|
Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:58:46 pm - Tên sách: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân - Năm xuất bản: 2002 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory LỜI NÓI ĐẦU Trong chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" năm 1972, Sư đoàn bộ binh 7 được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ: luồn sâu chia cắt, chốt chặn chiến dịch dọc theo đường 13 từ cầu Cần Lê xuống bắc Chơn Thành kiên quyết tiêu diệt quân tiếp viện cũng như quân tháo chạy. Thực hiện tư tưởng là "chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày, không cho xe dưới lên, trên xuống". Đồng thời vận dụng linh hoạt cách đánh, kết hợp tốt giữa phòng ngự và tiến công, đánh thiệt hại nặng quân địch buộc chúng phải rút chạy khỏi khu vực tác chiến. Vì vậy, gần 150 ngày đêm địch tập trung lớn lực lượng bộ binh, bộ binh cơ giới, thiết giáp - xe tăng, pháo binh, máy bay,... nhằm giải tỏa đoạn đường dài 20km từ Tàu Ô đến nam Chơn Thành để tiếp viện cho thị trấn An Lộc (Bình Long). Nhưng chúng không thể vượt qua được trận địa chốt chặn của Sư đoàn 7. Chiến thắng trong chốt chặn đường 13 (Tàu Ô - Binh Long) của Sư đoàn bộ binh 7 đã góp phần chặn địch và tiêu hao địch về mặt chiến dịch tạo thế thuận lợi cho chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" giành thắng lợi. Đặc biệt là góp phần giữ vững hai huyện Lộc Ninh và Bù Đốp mới được giải phóng. Năm 1988, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức tổng kết lại chiến dịch Nguyễn Huệ, rút ra những vấn đề về nghệ thuật chiến dịch, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, việc tổng kết chiến dịch Nguyễn Huệ còn phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung làm rõ thêm về ý nghĩa và tầm vóc của thắng lợi đó, cũng như nghệ thuật tổ chức, phương pháp chiến đấu giữa tiến công và phòng ngự; phòng ngự và tiến công để rút ra những bài học thiết thực đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực hiện công văn số 407/CV ngày 14 tháng 9 năm 2001 gửi Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, công văn số 579/CV ngày 18 tháng 12 năm 2001 gửi Tỉnh ủy Bình Dương, Tỉnh ủy Bình Phước của Tư lệnh Quân đoàn 4 và kế hoạch số 533/KH ngày 20 tháng 12 năm 2001 của Phó tư lệnh - TMT Quân đoàn 4. Ngày 14 tháng 6 năm 2002, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 phối hợp với tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước tổ chức cuộc hội thảo khoa học: "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Hội thảo đã nhận được nhiều bài tham luận quí của các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, của các nhân chứng và các nhà nghiên cứu lịch sử. Nội dung các bài tham luận đã tập trung làm rõ thêm về tổng quan chiến dịch Nguyễn Huệ, diễn biến chốt chặn trên đường 13 (Tàu Ô), làm rõ thêm vấn đề về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật, rút ra những bài học kinh nghiệm trong tổ chức, chỉ huy, bố trí, sử dụng lực lượng, vận dụng cách đánh, công tác lãnh đạo, chỉ đạo... đề xuất những vấn đề nghiên cứu có thể vận dụng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" năm 1972, 36 năm thành lập Sư đoàn bộ binh 7 (13-6-1966 - 13-6-2002) và kỷ niệm 28 năm thành lập Quân đoàn 4 (20-7-1974 - 20-7-2002). Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 và Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước, được sự giúp đỡ của Viện Lịch sử Quân sự tổ chức tuyển chọn, nghiên cứu, biên soạn và xuất bản cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long" trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Do điều kiện thời gian ngắn và trình độ của những người thực hiện có hạn, chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình của các đồng chí và bạn đọc. Tháng 6 năm 2002 BAN BIÊN SOẠN Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:16:41 pm CHIẾN THẮNG TÀU Ô - BÌNH LONG TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972 Lời khai mạc của Thiếu tướng NGUYỄN NĂNG NGUYỄN Tư lệnh Quân đoàn 4 Kính thưa các đồng chí đại biểu về dự hội thảo! Tôi vui mừng và xúc động thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 nhiệt liệt chào mừng các đồng chí đại biểu, các cựu chiến binh Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, cơ quan bộ, các quân khu quân đoàn, viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường Quân đội, các cơ quan thông tấn, báo chí, đài phát thanh, truyền hình; đặc biệt là các vị đại biểu đại diện Đảng bộ chính quyền và nhân dân địa phương hai tỉnh Bình Phước và Bình Dương đã từng gắn bó máu thịt với cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng như trực tiếp phối hợp chiến đấu trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, đã về dự cuộc hội thảo lịch sử "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc. Kính thưa các đồng chí! Cuộc Hội thảo khoa học lần này, đúng vào dịp kỷ niệm 36 năm ngày thành lập Sư đoàn bộ binh 7 (13-6- 1966 - 13-6-2002), kỷ niệm 30 năm ngày quân và dân miền Đông Nam Bộ nổ súng tiến công cụm cứ điểm Xa Mát mở màn chiến dịch mang tên người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Và cũng là dịp hướng tới ngày kỷ niệm 28 năm thành lập Quân đoàn 4 (20-7-1974 - 20-7-2002). Nhân dịp này một lần nữa chúng ta tưởng nhớ anh linh các anh hùng liệt sĩ, các đồng chí, đồng bào đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, góp công to lớn vào thắng lợi của chiến dịch. Thưa các đồng chí! Đến đầu năm 1972, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chính quyền Ních-Xơn đã được thể nghiệm trên chiến trường miền Nam Việt Nam vừa được ba năm. Trong quãng thời gian đó, mặc dù bị ta tiến công và đánh trả quyết liệt, địch cũng đã giành được những lợi thế nhất định qua kết quả thực hiện chương trình "bình định", về phía ta, vùng giải phóng bị thu hẹp chiến trường bị chia cắt, bộ đội chủ lực bị dồn sang bên kia biên giới, bộ đội địa phương và dân quân du kích ngày càng bị giảm sút. Mặc dù vậy, cục diện chiến trường lúc này không phải chỉ có thuận lợi về phía địch. Nếu ở miền Nam ta tạm thời gặp khó khăn và bất lợi thì thế chiến lược chung của ta trên chiến trường ba nước Đông Dương lại phát triển thuận lợi hơn bao giờ hết. Nhất là dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền các đơn vị chủ lực của ta cùng lực lượng bạn đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn mang tên "Toàn thắng 1/71" của địch sang Cam-pu-chia đã góp phần làm cho tình hình cách mạng Cam-pu-chia phát triển vượt bậc. Bàn đạp chiến lược của ta ở hướng Tây Nam được củng cố và mở rộng, đồng thời phối hợp với các chiến dịch phản công ở Đường 9 Nam Lào và Tây Nguyên đã tạo được nhiều khu vực giải phóng rộng lớn bên kia dải Trường Sơn và đông bắc Cam-pu-chia. Hành lang chiến dịch Bắc Nam thông suốt, thế liên hoàn giữa ba nước Đông Dương phát triển tốt. Đặc biệt, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, do nhu cầu của cuộc chiến tranh, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã quyết định thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Miền, lấy mật danh là Đoàn 301. Lực lượng do Đoàn 301 trực tiếp chỉ huy có ba Sư đoàn 9, 7, 5 bộ binh và một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, phục vụ khác. Như vậy trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, một bộ chỉ huy và cơ quan tương đương cấp quân đoàn được thành lập. Đây là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng trong nhiều năm, được củng cố và phát triển đứng chân trên các bàn đạp chiến lược dọc biên giới, hình thành thế uy hiếp địch về mặt chiến lược từ phía tây xuống. Cùng với tác chiến trên chiến trường, cuộc đấu tranh về ngoại giao ở Hội nghị Pa-ri giữa ta và địch kéo dài gần bốn năm đang đi vào giai đoạn kết thúc. Thực tế trên đây đã đặt ra cho ta phải có những nỗ lực vượt bậc để đưa cuộc chiến tranh đi đến bước ngoặt có lợi. Về phía ta, Bộ Chính trị khẳng định: "Ta không đánh giá thấp những chỗ mạnh hiện nay của địch, không coi thường những khó khăn địch đã và còn gây cho ta, cũng như những khuyết điểm, nhược điểm của ta. Nhưng ta có cơ sở khẳng định rằng chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đã thất bại một bước nghiêm trọng và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Phương hướng lớn của Bộ Chính trị đề ra cuối năm 1971 và cả năm 1972 là "Mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam, đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, giành lại thế chủ động chiến lược trên chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền Nam và Đông Dương". Trên cơ sở đó, tháng 8 năm 1971 Bộ Chính trị ra nghị quyết: mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng như ở miền Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng. Từ bối cảnh trên đã phản ánh rõ tính tất yếu mở chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến lược khác trên toàn miền, trên cơ sở đó làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trên bàn Hội nghị Pa-ri. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:17:21 pm Kính thưa các đồng chí!
Từ ngày 1 tháng 4 năm 1972, khi ta nổ súng tiến công cụm cứ điểm Xa Mát trên hướng thứ yếu, nghi binh đường số 22, đến ngày 19 tháng 1 năm 1973, khi ta thực hiện trận đánh sau cùng tiêu diệt chiến đoàn 8 ở Dầu Tiếng, chiến dịch Nguyễn Huệ đã kéo dài gần 10 tháng liên tục chiến đấu với bao xương máu của đồng chí, đồng bào ta đổ xuống và cuối cùng thắng lợi đã được khẳng định bằng kết quả giành được về nhiều mặt, đáp ứng được yêu cầu của chiến lược đề ra. Với chiến dịch Nguyễn Huệ lần đầu tiên miền Đông Nam Bộ giải phóng được một vùng rộng lớn trên hướng chiến lược xung yếu bắc Sài Gòn, mở mảng, mở vùng ở bắc Bình Dương, uy hiếp cửa ngõ vào Sài Gòn. Đặc biệt với thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ, ta đã thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường miền Đông Nam Bộ, giành lại quyền chủ động chiến lược, tạo thế đứng chân vững chắc cho bộ đội chủ lực Miền ở chiến trường miền Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc, đẩy được phong trào chiến tranh nhân dân phát triển cao hơn trước. Đối với Quân đoàn 4, mặc dù đến ngày 20 tháng 7 năm 1974 mới được thành lập, nhưng tiền thân của Quân đoàn lại chính là Đoàn 301. Do vậy, thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ do Đoàn 301 tổ chức chỉ huy cũng là thắng lợi của Quân đoàn 4. Có thể nói từ chiến dịch Nguyễn Huệ đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm để Quân đoàn 4 giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long sau này. Kính thưa các đồng chí! Năm 1988, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam được sự giúp đỡ của nhiều cán bộ từng phụ trách những mặt công tác khác nhau, trực tiếp tham gia chiến dịch cung cấp tư liệu, kết hợp với các tài liệu tổng kết của ta (và cả của địch) đã tổ chức tổng kết chiến dịch Nguyễn Huệ rút ra những vấn đề nghệ thuật chiến dịch, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, việc tổng kết lại chiến dịch Nguyễn Huệ cũng còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, nhất là làm rõ thêm các hình thức chiến thuật chủ yếu mà bộ đội ta đã vận dụng trong quá trình tiến công. Hơn nữa, với chiến dịch Nguyễn Huệ, lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến trường B2 tiến hành một chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn tương đương cấp quân đoàn tăng cường. Thực tế diễn ra hết sức phức tạp và có phần khác thường: không gian mở rộng chiến dịch gồm bốn tỉnh (Tây Ninh, Phước Long, Bình Long và Bình Dương), thời gian thực hành chiến dịch kéo dài 10 tháng, diễn biến chiến dịch biến đổi qua nhiều đợt, nhiều tình huống, nhiều giai đoạn với nhiều tính chât khác nhau. Vì vậy, đặt ra là chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu rút ra những bài học thực tiễn vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Với giá trị thực tiễn đó, hôm nay Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 phối hợp cùng tỉnh Bình Dương, Bình Phước, huyện Bình Long tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Mục đích hội thảo nhằm thu thập thêm tư liệu và những ý kiến đánh giá nhằm làm rõ hơn về tầm vóc của thắng lợi, về giá trị đóng góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự cách mạng Việt nam của cuộc chiến đấu tiến công Bình Long và chốt chặn Tàu Ô trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Từ đó, bổ sung đầy đủ hơn lịch sử chiến dịch Nguyễn Huệ nói chung và tổng kết chốt chặn trên đường 13 (Tàu Ô) của Sư đoàn bộ binh 7 nói riêng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở đó, tôi đề nghị các đại biểu trong tham luận hay phát biểu của mình hãy phân tích làm rõ thêm ba vấn đề: - Một là: có ý kiến cho rằng chiến thuật chốt chặn chiến dịch dọc đường 13 (Tàu Ô - Xóm Ruộng) của Sư đoàn 7 trong chiến dịch Nguyễn Huệ, thực chất cũng là chiến thuật phòng ngự cấp sư đoàn, nhưng có ý kiến lại nói trong kháng chiến chống Mỹ chúng ta chưa vận dụng chiến thuật phòng ngự cấp sư đoàn? Vậy đâu là chốt chặn hay phòng ngự? - Hai là: việc tổ chức, sử dụng lực lượng và cách đánh trong chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng của Sư đoàn 7 có thể nghiên cứu, vận dụng vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, và nếu có thì ở vấn đề gì? - Ba là: nhiệm vụ chốt chặn trên đường 13 của Sư đoàn 7 là hỗ trợ tạo thế cho Sư đoàn 9 tiến công Bình Long, hay còn tạo thế giữ vững các khu vực trong toàn chiến dịch Nguyễn Huệ, nhất là góp phần giữ vững vùng mới giải phóng Lộc Ninh. Làm rõ được ba vấn đề trên sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất những vấn đề nghiên cứu khoa học phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, biên soạn tài liệu huấn luyện cho bộ đội trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. Với tinh thần đó, rất mong nhận được nhiêu tham luận quý báu của các vị đại biểu. Thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 tôi xin tuyên bố: khai mạc hội thảo khoa học "Chiến thắng Tàu Ô - Xóm Ruộng trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". N.N.N Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:18:07 pm LỜI CHÀO MỪNG CỦA THƯỜNG TRỰC HUYỆN ỦY BÌNH LONG Kính thưa các đại biểu! Thay mặt Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Bình Long tôi vô cùng phấn khởi và vinh dự cùng với các đồng chí dự hội thảo hôm nay. Xin chuyển đến các vị tướng lĩnh, sĩ quan các vị đại biểu lời chào mừng nồng nhiệt nhất của Đảng bộ và nhân dân trong huyện. Chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ và nhân dân huyện Bình Long đã đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bình Long có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ tây bắc Sài Gòn, là một trong những cánh cửa thép của chiến trường trọng điểm miền Đông Nam Bộ. Nơi đây đã từng là chiến trường ác liệt của mùa hè đỏ lửa năm 1972, mặt trận nóng bỏng trên quốc lộ 13 và 14. Trong kháng chiến chống Mỹ, cùng với lực lượng chủ lực, quân và dân trong huyện đã làm nên những chiến công lừng lẫy, mỗi tên đất, tên rừng, con sông, con suối, trục đường lộ... đã trở thành địa danh lịch sử, thấm máu đào, ghi dấu biết bao chiến công oanh liệt. Hôm nay Đảng bộ và nhân dân Bình Long rất tự hào được đón các đồng chí đã từng chiến đấu trên chiến trường Bình Long đón các đại biểu của cơ quan bộ, quân khu, quân đoàn, viện nghiên cứu, học viện, nhà trường Quân đội, cùng các đại biểu đại diện cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Bình Phước, Bình Dương - nơi đã từng kề vai, sát cánh, gắn bó máu thịt với Quân đoàn 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, về dự hội thảo "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Đây là dịp để các đồng chí trở lại nơi chiến trường xưa, một địa danh ghi đậm dấu ấn mà mỗi đồng chí đã từng tham gia chiến đấu không thể nào quên được trong ký ức. Được đón tiếp các đồng chí, chúng tôi rất bồi hồi xúc động, như được đón những người thân trở về quê hương. Nhân dịp này Đảng bộ và nhân dân Bình Long xin được cùng tất cả các đồng chí tưởng nhớ đến các liệt sĩ và đồng bào đã anh dũng hy sinh góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, làm hồi sinh sức sống, xây dựng quê hương Bình Long giàu đẹp hôm nay. Kính thưa các đồng chí! Do chiến tranh ác liệt nên Bình Long hầu như bị phá hủy hoàn toàn. Phát huy truyền thống quý báu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau khi được giải phóng, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, đối phó âm mưu phá hoại của kẻ thù. Hai mươi bảy năm là khoảng thời gian ngắn so với lịch sử tồn tại và phát triển của một huyện đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những hậu quả do chiến tranh để lại đối với Bình Long tưởng chừng không thể nào khắc phục được. Nhưng sau 27 năm không ngừng phấn đấu xây dựng, Bình Long đã và đang đổi thịt thay da, từ đống hoang tàn đổ nát, ngày nay màu xanh được phủ kín trên vùng đất này, mang lại sức sống mới trên quê hương Bình Long. Phát huy tiềm năng và thế mạnh ở địa phương, huyện đã xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý đó là tiền đề cho sự phát triển kinh tế ngày càng ổn định và vững chắc; đáp ứng yêu cầu cơ bản của nhân dân về văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững; hệ thống chính trị ngày được củng cố đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày được nâng lên. Những đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Bình Long trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao và phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là niềm vinh dự lớn lao, là sự ghi công sâu sắc của Tổ quốc đối với sự hi sinh cống hiến xương máu, mồ hôi, nước mắt trên mọi trận tuyến của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào các dân tộc trên đất Bình Long. Phát huy truyền thống cách mạng, Đảng bộ huyện Bình Long đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Một lần nữa thay mặt Đảng bộ và nhân dân Bình Long tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đơn vị bộ đội chủ lực, đặc biệt là đối với Sư đoàn 7 đã có đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên quê hương Bình Long. Kính chúc sức khỏe các vị đại biểu và các vị khách quý. Chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:19:20 pm CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ 1972 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Trung tướng LÊ NAM PHONG Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7 Hôm nay chúng ta hội thảo về một đề tài khoa học mang tính lịch sử, có ý nghĩa và giá trị đặc biệt, nhằm nghiên cứu và tổng kết một cách sâu sắc, đầy đủ hơn về chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 để rút ra những bài học và kinh nghiệm quý báu bổ sung vào kho tàng của nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam. Là một cán bộ trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 7, một trong các đơn vị chủ công tham gia chiến dịch, có mặt từ đầu cho đến kết thúc chiến dịch, tôi xin trình bày tóm tắt một số ý kiến như sau: I. Bối cảnh và sự ra đời tất yếu của chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" năm 1972. Năm 1972, sau thất bại trong cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và cuộc hành quân "Chen la 2" địch buộc phải bỏ tuyến phòng thủ phía bắc biên giới, co lực lượng về phía nam biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Việc điều chỉnh thế bố trí, địch muốn lấy đường 22 làm hướng phòng ngự chủ yếu để thực hiện ý đồ chiến thuật phòng thủ từ xa là nhằm "ngăn chặn cuộc tiến công Xuân - Hè 1972" của quân ta. Chúng huy động 10 trung đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp mở cuộc hành quân "Toàn thắng 72B". Như vậy ý đồ chiến lược và thủ đoạn chiến dịch của địch đã lộ rõ. Căn cứ vào tình hình đó Bộ Tư lệnh và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch tiến công trên hướng bắc Sài Gòn, đánh lớn từ tuyến biên giới đến tuyến trung gian lấy đường 13 làm hướng chủ yếu. Mục đích nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chủ lực ngụy, giải phóng vùng chiến lược có tầm quan trọng sống còn đối với việc khôi phục, mở rộng và củng cố vững chắc chỗ đứng chân của bộ đội chủ lực Miền. "Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ" mang tên người anh hùng dân tộc áo vải biểu thị được ý chí quyết chiến quyết thắng của quân đội ta lúc bấy giờ. Chúng ta mở đầu chiến dịch bằng khu quyết chiến trên địa bàn từ ngã ba đường 13 (bắc cầu Cần Lê) lên bắc Lộc Ninh với sự phối hợp tuần tự của 3 Sư đoàn 5, 7, 9 của bộ đội chủ lực Miền và sau đó là sự phối hợp tổng hợp cùng bộ đội địa phương và quân dân du kích trong suốt thời gian 150 ngày đêm chiến đấu, quần nhau với kẻ thù trong một tình thế không cân bằng về tương quan lực lượng và chúng ta đã thắng. Mở đầu chiến dịch khu quyết chiến then chốt thuộc Sư đoàn 5, tăng cường Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) nằm từ ngã ba đường 13 lên Lộc Ninh. Sư đoàn 7 luồn sâu chốt chặn bao vây chia cắt dọc theo đường 13 từ cầu Cần Lê xuống bắc Chơn Thành và địa bàn khu quyết chiến trung tâm từ ngã ba đường 17 xuống bắc Chơn Thành (trong đó có thị xã Bình Long thuộc Sư đoàn 9). Hướng thứ 2 trên đường 22 chờ thời cơ phối hợp tác chiến. Như vậy chiến trường đã hình thành một vùng rộng lớn đan trải, kéo dài, mở rộng sang hai phía của quốc lộ 13 từ thị xã Bình Long ngược lên bắc Lộc Ninh, phía tây đến Lai Khê - Bến Cát, tổng chiều dài gần trăm cây số. Hai bên đường 13 là rãnh sâu, phía tây có trục đường sắt cũ đi từ Bình Dương lên Bình Long hai bên rừng già xen kẽ rừng le, rừng chuối (ở phía bắc Chơn Thành). Phía nam Tân Khai và Chơn Thành có trảng tranh, địa hình phía nam Chơn Thành có rừng già cách xa đường từ 1 đến 2km; ven đường trống trải, địa hình thấp, nhiều đoạn ngập nước, đoạn Bầu Bàng bìa rừng gần mép đường hơn (500m - 1000m) chỉ có đoạn cống Ông Tề trở xuống địa hình bằng phẳng cao đều, xe cơ giới cơ động dễ dàng. Nhìn chung địa bàn có đặc điểm địa lý như vậy, sẽ đóng vai trò quyết định cho thủ đoạn chiến tranh và hành động tổ chức thực hành các mưu kế chiến thuật. Nhất là trong xây dựng nghệ thuật tác chiến với chiến thuật chốt chặn của quân ta. Quân địch với phương hướng phòng ngự từ xa, chủ động tổ chức hành quân chiến lược với ý định phá thế chuẩn bị của quân ta. Khi mở màn chiến dịch địch huy động lực lượng giải tỏa đường 13 tăng viện giải tỏa An Lộc từ 5 tháng 4 đến 28 tháng 8 năm 1972. Chúng đưa lên Lai Khê - Chơn Thành 3 sư đoàn, gồm sư đoàn dù (lữ 2), sư đoàn 21, sư đoàn 25 sau tăng dần theo giai đoạn các lực lượng của trung đoàn 15 sư đoàn 9 ngụy, 3 chi đoàn thiết giáp, các chiến đoàn 1/ trung đoàn 2 thiết giáp; chiến đoàn 1/ sư đoàn 18 thiết giáp; chiến đoàn 5 biệt động quân; 3 tiểu đoàn quân biên phòng ... Và chúng duy trì lực lượng trực tiếp mở đường, một sư đoàn được tăng cường (sư bộ binh 21, sau đó là sư đoàn bộ binh 25). Như vậy quân địch đã tập trung lực lượng lớn và tăng cường áp lực cao trên chiến trường... Thời điểm này chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ ở Việt Nam đã đi vào giai đoạn cuối và sắp chui vào ngõ cụt. So sánh lực lượng trên chiến trường, nhìn về cục diện chiến lược chung ta đang vững vàng phát triển và mạnh dần hơn so với địch; chiến trường ba nước Đông Dương và hành lang chiến lược Bắc-Nam vào thế liên hoàn, phát triển tốt. Như vậy chiến dịch Nguyễn Huệ ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Đông Nam Bộ năm 1972 là một tất yếu lịch sử, một yêu cầu cấp bách Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:20:41 pm II. Những bài học kinh nghiệm
1. Tổ chức chỉ đạo chiến dịch, vận dụng linh hoạt chiến thuật trong từng tình thế cụ thể của chiến trường. Là người cán bộ chỉ huy xuất thân từ người lính chiến đấu, qua chiến dịch Nguyễn Huệ, đặc biệt trong khi làm nhiệm vụ chốt chặn luồn sâu chia cắt bao vây của Sư đoàn 7, tôi có một số ý kiến như sau: Trong bất kỳ một cuộc chiến đấu nào, ngoài những yếu tố như mưu trí, dũng cảm, thông minh, linh hoạt sáng tạo, bí mật bất ngờ của từng cán bộ chiến sĩ của các đơn vị thì khâu quyết định sống còn để mang lại chiến thắng cho trận đánh là: sự nhất quán tuyệt đối, giữa tư tưởng chiến lược với ý đồ chiến dịch và thực hành chiến thuật từ người chỉ huy tối cao đến chiến sĩ cấp thấp nhất phải quán triệt trước phương châm tác chiến, mục tiêu chiến đấu trong chiến dịch củng như từng trận đánh. Cấp lãnh đạo chiến dịch phải sâu sát với thực tế mọi diễn biến của tình huống tác chiến cụ thể. Bộ tham mưu phải tùy theo thực tế chiến trường để có kế hoạch chỉ huy tác chiến sâu sát cho từng đơn vị. Phải có một "quãng mở" cho sự điều tiết tác chiến theo phương chăm "thiên biến vạn hóa" của cán bộ chiến sĩ cấp dưới tùy theo tình thế cụ thể đặt ra cho họ. Họ phải hành động thế nào? Tìm cách đánh thế nào? Thậm chí họ phải được quyền chủ động giải quyết linh hoạt trong những tình thế bất cập! Ở chiến dịch Nguyễn Huệ, điển hình là việc điều Sư đoàn 5 xuống đồng bằng. Sau khi Sư đoàn 7 làm nhiệm vụ chốt chặn kết hợp với đánh vận động chia cắt địch trên đường 13 tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển tiến công các mục tiêu then chốt. Sư đoàn 9 không dứt điểm được An Lộc (là mục tiêu chủ yếu) nên chúng ta phải chuyển sang bao vây kiềm chế địch trong thị xã. Nhưng rõ ràng việc chốt chặn khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng lúc bấy giờ có tác dụng to lớn, quan trọng, mang tính quyết định làm thay đổi cục diện và cán cân lực lượng giữa ta và địch trên đường 13, giành lại được quyền chủ động, tạo thế vững chắc cho vùng giải phóng. Khi đánh vào Hớn Quản - An Lộc (ở giai đoạn 2), địch đã điều động quân làm thay đổi tương quan lực lượng: sư đoàn 5 về Hớn Quản và lữ đoàn dù về Núi Gió. Bấy giờ cấp chiến dịch không kịp thời ra lệnh để tạo cho các đơn vị mau lẹ phản kích, thoát ra ngoài, đánh thọc sâu, bao vây chia cắt để giảm thương vong và có hiệu quả chiến đấu cao. Ngay trong tình thế mất cân bằng lực lượng đó, cấp chiến dịch lại điều Sư đoàn 5 (công trường 5) xuống đồng bằng sông Cửu Long. Vì thế quân ta bị phân tán lực lượng, làm suy giảm sức chiến đấu, cán cân lực lượng càng bị chao đảo, giữa lúc chiến trường An Lộc - Hớn Quản đang gay go, sôi động, quyết liệt, mất còn... 2. Vấn đề chỉ đạo chiến lược, tổ chức chiến dịch và sáng tạo chiến thuật trong tác chiến trên chiến trường. Thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", với tiềm lực, sức mạnh quân sự khổng lồ của mình, đế quốc Mỹ lập nên công thức: "người Việt Nam + vũ khí Mỹ". Ngoài ra còn tiến hành những thủ đoạn về sách lược chính trị xảo quyệt hòng giành ưu thế tuyệt đối ở cả trên hai bình diện quân sự và chính trị. Nhưng thật sự trên chiến trường sau mùa khô 1970 - 1971 cục diện chiến tranh đang vận động và biến đổi nhanh. Sau thất bại của cuộc "hành quân Lam Sơn 719" và "hành quân toàn thắng 1-71" ở đông bắc Cam-pu-chia. Công thức quân chủ lực cơ động ngụy Sài Gòn cộng hỏa lực yểm trợ của Mỹ và chịu sự chỉ huy của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" bước đầu bị đánh bại. Dù vậy, chúng vẫn ngoan cố, hiếu chiến, ỷ vào tiềm lực, tiếp tục hiện đại hóa quân ngụy Sài Gòn phát triển số lượng nâng cao chất lượng tác chiến và khả năng cơ động chiến đấu. Ở Cam-pu-chia chúng tăng quân ngụy Lon Non lên 170.000 tên tổ chức lên đến 63 lữ đoàn. Được không quân, hải quân, lực lượng pháo binh, xe tăng, xe bọc thép hỗ trợ chúng cũng đã tổ chức cuộc hành quân chiến lược "Chen-la 2" để đánh phá hậu phương và kế hoạch chuẩn bị mùa khô của quân dân ta. Mỹ trực tiếp chỉ huy, dùng đến cả máy bay chiến lược B52, đưa cuộc hành quân này làm điển hình cho chương trình "Khơ-me hóa chiến tranh". Cuối cùng đến đầu tháng 12 năm 1971 cuộc hành quân "Chen-la 2" một cuộc hành quân điển hình của công thức quân đội Lon Non + hỏa lực + không quân Mỹ trong chương trình "Khơ-me hóa chiến tranh" bị đánh bại và hoàn toàn sụp đổ... Những diễn biến trên chiến trường ba nước Đông Dương chứng tỏ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đang thất bại về chỉ đạo chiến lược quân sự, buộc chúng tiếp tục điều chỉnh tổ chức lại thế trận trên khắp các chiến trường để đối phó với quân ta. Chính trong bối cảnh chính trị, quân sự và ngoại giao lúc đó mà "chiến dịch Nguyễn Huệ 1972" của chúng ta xuất hiện. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:21:34 pm Kết thúc chiến dịch thắng lợi, chúng ta đã đạt được kết quả to lớn và quan trọng:
