Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 09:10:40 pm



Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Mười, 2025, 09:10:40 pm
- Tên sách: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM cứu nước 1954-1975
- Tác giả: Nguyễn Văn Quyền
- Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia Sự thật
- Năm xuất bản: 2022
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Kết hợp hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là một trong những bài học lớn và xuyên suốt nhất của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế là một trong năm bài học lớn của cách mạng nước ta. Quan điểm về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan điểm mácxít về giải quyết mâu thuẫn dựa trên vai trò quyết định của yếu tố bên trong và tác động, ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài, cũng như từ tính chất của cách mạng Việt Nam và xu thế thời đại. Ba mươi năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975) chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là minh chứng tiêu biểu cho quan điểm này.


Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là từ những năm 1948 - 1949, bối cảnh tình hình thế giới đã có những biến chuyển hết sức sâu sắc. Cục diện thế giới hai cực Xô - Mỹ bắt đầu hình thành; Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, hệ thống xã hội chủ nghĩa dần hình thành, mở rộng hoạt động từ châu Âu sang châu Á. Đảng ta đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ, gắn chặt hơn nữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, tranh thủ được sự đồng tình và công nhận của khối xã hội chủ nghĩa với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nhận được nguồn chi viện quốc tế to lớn phục vụ công cuộc kháng chiến trong nước. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ xâm lược, thành công của Đảng là đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ hòa nhập dòng chảy chính của những biến đổi cách mạng toàn cầu, đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời đại, vì hòa bình, dân sinh, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, nhờ vậy sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.


Để giúp bạn đọc có những hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề này, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của TS. Nguyễn Văn Quyền.


Đi từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, cuốn sách tập trung trình bày đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua hai giai đoạn: 1954 - 1964, 1965 - 1975; kết quả viện trợ và cách thức sử dụng hiệu quả của Việt Nam, từ đó rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm quý có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc quan tâm về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam, thiết thực kỷ niệm 47 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022).

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 4 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:42:14 pm
LỜI NÓI ĐẦU


Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954 - 1975) oanh liệt và vẻ vang của mình,nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn từ phía bạn bè quốc tế, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Sự giúp đỡ đó có ý nghĩa rất quan trọng, trực tiếp góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của một dân tộc vốn đất không rộng, người không đông, nhưng giàu lòng yêu nước và truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, yêu chuộng độc lập, tự do, hòa bình, đúng như Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định: "vì đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t.26, tr.640).


Tư tưởng tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế cho Việt Nam, gắn sự nghiệp cách mạng Việt Nam với sự nghiệp cách mạng thế giới, coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, kết hợp và phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ địch đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm khẳng định. Tư tưởng này từng bước được hiện thực hóa, trở thành đường lối, chủ trương chiến lược xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 21 năm chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975); thành phương châm xử thế của Việt Nam và thu được nhiều kết quả, đặc biệt là các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa; góp phần giúp dân tộc Việt Nam giành toàn thắng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Theo những thống kê, tổng hợp, tổng kết của các cơ quan chức năng: đối ngoại, tiếp nhận, vận chuyển, khai thác và sử dụng viện trợ quân sự của Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên 2 triệu tấn vật chất các loại, ước trị giá gần 7 tỉ rúp. Nguồn chi viện đó được quân và dân Việt Nam tiếp nhận, khai thác, sử dụng hiệu quả, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến; góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại và hiển hách trong cuộc đối đầu với Mỹ suốt hơn 20 năm nửa cuối thế kỷ XX. Mỗi thắng lợi của cuộc kháng chiến đều không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa.


Tuy nhiên, để tạo đồng thuận và tranh thủ được các nguồn viện trợ quân sự ngày càng lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã nỗ lực vận động, dành nhiều trí lực, kịp thời đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo; đồng thời, quán triệt và tích cực tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao phong phú nhằm mở rộng quan hệ, thực hiện đoàn kết quốc tế, tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của họ đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Việt Nam vì mục tiêu chung: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Đến nay, gần tròn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt, nhưng nhiều vấn đề mới chỉ dừng ở những ẩn số, chưa được giải mã và làm sáng tỏ hoặc quan điểm giữa các bên còn khác nhau. Trong số này, nỗ lực vận động tranh thủ sự giúp đỡ về quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả sự giúp đỡ đó vẫn luôn thu hút sự quan tâm của không chỉ các học giả trong và ngoài nước, mà còn của các nhà chính trị và đông đảo nhân dân thế giới.


Trên cơ sở tiếp cận nhiều tài liệu mới, đặc biệt là những tài liệu gốc từ các trung tâm lưu trữ quốc gia, so sánh, đối chiếu với những tài liệu liên quan, cập nhật nhiều quan điểm và thành tựu nghiên cứu mới, tác giảmong muốn bước đầu phục dựng lại bức tranh về quá trình vận động tranh thủ các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như tác dụng, ảnh hưởng to lớn của nó đối với những thắng lợi quân sự, chính trị, ngoại giao của Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Qua đó, góp phần làm phong phú thêm một mảng trong lịch sử đấu tranh vẻ vang toàn diện của nhân dân Việt Nam - đối ngoại, ngoại giao quân sự thời kỳ 1954 - 1975; làm sáng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; những nỗ lực trong hoạch định, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước bối cảnh thế giới, khu vực và cuộc chiến đấu chống Mỹ diễn ra vô cùng phức tạp và ngày càng khốc liệt. Đồng thời, tỏ rõ lòng tri ân sâu sắc của dân tộc Việt Nam đối với sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, nêu cao đạo lý và truyền thống của dân tộc "Uống nước nhớ nguồn".


Tuy phạm vi nghiên cứu về thời gian của cuốn sáchgiới hạn từ năm 1954 đến năm 1975, song để thấy căn nguyên cả quá trình ủng hộ, giúp đỡ được xuyên suốt, liền mạch, tác giả đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, mặc dầu còn khá sơ lược đề cập các nỗ lực vận động của Viẹt Nam Dân chủ Cộng hòa và kết quả giúp đỡ của các nươc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp. Cuốn sách tập trung mô tả, góp phần vào làm sáng tỏ những nỗ lực vận động ngoại giao quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả, những ảnh hưởng và tác dụng của viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa dành cho nhân dân Việt Nam (1954 - 1975) trên phông nền bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến hết sức phức tạp, khó lường định, đặc biệt là mâu thuẫn, bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa diễn ra ngày càng gay gắt.


Do mục tiêu của cuốn sách là góp thêm một cách nhìn khách quan, chân thực, đầy đủ hơn về những nỗ lực vận động ngoại giao quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vì vậy: một mặt, có nhiều sự kiện, vấn đề lịch sử gián tiếp liên quan, nhưng tác giả không lược bỏ hoặc vo tròn mà vẫn mạnh dạn trình bày, trên cơ sở đó, các chiều cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu chắc chắn sẽ được nhận thức đầy đủ và rõ hơn; mặt khác, bởi chế định của khuôn khổ cuốn sách và nhiều lý do khác nhau, còn khá nhiều vấn đề chưa thể có điều kiện công bố, cung cấp đầy đủ những thông tin và làm rõ.


Trên tinh thần khách quan nhất, tác giả cố gắng dành nhiều tâm sức khai thác các nguồn tài liệu hiện có hoặc liên quan, hoặc thuộc về phạm vi chủ đề nhằm làmrõ những nỗ lực vận động ngoại giao quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả của sự giúp đỡ về quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa đã dành cho nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, bởi nhiều lý do khác nhau, nên việc đạt được những mục tiêu đặt ra là hết sức khó khăn và chắc chắn các sự kiện, số liệu lịch sử được mô tả, đề cập chưa thật đầy đủ và trọn vẹn. Với tinh thần khiêm tốn, cầu thị và học hỏi, tác giả mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của bạn đọc để công trình ngày càng hoàn thiện hơn.


Trân trọng cảm ơn!


Hà Nội, tháng 4 năm 2022
TÁC GIẢ


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:48:12 pm
Chương I
VIỆT NAM TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHỮNG NĂM 1954 -1964


I-NỖ LỰC TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM KIÊN CƯỜNG CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 - 1954)

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), nước ta trong hoàn cảnh bị bao vây, chưa được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận về mặt ngoại giao. Bên cạnh phát huy tinh thần tự lực, tự cường là chủ yếu và có ý nghĩa quyết định, Việt Nam nỗ lực vận động tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần sớm đưa công cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Đầu tiên phải kể tới thực hiện chủ trương mở đột phá phía tây nam, thiết lập các mối liên hệ trực tiếp với một số nước Đông Nam Á, từ đó mở rộng tiếp xúc, tuyên truyền tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam. Theo định hướng đó, Thái Lan được chọn làm địa bàn hoạt động ngoại giao đặc biệt và là cửa ngõ duy nhất của Việt Nam tiêp xúc và liên lạc với thế giới trong quyết tâm nỗ lực phá thế bao vây của kẻ thù. Ngay khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ tiến bộ Thái Lan do Thủ tướng Priđi Banômiông đứng đầu đã đưa ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt kiều như: tạo việc làm, thả tù chính trị, cho phép xây dựng chiến khu ở vùng biên giới, lập các xưởng chế tạo và thu, mua vũ khí, mở các trại huấn luyện bộ đội đưa về Nam Bộ chiến đấu, cho phép đặt Phái viên quán là cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam tại Thủ đô Băng Cốc vào tháng 8/1946. Trên thực tế, Thái Lan còn là cửa ngõ liên lạc và là nơi trung chuyển tài liệu, cán bộ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam; nơi thu mua và tiếp nhận vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men chuyên chở về nước phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nơi tuyên truyền chủ trương, đường lối kháng chiến của Việt Nam (phát hành bản tin Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Anh gửi cho Việt kiều và các nước Nhật Bản, Mỹ, Anh, Miến Điện (Mianma), Pháp, Ấn Độ). Đường dây liên lạc này được giữ vững suốt những năm 1946 - 1949, theo lịch trình Nam Bộ - Cao Miên (Campuchia) - Thái Lan - Lào - Khu IV Việt Nam, có tác dụng rất lớn đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương. Băng Cốc đã trở thành đầu mối quốc tế để mở rộng hoạt động của Việt Nam ở hải ngoại. Từ Phái viên quán ở Băng Cốc, Thứ trưởng Chủ tịch phủ, Phái viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã tới Nam Dương quần đảo (Inđônêxia) để tham dự Hội nghị liên Á (tháng 4/1947). Sau Hội nghị này, Thủ tướng Nam Dương gửi điện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ của Inđônêxia đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam và yêu cầu trao đổi đại diện giữa hai nước.


Sau này Cục Thông tin quốc tế thành lập vào tháng 9/1947 thay thế cho Quốc tế Cộng sản giải tán từ năm 1943, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đẩy mạnh ngoại giao nhằm gia tăng ảnh hưởng và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ các nước, trong đó có cả Liên Xô và Trung Quốc. Nhiều phái đoàn thuộc các tổ chức đoàn thể nhân dân Việt Nam được mời ra nước ngoài tham dự các diễn đàn quốc tế. Trong đó, đáng chú ý là Đại hội Thanh niên Đông Nam Á ở Ấn Độ (tháng 02/1948); Hội nghị Hội đồng Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương tại Thái Lan (tháng 01/1949); Hội nghị Nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình tại Pháp (tháng 4/1949); Hội nghị Thanh niên thế giới ở Tiệp Khắc (1949); Hội nghị Công đoàn Á - Úc tại Trung Quốc (tháng 12/1949)...


Tiếp sau chiến thắng quân sự Thu - Đông trên chiến trường Việt Bắc năm 1947 của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Tháng 01/1948, Chính phủ Việt Nam cử Thứ trưởng Chủ tịch phủ là đồng chí Phạm Ngọc Thạch làm Đặc phái viên sang dự lễ độc lập của Miến Điện, kết hợp thăm Thái Lan và Ấn Độ.


Đáp lại chuyến thăm của Đặc phái viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Phạm Ngọc Thạch, một đoàn đại biểu Miến Điện gồm thành viên cao cấp của Chính phủ và đại diện các đoàn thế đã sang thăm vùng tự do Liên khu IV và được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chào mừng. Tháng 02/1948, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử cán bộ tới Yangon lập cơ quan đại diện dưới sự giúp đỡ tích cực của Chính phủ Miến Điện về cơ sở vật chất và quy chế ngoại giao. Tại đây, Việt Nam lập được Phòng Thông tin, có điện đài liên hệ với Việt Bắc để cung cấp kịp thời tin tức quốc tế cho Chính phủ. Ngoài việc đài thọ mọi chi phí hoạt động, Chính phủ Miến Điện còn quyết định giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 500 khẩu súng các loại.


Như vậy, trong hoàn cảnh tổ chức toàn dân kháng chiến, bị kẻ thù bao vây mọi mặt, Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực vượt bậc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại rộng mở đa phương, tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao phong phú với tất cả các nước có thể quan hệ được, nhằm đưa cuộc đấu tranh chính nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam ra trước dư luận thế giới, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế, phá thế bao vây cô lập của kẻ thù, phân hóa kẻ địch, duy trì và thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp kháng chiến trường kỳ và gian khổ, từng bước tạo sự thay đổi trong tương quan so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho phía cách mạng.


Tiếp tục quán triệt và thực hiện chủ trương, phương châm đối ngoại đúng đắn đó, những năm 1950 - 1954, cách mạng Việt Nam không ngừng nhận được sự đồng tình và giúp đỡ của bạn bè thế giới, đặc biệt không thể không kể tới sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả của Đảng, Chính phủ, nhân dân hai nước Trung Quốc và Liên Xô. Ngược lại, ngay từ những năm 1948 - 1949, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng theo yêu cầu của phía cách mạng Trung Quốc, Việt Nam đã chủ động giúp lương thực, thực phẩm và súng đạn cho Biên khu Điền Quế, Vân Nam, Quảng Tây (từ tháng 01/1948 đến cuối năm 1948; mỗi tháng Việt Nam gửi giúp riêng quân và dân Biên khu Điền Quế 50 tấn muối, một số lượng đáng kể đạn cối 81mm, máy ngắm của súng cối 81mm, đạn AT...); đưa lực lượng vũ trang lên hướng Biên khu Điền Quế gồm: Tiểu đoàn 73 thuộc Trung đoàn 74 Liên khu I; Tiểu đoàn 35 thuộc Trung đoàn 308 chủ lực Bộ Tổng tư lệnh; Đại đội 506 sơn pháo; 1 đại đội trợ chiến, bộ phận thông tin và quân y, 2 đại đội địa phương huyện Văn Uyên và Thoát Lãng; hướng Biên khu Việt Quế gồm: Tiểu đoàn 426 thuộc Trung đoàn 59; Tiểu đoàn 1 Trung đoàn độc lập Hải Ninh; Đại đội độc lập 1448 phối hợp với Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc củng cố và mở rộng khu giải phóng Biên khu Điền Quế và Việt Quế (Quảng Đông, Quảng Tây).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:50:19 pm
Những nghĩa cử cao đẹp nói trên của quân và dân Việt Nam đã được Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đánh giá cao. Ngày 05/01/1950, tại buổi tiếp xúc với đại diện Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thủ tướng Quốc vụ Viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai xúc động nói: "Trong lúc Việt Nam vừa nghèo, vừa phải gian khổ kháng chiến, lẽ ra phải được Trung Quốc giúp đỡ, thế mà các đồng chí đã hết lòng giúp đỡ Trung Quốc"1 (Bộ Quốc phòng: Biên bản cuộc tiếp xúc giữa đồng chí Chu Ân Lai với đại diện Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tư liệu nghiên cứu về quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam từ 1948 - 1979, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 20). Đồng thời, nghĩa cử cao đẹp này cũng góp phần đặt nền móng vững chắc cho tình đoàn kết chiến đấu giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước Việt - Trung trong lịch sử cách mạng mỗi nước.


Sau ngày cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (tháng 10/1949), hậu phương kháng chiến của Việt Nam được mở rộng và nối thông với thế giới qua Trung Quốc; bối cảnh tình hình trong nước, khu vực và quốc tế có nhiều chuyển biến thuận lợi đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại giao nhằm làm cho nhân dân thế giới, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngày càng hiểu rõ, ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam toàn diện hơn. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đối ngoại của Việt Nam đầu năm 1950 dưới sư chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là:"Kháng chiến (của Việt Nam) đang chuyển qua một khúc ngoặt mới. Ta cần thông báo với phong trào về tình hình cách mạng Đông Dương trong những năm qua cùng những chuyển biến mới, để tranh thủ sự đồng tình và sự giúp đỡ, phối hợp"1 (Dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr.408).


Đối với Liên Xô, sau tuyên bố chính thức của đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Thái Lan và các cuộc gặp giữa đại diện Chính phủ Liên Xôvới đồng chí Trần Văn Giàu tại Băng Cốc và Niu Đêli (Ấn Độ), hai bên cam kết sẽ có cuộc gặp kín tại châu Âu Tháng 9/1947, Chính phủ Việt Nam đã cử Thứ trưởng Chủ tịch phủ Phạm Ngọc Thạch dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam đến Thụy Sĩ để hội đàm với phái viên Chính phủ Liên Xô, chuyển thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Xtalin kêu gọi viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tài chính, quân sự và đưa vấn đề xung đột Việt - Pháp ra Liên hợp quốc. Cuộc hội đàm đã không đạt kết quả cụ thể nào. Tuy nhiên, năm 1948, Liên Xô cũng giúp Việt Nam chuẩn bị mở các cơ sở thông tin tại Ba Lan và Tiệp Khắc. Đến giữa năm 1949, Đảng Cộng sản Liên Xô thống nhất với Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương giúp nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Tháng 12/1949, tại Hội nghị Công đoàn Á - Úc tại Bắc Kinh, Trung Quốc công khai tuyên bố sẽ tích cực trợ giúp cho phong trào cách mạng Đông Dương, trong đó có sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam.


Ngày 20/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng bí mật đi thăm và làm việc với Đảng, Chính phủ Trung Quốc qua đường biên giới Cao Bằng. Cùng đi với Người trong chuyến công tác đặc biệt này có đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách công tác hậu cần quân đội.Khi tới Thủ đô Bắc Kinh, đoàn Việt Nam mới biết Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai đang ở Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc giúp Người đi Liên Xô gặp Nguyên soái Xtalin và hai vị lãnh đạo Trung Quốc để trao đổi ý kiến nhằm tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa giúp nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Được sự giúp đỡ hiệu quả của phía Trung Quốc và Đại sứ quán Liên Xô tại Thủ đô Bắc Kinh, tối 09/02/1950, Đoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Mátxcơva an toàn. Tại các buổi làm việc, Nguyên soái Xtalin cùng với Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai khẳng định giúp Việt Nam: "Trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam"1 (Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.15). Rời khỏi đất nước Liên Xô vào chiều ngày 17/02/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh quay trở lại Bắc Kinh để bàn thảo với lãnh đạo Đảng, Chính phủ Trung Quốc cụ thể hơn về viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đánh giá về kết quả chuyến làm việc của phái đoàn Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Nhờ chuyến đi này, các lãnh tụ của hai Đảng bạn hiểu ta hơn, và đều hứa sẽ chi viện cho kháng chiến Việt Nam"1 (Dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Sdd, tr.411).


Theo những thỏa thuận giữa các nhà lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, Chính phủ Liên Xô trang bị cho Việt Nam 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm, một số xe vận tải Môlôtôva và thuốc quân y; Chính phủ Trung Quốc trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh và 1 đơn vị pháo binh, đồng thời đảm nhận vận chuyển hàng viện trợ của Chính phủ Liên Xô cho Việt Nam. Trung Quốc sẽ cử một đoàn cố vấn quân sự sang giúp Việt Nam và đồng ý cho Việt Nam đưa Trường Sĩ quan Lục quân sang Vân Nam. Từ đây, Trung Quốc trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, đảm nhiệm vai trò chính là nước viện trợ chủ yếu cho quân và dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Nguồn chi viện quốc tế qua con đường Trung Quốc thực sự góp phần quan trọng vào quá trình thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam. Chính Archimedes L.A. Patti, một nhà quan sát của Mỹ cũng đã từng nhận xét rằng: "Đến 1950, Mao đã ở trong thế có thể giúp đỡ ông Hồ qua đường biên giới phía Bắc Việt Nam. Ông Hồ không còn bị cô lập như trước, ông đã có rất nhiều đồng minh, trước hết là Trung Quốc và sau đólà Liên Xô. Một cuộc đấu bóng mới đã bắt đầu"1 (Dẫn theo Archimedes L.A. Patti: Tại sao Việt Nam?, Nxb. Đà Nẵng, 2007, tr.643). Đây là một nhận xét khách quan với chiều hướng vận động quốc tế từ góc nhìn của một học giả nước ngoài. Từ đó, nhân dân Việt Nam liên tục nhận được sự ủng hộ giúp đỡ thiết thực, hiệu quả từ bên ngoài, chấm dứt thời kỳ "chiến đấu trong vòng vây".


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Tư, 2026, 08:53:36 pm
Những hoạt động tích cực của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần làm tăng hiểu biết của các nước anh em về sự nghiệp kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành, thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu, tranh thủ sự đồng tình và chi viện quốc tế, tạo nhiều thuận lợi đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ của Việt Nam. Ngày 15/01/1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Sau đó, ngày 18/01/1950, Chính phủ Trung Quốc và ngày 30/01/1950, Chính phủ Liên Xô công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đến, các nước dân chủ nhân dân khác lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam như: Cộng hòa Dân chủ Đức (ngày 23/01/1950), Tiệp Khắc (ngày 02/02/1950), Hunggari (ngày 05/02/1950), Anbani (ngày 11/02/1950)... Những thắng lợi ngoại giao to lớn và có ý nghĩa này đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định, đây thực sự: "Là một đại thắng lợi về chính trị của ta và cũng là một việc rất trọng yếu trong lịch sử nước ta. Nó ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến hiện thời. Với sự thừa nhận của các nước bạn, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bắt đầu có địa vị trên trường quốc tế. Từ nay chúng ta công nhiên đứng vào hàng ngũ các nước dân chủ thế giới do Liên Xô lãnh đạo chống bọn đế quốc gây chiến do Mỹ cầm đầu. Nước ta là một nước tiền đồn trong phòng tuyến dân chủ chống đế quốc ở Đông Nam châu Á, chúng ta được sự ủng hộ nhiệt liệt của Liên Xô, Trung Hoa, các nước dân chủ khác và của nhân dân toàn thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.11, tr.225). Phát biểu về thắng lợi chính trị này, ngày 22/3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Việc Liên Xô, nước Trung Hoa mới và các nước dân chủ công nhận Chính phủ Cộng hòa Việt Nam đã nâng lên đến mức cao nhất niềm phấn khởi của nhân dân Việt Nam dũng cảm mà tinh thần thì rất cao và lòng can đảm thì không gì thắng nổi. Đối với Việt Nam, đó là một thắng lợi lớn về chính trị"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.6, tr.338-339).


Thực hiện thỏa thuận giữa hai nước Việt - Trung, bắt đầu từ tháng 4/1950, Quân đội nhân dân Việt Nam chính thức đưa Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36), Trung đoàn 174, Trung đoàn 209, Trung đoàn sơn pháo, 2 tiểu đoàn công binh và Trường Sĩ quan Lục quân sang học tập và huấn luyện quân sự, tiếp nhận các loại vũ khí và trang bị tại Trung Quốc (gần biên giới Việt - Trung). Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc cũng cho chuyên chở vũ khí sang Cao Bằng trang bị tiếp cho hai trung đoàn khác của Việt Nam đang phải ứng phó với địch trên chiến trường. Để bảo đảm công tác hậu cần cho bộ đội Việt Nam trên đất Trung Quốc và tăng cường chi viện cho Việt Nam, ngày 06/8/1950, Tổng cục Hậu cần Quân Giải phóng Trung Quốc đã thành lập một văn phòng ở Nam Ninh. Những đơn vị bộ đội Việt Nam sang Trung Quốc học tập và công tác, ngoài việc được cung cấp cơ bản đầy đủ các loại vũ khí, trang bị còn được bạn giúp huấn luyện về chiến thuật. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "Các chiến sĩ quân đội Việt Nam huấn luyện ở Trung Quốc chỉ trong thời gian 3 tháng, được bắn đạn thật, nên tiến bộ rất nhanh"1 (Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ, Sđd, tr.16, 17).


Kể từ đây, các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của quân đội Việt Nam liên tục được bổ sung và từng bước được cải thiện đáng kể, vì: "Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn dược cũng khá dồi dào. Sức mạnh hỏa lực của Trung đoàn bộ binh ta đã hoàn toàn thay đổi so với trước"2 (Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ,Sđd, tr.16, 17). Tính đến tháng 6/1950, các trường quân sự của Trung Quốc đã giúp quân đội Việt Nam đào tạo, bồi dưỡng được 3.100 cán bộ các cấp (trong đó có 650 cán bộ trình độ trung, sơ cấp 1.200 cán bộ chỉ huy bộ binh sơ cấp, số còn lại thuộc về các binh chủng công binh, pháo binh)3 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.1, tr.451).


Có thể nhận thấy rõ rằng, trên thực tế từ khi đường biên giới phía bắc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai thông, theo thống kê chưa đầy đủ của các cơ quan chức năng Việt Nam, đến hết năm 1950, phía Trung Quốc đã chi viện 3.983 tấn hàng hóa các loại, trong đó có 1.020 tấn vũ khí (kể cả số súng, đạn trang bị cho các đơn vị Việt Nam sang huấn luyện được mang về nước tham gia chiến đấu), 161 tấn quân trang, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 71 tấn hàng quân giới, 30 xe vận tải Môlôtôva, 2.634 tấn gạo1 (Dẫn theo Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb. Đà Nẵng, 1996, tr.21). Nguồn chi viện lương thực, vũ khí, đạn dược, xăng dầu đó đã góp phần quan trọng làm gia tăng sức mạnh chiến đấu của quân và dân Việt Nam, góp phần trực tiếp vào chiến thắng quân sự của Việt Nam trong chiến dịch Biên giới năm 1950. Với thắng lợi này, hậu phương kháng chiến của Việt Nam trực tiếp nối liền với Trung Quốc, qua đó nối liền với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.


Tuy nhiên, viện trợ quân sự của hai nước Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn khá hạn chế và nhỏ giọt (chưa chuyển giao pháo cao xạ 37mm và lựu pháo 105mm như đã cam kết) bởi tồn tại một số nghi ngại trong nhận thức, về ngoại giao, với phía Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ đặt đoàn đại biểu thay vì đặt đại sứ; với phía Liên Xô, Việt Nam phải quan hệ qua Trung Quốc (đại sứ Trung Quốc đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 06:42:28 pm
Sau năm 1950, để tranh thủ thêm sự giúp đỡ của hai nước Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam tiếp tục nỗ lực đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao như lập các tổ chức hữu nghị Việt - Xô, Việt - Trung; khẳng định lập trường vô sản;Đảng Cộng sản Đông Dương ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam (1951); tích cực tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt - Trung được nâng lên cấp đại sứ (tháng 4/1951) và quan hệ Việt - Xô cũng nâng lên cấp đại sứ (tháng 4/1952). Từ năm 1951, cả Liên Xô và Trung Quốc đều giúp đỡ Việt Nam xây dựng chính sách tài chính, kinh tế, đào tạo nhân lực. Tháng 7/1951, Chính phủ Trung Quốc nhận giúp xây dựng cho Việt Nam Trung đoàn lựu pháo 105mm và tiếp nhận số pháo cao xạ 37mm và cối 120mm do Chính phủ Liên Xô viện trợ (1952). Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Trung Quốc về lương thực, vũ khí, phương tiện chiến tranh được duy trì thường xuyên hơn trong những năm 1951 -1952.   Thống kê của Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, kết quả viện trợ quân sự của các nước anh em cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong ba năm 1950 - 1952 gồm: 2.402 tấn vũ khí, đạn dược; 570 tấn nguyên liệu quân giới; 1.056 tấn xăng dầu; 6.995 tấn lương thực, thực phẩm; 633 tấn quân trang, quân dụng; 105 tấn quân y; 14 tấn thông tin; 290 ô tô các loại1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.163). Bên cạnh đẩy mạnh các hoạt động vận động ngoại giao, Việt Nam nỗ lực mở các chiến dịch quân sự lớn nhằm tiếp tục khai thông toàn bộ tuyến biên giới Việt - Trung, bảo đảm sự thuận lợi trong giao lưu với quốc tế. Sau thắng lợi trong chiến dịch Biên giới năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cơ bản mở rộng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em, nhưng con đường từ tiền tuyến Việt Nam với hậu phương quốc tế chưa khai thông hoàn toàn. Thực dân Pháp còn chiếm đóng các thị xã Lai Châu, Lào Cai, Móng Cái và nhiều địa bàn trọng yếu, tuyến giao thông huyết mạch. Phía ta đã mở nhiều chiến dịch quân sự liên tiếp như: Long Châu Hà 1 (10/1950), Bến Cát 2 (10 - 11/1950), Trần Hưng Đạo (12/1950 - 01/1951), Long Châu Hà 2 (2 - 3/1951), Hoàng Hoa Thám (3 - 4/1951), Sóc Trăng 2 (5 - 6/1951), Hà Nam Ninh (5 - 6/1951), Lý Thường Kiệt (9 - 10/1951), Hòa Bình (12/1951 - 02/1952), Quảng Nam (7 - 9/1952), nhưng không giải quyết dứt điểm được sự lúng túng về chiến lược. Vì vậy, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Tây Bắc là địa bàn địch yếu và có nhiều sơ hở lại là sở trường, thế mạnh tác chiến của quân đội ta.


Mặc dù Việt Nam có nhiều nỗ lực vận động, nhưng khối lượng chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Việt Nam kháng chiến còn rất hạn chế. Tính tới cuối năm 1952, số lượng súng, pháo các nước anh em đã cam kết giúp đỡ về tối Việt Nam chưa nhiều (24 khẩu súng cối 120mm, 4 khẩu pháo cao xạ 37mm); trong khi đó, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã ngưng chiến, đi vào hòa hoãn, còn phía Đảng, Chính phủ Trung Quốc chủ trương tập trung mọi nguồn lực cho việc thực hiện kếhoạch phát triển 5 năm lần thứ nhất. Những chuyển động đó gây bất lợi đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam. Ứng phó với tình hình đó, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba, tháng 4/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ lập trường, quan điểm của quân và dân Việt Nam: "Chúng ta cần phải hiểu rõ: Vô luận cuộc kháng chiến Triều Tiên sẽ phát triển thế nào, kết quả thế nào, chúng ta vẫn phải ra sức chuẩn bị lực lượng của ta cho đầy đủ lấy tự lực cánh sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go thì ta vẫn chủ động"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.384-385). Đồng thời, Việt Nam đẩy mạnh chỉnh Đảng, chỉnh quân; thực hiện cải cách ruộng đất; khích lệ tinh thần tự lực cánh sinh, quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp. Tháng 9/1952, trong chuyến thăm và làm việc với Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo chủ trương cải cách ruộng đất của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và sẵn sàng tiếp nhận toàn bộ số cố vấn Trung Quốc sang giúp lĩnh vực công tác này. Ngày 19/12/1952, trong Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 6 năm toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định quyết tâm: "Sang năm, Chính phủ, Đảng và Mặt trận sẽ kiên quyết phát động nông dân thực hiện triệt để chính sách giảm tô, giảm tức để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nông dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.519). Tháng 01/1953, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thống nhất thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất: "Chính sách ruộng đất của ta không phải cố định, trái lại phải thay đổi, biến hóa tùy theo điều kiện trong nước và ngoài nước, mỗi lúc một khác, tùy theo điều kiện của phong trào cách mạng tiến triển mà quyết định"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.11, tr.233). Chủ trương này của Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân cả nước vào tiền đồ cách mạng, vào chế độ mới.


Trước những bước đi quyết liệt, mạnh mẽ của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quan điểm và hành động ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam của Chính phủ hai nước Liên Xô, Trung Quốc đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, thuận lợi hơn. Năm 1953, hai quốc gia lớn này cùng cam kết tăng cường viện trợ các loại vũ khí, nhất là vũ khí hạng nặng cho các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đánh đuổi quân đội thực dân Pháp (viện trợ thêm 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm, 1 trung đoàn cối 107mm, 100 khẩu trọng liên 12,7mm)3 (Xem Bộ Quốc phòng: Báo cáo về nhu cầu viện trợ quân sự năm 1953, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 39). Nửa đầu năm 1953,phần lớn những cam kết của Chính phủ hai nước Liên Xô và Trung Quốc được thực hiện khá hiệu quả. Liên Xô giúp trang bị cho Việt Nam xây dựng Trung đoàn pháo cao xạ 37mm. Trung đoàn pháo binh 45 hạng nặng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam do Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp huấn luyện ở Mông Tự, Vân Nam (từ tháng 7/1952 đến tháng 01/1953) và Trung đoàn pháo cao xạ 367 (thành lập ngày 01/4/1953) sau 6 tháng huấn luyện ở Tân Dương (Quảng Tây Trung Quốc) trang bị toàn bộ vũ khí do Chính phủ Liên Xô chi viện đã được Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điều quay trở về nước tham gia chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cuối năm 1953, sức mạnh phòng không - pháo binh của quân đội Việt Nam cũng tăng lên đáng kể khi có thêm 5 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm1 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Bộ Quốc phòng biên niên sự kiện 1945 - 2000 Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.143), 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm 1 trung đoàn lựu pháo 105mm...


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 06:44:48 pm
Khi thực hiện chiến dịch Điện Biên Phủ vào nửa đầu năm 1954 - một chiến dịch với quy mô lớn nhất những năm 1945 - 1954, quyết định số mệnh chính trị của quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương, Việt Nam đã được Chính phủ Trung Quốc trực tiếp chi viện 3.600 viên đạn pháo 105mm, đi theo 24 khẩu pháo giúp chuyển về nước từ cuối năm 1953, chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch này1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.284). Sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc, nghĩa vụ quốc tế viện Triều kháng Mỹ của Giải phóng quân Trung Quốc giành được thắng lợi, nhưng tiêu hao vật chất cũng khá lớn, trong đó các loại đạn pháo trở nên khan hiếm, nhưng trước yêu cầu cấp thiết của chiến trường Điện Biên Phủ ở Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc quyết định chi viện thêm 7.400 viên đạn pháo 105mm, sau do công tác vận chuyển chậm nên không về kịp phục vụ chiến dịch. Và cũng trong những ngày cuối của chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc còn giúp trang bị cho Việt Nam 1 tiểu đoàn ĐKZ 75mm và 12 dàn hỏa tiễn Cachiusa 6 nòng2 (Xem Tổng cục Hậu cần: Công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.309).


Viện trợ về lương thực của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc cũng góp phần giải quyết đáng kể những khó khăn cấp bách đối với quân, dân Việt Nam. Những năm 1949 - 1950, nhân dân Trung Quốc đã nuôi dưỡng hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam, chi viện cho Việt Nam 2.634 tấn gạo. Từ năm 1951 đến năm 1954, nguồn lương thực, thực phẩm của quân đội Việt Nam chủ yếu được huy động từ nhân dân, Trung Quốc đã hỗ trợ thêm 1.700 tấn gạo trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chiếm 6,52% tổng nhu cầu của bộ đội ta1 (Xem Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của các nhà khoa học Việt - Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.1, tr.137).


Ngoài trang bị vũ khí, giúp huấn luyện quân sự, chi viện lương thực, thực phẩm, Chính phủ Trung Quốc còn cử đoàn cố vấn quân sự và chính trị sang giúp cách mạng Việt Nam. Đoàn cố vấn quân sự gồm 79 người với bí danh là Đoàn công tác Hoa Nam do đồng chí Vi Quốc Thanh làm Trưởng đoàn đã có mặt tại Quảng Uyên (Cao Bằng) ngày 12/8/1950 theo đúng kế hoạch. Ngoài ra, Đảng và Chính phủ Trung Quốc còn cử đồng chí Trần Canh (nguyên Phó Tư lệnh phương diện quân Tây Nam, Tư lệnh Quân khu Vân Nam) cùng một số cán bộ quân sự giàu kinh nghiệm, trực tiếp làm cố vấn cho Việt Nam trong chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950. Các đồng chí cố vấn luôn sát cánh cùng chiến đấu; tham mưu giúp quân đội Việt Nam xây dựng lực lượng, xây dựng kế hoạch tác chiến, làm công tác chuẩn bị chiến trường, công tác hậu cần, giúp huấn luyện kỹ chiến thuật, truyền đạt kinh nghiệm chiến đấu. Mặc dùkhông tránh khỏi một số hạn chế nhất định, nhưng đội ngũ cố vấn Trung Quốc thực sự có những đóng góp quan trọng đối với thắng lợi quân sự của Việt Nam trên chiến trường. Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của đoàn cố vấn, ngày 02/9/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn cán bộ cao cấp Việt Nam đến nơi ở của Đoàn cố vấn Trung Quốc trao Huân chương Hồ Chí Minh cao quý cho các đồng chí La Quý Ba và Vi Quốc Thanh, nhiệt liệt biểu dương tinh thần quốc tế vô sản của các đồng chí cố vấn, cảm ơn sự giúp đỡ nghĩa tình của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc dành cho nhân dân Việt Nam.


Theo những kết quả thống kê của ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, viện trợ quốc tế cho Việt Nam về vũ khi, nguyên liệu quân giới, vận tải, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân y, phương tiện thông tin, công binh từ năm 1950 đến năm 1954 lên tới 21.517 tấn, trị giá khoảng 136 triệu nhân dân tệ (tương đương 34 triệu rúp). Gồm một số trang bị chính: 715 ôtô vận tải; 24 khẩu sơn pháo 105mm với 11.000 viên đạn; 48 khẩu sơn pháo 75mm với 32.484 viên đạn; 76 khẩu cao xạ 37mm với 51.620 viên đạn1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Sđd, tr.309). Trong số vũ khí kể trên, ngoài số ôtô vận tải, pháo cao xạ, hỏa tiễn 6 nòng, tiểu liên K50 là do Chính phủ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu chi viện, còn lại các loại vũ khí bộ binh, pháo 105mm, 75mm, lương thực, thực phẩm là do Chính phủ Trung Quốc viện trợ.


Qua đó, có thể thấy rằng, tuy khối lượng không lớn (chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng vật chất mà bộ đội chủ lực Việt Nam đã sử dụng trên chiến trường Bắc Bộ những năm 1950 - 1954), song nguồn viện trợ quốc tế từ năm 1950 đến năm 1954 là hết sức quý giá, đã phát huy tác dụng tích cực, trực tiếp góp phần giúp quân và dân Việt Nam làm nên thắng lợi vẻ vang trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngoài viện trợ về quân sự cho nhân dân Việt Nam kháng chiến, Trung Quốc còn cử nhiều đoàn cố vấn về các lĩnh vực kinh tế, tài chính, chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất sang giúp đỡ Việt Nam; giúp Việt Nam xây dựng Khu học xá Quế Lâm (Quế Lâm dục tài học hiệu), đào tạo hàng ngàn thiếu niên Việt Nam trở thành những cán bộ có đức, có tài, có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng.


Để có được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là từ phía hai nước Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam đã nỗ lực hoạt động không mệt mỏi, kể cả phải thực hiện những điều chỉnh cầnthiết trong chính sách đối nội và đối ngoại cho phù hợp hơn nhằm tranh thủ tối đa được mọi nguồn lực phục vụ cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do và hòa bình của mình. Kinh nghiệm quan hệ đối ngoại và các hoạt động vận động, tranh thủ viện trợ quốc tế của Việt Nam trong 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp, vì thế cũng thực sự trở thành tài sản quý báu đối với chính chúng ta khi bước vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oanh liệt sau này.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 06:49:26 pm
II- VIỆT NAM BƯỚC VÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CÙNG NHỮNG YÊU CẦU CẤP THIẾT VỀ CÁC NGUỒN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ

Thắng lợi vĩ đại của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp nghị Giơnevơ (tháng 7/1954) công nhận nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; rút hết lực lượng quân đội viễn chinh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; mở ra thời kỳ phát triển mới, với cả những thuận lợi căn bản và không ít những trở ngại, thách thức, khó khăn, phức tạp đối với sự nghiệp cách mạng những năm tiếp theo.


Về thuận lợi, Việt Nam với nửa nước là miền Bắc đã giành được độc lập hoàn toàn, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương lớn vững chắc của cả nước; trở thành "nền tảng" đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà; có Quân đội nhân dân hùng mạnh; có hệ thống chính quyền vững chắc được thiết lập từ Trung ương xuống các địa phương; có Mặt trận Tổ quốc - nơi tập hợp lực lượng yêu nước rộng rãi đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; có một chính đảng mácxít vững mạnh, giàu kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng với đội ngũ đảng viên và đoàn viên hơn triệu người. Toàn thể dân tộc Việt Nam một lòng hướng về, đoàn kết xung quanh Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự nghiệp cách mạng chân chính của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực, hiệu quả từ các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, từ nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, công lý trên khắp năm châu khích lệ, động viên, cổ vũ mạnh mẽ.


Theo các điều khoản pháp lý của Hiệp nghị Giơnevơ, vĩ tuyến 17 được xác định là giới tuyến quân sự tạm thời, sau hai năm, Việt Nam sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, nhưng bởi đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam, nên đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Cuộc đấu tranh nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc phải trải qua muôn vàn khó khăn, gian nan, tổn thất hy sinh với nhiều hình thức và phương pháp khác nhau mới trở thành hiện thực. Miền Bắc tuy đã sạch bóng quân thù, nhưng sau chín năm trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, những hậu quả do chiến tranh để lại hết sức nặng nề: 1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 số ruộng đất không có nước tưới tiêu, 1/4 số trâu bò bị giết, nạn đói hoành hành đe dọa khắp nơi. Bên cạnh công nghiệp và nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn do thiếu trầm trọng nguyên liệu sản xuất, hệ thống giao thông, bưu điện bị hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng, lực lượng khoa học thiếu thốn... Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội diễn biến hết sức phức tạp bởi các thế lực phản động gây ra cộng với những xáo trộn về tổ chức và sai lầm trong cải cách ruộng đất những năm 1956 - 1957 khiến cho các mặt chính trị, kinh tế... của Việt Nam càng thêm nhiều khó khăn.


Trong khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn thì miền Nam Việt Nam còn tạm bị địch chiếm, nằm dưới ách thống trị hà khắc của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ chỗ lực lượng cách mạng miền Nam có chính quyền, có quân đội và vùng giải phóng, giờ đây, phần lớn cán bộ, chiến sĩ theo quy định của Hiệp nghị Giơnevơ phải lên đường tập kết ra miền Bắc. Toàn bộ hoạt động kháng chiến ở miền Nam cũng buộc phải thay đổi theo phương thức mới: vừa hợp pháp, vừa không hợp pháp, vừa công khai lại vừa bí mật, tạo ra những đảo lộn lớn, gây nên sự xáo trộn và các tác động mạnh mẽ khác nhau tới tâm tư, tình cảm của đồng bào đồng chí miền Nam ruột thịt.


Âm mưu xâm lược miền Nam của chính quyền Mỹ có từ rất sớm. Hiệp nghị Giơnevơ vừa được ký kết và có hiệu lực thì Mỹ đã gấp rút lập nên Khối quân sự Đông Nam Á (SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam nằm trong "khu vực bảo hộ" của Khối này, hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của chúng - một tiền đồn ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á chia cắt lâu dài lãnh thổ Việt Nam. Một mặt, chính quyền Mỹ công khai đưa cô" vấn quân sự cùng các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh, tiền bạc vào miền Nam ngày càng tăng. Số lượng cố vấn quân sự từ 200 người năm 1954 nhanh chóng tăng lên 3.500 người vào năm 1961. Mặt khác, Chính phủ Mỹ gấp rút tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Sài Gòn những năm 1955 - 1961 lên tới con số hàng tỉ đôla, giúp xây dựng các đơn vị quân đội, bộ máy cảnh sát, mật vụ. Mỹ cũng đồng thời hốỉ thúc chính quyền Ngô Đình Diệm phá hoại tổng tuyển cử, thực hiện chiến lược "Chiến tranh một phía" chống lại nhân dân miền Nam. Chúng thi hành hàng loạt chính sách độc tài phát xít dã man, tàn bạo như quốc sách "tố cộng", "diệt cộng", lập khu trù mật, khu dinh điền, lập ấp chiến lược; tiến hành hàng trăm chiến dịch càn quét, hàng ngàn vụ thảm sát đẫm máu, bắt giam cầm và giết hại hàng chục vạn đồng bào và đảng viên, chiến sĩ cách mạng miền Nam. Vì thế, cách mạng miền Nam nước ta bị tổn thất nặng nề về tổ chức và lực lượng.


