Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:57:51 pm



Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:57:51 pm
- Tên sách: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2021
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


* Chỉ đạo nghiên cứu biên soạn:
   - QUẬN ỦY, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN
   - ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ QUẬN BA ĐÌNH

* Ban Chỉ đạo:
   - Đồng chí HOÀNG MINH DŨNG TIẾN, Thành Ủy viên, Bí thư Quận ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự quận - Trưởng ban.
   - Đồng chí NGUYỄN CÔNG THÀNH, Phó Bí thư Thường trực Quận ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân quận - Phó Trưởng ban.
   - Đồng chí TẠ NAM CHIẾN, Phó Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Phó Trưởng ban.
   - Thượng tá PHAN TỬ LĂNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận - Phó Trưởng ban.
   - Trung tá PHẠM HẢI THẮNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Công an quận - Ủy viên.
   - Đồng chí PHẠM THỊ HỒNG HẠNH, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân quận - Ủy viên.
   - Đồng chí TỐNG HỌC NGHĨA, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưỏng ban Tổ chức Quận ủy - Ủy viên.
   - Đồng chí HOÀNG NGỌC SÁU, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Quận ủy - Ủy viên.
   - Đồng chí NGUYỄN THỊ MINH HÓNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Trường ban Dân vận Quận ủy - Ủy viên.
   - Đồng chí NGUYỄN PHÚ QUỐC, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Quận ủy - Ủy viên.
   - Đồng chí NGUYỄN TRUNG DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên.
   - Đồng chí Đỗ THỊ LAN HƯƠNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chánh Văn phòng Quận ủy - Ủy viên.
   - Đồng chí PHẠM THỊ DIỄM, Quận Ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên.
   - Đồng chí NGÔ MINH TUÂN, Quận Ủy viên, Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên.
   - Thượng tá PHẠM TIẾN THÀNH, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự, Chính trị viên Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên.
   - Đồng chí TRẦN XUÂN VỮNG, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận - Ủy viên.

* Ban Biên soạn:
   - Đại tá PHÙNG CHÍ CAO, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội - Trưởng ban.
   - Thượng tá PHAN TỬ LĂNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chỉ huy trưỏng Ban Chĩ huy Quản sự quận - Phó Trưởng ban.
   - Đồng chí ĐỖ THỊ DUY NHIÊN, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận - Ủy viên.
   - Đồng chí CỒ NHƯ DŨNG, Quận Ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên.
   - Thượng tá PHẠM TIẾN THÀNH, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quân sự, Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận - Ủy viên.
   - Thượng tá TRỊNH QUỐC TUẤN, Phó Trường Công an quận - Ủy viên.
   - Đồng chí NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Quận Ủy viên, Chánh Thanh tra quận - Ủy viên.
   - Đồng chí LƯƠNG TUẤN DŨNG, Quận Ủy viên, Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận - Ủy viên;
   - Đồng chí LÊ THỊ KHANH, Quận Ủy viên, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin - Ủy viên.
   - Đồng chí LƯU THỊ KIM HIỀN, Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị quận - Ủy viên.
   - Thượng tá NGUYỄN VĂN LONG, Trợ lý Phòng Khoa học quân sự Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội - Ủy viên.
   - Trung tá LUYỆN MINH HỒNG, Chính trị viên phó kiêm Chủ nhiệm Chính trị Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên.
   - Thượng tá VƯƠNG ĐĂNG NINH, Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên.
   - Thượng tá NGUYỄN DUY AN, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên.

* Thẩm định và bổ sung:
   Đại tá, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC ĐỘ - Nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lý luận bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nên quốc phòng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự.

* Có sự tham gia góp ý của:
   - Phòng Khoa học quân sự Bộ Tham mưu Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
   - Phòng Tuyên huấn Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
   - Phòng Lịch sử tư tưởng Tổ chức quân sự Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
   - Hội Sử học Hà Nội.
   - Các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Ban Chỉ huy quân sự quận các thời kỳ.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 11 Tháng Năm, 2026, 09:58:38 pm
LỜI TỰA CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN QUYẾT


Lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với các đội vũ trang tiền thân là Đội Tự vệ công nhân, Đội Công nhân xung phong, Đội Tự vệ chiến đấu, Đội Danh dự Việt Minh, Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu... ra đời trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong 75 năm qua, kế thừa truyền thống yêu nước và sáng tạo của vùng đất Ba Đình lịch sử, địa linh, nhân kiệt, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình đã lập được nhiều thành tích hết sức vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng, bảo vệ và xây dựng Thủ đô Hà Nội, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Cuốn sách "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình (1945 - 2020)" được xuất bản vào dịp Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang quận Ba Đình long trọng kỷ niệm 60 năm thành lập quận (5.1961 - 5.2021) là rất có ý nghĩa. Nội dung sách đã phản ảnh trung thực, phong phú, sinh động quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với lực lượng vũ trang nhân dân trong 75 năm qua ở quận trung tâm của Thủ đô Hà Nội.


Cuốn sách là tài liệu rất quý báu phục vụ cho công tác học tập nghiên cứu và giáo dục truyền thống yêu nước, anh dũng, kiên cường "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình cho các thế hệ hiện nay và mai sau.

Chúc lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình tiếp tục nêu cao phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", đoàn kết phấn đấu xây dựng ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó trong tình hình mới!


Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2021

Đại tướng NGUYỄN QUYẾT
Nguyên Bí thư Trung ương
Đảng Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 08:02:23 pm
LỜI GIỚI THIỆU


Ba Đình, quận trung tâm của thành phố Hà Nội, vùng đất địa linh, nhân kiệt, có bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa lâu đời gắn với quá trình hình thành, phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng. Trong lịch sử dân tộc, vùng đất Ba Đình tự hào là trung tâm của kinh đô qua hầu hết các triều đại quân chủ (939 - 1945), trung tâm Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc; ngày nay là quận nội thành của thành phố - Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vùng đất quận Ba Đình trong lịch sử đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều danh nhân, nhân tài trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, đối ngoại..., góp phần làm rạng danh non sông, đất nước. Suốt lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc, nhân dân vùng đất Ba Đình luôn giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Trong thời kỳ nghìn năm chống các thế lực phong kiến phương Bắc đô hộ, thời kỳ quân chủ, nhân dân vùng đất Ba Đình đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân lộc.


Trong giai đoạn 1930 - 1945, địa bàn quận Ba Đình là một trong những cơ sở cách mạng của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ. Thực hiện chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực nhằm đánh đổ chính quyền thực dân giành chính quyền về tay công nông, Đảng ta đã sớm chủ trương tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng. Lực lượng vũ trang Ba Đình, với tổ chức tiền thân là các đội tự vệ, ra đời trong quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta, kế thừa và phát huy truyền thống của quê hương, luôn dũng cảm, kiên cường, đi đầu và làm nòng cốt cho các thế hệ, tầng lớp nhân dân Ba Đình trong đấu tranh vũ trang, tham gia tổng khởi nghĩa, đánh đổ chế độ thực dân, giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, lực lượng vũ trang Ba Đình được xây dựng, phát triển, cùng với nhân dân Ba Đình tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ; cùng với nhân dân Thủ đô Hà Nội chiến đấu kiên cường trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ cho các cơ quan Trung ương rút lên Chiến khu Việt Bắc an toàn. Những chiến công vang dội của lực lượng vũ trang Ba Đình trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân, đoàn kết nội bộ lực lượng vũ trang, biểu tượng của ý chí, tinh thần quyết chiến, quyết thắng "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, trực tiếp là Khu ủy, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng với nhân dân anh dũng, kiên cường vừa sản xuất, vừa chiến đấu, chi viện sức người, sức của cho quân và dân miền Nam, góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Bước vào thời kỳ cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975 - 2020), dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, trực tiếp là Quận ủy Ba Đình, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình không ngừng phát triển, cùng với nhân dân tích cực tham gia khắc phục hậu quả sau chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, chi viện sức người, sức của cho các mặt trận biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện tốt chức năng tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ quận, thành phố ngày càng vững chắc; phối hợp với lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, quân đội, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng quận Ba Đình, Thủ đô Hà Nội giàu đẹp, văn minh, hiện đại.


Với những thành tích xuất sắc đạt được trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình được Đảng, Nhà nước, phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" và nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý khác.


Thực hiện Thông báo số 834 ngày 16 tháng 8 năm 2019 của Quận ủy Ba Đình, Quyết định số 2639-QĐ/QU ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Thường vụ Quận ủy Ba Đình, Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình tổ chức nghiên cứu biên soạn cuốn: "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình (1945 - 2020)".


Theo Luật Quốc phòng 2005 (nay là Luật Quốc phòng năm 2018), thành phần lực lượng vũ trang nhân dân ở nước ta gồm: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. Tuy nhiên, do đặc điểm về tổ chức và hoạt động của lực lượng Công an nhân dân nên lịch sử Công an nhân dân quận Ba Đình được biên soạn riêng để phản ánh đầy đủ những đặc thù của Công an nhân dân. Được sự đồng ý của Ban Chỉ đạo, Ban Biên soạn xác định đối tượng, phạm vi cuốn sách "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình (1945 - 2020)" bao gồm các cơ quan quân sự cấp quận, phường, đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dân quân tự vệ quận Ba Đình qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1945 đến năm 2020.


Cuốn sách là công trình khoa học lịch sử quân sự được nghiên cứu và biên soạn công phu dựa trên nhiều nguồn tư liệu quý, phản ánh trung thực lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền quận qua các thời kỳ lịch sử; là tài liệu tham khảo quý báu phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu và giáo dục truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân quận Ba Đình; xây dựng lòng tự hào và động viên mọi tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đồng thời, cuốn sách còn là tài liệu tham khảo quý báu để tiếp tục triển khai thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, biên soạn sách, tài liệu lịch sử của thành phố Hà Nội, quận Ba Đình và các địa phương trên địa bàn quận.


Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn cuốn sách, Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Quận ủy Ba Đình, sự giúp đỡ về chuyên môn của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Kiện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Hội Sử học Hà Nội, Phòng Khoa học quân sự, Bộ Tham mưu, Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; sự giúp đỡ, góp ý, cung cấp tư liệu, tài liệu quý báu của các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình qua các thời kỳ. Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình chân thành cảm ơn Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Quận ủy Ba Đình và các cơ quan, đơn vị, cá nhân đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách được xuất bản, phát hành đúng kế hoạch.


Mặc dù Ban Biên soạn đã nỗ lực trong công tác sưu tầm tư liệu, tài liệu và biên soạn, song do nhiều nguyên nhân, một số tư liệu lưu trữ bị thất lạc nên cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế, chưa đề cập đầy đủ về sự kiện, nhân vật, văn bản pháp lý... phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình trong 75 năm qua.


Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình và Ban Biên soạn rất mong nhận được sự góp ỷ của bạn đọc để nâng cao chất lượng cuốn sách khi tải bản.

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!


ĐẢNG ỦY, BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ
QUẬN BA ĐÌNH


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 08:06:06 pm
Mở đầu
VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI, VĂN HÓA - TRUYỀN THÔNG
QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Kể từ năm 1010, vua Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình về Thăng Long cho đến trước năm 1945, trải qua hơn 9 thế kỷ, vùng đất Ba Đình luôn giữ vị trí quan trọng của kinh thành Thăng Long qua các thời Lý, Trần, của Đông Kinh thời Lê, của Hà Nội thời Nguyễn và là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia - Thủ đô của nước ta từ năm 1945.


Trong lịch sử, Ba Đình vốn là một vùng đất gồm hầu hết các phường, thôn của huyện Vĩnh Thuận cũ1 (Huyện Vĩnh Thuận xưa là huyện Quảng Đức được đặt tên từ năm 1469 thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1865, huyện Quảng Đức đổi tên thành huyện Vĩnh Thuận), trong đó có 12 thôn của tổng Yên Thành, 3/7 phường của tổng Thượng, 9 trại của tổng Nội, 5/6 phường của tổng Trung, 1/7 phường của tổng Hạ. Phía Tây Nam Ba Đình xưa là khu vực thành cũ của thành Thăng Long đã bị thực dân Pháp phá hủy vào cuối thế kỷ XIX.


Ba Đình vốn là tên một chiến khu ở Nga Sơn (Thanh Hóa) - căn cứ chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đinh Công Tráng vào nửa sau thế kỷ XIX. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Ba Đình được đặt tên cho vườn hoa tại ngã sáu phía sau vườn Bách Thảo. Năm 1959, sau 4 năm Hà Nội được giải phóng, tên gọi Ba Đình được đặt cho một trong 8 khu phố nội thành. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập khu phố Ba Đình trên cơ sở sáp nhập khu phố Ba Đình và Trúc Bạch cũ cùng 3 xã nông nghiệp phía Nam Hồ Tây. Thời kỳ này, khu phố Ba Đình được chia làm 50 khối phố; đến tháng 5 năm 1968 được sáp nhập thành 30 tiểu khu. Năm 1981, khu phố Ba Đình được đổi tên thành quận Ba Đình gồm 15 phường. Thực hiện Nghị định số 69/CP ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Chính phủ, các phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ chuyển sang thuộc quận Tây Hồ. Ngày 5 tháng 1 năm 2005, Chính phủ ra Nghị định số 02/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các phường: Ngọc Hà, Cống Vị, Ngọc Khánh và thành lập thêm 2 phường mới là Liễu Giai, Vạn Phúc.


Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Quận Ba Đình ngày nay là quận trung tâm của thành phố Hà Nội, có diện tích 9,29km2, với hơn 24 vạn dân (điều tra dân số tháng 7 năm 2019) và 14 đơn vị hành chính gồm các phường: Cống Vị, Đội Cấn, Điện Biên, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Ngọc Hà, Kim Mã, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Liễu Giai, Vĩnh Phúc. Đặc biệt, trên địa bàn quận Ba Đình tập trung hầu hết các cơ quan của Trung ương Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ; cơ quan ngoại giao, quốc tế.


Phía Bắc quận Ba Đình giáp quận Tây Hồ, phía Đông giáp quận Hoàn Kiếm, phía Nam giáp quận Đống Đa, phía Tây giáp quận Cầu Giấy. Phía Bắc quận Ba Đình có hồ Trúc Bạch, từng là nơi sinh sống của cư dân làm nghề chài lưới; nơi ngâm giữ tơ sợi, giặt lụa của nhiều làng lụa thời xưa. Phía Đông quận Ba Đình có sông Hồng (còn gọi là sông Nhị Hà, sông Cái) chảy uốn lượn; sông Tô Lịch chảy từ Đông sang Tây rồi chuyển xuống phía Nam quận Ba Đình tạo thành ranh giới tự nhiên với quận Cầu Giấy; sông Kim Ngưu mở cửa vào Hồ Tây, chảy theo chiều Bắc - Nam tạo thành vùng đất Ngọc Hà, dọc theo đường Ông Ích Khiêm - Lê Trực, luồn qua đường Cát Linh chảy xuống Hào Nam.


Quận Ba Đình trước đây là vùng non nước, sông hồ hài hòa về phong thủy tạo khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của một vùng địa danh chốn kinh đô của hầu hết các triều đại quân chủ nước ta. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ có viết: Thật là chỗ hội tụ của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời.


Kinh tế

Trải qua nhiều thế kỷ, người dân trên địa bàn vùng đất Đại La, sau này là Thăng Long, Hà Nội, đã tạo dựng nên vùng nông nghiệp lúa nước, trồng dâu nuôi tằm, trồng hoa, cây cảnh...; nhiều nghề thủ công truyền thống sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế và mỹ thuật cao, như: Dệt vải, đúc đồng, làm gốm, nung gạch, làm giấy bản, giấy dó, nung vôi, làm bún, nấu rượu,...


Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với việc ổn định tổ chức bộ máy cai trị, chúng đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Mặc dù Hà Nội về thương mại, công nghiệp ít phát triển, song chính quyền thực dân cũng đã mở một số nhà máy trên địa bàn Hà Nội để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và khai thác nguồn nhân công rẻ mạt, như xây dựng nhà máy rượu năm (năm 1892), nhà máy nước (năm 1894), trong đó có đài nước ở Hàng Đậu, thành lập Sở xe điện (1899), Nhà máy đèn Bờ Hồ (1892),... Trên địa bàn Hà Nội, một vài nhà tư sản Việt Nam cũng đã đứng ra tổ chức sản xuất, nhưng do vốn ít nên chỉ mở được những xưởng nhỏ, số lượng công nhân ít. Nhìn chung, dưới chính quyền thực dân, đời sống của hầu hết người công nhân, nông dân, thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ ở Hà Nội, trong đó có Ba Đình, vô cùng cực khổ, vất vả và bị bóc lột nặng nề. Người dân phải chịu nhiều thứ thuế do chính quyền thực dân đề ra. Hầu hết các tầng lớp dân cư, như công nhân, nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ... đời sống không ổn định, nung nấu căm thù, sẵn sàng vùng lên tham gia phong trào cách mạng đánh đổ chính quyền thực dân.


Chính trị - xã hội

Vùng đất Hà Nội, trong đó có địa bàn Ba Đình, đã sớm trở thành trung tâm chính trị - hành chính của đất nước. Vào thế kỷ thứ III Tr.CN, cùng đất Cổ Loa ngày nay, được An Dương Vương chọn làm kinh đô của nước Âu Lạc, đánh dấu mốc lịch sử mở ra vị thế trung tâm chính trị của Hà Nội, trong đó có quận Ba Đình. Trong thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ và chống lại sự đô hộ của chúng, khi Lý Nam Đế thành lập nước Vạn Xuân (544 - 602) cũng đã chọn vùng đất Hà Nội ngày nay làm kinh đô. Nhiều vương triều phong kiến phương Bắc khi đô hộ nước ta cũng đã đặt phủ Thứ sử Giao Châu ở thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Vào đầu thế kỷ thứ X, sau khi giành được quyền tự chủ, chính quyền họ Khúc, sau đó là họ Dương cũng chọn Đại La là nơi dựng nghiệp. Khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán (năm 938) đã xưng vương và chọn Cổ Loa làm kinh đô thì vùng đất Hà Nội trở thành kinh đô nước ta. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long, cho xây dựng một số cung điện. Tiếp sau nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê đều chọn Thăng Long là kinh đô và cho xây dựng, tu bổ thêm. Năm 1802, sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, dựng lên triều đại nhà Nguyễn, lập kinh đô ờ Huế. Năm 1805, nhà Nguyễn cho phá thành Thăng Long cũ, xây Bắc thành, đặt chức Tổng trấn. Năm 1831, nhà Nguyễn bỏ chức Tổng trấn, bỏ Bắc thành đổi tên là Hà Nội và đặt chức Tổng đốc cho thành Hà Nội. Sau khi hoàn thành xâm lược nước ta, thực dân Pháp chọn Hà Nội là địa điểm đặt phủ Toàn quyền Đông Dương và xây dựng thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa phục vụ cho chính sách thống trị trên toàn cõi Đông Dương.


Sớm là trung tâm chính trị, hành chính, quân sự, văn hóa của cả nước, vùng đất Hà Nội, trong đó có Ba Đình, là nơi sản sinh ra nhiều nhân vật anh hùng chống giặc ngoại xâm và nghệ nhân, danh nhân. Theo truyền thuyết, làng Vạn Phúc có cậu bé da đen, tiếng nói như sấm, khi lớn lên đã hăng hái ra trận và đánh tan giặc ngoại xâm. Trên núi Sưa trong vườn Bách Thảo, đình Ngọc Hà, Hữu Tiệp có thờ thần Hắc Đế - tương truyền là vị thần đã âm phù nhà Lý đánh giặc ngoại xâm, được vua phong là Huyền Thiên Hắc Đế. Ở các phường nghề thủ công cũng lưu truyền những truyền thuyết về ông tổ nghề. Nhiều danh nhân nổi tiếng của kinh đô và cả nước đã sinh trưởng hoặc cư trú ở vùng đất Ba Đình xưa. Thời nhà Lý có Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) - người đã chỉ huy chiến thắng quân xâm lược nhà Tống trên sông Như Nguyệt năm 1077, được vua Lý truy phong chức Kiểm hiệu Thái úy, tước Việt quốc công. Dưới triều Trần, có một số danh nhân văn học, danh nhân quân sự nổi tiếng như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (1226 - 1300); Chiêu Minh vương Trần Quang Khải (1241 - 1294)... Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược có Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là quân sư của Lê Lợi, linh hồn của nghĩa quân. Thời Lê có Lê Thánh Tông (1442 - 1497), là vị vua có tâm hồn thi sĩ, đứng đầu hội Tao Đàn gồm 28 nhà thơ nổi tiếng đương thời; Trương Đình Tuyên, nổi tiếng hay chữ, tác giả cuốn Hàn quyết các khoa thi tập; Hồ Xuân Hương, nữ sĩ được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Đầu triều Nguyễn, có Lý Văn Phức (1785 - 1849), là nhà văn giỏi cả chữ Hán và chữ Nôm, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như: Học ngâm tồn thảo, gồm 80 bài thơ viết khi vừa thi đỗ cho đến khi bắt đầu làm quan (1819), Hải hành ngâm (ngâm trong lúc đi trên biển), Tây hành kiến văn kỷ lược (lược ghi những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi về phía Tây), gồm những ghi chép trong dịp đi hiệu lực ở vùng biển Tiểu Tây dương năm 1830, Mân hành tạp vịnh thảo (tạp vịnh trong chuyến đi đến đất Mân), là tập thơ làm trên đường đi sang đất Mân Việt (Phúc Kiến, Trung Quốc) năm 1831, Việt hành tục ngâm (thơ ngâm tiếp trong chuyến đi Việt Đông), Đông hành thi tạp lục (tạp ghi bằng thơ trong chuyến đi về phía Đông), làm trong chuyến đi công cán đến Lữ Tống năm 1832,.... Thời nhà Mạc có Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), còn được gọi là Trạng Trình, là danh sĩ có tài văn chương và tinh thông lý học, tướng số. Ngoài ra, Ba Đình xưa còn là vùng đất có nhiều người đỗ đạt khoa bảng, tiến sĩ.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Sáu, 2026, 08:08:43 pm
Văn hóa - truyền thống

Ba Đình, Hà Nội là vùng đất lịch sử với nhiều di tích lịch sử - văn hóa. Trong cái nôi của văn minh sông Hồng, cư dân vùng đất Ba Đình xưa đã xây dựng nên một bản sắc văn hóa trải qua nhiều thế kỷ ở đất kinh kỳ, góp phần xây dựng nên một Thăng Long ngàn năm văn hiến với nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng, như: Đền Quán Thánh (cạnh Hồ Tây), trong đền có tượng Thánh Trấn Vũ, là một trong Thăng Long tứ trấn; Đền Voi Phục, còn gọi là đền Thủ Lệ (phường Ngọc Khánh), cũng là một trong Thăng Long tứ trấn; chùa Một Cột (xây dựng năm 1049, thời nhà Lý), biểu tượng của kinh thành Thăng Long - Thủ đô Hà Nội; Hồng Phúc Tự (tương truyền có từ thời Lý); cột cờ Hà Nội (được xây dụng từ thời nhà Nguyễn),... Thời hiện đại, Ba Đình là quận vinh dự có những di tích cách mạng của cả nước, như Quảng trường Ba Đình, Phủ Chủ tịch, Nhà sàn Bác Hồ, Lăng Bác, Bảo tàng Hồ Chí Minh,...


