Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:30:58 pm



Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 03 Tháng Sáu, 2026, 09:30:58 pm
- Tên sách: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2019
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


* Chỉ đạo nghiên cứu biên soạn:
   QUẬN ỦY, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA    ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ QUẬN ĐỐNG ĐA


* Ban chỉ đạo:

   - Đồng chí LÊ TIẾN NHẬT - Thành Ủy viên, Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Bí thư Đảng ủy quân sự quận Đống Đa - Trưởng ban.

   - Đồng chí VÕ NGUYÊN PHONG - Phó Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Đống Đa - Phó ban.

   - Thượng tá LÊ THANH TÙNG - Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa - Phó Trưởng ban Thường trực.

   - Đồng chí HÀ NGỌC SƠN - Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Quận ủy - Ủy viên.

   - Đồng chí LÊ THỊ KIM HUỆ - Quận Ủy viên, Chánh Văn phòng Quận ủy - Ủy viên.

   - Đồng chí VŨ ĐÌNH TAM - Trưởng phòng Tài chính Kế hoạch quận Đống Đa - Ủy viên.

   - Đại tá NGUYỄN MẠNH NGỜI - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy quân sự, Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa
- Ủy viên.


* Ban Biên soạn:

   Chủ biên:

   Đại tá HOÀNG ĐỨC SINH - nguyên Phó Trưởng phòng Khoa học quân sự, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.


Tham gia biên soạn:

   - Đại tá NGUYỄN MẠNH NGỜI - Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Thượng tá LÊ THANH TÙNG - Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Thượng tá PHAN KHẮC UY - Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Thượng tá ĐÀO XUÂN NHƯỢNG - Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Đồng chí NGUYỄN MINH HÙNG - Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Quận ủy Đống Đa.

   - Thiếu tá VŨ KHÁNH TÙNG - Trợ lý Ban Chính trị Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Trung tá NGUYỄN THÌN BẢO - Trợ lý Ban Chính trị Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Trung tá HOÀNG TIẾN DŨNG - Trợ lý Cán bộ Ban Chính trị Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:11:33 pm
LỜI GIỚI THIỆU


Quận Đống Đa - đơn vị hành chính nội thành Hà Nội được mang tên địa danh quân sự gắn với tên tuổi người anh hùng ảo vải Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung - một danh nhân, thiên tài quân sự lỗi lạc của dân tộc; gắn với chiến công hiển hách lẫy lừng trở thành biểu tượng cho ý chí kiên cường chống ngoại xâm, tinh thần quật khởi, quyết chiến, quyết thắng, trí thông minh, sáng tạo và nghệ thuật quân sự đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Quận Đống Đa có bề dày lịch sử gắn liền với quá trình hình thành, phát triển quốc gia dân tộc Việt Nam. Địa bàn quận Đống Đa là một phần đất xưa kia thuộc thành Đại La, thành Tống Bình, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta dưới thời giặc phương Bắc đô hộ. Nơi đây đã sinh ra, nuôi dưỡng và thu hút hội tụ nhiều nhân tài, tuấn kiệt, những danh nhân trên nhiều lĩnh vực đến cư trú, làm việc và có những cống hiến, đóng góp quan trọng làm rạng danh non sông đất nước. Nhân dân quận Đống Đa giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Những giá trị truyền thống đó tạo nên động lực tinh thần to lớn cho các thế hệ quân và dân Đống Đa đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, cùng quân dân cả nước đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành và giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vùng quê Đống Đa từng là một trong những trung tâm của phong trào cách mạng của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng. Ra đời trong phong trào đấu tranh cách mạng, kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa quê hương, các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa luôn dũng cảm, kiên cường xung kích đi đầu và làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Đống Đa trong đấu tranh vũ trang, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Đống Đa vinh dự cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu kháng chiến toàn quốc và kiên cường chiến đấu giam chân địch trong thành phố 60 ngày đêm, tạo điều kiện cho Trung ương Đảng, Chính phủ rút lên chiến khu an toàn, góp phần làm thất bại âm mưu chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp. Sau đó, Đống Đa cùng các khu nội thành Hà Nội vừa là hậu phương kháng chiến, vừa là tiền tuyến - nơi đọ sức quyết liệt, trực tiếp với cơ quan đầu não, bộ máy điều hành cuộc chiến tranh Đông Dương của thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Đống Đa kiên cường bám trụ, bám đất, bám dân, phối hợp với các chiến trường tổ chức nhiều trận chiến đấu góp phần tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đống Đa là địa bàn bị đánh phá ác liệt nhất trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ1 (Không lực Hoa Kỳ gồm quân chủng không quân và không quân thuộc quân chủng hải quân. Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ huy động lực lượng không quân của cả hai quân chủng. Dùng khái niệm chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân để phân biệt với chiến tranh phá hoại kinh tế, văn hóa - xã hội, chiến tranh phá hoại bằng tình báo, gián điệp...). Song, quân và dân Đống Đa vẫn anh dũng, kiên cường, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đồng lòng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.


Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phát huy truyền thống anh hùng, quân và dân Đống Đa tích cực chi viện sức người, sức của cho các mặt trận bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam; đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, xây dựng cơ quan đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện tốt chức nâng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác quân sự, quốc phòng địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ quận Đống Đa ngày càng vững chắc.


Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giành, giữ, bảo vệ độc lập dân tộc, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Quận ủy Đống Đa, Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa tổ chức nghiên cứu biên soạn, xuất bản: "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa (1945 - 2019)". Phạm vi đối tượng nghiên cứu của công trình là lực lượng vũ trang quận Đống Đa gồm: cơ quan quân sự cấp quận, phường, đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dân quân, du kích, tự vệ quận Đống Đa. Đây là công trình khoa học lịch sử quân sự được nghiên cứu và biên soạn công phu với nhiều nguồn tư liệu quý, phản ảnh sinh động quá trình xây dựng chiến đấu, trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa.


Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hội Sử học Hà Nội, Quận ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cơ quan quân sự quận Đống Đa các thời kỳ và các cơ quan, đơn vị, cá nhân đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để cuốn sách được xuất bản, phát hành đúng kế hoạch.


Mặc dù Ban Biên soạn đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.

Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa trân trọng giới thiệu cuốn sách "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa (1945 - 2019)" cùng bạn đọc.

ĐẢNG ỦY, BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ QUẬN ĐỐNG ĐA


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:12:59 pm
Chương một
ĐỐNG ĐA - LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG, SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC VŨ TRANG TIỀN THÂN TRƯỚC VÀ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

1. Sơ lược lịch sử, truyền thống quận Đống Đa

Địa bàn quận Đống Đa ngày nay vốn là vùng đất được cư dân Văn Lang khai phá từ thuở lập nước. Đến thời giặc phương Bắc đô hộ, với địa thế cao ráo, rộng rãi, bằng phẳng địa bàn Đống Đa khi đó thuộc thành Tống Bình, sau là thành Đại La - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, nơi đặt cơ quan đầu não của các thế lực thống trị phương Bắc.


Năm 40 đầu Công nguyên, địa bàn quận Đống Đa ngày nay từng là đồn lũy của nghĩa quân Hai Bà Trưng chống lại quân xâm lược nhà Hán. Năm 767, Trương Bá Nghi - quan cai trị An Nam đô hộ phủ thuộc nhà Đường cho đắp La Thành bao quanh để bảo vệ huyện lỵ Tống Bình. Năm 866, Cao Biền tiếp tục đắp to, nâng cấp La Thành và đổi gọi là thành Đại La.


Sang thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, trước yêu cầu phát triển phục hưng quốc gia dân tộc, năm 1010, Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra Đại La và đổi tên Đại La thành Thăng Long, có nghĩa là rồng bay lên. Từ đó, địa bàn quận Đống Đa ngày nay là một phần quan trọng của Kinh đô nước ta suốt 10 thế kỷ nay.


Dấu tích La Thành trải qua hơn nghìn năm vẫn còn hiện diện trên đất Đống Đa một đoạn khá dài, từ Ô Kim Hoa chạy qua Ô Chợ Dừa đến Ô Cầu Giấy, đi ngang địa bàn quận Đống Đa từ Đông sang Tây với khoảng 4.600m. Trên bức thành đất này thời xưa đã mở ra hai cửa ô quan trọng, đó là Ô Kim Hoa và Ô Chợ Dừa. Ô Kim Hoa (sau đổi là Kim Liên) có tên nôm quen gọi là Ô Đồng Lầm, mở ra phía đường "Quan lộ" hay đường "Thiên lý" đi về phía Sơn Nam. Ô Chợ Dừa nơi có con đường "Thượng đạo", hay đường "Lai kinh" dẫn đến kinh thành từ các miền đất phía Nam và Tây Nam. Con đường này trước đây không đi thẳng theo đường Nguyễn Lương Bằng - Tây Sơn - Nguyễn Trãi - Hà Đông - Nho Quan - Thanh Hóa mà đoạn từ Nguyễn Trãi đã ngoặt lên phía Bắc, qua sông Tô Lịch ở cầu Nhân Mục (còn gọi là Cống Mọc) rồi mới ngược lên Ô Chợ Dừa vào cửa thành.