Con đường giải phóng đất nước của nhân dân Việt Nam mới đi được một nửa. Cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, hòa bình dân tộc, thống nhất Tổ quốc chưa hoàn thành. Chúng ta phải đi tiếp chặng đường đấu tranh mới với nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Trong cuộc đấu tranh khốc liệt này, cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau, cùng một lúc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việt Nam thực sự trở thành ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và là một tiền đồn của phe chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á. Lịch sử đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam trên cả hai miền đất nước những vấn đề hết sức mới mẻ, nhưng cực kỳ phức tạp, cần phải được giải quyết thỏa đáng nhằm đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên. Điều đó đặt ra và đòi hỏiĐảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng; sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng cần đúng đắn, chủ động, nhạy bén, linh hoạt và sáng tạo... Toàn thể quân và dân Việt Nam từ Bắc tới Nam, từ đồng bằng lên miền núi phải nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, kiên cường chiến đấu chống Mỹ, cứu nước dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 06:51:03 pm
Trên bình diện thế giới, nửa cuối những năm 50 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, làm tan rã từng mảng lớn thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện cho nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc về kinh tế. Từ năm 1955 đến năm 1965, đã có tổng cộng 39 quốc gia giành được độc lập hoàn toàn; chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ hoàn toàn trên thế giới.


Tháng 4/1955, tại Băngđung (Inđônêxia), đại diện của 29 quốc gia châu Á, châu Phi đã nhóm họp cùng nhau ra tuyên bố chung với 5 nguyên tắc hòa bình, trung lập. Đây là một đóng góp quan trọng và có ý nghĩa rất lớn vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc; củng cố độc lập dân tộc các nước Á, Phi và bảo vệ hòa bình thế giới.


Tháng 9/1961, Hội nghị cấp cao các nước Á, Phi họp tại Nam Tư chính thức đánh dấu sự ra đời của Phong trào không liên kết. Sự ra đời của Phong trào không liên kết trong bối cảnh cao trào giải phóng dân tộc và Chiến tranh lạnh có nguy cơ dẫn tới chiến tranh thế giới mới đã khích lệ, cổ vũ mạnh mẽ các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trên thế giới, trong đó có cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam. Như thế để thấy rằng, phong trào giải phóng dân tộc và Phong trào không liên kết là những nhân tố quốc tế quan trọng, tích cực, ra đời và không ngừng phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX, có những tác động và ảnh hưởng không nhỏ tới chiều hướng chuyển động của thế giới, mà chính cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng không nằm ngoài lề.


Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc là sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa - đồng minh và là hậu phương quốc tế vững chắc của nhân dân Việt Nam những năm chống Mỹ xâm lược, một trong những nhân tố quốc tế trực tiếp tác động thuận lợi đến cách mạng Việt Nam. Việt Nam quyết tâm đánh và đánh thắng Mỹ chủ yếu là bởi sức mạnh nội lực của chính dân tộc Việt Nam, bên cạnh đó, cần kể đến sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mà trước hết là hai nước lớn đồng minh Liên Xô và Trung Quốc.


Kể từ sau Cách mạng Tháng Mười thắng lợi (năm 1917) đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai (năm 1945), Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới đương đầu với hệ thống các nước đế quốc để tồn tại và phát triển. Tiếp đó, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nam Tư lập nên nền dân chủ mới vào năm 1946. Mùa Xuân năm 1947, trước nguy cơ uy hiếp của khối phương Tây do Mỹ đứng đầu với kế hoạch Mácsan (Marshall) Liên Xô góp sức thúc đẩy một loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, góp phần củng cố vành đai phía tây của mình như: Tiệp Khắc, Rumani, Bungari, Hunggari, Ba Lan, Anbani. Năm 1948, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên được thành lập. Tháng 9/1947, thành lập Cục Thông tin quốc tế thay thế Quốc tế Cộng sản giải tán từ năm 1943. Tháng 10/1949, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa nối liền một dải từ Trung Âu đến Viễn Đông. Từ đây, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết trở thành trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ngày 07/10/1949, Liên Xô tiếp tục thúc đẩy thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Đức (RDA) trên phần lãnh thổ ở phía đông nước Đức do Liên Xô kiểm soát. Năm 1959, nhà nước Cuba ra đời, đánh dấu sự có mặt của các nước xã hội chủ nghĩa trên cả ba châu lục với gần 1 tỉ dân.
Từ một nước phát triển thành một hệ thống, liên tục trong mấy thập niên, các nước xã hội chủ nghĩa tập trung xây dựng và phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân hằng năm đạt 7,8%), ngoại trừ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Thập niên 60 của thế kỷ XX, tổng sản lượng các nước xã hội chủ nghĩa chiếm gần 20% GDP và gần 10% sản lượng công nghiệp của thế giới. Các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô đạt được nhiều thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ, đặc biệt là năng lượng hạt nhân và chinh phục vũ trụ. Đây là thời kỳ hệ thống xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại.


Nhìn một cách tổng quát, thực tế khó có thể phủ nhận rằng, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã phát triển và có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn nhân loại. Nhân dân thế giới đều nhận thấy đây là một hệ thống thống nhất trải dài từ châu Âu sang châu Á, cả Mỹ Latinh, sở hữu trong tay một lực lượng kinh tế, khoa học, kỹ thuật và quân sự hùng mạnh, cả vũ khí hạt nhân, lại có thêm một lực lượng đồng minh tự nhiên là các nước không liên kết và phong trào giải phóng dân tộc. Tất cả tạo ra một lực lượng đối trọng, cân bằng với các lực lượng đế quốc, góp phần ngăn chặn, răn đe các thế 1 lực hiếu chiến, bảo đảm liên tiếp trong nhiều thập niên 1 không xảy ra chiến tranh thế giới, trực tiếp hỗ trợ tích cực cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển.


Đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, sức mạnh và chính sách của các nước xã hội chủ nghĩa thực sự là một nhân tố quốc tế có tác động mạnh mẽ. Trước hết, các nước xã hội chủ nghĩa - đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc mặc nhiên hình thành hậu phương quốc tế trực tiếp của Việt Nam kháng chiến chống Mỹ. Đứng trước hành động xâm lược của chính quyền Mỹ, mỗi tính toán chiến lược, hạ quyết tâm đánh và tự tin đánh thắng, Việt Nam đều hết sức lưu tâm lượng sức mình, đồng thời xem xét tới hậu phương quốc tế. Mỗi khi chính quyền hiếu chiến Mỹ có hành động phiêu lưu mạo hiểm, hậu phương quốc tế góp phần giúp quân và dân Việt Nam giữ vững, nâng cao niềm tin chiến đấu, chiến thắng. Từ các nước xã hội chủ nghĩa làm hạt nhân, Việt Nam mở rộng đoàn kết, tiến tới hình thành mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam và ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam đánh Mỹ.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 07:42:01 pm
Đặc điểm lớn nhất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam là Mỹ là kẻ xâm lược rất giàu mạnh, ngân sách quân sự lớn, vũ khí, trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại, ngược lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia nghèo, ngoài số ít xí nghiệp công nghiệp nhẹ và sửa chữa, công nghiệp nặng hầu như chưa có. Trong bối cảnh và điều kiện bất lợi như vậy, các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp quân và dân Việt Nam từ máy bay, tên lửa, xe tăng, các loại pháo, xe vận tải, xăng dầu đến lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, thuốc y tế... để duy trì, phát triển cuộc chiến đấu. Bên cạnh sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả về vật chất, Việt Nam còn được sự ủng hộ, cổ vũ quý báu về chính trị, tinh thần từ Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước anh em. Từng chiến sĩ và cả các đoàn quân tiến ra tiền tuyến với niềm tin mạnh mẽ vào hậu phương lớn miền Bắc; tin vào hậu phương lớn các nước xã hội chủ nghĩa với hàng trăm triệu anh em, bạn bè sát cánh... Mỗi bước leo thang của Mỹ đều vấp phải những cuộc mít tinh, biểu tình của hàng trăm ngàn, thậm chí hàng chục triệu người ở nhiều quốc gia trên thế giới. Những tuyên bố mạnh mẽ của chính phủ các nước là những lời cảnh cáo kẻ thù, đồng thời cũng là những lời động viên, cổ vũ, khích lệ tinh thần quân và dân Việt Nam đang chiến đấu trên chiến trường.


Một sự ủng hộ có tác dụng rất lớn đối với cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam là ở sự lớn mạnh và ủng hộ kiên quyết của hệ thống xã hội chủ nghĩa có một sức mạnh răn đe, kiềm chế hiệu quả đối với bè lũ xâm lược. Giải thích tại sao Mỹ phải sử dụng cách đánh leo thang Tổng thống Mỹ Giônxơn cho rằng làm như vậy để tránh khả năng Liên Xô, Trung Quốc can thiệp. Suốt cuộc chiến tranh dài hàng chục năm ròng, nhóm tướng lĩnh hiếu chiến Mỹ muốn mở rộng chiến tranh trên bộ ra miền Bắc, nhưng chính quyền Giônxơn đều bác bỏ vì lo ngại phản ứng quyết liệt từ phía hai nước Liên Xô và Trung Quốc. Nhiều trường hợp, các tướng lĩnh Mỹ tính toán các bước phiêu lưu nhưng đều bị gạt bỏ. Mắc Namara thuật lại: "Các Tham mưu trưởng liên quân chủ trương tấn công các kho xăng dầu thuộc Hà Nội và Hải Phòng, giáng cho Bắc Việt Nam một đòn chí tử. Tổng thống và tôi ngần ngại..., một tàu Liên Xô ở gần đó có thể vô tình bị trúng bom, dẫn đến nguy cơ về cuộc đối đầu giữa hai siêu cường hạt nhân"1 (Dẫn theo Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.245).
Tuy nhiên, những mâu thuẫn, bất đồng giữa các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn Xô - Trung cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Liên Xô nhiều lần tác động, hướng Việt Nam đi theo đường lối thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, tập trung xây dựng miền Bắcđể tác động và nêu gương cho miền Nam. Nhằm giữ ổn định tình hình mọi mặt, Liên Xô đề nghị cả hai miền của Việt Nam cùng vào Liên hợp quốc. Trong khi đó, Trung Quốc muốn Việt Nam giữ nguyên trạng lâu dài, "trường kỳ mai phục", che giấu lực lượng, chờ đợi thời cơ. Bởi vậy, năm 1959, khi Việt Nam chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam thì cả Liên Xô và Trung Quốc đều không đồng tình với chủ trương này, thể hiện trước hết ở việc chậm công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.


Cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc Việt Nam ngày càng phát triển mạnh thì quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc cũng xuất hiện những rạn nứt, bất đồng ngày càng sâu sắc, dẫn tới chiến tranh Biên giới năm 1969. Trên các diễn đàn, hai nước công kích nhau gay gắt, dẫn tới tình trạng phân liệt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gây ra những hậu quả bất lợi đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Các nước xã hội chủ nghĩa đã không ra được tuyên bố chung ủng hộ nhân dân Việt Nam đánh Mỹ; sự chi viện, nhất là về viện trợ quân sự có nơi, có thời điểm thất thường. Bất lợi lớn nhất đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam là thiếu một khối đồng minh hùng mạnh, đoàn kết để tạo thành một đối trọng có khả năng kiềm chế, ngăn chặn có hiệu quả các chính sách và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ. Mắc Namara bày tỏ: "Tôi quyết tâm làm giảm nguy cơ do hành động quân sự của Mỹ ở Đông Dương sẽ đẩy các lực lượng không quân và mặt đất của Trung Quốc và Liên Xô vào thế đối đầu với Mỹ dù với lực lượng thông thường hay hạt nhân. Tổng thống Giônxơn cũng có quan điểm như vậy"1 (Dẫn theo Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, Sdd, tr.120).


Tác động trực tiếp và rõ rệt nhất là mâu thuẫn Xô - Trung trong vấn đề Việt Nam. Việc vận chuyển vũ khí của Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quá cảnh lãnh thổ Trung Quốc về tới Việt Nam không phải lúc nào cũng thuận lợi. Việc đặt một căn cứ không quân Liên Xô ở Hoa Nam đã đạt được thỏa thuận rất có lợi cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng cuối cùng không thực hiện được. Đặc biệt, Việt Nam gặp khó khăn khi thực hiện phương châm "đánh, đàm", bởi mâu thuẫn Xô - Trung tác động dữ dội. Liên Xô tác động Việt Nam theo chiều hướng sớm hòa bình thương lượng giải quyết vấn đề, còn Trung Quốc phản đối quyết liệt việc Việt Nam chấp nhận đàm phán với Mỹ, mà cho rằng chỉ có đánh mới giải quyết dứt điểm được vấn đề.
Các nước xã hội chủ nghĩa tuy cùng chung ý thức hệ, nhưng vị trí địa lý, chính trị khác nhau nên có những suy tính khác nhau về chiến lược và chính sách trong vấn đề Việt Nam. Việt Nam đã nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng chính sách của từng nước, tìm ra các điểm còn khác nhau và những điểm tương đồng với mẫu số chung lớn nhất là chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới, làm nghĩa vụ quốc tế với đồng minh. Từ đó, Việt Nam nỗ lực vận dụng linh hoạt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, tạm gác các mâu thuẫn, bất đồng, nắm chắc và phát huy mẫu số chung của tình đoàn kết. Nhờ vậy, Việt Nam khắc phục và vượt qua được các tác động không thuận chiều, giữ vững được sự đoàn kết gắn bó với cả hai nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác để đi tới giành thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 07:43:55 pm
Để có thể hoàn thành nhiệm vụ trọng đại xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc, đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Việt Nam cần phải có đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn và sáng tạo; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ tối đa của bạn bè quốc tế; phải có tiềm lực quân sự, quốc phòng đủ mạnh. Nhưng trên thực tế, sau ngày miền Bắc giải phóng, Việt Nam gặp những khó khăn lớn về nhiều mặt: cơ cấu xã hội bị phá vỡ, giao thông đình đốn, nạn dốt, nạn đói, dịch bệnh hoành hành, sản xuất bị ngưng trệ... Lực lượng vũ trang cách mạng cả nước được tập trung lại trong điều kiện thiếu thốn về vũ khí, đạn dược, trang bị; cơ cấu các quân chủng, binh chủng bất hợp lý, chủ yếu là bộ binh; trình độ chiến thuật nặng về lối đánh du kích chỉ phù hợp với địa hình rừng, núi. Trong khi đó, Mỹ - một đế quốc cực kỳ giàu mạnh tìm mọi cách chống phá quyết liệt sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam; âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành bức tường ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc lan rộng xuống khu vực Đông Nam Á; đang toan tính khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung để hạn chế tối đa sự giúp đỡ của hai quốc gia này đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là làm thế nào để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước đặt ra đối với quân và dân Việt Nam hết sức nặng nề. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử này, các lực lượng vũ trang Việt Nam phải được bổ sung, trang bị những loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, tiến lên xây dựng theo hướng chính quy với cơ cấu hợp lý giữa các ngành, các binh chủng, quân chủng. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là: "Trang bị hiện đại là cơ sở vật chất của chiến thuật và kỹ thuật hiện đại, cơ sở vật chất của sức chiến đấu của quân đội hiện đại. Nếu không có trang bị hiện đại thì không thểnói đến việc xây dựng hiện đại hóa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vắn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.18, tr.213, 203). Bởi vậy, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: "Phấn đấu để xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình thế mới, đó là một nhiệm vụ trọng đại của Đảng ta hiện nay"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.15, tr.188). Muốn đạt được những mục tiêu đặt ra đó, "Chúng ta phải căn cứ vào khả năng giúp đỡ của các nước anh em". Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc rằng Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, tuy "Vấn đề xây dựng một quân đội cách mạng chính quy và hiện đại là một vấn đề mới mẻ đối với chúng ta. Nhưng chúng ta còn có kinh nghiệm phong phú về xây dựng quân đội cách mạng hiện đại, chúng ta có khoa học quân sự tiên tiến của các đảng và các quân đội anh em, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc. Sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc tạo điều kiện cho quân đội ta có thể tranh thủ thời gian trên con đường xây dựng chính quy hóa và hiện đại hoá, trong lúc bản thân chúng ta chưa có đầy đủ các điều kiện"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vắn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.18, tr.213, 203).


Như vậy, yêu cầu về tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi bưởc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được đặtra hết sức cấp bách và khẩn trương. Trong điều kiện vừa có những thuận lợi cơ bản lại vừa gặp phải nhiều khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam cần phải chủ động nắm chắc tình thế, mềm dẻo, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động cả đối nội, đối ngoại nhằm tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để tăng cường thực lực mọi mặt của cuộc kháng chiến, đủ sức đánh bại đế quốc Mỹ, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu chiến lược đề ra.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 07:48:09 pm
III- ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trước bối cảnh thế giới, khu vực, trong nước và yêu cầu cấp thiết về viện trợ quân sự như vậy, trên cơ sở phân tích và lượng định tình hình mọi mặt; đồng thời, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp từ ngày 03 đến ngày 12/3/1955, Đảng ta nhất quán khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi chống xâm lược Mỹ là: "Đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn và tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới... củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân; thực hiện việc phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong hoạt động quốc tế và trong đấu tranh ngoại giao. Giao hảo với bất cứ nước nào cùng ta công nhận năm nguyên tắc chung sống hòa bình. Kiên quyết và bền bỉ dùng cách thương lượng để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp quốc tế (đồng thời ra sức củng cố quốc phòng để sẵn sàng đập tan mọi kế hoạch gây chiến của đế quốc Mỹ và phe lũ hiếu chiến)"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.208, 216).


Để thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương xúc tiến chuẩn bị nhân sự, thiết lập tổ chức đại sứ hay đại biện đi các nước xã hội chủ nghĩa; chú trọng tranh thủ đặt quan hệ ngoại giao bình thường với hai Chính phủ Lào và Cao Miên láng giềng, với các nước khác ở Đông Nam Á và cả Chính phủ Pháp; xúc tiến đẩy mạnh công tác tuyên truyền quốc tế nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Làm cho nhân dân thế giới nhận rõ lập trường quốc tế của Việt Nam là đứng hẳn về một phe: phe dân chủ và xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo1 (Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.216-217).


Chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đó tiếp tục được Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) là Việt Nam cần: "Ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, tăng cường sự đoàn kết nhất trí và củng cố tình hữu nghị không gì lay chuyển nổi giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em; phát triển quan hệ tương trợ hợp tác với các nước anh em theo những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh để bảo vệ và củng cố hòa bình; chống lại chính sách xâm lược và chính sách gây chiến của đế quốc Mỹ, thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau...


Ra sức ủng hộ phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và giành độc lập dân tộc của nhân dân các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước dân tộc chủ nghĩa, phát triển sự hợp tác kinh tế và văn hóa với các nước đó trên cơ sở năm nguyên tắc chung sông hòa bình và tinh thần Hội nghị Băngđung.


Chúng ta hoan nghênh và ủng hộ đường lối hòa bình trung lập của Campuchia và sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị với Vương quốc Campuchia.

Chúng ta ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Lào nhằm thực hiện đường lối hòa bình trung lập thật sự và hòa hợp dân tộc và mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị với Vương quốc Lào"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.939-940, 633).


Sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam có quan hệ mật thiết gắn bó với cách mạng thế giới, Đảng Lao động Việt Nam xác định rõ: "Thắng lợi cùa cách mạng Việt Nam gắn liền với sự phát triển của cách mạng thế giới, gắn liền với sự ủng hộ và sự giúp đỡ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, trước hết là của giai cấp công nhân và nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.939-940, 633).


Trong Đề cương công tác đổi ngoại do Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày trước Hội nghị Bộ Chính trị đầu năm 1962 cũng nêu rõ chiến lược đối ngoại củaViệt Nam Dân chủ Cộng hòa là: "Không ngừng củng cố và mở rộng quan hệ về mọi mặt giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để phục vụ cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cho cuộc đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam và cho sự nghiệp hòa bình thống nhất nước nhà trên cơ sở Hiệp nghị Giơnevơ. Toàn bộ hoạt động đối ngoại của Việt Nam phải xuất phát từ lợi ích của sự nghiệp cách mạng dân tộc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp ấy, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.


Hiện nay, trước tình hình Mỹ tăng cường xâm lược và gia tăng các hoạt động quân sự ở miền Nam, "hoạt động đối ngoại Việt Nam phải được đẩy mạnh nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và của nhân nhân thế giới đối với phong trào yêu nước ở miền Nam và đối với sự nghiệp hòa bình thống nhất Tổ quốc"1 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.185).


Chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục được nhấn mạnh và làm rõ thêm trong Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bàytrước Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964. Báo cáo đã bày tỏ lập trường quan điểm: "Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; kiên quyết đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ; thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau; kiên quyết ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc... Tình hình thực tế những năm qua chứng tỏ chính sách đối ngoại đó là hoàn toàn đúng đắn và thu được những thắng lợi to lớn. Địa vị quốc tế của nước ta không ngừng được nâng cao. Chúng ta tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ ngày càng rộng rãi và mạnh mẽ của các nước anh em và của nhân dân toàn thế giới đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng của đồng bào miền Nam và cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước ta để thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.103-104).


Với chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn và sáng tạo đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam sớm đề cao, coi trọng tiếp tục củng cố và tăng cường phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác; chủ động cử nhiều đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, Quốc hội, quân đội, các đoàn thể đi thăm và làm việc. Mục đích là qua các hoạt động này góp phần tăng thêm hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước, giới thiệu thành quả xây dựng miền Bắc và công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam; kêu gọi sự đồng tình ủng hộ giúp đỡ Việt Nam trên mọi phương diện, trong đó, mặt quân sự sớm được coi trọng và nâng lên thành mục tiêu không thể tách rời trong các cuộc vận động quốc tế. Quyết tâm của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: "Tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, củng cố và bồi dưỡng ý chí chiến đấu, nâng cao trình độ tư tưởng chiến thuật và kỹ thuật của quân đội, phấn đấu để xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình thế mói, đó là một nhiệm vụ trọng đại của Đảng ta hiện nay"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.188). Mà muốn đạt được những mục tiêu đặt ra đó, "Chúng ta phải căn cứ vào khả năng giúp đỡ của các nước anh em", để nỗ lực vận động các nước giúp đỡ hiệu quả cho Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 07:50:58 pm
IV- HOẠT ĐỘNG TRANH THỦ CÁC NGUỒN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1954 - 1964

Quán triệt và nhất quán trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại hữu nghị hợp tác, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tổ chức nhiều đoàn đại biểu cấp cao đi thăm và làm việc với các nước anh em nhằm tăng cường trao đổi, hợp tác, cùng phối hợp hành động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân Việt Nam. Mở đầu là chuyến thăm ba nước Trung Quốc, Liên Xô, Mông Cổ vào tháng 7/1955 của đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu. Kính trọng uy tín và vị thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chuyến thăm lịch sử này, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố tặng 800 triệu nhân dân tệ giúp nhân dân Việt Nam xây dựng 18 công trình công nghiệp từ năm 1958 đến năm 1961; còn Chính phủ Liên Xô viện trợ cho Chính phủ Việt Nam 400 triệu rúp để giúp nhân dân Việt Nam nâng cao mức sống, thực hiện Kế hoạch 3 năm 1955 - 1957, Kế hoạch 3 năm 1958 - 1960 khôi phục, phát triển kinh tế đất nước, trong đó gồm cả khôi phục và xây dựng 25 xí nghiệp công nghiệp và xí nghiệp phúc lợi công cộng. Ngoài ra, Chính phủ Liên Xô sẽ giúp Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đào tạo chuyên gia tại các trường kỹ thuật trung cao củaLiên Xô và tổ chức đào tạo chuyên gia tại các trường Việt Nam. Có thể đánh giá rằng, đây được xem là chuyến đi khởi đầu quan trọng vô cùng thuận lợi, có ý nghĩa đặt nền móng trong quan hệ với tất cả các quốc gia trên thế giới khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Kết quả chuyến đi này, theo như nhìn nhận của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: "Việc đoàn đại biểu Chính phủ ta do Hồ Chủ tịch lãnh đạo đi thăm các nước bạn Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ đã có kết quả tốt. Nó thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn; nâng cao thêm uy tín quốc tế của nước ta; phát triển sự hợp tác về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa giữa nước ta và các nước bạn. Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Trung Quốc hoàn toàn nhất trí với Chính phủ ta về nhận định tình hình Đông Dương và Đông Nam Á và kiên quyết ủng hộ ta trong cuộc đấu tranh chính trị để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước... Liên Xô và Trung Quốc lại giúp đỡ ta một cách vô tư và khảng khái để ta có thêm điều kiện khôi phục kinh tế và văn hóa. Tình hình ấy làm cho nhân dân ta vô cùng phấn khởi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.589). Tiếp theo đoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho đến cuối năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cử nhiều đoàn do các đồng chí lãnh đạo cao cấp khác làm trưởng đoàn đi thăm và làm việc với các nước anh em. Bên cạnh viện trợ về kinh tế giúp Chính phủ và nhân dân Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế đất nước, các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là chính phủ hai quốc gia Liên Xô và Trung Quổc còn cam kết viện trợ quân sự không hoàn lại một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, trang bị, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, y cụ... Số trang bị, vật tư hậu cần này lần lượt được chuyển cho phía Việt Nam qua các cửa khẩu phía bắc biên giới Việt - Trung và cảng biển lớn nhất miền Bắc là Hải Phòng.


Trước yêu cầu cấp bách về xây dựng, củng cố, tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng trong tình hình mới, tháng 10/1955, Đoàn đại biểu quân sự do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Trưởng đoàn đi thăm và làm việc với hai nước Liên Xô và Trung Quốc về vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam. Qua làm việc, lãnh đạo cấp cao của cả hai quốc gia lớn đều nhất trí với Việt Nam về nhận định đánh giá tình hình, phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân, đồng ý tiếp tục viện trợ quân sự cho Việt Nam các loại vũ khí, đạn dược, lương thực,thực phẩm, thuốc men, y cụ, giúp đỡ Việt Nam tài liệu quân sự, chuyên gia, lập xưởng sửa chữa, sản xuất vũ khí tại Việt Nam. Ngày 22/6/1956, Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn tiếp tục lên đường thăm và làm việc với Liên Xô về vấn đề viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kết quả làm việc rất thuận lợi, mở đầu cho một quá trình viện trợ liên tục ngày càng tăng.


Trước đó, ngay khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam vừa kết thúc, với dự báo chiến lược Việt Nam sẽ cần một khối lượng lớn vật chất, vũ khí, trang bị các loại, phục vụ cho xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang trong tình hình mới, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy (năm 1961 đổi tên là Quân ủy Trung ương), các cơ quan chức năng tham mưu, hậu cần Việt Nam đã lập kế hoạch xin viện trợ khẩn cấp về vũ khí, trang bị quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa; xúc tiến chuẩn bị và nhanh chóng triển khai lực lượng, phương tiện tiếp nhận, bí mật vận chuyển một khối lượng lớn các loại vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... về nước an toàn trước khi Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến đưa lực lượng đến hoạt động ở các khu vực biên giới, hải cảng. Sau khi các tổ chức quốc tế đến chốt tại các điểm xuất nhập cảnh, được sự giúp đỡ của đảng bộ, nhân dân và chính quyềncác địa phương, Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục tiếp nhận, vận chuyển hàng viện trợ quân sự vào nội địa bí mật, an toàn. Theo thống kê của các cơ quan tiếp nhận và vận chuyển, chỉ tính từ tháng 7/1954 đến năm 1956, Việt Nam đã tiếp nhận và vận chuyển gần 30.000 tấn vũ khí, đạn dược và trang bị chiến đấu khác, trong đó gần 17.000 tấn được hoàn thành vào những tháng cuối năm 1954. Con số này gần bằng tổng khối lượng mà các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã chi viện cho nhân dân Việt Nam 4 năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (từ tháng 3/1950 đến tháng 6/1954). Nguồn vật chất hậu cần kỹ thuật này, theo đánh giá của cơ quan chức năng làm nhiệm vụ phân bổ, thực sự là nguồn bảo đảm rất quan trọng, giúp cho Quân đội nhân dân Việt Nam bước đầu bổ sung và đổi mới các loại vũ khí, trang bị cho các đơn vị vũ trang. Tính đến cuối năm 1954, dựa vào nguồn vật chất kỹ thuật mà Việt Nam mới tiếp nhận, vận chuyển trên, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tiến hành kế hoạch đổi mới và thống nhất trang bị cho Đại đoàn công - pháo, 6 đại đoàn và 2 trung đoàn bộ binh chủ lực1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.24).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 07:53:49 pm
Ngày 11/01/1956, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam một số vấn đề về quân sự như: cải tiến trang bị quân sự, đào tạo cán bộ và bồi dưỡng giáo viên các trường quân sự, cung cấp thiết bị cho các trường quân sự, cử 26 chuyên gia sang giúp Tổng Quân ủy Việt Nam, cử đoàn quân sự sang nghiên cứu chiến trường, đặt kế hoạch tác chiến,... Tuần đầu tháng 8/1956, Việt Nam cử một đoàn cán bộ quân sự cấp cao sang làm việc với Trung Quốc (phía Trung Quốc có đại diện của Bộ Kế hoạch - Trang bị, Bộ Tài vụ, Bộ Quân khí, Bộ Tư lệnh bộ đội thiết giáp, Bộ Tư lệnh Hải quân, Không quân, Cục Đóng thuyền) về viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi trình bày những khó khăn mà quân và dân Việt Nam đang phải đối mặt, đoàn Việt Nam đề nghị phía Đảng, Chính phủ Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những vũ khí, trang bị phục vụ việc xây dựng các sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn pháo, 2 sư đoàn cao xạ dã chiến, 2 trung đoàn diệt tăng, 2 trung đoàn công binh đường sắt, 1 trung đoàn pháo tự hành, 3 đoàn vận tải,... Về cơ bản, phía Chính phủ Trung Quốc đáp ứng đầy đủ những đề nghị của quân và dân Việt Nam.


Tiếp sau đoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là các đoàn đại biểu cấp cao do các đồng chí Trường Chinh,Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh,... làm trưởng đoàn đến thăm và làm việc với các nước anh em (ngoài đoàn do các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng là đoàn đại biểu quân sự, trong các đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Chính phủ, Quốc hội còn có Tổ quân sự đi cùng để đàm phán về vấn đề viện trợ quân sự). Các đoàn đại biểu quân sự của Việt Nam đã chủ động xin ý kiến về phương án xây dựng quân đội, yêu cầu các nước bạn giúp các loại vũ khí, trang bị để bổ sung và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, tăng cường tiềm lực quân sự. Về cơ bản, các nước bạn đều nhất trí với phương án xây dựng và phát triển quân đội của Việt Nam theo phương châm "quý hồ tinh, bất quý hồ đa", tức là coi trọng chất lượng hơn số lượng; sẵn sàng cung cấp cho Quân đội nhân dân Việt Nam nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại đáp ứng yêu cầu huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện chiến trường miền Nam.


Trước khi diễn ra cuộc hội đàm với đoàn cán bộ quân sự Trung Quốc tại Bắc Kinh vào sáng ngày 12/3/1960, đoàn cán bộ quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đã chủ động gửi trước tới đoàn quân sự Trung Quốc bản "Ý kiến sơ bộ về nhiệm vụ và phương hướng kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng từ năm 1961 đến năm 1965" của Tổng Quân ủy Việt Nam. Động thái này của đoàn quân sự Việt Nam nhận được sự đồng tình và ủng hộ cao của đoàn Trung Quốc. Đồng chí Trần Nghị, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc nói: "Chúng tôi (Trung Quốc) hoàn toàn đồng ý và thấy là rất tốt, mặc dầu các đồng chí nói là sơ bộ và trưng cầu ý kiến của chúng tôi, chúng tôi xin cảm ơn. Đó cũng là do các đồng chí khiêm tốn mà thôi"1 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, t.1, tr.366). Đồng chí La Thụy Khanh, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng bày tỏ sự nhất trí cao với Kế hoạch do đoàn quân sự Việt Nam đưa ra, đồng ý cung cấp nhiều loại vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam, đưa trung đoàn xe tăng đang huấn luyện ở Trung Quốc về Việt Nam, vấn đề xây dựng sân bay quân sự, phương hướng phát triển Hải quân Việt Nam.


Tháng 8/1963, tiếp tục diễn ra một cuộc hội đàm nữa giữa hai đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc và Việt Nam về hai văn kiện "Kế hoạch tác chiến hiệp đồng giữa quân đội hai nước Trung Quốc và Việt Nam" và "Quy hoạch Trung Quốc chi viện Việt Nam về trang bị quân sự". Để đạt được thỏa thuận này, phía Quân ủy Trung ương Việt Nam đánh giá: "Mặc dù còn một số vấn đề không hoàn toàn nhất trí với Bạn, nhưng ta đã tránh đi vào tranh luận hoặc có chỗ ta đã nhân nhượng"1 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.2, tr.412). Tuy vậy, "Những vấn đề mà ta nhân nhượng không phải là những vấn đề chủ yếu... Còn những vấn đề ta tránh đi vào tranh luận thì cũng chỉ là những vấn đề thuộc về cách nhìn của mỗi bên, chứ không phải là nội dung có mâu thuẫn lớn"2 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.2, tr.412). Và trên cơ sở "Đối chiếu với các chủ trương chiến lược mà Quân ủy Trung ương ta đã bàn cũng như đề nghị Trung Quốc chi viện, nhận thấy mặc dù còn tồn tại một số ý kiến khác nhau nhưng hai bên đã đạt được sự nhất trí về cơ bản"3 (). Hai văn kiện quan trọng này được Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phê chuẩn ngày 07/9/1963, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn ngày 09/11/1963.


Tháng 7/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ thăm 9 nước Đông Âu, Bắc Âu, Bắc Á và một số nước dân chủ nhân dân để tranh thủ thêm sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang gian khổ tiến hành. Bên cạnh đó, quan hệ với hai nước láng giềng Lào, Campuchia và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á cũng đượcĐảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú trọng. Là thành viên trong Hội nghị quốc tế giải quyết vấn đề Lào, Việt Nam đã làm hết sức mình để Hội nghị thành công tốt đẹp. Sau khi Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962 được ký kết và Chính phủ Liên hiệp được thành lập, ngày 05/9/1962, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao với Vương quốc Lào. Tháng 3/1963, vua Lào Xri Xavang Vátthana sang thăm chính thức Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam cũng biểu thị sự ủng hộ chính sách trung lập của Chính phủ Campuchia, ra tuyên bố ủng hộ đề nghị ngày 20/8/1962 của Quốc trưởng Xihanúc về triệu tập Hội nghị quốc tế công nhận và bảo đảm nền trung lập toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia. Tháng 8/1964, Campuchia công bố kế hoạch thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính thức cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn... Bên cạnh những chủ trương và hoạt động chủ động mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân, Việt Nam cũng tích cực tham gia vào các diễn đàn quốc tế và khu vực như: Hội nghị các nước Á - Phi (tháng 5/1955), Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới (1957, 1960), Phong trào không liên kết (1961, 1963)... Tại các diễn đàn này, Việt Nam có những đóng góp quan trọng vào công việc chung của quốc tế; đồng thời, luôn biểu thị lập trường quan điểm nhất quán là ra sức đóng góp vào tăng cường bảo vệ hòa bình thế giới và duy trì đoàn kết quốc tế.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Tư, 2026, 07:56:55 pm
Các hoạt động đối ngoại phong phú trên đây góp phần vào nâng cao nhận thức, hiểu biết của Việt Nam về các nước, cũng như của các nước đối với tình hình đất nước và cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam. Điều này không những thể hiện thiện chí hòa bình, lòng mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác của Việt Nam với tất cả các nước, khẳng định tình đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu mà qua đó, Việt Nam còn có thêm sự đồng thuận, ủng hộ, giúp đỡ to lớn từ phía các nhà lãnh đạo và nhân dân các quốc gia đối với công cuộc củng cố, xây dựng, phát triển miền Bắc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Sự ủng hộ to lớn ấy đã góp phần ngăn chặn, răn đe kẻ địch; khuyến khích cổ vũ, động viên sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của nhân dân Việt Nam. Từ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, những cơ sở công nghiệp dân sự, công nghiệp quốc phòng đầu tiên trên miền Bắc như các nhà máy cơ khí trung quy mô, phân đạm, cao su, xà phòng, thuốc lá, đường, xi măng, xưởng sửa chữa đạn pháo, sân bay dã chiến... được xây dựng. Cơ cấu tổ chức và vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng được cải thiện, tăng cường không chỉ bởi những nỗ lực hoạt động chủ quan của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà phần lớn nhờ vào nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ.


Với chủ trương đúng đắn và sáng tạo trong quan hệ đối ngoại và quá trình vận động, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ rất thiết thực, hiệu quả của các nước anh em. Tuy nhiên, trong quan hệ không phải lúc nào cũng bằng phẳng thuận chiều. Nhiều thời điểm quan hệ diễn ra khó khăn, đòi hỏi phía Việt Nam phải nỗ lực, khôn khéo và linh hoạt mới xoay chuyển được tình thế.


Sau ngày miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng, xu thế vận động quốc tế đi vào hòa hoãn, hai miền Triều Tiên được phân chia theo quy định của Hiệp ước Bàn Môn Điếm, Đông - Tây Đức cũng tạm thời ổn định, hai nước Liên Xô và Trung Quốc, nhất là Liên Xô chủ trương thực hiện "tạm hòa" để có điều kiện củng cố, xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, việc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam khó nhận được sự đồng tình ủng hộ của các nước anh em. Biểu hiện rõ nét nhất là qua kết quả nguồn viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa dành cho quân và dân Việt Nam. Việt Nam đã buộc phải cắt giảm, chuyển ngành một số lượng lớn bộ đội thường trực. Động thái đó đã nhận được sự đồng tình từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Bởi thế, các nước xã hội chủ nghĩa chú trọng tới viện trợ kinh tế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng miền Bắc hơn là viện trợ quân sự phục vụ cho yêu cầu cấp bách bổ sung, phát triển các lực lượng vũ trang. Trong khi nhu cầu viện trợ quân sự của Việt Nam rất lớn và vô cùng cấp thiết, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện cho Việt Nam không nhiều, rất nhỏ giọt, chủ yếu là các loại vũ khí bộ binh và phương tiện huấn luyện bộ đội, thiếu vắng những loại trang bị hạng nặng, tiên tiến và hiện đại như: máy bay, tàu chiến, xe tăng, thiết giáp, tên lửa đất đối không,... Số nước có viện trợ quân sự cho Việt Nam giai đoạn này cũng không nhiều, khối lượng không lớn. Từ thực tế kết quả tiếp nhận các nguồn viện trợ, tỷ trọng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam trong 10 năm (1954 - 1964) không lớn so với viện trợ kinh tế, lại phân bổ không đồng đều. Năm 1959, khi Việt Nam chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng ở miền Nam, phát triển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công cách mạng; quyết tâm mở tuyến chi viện chiến lược cho các lực lượng vũ trang miền Nam chiến đấu, yêu cầu về vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... cho các chiến trường rất lớn. Nhưng chủ trương này lại không nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ phía Liên Xô và Trung Quốc. Cả hai nước lo ngại chiến tranh ở miền Nam Việt Nam có thể gia tăng cả quy mô và cường độ, sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh chung của khu vực, trên thế giới. Phía Liên Xô lo ngại cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sẽ gây ra những trở ngại cho cục diện hòa hoãn Xô - Mỹ. Còn Chính phủ Trung Quốc lại lo ngại ảnh hưởng tới kế hoạch "Đại nhảy vọt" của mình, sợ ngọn lửa chiến tranh sẽ cháy lan tới lãnh thổ Trung Quốc. Vì thế mà cả Liên Xô và Trung Quốc đều có những tác động tới Việt Nam. Tháng 10/1959, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện góp ý với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam. Điện văn nêu rõ: "Chúng tôi đồng ý với các đồng chí về việc phân tích căn bản tình hình Việt Nam và việc quy định nhiệm vụ cách mạng cho hai miền Bắc, Nam: miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là nhiệm vụ căn bản nhất, quan trọng trước nhất và cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam; ở miền Nam là thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ, nhưng trước mắt chưa có thể thực hiện cải biến cách mạng, mà chỉ có thể dùng phương châm thích hợp trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ; tức là nói tiến hành cuộc đấu tranh có thể tiến hành như bảo vệ đời sống và quyền lợi,... cục diện chia cắt này của Việt Nam có thể lâu dài, chỉ khi nào tình hình châu Á và tình hình thế giới có những chuyển biến mới lớn lao,hay là khi nào bản thân Việt Nam phát sinh sự thay đổi có tính chất căn bản nào đó thì mới có sự thay đổi,... Việc quan trọng trước tiên của cách mạng là khéo biết thông qua các phương thức mà súc tích lực lượng cách mạng, đoàn kết với hết thảy mọi người có thể đoàn kết, chờ đợi thời cơ; phải khéo biết giấu giếm lực lượng, tránh mọi động kích quá trớn, tự bộc lộ mình, gây tổn thất quá lớn..."1 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.1, tr.331).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:19:07 pm
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cũng có những trao đổi khá cụ thể với Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn khi đoàn đại biểu Đảng ta thăm Trung Quốc năm 1960 rằng: Trung Quốc đồng ý với phương hướng chung của Đảng Lao động Việt Nam về cách mạng miền Nam đề ra trong Nghị quyết Trung ương 15, nhưng đề nghị hoạt động vũ trang chỉ nên phát triển đến cấp đại đội và trung đội. Cùng với những góp ý cụ thể đó,trong những năm 1959 -1960, phía Trung Quốc còn gây sức ép với Việt Nam bằng cách cắt giảm nguồn viện trợ quân sự (năm 1959, Trung Quốc viện trợ quân sự cho nhân dân Việt Nam tổng khối lượng 1.672 tấn vật chất), năm 1960 giảm xuống còn 1.562 tấn vật chất, cả hai năm cộng lại chưa bằng năm 1958 là 4.410 tấn1 (Xem Tổng cục Hậu cần: Tổng hợp viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam 1954 - 1975, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tờ 1). Tương tự, phía Liên Xô cũng đưa ra những khuyến nghị với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 10/1959, đồng chí Bí thư thứ ba Đại sứ quán Chính phủ Liên Xô trao đổi với đồng chí Lưu Văn Lợi, đại diện phía ngoại giao Việt Nam rằng Việt Nam "Bắt đế quốc từ bỏ xâm lược là chưa nên. Vấn đề đấu tranh vũ trang cần phải xem xét lại, thống nhất bằng vũ trang càng không nên"2 (Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Liên Xô (1958 - 1991), 1991, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 58). Trong buổi trao đổi với Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đoàn đại biểu Đảng Lao động và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang ở thăm và làm việc tại Liên Xô (tháng 11/1960), Bí thư Thường trực Đảng Cộng sản Liên Xô Cuxinen thông báo là Đảng Cộng sản Liên Xô không đồng tình với chủ trương đấu tranh vũ trang ở miền Nam đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 15 của Đảng Lao động Việt Nam. Liên Xô cho rằng, Việt Nam cần phải tiếp tục xây dựng và củng cố miền Bắc vững mạnh để thông qua đó thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình. Trước đó, tháng 3/1956, đồng chí Xuxlốp (Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) nêu ý kiến với Việt Nam: "Triển vọng của Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Càng giải quyết nhiệm vụ dân chủ một cách triệt để, càng mau tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chẳng những trong nội bộ Đảng cần nói rõ miền Bắc phải tiến lên chủ nghĩa xã hội mà trong công tác thực tế ngày càng phải làm như thế"1 (Ban Đối ngoại Trung ương: Ý kiến của đồng chí Xuxlốp về đường lối tiến lên của miền Bắc Việt Nam và chủ trương thống nhất Việt Nam bằng phương pháp hòa bình, 1956, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 2). Thêm một biểu hiện nữa là cả Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Trung Quốc đều chậm thừa nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính của nhân dân miền Nam (Chính phủ Trung Quốc công nhận Mặt trận năm 1963 và phải tới tháng 11/1965, Chính phủ Liên Xô mới công nhận Mặt trận).


