh giao cho anh hai trái lựu đạn để canh gác phải không?". Thanh gật đầu: "Dạ, đúng ạ!". Tôi nhìn lại biên bản hỏi cung. Thế là tôi tìm được con đường sống cho chú bé. Chú bé ngồi ở góc phòng, hai tay ôm gối vẫn chăm chú theo dõi. Bước vào phút quyết định, tôi gợi một câu hỏi bất ngờ cho cả người hỏi cung như người bị hỏi cung: "Lợi dụng sơ hở của Việt Minh, anh ôm lựu đạn ra quy hồi với Chính phủ phải không?" - "Dạ phải" - "Anh đem lựu đạn nạp lại cho ai?" - "Dạ, cho ông Jacquemin". "Mấy trái?" - "Dạ, một trái" - "À, còn một trái nữa anh để ở đâu?". Thanh tái mặt ấp úng một hồi, rồi buột miệng nói bừa: "Dạ, tôi còn để ở nhà". Tôi như mở cờ trong bụng. Tôi liền đề nghị với Laurent, cho tạm giải lao, trong thời gian đó, cho trung sĩ Bình cùng với Thanh lên xe Jeep trở về Bình Thủy để lấy trái lựu đạn về đây, Thanh giữ là nguy hiểm. Bình cùng Thanh lên xe đi, Laurent vào căn-tin giải khát. Tôi ở lại phòng điều tra, lật lại các tờ hỏi cung, chuẩn bị buổi chiều hỏi tiếp những người còn lại. Hai binh sĩ được ra khỏi phòng nghỉ xả hơi. Một mình còn lại với cậu bé Nhâm, tôi chuẩn bị cho cậu đối phó với tình thế. Tôi hỏi: "Bây giờ đã đến lúc em phải phản cung, bằng không thì chỉ có chết! Em nói thật đi, sự việc xảy ra thế nào, em cứ bình tĩnh mà nói rõ". Nhâm cũng đã đủ thời gian, suy ngẫm và rút ra được nội dung phản cung hợp lý. Nó nói: "Chiều hôm đó, má tôi sai tôi đi mua nhang, đi ngang ngã tư thì gặp thầy đó chận lại, định nhét trái lựu đạn vào túi quần tôi, vu cho tôi liệng lựu đạn, tôi sợ quá vừa chạy vừa la: không phải của tôi, không phải của tôi. Nhưng chạy không thoát. Bị bắt về bót, bị đòn đau quá, tôi phải nhận bậy để tránh đòn". Tôi biểu Nhâm nhắc lại một lần nữa, rồi bảo: "Em nhớ chiều phải khai đúng như thế, nếu em muốn thoát khỏi cảnh tử hình". Nhâm vâng dạ. Chừng 15 phút, Bình và Thanh đã trở về cơ quan. Từ ngoài cửa phòng Bình đã văng tục: "ĐM, nó biểu cho xe chạy vòng vòng khắp chỗ, nhưng cuối cùng chẳng có lựu dạn đâu cả. Nó chỉ tán đóc thôi!". Tôi nhìn Laurent, nói: "Trái lựu đạn đó nó nằm ngay đây chớ đâu! Đó là tang vật của vụ án. Bởi vậy không thể tìm nơi nào khác được là lẽ tất nhiên. Thôi chúng ta hãy nghỉ. Chiều hai giờ chúng ta sẽ hỏi cung". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:10:50 pm Vừa về tới đầu ngõ 18 căn phố, chú Tư đã đứng đợi sẵn. Tôi đã không thất vọng, chú cho tôi danh sách hai người tình nguyện làm nhân chứng: một là chị Sương, thợ may, em vợ của bác sĩ Hoạch, hai là chú Hoa kiều mập ú, bán bánh bao, cũng ở ngay ở ngã tư xảy ra vụ lựu đạn. Nhưng đến lúc nào thì sẽ đến văn phòng? Đến rồi phải khai báo như thế nào? Tôi vui vẻ dặn chú: "Bảo họ đến đúng 14 giờ chiều nay, đến văn phòng 2è B. Secteur, còn hai người làm chứng phải nói như Nhâm khai sáng nay: thấy Nhâm vừa chạy vừa la khoát tay: "Không phải của tôi... Không phải của tôi!". Còn thấy Thanh đuổi theo dúi trái lựu đạn vào túi quần đùi của Nhâm. Hai người nói đúng như thế". Trước khi từ giã, chú Tư còn trao đổi cho tôi một bản cáo thị của Jacquemin ký tên, hứa sẽ tặng thưởng cho người nào bắt được Việt Minh ném lựu đạn: 100 đồng. Thêm một bằng cớ tăng sức mạnh cho bản phản cung của Nhâm. Chú Tư đã bóc nó từ thân cây trên đường phố Cần Thơ. Quả thật chú Tư là một cộng sự viên quý giá. Buổi chiều, "Tòa án binh", trong phòng với đầy đủ các thành viên. Hai nhân chứng sống đã đến đang ngồi chờ trước cửa. Tên lính ôm súng đứng trước phòng họp cấm không cho ai ra vào. Sau này, tôi người nghe nói lại, Jacquemin mấy lần muốn vào phòng, nhưng không vào được, vì Fallon đã trót hứa với tôi toàn quyền hành động trong ngày. Cả buổi trưa, ăn cơm xong, tôi đã bắt đầu suy nghĩ: "Dự kiến kết luận buổi phản cung, các yếu tố đã có đủ. Lý lịch "bất hảo" của Thanh chưa đủ để tín nhiệm. Trái lựu đạn Thanh đã nhận cất giấu ở nhà không tìm thấy. Bản cáo thị của Jacquemin với sức hấp dẫn 100 đồng khen thưởng chỉ chờ lời phản cung của Nhâm và lời khai của hai nhân chứng là đủ chứng minh sự vô tội của Nhâm. Tốt nhất là phải để cho Thanh tìm đường rút lui trước!".
Sau khi nghe Bình báo cáo lại việc săn tìm trái lựu đạn không có kết quả, tôi đề nghị hãy ghi nhận sự việc, rồi chuyển sang hỏi cung Nhâm. Nhâm vẫn khai đúng như nói buổi sáng với tôi. Mấy lần Thanh định mở miệng cắt ngang, thì hai tên lính cầm ma-trắc giơ lên hăm đánh, làm cho y rụt cổ, đứng im. Đến lượt gọi hai nhân chứng vào. Chị Sương và chú Hoa kiều được hỏi riêng biệt kẻ trước người sau, từng người một đều thừa nhận là Nhâm bị Thanh dúi lựu đạn vào túi quần để vu vạ. Liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay Zenit hình chữ nhật: đã hơn 15 giờ rưỡi, chỉ còn hai tiếng rưỡi là phải kết thúc phá án. Tôi nôn nóng, xin lỗi thượng sĩ Laurent, trực tiếp hỏi cung để tiện mớm cho Thanh, tên chỉ điểm. Tôi nhìn thẳng vào mặt Thanh tìm phương án để Thanh giải quyết. Ta có thể kết luận được rồi: đối với Nhâm lời phản cung đã được hai nhân chứng xác nhận. Còn đối với Thanh, chỉ có một lối thoát duy nhất giữa hai đường phải chọn lấy một. Một là anh phải thú nhận anh có nhét lựu đạn vào túi quần của Nhâm, vì muốn được lãnh 100 đồng tiền thưởng (tôi đưa bản cáo thị của Jacquemin cho Bình đọc). Như thế, có lẽ là tốt nhất. Thay vì được thưởng, anh có thể bị chủ sở "mắng" nhưng vẫn tự do. Và, Nhâm khỏi phải chết. Hai là anh cứ khư khư đòi kết tội Nhâm chưa đủ bằng cớ thì ông quan năm cũng chưa kết án được. Dù Nhâm bị xử bắn thì anh cũng chẳng lợi lộc gì, hơn nữa, hồn ma của nó sẽ theo dõi anh suốt đời không buông tha anh đâu! Và, chúng tôi, quân đội Pháp cũng phải giam giữ anh cho đến lúc nào tìm ra trái lựu đạn mà anh cất giấu. Bởi lẽ như anh thấy đó, không tìm thấy lựu đạn đó thì chúng tôi không thể ăn ngon ngủ yên được. Cấp trên cũng không để chúng tôi yên. Anh suy nghĩ kỹ lời tôi chọn một trong hai điều tôi kể ra cho anh biết đấy, không có cách nào khác! Không đầy một phút suy nghĩ thiệt hơn, sau cùng Thanh chọn điều một, xin một tờ giấy để viết lời thú tội, viết xong đề ngày tháng và ký tên vào. Kim đồng hồ đến 5 giờ chiều. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm, liền gấp rút chỉnh lý hồ sơ và trình lên văn phòng đại úy. Thanh cũng thở phào xin phép trở về sở. Tôi hội ý với Laurent ký giấy tạm giam Thanh vào khám Cần Thơ: "Anh hãy tạm nghỉ ở đây một đêm, sáng mai có lịnh chủ anh, chúng tôi sẽ thả về. Tuy nói thế, nhưng lòng tôi không muốn thế: những con chó ghẻ không nên để cho nó chạy rong khắp đường". Mặt khác, tôi cũng chưa biết đại tá Cluset có quyết định cuối cùng ra sao cả. Đúng 6 giờ, trước lúc tan giờ, đại úy Fallon đi hội ý về đưa trả lại tập hồ sơ bản án Nguyễn Văn Hai (tự Nhâm). Tôi liếc nhìn trang đầu bên trái, chỗ dòng bút chì đỏ: "Lanceur de grenades" đã bị gạch chéo ngang cũng hằng bút chì đỏ. Phía dưới tôi đọc chữ của Cluset: A relaxer tout de suite le nommé Hai dit Nhám. Demain matin, 9 heures, au marché, à fusiller le nommé Nguyễn Văn Thanh avec une grande pancarte: "Faux accusateur de lanceur de grenade". (Tha ngay tên Hai gọi là Nhâm. Sáng mai, 9 giờ, tại chợ, đem bắn tên Nguyễn Văn Thanh với một tấm bảng lớn: "Tội vu cáo người khác ném lựu đạn", vẻ mặt đại úy mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ, vì đã tránh xử tử một vị thành niên vô tội. Lòng tôi cũng vui sướng, có lẽ còn hơn đại úy bội phần, và chỉ có thể bộc lộ cho chú Tư Ngà biết để chia vui. Sáng hôm sau, đúng 9 giờ sáng, tôi ra coi xử bắn, để tận mắt mục kích cái chết của một tên phản bội tổ quốc, nếu tôi được quyền thay đổi tội danh. Cả chợ cá cũng ùn ùn đố ra xem chật đường, một mặt vì hiếu kỳ, nhưng số đóng ai ai cũng căm ghét hành vi dùng lựu dạn để tống tiền của bọn lính kín. Một toán 12 lính tập, dưới sự chỉ huy của một ách Pháp làm nhiệm vụ hành quyết. Tên Thanh bị trói chằng ngang lưng quanh gốc cây dái ngựa, bên lề đường, mắt bịt, đầu cúi xuống. Một tiếng hô "phơ" là tiếng nổ đồng loạt ghim vào ngực hắn. Có lẽ các viên đạn đều trúng vào bên phải trái tim. Thân thể hắn nhũn ra và tuột dần trong vòng dây trói xuống gốc cây. Hắn đã chết, không cần viên đạn ân huệ cuối cùng. Dưới chân hắn không có một giọt máu. Đất mẹ Cần Thơ không cần giọt máu của đứa con hư! Cả 12 viên đạn của các anh lính tập đều trúng vào trái tim đen của hắn, máu chảy vào trong. Thế cũng là rồi một đời kẻ phản bội đền tội xứng đáng. Và cũng với vụ xử bắn, có giàng giá công khai, lần thứ hai này, chỉ trong vòng mấy tháng năm 1947 đã kết thúc trò chơi tàn ác xử bắn công khai giữa chợ những phần tử Việt Minh mang tội danh "khủng bố". Mở đầu bằng bắn một thiếu niên vị thành niên trái với mọi pháp luật quốc tế. Và, kết thúc bằng việc bắn chết một tên phản bội, làm tay sai đắc lực cho mình trước mắt nhân dân thành phố Cần Thơ, trên khoảng đất cạnh cầu tàu lục tỉnh và chợ cá Cần Thơ. Cái trò hề ấy được đập vỡ ngay trong lòng trứng, bằng những bàn tay của chính kẻ thù thực dân. Người có công với chúng biến thành kẻ có tội, người có tội đối với chúng trở thành vô tội và được thả ngay trong hôm đó. Sự thật đó không một ai biết, ngay những kẻ được tham gia xét xử và thi hành án, trừ Nhâm, chú Tư Ngà. Còn tôi, lẽ đương nhiên vì nghiệp vụ, vì mạng sống, không dám hé răng mở miệng nói nửa lời. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:11:57 pm Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi. Cách 37 năm sau, mồng 4 tết năm 1984, nhân dịp đầu năm mới, có cuộc họp mặt hàng năm của anh em quân báo Khu 9, đã nghỉ hưu ở tại nhà anh Ba Phấn, trưởng ban quân báo Khu 9, số 61, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cần Thơ, đến lúc gần ra về, tôi chợt nhìn thấy bên cạnh tôi, một người gần 60 tuổi, vóc dáng nhỏ thó. Vẻ mặt ngờ ngợ thấy quen, tôi hỏi: "Anh có bị bắt ở khám Cần Thơ lần nào không?". Anh ấy ngước mặt nhìn tôi, rồi ôm chầm lấy tôi, không nói lên lời. Anh kể lại nguyên nhân bị bắt do tên Thanh, theo dõi anh từ cây da qua bến đò đến ngã tư, gần nhà tên Tài lính kín, mục tiêu anh định đánh khi tên Tài trở về nhà. Anh vừa rút lựu đạn ra cầm tay, thì bị tên Thanh theo dõi từ sau nắm chặt bàn tay, cả trái lựu đạn, không vùng vẫy được. Ở khám lớn, anh bị nhốt vào xà lim tử tù, chung với một chiến sĩ người Khơ-me bị giải từ Sóc Trăng lên, cũng bị khép án tử hình, nhưng chờ giải lên Sài Gòn mới xử. Sáng hôm xử tên Thanh chính anh là người bất ngờ nhất. Thấy xe cây tới, anh em tù nhân đều đứng nhìn sau song sắt chờ vẫy tay chào, không ngờ khi cai ngục đến kêu tên Thanh ra, thì mọi người đều nhìn nhau sửng sốt. Thanh được dẫn đi rồi lại đến lúc anh được phóng thích. Anh mừng rỡ về luôn cơ quan, cũng tần ngần không rõ lý do vì sao được thả. Anh hỏi anh Mười Lời (phụ trách Phòng Tình báo Cần Thơ, anh chỉ nói ỡm ờ: "Nhờ cơ sở ta giúp thế thôi!". Sau đó, anh được chuyển lên công tác ở Cao Miên. Sau Hiệp định Genève, anh lên chiến đấu ở chiến trường Lào bị thương rồi chuyển ngành về Bộ Cơ khí luyện kim, đi học lớp quản lý. Hòa bình lập lại, thống nhất hai miền, anh xin về Hậu Giang, cưới vợ sanh được ba cậu con trai. Vợ anh, hiện là Phó giám đốc bệnh viện da liễu Hậu Giang. Ba cậu con trai là: Quốc, Nam và Hậu Giang; nhà ở phía sau lưng trường phổ thông cơ sở Đầu Sấu, thuộc xã Bình An, một xã anh hùng của thành phố Cần Thơ... Nhâm rút túi đưa cho tôi xem thẻ thương binh: phỏng vì bom Napan, thương tật 8/8. Thoát khỏi tử thần, vẫn không thoát bom Napan! Cuộc đời binh nghiệp là thế đây! Đạn bom, và kẻ thù không giết nổi con người.
Tháng 3/1947, được tin anh Tám Miêng về thay anh Cần làm trưởng đoàn Tình báo Thành bộ Cần Thơ. Tôi vẫn là Phó cho anh Miêng. Tôi mừng vì đã có người chỉ đạo ờ Phòng Tình báo tỉnh Cần Thơ, anh Mười Lời lên thay thế anh Ba Quang đã công tác khác. Khi mấy anh báo tin anh Ba Phấn đi học lớp tình báo ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ đã trở về chỉ đạo Tình báo Khu 9. Lúc này văn phòng đóng ở Miễu Ông. Theo quy ước mới với anh Tám Miêng, địa điểm của văn phòng Tình báo thành hễ thay đổi thì căn cứ theo tọa độ mà thông báo cho tôi biết, tôi sẽ dò theo bản đồ mà tìm đến mỗi khi cần, làm thế vừa đảm bảo bí mật khỏi cần liên lạc dẫn đường. Tôi nhớ kỷ ngày đó là ngày 14/1/1947. Đã hơn 6 giờ chiều. Sau khi canh tọa độ lên bản đồ tôi thấy đúng là Miễu Ông. Cách Cần Thơ 4km phía Tây nam. Tôi thay ngay bộ đồ bà ba đen, một mình tới ngã ba cây xăng đường rẽ xuống Cầu Bắc, tôi nhắm hướng Tây nam đi thẳng, băng đồng, ước lượng chưa đầy nửa km, thấy một con đường đất ai nới đắp, xăm xúi đi, bỗng một chú bé chăn trâu đang ở mé ruộng bên phải kêu la: "Chú ơi! Chú đi đâu?". Tôi bỗng nhìn lại, chú bé tuột xuống khỏi lưng trâu, chạy đến bên tôi bảo nhỏ: "Chú đi đường đó dẫn về bót Hòa Hảo, đừng vô đó, nó chặt đầu đa". Tôi giật mình: "À, thì ra Ba Gà Mổ cất bót ở đây khi mới về đầu Tây mà mình không hay biết". Tôi hỏi nhỏ chú bé: "Vậy muốn đi vào Miễu Ông thì phải đi đường nào?". Chú bé dẫn tôi đi vòng quanh bót, ra khỏi phạm vi kiểm soát của chúng, chú chỉ bảo tôi lùm cây xa trước mặt: "Chú cứ nhằm lùm cây xanh xanh đó mà đi, đó là Miễu Ông...". Tôi mừng rỡ từ biệt em bé, quên cả cảm ơn. Đi gần nửa đường sực nhớ lại: Mình thật vô ơn. Một em bé tuổi 15 chăn trâu, có lẽ chưa được đi học mà còn biết tìm cách giúp cho người qua đường, khỏi đi lạc vào bót Hòa Hảo, lại còn chí dẫn đường đi qua khỏi bót, thế mà mình chẳng màng hỏi tên họ để cảm ơn. Chỉ biết mình không nhớ đến người khác, thật là vô tình. Đi đến Miễu Ông, đúng vị trí tọa độ, một thanh niên đến hỏi giấy tờ. Tôi nói: "Chú dẫn tôi đến gặp Tám Miêng". Tôi theo chân chú ấy đến cuối vườn trong một gian nhà lá. Như mọi lần làm việc xong đến nửa đêm, dưới ngọn đèn dầu leo lét. Anh Tám bảo tôi nên ở lại gần đến sáng hãy ra về. Không có giường nằm chúng tôi ôm nhau ngủ dưới đất. Trong đêm, anh Tám cầm đàn ghi-ta đánh bài "Tình đồng chí" cho tôi nghe. Thế là tôi ngủ thiếp đến sáng. Nhớ lại, nay đã 40 năm rồi, mỗi khi nghe bài hát "Tình đồng chí" tôi lại nhớ đến anh Tám, với túp lều tranh đậm đà tình nghĩa anh em! Tôi nhớ rất rõ, khi tôi về nhà ở số 9 dãy 18 căn, thì vợ tôi đang ôm bụng co quắp trên giường. Thấy tôi về nhà, cậu Chùy cho tôi biết: chị ấy đang bị dịch tả (choléra). Tôi lập tức đem vợ tôi đến bác sĩ Du, ông khám rồi bảo tôi đem về, ông lắc đầu: bất trị. Nghe thấy vậy, tôi liền bảo cậu Chùy đem ngay ba đứa con ở tạm nhà của Dinh, không cho về nhà sợ lây. Tôi bước lên giường, ôm vợ tôi vào lòng, nhìn vẻ mặt gầy gò của vợ tôi, tôi thấy lòng quặn thắt. Đến giờ phút chót của vợ tôi, tôi cũng không được nói ra lý do vắng mặt của tôi cho vợ con biết: "Đi theo anh, tưởng đâu em sẽ đỡ khổ hơn, ngờ đâu phải bỏ mình nơi đất khách! Một đứa con trai, một người vợ cần mẫn đều theo nhau về với ông bà". Nhớ tới thằng con trai đã được rửa tội, để mong cho em yên nghỉ trên thiên đường, tôi hỏi vợ: "Em có muốn được rửa sạch tội trước không?". Một cái gật đầu nhẹ. Tôi làm phép rửa tội cho vợ tôi. Thấy vợ tôi mở mắt nhìn tôi, nước mắt lưng tròng, tôi nói trước: "Em cứ yên tâm đi trước, anh lo cho các con rồi sẽ đi sau. Em về báo cáo lại với cha, ông; anh không bán nước theo Tây đâu! Hồn em có linh hãy theo giúp đỡ anh làm tròn nhiệm vụ". Mắt vợ tôi hình như mở to ra bốc lên tia sáng tàn lụi. Trong cơn đau khổ, tôi vuốt mắt cho vợ tôi. Lúc đó vào 10 giờ sáng ngày 15/4/1947. Ngày lễ Phục sinh của Chúa lại là ngày buồn khổ trong gia đình tôi. Bà con lối xóm rắc đổ vôi bột vào quan tài và xung quanh vách, cùng chia nhau lo việc đám tang. Chiều và tối hôm đó, tôi bắc cái ghế dài nằm song song với quan tài, trằn trọc suốt đêm không nhắm mắt. Cả căn hộ, chỉ độc một người nằm cạnh người chết! Tôi lấy cái áo dài trắng để dành từ lâu ra để đưa đám vợ tôi về nơi an nghỉ cuối cùng. Thuê người xây xi-măng và làm bia nơi mộ phần ở nhị tỳ Cầu Xáng Cụt. Hòa bình lập lại, tôi trở về Cần Thơ, thì nhị tỳ đã cất nhà san sát, hỏi thăm chẳng còn biết nơi nào. Trả giá cho 30 năm chiến tranh: một con, một vợ đã nằm lại vĩnh viễn nơi mảnh đất miền Tây: 11/1945 Mỹ Tho, 4/1947 Cần Thơ, những cột mốc của cuộc đời kháng chiến của tôi. Đám ma không kèn không trống... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Năm, 2026, 09:12:40 pm Theo sau chiếc quan tài, chỉ có tiếng khóc của ba đứa trẻ thơ và chị vú, thút thít khóc thầm, không có bà con lối xóm giúp đỡ, tôi cũng chẳng biết xoay xở làm sao. Xoay quanh cái chết của vợ tôi, cũng không ít lời bàn ra tán vào, do đã xảy ra chuyện bắt ghen ở nhà cô Nhụy (TH 18), hơn nữa, hôm vợ tôi chết, lại là lúc tôi vắng nhà, cái đó chẳng giấu giếm được ai. Vợ tôi lại chết bất đắc kỳ tử chỉ trong vòng nửa ngày. Có người nói tôi vì mê gái nên đầu độc vợ. Mối quan hệ tay ba: Hiến, Phấn, Nhụy thường được châm biếm dưới mắt mọi người lối xóm, và cả trước mắt bọn sĩ quan binh sĩ Pháp, như là một mối quan hệ của một hạ sĩ quan mê gái. Đó là tấm bình phong tôi tự chọn cho mình. Vì vậy hôm sau ngày vợ tôi mất, khi thuật lại rõ tự sự cho anh em binh sĩ nơi làm việc biết đúng tới từng chi tiết, chỉ trừ chi tiết tôi đã vắng nhà trong đêm, thì hạ sĩ Zédenberg đã thốt lên một tiếng: "C'est providentiel" (thật là trời giúp). Ý muốn nói tôi được bớt một kỳ đà cản mũi trong quan hệ xã hội. Tất nhiên, không nói ra. Anh em trong đơn vị công tác đều mừng cho tôi. Bà giáo Phận săn sóc mấy đứa con tôi, để cho tôi rảnh tay công tác. Đùng một cái, một hôm đại úy Nogret cho gọi tôi lên văn phòng 2è Bureau Zone Ouest. Đại úy đem chuyện vợ tôi chết không xin giấy phép mai táng bịnh viện Cần Thơ ra hỏi tôi. Đúng là một sơ suất về thủ tục hành chính. Nhưng ngày vợ tôi chết nhằm ngày chủ nhật và hôm sau, ngày thứ hai, đưa đi chôn lại là ngày lễ Phục sinh, bịnh viện đóng cửa không làm việc, nên khi chôn cất xong, không ai chú ý đến vấn đề tờ giấy phép xin chôn cất khi người chết đã nằm dưới nấm mồ. Thấy công việc không chỉ đơn thuần là giải quyết vấn đề thủ tục, nhận thiếu sót là xong, tôi liền đề nghị em vợ tôi là Mai Chùy lên để đại úy đối chiếu. Mai Chùy cũng xác nhận vợ tôi chết vì bệnh dịch tả và đã đem đi bác sĩ xin điều trị là bác sĩ Du. Nogret cho mời cả bác sĩ Du người đã khám cho vợ tôi, để đối chất. Bác sĩ Du cũng xác nhận đúng là bị bịnh dịch tả hết phương cứu chữa, nên cho đem về nhà. Thì ra, trong lúc tôi vắng nhà, vợ tôi đi đánh bài tứ sắc một đêm ở nhà trung sĩ Dung, phiên dịch viên của đại úy Nogret. Đến sáng, lục cơm nguội ăn với dưa leo, uống nước lã. Nghe Chùy kể lại, tôi hiểu ngay nguồn tin của Nogret do Dung báo cáo. Tôi không giận trung sĩ Dung, mặc dù biết chắc là Dung đã báo cáo với Nogret, vì tôi hiểu Dung là một người hút á-phiện và nhà hắn chứa cờ bạc. Nhưng trong quá trình công tác, chưa thấy có hành động gì đáng nghi của một công chức cạo giấy. Chú Tư Ngà cũng xác nhận như vậy. Nhưng qua sự việc đó, tôi lại càng thận trọng hơn đối với đại úy Nogret. Đã ba lần hắn để ý đến tôi, mỗi lần mỗi nghiêm trọng hơn, có tính chất thành kiến. Tôi nhớ lần đầu tiên, hình như vào tháng 9/1946, khi đang công tác dưới quyền của hắn, hồi đó tôi đang tập tành xài theo sĩ quan Pháp ở thuộc địa, cũng tập hút thuốc bằng ống vố, tôi sắm một cái ống vố thật sang trọng, giá đúng 100 đồng, cốt bằng gỗ bruyère, đót bằng ngà voi. Kể như cả Cần Thơ chỉ có một cái thôi! Đang lập bập thích thú ống vố say sưa đầy thuốc Half & Half của Anh thơm phức, bỗng thấy Nogret đến gần đang vê điếu thuốc cuốn tổ kèn. Hắn nhìn tôi nghiêm khắc: "Trần Hiến, tu es si laid avec tagrosse pipe" (Trần Hiến ạ, tao thấy mầy quá xấu với ống vố to bự của mầy). Chiếm cảm tình với thượng cấp, tôi không ngần ngại vất ngay ống vố qua cửa sổ: "Pour vour faire plaisir, je ne fume plus en pipe". Và tôi đã giữ lời hứa đó. Zédenberg thấy tiếc quá, phóng qua cửa sổ lượm đem vào đặt lên bàn. Tôi nhìn Zédenberg thông cảm: "Mày giữ mà dùng". Thì ra, đối với Tình báo viên công việc là công việc. Đừng hòng tình cảm để mong được bỏ qua những sơ xuất của mình.
Vào nửa cuối năm 1947, ban chỉ huy Zone Ouest, đã cho tổ chức một trại giam tù binh (Internés-militaires) ở Thốt Nốt, lấy cái vựa lúa của bọn Nhật để trống từ lâu. Có lẽ đó là trại giam đầu tiên theo qui ước tù binh để tạm giam những người bị bố ráp trong các cuộc hành binh đưa về Zone Ouest. Những người bị đưa về giam hầu hết ở các phân khu Sóc Trăng, Rạch Giá đưa về. Ở Cần Thơ có một trường hợp duy nhất làm tôi còn nhớ mãi. Đó là một cậu bé tên là Nguyễn Văn Nhâm (cũng trùng tên với cậu Nhâm, tự Hai) đã nói ở trên. Chỉ có khác là tuổi trên giấy tờ chỉ có 13 tuổi, và cũng bị bắt vì có thủ một trái lựu đạn trong túi quần. Hôm đó, tôi ngạc nhiên vì thấy sở lính kín dẫn sang một cậu bé với một hồ sơ dầy cộm, nhưng không có dòng bút chì đỏ của Cluset phê bên cạnh. Tôi hỏi tại sao không đưa ông quan năm xem như mọi trường hợp được gọi là "quân khủng bố", viên chức áp tải nói: "Tôi không rõ". Tôi đọc kỹ hồ sơ hỏi cung của sở lính kín. Tóm tắt như sau: Nhâm 13 tuổi, không cha, không mẹ, bị bắt vì trong túi quần có trái lựu đạn, hỏi thì còn nói rằng có người mướn ném, ném xong về lãnh tiền công là 5 đồng. Hỏi ai mướn. Em chỉ địa chỉ một thợ may. Bắt anh thợ may hỏi, anh này không quen biết Nhâm. Vì không kết luận được ai là chủ mưu, nên sở lính kín đưa qua Phòng Nhì để hỏi cung. Tôi hỏi địa chỉ Nhâm bảo ở cầu Bắc. Nếu cần em sẽ dẫn đến nhà em ở. Chúng tôi, Zédenberg cùng tôi, dẫn Nhâm lên ngồi xe Jeep, đi đến gần khúc của qua cầu Bắc. Dọc đường ngồi trên xe, tôi tranh thủ hỏi em tại sao lại khai báo cho anh thợ may làm gì, nếu lỡ anh bị bắt giam oan thì sao? Em bảo: "Anh ta mướn em 5 đồng thật mà. Hôm ở sở lính kín em còn đòi nợ ảnh 5 đồng, mà ảnh chưa trả". Tôi phì cười, dịch lại cho Zédenber nghe anh cũng phì cười như tôi. Đến ngã tư cầu Bắc, Nhâm nhìn dáo dác hồi lâu, rồi mới chỉ chỗ xe dừng. Xe dừng lại chúng tôi đi tới, đi lui hồi lâu mà chẳng vào nhà nào cả. Tôi vẫn bình tĩnh theo Nhâm không nói gì, Zédenber hỏi: "Sao, không nhớ chỗ ở à?". Tôi hỏi lại Nhâm, Nhâm đáp thản nhiên: "Bị lính kín đánh đến mờ mắt không nhìn rõ". Mười lăm phút sau, Nhâm chỉ vào một gian nhà lá. Một cụ già đứng ở cửa nhìn ra, nói: "Tôi có biết thằng nhỏ này là ai đâu?". Hỏi lại Nhâm, Nhâm đáp: "Tại họ thấy tôi bị bắt không dám nhìn đó thôi", về tới văn phòng, chúng tôi báo cáo tình hình lại cho đại úy Fallon rõ. Tôi cũng nhún vai đành chịu: "Chỉ là một nhóc con, chẳng lẽ đưa ra pháp trường cho công chúng thấy chúng ta bắn trẻ con một lần nữa sao?". Hay là có cái C.I.M (Camp des internés militaires) Thốt Nốt, chúng ta đưa vào đấy cho chú bé đủ thời gian suy nghĩ việc làm của mình. Đại úy đồng ý với đề nghị của tôi. Dù sao, ở tù còn hơn bị bắn. Mà xử bắn chú bé 13 tuổi quả chẳng răn dạy được ai. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:38:51 pm Ba Dò bị thủ tiêu. Ban ám sát của Hòa Hảo bị giải tán, nhưng việc tống tiền cướp của trong nhân dân thành phố Cần Thơ không phải vì thế mà chấm dứt. Hôm đó sở lính kín đưa đến một thanh niên, mặc áo bà ba đen, với một tập hồ sơ đã hỏi cung sẵn. Tôi không còn nhớ rõ tên hắn. Trường hợp bị bắt: do bị đồng bào tố cáo hắn thu đảm phụ quốc phòng cho Việt Minh. Tang vật: một tập biên lai đảm phụ quốc phòng đánh máy. Tôi đọc kỹ tiêu đề các biên lai: Quân khu 9, Tiểu đoàn 536. Hai điểm làm tôi phân vân, một là từ trước đến nay, chưa có bao giờ đồng bào tố cáo cán bộ Việt Minh cả, hai là trong danh bạ các đơn vị bộ đội mà tình báo địch nắm chưa có phiên hiệu nào giống như thế. Các đơn vị công tác thành cũng không có số hiệu đó, Ban Tình Báo Cần Thơ mang phiên hiệu 4/181. Vốn tính cẩn thận, tôi hoãn đến chiều cuộc thẩm vấn, về nhà, tôi nhờ chú Tư xác định lại tên đơn vị. Trước giờ làm việc buổi chiều, chú Tư cho biết: văn phòng cho biết, không có đơn vị nào có số hiệu như thế và cũng không có đơn vị nào được phân công đi góp đảm phụ quốc phòng cả. Trên đường đến sở làm, tôi quyết định thái độ: để thượng sĩ Laurent hỏi cung, tôi chỉ làm nhiệm vụ phiên dịch. Hỏi: "Anh ở đơn vị nào?". Đáp: "Tiểu đoàn 536". Hỏi: "Đơn vị anh đóng ở đâu?" - "ở trong Khu". Tôi thét lên: "Láo!". Rồi không kịp để cho nó né tránh, hai tay tôi dang thẳng ra, hai bên xòa rộng hai bàn tay, những ngón tay khép chặt với nhau, với một thế võ bất ngờ, tôi tát mạnh vào hai lỗ tai tên bị bắt: hai giọt máu nhỏ ri ra từ đôi tai của nó. Trước con mắt kinh ngạc của Laurent, người hỏi cung, không để cho tội phạm hoàn hồn, tôi nói ngay: "Khôn hồn hãy dẫn ngay đến chỗ ở mày liền!". Thế là nó ngoan ngoãn vâng lời. Đến Cầu Xéo, nó chỉ chiếc ghe lường đang đậu sát với các ghe khác. Tôi và Laurent xuống. Trong ghe không có gì hết! Lật tấm ván lên, ớ dưới còn nằm lăn lóc một củ khoai lang cắt đôi. Đưa lên cho mọi người xem: một con dấu khắc sẵn, còn in mực đỏ, tôi đọc: "Quân khu 9, Tiểu đoàn 536". Đúng là con dấu in trên tập "Đảm phụ quốc phòng". Công việc đến đây kết thúc. Con cáo đã lộ nguyên hình. Là mội trò chơi của Jacquemin hay của Ba Gà Mổ? Không quan trọng, chỉ cần biết trắng đen. Kẻ thù của chúng ta đâu phải có hai tên ấy?
Tôi nhớ, một buổi chiều chưa đến 6 giờ, một chiếc xe Jeep dừng lại trước cổng. Đại úy Nogret một mình ngồi trên chiếc xe bước xuống vào gặp ngay tôi: "Trần Hiến, mày đi với tao" - "Đi đâu?" - "Rồi mày sẽ biết". Tôi lên xe ngồi băng sau, chưa biết đi đâu, xe quanh lại đường Pasteur, đến dừng ngay trước Sở Cảnh sát đặc biệt Cần Thơ, ở bên hông trường College. Vào Sở Cảnh sát, Nogret dẫn tôi vào gian phòng rộng rãi ở phía sau, đó là gian phòng hỏi cung. Tôi nhìn vào, trước mặt tôi ngồi trên một vũng máu, một chị phụ nữ, đầu tóc rối bời, đang gục đầu. Nogret chỉ ngay vào tôi. Chị ngẩng đầu nhìn lướt qua tôi rồi lắc đầu. Tôi cũng nhìn chị không chớp. Đúng là người tôi chưa hề thấy mặt lần nào. Phản ứng tự vệ đến ngay với tôi hơn là sợ sệt. Lên xe trở về cơ quan. Ngồi trên xe, tôi chất vấn ngay: "Ông đem tôi đi đến Sở Mật thám chỉ có bây nhiêu thôi à?" - "Vì tao muốn biết mày có gặp mụ ta ở đâu không?". Tôi đáp lại: "Có thể tôi có gặp nhưng tôi không nhớ rõ. Ông biết tôi ngồi ở cửa 2è B, vào ra hàng ngày tiếp hàng trăm người, họ nhớ tôi thì dễ, còn tôi làm sao nhớ hết từng gương mặt mỗi người?". Đến cổng, tôi nhảy khỏi xe, không chào hỏi chạy xộc một mạch vào phía sau, nơi làm việc của hai đại úy Lotte và Fallon. Tôi lặng lẽ gỡ hai cái galon thượng sĩ trên cầu vai, đặt lên bàn: "Tôi trả galon lại cho các ông. Thế này thì nhục quá. Tôi không làm nữa!". Tôi thuật lại đầu đuôi câu chuyện đi "dạo mát" với đại úy Nogret, rồi kết luận: "Đem một hạ sĩ quan quân đội Pháp cho mụ Việt Minh nhìn mặt! May mụ ta lắc đầu chớ gật đầu thì hai ông tính sao? Lẽ nào đại úy bỏ tôi vào tù không xét xử? Tôi nói thật, cách xử sự như thế không xứng đáng với tư cách một sĩ quan Pháp chút nào cả!". Hai đại úy nhìn tôi cười: "Nogret nó làm, chứ tụi tao có làm như thế đâu. Thôi, mày cài lại galon để tao nói lại với Nogret cho!". Tôi cài lại galon, chào hai đại úy rồi rút lui. Đã đến giờ phải về. Dù sao không bắt được tay, day được trán thì ta vẫn còn bám trụ. Rút lui thì ai sẽ làm nơi đây thay ta! Vào được đây làm không phải dễ dàng chút nào. Chỉ vài hôm sau đó, sở lính kín lại đưa đến người phụ nữ đó cho tôi lấy khẩu cung. Tôi nhìn cô ta vẻ mặt tiều tụy quá, nhưng đôi má vẫn bầu bĩnh, nhan sắc vẫn còn đầy đặn. Tôi nhớ lại hình ảnh cô ngồi trên vũng máu, cô vẫn quay sang nhìn tôi và lắc đầu. Chúng nó muốn gì nơi người phụ nữ này? Đọc qua hồ sơ tên Trần Thị Tuyết, đơn vị công tác: Công an Xung phong, bắt được trong người mang giấy khen của Ban Binh vận Việt Minh. Cuối hồ sơ có giấy khen thưởng của Ban Binh vận Cần Thơ cấp cho chị Trần Thị Tuyết, vì đã có thành tích địch vận được hai súng trường Anh. Tôi không hỏi chị điều gì thêm. Tập hồ sơ dày cộm đủ quá rồi, chứng cứ thừa để cho Cluset kẻ hàng chữ đỏ nếu đưa lên đặt dưới mắt nó. Trẻ con nó chẳng tha thì đàn bà nó cũng chẳng kể. Áo quần tả tơi, đi không muốn nổi, phải vịn vào tên lính dẫn đường. Đại úy Fallon ở trong phòng bước ra, nhìn thấy cũng bắt đầu tỏ vẻ ái ngại. Chụp được thời cơ, tôi liền tấn công luôn: "Đại úy thấy họ, họ đã khai thác thêm, rủi có bề nào đùn tiếng ác tra tấn tù binh đến chết cho quân đội Pháp gánh chịu đó!". Đại úy hỏi tôi: "Thế mày tính sao?". Tôi nói ngay: "Tốt nhất là đem cô ta đến trạm quân y làm công việc của họ đã, nếu thấy cô ta có thể chịu được sẽ đem về lấy cung cũng không muộn. Dù sao, nhân viên của Jacquemin cũng đã săn sóc cho cô ta mấy tuần nay rồi". Fallon nghe lời tôi. Tôi giành lấy trách nhiệm dẫn cô ta đến trạm quân y, gặp đại úy bác sĩ, tôi dặn: "Đây là nữ tù binh Việt Minh, bị cảnh sát săn sóc quá đặc biệt, đại úy Fallon bảo tôi dẫn đến nhờ bác sĩ điều trị giùm để sớm được hồi phục, may ra cô ta có ích cho quân đội ta". Tôi biết đại úy là một bác sĩ trẻ, mặc dù có bộ râu quai nón để dài đến ngực, nhưng bác sĩ có lòng nhân hậu. Bác sĩ cũng là người đã cứu chữa cho đứa con trai duy nhất của anh Tư Quý được thoát khỏi bịnh thương hàn. Suốt một tháng trời, đứa trẻ sơ sinh nằm lăn lóc trên nôi. Bác sĩ đã tận tình kê đơn thuốc, chích thuốc cho đến khi khỏi hẳn mới thôi. Tuy mang quân hàm đại úy quân y nhưng chỉ làm nhiệm vụ trưởng trạm quân y Cần Thơ, săn sóc người bịnh, không phân biệt đối xử. Một thầy thuốc tốt hiếm có. Một tháng sau, Trần Thị Tuyết xuất trạm quân y, gửi trả lại cho 2è Bureau. Gương mặt hồng hào béo tốt. Đại úy Fallon nhìn thấy rõ hài lòng. Tôi tranh thủ ngay: "Đại úy có thấy sự kỳ diệu này không? Sở lính kín bàn giao cho chúng ta một mớ giẻ rách, nhờ ơn đại úy, chúng ta đã trả lại cho cô ta hình dáng con người. Rất tiếc là phải tống giam trở lại khám lớn. Chúng ta còn có cách nào khác tốt hơn không?". Đại úy ngước mắt nhìn tôi, chờ câu gợi ý. Tôi nói bâng quơ như vừa bất chợt một ý nghĩ thoáng qua. "Hay là chúng ta thuyết phục cô ta làm việc cho chúng ta?". Đại úy chớp mắt: "Ừ, nếu thế thì hay quá, mày thử dò xem". Tôi chào đại úy, dẫn Trần Thị Tuyết sang phòng bên cạnh. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:39:59 pm Đời tôi đây là lần đầu tiên và có lẽ là lần cuối tôi phải làm cái việc trái khoáy, là thuyết phục một người ra làm việc cho Phòng Nhì quân đội Pháp, có lẽ cũng là lần đầu tiên, tôi thấy công việc ấy không phải là dễ. Tôi thử buông câu: "Ông quan ba nói rằng nếu chị chịu làm việc cho ông ta, thì chị được tự do ngay, chị chịu không?". Bốn mắt nhìn nhau: "Thế nào chị trả lời đi!" - "Không!". Câu trả lời sắt thép ấy tôi thấy người phụ nữ này biết lựa chọn giữa cái tự do và cái lắc đầu để khẳng định quyết tâm. Tôi dè dặt gợi ý: "Hay là chị cứ "ừ" đi một tiếng, tôi sẽ báo cho ông quan ba cho chị ra về. Rồi mỗi tuần chị cứ viết tin đưa đến, viết sao mặc chị, tôi sẽ dịch lại nộp lên ông ta. Chị đồng ý không?". Lại lắc đầu "không". Tôi điều chỉnh lần nữa: "Thôi thì thế này, tôi sẽ viết bản tin thay chị, chị cứ chép lại bản tin của tôi, tôi dịch lại đưa lên ông ta, được không?". Lần này thì cô ta gật đầu. Tôi thở phào nhẹ nhõm, bước vào gặp đại úy Fallon mặt tôi tươi tỉnh hẳn, Fallon đoán được là sự thuyết phục của tôi đã thành công: "Cô ấy đã nhận lời, mỗi tuần sẽ nộp một bản tin. Đại úy thấy không, người Việt Nam không phải là kẻ vong ân, bội nghĩa". Đề cao tính ân nghĩa của dân tộc, tôi thấy mình đã lạm dụng danh từ, vội im bặt. Fallon cùng tỏ ra rộng lượng, viết cho một giấy thông hành tạm để Trần Thị Tuyết đi đường khỏi bị làm khó dễ. Thế là hàng tuần, vào sáng thứ sáu, tôi đọc những bản tin các nơi khác gửi đến, lựa chọn một số tin tức "vô thưởng vỏ phạt" xào nấu lại, viết cho Trần Thị Tuyết một bản tin Tình báo mới nhất, để cho cô ta chép lại, rồi từ đó, tôi dịch ra bằng tiếng Pháp kèm theo, để trình bày lên đại úy. Chừng hai tháng sau, cô nhân viên tình báo "bất đắc dĩ" đó thú thật: "Em thấy làm như thế này mãi không ổn lắm, có cách nào xin ông quan ba tha hẳn em về có được không?". Tôi bảo cô làm một tờ đơn xin phép đi Sài Gòn chữa bịnh về phụ khoa, rồi từ đó đi biệt luôn không về Cần Thơ nữa. Vậy là ổn... Cô làm theo lời tôi.
Năm 1984, tôi trở về Cần Thơ để viếng cụ Lâm Văn Phận vừa mới mất. Tôi gặp anh Mười Mạnh, nguyên là gác khám Cần Thơ, anh cho biết là Trần Thị Tuyết có nhắn: khi nào gặp tôi thì cho bà biết để đến thăm. Nghe đâu bà ta đã về ở Kinh thứ 11 ở An Biên (Kiên Giang). Tuổi cao, đường xa, địa chỉ mơ hồ. Thôi đành vậy, gặp nhau trong ký ức. Tình cảm rộng bao la. Tôi còn nhớ mãi cái lắc đầu của cô gái năm xưa... Ai đã từng công tác trong lòng đô thị, cũng đều ao ước được thở không khí tự do ở vùng giải phóng. Từ ngày bị cấp trên khước từ nguyện vọng ra mặt trận cầm súng bắn trực tiếp vào quân thù, tôi thấy thèm khát cuộc sống ở bên ngoài đô thị, nên tìm mọi cách để thoát khỏi lồng, dù trong chốc lát, nhân dịp những ngày lễ lớn của ta, ngày 19/5/1947, mượn cớ đi góp lúa ruộng, tôi tìm về đến văn phòng cơ quan để báo cáo công tác. Vừa đến nơi, nhác thấy một dãy người, khoảng 40 người, đang ngồi để trình giấy tờ tùy thân. Thì ra, họ là hành khách đi chuyên xe đò Phụng Hiệp, bị chận lại vì đã có lịnh cấm xe đò, cấm chợ nhân dịp lễ 19/5 sinh nhật Cụ Hồ. Trong đám hành khách ngồi có hai phụ nữ, tôi đã gặp tiếp chuyện trong phòng khách với đại úy Fallon tại Cần Thơ. Tôi vội vàng ngồi vào hàng như mọi người khác, để chờ đến lượt trình giấỵ. Chúng tôi không nói gì với nhau cả. Cơ quan nấu một nồi cháo lòng và xương, trưa đến, múc cho mỗi người một tô, khách cũng như chủ. Tôi làm việc với anh Mười Lời, thủ trưởng cơ quan, và dặn anh cố ý tìm hiểu lai lịch của hai phụ nữ ấy, nếu cần thì giữ lại. Hôm sau, trở về Cần Thơ, bước vào phòng đại úy Fallon, tôi giật mình thấy hai phụ nữ trong phòng đại úy. Thấy tôi bước vào, họ chỉ ngay tôi và nói đã bị bắt trong cùng chuyến xe đò với tôi, trạm kiểm soát Việt Minh ở Phụng Hiệp. Sợ tiết lộ bí mật cơ quan, tôi cải chính: "Ba Mít", rồi nói thêm: "Hai chị ở địa phương khác tất cả không rành địa lý bằng tôi đâu. Đó là Ba Mít". Cũng may, hai cô không tranh luận và đại úy Fallon cũng bỏ qua, vì khi ra đi tôi đã xin phép trước với đại úy về thăm Ba Mít để góp lúa ruộng. Đến ngày lễ 2/9/1947 nghe đồn năm nay làm lễ lớn lắm nên tôi xin tổ công tác của tôi, ba người, tôi, Thanh Hương và Thanh Phong kéo nhau đi bộ. Xa xa đã nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên các hàng dừa. Tôi đứng sững lại, đưa tay lên vành mũ trắng chào, nước mắt vòng quanh. Đã gần hai năm nay, tôi không có dịp nào nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng thân thương của tổ quốc trên nền trời lồng lộng. Cả đoàn cũng thông cảm. Lễ được tổ chức khá rầm rộ, cách xa Cần Thơ không đầy 20km. Một chiếc Morane bay liệng trên cao có tính chất thám thính. Bộ đội thay phiên nhau canh gác tứ phía. Đồng bào đến rất đông, đủ mọi lứa tuổi. Tôi cứ lo thầm, nếu chúng thả một quả bom thì thật tai hại. Đúng là một ngày hội của quần chúng. Đi ngang qua một quán nước bên đường, tôi thấy một bàn tay ngoắt tôi vào. Đến gần, nhìn thấy má Ba, một bà già hay lui tới xóm 18 căn nơi tôi ở, và đã từng bị thằng Tài lính kín bắt đánh lòi tròng con mắt, nó giam giữ 3 tháng mới thả cho về. Má Ba nói nhỏ vào tai tôi: "Ông à, ở đây đồng bào có nhiều người biết ông đấy, nhưng vì họ tốt nên không ai nói ra đấy thôi" - "Cảm ơn má đã giúp con điều đó. Má đã động viên con trong suốt bao nhiêu năm con công tác trong lòng địch". Má Ba, sau này tôi được biết, cũng công tác trong ngành, là má của Quỳnh xụi. Tập kết ra miền Bắc, con mắt bị thằng Tài đánh chột đã hành hạ má suốt cuộc đời! Má đã mất ở nhà 40, Đoàn Trần Nghiệp - Hà Nội, trước ngày miền Nam được giải phóng (tên má là Nguyễn Thị Ngọc Bích). Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:40:44 pm Nửa cuối năm 1947, quân khu miền Tây (Zone Ouest) có hai chủ trương lớn: một là giao bớt quyền trị an cho phe dân sự, vì vậy đã cử một thiếu tá người Việt lên làm tỉnh trưởng Cần Thơ, thay cho Guilbot. Viên tỉnh trưởng đó là Albert Tình, người Việt nhưng quốc tịch Pháp, chân ướt chân ráo mới nhận chức đầu tháng 10, chưa đầy một tháng đã bị Việt Minh bắt trên đường đi Cầu Nhiếm, được giáo dục rồi tha về đầu tháng 12, rồi được Zone Ouest trả về Sài Gòn, đưa Guilbot trở về vị trí tỉnh trưởng. Khi đến Zone Ouest, Albert Tình còn mặc bộ đồ bà ba đen, khư khư giữ cái nón lá trên đầu, để bước vào ban chỉ huy Zone Ouest chứng tỏ mình vẫn còn cốt lõi Việt Nam. Chủ trương thứ hai là: tổ chức trại tù binh ở Thốt Nốt. Trại được thành lập vào đầu tháng 8 do một trung đội của C.E.M (đại đội tham mưu) tổ chức canh phòng, kinh phí trích từ quỹ khẩu phần của tù binh, mỗi đầu người một đồng. Trại đặt ngay trong cái vựa lúa của bọn Nhật bỏ trống, nền lót gạch 20x20, mái lợp lá, bao quanh trại là dây kẽm gai sơ sài, chỉ cần lấy tay vạch mạnh cũng có thể luồn qua một cách dễ dàng! Tôi đến Thốt Nốt vào tuần đầu tháng 12/1997. Theo lịnh của đại úy Fallon, tôi phải điểm lại danh sách tù binh. Vì từ khi thành lập đến nay, chưa thấy có báo cáo nào gởi về phòng. Trước khi đi, tôi đem theo 20 tút thuốc lá Gaulois để phát cho tù binh mỗi người một gói. Đó là thuốc tiêu chuẩn của tôi và Fallon cho thêm cho đủ số lính mỗi người một gói. Sơ bộ con số tù binh kiểm tra không quá 180 người. Lần đầu tiên tới đây, tôi quan sát địa thế. Trại ở phía rìa thị trấn, nên không có dân cư bao quanh. Nếu tù binh trốn thoát thì cũng khó bắt lại được. Tôi đưa giấy công lịnh cho viên trưởng trại là một trung sĩ Pháp. Chừng hai tiểu đội canh gác là lính Miên gian. Tôi đối chiếu danh sách xong rồi, nói với trung sĩ, sẽ hỏi chuyện từng người. Hỏi đến một nữ tù binh: chị ấy, tôi đã đọc hồ sơ từ lúc ở Rạch Giá gửi lên: Nguyễn Thị Tạo. Chức vụ: Tổ trưởng Tình báo huyện Hồng Dân. Bị bắt với một đống tài liệu hồ sơ liên lạc giữa đồng chí Nguyễn Văn Hoàng, Trưởng ban Tình báo Quân khu 9 với chị Tạo. Tất nhiên tôi chỉ tóm tắt hồ sơ để chuyển lên trại. Chị Tạo đứng trước mặt tôi, một phụ nữ độ tứ tuần, gầy ốm, răng hô, không đẹp thể chất, nhưng lộ vẻ hiên ngang bất khuất. Tôi nhìn chị khá lâu. Chúng tôi là đồng đội cùng một nhiệm vụ, nhưng không thể nào làm gì khác. Chắc chị cũng hiểu cho tôi. Tôi dùng thủ đoạn khích bác để nói với chị. Tôi nói chậm rãi: "Tôi, chị, chúng ta là con nhà Tình báo...". Tôi nhìn lại, đôi mắt chị chăm chú nhìn tôi. Tôi nói thật: "Nếu Việt Minh mà bắt tôi trong trại giam này thì tôi đã thoát ra từ lâu. Trại chỉ lợp lá, quanh rào chì gai mong manh, không có mìn, lựu đạn. Phía đông thì chợ búa không nói, còn phía tây thì giáp địa phương tỉnh Long Xuyên, phía bên sông thì Lai Vung, phía trong trước mặt là thôn xóm nông dân không có Hòa Hảo. Nhưng thôi việc ai nấy làm. Tôi chỉ nhờ chị làm giúp cho một việc: tôi có đem theo đây 20 tút thuốc lá. Chị là phụ nữ không hút thuốc, tôi nhờ chị phân phát cho anh em tù binh, mồi người một gói. Có sẵn hộp quẹt đây tôi để cái tập diêm quẹt này cho chị dùng". Nói xong, tôi nhìn chị hồi lâu, rồi quay lại nói với viên trung úy Pháp: "Công việc tôi đã hoàn tất. Tôi để thuốc lá của đại úy Fallon cấp phát cho tù bình mỗi người một gói, nhờ chị này phân phối".
Noel 1947, chiều hôm đó tôi đứng trước cửa sở trò chuyện với đại úy Fallon về không khí ngày lễ giáng sinh năm ấy, và chuẩn bị để ăn "Réveillon" tối nay. Bỗng có tên lính dẫn đến một người trạc tuổi tôi, theo sau có Nguyễn Đăng Dinh, là người cháu cùng quê, vừa được nhận làm phiên dịch cho cơ quan liên lạc Phật giáo Hòa Hảo của Pháp tại Cần Thơ. Dinh xin cho người bị bắt giảm tội. Tôi nhìn hồ sơ thấy tên Nguyễn Văn Mẹo, trung đội trưởng dân quân du kích. Thấy trên mặt Fallon có vẻ phân vân, tôi mạnh dạn gợi ý: "Hôm nay là ngày Chúa giáng sinh, có lẽ đại úy cũng nên làm một việc gì đế ban phước lành và tạ ơn Chúa". Đại úy mỉm cười và nhìn tôi nói: "Ừ nhỉ! Thôi tha quách cho nó làm phước". Chuyện đã lâu quá tôi không nhớ. Mãi đến năm 1976, về Cần Thơ vào thăm Dinh, thấy một bác già, trèo cây bẻ dừa, mời tôi uống nước. Tôi hỏi ra mới biết là anh Sáu Mẹo, anh vợ của Dinh, người được thả về năm 1947. Lễ phục sinh năm 1947 còn đem lại niềm vui khác cho trại giam tù binh Thốt Nốt. Nhân dịp lễ, trưởng trại giam cho các tù binh xuống bếp tổ chức một bữa ăn liên hoan. Anh em tù binh dưới sự lãnh đạo của chị Tạo đã ùa vào phòng cướp súng đạn rồi chạy xông ra cửa lớn, chạy ra đường cái, cho đến khi có viện binh đến, số tù binh trốn thoát đã gần phân nửa. Một trung đội lính mới đến thay quân, bủa ra bao vây chỉ bắt được chị Tạo. Chị đã bị trọng thương, vì đã lãnh trách nhiệm đoạn hậu để cho anh em rút lui nhanh. Chị đã hy sinh anh dũng, đồng bào Thốt Nốt đã chôn cất chị và lập miếu thờ. Nhân sự kiện đó, bọn Pháp đã giải tán luôn trại tù binh Thốt Nốt. Những tù binh còn sót đưa về trại tù binh ở Mỹ Tho. Tết Mậu Tý năm 1948, chúng tôi tổ chức công tác tổng kết năm 1947. Tôi chọn ngày 30 tết, ngày 9/2/1948, làm mâm cơm cúng ông bà tất niên, để mời anh em đến tham dự cho hợp pháp. Vì căn nhà lá cất sát bên hông bót bọn Pháp chỉ cần dòm qua cửa sổ là thấy mọi việc. Khách dự hôm đó gồm tất cả thành viên trong tổ công tác: Tư Quý cán bộ Tình báo Khu, nhân danh con rể gia đình bà giáo về thăm mẹ vợ ăn tết, cũng được mời tham dự. Một tấm ảnh Bác cầm điếu thuốc nơi tay tôi đã rút ra từ đống tài liệu Việt Minh bọn Pháp bắt được, chụp cỡ 4x6 được đặt tựa vào bình trà, một tấm ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Một phút mặc niệm chiến sĩ trận vong. Xong, tôi báo cáo kết quả công tác của tổ năm 1947, nói rõ thành tích từng người, và kết quả khen thưởng vật chất của cấp trên trong dịp tết: một góc heo quay và một tạ nếp do liên lạc mang đến, tôi báo cáo khoảng 15 phút, xong mọi người ngồi vào ăn chung với nhau rất thân mật đầy vẻ tết gia đình. Đó là lần báo cáo công tác tổng kết đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, thành tích ngắn gọn nhưng đáng giá: phá vỡ một ban ám sát Hòa Hảo, đập tan trò hề tổ chức pháp trường của bọn Pháp, gây men cho tù binh tổ chức vượt phá trại dẫn đến quyết định của dịch giải thể luôn trại tù binh Thốt Nốt chỉ mới thành lập mấy tháng. Khẳng định thành tích cá nhân: nếu không có công lao tập thể đóng góp thì không thể nào có được thành tích xứng đáng ấy... Quả đúng thế! Năm 1947, quân Pháp tấn công ra miền Bắc, nhưng ngay trên chiến trường miền Nam, trên mảnh đất Cần Thơ, đồng bào không ngớt làm thất bại âm mưu thâm độc của chúng, không để chúng ăn ngon ngủ yên. Những chủ trương lớn của ban chỉ huy Zone Ouest như thiết lập pháp trường xử bắn công khai những người hoạt động trong lòng địch chỉ bắt đầu bằng một thiếu niên vị thành niên, làm thất nhân tâm ngay trong hàng ngũ của chúng, và kết thúc bằng xử bắn một tên phản bội làm tay sai cho chúng, do đó hàng ngũ Việt gian ngày càng hoang mang thêm. Chủ trương sử dụng giáo phái Hòa Hảo để kềm kẹp nhân dân đã bị công chức nội thành phản đối, rốt cuộc phải ra lịnh thủ tiêu tên trưởng ban ám sát, làm cho cả bọn phải giải thể, chủ trương giao chính quyền vào tay người Việt, đã lựa chọn một thiếu tá dân Tây làm thí điểm, bị quân ta bắt giáo dục và tha về, chủ trương thành lập trại giam tù binh ở Thốt Nót, cuối cùng bị anh em trong trại giam tổ chức phá vỡ trại trốn thoát, trại giam giải tán luôn. Những chiến công đó là thành tích chung của đồng bào và chiến sĩ Cần Thơ không thể nào khác được. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:41:39 pm CHƯƠNG 8 TỔ ĐIỆP BÁO Năm 1948, thành phố Cần Thơ kháng chiến đã sang năm thứ ba. Nhưng xét về mặt chiến tranh bí mật, chúng tôi vẫn còn mò mẫm, về tổ chức cũng như nghiệp vụ tình báo. Về mặt tổ chức, từ "Sát giản đảng" sang "Đoàn Tình báo thành bộ" đến nay đã cắt thành hai bộ phận. "Ban hành động" mà nòng cốt là tiểu đội Việt và tiểu đội Hoàng do anh Tư Cơ làm trưởng. "Ban tình báo" lấy nòng cốt là Tiểu đội Thanh, mà trong đó tôi có nhiệm vụ chính, tổ chức lại thành Tổ điệp báo. Nói trắng ra, là làm gián điệp cho Việt Minh. Mà không phải một mình làm và tổ chức cho những người khác cùng làm. Thật ra không đơn giản. Tiểu đội Thanh còn sót lại làm công tác tình báo cho đến cuối năm 1947 là ba người: tôi, Thanh Đình (bí số 32), Lâm Thị Phấn (Thanh Phong) bí số 29, Bùi Thị Nhụy (Thanh Hương) bí số 18. Trong năm 1947, Bùi Thị Nhụy tổ chức thêm Sơn, lấy bí số H.S.21. Tư Quý đề nghị với cơ quan bổ sung thêm Trần Phước Ngà, lấy bí danh Việt Hà, bí số 52. Từ khi Phấn bị tên Cảnh tố cáo liên lạc với tôi đem tin tức cho Việt Minh, thì chúng tôi nhất trí không để cho chị Phấn làm liên lạc nữa, chỉ còn Nhụy và Trần Phước Ngà làm liên lạc và hộp thư. Để đảm bảo liên lạc kịp thời, có khi tôi phải đi, có lúc nhờ bà giáo Phận đi, nhất là những khi có bố ráp quanh vùng. Tôi nhớ vào khoảng đầu năm 1947, một tiểu đoàn thuộc 151e RE1 bên Pháp mới sang được lịnh điều đi hành quân hai ngày bố ráp quanh các xã Bình Thủy, Giai Xuân, tôi cũng được chỉ định theo cuộc hành quân ấy. Cấp bách quá, tôi liền "hở" tin tức ấy cho bà giáo biết và tin cho cụ giáo Phận nếu ở vùng đó thì nên dời đi nơi khác. Bà giáo tức tốc đi ngay. Cuộc hành quân kéo dài 2 ngày. Kết quả: không bắt được người nào, ngược lại, hai người lính Pháp bị trúng nắng lội sình không nổi, phải dùng cáng thương khiêng đi. Bên ta, bà giáo vì hối hả băng đồng ban đêm để đưa tin cho kịp, bị rắn cắn, may không việc gì. Kiểm điểm lại trong số cơ sở có làm cho quân đội Pháp ở Cần Thơ, ngoài tôi ra, còn có Trương Hữu Sơn, tức là H.S.21 làm trung sĩ phiên dịch cho 2è Spahis, là chồng của Bùi Thị Nhụy, và tôi đã giao cho Bùi Thị Nhụy trực tiếp lấy tài liệu chuyển sang cho Trần Phước Ngà, làm hộp thư liên lạc. H.S.21 đã đánh cắp được một tài liệu đánh máy quy định rõ các đường chính ở Cần Thơ, giao cho từng xe nồi đồng tuần tra ban đêm khi có báo động và lúc bình thường cứ cách hai tiếng thì tuần tra một lần. Tài liệu ấy đã kịp thời được khai thác trong năm 1948, trung đoàn 122 của ta đã đột nhập thành phố Cần Thơ vào tận bệnh viện Đa khoa mang đi một số thuốc tây và dụng cụ y tế, làm chủ tình hình trong hai tiếng đồng hồ, rút lui an toàn. Cơ sở thứ hai là Nguyễn Đăng Dinh. Tôi đặt biệt hiệu là Thanh Lâm, trung sĩ phiên dịch Mission de Liaison Hòa Hão (Zone Ouest). Dinh nguyên là cháu gọi tôi bằng cậu (nó là con ông chú thúc bá của tôi). Tính tình rụt rè nhút nhát nhưng hay thương người. Có việc gì khó khăn, Dinh thường hỏi tôi cách giải quyết. Làm với văn phòng liên lạc Hòa Hảo. Có một lần, Ba Gà Mổ chuyển đến cho Pháp một danh sách 300 công chức cứu quốc. Dinh hỏi ý kiến tôi. Tôi bảo: "Cháu cứ để nguyên trong ngăn kéo, khi nào viên thiếu tá Pháp hỏi đến sẽ đem ra dịch". Ba tháng sau, Dinh lại hỏi: "Nó vẫn chưa hỏi đến, làm thế nào hở cậu?". "Cháu đem nhét chung thùng thanh toán giấy loại bỏ đổ đốt đi". Dinh làm theo lời chỉ dẫn. Thế là có việc gì khó, Dinh đến hỏi tôi. Khi tôi đổi lên Long Xuyên thì Dinh lại đổi về Bạc Liêu, không còn làm phiên dịch nữa. Cơ sở thứ ba, tôi đặt nhiều triển vọng là Nguyễn Tư Long, xuất thân là một trí thức, tốt nghiệp kỹ sư canh nông. Đã từng làm Chủ tịch UBHC thị xã Thủ Dầu Một, làm thiếu úy phiên dịch cho quân đội Pháp, lúc này đã lên đại úy, vợ là cô giáo Tiếp, không con. Bị bịnh động kinh, hay giật da mặt, méo miệng khi nói chuyện. Có đọc sách kinh điển về chủ nghĩa Mác và thường được dự các cuộc họp hội ý các sĩ quan tham mưu Pháp, khi có chủ trương cấp quân khu. Long đã giúp đỡ tôi cứu cô Phấn khỏi lời tố giác của tên Cảnh. Và, đầu năm 1948, anh ta lại cho tôi biết là Bộ tư lệnh Pháp ở miền Nam đã phát hiện có những kẽ hở ở Zone Ouest làm cho tin tức lọt vào vùng Việt Minh kiểm soát và đang tích cực củng cố lại nội bộ ban chỉ huy. Quả đúng như vậy: một viên sỹ quan tình báo, đại tá S.James được điều về Zone Ouest (miền Tây) thay cho đại tá Cluset, sĩ quan chỉ huy Phòng Nhì và Phòng 5 của Secteur Cần Thơ cũng được thay thế lần lượt. Đại úy Fallon hết hạn ở Đông Dương được trở về Pháp và sau này điều đi Algérie, thay vào đó là trung úy Lacroix được điều từ tiểu khu Rạch Giá (S/Secteur Rạch Giá) lên làm trưởng Phòng Nhì Secteur Cần Thơ. Phòng 5 thì có chuẩn úy Davenas ở Sài Gòn về thay cho đại úy Lotte. Davenas quân hàm hạ sĩ quan, nhưng có việc gì liên quan đến an ninh quân sự thì được trực tiếp báo cáo lên trung tướng Bondis, Tư lịnh quân đội Pháp miền Nam, không nhất thiết phải thông qua Zone Ouest. Vì vậv bọn sĩ quan Pháp đều vị nể. Hiểu được tình hình đó, tôi càng thận trọng hơn công tác chuyên môn, tối ngày chỉ ngồi làm việc ở trong phòng, không bao giờ bước chân vào phòng lưu trữ hồ sơ mật, không bao giờ sờ mó đến bàn máy đánh chữ, hoặc lân la hỏi chuyện với người đánh máy để cho mọi nhân viên đều có thể nhìn thấy rõ hoạt động của mình không có gì phải che giấu cả. Tác phong ấy giúp cho tôi giữ kín vỏ bọc ngoài. Lacroix cũng là một sĩ quan trẻ, mặc dù vẻ mặt già dặn, có một bộ râu quai nón trông vẻ đạo mạo, hắn là con trai của Đô đốc Lacroix đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Cận Đông. Cùng đi với Lacroix có một thiếu úy phiên dịch, không ai khác hơn là Trần Huy, người mà tôi kết bạn ở đồn Chắc Băng. Huy gặp tôi rất mừng rỡ, xiết chặt tay nhau. Tuy nhiên tôi vẫn thận trọng. Cách nhau trên một năm, từ một phiên dịch dân sự anh đã trở thành sĩ quan phiên dịch, hơn hẳn tôi một cấp. Tôi trao đổi với chú Tư Ngà. May sao, Huy cũng biết chú Tư hồi còn ở Chắc Băng. Tôi đề nghị chú Tư móc ráp lại. Huy nhận công tác ngay, khi biết tôi là đầu mối. Tôi đặt cho Huy bí danh Thanh Hà, bí số 15. Huy là phiên dịch viên tin cẩn của Lacroix, nên được sử dụng để đánh máy các tài liệu mật. Đó là một thuận lợi lớn trong công tác điệp báo. Thế là, trong ban tham mưu Pháp, chúng ta đã có 4 sĩ quan phiên dịch, nhờ vậy, những tin tức các cuộc càn quét của địch ở quy mô, cấp quân khu đều được biết trước để kịp thời đối phó. Tôi nhớ, năm 1948, công binh ta ở Cần Thơ đã đánh chìm một tàu LCM ở Vàm Nao, năm 1949, một ICM khác bị đánh chìm ở Ba Động (Trà Vinh), với cả đại đội binh sĩ Pháp. Những thành tích đó đều nhờ Huy cung cấp tin tức. Năm 1954, tập kết ở sầm Sơn, tôi đã được nghe đồng chí Bùi Sĩ Hùng, nguyên Tham mưu trưởng Vĩnh Trà, đến bắt tay tôi và nói. Tỉnh đội chúng tôi đóng ở cù lao Minh, lúc ở cù lao Bảo, mỗi khi giặc tiến đánh chúng tôi đều được Quân báo Khu 9 cho biết trước 3 ngày, nhờ vậy mà tránh giặc được. Hễ chúng đánh vào Minh, thì chúng tôi chạy sang Bảo, và ngược lại, vẫn xoay như đèn cù (động chí Bùi Sĩ Hùng, sau này là giáo sư, thầy thuốc nhân dân, Giám đốc bệnh viện Phụ sản TP.HCM). Tất nhiên lời khen đó không phải riêng tôi, mà của chung ngành Quân báo trong thời kỳ trứng nước, trước hết là của các anh em trực tiếp hoạt động: Thanh Tùng, Thanh Hà.v.v... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:42:18 pm Tháng 4/1948, được tin một đơn vị 3è RAC (trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3) sắp kéo một pháo 105 ly về bố trí ở đồn Rạch Gòi. Nghiên cứu tài liệu, tôi biết đây là loại pháo mới nhất được sử dụng ở chiến trường Đông Dương. Toàn bộ có 4 khẩu, ưu tiên ở chiến trường miền Tây hai khẩu: một khẩu đặt ở Bình Thủy còn một sẽ đặt ở Rạch Gòi. Từ trước đến nay ở Việt Nam, quân Pháp chỉ sử dụng pháo dã chiến 75 ly, có từ thế chiến I, pháo 75 ly chỉ có bán kính hoạt động 4 km trở lại. Còn 105 ly có thể pháo kích trong phạm vi 15 km, uy lực gấp 4 lần. Ban chỉ huy Zone Ouest bố trí pháo vị trí cố định để phòng thủ Cần Thơ từ xa, không cho các trung đoàn chủ lực Việt Minh hoạt động gần thành phố. Tôi tự đem tin đến vì cơ quan tình báo của ta dời văn phòng về Xóm Chài, chỉ cách thành phố Cần Thơ một bến đò ngang. Tôi tìm đến văn phòng, trước sân hai chú thanh niên đang tranh nhau trèo lên cây trộm nhìn sang chợ Cần Thơ cho đỡ nhớ thành phố. Tôi gặp anh Lân, thơ ký đánh máy, nghe tôi đọc bản tin về địch điều động một pháo 105 ly về Rạch Gòi, anh sửng sốt nói: "Ủa! Tuần trước trinh sát đã báo cáo địch điều hai khẩu đại bác về hướng Bạc Liêu, đã báo cáo về Khu rồi mà! Tôi nhớ gần đây địch không có lần nào điều pháo đi Bạc Liêu mà chỉ có hai xe "hủ-lô" ủi đường đi xuống làm con lộ Sóc Trăng - Bạc Liêu thôi, có lẽ trinh sát từ xa lầm là khẩu pháo, nên mới khẳng định phải cải chính lại". Cuối cùng thống nhất với nhau: "Báo cáo với Khu là hai khẩu đại bác tuần trước đã điều động về Cần Thơ, và một pháo 105 ly sắp đưa về bố trí ở Rạch Gòi. Chuẩn bị đối phó". Trước khi trở về Cần Thơ, mấy anh hỏi lại tôi: "Thế viên đại tá chỉ huy trưởng Zone Ouest tên là gì nhì?" - "Tôi đã báo cáo rồi: chỉ huy trưởng là đại tá Cluset, nay mai sẽ có đại tá St.James về thay (St.James viết như ở chai rượu Rhum St.James vuông cạnh đó) là một đại tá tình báo chuyên nghiệp". Mấy anh bất giác cười và hỏi lại tôi: "Thế không phải là Colonel de Mély sao?". Thì ra đó là thủ đoạn của cánh Quân báo. Xuất xứ chuyện ấy là: Nhân có lần trong đại hội báo cáo tình hình đồng chí tư lệnh Quân khu 9 hỏi: "Chỉ huy Zone Ouest là ai?" - "Dạ, một Colonel". "Nhưng Colonel đó tên gì? Các anh phải biết chớ". Cánh quân báo mới hội ý với nhau, thôi thì cứ cho đại nó cái tên "Mê-ly" đi có thêm chữ "đờ" càng tốt. Liền đó cánh Quân báo trả lời: "Báo cáo thủ trưởng nó tên là Colonel de Mély ạ". Thế là anh em Quân báo thoát nạn cấp trên phỏng vấn. Câu chuyện đó trở thành giai thoại cho ngành Quân báo! Dù sao tin tức đưa về Quân khu 9 cũng có tác dụng tốt, ngay trong tuần sau. Đoàn xe của 3è RAC kéo pháo 105 ly của Mỹ, lần đầu tiên đến chiến trường Đông Dương đã bị quân ta phục kích ở Tầm Vu. Khẩu 105 ly thu được đem về Bảo tàng quân đội dưới chân cột cờ Hà Nội, như một kỳ công của quân dân Nam Bộ anh hùng.