Trải qua bao năm tháng xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, người dân Ba Đình xưa và nay đã xây đắp nên truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm. Truyền thống đó là di sản tinh thần quý báu được các thế hệ cư dân Ba Đình gìn giữ, phát huy trong giai đoạn lịch sử mới xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.


Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng nước ta, phong trào cách mạng của cả nước nói chung, Hà Nội nói riêng, trong đó có Ba Đình đã phát triển mạnh mẽ, sôi nổi. Trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào đấu tranh, bãi công của công nhân trên địa bàn Hà Nội, trong đó có Ba Đình bùng nổ mạnh mẽ. Trong phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ, cơm áo, hòa bình (1936 - 1939), một số tổ chức đoàn thể, quần chúng ở địa bàn Ba Đình được hình thành, điển hình như Hội ái hữu, Hội tương tế, Hội thể thao, Hội truyền bá quốc ngữ,... Trong phong trào đấu tranh cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945), một số tổ chức đoàn thể thuộc Mặt trận Việt Minh như Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Văn hóa cứu quốc,... được thành lập, hoạt động ở địa bàn Ba Đình. Đồng thời, trong thời kỳ này, ở một số nhà máy trên địa bàn Ba Đình đã thành lập đội tự vệ chiến đấu, với vũ khí thô sơ tự làm, tập luyện bí mật, theo dõi tình hình địch. Thực hiện Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Thường vụ Trung ương Đảng, Thành ủy phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước. Tháng 4 năm 1945, thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự tại làng Tân, Nghĩa Đô chủ trương đẩy mạnh xây dụng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Các tổ chức vũ trang trên địa bàn Ba Đình dưới hình thức đội tự vệ bí mật ở các nhà máy, làng mạc được xây dựng, phát triển, tích cực tập luyện quân sự, chuẩn bị vũ khí và làm nòng cốt cho quần chúng đấu tranh. Từ tháng 4 năm 1945, các đội tự vệ công nhân phối hợp với Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong tiến hành các cuộc đột kích tuyên truyền, diễn thuyết, trừ gian. Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, các đội Tự vệ công nhân, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong cùng với các hội cứu quốc và nhân dân trên địa bàn Ba Đình dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, lập Ủy ban cách mạng ở các khu phố. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng thành công ở Hà Nội.


Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lực lượng vũ trang Ba Đình tích cực tham gia chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), hưởng ứng "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng với lực lượng vũ trang của Hà Nội đã anh dũng chiến đấu giam chân địch trong thành phố với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh"; đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn khi Hà Nội bị quân địch chiếm đóng và phối hợp với các chiến trường góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, tham gia với các lực lượng tiếp quản giải phóng Thủ đô.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), lực lượng vũ trang nhân dân Ba Đình không ngừng phát triển và có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Ba Đình tích cực tham gia ổn định chính trị, trật tự xã hội, khôi phục, phát triển kinh tế sau chiến tranh; phát triển lực lượng, xây dựng thế trận, đối phó âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ; phối hợp với lực lượng chiến đấu góp phần đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam; tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng, phát triển lực lượng, chi viện cho các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Trong giai đoạn 1975 - 2000, đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng các tầng lớp nhân dân xây dựng, kiến thiết Thủ đô, tham gia xây dựng thế trận, sẵn sàng chiến đấu, phát triển lực lượng và chi viện cho cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu bảo vệ quận những năm đầu đổi mới; tăng cường bản lĩnh chính trị, sức mạnh chiến đấu, phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân những năm đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Trong giai đoạn 2000 - 2020, cách mạng nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng hội nhập quốc tế, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình tiếp tục được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống; xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ vững chắc, bảo vệ sự nghiệp kiến thiết Thủ đô văn minh, giàu đẹp và hội nhập quốc tế; đổi mới toàn diện đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô trong thời kỳ mới.


Ra đời trong sự nghiệp cách mạng, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của vùng đất Ba Đình địa linh, nhân kiệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình từ các tổ chức tiền thân đã được xây dựng, trưởng thành, chiến đấu, chiến thắng, góp phần vào sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội, sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời, góp phần vào những chiến công oanh liệt của nhân dân Hà Nội, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Những giá trị truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình trong 75 năm qua đã và đang là hành trang, nguồn động lực tinh thần lớn lao cho lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình tiếp tục trưởng thành, vượt qua khó khăn, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:03:08 pm
Chương 1
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 -1954)


1. Các đội tiền thân lực lượng vũ trang quận Ba Đình tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945

Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật đánh vào Lạng Sơn nước ta, thực dân Pháp đầu hàng phát xít Nhật, đẩy nhân dân Việt Nam vào ách đô hộ một cổ hai tròng. Tháng 10 năm 1940, quân Nhật vào Hà Nội, chúng đặt cơ quan tối cao trong Thành phố. Chính sách đàn áp của Nhật - Pháp càng đè nặng lên các tầng lớp nhân dân; mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp và phát xít Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Vấn đề giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc trở thành yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam. Tình thế thay đổi đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải mau chóng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Tháng 11 năm 1939, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương và chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính lúc này là thực dân Pháp.


Trên địa bàn Ba Đình, từ cuối năm 1939, đồng chí Hoàng Văn Thụ được phân công về hoạt động, trực tiếp chỉ đạo công tác binh vận; đồng chí đã viết nhiều bài trên báo Giải phóng, giải thích chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Năm 1941, thực dân Pháp, phát xít Nhật càng ra sức đàn áp phong trào cách mạng. Tại Ba Đình, chúng đặt thêm bốt cảnh sát, kiểm soát chặt chẽ các cửa ô; cử mật thám, chỉ điểm vào các xí nghiệp, khu lao động để theo dõi hoạt động, đồng thời gieo rắc hoài nghi tiếp tục phá hoại phong trào cách mạng. Một số cơ sở cách mạng bị phá vỡ, nhiều cán bộ chủ chốt bị địch bắt, như các đồng chí Lưu Quyền, Trần Đăng Ninh, Trần Cư, Lê Quốc Thân... gây ra những tổn thất lớn và thử thách cho phong trào cách mạng ở Hà Nội.


Trước sự tiến công của kẻ thù, trên địa bàn Ba Đình, một số ít đảng viên, quần chúng dao động nằm im, số đông vẫn kiên trì, bền bỉ hoạt động, tìm cách chắp nối liên lạc, khôi phục cơ sở. Đồng chí Trần Ngọc Minh phụ trách công vận đã liên lạc với đồng chí Hoàng Cầm - thợ dệt xưởng Hồng Bàng, các đồng chí Duyên, Bích - thợ xẻ, đồng chí Thân ở bãi Phúc Xá... để hoạt động. Các cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng tại các nhà máy trên địa bàn Ba Đình, như: Nhà máy in Viễn Đông, Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ cũng dần được xây dựng, củng cố lại. Ngày 13 tháng 4 năm 1941, truyền đơn lại tung ra trên sân vận động Măngdanh (sân Cột Cờ) phản đối việc tử hình tù chính trị ở Hà Nội.


Mùa Xuân năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc. Tháng 5 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị phân tích tình hình và quyết định nhiệm vụ cần kíp, nổi lên hàng đầu lúc này là giải phóng dân tộc và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh với các tổ chức thành viên lấy tên "cứu quốc": Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc... Tháng 6 năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi lời kêu gọi quốc dân đồng bào cả nước gia nhập các đoàn thể cứu quốc chống Pháp, chống Nhật.


Ở Ba Đình, phong trào cách mạng chuyển dần theo tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Công nhân cứu quốc được thành lập ở Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà in Viễn Đông, 1 tiểu tổ Quân nhân cứu quốc ở Trung đoàn bộ binh Đông Dương thứ nhất đóng quân đường Cột Cờ, Sở tuyển binh đường Lý Nam Đế. Một tổ thanh niên đã lấy được 1 máy in của Trường Kỹ nghệ thực hành mang về chùa Bát Mẫu, làng Hữu Tiệp để in báo của Đoàn Thanh niên cứu quốc. Cuối năm 1941, truyền đơn Mặt trận Việt Minh in lời kêu gọi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên nền cờ đỏ sao vàng cũng đến với nhân dân Ba Đình.


Năm 1942, mặc dù thực dân Pháp, phát xít Nhật tăng cường khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, một số cán bộ bị bắt, song những chiến sĩ cộng sản hoạt động trên đất Ba Đình vẫn chắp nối lại phong trào, lãnh đạo phong trào phát triển.

Năm 1943, đồng chí Nguyễn Quyết (nguyên Tỉnh Ủy viên Tỉnh ủy Hưng Yên) được Đảng cử về hoạt động ở Hà Nội, giữ chức vụ Thành Ủy viên, tham gia Ban Cán sự xây dựng phong trào phản đế ở Hà Nội. Cũng trong thời gian này, một số cán bộ, đảng viên do Ban Công vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và Ban Cán sự Đảng Hà Nội cử đến hoạt động trong một số nhà máy trên địa bàn Ba Đình, đã thúc đẩy mạnh phong trào đấu tranh của công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, trường học và che giấu, bảo vệ cán bộ. Ở ngoại thành, các tổ chức thanh niên được thành lập và tiến hành nhiều hình thức hoạt động tuyên truyền và đấu tranh phong phú. Như ở Đại Yên, tổ chức thanh niên được thành lập, vừa đấu tranh chống các hủ tục trong làng, vừa tuyên truyền Việt Minh, hát những bài ca yêu nước gần như công khai. Truyền đơn, khẩu hiệu, cở Việt Minh xuất hiện ở Đại Yên, Ngọc Hà, Hữu Tiệp với nội dung đánh Pháp, đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh. Các tờ báo bí mật như: Cờ Giải phóng, Cứu quốc được lưu hành trong quần chúng cách mạng.


Năm 1944, Ba Đình là địa bàn có nhiều cơ sở liên lạc của Đảng, của tổ chức Văn hóa cứu quốc. Vùng Bưởi - Cầu Giấy - Dịch Vọng trở thành vùng đứng chân và bàn đạp của Ban Cán sự Đảng thành phố Hà Nội để mở rộng cơ sở cách mạng vào nội thành.

Cuối năm 1944, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển thuận lợi cho cách mạng. Liên Xô chuyển sang phản công phát xít Đức. Cuộc đấu tranh du kích chống Nhật ở Việt Bắc đã ảnh hưởng lớn đến phong trào cả nước. Tổng bộ Việt Minh kêu gọi nhân dân sắm vũ khí đuổi kẻ thù chung. Không khí cách mạng sục sôi khắp nơi. Tại Hà Nội, không khí chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra gấp rút. Ở Ba Đình, trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển trong năm 1944 và nhu cầu bảo vệ cán bộ, bảo vệ quần chúng, chống đàn áp khủng bố của địch, các tổ chức đảng giao cho các đoàn thể cách mạng tổ chức các đơn vị Tự vệ bí mật. Các đoàn thể cách mạng trong các nhà máy, xí nghiệp đã lập ra các tổ Tự vệ bí mật. Ở Xưởng xẻ gỗ Xăngcô (Sanko) của Nhật, tổ tự vệ đầu tiên được tổ chức gồm 5 đồng chí: Thâu, Thanh, Nho, Thông, Bích, do đồng chí Thâu làm Tổ trưởng. Nhà máy điện Yên Phụ lập ra trung đội Tự vệ bí mật và tổ chức tập luyện, theo dõi tình hình địch, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của công nhân. Lợi dụng bọn Nhật ở nhà máy bắt công nhân rèn dao, kiếm cho chúng, anh em tự vệ đã tranh thủ làm thêm vũ khí thô sơ để tự trang bị. Ở Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà máy rượu, bia, Nhà máy in Viễn Đông, xưởng sửa chữa súng của Pháp trong thành, v.v... đều thành lập các đội Tự vệ bí mật. Ở ngoại thành, nhiều làng đã lập ra các tổ chức Tự vệ bí mật trong nông dân, thợ thủ công, thanh niên, phụ nữ.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:04:46 pm
Từ những tổ, nhóm Tự vệ bí mật rộng rãi ở ngoại thành và tại các nhà máy trong nội thành, các đội Tự vệ chiến đấu được thành lập. Các đội Tự vệ chiến đấu được tuyển chọn khá chặt chẽ, gồm những đội viên trẻ, khỏe, trung kiên, hăng hái nhất, đã qua thử thách, qua đấu tranh trong các đoàn thể cứu quốc. Để tổ chức được một tổ Tự vệ chiến đấu, có khi phải ghép tới vài ba xí nghiệp. Khi có chủ trương của Ban Cán sự Đảng về xây dụng các đội Tự vệ chiến đấu, các đồng chí cán bộ, đảng viên, hội viên cứu quốc ở Ba Đình đều đăng ký tham gia.


Sự phát triển các đội Tự vệ chiến đấu ở Ba Đình đã hình thành lực lượng tự vệ chiến đấu được biên chế, tổ chức thống nhất theo nguyên tắc mỗi tổ từ 3 đến 5 người, 3 tổ thành 1 tiểu đội 3 tiểu đội thành 1 liên đội, 3 liên đội thành 1 đoàn.

Về hình thức huấn luyện công tác cho các đội Tự vệ bí mật, Tự vệ chiến đấu được vận dụng bằng nhiều hình thức, phương pháp linh hoạt. Bên cạnh việc đẩy mạnh xây dựng, phát triển các đoàn thể cách mạng, Thành ủy chỉ đạo lợi dụng các tổ chức của địch như "Thanh niên phòng thủ thụ động" (vùng Bưởi) để tuyên truyền các chủ trương cứu nước của Việt Minh và tranh thủ quần chúng trong các tổ chức này. Lợi dụng phong trào tập thể thao, tập võ được Nhật khuyến khích nhằm lôi kéo, lừa bịp thanh niên, tổ chức cho anh em tự vệ lợi dụng danh nghĩa các hội kiếm, hội võ, hội bơi để huấn luyện, bồi dưỡng lẫn nhau. Bãi tập có lúc ở sân bóng, lúc ở vỉa hè, khi ở ven Hồ Tây hoặc ở nhà cơ sở tin cậy. Tập bắn súng thì giả đi cắm trại, ra ngoại thành. Ở ngoại thành, các tổ chức đảng và đoàn thể cách mạng tổ chức xây dựng ở mỗi làng 1 tổ tự vệ, như ở khu Bưởi, các tổ, đội tự vệ ra đời và hoạt động khá mạnh.


Tháng 11 năm 1944, trước sự đòi hỏi phát triển lực lượng cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa, đồng chí Vũ Oanh - Ủy viên Ban Cán sự Hà Nội, phụ trách công tác thanh vận, trực tiếp chỉ đạo thành lập Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong Thành Hoàng Diệu để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cách mạng. Lúc đầu thành lập, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong Thành Hoàng Diệu có 5 người đều là thành viên của Đoàn Thanh niên và Tự vệ cứu quốc, gồm các đồng chí: Hà Minh Tuân (tức Nguyễn Minh Trì, bí danh Thiếc), Hà Đình Kim (Thạch), Phan Hy Đào (Thái Hy), Đinh Quang Hàm (Ngô), Minh Đăng. Đồng chí Hà Minh Tuân là học sinh Trường Bưởi, đảng viên mới kết nạp, làm Đội trưởng. Vũ khí của Đội do các cơ sở trong quần chúng quyên góp ủng hộ, chủ yếu là dao găm, súng ngắn, dùng để bảo vệ công tác tuyên truyền và tự vệ trong những tình huống bất trắc. Đồng chí Hà Minh Tuân được Ban Cán sự cấp cho 1 khẩu súng ngắn và 1 quả lựu đạn. Công tác chuẩn bị và thực hành diễn thuyết xung phong được nghiên cứu và tổ chức như một trận chiến đấu: Tổ chức trinh sát thực địa, phân công người diễn thuyết, người bảo vệ, chọn thời điểm thích hợp, có phương án đề phòng tình huống bất trắc xảy ra.


Từ cuối năm 1944, phong trào cách mạng ờ Đại Yên, Ngọc Hà, Hữu Tiệp và ở nhiều địa phương khác trên địa bàn Ba Đình được đẩy mạnh, các đoàn thể cứu quốc tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trên đất Ba Đình. Truyền đơn, khẩu hiệu, cờ Việt Minh xuất hiện khắp nơi với nội dung đánh Pháp, đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh.


Năm 1945, tình hình thế giới chuyển biến mau lẹ. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Quân Nhật thua liên tiếp trên mặt trận Thái Bình Dương. Ở châu Âu, phát xít Đức - Ý đầu hàng. Nước Pháp được giải phóng. Bọn thực dân Pháp ờ Đông Dương định ngóc đầu dậy. Mâu thuẫn giữa Nhật, Pháp ngày càng căng thẳng. Dự đoán Nhật sẽ hất cẳng Pháp, đồng chí Trường Chinh triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng, họp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Đúng như dự đoán, đêm 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Ở Ba Đình, 20 giờ 25 phút tối ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật nổ súng vào các doanh trại quân Pháp trong thành. Quân Nhật tràn xuống các phố, đánh chiếm các kho, trại lính, Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước. Quân Pháp đã nhanh chóng đầu hàng Nhật. Sau khi lật đổ Pháp, quân Nhật giở giọng lừa bịp, tuyên bố cho Việt Nam độc lập, dựng lên chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim. Quân Nhật cố gắng tìm mọi cách ổn định tình hình, song xã hội vẫn hỗn loạn. Để lập lại trật tự, phát xít Nhật dùng mọi thủ đoạn tàn bạo ở khắp nơi để thị uy: Chặt đầu người ở đầu đê Giá Nứa (đường Yên Phụ), nhét người vào bụng ngựa rồi chôn sống ở Trường Hàng Than.


Từ trước đó, để phục vụ cho cuộc chiến tranh, quân Pháp và quân Nhật đã ra sức vơ vét, bóc lột kinh tế, phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng, thủ tiêu dân chủ, gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm chết 2 triệu người. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, phát xít Nhật, nay là giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với phát xít Nhật càng trở nên gay gắt, không thể điều hòa.


Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Bản Chỉ thị nêu lên sau cuộc đảo chính, phát xít Nhật là kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương; chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, cổ động, thay đổi các hình thức đấu tranh cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, tổ chức các đội tự vệ cứu quốc, thành lập căn cứ địa mới, thống nhất các chiến khu, thành lập Việt Nam Giải phóng quân và sẵn sàng chuyển sang tổng khởi nghĩa khi đã có đủ điều kiện.


Quán triệt Chỉ thị của Trung ương, Thành ủy Hà Nội phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước, tranh thủ tuyệt đại đa số nhân dân đứng về phía cách mạng.

Sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự ở chùa làng Tân (Nghĩa Đô), do đồng chí Nguyễn Quyết - Bí thư Thành ủy, Ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội chủ trì. Hội nghị quyết định đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa.


Ở Ba Đình, các lực lượng vũ trang cùng nhân dân quán triệt chỉ thị của Trung ương, chỉ đạo của Thành ủy và Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, đẩy mạnh phong trào đấu tranh rộng khắp trong các nhà máy, xí nghiệp, trường học, khu phố, làng xã. Các đội Tự vệ công nhân, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong "xuất quỷ nhập thần", tiến hành các cuộc đột kích tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, kêu gọi quần chúng ủng hộ và tham gia phong trào Việt Minh chống phát xít Nhật, cứu nước. Trong các rạp hát, rạp chiếu bóng Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong mưu trí, táo bạo, đột nhập tuyên truyền, kêu gọi nhân dân đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa, làm cho quần chúng thán phục, kẻ địch hoang mang.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:08:05 pm
Những tổ chức Việt Minh bí mật được đẩy mạnh xây dựng và hoạt động mạnh hơn trước. Đồng chí Nguyễn Văn Tịch (Vũ Yên), người làng Phúc Xá làm công nhân sửa chữa ở sân bay Bạch Mai, vừa hoạt động tích cực nơi làm việc, vừa tham gia tuyên truyền lớp thanh niên trong làng, đêm đi đò ra giữa sông Hồng để trao đổi về Điều lệ Việt Minh, sau kết nạp vào Thanh niên cứu quốc các anh em Nguyễn Văn Đối, Ngô Trọng Bảo, v.v... Sau đó, từng người tiếp tục tuyên truyền vận động những thanh niên khác vào Thanh niên cứu quốc, phong trào Việt Minh từ đó ngày càng phát triển hơn.


Ở Nghĩa Dũng, đồng chí Phan Huân, cán bộ Việt Minh đi tuyên truyền và nắm được lực lượng thanh niên, đã kết nạp được một số thanh niên vào Thanh niên cứu quốc. Các đồng chí Nam Hà và Phạm Văn Khai đã tham gia Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong của thành phố do đồng chí Khuất Duy Tiến chỉ đạo, khi về làng đã cùng các đội viên tuyên truyền vận động nhân dân tham gia Việt Minh, đánh Nhật, cứu nước. Sự hoạt động tích cực của các tổ chức Việt Minh bí mật đã dần dần tập hợp được thêm nhiêu thanh niên trong khu vực tham gia dưới nhiều hình thức, như hướng đạo, học võ, đá bóng...; tham gia phá các cuộc biểu tình do bọn phản động tổ chức, đồng thời tích cực tuyên truyền công khai cương lĩnh, chính sách của Việt Minh nên đã gây được thanh thế cho Việt Minh.


Ở Phúc Xá, đồng chí Vũ Yên lợi dụng lúc quân Nhật đảo chính hất cẳng Pháp lấy được 10 khẩu súng trường và đã gửi lên chiến khu 5 khẩu súng còn tốt, 5 khẩu hư hỏng thì giao cho một số đồng chí sửa chữa, sau đó cũng sử dụng được cả. Đồng chí Vũ Yên còn vận động được anh em đạp xích lô, lấy được 1 khẩu súng lục của 1 tên Pháp say rượu mang về cho tổ Tuyên truyền xung phong.