Ứng phó với tình thế đó, một mặt, Đảng Lao động Việt Nam vừa chủ động trong xây dựng và quyết định những vấn đề liên quan tới đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam; chân thành chủ động đề nghị các nước bạn góp ý kiến và hết sức tôn trọng những ý kiến của các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc. Mặt khác, để tạo thêm sự đồng tình ủng hộ hơn nữa từ phía bạn bè, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức nhiều đoàn đại biểu các cấp, các ngành đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em kiên trì thuyết phục, giải thích rõ rằng: Việt Nam vẫn chủ trương thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình; hoạt động đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam chỉ có tính chất tự vệ và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị. Việt Nam kiên quyết không để chiến tranh lan rộng ra khu vực và thế giới. Qua đó góp phần làm cho các nước xã hội chủ nghĩa hiểu rõ hơn về quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam; chỉ ra khả năng thực tế là Việt Nam có thể đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên phạm vi chiến trường Việt Nam và việc Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đánh lâu dài, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn là phù hợp với bối cảnh điều kiện hiện tại. Và cũng nhằm mục đích trên, liên tiếp trong hai năm 1959 và 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh hai lần đi Trung Quốc và Liên Xô. Người chân thành bày tỏ sự mong muốn của Đảng, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác hơn nữa với Liên Xô và Trung Quốc; nêu những nhận định, đánh giá về phong trào cách mạng thế giới; thông báo tình hình cách mạng Việt Nam và Đông Dương; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của hai nước này đối với chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam ở miền Nam theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1959), qua đó tăng cường viện trợ quân sự nhiều hơn cho nhân dân Việt Nam. Tháng 6/1961, Việt Nam cử đoàn đại biểu Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm và làm việc tại Liên Xô. Các cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Phạm Văn Đồng với Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Khơrútsốp và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô Brêgiơnhép đã đưa lại những kết quả tốt đẹp, ra được thông cáo chung, cam kết tiếp tục phát triển sự hợp tác trên nhiều mặt. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam xem trọng và luôn nhấn mạnh đây là quan hệ đặc biệt, nỗ lực vận động để tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ phía bạn. Những chủ trương, kế hoạch lớn về xây dựng, mở rộng lực lượng, tác chiến, trang bị cho quân đội, Việt Nam đều cử cán bộ các cấp qua lại chân thành trao đổi ý kiến, bởi vậy mà tạo được niềm tin vổi bạn, được bạn giúp đỡ ngày càng lớn. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và Đảng công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva tháng 11/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm và khẳng định: "Tình hình thế giới hiện nay rất thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc. Để giành lấy thắng lợi, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc phải ra sức xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng của mình, phải khéo sử dụng các hình thức đấu tranh cách mạng khác nhau, thích hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước: hoặc là đấu tranh vũ trang, hoặc là đấu tranh chính trị của quần chúng, hoặc là lấy đấu tranh chính trị của quần chúng làm chủ yếu, kết hợp một cách linh hoạt với đấu tranh vũ trang theo mức độ thích đáng ở những nơi có thể làm được... Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà cũng như trước đây trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, chúng tôi được các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc được các đảng anh em trên thế giới, trước hết là Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc hết lòng ủng hộ và giúp đỡ. Sự ủng hộ và sự giúp đỡ đó tỏ rõ tinh thần quốc tế vô sản vô cùng quý báu. Nó là một trong những điều kiện chủ yếu cho chúng tôi đạt được nhiều thành tích trong mấy năm vừa qua và nhất định sẽ bảo đảm cho chúng tôi đạt được nhiều thành tích to lớn hơn nữa trong những năm tới"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.719-720, 724).


Một trong những vấn đề quốc tế mà Đảng Lao động Việt Nam quan tâm là mâu thuẫn giữa hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc đã, đang và sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cộng sản quốc tế và cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hoạt động, thể hiện rõ mong muốn Đảng, Chính phủ hai nước đoàn kết với nhau. Cũng tại Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva, tháng 11/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Liên Xô và Trung Quốc là hai nước to nhất trong phe xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc là hai đảng lớn nhất, có nhiều kinh nghiệm nhất trong phong trào cộng sản quốc tế. Vì vậy, trong sự đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các đảng Mác - Lênin trên thế giới, sự đoàn kết giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc có một tầm quan trọng đặc biệt"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.722-723). Tháng 02/1963, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra tuyên bố đề nghị các đảng anh em chấm dứt công kích nhau trên đài phát thanh, báo chí và đề nghị họp các đảng cộng sản để chấm dứt tình trạng bất hòa trong phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Những bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện từ rất sớm và nỗ lực tìm cách giải quyết. Bên cạnh việc quán triệt cho cán bộ, đảng viên, nhân dân Việt Nam cần luôn bảo vệ, giữ gìn tình đoàn kết với các nước anh em thì chính bản thân Người và Trung ương Đảng, bằng khả năng và mối quan hệ chân thành với các vị lãnh đạo hai nước đã xử lý thành công nhiều tình huống ngoại giao tế nhị và phức tạp trong quan hệ với hai nước lớn; không để xảy ra tình huống hai nước lớn lợi dụng vấn đề Việt Nam chống lại nhau trên đất nước Việt Nam; đồng thời, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của mỗi quốc gia đối với công cuộc kháng chiến, kiến quốc của Việt Nam; giữ vững lập trường quan điểm không nghiêng về bất cứ bên nào.


Sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, tháng 12/1963 ra đời, quan hệ giữa hai Đảng Việt Nam và Liên Xô gặp khá nhiều khó khăn. Việt Nam phải rút lưu học sinh các ngành khoa học xã hội đang học tập ở Liên Xô về nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, mềm dẻo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, chúng ta đã khôn khéo giữ cho quan hệ hai nước bốt xấu thêm. Đến tháng 10/1964, Liên Xô thay đổi lãnh đạo ở cấp cao nhất, đồng thời điều chỉnh chính sách đối ngoại thì quan hệ hai nước Việt Nam - Liên Xô mới trở lại hữu nghị, tiếp tục phát triển lên tầm cao mới vào đầu năm 1965. Cùng với đó, nguồn viện trợ quân sự của Chính phủ Liên Xô dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau năm 1964 không ngừng được cải thiện, gia tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng, chủng loại.


Có thể thấy, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực làm hết sức mình để củng cố, nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế và giành được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn từ phía các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Chẳng những Việt Nam đã thành công trong tranh thủ được các nguồn viện trợ quân sự mà còn góp phần quan trọng vào các hoạt động quốc tế, bảo vệ, duy trì, gìn giữ tình hữu nghị đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em; góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu, giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:26:29 pm
V- KẾT QUẢ VIỆT NAM NHẬN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1964

Nhờ nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo và những sách lược, bước đi ngoại giao mềm dẻo, khéo léo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn và toàn diện từ phía các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên tất cả các mặt. Sự giúp đỡ đó đã góp phần quan trọng vào những thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc; củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, quân sự những năm đầu chống Mỹ, cứu nước.


Trước hết, phải kể đến nguồn viện trợ kinh tế mà các nước xã hội chủ nghĩa dành cho Việt Nam, giúp nhândân Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục... (gồm cả viện trợ không hoàn lại và các khoản vay nợ). Theo thống kê chưa đầy đủ của các cơ quan chức năng Việt Nam, những năm 1954 - 1964, tổng số tiền viện trợ lên tới trên 551.981.000 rúp mới và 1.100.000 nhân dân tệ 45 triệu zloty (tiền Ba Lan), 3.162.000 đồng (tiền Việt Nam)... Ngoài ra, Việt Nam còn nhận được các khoản viện trợ từ Cộng hòa Dân chủ Đức (13.500.000 rúp); Tiệp Khắc (7.875.000 rúp và cho vay 10.225.000 rúp cùng hợp tác thăm dò khoáng sản và trả khoản nợ nhập siêu); Rumani (3.375.000 rúp và cho vay 37.431.000 rúp để mở rộng Nhà máy xi măng Hải Phòng, hợp tác khai mỏ); Hunggari (8.000.000 rúp cũ tương đương 1,8 triệu rúp mới và cho vay 9.000.000 rúp); Ba Lan (45 triệu zloty và cho vay 20 triệu rúp cũ và 7 triệu rúp mới để xây dựng nhà máy đường Vạn Điểm, mở rộng Nhà máy xe lửa Gia Lâm); Bungari (3.162.000 đồng Việt Nam để xây dựng các xưởng rau quả, ướp lạnh, cơ khí địa phương)1 (Xem Quân ủy Trung ương: Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 12).


Sau chuyến đi thăm và làm việc với một số nước bạn bè của Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ do Chủ tịchHồ Chí Minh dẫn đầu (năm 1955), theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ: trong hai năm, Chính phủ Liên Xô giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các loại thiết bị máy móc, tài liệu khoa học kỹ thuật trị giá 306 tỉ Việt Nam đồng để Việt Nam khôi phục và phát triển 25 xí nghiệp công nghiệp; Chính phủ Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu, đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy... trị giá 1.224 tỉ Việt Nam đồng trong 5 năm (1955 - 1961); Chính phủ Mông Cổ giúp 500 tấn thịt và một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi1 (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.55-56). Nhân chuyến thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Mông Cổ do đồng chí Tsêđenban (Tsedenbal) dẫn đầu từ ngày 30/8/1959 đến ngày 07/9/1959, Chính phủ Mông Cổ tuyên bố giúp nhân dân Việt Nam 10 vạn gia súc từ năm 1959 đến năm 1965. Tính đến cuối năm 1962, Liên Xô đã giúp Việt Nam 1.400 triệu rúp, giúp xây dựng 34 nhà máy lớn nhỏ, 19 nông trường và cải tạo 27 nông trường, một số trường đại học, một bệnh viện lớn, giúp xây dựng 21 đài khí tượng thủy văn và 156 trạm thủy văn các cấp. Ngoài ra, Liên Xô nhận 420 thực tập sinh và 1.267 sinhviên của Việt Nam vào đào tạo tại các trường kỹ thuật trung cao cấp của Liên Xô, cử 1.547 chuyên gia các ngành, các cấp sang công tác tại Việt Nam (1955 - 1960)1 (Xem Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954 - 1960), 1960, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 5). Bên cạnh đó, Chính phủ Liên Xô đã có sự chi viện quý báu, thiết thực như: tháng 7/1955, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 20.000 tấn gạo; tháng 10/1955, Liên Xô tiếp tục giúp nhân dân Việt Nam 10 vạn rúp để khắc phục hậu quả thiên tai... Giới tin tức phương Tây cũng sớm quan sát và nhận thấy: "Sinh viên các trường đại học ở Hà Nội được gửi sang Liên Xô để hoàn thành chương trình học tập và nâng cao trình độ khoa học đất nước... Cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam được đi huấn luyện ở Liên Xô. Họ thường hành quân theo đường sắt, quá cảnh qua Trung Quốc, và học tập lái máy bay, đánh máy bay địch trên không và xuất phát từ dưới mặt đất. Dọc đường hành quân, họ thường gặp cố vấn Liên Xô sang Việt Nam"2 (Dẫn theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.205).


Trên các lĩnh vực văn hóa - giáo dục - y tế, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác luôn tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác phát triển các chương trình văn hóa, khoa học kỹ thuật giúp đào tạo cán bộ chuyên môn và cử chuyên gia sang giúp Việt Nam. Cùng với giúp các loại vật chất, tài liệu khoa học kỹ thuật, chỉ tính riêng từ đầu năm 1955 đến năm 1960, đã có tổng số 6.500 chuyên gia các cấp1 (Xem Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954 - 1960), Tlđd, tờ 5) dân sự các ngành, các cấp thuộc các nước xã hội chủ nghĩa anh em sang giúp Việt Nam. Phần lớn trong số này là lực lượng chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc.


Qua những số liệu đã dẫn trên đây, có thể thấy rằng khối lượng và trị giá viện trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa giúp nhân dân Việt Nam những năm 1954 - 1964 khá lớn. Nguồn vật chất này góp phần giúp miền Bắc Việt Nam hoàn thành thắng lợi Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế 1955 - 1957, Kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế, văn hóa 1958 -1960, Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 - 1965; tạo ra những tiền đề vật chất và chính trị, tinh thần quan trọng, chuẩn bị vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ và gian khổ của nhân dân Việt Nam những năm tiếp theo.


Song song với viện trợ kinh tế, các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn viện trợ về quân sự giúp đỡ quân và dân Việt Nam đánh Mỹ. Đây là một nguồn lực vô cùng quan trọng đối với quân và dân Việt Nam trong điều kiện đất nước có chiến tranh, trong bối cảnh nền công nghiệp quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa phát triển mạnh, chưa đủ sức bảo đảm cho các lưc lượng vũ trang chiến đấu. Tất cả nguồn lực của quốc gia đều tập trung cho chiến tranh, phục vụ chiến tranh và để chiến thắng quân địch. Vì vậy, mọi chủ trương đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam đều hướng tới mục tiêu chung: huy động tối đa sự giúp đỡ cả vật chất lẫn chính trị, tinh thần từ các nước xã hội chủ nghĩa, từ nhân loại yêu chuộng hòa bình, nhằm kết hợp và phát huy với mọi nguồn lực trong nước để tạo nên sức mạnh vật chất to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, đủ sức đánh bại đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:29:09 pm
Liên tục 10 năm, từ năm 1954 đến năm 1964, Việt Nam kiên trì và luôn chủ động vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ về mặt quân sự cho Việt Nam để Việt Nam có điều kiện bổ sung, củng cố, phát triển lực lượng vũ trang theo hướng chính quy, từng bước hiện đại; tiến tới có điều kiện chi viện cho các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay sai. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ đặt hàng, tiếp nhận, vận chuyển viện trợ quân sự Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1964, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam 119.790 tấn vật chất các loại, bao gồm: vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ... Trong đó, từ năm 1955 đến năm 1960, Việt Nam nhận được 49.585 tấn vật chất, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; từ năm 1961 đến năm 1964, Việt Nam tiếp tục nhận được 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật (trong đó Liên Xô giúp 47.223 tấn, Trung Quốc giúp 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác giúp 442 tấn)1 (Dẫn theo Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.588-601). Báo cáo của Thiếu tướng Trần Sâm, Tổng tham mưu phó với Thường trực Quân ủy Trung ương đề ngày 08/5/1967 cho biết thêm, từ năm 1956 đến cuối năm 1967, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ước tính hơn 1 tỉ rúp và 1,1 tỉ nhân dân tệ, tương đương 7 tỉ đồng Việt Nam. Cụ thể, Chính phủ Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam 949 triệu rúp (năm cao nhất 315 triệu rúp, năm 1964 bị gián đoạn). Hàng hóa do Liên Xô viện trợ chủ yếu cho các binh chủng kỹ thuật, thiết bị bảo đảm kỹ thuật, xưởng và trạm sửa chữa. Năm 1963, Chính phủ Liên Xô bắt đầu viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam, nhưng còn khá hạn chế. Chính phủ Trung Quốc viện trợ liên tục cho Viêt Nam từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chủ yếu là vũ khí bộ binh, trang bị bộ binh, máy bay chiến đấu, tàu hải quân, xưởng sửa chữa, sản xuất, vật tư hậu cần. Từ năm 1961, Trung Quốc viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang miền Nam, đáp ứng cơ bản yêu cầu của Việt Nam. Phần lớn những trang bị viện trợ quân sự của phía Trung Quốc cho Việt Nam mới sản xuất, mới cải tiến, chất lượng tốt. Ngoài ra Trung Quốc còn giúp vận chuyển vũ khí quá cảnh. Triều Tiên viện trợ quân sự cho Việt Nam chủ yếu là các loại vũ khí bộ binh, thiết bị xây dựng công trình, vật tư hậu cần. Cuba, Anbani, Mông Cổ cũng viện trợ cho Việt Nam một số vật tư hậu cần1 (Dân theo Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.273).


Mặt hàng chủ yếu mà các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam giai đoạn này gồm một sốloại chính: 415.584 khẩu súng bộ binh, 5.621 khẩu súng chống tăng, 2.542 khẩu súng cối, 24 khẩu pháo hỏa tiễn, 1.023 khẩu pháo mặt đất, 639 khẩu súng máy cao xạ, 1.024 khẩu pháo cao xạ, 32 máy bay chiến đấu, 46 tàu hải quân chiến đấu, 165 xe tăng, 166 xe vỏ thép, 552 xe xích kéo pháo, 4.760 ôtô vận tải và kéo pháo, 198 ôtô chuyên dùng, 201 xe và máy công trình, 8.486 xe vàmáy vô tuyên điện, 19.134 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 8.658km dây điện thoại, 278.450 bộ quân trang, 7 bộ thiết bị toàn bộ...1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc và 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 11).


Bên cạnh viện trợ các loại vũ khí, đạn dược, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ..., các nước xã hội chủ nghĩa còn giúp Việt Nam vốn, trang thiết bị khoa học, kỹ thuật; cử các đoàn chuyên gia quân sự thường xuyên sang giúp Việt Nam xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng. Chỉ tính riêng về công trình công nghiệp quốc phòng, từ năm 1954 đến cuối năm 1964, các nước Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Hunggari đã giúp Việt Nam xây dựng hàng loạt công trình với tổng số vốn lên tối chục triệu rúp như: Xưởng sửa chữa pháo và khí tài quang học (Z1) trị giá 700.116 rúp; Xưởng sửa chữa đạn (Z2) trị giá 418.000 rúp; sân bay quân sự Nội Bài trị giá 1.518.239 rúp, Trường Đại học Quân chính trị giá 4.500.000 rúp, Phòng Thí nghiệm cơ lý hóa vật liệu Trung ương trị giá 950.000 rúp... Bằng tinh thần khiêm tôn, cầu thị, tự học tập, tự nghiên cứu, sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp, các công binh xưởng trên miền Bắc và chiến trường miền Nam đã lần lượt được đưa vào sử dụng,khai thác hiệu quả nguồn vốn do Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ; kịp thời bổ sung, phát triển thực lực kháng chiến của Việt Nam Những kết quả thu được trong công cuộc xây dựng phát triển lực lượng vũ trang; củng cố tiềm lực quốc phòng, quân sự trên hậu phương miền Bắc và trong cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường ở miền Nam của quân và dân Việt Nam đã góp phần khẳng định tác dụng thiết thực, hiệu quả của nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa.


Báo cáo sơ bộ của Đoàn đại biểu kừứi tế Chính phủ Việt Nam trong đợt đàm phán với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa tháng 7/1965 do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu cũng cho biết, các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp Việt Nam: Hoàn chỉnh thêm một bước các cơ sở sửa chữa lớn trong quân đội, cộng với số cơ sở đã có sẵn, nếu Việt Nam tiếp nhận và xây dựng xong các cơ sở mới được giúp thêm thì Việt Nam có thể sửa chữa lớn được đại bộ phận các trang thiết bị kỹ thuật của quân đội trừ động cơ máy bay, động cơ xe tăng, xe xích cỡ trung và những động cơ tàu thủy có công suất cao; phát triến thêm một bước các cơ sở sản xuất quốc phòng (9 cơ sở), sản xuất được các loại vũ khí nhẹ từ cấp tiểu đoàn trở xuống; đồng thời, tăng cường thêm được một số vũ khí phòng không (khoảng 13 tiểu đoàn cao xạ từ 37mm đến 85mm, 15 tiểu đoàn 12,7mm). Hoàn chỉnh trang bị kỹthuật cho hệ thống sân bay của Việt Nam, cộng cả thiết bị hiện có, Việt Nam có thể đủ thiết bị cho các sân bay và dành được một phần cho dự bị. Về pháo mặt đất, tuy có loại không phù hợp với biên chế trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng có thể trang bị được khoảng hơn 8 sư đoàn các loại súng cối, pháo chống tăng, lựu pháo...1 (Xem Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gập các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 18).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:31:10 pm
Để có thể tiếp nhận, bảo quản, khai thác một khối lượng lớn hàng viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã tổ chức xây dựng một hệ thống bến bãi, kho tàng đảm bảo đủ sức chứa, an toàn và tuyệt đối bí mật trên khắp miền Bắc và dọc các tuyến vận tải chiến lược, cảng Hải Phòng và cửa khẩu hữu nghị quốc tế Việt - Trung (Lạng Sơn) là hai đầu mối chính, chủ yếu tiếp nhận nguồn viện trđ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài hệ thống kho, bãi chứa trong nội địa, Việt Nam còn nhờ kho, bãi khu vực ga Bằng Tường của Trung Quốc để lưu trữ các loại hàng hóa. Có thời điểm hàng viện trợ về dồn dập, bên cạnh số tồn đọng trên hàng chục toa tàu hỏa, Việt Nam còn gần 30.000 tấn vật chất phải gửi lại Bằng Tường trong điều kiện mưa, nắng không có mái che.Ga Bằng Tường Trung Quốc trở thành nơi trung chuyển lớn nhất hàng viện trợ quân sự các nước bạn bè giúp trước khi về đến lãnh thổ Việt Nam.


Sau khi tiếp nhận các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh, vật tư hậu cần - kỹ thuật, Việt Nam khẩn trương phân bổ biên chế cho các lực lượng vũ trang nhằm thống nhất trang bị đồng bộ và nâng cao sức mạnh chiến đấu. Tổng kết công tác Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam ghi nhận vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội chủ lực trên chiến trường Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ được trang bị tương đối thống nhất bằng vũ khí do các nước anh em viện trợ. Còn bộ đội các chiến trường khác được trang bị vũ khí chiến lợi phẩm. Khi hòa bình lập lại, Hậu cần đã lập phương án điều chỉnh thông qua Bộ Quốc phòng và tiến hành dồn dịch giữa các đơn vị. Sau quá trình điểu chỉnh, bộ đội chủ lực của Việt Nam được trang bị chủ yếu bằng vũ khí, phương tiện của các nước xã hội chủ nghĩa giúp1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.23, 33-34).


Bên cạnh thực hiện chủ trương dồn dịch, điều chỉnh thống nhất các loại vũ khí, trang bị bộ binh toàn quân, với nguồn viện trợ quân sự có được, Việt Nam thành lập một số binh chủng mới hiện đại như: ngày 07/5/1955, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Tổng tư lệnh, tiền thân của Quân chủng Hải quân; ngày 22/10/1963, Quân chủng Phòng không - Không quân ra đời trên cơ sở hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Không quân; tiếp đó, ngày 03/01/1964, Bộ Tư lệnh Hải quân được thành lập...


Cùng với kịp thời bổ sung, trang bị cho các lực lượng vũ trang miền Bắc; căn cứ vào thực lực quốc phòng và yêu cầu từ thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, tháng 3/1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chủ trương chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam kháng Mỹ. Quyết tâm của Việt Nam là: "Muốn đẩy mạnh cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi quyết định, cần phải kiên quyết chi viện cho miền Nam những thứ chiến tranh cần thiết và phải mở đường thực hiện sự chi viện ấy"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.106). Quyết tâm đó sớm được hiện thực hóa qua sự lớn mạnh không ngừng của hai tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn 559 và tuyến vận tải 759. Đây là hai tuyến vận tải chiến lược trọng yếu nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, có vai trò quyết định sự thành bại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm nhiệm vụ vận chuyển đến chiến trường các loại vũ khí, trang bị, vật tư hậu cần các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự giúp Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:34:04 pm
Về chi viện các chiến trường, trưóc hết, Trung ương Đảng quyết định: Về vật chất, chủ yếu là vũ khí, khí tài rồi đến thuốc men và các phương tiện khác. Về đường chi viện, gồm đường bộ, đường không, đường thủy trong đó đường bộ là cơ bản thường xuyên, đường bộ lại được tổ chức theo ba hướng: trong nước, đường dọc biên giới Việt - Lào và đường đi sâu vào nội địa Lào; đường thủy từ miền Bắc dùng tàu thuyền đưa hàng đến các bến bãi dọc theo bờ biển hoặc tàu thuyền các tỉnh miền Nam đưa thuyền ra Bắc lấy hàng và tiếp chuyển từ tàu ngoài Bắc; đường không lấy thả dù làm chính. Riêng vũ khí cho các lực lượng vũ trang miền Nam, Quân ủy Trung ương chủ trương tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cùng với số vũ khí chiến lợi phẩm để trang bị cho các lực lượng vũ trang miền Nam. Song trong quá trình chi viện, phải tuyệt đối giữ bí mật, không để ảnh hưởng tới quan hệ giữa Liên Xô, Trung Quốc với Mỹ và bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giữ bí mật việc xây dựng lực lượng ở miền Nam, không để lộ sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Vũ khí và hàng chi viện cho miền Nam do Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác chi viện trong thời kỳ này được xóa hết nhãn hiệu1 (Xem Quân ủy Trung ương: Biên bản cuộc họp Quân ủy Trung ương ngày 23 tháng 3 năm 1961, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-3). Mạng lưới vận chuyển không ngừng lớn mạnh, vươn xa, vươn sâu, nối liền từ hậu phương miền Bắc tới các địa bàn chiến lược miền Nam. Phương tiện vận chuyển cũng hết sức phong phú, đa dạng từ gùi thồ, tàu hỏa, tàu thủy, ôtô các loại ngày đêm vận chuyển qua đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển. Theo thống kê của các cơ quan làm nhiệm vụ vận tải quân sự, những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược, một khối lượng lớn các loại vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men đã được chuyển cho các quân khu Trị - Thiên, 5, 6, 7, 8, 9 qua đường Hồ Chí Minh trên biển, trên bộ. Phần lớn trong số này là hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam. Tính riêng từ năm 1959, khi thực hiện chủ trương mở đường chi viện miền Nam của Bộ Chính trị, đến cuối năm 1964, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam 180.800 khẩu súng các loại; 10.000 tấn đạn dược, bom, mìn; 923 chiếc vô tuyến điện2 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, khả năng bảo đảm cho nhiệm vụ sắp tới, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 9). Riênglực lượng hải quân chỉ từ tháng 02 đến tháng 12/1964 đã vận chuyển cho chiến trường Nam Bộ được 4.920 tấn và cho Khu V 171 tấn vật chất các loại1 (Dẫn theo Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tờ.570). Nguồn vũ khí, đạn dược này tạo điều kiện cho các chiến trường bổ sung kịp thời trang bị, mở nhiều trận đánh giành thắng lợi như Ấp Bắc, Đầm Dơi, Chà Là, Bình Giã..., góp phần đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ. Còn tuyến đường bộ vận chuyển được 10.136 tấn vật chất, trong đó có 2.912 tấn vũ khí, đạn dược2 (Bộ Giao thông vận tải: Lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, 2005, tr.154).


Nhờ được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự, tiềm lực quốc phòng, quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ngừng được tăng cường về mọi mặt. Nếu như năm 1954, tổng số vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có: súng trường (14.089 khẩu), tiểu liên (2.930 khẩu), trung liên (1.494 khẩu), đại liên (185 khẩu), bazoka 90 (32 khẩu), DKZ 57 (78 khẩu), cối 60mm (274 khẩu), cối 82mm Trung Quốc (135 khẩu), lựu đạn (150.140 quả)3 (Bộ Quốc phòng - Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011. tr.798) thì đến cuối năm 1960, tổng số vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang Việt Nam đã tăng lên đáng kể, bao gồm: súng vũ khí bộ binh có 91.806 khẩu (súng ngắn, súng trường, tiểu, trung, đại liên, trọng liên, bazoka) loại mới, đủ trang bị cho 7 sư đoàn, 4 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, trường lục quân, các quân khu theo biên chế thời chiến và 99.025 khẩu súng cũ chất lượng còn 50% tăng cường cho dân quân, tự vệ; 1.925 khẩu pháo mặt đất loại mới, 943 khẩu pháo cũ; 670 khẩu pháo cao xạ (đủ trang bị 10 tiểu đoàn cao xạ thuộc sư, lữ bộ binh, 2 trung đoàn pháo cao xạ 100mm và 57mm, 3 trung đoàn cao xạ 88mm và 90mm, 2 trung đoàn cao xạ 85mm và 37mm, 2 trung đoàn cao xạ 57mm, số 20mm còn lại trang bị cho bộ đội hải quân và lực lượng phòng thủ biển); 28 máy rađa trang bị cho 2 trung đoàn. Về thông tin, hữu tuyến điện trang bị đáp ứng 80%, vô tuyến điện trang bị đáp ứng 50% biên chế. Về phương tiện công binh, đã có 1.288m cầu vượt sông, về phương tiện phòng hóa, đã trang bị đáp ứng được 1/4 phương tiện trinh sát và 1/2 phương tiện tiêu độc, đủ phương tiện phun lửa, 6.279 ôtô và máy kéo các loại, về đạn dược, đáp ứng được 1,2 cơ số đạn con, trên dưới 2 cơ số đạn pháo mặt đất, 3 cơ số đạn pháo cao xạ. Về lực lượng không quân Việt Nam, đã có 17 máy bay vận tải, 7 máy bay thể thao, 3 máy bay liên lạc, 2 trực thăng, 8 máy bay huấn luyện, về lực lượng hải quân, đã trang bị 2 đoàn tàu tuần tiễu, 4 tàu săn ngầm, 3 trạm rađa1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 72).


Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tấc bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chỉ rõ: Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1965, số lượng nhiều loại trang bị khí tài mới tăng lên gấp rưỡi, gấp đôi. Thí dụ, vũ khí nhẹ tăng 140%, pháo tăng 205%, cao xạ tăng 247%, ra đa tăng 200%, máy chỉ huy tăng 183%, đạn tăng 227%, xe hơi tăng 122%, máy kéo xe xích tăng 150%... Đánh giá về kết quả công tác trang bị, Báo cáo khẳng định: năm 1965, hỏa lực toàn quân được tăng cường, nhất là hỏa lực pháo binh tương đối mạnh (hỏa lực pháo binh một sư đoàn bằng hỏa lực pháo binh dùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ); khả năng cơ động của bộ đội tăng lên cùng với sức đột kích (xe tăng) phát hiện được mọi hành động xâm lược của địch ở không phận và hải phận, đối phó được những hành động khiêu khích quy mô nhỏ của kẻ thù ở ngoài hải phận và bảo vệ tương đối tốt không phận một số yếu địa. Trang bị kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1965 so với quân đội hiện đại các nước công nghiệp tiên tiến thì còn ở mức thấp, nhưng so với tình hình trang bị trước đây thì đó là sự biến đổi to lớn. So với trình độ thiết bị kỹ thuật của hậu phương nhà nước thì trình độ trang bị kỹ thuật quân đội đã đi trước một bước khá dài1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, Tlđd, tờ 73).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:35:24 pm
Theo phương hướng chú trọng củng cố, phát triển cân đối các lực lượng; đồng thời, để tăng nhanh tiềm lực quốc phòng đủ sức đối phó với tình hình Mỹ leo thang và mở rộng chiến tranh, Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo phải tăng cường cả về số lượng và chất lượng các loại vũ khí, trang bị, phát triển các lực lượng vũ trang; gấp rút vận chuyển số hàng viện trợ quân sự còn tồn đọng tại các cửa khẩu hoặc đang gửi Trung Quốc về nước; đề nghị các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự nhiều hơn cho Việt Nam. Tại cuộc họp ngày 03/4/1965, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương: "Thực hiện một bước cơ bản kế hoạch khôi phục lực lượng thời chiến (riêng Phòng không - Không quân phát triển gần gấp 2 kế hoạch thời chiến), nhằm đối phó có hiệu lực nhất với chiến tranh phá hoại của địch và chuẩn bị đầy đủ việc chi viện cho B - C; đồng thời, chuẩn bị đối phó với Chiến tranh cục bộ. Do đó, ngoài việc tăng cường Phòng không - Không quân, Hải quân, Thông tin, Vận tải, các đơn vị cơ động đều được tổ chức đầy đủ"1 (Quân ủy Trung ương: Tài liệu anh Văn họp Bộ Chính trị ngày 3 tháng 4 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1).


Quán triệt và nghiêm chỉnh thực hiện tinh thần chỉ đạo đó, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cùng với phát huy các nguồn lực trong nước, tiềm lực quốc phòng, quân sự của Việt Nam được tăng cường mọi mặt, đặc biệt là về vũ khí, trang bị của các lực lượng chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Tính tới cuốỉ năm 1965, khi ngọn lửa chiến tranh lan rộng ra cả nước, Mỹ thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, vũ khí và trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tăng lên vượt bậc như sau:


Về vũ khí nhẹ bộ binh, tổng số 235.900 khẩu súng các loại (nếu Việt Nam thực hiện xong Hiệp nghị 1964 - 1967 với các nước xã hội chủ nghĩa, sẽ là 304.600 khẩu), trong đó 90% thuộc kiểu mới nhất của phe xã hội chủ nghĩa. Hầu hết các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các binh chủng của quân đội được trang bị đủ số súng bộ binh môi. Dân quân du kích được trang bị 185.000 khẩu, trung bình 30 khẩu/xã, dự trữ được 80.000 khẩu súng bộ binh kiểu cũ nhưng chất lượng còn tốt với cơ số đạn đầy đủ.


Về các loại pháo và cối mặt đất, trang bị được 5.470 khẩu với nguồn đạn dược đầy đủ từ 3 tới 5 cơ số (nếu Việt Nam thực hiện xong Hiệp nghị 1964 - 1967 với Trung Quốc, trang bị sẽ lên 7.420 khẩu), trong số này, đại bộ phận là các loại pháo và cối mới do phe xã hội chủ nghĩa chế tạo. Ngoài ra, còn có hơn 400 khẩu pháo do các nước tư bản sản xuất (pháo lựu 105mm, sơn pháo 75mm, pháo chống tăng 75mm, pháo bờ biển 76,2mm và pháo 105mm loại cũ, chất lượng kém, nguồn cung cấp đạn khó khăn).


Về xe tăng và xe bọc sắt, toàn quân có tổng số 340 chiếc, với 165 chiếc T34, 87 chiếc T54, 88 chiếc lội nước, 16 pháo tự hành, 8 cao xạ 57mm tự hành, 2 chiếc tăng bắc cầu và 157 xe bọc sắt (35 xe lắp súng cao xạ 14,5mm hai nòng, số còn lại lắp súng đại liên). Số xe này hầu hết đã qua sử dụng.


Về súng máy cao xạ, tên lửa và máy bay, với số lượng đã viện trợ trước đây và nếu thực hiện xong Hiệp nghị 1964 - 1967 đã ký kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Việt Nam sẽ có được 3.700 khẩu pháo. Số pháo này đủ trang bị cho 21 trung đoàn cao xạ 57mm, 75mm và 100mm; 75 tiểu đoàn 37mm, 100 tiểu đoàn 12,7mm và 14,5mm với lượng đạn từ 6 đến 8 cơ số. Có được 190 máy bay MiG (124 chiếc MiG17, 34 MiG21, 32 MiG19) đủ trang bị cho 6 trung đoàn, 16 chiếc máy bay chiến đấu (4 chiếc IL28, 12 AN-2), 45 máy bay vận tải.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:37:42 pm
Ngoài ra, ta xây dựng được 3 trung đoàn tên lửa phòng không với 72 bệ phóng và 449 quả đạn; rađa trinh sát và dẫn đường có tổng số 118 bộ đủ trang bị và thêm nguồn dự trữ1 (Xem Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu về tình hình số lượng và chất lượng đạn dược 1965 - 1969 (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5).


Báo cáo tình hình trang bị vũ khí, đạn dược của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cũng cho biết, về cơ bản: "Những trang bị vũ khí của Quân đội ta chủ yếu dựa vào viện trợ các nước; nền kinh tế trong nước bảo đảm cho trang bị vũ khí của quân đội không đáng kể, chủ yếu là bảo đảm về ăn, mặc, ở cho Quân đội"2 (Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình trang bị của quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 9).


Căn cứ vào nguồn viện trợ quân sự được các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, bên cạnh bổ sung vũ khí, trang bị cho các đơn vị vũ trang làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chi viện các chiến trường, Việt Nam còn dành một nguồn đáng kể dự trữ chiến lược. Theo Thượng tướng Trần Sâm, nguyên Tổng tham mưu phó, cuối năm 1964, được sự giúp đỡ của Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác,ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đă tạo ra được lượng dự trữ ban đầu khá hùng hậu về kỹ thuật, trong đó có hàng vạn tấn đạn, trên 7.000 xe ôtô vận tải, 15 cơ số xăng dầu, thuôc quân y đủ bảo đảm cho trên5.000 thương, bệnh binh; dự trữ được 6 tháng lương thực, thực phẩm, 15.000 suất quân trang, xây dựng được 3 kho đạn với sức chứa 28.000 tấn, kho súng pháo rộng 11.900 mét vuông, hai kho xăng, dầu với sức chứa trên 3.200 tấn1 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.231). Tổng kết Hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng cho biết rõ hơn: dựa vào tiếp nhận nguồn cung cấp của hậu phương quốc gia mà chủ yếu là nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, để thực hiện dự trữ từng bước ở hậu phương chiến lược của quân đội và tại các quân khu, quân chủng, binh chủng. Nhưng, do viện trợ quốc tế chưa hoàn toàn đáp ứng về số lượng, chủng loại, thời gian theo yêu cầu của phía Việt Nam, nên đến hết năm 1963, Việt Nam mới dự trữ ở một mức độ nhất định cho một số loạivật chất kỹ thuật. Đạn các loại đạt khoảng 80% kế hoạch trọng lượng; xăng dầu cho ôtô vận tải đạt khoảng 25% nhu cầu sử dụng trong một năm; thuốc đủ bảo đảm5.000 thương binh, đáp ứng nhu cầu một chiến dịch;quân trang đạt 30% kế hoạch; ôtô vận tải đạt 28% số đầu xe ở cấp chiến lược1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.101).


Công tác xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trên các mặt tổ chức, huấn luyện, đào tạo đã được chuyên gia các nước Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ tận tình, bước đầu phát triển theo hướng chính quy, hiện đại. Đánh giá chung về các kết quả giúp đỡ trên, Báo cáo của Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận: đối với Trường Trung cao quân sự, các chuyên gia đã giúp: nghiên cứu và biên soạn các tài liệu huấn luyện trung đoàn tấn công, phòng ngự trên địa hình thông thường, rừng núi, vượt sông, công tác bảo đảm công trình; nghiên cứu và biên soạn tài liệu về sư đoàn tấn công và phòng ngự trên địa hình thông thường; với Cục Quân huấn: giúp các lớp tập huấn đại đội phòng ngự; tiểu đoàn tấn công, phòng ngự và lớp trung đoàn tấn công; nghiên cứu giúp về phương pháp, nội dung tập huấn đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn; đi nghiên cứu thao trường cho các khoa mục đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn diễn tập; biên soạn các tài liệu giảng dạy, viết tưởng định, bồi dưỡng giảng viên về lý luận nguyên tắc chiến thuật; giúp ý kiến làm kế hoạch huấn luyện toàn quân...; đối với Trường Sĩ quan Lục quân, chuyên gia giúp: hướng dẫn các giáo viên viết các giáo án về chiến thuật từ cá nhân đến tiểu đoàn, bồi dưỡng các giáo viên chiến thuât các giáo viên xạ kích, các giáo viên thể dục thể thao... Tóm lại, qua sự giúp đỡ của các chuyên gia, cán bộ các binh chủng, nhà trường đã nắm chắc hơn nguyên tắc chiến thuật, làm tốt giáo án, viết tưởng định, viết các văn kiện chiến đấu. Công tác tổ chức huấn luyện các đơn vị mẫu, tổ chức diễn tập trước đây còn lúng túng thì nay đã có thể làm bài bản, thuần thục.


Cùng với sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả về vốn, tài liệu khoa học kỹ thuật, chuyên gia, vật chất các loại, các nước xã hội chủ nghĩa cũng đồng tình và hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam về mặt chính trị, tinh thần.


Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 22/11/1956, Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra tuyên bố vạch trần âm mưu của Mỹ đang dùng mọi cách ngăn cản việc thống nhất Việt Nam, hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ, khẳng định lập trường quan điểm của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống việc phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, đồng thời kêu gọi các nước tham gia Hội nghị Giơnevơnăm 1954 phải có trách nhiệm ngăn chặn những hành động phá hoại của Mỹ - Diệm. Ngày 20/3/1957, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc ra tuyên bố hoàn toàn ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đòi các nước hữu quan phải làm tròn trách nhiệm của mình đối với Hiệp nghị Giơnevơ đã ký kết năm 1954, đòi Hiệp nghị phải được thi hành nghiêm chỉnh. Tương tự, ngày 06/4/1957, Chính phủ Ba Lan ra tuyên bố ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đòi các bên hữu quan phải tôn trọng và triệt để thi hành Hiệp nghị Giơnevơ. Ngày 21/01/1959, thay mặt Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức, Thủ tướng Ốttô Gơrốttơvon (Otto Grotewohl) đang ở thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng kiên quyết lên án sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam nhằm phá hoại hòa bình. Ngày 04/01/1962, Chính phủ Liên Xô tuyên bố": "Liên Xô không thể làm ngơ trước những hành động xâm lược của giới quân phiệt ở miền Nam Việt Nam, lên tiếng phản đối cùng với tất cả các nước yêu chuộng hòa bình. Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh hợp pháp của nhân dân Việt Nam đòi Mỹ lập tức đình chỉ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và rút nhân viên quân sự ra khỏi miền Nam Việt Nam... Nhân dân Liên Xô tin chắc rằng cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam cho tự do và độc lập dân tộc, thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình và dân chủ, sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn"1 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1983, tr.78, 71).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:38:57 pm
Ghi nhận và đánh giá cao sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ về mặt chính trị, tinh thần của đảng, chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, trong chuyến thăm đất nước Liên Xô ngày 05/7/1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trân trọng phát biểu: "Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để hòa bình thống nhất nước nhà, mỗi thành tựu cách mạng của nhân dân Việt Nam đều gắn... với sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô và các nước anh em khác"2 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1983, tr.78, 71).


Khi chính quyền hiếu chiến Mỹ quyết định và thực hiện mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước Việt Nam, phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ phát triển sôi nổi, mạnh mẽ, từ các nước xã hội chủ nghĩa đến các nước dân chủ nhân dân. Từ ngày 07 đến ngày 11/8/1964, hơn 20 triệu nhân dân Trung Quốc xuống đường tuần hành thị uy, ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, nói lên mối tình đoàn kếthữu nghị chiến đấu vĩ đại của 650 triệu nhân dân Trung Quốc với nhân dân Việt Nam. Ngày 27/11/1964 Chính phủ Liên Xô khẳng định với toàn thế giới và trước chính quyền hiếu chiến Mỹ rằng: "Liên Xô kiên quyết lên án những hành động xâm lược tiến hành bằng máy bay của Mỹ trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đòi chấm dứt mọi hoạt động khiêu khích tương tự chống lại nước này..."1 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Sđd, tr.95). Chính phủ Liên Xô cảnh cáo: "Những kẻ đang nuôi dưỡng mưu đồ phiêu lưu ở bán đảo Đông Dương cần phải biết rằng: Liên Xô sẽ không thể làm ngơ trước vận mệnh của một nước xã hội chủ nghĩa anh em, và Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ nước anh em đó mọi sự cần thiết"2 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Sđd, tr.95). Từ ngày 25 đến ngày 28/11/1964, Hội nghị quốc tế "Nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ hòa bình" được triệu tập, họp tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 64 đoàn đại biểu thuộc 52 quốc gia và 12 tổ chức quốc tế, thể hiện ý chí đoàn kết với nhân dân Việt Nam, đánh dấu bước đầu hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ.


Như vậy, vượt lên mọi khó khăn, trong những năm 1954 - 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiên trì và nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại đúng đắn, khôn khéo, sáng tạo và độc lập tự chủ, vì vậy đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hô và giúp đỡ thiết thực, hiệu quả cả về vật chất lẫn chính trị, tinh thần từ bạn bè quốc tế, đặc biệt là từ phía đảng, chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đây thực sự là một sự hậu thuẫn lớn, tạo niềm tin vững chắc; một trong những yếu tố quan trọng, góp phần bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi. Nguồn viện trợ quân sự quý báu mà các nước xã hội chủ nghĩa dành cho quân và dân Việt Nam đã được chuyển hóa thành sức mạnh, cộng hưởng với những nhân tố bên trong đã tạo ra sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ xâm lược có những bước biến chuyển vững chắc. Mặc dù những năm 1954 - 1964, khối lượng và trị giá của nguồn viện trợ quân sự chưa được như chúng ta mong muốn, nhưng thật sự quý giá và thiết thực. Quân và dân Việt Nam khắp các chiến trường đã chủ động khai thác, sử dụng một cách hiệu quả, góp phần bồi bổ thực lực kháng chiến, từng bước xây dựng miền Bắc và tích cực chi viện có hiệu quả cho cách mạng miền Nam đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ,dồn đẩy đối phương tiếp tục sa lầy, phải thay đổi từ chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với quy mô, cường độ ngày càng lớn và khốc liệt hơn. Đồng thời, tình thế này cũng đặt ra cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bên cạnh phát huy tối đa nội lực, tự lực cánh sinh, một yêu cầu vô cùng khẩn trương cấp bách là phải đẩy mạnh vận động tranh thủ các nguồn viện trợ quân sự lớn hơn nữa từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để có đủ sức mạnh cần thiết ứng phó hiệu quả với cuộc chiến tranh đang leo thang mở rộng trong khuôn khổ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" do chính quyền hiếu chiến Mỹ gây ra.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:40:52 pm
Chương II
ĐẨY MẠNH TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ
CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
NHỮNG NĂM 1965 -1975


I- BỐI CẢNH TÌNH HÌNH MỚI VÀ YÊU CẦU TIẾP TỤC TRANH THỦ NGUỒN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ TỪ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Đến cuối năm 1964, sau hơn 10 năm thế chân thực dân Pháp xâm lược miền Nam Việt Nam, mặc dù đã tổn hao nhiều trí lực, tiền bạc và sử dụng các thủ đoạn chiến lược chiến tranh khác nhau, nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn đứng trước nguy cơ bị sụp đổ. Để cứu vãn tình thế, giới cầm quyền Mỹ quyết định chuyển từ chiến lược Chiến tranh đặc biệt sang chiến lược Chiến tranh cục bộ mà tính chất nổi bật của loại hình chiến tranh này là sử dụng lực lượng quân sự áp đảo mở các cuộc phản công lớn hòng thay đổi thế bố trí chiến lược, tiên tối tiêu diệt các lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã không thể tiêu diệt được Quân Giải phóng miền Nam, đảo ngược được thế bố trí chiến lược và tình thế dẫn tới buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh thêm một lần nữa từ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" sang "Việt Nam hóa chiến tranh" mà bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền hiếu chiến Mỹ vẫn không hề thay đổi.


Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành điểm nóng, nơi đối đầu giữa hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa; thu hút sự quan tâm chú ý của các quốc gia và nhân dân toàn thế giới. Nhiều quốc gia và các nhân sĩ tiến bộ khắp các châu lục lo ngại nhân dân Việt Nam không thể đương đầu được với cuộc chiến do Mỹ gây ra, bởi sự chênh lệch trên tất cả các mặt giữa hai bên là quá lớn. Chiến tranh có nguy cơ lan rộng, trở thành chiến tranh thế giới mới. Một số nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có cả hai nước trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc không tin quân và dân Việt Nam chiến thắng được Mỹ và đều muốn biết Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ bằng cách nào.


Cuối năm 1964, Liên Xô có sự thay đổi trong ban lãnh đạo, do đó, chính sách đối ngoại của Đảng, Chính phủ Liên Xô đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng có sự thay đổi. Vấn đề chiến tranh Việt Nam trở thành môi quan tâm và có tầm quan trọng đặc biệt đối với Liên Xô, vì đây là vấn đề chính trị trung tâm, thu hútsự chú ý của toàn thế giới. Với tư cách nước xã hội chủ nghĩa lớn mạnh nhất và là một cường quốc, để thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản, khôi phục lợi ích và củng cố vị thế trên trường quốc tế, Liên Xô không thể không quan tâm tới vấn đề Việt Nam do đây là vấn đề đột phá mà Liên Xô cần nắm nhằm trước hết cải thiện và tăng cường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, kiềm chế Mỹ, nhưng mặt khác cũng hướng vào ngăn chặn, làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc. Đồng thời, nó còn góp phần ổn định nội bộ của Liên Xô, đáp ứng những đòi hỏi gay gắt từ phía nhân dân Liên Xô.


Trên cơ sở những lợi ích chiến lược đó, chính sách đốỉ ngoại của Liên Xô là dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sự giúp đỡ thiết thực có hiệu quả hơn so với thời gian trước đây. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam làm cho Mỹ ngày càng sa lầy thì càng tạo thời cơ thuận lợi cho Liên Xô tăng cường thực lực và phát triển ảnh hưởng của mình, triển khai hoạt động ra các khu vực; đẩy mạnh quan hệ buôn bán, trao đổi khoa học kỹ thuật với các nước phương Tây; thực hiện phân hóa hàng ngũ các nước đế quốc; củng cố an ninh ở châu Âu. Từ đó, Liên Xô có thể tạo ra sức mạnh ngang bằng, có mặt vượt trội Mỹ, đưa lại những ảnh hưởng to lớn đối với thế giới. Chính Mỹ cũng nhìn nhận rõ điều này. Mỹ đánhgiá về chính sách đối ngoại của Liên Xô rằng: "Đã nhiều năm, Liên Xô chơi trò chiến tranh lạnh và thách thức Hoa Kỳ qua các nước trung gian. Họ giúp Việt Nam để nguồn lực Mỹ bị tiêu hao dần ở châu Á, và nhất là để đánh lạc sự chú ý của châu Âu nơi đang diễn ra những kế hoạch tác chiến chính"1 (Dân theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.205, 206). Và không chỉ Liên Xô có lợi theo Mỹ "Người Trung Quốc cũng có lợi khi người Mỹ bận việc khai thác trong khi họ hiện đại hóa công nghiệp và phát triển kho vũ khí hạt nhân"2 (Dân theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.205, 206).


Đồng thời với sự giúp đỡ về vật chất, các loại vũ khí khí tài, chuyên gia, Liên Xô nêu vấn đề thống nhất hành động giữa các nước xã hội chủ nghĩa chống lại cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ. Khẩu hiệu này của Liên Xô phù hợp với tinh thần quốc tế vô sản tăng cường được ảnh hưởng và uy tín của Liên Xô đốỉ với phong trào cách mạng thế giới. Từ đó, Liên Xô tìm cách từng bước nắm lấy vấn đề Việt Nam, gạt ảnh hưởng của Trung Quốc và sử dụng vấn đề Việt Nam trong việc thúc đẩy hòa hoãn với Mỹ, tranh thủ đạt được những nhân nhượng từ phía Mỹ, phục vụ cho những tính toán chiến lược của mình (vấn đề giữ nguyên trạng châu Âu, phê chuẩn Công ước lãnh sự với Mỹ, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, tăngcường buôn bán giao lưu,...). Vấn đề thống nhất hành động tuy có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhưng cũng có mặt tiêu cực đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải kịp thời đề ra những chủ trương và các giải pháp xử lý thỏa đáng.


Cùng với thực hiện chính sách hòa hoãn với Mỹ, các nhà lãnh đạo cấp cao Liên Xô vẫn đánh giá cao sức mạnh của Mỹ, chưa tin tưởng chiến tranh có thể hạn chế trong phạm vi miền Nam Việt Nam, nhất là chưa tin quân và dân Việt Nam có thể đánh thắng. Vì thế, một mặt Liên Xô tăng cường giúp đỡ Việt Nam, nhưng mặt khác vẫn tìm mọi cách hướng Việt Nam vào thương lượng đàm phán, đổi lấy việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc làm cơ sở để giải quyết vấn đề miền Nam. Sau những hoạt động ủng hộ triệu tập lại Hội nghị Giơnevơ về ba nước Đông Dương không thành công, Liên Xô tiếp tục thúc đẩy các hoạt động trung gian khác, nhất là khi những hoạt động ngoại giao của Việt Nam được đẩy mạnh để chấm dứt ném bom miền Bắc, phù hợp với kế hoạch Liên Xô gặp gỡ cấp cao với Mỹ ở Gòlátborơ (Glassboro, tháng 01/1967). Nhiều lần, Liên Xô gợi ý muốn làm cầu nối cho cuộc hội đàm giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Mỹ. Ngày 30/01/1967, Liên Xô gợi ý địa điểm hội đàm Việt Nam và Mỹ có thể tiến hành ở Mátxcơva. Đầu năm 1968, Liên Xô lại đề nghị nên gặp tại Vácxôvi (Ba Lan). Tháng 4/1968, Liên Xô tiếp tục đềnghị hai bên gặp nhau trên một tàu chiến của Liên Xô hoặc tại Đại sứ quán Liên Xô ở Pari (Pháp)...


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Tư, 2026, 09:42:30 pm
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân Việt Nam, Liên Xô tỏ ra hết sức lo ngại chiến tranh sẽ lan rộng, do đó rất hoan nghênh sách lược "đánh, đàm" của Việt Nam, ra sức tác động để cuộc đàm phán tiến triển thuận lợi với hy vọng có thể giải quyết được cả vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc và vấn đề miền Nam Việt Nam theo công thức "có đi có lại". Phía Việt Nam và phía Mỹ ngồi vào bàn đàm phán ở Pari (Pháp) tháng 5/1968 và khi cuộc đàm phán không có bước tiến triển mới thì Liên Xô đề nghị Việt Nam nên giảm chiến sự, dù chỉ trên hình thức nhằm tạo thuận lợi để giải quyết các vấn đề sau này. Vừa đề nghị Việt Nam, Liên Xô lại vừa sử dụng tiến độ chi viện kinh tế, viện trợ quân sự để thúc ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sớm đi vào giải quyết vấn đề chiến tranh bằng phương pháp hòa bình thương lượng.


Trong khi Liên Xô gấp rút thực hiện những tính toán vấn đề chiến tranh ở Việt Nam liên quan tới lợi ích quốc gia của mình thì Trung Quốc lại sử dụng vấn đề Việt Nam để chống lại ảnh hưởng của Liên Xô, thực hiện mưu đồ nước lớn. Vì thế, Trung Quốc sớm tính toán và sử dụng vấn đề Việt Nam để kiềm chế, giam chân, làm suy yếu Mỹ, ngăn chặn chiến tranh dừng lại ở bên kia biên giới phía nam Trung Quốc, đồng thời sử dụng nó như một vũkhí tuyên truyền lợi hại chống lại Liên Xô, phá thế hòa hoãn Xô - Mỹ, tạo thế hòa hoãn Mỹ - Trung.


Chuyển sang giai đoạn 1965 - 1975, Trung Quốc nỗ lực đẩy mạnh hoạt động ngoại giao hữu nghị mật thiết với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa liên tục đề nghị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ bỏ sự giúp đỡ của Liên Xô nhằm chi phối vấn đề chiến tranh ở Việt Nam.


Trong giai đoạn này, Trung Quốc thực thi chính sách:

Thứ nhất, Trung Quốc tiếp tục giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ khiến cho Mỹ ngày càng bị sa lầy trong chiến tranh để rảnh tay thực hiện cuộc cách mạng văn hóa và chống Liên Xô. Tuy nhiên, nhằm phục vụ cho những toan tính riêng, Trung Quốc đã gây nhiều khó khăn cho việc vận chuyển quá cảnh hàng viện trợ quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam, kìm hãm Việt Nam mở những đợt hoạt động quân sự lớn với lý lẽ: "Hiện nay, căn bản vẫn là đánh du kích. Chỉ khi nào có lợi thì đánh vận động để tiêu diệt nhiều hơn, không nên quyết chiến với địch trong một hoặc hai trận. Ta nói quyết chiến, quyết thắng là nói về mặt tinh thần, chứ không phải nói trong chiến dịch"1 (Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm giữa ta và Trung Quốc, phiên họp thứ 7 ngày 5 tháng 11 năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 74). Chính đối phương của Việt Nam cũng thừa nhận: "Việc chuyên chở vũ khí, đạn dược trở nên không chắc chắn từ tháng 8 năm 1964 khi vì khác biệt ý tưởng, người Trung Quốc cấm người Liên Xô quá cảnh qua Trung Quốc bằng đường bộ sang Việt Nam"1 (Dẫn theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.205). Trung Quốc cho rằng Việt Nam tổ chức tiến công dịp Tết Mậu Thân năm 1968 là để chuẩn bị đàm phán, nhưng sẽ rất nguy hiểm, dễ làm chiến tranh lan rộng. Trung Quốc phản đối Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán kéo Mỹ xuống thang, chấm dứt ném bom miền Bắc trong khi Trung Quốc chưa kịp chuẩn bị quan hệ với Mỹ, vì vậy, đã gây sức ép với Việt Nam, đe dọa cắt đứt quan hệ hai Đảng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:26:16 pm
Thứ hai, Trung Quốc đề nghị Việt Nam không nên "đàm phán non" với chính quyền Mỹ khi chưa giành được những lợi thế; tìm cách vô hiệu hóa chính sách đoàn kết ba nước Đông Dương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; sử dụng Lonnon để thúc ép Xihanúc cản trở cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam phát triển. Đối với Lào, Trung Quốc sử dụng lực lượng vũ trang giúp làm đường, cung cấp vũ khí cho lực lượng phỉ, sử dụng Bắc Lào như một bàn đạp, lôi kéo một số lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Trung Quốc công khai thể hiện quan điểm với phía Mỹ là không gây chiến tranh ngoài biên giới trừ phi Mỹ tiến công xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc, coi sự có mặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là một bảo đảm ngăn chặn Mỹ tiến công Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân. Bởi Trung Quốc biết những trù liệu tính toán của Mỹ là: "Chỉ có chiến tranh nguyên tử mới giải quyết được chiến thuật biển người của Trung Cộng"1 (Dẫn theo Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Nxb. Tiếng quê hương, Virginia, USA, 2006, tr.329). Qua nhà báo Mỹ Étga Snâu (Edgar Snow) tháng 01/1965, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông gửi một thông điệp tới chính quyền hiếu chiến Mỹ rằng, nếu Mỹ không động đến Trung Quốc thì người Trung Quốc cũng sẽ không động đến Mỹ: "Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu... Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ... Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy?"2 (Dẫn theo Edgar Snow: Cuộc cách mạng lâu dài, Nxb. Hutchinson, London, 1973, tr.216). Trung Quốc cũng thực hiện toan tính chống hành động thống nhất các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô khởi xướng nhằm tạo sự bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, không tập trung vào mũi nhọn chống Mỹ xâm lược Việt Nam.


Bất chấp mối bất hòa ngày càng sâu sắc và những tính toán từ hai nước Liên Xô và Trung Quốc, bất chấp mọi nỗ lực tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch, qua các kênh thông tin khác nhau, nhân dân tiến bộ thế giới ngày càng nhận thức rõ hơn bộ mặt chiến tranh bẩn thỉu do chính quyền hiếu chiến Mỹ đang gây ra với nhân dân Việt Nam, thấy rằng Mỹ mới chính là kẻ thù của hòa bình thế giới. Do đó, phong trào phản đổi chiến tranh, lên án Mỹ, ủng hộ Việt Nam kháng chiến của nhân dân tiến bộ thế giới không ngừng dâng lên mạnh mẽ ở khắp nơi.


Đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, đứng trước tình thế Mỹ trực tiếp đưa quân viễn chinh và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam tham chiến, leo thang mở rộng chống phá miền Bắc, không chỉ uy hiếp đến độc lập, chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến an ninh, an toàn của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, Việt Nam cân phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, khẳng định với bạn bè trên thế giới quyết tâm đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ bằng cách đánh và trí tuệ Việt Nam, sẽ đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải xuông thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán, từng bước rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Thay mặt toàn dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng địnhquyết tâm: "Trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước Á Phi, Mỹ Latinh và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1.15, tr.5, 131). Dựa vào sức mình là chính, dựa vào sự ủng hộ của thế giới, đặc biệt là từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân Việt Nam kiên quyết chống Mỹ xâm lược và nhất định sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn. "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phô, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1.15, tr.5, 131).


Bên cạnh phát huy cao độ tinh thần tự lực cánh sinh, sức mạnh nội lực của cả dân tộc vào cuộc trường kỳ kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục giương cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế, thiết tha kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày 24/01/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tối nguyên thủ của nhiều quốc gia trên thế giới, thông báo rõ tình hình chiến sự vô cùng nghiêm trọng đang diễn ra ở Việt Nam, khẳng định đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là đoàn kết quốc tế, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đánh Mỹ đến ngày thắng lợi hoàn toàn, kêu gọi sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Nhiệm vụ tranh thủ viện trợ quân sự từ phía các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam lúc này trở nên cấp bách và vô cùng quan trọng. Nếu không có nguồn vũ khí đạn dược, phương tiện chiến tranh của các nước xã hội chủ nghĩa chi viện, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam sẽ gặp vô vàn khó khăn khi đang trong giai đoạn cao trào và quyết liệt nhất khi mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa lên đỉnh điểm (xung đột vũ trang biên giới Xô - Trung tháng 3/1969). Đầu năm 1965, khi giao nhiệm vụ cho Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị - người sẽ thay mặt Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên "đi xin viện trợ" từ năm 1965 trở đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhân dân ta phải phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, tận dụng mọi khả năng, điều kiện để chiến đấu với giặc Mỹ xâm lược, nhưng nếu thiếu sự ủng hộ, viện trợ quốc tế sẽ không đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, t.II, tr.194). Chính vì vậy, bên cạnh việc phải nỗ lực cao độ, tỏ rõ thiện chí hòa bình, góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mặt khác Việt Nam cũng phải hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia để có phương thức và biện pháp vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ phù hợp, hiệu quả nhất từ bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Đây là một trong những nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là hết sức "tế nhị", khó khăn và phức tạp bởi quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi nước về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam mỗi khác, lại trong hoàn cảnh nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế, quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuyên suốt từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ liên tục 10 năm miền Bắc hòa bình, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất tiềm lực quốc phòng, nay trong bối cảnh Mỹ đã lộ rõ bản chất hiếu chiến xâm lược, khiến cho tình hình chiến tranh trỏ nên vô cùng căng thẳng, ngày càng khốc liệt, nhiệm vụ vận động tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ về mặt quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuy có nhiều thuận lợi, nhưng vì thế mà cũng gặp không ít những trở ngại, khó khăn, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có những chủ trương, giải pháp và bước đi khéo léo, sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Hiện nay có một khó khăn lớn là giữa các nước anh em có sự bất hòa, chú cần khéo léo trong công tác, cố gắng góp phần vào việc khôi phục lại đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chú được đi đến tất cả các nước anh em, đó là một dịp tốt để bày tỏ lòng chân thành đoàn kết, thủy chung của Đảng và nhân dân ta đối với Đảng và nhân dân các nước anh em"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.180).


Trên thực tế, thực lực quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi bước vào ứng phó với cuộc chiến tranh leo thang do Mỹ gây ra - một đối thủ mạnh hơn gấp bội, có thể thấy rất nhỏ bé. Nhu cầu mọi mặt đáp ứng cho kháng chiến cực kỳ lớn và ngày càng gia tăng theo sự phát triển của cuộc chiến tranh. Theo thống kê của Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 1965), thực lực trang bị của lực lượng vũ trang Việt Nam gồm có: 703.756 khẩu súng bộ binh, 5.515 khẩu súng chống tăng, 3.132 khẩu pháo mang vác, 1.609 khẩu pháo xe kéo, 28 bộ tên lửa, 205 máy bay các loại, 64 tàu hải quân, 3.203 khẩu súng, pháo cao xạ, 370 xe máy công binh, 8 bộ cầu...2 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, Tlđd, tờ 5). Trong khi đó, yêu cầu thực tiễn cuộcchiến đấu chống lại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và sau đó là "Việt Nam hóa chiến tranh" của quân và dân Việt Nam cần phải có nguồn cung cấp rất lớn mà khả năng tự lực, tự cường lại có hạn. Tình thế này đặt ra cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chủ động tích cực vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ quân sự nhằm nâng cao tiềm lực quân sự, quốc phòng đủ sức đánh Mỹ, thắng Mỹ đúng như phương châm mà Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định khi cả nước ta bước vào chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (năm 1965) - nỗ lực cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ: "Chúng ta cần tranh thủ đến cao độ sự đồng tình và ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd,t.26, tr.640). Theo một thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1955 đến năm 1975, Việt Nam tranh thủ được 693.199 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc nổ, hỏa cụ từ các nước xã hội chủ nghĩa, còn mua sắm ở miền Bắc chỉ đạt 25.823 tấn, bằng 3,7% số được viện trợ quân sự; tự sản xuất được 34.768 tấn, bằng 5% số được viện trợ; thu được của địch ở miền Nam 87.672 tấn, bằng 12% số được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:30:54 pm
II-CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI, SÁCH LƯỢC CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VỀ TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trước thử thách sống còn, cùng với những yêu cầu vô cùng cấp bách về các nguồn viện trợ quân sự nhằm tăng nhanh tiềm lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kịp thời có những phân tích đánh giá đúng đắn về sức mạnh của Mỹ, về bối cảnh thời đại, về tương quan so sánh lực lượng địch - ta trên chiến trường để đi tới khẳng định quyết tâm đánh Mỹ với niềm tin: Việt Nam hoàn toàn có thể đánh thắng Mỹ bằng cách đánh của Việt Nam với sự ủng hộ của quốc tế, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trước quân và dân ta: "Cả nước ta đang tiến hành cuộc kháng chiến oanh liệt chống Mỹ để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, đồng thời để hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nhưng vẻ vang góp phần vào cách mạng thế giới. Dù khó khăn gian khổ đến mấy, chúng ta cũng có thể vượt qua. Nhân dân ta rất anh dũng, Đảng ta có đường lối đúng đắn, cuộc kháng chiến của chúng ta được các nước anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ và hết lòng giúp đỡ, cho nên chúng ta nhất địnhgiành được thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.23, 4-5, 131). Đối với nhân dân thế giới, trong bức điện gửi tới Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh ngày 03/01/1966, Người cũng nêu rõ: "Cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam hiện nay là điển hình của những hành động tàn bạo dã man nhất của bọn đế quốc xâm lược. Song, nhân dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngày càng thu được những thắng lợi lớn. Trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ Latinh và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Dựa vào sức đoàn kết chiến đấu của mình, đồng thời dựa vào sức ủng hộ của nhân dân thế giới, nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và nhất định sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.23, 4-5, 131).


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quân và dân Việt Nam kiên quyết chống Mỹ, cứu nước đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"3 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.23, 4-5, 131).


Với quyết tâm chiến đấu và khát vọng hòa bình cháy bỏng đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam chủ trương động viên quân và dân cả nước giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công; nêu cao ý chí tự lực, tự cường; phát huy nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến chống Mỹ kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc và chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của chúng ở miền Nam. Tại Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, ngày 27/12/1965, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: "Cuộc cách mạng của ta là một bộ phận của cách mạng thế giới, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta có quan hệ trực tiếp tới phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, tới việc bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế giới. Cho nên chúng ta phải ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân thế giới, đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định thắng lợi của ta. Công tác ngoại giao của ta lúc này chủ yếu là nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân cả nước ta. Chúng ta cần ra sức phấn đấu để mở rộng và tăng cường mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd,t.26, tr.649).


Lý giải về căn nguyên tại sao Việt Nam cần phải tăng cường tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nhân dân ta cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần tự lực cánh sinh để có thêm lực lượng chống Mỹ. Nhưng, khả năng của ta có hạn, cần có sự tăng thêm viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em mới đủ sức chiến thắng"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.176). Đó không chỉ là đường lối, chủ trương, sách lược tranh thủ viện trợ nói chung, viện trợ quân sự nói riêng của Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi bước vào giai đoạn cao trào quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược mà còn là "con đường" đúng đắn và phù hợp với bối cảnh tình hình mới giúp cho quân và dân Việt Nam giành được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đối đầu với siêu cường Mỹ. Trong Thư chào mừng Đại hội lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô, ngày 22/3/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa và tác dụng to lớn của sự ủng hộ, giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam: "Sự ủng hộ nhiệt tình và sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và của các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, cũng như sự đồng tình và ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới là một nhân tố quan trọng, bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.68).


Về phương châm, phương pháp để thực hiện thành công đường lối, chủ trương, chính sách đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ: "Để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi nói trên, đi đôi với đấu tranh quân sự, chúng ta cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao, góp phần củng cố sự đoàn kết của phe xã hội chủ nghĩa, luôn luôn giữ thế chủ động, nắm vững và nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.641). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành nhiều tâm sức và có những căn dặn hêt sức cụ thể các cá nhân và cơ quan chức năng Việt Nam khi làm nhiệm vụ vận động, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ từ các nước anh em: "Cần xử trí linh hoạt, tế nhị, biết chờ đợi, kiên trì tranh thủ sự đồng tình của bạn. Vác rá đi xin cần khiêm tốn, nhưng phải có tinh thần tự trọng, giữ gìn danh dự, giá trị của mình"3 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.180). Để có thể tranh thủ tối đa được mọi sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa một cách có lý, có tình và thuyết phụcnhất, Người luôn luôn nhấn mạnh phương châm cốt lõi là: "Việc chính là trình bày đường lối chống Mỹ, cứu nước và chiến lược, sách lược đấu tranh của ta để bạn đồng tình ủng hộ ta, và biết xin cái gì, biết cách xin và sử dụng có hiệu quả"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.177).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:34:13 pm
Bên cạnh quán triệt và nghiêm túc thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng Việt Nam cũng sớm ý thức sâu sắc rằng để có thể tranh thủ tối đa được sự giúp đỡ ngày càng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh cuộc chiến tranh diễn ra ngày thêm khốc liệt, mâu thuẫn Xô - Trung từng bước đẩy tới đỉnh điểm, ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới và cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, đòi hỏi "Trung ương Đảng ta phải rất thận trọng, phải suy nghĩ cân nhắc nhiều mặt và phải làm hết sức mình để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả nhất của các nước trong phe ta đồng thời cố gắng tránh những ảnh hưởng xấu nhất đối với công cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608). Quan điểm xuyên suốt nhất quán là: "Đảng ta, trước sau như một,vẫn chủ trương đoàn kết phong trào cộng sản quốc tế đoàn kết phe ta, đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chúng ta rất tha thiết với sự đoàn kết ấy vì chúng ta nhận định rằng cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản toàn thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608).


Để tranh thủ hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ của các đảng và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể các cơ quan chức năng đối ngoại Việt Nam là: "Trong khi tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các đảng và các nước trong phe ta, cũng như của phong trào cộng sản quốc tế, chúng ta lại phải xét tới nhiệm vụ chiến lược và địa vị chính trị của từng đảng, từng nước, để đặt yêu cầu cho hợp lý và đúng mức, vì chúng ta cần nhận rõ rằng giữa các đảng và các nước trong phe ta, cũng như giữa các đảng trong phong trào cộng sản quốc tế có môi quan hệ lẫn nhau trên tinh thần quốc tế vô sản, nhưng đồng thời giữa đảng này và đảng khác, giữa nước này và nước khác lại có những mối quan hệ cụ thể khác nhau do vị trí địa lý, do quá trình lịch sử, do nhiệm vụ chiến lược giống nhau hoặc khác nhau trên thế giới, trong từng khu vực tạo nên. Nếu không hiểu rõ mối quan hệ cụ thể đó, mà lấy mình làm trung tâm để xét đoán mọi vấn đề thì chúng ta sẽ không khách quan, đồng thời chúng ta cũng sẽ không có cơ sở để hiểu đúng nhiều vấn đề quốc tế phức tạp khác trên thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.608-609).


Trước hết, yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho những thành công trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Đảng và Chính phủ là phải tranh thủ tối đa được sự chi viện của hai nước Liên Xô, Trung Quốc, bởi đây là hai đồng minh chiến lược lớn, đã và đang có những viện trợ quân sự thiết thực, hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam; là hai trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới; có vị thế và ảnh hưởng sâu sắc trong các hoạt động quốc tế. Mà "Muốn đoàn kết được với Liên Xô và Trung Quốc, thì Đảng ta phải độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của một đảng mácxít - lêninnít đối với vận mệnh của nhân dân nước mình, của toàn dân tộc mình và đối với phong trào cộng sản quốc tế, là vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnhcủa nước mình và thực tiễn của cách mạng thế giới để đề ra đường lối chủ trương của Đảng mình. Độc lập, tự chủ tức là không rập khuôn một cách máy móc theo đường lối chủ trương của đảng khác... nó không trái với tinh thần quốc tế vô sản chân chính và chính là vi tinh thần quốc tế vô sản mà chúng ta phải giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.611). Đó vừa là nguyên lý lại vừa là những nguyên tắc cơ bản của đường lốì, chủ trương chính sách đối ngoại Việt Nam suốt những năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã rất nỗ lực trong đề ra các đối sách khôn khéo và sáng tạo nhằm giải quyết thành công hàng loạt vấn đề phức tạp liên quan như: quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Liên Xô, giữa Liên Xô với Trung Quốc, giữa ba nước Việt - Trung - Xô, giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa khác. "Từ trước tới nay, cũng như từ nay về sau, Đảng ta vẫn coi Đảng Cộng sản Liên Xô là Đảng của Lênin, coi Liên Xô là Tổ quốc đầu tiên của vô sản toàn thế giới; Đảng ta coi Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng có một vị trí cực kỳ quan trọng trên thế giới và ở châu Á, coi quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc là quan hệ môi răng, sống chết có nhau. Vì vậy, đường lối của Đảng ta là bảo vệ Liên Xô, bảo vệ Trung Quốc, đoàn kết với Liên Xô, đoàn kết với Trung Quốc để đoàn kết và bảo vệ toàn phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Chúng ta quyết không bao giờ đi chệch khỏi đường lối ấy"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.611).


Một trong các vấn đề cơ bản cần phải giải quyết đó là dàn xếp thỏa đáng mâu thuẫn Xô - Trung đã và đang bị chính quyền Mỹ triệt để lợi dụng, khai thác hòng làm giảm đi sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ của hai quốc gia này đối với cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam; gây sức ép trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh tại Việt Nam có lợi cho phía Mỹ. Do vậy, cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc giữ gìn tình đoàn kết giữa Việt Nam với Liên Xô và Việt Nam với Trung Quốc nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ của cả hai nước cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, hạn chế tới mức tối thiểu những tiêu cực do những mâu thuẫn này gây ra và làm thất bại âm mưu thâm độc của Mỹ gây khó khăn, phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc. Đảng, Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cẩn trọngphân tích một cách thấu đáo để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về quan điểm và mục đích của mỗi nước trong quan hệ với Việt Nam; xác định rõ lơi ích và chính sách của mỗi nước trong chiến tranh ở Việt Nam để tìm ra mẫu số chung là thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với một đồng minh xã hội chủ nghĩa. Giúp Việt Nam đánh Mỹ tức là trực tiếp hoặc gián tiếp kiềm chế Mỹ và làm cho Mỹ suy yếu, bảo vệ các nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới, nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Kiên quyết dứt khoát thực hiện phương châm: "Chúng ta không tham gia tranh luận về các vấn đề đang chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế... Chúng ta kiên trì thuyết phục, đấu tranh có lý, có tình nhằm hạn chế mặt tiêu cực". Tuy nhiên: "Chúng ta chống cả hai xu hướng không phù hợp với sách lược đoàn kết quốc tế của Đảng: xu hướng đoàn kết vô nguyên tắc và xu hướng cô độc hẹp hòi. Chúng ta không vì muốn thỏa mãn Liên Xô mà đoàn kết với bè lũ Titô và những tổ chức tay sai của đế quốc. Không chạy theo thỏa mãn Trung Quốc mà gạt bỏ những lực lượng ít nhiều tích cực nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng mặt tiêu cực của Liên Xô"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 21).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:42:19 pm
Bên cạnh quán triệt và nghiêm túc thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lănh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng Việt Nam cũng sớm ý thức sâu sắc rằng để có thể tranh thủ tối đa được sự giúp đỡ ngày càng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh cuộc chiến tranh diễn ra ngày thêm khốc liệt, mâu thuẫn Xô - Trung từng bước đẩy tới đỉnh điểm, ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới và cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, đòi hỏi "Trung ương Đảng ta phải rất thận trọng, phải suy nghĩ cân nhắc nhiều mặt và phải làm hết sức mình để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả nhất của các nước trong phe ta đồng thời cố gắng tránh những ảnh hưởng xấu nhất đối với công cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608). Quan điểm xuyên suốt nhất quán là: "Đảng ta, trước sau như một,vẫn chủ trương đoàn kết phong trào cộng sản quốc tế đoàn kết phe ta, đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chúng ta rất tha thiết với sự đoàn kết ấy vì chúng ta nhận định rằng cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản toàn thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608).


Để tranh thủ hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ của các đảng và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể các cơ quan chức năng đối ngoại Việt Nam là: "Trong khi tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các đảng và các nước trong phe ta, cũng như của phong trào cộng sản quốc tế, chúng ta lại phải xét tới nhiệm vụ chiến lược và địa vị chính trị của từng đảng, từng nước, để đặt yêu cầu cho hợp lý và đúng mức, vì chúng ta cần nhận rõ rằng giữa các đảng và các nước trong phe ta, cũng như giữa các đảng trong phong trào cộng sản quốc tế có mối quan hệ lẫn nhau trên tinh thần quốc tế vô sản, nhưng đồng thời giữa đảng này và đảng khác, giữa nước này và nước khác lại có những mối quan hệ cụ thể khác nhau do vị trí địa lý, do quá trình lịch sử, do nhiệm vụ chiến lược giống nhau hoặc khác nhau trên thế giới, trong từng khu vực tạo nên. Nếu không hiểu rõ mối quan hệ cụ thể đó, mà lấy mình làm trung tâm để xét đoán mọi vấn đề thì chúng ta sẽ không khách quan, đồng thời chúng ta cũng sẽ không có cơ sở để hiểu đúng nhiều vấn đề quốc tế phức tạp khác trên thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.608-609).


Trước hết, yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho những thành công trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Đảng và Chính phủ là phải tranh thủ tối đa được sự chi viện của hai nước Liên Xô, Trung Quốc, bởi đây là hai đồng minh chiến lược lớn, đã và đang có những viện trợ quân sự thiết thực, hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam; là hai trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới; có vị thế và ảnh hưởng sâu sắc trong các hoạt động quốc tế. Mà "Muốn đoàn kết được với Liên Xô và Trung Quốc, thì Đảng ta phải độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của một đảng mácxít - lêninnít đối với vận mệnh của nhân dân nước mình, của toàn dân tộc mình và đối với phong trào cộng sản quốc tế, là vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnhcủa nước mình và thực tiễn của cách mạng thế giới để đề ra đường lối chủ trương của Đảng mình. Độc lập, tự chủ tức là không rập khuôn một cách máy móc theo đường lối chủ trương của đảng khác... nó không trái với tinh thần quốc tế vô sản chân chính và chính là vi tinh thần quốc tế vô sản mà chúng ta phải giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.611). Đó vừa là nguyên lý lại vừa là những nguyên tắc cơ bản của đường lốì, chủ trương chính sách đối ngoại Việt Nam suốt những năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã rất nỗ lực trong đề ra các đối sách khôn khéo và sáng tạo nhằm giải quyết thành công hàng loạt vấn đề phức tạp liên quan như: quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Liên Xô, giữa Liên Xô với Trung Quốc, giữa ba nước Việt - Trung - Xô, giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa khác. "Từ trước tới nay, cũng như từ nay về sau, Đảng ta vẫn coi Đảng Cộng sản Liên Xô là Đảng của Lênin, coi Liên Xô là Tổ quốc đầu tiên của vô sản toàn thế giới; Đảng ta coi Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng có một vị trí cực kỳ quan trọng trên thế giới và ở châu Á, coi quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc là quan hệ môi răng, sống chết có nhau. Vì vậy, đường lối của Đảng ta là bảo vệ Liên Xô, bảo vệ Trung Quốc, đoàn kết với Liên Xô, đoàn kết với Trung Quốc để đoàn kết và bảo vệ toàn phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Chúng ta quyết không bao giờ đi chệch khỏi đường lối ấy"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.611).


Một trong các vấn đề cơ bản cần phải giải quyết đó là dàn xếp thỏa đáng mâu thuẫn Xô - Trung đã và đang bị chính quyền Mỹ triệt để lợi dụng, khai thác hòng làm giảm đi sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ của hai quốc gia này đối với cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam; gây sức ép trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh tại Việt Nam có lợi cho phía Mỹ. Do vậy, cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc giữ gìn tình đoàn kết giữa Việt Nam với Liên Xô và Việt Nam với Trung Quốc nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ của cả hai nước cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, hạn chế tới mức tối thiểu những tiêu cực do những mâu thuẫn này gây ra và làm thất bại âm mưu thâm độc của Mỹ gây khó khăn, phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc. Đảng, Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cẩn trọngphân tích một cách thấu đáo để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về quan điểm và mục đích của mỗi nước trong quan hệ với Việt Nam; xác định rõ lơi ích và chính sách của mỗi nước trong chiến tranh ở Việt Nam để tìm ra mẫu số chung là thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với một đồng minh xã hội chủ nghĩa. Giúp Việt Nam đánh Mỹ tức là trực tiếp hoặc gián tiếp kiềm chế Mỹ và làm cho Mỹ suy yếu, bảo vệ các nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới, nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Kiên quyết dứt khoát thực hiện phương châm: "Chúng ta không tham gia tranh luận về các vấn đề đang chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế... Chúng ta kiên trì thuyết phục, đấu tranh có lý, có tình nhằm hạn chế mặt tiêu cực". Tuy nhiên: "Chúng ta chống cả hai xu hướng không phù hợp với sách lược đoàn kết quốc tế của Đảng: xu hướng đoàn kết vô nguyên tắc và xu hướng cô độc hẹp hòi. Chúng ta không vì muốn thỏa mãn Liên Xô mà đoàn kết với bè lũ Titô và những tổ chức tay sai của đế quốc. Không chạy theo thỏa mãn Trung Quốc mà gạt bỏ những lực lượng ít nhiều tích cực nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng mặt tiêu cực của Liên Xô"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 21).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:44:56 pm
Việt Nam cũng đồng thời công khai và chân thành thể hiện quan điểm, chính kiến của mình với phía Trung Quốc: "Chúng tôi nói Trung Quốc giúp đỡ nhiều và với tinh thần anh em, nhưng chúng tôi cũng thừa nhận là Liên Xô có giúp đỡ, trong đó có phần giúp đỡ thật. Đó là quan điểm của chúng tôi". Và, "Chúng tôi không nói công khai những ý kiến khác nhau giữa chúng tôi với các đồng chí. Chúng tôi cho rằng Liên Xô giúp đỡ chúng tôi có phần thực. Cho nên, chúng tôi không nói Liên Xô muốn bán rẻ Việt Nam và cũng không nói Liên Xô vu khống Trung Quốc trong vấn đề vận chuyển viện trợ..."1 (Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm Việt - Trung (sau khi Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu từ Mátxcơva trở lại Bắc Kinh ngày 13 tháng 4 năm 1966% tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 93, 99).


Trên tinh thần độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo, Đảng Lao động và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chân thành đoàn kết với cả Liên Xô và Trung Quốc, tôn trọng lợi ích từng nước, đồng thời rất chú ý tới những quan điểm khác biệt của mỗi nước để có giải pháp xử lý khéo léo, mềm dẻo và thỏa đáng. Trong xử lý các vấn đề có ý nghĩa chiến lược và sách lược liên quan tới cách mạng Việt Nam, công việc trao đổi, hội đàm đều do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn,Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm việc thường xuyên với lãnh đạo cao nhất hai nước. Hằng năm, Đảng và Chính phủ thường cử một Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng trực tiếp làm việc về các vấn đề viện trợ ngoại giao với các nước anh em. Trong 7 năm (1965 - 1972) đã có tới 51 cuộc gặp cấp cao Việt Nam - Liên Xô (từ cấp Ủy viên Bộ Chính trị trở lên). Với Trung Quốc số lần gặp cấp cao giữa hai nước Việt - Trung cũng tương đương như vậy.


Một trong những sách lược đối ngoại của Đảng Lao động Việt Nam là thực hiện chủ trương duy trì quan hệ cân bằng với cả hai nước, không nghiêng về bên này để chống bên kia hoặc ngược lại, kiên quyết không để cho các nước lợi dụng vấn đề Việt Nam chống nhau ngay trên đất Việt Nam. Mọi điện mừng hay cảm ơn, tuyên bố phát biểu, chúng ta đều tính toán và cân nhắc kỹ tránh gây hiểu lầm giữa hai bên. Việc tiếp nhận viện trợ như thế nào, Việt Nam đều chủ động đề nghị, tính toán mà không bị bất cứ sức ép nào. Việt Nam đã hoàn toàn chủ động nhận đội ngũ chuyên gia kỹ thuật quân sự, dân sự Liên Xô giúp miền Bắc, nhưng không đặt hệ thống cố vấn bên cạnh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.


Nhưng có lẽ khó khăn nhất đối với Đảng Lao động Việt Nam là xử lý những vấn đề liên quan tới Việt Nam mà Liên Xô và Trung Quốc có quan điểm trái ngược nhau như: vấn đề họp ba đảng Việt - Trung - Xô, vấn đề ra tuyên bố chung của các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ nhân dân Việt Nam đánh Mỹ, vấn đề lập cầu hàng không Liên Xô - Việt Nam, vấn đề xây dựng căn cứ không quân Liên Xô ở Hoa Nam (Trung Quốc) để chi viện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mặc dù Việt Nam đã cố gắng thuyết phục Trung Quốc giúp đỡ, nhưng khi Trung Quốc không đồng tình ủng hộ, kiên quyết phản đối thì Việt Nam cũng chủ động bàn với Liên Xô gác lại các vấn đề đó để tránh gây ra những căng thẳng trong quan hệ với phía Trung Quốc. Về vấn đề vận tải quá cảnh hàng viện trợ quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa qua lãnh thổ Trung Quốc, để tránh nghi ngại, Việt Nam cũng chủ động thuyết phục Trung Quốc chấp nhận cho Việt Nam được nhận ngay tại biên giới Trung Quốc với các nước đó và khi chuyên chở qua Trung Quốc đã là hàng hóa của Việt Nam.


Bên cạnh thực hiện chủ trương, đường lối, sách lược và những bước đi phù hợp trong giải quyết các mâu thuẫn bất đồng, tranh thủ cao độ sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng hết sức chú trọng tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ. Chủ trương này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục được thể hiện rõ tại Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III (tháng 01/1967) là: "Cần làm cho các nước xã hội chủ nghĩa và các đảng anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, hiểu rõ quyết tâm chiến lược, khả năng chiến thắng và việc vận dụng sách lược của ta, do đó càng đồng tình và ủng hộ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao của ta, tích cực giúp đỡ ta về vật chất và phối hợp tốt với ta về mặt đấu tranh ngoại giao"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,Sđd, t.28, tr.177).


Việt Nam không chỉ vận động tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa mà với các quốc gia bạn bè khác trên thế giới, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng khẳng định rằng: "Chúng ta cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân và Chính phủ các nước khác trên thế giới, giải thích cho họ hiểu rõ thiện chí của ta và thái độ ngoan cố của đế quốc Mỹ, do đó, vận động họ đấu tranh chống cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và ủng hộ lập trường ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,Sđd, t.28, tr.177).


Tiếp theo đó, ngày 27/01/1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp nhấn mạnh: Đi đôi với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị trong nước, quân và dân Việt Nam cần tiến công địch về mặt ngoại giao bằng cách đẩy mạnh đấu tranh chính trị quốc tế và ngoại giao dưới mọi hình thức khác nhau.Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định: "Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình toàn thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, để tăng cường lực lượng của ta về các mặt vật chất, chính trị và tinh thần"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t-28.tr. 150) đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Sau cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 08/6/1967, Thường trực Quân ủy Trung ương tổ chức họp phiên thứ 5 để bàn bạc đi tới thống nhất thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, trong đó có vấn đề tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1968 và phương hướng những năm 1969 - 1970. Căn cứ tình hình trong nước, khu vực, trên thế giới và những trang bị hiện có, dự tính khả năng tiêu hao, Quân ủy Trung ương nhấn mạnh, nhiệm vụ tranh thủ viện trợ quân sự cần đạt được những yêu cầu cấp thiết: bổ sung máy bay, tên lửa bị tiêu hao; súng bộ binh đủ 40 vạn khẩu; súng cho dân quân du kích từ 70 đến 80 vạn khẩu; pháo cối 60mm cho các đại đội; súng B41 cho các tiểu đoàn; ca nông 122mm, pháo 130mm, tên lửa đất đối đất; thiết giáp xe tăng T54B, T55 thêm PT79; cao xạ: 57mm, 23mm, BTR40A; tên lửa đưa lên 15 trung đoàn trang bịmới; không quân tăng thêm một trung đoàn MIG21, hoặc 23, 1 trung đoàn cường kích; hải quân là các loại tàu phóng lôi, xuồng tên lửa, tên lửa bờ biển, tàu ngầm. Yêu cầu trang bị cho miền Nam đủ 25 vạn bộ đội và 50 vạn du kích; các loại súng AK, B40, B41, cối, tên lửa, vô tuyến điện phân đội nhỏ1 (Xem Quân ủy Trung ương: Biên bản họp cuộc họp Thường trực Quân ủy Trung ương lần thứ 5, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 180).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:46:31 pm
Ngày 27/6/1970, Thường trực Quân ủy Trung ương họp hội nghị ra Nghị quyết về Phương hướng, nội dung, yêu cầu các nước anh em viện trợ quân sự năm 1971. Sau khi cân nhắc, tính toán kỹ từ nhiều chiều cạnh khác nhau của vấn đề, Quân ủy Trung ương yêu cầu các cơ quan chức năng của Việt Nam khi vận động, tranh thủ viện trợ quân sự năm 1971 phải nhằm giúp cho Việt Nam đạt được mục tiêu vừa có thêm điều kiện vật chất kỹ thuật để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trước mắt ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, lại vừa có thể tạo thêm cơ sở cho việc xây dựng lâu dài; vừa có phương tiện để đánh giặc hiện nay, lại có một số dự trữ cần thiết để duy trì chiến đấu trên các chiến trường và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc. Cụ thể là: bổ sung và tăng cường trang bị khí tài và vật chất cho các lực lượng vũ trang Việt Nam ở chiến trường miền Nam,Lào và Campuchia; đặc biệt, tăng cường vũ khí đánh xe cơ giới, máy bay, công sự vững chắc, căn cứ...; tiếp đến là bổ sung và tăng cường các loại phương tiện, vũ khí, khí tài cho tuyến vận tải chiến lược; bổ sung và tăng cường trang bị khí tài để nâng cao hiệu suất chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội miền Bắc, nhất là để đánh địch có hiệu quả hơn nữa trong trường hợp chúng gây lại chiến tranh phá hoại miền Bắc; chú trọng tăng cường năng lực dự trữ và cải tiến chất lượng trang bị cho bộ đội miền Bắc1 (Xem Quân ủy Trung ương: Nghị quyết về phương hướng, nội dung, yêu cầu các nước anh em viện trợ quân sự năm 1971, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-3).