Một là: đập tan hoàn toàn ý đồ tiến công lấn chiếm vùng căn cứ giải phóng của ta tại chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hai là: Tiếp tục làm lung lay học thuyết Ních-Xơn và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" đánh bại từng phần, từng bước ngăn chặn quân địch lấn chiếm hòng bình định và tràn ngập lãnh thổ; củng cố và mở rộng vùng căn cứ cách mạng tạo tiền đề vững chắc cho quân chủ lực Miền đứng vững trên địa bàn chiến lược miền Đông Nam Bộ, đảm bảo an toàn cho Sở Chỉ huy Miền và cơ quan đầu não của Đảng đóng trên địa bàn. Ba là: trong chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" chúng ta đã ứng dụng linh hoạt và thành công phương thức tác chiến: lấy chiến thuật chốt chặn ngăn địch giữ vững trận địa kết hợp với đánh vận động luồn sâu, bao vây chia cắt. Đánh liên tục ngày và đêm, chủ động tiến công chiếm lĩnh trận địa của địch, cắt đội hình chốt đường của địch và ngăn cản có hiệu lực quân tiếp viện. Như vậy về cơ bản khi thực hành chiến thuật chúng ta đã kết hợp có hiệu quả vừa chặn chốt vừa phải tổ chức tiến công vận động, bao vây chia cắt địch. Đó là hình thái vừa thủ vừa công, lấy công làm thủ, có kết quả. Bốn là: trong chiến dịch Nguyễn Huệ, cuộc đọ sức giữa người và vũ khí là một vấn đề sâu sắc có tầm rộng và có ý nghĩa sâu. Về người, chúng ta phải nhìn về số lượng và chất lượng. Quân ta ít nhưng quyết tâm chiến đấu cao, tinh thần anh dũng chiến đấu, quả cảm hy sinh không sợ gian khổ khó khăn, không lùi bước trước kẻ thù, tất cả mang ý chí quyết chiến quyết thắng, đoàn kết son sắt, trung thành và tin tưởng ở sự lãnh đạo của cấp trên. Về cán bộ chỉ huy từ cấp chiến dịch đến cấp cơ sở cho đến từng đại đội trung đội, đều mưu trí, linh hoạt thông minh và sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao trước quân đội, trước Đảng, trước quyền lợi thiêng liêng của Tổ quốc. Rất nhiều tướng lĩnh chỉ huy, sĩ quan các cấp có công đóng góp to lớn thể hiện tài trí và sự thông minh sáng tạo, kiên trì mẫn cán trong thừa hành nhiệm vụ. Họ đoàn kết hòa đồng, thành một khôi cùng chiến sĩ làm nên một sức mạnh tinh thần cực kỳ to lớn có tác dụng đến thành bại của từng trận đánh, từng giai đoạn chiến đấu của quân đội trước kẻ thù hung dữ và mạnh hơn ta về vũ khí, hỏa lực, về phương tiện kỹ thuật chiến tranh... Ngoài ra chiến dịch Nguyễn Huệ còn là sự thể hiện tài năng và sự sáng suốt trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và tổ chức thực hành chiến dịch của cấp chiến lược là Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, của cấp chiến dịch là Bộ Tư lệnh chiến dịch. Năm là: trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972 chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, do đó sự thất bại của Mỹ - ngụy là tất yếu. Cuộc đọ sức ác liệt kéo dài 150 ngày đêm trên một vùng chiến trường rộng lớn, trên địa hình phức tạp khó khăn, trong thế so sánh lực lượng không cân bằng, tại sao chúng ta đánh thắng được Mỹ-ngụy? Những thống kê cơ bản về các chỉ số quân lực, trang bị, vũ khí, phương tiện chiến tranh của đôi bên giữa ta và địch trong giai đoạn đó đã làm cho nhiều nhà phân tích và lý luận quân sự nước ngoài; các chính khách chính trị; các nhà báo, các tướng soái quân đội các nước hết sức kinh ngạc. Họ không hình dung được tại sao Việt cộng có thể liên tục đánh thắng, đè bẹp đội quân ngụy được Mỹ trang bị huấn luyện và trực tiếp chỉ huy, đập tan ý chí xâm lược của một quân đội hùng cường bậc nhất thế giới. Yếu tố quyết định thành bại của chiến tranh (nói chung) và chiến dịch (nói riêng) là sự kết hợp, đan kết cả ba khâu chiến lược, chiến dịch, chiến thuật thành một khối thống nhất, bền vững để thực hành chỉ đạo chiến tranh và tổ chức tác chiến có hiệu quả từ trên xuống dưới. Nhìn về cả ba bình diện, giữa ta và địch trong bối cảnh 1972: Với ta tư tưởng chủ đạo tiến công địch để phòng ngự căn cứ, lây chốt chặn phòng ngự làm bàn đạp tiến công. Khi tổ chức, phát động chiến dịch ta cũng nhằm vào mục tiêu tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, giải phóng khu vực chiến lược, hỗ trợ phong trào đánh phá bình định ở nông thôn đồng bằng, phối hợp cùng các chiến trường, các chiến dịch tiến công của quân ta ở Trị Thiên và bắc Tây Nguyên. Quân địch bất ngờ rơi vào thế bị động nhưng chúng cũng lập tức điều chỉnh, triển khai chiến lược đối phó. Như vậy là cuộc đối đầu về hai hình thái chiến dịch, thể hiện hai tư tưởng, hai lý luận về chỉ đạo chiến tranh, đã hình thành, về cơ bản cả hai chiến lược đều lấy tiến công làm chủ đạo. Lấy tiến công lữ đoàn làm phương tiện để áp dụng các thủ đoạn chiến đấu, vì vậy nó nảy sinh lần lượt các loại hình chiến thuật của đôi bên. Ngay khi địch bị mắc sai lầm về hướng phòng thủ, chủ quan sơ suất, địch bị ta tiến công đánh chiếm Lộc Ninh, chúng buộc phải chuyển vào thế tổ chức phòng thủ, chọn "An Lộc làm tuyến đầu chặn sức tiến công của Cộng sản". Nhưng sau khi địch được tăng viện, chỉnh đốn chiến trường với sự có mặt của chiến đoàn 7 và 8, liên đoàn biệt động quân 3, cùng tàn quân của chiến đoàn 52, cho đến khi lữ đoàn dù 1 tham chiến, và chiến đoàn 8 ngụy lên được An Lộc, có trung đoàn thiết giáp đi theo sư đoàn 21 từ miền Tây Nam Bộ, chúng đã tập kích vào mặt trận đường 13 An Lộc - Bình Long, thì bắt đầu có diễn biến, chiến sự tiếp tục giằng co rồi thay đổi. Sau khi ta không tranh thủ được kịp thời cơ, nên địch tăng cường phòng ngự, sử dụng kịp B52, đẩy quân ta vào thế từng bước thử thách lớn. Về phía ta chỉ đạo chiến dịch cũng được cấp chiến lược cho chọn thị xã Bình Long làm khu quyết chiến. Với phương châm đánh vững chắc nhưng phải khẩn trương! Ở thời điểm này, địch đã buộc được chúng ta phải đối mặt tham chiến trong thị xã Bình Long, điều này theo tôi là sự phát triển ngoài dự tính, tuy vậy nó vẫn là một yếu tố khách quan tất yếu của diễn biến chiến trường. Nên nếu nhìn về một thời gian ngắn, lúc này chúng ta lại rơi vào thế bị động, từ tiến công phải chuyển sang đánh bao vây, lấn chiếm ngoại vi, dùng đến bộ đội đặc biệt tinh nhuệ đánh vào trung tâm thị xã, phối hợp lại các hướng tiến công tiêu diệt quân địch, đánh chiếm thị xã... Thực tế, tình huống đặt ra nhiệm vụ cấp bách là chặn viện, chặn địch đổ bộ đường không ... Ý đồ chiến lược và thực hành chiến dịch, tổ chức chiến thuật của phía chúng ta đã thể hiện rõ. Ngày 11 tháng 5 ta mở đợt tiến công thị xã An Lộc đã phải trải qua 70 ngày đêm vây hãm địch, giằng co, quyết liệt trong những điều kiện vô cùng gian khổ ác liệt, quân số, trang bị tổn thất nặng nề sau 33 ngày đầu tiến công, mãi tới ngày 30 tháng 7 năm 1972 chúng ta mới kết thúc thắng lợi trên mặt trận này! Ở mặt trận Bình Long trước đó những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1972 chúng ta vẫn bao vây, kìm hãm, gây áp lực và phía Sư đoàn 7 phải kiên cường chốt chặn trên đường 13. Trên một địa bàn nhỏ hẹp dài 2 km, ngang 1 km địch đã tăng cường 5 chiến đoàn cố thủ tương đương hai sư đoàn với quân số trên 8.400 tên. Hỏa lực chi viện của không quân tăng 5 lần. Lúc bấy giờ trên đường 13, Sư đoàn 7 chặn được địch nhưng chưa có trận tiêu diệt lớn quyết định, không đủ sức chặn viện đường không. Trong tình hình đó Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo không tiếp tục tiến công Bình Long mà chuyển sang bao vây, cô lập thị xã đem lực lượng mạnh vận động tiến công ngoài công sự trên đường 13, đồng thời lại chuyển một bộ phận lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó, mặc dù cuộc tiến công trên mặt trận Bình Long ngàv 13 và 15 tháng 4 của ta bị thất bại, chưa có đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, chính xác, Bộ Tư lệnh chiến dịch lại hạ quyết tâm - ra lệnh tiến công Bình Long một lần nữa. 3 giờ sáng ngày 11 tháng 5 Sư đoàn 9 mở đợt tiến công mới vào Hớn Quản. Quân địch được hỏa lực không quân chi viện, phá hủy nhiều xe tăng của ta khi mở cửa. Ta không nắm địa hình trong thị xã, xác định lệch hướng nên mũi chủ yếu đánh sai mục tiêu và bị tổn thất nặng nề. Do vậy chúng ta không dứt điểm được Bình Long đã làm hạn chế và ảnh hưởng đến bước phát triển của chiến dịch. Tuy vậy, dù cho diễn biến phức tạp thua thắng trong từng trận đánh, cán cân lực lượng chao đảo, thay đổi ở mỗi thời đoạn của chiến dịch nhưng cuối cùng chúng ta đã thắng địch về cả ba mặt chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:22:53 pm 3. Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, nơi quân ta áp dụng thành công các thủ đoạn chiến đấu linh động, biến hóa và sáng tạo sử dụng có hiệu quả chiến thuật chốt chặn và vận dụng cách đánh, các hình thức tiến công bao vây, chia cắt địch ngoài cơ sở trú quân.
Trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, suốt 150 ngày đêm đánh giặc, đối đầu với một kẻ thù mạnh hơn chúng ta rất nhiều về tiềm lực, quân số, trang bị kỹ thuật chiến tranh, vũ khí, khí tài hiện đại, có mảy bay B52, pháo binh, xe tăng, thiết giáp với số lượng bom đạn sử dụng ào ạt, khốc liệt. Bộ đội chủ lực Miền với các Sư đoàn 5, 7, 9 dựa vào quyết tâm, nhiệt huyết và tinh thần yêu nước vô song đã thông minh mưu trí và sáng tạo sử dụng linh hoạt các hình thức thủ đoạn chiến tranh theo từng qui mô, từng hoàn cảnh cụ thể của chiến trường áp dụng linh động và biến hóa chiến thuật chốt chặn trong phòng ngự, thọc sâu bao vây chia cắt trong vận động tiến công ngoài công sự ... Khi được giao nhiệm vụ, Sư đoàn 7 thực hành đánh địch trên đường 13. Đã tổ chức chốt đánh ngăn chặn bộ binh, bộ binh cơ giới thuộc các lực lượng dự bị của địch (đặc biệt là cơ giới tăng viện), đồng thời thu hút, kiềm chế ngăn chặn được lực lượng địch lên giải tỏa theo trục đường 13, diệt gọn từng chi đoàn thiết giáp, tiểu đoàn bộ binh với tư tưởng chỉ đạo là chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngáy... Sư đoàn 7 mở màn chiến dịch, Sư 9 làm lực lượng dự bị của chiến dịch, củng cố nhiệm vụ nghi binh thu hút kìm giữ địch, khi có thời cơ cũng sẽ phát triển xuống phía nam đánh địch. Trước khi vào cuộc và sau diễn biến ban đầu chúng ta đã tổ chức hình thức phòng ngự chốt cứng, chặn đứng quân thù, giữ vững trận địa kéo dài 5 tháng trên điểm nóng chốt chặn chiến dịch ở Tàu Ô (Trung đoàn 165 chốt Ngọc Lầu từ 5 tháng 4 đến 15 tháng 5, trung đoàn 209 chốt Tàu Ô từ 15 tháng 5 đến 28 tháng 8 ). Trong khi kẻ địch tổ chức chỉ đạo tác chiến với phương châm đánh nhanh, giải quyết chiến trường nhanh. Chúng sử dụng lực lượng đông và lớn cũng nảy sinh nhiều sơ hở, do địa bàn rộng, dọc đường 13 chúng phân tán, bị động không có điều kiện tập trung lực lượng để thực hiện phương châm đề ra. Quân ta có quyết tâm chiến đấu cao, kiên cường bám công sự trận địa, tiến lên tiêu diệt địch rộng khắp phía trước, bên sườn phía sau và có khi cả bên trong trận địa, xây dựng tinh thần đoàn kết trong nguy nan thử thách đã làm nên sức mạnh vô song trong chiến đấu chốt chặn đường 13 (Tàu Ô - Xóm Ruộng). Trong chiến dịch Nguyễn Huệ chúng ta có mưu lược biết tổ chức tạo thế, cài thế chia cắt địch. Thực hiện chốt chặn trên đường 13 của Sư đoàn 7 có giá trị và ý nghĩa lớn về nghệ thuật tác chiến trong chiến dịch của quân đội ta. Tạo thế, cài thế là phương thức tối ưu, là nội dung chủ yếu nhằm thực hiện thành công mục đích vừa chốt chặn vừa vận động đánh địch để chớp thời cơ chiếm lây đồn bốt giặc, trục địch ra khỏi khu vực chiến thuật (từ nam Bình Long xuống bắc Chơn Thành) là hành vi cơ bản để giành thế, giữ quyền chủ động đảm bảo cho quá trình phát triển chiến dịch thuận lợi. Nghệ thuật chỉ đạo tạo thế có hiệu ứng lớn buộc địch rơi vào thế bị bao vây chia cắt, bị phân tán lực lượng để quân ta đủ điều kiện tập trung lực lượng đủ mạnh, có thể đánh thắng địch ở những trận tiến công quyết định. Khi nhất quán với phương thức tạo thế, cài thế chúng ta đã xác định đúng trận địa chốt để xây dựng thế trận bền vững, hợp lý. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ việc chọn trận địa xây dựng thế trận chốt chặn chiến dịch được thực hiện một cách hoàn chỉnh, khoa học và chính xác. Có điểm chốt chặn chủ yếu, thứ yếu, bổ trợ và có các trận địa cơ động nhằm mục đích vận động tiến công kể cả bao vây, chia cắt và vu hồi đối phương ngoài công sự phòng ngự của mình. Việc chọn trận địa chốt chặn trên đường 13 lập tuyến phòng ngự liên hoàn vững chắc dọc theo chiều dài từ biên giới xuống đông bắc Sài Gòn là ta đã cắm được những mũi dao sắc lợi hại vào huyết mạch chiến lược sống còn của địch ở hướng bắc. Nhờ đánh giá đúng tầm quan trọng của nhiệm vụ này, chúng ta đã nghiên cứu khảo sát, chu đáo sát thực chiến trường và phù hợp địa hình từng khu vực chiến thuật. Khi đã lựa chọn xác định đúng, các đơn vị tham chiến đã tổ chức xây dựng thành công thế trận ngăn chặn, chia cắt địch trên những vị trí liên hoàn thuận lợi. Thế trận chốt chặn bao gồm tổng thể các trận địa lớn nhỏ và vừa, xây dựng nên một lũy thép phòng ngự chiến lược trên đường 13 là một sáng tạo của tư duy quân sự, rất khoa học. Có lực lượng Cơ động bổ trợ phía trước, bên sườn và cả sau lưng địch. Sư đoàn 7 lựa chọn đúng vị trí chiến lược của tuyến và điểm chốt chặn, xây dựng khu ngăn chặn (đoạn từ bắc Chơn Thành 4 km đến bắc Tàu Ô 3 km với tổng chiều dài tác chiến là 10 km) lấy Tàu Ô là trung tâm chủ yếu trong khu vực chốt chặn chiến lược. Tổ chức trận địa và cấu trúc đội hình chốt trên đường 13 là một sáng tạo chiến thuật về cách đánh cũng như về từng thủ đoạn biến hóa, áp dụng cho từng tình huống khác nhau. Đó là một bài học có giá trị về chiến thuật phòng ngự kết hợp tiến công mở. Nhìn lại quá trình tác chiến tổ chức chốt chặn và vận động tiến công trong chiến dịch Nguyễn Huệ, chúng ta phải chú ý đến tính chất giao thoa uyển chuyển giữa phòng ngự công sự và vận động tiến công vu hồi hai cách đánh, hai chiến thuật này lần đầu tiên trên chiến trường chống Mỹ, ngụy được áp dụng một cách thường xuyên, sâu rộng, rầm rộ. Là một bài học thực tiễn thể nghiệm lý luận quân sự cách mạng của chúng ta, sáng tạo cách đánh giặc, tìm cách đánh thích hợp nhất so với lực lượng tương quan và đặc điểm chiến sự trong từng lúc từng thời kỳ của hàng chuỗi, hàng loạt trận đánh, do ta chủ động cũng có khi do địch tạo thế, tạo tiền đề buộc ta phải đánh, phải dùng cách đánh nào? Chủ yếu cũng phải dựa vào các cụm chốt cơ bản. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:24:06 pm Khi cấu trúc đội hình và sử dụng đội hình trong tác chiến ở đường 13 chúng ta áp dụng mô hình tam giác hoặc bằng bậc thang cấp, tổ chức 3 cụm chốt điển hình thông dụng:
- Cụm 1 (bắc ngã ba Xóm Ruộng 800m) có một tiểu đoàn chốt giữ; 2 chốt cơ bản do 2 đại đội giữ; 22 chốt bổ trợ do 1 đại đội và tiểu đoàn bộ giữ. - Cụm 2 (bắc Tàu Ô 300m) tổ chức như cụm 1; đây là cụm then chốt có độ cao nhất trong khu vực, có thể sử dụng hỏa lực để uy hiếp, bắn chặn địch ở phía sau cụm 1. - Cụm 3 (bắc và nam cống Ông Tề 500m) tổ chức như cụm 1. Ngoài ra còn tổ chức cụm bổ trợ ở giữa cụm 1 và cụm 3 để chi viện khi cần ứng cứu. Như vậy tổ chức cụm theo dạng cấu trúc này đã hoàn chỉnh một trận địa liên hoàn phòng ngự, có khả năng co cụm và cũng có khả năng mở ra vận động tiến công khi cần thiết. Sử dụng lực lượng phù hợp với tiềm năng dung lượng cụm chốt trên trận địa là một yêu cầu chiến thuật quan trọng và cần thiết để phát huy sức mạnh tôi đa của phòng ngự chiến dịch. Thực hành chốt chặn đề ra yêu cầu cơ bản về sử dụng thế nào cho hợp lý hỏa lực, binh lực phương tiện chiến đấu, vũ khí bổ trợ. Qua thực tế ở đường 13, Sư đoàn 7 đã sử dụng một trung đoàn (+d) để đối đầu với một sư đoàn ngụy được tăng cường xe tăng, thiết giáp và thời gian kéo dài 5 tháng. Đây là một kỳ tích mang dấu ấn anh hùng bất khuất, quyết chiến quyết thắng của bộ đội ta. Những thủ đoạn khôn khéo và cách đánh mưu trí sử dụng lực lượng hợp lý là những đặc điểm nổi bật cần tổng kết nghiên cứu ở chốt chặn Ngọc Lầu và đặc biệt trên cụm chốt chặn Tàu Ô năm 1972 như: - Lực lượng bộ binh ở mỗi cụm chốt là một tiểu đoàn hoặc 1 tiểu đoàn thiếu, mỗi trung đoàn có 1 tiểu đoàn dự bị cơ động giữ phía sau. - Khi ta bị đánh phá bằng pháo binh và không quân mạnh cường độ tiến công của địch tăng cao, chúng thay đổi thủ đoạn tác chiến giải tỏa đường 13, chúng ta đã giảm lực lượng ở các chốt cơ bản, chuyển nhanh sang đánh vận động, sát thương địch, giảm thương vong cho ta. Đó là một bài học tốt. - Khéo tổ chức đánh lẻ, đánh nhỏ sử dụng linh hoạt đặc công, công binh, trinh sát đánh vào đội hình tiến công chính của địch ... - Khi bị uy hiếp kiềm chế bằng hỏa lực để tránh sức tiến công mạnh của địch vào căn cứ và trận chốt chặn phòng ngự. Ta đã mau lẹ luồn sâu đánh vào sau lưng địch tập kích vào các vị trí chỉ huy, trận địa pháo, kho xăng dầu đạn dược... tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, kiềm chân địch, phân tán được lực lượng tiến công chủ đạo của chúng. Vận dụng cách đánh trong chốt chặn chiến dịch là yêu cầu hàng đầu về mục tiêu và phương thức của chiến thuật, là biểu hiện khả năng chỉ đạo nghệ thuật chiến tranh của cán bộ sĩ quan các cấp trực tiếp tham chiến. Chốt chặn dài ngày với qui mô liên hoàn vững chắc của nhiều trận địa trải trên địa bàn kéo dài 5 đến 10 km lại phải chiến đấu với nhiều đối tượng, quân chủng, binh chủng khác nhau của địch trong điều kiện ác liệt, khó khăn, nên việc vận dụng chiến thuật để đánh thắng và làm tan rã mọi thủ đoạn của địch giành thế chủ động trên chiến trường ở đường 13 là một yêu cầu cấp thiết. Nội dung tư tưởng chỉ đạo phương châm "chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày" mang nội dung có ý nghĩa là phòng ngự. Nhưng nếu chỉ thụ động phòng ngự thì ta sẽ bị địch uy hiếp bóp nghẹt. Do đó ta chọn cách đánh mang thêm ý nghĩa có nội dung thực sự là "tiến công chiến thuật" vận dụng đánh địch cả phía trước, vùng bọc hai bên sườn và sau lưng chúng. Ta biết tận dụng lợi thế địa hình, công sự, vật cản cộng hỏa lực tạo thành thế đánh, thế giữ vững chắc. Chúng ta khéo kết hợp chặt chẽ hai cách đánh phòng ngự và tiến công, tiến công và vu hồi, bao vây chia cắt làm địch phải phân tán lực lượng tạo điều kiện cho ta giữ vững được trận địa. Các lực lượng của từng tiểu đoàn, trung đoàn đều đã được sử dụng thích hợp tùy lúc, tùy thời cơ để vừa chốt chặn vừa phục kích, tập kích tiêu hao địch, nên ta có khả năng 1 chống 3, 1 chống được 5 đến 10 lần lực lượng địch vì vậy chúng không thể nào giải tỏa được mặt đường 13. Nhờ chỉ đạo cách đánh thực hành chiến thuật linh hoạt khoa học, táo bạo bất ngờ kiên cường, mưu trí và dũng cảm mà Sư đoàn 7 anh hùng đã lần lượt đánh tan tác các chiến đoàn, sư đoàn quân ngụy và đập tan sức mạnh vũ khí của Mỹ trên đường 13. Cuối cùng địch phải kéo sư đoàn 25 về đối phó và bỏ hẳn ý định giải; tỏa đường 13 trên đoạn Tàu Ô - Xóm Ruộng. Tàu Ô - Xóm Ruộng là điểm thử vàng của chiến tranh cách mạng cũng là trận địa nảy sinh đã và sẽ còn được nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quý báu về chiến lược, chiến thuật về tài nghệ chỉ huy của cán bộ quân đội cách mạng chúng ta. Như vậy khi nghiên cứu về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trong tiến công và phòng ngự rút ra những bài học thực tiễn theo tôi cần phải tách thành hai đề tài nghiên cứu, mặc dù "vây ép Bình Long" và "chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng" có mối quan hệ hữu cơ và có logic thống nhất xét về mặt hiệu quả chiến tranh và tác động chiến trường. Nhưng nghiên cứu "vây ép Bình Long" chủ yếu theo trọng tâm chiến thuật tiến công, vây ép; chia cắt, vu hồi. Còn "chốt chặn Tàu Ô" ta sẽ đi sâu nghiên cứu mối quan hệ thống nhất giữa chiến thuật phòng ngự chiến dịch và vận động tiến công chiến thuật, ở đây ta cần đi sâu phân tích làm rõ một vấn đề dễ tranh cãi là "chốt chặn Tàu Ô" là hình thức phòng ngự chiến lược hay là thủ đoạn tác chiến phòng ngự chiến dịch bằng cách sử dụng linh hoạt các phương thức tác chiến chiến thuật khác nhau. Hay chúng ta phải xác định đó là hình thức phòng ngự chiến dịch kết hợp vận động tiến công? Có xác định được nội dung ý nghĩa chính xác thì chúng ta mới có điều kiện tổng hợp các sự kiện-diễn biến chiến trường suốt qua 150 ngày đêm, từ đó mới đúc kết được kinh nghiệm và xây dựng bổ sung và lý luận khoa học quân sự, cách mạng Việt Nam. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:24:48 pm III - Một số đề nghị
Ở mặt trận Bình Long những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1972, chúng ta vẫn đang bao vây, kìm hãm gây sức ép và áp lực đối với địch. Khi sư đoàn 7 đang phải kiên cường chốt chặn trên đường 13 đối phó với 5 chiến đoàn địch được tăng cường cố thủ (tương đương 2 sư đoàn) với quân số trên 8.000 tên. Hỏa lực không quân địch tăng vọt chi viện gấp 5 lần, trên một địa bàn nhỏ hẹp (dài 2 km, chiều ngang 1 km). Tuy Sư đoàn 7 chặn được địch trên bộ nhưng không đủ sức chặn viện đường không, chưa có trận tiêu diệt địch lớn. Trong khi đó Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo không tiếp tục tiến công Bình Long mà chuyển sang bao vây để nhằm cô lập thị xã, đem lực lượng mạnh vận động tiến công ngoài công sự trên đường 13; đồng thời chuyển một bộ phận lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long (Sư đoàn 5). Điều này tôi mong các đồng chí cùng tham gia nghiên cứu khách quan và thẳng thắn đánh giá đúng, sai để rút kinh nghiệm và tìm ra bài học cho việc tổ chức chỉ đạo chiến dịch và thực hành chiến dịch, đồng thời dùng phương pháp khoa học lịch sử để soi sáng chỉ đạo chiến dịch của cấp chiến lược như thế nào trong những hoàn cảnh như thế. Ngoài ra có một bài học nữa cần phải xem xét thêm đó là: Việc Bộ Tư lệnh chiến dịch đánh giá, cân nhắc, nhận định không rõ ràng nguyên nhân thất bại trong cuộc tiến công ngày 13 và ngày 15 tháng 4 năm 1972 của quân ta trên mặt trận Bình Long, do đó lại hạ quyết tâm chiến lược, ra lệnh tiến công Bình Long một lần nữa. Vì vậy ngày 11 tháng 5 năm 1972 do sai lầm đó mà quân ta lại bị tổn hại nặng nề về người và vũ khí. Chúng ta vẫn không dứt điểm được Bình Long làm ảnh hưởng và hạn chế đến chiến dịch. Đây không phải lỗi lầm và trách nhiệm của cấp sư đoàn hay của các trung đoàn mà là sai lầm của cấp chỉ đạo chiến dịch, tổ chức tiến công Bình Long lần thứ 2. Thưa các đồng chí! Trong Hội thảo tôi mong muốn chúng ta sẽ thu được những kết quả cụ thể bằng cách thẳng thắn khách quan nhìn nhận đánh giá mọi sự kiện chiến tranh trong chiến dịch Bình Long, để khi tổng kết rút kinh nghiệm lần này sẽ đóng góp thiết thực vào kho tàng lý luận quân sự cách mạng tạo điều kiện xây dựng hệ thống tài liệu giáo khoa quân sự bổ ích cho các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ nối tiếp chúng ta. L.N.P Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:11:53 am TÀU Ô - XÓM RUỘNG TRẬN TÁC CHIẾN PHÒNG NGỰ SÁNG TẠO Đại tá, PGS, TS TRỊNH VƯƠNG HỒNG Viện trưởng Viện Lịch sử Quản sự Việt Nam Không phải ngẫu nhiên mà suốt gần 150 ngày đêm năm 1972, những địa danh Tàu Ô, Xóm Ruộng, Tân Khai... lại thường xuyên lởn vởn trong đầu tướng Prít Wây-oen, người được Ri-sớt Ních-Xơn chỉ định thay tướng Oét-mo-len thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của ông ta ở miền Nam Việt Nam. Quân đội Sài Gòn, cái xương sống của "Việt Nam hóa chiến tranh", nên những địa danh trên cũng thâm nhập vào từng bữa ăn, giấc ngủ của tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu. Còn đối với các tướng tá ngụy, thì đây lại là một sự thách đố trớ trêu, một nỗi cay đắng ngày đêm giày vò họ. Đây cũng là điều mà cả Phủ Tổng thống cùng Bộ Quốc phòng Mỹ và "Lầu Năm góc phương Đông" đều không giải thích nổi, chỉ một đoạn đường gần hai chục cây số từ Bình Dương đến Chơn Thành, nơi mà nước Mỹ không thiếu bom đạn, xe tăng, máy bay và đã thi thố đủ các thủ đoạn tàn ác, xảo quyệt, liên tục đánh phá, cày đi, xới lại mà "Việt cộng" vẫn sống ở đó đế rồi bất thần trồi lên tiến đánh và chặn đứng các cuộc tiến công của nhiều sư đoàn quân ngụy lên ứng chiến cho An Lộc. Như đã biết, do vị trí tự nhiên đặc biệt quan trọng nên Tàu Ô - Xóm Ruộng trở thành chiến lũy án ngữ đoạn đường 13, đây là bàn đạp hết sức lợi hại để ta phát triển xuống vùng trung tuyến hoặc địch tiến ra vùng giải phóng. Chính vì vậy mà nơi đây trở thành một trọng điểm giành giật giữa ta và địch trong trận chiến giữa năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ; nơi ta chọn để thực hiện một hướng tiến công quan trọng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 - nơi tiến hành chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc áo vải Nguyễn Huệ. Trong quá trình chiến dịch, nếu giữ được Tàu Ô - Xóm Ruộng, ta sẽ chặn được lực lượng cơ động chiến lược của địch ứng chiến cho đồng bọn ở Lộc Ninh, An Lộc. Nếu để mất Tàu Ô - Xóm Ruộng, ta sẽ mất luôn cả lợi thế chiến dịch. Địch lấy được Tàu Ô - Xóm Ruộng chúng sẽ tập trung lực lượng của quân đoàn 3 và quân đoàn 4 tràn lên phía bắc, đẩy Sư đoàn 7 của ta khỏi đường 13, tiếp đó đẩy luôn cả Sư đoàn 9 ra khỏi An Lộc. Từ đây, chúng sẽ tập trung mọi nỗ lực lấy lại Lộc Ninh, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long; khôi phục lại thế trận trước khi ta mở chiến dịch. Do vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của nó với khu vực và với chiến dịch mà trên địa bàn Tàu Ô - Xóm Ruộng đã diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa ta và địch. Trong cuộc đối chiến quyết liệt đó, cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 anh hùng đã cùng với lực lượng vũ trang địa phương vượt lên trên ác liệt, gian khổ và hy sinh để giành chiến thắng. Và để có chiến thắng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7 đã giải quyết thành công nhiều nội dung về nghệ thuật tác chiến phòng ngự, có thể nêu một số nội dung lớn sau đây: Một là: Kết hợp giữa chốt giữ và chủ động cơ động đánh địch ngoài trận địa, một sáng tạo độc đáo trong phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng. Nét độc đáo khi Sư đoàn 7 tổ chức phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng là không sử dụng toàn bộ lực lượng của sư đoàn vào giữ các điểm tựa mà chỉ bố trí một lực lượng thích hợp giữ chốt, còn một bộ phận quan trọng bố trí ngoài khu vực phòng ngự làm lực lượng cơ động để khi thì đánh vào bên sườn, sau lưng địch; lúc thì tập kích vào quân địch tạm dừng, phục kích địch trên đường cơ động tiến công ta; khi lại bao vây, chặn địch làm chậm bước tiến của chúng. Đây là điều mà các trận chiến đấu phòng ngự trước đó của quân đội ta chưa làm, đặc biệt là ở quy mô cấp sư đoàn. Sau những ngày mở đầu chiến dịch, tuyến phòng thủ đường 13 bảo vệ bắc An Lộc của địch bị vỡ, Mỹ- ngụy, thấy rõ một cuộc tiến công lớn của ta vào An Lộc đang đến gần. Để bảo vệ An Lộc, một vị trí yết hầu của quân đội Sài Gòn ở miền Đông, ngày 10 tháng 4, địch đổ lữ đoàn dù số 1 xuống Chơn Thành, nơi chúng biết rõ ta đã cài sẵn Trung đoàn 165 ở Ngọc Lầu để đón chúng. Bị các chốt của ta đánh quyết liệt, thấy không thể vượt qua được tướng Lê Quang Lưỡng, sư đoàn trưởng sư đoàn 5 ngụy cho quân trở lại Chơn Thành, nhưng vẫn để lại tiểu đoàn 5 giữ ngã ba Ngọc Lầu. Ngay đêm 11, các đơn vị của Trung đoàn 165 chuyển sang bao vây, tiến công quân địch. Mặc dù được tiểu đoàn 8, trung đoàn 5 và xe tăng, xe bọc thép cùng phi pháo chi viện đắc lực, nhưng tiểu đoàn 5 vẫn bị đánh thiệt hại nặng, phải bỏ cả xe pháo tháo chạy về Chơn Thành. Trong khi Trung đoàn 165 chặn đánh địch quyết liệt ở Ngọc Lầu - Xóm Ruộng thì sư đoàn sử dụng Trung đoàn 209 từ bắc Bình Long nhanh chóng triển khai đội hình tiến công cắt đôi đội hình của sư đoàn 21 ngụy, buộc chúng phải cụm lại 20 ngày, làm cho các chiến đoàn 3, 31 chẳng những không lên được Chơn Thành mà còn phải chuyển hướng đối phó về phía sau... Khi kế hoạch giải tỏa đường 13 bằng tiến công chính diện không hành, bộ tổng tham mưu ngụy phải đưa lữ đoàn dù số 3 từ Tây Nguyên về Tân Khai, thực hiện chiến thuật "Cóc nhảy" để hiệp đồng với sư đoàn 21 tiến công, gây sức ép tối đa khu vực phòng ngự của Trung đoàn 165 từ hai hướng. Kiên quyết chặn địch, Sư đoàn 7 sử dụng Trung đoàn 165 (thiếu một tiểu đoàn) chặn địch ở hướng chính, lực lượng còn lại cùng Trung đoàn 141 vây đánh lữ đoàn dù số 3. Được lữ dù số 3 hỗ trợ, Nguyễn Vĩnh Nghi liền đưa chiến đoàn 31 và chi đoàn 1 trung đoàn thiết giáp số 9 lên bắc Chơn Thành đánh vào trận địa ta. Với hệ thống công sự vững chắc, bí mật, bộ đội linh hoạt chiến đấu; các đơn vị của Trung đoàn 165 đã bẻ gẫy các cuộc tiến công của sư đoàn 21, ý đồ giải tỏa đường 13 lại một lần nữa tan vỡ. Cay cú trước những thất bại liến tiếp, Nguyễn Vĩnh Nghi tung chiến đoàn 32 và chi đoàn 2, trung đoàn 9 thiết giáp xuống phía đông đường, cụm lại ở ngã ba Xóm Ruộng, tổ chức thành mũi vu hồi từ bắc xuống, phối hợp với chiến đoàn 31 đánh từ phía nam lên, quyết nhổ bằng được các cụm chốt của ta để mở đường tiến lên giải tỏa cho An Lộc. Mặc dù được đủ các loại bom đạn đánh phá ngày đêm, nhưng các cuộc tiến công của địch vào khu vực phòng ngự của Trung đoàn 165 đều bị bẻ gẫy, lực lượng địch bị tiêu hao nặng, chúng phải lui về Chơn Thánh củng cố. Cứ như vậy, cuộc chiến đấu càng diễn ra ác liệt thì hiệu quả của sự kết hợp giữa chốt giữ và chủ động cơ động lực lượng đánh địch ngoài trận địa phòng ngự càng thể hiện rõ tính sáng tạo của nó và trở thành một trong những yếu tố quyết định thắng lợi đợt hoạt động tác chiến phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng của Sư đoàn 7. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:13:00 am Hai là: Tìm mọi biện pháp đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự, một thành công nổi bật của Sư đoàn 7 ở Tàu Ô - Xóm Ruộng.