Trong khoảng tháng 4 năm 1945, công nhân xưởng sửa chữa súng đạn Ngọc Hà, công nhân bốc vác ở Nghĩa Dũng - Phúc Xá tìm cách lấy vũ khí, đạn dược của quân Nhật rồi chuyển qua Chèm đưa lên chiến khu.

Công nhân Sở pháo thủ trong thành Hà Nội góp phần quyên góp vũ khí cho tự vệ. Công nhân các nhà máy đình công, phá máy, lấy vật liệu để sửa chữa và chế tạo vũ khí cho Việt Minh. Các hội viên Công nhân cứu quốc, các đội tự vệ phân phát báo, tuyên truyền, diễn thuyết, trừ gian, trên đường phố đông người. Thanh niên, học sinh trung học trên địa bàn Quán Thánh tham gia các cuộc mít tinh của thanh niên toàn thành tại xã Mễ Trì (20.4.1945), Chợ Canh (29.4.1945), Láng (11.5.1945). Truyền đơn được các Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong rải trên các chuyến tàu điện Bờ Hồ - Quán Thánh - Bưởi.


Các hội viên Công nhân cứu quốc trong các nhà máy, như Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước, Nhà máy in Viễn Đông, Sở pháo thủ... còn tham gia hoạt động tuyên truyền diễn thuyết trừ gian, phân phát các báo Cờ giải phóng, Cứu quốc, Hồn nước, truyền đơn đến các vùng ngoại thành. Một số thanh niên hăng hái được đoàn thể gửi lên chiến khu học quân sự hoặc gia nhập Giải phóng quân.


Các đội Tự vệ tuyên truyền xung phong của Công nhân cứu quốc, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong liên tiếp tổ chức các cuộc diễn thuyết trên đường phố đông người. Tháng 6 năm 1945 có cuộc tuyên truyền tổ chức trước cổng xưởng sửa chữa, lắp ráp điện thoại, điện tín - thường gọi là Nhà dây thép (nay là Nhà máy thiết bị bưu điện), cách trại lính Nhật chỉ vài trăm mét; ngày 17 tháng 6, bọn Đại Việt tổ chức kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Thái Học tại vườn Bách Thảo, các tổ chức Thanh niên tuyên truyền xung phong, Tự vệ chiến đấu đã phối hợp biến cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh của Việt Minh.


Phong trào cách mạng dâng cao càng làm phân hóa hàng ngũ kẻ thù, bộ phận trung gian ngả về phe cách mạng; chỉ còn bọn tay sai phản động có nợ máu với nhân dân, với cách mạng ôm chân đế quốc. Đảng nhận thấy cần có biện pháp cứng rắn để trừng trị bọn này, buộc chúng phải dừng tay tội ác. Giữa năm 1945. Trung ương Đảng giao cho Xứ ủy Bắc Kỳ thành lập Đội Danh dự Việt Minh tại Hà Nội. Những tự vệ công nhân, những đoàn viên Thanh niên cứu quốc từ 17 đến 22 tuổi, khỏe mạnh, dũng cảm được tuyển chọn vào Đội Danh dự Việt Minh. Ngày 22 tháng 6 năm 1945, Đội Danh dự Việt Minh đã trừng trị tên Cai Long (người Yên Thái). Tên này trước đây là mật thám cho Pháp, sau lại làm tay sai chỉ điểm cho Nhật. Khi Cai Long vừa ra khỏi nhà, 2 đồng chí Quế và Tấn bám sát, dùng súng bắn chết. Nghe tiếng súng, bọn Nhật đóng ở Tam Đa chạy ra. Đồng chí Quế cải trang ung dung đạp xe qua trại Nhật, đồng chí Tấn rẽ vào chùa Thụy, được sư bà đưa quần áo nâu nhà chùa cho mặc, rồi thoát ra ngoài. Cai Long bị trừng trị đã gây tiếng vang, nhân dân trong vùng phấn khởi, nhiều tên tay sai khác sợ hãi, chùn tay, không dám hung hăng.


Các đoàn thể cứu quốc ngày càng bắt rễ sâu trong quần chúng, tổ chức các đội Tự vệ chiến đấu, nhóm Tự vệ rộng rãi và các Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng.

Sự ra đời và hoạt động của Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Công nhân xung phong, Đội Tự vệ công nhân, Đội Tự vệ chiến đấu, nhóm Tự vệ rộng rãi ngoại thành,... là những đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên ở Ba Đình. Các đội tiền thân của lực lượng vũ trang tuy còn nhỏ bé, song là lực lượng nòng cốt tạo cho phong trào một sức mạnh, một khí thế mới, thúc đẩy phong trào đấu tranh của các hội cứu quốc, các giới đồng bào ở Ba Đình chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công.


Đầu tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, không đầy một tuần, tiêu diệt hơn một triệu quân Quan Đông tinh nhuệ của Nhật, tạo điều kiện cho các dân tộc phương Đông đứng dậy giành quyền sống. Quân Nhật ở Đông Dương hoảng loạn, bè lũ tay sai hoang mang dao động đến cực độ, phong trào cách mạng dâng cao, lực lượng cách mạng đã sẵn sàng tổng khởi nghĩa. Thời cơ ngàn năm có một để giành lại độc lập đã đến với dân tộc ta. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Hội nghị toàn quốc của Đảng về Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa.


Tối 15 tháng 8, tại chùa Hà (Dịch Vọng), Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự bất thường gồm các đồng chí đội trưởng Đội Công nhân xung phong, Đoàn trưởng Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, đội trưởng các đội Tự vệ chiến đấu, sơ bộ kiểm điểm tình hình và lực lượng của ta trong thành phố, ấn định những công việc cấp bách chuẩn bị cho khởi nghĩa.


Ngày 16 tháng 8, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội - tức Ủy ban khởi nghĩa được thành lập và họp phiên đầu tiên tại số nhà 101 phố Gambétta (nay là phố Trần Hưng Đạo) nghe đồng chí Nguyễn Khang phổ biến chỉ thị và quyết định của Xứ ủy. Hội nghị kiểm điểm tình hình và những hoạt động mới nhất của phát xít Nhật, chính quyền Trần Trọng Kim, của Khâm sai Bắc Kỳ và các đảng phái tay sai của Nhật ở Hà Nội.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:09:42 pm
Trên cơ sở những diễn biến mới và căn cứ vào Chỉ thị ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Trung ương và chỉ thị của Xứ ủy, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội nhận thấy phải cấp tốc tiến hành khởi nghĩa, không thể chần chừ để mất thời cơ. Vấn đề nổi lên nhất trong cuộc thảo luận là nên đối phó thế nào với lực lượng quân sự rất lớn của Nhật tập trung ở Hà Nội. Theo ước tính, quân Nhật ở Hà Nội khi đó có khoảng 1 vạn trong số 4 vạn quân Nhật chiếm đóng Bắc Kỳ. Số quân này thuộc Sư đoàn 58. Lực lượng vũ trang của ta, kể cả Đội Công nhân xung phong, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Tự vệ chiến đấu ngoại thành và các đội tự vệ chiến đấu tại các nhà máy, khu phố, trường học chỉ khoảng hơn 700 người, trang bị phần lớn là vũ khí thô sơ, chỉ có hơn 40 khẩu súng trường và một số súng ngắn, mới qua một vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Vì vậy, nếu chỉ sử dụng lực lượng vũ trang của Hà Nội để tiến công quân Nhật thì không thể giành được thắng lợi. Trong lúc quân đội Nhật đang hoang mang, do dự, nếu tránh được xung đột vũ trang với chúng thì rất có lợi cho cách mạng.


Qua nhiều ý kiến thảo luận về hình thức khởi nghĩa, Hội nghị thống nhất nhận định: Tuy lực lượng vũ trang của ta không nhiều, nhưng bù lại, lực lượng quần chúng cách mạng trong các đảng phái, đoàn thể quần chúng cách mạng của Mặt trận Việt Minh lại khá đông đảo, lên tới hàng nghìn người, có thể huy động để tăng cường cho lực lượng khởi nghĩa. Với tinh thần yêu nước, ý chí giành độc lập cho Tổ quốc, dưới danh nghĩa Mặt trận Việt Minh, ta có thể huy động thêm nhiều quần chúng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị quyết định: Lấy lực lượng vũ trang làm lực lượng xung kích đi đầu, huy động đông đảo lực lượng quần chúng cách mạng có vũ trang, tiến hành mít tinh, biểu tình thị uy, phô trương thanh thế, áp đảo quân địch, rồi xông lên giành chính quyền, nhưng phải nắm chắc hơn nữa tình hình và thái độ của phát xít Nhật cũng như của chính quyền Trần Trọng Kim.


Để xúc tiến việc chuẩn bị khởi nghĩa, Hội nghị vạch ra một kế hoạch khẩn cấp, trong đó có nội dung: Tăng cường lực lượng vũ trang và nửa vũ trang của ta, phát triển mạnh các đội Tự vệ chiến đấu, trang bị thêm vũ khí, chuẩn bị đối phó với quân Nhật.

Trong khi đang họp, nhận được tin cuộc mít tinh do Tổng hội viên chức tổ chức để ủng hộ chính quyền thân Nhật sẽ tổ chức vào ngày 17 tháng 8, Hội nghị liền bàn kế hoạch phá cuộc mít tinh này.

Thực hiện chủ trương của ùy ban quân sự cách mạng Hà Nội, ngay tối 16 tháng 8, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong chia làm nhiều nhóm đột nhập một loạt các rạp hát lúc đang biểu diễn, kêu gọi quần chúng khởi nghĩa.

Chiều 17 tháng 8, đội viên các đội Tự vệ chiến đấu, Đội Công nhân xung phong, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, các chiến sĩ trong Đội Danh dự, các hội cứu quốc trên địa bàn Ba Đình dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đã cùng các tổ chức cách mạng và nhân dân Hà Nội dùng sức mạnh áp đào, biến cuộc mít tinh của Tổng hội viên chức thân Nhật tại Quảng trường Nhà hát Lớn thành diễn đàn tuyên truyền khởi nghĩa và tuần hành biểu dương lực lượng cách mạng. Cuộc mít tinh vừa khai mạc thì bất ngở các đội viên tuyên truyền xung phong từ trong đám đông giương cao cờ đỏ sao vàng. Quần chúng hô vang: "Cờ Việt Minh! Cờ Việt Minh!". Lính cảnh sát và bảo an ngơ ngác, đứng im. Lúc đó, một tổ đặc biệt của Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong Hoàng Diệu lên chiếm diễn đàn. Mặt trước Nhà hát Lớn một lá cờ đỏ sao vàng được buông từ tầng gác xuống. Trong không khí rạo rực đó, các đội viên tuyên truyền xung phong bước lên thông báo tin Nhật đầu hàng, kêu gọi đồng bào siết chặt hàng ngũ, đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Mọi người cùng hô vang khẩu hiệu: "Ủng hộ Việt Minh", "Việt Nam hoàn toàn độc lập". Đoàn tuần hành từ Nhà hát Lớn kéo qua Bờ Hồ, Đồng Xuân, qua đường Cácnô (nay là Phan Đình Phùng), Cửa Bắc, qua phủ Toàn quyền mà không gặp sự chống cự nào. Cuộc biểu tình chiều ngày 17 tháng 8 diễn ra sôi nổi, vang dội, đã lôi cuốn hàng vạn quần chúng xuống đường với một khí thế cách mạng mạnh mẽ chưa tùng thấy. Trước sự kiện lịch sử lớn đó, phát xít Nhật không dám can thiệp, quân Nhật án binh bất động, chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim bối rối. Khâm sai Bắc Kỳ vội vàng bỏ trốn.


Tối 17 tháng 8, tổ chức Việt Minh ở Ngọc Hà đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. Lý trưởng phải đem triện đồng và giấy tờ ra đình làng để nộp cho cách mạng. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xã được thành lập. Sau Ngọc Hà là Hữu Tiệp, Vạn Phúc, Kim Mã cũng giành được chính quyền. Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết triệu tập hội nghị mở rộng bất thường. Cuộc họp suốt đêm để bàn ra phương thức khởi nghĩa và quyết định giành chính quyền vào ngày 19 tháng 8. Cũng tối 17 tháng 8, Hội nghị Thành ủy mở rộng với sự tham gia của các đại biểu các ngành, các giới, họp tại nhà bà Hai Nhã xã Dịch Vọng (nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy) đã quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 19 tháng 8. Ủy ban khởi nghĩa chuyển vào nội thành, đóng ở nhà số 101, phố Trần Hưng Đạo, để trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa.


Ngày 18 tháng 8, không khí cách mạng càng sục sôi, cờ đỏ sao vàng bay công khai ở nhiều nơi. Nước sông Hồng dâng cao, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ làm một bè chuối to, cắm cờ đỏ sao vàng thả trên sông Hồng cổ vũ phong trào đấu tranh. 300 công nhân Nhà máy điện Yên Phụ (trong tổng số 500 công nhân), có Đội Tự vệ bí mật, Đội Công nhân xung phong làm nòng cốt đã kéo đến thị uy trước phòng làm việc của giới chủ. Các tổ chức cứu quốc, Đội Tự vệ bí mật chuẩn bị thêm vũ khí, may thêm cờ. Tối hôm đó, các cốt cán của Hội Công nhân cứu quốc họp tại nhà đồng chí Giản bàn kế hoạch tham gia khởi nghĩa.


Ở các khu phố và vùng ngoại thành, không khí chuẩn bị khởi nghĩa cũng nhộn nhịp, khẩn trương. Các đội viên Thanh niên tuyên truyền xung phong chia nhau đi các phố, các thôn bắc loa kêu gọi quần chúng khởi nghĩa.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:11:46 pm
Từ sáng sớm ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân Ba Đình đã xuống đường. Các hiệu buôn đóng cửa, chợ thôi họp, giao thông ngừng hoạt động. Các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ công nhân, các lực lượng tự vệ cứu quốc rộng rãi, còn Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Công nhân xung phong và nhân dân ngoại thành, nội thành đã lập thành đội ngũ, rầm rập kéo về Quảng trường Nhà hát Lớn. Đúng 11 giờ, cuộc mít tinh khổng lồ khai mạc trong điệu nhạc Tiến quân ca và loạt súng chào. Quần chúng trang nghiêm nghe lời hiệu triệu của Việt Minh, đi đầu là những đội tự vệ công nhân với khí giới trong tay chia thành nhiều ngả, chiếm những nơi trọng yếu ở Hà Nội. Tại Phủ Khâm sai, các chiến sĩ tự vệ vượt hàng rào tiến vào. Một công nhân Nhà máy điện Yên Phụ giương cao cờ đỏ sao vàng xông lên trước, treo trên cột cờ Phủ Khâm sai giữa tiếng hoan hô vang dội của quần chúng. Các vị trí then chốt lần lượt về tay cách mạng. Chỉ trong ngày 19 tháng 8, cách mạng đã thành công ở Hà Nội.


Trong cuộc mít tinh ở Nhà hát Lớn, anh Phạm Khai - Thanh niên cứu quốc ở Nghĩa Dũng, tham gia bảo vệ treo cờ đỏ sao vàng ờ ban công Nhà hát Lớn. Đoàn của các làng Phúc Xá, Tân Ấp, Nghĩa Dũng tham gia vào lực lượng Đoàn Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu đi chiếm Trại Bảo an binh và nhiều nơi khác.


Sau ngày 19 tháng 8, các nhà máy, xí nghiệp ở Ba Đình đã thành lập Ủy ban công nhân cách mạng, điều hành mọi sinh hoạt chính trị và đời sống công nhân, giám sát công việc kinh doanh của các chủ tư bản. Các khu phố đều tổ chức Ban Đại diện, các xã có Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời.


Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, trong đó có Ba Đình giành thắng lợi nhanh chóng lan truyền khắp cả nước, làm suy yếu toàn bộ hệ thống cai trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai, nức lòng đồng bào cả nước, nhất là ở Huế, Sài Gòn, thúc đẩy cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước đến thắng lợi hoàn toàn.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đình, đông đảo nhân dân và lực lượng vũ trang Ba Đình tham gia cuộc mít tinh và biểu tình trong buổi lễ "Ngày Độc lập", chứng kiến sự ra mắt của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.


Thắng lợi của khởi nghĩa ở Ba Đình ngày 19 tháng 8 là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, đấu tranh gian khổ của nhân dân mà các lực lượng vũ trang làm nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Lực lượng vũ trang Ba Đình, như các đội Thanh niên tuyên truyền xung phong, Công nhân xung phong, Tự vệ bí mật trong các nhà máy, nhóm tự vệ rộng rãi ở vùng ven nội, Đội Danh dự Việt Minh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy Hà Nội và cấp ủy các cấp, từ những đội tiền thân của lực lượng vũ trang ra đời cuối năm 1944, đã từng bước phát triển lực lượng, trưởng thành qua các hoạt động đấu tranh với địch mà đỉnh cao là hoàn thành nhiệm vụ xung kích, nòng cốt, và bảo vệ quần chúng đấu tranh giành chính quyền trong ngày khởi nghĩa. Đây là chiến công lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Ba Đình.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:16:30 pm
2. Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh (1945 - 1947)

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng mới được thành lập đã phải đương đầu với vô vàn khó khăn, thử thách, nạn "giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" hoành hành, đặt tình thế cách mạng như "ngàn cân treo sợi tóc". Nhiệm vụ cấp bách, trước mắt của cách mạng Việt Nam là phải đưa đất nước vượt qua tình thế hiểm nghèo, không chỉ cứu đói cho nhân dân, vượt qua tình trạng kiệt quệ của nền kinh tế do chính sách áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân đế quốc gây ra và xóa bỏ nạn "giặc dốt" làm cho 95% nhân dân không biết chữ, mà nguy hiểm hơn là phải chống "thù trong, giặc ngoài" đang điên cuồng chống phá chính quyền non trẻ, xóa bỏ thành quả Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.


Đầu tháng 9 năm 1945, ở Hà Nội, trong đó có địa bàn Ba Đình, quân đội Trung Hoa dân quốc với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân Nhật đã kéo vào đóng ở nhiều vị trí quan trọng. Theo chân chúng là bè lũ tay sai, phản động như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh cầm đầu, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần cầm đầu với âm mưu chống lại cách mạng và xóa bỏ chính quyền nhân dân, trước hết là cơ quan đầu não của Chính phủ ta ở Hà Nội. Chúng không ngừng xuyên tạc chủ trương, đường lối của Việt Minh, kích động nhân dân chống chính quyền. Bọn thực dân Pháp ở Hà Nội cũng tìm cách ngóc đầu dậy chống phá cách mạng. Tất cà bọn chúng cấu kết với nhau tìm mọi thủ đoạn nhằm bóp chết chính quyền non trẻ của nhân dân. Trong khi nhân dân đó Ba Đình còn đang khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh và chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp - phát xít Nhật để lại, như nạn đói, nạn dốt, tài chính kiệt quệ. Vì vậy, nhiện vụ cấp bách của toàn thể nhân dân Ba Đình cũng như cả nước là phải ra sức thực hiện những nhiệm vụ cấp bách, trước mắt mà bản Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc (25.11.1945) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định, trong đó tập trung trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường lực lượng để sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược.


Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, chính quyền cách mạng ở Ba Đình đã chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, mở rộng các tổ chức cứu quốc làm cơ sở để xây dựng các lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân.


Để tạo thêm sức mạnh và chỗ dựa cho chính quyền địa phương mới thành lập, các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Phụ lão, Nhi đồng cứu quốc ở Ba Đình được phát triển rộng khắp, từ ngoại thành đến các phố phường và công sở. Hoạt động của các tổ chức cứu quốc đã lôi cuốn được đông đảo đồng bào tham gia, trong đó có cả các sư sãi, linh mục. Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc ngày càng rộng rãi, các tổ chức tự vệ lần lượt được xây dựng và phát triển nhanh chóng.


Đảng bộ Ba Đình đã lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng, phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang, như tổ chức xây dựng, phát triển các đội tự vệ của các khu phố, nhà máy, các đội dân quân du kích ở vùng ven nội. Thành phần tổ chức của các đội Tự vệ chiến đấu, các đội dân quân du kích là những nam nữ thanh niên hăng hái được lựa chọn từ trong các tổ chức cứu quốc và trở thành lực lượng trung kiên để bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự xã hội mới. Từ lực lượng Tự vệ chiến đấu, dân quân du kích đã hình thành nên những đơn vị tự vệ tập trung trong các nhà máy, xí nghiệp, như tự vệ Nhà máy nước, tự vệ Nhà máy điện Yên Phụ... tự vệ trong các công sở, khu phố, các đội dân quân du kích trong các làng mạc vùng ven nội. Các đại đội Tự vệ chiến đấu tập trung ra đời, như Đại đội Lam Sơn của khu Ngọc Hà, Đại đội Phan Tống của khu Phan Tống, Đại đội Ngô Quyền khu Trúc Bạch, v.v..


Các khu Trúc Bạch, Thăng Long, ta đều xây dựng được lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu để chốt giữ ở các vị trí quan trọng, làm nòng cốt bảo vệ Đảng, chính quyền, đồng thời huấn luyện cho tự vệ ở các khu phố. Ban Chỉ huy Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu cử Trung đội Tô Hiệu, do đồng chí Vị Hải làm Trung đội trưởng, lên trấn giữ vùng Tây Bắc thành phố (tương ứng với địa bàn Phúc Xá, Trúc Bạch, Quán Thánh, Yên Phụ ngày nay). Ở khu Đại La, đồng chí Công Nhân - Ủy viên Ủy ban hành chính trực tiếp tổ chức huấn luyện cho các trung đội tự vệ ở Cầu Giấy, Thủ Lệ, Cống Vị, Vạn Phúc... về trang bị đa số các đội viên tự vệ tự trang bị, mua sắm vũ khí cho mình, vừa bảo vệ trật tự trị an khu phố, làng xã, vừa chuẩn bị kháng chiến.


Đến cuối năm 1946, trên địa bàn Ba Đình có các lực lượng vũ trang của Ba Đình, của Chiến khu XI, của Mặt trận Hà Nội, như các tiểu đoàn, đại đội của Trung đoàn Thủ đô, các lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ thành Hoàng Diệu, các đội cảm tử, các tổ du kích đặc biệt. Đây là lực lượng vũ trang nòng cốt để nhân dân Ba Đình xây dựng và đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ thành quả cách mạng và chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Sau khi giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiệm vụ cấp bách của Đảng, chính quyền, đoàn thể cứu quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân là động viên nhân dân thực hiện thắng lợi ba cuộc vận động lớn: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" đem lại kết quả thiết thực, nâng cao uy tín của chính quyền nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng, gắn bó cách mạng, làm chỗ dựa cho chính quyền chống lại thù trong, giặc ngoài.