Theo Thăng Long cổ tích khảo tịch hội đồ thì Trung Đô thời Lê Thánh Tông gồm hai huyện thuộc phủ Phụng Thiên: huyện Vĩnh Xương có 18 phường nằm trong hai tổng: tổng Nội Thượng và tổng Hạ; huyện Quảng Đức có hai tổng: tổng Trung và tổng Nội Ngoại. Chiểu theo địa bàn quận Đống Đa hiện nay, ngày ấy là các phường: Kim Hoa, Đông Tác, Xã Đàn, Bích Câu của tổng Hạ, huyện Vĩnh Xương; các phường Thịnh Quang, Quang Trạm, Công Bộ của tổng Nội Ngoại huyện Quảng Đức. Như vậy đất mỗi phường rất rộng.


Năm 1889, thực dân Pháp quy hoạch lại thành phố, thu hẹp nội thành, gạt vùng đất thuộc quận Đống Đa bây giờ ra "khu vực ngoại thành". Năm 1915, Pháp đổi tên "khu vực ngoại thành" thành huyện Hoàn Long, thuộc tỉnh Hà Đông. Năm 1942, đổi huyện Hoàn Long thành "Đại lý đặc biệt Hà Nội" (còn gọi là Đại lý Hoàn Long) gồm 9 tổng, 60 xã (cả huyện Hoàn Long và 22 xã của phủ Hoài Đức). Nội thành có mở rộng thêm nhưng vùng đất Đống Đa vẫn ở ngoài ven.


Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 21 tháng 12 năm 1945, chính quyền nhân dân chia Thành phố Hà Nội làm 17 khu phố nội thành. Vùng Sinh Từ (Nguyễn Khuyến), Hàng Bột, Cát Linh, Bích Câu, Đoàn Thị Điểm, Quốc Tử Giám, Ngô Sĩ Liên, Văn Chương, Linh Quang, Lương Sử đến hai phố Khâm Thiên thuộc Khu phố Văn Miếu.


Ngày 26 tháng 5 năm 1946, ngoại thành Hà Nội được chia làm 5 khu hành chính, trong đó có Khu Đống Đa. Tháng 11 năm 1946, Khu đặc biệt Hà Nội được chuyển thành Chiến khu XI, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Nội thành chia làm ba liên khu, địa bàn Đống Đa nằm trong Liên khu III.


Tháng 4 năm 1947, năm khu hành chính ngoại thành lại thay đổi: Lãng Bạc, Đại La thành quận IV, Đống Đa là quận V, Mê Linh và Đề Thám là quận VI.

Tháng 10 năm 1947, thành lập ba liên quận, quận V và huyện Thanh Oai thành Liên quận V.

Tháng 3 năm 1948, thực dân Pháp tạm chiếm Hà Nội, lập ngoại thành gồm năm quận nằm trong Đại lý Hoàn Long, Đống Đa thuộc quận Ngã Tư Sở (gồm hai tổng Vĩnh An và Kim Liên).

Về chính quyền cách mạng, ngày 10 tháng 5 năm 1948, hợp nhất Hà Nội với Hà Đông thành liên tỉnh Lưỡng Hà, chia thành khu Nội thành và Ngoại thành. Khu ngoại thành gồm hai huyện Trấn Tây và Trấn Nam. Địa bàn quận Đống Đa lúc đó một phần thuộc Liên khu phố II (Nội thành) và một phần thuộc huyện Trấn Nam (từ Ô Chợ Dừa trở ra).


Từ tháng 6 năm 1949, hai liên khu I và II chuyển thành quận I và quận II, địa bàn Đống Đa ngày nay gồm Văn Miếu, Giảng Võ, Thổ Quan, Văn Chương, Thịnh Hào, Linh Quang, Trung Phụng, Trung Tự, Mỹ Đức, Kim Liên, thuộc quận II nội thành. Còn Thịnh Quang, Yên Lãng, Thái Hà, Nam Đồng, Nhược Công, Khương Thượng thuộc quận V.


Sau ngày giải phóng Thủ đô, Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội phân chia Hà Nội thành 4 quận nội thành (gồm 34 khu phố) và 4 quận ngoại thành (gồm 46 xã và khu phố). Phần lớn quận Đống Đa ngày nay nằm trong địa bàn quận 111, quận IV. Xã Thái Thịnh lúc đó thuộc quận VI; Tam Khương, Phương Liên thuộc quận VII.


Tháng 3 năm 1958, nội thành thành phố Hà Nội được chia lại thành 12 khu phố. Quận Đống Đa ngày nay nằm trên địa bàn các khu phố Văn Miếu, Ô Chợ Dừa. Năm 1959, nội thành được chia lại thành 8 khu phố, trong đó khôi phục lại tên Khu phố Đống Đa, gồm Văn Miếu và Ô Chợ Dừa.


Sau khi mở rộng Hà Nội lần thứ nhất ngày 31 tháng 5 năm 1961, đơn vị hành chính thành phố được tổ chức lại thành bốn khu phố nội thành là Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm và bốn huyện ngoại thành gồm: Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì. Khu phố Đống Đa bao gồm khu Đống Đa cũ; từ khối 2 đến khối 12, từ khối 14 đến khối 20, từ khối 22 đến khối 25 của khu Ba Đình cũ; khu Bệnh viện Bạch Mai của khu Bạch Mai cũ; khu công nghiệp Thượng Đình; xã Phương Liên, các thôn Khương Trung, Khương Thượng, Thái Hà, Thịnh Quang, Thịnh Hào, Hoàng Cầu và xóm Chùa của thôn Láng Hạ. Ngày 21 tháng 12 năm 1974, thành phố bỏ khối dân phố, thành lập 179 tiểu khu ở nội thành, Khu phố Đống Đa có 48 tiểu khu.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:14:13 pm
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hà Nội mở rộng lần thứ hai, sắp xếp lại Khu phố Đống Đa còn 24 tiểu khu.

Ngày 10 tháng 6 năm 1981, thay tên gọi khu phố thành quận, tiểu khu thành phường. Ngày 13 tháng 7 năm 1982, Đống Đa có thêm hai phường mới thành lập là phường Kim Giang và phường Thanh Xuân Bắc, nâng số phường thuộc quận lên 26 phường với diện tích hơn 15km2, 22 vạn dân. Đống Đa là quận lớn nhất trong bốn quận nội thành Hà Nội.


Ngày 22 tháng 11 năm 1996, quận Thanh Xuân được thành lập, bao gồm các phường Thượng Đình, Kim Giang, Thanh Xuân, Thanh Xuân Bắc, Phương Liệt, một phần phường Nguyễn Trãi, một phần phường Khương Thượng của quận Đống Đa và hai xã Khương Đình (huyện Thanh Trì) và Nhân Chính (huyện Từ Liêm). Sau khi điều chỉnh, diện tích quận Đống Đa còn lại gần 10km2, với khoảng 27 vạn nhân khẩu, tổ chức hành chính gồm 21 phường, gồm: Cát Linh, Hàng Bột, Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên, Láng Hạ, Láng Thượng, Nam Đồng, Ngã Tư Sở (phần còn lại của phường Nguyễn Trãi cũ), Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thịnh Quang, Thổ Quan, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu. Từ đó đến nay, địa bàn quận Đống Đa vẫn ổn định như trên.


Địa thế Đống Đa vốn trước kia dày đặc đầm hồ. Hồ bao quanh Quốc Tử Giám thông với sông Kim Ngưu nối vào Đại hồ là một vùng nước mênh mông. Qua nhiều thế kỷ, nhiều đầm hồ đã bị lấp đi để phát triển các làng xã mới. Đến nay vẫn còn vài chục hồ lớn nhỏ. Lớn nhất là hồ Đống Đa (14ha), hồ Thành Công (6,1 ha), hồ Xã Đàn (4ha), hồ Ba Mẫu, hồ Trung Phụng và các hồ khác như: Láng Thượng, Phụng Thánh, Văn Chương, Linh Quang, Kim Liên, Hoàng Cầu, Trung Tự, Hố Mẻ, hồ Chùa Bộc, hồ Văn... Giữa quận có con sông bị thu hẹp dòng, chỉ còn như một con mương đó là sông Kim Ngưu. Sông Kim Ngưu bắt đầu từ trại Yên Lãng chảy qua cây cầu đá làng Thịnh Quang rồi tới Thịnh Liệt, trước từng là con đường thủy quan trọng để đi Xích Đằng, Hiến Nam (Hưng Yên). Sông chảy tới Cống Xuyên gặp sông Tô Lịch hợp dòng rồi đổ ra sông Cái. Chếch hướng Đông Nam quận là sông Lừ, bắt đầu từ hồ Xã Đàn chảy qua Kim Liên, Trung Tự, Phương Mai, Phương Liệt đến đây tách làm hai nhánh, một nhánh đi tiếp xuống Định Công xuôi về phía Nam, một nhánh rẽ sang phía Đông nối với sông Sét ở Giáp Bát.