Gần năm tháng phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng, các đơn vị Sư đoàn 7 đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu để liên tục đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự của mình. Sau khi tập trung lực lượng, liên tục tiến công, liên tục đột phá từ nhiều hướng, nhiều mũi không thành; địch giãn lực lượng, tổ chức từng cụm giã ngoại bố trí xen kẽ rất gần với các chốt của ta từ Xóm Ruộng đến Tàu Ô. Cậy có quân Mỹ ở phía sau nên chúng cho đây là "thượng sách" để cắt đường vận chuyển tiếp tế đạn dược, lương thực từ phía sau lên phía trước của ta; vây chặt ta lại, không có đạn, gạo, nước uống ta sẽ "mềm" ra, lúc đó chúng không đánh cũng thắng. Nhưng chính Mỹ-ngụy, cũng không hiểu được rằng: cụm lại xen kẽ với ta, chúng cũng không tiếp tế được bằng máy bay lên thẳng mà phải gùi từ phía sau ra phía trước bằng đi bộ theo các đường mòn vào những thời gian nhất định. Nắm được quy luật hoạt động của địch, quyết không để chúng chặn các tổ vận tải cung cấp đạn, gạo của ta; đồng thời phá tiếp tế của địch, ta tổ chức từng bộ phận nhỏ, ban đêm rời chốt luồn ra phía sau đội hình địch, mai phục trên những đường mòn, tiêu diệt từng toán và cắt tiếp tế từ phía sau lên phía trước của chúng, thu thêm đạn gạo bổ sung cho ta. Đêm đầu địch tiếp tế được, nhưng đến đêm thứ hai thì chính hành động trên lại là cái bẫy giăng ra đối với chúng. Khi những tốp địch đi lấy đạn, gạo trở về lọt vào các ổ phục kích của ta, một số chết, số còn lại vứt cả đồ đoàn để chạy tháo thân; thế là, tưởng cắt được dạ dày của ta thì kết quả lại ngược lại, các tốp vận tải của địch đã "hỗ trợ" cho ta bớt khó khăn. Cuối cùng, thủ đoạn của địch lập thế da báo để cắt tiếp tế của ta cũng thất bại, đường vận tải của ta được khai thông... Không nhổ được các chốt của ta bằng thủ đoạn chốt xen kẽ, cắt tiếp tế; địch chuyển sang gây căng thẳng cho ta suốt ngày đêm để không đủ sức chống chọi với chúng. Ban ngày, chúng dùng phi pháo đánh phá ác liệt và liên tục cho các mũi đột kích vào trận địa. Ban đêm, chúng cho các bộ phận nhỏ bí mật luồn đến từng hầm của ta thả lựu đạn vào. Đáp lại thủ đoạn nham hiểm của địch, ta tổ chức các tổ rời chốt ra mai phục đón chúng trước trận địa, đợi khi địch vào gần bị lực lượng chốt đánh trả, buộc chúng phải lùi ra thì các tổ mai phục phía trước đánh ngay vào lưng, làm cho chúng không còn đường thoát. Tiến công bằng bộ binh không thành, địch dùng phi pháo (kể cả B52) đánh phá ác liệt vào chốt của ta; tiếp đó, chúng cho xe tăng vào cách ta chừng 300 - 400m (ngoài tầm bắn của B41), dùng bộ binh ngồi sau tháp pháo quan sát trực tiếp, chỉ điểm cho xe tăng tập trung hỏa lực đánh bật từng công sự, ụ súng của ta. Với cách đánh này của địch, chỉ trong một ngày Đại đội 11 chỉ còn 5 tay súng; Đại đội 6 còn 4 tay súng; Trung đoàn 209 phải đưa Đại đội 13 vào thay phiên, nhưng cũng chỉ được một ngày đại đội chỉ còn 4 tay súng. Không bó tay trước những thủ đoạn xảo quyệt của địch, cán bộ chiến sĩ Đại đội 8 suy nghĩ, tìm tòi đã dùng mũ sắt của Mỹ, đặt trên đầu gậy, lấp ló sau những ụ đất; ngay lập tức những tên địch chỉ mục tiêu cho pháo trên xe tăng bắn tới tấp vào nơi có mũ sắt; cùng lúc đó, các chiến sĩ đánh tỉa của ta từ các vị trí bí mật nổ súng diệt những tên địch chỉ điểm, mất người chỉ mục tiêu, hiệu quả hỏa lực của xe tăng địch giảm hẳn. Ngay sau đó, sáng kiến của Đại đội 8 đã được phổ biến khắp các trận địa và được vận dụng ngay, không chỉ các chiến sĩ giữ tiểu liên, trung liên tham gia bắn tỉa diệt địch mà cả các chiến sĩ giữ B41 cũng bí mật mai phục đánh xe tăng. Ngày hôm sau, một số xe tăng vào gần bị diệt, buộc chúng phải lùi ra xa và thủ đoạn dùng hỏa lực của xe tăng đánh phá các công sự của ta lại bị thất bại. Nhờ phát huy trí sáng tạo của mọi cán bộ chiến sĩ và vận dụng khôn khéo, linh hoạt các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu mà ta đã liên tục đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự. Đây là một trong những thành công xuất sắc của Sư đoàn 7 khi phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng. Ba là: Tổ chức thay phiên lực lượng chốt chặn, một sáng tạo trong phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng. Quá trình phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng, các đơn vị của Sư đoàn 7 luôn phải lấy ít địch nhiều lấy yếu chặn mạnh; bằng tinh thần chiến đấu ngoan cường, các lực lượng giữ chốt đã băng qua tất cả hiểm nguy, vượt qua tất cả mưa bom bão đạn dài ngày của địch, để chống trả thắng lợi các cuộc tiến công liên tục của các sư đoàn 5, 9, 21, 25 quân ngụy luân phiên đánh chiếm khu vực phòng ngự của ta nhằm mở thông con đường huyết mạch nối Chơn Thành với Lộc Ninh, giải tỏa cho An Lộc. Liên tục chống chọi với những thủ đoạn xảo quyệt và tàn ác; đương đầu với đủ các loại bom đạn của máy bay, pháo binh, pháo trên tăng... trong cuộc chiến đấu ác liệt ấy, không một công sự, đoạn hào nào là không bị bom đạn địch cày xới, lật đi, bới lại để tìm xem ở đâu đó vẫn giấu những chiến binh mà mỗi khi quân ngụy tiến vào là bộ binh, xe tăng lại bị tiêu diệt. Và trong cuộc chiến đấu quyết liệt ấy, việc bổ sung lực lượng, phương tiện vật chất và đạn dược cho Trung đoàn 165 vô cùng khó khăn; nhiều trường hợp thương binh cũng phải ở lai trận địa chiến đấu. Các đơn vị hỏa lực, các cán bộ chỉ huy, có khi cả thương binh ở trạm quân y cũng phải trưc tiếp cầm súng đánh xe tăng, diệt bộ binh địch để giữ vững trận địa đến cùng. Tác chiến liên tục nên không có điều kiện để củng cố đơn vị, việc luân chuyển lực lượng của các đơn vị giữ chốt cũng không đáp ứng được yêu cầu chiến đấu dài ngày. Trong khó khăn ác liệt thường có những quyết sách sáng tạo. Chỉ huy Sư đoàn 7 đã quyết định đưa Trung đoàn 209 vào thay phiên cho Trung đoàn 165. Đây là một quyết định táo bạo, chưa có tiền lệ trong tác chiến phòng ngự của Quân đoàn ta. Đưa đơn vị cơ động tác chiến vào thay phiên cho đơn vị giữ chốt, để đơn vị giữ chốt về phía sau, củng cố một thời gian lại tiếp tục đánh địch, giữ vững khu vực phòng ngự. Phát kiến tổ chức thay phiên trong phòng ngự đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật tác chiến phòng ngự của lực lượng vũ trang ta. Nó vừa đáp ứng được yêu cầu tác chiến dài ngày, vừa duy trì được sức mạnh để đánh bại được các đợt tiến công liên tiếp của nhiều thê đội địch, thay nhau liên tục tiến công vào trận địa của ta, với sự chi viện tối đa củá phi pháo và xe tăng. Đã 30 năm qua đi, thời gian như người thợ đã mài viên ngọc chiến công ở Tàu Ô - Xóm Ruộng ngày càng sáng hơn, càng sáng mãi tinh thần còn người còn trận địa; sáng mãi trí tuệ Việt Nam, trí tuệ của cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 và nhân dân Tàu Ô - Xóm Ruộng đã làm nên bản hùng ca đầy sáng tạo trong tác chiến phòng ngự trên mảnh đất miền Đông gian lao và anh dũng. T.V.H Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:14:38 am QUÂN VÀ DÂN BÌNH PHƯỚC VỚI CUỘC CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG VÂY ÉP BÌNH LONG VÀ CHỐT CHẶN TÀU Ô TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972 NGUYỄN HỮU LUẬT UVBCH TƯ Đảng - Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước Trong năm 1971, cho tới trước khi bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ tháng 4 năm 1972, quân dân Bình Phước đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.780 tên địch, trong đó có nhiều binh lính, sĩ quan Mỹ (không kể các trận tiến công của quân chủ lực Miền) thu giữ và phá hoại hàng ngàn phương tiện chiến tranh của Mỹ-ngụy. Cùng với mũi tiến công quân sự, mũi tiến công chính trị cũng phát triển mạnh, nhất là phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bình Long, Lộc Ninh; phong trào đấu tranh của học sinh ở Bình Long chống quân sự hóa học đường, đòi giảm học phí; các phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc, đồng bào Kinh ở các đồn điền đã nhanh chóng trở thành một phong trào rộng lớn và mạnh mẽ đến các ruộng vườn và nương rẫy. Ở Bình Long, quần chúng đã giành quyền làm chủ 47 ấp trong số 104 ấp chiến lược, các phong trào này đã mang sắc thái nổi dậy của quần chúng. Về tổ chức chiến trường: đối với địch, Bình Long là một tỉnh, còn đối với ta vào thời điểm năm 1972, Bình Long thuộc tỉnh Bình Phước (bao gồm cả Bình Long và Phước Long). Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã vạch kế hoạch tiến công Xuân - Hè năm 1972 cho tất cả các hướng chiến lược toàn Miền, trong đó quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu là đường 13, khu vực quyết chiến là Bình Long và Lộc Ninh nhằm tiêu diệt phần lớn quân chủ lực ngụy, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn lực lượng bảo an dân vệ; bộ máy kềm kẹp của địch, phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới ở bắc Sài Gòn, giải phóng những khu vực quan trọng, tạo bàn đạp tiến công vững chắc, uy hiếp Sài Gòn và các hướng thứ yếu nghi binh, thu hút cầm chân địch ở các chiến trường Tây Nguyên, Tây Ninh, Long An, Biên Hòa... Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền, tháng 11 năm 1971, Đảng bộ Bình Phước tổ chức hội nghị kiểm điểm việc triển khai tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của trên, vạch kế hoạch hành động cho toàn Đảng bộ trong thời gian tới. Nghị quyết nêu rõ "toàn Đảng bộ ra sức nắm lấy thời cơ thuận lợi trước mắt... quyết tâm đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, quyết tâm giành thắng lợi lớn nhất". Nghị quyết đề ra nhiệm vụ cho từng vùng, từng đơn vị trực thuộc, nhấn mạnh phương châm vừa cùng quân chủ lực đánh tiêu diệt địch, vừa hỗ trợ quần chúng phá ấp, phá kềm làm tan rã, sụp đổ lực lượng kềm kẹp và hệ thống phòng thủ của địch; mở rộng vùng giải phóng tạo thế và lực cho ta; huy động lực lượng địa phương vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược về nơi tập kết theo kế hoạch; bố trí lực lượng vũ trang địa phương hiệp đồng với quân chủ lực tiến công địch. Cuối tháng 3 năm 1972, ta đánh lớn ở Quảng Trị, Tây Nguyên. Trên chiến trường Đông Nam Bộ, đêm 31 tháng 3 rạng 1 tháng 4 năm 1972 quân ta tiến công cứ điểm Xa Mát (đường 22 - Tây Ninh) để nghi binh thu hút địch. Trong đó, tại Lộc Ninh, Bình Long các đơn vị chủ lực Miền, lực lượng vũ trang tỉnh, các đại đội của huyện, du kích xã đã áp sát mục tiêu được giao, hình thành thế bao vây quân địch, các đội tiến công bố trí các mũi chuẩn bị kết hợp với quần chúng nổi dậy phá các ấp chiến lược. Đúng 5 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4 năm 1972, quân chủ lực Miền mở đầu cuộc tiến công vào cụm cứ điểm Lộc Ninh. Phối hợp với chiến trường Lộc Ninh, các lực lượng vũ trang và du kích Bình Long cùng với quân chủ lực tấn công và làm tan rã hoàn toàn các cứ điểm xung yêu của địch trên đường 13. Sư đoàn 7 triển khai chiếm lĩnh dọc đường 13 từ ngã ba Đồng Tâm đến thị trấn Chơn Thành, kết hợp với huyện đội Chơn Thành, Hớn Quản gỡ một số đồn bót ngoại vi thị xã An Lộc. Ở phía bắc thị xã, Sư đoàn 9 cùng với du kích và bộ đội tỉnh, huyện tiến công vào căn cứ Téc Ních và cứ điểm Phú Lố. Trong nội ô thị xã ta liên tiếp pháo kích, giam chân địch trong các đồn bót. Trước sự tấn công mãnh liệt của quân ta, lại không được tăng viện, địch buộc phải bỏ Lộc Ninh để dồn sức phòng thủ Bình Long. Ngày 7 tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh được hoàn toàn giải phóng. Mất Lộc Ninh, thị xã Bình Long bị bao vây, Mỹ ngụy dồn lực lượng cả vùng 3 chiến thuật và phần lớn quân chủ lực ngụy ở Nam Bộ để đối phó với ta trên vùng đông bắc Sài Gòn, giữ lấy thị xã Bình Long. Các hoạt động đó của địch đã gây cho quân ta nhiều khó khăn trong việc cơ động lực lượng, chuyển binh khí kỹ thuật, song Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn quyết tâm giải phóng bằng được thị xã Bình Long. Ngày 13 tháng 4 năm 1972, trong khi cánh quân chủ lực bí mật đánh vào thị xã Bình Long, lực lượng vũ trang tỉnh, các đội công tác huyện và du kích các xã tập trung đánh diệt trung đội bảo an đóng ở ấp chiến lược Xa-cô-xuýt, truy bắt bọn tề điệp, phá rã bộ máy kềm kẹp của địch, đánh chiếm và dứt điểm đồn Xa-cô-đơn do 1 đại đội bảo an đóng giữ. Một bộ phận vũ trang huyện Hớn Quản và du kích Phước An hỗ trợ cho trung đội dân vệ ấp chiến lược Tông Cui (ta nắm được từ năm 1971) đứng lên khởi nghĩa giành thắng lợi, phá tan ấp chiến lược Tông Cui. Khi các đơn vị tiến công vào thị xã, Tiểu đoàn 368 của tỉnh và lực lượng vũ trang của huyện Hớn Quản tiến công đồn bảo an ở Phú Miêng, bót cảnh sát Quản Lợi, bót dân vệ Phú Lạt, bao vây đánh chiếm diệt các ban tề ngụy, kêu gọi lính dân vệ, bảo an ra hàng. Tại Sóc Gòn, chặn đánh quyết liệt một tiểu đoàn biệt động quân ngụy, diệt 40 tên khi chúng định khôi phục lại thế trận. Ta liên tiếp đánh địch ra phản kích, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu ở ngoại vi và kìm chân địch để lực lượng chủ lực đánh sâu vào các vị trí trong nội ô, sau đó lực lượng địa phương được lệnh chuyển sang phối hợp với quân chủ lực Miền đánh chiếm Núi Gió và điểm cao 169, diệt phần lớn tiểu đoàn dù ngụy và ban chỉ huy lữ đoàn dù. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:15:23 am Ở vùng ven thị xã, các mũi tiến công cùng du kích phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá tề, gọi binh sĩ ra hàng. Ở Xa Cam, Xa Cát, Văn Hiến... hàng chục lính phòng vệ bỏ súng về với cách mạng, một số cơ sở mật tại Xa Cát đã vận động thuyết phục 29 phòng vệ dân sự trở về với cách mạng.
