|
Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 06 Tháng Năm, 2026, 09:09:35 pm - Tên sách: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia - Năm xuất bản: 2004 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory BAN CHỈ ĐẠO Trung tướng NGUYỄN VĂN CHIA Tư lệnh Quân khu 7 - Trưởng ban HỒ THANH TUYÊN Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh - Trưởng ban LÊ THỊ BÂN Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Tây Ninh - Ủy viên Đại tá NGUYỄN THÀNH CUNG Phó Tư lệnh chính trị Quân khu 7 - Ủy viên NGUYỄN VĂN TIẾN Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh - Ủy viên Đại tá TRẦN ĐƠN Chỉ huy trưởng - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh - Ủy viên NGUYỄN THANH LONG Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh - Ủy viên BAN TỔ CHỨC VÕ HIỀN PHƯƠNG - Trưởng ban Ths TRẦN VĂN THUẬN - Phó ban TRẦN VĂN BÉ - Phó ban LÊ HOÀI VIỆT NGÔ QUANG LONG TRẦN THANH HẢI NGUYỄN VĂN PHONG LƯƠNG HOÀI VŨ BAN NỘI DUNG TS. HỒ SƠN ĐÀI - Trưởng ban NGUYỄN KHẮC TÙNG - Phó ban ĐỖ MINH QUANG VÕ TAM ANH HÀ DUY CƯỜNG NGUYỄN VĂN HÙNG BỒ THANH XUÂN TS. ĐINH THU XUÂN Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:47:50 pm LỜI NHÀ XUẤT BẢN Miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ là địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu về chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự. Nơi đây là đại bản doanh của quân viễn chinh xâm lược, thủ phủ của các chế độ Sài Gòn và là nơi có hệ thống căn cứ địa cách mạng của ta. Chính vì vậy, trong thời kỳ chiến tranh cục bộ, đế quốc Mỹ đã triển khai tại đây một lực lượng quân sự hùng hậu, kết hợp với kìm kẹp dân chúng, liên tục đánh phá càn quét với chiến lược hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định", hòng bảo vệ đầu não chỉ huy bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ và sào huyệt của bọn ngụy quyền, các căn cứ quân sự, đồng thời tiêu diệt các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta. Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng, với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, quân và dân miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ đã dấy lên phong trào "tìm Mỹ mà diệt", với phương châm "bám thắt lưng Mỹ mà đánh", "đánh Mỹ ngay tại căn cứ của chúng" bằng nhiều hình thức, phương thức đa dạng, phong phú và hiệu quả cao. Trong đó, vành đai diệt Mỹ là một phương thức đánh địch rất độc đáo, sáng tạo, là bước phát triển cao của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ này, trên các chiến trường miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã xuất hiện hàng loạt các vành đai diệt Mỹ và các vành đai này đã phát huy hiệu quả cao độ, góp phần cùng nhân dân toàn Miền và cả nước đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ký kết Hiệp định Pari và rút quân về nước. Để ghi nhận công ơn, tôn vinh công lao của đồng bào, cán bộ chiến sĩ đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, kiên cường bám trụ chiến đấu trên các vành đai diệt Mỹ, đồng thời làm rõ hơn, sâu sắc hơn sắc thái của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trèn chiến trường trọng điểm miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ; qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay và tương lai, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và Tỉnh ủy Tây Ninh phối hợp tổ chức cuộc hội thảo khoa học VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở ĐÔNG NAM BỘ VÀ CỰC NAM TRUNG Bộ TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG. Các báo cáo khoa học gửi đến cuộc Hội thảo được Quân khu 7, Tỉnh ủy Tây Ninh và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tuyển chọn và xuất bản thành cuốn kỷ yếu VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở ĐÔNG NAM BỘ VÀ CỰC NAM TRUNG BỘ TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG, dùng làm tài liệu trong Hội thảo. Nhà xuất bản và các tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn kỷ yếu này được hoàn thiện hơn để xuất bản thành sách. Tháng 12 năm 2004 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:50:15 pm VÀNH ĐAI DIỆT MỸ, MỘT SÁNG TẠO CỦA PHONG TRÀO CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở TÂY NINH VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ, CỰC NAM TRUNG BỘ HỒ THANH TUYÊN Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với quả đấm quân sự của quân chủ lực giải phóng và bộ đội địa phương, phong trào chiến tranh du kích đã liên tục phát triển, góp phần to lớn vào việc đánh thắng toàn diện cuộc "chiến tranh đặc biệt" và bước đầu đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Trong phong trào chiến tranh du kích đó xuất hiện những "Vành đai diệt Mỹ". Đó là hình thức tiến công địch rất sáng tạo, chẳng những tiêu diệt được nhiều bộ binh Mỹ - ngụy, mà với vũ khí thô sơ của du kích cũng đã đánh bại ưu thế phương tiện chiến tranh hiện đại của chúng. Việc nghiên cứu vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng nhằm làm rõ hơn những sáng tạo độc đáo của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bổ sung các công trình nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự và lịch sử quân sự, ghi nhớ tôn vinh công lao của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào đã anh dũng chiến đấu, hy sinh tại vành đai diệt Mỹ. Đồng thời, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thù ở Tây Ninh nói riêng, miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ nói chung. Với ý nghĩa đó, Tỉnh ủy Tây Ninh phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tổ chức Hội thảo khoa học: "VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VÀ CỰC NAM TRUNG BỘ TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG". Tôi xin thay mặt Đảng bộ và nhân dân Tây Ninh nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu, các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học đến dự hội thảo, xin gửi đến các vị đại biểu và các đồng chí lời chào sức khỏe và hạnh phúc. Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị thất bại, ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ" đưa quân Mỹ và quân một số nước chư hầu ồ ạt vào miền Nam với quyết tâm cứu vãn tình thế và giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất bằng chính lực lượng của Mỹ. Tỉnh Tây Ninh là một địa bàn trọng điểm của chiến lược "tìm diệt" của Mỹ. Tìm diệt Trung ương Cục - cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam là mục tiêu của chúng ở đây. Quân Mỹ tập trung lực lượng cùng ngụy quân mở nhiều cuộc hành quân quy mô, liên tiếp sử dụng chất độc hóa học, phi pháo đánh vào vùng tranh chấp, vùng giải phóng mang tính chất hủy diệt, làm cho lực lượng vũ trang của ta không thể bám vào dân. Đi đôi với những hành động quân sự, địch triển khai bình định với phương châm "giành dân chiếm đất". Mặc dù có gian khổ, ác liệt bởi mật độ chiến tranh ngày càng gia tăng, quần chúng vẫn một lòng hướng về cách mạng, thi gan với bom đạn Mỹ, vừa chiến đấu, vừa sản xuất nuôi quân. Đứng trước tình thế chiến tranh sẽ vô cùng ác liệt, Đảng bộ quân và dân Tây Ninh xác định quyết tâm đánh Mỹ, diệt ngụy, phát triển phong trào chiến tranh nhân dân đánh địch khắp ba vùng, vừa bảo vệ địa phương, vừa góp phần bảo vệ cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, giữ vững địa bàn cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, không ngừng tạo thế tạo lực, từng bước giành thắng lợi, cùng với toàn Miền tiến tới đánh bại hoàn toàn âm mưu chiến lược mới của địch. Ngay sau khi đế quốc Mỹ đưa lữ đoàn 196 lên Tây Ninh chiếm đóng Trảng Lớn (xã Thái Bình, huyện Châu Thành) làm hậu cứ đứng chân đánh phá căn cứ địa kháng chiến, Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trương xây dựng "Vành đai diệt Mỹ" ở Trảng Lớn và phát động phong trào thi đua dạt danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ". Phong trào này được dấy lên sôi nổi ở khắp nơi. "Vành đai diệt Mỹ" ở Trảng Lớn được tổ chức thành 4 cụm, gồm các xã của huyện Châu Thành, tạo thế trận đánh Mỹ ngay sát căn cứ của chúng. Trên "Vành đai diệt Mỹ", Ban chỉ huy thống nhất, Ban chỉ huy các cụm được thành lập, cùng với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xây dựng quyết tâm và thống nhất hành động sẵn sàng bước vào thời kỳ trực tiếp đánh Mỹ. "Kiên quyết đánh, giá nào cũng đánh, cá nhân đơn vị nào ra di không đánh, không diệt được Mỹ là không về". Đó là lời hứa hẹn với Đảng bộ, với nhân dân, là lời thề son sắt khắc ghi trong lòng của mỗi cán bộ, chiến sĩ ở "Vành đai". Các xã trên vành đai diệt Mỹ phát triển thành các xã chiến đấu liên hoàn, có công sự vững chắc đủ sức chịu đựng bom pháo. Dân quân du kích đã sáng tạo nhiều vũ khí thô sơ, lấy được nhiều vũ khí của địch chế tạo thành những vũ khí giản đơn, nhưng có hiệu quả rất cao để đánh địch, bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân. Đồng thời, dân quân du kích kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và chủ lực hình thành một lực lượng bao gồm đầy đủ các mặt chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đảm bảo đánh thắng địch trong mọi tình huống. Trên thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc với phương châm "kéo dịch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chui vào giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh", các cán bộ, chiến sĩ "Vành đai diệt Mỹ"ở Trảng Lớn đã liên tục phản công và tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Bị thua đau, địch dùng bom pháo bắn phá chung quanh căn cứ Trảng Lớn rất ác liệt để tạo vành đai trắng. Địch cho bom pháo cày đi xới lại không biết bao nhiêu lần, bứng từng gốc cây, đốt từng ngọn cỏ, cho trực thăng quần rà từng lùm cây, bụi dứa... Một đám lục bình trôi trên sông cùng bị chúng đánh lựu đạn nhằm diệt "Việt cộng" đi ngầm dưới nước. Khó khăn, gian khổ, đói khát, chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ trên "Vành đai diệt Mỹ" vẫn một lòng một dạ đoàn kết cùng với đồng bào bám trụ đánh địch. Những chiến thắng liên tiếp của "Vành đai diệt Mỹ" ở Trảng Lớn đã chứng tỏ tinh thần quyết tâm đánh Mỹ của quân dân Tây Ninh. Đế quốc Mỹ dùng phương tiện chiến tranh hiện đại có gây nhiều khó khăn cho các chiến sĩ "Vành đai", nhưng với lòng căm thù giặc sâu sắc, quân dân Tây Ninh cố gắng vượt qua, tìm phương cách đánh Mỹ đầy sáng tạo, dũng cảm chiến đấu đã gây cho địch nhiều thất bại nặng nề, góp phần chia lửa cho chiến trường chung, giữ vững trận địa cho đến ngày toàn thắng. Kết hợp với đấu tranh quân sự trên "Vành đai", phong trào đấu tranh chính trị, binh vận cũng đạt nhiều thắng lợi. So với những năm trước, phong trào đấu tranh trực diện không còn quy mô hàng ngàn người, trong thời kỳ này chủ yếu đấu tranh tại chỗ chống cào nhà gom dân lập ấp, chống bắn pháo, chống xe càn vào ruộng lúa, đòi bồi thường sinh mạng diễn ra rất sôi nổi quyết liệt. Đồng bào giăng tay chặn đầu xe lội nước của Mỹ không cho càn vào ruộng, rẫy phá hoại hoa màu, liều chết bảo vệ hàng rào chiến đấu và hầm bí mật của cán bộ. Những chiến công trên "Vành đai diệt Mỹ" vẫn mãi mãighi đậm trong mỗi con người chúng ta hiện nay. Ôn lại trang sử hào hùng này, chúng ta càng tự hào về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Ngày nay, trong mỗi bước đi trên chặng đường đổi mới, có nhiều vấn đề hết sức mới mẻ, phong phú và đầy thách thức. Đảng bộ và nhân dân Tây Ninh luôn giữ vững niềm tin vào lý tưởng cách mạng, ra sức phát huy truyền thống cách mạng để vững bước tiến lên trong công cuộc đổi mới của Đảng, cùng với cả nước phấn đấu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chiến thắng của "Vành đai diệt Mỹ" có ý nghĩa to lớn không chỉ cho hoạt động giáo dục truyền thống, mà điều đặc biệt quan trọng là ở chỗ ngày nay chúng ta phải rút ra được bài học kinh nghiệm của thế trận chiến tranh nhân dân, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:52:36 pm VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở ĐÔNG NAM BỘ VÀ CỰC NAM TRUNG BỘ TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG NGUYỄN VĂN CHIA Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 7 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, quân và dân miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ cùng với quân và dân cả nước đã sáng tạo ra vô vàn cách đánh độc đáo, có hiệu quả, đưa cuộc chiến tranh nhân dân phát triển lên một tầm cao mới với những nội dung và hình thức hết sức phong phú. Một trong những sáng tạo ấy là Vành đai diệt Mỹ. Vành đai diệt Mỹ là "hệ thống các ấp, xã chiến đấu liên hoàn bao quanh áp sát các các căn cứ quân sự Mỹ nhằm vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt địch. Ngoài các trận địa nổi (công sự kết hợp vật cản), có nơi còn có hệ thống trận địa ngầm trong lòng đất. Tùy tình hình, vành đai diệt Mỹ được tổ chức thành nhiều tầng, nhiều lớp. Dựa vào vành đai diệt Mỹ, quân và dân trong vành đai kiên cường bám trụ, thường xuyên đánh địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, bắn tỉa, phục kích, tập kích..."1 (Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, 1996, tr. 903). Tại miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, ngay từ giữa năm 1965, triển khai thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", Mỹ đã đưa hàng loạt các đơn vị chiến đấu sừng sỏ bao gồm lục quân (bộ binh, bộ binh cơ giới, kỵ binh không vận, thiết giáp, pháo binh); hải quân (hạm đội, giang hạm, thủy quân lục chiến) và không quân (chiến đấu, vận tải, trực thăng đổ quân). Ngoài các căn cứ chỉ huy, điều hành chiến tranh, sân bay, căn cứ hậu cần kỹ thuật ở thành phố Sài Gòn và các đô thị lớn, các cửa biển, cửa sông, chúng đứng chân ở hầu hết các vị trí then yếu trên toàn chiến trường miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Tại đây, quân Mỹ chiếm đất, xây dựng căn cứ với hệ thống phòng thủ kiên cố, vừa trụ đứng lâu dài vừa làm nơi xuất phát hành quân "tìm diệt" lực lượng Quân giải phóng và các cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Vận dụng một cách sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện, thực hiện Nghị quyết 11 và Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) và sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, quân và dân miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ đã cùng với quân và dân toàn Miền nhanh chóng xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Với phương châm "bám thắt lưng địch mà đánh", "đánh địch ngay tại căn cứ của chúng", phong trào chiến tranh nhân dân xung quanh khu vực căn cứ đóng quân của Mỹ phát triển lên một trình độ mới, hình thành nên những vành đai diệt Mỹ. Có thể nói rằng, nơi nào có căn cứ quân Mỹ thì nơi đó có vành đai diệt Mỹ. Trên vành đai, nhân dân địa phương cùng lực lượng vũ trang ba thứ quân tổ chức đánh địch bằng ba mũi giáp công, với muôn vàn cách thức hết sức phong phú, sáng tạo và có hiệu quả. Kết quả của những hoạt động ấy có tác dụng tiêu hao quân địch, làm nao núng tinh thần của binh sĩ Mỹ, kìm chân tại chỗ và gây khó khăn cho chúng khi tổ chức các cuộc hành quân càn quét ra bên ngoài căn cứ. Việc nghiên cứu vành đai diệt Mỹ ở chiến trường Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ không chỉ nhằm làm rõ hơn sắc thái cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện; làm rõ hơn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trên một địa bàn trọng điểm ở phía Nam Tổ quốc; tôn vinh đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đã vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh, kiên cường bám trụ chiến đấu trên các mặt trận vành đai mà quan trọng hơn, để qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Với ý nghĩa ấy, cuộc Hội thảo khoa học "VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở ĐÔNG NAM BỘ, CỰC NAM TRUNG BỘ TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG" cần tập trung đi sâu nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, những yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến sự hình thành và hoạt động của vành đai diệt Mỹ. Như trên đã nói, vành đai diệt Mỹ là thế trận chiến tranh nhân dân được tổ chức xung quanh khu vực căn cứ của quân chiến đấu Mỹ. Do đặc điểm về địa lý, quân sự, chính trị, hầu hết các đơn vị chiến đấu sừng sỏ (trong tổng số 543.400 quân, thời điểm cao nhất) như lực lượng dã chiến 2, sư đoàn bộ binh số 1 "Anh cả đỏ", sư đoàn bộ binh số 4, sư đoàn bộ binh số 9, sư đoàn bộ binh số 25 "Tia chớp nhiệt đới", rồi lực lượng dù, lính thủy đánh bộ, không quân, hải quân, pháo binh... đều có mặt ở Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ. Đặc điểm về tổ chức lực lượng, trang bị và kỹ thuật, công sự phòng thủ, cách thức đóng quân canh phòng, chức năng nhiệm vụ và sở trường hoạt động của mỗi đơn vị nêu trên đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức thế trận và hoạt động của vành đai diệt Mỹ. "Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng", nghiên cứu về kẻ thù chính là chúng ta hiểu rõ hơn về thắng lợi của quân và dân ta trên trận tuyến vành đai diệt Mỹ. Mặt khác, yếu tố địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn cũng tác động quan trọng đến cấu trúc và hoạt động của vành đai diệt Mỹ. Mỗi căn cứ quân sự của Mỹ có xung quanh một vành đai thích ứng với đặc điểm địa hình. Vành đai diệt Mỹ ở căn cứ vùng sông nước như Rạch Kiến (Long An) khác ở vùng đồng bằng gần (đầu não của địch như Củ Chi (Gia Định), khác ở vùng trung du gần biên giới Campuchia như ở Trảng Lớn (Tây Ninh)... Địa hình địa vật, thổ nhưỡng, khí hậu, đường giao thông và tình hình dân cư ở vùng Mỹ đóng quân... là những yếu tố cần đi sâu nghiên cứu hầu làm rõ đặc điểm, sắc thái riêng của từng loại hình vành đai diệt Mỹ. Hai là, sự hình thành và tổ chức thế trận vành đai diệt Mỹ. Ngay khi Lầu Năm Góc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc vào chiến trường miền Nam Việt Nam cùng với các loại phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ (trừ vũ khí nguyên tử), Đảng ta, trên cơ sở đánh giá tình hình chiến lược một cách bình tĩnh và sáng suốt, đã kiên quyết đề ra chủ trương động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược. Phong trào chống Mỹ, đánh Mỹ diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi ở khắp mọi nơi, không chỉ ở chỗ Mỹ hành quân càn quét "tìm diệt" mà còn diễn ra ngay tại nơi đóng quân của chúng. Nơi nào có quân Mỹ đóng thì ngay lập tức có một "vành đai" đánh Mỹ ngay tại đó. Một hệ thống vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ được hình thành, trong đó có những vành đai tiêu biểu như Trảng Lớn (Tây Ninh), Củ Chi (Gia Định), Lai Khê (Bình Dương), Rạch Kiến (Long An)... Mỗi vành đai diệt Mỹ, do các điều kiện khách quan chi phối, do những đặc điểm về chức năng, nhiệm vụ mà có sự khác nhau về bố trí thế trận, xây dựng công trình quân sự, tổ chức lực lượng và hệ thống điều hành chỉ huy. Ví dụ, căn cứ Đồng Dù (Củ Chi) nằm cách thành phố Sài Gòn 30 km, địa hình trống trải, bất lợi cho việc bám trụ đánh địch, quân và dân trên vành đai phải thiết kế công sự trong lòng đất, xâydựng thành hệ thống địa đạo. Trong lúc đó, căn cứ Trảng Lớn được bao bọc xung quanh bởi hầu hết là rừng (rừng chồi và rừng già), địa hình thuận lợi cho việc ẩn giấu và triển khai lực lượng tiến công. Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hệ thống vành đai diệt Mỹ, đặc điểm và xây dựng thế trận, bố trí lực lượng, hình thức tổ chức vành đai sẽ tạo điều kiện để làm rõ hơn quá trình hoạt động và vị trí, vai trò của mỗi vành đai diệt Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:53:49 pm Ba là, nội dung hoạt động, kết quả và vai trò của vành đai diệt Mỹ.