Trên địa bàn Ba Đình, quân Nhật bại trận vẫn đóng tại các vị trí chờ quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí. Bộ Chỉ huy quân Nhật vẫn đứng ở Phủ Toàn quyền, sau lại bàn giao cho quân Tưởng và tướng Lư Hán đóng ở đây. Quân Tưởng còn đóng ở nhiều nơi, lập các trại gác, điếm canh ở các ngả đường Hàng Đậu, bờ sông. Trong thành có khoảng 5.000 lính Pháp bị quân Nhật giam giữ đang tìm cách liên lạc với bên ngoài, gặp gỡ đám kiều dân Pháp vốn là chủ tư bản, viên chức còn cư trú ở các phố Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, chuẩn bị kế hoạch đánh ta. Theo chân bọn lính Tưởng là bọn tay sai mang danh "Cách mạng đồng minh", "Quốc dân Đảng", chúng chiếm nhà, lập trụ sở ở 80 Quán Thánh, tự đặt ra cái gọi là "khu tự trị" ở Ngũ Xã. Chúng ra báo Việt Nam, bắc loa phát thanh tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Chính phủ, kích động nhân dân chống lại cách mạng.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Ba Đình đã hiểu rõ chủ trương của ta về tạm hòa hoãn có nguyên tắc với Tưởng để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng. Nhân dân và lực lượng vũ trang Ba Đình đã bình tĩnh, khôn khéo đấu tranh, không mắc mưu khiêu khích của bọn tay sai, tránh xung đột vũ trang, để bọn Tưởng không có cớ đánh ta. Các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình cũng kiên quyết đối phó với các hoạt động chống phá cách mạng của bọn Tường và tay sai.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:23:09 pm
Tháng 9 năm 1945, các tầng lớp nhân dân Ba Đình đã hăng hái cùng đồng bào Thủ đô đóng góp vào "Quỹ độc lập", "Tuần lễ vàng", "Quỹ đảm phụ quốc phòng" góp phần giải quyết khó khăn tài chính quốc gia. Tiêu biểu cho tầng lớp trên là bà Vương Thị Lai, một thương gia ở Ba Đình đã hiến 109 lạng vàng, đứng đầu toàn miền Bắc, đến những đồng bào nghèo, từ lâu dành dụm được chút ít vàng làm vốn liếng cũng đem hiến dâng cho Nhà nước.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ. Chính quyền nhân dân các cấp ở Ba Đình đã phát động nhân dân chuẩn bị kháng chiến, ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào này đã lan tỏa khắp các nhà máy, công sở, đường phố và khu ven nội. Công nhân Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ đã góp tiền mua sắm vũ khí chuyển vào mặt trận Nam Bộ được 676.000 đồng. Chị em phụ nữ Ngọc Hà đan áo gửi tặng chiến sĩ, làm ca dao cổ động chồng con hăng hái gia nhập đội quân Nam tiến, lên đường giết giặc. Hội Công nhân cứu quốc đã động viên hàng trăm người gia nhập đội quân Nam tiến, vận chuyển súng đạn cho chiến trường. Nhiều gia đình ở Ba Đình có tới ba con tòng quân trong dịp này.


Đến cuối tháng 10 năm 1945, ta đã thành lập được Ban Đại diện các phố, Ban Đại diện các công sở, nhà máy ở nội thành và Ủy ban nhân dân ở các làng như Giảng Võ, Trích Sài, Thủ Lệ, Cầu Giấy, Cống Vị... Ở một số khu vực có khó khăn rất lớn là có quân đội ngước ngoài và bọn tay sai chiếm giữ, như trong thành, Phủ Toàn quyền, Ngũ Xã, Quán Thánh... nhưng hệ thống tổ chức chính quyền ở các nơi đó vẫn được xây dựng và phát huy được hiệu lực. Thành phần trong Ủy ban nhân dân, trong Ban Đại diện khu phố, nhà máy, công sở là những đại biểu tiêu biểu của công nhân, trí thức, tiểu tư sản, thể hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta. Lực lượng nòng cốt bảo vệ hệ thống chính quyền và các đoàn thể cứu quốc là các lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang, dân quân du kích ở các cơ sở.


Ngày 12 tháng 11 năm 1945, bọn Nguyễn Hải Thần định tổ chức mít tinh lớn ở vườn Bách Thảo (phía dốc Ngọc Hà) nhằm công kích Mặt trận Việt Minh và kích động quàn chúng. Thành ủy đã chỉ đạo phá cuộc mít tinh này. Bọn lưu manh, phản động bắn chết 1 đồng chí của ta, lập tức đồng bào khu Ngọc Hà và vùng lân cận đã kéo đến, có đội tự vệ vũ trang cải trang dân thường làm lực lượng nòng cốt, mọi người ào ào xông đến đấu tranh. Trước sức mạnh của đông đảo quần chúng, bọn tay sai Tưởng đã vội vã vút cờ, biểu ngữ chạy tháo thân.


Với niềm tin vững chắc vào chế độ mới, ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân Ba Đình đã nhiệt liệt tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Những ngày chuẩn bị và ngày Tổng tuyển cử, cả Ba Đình nào nức như ngày hội lớn. Băng, cờ, biểu ngữ được căng, dán khắp các ngả đường. Những cổng chào treo đèn kết hoa, những cột cờ cao đẹp được dựng lên. Tiếng loa, tiếng trống ếch cổ động cho ngày bầu cử vang lên khắp nơi. Nhân dân các vùng Bưởi, Trích Sài, Giảng Võ, bờ sông Hồng đã tổ chức liên tiếp những đêm rước đèn có hàng nghìn người tham gia, làm sôi động cả một vùng quê, xóm chợ vốn lặng lẽ. Các đoàn thể cứu quốc, các lực lượng tự vệ, đã ngày đêm tuần tra, canh gác, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ thành công cho các đơn vị bầu cử trong địa bàn Ba Đình.


Trong không khí sôi nổi ngày hội bầu cử, bọn phản động Quốc dân Đảng đã tìm mọi cách phá hoại cuộc Tổng tuyển cử. Ở Ngũ Xã, nơi chúng tự tiện lập ra "khu tự trị", chúng dùng vũ khí đe dọa không cho đồng bào đi bầu cử, nhưng nhân dân đã sang phố Nguyễn Thái Học (nay là phố Phó Đức Chính) bỏ phiếu. Bất chấp mọi mưu toan phá hoại của bọn phản động, nhân dân và các lực lượng vũ trang Ba Đình đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử thành công tốt đẹp. Nhân dân và các lực lượng vũ trang Ba Đình đã đóng góp sức người, sức của chống thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ, củng cố, giữ vững chính quyền cách mạng.


Sáng ngày 20 tháng 2 năm 1946, bọn Quốc dân Đảng tập hợp một nhóm côn đồ lưu manh và một số người do chúng thuê ở đường Quán Thánh kéo nhau đi biểu tình. Chúng hò hét những khẩu hiệu sặc mùi phản động và bịp bợm. Khi bọn này kéo về phía Bờ Hồ thì quần chúng ở hai bên đường phố đã dồn lại biến thành một cuộc biểu tình phản đối bọn chúng; biểu thị sự ủng hộ Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lại một lần nữa, bọn tay sai của Tưởng phải chạy trốn, bỏ lại cờ và biểu ngữ.


Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định Sơ bộ được ký kết giữa Chính phủ ta và Pháp. Nhân dân Ba Đình đã tích cực thực hiện nhiệm vụ mới mà các cấp chính quyền đề ra. Đó là đấu tranh đòi Pháp phải nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản đã ký kết, làm hậu thuẫn cho đấu tranh ngoại giao của Chính phủ, đồng thời cảnh giác đấu tranh chống lại các thủ đoạn lấn dần của thực dân Pháp; khẩn trương và thiết thực chuẩn bị lực lượng và thế trận cho kháng chiến lâu dài. Cuộc đấu tranh chính trị đã được đẩy mạnh với nhiều hình thức linh hoạt, thích hợp để chống thực dân Pháp, bảo vệ thành quả cách mạng, chủ quyền đất nước.


Theo Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp (6.3.1946), ngày 18 tháng 3 năm 1946, quân đội Pháp được phép vào Hà Nội. Trên những con đường, tuyến phố chúng đi qua, đồng bào đã đóng cửa kín để tỏ rõ sự bất hợp tác. Ngày 29 tháng 3, nhân dân Ba Đình cùng cả Hà Nội bãi thị, bãi công, bãi khóa phản đối quân Pháp chiếm đóng Phủ Toàn quyền cũ và chiếm đóng trái phép một số nơi khác. Ngày 31 tháng 5, nhân dân Hà Nội tham gia cuộc mít tinh lớn, trọng thể tại Việt Nam học xá (nay là Đại học Bách Khoa) tiễn đoàn Chính phủ ta sang Pháp để tiếp tục đàm phán.


Cũng theo Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp, thực dân Pháp chỉ được đưa 15.000 quân ra Bắc vĩ tuyến 16 (trong đó có 5.000 quân đóng ở Hà Nội), song chúng đã không thực hiện nghiêm chỉnh. Đến trước tháng 12 năm 1946, số quân Pháp ở Bắc vĩ tuyến 16 đã lên đến 30.000 tên. Riêng Hà Nội số quân Pháp lên tới 6.500 tên, gồm các đơn vị: Trung đoàn bộ binh thuộc địa 6 (6e RIC) thiếu 1 tiểu đoàn, Binh đoàn Mátxuy thuộc Sư đoàn thiết giáp 2 (2DB), 1 tiểu đoàn của Trung đoàn pháo binh thuộc địa Marốc số 4 (4e RACM), 1 phân đội biệt kích, 1 phân đội dù, 1 đơn vị không quân, 1 đơn vị thủy quân. Ngoài ra, Bộ Tư lệnh Sư đoàn bộ binh thuộc địa 9 (9 DIC) với tất cả các đơn vị trực thuộc, được đổi tên thành Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương, do Trung tướng Moóclie đứng đầu cũng đóng ở Hà Nội. Vũ khí quân Pháp có 5.000 súng trường, 600 tiểu liên, 150 trung liên và đại liên, 42 khẩu pháo, 22 xe tăng, 40 thiết giáp, 30 máy bay và một số tàu chiến trên sông. Đó đều là những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất đã được sử dụng trong đại chiến thế giới lần thứ hai.


Như vậy, so với các nơi khác, ở Hà Nội, quân Pháp bố trí lực lượng đông nhất, ở Hải Phòng, quân Pháp cũng có 1 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn chiến xa, 1 bộ phận không quân, 1 bộ phận hải quân, nhưng phạm vi địch đóng khá rộng, ở Hải Dương, Nam Định, Huế, mỗi nơi quân Pháp chỉ có 1 tiểu đoàn. Ở Bắc Giang và Bắc Ninh quân Pháp có 1 tiểu đoàn. Ở Đà Nẵng quân Pháp có 2 tiểu đoàn và ở Vinh quân Pháp có 1 trung đội.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:24:13 pm
Với lực lượng ở Hà Nội, quân Pháp rải đóng thành 54 vị trí xen kẽ với ta trong thành phố, trong đó có 6 nơi chúng tập trung lực lượng khá lớn: Thành 1.200 tên, Phủ Toàn quyền 500 tên, Trường Bưởi 250 tên, khu Đồn Thủy 800 tên, sân bay Gia Lâm 1.800 tên. Trường Anbe Xarô và sân bay Gia Lâm, địch bố trí 2 trận địa pháo có thể bắn vào mục tiêu trong thành phố. Xe tăng, xe thiết giáp tập trung chủ yếu ở trong thành. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh miền Bắc cũng đóng ở trong thành.


Do làm nhiệm vụ tiếp phòng thay quân Tưởng, quân Pháp đã chiếm được những vị trí quân sự có lợi nhất, đặc biệt là khu vực Tây Bắc, Đồn Thủy, Gia Lâm. Ở những vị trí khác, địch có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội, trong đó có một số nơi chúng gác chung với ta như nhà Ngân hàng, nhà ga, Sở liên kiểm Việt Pháp, Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà đèn Bờ Hồ, cầu Long Biên, Nhà in Viễn Đông, Nhà Thương chính. Đáng chú ý là khách sạn Mêtơrôpôn (cách Bắc Bộ Phủ và Bộ Nội vụ một con đường) địch đưa khoảng 200 tên có vũ khí hóa trang thành thường dân đến ém sẵn. Ở rạp Magiéttíc trước trại Vệ quốc đoàn Trung ương, địch cũng có khoảng 1 tiểu đội hỏa trang ém sẵn.


Nhiều gia đình trong số 7.000 Pháp kiều cũng được trang bị vũ khí và được tổ chức thành hàng trăm ổ chiến đấu độc lập rải ra các khu phố Tây và ở cả khu phố ta. Mỗi ổ thường có một vài sĩ quan Pháp, một vài tên commăngđô mũ đỏ trang bị đầy đủ súng máy, tiểu liên, súng ngắn, nhiều đạn dược và đầy đủ lương thực, thực phẩm để đánh nhiều ngày.


Ngoài ra, địch còn dùng nhiều ổ người Hoa, ngoài cửa treo quốc kỳ Trung Hoa dân quốc nhưng cũng được trang bị vũ khí để chống lại quân ta. Lực lượng chống phá còn có bọn Việt gian, tay sai, gián điệp khá đông đảo.

Từ đầu tháng 12 năm 1946, Đácgiăngliơ - Cao ủy Pháp ở Đông Dương tuyên bố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Năng là lãnh thổ của nước Pháp. Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Valuy - Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương họp cùng Moóclie - Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương để thông qua kế hoạch đánh chiếm Hà Nội.


Quân Pháp vào Hà Nội, chúng tìm cách móc nối với bọn tay sai cũ và những tên tay sai còn lại của quân Tưởng, như bọn Việt Quốc, Việt Cách... chống phá ta. Chúng dự định tổ chức 1 cuộc biểu tình, khiêu khích ta vào ngày 14 tháng 7 nhằm tạo cớ cho quân Pháp đánh ta. Được nhân dân giúp đỡ, các lực lượng tự vệ, công an đã phát hiện được âm mưu đen tối và cực kỳ nguy hiểm của chúng, do đó, khi quân Pháp chưa kịp hành động thì ngày 12 tháng 7, lực lượng tự vệ, công an đã tấn công vào trụ sở của bọn Việt Quốc, Việt Cách ở đường Quán Thánh và các nơi khác, bắt toàn bộ bọn đầu sỏ, tay sai của Pháp. Những địa điểm của chúng ở Cửa Bắc, Hàng Than, Hàng Bún, Đội Cấn cũng lần lượt bị khám xét. Với cuộc tiến công vào hang ổ của bọn phản quốc này, bộ mặt phản dân hại nước của chúng bị phơi bày trước nhân dân, chúng bị pháp luật trừng trị đích đáng.


Trong tình hình thành phố đang ngày càng căng thẳng. Tháng 5 năm 1946, Đảng chỉ đạo thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) nhằm mở rộng tập hợp các tầng lớp, nhân sĩ có tinh thần dân tộc còn đứng ngoài Mặt trận Việt Minh vào Hội Liên Việt để tăng cường lực lượng khối đại đoàn két toàn dân. Do đó càng làm cho các đoàn thể quần chúng được củng cố, phát triển rộng rãi, tăng cường lực lượng và nền tảng cho xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang.


Từ tháng 5 năm 1946, chính quyền thành phố Hà Nội quyết định chia khu phố của nội thành (theo địa giới hành chính cũ trước Cách mạng Tháng Tám) thành 17 khu phố1 (17 khu phố gồm: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bẩy Mầu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái, Bạch Mai. Ngoại thành chia thành 5 khu: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh), trong đó địa bàn Ba Đình ngày nay tương đương với với khu phố Trúc Bạch, Văn Miếu, Hồng Hà của nội thành và một phần khu Đại La và Lãng Bạc của ngoại thành. Ngày 30 tháng 6 năm 1946, nhân dân các khu phố và các làng xã nô nức đi bầu Ủy ban hành chính.


Được biết thực dân Pháp ngày càng tỏ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam, ngày 23 tháng 6 năm 1946 nông dân vùng Yên Phụ, bờ sông Hồng đã gửi quyết nghị lên Chính phủ, tỏ rõ quyết tâm "Ủng hộ kháng chiến do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo", "Chờ lệnh Chính phủ để xông ra giết giặc, hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ đất nước".


Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc nhận định, không sớm thì muộn thực dân Pháp sẽ chiếm toàn bộ đất nước ta, chúng ta nhất định phải tiến hành kháng chiến. Hội nghị đề ra nhiệm vụ, kế hoạch cho cả nước gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Ngay sau đó, Trung ương Đảng chia cả nước thành 12 chiến khu. Hà Nội là Chiến khu 11 đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Trân được chỉ định làm Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Khu 11, đồng chí Lê Quang Đạo làm Phó Bí thư, đồng chí Vương Thừa Vũ được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Khu 11. Mục tiêu của cuộc kháng chiến ở Hà Nội được Bộ Tổng chỉ huy xác định: Hà Nội cần giam chân quân địch ít nhất 1 tháng, tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh.


Để thực hiện mục tiêu của cuộc kháng chiến ở Hà Nội, Ban Chỉ huy Mặt trận Khu 11 đề ra kế hoạch tác chiến "trong đánh ra, ngoài đánh vào", giam chân và tiêu hao sinh lực địch trong thành phố. Nội thành chia thành 3 liên khu. Căn cứ vào địa hình, mỗi liên khu có nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến cụ thể, nhưng vẫn phối hợp chặt chẽ với nhau dưới sự chỉ đạo thống nhất của Khu ủy và Ban Chỉ huy Mặt trận Khu 11. Theo sự phân chia đó, trên địa bàn Ba Đình do một phần Liên khu 1 đàm nhiệm (Hồng Hà, Trúc Bạch); một phần do Liên khu 3 đảm nhiệm (Văn Miếu). Khu ven nội vẫn giữ nguyên như trước (trong đó có Cầu Giấy, Thủ Lệ, Cống Vị, Vạn Phúc). Mỗi Liên khu có Đảng ủy Liên khu, Ủy ban Bảo vệ, Ban Tác chiến trực thuộc thẳng Khu 11. Ở Liên khu 1, đồng chí Nguyễn Hữu Mai làm Bí thư, đồng chí Lê Trung Toàn làm Phó Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ. Ở Liên khu 3, đồng chí Đỗ Trình làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ. Như vậy, địa bàn kháng chiến ở Ba Đình do một phần do Liên khu I và Liên khu 3 đảm nhiệm, cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình chiến đấu dưới sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy Khu 11, Mặt trận Hà Nội và Liên khu 1, Liên khu 3.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:25:16 pm
Nhân dân Ba Đình đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đối phó với chiến tranh bùng nổ do thực dân Pháp gây ra. Các đội tự vệ của khu phố, nhà máy, xí nghiệp, các đội dân quân du kích ở vùng ven nội được tăng cường về số lượng và trang bị thêm vũ khí, sắp xếp lại tổ chức. Nhân dân Ba Đình đã góp phần cùng nhân dân Thủ đô thực hiện cuộc "Tổng di chuyển" các cơ quan, xí nghiệp và kho tàng của Nhà nước ra khỏi Hà Nội. Lực lượng vũ trang trên địa bàn Ba Đình, các nhà máy, xí nghiệp, khu phố, làng xã làm nhiệm vụ giữa gìn an ninh trật tự, bảo vệ an toàn cho cuộc "Tổng di chuyển". Công nhân các nhà máy như Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà máy in... đã tham gia vận chuyển máy móc lên chiến khu để xây dựng cơ sở thiết yếu phục vụ quốc phòng và đời sống nhân dân trong kháng chiến. Các cụ già, em nhỏ được đưa đi tản cư về các vùng cách xa Hà Nội. Phụ nữ cứu quốc xung phong vào các đội cứu thương, bảo vệ, tiếp tế. Khắp các phố, những con đường bí mật xuyên qua các bức tường trong nhà để bộ đội, tự vệ di chuyển khi chiến đấu đã được hình thành. Các làng ở ven nội đã chuẩn bị kế hoạch làm "vườn không nhà trống", sẵn sàng "tiêu thổ kháng chiến". Nhân dân cùng các lực lượng vũ trang đào thêm hầm hố, đắp thêm chiến lũy chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.


Trong thời kỳ chuẩn bị kháng chiến, đi đôi với việc làm kế hoạch tác chiến, Hà Nội nói chung và Ba Đình nói riêng đã sớm triển khai nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kháng chiến.

Trước khi kháng chiến bùng nổ, toàn bộ các cơ quan Đảng, quân, dân, chính của Trung ương và của Hà Nội đóng trên địa bàn Ba Đình đã đều bí mật đi chuyển đến các ATK (An toàn khu). Những cơ quan không liên quan đến chỉ đạo kháng chiến ở Hà Nội thì chuyển lên Bắc Kạn, Tuyên Quang.


Quân địch đã tìm mọi cách phát hiện cơ quan đầu não của ta để oanh tạc hoặc đem quân tiến công. Nhưng dựa vào dân, ta đã bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não, nên duy trì được sự lãnh đạo, chỉ huy liên tục, kịp thời.

Các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình đã cùng Hà Nội góp phần quan trọng bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, tuy việc này chủ yếu do Bộ và Trung ương đảm nhiệm.

Nhiệm vụ động viên các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình sẵn sàng tham gia kháng chiến được Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy Liên khu 1, Liên khu 3, Khu Đại La và cấp ủy các chi bộ lãnh đạo chặt chẽ. Ta đã rất coi trọng động viên tinh thần yêu nước, vạch mặt âm mưu và hành động xâm lược của kẻ thù, giáo dục ý thức quốc phòng, tinh thần cách mạng cho các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình.


Trước những hành động khiêu khích ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp, quân và dân Ba Đình sục sôi căm thù. Nhưng để kéo dài thời gian hòa hoãn, tránh manh động để có thêm thời gian chuẩn bị được tốt hơn, Thành ủy đã chỉ đạo nhân dân phải bình tĩnh, phải nín nhịn chờ lệnh Chính phủ.


Để kháng chiến được lâu dài ở Hà Nội, ta phải chuẩn bị thực lực mọi mặt cho kháng chiến, từ kế hoạch tác chiến đến xây dựng và bố trí lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang.

Lực lượng vũ trang bảo vệ Thủ đô gồm cả bộ đội chủ lực, Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ thành, Công an xung phong, các đội cảm tử đánh tăng, các tổ du kích đặc biệt, dặt dưới sự lãnh đạo của Khu ủy 11, làm nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài.