Trong 32 ngày, đêm (đợt 1) trên chiến trường Bình Long, đường 13 diễn ra những trận đánh vô cùng quyết liệt, vòng vây của quân ta ngày càng xiết chặt các căn cứ, đơn vị địch trong thị xã. Nhiều trận đánh diễn ra ác liệt trong nội ô thị xã ở các đại lộ Hoàng Hôn, khu nhà thờ, chợ thị xã... Ta và địch giành đi, giật lại từng bức tường, từng căn nhà. Địch tập trung hỏa lực đánh phá nội ô thị xã để ngăn chặn bước tiến quân của ta. Thời gian này địch đã giết hại hàng ngàn đồng bào ta, phần lớn nhà cửa, tài sản của nhân dân bị tiêu hủy hoàn toàn. Nhân khi địch đang bị thu hút ở chiến trường chính trên địa bàn thị xã, tại Chơn Thành, lực lượng vũ trang huyện cùng với du kích phát động nhân dân các xã Minh Hòa, Minh Thạnh, Sóc 5 nổi dậy giải phóng hoàn toàn các xã này. Tại thị trấn Chơn Thành, quân địch tập trung đông, nhưng do chúng đang thu hút vào mục tiêu giải tỏa đường 13, tiếp ứng cho thị xã Bình Long, nên phong trào quần chúng vẫn được duy trì. Các chi bộ Đảng vận động nhân dân một mặt cung cấp cho cách mạng lương thực, thuốc men và đưa con em tham gia lực lượng chiến đấu, mặt khác tổ chức cuộc đấu tranh với địch đòi đưa chồng con đi lính trở về với gia đình. Trong thời gian diễn ra chiến sự, hơn 80.000 nhân dân địa phương phải chịu đựng thử thách gay go, quyết liệt chưa từng có, có hơn 5.000 người bị giết hại. Để đảm bảo an toàn cho nhân dân, Đảng bộ Bình Phước đã kịp thời cử cán bộ đưa dân từ các nơi trong thị xã bị bọn địch de dọa về vùng an toàn. Với nỗ lực khắc phục khó khăn về lương thực, thuốc men, phương tiện vận chuyển đã đưa hơn 20 ngàn dân vượt qua bom đạn về vùng giải phóng. Ngày 15 tháng 5 năm 1972, do yếu tố bất ngờ của ta không còn nữa, và do lực lượng của ta chưa đủ mạnh để đối phó với địch khi chúng tập trung các phương tiện chiến tranh để giải tỏa thị xã Bình Long, giải tỏa đường 13, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định không tiến công thị xã mà chuyển sang bao vây, cô lập Bình Long, dùng lực lượng tiến công trên đường 13, diệt sinh lực địch. Tuy ta không thực hiện đúng kế hoạch đề ra là giải phóng hoàn toàn thị xã, song lần đầu tiên giải phóng trên một vùng hết sức rộng lớn, bọn địch chỉ kiểm soát được nội ô thị xã Bình Long. Ngày 16 tháng 5 nàm 1972, mở màn đợt 2 chiến dịch, Sư đoàn 7, chủ lực Miền tiếp tục chốt chặn trên đường 13, nhưng không phải phục vụ những trận đánh tiến công mà mục tiêu là đẩy lùi và đánh bại mọi âm mưu hành động phản kích giải tỏa đường 13 của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển, trên cơ sở giữ vững vùng giải phóng phía sau. Sư đoàn 7 đã dựng lên trên đường 13 một bức tường thép trên một chiều dài hơn 10 km từ nam thị xã Bình Long đến bắc Chơn Thành, lấy khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng làm khu, vực then chốt, những trận đánh ở đây diễn ra rất quyết liệt và gần 4 tháng liền từ 16 tháng 5 đến 28 tháng 8 năm 1972, Tàu Ô trở thành cái bẫy thu hút nhiều đợn vị chủ lực thiện chiến của Mỹ-ngụy, thực sự là cơn ác mộng đối với những tên chỉ huy sư đoàn, quân đoàn và cả bộ tổng tham mưu ngụy. Những trận đánh Tàu Ô - Xóm Ruộng, cống Ông Tề, Tân Khai, Thanh Bình... của Sư đoàn 7 và các lực lượng vũ trang địa phương Bình Phước góp phần xứng đáng vào thành tích chung của chiến dịch Nguyễn Huệ trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Phối hợp với hướng chủ yếu chiến dịch ở Bình Long, đường 13, Đảng bộ Bình Phước chỉ đạo các lực lượng vũ trang và du kích các xã tập trung mở tiếp 4 đợt tiến công vào các vị trí ở Đức Bổn, Hiếu Phong, Long Điền và trục Phước Quả (Phước Long). Trước áp lực tiến công của lực lượng vũ trang địa phương, 3 đại đội bảo an ở Đức Bổn, Cầu 38, Phước Tín vội vã rút chạy, nhiều đơn vị địch ở Bù Gia Mập, đồn Phú Nghĩa, Cầu 11, bót Bù Na... cũng vội vã tháo chạy về co cụm ở Phước Long và Đồng Xoài. Quân địch ở Phước Long, Đồng Xoài bị quân ta uy hiếp mạnh. Tóm lại, cuộc tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Đảng bộ và nhân dân Bình Phước luôn phát huy tinh thần tự lực, tự cường để khắc phục khó khăn, từng bước đưa phong trào cách mạng tiến lên, mặc dù ở một địa bàn mà trong suốt cuộc chiến đấu phải chịu nhiều hy sinh, gian khổ, liên tục chiến đấu bám giữ địa bàn. Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng liên tục tiến công địch đổ chuẩn bị chiến trường, củng cố vững chắc căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị hậu cần phục vụ chiến dịch, luôn sát cánh với quân chủ lực để phối hợp chiến đấu, dẫn đường để lực lượng ta tiêu diệt địch, đưa thương binh, đồng bào vùng tạm chiếm về vùng giải phóng. Có thể nói rằng, những cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên chiến trường Bình Long đã góp phần đáng kể vào thắng lợi của cuộc chiến đấu tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. N.H.L Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:16:40 am "CHỐT CHẶN TÀU Ô" - MỘT CÁCH ĐÁNH ĐỘC ĐÁO, VẬN DỤNG CHIẾN THUẬT CÓ BƯỚC PHÁT TRIỂN Trung tướng TS. NGUYỄN THẾ TRỊ UVBCHTƯ Đảng, Giám đốc HVQP Ba mươi năm đã trôi qua, nhưng những tháng ngày chiến đấu ác liệt ỗ Tàu Ô - đường 13 cứ tái hiện lên trong những con người đã tham gia chiến đấu ở mảnh đất kiên cường ác liệt ấy. Cuộc chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" của Sư đoàn 7 đã đi vào lịch sử đơn vị như mốc son chiến thắng vẻ vang, đi vào lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam như một hiện tượng mới, làm xuất hiện một thuật ngữ chiến đấu mới. "Chốt chặn Tàu Ô". Chiến thắng Tàu Ô đã rõ ràng, song gọi tên cuộc chiến đấu đó là gì? cũng còn không ít những ý kiến khác nhau. Sau 30 năm chiến thắng nhìn lại, với nhận thức của riêng mình, tôi xin góp đôi lời về cuộc chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" - một cách đánh độc đáo. I. NHIỆM VỤ VÀ CÁCH ĐÁNH CHIẾN DỊCH ĐẶT RA YẾU CẦU MỚI VỀ CHIẾN THUẬT Chiến dịch Nguyễn Huệ (miền Đông Nam Bộ), hướng chiến lược quan trọng, là một trong ba chiến dịch tiến công lớn của cuộc tiến công chiến lược nám 1972. Nhiệm vụ, mục tiêu chiến dịch đề ra: tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực ngụy (diệt chiến, trung, lữ đoàn, thiêt đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn); giải phóng quận lỵ (chi khu), thị xã (tiểu khu); hỗ trợ, thúc đẩy đánh phá bình định mở mảng, mở vùng, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế đứng vững chắc trên đường 13, uy hiếp Sài Gòn từ phía bắc. Mục tiêu quan trọng (mở đầu) là Lộc Ninh, mực tiêu chủ yếu (trung tâm) là An Lộc (Bình Long). Đối tượng tác chiến chủ yếu là sư đoàn 5 ngụy, lữ kỵ binh 3, một bộ phận sư đoàn dù và các lực lượng khác. Cách đánh chiến dịch: nghi binh thu hút địch trên hướng thứ yếu (đường 22 Sa Mát, Thiện Ngôn), tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu - đường 13, bất ngờ tiến công lớn bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, thực hiện lần lượt các trận then chốt: đánh chiếm chi khu Lộc Ninh (trận then chốt mở đầu), đánh chiếm thị xã Bình Long (trận then chốt quyết định), đánh bại các lực lượng phản đột kích, phát triển chiến dịch. Nhằm tập trung tạo ra ưu thế lực lượng để bảo đảm đánh chắc thắng trong các trận then chốt, ta phải chia cắt, ngăn chặn không cho địch cơ động lực lượng theo đường 13 tăng viện cho Lộc Ninh, Bình Long. Dự kiến lực lượng dịch có thể từ sư đoàn bộ binh tăng cường đến tương đương 2 sư đoàn cùng với các thiết đoàn và được phi pháo chi viện mạnh. Sư đoàn bộ binh 7 nhận nhiệm vụ "chốt chặn chiến dịch" trên đường 13, trước mắt bảo đảm cho lực lượng chủ yếu của chiến dịch tiến hành thắng lợi 2 trận then chốt (dự kiến 20 ngày), đồng thời giữ vững thế đứng trên đường 13 để phát triển chiến dịch trong cả hai trường hợp; trận then chốt trung tâm ở Bình Long thuận lợi cũng như gặp khó khăn. II. TÊN GỌI CHIẾN THUẬT LÚC ĐÓ VÀ THỰC TẾ TÁC CHIẾN "CHỐT CHẶN TÀU Ô" TỪ ĐẦU THÁNG 4 ĐẾN ĐẦU THÁNG 9 NĂM 1972 CỦA SƯ ĐOÀN 7 Sư đoàn 7 nhận nhiệm vụ tổ chức "chốt chặn chiến dịch", không cho địch theo đường 13 từ Lai Khê, Chơn Thành tăng viện lên và ngăn chặn địch từ Lộc Ninh, Bình Long rút chạy về. Đoạn ngăn chặn từ cầu Cân Lê đến Bầu Long, nam Chơn Thành, đoạn tác chiến chủ yếu từ Tân Khai đến bắc Chơn Thành (khoảng 12 km), trọng điểm là nam, bắc Tàu Ô - Xóm Ruộng. Bối cảnh lúc đó, trong lãnh đạo, chỉ đạo của ta chưa dùng thuật ngữ "tác chiến phòng ngự" và thực tế nếu áp dụng phòng ngự đơn thuần ở địa hình bằng phẳng khá trống trải này cũng khó hoàn thành nhiệm vụ. Thời gian này ở chiến trường, chiến thuật được vận dụng phổ biến là để đánh địch cơ động tiến công là vận động tiến công kết hợp chốt. Năm 1971, trong các chiến dịch phản công lớn của ta, nhiều đơn vị đã vận dụng có hiệu quả chiến thuật này như sư đoàn đã chốt ở ngã ba Pra-thiết, Trung đoàn 24/ Sư 304 chốt ở điểm cao 351 ... Do nhiệm vụ, tính chất chiến đấu và quy mô lớn nên quyết tâm của Sư đoàn 7 đề ra "vận động tiến công kết hợp chốt chặn chiến dịch". Quyết tâm này phù hợp với chủ trương của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã xác định "thực hành chốt chặn kết hợp vận động tiến công để tiêu diệt quân địch ở dã ngoại..." là một trong hai hình thức chiến thuật chủ yếu của chiến dịch Nguyễn Huệ. Thực tế chiến đấu "chốt chặn kết hợp với vận động" của sư đoàn ở Tàu Ô - đường 13 đã diễn ra thời gian dài, từ ngày 4 tháng 4 đến ngày 5 tháng 9 năm 1972 (5 tháng). Qua 4 đợt chiến đấu chính, với nhiều tình huống phức tạp, khó khăn, ác liệt, ta đã lần lượt đánh bại nhiều đợt tiến công, nhiều thủ đoạn xảo quyệt của các sư đoàn 21, sư đoàn 5, sư đoàn 18, lữ 3 KBTG... giữ vững trận địa "chốt chặn Tàu Ô". * Kết quả chiến đấu Ta đã tiêu diệt được nhiều dịch, phá hủy nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của chúng, cơ bản ngăn chặn được địch tăng viện đường bộ cho Bình Long. Giữ vững trận địa chốt Tàu Ô, tạo thế đứng vững chân trên đường 13, làm bàn đạp phát triển xuống vùng sâu. Với việc ngăn chặn, thu hút phần lớn lực lượng ở quân khu 3, một phần quân khu 4 địch, không cho chúng đưa lực lượng lớn lên Bình Long đã làm cho địch không có điều kiện phản công lớn lấn chiếm Lộc Ninh. Vì vậy, chiến thắng Tàu Ô đã góp phần quan trọng vào giữ vững vùng mới giải phóng, Lộc Ninh. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:17:49 am III. NHỮNG KINH NGHIỆM CHÍNH VÀ VẬN DỤNG
1. Tổ chức lực lượng và thế trận vừa vững chắc, liên hoàn vừa có thể đánh hiểm, giữ vững trận địa dài ngày Đặc điểm nhiệm vụ chiến đấu của sư đoàn, quy luật, thủ đoạn tiến công giải tỏa của địch và địa hình nơi tác chiến đặt ra cho sư đoàn phải có sự vận dụng linh hoạt về tổ chức lực lượng, tạo lập thế trận chốt chặn để hoàn tành nhiệm vụ được giao. Lực lượng chiến đấu được tổ chức gồm 2 thành phần cơ bản: lực lượng chốt chặn (giữ chốt) và lực lượng vận động tiến công. Lực lượng giữ chốt, qua các đợt chiến đấu thường khác nhau, nhưng thường chiếm 1/3 đến 40%; lực lượng vận động tiến công chiếm tỷ lệ cao hơn khoảng 60%. Nếu để lực lượng giữ chốt lớn dễ bị hỏa lực địch sát thương, tính cơ động giảm, khó phát huy được tính tích cực, chủ động. Do đặc điểm tác chiến ở "tuyến trong", xa hậu phương chiến dịch nên lực lượng bảo đảm ngoài những đơn vị binh chủng bảo đảm theo chức năng, lực lượng vận động tiến công cũng có nhiệm vụ tự bảo đảm cho mình và tham gia bảo đảm cho lực lượng giữ chốt. Với tổ chức lực lượng như vậy đã có sự phát triển, vì chiến đấu phòng ngự, thường lực lượng phòng ngự trận địa chiếm 2/3, lực lượng cơ động chiếm 1/3; còn chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt thì tỷ lệ lực lượng chốt ít hơn (10 đến 15%). Tổ chức trận địa chốt chặn: do đặc điểm chiến đấu ngăn chặn lực lượng địch cơ động theo đường bộ, nên tạo lập thế trận dựa theo trục đường 13 có chính diện (chiều rộng) hẹp 3 đến 3,5 km, chiều sâu (dài) trên đoạn chủ yếu từ Tân Kha đến Xóm Ruộng khoảng 8 km. Các chốt trong cụm chốt tiểu đoàn tạo thành thế "kiềng", vừa có chốt khống chế mặt đường, vừa có chốt giữ thế liên hoàn từ phía sau. Các tiểu đoàn của trung đoàn tạo thành thế đứng vững chắc hai bên đường, khống chế chặt mặt đường, đồng thời có thể chống địch vu hồi vào bên sườn và đánh từ phía sau. Các tiểu đoàn, trung đoàn làm nhiệm vụ vận động tiến công, đứng cách cụm chốt vài ba km, ở bên sườn hoặc phía trước cụm chốt, trên hướng tiến công chủ yếu của địch. Lực lượng này bố trí tương đối cơ động, tùy theo nhận định về hướng, thủ đoạn tiến công của địch và quyết tâm diệt địch của sư đoàn. Lập thế trận, sư đoàn phải giải quyết được mâu thuẫn: không tập trung đông lực lượng trong các chốt ở địa hình khá bằng phẳng, trống trải để tránh hỏa lực phi pháo mạnh của địch sát thương nhưng phải tạo ra thế ổn định, "chốt cứng, chặn đứng" được quân địch tiến công lớn. Có chốt, cụm chốt cố định, có chốt cơ động vừa có khả năng đứng vững qua các đợt hỏa lực chuẩn bị ác liệt kéo dài của địch, vừa chống được địch tiến công từ các hướng, có thể độc lập chiến đấu khi địch vòng vượt qua, hoặc địch lập điểm xen kẽ bao vây lại chốt ta. Thực tế đã chứng minh, các chốt đứng được vững còn do thế liên hoàn giữa các chốt, cụm chốt, liên hoàn với thế trận của lực lượng vận động tiến công đánh mạnh, đánh hiểm vào bên sườn, đánh đau vào phía sau đội hình tiến công của địch. 2. Kết hợp chặt chẽ kiên cường giữ chốt với tích cực, chủ động tiến công địch bằng nhiều chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu linh hoạt Đầu chiến dịch ta xác định: "Vận động tiến công là chủ yếu, chốt chặn là quan trọng" nhưng có "chốt cứng" mới "chặn đứng" được quân địch, không cho địch lên tăng viện giải tỏa cũng như rút chạy. Chiến đấu của chốt không chỉ diễn ra vài ba ngày, vài ba tuần mà kéo dài tới hơn 5 tháng, nó quyết định đến hoàn thành nhiệm vụ của sư đoàn. Hành động của lực lượng giữ chốt, thực chất là hành động chiến đấu phòng ngự. Dựa vào công sự, trận địa, hỏa lực, sát thương quân địch, kết hợp với phản kích để chặn đứng, đẩy lùi các đợt tiến công của chúng. Chỉ có giữ vững trận địa chốt mới thực hiện được "chốt cứng, chặn đứng" quân địch tăng viện tiến công. Và chỉ khi nào chặn được địch dài ngày mới làm chúng sa lầy, lực lượng bị tiêu hao, bộc lộ sơ hở, tạo cho ta vận động tiến công có hiệu quả. Song, chỉ dựa vào các chốt cũng không thể ngăn cản được địch cơ động lực lượng tăng viện và giữ được chốt lâu dài, ở địa hình bằng phẳng, địch có thể bao vây cô lập chốt để lực lượng lớn vòng vượt qua hoặc dùng thủ đoạn lấn dần từng bước, triệt tiếp tế chi viện của ta, làm sức chiến đấu ở các chốt giảm dần để chúng đánh chiếm (như từ 21 tháng 5 đến 6 tháng 6 và nửa cuối tháng 7). Vì vậy, các chốt có đứng vững được hay không, phải có thế liên hoàn với lực lượng vận động ở vòng ngoài, có hậu phương bảo đảm vững chắc. Do đó, chiến đấu của lực lượng vận động mang tính tích cực chủ động, nhưng luôn phải gắn bó mật thiết với tác chiến trong chốt, hỗ trợ đắc lực cho giữ chốt. Những trận tiến công của nó không chỉ là những trận phản kích mà chủ yếu là những trận chủ động tiến công bằng các hình thức chiến thuật linh hoạt như vận động tiến công, phục kích, tập kích... đánh vào cả phía trước, bên sườn, phía sau đội hình tiến công giải tỏa cửa địch. Do lực lượng vận động tạo được thế đứng chân tốt, sử dụng linh hoạt và tương đối cơ động nên đã thực hiện được nhiều trận đánh đau, đánh hiểm vào đội hình quân địch tiến công, điển hình như các trận tập kích vào căn cứ Lai Khê, phục kích địch trên đoạn Chơn Thành, Bầu Bàng, Lai Khê cuối tháng 8, đầu tháng 9. Những trận đánh hiểm rất có kết quả ấy đã buộc địch phải rút nhiều lực lượng khỏi Tàu Ô về giữ hậu phương của chúng. Trong mối quan hệ này: giữ vững trận địa (chốt) là điều kiện để thực hiện "chốt cứng, chặn đứng" không cho địch cơ động lực lượng. Vận động tiến công tiêu diệt được nhiều địch là mục đích nhưng cũng là biện pháp tích cực để giữ chốt. Có tiến công đánh rộng khắp tiêu diệt được nhiều địch mới buộc địch phân tán, giảm áp lực cho chốt. Chốt có đứng vững mới chặn được địch, hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:18:45 am 3. Tổ chức bảo đảm chiến đấu dài ngày trong điều kiện tác chiến xa hậu phương chiến dịch
Tổ chức bảo đảm các mặt chu đáo, có giải pháp để bảo đảm được kịp thời, hiệu quả là một trong những điều kiện để duy trì sức chiến đấu liên tục, dẻo dai của bộ đội. Đặc điểm chiến đấu chốt chặn ở Tàu Ô xa hậu phương chiến dịch, thời gian dài, địch tập trung đánh phá ngăn chặn, chia cắt các đường vận chuyển tiếp tế, nhằm làm suy yếu ta để đánh chiếm chốt. Công tác bảo đảm chiến đấu gồm nhiều mặt, khó khăn lớn nhất của chiến đấu chốt chặn Tàu Ô là bảo đảm về hậu cần, kỹ thuật và bổ sung lực lượng để duy trì sức chiến đấu liên tục dài ngày. Bảo đảm hậu cần cho chiến đấu, chủ yếu là vận chuyển tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội giữ chốt. Nhiều khi trung đoàn, sư đoàn phải tổ chức lực lượng chiến đấu mở đường qua các tuyến vây của địch để lực lượng vận tải đưa gạo, đạn vào chốt. Có những thời gian địch lập các chốt xen kẽ với chốt ta, phong tỏa cả vòng trong, vòng ngoài, có lần ta phải mặc quần áo lính ngụy, mạo hiểm vượt qua vòng vây vào tiếp tế cho chốt. Các tiểu đoàn, trung đoàn làm nhiệm vụ cơ động tác chiến ở vòng ngoài, khi cần thiết cũng tham gia vận chuyển tiếp tế. Trước hết, hai tiểu đoàn cơ động phải bảo đảm cho tiểu đoàn giữ chốt của trung đoàn. Vì vậy, dù phải chiến đấu liên tục trong vòng vây tiến công của địch, ta vẫn bảo đảm cho bộ đội đủ ăn, có sức dẻo dai. Bảo đảm tiếp tế hậu cần đã khó, bảo đảm kỹ thuật càng khó hơn, nhất là bảo đảm về đạn hỏa lực. Ngoài việc giáo dục bộ đội làm hầm hào, công sự cất dấu, phòng tránh và sử dụng tiết kiệm, tự sửa chữa kết hợp với bổ sung... quan trọng nhất phải biết tận thu vũ khí đạn dược của địch để đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, ta đã tích cực thu nhặt vũ khí của địch như M79, M72, AR15, các loại đạn cối, pháo... và được coi là nguồn bổ sung quan trọng. Từ đó khẳng định, trong điều kiện bảo đảm kỹ thuật khó khăn thì việc tích cực tận thu vũ khí, phương tiện của địch để đánh địch là giải pháp vừa tiết kiệm, kịp thời và có hiệu quả cao. Vấn đề trực tiếp nhất đến sức chiến đấu liên tục, dài ngày là việc duy trì quân số chiến đấu ở từng đại đội, tiểu đoàn bộ binh. Ta đã kết hợp chặt chẽ xây dựng với tác chiến, huấn luyện với chiến đấu, nâng cao trình độ thiện chiến để đạt hiệu xuất chiến đấu cao, giảm tổn thất. Trong điều kiện quân số trên bổ sung có hạn thì việc tổ chức cứu chữa thương binh nhẹ ngay tại bệnh xá trung đoàn, sư đoàn để kịp thời đưa về đơn vị chiến đấu có ý nghĩa quan trọng. Thường xuyên củng cố, tổ chức luân phiên nhau về phía sau nghỉ ngơi ngắn ngày và bổ sung khôi phục lại sức chiến đấu có ý nghĩa quyết định. Nhờ có giải pháp phù hợp nên mặc dù sư đoàn chiến đấu liên tục hơn 5 tháng, quân số chiến đấu trung bình mỗi tiểu đoàn bộ binh vẫn đạt khoảng 220 đồng chí (đầu chiến dịch là 300 đồng chí). Mặt khác, việc bảo đảm ăn uống, ngủ nghỉ, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng giữ vững ý chí quyết tâm là yếu tố quyết định đến chất lượng đơn vị, sức chiến đấu liên tục, dài ngày. 4. Vận dụng trong điều kiện mới Những kinh nghiệm chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" có nhiều điểm "gần" với chiến đấu phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Thứ nhất, "chốt chặn Tàu Ô" thể hiện tính tích cực ngay từ trong tổ chức sử dụng lực lượng, tạo lập thế trận và cách đánh. Thứ hai, trận địa then chốt vững chắc, liên hoàn, chông, đánh hiệu quả địch tiến công có nhiều xe tăng thiết giáp, có hỏa lực không quân mạnh (cả B52), đánh liên tục dài ngày với nhiều thủ đoạn xảo quyệt. Trận địa chốt vẫn tồn tại, có sức sống cao ở địa hình bằng phẳng trống trải. Thứ ba, tạo được thế trận hiểm hóc để chủ động tiến công lại địch, đánh địch cả ở phía trước, bên sườn, phía sau, đánh đau sâu vào hậu phương địch, buộc chúng phân tán, bị động đối phó. Thứ tư, duy trì sức chiến đấu liên tục, dài ngày, càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh. Đó là những kinh nghiệm hay cần được nghiên cứu phát triển để vận dụng phù hợp với điều kiện chiến đấu mới. Tuy nhiên, ta chưa hạn chế được địch cơ động bằng đường không. Ngày nay quân Mỹ có khả năng cơ động đường không nhanh và nhiều bằng máy bay lên thẳng. Để hạn chế quân Mỹ cơ động lực lượng bằng máy bay lên thẳng, ta cần có những giải pháp: - Đẩy mạnh tiến công rộng khắp của lực lượng vũ trang tại chỗ, căng kéo, thu hút phân tán, kìm giữ địch, hạn chế địch tập trung. - Dùng đặc công, pháo chuyên trách... tập kích vào nơi địch lập kết máy bay lên thẳng để bốc quân cơ động... - Sử dụng súng máy phòng không, tên lửa A72... phục kích trên các đường bay của máy bay lên thẳng chở quân cơ động. - Bố trí bom, mìn, vật cản ở những bãi địch có thể đổ bộ, buộc chúng phải đổ bộ vào những nơi ta đã dự kiến và chuẩn bị thế trận sẵn ... Kết luận Cuộc chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" đã đổ lại nhiều kinh nghiệm quý, những kinh nghiệm ấy được đổi bằng xương máu của hàng trăm cán bộ chiến sĩ ta1 (Qua hơn 5 tháng chiến đáu, Sư đoàn bộ binh 7 hy sinh: 1029 đồng chí; bị thương: 777 đồng chí). Ôn lại truyền thống vẻ vang, rút ra từ thực tiễn tác chiến để nghiên cứu, phát triển nghệ thuật chiến đấu phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, sần sàng chiến đấu là cần thiết, là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Bài tham luận của tôi mới chỉ là những kinh nghiệm bước đầu, góp một phần nhỏ làm sáng tỏ truyền thống và kinh nghiệm. Rất mong có nhiều ý kiến trao đổi. N.T.T Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:19:54 am QUÂN DÂN BÌNH DƯƠNG THAM GIA CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972 NGUYỄN MINH ĐỨC Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Trước những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong mùa xuân năm 1971 cùng với việc Mỹ buộc phải rút thêm quân và sự kiện cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 1972... đã tạo ra một thời cơ thuận lợi mới cho giai đoạn cách mạng tiếp theo. Phương hướng lớn của Bộ Chính trị đề ra cho cuối năm 1971 và cả năm 1972 là: "Mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn chiến trường Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam, đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, giành lại thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi hẳn cục diện chiến trường ở miền Nam và Đông Dương". Trên cơ sở phương hướng lớn đó, tháng 8 năm 1971 Bộ Chính trị ra nghị quyết: mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, trên các hướng như miền Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 3 năm 1972 Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 giành được thắng lợi lớn trên hướng chiến lược miền Đông Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến lược khác trên toàn Miền tạo thành cơ sở làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trên bàn hội nghị Pa-ri. Chiến dịch Nguyễn Huệ được bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 1972 và kết thúc vào ngày 19 tháng 01 năm 1973. Không gian mở chiến dịch nằm về phía bắc Sài Gòn, bao gồm bốn tỉnh: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương với lực lượng tương đương cấp quân đoàn tăng cường. Với chiến dịch Nguyễn Huệ, lần đầu tiên miền Đông Nam Bộ giải phóng được một vùng rộng lớn trên hướng chiến lược xung yếu bắc Sài Gòn, mở mảng, mở vùng ở bắc Bình Dương, uy hiếp cửa ngõ bắc Sài Gòn. Vùng giải phóng được nối thông với Đông Bắc Cam-pu-chia, với Tây Nguyên và với hậu phương chiến lược miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Qua đó, ta đã thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường miền Đông Nam Bộ, giành lại quyền chủ động chiến lược, tạo thế đứng chân vững chắc cho bộ đội chủ lực Miền ngay trong nội địa chiến trường miền Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc, đẩy được phong trào chiến tranh nhân dân phát triển cao hơn trước. Ngoài chiến công giải phóng Lộc Ninh và nhiều vùng rộng lớn khác, cuộc tiến công vây ép Bình Long và những trận đánh chốt chặn trên đường 13 của Sư đoàn 7 thực sự trở thành những trận đánh kỳ diệu trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Sư đoàn 7 đã dựng trên đường 13 một bức tường thép trên một chiều dài hơn 10 km, lấy khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng làm khu vực then chốt. Thực hiện "chốt chặn kết hợp vận động tiến công" với khẩu hiệu "chốt cứng, chặn đứng", suốt gần 150 ngày không một chiếc xe, một tên địch nào vượt qua đươc. Tàu Ô, Xóm Ruộng trở thành cái bẫy thu hút nhiều đơn vị chủ lực thiện chiến củâ địch như những con thiêu thân bay vào lửa. Tàu Ô - Xóm Ruộng thực sự là cơn ác mộng đối với những tên chỉ huy sư đoàn, quân đoàn và cả bộ tổng tham mưu ngụy. Thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ còn thể hiện ở khâu chỉ huy hiệp đồng tác chiến giữa các binh chủng, chỉ đạo phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và quần chúng nhân dân ở vùng tạm bị chiếm. Lực lượng tại chỗ đã được huy động trong mọi tình huống chiến đấu để tiếp thêm sức mạnh cho bộ đội chủ lực. Giải phóng Lộc Ninh, tiến công thị xã Bình Long, chặn địch trên đường số 13, phá bình định ở bắc Thủ Dầu Một đều luôn có mặt bộ đội địa phương. Dân quân du kích không ngừng tổ chức các trận đánh quấy phá địch trên khắp chiến trường miền Đõng. Quân và dân Bình Dương đã tham gia và góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô. Ngay trong thời gian chuẩn bị chiến dịch Nguyễn Huệ, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục trong hội nghị chuyên đề về chống phá bình định (tháng 7 năm 1971), tháng 9 năm 1971 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương do đồng chí Trương Trinh Kiên (Hai Kiên) làm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Hữu (Một Hữu) làm chỉ huy trưởng nhằm tiếp tục đẩy mạnh phong trào đánh phá "bình định" phá lỏng, phá rã các ấp chiến lược trên diện rộng, phát triển chiến tranh du kích. Ngay từ cuối năm 1971, đầu 1972 quân dân Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã mở đợt hoạt động cao điểm. Trong đợt hoạt động này, lực lượng địa phương tổ chức nhiều trận pháo kích vào sân bay Phú Lợi, sở chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ nống ra trên đường 16. Ngày 16 tháng 1 năm 1972, bộ đội huyện Tân Uyên tập kích chi khu quân sự huyện Tân Uyên cùng phối hợp với lực lượng chủ lực, du kích các xã đồng loạt tiến công vào các ấp chiến lược Chợ Đậu, Bình Mỹ, Vàm Giá... Ở Châu Thành, đại đội 62 phối hợp với du kích thọc sâu tập kích các ấp Thới Hòa, Tân An diệt ác ôn, giải tán phòng vệ dân sự. Ở Bến Cát, đại đội 61 và các đơn vị tập trung huyện phân tán xuống các xã Thanh Tuyền, An Điền, Thanh An, Mỹ Phước phối hợp với du kích diệt ác, phá tề, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh giành quyền làm chủ. Phối hợp với Trung đoàn 16, bộ đội huyện đã diệt dồn Bến Súc, bót Bưng Còng, bao vây bức rút tua ấp 1, ấp 2 xã Thanh An và chặn đánh lực lượng biệt động quân thuộc chiến, đoàn 7, trung đoàn thiết giáp số 6 và bọn bảo an ở chi khu quân sự Bến Cát, Dầu Tiếng đi hành quân giải tỏa, bắn chìm ba tàu trên sông Sài Gòn, bắn cháy và phá hủy 9 xe M113, diệt 120 tên. Với những cố gắng và nỗ lực phi thường, sau 6 tháng hoạt động đầy khó khăn thử thách (từ năm 1971 đến cuối tháng 3 năm 1972), mặc dù lực lượng cách mạng của tỉnh có bị tổn thất nhưng Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh vẫn thể hiện được tinh thần chủ động tiến công, đã đánh mạnh và từng bước làm thất bại kế hoạch "bình định" của địch; phá lỏng, phá rã bộ máy kềm kẹp của địch trên diện rộng, tạo điều kiện thuận lợi để cùng lực lượng miền Đông bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:20:41 am Ngày 1 tháng 4 năm 1972, các lực lượng Tây Ninh (hướng thứ yếu) nổ súng mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ. Trên hướng chủ yếu Bình Long, các đơn vị chủ lực nhanh chóng chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công.