Nằm trong thế trận chiến tranh nhân dân, hoạt động của quân và dân ta ở vành đai diệt Mỹ diễn ra toàn diện trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế, văn hóa, xã hội. Phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi vành đai. Trên nền tảng ấy, phong trào "dũng sĩ diệt Mỹ" ra đời và phát triển sâu rộng trên khắp các chiến trường. Ai cũng đánh được Mỹ, vũ khí nào cũng diệt được Mỹ, hoạt động diệt Mỹ trên các vành đai đã tạo nên một bức tranh hết sức sinh động của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trên chiến trường Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ. Nghiên cứu nội dung hoạt động của quân và dân trên các vành đai diệt Mỹ; phương châm, phương thức, cách đánh, sự kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống vận dụng trong điều kiện cụ thể của mỗi vành đai chính là để làm rõ và sâu sắc hơn diện mạo cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân; đồng thời bổ sung cách đánh, làm phong phú thêm kho tàng lý luận nghệ thuật quân sự của Đảng ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Hoạt động của các vành đai diệt Mỹ không chỉ có tác dụng tiêu diệt tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, cầm chân địch tại chỗ, gây khó khăn cho các cuộc hành quân càn quét của chúng, mà quan trọng hơn, đã đánh vào ý chí chiến đấu, làm bất an, nản lòng binh sĩ và nhân dân Mỹ. Kiểm định kết quả hoạt động của các vành đai, phân tích đánh giá tác dụng, vai trò của nó đối với phong trào chiến tranh nhân dân địa phương đối với tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là việc làm cần thiết khi nghiên cứu về cuộc chiến tranh giải phóng trong ba mươi năm qua. Bốn là, vận dụng những bài học kinh nghiệm từ vành đai diệt Mỹ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn xây dựng và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở Tây Ninh nói riêng, các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ nói chung đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm hết sức quý giá. Quá trình xây dựng hệ thống vành đai trong thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, tổ chức hệ thống công sự vật cản, bố trí lực lượng, xây dựng ý chí kiên cường bám trụ "một tấc không đi, một ly không rời", xác định cách đánh linh hoạt và có hiệu quả, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân ở vành đai diệt Mỹ, tự nó hàm chứa những yếu tố cần được nghiên cứu phát triển trong điều kiện hiện nay. Đó là các nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố)... Đó là các hoạt động về xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân cả về chính trị, quân sự, hậu cần, kỹ thuật, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng trong nỗ lực không ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nghiên cứu những bài học kinh nghiệm từ vành đai diệt Mỹ trong thời kỳ chiến tranh giải phóng để vận dụng một cách có hiệu quả, thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay chính là chức năng của ngành khoa học quân sự, là nhiệm vụ quan trọng của cuộc Hội thảo khoa học này. Đã gần ba mươi năm trôi qua kể từ ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang giành được những thành tựu to lớn trên bước đường thực hiện sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn đang ở trình độ thấp, tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp, các thế lực thù địch vẫn không ngừng theo đuổi âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Trong bối cảnh ấy, những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn xây dựng và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở Tây Ninh nói riêng, ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ nói chung vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Nghiên cứu sâu sắc những nội dung nêu trên, chính là chúng ta đã thiết thực tôn vinh những giá trị vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tôn vinh đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu hy sinh trên các vành đai diệt Mỹ; đồng thời thiết thực cung cấp những luận cứ khoa học góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh, chuẩn bị cho đất nước luôn luôn sẵn sàng và đủ sức đánh bại mọi hành động xâm lược của kẻ thù theo đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:55:24 pm Phần Một VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở TÂY NINH VÀ CÁC TỈNH ĐÔNG NAM BỘ, CỰC NAM TRUNG BỘ VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ - MẤY ĐẶC ĐIỂM VÀ YẾU TỐ HÌNH THÀNH TRỊNH VƯƠNG HỒNG Thiếu tướng, Phó giáo sư - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến tranh nhân dân địa phương ở miền Nam đã phát triển mạnh mẽ và đều khắp trên cả ba vùng chiến lược, đặc biệt ta đã đưa chiến tranh vào hầu hết các đô thị, khiến hậu phương của địch thường xuyên bất ổn. Cùng với sự phát triển của chiến tranh nhân dân trên toàn miền Nam, chiến tranh nhân dân ở miền Đông Nam Bộ từng bước hình thành và phát triển ngày càng cao. Trong sự phát triển sáng tạo đó có sự phát triển vành đai diệt Mỹ ở nhiều nơi, đặc biệt là các vành đai diệt Mỹ ở Đồng Dù (Củ Chi), Trảng Lớn (Trảng Bàng), Lai Khê, Dĩ An... Tìm hiểu cuộc chiến đấu vô cùng khốc liệt, đầy cam go, phức tạp và hy sinh, nhưng thắng lợi hết sức vẻ vang của quân và dân miền Đông Nam Bộ trên các vành đai diệt Mỹ, chúng ta thấy có những nét tương đồng với các vành đai diệt Mỹ ở miền Nam và có nét riêng, cùng những yếu tố tác động sâu sắc đến quá trình hình thành và phát triển vành đai diệt Mỹ trên đất miền Đông "gian lao và anh dũng". Địa lý quân sự, một đặc điểm - yếu tố quan trọng Chiến trường miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước gồm Khu 7 cũ và Quân khu Sài Gòn - Gia Định.Trên địa bàn chiến lược này có một hệ thống các đô thị lớn gồm Sài Gòn - Gia Định, Biên Hòa, Vũng Tàu và các thị xã - tỉnh lỵ: Tây Ninh, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Tân An, An Lộc, Phước Long, Long Khánh, Bà Rịa, Hậu Nghĩa cùng các thị trấn, quận lỵ, các cụm dân cư tương đối tập trung xung quanh các căn cứ quân sự của Mỹ đang trên đà đô thị hóa trong điều kiện chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới. Nhìn tổng thể, các đô thị lớn ở miền Đông Nam Bộ bố trí thành hình rẻ quạt, từ Tây sang Đông dọc theo các trục quốc lộ 4,1, 22,13,15. Nếu lấy Sài Gòn - Gia Định làm trung tâm thì khu vực trọng yếu là tam giác Sài Gòn - Biên Hoà - Vũng Tàu, trong đó có các đô thị nằm giữa vùng đồng bằng phì nhiêu (Sài Gòn, Tân An); có các đô thị ở vùng trung du giáp đồng bằng (Đồng Nai, Bình Dương, Bình Long); có đô thị ven biên giới (Tây Ninh, Phước Long); có đô thị ven biển (Bà Rịa, Vũng Tàu). Xét về địa lý, dân cư, đây là một chiến trường thuận lợi cho xây dựng thế trận liên hoàn của chiến tranh nhân dân địa phương với phương châm đấu tranh hai chân, ba mũi, ba vùng; thực hiện kết hợp được đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn của ba thứ quân. Trên địa bàn chiến lược này, yếu tố quan trọng chi phối có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với miền Đông Nam Bộ mà cả chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là vai trò trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giao lưu quốc tế của Sài Gòn - Gia Định. Nơi đây đã mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai và cũng chính nơi đây đã kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng. Trước năm 1954, nơi đây đặt dinh Toàn quyền và Bộ tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Sau năm 1954, Mỹ - ngụy lấy Sài Gòn làm thủ đô "Cộng hòa miền Nam", đồng thời là "Nhà trắng" và "Lầu năm góc" phương Đông của Mỹ với hàng chục loại cơ quan đầu não điều hành bộ máy chiến tranh khổng lồ của chúng. Cũng tại đây, một trung tâm tiếp nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật quân sự của Mỹ và các nước đồng minh đưa vào, kết hợp với các cơ sở công nghiệp nhẹ tại chỗ của các thành phố, thị xã và sự cung cấp lương thực, thực phẩm từ đồng bằng sông Cửu Long lên tạo cho Sài Gòn và các vùng phụ cận trở thành trung tâm dự trữ vật chất chiến lược khá dồi dào cho nhu cầu chiến tranh. Trên lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, Sài Gòn và các đô thị lớn liền kề càng phức tạp. Đây không chỉ là sào huyệt của thực dân xâm lược và tay sai bán nước mà còn là nơi hội tụ nhiều thế lực chính trị phản cách mạng trong các tôn giáo, đảng phái, dân tộc, sắc tộc từ các nơi dồn về; kể cả các loại tình báo, gián điệp quốc tế. Đây cũng chính là nơi hội tụ lối sống thực dụng, xa hoa, lai căng và các tệ nạn xã hội dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Cùng với những nét chung, một số đô thị khác còn có những đặc điểm riêng: thành phố Biên Hòa, nơi đặt hệ thống cố vấn Mỹ và Bộ chỉ huy Vùng 3 chiến thuật - Quân đoàn 3 ngụy, có hệ thống kho dự trữ chiến lược quân sự Mỹ tại Long Bình, đồng thời là một trung tâm của các thế lực Thiên Chúa giáo, người Nùng di cư từ miền Bắc vào sau 1954; Vũng Tàu, cửa ngõ của sông Lòng Tàu, con đường thủy huyết mạch về Sài Gòn, một thành phố quân sự và dịch vụ du lịch phục vụ bộ máy chiến tranh xâm lược với các trung tâm huấn luyện "bình định" Lam Sơn, trung tâm huấn luyện cảnh sát quốc gia, trung tâm huấn luyện biệt kích Vạn Kiếp và căn cứ của lực lượng quân sự Hoàng gia Ôxtrâylia; Thị xã Tây Ninh, đất thánh của đạo Cao Đài, một thời là lãnh địa của đức ông Phạm Công Tắc, có quân đội riêng của giáo phái, có căn cứ Trảng Lớn của sư đoàn 25 "tia chớp nhiệt đới" Mỹ, một căn cứ xuất phát quan trọng của quân Mỹ khi tiến công "tìm diệt", đánh vào căn cứ đầu não của ta ở Dương Minh Châu và vùng biên giới phía Bắc Tây Ninh. Với vị trí đặc biệt quan trọng của tam giác chiến lược Sài Gòn - Biên Hoà - Vũng Tàu, địa bàn miền Đông Nam Bộ trở thành vành đai bảo vệ bộ máy đầu não chiến tranh xâm lược của Mỹ và sào huyệt của ngụy quyền miền Nam Việt Nam. Riêng lực lượng quân sự của Mỹ ở đây vào lúc cao nhất lên đến 4 sư đoàn chiến đấu (các sư đoàn 1, 5, 9, 101 dù), 2 lữ đoàn (199, lữ đoàn 3 sư đoàn 82), một trung đoàn kỵ binh không vận và 3 sư đoàn cơ động chiến lược (5, 25, 18), lực lượng tổng trù bị chiến lược của quân ngụy; lính thủy đánh bộ, biệt động quân, biệt kích; các quân chủng hải quân, không quân, tăng thiết giáp, chưa kể lực lượng cảnh sát quốc gia; các loại và hệ thống tề điệp, ác ôn, bảo an, dân vệ các cấp lên tới hàng vạn tên, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Với quân Mỹ, đây còn là chiến trường trọng điểm tiến hành biện pháp chiến lược "tìm diệt", hòng bẻ gãy xương sống Việt cộng. Với ta, nếu như trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đông Nam Bộ là chiến lũy trọng yếu thì trong chống Mỹ là hướng chiến lược trọng yếu nhất của miền Nam, trong đó Sài Gòn - Gia Định là trung tâm phong trào đấu tranh của nhân dân các đô thị, đồng thời là điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Có thể nói, vị trí địa chính trị, kinh tế của miền Đông Nam Bộ là đặc điểm, đồng thời là yếu tố đã tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển chiến tranh nhân dân địa phương với ba vùng chiến lược. Đây là môi trường tốt để phát triển các vành đai diệt Mỹ với những nét rất riêng của nó ở một địa bàn trọng yếu của miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:57:56 pm Con người, yếu tố quyết định thành bại của vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ
Một nhân tố đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định thành bại của vành đai diệt Mỹ là sự kết tinh giữa tinh thần kiên cường, bất khuất trước họa xâm lăng của dân tộc với tính cách rất riêng của người dân Nam Bộ trong suốt chiều dài lịch sử. Từ khi còn là vùng đất mới khai phá Đồng Nai - Bến Nghé, cư dân Nam Bộ đều có cội nguồn từ nhiều vùng đất nước, từ Bắc vào Nam không chỉ vì "tha phương cầu thực" mà còn vì đi tìm tự do và góp phần mở mang bờ cõi trước nạn xâm lăng thường xuyên của phong kiến phương Bắc. Chính các cư dân đó đã bốn lần đón đại quân Tây Sơn vào Gia Định đánh cho quân Nguyễn Ánh chạy tan tác, một lần quét sạch 4 vạn quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút... Cũng những cư dân đó, bằng gươm giáo, tầm vông đã chống chọi kiên cường với "súng sắt, tầu đồng" của Pháp (1859- 1861), khi chúng đặt chân lên đất Sài Gòn. Tiếp đó là hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nối tiếp nhau do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, tiêu biểu như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt... với lời thề bất hủ "Bao giờ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết đánh Tây". Từ ngày có Đảng lãnh đạo, "hào khí Đồng Nai" hòa với lý tưởng cộng sản đã sinh ra "Phú Riềng đỏ", cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là khởi nghĩa Nam Kỳ 1940. Sài Gòn địa linh, nhân kiệt, từ bến Nhà Rồng Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Khi kháng chiến thành công lại vinh dự được mang tên Người - Hồ Chí Minh. Cũng tại nơi đây đã ra đời Công hội đỏ đầu tiên ở xưởng đóng tàu biểu Ba Son do Tôn Đức Thắng sáng lập. Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, Sài Gòn - Gia Định nhanh chóng trở thành chỗ dựa vững chắc của cơ quan đầu não Trung ương Đảng trong nhiều giai đoạn đấu tranh. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dìm trong biển máu, khủng bố trắng của địch khắp nơi khiến Đảng bộ Nam Kỳ ở vào tình thế vô cùng khó khăn. Lực lượng lãnh đạo các cấp và phong trào quần chúng bị tổn thất nặng, đứt liên lạc và xa Trung ương Đảng. Nhưng khi thời cơ đến, Đảng bộ đã nhanh chóng lãnh đạo nhân dân cùng cả nước vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Sài Gòn ngày 25 tháng 8 năm 1945. Chưa đầy một tháng sau ngày đất nước được độc lập (ngày 2 tháng 9 năm 1945), khi chính quyền cách mạng còn trong trứng nước, chưa kịp tổ chức thống nhất các lực lượng vũ trang và còn muôn vàn khó khăn khác, quân và dân Sài Gòn-Gia Định đã phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai (23-9-1945). Một lần nữa lịch sử lại giao cho Sài Gòn - Gia Định và cả Nam Bộ nhiệm vụ "đi trước" mở đầu cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm của toàn dân tộc. Có thể nói, cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong trong những ngày đầu đã diễn ra vô cùng ác liệt giữa Sài Gòn - Gia Định, rồi từ đó lan ra Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã làm đảo lộn kế hoạch chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của Pháp, tạo thuận lợi cho cả nước tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài sau này. Những kinh nghiệm phong phú về xây dựng lực lượng cách mạng và lực lượng vũ trang, về các hình thức và phương pháp đấu tranh, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, binh vận, v.v... (nhất là ở Sài Gòn - Gia Định) là nguồn vốn ban đầu vô cùng quý giá để kế thừa và phát triển trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước sau này. Sau Hiệp định Giơnevơ, trong tình hình tuyệt đại bộ phận lực lượng vũ trang ta ở miền Nam tập kết ra miền Bắc, đế quốc Mỹ từng bước gạt Pháp, độc chiếm miền Nam, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới; đồng thời thông qua tập đoàn phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm thực hiện quốc sách "tố cộng, diệt cộng" cực kỳ tàn bạo, đã gây cho cách mạng miền Nam những tổn thất hết sức nặng nề trong những năm 1956-1958. Riêng ở miền Đông Nam Bộ, đến giữa năm 1956, 50 huyện ủy viên bị địch giết hại, không kể số bị tù đày. Như Tân An, Chợ Lớn từ 3000 đảng viên năm 1954 chỉ còn 400; Hóc Môn từ 1000 đảng viên còn 100, đến năm 1959 chỉ còn một người; Biên Hòa từ 1218 còn 100; Thủ Dầu Một từ 1947 người chỉ còn 260. Bí thư Tỉnh ủy Gia Định hy sinh anh dũng tại Củ Chi, Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn bị bắt và hy sinh ngay tại phòng tra tấn của kẻ thù. Chỉ riêng ở Sài Gòn, chính quyền Diệm đã giành đến 42% ngân sách chung của đô thành cho các cuộc hành quân cảnh sát và các cuộc "tố cộng", "cải huấn", "tẩy não", nhất là những vùng "Vành đai đỏ" xung quanh Sài Gòn và các đô thị lớn cũng như xung quanh các căn cứ quân sự, kho tàng lớn của Mỹ - ngụy. Trong tình hình nước sôi, lửa bỏng đó, được ánh sáng Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng chỉ đường, nhân dân miền Nam lại từ khởi nghĩa từng phần tiến lên đồng khởi nghĩa, phát triển thành chiến tranh cách mạng trong những năm 1960-1961. Đương đầu với ách thống trị tàn bạo và xảo quyệt của chủ nghĩa thực dân mới, trong điều kiện chiến trường diễn ra vô cùng quyết liệt, quy mô ngày càng lớn, nhưng với truyền thống yêu nước, chuộng tự do, trọng công lý, vẫn với khí phách kiên cường bất khuất của "hào khí Đồng Nai", kết hợp với tính cách khảng khái, năng động, sáng tạo, nhạy bén với những cái mới của con người Nam Bộ đã không ngừng phát huy mạnh mẽ trong cuộc chiến đấu kéo dài, vô cùng ác liệt, để rồi cùng quân dân cả nước kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giữa thành phố Sài Gòn - Gia Định. Truyền thống yêu nước, khí phách quật cường là cái nôi, là bà đỡ cho sự ra đời và phát triển vành đai diệt Mỹ trên mảnh đất giàu tiềm năng này. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 08:59:13 pm Xây dựng các căn cứ lớn, kết hợp phòng ngự khu vực với phòng ngự từ xa âm mưu nguy hiểm của địch
Để bảo vệ một địa bàn chiến lược sát Sài Gòn, Mỹ - ngụy đã tập trung xây dựng ở các đô thị miền Nam và trên những địa bàn quan trọng hàng loạt các căn cứ quân sự, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, các sân bay, quân cảng để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Nhìn chung trên đất miền Đông các căn cứ quân sự của địch thường bố trí cố định trong các thành phố lớn, trong các thị xã hoặc nằm sâu trên các tuyến vành đai xung quanh các thành phố, thị xã. Các hậu cứ, căn cứ này giữ một vị trí rất quan trọng trong tổ chức chỉ huy và dần dần tăng cường phòng ngự để trở thành một vị trí hoặc một khu vực phòng ngự khá vững chắc. Tại Sài Gòn - Gia Định và xung quanh các đô thị ở miền Đông Nam Bộ, Mỹ - ngụy thường triển khai các cơ quan quân sự các cấp và các căn cứ sư đoàn (tương đương). Trong các căn cứ thường có một hậu cứ sư đoàn và 2-3 hậu cứ lữ (trung) đoàn. Loại hậu cứ này do công ty kiến trúc Thái Bình Dương của Mỹ xây dựng từ năm 1966 theo lối doanh trại lớn, nhà cửa thiết kế như một thị xã, diện tích từ 6 đến 12 km2. Đây là nơi tập trung quân, phương tiện, hậu cần và hỏa lực để phục vụ cho hành quân ra ngoài, đồng thời là nơi ăn nghỉ của chúng sau khi hành quân về. Vì vậy, trong hậu cứ có cả bãi bóng, bể bơi, câu lạc bộ lớn cho từng tiểu đoàn và cho từng cơ quan thuộc sư đoàn, lữ đoàn. Bên ngoài, lúc đầu chỉ có một hàng rào thép gai, một số bốt gác ở các cổng ra vào và một số lô cốt chiến đấu. Từ cuối năm 1967 trở đi, từ chỗ chống pháo kích đến chống tập kích với quy mô ngày càng lớn của ta, địch dần dần hoàn chỉnh hệ thống phòng ngự, nhất là ở ngoại vi. Chúng đào thêm hầm ẩn nấp, làm công sự cho phương tiện, kho tàng và có kế hoạch phòng giữ hậu cứ chặt chẽ hơn cả bên ngoài và trong trung tâm. Vì vậy, hậu cứ hình thành một cứ điểm lớn có hệ thống phòng ngự tương đối vững chắc, nhưng bên trong vẫn mang tính chất doanh trại như ở Dầu Tiếng, Đồng Dù, Trảng Lớn, Tecnich, Lai Khê, Dĩ An, Phú Lợi... Với hệ thống phòng ngự theo tuyến và vành đai, các sư đoàn địch thường được bố trí phòng ngự trên một hướng và mỗi lữ đoàn, trung đoàn phụ trách một khu vực tương đối hẹp bao gồm một hậu cứ lữ (trung) đoàn, với các cụm cứ điểm tiểu đoàn ở xung quanh, hình thành một khu vực phòng ngự lữ (trung) đoàn. Hậu cứ sư đoàn thường bố trí sau hậu cứ lữ đoàn hoặc trung đoàn phái ra chiến đấu phía trước. Do có nhiều sư đoàn bố trí gần nhau, nên bản thân từng sư đoàn, lữ (trung) đoàn không những chi viện được cho nhau mà còn được các sư đoàn lữ (trung) đoàn bên cạnh chi viện. Vì vậy, thế bố trí các hậu cứ của địch ở miền Đông Nam Bộ khá vững chắc. Cùng với tổ chức hệ thống công sự, trận địa, vật cản bên trong phức tạp để bảo vệ lực lượng, phương tiện chiến tranh trong hậu cứ, địch còn tổ chức phòng ngự từ xa với nhiều biện pháp (biệt kích, trinh sát, hỏa lực, hành quân ngăn chăn bên ngoài). Xét về hình thái bố trí và cách tổ chức phòng ngự hậu cứ của địch ta thấy: địch thường bố trí sâu trong các thành phố lớn, thị xã, với diện tích rất lớn, chiếm một bộ phận quan trọng của thành phố, thị xã. Đặc điểm nổi bật nhất là các hậu cứ của địch đều mang tính chất một khu doanh trại, dựa vào thành phố, thị xã mà bố trí phân tán trên nhiều khu vực, tạo thành một hoặc nhiều mục tiêu lớn. Việc tổ chức phòng ngự chủ yếu ở ngoại vi để đối phó với các cuộc tiến công của ta, còn bên trong hậu cứ vẫn là nhà cửa, kho tàng, từ xa quan sát thấy như mộtthị xã nhỏ. Nhìn chung bên trong các hậu cứ, thành phần chúng bố trí tương đối thống nhất, đều dựa vào nguyên tắc phòng ngự từ xa, nhưng về trang thiết bị bên trong của từng hậu cứ có thể khác nhau, trong đó có cơ quan chỉ huy sư đoàn, lữ (trung) đoàn là mục tiêu chính và chủ yếu nhất. Để bảo vệ các hậu cứ, địch phát quang cây cối, dồn dân vào các ấp chiến lược, tạo nên các vành đai trắng, nhằm gây khó khăn cho ta khi tiếp cận mục tiêu. Xung quanh hậu cứ, trong phạm vi gần, hàng ngày dịch cho bộ binh kết hợp với cơ giới đi tuần tra trên các trục đường chính vào hậu cứ, tổ chức phục kích những nơi nghi ta có thể thể qua lại, sục tìm những dấu vết để phá ta chuẩn bị tiến công. Những nơi xung yếu ở các ngã ba, ngã tư, cầu cống quan trọng, chúng kết hợp với lực lượng địa phương canh gác, kiểm tra việc đi lại của nhân dân. Chúng dùng không quân thường xuyên bay lượn ngày đêm trên không phận và xung quanh hậu cứ để quan sát, phát hiện những nơi nghi ngờ có quân ta hoạt động, dùng pháo binh trong hậu cứ theo kế hoạch bắn ra những nơi nghi ta có thể qua lại (đường xung yếu, bìa rừng, bến sông, trục hành lang...), không theo quy luật. Những hậu cứ tiếp giáp với ta, thường xuyên bị uy hiếp, chúng tổ chức lực lượng trong trung đoàn, lữ đoàn hành quân đánh phá chuẩn bị, ngăn chặn các cuộc tiến công của ta. Có lúc chúng dùng tới 2 phần 3 lực lượng của hậu cứ và của các đơn vị tăng cường để mở các cuộc hành quân đánh vào các khu vực bàn đạp của ta, nơi nghi ta chuẩn bị tiến công vào hậu cứ của chúng. Thường các cuộc hành quân này của địch tương đối dài ngày, sục tìm từ khu vực này sang khu vực khác, kết hợp chặt chẽ với pháo binh và không quân đánh phá gây khó khăn cho ta chuẩn bị chiến trường. Chính những hậu cứ tương đối ổn định và các cuộc hành quân đèn cù bảo vệ các hậu cứ của địch lại là điều kiện cho ta tổ chức tiêu diệt chúng ngay sát căn cứ để từng bước hình thành vành đai diệt Mỹ, và cái vòng "kim cố càng ngày càng thít chặt hơn vào cổ họng của chúng. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 09:01:05 pm Quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân, sáng tạo cách đánh địch hiệu quả - nét tiêu biểu của vành đai diệt Mỹ miền Đông Nam Bộ.