Lực lượng chủ lực bao gồm 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn bộ binh (các tiểu đoàn 101, 77, 212, 145, 523), 1 đại đội cảnh vệ, 4 trung đội pháo cao xạ ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Thổ Khối, Xuân Tảo. Tổng quân số là 2.516 người, được trang bị 1.516 súng trường, 3 trung liên, 1 đại liên, 1 badôca 60mm, 1.000 lựu đạn, 80 bom ba càng, 200 chai xăng cơrết, 7 khẩu pháo cao xạ, 1 khẩu sơn pháo 75mm, 2 khẩu cối 60mm. Như vậy, lực lượng Vệ quốc đoàn rất ít, trang bị lại rất kém so với nhiệm vụ nặng nề bảo vệ Hà Nội.


Lực lượng tư vệ cho đến ngày sắp nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc đều đã được củng cố về tổ chức và được nâng cao trình độ chính trị, quân sự. Khi được thống nhất thành một tổ chức chung lấy tên là Đoàn Thanh niên tự vệ Hà Nội, quân số Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu có khoảng 300 người, được trang bị khá đầy đủ bằng súng trường. Tự vệ thành Hoàng Diệu có khoảng 8.500 người.


Ở các xí nghiệp như Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà máy đèn Bờ Hồ, Xưởng sửa chữa xe lửa Gia Lâm, các xưởng Aviat, Boillot, Sở xe điện, ga Hàng Cỏ... mỗi nơi có khoảng 1 trung đội đến 1 đại đội tự vệ xí nghiệp.

Tự vệ chiến đấu ở ngoại thành có khoảng 2 vạn người. Toàn bộ vũ khí của các lực lượng tự vệ có khoảng 500 - 600 súng trường, 2 trung liên, một số súng ngắn, một số mìn, lựu đạn, còn lại toàn là giáo mác, kiếm, dao găm. Chiến khu 11 còn tổ chức 13 đội quyết tử đánh xe tăng và 36 tổ du kích đặc biệt. Khi kháng chiến bùng nổ, các đội này sẽ được phân công về các khu vực trong thành phố.


Từ tháng 11 năm 1946, khi Thường vụ Trung ương Đảng quyết định giao cho Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy nắm quyền chỉ huy cả Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ thì Bộ Chỉ huy Khu 11 cũng nắm quyền chỉ huy cả Vệ quốc quân và dân quân tự vệ tại Thủ đô. Trước khi nổ súng mấy ngày, theo chỉ thị của Bộ, Trung đoàn 13 Hà Đông đưa 2 đại đội của Tiểu đoàn 56 vào tăng cường cho Hà Nội. Bộ Chỉ huy Hà Nội đã xếp vào biên chế của Tiểu đoàn 77 và Tiểu đoàn 523, mỗi đơn vị 1 đại đội.


Về đào tạo cán bộ cho lực lượng vũ trang, Bộ Chỉ huy Khu tổ chức Trường Quân sự để huấn luyện cán bộ cho các đơn vị. Bộ Chỉ huy Khu còn ra báo Quân giải phóng, sau là báo Chiến thắng, để tuyên truyền giáo dục bộ đội, dân quân tự vệ và phát hành rộng rãi trong nhân dân.


Để quân dân Hà Nội hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giam chân địch trong một thời gian, nhiệm vụ trước mắt và là công việc đầu tiên cấp bách đối với Khu ủy, Bộ Chỉ huy Chiến khu 111 (Chuẩn bị bước vào chiến tranh, do Khu 11 chỉ có thành phố Hà Nội nên nhiều lúc cũng được gọi là Mặt trận Hà Nội; Bộ Chỉ huy Khu 11 là Bộ Chỉ huy Mặt trận Hà Nội) là phải xây dựng một kế hoạch tác chiến phù hợp với địa lý quân sự, quy mô cuộc chiến tại địa bàn Hà Nội.


Kế hoạch tác chiến của Hà Nội trong những ngày đầu chiến tranh lại liên quan mật thiết đến kế hoạch tác chiến của Bộ Tông Tham mưu. Bộ Tổng chỉ huy xây dựng kế hoạch tác chiến trên quy mô cả nước, trong đó có Mặt trận Hà Nội được coi là chiến trường chính trong trận tổng giao chiến đầu tiên. Bộ Tổng chỉ huy hạ quyết tâm: "Chiến khu Hà Nội không để bị rơi vào thế bất ngờ, nếu địch đánh trước, ta có thể quật lại ngay. Trận đánh ở Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước. Hà Nội cần giam chân địch một thời gian càng lâu càng tốt tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh".


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 13 Tháng Bảy, 2026, 09:26:01 pm
Qua nhiều lần thảo luận, điều chỉnh, ngày 14 tháng 12 năm 1946, kế hoạch tác chiến của Bộ Chỉ huy Chiến khu 11 được thông qua lần cuối. Trong kế hoạch, ta phán đoán địch sẽ đem quân từ Cửa Bắc của thành tiến theo đường Phan Đình Phùng, Hàng Đậu ra chiếm cầu Long Biên, đồng thời với quân từ Gia Lâm đánh sang nhằm làm chủ con đường huyết mạch này. Địch cũng từ Cửa Nam của Hà Nội theo đường Cột Cờ, Tràng Thi, Tràng Tiền và từ Đồn Thủy theo đường Lê Thánh Tông lên cùng với cánh quân Cửa Nam đánh ra, đánh chiếm khu Bắc Bộ phủ, Toà Thị chính. Địch cũng có thể từ Cửa Nam theo đường Hàng Lọng và từ Đồn Thủy theo đường Trần Hưng Đạo tiến ra nhằm nối thông với ga Hàng Cỏ và ngã tư Khâm Thiên. Địch ở Gia Lâm cũng có thể vượt sông sang tăng viện cho Hà Nội.


Trên cơ sở phán đoán khả năng tác chiến của địch, ta hình thành ý định tác chiến là nắm quyền chủ động, dùng lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Tự vệ thành bất ngờ tiến công đồng loạt nhiều vị trí địch trước khi chúng tiến công ta, đặc biệt phải bất ngờ tiêu diệt ngay từ đầu các ổ chiến đấu độc lập của địch tại các khu phố, làm cho chúng bị động, đồng thời tích cực ngăn chặn và hạn chế sự tiến công ồ ạt, đánh nhanh, thắng nhanh của chúng.


Sau 3 ngày tác chiến thì cắm lại một lực lượng trong lòng thành phố ở Liên khu 1 chặn đánh dài ngày sau lưng địch. Các lực lượng của Liên khu 2 và Liên khu 3 kiên quyết đánh chặn địch từ trong tiến ra và lui dần, đêm luồn vào đánh du kích làm cho địch lâm vào thế trước sau đều bị chặn đánh, phải phân tán lực lượng không thể đánh chiếm nhanh chóng thành phố Hà Nội.


Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trên đất Ba Đình đầu tháng 12 năm 1946 có nhiều lực lượng tham gia chiến đấu giam chân địch trong thành phố, đó là các lực lượng được lãnh đạo và chỉ huy của Mặt trận Hà Nội, các liên khu, trực tiếp là Liên khu 1, Liên khu 2, Khu Đại La, các đơn vị chủ lực của Trung đoàn Thủ đô, tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, Hoàng thành Thăng Long, cơ quan, khu phố... trong nội đô, các lực lượng dân quân du kích các địa phương ven nội thuộc địa bàn Ba Đình. Căn cứ vào kế hoạch tác chiến của Mặt trận Hà Nội và các liên khu, về cơ bản các lực lượng vũ trang trên địa bàn Ba Đình được bố trí như sau:

Ở khu Trúc Bạch và Hồng Hà, Phúc Xá, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu có Trung đội Tô Hiệu do đồng chí Vị Hải chỉ huy. Tự vệ thành có Đại đội Ngô Quyền của kim Trúc Bạch và 4 trung đội dưới khu Hồng Hà. Tất cả các lực lượng này do Liên khu 1 chỉ huy.

Ở khu Thăng Long có Đại đội 28 của Tiểu đoàn 523 đóng tại Nhà Tiền (nay là Công ty in Tiến bộ) và Tiểu đoàn bộ do Tiểu đoàn trường An Giao chỉ huy đóng ở Nhà máy tóc (nay là Xí nghiệp dược Hà Nội). Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu có Trung đội Hà Huy Tập do đồng chí Cát chỉ huy. Tự vệ thành có Đội Phan Tống do đồng chí Lộc (Toét) chỉ huy; Đội Thăng Long do đồng chí Quách Ngọc Hải chỉ huy; đội của thợ thủy tinh Cầu Giấy do đồng chí Nguyễn Văn Sựu chỉ huy.


Trong nội thành, các lực lượng tự vệ chiến đấu trong các nhà máy, xí nghiệp, v.v.. được tổ chức biên chế và thống nhất lãnh đạo, chỉ huy của Mặt trận Hà Nội và các liên khu. Ở khu Đại La có Đại đội 1 (thuộc Tiểu đoàn 56) và Tiểu đoàn 145 đóng ở khu vực Quần Ngựa, Liễu Giai, Cống Vị. Ở các làng, xã Vạn Phúc, Thủ Lệ, Cầu Giấy... có các trung đội tự vệ được củng cố sẵn sàng đánh địch. Tất cả các lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Thành ủy, Đảng ủy Liên khu, Đảng ủy Khu, các tổ chức đảng ở cơ sở.


Nhằm ý đồ trở lại xâm lược nước ta lần nữa, thực dân Pháp đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9-1946. Chúng ngày càng lấn tới, ráo riết triển khai kế hoạch gây tội ác ở Hà Nội. Trên địa bàn Ba Đình, quân Pháp đã đóng chiếm Thành Hà Nội, Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An), Trường Anbe Xarô (số 2 Hoàng Văn Thụ), Phủ Toàn quyền cũ, Trường Sư phạm Đồ Hữu Vị (nay là phố Cửa Bắc). Số kiều dân Pháp sống ở phố Hoàng Diệu, Trần Phú, Phan Đình Phùng sẵn sàng hỗ trợ chúng. Trước giã tâm và hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, trong hai ngày 18 và ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ở Vạn Phúc, Hà Đông, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị nhận định thực dân Pháp đã chuyển sang giai đoạn thực hiện hành động chiến tranh, khả năng đàm phán không còn nữa, thời kỳ hòa hoãn đã qua, chúng ta càng nhân nhượng, kẻ thù sẽ càng lấn tới. Hội nghị phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Đây là một quyết định đúng đắn, kịp thời, chủ động của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trưa ngày 19 tháng 12, Thường vụ Trung ương Đảng điện gửi các khu ủy, tỉnh ủy với nội dung quân Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí của quân đội, tự vệ, công an. Chính phủ đã bác bỏ tối hậu thư ấy. Đứng trước sự tồn vong của dân tộc, tối 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.


Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ nổ mìn phá máy phát điện. Đèn điện toàn thành phố phụt tắt. Đó là hiệu lệnh tiến công. Ngay lập tức pháo binh ta ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Thủ Khối... bắn vào khu thành, nơi có quân Pháp đóng, mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc lâu dài, gian khổ nhưng với niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Các trận địa tiến công của ta khắp thành phố đồng loạt nổ súng đảnh địch theo kế hoạch đã xác định. Lực lượng vũ trang Ba Đình đã phối hợp rất chặt chẽ với toàn dân Thủ đô anh dũng chống quân Pháp. Tự vệ giật mìn làm đổ hàng loạt cột đèn, cây to hai bên đường. Công nhân xe điện lật đổ toa tàu, đánh bật đường ray làm chướng ngại vật. Đồng bào hai bên phố ném cả tủ chè, sập gụ, bàn ghế, giường phản ra đường để cản bước tiến của giặc. Tại tuyến phố Phan Đình Phùng, địch tung lực lượng cơ động đóng trong thành, có xe tăng, xe bọc thép, pháo binh yểm trợ, chia làm 4 hướng tiến công các vị trí quan trọng của ta ở Bắc Bộ phủ, Đấu Xảo, đầu cầu Long Biên, Hàng Đậu.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 07:54:31 pm
Để đánh chiếm cầu Long Biên, quân Pháp hành quân theo thế gọng kìm. Một bộ phận từ trong thành theo đường Cổ Ngư, Nhà máy điện, Nhà máy nước đánh thốc xuống đầu cầu. Một bộ phận khác theo đường Phan Đình Phùng xuống vườn hoa Hàng Đậu lên Hàng Than, đầu cầu. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu Tô Hiệu, Tự vệ thành của Trúc Bạch, tự vệ các nhà máy tham gia đánh giặc ở bốt Hàng Đậu, Hàng Than, đầu cầu Long Biên, Nhà in Viễn Đông, Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ. Địch từ trong thành cho xe bọc thép theo đường Cửa Bắc lên Nhà máy điện, bị tự vệ ném lựu đạn tới tấp phải rút về thành. Tự vệ Cửa Bắc, Quán Thánh đồng loạt hô xung phong đuổi theo địch đến tận cổng thành nhưng bị chúng bắn ra làm 2 chiến sĩ ta bị thương, ở ô Yên Phụ, tự vệ phối hợp với Vệ quốc đoàn và Công an diệt gọn một toán lính Pháp. Ở phía đường đê La Thành (nay là đường Hoàng Hoa Thám) các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, Đại đội 1 Tiểu đoàn 56 do Đại đội trưởng Nguyễn Thế Môn chỉ huy phối hợp với tự vệ (Đại đội Lam Sơn) đánh chiếm Nhà máy bia Hommel, diệt 11 tên địch, thu được một số vũ khí trang bị cho tự vệ Đại đội Lam Sơn. Phát huy thắng lợi, các chiến sĩ tự vệ tiến công địch ở vườn hoa Lapho (nay là Công ty ươm giống, cây cảnh), diệt 4 tên địch. Ở dốc Ngọc Hà, 1 tổ chiến đấu và tự vệ tiêu diệt ổ đề kháng bí mật ở trong dinh thự chị vợ Bảo Đại. Ở đường Nguyễn Thái Học, quả bom chôn ngầm trước cửa nữ tu viện Gianđa (nay là Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) không nổ. Đây là một điểm cao khống chế của địch, ở đây chúng đặt tiểu liên và khẩu cối 82mm, khống chế cả khu vực Văn Miếu - Hàng Bột - Nguyễn Thái Học. Do đó, ta quyết tâm tiêu diệt địch ở vị trí này.


Ở Trường Bưởi, đêm 19 tháng 12 năm 1946 diễn ra trận tập kích địch của Vệ quốc quân và tự vệ Ba Đình. Trường Bưởi vốn là một trường trung học bảo hộ thời Pháp đô hộ (nay là trường Chu Văn An). Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, ta buộc phải để cho địch đóng ở đây 250 tên. Trường có một dãy 3 ngôi nhà tầng kiên cố, phía Bắc giáp với Hồ Tây, phía Nam có sân rộng và tường cao giáp đường Thủ Khoa Huân (nay là đường Thụy Khuê, cách Phủ Toàn quyền khoảng 500m. Ở cổng có một vọng gác. Ta sử dụng 2 đại đội của Tiểu đoàn 145 và một bộ phận tự vệ tiến công tiêu diệt địch. Tất cả 2 đại đội chỉ có 214 người nhưng còn phân ra 1 phân đội đánh Nhà máy bia Hommel, một bộ phận đánh một số vị trí nhỏ của địch ở Ngọc Hà. Trực tiếp đánh Trường Bưởi, ta chỉ có hơn một đại đội và một bộ phận tự vệ, trong đó có một bộ phận chặn địch từ Phủ Toàn quyền lên. Theo kế hoạch, ta tiến công hướng chủ yếu từ phía Thủ Khoa Huân đánh vào cổng chính. Hướng thứ yếu dùng thuyền bơi vòng ra Hồ Tây quật vào từ phía Bắc sau trường. Hướng chính ta ném lựu đạn, bắn súng diệt 2 tên lính gác rồi xông vào sân. Hướng thứ yếu ta cũng đổ bộ bất ngờ vào sân trường. Nhưng 2 bộ phận ở cách xa nhau, không liên lạc được với nhau. Tất cả địch co cụm lên gác hai, gác ba, dùng lựu đạn và bắn xuống. Ta không tiến lên được. Ta định đốt kho đạn, kho xăng nhưng địch đã chuyển đi nơi khác. Ta bắn lên gác, tìm bom để nổ nhưng không có. Ta đánh giằng co với địch khoảng 1 giờ rồi rút. Trận đánh tuy không giành được thắng lợi, nhưng cho ta bài học kinh nghiệm quý về cách đánh địch trong nhà kiên cố ở thành phố.


Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, chỉ rõ kẻ thù dân tộc là thực dân phản động Pháp xâm lược, xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng là nguồn cổ vũ lớn lao, là ánh sáng soi đường cho quân dân Ba Đình tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến.


Lực lượng vũ trang ở Ba Đình tiếp tục được bổ sung. Các đội tự vệ Ba Đình tiếp nhận thêm nhiều công nhân, nông dân, thương gia, thanh niên, học sinh, dân nghèo và được khẩn trương luyện tập. Nhiều hầm hào, ụ súng chiến đấu được mọc lên ở các ngả đường Kim Mã, Thụy Khuê; các đường giao thông qua các tường nhà trong phố nối dài thêm để đánh quân Pháp. Nhân dân Cầu Giấy, Thủ Lệ, Vạn Phúc tự tay dỡ nhà, phá cửa để thực hiện "vườn không nhà trống", "tiêu thổ kháng chiến", và ngày đêm lo việc tiếp tế lương thực, đạn dược cho Mặt trận, về phía địch, sau một đêm bị bất ngờ, chúng củng cố lại lực lượng phản công ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Tại nhà Gianđa, đêm 20 tháng 12, ta bao vây bên ngoài nhưng không thể đột nhập vào trong vì hỏa lực địch mạnh hơn ta từ trên nóc nhà bắn xuống xối xả.


Sáng ngày 20 tháng 12, địch mở cuộc tiến công lớn lên Cổ Ngư - Ô Yên Phụ. Bộ binh có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ theo 3 mũi từ đê Yên Phụ, Cổ Ngư, Nguyễn Thái Học (nay là phố Phó Đức Chính) lên. Dọc đường từ Cửa Bắc lên Nguyễn Thái Học, địch bị các tổ tự vệ chốt giữ bắn tỉa. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt từ đường Cổ Ngư lên đầu Ô Yên Phụ. Ta có 1 trung đội Vệ quốc đoàn, 70 Tự vệ chiến đấu và Tự vệ thành ở các phố Quán Thánh, Cổ Ngư, Trúc Bạch, Nguyễn Thái Học... tham gia chiến đấu. Đến 11 giờ 30 phút, chúng tiến lên được Ô Yên Phụ. Ta tiêu diệt được 30 tên và 2 xe xích của địch.


Ở khu Hồng Hà, 4 trung đội của Phúc Xá, Tân Ấp, Nghĩa Dũng sát nhập lại, thành Đại đội Hồng Hà do đồng chí Tuấn Lâm làm Đại đội trưởng; đồng chí Phạm Văn Trương - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Hồng Hà kiêm Chính trị viên Đại đội. Đại đội được Ban Chỉ huy Mặt trận Khu 11 giao nhiệm vụ bảo vệ phía Đông Bắc thành phố và bảo vệ con đường giao thông liên lạc tiếp tế giữa Khu 11 với Liên khu 1, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt.


Đêm 21 tháng 12, Vệ quốc đoàn từ Ô Chợ Dừa tập kích vào Cửa Bắc, phá 1 xe tăng, 11 xe Jeép, diệt 5 lính Pháp, thu 2 khẩu liên thanh rồi rút lui an toàn. Ở phía Nhà Tiền, địa điểm quan trọng trên ngã ba đường Sơn Tây và Hà Đông về Hà Nội đã diễn ra trận chiến đấu quyết liệt. Địch cho 2 đại đội bộ binh, 5 xe tăng, 1 xe thiết giáp có máy bay và súng lớn yểm trợ, chia làm 3 mũi theo đường Sơn Tây, Nguyễn Thái Học và Trịnh Hoài Đức cùng tiến vào định chiếm Nhà Tiền và Ô Kim Mã. Một trung đội Vệ quốc đoàn và Đại đội tự vệ Phan Tống đã bố trí sẵn ở khu vực này. Quân địch chủ quan, hùng hổ kéo tới liền lập tức bị các chiến sĩ ta tiến công. Tại đường Sơn Tây, tự vệ và Vệ quốc đoàn đã dùng mã tấu, chai cháy tiêu diệt địch. Tại rạp Tam Kỳ và chợ Kim Mã, quân ta lợi dụng những ngõ phố chật hẹp, những góc tường nhà, bức tường đánh địch, không để chúng tiến sâu vào. Bị đánh trả bất ngờ, quân Pháp hoảng loạn phải rút chạy về đường Hùng Vương, chuẩn bị lại lực lượng phản công ta. Được xe tăng yểm trợ, chúng lại mở đợt tiến công Nhà Tiền. Đến 8 giờ tối, quân ta được pháo đài Láng yểm hộ, tiến đánh chiếm lại Nhà Tiền. Địch bỏ chạy, để lại 8 xác chết, 12 tên bị thương.


Ngày 22 và 23, quân Pháp không mở được một cuộc tấn công nào đáng kể. Chúng mở những cuộc hành quân nhỏ để thăm dò lực lượng của ta đều bị lực lượng vũ trang ta chặn đánh ngay từ khi chúng vừa xuất phát.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 07:55:46 pm
Từ cuối tháng 12 năm 1946, quân Pháp tập trung quân đánh rộng ra vùng xung quanh. Chiến sự lại diễn ra quyết liệt. Đêm 25 tháng 12, các đơn vị tự vệ Ba Đình đã đánh thúc sau lưng quân Pháp ở phía Cửa Bắc và bờ sông Hồng. Tiếng súng tự vệ nổ liên tiếp khắp nơi làm cho chúng không thể đem quân ứng cứu cho nhau được. Ngày 16, ba em thiếu nhi Ngọc Hà đã mưu trí, gan dạ dùng lựu đạn, chai xăng phá hủy 2 xe thiết giáp của Pháp khi chúng vừa kéo vào định phá các ụ đất ở ngã ba đường.


Chiều 28 tháng 12, xe GMC chở lính Pháp từ đường Hùng Vương - Nguyễn Thái Học vào đổ quân tại bãi Septo (nay là sân vận động Hàng Đẫy). Trung đội 57 (thuộc Đại đội 29 Tiểu đoàn 523) cùng tự vệ làng An Trạch bố trí tại nhà cao tầng phố Bích Câu nổ súng bất ngờ, diệt và làm bị thương 10 tên. Địch rút khỏi sân vận động chạy về thành. Sáng 30 tháng 12, địch mở trận tiến công lớn ra ô Chợ Dừa. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở các hướng Khâm Thiên, Hàng Bột. Địch từ bãi Septo đánh vào phố Bích Câu, Hàng Bột, Trung đội 57 và tự vệ An Trạch chặn đánh địch quyết liệt. Đồng chí Nguyễn Xuân Khánh - Tiểu đội trưởng hy sinh khi đánh địch ở Nhà Tế bần phố Đoàn Thị Điểm - Bích Câu.


