|
Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:39:58 pm - Tên sách: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2021 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory LỜI NÓI ĐẦU Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, tại các chiến trường miền Nam, nhất là chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có nhu cầu bảo đảm vật chất hậu cần - kỹ thuật rất lớn. Nhờ có đường lối, chủ trương, chỉ đạo đúng đắn, sự đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa hai nước Việt Nam và Campuchia nên hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia đã bảo đảm ngày càng nhiều, càng tốt hơn cho quân và dân hai nước chiến đấu, giành chiến thắng. Cuốn sách "Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" viết về các hoạt động của hậu cần quân sự Việt Nam trên đất bạn Campuchia từ năm 1954 đến năm 1975, chủ yếu tập trung vào các nội dung chính như các hoạt động xây dựng căn cứ, vận chuyển vũ khí, chuyển tiền thu mua lương thực thực phẩm tại chỗ cung cấp cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đồng thời, nêu rõ những hoạt động mở đường, vận chuyển trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua đất bạn Campuchia và quá trình tiếp nhận vũ khí của tuyển chi viện đường biển từ miền Bắc Việt Nam đến cảng Xi-ha-núc Vin, rồi vận chuyển bằng đường bộ chi viện cho chiến trường hai nước Việt Nam và Campuchia. Mặt khác, cuốn sách còn viết về công tác bảo đảm hậu cần cho các chiến dịch, trận chiến đấu; điển hình như Chiến dịch Đông Bắc Campuchia, Chiến dịch phản công Đường 6 Campuchia, Chiến dịch đánh bại cuộc hành quan Ăngco Chay... Qua đó, nói lên sự hợp tác, liên minh chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa lực lượng vũ trang và nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn và xuất bản, do thời gian và khuôn khổ sách có hạn, mặc dù các tác giả đã rất cố gắng song cuốn sách còn có những thiếu sót, hạn chế; nhất là chưa thể sưu tầm, biên soạn được nhiều tư liệu có giá trị lịch sử về Hậu cần quân sự Việt Nam trên chiến trường Campuchia trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để cuốn sách hoàn thiện hơn cho những lần tái bản sau. Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. TÁC GIẢ Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:26:35 pm MỞ ĐẦU Do điều kiện địa lý, đường biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia dài hàng trăm ki-lô-mét, có đường giao thông thủy bộ thuận lợi, từ lâu đời nhân dân vùng biên giới đã xây dựng được sự đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, cùng chung lưng đấu cật làm ăn sinh sống, đoàn kết chiến đấu chống thiên tai, thú dữ và các thế lực cường quyền áp bức, ngoại xâm. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, quán triệt tư tưởng "Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), nhân dân Việt Nam phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu được xây đắp từ lâu đời qua nhiều thế hệ, tích cực chủ động giúp cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia một cách toàn diện, nhiệt tình, vô tư, khảng khái như nhiệm vụ, nghĩa vụ của chính mình với Tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến vẻ vang đó, nhân dân và lực lượng vũ trang Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ của Việt Nam nhận được sự giúp đỡ, đùm bọc nhiệt tình, sâu nặng, hiệu quả của nhân dân và chính quyền Campuchia, nhất là các tỉnh, thành phố như: Xi-ha-núc, Bát-tam-bang, Kông-pông Spư, Kam-pốt, Ta-keo, Kăng-đan, Prây Veng, Svây Riêng, Kông-pông Chàm, Kra-chê, Môn-đun-ki-ri, Rát-ta-na-ki-ri. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả mà lực lượng vũ trang ta tăng thêm sức mạnh chiến đâu lập nhiều chiến công vẻ vang, góp phần cùng quân dân ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam nói chung, hai nước Campuchia và Việt Nam nói riêng đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Ngay sau khi quân phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945), ở Nam Đông Dương, quân đội thực dân Pháp núp dưới thế lực quân Anh thực hiện kế hoạch tái chiếm Đông Dương. Đầu năm 1946, thực dân Pháp đã đánh chiếm được hầu hết các tỉnh Nam Bộ nước ta. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam lúc này gặp muôn vàn khó khăn và gian khổ. Trước tình hình trên, ngáy 2 tháng 2 năm 1946 Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị cán bộ quân sự hai Chiến khu 8 và 9 tại Căn cứ U Minh để bàn biện pháp chiến đấu mới. Tháng 8 năm 1946, theo quan điểm "Đông Dương là một chiến trường", Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Lào - Miên để thống nhất chỉ đạo và phối hợp chiến đấu của cách mạng Lào và Campuchia trên chiến trường Nam Đông Dương. Thực hiện chính sách tương trợ và thống nhất chỉ huy lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp ở Campuchia, tháng 9 năm 1946, Ban Hải ngoại trực thuộc Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ được thành lập. Ngoài nhiệm vụ chính trị, quân sự, với nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang, Ban Hải ngoại chỉ rõ: Lấy vùng duyên hải Cao Miên mới giải phóng làm nơi tiếp tế cho Mật trận Miên. Cùng thời gian, ở Xiêm Riệp, Ủy ban Giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập. Các tầng lớp nhân dân nhiệt tình ủng hộ, nhiều sư sãi tham gia vào các phong trào cứu quốc, tự nguyện dùng nhà chùa làm nơi hoạt động. Tháng 12 năm 1946, lực lượng vũ trang Việt kiều ở Thái Lan xâm nhập vào Bắc Xiêm Riệp xây dựng căn cứ ở vùng núi Đăng Rech, tạo ảnh hưởng lớn trên đất Campuchia sau đó phát triển cơ sở ra vùng Bát-tam-bang. Cuối năm 1946, thực dân Pháp dựng lên chính quyền bù nhìn ờ Campuchia. Ở Việt Nam, chúng chiếm được khu vực các tỉnh Bình - Trị - Thiên, cô lập Liên khu 5 với Trung ương. Trước tỉnh hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra nhiệm vụ trước mắt phải giúp Campuchia mở Mặt trận kháng chiến chống Pháp tại Campuchia để tận dụng khả năng thuận lợi giành độc lập cho nhân dân Campuchia. Mặt khác, để giữ vững sự chỉ đạo của Trung ương với lực lượng kháng chiến ở Nam Đông Dương, Đảng ta giao cho Xứ ủy Nam Bộ nhiệm vụ "tiếp tế ngược" thông qua con đường qua Thái Lan, Campuchia và Lào. Tháng 3 năm 1947, một số đơn vị lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam cơ động sang Đông Nam Campuchia, giúp lực lượng cách mạng nước bạn phát động chiến tranh du kích ở Nam Prây Veng, giúp hai tỉnh Svây Riêng và Kăng-đan thành lập khu Đông Nam. Cuối năm 1947, Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ giao nhiệm vụ cho ba khu (7,8,9) và Ủy ban Kháng chiến hành chính các tỉnh biên giới tổ chức ngay việc chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia. Kết quả chỉ trong thời gian ngăn, các lực lượng hậu cần, gồm các hội "Khơme ít-xa-rắc" và "Việt kiều cứu quốc" đã phát triển, lan rộng cả nước Campuchia với nhiệrn vụ phá đường giao thông vận tải thủy bộ của thực dân Pháp. Công tác hậu cần, bảo đảm vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang trong những ngày tháng đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được cấp ủy, ủy ban nhân dân và ủy ban kháng chiến các cấp rất quan tâm với nhiều biện pháp tổ chức thực hiện linh hoạt và phong phú. Ở miền Nam Việt Nam, Chính phủ đã sử dụng phần lớn số vàng quyên góp trong "Tuần lễ vàng" giao cho Xứ ủy Nam Bộ mua vũ khí ở Thái Lan. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Xứ ủy cử Đoàn cán bộ gồm 13 người do hai Xứ ủy viên là đồng chí Dương Quang Đông - Trưởng đoàn và đồng chí Trương Văn Kinh - Chính trị viên, đồng chí Sơn Ngọc Minh và đồng chí Nguyễn Văn Thiệt làm Phó đoàn, có nhiệm vụ mua vũ khí về cho lực lượng vũ trang Nam Bộ; vận động cách mạng Campuchia đẩy mạnh phong trào kháng chiến, tăng cường liên minh chiến đấu Việt - Miên; vận động bà con Việt kiều hướng về Tổ quốc ủng hộ kháng chiến. Đoàn vượt biển sang Thái Lan mua vũ khí bằng "Con đường Xuyên Tây". Trước cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và Campuchia, Thủ tướng và các quan chức cao cấp Thái Lan vừa tạo điều kiện giúp đỡ việc mua sắm vũ khí trang bị, hóa chất, vừa giúp phương tiện, giấy phép và lực lượng bảo vệ hộ tống vận chuyển hàng ra biên giới Thái Lan - Campuchia. Công việc khó khăn nhất là vận chuyển vũ khí trang bị trên đất Campuchia về Việt Nam, vì thời gian này tàu thuyền chở hàng qua lãnh thổ, lãnh hải Campuchia bị thực dân Pháp kiểm soát rất gắt gao; đòi hỏi nhiệm vụ vận chuyển vũ khí phải bảo đảm hết sức bí mật. "Con đường Xuyên Tây" nằm trên địa bàn Phân khu Kam-pốt. Phân khu cùng Đoàn cán bộ mua vũ khí của ta phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân Campuchia giữ bí mật, tham gia bảo vệ, bốc dỡ vũ khí. Nhân dân và lực lượng cách mạng Campuchia cùng với bà con Việt kiều rất nhiệt tình giúp đỡ cách mạng Việt Nam mua bán, bảo vệ, vận chuyển vũ khí. Không chỉ những cán bộ cách mạng Campuchia mà ngay cả những người tu hành, sư sãi là người có uy tín lớn trong xã hội Campuchia, trước sự đe dọa, vây ráp của thực dân Pháp vẫn tự nguyện, nhiệt tình giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Điển hình là nhà sư Bảo Ân ở chùa Thi Oa Thi, nhà sư Giác Man ở chùa Năng Lớn, nhà sư Bích Vân ở chùa Băng Phô. Đặc biệt, nhà sư Bảo Ân còn trực tiếp đi theo xe chở vũ khí xuống cảng bốc dỡ lên tàu và làm công tác bảo vệ. Các nhà chùa Thi Oa Thi, Năng Lớn, Băng Phô còn là các trạm, kho trung chuyển, tập két vũ khí rất an toàn chờ đưa xuống tàu về Việt Nam. Với sự giúp đỡ trên, cuối năm 1946, sau đợt công tác ở Xiêm Riệp, đồng chí Dương Quang Đông trở lại thủ đô Băng Cốc (Thái Lan) chỉ huy hai chiếc ghe (thuyền) chở 14 tấn vũ khí, nhanh chóng cập bến Vàm Ông Trang, thuộc xã Diễn An. Tại đây đồng chí Hoàng Như Khương - Chính ủy Khu 9 và đồng chí Nguyễn Hùng Phước - Khu Bộ phó Khu 9 được Xứ ủy giao nhận phần lớn số vũ khí quý giá này để trang bị cho lực lượng vũ trang Khu 9; số còn lại giao cho Đại đội Cửu Long I và trang bị cho các đơn vị vũ trang mới thành lập của tỉnh Bạc Liêu. Số lượng vũ khí chuyến đi đầu tiên trên "Con đường Xuyên Tây" ở địa phận của Campuchia mang về trang bị cho quân dân Khu 9 tuy ít, nhưng đã kịp thời tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang Khu, phá vỡ thế bao vây của thực dân Pháp đối với chiến trường Nam Bộ; đồng thời, làm cơ sở để Xứ ủy Nam Bộ, các tỉnh ủy hình thành phát triển "Con đường Xuyên Tây" rất có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chiến đấu chiến trường miền Đông Nam Bộ trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau chuyến đi trên, nhiều chuyến vận chuyển vũ khí khác vượt qua sự càn quét, kiểm soát của địch cập các bến bãi an toàn. Đầu năm 1947, đồng chí Dương Quang Đông tổ chức mua nguyên vật liệu, vũ khí ở Ma-lai-xi-a, qua 3 tháng, đồng chí đã tìm mua được 150 tấn nguyên vật liệu và nhiều vũ khí đưa về chiến trường Nam Đông Dương. Nhận thấy có đủ cơ sở thực tiễn hình thành con đường vận tải trên biển để chở vũ khí và các đoàn cán bộ, thực hiện chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí Phạm Văn Bạch - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định thành lập Phòng Hàng hải do đồng chí Võ Đăng Kỳ làm Trưởng phòng, Ban Vận tải thuộc Phòng do đồng chí Dung Văn Phúc phụ trách. Từ đây "Con đường Xuyên Tây" trên bộ, trên biển chính thức được thành lập. Quá trình tồn tại và phát triển suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mỗi giai đoạn tổ chức biên chế, quy mô, tên gọi khác nhau; nhưng hàng chục nghìn tấn vũ khí, máy móc, hóa chất và nhiều đoàn cán bộ theo con đường này vào chiến trường, góp phần to lớn vào sự phát triển, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân và dân trên chiến trường Nam Đông Dương. Những lần vận chuyển sau, do đường biển bị giặc phong tỏa gắt gao, ta phải huấn luyện vận chuyển đường bộ, nhưng cũng bị địch ngăn chặn trên đất Campuchia, bộ đội phải chiến đấu hàng chục trận, hy sinh 11 người mới đưa được 16 tấn vũ khí về Cà Mau để trang bị cho Đại đội Cửu Long 1. Con đường lịch sử này là công sức, máu xương, trí tuệ và những tình cảm cách mạng sâu nặng của bà con Việt kiều, của nhân dân và lực lượng cách mạng Campuchia đã nhiệt tình giúp đỡ, bảo vệ, góp phần phát triển lực lượng cách mạng Việt Nam, lực lượng vũ trang Nam Bộ vượt qua khó khăn, giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Năm, 2026, 11:29:24 pm Để làm tốt công tác bảo đảm trang bị vũ khí cho bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu giúp Campuchia và đơn vị liên quân Việt Nam và Campuchia, Ban Hải ngoại trên cơ sở Binh công xưởng VK50 của ông Ba Đọt (Thanh Ba) đã chỉ đạo các binh công xưởng Nam Bộ chi viện, đầu tư giúp đỡ mở rộng thêm một số binh công xưởng khóc nằm rải dọc tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam. Đặc biệt, có rất nhiều xưởng nằm sâu trong vùng đất Đông Nam Campuchia để đáp ứng yêu cầu chiến đấu của lực lượng vũ trang trên chiến trường Nam Đông Dương. Điển hình là các xưởng quân giới: Xưởng X30 ở Tây Nam Kam-pốt, Xưởng X31 ở Đông Kam-pốt, Xưởng X32 ở Tây Kam-pốt và các xưởng vũ khí dân quân: Xưởng X71 ở Tây Nam Kam-pốt, Xưởng X21 ở Đông Kam-pốt, Xưởng X50 ở Tây Bắc Kam-pốt có nhiệm vụ sản xuất lựu đạn, mìn, lựu phóng, cối 60mm, sửa chữa súng bộ binh cho lực lượng vũ trang hai nươc Việt Nam và Campuchia chiến đấu.
Đầu năm 1948, các ủy ban giải phóng Campuchia ra đời và hình thành ba khu giải phóng rộng lớn. Khu Đông Nam do Tu-xa-mút và Keo-ma-ni lãnh đạo có sự hỗ trợ bảo đảm của Khu 8 và Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Long Châu Tiền của Việt Nam. Khu Tây Nam là cơ sở của phong trào kháng chiến dưới sự lãnh đạo của đồng chí Sơn Ngọc Minh thường xuyên giữ mối liên hệ với Khu 9 của Việt Nam. Khu Đông Bấc dưới sự chỉ huy của đồng chí Chan-xi-chan và đồng chí Chây Xơ-rết có mối quan hệ chặt chẽ với Khu 7 của Việt Nam. Vùng Tây Bắc Campuchia, Ủy ban Dân tộc giải phóng cũng được thành lập. Cuối năm 1948, Ban Hải ngoại soạn thảo Hiệp ước Tương trợ Việt - Miên, về mặt hậu cần Hiệp ước nêu rõ: Quân đội quốc gia Việt Nam hoạt động ở Cao Miên giúp giải phóng dân tộc Miên đều được Chính phủ Cao Miên độc lập tiếp tế về thực phẩm và quân nhu... Cùng thời gian, với sự phối hợp chặt chẽ của Việt Nam, phong trào kháng chiến của nhân dân Campuchia ở các tỉnh thuộc miền Tây Nam và Đông Nam phát triển mạnh mẽ; vùng giải phóng lan rộng, căn cứ du kích nối liền từ Đông sang Tây Campuchia gom các tỉnh Svây Riêng, Prây Veng, Kăng-đan, Ta-keo, Kam-pốt, Kông-pông Spư được hình thành. Đầu năm 1949, Đảng Cộng sản Đông Dương mở Hội nghị cán bộ Miên - Lào, Hội nghị nhấn mạnh: Nhiệm vụ cần kíp của Miên, Lào hiện nay là xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang và chính quyền ở căn cứ địa. Hội nghị quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng ở Miên có nhiệm vụ lãnh đạo công tác ở vùng Tây Bắc, Tây Nam và Đông Nam Miên, thống nhất vào Ban Cán sự Miên trực thuộc với bộ phận Trung ương miền Nam. Riêng bộ phận hoạt động ở Bắc Miên giáp Hạ Lào vẫn do Ban Cán sự Trung ương ở hải ngoại lãnh đạo. Cuối năm 1949, phong trào kháng chiến phát triển trên cả nước Campuchia, 14/15 tỉnh đã có vùng giải phóng và căn cứ du kích. Các căn cứ địa trên hai nước đã nối liên lạc được với nhau. Lực lượng vũ trang Việt Nam sang giúp Campuchia, tính đến đầu năm 1950 đã mang theo 1.500 súng tiểu liên, 4.000 súng trường và hàng nghìn lựu đạn, có cả máy thông tin vô tuyến điện để bắt liên lạc và phối hợp tác chiến. Bước sang năm 1950, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của cuộc kháng chiến và quan hệ chiến đấu giữa ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam, Hội nghị lần thứ III Đảng Cộng sản Đông Dương (21.1 - 3.2.1950) đã ra Nghị quyết tổng phản công địch trên khắp chiến trường Đông Dương nhằm thu hồi toàn bộ lãnh thổ ba nước. Trong bản báo cáo, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Đông Dương là một chiến trường duy nhất. Chiến lược tổng phản công phải được tiến hành đồng thời ở Việt Nam, Lào và Campuchia, bởi ba quốc gia có quan hệ mật thiết với nhau vê địa lý, chính trị; bởi Lào và Campuchia lúc này là kho dư trữ người, lương thực và nguyên liệu... Phải tích cực giúp đỡ cách mạng Miền mở rộng các khu giải phóng, các căn cứ địa. Để cắt đứt tuyến vận tải huyết mạch nuôi sống bộ đội ờ miền Đông Nam Bộ, địch thường xuyên tổ chức các cuộc càn quét, gom dân, đánh phá các cơ sở của ta, lập hệ thống đồn bốt dày đặc ven hai đường số 1 và 10, gài mìn, phục kích những điểm ta có thể vượt qua... Mỗi chuyến hàng ta phải huy động từ 300 - 500 dân công, có chuyến từ 2.000 - 3.000 dân công nên phải tổ chức thành nhiều đoàn, chia thành nhiều chặng. Cuối năm 1951, địch mở hai cuộc càn lớn vào khu vực Kinh Xáng - Cần Gié và An Nhơn Tây. Lực lượng vận tải phải đổ máu mới đưa được gạo từ miền Tây lên miền Đông. Con đường vận tải từ Đồng Tháp Mười lên Chiến khu Đ được gọi là "huyết lộ" (con đường máu). Sau một số trận càn lớn của địch, tuyến vận tải bị phong tỏa, đời sống của bộ đội và nhân dân khu căn cứ miền Đông gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, một mặt Bộ Tư lệnh Nam Bộ chỉ thị cho các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ tích cực tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực; mặt khác, chuyển một số đơn vị sang Chiến khu Dương Minh Châu và gấp rút mở đường vận tải mới từ Đồng Tháp Mười và Đông Bắc Campuchia về. Tuyến vận tải mới từ Đồng Tháp Mười về Chiến khu Dương Minh Châu dài 305km chạy dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, qua nhiều cánh đồng lớn. Chặng đường dài 80km từ Xóm Rầy đến Phước Chi địa hình trống trải hầu như không có làng mạc, đặc biệt phải vượt qua "cánh đồng chó ngáp" dài 60km. Mùa mưa nước ngập từ 20 đến 25cm, gốc tràm ngổn ngang. Mùa khô đi lại dễ dàng hơn, nhưng thường bị địch phục kích. Để bảo đảm an toàn, yêu cầu lực lượng vận tải phải vượt qua cánh đồng trong 1 đêm. Chính vì vậy, phải tổ chức lực lượng vận tải chuyên nghiệp, vừa làm nhiệm vụ vận tải, vừa phải vận động xây dựng cơ sở trong nhân dân và binh lính địch ủng hộ kháng chiến. Mặc dù có rất nhiều cố gắng, nhưng do đường xa và nhiều khó khăn nên mỗi tháng chỉ vận tải trên tuyến này được ba chuyến, cung cấp được một phần cho các cơ quan và đơn vị. Ở Chiến khu Dương Minh Châu, có tuyến vận tải được tổ chức từ Đông Bấc Campuchia về theo sông Vàm Cỏ (xuôi về mất 1 đêm, ngược lên phải mất 7 đêm), tiếp đó vận tải bằng đường bộ khoảng 80km mới về được căn cứ. Đây là vùng thưa dân, không có khả năng huy động dân công tại chỗ nên tất cả cán bộ, đảng viên cơ quan dân - chính - đảng và các đơn vị lực lượng vũ trang đều phải tham gia vận chuyển hàng, ở Khu 9, tuyến vận tải ven biển bằng thuyền nhỏ đưa hàng mua ở Thái Lan và Campuchia về. Tuyến này hoạt động không thường xuyên; khối lượng hàng vận tải không lớn, nhưng có một số loại hàng quý cần cho kháng chiến mà ta không sản xuất được như hóa chất, thuốc chữa bệnh phương tiện kỹ thuật đã được vận chuyển qua tuyến này. Sự hình thành các tuyến vận tải chiến lược, nhất là các tuyến vận tải trên chiến trường Campuchia phục vụ chiến đấu và chiến đấu ở các chiến trường miền Nam Việt Nam với việc duy trì các tuyến vận tải thường xuyên, lực lượng vận tải chuyên nghiệp với nhiều phương thức, phương tiện đa dạng, thích hợp với từng vùng đã đáp ứng yêu cầu xây dựng và tác chiến ngày càng lớn của bộ đội chủ lực, yêu cầu phát triển chiến tranh du kích rộng khắp ở chiến trường miền Nam. Hoạt động bảo đảm hậu cần trên đất nước Campuchia, được sự tham gia trực tiếp và đông đảo của nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia đã góp phần đánh thắng thực dân Pháp xâm lược là chiến công chung của nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia. Đồng thời, tạo cơ sở cho sự phát triển vững chắc của hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp sau. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:53:23 pm Chương I HẬU CẦN QUÂN SỰ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT" VÀ "CHIẾN TRANH CỤC BỘ" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1954-1968) 1. Hoạt động xây dựng lực lượng, bảo đảm hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia, góp phần đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên bán đảo Đông Dương, ở Việt Nam, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; miền Nam tạm thời nằm dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; ờ Campuchia và Lào, thực dân Pháp phải rút quân viễn chinh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước. Cách mạng Campuchia tổ chức cho lực lượng vũ trang giải ngũ tại chỗ, thực hiện hòa hợp dân tộc, đấu tranh giữ vững chủ quyền, độc lập, hòa bình và trung lập. Lực lượng vũ trang cách mạng Lào rút về tập kết, đấu tranh giữ gìn và phát triển lực lượng, bảo vệ vùng giải phóng, thực hiện Chính phủ Liên hiệp, xây dựng nước Lào hòa bình, trung lập và thịnh vượng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân cả hai miền Nam Bắc đã nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Giơnevơ (ký ngày 20.7.1954), ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, nhằm củng cố hòa bình, thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc. Ta nhanh chóng chuyển quân tập kết, tiếp quản đô thị và các vùng mới giải phóng, trao trả người bị bắt, đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn phá hoại Hiệp định của địch... Thực tiễn những năm đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ ở miền Nam Việt Nam cho thấy không thể chỉ tiến hành đấu tranh chính trị đơn thuần mà phải dùng bạo lực cách mạng để thực hiện mục tiêu giành độc lập, dân tộc. Thực hiện sự chỉ đạo của các cấp, các địa phương ở miền Nam đã từng bước tổ chức và thành lập các đội tự vệ, các tiểu đội, trung đội, đại đội vũ trang làm nhiệm vụ diệt ác trừ gian, vận động quần chúng, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo. Tháng 10 năm 1957, Tiểu đoàn 250 - đơn vị chủ lực đầu tiến của Nam Bộ chính thức được thành lập. Ngoài việc tổ chức, biên chế lực lượng và huấn luyện, yêu cầu về vũ khí trang bị, lương thực thực phẩm ngày càng lớn. Dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy và chính quyền, nhân dân cùng lực lượng vũ trang tìm mọi cách tự trang bị vũ khí cũng như các nhu yếu phẩm bảo đảm cho sinh hoạt, huấn luyện và chiến đấu. Ngay từ đầu năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ đã chuẩn bị kế hoạch xây dựng căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ, bao gồm hai vùng căn cứ Đông Bắc và Tây Bắc. Căn cứ Đông Bắc nguyên là địa bàn Chiến khu Đ (Biên Hòa), nay được mở rộng tiếp giáp với biên giới Campuchia - Việt Nam. Dựa vào kinh nghiệm làm công tác hậu cần trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các cấp ủy Đảng và đoàn thể cách mạng phát động phong trào "Hũ gạo nuôi quân", "Con gà, cây chuối kháng chiến", bằng cách chắt chiu, dành dụm của từng gia đình, hằng tháng các tổ phụ nữ đi thu gom gạo, thực phẩm để nuôi bộ đội và cán bộ thoát ly. Các đội vũ trang ở miền Đông Nam Bộ gặp nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực thực phẩm, vì địa bàn nơi đây hầu hết là rừng núi, dân cư thưa thớt; mặt khác, do địch đây mạnh hoạt động khủng bố, cấm đoán, nên việc tiếp tế càng gian khổ hơn. Trước thực trạng trên, Xứ ủy Nam Bộ và cấp ủy Đảng của các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã cử nhiều cán bộ trực tiếp xuống các địa phương vận động nhân dân làm công tác tiếp tế. Đồng chí út Hổ và đồng chí Ba Sàng phụ trách tiếp tế cho các đơn vị đứng chân ở Bời Lời (Tây Ninh), đồng chí Nam Ninh và đồng chí Sáu Moon phụ trách tiếp tế cho vùng Dương Minh Châu (Tây Ninh), đồng chí Lâm Sơn Hải phụ trách tiếp tế cho các đơn vị đứng chân ở Tây Ninh giáp biên giới Campuchia - Việt Nam... Để tránh sự khủng bố gắt gao của địch, Xứ ủy chuyển từ Sài Gòn xuống Châu Đốc và đến năm 1957 rời sang Campuchia. Một số cán bộ Ban Cán sự Việt kiều ở Phnôm Pênh được điều qua Xứ ủy chuyên lo thu mua hàng, tổ chức đường dây bí mật chuyển vật chất hậu cần về miền Đông Nam Bộ. Thực hiện nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ, các căn cứ địa vùng rừng núi giáp biên giới Campuchia - Việt Nam được củng cố, xây dựng là nơi đứng chân và bảo đảm cho lực lượng vũ trang mới được tổ chức lại. Từ Campuchia, Xứ ủy đã tích cực vận động Việt kiều đóng góp tài chính, chỉ đạo tổ chức tiếp liệu chuyển về miền Nam. Hàng chục thanh niên Việt kiều được tập hợp đào tạo thành y tá, dược tá, chuẩn bị dụng cụ quân y, thuốc men lập thành bộ phận quân y và 30 thợ may, máy may được huy động sản xuất quân trang sẵn sàng đưa về miền Nam. Như vậy, ngay từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã đánh giá đúng vị trí quan trọng của Vương quốc Campuchia trung lập. Dựa vào hoàn cảnh thuận lợi về chính trị, kinh tế, mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Xứ ủy Nam Bộ đã chuyển sang đứng chân hoạt động ở Campuchia chỉ đạo cách mạng miền Nam. Cuối năm 1959, Xứ ủy Nam Bộ và một phần lực lượng hậu cần chuẩn bị ở Campuchia chuyển về căn cứ Tây Bắc Sài Gòn; lực lượng còn lại tổ chức thành một số cơ sở ở Phnôm Pênh. Đầu năm 1960, Trung đoàn chủ lực đầu tiên (phiên hiệu Q1) của Ban Quân sự Miền ra đời, toàn bộ quân trang, một phần lương thực, thuốc men là sự đóng góp của Việt kiều ở Campuchia đưa về. Lực lượng vũ trang Miền phát triển mạnh, quy mô tác chiến ngày một lớn, nhu cầu vật chất hậu cần ngày càng tăng. Tuy được Trung ương chi viện vào bằng đường biển (chủ yếu là vũ khí, đạn dược) và khai thác tại chỗ nhưng nguồn vật chất, trang bị khai thác trên đất Campuchia vẫn rất quan trọng. Từ năm 1963, Hậu cần Miền đã tăng cường nhiều cán bộ am hiểu, có kinh nghiệm hoạt động ở Campuchia cho "Bộ phận tiếp liệu ngoại" tại Phnôm Pênh như các đồng chí Tư Võ, Bảy Cà Phê, Tư Rừng, Tư Kho, Bảy Đạt... Nhờ vận dụng linh hoạt các biện pháp, thông qua Việt kiều, Hoa kiều móc nối được một số sĩ quan quân đội Campuchia và thương nhân mua những thứ thiết yếu, ngụy trang dưới dạng buôn bán hàng hóa, đưa đến các "chợ trời" khu vực biên giới ở Ca-ba-chàm thuộc tỉnh Srây Riêng, Sa Âm và Mi Mốt thuộc tỉnh Kông-pông Chàm. Tại các cửa khẩu, các "chợ trời" biên giới, quy luật giá cả, giá trị được sử dụng khéo léo đã hút được nguồn hàng lớn từ nội địa Campuchia mang tới bán cho ta. Sau đó, số hàng hóa mua được nhanh chóng chuyển về các căn cứ hậu cần ở miền Đông Nam Bộ. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:54:34 pm Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 25 tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng giao cho Trung tướng Trần Văn Trà - Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp tổ chức Đoàn B90 gồm 25 người đủ các thành phần dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số đã từng chiến đấu, công tác ở chiến trường rừng núi miền Đông Nam Bộ, Nam Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia, do đồng chí Trần Quang Sang (Ba Phước) - Chỉ huy trưởng Đoàn vũ trang tuyên truyền Lộc Ninh, cán bộ Ban Thống nhất Trung ương làm Trưởng đoàn; đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) - Chính trị viên tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Bộ binh 324 và đồng chí Phạm Lạc (Phạm Văn Lạc) - Tiểu đoàn phó thuộc Sư đoàn Bộ binh 330 làm Phó đoàn. Đoàn B90 có nhiệm vụ hành quân vào Đắk Lắk cùng các đồng chí hoạt động tại địa phương tìm cách mở đường từ Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ để vừa xây dựng cơ sở cách mạng, khắc phục tình trạng chia cắt do địch kiểm soát giữa chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ với chiến trường Tây Nguyên và Khu 5, vừa chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận sự chi viện nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc theo đường chiến lược Trường Sơn vào Tây Nguyên và nguồn hàng từ Đông Bắc Campuchia do các cơ sở hoạt động bí mật khai thác, chuyển về. Các đồng chí được tuyển chọn ngoài việc hội đủ tiêu chuẩn đức tài, tinh thần chịu đựng gian khổ, không ngại hy sinh, từng sống, chiến đấu ở địa bàn vào công tác, còn phải "không có vợ và chưa có người yêu ở miền Bắc" để giữ gìn bí mật tuyệt đối cho Đoàn. Công tác chuẩn bị hậu cần vào miền Nam theo quy định cũng được tiến hành hết sức nghiêm ngặt. Những bộ quân phục hiện dùng đều phải để lại, mỗi người được cấp hai bộ quần áo bà ba đen, một chiếc "khăn rằn" kiểu miền Trung Nam Bộ, một "xà cột" vai, một mũ rộng vành, một võng và vải nilông, một đôi "dép râu"; các túi gạo, túi thuốc, thực phẩm khô... Tổng cộng mang trên người không quá 20kg. Gần ngày lên đường, tất cả giấy tờ, từ quyết định điều động, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đến bằng khen, giấy khen, huân chương, huy chương, quân hàm, quân hiệu, các loại mang dấu ấn miền Bắc đều được tập trung gửi lại, sao cho trước lúc lên đường, anh em trong Đoàn phải được coi như một bộ phận từ phong trào đấu tranh chống Mỹ, ngụy những năm 1957- 1959.