Chiến thắng Thiện Ngôn - Xa Mát trên đường 22 Tây Ninh tạo thuận lợi cho hướng chính thực hiện trận đánh mở đầu then chốt của chiến dịch ở khu vực Lộc Ninh. Hòa cùng tiếng súng tiến công từ các hướng của lực lượng ta trong mùa chiến dịch, tại Thủ Dầu Một đêm 15 rạng ngày 16 tháng 4, Tiểu đoàn Phú Lợi tập kích đồn An Lợi, diệt gọn đại đội bảo an, bắt sống 22 tên, thu hơn 40 súng. Đội biệt động thị xã phối hợp với bộ đội dặc công tập kích bót Chánh Lộc, diệt 64 tên. Trước sức tấn công mãnh liệt của ta trên khắp chiến trường, một số đơn vị bảo an của tiểu khu Bình Dương chống lệnh hành quân, không đi ứng cứu cho đồng bọn ở Tân Bình, An Lợi. Chỉ trong 4 tháng năm 1972, ở các huyện Châu Thành, Tân Uyên, Phú Giáo đã có 730 binh lính địch đào rã ngũ. Nhân dân và du kích các địa phương đã rải hàng chục ngàn tờ truyền đơn giải thích 10 chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời, vạch trần âm mưu của Mỹ-Thiệu, vận động đồng bào có con em bị địch bắt đi lính trở về với gia đình. Nhiều nơi ở Bến Cát, Châu Thành, Phú Giáo, Tân Uyên nhờ khống chế được bọn tề ấp, tề xã, ta đã giành quyền làm chủ hàng chục xã, ấp ở mức độ khác nhau. Nhằm phát huy những thắng lợi trong Xuân-Hè năm 1972, ta tiếp tục mở đợt hoạt động cao điểm từ tháng 10 tháng 1972 quyết giành những thắng lợi có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị. Bước vào đợt hoạt động cao điểm này, Tỉnh ủy phân công cán bộ bám các huyện để lãnh đạo phong trào nổi dậy của quần chúng. Đêm 5 rạng ngày 6 tháng 10 năm 1972, quân dân Thủ Dầu Một phối hợp với chủ lực Miền đã mở một đợt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực kềm kẹp của địch, giải phóng và làm chủ ở hàng chục ấp trên các khu vực dọc theo đường 13 như Thới Hòa, ngã tư Sở Sao, ngã tư Cây Me, Chợ Mới, Suối Giữa... Trên hướng Bến Cát, nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt ở Rạch Bắp, ngã ba Lăng Xi, An Hòa, An Lợi, Chánh Lưu, Tân Bình... địch phải liên tục bị động đối phó. Nhiều đoạn trên tỉnh lộ 14, 15, 16, 7 bị cắt đứt và khống chế nặng. Ở Lái Thiêu, Dĩ An, Tiểu đoàn 1 và 2, đại đội đặc công 371 và 564 cùng lực lượng huyện, du kích xã đột nhập vào các âp chiến lược An Sơn, An Thạnh, Bình Nhâm, Hưng Định, Tân Thới, Đông Hòa, Tân Đông Hiệp, Bình An... diệt ác, phá kềm, giải tán tề và phòng vệ dân sự tạo thế cho nhân dân bung ra vùng giải phóng. Được các lực lượng vũ trang hỗ trợ, hàng ngàn lượt đồng bào đấu tranh với địch đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống bắt thanh niên đi lính, chống bắt tham gia phòng vệ dân sự. Nhiều gia đình binh sĩ kêu gọi chồng, con, em bỏ súng trở về với gia đình. Trong tháng 10 năm 1972, với làn sóng tiến công và nổi dậy liên tục khắp nơi từ Bến Cát, Châu Thành, Lái Thiêu, Tân Uyên, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một... lực lượng vũ trang của tỉnh đã đánh mạnh vào lực lượng kềm kẹp của địch ở xã, ấp diệt và bắt sống 8.000 tên, thu 200 súng các loại, đánh sập 14 tua, bức rút bức hàng 40 tua khác, giải tán hàng trăm phòng vệ dân sự, vận động gần 300 binh lính địch đào rã ngũ, phá rã hàng trăm ấp chiến lược và hơn 10.000 đồng bào từ 9 xã, 28 ấp chiến lược bung về xóm cũ làm ăn sinh sống. Ngày 13 tháng 1 năm 1973, trên địa bàn Bến Cát, Dầu Tiếng, quân và dân địa phương phối hợp với một đơn vị của Sư đoàn 7 chặn đánh, diệt gọn 2 tiểu đoàn địch, bắt sống 487 tên và đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn khác đi cứu viện, thu và phá hủy nhiều vũ khí cùng phương tiện chiến tranh. Trong khi địch đang bị động đối phó trên toàn chiến trường, ngày 23 tháng 1 năm 1973 lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một được nhân dân giúp đỡ đưa 100 trái đạn ĐKB xuống tận ấp chiến lược Đồng An (Tân Thới - Lái Thiêu) bất ngờ bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, gây chấn động lớn đối với ngụy quân, ngụy quyền ở Sài Gòn. Như vậy, từ khi mở đầu đến kết thúc chiến dịch Nguyễn Huệ, cũng như trong thời gian tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô, quân dân Thủ Dầu Một đã tích cực tham gia phối hợp chiến đấu và giành được những thắng lợi quan trọng góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Mỗi chiến thắng vinh quang trên chiến trường Thủ Dầu Một (Bình Dương) ở những thời điểm khác nhau đều thắm đậm tình đoàn kết chiến đấu, phối hợp chia lửa cùng nhau giữa bộ đội chủ lực Miền và lực lượng địa phương. Truyền thống tốt đẹp đó đang được tiếp tục phát huy, tạo thành những kết quả sinh động trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. N.M.Đ Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Sáu, 2026, 05:21:44 am CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ, SỰ PHÁT TRlỂN MỚI VỀ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH, NHỮNG KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TRONG NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC NGÀY NAY Trung tướng PHAN TRUNG KIÊN ƯVBCH TƯ Đảng, Tư lệnh Quân khu 7 Mùa xuân năm 1972, cục diện chiến dịch chung của ta trên chiến trường miền Nam có những phát triển mang tính bước ngoặt. Sau thắng lợi của chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng NB-71" của địch tại vùng biên giới Việt Nam - đông bắc Cam-pu-chia và thắng lợi các chiến dịch đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Chen La II... Ta đã phá thế bao vây của địch, mở rộng vùng giải phóng, khai thông tuyến hành lang biên giới, nối liền tuyến vận chuyển chiến lược từ hậu phương miền Bắc vào đến chiến trường B2. Thế liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương phát triển vững chắc. Những thắng lợi về mặt quân sự của ta đã tạo thời cơ rất quan trọng để chiến trường B2 có điều kiện củng cố phát triển lực lượng ba thứ quân. Đặc biệt do được sự chi viện kịp thời của hậu phương lớn miền Bắc về lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, nên từ mùa khô 1971 - 1972, tại chiến trường B2 đã có thêm các đơn vị binh chủng kỹ thuật gồm Tàng - Thiết giáp, tên lửa phòng không A72, tên lửa chống tăng B72 và nhiều đơn vị pháo xe kéo. Sự phát triển mới về lực lượng, binh khí kỹ thuật và những kinh nghiệm chỉ huy các chiến dịch phản công trong mùa khô 1970 - 1971 là những yếu tố quan trọng để Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền hạ quyết tâm mở chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới và tuyến phòng thủ bắc Sài Gòn của địch. Xét về quy mô, đây là chiến dịch tiến công lớn nhất tại chiến trường B2 tính đến thời gian đó. Với lực lượng gồm 3 sư đoàn (5, 7, 9), 3 trung đoàn độc lập, 1 trung đoàn pháo xe kéo, 1 tiểu đoàn tăng, thiết giáp, 2 tiểu đoàn hỏa tiễn phòng không và chống tăng, 2 tiểu đoàn đặc công. Cùng phối hợp tác chiến còn có 63 đại đội, tiểu đoàn bộ binh tỉnh, huyện của các địa phương trên địa bàn chiến dịch. Xét về không gian, thời gian chiến dịch, chiến dịch diễn ra trên một không gian rộng gồm địa bàn các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Dương, Bình Long, thời gian thực hiện chiến dịch 10 tháng (31.3.1972 - 28.1.1973), khu vực tác chiến xa hậu phương, căn cứ của ta nên công tác bảo đảm chiến dịch gặp nhiều khó khăn và có nhiều vấn đề phải giải quyết. Xét về tính chất của chiến dịch, đây là chiến dịch tiến công ta có ưu thế chủ động thời gian chuẩn bị chiến dịch, hướng tiến công và thời gian tiến công của chiến dịch. Tuy nhiên, đối tượng tác chiến của ta trong chiến dịch là quân đoàn 3 ngụy, lực lượng dù, thiết giáp và tổng trù bị. Đây là các đơn vị tinh nhuệ sừng sỏ nhất của địch, chúng tổ chức phòng thủ chặt chẽ có chiều sâu (thành nhiều tuyến), quá trình tác chiến được không quân Mỹ chi viện tối đa (kể cả máy bay ném bom chiến lược B52). Do đó yếu tố quan trọng hàng đầu để chiến dịch thắng lợi chính là nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch của ta. Thực tế diễn biến của chiến dịch đã chứng minh, sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch trong từng đợt của chiến địch về phương châm tác chiến, về cách đánh đã giải quyết được nhiều khó khăn trong quá trình ta tiến công địch ở hướng chủ yếu, tiếp tục giành thế chủ động chiến dịch. Song điểm nổi bật của nghệ thuật chiến dịch là ta đã triệt để khai thác sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân, sử dụng lực lượng của ba thứ quân để tiến công địch trên khu vực địa bàn chiến dịch, bằng nhiều hình thức tác chiến, tập kích, phục kích, vây ép, luồn sâu đánh vào hậu phương của địch. Ta đã làm cho địch phải trải lực lượng ra đối phó, tạo thời cơ để các hướng chiến dịch tập trung binh hỏa lực tiến công các mục tiêu quan trọng. Sự phối hợp tác chiến ba lực lượng của ta đã tạo ra những đòn đánh mạnh vừa trải rộng khắp địa bàn chiến dịch. Đồng thời lại điểm trúng các yếu huyệt của địch làm địch bị rúng động lớn, thế phòng thủ bị phá vỡ. Cùng với nghệ thuật sử dụng lực lượng, chiến dịch Nguyễn Huệ đã thể hiện sự phát triển mới về nghệ thuật nghi binh lừa địch tạo thế mở màn chiến dịch, chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công hoàn toàn bất ngờ đối với địch. Để thực hiện nghi binh chiến dịch, đêm 31 tháng 3, ta sử dụng lực lượng hướng thứ yếu tiến công vào hướng phòng ngự của địch ở bắc Tây Ninh (hướng địch nhận định ta tập trung chủ yếu lực lượng), địch bị hút về hướng Tây Ninh, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu của chiến dịch thực hiện trận đánh then chốt mở đầu chiến dịch. Địch hoàn toàn bất ngờ khi ta tiến công Lộc Ninh và sở chỉ huy chiến đoàn 9, điều trung đoàn thiết giáp và tiểu đoàn biên phòng về ứng cứu Lộc Ninh, đúng theo dự kiến của chỉ huy chiến dịch và thế trận bày sẵn của ta. Trung đoàn thiết giáp và tiểu đoàn biên phòng bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Tuyến phòng thu Lộc Ninh bị phá vỡ, chiến đoàn 9 bị tiêu diệt, chiến đoàn trưởng bị bắt sống. Sau 5 ngày đầu của đợt 1 chiến dịch, ta tiêu diệt 1 chiến đoàn, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn biên phòng và toàn bộ lực lượng bảo an, cảnh sát, dân vệ của địch ở Lộc Ninh, Bù Đốp và các xã vùng bắc Bình Long. Hình thành thế áp sát tiến công Bình Long trên các hướng đông bắc, bắc và tây bắc, dồn địch vào thế phòng thủ bị động, buộc phải điều lực lượng phía sau lên giải tỏa áp lực cho Bình Long. Như vậy, ngay sau trận then chốt mở màn chiến dịch ta đã buộc địch phải điều lực lượng phía sau đi cứu viện, tạo điều kiện để lực lượng chốt chặn chiến dịch diệt địch trên đường 13. Mặt khác, ta đã thực hiện được ý định kéo hút địch về hướng biên giới, tạo điều kiện cho lực lượng võ trang địa phương ở đồng bằng, đô thị tiến công chống phá kế hoạch bình định mở mảng, mở vùng giải phóng. Nghệ thuật sử dụng lực lượng chốt chặn chiến dịch, thực hiện tiến công chia cắt tạo thế và tiêu diệt lực lượng cơ động ứng cứu của địch, sự phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch tiến công. Chiến dịch Nguyễn Huệ là chiến dịch đầu tiên tại chiến trường B2, Bộ Tư lệnh Miền sử dụng lực lượng một sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật làm nhiệm vụ chốt chặn, chia cắt chiến dịch. Đây là một tính toán khoa học dựa trên cơ sở ta nắm chắc địch, thủ đoạn đối phó của chúng khi phòng thủ tuyến biên giới bị phá vỡ, nhưng cũng đồng thời thể hiện quyết tâm cao của bộ chỉ huy chiến dịch: tạo thế chiến dịch đánh tiêu diệt một lực lượng lớn quân cơ động ứng cứu Bình Long, đánh quỵ quân đoàn 3 ngụy. Để thực hiện quyết tâm này, ta đã sử dụng đến 25% lực lượng hướng chủ yếu chiến dịch làm nhiệm vụ chốt chặn, chia cắt chiến dịch trên trục lộ 13. Có thể nói đây là bước phát triển mới về sử dụng lực lượng của ta trong chiến dịch tiến công. Thực tế diễn biến chiến dịch đã chứng minh vai trò quan trọng của lực lượng chốt chiến dịch đó là: khi thực hiện đợt 2 chiến dịch, ta có gặp khó khăn, tiến công vào thị xã Hớn Quản, lực lượng không tương xứng, thời cơ và thế trận bất lợi, nên trận đánh không thành công. Bộ Chỉ huy chiến dịch điều chỉnh phương thức thủ đoạn tác chiến, chỉ đạo sư đoàn bộ binh 9 và lực lượng tiến công Hớn Quản chuyển sang vây lỏng cô lập địch ở thị xã. Sư đoàn bộ binh 7 thực hành tiến công tiêu diệt lực lượng địch ứng cứu, giải tỏa cho Bình Long, chia cắt lộ 13 tạo điều kiện để đơn vị bạn tiếp tục tiến công mục tiêu chủ yếu. Cũng từ thời gian này mặt trận sôi động nóng bỏng, ác liệt nhất của chiến dịch là tại khu vực Tàu Ô, Xóm Ruộng, Ngọc Lầu, Tân Khai và phía nam Chơn Thành. Địch tập trung lực lượng 1 lữ đoàn dù, 21 tiểu đoàn bộ binh, 2 chiến đoàn lực lượng tổng trù bị, 8 chi đoàn thiết giáp có sự chi viện tối đa của pháo binh, không quân để phản kích giải tỏa tuyến Lộ 13. Nhưng ta đã chủ động xây dựng thế trận, hình thành các cụm chốt liên hoàn, có phương án tác chiến cụ thể của từng hướng, từng đơn vị, nên Sư đoàn bộ binh 7 đã đánh bại mọi cuộc phản kích của địch, để thực hiện chia cắt triệt để diệt nhiều sinh lực địch, các đơn vị của sư đoàn đã kết hợp nhiều thủ đoạn chiến đấu như vận động tập kích, chốt chặn kết hợp vận động đánh sườn, bí mật luồn sâu tập kích Sở chỉ huy trận địa pháo, thực hành vây lấn cô lập giữa lực lượng phía trước và phía sau chủ động phá thế tiến công của địch. Sau 150 ngày đêm chiến đấu, Sư đoàn bộ binh 7 và lực lượng tăng cường đã đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn, 8 đại đội bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp, 5 pháo đội của địch. Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 tên địch, bắt sống 211 tên, thu 390 súng các loại, bắn cháy 73 máy bay, 202 xe quân sự phá hủy và thu 102 khẩu pháo. Ta thực hiện được nhiệm vụ chia cắt triệt để tuyến đường 13, cô lập Bình Long, giành lại thế chủ động chiến dịch và bảo vệ được địa bàn vùng mới giải phóng, tạo điều kiện để lực lượng chủ yếu thực hiện đợt 3 và kết thúc chiến dịch. Thắng lợi chiến dịch Nguyễn Huệ đã tạo thế và lực mới của ta trên chiến trường Nam Bộ, ta đập vỡ tuyến phòng thủ biên giới của địch, chiếm giữ nhiều địa bàn xung yếu, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế uy hiếp trực tiếp dịch ở tuyến phòng thủ ven Sài Gòn, tạo điều kiện cho các địa phương của Nam Bộ tiếp tục tiến công đánh phá bình định của địch. 30 năm nhìn lại chiến dịch Nguyễn Huệ, khẳng định thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta rất tự hào và đánh giá cao sự sáng tạo và phát triển về nghệ thuật chiến dịch. Đồng thời cũng khẳng định rằng, những giá trị về nghệ thuật chiến dịch, kinh nghiệm chỉ đạo, tổ chức thực hành chiến dịch, trong chiến dịch Nguyễn Huệ có giá trị thực tiễn cao, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đó là: quán triệt sâu sắc quan điểm quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, vận dụng sáng tạo linh hoạt nghệ thuật nghi binh, lừa địch để giành thế chủ động thực hiện các trận đánh then chốt diệt địch đột nhập vào khu vực phòng thủ, phát huy sức mạnh chiến đấu của lực lượng ba thứ quân trong thế trận của khu vực phòng thủ Quân khu, tỉnh thành, tạo ra một thế trận vững chắc đủ sức đánh bại mọi hình thức tiến công của kẻ địch, bảo vệ được địa bàn, tài sản tính mạng của nhân dân. Đồng thời tiếp thu những kinh nghiệm về sử dụng lực lượng, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn tác chiến, chọn mục tiêu chốt chặn chiến dịch để bổ sung vào nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập của lực lượng võ trang Quân khu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay. P.T.K Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:07:27 pm MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH ĐỂ XÂY DỰNG QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ QUÂN SỰ TRONG CHỐT CHẶN ĐƯỜNG 13 CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 7 - CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ 1972 Trung tướng NGUYỄN VĂN THÁI Nguyên Phó chính ủy Sư đoàn 7 Kính thưa các đồng chí! Cuộc chiến đấu chốt chặn trên đường 13 (Bình Long) trong chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông-Nam Bộ đến nay đã tròn 30 năm. Thời gian tương đối dài ấy cộng với tuổi tác đã cao, đã làm tôi quên đi nhiều sự kiện cụ thể. Nhưng theo yêu cầu của ban tổ chức hội thảo, tôi viết tham luận về "Công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô năm 1972". Thời gian chiến dịch khá dài, không gian chiến dịch rất rộng có nhiều đơn vị lớn tham gia. Do vậy tiến hành công tác đảng, công tác chính trị là vấn đề rất quan trọng đó là nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng. Tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu chiến dịch là hoạt động thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức và phương pháp bao gồm rất nhiều nội dung, là hoạt động cụ thể của tất cả cán bộ, chiến sĩ trên mọi lĩnh vực hoạt động của sư đoàn. Về mặt công tác đảng, công tác chính trị, Sư đoàn 7 bước vào chiến dịch có những thuận lợi cơ bản: - Là đơn vị có bề dày truyền thống từ thời kháng chiến chống Pháp, những năm tháng trên chiến trường chống Mỹ, đều hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ; Đội ngũ cán bộ chiến sĩ được rèn luyện, thử thách trong xây dựng và chiến đấu, sư đoàn lại vừa tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng chiến đoàn đặc nhiệm 5 ngụy (gồm lữ dù 1 và thiết đoàn 18) trên đường số 2 (Đầm Bc.Wathơmây). - Phong trào chống Mỹ sôi nổi trên cả nước, những tân binh được bổ sung từ miền Bắc cùng trang bị vũ khí (trong đó có một số vũ khí mới) vào chiến trường với khí thế chống Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam rất cao đã nhanh chóng hòa nhập cùng cán bộ chiến sĩ cũ, tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng, nhận rõ kẻ thù, hiểu rõ mục tiêu chiến đấu, có niềm tin tất thắng. Sau khi học tập, cán bộ chiến sĩ sư đoàn bước vào chiến dịch với khí thế sôi nổi, mạnh mẽ. - Chiến thắng to lớn trên toàn chiến trường miền Nam, nhiều vùng giải phóng mở rộng, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ... Trong tham luận này, tôi chỉ xin nêu một số điểm chính về xây dựng quyết tâm chiến đấu và thực hành dân chủ quân sự trong chốt chặn đường 13 chiến dịch Nguyễn Huệ của Sư đoàn 7 năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ. Trước hết là quán triệt, nhiệm vụ chiến đấu của toàn sư đoàn. Sau khi đồng chí Lê Nam Phong báo cáo nhiệm vụ do Bộ Tư lệnh Miền giao và đồng chí Đàm Văn Ngụy trình bày quyết tâm chiến đấu của sư đoàn, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn rồi Đảng ủy sư đoàn đã họp mở rộng thảo luận kỹ và nhất trí thông qua. Trong 4 nhiệm vụ được giao, các hội nghị đều phân tích để hiểu rõ ý nghĩa và yêu cầu của từng nhiệm vụ, sự liên quan và tác động lẫn nhau giữa các nhiệm vụ, trong đó nổi bật 2 nhiệm vụ là: Tiêu hao và tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đặc biệt là phải giữ vững trận địa chốt chặn, không cho một tên địch, lọt qua trận địa trên đường 13 chi viện cho Bình Long hoặc ngược lại từ Bình Long chạy về Chơn Thành theo đường 13. Có diệt được nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại các cuộc tiến công của chúng mới đảm bảo giữ vững được trận địa và có giữ vững được trận địa không cho một tên địch lên chi viện cho Bình Long bằng đường 13 mới bảo đảm cho đơn vị bạn thực hiện nhiệm vụ then chốt của chiến dịch. Đó là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, một yêu cầu rất nghiêm khắc với sư đoàn, cần phải giáo dục thật kỹ, làm cho cán bộ chiến sĩ nhận thức rõ, nhất trí cao và quyết tâm thực hiện bằng được. Đảng ủy sư đoàn đã ra nghị quyết thông qua quyết tâm chiến đấu, những vấn đề lãnh đạo quan trọng như chuẩn bị chiến trường, kế hoạch tác chiến, công tác đảng, công tác chính trị, công tác đảm bảo. Riêng về công tác đảng, công tác chính trị có nhấn mạnh, cần đặc biệt coi trọng giáo dục nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm và ý chí kiên cường cho cán bộ chiến sĩ, phải làm thật kỹ từ trên xuống dưới, từ trong đảng ra ngoài quần chúng, tạo sự nhất trí cao, tin tưởng và quyết tâm phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của sư đoàn. Chiến đấu trong khu vực chốt chặn mang sắc thái đặc thù của chiến đấu phòng ngự, ngay từ đầu khi học tập tình hình, nhiệm vụ, quán triệt cách đánh, sư đoàn đã dự kiến những tư tưởng như lo ngại thương vong, ngại phi pháo ác liệt, ngại chốt dài ngày, và có giữ được không ... Bằng các hoạt động về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, sư đoàn đã chỉ đạo dân chủ thảo luận từ trên xuống dưới, đến tận chiến sĩ một số nội dung và đã đi đến thống nhất những vấn đề cơ bản sau đây: - Đánh giá đúng địch ta: quân Mỹ đã rút, nhưng tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", về hoạt động quân sự, Mỹ giao lại cho quân ngụy đảm nhiệm, nhưng điểm yếu cơ bản của ngụy quân ngụy quyền là tinh thần sa sút, dù có thêm máy bay, pháo binh, thiết giáp mà sức chiến đấu không tăng lên được. Quân ngụy mất dần chỗ dựa, yểm trợ của quân Mỹ nên sức chiến đấu vốn đã yếu vào chiến dịch càng yếu hơn. Qua các trận chiến đấu của lực lượng tổng trù bị và thiết giáp ngụy với sư đoàn ở Đầm Be đã chứng minh rõ điều đó. Còn về ta, khí thế sức mạnh tăng lên rõ rệt, sự chi viện to lớn, toàn diện của hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường rất kịp thời. Sức chiến đấu của sư đoàn cũng thể hiện rõ; phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhiều vùng giải phóng được mở rộng. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:08:34 pm - Về thế trận và cách đánh của ta:
Trong thế trận chung toàn mặt trận, thế trận của sư đoàn, trận địa chốt chặn của ta hình thành từng cụm liên hoàn, công sự trận địa được xây dựng vững chắc và ngày càng hoàn thiện (sư đoàn huy động lực lượng phía sau đêm đêm vác gỗ, mang theo cuốc xẻng hỗ trợ làm trận địa). Cách đánh của chốt được dân chủ bàn bạc kỹ; hiệp đồng chặt chẽ giữa các chốt; các cụm với phân đội hỏa lực, lực lượng chốt với lực lượng cơ động... Điều đặc biệt là cách đánh tuyệt đối không phải là phòng ngự thụ động, nằm hầm chịu trận mà giữ vững trận địa với tinh thần kiên cường, tích cực đánh địch; có những bộ phận thường xuyên đánh vào bên sườn và phía sau đội hình địch, có những bộ phận đánh địch từ xa; thọc lượn chốt thực hiện đánh thật gần, đồng loạt nổ súng, chớp thời cơ xuất kích ngăn diệt địch, thu chiến lợi phẩm ... Kỷ luật hiệp đồng chặt chẽ được thực hiện với ý thức cao nhất, tình nghĩa đồng đội sâu sắc, nhất là các phân đội hỏa lực với chốt (thực tế đã diễn những trận hiệp đồng thật đẹp, rất kịp thời, chính xác, hỗ trợ tích cực cho chốt). Ỷ vào còn đông quân, địch đã huy động lực lượng vùng 3 và vùng 4 chiến thuật, cả lực lượng tổng trù bị với các thiết đoàn thiết giáp, luân phiên liên tục mở nhiều đợt tiến công rất quyết liệt, yểm trợ phi pháo tối đa. Bộ đội ta tuy có thương vong, thậm chí có đơn vị tổn thất lớn nhưng vẫn nêu cao tinh thần quyết thắng, kiên cường đánh địch giữ chốt gây cho địch thiệt hại rất nặng nề, đánh bại mọi cuộc tấn công của chúng. Cán bộ và chiến sĩ động viên nhau, xuất hiện những phong trào, những khẩu hiệu: - Kiên quyết giữ vững trận địa, một bước không lùi, một người một tổ là một mũi tiến công, phát huy sức mạnh từng người, từng tổ bằng sức mạnh của tiểu đội, trung đội... - Bồi dưỡng cho nhau để mỗi người đều có thể sử dụng được 3, 4 loại vũ khí, dự trữ nhiều đạn dược trong hầm; sử dụng thật tiết kiệm đạn dược, tích cực lấy vũ khí của địch đánh địch. - Trong cách đánh thì phong trào đánh thật gần, đồng loạt nổ súng mãnh liệt; tranh thủ thời cơ xuất kích nhanh, cự ly ngắn để diệt địch, thu vũ khí của địch đánh địch ... Địch dùng thủ đoạn xảo quyệt hòng chọc thủng trận địa chốt chặn như: - Dùng phi pháo đánh phá tập trung vào khu vực trận địa, mật độ cao. - Dùng xe tăng bắn sập từng hầm. - Đổ bộ quân dù đánh bên sườn, phía sau hy vọng chia cắt trận địa chốt chặn. - Xe tăng kết hợp với bộ binh tấn công trước mặt, bên sườn, có ngày 5, 7 đợt ... nhưng chúng đều tổn thất và thất bại. Thông thường sau một ngày tổ chức tấn công không chọc thủng được trận địa, địch lại lùi về điểm xuất phát, song có sự thay đổi thủ đoạn, đến chiều tối không lùi về điểm xuất phát mà bám trụ tại chỗ (ngay phía trước trận địa ta) đào hầm hố đêm đêm tiếp tế. Sáng hôm sau khi địch tổ chức tấn công dựa vào lực lượng bám trụ hôm trước, chúng nhanh chóng áp sát trận địa ta. Trong tình hình như vậy, cán bộ và chiến sĩ đ trận địa đã theo dõi các toán quân tiếp tế của địch và đề nghị cấp trên cho tổ chức những chỗ chiến đấu đêm đêm luồn vào phía sau, bí mật phục kích diệt các toán quân tiếp tế, thu lượm vũ khí. Kết quả là các toán quân địch trụ lại đành buộc phải rút lui sau một ngày tấn công vì ở lại không có tiếp tế được lương thực và đạn dược. Một yêu cầu về tư tưởng đặt ra trong chiến đấu chốt chặn là luôn cảnh giác, triệt để giữ bí mật, không để lộ bất ngờ, tuyệt đối không mơ hồ về bản chất ngoan cố liều lĩnh của địch. Với ý thức đó, cộng với thế trận bố trí liên hoàn, tất cả các cuộc tấn công của địch đều bị ta phát hiện. Bộ đội không lần nào bị bất ngờ và sẵn sàng chủ động, đánh trả các cuộc tấn công của địch. Anh em còn có những sáng kiến, nghi binh lừa địch, ngồi ở giao thông hào cho mũ sắt vào đầu gậy giơ lên giả như di động, địch thấy thế bắn xối xả vào đó, ta có điều kiện phát hiện các mục tiêu hỏa lực của địch để diệt chúng. Chiến tranh tâm lý của địch phổ biến là dùng máy bay rải truyền đơn và dùng loa chiêu hồi. Anh em ta nhận thức được đây cũng là lĩnh vực đấu tranh quyết liệt với địch, buông lỏng, xem nhẹ là thoái lui, tự mình làm suy yếu ý chí vốn hơn hẳn của mình trước kẻ thù. Ta đã chủ động bố trí trong từng hầm có cán bộ, hoặc đảng viên, hoặc quần chúng là chiến sĩ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu làm nòng cốt, phản kích kịp thời những âm mưu thủ đoạn của địch. Công tác tuyên truyền cổ động chiến đấu, khen thưởng được tiến hành thường xuyên và liên tục, kịp thời. Hàng ngày cơ quan chính trị sư đoàn ra bản tin "chiến thắng" cổ vũ các gương chiến đấu, thu và ghi lại tin tức buổi phát thanh đọc chậm của báo Quân đội nhân dân. Cán bộ từ trên xuống dưới, phía sau ra phía trước cũng được bồi dưỡng và truyền miệng tin tức. Các lực lượng hậu cần trong nhiều hoạt động của mình đã góp phần làm tốt công tác chính trị tư tưởng cho bộ đội, trong điều kiện khó khăn ác liệt như vậy vẫn đưa hết thương binh tử sĩ về phía sau trong đêm. Đội ngũ anh nuôi đêm đêm ra trận địa dưới phi pháo địch vẫn bảo đảm, cho bộ đội ở trận địa một bữa ăn nóng. Những gùi cơm nắm còn nóng gói trong ni lông, những bi đông trà nóng, món dế sáo măng được anh em rất thích, có hôm còn có cả lòng lợn... Ngoài nhiệm vụ anh nuôi anh em còn tham gia củng cố hầm hào, kể chuyện chiến thắng, chuyển tải thương binh... Chiến sĩ Cao Xuân Cởi tiêu biểu cho đội ngũ anh nuôi đã trở thành "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" chính vì tinh thần phục vụ quên mình cho cán bộ chiến sĩ giữ trận địa chốt. Thời kỳ chiến đấu liên tục ác liệt, quân số bổ sung không kịp, sức khỏe bộ đội giảm sút. Vận dụng phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng, càng đánh càng trưởng thành, sư đoàn chủ trương luân phiên các phân đội từ trước về phía sau để bồi dưỡng, củng cố, phía sau ra phía trước. Với quyết tâm và kế hoạch tổ chức thực hiện chu đáo đã thu được kết quả rất tốt. Các cơ quan đơn vị phía sau tham gia xây dựng hầm hố, chuẩn bị kế hoạch và vật chất... để khi bộ đội về có chỗ ngủ nghỉ. Chúng ta dễ hình dung và cảm nhận thấy sảng khoái như thế nào sau những ngày chiến đấu căng thẳng về cứ được ngủ say sưa ngon lành, được ăn bát cơm canh nóng, được tắm giặt, cắt tóc, được chữa trị bệnh (nhất là bệnh ngoài da), khâu vá lại áo quần, sinh hoạt tập thể, phổ biến tin tức, rút kinh nghiệm chiến đấu... Sau mỗi đợt nghỉ ngắn, sức khỏe bộ đội hồi phục nhanh, tinh thần và sức chiến đấu được nâng lên, lại hăng hái ra trận địa làm nhiệm vụ. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:10:09 pm Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, mấu chốt là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, làm hạt nhân lãnh đạo đơn vị đã thành nền nếp từ trong xây dựng và chiến đấu. Bước vào chiến dịch sư đoàn đã triển khai kế hoạch tiến hành xây dựng Đảng một cách toàn diện cả về chính trị tư tưởng và tổ chức. Thông qua hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị và toàn thể cán bộ đảng viên chú trọng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị trong chiến dịch, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh.
