|
Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Năm, 2026, 10:26:47 pm - Tên sách: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2020 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory * Đồng chủ biên: NGUYỄN CHÍ VỊNH PHẠM QUANG MINH * Cùng các chuyên gia, các nhà khoa học: LÊ HOÀI TRUNG VŨ CHIẾN THẮNG PHAN ANH VIỆT NGUYỄN HOÀNG NHIÊN ĐẶNG QUANG MINH LÊ HẢI BÌNH BÙI CHÍ TRUNG PHẠM QUANG HẢI LÊ ĐỨC CƯỜNG * Với sự hỗ trợ thông tin, tư liệu của các nhà nghiên cứu Cam-pu-chia: KEO BAPHNOM NOEM SOVATH và nhiều chuyên gia quốc tế Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 08:53:31 pm MỞ ĐẦU Giai đoạn 1989 - 1999 có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong tiến trình cách mạng Cam-pu-chia. Việt Nam rút hết Quân tình nguyện, mở đường cho Cam-pu-chia đi đến giải pháp chính trị, nhưng đây cũng là thời gian Cam-pu-chia rơi vào hỗn loạn và trở thành đấu trường chính trị - quân sự - ngoại giao do sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái nội bộ, kết hợp với tác động từ bên ngoài, tạo ra cuộc đấu tranh giữa hai bên: một bên ra sức bảo vệ thành quả cách mạng với một bên muốn phá bỏ thành quả cách mạng Cam-pu-chia do Việt Nam giúp đỡ. Để tìm hiểu về giai đoạn 1989-1999, trước tiên cần nhấn mạnh nguồn gốc của vấn đề với những diễn biến quan trọng của gần hai thập kỷ trước đó. Từ năm 1975 đến năm 1978, chính quyền Khơ-me Đỏ do Pôn Pốt - Iêng Xa-ri cầm đầu đã tiến hành chế độ diệt chủng. Nhân dân Cam-pu-chia bị đọa đầy, kết cấu xã hội bị hủy hoại đến cội rễ. Trong 3 năm, 8 tháng và 20 ngày, chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ đã biến đất nước Cam-pu-chia, vốn bị chiến tranh tàn phá, trở thành nhà tù, địa ngục trần gian, cánh đồng chết. Chế độ tàn bạo đó đã dìm nhân dân Cam-pu-chia trong biển máu và nước mắt, hàng triệu người đã bị giết hại bằng những hình thức tàn bạo nhất trong lịch sử loài người... Những hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt là không thể tha thứ. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Đoàn ket dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, Quân đội của Mặt trận mới được thành lập, với sự ủng hộ của nhân dân trong cả nước khi ấy đang cầu mong được sống, đặc biệt là nhận được sự giúp đỡ to lớn, kịp thời và hiệu quả của Đảng, Nhà nước, nhân dân, của Quân tình nguyện Việt Nam, đã đánh đổ chế độ diệt chủng với chiến thắng ngày 7 tháng 1 năm 1979, đưa Cam-pu-chia từ chế độ diệt chủng man rợ thành một Cam-pu-chia hòa bình va phát triển như ngày nay. Chiến thắng ngày 7 tháng 1 năm 1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nước Cam-pu-chia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn phản động Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia, sau này là Nhà nươc Cam-pu-chia - SOC; cứu nhân dân Cam-pu-chia khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước và dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới. Thế nhưng, sau ngày 7 tháng 1 năm 1979 cho đến cuối những năm 90, Khơ-me Đỏ vẫn tồn tại, thành lập liên minh 3 phái, đứng đằng sau là một số nước lớn. Chính quyền non trẻ của Cam-pu-chia không chỉ phải chống Khơ-me Đỏ mà còn phải vượt qua áp lực và sự o ép của cả một liên minh quốc tế. Nguy cơ về một cuộc nội chiến ở Cam-pu-chia vẫn có thể xảy ra vì Khơ-me Đỏ luôn chờ cơ hội để quay lại cướp chính quyền. Nếu Cam-pu-chia lại để xảy ra cuộc diệt chủng lần thứ hai, hậu quả sẽ còn tàn khốc và khủng khiếp hơn. Đặc biệt, thời điểm khi Quân tình nguyện Việt Nam mới về nước (năm 1989) là giai đoạn rất khó khăn, hiểm nghèo đối với Đảng Nhân dân Cam-pu-chia, đối với hòa bình ở Cam-pu-chia. Trong suốt một thập kỷ đầy biến động đó, Chính phủ và các nhà lãnh đạo Cam-pu-chia đã có nhiều giải pháp chiến lược, cả về chính trị - quân sự - ngoại giao để ngăn chặn sự quay trở lại của Khơ-me Đỏ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng hòa bình thực sự, đầy đủ cho đất nước. Tiến trình hòa giải dân tộc và ngừng bắn để tìm kiếm hòa bình ở Cam-pu-chia (1989-1999) trải qua những giai đoạn sau: Giai đoạn thứ nhất, mỗi bên (lực lượng chính trị - quân sự) có chiến lược và sự chuẩn bị riêng dựa theo diễn biến tình hình, vốn chịu ảnh hưởng từ các cuộc đàm phán trong và ngoài nước. Ngoài ra, tiến trình giải quyết các vấn đề của Cam-pu-chia được thực hiện vào thời kỳ Chiến tranh Lạnh, là thời điểm leo thang vũ khí và xung đột hệ tư tưởng toàn cầu. Khi đó, ở cấp khu vực, Đông Nam Á được chia thành hai khối, cũng là một phần của cuộc xung đột và hòa giải này. Khi đó, Cam-pu-chia đối mặt với nguy cơ quay lại chế độ Pôn Pốt mà Liên hợp quốc vẫn đang thừa nhận. Một nguy cơ nữa là những biện pháp cấm vận bất công từ các nước ủng hộ Khơ-me Đỏ, họ đã cô lập những người dân Cam-pu-chia sống sót sau chế độ Pôn Pốt. Giai đoạn thứ hai, là giai đoạn đàm phán để thực thi Hiệp định Pa-ri (Pháp). Thời kỳ này thể hiện rõ ràng hiệu suất của những chính sách trong thống nhất dân tộc, góp phần phá vỡ bế tẳc, thiết lập một khuôn khổ để tạo ra giải pháp và thỏa thuận cuối cùng. Tiến trình này có sự tham gia của Liên hợp quốc, tuy Khơ-me Đỏ vẫn muốn dùng lực lượng quân sự và từ chối thực thi Hiệp định Pa-ri. Giai đoạn thứ ba, đây là giai đoạn quan trọng nhất, được gọi là chính sách "Thắng - Thắng" (Win - Win policy) của Xăm-đéc Hun-xen, phá vỡ chiến lược thép gỉ của Khơ-me Đỏ. Trong suốt thời gian này, thông qua sự nhân nhượng và hợp tác, chính sách "Thắng - Thắng" góp phần lớn vào đảm bảo hòa bình, hợp tác và dàn xếp mâu thuẫn, sự đổ vỡ bên trong. Trong tiến trình hòa giải dân tộc và ngừng bắn ở Cam-pu-chia, chính sách ngừng bắn là công cụ cốt lõi và quan trọng nhất để đạt tới hòa bình toàn vẹn. Đây là bài học mà Cam-pu-chia rút ra được từ cuộc xung đột trong nhiều thập kỷ. Cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999 có sự tác động lớn đến tình hình khu vực nói chung, đến Việt Nam nói riêng, nhất là tiến trình bình thường hoá quan hệ của Việt Nam với các nước lớn, các tổ chức quốc tế và ASEAN. Đồng thời, sự giúp đỡ, hợp tác của Việt Nam đối với Cam-pu-chia trong giai đoạn 1989-1999 đã để lại những bài học quý báu vẫn còn nguyên giá trị to lớn đối với Việt Nam và quan hệ hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia nói riêng, quan hệ của Việt Nam với quốc tế nói chung. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999 và sự tác động của nó đối với Việt Nam lại chưa được quan tâm đúng mức, chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống. Đã hơn 40 năm sau sự kiện Quân tình nguyện Việt Nam cùng nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ chế độ Pôn Pốt; tròn 30 năm Cam-pu-chia đi vào giải pháp chính trị, thời gian càng lùi xa, càng cho phép nhìn nhận thấu đáo mọi vấn đề, song cũng tạo áp lực cho việc phải nghiên cứu cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999 một cách nghiêm túc, bài bản. Việc tiếp cận nghiên cứu về "Cách mạng Cam-pu-chia và sự hợp tác, giúp đỡ của Việt Nam giai đoạn 1989 1999" góp phần làm sáng tỏ bản chất của vấn đề Cam-pu-chia giai đoạn này, từ đó rút ra những bài học, vận dụng và phát triển các bài học đó vào việc hoạch định chủ trương, đối sách quan hệ với Cam-pu-chia cũng như các quốc gia trong khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 08:55:16 pm Chương 1 BỐI CẢNH THẾ GIỚI, KHU VỰC, CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC, CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CAM-PU-CHIA VÀ ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC, TRONG GIAI ĐOẠN 1989 - 1999 1.1. BỐI CẢNH THẾ GIỚI, KHU VỰC 1.1.1. Bối cảnh thế giới, khu vực trước năm 1989 Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (4.1975), phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có đà phát triển mới, sôi động và rộng khắp. Các thuộc địa của Bồ Đào Nha - những thuộc địa thực dân cũ cuối cùng, đã giành được độc lập, chấm dứt chế độ thực dân tồn tại trong 500 năm. Nhiều nước được Liên Xô và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa giúp đỡ đã phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các nước mới độc lập và các nước đang phát triển đều nghèo yếu, kinh tế kiệt quệ, nợ nần chồng chất, nội bộ không ổn định. Nhiều nước phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển. Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá các lực lượng sản xuất. Các nước tư bản chủ nghĩa, do thích ứng và sử dụng được những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nhờ cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các chính sách xã hội nên đã vượt qua được những khó khăn, kinh tế có bước phát triển đáng kể. Trong khi đó, nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, cải tổ, cải cách và đổi mới đã trở thành xu thế khách quan ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là nơi hội tụ của các mâu thuẫn chủ yếu trên thế giới như đối đầu Đông - Tây, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và phong trào giải phóng dân tộc, mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa; Đồng thời, vẫn tồn tại nhiều điểm nóng tiềm tàng có nguy cơ bùng phát thành xung đột như bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan, tình hình Biển Đông, biển Hoa Đông... Đông Nam Á tiếp tục là khu vực đấu tranh gay gắt giữa cách mạng và phản cách mạng. Các thế lực bá quyền và chủ nghĩa đế quốc không ngừng thúc đẩy chính sách đối đầu, dùng uy hiếp quân sự và bao vây, cấm vận, cô lập, hòng âm mưu làm suy yếu, khuất phục nhân dân ba nước Đông Dương: Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Quan hệ giữa các nước ASEAN với ba nước Đông Dương vừa được cải thiện không lâu thì Đông Nam Á lại rơi vào thế nghi kỵ, đối đầu mới xuất phát từ Chính phủ Cam-pu-chia Dân chủ Khơ-me Đỏ (do Pôn Pốt đứng đầu) tiến hành cuộc diệt chủng tại Cam-pu-chia và tiến công quân sự đối với Việt Nam. Việt Nam buộc phải tự vệ, sau đó đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Cam-pu-chia tiến vào giải phóng Phnôm Pênh, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giúp đỡ Cam-pu-chia hồi sinh đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng... Các sự kiện này đã trở thành "vấn đề Cam-pu-chia" có tính chất quốc tế, khu vực, kéo dài trên 10 năm. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 08:56:30 pm 1.1.2. Bối cảnh thế giới, khu vực giai đoạn 1989 - 1999
Giai đoạn 1989 - 1999, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi to lớn, sâu sắc. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự chống phá của các thế lực thù địch, chậm khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong mô hình chủ nghĩa xã hội, lại mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong đường lối cải tổ (đường lối kinh tế, chính trị, tổ chức cán bộ, đối ngoại) nên từ cuối những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xôviết ở Đông Âu đã làm rung chuyển hệ thống xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu, đưa đến sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh. Trật tự thế giới chuyển từ "hai phe, hai cực" sang một thời kỳ quá độ tiến tới hình thành thế "nhất siêu, đa cường". Toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hóa về kinh tế và cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước. Kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội tiếp tục diễn ra. Cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc tiếp tục diễn biến phức tạp. Xu hướng hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành một đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Hợp tác quốc tế ngày càng tăng, nhưng cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt, nhất là về khoa học công nghệ. Từ nửa cuối năm 1989 trở đi, các nước lớn đều có nhu cầu giảm cạnh tranh chiến lược trên phạm vi toàn cầu, bắt tay để giải quyết các vấn đề lớn ở nhiều khu vực, trong đó có vấn đề Cam-pu-chia. Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền và nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, chiến tranh cục bộ và chạy đua vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ vẫn diễn ra gay gắt. Những biểu hiện bá quyền, ngoại giao cường quyền, việc dùng chiêu bài "ưu tiên cho đạo lý", "nhân quyền cao hơn chủ quyền" và những mưu toan áp đặt quan niệm và hình mẫu của nước này đối với nước khác hoặc tự xác định các "tiêu chí chuẩn mực" cho quan hệ quốc tế ngày càng trở nên lộ liễu, công khai. Vì vậy, cuộc đấu tranh chính trị vẫn tiếp diễn gay gắt, quyết liệt dưới những hình thức mới. Chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ và chống "diễn biến hòa bình", chống ly khai diễn ra hết sức quyết liệt. Các mối quan hệ quốc tế diễn ra theo hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa đối thoại vừa đối đầu. Cùng với đó, các vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống như: an ninh tài chính, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, thiên tai, dịch bệnh... diễn biến ngày càng phức tạp. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, trở thành động lực kinh tế của thế giới nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn; Tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo ngày càng gay gắt, xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng mới cùng với trạng thái đan xen lợi ích rất phức tạp. Khu vực Đông Nam Á nhìn chung giữ được hòa bình, ổn định; ASEAN trở thành cộng đồng các quốc gia có bước phát triển mạnh. Các nước ASEAN nỗ lực xây dựng, thiết lập các cơ chế hợp tác mới ở khu vực, ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nước trên thế giới. ASEAN nổi lên thành tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển, có uy tín quốc tế ngày càng lớn, tiếng nói ngày càng có trọng lượng trong việc thúc đẩy hòa bình, an ninh và hợp tác quốc tế, trong việc bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh của mình. Tuy nhiên, ASEAN phải đối phó với nhiều vấn đề, như: mâu thuẫn trong nội bộ một số nước, sự lôi kéo và chia rẽ của các nước bên ngoài. Vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 08:57:42 pm 1.2. CHÍNH SÁCH CỦA MỘT SỐ NƯỚC, TỔ CHỨC QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CAM-PU-CHIA VÀ ĐÔNG DƯƠNG
1.2.1. Chính sách của một số nước lớn Trung Quốc là nước có vai trò quan trọng nhất từ đầu quá trình hình thành các mâu thuẫn xung đột, cũng như trong tiến trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia sau này. Ngay từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, Trung Quốc đã có một chiến lược phức tạp và lâu dài đối với Cam-pu-chia và Đông Dương, là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc. Nhằm "giành cho được Đông Nam châu Á", làm cho khu vực này trở thành hậu phương an toàn, vùng đệm tin cậy, để có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô - Đông Âu, ngay từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã hỗ trợ về tư tưởng, kinh tế và quân sự cho các đảng cộng sản ở Đông Nam Á như một phần trong chiến lược lãnh đạo chiến tranh giai cấp chung toàn thế giới. Các Đảng Cộng sản Thái Lan, In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a... đều chịu ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ về ý thức hệ, mà còn về mặt cơ cấu tổ chức1 (Central Intelligence Agency: Peking's Support of Insurgencies in Southeast Asia: Intelligence Report, Collection: General CIA Records, p.56). Trung Quốc cũng giúp đỡ các Đảng Cộng sản trên bán đảo Đông Dương trong thời gian các chính đảng này lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch quốc tế luôn tìm cách tranh thủ cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, nhat là các cuộc kháng chiến của Việt Nam để phục vụ lợi ích nước lớn của chúng. Trong những năm 50 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch quốc tế đã mặc cả với thực dân Pháp trên lưng nhân dân 3 nước Đông Dương về việc kết thúc chiến tranh trên cơ sở lợi ích cho họ. Trong những năm 60 của thế kỷ XX, chúng đã dùng ngọn cờ ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam để tranh giành uy tín với Liên Xô, chia rẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhằm lãnh đạo thế giới thứ ba và cách mạng thế giới, đồng thời phá vỡ thế hòa hoãn Xô - Mỹ. Giai đoạn 1970 - 1974, các thế lực thù địch tìm cách kiểm soát phong trào cách mạng Đông Dương, kiểm soát cách mạng Cam-pu-chia, Lào, chia rẽ hai nước này với Việt Nam, làm suy yếu vai trò của miền Bắc Việt Nam đối với cách mạng Đông Dương. Do thất bại ở chiến trường Việt Nam, đế quốc Mỹ muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng vẫn muốn giữ được chính quyền miền Nam Việt Nam và lợi dụng mâu thuẫn Trung - Xô để giải quyết những khó khăn của Mỹ trên thế giới và trong nước. Các nước lớn đã tận dụng cơ hội này, câu kết với Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam để đổi lấy sự thỏa thuận của Mỹ về vấn đề Đài Loan, Biển Đông, giành ghế ở Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; đồng thời câu kết với Mỹ chống Liên Xô để phá thế hòa hoãn Xô - Mỹ. Với ý đồ đó, trong những năm 1971-1972, họ đã cố thuyết phục Việt Nam giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam trên cơ sở tôn trọng chế độ ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam1 (Huỳnh Anh Dũng (1995), Ghi chép về Cam-pu-chia 1975-1991, Hà Nội). Tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết, Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, các nước lớn chủ trương duy trì nguyên trạng ở miền Nam Việt Nam, chấm dứt viện trợ quân sự cho Việt Nam nhằm ngăn chặn việc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Họ còn muốn cả miền Nam Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào theo con đường "hòa bình trung lập". Từ cuối năm 1973, nhận thấy Việt Nam quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và việc đó không có lợi cho chiến lược của các nước lớn; do vậy, họ đã cắt giảm viện trợ kinh tế và nhân lúc Việt Nam đang tập trung vào việc giải phóng miền Nam, và liên tiếp gây ra những phức tạp và rắc rối trên biên giới đất liền với Việt Nam và trong Vịnh Bắc Bộ. Thắng lợi năm 1975 của Việt Nam đã làm phá sản các tính toán chiến lược của các nước lớn ở khu vực, làm thay đổi mạnh mẽ so sánh lực lượng ờ đây. Mỹ buộc phải rút khỏi Đông Nam Á. Ngược lại, Liên Xô có điều kiện mở rộng ảnh hưởng ở khu vực này. Trước tình hình đó, một số nước lớn rất không hài lòng và lo ngại ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam sẽ làm suy giảm ảnh hưởng của họ ở khu vực. Đặc biệt, theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng, Trung Quốc lo ngại, sau khi Việt Nam thống nhất, Liên Xô vào Việt Nam thì Trung Quốc sẽ bị bao vây từ bốn phía. Do vậy, các nước lớn đã đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam ở biên giới, cản trở việc Việt Nam thống nhất đất nước, tiến hành chia rẽ ba nước Đông Dương, dùng Khơ-me Đỏ để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam ở biên giới Tây Nam. Mặt khác, Mỹ không rút quân ở Đông Nam Á, kêu gọi các nước ASEAN lập mặt trận với một số nước khác chống Việt Nam và Liên Xô. Từ sau năm 1978, Trung Quốc triển khai mạnh mẽ kế hoạch hiện đại hóa đi liền với sự lựa chọn "phương Tây cả gói", đã quyết định bước ngoặt chiến lược đối ngoại của họ. Trung Quốc triệt để lợi dụng sự suy yếu của Mỹ, khai thác mâu thuẫn Mỹ - Xô và giữa cách mạng với phản cách mạng, phát triển mạnh mẽ quan hệ với Mỹ và phương Tây nhằm tranh thủ vốn và khoa học kỹ thuật phục vụ "4 hiện đại hóa". Trung Quốc cũng triệt để lợi dụng mối lo ngại của các nước ASEAN trước việc Mỹ rút quân và nguy cơ Liên Xô mở rộng ảnh hường ở Đông Nam Á để lập mặt trận Trung Quốc - Mỹ - ASEAN - phương Tây phục vụ cho chiến lược của mình. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, để thực hiện mục tiêu đó, họ đã có những bước đi quyết liệt về mặt đối ngoại, cắt viện trợ cho Việt Nam năm 1978; khuyến khích, hỗ trợ cho Khơ-me Đỏ ở Cam-pu-chia. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 08:58:41 pm Trong giai đoạn từ năm 1979 đến 1981, sau khi Việt Nam tiến hành cuộc phản công chiến lược, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia, các thế lực thù địch đòi Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Cam-pu-chia. Thông qua Xi-ha-núc tố cáo Việt Nam xâm lược ở Liên hợp quốc và khắp nơi trên thế giới, trực tiếp viện trợ quân sự cho các lực lượng Pôn Pốt và Khơ-me Đỏ; vu khống Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia và có mưu đồ lập "Liên bang Đông Dương" để làm chủ cả Lào Và Cam-pu-chia, không muốn Lào và Cam-pu-chia độc lập, với việc vu khống rằng: "Việt Nam muốn làm tiểu bá" thực hiện bá quyền khu vực để phối hợp với Liên Xô làm "đại bá" nhằm chống các nước lớn và các nước trong khu vực. Cho đến nay, các chuyên gia nghiên cứu có chung nhận định, chủ nghĩa phản động quốc tế một mặt che đậy bản chất phản động của tập đoàn Pôn Pốt, đồng thời che đậy hành động đứng đằng sau Khơ-me Đỏ, gián tiếp gây ra chế độ diệt chủng, xóa mờ nghĩa vụ quốc tế cao cả và tính chất "chống diệt chủng" khi Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia. Phải chăng những tư duy hằn học, thù địch đã phản ánh sự cay cú vì con bài xung kích Pôn Pốt do họ dựng lên, nuôi dưỡng đã bị thất bại; dùng việc Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia để tạo cớ tiến hành gây căng thẳng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam. Cùng với các hành động gây hấn, họ còn dựng lên sự kiện "nạn kiều", cắt hoàn toàn viện trợ kinh tế cho Việt Nam, rút hết chuyên gia về nước, đóng cửa 3 lãnh sự quán Việt Nam, đồng thời tìm cách gây rối về chính trị và kinh tế đối với Việt Nam, tiếp sức cho bọn phỉ ở Lào, tuyên truyền kích động tư tưởng chống Việt Nam trong nước họ và trên thế giới. Bên cạnh đó, họ còn thực hiện hàng loạt biện pháp cao sâu nhằm chia rẽ khối đoàn kết ba nước Đông Dương, phân hóa Việt - Lào, Việt Nam - Cam-pu-chia, Việt Nam - Liên Xô và phân hóa cả nội bộ Việt Nam; đồng thời, quy chụp Việt Nam như hình ảnh một con "ngáo ộp" khiến các nước ASEAN lo sợ rằng sau khi "thôn tính" Cam-pu-chia, Việt Nam sẽ phát triển sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á.
Từ 1982 - 1984, các thế lực thù địch hỗ trợ các phe phái Khơ-me phản động thành lập chính phủ liên hiệp 3 phái Khơ-me do Xi-ha-núc đứng đầu, dùng vấn đề Cam-pu-chia để phục vụ cho chiến lược của họ trong quan hệ với cả các nước lớn khác. Trong chính phủ liên hiệp 3 phái, họ sắp xếp cho Xi-ha-núc có vai trò lớn nhất về chính trị trong khi vẫn giữ Khơ-me Đỏ ở một mức độ nhất định và viện trợ giúp Khơ-me Đỏ trở thành lực lượng vũ trang mạnh nhất trong 3 phái Khơ-me, nhằm củng cố liên minh ngầm với rất nhiều toan tính để cùng với Mỹ, phương Tây và ASEAN chống Việt Nam. Đồng thời, cũng theo các nhà phân tích, trong giai đoạn này, các nước lớn phải đề cao vai trò chủ đạo của Xi-ha-núc, nhân vật có uy tín quốc tế cao và là người duy nhất ở Cam-pu-chia được Mỹ và phương Tây chấp nhận, thì mới giữ được Khơ-me Đỏ, giúp che giấu bộ mặt diệt chủng của Khơ-me Đỏ; mặt khác họ cũng phải để Khơ-me Đỏ có vai trò nhất định thì mới kiểm soát được Xi-ha-núc. Làm cho Khơ-me Đỏ có thực lực nhất định thì họ mới có vai trò lớn trong vấn đề Cam-pu-chia, nằm trọn lợi ích chiến lược toàn cầu. Các nước lớn cũng chấp nhận lực lượng của Son San là để tranh thủ Mỹ và phương Tây vì đây là lực lượng được Mỹ và phương Tây ủng hộ, có quan điểm chống Việt Nam và thực lực quân sự không đáng kể, không thể đe dọa hoặc làm tổn hại tới vai trò và lực lượng vũ trang của Khơ-me Đỏ. Mặc dù Việt Nam đã từng bước rút quân và nhiều lần đề nghị đàm phán, nhưng các nước lớn luôn bác bỏ và đòi Việt Nam phải đàm phán trực tiếp với Xi-ha-núc. Đây là điều Việt Nam không thể chấp nhận1 (Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 773). Để kiềm chế, chống phá Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, ngăn chặn sự hồi sinh của dân tộc Cam-pu-chia sau khi thoát khỏi nạn diệt chủng Khơ-me Đó, câu hỏi đặt ra là có hay không phương Tây và một số nước lớn đã phối hợp với nhau nuôi dưỡng, hỗ trợ tài chính, quân sự cho các phe phái Khơ-me phản động, nhưng khác với các nước khác, phương Tây không muốn để Khơ-me Đỏ quá mạnh, đủ sức quay trở lại nắm quyền? Mục đích của Mỹ chỉ là lợi dụng chúng để làm suy yếu Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, nên bên cạnh việc hỗ trợ tài chính cho Khơ-me Đỏ, Mỹ cũng ra sức ngăn chặn không để chúng quay trở lại nắm quyền, đồng thời cố gắng củng cố vai trò của Xi-ha-núc va Son San. Các nước lớn khác thông đồng với Mỹ nhưng chủ yếu viện trợ của họ thiên về Khơ-me Đỏ, mục tiêu làm Khơ-me Đỏ mạnh lên, nắm quyền chi phối các phái Khơ-me khác. Các nước ASEAN nghiêng về phía các nước lớn, tạo thành một khối đối địch, chống lại ba nước Đông Dương, trong đó có vai trò chủ yếu của Thái Lan, Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a. Thông qua ve vãn, hứa hẹn, các nước lớn đã lôi kéo được Thái Lan, biến Thái Lan thành chiến trường chống Lào - Việt Nam - Cam-pu-chia và thông qua Thái Lan để lôi kéo thêm các nước ASEAN khác vào liên minh chống Đông Dương, tạo nên cục diện hai khối Đông Dương - ASEAN đối địch nhau ở Đông Nam Á. Do đó suốt những năm 80, ASEAN đã đóng vai trò "xung kích" trong vấn đề Cam-pu-chia. Mọi hoạt động ngoại giao có liên quan tới Cam-pu-chia đều có sự tham gia của ASEAN. Các nghị quyết ở Liên hợp quốc về Cam-pu-chia đều do ASEAN soạn thảo. Từ 1985 -1989, cục diện hợp tác Xô - Mỹ và những bất ổn nội bộ tháng 6 năm 1989 đã buộc Trung Quốc phải tiếp tục điều chỉnh chiến lược trong quan hệ với Mỹ và phương Tây. Việc Mỹ và phương Tây tiến hành trừng phạt Trung Quốc cũng làm cho vị trí của Trung Quốc trong quan hệ với Mỹ và Liên Xô suy giảm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, nước lớn thực hiện một loạt hành động phản ứng: (1) Không ủng hộ thỏa thuận Việt Nam - In-đô-nê-xi-a ngày 29 tháng 7 năm 1987, (2) Không ủng hộ đối thoại Hun-xen - Xi-ha-núc, (3) Muốn Việt Nam đàm phán với Xi-ha-núc, (4) Hỗ trợ Thái Lan gây xung đột biên giới Thái - Lào, (5) Đầu năm 1988, tiến công chiếm các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam: Chữ Thập (31.1), Châu Viên (18.2), Ga Ven (26.2), Huy Gơ (28.2), Gạc Ma (14.3), Xu Bi (23.3)1. Cùng với những hành động này, từ tháng 2 năm 1989, họ bỏ qua vấn đề Cam-pu-chia chấp nhận đàm phán cấp cao với Liên Xô; từ tháng 3 năm 1989 tiến hành thỏa thuận trong khuôn khổ các nước lớn ở Liên hợp quốc theo hướng giảm cam kết với Khơ-me Đỏ, cùng Mỹ và phương Tây sử dụng lực lượng trung gian (Xi-ha-núc, Son San) tìm mọi cách gạt bỏ hoặc hạn chế tối đa vị trí của Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia nhằm tạo thế để họ hàn gắn quan hệ với Mỹ và phương Tây. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 08:59:58 pm Đối với Việt Nam, các nước lớn luôn đặt điều kiện trong vấn đề Cam-pu-chia, song lại liên tục thay đổi. Tháng 10 năm 1982, họ chỉ đặt điều kiện Việt Nam rút quân, thậm chí chỉ cần rút đợt đầu thì sẽ tiến hành đàm phán để bình thường hóa quan hệ hai nước. Nhưng đến tháng 6 năm 1988, Việt Nam đã rút một nửa số quân khỏi Cam-pu-chia, và ngày 5 tháng 4 năm 1989 Việt Nam tuyên bố sẽ đơn phương rút hết quân vào tháng 9 năm 1989, thì lúc này họ lại đặt điều kiện Việt Nam phải giải quyết hậu quả của việc đưa quân "xâm lược" Cam-pu-chia. Các nước lớn còn đòi lập Chính phủ liên hiệp 4 bên do Xi-ha-núc đứng đầu, lập quân đội 4 bên ngang nhau, nhằm đi đến một giải pháp chính trị về vấn đề Cam-pu-chia có lợi cho họ thì họ mới đồng ý thúc đẩy tiến trình đi đến giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Cam-pu-chia.