Con sông lớn hơn là sông Tô Lịch, vốn là một phân nhánh của sông Hồng, đoạn đầu nguồn bị thực dân Pháp lấp làm phố phường chỉ còn từ Yên Thái (Bưởi) chảy xuống phía Nam qua Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Đại Kim, Thanh Liệt đến huyện Thường Tín đổ vào sông Nhuệ. Sông Tô Lịch trước đây vốn là một dòng sông đẹp của Thăng Long. Sông Tô Lịch hiện nay là ranh giới giữa hai quận Đống Đa và Cầu Giấy.


Hệ thống giao thông của quận Đống Đa hiện nay là những trục đường, tuyến phố thường xuyên được đầu tư nâng cấp ngày càng trở nên khang trang, thông thoáng. Nhiều con đường được phân tuyến như trục Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Tây Sơn. Những đường phố mới mở ra ngang dọc trong quận như đường Nguyễn Chí Thanh - một trong những con đường đẹp của Thủ đô, Láng Hạ, Thái Hà, Xã Đàn, Chùa Bộc, Đào Duy Anh, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng... Đường Láng xưa kia chật hẹp nay có thêm một tuyến đi bên sông Tô Lịch. Ngã sáu Ô Chợ Dừa, Ngã Tư Sở, ngã tư Chùa Bộc - Tây Sơn, ngã tư Đại Cồ Việt - Kim Liên, Ngã Tư Vọng... nơi xây cầu vượt, nơi hạ đường hầm mở rộng giao điểm làm cho giao thông thông thoáng hơn.


Nhiều khu chung cư xây dựng từ những năm 60-70 của thế kỷ XX như Kim Liên, Trung Tự, Văn Chương, Vĩnh Hồ, Thịnh Quang, Hào Nam, Nam Đồng, Phương Mai, Láng Hạ đã giải quyết nơi ở cho hàng vạn gia đình cán bộ, công chức. Đến đầu thế kỷ XXI, những khu nhà xuống cấp đã và đang được Thành phố Hà Nội cho lập dự án xây dựng lại cao tầng, căn hộ rộng hơn, điều kiện sinh hoạt tốt hơn, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân.


Nhiều công trình phục vụ lợi ích công cộng được xây dựng. Công viên, vườn hoa, cây xanh, khu vui chơi giải trí, rạp hát, rạp chiếu bóng, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, siêu thị, bưu điện, ngân hàng được rải đều khắp; nhiều tuyến xe buýt thuận tiện đi lại.


Quận Đống Đa là vùng đất địa linh nhân kiệt. Nơi đây từng sinh ra, nuôi dưỡng, hội tụ nhiều nhân tài, tuấn kiệt, danh nhân có nhiều công lao đóng góp cho sự hưng thịnh và phát triển quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Phường Thổ Quan, xưa vốn là đất hai làng hợp nhất (làng Quan Trạm thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận và làng Thổ Quan thuộc tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương), vào những năm 40 - 43 đầu Công nguyên là quân doanh của ba anh em cùng làm tướng của Hai Bà Trung. Hai người anh là Nguyễn Hiển (Hiển Hựu) và Nguyễn Quý (Quý Minh) sinh đôi, em gái là Thị Phương (Phương Dung). Do bà mẹ ứng mộng được rồng cho đào tiên mà mang thai nên cùng gọi là họ Đào. Sau khi hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thành công, họ được phong tướng và đóng quân trấn giữ vùng Thổ Quan. Đến khi Mã Viện sang xâm lược trở lại, Hai Bà Trưng thế yếu phải tuẫn tiết. Ba anh em dũng cảm chiến đấu với giặc đến hơi thở cuối cùng và được tôn thờ làm thành hoàng làng.


Đoạn đầu đường Giảng Võ, nay thuộc phường Cát Linh, có lăng mộ Bố Cái Đại Vương Phùng Hung, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từ Đường Lâm (Sơn Tây) tiến về giải phóng phủ trị Tống Bình (Hà Nội hiện nay) do nhà Đường đô hộ vào cuối thế kỷ VII. Ông được thờ ở đình Thịnh Hào.


Làng Lương Sử và phường Văn Chương có đình thờ Thái úy Đại tướng quân Phạm Cự Lạng thời Đinh - Tiền Lê. Ông có công trong việc dẹp nạn cát cứ 12 sứ quân, sau lại phò vua Lê Đại Hành chống quân xâm lược Tống thắng lợi. Ông làm quan thanh liêm, dám nói thẳng, tiếng khen lưu truyền, mọi người đều kính phục. Sau khi ông mất, năm 1038, Vua Lý Thái Tông phong cho ông làm Hoằng Thánh Đại vương (sau đổi là Hồng Thánh).


Láng Thượng là quê hương của Từ Lộ (tức Từ Đạo Hạnh), thiền sư nổi tiếng thời Lý, hiếu học, thắp đèn đọc sách thâu đêm. Để trả thù cho cha là quan Đô sát Từ Vinh bị nhà sư Đại Điên ám hại, ông sang Thiên Trúc học đạo, khi trở về đánh gục Đại Điên rồi đi tu ở chùa Thầy. Tương truyền sau khi mất, ông đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu trở thành vua Lý Thần Tông ở kiếp sau. Ông được nhân dân thờ ở chùa Láng.


Trại Nam Đồng từng là nơi đóng quân của danh tướng Lý Thường Kiệt - anh hùng phá Tống, bình Chiêm. Bài thơ "Thần" Lý Thường Kiệt đọc trên phòng tuyến sông Như Nguyệt1 (Sông Cầu, đoạn chảy qua huyện Yên Phong (Bắc Ninh) và huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang)) được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Tương truyền, sau chiến thắng Như Nguyệt (1076), ông được vua ban cho về đóng trại tại Nam Đồng và ở đây cho tới khi mất (1105). Tương truyền mộ ông hiện ở trại Nam Đồng và đình Nam Đồng là nơi nhân dân thờ ông.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:15:14 pm
Phường Văn Hương (sau là Văn Chương) có chùa Huy Văn là nơi sinh Hoàng tử Lê Tư Thành, con thứ tư của Vua Lê Thái Tông. Do gặp nạn tranh giành quyền lực nơi nội cung, bà phi Ngô Thị Ngọc Giao phải lánh ra trú ở chùa Huy Văn nên sinh ông ở đó. Năm 1460, Tư Thành được đưa lên ngôi lấy niên hiệu là Lê Thánh Tông, làm vua 38 năm. Ông là một trong những vị vua anh minh hàng đầu của nhà nước phong kiến Đại Việt triều Hậu Lê, mở ra niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức, thời kỳ thịnh vượng nhất thường được gọi là Hồng Đức thịnh thế. Ông còn là nhà văn hóa, nhà thơ nổi tiếng, ông và mẹ là bà Ngô Thị Ngọc Giao được nhân dân thờ ở đền Huy Văn, đền Trung Tả trên đất Văn Chương xưa.


Phường Bích Câu xưa (nay là Cát Linh) là nơi hội tụ nhiều danh nhân khoa bảng và danh nhân văn hóa. Bùi Huy Bích - dòng dõi tiến sĩ Bùi Xương Trạch quê ở Định Công, học trò của quan bảng Lê Quý Đôn, có dinh cơ ở Bích Câu. Bùi Huy Bích đỗ Hoàng giáp, làm quan Hành tham tụng thời Lê Hiển Tông, để lại nhiều tập thơ văn, trong đó có Bích Câu thi tập viết về Thăng Long. Gia đình Nguyễn Nghiễm là gia đình nổi tiếng túc nho cuối thế kỷ XVIII. Quê gốc ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp năm 1731 và ra làm quan tới chức Tể tướng và là Tế tửu Quốc Tử Giám thời Lê - Trịnh, ông còn là nhà giáo, nhà thơ, nhà sử học. Con trai ông là Nguyễn Khản cũng làm quan đầu triều, rất giàu sang ở Thăng Long. Em trai Nguyễn Khản là Nguyễn Du sinh ra ở Bích Câu và sống tại đây. Nguyễn Du làm quan triều Nguyễn, nhưng trước hết ông là nhà thơ lớn của dân tộc. Truyện Kiều là đỉnh cao nghệ thuật truyện thơ Nôm, với tác phẩm này, ông vinh dự được tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.


Phường Phương Liên có dòng họ của ông nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý có nhiều người nổi danh. Nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Văn Lý đỗ Tiến sĩ năm 1832, bạn của "thần Siêu, thánh Quát" làm tới Án sát, Đốc học Hưng Yên. Ông còn tham gia văn hội Thọ Xương, cùng Nguyễn Văn Siêu tôn tạo đền Ngọc Sơn. Cháu nội ông là Nguyễn Hữu Cầu đậu cử nhân năm 1906, là một trong những người sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục.


Làng Hào Nam có ngôi trường nổi tiếng của thầy giáo Vũ Thạnh, học trò đông hàng nghìn người, nhiều người đỗ đạt làm quan trong triều Lê - Trịnh, ông vốn là người làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, tới cư ngụ ở phường Báo Thiên. Ông đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Ất Sửu (1685), làm bồi tụng ở phù chúa. Vì can chúa bớt ham mê nữ sắc không được, ông cáo quan về mở trường dạy học, nổi tiếng khí tiết cao thượng là nhà giáo mẫu mực của kinh thành Thăng Long.