Việc thành lập Đoàn B90 trong thời kỳ quân và dân ta ở miền Nam bắt đầu thực hiện chiến tranh cách mạng không chỉ nhằm khắc phục tình trạng chiến trường vùng sâu, vùng xa bị chia cắt do Đoàn 559 chưa vươn tới được, mà còn là điều kiện thuận lợi để xây dựng, mở rộng cơ sở cách mạng, xóa bỏ "vùng trắng" từ Nam Đắk Lắk trở vào Đông Nam Bộ, một vùng được Mỹ, ngụy mệnh danh là "bất khả xâm phạm". Ở miền Đông Nam Bộ, Xứ ủy Nam Bộ quyết tâm mở tuyến vận tải chi viện chiến lược cả trên bộ và trên biển, đồng thời chỉ thị cho Khu ủy miền Đông Nam Bộ khẩn trương xây dựng cơ sở, mở rộng căn cứ tiến ra phía Bắc đón các bộ phận mở đường từ Nam Tây Nguyên và Đông bắc Campuchia vào. Sau những ngày tháng tìm đường giữa những cánh rừng hoang vu và núi non hiểm trở. Vào lúc 16 giờ ngày 30 tháng 10 năm 1960, Đội I của Đoàn B41 (Đầu năm 1960, Đoàn B90 và Đội công tác Nam Đăk Lắk hợp nhất thành Đoàn B4, có nhiệm vụ "xoi mở đường" kết hợp với xây dựng cơ sở cách mạng từ các tỉnh Nam Tây Nguyên xuống các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Ban Cán sự lâm thời Đoàn B4 do đồng chí Vũ Anh Ba - Bí thư Ban Cán sự tỉnh Đăk Lắk trực tiếp làm Bí thư. Đồng chí Trần Phòng - Bí thư kiêm Đội trưởng Đội Công tác Nam Đăk Lắk và đồng chí Trần Quang Sang - Bí thư Chi bộ kiêm Đoàn trưởng Đoàn B90 làm Ủy viên) đã bắt được liên lạc với Đại đội 59 của Liên tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ tại con suối cạn, thượng nguồn sông Đồng Nai Thượng và ngày 4 tháng 11 năm 1960, tại Km 5 trên Đường số 14, khu vực ngã ba biên giới Campuchia, Lào và Việt Nam, đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Phước Long đã bắt được liên lạc với Đội II của Đoàn B4 do đồng chí Phùng Đình Ấm phụ trách. Thiết lập được tuyến hành lang giao liên từ Trung Bộ vào miền Đông Nam Bộ, tuyến giao liên vận tải quân sự Trường Sơn qua đất Campuchia và Lào thật sự trở thành cầu nối giữa căn cứ địa miền Bắc với miền Nam. Căn cứ vào sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, Khu ủy miền Đông tổ chức hai đội C200, C300 từ Chiến khu Đ, khu Vực Bình Phước "xoi mở đường" lên thượng nguồn sông Đồng Nai Thượng và ngã ba biên giới (Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Campuchia) bắt liên lạc với Đoàn B4. Giữa tháng 7 năm 1960, Đội C200 đã bắt liên lạc được Đội I (Đoàn B4) đến cuối tháng 2 năm 1960, Đội C300 đã bắt liên lạc với Đội II (Đoàn B4). Việc mở đường, khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam trên đất Campuchia là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng và khó khăn gian khổ. Mục đích, yêu cầu, phương châm, phương pháp, tư tưởng chủ đạo trong công tác là: Tích cực, chủ động "xoi mở đường"; bám chặt vào dân để xây dựng cơ sở; tạo thế, tạo lực bám trụ lâu dài, vững chắc, phát triển hành lang tiến ra phía trước được quán triệt thấu suốt từ lãnh đạo đến từng đội viên. Trong điều kiện chiến trường mới lạ, cơ sở cách mạng trên địa bàn rất mỏng, thậm chí nhiều nơi chưa có, các đội công tác mở đường vừa phải mò mẫm bám từng buôn, móc ráp từng người dân để tuyên truyền chủ trương của cách mạng, vừa phải tự lo từng bữa ăn hằng ngày. Để duy trì sinh hoạt và công tác, Đội C200 phải dựa vào củ chụp, củ năng thay lương thực làm thức ăn hằng ngày. Trong điều kiện cơ động làm nhiệm vụ, anh em phải gọt vỏ, thái mỏng, sau đó luộc chín cho vào giỏ tre đem ngâm xuống suối qua một ngày hoặc một đêm mới có thể nấu ăn được. Củ măng được chế biến (thức ăn chính) cùng với các món ăn thịt thú rừng, cá suối, măng tre nứa, môn thục, rau tàu bay... không chỉ giúp duy trì sự sống mà còn tiếp sức cho bộ đội mở đường, tiến lên phía trước. Nhờ tinh thần đoàn kết vượt khó, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bàng mọi giá, sau hơn một tháng bám tuyến dọc sông Đồng Nai, Đội C200 đã đi sâu vào địa phận phía Nam tỉnh Lâm Đồng giáp biên giới Campuchia. Ở miền Nam, sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, phong trào cách mạng có bước phát triển mới. Xứ ủy Nam Bộ quyết định xây dựng khu vực phía Bắc huyện Dương Minh Châu và huyện Châu Thành (Tây Ninh) thành căn cứ chung của Miền. Do việc tiếp tế bảo đảm cho các cơ quan đơn vị trong Căn cứ Dương Minh Châu hết sức cấp thiết, đồng chí Nam Ninh được giao nhiệm vụ thiết lập đường dây tiếp tế, đưa đón cán bộ từ Campuchia về nước; đồng thời, trực tiếp mở các cửa khẩu thu mua, trước hết là lương thực, vải, muối về cung cấp cho bộ đội. Qua một thời gian, bộ phận này lựa chọn địa bàn Trảng Chiên làm nơi đứng chân và mở các cửa khẩu Chốt Chanh, Cà Tum, suối Nước Trong... Sang năm I960, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, ta đã tổ chức một số cánh quân nhu vận tải, chuyên trách mở cửa khẩu thu mua lương thực thực phẩm và vận chuyển, dự trữ, tiếp tế cho các cơ quan đơn vị thuộc Miền, chủ yếu tại biên giới Campuchia - Việt Nam. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:55:24 pm Bên cạnh tổ chức các phân đội quân nhu làm công tác thu mua, tại Căn cứ Khu B bước đầu xây dựng một số cơ sở sản xuất quân trang. Ngày 22 tháng 12 năm 1960, xưởng may đầu tiên của Quân đội ta ở miền Nam ra đời. Xưởng mang phiên hiệu A5 gồm sáu người, trang bị bốn máy khâu do đồng chí Ba Sơn phụ trách, đứng chân ở suối Trà Vông (Bắc Tây Ninh). Cùng thời gian, Căn cứ Khu B thành lập thêm Xưởng may B9 gồm 12 người do đồng chí Phong phụ trách, đứng chân ở khu vực Suôi Mây (Tây Bắc Tây Ninh). Xưởng A5 và Xưởng B9 buổi đầu có quân số và máy móc, thiết bị ít. Lực lượng tham gia xây dựng xưởng chủ yếu mới biết may vá hoặc biết sử dụng máy khâu được lựa tuyển trong số chị em đang làm nhiệm vụ xay giã gạo của quân nhu. Sau đó, các xưởng trên tiến hành tuyển thêm chị em từ các địa phương Củ Chi, Hóc Môn, Bình Dương, Tây Ninh... Ngoài ra, còn có một số chị em Việt kiều từ Campuchia về tham gia xây dựng xưởng.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tháng 2 năm 1961, Hội nghị quân sự miền Nam quán triệt nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam với tên gọi công khai là "Quân Giải phóng miền Nam", là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam. Các bộ tư lệnh quân khu được thành lập. Nam Bộ được chia thành bốn quân khu. Đến tháng 7 năm 1961, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân khu 6 được thành lập1 (Quân khu miền Đông Nam Bộ (Khu 7) mang mật danh T1 gồm các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Biên Hòa, Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Bình Tuy, Long An, Hậu Nghĩa và Phước Tuy. Quân khu miền Trung Nam Bộ (Khu 8 ) mật danh T2 gồm các tinh Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang, Mỹ Tho, Gò Công và Bến Tre. Quân khu miền Tây Nam Bộ (Khu 9) mật danh T3 gồm các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu và Cà Mau. Quân khu Sài Gòn - Gia Định mật danh T4. Cục Nam Trung Bộ (Khu 6) gồm các tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Tuyên Đức và Lâm Đồng. Khu 5 gồm các tinh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai và Kon Tum). Với việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự toàn miền Nam, hệ thống tổ chức hậu cần quân sự từng cấp được hình thành. Đồng chí Phạm Văn Xô - ỦY viên Thường vụ Trung ương Cục kiêm ủy viên Ban Quân sự Miền (sau đổi thành Bộ Chỉ huy Quân sự Miền) được phân công phụ trách công tác hậu cần, sản xuất, đường dây, xây dựng căn cứ địa... Ban Quân sự Miền phân công các đồng chí: Võ Văn Lân (Mười Thiên) - phụ trách kế hoạch hậu cần, Trịnh Văn Tước (Tám Cường) - phụ trách chính trị, Trần Công An (Hai Cà) - phụ trách sản xuất, Lưu Dương - phụ trách quân giới, Sáu Ngọc - phụ trách đường dây, Năm Bằng - phụ trách tài vụ. Ban Quân sự Miền tăng cường xây dựng hai khu căn cứ A và B để tổ chức tạo nguồn vật chất bảo đảm hậu cần cho bộ đội chủ lực Miền và các cơ quan miền Đông Nam Bộ; đồng thời, chỉ đạo và giúp đỡ các lực lượng vũ trang quân khu, tỉnh đứng chân trong phạm vi căn cứ của Miền đẩy mạnh việc xây dựng căn cứ của mình. Đầu năm 1962, Trung ương Cục quyết định thành lập Phòng Hậu cần thuộc Ban Quân sự Miền do đồng chí Võ Phát (Tư Võ) làm Trưởng phòng. Phòng có các bộ phận chính là Quân nhu, Quân y Quân giới. Ngoài chức năng làm tham mưu hậu cần cho Ban Quân sự Miền, Phòng còn có nhiệm vụ chỉ đạo đối với hai khu căn cứ A và B. Cùng với việc tạo nguồn vũ khí trang bị tại chỗ và nhận sự chi viện từ miền Bắc vào, ta còn tổ chức mua sắm vũ khí từ Campuchia chuyển về nước. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục, năm 1961, Ban Cán sự Việt kiều ở Phnôm Pênh thành lập Ban Tiếp liệu ngoại, lấy phiên hiệu là B20. Nhiệm vụ của Ban là xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều ở Campuchia, vận động nhân dân quyên góp ủng hộ cách mạng trong nước, thu mua hàng (chủ yếu là vũ khí) theo yêu cầu của Miền và tổ chức vận chuyển về Khu B. ở Khu B, Hậu cần Miền tổ chức ra bộ phận B21 đứng chân ở Chàng Riệc, nối liền với đường dây của B20. Bộ phận B21 đón hàng của B20 đưa xuống Đường số 7 (Mi Mốt) cất giấu và vận chuyển về kho Khu B, đồng thời B21 còn tổ chức thu mua một số loại vũ khí đưa về nước. Cuối năm 1962, do một số cơ sở của B21 bị địch phát hiện, bộ phận này phải di chuyển lên thị trấn Snuôl, tỉnh Kra-chê (Campuchia), sau đó đứng chân ở Ca-ba-chàm tiếp tục làm nhiệm vụ thu mua trang bị kỹ thuật vận chuyển về nước. Khi Xứ ủy Nam Bộ thành lập, Ban Tài chính Xứ ủy cũng được ra đời với một số ít tiền "Đông Dương ngân hàng" và tạo một số cơ sở kinh doanh hợp pháp để làm bình phong hoạt động. Địch đánh phá ráo riết các cơ sở cách mạng nên hoạt động tài chính Nam Bộ rơi vào hoàn cảnh rất khó khăn. Vì vậy, giữa năm 1958, Ban Tài chính cùng Xứ ủy chuyển sang đất Campuchia, xây dựng lại lực lượng để phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài ở miền Nam Việt Nam. Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (1.1959), bộ đội chủ lực Miền và bộ đội địa phương phát triển mạnh ở miền Nam, việc bảo đảm hậu cần cho các đơn vị trở thành vấn đề cấp bách. Một trong những phương pháp bảo đảm là chi viện tiền cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ bằng cách chuyển ngoại tệ (chủ yếu là đồng đô la Mỹ) cho "Tổ chức tài chính đặc biệt" do đồng chí Mười phụ trách. Tại Ngân hàng Trung ương ở Hà Nội có giữ "quỹ mật" bằng ngoại tệ do nước bạn viện trợ, dành cho miền Nam. Đồng chí Phạm Hùng - Phó Thủ tướng Chính phủ là người quyết định sử dụng quỹ này. Công việc chuyển tiền được thực hiện bằng cách: Khi cần đưa tiền đi, đồng chí Phạm Hùng điện gọi người từ Campuchia về Hà Nội làm việc. Nhận xong, tiền được gói dưới dạng hàng mẫu đưa vào Cơ quan đại diện thương mại của ta ở Phnôm Pênh bằng máy bay. Tiền đến Phnôm Pênh được giao lại cho bộ phận của đồng chí Mười, sau đó được Trung ương Cục xác nhận. Cuối năm 1961, Ban Kinh tài (Ban Tài chính đã được đổi tên) Trung ương Cục di chuyển về Khu C (Tây Ninh). Đồng chí Mười đi thẳng lên Phnôm Pênh gặp đồng chí Nam Cường - Giám đốc Công ty Tân Á là đầu mối nhận và chế biến ngoại tệ từ nguồn chi viện của Trung ương chuyển vào. Sau chuyến đi Phnôm Pênh, đồng chí Mười đưa về một số con em Việt kiều ở Campuchia xin theo kháng chiến làm "Lính Kinh tài". Tháng 8 năm 1962, ta triển khai bộ phận chuyên trách tài chính và đô thị bên cạnh Ban Kinh tài, lấy phiên hiệu là C153. Sau đó, bộ phận này tiếp tục tiến hành chế biến ngoại tệ dựa vào những tổ chức có sẵn mối quan hệ với vùng đô thị miền Nam, hoặc dựa vào các cơ sở Việt kiều Hoa kiều ở Campuchia. Tiếp tục chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, tháng 3 năm 1964 Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông qua Kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra nhằm tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của quân Mỹ, tăng viện trợ cho quân ngụy, cố gắng ổn định tình hình miền Nam trong hai năm 1964 - 1965; dùng không quân đánh phá miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế và buộc ta phải ngừng chi viện cho miền Nam. Tháng 4 năm 1964, đế quốc Mỹ lập kế hoạch đánh phá các con đường thâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam qua biên giới Lào và Campuchia. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:57:10 pm 2. Hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia, góp phần đánh thắng cuộc phản công chiến lược mùa khô làn thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 -1966)
Sang năm 1965, cuộc chiến đấu của nhân dân ta trên hai miền Nam - Bắc có những chuyển biến quan trọng. Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ bị phá sản, cách mạng miền Nam đứng trước thời cơ giành thắng lợi mới. Để cứu vãn thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam; đồng thời, mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế quân sự của hậu phương lớn miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhận rõ địch đánh phá miền Bắc chính là nhằm cứu vãn nguy cơ thất bại ở miền Nam nên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tăng cường chỉ đạo công tác giao thông vận tải, xác định rõ nhiệm vụ giữ vững giao thông vận tải là công tác trung tâm đột xuất của cả nước. Tháng 4 năm 1965, Cục Vận tải thuộc Tổng cục Hậu cần được thành lập lại, đảm nhiệm toàn bộ tuyến vận tải quân sự trên miền Bắc, đảm bảo "chân hàng" cho Đoàn 559. Bộ Tư lệnh 559 (Đoàn 559) được tổ chức như một quân khu, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Phan Trọng Tuệ - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Đại tá Vũ Xuân Chiêm - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Phó Chính ủy, Thượng tá Võ Bẩm - Phó Tư lệnh, Thượng tá Vũ Văn Đôn - Cục trưởng Cục Quản lý xe máy giữ chức Tham mưu trưởng Đoàn 559. Trước đòi hỏi của nhiệm vụ mới, Đoàn 559 tiến hành mở 400km đường mới; trong đó, đường từ Bạc đến Tà Xẻng vào khu vực biên giới ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, đáp ứng nhiệm vụ vận chuyển trong mùa khô. Đầu tháng 5 năm 1965, đường bị bom, mưa tàn phá càng hư hỏng nặng. Từ ngày 25 tháng 5 năm 1965, phía Tây Trường Sơn bắt đầu mưa lũ lớn, nước dâng cao có chỗ hơn 6m. Ở đoạn đường từ Bạc đi Tà Xẻng gặp nhiều khó khăn. Thời gian thi công triển khai chậm do ít máy móc, thiếu thuốc nổ, lại phải sử dụng lao động thủ công. Gặp những đoạn núi đá, các đơn vị phải thi công sang đoạn khác chờ khi có thuốc nổ mới quay lai làm tiếp. Nhiều chỗ đèo dốc hiểm trở, vách núi cao, Bộ đôi Công binh phải nối thêm cán xẻng để đào "ta luy" hoặc phải bám dây treo người ở lưng sườn núi để làm việc. Lương thực thực phẩm rất thiếu nên bộ đội phải đào củ mài, củ chuối hái măng, lá sắn để ăn. Thuốc sốt rét và các loại vi-ta-min đều thiếu. Sinh hoạt kham khổ, trong khi lao động rất căng thẳng, sức khỏe của lực lượng công binh giảm sút, quân số ốm cao. Tuy vậy, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vẫn động viên nhau quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Trước tình hình trên, để đảm bảo cho quân và dân ta có thể đánh bại các cuộc phản công chiến lược của địch, vấn đề đảm bảo hậu cần được quan tâm hàng đầu của các cấp, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, hành lang vận chuyển chi viện Nam Đông Dương được củng cố và mở rộng. Giữa năm 1965, theo sự chỉ đạo phương thức hoạt động mới, Đoàn 559 được tổ chức lại thành ba tuyến, mỗi tuyến tương đương cấp lữ đoàn: Trong đó, tuyến III gồm Trung đoàn Công binh 98 làm nhiệm vụ mở đường, lực lượng vận chuyển, giao liên từ Bạc vào đến Tà Xẻng, gồm cả Đường B46 từ Chà Vằn đi Khâm Đức và Đường C4 từ ngã ba Phi Hà đi Tà Ngâu (biên giới Campuchia) do Trung tá Nguyễn An - Chỉ huy trưởng, Trung tá Phạm Hương (sau là đồng chí Lê Xy) - Chính ủy Tuyến III. Sở Chỉ huy tuyến bố trí ở Bạc. Đầu tháng 11 năm 1965, nhờ Nhà nước và Bộ Quốc phòng bổ sung lực lượng, Tuyến III có hai tiểu đoàn bộ binh (4, 9) và hai trung đoàn công binh (98, 279), Tiểu đoàn Vận tải ô tô 56, Tiểu đoàn Tàu thuyền 161, Tiểu đoàn Thồ 10, có ba đại đội thồ trên đất Campuchia từ Xiêm Pạng về Phi Hà (Đường C4), chín đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Tháng 1 năm 1966, Đoàn 559 mở đường cơ giới vào đến Tà Xẻng, tạo thành tuyến vận tải cơ giới liền mạch từ Mụ Giạ vào ngã ba biên giới Campuchia - Lào - Việt Nam và từ đó vươn sâu hơn về phía Nam. Tuy vậy, đây chỉ là đường quân sự làm gấp, mặt đường và bán kính quay vòng hẹp, gồ ghề, độ dốc rất cao, cần phải tiếp tục cải tạo mới sử dụng có hiệu quả và an toàn. Như vậy, mạng đường do Đoàn 559 quản lý được phát triển bằng phương tiện cơ giới về phía Nam, qua Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, đến chiến trường Nam Đông Dương, góp phần quan trọng đẩy mạnh chi viện cho bộ đội chiến đấu. Bên cạnh việc tăng cường năng lực tiếp nhận và vận chuyển hàng chi viện từ chiến trường miền Bắc qua Đường 559 và quá cảnh qua Campuchia, quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ tích cực tham gia xây dựng hậu phương tại chỗ, nhanh chóng xây dựng thêm các khu vực hậu cần, cảng tuyến vận tải trước đó và mở thêm các hành lang ngang dọc tạo nên thế liên hoàn từ biên giới Campuchia tiến lên thông với tuyến 559. Tại miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền (thành lập tháng 10.1963) chỉ đạo tổ chức, phát triển các đoàn hậu cần khu vực 81, 82 83 và 84, mở rộng hành lang vận chuyển, xây dựng thêm căn cứ hậu cần tại chỗ, bám chắc địa bàn quan trọng. Các đoàn hậu cần khu vực được bổ sung lực lượng, hoàn chỉnh tổ chức thành phần đảm bảo và mở rộng phạm vi hoạt động trên đất Campuchia sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ chiến đấu. Cuối năm 1965, Bộ Quốc phòng điều hai tiểu đoàn vận tải của Đoàn 559 cùng đoàn cán bộ của Tổng cục Hậu cần vào Tây Nguyên thành lập Cửa khẩu VQ5 (Tân Lập), với nhiệm vụ tiếp nhận nguồn hàng của Trung ương qua đất Campuchia và tổ chức mua thêm hàng tại chỗ cung cấp cho chiến trường. Đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam qua Tây Nguyên được củng cố, thông suốt để tiếp nhận vật chất từ miền Bắc đưa vào và lương thực thực phẩm tại nội địa Campuchia chuyển sang. Tháng 10 năm 1965, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công Plây Me (19.10 - 26.11.1965) tại khu vực Đức Cơ - Bàu Cạn - Plây Me (tỉnh Gia Lai). Địa bàn tác chiến chủ yếu của chiến dịch được xác định là khu vực từ Bàu Cạn - Plây Me đến Đức Cơ - Ia Đrăng (cách Tây Nam thị xã Pleiku khoảng 30km) thuộc tỉnh Gia Lai, diện tích 600km2. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có ba trung đoàn bộ binh 320, 33 và 66, Tiểu đoàn Đặc công 952, Tiều đoàn Pháo binh 200, Tiểu đoàn Cao xạ 32; lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai cùng tham gia phối hợp có một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội đặc công, một đại đội súng cối và lực lượng du kích Huyện 5... Lực lượng quân Mỹ trên địa bàn chiến dịch có Lữ đoàn kỵ binh bay 3; quân ngụy có một chiến đoàn (gồm Trung đoàn 42 và hai tiểu đoàn biệt động quân 21,22), hai tiểu đoàn thuộc lực lượng đặc biệt do cố vấn Mỹ chỉ huy đóng đồn ở Plây Me và Đức Cơ, Chiến đoàn thiết giáp 3 thuộc Biệt khu 24 sẵn sàng ứng cứu cho lực lượng ở Plây Me. Thiếu tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến dịch. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:57:57 pm Để đảm bảo hậu cần cho chiến dịch, lực lượng hậu cần hoạt động trên hành lang Cánh Nam Tây Nguyên, bao gồm các kho dự trữ, Viện Quân y 2, Tiểu đoàn Vận tải bộ, Trạm Sửa chữa quân giới được sử dụng làm hậu cần chiến dịch. Một bộ phận hậu cần của khu vực Cánh Nam được tổ chức thành căn cứ hậu cần phía trước đứng chân tại vùng H5 - Ba Bỉ, bao gồm kho đạn, bệnh viện tiền phương, lực lượng dân công, hai trung đội vận tải và hơn 100 dân công trực tiếp đảm bảo vận chuyển hàng cho lực lượng chiến đấu. Giữa căn cứ hậu cần chiến dịch và bộ phận căn cứ hậu cần phía trước tổ chức Trạm tiếp chuyển T2. Các địa phương cũng tổ chức huy động nhân dân xây dựng những kho dự trữ hậu cần phục vụ cho bộ đội tác chiến. Tổng nhu cầu vật chất phục vụ chiến dịch là 202 tấn lương thực thực phẩm, 50 tấn đạn. Trong đó, đạn dược chủ yếu được chuyển từ Hậu cần Cánh Bắc xuống; lương thực thực phẩm chủ yếu chuyển từ Hậu cần Cánh Nam lên.
Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên yêu cầu lực lượng hậu cần Cửa khẩu VQ5 và hậu cần cấp trên đẩy mạnh chi viện vật chất từ phía Nam qua đất Campuchia cho chiến dịch. Trên tuyến hành lang, nhân dân phối hợp cùng lực lượng vận tải tích cực đẩy mạnh vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến dịch Cán bộ, chiến sĩ hậu cần hoạt động trên đất Campuchia nêu cao quyết tâm phục vụ đầy đủ vật chất cho chiến dịch không kể ngày đêm. Tuy nhiên, lúc này đang là mùa mưa, phương thức vận tải chủ yếu là gùi, thồ, sử dụng xe bò, đường vận chuyển xấu, lại bị địch đánh phá liên tục nên đến giữa tháng 10 năm 1965, Hậu cần Chiến dịch mới vận chuyển được 30 tấn đạn (nhu cầu cần 50 tấn), lương thực thực phẩm cũng chưa đủ số lượng yêu cầu. Trước tình hình đó, lực lượng hậu cần đã đẩy mạnh thu mua và vận chuyển. Nhiều chiến sĩ vận tải và lực lượng dân công thực hiện gùi thồ hàng liên tiếp trong nhiều ngày, sức khỏe đã suy kiệt nhưng vẫn không rời vị trí. Nhiều anh chị em còn vượt cung, tăng chuyến đẩy hàng lên chiến trường. Ngày 26 tháng 11 năm 1965, chiến dịch kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 quân địch (có 1.700 quân Mỹ), tiêu diệt một chiến đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp của quân ngụy, diệt và đánh thiệt hại hai tiểu đoàn quân Mỹ, phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay; phía ta có hơn 1.200 cán bộ, chiến sĩ thương vong. Chiến dịch thắng lợi có đóng góp của lực lượng hậu cần, vận tải trên đất Campuchia. Sau chiến dịch này, tuyến hành lang tiếp tục được củng cố, mở rộng, đường cơ giới vươn sâu vào chiến trường phía Nam. Chiến trường Đông Nam Bộ ở xa hậu phương miền Bắc, công tác chi viện chiến trường gặp nhiều khó khăn; xác định phương hướng công tác hậu cần trong thời gian tới là tổ chức thu mua tại chỗ, tiếp nhận vận chuyển hàng đến các đơn vị kịp thời nên Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập hai đoàn hậu cần 85 và 86: Đoàn hậu cần 85 (thành lập tháng 10.1965) với nhiệm vụ: Tiếp nhận hàng chi viện chiến lược, bảo đảm kho tàng dự trữ lâu dài, phục vụ chiến đấu, phục vụ thương bệnh binh tuyến sau của các đơn vị và của các đoàn hậu cần phía trước đưa về, nuôi dưỡng tân binh vào, cung cấp lương thực, thuốc men, bổ sung quân trang cho các đơn vị, tạo cơ sở vật chất hậu cần tại chỗ (chủ yếu là lương thực thực phẩm). Phạm vi hoạt động của Đoàn ở phía Đông và Tây Đường số 13, giáp biên giới Campuchia - Việt Nam; đồng thời, Đoàn thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận gạo của trên và tổ chức thu mua lương thực thực phẩm ở khu vực Đường số 13 trên đất Campuchia. Chỉ huy Đoàn có đồng chí Sáu Sâm - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy và đồng chí Mười Tùng - Phó Chính ủy đặc trách biên giới Campuchia - Việt Nam. Đoàn hậu cần 86 (thành lập đầu năm 1966) được xây dựng thành một trong những căn cứ hậu phương vững chắc của các tỉnh Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, hoạt động dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, khu vực từ tỉnh Phước Long đến sát sông Sê-rê-pốc của tỉnh Quảng Đức, với nhiệm vụ: Tiếp nhận hàng của Trung ương do Đoàn 559 đưa vào và hàng của Đoàn hậu cần 17 hoạt động trên đất Campuchia đưa sang, xây dựng và mở rộng đường vận tải nối liền với chiến trường Tây Nguyên từ phía Nam sông Sê-rê-pốc đến Đoàn hậu cần 81, tổ chức thu mua lương thực thực phẩm phục vụ cho chiến đấu. Chỉ huy Đoàn có đồng chí Lâm Quốc Đăng - Cục phó Cục Hậu cần Miền trực tiếp làm Đoàn trưởng, đồng chí Ba Đăng - Chính ủy. Thời gian này, hành lang chi viện Bắc - Nam từ Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ dần chuyển sang khu Vực giáp biên giới Campuchia - Việt Nam do Đoàn hậu cần 86 trực tiếp phụ trách. Phối hợp với các đoàn hậu cần khu vực Đoàn hậu cần 86 tổ chức thành năm tuyến hành lang vận tải (cánh hậu cần) hoạt động trên các địa bàn: Cánh V1 hoạt động ở khu vực Ba Khê, Cánh V2 hoạt động tại khu vực Ô Răng, Cánh V3 hoạt động tại ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Campuchia, Cánh V4 hoạt động tại Đức Lập, Cánh V5 hoạt động ở phía Nam sông Sê-rê-pốc và Bản Đôn tiếp giáp với Mặt trận Tây Nguyên. Trên mỗi cánh, các đơn vị sử dụng cả phương tiện vận tải thô sơ và cơ giới. Ngoài việc tiếp nhận hàng chi viện của Đoàn hậu cần 17 và qua tuyến 559, Đoàn hậu cần 86 còn có nhiều cửa khẩu đề thu mua lương thực thực phẩm trên đất Campuchia nhằm dự trữ nguồn hàng phục vụ cho các chiến dịch lớn. Đặc biệt, Đoàn hậu cần 86 đã xây dựng tuyến vận tải đến hai đoàn hậu cần 81 và 84 với tổng chiều dài 118km, sử dụng phương tiện vận chuyển bằng cơ giới là chủ yếu. Trên tuyến vận tải này, có hệ thống các kho, trạm liên lạc, trạm quân y thu dung điều trị thương bệnh binh trên đường hành lang. Đây là một trong những tuyến vận tải hoạt động tốt nhất, thực hiện vận chuyển được khối lượng hàng hóa lớn ngay cả trong mùa mưa phục vụ nhu cầu chiến đấu của các đơn vị. Đoàn hậu cần 86 có tới bốn bệnh viện; mỗi bệnh viện có khoảng 300 giường bệnh, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn và các đơn vị khác. Điển hình là các bệnh viện đứng chân trên đất Campuchia như Bệnh viện K79A ở Ka Tum do đồng chí Huỳnh Văn Đại làm Viện trưởng; Bệnh viện K79E ở ô Răng do bác sĩ Đỗ Kim Doanh làm Viện trưởng. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:58:44 pm Mùa khô 1965 - 1966, đế quốc Mỹ đã đưa hơn 200.000 quân viễn chinh cùng hơn 30.000 quân các nước chư hầu vào trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Việt Nam; địch gấp rút chuẩn bị cuộc phản công mùa khô để tìm diệt chủ lực ta. Để thống nhất chỉ đạo công tác vận tải quân sự, phối hợp chặt chẽ giữa tuyến trước và tuyến sau, Quân ủy Trung ương quyết định chuyển Đoàn 559 trực thuộc sự chỉ đạo của Tổng cục Hậu cần và chỉ định Đại tá Hoàng Văn Thái - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Tư lệnh Đoàn; Đại tá Vũ Xuân Chiêm làm Chính ủy Đoàn. Tháng 12 năm 1965, Đảng ủy Đoàn 559 tổ chức Hội nghị quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương với quyết tâm: Đầu tháng 1 năm 1966 phải thông đường đến Tà Xẻng, đường rộng từ 4,5 đến 5m, tốc độ xe chạy được 100km trong một đêm và cơ động được xe kéo pháo. Từ Bạc đi Tà Xẻng phải chống lầy từng đoạn để đến mùa mưa xe tranh thủ chạy từng chuyến đảm bảo được 8 tấn/ngày. Khảo sát đường từ Tà Xẻng về phía Nam dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam; cải thiện Đường C4 (đường thồ) từ Tà Ngâu trên đất Campuchia về Phi Hà. Tuyến III kết hợp vận chuyển cơ giới và thô sơ, nhận hàng ở Bạc đưa vào Tà Ngâu theo nhu cầu của Bộ. Khối lượng cả năm phải đảm bảo 17.766 tấn.