Trong xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, vấn đề cơ bản nhất là bảo đảm cho bộ đội vững vàng về bản lĩnh chính trị, có ý chí kiên cường và tinh thần quyết chiến quyết thắng, tin tưởng ở thắng lợi, có ý thức cảnh giác cách mạng thường xuyên, ý thức tổ chức kỷ luật, phát huy dân chủ quân sự đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể... mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ đảng viên. Trong xây dựng Đảng về tổ chức, đã giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tinh thần trách nhiệm của cá nhân. Coi trọng xây dựng chi bộ đảng và rèn luyện đội ngũ đảng viên trong chiến đấu. Trong công tác phát triển Đảng chú trọng cả số lượng và chất lượng không vì bận chiến đấu và xem nhẹ. Qua chiến đấu thử thách xuất hiện nhiều quần chúng ưu tú có điều kiện phát triển Đảng, các chi bộ kết nạp tại chiến hào... phấn đấu giữ vững tỷ lệ lãnh đạo thường xuyên ở đại đội chiến đấu từ 18 - 24%, chi bộ cơ quan có nơi đạt tới 80% đại đội chiến đấu có chi bộ, trung đội có tổ Đảng, khẩu đội, tiểu đội có đảng viên... Đội ngũ cán bộ của sư đoàn được rèn luyện thử thách và luôn luôn kiện toàn, là những người đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và nhân dân, nhất trí cao với đường lối chủ trương của Đảng, có ý thức kiên định, kiên cường, hết lòng thương yêu chăm lo cho chiến sĩ, sao cho giữ được sức chiến đấu, tránh được thương vong. Sư đoàn đã dự kiến những biến động trong chiến đấu nhất là ở cơ sở và lập kế hoạch bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đáp ứng theo nhiệm vụ trước mắt, có dự trữ và bổ sung cho tiêu hao, cho cấp trên; bố trí kết hợp cán bộ cũ có nhiều kinh nghiệm với cán bộ mới để có điều kiện dìu dắt nhau; cán bộ ở những đơn vị làm nhiệm vụ quan trọng... Do có kế hoạch và chuẩn bị nên có đơn vị tiêu hao đến 2, 3 lần cán bộ chủ trì vẫn chủ động bố trí kịp thời để thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình sử dụng cán bộ, quan điểm của lãnh đạo và chỉ huy các cấp là chăm lo bảo toàn cán bộ, hạn chế thấp nhất thương vong. Tuy mọi hoàn cảnh vẫn thực hiện tốt nguyên tắc tập thể cấp ủy (trực tiếp là ban thường vụ) lãnh đạo toàn diện công tác cán bộ từ chủ trương, kế hoạch, biện pháp, bồi dưỡng sắp xếp bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, bàn bạc, quyết định theo quyền hạn được phân công. Có thể khẳng định việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác tổ chức và công tác tư tưởng- là một thành công trong chiến đấu chốt chặn. Làm tốt công tác tổ chức cán bộ là điều kiện củng cố và phát huy hiệu lực công tác tư tưởng. Mặt khác phải rất nhạy bén dự kiến sự phát triển để làm tốt công tác tổ chức, công tác tư tưởng, luôn luôn đi trước một bước. Song trong quá trình chiến đấu phải tiếp tục hoàn thiện khẩn trương, sát hợp, mới thực hiện được yêu cầu. Qua chiến đấu tổ chức và tư tưởng càng trưởng thành, càng vững mạnh. Thưa các đồng chí! Trận địa chốt chặn hình thành lũy thép trên đường 13 nam Bình Long - bắc Chơn Thành, nơi diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực 150 ngày đêm gay go, quyết liệt nhất trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Với mật độ phi pháo cao địch cho rằng thép cũng phải chảy, nhưng lũy thép Tàu Ô - Xóm Ruộng vẫn tồn tại. Với tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu anh dũng tuyệt vời, cán bộ chiến sĩ ta đã đánh bại tất cả các cuộc tấn công của địch giữ vững trận địa luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao cho sư đoàn. Đặc biệt là tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, không cho một tên địch, một xe tăng của chúng lên được Bình Long theo trục đường 13. Tôi xin trích đoạn bình luận của báo Quân đội nhân dân và báo Nhân dân ngày ây để kết luận chuyên đề này: Báo Quân đội nhân dân bình luận: "Chiến sĩ giải phóng trên đường 13 đã chiến đấu liên tục, bền bỉ dài ngày với niềm lạc quan cách mạng, với ý nghĩa và quyết tâm cao, quân và dân miền Đông Nam Bộ anh hùng đã biến con đường này thành con đường sấm sét và máu lửa với Mỹ - ngụy, đã gieo khiếp sợ cho kẻ thù và làm kinh ngạc cả thế giới. Đường 13 còn ghi nguyên dấu tích thất bại của quân đội Sài Gòn và của không quân Mỹ. Một loạt các sư đoàn, chiến đoàn, thiết đoàn, lữ đoàn quân ngụy đã bị đánh bại và thiệt hại nặng... một loạt những biện pháp chiến thuật trong những cố gắng hòng khai trông đường 13 bị thất bại nặng nề...". Báo Nhân dân với nhan đề: "Những chiến sĩ trí dũng tuyệt vời trên một chiến trường tiêu biểu" đã viết: "Cuộc đọ sức lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với Mỹ, tên đế quốc xâm lược lớn nhất của thời đại, đã làm nảy sinh những lớp lớp anh hùng. Đội ngũ anh hùng mới của quân đội ta, nhân dân ta đã xuất hiện trên đường 13 ngay từ khi cuộc tiến công và nổi dậy trên tiền tuyến lớn mở ra như sấm sét giáng xuống đầu quân xâm lược". N.V.T Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:12:19 pm CHỐT CHẶN TÀU Ô CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 7 VÀ NGHỆ THUẬT CHUYỂN HÓA THẾ TRẬN TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ Thiếu tướng, TS ĐÀO VĂN LỢI Giám đốc Học viện Lục quân Chúng ta đều biết chiến dịch Nguyễn Huệ là một trong ba hướng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Lần đầu tiên chiến trường B2 tiến hành tập trung bộ đội chủ lực Miền mở chiến dịch tiến công quy mô tương đương cấp quân đoàn tăng cường đọ sức với 5 sư đoàn, 7 thiết đoàn, 5 liên đoàn biệt động quân và lực lượng địa phương của địch. Đây là một chiến dịch diễn biến hết sức phức tạp, nằm trên địa bàn gồm 4 tỉnh, thời gian kéo dài gần 10 tháng, biến đổi qua nhiều giai đoạn với nhiều tính chất khác nhau. Mặc dù ta không chiếm được thị xã Bình Long và phải chịu một số tổn thất nhất định làm hạn chế tới thắng lợi của chiến dịch, song chiến dịch Nguyễn Huệ đã đọng lại trong tâm trí chúng ta nhiều bài học quý giá sau ba mươi năm nhìn lại, trong đó chốt chặn Tàu Ô của Sư đoàn bộ binh 7 và nghệ thuật chuyển hóa thế trận là điều suy nghĩ đáng quan tâm của Học viện Lục quân chúng tôi. Tại cuộc hội thảo này với tư cách là một cán bộ của Trung đoàn 141, thuộc Sư đoàn bộ binh 7, được tham gia từ đầu cho đến lúc kết thúc chiến dịch Nguyễn Huệ, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân hai tỉnh Bình Dương, Bình Phước đã phối hợp tổ chức hội thảo khoa học và cho phép tôi tham luận, góp phần nhỏ bé vào thành công của hội thảo. Xin chúc sức khỏe của các đồng chí và chúc buổi hội thảo thành công công tốt đẹp. Thưa các đồng chí! Nhìn vào bản đồ chiến dịch chúng ta thấy đường 13 là đường giao thông huyết mạch, chạy từ cửa ngõ bắc Sài Gòn, qua các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, nối dài sang Cam-pu-chia; mặt khác đường 13 - Bình Long lại gần sát chiến khu Đ nên hệ thống phòng thủ của địch khá mạnh. Đoạn từ Lai Khê lên thị xã Bình Long địa hình tương đối bằng, trong đó đoạn từ ngã ba Xóm Ruộng đến nam Tân Khai là khu vực có giá trị nhất. Bởi thế nên Bộ Tư lệnh chiến dịch khi giao nhiệm vụ cho Sư đoàn bộ binh 7 đã nhấn mạnh: "Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ bằng được khu vực Tàu Ô để tạo thời cơ và điều kiện cho chiến dịch dứt điểm Lộc Ninh và tiến công thị xã Bình Long - mục tiêu trọng điểm của chiến dịch; đồng thời tạo bàn đạp và đầu cầu vững chắc cho chiến dịch phát triển xuống Lai Khê, Bến Cát hoặc xuống Tây Ninh; nếu để mất nó là mất luôn bàn đạp, mất luôn thế chiến dịch". Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, sau khi nhận nhiệm vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 7 đã sử dụng Trung đoàn 209 đánh ngăn chặn bắc thị xã Bình Long, hỗ trợ cho Sư đoàn bộ binh 5 tiến công cụm cứ điểm địch ở Lộc Ninh; lực lượng chủ yếu của sư đoàn đã tập trung ở địa bàn trọng điểm trên đường 13, phía nam thị xã Bình Long từ bắc Chơn Thành 4 km đến bắc Tàu Ô (dài khoảng 10 km). Việc lựa chọn Tàu Ô là khu vưc chốt chặn chủ yếu của chiến dịch với tư tưởng chỉ đạo: "chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày" là vấn đề đúng đắn và sáng tạo. Như vậy, chốt chặn Tàu Ô có giá trị rất quan trọng với chiến dịch: - Một là: cắt đứt đường 13 đoạn nam thị xã để hình thành thế bao vây chiến dịch ngay từ đầu, chặn cho được bộ binh cơ giới, pháo binh thuộc các lực lượng dự bị chiến dịch của địch từ hướng Sài Gòn lên tăng viện đường bộ, bảo đảm cho đại bộ phận chủ lực của chiến dịch tập trung tiêu diệt quân địch ở Lộc Ninh, Bình Long, đồng thời có ý nghĩa chia cắt chiến dịch, không cho địch ở thị xã Bình Long rút chạy về hợp điểm ở căn cứ Lai Khê. - Hai là: thu hút lực lượng chủ lực địch trên đường 13, phá thế liên hoàn chiến dịch của địch, buộc chúng phải lo mở đường, không rảnh tay tập trung lực lượng giải tỏa cho thị xã Bình Long và phản kích ra vùng ta mới giải phóng, đồng thời tạo điều kiện cho thế trận chiến, dịch và thế trận chiến tranh nhân dân địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển. - Ba là: tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh quan trọng, diệt gọn từng tiểu đoàn, chiến đoàn bộ binh, chi đoàn và trung đoàn thiết giáp của địch. Nhân đây chúng ta cần nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của sư đoàn trong giai đoạn 1 chiến dịch. Đó là Sư đoàn bộ binh 7 không thụ động chốt chặn Tàu Ô chờ địch đến để đánh mà còn tích cực chủ động trong việc sử dụng Trung đoàn 141 (thiếu 1 tiểu đoàn), hiệp đồng với Sư đoàn bộ binh 5 tiêu diệt lữ dù 1 đổ bộ đường không xuống đông bắc Tàu Ô và Núi Gió (đông nam thị xã Bình Long), bẻ gãy một cánh quân ngụy định giải tỏa cho Bình Long và sau đó sư đoàn tiếp tục sử dụng Trung đoàn 165 phối hợp với Trung đoàn 141 kết hợp ngăn chặn với cơ động tiến công liên tục đánh thiệt hại nặng các chiến đoàn của sư đoàn 21; lữ dù 3 và trung đoàn 9 thiết giáp ngụy, buộc chúng phải rút chạy khỏi bắc Tàu Ô. Có thể nói trong đợt 1 chiến dịch, Sư đoàn bộ binh 7 đã được sử dụng như một thành phần tham gia cuộc tiến công với chiến thuật chốt chặn hết sức lợi hại, góp phần quan trọng trong việc cắt đường 13, đánh bại mọi cố gắng mở đường của địch từ Lai Khê - Chơn Thành lên Bình Long, phối hợp có hiệu quả với các trận tiến công của chiến dịch giải phóng Lộc Ninh và Bình Long. Đây là thành phần không thể thiếu đối với yêu cầu những trận then chốt của chiến dịch. Song do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiệm vụ giải phóng thị xã Bình Long, mục tiêu trọng điểm của chiến dịch chưa thực hiện được. Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: "chuyển sang vây ép Bình Long, lấy đánh quân địch giải tỏa là chính". Lúc này, nhiệm vụ chốt chặn trên đường 13 đã mang một ý nghĩa khác, không phải để hỗ trợ đắc lực cho tiến công Bình Long mà là đánh lui, đánh bại mọi cuộc tiến công của địch muốn giải tỏa đoạn đường Sư đoàn bộ binh đang chốt giữ. Như vậy, mục đích của việc chốt chặn Tàu Ô là phù hợp với lý luận nghệ thuật tác chiến phòng ngự hiện nay. Chính mục đích chốt chặn ở đợt 2 chiến dịch mang tính chất phòng ngự nên hành động của ta và địch tranh chấp quyết liệt và dai dẳng hơn (từ 16 tháng 5 đến cuối tháng 8 năm 1972). Để đối phó với địch ở nam Bình Long (Tân Khai - Đức Vinh) ép xuống và lực lượng chủ lực quy mô sư đoàn tăng cường từ phía Chơn Thành lên, sư đoàn bộ binh 7 sử dụng Trung đoàn 209, được tăng cường một bộ phận binh chủng chuyển vào chốt chặn, giữ vững khu vực Tàu Ô: lực lượng chủ yếu của sư đoàn chuyển sang cơ động, tập trung tiêu diệt địch giải tỏa ở các khu vực trọng yếu của chiến dịch. Khi địch chiếm được cống Ông Tề, Trung đoàn bộ binh 141 đã kịp thời cơ động xuống phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn bộ binh 209 bao vây, tiến công địch khá tốt nên đã khôi phục lại trận địa, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn biệt động quân và trung đoàn 22 ngụy. Tiếp sau đó, từ ngày 21 tháng 6 đến ngày 1 tháng 9, Sư đoàn bộ binh 7 đã dùng lực lượng cơ động kết hợp với lực lượng chốt chặn đánh bại 2 cuộc tiến công của đoàn 25 và sư đoàn 21 ngụy. Bằng nhiều hình thức chiến thuật: phục kích, tập kích, vận động tiến công... lực lượng cơ động đã kết hợp chặt chẽ với lực lượng chốt giữ đánh bật các lực lượng xen kẽ với ta, làm thất bại hoàn toàn âm mưu đánh chiếm lại đoạn đường từ Chơn Thành đên Tân Khai của chúng. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:14:46 pm Thưa các đồng chí đại biểu!
Nhìn nhận lại chốt chặn Tàu Ô sau 30 năm có rất nhiều điều muốn nói. Song điều tâm đắc nhất mà chúng tôi nhận thấy có cơ sở để trả lời cho câu hỏi do Đại tướng Hoàng Văn Thái đã nêu ở Hội nghị tổng kết các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ tháng 10 năm 1985: "Chốt chặn trên đường 13 có phải là phòng ngự không?". Theo chúng tôi, nhìn nhận chốt chặn Tàu Ô phải có cái nhìn khách quan và toàn cục, phải xuất phát từ nhiệm vụ, vị trí, vai trò tác chiến của cả Sư đoàn bộ binh 7 mới phản ảnh tính bao quát và toàn diện hơn. Nhân đây chúng ta cũng cần nhìn nhận cho đúng lịch sử, vào thời điểm năm 1972 cụm từ "phòng ngự’ chưa thấy xuất hiện trên chiến trường. Chúng ta rất ngại nói đến phòng ngự, bởi thời kỳ đó tư tưởng chiến lược cách mạng là tiến công. Chúng ta chưa định hình, định hướng lý luận chiến thuật phòng ngự mà trong nhận thức chỉ công nhận phòng ngự ở cấp phân đội (bấy giờ gọi là chốt". Chưa ai có thể nói trung đoàn, sư đoàn phòng ngự như bây giờ. Lúc đó ở chiến trường B2 và các nơi khác đều gọi là chốt kết hợp vận động tiến công, sau đổi lại là vận động tiến công kết hợp chốt. Theo chúng tôi nếu dùng thuật ngữ "Chốt chặn Tàu Ô" sẽ không phản ảnh đầy đủ nội dung và bản chất của nó. Từ "chốt chặn" mang tính nhỏ hẹp và nội dung hạn chế của một chốt chiến dịch. Nếu ở giai đoạn 1 chiến dịch đối chiếu với nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Sư đoàn bộ binh 7 thì thấy nó như hợp lý - chốt chặn để chia cắt cho chiến dịch; nhưng đến giai đoạn 2 chiến dịch do mục đích phải giữ vững khu vực Tàu Ô, đánh lui, đánh bại các đợt tiến công quy mô sư đoàn tăng cường của địch mà hướng tiến công chủ yếu của chúng từ Lai Khê, Bàu Bàng lên, rõ ràng mục đích đã trùng hợp với mục đích phòng ngự hiện nay chúng ta đang giảng dạy ở các học viện, nhà trường và huấn luyện ở các đơn vị trong toàn quân. Tiếp đó xét về tổ chức và sử dụng lực lượng cũng như bố trí đội hình và cách đánh hiện nay chúng ta lại thấy bóng dáng của lý luận chiến thuật sư đoàn bộ binh phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai. Sư đoàn bộ binh 7 vừa tổ chức lực lượng phòng ngự (Trung đoàn bộ binh 209) lại vừa tổ chức lực lượng cơ động (Trung đoàn bộ binh 141 và Trung đoàn bộ binh 165). Có lúc lực lượng cơ động phải đưa một phần ra phòng ngự. Có lúc lực lượng cơ động phải liên tục dùng nhiều hình thức chiến thuật: tập kích, phục kích, vận động tiến công, đánh địch đổ bộ đường không... để đánh địch như Trung đoàn bộ binh 141 và Trung đoàn bộ binh 165 đã làm. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận cho đúng lịch sử. Nếu Sư đoàn bộ binh 7 phòng ngự ở một đoạn đường mà địa hình rừng bằng và trống trải như đoạn Tàu Ô - Xóm Ruộng với chính diện dưới 5 km, chiều sâu 12 km, thì quả thật chính diện phòng ngự như vậy là quá hẹp: do vậy địch đã vu hồi hai bên sườn để thực hiện chia cắt và xen kẽ vào chiều sâu phòng ngự của ta, gây khó khăn cho sư đoàn. Có những lúc tưởng như chốt của ta đã bị đánh bật và ở vào tình thế nguy ngập. Ta đã phòng ngự theo trục đường, để hạn chế hoạt động của không quân địch (chúng không thể dùng bom đánh phá trục đường), đội hình dích dắc, chưa thành thế trận hoàn chỉnh. Phòng ngự ở địa hình tương đối bằng phẳng, công sự trận địa chưa được xây dựng vững chắc, vật cản thiếu thốn, sơ sài nên kết quả sát thương địch, gây khó khăn cho chúng còn nhiều hạn chế. Có thể nói trong hoàn cảnh địa hình phức tạp, địch đông quân và có nhiều xe tăng thiết giáp, hỏa lực không quân pháo binh rất mạnh nhưng Sư đoàn bộ binh 7 đã phòng ngự dài ngày, dai dẳng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch giao cho. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể khẳng định chốt chặn chiến dịch Tàu Ô là một trận chiến đấu phòng ngự cấp sư đoàn, mang dấu ấn của phòng thủ khu vực theo hướng (theo trục) tiến công của địch. Bài học phòng ngự Tàu Ô của Sư đoàn bộ binh 7 cũng như một số trận chiến đấu phòng ngự của các đơn vị khác trên các chiến trường đã để lại những kinh nghiệm quý báu và là tiền đề cho các tướng lĩnh, các nhà khoa học nghiên cứu, biên soạn thành tài liệu lý luận phòng ngự khu vực hiện nay, cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai. Ngoài ý nghĩa của phòng ngự Tàu Ô, chúng ta còn nhận thấy chiến dịch Nguyễn Huệ, sau khi "không dứt điểm được thị xã Bình Long, đã làm hạn chế thắng lợi và ảnh hưởng tới bước phát triển của chiến dịch". Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chủ trương chuyển phương thức hoạt động: "vây lỏng thị xã Bình Long, kiên quyết chốt chặn kết hợp tiến công để tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự từ nam Chơn Thành đến bắc Lai Khê". Để phát triển chiến dịch, Bộ Chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ đã kịp thời chuyển hóa thế trận có lợi cho ta. Chốt chặn Tàu Ô đã góp phần quan trọng vào việc kìm giữ, chia cắt địch tạo điều kiện cho các lực lượng khác bao vây thị xã Bình Long và giữ vững được vùng mới giải phóng. Khi chốt chặn Tàu Ô rơi vào tình trạng bị bao vây chia cắt, sức ép địch ngày càng mạnh, khu chốt của ta bị đe dọa rơi vào tay địch. Trước tình hình đó, một trong những biện pháp có hiệu quả là nhanh chóng chuyển một bộ phận lực lượng bất ngờ đánh vào phía sau, nhằm vào mục tiêu hiểm yếu nhưng sơ hở buộc địch phải quay về đối phó, đẩy chúng vào thế bị động, để ta giành lại thế chủ động tiến công. Việc Sư đoàn bộ binh 7 (thiếu Trung đoàn 209), được tăng cường Trung đoàn 205 độc lập của Miền, bí mật cơ động xuống đoạn Bàu Lồng - Lai Khê, bao vây vị trí Bàu Bàng, cắt giao thông đoạn Chơn Thành - Bàu Bàng, sử dụng tiểu đoàn đặc công sư đoàn, phối hợp đặc công Miền tiến công sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 (và hậu cứ của sư đoàn 5) ngụy ở căn cứ Lai Khê. Trung đoàn 165 vận động phục kích đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 46 thuộc sư đoàn 25 và chi đoàn thiết giáp, cắt đứt đoạn đường Bàu Bàng, Bàu Lồng, sau đó bao vây, tiêu diệt tiểu đoàn biệt động quân ở bắc Bàu Bàng. Trung đoàn 141 tổ chức một số trận đánh vào chiến đoàn 8 cắt đứt đoạn đường Bàu Bàng - Lai Khê, đây là một đòn đánh hiểm và táo bạo. Thực tiễn lúc đó địch đang giành lại quyền chủ động lấy lại Bình Long và phản kích quyết liệt với ta, quyết tâm giải tỏa đường 13. Ta đang từ chủ động tiến công dứt điểm thị xã Bình Long phải chuyển sang vây lỏng Bình Long để quay ra đánh địch giải tỏa. Rõ ràng là tình thế chiến dịch đang khó khăn nhưng Bộ Tư lệnh chiến dịch đã mạnh dạn táo bạo đưa Sư đoàn bộ binh 7 (thiếu) cùng một số lực lượng đánh sâu, đánh hiểm vào phía sau lưng địch làm cho thế trận của địch bị đảo lộn; từ chủ động chuyển sang thế bị động và phải rút lui khỏi khu vực chốt chặn Tàu Ô. Chúng tôi cho rằng đây là một bài học rất hay về nghệ thuật chuyển hóa thế trận, từ bị động sang giành quyền chủ động. Liên hệ với chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này, nếu chiến dịch đưa một sư đoàn ra phòng ngự thì không thể không chú ý đến lực lượng cơ động đánh vào phía sau lưng địch để tiêu diệt những mục tiêu hiểm yếu như sở chỉ huy sư đoàn, cụm pháo binh chiến dịch, lực lượng dự bị, chuyển hóa thế trận hỗ trợ đắc lực cho lực lượng phòng ngự mới đạt kết quả tốt. Suốt gần 5 tháng chốt chặn chiến địch, chiến đấu trong điều kiện vô cùng ác liệt, nhưng Sư đoàn bộ binh 7 đã khắc, phục mọi khó khăn thiếu thốn, kiên cường giữ vững khu vực Tàu Ô, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch giao cho. Sư đoàn đã đánh 800 trận lớn, nhỏ (trong đó 131 trận thuộc các hình thức chiến thuật: chốt kết hợp vận động tiến công, phục kích, tập kích, vây ép...); tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn (cđ32/fBB21; cđ46/fBB25), 5 tiểu đoàn, 3 chi đoàn thiết giáp, 5 pháo đội; diệt và bắt sống 8.400 tên; bắn rơi và phá hủy 119 máy bay các loại; bắn cháy và phá hủy 202 xe cơ giới... Với những thành tích trên, kết thúc chiến dịch Nguyễn Huệ sư đoàn đã được Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền trao cờ thưởng luân lưu "Quyết chiến quyết thắng". Chốt chặn Tàu Ô đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Một trong những bài học đó là công tác bảo đảm hậu phương cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Với quan điểm không để bộ đội bị đói, thiếu súng đạn và từng chốt không để thiếu quân số chiến đấu, từng đơn vị (chủ yếu là tiểu đoàn và trung đoàn) đã tổ chức nuôi dưỡng thương binh nhẹ, bệnh binh ngay tại khu vực phòng ngự để bổ sung cho chiến đấu tại chỗ, do đó đã duy trì được quân số chiến đấu liên tục ở các chốt. Tổ chức nấu cơm theo từng đại đội và mỗi khi buổi tối tới, lực lượng vận tải lại tổ chức thành đơn vị chiến đấu để mang cơm, chuyển đạn được tới từng chốt chiến đấu cho bộ đội và chuyển thương binh nặng về phía sau. Trên mặt trận này đã xuất hiện người chiến sĩ vừa làm nhiệm vụ vận tải vừa nuôi quân đã dũng cảm chiến đấu nhiều lần đánh địch phục kích dọc đường, mang cơm tới trận địa cho từng chiến sĩ. Đó là đồng chí Cao Xuân Cới đã được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Thưa các đồng chí! Không giống như trong chiến tranh giải phóng, trong tình hình hiện nay, sư đoàn bộ binh làm nhiệm vụ phòng ngự dựa được vào thế phòng thủ của địa phương, của cấp trên, phòng ngự theo ý định, nhiệm vụ phương án đã được chuẩn bị từ thời bình nên có thuận lợi hơn trước đây rất nhiều. Tuy nhiên từ phòng ngự Tàu Ô của Sư đoàn bộ binh 7 chúng ta có thể rút ra được những bài học hay về phòng ngự và chuyển hóa thế trận chiến dịch trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đ. V. L Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:18:19 pm CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ 1972 BA MƯƠI NĂM NHÌN LẠI NGUYỄN VĂN QUẢNG Nguyên Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Miền năm 1972 Hội nghị Pa-ri để giải quyết chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam đã diễn ra gần đủ 4 năm. Cuộc "mặc cả" trên bàn Hội nghị ở Đại lộ Kléber (Pháp) từ hai bên rồi bốn bên cứ giằng co. Nó được ví một cách châm biếm: Hội nghị của "những người điếc"! Ám chỉ rõ hơn kẻ xâm lược là điếc... điếc nặng. Nhìn lại từ sau Mậu Thân 1968, đánh cho Mỹ chịu hòa đàm, mỗi năm đủ hai mùa -mưa nắng ở chiến trường đã có những diễn biến phức tạp. Dẫu vậy ta vẫn luôn nắm vững tư tưởng chiến lược tấn công, dù qui mô và cách đánh giữa các mùa và các vùng có lúc không đều nhau. Một điều quan trọng là ta khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng, tạo thời cơ. Đến đây, cuối mùa khô đầu mùa mưa này đang bước vào khúc quanh quyết liệt. Ta chủ trương tiến công chiến lược 1972 trên toàn tuyến. Chiến trường được chuẩn bị tốt để phối hợp cùng "tiếng gọi" của phái đoàn ta tại Pa-ri. Sự thông tin liên lạc của Bộ Chính trị Đảng ta giữa các anh Ba Lê Duẩn, anh Lê Đức Thọ và anh Phạm Hùng từ Hà Nội tới chiến trường và bàn hội nghị Pa-ri càng chặt chẽ và luôn thông suốt về các ý định. Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972 được mở ra ở miền Đông Nam Bộ trong bối cảnh ấy. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Miền mở luôn chiến dịch đồng bằng Cửu Long nơi đông dân nhiều của, có vị thế chiến lược rất quan trọng, để "dồn" địch vào thế "đỡ không nổi". Xin trở lại phạm vi chiến trường miền Đông, với chiến dịch Nguyễn Huệ. "Đòn" này, "Miền" định mở toang cánh cửa phía đông, nối liên hoàn hai căn cứ địa chiến khu Đ và Dương Minh Châu, gắn vào đoạn cuối đường Hồ Chí Minh thông ra Trung ương; mở rộng vùng giải phóng, làm chủ một đoạn dài quốc lộ 13, 14, giành lại một khu vực rừng núi quan trọng, tạo sức ép mạnh phía bắc Sài Gòn; mở mạnh sự phối hợp đều khắp giữa các khu 7, khu 6, khu Sài Gòn - Gia Định với toàn bộ đồng bằng Cửu Long. Chiến dịch phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng địch (cả chủ lực và binh quân chủng, kho tàng hậu cứ địch) diệt vào chi khu, cả tiểu khu, dành dân, giữ vùng và mở thêm vùng. Tạo thế mạnh tổng hợp cho tiến công ba mũi, phối hợp ba vùng và ba thứ quân. Miền tập trung ba sư đoàn bộ binh chủ lực 5 - 7 - 9, sư đoàn pháo binh, các đơn vị tăng thiết giáp cao xạ và công binh trên hướng chủ yếu quốc lộ 13 (hai tỉnh Bình Long - Bình Dương), sử dụng đơn vị C30b tương đương 1 sư đoàn trên hướng thứ yếu quốc lộ 22 (bắc Tây Ninh). Hướng này nổ súng trước (1 tháng 4 năm 1972). Toàn chiến dịch có sự phối hợp với quân địa phương tại chỗ, các lực lượng dân quân du kích xã và du kích công nhân cao su các đồn điền trong khu vực chiến dịch. Cách đánh của ta là tập trung ưu thế diệt các cụm cứ điểm (chi khu - tiểu khu) tập trung đủ sức chặn và diệt viện (quân đến giải tỏa) giữ vững nơi vừa giải phóng. Mở màn: Sư đoàn 5 có đặc công, pháo binh, xe tăng phối thuộc diệt gọn chi khu Lộc Ninh (từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 4 năm 1972) thu bắt triệt để. Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 phối thuộc cho Sư đoàn 5 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 5) chặn diệt gọn 1 trung đoàn thiết giáp địch, từ hướng biên giới cơ động về ứng cứu Lộc Ninh. Ta bắt sống tên chỉ huy (6 tháng 4 năm 1972). Lộc Ninh thất thủ, chiến đoàn 52 địch án ngữ tại ngã ba Hồng Tâm - nam Lộc Ninh không dám lên ứng cứu, rút về co cụm thị xã Bình Long, bị Trung đoàn 209 Sư đoàn 7 diệt phần lớn tại Cần Lê (7 tháng 4 năm 1972) . Bước 1 kết thúc thắng lợi giòn giã. Bước tiếp theo, Sư đoàn bộ binh 9 được tăng cường các đơn vị pháo binh, xe tăng thiết giáp, công binh cao xạ, đặc công với qui mô lớn hơn, tấn công thị xã Bình Long. Ta song song giải quyết gọn phần các đồn, chốt, án ngữ vòng ngoài, chiếm sân bay Téc Ních. Đồng thời tiến công vào trung tâm chỉ huy địch giữa thị xã, (13 tháng 4 năm 1972) nhưng không dứt điểm hoàn toàn. Mệnh lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch (tiền phương Miền) cho chuyển qua tiến công vây ép (15 tháng 5 năm 72)... Sư đoàn bộ binh 7 ngay từ đầu chiến dịch, dược giao "mai phục" khu vực Tàu Ô - Cần Đầm, Cần Lê trên quốc lộ 13, nhằm diệt quân địch tháo chạy, hoặc diệt bọn viện quân đỗ tới. Trong vị trí và nhiệm vụ này, Sư đoàn 7 làm tròn nhiệm vụ "chốt chặn" diệt nhiều thiết giáp và bộ binh địch. Tuy nhiên sư đoàn chưa diệt được đơn vị địch, tạo các đòn đau buộc địch phải giằng co đối phó tại trận "chốt chặn" do đó địch vẫn cơ động bằng đường không vượt qua, đổ quân dù xuống Núi Gió - một điểm cao phía đông nam thị xã, chi viện và tạo thế cho quân địch cố thủ trong trung tâm thị xã. Do thối động mạnh trên toàn bộ chiến trường bị "thốn" nặng, Ních-xơn có ý định sử dụng cả bom nguyên tử đánh ta (25 tháng 4 năm 1972 - tài liệu mật Lầu Năm Góc mới đây tiết lộ). Cuối cùng, ta vẫn giữ vững "vây ép" và "chốt chặn", thu hút và diệt lực lượng địch vào đây, tạo cho bước phát triển lúc đó và sau này... Qua thực tế diễn biến chiến dịch, có thể rút ra: - Chiến dịch Nguyễn Huệ mở ra trong một thời điểm mang ý nghĩa lịch sử cực kỳ quan trọng. Chiến trường phục tùng ý đồ chiến lược chính trị - quân sự của Bộ thống soái ta trong chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đã tập trung nỗ lực cao nhất là hoàn toàn chính xác. Điều đó chỉ rõ chiến tranh cách mạng qui định cho những bước đi, và chiến dịch này không chỉ thuần túy diệt địch làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta trên chiến trường mà điều quan trọng trong bối cảnh kể trên, là phải góp sức vào mặt trận ngoại giao đã mở từ tháng 5 năm 1968. Chiến dịch Nguyễn Huệ cùng các chiến trường chung toàn Miền đã góp một bước lớn cho thắng lợi chiến lược, buộc Mỹ "không thể điếc mãi", phải ký hiệp định Pa-ri tháng 1 năm 1973, đó là một qui luật trong việc giành thắng lợi từng bước... dù Mỹ cũng đã "chạy tranh thủ" nhiều người khác. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:19:28 pm 2. Thời cơ và quyết tâm mở chiến dịch đúng, thì cách đánh chiến địch, đến lượt nó, có ý nghĩa quyết định trực tiếp cho chiến thắng trên chiến trường. Bộ Tư lệnh Miền đã tập trung gần như "toàn lực" cho chiến dịch ở khu vực trọng điểm. Việc cho hướng thứ yếu (C30b) nổ súng trước rất có ý nghĩa vừa diệt địch vừa nghi binh, thu hút sự đối phó lệch hướng của địch khi ta mở màn. Nhưng một điều rất quan trọng trong tiến hành chiến tranh nhân dân là sự chỉ đạo, chỉ huy, phát động lực tổng hợp toàn chiến trường, căng địch ra, tạo thuận lợi cho "trọng điểm". Đây là sự kết hợp cả thông minh - trí tuệ trong cách đánh và là một qui luật của chiến thắng. Ta thấy các khu đều nỗ lực thi đua, là kinh nghiệm tốt. Đặc biệt sự phối hợp với chiến trường chính Quảng Trị, bắc Tây Nguyên trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương rất hoàn hảo.