Làng Hoàng Cầu là nơi sinh Thám hoa Mai Anh Tuấn (1815- 1855). Ông tên chính là Mai Thế Tuấn, quê gốc ở xã Thạch Giản, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình có nhiều người đỗ cao, làm quan to dưới triều Lê. Ông đỗ Thám hoa trong khoa thi 1843 dưới thời Thiệu Trị, được bổ chức Hàn lâm viện trước tác, sung chức Hành tẩu bí thư thuộc Nội các, được phong Hàn lâm thị độc học sĩ. Tính ông khảng khái, cương trực, vì can vua Tự Đức không nên hộ tống đoàn thuyền buôn người Hoa dạt vào biển nước ta, trong khi quân Thanh đang quấy rối ở phía Bắc, nên bị kết tội khi quân, giáng chức đi làm Án sát Lạng Sơn. Ông cùng trường vệ đem quân đuổi giặc Thanh và hy sinh trong cuộc chiến đấu. Triều đình cử hành tang lễ trọng thể tại làng Hoàng Cầu. Ông được thờ ở Lạng Sơn và đền Trung Nghĩa ở Huế.


Làng Thịnh Hào là quê của chí sĩ Lê Đại, ông đỗ đầu xứ nên thường gọi là ông đầu xứ Lê. Ông có tinh thần yêu nước nên đã tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục năm 1907, có chân trong Ban tư thu của trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, ông đã dịch cuốn Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu để phổ cập trong nhân dân. Trường Đông Kinh nghĩa thục bị thực dân Pháp đóng cửa, nhân xảy ra vụ Hà thành đầu độc, thực dân Pháp bắt ông đày ra Côn Đảo 18 năm. Tại Côn Đảo, ông sáng tác nhiều bài thơ yêu nước, được cụ Huỳnh Thúc Kháng sưu tập trong Thi tù tùng thoại.


Phường Thịnh Hào có Đỗ Cơ Quang, cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hoạt động trong phong trào Đông Du, Duy Tân hội, Đông Kinh nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội, tham gia vụ âm mưu đánh úp thành Hà Nội năm 1914, bị lộ, đã bị thực dân Pháp bắt và giết hại. Hai con ông là Đỗ Bằng và Đỗ Thị Tâm sau này đều gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học.


Trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, đất Thổ Quan còn là nơi hoạt động của các cơ sở Đảng Tân Việt và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Hai anh em Mai Lập Đôn - Mai Thị Vũ Trang và Nguyễn Quang Bật (hiệu Bối Thịnh) nhà ở Ô Chợ Dừa (nay thuộc phường Hàng Bột) là hai điểm liên lạc và nuôi giấu cán bộ. Phố Khâm Thiên là nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ - người tham gia thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1929. Năm 1930, đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ được cử làm Bí thư Thành ủy chính thức đầu tiên của Đảng bộ Thành phố Hà Nội. Khâm Thiên cũng là nơi ở và hoạt động nghệ thuật của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Nghệ sĩ nhân dân xiếc thú Tạ Duy Hiển, Nghệ sĩ nhân dân ca trù Quách Thị Hồ; các đào nương nổi tiếng như: Đàm Mộng Hoàn, Chu Thị Bổn, Chu Thị Năm, Nguyễn Thị Phúc... Họa sĩ nổi tiếng Tô Ngọc Vân cũng từng ở ngõ Thổ Quan.


Nhiều nhà văn, nhà thơ khác cũng từng sống và hoạt động sáng tác trên đất Đống Đa như Tú Mỡ ở đường Láng; Tản Đà, Vũ Trọng Phụng ở Ngã Tư Sở; Vũ Ngọc Phan - Hằng Phương ở Thái Hà, Trần Huyền Trân ở ngõ Sơn Nam...

Quận Đống Đa có bề dày lịch sử và một kho tàng phong phú về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Theo thống kê của Phòng Văn hóa - Thông tin quận Đống Đa, trên địa bàn quận hiện có hơn 50 di tích văn hóa - lịch sử - kiến trúc và cách mạng - kháng chiến, trong đó có 34 di tích đã được công nhận cấp quốc gia, một số di tích do Thành phố Hà Nội công nhận.


Tiêu biểu là Văn Miếu - Quốc Tử Giám là di sản lâu đời có giá trị nhất trên đất Đống Đa, trở thành biểu tượng của nền văn hiến Thăng Long - Hà Nội và của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh Khuê Văn Các được chọn làm biểu trưng của Hà Nội. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được coi là trường đại học đầu tiên của nước ta.


Trên đất Đống Đa, ngoài Văn Miếu còn có các trường của các thầy giáo dạy giỏi như trường Đông Tác của thầy Nguyễn Văn Lý, trường Hào Nam của thầy Vũ Thạnh... có nhiều học trò đỗ cao, làm quan to trong triều.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:16:14 pm
Đống Đa không chỉ có Văn Miếu mà còn có Y Miếu ở phố cùng tên, cạnh chợ Ngô Sĩ Liên, phường Văn Miếu, thờ Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế), được coi là tổ sư ngành y của Trung Quốc và các danh y nước nhà như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông...


Đó cũng là nét đặc sắc của văn hóa phương Đông trong cả hai nghề thầy giáo và thầy thuốc. Việt Thái y thời Lê - Trịnh hiện còn lưu dấu tích ở Xã Đàn.

Tiếp thu nền y học cổ truyền, khoa châm cứu của Việt Nam đã nổi danh thế giới với Thầy thuốc nhân dân, Anh hùng lao động, Giáo sư Nguyễn Tài Thu - người lãnh đạo Viện Châm cứu, ở phố Thái Thịnh. Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Cao đẳng Y - Dược Hà Nội đều "đóng" trên đất Đống Đa, đào tạo các bác sĩ đa khoa, chuyên khoa, y sĩ và dược sĩ trung cấp, hộ lý, y tá... cung cấp cho các bệnh viện trên cả nước.


Khương Thượng vào thời Lê có trường thi võ, nay còn dấu vết nền Điện Thí; lại có Giảng Võ đường ở làng Giảng Võ cạnh Trường Hào Nam lập từ thời Lý, sau là Võ Trại. Như vậy, Đống Đa có đủ các trường văn - võ - y.

Các trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Đại học Văn hóa, Đại học viết văn Nguyễn Du, Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội, Học viện Âm nhạc quốc gia, Đại học Luật, Đại học Ngoại thương, Đại học Thủy lợi, Học viện Ngân hàng, Học viện Ngoại giao, Đại học Công đoàn... là những cơ sở đào tạo ra các nghệ sĩ, kỹ sư, cán bộ quản lý cho các ngành.


Trên đất Đống Đa xưa có đài Khâm Thiên Giám - cơ quan thiên văn và làm lịch của các triều đại Lý - Trần - Lê. Nhiều nhà bác học, toán học của nước ta đã làm việc ở đây. Di chỉ Khâm Thiên Giám nay chỉ còn là một gò đất gọi là Thiên đài ở trong Ngõ chợ Khâm Thiên. Nay là nơi đóng Nha Khí tượng thủy văn Trung ương ở phố Pháo Đài Láng, vốn là đài khí tượng Láng thời thực dân Pháp, được mở rộng và nâng cấp, cũng là nơi tập trung các nhà khoa học hàng đầu của ngành này.


Gò Đống Đa là di tích võ công lớn trên địa bàn quận, nơi diễn ra trận đánh Khương Thượng lịch sử, còn để lại chiếc gò thứ 13 tập trung chôn xác địch. Nay gò nằm trong khuôn viên Công viên văn hóa Đống Đa cùng với tượng đài anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ.


Gắn liền với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa còn có hai ngôi chùa ở gần đó. Đáng lưu ý là chùa Bộc (Bộc Am), có tên chữ là Sùng Phúc, nằm trên phố mang tên Chùa Bộc. Theo tấm bia cổ nhất dựng năm 1676, thì chùa này có từ thời Hậu Lê, đã bị cháy trong trận công đồn Xuân Kỷ Dậu 1789. Ba năm sau, nhà sư trụ trì đã quyên tiền công đức thập phương xây dựng lại chùa và đúc quả chuông vào năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800). Chùa có thở một pho tượng Đức Ông (tương truyền là tượng Vua Quang Trung), đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1846).


Ngôi chùa thứ hai là chùa Đồng Quang ở phía bên kia đường Tây Sơn, đối diện Gò Đống Đa. Chùa dựng năm Tự Đức thứ 4 (1851) để tế lễ vong hồn những người tử trận trong trận Đống Đa. Bia Tự Đức năm thứ 9 (1856) do Tiến sĩ Lê Duy Trung soạn văn bia cho biết việc chôn cất hài cốt quân Thanh, đắp gò thứ 13, lại được hai trại Thịnh Quang và Nam Đồng cung tiến xây dựng thờ Phật và để các vong hồn có nơi nương tựa. Về sau, nhân dân địa phương đã dùng làm đền thờ Quang Trung. Chùa Đồng Quang được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1990.