Song các toan tính của các nước lớn không phải lúc nào cũng đạt được. Việc Việt Nam rút hết quân khỏi Cam-pu-chia vào ngày 26 tháng 9 năm 1989 đã làm đảo lộn những tính toán chiến lược của họ trong vấn đề Cam-pu-chia. Sau khi Việt Nam rút quân, các nước lớn không còn cớ để chỉ trích Việt Nam xâm lược, trong khi vấn đề diệt chủng lại nổi lên thành trọng tâm trong đấu tranh ngoại giao về Cam-pu-chia - điều mà họ hoàn toàn không mong muốn. Một loạt diễn đàn đàm phán về Cam-pu-chia đã mở ra sau khi Việt Nam tuyên bố rút hết quân. Hợp tác Mỹ - Xô trên thế giới và yêu cầu phát triển kinh tế đã làm thay đổi cục diện tại Đông Nam Á. Các nước ASEAN và khu vực đều có nguyện vọng, mong muốn sớm giải quyết dứt điểm vấn đề Cam-pu-chia để đảm bảo hòa bình, ổn định nhằm tập trung phát triển kinh tế. Việc Xi-ha-núc, các nước ASEAN, đặc biệt là In-đô-nê-xi-a và Thái Lan, bắt đầu đàm phán riêng rẽ (đến thời điểm này đã có tổng cộng 5/7 vòng đàm phán Hun-xen - Xi-ha-núc, các cuộc gặp JIM-1 và JIM-2) là không phù hợp với chiến lược của nước lớn. Trong bối cảnh đó, để giữ cho vấn đề Cam-pu-chia không tuột khỏi tầm tay và để duy trì vai trò quan trọng trong vấn đề Cam-pu-chia, họ buộc phải nối lại đàm phán với Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc đàm phán này không đạt kết quả do họ khăng khăng đòi Việt Nam phải bàn việc giải quyết mặt nội bộ của vấn đề Cam-pu-chia và ra điều kiện giải quyết xong vấn đề Cam-pu-chia mới bàn việc bình thường hóa quan hệ. Sau Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia (10.1991), từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Trung Quốc, hai bên đã ký thông cáo chung về bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Giai đoạn 1991-1999, sau khi bình thường hóa quan hệ, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từng bước cải thiện và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, lãnh đạo hai nước đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước. Đối với vấn đề Cam-pu-chia, trong giai đoạn này Trung Quổc chuyển dần sang tiếp cận Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP) và Thủ tướng Hun-xen. Đối với Mỹ, sự can thiệp của Mỹ đối với Đông Dương nói chung, Cam-pu-chia nói riêng diễn ra không ngừng từ những năm 50 của thế kỷ XX. Năm 1950, Mỹ đã chuẩn bị điều kiện để thay chân Pháp vào Đông Dương. Sau năm 1954, Mỹ tiến hành hoạt động ráo riết về chính trị, quân sự, kinh tế ở Cam-pu-chia, mưu toan đưa Cam-pu-chia vào trong quỹ đạo của Mỹ ở Đông Nam Á. Mỹ đã sử dụng nhiều biện pháp như lôi kéo, gây sức ép đối với Cam-pu-chia, thông qua sử dụng sức manh quân sự của Mỹ, của chính quyền Sài Gòn tay sai và chính quyền Thái Lan đánh vào biên giới phía tây và phía đông Cam-pu-chia, lập phong trào vũ trang có tên Khơ-me Xê-rây dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan và biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam. Cùng với hoạt động quân sự, Mỹ sử dụng biện pháp kinh tế tạo tầng lớp tư sản ở Cam-pu-chia có lợi ích phù hợp với Mỹ. Tầng lớp tư sản này được sự hỗ trợ của Mỹ, ngày càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm ưu thế về mặt chính trị ở Cam-pu-chia, hình thành giới cực hữu thân Mỹ, tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp vào Cam-pu-chia qua cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, lập nên chính quyền thân Mỹ do Lon Non đứng đầu. Thực chất của cuộc đảo chính là loại bỏ Xi-ha-núc (người được coi là thân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lập ra chính phủ là người của Mỹ (Lon Non), tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp vào Cam-pu-chia nhằm mở rộng chiến trường trên toàn cõi Đông Dương, dựng lên một hộ thống căn cứ quân sự nổi liên Việt Nam - Thái Lan - Cam-pu-chia - Lào phục vụ cho các hoạt động quân sự của Mỹ. Sau thất bại ở Việt Nam (4.1975), đế quốc Mỹ hạn chế dân sự liên quan về quân sự ở khu vực Đông Nani A, tiến hành triệt thoái quân sự cũng như giảm sự quan tâm đối với khu vực này. Tuy nhiên, vấn đề Cam-pu-chia cũng như sự tăng cường hiện diện của Liên Xô ở Đông Nam Á đã khiến Mỹ một lần nữa quan tâm tới khu vực nay. Lợi ích chiến lược cao nhất của Mỹ là duy trì phần còn lại của thế giới tư bản ở khu vực Đông Nam Á chống lại sự sụp đổ theo kiểu đô-mi-nô và duy trì sự có mặt về quân sự ở mức thấp hơn ở vùng hải đảo Đông Nam Á phục vụ chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ. Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, Mỹ tìm cách sử dụng "con bài Trung Quốc", khoét sâu vào mâu thuẫn Trung - Xô và Trung - Việt, duy trì tình hình thế giới căng thẳng hòng tạo thế mạnh trong quan hệ với Liên Xô. Đồng thời, Mỹ đặt "Đông Nam Á trong khuôn khổ chính sách toàn cầu và coi ASEAN là con đê quan trọng ngăn chặn, chống lại mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản"1 (Pamela Sodh: A Survey of U.S. Post-Vietnam Policy and the Kampuchean Dilemma, 1975-85, Contemporary Southeast Asia.Vol. 11 No. 3 (December 1989), p. 290. Jimmy Carte: Keeping Faith, Memoirs Of A President, Ibid, p. 255). Tháng 11 năm 1979, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đã chính thức tuyên bố rằng, Mỹ coi ASEAN là "chìa khóa của Đông Nam Á" và Thái Lan là "chìa khóa của ASEAN"1 (David W.P. Elliot: Recent U.S. Policy toward Indochina, in Indochina and Problems of Security and Stability in Southeast Asia, edited by Khien Theeravit and MacAlister Brown (Bangkok: Chulalongkorn University Press, 1983), p.174); và xem xét vấn đề Cam-pu-chia đặt trong tổng thể quan hệ Mỹ - Trung - Xô. Đông Dương vì thế trở thành một bộ phận trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quổc. Mỹ câu kết với các nước lớn trong khu vực để chống Việt Nam, các nước Đông Dương và Liên Xô. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hai-gơ đã viết hồi ký rằng: "Tại Đông Nam Á, chúng ta hầu như hoàn toàn từ bỏ ảnh hưởng của mình, và nếu không có người... thay thế thực hiện công việc của Mỹ tại khu vực này thì toàn bộ con bài đô-mi-nô còn lại hẳn đã đổ sụp sau Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào"2 (Haig A. Caveat: Realism, Reagan and Foreign Policy, p. 30). Bên cạnh đó, sự câu kết của Mỹ với các nước ở Đông Nam Á còn nhằm phục vụ lợi ích chiến lược lớn hơn có tính chất toàn cầu là nhằm đẩy lực lượng chống Liên Xô3 (Bộ Ngoại giao (1988), Lập trường của các nước, các nhóm nước và Liên hợp quốc về vấn đề Cam-pu-chia từ 12 năm 1987 - 8 năm 1988, Vụ châu Á 2, Hà Nội, hồ sơ số 747). Tuy nhiên, Mỹ không muốn sự câu kết với các nước chống Việt Nam và ba nước Đông Dương có thể gây ra bùng nổ lớn trong khu vực làm cho các nước ASEAN mất ổn định hoặc câu kết với các nước chống Việt Nam, làm cho Việt Nam suy yếu đến mức tạo ra cơ hội cho nước khác bành trướng ở Đông Nam Á và Mỹ có nguy cơ mất thêm những vị trí mới ở khu vực này. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 09:01:43 pm Chính vì vậy, sau khi Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào Cam-pu-chia, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt thì Mỹ vẫn chưa muốn đóng vai trò chủ yếu trong giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, e ngại bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh du kích, nên chỉ chấp nhận viện trợ thường dân, tránh dính líu đến Khơ-me Đỏ1 (Lee Kuan Yew: Memoirs of, from Thrid World to First, The Singapore Story: 1965-2000, Singapore Press holdings, 2000, p.376- 377). Trong Hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Gim-mi Ca-tơ đã giải thích về quyết định đó như sau: "Lựa chọn giữa hai chế độ này (Cam-pu-chia Dân chủ và Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia) không phải là quyết định mà bề nổi của nó đáng lưu tâm đối với Hoa Kỳ. Vì cả hai phe đều đã từng chiến đấu chống lại Hoa Kỳ chỉ mới ít năm trước đây"2 (Jimmy Carte: Keeping Faith, Memoirs Of A President, A Bantam Book: New York, November 1982, p.253). Trong một thời gian dài, Mỹ có thái độ không dứt khoát đối với Khơ-me Đỏ. Một mặt, Mỹ không muốn để Khơ-me Đỏ trở lại nắm quyền do lo ngại tái diễn nạn diệt chủng, nên Mỹ tránh dính líu đến Khơ-me Đỏ. Mặt khác, Mỹ muốn lợi dụng Khơ-me Đỏ ở một mức độ nhất định (do bản thân Khơ-me Đỏ có lực lượng quân sự tại chỗ) để chống phá cách mạng ba nước Đông Dương và Việt Nam. Do đó, bên cạnh việc tiếp tục ủng hộ vai trò của Khơ-me Đỏ ở Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Mỹ đã phối hợp với đồng minh (Thái Lan) và một số nước lớn khác tiếp tục nuôi dưỡng, ủng hộ Khơ-me Đỏ cũng như hậu thuẫn cho các phái Khơ-me phản động khác (Xi-ha-núc và Son San) tiến hành cuộc chiến chống cách mạng Cam-pu-chia, cách mạng Việt Nam và loại bỏ sự ảnh hưởng của Liên Xô đối với khu vực. Có nhà lãnh đạo ASEAN từng nhận xét, Mỹ và Trung Quốc chỉ nhất trí hoàn toàn với nhau về một điểm duy nhất là không chấp nhận, kiên quyết chống và phối hợp cùng chống lại sự bành trướng của Liên Xô ở Đông Nain Á thông qua Việt Nam: "Khi tôi nói với Giôn Hâu-đơ-rít-giơ... là bất cứ ai thắng lợi trong một cuộc bầu cử do Liên hợp quốc tổ chức đều có thể lãnh đạo Cam-pu-chia và Hêng Xom-rin có thể thắng, ông ta đã phản đối quyết liệt... Giọng nói và cách nói của ông đã làm cho tôi hiểu rõ rằng một thắng lợi của Hêng Xom-rin là không thể chấp nhận được đối với cả Mỹ và Trung Quốc"1 (Lee Kuan Yew: Memoirs of, from Thrid World to First, The Singapore Story: 1965-2000, Ibid, p.378), đơn giản chỉ vì Chính phủ này quá gắn bó với Liên Xô.
Trong giai đoạn 1989 - 1991, xu hướng hòa hoãn giữa các nước lớn (Xô - Trung - Mỹ), nhất là hòa hoãn Mỹ - Xô đã rõ ràng và tình hình thay đổi, đặc biệt là việc Quân tình nguyện Việt Nam hoàn toàn rút khỏi Cam-pu-chia (9.1989), Mỹ đã có sự thay đổi chính sách đối với Đông Dương, trong đó có Cam-pu-chia. Ngày 18 tháng 7 năm 1990, Ngoại trưởng Mỹ Giêm Bây-cơ tuyên bố, Mỹ thôi không công nhận Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia Dân chủ (chính quyền ba phái do Xi-ha-núc đứng đầu). Ngoại trưởng Mỹ cũng lên án Khơ-me Đỏ, đồng thời nhận lời đối thoại với Việt Nam. Sau tuyên bố này của Ngoại trường Mỹ, cuộc gặp chính thức đầu tiên giữa Việt Nam và Mỹ đã diễn ra tại trụ sở Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc ở Niu Oóc. Tại đây, hai bên đã trao đổi về các vấn đề chủ yếu của một giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Cam-pu-chia. Ngày 31 tháng 8 năm 1990, hai bên tiếp tục có cuộc đàm phán vòng thứ hai, và ngày 20 tháng 9 năm 1990, tiếp tục diễn ra cuộc gặp lần thứ ba cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Các động thái này góp phần từng bước cải thiện quan hệ Việt - Mỹ, đồng thời có tác động tích cực đến việc tháo gỡ bế tắc chính trị tại Cam-pu-chia. Với Cam-pu-chia, Mỹ lập Văn phòng liên lạc tại Phnôm Pênh (11.1991), sau đó nâng cấp thành Đại sứ quán và đóng góp khoảng 30% chi phí cho các hoạt động của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia. Mỹ không còn ủng hộ Khơ-me Đỏ tiếp tục giữ ghế của Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc; đưa ra chương trình viện trợ nhằm giúp Cam-pu-chia xây dựng đường giao thông nông thôn, nhất là những nơi Khơ-me Đỏ chiếm đóng, cho rằng việc mở cửa các vùng nông thôn do Khơ-me Đỏ kiểm soát, đưa chủ nghĩa vật chất tiếp cận với người dân và binh lính là cách tốt nhất làm suy yếu Khơ-me Đỏ. Từ chỗ liên minh, đồng lõa với nước lớn trong khu vực, Mỹ bắt đầu lo ngại và tìm cách hạn chế ảnh hưởng của họ; chủ trương lập một chính phủ hòa giải dân tộc và trung lập thân Mỹ và phương Tây ở Cam-pu-chia. Sau tổng tuyển cử năm 1993 và nhất là sau khi chính phủ liên hiệp giữa FUNCINPEC và CPP được thành lập, Mỹ nhận thấy chính phủ này, mà cụ thể là CPP và Thủ tướng Hun-xen, có nhiều phát biểu và biểu hiện muốn thân thiện với phương Tây, cho rằng CPP đã chuyển hóa theo hướng có lợi cho Mỹ1 (Mỹ cho rằng CPP và Thủ tướng Hun-xen đã hợp tác đầy đủ trong vấn đề POW/MIA. Thủ tướng Hun-xen thăm Mỹ và được đón tiếp trọng thị (1992). Ngoại trưởng Mỹ M. Ôn-brai thăm Cam-pu-chia năm 1993. Tới năm 1996, trong quan hệ với Mỹ, Cam-pu-chia đã được trao quy chế tối huệ quốc (MFN), đã ký các Hiệp định thương mại và đầu tư song phương, được hưởng GSP và được hỗ trợ bởi chương trình đầu tư tư nhân OPIC. Mỹ giúp Cam-pu-chia gỡ mìn ở nhiều nơi và được coi là một chương trình gỡ mìn thành công nhất trên thế giới. Về quan hệ Mỹ - Cam-pu-chia, xem thêm Kenton Clymer, sđd, trang 162 - 165). Do vậy, Mỹ không ngừng tăng cường quan hệ với Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia, tăng cường tranh thủ CPP. Tính từ năm 1992 đến 1996, tổng viện trợ mà Cam-pu-chia nhận được là 1.892.884.000 USD, trong đó riêng Mỹ là 174.971.000 USD1 (Trần Huy Chương, sđd, tr. 24). Sau khi xuất hiện xu hướng ly khai của Khơ-me Đỏ năm 1995, Mỹ hoan nghênh việc Khơ-me Đỏ ly khai và cung cấp tài chính giúp số lính Khơ-me Đỏ đào ngũ sáp nhập vào quân đội Cam-pu-chia2 (Kenton Clymer, sđd, tr. 166). Tuy nhiên, từ sau vụ đảo chính và thất vọng về phản đảo chính tháng 7 năm 1997, Mỹ tỏ ra CPP và Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, nên chuyển dần sang quan hệ với các lực lượng đối lập, nuôi dưỡng các con bài, tổ chức chính trị đối lập ở Cam-pu-chia, nhất là mở rộng mạng lưới NGOs tại các vùng nông thôn. Đối với Liên Xô, tận dụng cơ hội Mỹ sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thực lực quân sự giảm đáng kể, Liên Xô đã nhanh chóng phát triển tiềm lực quân sự, để vào cuối những năm 1970, Liên Xô đã giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ. Đồng thời, Liên Xô triệt để khai thác sự suy yếu của Mỹ để tăng cường ảnh hưởng của mình tại châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng. Trước sự câu kết Mỹ - Trung nhằm chống phá Liên Xô, Liên Xô một mặt tìm cách phá sự câu kết này, thực hiện chiến lược bao vây, kiềm chế Trung Quốc; mặt khác ký Hiệp ước Hòa bình hữu nghị với Ấn Độ (1971), ủng hộ Ấn Độ đưa quân vào giải phóng Pa-kít-xtan, lập ra nhà nước Băng-la-đét. Với Việt Nam, Liên Xô ủng hộ Việt Nam vào Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Khối SEV), ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Xô - Việt tháng 11 năm 1978, cho phép Liên Xô mở rộng sự có mặt cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự, trong đó có việc sử dụng cảng Cam Ranh. Việc Việt Nam ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô đã tạo ra một tương quan lực lượng mới ở Đông Nam Á sau khi Mỹ rút quân. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 09:02:31 pm Sau khi Khơ-me Đỏ tiến công Việt Nam, Liên Xô ủng hộ Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia. Thời gian này, Liên Xô đồng thời tăng cường quan hệ với Lào; công nhận và lập quan hệ với chính phủ mới ở Cam-pu-chia tháng 1 năm 1979, sau đó Liên Xô có nhiều hoạt động viện trợ không hoàn lại để giúp Cam-pu-chia thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặc dù mở rộng ảnh hưởng của mình ở Đông Dương, ủng hộ cách mạng Cam-pu-chia, mong muốn ba nước Đông Dương cùng đi với mình để chống câu kết Mỹ - Trung, song Liên Xô tránh can dự trực tiếp vào xung đột Cam-pu-chia.
Từ khi bắt đầu đàm phán với Trung Quốc về bình thường hóa quan hệ (1982-1987), Liên Xô tiếp tục ủng hộ ba nước Đông Dương. Mặc dù Trung Quốc nêu "ba trở ngại"1 (Ba trở ngại gồm: rút quân khỏi Áp-ga-ni-xtan, chấm dứt xung đột biên giới Trung - Xô, giải quyết vấn đề Cam-pu-chia) cho quan hệ Xô - Trung (10.1982), trong đó có vấn đề Cam-pu-chia, đánh dấu việc vấn đề Cam-pu-chia đã trở thành một con bài chiến lược toàn cầu của Trung Quốc, nhưng đến giữa năm 1984, Liên Xô vẫn chưa bàn với Trung Quốc về "ba trở ngại". Nhưng kể từ giữa năm 1984 trở đi, Liên Xô bắt đầu điều chỉnh chính sách trong vấn đề Cam-pu-chia, thúc đẩy Việt Nam và Cam-pu-chia đi vào giải quyết vấn đề bằng giải pháp chính trị, gợi ý Việt Nam tiếp xúc với Xi-ha-núc và bắt đầu thảo luận với Mỹ, Trung Quốc về vấn đề Cam-pu-chia. Trước những tình hình khó khăn, phức tạp ở ngày càng lớn trong nước, từ năm 1986, Liên Xô chủ trương giảm bớt sự hiện diện quân sự tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản và thiết lập quan hệ với Hàn Quốc. Với Đông Dương, Liên Xô từng bước giảm cam kết với Việt Nam và Cam-pu-chia; đồng thời "muốn thúc đẩy giải quyết sớm vấn đề Cam-pu-chia để phối hợp với chiến lược chung của Liên Xô ở châu Á - Thái Bình Dương và đối với Trung Quốc, đối với Mỹ. Liên Xô coi trọng vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Cam-pu-chia và Đông Nam Á, đồng thời đang cố gắng dàn xếp với Mỹ về vấn đề Cam-pu-chia. Liên Xô theo đuổi lập trường về một giải pháp thỏa hiệp, ủng hộ Việt Nam và chính quyền Cam-pu-chia, nhưng chú ý đến lợi ích của tất cả các bên liên quan và coi trọng vai trò, lợi ích của Trung Quốc. Ngày 28 tháng 7 năm 1986, phát biểu tại Vờ-la-đi-vô-xtốc/Nga, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Goóc-ba-chốp cho rằng: "Vấn đề Cam-pu-chia không thể giải quyết ở các thủ đô xa xôi, kể cả ở Liên hợp quốc, phải giải quyết giữa Việt Nam và Trung Quốc, là hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng"1 (Trần Quang Cơ, Hồi ký và suy nghĩ, Hà Nội, 2003, tr.28). Từ năm 1989, khi Việt Nam và Cam-pu-chia chấp nhận vai trò của Liên hợp quốc, Liên Xô đẩy mạnh thảo luận giữa 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề Cam-pu-chia, trong đó tuy vẫn ủng hộ Viột Nam, tôn trọng lập trưởng của Việt Nam và Cam-pu-chia, song Liên Xô muốn có một giải phảp thỏa hiệp theo hưởng, cỏ một hỉnh thức liên hiệp các bên ở Cam-pu-chia, không lên án diệt chủng và tránh đề cập đển việc loại bỏ Khơ-tne Đỏ. Liên Xo cũng chủ trương giao một vai trò nhất định cho Liên hợp quốc trong giải quyết vấn đề Cam-pu-chia. Sau khi Liên bang Xô-viết tan rã vào tháng 12 năm 1991, Nga tiếp quản vị thế quốc tế của Liên Xô. Nga dưới thời của Tổng thống Bô-rít En-xin (1991 - 1999) chuyển sang chiến lược "đi với phương Tây cả gói", chủ trương hội nhập vào châu Áu, rút khỏi nhiều khu vực mà Nga có ảnh hưởng truyền thống, trong đó có khu vực Đông Nam Á, nhượng bộ Mỹ và phương Tây để tập trung ưu tiên củng cố trong nước. Đối với vấn đề Cam-pu-chia, trong quá trình UNTAC vào Cam-pu-chia triển khai thực thi Hiệp định Pa-ri, Nga không tham gia nhiều vào việc tái thiết Cam-pu-chia. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 09:03:32 pm 1.2.2. Chính sách của một số nước khác
Đối với Pháp Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, sau đó thiết lập sự thống trị thực dân ở Đông Dương. Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đã lần lượt trở thành một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp. Năm 1954, trước thất bại nặng nề của Pháp tại Việt Nam, đặc biệt là thất bại tại Điện Biên Phủ, tháng 7 năm 1954, Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Từ đây, vai trò và ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương bị thay thế bởi Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô. Do đó, Pháp ít bị cuốn hút vào vấn đề Cam-pu-chia so với các nước lớn khác. Tuy nhiên, Pháp vẫn là nước có ảnh hưởng nhất định đến chính trường Cam-pu-chia, đặc biệt là Xi-ha-núc, cả thời kỳ ông ta làm vua, cũng như khi Xi-ha-núc bị lật đổ, phải sống lưu vong tại nước ngoài. Sau khi Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào giải phóng nhân dân Cam-pu-chia, Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia ra đời, Xi-ha-núc đã có ý tưởng muốn chọn nước Pháp làm nơi triệu tập hội nghị quốc tế thảo luận về vấn đề Cam-pu-chia. Ý tưởng này phù hợp với mong muốn của Pháp, vì Pháp coi đây là cơ hội để trở lại và tạo ảnh hưởng mới đối với Đông Dương Do đó, Pháp đã tích cực đứng ra tổ chức các cuộc gặp giữa Xi-ha-núc và Hun-xen, đồng thời cùng với In-đô-nê-xi-a đảm nhiệm cương vị Đồng Chủ tịch Hội nghị quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia. Pháp đã làm tốt vai trò đồng Chủ tịch và nước chủ nhà, đóng góp một phần quan trọng cho việc các bên liên quan đi đến ký kết Hiệp định Pa-ri về vấn đề Cam-pu-chia vào tháng 10 năm 1991. Giai đoạn 1993- 1999, cơ quan phát triển của Pháp (AFD) đã viện trợ cho Cam-pu-chia gần 140 triệu Euro1 (Frace Diplomatie (2013), "The French Development Agency (AFD) operates in Cambodia", Cổng thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao và Phát triển Quốc tế Pháp, trang http://www.diplomatie.gouv.fr). Pháp hợp tác và hỗ trợ vào nhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế và đào tạo nghề (dựa trên ba trụ cột tiềm lực của đất nước: nông nghiệp, dệt may và du lịch); tăng cường quản trị (xây dựng nhà nước pháp quyền và thúc đẩy vai trò của pháp luật) và gắn kết xã hội (hỗ trợ cho tổ chức phi chính phủ, lĩnh vực tư nhân, chính quyền dịa phương... nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc y tế, giảng dạy và nghiên cứu), phát triển nông nghiệp và cung cấp nguồn nước sạch (cho Thủ đô Phnôm Pênh) cũng như hệ thống thoát nước, đường bộ tại Siêm Riệp, cải tạo các chợ trung tâm tại Phnôm Pênh và phát triển chiếu sáng đường phố ở thủ đô; văn hóa - giáo dục (đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu - trong đó có việc giảng dạy tiếng Pháp); Pháp cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đền Ăng-co và các di sản khác của Cam-pu-chia1 (Frace Diplomatie (2013), "The French Development Agency (AFD) operates in Cambodia", Cổng thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao và Phát triển Quốc tế Pháp, trang http://www.diplomatie.gouv.fr)... Bằng việc tích cực đóng góp cho tiến trình hòa bình Cam-pu-chia trong giai đoạn 1987 - 1991 cũng như sau khi chính phủ Liên hiệp Cam-pu-chia thành lập năm 1993, Pháp đã có vai trò quan trọng, thiết thực trong tiến trình đi đến và thực hiện giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia cũng như tiến trình xây dựng và phát triển đất nước Cam-pu-chia trong giai đoạn sau này. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 22 Tháng Sáu, 2026, 09:04:22 pm Đối với Nhật Bản