Đầu năm 1971, nhằm gấp rút chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự đi thăm và làm việc với các nước xã hội chủ nghĩa; một mặt, vừa khẳng định quyết tâm đánh Mỹ đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn của quân và dân Việt Nam, mặt khác vận động các nước có sự giúp đỡ đặc biệt cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đoàn đại biểu Việt Nam đã nhận được sự đón tiếp trọng thị và được các nước khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự.


Ngày 10/7/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp hội nghị và ra Nghị quyết về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam năm 1973. Trên cơ sở tính toán, Quân ủy Trung ương chỉ đạo trong quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự của các nước anh em năm 1973 cần phải đạt được: bảo đảm các nhu cầu chiến đấu, công tác và xây dựng trước mắt của các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam, miền Bắc, Campuchia, Lào và trên tuyến hậu cần chiến lược, đồng thời bảo đảm có một lượng dự trữ cần thiết; giải quyết một bước tình trạng không cân đối về trang bị giữa các quân chủng, binh chủng, không cân đôì giữa tổ chức biên chế với trang bị, giữa các loại trang bị và giữa trình độ trang bị với khả năng bảo đảm kỹ thuật, đồng thời cố gắng hiện đại hóa một bước các quân chủng, binh chủng kỹ thuật; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc xây dựng về lâu dài, nâng cao khả năng tự cung cấp nhu cầu vật tư kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cụ thể là: bảo đảm bổ sung tiêu hao từ 1 đến 2 năm; tăng cường sức đột kích bằng hỏa lực và cơ giới cho các lực lượng bộ binh; tăng số lượng, chất lượng trang bị, khí tài các quân chủng, binh chủng kỹ thuật và thay thế dần trang bị, khí tài giảm chất lượng hoặc không có nguồn bổ sung, hoặc lạc hậu; tăng cường trang bị cho dân quân tự vệ cả ở miền Nam và miền Bắc; tăng thêm phương tiện kỹ thuật cho các tuyến vận tải: ngoài việctăng thêm máy móc công trình để làm và sửa đường, còn phải tăng thêm phương tiện vận tải đường bộ, đường thủy, thiết bị bốc dỡ, khí tài rà phá thủy lôi, bom mìn từ trường; tăng cường mạng đường ông dẫn dầu...1 (Xem Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1973, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-2).


Tháng 5/1973, Quân ủy Trung ương họp phân tích đánh giá tình hình sau ngày Hiệp nghị Pari được ký kết và có hiệu lực, biết rõ việc tranh thủ viện trợ quân sự sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi các nước xã hội chủ nghĩa anh em cho rằng chiến tranh đã kết thúc từ khi quân viễn chinh và chư hầu Mỹ rút quân khỏi miền Nam, nhưng đứng trước yêu cầu rất lớn về vũ khí, đạn dược, phương tiện khí tài, trên cơ sở căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, căn cứ vào khả năng vũ khí, trang bị hiện có Quân ủy Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng cần phải đẩy mạnh vận động, tranh thủ viện trợ quân sự để cải thiện trang bị, tăng lượng dự trữ chiến lược cho quốc gia. Theo tính toán của Quân ủy Trung ương Việt Nam: "Trong năm 1974, ta vẫn có cơ hội và có lý do để tranh thủ các nước giúp ta với mức xấp xỉ với năm bình thường trong chiến tranh". Đồng thời, đề ra phươnghướng tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1974 cần phải đạt tới mục tiêu: "Bảo đảm duy trì lực lượng hiện nay, giữ vững sức chiến đấu cho bộ đội ở cả hai miền Nam - Bắc và trên tuyến vận tải chiến lược, bảo đảm cho bộ đội làm nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời tranh thủ tăng cường và cải tiến thêm một bước chất lượng trang bị và tăng thêm một mức lượng dự trữ"1 (Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1974, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 180).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:49:12 pm
III- ĐẨY MẠNH TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trên cơ sở đường lối, chủ trương, sách lược đối ngoại đã được quán triệt, từ các đồng chí lãnh đạo cao nhất cho đến các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nỗ lực cao độ trong vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 01/6/1965, ý thức trước những diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình khi chiến tranh leo thang và ngày càng trở nên khốc liệt, nhu cầu các mặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn; đặc biệt, yêu cầu về nguồn viện trợ quân sự đặt ra vô cùng cấp bách cần phải được các nước anh em tăng cường giúp đỡ hơn nữa, đồng thời để tập trung thống nhất công tác vận động, tranh thủ các nguồn viện trợ giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Ban Thống nhất quản lý viện trợ (Quyết định số 87/CP) do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị trực tiếp làm Trưởng ban. Đoàn đại biểu quân sự của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ghép chung với đoàn đại biểu của Chính phủ, không thành lập đoàn riêng. Tới đây, từ năm 1965 cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, hằng năm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thành lập đoàn đại biểu Chính phủ do Thủ tướng hoặc một Phó Thủ tướng dẫn đầu sang Liên Xô, Trung Quốc và đi các nước xã hội chủ nghĩa khác vận động, tranh thủ viện trợ cả về kinh tế và quân sự.


Sau khi thành lập, Ban Thống nhất quản lý viện trợ kịp thời tổng hợp mọi nhu cầu, tham mưu đề xuất thành phần đoàn đàm phán. Được sự nhất trí của Hội đồng Chính phủ, đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt, từ nghiên cứu phong tục, tập quán đến tổng hợp nhu cầu đặt viện trợ các loại hàng hóa với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Hoạt động của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại các nước gặp khá nhiều thuận lợi bởi những ảnh hưởng lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Dồn dập ngay từ những tháng đầu năm 1965, trên cơ sở sự đồng tình và ủng hộ tích cực của lãnh đạo và chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam tranh thủ ký kết thành công hàng loạt các hiệp định với Liên Xô và Trung Quốc về viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hiệp định với Liên Xô ngày 17/4/1965, với Trung Quốc ngày 06/6/1965)...


Trên đà tăng cường tranh thủ những thuận lợi lớn do tình hình quốc tế đem lại, đầu tháng 7/1965, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu tiếp tục lên đường đi đàm phán với các nước Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên, Mông Cổ, Hunggari, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Rumani, Anbani... đặt vấn đề tăng cường viện trợ giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ, cứu nước. Đến quốc gia nào, đoàn Việt Nam cũng tranh thủ thời gian, tìm mọi cơ hội và điều kiện để bày tỏ chủ trương, đường lốì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trình bày rõ những khó khăn của Việt Nam, thông báo các thắng lợi quân sự trên các chiến trường; kêu gọi sự giúp đỡ của nhân dân và chính phủ các nước. Kết quả, Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, cảm thông và chia sẻ sâu sắc của lãnh đạo và nhân dân các nước anh em; liên tiếp ký kết được hiệp định về viện trợ quân sự với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa anh em.


Từ ngày 12/12/1965 đến ngày 12/02/1966, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu tiếp tục lên đường đi đàm phán với các nước Hunggari, Ba Lan, Tiệp Khăc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Rumani về viện trợ quân sự cho Việt Nam trong năm 1966. Theo đánh giá của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam: "Qua tiếp xúc, thấy các nước bạn đều thực tâm, nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thấy được nhiệm vụ quốc tế của mình, do đó, trừ Tiệp Khắc viện trợ ít hơn năm 1965, còn các nước khác đều cố gắng nhất là Hunggari và Ba Lan thì nhiệt tình và cố gắng hơn". Và, "Toàn bộ viện trợ quân sự năm 1966 của các nước nói trên đạt trị giá khoảng từ 42 đến 43,5 triệu rúp: Hunggari từ 19 đến 20 triệu rúp; Rumani giúp 3,5 triệu rúp; Bungari giúp 2 triệu rúp; Tiệp Khắc giúp 3 triệu rúp; Ba Lan giúp 10 triệu rúp; Đông Đức giúp 5 triệu rúp"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo kết quả công tác của đoàn đi đàm phán về viện trợ quân sự năm 1966 với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-7).


Bước sang năm 1967, tình hình chiến sự cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam tiếp tục diễn biến vô cùng khốc liệt bởi Mỹ leo thang chiến tranh. Trên chiến trường miền Bắc, cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của quân và dân ta đối với lực lượng không quân và hải quân Mỹ đang trong giai đoạn cao trào; ở miền Nam, cuộc phản công mùa khô của Quân giải phóng miền Nam cũng thu được những thắng lợi lớn. Nhu cầu về viện trợ quân sự cho cuộc chiến đấu tiếp tục đặt ra vô cùng cấp thiết. Từ ngày 04 đến ngày 07/01/1967, dưới sự chủ trì của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cùng với việc họp bàn về Kế hoạch chiến lược bảo vệ miền Bắc, Thường trực Quân ủy Trung ương đã tiếp tục đề ra phương hướng chỉ đạo chung đối với cuộc kháng chiến là: "Toàn dân, toàn diện, đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ viện trợ của các nước anh em"1 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.269). Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cũng báo cáo Hội đồng Chính phủ xin chủ trương, đề nghị Chính phủ Cộng hòa Liên bang Xôviết chi viện gấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số vũ khí, khí tài viện trợ quân sự trong năm 1967. Đặc biệt, hết sức cấp thiết là các loại máy bay chiến đấu MiG21, F13, MiG17F, số tên lửa SAM-2 bổ sung tiêu hao chiến đấu, đạn pháo cao xạ, tên lửa bảo vệ bờ biển, các khí tài chống nhiễu, các trạm rađa SNAR6, các khí tài bổ sung những thiệt hại trong chiến đấu và trang bị các trung đoàn tên lửa phòng không. Cụ thể: Việt Nam cần 1 trung đoàn MiG17F gồm 32 máy bay chiến đấu, 10 cơ số đạn, 5 cơ số bom; 1 trung đoàn MiG21 và F13 gồm 24 máy bay chiến đấu, 2 máy bay huấn luyện, 10 cơ số đạn, 480 quả đạn tên lửa, 5 cơ số bom; 12 MiG17F tiêu hao; 1.500 quả đạn tên lửa B750B; 75 quả tên lửa CA65M; 288 quả đạn tên lửa CA75A; hai bộ điều khiển tên lửa PCHA-75M; 7 bệ phóng tên lửa, 1trạm trùng tu khí tài tên lửa phòng không SA75M, 150.000 viên đạn 57mm, 2,5 triệu viên đạn 12,7mm, 1,5 triệu viên đạn 14,5mm, 3 triệu viên đạn 37mm, 2 rađa pháo mặt đất1 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm; Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.269, 278-279).


Đáp lại những đề nghị khẩn thiết của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 04/5/1967, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Xôviết gửi thư thông báo cho phía Việt Nam biết với nội dung sẽ bổ sung những khoản viện trợ quân sự trong thời gian trước mắt nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của các lực lượng phòng không và tăng cường bảo vệ bờ biển Việt Nam. Ngoài ra, phía Liên Xô cũng quyết định giúp đỡ thêm lương thực, thực phẩm và cho biết những biện pháp ủng hộ mạnh mẽ về chính trị, tinh thần đã và đang được tiến hành2 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm; Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.269, 278-279).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:51:21 pm
Để tập trung cao độ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân Việt Nam,ngày 08/7/1967, Thường trực Quân ủy Trung ương tổ chức họp, xác định trọng tâm là cần gấp rút yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phương hướng chung đối với yêu cầu viện trợ quân sự trong năm 1968 do Quân ủy Trung ương đề ra là: đối với miền Bắc của ta, cần đề nghị các nước bạn tăng cường giúp các loại vũ khí phòng không, khí tài phòng thủ bờ biển và chống phong tỏa cảng Hải Phòng; nhưng đối với chiến trường miền Nam, Việt Nam cần các nước xã hội chủ nghĩa chi viện các loại vũ khí và trang bị với khả năng cao nhất, chú trọng hơn đến vũ khí phòng không tầm thấp, ĐKZB, vũ khí chống tăng, bọc thép, đặc công, thông tin, phòng hóa...


Theo đó, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu cùng một số đoàn cấp cao khác đã chủ động lên đường đàm phán với các nước xã hội chủ nghĩa. Với vị thế, uy tín và những thắng lợi quân sự liên tiếp trên khắp các chiến trường hai miền Bắc - Nam, đặc biệt là thắng lợi về quân sự trong năm 1968 ở miền Nam và trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của quân và dân miền Bắc đã thuyết phục các nước anh em viện trợ quân sự cho nhân dân Việt Nam vượt mức đề ra. Thay mặt nhân dân Liên Xô, Tổng Bí thư Brêgiơnhép phát biểu trong buổi tiếp đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu: "Các đồng chí Việt Nam có thể tin cậy là chúng tôi thành tâm giúp đỡ, không ngừng giúp đỡ nhân dân Việt Nam, không ngừng đấu tranh chống đế quốc Mỹ về mặt chính trị và ngoại giao". Phát biểu cảm nhận về sự giúp đỡ của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Báo cáo kết quả đàm phán kinh tế của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu đánh giá: "Các đồng chí đã chí tình giúp đỡ ta, quan tâm giải quyết đầy đủ các yêu cầu ta đề ra... Các đồng chí đã có một sự cố gắng lớn, khắc phục những khó khăn để bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của ta... Đặc biệt lần này, chính đồng chí Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp bàn bạc và giải quyết các vấn đề cụ thể với đoàn ta"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, Tlđd, tờ 18).


Hoạt động tổng hợp nhu cầu viện trợ quân sự của các cơ quan chức năng trong nước cũng diễn ra thường xuyên, liên tục. Ngày 27/6/1970, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp hội nghị, ra Nghị quyết về phương hướng, nội dung, yêu cầu các nước anh em viện trợ quân sự năm 1971. Đầu năm 1971, để chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu Đoàn đại biểu quân sự đi các nước xã hội chủ nghĩa, một mặt khẳng định quyết tâm đánh Mỹ xâm lược đến thắng lợi hoàn toàn của quân và dân Việt Nam, mặt khác vận động các nước có sự giúp đỡ đặc biệt đối với Việt Nam Đoàn đã nhận được đón tiếp trọng thị và được các nước cam kết tăng cường viện trợ quân sự.


Tiếp theo đó, ngày 10/7/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị bàn về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự cho Việt Nam năm 1973. Trên cơ sở tính toán khoa học, Quân ủy Trung ương chỉ đạo trong quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1973 cần đạt được: Bảo đảm các nhu cầu chiến đấu công tác và xây dựng trước mắt của các lực lượng vũ trang ở miền Nam, miền Bắc, Campuchia, Lào và trên tuyến hậu cần chiến lược, đồng thời có một lượng dự trữ cần thiết...1 (Xem Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1973, Tlđd, tờ 1-2).


Không chỉ mật độ dày đặc các hoạt động tranh thủ viện trợ của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ,Quốc hội, Cơ quan chức năng dân sự mà đối với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cũng tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau. Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành lập và cử 82 đoàn cán bộ các cấp đi nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các nước anh em; đồng thời, trọng thị đón 175 đoàn quân sự nước ngoài1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Cục Đối ngoại: 45 năm Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng (1964 - 2009), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 138), chủ yếu là đoàn các nước xã hội chủ nghĩa đến Việt Nam thăm và làm việc, nghiên cứu tình hình chiến sự và kinh nghiệm đánh Mỹ của quân và dân Việt Nam. Qua các hoạt động đối ngoại quân sự tích cực của Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần giúp cho bạn bè hiểu thêm về cuộc kháng chiến chính nghĩa đầy gian khổ và hy sinh lớn lao của nhân dân Việt Nam mà tích cực viện trợ vật chất, ủng hộ về chính trị, tinh thần đối với cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam đang tiến hành.


Đi vào những hoạt động vận động, tranh thủ cụ thể đối với từng nước, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nêu cao tính chủ động, làm chủ tình thế, tích cực hoạt động và thu được những kết quả tốt. Đối với Triều Tiên, Chính phủ và nhân dân Triều Tiên ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1954 - 1964 không nhiều, bởi phía Triều Tiên chưa hiểu rõ về tình hình đất nước và đường lối cách mạng của Việt Nam. Triều Tiên cho rằng đường lối hòa bình trung lập do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra ở miền Nam làm hạn chế đến thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp; công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam rất chậm, lại thiếu tính độc lập, dựa dẫm vào nước ngoài quá nhiều. Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động mời các đoàn Triều Tiên tới thăm và làm việc với Việt Nam, tích cực giới thiệu và tuyên truyền sâu, rộng hơn về đường lối cách mạng của Việt Nam với bạn, giúp cho bạn thấy rõ đường lối chống Mỹ xâm lược của Đảng Lao động Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với đường lối, chủ trương cách mạng của Triều Tiên. Vì vậy, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày càng to lớn cả về vật chất lẫn chính trị, tinh thần (33,5 triệu rúp tính riêng trong những năm 1965 - 1968, chưa kể viện trợ quân sự, đây là thời kỳ Chính phủ và nhân dân Triều Tiên giúp Việt Nam cao nhất trong 21 năm quân và dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước. Triều Tiên cử lực lượng bộ đội phòng không, bộ đội công binh sang giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến đấu, cũng một phần mong muốn học tập kinh nghiệm chiến đấu của quân và dân Việt Nam, rèn luyện bộ đội).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:54:11 pm
Trong quá trình vận động, tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Bungari cho Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng gặp không ít khó khăn. Từ năm 1964 trở về trước, Bungari ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam ở mức độ hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của bạn (cả vật chất lẫn chính trị, tinh thần so với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác). Khi xảy ra sự kiện vịnh Băc Bộ ngày 05/8/1964 ở Việt Nam, Chính phủ Bungari chỉ ra tuyên bố trên Thông tấn xã, không tổ chức hoạt động mít tinh phản đối, các cơ quan chức năng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vận động biểu tình ủng hộ, nhưng phía Bungari từ chối khéo, ít nhắc tới Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiên trì vận động, tranh thủ Bungari bằng nhiều hình thức khác nhau, từ mời các đoàn bạn sang thăm Việt Nam, chủ động tuyên truyền giới thiệu những thắng lợi về quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, thế chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành là giành độc lập dân tộc, bảo vệ an ninh, an toàn, hòa bình thế giới, bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa anh em. Do đó, quan điểm và hành động cụ thể ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Bungari chuyển biến khác hẳn những giai đoạn trước đó. Mặt khác, Chính phủ Bungari ngày càng nhận thức rõ hơn về nguy cơ của chủ nghĩa đế quốc qua thảo luận tại diễn đàn Hội nghị Vácxôvi (tháng 3/1965) và thấy rõ vai trò, vị trí cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đối với hòa bình thế giới và an ninh của phe xã hội chủ nghĩa cũng như nghĩa vụ quốc tế của mình, để từ đó Bungari ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mạnh mẽ hơn, chủ động lên án chính quyền Mỹ, tăng cường giúp vật chất nhiều hơn trước trong vòng 10 năm (1954 - 1964), Chính phủ Bungari giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 17 triệu rúp cũ và 10.000 lêva, nhưng chỉ trong khoảng thời gian 4 năm sau, từ 1965 đến 1968 tăng lên 21,5 triệu rúp mới)1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5)...


Chưa tin tưởng rằng quân và dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khả năng đánh thắng được Mỹ cũng tác động nhiều đến quan điểm và hành động ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Ba Lan đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, gây nhiều khó khăn cho các hoạt động ngoại giao của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tình thế đó, Việt Nam kiên trì giải thích cho Chính phủ và nhân dân Ba Lan hiểu rõ khả năng thắng Mỹ bằng sức mạnh Việt Nam trên phạm vi miền Nam Việt Nam, kiên quyết không để chiến tranh lan rộng; kịp thời cung cấp thông tin về những chiến thắng quân sự cho phía bạn, tạo sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam và Ba Lan. Chính bởi vậy, Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ khá lớn về vật chất và chính trị, tinh thần từ phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Ba Lan. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ tiếp nhận viện trợ quân sự Việt Nam, Ba Lan chỉ đứng sau hai quốc gia Liên Xô và Trung Quốc có những viện trợ quân sự mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.


Trong quá trình Việt Nam vận động, tranh thủ Rumani cũng gặp không ít những khó khăn. Chính phủ Rumani tích cực giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cả về kinh tế lẫn viện trợ quân sự, nhưng quan điểm chính trị và hoạt động cụ thể của phía Rumani về vấn đề Việt Nam mang nhiều nhân tố chưa thuận chiều. Rumani xem việc kéo dài chiến tranh ở Việt Nam gây ra những trở ngại lớn cho nỗ lực cải thiện quan hệ ngoại giao với chính quyền Mỹ của Chính phủ Rumani, do đó nhiều lần Rumani đã thúc ép Việt Nam đi vào thương lượng với Mỹ và sẵn sàng đứng ra làm trung gian trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc Rumani chủ động và tích cực viện trợ vật chất cho Việt Nam không hẳn là do sự nhận thức về nghĩa vụ quốc tế của một nước xã hội chủ nghĩa đối với một nước xã hội chủ nghĩa khác mà còn do nhiều yếu tố khác chi phối tác động. Rumani muốn thông qua sự viện trợ này làm gia tăng sức thuyết phục đối với đường lối đối ngoại của Rumani trước dư luận quốc tế, đồng thời cũng để đáp ứng đòi hỏi bức thiết của quần chúng trong nước. Hiểu rõ điều đó, Việt Nam luôn biểu thị tinh thần đoàn kết hữu nghị với Rumani, kiên trì chủ động tranh thủ vận động sự ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Rumani đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam, nhất là về chính trị, tinh thần. Việt Nam luôn đánh giá cao sự giúp đỡ về cả quân sự lẫn kinh tế của Chính phủ và nhân dân Rumani cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân Việt Nam nên đã nhận được sự giúp đỡ lớn từ phía bạn.


Đối với Mông Cổ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn ra sức tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hữu nghị hợp tác với Chính phủ và nhân dân Mông Cổ trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênịn và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ từ phía Mông Cổ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Do vậy, mặc dù quan điểm của Mông Cổ có những điểm còn khác với Việt Nam, nhưng quan hệ hai nước vẫn được giữ gìn và phát triển tốt đẹp. Mông Cổ tỏ rõ sự đồng tình nhất trí và có nhiều giúp đỡ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Từ năm 1954 đến tháng 7/1965, Mông Cổ ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam với mức độ không lớn, lên án Mỹ chung chung, chưa có trọng tâm, trọng điểm. Bám sát và kịp thời nắm bắt tình hình đó, Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cử nhiều đoàn tới thăm và làm việc với phía Mông Cổ, kiên trì giải thích cho bạn hiểu rõ hơn về đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành; kịp thời thông báo những thắng lợi quân sự trên khắp chiến trường hai miền Nam - Bắc. Từ đó, (tháng 8/1965) cho đến kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, bị thuyết phục bởi những thắng lợi trên tất cả các mặt của quân và dân Việt Nam, đặc biệt là trên mặt trận quân sự, Đảng, Chính phủ và nhân dân Mông Cổ ủng hộ nhân dân Việt Nam chiến đấu mạnh mẽ hơn. Các phương tiện thông tin đại chúng của Mông Cổ tuyên truyền nhiều về đường lối kháng chiến của Việt Nam, quần chúng mít tinh ủng hộ cuộc đấu tranh của Việt Nam ngày càng sôi nổi và rộng rãi.


Anbani là nước nhất quán quan điểm chống ngoại xâm phải đánh đến cùng, chỉ có đấu tranh vũ trang, không có thương lượng và thỏa hiệp. Với quan điểm cứng rắn đó, Chính phủ Anbani ủng hộ Việt Nam có mức độ, tuỳ từng thời điểm, trên từng vấn đề riêng phùhợp với mong muốn của phía bạn. Khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa chính thức tuyên bố đàm phán năm 1968, Anbani tỏ ra chưa thực sự tin vào đường lối kháng chiến của Việt Nam sẽ giành được thắng lợi, nhưng vẫn tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ (từ năm 1965 đến năm 1968, viện trợ kinh tế của Chính phủ Anbani cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trung bình 1,5 triệu rúp/năm). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam năm 1968 của Việt Nam được Đảng, Chính phủ và nhân dân Anbani nhiệt liệt ca ngợi. Các địa phương trong cả nước tổ chức mít tinh, chào mừng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Năm, 2026, 09:56:15 pm
Nhưng, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố mở cục diện đàm phán với chính quyền Mỹ, Anbani không ủng hộ các tuyên bố của Việt Nam liên quan tới hòa bình thương lượng, chỉ đăng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhấn mạnh quan điểm đánh đến cùng của phía Anbani. Do bất đồng về cách nhìn và cách giải quyết vấn đề, Anbani giảm đột ngột sự giúp đỡ về vật chất đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Yêu cầu viện trợ kinh tế và quân sự của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1969 chuyển cho phía Anbani từ tháng 4/1968 nhưng phía bạn chậm trả lời.


Trước tình hình đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì giải thích chủ trương "vừa đánh, vừa đàm" của phía Việt Nam là một sách lược hay và hiệu quả, sáng tạo phù hợp với tình thế để bạn hiểu rõ hơn mà tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ. Cho dù quan hệ giữa Anbani với Liên Xô có những bất đồng, nhưng Đảng Lao động Việt Nam nhất quán quan điểm: "Anbani vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Lao động Anbani lãnh đạo... cho nên chúng ta vẫn nên giữ quan hệ bình thường với Đảng Lao động Anbani và nước Cộng hòa nhân dân Anbani"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22, tr.598). Với chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và một "Điện Biên Phủ trên không" 12 ngày đêm cuối năm 1972 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội, tiếp sau năm 1973, quân và dân Việt Nam kiên quyết đánh mạnh và thắng to về quân sự trên chiến trường miền Nam, đặc biệt là đối với chiến thắng ngày 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam, phía Anbani tổ chức một cuộc mít tinh rất lớn với gần 30 vạn người tham dự chiều ngày 30/4/1975. Liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/1975, các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học trên khắp 26 tỉnh, thành phố của Anbani tổ chức mít tinh mừng nhân dân Việt Nam chiến thắng; gửi 156 bức thư điện chúc mừng tới Sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, Đảng và Chính phủ Anbani quyết định viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1.833.000 rúp (tăng gấp hai lần so với viện trợ năm 1974). Từ năm 1969 đếnnăm 1974, trung bình 1 triệu rúp/năm; năm 1975, ngoài viện trợ thường xuyên 900.000 rúp, Anbani còn viện trợ khẩn 1.833.000 rúp. Trong 10 năm 1965 - 1975, Anbani viện trợ kinh tế không hoàn lại 14.180.000 rúp1 (Xem Ban Đối ngoại Trung ương: Tóm tắt quan hệ Anbani - Việt Nam từ 1950 - 1976, 1976, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 23), một con số không hề nhỏ đối với một quốc gia có dân số trên 1,6 triệu người thời điểm lúc bấy giờ (năm 1975).


Đối với Liên Xô, Liên Xô muốn kéo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để làm suy giảm ảnh hưởng của Trung Quốc; muốn Việt Nam gắn bó lâu dài với Liên Xô, làm con bài mặc cả trong hòa hoãn với Mỹ. Bởi vậy, Liên Xô tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam cả vật chất lẫn chính trị, tinh thần. Sự giúp đỡ của Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Xôviết gia tăng dần từ năm 1965 đến năm 1972. Đến cuối năm 1967, sự giúp đỡ của Liên Xô chiếm tới gần 50% tổng giá trị giúp đỡ của toàn bộ các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong đó, viện trợ quân sự chiếm tới khoảng trên 2/3 tổng giá trị giúp đỡ và đạt con số 873 triệu rúp. Năm 1968, Liên Xô dẫn đầu phe xã hội chủ nghĩa trong việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tổng giá trị cả viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế lên tới 460 triệu rúp. Ngoài ra, Liên Xô còn cử gần 3.000 chuyên gia quân sự sang giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1965 - 19681 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 5). Nguyên nhân của những điều chỉnh này, trước hết là do chính quyền hiếu chiến Mỹ mở rộng chiến tranh, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Liên Xô, sau đó là sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đại hội lần thứ XXIII tháng 3/1966, Đảng Cộng sản Liên Xô không xác định chung sống hòa bình là đường lối chung bao trùm của Liên Xô nữa mà đưa nhiệm vụ ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc lên hàng thứ hai và nêu thêm nhiệm vụ giáng trả các thế lực xâm lược của chủ nghĩa đế quốc). Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng và sâu xa nhất chính là bởi phía Liên Xô thay đổi cách nhìn về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, coi Việt Nam là vấn đề trung tâm trong nền chính trị quốc tế, liên quan trực tiếp đến đối thủ của Liên Xô là Mỹ và đối thủ chính của Liên Xô trong phong trào cách mạng thế giớilà Trung Quốc.


Trong khi đó, Trung Quốc lại có nhiều toan tính phức tạp nhằm làm giảm những ảnh hưởng của Liên Xô đối với Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Suốt những năm quân và dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ xâm lược, cả Trung Quốc và Liên Xô đều sử dụng vấn đề viện trợ để tác động tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng vấn đề viện trợ và vận chuyển quá cảnh hàng viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để gây sức ép với phía Việt Nam. Chẳng hạn, khi Việt Nam bước vào chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, các nước xã hội chủ nghĩa tích cực giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng vì chống Liên Xô, Trung Quốc gây nhiều khó khăn cho Việt Nam trong vấn đề vận chuyển quá cảnh viện trợ quân sự của các nước qua lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tỏ ra quan ngại về việc Chính phủ Trung Quốc gây khó khăn trong vấn đề vận chuyển, trong đó có Cộng hòa Dân chủ Đức. Tại một công hàm gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức nêu: "Chính phủ và nhân dân nước Cộng hòa Dân chủ Đức rất lo lắng và lấy làm tiếc phải nhận định rằng, Chính phủ hoặc các cơ quan hữu quan của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã gây ra nhiều khó khăn cho việc thực hiện vận chuyển những hàng hóa đã được thỏa thuận giữa chính phủ hai nước chúng ta nhằm nâng cao sức phòng thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa... Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đòi trước hết phải ký một nghị định thư vận chuyển hàng hóa ở cấp cao cũng như những điều kiện phân biệt do Trung Quốc đặt ra"1 (Bộ Quốc phòng: Ý kiến của Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức về việc Trung Quốc gây khó khăn trong việc chuyên chở hàng viện trợ của Cộng hỏa Dân chủ Đức gửi giúp Việt Nam, 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 63-64).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 10:34:21 pm
Suốt những năm 1968 - 1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Mỹ, để động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc đã tăng cường viện trợ các mặt cho Việt Nam. Nhưng bước sang giai đoạn kết thúc chiến tranh (1973 - 1975), phía Trung Quốc lại cắt giảm phần lớn các nguồn viện trợ, đặc biệt là nguồn viện trợ quân sự (năm 1973 là 141 triệu nhân dân tệ, năm 1974 tụt xuống 45 triệu nhân dân tệ, đến năm 1975 chỉ còn 19 triệu nhân dân tệ); lợi dụng những khó khăn của chính quyền Sài Gòn sau khi Mỹ rút quân viễn chinh, Trung Quốc đưa lực lượng vũ trang đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1974)2 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, t.VTII, tr.80).


Từ những luận điểm, luận chứng trên đây, có thể thấy rằng, bằng nhiều hoạt động ngoại giao tích cực,chủ động, linh hoạt và sáng tạo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động quốc tế; luôn nêu cao tinh thần đoàn kết và sự đồng tình ủng hộ của mình với những đường lối, chủ trương, hoạt động đấu tranh đúng đắn của các nước xã hội chủ nghĩa.


Đối với Cộng hòa Dân chủ Đức, Việt Nam không chỉ tích cực ủng hộ mà còn luôn đề cao vai trò, vị thế của Cộng hòa Dân chủ Đức trên trường quốc tế (khi Đại sứ quán Việt Nam ở Béclin thông báo cho Cộng hòa Dân chủ Đức chủ trương này, phía bạn rất cảm động trước thiện chí của phía Việt Nam, khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam đến ngày thắng lợi hoàn toàn).


Đối với Cuba, Việt Nam luôn nhiệt tình và kiên quyết ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba anh em, phản đối quyết liệt chính sách bao vây cấm vận của chính quyền Mỹ đối với nhân dân Cuba, ủng hộ mạnh mẽ và triệt để 5 điểm của Chủ tịch Phiđen, sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm chiến đấu khi bạn yêu cầu, tăng cường giao lưu buôn bán giữa hai nước.


Đối với Hunggari, Việt Nam tổ chức hàng loạt các đoàn đại biểu đi thăm; chỉ đạo các cơ quan truyền thông Việt Nam tổ chức hoạt động tuyên truyền giới thiệu những thành tích của Chính phủ và nhân dân Hunggari trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố chính quyền nhân dân, đề cao uy tín Chính phủ công nông cách mạng và Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, tiếp đón chân thành và chu đáo các đoàn Hunggari tới thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; kịp thời giới thiệu với bạn những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước và đấu tranh chống Mỹ xâm lược của quân và dân Việt Nam; ra sức vận động Chính phủ và nhân dân Hunggari ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên các diễn đàn quốc tế và tăng cường chi viện hơn nữa, đặc biệt là viện trợ quân sự. Qua trao đổi hội đàm và nhiều kênh thông tin khác nhau, Chính phủ và nhân dân Hunggari luôn bày tỏ sự thông cảm sâu sắc với những khó khăn của phía Việt Nam, khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất của quân và dân Việt Nam; khẳng định tiếp tục ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tới ngày thắng lợi hoàn toàn.


Trước dư luận tiến bộ quốc tế, Việt Nam luôn khẳng định thế mạnh chính nghĩa của sự nghiệp chống Mỹ; thúc đẩy phong trào nhân dân thế giới ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam đấu tranh. Trong giai đoạn 1954 - 1964, Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã hình thành, nhưng hoạt động chưa thực sự sôi nổi, mạnh mẽ. Đến giai đoạn 1965 - 1975 cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày càng nhận được sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần của nhân dân toàn thế giới, đặc biệt là từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với sự nghiệp cách mạng chân chính của mình.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 10:36:31 pm
IV-NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Nhất quán trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, phương châm đối ngoại độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của mình, Việt Nam không ngừng nêu cao tinh thần và hành động đoàn kết quốc tế, tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn vể vốn, khoa học kỹ thuật từ các nước xã hội chủ nghĩa cho sự nghiệp kháng chiến; thúc đẩy quá trình mở rộng, phát triển Mặt trận thống nhất nhân dân thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam nỗ lực thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp hợp tình, thỏa đáng trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa nên nhận được sự chi viện hết sức to lớn, toàn diện, trong đó, không thể không kể tới nguồn viện trợ quân sự không hoàn lại. Tổng khối lượng viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1965 đến năm 1975 lên tới 2.309.653 tấn vật chất các loại; ước trị giá 2.795,323 triệu rúp và 5.548 triệu nhân dân tệ, 6 triệu đôla Mỹ; 71 công trình công nghiệp quân sự1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Bảo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 1-3). Mặc dù còn có những số liệu khác nhau về tổng khối lượng vật chất mà các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ2 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.601), song tựu trung, kết quả là rất to lớn và vô cùng quý báu đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.


Về viện trợ kinh tế, chỉ riêng từ năm 1965 đến năm 1968, tổng số viện trợ và cho Việt Nam vay nợ của 12 nước xã hội chủ nghĩa lên tới 852,280 triệu rúp và 1.345 triệu nhân dân tệ. Trong số này, Chính phủ Liên Xô là 405,9 triệu rúp, Chính phủ Trung Quốc là 1.345 triệu nhân dân tệ và 85 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức là 91 triệu rúp, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc là 41,38 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên là 33,5 triệu rúp, Anbani là 6,1 triệu rúp, Ba Lan là 65,8 triệu rúp, Hunggari là 38,8 triệu rúp, Rumani là 52,35 triệu rúp, Bungari là 21,5 triệu rúp, Mông Cổ là 4,5 triệu rúp, Cuba là 13,40 triệu rúp. Nguồn viện trợ kinh tế này đã được Việt Nam khai thác và sử dụng hiệu quả, bổ sung thực lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước1 (Xem Bộ Quốc phòng: Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ kinh tế trong năm 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5, 9-13). Từ năm 1969 đến năm 1975, viện trợ kinh tế các nước anh em chi viện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt trên 3 tỉ rúp và hàng tỉ nhân dân tệ.


Riêng năm 1968, quân và dân Việt Nam quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, các nước xã hội chủ nghĩa kịp thời chi viện cho Việt Nam 495 triệu rúp và 175 triệu nhân dân tệ. Trong đó, Liên Xô 160 triệu rúp, Trung Quốc 175 triệu nhân dân tệ, Triều Tiên 13,4 triệu rúp, Mông Cổ 1,3 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức 43 triệu rúp, Ba Lan 31 triệu rúp, Hunggari 17,5 triệu rúp, Rumani 22,6 triệu rúp, Tiệp Khắc 16,5 triệu rúp, Bungari 10,2 triệu rúp, Anbani 2,4 triệu rúp, Cuba 8,7 triệu rúp2 (Xem Bộ Quốc phòng: Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩaanh em viện trợ kinh tế trong năm 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5, 9-13).


Trước những khó khăn lớn mà Việt Nam gặp phải sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và theo yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh các thỏa thuận đã ký kết, các nước xã hội chủ nghĩa đồng ý viện trợ bổ sung ngay cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 37,8 triệu rúp vật tư hậu cần các loại. Trong số này, Chính phủ Liên Xô viện trợ 18 triệu rúp, Chính phủ Trung Quốc viện trợ 15 triệu rúp, Chính phủCộng hòa Dân chủ Đức viện trợ 2,6 triệu rúp, Chính phủ Tiệp Khắc viện trợ 510.000 rúp, Chính phủ Ba Lan viện trợ 800.000 rúp, Chính phủ Hunggari viện trợ 570.000 rúp Chính phủ Rumani viện trợ 290.000 rúp. Các mặt hàng chủ yếu bao gồm: 30.000 tấn gạo; 70.000 tấn ngô;100.000 tấn bột mì; 55.000 tấn xăng dầu; 33.000 tấn dầu diezen; 5.000 tấn dầu mỡ máy; 1.230 tấn thịt, cá, rau hộp; 50 tấn mì chính; 400 tấn rau muối và bột đậu phụ; 100 tấn sữa bột các loại. Thuốc men và dụng cụ y khoa gồm: tân dược, 26 triệu viên đa sinh tố; 50.000 ống đôlagăng; 150.000 tuýp phinơgăng; 1.000 lọ huyết thanh;15.000 lọ ete; 50.000 viên brêmít; 100.000 ống moócphin; 80 bộ đồ phẫu thuật các loại; 30 bộ kính hiển vi xách tay; 3 bộ máy X-quang xách tay, 3.000 bộ truyền máu. Hàng tiêu dùng gồm: 5.100.000m vải bông, 1.730.000m vải bạt và nhựa, 400.000 đôi giầy dép. Phương tiện vận tải gồm: 575 ôtô vận tải các loại, 20 máy kéo, 20 xe sửa chữa lưu động, 80 máy thi công làm đường sắt, 200 chiếc búa khoan đá, 10 máy nén khí, 22.000 bộ săm lốp ôtô, 10 ôtô cứu thương, 15 ôtô cần trục, 52 ô tô công tennơ, 2.050.000 rúp phụ tùng ôtô1 (Xem Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, Tlđd, tờ 66).


Ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực và kết quả của sự giúp đỡ kịp thời, to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị khẳng định: "Kết quả cuộc đàm phán kinh tế lần này, khối lượng thiết bị, vật tư đã ký kết tăng 24% so với năm 1967... đây là một thắng lợi lớn, các nước anh em tiếp tục giúp đỡ Việt Nam tăng cường tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng,... Giữa cho vay và viện trợ không hoàn lại... Các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Rumani, Cuba, Anbani vẫn nhiệt tình viện trợ không hoàn lại toàn bộ khối lượng cung cấp cho Việt Nam. Liên Xô nói chung cho Việt Nam vay toàn bộ, không chủ trương viện trợ không hoàn lại về kinh tế..."1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết đàm phán viện trợ kinh tế năm 1968 với các nước xã hội chủ nghĩa, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 17).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 10:49:15 pm
Về viện trợ quân sự, từ năm 1965 đến năm 1975 - khoảng gần 10 năm liên tục, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được tổng cộng 2.309.653 tấn vật chất các loại, gồm vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, y cụ các loại. Tổng trị giá lên tối 2.795,323 triệu rúp và 5.548 triệu nhân dân tệ, 6 triệu đôla2 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 5). Cụ thể, chung loại vũ khí và trang bị các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm một số loại chính như sau: súng bộ binh hơn 3 triệu khẩu, sung chống tăng B40 và B41 khoảng hơn 60.000 khẩu, súng cối 25.427 khẩu, pháo hỏa tiễn 2.143 khẩu, pháo mặt đất 1.385 khẩu, súng máy cao xạ 15.794 khẩu, pháo cao xạ 6.150 khẩu, 10.169 quả đạn tên lửa chống tăng 3.075 đạn tên lửa phòng không vác vai, tên lửa phòng không SA-75M 23 trung đoàn với hơn 8.000 quả đạn V-750V, tên lửa Hồng Kỳ 1 trung đoàn với 180 quả đạn, tên lửa S-125 2 trung đoàn với 480 quả đạnV-601P, 486 máy bay chiến đấu các loại, 36 tàu hải quân chiến đấu, 1.084 xe tăng các loại, 795 xe vỏ thép, 1.870 xe xích kéo pháo, 26.493 xe vận tải và kéo pháo, 70.085 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 217.844km dây điện thoại dã chiến, 56 bộ đường ống dẫn dầu, 12 triệu bộ quân trang, 139.199 tấn lương thực, thực phẩm1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 5).


Theo những số liệu từ các báo cáo của cơ quan chức năng Việt Nam đánh giá, Trung Quốc viện trợ quân sự chủ yếu gồm các loại vũ khí, trang bị, khí tài để trang bị cho bộ binh và một phần cho phòng không - không quân (phần lớn phục vụ các lực lượng vũ trang miền Nam)..., còn Liên Xô chủ yếu viện trợ quân sự cho các lực lượng vũ trang miền Bắc, trong đó phần lớn là những vũ khí, trang bị, khí tài cho lực lượng phòng không - không quân; pháo mặt đất; khí tài vượt sông; một số khí tài thông tin. Đối với lực lượng vũ trang miền Nam, phía Liên Xô còn giúp sản xuất loại pháo hỏa tiễn mang vác, B41, một số súng bộ binh. Những trang bị của phía Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam có một số loại đã qua sử dụng, sửa chữa lại. Năm 1965, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam ước tính thành tiền chiếm 1/3 tổng số tiền viện trợ quân sự cho Việt Nam và từng bước giảm dần. Năm 1969, số trang bị cũ, đã qua sử dụng chỉ còn chiếm 5 triệu trên tổng số 210 triệu rúp trang bị khí tài chi viện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình trang bị của quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966, Tlđd, tờ 3).


Nhìn tổng thể từ năm 1965 đến năm 1975, khối lượng và trị giá hàng viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện cho Việt Nam rất lớn so với 10 năm trước đó, nhưng không đồng đều, đặc biệt vào những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Không chỉ có hai quốc gia Liên Xô và Trung Quốc cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam mà một sốnước xãhội chủ nghĩa khác cũng cắt giảm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: "Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.16). Cho tới những năm 1974 - 1975 thì nguồn viện trợ quân sự của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gần như không đáng kể. Nếu năm 1973, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trị giá 248 triệu rúp thì sang năm 1974 sụt giảm còn 98 triệu rúp và năm 1975 còn lại 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ quân sự của Chính phủ Trung Quốc cho Việt Nam cũng không ngừng sụt giảm, năm 1973, tổng trị giá 1.415 triệu nhân dân tệ nhưng năm 1974 chỉ còn 452 triệu nhân dân tệ và năm 1975 là 196 triệu nhân dân tệ. Tính riêng về khối lượng vũ khí, trang bị năm 1973, viện trợ của hai nước đã giảm 60% so với năm 1972, năm 1974 giảm còn 34% và năm 1975 lại tiếp tục giảm chỉ bằng 11% so với năm 19722 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.VIII, tr.22-23).