Xuôi theo đường Tây Sơn về phía Nam cách Ngã Tư Sở khoảng 100m có ngôi chùa cổ Phúc Khánh Tự (tên Nôm là chùa Sở) vì xây dựng trên đất Thịnh Quang Sở ngày xưa. Tương truyền, chùa được xây từ cuối thời Trần, đến thời Lê Sơ là nơi đào tạo tăng ni, sau đó việc này giao cho chùa Quán Sứ đảm nhiệm, nên chùa Sở chỉ còn thờ Phật.


Ngay bên đường Láng có đình Ứng Thiên của làng Láng Hạ. Đây là ngôi đình rất cổ có từ thời Lý, còn gọi là đình Nhà Bà, đền Hậu Thổ. Tương truyền, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi dẹp loạn Chiêm Thành quấy rối bờ cõi phía Nam. Một đêm, nhà vua mộng thấy một nữ thần xưng là tinh anh sông núi sẽ hiển linh giúp vua bình thiên hạ. Lúc khải hoàn, vua phong thần là "Ứng Thiên Hóa dục nguyên quân Hậu Thổ" và sai làng Láng lập đền thờ. Đến đời Trần Anh Tông (1293 -1314), gặp năm đại hạn, vua tới đền làm lễ cầu đảo mà mưa lớn nên gia phong cho thần là "Ứng Thiên Hậu Thổ phu nhân", vị nữ thần giúp dân cày cấy thuận hòa. Sau đền còn thờ thêm hai vị thần Cao Sơn và Linh Lang, công chúa Vĩnh Gia và Từ Lương tôn thần. Từ đền thành đình làng nên đình Ứng Thiên có kiến trúc kiểu chữ Công với nhiều mảng chạm khắc nghệ thuật cao. Đình làng Láng Hạ đã được xếp hạng Di tích văn hóa cấp quốc gia năm 1992.


Trong ngõ Giếng Láng Thượng (nay là phố chùa Láng) có một ngôi chùa cổ, tam quan có hai cột trụ giữa nâng cao mang ba chữ "Chiêu Thiền Tự", đó là chùa Láng. Trong khuôn viên và dọc lối vào có nhiều cây muỗm cổ thụ tỏa bóng mát tạo cành quan u nhã, xưa được tôn là "Đệ nhất tùng lâm" đất Thăng Long. Chùa Láng được xây dựng từ thời Lý Anh Tông (1138-1175), trên khu đất rộng 4 mẫu Bắc Bộ. Qua sân gạch Bát Tràng có chiếc sập đá đặt giữa, làm chỗ chồng đòn ngang rước Thánh mỗi khi mở hội. Trong khu chùa chính quần thể kiến trúc được bố cục cân đối, hài hòa. Giữa sân là tòa Bảo Cái xây gạch buộc hình bác giác, chồng diêm hai tầng với 16 mái cong thanh thoát. Nơi đây đặt tượng Thánh khi làm lễ dâng hoa ngày hội. Chùa xây kiểu nội công ngoại quốc vừa tròn 100 gian. Hậu cung có tượng Lý Thần Tông bằng mây đan đặt trong kiệu, còn có tượng Từ Đạo Hạnh thể hiện hai kiếp trước sau của một con người. Chùa Láng còn là di tích cách mạng. Các cuộc họp Thanh niên phản đế (1940 - 1941), Thanh niên cứu quốc (1943 - 1944) đều diễn ra tại chùa Láng. Sau Cách mạng Tháng Tám, sáng mồng 4 Tết Bính Tuất (1946), Bác Hồ về chùa Láng khai mạc chợ phiên ủng hộ Nam bộ kháng chiến của đồng bào ngoại thành. Chùa Láng là di tích được xếp hạng Di tích cấp quốc gia trong đạt công nhận đầu tiên năm 1962.


Đình Nam Đồng ở phố Nguyễn Lương Bằng được xây dựng từ thế kỷ XVII, kiến trúc quy mô gồm tam quan, đại đình, hậu cung. Các bức cuốn có nhiều mảnh chạm mang phong cách dân gian có tính nghệ thuật cao. Chiếc ngai gỗ sơn son thếp vàng và các đồ thờ là di vật cổ hơn 300 năm. Đình có năm tấm bia đá còn lưu giữ được, sớm nhất là bia Cảnh Hưng năm thứ 17 (1756). Đình có đôi câu đối của nhà chí sĩ cách mạng Nguyễn Thượng Hiền viết năm 1902. Đình đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1991.


Đình Thổ Quan là nơi thờ ba anh em Hiển Hưu, Quý Minh và Phương Dung, tướng của Hai Bà Trưng làm thành hoàng. Đình Thổ Quan, đình - đền Trung Tả, chùa Linh Ứng là ba di tích trong phường Thổ Quan đều được công nhận là Di tích cấp quốc gia năm 1993.


Trên địa bàn quận Đống Đa, còn có các đình Hào Nam, Trung Tự, Linh Quang, Hoàng Cầu...; các chùa Ngọc Hồ, Phụng Thánh, Cát Linh, Xã Đàn, Phổ Giác, Huy Văn, Thanh Nhàn, Mỹ Quang, Bà Nành, Quang Minh...; các đền Nhà Bà, Tương Thuận, Sòng Sơn, điện Dục Khánh, Quán Bích Câu đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:17:02 pm
Đống Đa cũng vinh dự là nơi có đình - đền Kim Liên thờ vị thần Cao Sơn Đại Vương, một trong tứ trấn của Thăng Long. Di tích này trước là đền sau là đình của làng Kim Liên thuộc phường Phương Liên. Đình lưu giữ được 39 đạo sắc phong, trong đó có 26 đạo thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI - XVIII), 13 đạo sắc thời Nguyễn, cổ nhất là đạo sắc phong niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 2 (1620). Di sản lâu năm nhất là bài văn bia "Cao Sơn Đại Vương thần từ bị minh" do Đông Các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Thượng thư Bộ Lễ Lê Tung soạn năm 1510, khắc vào bia đá năm 1772 đời Lê Hiển Tông. Bia được làm bằng đá xám mịn cao 2,43m, rộng 1,57m, dày 0,22m chạm rồng và hoa mây, chữ khắc chân phương, là một trong những tấm bia quý của Hà Nội.


Thần Cao Sơn được thờ ở rất nhiều nơi trong thành Thăng Long cũng như trong cả nước, nhưng đình Kim Liên là nơi thờ lớn nhất vì được phong là thần Trấn Nam. Lễ hội Kim Liên vào ngày 16 tháng 3 âm lịch, với sự tham gia của ba làng: Quỳnh Lôi, Bạch Mai, Phương Liên. Hội có nhiều trò chơi dân gian cổ truyền như thổi cơm thi trên thuyền, bắt vịt dưới hồ, chọi chim, đi cầu bập bênh. Đặc biệt là thi cỗ 5 - 7 tầng, tạo các hình Phật Bà, Thạch Sanh, Lã Vọng... do các giáp dâng cúng. Khu di tích này đã được trùng tu lớn và xây dựng lại các bộ phận bị phá hủy trong chiến tranh. Di tích đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1990.


Ở các đình, đền, chùa, quán đều có lễ hội hằng năm. Lớn nhất là hội Gò Đống Đa, hội chùa Láng.

Đống Đa cũng có nhiều truyền thuyết, cổ tích, giai thoại. Đó là chuyện tiên ở chùa Ngọc Hồ đã gặp vua Lê Thánh Tông, sau lại vào tranh về nhà Tú Uyên bên "Ngòi biếc" (Bích Câu); chuyện Thánh Tú (Từ Đạo Hạnh) đầu thai; chuyện dân làng Văn Chương kiện vua Quang Trung vì quân lính Tây Sơn làm đổ bia Văn Miếu; chuyện Ngô Thì Nhậm bị đòn thù; cuộc vịnh thơ ngàn năm văn vật đất Thăng Long, v.v...


Phong tục tập quán của cư dân trên địa bàn quận Đống Đa mang nét chân quê, nặng tình làng nghĩa xóm, dù đô thị hóa vẫn còn giữ mối quan hệ mật thiết "bán anh em xa mua láng giềng gần", tương trợ lẫn nhau lúc "tối lửa tắt đèn". Dưới thời phong kiến, nhiều làng có hương ước khá tiến bộ, có những điều khoản đến nay vẫn còn bảo lưu. Nền nếp gia phong được coi trọng, sinh hoạt dòng họ khích lệ động viên nhau học tập tốt, kinh doanh thạo, làm việc thiện. Người già được kính trọng, con cháu noi theo gương tốt của cha mẹ, ông bà, trong nhà đóng cửa bảo nhau không để xích mích phải đưa ra nhờ cửa quan phân xử.


Nhiều làng có tục kết chạ, kết nghĩa với nhau như năm làng Mọc. Họ giúp nhau trong sản xuất, tương trợ nhau lúc hoạn nạn, cùng nhau chia sẻ buồn, vui, khi cần đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng họ sát cánh bên nhau.

Con người Đống Đa có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, tài hoa. Vốn là vùng nông nghiệp ven đô, lại nhiều ao đầm, Đống Đa xưa là kho thực phẩm cung cấp cho kinh thành. Một dải rau xanh kéo dài từ ba làng Láng qua Thịnh Quang, Hào Nam, Thổ Quan, Xã Đàn, Trung Phụng, Kim Liên. Kẻ Láng (Yên Lãng) với ba thôn Thượng, Trung, Hạ là nơi trồng rau gia vị nổi tiếng đất kinh thành.