Sau 4 tháng mùa khô 1965 - 1966, Đoàn 559 mới giao cho các chiến trường được 10% kế hoạch. Riêng với |ực lượng nội bộ của các binh trạm từ Sa Khe vào Tà Xẻng và chiến trường Tây Nguyên chưa vận chuyển được, gây thiếu đói nghiêm trọng, bộ đội không đủ gạo đề nấu cháo. Trước tình hình trên, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần chỉ thị cho Đoàn 559 tổ chức rút hàng ở Tà Ngâu ra Tà Xẻng, Chà Vằn cứu đói cho chiến trường Khu 5, Tây Nguyên và các binh trạm phía trong; đồng thời, chỉ thị cho bộ phận thu mua của Tổng cục Hậu cần do đồng chí Đức Phương phụ trách khai thác nguồn hàng ở Đông Bắc Campuchia và Nam Lào khoảng 10.000 tấn gạo và thực phẩm, 1.000 tấn xăng dầu giao cho Đoàn 559. Do đường từ Campuchia về Việt Nam còn là đường thồ nên khối lượng vận chuyển được không nhiều. Cuối tháng 1 năm 1966, Đoàn 559 điều Trung đoàn Công binh 98 cơ động gấp sang mở Đường C4 từ Phi Hà đi Tà Ngâu thành đường cơ giới (gọi là Đường số 49), kế hoạch phải hoàn thành vào tháng 3 năm 1966 để đưa xe vận chuyển hàng ra Tà Xẻng, Chà Vằn. Chỉ trong 38 ngày đêm, ngày 3 tháng 4 năm 1966, Trung đoàn Công binh 98 hoàn thành Đường số 49 với 204km từ Phi Hà qua bãi đá Lâm Phu, vượt dốc 200 đến Xiêm Pạng (Campuchia) đáp ứng kịp thời kế hoạch đưa hàng từ Campuchia và Hạ Lào về. Với việc mở Đường số 49, các lực lượng "xẻ dọc Trường Sơn" đã góp phần cùng toàn tuyến vận tải chiến lược mở được 720km đường mới với tổng khối lượng 1.908.000m3 đất đá và tạo nên trục vận chuyển cơ giới chiến lược Bắc - Nam với tổng chiều dài 920km đi từ Mụ Giạ và Phong Nha vào Tà Xẻng, Hạ Lào, nối sang Tà Ngâu, Xiêm Pạng trên đất Campuchia. Trục đường này đã hình thành hệ thống đường huyết mạch nối liền các chiến trường ba nước Đông Dương, bảo đảm phát triển vận chuyển chiến lược bằng cơ giới và phục vụ cho việc cơ động các lực lượng chiến đấu, binh khí kỹ thuật. Khi ta đang vận chuyển cơ giới trên đất bạn Campuchia (hướng Tà Ngâu) thì máy bay địch phát hiện đánh phá. Các trọng điểm "Chín suối", Lâm Phu, suối "Hai ông bà" bị địch kiểm soát chặt chẽ. Càng ngày địch càng đánh sâu vào Lanh Tanh, Nậm Công, Tà Ngâu. Vì ta chưa có lực lượng phòng không ở các khu vực này nên máy báy địch tự do đánh phá, buộc xe phải dừng tránh địch suốt đêm, tỷ lệ xe hàng đến đích rất thấp. Đến tháng 5 năm 1966, Đoàn 559 mới chuyển hàng từ Tà Ngâu ra, giao cho Khu 5 được 250 tấn, chiến trường Tây Nguyên được 300 tấn và chuyển cho các binh trạm từ Bạc trở vào được gần 1.000 tấn. Tình hình trên phản ánh khó khăn lớn trong bước chuyển từ vận tải thô sơ sang vận tải cơ giới trên địa bàn rừng núi Campuchia xa hậu phương, trong điều kiện địch đánh phá ác liệt. Cuối tháng 2 năm 1966, nhằm tăng cường sự chỉ huy trực tiếp, Đoàn 559 giải thể các tuyến vận tải, thành lập bảy binh trạm 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 8. Binh trạm 8 là binh trạm cuối cùng hoạt động chủ yếu trên đất Campuchia, từ Phi Hà đến Tà Ngâu cung cấp cho hành quân, nội bộ và Tây Nguyên do đồng chí Nguyễn Chúc - Binh trạm trưởng, đồng chí Nguyễn Danh - Chính ủy. Giữa năm 1966, Binh trạm 8 đổi thành Binh trạm 5 phụ trách Đường C4 từ biên giới Campuchia về Phi Hà do đồng chí Vũ Văn Đôn - Tham mưu trưởng Đoàn 559 làm Binh trạm trưởng và đồng chí Lê Nghĩa Sĩ - Phó Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 559 làm Chính ủy Binh trạm. Trong tuyến hành lang Bắc - Nam đến miền Đông Nam Bộ, đoạn qua địa bàn tỉnh Quảng Đức đóng một vai trò quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt của địch, đường hành lang qua địa bàn tỉnh có sự thay đổi. Được sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam với sự ủng hộ của Chính phủ Hoàng gia Campuchia do Quốc vương Xi-ha-núc đứng đầu, từ năm 1966, đường hành lang chuyển dần dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam. Nhiều trạm giao liên đặt trên đất Campuchia. Đường hành lang chiến lược Bắc - Nam qua địa bàn Quảng Đức được tổ chức thành sáu trạm dọc theo biên giới. Tháng 3 năm 1967, hệ thống các trạm trên tuyến hành lang được chuyển giao toàn bộ cho Ban Giao - bưu - vận thuộc Trung ương Cục trực tiếp chỉ huy hệ thống các trạm hành lang, chủ yếu là đưa đón bộ đội từ Sê-rê-pốc về đến căn cứ Trung ương Cục. Tại miền Đông Nam Bộ, các hành lang vận chuyển của các đoàn hậu cần khu vực vượt qua nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, sự đánh phá của địch tích cực hoạt động phục vụ chiến đấu. Một số cánh của các đoàn hậu cần khu vực vượt qua biên giới Campuchia - Việt Nam thu mua lương thực tự phát không giữ được bí mật hành lang vận chuyển nên địch phát hiện và tiến hành tổ chức đánh phá gây nhiều khó khăn cho ta. Bên cạnh đó, địch tích cực gây sức ép đối với Chính phủ Vương quốc Campuchia về kiểm soát chặt chẽ biên giới. Nhu cầu chiến đấu của quý I năm 1966 cần đến 3.000 tấn gạo, nhưng do gặp khó khăn về thu mua và vận chuyển nên những ngày đầu, các đoàn hậu cần thu mua được từ 3 - 5 tấn, cao nhất trong quý I năm 1966 cũng chỉ thu mua được 450 tấn, mới đủ cung cấp cho hai sư đoàn sử dụng trong một tháng. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 08:59:52 pm Trước tình hình trên, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức việc thu mua và vận chuyển hàng có sự chỉ đạo thống nhất để giữ bí mật, an toàn cho các tuyến hành lang. Ngày 15 tháng 5 năm 1966, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Ban Biên giới để chỉ đạo các đơn vị và đề ra một số quy chế hoạt động như: Những đơn vị công tác gần biên giới Campuchia - Việt Nam tuyệt đối không được vào làng mua bán trao đổi trực tiếp với nhân dân; phải tổ chức thành đơn vị hành chính (xã, huyện) thống nhất quản lý và chỉ huy, tổ chức tuần tra canh gác cẩn thận. Ban Biên giới và Cục Hậu cần Miền phối hợp chặt chẽ trong việc thu mua, vận chuyển. Hậu cần Miền có trách nhiệm bảo đảm hậu cần cho Ban Biên giới và các đồn biên phòng hoạt động. Từ đó, hoạt động của các cánh hậu cần vùng biên giới Campuchia - Việt Nam thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long và Quảng Đức hoạt động có hiệu quả, đường hành lang vận chuyển được an toàn, về thu mua, ta đã tổ chức thu mua thêm tại bốn cửa khẩu: Ngã tư Sở Sao, Vĩnh Tường, Tân Uyên và Bàu Hàm. Riêng cửa khẩu Vĩnh Tường, hằng ngày có hàng trăm người của ta đi mua gạo ở các vùng địch kiểm soát. Trong hai năm 1965 - 1966, ta tổ chức thu mua được 6.250 tấn gạo. Việc tổ chức thu mua đã khó, việc vận chuyển đưa gạo về vùng căn cứ và đến các đơn vị còn khó khăn hơn. Để đảm bảo việc vận chuyển, bên cạnh việc tổ chức lực lượng làm đường, bảo vệ đường, Hậu cần Miền và các đoàn hậu cần còn nâng cao khả năng vận chuyển bằng cách phát triển các phương tiện và phương thức vận chuyển. Hậu cần Miền thành lập thêm một đại đội xe ô tô (22 chiếc). Hàng hoá nhận được từ Campuchia về biên giới Vĩnh Tường ngay lập tức được chuyển về Bình Mỹ bằng xe ô tô, sau đó từ Bình Mỹ về sông Bé bằng nhiều phương tiện vận tải khác. Nhờ có nhiều tuyến vận tải được mở ra trên đất Campuchia để liên kết giữa các cánh trong một đoàn hậu cần, giữa các đoàn hậu cần tuyến trước và tuyến sau đã tạo nên một mạng đường vận chuyển đảm bảo cho hàng chi viện đến các chiến trường các đon vị, phục vụ cho việc đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965 - 1966 của địch.
Sau sự kiện Vũng Rô (2.1965), tuyến vận tải chi viện bằng đường biển qua Biển Đông của ta bị phát hiện, quân Mỹ và quân ngụy tăng cường kiểm soát ngặt nghèo; đồng thời, đánh phá bằng không quân và hải quân, tuyến vận tải đường biển không còn khả năng hoạt động hiệu quả (tháng 2.1968 tuyến phải tạm dừng hoạt động). Trước tình hình trên, cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của chiến tranh giải phóng, đòi hỏi phải nhanh chóng tăng cường lực lượng vật chất kỹ thuật cho cách mạng miền Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ra sức khắc phục khó khăn, tìm mọi con đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường, nhất là các chiến trường ở xa trong thời điểm mà tuyến 559 đang vươn vào nhưng chưa bảo đảm được vững chắc thường xuyên. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương chuyển hàng đến chiến trường Nam Đông Dương băng đường biển qua cảng Xi-ha-núc Vin và đường bộ do các đoàn vận tải thuộc Bộ Tư lệnh Miền phụ trách. Nhờ chính sách khôn khéo và các phương án đã chuẩn bị từ trước, Việt Nam qua con đường ngoại giao đã tranh thủ được chính quyền trung lập Vương quốc Campuchia đồng ý cho ta qua đường biển quốc tế đưa hàng hóa viện trợ quân sự (chủ yếu là vũ khí) vào cảng Xi-ha-núc Vin với điều kiện Việt Nam phải đóng góp cho phía Campuchia một tỷ lệ nhất định và tuyệt đối giữ bí mật; Quân đội Hoàng gia Campuchia có trách nhiệm bảo vệ, hộ tống số hàng quân sự này đưa về biên giới Việt Nam dưới danh nghĩa vận chuyển tiếp tế cho các đồn binh của Quân đội Hoàng gia Campuchia. Ngoài ra, Việt Nam còn tranh thủ vận chuyển lương thực thực phẩm, quân trang, ô tô, xe đạp thồ mà các đoàn hậu cần tổ chức thu mua, chế biến từ nội địa Campuchia về các hướng dọc biên giới Việt Nam - Campuchia giao hàng cho ba quân khu (7, 8, 9) và chiến trường Nam Tây Nguyên. Để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển trên, công tác tổ chức hoạt động hậu cần là vấn đề rất lớn và phức tạp, từ việc định ra biên chế các đơn vị, tổ chức lãnh đạo chỉ huy chung và từng hướng cửa khẩu; tổ chức lực lượng và phương tiện sửa chữa; tổ chức tuyến đường, bến bãi, kho tàng trên đất Campuchia. Đầu tiên, ta xây dựng tổ chức đại diện Quân Giải phóng miền Nam trong Quân đội Hoàng gia Campuchia tại Phnôm Pênh do hai đồng chí Hai Đạt và Trần Chính phụ trách. Tổ chức này có nhiệm vụ quan hệ, trao đổi, hợp đồng với đại diện Quân đội Hoàng gia trong việc tiếp nhận và vận chuyển hàng. Hoạt động của tổ chức hoàn toàn bí mật, kể cả các bộ, ngành dân sự của Campuchia cũng không được biết. Tiếp đó, ta xây dựng các đơn vị trực tiếp tiếp nhận, vận chuyển. Các bộ phận tiếp liệu của Hậu cần Nam Bộ đứng chân trên đất Campuchia, trước đó hoạt động thông qua Việt kiều là chủ yếu, nay đã phát triển mở rộng tổ chức, chuyển sang hoạt động công khai hợp pháp dưới danh nghĩa công ty kinh doanh và vận tải, được giao dịch trực tiếp với Quân đội Hoàng gia và chính quyền Vương quốc Campuchia. Hoạt động giao dịch bằng cách trả tiền cho mỗi tấn hàng quá cảnh và tiền cước thuê lực lượng, phương tiện của Quân đội Hoàng gia trong việc tiếp nhận, lưu giữ, vận chuyển, hộ tống hàng quân sự từ cảng Xi-ha-núc Vin về kho trung chuyển tại thị xã Kông-pông Spư và các điểm tiếp nhận của Việt Nam trên đất Campuchia. Đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ tiếp vận này là Đoàn hậu cần 17 (được thành lập cuối năm 1965 tại Phnôm Pênh, tương đương cấp trung đoàn) do đồng chí Võ Phát (Tư Võ) - Cục phó Cục Hậu cần Miền làm Đoàn trưởng, các đồng chí Năm Thành, Ba Vũ, Tám Thanh và Bảy Bình làm Đoàn phó. Dưới Đoàn, ta tổ chức các ban chỉ huy (tương đương cấp tiểu đoàn). Đoàn hoạt động dưới danh nghĩa Công ty Thương mại và Vận tải Hắc Lỷ do đồng chí Bảy Cà Phê làm chủ hãng xe vận tải, các đồng chí khác đóng vai kế toán, thủ quỹ, giúp việc. Công ty có nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc Việt Nam bằng đường biển qua cảng Xi-ha-núc Vin và Đoàn K201 (Đoàn K20, thành lập cuối năm 1965, hoạt động ở địa bàn Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Đồng chí Đức Phương, nguyên là Đoàn trường Đoàn 763 trực tiếp làm Đoàn trưởng Đoàn K20. Lúc đầu K20 trực thuộc Quân ủy Trung ương, sau thuộc Đoàn 559. Đầu năm 1966, Đoàn trực thuộc Tổng cục Hậu cần. Đoàn có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, trang bị kỹ thuật và giao cho Đoàn hậu cần 17 và nhận lương thực, thuốc men cung cấp cho Cánh Bắc của chiến trường Tây Nguyên và Hạ Lào. Cuối năm 1968, Đoàn tạm ngừng hoạt động do đế quốc Mỹ gây sức ép với Vương quốc Campuchia) ở Đường C4 hướng tỉnh Stung Treng ở Đông Bắc Campuchia; đồng thời, khai thác nguồn vật chất hậu cần trên đất Campuchia bảo đảm cho Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và chuyển ra Mặt trận Tây Nguyên, Đoàn 559 trên đất Việt Nam; tạo ra một hậu phương kế cận có vị trí rất quan trọng đối với chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Công ty có từ 40 - 50 xe vận tải loại 10 tấn, từ 30 - 40 xe vận tải GMC, nhiều xe Landrover, xe Jeep, du lịch, một văn phòng, hai xưởng sửa chữa xe, nhiều cơ sở chế biến thực phẩm, thu mua lương thực, may mặc, sản xuất xe đạp trên đất Campuchia. Khi vận chuyển nhiều, công ty thuê thêm hàng trăm xe vận tải; ở mỗi cánh được bố trí từ 5 - 10 xe vận tải GMC túc trực để sẵn sàng tiếp chuyển giao hàng tận kho của quân ta. Hàng chi viện nhận bàn giao tại cảng Xi-ha-núc Vin chuyển tới kho trung chuyển ở thị xã Kông-pông Spư lượt vận chuyển giao tận các cửa khẩu biên giới Việt Nam theo yêu cầu của từng chiến trường. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 09:00:35 pm Về phía Campuchia, Chính phủ Campuchia giao cho quân đội, trực tiếp là Quân khu thủ đô Phnôm Pênh phụ trách. Sĩ quan chỉ huy lực lượng này là Tư lệnh Um Savut và Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Les Kôsem. Tư lệnh Um Savut rất cảm thông với đời sống khó khăn, thiếu thốn của chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam nên dễ đáp ứng yêu cầu của ta. Ở mỗi căn cứ Hậu cần Việt Nam trên đất Campuchia Quân đội Hoàng gia Campuchia bố trí một sĩ quan cùng một số lính bảo vệ, phục vụ, đóng gần căn cứ. Ngoài ra họ bố trí lính áp tải trên từng xe hàng khi vận chuyển. Trong từng chuyến, từng đoàn vận chuyển có khi vài chục xe có khi đến cả hàng trăm xe, họ còn bố trí một số xe có sĩ quan theo sát chỉ huy và xử lý các trường hợp bất trắc xảy ra trên đường. Vì vậy, quân số phục vụ cho công tác này rất lớn. Có lúc Quân khu Thủ đô thiếu quân canh phòng, bảo vệ. Chuyến hàng vận chuyển đầu tiên từ cảng Xi-ha-núc Vin về kho trung chuyển Kông-pông Spư. Cán bộ Đoàn hậu cần 17 đều rất lo cho sự bí mật và an toàn. Việc giáo dục quán triệt, chỉ đạo rất kỹ, kể cả dự kiến tình huống xấu nhất khi bị địch phát hiện phá hoại cần tiêu hủy xe và vũ khí; tuyệt đối không để lại tang chứng để địch gây khó khăn cho chính quyền Campuchia và lộ bí mật về hướng chi viện tiếp tế của Việt Nam.
Chuyến hàng đầu tiên xuống cửa khẩu Ô Am, trên Đường số 14 thuộc tỉnh Môn-đôn-ki-ri (Campuchia) đối diện với tỉnh Phước Long (Việt Nam) do Đoàn hậu cần 86 tiếp nhận. Vì đây là chuyến hàng xuống biên giới đầu tiên nên đích thân Tư lệnh Um Savut và Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Les Kôsem đều đi theo. Suốt đoạn đường từ kho Kông-pông Spư, cả ta và bạn đều rất thận trọng, tổ chức rất chu đáo, nên không gặp trở ngại gì. Từ cửa khẩu Ô Am đi vào kho khoảng 500m, do trời mưa to, xe bị sa lầy, cán bộ chiến sĩ Đoàn hậu cần 86 nhanh chóng khắc phục. Qua lần này, các sĩ quan Campuchia rất có cảm tình trước sự đón tiếp nhiệt tình chu đáo của Đoàn hậu cần 86 và vô cùng khâm phục tinh thần làm việc hết mình của cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng. Vì lượng vũ khí lớn nên khi được phía Campuchia đồng ý, ta đẩy mạnh tiến độ vận chuyển, có khi trong một ngày đi nhiều hướng với hàng trăm xe. Tùy theo cự ly, tính toán thời gian xuất phát, miễn sao khi đến đêm là vào được cửa khẩu để giao hàng. Ở cửa khẩu Stung Treng thuộc Đường C4, sau khi đưa hàng đến kho trung chuyển ở ngoại ô thị xã Stung Treng, Đoàn hậu cần 17 phải thuê thuyền máy nhỏ của bà con Việt kiều chở hàng dọc theo sông Sê Kông (nhánh của sông Mê Kông). Sông này nhiều thác ghềnh, dù rất cẩn thận nhưng ta cũng có vài chuyến bị đắm thuyền, phải lặn mò tìm hàng rất vất vả. Ở cửa khẩu Bò Keo thuộc Nam Tây Nguyên, sau khi đưa hàng đến kho trung chuyển ở Bò Keo huyện Long Phát, tỉnh Rát-ta-na-ki-ri, ta còn phải dùng xe GMC vận chuyển đến kho của Mặt trận Tây Nguyên. Tại đây, nhiều đoạn đường phải xuyên qua căn cứ của Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia (FUNK) nên thường bị bắn tỉa, buộc phải sử dụng các đơn vị Quân đội Hoàng gia Campuchia hộ tống. Vì vậy, khi cán bộ ta muốn quan hệ làm việc với Mặt trận Tây Nguyên, gặp lúc tình hình căng thăng phải nhờ Quân đội Hoàng gia Campuchia dùng xe bọc thép chở đi. Có lần bị lực lượng của Mặt trận FUNK phục kích từ núi cao ném lựu đạn vào xe rất nguy hiểm. Ở các cửa khẩu Ô Răng, Ô Am, Km 25, Mi Mốt thuộc các đoàn hậu cần 86, 70, 50, 210 và 85, hàng tập kết về kho trung chuyển tại cửa khẩu, rồi dùng xe GMC chuyển đến tận các kho. Đường vận chuyển này thường bị máy bay địch đánh phá liên miên, có lần, chúng đổ quân bằng máy bay trực thăng chặn đường, đốt xe, bắn giết người, làm cho lái xe rất hoang mang nên sau đó phải có lực lượng chốt bảo vệ đường. Riêng các cửa khẩu Snuôl sát Đường số 7, cửa khẩu Tăng Lèo (Quân khu 8) và cửa khẩu Lò Than - Tà Ni thuộc Đoàn 195 (Quân khu 9), địa bàn trống trải phải dùng xe chở tới địa điểm tập kết, rồi các đoàn hậu cần dùng ghe xuồng, sức người vận chuyển đi ngay trong đêm. Qua đợt vận chuyển này, chúng ta có được một khối lượng hàng khá lớn, đáp ứng về cơ bản yêu cầu các hướng chiến trường. Để duy trì khả năng bảo đảm thường xuyên vật chất hậu cần cho chiến trường ngày càng ác liệt, Hậu cần Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn này là ra sức tạo nguồn và khai thác hậu cần tại chỗ. Theo phương hướng đó, các đoàn hậu cần được xây dựng dọc biên giới Campuchia - Việt Nam, vừa khai thác nguồn hàng chi viện của Trung ương vừa mở thêm các cửa khẩu để thu mua ở các khu vực giáp ranh giữa vùng giải phóng với vùng tranh chấp hoặc vùng địch chiếm. Đối với công tác "tiểu ngạch"1 (Nghĩa là tổ chức vận động nhân dân biên giới, các thương lái, các đồn bốt, chính quyền dọc biên giới chở hàng bán cho các đơn vị ta như gạo, nhu yếu phẩm, thực phẩm...), là một yêu cầu rất cấp bách vì cơ quan, đơn vị ta đóng dọc biên giới rất đông, đang gặp khó khăn thiếu thốn, mà phía bên đất ta phần lớn là vùng rừng núi, khó có thể bảo đảm đầy đủ những nhu cầu được. Đoàn hậu cần 17 tổ chức làm năm cánh, phụ trách dọc biên giới từ Hạ Lào đến Hà Tiên, Kiên Giang. Riêng Cánh C có rất nhiều cửa khẩu ở Campuchia đối diện với các tỉnh Quảng Đức, Phước Long, Bình Long và Tây Ninh của ta. Cán bộ ta ngụy trang dưới danh nghĩa là kế toán hoặc người giúp việc cho các thương lái để hoạt động. Muốn làm tốt công tác này cần phải vận động ba đối tượng: Một là, vận động tổ chức người lao động, buôn bán nhỏ ở dọc biên giới để họ mua hàng xuống bán cho các đơn vị ta. Cách này áp dụng ở những vùng có dân phía Campuchia. Tuy là quy mô nhỏ, nhưng rất rộng rãi, thường xuyên, "góp gió thành bão" và chính quyền cơ sở của Campuchia khó ngăn cấm nổi. Hai là, tổ chức nắm những người thương lái có vốn và phương tiện, vận chuyển hàng xuống bán cho các đơn vị ta theo hợp đồng hai bên. Cách này thường áp dụng cho những vùng không có dân và có quy mô vừa, lớn giải quyết tốt các yêu cầu của ta. Nhưng không được thường xuyên, vì chính quyền cơ sở của Campuchia dễ phát hiện và ngăn chặn. Ba là, bằng mọi cách nắm cho được các đồn trưởng, các xã trưởng, huyện trưởng tỉnh trưởng Campuchia giáp biên giới, để họ vừa làm ngơ cho dân buôn bán với ta, đồng tình hợp tác làm ăn với các thương lái hoặc tự chở hàng bán cho các đơn vị ta. Đây là khâu rất quan trọng, cán bộ ta bàn cách cho các thương lái dùng cách hối lộ hoặc góp vốn làm ăn mà nắm họ mới giải quyết được. Qua cách làm trên đây, tuy không thể tổng hợp được, nhưng nhìn chung, đã đáp ứng được khá lớn nhu cầu của các cơ quan đơn vị trên tuyến biên giới. Phương thức "tiểu ngạch" này, đến khi ta vận chuyển hàng chi viện theo phương thức "đại ngạch"1 (Nghĩa là tổ chức vận chuyển hàng với số lượng lớn qua biên giới Campuchia - Việt Nam theo hợp đồng) vẫn được duy trì và phát triển, đáp ứng được mọi nhu cầu, mọi lực lượng một cách kịp thời, đa dạng của các đơn vị. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Sáu, 2026, 09:01:22 pm Trong công tác thu mua, nhiều biện pháp khôn khéo được áp dụng, từ hình thức thấp đến hình thức cao, từ phân tán nhỏ lẻ đến quy mô tập trung lớn. Cán bộ, chiến sĩ và nhân viên làm công tác hậu cần, thu mua đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo, kết hợp giữa đấu tranh quân sự - chính trị - kinh tế - tài chính, vận dụng ba mũi giáp công trên mặt trận hậu cần ở chiến trường Nam Đông Dương.
Ngoài việc mở các cửa khẩu thu mua, lực lượng hậu cần còn xây dựng các cơ sở thu mua tiếp liệu công khai hợp pháp và bí mật bằng cách đóng giả làm nhà tư sản kinh doanh lớn ngay ở thủ đô Phnôm Pênh hoặc vận động các nhà buôn, các nhà tư sản có tình cảm với cách mạng mua hàng và vận chuyển hàng đến những địa điểm được bố trí sẵn. Tại đây, ta tổ chức lực lượng tiếp nhận và chuyển về căn cứ. Ta còn tranh thủ một số sĩ quan, binh lính, viên chức của địch cùng gia đình họ, dùng phương tiện và lợi dụng những sơ hở trong bộ máy quân sự - kinh tế - hành chính của chính quyền để mua và chuyển hàng cho ta. Công tác chuyển tiền vào miền Nam qua tuyến đường Trường Sơn trên bộ dù được đóng gói, bao bì một cách thích hợp và an toàn, nhưng khi leo đèo, vượt dãy núi Trường Sơn vẫn bị máy bay địch bắn phá, ngoại tệ bị đốt cháy, con số tổn thất rất lớn. Vì vậy, tháng 4 năm 1965, đồng chí Bảy Nhẫn (Mai Hữu Ích) - Phó Chủ tịch Ngân hàng Ngoại thương, Ủy viên Ban Viện trợ miền Nam được đồng chí Phạm Hùng cử sang Campuchia để phối hợp với đồng chí Mười nhằm thực hiện "phương pháp thanh toán đặc biệt". Đầu tháng 4 năm 1965, đồng chí Mười và đồng chí Bảy Nhẫn đóng vai khách du lịch, đi nghỉ mát và tham quan thắng cảnh ở Kép (Campuchia) để làm việc với nhau. Hai bên đã kết thúc được kế hoạch thực hiện công tác chuyển tiền. Thời gian này, đồng chí Nam Cường - Giám đốc Công ty Tân Á chính thức được chuyển sang Ban Kinh tài Trung ương Cục. Đồng chí Nam Cường ở Phnôm Pênh, đồng chí Dân Sanh ở Sài Gòn phối hợp, hỗ trợ nhau, tăng cường khả năng bảo đảm nhu cầu tài chính cho các chiến trường tại miền Nam. Trong năm 1965, đồng chí Nam Cường và đồng chí Dân Sanh thư nghiệm đổi tiền thành công tốt đẹp giữa tuyến: Sài Gòn - Hồng Kông - Hà Nội và Phnôm Pênh - Hồng Kông - Hà Nội Để đẩy mạnh việc thu mua vật chất hậu cần tại chỗ cho bộ đội, nhất là gạo, các lực lượng mua bản ở khu vực biên giới phải có tiền Riel (tiền Campuchia). Đồng chí Lê Xuân Ba - cán bộ Phòng Bảo đảm chiến trường thuộc Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần được cử phụ trách "công tác chi viện đặc biệt", làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên phụ trách ngoại tệ mạnh chi viện cho hậu cần các chiến trường. Việc đổi tiền Riel được thực hiện tại Hồng Kông (Trung Quốc), rồi đưa tiền về Quảng Châu (Trung Quốc). Từ Quảng Châu đưa về Hà Nội và từ Hà Nội chuyển đến các chiến trường miền Nam. Tiền này được gọi là "Quỹ Ngoại tệ đặc biệt" được cất giữ nghiêm ngặt. Khi cần đưa tiền đi, cán bộ ở Campuchia được gọi về Hà Nội làm việc đến Cục Ngoại hối nhận tiền xong. Tiền được đặt trong "Vali ngoại giao", nếu nhiều thì đóng vào các thùng nghi trang như đồ hộp xuất khẩu, đi theo tuyến hàng không Hà Nội - Phnôm Pênh hoặc Hà Nội - Quàng Châu - Phnôm Pênh mang vào Cơ quan đại diện thương mại Hà Nội tại Phnôm Pênh. Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị cho Đoàn hậu cần 17 tổ chức tiếp nhận tiền Riel và đưa về miền Nam. Đầu tiên việc chuyên chở bằng xe con, có thiết kế hai đáy chuyển về biên giới Campuchia - Việt Nam. Khi đến địa điểm giao nhận bằng các ám hiệu quy định, người giao tiền dừng xe nhanh chóng chuyển thùng tiền giao cho người nhận. Công việc được tiến hành rất nhanh chóng, ăn khớp và an toàn; bên nhận không có điều kiện kiểm đếm lại và ký biên nhận, chủ yếu dựa vào lòng tin. Sau đó, bên nhận tự kiểm và gửi biên nhận đến người giao tiền. Nhưng sau một số lần có khó khăn khi Hải quan Campuchia kiểm tra, Đoàn quyết định mang đi công khai, để trong các va li, khi bị kiểm tra lấy lý do yêu cầu chi tiền mua sắm của Công ty tại các cửa khẩu rất lớn và để trả lương công nhân, sửa chữa xe cộ, mua xăng dầu và các chi phí khác. Để vận chuyển tiền, Ban Kinh tài Trung ương Cục còn tổ chức mua những con thuyền gắn máy, đóng vai đi buôn gạo, buôn trái cây dọc sông Mê Kông, vận chuyển hàng từ Phnôm Pênh về Nam Bộ mỗi tháng một lần hoặc vài tháng một lần. Bên dưới đáy thuyền có giấu tiền. Người vận chuyển phải bố trí những chuyến hàng rất cẩn thận, tiền chở về được đưa về những địa chỉ nhất định, có người tiếp nhận. Khi giao nhận tiền phải không ai nhận được mặt nhau, để lỡ địch bắt được thì cũng không lần ra đầu mối. Chính vì vậy, địch khó có thể phát hiện và tìm ra manh mối của các cơ sở cách mạng, cả trong thành phố lẫn ngoài vùng căn cứ. Đầu tháng 7 năm 1966, Đoàn hậu cần 17 tổ chức tiếp nhận hàng chi viện của Trung ương vào cảng Xi-ha-núc Vin và của Đoàn K20, ở Đường C4 hướng tỉnh Stung Treng tổ chức vận chuyển về các khu vực thuộc chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trong quá trình khai thác nguồn hàng và tổ chức vận chuyển, Đoàn hậu cần 17 đã tìm mọi cách tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương và Quân đội Hoàng gia Campuchia, tận dụng thương nhân chuyển gạo, vũ khí, quân cụ, thuốc men về những nơi do Đoàn quy định cho Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đoàn 559. Ngoài các nhiệm vụ trên, Đoàn hâu cần 17 còn tổ chức khai thác tại chỗ như mua xe ô tô quân sư phụ tùng ô tô, xe đạp; thu mua gạo qua nguồn "đại ngạch", "tiểu ngạch". Trong quá trình hoạt động, Đoàn đã tổ chức các xưởng chuyên làm xe đạp thồ, làm nước mắm và quân cụ; thu mua và sản xuất quân trang cho chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965 - 1966 của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:46:40 pm 3. Hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia, góp phần đánh thắng cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1966 -1967) và bảo đảm cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
Sau thất bại trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân, chuẩn bị mở cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967). Hải quân và không quân Mỹ tăng cường các vụ oanh kích hòng chặn đứng mọi nguồn chi viện của miền Bắc cho các chiến trường miền Nam. Trước tình hình trên, ta mở chiến dịch Sa Thầy (18.10- 6.12.1966), tiến công quân Mỹ và ngụy trên địa bàn hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, nhằm phối hợp với chiến trường Khu 5 và toàn Miền đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của địch. Đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến dịch. Địa bàn chiến dịch là huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum và một phần huyện Chư Pa, tỉnh Gia Lai, kéo dài từ biên giới Campuchia - Việt Nam đến Đường số 15 và từ Sùng Lễ đến Sùng Thiện, rộng khoảng 500km2. Đây là khu vực rừng già, rừng non xen kẽ với những bãi cỏ tranh và đồi núi cao. Sông Sa Thầy chảy từ Bắc Kon Tum xuống Nam Gia Lai; phía Đông sông Sa Thầy là sông Pô Kô; ngoài ra, còn nhiều suối, khe chằng chịt. Trên bờ phía Đông sông Pô Kô, địch thiết lập đồn biên phòng Plây Girăng, cách biên giới hai nước Campuchia - Việt Nam vào khoảng 20km. Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn Bộ binh 1; Trung đoàn Bộ binh 95; một tiểu đoàn và một đại đội súng cối 120mm; hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và lực lượng vũ trang địa phương hoạt động trên địa bàn khu chiến dịch. Bộ Tư lệnh Chiến dịch Sa Thầy yêu cầu các tuyến hành lang vận tải dọc biên giới Campuchia - Việt Nam tích cực vận chuyển vũ khí, lương thực thực phẩm tăng cường cung cấp cho chiến dịch. Các tuyến hành lang vận tải Nam Tây Nguyên cùng lúc vừa phải tổ chức đẩy hàng vươn sâu vào nội địa và hướng về vùng đồng bằng duyên hải, vừa thực hiện vận chuyển chi viện chiến dịch. Đây là một thách thức đối với lực lượng hậu cần Cánh Nam Tây Nguyên. Lúc này, địch tăng cường dùng máy bay trinh sát, máy bay ném bom đánh phá dữ dội suốt ngày đêm kết hợp với tổ chức nhiều toán biệt kích xuyên rừng sục sạo. Lực lượng hậu cần sau nhiều tháng liên tục hoạt động nên sức khỏe giảm sút, quân số hao hụt. Tuy nhiên, Binh trạm Nam và các đơn vị phục vụ cố gắng bổ sung thêm 1 tiểu đoàn vận tải bộ. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ đều nêu cao quyết tâm thi đua phục vụ chiến dịch thắng lợi. Hàng vận chuyển từ các cánh hậu cần Nam Tây Nguyên chủ yếu là lương thực thực phẩm do trên chuyển đến qua đất Campuchia hoặc do các cánh hậu cần trực tiếp thu mua được. Tuyến hành lang vận chuyển của ta từ Cửa khẩu VQ5 về Binh trạm Nam sau đó tiếp tục được đẩy lên Binh trạm Trung, rồi đưa lên cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu. Vượt qua khó khăn, lực lượng vận tải trên tuyến hành lang đã cung cấp cho chiến dịch được 15 tấn đạn, hơn 760 tấn lương thực thực phẩm; bình quân mỗi người 1 ngày được cung cấp 700g gạo, 35g thực phẩm, 22g muối. Sau gần 2 tháng chiến đấu, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh 34 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.400 quân địch (có 2.000 quân Mỹ), đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn, tám đại đội quân Mỹ, hai đại đội quân ngụy; bắn rơi 20 máy bay, phá hủy 25 pháo, 17 xe quân sự. Sau Chiến dịch Sa Thầy, ta tổ chức cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 - 1967, trọng điểm là miền Đông Nam Bộ. Trước tình hình đó, cuối năm 1966, Quân khu căn cứ biên giới được thành lập (gọi là Quân khu 10) có nhiệm vụ: Củng cố vững chắc căn cứ vùng rừng núi, xây dựng giao thông liên lạc nối liền với đường Trường Sơn ở khu vực sông Sê-rê-pốc, bảo vệ kho tàng ở biên giới phục vụ cho lực lượng vũ trang ở miền Bắc hành quân vào Nam Bộ. Cơ quan Quân khu 10 có các ngành Quân nhu, Quân y, Quân giới, Tham mưu, Kế hoạch, Vận chuyển. Các đơn vị trực thuộc Hậu cần Quân khu 10 có: Đại đội Vận tải bộ (cán bộ, chiến sĩ đơn vị chủ yếu là nữ), Đại đội xe thồ, Xưởng quân giới, Bệnh xá K35, Bệnh xá Quân khu bộ, Trại an dưỡng, Xưởng dược, Xưởng may, bộ phận sản xuất lương thực... Việc thu mua và vận chuyển trên các tuyến của Quân khu 10 gặp rất nhiều khó khăn do lực lượng hậu cần ít, địa bàn thưa dân, vùng căn cứ sản xuất chủ yếu là bắp và mỳ (sắn); tài chính trên cấp thường không đủ, lại chủ yếu là tiền miền Nam nên việc thu mua gạo trên đất Campuchia bị hạn chế. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên các tuyến hành lang phải bám rẫy sản xuất để tự bảo đảm cho đời sống, còn lương thực thực phẩm thu mua được đều vận chuyển đến cho các đơn vị. Tháng 4 năm 1967, Quân khu 6 thành lập tuyến hành lang vận tải H50 từ biên giới Campuchia về các địa bàn của Quân khu. Tuyến hành lang vận tải dài hơn 300km xuyên qua rừng núi về các căn cứ Khu phải đi qua hai đường số 14 và 20 đang bị địch kiểm soát hết sức gắt gao. Các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên tuyến hành lang H50 phối hợp chặt chẽ với các đoàn hậu cần của Quân khu 10 và Đoàn hậu cần 86, vừa tiếp nhận, thu mua hàng hóa, vừa phải chiến đấu mở đường, bảo vệ đường để vận chuyển hàng hóa an toàn. Tuy gặp nhiều gian khổ, ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ hậu cần tuyến hành lang H50 (khoảng 1.000 người) vẫn nêu cao ý chí quyết tâm cùng các cánh vận tải khác hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ở hướng Bắc và Đông Bắc Sài Gòn, ta mở chiến địch tiến công địch trên hướng Bình Long - Đường số 13 (8.6.9.7.1966), chặn đánh các cuộc hành quân của địch đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, vùng biên giới hai tỉnh Bình Long, Phước Long bảo vệ căn cứ cơ quan đầu não của Miền và hành lang vận tải của ta. Lực lượng chiến đấu gồm Sư đoàn Bộ binh 9, Trung đoàn 16 của Sư đoàn Bộ binh 7, các đơn vị binh chủng độc lập và phối thuộc cùng lực lượng vũ trang địa phương, quân số khoảng 10.000 người. Đoàn hậu cần 85 đứng chân trên khu vực tổ chức các chân hàng phía trước trực tiếp bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Các tuyến hành lang vận tải của Đoàn hậu cần 85 được nối trực tiếp với các đoàn hậu cần tuyến sau như: 81, 82 và 83 để huy động nhân vật lực chi viện cho mặt trận. Do được chuẩn bị từ trước, các cánh hậu cần nhanh chóng hoàn thành chỉ tiêu vận chuyển chiến dịch. Hậu cần Miền tăng cường cán bộ, nhân viên kỹ thuật, quân y, thuốc men cho các bệnh viện của Đoàn hậu cần 85, đưa khả năng thu dung điều trị lên 2.000 giường, các đội phẫu thuật lâm thời sẵn sàng chi viện cho phía trước. Lương thực thực phẩm, đạn dược được chuẩn bị theo quy định. Hội đồng Cung cấp Tiền phương huy động hơn 600 dân công của hai tỉnh Bình Dương và Tây Ninh, 200 cán bộ, nhân viên các cơ quan dân - chính - đảng Trung ương Cục, trên 400 cán bộ, nhân viên Bộ Tư lệnh Miền tham gia phục vụ chiến dịch, chủ yếu làm nhiệm vụ vận tải. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:47:46 pm Từ tháng 9 năm 1966, địch đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, mở đầu cuộc "Hành quân Át-tơn-bo-rơ"1 (Cuộc "Hành quân Át-tơn-bo-rơ" (A. Attleboro, 14.9 - 25.11.1966) mở đầu cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) của quân Mỹ và ngụy, nhằm triệt phá căn cứ, tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực Quân Giải phóng, hỗ trợ cho chương trình bình định xung quanh Sài Gòn. Lực lượng hành quân: Quân Mỹ có ba lữ đoàn thuộc các sư đoàn bộ binh 1 và 25, Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn Dù 173, một tiểu đoàn của Sư đoàn Bộ binh 4, năm tiểu đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh; quân ngụy Sài Gòn có: chín tiểu đoàn của các sư đoàn bộ binh 5, 25 và lữ đoàn dù (tổng số quân 30.000) được sự chi viện của 1.600 lần chiếc máy bay chiến thuật, 225 lần chiếc máy bay chiến lược B-52. Sau hơn 2 tháng hành quân, bị bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ (Sư đoàn 9, Trung đoàn 16) và lực lượng vũ trang Tây Ninh chặn đánh, tiến công mãnh liệt ờ Bàu Gòn, Chà Dơ, Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Gò Dầu, Suối Đá... gây thiệt hại nặng, với 4.500 quân bị loại khỏi vòng chiến đấu, 65 máy bay, bảy khẩu pháo, hàng trăm xe quân sự bị phá hủy, phá hỏng, buộc địch phải chấm dứt cuộc hành quân, không đạt mục tiêu đề ra), Bộ Tư lệnh Miền quyết định sử dụng một bộ phận Sư đoàn Bộ binh 9 và Trung đoàn Bộ binh 16 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích mở chiến dịch phản công chặn phá các mũi, hướng, tiến tới đánh bại cuộc "Hành quân Át-tơn-bo-rơ" bảo vệ được căn cứ kho tàng. Trong quá trình chiến đấu, Cục Hậu cần Miền và Đoàn hậu cần 82 chỉ đạo trực tiếp các tuyến hành lang vận tải vừa đảm bảo cho tác chiến, vừa tiếp tục làm công tác chuẩn bị. Đoàn hậu cần 17 được lệnh nhanh chóng thu gom hàng từ Phnôm Pênh đưa về biên giới qua hai cửa khẩu 2 và 3. Các đơn vị hậu cần huy động lực lượng tiếp nhận chuyển hàng vào sâu nội địa phục vụ các đơn vị chiến đấu. Địch cho máy bay đánh phá dữ dội, kết hợp với bộ binh tiến hành càn quét hòng khoá chặt biên giới, chặn cắt các hành lang vận tải của ta từ Campuchia về. Đối phó với sự đánh phá ác liệt của địch ta tổ chức phân ra thành các tuyến nhỏ lẻ tiếp tục làm nhiệm vụ. Địch đánh phá ban ngày, ta tích cực vận chuyển về đêm đến vị trí bộ đội đánh địch.