Ngoài nguồn vật chất chi viện kể trên, các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nguồn vốn, các trang thiết bị khoa học, kỹ thuật; cử các đoàn chuyên gia dân sự, quân sự thường xuyên giúp xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng, dân sinh. Chỉ riêng công trình quân sự, đến cuối năm 1968 các nước Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Đức Hunggari đã giúp Việt Nam 22 công trình, với lượng vốn lên tới hàng trăm triệu rúp (xưởng sửa chữa kỹ thuật tên lửa lưu động trị giá 8.900.000 rúp; xưởng sửa chữa máy bay cánh quạt trị giá 3.300.000 rúp; xưởng sửa chữa pháo cao xạ trị giá 1.803.000 rúp; xưởng đại tu xe tăng, xe xích trị giá 4.600.000 rúp; xưởng sửa chữa máy tàu hải quân trị giá 321.200 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa khí tài hải quân trị giá 681.200 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa khí tài dưới nước trị giá 1.050.000 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa vỏ tàu phóng lôi trị giá 1.955.240 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa máy bay phản lực trị giá 2.964.000 nhân dân tệ; xưởng gia công nhồi đạn cối trị giá 2.636.100 nhân dân tệ; xưởng sản xuất vỏ đạn cối trị giá 355.260 nhân dân tệ; xưởng sản xuất đạn B40 và lựu chống tăng trị giá 1.059.800 nhân dân tệ; xưởng in quân đội trị giá 444.600 nhân dân tệ; xưởng chế tạo ống nổ trị giá 1.333.000 nhân dân tệ; xưởng chế tạo ngòi nổ trị giá 1.300.000 nhân dân tệ; nhà máy Z1 mở rộng trị giá 4.315.140 nhân dân tệ; nhà máy Z2 mở rộng trị giá 4.315.140 nhân dân tệ; xưởng chế tạo súng máy trị giá 2.964.000 nhân dân tệ; thiết bị sân bay dã chiến, sân bay Yên Bái trị giá 2.280.000 nhân dân tệ; phòng thí nghiệm chất đốt tên lửa trị giá 500.000 rúp,...)1 (Xem Tổng cục Hậu cần: Tổng hợp viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam 1954 - 1975, Tlđd, tờ 5).
   Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 cho biết rõ hơn: Các trang bị, khí tài của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam, nhìn chung có chất lượng tốt, đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, tăng cường mạnh mẽ sức chiến đấu cho Quân đội nhân dân Việt Nam; góp phần giúp quân và dân Việt Nam đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam; góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng,... Các trang bị viện trợ quân sự có đủ để bổ sung lượng tiêu hao hằng năm và tăng dần lượng dự trữ khoảng từ 2 đến 3 năm (trừ ôtô, một số loại đạn, một số khí tài trước mắt). Đi đôi với tăng cường về số lượng, chất lượng trang bị, khí tài chiến đấu, bước đầu Việt Nam xây dựng được các cơ sở sản xuất Quốc phòng; có các thiết bị, trạm sửa chữa để sửa chữa hầu hết các trang bị khí tài; tăng cường thêm các thiết bị giảng dạy trong các trường quân sự và các thiết bị nghiên cứu phục vụ việc sử dụng các trang bị, khí tài và một phần công tác bảo quản, sản xuất, cải tiến1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 10-20).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 10:51:58 pm
Qua đây, có thể thấy rằng, nguồn các loại vũ khí, trang bị mà các lực lượng vũ trang Việt Nam có được chủ yếu là do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện. Nguồn sản xuất, cung cấp trong nước do điều kiện và nhiều nguyên nhân, mặc dù Việt Nam đã phát huy tối đa tinh thần tự lực cánh sinh, nhưng kết quả rất hạn chế. Tính từ năm 1957 đến năm 1968, kết quả sản xuất vũ khí, đạn dược, phụ tùng xe máy các loại của bộ đội ở miền Bắc và các chiến trường được tổng cộng: 15.411 tấn vũ khí đạn dược (miền Bắc), 6.519 tấn vũ khí đạn dược (chiến trường), 1.979 tấn phụ tùng xe máy2 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.599); trong khi đó, tổng khối lượng vật chất các loại (chủ yếu là vũ khí, phương tiện chiến tranh) các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1968 (không kể phần viện trợ kinh tể) là 668.347 tấn, gấp trên dưới 30 lần3 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 1-5).


Không chỉ giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các loại vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh, các nước xã hội chủ nghĩa còn cử sang Việt Nam đội ngũ cố vấn, chuyên gia quân sự công tác ở các cấp, các ngành, tại các học viện, nhà trường quân đội. Từ tháng 4/1965 đến tháng 5/1966, 2.266 chuyên gia phòng không, không quân Liên Xô đã có mặt tại Việt Nam, giúp đào tạo tại chỗ 10 trung đoàn tên lửa phòng không, 3 trung đoàn kỹ thuật vô tuyến, 2 trung đoàn không quân tiêm kích1 (Xem Thượng tướng, TS. Nguyễn Huy Hiệu: Một số vấn đề về công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.300); từ tháng 6/1965 đến tháng 5/1967, Liên Xô gửi sang Việt Nam 6 trung tâm huấn luyện tên lửa phòng không đảm nhiệm huấn luyện 6 trung đoàn tên lửa của Việt Nam từ cuối năm 1966 đến tháng 5/1968, Liên Xô cử sang Việt Nam ba nhóm chuyên gia khoa học quân sự: nhóm chuyên gia tên lửa, nhóm chuyên gia công nghiệp quốc phòng gồm 85 người, nhóm gây nhiễu và tác chiến điện tử với nhiệm vụ nghiên cứu và cải tiến hệ thống tên lửa phòng không S-75, cải tiến bộ khí tài tên lửa, tìm ra phương thức chống nhiễu hiệu quả nhất. Từ ngày 11/7/1965 đến ngày 31/12/1974, đã có 6.359 sĩ quan và 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan, chiến sĩ Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam, 13 chuyên gia quân sự đã hy sinh, 2.190 người được tặng thưởng huân, huy chương các loại1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr.308).


Bên cạnh cử đội ngũ chuyên gia sang giúp Việt Nam (từ năm 1965 đến năm 1968, 346 chuyên gia sang giúp Việt Nam), từ cuối tháng 6/1965, Trung Quốc cử 4 sư đoàn gồm 100.000 người, tổ chức thành 22 trung đoàn, với 310.011 lượt bộ đội hậu cần sang giúp nâng cấp và mở rộng một số đường cơ giới, xây dựng các công trình phòng thủ quốc phòng, chiến đấu bảo vệ một số tuyến đường sắt các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Sau hơn hai năm giúp Việt Nam, các đơn vị Trung Quốc đã hoàn thành và nâng cấp 271km đường sắt và công trình phụ trợ, xây dựng mới và sửa 7 tuyến đường bộ ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam có tổng chiều dài 1.200km. Chỉ riêng Sư đoàn 1 bộ đội hậu cần Trung Quốc giúp xây dựng đường sắt với quân số 32.180 người trong hai năm đã hoàn thành 45km đường mới đoạn Kép đi Khúc Rồng cải tạo và mở rộng 226km từ Hữu Nghị Quan - Yên Viên - Đông Anh - Lưu Xá - Khúc Rồng, hai xưởng đầu máy toa xe ở Đồng Mô và Lương Sơn, một số công trình phụ trợ như nhà ga, cấp nước, thông tin...; sửa chữa, bảo đảm giao thông hai tuyến Hà Nội - Lào Cai Hà Nội -Hữu Nghị Quan với tổng chiều dài 425km. Tháng 8/1973, các đơn vị lực lượng vũ trang Giải phóng quân Trung Quốc sang giúp Việt Nam rút hết về nước1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.312-313). Không chỉ có bộ đội hậu cần Trung Quốc, ngày 30/9/1966, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên ký thỏa thuận đưa một bộ phận bộ đội không quân Triều Tiên sang chiến trường Việt Nam rèn luyện, chiến đấu. Theo đó, 384 sĩ quan, chiến sĩ và 1 trung đoàn máy bay MiG đã có mặt tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công tác suốt cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968). Ngày 04/12/1968, Thường trực Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định đưa số bộ đội hậu cần và chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa đang công tác tại Việt Nam về nước (từ năm 1965 đến năm 1968, tổng cộng có 3.019 chuyên gia quân sự Liên Xô sang giúp Việt Nam và đầu năm 1969, số này lần lượt rút về nước. Tháng 4/1970, Liên Xô cử tiếp 310 chuyên gia quân sự sang giúp Việt Nam. Năm 1971, Liên Xô tiếp tục cử sang một số lượng chuyên gia nữa. Cuối năm 1974, Quy chế chuyên gia quân sự Liên Xô được thay thế bằng Quy chế cố vấn quân sự, Trưởng đoàn chuyên gia quân sự thay thế bằng Trưởng đoàn cố vấn quân sự bên cạnh Bộ Quốc phòng). Số bộ đội hậu cần Trung Quốc và bộ đội không quân Triều Tiên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế và rút hết khỏi lãnh thổ Việt Nam vào cuối năm 1969.


Ngoài trực tiếp chi viện vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh, cử đội ngũ chuyên gia quân sự, Đảng và Chính phủ Liên Xô còn giúp đào tạo cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một nguồn nhân lực lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Số nhân lực này rất quý, bổ sung ngay vào phần thiếu hụt cán bộ của Việt Nam. Theo một thống kê, riêng trong lĩnh vực quân sự, từ năm 1955 đến năm 1975, các trường quân sự của Liên Xô đã đào tạo giúp Việt Nam 13.500 quân nhân. Riêng năm 1966, đã có tổng cộng 2.600 cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam được đào tạo ngành Phòng không - Không quân. Trong hai năm 1966 và 1967, có hơn 3.000 quân nhân Việt Nam hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo tại các trường quân sự Xôviết, được gấp rút điều động về nước bổ sung cho các ngành, các cấp tham gia lao động và chiến đấu1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.307).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 10:54:52 pm
Ngoài những nguồn viện trợ quân sự trên đây, Chính phủ Liên Xô trong kế hoạch viện trợ hai năm 1965 - 1966 giúp thêm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1 bệnh viện dã chiến 100 giường, 6.527,233 tấn ray, 400 tấn dầm thép ghép sẵn, 1.626 tấn dầm sắt số 47 dài 6 x 20m, 58.650 tấn thiết bị bán tự động dùng cho đường dây 40km 2 cần trục cẩu cho tàu cứu chữa, 40 đài vô tuyến điện 22 thiết bị morse, 12 công trình xa sửa chữa ôtô, 2 máy đặt ray, 2 cần trục canh CPK 30/40, 1 bộ máy sửa chữa cung cấp nước, 615 tấn cáp dân điện, 382 tấn dây cáp, 7 máy kéo C.100, 26 ôtô cần trục K 61, 200 ôtô Zin 157 và 555, 100 ôtô Maz 205 và 200, 5 kiểu công trình xa sửa chữa máy lưu động dùng trong xây dựng đường bộ, 55 tấn dây lưỡng kim. Chính phủ và nhân dân Trung Quốc giúp 12.716 tấn gạo, 707.650m vải bạt, 100 chiếc tăng, 500km dây điện thoại, 2.710,415 tấn kim loại đen, 57,676 tấn kim loại màu, 126 tấn que hàn, 120 bình ô xy, 1.000 tấn thuốc nổ, 17 đồng hồ vạn năng, 10 thiết bị lăn, 74 tổ máy phát điện, 40.000 vỏ phuy, 8 xe ôtô cần trục, 3 xe ôtô cứu thương, 70 xe ôtô ben, 709 ôtô giải phóng, 111 tấn phụ tùng ôtô, 30 đầu máy xe lửa, 148 toa tàu, 18 tàu lu lăn đường. Chính phủ Ba Lan ủng hộ 75 xe ôtô Star 66 và 25 hòm phụ tùng, 53.325kg thuốc chữa bệnh, 86 tấn vải kaki, 20 tấn bánh các loại. Chính phủ Cuba ủng hộ 15.000 tấn đường. Chủ tịch Kim Nhật Thành của Triều Tiên tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh 20 máy kéo, 20 bộ lưỡi cày hai lưỡi, 20 bơm ly tâm, 20 rơmóc, 20 bừa đất, 5 xe ôtô vận tải, 2 máy đào đất vàphụ tùng. Chính phủ Anbani tặng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 8.100 tấn nhựa đường, 1,5 triệu mét vải bêzê 500.000m vải kaki, 200.000m vải nhung, 500 chăn bông, 150 tấn thuốc lá, 500 tấn đường, 100 tấn mỡ lợn 25.000 áo lót, 25.000 bít tất, 30.000 khăn bông.


Hàng viện trợ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam gồm: hàng giao Bộ Y tế có 15.506kg và 37 hòm thuốc, dụng cụ y tế của Cộng hòa Dân chủ Đức, 11.792kg và 199 hòm thuốc men dụng cụ y tê của Liên Xô, 11.128kg thuốc, dụng cụ y tế của Rumani, 19 kiện thuốc, dụng cụ y tế của Hunggari, của Italia là 5 va ly thuốc; hàng giao Bộ Nội thương ước trị giá 6,5 triệu đồng Việt Nam, trong đó có 4 tấn sữa bột, 32,500 tấn sữa đặc, 30,423 tấn cá hộp, 7,898 tấn bò hộp, 570 tấn đường, 10 tấn bột mì, 96 chiếc xe môtô Sim sơn, 150 chiếc xe đạp mi pha, 105 chiếc xe đạp Liên Xô, 7 máy chiếu phim, 20máy ảnh, 120 ống nhòm, 24.000m vải bạt, 50.000m vải nhựa, 8.124 quyển vở học sinh, 7.357 chăn bông, 102.789m vải lụa, 1.435m vải kiện, 7.764 cái và 226 kiện quần áo, 199.000 chiếc khăn bông1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình hàng viện trợ đến ngày 19 tháng 8 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 20).


Các loại hàng hóa mà nhân dân các nước anh em viện trợ riêng cho nhân dân miền Nam Việt Nam ướctrị giá 3.171.354 đồng, trong số đó, nhân dân các nước: Trung Quốc 1.668.480 đồng; Triều Tiên 895.396 đồng; Liên Xô 302.761 đồng; Bungari 105.359 đồng; Cộng hòa Dân chủ Đức 65.600 đồng; Rumani 12.318 đồng; Ba Lan 28.600 đồng; Hunggari 34.450 đồng; Tiệp Khắc 22.994 đồng; Mông Cổ 13.780 đồng; Anbani 10.516 đồng1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình hàng viện trợ đến ngày 19 tháng 8 năm 1965, Tlđd, tờ 20).


Song song còn có các hoạt động của nhân dân và các tổ chức đoàn thể quần chúng như mít tinh, biểu tình, tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu. Tại một số nước có phong trào "Đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất vì Việt Nam như: ở Tiệp Khắc, công nhân xí nghiệp quốc doanh BắcBúckem trích 1% lương ủng hộ Việt Nam, công nhân đường sắt nhà ga Xiắcan góp 2% ủng hộ Việt Nam, công nhân xí nghiệp quốc doanh Mốttécna Borơ quyết định làm thêm ngày thứ Bảy lấy tiền tặng Việt Nam; ở Hunggari có phong trào hiến máu, phong trào tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam (từ năm 1965 đến năm 1971, quyên góp được 15 triệu rúp); ở Bungari có hàng trăm cuộc mít tinh lớn nhỏ của quần chúng ủng hộ Việt Nam (nhiều nhất lên tới 10.000 người), tổ chức "Tuần lễ 3 châu ủng hộ Việt Nam", tuyên bố sẵn sàng cử quân tình nguyện nếu Việt Nam yêu cầu. Cuba có sáng kiến xúc động "Vì Việt Nam nhân dân Cuba sẵn sàng hiến máu"; Chính phủ Cuba sẵn sàng cử quân tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu. Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam kết hợp với Ủy ban ba châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam liên tiếp tổ chức nhiều tuần lễ và tháng ủng hộ Việt Nam, tổ chức mít tinh, triển lãm, chiếu phim, thảo luận học tập gương chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam khắp cả nước.


Với nguồn chi viện về quân sự liên tục tăng theo nhịp độ phát triển của cuộc chiến tranh, bước vào giai đoạn 1965 - 1975, việc tổ chức tiếp nhận, vận chuyển hàng viện trợ quân sự của Việt Nam hoạt động tương đối khoa học và hiệu quả. Từ khâu đàm phán, ký kết, ký nhận đầy đủ, chi tiết, cụ thể; chủ yếu được chuyển giao qua hai đường thủy và bộ. Đường bộ, hàng hóa Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Triều Tiên chuyển giao tại biên giới Trung - Triều, quá cảnh Trung Quốc về Việt Nam qua cửa khẩu biên giới Lạng Sơn, hoặc từ một số cảng như Trạm Giang, Phòng Thành (Trung Quốc) theo đường biển chuyển vào miền Nam. Hải Phòng là cảng biển lớn nhất miền Bắc Việt Nam tiếp nhận hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài hai đường trên, với các loại hàng hóa quân sự đặc thù lại có phương thức tiếp nhận, chuyển giao khác như: các loại máy bay chiến đấu, Liên Xô vàcác nước giao cho Việt Nam tại một số sân bay miền Bắc; tàu chiến các loại, Việt Nam cử cán bộ, chiến sĩ sang huấn luyện, tiếp nhận ngay tại nước viện trợ;ngoại tệ, Việt Nam nhận tại Bắc Kinh.


Bằng nhiều con đường khác nhau, nhiều cách thức vận chuyển phong phú, sáng tạo, nguồn nhân lực gồm hàng vạn người của Việt Nam ngày đêm tiếp nhận, vận chuyển hàng triệu tấn vật chất viện trợ quân sự do các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ từ khắp nơi đổ về hậu phương miền Bắc, chuyển ra tiền tuyến miền Nam, sang chiến trường hai nước Lào, Campuchia giúp bạn. Một hệ thống kho tàng, bãi chứa trong và ngoài nước, miền Bắc và miền Nam, dọc tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh được thiết lập vững chắc, liên hoàn, đủ sức cung ứng kịp thời vật chất hậu cần các loại chocác lực lượng vũ trang chiến đấu.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 11:00:02 pm
Sớm phát hiện ra vấn đề mấu chốt của cuộc chiến tranh là vận chuyển, bởi vậy Mỹ luôn tìm mọi cách ngăn chặn và phá hủy hệ thống kho tàng, tuyến giao thông huyết mạch của Việt Nam nhằm chặn đứng mọi sự chi viện từ quốc tế vào hậu phương miền Bắc, từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam và đi các chiến trường. Chúng xây dựng và thực thi ráo riết những kế hoạch ném bom phá hoại, phong tỏa hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, các hải cảng lớn ở miền Bắc bằng các loại vũ khí tinh vi,hiện đại. Tài liệu của đối phương cho biết: "Từ tháng 9 năm 1966, Mắc Namara đã đề nghị một hệ thống ngăn chặn xâm nhập, trong kế hoạch đó, Mắc Namara đề nghị sử dụng 20 triệu mìn bi, 25 triệu bom bươm bướm, và 10 ngàn bom CBU-26B một tháng, để rải trên hệ thống đường xâm nhập của cộng sản Bắc Việt vào Nam và lãnh thổ Lào"1 (Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945- 1975, Sdd, tr.298). Chính giới tướng lĩnh quân sự Mỹ phải thừa nhận rằng: "Vùng bán kính chung quanh Hà Nội 30.000 hải lý và 10.000 hải lý xung quanh Hải Phòng... và cả những cảng Bắc Việt Nam (trở thành nơi) người Việt Nam có thể tập trung cao mật độ quân sự về người cũng như vật chất kỹ thuật ở đó và rõ ràng quyết định không thả mìn (của tổng thông Mỹ) ở cảng cho phép đưa 67% viện trợ vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa vào miền Nam Việt Nam theo đường thủy"2 (Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch, Sđd, tr.203). Và cũng từ năm 1965, một bộ giao thông vận tải mới của Việt Nam (Đoàn 559 được nâng cấp) được thành lập để bảo đảm việc vận chuyển không ngừng các loại vật chất kỹ thuật vào miền Nam, phần lớn theo đường bộ, ngoài ra còn có cả đường biển và đường sông. Điều đó không chỉ cho thấy quyết tâmkháng chiến cao độ của nhân dân Việt Nam mà trên thực tế, Việt Nam đã thiết lập một hệ thống giao thông thủy, các cảng làm công tác tiếp nhận vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là viện trợ quân sự hết sức hữu hiệu, khiến Mỹ khiếp sợ tìm mọi cách ngăn chặn và phá hoại. Nhưng mọi nỗ lực của Mỹ gần như bị vô hiệu hóa trước ý chí chiến đấu, khát vọng độc lập, tự do hòa bình, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam.
Tuy bị thua đau trên tất cả các mặt trận: quân sự chính trị, ngoại giao, buộc phải ngồi đàm phán, nhưng ngay từ những ngày đầu nhậm chức Tổng thống Níchxơn đã cho phép giới quân sự dùng mọi kế hoạch, kể cả những kế hoạch quân sự phạm luật để chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Níchxơn ra lệnh cho MACV sư dụng tất cả không lực tấn công miền Bắc trước đó để đánh vào chiến trường Lào và những căn cứ hậu cần cua Cộng sản Bắc Việt (theo cách gọi của Mỹ) dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Năm 1968, không lực Mỹ bay 3.377 phi vụ trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, năm 1969 số phi vụ tăng lên 5.567 với khoảng 160.000 tấn bom thả xuống Hạ Lào. Từ tháng 3/1969 đến tháng 4/1970, Níchxơn ra lệnh cho không quân chiến lược bay 3.630 phi vụ, ném 110.000 tấn bom xuống các căn cứ hậu cần và binh trạm của Cộng sản Bắc Việt nằm trong lãnh thổ Campuchia từ vùng ngã ba biên giới ở Pleiku đến Mỏ Vịt ở Tây Ninh. Sau khi Quân giải phóngmiền Nam rút sâu vào nội địa Campuchia, Níchxơn tiếp tục ra lệnh tấn công sâu vào lãnh thổ Campuchia trong vòng bán kính 30km. Mỹ và quân đội Sài Gòn đã chiếm giữ: "Một số quân trang quân dụng, vũ khí, lương thực đủ trang bị cho tất cả các đơn vị cộng sản ở miền Nam hơn một năm"1 (Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Sđd, tr.390).


Trong quá trình tiếp nhận, vận chuyển các loại vũ khí, trang bị, vật tư hậu cần do các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ, nhiều cơ quan chức năng, cá nhân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có sáng kiến, cách làm hay, hiệu quả. Đặc biệt, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai chống phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân Mỹ, chúng đánh phá quyết liệt toàn bộ hệ thống giao thông miền Bắc, Chính phủ Việt Nam chủ động thương lượng với Đảng, Chính phủ Trung Quốc cho phép Việt Nam sử dụng sân bay Tường Vân làm nơi cất giấu máy bay chiến đấu, cho phép Trường Không quân Việt Nam được đứng chân trên đất Trung Quốc; sử dụng kho bãi ga Mãn Châu Lý, Bằng Tường làm nơi tạm thời cất chứa, bảo quản hàng viện trợ quân sự (có thời điểm lưu giữ trên 200.000 tấn hàng và hàng trăm toa tàu hỏa tại Mãn Châu Lý); sử dụng cảng Phòng Thành và Trạm Giang (Quảng Đông) làm nơi trung chuyển bốc dỡ hàng viện trợ, chuyển tiếp vào Việt Nam qua tuyến đường sắt Lạng Sơn tới các ga đầu mối khu vực sông Hồng. Trên hướng Quảng Tây, Trung Quốc điều động 3 trung đoàn ôtô đi theo 3 tuyến từ Sùng Tả, Ninh Minh, Bằng Tường vận chuyển vật tư cho Việt Nam. Về vận tải biển, Việt Nam cũng nhận được 50 tàu VS, 8 sà lan, 4 tàu kéo của Trung Quốc, mở tuyến hàng hải bí mật Trung - Việt, sử dụng cảng Hậu Thủy trên đảo Hải Nam trung chuyển hàng hóa chi viện cho các chiến trường miền Nam1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.314-315); giúp đỡ xây dựng hai tuyến đường ống dẫn dầu dã chiến quan trọng từ lãnh thổ nước bạn về Việt Nam dài hàng nghìn kilômét.


Ngoài nguồn vũ khí, trang bị chi viện trực tiếp từ miền Bắc vào các chiến trường miền Nam, dựa vào nguồn ngoại tệ do Trung ương chi viện (phần lớn số ngoại tệ này do các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ), Hậu cần cách mạng miền Nam còn sử dụng các biện pháp ngoại giao khôn khéo công khai, hợp pháp tổ chức thu mua được một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, xăng dầu... từ thị trường nội địa Campuchia, vận chuyển tiếp tế cho các lực lượng vũ trang cách mạng khu vực đồng bằng sông Cửu Long,Sài Gòn - Gia Định, nam Tây Nguyên. Qua con đường ngoại giao thân thiện, Chính phủ Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của chính quyền Vương quốc Campuchia đồng ý cho các lực lượng vận tải của Việt Nam tổ chức vận chuyển bằng tàu biển đưa các loại hàng viện trợ quân sự từ hậu phương miền Bắc, kể cả một số nơi khác vào cảng Xihanúcvin, rồi tiếp tục vận chuyển sâu vào Nam Bộ. Các loại tàu vận tải của Việt Nam, thậm chí cả tàu vận tải của nước bạn giúp vận chuyển cho Việt Nam thường xuyên vào ra cảng này những năm trước 1970. Tổng kết Hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam đánh giá: "Bằng cách trả tiền quá cảnh cho mỗi tấn hàng và tiền cước vận chuyển, Việt Nam sử dụng lực lượng và phương tiện của quân đội Vương quốc trong việc tiếp nhận, lưu giữ, vận chuyển, hộ tống hàng viện trợ quân sự từ cảng Xihanúcvin về Phnôm Pênh, rồi tỏa đi các căn cứ hậu cần của ta"1 (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.216). Đây là một thành công lớn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp góp phần vào những chiến thắng quân sự quan trọng trên chiến trường miền Nam Việt Nam giai đoạn Việt Nam chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ đã được thực tiễn minh chứng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 11:01:48 pm
Tính riêng từ năm 1966 đến cuối năm 1969, Việt Nam tổ chức thực hiện thành công 10 chuyến tàu biển quốc tế đưa vào cảng Xihanúcvin với tổng cộng 90.870 tấn hàng quân sự các loại chi viện các chiến trường miền Nam; trong đó có 60.380 tấn cho Nam Bộ, 30.490 tấn cho Tây Nguyên. Riêng về vũ khí, đạn, Việt Nam quá cảnh cảng Xihanúcvin 21.473 tấn; trong đó, vận chuyển về chiến trường miền Nam 18.703 tấn, trích trả cho Campuchia 385 tấn, còn lại 2.412 tấn bị lực lượng Lonnon chiếm trong cuộc đảo chính tháng 3/19701 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.217). Khối lượng này là rất lớn đối với tiền tuyến miền Nam trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược.


Theo tài liệu của đối phương (tin tình báo quân sự của MACV, Mỹ) ghi nhận: Từ năm 1964 đến năm 1968, nếu không nói trước đó, "Đất Căm Bốt là cửa ngõ nhận hàng quân nhu, quân dụng của Trung cộng tiếp tế cho Cộng sản Bắc Việt. Hàng được tàu Trung cộng hay các nước Đông Âu chuyên chở bằng đường biển đến hải cảng Shihanoukville" và từ đó, "Theo đường bộ chuyển về các trạm hậu cần của Cộng sản Bắc Việt thiết lập dọc theo biên giới Việt Nam - Căm Bốt. Số lượng quân nhu, quândụng cung cấp cho Cộng sản Bắc Việt qua hải cảng Shihanoukville nhiều hơn số lượng di chuyển bằng đường bộ qua hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh trong thời gian đó"1 (Nguyễn Kỳ Phong: Vùng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945- 1975, Sđd, tr.424). Một nguồn tin khác, khá tin cậy và chính xác của đối phương cho chúng ta biết thêm: Hoàng thân Shihanouk, với sự đồng ý của Chu Ân Lai, lấy 10% tổng số hàng nhập vào hải cảng Shihanoukville. Từ Shihanoukville, quân đội Căm Bốt dùng quân xa chuyển hàng giao đến tay Cộng sản Bắc Việt và tính thêm tiền chuyên chở...


Cũng theo một thông tin từ phía chính quyền Sài Gòn, kết quả từ chiến dịch Toàn Thắng (tháng 5/1970) do liên quân Mỹ - quân đội Sài Gòn thực hiện nhằm mưu đồ mở rộng chiến tranh sang Campuchia cho biết, đã có tới 75% trong số 23.000 khẩu súng cá nhân, 2.500 súng cộng đồng, hơn 16 triệu viên đạn súng cá nhân, 143.000 viên đạn cối, hỏa tiễn, đại pháo, 200.000 viên đạn súng phòng không, 7.000 tấn gạo có nguồn gốc từ Trung Quốc2 (Xem Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Sđd, tr.428) rơi vào tay chúng.


Và cũng nhờ được các nước xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ quân sự, Quân đội nhân dân Việt Nam có điều kiện kịp thời bổ sung liên tục những loại vũ khí, trang thiết bị chiến tranh phù hợp bị hao hụt. Theo tính toán của các cơ quan chức năng Việt Nam, đến thời điểm tháng 6/1969, lực lượng vũ trangmiền Nam: Từ chỗ chủ yếu được trang bị các loại vũ khí chiến lợi phẩm bộ binh, nay (1969) bộ đội tập trung đã được trang bị đủ vũ khí bộ binh loại tốt nhất như: súng trường bán tự động, súng tiểu liên, trung liên hệ K56 cùng một loại đạn nên tiếp tế đạn dược đỡ khó khăn phức tạp. Các đại đội bộ binh đều được trang bị cối 60mm, súng chống tăng B40, B41 (nhiều hơn miền Bẳc). Ngoài ra, còn được tăng cường thêm nhiều súng bắn máy bay tầm thấp, cối, ĐKZ các loại cho các cấp từ tiểu đoàn trở lên; cấp quân khu được trang bị loại pháo hỏa tiễn mang vác với loại đạn nhiều mảnh (3.600 mảnh) nên sức sát thương rất lớn. Từ cấp tiểu đoàn trở lên được trang bị máy vô tuyến điện. Đối với lực lượng dân quân du kích đều được trang bị súng bộ binh K44, K50 (hiện có khoảng hơn 150.000 khẩu), súng chống tăng, cối và súng bắn máy bay tầm thấp. Riêng ở Nam Bộ được trang bị súng bộ binh K56 và tỷ lệ hỏa lực mang vác cũng nhiều hơn. Đạn chiến đấu bao đam được từ 1 đến 2 năm. Đối với lực lượng vũ trang miền Bắc: các loại vũ khí, trang bị đã được tăng cường về số lượng và cải tiến về chất lượng. Với khả năng hiện có, miền Bắc có thể trang bị đầy đủ cho hơn 450.000 quân tập trung bằng loại súng K56, ngoài ra còn khoảng từ 65 đến 70 vạn khẩu trang bị cho lực lượng dân quân tự vệ bằng loại súng K44 và K50. Lực lượng phòng không được trang bị tương đối mạnh, tổ chức thành một mạng lưới phòng không có tầm thấp (ba thứ quân), tầm trung bình, tầm cao có pháo cao xạ được trang bị khí tài chiến đấu trong mọi thời tiết ngày, đêm chiếm 35% tổng số pháo, tên lửa phòng không và máy bay chiến đấu có tốc độ trên tốc độ tiếng động đang được cải tiến (MiG-21). Rađa trinh sát và rađa dẫn đường cho máy bay số lượng tăng nhiều và chất lượng cũng được cải tiến (P12, P35) đủ bảo đảm mạng lưới trên không tương đối vững chắc. Pháo mặt đất cũng được tăng cường thêm các loại pháo có tầm bắn xa, uy lực mạnh, tiện cơ động, sử dụng thích hợp với địa hình Việt Nam (122mm, 130mm)1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), Tlđd, tờ 6).


Báo cáo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: Chỉ trong khoảng thời gian ngắn 4 năm, từ năm 1965 đến năm 1969 (so sánh với năm 1964), vũ khí bộ binh của các lực lượng vũ trang Việt Nam đã tăng gấp 4 lần, súng máy cao xạ tăng 8 lần pháo cao xạ (có xe kéo) tăng 4 lần, máy bay chiến đấu tăng 8 lần, pháo có xe kéo tăng 2 lần, sức kéo tăng 3 lần,tên lửa từ con số không nhanh chóng tăng lên 74 tiểu đoàn, xe tăng tăng 2 lần, bom và đạn tăng 9 lần, cầu phà tăng 4 lần, máy vô tuyến điện tăng 3 lần, dây điện thoại tăng 5 lần, lực lượng dân quân tự vệ của Việt Nam được trang bị hơn 30 vạn khẩu súng bộ binh kiểu K44 và K501 (Xem Quân ủy Trung ương: Số liệu tình hình về ta (tài liệu họp Quân ủy Trung ương tháng 01/1970), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1) do các nước anh em chi viện.


Tổng kết ngành Hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng đưa ra nhiều số liệu so sánh, đánh giá về số lượng, chất lượng, tỷ trọng khối lượng hàng hóa viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam. Công trình Tổng kết Hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) khẳng định: bởi đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam, nên Việt Nam tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Tổng số hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa dành cho quân và dân Việt Nam trong 4 năm (1965 - 1968) tăng gấp 7,1 lần về giá trị trong chi ngân sách quốc phòng và gấp 7,3 lần về khối lượng mặt hàng so với thời gian 10 năm (1955 - 1964) trước đó, và chiếm tới 79,7% tổng chi ngân sách quốc phòng của Việt Nam trong 4 năm. "Sự giúp đỡ to lớn của các nước anh em đã tăng cường mạnh mẽ nâng cao rõ rệt sức mạnh chiến đấu và bảo đảm chiến đấu của lực lượng vũ trang Việt Nam"1 (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.424).


Là cơ quan tham mưu và tổng hợp nhu cầu viện trợ quân sự toàn quân, Báo cáo về tình hình vũ khí, đạn dược, khi tài và phương tiện của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1972 thêm một lần nữa khẳng định: "Nhu cầu vật chất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam rất lớn, nhưng bởi Đảng Lao động Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nên Việt Nam đã tranh thủ được sự viện trợ rất lớn từ phía các nước xã hội chủ nghĩa anh em và với sự cố gắng lớn trong nước, chúng ta đã tạo được một số khối lượng vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu to lớn, có nhiều loại chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện chiến đấu của Việt Nam, đã phát huy thắng lợi trên chiến trường Đông Dương"2 (Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 2).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 11:07:42 pm
Về số lượng so với năm 1964 (sau 8 năm, tính tối năm 1972), Báo cáo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, mức độ tăng trung bình về số lượng đạt mức từ 5 đến 10 lần; thậm chí có loại tăng vọt từ 12 đến 22 lần như súng máy cao xạ, máy bay chiến đấu, cầu phà công binh; có loại trước năm 1964 hầu như không có, nhưng đến năm 1972 có nhiều như: tên lửa phòng không, tên lửa chống tăng, tàu chiến mang tên lửa...


Trình độ trang bị của các lực lượng vũ trang Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ. Súng bộ binh bắn tự động ngày càng nhiều, pháo nòng dài có tầm bắn xa và chính xác như 130mm, Đ74mm; xe tăng có tốc độ tấn công cao, vỏ thép dày như T54B, T59; pháo cao xạ có sơ tốc nhanh như 23mm, có khả năng chiến đấu trong mọi điều kiện thời tiết như pháo cao xạ 57mm; tên lửa phòng không có A-72, S-125, SA-75M; tàu chiến mang tên lửa của hải quân; máy bay MiG 21/96. Vũ khí, khí tài dùng bằng điện, điện tử ngày càng phổ biến. Khí tài chỉ huy của pháo cao xạ và tên lửa được cải tiến hơn. Phương tiện vận tải, làm đường, vượt sông ngày càng được cơ giới hóa... Mặc dù vậy, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình khai thác và sử dụng do tiếp nhận được nhiều chủng loại vũ khí, trang bị có nguồn gốc từ nhiều nước sản xuất như: tên lửa có 3 loại, trên 15 loại máy bay, 120 loại ôtô, 241 loại nguồn điện, 20 loại rađa, 186 loại vô tuyến điện,... có chủng loại, phụ tùng thay thế rất ít hoặc gần như không có nguồn thay thế như: xe tăng T34, T59, xe ôtô, xe xích, MiG-17F, pháo cao xạ 85mm và pháo 100mm1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tinh hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, khả năng bảo đảm cho nhiệm vụ sắp tới, Tlđd, tờ 13).


Cũng nhờ các nguồn viện trợ quân sự, tiềm lực quốc phòng miền Bắc có điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh chóng, đặc biệt là về nhân lực (đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực miền Bắc tăng từ 195.000 người lên 400.000 người). Các quân, binh chủng tăng gấp ba lần so với năm 1964, riêng Quân chủng Phòng không - Không quân phát triển vượt bậc, không chỉ có pháo phòng không mà còn có các binh chủng tên lửa đất đối không, rađa cảnh giới, không quân tiêm kích. Nếu như năm 1964, lực lượng Phòng không miền Bắc chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn không quân tiêm kích, 2 trung đoàn rađa, thì cuối năm 1967, lực lượng Phòng không miền Bắc đã phát triển lên 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn pháo cao xạ, 10 trung đoàn tên lửa đất đối không, 2 trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn rađa. Lực lượng Phòng không miền Bắc được bố trí thành thế trận liên hoàn có thể đánh địch ở những độ cao khác nhau, vừa bảo đảm tác chiến rộng khắp, vừa có thể tập trung lực lượng bảo vệ những trọng điểm giao thông những khu yếu địa của quốc gia. Bên cạnh bộ đội phòng không chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ các tỉnh, thành phố cũng phát triển nhanh chóng, những năm 1966 - 1967 được tổ chức thành nhiều tiểu đoàn và đại đội pháo phòng không, được trang bị từ súng máy 12,7mm, 14,5mm đến pháo cao xạ 37mm, 100mm. Riêng lực lượng dân quân, tự vệ đã tổ chức được 2.000 đơn vị trực chiến trên toàn miền Bắc, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với bộ đội...


Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biển trên miền Bắc được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân sẵn sàng tác chiến tiêu diệt địch mọi nơi, mọi lúc và sáng tạo ra nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo, táo bạo, hiệu quả cao, vô hiệu hóa được nhiều âm mưu, thủ đoạn đánh phá khốc liệt, nhiều loại vũ khí và khí tài hiện đại tối tân của Mỹ trên vùng trời, vùng biên miền Bắc.


Với thế trận chiến tranh nhân dân nhiều tầng nhiều lớp, lại được sự hậu thuẫn chi viện to lớn và liên tục về vũ khí, đạn dược, trang bị từ phía các nước xã hội chủ nghĩa, quân và dân Việt Nam trên hậu phương miền Bắc vững tin kiên quyết đánh bại các bước leo thang chiến tranh của Mỹ. Tại những địa bàn trọng điểm, quy mô lực lượng phòng không từ trung đoàn phát triển thành sư đoàn với thực tế hỏa lực vũ khí, trang bị chủ yếu là pháo cao xạ các cỡ và tên lửa đất đối không do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện (từ năm 1965 đến năm 1968, Việt Nam được các nước anh em viện trợ quân sự 17 trung đoàn tên lửa phòng không và hơn 3.000 khẩu pháo cao xạ các cỡ).


Bên cạnh bổ sung các loại vũ khí, trang bị, góp phần tăng cường thực lực kháng chiến của cả nước, với quyết tâm tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, công tác chi viện lực lượng và vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam được Đảng, Chính phủ và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hết sức quan tâm. Phần lớn số vũ khí, trang bị viện trợ quân sự được Việt Nam vận chuyển vào các chiến trường miền Nam trên nhiều hướng và bằng nhiều tuyến đường khác nhau. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, trong 4 năm (từ năm 1965 đến giữa năm 1969), miền Bắc đã vận chuyển vào chiến trường miền Nam 266.122 khẩu súng trường, 34.812 khẩu súng ngắn các loại, 271.249 khẩu tiểu liên, 17.261 khẩu trung liên, 1.729 khẩu đại liên, 2.025 khẩu trọng liên 12,7mm, 1.632 khẩu ĐKZ các loại, 3.999 khẩu cối từ 60mm đến 160mm, 9.666 khẩu B40, B41, P27, 108 khẩu pháo nòng dài từ 76mm đến 152mm, 28 khẩu pháo hỏa tiễn H12 và BM14, 38 khẩu pháo chiến lợiphẩm 24 trọng liên 14,5mm, 36 pháo cao xạ 23mm, 108 pháo cao xạ 37mm một nòng...1 (Xem Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu về tình hình số lượng và chất lượng đạn dược 1965 - 1969 (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), Tlđd, tờ 119-120). Tổng khối lượng vật chất miền Bắc chi viện miền Nam giai đoạn này lớn gấp 10 lần so với những năm 1961 - 1964. Và đây cũng là giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh khi nhân dân Việt Nam phải đối chọi với hơn 50 vạn quân viễn chinh, đồng minh của Mỹ cùng trên 1 triệu quân đội Sài Gòn; cùng với đó, là việc thực thi các âm mưu, thủ đoạn chiến tranh thâm độc, dã man tàn bạo.


Không chỉ ra sức chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ, Việt Nam còn sử dụng nguồn viện trợ quân sự của mình để giúp đỡ cho cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Viện trợ của Việt Nam cho cách mạng Lào trong giai đoạn này rất lớn, gồm chủ yếu là kinh phí, vật tư và nhân lực phục vụ xây dựng các công trình cầu, đường, bảo đảm một số mặt hậu cần cho lực lượng vũ trang chiến đấu. Tính riêng trong 4 năm 1969 - 1972, Việt Nam viện trợ cho cách mạng Lào 183.687.306 đồng; đồng thời, giúp cách mạng Lào tiếp nhận và vận chuyển hàng viện trợ cả kinh tế lẫn quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa trên dưới 20.000 tấn. Phần lớn trong số này là các loại vũ khí,xăng dầu, trang bị và vật tư kỹ thuật, quân trang, quân dụng và những năm về sau còn có thêm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thiết bị y tế. Theo những thống kê chưa đầy đủ, riêng hàng viện trợ quân sự, từ năm 1969 đến năm 1972, Việt Nam giúp cách mạng Lào tiếp nhận 18.833 tấn hàng viện trợ quân sự và nhiều xe cơ giới (bình quân trên 4.500 tấn/năm). Việt Nam giúp tiếp nhận ở cửa khẩu biên giới Việt Nam, vận chuyển về kho chứa tại Việt Nam, tiếp sau phân loại, bảo quản, vận chuyển từ Việt Nam tỏa đi các chiến trường Lào. Tính cả hàng quân sự và kinh tế, bình quân mỗi năm Việt Nam giúp vận chuyển 16.000 tấn trên 7 tuyến đường, chuyển giao cho bạn từ Bắc đến Nam Lào.
Qua đây cho chúng ta thấy rằng, trong khoảng thời gian cao trào và khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Việt Nam đã chủ động nỗ lực cao độ trong vận động tranh thủ mọi nguồn lực viện trợ quần sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đường lối, chủ trương, sách lược vận động và cả những hoạt động tranh thủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hết sức linh hoạt, mềm dẻo, phong phú và đa dạng, đã giúp cho quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, phức tạp để đạt được những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ chiến lược lớn lao của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mặc dù còn rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng và cả những khókhăn nội tại, nhưng trên hết là tinh thần bạn bè quốc tế vô sản đã có những giúp đỡ kịp thời, hiệu quả về quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế... cho nhân dân Việt Nam kháng chiến và kháng chiến đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn. Nguồn lực viện trợ quân sự nói chung và mọi sự giúp đỡ khác nói riêng do các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ đã được quân và dân Việt Nam khai thác, sử dụng sáng tạo, phát huy tác dụng to lớn, góp phần quan trọng trực tiếp đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, hoàn thành thắng lợi vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ vô cùng oanh liệt, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước. Từ thực tiễn quá trình vận động tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa qua 21 năm gian khổ chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên thực tế đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm thành công và quý báu có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay và mai sau.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 11:09:43 pm
Chương III
NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM


I-NHẬN XÉT

Thứ nhất, tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa là đường lối, chủ trương, sách lược nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sống còn của cuộc kháng chiến.

Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là dân tộc Việt Nam phải đương đầu chống lại một kẻ địch mạnh hơn gấp nhiều lần, trong khi thực lực mọi mặt lại rất nhỏ bé và hạn chế; quá trình chiến đấu phải tiêu hao một khối lượng lớn các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh... Do vậy, hơn bao giờ hết, nhân dân Việt Nam rất cần sự giúp đỡ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao của bạn bè quốc tế, đặc biệt là nguồn viện trợ quân sự từ phía các nước xã hội chủ nghĩa.


Sớm ý thức sâu sắc về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của nguồn viện trợ quân sự, nên trong suốt 21 năm kiên cường, bền bỉ chống Mỹ xâm lược, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại là tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó được phản ánh rõ nét tại nhiều hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đường lối, chủ trương chung xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là: "Tranh thủ sự giúp đỡ về quân sự của các nước anh em tối mức cao nhất, trên cơ sở có lợi cho công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tăng cường đoàn kết quốc tế trong phe xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.112).