Sau Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản đã phát triển thành một siêu cường kinh tế đứng thứ hai sau Mỹ, điều này thúc đẩy Nhật Bản trở thành "quốc gia bình thường" và đảm bảo vai trò cường quốc ở châu Á và trên thế giới. Trước những biến đổi của tình hình, nhất là sau khi Mỹ thua trận và phải rời Đông Dương, Nhật Bản đã thực thi chính sách "quay trở lại châu Á". Năm 1977, Nhật Bản đã đề ra "Học thuyết Phu-cư-đa", trong đó nhấn mạnh ba điểm quan trọng: (i) Kêu gọi các nước ASEAN và ba nước Đông Dương chung sống hòa bình; (ii) Nhật Bản trở thành cầu nối và tham gia tích cực vào việc ổn định khu vực Đông Nam Á; (iii) Đặt Việt Nam vào vị trí trung tâm của Đông Dương và xác định rõ vị trí của Việt Nani trong ngoại giao Nhật Bản. Học thuyết Phu-cư-đa nêu "Hòa bình và phồn vinh cho cả khu vực Đông Nam Á" "Tạo ra mối quan hệ dựa trên sự hiểu biết lần nhau giữa Nhật Bản và các nước Đông Dương". Chính vì vậy, Nhật Bản đã tích cực tham gia vào tiến trình đi đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, và sau đó trở thành một trong những nước bảo trợ chính cho chương trình tái thiết Cam-pu-chia. Năm 1990, ông Ca-oan-nô Ma-xa-ha-ru, Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã có chuyến đi đến Phnôm Pênh trước sự phản đối của Mỹ là một sự kiện minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Nhật Bản. Tham gia vào quá trình kiến tạo hòa bình cho Cam-pu-chia, Nhật Bản chủ trương trở thành "một quốc gia hoà bình" và khái niệm "lợi ích quốc gia" được sử dụng nhiều lần hơn. Trong chuyến thăm các nước ASEAN, tháng 4 năm 1991 của Thủ tướng Nhật Bản Cai-phu tại Xinh-ga-po đã phát biểu: "Cam kết không trở thành cường quốc quân sự, Nhật Bản sẽ đóng góp tích cực hơn trong các vấn đề chính trị châu Á - Thái Bình Dương, tham gia giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, tăng cường sự hợp tác thông qua đầu tư chuyển giao công nghệ, chương trình viện trợ chính thức ODA đóng vai trò thúc đẩy hợp tác để các nước ASEAN và Đông Dương cùng phát triển và trở thành bạn hàng tốt của nhau"1 (Hoàng Thị Minh Hoa (2008), "Chính sách đối ngoại Đông Nam Á của Nhật Bản và ảnh hưởng của nó đối với ba nước Đông Dương giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh", Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, tr. 5). Có thể thấy rằng, Nhật Bản không chỉ là nước đóng vai trò chủ đạo trong các hội nghị quốc tế vì nền hòa bình của Cam-pu-chia như Hội nghị Tô-ky-ô vào năm 1990, trong đó có việc quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia Tối cao (SNC), mà còn tích cực thúc đẩy việc ký kết cũng như thực hiện Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia như: Đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc, đứng đầu UNTAC là người Nhật Bản; vận động các nước đóng góp quân, tài chính cho UNTAC (Nhật Bản đóng góp tới 1/3 tổng ngân sách dành cho UNTAC, tương đương Mỹ); tham gia trong việc thúc đẩy ổn định và phát triển của Cam-pu-chia thông qua sự hợp tác về kinh tế trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn đền Ăng-co và đóng góp cho tòa án xét xử Khơ-me Đỏ2 (Moeun Nhean (2013), Japanese Ambassador's Speech: On the special occasion of the Japanese Emperor's Birthday and the 60th (1953-2013) anniversary of diplomatic relations between Japan and Cambodia", Phnom Penh Post). Đặc biệt, trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, Nhật Bản là nhà tài trợ ODA cho Cam-pu-chia lớn nhất kể từ năm 1992 đến năm 1999 (khoảng gần 2 tỷ USD)... Nhật Bản tiến hành nhiều chương trình khác nhau trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về kinh tế và xã hội, xây dựng năng lực và đào tạo nguồn nhân lực... và hỗ trợ Cam-pu-chia trong việc nỗ lực tái thiết, xây dựng và phát triển đất nước3 (Hor Kimsay (2013), Kingdom needs to define its advantages: JICA, Báo điện tử của Phnôm Pênh Post, trang http://www. phnompenhpost.com). Chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam Á nói chung và đối với Cam-pu-chia nói riêng nhận được sự phản ứng tích cực của các nước trong khu vực, bởi vì ASEAN không chỉ cần vốn đầu tư, công nghệ và thị trường Nhật Bản, mà còn muốn Nhật Bản trở thành nhân tố cân bằng ảnh hưởng với các nước lớn khác trong khu vực. Có thể khẳng định rằng, Nhật Bản có vai trò hết sức quan trọng đối với tiến trình hòa bình và tái thiết đất nước Cam-pu-chia sau khi vấn đề Cam-pu-chia được giài quyết cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước này trong giai đoạn tiếp theo. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 06:54:20 pm 1.2.3. Chính sách của ASEAN
Lịch sử đã ghi nhận một số nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từng chống lại cách mạng ba nước Đông Dương rất quyết liệt. Tháng 8 năm 1967, ASEAN ra đời với 5 nước thành viên sáng lập là: In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po và Thái Lan (Bru-nây được kết nạp vào tháng 1 năm 1984). về mặt chính trị, 5 nước này đều đi theo con đường tư bản chủ nghĩa gần gũi với phương Tây, trong đó, Thái Lan và Phi-líp-pin gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), cùng Mỹ tham chiến tại Việt Nam và trở thành nơi đặt các căn cứ quân sự của Mỹ. Một số nước khác tuy không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh này, nhưng tranh thủ tiếp tế, chi viện tài chính, hậu cần cho Mỹ trong cuộc chiến tranh. Từ đây, Đông Nam Á hình thành hai nhóm nước đối lập nhau đó là nhóm các nước ASEAN và nhóm ba nước Đông Dương. Vì vậy, "cho dù trong văn kiện thành lập ASEAN, Tuyên bố Băng-cốc năm 1967 đã nói về thúc đẩy hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa song nền móng của Hiệp hội trong thời kỳ này là những vấn đề an ninh chính trị"1 (Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 236-237). "Mỹ dùng cái Hội ấy để làm những việc mà khối quân sự Đông Nam Á không làm được"2 (Quang Thái, Về vấn đề trung lập hóa vùng Đông Nam Á, Báo Quân đội nhân dân, ngày 11 tháng 12 năm 1971). Thực tế đó khiến cho Tuyên bố của ASEAN vào tháng 11 năm 1971, thiết lập Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập (ZOPFAN) được tiếp nhận với thái độ lạnh nhạt và nghi ngại. Nhà ngoại giao Đào Huy Ngọc đã nhận định về Tuyên bố ZOPFAN: "về hình thức là tạo ra một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của các nước ASEAN muốn tách ra, đứng ngoài những quan hệ phức tạp giữa các nước lớn; nhưng về thực chất, nó là phương cách để thực hiện chính sách không liên kết với các nước lớn, tiếp tục duy trì sự tồn tại của các nước ASEAN trong tình hình mới và tìm cách thoát khỏi sự dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dương"3 (Đào Huy Ngọc (Chủ biên), ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 77). Sau năm 1975, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, khối quân sự SEATO tan rã; tháng 2 năm 1976, các nước ASEAN ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực. Đại hội lần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhấn mạnh chủ trương Việt Nam cần góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình, tự do, trung lập và ổn định. Nhờ vậy, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và 5 nước ASEAN đã được thiết lập. Cuối năm 1976, Phi-líp-pin và Thái Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Việc Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với nhóm nước ASEAN đã tạo bầu không khí thân thiện và hòa bình ở khu vực Đông Nam Á, góp phần hòa giải những hiềm khích vốn được tạo ra bởi sự cạnh tranh của các nước lớn ngoài khu vực. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam của Việt Nam nổ ra đã làm cho các hoạt động đối ngoại giữa Việt Nam và ASEAN đổ vỡ đặc biệt là vấn đề Cam-pu-chia đã trở thành vật cản lớn nhất trong tiến trình hoà giải khu vực Đông Nam Á. Cho là "Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia", kết hợp bị các thế lực tuyên truyền, kích động, dựng nên cái gọi là "mối đe dọa bị Việt Nam tiến công", các nước ASEAN tìm thấy điểm chung là "nỗi ám ảnh về sức mạnh và ảnh hưởng của Việt Nam đối với khu vực"1 (Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, Sđd, tr.236). Do đó, từ năm 1979 đến năm 1989, ASEAN đều bảo trợ nghị quyết của Liên hợp quốc về Cam-pu-chia, đòi rút quân đội nước ngoài (Quân đội nhân dân Việt Nam) khỏi Cam-pu-chia và ủng hộ ghế của Khơ-me Đỏ tại Liên hợp quốc. Dưới tác động của các nước ASEAN, số nước bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết chống Việt Nam do ASEAN đề xuất tăng từ 91 nước năm 1979 lên 114 nước vào năm 1985. ASEAN đã cùng Trung Quốc thúc đẩy việc thành lập "Chính phủ liên hiệp ba phái" ở Cam-pu-chia vào tháng 6 năm 1982 tại Ma-lai-xi-a để làm ngọn cờ lôi kéo các thế lực từ bên ngoài tham gia chống cách mạng Cam-pu-chia và Đông Dương; ASEAN và Mỹ phát triển một chương trình viện trợ kinh tế, quân sự và đào tạo cho các phái Khơ-me phản động để chống lại chính quyền cách mạng non trẻ và công cuộc hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia cũng như chống Việt Nam. Hành động của các nước ASEAN cùng các thế lực phản động đã làm cho tình hình Cam-pu-chia, Đông Dương và đặc biệt cách mạng Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Trong ASEAN, Thái Lan là nước can thiệp sâu rộng vào vấn đề Cam-pu-chia. Trong hơn một thập kỷ, Thái Lan cùng với các nước ASEAN khác liên kết với các nước lớn và các nước phương Tây tích cực ủng hộ và giúp đỡ Khơ-me Đỏ trên mọi phương diện. Sau khi chế độ Pôn Pôt bị đánh đổ, Thái Lan trở thành "đất thánh" để lực lượng phản động Đông Dương, nhất là lực lượng Khơ-me Đỏ thành lập các căn cứ ẩn náu, tồn tại và hoạt động chống phá cách mạng Cam-pu-chia và Việt Nam. Đáng chú ý là, với âm mưu chống phá Việt Nam - Đông Dương lâu dài, các nước lớn đã thỏa hiệp và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc gây sức ép và lôi kéo Thái Lan, biến Thái Lan thành "đất thánh" và là địa bàn trung chuyển tài chính, vũ khí cho các phái Khơ-me phản động, kể cả cho Khơ-me Đỏ. Mỹ đã liên tiếp cử quan chức ngoại giao, quân sự đến Thái Lan nhằm thúc đẩy Thái Lan chấp nhận những điều kiện của Mỹ, lôi kéo Thái Lan vào chiến lược chống phá Việt Nam - Đông Dương, thông qua việc thổi phồng "mối đe dọa" Việt Nam và cam kết bảo vệ Thái Lan trước khả năng bị Việt Nam "xâm lược". Các Cơ quan tình báo, các cơ chế viện trợ, truyền thông các nước lớn đứng chân ở Thái Lan để chỉ đạo hà hơi tiếp sức cho Khơ-me Đỏ ở biên giới và nội địa Cam-pu-chia. Thậm chí, quân đội Thái Lan còn nhiều lần dùng máy bay, tàu thuyền xâm nhập lãnh thổ Cam-pu-chia, dùng pháo binh bắn yểm trợ cho quân Khơ-me Đỏ xâm nhập hoặc rút lui qua biên giới1 (Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, Sự thật về quan hệ Thái Lan - Cam-pu-chia và Thái Lan - Lào, Nxb Sự thật, Hà Nội năm 1985. Ngoài ra, có thể xem thêm Kenton Clymer, sđd, tr. 138 - 170 và Tạ Ích Hiển, sđd, tr. 345 - 350). Trước năm 1987, khi các nước Đông Dương liên tiếp đưa ra các sáng kiến hòa bình, đề nghị các nước ASEAN đi vào đối thoại để tìm giải pháp làm cho Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, ổn định, thì Thái Lan lại khước từ và tự coi mình là nước "đứng ở tuyến đầu" trong các nước ASEAN để chống ba nước Đông Dương. Vào những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ XX, các nước ASEAN đều có nhu cầu xây dựng một Đông Nam Á hòa bình và ổn định để có thể phát triển kinh tế - xã hội nên muốn tìm giải pháp chung cho vấn đề Cam-pu-chia. Một mặt, lo ngại bất ổn chính trị của Cam-pu-chia có thể gây ra những bất ổn ở khu vực, nên ASEAN cố gắng đóng vai trò quan trọng trong giải quyết các xung đột chính trị và tiến trình hoà bình ở Cam-pu-chia2 (Sam ATH Sambath Sreysour & OUM Sothea (2016), Cambodia in the ASEAN context, p. 314. In Cambodia's Foreign Relations in Regional and Global Contexts, edited by Deth Sok Udom, Sun Suon, Serkan Bulut, Konrad-Adenauer-Stiftung). Mặt khác, nhiều nhà lãnh đạo ASEAN đã nhận thức rõ kẻ đắc lợi trong tình hình Đông Nam Á bất ổn chính là các nước lớn ở ngoài khu vực1 (Vũ Dương Ninh, "Ba mươi năm trên những chặng đường hội nhập quốc tế (1975-2005)", Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, số 1 - 2005, tr. 3). Các nước ASEAN thấy rằng, việc cô lập Việt Nam cũng có nghĩa là tự ràng buộc mình vào lợi ích của các nước lớn trong khi mối đe doạ lợi ích quốc gia thực sự và lâu dài không phải đến từ Việt Nam. Hơn nữa, giữa bối cảnh các nước lớn đi vào hòa hoãn, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực, trong đó có "vấn đề Cam-pu-chia", các nước ASEAN lo ngại họ có thể tìm giải pháp bất lợi cho khu vực và mất vị thế của ASEAN, do đó ASEAN từng bước điều chỉnh quan hệ với Việt Nam, hợp tác tìm giải pháp cho "vấn đề Cam-pu-chia" có lại cho hòa bình, ổn định trong khu vực và nâng cao vai trò của các nước ASEAN. Bên cạnh đó, giữa Việt Nam và các nước ASEAN còn có nhiều lợi ích tương đồng về an ninh trên lãnh thổ và lãnh hải. Do vậy, các nước ASEAN tuy vẫn phản đối Việt Nam đưa quân sang Cam-pu-chia, nhưng đã có những dấu hiệu nỗ lực muốn giảm đối đầu trong khu vực để chuyển sang đối thoại. Đặc biệt, từ khi chứng kiến thiện chí của Việt Nam trong việc chủ động rút một phần Quân tình nguyện ở Cam-pu-chia về nước từ tháng 7 năm 1982, các nước ASEAN dần tách khỏi lập trường của những nước hậu thuẫn cho Cam-pu-chia Dân chủ để từng bước đi vào đối thoại với Việt Nam2 (Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.332). Tháng 7 năm 1987, cuộc gặp gỡ giữa Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam (đại diện cho ba nước Đông Dương) và Bộ trưởng Ngoại giao In-đô-nê-xi-a (Đại diện cho các nước ASEAN) tại Thành phố Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại giao In-đô-nê-xi-a, qua đó khai thông quan hệ song phương Việt Nam - In-đô-nê-xi-a, vừa mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác giải quyết vấn đề Cam-pu-chia và xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình ổn định và phát triển. Cuộc gặp gỡ này đưa đến bản Thông cáo chung, mở đầu quá trình đối thoại nhằm giải quyết vấn đề Cam-pu chia, hình thành các diễn đàn JIM (các cuộc gặp không chính thức về vấn đề Cam-pu-chia giữa hai đại diện của nhóm nước ASEAN và Đông Dương) đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ đối đầu giữa Đông Dương và ASEAN xung quanh vấn đề Cam-pu-chia và mở ra thời kỳ của những cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Hun-xen và Xi-ha-núc. Đặc biệt, tháng 8 năm 1988, Chạt-ti-chai Sô-ha-van sau khi trở thành Thủ tướng Thái Lan đã có sự điều chỉnh chính sách đối với các nước Đông Dương, nhưng vẫn giữ thái độ hai mặt. Tuyên bố muốn "biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường"1 (Ý tưởng này được Thủ tướng Thái Lan Chạt-ti-chai Sô-ha-van thể hiện trong bài phát biểu trước Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở thủ đô Washington, D.C.(Mỹ), ngày 16-6-1990. Xem Clark D. Neher (2013), Southeast Asia in the New International Era, Boulder: Westview Press, p.24), nhưng thực tế quân đội và chính quyền Thái Lan vẫn không ngừng viện trợ cho Khơ-me Đỏ. Sau khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết vào tháng 10 năm 1991, Mỹ đã gây sức ép và nhiều lần phản đối Thái Lan tiếp tục có quan hệ với Khơ-me Đỏ. Đại sứ Mỹ tại Thái Lan tuyên bố Mỹ muốn Khơ-me Đỏ bị cắt đứt mọi mối liên hệ. Một quan chức Mỹ đã phát biểu tại một cuộc điều trần của Quốc hội Mỹ là "giờ đây Thái Lan đã thay thế Trung Quốc trở thành nước viện trợ lớn nhất cho Khơ-me Đỏ"1 (Craig Etcheson, "Without Any Pretensions, Dump the Khmer Rouge", the Nation (Bangkok), số ra ngày 28 tháng 9 năm 1993). Từ cuối năm 1994, dưới sức ép mạnh của Mỹ và cộng đồng quốc tế, Thái Lan mới thay đổi hẳn thái độ đối với Khơ-me Đỏ. Cũng từ đó, Thái Lan ủng hộ chính sách hòa giải dân tộc của Cam-pu-chia, ngầm khuyến khích các lực lượng Khơ-me Đỏ ly khai về với chính phủ nhưng không muốn đưa Khơ-me Đỏ ra xét xử2 (Trần Huy Chương, sđd, tr. 33). Sự thay đổi từ phía Thái Lan góp phần quan trọng cho quá trình đàm phán tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia của các phe phái chính trị ở Cam-pu-chia. Trên cơ sở đó, tháng 2 năm 1989, Hội nghị không chính thức JIM-2 được tổ chức tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a) ra Tuyên bố chung khẳng định: Việt Nam rút hết quân khỏi Cam-pu-chia trước ngày 30 tháng 9 năm 1989; chấm dứt sự can thiệp và viện trợ vũ khí từ bên ngoài cho các phe phái chính trị ở Cam-pu-chia, đồng thời tìm giải pháp ngăn chặn sự quay lại của chế độ diệt chủng. Các bên ngừng băn, thỏa thuận một giải pháp chính trị toàn diện và tổng tuyển cử dưới sự giám sát của quốc tế; xây dựng một nước Cam-pu-chia độc lập, chủ quyền, hòa bình và không liên kết phải được các bên Cam-pu-chia giải quyết bằng con đường đàm phán3 (Sorpong Peou (1997), Conflict Neutralization in the Cambodia Ear: From Battlefield to Ballot-box, New York: Oxford University Press p.37). Cùng với các diễn đàn JIM, các cuộc gặp song phương giữa các nước và các phe phái ở Cam-pu-chia đã được tổ chức như các cuộc gặp giữa Hun-xen - Xi-ha-núc và các diễn đàn Việt - Mỹ, Việt Nam - Thái Lan, Cam-pu-chia - Thái Lan... Không chỉ đối thoại song phương giữa hai khối (JIM), các nước ASEAN đã tham gia tích cực trong Hội nghị quốc tế đa phương về "vấn đề Cam-pu-chia" tại Pa-ri (vòng 1: từ 30 tháng 7 đến 1 tháng 8, vòng 2: từ 28 tháng 8 đến 30 tháng 8 năm 1989). In-đô-nê-xi-a là một trong hai đồng chủ tịch trong Hội nghị Pa-ri, tích cực điều phối lợi ích, quan điểm của các bên tham gia. Sau khi thỏa thuận khung về vấn đề Cam-pu-chia đạt được vào ngày 28 tháng 8 năm 1990 Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết vào ngày 23 tháng 10 năm 1991. Quá trình triển khai Hiệp định Pa-ri, trừ Bru-nây, các nước ASEAN còn lại (In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po và Thái Lan) đều có quân tham gia UNTAC với mong muốn xây dựng một nước Cam-pu-chia độc lập, trung lập coi đó là điều kiện có lợi nhất cho sự ổn định của khu vực để ASEAN có thể tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 1995 đến 1999, ASEAN lần lượt kết nạp Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma làm thành viên để đối phó với những thách thức mới và nâng cao sức mạnh, tiếng nói của ASEAN trên trường quốc tế. Việc các nước ASEAN điều chỉnh chính sách đã giúp Nhà nước và Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia nâng cao vị thế và uy tín, đồng thời có tác dụng cô lập hơn nữa Khơ-me Đỏ trên trường quốc tế. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 06:55:57 pm 1.2.4. Chính sách của Liên hợp quốc
Liên hợp quốc có vai trò rất lớn đối với tiến trình giải quyết xung đột và tái thiết hòa bình tại Cam-pu-chia, song trong từng giai đoạn thể hiện khác nhau. Trong giai đoạn 1979-1989, vai trò của Liên hợp quốc đối với Cam-pu-chia chưa thể hiện rõ ràng bởi có quá nhiều nước lớn, nhỏ cùng tham gia bàn bạc vấn đề Cam-pu-chia và không có tiếng nói thống nhất. Ngay sau khi chế độ diệt chủng Pôn Pốt bị lật đổ, Hội Luật gia dân chủ quốc tế (AIJD) đã cử đoàn điều tra đến Cam-pu-chia từ 26 tháng 4 đến 5 tháng 6 năm 1979. Qua 40 ngày điều tra thực tế, AIJD sử dụng khái niệm "xứ sở của đầu lâu" để chỉ cảnh giết chóc kinh hoàng do Khơ-me Đỏ gây ra đối với nhân dân mình. AIJD cũng nhận thấy rõ ràng rằng "sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Cam-pu-chia là về quân sự, nhưng cũng là dân sự, đó chính là sự "ủng hộ" cho các dân tộc đấu tranh để tự được giải phóng được nói trong Nghị quyết số 2625 (nghị quyết ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong đó đã thông qua bản "Tuyên bố về các nguyên tắc của Luật quốc tế liên quan đến các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc"). Sự giúp đỡ này là hợp pháp và hợp pháp hóa bởi các hoàn cảnh"1 (Lưu Văn Lợi, Ngoại giao Việt Nam 1945 - 1995, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 442-443). Các kết quả điều tra trên đều được AIJD báo cáo đầy đủ, chi tiết với Liên hợp quốc. Ngoài ra, Liên hợp quốc còn nhận được rất nhiều báo cáo từ các thành viên, cũng như các cơ quan thuộc quyền, song không bảo vệ dân tộc Cam-pu-chia, càng không lên án hành động diệt chủng của chính quyền Pôn Pốt mà còn bảo vệ Khơ-me Đỏ khi trao cho chúng quyền đại diện hợp pháp của nhân dân Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc. Hành động nhân đạo của Việt Nam cửu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng chẳng những không được Liên hợp quốc hoan nghênh, mà trái lại, Liên hợp quốc còn đồng thanh với các thế lực thù địch thực hiện cuộc bao vây, cấm vận Việt Nam. Sở dĩ Liên hợp quốc có thái độ như vậy, là do sự chi phối của các nước lớn. Tháng 6 năm 1981, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã triệu tập một hội nghị quốc tế bàn về vấn đề Cam-pu-chia với sự tham gia của 79 quốc gia. Tuy nhiên, hội nghị đã gặp bế tắc vì chủ yếu bàn về việc Việt Nam can thiệp vào Cam-pu-chia chứ không phải là tìm kiếm giải pháp hòa bình1 (S.R. Ratner, The New UN Peacekeeping, Building Peace in Lands of Conflict after the Cold War (New York, 1995), p. 141). Những năm tiếp sau đó, các cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc tiếp tục đưa ra yêu cầu về việc rút quân của Việt Nam, thiết lập một chính quyền tạm thời, hòa giải quốc gia dưới sự đứng đầu của Hoàng thân Xi-ha-núc, trao trả độc lập và chủ quyền lãnh thổ cho Cam-pu-chia, quyền tự quyết tương lai của Cam-pu-chia... Trong giai đoạn 1989-1991, Liên hợp quốc đã tham gia sâu vào quá trình tìm kiêm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. Sau khi Việt Nam rút hoàn toàn Quân tình nguyện khỏi Cam-pu-chia (9.1989) Liên hợp quốc đã quan tâm nhiều hơn, thực chất hơn đến vấn đề Cam-pu-chia. Tại phiên họp thứ 44 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc ở Niu-oóc (10.1989), Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã chỉ rõ vấn đề cơ bản còn tồn tại là vấn đề hòa hợp dân tộc, thực chất thuộc về nội bộ của Cam-pu-chia. Đây cũng là cơ sở để từ tháng 12 năm 1989 đến giữa 1991 các nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (P5) tiến hành các cuộc gặp cấp cao ở Niu-oóc và Pa-ri để áp đặt giải pháp cho vấn đề Cam-pu-chia, trong đó P5 đã xem xét đề xuất của Ngoại trưởng Ô-xtrây-li-a Ga-rét E-van về việc tăng cường vai trò của Liên hợp quốc trong tiến trình giài quyết xung đột ở Cam-pu-chia, cụ thể: Trong 2 ngày 15-16 tháng 12 năm 1989, P5 họp cấp Thứ trưởng Ngoại giao lần đầu tiên tại Pa-ri, ra thông báo về 16 nguyên tắc chỉ đạo tìm kiếm một giải pháp chính trị toàn bộ cho vấn đề Cam-pu-chia, trong đó nhấn mạnh bảo đảm quyền tự quyết của Cam-pu-chia thông qua một cuộc tổng tuyển cử tự do, công bằng và dân chủ; tăng cường vai trò của Liên hợp quốc... Tiếp đó, P5 họp Vòng 2 cấp Thứ trưởng tại Niu-oóc từ 11 đến 12 tháng 2 năm 1990 để bàn về 2 nội dung then chốt trong giải pháp chính trị là vấn đề quân sự và cơ chế chính quyền quá độ, nhưng không đạt được thỏa thuận cụ thể. Từ 12 đến 13 tháng 3 năm 1990, P5 lại họp Vòng 3 cấp Thứ trưởng ở Pa-ri để thỏa thuận các nguyên tắc chính về 3 vấn đề khác là tổ chức tổng tuyển cử, lập Hội đồng Dân tộc tối cao (SNC) và quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia... Từ 25 đến 27 tháng 5 năm 1990, P5 họp Vòng 4 cấp Thứ trưởng tại Niu Oóc. Tại cuộc họp này, Trung Quốc đưa ra hai phương án: Hoặc là lập SNC gồm 4 bên làm nhiệm vụ chính quyền lâm thời trong thời kỳ quá độ ở Cam-pu-chia hoặc là giao cả cho Liên hợp quốc làm chức năng quản lý hành chính trong thời kỳ quá độ, còn SNC chỉ có vai trò tượng trưng. Vòng 4 không đạt được thỏa thuận do lợi ích của các bên còn khác biệt lớn về vai trò của Liên hợp quốc và các bên Cam-pu-chia chưa đạt được thỏa thuận về mặt nội bộ nên chưa quyết định giao cho ai. Ngày 17 tháng 7 năm 1990, P5 họp Vòng 5 cấp Thứ trưởng, đạt thỏa thuận về 2 nội dung quan trọng là tập kết và giải giáp các lực lượng vũ trang ở Cam-pu-chia; Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử và Liên hợp quốc sẽ kiểm soát 5 Bộ quan trọng nhất của chính phủ1 (Theo những quyết nghị đã đưa ra, Liên hợp quốc sẽ trực tiếp quản lý 5 lĩnh vực của chính quyền mới gồm Ngoại giao, Phòng thủ, An ninh, Thông tin và Tài chính để tạo môi trường chính trị trung lập cho việc bầu cử công bằng, tự do cũng như việc giám sát, hướng dẫn các nhiệm vụ khác của hai chính quyền Cam-pu-chia) và SNC chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 06:57:05 pm Ngày 24 đến 27 tháng 8 năm 1990, P5 họp Vòng 6 cấp Thứ trưởng tại Niu Oóc, nhất trí hoàn toàn văn kiện khung về giải pháp chính trị tổng thể cho Cam-pu-chia gồm 5 điểm then chốt: (i) sắp xếp về chính quyền quá độ ở Cam-pu-chia; (ii) sắp xếp lực lượng vũ trang các phái Khơ-me; (iii) Tổng tuyển cử dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc; (iv) vấn đề nhân quyền (Mỹ - Trung thỏa hiệp, 15 đi vấn đề diệt chủng, chỉ nhắc chung chung dưới cái mũ nhân quyền) và (v) Bảo đảm quốc tế. Hội nghị ra Thông cáo cho biết 5 vấn đề này cùng với Thỏa thuận của Hội nghị quốc tế Pa-ri về hồi hương và tái thiết Cam-pu-chia sẽ tạo khung cho giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Cam-pu-chia.