Đầu tháng 10 năm 1966, trên cơ sở đánh giá chất lượng các tuyến đường, Đảng ủy Đoàn 559 chủ trương sử dụng tuyến vận chuyển cơ giới trên các đoạn từ Mụ Giạ vào Sa Đi - La Hạp - A Túc, từ Chà Vằn vào Tà Xẻng, từ Phi Hà đi Tà Ngâu. Đảng ủy Đoàn nhấn mạnh: Muốn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vận chuyển phải tiến hành các biện pháp tổng hợp, trước hết là phát động toàn tuyến "đánh địch mà đi". Phát huy tất cả các lực lượng đánh máy bay, biệt kích để bảo vệ hành lang, bảo vệ cầu đường, bảo vệ vận tải. Lực lượng đảm bảo giao thông phải coi cầu đường là chiến trường, bám sát cầu đường, làm đường và sửa đường ban ngày là chính, kết hợp khôi phục đường cũ với mở thêm đường mới để đảm bảo giao thông thông suốt cả mùa khô. Tổ chức vận chuyển phải vận dụng cách "đánh nhỏ ăn chắc" đi theo đội hình trung đội, tiểu đội là chủ yếu. Đặc biệt, phải tăng cường lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ. Giao cho các binh trạm trực tiếp chỉ huy lãnh đạo các lực lượng vận tải, công binh, phòng không, giao liên trong biên chế; tăng cường cán bộ tại các trọng điểm. Đầu tháng 11 năm 1966, trên trục đường từ Phi Hà đi Tà Ngâu trên đất Campuchia ta bố trí hai tiểu đoàn công binh, nhưng do mùa mưa kéo dài đến giữa tháng 11 năm 1966 nên thời gian bước vào kế hoạch vận chuyển chậm hơn. Trong khi đó, hoạt động của địch cũng tăng dần. Không quân địch rải chất độc hóa học xuống khu vực Phi Hà, dốc 200 thuộc Đường C4, bố trí lực lượng biệt kích dọc tuyến đường từ Bô Phiên đến Tà Xẻng. Cuối năm 1966 để tăng cường tiếp nhận vũ khí, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Đoàn 18A và Đoàn 31. Đoàn 18A do đồng chí Bùi Phùng - Cục phó Cục Hậu cần Miền làm Đoàn trưởng, có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí do Đoàn hậu cần 17 chuyển xuống tại Sa-tum, Đường số 7 trên đất Campuchia giao cho Đoàn hậu cần 85. Đoàn 31 do đồng chí Lâm Quốc Đăng - Trưởng đoàn, có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí của Đoàn hậu cần 17 chuyển giao cho Đoàn hậu cần 86. Tại khu vực tiếp nhận, Đoàn 31 cho xây dựng hai kho đạn K1 và K2. Thời gian sau, hai đoàn hậu cần 85 và 86 trực tiếp tiếp nhận hàng của Đoàn hậu cần 17, Đoàn 31 giải thể. Ngày 22 tháng 2 năm 1967, địch huy động 45.000 quân, 11.000 xe quân sự (có 2.000 xe thiết giáp), 600 máy bay mở cuộc "Hành quân Gian-xơn Xi-ty"1 (Cuộc "Hành quân Gian-xơn Xi-ty" (A. Junction City, 22.2 - 15.4.1967) nhằm triệt phá căn cứ, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và chủ lực Quân Giải phóng, bịt chặt biên giới Campuchia - Việt Nam, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn. Lực lượng hành quân của quân đội Mỹ có 31 tiểu đoàn bộ binh và dù (thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các lữ đoàn 196, 173), một trung đoàn và tám tiểu đoàn tăng thiết giáp, bốn trung đoàn pháo binh, sáu tiểu đoàn công binh; quân ngụy có một lữ đoàn thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động quân (tổng số khoảng 45.000 quân), được sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân chiến thuật, máy bay trực thăng, vận tải và hàng trăm lần chiếc máy bay chiến lược B-52. Kết hợp tiến quân đường bộ, đổ bộ đường không cùng với ưu thế về hỏa lực máy bay, pháo binh, quân Mỹ và quân ngụy liên tiếp mở hai đợt tiến công vào căn cứ, nhưng bị đánh trả quyết liệt. Sau gần 2 tháng hành quân không đạt mục tiêu đề ra, lại bị tổn thất nặng (hơn 14.000 quân bị loại khỏi vòng chiến đấu, mất 160 máy bay, 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo...), buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt cuộc hành quân) đánh phá căn Dương Minh Châu. Đây là cuộc hành quân lớn nhất trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai. Để đảm bảo đánh bại cuộc hành quân của địch, 4.000 quả đạn ĐKB được ưu tiên vận chuyển cho Nam Bộ. Cuối tháng, ta đã đưa hàng vào Tà Xẻng được 120 tấn và Tà Ngâu được 170 tấn. Từ Tà Ngâu ta vận động đồng bào Việt kiều ở ven sông Mê - Kông huy động thuyền chở vũ khí vào Kra-chê, sau đó giao cho Nam Bộ. Nhờ được chi viện nhiều vũ khí, đạn dược qua tuyến 559, quân và dân Đông Nam Bộ đánh bại cuộc "Hành quân Gian-xơn Xi-ty". Thắng lợi to lớn của quân và dân ta càng làm Bộ đội Trường Sơn lạc quan, tin tưởng, quyết tâm thi đua thực hiện công tác vận tải. Cuối tháng 4 năm 1967 vật chất hậu cần giao cho chiến trường Nam Bộ được 768 tấn, đạt 156% kế hoạch. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:49:47 pm Sau thất bại trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -1967, ở chiến trường miền Nam, trước yêu cầu của tình hình mới và để thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định đẩy mạnh nhiệm vụ chi viện miền Nam. Tuyến 559 được chỉ thị vừa thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, vừa vận chuyển chiến dịch. Để thực hiện quyết tâm trên, Đoàn 559 quyết định kiện toàn tổ chức, bố trí phân chia lại phạm vi phụ trách của các binh trạm. Các binh trạm trên trục dọc 1, 2, 3, 4, 5 và 6 được đổi thành binh trạm 31, 32, 33, 34, 35 và 36. Từ Bạc vào phía Nam, hoạt động trên đất Campuchia có Binh trạm 37 phụ trách từ Sê-ca-mán vào Tà Xẻng và Đường C4 từ Phi Hà đến Tà Ngâu, tuyến đường sông từ Tà Ngâu đến Nậm Kông. Biên chế lực lượng có Trung đoàn Công binh 98, Tiểu đoàn Cao xạ 16, Tiểu đoàn Bộ binh 2, Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58, Tiểu đoàn Giao liên 16, Đoàn thu mua (có Đại đội Tàu thuyền), Đại đội Thông tin, Đội Điều trị, Bệnh xá, ba đội phẫu thuật, Trạm Trung tu ô tô, Trạm Trung tu pháo, Đội Chuyên gia. Đồng chí Đỗ Hữu Đào làm Binh trạm trưởng và đồng chí Vũ Quang Bình làm Chính ủy. Sở Chỉ huy Binh trạm 37 bố trí ở Phi Hà.
Tuy nhiên, tình hình các binh trạm phía Nam vẫn còn nhiều khó khăn, trở ngại khi vận chuyển, một số "dốc của" bị đánh sập từ mùa trước chưa khôi phục được; đường mới mở còn rất hẹp và dốc, xe chỉ chạy được một chiều với đội hình nhỏ, tốc độ chậm, lại bị máy bay địch khống chế mạnh. Hướng Binh trạm 37 bị địch đánh mạnh ờ Lâm Phu, dốc 200 nên hàng từ Tà Ngâu trên đất Campuchia về Phi Hà bị hạn chế. Để nắm chắc và phát triển đều trên toàn tuyến khi phục sự mất cân đối giữa các binh trạm phía ngoài và các binh trạm phía trong, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559 chỉ huy đoàn kiểm tra các binh trạm phía Nam từ khu vực Bạc đến Đường C4 trên đất Campuchia, giúp cho các binh trạm tiếp thu những kinh nghiệm của các binh trạm phía ngoài về xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng, chiến thuật vận chuyển, bảo đảm cầu đường tác chiến và về xây dựng mạng thông tin thông suốt trên toàn tuyến. Đợt kiểm tra tạo ra sự chuyển biến mạnh về mọi mặt nhất là lòng tin vào khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các binh trạm phía Nam. Để mở rộng địa bàn của các tuyến hành lang vận chuyển chuẩn bị cho tác chiến trong năm 1968, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công trên hai hướng Bình Long và Phước Long trong những tháng cuối năm 1967. Lực lượng tham gia gồm ba sư đoàn bộ binh 5, 7 và 9. Để đảm bảo phục vụ chiến dịch kịp thời với quân số tham gia lớn, Cục Hậu cần Miền thành lập cơ quan tiền phương, do Thượng tá Bùi Phùng - Phó Cục trưởng Cục Hậu cần Miền phụ trách, hai đoàn hậu cần 85 và 86 được giao nhiệm vụ trực tiếp bảo đảm cho chiến dịch, ba đoàn hậu cần 81, 82 và 83 làm tuyến sau. Trên hướng tiến công chủ yếu, Tiền phương Hậu cần Miền tăng cường cho các tuyến vận tải ba đội điều trị (6,7 và 20), hai tiểu đoàn vận tải xe thồ 48 và 49 với 400 xe đạp thồ và bảy xe ô tô GMC cho Đoàn hậu cần 85; đồng thời, tổ chức thêm hai bệnh viện K116 và K71A của Hậu cần Miền ở Tây Đường số 13 làm tuyến hậu phương điều trị, thu dung. Quá trình vận chuyển trên các tuyến hành lang bị địch đánh phá dữ dội. Thời tiết mưa nhiều, đường trơn, lầy lội nên vận chuyển rất khó khăn. Quân Mỹ lại rải chất độc hóa học trên phạm vi rộng với khối lượng rất lớn. Nhiều đơn vị vận tải quân số hao hụt, sức khỏe cán bộ, chiến sĩ bị suy kiệt; lực lượng vận tải trên các cánh phải huy động sự giúp đỡ lớn của nhân dân để vận chuyển hàng. Nhân dân trên các tuyến hành lang vận tải vừa chăm sóc bộ đội bị ốm, tham gia vận chuyển hàng, vừa bảo vệ tuyến hành lang trước các hoạt động đánh phá của địch. Bộ Tư lệnh Miền đã tăng cường lực lượng công binh, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng hậu cần sửa chữa và làm mới nhiều tuyến hành lang vận chuyển. Với lực lượng công binh được tăng cường, hai đoàn hậu cần 85 và 86 cùng với Hội đồng Cung cấp Tiền phương Miền và Hội đồng Cung cấp hai tỉnh Bình Long và Phước Long mở được 241km đường xe đạp thồ gồm hai tuyến ngang và hai tuyến dọc (hai bên Đường số 13) bảo đảm vận chuyển người và hàng từ phía sau ra. Nhờ có các tuyến đường được sửa chữa và làm mới nên khối lượng hàng vận tải tăng lên nhanh. Tính đến ngày 25 tháng 10 năm 1967, các đoàn hậu cần 85 và 86 đã tiếp nhận 2.280 tấn hàng do Đoàn hậu cần 17 chuyển tới và thu mua tại chỗ để dự trữ cho chiến dịch. Sau ba tháng hoạt động, Đoàn 18A đã chuyển được 2.000 tấn vũ khí đạn dược phục vụ chiến dịch. Khối lượng vật chất vận chuyển được đảm bảo cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch có đủ ăn đến hết tháng 12 năm 1967. Tuy thời gian chuẩn bị gấp, nhưng lực lượng hậu cần đã vận chuyển và cung cấp gần 4.000 tấn lương thực thực phẩm, bảo đảm cho bộ đội mỗi người trong một tháng được 21 kg gạo, 3,2kg thực phẩm, 0,3kg đường và 0,6kg muối. Đồng thời, vận chuyển được 157,5 tấn đạn dược (tiêu thụ hết 38,5 tấn) và số thương bệnh binh cũng được vận chuyển đưa về tuyến sau điều trị kịp thời. Đêm 26 rạng ngày 27 tháng 10 năm 1967, Sư đoàn Bộ binh 5 tổ chức tiến công và pháo kích căn cứ địch ở Phước Quả, Phước Long mở màn chiến dịch. Đêm 28 tháng 10 năm 1967, Sư đoàn Bộ binh 9 tiến công Lộc Ninh, Sư đoàn Bộ binh 7 đánh địch trên Đường số 13. Chiến dịch kết thúc thắng lợi. Để tiếp tục chi viện cho chiến trường Tây Nguyên và nối thông được với tuyến đường vận tải chiến lược 559, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở thêm tuyến đường chạy dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, từ tỉnh Phước Long ra đến bờ sông Sê-rê-pốc tỉnh Quảng Đức đài 200km1 (Tới tháng 7 năm 1968, tuyến đường này hoàn thành đúng tiến độ và bảo đảm chất lượng có thể sử dụng được cả trong mùa khô lẫn mùa mưa, các loại xe kéo pháo chạy được). Trên chiến trường Đông Nam Bộ, để tập trung lãnh đạo công tác chuẩn bị hậu cần cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cuối năm 1967, Bộ Tư lệnh Miền và Cục Hậu cần Miền quyết định tách cánh vận chuyển hậu cần Đông Đường số 13 của Đoàn hậu cần 85 để thành lập Đoàn hậu cần 70 do đồng chí Cao Phong - Đoàn trưởng, đồng chí Sáu Sâm làm Chính ủy, đứng chân tại khu vực sông Măng (Bắc Cuốc Rưới và Nam Đường số 14K) cùng với Đoàn hậu cần 50 làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng của hai đoàn hậu cần 17 và 86 để cấp phát các nơi và vận chuyển xuống Đoàn hậu cần 81 để bảo đảm cho các sư đoàn bộ binh 5,7,9 và một số đơn vị Miền hoạt động xung quanh khu vực Đường số 13. Đoàn hậu cần 70 được tổ chức thành bốn cánh quân nhu hậu cần: Cánh H7 hoạt động ở sông Măng làm nhiệm vụ thu mua hàng tại khu vực Lộc Ninh và Snuôl (Campuchia), lực lượng từ 60 - 70 người; Cánh H8 đứng chân khu vực ven sông Bé làm nhiệm vụ vận tải và quản lý kho tàng, có khoảng 100 người; Cánh H10 đứng chân tại khu vực Nam Đồng Xoài làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng từ tuyến H9 chuyển cho Đoàn hậu cần 81, có khoảng 100 người. Lực lượng vận tải của Đoàn hậu cần 70 hoạt động trong phạm vi rộng, phía Đông giáp Đoàn hậu cần 86, phía Tây giáp Đoàn hậu cần H50 (Quân khu 6), phía Bắc tiếp giáp Campuchia. Phương tiện vận tải chủ yếu bằng xe đạp thồ. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:50:55 pm Tại thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia dưới danh nghĩa là Công ty Hắc Lỷ, Đoàn hậu cần 17 tổ chức lực lượng vận tải đường bộ và đường sông, xây dựng lực lượng bảo đảm kỹ thuật xe - máy để bảo đảm cho phương tiện vận tải của Công ty và các đoàn hậu cần ở biên giới Campuchia - Việt Nam.
Về vận tải đường sông, Đoàn hậu cần 17 không tổ chức lực lượng riêng mà thuê tàu của tư nhân chở gạo và các mặt hàng khác từ thủ đô Phnôm Pênh lên tỉnh Stung Treng giao cho chiến trường Nam Tây Nguyên, thuê tàu nhỏ và ca nô chở vũ khí từ Hạ Lào về Stung Treng. Đoàn còn thuê tàu của cơ sở Việt kiều chở vũ khí từ Phnôm Pênh xuống tỉnh Long Bình giao cho Quân khu 9. Về vận tải đường bộ, Đoàn hậu cần 17 xây dựng nhiều tuyến tải. Tuyến tải từ cảng Xi-ha-núc Vin về tỉnh Kông-pông Spư dài 170km, hàng để tại kho của Đoàn và thuê 1 đại đôi Quân đội Hoàng gia Campuchia canh gác. Tuyến tải từ Phnôm Pênh lên Stung Treng chở gạo và hàng hóa khác cho chiến trường Nam Tây Nguyên và chở vũ khí về giao cho Đoàn hậu cần 86, quãng đường dài 500km. Tuyến tải từ Phnôm Pênh đi các hướng chở vũ khí giao cho các đoàn hậu cần 50, 70, 86 và đến tỉnh Svây Riêng giao cho Quân khu 8, quãng đường dài từ 150 - 300km. Trong các chuyến đi trên mỗi tuyến gồm 100 xe, trong đó Đoàn có 10 xe, còn lại là xe của tư nhân. Về xưởng, trạm sửa chữa xe: Đoàn 17 tổ chức Xưởng sửa chữa xe vận tải, có năm thợ và thuê thêm 20 thợ là Việt kiều; Xưởng sửa chữa xe con có ba thợ và thuê thêm bảy thợ Việt kiều. Đồng thời, tổ chức bốn trạm sửa chữa xe bố trí dọc đường vận chuyển: Trạm sửa chữa đứng chân ở thị xã Kra-chê bảo đảm cho xe trên tuyến đường Phnôm Pênh - Stung Treng và là nơi liên lạc của Đoàn với Hậu cần Miền. Trạm sửa chữa ở Mi Mốt có năm thợ và lái, được bố trí gần bãi tiếp nhận hàng của Đoàn hậu cần 85. Trạm ở ngã ba Sum trên Đường số 14K, cách thị xã Kra-chê hơn 4km, bố trí gần bãi tiếp nhận của Đoàn hậu cần 70, có bốn thợ và lái. Trạm sửa chữa bố trí gần bãi tiếp nhận của Đoàn hậu cần 86, cách huyện lỵ Srê Khtum 6km, có năm thợ. Các trạm sửa chữa này còn phải bảo đảm bảo dưỡng, sửa chữa xe cho các đoàn hậu cần 70, 85 và 86. Ngoài ra, Đoàn 17 còn được giao nhiệm vụ bảo đảm trang bị xe cho các đoàn hậu cần. Từ cuối năm 1966 đến năm 1969, Đoàn đã mua và sửa chữa khôi phục được 200 xe. Trong đó, có 100 xe trọng tải lớn (30% có đầu tời), 20 xe Dodge, 30 xe Landrover, 50 xe Jeep đưa về các đoàn hậu cần ở khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia (Đoàn hậu cần 86 được 13 xe, gồm: ba xe GMC, hai xe Dodge, hai xe Toyota, bốn xe Jeep, một xe Landrover; Đoàn hậu cần 85 được hai xe Dodge, hai xe GMC). Đoàn còn mua cho Hậu cần Miền 40 tấn phụ tùng ô tô, 500 bộ săm lốp, 500 bình điện, 300 bộ đồ nghề theo xe, 20 bộ dụng cụ sửa chữa nhỏ, một số máy, thiết bị dùng cho sửa chữa xe và 1.200 tấn xăng dầu. Để thực hiện việc mua xe ô tô, Đoàn hậu cần 17 lợi dụng thế hợp pháp của Công ty Hắc Lỷ là hằng ngày, xe phải vận chuyển đến tận kho các đoàn hậu cần nên Đoàn chủ trương đưa thêm xe hàng trà trộn vào đoàn xe, khéo léo qua mặt sĩ quan, binh lính Campuchia tại các cửa khẩu để giao xe cho các đoàn hậu cần sử dụng. Để tiết kiệm tiền, Đoàn tổ chức thêm một trạm sửa chữa ở Phnôm Pênh để chuyên đi thu mua xe tại các bãi xe hỏng của Quân đội Hoàng gia Campuchia và mua xe của tư nhân chất lượng từ 70 - 80%, khôi phục sửa chữa lại. Xe mua được của Quân đội Hoà gia được cải tiến lại thành các loại xe từ 2 - 3 cầu đủ sức vận chuyển các tuyến đường lầy lún. Theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền Quân khu 8 tổ chức xây dựng tuyến vận tải tiếp nhận vũ khí từ Campuchia vê nước. Đơn vị P100 của Quân khu được thành lập (9.1966) đóng tại Tà Lu, Phum Soài và Tăng Lèo thuộc huyện Ka-ra-lia, tỉnh Svây Riêng. Đồng chí Võ Quốc Khánh - Phó phòng Hậu cần Quân khu được cử giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Phan Văn Tào - Giám đốc Xưởng X5 làm Chỉ huy phó. Đơn vị P100 có nhiệm vụ tổ chức lực lượng, kho tàng, bến bãi và phương tiện vận tải để tiếp nhận vũ khí của Trung ương chi viện, phân phối cho các quân khu 7, 8 và 9. Lực lượng chủ yếu là của Xưởng X5 (300 người) là con em Việt kiêu ở Campuchia. Mùa mưa năm 1966, tại Đồng Tháp Mười bị trận lụt nặng, Bệnh xá X11 và Xưởng X5 phải rút lên biên giới đứng chân quanh khu vực đơn vị P100. Hàng nghìn đồng bào ở hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường cũng phải lên vùng biên giới Campuchia - Việt Nam tránh lũ. Tuy có khó khăn trong sinh hoạt đời sống, nhưng việc dựa vào nhân dân huy động nguồn lực tại chỗ phục vụ hậu cần có nhiều thuận lợi. Sau một thời gian tổ chức lực lượng, đơn vị P100 đã có các đại đội kho và vận tải thô sơ, với gần 500 kho hầm xi măng, mỗi hầm có sức chứa khoảng một tấn hàng, 20 xe trâu cùng 40 con trâu kéo, 50 xe ba gác, ba xe mô tô và nhiều trang cụ khác. Cuôi tháng 10 năm 1966, đơn vị P100 đón nhận 100 tấn hàng đầu tiên do xe của Quân đội Hoàng gia Campuchia chuyển đến. Sau đợt nhận hàng này, từ tháng 11 năm 1966 đến cuối năm 1967, mỗi tháng đơn vị P100 tiếp nhận hai đợt hàng, mỗi đợt trên dưới 400 tân, kịp thời phân phối đi các chiến trường Nam Bộ. Để đứng chân hoạt động trên đất Campuchia được lâu dài và an toàn, ngoài những thỏa thuận giữa hai nhà nước theo các nguyên tắc cơ bản, ta phải đối phó với rất nhiều khó khăn do một số viên chức chính quyền địa phương và sĩ quan, binh lính Campuchia gây ra. Một bộ phận lực lượng vũ trang của Chính phủ Campuchia được đế quốc Mỹ can thiệp đã tìm cách cản trở việc vận chuyển, thậm chí có hành động cướp hàng của ta. Trước tình hình đó, các cán bộ, chiến sĩ ta kiên quyết dựa vào pháp lý của Campuchia để đấu tranh, đồng thời sẵn sàng đánh trả mọi hành động cướp hàng của chúng. Điển hình, đầu tháng 2 năm 1967, trong chuyến vận tải hàng từ Campuchia do đồng chí Năm Hòa - Cục trưởng Cục Hậu cần Miền, cùng Đoàn hậu cần 17 với gần 100 xe ra chuyển hàng về kho ở Km 0 Lộc Ninh. Dọc đường về qua hai tỉnh Stung Treng và Kra-chê, các sĩ quan Quân đội Hoàng gia Campuchia yêu cầu giữ xe, lấy vũ khí để kiếm tiền. Anh em vận tải kiên quyết đấu tranh, ôm mìn sẵn sàng cho nổ nếu không cho đi. Trước hành động kiên quyết đó, các sĩ quan ở hai tỉnh trên đành phải nhượng bộ. Do vậy, trong những đợt đầu năm 1967, các tuyến hành lang của ta tiếp nhận vận chuyển được một khối lượng lớn vũ khí hỏa lực mạnh, chất nổ... Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, súng chống tăng B-40, B-41 và súng máy phòng không 12,7mm được trang bị rộng rãi cho du kích và bộ đội địa phương, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang tại chỗ diệt xe tăng, xe cơ giới và máy bay địch, góp phần đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) của địch. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:51:55 pm Mỗi đợt nhận hàng, thường có cán bộ, sĩ quan Campuchia đến nhũng nhiễu và hạch sách, ta phải lựa chiều tranh thủ cảm tình với họ, thực hiện nghiêm túc chính sách "Miên vận", đơn vị P100 phải tốn kém khá lớn tài chính "làm luật" với đám người này. Đầu năm 1967, trước lúc đơn vị P100 tổ chức đưa chuyến hàng về nước, đồng chí Phan Văn Tào đã đến gặp viên sĩ quan Campuchia phụ trách địa bàn báo trước và biếu 50.000 Riel. Viên sĩ quan này vui vẻ nhận tiền nhưng đến đêm khi đơn vị P100 lấy hàng từ các hầm kho, dùng xe ba gác đưa về biên giới Việt Nam, tên này đã trở mặt cho lính bắt hết đưa về Chủ tịch xã với lý do "Tỉnh trưởng ra lệnh". Ta phải dùng mọi cách, tốn hơn một triệu Riel và phải mất 1 tháng chúng mới chịu thả người, phương tiện và hàng hóa.