Sau này, về nghỉ hưu, cùng sinh hoạt Chi bộ P.11 (nay là P.6 quận 3), tôi đã được gặp các đồng chí tham gia đánh tháng 4/1948 ở Tầm Vu. Đồng chí Trần Văn Hoài, quê ở xã An Thới, huyện Ô Môn (Hậu Giang) nguyên là trưởng ban công binh Khu 9 cho biết theo tin của Ban Quân báo Khu 9 có một đoàn xe kéo đại bác trên đường Cần Thơ về hướng Rạch Gòi, toàn ban công binh Khu 9 gồm 7 đồng chí đều chuẩn bị ra trận, mỗi người mang theo một trái lựu đạn, cũng vác theo 4 trái đạn mortier 81 ly để làm mìn. Chúng tôi phục kích gần lộ xe ở chỗ rạch Tầm Vu, từ sáng sớm, chôn 3 trái mìn 81 ly. Bộ đội của Liên trung đoàn 122 - 123 phục kích dài khoảng 2km, dọc theo lộ để chờ đoàn xe. Đến 8 giờ, một đoàn xe khoảng 40 chiếc rầm rộ kéo đến. Chúng tôi cho nổ mìn trúng ngay chiếc xe thứ 6 có kéo theo một khẩu pháo lớn đằng sau. Chiếc xe lật ngang, một số xe khác lật xuống ruộng. Các đơn vị phục kích hai đầu đều nhất loạt hô "xung phong" tràn lên chiếm mặt đường, thu chiến lợi phẩm. Số xe đầu chạy thẳng về phía Rạch Gòi. Số sau quay đầu chạy trở về Cần Thơ. Chúng tôi tháo đại bác ra khỏi xe, hô nhau đẩy khẩu pháo qua mương. Không ngờ mương phủ lục bình sình lún sâu. Chúng tôi chạy vào nhà đồng bào mượn ván để lót và hai con trâu để kéo pháo lên. Mương dốc đứng, kéo được pháo lên thì một con đã đứt ruột chết. Ruộng đã gặt xong còn sình lầy, pháo lún ngập nửa bánh. Chúng tôi lót rơm rạ cho bánh xe lăn, dùng sức 40 người để kéo pháo đi. Đến gần Ba Mít (Trường Thành), mượn một ghe lườn 300 giạ cho nước vào ghe để chiếc ghe thấp xuống, đặt ván kéo pháo lên ghe rồi tát nước ra khỏi cho ghe nổi lên. Đến 4 giờ sáng hôm sau ra sông lớn. Đồng bào ở hai bên bờ sông chạy ra để xem khẩu pháo chưa hề thấy mà bộ đội ta đánh bắt được. Đến 5 giờ sáng, chúng tôi mua 10 chiếc đệm, chiếu để che kín pháo không cho máy bay trông thấy. Đi hai ngày hai đêm đem pháo về căn cứ an toàn. Mặc dầu đồng chí Trương Văn Giàu, lúc đó thay thế đồng chí Huỳnh Phan Hộ, khu bộ trưởng hy sinh trước đó ở Kế Sách, đã dặn nhỏ vào tai tôi: "Nếu khó quá thì phá hủy nó đi đừng để vào tay giặc". Đó là khẩu pháo Mỹ đầu tiên quân dân ta đã đánh chiếm được trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước khi nó mới đặt chân lên đất Cần Thơ. Vì vậy bộ chỉ huy Pháp hết sức lo lắng. Một mặt chúng cho điệp viên sục tìm cho ra các nơi cất giấu pháo và mặt khác chúng cho thay đổi hẳn các loại pháo. Chúng đã cho điều khẩu pháo 105 ly còn lại ở Bình Thủy về Sài Gòn. Thay thế vào đó, chúng cho đổi khẩu pháo 88 ly của Anh để phòng thủ ở trận địa Khu 9, như: Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Long Xuyên, Sóc Xoài (Rạch Giá). Chúng lo ngại nhất là bộ đội Việt Minh có pháo 105 ly dùng để bắn vào các đồn bót chúng từ xa, nên chỉ thị nghiêm ngặt quản lý các đạn pháo. Trên thực tế, quân ta có pháo nhưng không có đạn, dù có đạn cũng không có người biết sử dụng, nên pháo vẫn nằm yên cho đến ngày tập kết. Các trận đánh vào thành phố, vào các cứ điểm của địch vẫn được tiến hành bằng cách khác. Năm 1947, hoạt động của ban hành động đoàn tình báo Cần Thơ, chủ yếu được tiến hành bằng những cuộc ném lựu đạn lẻ tẻ ban ngày không có kết quả mấy. Năm 1948, hoạt động tấn công vào thành phố, vào đồn bót do các đơn vị bộ đội mới bắt đầu. Ngoài trận đột nhập bệnh viện Cần Thơ còn có trận đánh bót Rạch Ngỗng, bót này có một trung đội lính đầu đỏ, do Ách Phẩm chỉ huy, gác ở đầu cầu sắt, anh em du kích của thị đội lợi dụng lúc 4 giờ sáng, đẩy xe thùng (xe chở đầy thùng sắt để đi dọn vệ sinh các cầu tiêu trong thành phố) qua cầu sắt như thường ngày rồi xông thẳng vào bót gác, bắn chết Ách Phẩm (tên thượng sĩ lính đầu đỏ ác ôn, tay sai của trung úy Massart). Bọn lính đã dựa vào công sự phản kích bắn chết một số chiến sĩ du kích ta, thả xác xuống rạch Cái Khế. Những xác ấy trôi đến trước bót thầy Phận, vướng cầu tàu. Bọn lính ở trong đồn thuộc đội Giang thuyền số 2, hỏi ý kiến tôi, vì nhà tôi ở sát nách bót. Tôi bảo: "Thì vớt xác lên chôn cất tử tế!" - "Bà con họ tới xin xác đem về?" - "Thì cho họ đem về chôn cũng nhẹ gánh cho các anh chớ sao!". Tuy không làm tang lễ rùm beng, nhưng ít nhất cũng được bà con chôn cất tử tế. Tất cả sáu cái hòm. Tôi lặng lẽ nhìn, không tiễn đưa, chắc bà con thông cảm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:43:42 pm Không lâu sau, một buổi sáng, đến làm việc, trưởng phòng 2è B. là Lacroix gọi tôi vào: "Monsieur Trần Hiến (anh ta vẫn quen gọi lễ phép như vậy) Vous avez du travail" (anh có việc làm rồi đây). Lacroix đưa cho tôi một bản báo cáo mỏng tường thuật trận Việt Minh tấn công vào bót Tham Tướng đêm qua. Một chiến sĩ bị thương bị bắt đang nằm tại bệnh viện Cần Thơ: "Hãy cầm lấy báo cáo này, anh hãy cùng với trung sĩ Joseph đến bệnh viện để lấy khẩu cung tên tù binh này cho kịp, trước khi nó chết". Joseph là một trung sĩ còn trẻ mới ở Pháp sang thay thế cho Zédenberg đã mãn hạn trở về Pháp. Chúng tôi lên xe Jeep phóng thẳng tới bệnh viện Đa khoa, nó có một phòng dành riêng cho tù binh. Xe dừng lại trước căn phòng có lính áo trắng gác cửa. Chúng tôi bước vào, một mùi không khí lẫn lộn mùi i-ốt và mùi máu mủ tanh hôi làm cho chúng tôi ngột ngạt. Joseph lấy khăn bịt mũi đứng sau tôi. Phòng có 4 giường, một giường còn trống. Hai giường khác đặt sát vách đã có người nằm. Thấy có nhà binh vào, họ nhổm dậy trố mắt nhìn chúng tôi, không có vẻ thiện cảm lắm. Trong đó có chàng thanh niên chân quấn băng. Tôi nhìn vào hồ sơ hỏi: "Trong mấy anh, ai mới bị bắt hồi hôm?". Chàng thanh niên chỉ vào cái giường đặt nằm ngay chính giữa phòng, không nói gì hết. Tôi quay lại chiếc giường cá nhân, một cái xác nằm bất động, quấn băng trắng toát từ đầu đến chân. Không nó còn sống, đôi mắt đen sì nó đảo nhìn theo tôi, quan sát từng cử chỉ của tôi, liếc nhìn lên cầu vai của tôi, có hai cái galon như con đỉa vàng có sợi chỉ đỏ ở giữa. Chả là sau những thành tích bàn giấy của tôi, từ Ách tôi được thăng lên Ách xếp, một hạ sĩ quan nhưng thường được cấp dưới quyền tâng bốc lên quan một, cả lính tây cũng như lính ta. Tôi nhìn kỹ hơn người nằm trên giường: trừ đôi mắt khá linh hoạt, toàn thân đều bất động. Thận trọng, tôi dò xét:
- Anh còn nói được không? Thay câu trả lời, một cái gật đầu nhẹ. - Anh họ tên gì? Thanh niên tiền phong hay dân quân tự vệ? Tôi cố chọn những chức vụ nhỏ nhất trong hàng ngũ Việt Minh để "mớn" cung. Người bịnh bắt đầu lên tiếng nhỏ nhẹ, chậm rãi, vừa đủ ý, không phí sức: - Nguyễn Văn Đang, lính Hòa Hảo. Bị bất ngờ, tôi dịch lại, Joseph cũng không kém. Mặt người bị thương vẫn kín đáo một cách lạ thường. Bịnh nhân nhìn tôi không chớp mắt: - Anh đuổi thằng Tây ra ngoài đi, tôi mới nói. Một sự thận trọng quá ngây thơ. Thằng Tây không biết tiếng ta. - Nó biết khỉ khô gì. Anh cứ nói đại đi, đừng sợ. Cái đầu băng bó vẫn bướng bỉnh, đôi mắt trâng tráo, đôi môi mấp máy một cách ương bướng: - Anh đuổi nó đi đã. Cái cố chấp của con người gần chết làm cho tôi tỉnh ngộ. Tôi vội rút khăn lau miệng, nhăn mặt, quay sang viên đội Pháp: - Không khí phòng này khó thở quá. Tên hấp hối này là lính Hòa Hảo. Nguồn tin không đáng giá là bao, tội gì cả hai chúng mình ngồi đây hít vi trùng cho đầy phổi! Thôi, tao định thế này. Mầy cứ lấy xe về, đi dạo mát. Chiều sẽ gặp nhau. Tao sẽ có bản khẩu cung cho mày ký tên nạp cho sếp! "D’accord" Joseph trả lời: - Thế anh về bằng xe gì? - Tao đi xe lôi. Joseph mừng rơn, bắt tay cảm ơn, vội vã chuồn ra khỏi cửa, như một tên quỷ sứ vừa thoát cảnh địa ngục. Câu chuyện có thể kéo dài, tôi kéo chiếc ghê ngồi hỏi chuyện. Trên khuôn mặt đã in sâu dấu ấn tử thần, một ánh dương thoáng qua trên vùng trán phẳng, trong đôi mắt sâu thẳm, như một tia nắng sưởi ấm lòng người. Đang bắt đầu kể, giọng thân mật trìu mến: - Em biết anh.... Em là em nuôi con Chín Khương đây, Khương "kèn" ấy mà. Lần anh đi họp ở Tân Quới, em chèo tam bản cho anh đó. Lần anh vào Đầu Sấu họp với anh Tám Miêng cũng có em. Nhưng em không khai anh đâu. Anh cứ yên tâm công tác. Cổ tôi tự nhiên nghẹn lại, cố nén xúc cảm. Tôi đổi cách xưng hô: - Thế em đã khai báo sao rồi? - Em khai với tụi nó: em là lính Hòa Hảo của đại đội Hai Đen, đóng tại Bình Thủy, Hai Đen oán Ách Kiệt, nên sai em đánh bót Tham Tướng để trả thù. Em khai như vậy, để chúng nó đánh nhau cho đã! Một nụ cười láu lỉnh, thông minh làm rạng lên gương mặt đã tái nhợt. Nụ cười chiến thắng của người chiến sĩ vô danh trong cuộc đấu trí với quân thù, cũng sanh tử không kém gì cuộc đấu súng. Không phải để chiến thắng hôm nay mà cho ngày mai, ngày sắp đến. Nụ cười kín đáo ấy vang dội tận đáy lòng tôi cả về trí tuệ và tình cảm... Đang đã vượt hơn tôi xa. Bản khẩu cung đến với tôi ngoài dự kiến. Ước gì không có ai, tôi sẽ ôm hôn người đồng đội dũng cảm ấy cho thỏa lòng. Lặng người qua mấy phút, tôi hỏi tiếp: - Tại sao em bị nặng vậy? Một đám mây thoáng qua trên nét mặt đầy cương nghị: - Tại lựu đạn anh Hai à! Em được phân công đánh ở đầu cầu Tham Tướng, núp dưới cầu, em đã liệng một trái, còn một trái đã mở chốt em chúi xuống đống bùn, tưởng như vậy là an toàn, chẳng may lựu đạn nổ, em bị hết nửa người. Em chết giấc. Tỉnh dậy chúng đã khiêng em vô bót, tay chân bên mặt nát bét. Liếc nhìn qua những cuộn băng bó quanh người, nơi thấm máu, nơi khuyết lõm để ước lượng những mất mát anh ấy phải chịu, tôi muốn chia sớt nỗi niềm đau đớn: - Em muốn giúp đỡ gì không? Đang suy nghĩ hơi lâu, cân nhắc khả năng sống chết, rồi bình thản trả lời: - Nhờ anh Hai báo cáo lại với mấy ảnh là em đã làm xong phận sự. - Ăn uống được không em? - Dạ em húp cháo lỏng được nhưng không có đường. Anh Hai cho em ít tiền để mua đường. - Em nhờ ai mua? - Có chú Cửu, em của Ba Cự bị giam chung đấy. Nó bị nhẹ, em nhờ được. Tôi rút ví ra, gần cuối tháng còn đúng 9 đồng, chừa lại một đồng để trả tiền xe, tôi đưa cả cho Đang. - Anh Hai nhét dưới chiếu cho em. Tôi lật mí chiếu nhét tiền vào trong lúc mắt tôi đảo quanh một vòng sợ có người thấy với cử chỉ thân thiện khó giải thích được. Nhìn vào đồng hồ đeo tay, chiếc Zénit hình chữ nhật, chiến lợi phẩm của anh Tắng đánh tàu lấy được năm trước cho tôi đeo làm kỷ niệm. Hai kim đã chồng lên nhau. - Thôi anh về, thứ hai tới anh lại vào thăm em. Đang gật đầu, vẻ còn lưu luyến. Bốn mắt nhìn nhau, chia tay không có được cái bắt tay, chỉ gởi gắm tất cả niềm tin yêu qua ánh mắt. Trên chiếc xe lôi trở về nhà, tôi ôn lại cuộc gặp gỡ: những câu nói như trối trăn, như dặn dò còn đọng lại: "Em đã làm xong phận sự, em không khai anh đâu! Anh yên tâm công tác, anh đuổi thằng Tây đi". Còn bài học nào thấm thìa bằng! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:44:33 pm Bất giác, tôi khẽ hát lên bài "Tình đồng chí", ức chế tình cảm, ức chế âm thanh, không cho lọt vào tai anh đạp xe lôi ngồi phía trước. Xe dừng lại trước dãy phố 18 căn, tôi nhảy xuống móc túi lấy đồng bạc duy nhất còn lại trả tiền xe. Anh xe lôi lắc đầu nhất định đòi 2 đồng, giá cả đột ngột tăng lên gấp đôi, khác hẳn mọi khi. Túi cạn, nhà vắng tôi nói dứt khoát không cho y cãi:
- Mọi ngày giá một cuốc trả một đồng, nay cũng vậy thôi. Muốn lấy thêm ra bót cảnh sát mà coi niêm yết giá cả. Anh xe lôi bực dọc cầm đồng bạc đút vào túi, gác chân qua yên xe mà nhấn bàn đạp, vừa quay đầu lại buông một câu, âm thanh vừa đủ mình tôi nghe rõ: - Đ.M! Đồ Việt gian mà còn làm phách! Như bị một cái tát, mắt đổ đom đóm, tai nóng bừng, tôi ấn chặt bàn tay nắm tay trong túi quần, cố ghìm lại sự phản ứng. Bỗng nhiên tự cảm thấy buồn cười: đã trót mang lốt Việt gian, tất nhiên còn phải nghe nhiều tiếng chửi từ nhiều phía: đồng bào, đồng đội có khi cả đồng chí, người thân cũng không biết, đáng giận hay đáng mừng? Nên cười hay nên khóc? Dù sao với một đồng đội kiên cường, dũng cảm như anh Đang, với một đồng bào dám chửi Việt gian ngay vào mặt như anh chàng xe lôi này, khí phách anh hùng bất khuất trên mảnh đất Cần Thơ này cũng khá rõ nét. Tôi ngồi bệt xuống nền nhà, thong thả cởi đôi giày lính "sơn đá" đã làm tội hai bàn chân suốt buổi sáng. Đôi gót trần chạm vào mặt đất mát lạnh, tôi cảm thấy mát lòng, mặt đất đã truyền thêm sức sống. Như trong thần thoại Hy Lạp: Mẹ đất đã truyền sức mạnh cho con trẻ An-tên (An-thée). Lật chiếc nón lá đậy phần cơm đặt trên bộ ván tạp, món ăn đạm bạc hàng ngày đã nguội ngắt: đĩa rau muống luộc đã ngả sang màu tím sẫm, mấy con cá chốt kho tiêu già lửa sạm đen, chén nước cơm thường lệ chắt sẵn dành cho tôi thay canh đã đóng váng. Theo thói quen từ nhỏ, tôi đập hai bàn chân vào nhau để phủi đất, ngồi xổm lên ván. Theo thói quen hằng bữa, tôi bưng chén nước cơm húp một nửa, còn một nửa để dành, gọi là để tráng miệng sau, thật ra là để dành viết báo cáo mật. Chưa bao giờ tôi thấy ăn ngon miệng như bữa cơm hôm ấy. Lòng thanh thản lạ, mọi tính toán cá nhân như biến mất, mọi lo âu trong cuộc sống hàng này như lắng xuống. Cái gì đó ở bên ngoài tôi, ở trên tôi còn đẹp đẽ hơn, lớn lao hơn, có thể nói là vô giá! Xưa nay có ai đánh giá được sự hy sinh của người chiến sĩ vô danh? Sáng thứ hai, đúng hẹn, tôi đến bịnh viện thăm Đang, vừa đặt chân vào phòng giam, tôi dội ngược, tưởng lầm phòng. Trên chiếc giường Đang nằm hôm trước chỉ còn trơ cái vạt trống không. Một vài vệt đỏ nâu còn loang lổ. Không biết tôi đã đứng lặng bao lâu, một tù binh trẻ tuổi đùi quấn băng đến gần nhìn tôi; không chờ tôi hỏi, anh cho biết Đang chết hôm thứ 7 và đã chôn rồi. Thế là hết. Trái tim tôi như có ai bóp nhẹ. Lấy lại bình tĩnh, tôi hỏi: - Anh có đi đưa? - Dạ có. - Anh nhớ kỹ phần mộ? - Dạ nhớ. Tôi chuyển sang câu chuyện khác, cố che giấu niềm thương cảm. Hỏi kỹ trường hợp từng người, ghi vào sổ tay để có cơ hội mà can thiệp. Tôi bắt tay từng người trước khi ra về. Những cặp mắt đã theo dõi tôi nay có phần thông cảm. Khoảng cách được rút ngắn. Một biến chuyển nào đem cái chết của Đang đã xích chúng tôi lại gần nhau. Cữu, người thanh niên bị thương ở đùi, được thả ngay, sau khi vết thương lành miệng là em của Ba Cự, tôi tin là anh đã báo cáo lại trường hợp Đang đã hy sinh với cơ quan và chỉ phần mộ của anh cho gia đình biết. Người ta đã chôn anh ở bãi nhị tỳ, sau bệnh viện Cần Thơ. Cũng ở nhị tỳ đó, anh Ba Nhì đã được chôn năm trước. Thân xác đã bị bọn Ba Dò Hòa Hảo mổ ruột, moi gan, và năm 1951, Hai Ngọc bị bọn "Com măng đô" bắn đổ ruột, cũng đã được chôn nơi ấy. Có lẽ còn nhiều chiến sĩ cách mạng khác nữa. Đất nước thống nhất, tôi đến Cần Thơ, bệnh viện xưa vẫn còn đó, nay là bệnh viện Đa khoa của tỉnh Hậu Giang. Bãi nhị tỳ xưa là một bãi phế thải ngổn ngang sắt thép của Mỹ ngụy, như một sự phỉ báng hiện hình, đến nay đã được dọn sạch trở thành một đường phố quang đãng. Ước gì có một tấm bia kỷ niệm nơi đó, để ghi ơn những người chiến sĩ vô danh. Thăm hỏi bạn bè xưa, không ai còn nhớ rõ họ tên quê quán anh ấy ở đâu. Hỏi chị Lang vợ anh Tám Miêng, chị cho biết là anh ấy ở văn phòng tên là Lân, hình như quê ở Cờ Đỏ, chưa lập gia đình. Người chiến sĩ vô danh nào cũng thường thay đổi họ, tên, mang nhiều bí danh, bí số. Còn biết tên nào là tên để cúng cơm? Để xin giấy liệt sĩ? Sống vô danh, chết cũng vô danh. Cuộc sống như vậy phải chăng là có nghĩa? Tự kiểm mình để thấy rõ mình hơn! Anh ấy là một thanh niên, một đội viên tiểu đội Thanh trong đoàn tình báo của Thành bộ Cần Thơ đã hy sinh như thế đó. Nhưng trong những năm 1947-1948 còn nhiều gương chiến đấu dũng cảm ở lứa tuổi thiếu niên trong tiểu đội Hoàng, Trần Đổng là người thiếu niên đầu tiên hy sinh trên pháp trường vào đầu năm 1947. Kế tiếp đó là Hoàng Thám, tiểu đội phó đã chia đôi trái lựu đạn với bọn lính kín, khi chúng đón bắt em ở chợ Cá, bên cạnh gốc dừa. Để trả thù cho Hoàng Thám, tiểu đội trưởng đã cùng một đội viên khác, cầm lựu đạn giữa ban ngày, đột nhập vào căn cứ Cao Đài (hiện nay là sân vận động Cửu Long) ném lựu đạn và cũng hy sinh vì lựu đạn ném ra để giải vây. Cùng trong năm 1948, một thiếu niên khác cũng trong tiểu đội Hoàng đã được phân công ném lựu đạn vào bọn lính ở chợ Cái Ráng, ném xong, trong đám người đông nhớn nhác, em lẩn ra ngoài bến sông, cởi áo nhảy xuống tắm. Đó là em Đặng. Kết quả trận đánh ở căn cứ Cao Đài là hơn 20 người, hầu hết là gia đình binh sĩ Cao Đài bị thương và chết, chở vào bệnh viện Cần Thơ cùng với xác Hoàng Thanh. Căn cứ đó do một thiếu tướng Cao Đài chỉ huy: Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành. Chính sách của bọn Pháp hồi đó là sử dụng lực lượng Cao Đài Tây Ninh (thuộc phái Phạm Công Tắc) làm đối tượng cho lực lượng Hòa Hảo. Năm Lửa ở Cần Thơ. Vì vậy, từ nửa năm cuối 1947, bọn Pháp cho phép Năm Lửa đặt văn phòng liên lạc ở Cần Thơ do đại úy Ba Gà Mổ cầm đầu, thì cũng cho phép Cao Đài đặt căn cứ ngay tại sân banh do Nguyễn Văn Thành chỉ huy toàn bộ lực lượng Hòa Hảo ở miền Tây Nam Bộ. Tuy không mạnh bằng lực lượng Hòa Hảo, nhưng do được bọn Pháp bố trí và chi trả lương, nên khắp các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu và dọc theo kinh Vĩnh Tế, Tịnh Biên, Nhà Bàn.... Muốn thị sát các đồn bót Cao Đài, Nguyễn Văn Thành đều phải nhờ Pháp cho mượn phương tiện giao thông. Hôm đó, tôi được Lacroix ủy nhiệm đi theo thiếu tướng Nguyễn Văn Thành để tìm hiểu hoạt động của đồn bót Cao Đài ở Long Xuyên và Châu Đốc. Tôi đến căn cứ Cao Đài trình ủy nhiệm thư lên cho viên tư lịnh Cao Đài, Nguyễn Văn Thành nhận tờ giấy không đọc, hỏi tôi muốn gì? Sau đó, chúng tôi cùng lên một chiếc Sà-lúp (chạy bằng hơi nước đun củi) là phương tiện giao thông duy nhất giữa Châu Đốc và Cần Thơ. Con đường bộ bị phá hoại từ năm 1945 vẫn chưa được sửa chữa. Đi theo Thành có một trung đội lính Cao Đài hộ tống. Dọc sông Cần Thơ lên Long Xuyên không gặp phục kích. Chỉ từ Long Xuyên lên Châu Đốc có một loạt súng mút từ bờ bắc bắn sang. Tôi ở sau buồng lái với viên trung sĩ Pháp thích thú theo dõi thái độ của viên tướng Cao Đài trước các loạt súng phục kích. Anh ta lăn bò ra sàn ngay từ loạt đầu, rồi liếc thấy chúng tôi đang cười, anh ta lăn từng vòng đến từng binh sĩ Cao Đài đang ôm súng ở tư thế nằm bắn, sờ tim từng người ra vẻ quan tâm lo lắng. Trong chuyến du hành thị sát chung với viên tư lệnh Cao Đài ở miền Tây Nam Bộ, qua trò chuyện với binh sĩ Cào Đài, tôi phát hiện ra thêm Nguyễn Văn Thành không biết chữ, còn thua Năm Lửa tư lệnh Hòa Hảo, thiếu tướng một sao, cũng không biết chữ, nhưng còn biết vẽ được chữ Soái khi cần ký tên. Đó cũng là hai viên tướng vô học cầm đầu hai đạo binh giáo phái đầu tiên mở đầu cho việc xây dựng lực lượng bổ sung (Forces Supplétives) của quân đội viễn chinh Pháp ở miền Tây Nam Bộ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:45:13 pm Giữa năm 1946, thực dân Pháp cũng đã có chủ trương xây dựng lực lượng quân đội bản xứ cho chánh phủ bù nhìn Nam kỳ tự trị gọi là các tiểu đoàn lính Việt Nam (Bataillon Vietnamien) và tôi cũng được nghe nói Trường Sĩ quan Đà Lạt đã mở cửa tuyển sinh khóa đầu tiên vào học. Hôm đó tôi được tiếp xúc với 5 sĩ quan trong số 17 sĩ quan ra trường đầu tiên, cậu em trai kế cận Lâm Thị Phấn là Lâm Văn Phát, về nhà thăm mẹ và chị dẫn theo mấy bạn cùng học chung một khóa. Phát giới thiệu từng người một: Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Viết Thanh, Huỳnh Văn Tồn. Tôi chỉ ghế mời ngồi, nhưng trong lòng cứ phân vân: không biết cậu Ba Phát làm cách nào mà vào Trường Sĩ quan Đà Lạt một cách trót lọt như thế, trong lúc cậu đã cùng đi kháng chiến với ông già ở Cần Thơ rồi rút về vùng giải phóng? Tháng 6/1946, khi gia đình hồi cư ở Cần Thơ, tôi chỉ thấy bà cụ và hai cô con gái, không thấy bóng dáng cậu Phát ở Cần Thơ. Vì lẽ đó, khi có Phấn báo tôi ghi tên cậu Ba vào tổ chức Đoàn tình báo Cần Thơ thời kháng chiến chống Pháp thì tôi từ chối, viện lẽ là sĩ quan bù nhìn đã chẳng đóng góp gì cho kháng chiến lúc bấy giờ. Sau này, cả 5 sĩ quan ngụy ấy đều lên cấp tướng. Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Huỳnh Văn Tồn hiện đang di tản ra nước ngoài. Nguyễn Viết Thanh chết ở miền Tây trước ngày giải phóng. 30 năm chiến tranh, đất nước đã chứng kiến bao sự đổi thay trong một con người. Lâm Văn Phát năm ấy mới 27 tuổi là người cao tuổi nhất trong bọn sĩ quan đó, đã từng là sĩ quan "Hai hô" (Heiho) của Nhật năm 1945, đến Cách mạng tháng Tám thành công, tham gia QGTVC Cần Thơ rồi theo cha vào vùng giải phóng. Khi kháng chiến bùng nổ, chưa vợ, chỉ biết thờ cúng ông bà. Đẹp trai, cao trên 1m70, người cân đối, tác phong quân phiệt, hay đánh đập sĩ quan dưới quyền. Vì lý do nào không rõ, mấy tháng sau, tôi lại được tin Phát đã cùng nửa tá bạn bè kia rủ nhau qua Khu 8 xin đi kháng chiến, nhưng Tư lệnh Khu 8 Trần Văn Trà phân công ở trường huấn luyện bộ đội, nên đều bỏ hàng ngũ kháng chiến trở lại với quân đội bù nhìn. Chỉ riêng ở một mình anh Quang tức Khánh ở lại, lúc tập kết ra Bắc chuyển ngành làm HTX tiểu thủ công nghiệp ở Hà Nội.
Trần Thiện Khiêm bổ nhiệm làm sĩ quan tình báo của Tiểu đoàn 3 BVN đóng tại Rạch Giá đến năm 1952, sau này lên đại tướng, Thủ tướng Chính phủ Thiệu, cùng gia đình kịp thời di tản trước ngày 30/4/1975, Nguyễn Khánh lên trung tướng, năm 1965, có thời kỳ làm Thủ tướng. Hiện đang là chủ tiệm cơm giữa Paris, thủ đô Pháp, Nguyễn Viết Thanh, em bà con với Tư Quí thời kỳ Mỹ ngụy, lên thiếu tướng, chết vì tai nạn máy bay trước ngày giải phóng. Huỳnh Văn Tồn trước là tỉnh trưởng Gia Định đã kịp thời cùng gia đình di tản sang Pháp trước ngày 30/4. Ai công hầu? Ai khanh tướng? Lịch sử 30 năm đất nước chống ngoại xâm đã có sự sàng lọc và phê phán. Để "thành nhân chi mỹ", như ông cha ta đã nói, người thanh niên cần phải chọn đúng hướng đi và kiên trì theo đúng hướng ngay từ thuở ban đầu. Năm 1948, kháng chiến mới 3 năm, nhưng đã có người tỏ ra mệt mỏi, trở về đầu thú: tôi nôi đến trường hợp Lâm Quang Phòng, con một đại điền chủ tại Rạch Giá. Phòng tham gia kháng chiến năm 1945, được chỉ huy Chi đội 24 ở Rạch Giá. Năm 1948, tổ chức biên chế thành Liên trung 124-126, Phòng bị ra rìa nên bất mãn trở về đầu thú tại 2è Bureau Cần Thơ. Phòng biết tiếng Pháp nên vào trực tiếp gặp Lacroix, trung úy chỉ huy để trình bày lý do, nguyện vọng. Biết Phòng có quen với Quí, nên tôi mời Phòng về nhà ở, để khai thác những điều hắn đã khai với Lacroix. Phòng hỏi tôi: "Làm với bọn Pháp lương bổng có khá không?". Tôi trả lời: "Khá hơn bọn lính đầu đỏ, nhưng chỉ bằng 1/10 bọn lính Pháp cấp bậc tương đương". Phòng lại hỏi: "Làm với Trần Văn Hữu có khá hơn không?". Tôi đáp: "Cũng vậy thôi, vì Trần Văn Hữu dưới quyền của Pháp". Sau đó, tôi chào hắn để cho Tư Quí tiếp hắn. Trước đó tôi có trao đổi với Quí: "Chuyện Phòng ra đầu thú là chuyện đã rồi, ta chỉ cần hắn hạn chế tác hại về sau thôi". Đến thời kỳ Mỹ - Diệm, Lâm Quang Phòng lại chạy chọt lên chức quận trưởng Vĩnh Thuận, lại trở về đàn áp nông dân ở quê hương hắn. Đến ngày 30/4/1975, hắn đã lên chức đại tá, làm trong phái đoàn tiếp quản quân ngụy ở Mỹ. Nhưng cũng có một trường hợp đầu thú khác: bọn Pháp có treo giải thưởng 300 đồng cho binh sĩ Việt Minh nào ra đầu thú có mang theo vũ khí. Hôm đó có một thanh niên ra đầu thú ở Phòng Nhì Secteur Cần Thơ. Anh ta tên Võ Văn Danh, tự xưng nhân viên công an xã Phú Thứ (Cần Thơ) 23 tuổi, có mang theo một cây tiểu liên Steen. Vóc dáng nhỏ con, lông mày có xoáy ngược, miệng móm. Trần Huy được Lacroix phân công hỏi cung tên này. Tôi đến hỏi thêm: "Anh nói anh là công an, vậy anh có biết Phạm Hùng không?" - "Biết chớ" - Ông ta người như thế nào?" - "Ốm nhom, cao gầy, đen" - "Người Nam hay Bắc?" - "Người Bắc kỳ". Tôi mỉm cười, bỏ đi. Suy nghĩ: "Phạm Hùng là người miền Nam sao lại nói miền Bắc?". Tôi cho hắn là một tên "ba xạo" không đáng tin, hoặc là đầu thú "giả". Cũng may, Danh chỉ đến lần đó thôi, không trở lại lần nào nữa. Kiểm tra lại cây súng Steen, Huy phát hiện cây súng giả, rạn nứt nòng, nên Danh không trở lại đòi tiền thưởng 300 đồng. Năm sau, 1949, tôi đổi về Long Xuyên, tôi gặp lại Danh trong đoàn công tác biệt động của Việt Dũng, nên càng tin chắc vào giả thuyết Danh là đầu thú giả, và đã tìm cách giúp cho đoàn thoát sự bao vây của địch. Danh trở thành đảng viên, hoạt động trong tổ điệp báo của tôi, cho đến ngày tôi đi tập kết, Danh được phân công ở lại, tiếp tục hoạt động cho đến ngày hoàn toàn giải phóng, Danh đã làm xong nhiệm vụ, vì lý do sức khỏe, xin nghỉ việc cơ quan về làm ruộng ở Cây Dà trên mảnh đất ông bà để lại và mất tại đó ngày 12/11/1987, thọ 62 tuổi. Một cuộc đời cách mạng đầy gian truân khổ ải. Danh mới học tới lớp 5, thành phần bần nông, tham gia cách mạng tháng 8/1945, không được học một lớp chuyên môn chính trị nào, trong lúc tôi được đi tập kết Danh ở lại mang nặng vết thương, 3 cục u nổi lên ở phổi bên trái, phía trên xương sườn bị gãy, ho khạc ra máu và chết vì ung thư ở phổi! Tôi đã đến thăm Danh ở Cây Da lúc còn sống, vào năm 1985. Tuy Danh Tất yếu, nhưng vẫn chống gậy đi cùng tôi ra thăm mộ một chiến sĩ trong đơn vị đã chết từ năm 1946 và an táng sau vườn nhà Danh. Tuy yếu nhưng Danh vẫn nhận làm tập đoàn trưởng để hướng dẫn nông dân canh tác. Tôi đã rút ra một kết luận, trong hàng ngũ đầu giặc, cũng cần phân biệt ai đầu thú thật, ai đầu thú giả, không phải chỉ bằng lời khai mà còn phải xét lại hoàn cảnh và động cơ nào hành động như thế. Còn người phải tìm lại con người thật hay giả trong các ngóc ngách tâm hồn của họ, khơi dậy cho bằng được đốm lửa của lương tâm nếu chưa phải đã tắt hết. Không phải tôi suy luận mà nhờ ở đâu đó trong truyền đơn Việt Minh, tôi đã đọc được lời dạy của Hồ Chủ Tịch: "Người Việt Nam ai ai cũng có lòng yêu nước. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn"... đã in sâu vào tâm khảm của tôi, lấy đó làm phương châm xử thế cho mãi đến bây giờ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:46:47 pm Trung úy Lacroix vừa lên thay đại úy Fallon đã nảy sinh một sáng kiến mới: cho ra một tờ báo cho quân khu Cần Thơ bằng tiếng Việt, tờ báo giao cho Nguyễn Tư Long chủ trì, bài vở phải viết bằng tiếng Pháp, thông qua Lacroix rồi cho dịch để in ở nhà in Bắc Hà, đường Cây Bả Đậu thành phố Cần Thơ. Lacroix họp đại úy Long, thiếu úy Huy và tôi quyết định đặt tên báo. Tôi suy nghĩ trong đầu óc: "Đây là tờ báo lá cải, hạng bét trong những tờ báo lá cải, độc giả chắc chỉ là bọn lính dây đỏ và đầu đỏ đọc thôi, đối với đồng bào Cần Thơ có cho cũng không lấy". Vì vậy tôi buộc miệng thốt ra: "Lấy tên "Dây đỏ"!". Không ngờ Long và Huy đều tán thành lấy tên đó là tên báo. Bởi vì 43è RIC là đơn vị lục quân thuộc địa chỉ lực của Secteur Cần Thơ, vốn đã được thưởng Bắc đẩu bội tinh, nên binh sĩ đều được quàng thêm chiếc dây đỏ quanh vai, đồng bào lấy đó mà phân biệt với các đơn vị khác. Từ đó tôi được thêm nhiệm vụ mới: biên tập viên cho tờ báo kiêm bán báo, ngồi gần cửa ra vào, tôi còn nhớ mãi kỷ niệm "văn chương lính tẩy" lần đầu trong quân đội viễn chinh Pháp. Tờ báo số 1 Dây đỏ ra đời cần có thơ. Lacroix lục đâu trong tờ báo Pháp một bài thơ bằng tiếng Pháp, bắt tôi dịch để đăng. Một là vì thơ tiếng Pháp khó nhớ nên tôi cũng chẳng quan tâm đến nội dung cũng như tên tác giả chỉ nhớ nhan đề là "Phở Bắc"
Phở Bắc Kẽo kẹt gánh hàng rong Tiền theo đốm lửa hồng Như ma trơi nhảy múa Như có và như không" Dịch xong, tôi đưa cho Lacroix, Lacroix họp Long và Huy hỏi ý kiến. Long gật đầu khen dịch sát nghĩa. Huy lại tán thêm vào. Thế là cho đăng lên báo. Không ngờ tuần sau, tôi gặp đồng chí Tuệ - tên là Thiều Quang Thế - thị đội trưởng Cần Thơ, đồng chí ấy bắt tay tôi và khen bài thơ có lập trường giai cấp! Tôi muốn tặng lại lời khen đó cho tác giả người Pháp là trung úy Lacroix (hiện nay nghe đâu là thiếu tướng tình báo) người chủ tờ báo "Dây đỏ". Phần tôi khỏi mang tội bồi bút là may! Được thể, Lacroix lần khác cao hứng bảo tôi dịch thành thơ để in làm phụ trương cho tờ "Dây đỏ". Đó là bài ca truyền thống của quân đội thực dân Pháp nguyên thế kỷ 18 được gọi là binh đoàn thủy quân lục chiến (Infanterie de la marine) của nền đế chế Pháp. Bài ca có phổ nhạc hùng tráng (les gars de la marine). Tôi cũng cố gắng dịch bằng thể lục bát, nhưng dài thượt lủng ca lủng củng, càng đỡ ít người hiểu thì càng hay. Tôi thầm nghĩ để tự động viên mình. Nhưng đến khi dịch đoạn điệp khúc: "Mourir pour la France Ma mère Patrie Hélas! Je n'ai qu'une seule vie à lui offrir!" Dòng máu dân tộc trong người tôi sôi sục bốc cháy. Tôi dịch luôn không ngần ngại: "Chết vì mẫu quốc lang-sa Đời tôi chỉ vậy, tức là không hai". Lần này Lacroix đưa bản dịch cho Trần Huy góp ý. Trần Huy đọc đến hai câu đó, phấn khởi bắt tay tôi khen lấy khen để. Huy nói với Lacroix: "C’est parfait! En certains points, meilleur que l'original" (Hoàn hảo! Có chỗ còn hay hơn cả nguyên tác!). Cảm ơn Huy. Nói làm sao hết tấm lòng tri kỷ! Về cộng tác tuyên truyền, chủ trương của thực dân Pháp đến thời kỳ đó cũng đã cho phép sử dụng tuyên truyền tâm lý chiến, ví dụ làm những truyền đơn giả là của kháng chiến, nhưng nội dung có những đoạn xuyên tạc kháng chiến để gây chia rẽ trong hàng ngũ kháng chiến và cho tung vào vùng giải phóng. Cũng may, Secteur Cần Thơ không dùng thủ đoạn đó. Nhưng trong bất cứ thủ đoạn xuyên tạc vào Bộ Tư lệnh viễn chinh Pháp cũng có chỉ thị tuyệt đối không được động đến cá nhân Hồ Chí Minh, rõ ràng là đạo đức, tác phong Hồ Chủ Tịch không thể bị xuyên tạc. Đó là một chân lý mà kẻ thù cũng phải thừa nhận, về công tác chiến dịch, nhân dịp đầu năm 1949 đi chúc tết (hồi đó tôi đã đổi lên Long Xuyên, về Cần Thơ ăn tết, và tổng kết công tác điệp báo năm 1948 của chúng tôi), tôi đã phát hiện nhiều điều lý thú từ miệng của đại tá St.James. Mồng một tết, tôi vào văn phòng 2è B. Cần Thơ, lúc đó đã dời về ở C.E.M, chiếm một phòng học của trường Collège Cần Thơ. Trần Huy nghỉ tết, Lacroix bèn rủ tôi đi cùng Saint James đi chúc tết các thân hữu Cần Thơ. Lựa chọn nhà cô giáo Sang, hiệu trưởng trường trung học Cần Thơ. Ngồi trên xe cho xe đảo vòng thành phố Cần Thơ dạo mát, Saint James cáo hứng muốn khoe kiến thức với cấp dưới.... ông ta quay lại hỏi Lacroix: "Anh có biết danh từ Ordre de bataille (trật tự chiến trận) xuất xứ từ đâu ra không?". Lacroix mỉm cười thú nhận là không biết. Ông ta giải thích: Đó là xuất xứ từ quân đội Pháp còn đánh giặc theo lối dàn hàng ngang. Tướng đứng trước, cấp tá đứng sau, cấp úy đứng sau cấp tá.v.v... binh sĩ đứng hàng sau cùng. Từ đó trong quân đội Pháp dùng từ ngữ đó để báo cáo và tổ chức biên chế của đơn vị thành thói quen lâu đời. Ông nói tiếp: "Thế anh có biết từ khi chúng ta tổ chức thành Zone Ouest chúng ta đã áp dụng chiến thuật gì khác trước không?". Lacroix có lẽ vì thói quen phục tùng thượng cấp nên vẫn mỉm cười: "Non, mon Colonel!". Thế là Saint James lại lên lớp: "Trước kia quân ta đổ bộ cốt chiếm các điểm đầu cầu và triển khai quân lực theo tuyến dọc tìm diệt lực lượng đối phương, chiếm lĩnh trận tuyến. Ngày nay đã tổ chức thành quân khu, thì mục tiêu chiến thuật khác trước, chúng ta chia cắt địa bàn thành từng ô vuông để đánh địch, đó gọi là "tactique de compartimentage" (chiến thuật ngăn từng ô để đánh). Tôi cố ghi nhận và sàng lọc thuật những thông tin ấy nhét kỹ vào đầu óc, không bỏ qua những kiến thức của bản thân về tình báo Pháp mà tôi được học lóm. Xe ngừng lại trước một căn phố ngói. Chúng tôi bước vào nhà chúc tết cô giáo Sang. Cô rót trà đãi khách có lễ độ nhưng có khoảng cách xã giao khá lạnh nhạt, qua thái độ đó, tôi yên tâm. Cô không phải loại H.C. (honorable correspondant) tức là không phải loại có liên hệ với bọn 2è B. Trên đường về nhà, tôi đối chiếu bài học trên xe. Năm 1948, tôi đã được chúng bảo đi trong hai cuộc hành binh càn quét. Một cuộc hành binh vùng Long Mỹ. Một cuộc hành binh vùng Ngã Năm (Sóc Trăng). Đúng là những cuộc hành binh rầm rộ trọn 3 ngày. Lực lượng bộ binh tham dự cỡ trung đoàn. Có một toán 3 chiếc máy bay "cổ cò" yểm trợ, hải quân có 2 chiếc LCM và một số giang thuyền (vedette) tham chiến. Rốt cuộc chẳng bắt được ai cả. Cuộc hành binh ở Ngã Năm, tôi đã cho Tư Quí biết trước, vì hồi đó Tư Quí có cất nhà ở Kinh Xáng Ngã Năm. Cuộc hành binh ở Long Mỹ, chúng bắt được một thầy giáo đem về 2è B. Lacroix biểu tôi hỏi cung. Tôi đưa một tờ giấy trắng cho thầy giáo viết lời khai. Tôi đọc qua lời khai thấy ổn. Thấy chỗ nghề nghiệp thầy viết là giáo viên "dạy I-tờ", tôi nhắc thầy "dạy a-b-c" đừng để dạy "I-tờ" vì đó là cải cách giáo dục vùng giải phóng. Thầy sửa lại như tôi gợi ý. Tôi dịch lại lời khai đưa lên trung úy Lacroix. Thế là được thả. Chỉ sửa lại một chữ thôi mà thầy giáo còn nhớ mãi, cho đến lúc tôi trở về vùng giải phóng, thầy còn kéo tôi về nhà đãi một bữa cháo vịt. Và đến lúc về hưu, ở P.11 - Q.3 TP.HCM, đồng chí Huê, cán bộ hưu trí gặp tôi còn kể lại nghĩa cử "sửa một chữ" như vừa nói trên do thầy giáo thuật lại cho đồng chí ấy nghe với thầm ý cảm ơn tôi. Còn tôi, thật là vô tình, đến cái tên của thầy giáo tôi cũng không còn nhớ nữa. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Năm, 2026, 08:47:34 pm Bọn lính kín vẫn đón bắt liên lạc nội thành của ta. Hôm đó, chúng bắt giải qua 2è B. một thanh niên làm nghề kéo xe lôi, anh ta khai là làm giao liên cho Việt Minh. Bị bắt vì khi bọn lính kín xét trong vành nón có tài liệu Việt Minh. Anh Tám Miêng đã cho người dặn tôi, tìm cách làm nhẹ tội cho anh ấy. Tôi thấy anh ta mệt quá, vì vừa qua một trận đòn ở sở lính kín xong, nên hỏi anh ta, bây giờ anh muốn gì? Anh lắc đầu: "Tôi mệt quá, muốn ngủ thôi". Tôi liền cho anh ta trở về khám để ngủ. Sau đó, xét lại hồ sơ, cho vào loại tù binh loại 2, đưa về trại tù binh với bản án nhẹ nhất: 2 năm. Năm 1949, anh được thả về, tiếp tục làm trưởng trạm liên lạc số 2 của Chi 50 đóng tại Ô Môn, đó là đồng chí Tư Đót. Năm 1957, làm binh vận bị bắt, rồi năm 1962 bị đày ra Côn Đảo. Trải qua hơn 15 năm chịu tù đày, đến khi giải phóng đất nước, mới được gặp mặt vợ con. Chị Đót vẫn âm thầm nuôi ba đứa con dại, chờ chồng. Anh đã được tỉnh phân công làm Giám đốc Công ty Vận tải đường bộ của thành phố Cần Thơ, và hiện nay đã nghỉ hưu.
Năm 1948, quân Pháp ở miền Tây có chủ trương tu sửa lại các đường giao thông quốc lộ số 4, nối liền các tỉnh Cần Thơ - Sóc Trăng và Bạc Liêu. Riêng con đường tỉnh lộ Cần Thơ - Long Xuyên vẫn bị cắt đứt, liên lạc đường bộ chỉ lên đến Thốt Nốt mà thôi. Đi đôi với việc sửa sang đường sá, chúng cho tổ chức xe đò và vận tải tư nhân tháp tùng theo xe quân sự có xe nồi đồng và lính hộ tống, chúng gọi là đoàn "công voa", mỗi chiếc xe tháp tùng phải có giấy phép của 2è B. tôi được lịnh của Lacroix: muốn có giấy phép lái xe phải mua 5 tờ "Giấy đỏ", mỗi tờ 1 đồng. Tiền thu được trung úy bỏ vào quỹ riêng, về mặt kinh tế, Pháp chủ trương cấm vận vào vùng giải phóng các loại súng đạn, thuốc tây, văn phòng phẩm, vải lụa và cấm lúa gạo từ vùng giải phóng ra. Trong lúc đó, ở vùng giải phóng năm đó cũng có chủ trương cấm chở lúa gạo ra thành phố. Một số ghe chài chở lúa gạo ra bị ông Tửu, Chủ tịch huyện Châu Thành ra lịnh đánh chìm làm cản ngăn tàu giặc ở Phong Điền. Tôi được tin rất bất mãn, nhưng tất nhiên không dám nói ra. Hôm đó có thương lái Hoa kiều đi chiếc xe Citroen sơn đen bóng loáng đến xin giấy phép vận chuyển của 2è B. để chở gạo ra. Nó gợi ý với tôi: "Ông nên cho tôi cái giấy phép chở lúa, tôi sẽ cho ông cái xe đó xài". Tôi cười: "Ông hãy xin giấy ông Tửu cho chở ra, tôi sẽ xin giấy cho ông nhập thị". Ông ta lặng lẽ rút trong túi áo ra tờ giấy phép của Việt Minh cho phép chở gạo ra thành phố, có mộc đỏ hẳn hoi. Tôi thầm nghĩ: "Một tay tiếp liệu cho kháng chiến". Và thế là giấy phép hẳn được ký tên. Tất nhiên, tôi không nhận chiếc xe biếu để cho nhẹ người. Hồi đó Chiến Khu 9 và Chiến Khu 8 lấy sông Hậu Giang (Bassas) làm ranh giới, Zone Ouest (quân khu miền Tây) của quân đội Pháp bao gồm cả 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Rạch Giá, Bạc Liêu, Châu Đốc, Long Xuyên, Sóc Trang). Bộ Tư lệnh Khu 8 do đồng chí Trần Văn Trà là tư lịnh có chủ trương mở chiến dịch Cầu Kè (Trà Vinh). Một chiến dịch có quy mô lớn lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ. Quân ta bao vây bót Pắc-Sa-Ma (Zone Ouest). Đi mấy ngày về, Trần Huy được Lacroix đề nghị khen thưởng Bội tinh "Croix de guerre". Trần Huy thổ lộ với tôi: "Mình tức quá. Việt Minh đã bao vây đồn, quân trong đồn đã bắn hết cả đạn, mình chờ quân ta tới xung phong, chờ mãi không thấy ai xông vào cả. Thật là uổng". Với nhận xét ấy, tôi thấy cũng đáng thưởng huân chương. Nhưng thiết thực hơn, tôi đã đề nghị thưởng 400 đồng. Không phải vì nhận xét đó mà vì những thành tích nổi lên trong năm, Trần Huy tính tình hiền hậu, nhưng có thói xấu: mê cờ bạc. Tuy không nói ra, cố giấu tôi vì sĩ diện, nhưng tôi vẫn ngờ ngợ. Một lần anh ta hỏi tôi mượn 400 đồng... Số tiền bằng nửa số lương của tôi, làm gì tôi có sẵn. Tôi đành phải tạm vay đại úy Nguyễn Tư Long, hẹn cuối năm sẽ trả. Long mở ngăn kéo ra đưa tiền cho tôi, rồi mỉm cười: "Có phải mày vay cho Huy phải không?". Tôi gật đầu, Long nói: "Huy có hỏi mượn tao, nhưng tao không cho vì nó hay chơi tài - xỉu, chắc là để trả nợ cờ bạc đó". Tôi nghĩ lại, lần đầu Huy đã vì thụt két phải bỏ xứ vào Nam. Bạn bè muốn khuyên nhau bỏ thói xấu cũng phải từ từ. Hiện nay, cần giúp Huy trả nợ trước hết. Tôi đưa tiền cho Huy mà không nói rõ xuất xứ. Vì vậy, đến cuối năm, khi cơ quan hỏi tôi muốn được khen thưởng gì tôi báo cáo rõ với anh Tám Miêng: Tôi cần khen thưởng bằng tiền mặt, cụ thể là 400 đồng, và người được nhận thưởng là V45 Thanh Hà. Với số tiền đó, Huy đã vui vẻ nhận và trả nợ sòng phẳng cho tôi, để tôi trao lại đúng kỳ hẹn với đại úy Long. Chúng tôi đã phân công cho chú Tư Ngà trực tiếp nắm Huy, nhưng vì có tôi ở gần, mỗi khi có tin tức gì mới, Huy được phép nói với tôi, hoặc rủ tôi ra tiệm cà phê uống bia bốc. Hễ mỗi lần Huy rủ tôi đi uống bia là có tin tức mới. Một lần, Huy rủ tôi đi ăn hủ tíu, đến tiệm, Huy giới thiệu tôi với ông già Triệu, người gốc Hàng Đào (Hà Nội), ông cụ người nhỏ con, trạc ngoài 50, là chủ sự nhà dây thép gió (VTĐ), cứ mỗi lần đi ăn hủ tíu đều rủ Huy cùng đi (lúc ấy ở Cần Thơ, ngành bưu điện chưa phục hồi các đường dây liên tỉnh, nên muốn đánh điện lên Sài Gòn phải dùng VTĐ). Ông cụ đi ăn hủ tíu mỗi lần đều móc trong túi lấy ra ve dầu Nhị Thiên Đường có đựng bột cà cuống để làm gia vị. Lần đầu được tôi làm quen với hương vị cà cuống miền Bắc, và một ông già miền Bắc rất lý thú. Tôi nghĩ ngay đến các đài VTĐ của cơ quan Tình báo Cần Thơ: một cái đài do lượm lặt từng linh kiện cũ, sử dụng bằng pin đèn bấm tay lắp ráp lại, do anh Phổ ở Khu làm ra. Nếu sử dụng được đài Cần Thơ đưa tin về Khu thì tiện biết mấy! Tôi gợi ý ấy cho Trần Huy, Trần Huy nhận lời. Tôi báo cáo về cơ quan để kỹ thuật viên tiếp tục công tác với ông Triệu. Tôi không theo dõi nữa vì thuộc ngoài chuyên môn của tôi. Có một lần tôi hỏi thăm Huy về vấn đề đó. Huy cho biết là không bắt được tần số. Nhưng sau này, tôi tập kết ra Bắc tôi gặp được anh Ban, con ông Triệu, thì mới hay Ban đã vào Khu tham gia kháng chiến, và hỏi thêm Quỳnh xụi mới biết là: hồi đó cơ quan vẫn sử dụng đài VTĐ của Bưu điện Cần Thơ. Nhưng vì lý do bảo mật nên không cho tôi biết. Để chỉ đạo công tác đặc biệt của cấp trên đã giao nhiệm vụ cho đội Chẳng, bí số V100, bí danh Thanh Đạm, nắm đầu mối đó. Một lần khác, vào khoảng giữa năm 1948, về chiều, ở trong phòng đánh máy tài liệu ra, Trần Huy đến trước bàn tôi rủ tôi đi uống bia. Tôi biết ý, móc vội 10 đồng trong ngăn kéo, cắp tay Huy đi ra khỏi cơ quan, thẳng đến hiệu quen thuộc. Vừa kêu hai cốc xong, Huy rút trong túi quần ra một xấp giấy dày cộm chuyển sang cho tôi, tôi vội cầm lấy nhét vào túi quần. Uống xong ly bia, chúng tôi chia tay. Về nhà rút tập giấy ra, mới biết là một tổng kết về phong trào Phật giáo Hòa Hảo, đi từ nguồn gốc giáo chủ Huỳnh Phú Sổ đến lúc Năm Lửa về đầu thú Pháp, tham gia vào lực lượng bổ túc (Forces Supplétives) của quân viễn chinh Pháp, dày gần 100 trang do Lacroix bỏ công sưu tầm nghiên cứu viết trong 3 tháng đầu về Cần Thơ và do Trần Huy trực tiếp đánh máy. Tôi thầm nghĩ: về mặt địch, đây là một tài liệu nghiên cứu có tầm cỡ chiến lược khá công phu của trung úy Lacroix, về mặt ta đây là một thủ đoạn điệp báo khá táo bạo đầu tiên của người Quân báo Khu 9, do Thanh Hà, V45 thực hiện. Tôi lập tức đến nhà V18 (Thanh Hương) trực tiếp giao cho cô ta đưa ngay về cơ quan Tình báo Cần Thơ, lúc bấy giờ đóng tại Miễu Ông, Bình Thủy... Cô Nhụy (V18) chuẩn bị đi ngay. Tôi vẫn chưa yên tâm: "Thế em làm cách nào đem tài liệu đi? Bởi vì, trên đường đi phải ngang bót Bình Thủy, lục xét rất kỹ, tài liệu hơn 100 trang đánh máy cũng khá dầy". Nhụy mỉm cười: "Anh cứ tin em, làm cách nào đem được thì thôi". Tôi vẫn lo ngại: "Thì em cứ cho anh biết đi". Nhụy vào phòng sau lấy cái khố bọc vệ sinh (băng) của đàn bà ra đưa tôi xem và nói: "Em sẽ nhét tài liệu vào đó, lấy thuốc đỏ bôi ngoài đưa vào chỗ kín, ai bắt được?". Tôi thầm nghĩ: "Phụ nữ có nhiều sáng kiến hơn nam giới là đúng thôi". Nhưng tôi vẫn dặn dò thêm: "Em vào lò heo xin ít huyết bầm bôi vào bên ngoài. Nghi trang vậy tốt hơn". Ngẫm nghĩ một lát, tôi dặn thêm: "Em nhớ, nếu bọn lính có đứa nào muốn làm ẩu thì cứ khai là em của anh, cứ điện về hỏi anh thì biết". Tài liệu được đưa qua trót lọt. Nhưng cũng không biết về Khu làm thế nào mà để lọt một bản vào tay bọn Tình báo vô hình, đóng tại Vĩnh Long vào khoảng 12/1948. Một cuộc điều tra xác minh được tiến hành ngay ở 2è B. Cần Thơ, nơi xuất xứ của tài liệu. Đại úy Long được tham dự cuộc hội ý trong hàng ngũ sĩ quan tham mưu Pháp ở Z.O. gặp riêng tôi dặn nhỏ: "Mầy coi chừng, không biết sao mà tài liệu mật của 2è B. Cần Thơ lại lọt vào tay 2è B. vô hình ở Vĩnh Long, cuộc họp sĩ quan đã rà xét lại tư cách từng người trong tham mưu, nhất là những người Việt Nam" - "Chúng có tình nghi ai không?" - "Chưa kết luận được. Còn tiếp tục theo dõi". Tôi nằm gác tay lên trán suy nghĩ đến mọi tình huống xấu có thể xảỹ ra. Tất nhiên Trần Huy lo lắng nhất. Mấy hôm sau đó, Lacroix gọi tôi vào phòng riêng bảo: "Anh Trần Hiến, hiện nay ở Secteur Long Xuyên đang cần một phiên dịch viên có năng lực, tôi định đổi anh lên đó, anh nghĩ sao?". Thấy tôi chưa trả lời, trung úy nói tiếp vẫn giọng nhỏ nhẹ: "Kể ra anh đi thì tôi phải mất một người cộng tác đắc lực, nhưng biết làm thế nào, ở đây thừa biên chế, nếu anh không đi thì tôi phải cử Trần Huy đi thôi". Tôi hẹn lại vài hôm sau trả lời. Tôi vào văn phòng gọi anh Tám Miêng báo cáo lại tình hình và xin ý kiến cơ quan: "Vấn đề đã rõ: quân Pháp tình nghi tôi, tôi có nên ở lại hay rút lui?". Anh Tám Miêng nói: "Ở lại hay rút lui về tùy anh quyết định, nhưng phải làm sao đừng để chúng biết được. Vấn đề Lacroix đổi anh lên Long Xuyên là một cách chúng đối phó để theo dõi. Tốt hơn hết là anh nên nghỉ công tác trong 6 tháng, cho lắng dịu đi, sẽ tiếp tục sau... Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 08:47:55 pm Trên đường về, đầu óc tôi xoay quanh 3 câu hỏi: "Ở hay rút? Long Xuyên hay Cần Thơ? Tạm nghỉ hay tiếp tục? Về câu hỏi thứ nhất, tôi đã dứt khoát: ở, vì nếu còn ở mức độ tình nghi thì chúng chưa bắt, cao lắm là tìm cách thủ tiêu lén. Về câu hỏi thứ hai: tôi chọn Long Xuyên, vì là địa bàn mới, nếu Huy lên đó thì phải bắt đầu tổ chức lại, mà về mặt tổ chức bí mật rõ ràng tôi có kinh nghiệm hơn. Về câu hỏi thứ ba: không nghỉ việc dù là trong thời gian ngắn. Một lý do đơn giản: ta nghỉ việc, kẻ thù của ta có ngừng khủng bố ngày nào không? Vấn đề đặt ra là phải tìm cách đánh địch, vừa đánh địch vừa bảo vệ mình, mà chính đó là phương thức bảo vệ mình hoàn hảo nhất. Suy nghĩ trở thành phương châm của mọi hành động của tôi. Tôi bắt đầu phân công theo khu vực: Cần Thơ sẽ là vùng A: mọi hoạt động điệp báo ở A sẽ do Trần Huy chịu trách nhiệm, giao tài liệu trực tiếp cho chú Tư Ngà để chuyển về cơ quan. Tổ công tác Sơn, giao tài liệu trực tiếp ra cho Thanh Đạm, chỉ đạo, báo cáo gởi về chú Tư Ngà chuyển về cơ quan. Riêng Thanh Tùng (đại úy Long) tôi vẫn phải trực tiếp nắm vì anh ta chẳng chịu viết báo cáo và cũng chẳng chịu tiếp xúc với ai, ngoài tôi ra. Anh ta từng lý luận với tôi: "Tao tin mầy mới nói cho mầy biết dùng được thì dùng, không dùng được thì thôi. Tao có hỏi mầy làm gì đâu? Mầy đưa người khác tao không chịu đâu! Tao tin mầy không phải là thằng lừa thầy phản bạn nên tao mới nói ra, còn người khác nếu họ bán đứng tao thì sao? Ở đời này dễ gì phân biệt được vàng thau mầy?". Thế là tôi chịu.
Hôm sau, tôi báo lại cho Lacroix biết: là tôi đã thu xếp xong gia đình đồng ý lên Long Xuyên công tác. Một chân trời mới mở ra trước mắt. Cần Thơ với Long Xuyên chưa có liên lạc đường bộ. Tôi chưa từng bước chân tới vùng đất ấy của miền Tây Nam Bộ. Tôi đặt tên vùng đất mới là B. Thật ra theo sự phân chia địa giới quân sự hồi đó: Long Xuyên là một khu vực quân sự dưới quyền của quân khu Cần Thơ (Z.O), tôi chỉ biết là vùng đất mà 80% dân số theo đạo Hòa Hảo. Qua bản báo cáo tổng kết của trung úy Lacroix: "Đó là vùng đất của đạo Hòa Hảo là sân sau dạo mát an toàn của quân đội viễn chinh Pháp". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 08:49:19 pm CHƯƠNG 9 VÙNG ĐẤT MỚI 1949 - 1950 Con đường liên tỉnh Cần Thơ - Long Xuyên - Châu Đốc bị dân quân ba tỉnh bầm nát, từ cuối 1945 vẫn chưa được khôi phục. Quân đội Viễn chinh Pháp chiếm đóng ở ba tỉnh trên, chỉ tiếp tế liên lạc với nhau bằng đường thủy dọc theo sông Bassac (Hậu Giang). Đầu năm 1949, công binh vừa bắc xong cầu ván dã chiến, liền tổ chức một đoàn "công-voa" mở đường nối liền Cần Thơ với Long Xuyên. Tôi tháp tùng ngồi lên chiếc xe quân bưu, bên cạnh một chú cai còn trẻ tuổi cầm lái, tôi thấy chú có sức vóc khỏe mạnh, khá bảnh trai, liền bắt chuyện. Chú tên là Tiên người Cần Thơ, trước khi vào lính đóng lon Cai, đã làm thợ máy sửa chữa cơ khí ở 63è CR, lái xe cần cẩu, hiện giờ chú được chuyển sang CEM để lái xe quân bưu lên xuống Cần Thơ, Long Xuyên. Khi ấy, trong đầu óc tôi lóe lên một ý nghĩ: Tại sao ta không lợi dụng chiếc xe nầy đế làm liên lạc cho ta? Tôi liếc nhìn Tiên, một chàng trai duyên dáng, có nghề nghiệp dễ bắt chuyện. Một con bài dự trữ giữa A và B! - Anh Tiên nè, mình có mấy thằng bạn ở 2è B. ở Cần Thơ, tụi mình hay đổi sách cho nhau xem, muốn nhờ Tiên đem giùm được không? - Được, em sẽ đem đi cho. Cứ mỗi tuần thứ bảy xe về Cần Thơ, thứ hai lại lên Long Xuyên, anh cứ đưa cho em. À, mà anh thứ mấy? - Thứ Hai, cứ gọi tôi là Hiến, tôi cũng ở Cần Thơ như anh vậy mà. Thế là khâu giao liên kể như đã giải quyết ngay trên chiếc xe quân bưu của Zone Ouest. Nhưng về vùng đất mới này, tôi chỉ biết trên giấy tờ báo cáo mà thôi, ngoài ra tôi mù tịt. Tôi cố ôn lại những gì tôi đã đọc được từ vùng đất mới nầy. Secteur Long Xuyên cũng nằm trong Z.O., bao gồm lãnh thổ của bốn tỉnh nhập lại: Long Xuyên - Châu Đốc - Sa Đéc - Rạch Giá. Tỉnh Long Xuyên được Pháp đánh giá là an toàn nhất, trong toàn miền Tây Nam Bộ. Dân cư 80% theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo, còn lai là Cao Đài, Thiên Chúa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, v.v... kể như không có Việt minh, cũng vì lẽ đó Bộ chỉ huy Pháp đóng tại thị xã Long Xuyên. Chỉ huy trưởng là Đại tá Duque, Phó là Trung tá Soreau, Tham mưu trưởng là Thiếu tá Masson. Trưởng phòng nhì là Trung úy Michot. Cùng đóng chung ở thị xã Long Xuyên có Ban chỉ huy Phân khu Long Xuyên (Sous Secteur) do Thiếu tá Malylte chỉ huy. Secteur Long Xuyên gồm có 4 S/Secteurs: Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Sa Đéc. Ngoại trừ S/Secteur Rạch Giá do 3è BVN (3è Bataillon Vietnamien) đóng, chỉ huy trưởng là Thiếu tá Bùi Văn Hai, sĩ quan tình báo là Trung úy Trần Thiện Khiêm (sau này là Thủ tướng Chánh phủ Thiệu), còn 3 S/Secteuiskia đều do quân đội Pháp đóng mà nòng cốt là lính của 43è RIC để khống chế các lực lượng giáo phái Cao Đài, Hòa Háo, gọi chung là lực lượng bổ túc. Văn phòng 2è B. Long Xuyên nằm chung với văn phòng Ban chỉ huy Secteur. Tôi bắt đầu làm quen với những đồng nghiệp mới. Trung úy Michot, người nhỏ thó, đeo kính cận, trông vẻ giống một thầy dòng phá giới. Tôi chưa kịp tìm hiểu về ông quan thầy mới của mình, chỉ biết y ít nói, chỉ mỉm cười, kín đáo khi cấp dưới gợi chuyện. Dưới quyền Michot, một trung sĩ phiên dịch, mấy tháng sau được nâng cấp lên thiếu úy, tên là Michel Đức, dân có đạo Công giáo, nguyên là một thầy Dòng. Tên nầy lớn hơn tôi 10 tuổi, rất mực tin Chúa vì ông rất đố kỵ Việt minh và Hòa Hảo. Năm đó tôi cũng được nâng cấp chuẩn úy. Trước khi đổi lên Long Xuyên, bước đầu đặt nền móng cho liên lạc giữa A và B. Tôi chuẩn bị trong đầu vấn đề tổ chức cơ sở nội thành. Nhưng tôi phải loại ngay Michel Đức. Trong 2è B. có một thơ ký dân sự làm công tác đánh máy, anh ta tên là Sanh, người Long Xuyên. Anh ta là người được trung úy Michot giao cho giữ hồ sơ của các phiên dịch viên. Lần đầu tiên, tôi gặp anh ta trong văn phòng, ngồi một mình đang đánh máy các bản nhận xét của thủ trưởng cơ quan đối với phiên dịch viên. Anh ta đưa hồ sơ của tôi cho tôi xem. Nhận xét cấp trên đối với tôi khá tốt, phiên dịch viên có giá trị, nghiêm túc, thanh liêm (Interprète de valeur, sérieux, intègre), tôi chưa kịp mừng, chợt nhìn lén góc trên hồ sơ có kẹp một miếng giấy nhỏ với nét chữ to viết bằng bút chì, nét chữ Michot ghi rõ: "Son beau père est Président du front Liên Việt de Cần Thơ" (Bố vợ của hắn là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Cần Thơ). Tôi nhìn vào mắt Sanh, Sanh liếc về phía bàn của thiếu úy Michel Đức đang bỏ trống. Tôi hiểu ngay cái giá của chiếc lon thiếu úy, và nhún vai, có lẽ Sanh đã có cảm tình cá nhân với tôi, hay cũng có thể vì lý do khác. Tôi đã cho điều tra thêm, và biết Sanh là tay nghiện thuốc phiện và vì vậy không chê những phần hối lộ kín đáo. Tuy vậy qua mấy lần nằm chung mâm đèn với Sanh, tôi hiểu Sanh có quen biết anh Nguyễn Thượng Đài viết thư móc nối ít nhất là cũng gây được một người có cảm tình với kháng chiến, nhưng tôi vẫn thận trọng không tổ chức Sanh vào công tác điệp báo. Dần dần Secteur Long Xuyên được bổ sung thêm đội sếp phiên dịch tên Tài, con một điền chủ Rạch Giá và một đội sếp người dân tộc Khmer tên Sơn Nam. Tài chỉ có biết tài nịnh bợ cấp trên, đón trước ý muốn của quan thầy để thỏa mãn quan thầy, hống hách với cấp dưới. Còn Sơn Nam thì chơn chất thật thà, vui thú với vợ con nên không nằm trong tiêu chuẩn lựa chọn. Trong Phòng nhì còn có một binh nhì người Pháp Ấn, tên là Amadou. Ít nói chỉ biết phục tùng máy móc mọi mệnh lệnh của cấp trên, nhưng không hay mách lẻo. Đến cuối tuần, tôi gởi một cuốn tiểu thuyết dày về cho Trần Huy, nhờ Tiên chuyển giúp. Sách vẫn còn mới, bao bằng giấy trắng, để thử đường giây liên lạc. Thứ hai tuần sau trở lên Long Xuyên. Tiên lại chuyển cho tôi một cuốn tiểu thuyết khác của Trần Huy gởi cho tôi để đọc cho đỡ buồn. Thế là Ổn! Tuy nhiên tôi vẫn còn lắm nỗi lo: cho dù đường liên lạc có thể hình thành, thông suốt không sợ ai ngăn chặn, nhưng phải làm thế nào để có lượng tin lấy được đưa về trên thường xuyên? Tôi đọc trong hồ sơ của 2è B. Long Xuyên, từ năm 1946 đến nay, những người bị bắt hầu hết là Hòa Hảo, chỉ có một vụ năm 1947, bọn mật thám đã phát hiện trên tầng nhà lầu đúc duy nhất ở Bình Đức có một ổ Tình báo Việt minh: một người bị bắt giam mấy tháng, sau đó được thả về, và hiện đang ở tại rạch Cái Sơn, anh ta là anh Ba Bô, kháng chiến ở Long Châu Hà, nhưng có giấy tờ của 2è B. Vô hình ở Cần Thơ, xác nhận là nhân viên phòng nhì. Anh ấy đã đến gặp tôi, báo cáo cho biết là tên Giáo Tỷ có lén tổ chức Kermesse (hình thức hội chợ để thu tiền quyên góp) tại chợ Long Xuyên và bán giấy "Đảm phụ Quốc phòng" đã thu góp hơn hai chục ngàn đồng của đồng bào, có kê khai danh sách. Thay vì báo cáo lại cho 2è B. Long Xuyên, tôi báo cáo về cơ quan của ta, bổ túc hồ sơ của tên nhị trùng gián điệp đó. Tuy vậy tôi vẫn chưa tin chắc vào nguồn tin đó. Sau này, vụ án giáo Tỷ được thông báo tôi mới rõ giá trị của nguồn tin và người cung cấp tin. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:00:15 pm Một buổi sáng mát trời, tôi vừa đến Sở làm thì bỗng thấy Trung úy Jacques Trưởng phòng 3 (Phòng tác chiến) từ trên thang lầu bước xuống, tay cầm bức điện tín đưa lên vẩy vẩy, nói với Trung úy Michot:
- Đây còn thêm sáng kiến của Trung úy Jacquemin nữa đây, rồi lấy giọng oang oang đọc to lên: "Đề nghị Secteur Long Xuyên, trưa nay cho lực lượng bắt giữ và khám xét chiếc tàu đò Tân-Nam-Khai từ Châu Đốc về Long Xuyên. Trong hành khách có một bọn Việt minh vũ trang âm mưu tấn công tàu. Đây là công việc của 2è B. Lịnh cấp tốc điều động hai trung đội lính Âu-Phi, đến ngay bến tàu trước chợ để làm nhiệm vụ". Tôi chán nản rảo bước đến gần chợ để xem, cảm thấy bất lực trước tai họa sắp xảy ra trước mắt mà không ngăn cản được. Bỗng tôi sửng sốt: đi ngược lại phía tôi, có hai thanh niên bận bà ba đen đang đi vội vã. Tôi đưa tay ngăn lại: - Ủa Hai Méo, mầy đi đâu biệt tăm mấy năm nay vậy? Hai Méo gặp tôi cũng sửng sốt và hơi hốt hoảng (Hai Méo là một đội viên của Tiểu đội Thanh từ thời kỳ là Sát Gian Đảng. Tôi cứ nghĩ là hắn đã theo Hai Tắng chuyển về Rạch Giá, không ngờ lại gặp anh ta tại chợ Long Xuyên này!). Hai Méo chỉ người đi cạnh anh ta và trả lời luôn: - Chúng tôi cũng phải buôn bán làm ăn chút đỉnh mà sống chớ, anh Hai. Tôi liếc sang người bên cạnh. Đúng là Danh, tên đầu thú với khẩu súng nứt nòng, đến trình diện một lần rồi mất dạng luôn. Mối liên hệ tạm thời hình thành ngay trong đầu óc tôi, giữa kỳ ngộ này với bức điện sáng nay ở Sở. Tôi hiểu ngay và chậm rãi nói: - Tụi bây lên đây ở đâu? Ăn sáng chưa? Tôi dẫn liền hai người về khách sạn Đông Thành ở bờ sông, gần bến đò chợ, nơi tôi ở, thì ra đó cũng là nơi hai anh ở và mướn phòng ngủ đêm, chỉ khác là hai anh ở tầng trệt, còn tôi ở tầng 3. Tôi bước vào phòng hai anh mướn, nhìn quanh không có va-ly hay hàng hóa gì cả. Ngồi xuống mép giường, tôi đột ngột hỏi ngay: - Là anh em, tụi bây biết tao quá rồi, bây giờ tao hỏi tụi bây. Tụi bây định đánh tàu Tân-Nam-Khai phải không, nói thiệt đi? Cả hai anh xanh mặt đành năn nỉ: - Làm sao cứu tụi em anh Hai? Hôm qua Biệt động đội của Việt Dũng đã phái một toán vũ trang 3 súng ngắn xuống tàu ở Cần Thơ lên Châu Đốc, rồi định lúc trở về ghé Long Xuyên đón Hai Méo và Năm Danh sẽ đánh cướp tàu trên đoạn đường từ Long Xuyên về Cần Thơ để dắt về vùng Giải phóng. Không ngờ bọn lính kín đã theo dõi và bắt một người tại Cần Thơ, nên mới có bức điện đến sáng nay. Trưa nay, đúng 12 giờ tàu Tân-Nam-Khai sẽ cập bến Long Xuyên, còn 3 súng ngắn giấu trong đống củi để dưới tàu. - Tụi bây đi dưới tàu có giấy tờ hợp pháp không? Danh đáp: - Có cả, ngặt cái là 3 khẩu súng nếu lộ ra thì bị bắt hết. Anh có cách nào giúp tụi em không? Đầu óc tôi quay cuồng trong mấy câu hỏi: "Giúp thế nào? Có sai nguyên tắc bí mật không? Có thể nhờ ai? Dù sao cũng phải vì lợi ích cách mạng mà cứu người, cứu vũ khí trước hết. Trên có khiển trách mình ráng chịu. Từ ý nghĩ liều mạng đó, tôi quyết định nhanh. Hai Méo và Danh theo tôi lên tầng ba khách sạn. Phòng tôi do nhà binh Pháp mướn cho tôi ở. Mật thám không lên khách sạn được để khám xét. Trước cửa phòng có tấm danh thiếp "Aspirant Trần Hiến" như một lá chắn trước con mắt tò mò. Tôi vặn khóa bước vào, nói để trấn tĩnh hai người khách mới: - Ở đây là tầng cuối, bọn một thám không bao giờ dám đặt chơn lên tầng nầy. Phòng hơi nóng, nhưng yên tịnh. Hai Méo mầy xuống trả phòng rồi lên đây thủ phòng. Tao với Danh đi lo công chuyện. Nên nhớ: Ai kêu mở cửa cũng đừng mở, khi nào gõ ba tiếng cách khoảng nhau mới được mở. Dặn dò xong, tôi để chìa khóa phòng cho Hai Méo, còn tôi quơ một đống áo quần nhà binh, lấy giấy báo bọc lại vuông vức rồi bảo Danh ôm theo. Tôi hỏi Danh có đủ bỏ ba khẩu súng vào bao giấy không? Danh gật đầu. Tôi dặn: - Nếu có ai hỏi thì áo quần nhà binh mang theo cho tôi, nghe không? Danh gật đầu. Xong mọi việc. Chúng tôi như hai thầy trò, kẻ trước người sau, nhìn lại thấy Danh ôm bọc quần áo theo tôi như tiểu đồng lẽo đẽo theo thầy không rời tôi nửa bước. Ra khỏi cầu tàu, đã có hai hàng lính Âu-Phi sắp hàng hai bên đường. Một tên thượng sĩ người Âu chỉ huy chung. Tôi đến tàu bắt tay thượng sĩ và khen lấy lòng, chúng tôi đàng hoàng đi ngay giữa hàng lính Âu-Phi ra thẳng tới cầu tàu, chiếc Tân-Nam-Khai vẫn lù lù đỗ ở bến. Tôi nói to để mọi người dưới tàu nghe rõ: - Mầy xuống hỏi dưới tàu trên Châu Đốc có gởi đồ của tao chưa nghe mậy? Danh dạ ran rồi bước xuống tàu, lát sau, thấy Danh bước ra khỏi khoang đưa một gói đồ cho tôi. Tôi đưa tay ôm gói đồ khá nặng vào nách rồi cùng Danh đủng đỉnh bước ra hai hàng lính. Tôi vẫn không quên chào viên thượng sĩ Pháp mỉm cười. Viên thượng sì hỏi tôi: - Ông khám xét tàu à? Tôi đáp: - Thôi để công việc bẩn thỉu đó cho bọn cảnh sát làm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:04:25 pm Về tới phòng, Danh mở gói cho tôi xem. Trong lớp quần áo cũ của tôi: 3 khẩu súng ngắn, có đầy đủ băng đạn: 1 P.38, 1 revolver hiệu Colt, 1 remington 7,65. Hai chàng thanh niên lộ vẻ hồ hởi vì vừa thoát hiểm. Riêng tôi công việc mới bắt đầu: "Làm thế nào để đưa hai chàng trai và 3 khẩu súng về vùng kháng chiến?". Công việc không dễ. Tất cả xe đò xuống Cần Thơ đều bị chận xét ở hai đầu rất kỹ. Xung quanh thị xã Long Xuyên, trong phạm vi 20km là vùng Hòa Hảo kiểm soát gắt gao, làm sao đi qua lọt? Tôi tự nhủ mình: "Ách giữa đàng phải mang vào cổ" Thôi! Phải tìm cách tháo ra chứ! Chợt nhớ đến anh chàng đã cho mình tin giáo Tỷ, nhà ở Cái Sơn. Hắn đã ở trong tổ Tình báo Long Xuyên, chắc hắn có mối liên hệ với Việt minh ở Long Xuyên, không sợ lầm phải Hòa Hảo. Tôi giữ ý nghĩ trong đầu, tôi dặn kỹ hai chàng ở trong phòng khóa cửa chờ tôi về gõ đúng 3 tiếng cách quãng nhau mới được mở. Tôi chạy ngay xuống cầu thang, xách xe đạp xuống Cái Sơn. Anh chàng thông tín viên của 2è B. Vô hình, ở trong một căn nhà 3 gian lợp tranh nhưng rộng mát, trong một cái vườn rộng 3 công khá sầm uất. Anh ta đón tôi vui vẻ, nhưng hơi ngạc nhiên, vì đây là lần đầu tiên tôi đến tận nhà. Để bắt đầu câu chuyện, tôi báo cho anh biết là Giáo Tỷ hình như Việt minh đã mời về khu rồi, ở luôn trong ấy. Tôi liếc nhìn anh ta có vẻ thản nhiên, đôi mắt còn lộ tia sáng hoan hỉ. Qua kinh nghiệm tiêp xúc, tôi biết anh ta không có liên quan gì với Giáo Tỷ và yên tâm. Tôi bắt đầu đi thẳng vào vấn đề:
- Như vậy chứng tỏ anh cho biết về Giáo Tỷ là đúng. Tôi tin anh. Bây giờ tôi còn nhờ anh một việc nữa, nên phải đến tại đây. Anh có giúp tôi không? - Ông cứ cho biết, nếu được tôi không từ nan. Tôi tiếp: - Tôi muốn đưa một người ra vùng giải phóng, anh giúp được chứ? Anh ta chớp mắt đôi lần rồi hỏi lại tôi: - Vùng nào, ông cho biết cụ thể? - Long Châu Hậu được không? - Long Châu Hậu tôi không quen ai cả? Long Châu Tiền họa may. Tôi thấy anh ta tỏ ra thật tình muốn giúp, nên tôi dặn thêm: - Anh phải đảm bảo an toàn người và của cho người đó nhé! Anh ta gật đầu, tôi xiết chặt tay anh. Trong vòng vây của quân thù, mọi bàn tay nhân ái đều vô cùng quí giá. Trở về khách sạn Đông Thành, tôi nhảy 3 bậc lên tầng ba, gõ 3 tiếng, cánh cửa mở ra, tôi thấy vẻ mặt hai chàng biệt động thành Cần Thơ có vẻ bẽn lẽn. Hai Méo đang lật mí chiếu nhét khẩu Colt vào. Thì ra chúng vẫn chưa tin là tôi thật tâm muốn cứu chúng, tưởng tôi lừa chúng đem Tây đến bắt chúng trọn ổ. Khi nghe chân bước trên cầu thang, chúng nhìn lén qua ổ khóa, thấy tôi vẫn đi một mình nên vội vàng giấu súng đi. Hú vía, thiếu chút nữa tôi đã ăn đạn Việt minh! Tôi nói lại cho hai chàng chiến sĩ biết tình hình, rồi để cho hai chàng tự chọn cách đưa vũ khí về đơn vị. Cuối cùng quyết định: Danh sẽ theo xe Thành Long trở về Cần Thơ, báo cáo tình hình cho Việt Dũng biết. Hai Méo theo tôi về ở nhà ông bạn ở Cái Sơn, mang theo 3 khẩu súng trở về vùng kháng chiến, qua ngả Long Châu Tiền (theo đường dây của ông bạn Cái Sơn)... Chiều hôm đó, đến cơ quan, tôi ôm bụng nhăn nhó. Thiếu úy Michel Đức hỏi: tôi nói đau bụng, anh ta bảo tôi đi về nằm nghỉ. Tôi xin phép Michel cho về phòng nằm cho đỡ đau. Tôi ra về lại cuộn 3 khẩu súng vào bộ đồ quần áo nhà binh dầy cộm, đặt sau porte-bagage xe đạp, gặp Michel Đức đứng ngay cửa hỏi tôi đi đâu? Tôi bảo đem áo quần bỏ tiệm giặt. May mà nó không ngăn lại. Lát sau Hai Méo xuống, tôi chở Hai Méo thẳng về Cái Sơn với 3 khẩu súng. Ba hôm sau, anh chàng tốt bụng cho tôi biết là: Hai Méo đã đi vào vùng kháng chiến tỉnh Long Châu Tiền rồi. Tôi yên tâm, một tháng sau, Năm Danh ở Cần Thơ, quá giang xe Năm Nghinh lên Long Xuyên. Anh Năm Nghinh là lái xe Thành Long, ở cái chòi tranh gần bến xe, đầu ngõ đi vào thị xã. Danh cho tôi biết Hai Méo và toàn bộ vũ khí đã về đến đơn vị an toàn. Sau nầy cùng công tác chung ở Chi 50, chung một tổ, Năm Danh cho biết thêm. Đúng vào hôm đó anh vẫn đinh ninh là tôi đã âm mưu thủ tiêu Hai Méo, để chiếm đoạt 3 khẩu súng, nên đã mài sẵn chiếc dũa tròn, thủ ở túi quần sau, định lụi tôi để trả hận, thì may sao, nhận được thư tay của Việt Dũng cho biết Hai Méo đã mang đu 3 súng trở về đơn vị. Tôi giật mình, thì ra nguy hiểm đến với tôi, vẫn có thể xảy ra từ nhiều phía khó lường được. Tôi hỏi thăm về Hai Méo, người thanh niên đen như cục than hầm, miệng méo xẹo về phía má bên phải rất xấu trai, nhỏ con, ít nói nhưng rất gan dạ mà tôi đã biết trong Tiểu đội Thanh, luôn luôn theo sát bên cạnh Hai Tắng. Danh cho biết: Hai Méo về đến Long Châu Tiền cũng khá gian truân. Công an huyện Lấp Vò định giữ anh ta lại vì ham ba khẩu súng ngắn. May nhờ có anh Phan Trọng Điền, Trưởng tiểu ban Quân báo tỉnh Sa Đéc khu 8 bảo lãnh mới được trở về Cần Thơ. Từ ngày chia tay nhau ở Cái Sơn, tôi chưa hề gặp lại Hai Méo. Tập kết trở về Nam, tôi hỏi thăm Hai Tắng, thì Hai Méo đã hy sinh trong một trận tấn công đồn ở Phụng Hiệp. Người chiến sĩ vô danh ấy đã chết trước ngày Hiệp định Genève không bao lâu. Hình ảnh của anh ấy còn đậm nét trong trái tim tôi: Một chiến sĩ rất tốt, tuy có phần xấu xí vẻ bên ngoài... Việc giải cứu cho bộ phận Việt Dũng (Biệt động), chỉ là một dịp tình cờ, không nằm trong kế hoạch. Tôi vẫn chưa tìm được đầu mối trên đất Long Xuyên. Điểm danh sách người Việt làm cho quân đội Pháp ở Secteur Long Xuyên thấy không còn ai. Chỉ còn ở S/Secteur Long Xuyên có một trung sĩ phiên dịch: Phan Ngọc An, anh ta tuy có gia đình nhưng còn trẻ, quê ở Cần Thơ, thế là tôi nảy ra sáng kiến, mời anh em đồng hương về nhà, đãi bún bì, uống bia, sau khi hội ý với nữ đồng chí Phấn, lúc này đương nhiên là vợ tôi, tuy chưa có giá thú, vì đồng chí Phấn chưa ly hôn. Món bún bì là món sở trường của người phụ nữ Cần Thơ. Để cho xôm tiệc, tuy dọn ăn giữa sàn nhà trải chiếu, chúng tôi rước từ Cần Thơ lên hai chị em cô Xuân và Lệ lên chơi, gọi là bà con bên ngoại. Khách mời chỉ có Cai Tiên và Đội An (một là lái xe, một là phiên dịch). Bữa bún bì với bia thành công tốt đẹp. Cô Xuân, được cơ quan phân công làm liên lạc giữa hai Tổ A và B, hai chị em đều là người có nhan sắc, một điều kiện thuận lợi, để lọt qua các đồn bót dễ dàng, nếu biết chút giao thiệp. Những tuần đầu, chúng tôi vẫn trao đổi về tình cảm, qua đó tìm hiểu về tâm tư, khuynh hướng của từng người, gắn bó với nhau trong sinh hoạt, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Và, chúng tôi coi nhau như anh em ruột thịt trong một gia đình, và Tiên, An cũng không phụ lòng tin yêu của chúng tôi. Tôi còn nhớ, một lần Thanh Phong thuật lại, nghe nói tay phán Diêu làm việc ở dinh Tỉnh trưởng có nhận xét là đôi vú bà Một Hiến to như đèn pha. Tôi chỉ cười, coi đó là chuyện bình thường, nhưng Tiên nóng nảy cho đó là một nhận xét vô lễ, và đòi sẽ đánh cho nó biết để chừa không được động đến chị Hai. Tôi tưởng chú ấy nói chơi, không ngờ, chiều hôm đó Tiên gặp phán Diêu và cho anh ta một cái tát nên thân. Diêu không dám đánh lại vì Tiên khỏe hơn, nên chạy đến Sở tôi làm, báo cáo với tôi. Qua đó thấy rõ tính cách bộc trực, một người dám sống chết vì người thân, một con người tình nghĩa, sẵn sàng nhận nhiệm vụ được giao. Trong 3 năm hoạt động tại Long Xuyên, Tiên là người áp tải quân bưu cho Secteur Long Xuyên lại là được liên lạc chính giữa A và B thông qua hộp thư 52 mà không bao giờ hỏi đến nội dung công tác hay tổ chức công tác. Thế mà lại hay, đến năm 1952, tổ chức bị lộ, Xuân bị cơ quan phản gián Pháp điều tra, Tiên khỏi bị liên can. Hòa bình lập lại, tôi gặp lại Tiên ở Cần Thơ, chú ấy đã già, chú ấy vẫn là thợ máy. Chú Tư Ngà đã xác nhận công lao của Tiên trong 9 năm và theo nguyện vọng của chú muốn xin vào làm thợ máy cho xí nghiệp Vận Tải Cần Thơ do Tư Đót làm Giám đốc. Tư Đót đồng ý, nhưng chẳng kịp vào xí nghiệp thì đã từ trần. Tiên là con người trọng nghĩa tình. Phần tôi rất tiếc là chưa kịp làm tròn nghĩa vụ người anh đối với chú cũng như với bao người khác! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:10:30 pm Còn đối với An, sau khi đã trao đổi kỹ, tôi nói rõ yêu cầu công tác không giấu giếm úp mở: Kháng chiến cần có tin tức kịp thời, chính xác, ngoài chúng ta ra ở đây không còn có ai làm được công tác gian nan đó. An nhận lời và tự đặt bí danh là Tuấn Khanh. Đây là cơ sở Điệp báo đầu tiên của ta trong S/Secteur Long Xuyên và đã có phục vụ kịp thời cho yêu cầu chiến dịch Long Châu Hà II. Thế là, trong 6 tháng đầu năm 1949, thay vì nghĩ việc để tránh địch theo dõi, tôi đã đặt điều kiện để tấn cống vào vùng đất mới trên mặt trận mới: Mặt trận Long Châu Hà, vùng cấm địa của giáo phái Phật giáo Hòa Hảo. Qua Tiên, tôi đã đặt cơ sở vững chắc về liên lạc hằng tuần giữa Cần Thơ và Long Xuyên, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Cơ quan lại cử thêm cô Xuân với danh nghĩa là em vợ bà con, đến phụ trách công tác giao liên đột xuất từ tôi (ở Long Xuyên) về cơ quan quân báo tỉnh. Qua Danh, tôi đã có thêm Năm Nghinh, lái xe đò Thành Long, có thể sắp xếp chỗ nghĩ cho Xuân mỗi khi cần di chuyển hằng ngày, về liên lạc tôi có thể yên tâm, về mặt Điệp báo, tôi đã có Đội An, bí danh Tuấn Khanh, vừa là phiên dịch và là nhân viên đánh máy trong S/Secteur Long Xuyên, ở Secteur, có tôi đảm trách. Kể như thế là cả Cần Thơ và Long Xuyén, Chi 54 Tình báo Cần Thơ, cả hai Tổ A và B đều có cơ sở Điệp báo vững chắc. Tuy tôi đã bàn giao Tổ A (Cần Thơ) cho Trần Huy và chú Tư Ngà, nhưng trong thực tế, trừ những tin tức hành quân cấp bách, mọi tư liệu Điệp báo, Trần Huy đều gởi lên tôi để chuyển về cơ quan. Riêng Thanh Tùng (Thiếu tá Nguyễn Tư Long) tôi vẫn trực tiếp nắm. Vì anh ta không chịu tiếp xúc với bất cứ ai, ngoài tôi ra. Có lần tôi đã bàn giao cho đồng chí Phương Nam, kể cả mật khẩu liên lạc. Nhưng anh ra vẫn làm thinh, không phản ứng. Tôi có hỏi lại, anh ta lập luận như đinh đóng cột:
- Tao tin mầy thì tao nói cho mầy biết, chớ người khác tao đâu có tin, nếu nó nói bậy ra thì tao ở tù như chơi, hoặc ít ra cũng mất lương, mất chức. Tôi hỏi lại: - Tại sao anh tin tôi? - Tao biết mầy là hạng không phải lừa thầy phản bạn nên tao mới tin mầy. Nhưng tao cũng báo cáo miệng với mầy thôi, mầy tin thì dùng, không tin thì thôi, chứ mầy đừng biểu tao viết lách gì hết. Vả lại, tao có hỏi thăm mầy cấp tin cho ai đâu? Thế là tôi đành chịu. Và tôi càng thấm thìa tấm lòng thủy chung với Tổ quốc, với bằng hữu của những con người trí thức Việt Nam. Cũng vào dạo ấy, quân Pháp nhảy dù xuống Hòn Đất, phá hủy Binh Công Xưởng của Khu 9 đóng tại hang đá Mo So. Một cuộc hành quân nằm trong phạm vi của Zone Ouest, mà cơ sở Điệp báo của tôi không phát hiện kịp. Tôi hỏi Trần Huy không biết, tôi hỏi Long, Long bạo: Cuộc hành binh ấy đều do Z.O. chỉ huy. Nó chuẩn bị ở Sài Gòn, tập trung lính dù ở Tân Sơn Nhất rồi bay về Rạch Giá thả quân luôn có báo cáo cho Z.O. biết đâu! Trần Huy cũng thông báo kịp thời cho chú Tư Ngà biết là Z.O. sắp hành quân ở vùng Cồn Cù (Trà Vinh). Vì vậy công binh ta đã kịp đặt thủy lôi ở Vàm Kinh Ba Động, đánh chìm một LMC chở 300 binh sĩ Âu-Phi. Chú Tư Ngà còn cho tôi biết, Trần Huy đã giúp cho ông Băng, Quận trưởng quận Bình Đại cùng với vợ bé ông ta trốn ra vùng kháng chiến ở Cần Thơ. Tôi ngẫm nghĩ: có nên trách anh ta vì những việc làm yêu nước, thương nòi ấy không? Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm có ai dạy cho tôi về nghiệp vụ Điệp báo đâu? Chẳng trách sao có những việc làm tự phát, tự động miễn đem lại lợi ích cho kháng chiến. Cả tôi cũng thế thôi. Miễn sao đừng để lộ. Năm 1949 là năm kết nạp đảng viên lần cuối cùng, trước khi Đảng đi vào bí mật. Nữ đồng chí Phấn được triệu tập về cơ quan để chuẩn bị kết nạp. Lúc đồng chí Phấn ra đi, tôi cảm thấy buồn, tự thấy mình bị bỏ rơi, nghĩ rằng có lẽ nếu mình làm anh kéo xe lôi thì đã được vào Đảng rồi. Tuy nhiên, tôi vẫn không nản chí. Trước mắt là phải đánh giặc. Đi chừng 3 tháng, nữ đồng chí Phấn về nhà, trong thời gian đồng chí Phấn vắng mặt, cơ quan đã phái chú Việt Bảo, một thanh niên 18 tuổi nhanh nhẹn ra Long Xuyên ở cùng tôi để giúp việc viết báo cáo. Nữ đồng chí Phấn nói lại cho tôi biết là, trong thời gian ở văn phòng cơ quan, có đồng chí Sáu Tề, trưởng Công an Cần Thơ đến làm việc với anh Tám Miêng yêu cầu Tình báo tỉnh Cần Thơ tích cực hỗ trợ công việc vận động giải thoát 2 đồng chí Công an tỉnh Cần Thơ (Minh và Thọ) vừa bị PSO bát giữ, cho dù phải tốn đến hai mươi ngàn đồng cũng được. Nữ đồng chí Phấn đã nhận làm công việc ấy, vì cô ta có quen nhiều nhân viên lính kín ở Sài Gòn, như Ngôn, Pierre làm tay trong. Đồng chí về Cần Thơ có đến gặp tên chủ sở lính kín là Gautheret, người thay thế cho Jacquemin đã về Pháp. Liền trong mấy tuần Gautheret ở Cần Thơ đánh xe lên Long Xuyên để hỏi cô Phấn. Nó hỏi thăm Ignatio, chủ sở lính kín Long Xuyên. Ignatio cho biết cô Phấn là vợ ông Hiến, nhà ở Bình Đức. Thế là y đánh xe qua Bình Đức nhưng không dám đường đột vào nhà tôi. Tôi được anh em cho biết, nói với đồng chí Phấn: - Nó đã men lên đây tìm em, thế là cá đã cắn mồi. Thôi em cứ về Cần Thư để cho hắn gặp. Mọi việc thử tìm hiểu nó muốn gì, rồi tùy cơ ứng biến sau. Để Việt Bảo về Cần Thư với em, làm người ở pha trà tiếp khách phụ em. Và, tôi dặn riêng Việt Bảo: - Cậu biết tốc ký, pha trà xong cậu cứ đứng sau tấm liếp, ghi lại những câu của thằng mật thám nói, không cần ghi lời chủ nói, chỉ ghi lời nó nói thôi, rồi đưa lên đây cho anh. Hai chị em lên xe Thành Long trở về căn nhà lá ở bên cạnh bót thầy Phận, nơi gia đình chúng tôi ở. ở Z.O. dư luận trong hàng binh sĩ Pháp, nói là Gautheret là một con cáo già thực dân, rất ghét nhà binh, nhưng cũng rất mực thanh liêm. Nhà binh Pháp không làm gì được hắn ta. Tôi tìm thiếu tá Long để hỏi cho biết lý lịch Gautheret và thái độ đối xử của nó đối với Việt minh. Long gật đầu, vì Long ở chung một khu phố với Gautheret. Hai căn lầu đối diện nhau, mở cửa sổ ra là thấy mặt nhau. Hai căn biệt thự ấy là nhà ở để dành cho các tên chủ sở mật thám Cần Thơ, hiện nay vẫn còn. Ngồi trong căn phòng tiếp khách của thiếu tá Long nhìn sang căn nhà của Gautheret ở, thấy rõ mồn một tôi hiểu ngay tính chân thật của câu chuyện Long kể với tôi: "Thằng Gautheret là một tên cáo già trong làng mật thám. Nó đã hoạt động ở Bắc Kỳ cả chục năm nay, nên quen thuộc cả phong tục tập quán Việt Nam. Tuy nhiên nó vẫn giấu không cho ai biết là nó nói tiếng Việt rất sõi. Có hai anh công an Việt Minh bị nó bắt, ban đêm nó kéo ra hỏi từng tên, không cần thông ngôn. Nó tự tay tra tấn lấy. Nó để sẵn cái nhíp xe trong phòng. Không nói thì nó cầm nhíp phang vào ngực, kêu la chẳng có ai lên lầu, mà lên cũng không ai dám xông vào cứu. Chỉ tao biết vì đối diện buồng nó nên phải đóng kín phòng lại để khỏi nghe. Nó hỏi cung một mình ban đêm. Có một chai rượu Rujn, uống xong, lại hỏi. Hình như nó thuộc đảng S.F.I.O ghét nhà binh. Bọn thằng Davenas cũng có hồ sơ của nó. Mầy tìm cách hỏi thằng Davenas coi". Theo ý kiến của Long, tôi cần phải tiếp xúc thêm với chuẩn úy Davenas thuộc Phòng An ninh Quân đội ở Z.O. Nhưng cần phải có kế hoạch và chọn thời cơ, sau khi nắm chắc tình hình. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:11:22 pm Hơn một tháng trời xa cách. Nhân ngày thứ bảy, nữ đồng chí Phấn trở về Long Xuyên báo cáo lại tình hình giao tiếp với Gautheret cho tôi rõ. Việt Bảo cùng lên theo, hai chị em đều khẳng định: "Thằng Gautheret chẳng những là một con cáo già, mà lại còn là một dê cụ nữa. Anh biết không, chẳng đêm nào nó chẳng bắt em phải tiếp chuyện, ở tới khuya hơn nửa đêm mới lên xe về. Báo hại Việt Bảo cũng thức khuya theo em để nấu nước pha trà, xong rồi lại vào trong buồng để ghi tốc ký. Thằng đó đúng là một tên cáo già. Nhiều lần em đuổi khéo nó vẫn sấn tới tán tỉnh: Nào là nó ghét Bảo Đại, ghét nhà binh Pháp, chỉ tin Chính phủ Cụ Hồ thôi. Nó nói có nhiều bạn bè trong hàng ngũ kháng chiến".