- Trong chỉ đạo cách đánh chiến thuật, đã tập trung ưu thế cho từng trận như cho Sư đoàn 5 mở màn tiêu diệt một cụm cứ điểm chi khu kiên cố vùng sát biên, dù địch rất đề phòng vẫn bị "hạ" là rất tốt. "Đầu đã xuôi". Nhưng đến cách đánh thị xã Bình Long còn có "trục trặc" trong nắm địch, nắm ta, nên không thành công trọn vẹn, có hạn chế nhất định về chiến quả. Có thể thấy Sư đoàn 9 trong hợp đồng pháo binh, xe tăng, bộ binh với qui mô khá lớn lúc này chưa thật thuần thục. - Việc chuyển Sư đoàn 5 và C30b mở chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long rất đúng ý đồ Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta. Trong lực lượng còn lại chuyển qua "tiến công vây ép" thị xã Bình Long trong điều kiện này là phù hợp. Trừ B52 "rải thảm" trên trận địa vây ép của ta gần sát hàng rào căn cứ địch, thì việc "chốt chặn Tàu Ô" không cho địch đến cứu nguy trong thị xã là khoa học, phù hợp yêu cầu chiến thuật chiến dịch. - Việc "chốt chặn" - tuy cản phá và diệt khá nhiều cơ giới và bộ binh địch - song "phòng ngự" này nếu kết hợp với vận động tiến công tốt hơn, sẽ tạo hiệu quả có thể nhiều hơn trong ý đồ tiêu diệt đơn vị địch, tạo được các đòn đau hơn theo mục tiêu của chiến dịch, sẽ góp tốt hơn cho sự phát triển toàn bộ của chiến dịch. 3. Bối cảnh mục đích nhiệm vụ và qui mô chiến dịch bằng việc tập trung 3 sư đoàn bộ binh trên một hướng, có hợp đồng binh chủng, là lớn nhất cho đến lúc đó trên toàn Miền. Nếu so chiến dịch Bình Giã ta mới tập trung 2 trung đoàn bộ binh, chiến dịch Đồng Xoài ta tập trung được 3 trung đoàn. Mà các chiến dịch này cũng mới đề ra tiêu diệt sinh lực địch, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo thế tạo lực mới, chớ cũng chưa đề ra giải phóng vùng để giành dân. Do vậy cường độ của hoạt động chiến dịch từ công tác đảng, công tác công tác chính trị tư tưởng, công tác bảo đảm hậu cần, quân báo trinh sát, thông tin liên lạc và cuối cùng là công tác tổ chức chỉ huy... đều được nâng lên một bước mới. Tinh thần xây đựng "quyết tâm" quyết chiến, quyết thắng, thi đua lập công giữa các đơn vị dự chiến, được đẩy lên rất sôi nổi, đánh dấu sự trưởng thành về chính trị và trình độ tổ chức chỉ huy các cấp. Đây là thành công và kinh nghiệm tốt trong chiến dịch này. Do vậy nhiều đơn vị đã lập công xuất sắc, nâng cao bản lĩnh chiến đấu vững vàng vào các chiến dịch tiếp sau. 4. Giải phóng Lộc Ninh (cùng với Thiện Ngôn - Bù Đốp) ta đã giành dân, giữ và bảo vệ vững vùng căn cứ địa mới mở là đạt tốt yêu cầu nhiệm vụ của chiến dịch. Sự phát triển thắng lợi của chiến tranh cách mạng đến đây hoàn toàn phù hợp qui luật. Qua đó mà tạo thế, tạo lực mới, phất cao thêm ngọn cờ hiệu triệu cách mạng từ vùng căn cứ ta. Lộc Ninh từ đó đến toàn thắng là "bản doanh công khai" của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo cho thanh thế cách mạng càng lên cao và là nơi ta mở lại sân bay Lộc Ninh, đón tù chính trị và tù binh chiến tranh của ta được địch trả tại đây. Lộc Ninh cũng là nơi giao dịch quốc tế sau Hiệp định Pa-ri. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ, dù trận then chốt số 1 - tiêu diệt thị xã Bình Long không "dứt điểm", nhưng hầu hết các đơn vị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành có bước phát triển mới, trình độ bộ đội được trưởng thành về mọi mặt - nhất là kinh nghiệm đánh lớn đã tạo tiền đề thuận lợi cho sau này ta góp phần giành toàn thắng trọn vẹn. Trong quá trình này thể hiện rõ nét đặc sắc về chỉ đạo chiến lược loại chiến tranh này, cùng các cách đánh thông minh và dũng cảm về chiến dịch, chiến thuật, mang đủ tính qui luật dành thắng lợi từng bước để giành thắng lợi hoàn toàn, kết thúc chiến tranh chống xâm lược Mỹ - một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử quân sự thế giới. N.V.Q Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:21:39 pm CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ ĐỢT CHỐT CHẶN TÀU Ô, CỦA TRUNG ĐOÀN 141 TRONG CHIẾN DỊCH NGUYẺN HUỆ NĂM 1972 Thiếu tướng NGUYỄN NGỌC DOANH Nguyên Chính ủy Trung đoàn 141 năm 1972 I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH: 1. Về địch: Từ mùa khô năm 1970-1971, Mỹ - ngụy thực hiện chiến lược "Khơ-me hóa chiến tranh", mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia nhằm tiêu diệt chủ lực ta và các cơ quan đầu não của quân giải phóng ở bên ngoài, bên trong tìm diệt hết các cơ sở cách mạng của ta ở bên trong các đô thị và vùng nông thôn, tạo ra vùng trắng để thực hiện tát nước bắt cá. Nhưng Mỹ - ngụy đã bị quân và dân ta đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch ở chiến trường đất bạn. Đồng thời ta đánh địch ở sát các căn cứ lớn buộc địch phải co lại đề phòng bị ta tấn công. 2. Về ta: Qua hai mùa khô năm 1970-1971 quân và dân ta đã đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch ở chiến trường đất bạn và đánh sát vào các căn cứ lớn của địch, buộc địch phải co lại bị động đối phó đề phòng ta tiện công, ta đã tạo ra thế và lực mới, đơn vị đang có khí thế thi đua tiêu diệt địch ở đất mẹ đẻ, để giải phóng đất đai giành dân mở rộng vùng giải phóng của ta, tạo ra thế mới và lực mới ở chiến trường tiến lên giành thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam. 3. Về địa hình, thời tiết: Địa hình, địch rải hóa học suốt chiều dài biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia và sâu vào đất ta từ 20 đến 25 km, cây đều chết hết, để ta không còn chỗ trú ém quân. Thời tiết vào mùa khô nắng nóng, nước khó khăn. Nếu ta hành quân trong một đêm không vượt qua được từ 20-25 km thì sẽ bị máy bay địch đánh tiêu diệt ta từ xa. II. NHIỆM VỤ SƯ ĐOÀN GIAO CHO TRUNG ĐOÀN 141: 1. Nhiệm vụ chốt cứng chặn đứng không cho bộ binh, xe tăng thiết giáp địch lên và xuống qua trận địa chốt chặn Tàu Ô, nhất là địch chi viện lên Bình Long. 2. Sẵn sàng đánh địch bên ngoài chốt bằng các hình thức, đánh đổ bộ đường không, đánh tập kích và đánh vận động phục kích. 3. Vừa đánh vừa củng cố xây dựng đơn vị, càng đánh càng mạnh để đánh được liên tục dài hơi. 4. Trung đoàn nằm trong đội hình chiến đấu của sư đoàn, phải chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, kỷ luật chiến trường, nhất là công tác dân vận. III. TRIỂN KHAI, QUÁN TRIỆT CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ: 1. Trung đoàn họp Đảng ủy và cấp ủy các cấp để quán triệt đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của sư đoàn giao cho trung đoàn và nêu lên những tội ác của Mỹ, ngụy đã giết hại nhân dân ta để giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời đề ra khẩu hiệu thi đua: "Tuổi trẻ Ba Vì anh dũng, lập công xuất sắc, đền ơn Bác" và học tập gương các anh hùng Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm, Trần Kim Cầu và Bê Văn Cắm. Toàn trung đoàn đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi, chuẩn bị cho nhiệm vụ mới và tổ chức một bộ phận cán bộ chiến sĩ đi chuẩn bị chiến trường, đơn vị tập trung vào huấn luyện quân sự, chủ yếu vào hình thức chốt chặn, tập kích và vận động phục kích với chuẩn bị chu đáo về tổ chức, biên chế sắp xếp cơ quan gọn để tăng cường tay súng cho đại đội bộ binh, và chuẩn bị vật chất súng đạn các loại gạo, thực phẩm khô, bình đựng nước khi cán bộ đi nghiên cứu chiến trường về, cho cán bộ chiến sĩ diễn tập theo phương án chiến đấu. Sáng ngày 1 tháng 3 năm 1972 sư đoàn nhận lệnh hỏa tốc động viên của Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Buổi trưa cùng ngày lệnh của sư đoàn cho Trung đoàn 141 xuất quân. Trung đoàn xuất quân với khẩu hiệu "khí thế" như Mậu Thân, lập công như Điện Biên Phủ, đánh lớn diệt gọn như X Nun - Oót thơ Mây, giành cờ luân lưu quyết thắng có hình ảnh Bác Hồ". Với tinh thần "Khẩn trương linh hoạt, mang nặng đi gọn, đánh thắng trận đầu, lập công liên tục, đánh gục quân ngụy Sài Gòn". 2. Tập trung quán triệt cho cán bộ chiến sĩ luôn luôn cảnh giác, giữ gìn bí mật trên dọc đường hành quân với khẩu hiệu "Đi không dấu, nấu không khói, nói không lộ, đại tiện không thối), ở nơi trú ém quân và nhất là ở trận địa phải biết nghi binh lừa địch. Đồng thời phải linh hoạt xử trí những tình huống có thể xảy ra như địch phục kích cài mìn, phi pháo đánh ngăn chặn trên dọc đường hành quân, nơi trú ém quân nhất là khi ra chiếm lĩnh trận địa. 3. Quán triệt giáo dục cho cán bộ chiến sĩ, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu trong đội hình đánh lớn của sư đoàn đánh theo mệnh lệnh yêu cầu của chiến dịch và chấp hành tốt chính sách dân vận, nhất là đối với nhân dân ở vùng giáp ranh với địch để nhân dân tin yêu quân giải phóng giúp đỡ ta hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời làm tốt chính sách tù hàng binh, chiến lợi phẩm thì nhân dân sẽ yêu mến, kẻ thù phải kính trọng, ta mới giành được thắng lợi toàn diện tạo ra thế và lực mới. IV. QUA THỰC TẾ, THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ RÚT RA MỘT SỐ KINH NGHIỆM: 1. Tập trung giáo dục chính trị tư tưởng và phát động căm thù địch cho cán bộ chiến sĩ, để có quyết tâm khắc phục khó khăn, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng địch trong mọi điều kiện khó khăn ác liệt nhất. Trong thực tế, chiến đấu rất ác liệt giữa ta và địch phi pháo đánh phá trận địa chốt cày xới không còn cây cỏ, ta địch chiến đấu giành giật với nhau từng cái hầm và xen kẽ với nhau ở chốt, cán bộ chiến sĩ ta thiếu nước, đói cơm và cả tuần không được tắm giặt mà tinh thần chiến đấu vẫn lạc quan tin tưởng và quyết đánh thắng địch trong mọi tình huống, đánh địch lấy súng đạn, thực phẩm của địch trang bị cho ta để đánh được liên tục, giữ vững trận địa chốt chặn Tàu Ô. 2. Trên cơ sở quán triệt công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ chiến sĩ thông suốt nhiệm vụ để khắc phục mọi khó khăn, mà vận dụng linh hoạt sáng tạo các cách đánh của ta và dự kiến các tình huống địch có thể sử dụng để đánh phá chốt chặn Tàu Ô của ta bằng phi pháo, bộ binh, xe tăng thiết giáp với nhiều thủ đoạn khác nhau để vượt qua chốt chặn Tàu Ô lên chi viện cho Bình Long. Trong thực tế địch sử dụng phi pháo đánh phá trận địa chốt rất ác liệt bằng pháo chụp, pháo khoan, bom phát quang, bom đào, đánh liên tục cày xới trận địa chốt chặn Tàu Ô không còn cây cỏ, thì bộ binh xe tăng thiết giáp địch mới tấn công đánh chiếm trận địa chốt chặn của ta. Nhưng cán bộ chiến sĩ ta luôn chủ động kiên cường đánh bại các thủ đoạn của địch làm chủ trận địa chốt chặn Tàu Ô, ta tăng cường công sự vững chắc như hầm chữ A hai tầng, để chống pháo khoan và nghi binh lừa địch, kiên quyết chiến đấu còn một người còn trận địa chốt. Do đó địch không vượt qua được trận địa chốt chặn Tàu Ô của ta để chi viện cho Bình Long. Nhưng địch rất ngoan cố dùng mọi thủ đoạn như đi vòng sâu vào rừng ở phía đông cách chốt 2 đến 3km và đổ bộ đường không lữ đoàn dù xuống đông bắc chốt chặn Tàu Ô, lập thành chốt an pha. Ta lại cơ động lực lượng đánh tập kích ngay trong đêm, địch bị thất bại buộc phải sử dụng B52 đánh xung quanh chốt và đổ bộ các lữ đoàn dù xuống Núi Gió để chi viện trực tiếp cho Bình Long. Ta lại cơ động lực lượng lên đánh các lữ đoàn dù, cuộc chiến đấu giữa ta và địch rất ác liệt, các lữ đoàn dù co cụm chiếm điểm cao Núi Gió để giữ Bình Long và dùng B52 đánh rất ác liệt sát vào phía sau lực lượng ta đang bao vây đánh các Lữ đoàn dù ở Núi Gió. Ta chuyển cách đánh, đánh vào các hậu cứ lớn của địch, buộc một số chiến đoàn địch lên chi viện cho Bình Long phải về cứu nguy cho các căn cứ bị đánh, ta chuyển sang đánh phục kích bên ngoài để tiêu diệt địch. 3. Thực hiện nhiệm vụ, vừa đánh vừa củng cố xây dựng đơn vị, càng đánh càng mạnh. Thực tế đã quán triệt cho cán bộ chiến sĩ, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm các trận đánh trước để vận dụng vào các trận đánh sau tốt hơn như tháng 7 năm 1972, Trung đoàn 14 cùng Trung đoàn 165 đánh phục kích ở bắc Bàu Bàng trên đường 13 tiêu diệt chiến đoàn 49 của địch, đến tháng 12 năm 1971 Trung đoàn 141 cùng Trung đoàn 209 đánh vận động phục kích chiến đoàn 8 thuộc sư đoàn 5 ngụy ở động Chanh Dầu Tiếng, bảy ngày đêm liên tục đã tiêu diệt gọn chiến đoàn 8. Địch bị đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, ta mở rộng vùng giải phóng, địch hoang mang phải co lại để đối phó. Do đó đã tạo ra cho ta có thế và lực mới ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, lực lượng ta càng đánh càng mạnh, có lòng tin vào thắng lợi để tiến tới giành thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam. 4. Qua thực tế chiến đấu, cán bộ chiến sĩ ta vừa chiến đấu, vừa làm tốt công tác dân vận như ở Đức Vinh Bình Long, ở Dầu Tiếng và làm tốt chính sách tù hàng binh, chiến lợi phẩm như trận diệt gọn chiến đoàn 8 của địch. Từ thực tế đó nhân dân rất ca ngợi các chiến sĩ giải phóng quân vừa đánh giặc giỏi lại biết giúp đỡ nhân dân. N.N.D Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Tám, 2026, 08:23:34 pm TÀU Ô - XÓM RUỘNG BA MƯƠI NĂM SAU NHÌN LẠI Đại tá TRỊNH NGỌC NGHI Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Thoắt đấy đã ba mươi năm, nhưng dòng chảy của thời gian như những nghệ nhân cần mẫn chau chuốt viên ngọc chiến công Tàu Ô - Xóm Ruộng, để ngày càng cho chúng ta thấy rõ hơn những nét đặc sắc về nghệ thuật tác chiến phòng ngự của Sư đoàn 7 trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Thành công trước hết và quan trọng hơn hết là sư đoàn đã xác định đúng cách đánh và vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật cùng với các thủ đoạn chiến đấu trong quá trình phòng ngự. Nét nổi bật của Sư đoàn 7 trong đợt tác chiến phòng ngự kéo dài gần 150 ngày đêm ở Tàu Ô - Xóm Ruộng là đã chọn phương pháp tác chiến chính xác - phương pháp "chốt chặn kết hợp với vận động tiến công" để tiêu diệt địch. Đây là điều chưa thấy trong lịch sử đối chiến với địch của các sư đoàn Quân giải phóng miền Nam đến thời điểm đó. Để "phá chốt, mở đường" 13, đưa các lực lượng lên ứng chiến cho An Lộc, địch dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm như: sử dụng tối đa binh, hỏa lực, thực hành bao vây kết hợp với đột phá từ nhiều hướng, nhiều mũi, cả tiến công bằng đường bộ kết hợp với đổ bộ đường không bằng trực thăng vào khu vực phòng ngự của ta. Tập trung lực lượng ưu thế, hình thành nhiều mũi đột kích vào từng điểm tựa, cụm điểm tựa. Đột phá ban ngày kết hợp với luồn lách ban đêm để lấn chốt. Tổ chức các chốt đối diện, chốt xen kẽ với các chốt của ta để vừa cắt tiếp tế, vừa tạo bàn đạp tiến công từ cự ly gần hoặc chia cắt thế trận giữa đông và tây đường, bao vây cô lập chốt. Đánh phá liên tục ngày đêm gây căng thẳng, mệt mỏi, nhanh chóng làm giảm sút sức chiến đấu của ta. Đưa xe tăng vào cự ly 300-400m, dùng bộ binh quan sát, trực tiếp chỉ mục tiêu cho xe tăng tập trung hỏa lực đánh bật từng công sự, ụ súng để ta không còn áo giáp giúp ta trụ vững, đánh bại các cuộc tiến công của chúng. Nhưng tất cả các thủ đoạn tiến công rát hiểm độc của địch, đều không thắng được phương pháp "chốt, chặn kết hợp với vận động tiến công" của ta. Để "chốt cứng, chặn đứng", đánh bại các cuộc tiến công của 2 sư đoàn chủ lực cơ động của quân ngụy, được phi pháo chi viện rất mạnh, liên tục thay phiên nhau vào giải tỏa đường 13. Các đơn vị của Sư đoàn 7 đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu để liên tiếp đánh bại các đợt tiến công của bộ binh và xe tăng của địch vào trận địa phòng ngự. Bằng chiến thuật phòng ngự và kỹ thuật sử dụng vũ khí điêu luyện, nhất là các loại súng chống tăng B40, B41 ta đã chặn đứng được các mũi đột kích của xe tăng kết hợp với các mũi cơ động vu hồi hai bên sườn của địch; sát thương, ngăn chặn, buộc chúng phải lui ra co cụm để chờ phi pháo đánh phá. Nhưng khi co cụm, địch lại tạo điều kiện cho các lực lượng cơ động của ta khi thì vận động tiến công; khi thì tập kích bí mật, khi lại tập kích bằng hỏa lực làm cho đội hình của chúng luôn bị rối loạn và bị tiêu hao tiêu diệt. Và khi tiến công lại bị ta chặn đánh trước mặt, bên sườn, sau lưng nên lại phải lùi ra xa chờ phi pháo đánh phá dọn đường, tiếp sức. Cứ như vậy, cuộc hành quân mở đường của chúng càng ngày càng sa vào vòng luẩn quẩn, không có đường ra. Chính việc xác định cách đánh chính xác, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật và các thủ đoạn chiến đấu mà cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 anh hùng đã băng qua mưa bom, bão đạn ác liệt của kẻ thù để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt chặn không cho địch vượt qua Tàu Ô - Xóm Ruộng để giải tỏa cho An Lộc; góp vào chiến công chung của chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến công chung của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Thành công thứ hai là đã xây dựng thế đứng chân vững chắc cả cho lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động, một yếu tố quyết định thắng lợi của đợt tác chiến phòng ngự. Thế đứng chân vững chắc của các lực lượng trong tác chiến phòng ngự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa đó, Sư đoàn 7 đã tổ chức, xây dựng trận địa phòng ngự khu vực theo kiểu chốt, cụm chốt liên hoàn với tư tưởng chỉ đạo: tích cực, vững chắc, kiên cường và với phương châm lấy công sự, trận địa kiên cố làm hạt nhân kết hợp với các công sự dã chiến và vật cản hình thành thế trận phòng ngự hình vòng, liên hoàn, dựa được vào nhau, chi viện được cho nhau bằng cả hỏa lực và xung lực để giữ vững trận địa, giữ vững khu vực phòng ngự và sẵn sàng, chủ động chuyển hướng đánh được địch tiến công từ bất kỳ hướng nào tới. Trong thế trận đó, các công sự, trận địa chiến đấu có thể hỗ trợ, chi viện cho nhau trong mọi trường hợp; vừa có hỏa lực ngăn chặn địch, vừa cơ động được lực lượng và tạo được bàn đạp chuyển sang tiến công, phản kích quân địch được nhanh chóng. Thế trận đó khi phòng ngự, chốt giữ thì vững chắc, kiên cường, khi tiến công thì thuận lợi, sắc bén và mạnh mẽ. Đánh địch trong điều kiện không còn sự phân biệt sự ác liệt giữa phía trước và phía sau, lại tác chiến vào mùa mưa nên việc khắc phục sụt lở, mưa dột, ấm ướt để vừa bảo đảm sức khỏe cho bộ đội đánh thắng; vừa hạn chế được thương vong khi tác chiến dài ngày với quân địch có hỏa lực phi pháo rất mạnh; vừa có điều kiện nghỉ ngơi, sinh hoạt trong quá trình chiến đấu. Để có trận địa vững chắc, các đơn vị đều làm hầm chữ A cả phía trước và phía sau; mỗi hầm chữ A được lợp ni lông trước khi lấp đất; trong hầm có nơi để lương khô, nước, đạn và cả hố tiểu tiện. Không chỉ ở trận địa chiến đấu mà cả trên đường vận chuyển, đường cơ động, đường liên lạc giữa phía trước và phía sau cùng có hầm. Tất cả cho chốt chặn thắng lợi, tư tưởng chỉ đạo đó không chỉ thể hiện ở thế trận vững chắc cho lực lượng phòng ngự mà còn cho cả lực lượng tiến công; không chỉ là ý chí quyết tâm mà còn là tình cảm của từng cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 7 trong những ngày chiến đấu đầy ác liệt thuở ấy. Chính nhờ có thế trận phòng ngự được xây dựng vững chắc để đánh địch một cách kiên quyết nhất, liên tục và bằng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí của ta và lấy được của địch; bằng mọi hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu; ở mọi qui mô trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; luôn nhằm vào chỗ yếu, chỗ sơ hở; luôn giữ được bí mật, tạo được bất ngờ mà ta luôn chủ động đánh địch, chuyển hóa được thế trận mau lẹ, ứng phó thành công mọi tình huống ác liệt và khẩn trương, giữ vững được khu vực phòng ngự gần nửa năm trong mưa bom, báo đạn của kẻ thù. Thành công thứ ba là ta đã khéo kết hợp chặt chẽ các loại hỏa khí để tạo nên sức mạnh hỏa lực chi viện cho bộ đội chiến đấu cả trong phòng ngự cũng như tiến công. Trong hoàn cảnh vũ khí, trang bị kỹ thuật của ta ít hơn địch nhiều lần; pháo binh sư đoàn đã hiệp đồng chặt chẽ với pháo binh của chiến dịch để nâng cao hiệu suất diệt địch, đồng thời hạn chế được sức mạnh pháo binh của chúng. Khéo kết hợp hỏa lực của các loại pháo của cấp chiến dịch với các loại pháo mang vác của các đơn vị bộ binh, của các đơn vị binh chủng trong sư đoàn, từ khẩu pháo cỡ lớn đến khẩu cối 60mm, từ hỏa tiễn mang vác đến những khẩu B40, B41 để tổ chức thành hệ thống hỏa lực nhiều tầng, nhiều tầm trên các hướng; thực hiện hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung, phát huy hiệu quả tiêu diệt địch từ gần đến xa. Cùng với cơ động hỏa lực, các đơn vị còn tích cực lợi dụng địa hình, địa vật, tranh thủ thời cơ để cơ động các loại hỏa khí, khi ẩn, khi hiện để đánh địch. Tích cực củng cố công sự, trận địa và chú trọng ngụy trang, nghi binh để hạn chế được thương vong do hỏa lực của phi pháo địch gây ra. Nếu như các loại pháo mang vác của sư đoàn với độ chính xác cao đã phát huy được hiệu lực của rió trong tác chiến ở cự ly gần (cả khi đánh địch tiến công vào trận địa cũng như khi ta tiến công địch ngoài trận địa), thì pháo lớn cũng làm tốt nhiệm vụ đánh địch ở các mục tiêu xa như ở Dầu Tiếng, Chơn Thành, Lai Khê... Cả trong đánh địch co cụm dã ngoại cũng như trong diệt viện, trong chặn đứng các mũi tiến công cũng như trong phản pháo dịch. Qua một thời gian dài đối chiến với ta ở Tàu Ô - Xóm Ruộng; chính quân ngụy đã phải kêu lên: "Kỹ thuật bắn pháo của cộng sản vô cùng lợi hại, súng chống chiến xa của cộng sản bắn không trật phát nào". Ngoài vũ khí, đan dược của ta, ta đã dự kiến và huấn luyện cho bộ đội ngay được chiến lợi phẩm lấy được của địch. Đây là một trong những yếu tố góp phần tăng cường sức mạnh để đánh địch được dài ngày. Nhờ kết hợp chặt chẽ và sử dụng khôn khéo các loại hỏa khí mà Sư đoàn 7 đã phát huy được sức mạnh hỏa lực chi viện cho bộ đội giữ vững khu vực phòng ngự suốt gần 150 ngày đêm, không để một tên địch, một chiếc xe tăng nào vượt qua đường 13, ứng viện cho quân của chúng ở An Lộc. Gần một phần ba thế kỷ đã đi qua, nhưng tinh thần "còn người còn trận địa", "tất cả cho phòng ngự thắng lợi" vẫn còn tươi rói với những chiến công ở Tàu Ô - Xóm Ruộng của Sư đoàn 7 anh hùng; và hôm nay cũng như mai sau những kinh nghiệm về chọn phương pháp phòng ngự, tổ chức thế trận, tổ chức hỏa lực trong phòng ngự vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn của nó. T.N.N Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2026, 08:48:15 pm BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TỔNG QUAN VỀ CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972 TS. NGUYỄN VĂN DIỆU Giám đốc Trung tâm Sử học Viện Khoa học Xã hội tại TP. HỒ Chí Minh I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ: 1. Sau thắng lợi to lớn vang dội của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn bộ chiến trường Nam Việt Nam gây chấn động dư luận thế giới và dư luận Hoa Kỳ, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản "Chiến lược chiến tranh cục bộ", buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta (Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) tại Pa-ri và chuyển "Chiến tranh cục bộ" sang "Phi Mỹ hóa chiến tranh" - thay đổi màu da xác chết trên chiến trường Việt Nam, bắt đầu thời kỳ rút dần quân Mỹ trực tiếp tham chiến về nước.... Tuy thắng lợi của ta lúc bấy giờ là vô cùng to lớn, nhưng những tổn thất về lực lượng cách mạng mà địch đã gây ra cho ta sau đó (nhất là từ cuối năm 1968 đến năm 1969) trên chiến trường cũng không nhỏ và để lại những hậu quả nặng nề đối với các căn cứ địa và vùng giải phóng mà phải mất ba bốn năm sau mới khôi phục lại được.... 2. Tháng 6 năm 1969, R.Ních-xơn thay L. Giôn-xơn lên làm Tổng thống Hoa Kỳ đã công bố "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" thay cho "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Do vậy, từ tháng 6 năm 1969 đến năm 1972, là ba năm mà Mỹ - ngụy dành những nỗ lực to lớn nhất và toàn diện nhất để thực hiện bằng được "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh", tạo điều kiện thuận lợi cho quân Mỹ trực tiếp tham chiến rút dần về nước. Trong những năm 1969 đến 1972, Mỹ đã dành cho ngụy viện trợ quân sự, kinh tế và khoa học kỷ thuật to lớn nhất so với bất giai đoạn nào trong suốt 21 năm thực hiện cuộc chiến tranh (1954-1975) ở Nam Việt Nam. - Về mặt quân sự: các biện pháp cơ bản của "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" đều được thực hiện đến mức cao nhất như: quân sự hóa cao độ và bộ máy ngụy quyền miền Nam Việt Nam so với những năm trước đó; xây dựng 1.100.000 quân chính quy của ngụy quyền với trang bị vũ khí tối tân, hiện đại và vũ trang chỗ 400.000 phòng vệ dân sự ở cơ sở xã, ấp. Chương trình bình định vùng nông thôn rộng lớn và đông dân ở miền Nam Việt Nam được triển khai trên các bình diện (quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa), nhất là tâm lý chiến, chiêu hồi với các tổ chức mới (Phượng Hoàng, Thiên Nga) đạt hiệu quả cao nhất trong suốt cuộc chiến tranh (1954-1975). Với sự viện trợ cao nhất của Hoa Kỳ và bằng các biện pháp nói trên, cho đến cuối năm 1970, trên toàn miền Nam, địch đã dồn được toàn bộ chủ lực quân của ta đên tận biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Trong nội địa, chúng đã kiểm soát được trên 14,5 triệu dân trên tổng số 17,6 triệu dân ở miền Nam Việt Nam hồi bấy giờ. Kiểm soát 11.444 ấp, khóm trên tổng số 11.811 ấp, khóm tại miền Nam Việt Nam. - Về phía ta, vùng giải phóng bị thu hẹp, chủ lực bị dồn sang bên kia biên giới, bộ đội địa phương giảm sút.... Không chỉ thế, với sự yểm trợ về không quân, hải quân và pháo binh cơ giới của Mỹ, chúng đã thực hiện những cuộc hành quân với quy mô lớn chưa từng có sang vùng Đông - Bắc Cam-pu-chia và Đường 9 - Nam Lào nhằm đánh bật chủ lực quân của ta ra khỏi biên giới và đánh phá hậu cần, cắt đứt một cách triệt để mọi đường tiếp viện của ta trên bộ và trên biển từ hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường miền Nam; đồng thời xóa sổ các căn cứ kháng chiến của ta trong nội địa và bên kia biên giới Cam-pu-chia và Lào, hòng làm cho chủ lực quân của cách mạng miền Nam không còn đủ sức hoạt động ở Cam-pu-chia và Lào. Tăng quân số và hiện đại hóa đến mức cao nhất quân ngụy để đủ sức ngăn chặn sự tiến công của quân chủ lực của ta từ miền Băc và miền Nam rút quân Mỹ trực tiếp tham chiến về nước. Tập hợp liên minh phản động trong khu vực (Lào, Cam-pu-chia...) do ngụy quyền miền Nam Việt Nam làm nòng cốt, nhằm gia tăng sức đề kháng đối với lực lượng miền Bắc Việt Nam, bảo đảm cao nhất an ninh lãnh thổ "Việt Nam cộng hòa". 3. Từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 4 tháng 11 năm 1971, theo lệnh Mỹ, quân ngụy Lon Non đã mở cuộc hành quân Chen La II (Chân Lạp II) trên đường số 6 nhằm uy hiếp căn cứ của ta ở Đông - Bắc Cam-pu-chia. Bọn Lon Non tích cực tranh mua lương thực, thực phẩm, nhiên liệu và các loại nhu yếu phẩm cần thiết cho bộ đội với hậu cần căn cứ của ta trên thị trường Cam-pu-chia hồi bấy giờ, gây khó khăn cho ta trong việc tạo nguồn tiếp tế, dự trữ... Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1971, chủ lực quân của ta phối hợp với lực lượng cách mạng Cam-pu-chia đánh bại cuộc hành quân Lon Non trên đường số 6 và cuộc hành quân "Toàn thắng Đại Bàng 2" của ngụy quyền miền Nam tại khu vực Đầm Be lần 1, lần 2, phía bắc đường số 7 trên dất Cam-pu-chia để giải tỏa thế uy hiếp của địch từ phía sau lưng căn cứ của ta và mở rộng vùng giải phóng bên kia tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, tạo ra chỗ đứng chân an toàn để tiếp nhận 20 vạn quân bổ sung, nhiều đơn vị binh chủng, nhiều vũ khí, trang bị và phương tiện chiến đấu mới như xe tăng, thiết giáp, tên lửa chống tăng B72, tên lửa A72.... từ miền Bắc vào. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2026, 08:50:06 pm 4. Do vậy, nếu như trong nội địa miền Nam Việt Nam, ta phải tạm thời chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ và ác liệt nhất trong suốt cuộc chiến tranh, thì ở ngoài biên giới (trên chiến trường Cam-pu-chia và Lào), lực lượng cách mạng ba nước Đông Dương lại phát triển cao nhất và tạo thế chiến lược nói chung thuận lợi hơn bao giờ hết. Sau khi chủ lực của ta và bạn đánh bại các cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - ngụy, sang Đông - Bắc Cam-pu-chia năm 1970, 1971 và phát triển thế tiến công, lực lượng cách mạng Cam-pu-chia phát triển vượt bậc, đã tạo ra bàn đạp chiến lược mới của ta từ hướng biên giới phía Tây - Nam có thể tiến công về miền Đông Nam Bộ một cách rất thuận lợi. Nhất là sau những thắng lợi to lớn của quân và dân ta và các bạn ở Cam-pu-chia, Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum, Cao nguyên Bôlôven vào năm 1971, đã tạo ra được nhiều khu giải phóng rộng lớn phía Tây của giải Trường Sơn và vùng Đông - Bắc Cam-pu-chia. Từ đây, hành lang chiến lược Bắc - Nam lại được thông suốt và liên hoàn giữa ba nước trên bán đảo Đông Dương. Cũng từ đây trở đi, khối bộ đội chủ lực của ta, kể cả chủ lực quân của cách mạng miền Nam và lực lượng dự bị chiến lược từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chu nghĩa được đưa vào chiến trường miền Nam một cách thuận lợi. Lực lượng này được củng cố và đứng chân vững vàng tại nhiều bàn đạp dọc theo tuyến biên giới phía Tây Nam, tạo ra một thế chiến lược mới đủ sức uy hiếp địch từ phía Tây xuống. Đáy là một hình thế mới cho chiến dịch Nguyễn Huệ.