Trải qua hai mươi mốt năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, cuộc đấu trí, đấu lực toàn diện vận động theo quy luật "mạnh được yếu thua" đã diễn ra rất gay gắt, quyết liệt và phức tạp trên chiến trường miền Đông gian lao và anh dũng. Muốn đánh thắng địch, chúng ta đã tìm mọi biện pháp để giải quyết thành công những nội dung rất cơ bản về xây dựng căn cứ, về tổ chức lực lượng và vận dụng cách đánh để vành đai diệt Mỹ ở miền Đông ngày càng phát triển. Trước hết và quan trọng hơn hết là chúng ta đã xây dựng cho được một hệ thống căn cứ vững chắc, để Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang địa phương bám đánh địch, thực hiện một tấc không đi, một ly không rời. Miền Đông Nam Bộ là một khu vực có đủ các loại địa hình rừng núi, trung du, đồng bằng, biên giới, bờ biển và các đô thị lớn. Từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đã hình thành một hệ thống căn cứ rộng lớn đan xen, liên hoàn giữ các vùng. Có căn cứ ở vùng rừng núi, có căn cứ ở vùng trung du, đồng bằng ngập nước và nông thôn bao quanh các đô thị, nhất là tại Sài Gòn - Gia Định. Đặc điểm trên vừa thuận lợi cho ta xây dựng căn cứ đứng chân của lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang trên các hướng, vừa có địa bàn ở cự ly không xa trung tâm, tiện tổ chức thông tin liên lạc. Khi cần thiết có thể di chuyển hoặc để bảo vệ, đồng thời có thể nhanh chóng tổ chức đánh địch với cách đánh thích hợp, ngay khi chúng tiến hành càn quét xung quanh để bảo vệ căn cứ của chúng, làm cho chúng liên tục chảy máu ngay nơi chúng cho là được bảo vệ tốt nhất. Vì vậy, vấn đề xây dựng và bảo vệ căn cứ, bàn đạp đứng chân ở những vùng ven đô, ven căn cứ địch trên các hướng càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Như khu vực Củ Chi, mặc dù địch liên tục đánh phá, ráo riết dồn dân lập ấp chiến lược, mở liên tiếp các cuộc hành quân "tìm diệt", đưa cả một sư đoàn Mỹ đến lập căn cứ ở Đồng Dù, dùng cả chất độc hóa học, dùng máy bay ném bom chiến lược B52 rải thảm v.v..., nhưng căn cứ Củ Chi vẫn đứng vững. Cùng với việc xây dựng căn cứ, bàn đạp đứng chân, ta đặc biệt chú trọng xây dựng các lõm du kích, các lõm chính trị, tổ chức bảo đảm thông tin, tiếp vận từ trên xuống, từ ngoài vào đến tận các cơ sở chính trị nòng cốt, các lực lượng bám trụ và hạt nhân lãnh đạo tại chỗ, các cơ sở nội tuyến ở các mục tiêu trọng yếu. Chính làm tốt việc xây dựng căn cứ mà ta đã bám trụ vững chắc xung quanh các đô thị, căn cứ của địch, liên tục tiêu hao, tiêu diệt chúng làm cho chúng không lúc nào được yên ổn. Cùng với việc xây dựng các căn cứ ngày càng vững chắc, ta đã đa dạng hóa hình thức và quy mô tổ chức lực lượng, chuyên môn hóa từng đơn vị chiến đấu trên vành đai. Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu trên vành đai, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền, lực lượng vũ trang miền Đông đã đa dạng hóa hình thức tổ chức lực lượng theo yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn và đặc điểm cụ thể từng vùng: du kích (ở nông thôn), tự vệ (ở nội ngoại thành), đội võ trang tuyên truyền, Ban công tác, công an xung phong, biệt động thành, đặc công, bộ đội địa phương... Mỗi lực lượng gồm các đơn vị tập trung cơ động, đơn vị chiến đấu, đơn vị bảo đảm... Tổ chức với nhiều quy mô tùy theo từng cấp, từng vùng, tính chất từng lực lượng và địa bàn hoạt động. Du kích, tự vệ thường được tổ chức cấp tiểu đội, trung đội hoặc tổ chức theo địa bàn dân cư (phường, xã), khu vực mục tiêu quan trọng. Các lực lượng tập trung cơ động thường tổ chức đến đại đội, tiểu đoàn hoặc đội, liên đội. Riêng bộ đội địa phương ở các thành phố, tỉnh có lúc được tổ chứcđến cấp trung đoàn và các tiểu đoàn mũi nhọn. Trong những năm chống Mỹ, để hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu trên vành đai, trên từng địa bàn, lực lượng vũ trang địa phương được xây dựng theo hướng chuyên môn hóa và tinh nhuệ, lấy chất lượng làm chính. Có lực lượng chuyên bám trụ chiến đấu trên vành đai xung quanh các mục tiêu trọng yếu sân bay, bến cảng, tổng kho, các căn cứ lớn của địch như ở Đồng Dù (Củ Chi), Trảng Lớn (Tây Ninh)... Có lực lượng bám trụ chiến đấu tại những vùng ven, có đơn vị chuyên tác chiến ở nội thành hoặc cơ động từ ngoài vào đánh một số trận rồi lui ra củng cố. Việc xồy dựng lực lượng chiến đấu ở vành đai cũng được tổ chức khá linh hoạt: có đơn vị bám trụ tại chỗ (đặc công, bộ đội địa phương tập trung) làm nòng cốt; có đơn vị hoạt động trên từng cánh nối liền khu vực thường xuyên tác chiến với các bàn đạp nông thôn ngoại thành và vùng ven. Đây là một kinh nghiệm quý trong phát huy thế trận liên hoàn giữa ba vùng chiến lược nhằm phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân địa phương. Đồng thời với việc xây dựng lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ chiến đấu, việc tổ chức lực lượng trinh sát, giao thông liên lạc, tổ chức hệ thống hậu cần kỹ thuật tại chỗ, tổ chức các cơ sở cất giấu vũ khí, đạn dược, phương tiện cơ động, hệ thống trường huấn luyệa.. được chú trọng. Làm tốt các mặt bảo đảm tối cần thiết này đã tạo điều kiện cho ta đánh lâu dài trên các vành đai diệt Mỹ. Vận dụng khôn khéo, sáng tạo cách đánh của lực lượng vũ trang ba thứ quân là nét nổi bật về nghệ thuật tổ chức đấu tranh vũ trang trên vành đai diệt Mỹ của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Ta tác chiến trong điều kiện địch tìm mọi biện pháp để phân vùng, phân tuyến, phá thế cài răng lược của ta. Cách đánh của lực lượng vũ trang ở đây cũng rất đa dạng, phong phú. Trên vùng ven, các vành đai diệt Mỹ quanh căn cứ Đồng Dù, Trảng Lớn là sự vận dụng tổng hợp linh hoạt các hình thức tác chiến du kích kết hợp với tác chiến chính quy của chiến tranh nhân dân địa phương. Những kết luận nổi tiếng của quân và dân Củ Chi sau khi đánh bại cuộc hành quân "Cái bẫy" (Crimp) của Mỹ tháng 1 năm 1966 đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Và cũng tại vành đai diệt Mỹ này đã sản sinh ra hàng trăm dũng sĩ diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt cơ giới, diệt trực thăng với khẩu hiệu: "Bám thắt lưng Mỹ mà diệt". Đây là sự sáng tạo rất độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Chiến tranh đã lùi xa 30 năm, nhưng trên mảnh đất miền Đông gian lao và anh dũng, những bài học về phát huy truyền thống "Hào khí Đồng Nai", về gắn hoạt động quân sự vào thực tiễn đất nước, con người; nghiên cứu, dự báo sớm hành động của địch để có đối sách đúng vẫn còn nguyên giá trị của nó. Ngày nay, trên mảnh đất "miền Đông gian lao và anh dũng", nhân dân ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước ta "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong đợi. Nhưng các thế lực phản động quốc tế lại không lúc nào muốn chúng ta yên ổn. Vì vậy, ngay trong hoà bình ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng thực lực cách mạng về mọi mặt, cùng với xây dựng kinh tế, phải có kế hoạch xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận chiến tranh nhân dân, để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Những bài học về xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang trong đoàn thể quần chúng; xây dựng căn cứ, hậu phương tại chỗ trong các đô thị lớn của thời kỳ chống Mỹ, cứu nước cần được nghiên cứu vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 11:54:40 am BỘ TỔNG THAM MƯU CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ VÀ CỰC NAM TRUNG BỘ ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965-1968) NGUYỄN ĐĂNG MÙI Đại tá, Trưởng ban Tổng kết-lịch sử Bộ Tổng tham mưu NGUYỄN QUỐC UY Đại úy, Ban Tổng kết-Lịch sử Bộ Tổng tham mưu Thắng lợi của quân và dân Việt Nam ở cả 2 miền- Nam Bắc trên các mặt quân sự, chính trị đã làm lung lay chế độ ngụy quyền Sài Gòn. Chiến tranh đặc biệt của Mỹ được đẩy lên đến mức cao nhất, đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn. Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào tham chiến trực tiếp ở miền Nam đồng thời tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc. Ở miền Nam, mục tiêu chủ yếụ của "chiến tranh cục bộ" là đánh bại phong trào cách mạng trong vòng 25 đến 30 tháng (giữa năm 1965 đến 1967) bằng kế hoạch 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 phá kế hoạch mùa mưa của ta "chặn chiều hướng thua", bảo đảm triển khai nhanh quân viễn chinh Mỹ. Ngay sau đó, giai đoạn 2 bắt đầu với các cuộc phản công chiến lược tìm diệt chủ lực ta và kiểm soát vùng nông thôn. Giai đoạn 3, hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực ta, tiếp tục bình định miền Nam để cuối năm 1967 sẽ rút quân Mỹ về nước. Hai lực lượng chiến lược thực hiện kế hoạch là cả quân viễn chinh Mỹ và quân ngụy, nhưng quân Mỹ sẽ là thành phần nòng cốt, làm lực lượng cơ động chủ yếu để "tìm diệt" bộ đội chủ lực. Triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu và chư hầu vào miền Nam: tháng 6 năm 1965 mới có 54.000 thì đến hết tháng 12 năm 1965 đã có 184.300 hết năm 1966 là 410.000... Mặt khác, Mỹ củng cố và phát triển ngụy quân, tăng cường nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, thực hiện nhiều biện pháp chiến lược hiểm độc, tàn bạo. Trước sự thay đổi chiến lược của Mỹ, cuộc kháng chiến đứng trước tình thế hiểm nghèo. Lịch sử đặt ra trước nhân dân ta hai con đường: hoặc đánh đuổi đế quốc Mỹ, giành độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, hoặc chịu làm nô lệ, đất nước vĩnh viện bị chia cắt. Đảng ta, nhân dân ta đã chọn con đường tiếp tục cuộc kháng chiến. Nhưng ta có đánh được Mỹ hay không và đánh Mỹ, thắng Mỹ bằng cách nào? Với quan điểm và tư duy chiến lược mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh đánh giá tình hình và so sánh lực lượng một cách khoa học, đúng đắn. Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và nhất là Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12- 1965) đã phân tích sâu sắc toàn diện chiến lược mới của Mỹ và khẳng định: "Ngày nay, mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn"1 (Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tập 16, tr 633). Vì thế cách mạng và chiến tranh cách mạng phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công. Vì mục đích của Mỹ vẫn là chủ nghĩa thực dân kiểu mới, nên ta cần kiên trì kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, vận dụng thật tốt phương châm ba mũi giáp công. Các đánh giá, chủ trương và quyết định về chiến lược đã tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dần, biến thành ý chí sắt đá và lòng tin tưởng vững chắc. Nam, Bắc một lòng bước vào cuộc đọ sức gay go, quyết liệt với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan tham mưu chiến lược về quân sự của Đảng đã cụ thể hóa tư tưởng quân sự quyết tâm chiến lược của Đảng. Trong giai đoạn đánh bại "chiến tranh đặc biệt", Bộ Tổng tham mưu đã có những thành công rất lớn trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, phối hợp với toàn dân, chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang. Đây cũng là bước trưởng thành vượt bậc của cơ quan tham mưu chiến lược. Trước thử thách mới, với bản lĩnh và kinh nghiệm đã tích lũy được, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu có thêm niềm tin để bước vào cuộc đấu trí, đấu lực vô cùng căng thẳng và quyết liệt với bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Mỹ - ngụy. Cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, Bộ Tổng tham mưu đã nghiên cứu và đề đạt với Quân ủy Trung ương quyết tâm kiềm chế và đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở chiến trường miền Nam, đánh bại chiến tranh phá hoại của chúng ở miền Bắc. Đồng thời, ta đề phòng Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước. Từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 6 năm 1965, Mỹ đã đưa vào miền Nam 54.000 quân, trong đó có 9 tiểu đoàn chiến đấu của Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ và Lữ đoàn dù số 173. Lúc đầu chúng chỉ đóng chốt ở Đà Nẵng, Biên Hòa, làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, nhưng về sau do ta hoạt động mạnh, quân ngụy yếu, quân Mỹ đã trực tiếp tham chiến. Trên chiến trường, dựa vào thế trận của chiến tranh nhân dân được xây dựng từ trước, quân và dân miền Nam đã chủ động tiến công quân viễn chinh Mỹ, nổi bật là trận đầu đánh thắng quân Mỹ tại Núi Thành - Quảng Nam (5-1965). Bám sát thực tế chiến trường, Bộ Tổng tham mưu tổ chức nghiên cứu cách đánh Mỹ. Sau khi xem xét những điểm mạnh, yếu và thủ đoạn hoạt động của quân Mỹ, ngày 10 tháng 6 năm 1965, Bộ Tổng tham mưu đã hướng dẫn các chiến trường miền Nam về chủ trương, phương châm tác chiến và biện pháp đánh Mỹ. Bộ Tổng tham mưu xác định chủ trương của ta là "bắt địch phải luôn ở thế phòng ngự bị động, buộc chúng phải đánh theo chiến thuật của ta"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tập 3, tr. 262). Trên cơ sở có sự chuẩn bị chu đáo về tư tưởng, tổ chức, kỹ chiến thuật, ta phát huy triệt để cách đánh du kích ngày đêm bám sát địch, tiêu hao, tiêu diệt nhỏ ngày đêm quấy rối, phá hoại làm cho chúng luôn căng thẳng về tinh thần, tiêu hao về thể lực. Đồng thời ta chuẩn bị sẵn chiến trường, lực lượng, lừa địch ra xa căn cứ hoặc tranh thủ thời cơ chúng đi tăng viện hoặc càn quét để tổ chức những trận phục kích, tập kích đánh cận chiến tiêu diệt gọn từng bộ phận. Bộ Tổng tham mưu đã hướng dẫn từng biện pháp cụ thể để đánh Mỹ như tổ chức các đội bắn tỉa, tổ chức phân đội độc lập, thiện chiến phục kích bí mật, bất ngờ tiêu hao, tiêu diệt, triệt để phá hoại giao thông... Một số tổ đặc công, pháo binh kiên trì bám sát các căn cứ Mỹ, tổ chức đánh từng trận hoặc bất ngờ tập kích hỏa lực. Đây là tài liệu đầu tiên của Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo hướng dẫn các lực lượng vũ trang ta trong tác chiến với lục quân Mỹ trên chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 11:56:05 am Quán triệt chỉ đạo, hướng dẫn trên, học tập kinh nghiệm của Khu 5, quân dân miền Đông Nam Bộ đã xây dựng và phát triển vành đai diệt Mỹ như vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến (Long An) và Bình Đức (Mỹ Tho) bao vây kìm chân Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ; vành đai diệt Mỹ Bến Cát, Lái Thiêu (Bình Dương), Lai Khê, Công Xanh (Thủ Dầu Một) bao vây kìm chân Sư đoàn bộ binh "Anh cả đỏ" Mỹ... Nổi bật là vành đai diệt Mỹ Củ Chi do bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Củ Chi tổ chức và xây dựng quanh căn cứ quân sự Mỹờ Đồng Dù nằm ở phía Bắc, cách Sài Gòn 30km. Từ ngày 21 tháng 6 năm 1966, khi quân Mỹ đóng căn cứ ở Đồng Dù, nhân dân Củ Chi đã phát triển một hệ thống địa đạo dài hơn 200km dựa trên 17km có sẵn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, sâu 5 đến 10 mét cùng 500km đường hào lộ thiên, hình thành mạng đường giao thông ngầm trong vành đai trên địa bàn 40.000ha. Hệ thống hầm hào bảo đảm bí mật, an toàn khi ta cơ động lực lượng, ẩn nấp, nghỉ ngơi, có nguồn dự trữ để chiến đấu lâu dài. Vành đai diệt Mỹ còn tạo thời cơ và địa bàn cho các đơn vị chủ lực của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh địch ngay tại căn cứ xuất phát của chúng. Riêng năm 1966, vành đai diệt Mỹ Củ Chi đã diệt được 4.230 tên Mỹ. Tháng 2 năm 1966, Hội nghị Tổng kết chiến tranh du kích của Quân khu Sài Gòn- Gia Định đã rút ra và phổ biến rộng rãi: "10 bài học đánh Mỹ" của Củ Chi. Kinh nghiệm đánh Mỹ của Củ Chi nói riêng, quân dân miền Đông nói chung đã được Bộ Tổng tham mưu phổ biến cho các chiến trường khác, tạo nên phong trào đánh Mỹ ở khắp nơi. Tuy vẫn tiếp tục thực hiện các cuộc hành quân tìm diệt, nhưng từ tháng 3 năm 1966, Mỹ buộc phải để một phần quân cơ động giữ phía sau, không tập trung được hết lực lượng vào hướng chính.
Khi quân Mỹ bắt đầu đưa quân ra "tìm diệt" chủ lực ta, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các chiến trường phát huy lực lượng tại chỗ, kết hợp chủ lực cơ động để tiến công, phản công tiêu hao, tiêu diệt địch, bẻ gãy các cuộc phản công chiến lược của chúng. Đồng thời, lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục chống phá bình định. Theo phương hướng trên, Trung ương Cục chỉ thị: "Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh"1 (Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 102). Chấp hành chỉ thị, quân và dân miền Nam nói chung, miền Đông Nam Bộ nói riêng đã từng bước phát hiện chỗ yếu của Mỹ, tìm cách đánh được Mỹ trên từng chiến trường. Vào mùa khô 1965-1966, địch tung 72 vạn quân, có 18,4 vạn quân Mỹ, mở cuộc phản công lần thứ nhất với ý đồ "tìm diệt" và "bẻ gãy xương sống Việt Cộng" ở cả Nam Bộ và Trung Bộ, quân dân ta đã liên tục phản công và tiến công quân Mỹ, ngụy. Tại miền Đông Nam Bộ, các đợt tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực có vị trí rất quan trọng. Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1965, Bộ Tư lệnh Miền đã thành lập hai sư đoàn bộ binh số 9, số 5. Được sự giúp đỡ của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương, các sư đoàn chủ lực đã thực hiện nhiều trận đánh với hiệu suất chiến đấu cao, tiêu biểu như diệt 2 tiểu đoàn Mỹ ở Bàu Bàng, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Mỹ ở Bàu Ba Dốt, đánh quỵ Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 Mỹ tại Bông Trang - Nhà Đỏ... phá được thế chuẩn bị phản công của Mỹ vào vùng Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu. Ngược lại, hoạt động mạnh của bộ đội chủ lực có tác dụng thúc đẩy hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương kết hợp các đợt tập kích của bộ đội đặc công, biệt động. Phong trào đấu tranh vũ trang lớn mạnh tạo nên sự phát triển của phong trào đấu tranh chính trị. Ở Đông Nam Bộ, khi sư đoàn "Anh cả đỏ" ra lập căn cứ và đi càn quét, phụ nữ Củ Chi, Trảng Bàng đã tràn ra đồng ruộng cản xe bọc thép, không cho chúng cán lúa, bám vào càng trực thăng không cho chúng bắt thanh niên, ngăn chặn chúng đốt phá nhà. Ở Sài Gòn, các tầng lớp nhân dân lao động bằng nhiều hình thức phong phú, thường xuyên đấu tranh gây mất ổn định hậu phương của Mỹ - ngụy. Bị thất bại trong phản công chiến lược lần thứ nhất, Mỹ tiếp tục tăng quân vào miền Nam. Đến mùa khô 1966-1967, 98 vạn quân trong đó có 39 vạn quân Mỹ tiến hành cuộc phản công lần thứ 2, bằng biện pháp chiến lược "tìm diệt và bình định" tập trung vào hướng miền Đông Nam Bộ. Cụ thể là ưu tiên tập trung lực lượng tiến công vào căn cứ của ta ở Tây Ninh, Long An, Phước Tuy..., trọng điểm là Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và một bộ phận chủ lực ta, kết hợp mở rộng vành đai quanh Sài Gòn. Bộ Tổng tham mưu với kinh nghiệm sẵn có, đã báo cáo Quân uỷ Trung ương, Bộ Chính trị kế hoạch Đông Xuân 1966-1967, nêu rõ ý định tác chiến của ta là chủ động tấn công, tích cực phản công tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch. Trong đó kế hoạch nhấn mạnh đánh mạnh hậu cần, đường giao thông, làm chậm kế hoạch tăng quân và phá kế hoạch triển khai chiến lược của Mỹ, đồng thời mở rộng căn cứ địa ở rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 6, áp sát vào Sài Gòn, Đà Nẵng, tạo thế chiến lược có lợi cho ta. Trong khi chủ động tấn công, kế hoạch cũng yêu cầu ta chuẩn bị xây dựng kế hoạch phản công tiêu diệt địch trong trường hợp chúng chủ động mở hành quân tấn công đánh phá chuẩn bị của ta. Đúng như dự đoán, Mỹ lần lượt mở các cuộc hành quân A tơnbơrơ, Xêđaphôn, Gadsen đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, vùng tam giác sắt (Bầu Bàng - Bến Súc - Củ Chi). Bám sát diễn biến chiến trường miền Đông Nam Bộ, Bộ Tổng tham mưu đã có những chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể cho Bộ Tư lệnh Miền trong những chiến dịch, trận đánh phản công. Chỉ 6 ngày sau khi Mỹ mở cuộc hành quân Xêđaphôn, Bộ Tổng tham mưu đã phán đoán mục tiêu hành quân của Mỹ nhằm diệt chủ lực ta, làm giảm hoạt động du kích, phá kho tàng, diệt cơ quan đầu não, tìm hiểu những bí mật về tiếp tế của ta ở hướng biên giới Việt Nam - Campuchia, phá vành đai cách mạng bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn... Vì vậy Bộ Tổng tham mưu yêu cầu Bộ Tư lệnh Miền tập trung lãnh đạo, chỉ huy toàn quân, toàn dân trong vùng và toàn chiến trường miền Đông bẻ gây cho kỳ được cuộc hành quân này. Bộ Tổng tham mưu đã gợi ý những chủ trương và biện pháp tác chiến cụ thể, bao gồm phát động chiến tranh du kích, đánh tiêu hao rộng rãi, dùng một bộ phận chủ lực, bộ đội địa phương, du kích, phân tán đánh nhỏ. Bộ Chỉ huy nắm chắc khối chủ lực kiên quyết tập trung tiêu diệt một cánh quân yếu hoặc nơi địch sơ hở, có thể nhử Lữ đoàn 173 dù ra để tiêu diệt. Các đơn vị pháo, cối, đặc công, công binh đánh mạnh giao thông vận chuyển trên đường số 1, 13, 22; đưa một lực lượng thọc sâu phá áp chiến lược ở hướng Lái Thiêu, Phú Hòa Đông, đẩy mạnh hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Chiến trường phụ cận như Lộc Ninh, Bình Long nên đánh mạnh bằng pháo, cối để phối hợp1 (Điện số 61/B - Lưu hồ sơ 1967 - Cục Cơ yếu Bộ Tổng tham mưu). Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 11:57:52 am Ngay trước cuộc hành quân Gianxơn Xity, Bộ Tổng tham mưu đã phát hiện ra âm mưu của địch đánh phá vùng căn cứ của ta và kịp thời chỉ đạo chiến trường chuẩn bị đối phó. Địch đánh phá vào căn cứ ta, nên có nhiều sơ hở, tạo cơ hội cho ta diệt địch, và đây cũng là yêu cầu chính trị, yêu cầu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ cơ quan đầu não, bảo vệ dân. Từ đó, Bộ Tổng tham mưu chỉ ra cách đối phó cụ thể: địch dùng nhiều xe cơ giới, ta tổ chức nhiều đội công binh đánh mìn. Địch triển khai quân lớn thì ta đánh phá mạnh giao thông. Trong lúc đó, bộ đội chủ lực bám sát và cơ động đánh tiêu diệt vài cánh quân yếu của Mỹ để bẻ gãy cuộc càn. Các đơn vị đặc công đánh mạnh vào căn cứ xuất phát, hậu cứ hành quân của Mỹ2 (Điện số 175/B - Lưu hồ sơ 1967 - Cục Cơ yếu Bộ Tổng tham mưu).