- Chỉ thế thôi sao? - Còn nữa, nó có nói nó biết rõ Trung tá Rossignol, Tư lịnh phó Z.O. là một tay hạm cỡ bự, nó sẽ gởi báo cáo lên Cao ủy phủ, và nay mai bọn nhà binh sẽ biết tay nó! - Chuyện gì vậy? - Nó nắm bằng chứng trong tay là Rossignol đã ăn hối lộ của bọn Hoa kiều 4 triệu đồng, để cho chúng nó chở 4 tấn tôm khô từ Bạc Liêu lên Sài Gòn. Tôm khô là mặt hàng nằm trong danh mục cấm vận của Z.O. Tôi nhìn Việt Bảo để chờ sự xác nhận. Việt Bảo gật đầu. Thời cơ đã đến. Tôi về Cần Thơ ngay tuần sau đó. Đến 5è B. gặp chuẩn úy Davenas. Anh ta trẻ tuổi hơn tôi, nhưng vẻ mặt đăm chiêu, luôn luôn vì công việc, lại đeo kính cận nên trông vẻ già trước tuổi. Sau cái bắt tay, tôi kéo anh ta về phía popote. Tôi kéo ghế ngồi rồi hỏi anh uống gì? Tôi hỏi, nhưng tôi biết chắc anh ta thích uống sâm-banh, nên đến gần quầy kêu mở chai sâm-banh. Biết anh chàng này thích uống sâm-banh bằng cốc vại, tôi ngồi im lặng để cho chàng ta nhấm nháp cái hương vị ngọt thơm một cách say đắm và cũng để cho men rượu tràn vào mạch máu cho tôi thêm dũng khí. Bởi vì chuyện tố cáo một chánh thanh tra sở mật thám 7 tỉnh miền Tây không phải là chuyện đùa. Dù sao, tôi cũng chỉ là "dân bản xứ". Thấy tôi chỉ im lặng, ra chiều suy nghĩ, Davenas đặt cốc rượu quá nửa xuống bàn, hỏi: - Thế nào? Anh muốn gặp tôi có chuyện gì? Tôi thận trọng ném trước hòn sỏi thăm dò: - Tất nhiên là có việc muốn nhờ anh, nhưng không biết tôi có gõ nhầm cửa không đấy? - Thì mầy cứ nói đi, tao nghe coi. Tôi im lặng đắn đo: - Không biết có nên nói cho mầy biết không? Không khéo mầy nói lại cho nó hay, lại mang vạ lây. Davenas thấy tôi ngần ngại, liền nó rõ cho tôi biết chức năng nhiệm vụ nó đang mang nặng trên vai. - Mầy biết không, dù câu chuyện bí mật đến đâu, mầy cũng đừng ngại, có việc tao phải báo cáo trực tiếp lên Trung tướng Bondis không thông qua chỉ huy Z.O. nữa đấy! Tao làm việc bảo mật mà. - Thế mầy có theo dõi Gautheret không? Davenas gật đầu: - Mầy có biết nó là Cộng sản không? Hay ít nhất là có cảm tình với Cộng sản (Sympathisant communiste)? - Mầy nói rõ đi! Được khuyên khích, tôi thả luôn một mạch chả là đã nghiền ngẫm mấy hôm kỹ lưỡng rồi. - Mầy biết không, trong lúc tao ở Long Xuyên thì vợ tao ở Cần Thơ, Gautheret không đêm nào không đến với vợ tao quá nửa đêm mới ra về... Davenas gật đầu: - Chuyện đó tao có biết. Tôi sững sờ, vờ dáng điệu một anh chàng nổi máu ghen: - Biết sao mầy không ngăn nó lại? - Rồi dịu giọng xuống - Mê gái thì ai mà không có, nhưng mầy có biết nó tán tỉnh thế nào không? Nào là tôi không thích Bảo Đại, không thích nhà binh Pháp, chỉ thích Hồ Chí Minh thôi. Đúng là giọng lưỡi Cộng sản chính cống! Nó còn nói cụ thể hơn. Vừa qua Trung tá Rossignol đã ăn hối lộ 4 triệu đồng để cho tư thương Hoa kiều chở 4 tấn tôm khô từ Bạc Liêu lên Sài Gòn, không bị chận lại. Nó nói là nó đã báo cáo vụ đó lên Cao ủy phủ, nay mai sẽ biết. Davenas lật sổ tay ghi lia lịa. Cốc rượu đã cạn, câu chuyện cũng cạn theo. Để vớt vát trước khi bắt tay từ giã viên sĩ quan an ninh, tôi nói một câu để lấy lòng nó: - Thôi, tôi nói vậy để anh biết, để bảo vệ an ninh quân đội thôi. Chứ vợ con tôi còn ở Cần Thơ, tôi cũng cần an toàn cho toàn thể gia đình. Tôi nhờ anh đó! Davenas đáp: - Tốt hơn hết là anh nên đem vợ anh về Long Xuyên cho chắc ăn, ít nhất là trong thời gian Gautheret còn ở Cần Thơ... Tôi không rõ Davenas có báo cáo với Trung tá Rossignol không hay là trực tiếp báo cáo lên Trung tướng Bondis, chỉ huy lực lượng quân đội Pháp đóng ở miền Nam Việt Nam. Chỉ biết rằng, một tháng sau đó, Thanh tra mật thám Henri Ribes Chánh sở mật thám Châu Đốc được điều động về Cần Thơ thay thế Gautheret, tên này bị điều qua làm ở Sở Thương chánh (Douanes Saigon) không nằm trong lực lượng cảnh sát đặc biệt nữa. Chiều 30 Tết năm 1951, một mình ngồi uống cà phê ở khách sạn Majectic, y rút súng colt ra tự bắn vào bụng chết. Thua buồn hay là thua kiện, thất tình hay là thất sủng? Báo chí Sài Gòn không làm rùm beng về chuyện đó. Mùa khô 1949-1950, Quân khu 9 tổ chức chiến dịch Lê Hồng Phong, tức là chiến dịch Long Châu Hà II. Đồng chí Võ Quang Anh, tham mưu trưởng Quân khu được phân công làm tỉnh đội trưởng Long Châu Hà để chỉ huy chiến dịch. Các trung đoàn 126 (Rạch Giá) và 128 (Hà Tiên) được sát nhập lại thành Liên-Trung 126-128. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:12:45 pm Chi Quân báo Cần Thơ (Chi 54) được chuyển thành Chi đặc biệt 50 do đồng chí Nguyễn Văn Cự làm Trưởng Chi, Phan Thành Miêng làm Phó Chi, Nguyễn Huy Quỳnh được điều động theo chiến dịch trong Ban chỉ huy. Về mặt chuyên môn Chi 50 trực thuộc Ban Quân báo Quân khu 9, về mặt Đảng là một Chi bộ đặc biệt, trực thuộc Tỉnh ủy Cần Thơ do đồng chí Lương Chí làm Bí thư. Tổ Điệp báo của Chi đặc biệt 50 nằm tại thị xã Long Xuyên, có nhiệm vụ nắm các cơ sở Điệp báo ở các thành phố Cần Thơ, Long Xuyên và mở rộng ra ở các thị xã khác khi có điều kiện. Trong 6 tháng đầu năm 1949, tôi đã hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ đó, đồng thời đã tổ chức được một cơ sở ở thị xã Châu Đốc: một Trung sĩ phiên dịch tên Ô Văn Hiền làm phiên dịch cho S/Secteur Châu Đốc. Anh ta nói với tôi là, trước khi làm phiên dịch cho Pháp, anh đã từng làm phiên dịch cho Nhật nên thấy rõ dã tâm của bọn xâm lược, dù da vàng hay da trắng cũng không khác gì nhau. Nhân thấy anh đến trình diện ở Secteur Long Xuyên trước khi về S/Secteur Châu Đốc, tôi mời anh về nhà nghỉ một đêm để chuyện trò tâm sự. Qua đó hiểu anh vốn có lòng yêu nước, nên tìm cách giúp dân, đồng bào đỡ khổ. Sau đó, cũng có một lần gởi báo cáo về tôi, nói về tình hình hoạt động của S/Secteur Châu Đốc. Dù sao, ở trong lòng địch, thêm một người bạn, bớt một người thù là quí giá gấp đôi, có khi là gấp bội. Về sau, tuy không nhận được báo cáo, tôi vẫn yên tâm tin tưởng vào người bạn nhất thời đó, không nỡ lòng nào phản lại tôi. Về mặt chuyên môn, tôi không còn nhớ chúng tôi đã cung cấp bao nhiêu tài liệu để phục vụ chiến dịch. Sáu này, tháng 12/1985, nhân gặp lại Việt Bảo, người thư ký, tốc ký kiêm trinh sát Chi 50 đã cho ra Long Xuyên công tác với tôi, trong Hội nghị tổng kết 40 năm ngành Quân báo thành lập tổ chức tại hội trường Quân khu 9. Việt Bảo có nhắc lại tên tài liệu mà Việt Bảo đã được tôi giao cho Việt Bảo chép lại là: "Implantation des forces supplétives au Secteur Long Xuyên" (Cấy các lực lượng bổ túc vào khu vực Long Xuyên) là tài liệu có ích cho chiến dịch Long Châu Hà II. Nhưng hình như Ban chỉ huy chiến dịch vẫn chưa hài lòng vì phương pháp đánh cắp tài liệu quá thủ công nghiệp của tôi: dựa vào trí nhớ để về nhà tái hiện lại, hoặc lấy cắp tài liệu trong tủ về nhà ghi chép lại rồi đem cất lại chỗ cũ. Chi 50 cho biết: phải lấy nguyên tài liệu gốc của địch mới đủ độ tin cậy. Tôi tự hỏi: độ tin cậy của tài liệu hay của con người? Tuy vậy, tôi vẫn cố gắng tìm cách đưa một nữ thơ ký đánh máy vào 2è B/Secteur để lấy cắp tài liệu gởi về cho Ban Quân báo Khu 9 theo yêu cầu của cấp trên. Đó là đầu năm 1950, thời kỳ Trung úy Labrousse sang thay cho Trung úy Michot về Pháp. Cô nữ thơ ký đánh máy ấy đó là Lâm Thị Sáng, được Labrousse đặt tên cho là Solange. Trong suốt quá trình chiến dịch, tài liệu của Secteur Long Xuyên được Solange đánh máy, đánh thừa một bản để gởi về Ban Quân báo Khu 9. Và ở Secteur Long Xuyên hằng ngày đều có bản nhật ký hành binh (Journal de marche) đánh máy và điện lên thượng cấp (Z.O.). Trung sĩ phiên dịch Phạm Ngọc An (Tuấn Khanh) cũng đánh máy thừa một ban đưa cho tôi để gởi về cho Chi 50, từ đó điện về cho Ban Quân báo Khu 9, theo xe Quân bưu của Tiên lái, hoặc theo xe đò Thành Long do Năm Nghinh lái, người liên lạc là cô Xuân hoặc Việt Bảo. Tất cả tài liệu điệp báo đều được chuyển về Chi 50 an toàn, từ đó điện hỏa tốc về Ban Quân báo Khu 9. Các đồng chí Quân báo đã xác nhận tin tức của chi 50 đưa về giúp cho tiến độ tiến quân của quân ta được nhanh hơn cả tin điện của Ban chỉ huy chiến dịch báo về hàng ngày cho Bộ Tư lệnh Quân khu. Những tài liệu đó đều được BTL Khu 9 triệt để khai thác. Tôi nhớ Tỉnh đội Long Châu Hà đã sử dụng một tài liệu tình báo do tôi cung cấp để làm truyền đơn xuyên tạc địch. Đó là bức diện mật do Secteur Long Xuyên đánh đi các S/Secteur báo tin để chuẩn bị đón một phái đoàn Cao Đài, có tên là "Mặt Trận Phục Việt" sẽ đi tuyên truyền cổ động ở khắp các tỉnh miền Tây nay mai. Trong truyền đơn thay chữ Cao Đài ra chữ Bảo Đại. Đó là tài liệu do cô Sáng đánh máy đưa một bản cho tôi, chưa có số. Tôi đã kịp thời xuống tận nơi phát hành tìm con số phát hành để điền vào trước khi gởi về cơ quan. Nhờ sáng kiến nhỏ đó khi tờ truyền đơn Việt minh được đưa về Secteur Long Xuyên để tìm ra thủ phạm đã đánh cắp tài liệu, tôi đã kịp thời đánh tan hoài nghi của Trung úy Labrousse về cô Sáng. "Những tài liệu từ bản đánh máy ra không bao giờ có ghi số phát hành, cần phải tìm kẽ hở ở nơi khác thôi". Từ năm 1948 đến 1950 đã có hai lần tài liệu điệp báo đưa về Khu 9 lại bị 2è B. phát hiện. Là người trực tiếp liên quan, tôi không giấu nổi thắc mắc: "Phải chăng do Đội Phản gián (B.C.E.O) của Bộ Tham mưu quân đội Pháp có tay chân ngay trong nội bộ ta, hay do công tác báo mật của Tham mưu Quân khu 9 có chỗ sơ hở?". Tôi nghĩ về giả thuyết sau nhiều hơn. Và, vẫn yên tâm công tác. Không cho cô Sáng biết tin đó. Đóng góp vào thành tích chung của Chi 50 còn có nhiều bộ phận khác, cá nhân khác. Vào một buổi chiều cuối năm 1949, một chiếc xe du lịch sơn màu nâu đồ xịch trước cửa 36 Lê Lợi, Bình Đức (Long Xuyên) nơi nhà binh Pháp bố trí cho gia đình ở đồng thời cũng là nơi hội họp của Tổ công tác điệp báo của Chi 50. Thời gian này cô Phấn bận theo dõi bám sát Gautheret ở Cần Thơ. Tôi ngạc nhiên thấy trên xe bước xuống hai người, chú Tư Ngà lái xe và cậu Phước Kiến, người học trò đã cùng tham gia vẽ bản đồ quân sự thành phố Cần Thơ tháng 8 năm 1946, theo yêu cầu của đồng chí Phan Trọng Tuệ Chánh ủy Khu 9. Chú Tư Ngà cho biết, cơ quan vừa phái Phước Kiến ra để chụp hình các đồn bót đóng từ Cần Thơ lên Châu Đốc, chú Tư Ngà phải mướn xe để chú lái cho cậu ta đi chụp. Phước Kiến đưa ra cho tôi một máy ảnh hiệu Foca còn mới, chụp được 36 pô là loại máy ảnh tốt nhứt hồi đó. Tôi thầm nghĩ: "để một cơ sở hộp thư mật đi với một thanh niên chụp hình đồn bót công khai thật là mạo hiểm". Nghỉ lại một đêm, cơm nước xong, tôi thay đổi kế hoạch: chú Tư Ngà lái xe trở về Cần Thơ, Phước Kiến ở lại cùng đi với cô Xuân như đôi tình nhân. Tiên lái một chiếc Jeep nhà binh, chở hai cô cậu đi. Đến gần bót dừng lại, kiếm chỗ ngồi chơi, Tiên sẽ chụp hình cho cô cậu làm kỷ niệm nhưng ống ngắm hướng về đồn bót, sau đó tôi nhận trách nhiệm in rửa gởi về Chi 50, để luôn máy Foca cho tôi sử dụng, kèm theo một khẩu Walter 6,35mm để tự vệ (loại súng đánh ghen của phụ nữ mà tôi không bao giờ dùng tới), cây súng đó tôi giao lại cho Tuấn Khanh giữ, khi Tuấn Khanh đổi về Sóc Trăng để tiếp tục công tác. Hòa bình lập lại, tôi hỏi thăm cơ sở cũ đã phục vụ cho chiến dịch Long Châu Hà II, thì chị Lang (Tiết Kim Lang) vợ anh Miêng, cho biết Phước Kiến lên Sài Gòn làm thầy giáo cho trường Charitas rồi đi đâu không rõ. Dù sao, anh ta cũng đã có hai lần, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến trong đơn vị Tình báo Cần Thơ. Còn Đội An (tức Tuấn Khanh) thì đứt liên lạc với kháng chiến, vẫn trong quân đội ngụy, lên cấp Đại úy, phụ trách Ban 4 của Sư đoàn 21, đóng tại Bạc Liêu, có nhà ở Sóc Trăng, có thêm vợ bé và 6 con. Cách mạng thành công, ngụy quân tan rã anh ngoan ngoãn vào trại cải tạo, không có một lời thanh minh về quá khứ.
Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:13:34 pm Năm 1976, tôi đang công tác ở 59, Gia Long (Lý Tự Trọng). Chị vợ của Tuấn Khanh, đến tìm gặp tôi để xin giấy chứng nhận cho chồng. Tôi viết thư cho Ba Cự chứng nhận rõ sự cống hiến của Tuấn Khanh hồi 9 năm và đề nghị anh Ba Phấn, Trưởng Ban Quân báo Khu 9, xác nhận thành tích của Phan Ngọc An. Vợ của Tuấn Khanh đem giấy chứng nhận đến trại cải tạo, đưa cho chồng. Đồng chí sĩ quan trại cải tạo đọc giấy, hỏi An: "Thành tích của anh 9 năm như vậy, sao anh không nói cho tôi biết?". An chỉ trả lời: "Tôi nói ra thì chắc gì mấy anh đã tin tôi, còn cho là tôi nói xạo càng khổ thân tôi thêm". Thế là An đã được trả tự do cho về với gia đình, để nuôi vợ và 6 con. Anh làm nghề vá xe đạp, trước khu văn hóa Sóc Trăng. Năm 1983, tôi về Cần Thơ, hỏi địa chỉ của An, tôi mua vé xe đò xuống thăm An. Tôi gặp An đang ngồi vá xe, mặt mũi lem luốc dầu mỡ. Thấy tôi, An chùi tay vào ống quần rồi ôm lấy tôi. Chúng tôi nghẹn ngào nhìn vào mắt nhau. An dẹp đồ nghề, dẫn tôi về nhà. Bữa cơm chiều có thêm một dĩa thịt luộc, một xị rượu đế. An nói: "Buồn quá anh Hai à! Mỗi chiều nào làm về, em cũng có một xị rượu đế giải buồn. Tuy vậy, chúng nó rủ em vượt biên, em cũng không đi". Trong ánh mắt An vẫn nặng tình đất nước, gia đình. Tôi hói An: "Trong 20 năm trời An không bắt được liên lạc với ai sao?". An nói: "Có một lần đi tập huấn ở Châu Đốc, tình cờ tôi có gập lại thơ ký thanh niên ở Long Xuyên của anh (chắc là Việt Bảo), bốn mắt nhìn nhau, không ai dám nói lời nào cả. Việt Bảo cũng được cơ quan phân công ở lại hoạt động, nghe đâu Việt Bảo có liên lạc được với Ban địch tình Tỉnh ủy An Giang lúc anh dạy học tại Tân Châu, sau đó chuyển về dạy ở thị xã Châu Đốc cho đến ngày giải phóng miền Nam. Trước khi xuống Sóc Trăng tôi đã ghé thăm anh Tư Cơ, nguyên phụ trách ban hành động của cơ quan Tình báo Cần Thơ trong những năm 1948-1950. Năm 1954 anh lại được bố trí ở lại hoạt động. Anh xin vào làm một ông sư ở chùa Cái Vồn rồi cũng đứt liên lạc luôn. Anh cạo trọc đầu, gõ mõ tụng kinh hàng ngày và lại cũng tiếp tục ăn thịt chó mỗi khi vắng thiện nam, tín nữ, như một Lỗ Trí Thâm. Hòa bình lập lại, anh móc nối với anh Ba Phấn để tiếp tục phục vụ cho ngành, khi về hưu ở Phụng Hiệp với hai đứa con trai làm cán bộ thương nghiệp và mất ở đó năm 1984. Lúc tôi gặp anh, anh cho tôi biết thêm về hoạt động của ban hành động và thành tích của Hai Ngọc. Riêng về anh, anh cho biết anh không một giấy tờ gì dính túi, ngay cả giấy chứng nhận của anh Ba Phấn cũng mất hết.
Nói đến thành tích của cá nhân trong chiến dịhch Long Châu Hà II. cùng nên nhắc đến đồng chí Lâm Thị Phấn, biệt hiệu Thanh Phong. Sau khi làm xong nhiệm vụ bám sát Gautheret ớ Cần Thơ, nó bị đổi lên Sài Gòn, thì cô Phấn lên ở Long Xuyên, làm hậu cần cho Tổ công tác, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ địch tình. Lúc đó nhà tôi ở 36 Lê Lợi, một căn phố lầu hiện nay vẫn còn gần như nguyên vẹn, kể cả biển số và tên đường, gác trên là phòng ngủ và nơi làm việc của tôi, dùng để họp Tổ công tác. Phòng dưới là nơi tiếp khách, quan Tây, quan ta văn võ đều có cả. Chúng tôi cũng có tiếp khách Hòa Hảo, như Ba Cụt, Hai Niệm, v.v... Ba Cụt hồi đó còn là thiếu tá lực lượng bổ túc, đóng vùng Thốt Nốt. Hai Niệm là con đầu lòng của Hai Đen đại đội trưởng Hòa Hảo trước đóng ở Bình Thủy. Hai Đen chết, Niệm lên thay thế cho cha là Đại đội trưởng, kéo quân về đóng ở xã Vĩnh Trinh, trên kinh Xáng đi Ba Thê, cách thị xã Long Xuyên khoảng 7-8km. Hôm đó Hai Niệm cùng tham mưu trưởng Bửu, kéo đến thăm tôi. Viện lý do là Bửu nguyên là học trò cũ của cụ Giáo Phận, có quen biết gia đình nên đến thăm chị Hai. Nhân danh là bà chủ gia đình, cô Hai Phấn cũng rót rượu ra tiếp khách. Câu chuyện có tính cách xã giao. Nhưng mục đích của đôi bên lại trùng hợp nhau: Hai Niệm xin phép tôi cho chị Hai vào thăm đồn, tôi cũng nhân dịp để bố trí trinh sát thực địa phục vụ chiến dịch. Tôi mỉm cười bảo Hai Niệm và Bửu: "Nhưng hai cậu phải trả chị Hai về với tôi nguyên vẹn, đúng ba ngày tối đa!". Đúng ba ngày đồng chí Phấn về nhà nói với tôi: "Bọn thằng Niệm, thằng Bửu hình như muốn khoe súng, nén cho em đến kho súng xem thả giàn. Thích quá anh ạ!". Tôi hỏi: "Em thích gì?" - "Kinh Ba Thê cá lóc đầy nhóc, xuồng em đi ngang cá nhảy vào xuồng tùm lum, làm muốn té ngửa lận!". Hỏi ra mới biết, cá trên kinh rất phong phú lúc bấy giờ cũng là một nguồn lợi lớn ở đất Ba Thê. Tất nhiên thành quả trinh sát của Thanh Phong được báo cáo ngay về Chi 50 vì đồn của Hai Niệm cũng là một mục tiêu của chiến dịch. Có lẽ là mục tiêu sau cùng kết thúc chiến dịch. Tôi còn nhớ rõ, tiếng súng nổ râm ran khắp thị xã Long Xuyên. Một hiện tượng hiếm thấy từ trước tới nay. Tôi đi theo viên trung úy pháo binh để làm phiên dịch. Từng đợt lính Hòa Hảo từ trong kinh mang súng hớt hải chạy ra, có tên chỉ chạy mình không. Hai Niệm cũng hớt hải yêu cầu pháo binh tiếp viện: "Việt minh đã áp sát đồn Vĩnh Trinh rồi". Để đơn giản câu cú pháp, tôi dịch: "Les VM sont au porte de Vĩnh Trinh". Viên trung úy ra lịnh cho pháo thủ hai khẩu đội 88 ly, canh ngay vào vòng tròn khoanh bót Vĩnh Trinh và hô "Feu!". Tiếng pháo gầm vang. Một lát sau, một số lính Hòa Hảo cuối cùng chạy ra, khiêng theo bọn bị thương vì đạn pháo. Hai Niệm than: "Mấy ông ác quá lại bắn ngay vào đồn rồi!". Bọn sau cùng còn báo cáo: "Việt minh còn cách Long Xuyên 6km mà thôi". Ban chỉ huy Secteur rất hoang mang. Kiểm điểm lại ở tại thị xã Long Xuyên chỉ còn vỏn vẹn 15 tên Pháp từ lính đến sĩ quan. Ban chỉ huy liền xin ngay một chiếc tàu L.C.I. đến đậu tại bến Bungalow, cách nơi tôi ở khoảng 300m. Trung úy Labrousse bảo tôi: "Đêm nay nếu tình hình Việt minh đột nhập thị xã, thì chúng ta sẽ rút xuống tàu. Mầy cũng nên đưa cả gia đình xuống tàu để tránh Việt minh tấn công". Tôi trả lời: - Sẵn sàng ngay, nhưng tôi sẽ cầm cự tới giờ chót. Nhà tôi chỉ cách bến tàu có 300m, rút cũng nhanh thôi. Trong thâm tâm tôi chỉ mong có liên lạc của mặt trận để báo cáo tình hình để kịp thời phát huy chiến quả. Sau này vào Khu tôi có dịp hỏi lại đồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng. Đồng chí ấy bảo rằng: - Mục đích của chiến dịch không phải là đánh chiếm thị xã, mà phải là giải phóng cho vùng Long Châu Hà khỏi ách chiếm đóng của Hòa Hảo. Qua chiến dịch, chúng ta đã giải phóng được 20.000 đồng bào. Sau này về cơ quan họp, tôi được biết là Ban chỉ huy chiến dịch đã thưởng gươm vàng thi đua cho Chi đặc biệt 50. Riêng tôi, được cơ quan cấp một chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Mulco để kỷ niệm. Chiếc đồng hồ đó, tôi đeo theo mình ra Bắc. Năm 1962, con trai tôi, Trí Dũng, được lịnh đi công tác B. Tôi đã giao cho nó đeo làm kỷ niệm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:14:39 pm CHƯƠNG 10 CƠN BÃO TÁP 1950 - 1951 Mồng ba Tết 1950, Tổng lãnh sự quán Mỹ ở Sài Gòn chuyển thành Sứ quán Mỹ, báo hiệu Mỹ sắp thay thế vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. 2è Bureau FTVS (Lực lượng quân đội Pháp đóng tại miền Nam Việt Nam) chỉ thị cho các 2è B/.Z.O. và Secteur phải sắp xếp lại các hồ sơ tình báo theo một mã số thống nhất, trong đó có mở thêm 2 hồ sơ mới: Theo dõi hoạt động của phái Tin Lành, đặc biệt là của Mục sư Walace, người Mỹ, ở Cần Thơ và một mục khác theo dõi hoạt động của Ngô Đình Diệm. Thế là quá rõ. Ở Z.O, Đại úy Nguyễn Tư Long được thăng hàm Thiếu tá, điều động về Sài Gòn, làm chủ bút tờ báo "Con thuyền vượt biển" thực chất là một bản dịch của tờ "Caravelle" là tờ báo hằng tuần của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, về Cần Thơ lúc chia tay, Long bảo tôi: - Hiến cũng có làm thơ cho báo "Giây đỏ". Năm nay, kỷ niệm báo "Con thuyền vượt biển" ra đời được một năm, Hiến có bài thơ gì hay không? Tôi cười trả lời: - Thơ thì cũng gắng làm được, nhưng liệu anh có dám đăng không? - Hiến đã dám viết thì mình sợ gì không dám đăng! Tôi liền làm ngay một bài thơ đường luật đưa cho Long: "Con thuyền vượt biển" tít mù khơi Ngôn luận đua bơi gắng kịp người Giấy trắng vẽ vời câu chính nghĩa Mực đen bôi lọ lũ vô loài Xông pha ải Bắc lèo chưa lộn (sau thấy lộ liễu quá tôi thay hai chữ "đang vững") Chèo chống trời Nam lái dễ lơi Mai mốt chi đây cơn sóng lặng Buồm xuôi gió thuận tiếng muôn đời..." Tháng sau, bài thơ đó được đăng ngay trang đầu của tờ "Con thuyền vượt biển", có đề tên tác giả "Aspirant Trần Hiến - Long Xuyên". Tôi ngạc nhiên không tin ở mắt mình. Vì mỗi tờ báo đều có kèm bản dịch bằng Pháp văn đăng ở tờ "Caravelle". Tôi thấy Long đã "duyệt" nguyên văn câu kết "Buồm xuôi gió thuận tiếng muôn đời". Anh ta đã dịch ra là: "Il laisse derrière lui un sillage parfumé" (Nó để lại đàng sau một giòng nước thơm tho). Chưa hết: vài tháng sau đó, tôi nhận được một bức thư của một ông bạn phiên dịch viên ở Mimot (Campuchia) gởi đến khen bài thơ rất hay, và tỏ ý muốn kết bạn cùng tác giả. Tôi tiếc là ông bạn ấy ở ngoài biên giới, kết bạn bằng thơ họa qua lại thì quả là không có thì giờ, nên tôi im hơi lặng tiếng luôn... Mong bạn ấy hiểu cho nỗi khổ tâm của tôi về thái độ bất lịch sự đó. Đầu năm 1950, chỉ huy 2è B. ở Secteur Long Xuyên có sự thay đổi: Trung úy Michot đã hết hạn 27 tháng ở Đông Dương được trở về Pháp, người thay thế Michot là Trung úy Labrousse. Khác hẳn Michot cả về hình dáng và phong cách, vóc người mập mạp, bộ mặt no tròn, đôi mắt xanh nước biển, tóc lượn sóng luôn luôn được chải, râu cạo nhẵn tỏ ra con người lịch thiệp phong lưu, tuổi chừng 25, nhưng trông có vẻ già trước tuổi. Labrousse là sĩ quan Pháp, nhưng ít thân thiện với các sĩ quan Pháp. Tôi nhận thấy ngay vẻ khác biệt đó. Các sĩ quan Pháp thường đeo huy hiệu chữ thập hai gạch ngang lấy làm hãnh diện, phô trương huy hiệu đảng phái "Đờ-Gôn" (De Gaulle). Labrousse không có, hay có mà không đeo? Một lính Pháp nguyên là hầu cận Labrousse, cùng với Labrousse đi chung một chuyến tàu sang Đông Dương đã tiết lộ cho tôi biết: "Lúc hắn ở Marseille, cấp chỉ huy phải vất vả lắm mới đưa được Labrousse xuống tàu sang Đông Dương. Một sĩ quan Pháp chống chiến tranh bẩn thỉu ở Đông Dương". Chi tiết ấy làm cho tôi thích thú và bắt đầu "nịnh bợ" để làm thân. Một sĩ quan Pháp ít thân thiện với đồng liêu, tất sẽ tìm cách thân thiện với cấp dưới hoặc cấp trên, nếu đồng quan điểm, trước hết là quan điểm chính trị. Nhưng Trung úy cấp trên của tôi thuộc phe phái nào? Trong số 15 đảng phái chính trị đang giành giựt quyền hành trong chánh phủ Pháp? Trong một buổi dọn dẹp phòng riêng của Trung úy Labrousse, tình cờ tôi thấy một số báo Pháp để bừa bãi trên giường. Tôi xếp lại thành đống theo thứ tự, tôi ngạc nhiên, thấy tên báo "Aspect de la France" (Phong cảnh nước Pháp). Trên một tờ có in ở trong bìa chân dung của Bá tước de Paris, một trong hai thủ lĩnh hai nhóm Bảo Hoàng của Pháp. Thì ra ở Pháp, nước Cộng hòa Đệ Tứ còn tồn tại những nhóm người tôn thờ nền quân chủ của quá khứ, rơi rớt lại. Đọc báo chí Pháp, tôi hiểu rõ thêm lập trường Đảng Bảo Hoàng có điểm gặp nhau với Đảng Cộng sản Pháp: chống việc chính phủ Pháp đem quân sang Đông Dương. Tôi tự chọn cho mình một lập trường cần thiết để tiếp cận Labrousse hơn nữa. Tôi tự cho mình thuộc giòng quan lại Huế, từ cách ăn nói giao dịch, đều giữ vẻ quí phái, ít nhất là trước mặt Labrousse. Qua những buổi tâm sự, tôi được biết Labrousse người gốc xứ Bordeaux, nổi tiếng về rượu vang của Pháp, chưa vợ, vị hôn thê còn ở Pháp, thích uống rượu vang trắng, thứ Sauternes của tỉnh Bordeaux. Thỉnh thoảng đi Sài Gòn về cũng đem theo một cô gái làng chơi về Long Xuyên, nhờ tôi tìm nơi cho cô gái ở tạm để che mắt bọn sĩ quan Pháp, về chính kiến, tuyệt nhiên Labrousse không đả động gì hết. Sau khi dùng thủ đoạn "đá lên" không mấy ngay thẳng lắm, để gạt Thiếu úy Michel Đức ra khỏi sự tín nhiệm của Trung úy Labrousse, để Labrousse thuyên chuyển Đức về Z.O., thỏa mãn tham vọng "đá lên" của nó ở 2è B. Secteur Long Xuyên, tôi trở thành phiên dịch viên được trọng vọng nhất vì được nhiều người biết tiếng. Thư từ chỉ cần đề Aspirant Trần Hiến - Long Xuyên tức khắc bưu điện sẽ chuyển ngay đến nơi làm việc. Tỉnh trưởng Long Xuyên - Nguyễn Ngọc Thơ, đại diện Phật Giáo Hòa Hảo cũng kiêng nể, tự miệng những người ấy thốt ra. Và, tất nhiên Labrousse cũng biết. Vì vậy, ông xếp 2è B. đi đâu cũng kéo tôi đi theo và tôi cũng xử sự như người anh lớn tuổi. Biết anh ta lập dị, ít giao du với đồng liêu người Pháp, tôi thường mời anh ta đến nhà chơi, tổ chức các bữa tiệc nhỏ để cho anh ta nhập cuộc. Mời đồng chí Phấn, lúc đó đã chính thức trở thành vợ tôi, không phải do sự chỉ định của cấp trên nào mà vì một thủ tục hành chánh. Hôm đó, sĩ quan O.D. (Officier de détails) hậu cần của quân đội Pháp, buộc tôi phải đưa giấy chứng nhận kết hôn mới chịu phát khoản phụ cấp cho vợ và 3 con, gần nửa số lương tháng. Chúng tôi tức tốc kéo nhau về Cần Thơ, nhờ chú Tư Ngà và Tám Dinh (đều là cơ sở của tôi) đến Tòa án Cần Thơ làm chứng. Một buổi họp chớp nhoáng, không đầy 15 phút, viên Trưởng Tòa, một thanh niên Pháp, đưa cho tôi tờ hôn thú, đúng thủ tục pháp lý để nộp cho O.D. Không có một xu tốn kém. Kể cả lệ phí hầu Tòa. - Không pháo, không hoa, không tiệc tùng, khách khứa và nói cho đúng, tôi cũng không nhớ ngày đó là ngày... nào! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Năm, 2026, 09:15:45 pm Tôi giới thiệu vợ tôi với Labrousse. Chúng tôi bảo nhau cùng tổ chức những buổi ăn gia đình có Labrousse tham dự. Về khả năng bếp núc, Elise có khả năng món bún bì và chả giò. Labrousse gật đầu khen ngon và lần lần biết bưng cả chén nước mắm lên... húp "Bon, bon c’est très bon!". Dần dần chúng tôi mời một số thiếu nữ Cần Thơ lên, giới thiệu là bà con cô cậu của Elise. Trong số đó có cô Lâm Thị Sáng, 18 tuổi, thơ ký đánh máy của 62è CR, vừa trẻ vừa đẹp, tất nhiên, tôi không rời mục tiêu "cài người để lấy tài liệu gốc" theo yêu cầu của lãnh đạo Ban Quân báo (sau này tôi mới biết đó là yêu cầu của đồng chí Tham mưu trưởng Võ Quang Anh). Thế là Labrousse cắn câu! Sáng được làm thơ ký đánh máy riêng cho 2è B. Secteur Long Xuyên và phục vụ cho chiến dịch Long Châu Hà II. Nhưng bỗng một hôm, Labrousse kêu tôi bảo:
- Thôi, sáng nay anh để cho Solange (biệt danh Labrousse đặt cho Sáng) ở nhà, khi nào có việc cần tôi sẽ gọi. Bẵng luôn một tuần rồi hai tuần không thấy Labrousse gọi đến. Tôi liền hỏi thẳng: - Thế nào, Trung úy có cần nữ thư ký đánh máy nữa không? Cho tôi biết. Labrousse nhìn tội hồi lâu vào đôi mắt, rồi dẫn tôi vào phòng Thiếu tá Tham mưu trưởng Sedan, có cái tên đứng đầu bằng chữ M... (Masson?) Thiếu tá đã lớn tuổi, sắp được nghĩ hưu, vẻ hiền hậu, không nói gì hết, rút ở ngăn kéo ra, đưa cho tôi xem một bức thư nặc danh bằng tiếng Pháp đánh máy dầy hai trang giấy trắng. Tôi nhìn trước về cuối thư: không có chữ ký, tôi yên tâm. Nội dung thư: tố cáo 2è B. Long Xuyên đã để lọt tài liệu cho Việt minh biết để đánh vào vùng Phật Giáo Hòa Hảo Long Xuyên, làm cho lực lượng vũ trang Hòa Hảo bị nhiều thiệt hại, và đề nghị Bộ Tổng tư lệnh quân đội, nên thẩm tra lại nhất là Chuẩn úy Trần Hiến có bà vợ là Lâm Thị Phấn, con của một Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Cần Thơ. Tôi thừa biết, thư nặc danh không có giá trị về mặt pháp lý, nên vẫn bình tĩnh đọc chậm rãi từ đầu tới cuối thư, có lúc còn thoáng mỉm cười, ở những thành ngữ có tính hài hước châm biếm, tỏ ý thưởng thức lối hành văn trôi chảy, đúng ngữ pháp, chứng tỏ một tay bút nắm vững Pháp văn. Đọc xong, tôi ngước mắt hỏi: - Các ông tính thế nào? Theo tác giả bức thư, rõ ràng tôi là một con người khả nghi. Thiếu tá ôn tồn đáp: - Nếu chúng tôi nghi ông, thì đã không đưa thư cho ông xem. Tôi cảm ơn Thiếu tá về lòng tin cậy đối với tôi và nói tiếp: - Nếu các ông tin tôi, thì không lý do gì lại cho Solange nghỉ việc?. Nhưng, tôi xem bức thư này không hẳn xuất phát từ Long Xuyên. Dân Hòa Hảo ở đây không có người nào viết nổi một bức thư bằng tiếng Pháp hay như vậy. - Tôi chép miệng - "Chúng ta chiến đấu trong một môi trường có nhiều kẻ thù. Quanh ta Hòa Hảo, Việt minh - và tôi liếc sang Labrousse - và kể cả không ít người Pháp, không ưa gì chúng ta!". Ra về, tôi hỏi thêm Labrousse: - Bức thư quí hóa đó được gởi tới bằng cách nào? Labrousse cho biết: - Cách đây hai tuần, Trung úy Francois từ Sài Gòn đích thân mang đến. Francois là sĩ quan phản gián của Bộ Tổng tham mưu Pháp. Sau buổi họp đó, Sáng được cho thôi việc với trợ cấp 3 tháng lương. Tôi viết cho Sáng một cái đơn phản kháng, và sau đó được nhận vào làm việc ở bộ phận trợ cấp xã hội (Assistance sociale) ở Z.O. Và, Labrousse đưa cho tôi đọc một công văn phản đối bức thư nặc danh nói trên gởi lên Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp ở Sài Gòn, đại ý nói tôi là một người cộng sự đắc lực cho quân đội Pháp đã nhiều năm nay, lòng tin đã được thử thách. Số phận của bức thư chỉ đáng vứt vào sọt rác! Trải qua cơn sóng gió đó, Trung úy Labrousse vẫn không hề mất niềm tin ở tôi, nhưng tôi cũng cần rút kinh nghiệm thêm trong công tác. Thận trọng không bao giờ có giới hạn trong công tác cả. Trong 2è B. Secteur Long Xuyên tôi được phân công theo dõi bộ phận tuyên truyền (Section de propagande). Nhưng tổng hợp các báo cáo tháng của S/Secteur (Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Sa Đéc) gởi về để viết thành rapport moral (báo cáo chính trị) toàn Secteur thì bản thân Trưởng phòng, tức là Labrousse phải làm. Mỗi lần viết báo cáo thấy Labrousse khá vất vả, tôi mạnh dạn đề xuất tôi làm thay. Labrousse nhìn tôi để ước lượng khả năng, và đồng ý. Thế là, tôi gom tất cả các báo cáo lại, qui kết, xào nấu thành 3 trang đánh máy đưa lên cho Trưởng phòng xem. Y thích nhất câu kết luận cuối cùng của tôi: Mọi cuộc tuyên truyền chỉ có hiệu quả khi có sự kết hợp chặt chẽ với thái độ của các binh sĩ trong các cuộc hành binh. Labrousse đọc xong bản thảo của tôi, gọi tôi lại khen ngợi và đề nghị tôi sửa chữ de conserve thay chữ de concert (kết hợp). Tôi mỉm cười: "Tôi muốn dùng từ mới có trong tự điển Larousse". Và, tôi lật tự điển chỉ cho y xem, y gật đầu có vẻ thán phục. Kể từ ngày đó, mỗi khi trong 2è B. ai muốn hỏi chữ gì thì Labrousse chỉ về phía tôi: "Consultez notre dictionnaire vivant" (Hãy hỏi cuốn tự điển sống của chúng ta!). Nhưng đối với tôi cái vui nhất là tôi được đọc tất cả các báo cáo các S/Secteur gởi về hàng tháng để trước khi viết báo cáo cho Phòng nhì Secteur, tôi cũng đã tổng hợp gởi về cho Chi 50 để báo cáo về Ban Quân báo Khu 9. Tất cả không phải sao y nguyên một cách máy móc và dại dột như trước. Sau khi trại giam Thốt Nốt bị phá vỡ từ cuối năm 1947, thì nhà binh Pháp ở Long Xuyên phải sung công rạp hát Nam Xương làm trại giam, kể cả Việt minh hay Hòa Hảo nam hay nữ đều nhốt chung vào đây. Hôm đó, tôi cùng Labrousse đến thăm trại giam mới thấy rõ hoàn cảnh cơ cực của anh chị em đó. Khoảng 300 người sống nheo nhóc trong một căn rạp với diện tích không đầy 200m2. Không mền, không chiếu nằm lăn giữa sàn lát gạch. Phụ nữ được dành riêng ở trên sân khấu, khoảng 10 chị. Hố tiêu là một cái thùng đặt ở góc rạp. Canh gác do lính Bảo an đảm trách. Cơm nước do tay cai ngục lãnh thầu, theo tiêu chuẩn do nhà binh Pháp qui định: 1 đồng/người/ngày cho mỗi tù binh. Khi chúng tôi đến thăm, anh em có nhiều yêu cầu, Labrousse biểu tôi ghi nhận để giải quyết sau. Tổng hợp các ý kiến, nổi lên 3 vấn đề bức thiết, anh em tù binh đòi: 1) Đừng cho anh em ăn gạo hẩm, khô mục. 2) Cho chiếu để lót sàn ngũ. 3) Cho luân phiên đi làm tạp dịch bên ngoài để hít thở khí trời trong sạch. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:07:28 pm Tôi dịch cho Trung úy Labrousse nghe. Trung úy giao tôi trọn quyền giải quyết trong khuôn khổ 1 đồng/người/ngày như đã qui định. Để giải quyết vấn đề ăn, tôi đột xuất vào khám, trong giờ viên cai ngục chở cơm tới. Trước mắt anh chị em bị giam giữ, tôi yêu cầu viên cai ngục xúc cho tôi một bát cơm với vài miếng khô. May sao, hôm đó cơm, khô đều bảo đảm. Tôi dặn chủ thầu: "Tôi sẽ kiểm tra thường xuyên nếu thấy cơm hẩm, khô mục, tôi sẽ giao người khác đấu thầu". Biện pháp răn đe thông thường đó tỏ ra có hiệu quả. Để giải quyết vấn đề chiếu, tôi đích thân qua gặp Nguyễn Ngọc Thơ, Tỉnh trưởng Long Xuyên, văn phòng ở gần cầu quay Bình Đức. Tôi biết Thơ là một điền chủ, có nhiều tham vọng, nhiều mánh khóe cũng tham ô như bất kỳ viên quan lại nào có chức có quyền ở chế độ cũ, nhưng không thuộc loại trắng trợn như Phán Ngọc, bán đuôi chuột cho nông dân nộp thuế để xây cất nhà ngói và đồng bào Long Xuyên đi ngang đều mỉa mai chỉ trỏ: "Nhà đuôi chuột". Thơ đặt thêm một loại thuế riêng gọi là thuế nhập thị, đánh vào các loại hàng bày bán ở chợ Long Xuyên. Tôi còn nhớ kỹ, mỗi mét vải phải tăng thêm 20 xu nạp lên cho tỉnh trưởng. Thấy tôi bước vào, Thơ đang ngồi sau chiếc bàn rộng, Thơ đưa tay ra bắt tay tôi, nhưng mắt nhìn phía cửa, làm tôi tưởng ai mới vào, tôi vội ngoái cổ lại nhìn. Thơ nhắc lại: "Anh Hiến, tôi chờ anh đó". Tôi chợt nhớ ra là viên Tỉnh trưởng này có tật lé mắt bẩm sinh. Nghe tôi nói đến để xin Tỉnh trưởng cấp phát chiếu cho 300 tù binh. Thơ lắc đầu:
- Tù binh là thuộc nhà binh Pháp đài thọ, anh biểu tôi lấy đâu ra tiền? - Nhưng họ là dân chúng Long Xuyên, ông là Tỉnh trưởng nỡ để cho dân nằm không giường, không chiếu mà đành lòng sao? - Nhưng anh cũng biết ngân sách của Tỉnh có hạn, có khoản nào cho vào việc đó đâu. Tôi buộc lòng phải nói thẳng: - Tôi có nghe người ta nói rằng, ông có khoản thuế nhập thị hai mươi xu một mét vải, ông có thể lấy vào đó được không? Thơ nhìn tôi rồi nhanh chóng đổi thái độ: - Thôi được, tôi chịu anh rồi đó!. Thế là tuần sau đó ở trại giam, mỗi tù binh đều được một chiếc chiếu mới lót nằm. Về yêu sách thứ ba, xin được luân phiên đi làm tạp dịch (corvée) tương đối dễ thỏa mãn. Tôi bắt đầu xin hai tù binh để dọn cái nhà số 36 đường Lê Lợi (phía Bình Đức) là một cơ sở dệt thủ công của một ông Kim Sơn nào đó đã bỏ đi. Nhà cũ kỹ quá, ván sàn đã bị tháo gỡ, nhưng được cái thoáng mát, kín đáo, tầng trệt chỉ có một phòng rộng rãi làm nơi tiếp khách, gác trên bề bộn những khung cửa. Do ván sàn đã gỡ đi nhiều nếu ai không biết lối đi sẽ lọt sàn rớt xuống tầng dưới. Tôi cho trổ lỗ châu mai gần trên trần nhà để có thể quan sát, bên dưới sàn nhà cho dọn đặt một cái giường ngủ, một cái bàn để làm việc vừa làm chỗ họp tổ công tác điệp báo, khá an toàn. Phía sau nhà có nhà bếp, cách nhà trên một khoảng trống độ 2m. Phía sau nhà bếp có cửa ra vườn với con đường nhỏ thông ra xóm sau. Cái vườn nhỏ nhà nầy chỉ có một cây vú sữa đỏ là cây duy nhất, nhưng đến mùa sai trái vừa ăn vừa cho cũng không hết. Lần đầu tiên, hai tù binh và một lính Miên được đến làm cỏ ở căn nhà đó. Tôi dẫn ra sau vườn chỉ vào cây vú sữa: - Các anh dọn vườn đi! Các anh tạp dịch ngần ngại nhìn quanh, không có một đám cỏ, không có một líp rau thì dọn cái gì? Tôi bảo: - Hai anh thay phiên nhau lên leo cây, hái vú sữa chín ăn cho đã thèm, nhớ hái để dành phần cho chú lính, ăn đã rồi về, không mang theo trái nào về trại! Công việc chiều nay chỉ thế thôi. Tôi chỉ ước một điều: phải chi tôi được cấp một cái vườn có cây trái quanh năm. Một hôm, ở Sài Gòn có đưa về một người có giấy giới thiệu là Thượng sĩ Lam Sơn, được phép đến nói chuyện với anh em tù binh ở các trại giam để động viên anh em ủng hộ chính phủ Trần Văn Hữu, đả đảo Việt minh, và nếu anh em nào muốn vào lính thì ghi tên. Giấy giới thiệu của 2è B. của F.T.V.S cấp. Thượng sĩ này nói chuyện với Labrousse, có tôi tham dự, anh ta tự giới thiệu là một đại đội trưởng trong hàng ngũ kháng chiến mới qui thuận, người vóc dáng trung bình, tuổi ngoài 30, nói giọng miền Bắc. Labrousse biểu tôi dẫn tên tuyên truyền phản bội ấy đến rạp Nam Xương (trại tù binh). Hồi đó, anh em trong trại giam đã biết ít nhiều về thái độ của tôi, nên cũng chăm chú nghe tôi giới thiệu diễn giả: - Đây là ông Lam Sơn, một đại đội trưởng Việt minh mới về qui thuận triều đình nhà Nguyễn, à quên, xin lỗi về qui thuận chính phủ. - Nghe có tiếng cười rúc rích, tôi yêu cầu - Anh em im lặng để nghe ông Thượng sĩ nói chuyện với anh em, ông ta là người miền Bắc nên giọng cũng hơi khó nghe, tiếng nào lọt tai thì lọt, tiếng nào không nghe được thì để ngoài tai, cố gắng suy nghĩ tiếp, đừng làm ồn ào không cần thiết. Tôi nói dứt lời, Lam Sơn cầm tờ giấy đọc thao thao bất tuyệt. Tôi ngồi im lặng nghĩ đâu đâu. Dứt bài diễn văn không một tiếng vỗ tay, không một lời phản đối và cũng không một ai ký tên xin đi lính. Tôi và Lam Sơn cùng lặng lẽ ra về ai đi đường nấy. Từ đó về sau, tôi không nhìn thấy và thực tế cũng không còn thấy bóng dáng tên phản bội ấy nữa. Sau 30/4/1975, về Sài Gòn, tôi có dịp đọc tên một số sĩ quan cấp tá, tướng ngụy quân đi cải tạo, có phát hiện tên một tướng ngụy Lam Sơn, nhưng chưa hẳn là tên tuyên truyền phản bội ấy và cũng không cần tìm hiểu thêm nữa. Nói về những tên phản bội hàng ngũ kháng chiến mà tôi đã gặp và lấy cung ở Cần Thơ cũng như ở Long Xuyên cho đến năm 1950, cũng không nhiều lắm. Tên Thanh (đã bị bắn), tên Lâm Quang Phòng (là đại tá ngụy quân hiện đang ở Mỹ) đến Lam Sơn (không rõ sống chết) và tên Quốc Thanh (họ Nguvễn hoặc Lê) nguyên là cán bộ Ban Ngoại vụ (do đồng chí Thanh Sơn lãnh đạo). Tên Quốc Thanh ra đầu thú ở S/Secteur Rạch Giá với 11 bao tải tiêu sọ (của gia đình bên vợ ở Hòn Chông cho). Trung úy Trần Thiện Khiêm, sĩ quan tình báo của 2è. BVN chiếm đóng S/Secteur Rạch Giá, dẫn lên trình diện ở Secteur Long Xuyên. Toàn bộ lời khai của hắn được tôi ghi chép và có báo cáo về Khu 9. Hắn, nguyên là dân Quảng Ngãi, làm quan hai Nhật, trong sắc lính Hai-hô, sau kháng chiến chuyển thành giáo viên quân sự Trường quân chính ta đóng tại Quảng Ngãi, rồi chuyển về Ban Ngoại vụ Nam Bộ lúc đó đóng tại Hòn Chông. Do bất mãn vì không được thăng quan tiến chức nên trốn theo giặc. Bọn Pháp cho ký tên vào truyền đơn lên máy bay rải vùng Rạch Giá, Hà Tiên. Sau đó, năm 1953, hắn lại trở về Hòn Chông, gặp Ban Ngoại vụ xin thú tội. Đồng chí Thanh Sơn có đánh điện về hỏi Chi 50. Tôi còn nhớ lời khai và hành động của Quốc Thanh, nên đã trả lời cho Ban Ngoại vụ biết. Sau đó đưa ra Tòa án quân sự, tước quân tịch, cho trở về thường dân. Có lẽ là trường hợp duy nhất tôi biết về một tên đầu thú theo giặc trở về chịu tội trước cơ quan, và được hưởng lượng khoan hồng của Tòa án quân sự. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:08:09 pm Miền Tây Nam Bộ dồi dào về lúa gạo hơn các nơi khác, nhưng trong những năm 1950-1951, cũng có lúc khó khăn, ở Rạch Giá lúc thời vụ thất bát, bộ đội phải ăn nếp thay gạo. Tỉnh ủy có chủ trương lúc ấy là cấm nhân dân nuôi vịt tàu, một số chiến sĩ cảm thấy mệt mỏi về tinh thần và thể chất, kéo nhau ra đầu thú tại Rạch Giá. Con số đó tuy không nhiều, nhưng rải rác mỗi lúc vài ba người, cộng lại cũng trên một tá! Tôi còn nhớ năm 1950, S/Secteur Rạch Giá đưa lên 8 người một lúc. Tôi hỏi chế độ đối với Việt Minh đầu thú, Labrousse bảo:
- Không có chế độ gì cả, cứ theo tiêu chuẩn cấp phát cho tù binh: 1 đồng/người/ngày. Càng tốt. Lần đầu đến hỏi cung, có anh em xin thuốc lá. Tôi bảo: - Chế độ cấp phát cho anh em chỉ 1 đồng/người/ngày, không có thuốc lá! Cố gắng nhịn vậy. Đến bữa ăn, cho ăn chung với lính partisans Miên, bọn lính không cho mượn chén đũa. Phản ảnh lên, tôi bảo: "Thôi hãy chịu khó năn nỉ họ", về ngủ, cho 8 người một căn phòng 8m2 không có cửa sổ ở nhà ngủ Thiên Tân. Hôm đó, Đặng Kiến Thiết, đại đội trưởng đại đội 1091, của tỉnh Cần Thơ, được chỉ định làm trưởng nhóm 8 người đầu thú đến 2è B. dẫn tôi đi xem tình hình ăn ở của anh em tù binh ở nhà ngủ Thiên Tân. Tôi đi trước, Thiết đi sau, vừa bước lên cầu thang, một chị gái điếm đang lui cui thổi lửa trong cái lò củi để nấu cơm, chị liếc xéo Thiết, nói: "Xí! Giỏi sao không ở trỏng mà đánh Tây, còn vác mặt ra đây làm chi?" Tôi nghe rõ mồn một, nhưng giả đò không nghe, nhìn vào mặt Thiết. Bộ mặt Thiết vốn ngăm đen, bỗng đỏ lên. Tôi hỏi: "Chị ta nói gì vậy?" Anh cũng nói lại cho tôi nghe với vẻ bực dọc. Tôi an ủi anh ta rằng ý chị ấy cũng là ý chung của dân thành phố Long Xuyên nầy. Thiết lặng thinh không nói gì. Tôi trình bày với Trung úy Labrousse và kiến nghị trong khi chờ lấy lời khai, nên giữ họ chung với tù binh. Thế là trong số 300 tù binh, một nửa là Hòa Hảo, một nửa là Việt minh và một tá là dân đầu thú. Một trại giam hỗn hợp ba thành phần đối kháng nhau. Thời kỳ đó, đúng là thời kỳ Mỹ đang tìm cách hất cẳng Pháp và bọn Thủ hiến bù nhìn ở ba phần cũng đang tìm chỗ dựa. Ở miền Nam có dư luận: Bảo Đại cho Bửu Lộc làm Thủ hiến Nam phần thay chân Trần Văn Hữu. Ngay từ đầu năm 1950, Bửu Lộc đã mon men kinh lý Long Xuyên. Tỉnh trưởng Long Xuyên tiếp đón tại tư gia. Một chuyện bất ngờ xảy ra: Tại salon có một hàng chữ viết bằng than: "Đả đảo Bảo Đại" xuất hiện trên vách. Nguyễn Ngọc Thơ giận tím mặt, cho lính kín truy lùng thủ phạm. Không rõ ai mách cho Thơ biết là chính con trai ông ta viết. Ông kêu thằng con đến dằn mặt: "Mầy muốn theo Việt minh hả? Ừ mầy học cho giỏi đi, rồi tao cho theo, cỡ như mầy đi xách dép người ta thôi!". Chuyện đó do đồng chí Danh kể lại lúc còn ở Long Xuyên, ghi lại để thấy không chỉ ở Long Xuyên mà ở các nơi khác không ai thích Bảo Đại. Về phía Trần Văn Hữu, bọn 2è B. Sài Gòn hết sức nâng đỡ. Tôi nhận được một công văn mật của 2è B. ở Sài Gòn chỉ thị: cần phải tổ chức những cuộc biểu tình tính chất tự phát (meeting spontanné), trong các trại giam tù binh cũng đòi ủng hộ chính phủ Trần Văn Hữu. Tờ chỉ thị ấy tôi vùi xuống đáy ngăn kéo. Không biết sao, trong trại giam có người biết, các nơi khác đều có cuộc biểu tình đòi ủng hộ Trần Văn Hữu. Anh tù binh tên Sáu đưa lên một tờ đơn có vài chục người ký tên xin tổ chức biểu tình ủng hộ Trần Văn Hữu, tôi cũng nhận và ghim ngay vào công văn đến và biểu chờ. Tôi nhớ có vài lần tù binh gởi đơn như vậy, mãi mấy tháng sau đọc thông báo thấy ở nhiều Secteur khác đã tổ chức rầm rộ biểu tình trong trại giam, có nơi có xảy ra xô xát đến đổ máu. Tôi ý thức được âm mưu thâm độc của địch. Labrousse cũng đọc thông báo rồi hỏi tôi: - Các Secteur khác đều tổ chức biểu tình ủng hộ Trần Văn Hữu, tại sao ở Long Xuyên anh không tổ chức biểu tình đi? Tôi cười đáp tỉnh khô: - Người Việt Nam có câu "Trâu chậm uông nước đục". Trước ta không làm, nay mới làm tốt cũng không được khen, rủi có xô xát đổ máu càng thêm phiền. Thôi cho im luôn. Thấy Labrousse còn lưỡng lự, tôi nói thêm: - Vả chăng như Trung úy biết, tôi gốc gác ở triều đình Huế, nay Việt Nam đã gom về một mối dưới quyền trị vì của quốc trưởng Bảo Đại, thì để lại Trần Văn Hữu làm gì, chính phủ Nam phần là cái quái gì? Trung úy biết không, nguyên tắc sống của tôi là: Trên trời phải có Chúa, dưới đất phải có vua, trong nhà phải có chủ. Bằng không thiên hạ sẽ đại loạn! Giọng tôi chậm rãi mà chắc nịch. Labrousse quan sát tôi vẻ thích thú, phải chăng tôi đã đánh trúng vào nơi thầm kín nhất của người sĩ quan tình báo ấy? Dù sao, Labrousse cũng đã tin tôi. Và, ở trại giam Long Xuyên, không có biểu tình tự phát như ý Sài Gòn mong đợi. Tất nhiên, tôi không thể báo cáo tường tận mọi việc về cơ quan Quân Báo như những việc khác cần phải báo cáo thỉnh thị. Cái quyết định của người hoạt động trong lòng địch là tình huống có khi lường được, nhưng cũng có khi khó lường được trước. Cái đúng sai trong hành động một phần do năng lực, chín phần do định hướng lý tưởng cho cuộc đời ngay từ đầu quyết định. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:08:44 pm Duyên nợ của tôi với rạp hát Nam Xương cũng chỉ có thế thôi, không nhiều lắm, nhưng điều lý thú là đến năm 1956, tập kết ra Bắc, được quân đội cho chuyển sang học trường Kinh tế Tài chính Trung ương, đóng tại rạp hát Nhân dân ở Hà Nội, có đồng chí Hồng đến xin tôi giấy chứng nhận. Trong thời gian ở khám Long Xuyên đồng chí đã không khai báo gì cho địch cả. Cái đó thì tôi đã rõ, vì hầu hết các tù binh Việt minh, tôi đã hỏi cung, từ Cần Thơ lên Long Xuyên, không một ai khai báo một lời có hại cho tổ chức, cho cơ sở kháng chiến cả. Vì vậy, tôi sẵn sàng chứng nhận ngay. Đồng chí Hồng còn cho tôi biết thêm là cũng may hồi đó trong khám không tổ chức biểu tình ủng hộ Trần Văn Hữu, nên chi ủy trong khám cũng thở phào nhẹ nhõm, vì đã dự kiến tình huống sẽ có đổ máu để ngăn chặn âm mưu thâm độc đó. Đồng chí Hồng nói tiếp: Lúc đó tôi cũng ở trong chi ủy, đến lúc nghe anh đi rồi, chúng tôi có nhận định về anh như vầy: Ông Một Hiến đi rồi chúng ta như rắn mất đầu (có thể đồng chí Hồng quá coi trọng vai trò của tôi). Anh em thường nói: ông ta là một con người "Khẩu xà tâm Phật". Tôi phải cảm ơn các hình ảnh ấy, thực tế nếu không có vẻ hùng hổ bên ngoài thì cũng khó lòng đóng nổi vai trò Việt gian. Tôi không biết đồng chí Hồng nay ở đâu, còn sống hay chết. Dù sao, đó cũng là một tấm lòng, một sự an ủi lớn cho cuộc đời đầy góc cạnh của tôi. Đến năm 1975, tôi trở về Sài Gòn, đang dựng chiếc xe P.C. bên lề đường ở số 257 Nguyễn Văn Thoại, một người bận đồ xanh lá cây đến chào hỏi tôi và tự giới thiệu:
- Tôi là Châu, tù binh ở khám Long Xuyên đây, anh còn nhớ tôi không? Quả là tôi không nhớ, nên hỏi lại: - Bây giờ anh công tác ở dâu? - Ở Tổng cục Xăng dầu Khu vực 2. Chỉ thế thôi tưởng đâu sẽ tìm lại nhau, nhưng tôi cũng quên luôn. Năm 1981, trong lúc tôi đang ở trong nhà, 150 Trần Hưng Đạo, tìm cơ sở để mua cá HTXTT mà tôi làm chủ nhiệm, bỗng nhiên có một người nhận ra tôi, và nói: - Anh còn nhớ tôi không? Tôi lúc đó đóng làm tư sản chở ghe mía bị bắt, sau nhờ anh mà được thả, tôi đã báo cáo về Khu. Hỏi ra mới biết anh ta là Hoa, sau nầy là thượng úy có quen với con trai tôi lúc làm hậu cần ở R. Nhắc lại không phải để kể công lao, mà chính là tự rút cho mình một kết luận trong cuộc sống, để tiếp tục sống cho tốt hơn. Đi đôi với các hoạt động quân sự, kẻ địch cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền tâm lý chiến, dùng tài liệu giả để xuyên tạc kháng chiến và dùng mọi cách để đánh vào nền kinh tế, tài chánh vùng kháng chiến. Dùng máy bay rải bạc Cụ Hồ giả, dùng bọn phản động, chủ yếu là bọn thương nhân người Hoa để đổi bạc giả tung vào vùng tự do. Một Hoa kiều bị bắt đưa vào 2è B. Secteur Long Xuyên, đi trên chiếc xe lôi, chở 3 bao tải đầy bạc Cụ Hồ giả. Qua hỏi cung, tôi được biết số bạc đó do một thiếu tá Pháp bán, hắn mua lại tại Chợ Lớn chở về nhà số 36 đường Phan Thanh Giản - Long Xuyên để chờ đưa vào vùng kháng chiến... Labrousse thấy không có gì để hỏi thêm, tha hắn về. Hai hôm sau, Ban hành động ở Cần Thơ cho biết hắn đã bị trừng trị ngay trước cổng Tòa án Cần Thơ, trên ngực còn một mảnh giấy ghi rõ tội trạng: "Phá hoại nền kinh tế". Một tên khác bị xử ngay ở chợ Cả Đài. Về Cần Thơ hỏi thăm các đồng chí tổ Điệp báo, tôi được biết thêm nhiều thành tích của Ban hành động. Trong hai năm 49-50, các đồng chí chúng ta đã trừ được hai tên lính kín ác ôn khét tiếng: tên Nhạn, gốc là tên bói bài ra làm chỉ điểm viên cho Jacquemin, đã bị Hai Ngọc bắn chết tại hàng Bã đậu năm 1949, năm 1950, tên Tài do trốn Hòa Hảo trả thù sau vụ giết Ba Dò lên Sài Gòn làm việc. Nhưng hắn còn một vợ bé khá xinh ở Cần Thơ nên mỗi tuần phải đi xe đò về thăm. Nắm được qui luật đi lại của nó, tổ hành động của Hai Ngọc (Hai Ngọc và Tây) mang búa đứng chờ ở trước nhà ngủ Thanh Phong, đường Lộ Mới (tức XVNT hiện nay). Tài và vợ bé ngồi trên xe lôi. Hai anh Ban hành động bận đồ công nhân, tay cầm búa bước ra, đánh ngay một búa vào đầu tên ác ôn. Tài ngã chúi xuống, kêu "úi chà!" chiến sĩ ta bồi thêm một búa, còn nói cho đã giận: - Mầy đánh người ta đến chết có kêu không? Chị vợ quỳ mọp, chiến sĩ ta đỡ chị ngồi lên xe bảo: - Ai làm nấy chịu, không việc gì đến chị. Anh em từng bị bắt ở bót lính kín, có kể lại thằng Tài khét tiếng khát máu: Mỗi lần đến sở làm, đi ngang giữa hai hàng người bị bắt ngồi, chờ tới phiên hỏi cung, Tài đưa gót giày đá bên này một cái, bên kia một cái. Hắn oang oang: "Ngày nào mà tao không thấy máu Việt minh thì ngày đó tao ăn cơm không ngon". Hắn chưa được thấy máu mình đen hay trắng, đến khi nó cảm nhận được máu của nó thì máu trong óc đã trào ra còn đâu thời gian để ăn ngon cơm được nữa... Chúa Jésus có thể tha thứ cho Juda con người phản bội Chúa, nhưng đồng bào Cần Thơ không thể nào tha thứ cho những tên ác ôn khát máu đồng bào như thằng Tài. Ban hành động không chỉ diệt 2 tên tay sai ác ôn. Sau vụ việc tên Chánh mật thám Cần Thơ Gautheret (tự bắn vào đầu) vào đầu năm 1950, Sở mật thám liên bang Đông Dương không thể để cho Sở Cảnh sát đặc biệt miền Tây (P.S.O) một ngày vắng chủ, liền điều động viên Thanh tra tên Henri Ribes từ Châu Đốc về Cần Thơ thay thế. Chỉ vào khoảng không đầy 6 tháng, chưa kịp nắm tình hình, Ribes cũng bị hạ sát ngay trong xe Jeep, ở góc đường có nhà thuốc Bùi Văn Sách. Người chiến sĩ bắn chết tên cò Ribes ngay trong xe bằng 4 viên đạn súng lục là Hai Ngọc, tên thật là Huỳnh Văn, Ngọc, sinh năm 1925, nhà nghèo, phải vào chùa ở tụng kinh gõ mõ theo các sư đi cúng đám để độ nhựt. Lớn lên vào công tác trong đoàn Tình báo Cần Thơ, hoạt động trong Ban hành động đã có nhiều thành tích trong công tác trừ gian như đã kể trên. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:09:21 pm Hôm đó là ngày chủ nhật, Ribes vừa đi xem lễ 10 giờ ra về, dừng xe ở trước hiệu thuốc, đứng trên xe nói chuyện với một người quen dưới lề. Hai Ngọc đạp chiếc xe cuộc màu xanh đảo qua vài vòng, chọn lựa tư thế, quan sát địa hình xong, dừng xe lại bên cạnh chiếc Jeep, rút súng nổ liên tiếp 4 phát vào người tên cò lính kín Ribes đổ gục xuống lề đường, chết không kịp kêu lên một tiếng. Hai Ngọc ung dung đạp xe rẽ về ngả nhà Tư A, giấu súng xuống sàn nước nhà cơ sở rồi lần ngả sau đến núp mình trong đám cỏ rậm sau nhà thờ Cầu Xéo, đến quá nửa đêm mới lặn lội về đến cơ quan Ban hành động, người của Hai Ngọc ướt đẫm sương đêm. Trong vòng hai năm Hai Ngọc đã diệt được 2 tên ác ôn, một tên trùm mật thám. Chưa kịp được cơ quan tuyên dương thì đến ngày 12 Tết năm 1951, Ngọc đã sa lưới và hy sinh anh dũng, bị trúng đạn vào bụng tại Rạch Bần, do bọn biệt kích (Commandos) của Z.O. bắn, anh được chở về trạm Quân y ở Bệnh viện Cần Thơ băng bó lại, chờ đến sáng lính kín đến lấy cung. Đến nửa đêm, Ngọc đã vùng dậy tháo băng tự bứt đứt ruột tự sát, vào khoảng 4 giờ sáng. Dì phước dòng St Paul đang trực, bỗng nghe hô to khẩu hiệu "HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM". Dì chạy vào, thấy Ngọc ngã vật xuống, ruột bung ra ngoài, băng sổ ra, máu me đầm đìa. Trước khi chết, khoảng về chiều, Hai Ngọc đã hỏi ông già Tám mượn một con dao để gọt móng tay, và trối với ông Tám, lao công của bệnh viện "Nếu tôi chết nhờ Tám nhắn về trỏng, anh em đem xác tôi về". Lời trối của Hai Ngọc không thực hiện được, vì bọn Pháp đã cho đào huyệt chôn Ngọc tại nhị tỳ, gần bờ rào bệnh viện, có canh gác cẩn thận để rình bắt Việt minh đến lấy xác. Đám tang có một tiểu đội biệt kích đi kèm. Nhưng đến lúc hạ huyệt, viên sĩ quan Pháp chỉ huy biệt kích, cất mũ và nói với người bên cạnh: "C'est un héro!" (Đây là một anh hùng). Từ lòng cảm phục chân chính của một quân nhân Pháp, hoặc theo thói quen lịch sự của một người dân Pháp khi dự đám tang? Dù sao cũng là một sự tuyên dương mà chính đối phương phải thừa nhận.