5. Cùng với những chuyển biến mới trên chiến trường ba nước Đông Dương vào đầu năm 1972, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Pa-ri giữa ta và địch cũng chuẩn bị di vào hồi kết thúc. Những thực tế trên chiến trường như đã trình bày ở trên đã đặt ra cho ta và đối phương, ai nỗ lực vượt bậc để đem lại hiệu quả trên chiến trường, thì bên ấy sẽ giành được thắng lợi quyết định trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pa-ri. Do vậy, mà vào đầu năm 1972, cuộc chạy đua vũ trang giữa ta và đối phương trở thành một cuộc chạy đua có ý nghĩa lịch sử nhằm đưa cuộc chiến tranh vào bước ngoặt có lợi cho ta. 6. Với thế tương quan về lực lượng giữa hai bên trên chiến trường miền Nam Việt Nam hồi bây giờ, đối phương lại tự đánh giá quá cao những thắng lợi tạm thời của họ, như cho rằng: chương trình "bình định" trên toàn miền Nam đã giành được thắng lợi quyết định. "Thanh bình đã trở lại với đồng bằng sông Cửu Long"1 (Tướng J.Pôn-van - cố vấn Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long hồi bấy giờ). Đồng thời, cho rằng đối phương (nghĩa là Việt Cộng) đang bị vây hãm vào một tình thế bị động về chiến lược và chiến thuật những năm sau Tết Mậu Thân (năm 1968). Tháng 2 năm 1972, trên mặt trận ngoại giao, R.Nich-xơn đã hội đàm với Mao Trạch Đông về vấn đề Việt Nam....? Trên cơ sở đó, càng làm cho đối phương tin rằng: ta khó đủ sức để tiếp tục cuộc chiến đấu ác liệt dài đối với chúng, nên hoạt động quân sự của ta chiến trường miền Nam năm 1972 cũng chỉ ở mức độ như năm 1971. Từ đó, mà chủ trương chiến lược của đối phương đề ra cho năm 1972 và đầu năm 1973 là: tiếp tục rút quân chiến đấu người Mỹ về nước, đi đôi với việc hoàn thiện trang bị vũ khí, khí tài hiện đại cho 1.100.000 lục quân chủ lực ngụy. Đồng thời, nhanh chóng hiện đại hóa không quân và hải quân ngụy; đẩy mạnh chương trình "bình định" và chúng dự tính "đến năm 1975, kiểm soát trọn vẹn 11.000 ấp chiến lược trên toàn miền Nam Việt Nam". Đồng thời, "quét sạch mọi căn cứ lõm của ta... đưa cuộc chiến tranh đi vào tàn lụi"1 (Theo kế hoạch AB 147 của bộ tổng tham mưu ngụy hồi bấy giờ). 7. Về phía ta, Bộ Chính trị cho rằng "Ta không đánh giá thấp những chỗ mạnh hiện có của địch, không coi thường những khó khăn địch đã và còn gây cho ta, cũng như những khuyết điểm, nhược điểm của ta sau đợt 1, đợt 2 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968....". Trên cơ sở thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong mùa xuân năm 1971, cùng với việc Mỹ buộc phải rút thêm quân và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào năm 1972... đã tạo ra một thời cơ mới, mở ra cho ta triển vọng chiến thắng rõ ràng. Đó là cơ sở thực tiễn để ta khẳng định rằng chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đã thất bại một bước nghiêm trọng và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng giữa địch và ta trên toàn chiến trường ba nước Đông Dương, Bộ Chính trị đề ra phương hướng lớn cho cuối năm 1971 và cả năm 1972 là: "Mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn chiến trường Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam; đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, giành lại thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi hẳn cục diện chiến trường ở miền Nam và Đông Dương. Dựa trên cơ sở phương hướng lớn của Bộ Chính trị đề ra cho cuối năm 1971 và cả năm 1972 nêu trên, tháng 8 năm 1971, Bộ Chính trị họp và ra Nghị quyết: mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng như Đông Nam Bộ, Trị - Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc Tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng. Lúc đầu, lấy miền Đông Nam Bộ làm hướng chủ yếu, nhưng về sau, đến tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị đã quyết định chuyển sang lấy Trị - Thiên là hướng tiến công chủ yếu. "Chiến dịch Nguyễn Huệ" với quyết tâm phải giành được thắng lợi lớn trên hướng chiến lược ở miền Đông Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến lược khác trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam sẽ tạo ra hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và địch đã kéo dài 4 năm tại Hội nghị quốc tế Pa-ri về Việt Nam hồi bấy giờ. Đó chính là bối cảnh lịch sử của "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2026, 08:53:12 pm II. TỔNG QUAN VỀ "CHIẾN DỊCH NGUYÊN HUỆ" NĂM 1972 TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
1. Địa bàn mở "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972. a) Khu vực mở chiến dịch Nguyễn Huệ nằm về phía bắc Sài Gòn, bao gồm 4 tỉnh: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương. Chính diện của địa bàn mở chiến dịch rộng từ 130 đến 140 km dọc theo biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia (từ Tà Pang Robon thuộc Tây Ninh đến quận Bù Đốp tỉnh Phước Long). Chiều sâu từ 120 đến 130km từ biên giới đến nam thị xã Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương. Toàn bộ địa bàn mở "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 là hướng phòng thủ chủ yếu của địch ở miền Đông Nam Bộ nhằm bảo vệ Sài Gòn từ hướng bắc. Và đây cũng là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa chủ lực ta và chủ lực địch trong suốt cuộc chiến tranh, nhất là từ năm 1960 đến năm 1975. b) "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 diễn ra trên hai hướng: đường 13 là hướng tiến công chủ yếu, còn đường 22 là hướng thứ yếu. Trên cả hai hướng này đều có địa hình rừng băng xen kẽ rừng khộp (rừng dầu), rừng le. Dọc theo đường 13 và đường 22 là bạt ngàn rừng cao su (rừng băng) trải dài đến sát các thị xã, thị trấn Lộc Ninh, Bình Long.... tạo cho địa hình mở chiến dịch Nguyễn Huệ trở nên kín đáo, thuận tiện cho ta hành quân bộ binh và cơ giới tiếp cận các mục tiêu và tổ chức đánh vận động phục kích địch quân hai bên đường. Càng về phía bắc, địa thế càng cao, có nhiều rừng già vốn là những căn cứ bàn đạp của ta rất thuận tiện cho việc triển khai cơ sở hậu cần chiến dịch. Thổ nhưỡng ở đây được cấu tạo bởi những lớp phù sa trầm tích lâu đời nên rắn chắc, trên đó có hệ thống đường giao thông chiến lược như: đường 22, đường 13, đường số 1, đường 14, các tỉnh lộ, liên tỉnh lộ và nhiều đường mòn của các xe be kéo gỗ xuyên rừng... tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ động lực lượng, triển khai các loại binh khí, kỹ thuật như: xe tăng, xe thiết giáp, xe cơ giới, pháo binh của cả hai bên ta và địch. Chiến dịch mở ra vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa, nên đường sá còn khô ráo, thuận lợi. Nhưng vào giữa và cuối mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 10) thì mực nước ba con sông lớn như: Vàm Cỏ Đông phía tây đường 22, sông Sài Gòn phía tây đường 13, sông Bé phía đông đường 13 dâng lên cao, hệ thống suối trên địa bàn mở chiến dịch đầy ắp nước gây khó khăn cho việc cơ động lực lượng tác chiến... 2. Lực lượng đối đầu giữa ta và địch trên địa bàn chiến dịch: a) Về phía địch: trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 của ta trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, địch đã huy động 68 tiểu đoàn chủ lực; 456 xe tăng, xe thiết giáp; 396 khẩu pháo, 134 máy bay chiến thuật tại sân bay Biên Hòa: 67 liên đội, 146 đại đội bảo an, 820 trung đội dân vệ, 164.000 phòng vệ dân sự có vũ trang. Đó là chưa kể tới máy bay ném bom chiến lược B 52 và các loại máy bay cường kích của Mỹ yểm trợ tối đa bất cứ lúc nào, bất cứ ở tọa độ nào trong khu vực khi có yêu cầu. Với binh lực hùng hậu nói trên, bố trí chiến lược của địch ở miền Đông Nam Bộ được điều chỉnh theo hướng phòng ngự từ xa, lấy hướng đường 22 làm hướng phòng ngự chủ yếu. Vì chúng cho rằng quy mô và mục tiêu của cuộc tiến công của ta đều rất hạn chế. b) Về phía ta: trái lại ta quyết tâm dùng lực lượng mạnh, để đánh lớn từ tuyến biên giới đến tuyến trung gian và lấy đường 13 làm hướng tiến công chủ yếu, đường 22 chỉ là hướng thứ yếu, nhằm nghi binh, thu hút lực lượng địch để phục vụ cho hướng chủ yếu của địch. - Lực lượng chiến dịch của ta tập trung với mức độ cao nhất ở miền Đông Nam Bộ kể từ trước đến lúc đó, bao gồm: sư đoàn 5, sư đoàn 7, sư đoàn 9, đơn vị C30B (có 2 trung đoàn bộ binh số 24 và số 271 của Bộ tăng cường), 2 tiểu đoàn đặc công, một đại đội thiết giáp 6 chiếc M41, M24, M113, 1 tiểu đoàn (thiếu) pháo cối; 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,8 mm; 3 trung đoàn địa phương quân của các phân khu miền Đông, các tiểu đoàn địa phương các tỉnh và các đại đội của các huyện sở tại đánh địch tại chỗ phối hợp với lực lượng bộ đội của chủ lực trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. - Khác với các thời kỳ trước đó, trong "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ, phía ta không chỉ có bộ binh tại chỗ và các loại pháo, cối mang vác thông thường, mà còn được tăng cường thêm bộ binh chủ lực từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cùng pháo cơ giới hạng nặng, hỏa lực phòng không khá mạnh. Đặc biệt, xe tăng T54 lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường miền Đỏng Nam Bộ. Cụ thể là ta có 47 tiểu đoàn bộ binh chủ lực (biên chế trong 3 sư đoàn 5, 7, 9 và 3 trung đoàn độc lập). Tổng cộng bộ binh chủ lực tham chiến của ta trong Chiến dịch Nguyễn Huệ tương đương với một quán đoàn tăng cường, với sự chi viện của 9 tiểu đoàn pháo hỗn hợp, bao gồm: 51 khẩu pháo 105-122, 85, cối 120-160, 106,7 ly và hỏa tiễn H12; 2 tiểu đoàn và một đại đội xe tăng thiết giáp (78 chiếc); 166 súng phòng không 12,8 và 37 mm. Tất cả lực lượng quân sự nói trên của ta đều đứng chân ở phía bên kia biên giới trên khu vực Đông Bắc Cam-pu-chia. Cùng với 30 tiểu đoàn bộ đội địa phương các phân khu các tỉnh và 63 đại đội bộ đội huyện đứng chân tại địa phương cùng phối hợp tác chiến chung trong khu vực mở Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972. Bộ đội ta sau những ngày chiến thắng trong năm 1971, bước vào Chiến dịch Nguyễn Huệ đầu năm 1972, với khí thế quyết chiến, quyết thắng cao. Xét về số lượng quân đội và vũ khí, khí tài giữa ta và địch trong chiến dịch, ta kém hơn địch: bộ binh chủ lực của ta có 47 tiểu đoàn, địch có 68 tiểu đoàn. Ta chỉ bằng 69% bộ binh của địch. Pháo mặt đất của ta có 51 khẩu; địch có 396 khẩu. Ta chỉ bằng 13% của địch. Xe tăng và xe thiết giáp, ta có 78 chiếc; địch có 456 chiếc. Ta chỉ bằng 17% của địch. Súng phòng không ta có 166 khẩu, phải đương đầu với 134 máy bay chiến thuật của địch. Đó là chưa kể B52 và máy bay từ hạm đội 7 của Mỹ chi viện khi có yêu cầu trong khu vực mở chiến dịch và vùng phụ cận. Tuy nhiên, sự so sánh như trên cũng là tương đối. Vì rằng, lực lượng bộ đội và binh khí - kỹ thuật của ta được sử dụng tập trung trên một số hướng tiến công nhất định (chủ yếu là hướng đường 13). Còn lực lượng bộ binh và binh khí - kỹ thuật của địch phải phân tán để đối phó với ta trên toàn chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đó là đặc điểm về so sánh sử dụng lực lượng địch - ta ở chiến trường địch trong cuộc chiến tranh nhân dân - một cuộc chiến không có chiến tuyến rõ rệt. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2026, 08:54:54 pm 3. Nhiệm vụ chiến lược của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.
Nhiệm vụ chiến lược mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, như sau: - Sử dụng bộ đội chủ lực Miền và lực lượng được tăng cường từ miền Bắc vào mở chiến dịch tiến công trên hướng bắc Sài Gòn, phối hợp với các chiến dịch tiến công ở Trị - Thiên và bắc Tây Nguyên, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, giải phóng một khu vực có ý nghĩa chiến lược, khôi phục và mở rộng địa bàn đứng chân của chủ lực tại miền Đông Nam Bộ, tạo điều kiện cho nông thôn sở tại nổi dậy phá bình định của địch. - Đi đôi với mở chiến dịch tiến công ở chiến trường rừng núi, phải đẩy mạnh đánh phá bình định ở vùng đông dân tại miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, phối hợp với quả đấm chính trị ở nội đô Sài Gòn. - Đánh đến một mức độ nào đó, dù thắng lớn hay thắng vừa cũng phải điều một bộ phận chủ lực từ miền Đông xuống đồng bằng sông Cửu Long làm nòng cốt cho chiến dịch đánh phá bình định ở đây (Khu 8 - miền Trung Nam Bộ) từ tháng 5 năm 1972 đến cuối năm 1972. - Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã thông qua việc tổ chức Bộ Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ, do Trung tướng Trần Văn Trà (Tư lệnh) và Bộ Tư lệnh Miền thường trực tại Sở chỉ huy cơ bản, do Trung tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh; đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy và Đại tá Hoàng Cầm làm Tham mưu trưởng. Bộ Tư lệnh Miền đóng tại Snun, thuộc Cam-pu-chia. - Nhiệm vụ cụ thể của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ chỉ được giao cụ thể trong bước một của chiến dịch như sau: - Sư đoàn 5 được tăng cường thêm Trung đoàn 3, thuộc Sư đoàn 9 đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu trên hướng chủ yếu của chiến dịch là: tiến công tiêu diệt địch, giải phóng khu Lộc Ninh, giành toàn thắng cho trận then chốt, mở đầu Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. - Sư đoàn 7 luồn sâu bao vây, chốt chặn địch dọc theo đường 13 từ Cần Lê xuống bắc Chơn Thành, kiên quyết tiêu diệt quân tiếp viện, cũng như quân tháo chạy (từ hướng Lộc Ninh, Hồng Tâm xuống Bình Long). - Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 3) làm dự bị chiến dịch, sẵn sàng tiến công thị xã Bình Long khi có lệnh của cấp trên. - Đơn vị C30B gồm 2 trung đoàn bộ binh 24 và 271 của Bộ tăng cường, 2 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo cối (thiếu) 1 tiểu đoàn (thiếu) súng máy phòng không 12,8 mm đảm nhận nhiệm vụ tiến công trên hướng thứ yếu (đường 22) được phép nổ súng đầu tiên mở màn chiến dịch, thực hiện nghi binh, thu hút và kềm giữ địch; đồng thời nắm thời cơ phát triển nhanh xuống phía Nam. - Trung đoàn pháo binh 75 tập trung hỏa lực chi viện cho các trận đánh then chốt trên hướng chủ yếu, chi viện cho đánh điểm cũng như cho đánh diệt viện binh của địch. - Lực lượng phòng không tập trung hỏa lực khống chế không phận đường 13 và sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không trên hướng chủ yếu của chiến dịch. - Tiểu đoàn xe tăng 20 dùng 2 đại đội hiệp đồng với bộ binh để tiến công Lộc Ninh, sau đó phát triển xuống Bình Long theo đường 6 - Trà Thanh. - Công binh tập trung bảo đảm cho pháo và xe tăng vào trận địa, bố trí các bãi mìn chống tăng ở các khu vực chốt chặn, nhanh chóng chuyển qua bảo đảm cho hướng phát triển khi đội hình xe pháo đã triển khai xong. - Đặc công kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương đánh những trận mở đầu vào căn cứ kho tàng phía sau của địch cùng ngày với hướng chủ yếu của chiến dịch, để nghi binh, thu hút địch, tiếp đó phối hợp với hướng chủ yếu đánh sân bay Téc Ních và đánh phá các căn cứ Biên Hòa - Long Bình hỗ trợ cho chiến dịch... - Dự kiến ta đánh đến một mức độ nào đó, dù thắng lớn hay thắng vừa cũng phải đưa bớt một bộ phận lực lượng bộ đội chủ lực xuống đồng bằng sông Cửu Long làm nòng cốt cho chiến dịch đánh phá bình định ở Khu 8 - miền Trung Nam Bộ theo như ý định của Trung ương đã chỉ đạo. Công tác chuẩn bị cho chiến dịch Nguyễn Huệ đã được tiến hành theo đúng kế hoạch: trong 6 tháng, bước 1, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1971. Bước 2, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1972. Tât cả đã sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công của cấp trên. Tiêu đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Chín, 2026, 08:56:15 pm 4. Thắng lợi của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ.
a) Đúng 1 giờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1972, đơn vị C30B được lệnh nổ súng tiến công vào đội hình phòng ngự của chiến đoàn 49 ngụy tại Xa Mát - Bàu Dung (đông bắc Tà Xia) và bắc Thiện Ngôn mở màn chiến dịch. Cho đến 2 giờ 40 phút ngày 2 tháng 4 năm 1972, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Xa Mát, diệt một bộ phận lực lượng của chiến đoàn 49 ngụy. Tiếp theo, từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 4 năm 1972, ta tiếp tục tấn công các đơn vị của chiến đoàn 46 ngụy ở bắc Thiện Ngôn, không cho chúng nống lên phía bắc, bẻ gãy ý định lập chốt đầu cầu để tái chiếm Xa Mát. Cũng thời gian này, các phân khu thuộc miền Đông Nam Bộ, bộ đội địa phương và dân quân du kích đồng loạt nổ súng đánh địch tại chỗ để phối hợp với chiến dịch đã mở màn. Sau bốn ngày đêm chiến đấu mở màn chiến dịch, ta đã giành thắng lợi giòn giã trên hướng thứ yếu: tiêu diệt cụm cứ điểm tiền tiêu của địch ở Xa Mát, đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 49 ngụy, làm chủ một vùng lãnh thổ từ bắc Thiện Ngôn đến tận biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Đồng thời, ta đã triển khai trót lọt lực lượng lớn vào hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch. Tuy nhiên, ta không thu hút và cầm giữ được lực lượng cơ động của địch vào hướng thứ yếu (đường 22) như mong muốn. b) Đúng 5 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 5 nã pháo cấp tập vào cụm cứ điểm phòng thủ của địch ở khu Lộc Ninh - trận đánh then chốt mở đầu chiến dịch. Trận đánh này kéo dài cho tới sáng ngày 6 tháng 4 năm 1972. Từ 9 giờ sáng đến hết ngày 6 tháng 4 năm 1972, ta còn phục kích đánh suốt ngày 6 tháng 4 năm 1972 và tiêu diệt gọn thiết đoàn 1 và tiểu đoàn 74 biệt động quân ngụy từ xã Lộc Tân ở gần biên giới kéo về cứu nguy cho chi khu Lộc Ninh. Còn tiểu đoàn 2 thuộc sư đoàn 9 ngụy - lực lượng cứu viện cho Lộc Ninh thì hốt hoảng luồn rừng chạy về phía nam cũng bị quân ta chặn đánh, diệt 900 tên, bắt 490 tên, phá hủy 56 xe, thu 32 xe, pháo, trong đó có 12 xe tăng M41 của Mỹ. Từ đây, lực lượng hỗ trợ vòng ngoài của chi khu Lộc Ninh đã bị ta quét sạch. - Đúng 5 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4 năm 1971, sau khi ta đã mở hết cửa, phá bảy vòng hàng rào dây thép gai, dưới sự yểm trợ của hỏa lực phòng không đánh trả máy bay địch, đại đội 10 thuộc tiểu đoàn xe tăng số 20 của ta phối hợp với bộ binh ta xung phong đánh chiếm cụm cứ điểm của chiến đoàn 9 ngụy trong chi khu Lộc Ninh... Cho đến 7 giờ sáng ngàv 7 tháng 4 năm 1972, ta hoàn toàn làm chu cụm cứ điểm của chiến đoàn 9 địch trong chi khu Lộc Ninh. Chi khu Lộc Ninh thất thủ, toàn bộ hệ thống đồn bót bảo an, dân vệ trong khu vực hoàn toàn tan rã. Phía bắc Lộc Ninh trên đường 14, địch ở quận Bù Đốp rút chạy, phía nam Lộc Ninh, chiến đoàn 52 ngụy bỏ căn cứ Hồng Tâm chạy về hướng Bình Long cũng bị quân ta phục kích diệt một bộ phận lớn (diệt 800 tên, bắt 400 tên, thu 14 pháo, cối từ 105 đến 155 mm của địch). - Cùng thời gian này, trên hướng đường 22, đơn vị C30B tiếp tục tiến công, bức địch rút bỏ hệ thống đồn bốt từ nam Trại Bí lên tận biên giới và làm chủ hoàn toàn một đoạn đường dài 30km bắc Tây Ninh. - Sau 8 ngày tiến công trên cả hai hướng: đường 22 và đường 13, ta tiêu diệt, loại khỏi vòng chiến đấu 3 chiến đoàn, 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn, cùng một số lớn quân bảo an, dân vệ, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, diệt và bứt rút nhiều đồn bốt địch... - Ta đập tan tuyến phòng thủ phía trước trên vòng cung bắc Sài Gòn dọc theo biên giới miền Đông Nam Bộ và đập tan chiến thuật phòng ngự chiến đoàn của địch. c) Trên hướng tiến công chủ yếu đường 13, thị xã Bình Long - khu quyết chiến trung tâm của chiến dịch, sau 32 ngày đêm (từ ngày 13 tháng 3 năm 1972 đến ngày 15 tháng 5 năm 1972), ta kết thúc cuộc tiến công vào thị xã Bình Long và cũng đồng thời kết thúc đợt 1 của chiến dịch. Ta vẫn tiếp tục vây hãm thị xã Bình Long, nhưng ta không dứt điểm được thị xã Bình Long đã làm hạn chế thắng lợi và ảnh hưởng đến bước phát triển tiếp theo của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở Đông Nam Bộ... Tiếp đó, từ ngày 16 tháng 5 năm 1972 đên ngày 18 tháng 5 năm 1972, Sư đoàn 5 và đơn vị C30B của ta được điều đến Khu 8 làm nòng cốt cho "Chiến dịch Nguyễn Huệ 2" đánh phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long thuộc miền Đông Nam Bộ. d) Cũng trên hướng chủ yếu của chiến dịch, từ ngày 5 tháng 4 năm 1972 đến ngày 28 tháng 8 năm 1972, trải qua 150 ngày đêm chốt chặn trên đường 13 và cơ động chiến đấu ở khu vực Chơn Thành, Ngọc Lầu, Tân Khai, Đức Vinh, giữ vững chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng, đánh bại ý đồ giải tỏa đường 13 của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn, bao vây, tiến công thị xã An Lộc, củng cố được vùng mới giải phóng ở Lộc Ninh, Bù Đốp, đáp ứng yêu cầu chiến dịch đề ra. Tuy nhiên, ta chưa có những chiến thắng thối động tại khu vực chốt chặn đường 13. Trong 150 ngày đêm vượt muôn ngàn khó khăn gian khổ và ác liệt, chiến đấu ngoan cường, Sư đoàn 7 bộ đội chủ lực của ta đã đánh thiệt hại nặng các đơn vị thuộc các sư đoàn 21, sư đoàn 5, sư đoàn dù (lữ 2), chiến đoàn thiết giáp, biệt động quân và nhiều đồn bốt bảo an, dân vệ của địch (tiêu diệt và bắt sống trên 8.000 trên địch, thu giữ và phá hủy nhiều vũ khí, khí tài và các phương tiện chiến tranh của địch). Thành tích tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng trên đường 13 đã góp phần xứng đáng vào thành tích chung của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ. N.V.D |