Đúng như dự đoán, ngày 22 tháng 2 năm 1967, Mỹ mở cuộc hành quân Gianxơn Xity: huy động 45.000 quân thuộc 9 lữ đoàn Mỹ đánh Chiến khu Dương Minh Châu, trong đó nhằm chủ yếu vào hệ thống căn cứ của ta ở Bắc Tây Ninh. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, chỉ đạo chỉ huy của Bộ Tư lệnh miền, lực lượng tại chỗ của ta dựa vào thế trận có tổ chức, đánh địch rộng khắp. Sư đoàn 9 tiến công các cánh quân địch sơ hở ở phía sau và bên sườn, nổi bật như trận tập kích suối Ông Hùng và trận Đồng Pan. Sang giai đoạn 2, khi địch lật cánh đánh sang phía Đông, Bộ Chỉ huy ta chủ trương phát huy quả đấm chủ lực, đánh tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ. Bộ đội địa phương và du kích, tự vệ cơ quan được trang bị mạnh tổ chức các tổ săn cơ giới máy bay; thực hiện đánh nhỏ lẻ kết hợp đánh vừa, đánh lớn của bộ đội chủ lực. Đêm 20 tháng 3, một trung đoàn của Sư đoàn 9 tập kích căn cứ hỏa lực Mỹ ở Bầu Bàng, 2 trung đoàn khác tiến công cụm quân Mỹ ở Đồng Rùm, diệt 1 tiểu đoàn pháo binh, 3 chi đội xe thiết giáp. Ngày 30 tháng 3, hai trung đoàn của Sư đoàn 9 tập kích đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn và 2 đại đội Mỹ ở ấp Gù (Trảng Ba Vùng)... Chiến dịch phản công của quân dân miền Đông đã giành thắng lợi lớn, làm thất bại cuộc hành quân lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ, bảo vệ và giữ vững vùng căn cứ kháng chiến. Mùa khô 1966-1967, bộ đội chủ lực cùng với nhân dân và các lực lượng địa phương đánh bại ba cuộc hành quân lớn của địch vào miền Đông Nam Bộ. Lực lượng vũ trang địa phương trụ bám tại chỗ đánh trả địch càn quét, bình định, lấn chiếm vùng xung quanh Sài Gòn - Gia Định. Ngoài ra, du kích còn thọc sâu diệt ác ôn, tề điệp trong ấp chiến lược. Thắng lợi của quân dân hai miền Nam Bắc tạo ra tiền đề vững chắc để thực hiện mục tiêu chiến lược giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn được chỉ ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 12. Ngày 20 tháng 6 năm 1967, Quân ủy Trung ương đã yêu cầu "phải tiến công mạnh bằng cả quân sự và chính trị vào các thành phố, thị trấn, các trung tâm chính trị do quân ngụy chiếm đóng, làm rung chuyển dinh lũy cuối cùng của ngụy quân ngụy quyền, tạo thời cơ và điều kiện để thực hiện tổng công kích tổng khởi nghĩa"1 (Nghị quyết số 043/QH-H của Thường trực Quân ủy Trung ương, lưu tại Hồ sơ 524 - Phòng QUTƯ - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Trong kế hoạch này, Quân ủy Trung ương đã xác định Sài Gòn - Chợ Lớn và miền Đông Nám Bộ là một trong3chiến trường quyết định, là chiến trường hết sức quan trọng về chiến lược và chính trị. Ở đây, phương hướng của ta là: "Thực hiện bao vây chặt chẽ Sài Gòn - Chợ Lớn, đánh mạnh và làm tê liệt các đường giao thông chiến lược quan trọng chạy vào thành phố, buộc địch phải phân tán lực lượng vào phòng giữ các nơi hiểm yếu. Tấn công mạnh vào thành phố bằng cả lực lượng chính trị và quân sự. Dựa vào sức mạnh của ba triệu dân nội ngoại thành và lực lượng vũ trang ba thứ quân có hỏa lực tương đối mạnh, có 6 cách đánh rất cơ động, linh hoạt, kết hợp với đấu tranh chính trị, ta sẽ hãm địch vào thế bị động và rối loạn đến cùng cực. Cùng với thắng lợi của chiến trường khác, giành thắng lợi quyết định ở miền Nam2 (Nghị quyết số 043/QH-H của Thường trực Quân ủy Trung ương, lưu tại Hồ sơ 524 - Phòng QUTƯ - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Trên cơ sở quyết tâm của Trung ương Đảng, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu đã đề nghị cấp trên cho mở hướng tiến công chiến lược chủ yếu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy ở đô thị. Sau khi được Bộ Chính trị đồng ý, Bộ Tổng tham mưu đã phối hợp cùng chiến trường xây dựng kế hoạch một cách tỷ Mỹ, toàn diện và chỉ đạo chuẩn bị trên quy mô lớn theo những quy định chặt chẽ, nghiêm mật. Ngày 9 tháng 9 năm 1967, đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã báo cáo với Bộ Tổng tham mưu kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa của Trung ương Cục miền Nam. Trung ương Cục nhất trí với chủ trương của Trung ương Đảng và kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu. Kế hoạch của Trung ương Cục dự kiến tổ chức 3 chiến trường: Sài Gòn- Gia Định, rừng núi giáp ranh Sài Gòn, đồng bằng Khu 9 và một phần Khu 8; tổ chức 5 cánh quân bao vây, tấn công Sài Gòn, chiếm Chợ Lớn. Lực lượng dự kiến gồm 27 tiểu đoàn, 9 đội biệt động nội thành. Bộ đội chủ lực có 7 trung đoàn của các Sư đoàn 5, 7, 9... Ngày 12 tháng 9, Bộ Chính trị đã đồng ý với phương hướng kế hoạch này và xác định rõ Sài Gòn - Chợ Lớn là hướng chủ yếu của Nam Bộ và toàn miền Nam. Đến cuối tháng 9, Bộ Tổng tham mưu đã có dự thảo kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở miền Nam, trong đó chỉ rõ: Trung ương Cục trực tiếp chỉ huy công kích khởi nghĩa ở trọng điểm Sài Gòn và các đô thị khác như Phan Thiết, Mỹ Tho... Nam Bộ có 3 sư đoàn và 2 trung đoàn ở miền Đông, 2 trung đoàn của Khu 9, 6 tiểu đoàn của Khu 8 có nhiệm vụ diệt và làm tan rã sư đoàn 5, 7, 21 ngụy, tuyệt đại bộ phận bảo an dân vệ, giải phóng vùng nông thôn; tiêu diệt bộ phận quan trọng Sư 1 bộ binh Mỹ, cắt đường số 1, 4, 15, 13, 20, sông Lòng Tàu, kênh Chợ Gạo, đánh tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, các hậu cứ, kho tàng, tổng kho Long Bình, các mục tiêu chủ yếu trong Sài Gòn1 (Hồ sơ 2211, phông Cục Tác chiến, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 11:58:40 am Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Đến cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 1967, miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn đã có 3 sư đoàn (thiếu 2 trung đoàn), 3 trung đoàn độc lập, 7 tiểu đoàn đặc công, 18 tiểu đoàn bộ đội địa phương và 1,9 vạn du kích. Trong tổng số 61 tiểu đoàn, ta có 46 tiểu đoàn cơ động2 (Hồ sơ 2211, phông Cục Tác chiến, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Bộ Tổng Tham mưu đánh giá: chủ lực cơ động của ta ở miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn đã đạt tỷ lệ ta - địch là 1,8/1, các trung đoàn đã tác chiến được ở cấp mình và mới được bổ sung thêm lực lượng, pháo binh. Bộ đội đặc công bước đầu sử dụng tập trung, đánh đúng hướng. Tuy nhiên, tổ chức chỉ huy chưa được củng cố, thiếu quân bổ sung, bảo đảm đạn dược, gạo có khó khăn, chưa đủ, các cánh quân chưa được kiện toàn đủ mạnh, bàn đạp xung quanh Sài Gòn thường xuyên bị địch đánh phá. Vì vậy, Bộ Tổng tham mưu dự kiến tăng cường lực lượng, vật chất cho các chiến trường nói chung, Nam Bộ nói riêng. Theo đó, cho đến Xuân 1968, Nam Bộ sẽ nhận được 23.500 quân, 5.000 tấn hàng quân sự đủ bảo đảm hoạt động, có dự trữ 1 đến 2 năm.
Ngày 11 tháng 11 năm 1967, một lần nữa, Bộ Tổng tham mưu trao đổi với Bộ Tư lệnh Miền về kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn. Theo đó, trong đợt Tết, quân dân miền Đông Nam Bộ có nhiệm vụ chiếm giữ Sài Gòn trong một thời gian dài, khuếch trương thắng lợi, sẵn sàng đánh bại mọi phản ứng của Mỹ. Chuẩn bị cho Nam Bộ, Bộ Tổng tham mưu chủ trương đưa quân từ Tây Nguyên vào. Trong tổng công kích, tổng khởi nghĩa, các lực lượng vũ trang tấn công Sài Gòn chia làm 4 cánh, sử dụng các đơn vị chủ lực chiếm giữ các mục tiêu. Chín đội đặc công đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng trong nội đô như Dinh Độc lập, Nha Cảnh sát, Đài phát thanh, Bưu điện, Kho bạc. Bộ chỉ huy điều động những đơn vị tinh nhuệ nhất lùng bắt Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, các bộ trưởng ngụy, v.v... Để đảm bảo chỉ huy, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tổng tham mưu thống nhất phân công đồng chí Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh phụ trách Sài Gòn; đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Cầm chỉ huy hướng Chợ Lớn... đồng chí Phạm Thái Bường, Nguyễn Hữu Xuyến phụ trách Khu 9. Đúng kế hoạch, đêm giao thừa Tết Mậu Thân, quân dân Đông Nam Bộ đã đồng loạt nổ súng tiến công vào Sài Gòn, Biên Hòa, các tỉnh lỵ, huyện lỵ. Đặc biệt, tại Sài Gòn, lực lượng biệt động và các đơn vị mũi nhọn đã tiến công Tòa đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Dinh Độc lập, Đài phát thanh Sài Gòn. Các sư đoàn chủ lực áp sát Sài Gòn tiến công nhiều căn cứ, kiềm chế các sư đoàn Mỹ, ngụy, đánh bại các cuộc hành quân, càn quét của chúng quanh thành phố. Những thắng lợi to lớn và toàn diện ở Sài Gòn - Gia Định đã góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Sau đợt 1, dưới sự chỉ đạo hoạt động quân sự, chính trị của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Miền sau khi được tăng cường lực lượng, vật chất, đã động viên tới mức cao nhất nỗ lực quân sự, chính trị, tổ chức tiếp đợt 2 (5-1968), đợt 3 (8-1968) nhằm đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ. Cùng với chiến thắng liên tục trong 2 cuộc đánh bại phản công mùa khô của Mỹ, thắng lợi oanh liệt của ta trong Tết Mậu Thân đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ, giáng đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", buộc Mỹ phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, chuyển sang chiến lược "phi Mỹ hoá", chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari. Như vậy, trong cao trào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Miền, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, ác liệt, hy sinh để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ". Thực tiễn chiến tranh đã cho thấy, Bộ Tổng tham mưu đã luôn luôn bám sát thực tế chiến trường, tổ chức chi viện kịp thời sức người, sức của, phối hợp với Bộ Tư lệnh Miền lập ra và chỉ đạo thực hiện các kế hoạch quân sự, làm phá sản các âm mưu của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ và Bộ Tổng tham mưu ngụy Sài Gòn. Ở miền Đông Nam Bộ, chiến tranh nhân dân phát triển mà đỉnh cao là các vành đai diệt Mỹ, cùng với hoạt động tác chiến rất quan trọng của bộ đội chủ lực đã tạo nên thế làm chủ, thế chủ động tiến công cách mạng, buộc Mỹ - ngụy phải đánh theo cách của ta, góp phần không nhỏ cùng quân dân toàn miền Nam tiến lên đánh bại các chiến lược quân sự của Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bộ Tổng Tham mưu trong giai đoạn 1965-1968 đã trưởng thành qua thực tiễn chiến tranh thực sự là Bộ Tổng tham mưu của chiến tranh nhân dân với ba thứ quân chiến đấu trong quân binh chủng hợp thành. Bộ Tổng Tham mưu đã làm tròn chức năng tham mưu cho lãnh đạo, tổ chức chỉ huy các chiến trường. Bộ Tổng tham mưu không chỉ là cơ quan tham mưu quân sự của một quân đội mà là Bộ Tổng tham mưu của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Trong mỗi ý định xây dựng và tác chiến, mỗi kế hoạch chiến lược, chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu đều có chủ trương, kế hoạch phối hợp hoạt động của bộ đội chủ lực với vấn đề nổi dậy của quần chúng, đấu tranh vũ trang phối hợp với đấu tranh chính trị, binh vận; giữa 3 vùng chiến lược với vận dụng phương châm tác chiến ở mỗi vùng khác nhau. Ngày nay, hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo đó, đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ này là đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Bộ Tổng Tham mưu đã cụ thể hóa quan điểm quân sự của Đảng, vận dụng và phát huy sáng tạo những kinh nghiệm đã được tổng kết trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có bài học kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân ở chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ vào việc chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Bộ Tổng Tham mưu đã tăng cường chỉ đạo các lực lượng vũ trang ba thứ quần, tổ chức hợp lý các cơ quan quân sự của Quân khu, tĩnh, huyện; tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền điều hành công tác quân sự địa phương, trong đó có những vấn đề cụ thể như xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, bao gồm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng dự bị động viên, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành, v.v... Thế trận quốc phòng toàn dân cùng với thế trận an ninh nhân dân tạo nên nền tảng vững chắc, góp phần ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và các lợi ích quốc gia, dân tộc. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 12:04:12 pm NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH "VÀNH ĐAI DIỆT MỸ" Ở CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ NGUYỄN HỮU NGUYÊN Tiến sĩ, Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam kéo dài 21 năm (1954-1975), trong đó có 6 năm đầu (1954-1960) ta tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, còn quân địch thì dùng cảnh sát, mật vụ để đàn áp những người kháng chiến cũ. Cuộc chiến tranh chỉ thực sự rõ nét từ năm 1961 trở đi và đến thời kỳ Mỹ đưa quân chiến đấu vào miền Nam tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968), khái niệm "vành đai diệt Mỹ" mới ra đời. Về ngôn ngữ học thì điều này không có gì phải bàn vì chỉ khi có quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam thì mới có "vành đai diệt Mỹ", nhưng nhìn từ góc độ nghệ thuật quân sự thì ta cần nghiên cứu: phải chăng hình thức chiến đấu theo kiểu "vành đai" chỉ xuất hiện thời kỳ có quân Mỹ. Vậy trước đó hình thức này có hay không và sau đó còn được vận dụng nữa không. Và có phải quân Mỹ đóng căn cứ ở bất cứ nơi đâu ta cũng có thể hình thành được "vành đai diệt Mỹ". Những vấn đề này không chỉ nhằm nghiên cứu sâu hơn về "vành đai diệt Mỹ" dưới góc độ nghệ thuật quân sự mà còn nhằm tìm hiểu những vấn đề có tính lý luận của hình thức chiến đấu này để có thể vận dụng vào nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành ngày nay. 1. Quá trình hình thành và hoạt động của các "vành đai diệt Mỹ" ở chiến trường Nam Bộ Trước hết chúng ta cần xác định cách hiểu khái niệm "vành đai diệt Mỹ" và những yếu tố cơ bản cấu thành khái niệm đó. - Một là, phải được tổ chức theo ý định và được lãnh đạo bởi cấp ủy địa phương, có chỉ huy thống nhất. - Hai là, phải hình thành được thế bao vây căn cứ Mỹ - Ba là, phải có khả năng chiến đấu liên tục, lâu dài, đánh địch bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng tham gia, trong đó nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. - Bốn là, phải có khả năng tiêu hao và cầm chân lực lượng địch. Cách hiểu về "vành đai diệt Mỹ" nêu trên có thể được chứng minh bằng thực tế quá trình hình thành và hoạt động của các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ: Quân chiến đấu Mỹ chính thức triển khai lực lượng vào chiến trường miền Nam để tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" từ giữa năm 1965. Lực lượng Mỹ lúc cao nhất ở Nam Bộ gồm 4 sư đoàn và một số đơn vị độc lập cùng với một số cơ quan chỉ huy được bố trí như sau: - Bộ Tư lệnh MACV đóng ở Sài Gòn - Bộ Tư lệnh dã chiến II đóng ở Biên Hòa - Bộ Tư lệnh Hậu cần ở Long Bình - Bộ Tư lệnh Không đoàn 2 ở Tân Sơn Nhất - Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" gồm 4 lữ đoàn đóng ở Dĩ An - Biên Hòa, Lai Khê. - Sư đoàn 101 đóng ở Phước Vĩnh (Bình Dương), Phước Long - Sư đoàn 25 "tia chớp nhiệt đới" đóng ở Đồng Dù (Củ Chi), Trảng Lớn (Tây Ninh). - Sư đoàn 9 đóng ở Rạch kiến, Tân An, Bến Lức (Long An), Bình Đức (Mỹ Tho). - Lữ đoàn 173 đóng ở Nhà Bè - Trung đoàn 11 thiết giáp đóng ở Long Khánh - Trung đoàn Úc đóng ở Núi Đất (Bà Rịa) - Sư đoàn quân Thái Lan đóng ở Long Thành. Như vậy nếu tính những điểm đóng quân quy mô 1 lữ đoàn trở lên ở thời điểm quân Mỹ đông nhất ở Nam Bộ (1968) thì có khoảng gần 20 điểm, nếu tính cả những căn cứ cấp tiểu đoàn thì số lượng này cao hơn. Ở tất cả những điểm trên, quân và dân ta đều đánh Mỹ bằng nhiều lực lượng, nhiều cách đánh, nhưng được gọi là "vành đai diệt Mỹ" theo đúng nghĩa thì chỉ có những nơi điển hình như Củ Chi, Trảng Lớn, Rạch Kiến, Bình Đức, trong đó các vành đai ở Củ Chi và Trảng Lớn hình thành trước, ở Rạch Kiến và Bình Đức hình thành sau. Điều đó nói lên rằng sự hình thành "vành đai diệt Mỹ" không phải mang tính đồng loạt và đều khắp. Khi Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" và triển khai quân ồ ạt vào miền Nam từ nửa cuối năm 1965, vào thời điểm đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã biểu lộ quyết tâm đánh Mỹ rất cao, nhưng về cách đánh Mỹ thì chưa xác đánh được rõ ràng nên có khẩu hiệu "cứ đánh Mỹ rồi sẽ tìm ra cách đánh". Điều đó nói lên rằng, "vành đai diệt Mỹ" không phải là một cách đánh đã được chuẩn bị sẵn về lý luận trước khi quân Mỹ vào. Từ những trận đánh đầu tiên với quân Mỹ trên khắp các khu vực địa hình của chiến trường Nam Bộ, quân và dân ta đã phát hiện những thế mạnh và điểm yếu của quân Mỹ: Thế mạnh nhất của chúng là hỏa lực các cỡ rất nhiều và rất mạnh, trình độ phối hợp chiến đấu và khả năng cơ động rất cao, phương tiện chiến tranh rất hiện đại, quân số rất đông Điểm yếu của quân Mỹ là rất ỷ lại vào hỏa lực, từng người lính thực hiện chiến thuật rất máy móc, rất sợ các loại cạm bẫy bằng vũ khí thô sơ và không quen đối phó với cách đánh của du kích, khi gặp khó khăn chết chóc thì hoảng hốt, giảm sút tinh thần rất nhanh và chưa quen địa hình, khí hậu. Qua thực tế chiến đấu với quân Mỹ thời kỳ đầu, quân dân ta đã tìm ra cách đánh có hiệu quả và hạn chế được sức mạnh hỏa lực của Mỹ là: đánh gần để hạn chế Mỹ sử dụng phi pháo, đánh nhỏ rút nhanh để Mỹ không kịp dùng hỏa lực, tăng cường đánh bằng các hình thức cạm bẫy với vũ khí thô sơ tự tạo như hầm chông, bãi chông, bãi mìn, gài lựu đạn... Bằng cách này ta vừa tiêu hao được sinh lực, vừa đánh mạnh vào tinh thần chiến đấu của lính Mỹ và có thể hạn chế được Mỹ sử dụng bom pháo, giữ được những khu vực địa hình. Đó là những cơ sở kinh nghiệm thực tiễn đầu tiên để hình thành "vành đai diệt Mỹ" Khi quân Mỹ đóng căn cứ lớn, chúng thường phải sử dụng những đơn vị nhỏ đi tuần tra, càn quét xung quanh căn cứ để bảo đảm an toàn. Lực lượng này thường lùng sục vào các xóm làng, các lùm cây, bìa rừng để phát hiện dấu vết của đối phương. Những đơn vị nhỏ ấy thường bộc lộ những sơ hở và thường bị du kích, bộ đội địa phương vận dụng cách đánh nhỏ lẻ để tiêu hao sinh lực Mỹ. Sau một số trận đánh nhỏ và nhiều lần bị vướng cạm bẫy của du kích, quân Mỹ không dám lùng sục quá xa căn cứ. Từ đó du kích và bộ đội địa phương có thể tiếp cận gần các căn cứ đến mức có thể bắn tỉa quân lính bên trong hay khi chúng vừa ra khỏi căn cứ. Khi các hoạt động du kích của ta ở xung quanh căn cứ Mỹ phát triển mạnh và hình thành trên nhiều hướng thì đòi hỏi phải có chỉ huy thống nhất để bố trí lực lượng cho phù hợp với khả năng của từng lực lượng và phối hợp hành động nhằm nâng cao hiệu quả chiến đấu. Đó là quá trình hình thành cách đánh xung quanh căn cứ Mỹ từ cuối 1965 đầu 1966 như ở Củ Chi, Trảng Lớn. Cách đánh này được tổng kết thành kinh nghiệm và gọi là "vành đai diệt Mỹ". Những kinh nghiệm ấy được phổ biến rộng rãi cho các địa phương để vận dụng. Ở phía Nam Long An và Mỹ Tho, đầu năm 1967, quân Mỹ mới đóng căn cứ ở Rạch Kiến và Bình Đức. Ngay sau khi chúng xây dựng xong căn cứ thì ta cũng tổ chức xong về chỉ đạo chỉ huy và bố trí thế trận, lực lượng để hình thành "vành đai diệt Mỹ" trên cơ sở những kinh nghiệm của các vành đai đã hình thành trước. Ở Rạch Kiến và Bình Đức, căn cứ của Mỹ bị bao vây trên tất cả các hướng. Chúng bị tấn công bằng nhiều lực lượng, nhiều cách đánh, chúng bị đánh cả ban đêm và ban ngày. Thành phần lực lượng ở hai vành đai này có cả bộ đội của khu, của tỉnh, bộ đội địa phương huyện, du kích các xã trong vành đai, du kích lộ và du kích mật của các ấp sát căn cứ và có sự tham gia rộng rãi của nhân dân trong việc xây dựng làng xã chiến đấu, đào hầm chông, làm bãi chông, gài lựu đạn đến việc nuôi ong vò vẽ, nuôi rắn độc để đánh Mỹ và tham gia đấu tranh chính trị trực diện với địch. Các vành đai này đều có tổ chức ban chỉ huy thống nhất, trong đó có đầy đủ các thành viên phụ trách các mặt như quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận, công tác dân vận và hậu cần. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 12:06:25 pm 2. Những điều kiện để hình thành và hoạt động của "vành đai diệt Mỹ" ở Nam Bộ