Sau này, hòa bình lập lại, đồng chí Ba Phấn, Trưởng ban Quân báo Khu 9 ở cả hai thời kỳ, đã xác nhận thành tích Liệt sĩ Huỳnh Văn Ngọc, nhưng không tìm ra dấu vết hài cốt của anh. Năm 1984, đồng chí Nguyễn Văn Phấn về hưu, ở nhà số 61, XVNT Cần Thơ có mời chị Hai Ngọc đến nhà, tôi gặp chị và được chị cho biết: Anh chị đã có 8 mặt con, chú lớn làm công nhân Vũng Tàu. Chị thì bán hàng ở chợ Tham Tướng, và đồng chí Ba Phấn nói thêm: "Được nhân dân tín nhiệm chị được bầu vào Hội đồng Nhân dân Phường". Từ đầu năm 1950, Chi 50 đã tăng viện cho tôi hai nhân viên. Một là Lý Trường Nhơn, hai là Lý Trường Thọ. Tôi thấy Tổ công tác nặng nề thêm, nên tôi tách Phạm Ngọc An (Tuấn Khanh) ra hợp với Nhơn, Thọ làm thành Tổ Điệp báo riêng, không dính líu gì nhau về nghiệp vụ. Nhơn và Thọ đều có tình bà con bên ngoại của Nguyễn Ngọc Thơ, Tỉnh trưởng Long Xuyên. Sau này, Tuấn Khanh theo đơn vị 19è BVN, Tiểu đoàn cơ động của Z.O. về đóng tại Sóc Trăng, thì Chi 50 có cử cán bộ khác theo dõi. Nhơn và Thọ không biết lý do gì lại vào binh sĩ ngụy quân, lại có mặt trong Tòa án binh Pháp xử những vụ án những nhân viên Quân báo bị bắt ở Cần Thơ năm 1952-1954. Hòa bình lập lại, cả ba đều là sĩ quan ngụy quân (An là Đại úy Ban 4 sư 21, Thọ - Thiếu tá trong trung tâm truyền tin 7 của Mỹ, Nhơn - Đại tá tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Bình. Cả ba đều đi học tập cải tạo, riêng An thì có giấy xác nhận của anh Ba Phấn, chứng nhận thành tích trong 9 năm kháng chiến chống Pháp). Đến nửa năm 1950, cơ quan cử ra tăng cường cho Tổ tôi hai đồng chí: Năm Danh (Võ Văn Danh) và Ba Phương Nam (Nguyễn Phương Nam, bí số T.D.6, nguyên là cán bộ Quân báo Khu 8, đã được Quân khu 8 giới thiệu sang Khu 9 để cùng phối hợp nắm địch tình của Z.O. có liên quan đến khu 8 để trực tiếp thông báo, báo cáo nhanh về Khu 8). Nhắc lại một tình tiết khá buồn cười. Tôi hỏi Phương Nam: - Tôi làm việc đó giúp anh, thì anh sẽ đổi lại cái gì? Phương Nam trả lời: - Tôi sẽ cho anh công thức mực bí mật của chúng tôi. Thế là anh cho tôi biết sử dụng "ngũ bội tử" làm mực bí mật để chống lại công thức "Teinture iodée" của Pháp dùng để phát hiện mực bí mật của ta. Tôi nhớ lại một câu trong sách giáo trình "décriptement" (phát hiện mật mã) của 2è B. Pháp: "Toutes les encres magiques sont révélables à la teinture d'iode". Còn nói về nghiệp vụ kỹ thuật Tình Báo tôi chỉ là loại ếch nằm đáy giếng, nên được tăng cường thêm hai đồng chí tôi thấy càng thêm sức mạnh. Thế là Tổ điệp báo chúng tôi thành lập được một tổ Đảng, bầu đồng chí Phấn (đảng danh Nhất Thanh) làm tổ trưởng, đồng chí Phương Nam, Chi ủy viên, thay mặt Chi bộ C.50 chỉ đạo công tác Đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Danh, đảng viên. Tổ Đảng họp mỗi tháng một lần kể cả công tác chuyên môn và kiêm luôn thư ký tổ Đảng để viết báo cáo về cơ quan bằng mật mã, tuy là một quần chúng, tôi vẫn luôn luôn nhắc các đồng chí đóng Đảng phí mỗi tháng 1 đồng bất kể chức vụ lương bổng thế nào. Thật ra chi phí công tác chuyên môn, cơ quan cung cấp cho 300 đồng/tháng, nhưng tôi bàn với chị Lang (vợ anh Tám Miêng phụ trách thơ ký cơ quan) nên giữ lại để tăng thêm sinh hoạt phí cho anh em thương bệnh binh, còn toàn bộ tiền lương của tôi do Pháp trả, kể cả lương cơ bản và phụ cấp gia đình vào khoảng 800 đồng Đông Dương lãnh về xong, tôi giao tất cả cho nữ đồng chí Phân để lo toàn bộ chi phí cho công tác chuyên môn cùng như sinh hoạt gia đình. Lần nào cũng vậy, nhận tiền xong, đồng chí Phấn lật ví tôi ra xem, nhét lại 100 đồng và nói: "đề phòng đạp bể bánh tráng". Tôi hết lòng cảm kích về cử chỉ tế nhị ấy. Thật tình, trước tình hình công việc đa đoan, tôi không quan tâm đến đồng tiền, vì làm cho ra tiền, không phải mục đích cuộc sống của suốt đời tôi. Một người dân nô lệ, ở tận đáy cùng của xã hội thực dân nửa phong kiến chịu ba tầng áp bức, từ ba đời nay, không ngừng đấu tranh để mong thoát khỏi cảnh xiềng xích, được mở mày mở mặt với năm châu. Và đó cũng là mục đích cuộc sống của những người lính Cụ Hồ từ thuở 9 năm, không phải chỉ có riêng tôi. Hơn nữa ở hoàn cảnh của tôi lúc đó làm ra đồng tiền thật quá dễ, cái khó là làm sao đừng để đồng tiền mua được lương tâm con người. Một chiến sĩ vệ quốc đoàn mà lãnh lương của giặc trong khi làm nhiệm vụ cho mình, tôi thấy đồng lương đó chỉ là một chiến lợi phẩm. Cá nhân tôi không có quyền vi phạm. Vì vậy, tôi thấy nhẹ người khi mỗi tháng lãnh lương về, giao lại cho đồng chí Phân trực tiếp có trách nhiệm phân phối, chi xuất. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:09:54 pm Đã từ lâu tôi ước ao được trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi đã để lỡ cơ hội lúc còn tuổi thanh niên có bạn bè chí cốt khuyên mình. Tự kiểm lại cũng phải. Lúc đó mình chưa chín. Nhớ lại câu nói của anh Vịnh (tức Nguyễn Chí Thanh) mắng mình: "Mi là thằng đầu bò, bần cố nông mà không có quan điểm giai cấp". Cũng đúng. Vì vậy thời kỳ hoạt động cách mạng từ 2/9/1945, mới thật sự là giai đoạn tự giác cách mạng giải phóng dân tộc, đáng ghi nhớ. Về mặt ý thức hệ, cho đến tháng 4/1947, tôi vẫn còn nửa tin có Chúa, nửa tin có Ông Bà. Nhưng sau cái chết của vợ tôi (15/4/1947) lại bị Nogret thẩm vấn một cách oan ức. Tôi thấy không thể tin ở sự công minh của Chúa trên cõi đời nầy được, nhất là trong công tác Tình báo. Đối với một kẻ thù nham hiểm cần phải có một tổ chức chặt chẽ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước dân tộc mới đánh bại được. Cũng từ quan điểm đó, tôi đã mạnh dạn trước câu hỏi Nogret (1946): "Chúng mày thấy Việt minh hơn ta ở điểm nào?". Trong lúc bộ hạ Nogret còn phân vân, tôi đáp không do dự: "Việt minh hơn hẳn ta (quân Pháp) ở vấn đề tổ chức". Nogret gật đầu thừa nhận. Làm việc ở phòng nhì không hiếm tài liệu sách báo Việt minh để đọc, nghiên cứu, dịch thuật cũng từ đó. Lý luận giai cấp, lý luận cách mạng của tôi cũng được mài sắc thêm và ghi chặt vào tâm khảm: "Không có lý luận cách mạng, thì không có phong trào cách mạng. Không có giai cấp tiền phong thì không có Đảng tiền phong". Có lẽ trong tổ Đảng Chi bộ 50 hồi đó, tôi là một quần chúng nắm vững lý luận cách mạng cũng như các nguyên tắc tổ chức Đảng hơn các đảng viên Tổ Thanh/Chi bộ 50. Không trách họ được. Điều kiện hoạt động bí mật trong lòng địch, không cho phép các đồng chí ấy được cái may mắn như tôi. Cũng vì vậy nên vào cuối năm 46, nhân dịp Thanh Nguyên cùng tôi ra vùng kháng chiến (hình như ở rạch Tràng Tiền). Thanh Nguyên hỏi tôi có muốn vào Đảng Dân Chủ không? Nếu muốn sẽ cùng anh tìm gặp anh Châu (hình như là Xứ ủy Dân Chủ) để xin gia nhập. Không tiện thổ lộ thầm kín của lòng mình, dù đối với bạn thân. "Thôi mình chỉ muốn độc lập, không muốn vào Đảng phái nào cả". Hai Tắng (Thanh Nguyên) nhìn tôi thông cảm, không rủ rê nữa.
Tôi biết rõ thời kỳ đó (năm 1950) Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố đóng cửa. Đợt năm 1949, đồng chí Phấn được gọi về Ông Đèo để kết nạp, là đợt vét trước khi Đảng đóng cửa. Tôi mừng là ít nhứt tiểu đội Thanh cũng có một người nhận được vinh dự đó. Nhưng tôi cũng suy nghĩ về phần mình: không được vào Đảng. Thế là hết hy vọng! Thôi thì ta cứ nhắm theo tiêu chuẩn đảng viên mà sống và hành động làm một người ngoài Đảng, hết lòng vì Đảng mà chiến đấu cũng tốt. Tuy vậy, đôi lúc nằm bên cạnh vợ (đồng chí Phấn) tôi cũng tâm sự: có lẽ nếu anh là anh đạp xe lôi thì dễ được Đảng tin tưởng hơn. Cũng may, công việc dồn dập, không cho phép tôi giữ mãi những phiền muộn trong lòng. Dù sao Chi bộ 50 cũng đã chấp nhận yêu cầu của tôi từ trước: xin Chi bộ cử ai ra đây một Chi ủy viên để trực tiếp lãnh đạo công tác điệp báo. Tôi xin lấy đầu tôi đảm bảo, an toàn tính mạng cho đồng chí ấy. Yêu cầu ấy đã được đáp ứng: chẳng những tôi có một Chi ủy viên lại có một tổ Đảng bên cạnh để giúp đỡ. Là một tổ trưởng chuyên môn được sinh hoạt Đảng nhưng còn ở ngoài Đảng. Tôi chỉ đặt rõ vấn đề trước tổ Đảng. Vì mỗi tháng chúng ta chỉ họp một lần có chuyên môn và cả nội bộ. Vì vậy, tôi đề nghị: - Về công tác Đảng tôi chỉ có quyền đề nghị, không có quyền biệu quyết. Nhưng về công tác chuyên môn tôi có trách nhiệm báo cáo tình hình khó khăn, thuận lợi để xin ý kiến tổ Đảng. Nhưng tôi xin có quyền quyết định tối hậu. Tổ Đảng đều nhất trí tán thành. Và, quả thật, tổ Đảng cũng như từng đảng viên đều là cố vấn đắc lực của tôi trong công tác chuyên môn, giúp đỡ, bảo vệ tôi trong công tác và cuộc sống. Và niềm tin vào tình cảm cách mạng của tập thể đó đã tạo nên những thành quả sau này trong công tác điệp báo của tôi. Trong những người đó, hiện nay đồng chí Danh trẻ tuổi nhất, đã không còn nữa. Trước ngày đồng chí mất, tôi đã được gia đình nhắn tin: Danh đang hấp hối, đang chờ tôi. Hỡi ơi! Lúc đó tôi đang bị thấp khớp cấp tính, mắt cá sưng phù không đi được! Đành phải lỗi hẹn với người em. Cậu Năm Danh, chắc các con tôi vẫn còn nhớ. Tôi còn nhớ rõ, Năm Danh với thành phần nông dân, trình độ văn hóa chưa hết cấp 3, thân hình chưa đầy 1m55 với đôi mày xách ngược, vẫn xông xáo đi vào các vùng đầy nguy hiểm, không chút do dự. Danh sống chung cùng gia đình, coi như em vợ, vừa làm liên lạc, trinh sát vừa bảo vệ tôi, phát hiện những kẻ khả nghi cho tôi biết. Về mặt tổ chức rút kinh nghiệm ở Cần Thơ, tôi đã tổ chức thêm những địa điểm dự phòng khi bất trắc, Danh đã giúp tôi làm việc đó. Ở đầu vào thị xã Long Xuyên, tôi có cái lều tranh của anh Năm Nghinh, một lái xe đò chuyên nghiệp, lái xe Thành Long, ở bên kia sông, phía gần bến đò, tôi có nhà anh Hai Hoàng, vùng PGHH Nguyễn Giác Ngộ, có thể làm nơi ẩn trú khi tổ chức ở Long Xuyên bị phá vỡ. Tôi đã xin giấy 2è B do Trung úy Labrousse cấp phát cho cả hai. Thực tế tin tức do mình tôi phịa ra. Một địa điểm thứ ba nữa là nhà chị Tư, vợ Chín Đức (Lê Trí Đức vợ là Đỗ Thị Phận) số 3 Lý Thường Kiệt, nay là 308 Lý Thường Kiệt, đang kháng chiến ở vùng giải phóng Rạch Giá. Ở ngay nhà 36 Lê Lợi làm nơi hội họp tổ Đảng khi cần thiết. Nhà chị Tư cũng là nhà đồng chí Phương Nam tạm trú tại Long Xuyên. Sau giải phóng, đồng chí Phương Nam cũng làm giấy xác nhận cho anh chị Chín Đức. Hiện nay anh chị đã sang sống với con gái ở Úc, vì ở quê nhà anh chị đã già, không đủ sống. Tôi nghe có đồng chí đã nói: "Đói thì cạp đất mà ăn, không nên bỏ Tổ quốc mà đi". Nhưng tôi vẫn tin, anh chị Chín Đức dù ở đâu cũng không quên căn nhà sàn lót ván mọt ăn dựng trên ao tù nước đọng quanh năm ấy. Thực tế dù muốn cạp đất mà ăn cũng không có chỗ tìm ra đất để cạp! Tuy nhiên nhớ cảnh quê hương, anh chị đã xin trở về nước ngày 17/1/1989. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:10:30 pm Thời kỳ năm 1950, cả S/Secteur Rạch Giá và S/Secteur Sa Đéc đều trực thuộc Secteur Long Xuyên. Vì vậy những cuộc hành binh ở hai S/Secteur đó đều tập trung tài liệu bắt được về 2è B. Secteur Long Xuyên để sàng lọc. Các phiên dịch viên đều bu vào lục soát các bao bố hồ sơ Việt minh. Do có ý thức từ trước nên tôi chỉ lướt qua đầu đề giành lấy về mình những tài liệu quan trọng nhất. Trong tài liệu S/Secteur Rạch Giá đưa về, tôi phát hiện thấy một đống hồ sơ lý lịch cá nhân có ảnh chụp từng người. Kiểm tra lại, đó là hồ sơ nhân sự của Đại đội thành Rạch Giá bị bắt tại xã Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá). Có đến khoảng trên 20 lý lịch có dán ảnh. Tôi suy nghĩ: tay nào chỉ huy công tác thành cũng khá chủ quan khinh địch, hoạt động thành mà cũng bắt chiến sĩ chụp ảnh dán vào lý lịch kê khai đủ cả ba đời! Tôi nhét cả tập hồ sơ vào ngăn kéo để dành trả lại cho cấp chỉ huy đơn vị ấy. Mang cả tập hồ sơ dây cộm đó trả lại cho cơ quan nguyên vẹn, Danh đã làm công việc đó trót lọt "Châu về hợp phố". Một lần khác, tôi lật trong đống tài liệu, bắt gặp một bản "Tổng kết chiến dịch Cầu Kè" dầy cộm, gần 300 trang đánh máy, đóng lại thành tập, có chữ ký của các cấp chỉ huy tham dự, cũng do Danh mang về giao lại cho Chi 50. Nhưng đáng nhớ là tài liệu Ty Công an thị xã Sa Đéc. Tài liệu có đầy đủ hồ sơ lý lịch và địa chỉ của 26 mật hộ viên của Công an thị xã Sa Đéc. Tôi tìm cách ngâm tôm trong ngăn kéo, chờ khi nào Labrousse hỏi đến sẽ kéo ra dịch dần. Trong lúc đó đồng chí Phương Nam bàn với Danh, sang ngay Sa Đéc kiếm gặp từng hộ để báo động trước và định cách đối phó. Một hộ bỏ ra 300 đồng nhờ Danh mua lại hồ sơ. Tôi mỉm cười, nếu mua thì mua cả 26 hồ sơ, mua một cái nhằm nhò gì! Tôi thấy trong đống hồ sơ có hồ sơ Bác sĩ Ngởi (người mà tôi đã nhìn thấy bổ cam cho con gái mời các sĩ quan 6è RIC lúc bọn 2è. Bataillon đổ bộ đánh vào Sa Đéc năm 1946).
Tôi suy nghĩ, trong cuộc kháng chiến toàn dân lâu dài này, mọi người đều có cơ hội đóng góp công sức của mình, không loại trừ ai cả! Dù sao, cũng là một gia đình trí thức. Lâu ngày Labrousse không hỏi đến, tôi cho toàn bộ vào thùng đốt giấy vụn. Thời gian chiến dịch Long Châu Hà II có cuộc vận động để cho PGHH, phe Nguyễn Giác Ngộ (Quản Ngượt) trở lại chiếm đóng vùng Chợ Mới. Có một hôm, tôi thấy có hai sứ giả của Huỳnh Văn Trí (Sư thúc HH) cầm giấy giới thiệu của Tiểu đoàn 356 (Tiểu đoàn Mười Trí) đến gặp Labrousse, trong hai người có một người biết nói tiếng Pháp, nên tôi khỏi vào làm phiên dịch. Gặp chừng 20 phút, Labrousse ra nói tôi làm giấy laissez-passer cho hai sứ giả về Cái Vồn để gặp Năm Lửa. Tôi không quan tâm đến hoạt động của Quản Ngượt, một tên quản khố xanh thời Pháp thuộc, nên không cần theo dõi kỹ. Chẳng bao lâu thấy có những cuộc hành quân của Năm Lửa vùng Mỹ Hội Đông để vơ vét lúa ruộng, và mấy lần viên Trung tá Soreau chỉ huy Secteur Long Xuyên muốn tìm gặp Năm Lửa và Năm Lửa cứ trốn tránh mãi. Ngồi trên chiếc ghế bành dang chân ra cho tên lính đánh giày, Năm Lửa cầm cái bàn chải đánh răng nhúng cosmétic chăm chú vuốt lại hàm râu ngạnh trê, tiếp tôi ở Tổng hành dinh Hòa Hảo ở Long Xuyên (Bình Đức, gần bờ sông Hậu), vừa cười vừa nói: "Ông coi tôi với ông quan Năm như hai người chạy vòng quanh cối xay. Tôi về Cái Vồn, ổng lên đây, tôi lên đây ông ấy về Cái Vồn. Thôi lúa thóc gặt hái xong xuôi ta lại tổ chức hội nghị". Tôi hiểu khá rõ, viên "tướng dốt" Hòa Hảo nầy, qua tài liệu tình báo của Lacroix, qua những nguồn tin đáng tin cậy của ta, trong "Mission de liaison Hòa Hảo" và qua những trận đụng độ nẩy lửa giữa các nhóm Hòa Hảo với nhau để giành quyền giựt thu lúa ruộng của nông dân, để phân chia khu vực chiếm đóng, chia xẻ tiền trợ cấp hàng tháng của quân đội Pháp cho lực lượng bổ túc. Cuộc hội nghị được tổ chức tại một nhà ở cù lao Ông Hổ (Mỹ Hội Đông) để bàn giao địa bàn chiếm đóng lại cho lực lượng Nguyễn Giác Ngộ đã tổ chức khá linh đình, có rượu sâm-banh, có món ăn tàu, như cháo Hải Sâm, chè Yến xào, chạo tôm bọc vi cá, mà lần đầu tiên tôi được nếm tới. Nhưng tôi không còn có tâm trí nào đế thưởng thức các hương vị của từng món ăn. Đầu óc tôi làm việc khá căng thẳng, vừa nghe để nắm ý từng quan khách vừa dịch cho Đại tá Duque nghe để chuẩn bị câu giải đáp thích hợp. Quan khách tham dự vào khoảng 100 người, toàn Ban tham mưu Sa Đéc, các Ban tham mưu Năm Lửa, Nguyễn Giác Ngộ đều có mặt. Khách Sài Gòn xuống có Đại tướng Lê Văn Ty, Tổng tham mưu trưởng quân đội bù nhìn. Chức tư lịnh đều thuộc quyền của Pháp. Lực lượng bổ túc đều thấp hơn quân lực bù nhìn cả về chức vụ cũng như lương bổng, mặc dù cấp bậc ngang hàng. Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ cũng có mặt. Đại tá Duque đứng lên nói vài lời động viên lực lượng bổ túc của Ngộ và khuyên PGHH giữ đoàn kết để chống Việt minh. Tôi cố huy động vốn dự trữ về tiếng Pháp để dịch đúng từng câu, cho đến khi tiếng vỗ tay nổ ra tôi mới biết là nên kết thúc vì ai cũng muốn được ăn hơn là nghe nói nhảm. Xong tiệc, khách đều được mời xuống chiếc ca-nô của Tỉnh trưởng Thơ cùng Ngộ đi dạo một vòng quanh khu vực huyện Chợ Mới, trước khi ra về. Vì ca-nô chật, nên Quản Ngượt đứng sau lái, bên cạnh tôi. Hai bên bờ kinh rải rác có bàn thờ và trần điều, vài ba ông chức sắc đạo Hòa Hảo đứng túc trực như đã có sắp đặt trước. Họ nhìn xuống ca-nô có vẻ hiếu kỳ hơn là trọng vọng. Ngộ đưa tay chỉ lên bờ bảo tôi: "ông thấy đó, họ mong đợi tôi về như là mong mẹ đi chợ". Tôi cười xã giao, trí óc tôi nhớ lại trong sổ tay mà Trung tá Soreau để lật ngửa trên bàn giấy hồi ban sáng ở văn phòng chỉ huy Secteur Long Xuyên. Trong trang sổ nhỏ, Soreau chỉ ghi gọn một câu: "Nhớ 20.000 đ cho Nguyễn Giác Ngộ" (20.000$ pour Nguyễn Giác Ngộ). Đúng là món quà mẹ mìn Pháp cho đứa con cưng quản khố xanh mang quân về đầu thú. Tôi chăm chú nhìn. Đứng gần, với cái nón lông chim chằm theo nón Huế, có chóp bạc, với chòm râu dê phất phơ trước gió, với cái áo the dài phủ đầu gối, với cái quần trắng phủ trên đôi giày hạ, tôi trông Ngộ giống như một viên cai tổng hồi trước ở quê tôi đang đi đốc thúc thu thuế thân, hoạnh họe với dân, xun xoe trước quan. Thói đời và thói tục cũng khá ăn sâu, bén rễ vào phong cách con người đó. Vụ mùa vừa gặt xong, lúa gạo đã bị Năm Lửa đem ghe lườn chở hết về Cái Vồn, để lại cho Ngộ cánh đồng trơ gốc rạ, chỉ còn hy vọng ở vụ mùa sau. Trước cuộc hội ngộ giữa Lửa - Ngộ bắt tay nhàu, Secteur Long Xuyên cũng đã cho mở cuộc hành quân càn quét ở làng Hòa Hảo, nơi Thánh địa Tổ đình của Huỳnh Phú Sổ. Cuộc càn quét cũng khá hòa bình, không có tiếng súng nổ. Tôi cùng Labrousse vào trong một căn nhà lá dừa nước, năm gian khá bề thế, trở mặt về phía Vàm Nao. Chủ nhà là một cụ già nông dân, râu đen dài và rậm, vẻ phương phi khỏe mạnh. Hỏi ra mới biết là Huỳnh Công Bộ, gọi là Hương Cả Bộ, cha đẻ của Huỳnh Phú Sổ. Cuộc càn quét diễn ra khá êm đẹp, không đốt nhà, giết người cướp của, nhưng vẫn bắt theo 40 người, trong đó có cả Huỳnh Công Bộ, vài ngày sau, tất cả 40 tín đồ PGHH kể cả ông Gả Huỳnh Công Bộ được thả về; vì xét ra không có cớ gì giam lại những người nông dân hiền lành kia nhưng vì một lẽ khác quan trọng hơn là do nhà hát Nam Xương đã chật ních không thể nhốt vào đâu được. Việc làm đúng lẽ phải đó lại gây uy tín thêm cho tôi. Đồng chí Danh cho tôi biết: Đại diện Huê (đại diện PGHH ở Long Xuyên) nói: "ông ấy" (chỉ tôi) là một Phật sống. Thật ra do tình thế bắt buộc, chứ chẳng phải do tấm lòng nhân đạo bác ái của một ai, càng không phải của riêng tôi. Nhưng trong môi trường hoạt động như thế của tôi, dư luận ấy vẫn có lợi cho nghiệp vụ tình báo của tôi. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:11:11 pm Chuyện đã đến phải đến. Tôi cũng lấy làm lạ, từ hai năm, bước chân vào vùng đất lạ 80% Hòa Hảo, 20% các giáo phái Thiên Chúa, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa v.v .. mà tôi vẫn sống yên lành, không bị ai quấy nhiễu. Hằng ngày vẫn 4 lượt đi về với chiếc xe đạp Alcyon sơn màu đen cũ kỹ của cụ Giáo gác không trên giàn bếp, được hạ xuống sơn phết tu sửa, tân trang lại làm phương tiện đi lại, từ đường Lê Lợi sang cầu Đúc (cầu Henri Rivière) quẹo về chợ Long Xuyên, dừng chân trước dinh Tỉnh trưởng cũ là nơi có sở làm để đến tan giờ làm việc, lại lững thững đạp xe về, mắt vẫn đảo nhìn quanh trước khi lên yên. Ở Cần Thơ, tôi chưa bao giờ cảnh giác đến vậy vì yên trí có sự đùm bọc của đồng bào, từ bến xe, tiệm cà phê, quán phở đâu đâu cũng trao đổi những tin tức kháng chiến thắng lợi gần như công khai. Còn Ban hành động, thậm chí cả Công an xung phong kể như người nhà. Còn ở Long Xuyên không khí khác hẳn. Đồng bào đi chợ, đi xe đò không ai hở miệng nói Việt minh hoặc kháng chiến, sợ bị thiệt thân. Cũng trong năm 1950, có hai sự cố làm tôi cảnh giác thêm. Một hôm Labrousse biểu tôi qua hỏi cung một tên thanh niên bị bắt và bị tra tấn ở sở lính kín Long Xuyên mà tên chánh mật thám là tên Tây lai I-pha-nho từ đời ông nội. Hắn cũng có vẻ mặt khá đẹp trai, tròn trịa, hắn tên là Ignatio, vợ hắn đang chung dãy nhà với chúng tôi, nguyên là vợ một chủ tịch Việt minh đi theo kháng chiến. Tôi nhìn lên cửa sổ, vợ tôi đang cùng vợ Ignatio sánh vai cùng nhìn qua cửa sổ. Bên dưới cửa sổ, một cảnh tượng rùng rợn làm tôi thót tim, hai tên lính kín đang đè một thanh niên, khoảng chưa tới 20 tuổi, lấy miếng khăn lượt chằng cái đầu và bịt cái miệng há hốc của nạn nhân xuống chiếc ghế dài, đầu ngửa ra sau, một tên khác vác một thùng sắt tây đầy nước xà phòng đổ nước vào miệng, mũi nạn nhân. Thanh niên quẫy người vặn mình, những tiếng ặc ặc sặc nước nhưng rõ ràng không thể tránh khỏi đòn tra tấn mà chúng gọi là "cho đi tàu lặn" đó! Bất nhẫn quá, tôi thét lèn: "Thôi, đủ rồi". Mọi người ngừng tay. Riêng tên đổ nước còn tiếc rẻ "Ông Một ơi, nhằm nhò gì tụi nó, cho mười thùng nữa nó cũng chưa chịu cung khai". Tôi cầm lấy bản khẩu cung của Ignatio đã làm, để một lát cho thanh niên ọc hết nước trong bụng ra, rồi tôi chậm rãi hỏi:
- Đây là chữ ký của anh? - Phải - Anh ở bộ đội Ba Cụt? - Phải - Anh có tham dự trận phục kích giết chết ông quan Tây? - Dạ có - Thế là rõ. Trong người tôi hai ý nghĩ đang giằng co. Cứu người hay không cứu người? Tôi liếc nhìn chàng thanh niên ấy không phải là Việt minh để tôi có thể tập trung trí tuệ tìm cách giải thoát, như tôi đã làm ở Cần Thơ! Ở đây, chỉ là một lính của Ba Cụt, một tên tướng giặc sớm đầu tối đánh. Cái cố gắng duy nhất của tôi đối với chàng thanh niên bất hạnh đó là tôi đã ngăn không cho bọn đầu trâu mặt ngựa trong sở lính kín Long Xuyên tra tấn chàng ta, để chờ chỉ thị của Đại tá chỉ huy Secteur. Ngay sau khi Secteur ra lịnh cho giải tội phạm về giao cho Trung úy chỉ huy Quartier Thốt Nốt giải quyết. Tôi hiểu ngay: một kiểu hành quyết lén như Trung úy Massart chỉ huy lính đầu đỏ ở Cần Thơ thường làm ở Tham Tướng. Chỉ 15 phút sau, đại diện Huê đã tìm đến hỏi tôi. Thấy gương mặt sần sùi đầy mụn của viên đại diện PGHH ở Long Xuyên vừa ló vào cửa phòng, không đợi hỏi, tôi đã nói trước: "Giải về Thốt Nốt rồi, đi mau may còn kịp". Tôi không sợ bị Labrousse khiển trách là: để lộ "Secret militaire" (bí mật quân sự) mà chỉ sợ tổ Đảng phê bình hữu khuynh trong công tác chuyên môn. Sự cố thứ hai, cũng xảy ra vào buổi sáng. Tên lính Pháp chuyên môn xin làm đầu bếp cho bọn sĩ quan Pháp ở Long Xuyên sắp đến ngày xuống tàu trở về Pháp. Từ khi bước chân sang đây, hắn chỉ năn nỉ cấp chỉ huy được khỏi ra trận, dù không thăng cấp cũng không ham, chỉ mong được bảo toàn tánh mạng để trở về quê hương nguyên vẹn. Hắn làm đầu bếp, suốt thời gian hơn hai năm, tuổi chưa đầy 30 mà mập tròn, bụng phệ và đi đâu cũng khệ nệ cái ceinturon bằng vải bạc Mỹ với khẩu súng colt 12 còn mới nguyên ở bên mình. Hôm ấy, sáng sớm hắn đi chợ, đi ngang cầu đúc, khẩu súng hấp dẫn kệ nệ bên hông, một thanh niên 15-16 tuổi, bận quần đùi, tay cầm dao con chó, bỗng xông đến đâm vào bụng hắn, định giựt khẩu súng, bọn lính Miên đi đàng sau xông tới xúm bắt hung thủ. Tên lính Pháp được chở đến trạm quân y, vết dao đâm thủng bụng chỉ 2cm, lòi mỡ, không có phương tiện phẫu thuật, cho xe cấp cứu chở về Cần Thơ, chỉ hôm sau được tin hắn đã chết! Tôi được Labrousse phái đến đồn lính đóng ngay đầu cầu đúc, bên phía Bình Đức. Cái lô-cốt cũ kỹ xây từ thời Tây bằng đá lúc mới sang đây. Bước vào sân dòm thấy một đám lính Miên, đang bu quanh một chú bé nằm sóng soài trước cửa. Người ta chỉ cho tôi. Tôi đến gần, nhìn chú bé sắp chết, hai tay chân xõng xoài dang rộng, cái ngực còn nhấp nhô thoi thóp, nhưng nhìn lên đầu, tôi cố kềm không cho xúc cảm lộ ra ngoài mặt thật đáng thương tâm. Bê bết máu, cái đầu bị các viên gạch đập vào, xương sọ nát ra từng mảnh, còn bó chặt lại nhờ lớp da và mái tóc xanh bê bết máu. Một tên lính hung ác còn lấy viên gạch gõ vào đầu từng nhịp. Một tên khác lấy ngón trỏ xỉa vào theo đà nhân của ngón tay. Miệng đầy máu và nước giải. Con mắt mở trừng không hề mấp máy... Thấy tôi ngồi xuống, bọn lính đều ngừng tay. Không một tiếng rên la khe khẽ, tôi hiểu ngay: mọi cảm giác không còn nữa! Sự nhấp nhô ở lõm ngực chẳng qua là phản xạ của thân con ếch bị chặt đầu. Hỏi cung gì nữa? Hỏi ai đây? Tôi rất ghét cái tục lệ cho "cho một phát súng làm phước" (Coup de grâce) của bọn đao phủ Pháp. Nhưng trong lúc đó, tôi ước ao được cho em bé một viên đạn vào đầu cho sớm về chầu tiên tổ. Nhưng tôi biết tôi không hề mang súng lúc ra đường. Một thói quen tốt vì tôi đã xác định rõ: Người chiến sĩ Tình báo chỉ có thể căn bản chiến thắng quân thù bằng tâm trí mà thôi. Có súng chỉ gây tư tưởng ỷ lại, thiếu cảnh giác. Tôi về báo cáo lại cho Labrousse biết: "Tôi không lấy được khẩu cung vì đó chỉ là cái xác chết! Không rõ họ tên quê quán, đảng phái, nhưng chắc chắn không phải là Việt minh vì Việt minh không làm liều mạng như thế!". Trước lịch sử, những oan hồn đó không thể bị ghép tội. Họ chỉ là nạn nhân, không thể là tội nhân. Mài sắc cảnh giác là khẩu hiệu nằm lòng của người Tình báo viên. Nhưng không phải là không có lúc sơ hở, nhất là lúc ở nhà có vũ khí bên mình. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:11:47 pm Hôm ấy, vì theo sự phân công trong Tổ để đảm bảo bí mật tuyệt đối mọi báo cáo về cơ quan (kể cả nội bộ) đều phải do tôi viết ra toàn văn ghi mật mã, và chép bằng mực bí mật (lúc đó là ngũ bội tử) ngụy trang dưới một hình thức nào đó thích hợp cho người mang đi, đốt sạch các bản thảo, bóp vụn tro cho vào bếp lò, không thể nhờ một ai khác làm giúp được. Bản khóa mật mã do tôi sáng chế, thay đổi hằng ngày, chỉ có hai người được biết: Tôi và Huy Quỳnh. Vì vậy, mỗi khi có tài liệu quan trọng của địch, tôi cần nhớ nội dung nguyên bản bằng tiếng Pháp (có bản đọc qua vai Labrousse) về nhà lầm lì không chào hỏi ai, không ăn cơm, lên lầu một mình, đóng sập ván đậy cầu thang gác, lấy giấy bút ra, cố tái hiện lại nguyên văn, rồi cặm cụi dùng mật mã ghi lại toàn bộ, xong mới thở phào nhẹ nhõm. Vì cách làm việc như thế nữ đồng chí Phấn cũng rất quan tâm bồi dưỡng sức khỏe cho tôi, và coi chừng cửa cho tôi đừng ai quấy rầy. Hôm đó, sau một lúc đầu óc căng thẳng làm việc cho đến 12 giờ khuya mới xong, tôi uống một cốc sữa đã pha sẵn, rồi cầm lấy khẩu súng lục phòng thân, giở nấc thang xuống nhà dưới, đặt súng dưới gối, mặc đồ, ngủ một mạch bên cạnh đồng chí Phấn. Đồng chí Danh, như thường lệ ngủ bên cạnh cửa trước; đối diện với chiếc đi-văng gỗ chúng tôi nằm. Khoảng gần 2 giờ sáng, bỗng Danh đến lay tôi dậy:
- Anh Hai! Có trộm cạy cửa. Mắt nhắm mắt mở tôi bảo Danh: - Ôi kệ mẹ nó, để cho nó lục cơm nguội, chứ có gì mà lo mất. Nói xong tôi tiếp tục ngủ. Chỉ một phút sau, Danh kéo tay tôi: - Anh Hai ạ, có cướp! Tôi vớ ngay khẩu sung dưới gối nhỏm dậy lắng tai nghe, có tiếng cạy cửa phía sau, cửa thống xuống nhà bếp, Danh cùng tôi bước nhẹ ra phía sau. Nhà bếp cất ngay phía sau, bề ngang bằng gian trước, cách gian trước một cái sân lộ thiên, rộng chừng 3m, cái cửa xuống nhà bếp rộng cỡ 2m50 bằng ván sao. Cái cửa cũ nhưng khá chắc. Hai cánh cử khép lại, có chốt sắt cài dưới, có thanh gỗ cài chắn ngang cho chắc chắn. Tuy nhiên, do căn nhà xây cất lâu năm, cho nên hai cánh cửa teo lại, nên tạo ra kẽ hở lớn, ở trong nhìn ra thấy ánh trăng. Có bóng ai thấp thoáng qua lại ở sân sau, tôi thấy cửa rung rinh và một bóng đen che kín vệt sáng trăng che phía dưới cửa, tôi chĩa súng ngay bóng đen bên ngoài, áng chừng ngay đúng ngực, con người đang cậm cụi cạy cửa. Danh cũng ngồi cạnh tôi, giằng khẩu súng muốn bóp cò, tôi nhẹ nhàng gạt tay Danh ra, vừa lặng lẽ suy tính: Nên hay không nên bóp cò? chừng một phút trôi qua, cửa có mòi lung lay. Chợt câu: "Thêm bạn bớt thù" của Bác Hồ, làm tôi lóe lên một quyết định táo bạo: Không! Vả chăng nếu kẻ gian có bật cửa vào nhà, thì tôi và Danh cũng sẵn sàng đánh bại chúng bằng tay không và thế mạnh của người chủ nhà, quen thuộc địa hình địa vật. Những thế võ cổ truyền về đao, côn, quyền học lóm luyện tập từ nhỏ vẫn chưa có đất dùng, nên tôi không ngại. Danh cùng có biết năm ba thế qua cử chỉ ứng phó lanh lợi của chú ấy hằng ngày. Hơn nữa Danh đang nắm trái lựu đạn trong tay, lực lượng kẻ thù không làm cho hai tôi lo sợ. Nhưng nữ đồng chí Phấn đâu? Vợ tôi dã lẹ làng vào trong buồng đóng cửa lại ngay từ đầu. Tôi hiểu tâm trạng đó của người phụ nữ. Đánh với kẻ gian trong nhà mình, nắm chắc phần thắng trong tay cũng không phải là thượng sách. Tôi chợt nhớ cái cầu thang lên gác thượng, ở cái ban-công dòm xuống sân lộ thiên. Tôi nắm tay Danh kéo về phía cầu thang, hai anh em lên thang gác, vợ tôi ló đầu ra cửa dòm ra cũng leo theo. Cả ba đã lên lầu trên, mở cửa ra ban-công. Tôi và Danh bò ra ngoài. Trăng sáng vằng vặc. Qua khoảng cách của các trụ lan-can dòm xuống, thấy rõ bóng dáng người đi lại dưới sân. Chúng tôi đang ở thế thượng phong ngay ở trên đầu chúng. Không nên giết người, tôi tự nhủ và hô to lên: "Đứng lại, giơ tay lên!". Hô xong, có lẽ chúng chưa kịp nghe rõ tiếng hô từ đâu vọng tới, tôi nổ luôn một phát chỉ thiên vào mái ngói nhà bếp "đoành". Sau tiếng nổ vài bóng người chạy vào trong bếp, để phóng ra sau mảnh vườn nhỏ, chỉ có đơn độc một cây vú sữa đỏ và một con đường độc đạo dẫn ra cầu tiêu và cái mương. Sau tiếng nổ, Danh cũng vụt luôn trái lựu đạn mãng cầu, Danh đã mở chốt an toàn cầm sẵn trên tay phải. Trái lựu đạn vòng qua nóc nhà bếp rớt xuống sau vườn, không có tiếng nổ, Danh xuýt xoa tiếc rẻ, trong lúc tôi mừng thầm. Tôi ước lượng khoảng cách của đường lựu đạn đi, và thầm khen cánh tay nhỏ thó nhưng gân guốc của người trinh sát khá thành thạo. Nghe tiếng súng nổ và tiếng hô, cả xóm đều kêu nhau thức dậy. Đồng bào vẫn thường xuyên nơm nớp lo sợ lính Hòa Hảo vào cướp của. Chúng tôi thức tới sáng và tìm hiểu nguyên nhân, dự đoán hậu quả của biến cố mới. Không lẽ đại diện Huê lại phái người vào cướp của một người mà hắn cho là hiền như Phật sống? cũng không lẽ bọn ăn cướp lại không thăm dò trước tài chủ có tiền của gì đáng kể để vơ vét? Ở Long Xuyên chúng tôi sống khá đạm bạc, lối xóm đều biết. Hay là bọn 2è B. vô hình của thằng Trung úy Lebon? Trong lúc còn nghi ngờ, đừng vội kết luận. Đúng 5 giờ sáng hàng xóm đến hỏi thăm tình hình. Tôi rót nước mời uống, căn dặn mọi người đừng ra phía sau nữa vì còn trái lựu đạn chưa nổ. Anh lính công binh Pháp ở đồn gác Bungalow (Cầu Tàu) trước nơi tôi ở không xa đến hỏi thăm và ra phía sau vườn dò tìm trái lựu đạn. Không đầy 5 phut, anh ta phát hiện trái lựu đạn nằm chình ình trên đống bùn nhão sát bên dường nhỏ dẫn ra cầu tiêu. Tôi ước lượng khoảng cách với ban-công chừng 40 bước, nếu nổ ắt bọn cướp có người toi mạng! Tôi không khen Danh về điều đó. Trước khi đi đến Sở, tôi phân công Danh đi tìm cho ra thủ phạm, và tìm được thì mời ngay về nhà. Tôi dặn: "Cậu cứ nói là ông Một Hiến mời uống rượu thôi". Hẹn cho Danh thời gian một tuần. Phần tôi đến Sở làm báo cáo cho Labrousse biết là tôi bị Việt minh tổ chức ám sát hụt và xin phép đem theo một cây mi về nhà tổ chức tự vệ cho cả khu phố, thể theo nguyện vọng đồng bào ở khu phố tôi, Labrousse tán thành và không nói cho tôi biết là hắn cho tổ chức một trận vây ráp nhỏ tối hôm đó, để quét sạch những phần tử khả nghi ở khu phố. Cuộc càn quét tiến hành vào 2 giờ sáng. Âm thầm lặng lẽ, binh lính đi quanh các vườn, không đập cửa một nhà nào, không một tiếng súng, không một người nào bị bắt. Tôi thầm cảm ơn Trung úy Labrousse về cuộc hành quân hòa bình ấy. Và, tất nhiên bà con khu phố cũng yên tâm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:12:39 pm Chỉ hai ngày sau vụ ăn cắp hụt, Năm Danh đã cho tôi biết rõ thủ phạm: Hắn tên là Hiền, đại đội trưởng đại đội Hòa Hảo Năm Lửa. Hắn được đặc phái hoạt động ở thành phố Long Xuyên, và đến đây nhắm trước hết vào khu phố tôi để tống tiền, cướp của. Ngay tối hôm đó, Hiền đến nhà tôi để uống rượu theo lời tôi mời. Tôi mở rộng cửa chờ hắn. Trên bàn có sẵn một chai rượu Rhum Saint- James và 4 cái ly nhỏ. Một con người còn trẻ, không có vẻ gì là tướng cướp, cỡ tuổi Năm Danh thôi. Tôi mời hắn ngồi, hắn dạ rồi rón rén ngồi xuống ghế bành, đối diện tôi. Tôi rót ra 2 ly rượu đưa lên môi. Hắn cũng cầm ly nốc cạn. Hắn có vẻ cũng hiền như tên hắn thật. Tôi chỉ hỏi hắn một câu:
- Tại sao anh chọn nhà tôi mà đánh trước? Hắn trả lời: - Tôi cho nhà ông giàu và không có súng! - Thế sau khi biết tôi có súng thì sao? - Tôi cho là ông nhân đức, nếu ông bắn ngay thì tôi chết rồi. - Đúng vậy, hồi anh đang vào tới ngạch cửa, mũi súng của tôi chỉ còn cách ngực anh năm phân, chỉ cần bóp cò. Nhưng anh biết tại sao tôi không bóp cò? Tôi nghĩ ngay sáng mai vợ con anh sẽ ôm xác anh mà khóc than. Và, tôi nghĩ xa hơn chút nữa: Cảnh đồng bào chém giết lẫn nhau, máu chảy ruột mềm. Ông bà ta thường nói vậy, anh có nghĩ như tôi không? Anh ta gật đầu. Tôi rót đầy hai ly rượu rồi tiếp: - Tôi mời anh đến uống với tôi chén rượu, chỉ cần anh nhớ kỹ cho điều này: anh tên Hiền, đừng làm chuyện gì ác, mỗi khi làm gì ác thì nên nhớ tới vợ con họ kêu la than khóc để dừng tay. Lần sau, nếu anh có gì cần gặp tôi, cứ tới gõ cửa trước, tôi sẵn sàng mở rộng cửa đón anh như hôm nay. Tôi cầm ly rượu đưa lên, hắn cũng cụng ly với tôi. Từ ấy về sau, tôi không gặp lại người bạn rượu đó nữa. Dù sao, tôi cũng tin chắc, dù không phải là bạn, Hiền cũng không thể nào trở thành người tiếp tay cho kẻ thù của tôi nữa. Để đảm bảo an toàn nơi ở cũng là nơi hội họp của tổ Điệp báo ở 36 Lê Lợi, tôi tiến hành thực hiện phương án bảo vệ tổ Đảng đã thông qua. Khu phố tôi ở, có hai gia đình có cảm tình với kháng chiến: ông Hữu một thầu khoán người Nam Định và ông Đốc, chủ sở lúa gạo cũng người miền Bắc. Tôi bàn với lối xóm mỗi tuần, đến chủ nhật là tổ chức ăn cơm chung một bữa, luân phiên từng nhà, riêng tôi vì nhà neo đơn, không có người nấu, dọn nên được miễn, nhưng phải có bổn phận tổ chức an toàn cho khu phố. Tôi nhận lời và đã giao việc đó cho Danh, Năm Danh sang bên kia sông tuyển chọn một thanh niên 19 tuổi tên Xê, về ở cùng tôi, lo việc canh phòng bảo vệ an ninh cho khu phố. Vũ khí lấy ở số súng bọn đầu thú đem ra nạp cho 2è B. Thực tế cũng chỉ một tiểu liên Mas và một súng Rouleau tôi đã đem về nhà. Khẩu Rouleau đã nổ phát đầu tiên để đẩy lùi tên Hiền khỏi vào cướp phá. Còn khẩu tiểu liên Mas tôi chưa biết tính năng tác dụng ra sao cả. Mang vác thấy nhẹ, băng đạn cũng nhỏ, nhưng nghe nói khi bấm cò, nổ lần 3 phát. Tôi đem ra thử ở ban-công nhắm vào ngọn lá sung trên cây bên nhà ông phán Phẩm ở bên cạnh. "Đoành" chỉ một cái nhít đầu ngón tay, ngọn lá từ từ rơi. Tôi nghĩ bụng súng nổ chính xác một phát là được. Và, cất súng luôn, đó là phát súng cuối cùng tôi bắn ra, trong 4 phát súng, tôi đã bắn trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, với mục đích duy nhất là để thử súng. Phát súng đầu tiên là để thử cây Mauser, được sửa lại làm súng săn của Trung úy Cousson. Tôi nhắm vào cuống dừa, bắn đứt cuống dừa rụng trái, chó sủa vang. Tôi giật mình làm cho chó sủa, tất đồng bào hoang mang. Từ đó tôi trả lại cho Cousson không mang súng nữa, đó là vào đầu năm 1946. Lần thứ hai cơ quan (Chi 50, Cần Thơ) giao cho tôi cây Walter 6.35 (loại súng đánh ghen) để tự bảo vệ. Tôi chưa biết công dụng, nên đem bắn thử xuống nước, nhân dịp đi đánh cá trước dinh Tỉnh trưởng Long Xuyên. Tôi nhắm vào một chiếc lá trôi, cách chân chừng 3 bước, viên đạn nổ, nhưng chiếc lá vẫn trôi lững lờ. Thế là nòng hoặc nút ruồi cần phải chỉnh lại. Tôi giao cho Tuấn Khanh (An) chỉnh và giữ luôn để tự vệ. Tôi nghĩ, nếu cần tự vệ, thì An cần hơn mình. Từ ấy, An giữ luôn cây Walter. Sau này, gặp lại An năm 1983, An còn nhắc lại tôi về cây 6,35 đó. Ít nhất, nó cũng nằm yên cho đến khi hai miền hết giặc. Thứ ba là cây Rouleau tự tạo bắn bằng đạn Carbine, của một tên đầu thú mang nộp, tôi đã nổ một lần lên trời để thử và cũng để đuổi cướp. Thế là hết, một chiến sĩ tình báo mút mùa mà chỉ 4 lần nổ súng để thử súng mà thôi, thì kể ra cũng xoàng thật! Biết sao, tôi không phải là con người vũ khí luận, không ham súng, đừng nói tới là cầm súng dọa bắn ai! Vào khoảng đầu Thu năm 1950, tình hình Mỹ can thiệp vào miền Tây ngày càng trắng trợn hơn, nhiều địa chủ ở Rạch Giá, có nhiều ruộng đất vùng giải phóng, vẫn đem giấy tờ lên Sài Gòn bán quyền truất hữu cho Mỹ. Tiếng vang về cuộc biểu tình chống Mỹ của sinh viên Sài Gòn vẫn vang dội xuống Long Xuyên. Một cậu con trai của con ông đốc Hanh nghỉ học ở Sài Gòn về Long Xuyên kể: chính cậu ta đã đâm một nhát dao găm vào lưng viên thiếu tá Pháp, ngồi trên xe jeep cản ngăn cuộc biểu tình. Sáng hôm ấy, vào khoảng 8 giờ, một sự kiện mới lạ chưa từng có đã xảy ra ở Long Xuyên, ngay lúc chợ đang nhóm, một chiếc trực thăng hạ cánh ngay miếng đất trống bên cạnh chợ, trong trực thăng bước ra hai sĩ quan Mỹ, cao lòng khòng, bận áo quần kết liên (combinaison) rảo bước tiến về ngôi nhà ban chỉ huy Secteur đang ở, Đại tá Duque và Thiếu tá Masson đang đợi, cùng nhau sánh bước lên lầu, vào văn phòng của Đại tá khép kín lại. Tôi đang cùng Labrousse nhâm nhi chai Sauterne ở Câu lạc bộ sĩ quan cùng nhìn ra đều thấy và cũng tò mò muốn rõ mục đích đến Long Xuyên của chúng. Khoảng 2 giờ sau, hai sĩ quan Mỹ xuống lầu lên trực thăng bay thẳng luôn trước con mắt ngơ ngác của mọi người. Masson vào popote (CLB) lại bàn chúng tôi ngồi xuống, tôi, theo phép lịch sự, gọi bồi mang đến 1 chai Sauterne nữa, rót vào ly của Thiếu tá tham mưu trưởng. Mặt Thiếu tá già đang bừng bừng sắc giận. Ông ta văng tục một câu cho hả: "Les Américains sont des vrais salauds" (Bọn Mỹ là đồ đểu giả thật). Tôi cầm ly rượu nốc một hơi để vuốt giận. Tôi không nhớ hết câu chuyện giữa hai người, nhưng không quên nội dung chính của nó: Thiếu tá cho biết một trong hai sĩ quan là Đại Lá Collins và y đã kết thúc hội nghị bằng câu kết luận như sau: "Người nông dân Việt Nam cày cấy, người Pháp các anh canh gác, còn người Mỹ chúng tôi khai thác". Sau này tôi tìm hiểu thêm trong báo chí có nhiều tên Collins đến Sài Gòn trong thời gian đó: Đại tướng Collins, đặc phái viên Chánh phủ Mỹ Đại sứ Collins, và có Trung tá Cornein tình báo viên, có thể tham mưu trưởng Pháp nhầm lẫn cấp bấc Mỹ, nhưng nội dung thì không sai. Đúng là thái độ xấc xược kiêu căng của nhà giàu ỷ tiền của. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 21 Tháng Năm, 2026, 08:13:31 pm Cách không lâu sau đó, ông đốc Hạnh mời tôi sang nhà chơi (nhà sát cạnh vách) và cho biết Nguyễn Ngọc Thơ, có nói: ông quan năm Soreau có giao cho ông Thơ sáu triệu đồng để mở khu dinh điền Cái Sắn (gần Tân Hiệp - Rạch Giá) và Thơ giao lại cho ông đốc bốn triệu để làm việc đó. Tôi nhìn thấy âm mưu đen tối của bọn Mỹ nên dặn dò: "Ông Tỉnh trưởng ăn 2 triệu ngon ơ! Còn 4 triệu giao cho ông để chịu ăn đạn Việt minh thay ông ta. Phải coi chừng!". Tuy vậy khu dinh điền Cái Sắn vẫn tiến hành theo ý đồ của đế quốc Mỹ, không có ông Hanh nhúng tay vào.
Không cần phải thông minh, qua các sự việc diễn biến như trên, tôi cũng biết rõ Mỹ sắp nhúng tay cụ thể mảnh đất miền Tây đầy béo bở. Và, trước sau gì cũng phải có một cuộc càn quét lớn để thực hiện ý đồ lập doanh điền Cái Sắn của Mỹ. Cái Sắn là tên thường dùng để gọi con kinh đào nối liền Long Xuyên với Rạch Giá. Nhưng cụ thể ở chỗ nào thì tôi cũng không rõ, chỉ áng chừng từ Tân Hiệp trở ra ngã ba Lộ Tẻ Cái Sắn. Tôi cố sức theo dõi mọi biến động trong Secteur Long Xuyên. Nhưng vô ích, chỉ một thay đổi nhiệm vụ: Thiếu tá Masson được về Pháp, đến thay thế ở chức vụ tham mưu trưởng có một sĩ quan ở Paris sang, tốt nghiệp trường sĩ quan tham mưu: Đại úy Limousin. Con người tầm thước, tuổi dưới 30 "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao", ăn mặc đúng mốt Paris, áo quần cắt may ở hiệu Adam's. Đại úy sau nhiều lần đi về Trà Vinh - Long Xuyên rồi đáp máy bay đi Hà Nội trở về. Mấy ngày sau Đại úy đưa xuống cho Labrousse xem một bản sơ đồ Bunker hình tam giác kiểu lô-cốt được tướng De Lattre cho xây dựng ở miền Bắc và lô-cốt áp dụng vào miền đồng bằng có kiểu cây dừa nước như ở tiểu khu Trà Vinh. Trung úy Labrousse đưa cho tôi xem cả bản vẽ và lời chú thích bên dưới như trên và biểu tôi in ra thành 100 bản. Thế là, phải dùng đến Ronéo. Tôi xin một tên tù binh ra để làm công việc quay Ronéo và sử dụng vào công việc tạp dịch. Tôi hiểu ngay là quân Pháp sẽ có những cuộc hành binh để lập thêm đồn bót kiểu tam giác, nhưng ở đâu và lúc nào thì cần phải điều tra thêm. Vùng có dừa nước nhiều trên bản đồ Secteur Long Xuyên không thiếu, trừ vùng Bảy Núi. Tôi bàn với Phương Nam và Năm Danh: nên tăng cường trinh sát trên con đường Cái Sắn để hỗ trợ thêm. Năm Danh có nhà ở Tân Hiệp, ở Thốt Nốt, chúng tôi có anh thợ nhà đèn, gọi là Hai Đèn, tên thật là Lâm Thành Thọ. Quán cà phê ở chợ và anh Hai Mi làm sở lính kín đều là người tốt, cơ sở của Năm Danh tổ chức đều đáng tin cậy cả. Anh Hai Đèn lớn hơn tôi 10 tuổi, là người công nhân đã treo cờ đỏ sao vàng trên cột trụ điện căng ngang sông Hậu Giang năm 1947, nhân dịp lễ 2/9, làm cho bọn Z.O. phải huy động chiếc LMC lên để gỡ, lá cờ bay phấp phới ngay giữa giòng sông. Anh đi tập kết, vào làm thợ điện cho Nhà hát Nhân dân, được kết nạp Đảng, đến sau ngày giải phóng, trở về Thốt Nốt và mất ở đó năm 1984. Anh Hai Mi có đứa con trai, nghe lời Năm Danh cho theo Hòa Hảo Ba Cụt làm vệ sĩ, để làm cơ sở cho ta, nhưng tiếc thay đã chết năm 1953 ở Bảy Núi trong trận đánh với Trịnh Minh Thế (theo lời thuật của Năm Danh). Lịch sử không thể ghi chép số phận từng con người một, nhưng rõ ràng từng việc làm nhỏ của mỗi người đã khuất, đều là những viên gạch xây dựng nên nền Độc lập cho đất nước hôm nay, điều mà tôi vô cùng tâm đắc, luôn khắc ghi tận đáy lòng mình. Noel năm 1950, hôm đó là một chiều nắng đẹp, Labrousse đến cơ quan sớm đón tôi và dẫn tôi vào phòng riêng của Trung úy, cách nơi làm việc không xa. Do đặc điểm công tác, sĩ quan Tình báo được cấp một phòng riêng biệt, gian phòng ấy khoảng 18m2, phía sau có một vườn hoa nhỏ. Cửa phòng vừa mở ra, Labrousse chỉ cho tôi cái bàn và chiếc ghế, biểu tôi ngồi và nói: - Hôm nay tôi nhờ anh một việc, anh chép cho tôi những khẩu hiệu này vào giấy đủ 200 tờ để tôi cho vào 200 bao thơ chúc mừng năm mới bạn bè ở Pháp. Anh có thể dành cả buổi chiều để làm việc đó giúp tôi. Khẩu hiệu tôi đã thảo sẵn rồi, cứ thế mà chép. Tôi liếc nhìn bản thảo vỏn vẹn có 6 câu: - Vive le Comte de Paris! (Bá tước Paris muôn năm) - Vive le parti monarchique! (Đảng Bảo Hoàng muôn năm). - Vive la France (Nước Pháp muôn năm). - À bas les Interventionistes Américains! (Đả đảo bọn can thiệp Mỹ). - À bas De Gaulle! (Đả đảo Đờ Gôn). - Retour immédiat du corps expéditionnaire en France (Rút ngay quân đội viễn chinh về Phap). Tôi đọc lại lần thứ hai, rồi dè dặt hỏi: - Liệu bớt đi hai khẩu hiệu cuối được không? Labrousse lắc đầu: - Non, cứ để nguyên xi như thế! Nói xong, Trung úy bước ra ngoài, khép cửa lại, để mặc tôi ngồi suy nghĩ, trên bàn có một chồng 200 bao thơ và danh thiếp chúc Tết, 200 tờ giấy pelure rọc khổ nhỏ đang chờ tôi. Một sĩ quan tình báo theo phái Bảo Hoàng, hay một thủ đoạn thâm độc của phòng nhì Pháp? Dù sao tôi cũng phải thủ thế trước. Chép xong 6 khẩu hiệu, tôi vò nhỏ bản nháp của Labrousse viết, nhét sâu vào đáy túi quần sau. Xong, vào cầu tiêu ở góc phòng, đốt giấy trong giỏ, rồi xách xô ra sau vườn, mở vòi lấy nước vào dội sạch cầu tiêu. Nếu Labrousse có đòi lại bản nháp, thì tôi sẽ chỉ vào đống giấy vụn đã đốt thành tro còn trong giỏ. Hết giờ làm việc, Labrousse về phòng riêng, nhìn thấy công việc, Trung úy khen tôi viết chữ tốt, không hỏi bản thảo. Tôi khỏi phải nói thêm. Tôi hiểu là chúng tôi không thể tố cáo lẫn nhau được. Thế là đủ. Đọc báo Pháp, tôi cũng chắc bụng hơn. Năm 1951, có tổng tuyển cử ở Pháp. Thế là rõ, thế là tôi có bạn đồng minh mới trong hàng ngũ đối phương, dù là tạm thời, những vẫn có ích. Sau ngày 1/1/1951, Ban tham mưu Secteur Long Xuyên liên tiếp có mấy cuộc họp. Tôi đoán già đoán non về cuộc hành binh sắp tới. Labrousse đi họp về đưa cho tôi cái cặp giấy bảo tôi coi rồi góp ý sau. Trong phòng, từ khi Thiếu úy Michel Đức đổi về Cần Thơ, thì mặc nhiên tôi là được có cấp bậc cao hơn hết, sau Trung úy Trưởng phòng nhì, nên anh em không ai ganh tỵ cả. Tôi bắt đầu mở cái cặp giấy ra xem: Kế hoạch hành binh "Bão táp" (Plan d'opération "TEMPÊTE"). Cố giấu vẻ sung sướng, tôi thong thả xem từ đầu chí cuối, từ từ ghi từng con số, từng địa danh, từng đơn vị, thậm chí từng mũi tên trong bản đồ vào trí nhớ. Phải giữ cho nét mặt thật bình thản! Đọc nhẩm cho thuộc làu, không ghi chép, không động đến giấy bút. Trưa về, tôi chạy một mạch lên tầng trên, cố gắng tái hiện lại những gì đã đọc suốt buổi sáng, sợ quên sót. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:40:13 pm Đã gần 40 năm qua, trong trí nhớ tôi vẫn còn in đậm nét kế hoạch hành binh "Bão táp"; lực lượng tham dự: 3 trung đoàn bộ binh cơ động, 2 tiểu đoàn bộ binh cơ động (BMEO), 2 tiểu đoàn bộ binh Bắc Phi, 2 chi đoàn xe lội nước (Escadrons de Crabes), trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3 (3è RAC), Đoàn giang thuyền số 3 (3è Flottille fluviale). Những đơn vị này thuộc khu vực Z.O. Còn trên các bản đồ quân sự tỷ lệ 1:100.000, những mũi tên đỏ xuất phát từ các nơi đều tập trung vào một điểm: Tràm Chẹt (Giồng Riềng). Một mũi tên đậm nét nhất, bắt đầu từ Rạch Sỏi, điều đó phù hợp báo cáo của trinh sát, Năm Danh đã cho biết từ nửa tháng nay, các chủ thầu đều chở cát, đá về đổ ngay bót Rạch Sỏi. Thế là ý đồ hành binh của giặc đã rõ, toàn bộ lực lượng cơ động của Z.O. đều được huy động để tấn công vào vùng giải phóng của ta, nhằm yểm trợ cho kế hoạch đóng đồn bót, trước tiên là Tràm Chẹt. Tôi viết ngay báo cáo về Chi 50 và đề nghị Phương Nam về ngay cơ quan để trình bày cụ thể. Riêng trong bản kế hoạch còn thiếu hai điểm chưa được rõ: 1) Thời điểm xuất phát chỉ ghi J và H (ngày và giờ), đến trước giờ xuất phát mới phổ biến cho cấp chỉ huy rõ để bảo mật. 2) Danh sách cấp ban chỉ huy cuộc hành quân cũng chưa được nêu ra. Tất cả nỗ lực của tôi lúc ấy chỉ còn tập trung vào hai điểm nêu trên, trước hết là địa điểm là thời điểm xuất phát. Chỉ còn 3 tuần nữa là đến ngày Tết Tân Mão (1951), theo kinh nghiệm bản thân từ trước tới nay tôi có thể xác định là quân Pháp chỉ mở những cuộc càn quét trước Tết hoặc sau Tết. Vì huy động vào ngày Tết binh sĩ người Việt sẽ mất tinh thần. Năm Danh đi Rạch Giá về cho biết: gạch, đá, cát đã giao hết cho đồn Rạch Sỏi. Các chủ thầu đã nhận xong tiền. Tôi gặp Labrousse báo là tôi còn 15 ngày phép năm 50 chưa nghỉ, nên xin phép được nghỉ năm kể từ ngày mai, Trung úy Labrousse giật nảy mình:
- Không được đâu, anh và tôi đều có nằm trong danh sách đã hành binh. Đại tá đã quyết định rồi! Tôi năn nỉ: - Mẹ vợ tôi ốm, đã cho cậu em lên đón về, tôi chỉ là phiên dịch. Trung úy chỉ người thay tôi cũng được mà! Labrousse suy nghĩ một lát rồi quyết định: - Thôi, thế này nhé, anh cứ về thăm bà già đi, nhưng nhớ đến ngày 19/1, đúng 9 giờ phải có mặt tại điểm tập kết, ngã ba Lộ Tẻ đi Rạch Giá. Không được phép vắng mặt. Tôi vờ năn nỉ: - Trung úy cũng biết đi xe đò ngày giờ thất thường lắm, tôi không dám hứa đâu. - Tant pis pour vous. C'est la discipline militaire. Vous risquerez le conseil de guerre! (Mặc kệ anh, đó là kỷ luật nhà binh, vi phạm phải ra trước Tòa án binh đấy!). Tôi lặng lẽ cúi đầu như mở cờ trong bụng. Thế là sếp của tôi đã giải đáp ngay câu hỏi hóc búa trong đầu tôi. Ngày J và giờ H đã được tiết lộ một cách kín đáo. Tình báo do từ cửa miệng một Trưởng phòng Tình báo cung cấp, nhiệt thành, chính xác trăm phần trăm. Ngày 19/1/1950, Phương Nam lái chiếc xe Renault 4 cv. chở tôi từ Cần Thơ lên ngã ba Lộ Tẻ Cái Sắn, dọc dường từ Bình Thủy lên, các xe GMC chở đầy lính Âu-Phi đổ một dãy dài. Đúng 9 giờ kém 5 phút, tới điểm hẹn, nhìn xa đã thấy chiếc Commancar đỗ sẵn. Trên xe có 4 sĩ quan: Trung tá Soreau, Đại úy Limousin, Trung úy Richard trưởng phòng 3 và Trung úy Labrousse, trưởng phòng 2 Secteur Long Xuyên: Toàn bộ Ban chỉ huy cuộc hành binh "Bão táp". Đoàn xe lội nước đang chờ sẵn dưới đám ruộng lúa chín vàng ở bên tay trái. Phía tay phải dưới kinh Cái Sẵn nước chảy xuôi dòng, đoàn giang thuyền trang bị súng 20 ly đang tắt máy thả trôi xuôi về Rạch Giá, 2 khẩu pháo 88 ly đã bố trí nghếch nòng về phía kinh Thị Đội: Trận "Bão táp" bắt đầu từ ngã ba Cái Sắn và tôi đã đi theo kế hoạch đã định, đúng như kế hoạch tội đã báo cáo về Khu 9. Nếu như Bộ Tư lịnh Khu 9 kịp bố trí lực lượng thì kể như toàn bộ quân cơ động của Z.O. đều dẫn vào chỗ chết, trong đó có cả tôi. Tôi nhớ lại hai câu thơ xưa: "Khẳng khái quyên sinh dị Thung dung tựu tử nan" Để tự động viên mình, bất giác, trước khi buông tay từ giã Phương Nam, đang ngồi sau tay lái, tôi nói những câu từ biệt cuối cùng: - Cậu Ba ạ! rủi tôi có chết tụi nó sẽ chôn tôi dưới cây thập tự ác trên mộ với giòng chữ "Mort pour la France". Tôi nhờ cậu nhổ phứt nó đi và thay vào đó bằng một ngôi sao vàng trên nền đỏ. Đừng quên, kẻo sau này con cháu nó đi ngang sẽ nhổ nước miếng vào nấm mồ tôi đó. Tôi thấy Phương Nam rút kính cận xuống lau lau, không đáp. Labrousse thấy tôi đến đúng hẹn, y bắt tay tôi thật mạnh, chiếc Commancar đi đầu đoàn xe, dừng lại tại bót Rạch Sỏi cho triển khai đội hình. Tôi biết trước thế nào cũng bị phục kích và gài lựu đạn, nên tiến bước rất cẩn thận, theo đúng dấu chân người đi trước. Lấy làm lạ là chỉ có mấy tiếng súng thưa thớt, và những tiếng lựu đạn nổ đó đây. Trên cánh quân tôi theo, có một trung úy công binh, xuống rửa bùn lấm giày dưới rạch, vừa bước chân lên tấm ván cầu bị trúng đạp lôi, rơi tùm xuống rạch chìm ngủm. Suốt một ngày mới đến chỗ hội quân: "Tràm Chẹt" nằm trên lộ nối liền Rạch Sỏi với Giồng Riềng, bên cái cầu đúc đã bị phá hủy từ đầu kháng chiến. Đó làm điểm xây dựng cái lô-cốt hình tam giác đầu tiên ở Nam Bộ. Khi lân la đến làm quen với anh lính Âu-Phi đang sử dụng điện đài, thấy thông báo kết quả cuộc hành binh trong ngày có 47 chết vì lựu đạn gài, tôi cũng có phần hả dạ. Nhìn lên tấm giấy mật mã dán trên nắp điện đài, tôi sao lại toàn bộ mật mã "đất đối không" (Conversation Terre-air) ghi tiếng lóng trong khi sử dụng. Tôi còn nhớ kỹ hai tiếng: Thay vì người chết thì điện là "cái cuốc", bị thương gọi là "cái cào". Tôi chỉ mong sao khỏi bị biến thành cái cuốc hay cái cào trong báo cáo kết quả cơn "Bão táp". Trong mấy ngày hành binh, điều đáng mừng là nhân dân các vùng lân cận đã kịp thời di dời khỏi vùng chiến sự, đến ngày giáp Tết, các đơn vị thủy quân mới đem đến 12 tù binh và một đống giấy tờ. Đảo mắt nhìn qua là hồ sơ của huyện ủy An Biên. Lúc này Ban chỉ huy: Trung tá Soreau và Đại úy tham mưu trưởng cũng chuẩn bị để trở về Long Xuyên. Tôi vịn vào đó cũng xin với Labrousse để về Cần Thơ ăn Tết, vì tôi còn ba ngày phép năm 1950 chưa nghỉ hết. Labrousse ý không muốn xa tôi nên nói: - Đâu được, đang giữa cuộc hành binh ai cho nghỉ phép. - Không thì tôi sẽ trốn về. - Trốn thì phải ngồi tù. Tôi chìa tờ giấy xin phép ra: - Tôi xin ký tên chịu ngồi tù trước vậỵ! Thấy tôi cương quyết. Labrousse nhượng bộ cho một chiếc xe cam nhông và 4 người lính Miên đưa từ Rạch Sỏi về Long Xuyên với lý do áp tải 12 tù binh và đem đống tài liệu huyện ủy An Biên về luôn. Labrousse dặn tôi: - Sang năm mới Tết xong, Đại tá sẽ cùng Tỉnh trưởng Long Xuyên sẽ trở lại đây. Anh nhớ cùng về nhé. Tôi hỏi: - Các ông ấy đi bằng gì? - Sẽ có ca-nô đón tại Rạch Sỏi. Tôi gật đầu chia tay, trong lòng phơi phới... Xe về đến Long Xuyên. Tôi nói với 12 người bị bắt: - Thôi Tết đến nơi mà phải ngồi trong khám thì cũng khổ thật. Nhưng biết sao được. Cứ yên tâm chờ qua Tết, ông quan Hai về mới xét trường hợp từng người được. Cứ tin tôi. Các anh sẽ được thả thôi. Nhưng tôi không có quyền ký giấy thả các anh ngay bây giờ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:40:46 pm Tôi nghĩ bụng: Tết đến mình về Cần Thơ ăn Tết, cũng phải để lại chút ít niềm vui cho người khác.