Ngay khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, năm 1955, Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định chủ trương cần phải tăng cường tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em để xây dựng quân đội chính quy, hiện đại làm cơ sở thực hiện các nhiệm vụ quan trọng khác. Hội nghị Trung ương lần thứ 20 khóa III, năm 1972, Đảng và Nhà nước ta một lần nữa khẳng định: "tăng cường đoàn kết hữu nghị và ra sức tranh thủ sự viện trợ của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.33, tr.42)... Thực tiễn đã chứng tỏ chủ trương, đường lối, chính sách này của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Báo cáo về tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1972 đã khẳng định: "Nhu cầu vật chất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn nhưng do đường lối đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã tranh thủ được sự viện trợ rất lớn của phía các nước xã hội chủ nghĩa anh em"2 (Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 3). Toàn bộ chặng đường kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ, Việt Nam đã nhận được sự chi viện hết sức to lớn, thiết thực và hiệu quả. Tổng khối lượng viện trợ quân sự lên tới trên 2 triệu tấn vật chất, ước trị giá gần 7 tỉ rúp. Nguồn vật chất này đã được quân và dân Việt Nam khai thác và sử dụng hiệu quả, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc giành thắng lợi trọn vẹn. Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", nhân dân Việt Nam sẽ mãi tri ân sự giúp đỡ quý báu đó.


Đáp lại yêu cầu giúp đỡ của Việt Nam về vũ khí, đạn phương tiện chiến tranh, các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã sẵn sàng ủng hộ theo khả năng của mình. Trung Quốc hỗ trợ Việt Nam chủ yếu là các loại vũ khí, hàng chục triệu viên đạn lớn, nhỏ cho các cỡ súng, các loại phương tiện phục vụ bộ binh và một khối lượng lớn vật tư hậu cần như: lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ, quân trang, quân cụ các loại. Các loại súng bộ binh do Chính phủ Trung Quốc viện trợ như tiểu liên AK56, trung, đại liên,... chủ yếu là loại mới sản xuất lên tới hàng triệu khẩu. Liên Xô chủ yếu hỗ trợ Việt Nam các loại vũ khí, trang thiết bị hạng nặng, tiên tiến, hiện đại như: máy bay chiến đấu MIG-17, MIG-21, tàu chiến, pháo cỡ lớn, tên lửa phòng không SAM-2, SAM-3, xe tăng T54, T59,... Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Triều Tiên, Cuba cũng tùy theo khả năng của mình mà tận lực hỗ trợ nhân dân Việt Nam nhiều loại vũ khí, trang thiết bị. Những loại vũ khí, trang thiết bị chiến tranh, đạn dược do các nước xa họi chủ nghĩa hô trợ đã được Việt Nam biên chế cho các lực lượng vũ trang, chi viện chiến trường hoặc bổ sung vào nguồn dự trữ chiến lược. Theo đánh giá của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa giúp Quân đội nhan dân Việt Nam bình quân chiếm tới hơn 200%ngân sách quốc phòng của Nhà nước dành cho quân đội. "Các trang bị khí tài các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, nhìn chung có chất lượng tốt đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, đã tăng cường sức chiến đấu cho quân đội; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng Chiến tranh cục bộ ở miền Nam; góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng"1 (Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965- 1975, Tlđd, tờ 10-20).


Bên cạnh nỗ lực giúp đỡ quân và dân Việt Nam các loại vũ khí, đạn, trang thiết bị chiến tranh, thuốc men, y cụ..., các nước xã hội chủ nghĩa còn giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng thành công ngành công nghiệp Quốc phòng non trẻ trong bối cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt. Suốt 21 năm ròng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nước xã hội chủ nghĩa giúp vốn, tài liệu khoa học kỹ thuật, cử đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm sang Việt Nam giúp khảo sát, thiết kế, thi công 71 công trình công nghiệp quốc phòng, ước tính trị giá hàng chục triệu rúp quy đổi2 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 1-5). Phần lớn những công trình này đãvận hành sản xuất, phát huy tác dụng to lớn đối với cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Năm, 2026, 11:12:00 pm
Không chỉ tích cực chi viện cho Việt Nam các loại súng, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng, các nước xã hội chủ nghĩa còn nhận đào tạo tại hệ thống trường quân sự của mình hàng chục nghìn cán bộ, học sinh, sinh viên, thực tập sinh Việt Nam. Đội ngũ nhân lực này vô cùng quý, sau quá trình học tập nghiên cứu đã nhanh chóng trở về Tổ quốc để bổ sung cho các ngành, các cấp. Đặc biệt, trên lĩnh vực quân sự, đội ngũ sĩ quan chỉ huy, tham mưu, kỹ sư, công nhân lành nghề phục vụ trong các nhà máy, xí nghiệp, xưởng sửa chữa, trung đại tu các loại vũ khí, khí tài, đạn dược... được gấp rút tăng cường. Ngoài ra, cùng công tác, phôi hợp chiến đấu với quân và dân Việt Nam suốt những năm chống Mỹ xâm lược là đội ngũ chuyên gia các cấp, các ngành của nhiều quốc gia như: Liên Xô, Trung Quốc, Hunggari, Triều Tiên, Tiệp Khắc...; trong đó, không thể không kể tới sự có mặt của hàng vạn lượt bộ đội hậu cần Trung Quốc sang giúp Việt Nam xây dựng các công trình phòng thủ tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các đảo vùng Đông bắc, bảo vệ một số tuyên đường sắt các tỉnh phía bắc từ năm 1965 đến năm 1969. Trung Quốc không chỉ giúp Việt Nam các loại vũ khí, trang bị khí tài, vật tư hậu cần, cử đội ngũ cố vấn, chuyên gia và bộ đội hậu cần mà còn giúp vận chuyển quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc hàng chục vạn tấn vật chất viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa khác chi viện Việt Nam; giúp bảo quản, lưu trữ an toàn hàng chục nghìn tấn vật chất; cho phép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng một số cảng biển như Trạm Giang, Phòng Thành, Thủy Khẩu làm nơi trung chuyển các loại vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men... chi viện các chiến trường miền Nam kháng chiến.


Những chiến thắng quân sự nối tiếp nhau trên khắp các chiến trường Bắc - Nam như: Ấp Bắc, Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài, Plâyme, trong hai cuộc phản công mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, Mậu Thân năm 1968, Đường 9 - Nam Lào năm 1971, trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã khẳng định vai trò, tác dụng to lớn của các nguồn viện trợ quân sự.


Các nước xã hội chủ nghĩa khác hỗ trợ Việt Nam khá liên tục, không đứt đoạn, tùy theo khả năng, điều kiện của từng nước. Các loại vũ khí, trang bị các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Triều Tiên viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là loại cũ, đã qua sử dụng, được rút từ lực lượng vũ trang của họ, phần nhiều cũng bởi nền công nghiệp quốc phòng của họ chưa phát triển mạnh. Tuy viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam có khối lượng và trị giá vật chất các loại không lớn, nhưng đã trực tiếp góp phần thổi bùng lên phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ trên thế giới. Sức mạnh vật chất cộng hưởng với sức mạnh tinh thần từ bạn bè quốc tế đã giúp quân và dân Việt Nam có thêm ý chí, niềm tin, nhân lên thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng quân thù trong cuộc đọ sức quyết liệt trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta.


Đánh giá tổng thể về sự giúp đỡ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Việt Nam suốt 21 năm gian khổ chống Mỹ, cứu nước là rất to lớn, thiết thực và hiệu quả. Tuy nhiên, so sánh với sự giúp đỡ của chính quyền Mỹ đối với chính quyền và quân đội Sài Gòn lại chiếm tỷ trọng và trị giá nhỏ hơn nhiều lần. Theo một số thống kê và so sánh chưa đầy đủ, sự giúp đỡ của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn lớn hơn gấp nhiều lần nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam Dân chu Cộng hòa. Trong 21 năm, Mỹ đã viện trợ cho chính quyền Sài Gòn 24,955 tỉ đôla, còn các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là 4,014 tỉ đôla, gấp hơn 6 lần (622%)1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 3). Trong hai công trình nghiên cứu: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước, Thắng lợi và bài học và Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị cũng đưa ra một so sánh, cho rằng phần Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn lớn hơn gấp nhiều lần phần các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Viện trợ quốc tế (viện trợ quân sự - TG) cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là 2.362.682 tấn vật chất, trị giá hơn 7 tỉ rúp1 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.317) (quy đổi tại thời giá thời điểm đó tương đương 7 tỉ đôla). Trong khi đó, viện trợ quân sự của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn là 17 tỉ 939,1 đôla2 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sdd, tr.500-501, 600-601).


Tuy nhận được khối lượng viện trợ quân sự lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhưng quân và dân Việt Nam luôn thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.56-57), luôn nỗ lực tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, triệt để khai thác, phát huy tối đa tính năng, tác dụng các loại vũ khí, trang bị do các nước xã hội chủ nghĩa giúp để đánh thắng quân thù. Một sử gia người Pháp cũng từng đánh giá rằng: "Về mặt tài chính, cái giá của chiến tranh Việt Nam thật đồ sộ đối với Hoa Kỳ nhưng nhỏ nhoi với Bắc Việt Nam. Vì người Liên Xô và người Trung Quốc thanh toán phần lớn hóa đơn. Đến cuối cùng, người Mỹ tốn mỗi năm 30 tỉ đôla; Liên Xô và Trung Quốc mỗi nước khoảng 1 tỉ đôla"2 (Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Sđd, tr.365).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:25:50 pm
Trong quá trình nỗ lực vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sớm nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại hết sức linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết giữ vững nguyên tắc "độc lập, tự chủ", không bị chi phối, áp lực từ bên ngoài. Nhiều chủ trương và kế hoạch xây dựng, phát triển quân đội, phương án tác chiến của các lực lượng vũ trang được Việt Nam đưa ra công khai bàn bạc, tranh thủ ý kiến của các nước bạn như: Kế hoạch xây dựng quân đội 5 năm lần thứ nhất, Kế hoạch trang bị, Kế hoạch phòng thủ miền Bắc, Kế hoạch phối hợp hiệp đồng tác chiến giữa quân đội Việt Nam và quân đội Trung Quốc nếu chiến tranh xâm lược mở rộng ra miền Bắc; chủ trương chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam năm 1959,... cũng như những thắng lợi quân sự của quân và dân Việt Nam trên các chiến trường đã được Việt Nam kịp thời thông báo cho các nước xã hội chủ nghĩa biết để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ. Trên tinh thần đoàn kết quốc tế, chân thành ủng hộ lẫn nhau, Việt Nam đã tranh thủ tối đa được sự đồng tình, giúp đỡ về mặt chính trị, tinh thần trên các diễn đàn trong nước, khu vực và quốc tế; sự chi viện thiết thực, hiệu quả về vật chất, nhất là các loại vũ khí, đạn dược, trang thiết bị trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Nếu như Việt Nam không nhất quán thực hiện một chủ trương, đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, đúng đắn và sáng tạo thì rất khó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Mặt trận nhân dân thế giới phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ khởi đầu từ các nước xã hội chủ nghĩa, ngày càng lan rộng thành phong trào, thành động lực thôi thúc, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ. Thực tiễn cuộc chiến đấu khốc liệt đã gây tổn hao lớn mọi nguồn lực của quốc gia, nên bên cạnh ý chí, quyết tâm chiến đấu kiên cường, bất khuất của quân và dân cả nước Việt Nam không thể không dựa vào sự giúp đỡ tích cực từ các nước xã hội chủ nghĩa để bồi bổ thực lực kháng chiến. Sự thay đổi trong so sánh tương quan lực lương từ yếu sang mạnh, thực hiện mưu lược "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều" từng bước xoay chuyển cục diện chiến tranh, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, đây là phương châm, truyền thống đánh giặc lâu đời của dân tộc Việt Nam.


Mặc dù Việt Nam khá nhất quán trong thực hiện đường lối, chủ trương, sách lược tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa và đã thu được những kết quả to lớn, tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, tại nhiều thời điểm khác nhau, thậm chí là khá nhạy cảm về chính trị, do đoán định tình hình chưa thực sự sát đúng, nên kết quả ủng hộ về quân sự chúng ta thu được chưa cao như mong muốn.


Thứ hai, trên tinh thần "độc lập, tự chủ", Việt Nam luôn nỗ lực tranh thủ viện trợ quân sự từ cấc nước xã hội chủ nghĩa ở mức cao nhất.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu luôn ý thức sâu sắc đây là sự nghiệp hoàn toàn chính nghĩa. Việt Nam chống Mỹ, cứu nước chẳng những vì lợi ích thiết thân của dân tộc mình mà còn góp phần bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới. Trong bối cảnh này, lợi ích quốcgia - dân tộc của các nước xã hội chủ nghĩa trùng hợp với lợi ích từ việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống Mỹ, khẳng định ý thức hệ về hệ thống là một nguồn lực tinh thần mạnh mẽ, gắn kết các nước với nhau. Ngược lại, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là xâm lược một quốc gia có chủ quyền, một thành viên trong phe xã hội chủ nghĩa, đe dọa an ninh, an toàn và thách thức hệ thống xã hội chủ nghĩa, uy hiếp trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộc và hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Kết quả cuộc chiến tranh tại Việt Nam vì vậy có liên quan tới nhiều nước, nhiều dân tộc.


Quân và dân Việt Nam luôn chiến đấu với niềm tin tưởng son sắt rằng thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về dân tộc Việt Nam. "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do,... Nhân dân Việt Nam nhất định thắng!"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.131, 133).


Với niềm tin có căn cứ và cơ sở khoa học vững chắc, Việt Nam kiên quyết thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, biện pháp đối ngoại khéo léo, mềm dẻo, từng bước tạo cho mình một hậu phương quốc tế tin cậy, trong đó giữ vai trò nòng cốt là các nước xã hộichủ nghĩa. Từ các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào phản đối chiến tranh, ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược trên thế giới ngày càng lan rộng, trở thành một động lực tinh thần to lớn đối với Việt Nam; góp phần phân hóa, cô lập, thu hẹp hậu phương địch. Ngoài sự động viên khích lệ to lớn về chính trị, tinh thần, các nước xã hội chủ nghĩa còn viện trợ quân sự liên tục cho quân và dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ các loại vũ khí tiên tiến và hiện đại, nguồn đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... với khối lượng lên tới trên 2.362.682 tấn, trị giá gần 7 tỉ rúp quy đổi. Có thể nói, sự ủng hộ, giúp đỡ về vật chất và chính trị, tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ là hết sức thiết thực, hiệu quả. Nó từng bước chuyển hóa thành nội lực, nhân thêm gấp bội, tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy cam go thử thách và khốc liệt.


Trên mỗi chặng đường gian khổ chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, sự chi viện về quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không đồng đều, nhưng kịp thời, liên tục, không hề bị đứt đoạn. Nếu như 10 năm đầu (1954 - 1964), miền Bắc Việt Nam xây dựng, phát triển trong hòa bình,do quan niệm và cách nhìn khác nhau về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam mà các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho nhân dân Việt Nam chủ yếu thiên về viện trợ kinh tế, bởi thế mà khối lượng về quân sự không lớn. Chẳng hạn, Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ kinh tế cho Việt Nam ước đạt 1 tỉ nhân dân tệ, trong khi đó, viện trợ quân sự ước đạt 320 triệu nhân dân tệ, chiếm chưa tới 1/3. Tỷ trọng và trị giá các loại hàng hóa thuộc nguồn viện trợ quân sự khá khiêm tốn so với viện trợ kinh tế. Phần lớn là các loại súng, đạn, vật tư hậu cần trang bị cho lực lượng bộ binh mà thiếu vắng nhiều những loại vũ khí tiên tiến hiện đại, rất khó khăn cho việc cơ cấu phát triển hợp lý các quân, binh chủng, đơn vị trong quân đội. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong tái cơ cấu, phát triển một quân đội cân đối, hợp lý giữa các quân, binh chủng, các ngành, nhưng vớisố vốn thiết thực, tài liệu khoa học và cả những kinh nghiệm do các nước xã hội chủ nghĩa chuyển giao, giúp đỡ thời kỳ đầu đã đặt cơ sở nền tảng đầu tiên, vững chắc cho Quân đội nhân dân Việt Nam thống nhất về vũ khí, trang bị hiện đại, tập trung huấn luyện theo hướng chính quy. Trên 90% súng bộ binh bộ đội chủ lực Việt Nam là loại mới sản xuất của phe xã hội chủ nghĩa viện trợ. Tiền đề của nhiều quân chủng mới hiện đại như Hải quân,Phòng không, Không quân, Rađa, Tên lửa... ra đời, từng bước phát triển đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc chiến tranh. Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng ghi nhận: những năm sau kháng chiến chống thực dân Pháp, viện trợ quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy khối lượng không lớn hơn so với những năm còn chiến tranh (những năm 1956 - 1960 về số lượng chỉ bằng 120% những năm 1950 - 1955), nhưng có giá trị lớn - bằng 320%, do vũ khí trang bị kỹ thuật chiếm tỷ lệ 92% (trong số hàng tiếp nhận từ năm 1955 đến năm 1960 là 49.585 tấn thì có tới 45.480 tấn hàng hóa thuộc trang bị kỹ thuật). Đây là nguồn cung cấp chủ yếu về trang bị kỹ thuật để Việt Nam tổ chức bảo đảm cho xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.39).


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:28:04 pm
Khác với 10 năm đầu, từ năm 1965 đến năm 1972,khi Mỹ leo thang và mở rộng quy mô chiến tranh, đồng thời trước những khó khăn lớn của phía Việt Nam, nguồn viện trợ quân sự các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng. Cơ bản các loại vũ khí, trang bị, đặc biệt là các loại vũ khí, trang bị tiên tiến, hiện đại như: xe tăng T54, máy bay chiến đấu MIG-17, MIG-19, MIG-21, tàu chiến, tên lửa phòng không SAM-2, SAM-3, các loại pháo,... của Quân đội nhân dân Việt Nam đều do các nước xã hội chủ nghĩa cung cấp. Nguồn vật chất này khá dồi dào, không chỉ kịp thời bổ sung trang bị cho các lực lượng vũ trang, bù đổi trong quá trình chiến đấu mà còn tăng nguồn dự trữ chiến lược lâu dài. Theo báo cáo của Quân ủy Trung ương, tính tới thời điểm cuối năm 1972: "Nhờ sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em mà trang bị khí tài của quân đội ta đã được tăng cường về số lượng và cải tiến về chất lượng, do đó đã đưa trình độ hiện đại của quân đội Việt Nam lên một bước mới, đã bảo đảm các nhiệm vụ chiến đấu trước mắt mà còn tăng thêm lượng dự trữ, đồng thời giúp Việt Nam bước đầu xây dựng các cơ sở sản xuất quốc phòng, sửa chữa, đào tạo cán bộ và nghiên cứu kỹ thuật"1 (Quân ủy Trung ương: Bảo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 10).


Báo cáo cũng ghi nhận, Quân đội nhân dân Việt Nam từ một quân đội chủ yếu chỉ có bộ binh, nay (năm 1972) đã có các quân chủng, binh chủng tươngđối hiện đại như: tên lửa phòng không loại có xe kéo bắn ở tầm cao và loại mang vác bắn địch ở tầm thấp; máy bay chiến đấu có tốc độ trên tốc độ tiếng động; pháo cao xạ bắn bằng khí tài; các loại rađa trinh sát và dẫn đường bay; các loại pháo có uy lực sát thương lớn tầm bắn xa và cơ động như pháo hỏa tiễn mang vác, pháo nòng dài 130mm và 122mm D-74; các loại súng chống tăng uy lực mạnh như: B40, B41 và từ năm 1971 trở đi có thêm loại tên lửa chống tăng; vũ khí bộ binh cũng ngày càng được cải tiến về chất lượng, đến năm 1972, hầu hết các sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam đều được trang bi súng tự động, cùng một cỡ đạn ở đại đội; có sức đột kích mạnh bằng các loại xe tăng T34, T54, xe tăng lội nước, xe bọc sắt lội nước, có thêm lực lượng vận tải cơ giới làm nhiệm vụ vận tải tiếp tế tới các chiến trường. Các trang bị khí tài các nước xã họi chủ nghĩa viện trợ nhìn chung có chất lượng tốt, đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, tăng cường mạnh mẽ sức chiến đấu cho quân đội; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng trên quy mô lớn. Trang bị viện trợ quân sự của các nước anh em cho Việt Nam có đủ để bổ sung tiêu hao hằng năm và tăng dần lượng dự trữkhoảng từ 2 đến 3 năm (trừ ôtô, một số loại đạn, một số khí tài trước mắt)1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 10-20).


Quân và dân Việt Nam kiên cường chiến đấu chống Mỹ xâm lược trong tâm thế hoàn toàn chủ động, tự tin vì biết chắc rằng phía sau mình có một hậu phương quốc tế vững chắc, luôn khích lệ, động viên giúp đỡ. Trên thực tế, một mặt trận nhân dân thế giới do các nước xã hội chủ nghĩa làm nòng cốt đã hình thành và phát triển mạnh mẽ như tiếp thêm sức mạnh chính trị, tinh thần cho quân và dân Việt Nam đánh Mỹ. Việt Nam nhận được những gói quà hết sức ý nghĩa, từ bao gạo, cân đường, hộp sữa, viên thuốc chữa bệnh, quần áo cho đến những loại vũ khí tối tân, hiện đại.


Tuy nhiên, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam không đều nhau, phụ thuộc rất lớn vào tình hình các mặt và chính sách đối ngoại của mỗi nước qua từng giai đoạn, thời điểm nhất định, phụ thuộc cả vào đường lối đối ngoại và các hoạt động ngoại giao của phía Việt Nam. Mỗi nước giúp nhân dân Việt Nam kháng Mỹ, bên cạnh tình nghĩa quốc tế vô sản còn tínhtoán đến cả lợi ích quốc gia, dân tộc, đến cả đường lối đối nội và đối ngoại.


Trên cơ sở lường định và từ những phân tích khoa học bối cảnh tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tich Hồ Chí Minh, các cơ quan chức năng Việt Nam từng bước đề ra những giải pháp và bước đi sáng tạo trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Liên Xô và Trung Quốc. Bởi vậy, Việt Nam vừa giữ vững và bảo vệ đường lối tiến hành chiến tranh cách mạng, nhưng cũng đồng thời tranh thủ tối đa được sự đồng tình ủng hộ từ các nước xã hội chủ nghĩa cả về vật chất lẫn chính trị, tinh thần. Việt Nam luôn kiên định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của mình; luôn cân nhắc tới lợi ích của dân tộc với lợi ích quốc tế, vừa hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc lại vừa góp phần bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới. Luôn vận động, tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng kiên quyết không để vấn đề giúp đỡ Việt Nam bị lợi dụng, gây mất đoàn kết giữa các nước anh em. Từ đó, ngày càng tranh thủ được nhiều nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn Xô - Trung lên tới đỉnh điểm (xung đột biên giới tháng 3/1969), nhưng hai nước vẫn tiếp tục viện trợ cả quân sự và kinh tế ở mức cao cho Việt Nam. Những năm 1965 - 1972 là giai đoạn các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cao nhất trong toàn bộ cuộc kháng chiến. Trong những năm này, các nước đã viện trợ quân sự với một số lượng lớn vũ khí, trang bị khí tài tương đối hiện đại. Việt Nam có thêm tên lửa phòng không loại có xe kéo và loại mang vác, tên lửa chống tăng loại mang vác, máy bay MIG-21, rađa, tàu phóng tên lửa, pháo mặt đất 122mm, D-74, 130mm, xe tăng T54B, xe vỏ thép các loại, ông dẫn dầu...


Nhận được sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả đó của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có điều kiện thuận lợi để xây dựng, củng cố hậu phương miền Bắc về mọi mặt, biến miền Bắc trở thành hậu phương, chỗ dựa vững chắc đối với toàn bộ cuộc kháng chiến; là cơ sở để đẩy mạnh chi viện sức người, sức của cho miền Nam từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đúng như đánh giá của Đảng và Nhà nước Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976): "Thắng lợi của chúng ta là thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình trên thế giới đã ủng hộ nhân dân ta đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược... bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, đã vì tình nghĩa quốc tế vô sản, dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ toàn diện, to lớn và quý báu"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.983).


Tuy nhiên có một thực tế là do việc nắm bắt tình hình mọi mặt các nước xã hội chủ nghĩa chưa sát, nên trong xây dựng kế hoạch đặt vấn đề viện trợ quân sự có nhiều chủng loại không phù hợp cho quá trình khai thác và sử dụng của bộ đội hoặc nguồn bảo đảm không thể đáp ứng được vì công nghệ sản xuất lạc hậu, các nước đã ngừng sản xuất. Trong tính toán tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa các loại, các cơ quan chức năng Việt Nam cũng xây dựng kế hoạch có nhiều thời điểm chưa sát dẫn tới tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các ga Bằng Tường, Mãn Châu Lý (Trung Quốc), Hải Phòng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:30:06 pm
Thứ ba, Việt Nam luôn gắn tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa với nỗ lực đoàn kết quốc tế.

Trong quá trình nỗ lực vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam luôn cân nhắc, tính toán cẩn trọng không để vì đạt được mục tiêu mà ảnh hưởng tới tình đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Đoàn kết và đấu tranh phải trên cơ sở bảo đảm có lý, có tình. Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: "Từ trước đến nay và từ nay về sau, Đảng ta luôn luôn đem hết sức mình để tăng cường đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và Đảng Lao động Việt Nam với nhân dân Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên Xô... Đảng ta đã và sẽ luôn luôn đem hết sức mình để góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô là trung tâm, giữa tất cả các đảng cộng sản và công nhân, trên cơ sở cua chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản"1 (Đảng Cộng sẵn Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22, tr.607-608). Trung ương Đảng ta phải làm hết sức mình để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả nhất của các nước anh em, đồng thời cố gắng tránh những ảnh hưởng xấu nhất đối với công cuộc chống Mỹ, cứu nước. Việt Nam vừa phải kiên trì đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ lại vừa phải tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam chân thành cảm ơn những gợi ý của Trung Quốc về đặt vấn đề viện trợ quân sự một số loại vũ khí, trang bị hạng nặng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Nhưng khi thấy mâu thuẫn Xô - Trung bị rạn nứt, bất đồng ngày càng gia tăng, kê từ sau năm 1958 Liên Xô rút chuyên gia, cắt giảm hàng loạt dự án đối với Trung Quốc Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông không tuyên truyền, phổ biếnvề việc đó vìcó thể sẽ gây bất hòa thêm giữa hai nước. Thậm chí, Việt Nam còn kiên trì yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa chấm dứt tranh luận, công kích lẫn nhau trên các phương tiện thông tin đại chúng, gây ảnh hưởng lớn tới phong trào đấu tranh chung trên thế giới. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chân thành bày tỏ quan điểm với các nước xã hội chủ nghĩa về nhiều vấn đề bất đồng đang tồn tại giữa các nước anh em. Đảng Lao động Việt Nam nhất quán khẳng định: "Chúng ta không tham gia tranh luận về các vấn đề đang chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế... Chúng ta kiên trì thuyết phục, đấu tranh có lý, có tình nhằm hạn chế mặt tiêu cực... Chúng ta chống cả hai xu hướng không phù hợp với sách lược đoàn kết quốc tế của Đảng: xu hướng đoàn kết vô nguyên tắc và xu hướng cô độc hẹp hòi"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, Tlđd, tờ 21).


Những năm đầu khi bước vào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đứng trước chủ trương, xu thế hòa hoãn của Liên Xô (tam hòa) và lời khuyên "Trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng" của Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không nhiều và đồng đều giữa các năm, chủ yếu là các loại vũ khí, phương tiện cho bộ binh, mặc dù yêu cầu về viện trợ quân sự của các lực lượng vũ trang rất lớn, nhưng không phải vì thế mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nóng vội trong vận động các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ. Một mặt, Việt Nam cẩn trọng, từng bước chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam (Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng 01/1959)), mặt khác, cử những đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước có uy tín quốc tế (Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần bí mật đi Liên Xô và Trung Quốc trong những năm 1959, 1960, 1961, 1962) thăm và làm việc với các nước bạn, chân thành giải thích, nỗ lực vận động tranh thủ sự đồng tình của bạn với đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam, cam kết không để chiến tranh lan rộng thành chiến tranh thế giới. Do đó, các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc đã có những hiểu biết chính xác hơn, cảm thông hơn về nội tình cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.


Khi bị các nước xã hội chủ nghĩa cắt giảm các nguồn viện trợ quân sự, Việt Nam vẫn kiên trì quan điểm, thái độ đoàn kết quốc tế; ghi nhận và biết ơn, đánh giá cao sự giúp đỡ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam; khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, gắn bó chặt chẽ với cách mạng thế giới. Nhân dân Việt Nam chiến đấu không chỉ vì lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam mà còn góp phần bảo vệ hòa bình thế giới, bảo vệ an ninh, an toàn của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cơ sở, nền tảng chân chính có sức thuyết phục mạnh mẽ để Việt Nam liên tục kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa ra sức viện trợ quân sự cho quân và dân Việt Nam đánh Mỹ. Cao điểm là sau khi Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị Trung ương 9 khóa III, Liên Xô không chi cắt giảm viện trợ quân sự tới mức tối thiểu, thậm chí còn đưa một số lượng lớn học sinh Việt Nam về nước, chậm công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cho dù nhu cầu vũ khí, đạn dược và trang bị cho cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam đang trên đà thắng lợi là rất lớn và vô cùng cấp bách, các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng cắt giảm viện trợ quân sự, nhưng cũng không vì thế mà Việt Nam làm xấu thêm tình hình. Việt Nam vẫn kiên trì, liên tục cử các đoàn đại biểu cấp cao tới thăm Liên Xô để vận động, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô. Do nỗ lực chủ quan vận động của phía Việt Nam, các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục duy trì viện trợ quân sự cho Việt Nam, bức tranh quan hệ giữa Việt Nam với các nước không bị mờ nhạt. Mặc dù có một số bất đồng, song các nước xã hội chủ nghĩa đều tìm được tiếng nóichung trong chống chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc.


Từ năm 1965 đến năm 1972, bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi to lớn. Đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra cả nước Việt Nam. Nhu cầu viện trợ về quân sự của Việt Nam đột ngột tăng cao. Các nước xã hội chủ nghĩa khuyên Việt Nam sớm đi vào thương lượng, giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh theo những điều kiện của phía Mỹ đưa ra. Mặc dù lúc này, yêu cầu về viện trợ quân sự đặt ra rất cấp bách, đặc biệt là các loại máy bay chiến đấu, tên lửa đất đối không, pháo cao xạ, tàu chiến hiện đại,... để chống trả các cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, lần thứ hai của đế quốc Mỹ và tổ chức các hoạt động quân sự lớn trên chiến trường miền Nam, nhưng không vì thế mà Việt Nam từ bỏ chủ trương "đánh, đàm" của mình, "đàm phán non" với chính quyền Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh hai lần đi Trung Quốc trong các năm 1965, 1966, bày tỏ cảm ơn sự giúp đỡ của Trung Quốc; vận động Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc tăng cường hỗ trợ Việt Nam chống Mỹ. Đồng thời, cử một số đoàn cấp cao do Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu sang Trung Quốc hội đàm và tranh thủ viện trợ; cử các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng đi Liên Xô cảm ơn và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô,... Các đoàn Việt Nam đã kiên trì giải thích với các nước bạn vềđường lối chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam, cam kết không để chiến tranh mở rộng vượt khỏi phạm vi Việt Nam, đồng thời, chủ động mở những đợt hoạt động quân sự lớn, liên tiếp, dồn dập trên khắp các chiến trường giành được thắng lợi như đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, cuộc tiến công chiến lược năm 1972; kịp thời thông báo những thắng lợi quân sự đó tới các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thuyết phục các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ bằng lời nói mà còn chứng minh bằng các kết quả thực tiễn chiến đấu trên các chiến trường hai miền Nam - Bắc. Từ đó, ngày càng tranh thủ được các nguồn viện trợ quân sự. Các nước xã hội chủ nghĩa đều đoàn kết viện trợ quân sự cho quân và dân Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ. Mâu thuẫn Xô - Trung ngày càng tăng nhưng hai nước vẫn viện trợ quân sự ở mức cao cho Việt Nam. Việt Nam đã nỗ lực xử lý thành công nhiều tình huống ngoại giao phức tạp, tế nhị liên quan tới viện trợ quân sự. Có lúc phải công khai quan điểm, chân thành thể hiện chính kiến; có thời điểm gặp riêng từng nước, từng đồng chí lãnh đạo cấp cao để vận động, giải thích, tranh thủ. Qua vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam, các nước xã hội chủ nghĩa thêm đoàn kết với nhau trong mặt trận chống đế quốc xâm lược, giành độc lập, bảo vệ hòa bình.


Bước vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh (1973 - 1975), trên cơ sở phân tích và dự báo các nước xã hội chủ nghĩa sẽ cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bởi quan niệm của họ về cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam đã kết thúc, nhưng theo tính toán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta vẫn có những lý do chính đáng để tiếp tục tranh thủ viện trợ quân sự hoàn thành thắng lợi mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt khác, để bảo đảm giành thắng lợi những mục tiêu tiếp theo, chúng ta cũng rất cần được các nước anh em viện trợ quân sự cho ta. Do đó, từ đầu năm 1973, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã cử đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Đôn dẫn đầu đi thăm và đàm phán viện trợ các mặt với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Kết quả, về cơ bản, các nước xã hội chủ nghĩa đều nhất trí với nhận định tình hình chiến sự của Việt Nam, tiếp tục có những viện trợ quân sự cho Việt Nam, thậm chí có nước tăng vọt về khối lượng, trị giá, nhưng nhìn chung không nhiều bằng những năm trước đây.


Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan là có một số thời điểm chủ trương vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em của chúng ta chưa kịp thời, chưa thực sự sát, hiệu quả chưa phân tích kỹ những bất đồng, tính toán về lợi ích của các nước nên đã gây khó khăn trong việc vận chuyển hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:32:37 pm
II- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, ca nước chung sức đồng lòng kháng chiến chống Mỹ xâm lược, quá trình vận động, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa về mặt quân sự của Việt Nam đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.


1. Nắm bắt và bám sát tình hình một cách toàn diện trong tiến hành tranh, thủ viện trợ quân sự

Suốt quá trình tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam đã thể hiện sự nỗ lực cao độ, chủ động nắm bắt và bám sát tình hình một cách toàn diện để kịp thời đề ra những đường lối, chủ trương, yêu cầu viện trợ quân sự sát, đúng với điều kiện hoàn cảnh từng nước trong từng thời điểm thích hợp. Điều này được thể hiện rõ ngay sau khi miền Bắc vừa giải phóng, trong xu thế hòa bình, hòa hoãn của thế giới; đồng thời với việc phải giải quyết nhiều công việc quan trọng cấp thiết khác, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra và thực thi nhiều chủ trương, giải pháp đối ngoại linh hoạt, sáng tạo nhằm tiếp tục củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc - hai nước xã hội chủ nghĩa lớn, chỗ dựa vững chắc và chủ yếu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trung Quốc vừa là quốc gia láng giềng kề cận lại vừa là hậu phương lớn của Việt Nam từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Liên Xô là đồng Chủ tịch của Hội nghị Giơnevơ, Ba Lan là thành viên của Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các quốc gia sớm đặt đại sứ quán tại Thủ đô Hà Nội. Ngược lại, Đảng, Chính phủ Việt Nam cũng chỉ đạo ngành ngoại giao khẩn trương xúc tiến đặt đại sứ quán Việt Nam tại các nước và chủ động cử nhiều đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Quân đội, Công đoàn,... đi thăm, làm việc với các nước như: chuyến thăm Trung Quốc, Liên Xô và Mông Cổ (tháng 7/1955) của đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu - chuyến đi có ý nghĩa đặt nền móng, mở ra một trang sử mới trong quan hệ với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; chuyến đi thăm 9 nước ở Bắc Âu, Bắc Á (tháng 7/1957) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra, có các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, Quốc hội do các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,... dẫn đầu đến thăm và làm việc với nhiều nước khác nhau. Xen kẽ là những đoàn đại biểu quân sự cấp cao do các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng dẫn đầu sang thăm và làm việc với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam luôn được đề cập trong các chương trình nghị sự, đàm phán, ký kết. Kết quả, Trung Quốc cam kết viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam một cách liên tục. Đối với Liên Xô, từ năm 1957 chính thức công khai viện trợ quân sự cho Việt Nam, năm 1964 bị ngắt quãng. Các nước xã hội chủ nghĩa khác công khai viện trợ quân sự từ năm 1965 trở đi (trước đó, một số nước anh em đã viện trợ quân sự, nhưng chưa công khai, khối lượng và trị giá cũng không lớn).


Tuy nhu cầu về viện trợ quân sự rất lớn và cấp thiết, nhưng những năm đầu chống Mỹ, cứu nước, trước xu thế vận động chung của thế giới là hòa bình, hòa hoãn, kể cả trong nhận thức và ứng xử của hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc, Đảng, Chính phủ Việt Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đã hết sức mềm dẻo, linh hoạt trong đặt vấn đề giúp đỡ có chừng mực. Các loại vũ khí bộ binh, lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, y cụ, kinh nghiệm, tài liệu khoa học, nguồn vốn xây dựng,chuyên gia quân sự các ngành, các cấp phục vụ cho xây dựng quân đội chính quy, hiện đại; tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng đã được các nước xã hội chủ nghĩa cung cấp cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Quy mô, tỷ trọng, trị giá viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa dành cho Việt Nam những năm 1954 - 1964, trên thực tế không lớn so với viện trợ kinh tế.


Bước sang những năm Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược (1965 - 1972), khi bối cảnh thế giới có nhiều biến chuyển thuận lợi đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam như: Liên Xô điều chỉnh đường lối đối ngoại, tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam; phong trào phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược dâng cao trên thế giới. Việt Nam chủ động nắm bắt tình hình, sớm lượng định, tính toán, tranh thủ đặt vấn đề viện trợ quân sự trên quy mô lớn với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, từ việc hoàn thành "Kế hoạch tác chiến hiệp đồng giữa quân đội hai nước Trung Quốc và Việt Nam", "Quy hoạch Trung Quốc chi viện Việt Nam về trang bị quân sự và vật tư hậu cần chủ yếu" từ năm 1964 đến năm 1967 cho mấy chục vạn quân trong thời chiến đến gấp rút thực hiện các thỏa thuận với Chính phủ Liên Xô đưa các trung đoàn khung tên lửa phòng không, không quân của Việt Nam sang Liên Xô huấn luyện và tiếp nhận trang bị khí tài do Liên Xô chi viện để chuẩn bị ứng phó có hiệu quả với cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của Mỹ; khẩn trương ký kết, vận chuyển hết số hàng hóa viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu còn tồn đọng tại các kho bãi, cửa khẩu về nước. Khối lượng hàng viện trợ quân sự các nước giúp đỡ theo yêu cầu của Việt Nam, nhiều thời điểm về dồn dập, gây ùn, ứ đọng ở nước ngoài hàng chục vạn tấn. Trong quá trình tính toán, tổng hợp nhu cầu viện trợ quân sự, có những chủng loại hàng hóa không phù hợp với điều kiện chiến trường Việt Nam, khó khăn cho công tác bảo đảm, Việt Nam mạnh dạn đề nghị chuyển đổi sang những loại thích hợp hơn,... Hoặc khi nghiên cứu tìm hiểu thấy thế mạnh sản xuất công nghiệp quốc phòng của từng nước, Việt Nam cũng chủ động đề xuất giúp Việt Nam về thế mạnh đó. Đối với Liên Xô là quốc gia có thế mạnh về vũ khí hạng nặng như các loại tên lửa đất đối không, máy bay chiến đấu, tàu chiến, các loại pháo cao xạ..., Việt Nam yêu cầu Liên Xô viện trợ các loại này cho Việt Nam. Trong khi đó yêu cầu Trung Quốc viện trợ quân sự gồm các loại vũ khí bộ binh, vật tư hậu cần, các loại ôtô, thiết bị thông tin,... vì đó là thế mạnh của Trung Quốc. Đốỉ với Mông Cổ, Việt Nam yêu cầu bạn giúp các loại hàng hóa vật tư hậu cần như: lông, da cừu, giông gia súc, cây trồng chứ không phải vũ khí, đạn dược các loại, vì đây không phải là thế mạnh của Mông Cổ... Thực tế kết quả viện trợ quân sự của các nước anh em trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chứng minh đây là một biện pháp hoàn toàn sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả của Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:33:27 pm
Chẳng những Việt Nam đã chủ động vận động các nước xã hội chủ nghĩa giúp các loại vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... phù hợp với đặc điểm tác chiến, đáp ứng cho cuộc chiến đấu trước mắt mà còn khéo thuyết phục bằng cách cử các đoàn đại biểu từ chiến trường miền Nam đi thăm, thông báo tình hình chiến sự, kết quả chiến đấu oanh liệt góp phần giúp các nước thấy rõ những giá trị mà họ đã hỗ trợ; đồng thời, nhằm gia tăng hiệu quả trong vận động các nước chi viện cho cuộc chiến đấu cấp bách trước mắt nói chung và tạo ra nguồn dự trữ chiến lược lâu dài nói riêng. Nhờ những giải pháp đúng đắn và các bước đi sáng tạo, linh hoạt đó, Việt Nam đã giải quyết thành công bài toán về vũ khí trang bị không chỉ đối với cuộc chiến đấu khốc liệt trước mắt mà ngay cả sau ngày Hiệp nghị Pari được ký kết và có hiệu lực, do quan điểm nhìn nhận khác nhau, các nước xã hội chủ nghĩa cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam, lúc này Việt Nam đã có một khối lượng vũ khí, đạn dược theo tính toán của phương Tây là đủ sử dụng tới hàng chục năm. Tính tới thời điểm nửa đầu năm 1975, thời điểm kết thúc chiến tranh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn dự trữ được hàng nghìn quả tên lửa SAM-2, SAM-3, hàng trăm máy bay chiến đấu hiện đại các loại, hàng trăm tàu chiến...


Trước mỗi thời điểm bước ngoặt chiến tranh, Việt Nam chủ động kêu gọi sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó thể hiện Việt Nam làm chủ hoàn toàn tình thế trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành chiến tranh và đối với các hoạt động tranh thủ viện trợ quân sự. Trước ngày Hiệp nghị Giơnevơ có hiệu lực, Việt Nam gấp rút thực hiện Kế hoạch Z, khẩn trương tiếp nhận toàn bộ số vũ khí, đạn dược của các nước xã hội chủ nghĩa giúp trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi cao trào Đồng khởi toàn miền Nam nổ ra năm 1960, Việt Nam kiên trì vận động, thuyết phục Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ và giúp vũ khí, trang bị để thực hiện đường lối đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Năm 1965, khi Mỹ leo thang và mở rộng chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới hơn 20 nguyên thủ quốc gia trên thế giới vạch trần âm mưu, thủ đoạn xâm lược dã man của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Việt Nam thiết tha kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. 12 nước xã hội chủ nghĩa đã hưởng ứng yêu cầu viện trợ của Việt Nam. Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ngay từ năm 1967, Việt Nam gấp rút yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự lớn gấp hai lần so với năm 1966. Trong hai năm 1971 và 1972, bên cạnh yêu cầu các nước anh em viện trợ các loại vũ khí thông thường, Việt Nam còn đề nghị giúp khẩn cấp các loại vũ khí hạng nặng như: máy bay, tên lửa phòng không, các loại pháo cao xạ,... sẵn sàng đương đầu đập tan cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.


Qua các hoạt động thăm hỏi, trao đổi giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước anh em đã thực sự góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết của Việt Nam về các nước, ngược lại các nước cũng thêm hiểu biết nhiều về con người và cuộc chiến đấu ác liệt mà dân tộc Việt Nam đang tiến hành. Điều đó chẳng những nêu cao được thiện chí khát vọng hòa bình, lòng mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, khẳng định tình đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu mà qua đó, Việt Nam tạo được sự đồng thuận, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, tinh thần lẫn vật chất từ phía các nhà lãnh đạo và nhân dân các nước đối với công cuộc củng cố, phát triển miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự ủng hộ về chính trị dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng của lãnh đạo và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần ngăn chặn, răn đe đối với kẻ địch, khích lệ, động viên tinh thần chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt Nam.Nguồn vật chất các loại góp phần bồi bổ mạnh mẽ thực lực cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ, gian khổ; bổ sung, cải thiện, cải tiến, cơ cấu lại Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng chính quy, hiện đại, đủ sức chiến đấu và chiến đấu giành thắng lợi hoàn toàn trong bối cảnh điều kiện mới.