Đặc sản của kẻ Láng là húng và hành hoa. Cây húng có mùi vị đặc biệt, màu tía, lá nhỏ hơi quăn và thơm dịu, chỉ trồng trên đất Láng mới ngon, đem trồng nơi khác đều hắc mùi bạc hà. Hành hoa là loại hành không có củ, dùng làm gia vị cho nhiều món ăn. Đây là hai thứ gia vị góp phần tạo nên nét đặc trưng của ẩm thực Hà Thành.


Các làng khác chủ yếu là trồng rau muống, rau muống ruộng và rau muống bè thả dưới ao đầm. Chỗ cầu Muống xưa bắc qua sông Kim Ngưu, khoảng giữa hai làng Trung Phụng và Kim Liên có giống rau muống ngon. Đây là loại rau muống nước, ngọn nhỏ, cuống to, ăn bùi và mềm, thường quen gọi là rau giải, muống tiến (vua).


Hai làng Kim Liên (trước là Kim Hoa) và Trung Tự (trước là Đông Tác) là vùng đất trũng, nhiều ao, hồ, đầm. Hồ Đồng Lầm lớn nhất, rộng hàng chục mẫu. Con đường Thiên lý xuống vùng Sơn Nam trước qua Ô Cầu Dền, Trạm Hà Mai đến Đuôi Cá xuôi về Nam. Sau con đường được nắn thẳng để thành Quốc lộ 1 (đoạn phố Lê Duẩn) nên đã đắp đất lấp ngang hồ Đồng Lầm, cắt thành hai hồ Bảy Mẫu và Ba Mẫu. Phía Nam làng Kim Hoa thành một cửa ô có các tên gọi là Ô Kim Hoa, Ô cầu Muống, ô Đồng Lầm, nhưng ô Đồng Lầm là tên gọi quen thuộc nhất. Có hồ lớn nên nuôi thả cá và chài lưới là nghề của nhiều hộ dân ở đây. Kim Liên còn có nghề nhuộm vải nâu non, nâu sồng. Đây là thứ vải rồng mỏng, mềm mặc rất mát do người dân địa phương dệt, nhuộm nâu non chỉ nhúng vào nước củ nâu, rồi phơi hàng chục lần. Còn nhuộm nâu sồng thì nhúng thêm vào bùn nước để có màu nâu đen cho người già dùng. Tận dụng mặt nước lớn, người dân Kim Liên còn trồng sen lấy hoa ướp hương chè.


Trên đất Quan Trạm - Trung Tả - Mỹ Đức có con đường Khâm Thiên chạy qua, nay là địa bàn thuộc hai phường Khâm Thiên và Thổ Quan, cũng là vùng có nhiều ao hồ, nghề trồng rau, làm đậu phụ, nuôi cá chiếm số đông.

Khâm Thiên có một nghề thủ công khá phát triển là nghề may, đã đưa Khâm Thiên thành phố thợ may, vừa may đo cho khách, vừa làm gia công cho làng may Cổ Nhuế, nơi đây đã trở thành một điểm hẹn của người Hà Nội. Ở đây có đủ các loại mặt hàng từ thông thường đến hàng ngoại, từ kiểu cách truyền thống đến các "mốt" tân thời. Thời bao cấp, phố này còn là nơi sớm thành lập các tổ đan len, tổ dịch vụ "cơm nồi, nước sôi" phục vụ cán bộ, công nhân đi làm thời chiến. Khâm Thiên cũng có nghề thợ sắt làm cửa kéo, khung hoa cửa sổ, cầu thang...


Đống Đa còn có một vùng chế biến thực phẩm từ lâu đời ở gần Văn Miếu, đầu con đường Thượng đạo lai kinh. Đó là các thôn Thục Miến và Hương Miến. Miến nghĩa chữ Hán là Bột. Thục Miến là bột chín, đó là cháo bột (nay còn tên gọi phố Hàng Cháo), hoặc có thể còn là bột gạo nếp rang và xay mịn để đóng oản và làm bánh khảo. Hương Miến là bột thơm như bột sắn ướp hoa nhài, bột nếp ướp hoa bưởi... Do đó, con đường dài đi bên trái Văn Miếu về phía Ô Chợ Dừa được mang tên phố Hàng Bột từ cồ xưa (năm 1989 đổi tên là phố Tôn Đức Thắng). Hiện nay, Hàng Bột là tên một phường trên địa bàn quận Đống Đa.


Bên số lẻ phố Hàng Bột này còn có ngõ Thông Phong, tên một loại dụng cụ bắng thủy tinh chụp lên các cây đèn cồn, đèn cầy che ngọn lửa cho khỏi gió. Trong ngõ này có nhiều lò thủy tinh thổi bóng đèn mà thành tên. Những thợ lò sau còn thổi ra chai, lọ, cốc, ống tiêm... Đây là một nghề thủ công vất vả, cần có sức khỏe lại phải có tay nghề và giàu sáng tạo để làm ra sản phẩm vừa tốt, vừa đẹp...


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:17:34 pm
Làng Khương Thượng trước tình trạng đô thị hóa thời Pháp thuộc đã mất nhiều đất do bị quan lại chiếm dụng để lập ấp riêng và do thực dân tịch thu để mở sân bay Bạch Mai... nên nhân dân đã phải thâm canh tăng vụ, đồng thời tìm hướng khai thác sản vật trong vùng sẵn có để chế biến làm thức ăn cho mình, sau trở thành hàng hóa bán cho người tiêu dùng nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Đồng đất ở đây có nhiều kênh mương, ao hồ, sông ngòi nên có nhiều sinh vật thiên nhiên như tôm, của, ốc, ếch, nhái, châu chấu, chim cò, cà cuống... Người Khương Thượng đã biến chúng thành những món ăn đặc sản truyền thống có tiếng từ xưa ở chợ Đồng Xuân và qua các gánh hàng rong trên đường phố. Đặc sản thứ ba là tinh dầu cà cuống lấy ra từ bọng con cà cuống thường bay ra trong đêm. Tinh dầu cà cuống không thể thiếu trong món chả cá, bún thang, bánh cuốn Thanh Trì... Nhân dân nơi đây còn săn chim, cò, đánh vợt châu chấu làm thức ăn cũng được nhiều người ưa chuộng. Những đặc sản ấy còn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay.


Tinh thần khắc phục khó khăn, lao động cần cù, sáng tạo trở thành nét đẹp truyền thống của con người Đống Đa trong cộng đồng dân cư đô thị Thăng Long - Hà Nội.

Đặc biệt, Khâm Thiên còn là phố cô đầu hát ca trù nổi tiếng Hà Thành nửa đầu thế kỷ XX. Ca trù là một nghệ thuật đặc sắc của văn hóa dân tộc, khởi nguồn từ hát cửa đình trong các dịp đình đám. Một thú chơi thanh lịch, trí tuệ của khách văn chương hào hoa. Ca trù lập thành phường gọi là Giáo Nhai - Hàng Giấy. Đô thị Hà Nội mở rộng, ca quán ở nội thành không hợp nên đã dạt về cuối phố Huế và tập trung nhất ở Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Thái Hà. Những đào nương có giọng ca hay nhất nước về ca trù đều hội tụ ờ Khâm Thiên, cùng với họ là những tay đàn đáy tuyệt vời. Khách đi nghe hát, thưởng thức nghệ thuật là các trí thức, nhà nho, văn nghệ sĩ. Họ tự soạn bài để đào nương hát mua vui với bạn bè tâm đắc. Đến thời kỳ mới, nhận thức lại bản sắc của nghệ thuật ca trù, đánh giá đúng giá trị của nó, ca trù được phục hồi, một số đào nương và nhạc công cự phách của Khâm Thiên được vinh danh nghệ sĩ.


Nói đến Đống Đa là nói đến vùng đất có bề dày truyền thống lâu đời, truyền thống ấy vẫn đang được bảo tồn và phát huy trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam. Đó là truyền thống yêu nước và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; truyền thống hiếu học và đào tạo nhân tài; truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và truyền thống văn hóa.


Trên các trang sử của Thủ đô còn ghi đậm dấu ấn truyền thống yêu nước anh hùng của người Đống Đa.

Từ lúc Hai Bà Trưng "phất cờ nương tử cầm quyền tướng quân", vùng đất này đã dậy sóng đấu tranh để lại nhiều dấu tích như: Bãi Trận, Hồ Đồn, Lệnh Cư ở Thổ Quan. Khi quân Minh chiếm thành Đông Quan, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, đem nghĩa quân ra bao vây Đông Quan, cuối năm 1426, chỉ cách nhau một tháng đã diễn ra hai trận kịch chiến tại Cống Mọc, nghĩa quân đánh cho quân thù tơi tả, xác giặc ngổn ngang lập thành bảy gò Đống Thây.


Mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, cả vùng Khương Thượng âm vang trống thúc và rực đỏ trận "rồng lửa" của dân bảy làng phối hợp với quân Tây Sơn thiêu cháy đồn thù, tướng giặc Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự sát. Đại quân ta tiến lên hạ tiếp trại Nam Đồng mở lối vào cửa Tây thành Thăng Long, cùng với cánh quân phía Nam do vua Quang Trung chỉ huy tiến vào giải phóng kinh đô. Chứng tích Gò Đống Đa là nơi thu thập xương cốt quân Thanh từ 12 gò mả trong lần mở đường, lập chợ 60 năm sau.


Những giá trị truyền thống tốt đẹp bao thế hệ người dân Đống Đa vun đắp, lưu truyền là tiền đề cho sự phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng và sự ra đời, phát triển, chiến đấu chiến thắng của lực lượng vũ trang ba thứ quân quận Đống Đa.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:19:53 pm
2. Các tổ chức vũ trang ra đời làm nòng cốt đấu tranh vũ trang, xây dựng và bảo vệ phong trào cách mạng (1930 - 1940)

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sự đầu hàng của Nhà Nguyễn biến nước Việt Nam từ một quốc gia phong kiến có chủ quyền trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến1 (Phân biệt với xã hội thuộc địa và xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Xã hội thuộc địa do thực dân thống trị xã hội bằng bộ máy của thực dân. Xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến là xã hội một phần lãnh thổ quốc gia chuyển nhượng cho thực dân không thời hạn hoặc trong một thời gian nhất định, trở thành một đơn vị hành chính của chính quốc. Xã hội thuộc địa nửa phong kiến là xã hội thuộc địa ở đó bọn thực dân vẫn duy trì chế độ phong kiến ở bản địa, sử dụng bộ máy phong kiến làm công cụ thống trị, áp bức, bóc lột nhân dân, khai thác tài nguyên phục vụ cho lợi ích của tư bản chính quốc).


Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành chương trình khai thác thuộc địa trên quy mô cả nước với mục tiêu biến Việt Nam thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhân lực và thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các tập đoàn tư bản Pháp, đồng thời trở thành một cơ sở kinh tế quan trọng và căn cứ quân sự trọng yếu của nước Pháp ở vùng Viễn Đông.


Quá trình xâm lược, khai thác thuộc địa ở Việt Nam của thực dân Pháp làm thay đổi căn bản toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Việt Nam nói chung và của các địa phương địa bàn Đống Đa nói riêng.

Bộ máy chính quyền Nam triều ở các cấp chỉ là công cụ tay sai của thực dân Pháp. Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân các địa phương ở Đống Đa rơi vào thảm cảnh một cổ hai tròng, mọi quyền tự do, dân chủ của người dân đều bị bóp nghẹt.

Sau khi thiết lập xong bộ máy hành chính và quân sự ở Hà Nội, thực dân Pháp tiến hành các biện pháp cướp đất, mở nhà máy để khai thác tài nguyên, khai thác bóc lột sức lao động của nguồn nhân công rẻ mạt, dồi dào ở Việt Nam. Giới chủ và địa chủ kiêm công chức người Việt cũng thực hiện các thủ đoạn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, bóc lột sức lao động của công nhân, nhân dân lao động.


Đống Đa từ những năm 1920 cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một vùng ngoại ô nghèo, chủ yếu là nông dân lao động làm nông nghiệp. Đất nông nghiệp Đống Đa thuộc loại tốt, nhưng tuyệt đại bộ phận đất đai không thuộc quyền sử dụng của nông dân. Một số quan lại tay sai của thực dân Pháp chiếm nhiều vùng đất rộng lớn để lập ấp. Nguyễn Hữu Độ - Kinh lược xứ Bắc Kỳ chiếm hầu hết vùng đất xung quanh phố Nguyễn Khuyến ngày nay, rồi xây đền, sinh từ bắt dân địa phương thở sống. Kinh lược Hoàng Cao Khải cũng chiếm đất lập ấp Thái Hà với mục đích làm khu ăn chơi cho quan lại phong kiến. Sau khi Hoàng Cao Khải chết, con là Hoàng Trọng Phu cho xây dựng tại đó lăng vợ chồng Hoàng Cao Khải theo kiểu lăng của các vua chúa. Một phần lớn ruộng đất khác bị chiếm để xây dựng các nhà thờ Nam Đồng, Hàng Bột thành những trung tâm phát triển đạo Thiên chúa ở vùng ngoại thành.


Địa bàn Đống Đa không có các cửa hàng và cơ sở công nghiệp lớn. Thành phần cư dân phần đông là dân nghèo thành thị và nông dân. Một bộ phận những người nông dân không có ruộng, những người lao động ở quê không có việc làm đưa nhau vào thành phố họp thành những khu lao động mới, làm đủ mọi việc để kiếm sống như: nề, mộc, cắt tóc, đạp xích lô, kéo xe tay, chạy chợ, hát rong... Một xóm những gia đình phu đổ thùng vệ sinh của toàn thành phố hình thành ở đường La Thành. Đáng chú ý là lực lượng công nhân, mà chủ yếu là công nhân đường sắt ra đời với sự thiết lập Công ty xe lửa Đông Dương - Vân Nam và tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Vân Nam từ năm 1901, đến năm 1906 thì thông tuyến đến Lào Cai. Khu lao động lớn sau Ga Hàng Cỏ cũng hình thành từ đó. Xen lẫn trong lớp thị dân là những người trí thức nhỏ, viên chức, giáo viên, nhà văn, nhà báo... với cuộc sống quanh năm nghèo túng. Phố Khâm Thiên có cả một ngõ xưa có tên là Ngõ ăn mày (nay là ngõ Đoàn Kết), hầu hết những cư dân ở đây sống bằng nghề ăn xin khắp nơi trong thành phố. Nhà thơ Tản Đà, nhà văn Vũ Trọng Phụng chết trong cảnh nghèo túng ở Ngã Tư Sở. Dưới ách áp bức thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, nhân dân Đống Đa với nhiều tầng lớp người lao động bị bóc lột, đói khổ, cực nhục luôn ấp ủ một tinh thần yêu nước và cách mạng, chờ thời cơ đến là nổi dậy giành quyền sống, quyền tự do, độc lập. Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, người dân Đống Đa tích cực tham gia các phong trào yêu nước sôi nổi, mạnh mẽ như: đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh, tưởng niệm Lương Văn Can, bãi công đòi quyền lợi cho người lao động.


Năm 1925, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời, Đống Đa trở thành một trong những địa bàn có phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ. Hiệu cắt tóc Bối Thịnh là một trong ba cơ sở ở Hà Nội của tổ chức Tân Việt. Bối Thịnh là tên gọi cửa hiệu số 5 Ô Chợ Dừa của vợ chồng ông bà Nguyễn Quang Bật từ những năm 20 đến hết thập niên 40 của thế kỷ XX. Vợ chồng ông bà Bối Thịnh theo đạo Thiên Chúa, không có con, mở một xưởng sản xuất nhỏ với vài chục thợ. Cơ sở Bối Thịnh trở thành nơi qua lại chủ yếu của các đảng viên Tân Việt ở Hà Nội như: Nguyễn Tạo, Tôn Quang Phiệt, Hoàng Mai, Nguyễn Hạp... Sau này, cơ sở Bối Thịnh là địa điểm liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ từ năm 1930 đến năm 1934.


Sau khi những lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên kết thúc, nhiều học viên trở về nước hoạt động. Hà Nội từ đó trở thành nơi đưa đón thanh niên trí thức từ trong nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện rồi lại trở về nước hoạt động. Cuối năm 1926, sau khi dự lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, đồng chí Nguyễn Công Thu được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước lập đường dây liên lạc đưa đón cán bộ sang Quảng Châu và chịu trách nhiệm xây dựng tổ chức Thanh niên ở Hà Nội. Một chi hội (lúc đó gọi là chi bộ) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Hà Nội được thành lập gồm 11 người, trong đó có đồng chí Mai Lập Đôn. Nhà của đồng chí Mai Lập Đôn ở số 8 Ô Chợ Dừa (nay là ngã năm Ô Chợ Dừa) từ đó trở thành địa điểm qua lại, liên lạc, đưa đón thanh niên sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nhà số 39 Thái Hà ấp là nơi in tài liệu và tái bản báo Thanh niên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Khách sạn Nam Lai, số 95 phố Hàng Lọng (nay là số 107 phố Lê Duẩn), trước Ga Hàng Cỏ là địa điểm bí mật liên lạc, đưa đón cán bộ, hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1925, trên đường sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị, đồng chí Trần Phú từng dừng chân nghỉ lại Khách sạn Nam Lai.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:21:07 pm
Tiếp theo sự ra đời Chi bộ đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hà Nội, trên địa bàn Đống Đa, cơ sở của tổ chức này tiếp tục phát triển ở Khâm Thiên, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa, Nam Đồng, Thái Hà, Kim Liên, Trung Tự.

Tháng 3 năm 1927, Kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Bắc Kỳ được thành lập gồm năm đồng chí: Nguyễn Danh Đới, Mai Lập Đôn, Nguyễn Công Thu, Dương Hạc Đính, Mai Ngọc Thiện. Ngôi nhà 68 phố Nam Đồng là nơi đặt cơ sở liên lạc, hội họp bí mật và huấn luyện cán bộ của Kỳ bộ Bắc Kỳ và của Tỉnh bộ Hà Nội.