Chiều 30 Tết tôi về tới Cần Thơ, cả nhà đang chuẩn bị ăn Tết. Trong căn nhà lá cất dựa bên căn nhà lớn bên phải 37 Paul Emery đang là căn cứ của Giang thuyền (Flottille fluviale), tôi gấp rút viết báo cáo, ghi rõ nội dung bản mật mã qui ước đất đối không và ghi thêm ngày Trung tá Soreau và Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ trở lại Tràm Chẹt, có ca-nô đón chờ tại Rạch Sỏi. Xong qua nhà chú Tư Ngà, đề nghị chuyển cấp tốc về Đầu Sấu để trạm có liên lạc đưa ngay về văn phòng Chi 50. Chú Tư Ngà vui vẻ đi liền. Hẹn nhau tổng kết năm vào ngày Mồng 2 Tết, như mọi năm vào dịp Tết Nguyên Đán. Sau 3 ngày ăn Tết, tôi trở về Long Xuyên, lên gặp Trung tá Soireau để xin đi nhờ xe về Rạch Sỏi. Soreau đem tôi qua ngồi cùng xe với Tỉnh trưởng Thơ, vì bên xe Trung tá có đại úy Limousin cùng đi. Tôi liếc nhìn thấy Đại úy vẫn diện bộ đồ cắt đúng mốt A Dam's, trên túi vẫn dắt cây bút máy Parker 51 vàng chói như mọi lần, chiếc cặp da đen bóng lộn cầm tay, như một sĩ quan tham mưu thường có. Lần này Đại úy đã kịp sắm thêm và đem theo bên mình một cây súng hai nòng, một cần câu máy, một cái vợt cá bằng nylon để giải trí. Một ước mơ rất hòa bình. Chiếc xe của Tỉnh trưởng đi sau. Đến Rạch Sỏi, đúng là có hai Vedette của đoàn giang thuyền đang đậu ở bến chờ khách. Thấy Soreau và Limousin bước xuống giang thuyền thứ nhất, tôi lẩn tránh vào một tiệm cà phê bên đường nhìn ra. Sau vài lần gọi tôi không được, Soreau khoát tay ra lịnh cho giang thuyền tách bến. Tôi bước ra, Nguyễn Ngọc Thơ hỏi tôi đi đâu để ông quan năm gọi mãi không có. Tôi nói có nghe nhưng bận mải uống cà phê, để đi sau với ông càng thích hơn. Xem chừng Nguyễn Ngọc Thơ cũng không vội vã gì, "Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau" có gì mà phải vội. Khoảng chừng 15 phút bỗng một tiếng nổ lớn vang dội nước dưới rạch tràn lên bờ. Nguyễn Ngọc Thơ tái mặt hối hả lên chiếc Traction avant bóng lộn, biểu tài xế quay về ngay Long Xuyên. Ông ta còn ngoắc tôi biểu cùng lên xe trở về. Tôi lắc đầu vì cảm thấy mình còn lưu luyến tình hình chiến sự. Vả chăng cũng không muốn lỡ hẹn với Trung úy Labrousse. Lần này mà bỏ về thì thật là phạm tội đào ngũ, không ai tha thứ được. Tôi bước xuống chiếc vèdette thứ hai, bàn với viên hạ sĩ quan Pháp chỉ huy, cho giang thuyền trở về Tràm Chẹt là "hành dinh tiền phương" của cuộc hành binh "Bão táp". Phải một lúc sau khá lâu, người hạ sĩ quan Pháp mới chịu quay trở về Tràm Chẹt... Giang thuyền chạy đến một khúc ngoặt hẹp thấy một thiếu úy công binh đang cùng đám công binh làm nhiệm vụ thu dọn chiến trường. Được biết là: chiếc giang thuyền trúng phải thủy lôi, Trung tá Soreau bị gãy cả hai chân, Đại úy Limousin bị nổ banh bụng, chiếc Parker 51 vẫn còn lấp lánh ở túi ngực. Xác được trực thăng chở luôn về Sài Gòn. Sau đó, có lịnh Sài Gòn cho bàn giao công việc xây cất đồn Tràm Chẹt cho Thiếu tá Bùi Văn Hai chỉ huy 3è BVN và S/Secteur Rạch Giá lo liệu. Nhưng cái bunker tam giác đó niềm tự hào của Đại tướng De Lattre de Tassigny cũng tồn tại không lâu. Vào năm 1952, nó bị D410 ta tấn công bằng mã tấu và san bằng. Người chỉ huy tấn công tiêu diệt đồn Tràm Chẹt nghe nói là anh Chín Thảo, tức Phạm Ngọc Thảo, nguyên là Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ, tôi cũng tin chắc là như vậy. Và chỉ có ở Ban Quân báo Nam Bộ mới nắm, và nghiên cứu kỹ bản sơ đồ lô-cốt tam giác nửa chìm, nửa nổi, không có góc tử giác (góc chết) và cả 3 cạnh đều chi viện hỏa lực cho nhau khi bị tấn công. Tôi có thể tổng kết trận càn "Bão táp" như sau: Phía dịch 47 người bị lựu đạn gài, trong đó có một Trung úy công binh, hai người trong ban chỉ huy trận càn bị thủy lôi, một là Trung tá Soreau, hai là Đại úy Limousin (chỉ huy và tham mưu trưởng). Tổng cộng 49 người chết. Phía ta: 12 người bị bắt và bị giam ăn Tết trong khám, đến khoảng mồng 7 Tết Labrousse trở về Long Xuyên, tôi làm giấy trả tự do cho họ vì không đủ bằng chứng buộc tội họ. Tôi chỉ ân hận một điểm, toàn bộ kế hoạch và âm mưu của Mỹ và Pháp trong trận càn "Bão táp" đã nắm được, nhưng sao ta không tập trung toàn lực để đánh một trận cho đáng công? Năm 1952, khi về Khu 9, tôi đã nêu thắc mắc ấy lên đồng chí Nguyễn Chánh lúc đó là Tham mưu trưởng Khu 9, thì được đồng chí giải thích như sau: "Lực lượng các tỉnh lúc đó đang phân tán về huyện, xã để xây dựng, củng cố phong trào dân quân, phát triển rộng mạnh du kích chiến tranh không kịp tập trung về để đánh dịch". Tôi nửa tin nửa ngờ: chắc các đồng chí ở trên đối với tôi cũng cùng chung ý nghĩ đó, khi nhận được tin tức điệp báo của V.32. May mắn sao trong trận "Bão táp" đó tôi trở về nguyên vẹn, và cho đến hôm nay, đồng chí Phương Nam khỏi phải mất công đi tìm hài cốt của tôi để thực hiện những lời trăng trối lúc chia tay! Ở miền Tây Nam Bộ, xưa nay thiên nhiên ưu đãi không hề có trận bão táp nào, chỉ đến năm 1951, chủ nghĩa đế quốc Mỹ kết hợp với chủ nghĩa thực dân Pháp mới bày vẽ ra một trận càn "Bão táp". Nhưng "Thiên bất dung gian" cơn bão táp đó bạn phát bạo tàn, rốt cuộc cũng chỉ là một "cơn bão táp trong một cốc nước lã" như một tục ngữ Pháp đã nói rõ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:42:56 pm CHƯƠNG 11 CHIẾN DỊCH QUỐC HƯNG 1951 Thị xã Long Xuyên cách thành phố Cần Thơ 62km. Đường bộ chỉ mới được nối lại từ đầu năm 1949, lúc tôi mới bắt đầu đặt chân vào vùng đất thánh của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, và tình cờ trong chuyến đi đầu tiên đó, tôi đặt được đường dây liên lạc qua anh Tiên, hạ sĩ lái xe thơ của nhà binh Pháp. Nhưng đến năm 1950, Tiên phải đổi theo đơn vị về Sóc Trăng cùng với An, Trung sĩ phiên dịch ở 5è BVN. Công việc liên lạc phải nhờ tới cô Sáu Xuân, với danh nghĩa là bà con của chị Hai Phấn (vợ tôi) lên thăm, với nghề nghiệp là thợ may đang xin việc làm. Một hôm, trên đường đi trở về Cần Thơ, để chuyển một công văn mật đã được ngụy trang tờ giấy emballage, bị bọn cướp chặn lại ở Thốt Nốt, và cô Xuân bị bọn cướp dẫn đi. Tôi được tin báo, hội ý với các đồng chí trong tổ Đảng, ai nấy cũng bàng hoàng, nhưng vẫn chưa tìm được phương cách giải cứu. Đồng chí Danh được phái về Thốt Nốt để điều tra cho biết thêm tình hình, nếu cần thì gặp anh Hai Ni, xếp lính kín ở thị trấn Thốt Nốt, vốn có cảm tình với Danh từ trước. Danh đi về cho biết là Xuân bị bọn Ba Cụt bắt. Thế là tôi yên tâm về phần tài liệu. Ba Cụt không đủ trình độ để khám phá tài liệu ba lần ngụy trang của tôi. Hơn nữa, vì Ba Cụt tuy vẫn được bọn Pháp phong hàm Thiếu tá lực lượng bổ túc, nhưng vẫn không có quan hệ mặn mà với bọn Pháp. Bọn Pháp ở Long Xuyên còn nhớ kỹ câu chuyện Ba Cụt đã phục kích bắt và chặt đầu một Đại úy Pháp trong trận càn ở rạch Trà Ếch, đã mở một cuộc truy lùng trong 3 ngày ở tiểu khu Thốt Nốt, dồn ép Ba Cụt phải ra hàng, và cho đóng bót ở Bằng Tăng, ở giữa Thốt Nốt và Ô Môn, trên bờ sông Hậu, ngay tại quê hương Ba Cụt. Xuất thân từ một đứa ở chăn trâu, không được học hành, lớn lên kết nghĩa anh em với Năm Lửa, rồi chặt một ngón tay ly khai với Năm Lửa, dẫn binh lính về đóng ở Cờ Đỏ, cướp lúa của nông dân và chặn cướp các xe đò, trấn lột hành khách. Trong những tên tướng cướp Hòa Hảo, Ba Gạt nổi tiếng là một tên cướp tráo trở, sớm đầu tối đánh. Bọn Pháp vẫn biết vậy, nhưng vẫn làm lơ. Tôi cũng biết vậy nhưng chưa nghĩ ra cách nào khác để giúp đỡ các nhân viên liên lạc khỏi bị đạo quân ô hợp Hòa Hảo bắt giữ. Do vị trí công tác trong 2è Bureau Secteur Long Xuyên, tôi đã tiếp xúc hầu hết bọn tướng cướp Hòa Hảo ở miền Tây Nam Bộ, từ viên tướng một sao Năm Lửa tức Trần Văn Soái chỉ biết độc nhứt một chữ ký tên Soái dưới các văn bản, mệnh lệnh do các tên Tham mưu Phú, Cường viết. Từ viên Đại tá Hai Ngoán, tên thật là Lâm Thành Nguyên gốc gác Huê kiều, trân thủ ở Cái Dầu trên đường Long Xuyên lên Châu Đốc để chặn xe đò, ghe buôn để thu thuế mãi lộ, đến viên cựu Quản khố xanh tục danh là Quản Ngượt, lấy tên Nguyễn Giác Ngộ mà bọn Pháp đã thu phục về trấn thủ vùng Chợ Mới vào đầu năm 1950. Những tên tướng đó chỉ là một lũ lưu manh lợi dụng danh nghĩa Phật giáo Hòa Hảo để lừa gạt tín đồ làm lính đánh thuê cho quân đội Pháp, để ăn chặn tiền lính, vơ vét tiền bạc lúa gạo nhân dân đế làm giàu. Riêng Ba Cụt, tên thật là Lê Quang Vinh, không có hành dinh cố định, hoạt động vùng Ô Môn - Thốt Nốt, nên dù muốn tiếp xúc cũng không dễ dàng. Tôi chỉ có một lần gặp Ba Cụt do hắn ta đến gặp tôi, sau lần tôi bị cướp hụt, tại nhà ở 36 Lê Lợi - Long Xuyên. Hắn nhỏ hơn tôi vài ba tuổi, vóc dáng thanh lịch, cười nói có duyên, không thiếu phần lễ độ. Hắn lễ phép gọi tôi là anh Hai rất chi nhã nhặn, tự xưng là em, tôi cũng thích thú, nhưng vẫn không mất cảnh giác với ý đồ muốn kết thân của hắn. Sau lần gặp tại nhà riêng, tôi không còn thấy mặt mũi hắn lần nào nữa. Nay bỗng nhiên nghe Sáu Xuân bị tay chân của Ba Cụt bắt, tôi thấy phân vân. Một tên tướng cướp đã muốn kết thân với tôi, tại sao lại bắt người nhà của tôi để làm gì? Lúc đến nhà tôi, hắn đã thấy rõ nhà tôi trống trải, ngoài 3 cái ghế dựa cũ kỹ và chiếc đi-văng gỗ mộc, chẳng có cái gì đáng kể cả. Vả chăng, tên đội Hiền cũng đã tán tụng tôi, vì đã tha chết cho nó, thì Ba Cụt muốn vuốt mặt lại không nể mũi hay sao? Vì vậy tôi yên tâm cho tính mạng Sáu Xuân. Nhưng biết đâu bọn bộ hạ của Ba Cụt làm ẩu? Cách vài ngày sau đó, bọn bắt cô Sáu Xuân nhắn tin lên cho bà giáo Lưu ở cách nhà tôi một ngõ hẻm, nói rằng cô Sáu Xuân khai là em vợ ông Một Hiến, nên chúng đòi ông Một Hiến phải chuộc tiền chúng mới thả. Tôi hẹn ngày gặp chúng tại nhà bà giáo Lưu. Đúng hẹn, tôi gặp một tay thanh niên ăn mặc gọn gàng, tôi hỏi hắn muốn bao nhiêu? Hắn đòi 10.000 đ. Tôi cười: - Em về hỏi lại chú Ba Cụt thì biết nhà tôi có đủ tiền chuộc không, nói với chú Ba rằng tôi nhắn là con Sáu Xuân nó lên ở nhờ nhà tôi để học may, nhà nó nghèo lắm. Liệu chú Ba có kiếm được đám nào khá, gả giùm nó giúp tôi. Chú về nói lại với chú Ba, liệu chú Ba có muốn vuốt mặt không nhìn anh Hai nữa không? Chú về đi, nói đúng ý tôi cho chú Ba biết. Anh chàng ra vẻ hơi chột dạ. Chiều hôm đó, Sáu Xuân được thả về với túi xách còn nguyên vẹn, cả các gói quần áo bọc trong tấm giấy emballage mà tôi đã viết tài liệu báo cáo mật vào đó. Thấy Sáu Xuân vẻ mặt tiều tụy, tôi chỉ hỏi một câu: "Chúng nó có làm nhục em không?". Đôi hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng trên đôi gò má. Tôi cũng lưng tròng. Sau đó, tôi báo cáo với cơ quan rút Sáu Xuân về văn phòng, để công tác liên lạc cho đồng chí Năm Danh lo liệu. Không phải tôi không tin Sáu Xuân, nhưng tôi không thể nào tin được bọn lâu la của Ba Cụt. Từ năm 1951, Sáu Xuân không còn trong đường dây liên lạc Cần Thơ - Long Xuyên, về Cần Thơ, Sáu Xuân kết hôn với bác sĩ Trương Đình Du, và sau ngày giải phóng, cả hai vợ chồng đều kéo nhau sang Pháp. Năm 1951, Ba Cụt đóng bót ở Bằng Tăng, bọn lính Hòa Hảo thường kéo nhau ra đánh cướp xe đò trên quãng đường Ô Môn - Thốt Nốt, giả dạng là Việt minh, trên mũ ca-lô dán hình ngôi sao trên miếng giấy đỏ cắt mỏng, để hành khách tưởng là du kích Việt minh đánh cướp. Tôi đã là nạn nhân của một vụ cướp xe đò. Hôm đó, tôi cùng các đồng chí Phấn và Năm Danh ngồi xe đò về Cần Thơ đến khoảng gần Thơm Rơm, bọn lính Hòa Hảo núp bên đường chìa súng bắn vào lốp xe, xe phải dừng lại. Một tên còn trẻ cầm cây Thompson lên xe chĩa vào ngực tôi, mắt láo liên nhìn vào chiếc đồng hồ vàng đeo trên cổ tay tôi. Tôi biết ý, cởi chiếc đồng hồ đưa cho nó, nhìn ngôi sao vàng trên nền đỏ dán trên ca-lô của nó, tôi vụt hỏi: "Anh ở đại đội nào?", đồng chí Danh đưa mắt nhìn tôi và lắc đầu. Tôi hiểu ngay, vội ngăn đồng chí Phấn lại. Lần đó, tôi mặc thường phục, cái cặp da đựng bộ quân phục Pháp để vào băng sau đã bị một tên cướp xách đi rồi. Hành khách xuống xe đứng hàng dọc ở phía Ô Môn. Tôi nhìn lại thấy bọn cướp kéo nhau qua đồng về phía bót Bằng Tăng. Đúng là lính của Ba Cụt không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi cùng đoàn hành khách vào đồn pháo binh ở Ô Môn, gặp viên Trung úy Pháp chỉ huy khẩu đội pháo 88 ly, tôi vắn tắt trình bày vụ cướp xe đò và chỉ con đường rút lui của bọn cướp. Trên bản đồ đã có khoanh vòng tròn những vùng cần pháo kích. Tôi chỉ ngay vòng tròn khoanh vùng Bằng Tăng. Viên Trung úy pháo binh ra lịnh nã ngay 10 viên đạn pháo 88 ly vào vùng đó, chỉ cách Ô Môn chừng 5km trên bờ sông. Hôm sau, đồng chí Năm Danh cho tôi biết là chừng 4, 5 lính Hòa Hảo đóng ở đồn Bằng Tăng bị thương vì đạn pháo, chở về bệnh viện Cần Thơ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:44:16 pm Tôi không phải là người hiếu sát, nhưng cần phải cho Ba Cụt biết cái trò giả dạng Việt minh đi cướp xe đò không thể lừa gạt được ai. Đạn pháo Pháp một lần nữa lại rót trúng vào đồn bót Hòa Hảo.
Cũng vào những tháng đầu năm 1951, nhân dịp về Cần Thơ để trao đổi công tác, tôi được biết Lacroix sang Pháp đã trở về nhận chức Trưởng phòng nhì của Zone Ouest 2è Bureau Zone nay chuyển sang chiếm một lớp học của trường Collège Cần Thơ làm văn phòng Tham mưu Zone Ouest. Lacroix, viên sĩ quan Tình báo thay đổi khác trước cả diện mạo lẫn cấp bậc. Vai mang quân hàm Đại úy, hàm râu đen tươi tốt đã cạo nhẵn, vẫn lịch thiệp như trước, Lacroix chìa tay cho tôi bắt, nhưng tôi nhìn mặt sếp cũ của tôi từ năm 1948 đã khôn khéo tống tôi lên Long Xuyên. Là sĩ quan Tình báo thuộc loại "con ông cháu cha" (Cha của Lacroix là Đô Đốc chỉ huy hạm đội Pháp ở Cận Đông), được đi tu nghiệp về, chắc chắn có nhiều bản lĩnh mới, nghiệp vụ mới. Nhìn vào cái cằm cạo nhẵn của Lacroix tôi hỏi: - Hẳn Đại úy cùng sang Đông Dương một chuyến với Đại tướng De Lattre de Tassigny? Đại úy gật đầu. Tôi nhớ lại một giai thoại về viên Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp. Một sĩ quan Pháp ở Long Xuyên đã kể cho tôi biết: De Lattre vừa sang Đông Dương nhìn thấy một Đại úy Pháp có hàm râu dài bó hàm, liền ra lịnh: "Je te donne 10 minutes pour m’ôter cette barbe" (Tôi cho anh 10 phút để thanh toán hàm râu ấy). Hẳn đó là Đại úy này đây. Tôi có phần thầm phục kỷ luật của quân đội Pháp, và biết thêm tác phong độc đoán của viên Đại tướng chỉ huy tối cao của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, nhưng không nói gì trước mặt Lacroix. Đại úy hỏi tôi: - Vous avez des bonnes nouvelles à Long Xuyên? (Anh có tin tức gì mới ở Long Xuyên không?) - Non, mon Capitaine, à Long Xuyên nous n’avons rien à faire avec les Hòa Hảo. (Không, thưa Đại úy, ở Long Xuyên tôi không có gì làm với bọn Hòa Hảo cả). Đại úy tỏ ra thông cảm với sự nhàn rỗi của tôi, nói tiếp: - Trái lại ở đây chúng tôi làm không hết việc với bọn Việt minh. Anh biết không, nay mai chúng lại sắp mở chiến dịch Quốc Hưng ở địa bàn Sa Đéc. Ta đã huy động sẵn 3 R.T.A (Trung đoàn Bộ binh Bắc Phi) để bao vây chúng, cho chúng một trận nên thân. Tôi uống từng lời của Đại úy, hết sức chăm chú và mong mỏi được nghe thêm lời vàng ngọc. Nhưng Lacroix chỉ nói có bấy nhiêu, chữ chiến dịch Quốc Hưng tôi nghe nói, theo âm thanh tiếng Pháp "chin zic Cuc Hung" nên chỉ đoán mò phần nào. Nhưng quả là rất quí giá. Tôi vờ thán phục cấp trên, trong lòng đã phát ra phương án đối phó. Đối với một nguồn tin do một sĩ quan Tình báo chuyên nghiệp của đối phương cung cấp cho một người đã bị tình nghi từ trước, tôi hết sức dè dặt. Một là tin giả. Trong trường hợp ấy, tôi hoàn toàn có khả năng kiểm tra lại. Hai là tin thật. Chỉ có một lý do duy nhất: nguồn tin ấy không phải do mạng lưới Tình báo của Lacroix cung cấp. Hẳn là Lacroix muốn thông qua tôi để làm thất bại Tình báo của một đồng nghiệp trước sự đánh giá của cấp trên. Sau này, chính xác là ngày 14/5/1989, tôi được Vũ Hoài Linh xác minh: Một tình báo viên của Vĩnh Long có cho biết là tận mắt thấy Đại úy De la Bigne, Chef 2è Bureau Vĩnh Long, có cầm trong tay bản kế hoạch chiến dịch do đồng chí Xuyến ký tên có dấu son đỏ chói. Cũng có thể nhân dịp gặp lại tôi, Lacroix muốn trổ tài ba hoa trước cấp dưới. Dù sao, tôi vẫn không bỏ lỡ cơ hội. Về Long Xuyên, tôi hội ý ngay với đồng chí Phương Nam, nguyên là cán bộ Quân báo của Khu 8, một mặt tôi vẫn báo cáo về Chi 50, mặt khác tôi cử ngay Năm Danh sang trực tiếp liên hệ với Ban chỉ huy chiến dịch Quốc Hưng, để kịp thời đối phó. Cũng may, Ban Quân báo Khu 8 đã cử đồng chí Khiết về theo dõi chiến dịch. Bánh tét đã gói, các đơn vị đang lục đục kéo về tham gia chiến dịch Quốc Hưng đã kịp thời rút ra khỏi vùng tập kết, nhân dân đã kịp thời sơ tán để tránh vùng sắp bị càn quét. Ngay hôm sau, tôi được lịnh cùng Trung úy Labrousse xuống tàu LCI cùng Ban chỉ huy Zone do Đại tá Duque cầm đầu, rẽ sóng Vàm Nao chạy về hướng sông Cổ Chiên, neo ở bờ sông Nha Mân để chỉ huy cuộc càn quét lớn do Lacroix đã thông tin cho biết trước. Lần đầu tiên, nguồn tin do một sĩ quan Tình báo Pháp tình cờ cho biết lại có độ chính xác cao, và có tác dụng thiết thực bất ngờ. Ba trung đoàn lính Bắc Phi RTA (Régiment des tirailleurs algériens) đóng vùng Vĩnh Long đã được huy động, nhằm mục đích bao vây và tiêu diệt 3 Tiểu đoàn Việt minh: 308, 311, 312 theo tin tình báo sẽ tập kết ở vùng giáp ranh Vĩnh Long - Sa Đéc để triển khai chiến dịch Quốc Hưng. Ban chỉ huy cuộc càn quét lên bờ vào nhà dân để kiếm thức ăn tươi. Dân đã kịp thời sơ tán. Các mái nhà lá trống trơn. Cuộc càn quét cấp tốc chỉ tiến hành trong một ngày, mỗi binh sĩ phải mang theo khẩu phần lương khô để ăn trong ngày, bánh biscuit lạt của Ba Lan và đồ hộp của Mỹ. Tôi nhìn thấy Đại tá Duque phấn khởi lượm được mấy quả trứng gà còn sót trong ổ, gà mẹ đã biến đâu mất, Đại tá đập vỏ, nút sống không cần luộc, đôi mắt lim dim. Đại úy Lotte là sĩ quan Trưởng phòng 5 đang cắt một trái chuối chín thành nhiều khoanh nhỏ, chia cho các bạn đồng hành theo kiểu ăn đều chia đủ. Labrousse cùng tôi nhấm nháp mãi biscuit lạt với thịt hộp trong khẩu phần mang theo. Vào khoảng 14 giờ, một tên lính Pháp từ chiếc LCI mang lên cho Ban chỉ huy một bức điện mật: S/Secteur Châu Đốc thông báo khẩn cấp: yêu cầu Z.O. chi viện, bộ đội Việt minh đã áp sát gần Châu Thành, có khả năng đột nhập Châu Đốc. Đại tá Duque triệu tập các sĩ quan chỉ huy, ra lịnh cho rút quân. Ban chỉ huy kéo xuống tàu LCI. Tôi và Labrousse đang ngồi, bỗng thấy một lính lê dương dẫn một bộ đội Việt minh bận đồ đen, bước lên tàu, vừa đi vừa đánh, súng khoác sau vai. Tôi thấy anh bộ đội bị thương ở bả vai, bị đánh chúi mũi xuống đất. Tôi chưa kịp lên tiếng can thiệp, thì Trung úy Labrousse đã điểm mặt tên lính lê dương: "Assez! Il est interdit de maltraiter les blessés" (Thôi, không được đánh người đã bị thương!), rồi biểu tôi đi theo để hỏi cung. Vừa đi tôi vừa hỏi tên lính lê dương: - Tại sao anh đánh nó, anh không biết công ước quốc tế Genève đã cấm đánh tù binh sao? Tên lê dương đáp, vẻ còn giận dữ: - Tại sao nó lại hét Hồ Chí Minh muôn năm? Tôi hỏi lại anh bộ đội: - Tại sao anh hô khẩu hiệu làm gì để nó đánh anh? - Tôi thấy nó dẫn tôi ra đằng lái, sợ nó đạp xuống sông, chết không kịp hô. Tôi nhìn kỹ người bộ đội. Người này cao không đầy 1m60, vừa ra khỏi tuổi thiếu niên, bộ mặt còn non choẹt, vết thương ở bả vai bên phải phá ra phía sau thành một vết lớn chứng tỏ bị súng trường bắn gần, máu còn rỉ ra. Dẫn xuống phòng Quân y, tôi nói với viên Trung sĩ Y tá: - Hãy băng bó cẩn thận cho chú bé này, nó sẽ có ích cho chúng ta, có morphine hãy tiêm cho nó ít mũi. Viên y tá lấy cồn, kẹp, bông gòn, ngoáy sâu vào vết thương. Chú bé nhăn mặt, nước mắt chảy ròng ròng. Tôi động viên: - Mình là vệ quốc đoàn mà khóc à? Chú ta nín bặt, nghiến răng lại, chịu đau. Tôi làm thủ tục hỏi cung: - Anh tên gì? - Nguyễn Văn Nhì, tuổi 17. - Ở đơn vị nào? - Địa phương quân. - Phiên hiệu? - Không có. - Vũ khí, à quên, súng anh để đâu? - Khi bị bắt, liệng xuống rạch rồi. - Tại sao bị bắt? - Ở lại đoạn hậu cho đại đội rút lui. - Rút về đâu? - Không biết. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:45:13 pm Tôi thở phào nhẹ nhõm cho cả hai, người hỏi cung và người bị hỏi, tên lính lê dương được phép rút lui. Trung sĩ y tá chỉ chỗ nằm cho tù binh rồi khép phòng lại. Cuộc rút quân bằng đường sông chia làm hai cánh. Một cánh xuống chiếc LCI có Đại tá Duque chỉ huy theo ngã Vàm Nao, một cánh khác xuống chiếc LCM há mồm, theo ngả Lấp Vò, Vàm Cống trở về Long Xuyên. Trung úy Labrousse cùng tôi đem anh tù binh bị thương cùng đi theo cánh này. Đó là người tù binh duy nhất mà cuộc càn quét đem lại. Dù sao quân ta cũng mất một. Tôi đang nằm trên mui chiếc LCM, mở mắt nhìn trời cùng nhiều binh sĩ, mang cả giầy để chen nhau một chỗ ngủ, thì bỗng nghe có tiếng "tõm". Năm sáu người ở cuối tàu vùng vẫy la hớt hải: "Có người rơi xuống sông!". Chiếc tàu vẫn tiếp tục rẽ sóng tiến lên. Kiểm điểm lại, một tên lê dương vừa khoe chiến công giựt giải quán quân bơi lội, đã lọt "tõm" xuống sông, nguyên cả áo quần quân trang nai nịt và cả đôi giầy cao cổ bó chặt hai ống quần. Thế là hết khoe tài bơi lội. Kỳ điểm danh sáng mai, sẽ vắng một mạng người, chết không kèn không trống. Một chết đổi một thương binh. Tỷ số được san bằng. Dù sao thương binh của ta vẫn sống và còn dịp may trở về với quê hương đất nước. Tôi nhớ lại gương mặt trẻ thơ, chỉ hơn thằng Xiềng của tôi chừng hai tuổi. Một thanh niên bị bắn xả vai, không sợ chết mà chỉ sợ chết bất thần không kịp hô tên Bác. Cử chỉ ấy bộc lộ khí phách anh hùng dân tộc của thanh niên miền Nam là một bài học lớn theo dõi suốt cuộc đời tôi. Được sự đồng ý của Trung úy Labrousse, tôi giao thương binh cho trạm quân y Long Xuyên ở đường Lê Lợi, dặn dò phải cho hưởng mọi tiêu chuẩn thuốc men để tù binh sớm bình phục.
Một tháng sau, vết thương đã lành miệng. Riêng cánh tay phải không cử động được, anh Nguyễn Văn Nhì được giải từ trạm quân y của Secteur Long Xuyên sang 2è Bureau Secteur. Tôi dẫn vào gặp Trung úy Labrousse, tôi giới thiệu: "Đây là người được lòng nhân đạo của Trung úy cứu sống". Labrousse mỉm cười khoái chí, đưa tay ra bắt, Nhì ngượng ngập chìa tay trái ra. Tôi hỏi Nhì: - Anh còn cha mẹ không? - Còn một bà mẹ. - Anh không muốn viết thơ cho mẹ không? Nhì lắc đầu. Tôi hỏi: - Anh có biết đọc biết viết không? Nhì lại lắc đầu. Tôi dịch lại cho Trung úy Labrousse nghe, rồi hỏi Trung úy: - Chúng ta sẽ làm gì với tên được cứu sống này? (Tôi dùng chữ rescapé). Hắn không biết chữ, không thể bắn súng được nữa, chẳng lẽ chúng ta lại đem giam chú bé vào khám sau khi đã cứu mạng sống cho chú bé ấy sao? (Tôi dùng chữ gamin). Labrousse suy nghĩ không đầy một phút rồi quyết định: - Thôi, tha cho chú bé về quê với mẹ. Dù sao chú ta cũng không cầm súng bắn lại chúng ta được nữa. Vả lại, (Trung úy mím cười nhìn tôi) tôi thích những chiến sĩ cầm súng bắn lại tôi trước mặt, còn hơn là những kẻ cầm dao găm đâm vào sau lưng tôi. Tôi hơi chột dạ, quay lại Nhì tôi nói: - Ông quan Hai tha cho anh về với má đó, anh cảm ơn ông ta đi. Lần đầu tiên tôi thấy mặt Nhì rạng rỡ lên, cúi người "Cảm ơn". Labrousse cũng trả lời "Tốt, tốt" bằng tiếng Việt đã học lóm được. Từ đó đến nay, đã 38 năm rồi. Người làm ơn và người nhận ơn không còn bao giờ gặp nhau. Chiều dài của cuộc chiến tranh gần nửa thế kỷ, hai người đã ở xa nhau nửa vòng trái đất, chắc không thể nào nói đến chuyện tri ân. Dù sao tôi vẫn thấy tự hào đã nhìn thấy tận mắt những tình cảm tốt đẹp ấy. Anh bộ đội Cụ Hồ trước cái chết vẫn không quyên nhắc đến Bác. Viên sĩ quan quân đội viễn chinh Pháp trong chiến tranh vẫn không để mất tình người. 1/7/1951 - Một tin làm chấn động dư luận Secteur Long Xuyên. Trung tướng Chanson cùng với Thủ hiến Thái Lập Thành bị hạ sát trong một chuyến đi kinh lược thị xã Sa Đéc, thời kỳ đó là một S/Secteur trực thuộc Long Xuyên. Đại tá Duque đích thân phải đi Sa Đéc để báo cáo tình hình cho Sài Gòn biết. Năm Danh đi Sa Đéc để nắm tình hình, về kể lại: "Sa Đéc tổ chức đón tiếp rất long trọng, Chanson và Thái Lập Thành đang đứng trước hai hàng binh sĩ bồng súng chào, bỗng có một thiếu niên ôm một bó hoa lách hàng quân chạy đến gần. Có tiếng lựu đạn nổ, cả hai tên Chanson và Thái Lập Thành đều chết. Thiếu niên cũng chết luôn. Cả bộ máy mật thám và phòng nhì đều bất lực không thể ngừa trước và cũng không thể tìm ra nguyên nhân vụ mưu sát. Chỉ biết thiếu niên tên Út, đi ở làm con nuôi cho một sĩ quan Cao Đài: Trung úy Văn Thành Cao. Ban Quân báo Khu 8 lẫn Ty Công an Sa Đéc đều không có chủ trương đó. Hôm sau Đốc phủ Nguyễn Văn Tâm đích thân đến Sa Đéc để điều tra về nguyên nhân, tìm hiểu lai lịch vụ án, nhưng cũng chịu bó tay, cuối cùng ra lịnh cho đào mồ, mổ thây Út để xem lá gan bao lớn! Trong cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc ta đã xuất hiện biết bao nhiêu tấm gương anh hùng, liệt sĩ vô danh như thế, đem xương máu mình đổi lại độc lập tự do cho tuổi trẻ hiện nay. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:46:33 pm 22/12/1951 - Kỷ niệm lần thứ 7 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời tôi. Tổ Đảng, cả 3 đảng viên được triệu tập bất thường ở trên lầu căn phố 36 Lê Lợi, Long Xuyên, và tất nhiên là tôi cũng được tham gia để làm nhiệm vụ thư ký của tổ Đảng như thường lệ. Đồng chí Phương Nam, bí số T.06. nhân danh Chi ủy viên của Chi 50, chủ trì cuộc họp, đồng chí Võ Văn Danh, bí số S.05 vừa từ cơ quan Chi 50 trở về ngày hôm qua. Đồng chí Lâm Thị Phấn, bí số V.29, tổ trưởng Đảng, và tôi Trần Hiến, bí số V.32, tham dự với tư cách Tổ trưởng điệp báo và là người ngoài Đảng. Đồng chí Phương Nam thay mặt Chi ủy đứng lên tuyên bố lý do cuộc họp bất thường của tổ Đảng. Tôi chắc mẩm là để kỷ niệm ngày thành lập quân đội. Đồng chí Phấn liếc mắt nhìn đồng chí Danh lấy trong túi ra 2 tờ giấy pelure màu xanh nhạt đã gấp tư, trịnh trọng cầm hai tay đưa cho đồng chí Phương Nam. Đồng chí Phương Nam mở giấy ra, sửa lại kính cận cho ngay ngắn, lấy giọng đọc vừa đủ cho ba người đứng kề bên, không để lọt ra bên ngoài biết. Trước khi đọc, đồng chí hướng vào tôi nói: "Đây là đảng văn của Tỉnh ủy Cần Thơ gửi cho đồng chí Trần Hiến với bí số là đồng chí 30".
Đảng Lao Động Việt Nam Tỉnh ủy Cần Thơ Thường vụ Số: Đ.B/T.V.T.U Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày 20 tháng 12 năm 1951 Kính gửi: Đồng chí (Nhờ Chi ủy Chi bộ Chi Q.B.50) Thay mặt Tỉnh ủy, chúng tôi gửi đến đồng chí lời chào "Thân ái và chiến đấu". Đồng chí 30. Thừa lịnh Chánh ủy Phân Liên Khu miền Tây, chúng tôi phải tổ chức buổi lễ kết nạp đồng chí vào Đảng. Nhưng xét thấy hoàn cảnh hiện tại của đồng chí cũng như của chúng tôi không cho phép, nên buổi lễ ấy phải tạm hoãn lại một thời gian sau. Vì nhiệm vụ công tác và quyền lợi của Đảng của Cách mạng, đồng chí cũng hiểu với chúng tôi trong điểm này. Chúng ta sẽ gặp nhau trong một hoàn cảnh khác. Đồng chí 30 Sau khi nghiên cứu lịch trình chiến đấu của động chí, chúng tôi nhận thấy: Đồng chí công tác với địch và sống trong hoàn cảnh phồn hoa đô thị mà không bị cảnh sống đó lôi cuốn, trái lại tinh thần của đồng chí luôn luôn hướng về Đảng, và nguyện vọng duy nhất là làm sao trở thành Đảng viên. Tinh thần đó chúng tôi nhận thấy nó biểu lộ trong công tác hằng ngày của đồng chí, luôn luôn tích cực phụng sự cho Đảng, biểu lộ trong cảnh sống hằng ngày của đồng chí và trong sự cố gắng học tập của đồng chí. Một điểm mà chúng tôi đặc biệt chú ý, từ khi đồng chí tham gia Cách mạng đến nay đã lập được nhiều thành tích, mà những thành tích đó chỉ có Đảng và Cách mạng biết. Nhưng ở ngoài, đồng chí phải mang tiếng là người của địch, nhưng không vì thế mà làm cho đồng chí nản lòng, trái lại nó còn làm cho đồng chí tích cực với công tác, mà cũng chính nhờ nó mà làm cho công tác của đồng chí được địch tín nhiệm nhiều hơn, đồng chí thành công trong sự tín nhiệm của địch. Sau khi nhận xét những điểm nói trên, mặc dù chưa tổ chức được lễ kết nạp, chúng tôi thay mặt cho Tỉnh ủy thừa nhận đồng chí là một Đảng viên dự bị kể từ ngày viết thư này. Chủ trương của Đảng là tạm ngừng kết nạp Đảng viên mới, nếu có kết nạp thì chỉ những người có thành tích đặc biệt trong mùa thi đua. Đây là phần thưởng danh dự đối với đồng chí đã chiến đấu trong lòng địch và đã lập được nhiều công. Đồng chí được kết nạp trong hoàn cảnh đặc biệt, nhiệm vụ của đồng chí càng phải đặc biệt hơn. Công tác hiện tại của đồng chí nó đã giúp cho Cách mạng rất nhiều. Với năng lực, với địa vị và với sự tín nhiệm của địch với đồng chí, chúng tôi thấy nó còn phải tiến bộ hơn nữa để giúp cho Cách mạng một cách đắc lực hơn nữa. Muốn thế đồng chí phải nghiên cứu thêm để thực hiện cho được nhiệm vụ của Đảng đã đề ra cho đồng chí. Phải làm những gì mà những tên đại phản quốc đã làm để cho địch càng tín nhiệm đồng chí hơn nữa, phải thật cẩn thận không để một chỗ hở nào mà địch có thể nghi ngờ, trái lại buộc địch phải tín nhiệm, không được quả tả, phải nhận rằng kháng chiến còn dài, chúng ta phải bền chí chiến đấu cho đến khi nước chúng ta được độc lập, dân ta được giải phóng, mục đích của Đảng được thực hiện trên cõi đất này và trên toàn thế giới. Đồng chí 30 Rất tiếc chúng tôi không gặp được đồng chí để xây dựng về tư tưởng và công tác. Bên cạnh đồng chí đã có rất nhiều tài liệu về Đảng, đồng chí hãy dùng tài liệu đó để học tập, tu dưỡng, trở nên một người đảng viên chân chính, trở nên một người chiến đấu viên rất đắc lực ở trong địch. Từ trước tới nay đồng chí đã đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng trong ngành Quân báo, nay đồng chí lại đặt mình dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Chi Quân báo 50. Đảng bộ sẽ hướng dẫn đồng chí trong công tác chuyên môn cũng như trong sự sinh hoạt Đảng. Đó là điều kiện để cho đồng chí sẽ hăng hái và tích cực trong nhiệm vụ của mình. Sau cùng, chúng tôi thành thật chúc đồng chí hăng hái chiến đấu lập được nhiều chiến công. Chúng ta sẽ gặp nhau trong một hoàn cảnh thuận tiện khác để thực hiện ý muốn của Đảng và đồng chí. Chào Bolchevick TM. Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Cần Thơ - Nơi gửi: - Đc.30 - CU.C50 - Lưu Ký tên Bí thư Lương Chí Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:48:15 pm Đứng lặng nghe đọc xong bức thư của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, mãi đến khi đồng chí Phương Nam đưa bức thư tận tay tôi, tôi vẫn chưa hết bàng hoàng. Thì ra mặc dù sống trong lòng địch, Đảng vẫn theo dõi thành tích và lối sống của mình. Các đồng chí trong tổ Đảng chắc đã hội ý trước với nhau, cố ý gây bất ngờ cho mình đây, và chờ mình phát biểu cảm tưởng. Tôi cố nén xúc động, chỉ nói được mấy chữ cảm ơn: "Tôi biết nói gì đây. Xin cảm ơn Đảng, cảm ơn các đồng chí". Đồng chí Phương Nam biểu tôi viết thư cảm ơn đồng chí Chánh ủy và nhắc cho tôi biết là Chánh ủy đặt Đảng danh cho tôi "Đặng Văn Chữ" để tưởng nhớ đến một đồng chí đã hy sinh trong lòng địch. Tôi nhận lời, và xin hẹn đến tối sẽ viết thư cảm ơn cấp trên. Cuộc họp tổ Đảng kết thúc gọn nhẹ, đồng chí Phấn đã dọn tôm khô củ kiệu ra để liên hoan nhẹ, ăn mừng ngày sinh lần thứ hai của tôi đúng vào kỷ niệm ngày sinh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tôi nhìn bức thư, có chữ ký nhưng không có dấu son. Đảng ta đã rút vào bí mật nên không để lại con dấu. Nhưng niềm tin của quần chúng vào Đảng vẫn không hề mất dấu.
Với nguyên tắc hoạt động trong lòng địch, đồng chí Phương Nam khuyên tôi nên đốt bức thư ấy đi. Dầu sao đã có bản lưu ở Chi 50 và ở Tỉnh ủy Cần Thơ rồi. Tôi đốt bức thư mà vẫn luyến tiếc. Nếu sau này hai bản kia cũng mất thì sao? Hoạt động trong lòng địch, tất nhiên không nên để giấy tờ gì làm lộ tông tích mình là đúng. Nhưng sau này kháng chiến thành công, lấy gì để chứng minh đây? Không nên lo quá xa! Hãy lo sao cho mình làm tròn nhiệm vụ trước mắt cái đã. Không ngờ cuộc đời đã dạy tôi cần phải biết phòng xa. Mọi sự bất ngờ đều có thể xảy ra trong cuộc sống, ngay cả trong cảnh an bình. Căn nhà cũ kỹ số 36 Lê Lợi thị xã Long Xuyên, một trong ba thị xã thuộc Zone Ouest trong những năm đầu thập kỷ 50 thế kỷ 20 (hai thị xã kia là thành phố Cần Thơ và thị xã Rạch Giá) trở thành trụ sở tổ Điệp báo đồng thời là tổ Đảng của Chi bộ đặc biệt 50, một chi bộ trực thuộc Tỉnh ủy Cần Thơ do đồng chí Bí thư Lương Chí trực tiếp chỉ đạo và Chi Quân báo 50 do anh Ba Nguyễn Văn Cự là Trưởng, Phan Thành Miêng và Nguyễn Huy Quỳnh là Phó. Về mặt hệ thống chuyên môn trực tiếp chịu sự lãnh đạo của Ban Quân báo Khu 9 do anh Nguyễn Văn Phấn làm Trưởng ban. Cho đến hôm nay, 21/1/1989, tôi chưa hề gặp mặt đồng chí Phan Trọng Tuệ, người đã viết thư cho tôi nhân danh Chính trị Bộ chủ nhiệm Khu 9 yêu cầu tôi cung cấp bản đồ địch tình tỉnh Cần Thơ và âm mưu của bọn chỉ huy Pháp ở miền Tây phá hoại Thỏa Hiệp An 14/9, cũng chưa hề biết mặt đồng chí Lương Chí, Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, nhân danh Tỉnh ủy đã viết đảng văn kết nạp tôi vào Đảng ngày 20/12/1951. Dù sao, tôi vẫn biết ơn hai đồng chí đó đã bảo vệ chân lý và xác nhận cho tôi trong quá trình học tập chỉ thị 192 bảo vệ Đảng. Tôi chỉ biết điều đó sau khi đồng chí Dũng, Trưởng phòng Bảo vệ của Bộ Nội thương nắm chắc kết luận của Đảng đoàn và Đảng ủy Bộ Nội thương cuối năm 1974, nói cho biết. Có phải chỉ vì thủ tục kết nạp, hay vì có lý do nào khác? Dù sao tôi cũng thấy mình vô tình, hoặc vô ơn. Nhưng có lẽ như thế lại hay cũng nên, tránh những điều thị phi trong cuộc sống. Căn nhà ấy, tầng, trệt là phòng tiếp khách rộng 30m2, có kê một đi-văng gỗ, 4 cái ghế "phô-tơi" và 1 cái bàn có mặt đá cẩm thạch hình bán nguyệt đặt sát vách, ở giữa phòng. Chỉ cần dẹp 4 cái ghế "phô-tơi" ra bên vách, phòng khách biến thành sàn nhảy khi cần. Rượu chỉ cần bày ra ở cái bàn bán nguyệt thay thế tủ buffet. Khách khứa có nhiều loại; quan Tây thường xuyên là Trung úy Labrousse, Trưởng phòng Nhì, sành món rượu Sauternes của xứ Bordeaux, nhà luôn có sẵn. Quan ta thì phần lớn là sĩ quan của quân đội bù nhìn, lui tới vì tình thân, bà con bên vợ, chỉ một lần trong năm 50: Đại úy Lâm Văn Phát, kéo theo Trung úy Vĩnh Lộc (năm đó, Phát và Vĩnh Lộc vừa đi học trường Saumur ở Pháp mới về đều bổ sung vào đơn vị Thiết giáp của quân đội bù nhìn). Tôi chỉ chú ý vào một tên trung úy trẻ tuổi tên Lê Ngũ Hiệp làm sĩ quan bù nhìn trong Mission de Liaison Hòa Hảo ở Long Xuyên. Tên này năng lui tới vì mê các cô Sáng và Xuân là liên lạc của Chi 50, bố trí trong nhà tôi viện cớ là bà con bên vợ của nữ đồng chí Phấn. Lê Ngũ Hiệp chỉ mới là Thiếu úy thường gặp Năm Danh lui tới nhà tôi, nên biết mặt. Đến cuối năm 1952, sau khi tôi đã trở về Khu giải phóng, Năm Danh vẫn còn là liên lạc nội thành. Có một bận, Năm Danh đi ngang cầu Bắc Mỹ Thuận, gặp lúc quân lính bù nhìn đang làm ráp, bắt hết những người tình nghi, không giấy tùy thân. Năm Danh cũng bị bắt. Đến chiều khi Lê Ngũ Hiệp đến, thấy mặt Danh trong sổ bị bắt, liền ra lịnh thả Danh đi, không nói một lời. Tôi nghe Năm Danh thuật lại chuyện đó, thầm cảm ơn Hiệp, nhưng đến nay Danh đã không còn trên cõi đời, Lê Ngũ Hiệp chẳng biết mất còn, nhưng tình cảm ấy vẫn còn in đậm trong lòng tôi. Trong đoàn tháp tùng Phát còn có 2 thiếu úy quân đội bù nhìn nhưng nguồn gốc đạo Hòa Hảo, con ông một lính tập, điền chủ ở Cái Tắc, là Ủy viên Trung ương Phật giáo Hòa Hảo. Đó là Thiếu úy Lý Bá Phẩm và em là Thiếu úy Lý Bá Hương. Hôm đó, dọn món bún bò đãi khách, hai sĩ quan bù nhìn gốc Phật giáo Hòa Hảo nhìn nhau phân vân. Tôi chợt nhớ là đạo Phật giáo Hòa Hảo cữ ăn thịt bò. Tôi xin lỗi hai vị khách trẻ và nói thành thật: "Nhà không còn món gì khác, hai cậu tạm dùng mặn vậy". Thế là nể tôi, và có lẽ nể Đại úy em vợ tôi hơn, cả hai tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đều cầm đũa ăn ngon lành, vì có lý do để phá giới và vì sức hấp dẫn của vật cấm kỵ. Cần nói thêm: một ông ủy viên trung ương Phật giáo Hòa Hảo có lần đến xin tiền tôi tại nhà. Tôi vẫn hào phóng bỏ 400 đ vào phong bì để tặng ông, và đến lúc gần tập kết, ông có về Cái Tắc nhắn tôi ra để ông thăm. Tôi chỉ dặn dò ông có một câu: "Tôi đi ra Bắc chừng hai năm sẽ về. Ở nhà xin ông giữ sức khỏe sống lâu, dặn hai cậu đừng làm gì hại dân hại nước để sau này còn gặp nhau trong một gia đình". Ông gật đầu, rơm rớm nước mắt. Tôi tin là ông vẫn có nhớ lời tôi dặn. Nhưng hai cậu con ông có nghĩ gì đến đạo lý của cha ông? Đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông già không còn nữa, nhưng hai đứa con ông? Tôi chỉ biết một đứa lên Đại tá làm Tỉnh trưởng Định Tường, bị ta bắn trọng thương, may không chết. Thế đấy, cũng đủ kết luận một kiếp người và một đạo lý ở đời. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:49:09 pm Ở tại căn nhà đó, tôi cũng đã gặp nhiều tướng cướp Hòa Hảo khét tiếng, như Ba Cụt, Hai Niệm, như tên đội Hiền đến đánh cướp nhà tôi và được tôi tha chết. Mỗi người đều không có gì phải oán thán về cách đối xử của tôi, thậm chí có người còn ơn nghĩa. Tuy nhiên có một cuộc gặp làm cho tôi băn khoăn. Một hôm có cô thư ký riêng của Năm Lửa bước vào nhà tôi. Cô ta người Huế, lúc đó khoảng dưới 30 tuổi. Cô ấy trình bày hoàn cảnh khó khăn vì bị Năm Lửa nghi ngờ, vì trước khi vào làm với Năm Lửa, cô đã từng làm thư ký cho đại đội trưởng Bửu Vinh của Chi đội 18 đóng tại Sa Đéc, là bộ đội Việt minh. Cô khóc lóc xin cho về vùng Việt minh để kháng chiến. Tôi chỉ ngồi trinh sát để đồng chí Phấn tiếp chuyện cô ta. Đồng chí Phấn hỏi tôi:
- Thế nào, anh tính sao? Tôi cũng suy nghĩ nhiều về giọt nước mắt của người đàn bà: chân tình hay cá sấu? Cuối cùng tôi phải mở cho cô ta một cánh cửa: - Thôi đừng khóc nữa, vì tình đồng hương tôi thành thật khuyên cô: - Nếu cô đến tôi để hy vọng làm cho 2è B. Pháp thì đừng hòng, 2è B. sẽ trả cô trở lại với ông Tổng ngay. Còn cô muốn theo Việt minh thì chán gì ngõ để cô đi. Xe đò từ đây về Cần Thơ, chặng Ô Môn - Bình Thủy, không có Hòa Hảo, hỏi người dân nào lại không phải Việt minh. Còn hỏi tôi, sợ e cô hỏi lầm địa chỉ. Cô từ giã ra về còn mếu máo: - Phen này chắc em chết quá! Sau này tôi có hỏi lại anh Bửu Vinh, thì quả cô ta đã có làm thư ký cho anh ấy hồi còn ở Sa Đéc. Biết thế nào được, nghề nghiệp buộc phải vô tình. Nếu cô ấy còn sống cũng đã ngoài 60, chắc cũng lượng thứ cho người đồng hương, bất đắc dĩ phải ngoảnh mặt làm ngơ trước cảnh ngộ người con gái sa cơ lỡ vận. Nhà tôi ở cạnh đường cái, nhưng khách vào ra chủ yếu là các sĩ quan Pháp, bù nhìn, Hòa Hảo và phiên dịch nhà binh Pháp. Đối với số phiên dịch viên, tin tức và cũng không biết còn hay mất. Một anh là Ô Văn Hiền. Anh ta là Trung sĩ phiên dịch được đổi về S/Secteur Châu Đốc, khi đến trình diện ở 2è B. Secteur, chưa có xe về Châu Đốc, tôi mời anh lại nhà tôi nghỉ tạm. Sau bữa cơm thân mật có tính gia đình tôi đưa mấy tờ báo công khai ra cho anh xem, rồi cùng nhau bàn luận thời sự. Qua đó tôi hiểu anh vẫn có lòng yêu nước thương nòi, nhưng vì sinh kế phải xin vào ngành phiên dịch viên cho quân đội Pháp, hợp đồng 3 tháng ký lại 1 lần như tôi. Anh ta cho biết đã có vợ con, và đã từng làm phiên dịch cho bọn Nhật. Gia đình ở Quảng Ngãi. Mỗi khi anh về Long Xuyên báo cáo tình hình anh đều ghé tôi cả. Hồi đó ở S/Secteur Châu Đốc chưa có cơ sở của C.50. Tôi mạnh dạn nhờ anh ta giúp đỡ. Ban đầu báo cáo miệng, sau báo cáo viết, sau nữa báo cáo bằng mực nước cơm. Sau năm 1951, anh thôi luôn. Tôi cũng không tìm gặp lại anh. Dù sao, anh là người cho, tôi là người nhận, và cũng không biết cụ thể cơ quan tôi phục vụ. Hơn nữa, tôi đang được Labrousse tin dùng. Nếu Ô Văn Hiền còn sống, cũng đã ngoài 75 "cổ lai hy". Trường hợp một anh khác. Cũng phiên dịch viên, nguyên là thầy giáo ở Sóc Trăng, gọi là thầy giáo Sanh. Anh ta là trung sĩ phiên dịch của đoàn B.C.E.O. được theo Đoàn về khám xét bắt bớ một người ở thị xã Rạch Giá. Đi ngang Long Xuyên, bọn sĩ quan phản gián (B.C.E.O.), Trung úy Barat và Thiếu úy Mas kéo nhau vào Câu lạc bộ sĩ quan Pháp ăn tối. Tan sở, nhìn ra thấy chàng Trung sĩ người Việt đứng bơ vơ một mình. Tôi liền mời anh về nhà tôi ăn cơm và nghỉ đêm. Tất nhiên, anh nhận lời mời. Bổn cũ soạn lại để tiếp khách đồng nghiệp. Cơm xong, đọc báo chung, bàn luận thời sự, hỏi thăng lương bổng, cùng nhận định mức lương phiên dịch viên chỉ bằng 1/10 lương của lính Pháp cùng cấp bậc. Được biết Sanh là thầy giáo, tôi cũng tự nhận mình cũng là thầy giáo dạy Taberd, rồi nói luôn: - Tụi mình ở trong một ngành đi ngược lại những điều mình đã dạy dỗ học sinh. Nhớ lại bài học thuộc lòng của luân lý giáo khoa thư cụ đồ Thận: "Thương người như thể thương thân" nhiều khi mình cũng thấy xấu hổ với lương tâm. Sanh nói: - Thì mình cũng cố phiên dịch sao đúng nghĩa, đừng để "bút sa gà chết". Tôi phụ họa theo: - Làm sao lời mình nói ra đồng bào đỡ khổ thế là cũng tốt. Hôm sau, chúng tôi cùng đi với đoàn B.C.E.O. về thị xã Rạch Giá. Tôi được Labrousse cử đi, vì S/Secteur Rạch Giá tuy đã giao cho 2è BVN quản lý, nhưng vẫn thuộc quyền Secteur Long Xuyên. Vì đoàn B.C.E.O. muốn trực tiếp thi hành phận sự, không cần thông qua cấp chỉ huy S/Secteur Rạch Giá do Thiếu tá Bùi Văn Hai cầm đầu. Chỉ cho biết khi sự việc bắt đầu tiến hành. B.C.E.O. bắt đầu xét nhà và bắt người về điều tra tại văn phòng S/Secteur. Chúng chỉ tiến hành xét nhà đúng vào nửa đêm, không gây tiếng động. Hôm sau, có Đại úy Daugré chỉ huy B.C.E.O. ở Sài Gòn xuống. Hắn là một người tuổi ngoài 50, đầu tóc hói tận đỉnh. Tôi thầm so sánh, ước lượng sức lão không thể chịu nổi một quả thôi sơn của tôi đúng vào chỗ hiếm khi cần thiết. Bộ chỉ huy họp lại để nhận định tình hình. Đây là dịp để tôi quan sát đối thủ và cách làm việc của chúng. Tối hôm ấy, chúng bắt một người trung niên tên là Huỳnh Thiện Môn, đem ra hỏi cung. Hết Trung úy Barat tới Thiếu úy Mas thay nhau hỏi cung, một chai Rum để trên bàn, một cây "ma trắc" bên cạnh, Trung sĩ Sanh làm phiên dịch. Tôi nằm trên lầu vẫn nghe tiếng rên la của người bị tra tấn, trằn trọc không ngủ được. Đến gần nửa đêm, Sanh lên lầu thấy tôi còn thức liền nhờ tôi xuống thông ngôn giùm. Anh nói: - Anh xuống giúp tôi. Tôi không chịu nổi, thằng Mas nó vừa nốc Rum vừa đánh Việt minh bắt phải khai thật!. Tôi hỏi: - Nó đã khai gì chưa? - Nó chỉ nhận là em của Huỳnh Thiện Lộc. Tôi nhận lời, trong đầu đã phác họa kế hoạch chữa cháy. Tôi xuống thấy Thiếu úy Mas đang cầm chai rượu mạnh rót vào cốc vại. Tôi bắt tay hắn. Bàn tay hắn khỏe, hơi nham nháp mồ hôi. Mặt hắn đỏ gay, bộ mặt phốp pháp cũng như toàn thân tràn trề sức mạnh một tên đô vật. Hắn còn nhỏ hơn tôi chừng năm tuổi. Tôi tấn công: - Tôi sẽ chạm cốc với anh! Hắn rót luôn phần còn lại của chai Rum ra một ly khác. Tôi đưa ly lên cao "Nous trinquons sec" (chúng ta uống khan vậy!), về tửu lượng, hồi đó tôi cũng là một địch thủ đáng gờm. Hơn nữa, trước khi xuồng lầu, tôi đã nuốt liền 2 viên aspirine để giã rượu. Chén chú chén anh "chúc sức khỏe" (à votre santé, à la vôtre), Mas thích thú vì gặp được kỳ phùng địch thủ, quay hẳn lưng về tên tù binh cần thẩm vấn Huỳnh Thiện Môn, cây ma trắc để lăn lóc trên bàn không còn buồn cầm đến. Cho đến lúc Mas gục hẳn trên bàn, tôi cũng chếnh choáng đến vực nó và dìu nó về phòng ngủ. Khoát tay cho tên lính giải Huỳnh Thiện Môn đi trở lại phòng tạm giam. Tôi suy nghĩ: "B.C.E.O. còn muốn gì đây? Nội cái tội là em của Bộ trưởng Canh nông Việt minh cũng đủ cớ để cho chúng cầm tù mọt gông rồi". Dù sao tôi cũng đã nhận mặt được bọn chúng và hiểu được phần nào thủ đoạn của chúng. Tôi không gom Sanh vào bọn chúng. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết Sanh không thể là người Việt Nam đã mất hết lương tâm, vì anh đã là người có dạy học. Chú Tư Ngà sau này trở về hưu ở quê cũ, dãy phố 18 căn đường Lộ Mới ở Cần Thơ đã từng bị bọn B.C.E.O. giam cầm tra tấn, đã cho tôi biết cụ thể hơn về người phiên dịch đó lúc chú bị giam ở Tân Sơn Nhì: Hôm đó, chú bị giam chung phòng với Hai Quí. Trung sĩ phiên dịch Sanh đi ngang qua, biểu chú Tư Ngà đi theo kỳ lưng cho anh ta tắm, vào phòng tắm, Sanh dặn nhỏ: "Tụi bây đừng nói chuyện riêng với nhau to tiếng, vì bên vách phòng giam có đặt micro cả". Thế là anh vẫn có lòng tốt. Nhưng lòng tốt của con người cũng có giới hạn nhất định không thể vượt qua. Chúng tôi trân trọng những tấm lòng Ưu ái giữa bốn bức tường kín mít của quân thù. Cuộc chiến đấu trong lòng địch vẫn còn tiếp tục. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:50:40 pm CHƯƠNG 12 ĐOÀN PHẢN GIÁN CB.C.E.O. 1951 - 1952 Sau khi theo đoàn B.C.E.O. xuống S/Secteur Rạch Giá, tôi đã bước đầu thấy được tận mắt kẻ thù trực tiếp cần đối phó. Đó là Đoàn "Brigade de Contre Espionnage opérationnel (Đoàn phản gián hành động) của Bộ Tổng Tư lịnh Quân đội Pháp. Đó là một sáng kiến của Tướng De Lattre de Tassigny, để trực tiếp đối phó với các hoạt động tình báo. Công an của Việt minh đang gây nhiều lỗ rò (fuite) trong các Bộ chỉ huy quân sự ở các quân khu miền Tây (Zone Ouest). Tôi đã cảm nhận tình hình đó ngay từ khi có bức thư nặc danh tố cáo tôi sau chiến dịch Long Châu Hà II mà kết quả trực tiếp là Sáng phải mất việc. Đoàn phản gián của Bộ Tổng Tư lịnh Pháp đã trực tiếp hành động, cần phải cẩn thận nhiều hơn nữa. Và phải tìm hiểu nhiều hơn về đối phương để bảo vệ cơ sở, bảo vệ mình tốt hơn. Vịn vào cớ bị bệnh trĩ kinh niên, tôi xin phép Labrousse đi Sài Gòn để điều trị, nhân dịp nghỉ phép năm 15 ngày, tiêu chuẩn phép năm 1951. Labrousse đồng ý và nhân thể biểu tôi trả lại vũ khí để vào kho cho an toàn hơn. Một khẩu Mi-Mas và một súng ngắn local của bọn đầu thú đem ra hàng. Tôi thấy cũng hợp lý nhưng cũng suy nghĩ liệu Labrousse đã có nghi ngờ gì về lý do tôi trị bệnh chăng? Tôi phác thảo kế hoạch lên Sài Gòn. Được ở Sài Gòn dài ngày, tôi dự định thăm những người quen cũ của tôi, những bà con bên vợ, xong rồi mới đến Cây Mai trị bệnh trĩ tại nhà bà Lê Minh Đường, nổi tiếng về trị bệnh trĩ. Trước hết, tôi và nữ đồng chí Phấn đến đường Champagne (nay là Võ Thị Sáu) tìm đến nhà Thiếu tá Lâm Văn Phát ăn ở với bà Thu, con gái của huyện Kệ - một địa chủ lớn có nhiều điền ở Sóc Trăng. Biệt thự của bà Thu khá sang trọng, ngoài ra, bà vẫn có một cửa hàng bán điểm tâm "Les Prégogifébriques" tại ngã tư đường Gia Long và Charner. Bà Thu dẫn chúng tôi đến ăn sáng, kêu phở Bắc đãi anh chị chồng rồi đưa xe về nhà, dọn cho chúng tôi ở một phòng lịch sự, có điện thoại riêng ở trong biệt thự đường Champagne. Bà Thu cho biết là Phát đã được đổi ra miền Bắc, đang là chỉ huy một G.M. (Trung đoàn cơ động) hành binh ở vùng Ninh Giang (Hải Dương), bà Thu hiện đang ở một mình làm bạn với một thiếu úy nhảy dù tên Hùng. Cũng như với Phát, quan hệ Thu với Hùng cũng già nhân nghĩa, non vợ chồng. Hai chúng tôi từ giã cô em dâu tạm, tìm ở nhà khác. Vợ tôi (đồng chí Phấn) dẫn tôi xuống Cầu Muối, vào xóm nhà lá tìm cậu Năm Sâm. Cậu Năm Sâm là em cùng cha khác mẹ với bà giáo Phận, quê ở Sóc Trăng, lên Sài Gòn từ tháng 4 năm 1948, làm công chức đánh máy ở Tòa Đô Chính Sài Gòn cho mãi đến ngày giải phóng. Mợ Năm tên Lộc, vốn ở Châu Phú (Châu Đốc) lên Sài Gòn, ở đợ, làm công nhân, xây dựng gia đinh, nhưng không có con. Hai vợ chồng cậu Năm ở một căn nhà lá chật hẹp trong xóm lao động, trước chợ Cầu Muối, rất vui mừng gặp chúng tôi, và sẵn sàng chia sẻ chỗ nằm nhường cho chúng tôi ở. Chật bụng chứ chật chi nhà! Chúng tôi ở nhà cậu mợ Năm suốt thời gian trị bệnh, thấm thìa tình cảm giai cấp, chan hòa tình cảm gia đình. Hai cậu mợ ở một căn chòi lá cất giữa bao nhà lá khác của xóm nhà nghèo. Nền đất không đầy 9m2: cả bếp nước, cầu tiêu, hai cái giường tre ngăn đôi bằng một tấm liếp cót. Giường ngoài là nơi tiếp khách dành cho vợ chồng tôi, giường trong là nơi cậu mợ nằm. Không bao giờ cậu mợ than nghèo than khổ, cậu nói: - Tụi mình có cái lều mà ở là sướng hơn thiên hạ rồi. Các cháu biết không, ở đây công nhân không có nhà ở, phải mướn một chỗ nằm 90 đ/tháng đa! Lâu lâu mợ Năm làm công nhân hãng đồ hộp đem về một hộp trái cây khui ra cho chúng tôi ăn. Mợ nói: - Giấu kỹ lắm đó, mới đem ra lọt cổng, thằng Chà gác cổng nó xét dữ lắm, công nhân nữ nó càng xét kỹ từ nách xuống háng. Tôi hỏi thăm gia đình, mợ cho biết có một người anh là huyện đội trưởng Châu Phú đã bị bọn Hòa Hảo Hai Ngoán giết chết. Nhà ở gần chợ Cầu Muối, có một rạp hát bội nổi tiếng hồi đó là Tân Thành Ban, có cô Ba Bê, đào hát chuyên đóng vai kép. Cậu Năm Sâm mua vé cho chúng tôi, dân tỉnh lẻ, đến thưởng thức cho biết nghệ thuật ở Sài Gòn. Tôi cũng được biết danh tiếng các đào hát nổi danh ở Sài Gòn hồi đó, cải lương có các cô Năm Phỉ, Phùng Há, hát bội có cô Ba Bê. Nhưng cái làm rung động tim tôi nhất lại không phải là tiếng đàn hát trong các rạp đồ sộ. Nhân một buổi cả nhà đều đi làm hết, tôi lần đi sâu vào trong xóm nhà lá, bỗng nghe tiếng hát "Tiểu đoàn 307" vang lên, tôi lần tìm tới chỗ. Một bác xẩm mù đang hát bài hát kháng chiến, với nhiều thính giả bao quanh. Một đứa nhỏ ngã nón đứng bên cạnh. Đột nhiên như có báo động, bác xẩm mù chuyển sang nói thơ Vân Tiên. Tôi vốn không biết âm nhạc, nhưng cảnh tượng đó làm tôi xúc động nhiều. Thì ra lòng dân ở xóm nghèo bất cứ lúc nào cũng hướng về kháng chiến, về Cách mạng. Chúng tôi tiếp tục đi tìm các địa chỉ quen thuộc ở Sài Gòn. Trở lại đường Champagne, chúng tôi vào thăm nhà của Thái Thúc Nha, chủ tiệm Alpha film ở đường Charner. Alpha film là một tiệm nhập cảng phim và máy ảnh từ Mỹ, có cả ảnh chụp hình màu, tiệm duy nhất có phim màu của Mỹ. Thái Thúc Nha là con của Thái Thúc Hoành, một quan lại triều đình Huế. Nha là nhà buôn lớn có đi lại thân thiện với Barat một viên cò lính kín, hiện đang phục vụ cho B.C.E.O. với cấp bậc trung úy. Nha lấy cô Agnès là em ruột của Tư Quí, nên cô Tư Phết lên ở nhà sau của Nha để đi bán vé rạp hát. Cảnh ở đậu nhà em rể của chồng cũng không có gì là thoải mái lắm. Nha vẫn nồng nhiệt tiếp đón chúng tôi, mở một chai Whisky ra đãi tôi. Thú thật tôi khá rành về rượu Tây, nhưng về hương vị rượu Mỹ lần đầu mới nếm, thấy hôi mùi bọ xít quá, muốn phun ra nhưng nể chủ nhà, cố nuốt và khen ngon. Mục đích của tôi là muốn hiểu thêm về tên Barai, nhưng hoặc do kín đáo, hoặc vì lý do nào khác, Nha không cho tôi biết nhiều về tên Trung úy B.C.E.O. ấy. Tôi gặp Tư Quí lần đó cũng ở nhà Nha. Một gia đình buôn bán lớn, gốc phong kiến lại có quan hệ với B.C.E.O. ấy. Thật đáng lo cho Tư Quí. Tuy không yên tâm, nhưng cũng không tiện nói ra, làm cho Tư Quí thêm hoang mang. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Năm, 2026, 09:51:25 pm Trở về ngủ tại nhà cậu Năm Sâm, chúng tôi yên tâm hơn. Hôm sau tiếp tục đi kiếm những nhà quen. Tôi tìm được địa chỉ của Mai Chùy, người bà con ở làng, em ruột Mai Xuẩn, bạn tôi. Tôi chỉ biết anh đã đem cả gia đình đi Xiêm từ đầu năm 1946. Chùy lúc này đã lấy vợ, có nhà ở quận Phú Nhuận lúc đó còn hoang vắng lắm. Chùy đã làm sĩ quan công binh nhưng trong nhà cũng chỉ đủ ăn. Tôi gặp cả hai chị em cô Nguyệt và Huệ, con gái của anh Tư Bằng, bạn của Mai Xuẩn lúc còn làm Commis hãng Arsenal Pháp, hai chị em vẫn còn công tác phụ vận ở Sài Gòn. Cô Huệ cho tôi biết đang làm ở tổ chức công đoàn và sắp tới có thể chuyển về Sóc Trăng. Hai chị em vẫn tin tưởng ở tôi, mặc dù tôi mặc binh phục Pháp mang lon Chuẩn úy trên vai. Tôi đặt vấn đề thẳng với Nguyệt:
- Nếu khi nào anh cần ra vùng giải phóng, em có dẫn anh đi được không. Nguyệt gật đầu nhận lời. Tôi quay sang Huệ: - Còn Huệ, em về Sóc Trăng, nếu có khó khăn gì thì tìm tới anh. Tới Long Xuyên, hỏi tên anh thì ai cũng biết. Và tôi đưa địa chỉ của tôi cho Huệ. Chúng tôi bắt tay nhau như một cái giao kèo tín nhiệm của những người đã từng hiểu biết nhau. Thế đấy cuộc sống trong lòng địch luôn luôn phải biết phòng xa, trân trọng những tình cảm có thể gặt hái được. Sau đó, quả Huệ có đổi đi Sóc Trăng, tập kết học ngành Y, thành lập gia đình, trở về thành phố Hồ Chí Minh, làm Giám đôc Bệnh viện Hồng Bàng, nay đã mất. Gia đình anh Tư Đặng vẫn ở trong căn nhà cũ kỹ ở bên rạch Thị Nghè, đối diện Sở Thú. Chùy cho biết anh Mai Xuẩn ở Bangkok có viết thư về, và nay mai má của Chùy, bà Viên Phu cũng về Sài Gòn ở với Chùy. Tôi hẹn sẽ trở lại trong tuần sau. Yên tâm về nơi ở và đường dây để rút ra ngoài thành khi có biến, chúng tôi vào Chợ Lớn kiếm nhà thiếu tá Nguyễn Tri Long. Theo kế hoạch từ trước, khi thấy 2è B. có hồ sơ theo dõi Ngô Đình Diệm, tôi đã thảo luận trong tổ Đảng về kế hoạch của tôi định chui vào hàng ngũ Ngô Đình Diệm, vì biết rõ đây là lá bài của Mỹ chuẩn bị thay thế Pháp. Kế hoạch đó đã được tổ Đảng và Chi 50 chấp nhận. Tôi đã viết sẵn một bức thư cho Linh mục Thích và nhờ đồng chí Phương Nam, Chi ủy viên đưa về Chi 50 để cho người cầm tay ra Huế chuyển cho Cha Thích. Nếu được Cha Thích chấp thuận, tôi sẽ tìm cách trở về Huế. Thông qua Cha Thích, vốn là cha linh hồn (cha lựa chọn để xưng tội) của Diệm và đã từng cộng tác với Diệm trong lễ tấn phong Giám mục Ngô Đình Thục, nên tôi chắc kế hoạch sẽ được tiến hành thuận lợi. Tôi đến gặp Thiếu tá Long, vì được tin Long ở một căn phố trên đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo), tiếp chúng tôi thân tình. Tôi ngỏ ý muốn theo Long ra Huế công tác, Long đồng ý ngay "Để tao ra đó đã, rồi sẽ xin mày ra theo sau". Tôi hỏi thêm về đoàn B.C.E.O. Long cũng không biết gì hơn ngoài những tin tôi đã biết. Kế hoạch ra Huế kể như bước đầu có thuận lợi. Tuần kế tiếp làm một bài thơ 4 câu để cảm ơn bà Lê Minh Đường. Bà cho đăng lên báo hằng ngày, có cả tên và địa chỉ tác giả nhằm mục đích quảng cáo. Không ngờ bài thơ quảng cáo đó lại là bằng chứng chứng minh sự có mặt tôi ở Sài Gòn, trong lúc ở Long Xuyên, Labrousse lại nghi ngờ tôi đi vào vùng giải phóng. Trước khi trở về Long Xuyên, tôi lên Phú Nhuận một mình để thăm bà Viên Phu và hỏi tình hình làng xóm. Đã lâu lắm rồi, từ 6 năm nay, tôi không biết tin tức về mẹ, em gái và con trai tôi sống chết ra sao cả. Tôi không muốn cho gia đình tôi biết tôi đang làm việc cho giặc, sợ liên lụy đến người thân. Mặt khác, tôi phải gánh một trách nhiệm khá nặng nề không thể chia sẻ cho ai được. Tôi tin là dù sao, ở quê nhà, không ai nỡ bỏ ai đói cả. Điều đó đã thành tập quán tốt của dân tộc. Gặp bà Viên Phu, vốn tôi gọi bằng O, lúc tôi còn nhỏ, đã từng cho tôi ăn uống, tôi coi như một người mẹ ruột. Thấy tôi mặc đồ nhà binh Pháp, đeo lon vàng chói trên vai. O Viên cau mày nói thẳng: "Mi có biết mạ và con mi đang dắt nhau đi ăn xin khắp làng không, mà mi ăn sung mặc sướng rứa!". Tôi xấu hổ thật sự. "Hơn nữa, mi lại theo Tây phản lại cha ông mi!". Tôi xám mặt không dám cãi lại một tiếng nào. Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy khổ sở như lúc ấy. Tôi ráng lặng thinh nghe lời bà O xỉ vả, rồi sau hỏi thêm O tình hình cụ thể hơn. Thì ra, sau trận càn quét giữa năm 1951, cả làng bị giặc đốt sạch, em gái tôi, O Hợi, bị bọn Tây đem hãm hiếp, mẹ tôi phải dẫn thằng Xiềng con tôi đi xin ăn khắp các làng, lang thang, rách rưới. Không cần thấy tận mắt, tôi cũng hình dung được cảnh cơ cực đến thế nào rồi. Tôi cố nuốt nước mắt, đứng lên chào O Viên, ra về. "Mi tính răng?". Tôi chẳng biết trả lời sao cho phải. Đơn vị đang bị B.C.E.O. tấn công. Nhiệm vụ của tôi thật khá nặng, phải tìm cách vừa đánh giặc, vừa bảo vệ mình, vừa bảo vệ cơ sở. Thêm vào đó, còn hoàn cảnh gia đình không lẽ nhắm mắt làm ngơ? Hôm sau chúng tôi mua vé xe đò trở về Long Xuyên để mong chờ họp tổ Đảng, nhờ các đồng chí giải quyết giúp. Đi ngang Cần Thơ, tôi không quên ghé thăm chú Tư Ngà (V.52), Trần Huy (V.35) và cô Nhụy (V.18) để báo động về tình hình mới: bọn B.C.E.O. đang dòm ngó miền Tây, cần cảnh giác và phổ biến một số địa điểm liên lạc khi cần rút gấp. Đặc biệt, tôi dặn dò Huy khi cần đi gấp thì đến ngay chùa Nữ ở Cái Khế, cầm 5 thẻ nhang rồi xin ni cô thêm 7 thẻ nữa. Ni cô sẽ dẫn xuống xuồng bơi về vùng ta kiểm soát. Đó là địa điểm bí mật, chỉ khi nào cấp bách mới sử dụng tới. Địa điểm đó do bà giáo Phận đảm trách, vì bà thường hay viếng chùa. Trao đổi thêm với Trần Huy, tôi biết từ ngày Michel Đức đổi về Cần Thơ, hắn tỏ ra hăng hái, và vừa rồi hắn đã dịch một số tài liệu Việt minh gửi về Sài Gòn, trong đó có vụ án hai vợ chồng Quận Bằng, chủ quận Bình Đại đi vào vùng giải phóng. Tôi hỏi Huy sao không thủ tiêu tài liệu đó đi, thì Huy nói là thằng Michel Đức chụp được tài liệu, đem dịch ngay. Tôi lo cho Huy vì vụ Quận Bằng trốn đi có liên quan đến cả Trần Huy và chú Tư Ngà. Nhưng hiện cả hai vợ chồng Quận Bằng vẫn còn ở vùng giải phóng, nên không đủ bằng chứng để buộc tội Huy, nếu bọn B.C.E.O. phát giác được. Về đến Long Xuyên, họp tổ Đảng, tôi đem vấn đề gia đình ở quê lâm nạn báo cáo với tổ Đảng để xin ý kiến tập thể giải quyết. Tổ Đảng nhất trí cần phải đem gia đình, mẹ, em gái và con trai tôi vào tính toán tiền nong bao nhiêu nhờ Chi bộ giúp. Tôi tính toán khoản mua vé máy bay, trên dưới 10.000 đồng. Nữ đồng chí Phấn cho biết tiền lương tôi vừa lãnh đầu tháng được 3.000 đồng, còn thiếu khoảng 7.000 đồng. Đồng chí Phương Nam và Năm Danh chịu trách nhiệm báo cáo với Chi bộ C.50 bổ sung cho đủ số. Mấy hôm sau, Năm Danh trở về cơ quan báo cáo, các đồng chí đều tán thành việc rước gia đình tôi vào, và quyên góp đủ số tiền cần giúp đỡ để mua vé máy bay. Nhận được số tiền, kể cả tiền lương còn lại, đủ 10.000 đồng. Tôi liền gửi ngân phiếu cho Nguyễn Văn Hưng, nhân viên Ty An ninh Trung phần kèm theo một bức thư, nói rõ yêu cầu mua vé máy bay cho gia đình tôi vào Sài Gòn, và đánh điện báo cho tôi biết chuyến bay để lên đón. Hưng là con của ông chủ cũ của tôi tên Cáp, làm chủ sự Bưu chính Cửa Tùng hồi tôi còn nhỏ. Tối đã dạy cho nó học, nên nó không thể quên tôi, và sẵn sàng giúp đỡ. Tôi tin thế. Mặt khác, tôi viết thư báo cho Cha Thích biết gia đình tôi gặp nạn, nhờ Cha giúp cho tá túc lúc ở Huế chờ vé máy bay đã nhờ Hưng mua. Tôi tin chắc vào tình cảm và lòng nhân hậu của Cha Thích, nên yên trí chờ không cần thư trả lời. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 09:49:52 pm Sau Tết 1952, tôi nhận được điện từ Huế đánh vào, nói rõ chuyến bay đưa gia đình tôi vào Sài Gòn. Tôi cùng đồng chí Phấn lên Sài Gòn, ở nhờ nhà cậu mợ Năm Sâm ở Cầu Muối rồi thuê xe taxi lên Tân Sơn Nhất đón chuyến máy bay từ Huế vào. Tôi đứng ngoài cổng rào nhìn ra sân bay, đợi giờ sum họp. Trên máy bay bước xuống mẹ và con tôi cũng mặc theo lối nông thôn nhưng cũng lành lặn đang ngơ ngác nhìn quanh thì thằng Xiềng đã buông tay bà nội, vừa chỉ, vừa chạy: "Ba con đây nè, mệ ơi!". Nó đã lớn lên khác hẳn tôi hình dung. Xa cách 7 năm, nó vẫn nhận ra tôi, mặc dù tôi đã khác hẳn trước về ăn mặc và tư thế. Tôi giới thiệu vợ tôi cho mẹ tôi biết, rồi đưa gia đình tôi về ngủ ở một phòng trọ, hôm sau đi xe đò về Cần Thơ, vào thăm gia đình bên vợ tôi, rồi đưa về Long Xuyên ở với vợ chồng tôi. Thế là sau Tết 1952, tôi được sum họp cả gia đình tại căn nhà 36 Lê Lợi Long Xuyên. Cảm ơn Đảng, cảm ơn Chi bộ đặc biệt Chi 50 đã tạo điều kiện cho tôi có được niềm vui ngay cả trong lúc đang còn chiến đấu cam go nhất một mất một còn với quân thù. Tôi được yên tâm hơn để đối phó với những khó khăn do bọn B.C.E.O. đem lại: Ở Cần Thơ một số vụ bắt bớ đã xảy ra, nhưng chỉ dính líu đến mạng lưới của Tiểu ban quân báo của Tỉnh đội Cần Thơ. Mỗi lần chiếc xe Chevrolet bịt bùng sơn đen từ Sài Gòn xuống là y như đêm có bắt bớ một vài người về Sài Gòn để thẩm vấn. Ở Long Xuyên, mối quan hệ giữa sếp 2è B. Secteur, Trung úy Labrousse với tôi có phần dè dặt hơn trước. Qua một số sự việc, tôi liên kết lại để thấy sự tín nhiệm có phần giảm sút, sự kiểm tra có phần tăng lên. Sau khi Labrousse biểu tôi trả lại vũ khí tôi mượn để phòng cướp trước ngày tôi đi phép về, Trung úy không nói chuyện cho tôi mượn lại súng để phòng vệ nữa, tôi cũng làm ngơ luôn để bệnh trĩ trở về, y có ý ngờ tôi xin phép để ra vùng Việt minh, nên không tin là tôi lên Sài Gòn để trị trĩ. Tôi nhìn thẳng vào mặt sếp tôi, nói trâng tráo: "Vous voulez que je vous montre mon cul pour le constater de visa?". Tôi biết là câu nói có vẻ xấc xược, nhưng vẻ mặt tôi quả thành thật. Đít tôi vẫn còn phải băng bông, nếu cần tôi sẽ cởi ngay trước mặt hắn. Y thấy tôi nói quá trớn, vội rút lui hai tay xoa xoa không khí: "Assez, assez!".