Tháng 9 năm 1990, các bên tuyên bố thành lập SNC, thể hiện rõ thắng lợi ban đầu của Liên hợp quốc trong việc thuyết phục các đảng phái chuẩn bị cho quá trình chuyển giao, chuẩn bị bầu cử và bảo vệ nhân quyền1 (United Nations Chronicle, vol. 27, "Big Five Reach Final Agreement on Framework for Settlement", no. 4,1990, p. 25). Ngày 21 đến 23 tháng 12 năm 1990, hai đồng Chủ tịch Hội nghị quốc tế Pa-ri về Cam-pu-chia và đại diện Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã họp với SNC tại Pa-ri để thông qua Tuyên bố cuối cùng chấp nhận dự thảo khung Hiệp định do P5 và hai đồng Chủ tịch soạn thảo. Như vậy, chỉ sau khi P5 chốt xong thỏa thuận khung, họ mới gặp SNC để ép SNC chấp nhận giải pháp của P5. Ngày 26 đến 28 tháng 8 năm 1991, SNC họp tại Pát-tay-a, Thái Lan, chấp nhận toàn bộ văn kiện khung và dự thảo Hiệp định của P5. Cuối tháng 8 năm 1990 đến tháng 8 năm 1991 là khoảng thời gian đấu tranh căng thẳng nhất xoay quanh việc SNC có chấp nhận giải pháp chính trị toàn bộ mà P5 đưa ra hay không. Ngày 30 tháng 8 năm 1991, P5 họp với SNC đạt thỏa thuận về triệu tập Hội nghị Pa-ri về Cam-pu-chia trước cuối tháng 10 năm 1991. Ngày 20 tháng 9 năm 1991, P5 họp lại với SNC ở Niu-oóc và đến ngày 24 tháng 9 năm 1991, Hun-xen chấp nhận toàn bộ dự thảo Hiệp định do P5 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 1990 và quyết định rút tất cả các bổ sung và bảo lưu. Ngày 23 tháng 10 năm 1991, sau một quá trình dài đàm phán riêng rẽ giữa các bên, dưới sự chủ trì của Liên hợp quốc, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết mở ra thời kỳ quá độ ở Cam-pu-chia và hướng tới một cuộc tổng tuyển cử do Liên hợp quốc tổ chức để lập ra một chính phủ Cam-pu-chia mới. Giai đoạn 1992 - 1993, sau khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết, được sự ủy quyền của các nước lớn, Liên hợp quốc đã lập ra Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia (UNTAC) và bắt đầu triển khai hoạt động tại Cam-pu-chia vào ngày 15 tháng 3 năm 1992, với 8 sứ mạng chính1 (Bao gồm: (i) Giám sát việc ngừng bắn, (ii) Kiểm chứng về việc rút quân đội nước ngoài, (iii) Tập trung quân đội 4 phái để giải ngũ, (iv) Tạo ra môi trường chính trị trung lập, (v) Thực hiện tái thiết Cam-pu-chia, (vi) Tổ chức việc hồi cư và nhập cư, (vii) Tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 2 năm và (viii) Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia), trong đó trọng tâm là phải tổ chức thành công một cuộc tổng tuyển cử có tính đại diện cho toàn thể dân tộc Khơ-me để xây dựng lại hệ thống chính trị, thành lập chính quyền mới, phục hồi chủ quyền và nhà nước Cam-pu-chia. Các nước lớn (P5) đều thông qua nhiều hình thức và biện pháp khác nhau để can thiệp vào công việc nội bộ của Cam-pu-chia dưới danh nghĩa Liên hợp quốc. Họ có vai trò quan trọng trong hầu hết các vấn đề trọng yếu để hình thành nên nhà nước và hệ thống chính trị ở Cam-pu-chia về sau như viết lại Hiến pháp, kiểm soát các lực lượng vũ trang của các bên Khơ-me đối lập (nhưng thực chất chủ yếu nhằm vào CPP), vãn hồi trật tự, hồi hương người tị nạn, tái thiết đất nước... Sau cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ở Cam-pu-chia từ ngày 23 đến 28 tháng 5 năm 1993, UNTAC chấm dứt hoạt động tại Cam-pu-chia. Sau khi UNTAC rút khỏi Cam-pu-chia, ảnh hưởng của Liên hợp quốc đã giảm hẳn, chỉ còn duy trì Cơ quan đại diện thường trú giống như tại các nước thành viên độc lập, có chủ quyền khác trên thế giới. Hoạt động của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ chuyển tiếp tại Cam-pu-chia tuy chỉ diễn ra trong thời gian không dài, nhưng là một trong những hoạt động thành công nhất của Liên hợp quốc trong sứ mệnh "giải quyết hòa bình". Lần đầu tiên trong lịch sử, cộng đồng quốc tế giao cho Liên hợp quốc sắp xếp cả nền chính trị, quân sự, kinh tế của một quốc gia thành viên như là một phần việc xây dựng hòa bình. Đó chính là bước phát triển mới trong nhiệm vụ của lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc sau Chiến tranh Lạnh. Quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, Liên hợp quốc đã giải quyết khá ổn thỏa mặt nội bộ của vấn đề Cam-pu-chia, đem lại hòa bình cho nhân dân Cam-pu-chia, giúp đỡ người tị nạn trở về quê hương, giải quyết nơi ăn, chốn ở và đất canh tác cho hàng trăm nghìn người tị nạn. Liên hợp quốc còn bố trí cho gần 150 nghìn binh sĩ các phe phái Cam-pu-chia giải ngũ, trở về cuộc sống đời thường theo tinh thần Hiệp định Pa-ri. Đặc biệt, Liên hợp quốc đã tổ chức khá suôn sẻ cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ở Cam-pu-chia để sau đó Quốc hội thành lập nên Chính phủ mới của Cam-pu-chia. Bên cạnh đạt được những thành công nêu trên, thì quá trình triển khai Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia, Liên hợp quốc có những vấn đề không thành công, như: Không thực hiện được việc ngừng bắn hoàn toàn và không thể giải giáp lực lượng Khơ-me Đỏ theo quy định của Hiệp định Pa-ri. Liên hợp quốc không làm chuyển biến thái độ ngoan cố bất hợp tác của Khơ-me Đỏ. Thái độ tẩy chay bầu cử, đe dọa khủng bố, tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Pa-ri, một lần nữa phơi bày bàn chất ngoan cố, đi ngược lại với mong muốn hòa bình của người dân Cam-pu-chia và cộng đồng quốc tế của Khơ-me Đỏ. Nhìn ở góc độ khác, việc Khơ-me Đỏ chống lại nhân dân Cam-pu-chia, chống lại Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia, vô hình trung lại minh chứng cho sai lầm của Liên hợp quốc khi tổ chức quốc tế này duy trì sự công nhận Cam-pu-chia Dân chủ là đại diện hợp pháp của nhân dân Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc sau khi bị lật đổ. Đây là một trong những rào cản lớn làm phức tạp thêm tình hình Cam-pu-chia, mà bản chất của vấn đề là Liên hợp quốc đã bị một số nước lớn đạo diễn, thao túng, làm rào cản, biến tổ chức này thành "công cụ" phục vụ cho lợi ích của họ, điều đó có nghĩa là sự cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia sau nạn diệt chủng chỉ là hình thức. Bên cạnh đó, cuộc bầu cử tại Cam-pu-chia vào tháng 5 năm 1993 do Liên hợp quốc bảo trợ đã không được tổ chức chặt chẽ thiếu công bằng, dẫn đến kết quả bầu cử phản ánh không khách quan, do đó tiến trình dân chủ hóa, phát triển của Cam-pu-chia vẫn tiếp tục kéo dài và cần đến sự tham gia, đóng góp của các nước trong khu vực và quốc tế. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 06:59:51 pm 1.2.5. Vấn đề Cam-pu-chia nhìn từ góc độ khu vực và quốc tế
Về phương diện quốc tế, sau khi chế độ Cam-pu-chia dân chủ sụp đổ, các nước lớn và ASEAN nêu ra cái gọi là "vấn đề Cam-pu-chia", "sự hiện diện của quân đội Việt Nam tại Cam-pu-chia" và "trách nhiệm lớn lao của cộng đồng quốc tế là phải bảo vệ quyền tự quyết", đồng thời cũng đưa ra các biện pháp nhằm "bảo vệ chủ trương không can thiệp bằng vũ lực vào công việc nội bộ của các nước khác", "phải tuyệt đối tuân thủ Nghị quyết của Liên hợp quốc "Việt Nam phải đơn phương rút toàn bộ quân đội ra khỏi Cam-pu-chia vô điều kiện", "cộng đồng quốc tế cần tăng cường sự ủng hộ và hỗ trợ các lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia" (Chính phủ liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ), "tổ chức hội nghị quốc tế nhằm thảo luận về vấn đề Cam-pu-chia theo sáng kiến của các nước ASEAN", v.v..., trong đó nguy hiểm nhất là các biện pháp "bao vây chính trị và kinh tế" của Mỹ, các nước phương Tây và một số nước trong đó có Nhật Bản đối với Cam-pu-chia và Việt Nam. Những biện pháp này là sự trừng phạt bất công đối với Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, đối với người dân Cam-pu-chia - những nạn nhân của chế độ Cam-pu-chia dân chủ. Ngược lại, nó ủng hộ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa-ri - Khiêu Xăm-phon1 (Khiêu Xăm-phon, sinh năm 1931, là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cam-pu-chia dân chủ từ năm 1976 đến 1979 và là nhân vật quyền lực thứ tư của Khơ-me Đỏ (sau Pôn Pốt, Nuôn Chia và Iêng Xa-ri)), lực lượng nòng cốt trong Chính phủ liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ tại Cam-pu-chia cũng như tại Liên hợp quốc. Trái ngược với những quan điểm nêu trên, tháng 9 năm 1979, Chính phủ Anh và Ô-xtrây-li-a2 (Cùng là thành viên của Liên hợp quốc) đã ra tuyên bố không công nhận chế độ Cam-pu-chia dân chủ. Đặc biệt, ngày 7 tháng 7 năm 1980, Chính phủ Ấn Độ còn ra tuyên bố công nhận Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia. Tiếp đó, phong trào Các quốc gia không liên kết, phong trào Hòa bình thế giới, các tổ chức dân chủ tiến bộ quốc tế bày tỏ sự ủng hộ đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Cam-pu-chia. Một số quốc gia khác còn công nhận Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, các tổ chức quốc tế có cả của Liên hợp quốc cũng bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao và đặt văn phòng đại diện tại Thủ đô Phnôm Pênh. Tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 của các quốc gia không liên kết diễn ra từ ngày 3 đến 9 tháng 9 năm 1979 tại Thủ đô La Ha-ba-na (nước Cộng hòa Cuba), nhận lời mời của Chủ tịch nước Cuba Phi-đen Ca-xtơ-rô đồng thời là Chủ tịch Hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia Hun-xen đã tham dự hội nghị và có những đề xuất quan trọng. Nhằm góp phần bảo vệ tình đoàn kết, thống nhất nội bộ của Phong trào các quốc gia không liên kết, Hun-xen đề nghị để trống ghế của Cam-pu-chia tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời yêu cầu công nhận quyền đại diện của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia tại tổ chức này. Giải pháp của Hun-xen đưa ra được Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 Phong trào các quốc gia không liên kết đánh giá cao và nhất trí thông qua với đa số phiếu ủng hộ. Trong bài diễn văn bế mạc hội nghị, Chủ tịch Cuba Phi-đen Ca-xtơ-rô tuyên bố: "Kẻ thủ của Phong trào các quốc gia không liên kết của chúng ta đã dự đoán rằng, phong trào của chúng ta sẽ có những rạn nứt, sẽ phải đi đến một lối rẽ. Tuy nhiên từ trước đến nay, chủng ta đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giờ đây chúng ta có thể nhận định rằng, phong trào của chúng ta có sự thống nhất cao, độc lập vững chắc và phục vụ lợi ích của chủng ta hiệu quả hơn bao giờ hết". Đối với Hội nghị Quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia trong khuôn khổ Liên hợp quốc, ngày 19 tháng 5 năm 1981, Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam cùng gửi công hàm ngoại giao đến ông Gia-vi-ê Pê-rét đờ Cu-e-la, Tổng Thư ký Liên hợp quốc và đề nghị xem xét vấn đề Hội nghị Quốc tế về Cam-pu-chia. Phản ứng của ba nước Đông Dương là dễ hiểu, bởi trong khi dư luận thế giới thể hiện quan điểm tích cực khi chế độ diệt chủng Pôn Pốt bị lật đổ và sự hồi sinh thần kỳ của nhân dân Cam-pu-chia thì phán quyết của Liên hợp quốc vẫn công nhận chế độ diệt chủng Cam-pu-chia dân chủ. Ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1981, Hội nghị lần thứ tư Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương đã diễn ra tại Phnôm Pênh. Một lần nữa cả ba nước đề nghị triệu tập một hội nghị trong khuôn khổ khu vực giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương nhằm thảo luận về các vấn đề trong khu vực có liên quan đến hai bên, với sự tham dự trong vai trò là quan sát viên và nhân danh Tổng Thư ký Liên hợp quốc cùng một số quốc gia có liên quan và được sự đồng ý của hai bên. Các nước Đông Dương đề nghị tổ chức hội nghị này vào khoảng trung tuần tháng 7 năm 1981 tại thành phố Ra-gun hoặc tại thủ đô một quốc gia châu Á nào đó mà hai bên cùng thống nhất. Tuy nhiên, trái với mong muốn của các nước Đông Dương, hội nghị quốc tế do Liên hợp quốc triệu tập vào tháng 7 năm 1981 càng khiến cho tình hình khu vực trở nên căng thẳng và phức tạp hơn. Hội nghị không đạt được những thỏa thuận như dự kiến, các nước Đông Dương tiếp tục tìm kiếm cơ hội để cùng tìm ra phương hướng cho vấn đề khu vực. Hội nghị thứ sáu Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 6 đến 7 tháng 7 năm 1982. Các bộ trưởng đưa ra một số đề nghị quốc tế, đặc biệt là Thái Lan thấy được chính sách thiện chí và phong trào đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Cam-pu-chia. Hội nghị đánh giá tình hình khu vực Đông Nam Á đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai đường lối trái ngược nhau. Một là đường lối hàn gắn hòa bình và lại là đường lối gây căng thẳng bởi chính sách thù địch của lực lượng phản động quốc tế và các thế lực đế quốc. Cả ba nước Đông Dương đã nhận định, chiến lược của một số nước lớn lần này khác với chiến lược mà Mỹ từng áp dụng trước đây trong cuộc chiến tranh xâm lược Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam từ năm 1970 đến 1975. Dư luận thế giới và nhân dân các nước Đông Dương đã nhìn thấy rõ âm mưu xâm lược của Mỹ và toan tính củ các nước ASEAN. Tuy nhiên, chiến lược của một số nước lớn khác là chống lại ba nước Đông Dương bằng cách thúc đẩy các nước ASEAN đóng vai trò thay thế. Ngoài việc phá hoại bằng lực lượng quân sự cũng như bao vây kinh tế, các thế lực thù địch còn sử dụng các biện pháp gây áp lực tới Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia cả về chính trị và ngoại giao. Đối mặt với những thủ đoạn và hoạt động thù địch này, ông Hun-xen tuyên bố mạnh mẽ: "Đế quốc và các thế lực thù địch cũng như các quốc gia ASEAN đi theo đế quốc không có khả năng chặn cửa ngăn chúng ta đi ra khỏi nhà của mình. Trái lại, chúng ta đã đi ra ngoài bằng một lối đi khác và lối đi đó bảo đảm cho hòa bình và phát triển của chúng ta". Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, ông Hun-xen đã kêu gọi "tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân, trong quân đội, tăng cường tình đoàn kết quốc tế; Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng và luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu; Tích cực tăng gia sản xuất, làm sao để thu được kết quả tốt; Tiếp tục củng cố thực lực cách mạng trên mọi lĩnh vực". Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 07:02:40 pm Đường lối hàn gắn hòa bình và hợp tác mà ba nước Đông Dương đề xuất nhận được sự ủng hộ từ dư luận quốc tế. Chính sách đối đầu và gây căng thẳng của lực lượng phản động quốc tế cấu kết với Mỹ và các nước ASEAN đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân yêu chuộng hòa bình và mong muốn ổn định ở Đông Dương. Cùng với đó, cũng có một số lãnh đạo ASEAN đã liên tục khẳng định mối đe dọa này xuất phát từ lực lượng bên ngoài, chứ không phải xuất phát từ tình hình Cam-pu-chia. Thậm chí, nội bộ Thái Lan cũng có những bất đồng xung quanh vấn đề tiếp tục ủng hộ nước lớn hay hòa giải với Đông Dương. Nếu các nước lớn vẫn tiếp tục coi các nước Đông Dương và ASEAN là quân bài chính trị của họ, hoặc tìm cách chống lại các nước Đông Dương đến cùng thì tình hình phức tạp sẽ còn tiếp tục kéo dài chưa có hồi kết. Để chấm dứt sự phức tạp này, Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia cùng Lào và Việt Nam đề nghị ký kết với các nước lớn một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, nhưng những động thái thiện chí và tích cực này không nhận được phản hồi tích cực.
Đối với vấn đề biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, Thái Lan coi sự hiện diện của quân đội Việt Nam gần biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan là mối đe dọa đến an ninh. Trong khi đó, Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam coi chủ nghĩa phản động quốc tế và Pôn Pôt cùng các phe phái Khơ-me phản động khác đang sử dụng lãnh thổ của Thái Lan để chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia là mối đe dọa thường trực đến an ninh của Cam-pu-chia và các nước Đông Dương. Trước đó, từ tháng 7-1980, Hun-xen đề xuất thành lập khu vực phi quân sự dọc theo tuyến biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, tuy nhiên Thái Lan không chấp nhận đề nghị này với lý do Thái Lan không thể rút quân đội ra khỏi lãnh thổ của mình. Song song với đó, Hun-xen luôn sẵn sàng để đàm phán và thỏa thuận với Thái Lan về mọi biện pháp nếu cần thiết có cả sự giám sát của quốc tế nhằm tôn trọng tuyến biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan và bảo đảm cho hòa bình ổn định tại khu vực biên giới hai nước. Hun-xen cũng từng tuyên bố, việc thỏa thuận về vấn đề này không liên quan đến việc công nhận lẫn nhau và thành luật định, Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia sẽ không làm cho vấn đề công nhận lẫn nhau này trở thành rào cản tiến tới cuộc đàm phán và thỏa thuận về khu vực an ninh. Sự thật là, trong suốt hơn 30 năm qua Mỹ và Thái Lan đã cùng với Việt Nam, Trung Quốc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1961-1962 về vấn đề Lào cũng như Mỹ và Việt Nam đã ký kết Hiệp định Pa-ri về vấn đề Việt Nam năm 1973 và đã không nói gì đến vấn đề công nhận lẫn nhau. Với thiện chỉ mong muốn tìm ra một lối đi trong tình hình có chiều hướng không thuận lợi cho quan hệ ở Đông Dương với khu vực và các nước lớn, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam lần thứ sáu đề nghị tổ chức một hội nghị quốc tế về Đông Nam Á với sự tham dự của 9 quốc gia trong khu vực và 6 quốc gia khác ngoài khu vực1 (9 quốc gia trong khu vực là 3 quốc gia Đông Dương, 5 quốc gia ASEAN và Mi-an-ma; 6 quốc gia ngoài khu vực là Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Anh và Ấn Độ) mà đã từng tham dự Hội nghị Quốc tế về Đông Dương năm 1954, 1961, 1962 và 1973. Hội nghị đó có thể sẽ triệu tập vào thời điểm các nước ASEAN và các nước Đông Dương thống nhất được thành phần tham dự hội nghị, chương trình nghị sự, địa điểm và thời gian. Tại các diễn đàn quốc tế, Bộ trưởng Ngoại giao Cam-pu-chia Hun-xen luôn nhấn mạnh, nếu các nước ASEAN muốn có hòa bình và ổn định lâu dài thật sự trong khu vực thì họ không được phản đối một hội nghị khu vực giữa hai nhóm quốc gia Đông Dương và ASEAN, bởi một hội nghị muốn đạt được kết quả tốt phải có sự thỏa thuận và tham gia từ các bên có liên quan trực tiếp. Do đó, Hun-xen cũng mong muốn tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia trong khuôn khổ khu vực gắn liền với vấn đề bảo đảm cho hòa bình, ổn định của khu vực Đông Nam Á. Từ ngày 7 đến 12 tháng 3 năm 1983, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 7 của Phong trào không liên kết đã nhóm họp tại Niu Đê-li, Cộng hòa Ấn Độ. Lần này, Ấn Độ với vai trò là nước chủ nhà vẫn giữ nguyên quyết định tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ sáu về việc để trống ghế của Cam-pu-chia. Đồng thời, bác bỏ đề nghị, Hoàng thân Xi-ha-núc, Chủ tịch Chính phủ liên hiệp ba phái phải được mời tham dự hội nghị. Trước đó, khi gần đến thời điểm diễn ra hội nghị, ba nước ASEAN là Xinh-ga-po, Mai-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a đưa ra yêu sách và gia tăng sức ép để Hoàng thân Xi-ha-núc được tham dự hội nghị. Trung Quốc và Thái Lan không phải là nước thành viên của Phong trào này nhưng cũng có nhiều động thái manh mẽ ủng hộ đề xuất của ba nước ASEAN. Điều đáng nói là, từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba năm 1970, cả ba quốc gia trên đã chống lại sự hiện diện của Hoàng thân Xi-ha-núc với lý do "sau ngày đảo chính của Lon Non (18.3.1970), Hoàng thân Xi-ha-núc đã không trị vì đất nước". Nhưng lần này, tại phiên họp cấp Bộ trưởng Ngoại giao của Hội nghị thượng đỉnh lần thứ bảy trong số 61 đại biểu đề cập đến vấn đề ghế của Cam-pu-chia thì chỉ có 25 đại biểu ủng hộ Chính phủ liên hiệp của Hoàng thân Xi-ha-núc, còn 30 đại biểu khác ủng hộ việc trao cho Chính phủ của Hun-xen hoặc để trống ghế này. Cuối cùng, các thành viên của ASEAN cũng không thể tiếp tuc kiến nghị về vấn đề này nữa. Các quan sát viên tại Niu Đê-li nhận định "đây là một thất bại trong ngoại giao của Cam-pu-chia dân chủ". Trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Cam-pu-chia, Hun-xen tuyên bố: "Kết quả cuộc thảo luận giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của Phong trào không liên kết về vấn đề quyền đại diện của Cam-pu-chia và quyết định của hội nghị trong việc để trống ghế Cam-pu-chia tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ bảy là một thắng lợi to lớn của đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia và là thất bại đáng xấu hổ của chính sách xâm lược, hiếu chiến, phá hoại, can thiệp, chia rẽ của đế quốc Mỹ, của các thế lực thù địch và các lực lượng phản động quốc tế khác". Cùng chung quan điểm của Hun-xen, đa số các đại biểu trong hội nghị cũng khẳng định quyền đại diện của Cam-pu-chia phải được trao cho Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, là đại diện hợp pháp và duy nhất của nhân dân Cam-pu-chia. Tuy nhiên, do tôn trọng theo tinh thần của Hun-xen đề xuất, với mong muốn bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ phong trào, những người tham dự đã đồng ý tạm thời để trống ghế của Cam-pu-chia trong phong trào này một lần nữa. Sau Hội nghị thượng đỉnh của Phong trào không liên kết, tháng 11 năm 1984, Pháp muốn tổ chức một cuộc gặp bí mật giữa Hun-xen và Hoàng thân Xi-ha-núc nhằm góp phần vào việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Cam-pu-chia. Tuy nhiên, cuối cùng cuộc gặp này đã không thể diễn ra, vì đã có sự gây áp lực lớn từ phía nước ngoài và Khơ-me Đỏ lên Hoàng thân. Mặc dù vậy, Pháp vẫn tiếp tục đưa ra chủ trương đề nghị rút Quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Cam-pu-chia, tổ chức bầu cử tự do, Cam-pu-chia theo đuổi con đường trung lập với sự bảo đảm của quốc tế. Tuy nhiên, Pháp không khẳng định rõ về việc ngăn cản lực lượng Pôn Pốt tham gia cuộc bầu cử đó, mà chỉ nói chung chung rằng, "việc cho phép Pôn Pốt được tham gia bầu cử tự do hay không cũng không có sự khác biệt là mấy, ai cũng có thể hiểu được vấn đề này". Tuy nhiên, về thời gian, nội dung và từng bước đi cụ thể của giải pháp chính trị đều phụ thuộc vào quyết định của Hun-xen. Pháp phải chờ đến ngày 8 tháng 3 năm 1985 mới nhận được phản hồi từ Hun-xen về việc thông qua cuộc gặp giữa Hun-xen và Bin Hây-đơn, Bộ trưởng Ngoại giao Ô-xtrây-li-a tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ đó, cả các quốc gia có liên quan đến xung đột và các quốc gia muốn góp phần giải quyết các vấn đề Cam-pu-chia càng hiểu rõ rằng "Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia là một lực lượng thật sự và vai trò của Hun-xen là không thể thiếu trong việc giải quyết chấm dứt cuộc nội chiến tại Cam-pu-chia". Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 07:03:49 pm Trong hoàn cảnh lúc đó, thử thách lớn nhất mà các phe Khơ-me đối địch cũng như các nước có liên quan đến xung đột tại Cam-pu-chia không dễ dàng có thể vượt qua được, đó là việc xác định "nguồn cơn hay gốc rễ của vấn đề Cam-pu-chia". Thay mặt cho nhân dân Cam-pu-chia - những nạn nhân của chiến tranh xâm lược do đế quốc phát động, khi nói về vấn đề của Cam-pu-chia, Hun-xen nhấn mạnh: "Vấn đề Cam-pu-chia" khởi đầu từ cuộc đảo chính quân sự của tướng Lon Non được sự hậu thuẫn của Mỹ đã tiến hành lật đổ Chính phủ hợp hiến của Hoàng thân Xi-ha-núc, xóa bỏ nền hòa bình và trung lập của Cam-pu-chia (18.3.1970), mở đường cho Mỹ tiến tới xâm lược Cam-pu-chia (4.1970) và leo thang chiến tranh trên phạm vi toàn Đông Dương, điều này đã biến Đông Dương trở thành mặt trận duy nhất chống lại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Nguyên nhân thứ hai bắt nguồn từ chế độ Cam-pu-chia dân chủ diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng Xari - Khiêu Xăm-phon đã khiến nhân dân Cam-pu-chia vùng lên giải cứu dân tộc, giải cứu mình với sự giúp đỡ kịp thời, to lớn và hiệu quả của Quân tình nguyện Việt Nam. Nguyên nhân thứ ba bắt nguồn từ các hoạt động của tàn binh Pôn Pốt và các phe Khơ-me phản động được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài đã ra sức chống phá sự nghiệp hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia, đe dọa trực tiếp đến nền độc lập và chủ quyền của Cam-pu-chia, buộc Quân tình nguyện Việt Nam phải tiếp tục hiện diện tại Cam-pu-chia theo đề nghị của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia".