Trước tật xấu của đám người này, nhân dân Campuchia và Việt kiều trên địa bàn luôn hết lòng ủng hộ giúp đỡ ta về nhiều mặt, từ nhà ở, phương tiện đi lại đến cung cấp lương thực thực phẩm, khi cần họ có thể giúp bốc xếp và vận chuyển hàng... Về ăn, Quân nhu Phòng Hậu cần Quân khu 8 cấp tiền, đơn vị nhờ bà con Việt kiều ở Campuchia mua lương thực. Đơn vị P100 dùng tiêu chuẩn tiền ăn được cấp, mua muối từ nội địa chuyển lên nên luôn có từ 20 - 30 tấn muối dự trữ trong kho. Muối được đem đổi lợn gà, trâu bò, chó... Ở Ka-ra-lia đồng bào Khơme rất thiếu muối, ta dùng muôi đổi thực phẩm cho dân vừa rẻ vừa giúp nhân dân Campuchia có muối ăn. Mỗi ki-lô-gam muối đổi được một con gà hoặc 1kg thịt lợn, cứ 200kg muối đổi được một con trâu... Từ đầu năm 1967, Phòng Hậu cần Quân khu đã dùng phương thức này, quan hệ trực tiếp với thương nghiệp tỉnh Svây Riêng, giao muối cho bạn tại biên giới, bạn chuyển trâu bò, lợn gà về các đơn vị của ta đứng chân trên đất Campuchia (lúc này đã trở thành căn cứ phía sau của Khu ủy và Bộ Tư lênh Quân khu 8). Có tuần Hậu cần Miền nhận một lúc 5 tấn gà, hàng trăm con lợn đủ cung cấp cho bộ đội và dự trữ. Ngoài ra, bộ đội ta còn tổ chức đóng đáy, chất chà trên các sông, tự túc được cá ăn và làm mắm. Để chuyển vũ khí và hàng hỏa từ biên giới về nước, chiến trường Nam Bộ phải sử dụng lực lượng và ghe xuồng của hai đại đội vận tải thủy X15 và X16 của Quân khu 8, có một đại đội của Quân khu 9 và một đại đội của Đặc khu Sài Gòn - Gia Định. Các lực lượng vận tải của ba quân khu 7, 8 và 9 nhận hàng từ Tăng Lèo đi qua sông Cái Cỏ rẽ xuống sông Trăng, đi qua kênh Nguyễn Văn Trỗi, Đìa Phèn, Cả Trấp, Gò Gòn, kênh 61 xuống kênh Ngang, cắt qua kênh Dương Văn Dương. Trường hợp kênh Dương Văn Dương bị ngăn chặn thì cắt qua kênh Phước Xuyên, từ đó tiếp tục dựa vào các tuyến kênh ngang, kênh tắt len lỏi vượt qua đồn bốt địch, chuyển về địa bàn quân khu mình theo kế hoạch. Tuy khó khăn gian khổ và có lúc phải chịu hy sinh, tổn thất do địch phát hiện đánh phá ngăn chặn, nhất là thời gian giữa mùa mưa và mùa khô "lỡ xuồng, lỡ bộ" (tải xuồng gặp cạn, tải bộ gặp lầy). Song bằng mọi hình thức và phương thức vận tải, đến cuối năm 1967 ta đã tiếp nhận và đưa về Quân khu 8 hơn 8.000 tấn gồm vũ khí đạn, thuốc men, dụng cụ quân y và nhiều khí tài quân sự khác. Ở Quân khu 9, từ tháng 6 năm 1967, ta bắt đầu triển khai nhiệm vụ tiếp nhận hàng quá cảnh trên đất Campuchia, hình thành tuyến vận tải từ biên giới về nội địa (thường gọi là tuyến đường C1). Đồng chí Trương Tấn Lộc (Bảy Lúa) - Phó Chính ủy Phòng Hậu cần Quân khu được Khu ủy chỉ định trực tiếp lên biên giới cùng đồng chí Sáu Đặc phụ trách đơn vị Đ80 (đang hoạt động tiếp liệu từ Phnôm Pênh về biên giới Campuchia - Việt Nam khu vực tỉnh Hà Tiên), tổ chức nghiên cứu địa hình, tình hình mọi mặt liên quan, sau đó báo cáo bằng vô tuyến điện về Quân khu giải quyết. Nhận nhiệm vụ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, đồng chí Trương Tấn Lộc đã cùng bộ phận cơ yếu điện đài và ba chiến sĩ bảo vệ từ căn cứ U Minh Hạ hành quan đến Sóc Chuốt thuộc xã Bàn Tây Mía, huyện Túc Mía tỉnh Kam-pốt gặp đồng chí Sáu Đặc và 20 anh em đơn vị Đ80 đang có mặt ở đây họp bàn triển khai công việc. Cuối tháng 6 năm 1967, cuộc họp lần đầu giữa hai đồng chí Bảy Lúa, Sáu Đặc và một số anh em đơn vị Đ80 diễn ra trong căn nhà sàn của đồng bào Khơme tại Rọc Dứa. Cuộc họp bàn việc chuyển 90 tấn hóa chất kẹt tại Phnôm Pênh từ cuối năm 1963 về nội địa và tiếp nhận 300 tấn vũ khí của Cục Hậu cần Miền tại thị trấn Túc Mía (cách biên giới 4km) vào mùa khô năm 1967 - 1968, với điều kiện mỗi đêm phải tiếp nhận từ 30 - 50 tấn, trong lúc chính quyền Campuchia chỉ cho phép ta thường xuyên trên đất bạn không quá ba người, hàng nhận sau hai giờ phải đưa về hết bên đất Việt Nam. Sau nhiều giờ bàn bạc cuộc họp đã đi đến thống nhất: Lực lượng quá ít, phương tiện vận tải chưa có, phải vận đông Việt kiều xóm Lưới giúp về con người và phương tiện vận chuyển hàng từ Túc Mía về biên giới, huy động con em Việt kiều gia nhập đơn vị. Phải tiếp nhận vũ khí dự trữ trên đất bạn, sẵn sàng chờ mùa nước lên Quân khu cho người và phương tiện chuyển tiếp về nội địa trong thời gian ngắn nhất. Tổ chức hệ thống kho dọc biên giới ở khu vực Sóc Chuốt (Campuchia), kho trung chuyển ở rừng tràm Hà Tiên và Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn tỉnh Kiên Giang (Việt Nam) giao cho đơn vị khác chuyển về Căn cứ U Minh. Làm tốt công tác "Miên vận" và vận động quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng trên tuyến kênh Vĩnh Tế, làm công tác binh vận và nắm địch, tổ chức bộ phận trinh sát nắm đường, lực lượng bảo vệ chiến đấu. Đề nghị Quân khu tăng cường lực lượng để xây dựng đơn vị. Tháng 7 nắm 1967, Quân khu 9 điều Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 309, có 107 người, do đồng chí Hai Thiết chỉ huy. Đầu tháng 8 năm 1967, Khu ủy Khu 9 tiếp tục tăng cường cho đơn vị Liên đội Thanh niên xung phong có ba đại đội (phần lớn là nữ), quân số 365 người thuộc hai tỉnh Cà Mau và tỉnh Rạch Giá do đồng chí Trịnh Ngọc Châu - Thường vụ Khu đoàn làm Liên đội trưởng và đồng chí Trương Thị Nhi (Sáu Vân) - Ủy viên Tỉnh đoàn Rạch Giá làm Liên đội phó, kết hợp tuyển dụng hơn 100 con em Việt kiều trên đất Campuchia. Tháng 9 năm 1967, Đoàn 195 (tương đương cấp trung đoàn) chính thức được thành lập do đồng chí Bảy Lúa làm Chính ủy kiêm Đoàn trưởng, đồng chí Chín Nghiêm làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị và đồng chí Chín Thành làm Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Các đồng chí Chín Thành làm phó Sáu Đặc phụ trách quan hệ với các bộ phận của Miền tại Phnôm Pênh và lo việc đưa hàng từ Túc Mía về biên giới; Đoàn phó Hai Đạm phụ trách khu vực Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn và quan hệ với các đơn vị vận tải tuyến đường C1; Đoàn phó Tám Thơi phụ trách khu vực Hà Tiên và nghiên cứu bến, xây dựng cơ sở để chuẩn bị giao hàng đi công khai khi có lệnh của Quân khu 9. Cơ quan và đơn vị trực thuộc có Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Đại đội chiến đấu bảo vệ rừng tràm Hà Tiên, Trung đội bảo vệ tuyến kênh Vĩnh Tế, ba trung đội kho, một trạm xá ở Sở Chỉ huy và một trạm xá tại rừng tràm Hà Tiên, Liên đội Thanh niên xung phong và một số bộ phận khác. Theo quyết định của Quân khu, tháng 10 năm 1967 đồng chí Tư Mau về làm Đoàn trưởng, đồng chí Tư Khánh được bổ sung làm Đoàn phó. Về phương tiện vận tải từ biên giới về nước, có gần 200 xuồng các loại của Liên đội Thanh niên xung phong. Trong quá trình xây dựng đơn vị, Đoàn 195 mua sắm được bảy xe trâu, chín xe ngựa, 20 xe ba gác, 100 xe đạp thồ, 14 con trâu, 10 con ngựa làm phương tiện vận tải. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:53:38 pm Từ tháng 9 năm 1967, Đoàn 195 sử dụng một đại đội thanh niên xung phong, một trung đội kho cùng nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia trên địa bàn, tổ chức tiếp nhận và chuyển về biên giới 90 tấn hóa chất và 400 tấn vũ khí. Việc tiếp nhận 400 tấn vũ khí hết sức vất vả, trong điều kiện hoạt động vào ban đêm. Thông thường, mỗi tuần có một chuyến từ 3 - 5 xe của Quân đội Hoàng gia Campuchia đến giao hàng cho ta, mỗi xe có sức chở 10 tấn, mỗi đợt giao hàng có sĩ quan và binh lính đồn Ton Hon của quân đội bạn phụ trách trên địa bàn giám sát và kiểm tra. Tuy có nhiều khó khăn nhưng Đoàn 195 vẫn tổ chức tốt từ khâu tiếp nhận, đến khâu vận chuyển qua biên giới Campuchia - Việt Nam theo quy định của bạn; đồng thời, cũng tranh thủ được cảm tình của sĩ quan, binh lính và cán bộ địa phương bạn, giúp công việc diễn ra thuận lợi.
Hàng từ biên giới Campuchia - Việt Nam về Căn cứ U Minh được chia làm hai cung đoạn: Cung đoạn từ biên giới qua rừng tràm Hà Tiên đến Rọc Xây, giao cho hai đại đội thanh niên xung phong tỉnh Cà Mau đảm nhận. Từ Rọc Xây về kho trung chuyển ở Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn do một đại đội thanh niên xung phong Rạch Giá đảm nhiệm, trên tuyến vận tải có Đại đội 7 (Tiểu đoàn 309) chịu trách nhiệm đánh địch bảo vệ hành lang. Từ Mỹ Hiệp Sơn về Căn cứ U Minh do lực lượng vận tải Phòng Hậu cần và các đơn vị chiến đấu trực tiếp đến nhận theo kế hoạch của Quân khu 9. Từ tháng 10 năm 1967, Đoàn 195 tiến hành vận tải hàng hóa về nước. Lợi dụng mùa nước nổi, bằng xuồng "be chín" có sức tải 300kg/chiếc. và xuồng "be mười" sức chở 600kg/ chiếc (nam một người điều khiển một xuồng, nữ hai người điều khiển một xuồng). Tùy theo địa hình trên các cung đoạn vận tải, chỗ nước sâu thì dùng dầm bơi, nơi nước nông dùng sào chống, đoạn nào cạn thì dùng sức người đẩy xuồng. Đêm đêm, mỗi cung đoạn huy động từ 30 - 50 xuồng vận tải, hoạt động liên tục từ 9 giờ đêm đến 4 giờ sáng, đói ăn cơm vắt, khát uống nước đồng, cứ như thế nam cũng như nữ ai cũng làm việc không quản vất vả. Tất cả cùng chung ý nghĩ và quyết tâm "đưa nhanh vũ khí về chiến trường để giải phóng quê hương đất nước". Kết thúc đợt đầu, Đoàn 195 chuyển 300 tấn vu khí và 90 tấn hóa chất về Quân khu 9 và 100 tấn cho tỉnh An Giang (Quân khu 8) trong mùa nước nổi. Cuối tháng 12 năm 1967, Quân khu 9 điều động Đại đội 7 về bổ sung cho Tiểu đoàn 307, giao cho Đoàn 195 tự tổ chức một đại đội bảo vệ căn cứ hành lang vận tải do đồng chí Sáu Ngân - Đại đội trưởng và tiếp tục nhận 300 tấn vũ khí của Trung ương chi viện. Việc tiếp nhận và vận chuyển từ thi trấn Túc Mía về biên giới Campuchia - Việt Nam vào mùa khô thuận lợi, thời tiết khô ráo, xe thô sơ hoạt động dễ dàng trên đường, nên tốc độ tiếp nhận và vận chuyển rất nhanh chỉ trong thời gian ngắn ta đưa về cất giữ tại các địa điểm bí mật ở biên giới. Công việc vận tải từ biên giới Campuchia - Việt Nam về khó trung chuyển Hà Tiên và Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn chủ yếu bằng khiêng vác bộ và xe trâu kéo. Năng suất và tốc độ vận chuyển chỉ bằng một phần năm so với mùa mưa. Mặt khác, địch cũng đã phát hiện được tuyến vận tải của Quân khu 9, chúng thường xuyên cho máy bay hoạt động đánh phá và đưa quân trong các đồn tiến hành hoạt động ngăn chặn. Do vậy, ta phải tổ chức nhiều đợt trinh sát bám đường, theo dõi hoạt động của binh lính địch ở các đồn, khi có điều kiện thuận lợi (thường từ 11 giờ đêm hằng ngày trở đi) mới nhanh chóng cho lực lượng vận chuyển vượt qua các trọng điểm để đưa vũ khí về điểm quy định. Đoàn 195 phải dùng nhiều hình thức vận chuyển, theo nhiều cung đoạn: Sử dụng phương tiện xe trâu, xe ngựa kết hợp mang vác bộ đưa hàng từ biên giới về rừng tràm Hà Tiên; khiêng vác bộ từ rừng Hà Tiên về kênh Tám Ngàn; từ kênh Tám Ngàn xuống xuồng chuyển tiếp về Nam Thái Sơn và Mỹ Hiệp Sơn. Mùa khô năm 1967 - 1968, Đoàn 195 đưa hơn 100 tấn về rừng Hà Tiên, từ Hà Tiên về Nam Thái Sơn và Mỹ Hiệp Sơn gần 80 tấn, số vũ khí được giao cho các đơn vị chiến đấu, chuẩn bị cho đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Cuối năm 1968, Đoàn 195 được tổ chức thành ba đơn vị mang các phiên hiệu 195A, 195B và 196, rải dài từ sông Sở Thượng, Túc Mía trên đất Campuchia xuống tận rừng tràm Hà Tiên. Trên tuyến đường Hà Tiên, Cà Mau, Cần Thơ (tuyến đường C1), Quân khu 9 còn thành lập đơn vị vận tải du kích do Khu ủy Khu 9 trực tiếp phụ trách đưa vũ khí từ biên giới Campuchia - Việt Nam về nội địa. Quân Mỹ và ngụy dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm ác liệt rừng tràm Hà Tiên, dùng tàu chiến ngày đêm tuần tra kiểm soát trên kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành; dùng trực thăng đổ quân và bộ binh càn quét địa bàn. Trên tất cả các điểm kho của Đoàn 195 dọc phía Bắc kênh Vĩnh Tế trên đất Campuchia và các tuyến vận tải của đơn vị từ Nam kênh Vĩnh Tế về các kho trung chuyển, thời gian này chủ yếu dùng lực lượng vận tải bộ. Các chiến sĩ vận tải bộ lựa thời cơ len lỏi qua các đồn địch, đưa nhỏ giọt mỗi chuyến từ 1 - 1,5 tấn về rừng tràm Hà Tiên. Mặc dù chân hàng trên đất Campuchia có hơn 500 tấn vũ khí, song ta chỉ đưa về rừng tràm Hà Tiên được 70 tấn (trong đó 55 tấn giao thẳng cho đơn vị vận tải các tỉnh, 15 tấn còn lại được Phòng Hậu cần sử dụng ghe tải hai đáy vận chuyển về Quân khu 9). Cuối năm 1969, Đoàn 195 tổ chức Đại đội 1 phục kích đánh tàu dọc sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, bắn cháy và bắn hỏng chín tàu, làm giảm mật độ hoạt động tàu tuần tiễu của địch, góp phần bảo vệ lực lượng vận tải chuyển gần 300 tấn vũ khí về nước. Trong năm 1968, hoạt động tiếp nhận vũ khí của Trung ương của đơn vị P100 ở khu vực Tăng Lèo, Tà Lu trên đất Campuchia vẫn được tiến hành thuận lợi, nhưng trên chiến trường Quân khu 8, việc đưa vũ khí từ các điểm biên giới Campuchia - Việt Nam về các trụ cánh của Hậu cần Quân khu rồi đến các đơn vị chiến đấu cũng vô cùng khó khăn và ác liệt. Để đưa vũ khí trên đất Campuchia về chiến trường phải xuyên qua Đồng Tháp Mười trong khi địch thường xuyên ngăn chặn và đánh phá các tuyến tải, Quân khu phải huy động mọi lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong và dân công, vận dụng linh hoạt các hình thức vận tải công khai và bí mật, bằng mọi hình thức, phương tiện và tuyến đường tiếp tế vũ khí đạn dược từ các nguồn của Quân khu đến các mặt trận. Tính chung từ năm 1966 đến năm 1969, ta thực hiện được 10 chuyến tàu biển quốc tế đưa vào cảng Xi-ha-núc Vin chi viện cho các chiến trường miền Nam 90.870 tấn hàng quân sự các loại (vũ khí đạn, lương thực thực phẩm, thuốc men...); trong đó có 60.380 tấn bảo đảm cho chiến trường Nam Bộ và 30.490 tấn tiếp tế cho chiến trường Tây Nguyên. Riêng về vũ khí đạn dược ta đã đưa vào cảng Xi-ha-núc Vin được 21.473 tấn, vận chuyển về các chiến trường miền Nam được 18.703 tấn, trích lại cho Campuchia 358 tấn1 (Số 2.412 tấn còn lại bị quân ngụy Lon Non chiếm trong cuộc đảo chính tháng 3 năm 1970, nhưng khi giúp cách mạng Campuchia giải phóng lại vùng này, ta đã thu lại được phần lớn, chỉ mất 288 tấn). Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:54:53 pm Quân Mỹ và ngụy dần dần phát hiện, ngoài đường Trường Sơn ta còn hướng tiếp tế từ Campuchia xuống. Mặt khác, chúng còn phát hiện các kho tàng, lực lượng và một số cơ quan lãnh đạo, chỉ huy đang đứng chân trên tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam, nhiều chỗ vào sâu đất Campuchia. Chúng gây sức ép, tố cáo chính quyền Campuchia chứa chấp "Việt cộng" và đe dọa cho bộ binh càn quét, máy bay bắn phá. Chính quyền Campuchia vừa tiếp tục ủng hộ ta vận chuyển hàng chi viện, làm ngơ việc ăn ở, kho tàng của ta trên đất bạn, vừa tích cực phản bác lại tố cáo. Chính quyền Campuchia còn cho phép các nhà báo, các tổ chức quốc tế được đến trực tiếp quan sát biên giới Campuchia - Việt Nam. Biết được tin này, ta đã chỉ đạo cho các cánh của Đoàn hậu cần 17 phối hợp cùng các đoàn hậu cần, cơ quan, đơn vị ta đóng trên biên giới thu dọn, ngụy trang kho tàng, xóa dấu vết chỗ ở, hạn chế đi lại, rào lấp hoặc phá các đường ra vào, cấm vận chuyển hàng trong những ngày có đoàn quan sát đến làm việc...
Ngoài ra, ta còn rất quan tâm phân công người đi quan hệ, trao đổi, gợi ý với các huyện trưởng, xã trưởng, đồn trưởng Campuchia giáp biên giới về cách đối phó, từ lời lẽ trả lời phỏng vấn đến cách dẫn dắt đoàn quan sát đi những đâu và bằng cách nào. Chú ý bố trí những người trực tiếp hướng dẫn phải rất khôn khéo, vận dụng nhiều mưu mẹo, lợi dụng tối đa tâm lý ngại khó đi vào những nơi dơ bẩn, bùn lầy, hoặc hù dọa cho là đường nguy hiểm, có Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia để tránh né những khu vực có cơ quan, kho tàng của ta. Nhờ vậy, những lần đoàn đến quan sát đều không phát hiện được gì. Chính quyền Campuchia lấy đó phản bác lại mạnh mẽ hơn. Đặc biệt, ở huyện Snuôl thuộc tỉnh Kra-chê của Campuchia là huyện giáp biên giới với Việt Nam, Huyện trưởng ở đây dùng kế "chiêu đãi kìm chân". Khi có đoàn thanh sát đến, Huyện trưởng cố ý mời họ dự chiêu đãi trước khi đi quan sát. Trong các món ăn chiêu đãi có món thit gà nấu canh chua bằng trái "cần thăng" với lá "cành sa". Món ăn này rất thơm ngon nên các thành viên đoàn thanh sát ăn rất nhiều. Vì trong lá "cành sa" có chất ăn vào dễ bị say và ngủ sâu, nhất là khi cùng sử dụng với rượu mạnh, nên khi ăn xong họ đều lăn ra ngủ mê man. Đến khi thức dậy, trời đã vào lúc chiều tối nên không đi thanh sát được nữa, đành phải ra về rồi báo cáo là "Tình hình không có gì hết!"... Đoàn hậu cần 17 lợi dụng thế hợp pháp của Công ty Hắc Lỷ đã tổ chức đưa đón cán bộ lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đi lại hoạt động nhanh chóng và an toàn. Trong thời gian diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy và các chiến dịch lớn khác trong năm 1968, trong đó đi lại nhiều nhất giữa các tỉnh Phước Long, Bình Long và Tây Ninh. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Bí thư Trung ương Cục đi từ Thủ đô Hà Nội bằng hộ chiếu ngoại giao đến thủ đô Phnôm Pênh rồi được Đoàn đưa xuống căn cứ làm việc với Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miên; đồng chí Nguyễn Thị Định - Phó Tư lệnh Quân Giải phóng; đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng và các cán bộ cấp cục, quân khu, sư đoàn... cũng được Đoàn đưa đón, đi lại, ăn ở trên đất Campuchia để hoạt động. Đi trên đất Campuchia nhanh hơn gấp nhiều lần và đỡ vất vả hơn so với đi đường rừng núi Trường Sơn. Đầu năm 1968, trên cơ sở bộ phận còn lại của Đoàn hậu cần 85, Bộ Tư lệnh Miền thành lập Đoàn hậu cần khu vực 50, do đồng chí Sáu Định làm Đoàn trường, đồng chí Tư Phán làm Chính ủy, đứng chân tại khu vực Sóc Con Trăn làm nhiệm vụ phục vụ cho các đơn vị chiến đấu và thu mua hàng tại khu vực Móc Câu và Mi Mốt. Đoàn hậu cần 50 được tổ chức thành ba cánh hậu cần: Cánh 7 hoạt động từ cầu 48 đến sân bóng khu vực Sóc Gon Trăn làm nhiệm vụ tiếp nhận, thu mua hàng hóa. Cánh 8 đứng chân ở khu vực Nha Thức làm nhiệm vụ trực tiếp phục vụ các đơn vị chiến đấu ở phía trước từ cầu Bà Chiêm đến Nha Thức, Dầu Tiếng nối với Đoàn hậu cần 83. Cánh 9 thọc sâu từ Nha Thức xuống Núi Cậu, Lò Thau, Dầu Tiếng làm nhiệm vụ vận chuyển hàng cho Đoàn hậu cần 83 và các sư đoàn phía trước. Tổng quân số của Đoàn hậu cần 50 là 1.950 người; hoạt động trong một phạm vi rộng, phía sau Đoàn hậu cần 83, phía Tây Đường số 13 từ Km 0 giáp biên giới Campuchia - Việt Nam dọc theo sông Sài Gòn đến Nha Thức. Cơ cấu tổ chức và biên chế Đoàn hậu cần 50 khá lớn, được chia ra các khối: Quân nhu có 248 người, bố trí tại năm cửa khẩu, có năm đội kho, một xưởng may quân trang, một xưởng chế biến lương khô; Quân y có 499 người với hai bệnh viện lớn K50, K51 và hai bệnh viện nhỏ K52, K53 cùng bốn bệnh xá, kho, xưởng dược và một khung huấn luyện y tá; Quân giới có 377 người, bốn kho và Xưởng Quân giới HI09; lực lượng vận tải có 454 người gồm hai tiểu đoàn xe thồ, một đại đội vận tải ô tô chạy từ biên giới Campuchia đến Nha Thức qua Đường Đỏ, Bổ Túc, Cà Tum; lực lượng vũ trang và bảo vệ có 177 người gồm bốn trung đội vũ trang và một đại đội chuyên tiếp nhận tân binh ba trung đội công binh, một trạm sửa chữa ô tô và một trạm sửa chữa xe đạp thồ. Nhằm tăng cường khả năng tiếp nhận, vận chuyển nguồn vật chất do Trung ương chi viện ngày càng lớn cho lực lượng vũ trang trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bô trong dịp Tết Mậu Thân 1968, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tách Trung đoàn 17 thuộc Sư đoàn Bộ binh 7 và lấy thêm một bộ phận cán bộ, chiến sĩ đường dây của hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức để thành lập Đoàn 90. Phạm vi hoạt động của Đoàn 90 từ Nam sông Sê-rê-pốc vào đến phía Tây sông Sài Gòn (vùng biên giới Campuchia - Việt Nam). Khi mới thành lập, Đoàn 90 thuộc Bộ Tư lệnh Miền, sau chuyển giao về Cục Hậu cần Miền trực tiếp chỉ huy và lãnh đạo. Cán bộ, chiến sĩ thuộc Đoàn 90 đã phối hợp chặt chẽ cùng với các đoàn hậu cần khu vực 70, 86, 50 và 82 bảo đảm mọi mặt sinh hoạt, đời sống, cứu chữa thương bệnh binh hoạt động trên đường dây; tổ chức đưa đón cán bộ, chiến sĩ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ. Với việc tổ chức đường dây này, bộ đội trên đường hành quân vào chiến trường Đông Nam Bộ được đón tiếp chu đáo, được bố trí nơi ăn, chỗ nghỉ, được phòng, chữa bệnh kịp thời. Nhờ đó, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị hành quân vào chiến trường đúng thời gian, đảm bảo sức khỏe và quân số tham gia Cuộc Tổng tiến công và nổi dạy Xuân Mậu Thân 1968. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:56:29 pm Trong quá trình Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở nội đô Sài Gòn, Hậu cần Quân khu 10 đảm nhận vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men cho các lực lượng vũ trang ở Chi khu Bù Đốp, hai thị xã Phước Long và Gia Nghĩa của tỉnh Quảng Đức. Để thuận lợi trong quá trình vận chuyển, Hậu cần Quân khu bố trí thành ba bộ phận: Bộ phận phía trước gồm có các kho đạn, kho quân nhu, lực lượng vận tải cùng hai đội phẫu thuật sẵn sàng tải thương và cứu chữa thương binh. Bộ phận phía sau đứng chân ở hậu cứ Quân khu tại Bù Gia Mập gồm Xưởng may, Xưởng Quân giới, Bệnh xá Quân khu bộ. Bộ phận còn lại đứng chân ở Cánh VI (Đoàn hậu cần 86) ở Ka Tum gồm có Bệnh viện K35, Xưởng dược cùng một số kho gạo, đạn. Lực lượng vận tải của Quân khu có một đại đội, khi chiến sự diễn ra ở địa phương nào thì các địa phương sẽ huy động thêm dân công phục vụ vận chuyển. Trong quá trình chuẩn bị phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy, Hậu cần Quân khu đã huy động được hơn 1.000 dân công phục vụ chiến đấu trên tuyến từ Cánh V1 đến Bù Đốp, Đa Kia và ngược lại. Nhờ nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao, các lực lượng làm nhiệm vụ vận tải và thu mua của Quân khu đã tiếp nhận dự trữ được trên 300 tấn lương thực thực phẩm, 150 tấn vũ khí, đạn dược; vận chuyển cung cấp cho lực lượng vũ trang ba tỉnh Bình Long, Phước Long và Quảng Đức trên 170 tấn hàng.
Với bốn binh trạm trên chiến trường Tây Nguyên và bảy tuyến vận tải chính (bốn tuyến vận tải dọc và ba tuyến vận tải ngang) trên chiến trường Đông Nam Bộ. Trong đó, có tuyến vận tải dọc xuất phát từ Đoàn hậu cần 50 ở biên giới Campuchia - Việt Nam xuống đến Đoàn hậu cần 235 (khu vực Dầu Tiếng và Bắc Sài Gòn) và tuyến vận tải ngang từ Đoàn hậu cần 86 đến Đoàn hậu cần 70 (khu vực Đông và Tây Đường số 13); tuyến từ Đoàn hậu cần 70 đến Đoàn hậu cần 50 (vận chuyển dọc theo biên giới); Tại các tuyến vận tải này, quân và dân ta đã xây dựng và tổ chức thành công các tuyến hành lang vận chuyển liên hoàn chặt chẽ, có tuyến trước, tuyến sau từ xa đến gần, áp sát và vây quanh các mục tiêu tác chiến. Tổ chức mỗi tuyến hành lang là một căn cứ hậu cần liên hoàn có hệ thống kho tàng, bệnh viện, bệnh xá, xưởng quân nhu, quân giới... Mặc dù, gặp rất nhiều khó khăn do địch đánh phá dữ dội, rải chất độc hóa học nhằm chặn, cắt, triệt phá quyết liệt các tuyến vận tải của ta nhưng đến trước giờ nổ súng thực hiện Tổng tiến công đợt 1, các đoàn hậu cần vẫn thu mua được 4.464 tấn gạo và 3.426 giạ lúa (1 giạ nặng 20kg), vận chuyển thành công hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc men tới các địa điểm chuẩn bị tác chiến. Sau đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy, để tiếp tục bảo đảm vật chất cho những đợt tiến công tiếp theo trong năm 1968, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tổ chức thêm các tuyến vận tải mới làm nhiệm vụ bảo đảm hậu cần trực tiếp cho Sư đoàn Bộ binh 9 của ta tiến công từ hướng Tây vào Sài Gòn và hỗ trợ tuyến sau cho hai phân khu 2 và 3. Điển hình là tuyến V1A chạy từ biên giới Campuchia đi An Ninh, Lộc Giang qua Tây Mỹ Thái Mỹ (tiếp giáp với Đoàn hậu cần 83); lực lượng vận tải trên tuyến có 100 người, có thời điểm cần thiết đã phải huy động dân công địa phương tham gia. Tính chung, trong ba đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các lực lượng vận tải của Trung ương (Đoàn 559 ở Nam Tây Nguyên và Campuchia), lực lượng vận tải Miên đã chuẩn bị và vận chuyển được 46.282 tấn hàng hóa, trong đó có 10.872 tấn vũ khí, đạn dược. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong đợt Tổng tiến công tính riêng trên chiến trường Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ trong giai đoạn chuẩn bị là 5.554 tấn lương thực, 5.079 tấn thực phẩm, 10.633 vũ khí, đạn dược; quá trình tác chiến vận chuyển được 29.836 tấn lương thực, 5.793 tấn thực phẩm, 36.649 tấn vũ khí; đã cấp cho các đơn vị 29.755 tấn lương thực, 5.893 tấn thực phẩm, 35.648 vũ khí, đạn dược; còn lại dự trữ 5.655 tấn lương thực, 4.979 tấn thực phẩm và 10.634 vũ khí, đạn dược. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam đã làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc địch phải ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhưng chúng vẫn tăng cường phản kích nhằm tiêu diệt chủ lực của ta và bình định cấp tốc ở miền Nam. Đồng thời, tập trung không quân, hải quân đánh phá Nam Quân khu 4, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam ngay từ tuyến đầu. Tiếp đó, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn- xơn tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc và chấp nhận cùng các bên họp hội nghị tại Pa-ri để bàn về vấn đề Việt Nam. Tuy buộc phải xuống thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng đế quốc Mỹ lại tập trung lực lượng sử dụng các biện pháp tổng hợp về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao phản kích ta quyết liệt. Những năm 1965 - 1968, chiến trường miền Nam là một trong những nơi đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch. Việc giữ vững và phát triển mạng đường vận chuyển và thu mua vật chất hậu cần trên đất Campuchia bảo đảm phục vụ chiến đấu trên các chiến trường là một trong những thắng lợi lớn của quân đội và nhân dân ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam. Vượt qua những gian khổ ác liệt, hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia đã góp phần cùng cả nước bảo đảm kịp thời cho các lực lượng đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:58:28 pm Chương 2 HẬU CẦN QUÂN SỰ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969- 1971) 1. Tiếp tục củng cố, xây dựng và phát triển tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn trên chiến trường Campuchia Sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, Ních-Xơn cho ra đời "Học thuyết Ních-xơn" và thực hiện thí điểm chiến lược đó ở miền Nam Việt Nam với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" nhằm đẩy mạnh thực hiện bình định, kết hợp xây dựng quân ngụy hiện đại đủ khả năng làm chủ chiến trường để rút quân Mỹ khỏi miền Nam. Trong các biện pháp quân sự, Mỹ - ngụy đặc biệt nhấn mạnh đến việc ngăn chặn, đánh phá đường vận tải chiến lược Bắc - Nam và các căn cứ hậu cần của ta ở khu vực biên giới Campuchia - Việt Nam. Mặt khác, đế quốc Mỹ tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược Campuchia và Lào nhằm hỗ trợ cho cuộc chiến tranh Việt Nam; tiến hành các hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập cuộc đấu tranh của nhân dân ta, chặn đứng các nguồn viện trợ từ bên ngoài vào Việt Nam. Đối với tuyến vận tải chi viện Bắc - Nam, địch tiến hành đánh phá dữ dội. Ở cực Nam Đường số 128 đến chiến trường Đông Nam Bộ và Campuchia, địch đổ quân xuống Phi Hà Sê Sụ, Lăm Phu, dốc 200, liên tục dùng máy bay B-52 cùng các loại máy bay khác ném bom suốt ngày đêm. Trên đoạn đường sông từ Sê-ca-mán (Đông Hạ Lào) đến Xiêm Pạng (Đông Bắc Campuchia), địch thường xuyên cho máy bay ném bom phá, bom từ trường, bắn đạn rốc-két, đạn 20mm vào các đoàn thuyền chở hàng nhằm ngăn chặn việc vận chuyển vật chất hậu cần, vũ khí trang bị vào chiến trường Nam Đông Dương. Lợi dụng những tổn thất của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, với lực lượng được tăng cường, địch đã đẩy được phần lớn các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam lùi ra vùng rừng núi giáp biên giới Campuchia - Việt Nam. Khó khăn lớn nhất của chiến trường Nam Bộ lúc này là hầu hết tuyến hành lang từ biên giới vào nội địa đều bị địch đánh phá, phong tỏa. Các cửa khẩu ta mở để thu mua lương thực thực phẩm ở dọc Đường số 13 Đường số 20 và Phước Thái - Bà Rịa đều bị địch ngăn chặn. Bị địch phong tỏa chặn cắt các tuyến vận tải lương thực nên khẩu phần ăn của bộ đội từ tháng 8 năm 1969 giảm mạnh, riêng lực lượng phía sau tiêu chuẩn gạo mỗi người 1 tháng từ 27kg giảm xuống còn 20kg. Không những tiến hành đánh phá các hành lang nội địa trên địa bàn Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, địch còn huy động lực lượng bộ binh, không quân đánh phá dữ dội vùng biên giới Campuchia - Việt Nam, đặc biệt là khu vực Móc Câu và Mỏ Vẹt bên kia biên giới Campuchia (địch gọi là Căn cứ 352), nơi chúng xác định là chỗ đứng chân của Trung ương Cục. Đế quốc Mỹ cho rằng tiến hành một cuộc chiến tranh bằng không quân và bộ binh vùng biên giới Campuchia - Việt Nam sẽ cắt đứt các đường tiếp tế của đối phương, phá hủy căn cứ của ta, làm tê liệt khả năng tiến công quy mô lớn vào Sài Gòn và làm gián đoạn các hoạt động của ta trên khắp miền Nam. Để nâng cao hiệu quả đánh phá, ngăn chặn, địch huy động thêm nhiều máy bay B-52 từ các căn cứ không quân của đế quốc Mỹ tại đảo Guam, Thái Lan thực hiện các phi vụ ném bom rải thảm khu vực "Đất thánh Việt cộng" ở Campuchia. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, đã có hơn 3.600 phi vụ B-52 bí mật đánh phá khu vực biên giới Campuchia - Việt Nam trong thời gian này. Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền vẫn tăng cường chỉ đạo các đoàn hậu cần, các tuyến hành lang vận tải, nâng cao quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo vật chất hậu cần, vũ khí trang bị phục vụ các đơn vị phía trước chiến đấu. Tuyến đường vận tải chiến lược từ hậu phương miền Bắc theo các đường số 20,18 và 12 qua đất Lào xuống vùng biên giới ba nước Đông Dương để chi viện lương thực, vũ khí, vật chất cho chiến trường Nam Tây Nguyên, Nam Bộ bị máy bay Mỹ, quân ngụy Lào đánh phá, chặn cắt ác liệt. Đầu năm 1969, Sư đoàn Bộ binh 1 và các trung đoàn 33, 174,10 và 20 là lực lượng chủ lực của Tây Nguyên và Khu 5 được điều vào miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho chiến trường này ngày càng cao nên Đoàn 559 đã chỉ đạo các binh trạm phía Nam lợi dụng sơ hở khi địch đang bám đánh các binh trạm phía Bắc, nhanh chóng tổ chức vận chuyển hàng tồn kho và trên 2.000 tấn hàng do bộ phận đồng chí Nguyễn Đức Phương thu mua được ở vùng Nam A-tô-pơ của Lào và Bắc Stung Treng của Campuchia, đảm bảo nhu cầu tối thiểu và cấp thiết cho bộ đội. Suốt trục hành lang khu vực phụ trách, Binh trạm 37 triển khai Trung đoàn Công binh 98 làm nhiệm vụ xây dựng và sửa chữa đường. Với nhiệm vụ phòng không, ta bố trí Tiểu đoàn Cao xạ 30 ở đốc 200, Đường C4. Phương án bố trí là hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung, có tầng cao, tầng thấp, kết hợp chốt với cơ động bảo vệ đội hỉnh xe và đón lõng tiêu diệt máy bay địch bay thấp. Đồng thời, toàn tuyến phải xác định quyết tâm thực hiện nhiệm vụ được giao, cùng các tuyến thực hành vận chuyển thắng lợi, tranh thủ nguồn hàng tại chỗ ở phía Nam hướng Đường C4 trên đất Campuchia. Phía Nam trục Đường số 128 thuộc Binh trạm 37, địch bố trí quân ở Phi Hà, Sê Sụ, khống chế, ngăn chặn vận chuyển của ta. Các đơn vị của Binh trạm là Tiểu đoàn Bộ binh 2 cùng một số đơn vị đã bao vây, tập kích ghìm chân địch, bảo đảm cho Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58 chở hàng ra phía trước. Cũng trên trục đường này, tại trọng điểm Lăm Phu, dốc 200 trên đất Campuchia, máy bay B-52 đánh phá liên tục ngăn chặn vận chuyển cho Nam Bộ. Tuyến đường sông từ Sê-ca-mán (Đông Hạ Lào) đến Xiêm Pạng (Đông Bắc Campuchia), các đoàn thuyền máy của hai đại đội 65 và 66 của ta bị máy bay địch thả pháo sáng, ném bom, bắn đạn rốc-két, đạn pháo 20mm dọc theo khu vực sông để chặn việc vận chuyển vũ khí vào Nam Bộ, nhưng địch bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 31 Tháng Bảy, 2026, 05:59:28 pm Cuối tháng 4 năm 1969, khi mùa mưa đã đến, địch tăng cường dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm, nhưng không ngăn chặn được đường vận chuyển của ta vì ta đã xây dựng nhiều đường vòng, đường tránh. Bộ đội Trường Sơn lợi dụng mây mù che khuất tầm nhìn của địch, tranh thủ lấn sáng lấn chiều, liên tục mở các đợt vận tải đột kích vào các hướng chiến trường. Đầu tháng 8 năm 1969, các trọng điểm thường tắc từ 2 - 3 ngày. Cán bộ, chiến sĩ hai tiểu đoàn công binh 1 và 2 (Binh trạm 37) ngày đêm vật lộn với bom đạn, mưa lũ, không ngại hy sinh gian khổ, thường xuyên có mặt trên mặt đường, khắc phục phá hoại, chống lầy, mờ thêm đường vòng, đường tránh, hộ tống xe qua trọng điểm. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Cao xạ 32 (Binh trạm 37) vượt qua nhiều khó khăn trong cơ động, anh dũng bám trụ trọng điểm, đánh nhiều trận, bắn cháy máy bay, có chiếc rơi tại chỗ. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58 được các lực lượng khác cùng phối hợp hoạt động đối phó với địch, hồ trợ ô tô qua đoạn đường lầy, qua dốc, gùi thồ, chuyển tải, lúc vận chuyển đường sông bảo đảm cho miền Đông Nam Bộ hàng chục tấn vũ khí.