Thế là tôi cần phải cảnh giác hơn nữa. Trong lúc đó, tôi cũng mời Labrousse đến thăm gia đình tôi mới ở Huế vào. Tôi giới thiệu mẹ tôi. Hắn cũng lễ phép cúi đầu bắt tay, nhưng mẹ tôi bản chất vốn nông dân đã sẵn ý ghét Tây thâm căn cố đế, nên không thể nào giấu nổi vẻ mặt khó chịu. Da mặt vốn đã nhăn nheo, co rúm lại. Sau đó, mẹ tôi nhỏ nhẹ hỏi tôi: - Mi có nhớ ai đã giết ông nội mi không?. Tôi mỉm cười giả lả với mẹ: - Ôi! Chuyện xưa rồi, nhớ làm chi cho mệt đó, mạ ơi! Thấy mẹ tôi vẫn u uất, tôi nói thêm: - Mạ đã già rồi, đừng nghĩ nhiều. Con cháu được ăn sung mặc sướng là nhờ phước đức ông bà để lại đó, mạ ạ! Coi chừng mạ tôi vẫn chưa thỏa mãn, gặp vợ tôi lại năn nỉ: - Con ráng địch vận nó đi! - Hết năn nỉ người này lại năn nỉ người khác. Mẹ tôi lại năn nỉ thằng Dũng, con trai tôi: - Mi không địch vận ba mi đi! Thằng Dũng cũng lắc đầu: - Con sợ lắm, mệ ạ! Tôi biết mẹ tôi lần đầu tiên được ở nhà lầu, ăn uống sung túc khác hẳn hồi ở quê một trời một vực, nhưng trong lòng vẫn không vui vì thấy đứa con trai duy nhất trong gia đình, đã trưởng thành lại có chí hướng phản nghịch với cha ông. Dù sao, tôi vẫn tôn trọng nguyên tắc bí mật, không để hé nửa lời cho mẹ tôi đoán được thực chất việc làm của tôi. Quan Tây, quan ta vẫn tấp nập vào ra hằng ngày, uống rượu, nhảy đầm, nếp sống không có gì thay đổi. Tôi đã gởi thằng Dũng1 (Sau này là nhạc sĩ Trí Thành, tác giả bài hát "Cây chông tre") cùng với ba em gái nó vào học trường tỉnh ở gần nhà. Và nhờ chú Long, con xã Mót ở bên cạnh nhà, làm y tá đến tiêm thuốc trị bệnh cho con Hợi, em gái tôi, và yên tâm không lo lắng gì về việc nhà. Năm Danh vẫn sống trong gia đình, với danh nghĩa là cậu Năm, em vợ tôi. Bỗng một hôm, vừa đi làm về, tôi thấy một tờ giấy đặt trên bàn. Tôi cầm đọc. Đó là bức thư từ biệt của thằng con trai để lại. Nội dung bức thư đại ý như sau: "Con là con nhà được cách mạng đào tạo, không thế nào sống chung với Việt gian, nên con đi tìm theo cách mạng, ba đừng tìm con nữa". Thư viết đầy trang giấy vở học sinh. Tôi hỏi thăm thì mẹ tôi nói, không biết nó đi đâu. Tôi chắc mẹ tôi cũng đồng ý cho nó trốn học tìm theo Việt minh. Hiểu tình hình phức tạp của vùng căn cứ Hòa Hảo, trong phạm vi 20km, không một người dân nào dám hé môi nói đến hai tiếng Việt minh, tôi đành phải nhờ đồng chí Năm Danh đi tìm nó về, tuy vẫn không tin vào kết quả. Trong ruột rối như lửa đốt, chiều tôi xin phép về sớm. Năm Danh ra đón tôi tận cổng báo cho biết đã tìm thấy nó ở bên kia sông Hậu, đang lang thang đến gần xóm nhà thờ, gần bến đò ngang. Tôi làm thinh, không nói nửa tiếng. Chờ cho mọi người ăn cơm tối xong, đến khoảng 9 giờ tối, tôi mới hỏi tội thằng "con trai bất hiếu, trốn học, bỏ nhà đi theo Việt minh". Tôi biểu hai đứa em gái nó ra sau vườn chặt về cho tôi mười cây roi dâu cỡ bự. Lát sau, hai chị em đem về cho tôi đủ số, nhưng kích thước còn nhỏ hơn đầu mút đũa. Tôi đặt 10 chiếc roi dâu lên bàn, bắc ghế dựa ngồi giữa bàn, kêu Dũng ra để hạch tội. Mẹ và em gái tôi, Năm Danh đều ngồi im nhìn tôi xử tội. Tôi đọc bức thư từ biệt của nó đã để lại cho tôi hồi trưa cho mọi người nghe, rồi gằn giọng: - Dũng! Ra đứng trước đây cho tao hỏi. Mi viết thư này phải không? - Dạ phải. - Mi nói mi được cách mạng đào tạo, mi là Việt minh nên không sống chung nhà với cha mi là Việt gian phải không? Vẫn đứng khoanh tay trước ngực, Dũng xác nhận: - Dạ phải. - Thôi được, mi hãy định nghĩa cho tao hiểu cách mạng là gì? Nói nghe lọt tai, tao tha tội cho, bằng không, tao sẽ đành cùn 10 cây roi này đa! Tôi tưởng con tôi mới 15 tuổi đầu, nhà nghèo, không được học hành, sẽ lúng túng trước câu hỏi có tính chất sát hạch chính trị đó, không ngờ, Dũng cất cao giọng đọc thuộc lòng như một học sinh gặp câu hỏi trúng tủ: - Cách mạng là lật đổ một chế độ cũ mục nát thối tha, để thay thế một chế độ xã hội mới công bằng hợp lý hơn. Tôi cố kìm chế nỗi vui mừng, liếc nhìn cử tọa. Mẹ tôi, em gái tôi, vợ con tuy không nói tiếng nào, nhưng nét mặt đều rạng rỡ. Năm Danh cố giữ nụ cười đang muốn bật ra khỏi cái miệng móm. Riêng ba đứa em gái nhỏ, Bé, Gái và em vẫn ôm nhau nhìn đống roi dâu còn nằm im lặng trên bàn chưa đụng tới. Tôi gật đầu: - Định nghĩa chưa dầy đủ lắm, nhưng cũng tạm được. Tha cho lần này, về coi lại bài vở, mai tới trường mà học. Lần sau muốn đi đâu phải nói cho cậu Năm mày biết để khỏi mất công tìm kiếm. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 09:55:32 pm Tôi dặn riêng Năm Danh cần nói cho nó biết tình hình Hòa Hảo chống đối Việt minh, và ở đây là vùng của Hòa Hảo. Tôi cũng thấy ân hận là không tìm hiểu kỹ về những người thân trong gia đình, đã chịu bao nỗi khổ do cảnh nghèo đói áp bức bất công của chế độ cũ để lại. Có lần tôi đã hỏi Dũng:
- Tại sao con muốn thay đổi chế độ này đi? Dũng trả lời dứt khoát: - Con căm thù chế độ này! Đó là tiếng nói của người con đã nói thay cả cho cha ông, cả ngàn đời từ trước. Nó có biết đâu, trong bộ áo nhà binh Pháp, ba nó cũng căm thù cái chế độ đó, không kém gì nó. Nhưng đâu dám nói ra, dù cả đối với con. Đối với mẹ tôi và em gái tôi, người đã bị thằng Tây đen hãm hiếp, thì không cần phải nói khổ. Nhưng mẹ tôi cũng đã nói cho tôi biết một phần cơ cực của mẹ đã gánh chịu, mà cái khổ nhất của mẹ là nghe tin đồn tôi làm cho Pháp, ủy ban xã đã truất phần đất công quận cấp cho tôi, theo lệ tục từ xưa để lại cho những trai tráng trong làng, may nhờ có anh Vịnh (Nguyễn Chí Thanh) can thiệp, Ủy ban xã mới nghe. Mẹ tôi kể: Ông Vịnh ghé nhà, nói với tao "Dì cứ an tâm, thằng Hiến không đời nào làm Việt gian mô, tui biết". Tôi hỏi tiếp: - Thế anh Húng (Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên) thì sao.? - Ông Húng thì qua ở bên Tỉnh đội, ông kéo thằng Dũng theo cho học và trước khi vô đây, còn dặn dò: Mi vô trong nớ, ráng địch vận ba mi nghe! Nghe mẹ tôi kể, tôi thầm biết ơn bạn bè, đồng chí ở quê hương, tình bạn từ nhỏ trước sau vẫn không hề thay đổi. Phải chăng lý tưởng thanh niên được xây dựng theo chủ nghĩa cộng sản để làm chất keo gắn chặt tình bằng hữu đến suốt đời? Chúng tôi, những người nay đã ở tuổi "cổ lai hy" có thể khẳng định được điều đó. Tiếc thay, trong lúc kể chuyện gia đình tôi nghèo đói, mẹ tôi kể đến đoạn hai mệ cháu phải xách bị, gậy đi ăn xin khắp xóm làng. Có người nghe đã rỉ nhỏ vào tai tôi: "Đồ ăn mày!". Một cái tát tai rỉ máu tận đáy tim tôi, bắt buộc trái tim tôi phải tự khép kín vết thương đó lại. Vì tôi còn bao nhiêu nỗi lo âu vì cái tổ chức B.C.E.O. kia, vì thái độ của Labrousse cũng đã có ít nhiều thay đổi. Còn có thể chiến đấu trong tình hình vỏ bọc ngoài đã không còn che kín thân thế? Tháng 6/1952, cái sẽ đến đã đến. Được tin Hai Quí, cậu công tử vườn ở Chắc Băng lên Sài Gòn ở nhà Thái Thúc Nha đã bị bắt. Tôi chắc là bị bọn B.C.E.O. Hai Quí là cán bộ Quân báo của Khu 9, đồng thời là em rể của vợ tôi, nên chúng tôi phải có trách nhiệm. Quí lại còn là cháu của chú Tư Ngà, và biết rõ chú Tư là hộp thư mật duy nhất giữa tôi và Trần Huy, giữa tôi và Chi 50. Không phải lần đầu tiên tôi làm việc này vì tình cảm đối với gia đình bên vợ. Đầu năm 1947, ở Cần Thơ, Phấn bị lính kín Tài vây bắt trong khi đang hội họp trong Hội Học sinh cứu quốc. Giải về sở Mật thám Cần Thơ, tôi đã đến xin bảo lãnh về để răn dạy. Năm 1950, Phúc hoạt động Quốc vệ đội Sài Gòn bị mật thám bắt giam ở bót Catinat. Tôi đã cùng Thanh Phong lên tận 2è Bureau FTVS hồi đó trong hãng Mic (thuốc lá) ở Chợ Lớn, gặp Thiếu tá Savany kể rõ sự tình, xin một danh thiếp gửi lại Sở mật thám Catinat, gặp Mai Hữu Xuân để xin bảo lãnh về Long Xuyên. Vì vậy, các nhân vật gọi là chóp bu của 2è B. và Mật thám Sài Gòn, tôi đều quen mặt, và các ngóc ngách giao dịch, tôi cũng đã khá thạo. Tuy nhiên, lần này tôi thấy lo hơn. Bàn tay bắt Quí là ai? Chúng tôi đến Cầu Muối tìm hiểu trước tình hình Quí bị bắt. Cậu Năm cho biết là bị thằng Barat đón đường bắt gần Mả Tây (nay là đường Hai Bà Trưng, công viên Lê Văn Tám). Chúng tôi lên gặp Tư Phết, ở nhà Thái Thúc Nha đường Champagne (đường Võ Thị Sáu bây giờ). Thái Thúc Nha cho tôi biết rõ: "Hôm ấy, anh Hai Quí đang ở trong nhà tôi. Cò Barat xịch xe Jeep vào, đòi bắt tại nhà tôi. Tôi không cho, nói với Barat không được bắt ở trong nhà tôi. Nó làm thinh, chờ cho anh Hai ra khỏi nhà, nó lên xe đuổi theo". Tôi không hỏi thêm gì hết. Tình nghĩa đối với giai cấp tư sản cũng chỉ cần khi không thiệt đến quyền lợi riêng tư. Tôi quay xuống nhà bếp, hỏi cô Tư Phết: "Dì Tư có biết dượng Tư quen biết ai nhiều thế lực ở đây để nhờ bảo lãnh ra không?". Tư Phết nói có quen một tham mưu trưởng của Bảy Viễn ở Bình Xuyên. Nếu muốn cầu cứu anh ta thì Tư Phết sẽ đưa đi. Đến tối, Tư Phết thuê xe taxi đưa chúng tôi qua cầu chữ Y, biểu chúng tôi ngồi chờ trong taxi, lát sau, chừng 5 phút, Tư Phết trở ra xe, nói ông ta đi vắng, không có nhà. Chúng tôi đành thất vọng trở về, đến gặp cô Hélène ở đường Huỳnh Quang Tiên, là con của ông sếp khám lớn có biết Hai Quí, để nhờ theo dõi thăm nuôi Quí. Có nhiều dư luận đồn đại về nguyên nhân Quí bị Barat bắt. Nhưng tôi vẫn không dám tin vì chưa có bằng cớ vững chắc. Có điều có thể kết luận được tên cò Barat thường lui tới nhà Thái Thúc Nha, tức nhiên không lạ gì Tư Phết và Quí. Nha quen thân với Barat nhưng tại sao không giải cứu cho Quí là anh vợ được? Thật lắm vấn đề phức tạp, nhưng tạm thời có thể xác định: Hai Quí bị bắt, không phải do ta đã để tài liệu lọt vào tay bọn Pháp, mà chỉ là có đầu mối chỉ điểm cho B.C.E.O. cụ thể là Barat. Tài liệu do 2è B. Cần Thơ dịch chuỵển cho B.C.E.O. chỉ có báo cáo của Ty Công an Cần Thơ về vụ hai vợ chồng Quận Bằng trở về vùng giải phóng, không dính dáng gì đến hoạt động của Ban Quân báo miền Tây, nên tôi tin Quí có khả năng đối phó được với Barat trong việc hỏi cung. Dù sao cũng phải báo động cho chú Tư Ngà và Trần Huy biết để đề phòng. Tôi trở về Cần Thơ nói cho chú Tư Ngà và Trần Huy biết, rồi về Long Xuyên họp tổ Đảng để báo cáo tình hình và bàn biện pháp giải quyết. Tháng 7/1952, chiếc xe Chevrolet bịt bùng sơn đen lại xuất hiện nhiều lần ở Cần Thơ. Năm Danh và chú Tư Ngà theo dõi thì B.C.E.O. có bắt thêm vào cơ sở dính vào mạng lưới của Tiểu ban Quân báo Cần Thơ. Tôi mượn cớ lên Sài Gòn để kiểm tra lại bịnh trĩ để khỏi di căn, mà theo dõi tình hình khai báo của Quí đến đâu. Trước khi đi, đã bàn bạc kỹ với Phương Nam và Năm Danh về Cần Thơ theo dõi động tĩnh của bọn B.C.E.O. hễ có gì thì nhờ ông Triệu, Trưởng đài VTĐ của Bưu điện Cần Thơ, dùng mật mã báo tin cho tôi biết theo địa chi Nguyễn Văn Sâm, planton Tòa đô chính Sài Gòn, vì hồi đó, phương tiện liên lạc hữu tuyến giữa các tỉnh đã bị cắt đứt. Đúng ngày 15/7/1952, cậu Năm Sâm đi làm về đưa cho tôi một bức điện nội dung như sau: "Đã nhận được 52.000 đồng Sài Gòn gửi về. Nhờ hỏi mua giúp thêm 32.000m gabardine". Đọc xong bức điện, tôi thản nhiên nói với cậu Năm: "Bọn con buôn ở Cần Thơ nhờ cháu hỏi mua vải", nhưng lòng rối như tơ vò. Thế là V.52, chú Tư Ngà đã bị bắt. Mạng lưới của B.C.E.O. đã siết chặt gọng kìm, Quí sa lưới tôi không lo lắm, vì Quí là cán bộ của Ban, không hiểu rõ nội dung tài liệu điệp báo của C.50. Còn V.52 là cơ sở duy nhất làm hộp thư cho C.50 với tổ điệp báo do tôi phụ trách bao gồm cả Trần Huy ở Cần Thơ. Chúng tôi tức tốc trở về Cần Thơ ngay, gặp Phương Nam và Năm Danh để bàn cách đối phó với tình hình mới. Chú Tư Ngà bị bắt vào đêm 14/7/1952. Đúng là ngày kỷ niệm Cách mạng tư sản Pháp, phá ngục Bastillé năm 1789. Một oái oăm của lịch sử. Đúng vào ngày Cách mạng Pháp giải phóng cho các tù nhân chính trị bị giam cầm trong ngục tù, thì cũng là ngày bọn B.C.E.O. xông vào căn phố số 2 dãy 18 căn ở Lộ Mới ở Cần Thơ đẽ còng tay một chiến sĩ Việt minh để đem về Sài Gòn, tra tấn dã man không chút thương xót. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 09:56:35 pm Ngày hòa bình lập lại, tập kết trở về, tôi được chú Tư Ngà kể lại cho biết sơ trường hợp bi bắt: "Ngày 14/7, lúc nửa đêm, tôi nghe tiếng đập mạnh ở cửa trước, tôi vội chuồn ra cửa sau, thì nghe tiếng động mạnh ở cửa sau. Biết là cửa sau cũng bị lính kín bao vây. Tôi trở lại cửa trước. Bọn thằng Barat ập vào, dẫn tôi ra xe, tôi chỉ mặc quần đùi và áo maillot, xin lấy quần áo theo chúng không cho. Lên xe thấy đã có 2 người chờ sẵn: Phi và Điền cũng đang ngồi trong xe, có lẽ đã bị bắt trước tôi. Chúng tôi không nói chuyện với nhau được, vì có lính kín". Tôi biết Điền và Phi đều là nhân viên của Trung úy Bon, chỉ huy S.E.M. gọi là 2è B. vô hình, không có quan hệ công tác gì với chú Tư Ngà. Thế thì ai đã tố cáo chú Tư Ngà? Đến khi quyết định bắt chú Tư Ngà, B.C.E.O. chắc phải có nhiều nguồn tin khác. Tôi dặn Năm Danh tạm thời ở Cần Thơ để làm liên lạc, và mỗi khi có tin gì mới phải tức tốc trở về Long Xuyên cho chúng tôi hay. Tôi gặp Trần Huy, nói cho Huy hay để đề phòng, nhắc lại địa chỉ liên lạc khi có biến thì đến ngay chùa Nữ Cái Khế với 7 cây nhang xin vào lễ Phật, sẽ có người đưa về vùng giải phóng. Huy khẳng định lần nữa là không một tài liệu nào của Ban Quân báo Khu 9 lọt vào tay bọn Pháp, gần đây, chỉ có bắt được vụ án của Quận Bằng do Ty Công an Cần Thơ điều tra mà bọn Pháp đã bắt được trong một cuộc hành binh càn quét. Tài liệu do Thiếu úy phiên dịch Michel Đức dịch. Còn một tia hy vọng. Bọn B.C.E.O. có thể đang trong giai đoạn sưu sách bằng chứng. Và về mặt tài liệu điệp báo, tôi tin ở thủ đoạn nghiệp vụ của mình. Mặt mã chỉ có hai người giữ khóa: ở Chi 50 là Quỳnh xụi, ở tổ Điệp báo Long Xuyên chỉ có mình tôi là người sáng chế ra kiểu mã số thay đổi theo ngày âm lịch mà thôi. Mật mã lại được chép bằng mực hóa học, nếu dùng iode để phát hiện thì sẽ tẩy ngay. Tất cả đều do bàn tay tôi làm và ngụy trang dưới hình thức giấy bọc hàng thông dụng. Hơn nữa, chiến sĩ liên lạc, hộp thư đều không biết về các thủ đoạn, phương pháp nghiệp vụ của các điệp báo viên. Kẻ thù chưa thể khám phá ra các phương pháp tôi đã dùng, thì tài liệu không thể nào bị lộ được. Cùng hoạt động trong 5 năm liền, tôi hiểu rõ sự khôn ngoan của chú Tư Ngà để khỏi sa vào những cái bẫy giăng của bọn nhân viên phản gián điều tra.
Ngay trong ngày 15/7/1952, bọn B.C.E.O. đã giải cả 3 người bị bắt, trong đó có chú Tư Ngà, về ngay văn phòng chỉ huy B.C.E.O. đóng tại Tân Sơn Nhì, trong một cái hội trường lớn được ngăn lại thành phòng hỏi cung, phòng tạm giam. Chú Tư Ngà sau này cho tôi biết: Từ ngày 15/7 đến ngày 31/12/1952, chúng giam chú tại Tân Sơn Nhì, qua năm 1953 chúng mới có giấy giam tại khám lớn Sài Gòn, sau chuyển về khám Chí Hòa, suốt 6 tháng chúng thay nhau hỏi cung và tra tấn. Lân đầu tiên, thằng Barat hỏi cung chú, nó đánh chú bằng một thanh sắt gài cửa hể xương sọ, máu tóe ra, chú ngất lịm. Barat cho bỏ chú ra ngoài, đến nửa đêm tỉnh lại, nhìn ra thấy cánh đồng Tân Sơn Nhất bát ngát, nhưng không thể nào lê đi được. Người đầu tiên Barat cho chú Tư chạm mặt là Hai Quí đã bị bắt trước chú 1 tháng. Chú khai là làm "tằng khạo" cho Hai Quí. Hai Quí sai chú lên Cần Thơ để mua phụ tùng máy xay xát gạo cho nhà máy Đồng Lợi của Hai Quí ở Chắc Băng. Chúng cho giam hai chú cháu chung một phòng. Hai Quí bị đòn sưng vù cả mặt, cái bụng tím bầm, cố lê lại gần chú Tư nhắc nho vào tai: "Chú Tư ráng chịu đòn, đừng khai nghe chú". Bỗng có Thượng sĩ phiên dịch Sanh đi ngang qua, kêu vọng vào: "Này, thằng kia, đi ra theo tao, vào phòng tắm kỳ lưng cho tao". Chú Tư ngồi dậy đi theọ Sanh vào phòng tắm, Sanh nói nhỏ với chú Tư: "Tụi bây đừng nói chuyện với nhau, trong buồng giam có đặt máy ghi âm đó". Ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn, một lời rỉ tai, một tình cảm nhỏ cũng đủ để củng cố niềm tin cho các chiến sĩ bị giam cầm, tra tấn. Trong 6 tháng bị tạm giam dưới sự điều tra của B.C.E.O., chú Tư Ngà bị qua các kiểu tra tấn của bọn đầu trâu mặt ngựa Pháp cũng như Việt gian. Chú mang dấu vết những cuộc tra tấn đó từ đỉnh đầu đến hai bàn chân cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng trở về quê cũ Cần Thơ, gom góp số tiền dành dụng được 800 đồng, mua lại một căn nhà ở dãy phố 18 căn Lộ Mới, phố cũ tình xưa cho trọn nghĩa với quê nhà. Vẫn chung dãy với căn nhà số 2 xưa kia nằm phía trước ngõ, nay đã có chủ khác ở, vẫn lợp ngói âm dương, không trần bày biện vẫn đơn sơ như cách đây 40 năm, chỉ có một bộ ghế xa-lông gỗ và một bộ đồ trà kiểu cho đứa cháu họ cho là đáng giá. Chú đưa cho tôi coi thẻ thương binh Giấy thương binh số J.T.2254. TRẦN PHƯỚC NGÀ. Thương binh loại A, thương tật loại 5/6. Vết thương chính: Vỡ xương đỉnh đầu, hai chân bị tra tấn, mùa rét bị tê. Ngày 10/5/1982 Thì ra, chú đã giấu thương tật để sau khi được trao trả sau Hiệp định Genève, vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội trên đường mòn Hồ Chí Minh, ở tiền tuyến cho đến khi đồng chí Đồng Sĩ Nguyên (Tư lịnh Đoàn 559) ra lịnh phải trả về hậu phương, vì không để cho một ông già đầu bạc phải xông pha lằn tên mũi đạn thay cho lớp trẻ. Trong căn phố nhỏ chú ở, cái đáng giá nhất là ba tấm ảnh treo trên tường, ở giữa, trên chiếc bàn thờ ông bà, là tấm ánh Hồ Chủ Tịch, vách bên trái là tấm ảnh một thượng úy, ngực cài huân chương, vai mang cấp hiệu, tuổi đã trọng nhưng nét mặt không khác mấy chú Tư Ngà vừa là trinh sát nội thành vừa là hộp thư bí mật cho Chi Quân báo 50 cách đây 40 năm. Và trước mặt chú, phía đối diện là ánh thím Tư, người vợ hiền quá cố buôn gánh bán bưng, vai mang túi vải ra chợ bán để lấy tiền nuôi chồng, nuôi con, để chồng rảnh tay hoạt động, và khi chồng bị bắt, đã lặn lội lên tận Sài Gòn, đến nhờ luật sư Nguyễn Hữu Thọ cãi hộ cho chồng. Ba tấm ảnh đó nói lên niềm tin và tình cảm thủy chung như nhất của người chiến sĩ vô danh sống và chiến đấu trong lòng địch, rất đáng tự hào, một Đảng viên chân chính. Trong bọn ác ôn tra tấn chú, chú kể tên 4 đứa. Một là Trung úy Barat, nguyên là cò lính kín Pháp lai Ấn, đã đánh phủ đầu chú bằng thanh sắt chắn cửa gây nên vết thương trên đỉnh đầu còn để sẹo. Hai là thằng Mas, Thiếu úy có nút ruồi lớn bên má, bạ cái gì đánh cái đó, tính khí nóng nảy. Ba là thằng Thiếu úy Mỹ, nguyên là giáo viên trường tư thục Nam Hưng. Khi hỏi cung nó thường dùng thủ đoạn tra tấn tàu lặn, nghĩa là đổ nước có pha thuốc sát trùng "crésyl" vào họng người bị hỏi cung, đến khi nước vào đầy bụng lại lấy chân đạp vào bụng cho nước ứ ra đầy miệng. Chú Tư nhớ nhất là tính nham hiểm của Mỹ. Khi lính đưa nước crésyl tới để trộn vào thùng nước, lấy ly nước chưa đầy và màu thuốc sát trùng chưa đậm, Mỹ bảo đem crésyl nguyên chất đến, tự tay nó pha thêm cho đầy ly, nheo mắt nhìn qua ly rồi đưa cho lính đổ vào thùng nước. Tên thì Mỹ nhưng lòng dạ thì hiểm độc khó lường. Tên thứ tư lại là thằng cháu gọi bằng cậu, thằng ác ôn đó tên là Nhật, hồi đó khoảng 30 tuổi, con của hương quản Báu, gọi là Mười Báu có cái nhà ngói vườn tràm ở ngã tư Cạnh Đền. Vì là bà con nên không xa lạ gì chú Tư. Nó biểu lính lấy "ma-trắc" đánh vào gan bàn chân chú 200 cây. Hễ kêu đau thì xóa đi đánh lại, đếm lại từ đầu. Lần ấy chú chịu đánh 270 cây, hai bàn chân sưng húp không chịu nỗi. Nhưng cái đau hơn là tình nghĩa bà con bị thằng cháu mất dạy quên sạch! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 09:58:49 pm Tôi trở về Long Xuyên chưa được một tuần, một hôm, có một trung úy mang lon bạc trên cầu vai đến tìm tôi ở 2è B. Long Xuyên, và hỏi tôi:
- Có Thiếu úy Trần Huy ở nhà anh không? Nhìn cái lon màu trắng tôi biết ngay đó là phù hiệu của loại sĩ quan quân cảnh. Tôi hói lại anh ta: - Thiếu úy Trần Huy ở dưới Cần Thơ, sao ông lại hỏi tôi? Nó trả lời: - Vì Trần Huy nghỉ phép nói lên thăm anh, nên tôi lén hỏi anh, nếu có Trần Huy ở nhà anh thì nên trở về cơ quan ngay có việc cần. Nghe Trần Huy bỏ trốn tôi mừng. Thế là thoát hiểm cho cả Huy và cho cả tôi nữa. Chiều hôm đó Năm Danh lên nói cho biết là B.C.E.O. đã đến khám nhà Huy, nhưng nhờ đã chuẩn bị trước, nên ngay chiều hôm ấy, Trần Huy đã bỏ nhà trốn qua Xóm Chài. Từ nhà Huy chỉ cần qua đò ngang là đã sang vùng Xóm Chài bên kia sông Cần Thơ. Chi 50 đang cho trinh sát đi kiếm Huy để rước về văn phòng cơ quan, sợ Huy rơi vào tay Hòa Hảo. Nghe Danh báo cáo, tôi thật sự yên tâm. Tôi chỉ phân vân một điểm là tại sao Huy không sử dụng địa chỉ liên lạc tôi đã trao cho để thoát thân an toàn theo con đường tôi đã tổ chức sẵn, mà tự chọn cách thoát thân. Phải chăng vì sự tình quá cấp bách cần phải thoát nguy ngay? Chiều 27/7/1952, khi sắp hết giờ làm việc, Trung úy Labrousse gọi tôi đến và trao cho tôi một điện báo: Le nommé Trần Hiến doit se présenter au 2è Bureau de la Zone Ouest le 28/7/1952, 8 heures précises, pour affaire le concernant. (Tên Trần Hiến phải đến trình diện ở Phòng Nhì quân khu miền Tây vào ngày 28/7/1952, 8 giờ đúng, về việc liên quan đến nó). Tôi nhìn địa chỉ nơi gửi điện: Sài Gòn. Labrousse chăm chú nhìn tôi. Một cái nhìn gần gũi nhưng xa lạ. Một quãng cách tâm hồn không thể đo được. Tôi hiểu nỗi băn khoăn của Labrousse. Có thể nào người tin cậy nhất của hắn lại phản bội hắn chăng? Cuối cùng, Trung úy sếp của tôi cũng gượng mỉm cười buồn bã: "Sáng mai đúng 7 giờ, anh có mặt để đi cùng Trung úy sĩ quan mật mã (officier du chiffre)". Tôi quên mất tên chàng trung úy cận thị làm sĩ quan mật mã của Secteur Long Xuyên. Hắn là người ít nói nên được cấp trên giao nhiệm vụ bảo mật. Về đến căn nhà 36 Lê Lợi, tôi suy nghĩ khá căng thẳng, cuối cùng quyết định xin ý kiến tập thể tổ Đảng. Cả 4 đồng chí trong tổ đều có mặt tại nhà. Đồng chí Phương Nam, Năm Danh, nữ đồng chí Phấn và tôi ăn vội bữa tối, chuẩn bị 4 chai bia, một keo củ kiệu ngâm dấm với tôm khô đề phòng cuộc họp sẽ kéo dài suốt đêm. Cuộc họp kéo dài đến sáng. Chỉ xoay quanh một vấn đề: Tình hình đã đến mức báo động rồi. Liệu tôi có nên rút hay nên ở lại. Rút hay ở đều phải có phương án cụ thể. Tôi lược qua tình hình trong tháng 7. Các cơ sở ở Cần Thơ đã bị bắt và khả năng B.C.E.O. có thể khai thác được, Trần Huy đã trốn thoát khỏi Cần Thơ, và cái công điện của Sài Gòn điện về Secteur Long Xuyên yêu cầu tôi có mặt tại Zone Ouest 8 giờ sáng ngày mai 28/7/1952. Phân tích về khả năng khai báo của các anh em bị B.C.E.O. bắt, tôi nói: "Trong số tài liệu 2è B. Cần Thơ chuyển cho B.C.E.O theo Huy nói thì không có tài liệu Quân báo, vì vậy phải loại trừ khả năng tài liệu Quân báo bị lộ. Trong số cơ sở bị địch bắt chỉ có hai người của Ban Quân báo là Hai Quí và chú Tư Ngà. Tôi tin hai người đó đủ sức để giữ bí mật cho tổ chức, và dù có muốn tố cáo tôi thì cũng chẳng biết nội dung cụ thể để tố cáo. Người duy nhất có thể tố cáo tôi chỉ còn là Trần Huy, nhưng Trần Huy đã thoát thân được thì tôi khỏi lo. Trong hai người, Trần Huy đã đi thì tôi phải và có thể ở lại. Hơn nữa, không thể bỏ rơi quần chúng (tôi nghĩ đến gia đình tôi)". Phân tích về các điện báo, tôi thấy rõ là về mặt hình thức, đúng là một cái điện văn giả. Lý do thứ nhất: không nói rõ lý do triệu tập. Lý do thứ hai: tôi vẫn là Chuẩn úy phiên dịch, tại sao lại không để rõ chức vụ mà chỉ gọi trống "le nommé" (tên). Lý do thứ ba: tại sao triệu tập tôi về Cần Thơ lại phải đánh đi từ Sài Gòn, hay là việc tôi xin đổi về Huế đã được Thiếu tá Long chấp nhận, và đã được Sài Gòn chuẩn y? Mọi lập luận của tôi đều ở chiều suy nghĩ tìm khả năng ở lại tiếp tục chiến đấu: "Còn nước còn tát". Ba đồng chí Phương Nam, Năm Danh và Thanh Phong nhất trí là nên rút vì tình hình đã chín muồi, không thể trì hoãn được nữa, và bàn về phương án rút lui. Đồng chí Năm Danh liên hệ với Năm Nghinh để mua 4 vé xe đi chuyến sớm nhất. Đồng chí Phương Nam nói rõ sẽ xuống trạm Ô Môn để rút về Ba Mít, nơi văn phòng C.50 đang đóng tại nhà thờ Ba Mít. Ở Ô Môn, anh Nón là trạm trưởng, trạm ngụy trang bằng cái quán lá hớt tóc ở góc chợ Ô Môn, ngay trước cổng của đại đội binh lính Pháp đồn trú tại huyện Ô Môn. Phương Nam vạch sơ đồ cho tôi biết vị trí trạm liên lạc ở chợ Ô Môn. Tôi thấy cả công trình xây dựng từ 6 năm nay, nay bỗng sụp đổ. Như một người tiếc của, tôi đứng dậy nói: - Các đồng chí đã cho tôi quyền quyết định tối hậu vì bản thân tôi. Tôi quyết định: các đồng chí cứ rút lui theo kế hoạch đến Ô Môn chờ tôi ở đó. Tôi sẽ đến sau. Tôi chưa rõ lý do triệu tập. Dù sao, chúng chưa đủ bằng chứng để bắt tôi. Đến 12 giờ trưa, tôi sẽ về trạm Ô Môn, lúc đó tôi đã hiểu rõ nội dung cụ thể để đối phó với tình hình. Bằng như đến 12 giờ trưa, các đồng chí không thấy tôi trở về trạm, kể như tôi đã bị bắt, mình tôi cá nhân chiến đấu, các đồng chí hãy rút về khu an toàn. Các đồng chí hãy tin tôi. Cả ba đồng chí theo sự phân công đều rút đi, không cho những người trong gia đình biết. Nữ đồng chí Phấn dẫn bé Hoài Thanh theo để làm liên lạc cho gia đình khi cần thiết. Mẹ, Hợi, Dũng và Tùng Hương, Hoài Thương, vẫn còn ngủ say. Trước đó mấy ngày, Phấn đã gửi va-li và máy may Pfaff về cho bà cụ giáo ở Cần Thơ để đề phòng bất trắc, trong va-li ngoài áo quần còn có đồ nữ trang của vợ và các con tôi. Tôi soạn lại bàn giấy, đốt bỏ những thư từ, tư liệu có liên quan đến các cơ sở mật, chỉ để lại trong hộc bàn những thư từ, danh thiếp của các quan chức Việt gian: thiệp chúc mừng, thăm hỏi của Trần Thiện Khiêm hồi đó là Trung úy tình báo của 3è B. VN đóng tại Rạch Giá, một cái thiệp của Đại úy Cảnh, Chef S/Secteur Rạch Giá có ghi: Kính biếu anh chị Hai 2 cà-ròn của biển còn tươi; một bức danh thiếp của Đốc phủ sứ Tỉnh trưởng Châu Đốc, để bừa bãi trong đám sách vở không có giá trị tình báo. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 10:10:29 pm Xong tôi mặc bộ đồ nhà binh bằng Kaki gabardine sang trọng nhất, đeo lon Chuẩn úy lên cầu vai, chải tóc, xức nước hoa chanel vào hai bàn tay, chụp chiếc ca-lô màu xanh hơi lệch bên trái, rồi lững thững cuốc bộ đến Sở làm. Chiếc đồng hồ Mulco đeo tay chỉ 6 giờ 30. Tôi chững chạc bước vào Sở làm, mùi nước hoa sực nức như chuẩn bị sẵn sàng đi dự tiệc. Labrousse cũng đã đến sớm trước tôi, bắt tay tôi mỉm cười ra vẻ thích thú. Đàng hoàng, chững chạc, lúc nào cũng sẵn sàng như không có vẻ gì đã bị săn đuổi cả! Bỗng từ cầu thang bước xuống, một Thượng sĩ già vừa cầm tờ công điện huơ huơ trên tay vừa nói to lên với Labrousse:
- Thế là đã tìm thấy Thiếu úy Trần Huy rồi! (Enfin, le s/lieutenant Trần Huy est retrouvé). Tôi giật thót mình như cố trấn tĩnh vui mừng đón nhận tin mới bằng một câu khôi hài rẻ tiền: - Il a de la veine Trần Huy! Il a fait une belle promenade! (Trần Huy có gặp may. Nó đã đi chơi một vòng thỏa thích!). Labrousse đưa mắt nhìn viên Thượng sĩ già ra vẻ dặn dò cảnh giác. Tôi bỏ ra ngoài. Labrousse nhắc tôi: - Đừng để Trung úy mật mã phải đợi nhé. Tôi gật đầu đưa đồng hồ lên: - Còn 15 phút nừa, tôi đi uống cà phê về còn kịp chán. Đầu óc tôi cần phải sáng suốt. Thực tế đã kết luận. Trần Huy bị bắt lại thì tôi hết phương chối cãi. Phải trốn ngay. Tôi ra bến xe trước chợ, ngay trước Sở làm. Chiếc xe đi Thốt Nốt chuyến sớm nhất sắp chạy. Tài xế đang quay manivelle hì hục. Xe quá cũ, máy quay hoài không nổ. Tôi đã dặn lái xe chừa tôi một chỗ, nên yên tâm ngồi uống tách cà phê bên quán nước gần đấy, suy tính kế thoát thân. Hay là ta đi qua đò ngang, đến nhà Ba Hoàng ở bên kia sông là cơ sở dự bị khi có biến. Đò ngang cũng gần chợ chỉ trong 3 phút là tới bến. Nhưng nếu ba đồng chí kia chờ ta ở Ô Môn, đến trưa không thấy xe nhà binh đi qua, tưởng ta còn ở Long Xuyên, sẽ trở lại Long Xuyên kiếm ta thì sẽ sa vào "bẫy chuột" chúng giăng sẵn. Được một đổi ba, thì không thể nói là thắng cuộc. Tôi đang hoang mang suy tính kế vẹn toàn thì Labrousse đã đến gần vỗ vai tôi: "Xe đang chờ anh, anh lên xe kẻo Trung úy đợi". Tôi sánh vai Labrousse, nặng nề trở lại cơ quan. Trước cửa một chiếc 4x4 (loại xe vận tải cỡ nhỏ thường dùng để chở khoảng trên dưới một tiểu đội lính) đang đậu. Trên xe có một lái xe, và 4 người lính Miên gian, một trung sĩ Pháp, súng ống đầy đủ. Trung úy mật mã mang kính cận thị cũng nai nịt quân phục như ra trận, bên hông sệ sệ khẩu súng ngắn Colt 12 còn nguyên trong bao kéo xệch chiếc ceinturon Mỹ với từng hàng lỗ bao quanh lưng. Một sĩ quan chuyên giải mã những con số bí mật được lịnh áp giải một con người bí mật. Số phận ta phụ thuộc vào viên sĩ quan cận thị này đây. Tôi chủ động cất mũ, tiến tới gần chìa tay ra: "Bonjour mon lieutenant". Mặt viên Trung úy trắng bệch ra, miền cưỡng đưa tay ra bắt. Bàn tay gần như không có sinh khí. Tôi bắt chặt, mắt vẫn nhìn trân vào đôi tròng cận thị, miệng vẫn nở nụ cười thích thú. Cái bắt tay không chút xã giao, gần như thử sức nhau trước khi vào trận đấu. Tôi bắt tay từ biệt Labrousse. Dù sao viên sĩ quan trưởng Phòng Nhì này với tư tưởng bảo hoàng và hành động phản chiến vừa qua, đã giúp đỡ tôi nhiều trong công tác điệp báo ngoài ý muốn. Một cách nào đó, y là một đồng minh tạm thời, nửa bạn nửa thù của tôi. Nhưng đến nước này, y cũng không đủ tài để làm ô dù cho tôi hoạt động được. Tôi thành thật xiết chặt tay y: "Merci de tout ce que vous avez fait pour moi. Adieu, mon cher lieutenant, jamais je ne pourrais vous oublier" (Cảm ơn về tất cả những gì ông đã làm cho tôi, hỡi trung úy thân yêu, dù ở nơi nào tôi cũng không thể quên ông được). Đó là tình cảm chán thành của người cộng sản Việt Nam. Không thể nào quên ơn những người dù ở trong hàng ngũ quân thù nhưng đã có hành động giúp ích cho Cách mạng, dù là vô tình hay cố ý. Lòng tri ân vẫn là một đức tính truyền thống của giống nòi Việt Nam. Đến khi lên xe 4x4, tôi thấy viên Trung úy mật mã đã giành lấy tay lái. Tên lái xe ngồi sang chiếc ghế bên phải, vốn là chỗ dành cho Trung úy. Tôi phải leo lên thùng xe phía sau. Đã có một Trung sĩ Pháp và 4 lính Miên gian, mỗi tên ôm một cây súng mút Anh. Thùng xe không chở gì ngoài tôi ra. Tôi lấy giọng hách dịch bảo tên lính Miên dời chỗ vào trong cho tôi ngồi phía sau, tôi ngồi buông thõng hai chân, đong đưa theo nhịp xe chạy. Phải tính sao đây? Xe ra khỏi thành Long Xuyên, chạy về hướng Cần Thơ. Ở đó, Trần Huy người bạn chiến đấu của tôi đã bị bắt. Cái chết đang chờ tôi trước mắt. Tôi bỗng rùng mình. Một luồng điện lạnh chạy dọc sau xương sống, từ dưới lên trên. Toàn thân như mất hết sức sống. Tôi gạt tên lính ngồi sau lưng tôi ra xa, và ngã lưng xuống tấm ván đòn dài làm băng cho khách ngồi, không kể gì tư thế trước mặt bọn lính áp tải, nhắm mắt lại. Bỗng nhiên những hình ảnh những Đảng viên tiền bối bị hy sinh diễn ra trước mắt tôi. Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đã oanh liệt hô vang khẩu hiệu trước khi ngã xuống. Đồng chí Trần Phú trước giờ chết còn ráng cởi áo để lại cho đồng chí mình mặc. Và mình cũng là đồng chí của các anh các chị đã đi trước mình, mà lại khiếp sợ cái chết đến thế này sao? Nghĩ đến đó, một luồng hơi ấm sưởi nóng trái tim tôi. Tôi như sống lại, đầu óc tỉnh táo hơn. Tôi ngồi phát dậy, vẫn hai chân đong đưa sau thành xe, suy tính mưu kế thoát thân. Tôi đặt ra phương án theo mức độ diễn biến tình hình. Phương án một: Tìm cách thoát thân ngay trên đoạn đường Thốt Nốt - Cần Thơ. Con dường dài 62km này tôi đã đi lại nhiều lần ngay từ đầu năm 1949 lúc mới bắt đầu lập lại giao thông. Trừ những cầu đúc từ Thốt Nốt trở lên còn nguyên vẹn, cây cầu bị bom phá nát. Công binh Pháp phải xây dựng cầu tạm bằng ván. Đó là hai cầu Ô Môn và Sơn Trắng. Tôi chọn điểm nhảy xe là cầu Sơn Trắng, vì Sơn Trắng là vùng duy nhất có du kích hoạt động, dân cư đều theo Việt Minh, không có lẫn lộn Hòa Hảo. Đến cầu thế nào viên trung úy cũng phải dừng xe, sang số và chăm chú nhìn vào đầu xe cho chính vào tâm cầu, mới dám nhấn ga cho xe vọt qua. Đến vào thời điểm đó, tôi sẽ đổi chỗ với viên trung sĩ Pháp, tiếp cận gần Trung úy lái xe, đánh văng kính cận của y, và nhảy tùm ngay xuống rạch trước khi xe bị lật nhào. Nhảy tàu xe đang chạy, lặn lội dưới nước sông, nước biển tôi đã thành thạo từ tuổi thanh niên, nên tôi cầm chắc phần thắng trong tay. Phương án hai: Nếu vì trắc trở nào đó không thực hiện được phương án một, tôi sẽ vẫn ung dung theo về Cần Thơ. Nhưng khi vào 2è B., tôi sẽ chủ động đi trước viên Trung úy mật mã, nhanh chân tiến thẳng vào văn phòng, vô cửa trước ra thẳng cửa sau, vượt qua 3 dãy lớp học, ra thẳng cổng sau, băng qua nhị tì đi về hướng Rạch Bần, tới điểm trạm liên lạc nội thành để xuống xuồng về Đầu Sấu. Địa hình địa vật ở trường Collège Cần Thơ nơi đóng bản doanh của Phòng Nhì tôi thuộc làu, và điểm liên lạc ở Rạch Bần tôi cũng đã biết trước. Đó là ưu thế của tôi so với viên sĩ quan áp tải. Hơn nữa, tư thế đĩnh đạc của tôi, không gợi cho anh ta ý thức cảnh giác. Tôi tin vậy. Phương án ba: Dù sao cũng phải có phương án cuối cùng. Nếu tình thế không cho phép thực hiện được 2 phương án kia, tôi sẽ chiến đấu bằng trí, nếu cần thiết bằng cả sức mạnh của mấy thế võ ta đã dày công rèn luyện. Một đối một, tôi thấy không thua ai. Cùng lắm, là lấy mạng đổi mạng, như tôi thường tâm niệm, để đền ơn nước, quyết không để chúng bắt mình. Tôi đã thủ tiêu tất cả những tư liệu, đồ vật có thể làm chứng cho hoạt động của tỏi trước lúc dời chân ra khỏi nhà. Tôi mở ví ra, lục giấy laissez passer giả, vo tròn lại rồi vứt ra ngoài xe, không cho bọn lính biết. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 10:11:18 pm Bỗng chiếc 4x4 dừng lại bên cầu Ô Môn, nhường cho chiếc G.M.C. từ phía ngược lại, qua cầu. Thời cơ đã đến, tất cả các phương án đều nhường chỗ cho thời cơ trước mắt. Tôi cũng chờ cho chiếc xe G.M.C. qua cầu. Đến lúc trung úy cận thị dồn hết tâm trí về phía trước nhấn mạnh ga cho chiếc 4x4 vọt lên cầu, tôi ung dung thả hai chân xuống đất một cách nhẹ nhàng, vừa cởi nút quần vừa bước sang vệ đường, sau lưng chàng cảnh sát đứng gác đường, vừa vạch quần ra để chuẩn bị tiểu tiện, vừa đưa tay xua xua phía bọn lính ngồi trên xe, như một người đi nhờ xe từ biệt bạn đồng hành, không chút vội vàng. Chờ chiếc xe đã đến giữa cầu, không còn khả năng quay đầu hoặc lùi lại được, tôi sải từng bước dài trước mặt anh lính cảnh sát, đi thẳng vào chợ Ô Môn, chỉ cách chừng 10m. Đến góc chợ, có tấm vải căng đề "Hớt tóc", tôi bước thẳng vào lều. Mọi người đang ngồi chờ tôi, kể cả trưởng trạm. Tôi nói nhanh là, Trần Huy đã bị bắt, chúng ta phải dời ra khỏi chợ ngay, chúng sẽ bố ráp ở chợ. Phương Nam mau dẫn tôi đi trước. Các đồng chí khác nên tìm cách tản ra khỏi chợ. Năm Danh chịu trách nhiệm dẫn đường cho chị Hai và cháu bé theo sau. Nữ đồng chí Phấn lục trong cặp da đưa cho tôi một bộ đồ bà ba đen. Tôi trút bỏ không thương tiếc bộ áo quần nhà binh bằng Kaki gabardine đắt tiền còn mới, cởi giày, tháo galon, bỏ ca-lô vào một đống và đề nghị thủ tiêu tang vật. Xong, bước ra khỏi tiệm đi trước Phương Nam, ngang qua mặt anh chàng cảnh sát, đi dọc theo bờ sông Ô Môn về phía trong ngọn. Phương Nam lạch bạch bàn chân chữ bát, khệ nệ theo sau. Chưa đến bót Cao Đài, chúng tôi dừng lại xuống bến. Bác năm, một ông già tuổi gần 50 đang đứng cầm chèo lái sau chiếc xuồng nhỏ. Đó là bác liên lạc của trạm Ô Môn. Không nói một lời, Phương Nam dẫn tôi xuống xuồng. Bác Năm biết ý, đẩy mạnh đôi mái chèo, đi ngang qua bót Cao Đài về trong ngọn. Bót Cao Đài không xét hỏi gì. Đó là bót gác cuối cùng làm ranh giới vùng tạm chiếm của quân Pháp với vùng tự do. Khỏi bót chừng 300m, bác Năm ghé xuồng vào bờ. Phương Nam nói: "Anh đứng đây chờ tôi. Bác Năm sẽ chở tôi trở lại chợ để tìm cách chở những người khác ra". Tôi đứng trên bờ nhìn xuống, nắng sớm dọi vào mặt tôi tràn ánh nắng. Bác Năm nhìn tôi thương hại, vội lột cái nón lá cũ bác đang đội đưa cho tôi: "Chú cầm lấy mà đội cho đờ nắng". Tôi cảm ơn bác, đón nhận tình cảm đáng quí của bậc cha chú, như một tia nắng sưởi ấm lòng. Mười lăm phút sau, tôi thấy chiếc xuồng trở lại. Phương Nam cho biết chợ Ô Môn đang bị vây ráp. Năm Danh đã dẫn vợ con tôi tạm lánh qua cù lao. Phương Nam vừa ra khỏi bót Cao Đài, đã thấy các xuống khác bị chận lại, không cho ra khỏi thị trấn nữa. Bác Năm lại chở Phương Nam và tôi về Ba Mít, nơi bố trí văn phòng Chi 50.
Ngay chiều hôm 28/7/1952, ông Năm liên lạc lại chở ba người còn lại về. Thế là tổ Điệp báo đã trở về an toàn. Chúng tôi cảm thấy an toàn hơn bao giờ hết. Xung quanh mình chỉ toàn đồng chí, đồng đội, sống trong lòng đồng bào thân yêu, dù là họ đạo, nhưng vẫn là những người yêu nước, không sợ cạm bẫy của quân thù, không cần giữ mồm giữ miệng khi ăn nói. Riêng tôi vẫn thấy buồn, vẫn thấy chưa tròn trách nhiệm. Ra đi không kịp thông báo cho gia đình tôi biết, hiện mẹ, em và con tôi còn ở trong vùng kiểm soát của quân thù. Những đồng đội đang bị địch bắt tra tấn, số phận sẽ ra sao? Mạng lưới xây dựng trên 5 năm biết làm sao mà khôi phục lại được? Tôi cảm thấy như người lính bại trận trở về, tuy thân xác nguyên vẹn, nhưng vẫn rỉ máu trong tim, nhân Năm Danh trở lại Long Xuyên, tôi muốn viết thư cho Labrousse nói rõ việc tôi làm không dính líu gì đến mẹ, em gái và con tôi, nhưng Phương Nam ngăn lại, nói không cần thiết mà thêm phức tạp cho tôi. Tôi nghè lời không viết thư nữa. Dù sao người sĩ quan Tình báo bảo hoàng này cũng không đến nỗi hèn hạ bắt giam mẹ và con tôi, những người vô can. Tôi tin thế mà sự thật cũng là thế. Văn phòng đóng ở nhà thờ Ba Mít ngay hôm sau dời về Trường Long, ở nhà chú Tư Chủ tịch xã. Chú Tư nghe nói tôi vừa nhảy xe trốn thoát về đây, vui mừng thật sự, cho giết chó đãi đơn vị một bữa. Tôi vốn không hề ăn thịt chó, chỉ nghe nói ở miền Bắc mới giết chó để ăn thịt, và có khi còn nuôi vỗ béo để làm thịt cúng giỗ ông bà. Trong kháng chiến, nhờ các chiến sĩ Nam tiến và một số cán bộ từ miền Bắc gửi vào, nên thịt chó đã trở thành món nhậu phổ biến, và dưới bàn tay khéo léo của dân Nam Bộ vốn sành các món ăn, nên đã cải tiến cách chế biến món thịt cầy rất hấp dẫn, nhờ món nước cốt dừa và nhiều gia vị khác như cari, húng lìu v.v... Biết tôi không thích ăn thịt chó, anh Ba Cự gắp bỏ vào chén tôi miếng gan xào rất hấp dẫn: "Anh ăn đi sẽ biết, ngon hơn gan heo". Tôi ăn thử thấy không có gì khác lạ, chỉ sợ khác mùi vị, nôn ọe ra thì ê mặt. Bắt đầu từ đó, tôi không từ chối món đặc sản nào: rắn, rùa, chuột nướng. Khỏi chăn nuôi, chỉ cần đánh bắt. Thiên nhiên là kho vô tận. Câu cá, săn chuột, bắt rắn vốn là sở trường từ nhỏ của tôi. Trở về nông thôn, tôi trở lại cội nguồn. Sau cuộc bố ráp ở Ô Môn không có kết quả, bọn B.C.E.O. vẫn còn cay cú. Tôi biết vậy, nhưng tôi tin tưởng lần này, chúng không thể nào bắt được tôi. Trong lúc trở về văn phòng, tôi có nói với Phương Nam: "Bọn chúng không đuổi bắt chúng ta đâu, bởi vì muốn đem quân vào vùng giải phóng, chúng phải có kế hoạch hành binh, xin ý kiến Secteur Cần Thơ, ít nhất cũng phải ba ngày sau mới làm được". Hai ngày, sau bữa tiệc thịt chó nhà chú Tư Chủ tịch Trường Long, cuộc hành binh bố ráp qui mô Secteur đã xảy ra, với lực lượng 2 tiểu đoàn. Chúng thọc sâu 2 cánh xuống tận Bà Đầm, theo kinh xáng Ô Môn, rồi triển khai 2 tiểu đoàn bộ binh giăng hàng ngang lội ruộng trở ngược lại con lộ vòng cung Ba Xe - Cái Răng. Cuộc lội bộ lùng sục hai ngày. Chúng dùng củi trâm bầu đập chết bốn du kích xã Trường Long. Bắt người dân nào cũng hỏi thăm một người Huế nói tiếng trọ trẹ hiện nay ở đâu. Đơn vị C.50 chúng tôi bao gồm 30 đồng chí, chỉ có một khẩu Thompson, một điện đài và hồ sơ tài liệu vỏn vẹn trong một cặp da do đồng chí Trưởng Chi giữ. Lúc Ban chỉ huy nhận được tin trinh sát đưa về, thì chúng tôi đều nằm lọt trong vòng vây của địch. Với sự chênh lệch về lực lượng như thế, mọi ý định đánh phá vòng vây chỉ là hành động tự sát. Ban chỉ huy hội ý bàn phương án rút. Tôi nêu một ý kiến khá táo bạo: "Rút và chém vè gần bót Cái Tắc. Bọn giặc lội bộ đã 2 ngày sẽ không còn hơi sức để sục sạo quanh đồn bót chúng. Đó là nơi tương đối an toàn nhất". Đơn vị được phân tán nhỏ, đồng chí Đăng liên lạc được phân công dẫn đồng chí Phấn và cháu Hoài Thanh đi theo hướng đồng bào sơ tán, một số làm trinh sát bám theo đội hình quân địch. Đồng chí Ba Cự tìm nơi chôn khẩu súng Thompson duy nhất ở đống rạ ngoài đồng, đồng chí Tâm trưởng đài VTĐ giấu đài vào trong một vựa lúa nhà dân. Xong tất cả đều tay không đi sát hàng rào bót Cái Tắc, dựa vào hàng trâm bầu nhìn ra hướng quân địch đang nhếch nhác lê bước trở về đồn bót. Khi lệnh cá nhân chiến đấu vừa ban hành, tôi lách ra khỏi nhóm, ngồi xổm xuống ao seo bên cạnh bót, định tâm hễ có tên lính nào men tới theo hướng này thì sẽ chém vè xuống ao sen. Tôi đã nhắc các đồng chí khác: "Nếu rủi bị bắt, đừng ai nhìn nhận có quen tôi. Để mình tôi làm tôi chịu". Cũng may, bọn địch kéo dài theo con đường lộ đất dẫn thẳng về cổng đồn chỉ cách chúng tôi chừng 100m, dáng uể oải, chờ về nhà ăn nhậu, tắm rửa. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 10:12:24 pm Đã có tài liệu của cấp chỉ huy Zone Ouest dặn dò các đồn bót phải tích cực tuần hành quanh đồn bót trong lúc có xảy ra cuộc hành binh càn quét qui mô lớn. Nhưng tôi tin ở bót Cái Tắc, vì ở đó Trung úy Trần Thanh Phong là đồn trưởng đã có nhắn với bà cụ giáo Phận, mẹ vợ tôi, sẽ làm cơ sở kháng chiến, nếu bị bắt, tôi có cơ may thuyết phục được. Không ngờ nước cờ liều của tôi lại được việc. Kiểm điểm lại, trong cuộc hành binh càn quét đầu tháng 8/52, đơn vị C.50 đã bảo toàn lực lượng, bản thân tôi được an toàn. Cơ quan bố trí sắp xếp cho gia đình tôi ở nhà dượng Ba ở Trường Long, người bà con, đồng chí Phấn gọi bằng cô dượng Ba. Gia đình rất tốt đối với chúng tôi. Tiếc thay, từ ngày trở về Nam, tôi chỉ có dịp gặp cô Ba một lần ở nhà bà cụ giáo, 83 Hoàng Văn Thụ - Cần Thơ, gặp anh Ba Giáp cũng một lần nhân ngày giỗ cụ Lâm Văn Phận. Do điều kiện sức khỏe không đi lại được, nên tôi chưa có lúc nào đền ơn đáp nghĩa với bà con xa gần đã đùm bọc gia đình chúng tôi trong 9 năm chống Pháp. Thật là bạc nghĩa! Đến thăm chú Tư Ngà ở dãy phố 18 căn, chú cho tôi biết thêm về sự kiện ngày 28/7/52. Chú kể lại: "Hôm đó, từ Sài Gòn chúng chở chúng tôi về Cần Thơ cũng trên chiếc xe Chevrolet sơn đen bịt bùng ấy. Thằng Barat nói: "Chờ tới 11 giờ trưa, để bắt một tên ở Long Xuyên đem về rồi sẽ trở về Sài Gòn luôn". Chờ mãi đến 2 giờ chiều, không thấy động tịnh gì, Barat bỏ xe đi một lúc rồi trở về bực dọc, biểu lái xe trở lại Sài Gòn luôn, về tới Sài Gòn, hắn lấy một tấm hình của cậu cho tôi xem, rồi gằn giọng hỏi tôi:
- Mầy biết ai đây không?. Tôi thản nhiên nói: - Đó là ông Một Hiến làm thông ngôn cho 2è B. Long Xuyên, ai mà không biết! Barat bảo: - Hắn bị bắt rồi! Tôi không trả lời, nhưng mừng thầm trong bụng: "Còn lâu tụi mầy mới bắt được Trần Hiến!". Vì cứ suy diễn cũng rõ: Nếu nó bắt được cậu thì cần chi phải đem hình ra hỏi. Cứ cho người đối chứng là biết ngay". Tôi thầm cảm phục chú lanh trí, và cũng rõ là trong nửa tháng tra tấn, chúng vẫn chưa khai thác được gì nơi chú Tư cả. Nhân dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng 8, C. 50 tổ chức kỷ niệm tại xã Trường Long, trao bằng khen tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cho nữ đồng chí Lâm Thị Phấn và tuyên dương công trạng của tôi toàn phân Liên Khu miền Tây. Toàn văn như sau: Q.Đ.Q.G.V.N Phân Liên Khu MT Bộ Tư lệnh Số:53/QĐKT Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BỘ TƯ LỆNH PHÂN LIÊN KHU Chiếu Quyết định số 55/QDNB-52 ngày 13/1 /1952 của Bộ Tư Lệnh Nam Bộ thành lập Bộ Tư Lệnh Phân Liên Khu miền Tây. Chiếu đề nghị của Phòng Tham mưu P.L.KM.T, Xét vì ông Trần Hiến, nhân viên của Chi Quân báo 50: - Đã biết dùng địa vị của mình trong quân đội Pháp mà cứu nước. - Đã xây dựng được cơ sở điệp báo trong lòng địch, phát triển và duy trì được trong một thời gian rất lâu. - Cung cấp được nhiều tài liệu đúng đắn về địch tình. - Thoát khỏi nanh vuốt của giặc Pháp một cách anh dũng để bảo toàn được tánh mạng. QUYẾT ĐỊNH Điều 1: Tuyên dương công trạng của ông Trần Hiến, nhân viên Chi Quân báo 50 trong toàn Phân Liên Khu miền Tây về những thành tích kể trên. Điều 2: Quyết định này được đăng trong tất cả các báo chí, thông tin thuộc ngành quân sự Phân Liên Khu miền Tây. Điều 3: Ông Tham mưu trưởng, Trưởng phòng Chính trị, ông Hiến chiếu quyết định thi hành. Ngày 28 tháng 8 năm 1952 Nơi gửi: - Phòng Tham mưu - Phòng Chính trị - Ông Hiến (Chi QB50) - Chi Quân báo 50 - Văn khố TM Bộ Tư Lệnh Phân Liên Khu miền Tây Chánh ủy (Ký tên và đóng dấu) Nguyễn Văn Vịnh Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 10:13:50 pm Tháng 9/52, tôi được về khu, đóng ở rạch Cái Chanh, và được gặp đồng chí Nguyễn Văn Vịnh và đồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng PLKMT. Hai đồng chí đã pha sữa cho tôi uống. Sữa thì tôi không lạ gì, nhưng lạ là vì thái độ thân mật của cấp trên đối với cấp dưới, chân tình, cởi mở, khác hẳn thái độ của bọn sĩ quan Pháp đối với binh sĩ.
Tôi đã tìm hiểu qua về thái độ của hai đồng chí đối với nội dung công tác của tôi, nên cũng yên tâm. Thấy tôi đưa bàn tay lên mũ chào theo kiểu nhà binh Pháp (của đáng tội, đã có ai dạy cho tôi kiểu chào của Vệ quốc đoàn ra sao đâu!) hai đồng chí đã mỉm cười và chỉ ghế mời tôi ngồi. Tôi chẳng bỏ thói quen đánh giá người đối thoại. Đồng chí Vịnh là người trầm tĩnh, vẻ mặt trắng trẻo nho nhã. Tôi đã nghe nói trong năm 1950, lúc có nhiều cán bộ quân đội bỏ ngũ, đồng chí đã viết thư riêng gọi từng đồng chí trở lại, kể từ cán bộ cấp trung đội trở lên. Còn đồng chí Nguyễn Chánh, thì người lùn, chắc, có hàm răng đen, nói giọng Khu 4, nghe nói trước ở mặt trận Lào trở về, có vẻ chất phác như một nông dân. Nghe tôi thuật lại việc tôi thoát hiểm như thế nào, đồng chí Nguyễn Chánh vui chuyện cũng kể cho tôi nghe chuyện thoát vây của đồng chí trong trận giao thông chiến ở Mỹ Tho năm 1947. Sau khi đốt xe đoàn "cong-voa" xong, xe nồi đồng chạy tới cứu viện, bắn đạn lửa làm cháy cả cánh đồng rạ phía sau quân ta. Đồng chí Chánh đã có sáng kiến lăn mình vào bùn ở dưới mương, nhờ đó đã dẫn bộ đội ta xông qua đám rạ cháy, thoát hiểm. Sau đó vài hôm, tôi lại được tiếp một cán bộ tuổi còn trẻ, khoảng dưới 25, có vẻ như là thư ký riêng của một cấp trung ương nào đó. Tôi không cần hỏi tên cũng như hỏi cấp nào sai anh đến. Tôi chỉ tin ở sự giới thiệu của Ban Quân báo Khu. Tôi nói thẳng với anh ta: "Thôi, nếu tôi nói ra thì nhiều lắm, anh ghi không xuể đâu. Căn cứ vào những điều anh đã được biết về tôi qua thẩm tra lý lịch, có gì chưa rõ, anh cứ hỏi, tôi sẽ nói để anh ghi lại". Theo kiểu vấn đáp, tôi làm việc với anh ấy hết một ngày. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Dù sao tôi chỉ vận dụng trí nhớ thuật lại cuộc đời, khỏi mất công sáng tạo để đối phó như hằng ngày sống làm việc bên cạnh địch. Chân lý là cụ thể bao giờ cũng chiến thắng. Đến lúc Chi bộ Ban Quân báo Khu 9 tổ chức lễ kết nạp đảng viên mới, đồng chí Bí thư Đảng ủy văn phòng Khu đứng lên đọc quyết định công nhận tôi là đảng viên chính thức kể từ ngày 20/6/1952. Hồi nhỏ, tôi tâm đắc nhất câu hát khách trong các tuồng cổ: Lao xao sóng vỗ ngọn tùng, Gian nan là nợ anh hùng phải vay! Nếu được phép người xưa, tôi xin thay chữ "gian nan" bằng chữ "đấu tranh". Đấu tranh với thù trong giặc ngoài, đấu tranh nội bộ, đấu tranh với bản thân. Đó chẳng phải là món nợ suốt đời của những người cộng sản? Trong cuộc đấu tranh một mất một còn của người cán bộ điệp báo mặc dù hồi đó tôi được hoan nghênh như một người chiến thắng, nhưng riêng bản thân tôi, tôi thấy mình như một người lính thất trận. Với một tổ chức phản gián đồ sộ của De Lattre de Tassigny, một người tình báo gà mờ như tôi đành phải thúc thủ. Chỉ đến lúc Năm Danh đi Long Xuyên nắm tình hình về, tôi mới được phần nào an ủi. Sau lúc tôi thoát nạn, bọn B.C.E.O., nhất là thằng Barat tức tốc lục xét căn nhà 36 Lê Lợi - Long Xuyên, không thấy gì, chỉ thấy danh thiếp Đại úy Cảnh Phân khu (Sous-Secteur) Rạch Giá gửi tặng tôi 2 cà-ròn của biển, chúng xuống ngay Rạch Giá trói mèo viên sĩ quan bù nhìn lại chở lên Sài Gòn tra hỏi. Đại tá Le Duque đánh xe lên Secteur Long Xuyên, ra lịnh cho Labrousse đốt tất cả hồ sơ tài liệu của 2è B. do tôi quản lý, và ra lịnh thả 12 tên đào ngũ Việt Minh bị giam ở khám Nam Xương. Viên Trung úy cận thị áp tải tôi bị phạt 2 tháng "arrêt de rigueur" (Kỷ luật phạt giam của sĩ quan, chỉ ngồi trong phòng làm việc, cấm đi chơi trong 2 tháng). Sau này, tôi gặp lại Lý Trường Nhơn, Đại tá ngụy đi học tập cải tạo được tha về, nguyên cũng bị dính líu trong vụ án đó nhưng được tha bổng. Nhơn nói với tôi: "Thằng Barat hồi ấy mà bắt được anh thì nó sẽ ăn tươi nuốt sống anh. Nó hăm anh mẽ răng đó". Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 10:15:36 pm CHƯƠNG 13 NHƯ CÁ GẶP NƯỚC 1952 - 1953 Vốn nông dân, bao năm sống lặn lội ở thị thành, nay được trở về sống với nông thôn miền Tây Nam Bộ, tôi cảm thấy như đứa con hoang được trở về với mẹ, trong vòng tay êm ấm của những người thân. Quân với dân như cá với nước. Hoạt động ở thành phố, tôi như cá nằm trong chậu, vẫn nhờ nước mà sống nhưng cuộc sống vẫn tù túng. Nay thoát khỏi chậu, rơi vào dòng kinh xanh, mặc lòng tung tăng bơi lội. Đồng bào, đồng đội, đồng chí của tôi sẵn sàng chỉ bảo, giúp đỡ thoát khỏi mọi thiếu thốn khó khăn. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo về hoàn cảnh kinh tế của gia đình (chỉ còn 3.000 đồng tiền lương tháng 7/52, và còn một mẹ già, em dại, 4 con cần đem vào vùng giải phóng), hai đồng chí trưởng phó Ban Quân báo Phân liên khu miền Tây nhìn thấy trước những khó khăn của chúng tôi, mặc dù tôi không nói ra, đã quyết định cho chúng tôi nghỉ phép 6 tháng để lo việc gia đình, và cấp cho chúng tôi 32 giạ gạo, xuất từ kho gạo hậu cần của Khu. Tôi cảm động vì lòng ưu ái của cấp trên, nhưng vẫn thắc mắc về con số 32. Phải chăng hai đồng chí muốn dùng con số đó là vì vô tình buột miệng hay có ý nhắc nhở tôi luôn luôn nhớ đến nhiệm vụ điệp báo của mình? Xem cái quyết định tuyên dương công trạng của tôi, đồng chí Kinh dặn dò: "Anh nên giữ kỹ cái giấy này, sau này sẽ có ích cho anh đấy" và đưa cho tôi mượn cây súng các-bin mang theo để tự vệ. Tôi thấy rõ sự tín nhiệm của cấp trên đối với tôi qua cử chỉ đó. Trở về Trường Long (Cần Thơ), cơ quan Chi 50 đã cho liên lạc ra thành phố Cần Thơ để đón gia đình tôi vào. Cơ quan giao cho đồng chí Hai Tòng là Trưởng trạm liên lạc ở Đầu Sấu chịu trách nhiệm lo việc đó. Anh Tòng sau này về Sài Gòn tổ chức một tiệm phở ở chợ Thái Bình, tôi và Trí Thanh có tới thăm, được anh đãi 2 tô phở khá ngon, còn nhớ mãi. Tôi chở thẳng gia đình tôi về ở nhờ điền của anh Hai Tắng ở rạch Đường Sân (Chắc Băng). Hai Tắng đối với tôi vừa là đồng đội vừa là bạn bè. Chính anh đã đồng ý nhận tôi vào công tác ở Sát Gian Đảng trong lúc tôi còn bí về con đường đi kháng chiến. Không cần thông báo trước, Hai Tắng và cả bà vợ cũng ân cần tìm chúng tôi, mặc dù xa nhau đã 5 năm. Cơ ngơi anh Tắng ở Đường Sân hồi đó cũng có bề thế. Tuy không phải loại đất điền chủ cỡ Hai Quí, nhưng cũng có điền trang, vườn tràm, đìa cá. Bà Xã Trực, mẹ anh Tắng vẫn còn, ở ngôi nhà ngói với em trai Tắng là Năm Bình, làm Chủ tịch xã. Hai Tắng làm thịt con chó mực, và thấy chưa đủ, còn bắt thêm một con rắn hổ mang về làm thêm đĩa thịt rắn xé phay, nấu thêm một nồi cháo rắn để đãi bạn. Lần đầu tôi được ăn thịt rắn xé phay trộn với bắp chuối, và ăn cháo rắn ngon lành hơn cả thịt gà. Vào đầu những năm 50, những món ăn đặc sản ấy chỉ có thể tìm thấy ở vùng kháng chiến miền Tây, ở vùng tạm chiếm đô thị rất khó tìm. Ông Xã Trực, thân sinh của Hai Tắng, bị lính Hòa Hảo giết năm 1945. Bà mẹ cũng là mẹ chiến sĩ, nên trong nhà luôn luôn có bộ đội ăn ở. Hơn nữa, tính Hai Tắng phóng khoáng, nên thích kết giao. Các anh chỉ huy đều có đến ở nhà Tắng, và nhờ Tăng giúp đỡ ít nhiều. Đối với tôi, Tắng vẫn giữ ấm tình đồng đội và tình cảm bạn thân, nên sẵn sàng chu toàn cho gia đình tôi để tôi an tâm công tác. Gia đình Hai Tắng nhường cho tôi hai liếp dừa để làm nền cất một căn nhà lá cho gia đình tôi ở. Sẵn tràm và lá chúng tôi (Tắng, tôi và Dũng) chỉ bỏ ra ba ngày công là làm xong căn nhà lá nhỏ ở dưới bóng cây còng, trong ngọn rạch Đường Sân, trông rất nên thơ. Từ lúc xa làng cho đến nay, đây là lần đầu tiên, nhờ tình bạn, tôi đã có được một căn nhà tự tay mình dựng nên, tuy không thể nào bằng nhà người khác, nhưng còn lành lặn hơn căn nhà tranh tôi đã sống hồi nhỏ ở quê nhà. Mẹ, em và con tôi cũng yên tâm về nơi ở mới, và sớm thích nghi với cuộc sống mới. Ở đây không sợ bị địch ruồng bố, lâu lắm mới có một chuyến máy bay đảo qua. Để lo cho cuộc sống của gia đình, thằng Dũng con trai tôi, lo việc cấy cày để làm ra hột lúa cho gia đình. Ruộng thì có đất của anh Hai Tắng cho không, trâu và cày cũng của Hai Tắng cho mượn. Chúng tôi yên tâm lên đường trở về cơ quan công tác. Bỗng một hôm, nhân đi công tác, đảo về thăm gia đình, tôi ngạc nhiên thấy vắng bóng thằng Dũng. Tôi hỏi thăm mẹ tôi. Mẹ tôi nói tỉnh bơ: - Hắn đi bộ đội rồi. Tôi không ngạc nhiên, nhưng bực bội: - Nó mới 15 tuổi, ai cho nó đi bộ đội? - Tao biết mô, hắn đang cày ngoài ruộng, nghe tiếng trống tòng quân, tháo cày bỏ đi, cày đang bỏ ngoài đồng đó. Tôi trông cậy vào nó để thay tôi nuôi mẹ và em tôi cho tôi rảnh tay đi công tác, không ngờ nó đặt tôi vào chuyện đã rồi. - Răng mẹ lại cho hắn đi, ai nuôi mẹ? Mẹ tôi đủng đỉnh trả lời: - Hắn có lông có cánh, cho hắn bay nhảy với đời. Mi tính coi, lúc mi theo cách mạng, ai cấm cản mi, thì hắn cũng rứa thôi. Còn tao già rồi, sống răng cũng dặng, hai mẹ con kéo nhau đi mót cũng đủ ăn, lo chi! Tôi hỏi thăm Hợi, em gái tôi. Hợi nói: - Đúng đó anh ạ, lúa trong bồ còn đầy, chưa đụng tới. Em đi xin rượu ngon về nuôi dấm bán cho bà con cũng đủ ăn! Tôi dòm cái tĩn dấm chua để dưới gầm giường, ra sau bếp, cái bồ lúa của cơ quan cho hồi tháng 9 vẫn còn nguyên chưa suy suyển, mới yên tâm xuống xuồng chèo đi công tác. Ông nội, cha tôi ở dưới suối vàng chắc hắn yên tâm. Đứa cháu đích tôn của các cụ vẫn tiếp tục truyền thống, tiếp bước cha ông. Đang chiến tranh, con đường còn dài. Tôi đẩy mạnh đôi mái chèo cho chiếc xuồng ba lá rời bến cây còng. Mẹ nó, người vợ đầu của tôi cũng là một tay chèo khá. Một mình một chiếc đò ngang đưa khách sang sông Cửa Việt, vừa chèo vừa cao giọng hò mái đẩy, trêu ghẹo anh bồi đang tay xách nách ôm ổ bánh mì gói báo, và hai chai rượu vang mang về cho ông Cố đạo ở nhà thờ Mai Xá: "À ơi! Quốc gia thủy thổ anh đây... à ơi! Anh ham chi hai chai rượu chát, ba ổ bánh mì... à ơi! Dang tay đánh thiếp khổ làm ri hỡi trời... à ơi!". Một giọng hò đã một thời làm xao xuyến lòng tôi. Phải chăng lòng yêu nước cũng có gien trong mọi người Việt Nam vốn là người nghèo khổ tự lâu đời? Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Năm, 2026, 10:16:21 pm Sau trận càn Ô Môn, Bà Đầm, cơ quan Chi 50 phải dời về gần cảng kinh xáng cụt Xà No, giáp với Kinh Ngang. Tôi được anh Ba Cự, Trưởng chi giao nhiệm vụ nắm hồ sơ các cơ sở nội thành, thay cho Quỳnh xụi. Sự phân công mới buộc tôi phải tìm hiểu về tổ chức bộ máy Chi 50 đóng ở nhà anh Bảy Bí thư xã. Anh Bảy là một cố nông, tính tình chất phác, dễ gần. Ban chỉ huy Chi 50 có ba người: Nguyễn Văn Cự - Chi trưởng, Phan Thành Miêng - Chi phó và Nguyễn Huy Quỳnh - Chi phó. Mật mã có Thanh Xuân (thanh niên có tên con gái). Điện đài có Tâm râu và Lợi (Ba Lược). Đánh máy có Lân. Cán bộ nghiên cứu địch tình có tôi, vợ tôi, Phương Nam và Trí (Khu 8 về), cán bộ liên lạc nội thành có Năm Danh, Ba nhỏ, Phước bé, Năm Dung (nữ, chị Đức). Chi 50 có 5 trạm liên lạc. Trạm số 1: Đầu Sấu do Hai Tòng làm trạm trưởng. Trạm số 2: Ô Môn do Nguyễn Văn Trầm - trạm trưởng, và Hồng Tiếp. Trạm số 3: Cái Răng (cây số 10) do Ba Tải - trạm trưởng và Hằng. Trạm số 4: Cái Tắc do Châu - trạm trưởng và Chín Chắc - Còn Năm Danh có nhà ở Kinh 8 Cái Sắn, đặt trạm số 8 do Năm Danh phụ trách để nắm các cơ sở còn sót lại như Hai Đèn (Lâm Thành Thọ) ở Thốt Nốt và anh Hữu, một nhà thầu khoán ở Long Xuyên. Phương tiện liên lạc giữa trạm và Chi chủ yếu là dùng xuồng ba lá có đóng ván che kín mũi, để cho khỏi ướt tài liệu lúc trời mưa. Đồng bào biết rất rõ là xuồng của chúng tôi, đặt tên là "những chiếc Jeep của Chi 50". Trong đội ngũ chiến sĩ liên lạc, còn có những chiến sĩ mới tuyển về sau là các thanh niên nông dân như Tốt, Tân, Định, Dương do tôi tuyển dụng và tổ chức kết nạp. Toàn thể cơ quan trên dưới 30 người nhưng phần lớn thời gian đều đi công tác, chỉ ở lại văn phòng chừng 5, 6 người. Chúng tôi ăn cơm tập thể, phân công trực nhật để nấu cơm. Sinh hoạt phí mỗi người được cấp phát hằng tháng ba giạ lúa để chi tiêu, sinh hoạt hằng ngày. Cá, của, ốc, rau muống là thực phẩm thiên nhiên có sẵn. Chỉ cần có dự trữ muối, mắm là "thực túc binh cường", không sợ thiếu hụt.