Tìm hiểu về tổ chức, bố trí lực lượng và hoạt động của bốn vành đai diệt Mỹ điển hình ở Nam Bộ (Củ Chi, Trảng Lớn, Rạch Kiến, Bình Đức) ta có thể khái quát những điều kiện cơ bản để hình thành và hoạt động của các "vành đai diệt Mỹ" ở Nam Bộ như sau: - Trước hết phải có điều kiện địa hình che khuất hoăc che đỡ để lực lượng ta có thể tiếp cận địch và cơ động tránh né hỏa lực sau những trận đánh. Nếu điều kiện địa hình tốt như ở Rạch kiến và Bình Đức ta có thể đánh cả ban ngày đối với quân địch đi càn hoặc bắn phá căn cứ của chúng, đồng thời có thể hình thành thế bao vây từ nhiều hướng. Nếu địa hình trống trải như ở Trảng Lớn, Củ Chi thì ta phải hoạt động ban đêm là chính và có thể chỉ hình thành được thế trận bao vây từng hướng. - Điều kiện thứ hai là căn cứ của Mỹ phải đóng ở địa điểm tương đối cô lập hoặc khá sâu trong vùng giải phóng. Cụ thể như Đồng Dù nằm trong vùng tranh chấp, nơi ta có du kích rất mạnh và rất gần các vùng căn cứ phía Bắc Sài Gòn, Trảng Lớn nằm khá sâu vào vùng căn cứ Bắc Tây Ninh. Rạch Kiến nằm lọt vào giữa 12 xã giải phóng của Cần Đước và Cần Giuộc. Bình Đức nằm trong vùng giải phóng 20-7 nổi tiếng của Mỹ Tho. Trong khi đó, những căn cứ khác của Mỹ đóng ở Biên Hòa, Long Bình, Sài Gòn... thì lực lượng ta không có điều kiện tiếp cận và hình thành thế bao vây. - Điều kiện thứ ba là ta phải có lực lượng vũ trang địa phương đủ mạnh để làm nòng cốt của vành đai đồng thời hỗ trợ, hướng dẫn nhân dân tham gia đánh Mỹ. Ở những nơi thưa dân như Củ Chi, Trảng Lớn, lực lượng chiến đấu ở vành đai chủ yếu là bộ đội địa phương, dân quân du kích, ở những nơi đông dân như Rạch Kiến, Bình Đức, lực lượng vũ trang địa phương vẫn là nòng cốt, nhưng có sự tham gia khá rộng rãi của nhân dân. - Điều kiện thứ tư là phải có tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy thống nhất và phải có phương châm, phương thức tác chiến phù hợp. Ở những nơi thiếu một trong những điều kiện nêu trên thì không hình thành được vành đai diệt Mỹ hoặc các hoạt động quân sự của ta kém hiệu quả. Từ sau cuộc "tổng công kích - tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân năm 1968, hầu như không còn các "vành đai diệt Mỹ" hoặc còn nhưng hoạt động kém hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ hai phía: thứ nhất là Mỹ xuống thang chiến tranh, rút quân, giao lại các căn cứ cho quân đội Sài Gòn nên không còn khái niệm "vành đai diệt Mỹ" nữa. Thứ hai là sau các cuộc tấn công vào đô thị, lực lượng ta bị tiêu hao nhiều, nhất là bộ đội địa phương và dân quân du kích còn quá ít không đủ sức chiến đấu duy trì các vành đai (bộ đội chủ lực phải làm thay nhiệm vụ du kích). Bên cạnh đó là sự phản kích rất mạnh của địch đã thu hẹp đáng kể các vùng giải phóng, nên ta không còn thế bố trí lực lượng. Tóm lại, từ năm 1968 ta không còn đủ các điều kiện như đã nêu trên, nên không còn hình thức tổ chức vành đai (thiếu lực lượng, thiếu dịa hình, thiếu tổ chức vì chậm chuyển hướng về nông thôn). 3. Từ "vành đai diệt Mỹ" đến khu vực phòng thủ tỉnh, thành những kinh nghiệm có thể vận dụng Chúng ta đều biết, "vành đai diệt Mỹ" là một hình thức chiến đấu của chiến tranh nhân dân giải phóng, còn khu vực phòng thủ tỉnh, thành là một đơn vị chiến lược có tính toàn diện trong nền quốc phòng toàn dân và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu có chiến tranh xâm lược cục bộ xảy ra. Đó là hai hình thức tổ chức chiến đấu trong hai điều kiện và hai loại hình chiến tranh khác nhau, nên việc vận dụng kinh nghiệm không thể là sự sao chép hay sự áp dụng cụ thể mà là những vấn đề có tính lý luận và định hướng. Trong chỉ thị về xây dựng khu vực phòng thủ có nêu: các tỉnh, thành phải xây dựng vững mạnh toàn diện cả về chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự. Về quân sự, nhiệm vụ của các địa phương được xác định rất nhiều nội dung phong phú và toàn diện, trong đó có một nhiệm vụ rất gần gũi với hình thức chiến đấu ở vành đai, đó là: Khi địch đến phải liên tục tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, Nếu địch yếu thì tiêu diệt và đánh bật chúng ra khỏi địa phương. Nếu địch mạnh thì kìm chân, liên tục tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, thu hẹp phạm vi của chúng, buộc chúng phải chuyển sang phòng ngự... Trong chiến tranh xâm lược cục bộ nếu xảy ra sẽ không tránh khỏi tình trạng quân địch tạm chiếm được một khu vực nào đó và địa phương đó muốn thực hiện được nhiệm vụ "thu hẹp phạm vi của chúng" thì buộc phải hình thành thế bao vây địch trên nhiều hướng bằng lực lượng tại chỗ như hình thành "vành đai diệt Mỹ" trước đây, nhưng thời gian tổ chức và hình thành thế trận đòi hỏi phải thật nhanh, không cho địch có thời gian mở rộng phạm vi kiểm soát. Khi đã hình thành được thế bao vây theo kiểu vành đai thì phải có lực lượng tấn công mạnh và liên tục bằng nhiều hình thức tác chiến, nhiều loại vũ khí từ thô sơ, tự tạo đến hiện đại và phải ngày càng siết chặt vòng vây, thu hẹp chu vi vành đai. Như vậy, việc vận dụng kinh nghiệm của vành đai diệt Mỹ vào xây dựng khu vực phòng thủ chính là trong kế hoạch tác chiến của địa phương phải có dự kiến những khu vực địch có thể chiếm đóng tương đối lâu dài, trên cơ sở đó xác định những hướng ta có thể bố trí lực lượng hình thành thế bao vây và ngăn chặn, đồng thời xác định phương châm, phương thức tác chiến cho từng hướng từng đơn vị. Những vấn đề trên nếu được xây dựng, tính toán ngay từ thời bình thì khi chiến tranh xảy ra và rơi vào trường hợp đó thì địa phương có thể hình thành thế bao vây ngay khi quân địch vừa đóng quân. Tóm lại "Vành đai diệt Mỹ" là một trong những kinh nghiệm quý trong kho tàng kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ mà ta cần khai thác cả về mặt lý luận và thực tiễn để phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng trước mắt và lâu dài của đất nước. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 12:08:00 pm VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở NAM BỘ- MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH HỆ THỐNG VÀNH ĐAI DIỆT MỸ TRÊN TOÀN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM HỒ SƠN ĐÀI Thượng tá, tiến sĩ, Phòng Khoa học, Công nghệ-Môi trường Quân khu 7 Thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", trực tiếp đưa quân chiến đấu Mỹ trên quy mô lớn vào miền Nam Việt Nam, ồ ạt tổ chức phản công, kết hợp với đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc, hòng từng bước giành lại quyền chủ động, giành thắng lợi quyết định về chiến lược. Thực hiện Nghị quyết 11, Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) và chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã nhanh chóng xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành nên một hệ thống vành đai diệt Mỹ trong thế trận chiến tranh nhân dân trên khắp chiến trường miền Nam. Vành đai diệt Mỹ là "hệ thống các ấp xã chiến đấu liên hoàn bao quanh áp sát các căn cứ quân sự Mỹ nhằm vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt địch. Ngoài các trận địa nổi (công sự kết hợp vật cản), có nơi còn có hệ thống trận địa ngầm trong lòng đất. Tùy tình hình, vành đai diệt Mỹ được tổ chức thành nhiều tầng, nhiều lớp. Dựa vào vành đai diệt Mỹ, quân và dân trong vành đai kiên cường bám trụ, thường xuyên đánh địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, bắn tỉa, phục kích, tập kích". Vành đai diệt Mỹ xuất hiện ở Đà Nẵng (4-1965), tiếp đến Chu Lai, An Khê, Pleiku, rồi nhiều điểm khác ở miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ. Tại Nam Bộ, ngay từ đầu năm 1966, Mỹ đã đưa hàng loạt các đơn vị chiến đấu sừng sỏ bao gồm lục quân (bộ binh, bộ binh cơ giới, kỵ binh không vận, thiết giáp, pháo binh); hải quân (hạm đội, giang hạm, thủy quân lục chiến) và không quân (chiến đấu, vận tải, trực thăng đổ quân). Ngoài thủ phủ Sài Gòn và những căn cứ hậu cần khổng lồ ở Long Bình, dọc sông Sài Gòn - Nhà Bè, Mỹ chiếm đất xây dựng các hậu cứ, căn cứ chỉ huy và nơi đứng chân xuất phát hành quân của các đơn vị chiến đấu. Tại đây, chúng điên cuồng tổ chức các cuộc phản công chiến lược hòng "tìm diệt" quân chủ lực của ta, "xé nát" các căn cứ địa kháng chiến, làm tê liệt bộ não chiến tranh cách mạng, giải tỏa áp lực và mở rộng vành đai an toàn xung quanh Sài Gòn. Quân và dân Nam Bộ, trong phong trào thực hiện phương châm "bám thắt lưng Mỹ mà đánh", đánh địch ngay tại căn cứ của chúng, đã làm xuất hiện các vành đai diệt Mỹ - một hình thức đánh địch mới trong cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương. Khắp Nam Bộ, từ Dĩ An đến Lai Khê, Phước Vĩnh, Đức Huệ... nơi nào có căn cứ quân Mỹ thì nơi đó có vành đai diệt Mỹ ra đời. Trong đó tiêu biểu nhất là các vành đai diệt Mỹ Củ Chi (Gia Định), Trảng Lớn (Tây Ninh), Rạch Kiến (Long An) và Bình Đức (Mỹ Tho). Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn: Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn hình thành sau ngày lữ đoàn 196 Mỹ đổ xuống lập căn cứ ở khu vực Trảng Lớn (10- 1965) nhằm tạo bàn đạp đánh phá căn cứ địa Bắc Tây Ninh, bao vây phong tỏa kinh tế, ngăn chặn hành lang giao thông vận tải của ta. Vành đai được thiết lập thành 4 cụm thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh (cụm 1: các xã Thanh Điền, Thái Bình A; cụm 2: các xã Trí Bình, Hảo Đước; cụm 3: các xã Ninh Điền, Hòa Hội; cụm 4: các xã Thái Bình B, Phước Vĩnh). Quân và dân trong vành đai đã lập các hàng rào chiến đấu liên hoàn, tổ chức bãi chông, bãi trái thành những vùng tử địa. Tất cả đặt dưới sự chỉ huy của một ban chỉ huy thống nhất. Hàng loạt trận đánh Mỹ có hiệu suất cao diễn ra ở vành đai như các trận Bàu Rào - Bàu Đưng, Sa Nghe - suối Ông Đình, Bắc Rù - Gò Nổi. Tính đến năm 1972, quân và dân ở vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn đã đánh 3.825 trận, diệt hàng ngàn tên Mỹ riêng ở cụm 1 diệt 1.173 tên. Vành đai diệt Mỹ Củ Chi: Vành đai diệt Mỹ Củ Chi hình thành sau khi quân Mỹ đổ quân đóng căn cứ tại Đồng Dù (24-1-1966) do bộ đội địa phương và dân quân du kích Củ Chi tổ chức xây dựng quanh căn cứ quân sự của Mỹ, trên phần đất các xã Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông... Nằm cách thành phố Sài Gòn 30km đường chim bay về phía bắc, vành đai diệt Mỹ Củ Chi có địa đạo dài 200km cùng 500km đường hào lộ thiên, hình thành mạng đường giao thông ngầm trên địa bàn rộng 40.000 ha, bảo đảm bí mật an toàn khi cơ động lực lượng, ẩn nấp, nghỉ ngơi, có nguồn dự trữ hậu cần - kỹ thuật. Ngay sau khi quân Mỹ thiết lập căn cứ Đồng Dù, chỉ trong 14 ngày chiến đấu đầu tiên, du kích địa phương đã chiến đấu loại 963 tên Mỹ, bắn hỏng 6 máy bay. Trong năm 1966, quân Mỹ bị diệt ở vành đai diệt Mỹ Củ Chi lên tới 4.230 tên. Vành đai diệt Mỹ Củ Chi đã tạo địa bàn và thời cơ để các đơn vị bộ đội chủ lực Quân giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang địa phương đánh tiêu hao tiêu diệt và kìm chân địch ngay tại căn cứ xuất phát của chúng. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Bảy, 2026, 12:09:02 pm Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến:
Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến hình thành sau ngày quân Mỹ đổ xuống khu vực Rạch Kiến ngày 20-12-1966 bao gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội công binh,1 đại đội trinh sát, 1 đại đội trực thăng và 1 chi đoàn thiết giáp. Phạm vi vành đai bao gồm khu vực 10 xã thuộc huyện Cần Đước (Long Hòa, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Mỹ Lệ, Long Cang, Long Định, Phước Tuy) và 2 xã thuộc huyện Cần Giuộc (Thuận Thành, Phước Lâm). Vành đai được tổ chức thành 3 tuyến; bộ đội tỉnh, bộ đội huyện và dân quân du kích các xã phân công tổ chức xây dựng công sự trận địa, rào đường, làm hầm chông, gài mìn, ong vò vẽ... Quân và dân khu vực vành đai đã đánh địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, tiêu diệt tiêu hao nhiều lực lượng và phương tiện chiến tranh của Mỹ ngụy, ngăn chặn hành động đánh phá của chúng trên vùng phía Nam Sài Gòn. Vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức: Vành đai diệt Mỹ Bình Đức hình thành ngay sau khi quân Mỹ đổ quân xuống căn cứ Đồng Tâm (Châu Thành, Mỹ Tho) tháng 1 năm 1966, bao gồm lữ đoàn 2 và lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 9. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Mỹ Tho, mặt trận vành đai Bình Đức được thành lập với nhiều lực lượng: nhân dân và du kích địa phương, bộ đội tỉnh, 1 tiểu đoàn pháo binh của Khu 8. Đơn vị pháo binh chia thành từng cụm nhỏ, bố trí bí mật trong các xóm ấp của vành đai để tập kích vào các mục tiêu trong căn cứ địch. Du kích và nhân dân địa phương từ cụ già đến trẻ em đều hăng hái tìm mọi cách để đánh được Mỹ, phấn đấu đạt danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ". Nhân dân còn tổ chức nhiều cuộc đấu tranh biểu tình, vận động binh sĩ Mỹ phản chiến, chống lệnh hành quân càn quét của cấp trên. Tháng 9 năm 1969, quân Mỹ buộc phải rút khỏi Đồng Tâm. Trong thời gian chưa đầy 3 năm, quân và dân vành đai Bình Đức đã loại khỏi vờng chiến đấu hàngnghìn lính Mỹ, hơn 2.500 lính ngụy, bắn cháy hơn 200 máy bay, đốt cháy gần 3 triệu lít xăng, bắn chìm gần 200 tàu thuyền các loại, phá hủy 3 triệu viên đạn pháo, hơn 50 đồn bót, 2 lữ đoàn của sư đoàn 9 Mỹ buộc phải 3 lần thay quân. Gán 300 cán bộ, chiến sĩ, nông dân được phong táng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", trong đó có hàng chục người được phong tới 4 lần. Cùng có chung những đặc điểm về tổ chức xây dựng, nội dung hình thức hoạt động của hệ thống các vành đai diệt Mỹ trên toàn chiến trường miền Nam, các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ có một số nét nổi bật: - Quân Mỹ lập căn cứ ở đâu thì ngay lập tức, quân và dân ta tổ chức vành đai diệt Mỹ ngay tại đó nhằm cô lập, bao vây bằng thế trận chiến tranh nhân dân để đánh Mỹ ngay tại căn cứ của chúng. - Vành đai diệt Mỹ là một loại chiến trường đặc biệt, ở đó bất cứ người dân nào không phân biệt già trẻ gái trai, bộ đội, du kích hay nông dân, thợ thủ công, tiểu thương tiểu chủ đều có thể đánh Mỹ và trở thành dũng sĩ diệt Mỹ. - Vành đai diệt Mỹ là một mặt trận thu nhỏ của cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược, trong đó nội dung đánh Mỹ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, binh vận, kinh tế, văn hóa. Quân và dân trong khu vực vành đai vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, tạo thế tạo lực, bảo đảm nguồn cung cấp hậu cần tại chỗ. - Hoạt động đánh Mỹ trong khu vực vành đai đã sáng tạo ra vô vàn cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân, phát huy tối đa ưu thế sẵn có của khu vực vành đai, phát triển nghệ thuật đánh giặc của cha ông trong điều kiện lịch sử cụ thể một cách nhuần nhuyễn và có hiệu quả cao. Vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ tồn tại cho đến khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi căn cứ đứng chân và rút hết về nước. Hoạt động xây dựng và chiến đấu trong vành đai diệt Mỹ đã để lại những bài học lịch sử hết sức quan trọng không chỉ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà cho cả công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay và trong tương lai. Đó là: Trước hết, phải luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, khi có họa ngoại xâm, cần xác định ngay quyết tâm đánh địch và đánh thắng địch ngay từ đầu. Thứ hai, không ngừng chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế tạo nên thế bố trí phòng thủ chiến lược vững chắc, sẵn sàng hình thành thế bao vây cô lập và tiến công địch ngay từ đầu khi chúng xâm lược nước ta. Thứ ba, không ngừng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân đủ sức đánh bại mọi kẻ thù, đồng thời chăm lo giáo dục quốc phòng cho toàn dân, tạo nên sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa nhân dân địa phương với các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn trong tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Thứ tư, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu học tập truyền thống nghệ thuật quân sự của cha ông, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới nhằm tạo ra khả năng tác chiến đánh địch sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với năng lực, đặc điểm của quân và dân ta và đặc điểm từng loại kẻ thù. Vành đai diệt Mỹ là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hoạt động của quân và dân ta trong hệ thống các vành đai diệt Mỹ trên toàn chiến trường miền Nam nói chung, chiến trường Nam Bộ nói riêng đã góp phần đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô và các chiến dịch bình định của Mỹ - ngụy, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari rút hết quân về nưức. Với ý nghĩa ấy, vành đai diệt Mỹ đã tạo ra một sắc thái riêng, góp phần làm phong phú thêm đường lối chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự của Đảng ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và rút ra những kinh nghiệm quý giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 06:58:54 pm VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ, CỰC NAM TRUNG BỘ NGUYỄN PHI CƠ Thạc sĩ, Phó chủ nhiệm Khoa Quân sự địa phương - Học viện quốc phòng Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã diễn ra trong những điều kiện cụ thể mang những đặc tính khác biệt nhiều cuộc đấu tranh cách mạng trên thế giới; với những phát triển mới rất độc đáo và sáng tạo so với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đặc biệt là hệ thống "vành đai diệt Mỹ" ở chiến trường miền Nam nói chung và Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ nói riêng. Từ cuối năm 1961 đến đầu năm 1965, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang của quân và dân miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ có bước phát triển mới. Ngụy quyền Sài Gòn từ Trung ương đến địa phương tiếp tục khủng hoảng, nội bộ chúng tự cấu xé lẫn nhau, các cuộc đảo chính liên tiếp nổ ra. Trong lúc đó kế hoạch Stalây - Taylo bị phá sản, vùng giải phóng của ta ngày càng mở rộng, ngụy quân, ngụy quyền trên đà suy sụp. Chương trình bình định miền Nam trong vòng 18 tháng không thực hiện được. Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang triển khai kế hoạch Mắc Namara, nhằm "bình định" miền Nam trong vòng 2 năm. Thực hiện kế hoạch Mắc Namara, từ đầu năm 1963 đến giữa năm 1964, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét với quỵ mô tập trung lớn, liên tục đánh phá các chiến khu như: Chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Long Nguyên, Bời Lời, nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực và các lực lượng vũ trang, phá thế chiến tranh du kích của ta ở rừng núi, đồng bằng và đô thị. Phối hợp với toàn chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Ninh đã tích cực hoạt động khắp các vùng như: Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, với nhiều trận đánh tiêu biểu; trong đó nổi bật là trận đánh phối hợp giữa du kích và bộ đội địa phương, diệt gọn trung đội địch ở Bàu Nâu (ngày 1-7-1963), thu toàn bộ vũ khí, một số lính ở các đồn Tân Hưng, Bầu Cỏ phải bỏ chạy. Phong trào diệt ác, phá kìm đã phát triển rộng rãi tạo đà cho lực lượng ba thứ quân phát triển đến từng xã ấp, tạo thế cài răng lược trong sào huyệt địch, buộc chúng phải căng kéo lực lượng khắp nơi. Để đối phó với chiến tranh nhân dân của ta trên khắp chiến trường, địch đã tung lực lượng càn quét cả vùng rừng núi và ven đô, vùng ta mới mở, để gom dân, lập ấp chiến lược. Trong lúc đó, lực lượng du kích và bộ đội ta còn quá mỏng, thế trận ấp chiến đấu chưa thiết lập; so sánh tương quan lực lượng ta 1 địch 5. Các cấp ủy Đảng và đồng bào đều Tất trăn trở trước câu hỏi "làm thế nào để đánh Mỹ?" và "đánh Mỹ như thế nào". Phải trải qua một thời gian trực tiếp cọ sát với chiến trường, đọ sức với Mỹ bằng mọi vũ khí có được trong tay: từ súng trường, lựu đạn cho đến hầm chông, cạm bẫy đã làm cho quân Mỹ từ chỗ hung hăng đi đến bị động đối phó. Mùa khô 1965 - 1966, địch triển khai cả hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định". Ngày 5-2-1966, Giôn xơn chủ trương đưa gọng kìm "bình định" lên ngang tầm với gọng kìm "tìm diệt". Với sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - kỹ thuật, quân Mỹ ồ ạt đổ quân xuống địa bàn Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Chúng tập trung đánh phá ác liệt vào các căn cứ của ta ở Củ Chi từ ngày 8 đến 24-1-1966, trung bình mỗi ngày Mỹ ném xuống 6 xã trong huyện và vùng huyện Bến Cát với diện tích 70 kilômét vuông phải chịu 4.500 quả bom và đạn pháo lớn. Nhằm đối phó với lực lượng quân Mỹ trên chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ thị cho các địa phương: "Tập trung mọi lực lượng, mọi cố gắng để tiến công địch về mọi mặt trên khắp chiến trường, làm cho địch không ổn,định, mâu thuẫn nội bộ ngày càng tăng, ra sức phát triển thực lực cách mạng (Đảng, Đoàn, quần chúng và lực lượng vũ trang) khắp các vùng. Đặc biệt, chú ý phát triển lực lượng ở thành phố, thị trấn, vùng chưa có cơ sở". Ở khắp các địa phương, các vùng căn cứ, các vành đai, du kích các xã, ấp được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy các cấp, đã tích cực đào hào, địa đạo, đặt hầm chông, mìn, cạm bẫy và tổ chức các đường dây liên lạc giữa các địa phương, nối thông liên lạc giữa các ấp, xã được thường xuyên. Đồng thời, tổ chức nhiều cơ sở mật trong dân để nắm tình hình, nhờ đó, dân cung cấp tin tức được kịp thời, nhiều địa phương đã hoạt động đánh địch có hiệu quả, đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận hoặc đấu tranh trực diện với địch có hiệu quả, xuất hiện nhiều hình thức phản chiến trong binh lính Mỹ như: 1 đơn vị Mỹ ở Lai Khê (Bình Dương) chống lệnh hành quân bị giam 30 binh sĩ (9-5- 1966), lính phản chiến bắn chết 7 tên ngoan cố (24-5-1966), một tiểu đoàn Mỹ chống lệnh không đi hành quân ở Tây Ninh... Mùa khô 1966-1967, tại chiến trường Đông Nam Bộ, lực lượng quân Mỹ đã tăng lên 3 sư đoàn, với 4 lữ đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, tất cả là 11 lữ, gồm 33 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn thiết giáp Mỹ cùng với 1 lữ đoàn quân Hoàng gia Úc (gồm 2 tiểu đoàn), 3 sư đoàn quân ngụy (có 45 tiểu đoàn). Dựa vào sức mạnh quân sự, Mỹ đã tăng cường đánh phá bằng không quân (có cả B52), pháo binh xuống các vùng căn cứ địa cách mạng của ta ở Dương Minh Châu, Bời Lời, Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành. Các cuộc hành quân của Mỹ ngoài việc tìm diệt quân chủ lực Miền và Trung ương Cục miền Nam, còn có ý định mở rộng vành đai an ninh cho căn cứ Trảng Lớn do lữ bộ binh 196 đóng quân. Trước tình hình đó, từ ngày 26 tháng 9 đến ngày 6 tháng 10 năm 1966, Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ 3 đã rút ra 12 kinh nghiệm và khả năng to lớn của phong trào chiến tranh du kích ở miền Nam. Hội nghị nêu rõ: Ta đã xây dựng được nhiều xã, ấp chiến đấu liên hoàn, đánh bại nhiều cuộc càn quét lớn, đã chống được các cuộc càn lớn, nhỏ, ngắn ngày, dài ngày; đã tiến công bao vây đồn bót, chi khu, quận lỵ; đã đánh phá và làm trở ngại, cắt nhiều đoạn giao thông quan trọng. Đây chính là bước đầu hình thành vành đai diệt Mỹ. Nhưng thời kỳ đó khái niệm vành đai du kích được phổ biến rộng rãi trên toàn chiến trường. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 06:59:57 pm Bị thiệt hại nặng nề trong mùa khô 1965-1966, Mỹ không đạt được mục tiêu nên tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, bằng cả lực lượng Mỹ và ngụy, với hai nhiệm vụ chiến lược song song "tìm diệt" và "bình định". Trên chiến trường miền Nam vào cuối năm 1967, địch sử dụng 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn, trung đoàn Mỹ- ngụy và quân các nước đồng minh, cùng với 4.000 máy bay các loại, 2.500 xe tăng, xe bọc thép, 2.540 khẩu pháo, 500 tầu thuyền chiến đấu vè toàn bộ quân địa phương trong vùng, tập trungphản công trên hướng chính là Đông Nam Bộ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và chủ lực của ta, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn, hòng xoay chuyển tình thế có lợi cho chúng.
Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo bảo vệ các căn cứ theo phương châm bám trụ chiến đấu tại chỗ, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngay tại vùng căn cứ ít dân hoặc không dân, phối hợp tác chiến với một bộ phận chủ lực quân giải phóng, kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân của địch. Đồng thời mở chiến dịch hè thu phối hợp với hướng đường 9 Nam Lào đánh bại kế hoạch mùa mưa của địch và mở tiếp chiến dịch Tây Ninh để giành quyền chủ động trên chiến trường. Thực hiện chủ trương trên, quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã triển khai, mở rộng thế trận liên hoàn từ căn cứ khu B ra đến sát vùng Châu Thành và vùng Nam Tòa thánh Tây Ninh, tạo ra thế trận nối liền giữa các xã, ấp. Các căn cứ Dương Minh Châu, Bời Lời, Bà Nhã, Củ Chi ở phía Đông và khu căn cứ Châu Thành, Bến Cầu ở phía Tây tỉnh Tây Ninh hình thành các tuyến vành đai khá hoàn chỉnh. Tuyến vành đai ngoài là những khu căn cứ nằm trên tuyến biên giới Campuchia, nơi các cơ quan đầu não của ta đứng chân để lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, vừa là nơi ém quân của các đơn vị chủ lực và địa phương cùng các cơ quan dân chính Đảng của tỉnh và các huyện Tây Ninh, là bàn đạp để tiến công chống địch càn quét lên vùng biên giới. Khi có điều kiện sẽ cơ động tiến công địch ở vùng ven và đồng bằng, đô thị. Tuyến vành đai trong ở vùng ven thị xã, thị trấn, nơi có quân Mỹ đóng quân bao gồm các xã, ấp chiến đấu, có địa đạo,có công sự chiến đấu và công sự ẩn nấp, được phòng thủ tương đối vững chắc, có bố trí các bãi chông, mìn, cạm bẫy để ngày đêm bám trụ; nắm tình hình, quy luật hoạt động của địch để tổ chức lực lượng du kích đánh địch bằng phương thức tác chiến, linh hoạt như các vành đai Củ Chi, Trảng Lớn, Rạch Kiến, Lai Khê, Bến Cát, Long Nguyên, Đất Đỏ... Hình thành hệ thống vành đai diệt Mỹ trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, ven đô, đồng bằng. Phát huy thắng lợi trong việc đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của địch trên chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, lực lượng vũ trang trên các vành đai diệt Mỹ đã phối hợp tiến công địch đều khắp, từ tuyến vành đai như: Bến Sỏi, Vịnh, Lò Gò, Tà Nốt, Sa Mát đến Sóc Mới, Kà Tum, Bà Chiêm. Tuyến vành đai trong phía Đông quốc lộ 22 vào sát đến Nam lộ Đá Đỏ, theo lộ Trắng kéo về Võ Tùng, Dầu Tiếng, Bầu Đồn và các xã, ấp ở xung quanh căn cứ Bến Sỏi, Trảng Lớn, Bến Kéo, Đồng Rùm, Bến Củi, chân núi Bà Đen và thị xã Tây Ninh. Đặc biệt, quân Mỹ ở căn cứ Trảng Lớn liên tục bị lực lượng vũ trang địa phương Tây Ninh dựa vào các căn cứ, các xã, ấp chiến đấu tại khu vực xóm Ruộng, Thanh An, Thành Điền, Thanh Hùng, Hiệp Tân để tiêu hao, tiêu diệt địch với các trận đánh nhỏ, lẻ, bằng chông, mìn, cạm bẫy. Nhiều lần địch tổ chức càn quét lớn, nhưng không đẩy lùi được lực lượng du kích và bộ đội địa phương của ta ra xa. Ngược lại ta vẫn liên tục tiêu diệt, tiêu hao địch bằng những trận tập kích, phục kích nhỏ lẻ trong các đồn, bót và khi chúng đi càn quét. Trong cuộc tổng tiến công Xuân 1968, quân và dân miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã đồng loạt nổ súng tiến công địch tại các mục tiêu trên khắp các đô thị, vùng nông thôn, đánh vào đầu não trung ương Mỹ - ngụy. Riêng ở Tây Ninh, lực lượng tiến công và nổi dậy đều khắp trong toàn tỉnh, nhất là ở Châu Thành, Trảng Bàng, Gò Dầu. Đặc biệt, các xã ấp xung quanh căn cứ địch, nhân dân đã bức rút nhiều đồn, bót, chỉ tính riêng xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng đã có 5.000 người đi dân công phục vụ hỏa tuyến, vận chuyển vũ khí, tải thương, đào công sự, chiến hào, nuôi dưỡng 800 thương binh từ hỏa tuyến đưa về. Các vành đai diệt Mỹ đã phối hợp đánh địch có hiệu quả, đã tận dụng triệt để thế xã, ấp liên hoàn để tạo ra thế đánh và thế giữ vững chắc; xây dựng được cả lực lượng và thế trận, chuẩn bị cơ sở vật chất, cất giấu vũ khí lương thực, thực phẩm để vừa tiến công địch, vừa trụ bám vững chắc. Hệ thống xã, ấp liên hoàn, có địa đạo, hầm hào, công sự chiến đấu để bám đánh địch suốt ngày đêm, kể cả khi bộ đội chủ lực dừng lại để củng cố, bổ sung lực lượng, phương tiện. Năm 1968, nhiều xã ấp khi bộ đội chủ lực xuống tác chiến đã có địa bàn ém quân như xã Thạnh Phước (Gò Dầu), khu vực Suối Nhánh, xã Lộc Hưng, xã An Tịnh, xã Gia Lộc (Trảng Bàng). Sau đợt 1 Mậu Thân, lực lượng địch bị thiệt hại nặng, chúng điên cuồng đẩy nhanh âm mưu "tìm diệt", vừa tập trung lực lượng và phương tiện san ủi những căn cứ của ta ở vùng ven và vùng sâu, tạo ra vành đai trắng. Du kích và bộ đội địa phương nhiều nơi ban ngày phải trụ bám ở hầm bí mật và những lùm cây còn lại ở căn cứ như Bời Lời, Dương Minh Châu, chân núi Bà Đen, có nơi ngày địch kiểm soát, đêm du kích và lãnh đạo xã, ấp lại bám về xây dựng cơ sở, củng cố lực lượng, khôi phục lại địa bàn để bám trụ hoạt động. Với tư tưởng liên tục tiến công địch, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Trung ương đã ra chỉ thị xác định chủ trương tiến hành dợt 2 Mậu Thân nhằm: "liên tục tiến công địch và phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của Mỹ- ngụy, duy trì và đẩy mạnh hoạt động trên địa bàn đô thị, giải phóng và làm chủ toàn bộ nông thôn, đồng bằng và rừng núi". Lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh đã phối hợp với toàn Miền, giữ vững các vành đai ở quanh các căn cứ Mỹ như xã Thanh Điền (Tây Nam căn cứ Trảng Lớn), căn cứ Bà Dìu (Tây Tua Hai), xung quanh các hang động chân núi Bà Đen, Rỗng Tượng xã Thanh Phước (Đông căn cứ Trâm Vàng); kết hợp chặt chẽ với lực lượng binh vận tiến công địch ở xóm Sóc, Cây Dương, Trà Cao, khiến hàng trăm lính bảo an, dân vệ rã ngũ; trở về với gia đình. Tổng kết hai đợt tiến công nổi dậy của quân và dân ta, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ VII kết luận: "Thắng lợi trong hai đợt tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mà tiêu biểu là trên chiến trường Sài Gòn- Gia Định là những thắng lợi to lớn, toàn diện; đánh dấu một bước phát triển mới của ta về thế và lực trong điều kiện chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam đã leo thang ở đỉnh cao". Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:01:52 pm Sau đợt tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, phần lớn các đơn vị chủ lực bị tổn thất phải củng cố, còn lực lượng địa phương trụ bám trên các tuyến vành đai để đánh địch phản kích và chống càn quét, giữ vững vành đai, nên cũng bị tiêu hao, tổn thất nhiều. Có nơi ta đã bị mất dân, mất đất, một số địa bàn ở tuyến vành đai trong bị địch cày ủi nhiều lần như Bời Lời (Trảng Bàng), Suối Nhánh (Gò Dầu), Củ Chi (Gia Định). Một số vành đai vẫn trụ bám tích cực đánh địch và làm công tác địch vận như trận chống càn của du kích xóm Chùa, xã An Nhơn Tây, từ ngày 29 đến 30-11- 1968, đã bám trụ kiên cường, chiến đấu liên tục, bắn cháy 1 trực thăng vũ trang, 5 xe tăng M41 và 4 xe thiết giáp M113, diệt 150 tên Mỹ, thu 50 khẩu AR15, 4 khẩu M72, 2 khẩu đại liên M60,16 quả mìn Clâymo. Ta hy sinh 1 du kích, bị thương 2, tiêu hao 300 quả mìn các loại và 3.000 viên đạn. Trận tập kích vào khu trung tâm thông tin của Mỹ ở đỉnh núi Bà Đen tháng 9-1968 của đại đội 33 đặc công Miền đã tận dụng hang động ở chân núi Bà Đen để ém quân đánh dịch, diệt 300 tên.
Từ năm 1969 đến năm 1972, quân dân miền Đông Nam Bộ đã khôi phục và củng cố hệ thống vành đai diệt Mỹ ở cả ba vùng chiến lược: miền núi, ven đô và đồng bằng Trung Nam Bộ. Sau Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta đã làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng do ta chậm chuyển hướng tiến công sau Mậu Thân, bỏ lỏng vùng nông thôn, nên địch đã phản công quyết liệt, chiếm lại phần lớn địa bàn nông thôn, vơ vét thêm nhân vật lực, củng cố ngụy quân, ngụy quyền. Vùng giải phóng bị đánh phá rất quyết liệt, cơ sở cách mạng bị tổn thất, ở nhiều vùng nông thôn và đồng bằng ta bị mất dân, mất đất, thế của chiến tranh nhân dân bị suy giảm, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn khi bước sang giai đoạn chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Năm 1969, địch vẫn duy trì 40% trong tổng số 470.000 quân Mỹ và chư hầu ở miền Nam, hơn 30% lục quân và duy trì thế phòng thủ 3 tuyến xung quanh Sài Gòn (sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ ở Tây Ninh, Bình Long, Phước Long; Sư đoàn bộ binh 1 và 25 Mỹ cùng 3 sư đoàn ngụy hoạt động vùng trung tuyến). Đứng trước tình hình mới, tháng 4 năm 1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết lãnh đạo phong trào cách mạng trong giai đoạn mới, với 5 mục tiêu: - Đánh cho quân Mỹ phải rút. - Làm cho quân ngụy phải suy sụp. - Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh, bố trí đứng vững trên thế chiến lược mạnh. - Đánh đổ chính quyền ngụy, lập nên chính quyền cách mạng Trung ương buộc bọn Mỹ phải từ bỏ ý đồ kết thúc chiến tranh trên thế mạnh. Triển khai Nghị quyết, trên các chiến trường đã tích cực hoạt động vừa đánh địch, vừa củng cố lực lượng. Các xã, ấp chiến đấu được mở rộng và liên lạc chi viện cho nhau thuận lợi. Các vành đai tuyến ngoài đã phối hợp chặt chẽ với các vành đai tuyến trong và ở nội đô như vành đai Trảng Lớn, vành đai Bắc Hà, vành đai Rạch Kiến ở ba vùng chiến lược đã phát huy tác dụng, hình thức chiến thuật với đủ loại vũ khí tự tạo. Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã đồng loạt tiến công trên khắp chiến trường, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị với địch vận của quần chúng nhân dân. Ở Tây Ninh, ta đã tổ chức những trận tập kích ngay trong ấp chiến lược, như trận ấp Gò Chùa - Gò Dầu, diệt một tiểu đội dân vệ; trận pháo kích của Đại đội 5 và một phân đội pháo binh Miền phối hợp với lực lượng thị xã Tây Ninh tiến công tiểu khu Tây Ninh ngày 10-4-1969, diệt nhiều địch, trong đó có 50 sĩ quan. Cùng thời gian, một bộ phận của tiểu đoàn 1 đột nhập ấp chiến lược Long Yên tiến hành vũ trang tuyên truyền. Được quần chúng ủng hộ, ta đã đánh thiệt hại nặng một trung đội bảo an. Sau đợt hoạt động Xuân - Hè 1969, Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trương phân tán lực lượng đảng viên, cán bộ ưu tú bám trụ tập trung vào vùng yếu và các ấp chiến lược để vừa vận động quần chúng, khôi phục phong trào, vừa kết hợp vói lực lượng vũ trang tỉnh tập trung tiến công vào ngụy quân yểm trợ bình định. Tại Quân khu T10 ta tiến công tiểu khu Phước Long gây thiệt hại nặng cho địch. Trên 1.000 dân các ấp ven thị xã nhân lúc địch đang hoang mang đã nổi dậy bung về làng cũ làm ăn. Ở các đô thị, phong trào đấu tranh chính trị được khôi phục và đấu tranh có hiệu quả, đã lôi cuốn được cả gia đình binh sĩ đấu tranh với Mỹ như ở Bình Long, Bù Đốp (Phước Long). Như vậy, năm 1969 là năm địch chủ trương huy động lực lượng, phương tiện "đánh gẫy xương sống Việt cộng", đẩy lực lượng ta ra xa đã gây cho ta nhiều tổn thất, khó khăn. Song quân dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững các vành đai diệt Mỹ, đánh ngụy để chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Có địa bàn địch san ủi nhiều lần, nhưng ta vẫn kiên cường bám trụ. Có cả vùng ban ngày địch kiểm soát, nhưng ban đêm ta chủ động nắm tình hình, xây dựng cơ sở chính trị, vận động quần chúng nhân dân đấu tranh với địch. Năm 1970, kế hoạch bình định của địch không đạt được. Chúng phát hiện ta đang chuẩn bị mở chiến dịch tiến công với quy mô lớn trên chiến trường miền Nam, nên đã huy động lực lượng lớn phản kích ta trên hướng biên giới Campuchia, thực hiện ý đồ xóa bỏ nền trung lập của Campuchia, vừa cắt hành lang tiếp tế của ta vào chiến trường B2; xóa căn cứ bàn đạp chiến lược và phá thế chuẩn bị đánh lớn của ta, đẩy chủ lực của ta ra xa, biến hậu phương ta thành hậu phương địch. Về phía ta, năm 1970 là năm đầy khó khăn, nhất là về cung cấp hậu cần. Tỷ lệ ốm đau của cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân ngày càng cao, đạn dược thiếu thốn, khả năng của bộ đội lúc này là đánh được một trận phải cơ động ngay vì đạn hết, gạo thiếu. Các tuyến hành lang xuống vùng ven hầu như bị cắt. Trên tuyến đường số 22 đoạn từ Thiện Ngôn đi Trại Bí, Mỏ Công, địch liên tục giải tỏa, bung ra phục kích ban đêm. Bộ đội địa phương Tây Ninh và du kích các xã vùng ven gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi đột nhập ấp chiến lược. Một số đường dây giao liên bí mật mà ta thường qua lại đã bị những phần tử chiêu hồi khai báo, chỉ điểm nên không sử dụng được, thậm chí có lúc phải nổ súng đánh địch để mở đường vượt qua. Đi đôi với việc tiến công sang Campuchia, Mỹ- ngụy tiếp tục thực hiện chương trình "bình định đặc biệt". Đồng thời, địch tiến hành đổi các vùng chiến thuật thành các quân khu, thành lập Bộ Tư lệnh cảnh sát; kết hợp tổ chức "phượng hoàng", lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự kết hợp với chủ lực càn quét, yểm trợ cho bình định. Trên chiến trường Đông Nam Bộ, địch tiến hành điều chỉnh, bố trí lại chủ lực: Đưa một sư đoàn Mỹ tăng cường đánh phá vùng trung tuyến thuộc phân khu 1, 4, 5, đẩy mạnh bình định lấn chiếm. Cuối tháng 4-1970, địch sử dụng 20 tiểu đoàn và 3 trung đoàn thiết giáp để tiến công sang biên giới Campuchia. Do đó, ở vùng nông thôn, lực lượng địch giảm 1/3 so với cuối năm 1969. Đây là điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang địa phương bám xã, ấp để xây dựng cơ sở, vận động con em các gia đình gia nhập du kích, liên tục tổ chức tiến công, tiêu hao tiêu diệt địch bằng nhiều trận đánh nhỏ lẻ, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng đánh phá bình định. Trên mặt trận đánh phá bình định, ta đã diệt 3 đoàn bình định, có 165 tên ác ôn, bắt 11 tên công an do thám, cảnh cáo, trấn áp 114 tên, giải tán 578 phòng vệ dân sự, làm rã ngũ 469 tên khác, về phá kìm, tại Tây Ninh mở 40 ấp, Biên Hòa mở thêm 6 ấp, Vĩnh Cửu, Bà Rịa 30 ấp; phân khu 4 mở thêm 4 xã Nhơn Trạch; phân khu 5 mở rộng thêm nhiều lõm làm chủ trong 4 xã của Thủ Đức, 3 xã Dĩ An; phục hồi thế bám trụ 5 xã của Lái Thiêu; nâng thế làm chủ 6 xã Châu Thành và Tân Uyên; phân khu 1 phá trên 12 ấp thuộc Bến Cát, thị trấn Trảng Bom, phá lỏng kìm 4 trên 6 khu và trong một số thị trấn khác như Xuân Lộc, Tân Uyên, Gò Dầu, Trảng Bàng. Tại Tây Ninh, ngoài các hoạt động của lực lượng vũ trang tiến công địch, đá đánh 646 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu trên 4.000 tên dịch, phá hủy nhiều xe quân sự và phương tiện chiến tranh, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ở các xã, ấp. Đặc biệt, phong trào đấu tranh của quần chúng Cao Đài, vùng Tòa thánh Tây Ninh vạch mặt kẻ địch đội lốt đạo, chống âm mưu tái vũ trang Cao Đài. Bước sang năm 1971, địch vẫn tiếp tục thực hiện chương trình bình định bằng việc triển khai kế hoạch "cộng đồng tự vệ cộng đồng phát triển", nhằm đạt tới 3 mục tiêu cơ bản là địa phương tự phòng, tự quản và tự túc phát triển. Để thực hiện kế hoạch trên, địch vừa triển khai hàng loạt các chiến dịch đánh phá hạ tầng cơ sở như "chiến dịch đại bàng", "vì dân", "phượng hoàng", tổ chức ủi phá địa hình, gom dân, phá căn cứ bàn đạp của ta, vừa tập trung chủ lực ra biên giới, cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược, phá kho tàng, tiêu hao và đẩy chủ lực ta ra xa. Địch đã chiếm thêm một số vùng giải phóng của ta, đóng thêm một số đồn, bót. Nhưng các ấp loại A, loại B lại bị giảm sút đi do ta phát triển được vào vùng yếu, vùng trắng. Cơ sở chính trị, vũ trang mật, chi bộ mật trong các ấp chiến lược trong đô thị vẫn tồn tại. Như vậy vành đai của ta vẫn duy trì tồn tại và phát huy tác dụng. Nhằm đánh bại kế hoạch bình định của địch, các Tỉnh ủy, Tỉnh đội ở miền Nam Nam Bộ đều có chủ trương, kế hoạch lợi dụng sơ hở của địch trên chiến trường do quân chủ lực của chúng giảm đi, để từng bước khôi phục thế và lực tại chỗ. Tỉnh Tây Ninh dã bố trí lại lực lượng vừa đánh địch lấn chiếm, chống san ủi địa hình, vừa thọc sâu phối hợp giữa vành đai vòng ngoài và vòng trong của các địa phương. Lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh nhiều trận, kết hợp với phong trào du kích ở các xã, ấp được khôi phục và phát triển. Đã có 257 cuộc đấu tranh lớn nhỏ, với trên 30.000 lượt người tham gia, trong đó có 1.600 gia đình binh sĩ ngụy. Các tỉnh Long An, Bà Rịa, Bình Thuận, Bình Tuy đã hoạt động tích cực, phát huy vai trò chủ động tiến công của các vành đai, diệt nhiều sinh lực, làm tan rã một phần quân ngụy. Đến năm 1972, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đứng trước nguy cơ bị phá sản. Quân ngụy Sài Gòn bộc lộ rõ là không thể thay thế quân Mỹ, nhưng quân Mỹ vẫn buộc phải rút hết ra khỏi miền Nam. Vì Níchxơn không thể hủy bỏ lời cam kết với các cử tri Mỹ trong nhiệm kỳ tổng thống. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:02:49 pm Để tăng thêm lực lượng, địch ráo riết bắt lính, đôn quân. Trong các vùng kiểm soát, chúng tăng cường nhiều biện pháp để kìm kẹp, tăng lực lượng cảnh sát ở các xã, ấp. Chúng dùng nhiều thủ đoạn mị dân như cho vay vốn, bán vật tư, phân bón để phát triển kinh tế nông thôn trong quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới. Tại Đông Nam Bộ, địch tập trung lực lượng chủ yếu phòng ngự phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn, trên 2 trục đường 13 và 22 gồm 3 tuyến: tuyến ngoài, tuyến trung gian và vùng ven, với lực lượng gồm sư đoàn 5, 28, 18 cộng lính thủy quân lục chiến và lính dù.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục và Quân ủy Miền, tháng 4 năm 1972, ta mở chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công Lộc Ninh, bao vây Hớn Quản, cắt đứt đường 13, làm cho địch bị động lúng túng. Có nơi địch đã phải sử dụng cả cấp sư đoàn để đánh chiếm các "lõm du kích" của ta và các "lõm giải phóng" của ta. Trước sức tiến công bất ngờ, mãnh liệt của quân và dân ta, địch buộc phải rút khỏi hàng loạt vị trí phòng thủ vòng ngoài ở biên giới phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn từ Bù Đốp đến Kà Tum, Bổ Túc, Thiện Ngôn, Cần Đăng (Tây Ninh). Tuyến phòng thủ biên giới từ quốc lộ 22 về phía Đông bị đập tan. Ta giải phóng hoàn toàn các huyện Lộc Ninh (Bình Long), Bù Đốp (Phước Long) và Tân Biên (Tây Ninh), đánh chiếm một phần căn cứ Téc Ních và tiểu khu Bình Long, giải phóng toàn bộ khu vực Đông Nam Tây Ninh, khôi phục địa bàn ven thị xã. Các lực lượng trên vành đai đã nổi dậy phá kìm, diệt ác,bắt 17 tên ác ôn, làm binh vận và làm rã 8 đội phòng vệ dân sự thu hơn 130 súng để trang bị cho lực lượng huyện và du kích trên các vành đai, đồng thời làm tan rã 400binh sĩ ngụy thuộc các đơn vị chủ lực. Nhiều tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ đã phối hợp giữa chủ lực và du kích các xã ấp trên các vành đai diệt Mỹ tiến công địch, giành thắng lợi ngày càng lớn. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari được ký kết, nhưng hiệp định ký kết chưa ráo mực, quân ngụy đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng, tiến hành bình định nông thôn khốc liệt, coi việc lấn đất, giành dân là khâu cuối cùng, lấy địa bàn chủ yếu của cuộc chiến tranh điền địa là ấp, xã. Nếu giải quyết xong ấp, xã là căn bản giải quyết được cuộc chiến tranh. Địch đã huy động 60 đến 70 tiểu đoàn chủ lực cùng lực lượng bình định để thực hiện lấn chiếm bình định. Lực lượng vũ trang nhân dân trên các vành đai diệt Mỹ đánh ngụy của Đông Nam Bộ đã đồng loạt tiến công vào quân ngụy, đánh bại các cuộc lấn chiếm, san ủi địa hình, dồn dân lập ấp. Dựa vào vành đai, vùng giải phóng của ta đã được mở rộng, các xã, ấp liên kết chặt chẽ với nhau. Ta có thể tiến công địch ở nhiều quy mô, cả ở tuyến ngoài, tuyến giữa và tuyến trong. Lực lượng vũ trang ta có khả năng làm tê liệt chính quyền ngụy ở cấp cơ sở xã, ấp, có thể đánh chiếm các đồn bót, khống chế và diệt ác ôn để hạn chế sự đánh phá của địch ở cơ sở, vừa tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động vũ trang tuyên truyền, tập kích một số chi khu quân sự, diệt và làm tan rã tổ chức phòng vệ ở cơ sở. Đến mùa khô 1973-1974, thế trận làm chủ của ta đã thành thế liên hoàn trên toàn Miền, tạo thế và lực vững chắc, sẵn sàng đánh bại kế hoạch bình định của địch, góp phần cùng quân và dân toàn Miền giành thắng lợi to lớn, có ý nghĩa quyết định, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch ở cơ sở, tạo thế, tạo thời cơ, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giành thắng lợi trọn vẹn bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong chiến công chói lọi ấy, có sự đóng góp lớn lao của quân dân trên các vành đai diệt Mỹ Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ nói chung và quân dân tỉnh Tây Ninh nói riêng. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:04:06 pm VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CÁC VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1965-1968 HOÀNG THU HÀ Thiếu tá, Phòng Khoa học, Công nghệ - Môi trường Quân khu 7 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Đông Nam Bộ là địa bàn chiến lược trọng yếu của chiến trường Nam Bộ. Nơi đây đã diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân và dân miền Đông với giặc Mỹ và bè lũ tay sai trên cả ba vùng chiến lược, liên tục tiến công địch bằng ba mũi giáp công làm kẻ thù bị tổn thất to lớn. Sự hình thành và phát triển vành đai diệt Mỹ quanh các căn cứ của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam nói chung và trên chiến trường miền Đông Nam Bộ nói riêng chính là sự sáng tạo và bước phát triển mới của nghệ thuật xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân các binh đoàn chủ lực phát triển, góp phần đẩy quân Mỹ vào thế bị động chiến lược, chiến dịch chiến đấu. Vành đai diệt Mỹ là một thành tố quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh quân sự đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Bắt đầu từ Khu 5, vành đai diệt Mỹ đã phát triển ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Đó là vành đai diệt Mỹ Đồng Dù (Củ Chi), vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến (Long An), vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn (Tây Ninh), vành đai diệt Mỹ Bến Cát, Lái Thiêu (Bình Dương), vành đai diệt Mỹ Bình Đức (Mỹ Tho)... Bài viết này, chỉ đề cập một số nét về sự hình thành và phát triển của vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1965-1968, giai đoạn đỉnh cao của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Sau thất bại trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam. Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân các nước đồng minh vào tham chiến trực tiếp ở miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh bằng không quân, hải quân phá hoại ra miền Bắc nhằm cứu vãn tình thế thất bại của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Tháng 5-1965, những đơn vị đầu tiên của lữ đoàn dù 173 Mỹ đã đổ bộ lên Vũng Tàu. Tháng 12-1965, sau 7 tháng trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã có mặt lữ đoàn dù 173 Mỹ ở Biên Hòa, sư đoàn 1 bộ binh "Anh cả đỏ" Mỹ ở Bình Dương, một lữ đoàn thuộc sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" ở Củ Chi, một bộ phận lữ đoàn Hoàng gia Úc và đại đội pháo binh Tân Tây Lan ở Bà Rịa. Tính đến cuối năm 1965, trên toàn miền Nam, số quân Mỹ đã lên đến 184.314 tên, số quân Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan lên 20.500 tên. Địch tổ chức lại chiến trường, thành lập các cơ quan chỉ huy quân sự, các cơ sở hậu cần theo yêu cầu phục vụ quân viễn chinh. Ngày 20-6-1965, Bộ Tư lệnh lục quân Mỹ ở miền Nam được thành lập, trụ sở đặt tại Long Bình. Ngày 3-6-1965, lực lượng chiến đấu Mỹ chính thức tham chiến trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Một tiểu đoàn thuộc lữ dù 173 lên Phước Vĩnh chi viện cho quân ngụy đang nguy khốn ở Đồng Xoài. Ngày 18-6-1965, 27 máy bay B52 xuất phát từ đảo Guyam bay vào ném bom rải thảm ấp Trảng Lớn và Bờ Cảng xã Long Nguyên huyện Bến Cát. Tháng 8-1965, Mỹ lập Bộ tư lệnh Anpha, tháng 9 đổi thành Bộ tư lệnh dã chiến 1 đóng ở Nha Trang. Bộ tư lệnh dã chiến 2 đóng ở Long Bình. Như vậy, ngay từ đầu, trên toàn miền Nam, số quân Mỹ tăng ồ ạt mục đích đẩy ta vào thế phòng ngự bị động. Riêng với chiến trường miền Đông Nam Bộ địch coi đây là chiến trường chủ yếu thực hiện chiến lược "tìm diệt" để tiêu diệt khối chủ lực, "xé nát" các căn cứ nhằm đạt ý định "bẻ gãy xương sống" và tê liệt hóa bộ não chiến tranh cách mạng Đồng thời trên chiến trường miền Đông Nam Bộ nơi có "thủ đô"Sài Gòn đặt 32 cơ quan đầu não của địch, nên địch phải tập trung bảo vệ. Lấy Sài Gòn làm trung tâm, địch hình thành thế bố trí chiến lược ở miền Đông Nam Bộ theo tinh thần quân Mỹ và chư hầu làm nhiệm vụ "tìm diệt", quân ngụy giữ vai trò "bình định", tạo vành đai bảo đảm an toàn cho Sài Gòn. "Đánh Mỹ như thế nào?" là câu hỏi lớn nhất đang đặt ra cho quân và dân miền Đông khi bước vào thời kỳ chống chiến lược mới của địch. Sau khi phân tích tình hình địch, ta, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (3-1965), lần thứ 12 (12-1965) đã nhận định: "Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn". Đảng ta khẳng định: cách mạng và chiến tranh cách mạng ở miền Nam "phải giữ vững và phát triển thế tiến công", đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, kiên quyết đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Đây là một quyết định rất quan trọng, là cơ sở để xây dựng niềm tin quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của quân và dân ta. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, trước tình thế khẩn trương, Thường vụ Trung ương Cục ra quyết định phát động mạnh mẽ cao trào tiến công tiêu diệt địch và phát triển chiến tranh nhân dân đánh bại chiến lược mới của địch. Trở lại thời kỳ khi Mỹ-ngụy thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt", cuộc chiến tranh nhân dân đã phát triển mạnh mẽ trên khắp miền Nam nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng. Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân ấy, khi các đơn vị quân Mỹ ồ ạt vào miền Đông Nam Bộ, các cấp uỷ Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo quân dân các địa phương nơi có căn cứ quân sự Mỹ bắt tay tổ chức hệ thống làng xã chiến đấu đã xuất hiện trong những năm đánh thắng "chiến lược chiến tranh đặc biệt" thành các vành đai diệt Mỹ với thế trận chiến tranh nhân dân vây hãm và tiến công địch ngay tại căn cứ chỉ huy, căn cứ hậu cần, và căn cứ xuất phát hành quân của Mỹ trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, thực hiện phương châm làm chủ để tiêu diệt địch, giữ vững quyền làm chủ theo chủ trương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (12-1965) hạ quyết tâm kiềm chế và đánh thắng Mỹ trên chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:06:44 pm Tỉnh Tây Ninh là một trong những địa bàn trọng điểm của chiến lược "tìm diệt" của Mỹ để diệt cơ quan Trung ương Cục, "đánh gãy xương sống" của chủ lực B2, xé nát căn cứ... Ngay từ mùa xuân năm 1965, Tỉnh ủy Tây Ninh đã có nghị quyết chuẩn bị đánh Mỹ. Tháng 4-1965, Tỉnh ủy Tây Ninh đã chỉ thị cho huyện Châu Thành chuẩn bị đánh Mỹ (vót 20.000 cây chông, xây dựng địa đạo, giao thông hào, công sự, cử người đi học làm bẫy mìn...). Phát huy thắng lợi của phong trào chiến tranh nhân dân sâu rộng ở xã ấp, ra sức củng cố các địa đạo An Thới, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng (tháng 6-1965 bắt đầu xây dựng 656 quần chúng tham gia xây dựng được 150m địa đạo, ba ụ chiến đấu); địa đạo Lợi Thuận (Bến Cầu), Bời Lời... Đồng thời chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang chủ lực của tỉnh là tiểu đoàn 14, các huyện xây dựng được từ 1 đến 2 đại đội, xã có từ 1 đến 2 trung đội du kích. Quân và dân Tây Ninh đã chủ động tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, tìm mọi phương thức đánh địch khắp ba vùng với ba thứ quân, ba mũi giáp công, đồng thời tạo điều kiện và phối hợp lực lượng trên cùng kết hợp đánh Mỹ, ngay từ giữa giai đoạn đầu đánh Mỹ.