Ngày 17 tháng 9 năm 1969, Bộ Tư lệnh 559 thông qua phương án sắp xếp lại lực lượng, bố trí đội hình trên toàn tuyến. Đội hình tuyến hoạt động trên đất Campuchia được bố trí như sau: Binh trạm 37 do đồng chí Nguyễn Tuấn làm Binh trạm trưởng, đồng chí Vũ Quang Bình làm Chính ủy, phụ trách tuyến Đường số 128 từ Nam Sê-ca-mán đến S9 (Nam Phi Hà) và Đường số 49 từ Phi Hà đến Tà Ngâu. Sở Chỉ huy ở Nam Xê Sụ. Lực lượng gồm: hai tiểu đoàn công binh 1 và 2 Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58, Tiểu đoàn Cao xạ 30, Tiểu đoàn Bộ binh 2, Tiểu đoàn giao liên 16 và các phân đội (kho, dân vận, thông tin, thu mua, đội điều trị, đội phẫu thuật). Binh trạm 50 do đồng chí Nguyễn Giang làm Binh trạm trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Đệ làm Chính ủy, phụ trách tuyến đường số 49 kéo dài từ Tà Ngâu đi Xiêm Pạng và đường sông Sê Kông, cự ly trên 100km. Sở Chỉ huy ở Tà Ngâu. Lực lượng gồm: Tiểu đoàn Công binh 95, Tiểu đoàn Cao xạ 48, Tiểu đoàn Giao liên 19; Đại đội Ô tô, Đại đội Tàu thuyền và bốn phân đội khác (kho, thông tin, đội điều trị, đội phẫu thuật). Binh trạm 51 do đồng chí Trần Thiện Can làm Binh trạm trưởng, đồng chí Đặng Văn Phiếm làm Chính ủy, phụ trách tuyến đường số 49 từ Xiêm Pạng đến Stung Treng. Cự ly trên 100km và đường sông Sê Kông, Mê Kông đi Stung Treng. Sở Chỉ huy ở Xiêm Pạng. Lực lượng gồm: Tiểu đoàn Công binh 91, Tiểu đoàn Cao xạ 46, Tiểu đoàn Giao liên, Đại đội Ô tô, Đại đội Tàu thuyền và năm phân đội khác (kho, thông tin, đội điều trị, đội phẫu thuật). Cuối tháng 11 năm 1969, thế trận cầu đường được cải thiện quan trọng trên đất Campuchia. Mỗi trọng điểm đều có từ hai đến bốn đường vòng, tránh. Các trọng điểm vượt sông đều tổ chức điểm vượt chính, vượt dự bị, vượt nghi binh có khả năng loại trừ thủ đoạn đánh phá của địch. Bãi đỗ xe, khu kho, trạm xưởng, đội phẫu thuật và đội điều trị, sở chỉ huy cơ bản, sở chỉ huy tiền phương, trạm chỉ huy giao thông, điểm kích kéo cứu xe đều được các binh trạm xây dựng để nâng cao sức tiến công trong vận chuyển và xử lý các tình huống nhanh và kịp thời. Ngoài ra, lực lượng công binh còn xây dựng các hầm trú ẩn và hào giao thông để đảm bảo an toàn cho lái xe. Quán triệt tư tưởng tiến công tiêu diệt địch bảo đảm đội hình xe vượt trọng điểm bằng sức mạnh, Bộ Tư lệnh 559 bố trí các cụm pháo trên các trọng điểm hiểm yếu. Trên Đường số 49 thuộc địa bàn Binh trạm 37 có Tiểu đoàn Cao xạ 30 bố trí tại trọng điểm dốc 200; tại địa bàn Binh trạm 50 có Tiểu đoàn Cao xạ 48 bố trí tại trọng điểm Xiêm Pạng và một số trọng điểm khác trên sông Sê Kông. Trên Đường số 49B (kéo dài) thuộc địa bàn Binh trạm 51 có Tiểu đoàn Cao xạ 46 bố trí tại Nam Xiêm Pạng và Bắc Stung Treng. Thế trận tác chiến phòng không được xây dựng theo tư tưởng chốt kiên cường ở trọng điểm kết hợp cơ động linh hoạt. Đánh tập trung kết hợp đánh rộng rãi của mọi lực lượng trên toàn tuyến, tạo thành lưới lửa liên hoàn hạ được máy bay, bảo vệ được đội hình vận chuyển. Các lực lượng cơ động phục kích cần lợi dụng địa hình, chiếm lĩnh điểm cao, nghiên cứu đường bay, đánh trúng đối tượng chủ yếu là máy bay trinh sát, máy bay bay thấp rải bom mìn hỗn hợp và săn đuổi đội hình xe. Trước cục diện mới của chiến trường có những thuận lợi nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, từ năm 1970, Bộ Chính tri Trung ương Đảng đã họp và quyết nghị: Phải xây dựng tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn vươn sâu, vươn xa đến chiến trường cực Nam Trung Bộ, chiến trường Đông Nam Bộ và chiến trường vùng Đông Bắc Campuchia. Do đó, phải có những lực lượng thực hiện nhiệm vụ mở đường, đảm bảo vận hành và quản lý con người, quản lý vật chất trên cung đường từ vùng biên giới ba nước đến chiến trường Đông Nam Bộ. Tháng 4 năm 1970, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Sư đoàn khu vực 470 (Bộ Tư lệnh 470) thuộc Bộ Tư lệnh 559, với nhiệm vụ: Mở đường vận tải chiến lược, tổ chức kho, trạm tại vùng biên giới ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam; tiếp nhận người, hàng hóa, vũ khí từ miền Bắc vận chuyển vào cung cấp cho chiến trường Nam Tây Nguyên, Đông Bắc Campuchia và chiến trường Nam Bộ; đồng thời, tiếp nhận lương thực thực phẩm, hàng hóa thu mua từ Campuchia, cung cấp cho chiến trường Nam Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ; giúp hai nước Campuchia và Lào xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cơ sở tại địa bàn hoạt động. Phạm vi hoạt động của Sư đoàn từ khu vực ngã ba biên giới Campuchia - Lào - Việt Nam trở vào Plây Khốc và Đường số 49 từ Phi Hà đến Tà Ngâu; đường sông Sê Kông, Sê San, Mê Kông từ Sê-ca-mán đến Kra-chê trên đất Campuchia. Sư đoàn được giao trách nhiệm như Tiền phương Bộ Tư lệnh 559, trực tiếp quan hệ với chiến trường ba nước và bảo đảm kịp thời các yếu cầu chi viện của các chiến trường, đồng thời xử lý các tình huống cấp thiết. Lực lượng của Sư đoàn khu vực 470 khi mới thành lập gồm có ba binh trạm 37, 50 và 51, Trung đoàn Công binh 4 và các tiểu đoàn phòng không, công binh, bộ binh. Bộ Tư lệnh Sư đoàn có các đồng chí: Lê Đình Sum - Tư lệnh, Bùi Đức Tạm - Chính ủy. Sau thành lập, Sư đoàn mới có lực lượng của Binh trạm 37 và bộ phận thu mua khai thác hàng ở Campuchia, Hạ Lào do đồng chí Nguyễn Đức Phương phụ trách, còn hai binh trạm (50, 51) vừa mới thành lập chưa đi vào hoạt động và Trung đoàn Công binh 4 đang hành quân từ La Hạp vào. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 07:47:39 pm Bị thất bại trên chiến trường Gampuchia, ngày 30 tháng 6 năm 1970, Tổng thống Ních-Xơn buộc phải tuyên bố rút quân khỏi Campuchia. Vùng cao nguyên rộng lớn bằng phẳng ở khu vực biên giới ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam được giải phóng. Vùng Hạ Lào gồm các tỉnh Sa-ra-van, A-tô-pơ và một phần hai cao nguyên Bô-lô-ven nối tiếp với bốn tỉnh Đông Bắc Campuchia, gồm: Rát-ta-na-ki-ri, Stung Treng, Kra-chê, Môn-đôn-ki-ri theo Đường số 13 xuyên Đông Dương, dọc theo bờ sông Mê Kông kéo dài về Nam Bộ. Một căn cứ hậu cần chiến lược mới hình thành, có các trục đường cơ giới thủy, bộ ngang dọc tạo thế đứng và phát triển vững chắc cho tuyến 559.
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tư lệnh 559 tập trung lực lượng vận chuyển mọi nhu cầu vật chất giao cho hai chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; đồng thời, đưa 30.800 quân vào bổ sung cho chiến trường Nam Bộ, đưa 4.000 thương binh từ Nam Bộ ra hậu phương, tạo điều kiện cho chiến trường Nam Bộ phát triển thế chủ động tiến công. Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần chỉ đạo bảo đảm kịp thời cho Đoàn 559 phương tiện kỹ thuật, vật tư, xe, pháo, bảo đảm các ngầm, cầu, dốc, mặt đường trên đất Campuchia được cải thiện để nâng cao sức đột kích, nhanh chóng dứt điểm kế hoạch trên các hướng chiến trường. Đầu năm 1970, toàn tuyến 559 đồng loạt xuất kích trên nhiều hướng vào các chiến trường. Phát hiện tuyến đường số 49 đi Xiêm Pạng ở Đông Bắc Campuchia đã khô ráo thuận lợi cho vận chuyển cơ giới, địch tăng cường trinh sát tìm những đoạn đường độc đạo để đánh phá. Sau 1 tháng chiến đấu quyết liệt ta mới phá được sự ngăn chặn của địch. Tiếp đó, các binh trạm phía Nam tổ chức đột kích mạnh vào các chiến trường Nam Bộ. Để đảm bảo, Bộ Tư lệnh 559 tăng cường lực lượng xây dựng đường dây thông tin tải ba tới ngã ba biên giới ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam; bảo đảm xăng dầu cho các lực lượng trên tuyến đường số 128B, phát triển đường giao liên tới Bù Gia Mập, cơ giới hóa vận chuyển đường sông từ A-tô-pơ (Hạ Lào) xuống Kra-chê (Đông Bắc Campuchia). Các binh trạm phía Nam tuy có nỗ lực rất cao, nhưng vì lực lượng ít nên khả năng dứt điểm mùa khô không cao. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh 559 lệnh cơ động toàn bộ lực lượng ô tô vận tải của Binh trạm 12 từ địa đầu tuyến chiến lược vào tăng viện cho Binh trạm 34. Đồng chí Binh trạm trưởng trực tiếp chỉ huy hai tiểu đoàn xe 101 và 770, vượt qua ba binh trạm trên chặng đường dài 350km vào Bạc vận chuyển hàng xuống Chà Vằn và tạo điều kiện cho hai binh trạm 50 và 51 dứt điểm kế hoạch chuyển hàng cho Đông Nam Bộ. Đến giữa năm 1970, các chiến trường Đông Nam Bộ, Đông - Đông Bắc Campuchia và Nam Tây Nguyên, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Quân Giải phóng miền Nam đã củng cố, tổ chức lực lượng, có phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu phối hợp cùng bạn chiến đấu khi Mỹ, ngụy mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Tuyến đường chiến lược, vận chuyển vũ khí, vật chất cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ được tổ chức lại, trước hết là mở rộng hệ thống kho, trạm vùng biên giới ba nước, theo hướng chuyển hoạt động vận tải đường bộ, đường thủy vào sâu trong nội địa của Campuchia. Sau đó, mở các cung đường từ vùng biên giới ba nước theo Đường số 19 xuống Stung Treng; từ Stung Treng đi Kra-chê vào phía Nam hai tỉnh Gia Lai và Phước Long, chi viện cho các chiến trường. Xác định nhiệm vụ mở rộng, vươn sâu tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn và tăng cường sự chi viện vào chiến trường Đông Bắc Campuchia, chiến trường Nam Bộ là nhiệm vụ khẩn thiết; tháng 6 năm 1970, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã triệu tập các đồng chí: Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh, Vũ Xuân Chiêm - Chính ủy Nguyễn Lang - Phó Tư lệnh và đồng chí Bùi Đức Tạm - Phó Chính ủy Đoàn 559 để giao nhiệm vụ trong mùa khô 1970 - 1971. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Đoàn 559 và căn dặn Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 559 nêu cao tinh thần đoàn kết thống nhất, mưu trí, sáng tạo, linh hoạt, khẩn trương mở rộng vươn xa hệ thống đường vận tải chiến lược đáp ứng yêu cầu chi viện của chiến trường ba nước Đông Dương trong tình hình mới, xây dựng hệ thống vận tải đường bộ, đường thủy từ vùng biên giới ba nước vào Stung Treng, tiếp nhận người vũ khí trang bị vật chất từ Binh trạm 36 chuyển vào, sau đó vận chuyển giao cho các chiến trường Nam Bộ, Đông Bắc Campuchia và Nam Tây Nguyên. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tháng 8 năm 1970, Đoàn 559 đã kiện toàn tổ chức biên chế, phân chia địa bàn hoạt động và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn khu vực 470: Đảm nhiệm thi công, sửa chữa và mở rộng tuyến đường số 19A vận tải cơ giới từ vùng biên giới ba nước, mở các đường ngang, đường giao liên nối Đường số 19A với Đường số 13; tổ chức vận tải hàng hóa, đưa đón bộ đội từ vùng biên giới ba nước đến Stung Treng; tổ chức lực lượng bảo vệ đường, giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng và thu mua khai thác nguồn hàng lương thực thực phẩm của các tỉnh vùng Đông Bắc Campuchia cung cấp cho chiến trường Nam Tây Nguyên và Hạ Lào. Binh trạm 37 đảm nhiệm từ Sê Sụ đến Tà Ngâu; Binh trạm 50 đảm nhiệm từ Tà Ngâu đến Xiêm Pạng; Binh trạm 51 đảm nhiệm từ Xiêm Pạng đến Stung Treng. Hai binh trạm 50 và 51, mỗi binh trạm đều có từ một đến hai tiểu đoàn công binh, một đại đội đến một tiểu đoàn xe ô tô vận tải, một tiểu đoàn súng phòng không, một tiểu đoàn bộ binh, trạm giao liên và đội phẫu, đội điều trị thương bệnh binh; đặc biệt, có một đại đội vận tải thủy làm nhiệm vụ vận chuyển hàng trên sông Sê Kông, Mê Kông và Sê San. Tháng 10 năm 1970, Sở Chỉ huy Sư đoàn được xây dựng xong tại khu vực suối Nam Pa (A-tô-pơ). Cùng thời gian, Trung đoàn Công binh 4 của Sư đoàn, với 900 cán bộ, chiến sĩ (đạt 86% so với biên chế) từ cung đường phía Bắc vùng biên giới ba nước đã hành quân vào địa bàn được đảm nhiệm. Từ tháng 11 năm 1970, Sư đoàn bắt đầu tiến hành thực hiện nhiệm vụ mở đường, tổ chức tiếp nhận vận chuyển hàng hóa, vũ khí và bộ đội đến chiến trường Nam Tây Nguyên và Nam Bộ. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 07:49:55 pm Tháng 12 năm 1970, Bộ Tư lệnh Trường Sơn1 (Giữa năm 1970, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Bộ Tư lệnh 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn) điều Binh trạm 38 về trực thuộc Sư đoàn khu vực 470. Sư đoàn đã triển khai năm binh trạm hoạt động dọc sông Mê Kông, Đường số 49 từ Phi Hà xuống Stung Treng nối liền hệ thống hành lang vận tải Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ, gồm: Binh trạm 36 phụ trách trục Đường sổ 128 từ Chà Vằn đến phía Nam sông Sê-ca-mán, chiều dài khoảng 150km; Binh trạm 37 phụ trách đoạn Đường số 32 (Nam Sê-ca-mán), Đường số 49 từ Phi Hà đến Tà Ngâu và đường sông từ Tà Ngâu về Nậm Kông; Binh trạm 50 phụ trách khu vực Đường số 49 kéo dài từ Nam Tà Ngâu đến Nam Stung Treng, đường sông Sê Kông từ Tà Ngâu đến Xiêm Pạng; Binh trạm 51 đảm nhiệm khu vực Đường số 49 kéo dài, đoạn Xiêm Pạng - Bắc Đường số 19, đường sông Sê Kông, đoạn Xiêm Pạng - Bắc Măng Gió; Binh trạm 38 phụ trách vận chuyển đường sông Sê Kông (đoạn Sa Kha - A-tô-pơ). Sau đó, do không đủ hàng nên chuyển sang làm nhiệm vụ trên trục Đường số 128, đoạn Tăng Cát - Chà Vằn.
Nhận nhiệm vụ mùa khô 1970 - 1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định sửa chữa Đường số 19, phà Sê San bảo đảm cho chiến trường Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia. Để kiểm tra, giúp đỡ các binh trạm phía Nam tiến kịp các binh trạm phía Bắc, giành thắng lợi đồng đều trên toàn tuyến; đồng thời, nắm chắc nhu cầu cụ thể của chiến trường Nam Bộ, ngày 15 tháng 1 năm 1971, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559 làm việc với các binh trạm và Sư đoàn khu vực 470, sau đó vượt Tà Ngâu đi Snuôl gặp Trung ương Cục. Tại Trung ương Cục, các đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục; đồng chí Nguyễn Văn Linh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Trung ương Cục; đồng chí Trần Văn Trà - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Miền; đồng chí Võ Văn Kiệt - Phó Chính ủy và đồng chí Trần Nam Trung (Trần Lương) - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nghe đồng chí Đồng Sỹ Nguyên thông báo tình hình hoạt động của Bộ đội Trường Sơn, các nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao bảo đảm cho các chiến trường và dự kiến cục diện chiến trường. Trung ương Cục cho rằng nếu ta không đánh lớn thì không thể làm chuyển biến được tình hình... Nam Bộ có thể lo một phần lương thực thực phẩm và thuốc men, nhưng về vũ khí, nhất là vũ khí hỏa lực mạnh là những nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa rất lớn thì Trung ương Cục yêu cầu tuyến vận tải Trường Sơn phải ưu tiên đẩy nhanh vận chuyển vào; đồng thời, đề nghị Bộ Tư lệnh Trường Sơn điều một trung đoàn công binh vào mở đường từ Tây Ninh đi Xa Mát. Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên hứa sẽ ưu tiên thực hiện yêu cầu của Trung ương Cục. Đầu mùa khô 1970 - 1971, cung đường của hai binh trạm 50 và 51 thuộc Sư đoàn khu vực 470 đảm nhiệm, máy bay F-4 và C-130 liên tục đánh phá. Trung đoàn công binh 4 thuộc Sư đoàn được giao nhiệm vụ bảo đảm thông suốt trục Đường số 49A, mở Đường số 49B và các tuyến đường ngang từ Sê Sụ đến Stung Treng. Để tránh sự khống chế của máy bay địch, đơn vị phải mở mới hơn 700km đường nhánh, đường vòng tránh các trọng điểm đánh phá. Tuy lực lượng, phương tiện thi công chủ yếu là cuốc, xẻng, cưa tay nhưng trong suốt 3 tháng cuối năm 1970, Trung đoàn Công binh 4 đã khôi phục, khai thông hai đường số 49A và 49B, hơn 200km đường nhánh, làm mới hàng chục bến sông đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa trong mùa khô. Tại Đường số 49A, có một số đoạn đường nhánh cắt sang Đường số 13 tại Nhăng Sum đã được thông tuyến. Tuyến đường sông từ A-tô-pơ theo sông Sê Kông đến các trạm Tà Ngâu, StungTreng cũng được khai thông. Hoạt động vận chuyển trên tuyến đường bộ và đường thủy từ Binh trạm 37 đến hai binh trạm 50 và 51 được tổ chức vào ban đêm; các đội xe ô tô vận tải, các ghe máy thực hiện vận tải theo cung trạm. Khó khăn lớn nhất của các đơn vị trên tuyến vận tải chiến lược này ta chưa khống chế được hoạt động của không quân địch. Ban ngày, máy bay trinh sát L-19, OV-10, ban đêm máy bay C-130 có thiết bị trinh sát điện tử quan sát và thiết bị dò tìm mục tiêu bằng cảm ứng hồng ngoại, thường trực nhiều giờ liền trên không, phát hiện đánh phá phương tiện vận chuyển trên đường. Nhiều xe hàng, ghe máy của ta bị máy bay C-130 bắn cháy, bắn chìm. Mặc du trong mùa khô 1970 - 1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đề ra chủ trương chủ động đánh máy bay địch ở các trọng điểm trên toàn tuyến, nhưng hàng hóa vào đến hai binh trạm 50 và 51 vẫn rất hạn chế. Kế hoạch vận chuyển hàng của các đơn vị vào chiến trườg Đông Bắc Campuchia, chiến trường Nam Bộ cuối năm 1970 không đạt chỉ tiêu đề ra. Phát hiện tuyến đường vận tải chiến lược và cụm kho chiến lược Trường Sơn ngày càng được mở rộng và vươn sâu vào chiến trường Nam Bộ, mùa khô 1970 - 1971 quân Mỹ và ngụy thực hiện đánh phá, chặn cắt quyết liệt đường Trường Sơn. Trọng điểm dốc 200 trên Đường số 49A nối với Đường số 128 đi về Tây Nguyên và Nam Bộ bị đánh phá ác liệt nhất. Có trọng điểm bị đánh phá tới 300 quả bom các loại trong 1 ngày. Một số sở chỉ huy binh trạm và Sở Chỉ huy Sư đoàn khu vực 470 bị đánh bom. Do các đơn vị chủ động tổ chức trận địa tương đối vững chắc, tác chiến hiệp đồng chặt chẽ, vừa đánh địch, vừa tránh địch, vừa nghi binh; đồng thời, tổ chức ứng cứu chống phá hoại kịp thời nên đã hạn chế nhiều tổn thất, bảo đảm cầu đường thông suốt. Các đoàn xe liên tục vượt qua trọng điểm đến đích với tỷ lệ cao. Đến cuối tháng 1 năm 1971 trên hướng chiến trường Đông Bắc Campuchia, ta thực hiện được từ 100 - 115% chỉ tiêu kế hoạch của 2 tháng đầu năm. Tuy nhiên, địch cũng gây cho ta một số tổn thất nhất định, nhiều xe bị đánh hỏng, cán bộ, chiến sĩ bị thương vong... Bộ Tư lệnh Trường Sơn chỉ đạo hai binh trạm 50 và 51 kéo dài tuyến vận tải cơ giới đường sông trên các sông Sê Kông, Sê San và Mê Kông đến Kra-chê xuống Snuôl; tổ chức đưa tiền cho hậu cần Nam Bộ và Sư đoàn khu vực 470 thu mua khoảng 4.000 tấn hàng tại chỗ tạo nguồn dự trữ cho Nam Bộ và Tây Nguyên. Sư đoàn khu vực 470 quản lý khu vực các chiến trường Nam Bộ, Tây Nguyên, Campuchia, với tổng chiều dài tuyến đường bộ và đường sông là 1.765km. Thời gian này, Sở Chỉ huy của Sư đoàn ở Nam Sê-ca-mán. Sư đoàn được giao nhiệm vụ là cơ quan Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn, trực tiếp quan hệ với chiến trường, giải quyết những yêu cầu cấp bách phục vụ tác chiến và thực hiện nội dung chức năng Bộ Tư lệnh khu vực gồm tiếp nhận hàng của Sư đoàn khu vực 471, vận chuyển đảm bảo cho chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ, Campuchia và Hạ Lào rồi chuyển lương thực thực phẩm ngược lại phục vụ chiến trường Tây Nguyên và bảo đảm một phần phục vụ sinh hoạt nội bộ. Để tăng thêm hiệu quả về chiều sâu của tuyến vận tải chiến lược, Sư đoàn khu vực 470 đã tăng cường truy quét biệt kích, thám báo và bộ binh địch trong khu vực quản lý giữ vững vận chuyển hai tuyến đường bộ số 49A, 49B và các tuyến đường sông Sê Kông, Mê Kông... Tháng 7 năm 1971, Tiểu đoàn Công binh 278 được giao nhiệm vụ mở đường cơ giới quân sự dài 80km từ Sê Sụ nối vào Đường số 49B để tiếp nhận, vận chuyển hàng hỏa, vũ khí của lực lượng vận tải Sư đoàn khu vực 470 chuyển giao Hai tiểu đoàn công binh 739 và 276 được giao nhiệm vụ mở hai tuyến đường cơ giới: Tuyến A từ Nam sông Sê San đến Đường số 14K (Bắc Lộc Ninh) dài 216km; tuyến B từ Nam sông Sê San đến Đường số 13 đoạn Sơ Lông (Nam Kra-chê) dài 116km. Hai tuyến đường A và B chạy gần như song song với nhau, đoạn gần nhau nhất cách 10km. Cùng với việc làm đường trục, tại các khu vực trọng điểm địch đánh phá, lực lượng công binh đã mở thêm nhiều đường vòng, tránh, tạo điều kiện cho các xe cơ giới vận chuyển vượt trọng điểm được an toàn và nhanh hơn. Cuối năm 1971, hệ thống đường trục từ Binh trạm 51 đến Đoàn hậu cần 770 và tuyến đường cơ giới về vùng biên giới hai tỉnh Phước Long, Tây Ninh đã được khai thông. Mặc dù, địch vẫn tập trung không quân đánh phá mạnh ở vùng biên giới ba nước và khu vực địa bàn do Sư đoàn khu vực 470 đảm nhiệm, nhưng dưới mặt đất tuyến hành lang vùng biên giới ba nước qua các tỉnh Đông Bắc Campuchia đến biên giới các tỉnh Phước Long, Bình Long, Tây Ninh đều do lực lượng Quân Giải phóng Việt Nam và các đơn vị vũ trang cách mạng Campuchia làm chủ. Trên các tuyến đường số 7, 13 và 14K, xe ô tô, xe kéo pháo có thể cơ động cả trong mùa khô và mùa mưa. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 07:55:15 pm 2. Đẩy mạnh hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia bảo đảm cho các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ năm 1970
Nhằm biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ; đồng thời, làm mất căn cứ và chặn nguồn tiếp tế hậu cần cho chiến trường miền Nam Việt Nam từ hướng Campuchia; tháng 2 năm 1970, dưới sự thúc ép của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Thủ tướng Campuchia Lon Non thuộc phái cực hữu đã ra lệnh đổi tiền Riel của Campuchia. Việc làm này gây tổn hại lớn đến lượng tiền của các đơn vị Hậu cần Miền, mang danh các công ty thu mua lương thực thực phẩm từ Campuchia đưa về miền Nam. Ngày 12 tháng 3 năm 1970, Lon Non tuyên bố hủy bỏ hiệp định đã ký kết giữa Chính phủ Campuchia với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; cắt đứt đường chi viện chiến lược bằng đường biển cho miền Nam Việt Nam qua cảng Xi-ha-núc Vin. Tiếp đó, ngày 13 tháng 3 năm 1970, Lon Non gửi tối hậu thư buộc các đơn vị và Công ty Hiệp Lợi1 (Thực chất đây là Đoàn hậu cần 17, lấy danh nghĩa Công ty kinh doanh thương mại để tiếp nhận, vận chuyển hàng quá cảnh từ cảng Xi-ha-núc Vin chuyển về các chiến trường Nam Bộ và Nam Tây Nguyên) của ta phải rời khỏi đất Campuchia sau 48 giờ. Phía Campuchia đã thu giữ toàn bộ số vũ khí lương thực, hàng hóa của ta trên đường di chuyển về Việt Nam. Cùng ngày, Lon Non sử dụng một tiểu đoàn bộ binh tràn vào khu vực Sóc Chuốt, Chòm Tre, Rạch Lức, Rạch Rứa (quận Túc Mía), nơi đứng chân của Đoàn 195 ngang nhiên đào hầm vũ khí, đòi tịch thu và buộc lực lượng vũ trang ta phải rời ngay khỏi đất Campuchia. Chỉ huy Đoàn 195 vừa dùng lý lẽ buộc chúng phải trả lại vũ khí vừa liên hệ với hai tiểu đoàn của Sư đoàn Bộ binh 1 Quân Giải phóng đang hoạt động ở khu vực, hình thành hai mũi bao vây chặt tiểu đoàn địch, buộc chúng phải nằm im tại chỗ suốt 7 ngày đêm. Sau đó, được lệnh của Trung ương Cục và Quân khu 8, Đoàn 195 tập trung lực lượng phối hợp với các đơn vị chủ lực Miền và Quân khu mở đợt tiến công tiêu diệt các đồn và phương tiện chiến tranh của địch dọc bờ Nam và bờ Bắc kênh Vĩnh Tế sông Giang Thành, đánh sâu vào nội địa Campuchia 30km giải phóng một vùng tuyến hành lang trên đất bạn từ Ta-keo đến tỉnh Kam-pốt. 300 tấn vũ khí của ta còn kẹt lại ở Sóc Chuốt chưa kịp chuyển về nội địa được di dời ngược trở lại cất giấu trong các hang hầm núi Túc Mía do một đại đội kho và một đại đội thanh niên xung phong cất giữ và bảo vệ. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Lon Non tiến hành đảo chính lật đổ Quốc vương Xi-ha-núc, xóa bỏ nền trung lập, thành lập chính phủ mới do Lon Non làm Thủ tướng. Ngay sau đảo chính, Lon Non đã tuyên bố sẵn sàng cùng đế quốc Mỹ và đồng minh chống lại lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam. Sau đảo chính ở Campuchia, ngày 27 tháng 3 năm 1970, quân ngụy Sài Gòn phối hợp với quân ngụy Lon Non mở cuộc tiến công, càn quét đánh phá ác liệt vào kho tàng dự trữ vật chất hậu cần của ta ở Tăng Lèo, Ta Lu, Ba Thu... Các bộ phận bảo vệ của đơn vị P100, Xưởng X5 A, Bệnh viện X12B đã dũng cảm chặn đánh địch tạo điều kiện cho các cơ quan, phân đội rút sâu vào nội địa Campuchia1 (Tháng 5 năm 1970, đơn vị P100 di chuyển sâu trong đất Campuchia, đứng chân ở vùng Crông Cra Xăng, tỉnh Prây Veng nhận hàng của Hậu cần tổ chức đưa về vùng Tà Lu, Tăng Lèo và Sở Thượng, tạo chân hàng cho lực lượng vận tải Quân khu 8 tiếp nhận về nội địa). Ngày 31 tháng 3 năm 1970, Sư đoàn 21 quân ngụy Sài Gòn vượt qua biên giới Campuchia - Việt Nam đánh vào các căn cứ Quân Giải phóng ở quận Túc Mía. Sau 7 ngày càn quét, chúng đã bị Sư đoàn Bộ binh 1 và các lực lượng vũ trang Quân khu 9 trên địa bàn đánh thiệt hại nặng buộc phải rút quân về Việt Nam. Ngày 8 tháng 4 năm 1970, địch tiếp tục tung lực lượng sư doàn 9 quân ngụy Sài Gòn đến càn quét hòng đánh bật Quân Giải phóng ra khỏi địa bàn nhưng đều bị đánh bại, đập tan ý đồ triệt phá căn cứ và hành lang vận tải của hậu cần quân sự Việt Nam trên đất Campuchia. Trong đợt chống càn này, Đại đội Kho và Đại đội Thanh niên xung phong của Đoàn 195 bảo vệ 300 tấn vũ khí ở núi Túc Mía đã kiên cường dông cảm đánh bật nhiều đợt tiến công chiếm núi của địch tiêu diệt nhiều tên. Địch dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm, đổ một tiểu đoàn công binh trên núi Túc Mía, Quân Giải phóng dựa vào các hang hầm, khe núi bình tĩnh kìm chế không cho chúng xuống chân núi, vừa đánh địch vừa tổ chức di chuyển 300 tấn vũ khí sang núi Văn an toàn. Sau 5 ngày không đánh được Quân Giải phóng ra khỏi núi, địch buộc phải thu quân kết thúc cuộc càn quét. Đoàn 195 tiếp tục xây dựng địa bàn căn cứ từ vùng sông Sở Thượng đến quận Túc Mía, củng cố kho tàng và đường hành lang vận tải trên đất Campuchia, tiếp tục làm nhiệm vụ tiếp nhận nguồn chi viện của Trung ương qua tuyến 559. Giữa tháng 4 năm 1970, quân ngụy Sài Gòn được sự yểm trợ của không quân Mỹ, tiến đánh vùng "Mỏ vẹt" thuộc địa bàn tỉnh Svây Riêng của Campuchia. Ngày 30 tháng 4 năm 1970, hơn 100.000 quân Mỹ và ngụy Sài Gòn, được sự yểm trợ tối đa của pháo binh, xe tăng, tiến đánh vào các tỉnh Svây Riêng, Prây Veng, Kra-chê, Kông-pông Chàm... Những hoạt động đánh phá, mở rộng chiến tranh sang Campuchia của địch gây cho ta nhiều khó khăn. Chiến trường Nam Bộ và Nam Tây Nguyên bị cắt đứt nguồn tiếp tế của Trung ương. Hệ thống hậu cần cùng các tuyến hành lang vận tải của ta chịu nhiều tổn thất lớn. Nhiều kho hàng hóa, vũ khí của ta dọc biên giới Đông - Đông Bắc Campuchia bị địch đốt phá, hủy hoại. Các đoàn hậu cần 50, 70, 82 và 86 của Bộ Tư lệnh Miền bị thiệt hại nặng. Trong đợt đánh phá này, ta bị mất 3.500 tấn gạo, 120 tấn muối (chiếm 1/3 khối lượng dự trữ của Hậu cần Miền), 700 tấn vũ khí, đạn dược (chiếm 14% lượng dự trữ), 60 tấn thuốc và một số dụng cụ y tế (chiếm 1/3 lượng dự trữ), 80% phương tiện vận tải bị phả hủy (180 xe ô tô, 5.692 xe đạp). Trước tình hình trên, ngay từ đầu năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ lãnh đạo quân dân cả nước đẩy mạnh tiến công toàn diện để đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và có chủ trương cụ thể khi đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục và Quân khu ủy Quân khu 5 kiên quyết phản công giữ các căn cứ chiến lược trên biên giới Campuchia - Việt Nam; phối hợp với lực lượng vũ trang của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia tiến công quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn, quân ngụy Lon Non, mở rộng vùng giải phóng Đông Bắc Campuchia, giúp Mặt trận Dân tộc cứu nước Campuchia thành lập chính quyền cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang. Tiếp đó, Bộ Chính trị điện chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Miền chuẩn bị lực lượng, khi Mặt trận Dân tộc cứu nước Campuchia yêu cầu, sẽ cùng bạn tiến công làm chủ 10 tỉnh phía Đông sông Mê Kông của Campuchia. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 07:57:44 pm Sau khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào, các sư đoàn bộ binh 5,7,9 và các đơn vị binh chủng của quân đội ta đã kịp thời chuyển hướng sang hoạt động ở Campuchia, giúp đỡ và phối hợp với lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đế quốc Mỹ. Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương kêu gọi nhân dân các nước đoàn kết chống đế quốc Mỹ. Tiếp đó, Đại hội nhân dân Campuchia thành lập Mặt trận và Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia chống Mỹ, tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho lực lượng vũ trang ta phối hợp hoạt động và giúp đỡ cách mạng và nhân dân bạn đánh bại các cuộc tiến công chiến lược của quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn và quân ngụy Lon Non, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Campuchia. Hậu cần quân sự đã bảo đảm cho lực lượng vũ trang ta phối hợp với lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia, chủ động tiến công địch mở rộng vùng giải phóng, giúp bạn xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng. Ta đã giúp lực lượng vũ trang bạn xây dựng được chín tiểu đoàn, 53 đại đội, 27 trung đội vũ trang tập trung với trên 10.000 quân (chưa kể lực lượng du kích các phum); đưa trên 1.000 cán bộ, đảng viên (tập kết ra miền Bắc từ năm 1953) đã được huấn luyện bồi dưỡng về chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ trở về Campuchia tham gia chiến đấu và xây dựng đất nước.