Như vậy, trên cơ sở chủ động nắm bắt và bám sát tình hình một cách chặt chẽ, toàn diện, với những phân tích khoa học, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã lường định cả thuận lợi cùng những thách thức, khó khăn để chủ động vận động, tranh thủ sự giúp đỡ tối đa về quân sự từ phía các nước xã hội chủ nghĩa, từng bước đạt được các mục tiêu chiến lược ở mức cao nhất. Đây không chỉ biểu hiện tinh thần chủ động, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc thời cơ, bám sát sự biến chuyển tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, mà còn là bài học kinh nghiệm quý báu có giá trị lớn cần được vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại trong giai đoạn hiện nay.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:36:56 pm
2. Luôn giữ vững nguyên tắc "độc lập, tự chủ" trong suốt quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng gian khổ, oanh liệt của dân tộc Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp và bị tác động từ nhiều nhân tố. Các nước lớn đi vào hòa hoãn và thỏa hiệp với nhau trên nhiều vấn đề quan trọng, không có lợi đối với các nước nhỏ, trong đó có Việt Nam. Hệ thống xã hội chủ nghĩa bị phân liệt sâu sắc bởi những mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích quốc gia, về tư tưởng, đường lối. Nổi bật nhất là mâu thuẫn giữa hai nước trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc diễn ra ngày càng gay gắt, ảnh hưởng lớn tới phong trào cộng sản và công nhân thế giới; tới cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam. Với một số nước xã hội chủ nghĩa, hoặc ngả về phía Trung Quốc hoặc đi theo tư tưởng nước lớn Liên Xô, cũng có nước đóng vai trò trung gian. Mặc dù có nhiều mâu thuẫn và bất đồng với nhau, nhưng các nước lớn đều muốn tranh thủ Việt Nam. Do đó, Việt Nam cần phải có đường lối đối nội và đối ngoại độc lập, tự chủ, tránh được áp lực và sức ép từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo, đã luôn nêu cao thiện chí hòa bình, tỏ rõ thái độ chân thành và kiên trì nhất quán thực hiện đường lối đoàn kết quốc tế với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, không đứng về bên này để chống lại bên kia. Bởi vậy, về cơ bản, Việt Nam luôn tạo được niềm tin, sự đồng tình và tranh thủ được sự giúp dỡ thiết thực, hiệu quả về vật chất, kinh nghiệm của mỗi nước, tăng cường mạnh mẽ tiềm lực quân sự, quốc phòng,thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược quan trọng của mình. Các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là hai nước lớn Liên Xô, Trung Quốc thực hiện khá đầy đủ những cam kết và thỏa thuận, liên tục viện trợ quân sự không hoàn lại các loại vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh tiên tiến, hiện đại; giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng thành công các cơ sở công nghiệp quốc phòng non trẻ trong bối cảnh chiến tranh diễn ra ngày thêm khốc liệt. Từ cơ sở đó, miền Bắc Việt Nam với vai trò là hậu phương chiến lược trực tiếp của cả nước có điều kiện vững mạnh về nhân tài, vật lực, liên tục chi viện hiệu quả cho cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta ở miền Nam và đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.


Việc tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã để lại bài học kinh nghiệm quý cho chính sách đối ngoại quốc phòng Việt Nam hiện nay. Bởi viện trợ quân sự là vấn đề khá nhạy cảm, luôn gắn bó chặt chẽ tới đường lối đối nội và đối ngoại của các nước xã hội chủ nghĩa. Nó không bất biến mà luôn có sự thay đổi qua từng thời kỳ, dưới ảnh hưởng của từng nguyên thủ quốc gia. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa băn khoăn, lo ngại cuộc chiến tranh ở Việt Nam có thể ngày càng lan rộng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát, trực tiếp ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh khu vực, trên thế giới. Liên Xô sợ sẽ gây ra những trở ngạicho hòa hoãn Xô - Mỹ. Liên Xô khuyên Việt Nam: "Triển vọng của Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chẳng những trong nội bộ Đảng cần nói rõ miền Bắc phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà trong công tác thực tế hàng ngày phải làm như thế. Nhưng nên làm nhiều hơn là nói"1 (Ban Đối ngoại Trung ướng: Ý kiến của đồng chí Xuxlốp về đường lối tiến lên của miền Bắc Việt Nam và chủ trương thống nhất Việt Nam bằng phương phấp hòa bình, Tlđd, tờ 1). Tương tự, Trung Quốc lo ngại ảnh hưởng tối kế hoạch "Đại nhảy vọi", "Cách mạng văn hóa" và ngọn lửa chiến tranh sẽ lan sang lãnh thổ Trung Quốc, thổi bùng một cuộc chiến tranh quy mô thế giới. Một số nước xã hội chủ nghĩa khác lại tích cực làm cầu nối, trung gian hòa giải. Từ đó, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều có những tác động nhất định, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tới Việt Nam. Tháng 10/1959, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện góp ý với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam nêu rõ quan điểm: đồng ý với Việt Nam về việc phân tích căn bản tình hình Việt Nam và việc quy định nhiệm vụ cách mạng cho hai miền Bắc, Nam: miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là nhiệm vụ căn bản nhất, quan trọng trước nhất và cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam; miền Nam thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng: "Trước mắt chưa có thể thực hiện cải biến cách mạng, mà chỉ có thể dùng phương châm thích hợp trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ..."1 (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.1, tr.331, 331-332). Việc quan trọng nhất của Việt Nam trong thời điểm này là phải: "Khéo biết thông qua các phương thức mà xúc tích lực lượng cách mạng, đoàn kết với hết thảy mọi người có thể đoàn kết, chờ đợi thời cơ; phải khéo biết giấu giếm lực lượng, tránh mọi động kích quá trớn, tự bộc lộ mình, gây tổn thất quá lớn..."2 (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.1, tr.331, 331-332).


Cùng với việc chưa đồng ý phương hướng đường lối cách mạng của Việt Nam đã đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (năm 1959), những năm 1959, 1960, Trung Quốc còn gây sức ép với Việt Nam bằng cách cắt giảm viện trợ quân sự (năm 1959, Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam 1.672 tấn vật chất, năm 1960 là 1.562 tấn vật chất. Cả 2 năm cộng lại chưa bằng năm 1958 là 4.410 tấn)3 (Xem Bộ Quốc phòng: Nội dung ý kiến của các đồng chí lãnh đạo các nước anh em với đồng chí Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị 1968, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 12). Trong buổi hội đàm với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi đang ở thăm và làm việc tại Liên Xô (năm 1960), Bí thư Thường trực Đảng Cộng sản Liên Xô Cuxinen thông báo là Đảng Cộng sản Liên Xô không đồng tình với chủ trương đấu tranh vũ trang ở miền Nam đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 15 của Đảng Lao động Việt Nam. Đảng và Chính phủ Liên Xô cho rằng Việt Nam cần tiếp tục xây dựng và củng cố miền Bắc vững mạnh để làm mẫu mực, thông qua đó thực hiện thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:37:43 pm
Trước những sức ép lớn từ phía các nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn độc lập, tự chủ xây dựng và quyết định những vấn đề đối nội quan trọng của đất nước, mặt khác, chủ động tăng cường quan hệ với các nước anh em, đề nghị các nước xã hội chủ nghĩa đóng góp ý kiến và trân trọng, đánh giá cao những ý kiến của lãnh đạo cấp cao các nước. Đồng thời, tổ chức cử nhiều đoàn đại biểu cấp cao đi thăm và làm việc với các nước anh em, kiên trì thuyết phục, giải thích rõ rằng Việt Nam vẫn chủ trương thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình; hoạt động đấu tranh vũ trang ở miền Nam chỉ có tính chất tự vệ và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, kiên quyết không để chiến tranh lan rộng. Bằng cách làm này, đã thiết thực góp phần giải tỏa những băn khoăn vướng mắc của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủnghĩa khác, giúp họ thấy rõ hơn quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam; thấy rõ khả năng thực tế là quân và dân Việt Nam hoàn toàn có thể đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên phạm vi chiến trường Việt Nam và việc Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn là phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Và cũng nhằm mục đích này, liên tiếp trong hai năm 1959 - 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh (sau đó là đoàn của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng) đã 6 lần đi thăm Trung Quốc và Liên Xô để bày tỏ thiện chí tăng cường quan hệ hữu nghị với Liên Xô và Trung Quốc; thông báo tình hình cách mạng Việt Nam và Đông Dương; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của hai nước này đối với sự chuyển hướng đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng ở miền Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 15. Những năm 1965 - 1968, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục thuyết phục Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác chấp nhận chủ trương "đánh, đàm" của Việt Nam. Chủ trương này của Việt Nam lúc đầu gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía một sốnước bạn bè. Họ cảnh báo Việt Nam đừng mắc mưu của Mỹ, "đàm phán non" sẽ không giải quyết được vấn đề. Thực tế đã chứng minh chủ trương này của Đảng, Chính phủ Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Chính Mỹ cũng phải cay đắng thừa nhận: "Cho đến những ngày, tháng cuối cùng của Chính phủ Giônxơn, phía Cộng sản Bắc Việt mới quyết định gặp Hoa Kỳ ở Ba Lê để đàm luận, tìm kiếm hòa bình". Phía Mỹ cho rằng: "Cộng sản Bắc Việt ngồi vào bàn hội nghị không phải có thiện chí giải quyết cuộc chiến qua sự hòa giải, hòa hợp nào… Nhưng họ đi đến hội nghị để kéo dài cuộc chiến qua một chiến thuật rất cũ - nhưng rất hiệu nghiệm - và vừa đánh vừa đàm"1 ().


Từ góc độ quốc tế, trong khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương thực hiện đường lối "chung sống hòa bình", hòa hoãn với Mỹ để phát triển thì Đảng và Nhà nước Việt Nam lại kiên định và giữ vững nguyên tắc "độc lập, tự chủ" trong hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam; độc lập, tự chủ suốt quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Sự sáng tạo này thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, làm chủ tình thế, nắm vững tình hình hình, đề ra được đường lối kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, ngoại giao, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Việt Nam đã không vì mục tiêu tranh thủ viện trợ quân sự mà chấp nhận nhân nhượng những vấn đề thuộc về nguyên tắc trong quá trình đàm phán, vận động tranh thủ. Các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam nhưng không thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Và trên thực tế, Việt Nam giữ vững được đường lối "độc lập, tự chủ" suốt quá trình vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước anh em. Nếu Việt Nam không có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ được đường lối "độc lập, tự chủ" ngay từ khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng, bị các nước lớn chi phối, tác động thì chắc chắn cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam sẽ rẽ ngoặt theo một hướng khác. Chính bởi vậy, giữ vững được đường lối, nguyên tắc "độc lập, tự chủ" trong mọi vấn đề, đặc biệt đối với lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bất biến không thể phủ nhận, luôn mang đậm tính thời sự sâu sắc.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:41:48 pm
3.Tranh thủ tối đa gắn với khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn viện trợ quân sự các nước xã hội chủ nghĩa

Nhờ chủ động mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa; thực hiện sáng tạo, linh hoạt đường lối, chủ trương, chính sách đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam; nhất quán thực hiện tranh thủ tối đa nguồn viện trợ quân sự từ phía Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, nên Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn về vật chất và chính trị, tinh thần. Với trí tuệ của người Việt Nam, các nguồn viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ đã được khai thác và sử dụng hiệu quả, không ngừng phát huy tính năng, tác dụng to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ quân sự cùng với khai thác và sử dụng hiệu quả đã trở thành bài học kinh nghiệm quý và có giá trị sâu sắc không chỉ đối với quân và dân Việt Nam.


Từ đó cho thấy, nguồn viện trợ quân sự các nước xã hội chủ nghĩa dành giúp đỡ nhân dân Việt Nam suốt những năm tháng quân và dân Việt Nam gian khổ, kiên cường chống Mỹ, cứu nước là vô cùng to lớn trong bối cảnh miền Bắc vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Nam còn tạm bị chiếm đang trên chặng đường tiếp tục sự nghiệp chiến đấu lâu dài nhằm giành độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất đất nước. Các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ quân sự cho Việt Nam hàng triệu tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, thuốc men, y cụ..., cử các đoàn cố vấn, chuyên gia quân sự giỏi (từ năm 1965 đến năm 1975, có 8.088 chuyên gia quân sự các nước xã hội chủ nghĩa) sang Việt Nam giúp đỡ1 (Xem Bộ Quốc phòng, Cục Đối ngoại: 45 năm Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng (1964 - 2009), Sđd, tr.140), chuyển giao một khối lượng lớn trang thiết bị, tài liệu khoa học kỹ thuật cho Việt Nam...


Với nguồn vũ khí, trang bị được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, Việt Nam nhanh chóng tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng mọi mặt; duy trì và không ngừng phát triển cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ chống Mỹ tới ngày giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu không có các nguồn viện trợ quân sự này, chắc chắn, sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ gặp vô vàn khó khăn, tổn thất hy sinh cũng sẽ lớn hơn nhiều. Theo những thống kê của các cơ quan chức năng, trong 10 năm đầu từ năm 1954 đến năm 1964, nhân dân Việt Nam nhận được tổng khối lượng vật chất lên tới hàng chục vạn tấn, bao gồm vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ... Những năm tiếp theo (1965 - 1975), khi cả nước Việt Nam chống chiến lược "Chiến tranhcục bộ", sau đó chuyển sang chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ thì toàn bộ 12 nước xã hội chủ nghĩa đều chi viện ở những mức độ khác nhau cho quân và dân Việt Nam chiến đấu. Toàn bộ khối lượng vật chất trong 10 năm sau (1965 - 1975) lớn gấp gần 17 lần so với 10 năm trước (1954 - 1964), bao gồm vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của cấc nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 - 1975, Tlđd, tờ 119).


Về cơ bản, các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh mà Việt Nam đã sử dụng để nâng cao sức mạnh chiến đấu và đánh thắng quân thù trong những năm chống Mỹ là do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện. Các nước viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên, liên tục cho đến ngày toàn thắng tháng 4/1975. Trong số vũ khí, trang thiết bị mà các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam, nhiều loại trang bị thuộc loại tiên tiến hiện đại lúc bấy giờ có uy lực mạnh, tính sát thương cao như: tên lửa, máy bay tàu chiến, xe tăng thiết giáp, pháo cao xạ, đại bác, pháo chống tăng, thủy lôi...


Các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ giúp Việt Nam những loại vũ khí, phương tiện hiện đại, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ, mà còn cử đội ngũ chuyên gia quân sự gần 9.000 người giàu kinh nghiệm và hàng vạn lượt người sang cùng với quân và dân Việt Nam sát cánh chiến đấu, lao động, sản xuất. Nhiều người trong số này đã anh dũng hy sinh trên đất nước Việt Nam khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế.


Nét đặc sắc, nổi trội riêng có của Việt Nam là biết gắn tranh thủ tối đa với khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ quân sự do các nước xã hội chủ nghĩa giúp, chuyển hóa thành sức mạnh nội lực hoàn thành thắng lợi trọn vẹn các mục tiêu chiến lược đề ra: "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Một so sánh khá thuyết phục đã được các chính trị gia trong và ngoài nước và nhiều công trình đề cập đó là sự giúp đỡ của hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được các nước Xã hội chủ nghĩa giúp nhiều, nhưng không lớn so với việc Mỹ và đồng minh đã giúp Việt Nam Cộng hòa. Nhưng kết cục, chính quyền Sài Gòn đã bị sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30/4/1975.


Vấn đề khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ quân sự của Việt Nam đã được chứng minh bằng thực tiễn sinh động. Tư duy quân sự của người Việt Nam trong chống Mỹ xâm lược đã khiến ngay cả bạn bè cũng khó hiểu và thán phục. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi sang Liên Xô năm 1971 để vận động Liên Xô có sự giúp đỡ đặc biệt cho Việt Nam trước cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Tại cuộc họp với các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng chí Côsưghin hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Tôi xin hỏi đồng chí Giáp. Đồng chí nói Việt Nam đánh thắng Mỹ. Tôi muốn biết Việt Nam có bao nhiêu sư đoàn bộ binh cơ giới và Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng..., các đồng chí có bao nhiêu và Mỹ có bao nhiêu? Khả năng về phòng không, về tên lửa, về thông tin, rađa của các đồng chí như thế nào? Xin đồng chí nói qua cho tôi biết". Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: "Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí. Đồng chí muốn biết về vấn đề so sánh lực lượng giữa chúng tôi với Mỹ. Theo học thuyết quân sự Xôviết là như vậy. Học thuyết quân sự Xôviết là hết sức ưu việt, đã chiến thắng phát xít Đức. Điều đó rất rõ ràng. Nhưng, tôi xin nói nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi được hai tiếng đồng hồ.Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam, và chúng tôi sẽ thắng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.997).


Sau ngày chiến thắng 30/4/1975 lịch sử của dân tộc Việt Nam, có dịp gặp lại, đồng chí Côsưghin nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Việt Nam thắng to quá, như thế tốt quá, xin chúc mừng các đồng chí".

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài gian khổ và khốc liệt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam luôn luôn quán triệt và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phương châm tự lực cánh sinh là chính, việc các nước giúp, như thêm vốn, phải khéo dùng vốn ấy để bồi bổ lực lượng, phát triển khả năng. Quân và dân Việt Nam ngay từ khởi đầu bước vào cuộc chiến tranh đã khéo "Sử dụng có kết quả tốt số hàng các nước bạn viện trợ. sử dụng hợp lý, kịp thời, không lãng phí... Viện trợ quý nhất của các nưởc bạn cho ta là viện trợ kỹ thuật. Chuyên gia các nước bạn sang giúp ta, ta phải cộng tác chặt chẽ với các chuyên gia ấy và ra sức học hỏi những kinh nghiệm tiên tiến của các nước bạn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.507). Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã kết luận: Trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến do Đảng ta đề ra và lãnh đạo tổ chức thực hiện là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, đồng thời ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế.


Quán triệt chủ trương, phương châm đó, song song với tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ quân sự, quân và dân Việt Nam đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, không ngại khó khăn, gian khổ, ra sức học tập khoa học kỹ thuật và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo; sử dụng tiêt kiệm, hiệu quả, sáng tạo nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện để thực hiện thắng lợi đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Việc làm chủ các loại vũ khí, trang bị tiên tiến hiện đại đánh thắng một siêu cường thế giới mạnh hơn gấp nhiều lần là một minh chứng hùng hồn khẳng định tư chất thông minh, sáng tạo, khéo khai thác và biết sử dụng hợp lý mọi nguồn lực chi viện quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:43:29 pm
4.Tranh thủ viện trợ quân sự đi đôi với không ngừng tăng cường thực lực mọi mặt

Mục đích cao nhất của hoạt động tranh thủ các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa là tăng cường thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam tới thắng lợi hoàn toàn. Từ kết quả viện trợ quân sự những năm 1954 - 1975 cho thấy, các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn và quý báu, mặc dù không đồng đều giữa mỗi giai đoạn và từng thời điểm cụ thể. Tuy nhiên, mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến đều có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với thái độ chính trị và viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là thực tế không thể phủ nhận. Bởi tiềm lực quân sự và quan điểm chính trị của mỗi quốc gia luôn là một trong những căn cứ, cơ sở cho việc hoạch định đường lối tiến hành chiến tranh. Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em để tăng cường tiềm lực quân sự. Với đường lối đối ngoại sáng tạo, linh hoạt, khéo léo, Việt Nam đã nhận được nguồn viện trợ quân sự to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa.


Khi tiếp nhận được nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã động viên toàn dân, toàn quân chú trọng khai thác, sử dụng có hiệu quả phục vụ đắc lực sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Sau khi tiềm lực quân sự đã được củng cố và tăng cường nhờ được bổ sung trang bị các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện, xuất phát từ tình hình thực tiễn và yêu cầu của cuộc kháng chiến, Việt Nam từng bước chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam (Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 khóa II), quyết tâm mở các tuyến vận tải chiến lược 559, 759 chi viện cho các lực lượng vũ trang miền Nam đánh Mỹ. Một khối lượng lớn các loại vũ khí, đạn dược, trang bị, vật tư hậu cần qua các ngả đường, bằng nhiều loại phương tiện và hình thức đã được chuyển vào chiến trường miền Nam, chi viện cho cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Những thắng lợi liên tiếp về mặt quân sự của Việt Nam khắp hai miền Bắc - Nam, cùng với cường độ tiêu hao một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh đã đặt ra vấn đề cấp bách là cần phải tăng cường viện trợ quân sự để bồi bổ thực lực kháng chiến, quay trở lại phục vụ cuộc chiến tranh. Chính bởi lẽ đó, bên cạnh yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự những loại vũ khí thông thường, Việt Nam còn yêu cầu giúp đỡ nhiều loại vũ khí tiên tiến hiện đại khác như máy bay chiến đấu có tốc độ trên cả âm thanh, các loại tàu chiến tên lửa đất đối không, đất đối biển,... để kịp thời ứng phó với cuộc chiến tranh ngày càng leo thang của Mỹ.


Từ năm 1965 trở đi, Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra cả nước Việt Nam. Trên chiến trường miền Nam, Mỹ đưa quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến, gấp rút phát triển lực lượng quân đội Sài Gòn. Đối với miền Bắc, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân lần thứ nhất (1965 - 1968), rồi lần thứ hai năm 1972. Cuộc chiến tranh tại Việt Nam diễn ra vô cùng khẩn trương và khốc liệt. Việt Nam kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, hỗ trợ để kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 12 nước xã hội chủ nghĩa đều chi viện cho Việt Nam dưới những hình thức khác nhau, đặc biệt là về viện trợ quân sự. Trên 1,5 triệu tấn vũ khí trang bị, đạn dược, vật tư hậu cần của các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ ngày, đêm trên nhiều ngả đường (đường thủy, đường bộ, đường không), phương tiện (tàu thủy, tàu hỏa, ỗtô, đường ống xăng dầu), hình thức (công khai, bán công khai, bí mật) được vận chuyển vào miền Bắc Việt Nam, tỏa đi khắp các hướng chiến trường. Tỷ trọng và trị giá viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam lớn nhất là từ năm 1965 đến năm 1972; sau đó, cắt giảm dần vào những năm cuối của cuộc kháng chiến.


Với nguồn lực viện trợ quân sự đó, Việt Nam kịp thời bổ sung vũ khí trang bị hao hụt trong quá trình chiến đấu gấp rút phát triển các lực lượng vũ trang trên 1 triệu người, đẩy mạnh chi viện cho chiến trường miền Nam, cách mạng Lào và Campuchia; đưa vào dự trữ chiến lược. Nhờ vậy, tiềm lực quân sự của Việt Nam không ngừng được cải thiện, tăng cường, đủ sức giáng trả đích đáng mọi âm mưu và thủ đoạn chiến lược chiến tranh của Mỹ. Việt Nam không chỉ yêu cầu viện trợ quân sự tác chiến quy mô nhỏ cấp tiểu, trung, sư đoàn mà còn đề nghị trang bị quy mô lớn cấp quân đoàn. Bên cạnh chủ động đề nghị viện trợ những loại vũ khí, trang bị, đạn dược có thể sử dụng trước mắt, phù hợp với khả năng và đặc điểm chiến trường Việt Nam, Việt Nam cũng sớm yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ xây dựng những cơ sở công nghiệp quốc phòng quy mô vừa và nhỏ. Những công trình này đã vận hành sản xuất, giúp ngành quân giới Việt Nam tự chủ sản xuất được nhiều loại bom, mìn, súng, đạn trực tiếp phục vụ kháng chiến; nhiều công trình lắp ráp, sửa chữa, trung đại tu tăng thiết giáp, các loại súng pháo, cối, máy bay, tàu chiến, rađa các loại cũng được gấp rút xây dựng, đưa vào vận hành hoạt động có hiệu quả.


Thực tiễn đã chỉ ra, trên cơ sở thực lực kháng chiến ngày càng được tăng cường về mọi mặt, với thế trận chiến tranh nhân dân nhiều tầng nhiều lớp, Việt Nam đã duy trì và bảo đảm cho một cuộc chiến tranh quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại cho tới ngày giành được toàn thắng.


Từ đó có thể thấy, mục tiêu tranh thủ tối đa nguồn viện trợ quân sự và không ngừng tăng cường thực lực mọi mặt có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Bởi lẽ, tranh thủ được tối đa mọi nguồn viện trợ quân sự mới có điều kiện để bồi bổ thực lực cuộc kháng chiến. Thực lực có vững mạnh mới có cơ sở, tiền đề, nền tảng vững chắc để tổ chức và thực hiện kháng chiến giành thắng lợi. Ngược lại, đáp ứng yêu cầu cần phải tăng cường thực lực mọi mặt đặt ra cho hoạt động tranh thủ viện trợ quân sự cần phải biết tranh thủ cái gì, số lượng bao nhiêu... Đây thực sự là một bài học kinh nghiệm quý có giá trị và ý nghĩa thời sự sâu sắc cần phải được nghiên cứu nghiêm túc. Bởi hiện nay, nền kinh tế thị trường là phổ quát, bối cảnh tình hình đã khác xa thời nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, hoạt động tranh thủ sự giúp đỡ gắn với củng cố, tăng cường thực lực quân sự, quốc phòng đòi hỏi phải được hiểu và vận dụng một cách vô cùng sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo mới đạt được các mục tiêu chiến lược đặt ra.
Suốt 21 năm liên tục kiên trì vận động và tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, bằng nhiều phương thức linh hoạt, sáng tạo và trên nền tảng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đúng đắn, sáng tạo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được 12 nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự một khối lượng lớn cácloại vũ khí, đạn dược, trang bị, lương thực, thực phẩm... Sự giúp đỡ to lớn, thiết thực này đã góp phần thay đổi mạnh mẽ tương quan so sánh lực lượng và xoay chuyển cục diện chiến tranh, làm nên chiến thắng oanh liệt và vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đầy hào hùng, sôi động. Từ thực tiễn quá trình vận động và tranh thủ viện trợ quân sự, từ kết quả viện trợ quân sự đã để lại một số bài học lịch sử quý giá, giúp cho các thế hệ kế tiếp có cơ sở khoa học vận dụng vào điều kiện mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Năm, 2026, 08:45:19 pm
KẾT LUẬN


Với những nỗ lực cao độ thể hiện qua đường lối, chủ trương, giải pháp đối ngoại và các hoạt động ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, sáng tạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu và Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ giúp đỡ to lớn về cả chính trị, tinh thần lẫn vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhờ sự giúp đỡ to lớn đó, Việt Nam kịp thời khắc phục được nhiều khó khăn lớn về vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ. Trong quá trình vận động, tranh thủ viện trợ nói chung và viện trợ quân sự nói riêng, mặc dù có nhiều mâu thuẫn bất đồng lớn giữa các nước, thậm chí từng xảy ra đụng độ vũ trang (1969), nhưng trước nghĩa vụ quốc tế đối với một đồng minh là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ chi viện nhiều loại vũ khí, đạn dược tiên tiến hiện đại; gửi nhiều đoàn cố vấn, chuyên gia quân sự trên nhiều lĩnh vực, giúp đào tạo nhân lực kỹ thuật, mà còn cử cả lực lượng vũ trang (Trung Quốc, Triều Tiên) sang sát cánh chiến đấu cùng quân và dân Việt Nam chống cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ. Nhân dân Cuba sẵn sàng "hiến máu" vì thắng lợi của nhân dân Việt Nam.


Sự giúp đỡ to lớn về chính trị, tinh thần và vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã tạo ra những điều kiện thuận lợi căn bản cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của quân và dân Việt Nam; góp phần bồi bổ mạnh mẽ thực lực mọi mặt, tạo thế và lực, tạo đà vững chắc để sự nghiệp chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, vượt qua những thử thách cam go khốc liệt trên con đường đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến lên đánh bại hoàn toàn ý chí và quyết tâm xâm lược của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Nhưng để tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ to lớn của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, chuyển hóa được lực lượng quốc tế, từng bước xoay chuyển quan điểm và thái độ, hành động ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác theo chiều hướng ngày càng có lợi hơn đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam; Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra, từng bước hoàn chỉnh và nỗ lực nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại "độc lập, tự chủ", làm chủ vận mệnh quốc gia - dân tộc trong mỗi bước ngoặt chiến tranh; kiên trì ngoại giao vận động, tranh thủ viện trợ quân sự chủ động, tích cực, với nhiều bước đi, sách lược hết sức linh hoạt và sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm, phát huy được mặt mạnh tích cực của từng nước, khắc phục hạn chế và tiêu cực do những mâu thuẫn bất đồng gây ra cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Nỗ lực không ngừng đó, vừa nêu cao được tinh thần đoàn kết quốc tế, biểu hiện bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng Lao động Việt Nam, vừa thu được những kết quả cụ thể, to lớn, có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.


Việt Nam đã tổ chức tiếp nhận, khai thác và sử dụng, phát huy hiệu quả các nguồn viện trợ quân sự vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc; từng bước chuyển hóa thành nội lực, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ trên chiến trường Việt Nam, đặc biệt là đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" - nỗ lực cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh của Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, từng bước rút quân khỏi miền Nam ngồi vào bàn đàm phán, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên bình diện thế giới, Việt Nam cũng đã đánh bại mưu đồ thâm độc lợi dụng những mâu thuẫn, bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc, hòng cô lập và làm suy yếu sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt và vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vì vậy gắn chặt với sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam nêu cao đạo lý "uống nước nhớ nguồn", luôn tri ân sự đóng góp quý báu đó.


Thực tiễn quá trình vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm chống Mỹ, cứu nước đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Các bài học kinh nghiệm đó giúp các thế hệ người Việt Nam vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong bối cảnh tình hình mới; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; củng cố và tăng cường mạnh mẽ tiềm lực quân sự, quốc phòng của quốc gia, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 09:50:19 pm
PHỤ LỤC

Phụ lục 1
Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa
cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1954 - 1964)


(https://iili.io/CJSg1Qp.jpg)

Nguồn: Về viện trợ quân sự - giá trị hàng hóa - khối lượng hàng của các nước viện trợ, Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, TK-4586.


Phụ lục 2
Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa
cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1965 -1975)

(https://iili.io/CJSgGCN.jpg)

Nguồn: Về viện trợ quân sự - giá trị hàng hóa - khối lượng hàng của các nước viện trợ, Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, TK-4586.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 09:52:27 pm
Phụ lục 3
Một số mặt hàng viện trợ quân sự chủ yếu
của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1955 -1975)


(https://iili.io/CJSgMGI.jpg)
(https://iili.io/CJSgV4t.jpg)

Nguồn: Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 3.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 09:53:55 pm
Phụ lục 4
Khối lượng mặt hàng viện trợ quân sự của
các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1955 - 1975)


(https://iili.io/CJSgX3X.jpg)

Nguồn: Bộ Tổng tham mưu: tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 09:55:10 pm
Phụ lục 5
Một số số liệu nhập các nguồn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1954 -1964)


(https://iili.io/CJSghan.jpg)

Nguồn: Một số số liệu nhập các nguồn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1954 - 1964), tài liệu lưu trữ tại Bộ Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng


Phụ lục 6
Tổng hợp nhập vật tư, trang bị hậu cần, kỹ thuật chủ yếu
cho Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1965 -1975)


(https://iili.io/CJSgwyG.jpg)

Nguồn: Tổng hợp nhập vật tư - trang bị hậu cần - kỹ thuật chủ yếu cho Quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1965 - 1975), tài liệu lưu trữ tại Bộ Tham mưu, Tông cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng.


Phụ lục 7
Viện trợ quốc tế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955 -1975)

(https://iili.io/CJSgjvs.jpg)

Nguồn: Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.604.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 09:59:48 pm
TÀI LIỆU THAM KHẢO


I- Tiếng Việt

1. Archimedes L.A. Patti:Tại sao Việt Nam?,Nxb. Đà Nẵng, 2007.

2. Ban Đối ngoại Trung ương: Ý kiến của đồng chí Xuxlốp về đường lối tiến lên của miền Bắc Việt Nam và chủ trương thống nhất Việt Nam bằng phương phấp hòa bình, 1956, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

3. Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954 - 1960), 1960, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

4. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ Việt Nam - Mồng Cổ, 1954 - 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

5. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ Việt Nam và Rumani, 1960, 1967, 1968, 1969, 1974, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

6. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Dân chủ Đức, 1961, 1963, 1966, 1967, 1971, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

7. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ Việt Nam và Cuba, 1964, 1966, 1967, 1968, 1974, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

8. Ban Đối ngoại Trung ương: Những nét lớn về tình hình Tiệp Khắc và quan hệ Việt Nam - Tiệp Khắc, 1969 - 1976, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

9. Ban Đối ngoại Trung ương: Báo cáo đặc biệt của sứ quán Liên Xô và một số quan hệ không bình thường của Liên Xô đối với ta, 1964, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

10. Ban Đối ngoại Trung ương: Báo cáo về quan hệ Việt - Xô năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

11. Ban Đối ngoại Trung ương: Báo cáo về quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, 1966, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

12. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan điểm của Trung Quốc và Việt Nam về cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, 1966, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

13. Ban Đối ngoại Trung ương: Một số tình hình quan hệ Việt - Trung từ sau khi Khơrútsốp đổ, 1966, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

14. Ban Đối ngoại Trung ương: Sự kiện, số liệu về quan hệ Việt Nam - Hunggari, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

15. Ban Đối ngoại Trung ương: Tóm tắt quan hệ Anbani - Việt Nam từ 1950 - 1976, 1976, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

16. Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Liên Xô (1958 - 1991), 1991, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

17. Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Thư của Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 28 tháng 12 năm 1965, 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

18. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

19. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015.

20. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tập 2.

21. Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.

22. Đỗ Thanh Bình: "Sự ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam", in trong Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

23. Biên niên Văn phòng Chính phủ 1945 - 2005, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tập 2.

24. Bộ Giao thông vận tải: Lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, 2005.

25. Bộ Quốc phòng: Ý kiến của Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức về việc Trung Quốc gây khó khăn trong việc chuyên chở hàng viện trợ của Cộng hòa Dân chủ Đức gửi giúp Việt Nam, 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

26. Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

27. Bộ Quốc phòng: Báo cấo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

28. Bộ Quốc phòng: Báo cáo kết quả đàm phán về viện trợ kinh tế gửi Bác và các anh trong Bộ Chính trị, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

29. Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết đàm phán viện trợ kinh tế năm 1968 với các nước xã hội chủ nghĩa, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

30. Bộ Quốc phòng: Lược ghi các lời phát biểu của đồng chí Kim Nhật Thành trong buổi tiếp kiến đoàn đại biểu Quốc hội ta sáng ngày 29/7/1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

31. Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm Việt - Trung (sau khi Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu từ Mátxcơva trở lại Bắc Kinh ngày 13 tháng 4 năm 1966), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

32. Bộ Quốc phòng: Bảo cáo kết quả công tác của đoàn đi đàm phán về viện trợ quân sự năm 1966 với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

33. Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm giữa ta và Trung Quốc, phiên họp thứ 7 ngày 5 tháng 11 năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

34. Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm phiên họp thứ 8 ngày 7 tháng 11 năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

35. Bộ Quốc phòng: Một số ý kiến của các đồng chí X qua các buổi hội đàm, 1968, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 10:01:09 pm
36. Bộ Quốc phòng: Nội dung ý kiến của các đồng chí lãnh đạo các nước anh em với đồng chí Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị, 1968, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

37. Bộ Quốc phòng: Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ kinh tế trong năm 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

38. Bộ Quốc phòng: Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự trong năm 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

39. Bộ Quốc phòng: Biên bản cuộc tiếp xúc giữa đồng chí Chu Ân Lai với đại diện Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tư liệu nghiên cứu về quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam từ 1948 - 1979, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

40. Bộ Quốc phòng, Cục Đối ngoại: 45 năm Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng (1964 - 2009), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.

41. Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001.

42. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.

43. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tập 11.

44. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12.

45. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, 9 tập.

46. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tập 1, 2.

47. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.

48. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Bộ Quốc phòng biên niên sự kiện 1945 - 2000, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003.

49. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008.

50. Bộ Quốc phòng, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế: Lịch sử Quân giới Việt Nam 1954 - 1975 Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995.

51. Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tập I.

52. Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tập II.

53. Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử hậu cần Quân khu 7, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.

54. Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử Bộ chỉ huy Miền (1961 - 1976), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.

55. Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.

56. Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo nhu cầu viện trợ năm 1955, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

57. Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo kiểm điểm 4 năm xây dựng quân đội củng cố quốc phòng, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

58. Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình trang bị của quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

59. Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình trang bị của quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966 ngày 23 tháng 9 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

60. Bộ Tổng tham mưu: Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

61. Bộ Tổng tham mưu: Tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, khả năng bảo đảm cho nhiệm vụ sắp tới, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

62. Bộ Tổng tham mưu: Bảo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

63. Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ nắm 1965 - 1975, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

64. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chồng Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003 - 2013, 10 tập.

65. Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1983.

66. Bộ Ngoại giao: Ngoại giao Việt Nam 1945- 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

67. Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965 - 1973), Nxb. Chính trị quốc gia biên dịch và xuất bản, Hà Nội, 2008.

68. Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam: Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tập 1, 2.

69. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977.

70. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 11, 13.

71. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 15, 16,18,21, 22.

72. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tập 26, 27, 28.

73. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tập 33, 37.

74. Đảng ủy Quân chủng Hải quân: Lịch sử Đảng bộ Quân chủng Hải quân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tập 1.

75. Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của các nhà khoa học Việt - Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 1.

76. Edgar Snow: Cuộc cách mạng lâu dài, Nxb. Hutchinson, London, 1973.

77. Ilya V. Gaiduk: Liên bang Xôviết và chiến tranh Việt Nam, bản dịch, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1998.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 10:02:56 pm
78. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1995.

79. Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.

80. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

81. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005.

80. Nguyễn Trọng Hậu: Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945 - 1950, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

81. Henry Kissinger: Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng, hồi ký, bản dịch, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.

82. Henry Kissinger: Bàn về Trung Quốc, bản dịch, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015.

83. Thượng tướng, TS. Nguyễn Huy Hiệu: Một số vấn đề về công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008.

84. Nguyễn Thị Mai Hoa: "Việt Nam tăng cường đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", in trong Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

85. Nguyễn Thị Mai Hoa: "Sự giúp đỡ về quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong những năm chống chiến tranh phá hoại (1965 - 1972)", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 252/2012.

86. Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.

87. Nguyễn Thị Mai Hoa: "Góp phần tìm hiểu thêm về chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 281/2015.

88. Nguyễn Phương Hoa: Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam 1950 - 1975, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2011.

89. Trần Tiên Hoạt, Lê Quang Lạng: "Tiếp nhận và sử dụng nguồn chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", in trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006.

90. Nguyễn Khắc Huỳnh: Ngoại giao Việt Nam - Phương sách và nghệ thuật đàm phán, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

91. Nguyễn Khắc Huỳnh: "Quan hệ Mỹ - Xô - Trung và đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 185/2007.

92. Nguyễn Khắc Huỳnh: "Chiến tranh lạnh - sự đối đầu giữa hai khối Đông - Tây với cách mạng Việt Nam", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 195/2008.

93. Nguyễn Khắc Huỳnh: "Chiến tranh lạnh - sự đối đầu giữa hai khối Đông - Tây với cách mạng Việt Nam", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 196/2008.

94. Nguyễn Khắc Huỳnh: "Hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh - đồng minh và hậu phương quốc tế vững chắc của Việt Nam", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 198/2008.

95. Nguyễn Khắc Huỳnh: "Phong trào giải phóng dân tộc - các nước dân tộc độc lập - đồng minh tự nhiên quan trọng của Việt Nam", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 200/2008.

96. Nguyễn Khắc Huỳnh: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam - Tác động của những nhân tố quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

97. Đặng Quang Huy: Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

98. Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư: Lược sử Liên bang Nga 1917 - 1991, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002.

99. Lý Kiện: Trung - Xô - Mỹ - Cuộc đối đầu lịch sử, bản dịch, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2008.

100. Lê Xuân Khoa: Việt Nam 1945 - 1995, Chiến tranh, tị nạn và bài học lịch sử, Nxb. Tiên Rồng, Bethesda, USA, 2004, tập 1.

101. Vũ Khoan: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

102. Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2005, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004.

103. Lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam (1955 - 1977), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.

104. Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tập II.

105. Mân Lực: Mười năm chiến tranh Trung Việt Nxb. Đại học Tứ Xuyên, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Hà Nội, tháng 02/1994.

106. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, 15 tập.

107. Trình Mưu: "Tác động quốc tế đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (1954 - 1975)", in trong Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc -la Hà Nội, 2005.

108. Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.

109. Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Giơnevơ 1954), Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981.

110. Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Nxb. Tiếng quê hương, Virginia, USA, 2006.

111. Đặng Phong: 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008.

112. Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý: Lịch sử Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.

113. Quân chủng Phòng không - Không quân: Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không 1965 - 2005, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005.

114. Quân ủy Trung ương: Biên bản cuộc họp Quân ủy Trung ương ngày 23 tháng 3 năm 1961, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

115. Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

116. Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình hàng viện trợ đến ngày 19 tháng 8 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 10:04:29 pm
117. Quân ủy Trung ương: Tài liệu anh Văn họp Bộ Chính trị ngày 3 tháng 4 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

118. Quân ủy Trung ương: Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

119. Quân ủy Trung ương: Biên bản cuộc họp Thường trực Quân ủy Trung ương lần thứ 5, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

120. Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu về tình hình số lượng và chất lượng đạn dược (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

121. Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu, 1969, (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

122. Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu về tình hình số lượng và chất lượng đạn dược 1965 - 1969 (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

123. Quân ủy Trung ương: Nghị quyết về phương hướng, nội dung, yêu cầu cấc nước anh em viện trợ quân sự năm 1971, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

124. Quân ủy Trung ương: Số liệu tình hình về ta (tài liệu họp Quân ủy Trung ương tháng 01/1970), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

125. Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

126. Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1973, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

127. Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1974, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

128. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

129. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1960 - 1976, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

130. Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

131. Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb. Đà Nẵng, 1996.

132. Sa Lực Mân Lực: 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Nxb. Văn nghệ Tứ Xuyên, Cục Nghiên cứu, Bộ Quốc phòng, Hà Nội, tháng 8/1992.

133. Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007.

134. Tổng cục Hậu cần: Báo cáo về nhu cầu lầm viện trợ quân sự năm 1953, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

135. Tổng cục Hậu cần: Tổng hợp viện trợ của cắc nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam 1954 - 1975, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

136. Tổng cục Hậu cần: Công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.

137. Phùng Đức Thắng và Trần Minh Trưởng: "Quan hệ Liên Xô - Trung Quốc - Hoa Kỳ và Việt Nam trong chống Mỹ, cứu nước", in trong Việt Nam trong tiêh trình thống nhất đất nước và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

138. Lê Văn Thịnh: Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong giai đoạn 1930 - 1954, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999.

139. Hoàng Đức Thịnh: Đường lối tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế của Đảng giai đoạn 1965 - 1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015.

140. Nguyễn Văn Trí: Cuộc vận động quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.

141. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945 - 1960, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.

142. Cửu Long, Lê Trọng Văn: Việt Nam - Những sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20, Nxb. Mẹ Việt Nam, California, USA, 1997.

143. Văn phòng Chính phủ: Lịch sử Văn phòng Chính phủ 1945 - 2005, Hà Nội, 2008.

144. Phạm Quang Vinh: "Quan hệ của Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1964)" in trong Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

145. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Trung Quốc: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Những sự kiện 1961 - 1970, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.

146. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 2008.

147. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 2008.


Tiêu đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 25 Tháng Năm, 2026, 10:05:09 pm
II- Tiếng Anh

1. David Anderson: Trapped by Success: The Eisenhower Administration and Vietnam, 1953 - 61, Columbia University Press, New York, 1991.

2. Frank N. Träger: Why Viet Nam?, Pall Mall Press, London, 1966.

3. Qiang Zhai: China and the Vietnam Wars 1950 - 1975, The University of North Carolina Press, London, 2000

4. William J. Duiker: Ho Chi Minh: A life, Hyperion, New York, 2000.

5. Kissinger, Henry A.: White House Years, Boston, 1979.

6. Ilya V. Gaiduk: Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954 - 1963 Stanford University Press, California, 2003.

7. King C. Chen: Vietnam and China, 1938 - 1954, University Press, Princeton, 1969.

8. Edwin E. Moise: Land Reform in China and North Vietnam, University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1983.

9. Robert Buzzanco: Vietnam and the Transformation of American life, Blackwell Publishers, 1999.

10. Robert Scigliano: South Vietnam: Nation Under Stress, Greenwood Press Publishers, 1963.


III- Tiếng Nga

1. Особенноевого боевого применения эенитных ракетных и радиотехничеких войск ВНА при отражении ударов авиации США.

2 Особенноевого боевого применения истребителъной авиации ВВС ВНА в ходе войны во Въвтнаме.

3. Деятельность Министерства обороны СССР, Генералвного штаба Вооруженных сил СССР по координащии усилий в оказании военно-технической помощи Демократической Республике Вьетнам.