Tháng 3-1965, ở Sài Gòn, cuộc tiến công tòa đại sứ Mỹ thắng lợi của biệt động Sài Gòn là câu trả lời đanh thép của quân và dân Sài Gòn trước hành động trực tiếp xâm lược miền Nam của đế quốc Mỹ. Chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 1965, lực lượng vũ trang nội đô Sài Gòn đã đánh mấy chục trận từ sào huyệt Mỹ đến bọn kìm kẹp ác ôn. Trên nhiều đường phố Sài Gòn, suốt mười ngày liền diễn ra các cuộc biểu tình từ một đến 10 vạn người chống Mỹ đưa quân vào miền Nam, chống khủng bố... Bước sang mùa khô 1965-1966 với 72 vạn quân trong đó có 18 vạn quân Mỹ, địch mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất với ý đồ "tìm diệt" và "bẻ gãy xương sống Việt Cộng" cả ở Nam Bộ và Trung Bộ. Những cuộc hành quân "tìm diệt" đầu tiên này của quân Mỹ đã gây cho quân và dân miền Đông Nam Bộ nhiều khó khăn, ác liệt. Nhưng trên thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc "kéo địch ra khỏi hang mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh" cùng quân dân miền Nam, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã liên tục phản công và tiến công cả quân Mỹ, quân ngụy và quân các nước chư hầu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Các vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ bao quanh các cụm căn cứ Đồng Dù (Bắc Hà, Củ Chi), Trảng Lớn (Tây Ninh), Rạch Kiến (Long An), Bến Cát (Thủ Dầu Một)... mới hình thành đã liên tục tiến công địch với sức mạnh của toàn dân và ba thứ quân làm thất bại kế hoạch bình định phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất. Từ tháng 9-1965, quân Mỹ bắt đầu hành quân trên vùng Bắc - Tây Bắc Sài Gòn. Du kích các huyện Dĩ An, Củ Chi, Bến Cát... đã chiến đấu những trận đầu với quân Mỹ. Trận An Điền (Bến Cát), du kích An Điền đã tiêu diệt được phân đội Mỹ là một thực tiễn sinh động để Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền rút ra kết luận du kích có khả năng đánh được Mỹ, như vậy chủ lực hoàn toàn có khả năng diệt Mỹ. Phong trào học tập du kích An Điển đánh Mỹ lan nhanh khắp miền Đông. Tháng 10-1965, Mỹ đưa lữ 196 lên xây dựng và mở rộng căn cứ Trảng Lớn. Ngay sau khi quân Mỹ đạt chân lên Trảng Lớn, Tỉnh ủy Tây Ninh đã chủ trương xây dựng vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn, đề ra nghị quyết đánh Mỹ và cử đồng chí Tỉnh đội trưởng và huyện Châu Thành triển khai nghị quyết làm phương án thành lập "vành đai diệt Mỹ", quyết tâm đánh Mỹ. Căn cứ vào tinh thần, nội dung, nghị quyết của Tỉnh ủy Tây Ninh, Thường vụ Huyện uỷ Châu Thành đã mở phiên họp bất thường và quyết định thành lập ngay ban chỉ huy thống nhất "Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn", toàn huyện chia làm 4 cụm; rút ngay một số thanh thiếu niên ở các vùng, nhất là vùng địch đang kìm kẹp, vùng tranh chấp tổ chức huấn luyện chiến đấu, bổ sung cho các lực lượng vũ trang; hình thành thế trận bao vây vành đai, lập ngay hàng rào chiến đấu liên hoàn; quyết tâm thắng Mỹ, không sợ Mỹ "kiên quyết đánh, giá nào cũng đánh, cá nhân đơn vị nào ra đi không đánh, không diệt được địch là không về". Công tác bảo đảm và sinh hoạt tinh thần trên vành đai được tổ chức chu đáo: dân công tải thương, tải đạn, tiếp tế, trạm xá dã chiến, trại sản xuất, đội chống biệt kích và đội văn công, mỗi cụm đều có tuyến trước, tuyến sau... Hàng loạt các trận chiến đấu đã diễn ra ác liệt trên vành đai Trảng Lớn. Nhân dân Châu Thành (Tây Ninh) đã xác định được có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ. Quân và dân Tây Ninh dưới sự hỗ trợ đắc lực của bộ đội và chủ lực Miền cùng lực lượng du kích đã kiên cường đánh trả và giành thắng lợi lớn. Tại Bời Lời, hàng trăm tên Mỹ đã bị diệt. Tại Bàu Cỏ, du kích cũng diệt được Mỹ, bắn hạ cả máy bay trực thăng, địch phải kết thúc sớm cuộc hành quân... Đặc biệt ngày 26- 4-1966, địch dùng chiến thuật "thiết xa vận" đánh vào Lộc Thuận (Lộc Hưng - Trảng Bàng) đã bị Tiểu đoàn 14 bộ đội địa phương Tây Ninh kết hợp với du kích đánh thiệt hại nặng. Cùng với hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị, binh vận ở Tây Ninh củng rất sôi nổi, quyết liệt. Vùng xung quanh căn cứ Trảng Lớn phát triển vành đai diệt Mỹ lớn thứ 2 sau Đồng Dù (Củ Chi). Ở Củ Chi, theo chủ trương của Bộ chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định, vành đai Bắc Hà (Đồng Dù) đã được hình thành ngay sau cuộc hành quân Grim của địch. Ngày 23-1-1966, sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" bị du kích bám riết trên vùng sáu xã Bắc Củ Chi, rút xuống vùng phía nam lập căn cứ Bắc Hà. Nhân dân và du kích các xã Bắc Củ Chi lại gánh mìn, vác súng bám theo. Đầu tháng 2-1966, vành đai của dân quân du kích hình thành, đẩy căn cứ Mỹ vào thế phòng ngự. Cuộc chiến tranh quanh căn cứ Mỹ diễn ra vô cùng ác liệt. "Vành đai diệt Mỹ" Đồng Dù tiếp tục phát triển với hệ thống hầm hào ngày càng dày đặc. Du kích và lính Mỹ ghìm nhau từng phút từng giờ, giành nhau từng đoạn đường, từng tấc đất. Du kích Củ Chi chỉ cách địch từ ba bốn chục đến vài trăm mét, nhưng thế trận địa đạo kết hợp với các loại vật chướng ngại và mìn định hướng đã đảm bảo cho du kích an toàn và tiến công địch ở nhiều vùng nhiều tuyến... Dựa vào hệ thống chiến hào, địa đạo, công sự chiến đấu được chuẩn bị từ trước, quân và dân Củ Chi cũng đã phối hợp với đơn vị chủ lực Sư đoàn 9 và đơn vị bạn bám sát đánh địch liên tục ngày đêm bằng mọi hình thức tác chiến (chông, mìn, cạm bẫy, bắn tỉa, phục kích, tập kích, chống càn...) anh dũng đánh trả quyết liệt hai cuộc hành quân lớn đánh vào Củ Chi nhằm tìm diệt chủ lực ta và Khu ủy Sài Gòn - Gia Định (hành quân lần 1 (8-1-1966), lần 2 (24-1-1968)), buộc địch phải kết thúc các cuộc hành quân... Mỹ cho rằng căn cứ Đồng Dù (Bắc Hà) là bất khả xâm phạm, nhưng cuộc chiến đấu của quân và dân Củ Chi trên vành đai vẫn tiếp diễn buộc sư đoàn 25 Mỹ không thể phá vỡ nổi "thế trận da báo". Rất nhiều quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, hàng trăm xe tăng, xe bọc thép bị phá hủy, nhiều máy bay bị bắn rơi và bị thương. Vành đai diệt Mỹ Củ Chi với trận đồ thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân địa phương, với 10 bài học kinh nghiệm đánh Mỹ rút ra ngay sau chống càn đã trở thành một điển hình của phong trào đánh Mỹ toàn miền Nam. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:07:32 pm Ở Long An cuộc hành quân đầu tiên của Mỹ diễn ra đầu năm 1966 mang tên Marôdơ do lữ đoàn dù 173 thực hiện càn vào vùng Đức Hòa, Đức Huệ của Long An nhằm bảo vệ tỉnh lỵ Hậu Nghĩa và tiểu khu quân sự ở Bàu Trai. Ngày 15-2-1966, lữ đoàn dù 173 lại mở cuộc hành quân càn quét thứ 2 vào Long An - Hậu Nghĩa. Nhưng quân và dân Long An đều dũng cảm đánh Mỹ. Cuộc đấu tranh chính trị đầu tiên của nhân dân Đức Hòa với lính Mỹ đã thu được kết quả, đã trở thành cơ sở thực tiễn đầu tiên để Tỉnh ủy Long An rút ra kinh nghiệm chỉ đạo mũi đấu tranh chính trị trong phạm vi toàn tỉnh.
Trên hướng Biên Hoà - Bà Rịa, tháng 5-1965, lữ 173 dù Mỹ đến Vũng Tàu và chuyển hướng về đóng ở sân bay Biên Hoà và căn cứ Hóc Bà Thức (Tân Phong). Tháng 6-1965, tiểu đoàn Hoàng gia ức và một đại đội pháo Tân Tây Lan đến Biên Hòa xuống đóng căn cứ tại Bà Rịa. Vừa đặt chân đến Biên Hòa, Bà Rịa, quân Mỹ và úc đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét khu vực quanh hai xã vùng Nam Chiến khu Đ và Chiến khu Minh Đạm, Hắc Dịch. Quân và dân Biên Hòa, Bà Rịa đã ra sức đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân địa phương, bung ra bám trụ các vùng ven, khu địch tạm chiếm, đánh phá giao thông và các căn cứ hậu cần của chúng. Trận tập kích sân bay Biên Hòa đêm 23 rạng 24-8-1965 của pháo binh Miền và bộ đội địa phương Biên Hòa là đòn nặng nề giáng vào quân viễn chinh Mỹ khi chúng vừa đặt chân tới đây. Rồi tiếng nổ tại kho Long Bình do trinh sát đặc công Biên Hòa làm nổ tung một lúc 40 ngàn quả bom đạn các loại của địch gây chấn động không chỉ ở Biên Hòa mà còn đến cả trung tâm đầu não Sài Gòn. Đồng thời phối hợp nhịp nhàng với cuộc đấu tranh chính trị của công nhân Biên Hoà. Ngay tại trung tâm Sài Gòn - Gia Định trong năm 1966 lực lượng biệt động đặc công tinh nhuệ và bộ đội địa phương cũng tiếp tục đánh nhiều trận táo bạo, có tiếng vang lớn đạt hiệu suất cao. Như các trận tiến công khách sạn Victoria (4-1-1966), pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất (12-4-1966) phá hủy nhiều trang thiết bị và diệt hàng trăm tên Mỹ... Có thể nói rằng trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966), vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ dù mới hình thành và phát triển, nhưng được tổ chức vững chắc thống nhất ngay từ đầu đã đánh những đòn thắng lợi phủ đầu quân Mỹ, góp phần cùng quân dân toàn miền Nam giữ vững thế tiến công và quyền chủ động trên chiến trường. Bước vào cuộc phản công chiến lược lần thứ hai trong mùa khô 1967-1968 với tham vọng "cố giành một thắng lợi quyết định", Mỹ - ngụy đã tăng cường quân số và phương tiện chiến tranh ở chiến trường miền Nam nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng, ở giai đoạn này địch thay biện pháp chiến lược "tìm diệt" bằng biện pháp "tìm diệt và bình định" nhằm vừa tiêu hao, tiêu diệt chủ lực của ta, vừa đẩy mạnh "bình định", giành dân, mở rộng vùng kiểm soát. Địch tiếp tục tập trung quân vào chiến trường Đông Nam Bộ (gồm 3 sư, 3 lữ chiếm 40% quân chiến đấu Mỹ trên toàn miền Nam) đánh vào nhóm căn cứ ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Long An, Hậu Nghĩa, Phước Tuy, trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu và vùng phụ cận Bắc, Tây Bắc Sài Gòn, kết hợp triển khai mạnh mẽ công tác "bình định" mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn. Tháng 8-1966, Bộ chỉ huy Miền đã tổ chức tổng kết và phổ biến một số kinh nghiệm về xây dựng và phát triển các "vành đai diệt Mỹ". Trong cuộc phản công chiến lược lớn hơn trong mùa khô thứ 2 (1966-1967), địch mở liên tiếp 3 cuộc hành quân lớn trên cả 3 hướng. Cuộc hành quân Attenbơrô (từ 14-9-1966 đến 26-11-1966), đánh khu biên giới Bắc Tây Ninh với mục đích tìm diệt Sư 9 chủ lực Miền. Địch sử dụng 1 vạn đạn pháo và B52 rải thảm đánh phá tập trung, nhưng lữ 196 Mỹ bị thiệt hại nặng từ đầu. Cuộc hành quân kết thúc không đạt kết quả gì. Lực lượng vũ trang của tỉnh Tây Ninh kết hợp với chủ lực Miền, Sư 9, bộ đội địa phương các huyện, du kích xã Dương Minh Châu, các cơ quan huyện ủy, huyện đội, đoàn hậu cần Miền... tổ chức chống càn tại chỗ bảo vệ căn cứ. Từ ngày 3-11-1966 đến 5-11-1966, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu lữ 196 Mỹ. Mỹ buộc phải rút quân khỏi khu vực Dương Minh Châu, chấm dứt cuộc càn Attenbơrô. Cuộc hành quân Xêđaphôn (từ ngày 8 đến 21-1-1967), địch đánh vào vùng "tam giác sắt" Củ Chi - Bến Cát - Bến Súc, Long Nguyên, Hố Bô, một phần của huyện Trảng Bàng nhằm triệt phá căn cứ kho tàng, hành lang dọc sông Sài Gòn, tiêu diệt cơ quan đầu não Sài Gòn - Gia Định kết hợp với ủi phá địa hình, xúc dân căn cứ và các xã giải phóng vào vùng địch kiểm soát với ý định biến thành vùng trắng. Trong cuộc hành quân này, địch đã phá hủy hoàn toàn thị tứ Bến Súc, triệt hạ hầu hết làng mạc phía Bắc Củ Chi và Tây Bắc Bến Cát... nhưng vẫn không đạt được mục đích. Quân và dân Sài Gòn - Gia Định dựa vào thế trận liên hoàn của vành đai diệt Mỹ Củ Chi với hệ thống địa đạo giao thông hào vững chắc, bám trụ chiến đấu kiên cường. Các tiểu đoàn bộ đội địa phương và lực lượng du kích vừa đánh địch, vừa bảo vệ cơ quan lãnh đạo và nhân dân. Sau 18 ngày đêm chiến đấu, bộ đội địa phương và các lực lượng chiến tranh nhân dân Củ Chi, Bến Cát, Gò Môn đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên Mỹ, 200 tên ngụy, bắn rơi và bị hỏng 13 máy bay, phá hủy và phá hỏng 30 xe tăng, xe bọc thép. Cuộc hành quân Gianxơn xity (từ 22-2 đến 15-4-1967) là cuộc hành quân lớn nhất trong chiến lược chiến tranh cục bộ với mục đích đầy tham vọng là tìm diệt cho bằng được quân chủ lực của miền Đông Nam Bộ, diệt cơ quan đầu não Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền, triệt phá căn cứ kháng chiến Dương Minh Châu, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Nam Bộ... Phương châm tác chiến kết hợp thế trận chiến tranh nhân dân ở Tây Ninh với các binh đoàn chủ lực của Miền làm chủ căn cứ để tiêu diệt địch đã làm thất bại cuộc hành quân lớn nhất này của quân Mỹ. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:08:20 pm Trong đợt phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2, địch còn tập trung vào biện pháp "bình định", ở miền Đông Nam Bộ, trọng tâm "bình định" của địch là các tỉnh Bình Dương, Long An, Gia Định, Hậu Nghĩa, Phước Tuy - gọi là các tỉnh "ưu tiên quốc gia". Trên các vùng "ưu tiên quốc gia" này, trong các cuộc hành quân liên quân, vai trò của quân Mỹ cũng rất lớn. Điển hình như ở Hậu Nghĩa, Long An, quân Mỹ giữ một vai trò chủ yếu cuộc hành quân "bình định". Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến, Long An hình thành và phát triển trong giai đoạn này. Ở Long An chuẩn bị vào mùa khô thứ 2, riêng quân Mỹ đã có 4 lữ đoàn, 196 khẩu pháo, 300 tàu lớn nhỏ... Ngày 23-12-1966, lữ đoàn 1 sư đoàn 25 Mỹ đổ quân và công sự đúc sẵn tăng cường cho chốt Rạch Kiến, hình thành ở đây một căn cứ lớn của Mỹ. Huyện ủy Rạch Kiến hạ quyết tâm lập vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến với lực lượng tổng hợp bao gồm một bộ phận đơn vị tập trung, bộ đội địa phương huyện, lực lượng quần chúng hợp pháp có khả năng tiến công chính trị, binh vận. Vành đai Rạch Kiến được tổ chức thành 3 tuyến. Toàn bộ 10 xã hình thành thế trận vành đai liên hoàn. Huyện phát động phong trào giành các danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Trong 3 tháng đầu, vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến đã loại gần 1.000 tên Mỹ, bắn rơi 16 trực thăng... Khi chiến thuật phân đội nhỏ thọc sâu của quân Mỹ bị thất bại chúng chuyển sang dùng lực lượng lớn có cơ giới. Lập tức quân dân vành đai Rạch Kiến chuyển hướng kịp thời: gài mìn, làm hầm, làm mương chống tăng... Các tổ cụm đánh xe tăng, máy bay được bố trí dày đặc, ở các xã vành đai đã xuất hiện dũng sĩ diệt cơ giới. Cùng với mũi quân sự trên vành đai Rạch Kiến, nhân dân kéo ra căn cứ Mỹ đấu tranh đòi địch chấm dứt ném bom, bắn phá vào làng...