Ngày 28 tháng 4 năm 1970, được sự yểm trợ của quân Mỹ, 40.000 quân ngụy Sài Gòn tiến công sang đất Campuchia, đánh phá mạnh vùng "mỏ vẹt" thuộc tỉnh Svây Riêng (Campuchia) tiếp giáp với Mộc Hóa thuộc tỉnh Long An (Việt Nam). Ngày 30 tháng 4 năm 1970, địch huy động trên 100.000 quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn được máy bay pháo binh yểm trợ tiến công vào vùng "lưỡi câu" thuộc tỉnh Kông-pông Chàm giáp với Tây Ninh nhằm tìm diệt cơ quan chỉ huy, khối chủ lực và phá hủy căn cứ hậu cần của ta. Các đoàn hậu cần 50, 70, 82, 86 và 100 của miền Đông Nam Bộ hoạt động trên đất Campuchia bị tổn thất nặng. Chiến trường Nam Bộ và Nam Tây Nguyên bị mất nguồn tiếp tế. Để phá thế bao vây chiến lược mới của đế quốc Mỹ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã thống nhất với Đảng Cách mạng Campuchia mở đợt tiến công mới, mở rộng vùng giải phóng ở Đông Campuchia nối tiếp với Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, hình thành một căn cứ hậu phương chiến lược của các chiến trường Nam Đông Dương, đưa vận tải cơ giới lớn vào sâu, đáp ứng kịp thời nhu cầu cách mạng ba nước. Bộ Chính trị kịp thời chỉ thị cho bộ đội ta phối hợp với bạn chủ động đánh nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục tạo chuyển biến quan trọng về cục diện chiến lược có lợi cho ta và bạn trong thời gian ngắn. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, từ giữa tháng 4 năm 1970, các đơn vị vũ trang của Miền phối hợp cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở Chiến dịch Đông Bắc Campuchia (29.4 - 30.6.1970), nhằm đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn trên tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam và vùng Đông Bắc Campuchia; bảo vệ căn cứ, kho tàng; đồng thời, giúp nhân dàn Campuchia giành quyền làm chủ trên 10 tỉnh giáp biên giới với Việt Nam. Quân ủy Trung ương và Bộ Tư lệnh Miền sắp rút chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chủ trương tích cực phản công bẻ gãy các mũi tiến quân của địch; đồng thời, chủ động tiến công tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy Lon Non, roở rộng vùng giải phóng, đánh bại cuộc hành quân Sumêcơ của 21 tiểu đoàn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, giải phóng khu vực Mi Mốt thuộc tỉnh Kông-pông Chàm, mở rộng vùng giải phóng đến bờ sông Mê Kông. Chặn đánh địch trên hai tuyến đường sổ 1 và 22, giải phóng nhiều vùng nông thôn thuộc hai tỉnh Prây Viêng và Svây Riêng; giải phóng nhanh các khu vực Tà Ni, Túc Mía, Kông-pông Trạch... ở khu vực Đường số 5; phát triển tiến công giải phóng các tỉnh Kra-chê, Môn-đôn-ki-ri, Stung Treng và Rát-ta-na-ki-ri. Lực lượng tham gia gồm các sư đoàn bộ binh 5,7 và 9 thuộc bộ đội chủ lực Miền, hai trung đoàn 44, 95 và một số tiểu đoàn độc lập thuộc Mặt trận Tây Nguyên; lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia cùng phối hợp chiến đấu có các tiểu đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch. Đồng chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh Miền là Tư lệnh Chiến dịch và đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục là Chính ủy Chiến dịch. Khu vực tác chiến của chiến dịch có địa hình bằng phẳng, rừng cây xen kẽ rừng le. Ở đây, do nhiều năm địch tàn phá bằng bom, pháo và chất độc hóa học, nên có nhiều khu vực trống trải làm cho việc trú quân, cơ động lực lượng của ta bị hạn chế, còn với địch cơ động lực lượng được thuận tiện, phát huy được tác dụng của binh khí kỹ thuật. Khi quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tiến công vào đất Campuchia, khu vực chiến đấu mở rộng qua biên giới Campuchia thì địa hình ở đây cũng bằng phang, rừng kín đáo, có xen kẽ với các đồng ruộng, nương rẫy trống trải, có các đồn điền cao su lớn như Mi Mốt, Krếch. Đường cơ động khu vực chiến dịch rất thuận tiện: Đường số 13 Sài Gòn - Snuôl. Đường số 22 từ Sài Gòn - Tây Ninh - Kông-pông Chàm; Đường số 14 Suối Đá - Kà Tum - Bồ Túc; Đường Suối Đá - Bà Chiêm - Đường số 13- Đường đá Bình Phú - Bồ Túc; từ Đường số 7 sang Đường số 13 qua ngã ba Krếch - Mi Mốt - Snuôl. Các đường trên hình thành mạng đường ngang, dọc, xe cơ giới cơ động được. Khu vực tác chiến có nhiều sông suối như sông cần Lê, sông Chiêm, sông Sơ Lông; suối Ngô, suối Bà Chiêm... chiều rộng của sông về mùa mưa từ 30 - 60m. Hai bên bờ sông, suối phần lớn dốc đứng, có nhiều chỗ kín đáo, tiện cho ta tổ chức các bến vượt. Mùa mưa nước nhiều, người và xe cơ giới qua lại khó khăn, mùa khô đi lại dễ dàng. Chiến dịch diễn ra vào giữa mùa khô, có nhiều thuận lợi trong hành quân, trú quân và bảo đảm được sức khỏe bộ đội, nhưng đến giai đoạn mùa mưa sức khỏe bộ đội giảm sút, bệnh tật phát triển. Nhân dân Khơme từ biên giới Campuchia - Việt Nam trở vào ở rải rác từng phum, càng vào sâu mật độ càng đông. Khu vực nhiều dân ở các thị trấn Snuôl, Mi Mốt, Sơ Lông, Krếch. Có một số đồng bào Việt kiều, Hoa kiều sinh sống bằng nghề nông, đánh cá, công nhân đồn điền cao su. Phần lớn nhân dân ở khu vực tác chiến chiến dịch chịu ảnh hưởng của cách mạng từ lâu, phân biệt được hành động tốt, xấu của ta và địch, sẵn sàng đóng góp sức người, vật chất, kể cả tham gia Quân Giải phóng. Chính quyền địa phương các phum, các quận, các đơn vị cách mạng Campuchia mới thành lập đã giúp đỡ ta làm dân công vận chuyển vật chất, dẫn đường... Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 07:59:04 pm Trong chiến dịch, các đơn vị tham gia tác chiến nằm trong địa bàn bảo đảm của các đoàn hậu cần là 50, 82 và 70. Các cơ sở hậu cần khu vực hoạt động ở vùng biên giới Campuchia - Việt Nam. Lượng dự trữ vật chất và khả năng thu dung cứu chữa thương bệnh binh tuy có hạn nhưng vẫn đủ sức bảo đảm cho các đơn vị tác chiến. Giữa hậu cần sư đoàn, trung đoàn và hậu cần khu vực đã quen biết nên việc hiệp đồng có nhiều thuận lợi. Mặt khác, các đơn vị đã biết địa điểm cơ sở hậu cần khu vực như Đoàn hậu cần 50 (từ Tây Đường số 13 đến Tây Đường số 14): các bệnh viện K50, K51, K52, K53, K54 và Đội điều trị 70C; các kho quân giới B103, B105 và B107; các kho quân nhu C50, C51, C52; C53 và C54. Các cơ sở thuộc Đoàn hậu cần 82 (từ Tây Đường số 17 về phía sau khu vực Bồ Túc, Cà Tum) gồm: Bệnh viện K71C (K21), Đội chuyển thương DT124, Kho quân giới B21 và B25, các kho quân nhu ở khu vực Lệch.
Tuy vậy, Hậu cần Chiến dịch vẫn gặp nhiều khó khăn do các cơ sở ở vùng sâu trên đất Campuchia đã bị địch càn quét, đánh phá nên số lượng giảm đi nhiều, lượng dự trữ mỏng. Các đội điều trị phải tổ chức gọn nhẹ, dễ cơ động nên khả năng thu dung thương bệnh binh hạn chế. Mặt khác, lực lượng phản động ờ đây gây cho ta nhiều khó khăn như cho quân vào càn quét đánh phá các cơ sờ hậu cần của ta, ngăn cấm nhân dân Campuchia buôn bán với ta ở các cửa khẩu, đổi tiền... Do đó, tình trạng lương thực không ổn định, có khu vực hậu cần ngày trước nhập gạo được nhưng ngày sau không nhập được nên có lúc không thực hiện được hợp đồng cung cấp cho đơn vị. Các đơn vị chiến đấu thọc sâu phải tự tổ chức vận chuyển vật chất và chuyển thương binh về. Trước chiến dịch, Đoàn C4 đã tổ chức các tuyến vận chuyển vật chất nhưng địch đánh phá ngăn chặn, ta phải dùng bộ đội chủ lực tác chiến bảo vệ vận chuyển. Để bảo đảm đơn vị tác chiến thọc sâu phải kết hợp dùng lực lượng bộ đội vận chuyển thêm. Khi đơn vị thọc sâu, tác chiến xa biên giới, ta phải phá thế ngăn chặn của địch, tạo được tuyến vận chuyển vững chắc. Khả năng bảo đảm vật chất có hạn nên ảnh hưởng đến việc bảo đảm hậu cần cho chiến dịch. Trong giai đoạn chuẩn bị của chiến dịch, tuyến vận tải phía Đông sông Sài Gòn đã nối liền nhưng chưa hoàn chỉnh. Máy bay địch trinh sát dọc tuyến vận tải và đánh một số nơi ở bến sông Cần Lé. Do bếp nấu ăn của bộ đội ta nhiều khói, một số đồng chí dùng thuốc nổ đánh cá ở bến sông nên địch phát hiện, sử dụng máy bay B-52 ném bom xuống tuyến Sa Tum đi K10, tung biệt kích đi lùng sục, phục kích một số đoạn đường, nên năng suất vận tải thấp, không bảo đảm chỉ tiêu, hàng vận chuyển bị hao hụt nhiều, số lượng ở đầu cung nhiều nhưng đến Sa Cam không đủ. Sự hiệp đồng giữa lực lượng công binh, trinh sát với bộ phận vận tải chưa chặt chẽ. Trước tình hình trên, chỉ huy tuyến tải quyết định phải tập trung cả bốn đại đội ở Cung 1 và Cung 2; tổ chức bộ phận bám địch chiến đấu và hiệp đồng với công binh, trinh sát đưa hàng xuống đơn vị và chuyển thương binh về ngay trong đêm. Đồng thời, đề nghị cấp trên chỉ đạo tuyến vận tải phía Tây sông Sài Gòn tranh thủ chuyển vật chất xuống, đề phòng tuyến bị tắc lâu ngày. Kết quả, ta đã vận chuyển được 18 tấn gạo; 1 tấn muối; 440 viên đạn K53; 7.200 viên đạn K56; 2.550 viên đạn 12,7mm; 110 quả đạn cối 60mm; 30 quả đạn B-40; 115 quả đạn B-41 và vận chuyển được 45 thương binh. Trước và sau ngày nổ súng, tuyến vận tải phía Tây sông Sài Gòn đã nhiều lần tổ chức vượt qua Đường Đỏ nhưng bị địch ngăn chặn liên tục nên chưa vận chuyển được. Bộ phận Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 dự định bố trí ở Chà Và cùng với Kho 819 của Đoàn hậu cần 50 cũng chưa đến được. Mặt khác, ở Kho 810, Đoàn hậu cần 50 theo hiệp đồng đã có sẵn 12 tấn gạo ở Chà Và nhưng khi kiểm tra lại thì không còn (số gạo này đã cấp phát cho các đơn vị khác). Căn cứ vào tình hình địch và khó khăn thực tế, Bộ Tự lệnh Chiến dịch đã điều Tiểu đoàn 4 về Bắc Đường Đỏ để đánh địch. Vì vậy, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 quyết định tạm rút lực lượng của mình trên tuyến phía Tây sông Sài Gòn. Ở cuối giai đoạn chuẩn bị, phát hiện địch vừa đối phó với ta ở tuyến biên giới, vừa điều động lực lượng dù, kỵ binh không vận lên Đường Đỏ, Bà Chiêm, Cà Tum và liên tục vận chuyển vật chất bằng đường bộ, đường không lên Hớn Quản, Cà Tum, Thiện Ngôn. Đêm 1 tháng 5 năm 1970, một bộ phận hậu cần chuyển lên Bắc Đường số 7 và tích cực liên hệ với hai đoàn hậu cần 50 và 82 để cung cấp đạn dược, lương thực, thuốc men. Trung đoàn Bộ binh 38 liên hệ với Đoàn hậu cần 82 tạm lĩnh được 24 tấn gạo. Sau đó, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 đã liên hệ và nhận thêm được 55 tấn. Ở Bắc Đường số 7, Đoàn hậu cần 50 có Đội điều trị 51, ở hướng Đoàn hậu cần 82 có Bệnh viện K71C ở khu vực Cô Ky; tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đã kết hợp với Hậu cần Sư đoàn Bộ binh và được Trung đoàn 38 chi viện lực lượng làm hầm và lực lượng bảo vệ nên đã nhận được thương binh cho hướng này. Ngoài ra, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 còn lên Đầm Be liên hệ với Đoàn hậu cần 82 nhận 9,6 tấn gạo, 500kg muối, 215 quả đạn cối 81 mm, 82mm và DKZ 75mm, 155 quả đạn cối 60mm, 13.480 viên đạn K56 và 3.960 viên đạn K53... Sau khi phát bổ sung, số còn lại được đưa về dự trữ ở khu vực Kan Tuốt. Hậu cần Sư đoàn liên hệ được với Cục Hậu cần và Đoàn hậu cần 82 để cung cấp gạo ở các khu vực Chông Chếch, Đầm Be, Tra-pê-ăng Phinh. Sau trận đánh địch càn lên Đông Nam Mi Mốt, Trung đoàn Bộ binh 38 lui về Đông Bắc Mi Mốt tiếp tục đánh địch ơ khu vực Nhà máy Đường Mi Mốt, Đường số 7 và luôn cơ động bám đánh địch càn ở Đông Nam Kra-bao, đánh địch lên Tây Bắc Mi Mốt. Sau đó, được lệnh chuyển sang đứng chân ở khu vực Chăm Ky, Chăm To. Hậu phương Trung đoàn chuyển về ngã ba suối Ang Cam triển khai tuyến bảo đảm. Những ngày đầu gặp khó khăn về việc bảo đảm thương binh vì chưa liên hệ được với hậu cần khu vực và Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 nên Hậu cần Trung đoàn phải tự thu dung điều trị thương binh. Đến ngày 6 tháng 5 năm 1970 trung đoàn liên hệ được với Bệnh viện K71 C nên gửi được thương binh. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 08:05:17 pm Thực hiện lệnh của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 sử dụng lực lượng ở hậu cứ gồm Tiểu đoàn Huấn luyện tân binh làm lực lượng vận chuyển đến các kho ở hướng Sơ Lông, Đầm Be, Kan Tuốt, Kông-pông Pang, Kông-pông Đăng-rây về hai khu vực chính: Đạn đưa về kho ở Sở Chỉ huy phía trước khoảng 5 tấn (chủ yếu là đạn hỏa lực), vận chuyển bổ sung cho Trung đoàn Bộ binh 42, số còn lại tập trung về kho hậu phương Sư đoàn Bộ binh 7 ở Nam Sê-rê-căng-đan, kho thuốc và quân trang cũng dồn về kho hậu phương Sư đoàn. Trước tình hình thiếu lương thực, Sư đoàn phải liên hệ với chính quyền địa phương mua 5 tấn gạo bổ sung cho bộ đội đủ gạo cần thiết để bảo đảm chiến đấu theo kế hoạch quy định. Những ngày tiếp sau, Hậu cần Sư đoàn đã liên hệ với hậu cần khu vực cấp thêm 10 tấn ở cao điểm 177, sau đó cung cấp gạo ở Kô Ky, Chông Chếch đủ bảo đảm cả đợt được 40 tấn gạo.
Trong giai đoạn chuẩn bị, Hậu cần Chiến dịch khẩn trương tổ chức triển khai các tuyến hậu cần sư đoàn, trung đoàn, nên bảo đảm kịp thời cho bộ đội bước vào chiến đấu; cứu chữa vận chuyển thương binh được nhanh chóng. Tuy có khó khăn, nhưng đã cố gắng khắc phục bảo đảm đủ vật chất cho yêu cầu chiến đấu, nhất là đã tích cực tổ chức tiếp phẩm và nuôi dưỡng bộ đội ở cả phía trước và phía sau. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10.000 quân địch, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay, phá hỏng 280 xe quân sự, 180 khẩu pháo và súng cối; bảo vệ an toàn căn cứ, kho tàng của ta; giải phóng năm tỉnh Đông Bắc - Bắc Campuchia, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Campuchia có bước phát triển nhảy vọt. Sau chiến dịch, các đoàn hậu cần tập trung lực lượng di chuyển kho hàng, tổ chức thu gom xe, máy, tàu thuyền chiến lợi phẩm, ở Snuôl và Mi Mốt, ta thu được 20 xe ô tô và nhiều máy móc, bình điện, săm lốp. Tại Kra-chê, học viên lớp lái xe thu 15 xe ô tô và huy động thêm 15 xe dân (số xe này đã chở một trung đoàn bộ binh tiến công truy quét địch ra khỏi khu vực từ Kra-chê đến Stung Treng). Đội xe VZ1 của Đoàn hậu cần 70 thu được 15 xe. Sau đó, Đội xe VZ1 và Xưởng Z58 thu thêm sáu xe của quân ngụy Lon Non giấu trong rừng Tại Stung Treng, học viên lái xe thu 10 xe bàn giao cho lực lượng hậu cần. Một bộ phận của Đội xe 1 cùng thợ sửa chữa của Xưởng Z58 do đồng chí Lê Đình Điệp chỉ huy đã thu gom tại thị xã Môn-đôn-ki-ri được sáu xe ô tô cùng nhiều máy móc phụ tùng đưa đi cất giấu. Tại Sở Cao su Luông Chúp, hai đoàn hậu cần 50 và 82 thu 30 xe, 10 máy kéo. Trên đoạn đường từ Bến Kết đến Kông-pông Thơm, lực lượng hậu cần thu trên 50 xe, rồi tiến hành khôi phục lại, tổ chức Đại đội xe và lớp học lái xe H26. Tại Bến Két (trên sông Mê Kông), ta thu được ba tàu có trọng tải từ 50- 70 tấn, một đầu kéo xà lan 50 tấn, tổ chức thành Đội tàu Vận tải sông. Đội xe của Đoàn hậu cần 50 do đồng chí Nghĩa và đồng chí Sáu Koóng chỉ huy thu gom 15 xe và huy động xe dân cơ động Trung đoàn 2 (Sư đoàn Bộ binh 9) tiến công quân Mỹ, ngụy Sài Gòn tại thị xã Kông-pông Thơm. Trong 1 tháng, lực lượng vận tải ô tô của Cục Hậu cần Miền đã khôi phục lại được 150 xe thu gom được, sử dụng ngay 90 xe bảo đảm cho những nhiệm vụ lớn, khẩn trương lúc đó. Cùng thời gian, do địch đánh phá nên Xưởng B109 phải chuyển về Đoàn hậu cần 500 ở phía đông Cà Đa thuộc Kông-pông Thơm. Xưởng lấy phiên hiệu mới là Xưởng P42. Khi di chuyển Xưởng phải bỏ lại toàn bộ máy móc. Để có phương tiện, nguyên liệu sản xuất, Xưởng tổ chức đi sưu tầm ở Bến Kết, Bạ Rài... thu nhiều máy móc, vật tư, trong đó có chiếc máy tiện băng dài 5m. Xưởng Z1 ở Suối Mông (Mê Mông), liên tục bị máy bay B-52 đánh phá, chưa sản xuất được gì lại bị xe tăng địch càn vào phải di chuyển sâu vào nội địa Campuchia. Xưởng đến phum Nâu, xây dựng căn cứ xong, chuẩn bị sản xuất thì có lệnh trên giao căn cứ lại cho Xưởng BX8, tổ chức di chuyển vượt sông Sơ Lông đến xây dựng căn cứ mới tại sóc Pơ Ma, huyện Sơ Lông, tỉnh Kông-pông Chàm. Xưởng Z26 (sau đổi tên là Xưởng BX21) trực thuộc Đoàn 100, chuyển đến căn cứ tại Tăng Cà Xăng. Như vậy có bốn xưởng Miền di chuyển sâu vào đất Campuchia được xây dựng lại lớn hơn, có điều kiện ổn định sản xuất phục vụ chiến trường. Kho B103, Kho B104 và Đội trang cụ (Đoàn hậu cần 50), Kho B28 (Đoàn 100), Kho B11 và Kho B8 (Đoàn hậu cần 86) tổ chức bố trí ở khu vực Bắc Ô Răng. Sê-rê-pốc để phân tán hàng. Cơ quan Cục Hậu cần di chuyển đến đầm Rây Phông. Sau khi Chính phủ Campuchia ra lệnh đổi tiền Riel cũ, tỷ giá đổi 1 ăn 1 tại các ngân hàng, Ban Tài chính đặc (phiên hiệu N2683) có trách nhiệm đổi tiền của Ban Kinh tài Trung ương Cục và Hậu cần Miền nên khối lượng tiền rất lớn, đòi hỏi phải có nhiều thời gian để gom tiền cũ, đổi tiền mới cho các cơ quan, đơn vị đóng dọc theo biên giới hai nước Campuchia - Việt Nam. Đồng chí Tám Lai - phụ trách giao liên Trung ương Cục khẩn trương bảo đảm khâu thu tiền cũ, giao tiền mới tại biên giới. Công ty Tân Á của Ban Tài chính đặc biệt là nơi nhận tiền các nơi về. Thời gian này, Công ty đã phát triển lên quy mô lớn, có quan hệ mật thiết với hệ thống kinh tế, tài chính, ngân hàng địa phương, có đủ bao bì, kho chứa, xe vận chuyển và bộ máy nhân sự chuyên nghiệp khá thành thạo trong hoạt động ngân hàng nên giải quyết mọi việc rất thuận lợi. Chạy đua với thời gian, suốt ngày đêm, mọi người nhận tiền tới đâu, đổi ngay tới đó, không để ứ đọng. Phương châm đổi tiền là vừa đổi nhỏ lẻ, phân tán, vừa đổi tập trung vừa và lớn. Tiền đổi được nhiều nhưng chỉ giao được rất ít, chủ yếu cho những đơn vị ở gần. Vì vậy, khối lượng tiền lớn đổi được của Công ty còn ứ đọng lớn nên mọi người rất lo vì biết quân và dân ta ở vùng biến giới Campuchia - Việt Nam gặp khó khăn do không có tiền để hoạt động. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 08:06:32 pm Sau đảo chính, lực lượng phản động cực đoan kích động hận thù, chia rẽ hai dân tộc anh em Việt Nam và Campuchia. Địch bắt đầu sát hại Việt kiều, làm mọi hoạt động kinh tế, tiền tệ của ta đều ngừng lại. Tiệm không bán. Người không đi lại ngoài đường. Giá cả sinh hoạt tăng cao, nhất là lương thực thực phẩm. Hằng ngày, địch cho thiết quân luật từ 6 giờ tối hôm nay đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Mọi người đều lo địch phát hiện khối lượng tiền khổng lồ còn chưa giao được. Công ty Tân Á lại mới nhập về 100 xe ô tô, rất nhiều máy nổ, bóng đèn, vải vóc... chưa kịp bán ra để trả nợ vay Nhà nước Campuchia. Đồng chí Năm Tấn - người đứng đầu Công ty Tân Á lại bị địch đưa vào danh sách thủ tiêu nên phải rời khỏi thành phố Phnôm Pênh càng nhanh càng tốt. Cùng với các đồng chí Mười, đồng chí Ba Châu, đồng chí Năm Tấn chờ lệnh trên cho phép rời khỏi địa bàn hoạt động với lượng tiền lớn đang mắc kẹt. Nhiệm vụ chuyển số tiền này ra khỏi Công ty Tân Á đưa về căn cứ Khu 9 được Ban Tài chính đặc biệt cùng các đơn vị trên đất Campuchia tổ chức thực hiện: Sáng ngày 11 tháng 4 năm 1970, toàn bộ khối tiền được rời khỏi kho Công ty Tân Á. Đồng chí Tư Cam đã khôn khéo đưa tiền lên hai chiếc xe chở đầy mắm dậy mùi, đã xuyên thủng mạng lưới phong tỏa của địch mà không mất tiền lệ phí. Chiều ngày 11 tháng 4 năm 1970, xe tiền ra khỏi thành phố Phnôm Pênh về tới vị trí tập kết an toàn. Chuyển tiền an toàn, ai cũng nhớ tới công ơn của bà con Việt kiều, của những người Hoa kiều tốt bụng và người dân Campuchia chân thực, cả những người đang đứng trong hàng ngũ địch vẫn đưa đường, che giấu cán bộ ta...