Tôi nhớ lại lần đầu tiên được họp đại hội Chi bộ cơ quan Chi 50, tại nhà anh Bảy - Bí thư xã. Có mặt 16 đồng chí. Tôi cứ nghĩ là họp chi bộ ở vùng tự do thì chắc tranh luận phải sôi nổi lắm, vì không có mật thám dòm ngó. Sau khi làm lễ chào đảng kỳ, tuyên bố lý do, báo cáo kết thúc nhiệm kỳ trước, giới thiệu đề cử chi ủy mới trong đó có các đồng chí Cự, Quỳnh và Châu. Châu là trưởng trạm liên lạc Cái Tắc. Tôi phê bình đồng chí Châu là vi phạm chính sách của Đảng và Chính phủ. Tôi chỉ ngay 2 chai rượu Dubonnet và Rhum Saint James của đồng chí Châu đang xách giao cho một chiến sĩ giao liên để gửi về Khu. Tôi nói: - Chúng ta đang kháng chiến gian khổ, Đảng ngăn cấm dùng xa xi phẩm, tại sao đồng chí Châu lại cho rượu Tây lọt vào Khu? Đồng chí Châu bảo là gửi về theo yêu cầu của một cán bộ ở Khu 9. Tôi bốp chát đập lại: - Dù có Hồ Chủ Tịch vào, có yêu cầu chiêu đãi ngoại giao, Đảng đã cấm thì cũng không thể vi phạm được! Mọi người đều lặng thinh, không ai tranh luận với tôi cả. Tuy nhiên, đến lúc bỏ phiếu thì đồng chí Châu vẫn đắc cử Bí thư chi bộ. Cái đáng quí là đồng chí Châu không để tâm đến thái độ gay gắt của tôi trong cuộc họp chi bộ, mỗi khi ra trạm công tác, vẫn lo cơm nước, chèo xuồng đưa tồi đến tận cơ sở dịch hậu. Tôi ngỏ ý muốn đem mấy đứa con tôi vào vùng giải phóng, nhưng ngại vì rạch Đường Sân quá xa cơ quan, không có trường để học. Anh Ba Cự liên hệ với đồng chí Bảy Bí thư xã, xin cho tôi 20 công ruộng vắng chủ, và một miếng đất biền để cất nhà cho tôi ở Kinh Ngang. Đám ruộng 20 công ở ngang kinh, ngay trước mặt nhà. Xin chùa đốn trâm bầu làm cột nhà, xin dân đốn lá để lợp. Anh em đơn vị tiếp tay dựng nhà, phát cỏ, cấy lúa che tốt. Nước ngọt ở kinh chảy vào ruộng không phải tát. Chờ đến mùa gặt, cùng nhau xúm lại gặt đập đem về. Vợ tôi nuôi thêm 3 con heo, 1 bầy vịt đẻ, thế là kinh tế gia đình sung túc. Tôi nhớ mãi hình ảnh Hoài Thương, cháu bé gái của tôi, 9 tuổi, ở trần lặn hụp suốt ngày dưới kinh đề mò trứng vịt đẻ rơi. Ra miền Bắc cháu được Đảng và Chính phủ cho học đại học tài chánh, chuẩn bị đi B, thì đã bị bệnh chết ngày 17/1/70 tại bệnh viện C. Trong những di vật còn lại của nó, tôi còn giữ lại kỹ chiếc bị đỏ bằng nhựa trong đó có tấm băng tang đen đó lúc Hồ Chủ Tịch qua đời, và tấm ảnh cũ kỹ của người mẹ kế khá vô tình! Trong trận "chạy giặc" của gia đình tôi, chúng tôi biết ơn đồng bào cô bác miền Tây Nam Bộ đã cưu mang giúp đỡ trước hết là bạn bè, đồng đội, đồng chí thân thương, là cơ quan Quân báo Chi 50. Hòa bình lập lại, nằm đếm tính đốt ngón tay, trong số 37 người của cơ quan, trừ đi 2 người bỏ ngũ, một đại tá, một trung tá ngụy đi học tập cải tạo được tha về, mà tôi cũng đã có gặp, còn lại 35 người kể vào loại trung niên, có 9 người bị địch bắt, bị tù tội giam cầm, tra tấn năm lần bảy lượt, vẫn trung thành với sự nghiệp cách mạng, còn sống là 19 người (cho đến Tết Canh Ngọ 1990), kể như 50%, 6 người có thể còn sống nhưng không tìm ra địa chỉ (Xuân, Châu, Tất, Tốt, Định, Dương). Còn 10 người đã lìa trần: Miêng, Trí, Chắc trong chống Mỹ ở lại miền Nam và hy sinh trước ngày miền Nam giải phóng. Danh (12/11/86); Đức (1955 ở miền Bắc); Thọ (Hai Đèn) ở Ô Môn; Ba Tải ở Cần Thơ; Hai Tòng ở thành phố Hồ Chí Minh; Ba Nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh; Hữu ở Long Xuyên. Chỉ riêng anh Tám Miêng được chứng nhận là liệt sĩ, bị bắt ở tù Côn Đảo và chết ở Sài Gòn ngày 6/7/69 (22/5 âm lịch). Vợ con anh phần lớn là đảng viên cộng sản, vẫn tiếp tục sự nghiệp cách mạng của anh để lại. Năm 1953 mở đầu bằng một trận giao thông chiến vang dội tỉnh Sóc Trăng. Trong trận phục kích gần Bố Thảo, quân ta bắt được một đại úy chỉ huy 5è BVN và một thiếu úy mới ra trường. Còn viên thiếu tá chỉ huy phân khu Sóc Trăng Dương Văn Đức đã trốn dưới giề lục bình và chạy thoát. Viên đại úy bị ta bắt sống tên là Hoành, nguyên là thiếu sinh quân (enfant de troupe), được biên chế vào 5è BVN từ giữa năm 1946. Tôi đã tiếp xúc anh ta tại Cần Thơ, lúc đến trình diện Secteur để đổi về Sóc Trăng. Hoành là con của Cai tổng Vàng, một địa chủ ở Núi Sập xã Thoại Sơn tỉnh Long Xuyên Tôi đang công tác ở Cần Thơ, thì được điện của Ban Quân báo gọi về tham gia đoàn công tác điều tra tù binh. Đến kinh 8, Chắc Băng, nơi có quân y viện của khu, gặp ngay đoàn có anh Hai Kinh, Trưởng Ban Quân báo Phân Liên Khu làm trưởng đoàn, và anh Sơn Xuyên, nguyên là một cựu sĩ quan quân đội Pháp (khố đỏ) cấp hàm adjudant, tham gia cách mạng năm 46. Vui chuyện, anh Sơn Xuyên cho tôi biết là lúc Leclerc vừa đến Sài Gòn, đã triệu tập anh em cựu binh sĩ ở Đông Dương lại: anh được giao một cái radio, anh mang chiếc radio đi theo kháng chiến luôn từ đó. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 08:57:05 pm Thế là đoàn điều tra tù binh gồm 3 người: Tù binh Hoành bị thương ở cột sống, được đưa về quân y viện điều trị. Chúng tôi vào một nhà nông dân, nơi Hoành được dành riêng để cho Hoành nằm. Anh em chiến sĩ nằm ở sau bếp, có nhiệm vụ canh gác và thay nhau lấy cơm nước cho Hoành ăn, vì vết thương chưa lành. Thuốc pénicilline và sữa của đồng bào tiếp tế cho quân y viện cũng được dành phần cho Hoành. Thức ăn còn hơn cả khẩu phần chiến sĩ và cán bộ ta. Anh tù bình ấy không than phiền gì về cách đối xử của ta. Chỉ có một lần, trẻ em lối xóm xúm vào dòm ngó qua sân trước, anh ta quát to lên, thậm chí còn chửi rủa nữa. Tôi hỏi thăm về gia đình anh ta: anh ta cho biết là có 6 con, tôi hỏi anh muốn viết thư về cho gia đình không? Anh gật đầu. Hôm sau, trong giờ hỏi cung, trẻ em lối xóm lại xúm vào, anh ta lại quát mắng ầm lên. Để cho anh ta quát mắng xong, trẻ em ra đi hết, tôi hỏi anh ta: "Anh Hoành nè! Anh có thấy cán bộ chúng tôi không bao giờ to tiếng với trẻ em không?". Anh ấy thừa nhận là tôi nói đúng, và anh ta cũng lấy làm lạ về điều đó. Tôi giải thích cho anh thấy rõ, là vì chúng tôi làm cách mạng không chắc gì đã hưởng được cho đời mình, mà là để cho lũ trẻ nhỏ sau này hưởng, trong đó có 6 đứa con của anh đó. Anh làm thinh, nước mắt lưng tròng. Từ đó, mỗi khi trẻ em đến quấy rầy, anh không la mắng nữa. Trong cuộc hỏi cung dưới hình thức trao đổi thoải mái, Hoành cho biết Bộ Tham mưu Pháp muốn thực hiện kế hoạch Alexandry (Plan Alexandry). Viên tướng quyền tư lịnh quân đội Pháp vạch ra là sẽ mở một đường bộ xuyên từ Sóc Trăng sang Long Mỹ, Vị Thanh đến Rạch Sỏi (Rạch Giá) để chia cắt miền Tây, cô lập vùng U Minh, căn cứ địa kháng chiến Nam Bộ. Tôi chỉ tham gia đoàn điều tra tù binh đến nửa chừng, thì được điện của Chi 50 gọi về Cần Thơ có việc cần kíp, có cơ sở nội thành muốn gặp tôi. Sau đó, tôi được Phương Nam cho biết là Hoành được trao trả ở Cà Mau, sau Hiệp định Genève. Phương Nam lúc đó là sĩ quan Liên Hiệp đình chiến của ta ở Cà Mau, bàn giao tù binh cho quân Pháp, có kiểm soát quốc tế! Trước mặt sĩ quan kiểm soát quốc tế, Hoành đã thừa nhận là được quân đội Việt Minh chữa chạy thuốc thang và săn sóc đối xử rất tốt.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1984, tôi có trở về Long Xuyên, gặp được Năm Nghinh, 1 cơ sở cũ của tôi, làm Trưởng phòng Thương binh xã hội thị xã Long Xuyên, cho biết thêm: Đại úy Hoành được trao trả về Long Xuyên mổ bò làm tiệc chiêu đãi ở nhà lồng chợ, đã vô cùng tán dương thái độ cư xử của Việt Minh. Tất nhiên, anh ta không thể nào phủ nhận chân lý. Nếu còn sống anh cũng đã trên 80 tuổi. Chỉ mong 6 đứa con của anh tiếp tục biết ơn Cách mạng và cùng toàn dân tiếp tục sự nghiệp xây dựng Tổ quốc hôm nay và kế tiếp. Tôi cuốc bộ, băng đồng, lội sông gần 3 ngày để vượt qua 100km từ kinh 8 Chắc Băng về đến Kinh Ngang, nơi Chi 50 đóng. Anh Cự cho biết là có một ông già Phật giáo Hòa Hảo ở Long Xuyên về Cái Tắc nhắn gặp tôi cho bằng được, nên phải điện cho tôi về tiếp. Mà phải ra Cái Tắc để gặp ông ta, chứ ổng không vào được. Tôi tức tốc ra vùng du kích để đón khách. Chi 50 cho tôi mượn một chiếc xuồng ba lá, hai chiến sĩ trinh sát (anh Nhã và Dương) thủ 4 trái lựu đạn mãng cầu theo tôi. Chúng tôi chèo xuồng đến điểm hẹn là khu vườn Cả Bảo, cách bót Cái Tắc 4km. Đến giờ hẹn, tôi nhận rõ ông già là ông Một ở Cái Tắc, hồi ở Long Xuyên, tôi đã từng giúp tiền, ông ấy ở trong Trung ương hội Phật giáo Hòa Hảo, có 2 đứa con đang đi học trường sĩ quan Đà Lạt là Lý Bá Phẩm và Lý Bá Hương. Gặp tôi, ông mừng lắm, ôm lấy tôi. Hỏi mục đích, ông cho biết là chỉ nhớ muốn gặp mặt cho thỏa lòng thôi, ông lo sợ tôi có việc gì không khéo bị Việt Minh xử lý. Tôi nói cho ông cậu yên tâm (vì bà Phấn kêu bằng ông cậu), rồi dặn dò ông cậu ráng giữ vững sức khỏe, khuyên đồng bào Phật giáo Hòa Hảo đừng nên hiềm khích với Cách mạng, và sau này hai cậu con ra trường, nên khuyên hai cậu đừng bắn giết đồng bào, làm lành lánh dữ như Phật thường dạy. Ông cậu gật đầu. Tháng 3 năm 1953, Ban Quân báo phân liên khu miền Tây có chủ trương thay đổi tổ chức, chia cán bộ Chi 50 thành 3 cánh trinh sát cả khu. Đồng chí Ba Phấn và Hai Kỉnh triệu tập cán bộ Chi về Ban để bàn cụ thể việc chia cánh. Sau cuộc họp, Chi 50 được chia thành 3 cánh trinh sát của Ban. Cánh A phụ trách các cơ sở Quân báo ở Cần Thơ do đồng chí Cự làm trưởng, Quỳnh là phó. Cánh B phụ trách các cơ sở ở Rạch Giá, Long Xuyên do đồng chí Miêng làm trưởng, Hiến là phó. Cánh C phụ trách các cơ sở ở Sóc Trăng, Bạc Liêu do đồng chí Phương Nam làm trưởng, Trí là phó. Sau đó mỗi cánh đều họp riêng để triển khai công tác. Tôi còn nhớ rõ, cánh B bao gồm các đồng chí: Phan Thành Miêng - chỉ huy trưởng, Trần Hiến (tôi) - chỉ huy phó. Cán bộ có Lâm Thị Phấn, Võ Văn Danh, Nguyễn Văn Bê, Lê Bê Xê, Nguyễn Văn Tiến đều là đảng viên, họp thành một chi bộ đặc biệt, trực tiếp huyện ủy An Biên, lúc đó đồng chí Kiên Giang làm Bí thư huyện ủy, đóng tại Thứ 11. Đồng chí Kiên Giang sau này về Ban nông nghiệp Trung ương. Cuộc họp tại kinh Dài đã bầu ra một Ban chi ủy gồm có đồng chí Miêng làm Bí thư, đồng chí Tiến và đồng chí Hiến (tôi) làm Chi ủy viên. Đồng chí Tiến sau này tập kết, chuyển sang nhiều cơ quan, năm 1985 đồng chí vẫn còn công tác làm Giám đốc xí nghiệp cơ khí quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Các trinh sát viên gồm có: Tấn, Bảy, Long, Trưng, Lực, Bo. Nhiệm vụ chủ yếu của cánh là làm trinh sát ngoại tuyến và nắm lại các cơ sở nội thành. Trong 7 đồng chí đảng viên chỉ có 2 đồng chí ở nội thành: đồng chí Bê và đồng chí Danh, lâu lâu lại về họp chi bộ, báo cáo hoạt động của địch, qua các cơ sở phản ảnh lại. Trong 4 tháng, cánh B đóng tại huyện An Biên, chúng tôi đóng quân chủ yếu là đối diện với đồn Rạch Sỏi, ở kinh Dài, sống với đồng bào hằng ngày đi chợ Rạch Giá, nhưng vẫn được đồng bào hết lòng che chở. Một chuyện làm cho tôi nhớ mãi: Một hôm, Tấn, một trinh sát viên trẻ, gốc Cao Lãnh, thèm cà phê quá, nên sang quán cà phê bên đồn Rạch Sỏi uống lén đơn vị, chẳng may bị bọn lính bắt đem vào đồn. Tôi được tin, đứng ngồi không yên. Ba ngày sau, nhờ Trưởng ấp bảo lãnh, Tấn được thả về. Tôi hỏi. Tấn đáp gọn: "Em thèm cà phê quá!". Tôi không nói gì thêm, nhưng từ đó Tấn không bao giờ tự động chèo xuồng sang sông để uống cà phê nữa. Sau này tôi không gặp lại Tấn lần nào nữa, nghe đâu Tấn có làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, mang quân hàm đại tá, đến nay cũng đến tuổi về hưu. Trong 4 tháng đóng quân ở kinh Dài, chỉ có một lần có tin trinh sát báo là bọn Hòa Hảo bên Rạch Giá kéo quân sang cướp phá. Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để đón chúng. Là chỉ huy trưởng, tôi nhảy xuống xuồng đi trước, nhưng Long - một trinh sát trẻ - chận tôi lại, nói: "Anh phải đi sau, để tụi em ra trước, vì tụi em còn trẻ". Long sau này cũng tập kết, chuyển ngành, học đại học, hồi kết làm ở Sở Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh, nay cũng về hưu, ở số 30 Ngô Thời Nhiệm. Tôi kể lại để biết ơn tấm lòng đồng bào Rạch Giá, biết ơn tấm lòng đồng đội mến yêu. Trong số trinh sát viên ở cánh B, cùng tập kết và chỉnh huấn cải cách ruộng đất năm 1955, có Lê Bê Xê làm tiểu đội trưởng của tôi trong tiểu đội học tập cải cách ruộng đất và tôi là học viên phải báo cáo điển hình cho toàn đơn vị góp ý. Lê Bê Xê sau này học đại học kinh tế kế hoạch, hồi kết được bố trí làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá thành phố Hồ Chí Minh. Nay cũng đã nghỉ hưu. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 08:58:46 pm Kiểm điểm lại trong số 13 đồng chí ở cánh trinh sát B, trừ 4 đồng chí ở lại miền Nam: đồng chí Miêng đã hy sinh ở Sài Gòn tháng 7/1969, đồng chí Danh chết năm 1986 ở Cần Thơ, 2 đồng chí Bảy và Lực ở lại làm thường dân, không rõ sống chết ra sao, còn lại 9 đồng chí thì đồng chí Bê, Bo, Tấn, Trưng không biết tin tức nay ở đâu, và cũng không có điều kiện để thăm hỏi, và 5 đồng chí khác thì cũng chẳng khác gì hơn. Biết làm sao được khi tuổi đã về già. Ít khi gặp nhau để ôn lại việc cũ, hỏi thăm ai còn ai mất?
Tháng 7/1953, cánh B được rút về Ban Quân báo Khu để tăng cường cho các đơn vị khác. Tôi được bố trí trở lại Cần Thơ để nắm tình hình, củng cố lại các cơ sở nội thành. Cuối năm 1953, Phân Liên Khu miền Tây mở hội nghị Quân báo, học tập tài liệu Quân báo nhân dân. Hội nghị mở tại Rạch Cái Bần, huyện Trần Văn Thời. Tất cả cán bộ Quân báo toàn Phân Liên Khu đều về dự đông đủ. Đồng chí Tư lệnh Dương Quốc Chính chủ trì hội nghị, dự thảo luận cùng tổ với tôi. Tôi cũng đã tìm hiểu qua về đồng chí Tư lệnh. Các đồng chí ở Ban cho tôi biết đồng chí là một đội viên tuyên truyền giải phóng quân ở Việt Bắc, vẻ người khắc khổ, có hàm răng vẫu chìa ra như cái mái hiên, có tên là Lê Hiến Mai, có vợ là đại biểu quốc hội tỉnh Bạc Liêu, thường sống chung trong một tam bản có mui, thường được anh em gọi là anh Tám. Theo tài liệu của 2è B. thì đồng chí Dương Quốc Chính được trung ương cử về Nam để thay thế tướng Nguyễn Bình đã chết. Nhưng về thành tích ở Nam Bộ, chưa có nhiều bằng tướng Nguỵễn Bình. Hội nghị Quân báo Phân Liên Khu có lần bị máy bay "cổ cò" đến bắn phá, lúc đó chúng tôi đang đánh chài dưới sông Rạch Bần. Chiếc máy bay tạt ngang bắn một loạt đạn xuống rạch, chúng tôi kéo chài lên được 13 con tôm càng xanh to lớn. Máy bay bắn phá cũng không ngăn cản được anh em đua nhau đi cải thiện. Rạch Bần có tiếng có nhiều tôm càng xanh và cá chẻm, loại cá thơm thịt nhưng hay chém rách chài, nên chỉ câu cần là kết quả tốt hơn. Nửa chừng hội nghị, có tin địch theo đường thủy tấn công vào Thới Bình và kinh xáng Tà Keo. Từ Rạch Bần, hội nghị phải giải tán để kéo nhau về kinh Công Nghiệp (bên kia sông Ông Đốc). Bộ Tư lệnh điện cho Tiểu đoàn 307 kéo về đánh chận địch ở kinh Bảy Háp, diệt được một chiếc LMC. Nhân cuộc hội nghị Quân báo lần đó, tôi mới biết mặt thêm các cán bộ Quân báo nguyên ở Khu 8 cũ về: anh Phan Thanh Khiết, anh Phạm Thế, anh Vũ Hoài Linh. Anh Khiết sau này ở lại miền Nam hy sinh trên chiến trường Bến Tre. Còn các anh Trực, Thế, Linh tập kết trở về đều có gặp mặt cả. Nhân có cuộc càn quét qui mô khá lớn ở vùng Bạc Liêu, tôi hỏi Phương Nam có được tin báo trước không? Phương Nam gật đầu. Tôi nghĩ đến cơ sở Tuấn Khanh, và yên tâm phần nào về hoạt động của cơ sở duy nhất còn lại trong lòng địch. Trở về Cần Thơ, tôi củng cố lại các địa bàn hoạt động. Dựa vào trạm Cái Tắc, do đồng chí Châu làm trạm trưởng, chúng tôi thường xuyên vào ra các vùng Long Thạnh và Cái Tắc, đồn trưởng là trung úy Trần Thanh Phong, người Thạnh Phú (Bến Tre), một sĩ quan tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt, khóa sau Lâm Văn Phát. Bà cụ Phận, mẹ vợ tôi, dựa vào sự quen biết với Phong nên vào ra Cái Tắc dễ dàng, và vào điền của cô Nuôi (một địa chủ béo mập) để thăm chúng tôi. Tôi cũng thường xuyên đi lại con đường đó để nắm chắc địa hình. Đó là con đường nhỏ men theo bờ rạch, chạy dài ra kinh xáng Phụng Hiệp cách đồn bót không xa lắm (khoảng 300 m). Trần Thanh Phong cũng nằm trong dự kiến của tôi, giao cho bà giáo Phận làm liên lạc móc nối, nhưng chưa có đóng góp gì đáng kể. Tôi đang suy nghĩ kế hoạch thông qua Trần Thanh Phong để nắm đồn Cái Tắc, từ đó đến tổ chức các cơ sở khác ở Cần Thơ một cách vững chắc. Đang mải mê suy nghĩ, bỗng đụng đầu vào toán lính Miên trong đồn kéo nhau ra tuần tra. Ngẩng lên nhìn thấy ló dạng cái mũ "commănđô" (mũ mềm giống mũ TNXP ngày nay), tôi vội lách mình qua hàng rào chè tàu, một phụ nữ đứng tuổi đang múc từng thìa cơm bón cho con ăn, ngồi ngay trước cửa trống. Tôi bước vội vào nhà, chẳng cần chào hỏi, định chuồn ra cửa sau để thoát, nhưng gian nhà lá tối om, vài mét là ra đường có bọn lính tuần tra đang kéo tới. Biết tôi đang muốn tìm chỗ trốn, chị chủ nhà chỉ ngay cho tôi cái chỏng tre rộng, một nách mang con tay kia với lấy chiếc chiếu đắp lên người tôi. Tôi biết ý, nằm im trong chiếu. Cũng không nói một lời, chị đổ ngay bát cơm xuống nền nhà, ngay đầu giường tôi nằm, hốt một nắm tro trong cái cà-ròn đổ lẫn vào cơm canh dưới đất, rồi ôm con ngồi trước cửa. Nằm trong chiếc chiếu, qua kẻ hở của tấm chiếu manh, tôi theo dõi từng động tác của chị chủ nhà và đoán ra cách ứng xử của chị. Một cái đầu lính commănđô ló vào hỏi chị một tràng tiếng Miên! Đứa trẻ vẫn còn khóc có lẽ vì ăn chưa no, chị cũng trả lời bằng một tràng tiếng Miên, trong đó tôi nghe rõ một tiếng "Cô-lê-ra" (choléra) tức là thổ tả. Tên lính rụt đầu, thối lui. Vài ba tên lính khác lần lượt vào hỏi cũng được chị xác định là "cô-lê-ra!". Không một tên nào dám táo gan bước vào trong căn nhà có người mang bệnh thổ tả, mửa cơm nước ra tràn nền. Đám lính tuần tra đi khuất, chị lặng lẽ đến dở chiếu ra, nách vẫn ẵm con, chỉ ra ngoài cửa: "Đi rồi, chú đi đi". Tôi lặng lẽ chấp hai tay xá chị, bước thoắt ra ngoài thầm nghĩ: có lẽ chị không rành tiếng Việt, nói ít còn hơn. Tôi về đến trạm, thuật lại câu chuyện thoát hiểm nhờ ơn một phụ nữ có con, nhà có hàng rào chè tàu, đồng chí Châu cho biết đó là nhà vợ lính Miên, chồng chị là lính ở bót Rạch Gòi. Tài ứng xử thông minh, lòng nhân ái của một người vợ lính Miên đã cứu tôi thoát khỏi tay địch, nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa nhận lỗi về chính bản thân mình! Hoạt động bao năm trong lòng địch, thân tôi không chỉ ở cảnh cá chậu chim lồng, mà là cá nằm trên thớt, bị hăm dọa dưới lưỡi gươm Damoclès treo lủng lẳng trên đầu, đến khi thoát khỏi, như cá quẩy khói thớt rơi xuống dòng kinh xanh, vẫy vùng trong nước trong, sông trong tình cảm của đồng bào, đồng đội, đồng chí thân thương, thoát khỏi vòng vây ráp của quân thù lần nữa. Ân nghĩa đó nặng tình cá nước, không thể nào quên! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:01:04 pm CHƯƠNG 14 SAU ĐIỆN BIÊN PHỦ 7/5/1954 Chiến thắng Điện Biên Phủ, dấu ấn thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến 9 năm của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, chấm dứt chế độ thuộc địa hàng trăm năm mà chúng áp đặt vô cùng khắc nghiệt trên đất nước Việt Nam nói riêng và trên toàn cõi Đông Dương nói chung, đồng thời cũng chấm dứt bản án của 18 "bị cáo" được đưa ra xét xử trước Tòa án quân sự Pháp ở Tổng hành dinh Đại tướng Tổng tư lệnh quân lực Viễn Đông, hòm thư 50.727. Sau đây là bản án lịnh mà mỗi bị cáo có mặt đều nhận được tại Tòa án binh Pháp, mà ông Nguyễn Văn Nhiều bán sạp sách báo tại chợ Cần Thơ những năm 50, đã có nhã ý tặng lại cho tôi giữ làm kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (Hiện nay ông Nhiều ở số 60 đường Hùng Vương, gần bến xe Cần Thơ), và dưới đây, tôi xin trích dẫn tóm lược bản cáo trạng: Cabinet du Juge d'instruction militaire RÉPUBLIQUE FRANCAISE Ordonnance de non lieu et renvoi devant Tribunal militaire aux Armées du QG du Genéral Cdt en Chef des Forces Armées en E.O Séant à S.P.50.727 le Tribunal militaire O.I.No 792 du 31/12/52 O.I.No 179 du 24/3/53 O.T.No 712 et 402 des 24/11/52 st 26553 Nous, Rebuffet, Capitaine de Justice militaire aux Armées du QG du GCC des F.A.E.O nculpations directes - Vu la procédure instruite contre les nommés: 1- Lê Ngọc Cầu, décédé le 8-2-1953 2- Lê Đăng Khoa, en liberté provisoire... 3- Nguyễn Văn Nhiều, en liberté provisoire... 4- Trương Hữu Điền, détenu maison Centrale Saigon... 5- Nguyễn Hữu Qui, détenu maison Centrale Saigon... 6- Trần Phước Ngà, détenu maison Centrale Saigon... 7- Trần Huy, détenu maison Centrale Saigon... 8- Nguyễn Văn Bằng, en fuite 9- Lê Thị Phước, en fuite 10- Trần Văn Hòa, en fuite 11- Trương Hữu Sơn, détenu maison Centrale Saigon... 12- Bùi Huỳnh Nhụy, en liberté provisoire... 13- Trương Ngọc Xuân, en liberté provisoire... 14- Lâm Thị Sáng, en liberté provisoire... 15- Trương Hữu Nghĩa, en liberté provisoire... 16- Lý Trường Nhơn, en liberté provisoire... 17- Trần Hiến, en fuite 18- Lý Trường Thọ, en liberté provisoire... ... - Vu le réquisitoire de M.Le Commissaire du Gouvernement en date du 6-5-1954, - Vu l'article 2 du code d'instruction criminelle, - Vu l'article 177 du Code de justice militaire... - Attendu que les faits sus-mentionnés constituant les infractions prévues et permies par les articles 76-3 et 83-4 du Code pénal, 19 et 217 du code de justice militaire. Renvoyons Lê Đăng Khoa, Nguyễn Vãn Nhiều, Trương Hữu Điền, Nguyễn Hữu Quí, Trần Phước Ngà, Trần Huy, Nguyễn Văn Bằng, Trương Hữu Sơn, Bùi Huỳnh Nhụy, Trương Ngọc Xuân, Lâm Thị Sáng, Trương Hữu Nghĩa, Lý Trường Nhơn, Trần Hiến, Lý Trường Thọ devant le Tribunal militaire aux armé pour y être jugés conformément aux lois. Fait à notre Cabinet à S.P. 50.727 Le 7 mai 1954 Signé: Rebufîet Bản cáo trạng được ông Biện lý ký tên đúng vào ngày quân ta chiếm được Điện Biên Phủ. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:02:31 pm Như thế là trải qua hai năm giam cầm, tra tấn, chết đi sống lại nhiều lần, cuối cùng với chiến thắng Điện Biên, vụ án điệp báo Cần Thơ, Long Xuyên cũng đã được ra tòa án quân sự quân đội Pháp xét xử.
Trong danh sách 18 người bị đưa ra toà, ngày 6/5 chúng đã lọc lại, loại ra 3 người được miễn tố: 1) Lê Ngọc Cầu đã chết ở trại giam bệnh viện Chợ Quán ngày 8/2/1953, anh Cầu là một chiến sĩ Công an thành Cần Thơ, vào làm cho bọn S.E.H. (Sở nghiên cứu Lịch sử) tên gọi công khai của tổ chức Tình báo Cao ủy phủ Sài Gòn, cũng bị bọn B.C.E.O. bắt và bị ốm nặng, phải vào nhà thương Chợ Quán và chết tại đó. 2) Lê Thị Phước. 3) Trần Văn Hòa. Hai người này có tên trong hồ sơ của Nguyễn Văn Bằng, Quận trưởng Bình Đại, trốn ra vùng giải phóng. Hồ sơ của Công an Cần Thơ do bọn Pháp bắt được trong một cuộc bố ráp bất ngờ, và cũng giao cho B.C.E.O. làm tài liệu truy tố. Cả 3 người đều vắng mặt, nhưng do Nguyễn Văn Bằng làm Quận trưởng nên có bằng cớ. Còn 2 người kia không có bằng chứng minh xác minh nên không thể đưa ra xét xử vắng mặt được. Do vậy, ra Tòa chính thức có 15 người, trong đó có 2 người vắng mặt: Nguyễn Văn Bằng và Trần Hiến. Ông Quận Bằng không phải là nhân viên điệp báo nhưng do chán cảnh phồn hoa, dẫn vợ bé ra vùng giải phóng, nhờ chú Tư Ngà và Trần Huy chỉ đường cho khỏi bị bắt lại. Trước khi ra vùng giải phóng, ông Quận trưởng đã đưa vợ bé lên Sài Gòn ăn chơi 3 ngày cho thỏa thích, xong mới đánh xe Jeep về Cần Thơ, theo ngã Bình Thủy, bỏ xe, cùng vợ bé và anh tài xế dẫn nhau đi vào vùng giải phóng có quân du kích hoạt động. Chiếc xe bị du kích Bình Thủy tháo gỡ bánh xe và dầu máy. Cả 3 người bị Công an ta giữ lại xét hỏi. Hồ sơ đó lưu lại ở Công an Cần Thơ, sau này bọn Pháp đi bố bắt được nên chuyển cho bọn B.C.E.O. truy cứu. Vụ đó tôi có được nghe chú Tư Ngà thuật lại sau khi đã đưa quận Bằng đi trót lọt. Tôi làm thinh, không khen cũng không chê, vì là việc đã rồi, tiếc là không biết trước để ngăn cản lại. Cũng cần nói thêm rằng, Công an Cần Thơ xét hỏi quận Bằng xong, thấy có đủ bằng cớ là ông muốn đưa gia đình ra vùng giải phóng nén đã đưa 3 người xuống kinh 8 Chắc Băng, được vào làm Liên Việt xã. Cách mạng không hề có thành kiến với người ngay, dù là quận trưởng, tỉnh trưởng của địch. Theo cáo trạng, trong 15 người bị đưa ra Tòa, thì có 7 người không có tội danh hình sự, chỉ nêu là có hành vi có phương hại đến quốc phòng. 7 người khác được nêu tội danh chống lại an ninh bên ngoài của quốc gia (crime contre la sôreté extérieure de 1'État) Riêng mình tôi bị truy tố với 3 tội danh: (xin dịch lại cụ thể như sau) Tội danh: Đào ngũ sang hàng ngũ địch. Trần Hiến, vì đã: Trong quân đội (Nam Việt Nam), ngày 1 tháng 8 năm 1952, đào ngũ theo địch. Tội danh: Làm thất thoát quân trang. Trần Hiến, vì đã: Trong quân đội (Nam Việt Nam), ngày 1 tháng 8 năm 1952, biến thủ hoặc làm thất thoát một số quân trang đã được cấp cho để sử dụng. Tội danh: Phản bội. Trần Hiến, vì đã: Từ 1950, trong khoảng thời gian không có ấn định, trong thời chiến, ở các vùng Cần Thơ và Long Xuyên (Nam Việt Nam), trong lúc đang là Chuẩn úy phiên dịch phục vụ trong quân đội Pháp, tự ý tham gia vào một công cuộc làm tan rã tinh thần quân đội hoặc quốc gia nhằm mục đích làm thiệt hại cho cuộc phòng thủ quốc gia. Xét vì các hành động nói trên là phạm vào các điều khoản 76-3 và 83-4 của Bộ luật Hình sự, điều khoản 19 và 217 của Bộ luật Quân pháp. Phiên tòa được xử vào ngày 8 tháng 5 năm 1954, tại Tòa đại hình ở số 131, Maréchal De Lattre (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Ngồi ghế biện lý buộc tội là Emil Barat, viên cò lính kín, trung úy B.C.E.O. đã trực tiếp điều tra vụ án ngay từ đầu. Một không khí khác thường bao trùm phiên tòa đại hình. Những bị cáo và các quan tòa đều đã biết rõ chiến thắng Điện Biên và đang chờ đợi Hiệp ước đình chiến sắp ký kết nay mai, nên người buồn nhất có lẽ là viên Biện lý Barat, một tên Tây lai ác ôn khét tiếng trong hàng ngũ cò lính kín ở Sài Gòn hồi đó. Hầu hết đều được tha bổng, chỉ còn lại 4 người: Trần Hiến, tử hình khiếm diện, Quí, Ngà, Sơn, 4 năm tù (đã ở được 2 năm) nên được ghi vào danh sách trao trả tù binh sau Hiệp ước đình chiến Genève. Vào khoảng giữa năm 1955, tôi gặp lại chú Tư Ngà và Hai Quí ở E55, trong đoàn tù binh được Pháp trao trả, lúc đó đang được tập trung phân loại tại Sầm Sơn. Ngày 21/7/1954, báo, đài vừa loan tin Hiệp định Genève đã được ký kết, chúng tôi được lịnh phải chuyển hướng công tác theo tình hình mới. Đồng chí Ba Cự trưởng Chi 50 giao tôi nhiệm vụ đi truyền đạt mệnh lệnh mới cho trạm 8 ở cánh B. và phải cấp tốc trở về trước ngày 7/8/1954. Đang giữa mùa khô, các cánh đồng đều đã được gặt hái cả, cho phép đi bộ băng đồng một cách dễ dàng. Từ cơ quan Chi 50 đóng ở Kinh Ngang, ngã năm Sóc Trăng, đến trạm 8, Tân Hiệp, bên kia lộ Cái Sắn (Rạch Giá) nhìn vào bản đồ, chỉ 80km theo đường chim bay. Tôi đã có lần chèo xuồng ba lá một mình lên công tác năm 1953 rồi, nên đã thuộc đường đi. Trong mình đang bị thấp khớp, tôi kiếm một cây gậy tầm vông để chống đi đường, băng qua kinh xáng Xà No, nghỉ chân ở nhà thờ Thác Lác - ông từ ở nhà thờ đó là cơ sở trú chân của trạm giao liên - lại chống gặy băng đồng qua kinh xáng Thị Đội đến kinh tám, cách bót Tân Hiệp 2km về phía đông, tại một quán cơm cho khách muốn sang lộ Cái Sắn phải chờ đêm tối có du kích đưa đi. Năm Danh về trước tại trạm theo đường công khai, nên đã đến quán cơm chờ tôi ở đó. Chúng tôi còn phải chờ thêm hai đêm nữa mới vượt qua lộ Cái Sắn được. Báo, đài công khai đã nói đến Hiệp định đình chiến đôi bên đã ký kết xong, nhưng quân đội Pháp đóng ở miền Nam vẫn không có chủ trương gì mới để thi hành đình chiến. Đêm ngày các đồn bót vẫn tổ chức tuần tra, vây ráp đề bảo đảm không cho Việt Minh đến gần đồn bót, và để bắt gà vịt của đồng bào. Vì vậy, qua lộ ban đêm cũng phải có du kích án ngữ trước ở hai đầu bót. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:03:53 pm Trạm 8 của Chi 50 đặt ngay bên kia bờ kinh Cái Sắn, ngang bót Tân Hiệp có một trung đội lính bù nhìn Miên gian chiếm đóng, có một chiếc cầu khỉ bắt ngang kinh để đôi bờ qua lại. Năm Danh đem vợ và đứa con gái đầu lòng tôn Nữ về ở đó từ năm 1950, khi bọn Mỹ có chủ trương lập khu dinh điền Cái Sắn, đang cho nông dân vay lúa để chúng giao đất canh tác. Bà con các nơi về cất nhà lá chừng 100 hộ ở sát nhau bên bờ kinh. Hôm đó, tôi đang ở ngoài trảng ở sau lưng nhà anh Danh, thì bỗng nghe có tiếng la xôn xao. Tôi nhìn về xóm nhà thì thấy bọn lính đã kéo nhau qua cầu khỉ, đang lúc xét trong nhà Năm Danh, và các nhà lân cận. Tôi đứng sau nhà cách không đầy 25m, thấy bọn lính liền sụp ngồi xuống, tuột quần ra như đang đi đại tiện. Một tên lính Miên nhìn thấy bỗng đưa súng lẽn nhắm mắt bắn vào tôi. Tôi chưa kịp phản ứng, một bà già tóc bạc trắng vội vàng đưa tay chụp ngang khẩu súng trường, nói to: "Đừng bắn! Chú Tư ở nhà này đày", rồi đưa tay ngoắt tôi vảo: "Chú Tư vô nhà đi". Tôi đủng đinh kéo quần lên và bước vào nhà Năm Danh. Thấy tôi đen đũi, bộ rậu rậm chấm ngực, tên lính Miên hỏi: "Ông già đi đâu". Tôi không dám nói nhiều, sợ lộ tiếng trọ trẹ ra, chỉ vào nhà Năm Danh: "Nhà tui đây" rồi ngồi xuống cầm nan tre, mũi mác vót nan, đan cái rổ đang làm dở dang, không nói thêm tiếng nào nữa. Bà cụ cũng bước về nhà mình luôn, không để tôi có mội lời cảm ơn cứu mạng. Vợ chú Năm Danh cãi nhau với bọn lính đang đuổi bắt gà. Tôi nói với ra: "Thôi, em Năm đừng cãi nữa!". Trong trận càn đó, chúng bắt một số gà vịt và dẫn ông trưởng ấp về giam lại trong bót. Đồng bào mất của đang tụ tập lại nhà Năm Danh hỏi cách đối phó, vì biết Năm Danh là cán bộ kháng chiến, nên tin tưởng. Tôi thảo 3 lá đơn đòi quân đội bù nhìn phải đình chỉ ngay việc khủng bố và trừng trị bọn lính đi khủng bố, căn cứ theo tinh thần Hiệp định Genève. Một gửi cho chỉ huy Phân khu Rạch Giá, một gửi cho chỉ huy Tiểu khu Tân Hiệp, một gửi cho chỉ huy đồn số 8 Tân Hiệp. Lá đơn có chữ ký của 40 gia đình bị mất đồ ký tên, nhưng tôi dặn Năm Danh cứ đưa cả 3 lá đơn cho chỉ huy đồn số 8 Tân Hiệp coi và nhờ chuyển lên cấp trên. Cách mấy hôm sau, bọn lính ở đồn đó bị đổi đi nơi khác, thả ông trưởng ấp về, trả lại đồ đạc cho bà con.
Tôi có hỏi thăm Năm Danh ai là Trưởng đồn, Năm Danh bảo đó là thằng Sáu, trước đây có bị giam ở khám Long Xuyên, và có đi làm tạp dịch (Corvée) ở 2è B. Long Xuyên, chắc anh nhớ nó? Tôi gật đầu, nhớ lại được tên Sáu này mà có lần tôi đã sử dụng để quay zonéo in 300 bản sơ đồ hệ thống Bunker tam giác mà Đại úy tham mưu trưởng tốt nghiệp trường Sĩ quan Tham mưu Pháp đã đem từ Hà Nội về để xây cất đồn Tràm Chẹt, lúc bấy giờ, tôi có sao 1 bản báo cáo gửi về Ban QB K9 trước cuộc hành quân "Tempête" và sau đó, Tiểu đoàn 410 chủ lực Nam Bộ do anh Chín Thảo (Phạm Ngọc Thảo) chỉ huy đã san bằng loại đồn bót này thắng lợi. Tôi cũng có dự kiến, nếu được phân công ở lại miền Nam công tác, tôi sẽ tìm cách liên lạc móc nối anh Sáu này. Đến ở trạm 8 với Năm Danh, tôi không tiếp xúc ai ngoài vợ chồng Năm Danh để khỏi bị lộ hành tung. Cả đến nhà cụ ở sát vách đã có công cứu tôi. tôi cũng không qua lại trò chuyện, nhưng bà cụ vẫn chú ý theo dõi bảo vệ khi tôi có khó khăn, nguy hiểm... như người mẹ theo dõi bước chân con. Từ ngày ấy cho đến tận hôm nay 10/8/1990, tôi chưa bao giờ gặp lại mẹ để đền ơn đáp nghĩa. Tôi còn ở lại vài ngày đế gặp các cơ sở ở Long Xuyên về thăm: Tôi chỉ gặp 2 người: anh Hoàng ở huyện Chợ Mới và anh Hữu, thầu khoán ở thị xã Long Xuyên. Gặp tôi, thấy tôi để râu dài, mấy anh nói: "Anh để râu đến đâu, chúng tôi cũng không quên anh được, chưa kể giọng nói trọ trẹ xứ Huế, chỉ nhìn cặp chân mày rậm và đôi mắt sâu là biết anh ngay. Chúng tôi vui vẻ cười xòa. Anh Hoàng, anh Hữu nay không còn, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên, đặc biệt anh Hữu, dân Nam Định, lúc tập kết, được Chi 50 gởi 1 cháu gái theo, cháu tên Sửu. Gia đình anh vẫn có người là sĩ quan quân đội ta. Bản thân anh Hữu, thời gian chống Mỹ có lãnh thầu ở Cà Mau, là cơ sở nuôi giấu Năm Danh, đặc biệt có dành riêng cho Năm Danh 1 căn phòng ở lầu 3, theo lời Năm Danh kể lại. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:05:55 pm Vào đầu tháng 8/54, nhớ lời dặn của anh Ba Cự, tôi lại trở về cơ quan, vẫn theo đường cũ. Đường qua lộ Cái Sắn không sợ bị phục kích, vì binh lính ở đồn bót mới đổi đến, cũng đã biết điều hơn. Về đến văn phòng Chi 50, lúc này cũng ở kinh Ngang, anh Ba Cự cho tôi biết là có gia đình vợ tôi (đồng chí Phấn) có nhắn ra bót Cái Tắc để nói chuyện. Đồng chí Cự nói thêm: nhắn chị Hai thôi, nhưng anh cũng nên đi tiện hơn. Tôi nghĩ: bót Cái Tắc là một tiểu khu (Quartier). Đồn lớn, chỉ huy đồn là Trung úy Trần Thanh Phong (tôi nhớ có hai anh em là Thanh Phong và Thanh Phú đều là dân Thạnh Phú - Bến Tre, đều học trường sĩ quan Đà Lạt ra cả, có biết Lâm Văn Phát), và là cơ sở do bà Giáo tổ chức. Thơ từ liên lạc đều nhờ cô Nuôi, một địa chủ vùng Cái Tắc. Cô Nuôi không chồng, béo mập tròn ú, có cái quán ở chợ Cái Tắc, có bến sau bếp ngay trên rạch Cái Tắc, dễ đi xuồng tới nhà, là bà con bên vợ tôi. Đó là cơ sở mới, tôi chưa tiếp xúc trực tiếp, định để sau này ở lại hoạt động sẽ xây dựng dần. Tôi đã có một lần tiếp xúc với cô Nuôi ở điền cô, nơi có trạm giao liên do đồng chí Châu nắm, ở vài km cách bót Cái Tắc. Thế là anh Ba Cự gọi đồng chí Phấn (vợ tôi) đến, và giao nhiệm vụ cho cả hai ra bót Cái Tắc nói chuyện với bà già (bà cụ Phận). Tôi hơi sinh nghi, vì bà già đi vào đây có dễ hơn không? Nhưng dù sao, tôi đã có ý tiếp xúc với Trần Thanh Phong, nên vẫn không sợ. Hơn nữa, đã có Hiệp định đình chiến, đôi bên đang đàm phán ở Phụng Hiệp nên không dễ gì chúng "trở dáo". Tôi nhắn lại với bà già vợ tôi đem ra cho tôi bộ đồ vía, để tại nhà cô Nuôi để tôi ăn mặc đàng hoàng cho phải cách. Tôi nhờ đồng chí Định và đồng chí Nhã cầm theo ba trái lựu đạn, chuẩn bị xuồng ba lá để đưa chúng tôi ra Cái Tắc. Chúng tôi ra chợ Cái Tắc vào khoảng 6 giờ. Tôi dặn hai chiến sĩ giao liên đưa chúng tôi đến bến sau nhà cô Nuôi, rồi dặn Định và Nhã đậu xuồng bên kia bờ rạch đối diện, chờ khi nào tôi ra hiệu sẽ ghé đón. Thủ sẵn lựu đạn khi cần thiết có biến. Chúng tôi bước vào nhà cô Nuôi. Một căn phố ngói sát chợ. Cô Nuôi chỉ cho tôi bộ đồ xịn, và cả đôi giày da bốc cal (box-calf) mà cô đã đặt mua da ở Pháp và cho thợ Sài Gòn đóng, cho phù hợp với bộ complet Serge sang nhất thời bấy giờ. Phải ăn mặc cho ra dáng sĩ quan đi nghỉ phép. Tôi nhìn bộ đồ xịn không chút luyến tiếc thời xưa, nhưng đến khi soi gương nhìn bộ râu đã cứu sống tôi hai lần, tôi ngần ngại, lưỡi dao còn luyến tiếc không nỡ cắt đứt. Vừa đưa lưỡi dao gọt từng sợi râu, tôi dặn nó: "Thôi, hòa bình rồi, vĩnh biệt mày, chúng ta sẽ gặp lại nhau lúc đến tuổi cổ lai hy". Diện bộ đồ xịn, bôi chút brillantine, chải lại cái đầu. Nhìn vào gương, vẻ mặt một sĩ quan trẻ hiện ra, bộ mặt rám nắng đen đùi như vừa đi một tháng tắm biển mới về biến mất. Vợ tôi đã đi trước tôi. Tôi lững thững nện gót đi đến gần cổng đồn bót. Nhìn vào chiếc Mulco tôi hỏi anh lính gác:
- Trung úy đồn trưởng đã tới chưa?. Dáng hách dịch như một sĩ quan, tên lính cận rập gót báo cáo: "Chưa ạ!". Nếu nó hỏi giấy tờ thì tôi chẳng có một mảnh giấy lộn để trình làng. Tôi lấy vẻ cao ngạo: - Thôi được, để tôi chờ, rồi lững thững đi bách bộ trước cửa đồn, chợt thấy phía Cần Thơ có chiếc xe Jeep chạy lại. Xe do chú Ba, một cơ sở của Năm Danh vào lính làm lái xe cho Đại tá Duque chỉ huy phái đoàn đàm phán Pháp, trước kia là chỉ huy Secteur Long Xuyên có biết tôi. Tôi quay người lại vạch quần đái trên bờ rào tre, cúi đầu xuống để giấu mặt. Chú Ba cũng có thấy tôi, nên vẫn lái xe đi thẳng, Duque cũng không chú ý nhìn kỹ con người có thái độ bất lịch sự đó, nên đã để xổng một phạm nhân đã được Tòa án binh Pháp kêu án tử hình khiếm diện cách đây ba tháng. Hú vía! Một tên lính trong đồn ra mời tôi vào phòng khách. Trong phòng đã có bà Giáo và nữ đồng chí Phấn đang ngồi nói chuyện với Trung úy Phong, chỉ huy đồn. Tôi cúi đầu chào bà mẹ vợ, chìa tay ra bắt tay viên Trung úy Phong, dáng người tầm thước, có vẻ kín đáo. Ngồi chưa nóng đít, có tiếng xe đỗ trước cửa. Mọi người nhìn ra, chỉ có tôi là người ngạc nhiên nhất. Dõng dạc nện gót bước vào phòng khách, một sĩ quan bù nhìn dáng cao lớn, vẻ mặt rạng rỡ ung dung như ở trong nhà riêng cỏa mình. Tôi liếc nhìn đôi vai: mỗi vai có năm con đỉa, ba vàng, hai trắng. Một phó quan năm! Phong đứng lên đón khách. Tôi vẫn ngồi tại chỗ suy nghĩ lung lắm. Cuộc gặp gỡ không được dự kiến và cũng không báo trước. Tôi đã lâm vào thế bị động: cậu em vợ vừa mới chưa đầy 3 năm đã thăng vượt cấp, vượt bậc. Tôi chìa tay ra bắt tay Trung tá Lâm Văn Phát mà đầu óc vẫn tiếp tục tái hiện: "Năm 1945, trung úy Hai Hô Nhật - 1946, từ vùng sơ tán trở về Sài Gòn, đi học lớp sĩ quan Đà Lạt đầu tiên trở về Cần Thơ - năm 1947, tôi đã gặp chung với Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, cùng đóng lon thiếu úy. Năm 1948, ra vùng Khu 8 cùng với 5 người khác, được mấy tháng lại trở về Sài Gòn, lại được sang học trường sĩ quan Saumur, chỉ huy thiết giáp. Năm 1951, tôi gặp ở Long Xuyên, đóng lon đại úy". Đến nay, tháng 8/1954, đã lên trung tá (vượt cấp, vượt bậc). Công trạng gì? Trong lúc Phát và Phấn cùng Phong đang mãi mê câu chuyện tâm tình, tôi kéo bà mẹ vợ ra phía cuối phòng, nơi có một cô phục vụ và làm nước giải khác, kêu 2 ly nước chanh. Tôi mở đầu: - Chà! Cậu Ba lên lon mau quá! Vừa mới đại úy vọt lên trung tá lẹ quá, khiếp quá. Bà già cười: - Nhờ Hồng y giáo chủ đỡ đầu đó! Bà già thấy tôi ngơ ngác không hiểu, nên bà nói tiếp: - Đức Hồng y giáo chủ gửi sang Mỹ ba tháng học lớp sĩ quan cảnh sát đó. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:08:32 pm Hồi đó, tôi cũng biết, nhờ theo dõi báo, là ở Mỹ có một Hồng y giáo chủ Spellman rất có thế lực với chính phủ Hoa Kỳ, cũng như với Tòa thánh Vatican, do chức tước cao nhất trong giáo hội công giáo, là người kế cận Giáo Hoàng, được dự cộng đồng giáo hội để bàn các chánh sách lớn do Giáo Hoàng triệu tập, và được ứng cử vào chức Giáo Hoàng khi Giáo Hoàng mất. Sau này tôi mới biết thêm là Spellman là Tổng tuyên úy của quân đội Mỹ. Thảo nào được đề bạt vượt cấp. Nhưng tại sao cậu Ba Phát lại được đề bạt vượt cấp do một Hồng y giáo chủ Công giáo thì tôi chưa rõ, và cũng chưa tiện hỏi mẹ vợ, vì đúng lúc đó thì Phát đã đi đến gần ngồi kế tôi. Sau khi kêu cô phục vụ rót cho y một cốc rượu mạnh, Phát bất ngờ hỏi tôi:
- Sao, anh Hai! Tôi bắt chị Hai ở lại, không cho đi tập kết nữa, anh nghĩ sao? - Thật hay đùa? - Tôi nói thật đó. Tôi suy nghĩ vài giây, không khéo mình đã rơi vào một cái bẫy giăng sẵn của kẻ thù. Tôi cố gắng mìm cười, nhìn thấy mẹ vợ tôi đã bỏ đi nơi khác, thong thả nói: - Cậu đã bàn tính kỹ với má chưa? Bắt chị Hai ở lại, trong khi đó thì để Thầy đi tập kết một mình, lỡ khi trái gió trở trời, ai săn sóc, hơn nữa trước mắt, không cho Thầy biết, Thầy ăn nói làm sao khi cơ quan hỏi? Cậu Phát làm thinh. Ngẫm nghĩ một lúc, cậu ta lại nói: - Hay là cả anh, chị, cả Thầy đều ở lại, sau này trong đánh ra ngoài đánh vào, chắc ăn hơn sao? Bộ đội Việt Minh dễ gì đi tập kết hết, phải không anh Hai? - Theo Hiệp định Genève, cậu cũng biết rồi, quân đội đôi bên sẽ tập kết ở hai miền. Tôi và chị cậu là quân nhân, tất phải theo quân đội tập kết ra Bắc rồi. Còn Thầy (ý nói ông giáo Phận) thì là cán bộ cấp tỉnh, chắc cũng phải đi thôi. Cậu cũng biết đó, hòa bình rồi phải lo xây dựng, bộ đội ở lại làm chi, lấy đâu có chuyện đánh đấm nữa. Chúng tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Đó là kỷ luật quân nhân. Ông em vợ hơi khó chịu, vội đổi sang phía khác. - Anh nói kỷ luật, tôi cũng ớn kỷ luật của mấy anh rồi. Kỷ luật cũng phải dân chủ cho dân nhờ chứ. Tôi hỏi thiệt anh Hai (hắn còn tôn trọng lễ phép gia giáo), tại sao không cho dân ở trỏng đọc báo ngoài thành? Như vậy thì dân chủ ở đâu? Tôi cũng không cần giải thích, vì thực ra lý luận tôi đâu đã có chút gì! Tôi làm một cái so sánh: - Cậu cũng biết, tôi cũng đã từng sống ở thành phố, và cũng có sống ở nông thôn, có thấy nhiều việc không thể hiểu nổi. Cậu nói Việt Minh không cho đồng bào đọc báo ở thành phố đưa vô. Cái đó thì có thiệt. Nhưng tôi nghĩ: cậu làm cha, có khi nào thấy con đau mà dám đưa chén thuốc độc cho con uống không? Tôi nghĩ Việt Minh cũng không muốn cho dân bị đầu độc thôi. Nhưng tôi cũng chưa hề thấy một người dân nào vì đọc báo ở ngoài thành đưa vào mà bị Việt Minh bỏ tù cả. Nhắc nhở hoặc tịch thu báo là cùng. Ngược lại, chắc cậu cũng không lạ gì, tôi đã từng thấy tận mắt nhiều đồng bào ở thành phố đã bị tù tội, tra tấn, có khi bị xử tử chỉ vì đã lỡ lượm lá truyền đơn Việt Minh. So sánh thử ai dân chủ hơn ai thì cậu biết. Phát im lặng. Đầu óc bắt đầu suy nghĩ lung lắm, sau rốt, y hỏi lại tôi: - Vậy là anh không đồng ý cho chị Hai ở lại hà. Tôi bỏ nhỏ: - Ý tôi thì đã vậy nhưng quyết định ở hay đi là chị Hai cậu, cậu hỏi lại chị Hai coi, hỏi lại má, và cả cậu nữa đó. Tôi để cho ba người trò chuyện cùng với nhau. Sau không đầy nửa tiếng, Phát thấy trời đã về chiều, nên từ giã để trở lại Sài Gòn cho kịp qua hai chuyến phà, tôi cũng không muốn ở lại cái đồn này một phút nữa, vì cũng lo ngại những trở quẻ bất thường khác. Trước khi bắt tay từ biệt, Phát hỏi lại tôi một câu mà tôi còn nhớ mãi như in: - Sau này, mấy anh lại gặp tôi, liệu địa vị tôi có còn giữ vững hay không? Tôi nhìn thấy Phong cũng đứng đó để bắt tay tiễn biệt Phát, nên tôi trả lời cho cả hai yên tâm: - Địa vị của mấy cậu còn hay mất là do thái độ của mấy cậu đối với dân, đối với đồng bào, quyết định. - Tôi thêm: - Nhất là đối với những cán bộ kháng chiến cũ. Phong gật đầu. Câu nói đó, đến nay lịch sử đã chứng nghiệm. Sau ngày 30/4/75, tôi lại có dịp gặp Phát, nhưng không tiện nhắc lại chuyện cũ. Đối với Phong cũng như cô Nuôi, tôi chưa gặp lại lần nào, vì nữ đồng chí Phấn nay đã là thiếu tá về hưu cũng không một lần nhắc nhở đến, tôi cũng không tiện hỏi thăm. Thế đấy! và câu chuyện này, có lẽ là lần đầu tiên tôi viết lên giấy, vào lịch sử cuộc đời. Và những người đã được nghe báo cáo lại sự việc đúng như nó có, cũng không nhiều lắm, chỉ vài ba người có cương vị chủ chốt trong ngành mà thôi, vấn đề khá tế nhị, có liên quan đến tình cảm gia đình, tình cảnh đất nước. Ai muốn hiểu theo khía cạnh nào cũng được. Nếu Phát, hiện ở Mỹ, có viết hồi ký, chắc cũng không thể quên câu chuyện gặp gỡ, và lời khuyên của ông anh rể hồi đó. Đó là lời khuyên đã được xác minh qua ba thập kỷ rồi. Năm 1985, nhân dịp lễ 40 năm Cách mạng tháng Tám, đồng chí Nguyễn Văn Linh có về Quân khu 9 để dự lễ. Nghe nữ đồng chí Phấn thuật lại với tôi rằng đồng chí Linh có đến bắt tay nữ đồng chí Phấn ở lễ đài. Nữ đồng chí Phấn có hỏi đồng chí Nguyễn Văn Linh xin lại cái nhà cho vợ con Phát ở (vì Phát có nhà đã bị Nhà nước quản lý). Đồng chí Tổng Bí thư có trả lời: "Thì chị hãy viết thư biểu nó về đi, chúng tôi sẽ trả lại nhà cho nó". Đó là thái độ của Đảng, của nhân dân Việt Nam. Không chút gì thành kiến với quá khứ! Phát đã vượt biên 3 lần mới đi lọt, sau khi học tập cải tạo được tha về. Ai đã làm cho anh ta phải bỏ nước, bỏ nhà ra đi? Tôi chợt nhớ đến câu thơ của Đỗ Phủ: "Lợi dục xu nhân vạn hỏa ngưu" (Tạm dịch: danh lợi và dục vọng đuổi theo người như chiếc xe trâu kéo có lửa đốt đít!). Chúng tôi từ giã cô Nuôi, bước lên chiếc xuồng ba lá do hai cậu giao liên chèo, thuyền chở bốn người khắm tới be, nhưng lòng tôi nhẹ lâng lâng. Ba quả lựu đạn mãng cầu do cậu Định giữ còn nguyên vẹn, không phải sử dụng đến. Chúng tôi đã chiến thắng ngay trong đồn địch, một trận đấu khẩu êm ái, và chắc còn để dấu ấn cho người cần nghe đến suốt đời, và nhất là đã nhận diện được kẻ thù mới: quân đội Mỹ và vị Tuyên úy tối cao của nó... 14/8/1990 Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:17:44 pm CHƯƠNG 15 TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN 24/8/1954 Ban Quân báo Phân Liên Khu Miền Tây có lệnh cho toàn thể Chi 50 rút về Khu để học tập tình hình nhiệm vụ mới và nhận sự phân công mới. Thế là chúng tôi phải từ giã Kinh Ngang với căn nhà lá mới cất vừa hơn một năm nằm trên bờ kinh phía Bắc, cái cầu khỉ nối liền với bờ phía Nam ngay trước mặt nhà với 20 công ruộng vắng chủ mà Ủy ban kháng chiến hành chánh xã đã cấp cho chúng tôi để sinh sống, đã được anh em đơn vị xã xúm nhau giúp cấy và gặt hái được một vụ lúa chất đầy bồ, nuôi một đàn vịt đẻ, 3 con heo thả rong. Lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng, tôi cảm thấy mình đã có được căn nhà, mảnh ruộng của riêng mình, được hưởng cảnh sung túc của người nông dân Nam Bộ trong kháng chiến, được cấp đất, được sống trong sự đùm bọc của bà con xóm làng. Tôi giao giấy cấp đất của chính quyền xã cho con tôi, Hoài Thanh còn giữ mãi đến lúc ra học ở miền Bắc, còn cất kỹ trong cặp học sinh, như một kỷ vật thiêng liêng không thể nào để mất mảnh đất của Nam Bộ Thành đồng. Tôi nhìn lại lần cuối ba đứa con gái tôi đang tần ngần đứng tiễn chúng tôi trên bờ Kinh Ngang, lòng vẫn ngổn ngang trăm mối. May sao, đầu tháng 10/54, lãnh đạo cơ quan đã hiểu rõ tình hình, cho liên lạc Chi 50 đến Kinh Ngang đón ba đứa con tôi xuống Chắc Băng, cho đi tập kết, gửi vào trường học sinh miền Nam. Được tin ấy, tôi lại càng tin ở Đảng nhiều hơn, và qua học tập nhiệm vụ đi hay ở, tôi tin vào sự phân công của Đảng, không chút hoài nghi. Học tập xong, tôi được phân công ở lại, Đảng ủy khu tập kết viết giấy giới thiệu tôi trở lại Long Xuyên, sinh hoạt với Huyện ủy bí mật huyện Châu Thành - Long Châu Hà: vừa ghé xuồng vào cơ quan Huyện ủy bí mật của anh Sáu Bá, chưa họp xong thì được tin điện khẩn gọi tôi trở về Khu. Tôi từ giã đồng chí Bí thư Huyện ủy bí mật và đi ngay, về đến Chắc Băng, tôi được đồng chí Ba Phấn cho biết là Quân khu đã được tin là giặc Pháp đang có lịnh truy nã tôi ráo riết, nên đã quyết định phải cho tôi vào diện đi tập kết, vì ở lại hoạt động sẽ bị lộ. Được tin ấy, tôi buồn rầu nói rõ với anh Ba Phấn là tôi còn một mẹ già một em gái không nơi nương tựa, nếu tôi đi tập kết, biết nương tựa vào ai? Một đồng chí trong ban tập kết Khu hỏi tôi: - Ở miền Bắc, anh có cơ sở kinh tế nào không? Tôi đáp: - Quê tôi ở Thừa Thiên, phía nam vĩ tuyến 17. Nhà nghèo không ruộng. Đồng chí đó nói: - Thế thì thôi để cụ ở lại trong này đỡ khổ hơn. Tôi đáp: - Dù sao tôi cũng phải hỏi ý kiến mẹ tôi đã. Thế là tôi xin phép về rạch Đường Sân, ghé lại căn nhà lá lụp sụp cất dưới bóng cây còng, trong điền anh Hai Tắng. Mẹ tôi và con Hợi, em gái tôi vẫn ở nhà chờ tôi. Tôi trình bày cho mẹ tôi rõ chủ trương của Đảng trong tình hình hiện nay, tôi phải tập kết theo đơn vị ra miền Bắc, nhưng nếu mẹ muốn tôi cũng có thể xin ở lại miền Nam để hoạt động và lâu lâu về thăm mẹ. Tôi nói rõ là miền Bắc còn nghèo lắm nên bộ đội cũng phải còn gian khổ, xin cho mẹ theo bộ đội cũng được, nhưng càng vất vả lắm. Mẹ tôi trầm ngâm hồi lâu rồi thong thả nhìn chằm vào tôi, nói rõ từng tiếng: - Thôi, con đi đi! Con mà ở lại, tụi Tây bắt được thì nó bắn mất, không để con sống đâu! Thấy tôi vẫn chưa an tâm, mẹ tôi nói rõ hơn: - Tao với em Hợi sống với bà con ở đây cũng đặng. Lúa còn nửa bồ, đến mùa, hai mẹ con tao đi mót về ăn cũng đủ. Thức ăn thì khỏi lo, xin rượu ngon đem về ngâm dâm bán cũng đủ mua muối mắm qua ngày. Một bác nông dân, Tổ trưởng nông hội sang thăm cũng nói thêm vào cho tôi yên tâm: - Thôi, anh cứ đi tập kết, ở nhà có gì chúng tôi lo cho. Nam Bộ thiếu gì lúa gạo mà lo! Tôi đi vòng sau liếp dừa, bồ lúa xây tròn còn được nửa, cúi nhìn dưới gầm giường cái tĩn đựng đầy dấm, sản phẩm của mẹ già tôi làm để bán lại từng chai cho hàng xóm. Dù sao, thời gian hai năm cũng không dài, mà dù tình hình có kéo dài thì mình vẫn còn cách xin về Nam đánh giặc, là sẽ gặp mẹ. Không ngờ, ngày đó lại là lần cuối cùng tôi gặp được mẹ tôi. Thế là không còn cơ hội để đền ơn sinh thành nữa. Năm 1957, nhân ngày đầu tiên được gặp lại anh Vịnh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), kể lại hoàn cảnh tập kết của tôi, anh hỏi có đem dì theo không? Tôi bảo "Không", thì anh nhận xét ngay: "Đó là một sai lầm! Tôi càng thấm đau hơn khi đến năm 1968, được tin mẹ tôi đã bị đạn Mỹ bắn sập hầm chết trong Tết Mậu Thân. Ba chìm bảy nổi vì con vì cháu mà sống xa quê hương và trở về chết trên mảnh đất "Kẻ Lừ" thân thương, người mẹ chiến sĩ ấy đã từng lặn lội để nuôi quân ở Thừa Thiên cũng như ở Nam Bộ (lúc Tiểu đoàn 307 đóng tại rạch Đường Sân) đã từng chạy từng bữa cơm, vá từng tấm áo cho con, cho cháu, không bao giờ cần sự báo hiếu gì của con cháu cả. Chỉ mong cho con cháu nên người, thành nhân chi mỹ! Đó không phải là huyền thoại! Đó là sự thật, là truyền thống yêu nước, yêu con của bà mẹ Việt Nam! Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:19:07 pm Từ giã mẹ ra đi, trở về cơ quan Quân báo Khu, được anh Ba Phấn phân công nhận nhiệm vụ mới, phụ trách cánh trinh sát B làm nhiệm vụ trinh sát ngoại tuyến, bảo vệ vòng ngoài khu vực tập kết của ta. Đó là ngày 3/9/54, tôi tập hợp đơn vị lại, quân số chỉ còn một nửa. Tôi được biết là anh Tám Miêng được phân công ở lại, còn nhiều anh em khác được biên chế vào các đơn vị khác. Năm Danh cũng được bố trí ở lại, không trở về đơn vị chúng tôi. Nhiệm vụ được giao là phải theo dõi mọi hoạt động của địch từ Long Xuyên - Rạch Giá tràn vào. Cánh trinh sát của chúng tôi Được bố trí rải rác ở nhà dân, từ Kinh Dài xuống đến chợ Thứ Ba, và quan sát tình hình địch chuyển quân lấn vùng tập kết. Lúc này đồng bào đã tổ chức đò máy đưa khách dọc từ Rạch Giá chạy theo kinh xáng xẻo Rô xuống miệt Thứ xuống Thới Bình đến sông Ông Đốc. Mỗi ngày 2 chuyến đi về. Tôi chọn ngay trinh sát trong những công nhân đi theo làm công cho các đò máy đó. Thấy có hành khách khả nghi khi đến trạm dọc đường, anh em sẽ báo cáo lại để theo dõi. Hình thức trinh sát nhân dân thay thế cho những trinh sát chuyên nghiệp cũng khá nhạy bén, và rất kịp thời. Thông qua mạng lưới lúc ấy, tôi được biết ngụy quân ở Rạch Giá và Long Xuyên không chuyển quân lấn chiếm, nhưng có 2 trung đoàn Phật giáo Hòa Hảo do Ba Cụt chỉ huy đang dồn về Rạch Giá. Nhân dân ở chợ Thứ Ba phát hiện Lâm Quang Dữ, em ruột Lâm Quang Phòng đang tụ tập đám anh chị du côn lại để tổ chức ăn cướp. Tôi đã đến chợ Thứ Ba, quan sát tại chỗ, thấy Dữ đang ăn nhậu với đám tay chân bộ hạ ăn nói lung tung. Tôi viết báo cáo gửi về Ban đề xuất ý kiến nên cho Dữ đi tập kết vì y nguyên là Đại đội phó địa phương quân, để y ở lại chỉ thêm rắc rối cho địa phương. Sau này, tôi nghe tin Dữ ở lại cùng với Lâm Quang Phòng, cả hai anh em đã trở lại làm khổ nhân dân vùng đó một thời. Cánh trinh sát ngoại tuyến của chúng tôi đóng ở miệt Thứ thời gian vài tháng để đón chừ rước một trung đội địa phương quân ở Phú Quốc đi tập két, rồi cùng nhau kéo về, sông Ông Đốc. Riêng mình tôi, được phân công ở lại chốt cuối cùng tại chợ Thới Bình (ngã ba kinh xáng Chắc Băng gặp sông Trèm Trẹm). Đó là điểm chốt cuối cùng của quân ta để bảo vệ khu vực tập kết, còn cách vàm sông Ông Đốc 60km theo đường sông: bến tàu tập kết. Đơn vị chốt gồm có một Trung đội thuộc d307 và một tiểu đội cảnh vệ.