Trong nguyên nhân thứ ba, Hun-xen đã nêu hai vấn đề then chốt có quan hệ chặt chẽ với nhau mà cộng đồng quốc tế cần quan tâm nếu muốn góp phần tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, đó là: Việc rút Quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Cam-pu-chia và việc ngăn chặn sự quay trở lại cầm quyền của chế độ diệt chủng, Hun-xen cũng đề cập đến hai khả năng thiết thực đối với giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia đó là: i) Quân đội Việt Nam sẽ rút toàn bộ ra khỏi Cam-pu-chia, đồng thời với việc chấm dứt mọi mối đe dọa từ ngoại bang, xóa bỏ lực lượng cầm đầu Pôn Pốt cả về chính trị và quân sự. Hoàng thân Xi-ha-núc có thể nắm giữ vai trò quan trọng nếu ông đồng ý từ bỏ theo Pôn Pốt; ii) vấn đề Cam-pu-chia sẽ được giải quyết dựa vào sự vững mạnh của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia và sự tan rã của lực lượng Pôn Pốt, quân đội Việt Nam sẽ rút toàn bộ khỏi Cam-pu-chia. Là tư lệnh mặt trận ngoại giao của một quốc gia có chủ quyền, Hun-xen xác định nội dung đàm phán với các phe Khơ-me cũng như với nước khác có liên quan đến xung đột tại Cam-pu-chia để có thể đưa ra hai khả năng thực tế như đã đề cập ở trên, có một điều mà chúng ta quan tâm, đó là Hun-xen không ngồi vào bàn đàm phán với đôi bàn tay không. Trong cuộc thảo luận với Bin Hây-đơn Bộ trưởng Ngoại giao Ô-xtrây-li-a tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 3 năm 1985, Hun-xen tiếp tục khẳng định lập trường của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia về một giải pháp chính trị chung cho vấn đề của quốc gia này như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, có hai điểm mới quan trọng đó là: Thứ nhất, cần tạo được sự thống nhất dân tộc thông qua một tổ chức của nhân dân Cam-pu-chia để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử tự do và công bằng dưới sự giám sát của quốc tế; Thứ hai, phải tạo ra cơ chế bảo đảm và giám sát quốc tế trong việc thực hiện các điều khoản đã đạt được. Có nghĩa là, một hội nghị quốc tế sẽ được tổ chức sau khi các bên Khơ-me đạt được thỏa thuận chung nhằm bảo đảm cho mọi điều khoản đã thống nhất với nhau, bảo đảm nền độc lập của Cam-pu-chia và hòa bình, ổn định trong khu vực Đông Nam Á (Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 chỉ có sự bảo đảm cho Cam-pu-chia, tuy nhiên cuối cùng nước láng giềng đã can dự xâm lược Cam-pu-chia bằng mọi cách). Hơn nữa, đối với Hun-xen, mọi giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia đều phải được tính toán trên tình hình thực tế tại Cam-pu-chia tính toán đến vai trò của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia đang kiểm soát hơn 90% lãnh thổ đất nước và cũng phải tính đến quyền tự quyết, lợi ích sống còn của nhân dân. Trong khi dư luận trên khắp thế giới đang sôi sục đòi đưa Pôn Pốt ra xét xử tại tòa án quốc tế thì "một hội nghị quốc tế về Cam-pu-chia" được tổ chức bởi một số tổ chức phi chính phủ và có sự tham gia của đại diện Chính phủ liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ diễn ra tại Băng Cốc trong hai ngày 25 và 26 tháng 7 năm 1987. Khiêu Xăm-phon, đại diện cho Pôn Pốt nhắc lại những lời lẽ vu khống của phản động quốc tế như: "Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia", Việt Nam có kế hoạch thành lập "Liên bang Đông Dương". Trong hội nghị, đại diện của Mặt trận giải phóng nhân dân Khơ-me cũng ra sức "té nước theo mưa" khi hô hào cái gọi là "Việt Nam hóa Cam-pu-chia", đòi phải thực hiện "yêu sách 8 điểm" do Trung Quốc đề xuất và chống lại một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia nhằm ngăn chặn sự quay trở lại của chế độ diệt chủng. Cùng thời điểm mà Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia đưa ra những chính sách hòa hợp dân tộc, các cơ quan thông tấn của phương Tây và Thái Lan đã trích dẫn phát biểu của Hoàng thân Xi-ha-núc: "Ro-ma-ni-a đã gửi đến Hoàng thân Xi-ha-núc một đề nghị của Việt Nam về việc muốn có cuộc đàm phán giữa Chính phủ Hun-xen và ba phe Khơ-me khác để thành lập Chính phủ liên hiệp bốn bên và ngay sau đó Chính phủ Việt Nam sẽ bắt đầu cuộc đàm phán trực tiếp về việc ngừng bắn và rút quân ra khỏi Cam-pu-chia". Tuy nhiên, thông tin này hoàn toàn là bịa đặt và có mục đích xấu. Lập trường kiên định của Hun-xen là mong muốn hòa hợp dân tộc tại Cam-pu-chia, là vấn đề của người dân Cam-pu-chia và trên cơ sở loại bỏ bọn diệt chủng Pôn Pốt. Mặt khác, với sự hậu thuẫn từ các thế lực phản động quốc tế, lực lượng liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ vẫn tiếp tục tìm mọi cách xâm nhập vào Cam-pu-chia từ các căn cứ trên lãnh thổ Thái Lan để tiến hành hoạt động phá hoại, ngăn cản sự hồi sinh của Cam-pu-chia, lôi kéo và ép người dân vào những trại tị nạn nằm dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan để bắt đi lính và lợi dụng để trục lợi viện trợ nhân đạo quốc tế. Át-đi Phê-đờ-rét, nhân viên của Tổ chức OXFAM nói "Tôi nhìn thấy có sự tuyệt vọng trong cả tám trại tị nạn, người tị nạn không được trở về Cam-pu-chia và cũng không thể đi đến nước thứ ba". Một người tị nạn Khơ-me cho biết thêm: "Tôi thấy mình như đang bị giam trong một chiếc lồng". Tổ chức OXFAM còn miêu tả về tình cảnh khổ cực của người dân sống trong trại tị nạn của Khơ-me Đỏ, mà sự thật nơi này được gọi là nơi giải trí của binh lính Pôn Pốt. Tổ chức OXFAM sau khi biết sự thật đã "đề nghị Liên hợp quốc dừng cấp viện trợ đến các trại tị nạn Khơ-me Đỏ cho đến khi xét thấy có sự giám sát đúng đắn đối với các viện trợ này từ bên ngoài". Ngày 30 tháng 11 năm 1984, trong cuộc gặp với Re-gít Đờ-brây, Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Pháp Ph. Mít-tơ-răng tại Pa-ri, Hun-xen đã khẳng định: "Vấn đề Cam-pu-chia có liên quan đến cuộc đấu tranh giữa hai nhóm nước là Đông Dương và ASEAN", do đó Hun-xen kêu gọi thực hiện giải pháp: "Việc rút quân đội nước ngoài phải diễn ra đồng thời với việc chấm dứt các mối đe dọa, xâm phạm và can thiệp của ngoại bang vào công việc nội bộ trong khu vực và phải để cho người dân trong khu vực được tự mình giải quyết các vấn đề của mình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi dân tộc". Hơn nữa, sẽ không thể có hòa bình trong khu vực Đông Nam Á nếu họ cố gắng áp đặt ý chí của nhóm nước này lên ý chí của nhóm nước khác. Lập trường của Hun-xen phù hợp với tinh thần Nghị quyết của Phong trào không liên kết. Tuy nhiên, lập trường này có quan điểm rất khác biệt với nội dung Nghị quyết của Liên hợp quốc, khi vẫn chỉ thiên vị một bên (ASEAN) và buộc các nước Đông Dương phải chấp nhận sự quay trở lại của chế độ diệt chủng. Điều đáng nói, đây là quan điểm của Hun-xen về giải pháp hòa bình cho khu vực Đông Nam Á và quan điểm này được đưa ra trước khi có Tuyên bố ngày 28 tháng 7 năm 1986 về kế hoạch hòa bình cho châu Á - Thái Bình Dương tại Vla-đi-vốt-tốc do Mi-kha-in Goóc-ba-chốp, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đề ra. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 07:08:35 pm 1.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CAM-PU-CHIA GIAI ĐOẠN 1989-1999
Qua nghiên cứu bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và chính sách của các nước đối với vấn đề Cam-pu-chia trước và trong giai đoạn 1989-1999 rút ra một số vấn đề sau: Một là, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực trước, trong giai đoạn 1989-1999 có tác động lớn đến sự hình thành vấn đề Cam-pu-chia và tiến trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia. Tình hình quốc tế và khu vực luôn là thành tố quan trọng, có tính quyết định đến môi trường an ninh và phát triển của mỗi quốc gia cũng như việc tìm kiếm giải pháp cho các điểm nóng và các vấn đề quốc tế. Đối với vấn đề Cam-pu-chia, quá trình hình thành và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này, bên cạnh chịu tác động từ tương quan lực lượng của các bên trực tiếp hiện diện trên chiến trường, từ tính toán chiến lược của các nước lớn, thì cũng chịu những tác động lớn từ những biến động của tình hình khu vực cũng như những thay đổi bước ngoặt trong xu thế quốc tế trước và trong giai đoạn 1989 - 1999. Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa -Mỹ và Liên Xô đã tới đỉnh cao với việc Liên Xô giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ; sau thắng lợi năm 1975 của nhân dân việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có đà phát triển mới, sôi động và rộng khắp. Việc Mỹ thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam buộc Mỹ phải rút khỏi Đông Dương đã làm thay đổi tương quan lực lượng ở khu vực, đồng thời làm phá sản những tính toán chiến lược của các nước lớn, thúc đẩy họ đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam, trong đó có sử dụng Khơ-me Đỏ chống phá và tiến công xâm lược Việt Nam ở biên giới Tây Nam. Sau khi Việt Nam tiến hành cuộc phản công chiến lược, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia, các thế lực phản động quốc tế đã cấu kết với Mỹ, ASEAN tạo nên "vấn đề Cam-pu-chia" để chống phá cách mạng 3 nước Đông Dương và Việt Nam một cách quyết liệt, toàn diện kéo dài 13 năm. Giai đoạn 1989-1993, cục diện thế giới, khu vực có những biến đổi to lớn, sâu sắc qua đó tác động đến quá trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, trong đó nổi bật là: trật tự thế giới chuyển từ "hai phe, hai cực" sang một thời kỳ quá độ tiến tới hình thành thế "nhất siêu, đa cường"; xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển ngày càng nổi trội và trở thành dòng chảy chính của thế giới và khu vực, tạo động lực để các bên tìm kiếm giải pháp chính trị cho các điểm nóng; tương quan lực lượng giữa các nước lớn (Trung - Xô - Mỹ) thay đổi dẫn đến điều chỉnh chiến lược cả về đối nội lẫn đối ngoại; quan hệ giữa các nước lớn diễn biến theo hướng hòa hoãn từng đôi một, thúc đẩy giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế; các nước ASEAN chuyển thái độ từ đối đầu sang đối thoại và đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình hướng tới xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển... Từ những biến đổi của tình hình thế giới, khu vực nêu trên đã tác động và thúc đẩy các bên có liên quan có cách tiếp cận phù hợp để đi đến thống nhất về một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. Hai là, quá trình hình thành cũng như giải quyết vấn đề Cam-pu-chia trước và trong giai đoạn ỉ989-1999 tiếp tục khẳng định tính đúng đắn quan điểm "Đông Dương là một chiến trường" của Đảng ta. Quan điểm "Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là một chiến trường"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 1, tr.369) (Đông Dương là một chiến trường) được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định từ rất sớm và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết cách mạng ba nước Đông Dương trong thành công của cách mạng. Bán đảo Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia có vị trí địa chiến lược quan trọng, một bàn đạp then chốt khống chế đối với toàn bộ khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Chính vì lẽ đó, các thế thù địch luôn nhòm ngó và tìm mọi cách chia rẽ, thôn tính Đông Dương. Thực tiễn các cuộc chiến tranh ở Đông Dương cho thấy, từ thực dân Pháp, phát xít Nhật rồi đến đế quốc Mỹ đều thực thi ý đồ thôn tính toàn bộ Đông Dương, từ một nước mà thôn tính 3 nước, sử dụng nước này để làm bàn đạp thôn tính nước kia. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi (4.1975) đã làm phá sản các tính toán chiến lược của các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á, làm thay đổi mạnh mẽ so sánh lực lượng ở khu vực. Nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và Liên Xô khu vực, họ đã đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam trong đó dùng Khơ-me Đỏ tiến hành chống phá và phát động chiến tranh chống Việt Nam với tính toán "đánh Việt Nam đến người Cam-pu-chia cuối cùng" và "hy sinh 6 triệu người Cam-pu-chia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Sau khi Việt Nam cùng lực lượng vũ trang mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tiến hành cuộc phản công chiến lược, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia, các thế lực thù địch chống Việt Nam toàn diện, gay gắt, đòi Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Cam-pu-chia. Đặc biệt, họ đã cấu kết với Mỹ, phương Tây và ASEAN triệt để sử dụng vấn đề Cam-pu-chia để chống Việt Nam, chống phá cách mạng ba nước Đông Dương và Liên Xô. Quá trình hình thành cũng như giải quyết vấn đề Cam-pu-chia trước và trong giai đoạn 1989-1999 cho thấy "Đông Dương là một chiến trường" là quan điểm hoàn toàn đúng đắn mà Đảng ta xác định. Ba là, vấn đề Cam-pu-chia được "quốc tế hóa cao" bới sự tính toán của các thế lực bên ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược của mình ở khu vực Đông Nam Á, khiến việc giải quyết phức tạp, kéo dài. Nếu so sánh với nhiều điểm nóng trên thế giới có thể thấy rằng bản chất vấn đề Cam-pu-chia (ngoại trừ vấn đề diệt chủng) không ảnh hưởng trực tiếp tới đại cục an ninh khu vực và thế giới. Tại đây không có sự cọ xát trực tiếp về quân sự, chính trị giữa các nước lớn, nhưng lại bị chính các nước lớn đẩy thành "vấn đề quốc tế" rất gay gắt, nặng nề; đó vừa là vấn đề nội bộ của Cam-pu-chia, vừa là vấn đề quốc tế ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu. Ở cấp độ khu vực, vấn đề Cam-pu-chia là cuộc đấu tranh trong khuôn khổ 3 nước Đông Dương và 5 nước ASEAN. Ở cấp độ toàn cầu, vấn đề Cam-pu-chia trở thành con bài đấu tranh trong khuôn khổ chiến lược của các nước lớn, nhất là Trung - Xô - Mỹ. Điểm thú vị là: tác nhân của những bất ổn tại Cam-pu-chia vốn là hai kẻ thù trên nhiều mặt trận lại "đoàn kết", "thống nhất" trên một chiến tuyến chống Việt Nam. Bên cạnh đó, trong cuộc xung đột, giải quyết vấn đề Cam-pu-chia còn có sự tham gia của nhiều nước khác như Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Úc, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a... Các nước lớn có ý đồ, mục tiêu khác nhau đối với vấn đề Cam-pu-chia, thậm chí có mặt đối lập nhau nhưng cũng sẵn sàng thỏa hiệp vì tính toán lợi ích chiến lược của mình. Trong các nước lớn, thì các nước lớn trong khu vực được coi là "thế lực quốc tế lớn nhất, nguy hiểm nhất, câu kết với đế quốc Mỹ, âm mưu thực hiện chủ nghĩa bá quyền nước lớn" thông qua sử dụng vấn đề Cam-pu-chia. Họ coi vấn đề Cam-pu-chia là con bài trong quan hệ với Liên Xô, Mỹ, phương Tây, ASEAN và các nước Đông Dương để phục vụ tham vọng nước lớn của mình mà trước hết là "Giành cho được Đông Nam Á" để mở rộng ảnh hưởng và bành trướng sức mạnh sang khu vực Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, trong khi Việt Nam được coi là nhân tố cản trở lớn đối với tham vọng này. Trong khi đó, Mỹ sử dụng Cam-pu-chia trong chiến lược chơi con bài với Trung Quốc và Liên Xô, để vừa chống cách mạng Đông Dương, vừa duy trì những chế độ thân Mỹ Đông Nam Á, nhất là Thái Lan. Mỹ công khai công nhận Khơ-me Đỏ là "đồng minh thân cận của Mỹ" cùng các nước khác sử dụng Thái Lan làm "đất thánh" nuuôi dưỡng Khơ-me Đỏ, lấy Thái Lan làm tuyến đầu chống cách mạng ba nước Đông Dương. Trước hậu quả tàn sát của chế độ Pôn Pôt, nhân dân Cam-pu-chia rơi vào cuộc khủng hoảng nhân đạo chưa từng thấy. Song thay vì cứu nhân dân Cam-pu-chia, đế quốc Mỹ lại lợi dụng chiêu bài viện trợ nhân đạo để tiếp tế cho Pôn Pốt và các phái Khơ-me phản động. Tuy nhiên, trước sự biến đổi của tình hình, nhất là khi trở thành "siêu cường duy nhất" Mỹ đã thúc đẩy giải quyết vấn đề Cam-pu-chia để không ngừng can dự và gia tăng ảnh hưởng trở lai đối với khu vực Đông Nam Á... Xuất phát từ việc các nước lớn và các bên đều có mục tiêu và lợi ích chiến lược trong tính toán, sử dụng vấn đề Cam-pu-chia nên đã tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hình thành vấn đề Cam-pu-chia (1979-1989) cũng như quá trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia trong giai đoạn 1989 - 1999. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 07:09:59 pm Bốn là, ASEAN là nhân tố quan trọng trong quá trình hình thành và giải quyết vấn đề Cam-pu-chia cũng như xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Kể từ khi thành lập (8.1967), 5 nước ASEAN (In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po và Thái Lan) đã trực tiếp hoặc gián tiếp cùng Mỹ tham chiến tại Việt Nam và Đông Dương, hình thành ở khu vực Đông Nam Á hai nhóm nước đối lập nhau đó là nhóm các nước ASEAN và nhóm ba nước Đông Dương. Sau khi Mỹ thất bại ở Việt Nam (4.1975), phải rút khỏi Đông Dương, quan hệ giữa ba nước Đông Dương và các nước ASEAN được cải thiện, song việc Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào Cam-pu-chia để cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi bị diệt chủng cũng như giúp tái thiết đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng Cam-pu-chia đã đưa đến sự chia rẽ, đối đầu mới giữa 3 nước Đông Dương và Việt Nam với 5 nước ASEAN. Do tác động bởi sự tuyên truyền, kích động, dựng nên cái gọi là "mối đe dọa bị Việt Nam tiến công" của các thế lực bên ngoài, các nước ASEAN tìm thấy điểm chung là "nỗi ám ảnh về sức mạnh và ảnh hưởng của Việt Nam đối với khu vực"1 (Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, Sđd, tr. 236) nên giai đoạn 1979-1987, các nước ASEAN đã câu kết với chủ nghĩa đế quốc, Mỹ và phương Tây sử dụng vấn đề Cam-pu-chia để tiến hành chống phá cách mạng ba nước Đông Dương và Việt Nam một cách quyết liệt, điều này đã làm cho tình hình Cam-pu-chia, Động Dương và Đông Nam Á luôn căng thẳng, bất ổn. Trong các nước ASHAN, thì vai trò của Thái Lan nổi bật nhất, trở thành "đất thánh" nuôi dưỡng lực lượng Khơ-me phản động, nhất là Khơ-me Đỏ để tiến hành chống phá cách mạng Cam-pu-chia-; là "tuyến đầu" chống phá cách mạng ba nước Đông Dương. Từ cuối những năm 1980, trước xu thế hòa hoãn, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực, trong đó có vấn đề Cam-pu-chia của các nước lớn cũng như từng bước nhận thức được "kẻ đắc lợi trong tình hình Đông Nam Á bất ổn chính là các nước lớn ở ngoài khu vực"1 (Vũ Dương Ninh (2005), "Ba mươi năm trên những chặng đường hội nhập quốc tế (1975-2005)", Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, số 1, tr. 3) nên ASEAN dần tách khỏi lập trường của những nước hậu thuẫn cho Cam-pu-chia Dân chủ để đi vào đối thoại với Việt Nam2 (Nguyễn Đinh Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Sđd, tr. 332). Các nước ASEAN đều chuyển thái độ từ đối đầu sang đối thoại và đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình, ủng họ vai trò của Liên hợp quốc ở Cam-pu-chia và không còn ủng hộ Khơ-me Đỏ. Các nước ASEAN đều mong muốn Đông Nam Á có hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác; mong Đông Nam Á không còn bị một nước lớn nào độc quyền chi phối, không còn là đấu trường tranh giành ảnh hường của các nước lớn. ASEAN mong muốn Cam-pu-chia trở thành một nước hòa bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị trung lập và phát triển, không nghiêng về bên nào, bảo vệ lợi ích của các nước trong khu vực, chống lại sự áp đặt của các nước lớn. Chính vì vậy, ASEAN, nhất là In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a đã tích cực đóng góp cho tiến trình đi đến giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. vấn đề Cam-pu-chia được giải quyết là "chìa khóa" đẫ giải tỏa các mối quan hộ căng thẳng ở khu vực, đặc biệt là giúp Việt Nam tháo gỡ sự bao vây cô lập, đưa đất nước thoát khỏi khùng hoảng. Từ năm 1995 đến 1999, ASEAN lần lượt kết nạp Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma làm thành viên - đưa ASEAN bao gồm 10 nước thành viên nôi lên thành tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển trên thế giới, có uy tín quốc tế ngày càng lớn, có tiểng nói ngày càng có trọng lượng trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác quốc tế, trong việc bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh của mình. Năm là, Liên hợp quốc đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hòa giải, tìm kiếm hòa bình và dân chủ hóa ở Cam-pu-chia, song trên thực tế Liên hợp quốc được sự ủy quyền của các nước lớn để thực thi thỏa hiệp của các nước lớn về vấn đề Cam-pu-chia. Có thể thấy, bên cạnh vai trò của các cường quốc hay các nước ASEAN, Liên hợp quốc đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hòa giải, tìm kiếm hòa bình và dân chủ hóa Cam-pu-chia. Tuy nhiên, vai trò của Liên hợp quốc đối với vấn đề Cam-pu-chia có sự thay đổi theo tiến trình lịch sử sự thay đổi mới quan hệ của các nước lớn - 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an (P5) và chịu sự chi phối của các nước này. Trước năm 1989, vai trò gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia không có khả năng thực hiện, do sự phản đối của Việt Nam và Liên Xô. Được sự hậu thuẫn của Mỹ và Trung Quốc, Liên hợp quốc đã tiếp tục công nhận "Cam-pu-chia Dân chủ" - Nhà nước của chế độ diệt chủng Pôn Pốt - là đại diện của Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc cũng như yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Cam-pu-chia. Hay nói cách khác, khi các nước lớn không đồng thuận và đứng sau thúc đẩy các phe nhóm khác nhau tại Cam-pu-chia, thì Liên hợp quốc khó có thể khẳng định vai trò của mình. Giai đoạn 1989-1993, khi quan hệ giữa các nước lớn diễn biến theo chiều hướng hòa hoãn từng đôi một (Xô - Trung, Xô - Mỹ), cùng ngồi lại với nhau đàm phán thúc đẩy giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có vấn đề Cam-pu-chia thì vai trò của Liên hợp quốc được đề cao. Trên cơ sở đàm phán, thỏa hiệp giữa các bên có liên quan, đặc biệt là sự thỏa hiệp của P5, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết (10.1991) và Liên hợp quốc được sự ủy quyền của các nước lớn triển khai thực thi Hiệp định. Trong 18 tháng, UNTAC - đội quân "gìn giữ hòa bình" của Liên hợp quốc thực hiện một mô hình rất đặc thù, với quy mô chưa từng có trong lịch sử, cả về tổ chức, số lượng, quyền hạn; thực hiện "sứ mệnh" can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cam-pu-chia như: chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quân sự... thực thi các chức năng cơ bản của một chính quyền lâm thời là: Quản lí xã hội; giải giáp quân sự; tổ chức, kiểm soát bầu cử. Các thế lực chính trị ở Cam-pu-chia hoàn toàn không có bất cứ quyền hành nào. Hoạt động của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ chuyển tiếp tại Cam-pu-chia tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng đã đạt được những thành công nhất định trong sứ mệnh "giải quyết hòa bình" làm cơ sở đê Liên hợp quốc tăng cường vai trò gìn giữ hòa bình của sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề ở Cam-pu-chia Liên hợp quốc chưa thực hiện được, trong đó tồn tại lớn nhất là UNTAC đã không giải giáp, thu hồi vũ khí của lực lượng quân sự Khơ-me Đỏ. Nguyên nhân trước hết là Khơ-me Đỏ cự tuyệt, không chấp nhận việc giải giáp, vì quân sự là thế mạnh, là cơ sở để chúng tồn tại. Có mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ "Liên minh dân chủ 3 phái" (chống Việt Nam) mà Khơ-me Đỏ là có thực lực nhất. Các nước lớn can dự sâu nhất, có ảnh hường lớn nhất ở Cam-pu-chia - mâu thuẫn về vấn đề Khơ-me Đỏ. Khi Khơ-me Đỏ không chấp nhận tham gia giải pháp chính trị, ngoại giao, rút quân về phía Băc, một số nước vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho chúng. Sự ủng hộ của họ là nhân tố giúp Khơ-me Đỏ tiếp tục tồn tại, hoạt động. Điều này càng cho thấy, sự tác động, chi phối của các nước lớn trong các hoạt động của Liên hợp quốc, lợi dụng vai trò của Liên hợp quốc để thúc đẩy lợi ích quốc gia và ảnh hưởng của họ tại Cam-pu-chia, dẫn đến tiến trình dân chủ hóa, phát triển Cam-pu-chia vẫn tiếp tục kéo dài. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 07:12:51 pm Chương 2 TÌNH HÌNH CAM-PU-CHIA VÀ CÁCH MẠNG CAM-PU-CHIA TRƯỚC VÀ TRONG GIAI ĐOẠN 1989-1999 2.1. CAM-PU-CHIA DƯỚI CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG PÔN PỐT 2.1.1. Tập đoàn Pôn Pốt phản bội lại cách mạng dân tộc và nhân dân Cam-pu-chia Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II họp vào tháng 2 năm 1951, tại tỉnh Tuyên Quang Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá tình hình cũng như xuất phát từ sự lớn mạnh của cách mạng Việt - Miên - Lào Đại hội quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đồng thời chủ trương mỗi nước thành lập một chính đảng vô sản riêng để lãnh đạo cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Theo tinh thần đó, ngày 26 tháng 6 năm 1951, Hội nghị cán bộ toàn Cam-pu-chia lần thứ hai diễn ra tại Bình An, Kiên Lương, Kiên Giang, Việt Nam (Hội nghị lần thứ nhất diễn ra từ ngày 17 - 19.4.1950), để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo đó: bổ sung và phát triển một số vấn đề về đường lối, chủ trương cơ bản của cách mạng Cam-pu-chia; đề ra nhiệm vụ cho năm 1951-1952 và phương hướng cho thời kỳ mới, với 14 nhiệm vụ và 8 công tác lớn, trong đó xây dựng chính quyền và mặt trận là trọng tâm hàng đầu; quyết định thành lập Ban vận động thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Khơ-me (Ban Trung ương lâm thời), có nhiệm vụ giúp những người cách mạng thành lập chính đảng nhân dân cách mạng. Đồng chí Sơn Ngọc Minh được cử giữ chức Quyền Chủ tịch Đảng; hệ tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối đấu tranh cách mạng là đấu tranh vũ trang gianh độc lập, tự do cho dân tộc. Vì tầm quan trọng của Hội nghị nên ngày tổ chức Hội nghị (26.6) được chính thức lấy làm ngày thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Khơ-me (KPRP)1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Cam-pu-chia - Việt Nam (1930-2017), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội-2017, tr. 29 30). Trong những năm đầu thành lập, KPRP mang tư tưởng cộng sản chính thống và có quan hệ gắn bó mật thiết với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn 1951 - 1954, KPRP đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam2 (Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Lịch sử 10 năm chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Cam-pu-chia (1978-1988), Hà Nội, tr.32, 35). Quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia bắt đầu nảy sinh vấn đề kể từ sau Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương. Tại Hội nghị này, lực lượng cách mạng Cam-pu-chia lúc đó không được mời tham gia chính thức, mà chỉ có hai đảng viên tham gia trong đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Do không đánh giá được ý đồ thỏa hiệp của các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và Liên Xô nên Việt Nam đã chấp nhận ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (21.7.1954) về Đông Dương với một số điều khoản bất lợi cho cách mạng Cam-pu-chia như: vùng giải phóng rộng lớn do lực lượng Khơ-me I-xa-rắc kiểm soát phải bàn giao lại cho chính quyền Xi-ha-núc; lực lượng Khơ-me I-xa-rắc không có vùng tập kết như quân đội Việt Nam và Pa-thét Lào mà phải giải giáp tại chỗ1 (Trước đó, do nhận thức được xu hướng không ngừng lớn mạnh của lực lượng cách mạng Cam-pu-chia Khơ-me I-xa-rắc, thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu thâm độc, trả độc lập Cam-pu-chia cho Xi-ha-núc, đại diện của chế độ phong kiến đang suy tàn (9.11.1953), chứ không phải trả độc lập cho Khơ-me I-xa-rắc, lực lượng đang kiểm soát phần lớn lãnh thổ Cam-pu-chia)... Do đó, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng Khơ-me I-xa-rắc buộc phải giải giáp tại chỗ và bị chính quyền của Xi-ha-núc đàn áp dã man làm cho lực lượng cách mạng Cam-pu-chia bị tổn thất nghiêm trọng, nhân dân Cam-pu-chia không giữ được thành quả cách mạng đã giành được trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp... Việc này đã đặt lực lượng cách mạng Cam-pu-chia vào tình thế khó khăn và dẫn tới những nghi ngờ trong nội bộ Cam-pu-chia về việc Việt Nam đã "bán rẻ" lợi ích của họ. Chỉ có khoảng 1.000 cán bộ người Cam-pu-chia, trong đó có gần 200 đảng viên đã được tổ chức tập kết ra miền Bắc Việt Nam2 (Ngô Điền (1991), Cam-pu-chia: Nhìn lại và Suy ngẫm, Hà Nội). Một số khác lui vào hoạt động bí mật, dưới quyền lãnh đạo của Siêu Heng (đặc trách khu vực nông thôn) và Tua Xa-mốc (đặc trách khu vực thành thị) tiếp tục đấu tranh chính trị yêu cầu Chính phủ Xi-ha-núc tiến hành tổng tuyển cử theo cam kết của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Quốc hội Cam-pu-chia tiến hành bầu cử tháng 9 năm 1955, Xi-ha-núc chính thức được bầu làm Quốc trưởng. Sau khi được bầu làm Quốc trưởng, Xi-ha-núc thực hiện chính sách đối ngoại theo chủ trương trung lập, cân bằng giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Từ 29 đến 30 tháng 9 năm 1960, Đảng KPRP đã tổ chức Đại hội lần thứ II (tổ chức bí mật) với sự tham gia của 21 đại biểu. Đại hội đã đổi tên Đảng thành Đảng Công nhân Khơ-me (WPK), bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 người, gồm: Tua Xa-mốc giữ chức Tổng Bí thư; Pôn Pốt giữ chức Tổng Thư ký; Nuôn Chia, Keo Meas và Iêng Xa-ri là ủy viên. Tháng 7 năm 1962, Tua Xa-mốc bị sát hại và đến tháng 2 năm 1963 Pôn Pốt triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng và được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 10 năm 1966, Pôn Pốt tổ chức cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng WPK để thông qua quyết định cải tổ toàn bộ đường lối, chính sách của Đảng và đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Khơ-me (KCP)1 (Nay Penna, Sự sụp đổ của chế độ Cam-pu-chia Dân chủ, bản dich, tr.17). Sau khi trở thành lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Pôn Pốt đã phản bội lại cách mạng mà nguy hiểm nhất là Pôn Pốt chủ trương biển Đảng từ một nhân tố tích cực trong đường lối độc lập, trung lập của Chính phủ hoàng gia thành yếu tố tiêu cực trong việc thực hiện đường lối này. Sự phản bội cách mạng của Pôn Pốt còn thể hiện ở chỗ thay đổi trong việc xác định mâu thuẫn, từ mâu thuẫn giữa dân tộc Cam-pu-chia và đế quốc Mỹ sang mâu thuẫn giữa Đảng với chính quyền Xi-ha-núc và xúi giục đấu tranh vũ trang chống chính quyền Xi-ha-núc, trong khi chính quyền này đang chống đế quốc Mỹ; coi cả Mỹ, Xi-ha-núc và giai cấp phong kiến Cam-pu-chia là kẻ thù không đội trời chung1 (Ngô Điền (1991), Cam-pu-chia: Nhìn lại và Suy ngẫm, Tlđd). Qua việc thay đổi xác định mâu thuẫn và tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang chống lại chính phủ, Pôn Pốt đã làm cho phong trào cách mạng xa rời tình hình và nhiệm vụ của dân tộc, thoát ly xu thế của thời đại và thoát ly liên minh đấu tranh của ba dân tộc ở Đông Dương. Bằng cách này, Pôn Pốt đã đưa cách mạng vào tình thế tự cô lập, từ bỏ mọi thỏa hiệp và hợp tác với mặt tích cực trong chính sách của Chính phủ hoàng gia và các lực lượng khác vì mục tiêu độc lập, trung lập; từ bỏ hoàn toàn vị trí công khai hợp pháp mà Đảng đã gắng công xây dựng sau Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và chuyển sang bí mật đấu tranh chống chính phủ, khiến cách mạng Cam-pu-chia gặp vô vàn khó khăn. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, được sự hậu thuẫn của Mỹ, Lon Non tiến hành đảo chính lật đổ Xi-ha-núc, tự xưng là Tổng thống và thành lập Nhà nước Cộng hoà Cam-pu-chia, xoá bỏ chế độ quân chủ. Giai đoạn này, Mỹ nắm chính quyền tay sai Lon Non và mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Cam-pu-chia. Lúc này, Xi-ha-núc sống lưu vong ở Bắc Kinh - Trung Quốc và thành lập Chính phủ Đoàn kết Dân tộc Cam-pu-chia (4.5.1970), nhằm xây dựng lực lượng chống Lon Non, nhưng Chính phủ này của Xi-ha-núc tồn tại không lâu vì không tập hợp được lực lượng. Lúc này, Pôn Pốt và Khơ-me Đỏ lại điều chỉnh chính sách, quay lại liên minh với Xi-ha-núc để chống lại chính quyền Lon Non do Mỹ hậu thuẫn. Pôn Pốt và Xi-ha-núc liên minh thành lập "Mặt trận Thống nhất Dân tộc Cam-pu-chia" do Xi-ha-núc đứng đầu và "Các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng dân tộc Cam-pu-chia" do Khiêu Xăm-phon đứng đầu. Dưới sự lãnh đạo của "Mặt trận Thống nhất Dân tộc Cam-pu-chia", nhờ vào uy tín của Xi-ha-núc tại nông thôn, đặc biệt là sự hỗ trợ của bộ đội Việt Nam và vũ khí Trung Quốc, Khơ-me Đỏ bắt đầu lớn mạnh và trên thực tế đến năm 1973 đã kiểm soát phần lớn lãnh thổ Cam-pu-chia. Tháng 4 năm 1975, nhân đà thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, được sự giúp đỡ của Việt Nam, lực lượng giải phóng Cam-pu-chia đã tiến công chiếm Phnôm Pênh, lật đổ chính quyền tay sai Lon Non vào ngày 17 tháng 4 năm 1975. Sau ngày giải phóng 17 tháng 4 năm 1975, đúng ra nhân dân Cam-pu-chia đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, được sống trong độc lập, hòa bình, có quan hệ hợp tác láng giềng tốt với tất cả các nước trên thế giới và dành hết tâm lực để tái thiết đất nước, thế nhưng niềm hy vọng và tâm nguyện đó của nhân dân Cam-pu-chia đã bị tiêu tan bởi sự phản bội lại cách mạng, phản bội lại dân tộc của tập đoàn Pôn Pốt. Sau khi nắm quyền lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia, Pôn Pốt đã làm KCP biến chất, phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Dưới khẩu hiệu "Cách mạng xã hội chủ nghĩa đầy đủ và triệt để", tập đoàn Pôn Pốt đã đẩy dân tộc Cam-pu-chia vào thời kỳ diệt chủng dã man, tàn bạo nhất trong lịch sử Cam-pu-chia và lịch sử nhân loại. Chúng bắt đầu cuộc thanh lọc ghê tởm nhất trong lịch sử loài người, thẳng tay đàn áp, sát hại lực lượng cách mạng - những người vốn là "đồng chí" của Pôn Pốt do họ bị coi là không đồng tình thành một địa ngục trần gian đầy máu và nước mắt của với đường lối của Pôn Pốt, biến đất nước Cam-pu-chia chính nhân dân Cam-pu-chia. Về đối ngoại, tập đoàn Pôn Pốt tiến hành chống phá hệ thống xã hội chủ nghĩa, gây chiến với các nước láng giềng, làm cho phong trào cách mạng Cam-pu-chia thoát ly liên minh đấu tranh của ba dân tộc Đông Dương. Đối với Việt Nam, tập đoàn Pôn Pốt quay lưng lại với Việt Nam, ra sức kích động thù hằn dân tộc chống Việt Nam, trắng trợn phủ nhận lịch sử đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, thậm chí đổi trắng thay đen, vu cáo Việt Nam có mưu đồ lập Liên bang Đông Dương và thôn tính Cam-pu-chia, qua đó thực thi chính sách hiếu chiến, xâm lược, gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây - Nam dã man, tàn bạo, vô nhân đạo và dài nhất trong lịch sử hai nước láng giềng Việt Nam - Cam-pu-chia. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 27 Tháng Tám, 2026, 07:15:24 pm 2.1.2. Tập đoàn Pôn Pốt dựng lên chế độ diệt chủng tại Cam-pu-chia
2.1.2.1. Về chính sách đối nội - Về chính trị Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri xây dựng mô hình nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ theo mô hình "Công xã nhân dân". Chúng tổ chức bộ máy chuyên chế, độc tài từ Trung ương đến địa phương, quyền lực tập trung vào bộ máy đảng trị các cấp (Ăng-ca), bao gồm cả quyền lực của đảng, nhà nước, quyền lập pháp, hành pháp và tòa án. Pôn Pốt vừa là Tổng Bí thư của Đảng, vừa là Thủ tướng Chính phủ và là Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương. Mọi quyết định của đảng, chính phủ và quân đội đều do Pôn Pốt quyết định và chỉ đạo thực hiện. Cơ cấu nhà nước gồm: Chủ tịch nước (Khiêu Xăm-phon); Thủ tướng (Pôn Pốt); Chủ tịch Quốc hội (Nuôn Chia); Quốc trường (Xi-ha-núc được Pôn Pốt dựng lên và ép từ chức tháng 4 năm 1976); Hội đồng đại biểu nhân dân (chức năng như Quốc hội), nhưng quyền hạn hạn chế, có 250 người; Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ), có 9 người, gồm 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng và 5 Bộ trưởng). Các Phó Thủ tướng gồm: Iêng Xa-ri, phụ trách Đối ngoại; Son Sen, phụ trách An ninh, Quốc phòng; Von Vêt, phụ trách Kinh tế. Các Bộ trưởng, gồm: Hô Nưm, Bộ Thông tin; Chuôn Chươn, Bộ Y tế; Tuch Phươn, Bộ Giao thông - Công chính; Iêng Thi-rít, Bộ Xã hội; Dun Dat, Bộ Văn hóa - Giáo dục. Ngoài ra, Cam-pu-chia Dân chủ còn tổ chức ra các Ủy ban giúp việc cho Hội đồng Bộ trưởng, gồm: Ủy ban Nông nghiệp (Chây Suôn); Ủy ban Thương nghiệp (Kôi Thuôn); Ủy ban Công nghiệp (Chêng On); Ủy ban Đồn điền cao su (Phuông); Ủy ban Giao thông vận tải và ủy ban Năng lượng (Mi Prang). Cả 6 ủy ban này nằm dưới sự điều hành của Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế (Von Vêt) và cấp hàm của trưởng các ủy ban này tương đương với Bộ trưởng. Chính quyền Khơ-me Đỏ đã thủ tiêu mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Đặc biệt, dưới chiêu bài "xóa bỏ giai cấp", Khơ-me Đỏ tùy tiện xóa bỏ thành thị, lùa thị dân về nông thôn, buộc họ phải làm nông nghiệp phải trở thành nông dân. Dưới khẩu hiệu "thanh trừng nội bộ", chính quyền Khơ-me Đỏ đây mạnh tàn sát rộng khắp trong toàn quốc, bao gồm cả cán bộ từ cấp cơ sở đến cấp trung ương; phân biệt đối xử và đàn áp các dân tộc ít người; tùy tiện kết tội những người bị nghi ngờ để đày đọa và tự do bắn, giết nhân dân với các biện pháp hành hình tàn bạo thời trung cổ, từ đó gây ra nhiêu vụ đày ải, thảm sát hàng triệu người, đặt nhân dân Cam-pu-chia vào thảm họa diệt chủng tang thương. - Về kinh tế - xã hội Chính quyền Khơ-me Đỏ chủ trương thực hiện hình thái kinh tế - xã hội dựa trên chế độ sở hữu tập thể 100%, trong đó: lấy nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp nhẹ, dần tiến lên công nghiệp nặng. Pôn Pốt đưa ra khẩu hiệu "Đại nhảy vọt, đại tuyệt vời" và đề ra kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội trong vòng 10 đến 15 năm. Nhưng chính quyền Khơ-me Đỏ đi ngược lại quy luật xây dựng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, khi thiết lập một xã hội không sử dụng tiền tệ, không chợ búa, không trao đổi, xuất nhập khẩu hàng hoá, triệt tiêu quan hệ tiền - hàng; thủ tiêu chế độ tư hữu, đưa nhân dân từ đô thị về nông thôn và cưỡng bức lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp trên diện rộng; tịch thu tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và xác lập quan hệ sản xuất tập thể (tư liệu sản xuất tập thể, công cụ sản xuất tập thể, ăn uống tập thể, sống tập thể, làm việc tập thể)... Trong xã hội Cam-pu-chia chỉ còn hai giai cấp là công nhân và nông dân, bên cạnh đó có hàng ngũ cách mạng (hàng ngũ của Pôn Pốt)... Giai cấp công nhân không gắn liền với sản xuất công nghiệp. Loại bỏ lớp công nhân cũ, xây dựng lớp công nhân hoàn toàn mới không có nghề nghiệp chuyên môn bằng cách chuyển từ nông dân và quân đội sang. Chính quyền Khơ-me Đỏ chia nhân dân thành ba loại: dân cũ, dân mới và dân gửi; dùng dân cũ để quản lý dân mới. Phần lớn nhân dân Cam-pu-chia sống tập trung trong các hợp tác xã nông nghiệp, bởi ngay sau khi lên nắm quyền, chính quyền Pôn Pốt tiến hành đưa toàn bộ người dân ở thành phố, thị xã về các vùng nông thôn theo hình thức ép buộc, gồm cả những người không nên đi sơ tán như các bệnh nhân trong bệnh viện và những đứa trẻ mới sinh1 (Gregory H.Stanton, Những chiếc khăn quàng xanh và những ngôi sao vàng: Sự xếp hạng và biểu tượng hoá trong cuộc diệt chủng ở Cam-pu-chia). Hợp tác xã chia xã viên làm hai loại: người địa phương được gọi là những xã viên đủ quyền; người thành thị mới đến được gọi là xã viên dự bị, chưa có quyền, phải làm các công việc nặng nhọc, bẩn thỉu. Nhân lực trong hợp tác xã được chia làm 4 loại: người già được giao việc giữ trẻ, làm cỏ, nuôi lợn, chăn bò; người trung niên được giao việc trồng trọt, thu hoạch như cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa...; thanh niên được tổ chức thành đội xung kích chủ yếu làm các công trình thủy lợi; thiếu niên làm các công việc phục vụ như xay thóc, giã gạo, nấu cơm... Kết quả là hàng triệu người dân Cam-pu-chia không chỉ chết vì bạo lực của Khơ-me Đỏ mà còn chết vì bị bỏ đói, bị mất mùa, bị cưỡng bức lao động quá sức và bị ép buộc chữa bệnh bằng dùng các loại thuốc tự chế trong dân gian2 (Bài học xương máu từ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Khơ-me Đỏ. http://vov.vn/), tình hình đó đã tạo ra những "cánh đồng chết" trên khắp nước Cam-pu-chia. - Về văn hoá - giáo dục Chính quyền Khơ-me Đỏ chủ trương thực hiện chính sách ngu dân, không trường học; tiêu hủy tất cả các sách báo cũ, biên soạn các sách giáo khoa mới, chôn sâu giáo dục cũ; coi sinh viên, trí thức, các giáo chức, các nhà khoa học, kỹ thuật đã bị tiêm nhiễm sâu sắc ảnh hưởng của chế độ cũ là phản động, không thể dùng được và cần phải thanh lọc loại bỏ đối tượng này để "làm trong sạch xã hội". Vì thế, chính quyền Khơ-me Đỏ đã sát hại khoảng 90% trí thức Cam-pu-chia, trong đó phần lớn là giáo viên, bác sĩ, y sĩ, nhà khoa học, nghệ sĩ, diễn viên... Theo Pôn Pốt, đảng viên không cần học nhiều, thông qua hoạt động thực tiễn sẽ học rất nhanh; học sinh chỉ cần nhận được mặt chữ và biết tính toán; giáo dục chỉ được tiến hành ở các trường làng. Chính vì vậy, tất cả các trường học ở các cấp phổ thông trung học, đại học và chuyên nghiệp bị đóng cửa. Chế độ Pôn Pốt đề ra chính sách đào tạo kiểu mới là: tiểu học 3 năm, trung học 3 năm, đại học chuyên về kỹ thuật 3 năm. - Về dân tộc - tôn giáo Chế độ Pôn Pốt đã thực hiện chính sách dân tộc cực đoan, trong đó các dâp tộc thiểu số như Thái, Lào Chàm... đều bị truy sát. Bên cạnh đó, chúng thực hiện chính sách đồng hoá Khơ-me. Các nhóm dân tộc ít người không phải người Khơ-me, đặc biệt là cộng đồng người Chàm ở nông thôn đã trở thành mục tiêu của chính sách đồng hoá. Họ buộc phải từ bỏ nhiều nghi lễ như: cách hành lễ tôn giáo, mang mặc, ăn kiêng và cả ngôn ngữ tiếng Chàm cũng phải bỏ để dùng tiếng Khơ-me. Đối với Việt kiều, ngay sau khi giành được chính quyền (4.1975), tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã ra lệnh xua đuổi và tàn sát Việt kiều với phương châm "Không để người Việt Nam sống trên đất Cam-pu-chia". Tháng 11 năm 1975, lấy lý do đưa Việt kiều trở về Việt Nam, Khơ-me Đỏ dồn hàng ngàn Việt kiều ở các nơi về tập trung tại Phnôm Pênh, sau đó đưa họ về Kra-kô thuộc tỉnh Pu-xát để giết hại. Từ năm 1975 - 1977, chúng đã tàn sát hàng nghìn người và xua đuổi về Việt Nam toàn bộ số người còn lại (khoảng 200.000 người). Theo tài liệu của tỉnh Stung Treng, năm 1977 ghi rõ: "Năm 1977, có khoảng 2.000 bộ xương người Việt Nam được tìm thấy ở Đầm Lớn, rộng 10ha, phía đông nam thị xã"1 (Bộ Quốc phòng (1989), Hồ sơ tổng kết nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia). Đối với tôn giáo, mặc dù Phật giáo là quốc đạo của Cam-pu-chia và có tới 85% dân số theo đạo Phật, nhưng cũng bị chế độ Pôn Pốt xoá bỏ. Nhiều sư sãi bị chúng giết hại, cưỡng bức lao động khổ sai; đền đài, tượng Phật, đồ tế lễ bị đập phá; kinh sách bị thiêu hủy, chùa chiền bị biến thành kho chứa phân, chứa thóc, tín đồ bị cấm thờ cúng, người dân bị cấm đi tu, người tu hành phải bỏ áo cà sa, bị bắt kết hôn (hoàn tục) trong các đám cưới tập thể, buộc rời bỏ những nơi thờ cúng về "Công xã" lao động khổ sai. Cùng với đạo Phật, đạo Hồi cũng bị xoá bỏ. Người theo đạo Hồi bị cấm đoán, một số lớn các nhà thờ Hồi giáo bị phá hủy, một số khác bị biến thành trại giam. Chúng chủ trương truy lùng, tiêu diệt các chức sắc và tín đồ Hồi giáo... Tóm lại, dưới chế độ Cam-pu-chia dân chủ, xã hội Cam-pu-chia là xã hội không tôn giáo đức tin đều do Ăng-ca nhồi nhét, người dân không được quyền phản biện, ai chống lại đều bị quy kết thành đủ mọi loại tội trạng, là phản quốc, làm tình báo gián điệp cho KGB, CIA... để sau đó phải đối mặt với cái chết không thể tránh khỏi. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 07:52:01 pm 2.1.2.2. Về chính sách đối ngoại
Chính quyền Pôn Pốt chủ trương "Khơ-me nên làm những gì của riêng mình", thực hiện chính sách độc lập tự chủ cực đoan, đóng cửa với thế giới bên ngoài và thù địch, xâm lược các nước láng giềng1 (Tại sao chế độ Khơ-me Đỏ giết người dân của mình, Nhật Minh dịch theo www.mtholyoke.edu). Chính quyền Pôn Pốt thực hiện đóng cửa các đại sứ quán, cắt quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước, chỉ duy trì quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Triều Tiên, An-ba-ni và Ru-ma-ni. Chúng không công nhận phe xã hội chủ nghĩa, chống Liên Xô và các nước đồng minh của Liên Xô. Đối với Việt Nam, sau chiến thắng năm 1975, Pôn Pốt và Khơ-me Đỏ đã tự đề cao lực lượng bản thân và cố tình phủ nhận các yếu tố khách quan và bối cảnh lịch sử quốc tế đối với chiến thắng của Cam-pu-chia, đặc biệt phủ nhận sự giúp đỡ to lớn về nhiều mặt của Việt Nam. Ngược lại, Pôn Pốt theo đuổi chủ nghĩa quá khích và thực hiện chính sách công khai chống Việt Nam. Ngày 20 tháng 5 năm 1975, tại Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng KCP, Pôn Pốt đưa ra kế hoạch hành động tám điểm, trong đó, nhấn mạnh việc trục xuất toàn bộ người Việt Nam ra khỏi Cam-pu-chia, đưa các đơn vị quân đội đến biên giới Việt Nam. Khơ-me Đỏ không ngừng tuyên truyền "Việt Nam muốn đặt Cam-pu-chia dưới sự kiểm soát của mình bằng cách xây dựng Liên bang Đông Dương"1 (Мосяков Д.В: История Камбоджи. ХХ век, Институт востоковедения РАН, 2010, с.383); đồng thời, Pôn Pốt cũng khẳng định trong quá khứ, những người cai trị Cam-pu-chia (người Pháp) đã giao đất cho người Việt và "chúng ta không thể đồng ý với hiện trạng này. Chúng ta phải bắt đầu một cuộc chiến tranh với Việt Nam để đòi lại vùng đất Nam Bộ"2 (B. Kiernan and Chanthou Boua Peasants and Politics in Cam-pu-chia 1942-1981, N.-Y, 1986, p.236), qua đó Pôn Pốt xác định: "Việt Nam là kẻ thù số một của chúng ta, là kẻ thù truyền thống của chúng ta và nó phải bị đánh bại bằng mọi giá"3 (Мосяков Д.В: История Камбоджи. ХХ век, Институт востоковедения РАН, 2010, с.383). Rắp tâm theo đuổi đường lối đối ngoại chống Việt Nam, cùng với sự tuyên truyền gây hận thù chính trị giữa hai dân tộc Cam-pu-chia - Việt Nam, Khơ-me Đỏ tiến hành các cuộc xâm lấn, đánh chiếm biên giới Việt Nam ngay sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng4 (Tập đoàn Pôn Pốt đã cho quân đánh chiếm đảo Phú Quốc (3.5.1975) và Thổ Chu (10.5.1975)) và tiến hành liên tục trong một thời gian dài. Theo số liệu của Ban Tổng kết quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam, từ tháng 5 năm 1975 đến hết năm 1975, Khơ-me Đỏ gây ra 110 vụ xung đột, lấn chiếm 20 điểm biên giới; năm 1976, gây ra 280 vụ, tăng 2,7 lần so với năm 1975; năm 1977 gây ra 1.850 vụ, tăng 6 lần so với năm 19761 (Báo cáo của Ban Tổng kết quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam, Lưu tại Thư viện Quân đội, 1978, tr.4). Từ tháng 9 năm 1977 đến cuối năm 1978, quân Khơ-me Đỏ liên tục mở nhiều cuộc tiến công lớn sang Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia gây nhiều tội ác với nhân dân Việt Nam. Ngày 31 tháng 12 năm 1977, Khơ-me Đỏ vu cáo Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia và đơn phương tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đi đôi với những hành động quân sự, xâm lược trắng trợn sâu vào lãnh thổ Việt Nam gây ra những tội ác dã man, ghê rợn trên toàn tuyến biên giới đối với dân thường Việt Nam, Khơ-me Đỏ thẳng thừng bác bỏ những đề nghị đầy thiện chí của Việt Nam. Trong công hàm của Bộ Ngoại giao Cam-pu-chia Dân chủ gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam (16.5.1978) vẫn tiếp tục có những lời lẽ vu khống Việt Nam, khước từ mội đề nghị thương lượng của Việt Nam, kể cả đề nghị thông qua Liên hợp quốc và Phong trào Không liên kết. Xuyên suốt quá trình cầm quyền ở Cam-pu-chia, Khơ-me Đỏ thực hiện chính sách thù địch chống Việt Nam, phản bội nhân dân Cam-pu-chia, phủ nhận lịch sử đoàn kết liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương2 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Cam-pu-chia - Việt Nam (1930-2017), Tlđd, tr.79-80). Trước việc chính quyền Khơ-me Đỏ tăng cường chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và đối phương gây căng thẳng ở biên giới phía Bắc, để tránh khả năng xảy ra chiến tranh từ hai hướng chiến lược, Việt Nam quyết tâm giải quyết sớm cuộc chiến tranh ở hướng Tây Nam. Trên cơ sở nhận định, "Chừng nào tập đoàn phản động Pôn Pốt chưa bị nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ, thì vấn đề biên giới chưa được giải quyết một cách dứt khoát"1 (Báo cáo số 38/QU-TƯ của Thường vụ Quân uỷ Trung ương, ngày 27 tháng 1 năm 1978, Lưu tại Trung tâm lưu trữ, Bộ Quốc phòng), thực hiện chủ trương "đẩy chiến tranh sang bên kia biên giới"2 (Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 11 năm 1977, Lưu tại Văn phòng lưu trữ Trung ương Đảng), thoát khỏi thế bị động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam quyết định "đánh đổ tập đoàn phản động Cam-pu-chia, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn làm lại cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân"3 (Dự thảo kế hoạch sẵn sàng chiến đấu của Bộ Tổng Tham mưu, số 56, ngày 10-10- 1978, Lưu tại Trung tâm lưu trữ, Bộ Quốc phòng). Thực hiện nhiệm vụ nói trên cũng như đáp lại đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, từ cuối tháng 12 năm 1978 đến đầu tháng 1 năm 1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi quân Khơ-me Đỏ và đến ngày 7 tháng 1 năm 1979, Phnôm Pênh được giải phóng, chế độ Pôn Pốt tàn bạo bị lật đổ, giúp Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Cam-pu-chia thành lập lên một nhà nước mới ở Cam-pu-chia - Nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia (PRK) - mở ra một thời kỳ lịch sử mới cho đất nước và dân tộc Cam-pu-chia. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 07:55:25 pm 2.1.3. Hậu quả của chế độ Pôn Pốt