Dự đoán được quân Pháp chuẩn bị cuộc tiến công lớn ra hướng Tây Bắc, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội chỉ thị cho Tiểu đoàn 145 sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn đã điều 8 trung đội chuẩn bị trận địa phòng ngự liên hoàn ở khu vực đường Thụy Khuê, Quần Ngựa, Đội Cấn. Hai trung đội dự bị cơ động cùng cơ quan chỉ huy Tiểu đoàn đứng chân tại làng Đại Yên.


Ngày 3 tháng 1 năm 1947, quân Pháp mở một đạt tiến công mới vào khu vực Ba Đình. Chúng huy động 700 quân, 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, 70 vận tải, xe Jeép, 3 máy bay chi viện hỏa lực, chia làm 3 cánh tiến vào. Cánh thứ nhất, theo đường Thụy Khuê đánh vào khu vực Nhà máy điện. Cánh thứ hai theo đường Hoàng Hoa Thám tiến lên phía Bắc Ba Đình. Cánh thứ ba, chúng sử dụng 2 đại đội, 4 xe tăng, 2 xe bọc thép, theo đường Đội Cấn đánh lên phía Bắc. 5 giờ ngày 3 tháng 1 năm 1947, địch bắt đầu tiến công ra phía Tây thành phố theo các đường: Thụy Khuê, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn. Trên đường Đội Cấn, giặc Pháp cho máy bay oanh tạc suốt dãy phổ, phá hủy nhiều nhà cửa. Xe tăng, xe bọc thép dẫn bộ binh tiến vào. Hai trung đội của Tiểu đoàn 145 thực hiện nhiệm vụ đã giữ từng khu vực, dựa vào trận địa, kiến trúc nhà cửa chặn đánh địch rất quyết liệt. Một chiến sĩ quyết tử ôm bom ba càng đâm vào xe tăng địch. Bom không nổ, đồng chí anh dũng hy sinh. Một đồng chí khác tiếp tục ôm bom xông lên phá được xe tăng địch, bộ binh địch chùn bước không giám sục sạo. Ta trụ bám nhà, dựa vào chiến lũy, công sự, tầng gác cao ném lựu đạn xuống, kết hợp với lực lượng phục sẵn ờ tầng dưới xung phong tiêu diệt địch. Địch thương vong khoảng 1 trung đội, không tiến được. Đến 13 giờ chúng cho một mũi từ phố Sơn Tây, tiến qua làng Vạn Phúc, đánh vào nhà thờ Liễu Giai, vu hồi phía giữa phố, kết hợp với bọn trên đường Đội Cấn bắn rất mạnh vào hai bên phố để uy hiếp quân ta. Tại làng Vạn Phúc, ta dựa vào làng mạc, hồ ao chiến đấu chặn địch, diệt nhiều tên. Do tương quan lực lượng chênh lệch, 14 giờ 30 phút ta phải rút khỏi Vạn Phúc và nhà thờ Liễu Giai về phòng ngự tại nhà Brigade Mobile.


Phía đường Thụy Khuê, Hoàng Hoa Thám địch chiếm sở xe điện, nhà máy giặt, Nhà máy bia Hommel. Do bị thiệt hại nên cả 3 cánh quân của chúng đều ngừng tiến công để củng cố lực lượng, triển khai giữ khu vực mới chiếm, chuẩn bị cho cuộc tiến công mới. Kết quả trên 3 đường, chủ yếu là trên đường Đội Cấn ta diệt 116 tên, phá hủy 1 xe tăng, 2 xe vận tải, phá hỏng 1 xe thiết giáp, thu 1 súng ngắn, 7 súng trường. Ta hy sinh 30 đồng chí, bị thương 25 đồng chí, mất 3 súng khai hậu. Sau trận này, Ban Chỉ huy Mặt trận điều Tiểu đoàn 145 và Đại đội 134 của Tiểu đoàn 56 tới Giảng Võ, chủ động bố trí quân để chống trả đợt tiến công mới của quân địch.


Ngày 6 tháng 1 năm 1947, Pháp huy động 1.000 quân, 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất, có pháo binh, máy bay yểm trợ, tiến theo hai hướng Giảng Võ - Đê La Thành và Hàng Bột - Ô Chợ Dừa. Tại Giảng Võ, địch chia làm hai cánh quân: Cánh thứ nhất, theo đường Hàng Bột - Đê La Thành, có xe tăng dẫn đầu tiến vào trận địa. Trên dốc làng Hoàng Cầu đã diễn ra trận đánh giáp lá cà quyết liệt. Trong trận chiến đấu ngày 6 tháng 1 năm 1947, Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai đã anh dũng ôm bom ba càng lao vào tiêu diệt xe tăng địch và anh dũng hy sinh; năm 1996, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cánh quân thứ hai, từ Nhà Tiền, Nhà máy gạch Năm Diệm tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ, chia làm hai mũi, một mũi tấn công vào làng Giảng Võ, một mũi tiến thẳng xuống ngã tư, hợp vây với cánh quân thứ nhất. Tại làng Giảng Võ, Vệ quốc đoàn, Trung đội quyết tử, Trung đội cựu binh sĩ cứu quốc Giảng Võ và Tiểu đội nữ tự vệ đã đánh bật ba đợt tấn công của địch; không cho chúng chiếm làng. Số sống sót bỏ chạy về phía Nhà Tiền.


Ở mũi tấn công xuống ngã tư Giảng Võ, Đại đội trưởng Vũ Công Định trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 và lực lượng còn lại của Đại đội 134 chiến đấu kiên cường bám trụ trận địa, đến gần trưa mới rút về phía Tây Nam để bảo toàn lực lượng. Đại đội trưởng Vũ Công Định bị thương vẫn ở lại chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chính trị viên Lê Chí Thực đi cuối cùng yểm hộ cho đồng đội rút lui, anh đã anh dũng hy sinh không để lọt vào tay địch. Địch không chiếm được Giảng Võ, bị tiêu diệt 30 tên. Ta 40 đồng chí anh dũng hy sinh, 10 đồng chí bị thương. Cả Tiểu đội nữ tự vệ đã hy sinh trên mảnh đất quê hương. Gương chiến đấu kiên cường, hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 134 đã được truy tặng Huân chương Chiến sĩ.


Cuộc chiến đấu chống quân Pháp xâm lược ngày 6 tháng 1 năm 1947 của lực lượng vũ trang nhân dân Ba Đình là một trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu cho tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", truyền thống anh dũng, kiên cường chiến đấu chống giặc ngoại xâm của lực lượng vũ trang và nhân dân quận Ba Đình. Năm 2003, tại ngã tư Giảng Võ, thành phố Hà Nội đã gắn biển "Di tích cách mạng và kháng chiến" để các thế hệ mai sau mãi mãi ghi nhớ sự kiện lịch sử hào hùng này.


Sau khi mở chiến dịch tấn công ra Giảng Võ và các cửa ô của thành phố bị thất bại, địch mỏi mệt, lúng túng giữa phân tán và tập trung, tạm dừng lại để củng cố lực lượng, chờ tăng viện. Ta tranh thủ thời gian, rút kinh nghiệm chiến đấu, bổ sung lực lượng, sửa sang và đào thêm hàm hào chiến đấu. Ngày 15 tháng 1 năm 1947, ta bố trí một số cán bộ, chiến sĩ Liên khu 3, đi cùng đồng bào tản cư ra hậu phương. Lực lượng ờ lại tiếp tục củng cố để bước vào trận chiến đấu mới.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 07:56:54 pm
Ngày 20 tháng 1 năm 1947 (tức 29 Tết Đinh Hợi), Pháp huy động lực lượng lớn từ các vị trí Nhà dầu Tam Đa, Nhà máy da Thụy Khuê, Nhà thờ Liễu Giai và làng Giảng Võ đánh ra Ô Cầu Giấy. Địch bị quân ta chặn đánh quyết liệt ở làng Ngọc Khánh, Vạn Phúc, Thủ Lệ, Cầu Giấy, Chợ Bưởi. Tại trận địa Giảng Võ, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Các chiến sĩ tự vệ Giảng Võ cùng bộ đội đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm chống trả các đợt tiến công của quân địch. Do quân địch đông, hỏa lực mạnh nên chúng tiến được vào làng, chiếm được một số điểm, một số chiến sĩ tự vệ đã anh dũng hy sinh. Trên các hướng khác, đồng chí Nguyễn Duy Phồng hy sinh tại cống Chênh, đồng chí Trương Văn Vẹo hy sinh tại đường tàu điện Ngọc Khánh, đồng chí Trương Văn Thủy hy sinh tại xóm 2 Giảng Võ.


Ngày 23 tháng 1 năm 1947, quân Pháp huy động 2 tiểu đoàn bộ binh, 7 xe tăng, 27 xe thiết giáp chia làm ba mũi tiến công ta ở khu vực Nhà Tiền. 10 giờ 45 phút, quân địch từ ba ngã Đội Cấn, Nguyễn Thái Học, Cát Linh nổ súng, khép vòng vây khu vực Nhà Tiền. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt. Đại đội Phan Tống cùng 1 trung đội Vệ quốc đoàn, có sự phối hợp chiến đấu của tự vệ, dân quân du kích và nhân dân địa phương quần nhau với địch khắp các ngả. Toán xe tăng địch từ đường Sơn Tây vừa chạm đến ụ đất trước rạp Tam Kỳ vấp phải mìn, chiếc đi đầu nổ tung. Những chiếc sau bị ùn lại không sao tiến lên được. Cánh quân bộ bị chặn lại giữa rạp Tam Kỳ và chợ Kim Mã. Quân ta lợi dụng địa hình đường phố và ngõ chợ ngóc ngách xông ra đánh giáp lá cà với địch. Quân địch bị hoảng loạn. Kết quả là lực lượng vũ trang ta đã phá tan được cuộc tiến công quy mô lớn này của địch, diệt 20 tên, làm bị thương 2 tiểu đội khác, phá hủy 1 xe tăng. Trận đánh địch ở khu Kim Mã - Nhà Tiền ngày 23 tháng 1 năm 1947 chứng minh sự phối hợp chặt chẽ giữa Vệ quốc đoàn, tự vệ và nhân dân đã tạo ra một sức mạnh có thể đương đầu với các cuộc tiến công của giặc Pháp dù cho chúng đông quân và nhiều súng đạn.


Ngày 16 tháng 2 năm 1947, các chiến sĩ Đại đội Hồng Hà dũng cảm chiến đấu chặn đánh địch khi chúng càn quét vào khu Hồng Hà nhằm chặn đường tiếp tế của ta; đến gần trưa quân địch phải lui quân. Đêm ngày 17 tháng 2 năm 1947, Đại đội Hồng Hà theo lệnh của chỉ huy Mặt trận Hà Nội rút ra hậu phương và tập kết ở Yên Nội (Từ Liêm).


Đêm 17 tháng 2 năm 1947, khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu 1 để bảo toàn lực lượng, Đại đội Nguyễn Ngọc Nại đã dẫn đường cho Trung đoàn vượt gầm cầu Long Biên, lên Phúc Xá - Tứ Tổng - Tầm Xá để vượt sông Hồng sang Đông Anh. Sáng 19 tháng 2 năm 1947, lực lượng của Đại đội đã chiến đấu chống quân địch tại Tầm Xá bảo vệ Trung đoàn Thủ đô rút ra hậu phương an toàn.


Như vậy, trong suốt 60 ngày đêm liên tục chiến đấu giam chân địch trong thành phố Hà Nội, các lực lượng vũ trang Ba Đình đã sát cánh cùng các lực vũ trang và nhân dân Hà Nội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Thành ủy và Mặt trận Hà Nội giao cho. Lực lượng vũ trang Ba Đình đã mưu trí, dũng cảm giam chân địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trong lòng thành phố, cùng quân dân Hà Nội tạo điều kiện cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. Lực lượng tự vệ, dân quân du kích Ba Đình đã mưu trí, dũng cảm thực hiện nhiệm vụ nghi binh và chiến đấu bảo vệ an toàn cho nhân dân Ba Đình sơ tán ra vùng tự do, Trung đoàn Thủ đô rút an toàn khỏi Hà Nội bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Lực lượng vũ trang Ba Đình đã chiến đấu với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh"; gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, các khu phố, dân quân du kích các làng xã sáng mãi trong lòng nhân dân Ba Đình, nhân dân Thủ đô Hà Nội.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 07:59:08 pm
3. Tiến hành chiến tranh du kích, tham gia tiếp quản giải phóng Thủ đô (1947-1954)

Từ cuối tháng 2 năm 1947, Hà Nội rơi vào ách chiếm đóng của quân Pháp. Bọn chúng ra sức biến Hà Nội thành trung tâm quân sự, chính trị, kinh tế để mở rộng chiến tranh trên toàn cõi Đông Dương. Chúng xây dựng nhiều đồn bốt, tháp canh, lập ra các phòng tuyến quanh thành phố; lập ra "Hội đồng bảo trợ đồng bào hồi cư" để lôi kéo nhân dân ta quay về Hà Nội. Để mị dân, tháng 5 năm 1947, thực dân Pháp dựng lên "Hội đồng an dân Bắc Việt" trong thành phố Hà Nội và những "Hội đồng quản trị xã" ở ngoại thành. Trên địa bàn Ba Đình, địch tăng cường quân lính, vũ khí ở các bốt Cầu Giấy, Bưởi.


Từ tháng 5 năm 1947, để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến lâu dài, một số cán bộ của Hà Nội, trong đó có Ba Đình, được cử theo đồng bào hồi cư, quay về thành phố nắm dân, chuẩn bị gây dựng cơ sở kháng chiến. Tới tháng 9 năm 1947, Thành ủy Hà Nội được thành lập lại, hoạt động kháng chiến trong lòng địch được đẩy mạnh hơn.


Sau Chiến thắng Việt Bắc (10.1947) của quân và dân ta, buộc thực dân Pháp phải chuyển sang thế cầm cự. Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của Đảng "biến vùng sau lưng địch thành tiền phương của ta", các cơ sở kháng chiến, lực lượng vũ trang trên địa bàn Ba Đình được củng cố. Ở vùng ven nội, lực lượng vũ trang và nhân dân đào hầm bí mật, che giấu nuôi dưỡng cán bộ, chôn chông mìn, phục kích tiêu hao sinh lực địch.


Ngày 25 tháng 8 năm 1948, du kích Tây Hồ đánh chìm 1 ca nô địch; du kích Yên Phụ tiêu diệt 1 tốp lính Pháp.

Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1948, lực lượng tự vệ Ba Đình đã 2 lần tham gia đánh địch ở thành Hà Nội, Nhà Tiền, Nhà máy nước, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ngày 23 tháng 12 năm 1948, tự vệ Ba Đình phối hợp với công nhân Sở xe điện Thụy Khê phá hỏng 2 toa xe điện của địch.


Đặc biệt, tháng 12 năm 1948, lực lượng vũ trang Ba Đình và nhân dân ven nội tiến hành đợt "Tổng phá tề". Đợt "Tổng phá tề" làm cho bộ máy ngụy quyền của địch hầu như tê liệt; chính quyền nhân dân được lập lại ở nhiều nơi, cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống địch trong nội thành, nhân dân thêm tin tưởng vào lực lượng kháng chiến.


Năm 1949, thực hiện chủ trương "Biến Thủ đô, hậu phương địch, thành chiến trường quan trọng của ta" chuẩn bị tổng phản công, cùng nhân dân cả nước, lực lượng vũ trang Ba Đình đẩy mạnh hoạt động kháng chiến, đánh địch ở nhiều nơi. Những cơ sở kháng chiến bị vỡ, bị tổn thất trong các cuộc càn quét của địch được phục hồi, tổ chức lại. Riêng ở Đại Yên trung bình 10 gia đình đã có 9 gia đình cảm tình kháng chiến. Hai tổ tuyên truyền được thành lập ở đây năm 1947, từ hoạt động bí mật, rải truyền đơn, treo cờ, biểu ngữ đã chuyển sang hoạt động vũ trang tuyên truyền; nhiều lần phối hợp với công nhân Sở xe điện Thụy Khuê phá toa xe, đường tàu. Ở các đường phố, cơ sở quần chúng kháng chiến được sắp xếp lại theo những hệ thống tổ chức chặt chẽ để tiện liên lạc, hoạt động, tránh sự lùng bắt của thực dân Pháp. Vì vậy, mặc dù bọn gián điệp, bọn phản động đầu hàng có gây cho Ba Đình những vụ vỡ cơ sở lớn như vụ Văn Miếu cuối năm 1949 đầu năm 1950, nhưng cơ sở kháng chiến Ba Đình vẫn được phát triển và tiếp tục hoạt động. Đồng bào nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ hoạt động bí mật. Đồng chí Trần Sâm đã có một thời gian dài ở tại nhà số 19 phố Quán Thánh để chỉ đạo phong trào.


Từ tháng 1 năm 1949, các đội tự vệ Ba Đình tổ chức những hoạt động vũ trang, gây thanh thế kháng chiến, mở rộng địa bàn hoạt động. Sáng 29 tháng 1 năm 1949, lực lượng ta tổ chức cuộc tuyên truyền táo bạo ở đình Kim Mã và bến tàu điện Ngọc Khánh.

Ngày 1 tháng 5 năm 1949, kỷ niệm Ngày Quốc tế lao động, công nhân Nhà máy bia đã dùng xe nhà máy rải truyền đơn. Công nhân Nhà máy điện đánh lại tên cai gian ác, vạch mặt bọn chỉ điểm, phá hủy 3 mô tơ của lò máy.

Tháng 7 năm 1949, khi thực dân Pháp đưa Vĩnh Thụy - Quốc trưởng bù nhìn ra Hà Nội, tự vệ Ba Đình tham gia tập kích Phủ Toàn quyền cũ, trừng trị 8 tên Việt gian ở Láng, Yên Thái.

Ngày 2 tháng 9 năm 1949, du kích xã Vạn Liễu cưa đổ cột điện trên đường từ Kim Mã đến Cầu Giấy để chặn xe địch, chôn mìn phục kích địch ở ngã ba Thủ Lệ làm đổ 1 xe jeép từ bốt Cầu Giấy qua.

Ngày 25 tháng 11 năm 1949, học sinh Trường Chu Văn An bãi khóa chống lại bọn mật thám Pháp bắt học sinh của trường.

Ngày 20 tháng 1 năm 1950, học sinh các trường ở Ba Đình cùng học sinh, sinh viên toàn thành phố tổ chức Lễ truy điệu Trần Văn Ơn, một học sinh Sài Gòn bị giặc Pháp bắn chết trong cuộc biểu tình ngày 9 tháng 1 năm 1950. Đây là cuộc biểu dương lực lượng chống thực dân Pháp của thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội, tạo tiếng vang lớn trong cả nước.


Phong trào chống thực dân Pháp của lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình suốt từ năm 1947 đến đầu năm 1950 gây uy hiếp thường xuyên đối với quân địch, có tác dụng kiềm chế một lực lượng lớn quân địch trong thành phố, góp phần tạo nên bước tiến mới trong cuộc kháng chiến ở Hà Nội.


Từ năm 1950, quân Pháp bố trí lại việc phòng thủ và bảo vệ Hà Nội, xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc, đóng quân chốt giữ liên hoàn, có tới 112 vị trí và hệ thống "boong ke". Trong nội thành Hà Nội, quân Pháp ra sức củng cố bộ máy ngụy quyền các cấp; mua chuộc, lôi kéo những phần tử bạc nhược, thoái hóa làm tay sai; dùng bọn chỉ điểm và những tên phản bội đánh phá các cơ sở kháng chiến. Nhà Tiền, nhà thờ Liễu Giai trở thành nơi tra tấn, giam giữ, giết hại cán bộ và đồng bào yêu nước. Nóc Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ địch đều bố trí súng 12,7mm để kiểm soát. Thời kỳ này, nhiều cơ sở của ta bị tổn thất, bị vỡ, như ở Thụy Khuê, Xitađen, Trường Anbe Xarô, v.v... Nhiều đảng viên và quần chúng trung kiên bị địch bắt. Nhiều địa phương, cơ sở không còn đủ đảng viên để lập lại chi bộ Đảng. Nhìn chung, phong trào ở Ba Đình cũng như thành phố Hà Nội vào cuối năm 1950 gặp nhiều khó khăn, các hoạt động kháng chiến không còn điều kiện để phát triển rộng rãi như cũ.


Trước tình hình trên, ngày 25 tháng 12 năm 1950 Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội tiến hành Hội nghị bất thường. Hội nghị đã chủ trương: "Trọng tâm công tác là vận động quần chúng". Theo chủ trương ấy, phong trào kháng chiến ở Ba Đình đã chuyển sang thời kỳ đấu tranh chính trị và kinh tế là chính, kết hợp với đấu tranh vũ trang để hỗ trợ, vận động quần chúng duy trì cơ sở kháng chiến chống lại âm mưu mới của địch.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 08:00:27 pm
Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng, về công tác ở vùng địch tạm chiếm, Đại hội xác định chủ trương: Tranh thủ nhân dân, bồi dưỡng và tích trữ lực lượng ta, tạo thời cơ tốt để quật đổ quân địch, sử dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và bí mật.


Quán triệt và thực hiện chủ trương Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 4 năm 1951, Thành ủy Hà Nội họp kiểm điểm bổ sung các biện pháp duy trì và phát triển phong trào trong tình hình mới, quyết định đình chỉ mọi hoạt động rầm rộ, bộc lộ lực lượng để bảo vệ và giữ vững phong trào, trọng tâm hoạt động là đi vào công tác vận động quần chúng, giữ vững cơ sở, lợi dụng thế công khai, hợp pháp để che giấu lực lượng.


Về công tác quân sự và lực lượng vũ trang, Thành ủy Hà Nội chủ trương ở các khu phố không tổ chức khu phố đội bộ mà chỉ để một cán bộ phụ trách, bỏ danh từ đội quân ngầm hay đội vũ trang chủ lực mà chỉ gọi là dân quân du kích như cũ. Đến tháng 7 năm 1951, Ban chấp hành Đảng bộ và Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội quyết định giải thể Đại đội 290 và Đại đội 310, chọn một số đã qua thử thách, có triển vọng, tổ chức thành Đại đội 8 để huấn luyện đào tạo thành cán bộ. Khi có điều kiện sẽ tung vào vùng địch kiểm soát để xây dựng phong trào. Đại đội huấn luyện chủ yếu về chính trị và công tác vận động quần chúng, số còn lại của các đại đội 290 và 310 được chuyển sang các đơn vị chủ lực.


Đến năm 1951, đồng chí Phùng Thế Tài được cấp trên cử đi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Trần Vĩ - Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội.