Đến cuối năm 1954, Trung đội của 307 cũng đi tập kết nốt. Chỉ còn tiểu đội cảnh vệ với Ban chỉ huy căn cứ, do đồng chí Hồ Dũng Sinh tiểu đoàn phó 307 làm chỉ huy. Công an Nam Bộ còn lại 3 người có đồng chí Nguyễn Văn Sách nguyên phụ trách phòng Chính trị Sở Công an Nam Bộ làm phó chỉ huy, còn 2 đồng chí khác là Cò Hai và Phúc. Tôi vẫn phụ trách trinh sát; của Khu, một mặt báo cáo địch tình về Ban, mặt khác giúp các đồng chí Công an điều tra thẩm vấn những người tình nghi do chiến sĩ hoặc đồng bào dẫn đến. Đồng chí Thái Văn Bạch, trung đội trưởng vẫn nắm chắc tiểu đội cảnh vệ. Chúng tôi gồm 6 đảng viên họp lại mở Đại hội Chi bộ, bầu đồng chí An làm Bí thư và phân công làm luôn trưởng ban quản trị chợ Thới Bình để tiếp xúc địa phương, dàn xếp các vụ tranh chấp xảy ra trong chợ hoặc thị trấn. Cùng với 7 chiến sĩ cảnh vệ, chúng tôi phân công nhau ôm súng trực ngày đêm, không kể là chỉ huy hay binh sĩ, để bảo vệ an toàn khu vực đóng chốt. Thực tế khu vực đó chỉ nằm trong phạm vi chợ gồm một dãy nhà lá chạy theo mạn bên phải kinh với vài chục nhà ở của đồng bào thị trấn. Ban đêm chúng tôi đốt 2 cây đèn măng sông hai đầu chợ và chia ra làm 2 tổ, thức gác hai đầu, súng lên đạn cẩn thận. Ban ngày chúng tôi chia làm 3 tổ "tam tam chế" đi 3 chiếc xuồng có đầy đủ nón sắt, súng trường garant (súng trường tự động) chèo lên xuống hai ngả: từ Thứ 11 theo sông Trèm Trẹm xuống Thới Bình, một ngả từ Thới Bình theo kinh Xáng lên Chắc Băng. Hai tuyến đường, hằng ngày thường xuyên có 3 chiếc xuồng con trinh sát, có cờ đỏ sao vàng phất phới trước mũi, nón sắt và súng garant trang bị sẵn sàng chiến đấu theo tổ 3 người. Kinh Chắc Băng vẫn tấp nập ghe xuồng đi lại, một chiếc ghe đò máy vẫn ngày hai buổi đi về từ Chắc Băng xuống sông Ông Đốc và ngược lại. Hai bờ kinh vẫn dày đặc nhà lá của đồng bào, một niềm tin vào cán bộ và bộ đội Gụ Hồ, không chút nào lay chuyển, mặc dù đã vào đầu năm 1955, gần Tết âm lịch, khu vực tập kết Cà Mau sắp sửa giao lại cho chính quyền miền Nam theo Hiệp định Genève. Cán bộ đã rút vào bí mật hoàn toàn, nhưng đồng bào vẫn đứng lên tự quản để giữ vững trị an thôn xóm, không cho trộm cướp và bọn phản động hoành hành. Hai chiếc xuồng trinh sát của chúng tôi đi đến đâu cũng được nhân dân đón tiếp, đùm bọc, hỏi han. Nếu quang cảnh con kinh Chắc Băng tấp nập bao nhiêu thì con sông Trèm Trẹm hồi đó lại vắng vẻ bấy nhiêu. Từ Thới Bình lên Thứ 11, dài gần 30 km chỉ có lưa thưa vài nóc nhà ở ven bờ sông, ở xã Biển Bạch. Bờ phía Nam là rừng tràm U Minh Hạ che kín cả một vùng căn cứ kháng chiến giáp bờ biển, vùng Đá Bạc. Chim, cá nhiều vô kể. Nhưng lạ mắt nhất là đám dơi quạ đu trên các cành cây trụi lá, nhìn xa như những trái cây nặng trĩu, dày đặc cả cây rừng. Cá lóc bông, con nào cũng to bằng bắp chân nhảy lao xao trong lưới võng với dãy đáy cắn ngang sông trông rất vui mắt. Chim rừng, cá nước, thiên nhiên ưu đãi, bù lại cảnh muỗi, mòng, đỉa, vắt ở vùng đất U Minh này. Xuồng trinh sát chúng tôi chỉ đi đến giáp ranh Thứ 11, là phải dừng lại, chỉ cốt phô trương cho đồng bào biết là bộ đội Việt Minh vẫn còn canh giữ vùng tập kết vì 2 trung đoàn Phật giáo Hòa Hảo của Ba Cụt, từ vùng Bảy Núi đã tràn xuống đây. Tin tức tình báo của nhân dân đã được xác minh. Cũng vào đầu tháng 1/55, chiếc đò máy xuống Thới Bình ghé lên trạm, đưa một phong thư của Ba Cụt gửi cho bộ đội Việt Minh mà hắn vẫn tôn là anh Hai. Phong thư của Ba Cụt gửi nhờ chủ đò máy chạy Rạch Giá - sông Ông Đốc chuyển. Cùng đi chuyến đò máy ấy có một tên trinh sát của Ba Cụt. Được tin mật báo, chúng tôi cho giữ tên trinh sát lại, nhưng không điều tra xét hỏi. Ban chỉ huy họp lại nghiên cứu bức thư của Ba Cụt và thống nhất nội dung trả lời. Đại ý thư Ba Cụt: "Chúng em luôn luôn tôn trọng anh Hai, chỉ xin anh Hai cho mượn đường để xuống Cà Mau trước bọn Cao Đài mà thôi, vì chúng em biết các anh đã đến ngày xuống tàu ra miền Bắc. Mong anh Hai chấp thuận và biên thư trả lời cho chúng em biết rõ, Ký tên Thiếu tá Lê Quang Vinh" (có đóng mộc). Tôi đã từng tiếp xúc Ba Cụt tại căn nhà 36 Lê Lựi - Long Xuyên nàm 1952, nên không lạ gì thủ đoạn và bản lĩnh của hắn. Chúng tôi họp Ban chỉ huy và cương quyết giữ vững chốt đến ngày có lịnh rút quân. Chỉ còn một tuần là đến Tết. Cân nhắc thực lực đôi bên: Ba Cụt có trong tay 2 trung đoàn quân ô hợp, tất nhiên không hợp lòng dân. Ta chỉ có 13 người mà lực lượng nồng cốt là quân cảnh vệ, có kỷ luật, rất được lòng dân, uy tín của Đảng, của kháng chiến rõ ràng làm cho kẻ địch cũng phải vị nể không dám làm càn. Vì vậy chúng tôi cương quyết từ chối và giao cho đồng chí Hồ Dũng Sinh viết thư phúc đáp, lời lẽ từ tốn nhưng nội dung vẫn nhất quyết không khoan nhượng. Cối thư ký tên: Tiểu đoàn phó Hồ Dũng Sinh, và móc trong túi xách ra chiếc mộc "Quân đội Quốc gia Việt Nam, Tiểu đoàn 307" có tiếng tăm vang dội hồi đó, in vào cuối thư để thêm uy phong. Thật ra vào ngày đó, Tiểu đoàn 307 đóng ở thị xã Cà Mau cũng đã xuống tàu đi tập kết, lực lượng còn chốt lại ở Thới Bình chỉ có một anh Sinh với chiếc mộc trong túi xách. Ông cụ già được phân công đi theo đò máy đem thư giao tận tay Ba Cụt mà tổng hành dinh đóng tại Thứ 11 đã trở về. Mọi chuyện đều ổn. Ba Cụt đọc thư xong, không nói một lời. Tên trinh sát của Ba Cụt đang giữ ở lại chốt, mãi đến chiều 30 Tết mới gửi theo đò máy chạy đường Chắc Băng cho anh ta trở về quê để ăn Tết với gia đình. Dù anh ta có muốn trở về Thứ 11 để báo cáo địch tình với chủ tướng y cũng không còn kịp nữa. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 02 Tháng Sáu, 2026, 09:20:53 pm Giáp Tết, chợ búa rộn rịp, nhưng chúng tôi vẫn âm thầm chuẩn bị sau khi họp Chi bộ để được phổ biến ngày 25/1/55, tức ngày mùng 2 Tết âm lịch, tổ chúng tôi phải rút quân hoàn toàn về vùng tập kết cuối cùng ở vàm sông Ông Đốc. Giữ tuyệt đối bí mật ngày rút quân, kể cả đối với chiến sĩ và nhân dân. Một cơ sở nhỏ có thể bị đánh úp bất ngờ. Từ 6 đồng chí trong chi bộ ghép để lãnh đạo chốt Thới Bình, để bảo vệ an toàn khu tập kết cuối cùng sông Ông Đôc. Tôi còn nhớ hết: Đồng chí Hồ Dũng Sinh sau này về làm Chánh văn phòng Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, cũng không còn nữa. Đồng chí Nguyễn Văn Sách, năm 1940 bị đày ở Madagascar, nhốt chung với giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc. Và anh cũng đã ôn lại cho tôi bài "Internationale" bằng Pháp văn mà tôi đã được anh Vịnh dạy cho tôi từ năm 1936. "Debout les damnés de la terre. Debout les forcats de la faim!"... Nghe đâu anh cũng đã tập kết ra miền Bắc làm ở Bộ Nội vụ và nay đã về hưu, làm Cố vấn nội chính ở Vũng Tàu. Anh Thái Văn Bạch tôi có gặp cũng đã nghỉ hưu, nhà ở số 9 Trương Định (Q.3) thành phố Hồ Chí Minh. Còn hai anh Phục và Cò Hai thì tôi không được biết tin tức từ dạo ấy. Dù sao, chúng ta cũng đã làm xong nhiệm vụ, tình đồng chí cũng còn lại với non sông, đất nước thái bình muôn thuở.
Để động viên đơn vị, chúng tôi cho tổ chức chiếu phim "13 người chiến sĩ Hồng quân" giữ 1 cái đồn ở giữa sa mạc, để anh em liên hệ với hoàn cảnh của mình lúc ấy. Chiếu ngay giữa chợ cho đồng bào chung vui, hai đầu chợ vẫn thắp 2 ngọn đèn "măng-sông", có người mang súng đứng gác, thay phiên nhau gác suốt đêm 30 Tết, cho đồng bào vui Tết. Sáng mồng một Tết, chúng tôi chia nhau đi chúc Tết từng gia đình, nhưng vẫn giữ kín ngày rút quân. Tối mồng một Tết, chúng tôi đi kiểm tra các ghe xuồng và phổ biến lịnh hành quân vào gà gáy nửa đêm. Hành trang đều gọn nhẹ, cả 13 người đều lặng lẽ xuống tam bản và xuồng, hướng về vàm sông Ông Đốc, nhẹ nhàng lướt sóng. Đồng bào chợ Thới Bình đang còn ngủ say trong giấc mộng đầu xuân. Mọi tình nghĩa đã gửi gắm vào ngày thăm viếng sáng mồng một Tết. Về vàm sông Ông Đốc, chúng tôi chia tay, tôi trở về Ban Quân báo. Anh Ba Phấn cũng đang ở khu vực đó, phân công tôi tham gia bảo vệ khu vực bến tàu, với khẩu súng ngắn kè kè bên hông đề tăng thêm uy thế, theo dõi những người khả nghi lên xuống bến tàu và những thùng tài liệu hồ sơ đem xuống tàu Kilinsky của Ba Lan để chở ra miền Bắc. Tôi làm công việc con thoi là người lính cuối cùng rời bờ biển Cà Mau để đi ra con tàu chở quân đi tập kết, và lấy làm hãnh diện về vinh dự đó. Để kết thúc Chương này, và cũng là để đánh dấu tình cảm đồng chí và đồng đội trong ngành Quân báo Khu 9 mà tôi không thể nào quên, tôi chỉ nhắc lại kỷ niệm một đêm rằm tháng 8 năm 1954 trên sông Cái Lớn. Lúc đó tôi được biết có người bạn cũ muốn gặp tôi đêm rằm tháng 8 ở vàm kinh Xáng Cụt dòm ra sông Cái Lớn vào 9 giờ đêm. Tin tức do một sĩ quan Liên Hiệp đình chiến ở đồn Long Mỹ (Cần Thơ) chuyển đến. Tôi tức tốc quay chèo, dùng chiếc xuồng ba lá đi ngược kinh Chắc Băng, Xẻo Rô, ngang qua kinh Mười Thước, đến điểm hẹn. Vàm kinh Xáng Cụt dòm ra con sông Cái Lớn bát ngát ánh trăng rằm. Không có một chiếc thuyền nào lai vãng. Đây là vùng ranh giới khu tập kết 300 ngày giữa ta và địch. Tôi thận trọng chèo xuồng ra giữa sông, nhìn quanh quan sát. Bỗng một chiếc xuồng con từ bờ bên kia lao đến. Tôi chưa định thần thì hai bóng người đã bỏ xuồng nhảy sang ôm chầm lấy tôi. Dưới ánh trăng rằm tôi nhận rõ mặt: anh Tám Miêng và chú Năm Danh! Chúng tôi buộc xuồng lại với nhau, và ôm choàng lấy nhau. Nhớ quá! Nhớ quá! Hai chiếc xuồng lững lờ trôi. Thời gian như ngừng lại. Trên cao, ánh trăng đã lên tới đỉnh đầu. Giữ nguyên tắc bí mật, chúng tôi không hề gợi chuyện công tác. Nhưng tôi vẫn biết là hai đồng chí muốn tôi trao đổi kinh nghiệm hoạt động trong lòng địch rất cần trong lúc này. Tôi tiếc là không có cách nào để giúp cụ thể. Chỉ nhắc lại chuyện thoát vây ở Ô Môn, và kết luận: "Trong 6 năm hoạt động, tôi chỉ đúc được 2 điểm: Một là luôn giữ vững niềm tin ở Đảng, hai là giữ vững sự bình tĩnh trước mọi tình huống bất ngờ!". Mặt trăng đã ngả dần xuống phía Tây. Tôi lấy ra một chiếc ly to múc một ly nước sông đầy đưa lên ánh trăng và nói: "Chúng ta chia tay nhau ở giữa sông Cái Lớn này, hẹn hai năm sẽ gặp lại nhau". Mỗi người uống cạn một ly. Chia tay nhau không có ly rượu tiễn đưa, nhưng nước sông Cái Lớn vẫn là nước ngọt, người dân miệt Thứ vẫn lên chở nước về để bán cho dân vùng nước mặn uống, gọi là "đổi nước", vì từ xưa, dân không bao giờ dám nói ra hai tiếng "bán nước" chỉ để dành cho bè lũ Việt gian. Dân miệt vườn kiên trung đến thế đấy. Anh Tám Miêng và chú Năm Danh rút trong ví ra để tặng tôi làm kỷ niệm, hai tấm ảnh dùng để dán căn cước, cỡ 4x6. Tôi còn giữ mãi theo tôi cho đến ngày nay. Anh anh Tám bận complet, thắt cà vạt tề chỉnh như chuẩn bị đi đám cưới. Còn ảnh của chú Năm thì hai mắt cụp xuống như che giấu nhãn quan. Chú Năm nói thành thật: "Khi chụp hình dán căn cước, tôi nhìn cụp xuống để cho bọn lính cảnh sát khó xét đoán nhân dạng tôi". Một nỗi lo ám ảnh suốt dời của người chiến sĩ vô danh. Nhưng nào thoát được đâu. Đến sau ngày 30/4/75, tôi được phân công trở về thành phố, gặp chị Tám nên được biết rõ hơn: anh Tám Miêng đã hoạt động trong Ban Binh vận Trung ương (Ban Binh vận Xứ ủy Nam Bộ), bị bắt tháng 8/1959; khi bị Tòa kết án 10 năm, hai vợ chồng vẫn nhìn nhau cười, giữ một niềm tin vào cách mạng, anh Tám đã bị đày đi Côn Đảo, bị đòn liệt cả hai chân, và đã hy sinh ngày 6/7/69 nhằm ngày 22/5 âm lịch, để lại chiếc gậy mây mà chị Tám đã cho tôi để dùng đi lại trong nhà cho khỏi té. Anh Tám cũng đã được xét tặng bằng Tổ quốc ghi công và Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Hằng năm đến ngày giỗ, tôi vẫn đến thắp nhang trên bàn thờ để tưởng nhớ mối tình đồng chí và đồng đội thuở 9 năm. Còn hoàn cảnh của chú Năm Danh thì gian truân hơn: hoạt động Ban Binh vận từ 1955, đến năm 1978 tôi đã gặp Danh làm Trưởng phòng Thương nghiệp huyện Tân Hiệp (Kiên Giang), do trình độ chính trị, văn hóa và nghiệp vụ đều yếu, đồng chí đã tự nguyện xin ra khỏi Đảng và về hưu, làm tập đoàn trưởng ở phường Hương Phú (rạch Cái Chanh) thành phố Cần Thơ, ở nơi có miếng đất ông bà để lại, và đã từ trần ngày 12/11/1986 (11 tháng 10 âm lịch) tại quê nhà, thọ 61 tuổi. Tham gia cách mạng 33 năm, chủ yếu trong ngành Quân báo, 4 lần bị địch bắt và tra tấn, giam giữ cấm cố hết 6 năm 9 tháng 20 ngày, chú Năm Danh bị ung thư phổi mà chết, xem bản phim chụp phổi thấy ghi rõ: 3 khối u ở thùy trên phổi trái do vết thương ở sườn thứ 3 gãy gây nên. Đó là vết thương do ngón đòn tra tấn của bọn lính kín ở bót Hàng Xanh gây nên từ năm 1959. Khi được tin chú Năm đang hấp hối muốn gặp tôi, tôi cũng đang bị bệnh thấp khớp ở cổ chân nên không đi được. Thật phụ lòng người quá cố. Đau lòng hơn, là sau 30/4/75, có dư luận đồn rằng đồng chí đã phản bội cách mạng. Tôi không tin và đã đi tìm sự thật: thời gian bị giam cầm ở hầm của An ninh quân đội ngụy ở Cần Thơ từ 8/12/59 đến 17/11/62 được thả ra, đồng chí Danh trốn thoát. Tôi chưa gặp giáo sư Triết để minh oan, thì Danh đã lìa trần. Dù sao, sự thật vẫn là sự thật, không có sự vu cáo nào có thể tồn tại với thời gian. Tôi tin vậy. Chịu đựng gian truân từ mọi phía, phải chăng đó là nghiệp chướng của các chiến sĩ vô danh? Tôi đọc bản lý lịch mà đồng chí Danh đã trao lại cho tôi làm kỷ niệm: 33 năm hoạt động trong lòng địch, trong đó hết gần 7 năm bị giam cầm, 2 lần kết nạp Đảng, 2 lần bị bắt, 1 lần bị tra tấn dập xương sườn, khen thưởng kỷ luật đều không có. Thế đấy. Mong đừng ai ghi thêm vết thương lòng cho người chiến sĩ vô danh! Tháng 10/1990 Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:21:04 pm 40 NĂM SAU... Ngày 25/9/89, tôi gặp lại anh Hoàng Xuân Bình tại 44 Lý Tự Trọng, Q1. Tôi biết anh đã bị bắt ở Cần Thơ năm 1947, là em của nhà bác học Hoàng Xuân Hãn, nên trực tiếp được Fallon1 (Là Đại úy, chef 2e bureau Secteur Cần Thơ thời gian 1947-1948) hỏi cung khỏi cần phiên dịch. Fallon cho biết là anh ta chỉ huy 1 tiểu đoàn quân hải ngoại ở Xiêm về. Chỉ thế thôi. Có lần, nhân dịp được dẫn anh ta từ khám lớn Cần Thơ về văn phòng 2èB, tôi đã hỏi nhỏ anh: anh có muốn nhắn gì về Khu không? Anh đã đáp gọn: "Trao đổi tù binh". Tôi đã nhắn về Khu nguyện vọng ấy, từ đó tôi không còn gặp lại anh cho mãi tới hôm nay. Chúng tôi ôn lại chuyện cũ: Anh cho biết anh bị bắt ở Phụng Hiệp với anh Phong, cả hai đều đi dự Đại hội Sinh viên Nam Bộ tổ chức ngày 25/5/47 ở Đồng Tháp Mười, trở về bị bắt ở Phụng Hiệp ngày 5/6/47. Cả 2 cuối cùng được đưa về giam tại bót Catinat và ngày 25/5/48 bị kết án 3 năm tù giam, được trả tự do trước thời hạn. Bình trở ra vùng giải phóng và năm 1954 tập kết ra Hà Nội, năm 1975 về làm phóng viên Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và về hưu năm 1985. Bình và Phong vẫn giữ vững khí tiết lúc bị giam cầm chứng tỏ cốt cách người kháng chiến. Bản tự bào chữa của kỹ sư Phong đọc trước Tòa đã được báo cáo về Sài Gòn đăng tải nguyên văn ngày 25/5/48 là một bản cáo trạng đanh thép lên án chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Bức thư bằng tiếng Pháp của anh Bình gởi cho Fallon ngày 19/1/48 lúc Bình còn ở tù tại khám lớn, ngày 5/6/49 từ khám lớn Sài Gòn gởi sang Algérie, nơi Fallon đang công tác, với 1 tấm ảnh có đề tặng cho Fallon: "A mon adversaire et ami" (gởi người địch thủ và bạn hữu của tôi). Hòa bình lập lại, Bình lại thông qua ông anh ruột là Hoàng Xuân Hãn tiếp tục gởi thơ cho Fallon để xin lại giấy tờ bị Pháp giữ tại Cần Thơ từ 1947. Điều lý thú là Fallon đã lưu giữ kỹ những giấy tờ bắt được trong người Hoàng Xuân Bình tại nhà riêng của Fallon ở Lorraine (Pháp) và đã gởi trả lại cho Bình. Lúc này Fallon đã lên cấp Tướng và đã về nghĩ hưu tại gia đình, sau khi đã làm Chỉ huy trưởng thành phố Verdun ở miền Đông nước Pháp, địa chỉ 7, rue de la Liberté, 55.100 Verdun France. Léon Fallon là một sĩ quan kỳ cựu của 43èRIC, sinh tại Lorraine năm 1918 tốt nghiệp trường Võ bị Saint-Cyr tháng 9/39, được bổ nhiệm vào 41èRMIC đóng tại La Sarre. Ngày 22/6/40, quân Pháp bại trận, Fallon bị Đức bắt làm tù binh giam ở Colditz, một trại tù binh ở một tính thuộc miền Tây nước Đức. Ngày 3/1/43, Fallon cùng 3 tù binh khác tổ chức vượt ngục Colditz trở về Lorraine (Pháp), sung vào đạo quân viễn chinh 43èRIC, đổ bộ sang Đông Dương tháng 9/45, Đại úy chỉ huy Đại đội CA2 của 43èRIC đổ bộ lên Cap Saint Jacques sau dời về Long Xuyên. Tháng 1/47 Fallon được bổ về làm Chef 2è Bureau Secteur Cần Thơ. Nguồn gốc nông dân, viên tướng Pháp ấy đến nay lại trở về sinh sống với gia đình với một vợ cùng 4 con, theo thư viết ngày 22/2/88 cho Hoàng Xuân Bình, Fallon cho biết là đứa con gái đã 41 tuổi, 3 trai: 39, 33 và 25 tuổi với 6 cháu nội, ngoại. Con cháu vui vầy, phong thê ấm tử. Một cuộc đời, 2 cuộc chiến tranh thuộc địa, từ cấp Đại úy lên cấp Thiếu tướng kể như là mãn nguyện với công danh! Tuy nhiên, về cuối cuộc đời, nhìn lại cuộc chiến mà Fallon đã tham gia ở Nam Việt, với tư cách là Trưởng phòng TB Secteur Cần Thơ, viên tướng già không khỏi có nhiều suy tư, trăn trở về mục đích cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ngay từ tháng 10/46 khi nhận được tin Đại úy Serge Laroussiltre bị Việt Minh bắn chết ở Rạch Giá. Laroussiltre lúc ấy chỉ huy Đại đội 8 của 43è RIC, luôn luôn bày tỏ ý kiến nghi ngờ về hành động của quân đội Pháp ở Đông Dương cho là ngu xuẩn, vụng dại. Cái chết của người bạn thân buộc Fallon phải suy nghĩ lại ý kiến đúng đắn của người bạn quá cố. Tôi đọc lại những bức thư Fallon viết cho Hoàng Xuân Bình và cho cụ Hoàng Xuân Hãn từ 1986 đến nay (1990). Trong thư viết cho cụ Hoàng Xuân Hãn ngày 26/11/86 có đoạn: "Sachez, cher Mr Hãn, que ces quelque 27 mois passés en Indochine, c'est peu dans la vie d'un homme, mais c’est déjà une tranche de vie appréciable laissée sur moi une forte empreinte indélébile J'en ai conservé un grand estime pour le peuple vietnamien. Et si je suis catégoriquement hostile au communisme, je n’en éprouve pas moins de l'estime, de la considération pour certains de ceux qui y adhèrent". (Ông Hãn thân mến! Ông biết cho rằng trong 27 tháng trải qua Đông Dương, đó là khoảng thời gian ít ỏi trong một đời người nhưng cũng là một giai đoạn đáng kể đã để lại cho đời tôi một dấu ấn mạnh mẽ, khó phai mờ. Nó đã để lại trong lòng tôi sự mến mộ lớn lao đối với nhân dân Việt Nam. Và nếu tôi dứt khoát chống đối Chủ nghĩa Cộng sản, thì tôi vẫn không khỏi kính nể, tôn trọng một số người đã tham gia trong đó). Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:22:19 pm Trong thư viết cho anh Hoàng Xuân Bình ngày 22/2/88: "Les sentiments sont à mon avis plus grands que les idées et encore plus que les idéologies qui, relèvent de l'esprit de système". (Những tình cảm, theo tôi, còn lớn hơn những tư tưởng và hơn cả những hệ tư tưởng do ý thức hệ mà có). Và một đoạn nói về gia đình: "La famille est à mon sens la cellule essentielle de toute société quel que soit la structure. Malheureusement la France est entrée depuis une vingtaine d’années dans un processus, peut être irréversible, de déclin", (Gia đình, theo ý tôi, là tế bào thiết yếu của mọi xã hội dù ở dạng cấu trúc nào. Than ôi, nước Pháp từ 20 năm nay đã bước vào quá trình suy thoái có lẽ không cưỡng lại được). Để giải thích nhận định bi quan ấy, Fallon viết tiếp: "C'est Sadamne et Gornorrhe. Toutes les nations de race "blanche" sont d’ailleurs prises dans cet engrenage: les Allemands en tête, et même les Russes, (là Sadamne và Gornorrhe. Tất cả những dân tộc "da trắng" đều thu trong guồng máy ấy, người Đức trước hết và cả người Nga) - (Sadamne và Gornorrhe là 2 thành phố nói trong Kinh thánh bị triệt hạ vì tội dâm loàn, sa đọa, đồng tính luyến ái).
Tôi đang phân vân, suy nghĩ về Fallon, người cấp trên và đối thủ trực tiếp của tôi trong những năm đầu chống Pháp, thì anh Bình đã hỏi: Anh thấy Fallon thế nào? Một sĩ quan mập mạp phúc hậu. Tôi có thể gởi cho nó biết tôi đã gặp anh chăng? - Cũng được, tùy anh! Bất ngờ ít tháng sau, Bình đem lại cho tôi xem một đoạn cuối bức thư phúc đáp cho Bình: "J'evoque pour terminer votre lettre complémentaire le 23 Septembre, j’ai été bien sûr, très ému, à l’idée de votre rencontre avec Trần Hiến, mon ancien interprète et ami. Je me souviens qu’il était originaire de Trung bô. Mon premier réflexe a été de lui adresser un mot que j'ai rédigé d’ailleurs aussitốt... mais que je n'ai pas envoyé. Il est resté dans mes archives. J’ai estimé que je ne devais pas nuire à cet ancien collaborateur des Français, ne doutant pas qu'on a du le lui faire payer. Dans mon projet "l'année du buffle", j'ai d'ailleurs écrit une bonne page à son sujet (écrite il y a 25 ou 30 ans...). Je pouvais vous la communiquer. Dites lui de toute façon que j’ai conservé de lui un souvenir fidèle et reconnaissant et même une réelle affection. Avait-il choisi le bon côté? Qui sait? Moi je crois que l’indépendance du Viêtnam aurait pu être acquise rapidement et sans tous ces affi'ontements frénétiques. La faute en est des 2 côtés, peut être plus encore du nôtre, on peut l’admettre. Et cela aurait pu permettre d'éviter "l'après 1954" (ngày 30 Janvier 1990). (Để kết thúc, tôi nhắc lại bức thư của anh ngày 23-9. Tôi rất xúc động vì nghe nói anh đã gặp Trần Hiến, người phiên dịch viên và bạn cũ của tôi. Tôi nhớ lại anh ta gốc người Trung-bộ? Phản ứng đầu tiên là định gởi thư và tôi đã bắt đầu viết, nhưng tôi không gửi, bức thư ấy đã nằm lại trong tập lưu của tôi. Tôi nghĩ lại là không nên làm phương hại cho người cựu cộng tác viên với Pháp, không chút hồ nghi rằng người ta đã bắt anh phải trả giá về việc đó. Trong bản dự thảo của tôi về "Năm con Trâu", tôi đã dành 1 trang dài viết về anh ấy (viết cách đây 25 hay 30 năm), tôi có thể gửi cho anh xem. Dù sao anh cũng có thể nói cho anh ấy biết rằng tôi đã giữ 1 kỷ niệm trung thành và biết ơn, hơn nữa, 1 tình nghĩa chân thành về anh ấy. Anh ta đã chọn được con đường tốt. Biết đâu đấy! Tôi thì tin rằng sự độc lập của nước Việt Nam có thể đạt được sớm hơn, khỏi sự xông pha quyết liệt đó. Lỗi là ở cả 2 bên, hơn nữa, ở phía chúng tôi có thể thừa nhận điều đó, và như vậy chúng ta khả dĩ tránh khỏi thời cuộc sau 1954). Hội chứng Điện Biên Phủ còn in đậm trong óc viên Tướng già? Dù sao tôi cũng thầm cảm ơn Bình đã không nói rõ về tôi cho Fallon biết. Và sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi quyết định viết thư cho Fallon công khai theo đường bưu chính. Tôi đã 75 tuổi, Fallon 72 tuổi, tuổi cổ lai hy cả. Tôi học hết cấp Tiểu học, mò mẫm để hiểu tiếng Pháp mà đánh Tây. Đã 40 năm qua kể như xếp nó lại không dùng đến. Nay bất ngờ phải dùng lại, chữ được, chữ mất, không biết sẽ ra sao? Sau 3 lần viết đi viết lại, cuối cùng tôi cùng viết được bức thư bằng tiếng Pháp cho Fallon nhờ 2 vợ chồng con trai tôi ra Bưu điện Sài gòn gởi đi 1 ngày trước lễ 30/4/1990: Hồ Chí Minh City le 29 Avril 1990 Monsieur Le Général, Permettez à un vieillard de 75 ans de vous écrire si tardivement et si incorrectement sans le vouloir, mon vocabulaire français est resté au fond de ma mémoire depuis 40 ans! Seule est fixé à mon coeur, l'image d'un officier français aux yeux clairs et au sourire large dont la loyauté et le comportement envers mes compatriotes en temps de guerre, ne laisse aucun reproche. C'est ainsi que, grâce à votre bienveillance, j'avais pu sauver la vie à pas mal d’habitants de Cần Thơ au cours des années 1947-1948. Sans votre appui, ils risqueraient la prison et certains d'entre eux, le poteau d’exécution dressé à côté du marché de Cần Thơ. Souvenez-vous de la mort de Trần-Đổng, un garçon de 15 ans, avec son cri de guerre: "Hồ Chí Minh muôn năm" en face du peloton d'exécution! et la discussion animée qui s'ensuivit devant le 2è Bureau du Secteur de Cần Thơ sur la légalité de cette exécution. Finalement, grâce à votre intervention, le commandement de la Zone Ouest avait décidé que dorénavant, tous les dossiers des "terroristes VM" fournis par la p.s.o. seront transmis au 2èB du Secteur pour contre-enquête afin d'éviter tout erreur du jugement. En qualité d'officier supérieur, vous pourriez facilement retrouver des témoignages écrits dans vos archives officielles pour compléter votre "Année de Buffle". Au fond de ma pauvre mémoire, je n’ai retenu que quelques noms au hasard: 1. Nguyễn Văn Hai dit Nhâm, âgé de 16 ans, accusé de lanceur de grenades par un certain Nguyễn Văn Thanh, informateur au service du Commissaire de police Jacquemin. 2. Nguyên Văn Điều, 25 ans, accusé de trafiquant de munitons au préjudice de la 62è CR.I1 a été sauvé à priori après contre-enquête accompagné d'une inspection en règle faite par le capitaine Lotte, confirmant la non-culpabilité de l'accusé. 3. Nguyễn Văn Hoàng, arrêté au cours d'une rafle à Cái Răng. Selon les accusations de la P.S.O.sous forme d'interrogatoires, le détenu était chef de section de guérilleros clandestine pris en flagrant délit, ayant sous ses ordres 2 groupes armés de 2 FM et 20 fusils. En réalité, le détenu n était qu’un simple milicien populaire de réserve. Les interrogatoires de la p.s.o. ont été édifiées sur une erreur de traduction: "traductore, tradictore"! En marge de ces 3 dossiers en question, la sentence de mort signée par le Colonel Cluset, s'annoncait irrévocable! Sans les procès-verbaux de contre-enquête faite sous vos ordres, que seront-ils devenus, ces soi-disant "terroristes VM"? 4. Nguyễn Văn Nhâm du même mon que le numéro 1, un gamin de 13 ans, arrêté par les agents de police, porteur d'une grenade. La contre enquêté, avec le concours du Caporal-chef Zédenberg ne révélait que des contradictions dans les déclarations des témoins. En fin de compte vous l’avez fait passer au camp d'internés militaires de Thốt Nốt où il s'est évadé en Noël 1947, évitant à juste titre la mise à mort d’un enfant mineur. 5. Trần Thị Tuyết, agent du CAXP (police de choc) transmise par les soins de la p.s.o. déchi-rée comme une loque que vous avez mise en liberté après l'avoir soignée à l'infirmerie militaire de Can Thơ. Eh bien! Après le 30-4-75, j’ai pu rencontrer quelques uns d'entr’eux. Ils sont tous en vie: ils ont tous une famille, des enfants, voire petits enfants. J’ai compté leurs projénitures: 22 adolescents en force de croissance. En fait de trophée de guerre, nous avons trouvé une trophée de paix et un bouquet de reconnaissance envers leurs bienfaiteurs. Vous avez raison décrire que les sentiments sont plus grands que les idées. La reconnaissance en est un des meilleurs, propre au Vietnamien. Elle dépasse la limite des frontières des nations et des préjugés pour parvenir à ceux qui la méritent. Dans le reste de mes années, je profite de mon loisir pour revoir mon passé. Je fais comme les moines en retraite, mon examen de conscience. Entre amis, nous n'avons rien à nous reprocher. Nous étions dans la coloniale mais nous ne sommes pas Colonialistes! Chacun fait son devoir en vrai soldat, mais avant tout: en homme de bien. A propos, que sont-ils devenus les anciens du 43è RTC? Je voudrais bien écrire au Capitaine Lotte et au Caporal-chef Zédenberg qui étaient si gentils envers moi au cours de ma lourde tâche d'interprète et de contre-enquêteur presqu'à la veille des exécutions présumées sommaires. J'ai confiance en sa promesse, car cet écrivain est littéralement francophile, membre de la nouvelle association culturelle franco-vietnamienne. En ce temps d'effervescence mondiale sur le plan politique, nous faisons de notre mieux pour la restauration de l'amitié entre nos deux peuples. Ainsi, je suis avide de lire vos écrits pour en tirer des enseignements utiles en la circonstance et pour vivre mieux qu'auparavant. Rassurez-vous, Mon Général, de ma vie pleine de vicissitudes, j'ai eu la chance de rencontrer des circonstances favorables pour choisir le bon côté: le côté des hommes de bien, ou pour parler le langage de l’Evangile les hommes de bonne volonté . Le VietNam à jamais indépendant, libre et unifié, n'aspire qu'à la paix et au bonheur ici-bas. Il ne garde aucune rancune envers les collaborateurs des Français, ni envers les français qu'ils soient militaires ou capitalistes. Vous pouvez m’ecrire par voie postale: Mon adresse: Trần Hiến, 44 Lý Tự Trọng, HCM city V.N. J'habite en famille avec mes enfants. J'ai lu quelque part, que la famille est la cellule essentielle de toute société vietnamienne. Après les tourments de la guerre, bienheureux sont ceux qui peuvent retrouver sains en famille entourés des siens. Présentez mes respects à Madame La Générale Fa]Ion qui vous avait suivi depuis 1949 jusqu'en Algérie, à qui revient votre bonheur présent. Votre ancien interprète Trần Hiến Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:23:08 pm Lược dịch:
TP HCM ngày 29-4-90 Thưa Tướng quân, Xin phép Tướng quân cho ông già 75 tuổi viết thư cho ngài rất chậm chạp và rất cẩu thả như thế này. Dù không muốn, từ vựng tiếng Pháp của tôi cũng bị lãng quên trong trí nhớ từ 40 năm nay. Chỉ còn lại trong trái tim tôi hình ảnh một vị sĩ quan Pháp có đôi mắt sáng sủa và nụ cười rộng rãi chứng tỏ lòng thành thật và thái độ đôi xử với đồng bào tôi trong thời chiến, không để lại lời oán trách nào. Chính nhờ vậy, nhờ lòng tốt của ông, tôi đã cứu mạng cho biết bao người dân Cần Thơ trong những năm 1947, 1948. Không có sự giúp đỡ đó, họ có thể bị giam cầm và một số trong đó có thể bị bắn ở pháp trường bên cạnh chợ Cần Thơ. Ông còn nhớ chăng cái chết của Trần Đổng, một em bé 15 tuổi với khẩu hiệu "Hồ Chí Minh muôn năm" hô to trước hàng quân xử bắn và cuộc tranh cãi tiếp sau đó trước cửa văn phòng 2èBureau Secteur Cần Thơ về tính chất hợp pháp của cuộc hành hình! Rốt cuộc, nhờ sự can thiệp của ông, Bộ chỉ huy Zone Ouest đã quyết dịnh từ nay sẽ chuyển giao hồ sơ "quân khủng bố Việt Minh" do Sở Cảnh sát đặc biệt miền Tây (PSO) cung cấp sang cho 2èB Secteur để điều tra và xác minh lại hầu tránh lầm lẫn trong xét xử. Với tư cách là sĩ quan cao cấp, ông có thể dễ dàng tìm lại những bằng chứng băng văn bản cụ thể trong các hồ sơ chính thức của ông, để bổ sung vào "Năm con Trâu" của ông đã viết, tôi chỉ còn nhớ lại một số vụ như sau: 1. Nguyễn Văn Hai tự Nhâm, 16 tuổi, bị bắt về tội ném lưu đạn, do tên. Nguyên Văn Thanh, điểm chỉ viên của Thanh tra Mật thám Jacquemin tố cáo. 2. Nguyễn Văn Điều 25 tuổi, bị bắt về tội mua bán đạn dược trong kho vũ khí của 63è C.R. Anh nầy được tha bổng nhờ một cuộc phản cung với một sự kiểm tra hợp lệ ở kho vũ khí do Đại úy Lotte tiến hành chứng minh sự vô tôi của bị can. 3. Nguyễn Văn Hoàng bị bắt trong cuộc vây ráp ở Cái Răng. Theo bản cáo trạng của PSO dưới hình thức khẩu cung, người bị bắt là Trung đội trưởng bị du kích bí mật có dưới quyền 2 tiểu đội trang bị 2 trung liên FM và 20 súng trường. Thực ra, bị cáo chỉ là một dân quân dự bị. Bản buộc tội của PSO đều dựa vào một chữ dịch sai; dịch là diệt. Ngoài 3 hồ sơ nói trên, lời kết tội tử hình của Đại tá Cluset kể như dứt khoát. Nếu không có bản điều tra phản cung làm theo lịnh của ông thì chuyện gì sẽ xảy ra cho những người mang tiếng là "quân khủng bố Việt Minh" đó? 4. Nguyễn Văn Nhâm, trùng tên với tên số 1, chỉ là một cậu bé mới 13 tuổi bị nhân viên Cảnh sát bắt vì mang trong mình 1 trái lựu đạn. Cuộc phản cung với sự cộng tác của cai xếp Zedenberg đã đem lại những kết quả trái ngược nhau khi hỏi đến người làm chứng. Cuối cùng ông đã cho giam lại ở trại tù binh Thốt Nốt, nơi đó anh ta đã vượt trốn khỏi trại trong đêm Noel 1947, thoát khỏi án tử hình gán cho một trẻ vị thành niên. 5. Trần Thị Tuyết, nhân viên CAXP do P.S.O. chuyển giao, rách bươm như đống giẻ mà ông đã cho tha về sau khi đã chuyển cho Phòng Y tế quân đội Cần Thơ săn sóc hết bịnh. Thế là sau ngày 30/4/75, tôi có dịp gặp lại một số trong bọn họ. Họ đều sống cả, họ đều có gia đình, con cái, cả cháu, chắt. Tôi đã đếm con cháu họ 22 thanh niên đang độ trưởng thành. Thay vì chiến lợi phẩm, chúng tôi đã thu được "Hòa-bình-phẩm" và 1 bó hoa biết ơn đối với người đã làm ơn đối họ. Ông đã có lý khi viết rằng: tình cảm còn lớn hơn tư tưởng. Sự biết ơn là tình cảm cao quí nhất đối với người Việt Nam. Tình cảm đó vượt quá biên giới những dân tộc, những thành kiến, để đến tận tay những kẻ xứng đáng được hưởng. Trong những năm tháng còn lại của cuộc đời, tôi lợi dụng thời gian được nghỉ ngơi để nhìn lại quá khứ của mình. Tôi làm như những ông thầy tu cấm phòng để xem xét lại lương tâm của mình. Giữa chúng ta - ông và tôi - chúng ta không có gì để mà phiền trách nhau cả. Chúng ta đều ở trong quân đội thuộc địa nhưng chúng ta không phải là thực dân. Mỗi người đều làm phận sự của mình với tinh thần người chiến sĩ chân chính, nhưng trước hết với tư cách là con người có lòng tốt. Nhân dịp này, tôi muốn có lời thăm hỏi những cựu chiến binh Trung đoàn 43èRIC. Tôi muốn viết thư cho Đại úy Lotte, cai xếp Zédenberg, những người đã tỏ ra rất tốt đối với tôi trong lúc tôi đăng làm nhiệm vụ phiên dịch và điều tra phản cung trước ngày sắp xử bắn tù nhân. Tôi đã thuật lại những việc đó, hay nói đúng hơn là những việc tốt của ông, cho ông bạn nhà văn Nam Việt Nam. Anh bạn hứa sẽ kể những câu chuyện ấy trong cuốn sách sắp xuất bản nay mai. Tôi tin ở lời hứa đó vì anh bạn nhà văn ấy rất mến người Pháp, cộng tác viên của Hội Ái hữu Việt - Pháp mới đây. Trong thời buổi sục sôi của thế giới về phương tiện chính trị hiện nay, chúng ta cố gắng làm hết sức mình để khôi phục lại tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta. Vì vậy tôi nóng lòng muốn được đọc những tác phẩm của ông để rút ra những bài học bổ ích nhân dịp này và để sống ngày một tốt hơn. Tướng quân hãy yên tâm về tôi, trong cuộc sống đầy gian khó của tôi, tôi đã may mắn gặp những dịp may để chọn những con đường tốt, con đường của những người tốt, hay muốn nói theo phúc âm "những người có thiện chí". Nước Việt Nam mãi mãi sẽ Độc lập, Tự do và Thống nhất, chỉ mong muốn mãi mãi được Hòa bình và Hạnh phúc ở trên cõi thế này. Nước tôi sẽ không giữ một thù hận nào với những cộng tác viên với người Pháp, và cả với người Pháp dù quân nhân hay Tư sản. Ông có thể viết thư cho tôi theo đường bưu điện. Địa chí của tôi là: Trần Hiến, 44 Lý Tự Trọng, Tp. Hồ Chí Minh. Tôi sống ở đó với gia đình và con cái của tôi. Tôi có đọc đâu đó rằng gia đình là tế bào thiết yếu của xã hội loài người, đó là một tư tưởng mác-xít rất được Hồ Chủ Tịch và xã hội Việt Nam đề cao. Sau những lo âu về chiến tranh, sướng thay những người đã được đoàn tụ trong gia đình có con cháu sum vầy. Xin ông hãy vui lòng chuyển lời kính trọng của tôi đến Bà Tướng quân Fallon, người phụ nữ đã đi theo ông từ 1949 đến tận Algérie và đã đem hạnh phúc cho ông hôm nay. Cựu phiên dịch viên của ông Trần Hiến Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:24:46 pm Thư đã gửi đi ngày 29/4/90. Hơn 1 năm trời không có thư phúc đáp. Đùng một cái, ngày 19/5/91 vào 9 giờ 30 sáng, tôi nhận được thư phúc đáp. Tôi lật phong bì nhìn dấu bưu chính: L.Fallon gởi ngày 10/5/91 lúc 17 giờ tại Bưu điện 55, Void, Vacon, Meuse, chưa đầy 1 tuần. Tôi bóc thư đọc, đọc đi đọc lại, cố hiểu nội dung:
"Général (C.R.) Fallon Le 10 Avril 1991 Mon cher Hien, Je vous remercie de votre très gentille lettre que j'ai reçue voilà déjà très longtemps J’ai été très ému à sa réception et plus encore à sa lecture. Le grand retard apporté à y répondre résulte d'une certaine paresse intellectuelle! Celle d'un homme de 73 ans passés., et du souci que j'avais de ne pas vous décevoir. Il est difficile de reprendre contact après 40 ans, et pour vous, pour moi aussi, mais autrement tant de cruelles vicissitudes: celles de la guerre... À force de reporter ma reponse, j'ai pris un grand retard. Sachez le cependant, j'ai lu et relu votre lettre et j'ai maintes fois regardé les photographies que j'ai conservées de notre 2è B, de Cần Thơ, prises devant la maison que nous occupions. J'ai aussi d'autres excuses: la mauvaise santé de ma femme, une sévère dépression qui a duré près de 3 années et s'est terminée (espérons définitivement) il y a seulement 4 ou 5 mois. Outre mes occupations bénévoles assez nombreuses au profit d’oeuvre en associations diverses, j'ai du assumer les tâches domestiques (cuisine, vaisselle, lingerie., rendez-vous compte!) et J’avais encore à la maison mon dernier fils (marié il y a seulement 9 mois). Et puis, ma santé décline. Cela n’a rien de tout à fait anormal et je fuis comme je peux. Il y a 7 ans, j'ai été opéré d’un triple pontage coronarien qui a prolongé jusqu'à quand? Ma frele existence, merveille de la science cependant à coup sûr. Je souffre toujours bien sûr, mais dans une mesure moindre "d’angine de poitrine" Aujourd'hui, je me décide de vous écrire ou plutốt à reprendre et compléter 1 essai que j'avais fait il y a un peu plus de 6 mois. Par votre lettre, vous m'avez assuré en ce qui concerne votre situation. Je craignais que les services que vous avez rendus dans le cadre 43è RIC et de notre 2è Bureau du Secteur de Cần Thơ vous aient été fortement reprochés. Tout cela, bien sûr est maintenant dépassé, au moins pour l’essentiel. Je ne me souviens pas avec exactitude de tous les faits que vous me rappelez dans votre lettre mais cela n'est pas étonnant car j'ai tellement de "choses" dans la tête après une carrière hélas trop bien remplie. Ce qui est sûr c'est que vous avez contribué à me faire connaître bien des aspects de la situation et des nécessités du V.N., et cela avec une gentillesse incomparable. Je vous en suis reconnaissant et rien que pour cela votre pays devrait vous être reconnaissant. Je n'ai par la moindre idée en ce qui concerne le capitaine Lotte et le caporal-chef Zédenberg. Que sont-ils devenus! Bien que notre "hexagone" soit limité, la recherche n'est pas facile. Le hasard pouvait me faciliter les choses. Je serai toujours heureux d’avoir de vos nouvelles: nouvelles du V.N.et de contribuer au rapprochement que j’appelle de tous mes voeux entre nos deux Nations. C’est là une tâche nécés saire et maintenant urgente, à mon avis. Quant à mon ouvrage "l’Année du Buffle" qui sera le tome II de mes souvenirs, il est prêt, déjà plus quelque temps, mais j’hésite sur la façon de le faire éditer car les grandes maisons d’Editions françaises sont très exigentes et leur souci essentiel est le "rendement": l’argent! et d’un autre côté, l'édition à "compte d'auteur" (c’est-à-dire aux frais de l'auteur) est très omnéreuse. C’est cependant ce que je vais devoir faire. Veuillez encore une fois excuser mon si long retard. J'ai pensé souvent à vous et je tâcherai de me racheter par quelques mots plus brefs mais plus fréquents. Bien fidèlement dans ma reconnaissance et mon amical souvenir. Transmettez à l'occasion à mon ami Hoàng Xuân Bình mon bon souvenir et rappelez lui la joie que j'aurais à le retrouver en France. Signé: Fallón Lược dịch: Tướng (về hưu) Fallon Ngày 10-4-91 Bạn Hiến thân mến của tôi, Tôi cảm ơn anh về bức thư tình cảm của anh mà tôi nhận được đã lâu lắm. Tôi rất cảm động khi nhận nó, và hơn nữa khi đọc nó. Tôi trả lời quá muộn là do sự lười biếng tinh thần, sự lười biếng của một người đã qua 73 tuổi và do tôi không muốn làm anh thất vọng. Thật khó nói lại sự tiếp xúc sau 40 năm xa cách với anh, cả với tôi nhưng với cách khác, sau biết bao trắc trở, khổ đau do cuộc chiến gây nên. Vì cứ dần dà chờ đợi mãi cho nên tôi viết trễ quá. Nhưng anh cũng biết cho rằng tôi đã đọc đi, đọc lại, đọc mãi bức thư của anh, lục lại xem những bức ảnh mà chúng ta đã chụp chung với nhau ở Phòng 2 Cần Thơ, trước ngôi nhà chúng ta cùng nhau làm việc. Tôi cũng còn nhiều lý do khác: vợ tôi sức khỏe xấu đi, một sự xuống sức nghiêm trọng kéo dài gần 3 năm và vừa mới bình phục (cầu mong khỏi hẳn) mới chừng bốn, năm tháng gần đây. Ngoài những công việc bận rộn khá nhiều và không công cho những hội tương tế, tôi còn phải lo công việc nội trợ (bếp núc, rửa bát, giặt quần áo... anh thử nghĩ xem) và tôi còn nuôi đứa con trai út mới cưới vợ gần 9 tháng nay. Ngoài ra, sức khỏe tôi đang xuống dần, cái đó cũng chẳng có gì là lạ và tôi cố gắng khắc phục. Cách đây 7 năm, tôi đã chịu 3 lần phẫu thuật về tim, chưa biết phải chịu đựng kéo dài đến bao lâu nữa? Cuộc sống mỏng manh. Nhưng cũng nhờ có khoa học kỳ diệu, tôi vẫn còn đau, nhưng ít hơn trước về bịnh tức lồng ngực. Hôm nay, tôi quyết định viết thư cho anh hay hơn là để tiếp tục và bổ sung tập biên khảo mà tôi đã viết hơn 6 tháng nay. Theo thư anh, anh cho biết là tôi có thể an tâm về vị trí của anh. Tôi chỉ sợ là những công việc anh đã giúp trong khuôn khổ trung đoàn 43è RIC và cái Phòng 2 Secteur Cần Thơ đã làm cho anh bị khiển trách. Tất cả sự việc đó chắc chắn nay đã trôi qua, ít nhất là về đại thể. Tôi không còn nhớ chính xác tất cả những sự việc mà anh kể cho tôi nghe trong thư, nhưng điều đó không có gì lạ, bởi vì trong đầu óc tôi nhét đầy những sự việc sau sự nghiệp dai dẳng mà hỡi ôi tôi làm quá đầy đủ. Cái chắc chắn nhất là anh đã giúp tôi biết nhiều mặt của tình huống và những nhu cầu cấp bách của nước Việt Nam và anh đã làm việc đó với sự tinh tế vô biên. Tôi rất cảm ơn anh và chỉ riêng việc đó, đất nước anh cũng phải biết ơn anh. Tôi không còn ý tưởng nào về việc làm của đại úy Lotte và cai xếp Zédenberg. Họ đã ra sao rồi?! Hẳn rằng cái "lục-giác-đài"1 (Chỉ nước Pháp (có hình thế lục-giác trên bản đồ)) của chúng tôi cũng có tầm hạn chế, nên công việc, tìm kiếm cũng có khó khăn. Dịp may có thể đến giúp đỡ chúng tôi. Tôi sẽ rất mừng nhận được tin anh, tin tức của nước Việt Nam và sẽ góp sức làm cho 2 nước chúng ta xích lại gần nhau hơn. Đó là việc làm cần thiết và hiện nay thật cấp bách theo tôi nghĩ. Còn về cuốn "Năm con Trâu" sẽ là tập II của tập hồi ký của tôi. Tôi đã viết xong cách đây không lâu, nhưng tôi còn do dự về cách in ấn, bởi vì những nhà xuất bản lớn của Pháp rất khó tính, nỗi lo lớn nhất của họ là hiệu quả, tiền bạc. Và mặt khác, nếu tác giả tự xuất bản thì chi phí sẽ quá cao! Nhưng đó là cách mà tôi sẽ tiến hành. Một lần nữa, tôi xin anh tha lỗi cho vì sự trả lời quá chậm. Tôi thường nghĩ đến anh luôn và tôi sẽ mua chuộc lại lỗi lầm bằng cách viết thư cho anh ngắn hơn nhưng thường xuyên hơn. Trung thành, biết ơn và kỷ niệm bằng hữu đối với anh. Xin gởi đến anh Hoàng Xuân Bình lời chúc tốt lành và nhắc lại anh ấy rằng tôi sẽ rất vui mừng được gặp lại anh ấy ở Pháp. Ký tên: Fallon Tôi đã được anh Hoàng Xuân Bình cho xem tập I tác phẩm "L'Allemagne en tourisme" (Nước Đức và những nhà du lịch) kể lại câu chuyện Fallon cùng 3 anh em binh sĩ Pháp bị giam tại miền Tây nước Đức trốn trại vượt qua 600km để trở về nước Pháp. Sách dày hơn 300 trang, in đẹp, do Fallon tự in lấy. Nay Fallon định in tập II "L'Année du Buffle" (năm con trâu) để ghi lại chiến công của Fallon lúc vào 43è RIC sang Đông Dương. Tôi buộc phải viết thư kể lại việc 5 tù binh bị bắt ở 2è Bureau Secteur Cần Thơ để mong anh ta nhớ lại và cảm thông một phần sự thật. Chỉ thế thôi. Mong sao những bức thư này có tác dụng đóng góp phần kết luận cho các chương về hoạt động tình báo của tôi trên địa bàn tỉnh Cần Thơ xa xưa! Ngày 22/6/1991 Trần Hiến Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:26:16 pm PHỤ LỤC NHỮNG TIẾNG NÓI CỦA ĐỒNG ĐỘI "Chính đồng chí Trần Hiến là người gây ý thức và dẫn tôi vào ngành Tình Báo" Tháng 4 năm 1946, đồng chí Phan Trọng Tuệ, chính trị bộ Chủ nhiệm Khu bộ (tên gọi lúc đó) giao nhiệm vụ cho ba chúng tôi là Hoàng Hà, Nguyễn Văn Vĩ và tôi về Cần Thơ để tổ chức đội "Sát Gian Đảng". Đội này có ba nhiệm vụ: "Trừ gian diệt tề, xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng cơ sở cách mạng nội thành". Trước lúc lên đường, chúng tôi được trang bị 2 khẩu súng lục và 15 quả lựu đạn để hoạt động. Đến tháng 10 năm 1946, "Sát Gian Đảng" đổi tên là Vệ Thám Phòng1 (Tên đầy đủ là Vệ Quốc Đoàn Do Thám, do đồng chí Phan Trọng Tuệ đặt). Chỉ huy Vệ Thám Phòng toàn Khu 9 là đồng chí Phan Trọng Tuệ, bí danh là Trí Hùng. Tôi là trưởng Sát Gian Đảng Vệ Thám Phòng Chi cục 1 (Cần Thơ), đồng chí Nguyễn Văn Vĩ tự Vĩnh làm phó. Cho đến hết năm 1946, Vệ Thám Phòng vẫn chỉ là một đơn vị vũ trang chiến đấu trong và ngoại ô thành phố Cần Thơ, kể cả vùng ven gần thành phố. Vệ Thám Phòng chia ra nhiều đội hoạt động riêng biệt, không rõ nhiệm vụ của nhau, để giữ bí mật. Mỗi đội có bí danh riêng cho đội viên mình bằng một tên đầu. Ví dụ đội Thanh thì đội trưởng là Thanh Nguyên, đội phó là Thanh Đình, các đội viên là Thanh Phong, Thanh Hương... Tiểu đội Việt có Việt Dũng, Việt Bảo, Việt Trung, Việt Hằng... Tiểu đội Hoàng có Hoàng Thanh, Hoàng Thám, Hoàng Mai... Khoảng tháng 8, 9 năm 1946, tiểu đội Thanh báo cáo tổ chức được một đội viên đang ở trong quăn đội Pháp, chuẩn úy phiên dịch cho 2è B. Quân khu miền Tây (Zone Ouest) tên là Trần Hiến, bí danh trong đội là Thanh Đình. Khoảng cuối tháng 9 năm 1946, chị Thanh Phong (Lâm Thị Phấn) có đưa đồng chí Trần Hiến gặp tôi ở Xóm Chài, bên kia sông là chợ Cần Thơ. Xóm Chài lúc đó ta làm chủ, địch bên chợ Cần Thơ không dám qua. Đó là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Trần Hiến. Tôi chỉ nói vắn tắt và yêu cầu đồng chí Trần Hiến cung cấp tin tức hoạt động địch, nhất là các vị trí có thể đưa người của ta đến địch vận mang súng ra, ăn cắp súng đạn, nắm quy luật tuần tiễu của địch - nhất là các toán đi tuần (patrouille) ban đêm - để chúng tôi tổ chức đánh lấy súng. Vì lúc bấy giờ vấn đề bức xúc nhất của chúng tôi là cần có nhiều súng để đánh địch. Cuộc tiếp xúc đó diễn ra rất nhanh, vì phải để đồng chí Trần Hiến trở về sớm, đề phòng địch có thể nghi ngờ, vì Xóm Chài là vùng cấm, người làm cho địch không ai dám qua. Kể từ ngày đó, đồng chí Trần Hiến gởi tin tức ngày càng nhiều, bao gồm tài liệu về quân số, hệ thống tổ chức và chỉ huy, kể cả bố trí quân lực (Zone Ouest), các cuộc thay quân (đổi đơn vị và chỉ huy), các kế hoạch hành quân càn quét lớn nhỏ trong vùng... Có thể nói, đó là những tài liệu hết sức quý và quan trọng của địch đã lọt vào tay ta, và đều bằng tiếng Pháp. Tôi đọc xong, lập tức viết báo cáo rồi chuyển về cho hai anh Huỳnh Phan Hộ (Khu trưởng) Phan Trọng Tuệ, các tài liệu đó (lúc bấy giờ khu chưa có Phòng Tình báo trong Bộ Tham Mưu) để các anh xử lý trực tiếp. Đến tháng 5 năm 1947, tôi được anh Hộ, anh Tuệ gọi về gặp ở Bộ Tư lệnh. Hai anh khen ngợi việc thu thập tin tức địch tình của Vệ Thám Phòng Cần Thơ rất có giá trị và đề cao khả năng tổ chức làm Tình báo của tôi. Cuối cùng, hai anh quyết định cử tôi làm Trưởng tình báo Cần Thơ. Từ tháng 5/1947, Vệ Thám Phòng đổi tên lả Phòng Tình báo Cần Thơ, quân số đông hơn vì sáp nhập bộ phận Tình báo ở Khu do anh Hoàng Chiến phụ trách và bộ phận binh vận do đồng chí Giao chỉ huy tất cả được tổ chức lại trong biên chế Phòng Tình báo Cần Thơ. Tôi có phát biểu với hai anh Hộ và Tuệ sợ làm tinh báo thì không trực tiếp đánh giặc được nên hai anh đồng ý chuyển cho Tình báo Cần Thơ hơn hai trung đội vũ trang. Kể từ đó, Phòng Tỉnh báo Cần Thơ tổ chức 3 Ban: Ban Tình báo gồm tổ chức mật và trinh sát công khai nắm tình hình địch; Ban Hành động gồm các lực lượng tình báo xung phong chiến đấu trong nội thành với trang bị nhẹ (tiểu liên, súng lục, lựu đạn) và đội Tình báo vũ trang chiến đấu bên ngoài như các đơn vị bộ đội khác; Ban Binh vận làm công tác địch vận. Ba Ban này hoạt động nhịp nhàng hỗ trợ cho nhau rất tốt, khiến địch hết sức hoang mang dao động. Cũng từ đó, tôi có điều kiện đi sâu nghiên cứu công tác tình báo. Có thể nói từ những tin tức của đồng chí Trần Hiến cung cấp từ cuối 1946 mà các anh ở Khu mới giao cho tôi chỉ huy ngành Tình báo; hay nói cách khác, chính đồng chí Trần Hiến là người gây ý thức và dẫn tôi vào ngành Tình báo, nếu không có sự kiện đó, chắc tôi sẽ trở thành cán bộ chỉ huy bộ đội như đồng chí khác ở chiến trường... Suốt những năm 1947, 1948 đến 1950, đồng chí Trần Hiến đã có nhiều sáng kiến, chủ động xử lý các tình huống ngay trong lòng địch - nhiều việc không có hoặc chưa có sự chỉ đạo của chúng tôi - ví dụ như địch giao đồng chỉ dịch những tài liệu của ta bị chúng lấy được trong những cuộc hành quân càn quét, đồng chí đã bí mật chọn lọc đốt bỏ các tài liệu quan trọng có liên quan đến cơ sở ta ở nội thành và chỉ dịch những tài liệu lý luận chung chung, địch không lợi dụng được. Các tài liệu đốt bỏ, đồng chí đều ghi số, nội dung về Phòng Tình báo để báo cáo. Đồng chí cũng đã cứu nhiều đồng chí ta bị địch bắt khỏi tù đày hoặc bị xử bắn... tôi không nhớ hết. Nhưng tôi có thể nói đồng chí Trần Hiến là một điệp viên thông minh, chủ động, sáng tạo, hoạt động trong lòng địch một cách vững vàng. Trong những năm đầu 1960, lúc ở miền Bắc, trong đợt bảo vệ chính trị nội bộ Đảng, tôi có xác minh lý lịch và thành tích đảng viên của đồng chí Trần Hiến, và hiện nay tôi còn giữ bản "nháp" những lời xác minh đó trong hồ sơ riêng của tôi. Tôi cho rằng việc xuất bản quyển Hồi ký của đồng chí Trần Hiến là một việc rất tốt, góp phần vào việc giáo dục truyền thống của ngành Tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy công tác ở ngành Tình báo không lâu, nhưng cũng chính ở đoạn đời chiến đấu trên mặt trận thầm lặng này, tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất trong đó có kỷ niệm, với đồng chí Trần Hiến, người, đã gây ý thức và dẫn dắt tôi vào ngành Tình báo... Cần Thơ, 6-7-2001 Đại tá TRẦN NHẬT QUANG (Nguyên Phó Tham mưu trưởng QK9) Phó Chủ tịch Hội C.C.B tỉnh C.T. Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:27:20 pm Anh xứng đáng với tên gọi "Người tình báo nhân dân" Người giáo viên từ giải đất miền Trung gió bụi đi vào Sài Gòn, mượn đường quân viễn chinh Pháp đến Cần Thơ, anh Trần Hiến gia nhập Đoàn Sát Gian Đảng - Vệ Thám Phòng (tên gọi ban đầu của Ban Tình báo tỉnh Cần Thơ). Cùng đồng đội anh hăng say trong nhiệm vụ trừ gian, diệt tề, góp phần đáng kể trong việc xây dựng cơ sở kháng chiến trong thành phố Cần Thơ buổi đầu kháng chiến. Khoác áo sĩ quan phiên dịch Phòng Nhì (2è Bureau) quân đội Pháp với lòng yêu nước ý chí cách mạng sâu sắc, cùng với sự thông minh và trí tuệ tuyệt vời, anh Trần Hiến xứng đáng với tên gọi người tình báo nhân dân vào hàng xuất sắc của ngành Tình báo Quân sự Khu 9 miền Tây Nam Bộ. Anh lập được nhiều thành tích, được lãnh đạo quân sự Khu 9 xác nhận đã đáp ứng được vai trò tai mắt cho Tham mưu chủ động trong việc đối phó với địch, và Tỉnh ủy Cần Thơ đặc cách kết nạp anh vào Đảng Cộng sản Việt Nam trong lúc anh vẫn còn hoạt động trong hàng ngũ địch. Đọc hồi ký "Những năm sóng gió cuộc đời" của Trần Hiến, với tư cách phụ trách công tác Tình báo Quân sự tỉnh Cần Thơ suốt 9 năm kháng chiến có mối quan hệ chặt chẽ với Chi Quân báo đặc biệt 50 và cá nhân anh Trần Hiến, tôi có một cảm nhận đầu tiên thật sâu sắc: đó là sự non trẻ của tổ chức hoạt động Tình báo ta hồi ấy. Tôi nhớ lại: Từ 1950, sau khi đồng chí Hoàng Minh Đạo được bổ nhiệm làm Trưởng ban Quân báo Nam Bộ (thay Trưởng phòng Mật vụ Phạm Ngọc Thảo), tổ chức nắm địch các cấp được thống nhất với tên gọi "Quân Báo" tức là Tình Báo Quân sự. Từ lúc bấy giờ, song song với chủ trương tăng cường củng cố trinh sát, Quân báo nhân dân phục vụ cho chỉ đạo chiến đấu, xây dựng và phát triển du kích chiến tranh rộng rãi ở địa phương từ cấp quân khu trở lên, phải xúc tiến triển khai xây dựng Tình báo trong nội bộ địch theo phương châm "cài sâu, trèo cao". Lúc đó trên chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức bộ máy quân sự địch có Zone Ouest đóng tại thành phố Cần Thơ là mục tiêu chính xây dựng Điệp báo ta, và cũng từ đó Chi Điệp báo 50 ra đời, đồng chí Trần Hiến là một đầu mối đã được Thủ trưởng Hoàng Minh Đạo quan tâm đặc biệt cho yêu cầu trên và chỉ đạo Chi 50 chúng tôi triển khai những bước thích hợp cho Trần Hiến chui sâu đúng quỹ đạo... Tuy nhiên lúc bấy giờ, do phải phục vụ quá nhiều yêu cầu trước mắt của địa phương, Trần Hiến lần lần bị lòi lưng... rất đáng tiếc... Cách mạng được người con trung kiên, có bản lĩnh, có môi trường thuận lợi mà người tình báo viên ấy - như lời anh kể - phải chịu "thất trận" quá sớm. Bọn B.C.E.O. Barat đã đánh đúng mục tiêu mà không thu được kết quả. Trần Hiến đã về hậu cứ an toàn. Tuy có thắng lợi, nhưng ta cũng có thiệt thòi vì để mất một tình báo viên, mà theo tôi, dù Tình báo quốc tế cũng không đào tạo được. Mặt khác, tôi cũng nhận thấy rằng đồng chí Trần Hiến là một con người lịch thiệp, từng trải, biết xử lý đúng cung bậc giữa tình yêu và nhiệm vụ, giữa hoàn cảnh gia đình và công tác, vẹn toàn vai trò chồng, cha trong những tình huống khi mới nghe tưởng chừng như nan giải. Mấy lần tôi đến thăm anh sau giải phóng 1975, lúc ấy anh đã già yếu lắm. Tuy có mệt mỏi vì bịnh hoạn, nhưng anh vẫn lạc quan khi nhắc đến những khúc quanh cuộc đời đánh giặc bằng trí tuệ để đến hôm nay cuối đời cùng bè bạn tự hào được sống trong hòa bình độc lập tự do của Tổ quốc. Rồi cũng năm đó, người đồng chí, người bạn đời của tôi - anh Trần Hiến - về theo Bác thầm lặng cũng như từng thầm lặng xông pha trong biển giáo rừng gươm của một chiến sĩ Tình báo trong cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ của dân tộc. Cần Thơ, 15-11-2000 NGUYỄN VĂN CỰ (Nguyên Trưởng Ban Tình báo Cần Thơthời kỳ chống Pháp) Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:28:10 pm Dành trọn niềm cảm mến và ngưỡng mộ đối với anh... Từ năm 1946, tôi được giác ngộ làm công tác điệp báo nội thành Cần Thơ trong tiểu tổ Thanh, bí danh tôi là Thanh Hương, còn anh tổ phó Trần Hiến bí danh là Thanh Đình, tổ trưởng là anh Hai Tắng bí danh Thanh Nguyên. Sau đó, anh Tắng chuyển sang công tác binh vận ở Rạch Giá. Qua công tác chung với anh Trần Hiến, tôi thấy anh là một người rất năng nổ, nhiệt tình và nhạy bén. Hoạt động bên cạnh anh, tôi cảm thấy mình có chỗ dựa vững chắc. Anh rất thương cộng sự viên của mình, coi như ruột thịt, hết lòng giúp đỡ dù công việc khó khăn đến mấy cũng cố gắng khắc phục. Điền hình như vụ anh đi cứu chị Nương, người chị bà con chú bác ruột của tôi, bị Hòa Hảo Cái Vồn bắt giữ. Hôm đó, anh cùng tôi vào Tổng hành dinh Hòa Hảo gặp Tham mưu trưởng của họ để thương lượng. Lúc đầu họ hăm he sẽ đem cả ba người chúng tôi ra chặt đầu (Hồi đó việc này bọn Hòa Hảo phản động làm như cơm bữa), sợ tôi bị lung lạc trước sự hung hăng đe dọa đó, anh ngầm ra hiệu cho tôi an tâm, mọi việc có anh lo liệu. Thật vậy, bằng mưu trí và lập luận vững chắc của anh, anh đã thuyết phục được họ và cả ba anh em chúng tôi được trả tự do sau ngày đêm giam giữ như hồi ký anh thuật lại. Còn rất nhiều những sự hy sinh của anh để giúp đỡ đồng bào, đồng chí cũng như những tin tức chính xác mà anh đã cung cấp cho ta chiến đấu giành thắng lợi mà tôi không kể hết được. Nay anh đã đi xa, tôi còn ở lại, không biết nói gì hơn là dành trọn niềm cảm mến và ngưỡng mộ đối với anh. Anh quả là một chiến sĩ vô danh, một người anh hùng không tên tuổi mà tôi hằng cảm phục. TP. Hồ Chí Minh, 4-12-2000 BÙI HUỲNH NHỤY (Nữ cựu chiến binh - Nguyên điệp báo viên bí danh Thanh Hương - Quân báo Cần Thơ. Hiện ngụ tại số 157, Bùi Đình Túy, F24 - Q. Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh) Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:28:51 pm "Đặc biệt ở Trần Hiến là con người có tinh thần kỷ luật rất cao..." Từ Quân báo Khu 8, tôi về nhận nhiệm vụ tại Chi Quân báo đặc biệt 50 thuộc Quân báo Phân liên khu miền Tây cuối năm 1951. Một nhiệm vụ mới đến với tôi phụ trách điệp viên Trần Hiến và Tổ Đảng nội thị Long Xuyên gồm: Phương Nam, Trần Hiến, Nam Danh và Lâm Thị Phấn. Tôi thường xuyên đi lại từ Cần Thơ - Ô Môn - Long Xuyên. Nơi hoạt động chính là nhà đồng chí Trần Hiến với Lâm Thị Phấn. Để bảo đảm bí mật, Tổ Đảng có hai đường liên lạc: tài liệu do đồng chí Phấn phụ trách chuyển về Cần Thơ cho chú Tư Ngà. Đưa đón người thì do tổ liên lạc ở thị trấn Ô Môn đảm trách. Khi chung sống và hoạt động ở Long Xuyên, tôi quan sát và nhận thức được rằng đồng chí Trần Hiến là một điệp viên giàu nghị lực, có bản lĩnh chuyên môn trong việc sưu tầm tài liệu địch, lại biết làm công tác phản gián ngay trong lòng địch. Đặc biệt ở Trần Hiến là con người có tinh thần kỷ luật rất cao. Tôi nhấn mạnh điều này vì nó liên quan đến việc thảo luận và quyết định của Tổ Đảng khi đồng chí nhận được lệnh thuyên chuyển của địch (thực chất là âm mưu bắt đồng chí kín đáo) điều động đồng chí từ Long Xuyên về Quân khu miền Tây địch (Zone Ouest) lúc đó đóng ở Cần Thơ. Trong tình thế hết sức khẩn trương ngàn căn treo sợi tóc, đòi hỏi người cán bộ tình báo phải nhanh chóng tìm ra một giải pháp tối ưu để bảo vệ tính mạng của mình và cơ sở. Qua phân tích, đánh giá về lệnh thuyên chuyển đột ngột này, đồng chí Trần Hiến nhất trí với kết luận của Tổ Đảng là phải thoát khỏi tay địch ở thị trấn Ô Môn như trong hồi ký đồng chí đã kể. Nhớ lại chuyện cũ, tôi càng hiểu thêm đức tính bình tĩnh, xử lý tình huống rất quyết đoán và chính xác của đồng chí Trần Hiến. Điều này đã làm cho các đồng chí trong tổ liên lạc Ô Môn và tôi rất phấn chấn trước một tình cảnh hiểm nghèo giữa cái sống và cái chết trong gang tấc mà đồng chí Trần Hiến là người chiến thắng vẻ vang. PHƯƠNG NAM (Cựu chiến binh Quân báo - Nguyên cán bộ hoạt động nội thành chi Quân báo đặc biệt 50 Phân liên khu miền Tây Nam Bộ) Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:30:12 pm Tôi đã kết nạp Trần Hiến vào Sát Gian Đảng... Anh Hai Tắng (tên thật là Hồ Íu Tắng), sinh năm 1921, hiện thường trú tại 31/3B đường Nguyễn Văn Cừ (lộ 20 cũ), thành phố Cần Thơ. Anh bệnh nằm liệt giường, đi lại không được, nói líu lưỡi, không viết được. Đồng chí Nguyễn Văn Cự, nguyên Trưởng ban Quân báo Cần Thơ đã nghỉ hưu, đến thăm anh vào ngày 7/11/2000 và ghi lại cuộc nói chuyện với anh như sau: Hỏi: - Ai giới thiệu anh vào Sát Gian Đảng? Đáp: - Khai sanh Sát Gian Đảng tại nhà tôi ở Đường Sân, Vĩnh Thuận, Rạch Giá có mặt Hoàng Hà, Quang, Vĩ, Xương, Phước méo, Méo, Văn, Đính và tôi theo chỉ thị của anh Phan Trọng Tuệ - Bộ tư lệnh Khu 9 hồi đó. Hỏi: - Các anh đi vô Cần Thơ bằng cách nào? Đáp: - Mạnh ai nấy lo. Riêng tôi, anh Hoàng Hà nói rằng anh Tuệ có cho tờ giấy bạc 500 đồng thời Nhật Bản làm sao đổi đặng xài. Tôi biết giấy bạc này đã hết xài rồi, nên chở ghe lúa 550 giạ của gia đình lên Cần Thơ bán làm sở phí công tác. Tôi lập hai vựa củi (ở Cầu Xéo và Cầu Củi gần nhà máy đèn Cần Thơ), một tiệm may ở cầu Xáng Thổi, để làm chỗ cho anh em trong đội lui tới hội họp. Tiệm may cầu Xáng Thổi, tôi giao cho anh Xương, Méo, và Phước méo giữ. Hỏi: - Trường hợp nào anh gặp Trần Hiến? Đáp: - Từ lúc ở trong Khu, tôi đã biết về ông đốc học Lâm Văn Phận và chị Lâm Thị Phấn là con gái ông. Tôi cũng biết việc bà giáo và chị Phấn hồi cư về thành phố Cần Thơ đã bị giặc chiếm đóng, nên khi vô Cần Thơ tôi có tìm gặp chị Phấn ở phố 18 căn hộ mới. Lúc ấy Trần Hiến làm phiên dịch Phòng Nhì quân đội Pháp cũng ở gần đó. Chị Phấn có nói với tôi: Hiến có ý muốn tìm gặp Việt Minh để cộng tác, nhưng chị Phấn sợ không dám ra mặt tổ chức. Từ đó tôi có ý thức về anh Hiến, cho đến tình cờ một hôm gặp tôi, Hiến chủ động làm quen và ngỏ ý muốn hợp tác với tôi vì Hiến đã biết tôi là Việt Minh hoạt động bí mật nội thành. Hỏi: - Tiểu đội Thanh tổ chức ra sao? Đáp: - Cuộc họp thành lập tiểu đội Thanh tại nhà chị Phấn. Tôi là đội trưởng bí danh Thanh Nguyên, phân công trong tiểu đội như sau: - Trần Hiến bí danh Thanh Đình có nhiệm vụ bảo vệ cơ sở, tham mưu cho đội trưởng về trừ gian. Hai liên lạc là: - Lâm Thị Phấn (Thanh Phong) - Bùi Huỳnh Nhụy (Thanh Hương) có nhiệm vụ thông tin liên lạc giữa tôi và Trần Hiến. Thành tích Sát Gian Đảng và Vệ Thám Phòng (tiền thân của Quân báo) thì như Trần Hiến đã kể trong hồi ký. Riêng trận đánh đò máy Cầu Kè do tôi và Nghĩa Làm. Tôi có tặng cho Trần Hiên cái đồng hồ đeo tay Zénit... Đó là một con người rất tốt. 7/11/2000 NGUYỄN VĂN CỰ (ghi lại) Tiêu đề: Những năm sóng gió cuộc đời Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 04 Tháng Sáu, 2026, 08:32:52 pm Một tấm gương trong sáng tuyệt vời... Tôi còn nhớ khoảng cuối tháng 2/1951, đoàn kiểm tra Quân báo Khu 8 do anh Phan Thanh Khiết làm Trưởng đoàn đi kiểm tra bốn tỉnh Vĩnh, Sa, Trà, Bến. Nhưng khi đến Sa Đéc thì gặp Ban chỉ huy chiến dịch Sa Đéc do Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu Xuyến làm chỉ huy trưởng đề nghị Đoàn ở lại giúp cho Ban chỉ huy chiến dịch. Đề nghị này được Bộ Tư lệnh Khu 8 do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh chấp nhận. Tôi được cử phụ trách nghiên cứu địch tình Quân báo chiến dịch. Theo kế hoạch dự tính, giờ G nổ súng là 0 giờ ngày 12/3/1951. Đợt một chiến dịch là vùng Nha Mân, Cái Tàu Hạ (thuộc tỉnh Sa Đéc). Bỗng đêm 6 tháng 3, đồng chí Hồng Lam điệp báo ta cài vào 2è Bureau Secteur Vĩnh Long đã lội băng đồng vào xã Hòa Tân gặp chúng tôi. Anh cho biết hồi 17 giờ chiều, Trung úy De la Bigne chef 2è B. gặp anh, chìa cho anh xem lệnh nổ súng của đồng chí Xuyến, chỉ huy chiến dịch ký bằng bút chì nguyên tử đỏ (hồi ấy gọi bút bi như vậy), và nói: "Mày hãy kiểm tra lại cơ sở mật hộ của mày ở vùng Việt Minh, chúng nó báo cáo láo đó. Tao có lệnh nổ súng của Tư lệnh Xuyến đâyl" (Chẳng là hồi đó ta tung tin tức chuẩn bị chiến dịch ở Sa Đéc nhưng thật ra là mở chiến dịch ở Vĩnh Long để đánh lạc hướng địch). Chúng tôi báo cáo ngay cho đồng chí Xuyến và đồng chí kiểm tra lại xắc cốt thấy mất đúng một lệnh nổ súng do tự tay đồng chí đánh máy, đóng dấu, ký tên, chưa đưa xuống các tiểu đoàn tham gia chiến dịch (vụ này về sau khám phá được). Và đến ngày 9/3, địch nổ súng đánh trước. Nhờ bắt được làn sóng chỉ huy của tên Trung tá Duque, Tư lệnh Quân khu miền Tây (Zone Ouest) chỉ huy cuộc hành quân, nên quân ta tránh được nhiều tổn thất và chủ động đối phó với địch. Vì có công phát hiện này mà ba chúng tôi: Ngô Vi Ân (nay đã mất), Bảy Quế (Đại tá nghỉ hưu) và tôi, được Ban chỉ huy chiến dịch tuyên dương (có giấy khen). Hồi ấy, về phương diện địch tình, tôi nhận được nhiều do Chi Quân báo đặc biệt 50 Cần Thơ cung cấp nhiều tin rất quan trọng (sau này tôi mới biết những nguồn tin đó là từ đồng chí Trần Hiến) đã giúp cho tôi phán đoán tương đối chính xác ngày giờ địch tấn công ta trước khi ta mở chiến dịch. Năm sau, khoảng gần cuối 1952, khi dự hội nghị Quân báo Phân liên khu miền Tây, tôi mới gặp đồng chí Trần Hiến vừa thoát khỏi vây bắt của địch trở về khu giải phóng an toàn. Ấn tượng đầu tiên của tôi về đồng chí Trần Hiến là con người rất thông minh lịch lãm nhưng hết sức khiêm tốn, giản dị, và dễ mến. Khi tuổi đã cao, sức khỏe yếu, đồng chí lặng lẽ ghi lại chuyện đời mình, bằng giọng văn hết sức chân thực, xúc động. Người có công phát hiện tập hồi ký này là đồng chí Nguyễn Tấn Tước, cán bộ Quân báo suốt hai mùa kháng chiến, bị địch bắt tù đày Côn Đảo, hiện là Thường trực Ban liên lạc tình nghĩa Quân báo Khu 8 và Phân liên khu miền Tây. Bởi sau khi anh Trần Hiến mất năm trước, năm sau Dũng con anh tức nhạc sĩ Trí Thanh cũng mất, vợ Dũng, cô Ngọc Yến bận công tác và hai con nhỏ, nên tập hồi ký đành để yên đó coi như của gia bảo. Đồng chí Tước hết sức vất vả vượt qua nhiều khó khăn mới tìm liên hệ được đồng đội cũ của anh Trần Hiến như Đại tá Trần Nhật Quang, anh Ba Cự, anh Hai Tắng, chị Bùi Huỳnh Nhụy, anh Phương Nam... để họ xác nhận về hoạt động và tư cách con người Trần Hiến một tình báo viên xuất sắc của Quân báo Cần Thơ và cả Phân liên khu miền Tây Nam Bộ thời chống Pháp. Đảng ta, ngành Quân báo ta tự hào có một đảng viên, một tình báo viên trung thành tuyệt đối, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nguy hiểm ngay trong lòng địch. Đồng chí Trần Hiến đã ra đi, nhưng đã để lại đời một tấm gương trong sáng tuyệt vời về nhân cách Cộng sản - Theo tôi nghĩ - không phải cho riêng ngành Quân báo, không phải cho thế hệ hôm nay mà cả thế hệ mai sau, mỗi khi nhắc đến cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ 20, thời đại oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc. 15-12-2000 VŨ HOÀI LINH (Cựu chiến binh - Nguyên cán bộ nghiên cứu Quân báo Khu 8 và Phân liên khu miền Tây Nam Bộ thời chống Pháp) |