Nắm quyền trong một thời gian ngắn (3 năm 8 tháng 20 ngày - từ 17.4.1975 - 7.1.1979), song chế độ Pôn Pốt đã để lại cho đất nước Cam-pu-chia những hậu quả hết sức nặng nề, như: - Về đối nội Những chính sách của chính quyền Pôn Pốt thực hiện đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Cam-pu-chia: nền kinh tế của đất nước rơi vào tình trạng kiệt quệ, sản xuất đình đốn, hầu hết cơ sở sản xuất hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, điện nước không có hoặc bị hư hỏng nặng; hệ thống tiền tệ, chợ búa, sự mua bán trao đổi bị thủ tiêu. Sau ngày 7 tháng 1 năm 1979, đại bộ phận nhân dân vừa thoát khỏi nạn diệt chủng lại bị lâm vào tình trạng thiếu đói, bệnh tật; người dân không có công cụ sản xuất, không có trâu bò, không có giống cây trồng, v.v... Đề cập đến thắng lợi của Cách mạng Cam-pu-chia, Thủ tướng Hun-xen từng nói: "Chúng tôi thoát khỏi chế độ với bàn tay trắng. Thắng lợi to lớn nhất của chúng tôi là xóa bỏ nạn đói mà chế độ Pôn Pốt để lại"1 (Keo Ba-phnom (2007), Xăm-đéc Hun-xen và lời cam kết lịch sử). Chính sách cực kỳ phản động, hành động vô cùng dã man, tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã làm cho cả dân tộc Cam-pu-chia đứng trước thảm họa diệt vong. Theo thống kê của Ủy ban Điều tra tội ác Pôn Pốt ngày 25 tháng 7 năm 1983 thì: "Trong thời gian 3 năm 8 tháng 20 ngày cầm quyền ở Cam-pu-chia, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã xô đẩy đất nước Cam-pu-chia rơi xuống "địa ngục", với 3.314.768 người bị tàn sát, gần 570.000 người bị mất tích, 141.848 người bị tàn phế, hơn 200.000 trẻ em bị mồ côi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Nhân dân Cam-pu-chia: Lịch sử quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia, Cam-pu-chia - Việt Nam (1930 2010), Hà Nội-2013). Trong số những người dân Cam-pu-chia bị giết chết, có 1.927.061 nông dân, 305.517 công nhân viên chức, 25.168 sư sãi, 488.359 người dân tộc, 568.663 người bị chết trong rừng, bị chôn trong hố chôn tập thể và có cả 9 nhà báo nước ngoài2 (NayPenna, Sự sụp đổ của chế độ Cam-pu-chia Dân chủ, bản dịch, tr.129). Hệ thống trường học, bệnh viện bị phá hủy; 90% số trí thức, phần lớn giáo viên, bác sĩ, y sĩ, nghệ sĩ, diễn viên, huấn luyện viên, vận động viên bị giết; phần lớn trẻ em trong độ tuổi đi học bị mù chữ, các cấp học từ cơ sở, phổ thông đến trung học và đại học bị đảo lộn; ngành y tế đã bị tàn phá tận gốc... Chính sách của Pôn Pốt đã làm cơ cấu, tổ chức xã hội Cam-pu-chia xáo trộn, đảo lộn hoàn toàn, các giá trị văn hóa, truyền thống bị tước bỏ. Hơn một triệu người bị Pôn Pốt lùa khỏi nhà, bắt phiêu bạt từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, từ thành thị về nông thôn... nay tìm cách trở về quê hương bản quán, đang phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, đói rét, bệnh tật. Hậu quả càng nặng nề hơn đối với các tầng lớp yếu thế như người già, phụ nữ, người tàn tật, trẻ mồ côi vốn rất đông lúc bấy giờ... Những người Cam-pu-chia sống sót sau họa diệt chủng của chế độ Pôn Pốt đã kêu lên rằng: Tất cả những cảnh phố xá tấp nập, xóm làng xanh tươi, gia đình sum họp với lời ca tiếng hát trong những ngày hội của dân tộc trước đây đã biến mất. Cả nước biến thành con số không, không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tin ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền và không cả nước mắt để khóc trước cảnh đau thương của dân tộc. Chỉ còn căm thù và uất hận"1 (Báo Nhân dân, ngày 12 tháng 1 năm 1979). - Về đối ngoại Với chính sách độc lập tự chủ cực đoan, đóng cửa với thế giới bên ngoài và thù địch với các nước láng giềng, nhất là với Việt Nam, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã trắng trợn phủ nhận lịch sử đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, thậm chí đổi trắng thay đen, vu cáo Việt Nam có mưu đồ lập Liên bang Đông Dương và thôn tính Cam-pu-chia. Tập đoàn Pôn Pốt được thế lực nước ngoài hậu thuẫn, bảo trợ đã rắp tâm theo đuổi đường lối đối ngoại chống Việt Nam, tiến hành tiến công quân sự gây nên cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam năm 1978, đặt khu vực vào thế chia rẽ, khủng hoảng tạo điều kiện cho các thế lực bên ngoài can dự, gây nên vấn đề trong quan hệ các nước lớn, tác động xấu tới quan hệ Việt Nam, buộc Việt Nam phải bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ hai đầu biên giới. Sau khi Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, ngày 7 tháng 1 năm 1979, Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia ra đời. Ngay sau đó, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia Hêng Xam-rin gửi điện cho Liên hợp quốc thông báo chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã bị xoá bỏ, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia đã kiểm soát toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, xuất phát từ ý đồ cũng như tác động của các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Mỹ, Liên hợp quốc không công nhận PRK mà vẫn công nhận Cam-pu-chia Dân chủ (Khơ-me Đỏ) là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc. Từ đây, Cam-pu-chia trở thành "Vấn đề Cam-pu-chia" trong quan hệ quốc tế và được quốc tế hóa cao trong một thời gian dài (1979 - 1993). "Vấn đề Cam-pu-chia" đã trở thành con bài đấu tranh trong khuôn khổ chiến lược của ba nước lớn là Mỹ - Xô - Trung, của ba nước Đông Dương và ASEAN. Lợi ích của các nước lớn đan xen nhau, thể hiện qua ba nhóm ở Cam-pu-chia với ba xu hướng chính trị khác nhau: Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia được sự ủng hộ của Việt Nam, Liên Xô, Lào và Ấn Độ; Khơ-me Đỏ và nhóm Cam-pu-chia phi cộng sản (Xi-ha-núc và Son San) các nước lớn và phương Tây hỗ trợ, trong đó hai nhóm sau câu kết với nhau chặt chẽ để chống phá chính quyền nhân dân. Việc Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào Cam-pu-chia làm tan rã chế độ Khơ-me Đỏ đã làm đổ vỡ những kế hoạch, những toan tính của Trung Quốc đối với Cam-pu-chia, Đông Dương nói riêng cũng như đối với Đông Nam Á nói chung. Do đó, Trung Quốc đã tích cực cuộc vận động ngoại giao, thay đổi hình ảnh của Trung Quốc từ một quốc gia tranh đấu cho cách mạng thành một nước "nạn nhân" của Liên Xô và Việt Nam trong các tham vọng địa - chính trị cũng như lấy lý do Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia để tiến hành gây mất ổn định ở biên giới phía Bắc của Việt Nam với cái gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học" và duy trì sự căng thẳng đọc tuyến biên giới Trung - Việt nói riêng, quan hệ Trung - Việt nói chung trong một thời gian dài. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 07:56:33 pm 2.2. CAM-PU-CHIA TRONG CÔNG CUỘC HỒI SINH ĐẤT NƯỚC VÀ BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG
2.2.1. Tình hình Cam-pu-chia sau giải phóng Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia (KPRP), được sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam, nhân dân Cam-pu-chia bước vào công cuộc hồi sinh dân tộc và xây dựng phát triển đất nước: Nạn đói nhanh chóng bị đẩy lùi; sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được phục hồi; trường học, bệnh viện và các dịch vụ xã hội khác được mở lại; đập tan âm mưu phá hoại, phản kích của Khơ-me Đỏ; giữ vững và củng cố chính quyền non trẻ ở các cấp; kiểm soát tình hình trên cả nước, đẩy quân địch vào thế bị động và suy yếu; Nhà nước PRK thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước... Tuy nhiên, PRK chưa có sự công nhận của đông đảo các nước và tổ chức quốc tế. KPRP về danh nghĩa là đảng cầm quyền tại Cam-pu-chia, nhưng Đảng vừa mới được xây dựng lại từ đầu nên gặp nhiều khó khăn trong việc lãnh đạo đất nước và đối phó với sự quay trở lại của Khơ-me Đỏ. Đất nước Cam-pu-chia được giải phóng nhưng nền độc lập luôn trong tình trạng bị đe dọa bởi các nước lớn và thế lực thù địch bên ngoài sử dụng các phe phái Khơ-me phản động để lật đổ chính quyền nhân dân. Tuy bị thất bại nhanh chóng nhưng lực lượng Pôn Pốt vân chưa tan rã hoàn toàn. Chúng vẫn còn khoảng hơn 4 vạn tên1 (Báo cáo của B68 tới Ban Bí thư về tinh hình Cam-pu-chia sau giải phóng đến 14-4-1979. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương, Phòng 34, ĐVBQ số 5), cùng hệ thống chỉ huy từ Trung ương đến các quân khu, mặt trận. Lực lượng này được sự giúp sức của các thế lực bên ngoài, dựa vào địa bàn hiểm trở dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan để củng cố tổ chức, chấn chỉnh lực lượng từ đó tổ chức các cuộc phản kích nhằm giành lại chính quyền. Chúng liên tiếp đưa quân vào sâu trong nội địa để chống phá chính quyền cách mạng, hù dọa, khủng bố, trấn áp người dân. Thậm chí một số nơi chúng đã thâm nhập, cài cắm lực lượng, xây dựng các tổ chức ngầm để phá hoại công cuộc tái thiết đất nước của chính quyền và của nhân dân. Ngày 15 tháng 12 năm 1979, Khơ-me Đỏ thành lập "Mặt trận đoàn kết yêu nước dân chủ Cam-pu-chia" và đưa Khiêu Xăm-phon lên làm Thủ tướng của Nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ. Trước đó, ngày 5 tháng 3 năm 1979, Son San thành lập lực lượng vũ trang "Mặt trận giải phóng dân tộc nhân dân Khơ-me" (KPNLF) đứng chân trên đất Thái Lan và thành lập Đảng Dân chủ Tự do Phật giáo, lực lượng của Son San được tập hợp từ 5 nhóm Khơ-me vũ trang do Thái Lan nuôi dưỡng. Không chịu lép vế, ngày 23 tháng 3 năm 1981, Xi-ha-núc thành lập "Mặt trận thống nhất dân tộc vì độc lập, hoà bình, trung lập và hoà hợp Cam-pu-chia" (FUNCINPEC). Dưới sự dàn xếp và gây sức ép của một số nước lớn và thế lực thù địch, ba phái Khơ-me phản động, từng là kẻ thù của nhau đã cùng ngồi lại thoả hiệp, hình thành Chính phủ Liên hiệp ba phái. Sau nhiều lần gặp nhau để bàn bạc, thống nhất cơ cấu tổ chức và các vấn đề kỹ thuật cũng như có sự thoả thuận giữa các nước lớn và ASEAN ngày 22 tháng 6 năm 1982, ba phái Khơ-me phản động chính thức ký kết việc thành lập Chính phủ liên hiệp ba phái - "Liên minh Chính phủ Cam-pu-chia Dân chủ" (CGDK) tại Thủ đô Cu-a-la Lăm-pơ/Ma-lai-xi-a nhằm chống lại PRP. CGDK đã đề ra mục đích, nguyên tắc hoạt động và thành phần cơ cấu, cụ thể: về mục đích: huy động lực lượng "giải phóng" Cam-pu-chia; thực hiện Tuyên bố của quốc tế và Nghị quyết của Liên hợp quốc về Cam-pu-chia. Về nguyên tắc: mang khuôn mẫu của Cam-pu-chia Dân chủ, bảo vệ ghế đại diện của Cam-pu-chia ở Liên hợp quốc1 (Tháng 10 năm 1983, CGDK được các nước lớn ủng hộ để ngồi vào ghế đại diện của Cam-pu-chia ở Liên hợp quốc); điều hành hoạt động theo công thức tay ba, không thiên lệch; áp dụng nguyên tắc đồng thuận, về cơ cấu CGDK, gồm: Xi-ha-núc làm Chủ tịch, Son San làm Thủ tướng, Khiêu Xăm-phon làm Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, về lực lượng vũ trang của CGDK, bao gồm: phái Khơ-me Đỏ khoảng 50.000 quân, do Pôn Pốt chỉ huy; phái Son San khoảng 4.000 quân; phái Xi-ha-núc khoảng 3.000 quân. Trong thành phần, cơ cấu tổ chức của CGDK, thực chất do Khơ-me Đỏ nắm vai trò chủ chốt bởi lực lượng này có thực lực. Chính trường Cam-pu-chia lúc này tồn tại hai vùng kiểm soát, hai chính quyền, hai quân đội. Sau khi ra đời, CGDK đã đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Cam-pu-chia ở trong nước, yêu cầu quốc tế cô lập về chính trị, ngoại giao đối với Nhà nước và Chính phủ PRP; tuyên truyền chống Việt Nam và yêu cầu quốc tế gây áp lực buộc Việt Nam rút toàn bộ quân đội khỏi Cam-pu-chia... Những áp lực cả trong nước và quốc tế đã làm cho PRP còn non trẻ gặp rất nhiều khó khăn, cả trong chính sách đối nội và đối ngoại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy CGDK là một liên minh không vững chắc, bởi cả ba phái đều theo đuổi những mục tiêu, tham vọng riêng và có quá nhiều mâu thuẫn, khác biệt về quan điểm chính trị. Các cuộc xung đột giữa lực lượng của Son San, Xi-ha-núc với Khơ-me Đỏ thường xuyên xảy ra ở khắp mọi nơi. Cùng với đó là xung đột giữa lực lượng PRP và ba lực lượng Khơ-me phản động, nhất là Khơ-me Đỏ đã đưa Cam-pu-chia trở thành một cuộc nội chiến khốc liệt. Sau nhiều lần lên tiếng tuyên bố sẽ từ chức, giữa năm 1988, Xi-ha-núc đã từ chức Chủ tịch CGDK, đồng thời giao việc quản lý FUNCINPEC lại cho con trai là Ra-na-rít. Khi không còn là thành viên của CGDK, Xi-ha-núc nói lên quan điểm của riêng mình là không đại diện cho phe phái nào. Trên cơ sở đó, Xi-ha-núc đã vận động tích cực cho cuộc gặp gỡ nội bộ của các phe nhóm chính trị ở Cam-pu-chia, cụ thể là PRK và ba phái trong CGDK. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 07:58:30 pm 2.2.2. Cách mạng Cam-pu-chia trong công cuộc hồi sinh đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng
Về chính trị, PRK chủ trương đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, do KPRP lãnh đạo; tập trung xây dựng và củng cố chính quyền các cấp thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân; đảm bảo đầy đủ quyền tự do dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh dựa trên lợi ích của nhân dân; tiến hành cải cách hành chính sâu rộng để bộ máy và phương pháp làm việc thực sự là vì dân; đấu tranh bảo vệ chính quyền, bảo vệ nền độc lập và bảo vệ nhân dân, tập trung mũi nhọn đấu tranh ngăn chặn thành công ý đồ quay trở lại nắm chính quyền của Khơ-me Đỏ. Về kinh tế, PRK tập trung ổn định đời sống nhân dân, nhanh chóng giải quyết nạn đói; khôi phục và phát triển sản xuất, từng bước xây dựng phương thức sản xuất mới, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Ngân hàng Quốc gia nhân dân Cam-pu-chia được thành lập và ngày 20 tháng 9 năm 1980, Ngân hàng đã phát hành đồng tiền Riel phục vụ phân phối, lưu thông1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia (1930-2017), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.95) và quy định giá cả của một số mặt hàng lương thực thiết yếu, đồng thời xây dựng hệ thống tiền lương. Đến năm 1985, các cơ sở thương nghiệp quốc doanh được thành lập tới các huyện, thị xã. Các ngành công nghiệp thiết yếu như điện, cơ khí, công nghiệp nhẹ, hoá chất, công nghiệp thực phẩm nhanh chóng được khôi phục, đi vào hoạt động phục vụ dân sinh... Về quốc phòng - an ninh, PRK thực hiện nền quốc phòng toàn dân với ba nội dung: toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc; xây dựng ba thứ quân (chủ lực, địa phương, dân quân-du kích); xây dựng lực lượng công an nhân dân. Chính vì vậy, chỉ sau gần 2 năm, Quân đội cách mạng Cam-pu-chia đã có khoảng 20.000 người và xây dựng sư đoàn đầu tiên. Năm 1983, lực lượng chủ lực đã lên tới 83.000 người; hải quân, không quân, pháo binh... đều được củng cố và ngày càng phát triển. Thời kỳ này, các lực lượng vũ trang Cam-pu-chia phối hợp chặt chẽ với Quân tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh bại những âm mưu và hành động chống phá cách mạng Cam-pu-chia của các lực lượng Khơ-me phản động, giữ vững và củng cố chính quyền; làm chủ và kiểm soát tình hình an ninh, trật tự trên cả nước; ngăn chặn thành công hành động chống phá cách mạng, âm mưu quay trở lại nắm chính quyền của Khơ-me Đỏ. Về văn hóa - xã hội, PRK chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hoá mới trên cơ sở giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc; ngăn chặn mọi ảnh hưởng độc hại của nền văn hoá phương Tây. Chỉ trong thời gian ngắn, PRK đã khôi phục lại ngành văn hoá nghệ thuật, thông tin, báo chí, điện ảnh, thể thao; khôi phục lại các ngôi chùa Phật giáo, các loại hình tôn giáo khác được PRK tạo điều kiện phát triển. Trong lĩnh vực y tế, PRK bảo đảm cung cấp dịch vụ với chất lượng, hiệu quả, công bằng, chi phí ít, ổn định, tập trung vào nông thôn, bảo vệ người có nguy cơ mắc bệnh cao, xây dựng năng lực, phát triển nguồn nhân lực và củng cố các đối tác nhằm nâng cao thường xuyên sức khoẻ và thế lực của mọi người dân, tạo cho người dân có những cơ hội và khả năng tham gia tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội... đã nhanh chóng góp phần tạo đà cho cách mạng Cam-pu-chia tiến lên. Tuy nhiên, do hệ luỵ bởi sự tàn phá ghê gớm dưới chế độ Pôn Pốt cũng như do phải tập trung nhân lực, vật lực cho công cuộc bảo vệ đất nước trước sự chống phá của các lực lượng Khơ-me phản động nhất là quyết tâm ngăn chặn sự quay trở lại nắm chính quyền của Khơ-me Đỏ nên việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của Canvpu-chia giai đoạn 1989-1999 còn gặp nhiều khó khăn. Về đối ngoại, PRK đẩy mạnh liên minh chiến đấu với Việt Nam, Lào; thúc đẩy thiết lập ngoại giao với các nước, trong đó ưu tiên các nước xã hội chủ nghĩa như: Việt Nam, Liên Xô, Cu-ba, Lào... Chỉ trong một thời gian ngắn, Cam-pu-chia đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 18 nước, nhiều nước đã đặt Đại sứ quán tại thủ đô Phnôm Pênh. Đến cuối năm 1980 đã có 29 nước và 2 phong trào quốc tế công nhận PRK. Tuy nhiên "vấn đề Cam-pu-chia" ngày càng bị quốc tế hóa cao và đưa vào chương trình nghị sự của Liên hợp quốc. Điều này càng trở nên phức tạp khi Trung Quốc, Mỹ, phương Tây và một số nước ASEAN ủng hộ CGDK, bao vây cô lập PRK, tăng cường gây sức ép đối với PRK để giải quyết "vấn đề Cam-pu-chia" theo hướng có lợi cho CGDK. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 07:59:35 pm 2.3. TÌNH HÌNH CAM-PU-CHIA TRONG TIẾN TRÌNH ĐI ĐẾN GIẢI PHÁP CHÍNH TRỊ VÀ THỰC THI HIỆP ĐỊNH PA-RI
2.3.1. Tình hình chung Cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX, tình hình chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, tuy nhiên xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển đã xuất hiện; nhiều nước, nhất là các nước lớn đã tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại để mở rộng quan hệ quốc tế, mối quan hệ giữa nhiều quốc gia được cải thiện, ở Đông Nam Á, xu thế đối thoại giữa ba nước Đông Dương và các nước ASEAN được nhen nhóm, từng bước chuyển từ đối đầu sang vừa hợp tác, vừa đấu tranh1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, Sad, tr.114). Về tình hình Cam-pu-chia, KPRP tiếp tục giành và giữ được chính quyền, nhưng đất nước vẫn trong tình trạng vừa có hòa bình vừa có chiến tranh. Các lực lượng Khơ-me phản động, mà nòng cốt là Khơ-me Đỏ, thường xuyên hoạt động phá hoại, gây mất ổn định. Mỹ, phương Tây, ASEAN, Liên hợp quốc chưa công nhận PRK, tiếp tục ủng hộ Khơ-me Đỏ chống lại Việt Nam. Về kinh tế, do phải tập trung nhân lực, vật lực cho công cuộc bảo vệ đất nước, ngăn chặn sự trở lại nắm chính quyền của chế độ Khơ-me Đỏ nên việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Để đáp ứng nguyện vọng của người dân mong muốn sống trong hoà bình, chấm dứt đổ máu vô nghĩa, vấn đề đặt ra lúc này đối với KPRP là phải đấu tranh, tìm ra giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. Được sự hỗ trợ của quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ của Việt Nam, kể từ năm 1987, các cuộc đàm phán để giải quyết vấn đề Cam-pu-chia được tiến hành liên tiếp qua nhiều diễn đàn như: các cuộc gặp riêng giữa Hun-xen và Xi-ha-núc; diễn đàn không chính thức (JIM-1, JIM-2) diễn đàn Hội nghị quốc tế Pa-ri, diễn đàn P5, diễn đàn Xô - Trung, Xô - Mỹ, Việt - Trung, Việt - Mỹ... Tại JIM-2 các bên ở Cam-pu-chia đã thoả thuận thành lập SNC gồm đại diện của 4 phái. Ngày 23 tháng 10 năm 1991, Hiệp định Pa-ri về giải pháp chính trị toàn diện cho cuộc xung đột Cam-pu-chia đã được ký kết. Theo Hiệp định Pa-ri SNC được coi là cơ quan quyền lực hợp pháp duy nhất trong thời kỳ quá độ, đại diện cho Cam-pu-chia về mặt đối ngoại, giữ ghế Cam-pu-chia ở Liên hợp quốc, chịu trách nhiệm tiến hành các cuộc bầu cử. SNC chỉ đưa ra những khuyến nghị với Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia (UNTAC), còn quyền tối hậu quyết định thuộc về đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Trong thời gian cai quản Cam-pu-chia UNTAC còn có nhiều quyết định gây bất lợi cho CPP. UNTAC yêu cầu các phái Cam-pu-chia thả hết "tù chính trị" theo nguyên tắc bầu cử đa đảng, tự do đã được các bên thống nhất. Nhưng thực chất, đa số những kẻ chống đối Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP), những tên tội phạm cũng trà trộn trong đó, được trả tự do. Sau khi ra tù, những phần tử chống đối này tập hợp, đăng ký và được UNTAC cho phép thành lập các đảng phái đối lập với CPP. Giai đoạn trước bầu cử năm 1993, Cam-pu-chia có khoảng 20 đảng phái được phép công khai hoạt động, đều tiến hành các cuộc vận động, công kích lẫn nhau; thậm chí diễn ra nhiều vụ ám sát, bắt cóc, tấn công vào các trụ sở đảng của nhau. Sau tổng tuyển cử năm 1993, trên thực tế Cam-pu-chia vẫn còn tồn tại hai vùng kiểm soát, hai chính quyền, hai quân đội. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 08:02:57 pm 2.3.2. Tình hình cách mạng Cam-pu-chia
2.3.2.1. Cách mạng Cam-pu-chia trong tiến trình đi đến giải pháp chính trị Ngày 30 tháng 4 năm 1989, RPK đổi tên thành Nhà nước Cam-pu-chia (SOC) và tuyên bố trung lập vĩnh viễn1 (Stephen M. Hill (2004), United Nations Disarmanent Processes in Intra-state Conflict, New York: Palgrave Macmillan, p.33). Tại Đại hội bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1991, KPRP đã đổi tên thành Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP). Cách mạng Cam-pu-chia bước sang một giai đoạn mới, chuyển hướng đấu tranh, từ đấu tranh quân sự là chủ yếu, sang thực hiện phương châm kết hợp tiến công quân sự với chính trị, ngoại giao để không bị gạt ra khỏi giải pháp chính trị và hạn chế tối đa sự can thiệp từ bên ngoài vào công việc nội bộ của CPP/SOC. Tháng 9 năm 1989, Việt Nam hoàn thành việc rút quân khỏi Cam-pu-chia. Những chiến thắng trước đó của Quân đội RPK với sự phối hợp, hỗ trợ đắc lực của Quân tình nguyện Việt Nam trong mùa khô 1984-1985 đã bẻ gãy các cuộc tiến công, chặn đứng những hoạt động phá hoại của các lực lượng Khơ-me Đỏ ở biên giới và trong nội địa; làm suy giảm đáng kể lực lượng vũ trang cũng như uy thế chính trị của chúng và tạo thêm sự tự tin, vị thế lớn hơn cho CPP/SOC trong việc đàm phán với các phe nhỏm chính trị khác. Về mặt quân sự, quân đội của CPP/SOC phải tự đảm đương nhiệm vụ đáp trả các cuộc tấn công phá hoại, gây rối của các lực lượng Khơ-me phản động, chủ yếu là Khơ-me Đỏ, bảo vệ đất nước, chế độ. Quân đội CPP/ SOC đã đập tan các cuộc phản công chiến lược 1989-1990, 1990-1991 của lực lượng CGDK, mà "Cam-pu chia Dân chủ" của Pôn Pốt là lực lượng nòng cốt. CGDK coi việc Việt Nam rút toàn bộ Quân tình nguyện khòi Cam-pu-chia là thời cơ chiến lược để lật đổ SOC bằng sức manh quân sự. Chúng đã phối hợp, tập trung lực lượng quy mô lớn, có cả pháo binh và xe tăng, xuất phát từ các căn cứ trên đất Thái Lan cùng lúc tiến công từ nhiều hướng hòng giành quyền kiểm soát một số khu vực chiến lược dọc biên giới để tiến tới mở rộng quy mô chiến tranh trong nội địa Cam-pu-chia và giành chính quyền. Lực lượng CGDK nhanh chóng chiếm được vùng Tây Bắc Cam-pu-chia, gây sức ép và lôi kéo được một số lực lượng ở cơ sở phum, xã và tiếp tục tấn công về phía Nam, hướng về Thủ đô Phnôm Pênh. Nhưng quân đội của CPP/SOC đã đập tan âm mưu đó, giữ vững ưu thế trên chiến trường, quản lý trên 90% lanh thổ và dân cư từ thành thị đến các vùng nông thôn hẻo lánh1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, Sđd, tr.114). Phó Chủ tịch Hun-xen tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương CPRP lần thứ 8, khóa V từ ngày 16 đến 20 tháng 1 năm 1989 đã khẳng định: "Năm 1988 là năm quan trọng đối với chúng ta và năm 1989 được coi là năm quyết định cả về chính trị lẫn quân sự... Chúng ta vẫn làm chủ được tình hình, qua đó cho thấy sức mạnh sinh động của chúng ta". Về chính trị, ngoại giao, CPP/SOC cũng tích cực đẩy mạnh đấu tranh. Trên cơ sở nắm chắc diễn biến tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, CPP/SOC tích cực phối hợp với Liên hợp quốc, các nước khu vực và trên thế giới, tham gia đàm phán và đạt được một số thỏa thuận, nhượng bộ với các phe phái chính trị khác ở Cam-pu-chia để tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia cũng như bảo vệ thành quả cách mạng giành được trước đó. Cụ thể, soc đã tham gia JIM-1 (7.1988), JIM-2 (2.1989), các hội nghị quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia, các cuộc gặp giữa Hun-xen và Xi-ha-núc... Qua các cuộc gặp này, SOC và các phái Khơ-me đã đạt được thỏa thuận: (i) Cần thiết phải có một cơ chế kiểm sát quốc tế có hiệu quả để giám sát việc rút quân đội Việt Nam; (ii) Chấm dứt viện trợ quân sự cho các phe phái tham chiến; (iii) Tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước; (iv) Vai trò của Liên hợp quốc và tổ chức một hội nghị quốc tế1 (Trần Nam Tiến, "Quá trình đấu tranh hòa hợp dân tộc của các phe nhóm chính trị ở Cam-pu-chia trước khi ký Hiệp định Pa-ri (10.1991)", Kỷ yếu hội thảo Đề tài độc lập cấp quốc gia Cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999, những vấn đề đặt ra trong quan hệ giữa Việt Nam với Cam-pu-chia và các nước khác, Hà Nội, 2019, tr.96). Bên cạnh đó, Hun-xen phải nhượng bộ với Xi-ha-núc về việc thiết lập hệ thống chính trị đa đảng, trung lập được đưa vào trong hiến pháp Cam-pu-chia sau này. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh chính trị, CPP/SOC đã kiên quyết không đàm phán, hợp tác với lực lượng Khơ-me Đỏ, bởi như Thủ tướng Hun-xen phát biểu: "Về tội ác của bọn Pôn Pốt vẫn chưa trừng trị, nay lại cho họ có vai trò cả về chính trị lẫn quân sự, đây là điều mà nhân dân Cam-pu-chia không thể chấp nhận được"2 (Keo Ba-phnom, Xăm-đéc Hun-xen và lời cam kết lịch sử, 2010, tr.131). Từ ngày 2 đến 3 tháng 5 năm 1989, Xi-ha-núc, Hun-xen và Son San đã có cuộc gặp tại Gia-các-ta và đi đến thống nhất thành lập SNC do Xi-ha-núc đứng đầu. Trải qua nhiều cuộc gặp gỡ, đàm phán, thậm chí có những thời điểm bế tắc bởi các tranh cãi về sự tham gia của Khơ-me Đỏ vào tiến trình đàm phán hòa bình ở Cam-pu-chia, cũng như vai trò của Xi-ha-núc trong SNC, CPP/SOC tiếp tục kiên trì đấu tranh với các phe phái để loại bỏ khả năng quay trở lại nắm quyền của Khơ-me Đỏ, nhượng bộ để Xi-ha-núc làm Chủ tịch SNC. Sau nhiều cuộc họp Hun-xen và Xi-ha-núc cuối cùng đã ký Thông cáo chung Tô-ky-ô, thoả thuận thành lập SNC với các thành phần ngang nhau (tháng 6.1990). Tuy nhiên, Trung Quốc đưa ra công thức 13 cho SNC là: Hun-xen 6 ghế, Xi-ha-núc 2 ghế, Son San 2 ghế, Khơ-me Đỏ 2 ghế và Xi-ha-núc làm Chủ tịch. Ngày 9 và 10 tháng 9 năm 1990, Hội nghị không chính thức 4 bên Cam-pu-chia dưới sự chủ tọa của 2 đồng chủ tịch Hội nghị quốc tế Pa-ri về Cam-pu-chia (PICC) và phái viên của Liên hợp quốc A-mét đã ra tuyên bố chấp nhận Văn kiện khung và thành lập SNC là cơ quan hợp pháp, cơ quan quyền lực duy nhất tiêu biểu cho độc lập, chủ quyền và thống nhất của Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ. SNC gồm các cá nhân tiêu biểu có uy tín, đại diện cho Cam-pu-chia về mặt đối ngoại và giữ ghế của Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc. Vào thời điểm giải pháp toàn bộ được ký kết, SNC sẽ chuyển giao cho Liên hợp quốc mọi quyền hành cần có, để bảo đảm thực hiện thỏa thuận toàn bộ, kể cả những quyền liên quan đến tổ chức các cuộc tuyển cử tự do công bằng và những lĩnh vực quản lí hành chính thích họp của Cam-pu-chia. Các quyết định của SNC sẽ được thông qua trên nguyên tắc nhất trí. Ngày 20 tháng 9 năm 1990, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 668 gồm 11 điểm về việc Cam-pu-chia, công nhận SNC, kêu gọi chấm dứt nội chiến và chỉ định đại diện Cam-pu-chia giữ ghế ở Liên hợp quốc. Tại Hội nghị Pát-tay-a/Thái Lan (ngày 22 - 26.6.1991), Hun-xen chấp nhận công thức 13 và Xi-ha-núc làm Chủ tịch SNC, thoả thuận về quốc kỳ và cử đoàn đi Liên hợp quốc. Ngày 19 tháng 9 năm 1991, SNC họp dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc tại New York đã đạt được thỏa thuận về giải quyết vấn đề Cam-pu-chia theo một giải pháp toàn bộ dựa trên Văn kiện khung của Liên hợp quốc với những nội dung cơ bản sau: Xi-ha-núc được cử làm Chủ tịch SNC (không có Phó Chủ tịch), thành lập Ban Thư ký SNC, quy định cờ, quốc ca, nơi đặt trụ sở SNC, cử đại diện dự một số Hội nghị quốc tế; SNC đại diện cho Cam-pu-chia dự họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, giảm 70% lực lượng các bên. Cam-pu-chia theo chế độ dân chủ tự do, đa đảng; hệ thống bầu cử theo tỉ lệ đại diện các tỉnh, bầu theo đảng phái, lấy tỉ lệ theo khu vực, không lấy theo tổng hợp chung toàn quốc; sẽ ký Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia và ngay sau đó Liên hợp quốc sẽ đưa nhân viên vào Cam-pu-chia để giám sát, tiến hành Tổng tuyển cử trong vòng 18 tháng sau khi ký Hiệp được ký kết. Ngày 23 tháng 10 năm 1991, Hiệp định hòa bình về vấn đề Cam-pu-chia diễn ra tại Pa-ri đã được ký kết, quy định duy trì việc ngừng bắn, giải giáp và giải ngũ 70% các lực lượng quân sự của các phái Cam-pu-chia dưới sự giám sát của SNC như là điều kiện tiên quyết cho quá trình chuyển tiếp; các quốc gia khác phái rút quân khỏi Cam-pu-chia, chấm dứt can thiệp tài chính, quân sự, bảo đảm chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Cam-pu-chia; tiến hành tổng tuyển cử vào năm 1993. Thời gian chuyển tiếp đến khi tiển hành tổng tuyển cử năm 1993 và thành lập chính phủ liên hiệp, SNC phải chuyển giao quyền quản lý, điều hành Cam-pu-chia cho cơ quan đại diện của Liên hợp quốc là UNTAC; chỉ được đưa ra các khuyến nghị với UNTAC, còn quyền quyết định cuối cùng thuộc về đại diện của Liên hợp quốc. Thông qua quá trình đấu tranh quân sự nhằm bảo vệ quyền kiểm soát phần lớn lãnh thổ với các phe phái phản động Cam-pu-chia cũng như đấu tranh chính trị, ngoại giao trên bàn đàm phán ở các hội nghị, thực lực cách mạng Cam-pu-chia được củng cố một bước quan trọng. Chính quyền SOC từng bước phá được thế bao vây, cấm vận; từng bước tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế trong việc cải thiện đời sống người dân, tìm giải pháp hòa bình cho vấn đề Cam-pu-chia cũng như cô lập, loại bỏ Khơ-me Đỏ khỏi chính trường Cam-pu-chia. SOC đã xây dựng được một hệ thống hành chính thống nhất ở khoảng 80% đất nước, cả thành thị đến nông thôn. Lực lượng vũ trang phát triển đều khắp, tập trung lực lượng quân sự đông và mạnh nhất đóng ở các vùng chiến lược quan trọng. Thế trận quốc phòng toàn dân bước đầu được hình thành trên phần lớn lãnh thổ Cam-pu-chia. CPP gây dựng được cơ sở rộng khắp đến các địa phương với số lượng lên đến hàng vạn đảng viên. CPP cũng đã xây dựng các "tổ nòng cốt" gồm những người là nạn nhân hay cỏ thân nhân bị hãm hại dưới chế độ diệt chủng của Khơ-me Đỏ để xây dựng các tổ chức đoàn thể và chính quyền trong nhân dân ở khắp cả nước. Đây là tiền đề cho thành công của CPP trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và các tổ chức quần chúng, chính quyền cơ sở vững chắc ở tất cả các địa phương trong cả nước. Lãnh đạo CPP/SOC bước đầu đã có kinh nghiệm nhất định trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, cũng như kinh nghiệm đấu tranh về chính trị, ngoại giao. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 08:04:14 pm 2.3.2.2. Cách mạng Cam-pu-chia thời kỳ quá độ thực thi Hiệp định Pa-ri
Thực hiện Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia (23.10.1991), Nhà nước SOC phải tạm thời nhượng lại chủ quyền cho Liên hợp quốc trong vòng 2 năm và thay bằng SNC gồm 13 thành viên theo công thức 6+2+2+2+1. Quân đội của SOC hợp nhất với lực lượng Quân đội của FUNCINPEC/ Xi-ha-núc và quân đội của KPNLF/Son San thành lập Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia (tháng 7.1993). Các bên đã thoả thuận công thức phân chia quân đội theo tỉ lệ: SOC 60%, FUNCINPEC 30%, KPNLF 10%. Sau khi thành lập, Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia được biên chế thành 12 sư đoàn, 3 lữ đoàn đặc công (sơn cước), 3 lữ đoàn công binh và 1 trung đoàn dù. Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia quy định UNTAC có quyền hạn rất lớn, trực tiếp quản lý Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ, từ khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực cho đến khi Quốc hội lập hiến Cam-pu-chia được bầu thông qua cuộc bầu cử "tự do và công bằng" do Liên hợp quốc tổ chức, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp mới và thành lập Chính phủ mới. Trong giai đoạn này, CPP/SOC gặp phải những khó khăn khác; phải tạm thời trao cho UNTAC quyền quản lý, điều hành đất nước CPP phải vừa cùng với UNTAC duy trì hòa bình, ngăn chặn Khơ-me Đỏ, vừa phải đấu tranh ngăn chặn UNTAC câu kết với các phe nhóm, đảng phái khác đòi giải tán bộ máy SOC để thành lập chính phủ liên hiệp bốn bên trung ương đến địa phương trong giai đoạn trước Tổng tuyển cử năm 1993. Trước các thách thức đó, CPP trước hết kiên quyết đấu tranh không chấp nhận việc thành lập chính phủ liên hiệp bốn bên với sự tham gia của Khơ-me Đỏ; đồng thời khéo léo với UNTAC để duy trì lực lượng và vị thế chính trị ở chính trường Cam-pu-chia. Mặt khác, CPP tích cực chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tuyển cử năm 1993, huy động mọi tiềm lực để ngăn chặn Khơ-me Đỏ (kể cả trước và trong khi diễn ra bầu cử) nhằm duy trì hoà bình và ổn định tại Cam-pu-chia. Cụ thể: Một là, CPP/SOC khéo léo tìm cách lôi kéo Xi-ha-núc và Hoàng gia về phía mình, qua đó một mặt sử dụng hình ảnh này để vận động nhân dân, tỏ thái độ thiện chí với phương Tây; mặt khác để tạo một liên minh chặt chẽ và hy vọng giành thắng lợi trong tổng tuyển cử dưới ngọn cờ của Xi-ha-núc. Trong quá trình đàm phán để đi đến Hiệp định Pa-ri, CPP/SOC từ chỗ phản đối quyết liệt đã chuyển sang chấp nhận vai trò Chủ tịch SNC của Xi-ha-núc. CPP/SOC tích cực tác động và tranh thủ uy tín của Xi-ha-núc trong nước và quốc tế, khai thác các mâu thuẫn giữa ba phái để phân hóa các lực lượng Khơ-me phản động, thuyết phục các nước không ủng hộ, lên án và tiến tới loại bỏ Khơ-me Đỏ khỏi đời sống chính trị Cam-pu-chia. CPP/SOC công khai tuyên bố ủng hộ, kể tục cộng đồng xã hội bình dân của Xi-ha-núc; đồng thời, tăng cường tiếp xúc với các nước như Úc, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, In-đô-nê-xi-a, Lào... để bày tỏ quan điểm, đường lối của CPP/SOC, làm cơ sở tìm lối thoát cho các bế tắc chính trị ở Cam-pu-chia cũng như thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập. Hai là, CPP/SOC luôn thể hiện thái độ triệt để thi hành Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia như: ngừng bắn; tự giác chấp nhận các văn bản của Liên hợp quốc về quyền con người; cho phép các phe phái hoạt động công khai và tự do đi lại trên cả nước; bàn giao quyền quản lý, điều hành đất nước Cam-pu-chia trên thực tế cho lực lượng UNTAC; giải giáp 70% lực lượng quân đội; trả tự do cho các tù nhân chính trị... CPP/SOC ủng hộ Liên hợp quốc trong việc tiến hành tổng tuyển cử "tự do và công bằng" giữa các đảng phái chính trị ở Cam-pu-chia. Hun-xen đi Mỹ, Nhật Bản, Pháp kêu gọi các nước này đóng góp tiền, gửi lực lượng tham gia UNTAC để thực thi các nhiệm vụ của lực lượng này tại Cam-pu-chia cũng như ủng hộ đường lối của CPP/SOC. Ba là, để phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của tình hình mới, CPP/SOC đã có những điều chỉnh căn bản trong đường lối lãnh đạo cũng như trong thực hiện các chính sách thực tiễn. Ngày 27 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Cam-pu-chia đã họp bất thường thông qua việc sửa đổi Hiến pháp Nhà nước Cam-pu-chia; thông qua Luật biểu tình nhằm thúc đẩy chính sách hòa giải dân tộc và thực hiện Hiệp định Pa-ri1 (Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, Sđd, tr.123). CPP/SOC tiếp tục giương cao ngọn cờ chống chế độ Khơ-me Đỏ diệt chủng, cương quyết tổ chức các hoạt động đánh trả Khơ-me Đỏ do chúng ngoan cố cự tuyệt đi vào thực hiện giai đoạn 2 của Hiệp định Pa-ri, tiếp tục tiến hành các vụ đánh chiếm địa bàn mới; kết hợp tập hợp quần chúng; tổ chức sắp xếp lại bộ máy chính quyền và nhân sự, đưa phần lớn cán bộ Đảng vào bộ máy nhà nước và loại bỏ một số cán bộ tham nhũng; chuẩn bị vận động cho tổng tuyển cử. Đáng chú ý, CPP/SOC điều chỉnh chủ trương, chính sách lớn, gồm các nội dung: (i) Không xây dựng Cam-pu-chia thành một nước tư bản chủ nghĩa; (ii) Không đi theo mô hình chủ nghĩa xã hội như trước đây, mà hướng Cam-pu-chia theo con đường dân tộc dân chủ; (iii) Đưa ra nhiều chính sách về ruộng đất, về tư hữu (để tranh thủ lòng dân trước bầu cử); (iv) Đổi tên đảng từ KPRP thành CPP và thu hút những người ủng hộ vào đảng, lấy đạo Phật làm quốc đạo để thu hút quần chúng, giảm bớt tính chất cộng sản trong quan hệ với bên ngoài; (v) Giảm quan hệ với Việt Nam để tránh sự công kích của các đảng đối lập. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, CPP/SOC còn gặp nhiều khó khăn do những mâu thuẫn, bè phái trong nội bộ của đảng; một bộ phận đảng viên của CPP tham nhũng bị xử lý; đặc biệt cán bộ và lực lượng vũ trang đều có tâm lý lo ngại quân đội bị giải tán; nền kinh tế bị lạm phát nghiêm trọng; nhân dân Cam-pu-chia vốn đã bị suy kiệt dưới chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ và hơn 10 năm sau ngày giải phóng nhưng vẫn phải chịu cảnh nghèo khó vì nội chiến, họ mong ước có một sự thay đổi hướng tới một cuộc sống yên ổn hơn; đặc biệt, một bộ phận nhân dân Cam-pu-chia cũng hy vọng lời hứa tái thiết lại đất nước của Liên hợp quốc và các nước tham gia ký kết, theo tinh thần của Hiệp định Pa-ri (23.10.1991) về vấn đề Cam-pu-chia nên đã ủng hộ các đảng phái chính trị khác. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 08:07:18 pm 2.3.3. Tình hình các đảng phái chính trị khác tại Cam-pu-chia
2.3.3.1. Phái Khơ-me Đỏ Sau khi rút chạy khỏi Phnôm Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979, lực lượng tàn quân Khơ-me Đỏ chủ yếu chạy sang Thái Lan và những vùng rừng núi ở phía Tây, Tây Nam, Tây Bắc và phía Bắc Cam-pu-chia; tiến hành củng cố lại tổ chức, lực lượng, biên chế thành các sư đoàn và trung đoàn độc lập. Trong lúc rút chạy, chúng đã cưỡng ép khoảng 30 vạn dân đi theo để bổ sung lực lượng, đồng thời thiết lập các trại tị nạn dọc biên giới Cam-pu-chia để xin viện trợ quốc tế và thực hiện ý đồ chiến lược: tiến hành chiến tranh du kích, tạo thế đánh du kích lâu dài để tiêu hao lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia và Quân tình nguyện Việt Nam... Ngay từ tháng 1 năm 1979, chúng đã tổ chức nhiều đợt phản kích với quy mô lớn nhằm "lật ngược thế cờ", đánh phá nhiều khu vực quan trọng như phản kích hòng chiếm lại Tà-keo, phản kích trên các trục Quốc lộ 2, 3, 4, 5, uy hiếp Thủ đô Phnôm Pênh. Tiếp đó, chúng đã tiến hành hàng loạt các hoạt động lấn chiếm, phá hoại vào một số vùng trọng điểm: Bát-tam-bang, Siêm Riệp, Prếch Vi-hia, Pu Xát, Công-pông Chnăng, thậm chí uy hiếp vào các vùng giáp ranh ở Tây Bắc thủ đô Phnôm Pênh lấn đất giành dân, tạo ra thế "da báo" trong nội địa. Ngày 31 tháng 8 năm 1979, Khơ-me Đỏ đưa ra cái gọi là "Mặt trận Dân chủ Đại đoàn kết dân tộc" và mời Xi-ha-núc làm Chủ tịch thay Khiêu Xăm-phon nhưng Xi-ha-núc từ chối. Ngày 15 tháng 12 năm 1979 Khơ-me Đỏ thành lập "Mặt trận Đoàn kết Yêu nước Dân chủ Cam-pu-chia" đưa Khiêu Xăm-phon lên làm Thù tướng cái gọi là "Nhà nước Cam-pu-chia dân chủ". Sau những tổn thất do các đợt tấn công truy quét Khơ-me Đỏ của Quân đội cách mạng Cam-pu-chia và Quân tình nguyện Việt Nam, nhất là các chiến dịch mùa khô 1984-1985, cuối mùa mưa năm 1987-1988 lực lượng Khơ-me Đỏ bị tổn thất đáng kể. Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1988, có 2.738 sĩ quan và binh lính Pôn Pốt ra hàng. Tất cả các sư đoàn của Khơ-me Đỏ đều rệu rã, thậm chí có sư đoàn chỉ còn 60 người1 (Báo Quân đội nhân dân, ngày 26 tháng 1 năm 1989, tr.4). Tuy nhiên, do được các thế lực phản động "chống lưng" về chính trị, hỗ trợ tài chính, vũ khí và địa bàn đứng chân, lực lượng Khơ-me Đỏ vẫn duy trì quân số trên 10.000 tên, là lực lượng đối kháng chủ yếu về quân sự đối với SOC. Suốt một thời gian dài, một số nước lớn kiên trì ủng hộ Khơ-me Đỏ nói riêng, chính phủ liên minh ba phái (CGDK) nói chung. Còn Thái Lan đã "tích cực ủng hộ và giúp đỡ Khơ-me Đỏ trên mọi phương diện"1 (Trần Việt Thái (2019), "Bối cảnh quốc tế, khu vực và các nhân tố tác động tới tình hình Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999", Kỷ yếu hội thảo Đề tài độc lập cấp quốc gia Cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999, những vấn đề đặt ra trong quan hệ giữa Việt Nam với Cam-pu-chia và các nước khác, Hà Nội, tr.9-26). Sau năm 1988 và kể cả khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia đã được ký kết, dù có sự điều chỉnh chính sách đối với các nước Đông Dương, Thái Lan vẫn không ngừng viện trợ cho Khơ-me Đỏ. Một quan chức Mỹ trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ đã phát biểu: "Giờ đây, Thái Lan... trở thành nước viện trợ lớn nhất cho Khơ-me Đỏ"2 (Caig Etcheton, "Without any Pretensions, Dump the Kho-me Rouge", The Nation (Bangkok) ngày 28 tháng 9 năm 1993). Trước xu thế phải đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, song Khơ-me Đỏ chủ trương dứt khoát không chờ đợi đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, không mơ hồ dựa vào Hiệp định hòa bình Pa-ri mà phải tiếp tục chủ động tiến công giành thắng lợi bằng con đường quân sự. Thực hiện vừa đánh vừa đàm, chiếm đất đai, giành dân, gây mất ổn định xã hội, lấy sức mạnh trên chiến trường tạo lợi thế trong đàm phán, Khơ-me Đỏ tìm cách vừa tranh thủ, vừa phân hóa lực lượng các đối thủ chính trị, đồng thời lợi dụng những mâu thuẫn và sự thỏa hiệp về quyền lợi của các nước lớn đối với Cam-pu-chia để thực hiện ý đồ quay trở lại nắm quyền đất nước. Chúng nhận thức được rằng không có cơ hội nhận được sự ủng hộ của người dân Cam-pu-chia sau những tội ác diệt chủng. Chúng cũng không muốn từ bỏ quyền lực tại các vùng do chúng kiểm soát và giải giáp quân đội để đổi lại việc có thể tham gia vào tiến trình hòa bình ở Cam-pu-chia thông qua bầu cử tự do năm 1993 do Liên hợp quốc bảo trợ. Chính vì vậy, ngay sau khi Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Cam-pu-chia (9.1989), Khơ-me Đỏ đã tiến hành các chiến dịch phản công lớn, đánh chiếm Pai-lin thành lập các căn cứ mới, đánh phá các vùng do chính quyền SOC kiểm soát, gây bất an, hoảng loạn từ các tỉnh miền Tây Cam-pu-chia kéo đến miền Bắc, miền Nam Cam-pu-chia. Hai căn cứ quan trọng nhất của Khơ-me Đỏ là An-long Veng và Pai-lin. Chúng tìm cách củng cố mở rộng các phum, xã tại các vùng căn cứ, dựa vào vùng nông thôn để hoạt động lâu dài; giải tán chính quyền cấp xã do SOC thành lập trước đó; lập hội đồng phum, xã ở cơ sở; kết hợp bạo loạn, lật đổ ở các thị trấn, thị xã... Lực lượng Khơ-me Đỏ luồn sâu vào các vùng nông thôn, dân cư để lôi kéo, vận động, xóa bỏ các cơ sở chính quyền của SOC, đặc biệt là chúng tổ chức các đợt pháo kích, đánh cắt giao thông và thảm sát hàng loạt Việt kiều nhằm kéo dài tiến trình bầu cử càng có lợi cho chúng. Tuy nhiên, trước các cuộc phản công của Quân đội SOC, Khơ-me Đỏ không thể tiến sâu vào trong nội địa Cam-pu-chia, đại đa số dân Cam-pu-chia tiếp tục nằm trong các vùng do chính quyền kiểm soát1 (Kelvin Rowley, Second Life, Second Death: The Kho-me Rouge After 1978, truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2019). Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và sức ép của cộng đồng quốc tế, Khơ-me Đỏ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri. Khơ-me Đỏ tỏ thái độ tham gia thực hiện giai đoạn đầu của Hiệp định để có thành phần trong SNC. Tuy nhiên, ngay sau đó, Khơ-me Đỏ tìm mọi cách cản trở thi hành giai đoạn hai của Hiệp định Pa-ri, từ chối thực hiện các thỏa thuận đã được ký kết trong nội dung Hiệp định. Chúng coi thường UNTAC và Liên hợp quốc, không cho lực lượng UNTAC vào các vùng do chúng kiểm soát; thậm chí tấn công trực thăng của lực lượng UNTAC. Chúng không thực hiện việc tập trung và tiến hành giải giáp 70% lực lượng quân sự, cự tuyệt tổng tuyển cử. Khơ-me Đỏ tiếp tục dùng "vấn đề Duôn" (ám chỉ Việt Nam) để kích động chống Việt Nam; vu khống Việt Nam còn có Quân tình nguyện ở Cam-pu-chia, yêu cầu Liên hợp quốc kiểm soát việc lực lượng quân đội Việt Nam đang ở Cam-pu-chia. Chúng tiến hành nhiều vụ tấn công, giết hại hàng trăm Việt kiều, làm hàng ngàn người phải chạy tị nạn, gây ra khủng hoảng về người tị nạn ở Cam-pu-chia. Từ tháng 4 năm 1992, Khơ-me Đỏ tiến hành hàng loạt vụ tấn công nhằm vào người Việt với cái cớ là những người lính Việt Nam cải trang thành thường dân1 (Heder, Stepher R., Ledgerwood, Julie (1995), Propaganda, Politics and Violence in Cambodia: Democratic Transition Under United Nations Peackeeping, M.E. Sharp, p.98). Tháng 3 năm 1993, chúng tiến hành cuộc tấn công lớn nhất vào thường dân Việt Nam tại một làng ờ tỉnh Siêm Riệp giết chết 124 người Việt2 (Widyono, Benny (2008), Dancing in Shadows: Sihanouk, the Kho-me Rouge and the United Nations in Cambodia, Rowman & Littlefield, p.96). Trong năm 1994, liên tiếp các vụ tấn công người Việt xảy ra ở Cam-pu-chia... Các vụ tấn công này đã làm nhiều người Việt chết và khoảng 21.000 người phải bỏ lại nhà cửa, chạy tị nạn khỏi Cam-pu-chia1 (1. Ramses Amer (2013), "Domestic Political Change and Ethnic Minorities - A Case Study of the Ethnic Vietnamese in Cambodia", Asia- Pacifique Social Science Review, Vol. 13, N° 2, p.87-101). Sau Tổng tuyển cử năm 1993, Khơ-me Đỏ tuy bị cô lập và suy yếu hơn trước, song lực lượng còn lại tiếp tục được Thái Lan hỗ trợ nên vẫn nuôi tham vọng giành lại vị trí trên chính trường, tham gia Quốc hội và Chính phủ mà không phải trải qua tổng tuyển cử. Mục tiêu cơ bản lâu dài của Khơ-me Đỏ là tiếm quyền thông qua tiến công quân sự và chính trị, khoét sâu mâu thuẫn liên minh CPP - FUNCINPEC. Năm 1994, quân Khơ-me Đỏ tổ chức chiến dịch tiến công căn cứ Pai-lin, An-long Veng của quân đội Chính phủ Cam-pu-chia, uy hiếp đến tận Bát-tam-bang. Thái độ bất hợp tác và các hành động phá hoại tiến trình hòa bình ở Cam-pu-chia của Khơ-me Đỏ đã gây ra những bất lợi cho chúng. Cộng đồng quốc tế bắt đầu thay đổi thái độ, lên án tội ác diệt chủng của chúng; các nước ủng hộ Khơ-me Đỏ trước đây đã giảm dần, rồi cắt các khoản viện trợ cho chúng, quay sang ủng hộ, viện trợ cho Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia. Hơn nữa, nội bộ lãnh đạo Khơ-me Đỏ cũng chia rẽ, mất đoàn kết, đấu đá, tranh giành quyền lực và không nhận được sự ủng hộ của các thành viên cấp thấp; hàng loạt binh lính Khơ-me Đỏ đào ngũ, nhất là vào năm 1996. Các yếu tố đó làm suy yếu và dẫn đến sự tan rã của lực lượng này. Giữa tháng 4 năm 1998, Pôn Pốt chết; tháng 12 năm 1998, Khiêu Xăm-phon đầu hàng Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, đánh dấu sự chấm dứt tồn tại của lực lượng này. Tiêu đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999 Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 23 Tháng Chín, 2026, 08:07:54 pm 2.3.3.2. Phái Son San và phải Xi-ha-núc
Ngay sau khi chế độ Cam-pu-chia Dân chủ bị lật đổ, Son San đã thành lập KPNLF vào ngày 5 tháng 3 năm 1979, đứng chân trên đất Thái Lan để chống lại lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và quân đội cách mạng của RPK. KPNLF được tập hợp từ 5 nhóm Khơ-me tự do vũ trang do Thái Lan nuôi dưỡng. Phái này vốn từ lâu đã đứng ngoài vòng pháp luật, phải đứng chân trên đất Thái Lan, tiến hành các hoạt động chống phá Cam-pu-chia, kể cả dưới thời Khơ-me Đỏ. Son San vốn có lập trường chống cộng sản và đặc biệt chống Khơ-me Đỏ. Tuy nhiên, do sức ép của nhữngkẻ nuôi dưỡng, Son San chấp nhận hợp tác với Khơ-me Đỏ và Xi-ha-núc trong CGDK vào năm 1982 do Xi-ha-núc làm Chủ tịch, Son San làm Thủ tướng. Từ trước đó, tháng 8 năm 1980, Son San đã bắt đầu liên minh trực tiếp với Khơ-me Đỏ để chống RPK. Sau đó, Son San gợi ý thành lập chính phủ lâm thời cho các lực lượng Khơ-me lưu vong, bật đèn xanh cho việc thành lập chính phủ liên hiệp và cũng để giành ưu thế chính trị trước Xi-ha-núc. Son San muốn thông qua việc tham gia Chính phủ liên hiệp ba phái để tranh thủ viện trợ của nước ngoài. Đối với phái Xi-ha-núc, tiền thân của phái này là tổ chức Phong trào Giải phóng dân tộc Cam-pu-chia (MOULINAKA) được tập hợp từ một số toán vũ trang Khơ-me tự do dưới quyền lãnh đạo của In-tam (nguyên Thủ tướng Cộng hoà Cam-pu-chia dưới thời Lon Non). Ngày 23 tháng 3 năm 1981, phái Xi-ha-núc thành lập "FUNCINPEC". Sau đó, thành lập lực lượng vũ trang MOULINAKA tập trung dưới cờ của FUNCINPEC và trở thành quân đội của Xi-ha-núc. Do biết rõ bản chất của Khơ-me Đỏ, nên ban đầu Xi-ha-núc có ý định dựa vào Mỹ và phương Tây để chống Khơ-me Đỏ và RPK. Tuy nhiên, dưới sức ép của các nước lớn cộng với lợi ích cá nhân, Xi-ha-núc đã chấp nhận tham gia CGDK với cương vị Chủ tịch, thông qua vai trò này để từng bước tập hợp lực lượng, đấu tranh nâng cao vị thế và tìm kiểm "thực quyền" trong CGDK. Lúc này Xi-ha-núc đã phải thừa nhận "Bản thân mình từng bị dùng làm phấn son cho Khơ-me Đỏ". Bởi thực chất, Khơ-me Đỏ nắm quyền lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt trong CGDK do lúc này Xi-ha-núc tuy là Chủ tịch nhưng vẫn ở Bắc Kinh, còn Son San là Thủ tướng thì đang sống ở Pháp. Giai đoạn trước Tổng tuyển cử năm 1993, thực lực quân sự của phái Son San và Xi-ha-núc đều suy yếu nghiêm trọng. Cả hai phái đều đẩy mạnh mở rộng đảng, tiến hành đại hội đảng, đổi tên đảng, lôi kéo những người ủng hộ trong giới học sinh, giáo viên, sư sãi bằng hứa hẹn về việc làm, trả lương cao; bôi xấu, hạ uy tín CPP/SOC; đồng thời thống nhất với Khơ-me Đỏ trong việc kích động hận thù dân tộc, đặc biệt kích động tâm lý chống Việt Nam. Năm 1991, lực lượng phái Son San đã chính thức tách ra khỏi liên minh ba phái và đổi tên KPNLF thành Đảng Dân chủ Tự do Phật giáo (BLDP) để tham gia tranh cử trong tổng tuyển cử 1993. Đối với Xi-ha-núc, vốn là người có tham vọng chính trị lớn và vô cùng thực dụng, trong bối cảnh thực lực quân sự hạn chế của phái FUNCINPEC và Cam-pu-chia đang trong quá trình tìm kiếm, đi vào thực hiện giải pháp chính trị, ông ta luôn chọn cho mình vị trí "ngư ông đắc lợi". Xi-ha-núc tìm kiếm sự ủng hộ, hậu thuẫn của Liên hợp quốc, các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc để trở thành nhân tố không thể thiếu, thậm chí mang tính tiên quyết trong các giải pháp chính trị được xem xét cho vấn đề Cam-pu-chia. Ngoài ra, ông ta còn tìm cách làm suy giảm sức mạnh của các đối thủ, đặc biệt là CPP và cá nhân Hun-xen thông qua con bài đòi hỏi sự triệt thoái quân đội Việt Nam khỏi Cam-pu-chia; kích động tâm lý bài xích người Việt để loại bỏ sự ủng hộ đối với CPP. Điều đó giúp ông ta có thể cân bằng ảnh hưởng với Hun-xen, CPP vốn có nhiều ưu thế về sức mạnh quân sự, đang kiểm soát, quản lý trên thực tế tình hình Cam-pu-chia. Những chiến thuật đó của Xi-ha-núc đã có tác dụng nhất định, ông ta trở thành Chủ tịch SNC trong giai đoạn chuyển tiếp thực thi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia. FUNCINPEC đã dẫn đầu trong tổng tuyển cử năm 1993 với 58 ghế, vượt qua CPP với 51 ghế trong Quốc hội. Chính phủ liên hiệp giữa FUNCINPEC và CPP đã được thành lập sau đó với Ra-na-rít và Hun-xen là đồng Thủ tướng. 2.3.3.3. Một số đảng phái chính trị khác Bên cạnh 4 đảng phái chính trị có ảnh hưởng nhất định tại Cam-pu-chia từ trước là CPP (phái Hun-xen) FUNCINPEC (phái Xi-ha-núc), Đảng Cam-pu-chia Dân chủ (đảng của Khơ-me Đỏ) và BLDP (phái Son San), trong giai đoạn chuẩn bị cho tổng tuyển cử năm 1993 xuất hiện thêm nhiều đảng phái chính trị mới như: Đảng Khơ-me Dân tộc chủ nghĩa, Đảng Dân chủ Tự do Đàn Công dân Khơ-me, Đảng Nông dân Khơ-me, Đảng Cộng hòa Tự do, Đảng Dân chủ, Đảng Cam-pu-chia Tự do Độc lập - Dân chủ, Đảng Linh hồn Khơ-me, Đảng Cộng hòa phát triển tự do... Nhìn chung, các đảng phái này không có thực lực không có đường lối, cương lĩnh chính trị và không gây được sự quan tâm, chú ý của người dân. Mục đích chủ yếu của các đảng phái nhỏ này là muốn tham gia bầu cử để kiếm chác lợi ích trong bối cảnh chính trị Cam-pu-chia phức tạp; tranh giành, thỏa hiệp, liên kết để chống lại CPP. Nhiều thành viên trong số đảng này là do các thành phần chống đối CPP mới được trả tự do sau khi UNTAC vào tiếp quản quyền quản lý, lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia. UNTAC cho phép các đảng phái này đăng ký thành lập và tiến hành các hoạt động vận động tranh cử. Đây cũng là lá bài để các thế lực, các nước lớn bên ngoài rêu rao về cuộc bầu cử đa đảng, tự do ở Cam-pu-chia và lợi dụng để loại bỏ chính quyền cách mạng Cam-pu-chia do Hun-xen đứng đầu. |