Tuy đã có nghị quyết của Thành ủy về chuyển hướng công tác, hoạt động kháng chiến ở Hà Nội, nhưng thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng do chưa có một chủ trương toàn diện về tư tưởng và tổ chức. Từ chỗ nặng về đấu tranh quân sự và chính trị, chuyển sang vận động quần chúng đấu tranh toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa; gắn nhiệm vụ kháng chiến với đòi quyền lợi thiết thực hằng ngày của quần chúng; từ chỗ hoạt động bí mật là chính, nay phải lợi dụng thế hợp pháp, kết hợp nửa hợp pháp với bí mật để hoạt động, cán bộ, đảng viên chưa có kinh nghiệm nên gặp nhiều khó khăn.


Cán bộ quân sự và các cơ sở dân quân du kích lại càng lúng túng. Do đó nhiều nơi cán bộ quân sự không biết làm gì. Cơ sở tự vệ, dân quân du kích chưa nắm được phương thức hoạt động mới, hoạt động lúng túng, không khác gì cơ sở các ngành, các giới khác, ở vùng ven nội thành, địch tăng cường khủng bố và cơ bản chúng "bình định" được ngoại thành, làm cho phong trào bị tổn thất, trong khi ta chưa có được chủ trương, biện pháp chuyển hướng hoạt động thích hợp. Trong khi phong trào kháng chiến trên địa bàn thành phố và riêng Ba Đình bị đàn áp, thì ở Sơn Tây, Hà Đông ta đẩy mạnh hoạt động quân sự, mở rộng chiến tranh du kích, phối hợp với Chiến dịch Trần Hưng Đạo (15.12.1950 - 17.1.1951) và Chiến dịch Quang Trung (28.5 - 20.6.1951).


Tháng 8 năm 1951, sau khi làm việc với lãnh đạo Thành ủy, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận xét: "Hà Nội thực hiện chủ trương chuyển hướng còn chuệch choạc. Sở dĩ như vậy vì cán bộ chưa thấm nhuần quan điểm trường kỳ kháng chiến của Đảng, chưa nắm được mục đích, phương châm công tác trong vùng bị tạm chiếm là tranh thủ quần chúng với địch, lợi dụng khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp vận dụng quần chúng đấu tranh"1 (Tài liệu Phòng Lưu trữ Thành ủy Hà Nội).


Tháng 10 năm 1951, Trung ương Đảng ra nghị quyết về nhiệm vụ và phương châm công tác vùng sau lưng địch. Nghị quyết khẳng định: Công tác vùng sau lưng địch là công tác rất quan trọng của Đảng, nhằm mục đích phá tan chính sách của địch "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Nghị quyết chi rõ: "Trong vùng bị tạm chiếm là nơi địch kiểm soát tương đối chặt chẽ thì phương châm, nhiệm vụ là "xây dựng và phát triển cơ sở là chính", "đấu tranh chính trị, kinh tế là chính"; "lợi dụng mọi tổ chức của địch, khả năng hợp pháp để giác ngộ quần chúng, tập hợp lãnh đạo quần chúng đấu tranh, chống manh động, tránh trừ gian bừa bãi"1 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ II, tháng 10 năm 1951).


Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Trường Chinh và chủ trương của Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1951, tháng 1 năm 1952, Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội họp đề ra chủ trương toàn diện về chuyển hướng hoạt động ở Hà Nội. Hội nghị chủ trương về lực lượng vũ trang, ở nội thành tổ chức tự vệ bí mật, còn ở ngoại thành tổ chức dân quân, du kích bí mật. Các tổ chức vũ trang này nằm trong các tổ chức quần chúng mà không hoạt động độc lập như trước, trực tiếp bảo vệ quần chúng đấu tranh. Hội nghị cũng đề ra hai phương châm công tác:

- Bồi dưỡng giữ gìn lực lượng, tranh thủ mọi cơ hội để đấu tranh.

- Lợi dụng khả năng hợp pháp, nửa hợp pháp, phối hợp hai khả năng đó với hoạt động bất hợp pháp để phát triển phong trào.

Hội nghị tháng 1 năm 1952 là bước trưởng thành trong chỉ đạo kháng chiến của Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội, mở ra cục diện mới trong phong trào kháng chiến ở Ba Đình.

Tuy nhiên, về đấu tranh vũ trang trong tình hình mới, Hội nghị vẫn chưa có quyết nghị cụ thể về cả phương hướng và phương thức hoạt động ở nội thành và ngoại thành, ta chưa có chủ trương và biện pháp thích hợp nhằm phục hồi và phát triển phong trào chống lại những âm mưu và thủ đoạn mới của địch.


Tháng 10 năm 1952, các cơ sở dân quân du kích, tự vệ ở Ba Đình được thống nhất vào các ngành như công đoàn, thanh niên, phụ nữ. Các cán bộ quân sự nội thành cũng được chuyển sang các ngành theo tổ chức quần chúng để cùng các ngành vận động quần chúng đấu tranh. Như vậy, đến cuối năm 1952, lực lượng vũ trang trong vùng địch kiểm soát ở nội thành gần như không còn. Nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc Mặt trận Hà Nội và thuộc dân quân, tự vệ đi sâu vào khôi phục và xây dựng cơ sở của ta ở các nhà máy, xí nghiệp quan trọng, như ở Nhà máy điện, Nhà máy nuớc Yên Phụ, Nhà máy rượu bia, Nhà máy thuốc lá Trúc Bạch, Nhà máy in Viễn Đông, quân giới, quân nhu,... đồng thời phát triển cơ sở trong công nhân thủ công và tầng lớp lao động khác.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 08:01:45 pm
Tháng 4 năm 1953, trước yêu cầu kịp thời mở rộng phong trào kháng chiến, làm thất bại âm mưu thủ đoạn của địch trong tình hình mới, Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội họp đi đến quyết định tích cực xây dựng và phát triển lực lượng, đẩy mạnh hơn nữa phong trào đấu tranh chống bắt lính, chống thuế, chống thất nghiệp. Đồng thời, rút kinh nghiệm đấu tranh trong hai năm 1951 - 1952, Hội nghị nhận thấy do không có các hoạt động quân sự làm hậu thuẫn, các phong trào đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa không có điều kiện phát triển mạnh. Hội nghị quyết định, bên cạnh các công tác khác, phải chú ý đẩy mạnh các hoạt động phá hoại địch về quân sự.


Đông - Xuân năm 1953 - 1954, phối hợp với chiến trường cả nước, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, nhất là các cơ quan tuyên giáo, địch vận, quân báo, tranh thủ các cơ sở hợp pháp trong thành phố cùng nhân dân Thủ đô đấu tranh với địch.


Năm 1954, trong khi chiến sự ở Điện Biên Phủ và đồng bằng Bắc Bộ diễn ra ác liệt, địch thất bại liên tiếp, tại Hà Nội ta tập trung lực lượng đẩy mạnh công tác địch vận, tuyên truyền tin chiến thắng của ta. Ta tán phát hàng vạn giấy thông hành, truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Ta tập trung vào giải thích chính sách của cách mạng đối với sĩ quan, binh sĩ địch. Các đội viên của tà tìm cách gây cơ sở trong các cơ quan quân sự, doanh trại, công xưởng của địch. Ngay trong các cơ quan đầu não, cơ mật của địch như Sở mật thám, Bộ Tham mưu ngụy, ta cũng tạo được nhân mối. Có sĩ quan trong cơ quan tham mưu chuyên cung cấp tình hình tác chiến của địch cho ta. Có cảnh binh biết trước các đợt bắt lính của địch đã chủ động báo cho lực lượng kháng chiến biết để đối phó kịp thời.


Trên các địa bàn Sơn Tây, Hà Đông, sân bay Gia Lâm, ta mở rộng đấu tranh vũ trang, mở rộng chiến tranh du kích, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề.

Trên đà thắng lợi, ngày 2 tháng 6 năm 1954, Thành ủy Hà Nội ra chỉ thị "tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội, gắn liền phong trào đòi hòa bình với phong trào bảo vệ quyền lợi thiết thân của quần chúng: Chống bắt lính, chống thu thuế, đòi tăng lương, đòi công việc làm...".


Thực hiện chỉ thị của Thành ủy Hà Nội, các cơ quan của Mặt trận Hà Nội cùng với các cơ sở, các đoàn thể cách mạng trong các nhà máy, xí nghiệp, địa phương tích cực vận động nhân dân đấu tranh với địch. Phong trào chống bắt lính, vận động binh lính địch đảo ngũ phát triển với một khí thế mới.


Với thắng lợi quyết định của quân và dân ta trên chiến trường Điện Biên Phủ, ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết. Thực dân Pháp phải cam kêt tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Pháp phải rút quân khỏi miền Bẳc Việt Nam. Một nửa nước ta từ vĩ tuyến 17 trở ra được hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi.


Ngày 25 tháng 7 năm 1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi, vạch rõ: Cuộc đấu tranh ái quốc của nhân dân ta đã chuyển sang một giai đoạn mới. Hình thức đấu tranh vũ trang đã chuyển qua hình thức đấu tranh chính trị. Nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta lúc này là đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà. Thực hiện nhiệm vụ đó, việc tiếp quản các thành thị lớn ở miền Bắc là một công tác rất quan trọng và nặng nề. Đặc biệt việc tiếp quản Hà Nội, giải phóng hoàn toàn Thủ đô có một ý nghĩa hết sức trọng đại đối với sự nghiệp kháng chiến.


Theo Hiệp định Giơnevơ, Hà Nội còn nằm trong vùng tập kết của quân đội Pháp 80 ngày trước khi bàn giao. Từ chỗ ra sức củng cố, xây dựng Hà Nội thành đầu não chỉ huy chiến tranh, thực dân Pháp và ngụy quyền chuyển sang thực hiện âm mưu phá hoại thành phố về mọi mặt trước khi chúng chuyển giao. Chúng muốn ta tiếp quản một thành phố trống rỗng về kinh tế, căng thẳng về chính trị, rối loạn về trật tự, trị an. Chúng tìm cách di chuyển kho tàng, máy móc, vật liệu, trang thiết bị, thuốc men, tài liệu quý ra khỏi thành phố. Đặc biệt, chúng ngừng cung cấp than cho nhà máy sản xuất điện, nước, hòng làm cho sinh hoạt của nhân dân thành phố khó khăn, sản xuất tê liệt, đình đồn, giao thông gián đoạn, ngừng trệ.


Bộ máy chiến tranh tâm lý của địch không ngớt tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với công chức, trí thức, học sinh, sinh viên, tư sản, tiểu thương và nhất là đồng bào Công giáo. Bằng mọi cách chúng dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào, binh lính, công chức, nhất là công nhân kỹ thuật ở Hà Nội di cư vào Nam.


Với ta, tiếp quản thành phố Hà Nội, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, nơi đặt cơ quan đầu não chỉ đạo chiến tranh xâm lược Đông Dương, nơi tập trung xây dựng bộ máy kìm kẹp hòng đè bẹp phong trào đấu tranh cách mạng kháng chiến yêu nước của nhân dân ta, đó là nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ, vô cùng phức tạp, trong khi lực lượng của ta ở thành phố lại không nhiều, không đồng đều. Mặt khác, hệ thống chính quyền cơ sở chưa được thiết lập đều khắp. Các đoàn thể quần chúng phát triển không đều. Lực lượng cán bộ có hạn, lại chưa có kinh nghiệm quản lý, công việc thì dồn dập, khẩn trương, chỉ có 80 ngày để chuẩn bị mọi mặt. Tuy hòa bình, nhưng Ba Đình và toàn thành phố Hà Nội, cả nội và ngoại thành, vẫn là vùng kiểm soát của địch, ta không thể dễ dàng từ vùng tự do vào thành phố hoạt động.
   Lực lượng vũ trang Hà Nội thời gian này được thu gọn, cơ quan đoàn bộ của Mặt trận Hà Nội chỉ có 30 cán bộ và nhân viên. Ở cơ sở, không còn tổ chức lực lượng tự vệ. Vấn đề nổi lên là rất thiếu cán bộ chỉ đạo xây dựng phong trào, kể cả cán bộ thoát ly và cơ sở.
   Trước tình hình đó, đầu tháng 8 năm 1954, Thành ủy Hà Nội họp bàn, quyết định những chủ trương công tác lớn về nhiệm vụ tiếp quản, về công tác quân sự, Thành ủy nhấn mạnh: Phải khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng tự vệ mạnh mẽ và rộng khắp, cùng với công an giữ gìn trật tự, an ninh địa phương, bảo vệ nhà máy, xí nghiệp, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, phối hợp chặt chẽ với lực lượng bên ngoài tiến vào tiếp quản Thủ đô, làm nòng cốt trong đấu tranh chống lại mọi hành động phá hoại của địch. Tiếp tục đẩy mạnh công tác vận động binh lính địch, đồng thời tập trung điều tra nắm chắc tình hình địch, phục vụ kịp thời cho lãnh đạo, chỉ huy.
   Thành ủy quyết định đưa cán bộ quân sự trước đây chuyển sang các ngành khác trở lại Mặt trận Hà Nội, giải thể Đại đội 8 - đại đội chủ lực cơ động của Hà Nội, đưa cán bộ, chiến sĩ tăng cường cho cơ sở. Tích cực đào tạo cán bộ quân sự ngay tại địa phương, xin thêm cán bộ Liên khu 3, đồng thời đề nghị Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường cán bộ quân đội cho Mặt trận Hà Nội.
   Thực hiện chủ trương của Thành ủy, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội triển khai nhiều mặt công tác, trước mắt tập trung chấn chỉnh tổ chức và tăng cường cán bộ cho cơ sở.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 08:05:52 pm
Cũng trong đầu tháng 8 năm 1945, Ban Chỉ huy Mặt trận điều động 30 cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm xây dựng phong trào, am hiểu tình hình địa phương đưa vào nội thành xây dựng lực lượng tự vệ trong các nhà máy, xí nghiệp, công sở, xóm lao động, các thôn xóm ngoại thành.


Hướng trọng tâm xây dựng lực lượng tự vệ nhằm vào các nhà máy, xí nghiệp quan trọng trực tiếp đảm bảo cho hoạt động của thành phố như Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà máy đèn Bờ Hồ, Nhà Bưu điện, Sở hỏa xa. Dựa trên cơ sở tổ chức công đoàn, đoàn công tác xây dựng tự vệ có trách nhiệm chọn những quần chúng tốt để phát triển vào lổ chức tự vệ.


Sau hơn một tháng tuyên truyền giáo dục quần chúng, nhiều nhà máy đã bí mật phát triển được hàng chục đội viên, biên chế thành trung đội bao gồm nhiều tiểu đội ngành nghề để làm nòng cốt bảo vệ nhà máy, xí nghiệp, bảo vệ sản xuất. Từ trung tuần tháng 8 đến cuối tháng 9 năm 1954, ở nội thành tổ chức được 20 đơn vị tự vệ với 934 đội viên ở 5 nhà máy, xí nghiệp, 3 công sở, 2 bến cảng, 2 bệnh viện và 8 khu xóm lao động. Nhà máy điện Yên Phụ, đến cuối tháng 9 năm 1954, ta tổ chức được 1 trung đội tự vệ gồm 36 đội viên. Mỗi bộ phận quan trọng như vận lò, cơ khí, tua bin, bảng điện, than, biên chế... một tiểu đội để phù hợp với sản xuất, chỉ huy và bảo vệ sản xuất.


Ở ngoại thành, cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1954, cơ sở của ta chỉ có 26 thôn với một số quần chúng trung kiên. Đến ngày tiếp quản, nhiều nơi thành lập "Ban ủy nhiệm thôn" để điều hành công việc chung, phó thôn phụ trách quân sự. Lực lượng tự vệ được tổ chức ở 110 trong tổng số 136 thôn với 1.976 đội viên. Thành phần tự vệ đa số là nam, nữ thanh niên trẻ, khỏe, được giác ngộ, có ý chí quyết tâm, hầu hết là con em lao động. Đây là lực lượng nòng cốt cùng nhân dân làm chủ nông thôn, chuẩn bị địa bàn vững chắc để quân đội tiến vào tiếp quản thành phố.


Song song với công tác chuẩn bị lực lượng tiếp quản, cuộc đấu tranh chống địch phá hoại cơ sở hạ tầng, di chuyển máy móc vào Nam, chống cưỡng ép dân di cư vào Nam cũng diễn ra quyết liệt. Lực lượng vũ trang Ba Đình cùng lực lượng vũ trang Thủ đô phát huy tốt vai trò của mình trong đấu tranh với địch phá hoại, nhất là tự vệ ở cơ sở.


Ở Nhà máy điện Yên Phụ, ngày 12 tháng 9 năm 1954 quân Pháp đã mang đi 2 máy phát điện và viện đủ lý do để trì hoãn việc sửa chữa những máy móc bị hư hỏng, bắt công nhân tháo gỡ hàng chục máy biến thế điện lớn cùng nhiều máy móc quan trọng khác đưa vào Nam. Ban Cán sự Đảng nội thành đã trực tiếp chỉ đạo tự vệ chiến đấu và công nhân đấu tranh vạch trần âm mưu của chúng, nêu cao khẩu hiệu "Không rời máy móc một bước, bám sát nhà máy đấu tranh". Phối hợp với cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy điện, nhân dân các khu phố đã ký tên vào kiến nghị gửi cho chủ Nhà máy điện đòi phải cung cấp đủ than sản xuất, gửi cho Ủy ban liên hiệp đình chiến tố cáo và phản đối Pháp vi phạm Hiệp định Giơnevơ. Sau 2 tháng bền bỉ đấu tranh, lực lượng Đội tự vệ chiến đấu và công nhân Nhà máy điện Yên Phụ đã giành được thắng lợi. Bọn chủ Pháp phải bảo đảm chuyên chở đủ 4.000 tấn than dự trữ cho máy chạy đến sau ngày tiếp quản thành phố. Chủ nhà máy phải để nguyên vẹn thiết bị, máy móc, tài liệu thiết kế chờ tiếp quản.


Ở Nhà máy nước, trước khi rút khỏi Hà Nội, viên chủ cho tháo dỡ máy móc, thiết bị, cho đóng hòm chuyển đi Hải Phòng. Ban Cán sự Đảng nội thành trực tiếp chỉ đạo công nhân đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú, linh hoạt: Công nhân không khuân vác, lái xe không chở hàng, làm kiến nghị, kéo lên chất vấn chủ, đóng máy nghỉ tại chỗ, giằng giữ không cho chúng tháo máy. Chủ ra lệnh đuổi ngay một số công nhân và đưa lính Lê dương đến để khuân vác, cảnh sát, mật thám cũng đến để hăm dọa. Có lực lượng Tự vệ chiến đấu làm nòng cốt, công nhân đã tổ chức đấu tranh kiên quyết để bảo vệ nhà máy, giữ nguyên vẹn được thiết bị, máy móc, đặc biệt giữ được đội ngũ công nhân kỹ thuật, tài liệu thiết kế của nhà máy, đảm bảo cung cấp nước bình thường cho thành phố.


Ở Xí nghiệp thiết bị bưu điện, công nhân đã "nằm lỳ" ở xưởng giữ gìn máy móc, tài liệu, không cho địch tháo dỡ di chuyển vào Nam và đã đưa 2 xe vận tải chở máy móc ra vùng tự do. Ở Nhà máy bia Hommel, từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 9 tháng 8, công nhân đấu tranh phản đối chủ sa thải thợ vô lý, đòi trở lại việc làm. Tiếp đó ngày 20 và ngày 21 tháng 9, lực lượng tự vệ làm nòng cốt, công nhân đấu tranh không cho địch tháo dỡ máy móc.


Cuộc đấu tranh của Tự vệ chiến đấu và công nhân các nhà máy diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức phong phú trong khuôn khổ trật tự, bình tĩnh với thái độ kiên quyết đúng mức có lý lẽ chính đáng, có sự chứng kiến của Ủy ban kiểm soát quốc tế, ngăn chặn có hiệu quả sự phá hoại của địch.


Trong lúc phong trào đấu tranh của tự vệ và nhân dân ở nội thành diễn ra sôi động thì ở ngoại thành, dân quân tự vệ cùng nhân dân tích cực đấu tranh chống địch cướp phá mùa màng, thôn xóm, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Các lực lượng tự vệ đã giám sát chặt chẽ các đồn bốt của địch đề phòng chúng tráo trở. Đến đầu tháng 10 năm 1954, khắp vùng ngoại thành đều thành lập được các cơ sở của ta, đông đảo nhân dân đã hăng hái gia nhập dân quân, tự vệ. Một số nơi đã lập được "Ban ủy nhiệm thôn" để điều hành công việc. Bộ máy ngụy quyền ở những nơi này đã bị vô hiệu hóa. Tự vệ còn giáo dục, thuyết phục hội tề, lính bảo an quay về với nhân dân, giám sát cường hào, đảng phái phản động, bắt chúng phải kê khai sổ sách, giấy tờ, tiền nong để chuẩn bị bàn giao cho cán bộ ta khi vào tiếp quản.


Thời gian này, thực dân Pháp và tay sai còn âm mưu dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào, nhất là đồng bào Công giáo di cư vào Nam. Hằng ngày có rất nhiều đồng bào các nơi kéo về Hà Nội, đi tàu xuống Hải Phòng, tìm đường di cư vào Nam. Giáo dân Liễu Giai, nhà thờ Cửa Bắc cũng hoang mang, lo lắng trước luận điệu của chúng hô hào "Chúa đã vào Nam".


Để chống lại âm mưu, thủ đoạn dụ dỗ, cưỡng bức đồng bào di cư của địch, Thành ủy Hà Nội ra chỉ thị, nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng lúc này là vận động nhân dân, công nhân, công chức, trí thức ờ lại làm việc với Chính phủ ta, không để địch lôi kéo vào Nam, nhất là những người có kỹ thuật, có tên tuổi.


Thực hiện sự chỉ đạo của Thành ủy, các lực lượng vũ trang Ba Đình đã tích cực tham gia vận động, giải thích cho đồng bào về đường lối, chính sách của ta, chính sách tôn giáo của Chính phủ kháng chiến, vạch trần luận điệu "Chúa đã vào Nam" phi lý, lừa bịp của địch để đồng bào không mắc mưu chúng, yên tâm ở lại với phố phường, làng xã quê hương. Đại bộ phận bà con Công giáo đã ở lại chờ ngày giải phóng Thủ đô. Nhiều nhà máy, xí nghiệp, tự vệ tổ chức đưa công nhân kỹ thuật ra vùng tự do. Tự vệ Nhà máy nước vận động được 30 công nhân gia đình chuẩn bị đi Nam ở lại.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 08:07:00 pm
Theo Hiệp định Giơnevơ, ngày 19 tháng 10 năm 1954 quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Từ các địa phương phía Bắc, hàng vạn lính dồn về Hà Nội để chuẩn bị vào Nam, bao gồm đủ các quân, binh chủng, các sắc lính. Chúng chiếm nhiều trường, sở làm nơi trú quân. Các loại vũ khí, đạn dược, khí tài chiến tranh và nhiều phương tiện chiến tranh khác chất đầy ắp, ngổn ngang trong các bãi, kho tàng, bến cảng. Tinh thần binh lính hoang mang cao độ.