Về chuyến vận chuyển tiền này, đồng chí Năm Tấn đã viết trong hồi ký của mình như sau: "Khi xe vượt qua trạm gác thứ nhất tại sân bay Pôchentông là lúc trời nắng gắt. Bọn lính đang nghỉ ngơi sau khi ăn trưa. Sáu chiếc thùng phuy đặt dích dắc dọc theo đường. Bọn lính, đứa đứng đứa ngồi, súng dựng tựa bờ rào, không chú ý gì lắm. Tôi liếc nhìn kim đồng hồ tốc độ, thấy chỉ 60km/giờ. Đó là tốc độ khó lạng lách để tránh chướng ngại vật. Xe qua khỏi chiếc thùng phuy thứ hai, bọn lính mới ra hiệu cho xe dừng thì xe đã qua chiếc thùng phuy thứ tư rồi. Đồng hồ tốc độ lúc này đã nhích lên 70km/giờ. Xe qua khỏi sáu chiếc thùng phuy và vọt ra ngoài vùng lính gác. Tôi ngoái lại nhìn phía sau, thấy lính xách súng ra. Xe tăng nhanh tốc độ lên 80,90, rồi 100km/giờ. Bọn chúng bắn theo nhưng đã muộn. Tôi rất hồi hộp, chắc trên xe ai cũng vậy. Chặng gác thứ hai nằm tại ngã ba Lộ Tẻ. Nếu rẽ tay phải, chạy tới Kam-pốt qua Kông-pông Trach ra bãi biển Kep. Rẽ trái thì đến huyện Tà Ni, Tuk Meas, cũng tới Kông-pông Trach được. Điểm gác thứ hai không có nhà cửa, địch đưa xe nhà binh tới đậu trên lề đường làm trạm. Đoạn đường ở trạm gác này cong nên từ phía xe nhà binh đậu nhìn ngược lại không thấy được xe chúng tôi. Khi xe tới, một tên lính cầm súng nhảy ra đường, định chặn xe lại, trong lúc tốc độ của anh Mười đã là 100km/giờ. Thằng lính phải nhảy lùi lên lề đường như bị xô mạnh. Không biết tụi nó có bắn chác gì không vì xe chạy nhanh quá, không nghe thấy gì hết. Tới Tuk Meas, nhìn bên lề tay trái có một nhánh cây. Chúng tôi biết là điểm hẹn nên dừng xe lại. Lực lượng anh Sáu Đặc ra đón chúng tôi thật vui và hối thúc chúng tôi đi nhanh rời khỏi chỗ này. Chúng tôi xuống xe, theo anh em vào trong xóm, xa con lộ". Ban Tài chính đặc biệt ở Tuk Meas, thuộc vùng Đông arn Campuchia. Ngày 3 tháng 5 năm 1970, Ban Kinh tài cử đồng chí Ba Dũng xuống nhận tiền, số tiền lớn, cả tiền Riel và đô la Mỹ được giấu trong một hang núi, ít ai từng bước tới. Giấu tiền xong trong đêm, cán bộ, chiến sĩ trong Ban Kinh tài ra ở nhờ nhà dân gần đó để canh phòng. Anh em lặng lẽ phân công nhau thức, ngăn không cho ai đến gần cửa hang. Để bảo đảm bí mật, che mắt mọi người anh em phải giả là người dân làm rẫy cạnh hang. Rạng sáng ngày hôm sau, lực lượng bảo vệ tiền được phân công: Bộ phận chuyên lo phòng không đề phòng máy bay địch phát hiện đánh phá; bộ phận theo sát hộ tống tiền; bộ phận bám bến sông Long Tiên, nơi có ghe thuyền chực sẵn để đón tiền và lực lượng áp tải. Sau khi xếp xong tiền, xe lập tức nổ máy, chạy ngay trên ruộng khô hãy còn chân rạ, vượt đồng trống giữa ban ngày, thẳng xuống bờ sông Long Tiên. Bộ phận hộ tống, chắc tay súng bám theo xe, quyết tử để bảo vệ tiền. Lực lượng vũ trang miền Tây Nam Bộ của đồng chí Sáu Đặc và đồng chí Bảy Lúa bố trí bảo đảm an toàn đưa tiền qua sông, chuyển tiếp về Ban Kinh tài Trung ương Cục. Chỉ 2 ngày sau, yểm trợ cho chính quyền Lon Non, quân ngụy Sài Gòn mở trận càn lớn, tiến sâu vào đất Campuchia, quét qua vùng Tuk Meas, nơi mà ta vừa giấu tiền. Sau khi giao tiền xong cho đại diện Ban Kinh tài Trung ương Cục, đồng chí Mười phụ trách một đoàn theo Sư đoàn Bộ binh 1 hành quân ngược từ biên giới lên Đông Nam Campuchia, trong lúc quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn rnở rộng chiến tranh sang Campuchia. Quân ta đi tới đâu đều nhận được sự giúp đỡ của nhân dân Campuchia và cơ sở cách mạng của bạn. Từ Kông-pông Trach, Đoàn xuyên qua Kông-pông Spư, cuối cùng dừng lại phum Hòa Bình dưới chân dãy núi Sre-chen (Tây Nam Campuchia). Cùng thời gian, đồng chí Năm Tấn trở lại hoạt động ở khu vực sông Tiền. Đây là một địa bàn rất cơ động, giáp với Đường số 1, nối liền Gò Dầu (Tây Ninh) với Phnôm Pênh qua phà Niêc Lương và giáp với đường sông nổi Tân Châu (Châu Đốc) với cảng Phnôm Pênh, chảy ngang qua Niêc Lương, cách Phnôm Pênh 60km. Vùng này phần đông dân cư là Việt kiều và Hoa kiều. Nhiệm vụ đầu tiên của đồng chí Năm Tấn là tạo thế đứng công khai và xây dựng đơn vị tài chính mang phiên hiệu là 170. Tháng 10 năm 1970, đơn vị 170 khôi phục chuyển tiền Sài Gòn và tiền Riel qua hai nước Việt Nam và Campuchia thông qua hệ thống thương nhân Hoa kiều ở Phnôm Pênh và Sài Gòn. Nguồn tiền Sài Gòn và tiền Riel được chế biến tại Phnôm Pênh phải vận chuyển ra khu giải phóng nên khâu đầu tiên là phải đổi thành tiền giấy có giá trị lớn. Sau đó số tiền lớn được ngụy trang, bảo đảm an toàn đưa đến Hố Lương (Campuchia) và Tân Châu (Việt Nam), rồi vận chuyển xuyên qua vùng địch kiểm soát, vùng xen kẽ, tới vùng giải phóng một cách linh hoạt tránh bị địch theo dõi phat hiện. Khi đi bằng đường bộ thì có thể giấu tiền vào hàng thông thường. Trường hợp đi đông người thì chia nhau mang như bạn hàng đi buôn chuyến. Để không bị xét hỏi dọc đường, nhiều lúc ta đi bằng xe quân sự của địch. Khi vào khu phóng, không có đường bộ thì sử dụng ghe, thuyền có ngăn bí mật. Lúc địch kiểm soát gắt gao thì sử dụng thùng đạn đại liên đựng tiền rồi treo dưới sườn ghe, thuyền. Để tránh trường hợp địch dùng đoạn dây kéo từ mũi ghe đến lái, ta đóng thêm miếng cao su dưới lườn ghe, thuyền bọc thùng đạn làm dây kiểm tra khi đi qua cũng không bị vướng, địch không phát hiện được. Nhưng dù thay đổi cách ngụy trang nào, biện pháp bảo đảm an toàn nhất vẫn là tổ chức mạng lưới canh gác báo tin: Phải bố trí người bán thuốc lá, bán cà phê ngồi gác tại các trạm, canh chừng và liên lạc với các ghe lên xuống để nắm chắc thời điểm nào nên chờ hay nên đi, lợi dụng sơ hở của lính gác dọc theo bờ sông để ngăn ngừa được tai nạn. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 08:07:59 pm Giữa năm 1970, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập hai đoàn hậu cần 500 và 770 với chức năng, tổ chức như các đơn vị hậu cần chiến lược:
Đoàn hậu cần 500 hoạt động vùng Biển Hồ thuộc địa bàn các tỉnh Xiêm Riệp, Bát-tam-bang, Kông-pông Chnăng, Kông-pông Thơm. Ban Chủ nhiệm Đoàn có các đồng chí: Võ Phát (Tư Võ) - Đoàn trưởng, Tư cẩm - Chính ủy, Sáu Hương - Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Quân số của Đoàn trên 3.000 người, được chia thành bốn cánh hậu cần C52, C54, C56 và C60 làm nhiệm vụ thu mua lương thực thực phẩm trên đất Campuchia cung cấp cho các hướng và các đơn vị chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ. Cơ quan Đoàn bộ đóng tại Bumg Dồn, Bến Kết. Đoàn hậu cần 770, tổ chức tương đương cấp lữ đoàn, quân số 3.377 người. Đoàn đứng chân trên địa bàn tỉnh Stung Treng, có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí chi viện của Trung ương chuyển ra chiến trường Tây Nguyên. Để tiếp nhận vũ khí, Đoàn có một tiểu đoàn tiếp nhận đường sông (đóng tại ô Long), một đại đội tiếp nhận đường bộ đóng gần cầu Stung Treng và một xưởng bao gói đạn. Đoàn đứng chân tại Stung Treng, là đầu cầu tiếp nhận sự chi viện của Trung ương cho chiến trường Nam Bộ qua tuyến 559, đồng thời cung cấp lương thực thực phẩm thu mua được ở Campuchia cho chiến trường Nam Tây Nguyên và Đoàn 559. Ban Chủ nhiệm của Đoàn gồm các đồng chí: Trần Minh - Đoàn trưởng, Ba Bao - Chính ủy, Nguyễn Văn Soái - Đoàn phó. Ở miền Đông Nam Bộ, các đoàn hậu cần 81, 83 và 84 cùng một bộ phận Đoàn hậu cần 82 vẫn bám trụ phục vụ tác chiến. Hậu cần tỉnh Tây Ninh, tỉnh Long An và hai khu Y4, T10, có bộ phận lên biên giới Campuchia - Việt Nam để khai thác thêm lương thực thực phẩm và các mặt hàng khác. Tuyến vận tải hoạt động dọc theo tuyến sông Mê Kông từ Kông-pông Chàm lên Stung Treng, khi đi trả hàng tại các bên Sơ Lông, Kra-chê, Xăm Bô, Stung Treng, khi về chở hàng chi viện của Trung ương trả tại bến Kra-chê, về sau hàng về nhiều có thêm bến Sơ Lông phục vụ tiếp nhận hàng. Trước tình hình xe, máy, nguyên vật liệu bị tổn thất do địch đánh phá và lấy đi lên đến 26% (1.416 tấn), Cục Hậu cần Miền chỉ thị cho các đơn vị ngoài việc lấy hàng chôn giấu, phải tìm kiếm vật tư. Các đội xe K1, K2 và Xưởng Z58 sửa chữa được 15 xe, thu thêm ba xe, sáu tấn vật tư phụ tùng ở Nhà máy giấy Sơ Lông và sân bay Kra-chê. Đoàn hậu cần 500, vận động hai thợ Việt kiều và thuê thêm 10 thợ tổ chức đi tháo phụ tùng ở các xe hỏng, lấy phụ tùng xe ở các gara ô tô của sở cao su nên chỉ trong 7 ngày đã khôi phục được 10 xe và trong tháng 7 sửa chữa thêm 12 xe. Ở Mi Mốt, ta thu được 30 tấn vật tư nhưng bị bom đánh hỏng chỉ dùng được 10 tấn, thu ở Bến Kết được 31 tấn vật tư (trong đó, có hai máy kéo, một xe Zeep), Sư đoàn Bộ binh 9 bàn giao 24,9 tấn chiến lợi phẩm. Riêng Xưởng Z1 thu được 65 tấn nguyên liệu và máy móc, Xưởng P42 thu được 60 tấn vật tư. Quy ra tiền số lượng thu được của hai xưởng Z1 và P42 trị giá 9 triệu Riel, ở Đoàn hậu cần 200, chỉ huy Đoàn phải lo chạy gạo từng bữa, nhưng nhờ nhân dân Campuchia giúp đỡ nên không bị đói. Khi Đoàn cho người đi khảo sát quanh căn cứ, phát hiện có nhiều vật tư, máy móc, nhất là ở Trường Đại học Ta-keo - Kam-pốt, có rất nhiều vật tư, máy móc còn mới. Chỉ huy Đoàn đã nhanh chóng tổ chức thu gom đưa vào sử dụng. Đoàn hậu cần 500 có lực lượng vận tải mạnh. Đội xe V92 của Đoàn hoạt động trên tuyến Kông-pông Thơm đi Bến Kết. Đội máy kéo chở hàng từ Xiêm Riệp ra sông Sên. Đội tàu V96 chờ hàng từ Bát-tam-bang ra Biển Hồ vào sông Chi Nít, rồi chở gạo, vũ khí từ Kông-pông Thơm qua Kông-pông Spư cho Đoàn 367. Đội tàu B97 chở gạo từ Biển Hồ vào sông Sên. Đội xe V94 vận chuyển hàng từ C52 và C54 đến binh trạm của Đoàn 559. Đơn vị xe của hai đoàn hậu cần 82 và 50 hoạt động trên địa bàn phía Đông sông Mê Kông, từ Chúp đi Tà Bao, Đầm Be, Mi Mốt, Sa Lang 3. Đại đội xe của Đoàn 100, hoạt động trên tuyến đường từ Chúp đi Ti-flơn, Svây Riêng làm nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị hoạt động ở khu vực Prây Veng và Svây Riêng và chuyển hàng về miền Nam. Từ đầu mùa mưa năm 1970, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ đạo rút một bộ phận lực lượng vũ trang trong chiến trường Nam Bộ sang Campuchia. Trong tình hình mới, Quân ủy Miền quyết định xây dựng các quân khu căn cứ để tạo thế bố trí mới, phù hợp cho lực lượng vũ trang. Hậu cần Miền đã nhanh chóng điều chỉnh tổ chức, bố trí lại các lực lượng hậu cần. Khi đại bộ phận lực lượng chủ lực Miền sang đứng chân chiến đấu ở Campuchia, phần lớn lực lượng hậu cần Miền cũng được chuyển sang hoạt động ở Campuchia; chỉ để lại một số căn cứ và bộ phận lực lượng hậu cần bám trụ ở các địa bàn trọng yếu ở miền Nam. Trên đất Campuchia, dựa vào lực lượng các đoàn hậu cần khu vực và các đơn vị biên phòng, đường dây, đoàn an dưỡng... Bộ Tư lệnh Miền tổ chức năm khu căn cứ hậu phương, gồm cả lực lượng chiến đấu và lực lượng hậu cần, được gọi là "Quân khu căn cứ". Quân khu căn cứ C10 gồm hai đoàn hậu cần 86 và 70, đơn vị 90 đường dây đứng trên địa bàn hai tỉnh Kra-chê và Môn-đôn-ki-ri. Quân khu căn cứ C20 gồm hai đoàn hậu cần 82 và 50, bộ đội biên phòng, bộ đội đường dây trụ trên địa kàn phía đông tỉnh Kông-pông Chàm. Quân khu căn cứ 30 gồm Đoàn 100 cùng một bộ phận Đoàn hậu cần 82, bộ đội biên phòng, bộ đội đường dây đứng trên địa bàn phía đông hai tỉnh Svây Riêng và Prây Veng. Quân khu căn cứ C40 gồm các trung đoàn độc lập của Bộ Tư lệnh Miền cùng bộ phận hậu cần nằm trên địa bàn các tỉnh ven Biển Hồ. Quân khu Phước Long gồm Đoàn hậu cần 200, Sư đoàn Bộ binh 1 nằm trên địa bàn ba tỉnh Ta-keo, Kam-pốt, Kông-pông spư. Tháng 7 năm 1970, căn cứ các quân khu cơ bản bố trí xong. Các quân khu căn cứ và ba đoàn hậu cần khu vực 770, 340, 500 có nhiệm vụ cùng với Campuchia xây dựng và bảo vệ địa bàn, đồng thời làm chức năng của đoàn hậu cần khu vực. Các quân khu căn cứ và đoàn hậu cần khu vực triển khai trên khắp các vùng giải phóng Campuchia, liên hoàn với nhau bằng hệ thống các đường vận chuyển dọc và ngang, đường thủy (sông Mê Kông) và đường bộ, vươn ra nối liền với tuyến vận tải chiến lược 559 và phát triển về sát biên giới Campuchia - Việt Nam sẵn sàng vươn sâu về miền Nam Việt Nam. Các quân khu căn cứ và đoàn hậu cần khu vực của Miền đều tổ chức khai thác thu mua lương thực thực phẩm trong nhân dân ở các vùng giải phóng của Campuchia, tập trung nhất ở khu vực xung quanh Biển Hồ, tạo ra lượng dự trữ lớn, đủ bảo đảm cho trước mắt và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo của chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ; đồng thời, chi viện một phần cho chiến trường Tây Nguyên và tuyến 559. Với những biện pháp khôn khéo, táo bạo đã thu mua được từ vùng địch chiếm (chủ yếu từ Phnôm Pênh) xăng dầu, trang thiết bị, hàng công nghệ, hàng quân trang, quân dụng, thuốc quân y... để bảo đảm cho lực lượng tác chiến. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 08:09:00 pm Sau khi tiến công giải phóng vùng Đông Bắc Campuchia, các đơn vị vũ trang Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ tiếp tục phối hợp với lực lượng cách mạng của bạn tiến công tiêu diệt nhiều căn cứ quan trọng của quân ngụy Lon Non ở Phnôm Pênh, Xiêm Riệp, Kông-pông Thơm... Trước những diễn biến nhanh của tình hình, Trung ương Cục, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ thị các đơn vị đẩy mạnh tiến công địch trên hai chiến trường cả ở nội địa và sáu tỉnh Campuchia. Trọng điểm là trên tuyến hành lang chiến lược vùng tiếp giáp biên giới Đông Bắc Campuchia. Thực hiện chỉ thị, Cục trưởng Cục Hậu cần Miền yêu cầu các đơn vị đẩy mạnh công tác tăng gia tự túc, thu mua hàng hóa, lương thực thực phẩm ở các quân khu căn cứ và tổ chức mạng lưới giao thông và hoạt vận tải của Miền trong mùa khô 1970 - 1971, nêu rõ phương thức vận tải thô sơ để vận chuyển hàng hóa, vũ khí trang bị đến các chiến trường. Cụ thể, về tổ chức mạng lưới giao thông, Đoàn hậu cần 770 đảm nhiệm tiếp nhận hàng hóa vũ khí và phải đảm bảo thông suốt tuyến vận chuyển chiến lược từ Stung Treng về Kra-chê, chuyển giao cho Đoàn hậu cần 340 đưa vào chiến trường nội địa. Đoàn hậu cần 500 và hai quân khu căn cứ C20, C40 tích cực mở các tuyến đường thồ, khai thác đường vận tải thủy để vận chuyển hàng hóa, khí cung cấp cho các đơn vị.
Từ biên giới Campuchia vào chiến trường Nam Tây Nguyên và Nam Bộ, thực hiện nghị quyết của Trung ương Cục về tổ chức hệ thống giao thông vận tải chiến trường, từ tháng 10 năm 1970, Cục Hậu cần Miền đã chỉ đạo ba tiểu đoàn 274, 276 và 739, lực lượng công binh của Miền và công binh của các đoàn hậu cần mở đường hình thành ba tuyến vận tải đường bộ theo trục ngang. Để đảm bảo cho công tác hậu cần được nhanh chóng, kịp thời, tháng 7 năm 1970, Bộ Tư lệnh Miền tăng cường lực lượng cho hai đoàn hậu cần 500 và 770 làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng hóa, lương thực từ hậu phương miền Bắc, thu mua hàng quân nhu từ Campuchia cho các đơn vị Quân Giải phóng hoạt động ở Campuchia và trên chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ. Đoàn hậu cần 770 quân số tăng lên 3.377 người, tổ chức thành năm cánh vận chuyển đi năm hướng: Hướng 1 vận tải bộ từ Stung Treng đi Kra-chê; hướng 2 vận tải thủy từ Stung Treng đi theo sông Sê-rê-pốc về Nam Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ; hướng 3 vận tải thủy theo sông Mê Kông đến Stung Treng; hướng 4 từ Stung Treng đến Kra-chê; hướng 5 từ Kra-chê theo Đường số 13 về khu vực huyện Lộc Ninh (Bình Long), huyện Tân Biên (Tây Ninh). Đến cuối năm 1970, về cơ bản mạng lưới đảm bảo hậu cần của Quân giải phóng trên chiến trường Campuchia được tổ chức lại phù hợp với điều kiện mới của chiến trường. Theo đó, chuyển các đường vận tải vào trong nội địa của Campuchia, tận dụng đường bộ đã có từ trước và các tuyến đường sông ở các tuyến đường vận tải chiến lược vận chuyển hàng hóa từ vùng biên giới ba nước vào vùng Đông Bắc Campuchia, sau đó tổ chức vận chuyển vượt biên giới Campuchia - Việt Nam về chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, về sau hoạt động vận tải quân sự của ta từ vùng biên giới ba nước vào chiến trường Nam Bộ gặp rất nhiều trở ngại do địch liên tục đánh phá, chặn cắt cả trên tuyến vận tải bộ và tuyến vận tải thủy. Bị địch ngăn chặn, phong tỏa đường vận chuyển lương thực, vũ khí từ biên giới vào nội địa, lực lượng vũ trang bám trụ chiến đấu ở chiến trường gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Đã có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, cơ sở cách mạng hy sinh trong các đợt tìm đường vận chuyển, hoặc vào "ấp chiến lược" mua lương thực tiếp tế cho các đơn vị. Trước những khó khăn gay gắt về công tác đảm bảo hậu cần, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tăng cường lực lượng tiếp nhận, thu mua, vận chuyển lương thực, hàng hóa, vũ khí từ Campuchia vào chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tháng 12 năm 1970, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Đoàn hậu cần 340, đơn vị đứng chân tại Kra-chê, thực hiện thu mua lương thực, hàng hóa và tiếp nhận hàng hóa của Đoàn hậu cần 500. Nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí và con người từ miền Bắc vào do Đoàn hậu cần 770 thực hiện trên đất Campuchia, sau đó đưa về nước giao cho Đoàn hậu cần 200 tại Bù Gia Mập (Phước Long) và Đoàn hậu cần 220 tại Tân Biên (Tây Ninh); đồng thời, tiếp nhận thương bệnh binh từ chiến trường đưa ra bàn giao cho Đoàn hậu cần 770. Năm 1972, khi Đoàn hậu cần 770 chuyển về Môn-đôn-ki-ri, Đoàn hậu cần 340 trở thành đoàn hậu cần trung tâm tiếp nhận hàng nằm bên đất Campuchia. Đoàn hậu cần 340 gồm lực lượng của Cánh hậu cần C300 thành lập sau ngày Lon Non làm đảo chính ở Campuchia, sáp nhập với lực lượng Cánh hậu cần C400 phụ trách các tàu sông của Đoàn hậu cần 17 (Công ty Hiệp Lợi) do đồng chí Nguyễn Quang Thu làm Đoàn trưởng và đồng chí Hoàng Bằng làm Chính ủy. Quân số của Đoàn hậu cần 340 lúc mới thành lập có 1.717 cán bộ, chiến sĩ, sau đó tăng lên 4.189 người. Đoàn tổ chức bốn cánh thu mua hàng: Cánh 1 tại Kra-chê, Cánh 2 tại Tà Bao, Cánh 3 tại Suông và Chúp, Cánh 4 ở Nam sông Cần Tút. Về lực lượng mở đường và vận tải, Đoàn có một tiểu đoàn công binh cầu đường, ba tiểu đoàn vận tải (một tiểu đoàn vận tải đường sông mang tên Trường Sơn có 40 tàu các loại, một tiểu đoàn ô tô vận tải, một tiểu đoàn xe thồ có từ 150 đến 180 xe). Về lực lượng giao liên, Đoàn tổ chức năm liên trạm nối thông từ Stung Treng về đến Kra-chê, rồi chia thành hai tuyến về Lộc Ninh (Bình Long) và Xa Mát (Tây Ninh): Liên trạm 5 phụ trách phía Đông Đường số 13 (sau chuyển bằng đường sông nên bỏ liên trạm này); Liên trạm 6 tại Kra-chê; Liên ừạm 7 phụ trách đưa đón khách theo đường sông; Liên trạm 11 đưa dẫn khách từ bến sông Sơ Lông theo Đường số 13 đến vùng biên giới tiếp giáp huyện Lộc Ninh; Liên trạm 12 từ bến sông Sơ Lông theo Đường số 13, Đường số 7 về biên giới giáp huyện Tân Biên (Tây Ninh). Thời gian đầu, hoạt động thu mua, tiếp nhận và vận chuyển hàng hóa của Đoàn hậu cần 340 gặp nhiều khó khăn, nhất là phải vượt qua các cung chặng đường sông. Nhiều chuyến tàu, thuyền chở hàng bị địch phát hiện đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ vận tải hy sinh, hàng hóa bị thiệt hại nặng. Nhằm tăng cường năng lực vận chuyển và tránh tổn thất lớn, cán bộ, chiến sĩ Đoàn đã xây dựng hệ thống đèn báo tín hiệu trên sông dọc theo cung chặng vận chuyển. Mỗi khi có máy bay địch thì hệ thống đèn tắt, tàu thuyền vận tải tránh, dạt vào ven bờ; khi có tín hiệu đèn lại tiếp tục chạy. Đường vận tải bộ cũng bị địch đánh phá liên tục, nhất là những nơi có cầu đi qua. Lực lượng công binh của Đoàn nêu cao quyết tâm, bắc 100 cầu các loại để đảm bảo cho vận tải hàng hóa được thông suốt. Ngoài ra, cán bộ, chiến sĩ công binh còn bắc cầu treo, cầu phà tời hàng qua sông cần Tút, sông Sơ Long để xe chở hàng có thể qua lại dễ dàng1 (Trong 2 năm 1971 - 1972, Đoàn hậu cần 340 đã thu mua được 52.431 tấn hàng (chủ yếu là lương thực); tiếp nhận, vận chuyển 88.549 tấn hàng cho 81 đoàn hậu cần 210 và 220; tiếp nhận đưa 22.104 cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ; nuôi dưỡng và điều trị 11.915 thương bệnh binh). Quyết định thành lập Đoàn hậu cần 340 thực hiện nhiệm vụ thu mua, vận chuyển, cấp phát hàng hóa cho các hướng trọng điểm của chiến trường không những đã giải quyết được những khó khăn lớn về đảm bảo hậu cần cho lực lượng vũ trang đang hoạt động trong nội địa, mà còn có ý nghĩa quan trọng là ta đã mở thông suốt tuyến hành lang chiến lược từ hậu phương miền Bắc qua vùng Đông Bắc Campuchia tiến vê các trạm cuối ở biên giới các tỉnh Đông Nam Bộ. Tiêu đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 21 Tháng Chín, 2026, 08:11:39 pm 3. Đẩy mạnh hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia bảo đảm cho các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ năm 1971
Đầu năm 1971, địch mở cuộc "Hành quân Toàn thắng 1.71" đánh vào khu vực Đông Bắc Campuchia. Để đánh bại cuộc hành quân của địch, bảo vệ kho tàng và tuyến hành lang vận chuyển của ta, Quân Giải phóng Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở Chiến dịch Đông Bắc Campuchia (4.2 - 31.5.1971). Lực lượng địch tham gia cuộc hành quân gồm ba sư đoàn bộ binh 3,18 và 25, Lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp 3, Liên đoàn Biệt động quân 3, lực lượng đặc nhiệm hải quân ngụy Sài Gòn, 12 tiểu đoàn pháo (có 216 khẩu từ 105 - 175mm), năm thiết đoàn gồm hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp. Ngoài ra, đế quốc Mỹ còn huy động năm tiểu đoàn bộ binh quân ngụy Lon Non và một lực lượng lớn không quân chi viện. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có ba sư đoàn bộ binh (5,7,9), hai trung đoàn pháo binh 75 và 96, một trung đoàn đặc công, một trung đoàn công binh, ba đại đội độc lập 10, 20 và 30. Chỉ huy chiến dịch ban đầu do Bộ Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ huy, sau Đợt 1 (4.3.1971) thành lập Bộ Tư lệnh Tiền phương trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Để tiến hành công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh Miền xác định: Đường số 7 là tuyến đường ngắn nhất nối Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đi qua hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên, dài 181km nối với Campuchia, Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan. Đây cũng là trục đường thứ hai trong vùng Bắc Tây Nguyên đi Đường số 1A, Đường số 14 và đi Đắk Lắk tại ngã ba Chư Sê. Địa hình hoạt động hầu hết là vùng giải phóng, đường giao thông đi lại thuận lợi, nhất là đang trong mùa khô xe cơ giới tham gia vận chuyển tốt. Địa hình khu vực Tây Đầm Be, đồn điền Chúp và hướng Snuôl có cánh đồng trống xen kẽ với rừng, tiện cho việc trú quân. Riêng Đường số 22, có cánh đồng trống ở ngã ba Pra-thiet, Suông và Chúp nên mọi hoạt động về vận chuyển phải tiến hành vào ban đêm. Khu vực chiến dịch, cư dân cư trú đông đúc, nhất là ở Chúp có Việt kiều là công nhân cao su ở các làng 13, 87, Núi... Vùng giải phóng nhân dân được tuyên truyền giác ngộ cách mạng nên đã tích cực giúp đỡ bộ đội nắm tình hình, vận chuyển tiếp tế, có thể huy động nhân lực, phương tiện giúp chiến dịch, nhất là ở khu vực Đầm Be, Suông, Chúp. Chỉ riêng khu vực Snuôl dân ít, ở phân tán nên việc huy động có hạn chế. Mặt khác, thời gian tác chiến ở khu vực này vào đầu tháng 5 năm 1971 là thời điểm đầu mùa mưa nên công tác vận chuyển, bảo đảm ăn, ở cho bộ đội gặp nhiều khó khăn. Để đảm bảo cho chiến dịch phản công thắng lợi, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ đạo các đoàn hậu cần 500, 770, 340 và các quân khu căn cứ tích cực thu mua lương thực thực phẩm, hàng hóa đảm bảo cho bộ đội sử dụng đủ trong 6 tháng; củng cố và giữ vững tuyến đường vận chuyển chiến lược từ Stung Treng đến Kra-chê, tiếp nhận cung cấp đảm bảo đủ vũ khí đạn và trang bị cho các đơn vị trong quá trình tiến hành chiến dịch. Từ cuối năm 1970, các tiểu đoàn công binh 274, 276, 278 và 739 của Miền đã tích cực sửa chữa cầu đường khai thông tuyến vận chuyển từ Stung Treng đến K-ra-chê và từ Stung Treng đến Binh trạm 51 của Sư đoàn khu vực 470. Để nhanh chóng thông đường phục vụ chiến dịch, các tiêu đoàn công binh cầu đường tuy chưa có phương tiện cơ giới, chỉ có dụng cụ cầm tay như dao, cưa, cuốc, xẻng nhưng đã nỗ lực cố gắng rất cao, bám đường, bám cầu đảm bảo cung đường dài gần 400km, vượt qua nhiều sông suối, đèo dốc, đêm ngày máy bay địch liên tục đánh phá. Để giải quyết những khó khăn về kỹ thuật cầu đường, các tiểu đoàn công binh vừa tổ chức làm đường vừa tổ chức cho đơn vị học tập kỹ thuật chống lầy, kỹ thuật bảo đảm nền đường cho xe tăng, xe kéo pháo lớn có thể cơ động trên đường quân sự làm gấp, kỹ thuật làm bến ghép phà, bắc cầu phao bằng thuyền, bằng bè tre nứa, bằng phuy xăng. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, chỉ trong 1 tháng, Đại đội Kỹ thuật K15 thuộc Tiểu đoàn Công binh 739 đã tự thiết kế đóng được một chiếc phà trọng tải 20 tấn; tiếp đó, trong vòng 9 tháng, đơn vị đã đóng mới được ba chiếc phà trọng tải 30 tấn, vận chuyển người, phương tiện vượt sông Sê San. Những nỗ lực của các đơn vị công binh cầu đường đã tạo điều kiện cho lực lượng vận tải cơ giới của Miền hoàn thành kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch. Trong hơn 1 tháng, Tiểu đoàn Vận tải thuộc Đoàn hậu cần 340 đã tiếp nhận vận chuyển hơn 100 tấn vũ khí, lương thực xuống Nam Đường số 7 giao cho các cánh hậu cần của hai quân khu căn cứ C20 và C30. Đến cuối tháng 1 năm 1971, lực lượng vận tải cơ giới, vận tải bộ của hai đoàn hậu cần 770 và 340, hai quân khu căn cứ C20 và C30 đã vận chuyển được 2.500 tấn lương thực thực phẩm, 350 tấn đạn, hơn 30 tấn thuốc và dụng cụ cứu thương, đảm bảo đủ cho các đơn vị của Miền thực hiện đánh địch trong 3 tháng. Bộ đội trước khi vào chiến dịch được cấp bổ sung lương khô, đường, sữa, trà, kẹo từ miền Bắc chuyển vào; tuy số lượng không nhiều, nhưng món quà tinh thần đó có ý nghĩa động viên to lớn và tạo niềm tin vào thắng lợi trong cán bộ, chiến sĩ. Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, Sư đoàn khu vực 470 đã triển khai một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh sẵn sàng chiến đấu ở khu vực biên giới ba nước; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa từ Stung Treng ngược ra vùng biên giới ba nước, cung cấp cho các đơn vị đang trực tiếp tham gia chiến dịch. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn Sư đoàn phát động phong trào thi đua đánh địch và thi đua vận chuyển vượt cung, tăng chuyến. Bằng những nỗ lực huy động các loại phương tiện tổ chức vận chuyển cả đêm ngày nên trong 1 tháng, các binh trạm 50, 51 và 37 đã hoàn thành tốt kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch. Các kho hàng của Sư đoàn ở Sê Sụ, ngã ba Phi Hà luôn đây hàng hóa, kịp thời cung cấp cho các đơn vị đang thực hiện đánh địch. Căn cứ vào ý định phản công của Bộ Tư lệnh Miền, trong giai đoạn chuẩn bị, hậu cần chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tiến hành lập kế hoạch, chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bổ sung theo phương án đánh địch, bảo đảm hậu cần được bố trí theo khu vực căn cứ, trong mỗi khu vực có hệ thống kho dự trữ vật chất, bệnh xá... và có lượng dự trữ chiến đấu (lương phía trước trực tiếp bảo đảm cho các hướng tác chiến như: Điều chỉnh bố trí lại các cánh hậu cần của ba quân khu căn cứ C10, C20 và C30. Bảo đảm cho hướng chủ yếu khu vực các đường số 22 và 7 (Chúp, Suông, Krếch, Mi Mốt). Sử dụng bốn cánh hậu cần của Quân khu căn cứ C20 (Cánh 1 bố trí ở Cha-lãng, Bắc Đường số 7; Cánh 2 bố trí ở Đông Đầm Be, Đường số 75; Cánh 3 bố trí ở Tây Đầm Be; Cánh 4 bố trí ở khu vực Móc Câu, Nam Đường số 7) và hai cánh của Quân khu căn cứ C30 (Cánh 1 bố trí ở khu vực Kôm Chai Mia, Đường số 7, Tây Đường số 22; Cánh 2 bố trí ở khu vực Bình Cheng, Tây Đường số 15). Tại Svây Riêng còn hai cánh của Quân khu căn cứ C20 triển khai ở phía Nam và phía Bắc Đường số 1. Bảo đảm cho hướng thứ yếu ở khu vực Đường số 13 - Snuôl, sử dụng hai cánh của Quân khu căn cứ C10 (Cánh 1 ở Đông Snuôl; Cánh 2 ở Đông Bắc Snuôl). Khu vực kế cận triển khai các cánh của Đoàn hậu cần 340 ở phía Đông sông Mê Kông từ Bến Kết tới Kra-chê, phía sau hai quân khu căn cứ C20 và C10 để sẵn sàng chi viện. Hai đoàn hậu cần 500 và 770 được nối liền với tuyến 559. |