Ở Bà Rịa, lữ đoàn Hoàng gia Úc đã xây dựng hàng rào Úc có tổng chiều dài 11km, bên ngoài là "hàng rào biệt kích" Úc, bên trong là các lớp dây kẽm gai với chiều rộng từ 30 đến 100m dày đặc mìn và lựu đạn gài. Hàng rào úc đã biến cả vùng dân cư lâu đời thành "ấp chiến lược", cắt đứt liên lạc trong ngoài; chiến khu Minh Đạm mất nguồn tiếp tế, lực lượng chiến tranh nhân dân địa phương bị tiêu hao nhiều. Du kích địa phương đã không quản xương máu, hy sinh, vô hiệu hóa "hàng rào Úc" và biến chính hàng rào ấy thành kho vũ khí để đánh lại chính quân Úc. Có thể nói rằng sang giai đoạn phản công chiến lược mùa khô thứ 2 (1966-1967) của địch trong giai đoạn "chiến tranh cục bộ", vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ đã phát triển mạnh mẽ. Bằng sự phối hợp chặt chẽ giữa lối đánh du kích, bám trụ nhiều vòng, cầm chân, bắn tỉa, phục kích và tiến hành công tác địch vận mở vòng ngoài. Trong năm 1966- 1967, vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ cùng với các vành đai diệt Mỹ trên toàn miền Nam đã trở thành nỗi khiếp sợ của quân Mỹ, góp phần làm thất bại hệ thống bình định của Mỹ - ngụy, tạo thế và lực phát triển mới cho cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn năm 1975. Quân và dân miền Đông Nam Bộ trên các vành đai diệt Mỹ ở Củ Chi, vành đai diệt Mỹ ở Tây Ninh, vành đai diệt Mỹ ở Long An... đã phát huy sức mạnh tổng hợp của hình thức đánh giặc sáng tạo của chiến tranh nhân dân, góp phần quan trọng đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ 2. Hãng thông tin Mỹ AP (9-8-1967) đã thừa nhận rằng "Việt cộng đã xây dựng được một hệ thống khó phá ở hầu hết các cấp. Ở nước ngoài, làm sao người ta có thể tưởng tượng được rằng, mỗi khi có tin Mỹ sắp kéo về làng thì trai gái, già trẻ cả làng kéo nhau tới ban chỉ huy du kích để lãnh thêm mìn, đạn về sử dụng thành thạo..." Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, quân và dân trên các vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ chẳng những hoàn thành tốt các nhiệm vụ bảo vệ bàn đạp, trận địa cho các đơn vị chủ lực đánh chiếm các mục tiêu trong nội đô Sài Gòn - Gia Định, mà còn tích cực trực tiếp tham gia đánh địch ở vùng ven và trung tuyến. Du kích, bộ đội địa phương tiến công đồn bót trên các trục giao thông và trong các "ấp chiến lược", vây ép một số căn cứ địch tại địa phương, tạo điều kiện cho nhân dân vùng lên diệt ác, phá kìm, mở rộng vùng giải phóng. Tiểu đoàn 7 Củ Chi chia thành 2 mũi tiến công bám sát một số đồn bót Phú Hòa Đông, kết hợp với mũi binh vận tiến công bót Mỹ Chánh... Bộ đội địa phương Trảng Bàng tổ chức tiến công bót Suối Sâu, An Bình, bao vây căn cứ Mỹ ở ấp Chánh, mở rộng địa bàn cho chủ lực Miền. Lực lượng địa phương Củ Chi cùng lực lượng vũ trang cấp trên đánh thẳng vào căn cứ Đồng Dù diệt nhiều Mỹ, phá hủy nhiều máy bay... Lực lượng du kích các huyện ven đã phát triển tăng vọt qua đợt Tổng tiến công Tết Mậu Thân... Như vậy, trải qua 4 năm thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ (1965-1968) trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân vào thiết lập các căn cứ quân sự trên các địa bàn chiến lược trọng yếu từ Khu 5 đến miền Đông Nam Bộ, mở các cuộc hành quân "tìm và diệt", "bình định" vô cùng tàn bạo, nhằm bắt quân và dân ta phải khuất phục. Nhưng với ý chí quyết đánh Mỹ và thắng Mỹ, quân và dân ta trên các "vành đai diệt Mỹ" toàn miền nói chung, quân và dân trên các vành đai diệt Mỹ miền Đông Nam Bộ nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, của Trung ương Cục miền Nam, đã vận dụng sáng tạo, đúng đắn đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện bằng hình thức tổ chức xây dựng thế trận vành đai diệt Mỹ bao quanh các khu căn cứ quân sự của Mỹ. Vành đai diệt Mỹ miền Đông Nam Bộ xuất hiện ngay từ đầu cuộc chiến tranh cục bộ như một tất yếu lịch sử; hình thành và phát triển mạnh mẽ trong hai đợt phản công lớn của địch. Hình thành và phát triển mạnh bằng đường lối chiến tranh nhân dân, nhất là việc sử dụng sức mạnh tổng hợp 2 lực lượng, 3 thứ quân, kết hợp vận dụng linh hoạt phương châm đấu tranh "hai chân, ba mũi", quân và dân trên vành đai đã anh dũng liên tục chiến đấu, làm tiêu hao tiêu diệt rất nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, căng kéo giam chân một lực lượng lớn quân Mỹ vào nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ sào huyệt, tạo điều kiện quan trọng cho các binh đoàn chủ lực cơ động của ta chủ động phản kích, bẻ gãy các cuộc hành quân tìm diệt và bình định của Mỹ - ngụy. Có thể nói rằng, trong giai đoạn 1965-1968, vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ hình thành và phát triển đến đỉnh cao. Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh quân và dân trên vành đai diệt Mỹ ở miền Đông Nam Bộ đã góp phần quan trọng đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" - đỉnh cao của chính sách chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:09:55 pm VÀNH ĐAI DIỆT MỸ TRẢNG LỚN HUYỆN CHÂU THÀNH - MỘT SÁNG TẠO CỦA ĐƯỜNG LỐI CHIẾN TRANH NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TÂY NINH NGUYỄN VĂN TIẾN Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh Sau khi đổ quân xuống Trảng Lớn (12-10-1965), quân Mỹ đã thiết lập hàng loạt căn cứ chuẩn bị tiếp tục đổ quân chiếm đóng nhiều nơi trong tỉnh Tây Ninh như Chà Là, Suối Đá (Dương Minh Châu), Chà Rầy (Trảng Bàng), Bàu Tràm (Bến Cầu)... Chúng gấp rút cho sửa chữa, phục hồi lại các sân bay dã chiến ở Trảng Lớn, thị xã Tây Ninh, Suối Đá... Sư đoàn số 25 Mỹ, các đại đội bảo an, dân vệ tiếp tục đẩy mạnh "bình định nông thôn". Mặt khác chúng mở rộng hệ thống đồn bót quanh khu vực Trảng Lớn và các căn cứ khác để bảo vệ cho quân Mỹ, bảo vệ các sân bay dã chiến của chúng. Vì thế, suốt quá trình xây dựng, mở rộng hệ thống căn cứ quân sự, Mỹ - ngụy đã dùng phi cơ, pháo binh đánh phá ác liệt vào các chiến khu Bời Lời, Ninh Điền, Trà Vong, Dương Minh Châu, Bắc Tây Ninh. Đồng thời, chúng liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá vào vùng giải phóng, vùng ven, cày ủi phát hoang các xã vùng ruột Gò Dầu, vùng Thanh Điền, Ninh Điền, gom xúc dân vào các trại tập trung, ấp chiến lược để chúng dễ bề kiểm soát, tiến hành sàng lọc, phân loại dân đi đôi với hoạt động chiến tranh tâm lý mua chuộc chiêu hồi chiêu hàng nhằm vào lực lượng ta. Chỉ trong 6 tháng cuối năm 1965, ở Tây Ninh Mỹ - ngụy đã mở trên 1400 cuộc càn quét, nhiều dân thường bị chúng giết hại, nhiều làng mạc bị tàn phá... Đảng bộ, quân và dân Tây Ninh nhận thức rõ vị trí của mình, nhận rõ trách nhiệm phải bằng mọi khả năng, chấp nhận hy sinh, gian khổ, ác liệt để bảo vệ an toàn cho căn cứ địa đầu não. Nhận rõ ý đồ chiến lược của Mỹ thông qua hoạt động của chúng chuẩn bị cho hành động leo thang đánh phá trong mùa khô 1965-1966, 1966-1967 vào vùng căn cứ đầu não Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền, Đài phát thanh Giải phóng và các cơ quan Trung ương đang đứng chân trên đất Tây Ninh, Tỉnh ủy Tây Ninh đã ban hành Nghị quyết ngày 10 tháng 01 năm 1966 - được xem là nghị quyết đầu tiên thể hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Đảng bộ quân và dân Tây Ninh. Nghị quyết đã đề ra những chủ trương táo bạo trên cơ sở lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang tại chỗ, xây dựng hệ thống "vành đai" quanh căn cứ Mỹ, bằng thế trận nhân dân, du kích chiến tranh bao vây địch, tạo thế "cài răng lược" sâu trong lòng các khu tập trung ấp chiến lược, tỉnh lỵ, huyện lỵ. Thực hiện bám trụ vùng giải phóng, vùng ven "một tấc không đi, một ly không rời" với khẩu hiệu hành động "quyết tử giữ Gò Dầu", với quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ phải "đào sâu lòng đất bám chặt lòng dân", vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn, địa đạo An Thới, địa đạo Bàu Gỏ ra đời, liên tục tiến công địch bằng chông, mìn, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, bằng đánh địch nhỏ, lẻ, một người, một tổ cũng tiến công địch, đánh địch đi đôi với chủ động mọi phương án, dự kiến tình huống để bảo toàn lực lượng ta. Chủ trương của Đảng bộ Tây Ninh về thiết lập hệ thống "vành đai diệt Mỹ" dựa vào thế trận du kích chiến tranh là một chủ trương đúng đắn, phát huy được lợi thế của ta, hạn chế được sức mạnh hung hãn của hỏa lực, xung lực địch. Vì thế, nên mặc dù địch đánh phá hết sức ác liệt, nhân dân và lực lượng vũ trang tại chỗ, với khí thế tiến công liên tục trên chiến hào vành đai diệt Mỹ đã làm cho quân Mỹ ngày đêm mất ăn mất ngủ, liên tục bị tiêu hao, tiêu diệt, bị thế trận chiến tranh nhân dân bao vây, đeo bám bắn tỉa, pháo kích, tập kích bất ngờ. Địch hành quân càn quét giải tỏa bị đánh, bị vướng trái gài, hầm chông. Địch cố thủ trong căn cứ thì các ấp chiến lược, hậu phương của chúng bị đánh phá, các hoạt động diệt ác, phá kìm của bộ đội tập trung, dân quân du kích diễn ra khắp nơi, giao thông huyết mạch của địch bị quân ta phục kích, đường vận chuyển tiếp tế hậu cần cho quân Mỹ trên bộ liên tục bị gài mìn, bắn tỉa làm cho ngưng trệ... Quân Mỹ - ngụy luôn đứng trước mâu thuẫn giữa "tập trung" và "phân tán", giữa "tìm diệt" và yểm trợ cho "bình định". Chính nhờ sự đeo bám đánh phá liên tục của thế trận chiến tranh nhân dân, ngay từ lúc quân Mỹ chiếm đóng Trảng Lớn và nhiều nơi khác trong tỉnh qua thế trận vành đai diệt Mỹ, thế trận du kích chiến tranh đã tạo thời cơ, tạo chiến trường cho bộ đội chủ lực cơ động đánh những đòn tiêu diệt lớn làm tiêu hao sinh lực Mỹ như ở Bàu Gòn sân lễ, Suối Ông Hùng (Dương Minh Châu) Bàu Tràm (Bến Cầu), Dầu Bà, Đồng Ớt, Chà Rầy (Trảng Bàng). Đỉnh cao là các chiến công đánh bại 2 cuộc hành quân được chúng xem là có quy mô lớn nhất Attơnbơrơ năm 1966 và Gianxơn xity năm 1967, góp phần đánh bại 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 -1966 và 1966 - 1967, đánh bại âm mưu chiến lược "tìm diệt" và "bình định" của chúng. Từ thực tế xây dựng, phát triển, chiến đấu của vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn và các nơi khác trên chiến trường Tây Ninh đã chứng minh: Vành đai diệt Mỹ là một sáng tạo độc đáo của đường lối chiến tranh nhân dân do Đảng bộ tỉnh Tây Ninh xây dựng, tổ chức lãnh đạo và chỉ huy. 1. Vành đai diệt Mỹ là một trong những sáng tạo độc đáo và là giải pháp tập trung sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân nhằm đánh bại đối tượng tác chiến chủ yếu của quân và dân ta là lính viễn chinh xâm lược Mỹ. Tháng 10-1965, lữ đoàn 196 quân Mỹ đổ xuống Tây Ninh lập căn cứ tại Trảng Lớn mở đầu cuộc chiến tranh cục bộ bằng chiến lược 2 gọng kìm "tìm diệt", "bình định" hòng "bẻ gãy xương sống" quân chủ lực giải phóng miền Nam, đánh vào căn cứ địa cách mạng tỉnh Tây Ninh liên tiếp trong 2 mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967. Quân Mỹ trực tiếp tham chiến; chiến trường có sự thay đổi, chênh lệch lớn về tương quan ta, địch; Ưu thế về khí tài hoàn toàn thuộc về quân Mỹ do chúng được trang bị vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại, có sức cơ động cao, khả năng đột kích mạnh. Đảng bộ và quân dân Tây Ninh biết rõ thực lực của mình, biết nghĩ ra cách đánh phát huy được khả năng lực lượng tại chỗ, tìm cách bao vây, phân tán, căng kéo, tiêu hao hạn chế sức mạnh của quân Mỹ bằng thế trận chiến tranh nhân dân, lợi dụng địa hình rừng núi, thời tiết khắc nghiệt của khí hậu vùng nhiệt đới, làm cho chúng căng thẳng về tinh thần, suy giảm về sức lực và ý chí chiến đấu. Rút kinh nghiệm chiến trường các tỉnh Bắc Trung Bộ, vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn ra đời. Cùng với vành đai Trảng Lớn là hệ thống các xã ấp chiến đấu liên hoàn ở hầu khắp các nơi trong tỉnh bao quanh các căn cứ Mỹ, các đồn bót ngụy, các trục giao thông huyết mạch của chúng, kể cả các vùng sâu trong lòng địch ở Phú Khương, Gò Dầu, thị xã. Ở những nơi đó, dân quân du kích, bộ đội tập trung tỉnh, huyện liên tục thực hiện những trận đánh nhỏ, lẻ như pháo kích, bắn tỉa, đột nhập vào các ấp chiến lược, vào các căn cứ Mỹ, bất ngờ tập kích, phục kích tiêu diệt sinh lực địch, phá kho tàng, làm cho quân Mỹ ngày đêm phải lo phòng giữ căn cứ. Nhờ đó màtrong các cuộc hành quân "tìm diệt" chúng không tập trung được ưu thế tuyệt đối, bị căng kéo, phân tán. Những tháng đầu năm 1966, lữ đoàn 196 Mỹ từ căn cứ Trảng Lớn liên tục hành quân nống ra các khu vực chung quanh, hòng đẩy lực lượng ta ra xa vành đai Trảng Lớn. Lập tức chúng bị các lực lượng phối hợp của ta ở các cụm trong hệ thống vành đai chặn đánh, nhiều trận đánh diễn ra giằng co ác liệt. Hàng trăm sinh lực Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu ở các trận Bàu Rào, Bàu Đưng Thanh Điền (cụm 1) Chòm Dừa, Bàu Sen (cụm 4) Gò Nổi, Bắc Rù (cụm 3)... Chia lửa cho vành đai Trảng Lớn, quân và dân Trảng Bàng, Bến Cầu dồn dập tiến công địch ở các ấp chiến lược: ngã ba Hai Châu, Cầu Váng, Lợi Thuận, Long Thuận, cầm chân quân dịch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, bắn hư, bắn cháy hàng chục xe tăng, máy bay trực thăng tại địa đạo An Thới, Bàu Gỏ. Tiểu đoàn 14, đại đội 33 đánh địch lấn chiếm Gò Dầu loại hàng trăm tên lính bảo an, sư đoàn 25 ngụy. Kể cả những đơn vị thuộc sư đoàn 1 "anh cả đỏ", sư đoàn 25 "tia chớp nhiệt đới", lữ đoàn dù 173 của Mỹ có mặt ở Tây Ninh những năm 1966 -1967cũng vấp phải sự chống trả ngoan cường của du kích vành đai diệt Mỹ ở Tây Ninh... Một số đơn vị thiện chiến của Mỹ bị tiêu hao, lữ đoàn 196 bị loại khỏi vòng chiến đấu. Du kích các xã Bến Cầu có ngày phục kích dùng súng trường bắn tỉa hàng chục tên Mỹ ở Bàu Tràm, v.v... Có thể nói ở Tây Ninh trong thời điểm ấy, bên cạnh vành đai diệt Mỹ ở Trảng Lớn là trung tâm, còn lại ở bất cứ nơi đâu có căn cứ Mỹ, có lính Mỹ đi càn quét là lập tức có "vành đai diệt Mỹ" bằng thế trận du kích chiến tranh tiều hao quân địch. Lúc quân Mỹ tập trung lực lượng càn quét thì căn cứ của chúng bị du kích, bộ đội địa phương tiến công bằng mìn, lựu đạn, cối; chúng buộc phải co về để bảo vệ căn cứ thì quân ngụy, các ấp chiến lược, vùng thị xã, thị trấn hậu phương của chúng bị đánh phá. Địch lâm vào cảnh cả 2 gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" đều bị quân và dân ta tiến công. Thực tiễn từ chiến trường Tây Ninh cho thấy: ngay từ khi quân Mỹ chiếm đóng Trảng Lớn bắt đầu triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ", quân và dân Tây Ninh với hệ thống vành đai diệt Mỹ ngay từ đầu đã nắm quyền chủ động chiến trường, buộc quân Mỹ đông và mạnh hơn gấp nhiều lần phải đánh theo cách đánh của ta. Quyền chủ động đó do ta nắm giữ cho đến ngày Mỹ - ngụy bị sụp đổ hoàn toàn. Qua đó có thể khẳng định đây là một sáng tạo độc đáo của đường lối chiến tranh nhân dân. Tiêu đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Chín, 2026, 07:10:47 pm 2.Xuất phát từ quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng bộ, quân và dân Tây Ninh đã kiên trì vận dụng phương châm đấu tranh kết hợp hai chân: chính trị, quân sự với phương thức 3 mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận trên cả 3 vùng: vùng thị xã, thị trấn; vùng ven nông thôn; vùng rừng núi.
Phương thức kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự đã hình thành từ những năm Mỹ - ngụy thi hành chiến lược "chiến tranh đơn phương", "chiến tranh đặc biệt". Khi quân Mỹ trực tiếp xâm lược Tây Ninh, hai hình thức đấu tranh ấy đã hỗ trợ đắc lực cho nhau và phát triển lên trình độ cao. Đấu tranh chính trị đã thu hút hàng trăm ngàn lượt quần chúng tham gia, làm cho cả Mỹ lẫn ngụy nhiều phen điêu đứng. Nhiều cuộc đấu tranh chính trị với đa phần là lực lượng phụ nữ đã kéo đến dinh quận Trảng Bàng, Hiếu Thiện, Phú Khương, thị xã, đấu tranh chống Mỹ dùng bom đạn, chất độc hóa học phá hoại nhà cửa, hoa màu, ruộng vườn. Có cuộc đấu tranh bà con mang cả xác người thân đến tố cáo tội ác của lính Mỹ ngay tại các căn cứ của chúng ở Trảng Lớn, Chà Rầy, Bàu Tràm... Các cuộc đấu tranh chống bắt lính, dồn dân, chống cày ủi nhà cửa, ruộng vườn đã có hàng chục chị em phụ nữ ở Trảng Bàng tay không cản đầu xe tăng Mỹ, buộc địch phải nhượng bộ. Hình thức đấu tranh chính trị thời kỳ có quân Mỹ chiếm đóng ở Tây Ninh cũng đa dạng hơn: bà con ta đã tập trung chĩa mũi nhọn đấu tranh vào quân Mỹ. Bằng chứng cớ cụ thể, lời lẽ thuyết phục, bà con ta đã vạch trần tội ác dã man của giặc Mỹ, khơi dậy tình đồng bào dân tộc trong hàng ngũ sĩ quan, binh lính, viên chức ngụy quyền, lôi kéo họ đứng về phía nhân dân. Hình thức đấu tranh chính trị chuyển sang hình thức đấu tranh binh vận đã tranh thủ sự đồng tình của hàng ngàn binh sĩ ngụy; đã có hàng trăm binh sĩ trong thời gian này rời bỏ hàng ngũ địch về gia đình làm ăn lương thiện, trong đó có không ít người tham gia lực lượng kháng chiến đánh Mỹ - ngụy. Mũi đấu tranh quân sự trong hệ thống các vành đai diệt Mỹ cũng vô cùng đa dạng, phong phú. Các lực lượng vũ trang của tỉnh vừa tiến công vừa phòng thủ, luôn nắm giữ quyền chủ động chiến trường, luôn lấy tiến công địch làm phương án tác chiến chủ yếu, nhưng rất cơ động, linh hoạt: có thời cơ thì đánh địch, khi ở thế bất lợi thì vòng tránh, đeo bám đánh địch ở phía trước, phía sau, đánh ngày, đánh đêm, đánh ngay trong lòng các căn cứ của chúng, đánh vào trung tâm đầu não chỉ huy ngay trong căn cứ Trảng Lớn, thị xã Tây Ninh, mở tòa án nhân dân trừng trị ác ôn giữa ban ngày ngay tại chợ Gia Huỳnh, thị trấn Trảng Bàng, dùng cơ sở nội tuyến đánh mìn ngay tại trung tâm truyền tin ngụy trong tiểu khu Tây Ninh, v.v... Phối hợp nhịp nhàng hoạt động tác chiến giữa các lực lượng tại chỗ và lực lượng chủ lực cơ động cấp trên. Các hoạt động thường xuyên của du kích và bộ đội địa phương quấy rối, tiêu hao, căng kéo địch làm cho chúng luôn căng thẳng lo đối phó tại chỗ. Hoạt động của bộ đội chủ lực: Q16, công trường 9, đoàn đặc công 429... đã thực hiện những đòn đánh hiểm, tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng. Có thể khẳng định, Đảng bộ Tây Ninh dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Trung ương Cục, Quân ủy, Bộ chỉ huy Miền đã biết dựa vào địa hình và thế trận, căn cứ thực tiễn địa phương mình, vận dụng linh hoạt phương thức đấu tranh, tiến công địch bằng 3 mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận là một sáng tạo độc đáo, một bước phát triển cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân. 3.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp ở Tây Ninh ngay từ rất sớm đã hình thành, bám sâu cội rễ trong dân tổ chức hướng dẫn nhân dân đấu tranh với địch từ lúc Mỹ - ngụy thực thi chiến lược "chiến tranh đơn phương" những năm 1955 - 1959 và chiến lược "chiến tranh đặc biệt" những năm 1960 - 1965. Bước vào giai đoạn Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" với kinh nghiệm đã được tích lũy, hệ thống Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp ở Tây Ninh ngay từ những năm đầu của chiến tranh đã quán triệt quan điểm kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, chủ động phương án, phát động toàn dân đóng góp nhân, vật, trí, lực cho kháng chiến. Nhân dân khắp nơi trong tỉnh hưởng ứng phong trào "đảm phụ nuôi quân" đã đóng góp hàng ngàn giạ lúa, nhân dân tự nguyện tham gia vào các đội xay, giã, mang ra tận chiến hào vành đai cho du kích, hoặc đào hầm chôn giấu ở nhiều nơi để bảo đảm nuôi quân. Đồng bào trong các ấp chiến lược, thị trấn, thị xã âm thầm quyên góp, bí mật đưa ra vùng giải phóng hàng chục vạn kilôgam thực phẩm các loại, thuốc điều trị, cứu chữa cho thương bệnh binh... Những lúc khó khăn do địch bao vây, cấm vận, nhân dân ta đã tự nguyện đóng góp hàng trăm hécta mì, bắp, đậu các loại, do bà con trồng trong vùng ven, vùng giải phóng. Nhiều gia đình khá giả đã tìm cách liên lạc ủng hộ kháng chiến hàng triệu đồng... Lực lượng kháng chiến nhờ đó mà tồn tại, phát triển, bám trụ chiến đấu dài ngày. Các phong trào vận động thanh niên tòng quân, thiếu nhi, người lớn gom nhặt các loại đạn, trái lép địch bỏ lại đem nộp cho du kích để sản xuất vũ khí tự tạo đánh địch... Có thể nói, suốt trong những năm tháng chiến đấu trong vành đai diệt Mỹ, các lực lượng kháng chiến sống trong lòng dân, do dân đùm bọc, che chở, nuôi nấng. Đây chính là một sáng tạo mới của đường lối chiến tranh nhân dân. Lực lượng tại chỗ, hậu cần nhân dân, hậu cần tại chỗ là kết quả của sự vận động, tập hợp, hoạt động đầy hiệu quả của chính quyền cách mạng thời đánh Mỹ cũng như của các tầng lớp nhân dân Tây Ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. Tóm lại, cuộc chiến tranh đã đi qua, đã lùi vào quá khứ, vành đai diệt Mỹ chỉ còn lại một cụm từ, một khái niệm, nhưng trong ký ức mỗi người dân Tây Ninh, đặc biệt với lớp người đã từng trải qua những năm tháng chiến đấu trong vành đai sẽ mãi mãi không bao giờ quên một thời gian lao, nhưng vô cùng oanh liệt. Truyền thống đạo lý của người Việt Nam là rất yêu chuộng hòa bình, muốn là bạn của năm châu bôn biển, sẵn sàng gác lại quá khứ hướng về tương lai, nhưng trong kế sách giữ nước của mình, dân tộc Việt Nam, các thế hệ người Tây Ninh nói riêng thì những kinh nghiệm rút ra thời chiến đấu chống ngoại xâm, đặc biệt là trong vành đai diệt Mỹ vẫn còn nguyên giá trị cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Đó là kinh nghiệm của lòng yêu nước, sự xả thân mình bám trụ quê hương, là trí thông minh, lòng dũng cảm, là sự khôn khéo, sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa các lực lượng, các phương thức đấu tranh, biết đánh và biết thắng bất cứ kẻ thù nào rắp tâm muốn xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta. Những bài học kinh nghiệm quý giá của vành đai một thời đánh giặc cần phải được đi sâu nghiên cứu làm rõ để từ đó vận dụng vào nhiệm vụ xây dựng củng cố quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay. |