Tận dụng cơ hội này, ta chủ trương đẩy mạnh công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch. Thành ủy xác định công tác binh vận lúc này có tầm quan trọng đặc biệt, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Thủ đô, là mũi tiến công chính trị quan trọng góp phần vào thắng lợi tiếp thu, tiếp quản thành phố và góp phần làm suy yếu lực lượng địch sau này. Thành ủy chủ trương mở "chiến dịch địch vận" động viên đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia.


Trong công tác địch vận, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội chủ trương tập trung vào đối tượng ngụy binh địch, dùng mọi phương pháp, hình thức để tuyên truyền sâu rộng chính sách của Chính phủ, vận động họ bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc.

Thực hiện chủ trương công tác địch vận của Ban Chỉ huy Mặt trận, ta tổ chức lực lượng dân quân du kích, cán bộ các đoàn thể và cơ sở cách mạng công khai tung truyền đơn vào thành, Trường Bưởi nơi địch đóng quân và các đồn bốt ở Cầu Giấy, Cống Vị, Quần Ngựa... làm tan rã hàng ngũ địch. Nhiều ngụy binh đã giác ngộ đem theo súng đạn xin ra vùng tự do.


Công tác binh vận đã góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của nhiệm vụ tiếp quản, giải phóng Thủ đô. Kết quả đó là thành tích trực tiếp của các cán bộ làm công tác địch vận tại Mặt trận Hà Nội. Trong đó có sự đóng góp của hơn 300 cơ sở quần chúng không quản hy sinh, gian khổ, tuy sống trong lòng địch vẫn bí mật hoạt động cách mạng, nuôi dưỡng, che chở cán bộ Mặt trận hoạt động.


Từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 10 năm 1954, Đội Hành chính, Đội Trật tự của ta vào trước để chuẩn bị nhận bàn giao các cơ quan, công sở, các vị trí quân sự. Ngày 8 tháng 10 hai bên ký xong các biên bản bàn giao. 18 giờ chiều ngày 8 tháng 10 tại Thành Hà Nội, tướng Mátxông làm lễ cuốn cờ về nước. Sáng mùng 9 tháng 10 các tiểu đoàn của Đại đoàn 308 từ các vị trí tập kết quanh đê La Thành vào nội thành tiếp thu các vị trí quân sự. Ở phía Tây Bắc, ta tiếp quản Cầu Giấy, Bưởi, Thụy Khuê, Kim Mã, Thành Hoàng Diệu, Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước và Phù Toàn quyền lúc 9 giờ 25 phút. 16 giờ chiều mùng 9 tháng 10, những tên lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên, Hà Nội hoàn toàn giải phóng, tưng bừng trong rừng cờ, hoa, biểu ngữ, niềm xúc động, hân hoan.


Sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954, đoàn quân chiến thắng từ 5 cửa ô tiến vào thành phố. Đúng 15 giờ ngày 10 tháng 10, quân và nhân dân Ba Đình cùng 20 vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội quần áo chỉnh tề, cờ hoa rực rỡ sung sướng phấn khởi đến dự lễ mừng chiến thắng tại sân vận động Cột Cờ. Lá cờ đỏ sao vàng kéo lên đỉnh cột, phấp phới bay trong gió, đánh dấu một ngày lịch sử vẻ vang: Thủ đô Hà Nội đã hoàn toàn được giải phóng, Hà Nội từ nay sạch bóng quân thù.


Như vậy, sau một thời gian đấu trí, đấu lực quyết liệt với địch, ta tiếp quản tuyệt đối an toàn, nhanh gọn toàn thành phố Hà Nội, bao gồm hàng loạt các căn cứ quân sự, các công sở, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện được nguyên vẹn. Lực lượng tự vệ, dân quân du kích Ba Đình cùng lực lượng vũ trang Thủ đô đã góp phần tích cực trong quá trình tiếp quản.


Sinh hoạt của nhân dân nhanh chóng được ổn định, các ngành phục vụ công cộng như điện, nước vẫn hoạt động đều. Giao thông liên lạc giữa Hà Nội với các nơi được giữ vững, trật tự an toàn được đảm bảo. Các tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể và lực lượng vũ trang Ba Đình cũng như của các địa phương trong toàn thành phố có điều kiện để nhanh chóng củng cố, phát triển, phát huy vai trò trong quản lý địa bàn, phục hồi và phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta thắng lợi hoàn toàn. Một nửa đất nước được giải phóng. Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ba Đình được Đảng, Nhà nước chọn làm nơi bố trí trụ sở làm việc các cơ quan đầu não của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ Bộ Quốc phòng và các đầu mối quan trọng khác. Trong thắng lợi chung của nhân dân cả nước, nhân dân Thủ đô Hà Nội, lực lượng vũ trang Ba Đình đã góp phần quan trọng, hoàn thành sứ mệnh vẻ vang mà Đảng, Thành ủy Hà Nội, Mặt trận Hà Nội và nhân dân giao cho.


Trải qua hơn 10 năm, từ đầu năm 1945 đến khi tiếp quản giải phóng Thủ đô (10.10.1954), lực lượng vũ trang Ba Đình đã có sự phát triển lớn mạnh. Ra đời do nhu cầu bảo vệ các đoàn thể cách mạng đấu tranh với địch trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với các lực lượng tự vệ cứu quốc rộng rãi tại các cơ sở xí nghiệp, khu phố, như Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Đội Công nhân xung phong, Đội Danh dự Việt Minh để tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đến ngày tiếp quản Thủ đô, lực lượng vũ trang Ba Đình được chăm lo xây dựng, các lực lượng của Mặt trận Hà Nội xây dựng nên các đơn vị chủ lực, như các trung đoàn, các tiểu đoàn, đại đội, xây dựng Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, các đại đội, trung đội, tiểu đội dân quân tự vệ khắp các cơ sở (Tự vệ thành, tự vệ nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, đường phố trong nội thành và dân quân tự vệ ven nội thành), với hàng nghìn người khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (12.1946).


Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, các tổ chức vũ trang Ba Đình đã tham gia đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho quần chúng, trấn áp những tên Việt gian nguy hiểm, góp phần phát triển nhanh chóng lực lượng cách mạng cả về chính trị và quân sự. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang Ba Đình đã góp phần quan trọng vào thành công của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hưởng ứng ''Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, mệnh lệnh của Ủy ban quân sự Hà Nội, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng quân dân Thủ đô đã nổ súng mở đầu toàn quốc kháng chiến, kiên cường chiến đấu, với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng bộ và nhân dân Ba Đình và Thủ đô Hà Nội.


Sau khi Hà Nội trở thành vùng địch tạm chiếm, thực dân Pháp ra sức bình định thành phố Hà Nội, trong đó trọng tâm là Ba Đình, thành đầu não quân sự, chính trị của chúng ở miền Bắc Đông Dương (như Phủ Toàn quyền Đông Dương, thành Hà Nội...). Cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Ba Đình tuy gặp nhiều khó khăn, song các lực lượng vũ trang vẫn kiên cường bám đất, bám dân, bám nhà máy, xí nghiệp, công sở, trường học, gây dựng cơ sở kháng chiến, tổ chức quần chúng đấu tranh, tiến hành chiến tranh du kích ở khắp nơi, từ trong đường phố đến các làng xã ven nội thành, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề, góp phần cùng Hà Nội và chiến trường giành thắng lợi quyết định. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết lực lượng vũ trang Ba Đình đã nhanh chóng phát triển các lực lượng tự vệ, cùng nhân dân tích cực đấu tranh với địch, bảo vệ từng nhà máy, xí nghiệp, trường học, công sở, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân, cùng nhân dân Thủ đô Hà Nội đấu tranh khôn khéo, kiên quyết với địch, tiếp quản Thủ đô Hà Nội trọn vẹn.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 08:09:13 pm
Chương 2
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 -1975)


1. Xây dựng lực lượng và tham gia khôi phục, phát triển kinh tế sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng (1954 - 1960)

Sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng (10.10.1954), hòa bình lập lại, song tình hình an ninh ở thành phố nói chung, Ba Đình nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động, phản cách mạng tiến hành hoạt động chống phá gây ra cho ta rất nhiều khó khăn. Theo Hiệp định Giơnevơ, quân Pháp phải rút hết quân ra khỏi miền Bắc, Hà Nội là một điểm tập kết của quân Pháp, nhưng do bản chất ngoan cố, hiếu chiến, thâm độc không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, chúng tìm mọi cách để chống phá. Chúng muốn rằng khi chúng rút đi rồi thì Hà Nội sẽ trở thành một thành phố chết, không có điện, không nước, giao thông trì trệ, trật tự an toàn không bảo đảm, các nhà máy phải đóng cửa. Do đó, ngay sau ngày tiếp quản, cuộc đấu tranh kiên quyết của lực lượng tự vệ và nhân dân Ba Đình chống những hành động chống phá của kẻ thù không kém phần quyết liệt, phức tạp.


Kinh tế của Ba Đình do hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh xâm lược và sự phá hoại của kẻ thù trước khi rút chạy nên khó khăn chồng chất, nền kinh tế của quận rất lạc hậu, chủ yếu là thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ. Các cơ sở sản xuất như nhà máy, công xưởng, xí nghiệp nhỏ bé, hầu hết sửa chữa lại, thủ công, năng suất, hiệu quả thấp; nông nghiệp ven nội đình đốn, công nhân thiếu việc làm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Hàng nghìn người tàn tật, cơ nhỡ, trẻ em mồ côi, bệnh tật cao, nhiều tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại hết sức nặng nề.


Để nhanh chóng ổn định tình hình, tháng 10 năm 1954 cơ quan quân chính Ba Đình đã đề ra và triển khai thực hiện nhiều biện pháp cấp bách như phát động nhân dân giúp đỡ nhau trong sản xuất; xây dựng bổ sung cán bộ cho bộ máy chính quyền, các đoàn thể từ quận xuống cơ sở; củng cố xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang; củng cố phát triển các đội tự vệ ở khu phố, nhà máy, công xưởng làm nòng cốt trong khôi phục phát triển kinh tế, ổn định chính trị và trật tự an ninh.


Ngày 4 tháng 11 năm 1954, Ủy ban hành chính Hà Nội được thành lập, nội thành chia thành 4 quận, Ba Đình lúc này là quận 3 và một phần quận 5 và quận 6. Ngày 15 tháng 11 năm 1954, Ban Cán sự Đảng quận được thành lập, đồng chí Lê Kim Định là Trưởng ban Cán sự quận, đầu năm 1955 đồng chí Đặng Đức Lộc thay đồng chí Định chuyển công tác khác. Ban Cán sự quận gồm 23 cán bộ có trách nhiệm lãnh đạo, điều hành cả công tác đảng và chính quyền. Dưới cấp quận là khu phố, dưới khu phố có Ban Đại biểu và Ban Bảo vệ dân phố do nhân dân cử ra. Thực hiện chủ trương của thành phố, lúc đầu vẫn sử dụng các khu trưởng cũ, đồng thời tăng cường cán bộ, lập các đội công tác hành chính khu phố để nắm tình hình, dựa vào nhân dân để quản lý xã hội, chống lại âm mưu chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.


Là quận trung tâm của Thủ đô, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân Ba Đình là giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, bởi chế độ thuộc địa thực dân đã bị sụp đổ, nhưng những tàn dư, độc hại của nó để lại còn hết sức nặng nề, gây ra nhiều khó khăn, trở ngại lớn trong xây dựng và củng cố chế độ mới ở miền Bắc và quận Ba Đình. Hơn nữa, sau khi buộc rút khỏi miền Bắc, đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã bí mật tuyển chọn, cài cắm bọn tay sai tình báo, gián điệp nhằm thực hiện âm mưu phá hoại nước ta mà các quận của Hà Nội là trọng điểm. Ở Hà Nội vẫn còn 23 đảng phái phản động lén lút hoạt động chống phá, hàng vạn binh lính, sĩ quan, công chức của chế độ cũ.


Để tăng cường công tác quản lý xã hội và thực hiện chủ trương của thành phố Hà Nội về việc đăng ký nhân, hộ khẩu, cuối năm 1955, Ba Đình đã thành lập Ban Chỉ đạo do đồng chí Trưởng Công an quận làm Trưởng ban. Cán bộ hộ tịch được cử về cùng chính quyền thôn xóm đi sát dân, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân và hướng dẫn mọi người chấp hành tốt việc kê khai, đăng ký nhân, hộ khẩu. Qua công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu đã nắm bắt được các thành phần dân cư sống trên địa bàn quận, đồng thời qua đó phát hiện, bắt giữ một số tổ chức phản động và gián điệp cài cắm lại, tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định để khắc phục hậu quả và phát triển kinh tế - xã hội.


Ở miền Nam, sau khi gạt Pháp ra khỏi guồng máy cai trị, đế quốc Mỹ tiến hành độc chiếm miền Nam, một nội các bù nhìn tay sai đã được thành lập do Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng. Diệm tuyên bố không có hiệp thương tổng tuyển cử nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta. Mỹ - ngụy tập trung mũi nhọn đàn áp phong trào cách mạng. Phong trào đấu tranh đòi lập lại quan hệ Bắc - Nam, đòi tự do dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước dâng lên mạnh mẽ. Hưởng ứng phong trào đó, đầu năm 1955 và năm 1956, Ban Cán sự Đảng quận Ba Đình đã chỉ đạo các đoàn thể, các khu phố vận động tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị quy mô lớn. Điển hình là các cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, mít tinh phản đối chính quyền miền Nam khủng bố tàn sát đồng bào ở Duy Xuyên, Hương Điền, chống trò hề "trưng cầu dân ý" của Mỹ - Diệm, mỗi cuộc mít tinh thu hút khoảng 4.000 người tham gia. Ngoài ra, các gia đình có người thân trong Nam, cán bộ tập kết ra Bắc hằng năm gửi hàng nghìn bưu thiếp, thư, kiến nghị, tin nhắn,... thể hiện nguyện vọng đòi tự do, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất đất nước.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Chín, 2026, 08:11:37 pm
Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, điều hành, quản lý xã hội, hệ thống chính trị của quận từng bước được củng cố, tăng cường. Tháng 3 năm 1956, quận 3 (trong đó có địa bàn Ba Đình) đã tổ chức hội nghị cán bộ chủ trì toàn quận thông qua quy định về lề lối làm việc và phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành trong quận. Hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp của quận dần dần đi vào nền nếp và hiệu quả, 8 ban đại diện hành chính khu phố cũng được kiện toàn, mỗi ban từ 3 đến 5 cán bộ, 78 ban đại biểu và ban bảo vệ dân phố gồm 741 người tham gia. Đội ngũ cán bộ tuy chưa được đào tạo, bồi dưỡng về quản lý xã hội, đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng rất hăng hái nhiệt tình và có tín nhiệm cao với nhân dân.


Tổ chức đảng trong quận phát triển nhanh chóng, năm 1956 có 5 chi bộ, 121 đảng viên, đến năm 1957 tăng lên 12 chi bộ với 251 đảng viên, gồm 7 chi bộ đường phố 3 chi bộ cơ quan, 1 chi bộ xí nghiệp, 1 chi bộ công trường. Sinh hoạt chi bộ, tổ Đảng duy trì đều đặn, tập trung quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng, giáo dục, rèn luyện đảng viên, đẩy mạnh công tác quần chúng, công tác phát triển đảng viên được quan tâm.


Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và mở rộng vai trò của Mặt trận Tổ quốc ngày càng nâng cao, thu hút hàng ngàn hội viên tham gia, đóng góp tích cực vào xây dựng, bảo vệ khu dân cư. Tổ chức công đoàn từ quận đến cơ sở được tăng cường, phát huy được vai trò của giai cấp công nhân trong lao động sản xuất, tích cực tham gia quản lý xã hội, thực hiện ký kết hợp đồng lao động, chống giới chủ sa thải công nhân, nạn khai man trốn thuế. Hội Phụ nữ phát triển thu hút hơn 11.400 hội viên, chia thành 554 nhóm theo ngành nghề lao động và khu dân cư. Chị em được giáo dục giác ngộ tích cực tham gia vào các tổ dân phòng, dân quân tự vệ; hơn 400 chị cùng nam giới tham gia công tác trong các ban đại diện hành chính khu phố, ban đại biểu, bảo vệ, tổ trưởng, tổ phó dân phố. Đoàn Thanh niên quận được tổ chức thành 28 chi đoàn ở các cơ quan, xí nghiệp, khu phố với tổng số 410 đoàn viên cũng tích cực tham gia vào các đội bảo vệ an ninh khối phố. Bước đầu tổ chức đoàn đã phát huy được vai trò thanh niên trong các mặt công tác, tham gia bảo vệ kỷ niệm Quốc khánh 2-9, kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Mười Nga... tích cực tham gia các đợt công tác đắp đê Mai Lâm, bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố.


Thời kỳ này, Ban Cán sự Đảng Ba Đình chú trọng chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng vũ trang, nhiều đồng chí bộ đội tình nguyện trong kháng chiến chống thực dân Pháp được phục viên trở lại khu phố hăng hái tham gia lao động sản xuất, tham gia lực lượng tự vệ, tổ dân phòng. Các đội tự vệ, các tổ dân phòng ở các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, khối phố được thành lập và phong trào phát triển mạnh, chất lượng từng bước được củng cố, nâng cao, như các tổ dân phòng ở Quán Thánh, Kim Mã, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Thành Công, Cống Vị.... Lực lượng dân quân tự vệ ở các khối phố tăng cường công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đề cao cảnh giác chống mọi âm mưu của địch, trấn áp tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự ở các khu phố. Đối với những người trước đây lầm đường lạc lối do địch ép buộc đi lính hay làm tay sai chỉ điểm cho địch, lực lượng dân quân tự vệ phối hợp cùng với các bộ phận khác tổ chức học tập chính sách của Đảng, Nhà nước, giao việc làm cho họ để xóa đi mặc cảm, hòa nhập với cộng đồng. Dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng, các cấp ủy, các đội tự vệ khu phố, nhà máy, công xưởng, xí nghiệp không ngừng củng cố trở thành lực lượng nòng cốt, không ngại khó khăn trước nhiệm vụ mới, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tiền phong, gương mẫu, tích cực giữ gìn bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần cùng nhân dân quân Ba Đình khắc phục hậu quả chiến tranh, giữ vững niềm tin trong nhân dân.


Trước năm 1954, trên địa bàn Ba Đình có nhiều nhà máy quan trọng, nhiều ngành sản xuất thủ công nghiệp, nhưng sau khi rút khỏi Hà Nội, với chính sách "đốt sạch, phá sạch, giết sạch" của thực dân Pháp, nên đã để lại hậu quả rất nặng nề, các nhà máy trên địa bàn Ba Đình sau khi ta tiếp quản đều bị hư hỏng nặng, thiếu nguyên liệu để sản xuất, công nhân thiếu việc làm. Tình hình đó không những đặt ra cho Đảng bộ, nhân dân, mà còn đặt ra cho lực lượng vũ trang Ba Đình nhiệm vụ rất nặng nề là phải tích cực góp phần vào khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế ổn định đời sống cho nhân dân. Nhiệm vụ trước mắt chỉ đạo các tổ đội dân phòng, các tổ, đội dân quân tự vệ tích cực tham gia khôi phục các cơ sở công nghiệp do Nhà nước quản lý sau ngày giải phóng, các cơ sở sản xuất công nghiệp tư nhân để nhanh chóng ổn định, phát triển sản xuất góp phần đáp ứng nhu cầu thiết yếu cũng như giải quyết việc làm cho người lao động. Dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự quận, lực lượng vũ trang cùng các lực lượng khác phát huy truyền thống yêu nước, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn khôi phục và mở rộng các nhà máy xí nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.


Tại Nhà máy điện Yên Phụ, lực lượng tự vệ cùng công nhân phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm. Nhà máy bia, nơi có nhiều bộ phận máy móc bị hư hại, tự vệ, công nhân nhanh chóng sửa chữa lắp đặt lại hệ thống thiết bị dưới sự hướng dẫn của chuyên gia bạn và lực lượng bảo vệ nhà máy, nên đã trở lại hoạt động bình thường và bảo đảm chất lượng sản phẩm.


Nhà máy da Thụy Khuê, một cơ sở công nghiệp tư nhân, sau khi được bảo vệ và giúp đỡ, năm 1955 đã đưa mức sản xuất tăng lên 350 con da trong một tháng, lương công nhân tăng lên 2 lần so với năm 1954. Ngoài ra, lực lượng tự vệ cùng với nhân dân Ba Đình tích cực xây dựng một số cơ sở mới như xưởng ngói, xi măng, gạch, hóa chất. Ngành thủ công như may mặc, dệt vải, làm giấy, đan tre mây như ở các làng Vạn Phúc, Ngọc Hà, các cơ sở sửa chữa ô tô Sao Đỏ, Cờ Đỏ... được hồi phục, phát triển, thu hút một số người vào làm việc. Các cơ sở thương nghiệp trước đây phục vụ cho nhu cầu của chiến tranh được chuyển thành những cơ sở phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân. Các cơ sở mậu dịch quốc doanh được mở rộng dân, bảo đảm ổn định giá cả thị trường.


Trên địa bàn Ba Đình, diện tích canh tác vùng ven nội không nhiều, số người lao động ít nhưng lại có vị trí quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân và thúc đẩy các mặt khác. Do đó, Đảng bộ Ba Đình đã tập trung chỉ đạo việc phục hồi sản xuất nông nghiệp vùng ven nội. Quán triệt chủ trương đó, lực lượng dân quân tự vệ với vai trò nòng cốt cùng sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đã giúp đỡ nhân dân về phương tiện, vốn, cử cán bộ tăng cường về hướng dẫn nhân dân sản xuất. Đến năm 1957, hầu hết ruộng đất ở ven nội không còn bỏ hoang, trở thành đất trồng trọt, kể cả ruộng vườn của đồng bào bị cưỡng ép di cư vào Nam. Trong 3 năm, từ 1955 đến 1957, sản xuất nông nghiệp của quận cơ bản được phục hồi, đời sống nhân dân được ổn định, sản xuất nông nghiệp vùng ven nội được tăng lên rõ rệt.