Trong những năm 1927 - 1928, thanh niên, phụ nữ Đống Đa tích cực tham gia phong trào cách mạng. Tiêu biểu là ông Nguyễn Ngọc Vũ (còn có các bí danh là Phương và Lục) nhà ở phố Khâm Thiên, là một thanh niên yêu nước, được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927, sau là Bí thư Thành ủy Hà Nội.


Nhiều phụ nữ ở Đống Đa tích cực tham gia hoạt động cách mạng, tiêu biểu như các nữ đồng chí: Mai Thị Ngọc Thuyết (tức Mai Thị Vũ Trang), Lê Thị Sói, Nguyễn Thị Nhâm... Đồng chí Mai Thị Vũ Trang là em gái đồng chí Mai Lập Đôn, làm liên lạc cho các đồng chí của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đồng chí thường qua lại nhà số 8 Ô Chợ Dừa để giúp các đồng chí của tổ chức hoạt động. Có lần đồng chí Trang vượt qua vòng vây dày đặc của mật thám trên tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội để chuyển một valy súng tới địa điểm an toàn. Cuối năm 1928, đồng chí Trang rải truyền đơn ở Hà Đông phản đối thực dân mộ phu đi Tân thế giới. Năm 1929, đồng chí đi "vô sản hóa" ở Nam Định, một mặt để tự rèn luyện mình, mặt khác để tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức các hội quần chúng.


Trong phong trào "vô sản hóa", nữ đồng chí Nguyễn Thị Vịnh quê ở làng Kim Liên sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương xuống Hải Phòng làm nữ hộ sinh trong Nhà thương Chính. Đầu năm 1927, đồng chí được kết nạp và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đồng chí tuyên truyền giác ngộ, giới thiệu được đồng chí Nguyễn Thị Hiền (em gái) và Hồ Thị Lân vào Hội và hình thành Tổ Thanh niên trực thuộc Tỉnh bộ Thanh niên Hải Phòng. Tổ Thanh niên do đồng chí Vịnh phụ trách tích cực hoạt động góp phần quan trọng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.


Tháng 6 năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của Hà Nội được thành lập gồm ba đồng chí: Nguyễn Danh Đới, Mai Lập Đôn, Nguyễn Phong sắc. Nhà số 8 Ô Chợ Dừa tiếp tục trụ sở liên lạc của Tỉnh bộ. Ngày 28 tháng 9 năm 1928, Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ tiến hành Đại hội đại biểu toàn kỳ lần thứ nhất. Đồng chí Mai Lập Đôn là một trong ba đại biểu của Hà Nội tham dự. Đại hội đề ra chủ trương "vô sản hóa". Thực hiện chủ trương "vô sản hóa", hai đồng chí Mai Lập Đôn và Mai Thị Vũ Trang xuống Nam Định làm thợ sơn cột đèn ở Sở Lục lộ. Thực tế hoạt động của một số hội viên Thanh niên của Hà Nội trong các nhà máy, xí nghiệp đã tạo điều kiện để rèn luyện cán bộ và giác ngộ vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân. Chính nhờ đó mà từ cuối năm 1928 trở đi, các tổ chức Công hội, Nông hội, các chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lần lượt ra đời và phát triển ở địa bàn Đống Đa, như: Ga Hàng Cỏ, Yên Lãng, Thịnh Hào, Khương Thượng... Nhờ chủ trương "vô sản hóa" và những hoạt động của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần rọi chiếu vào phong trào công nhân, vào các tổ chức quần chúng. Ảnh hưởng của tư tưởng cộng sản ngày càng lan rộng và sâu hơn trong phong trào công nhân. Đó là yếu tố quan trọng thúc đẩy phong trào công nhân có bước phát triển mới. Ngày 22 tháng 10 năm 1928, công nhân Đống Đa tham gia cuộc bãi công của những người kéo xe tay thành phố. Cuối năm 1928, thanh niên ngoại thành cùng thanh niên nội thành tổ chức in, rải truyền đơn phản đối bọn thực dân mộ nhân công Hà Nội đưa đi bán cho các chủ mỏ, chủ đồn điền Pháp ở Tân Thế giới (thuộc địa của Pháp ở Nam Thái Bình Dương). Khoảng đầu năm 1929, Tỉnh bộ Thanh niên Hà Nội tiến hành đại hội tại số nhà 92 Nam Đồng (nay là phố Nguyễn Lương Bằng).


Những tháng cuối năm 1928, đầu năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng lớn mạnh, số hội viên thanh niên hoạt động ở các nhà máy, thôn, xã ngày càng đông; tổ chức cơ sở của Thanh niên trong công, nông ngày càng phát triển; sự giác ngộ giai cấp của quần chúng, hội viên được nâng cao; xu hướng cộng sản chủ nghĩa ngày càng rõ rệt. Với tư cách là Ủy viên Kỳ bộ Bắc Kỳ và Ủy viên Tỉnh bộ Hà Nội, đồng chí Mai Lập Đôn tham gia nhiều cuộc họp nhận định về phong trào công nhân, về lực lượng của tổ chức Thanh niên ở các nhà máy, xí nghiệp, thôn xã, về ý thức giác ngộ giai cấp của quần chúng... Trên địa bàn Cát Linh, với vai trò tích cực của đồng chí Nguyễn Thị Nghĩa - Công nhân nhà máy gạch Năm Diệm, Hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy gạch Năm Diệm, công nhân Công ty Vệ sinh Hàng Đẫy, công nhân Xưởng ô tô Avia (Aviat) phát triển hết sức mạnh mẽ.


Thực tiễn ngày càng đòi hòi phải có một tổ chức chặt chẽ, có cương lĩnh rõ ràng, phương pháp hoạt động đúng đắn, với cơ sở quần chúng rộng rãi để đáp ứng được những yêu Cầu Mới của phong trào, lãnh đạo phong trào đi lên theo con đường cách mạng vô sản. Nhận thức được những đòi hỏi của lịch sử và xu hướng phát triển tất yếu của cách mạng nước ta, tháng 3 năm 1929, những thanh niên tiêu biểu trong ban lãnh đạo Kỳ bộ Bắc Kỳ và Tỉnh bộ Hà Nội bí mật họp ở số nhà 5D phố Hàm Long, Hà Nội để thành lập tổ chức cộng sản. Chi bộ 5D Hàm Long ra đời là bước chuẩn bị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản. Từ đây bắt đầu một quá trình bônsêvích hóa tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sự chuyển biến trong phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động Hà Nội. Cuộc bãi công có tiếng vang lớn của công nhân Xưởng ôtô Avia - hãng sửa chữa ôtô lớn nhất Đông Dương lúc đó do đồng chí Ngô Gia Tự và tổ chức Công hội nhà máy lãnh đạo, có sự tham gia của nông dân ngoại thành và các vùng phụ cận.


Trong các ngày 28 và 29 tháng 3 năm 1929, Đại hội đại biểu Thanh niên toàn Bắc Kỳ lần thứ hai nhiệt liệt tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản và giao cho ban đại biểu Hà Nội là Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Dương Hạc Đính, Nguyễn Tuân có nhiệm vụ đấu tranh trước Đại hội toàn quốc về việc thành lập Đảng Cộng sản.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Bảy, 2026, 07:22:46 pm
Ngày 1 tháng 5 năm 1929, tại Đại hội Thanh niên toàn quốc họp tại Hương Cảng (Trung Quốc), ý kiến đề nghị thành lập Đảng Cộng sản của đoàn đại biểu Bắc Kỳ không được chấp thuận, ba đại biểu bỏ Đại hội ra về. Ngày 1 tháng 6 năm 1929, tại chùa Hương Tuyết (phố Bạch Mai), đoàn đại biểu Thanh niên Bắc Kỳ ra tuyên bố nêu rõ lý do bỏ Đại hội ra về và đề nghị xúc tiến ngay việc thành lập Đảng Cộng sản. Tiếp đó, ngày 17 tháng 6 năm 1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên, đại biểu các tổ chức cộng sản mới được thành lập ở các tỉnh Bắc Kỳ họp quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Hội nghị thông qua Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng. Hội nghị cũng quyết định tổ chức Tổng Công hội đỏ, phát triển Nông hội, Sinh hội, tổ chức Hội Phụ nữ giải phóng; thành lập cơ quan ngôn luận, xuất bản báo "Búa liềm" (ở Trung ương), "Bônsêvích" (ở Trung Kỳ), "Cờ cộng sản" (ở Nam Kỳ).


Như vậy, Đống Đa không những là địa bàn có các cơ sở liên lạc của những tổ chức yêu nước và cách mạng, có những người con như Nguyễn Ngọc Vũ, Mai Lập Đôn, Mai Thị Vũ Trang... sớm có mặt trong các tổ chức đó, mà còn là cái nôi của một trong những tổ chức cộng sản đầu tiên của cả nước. Công nhân và các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, học sinh yêu nước, tiến bộ hoạt động trên địa bàn Đống Đa góp một phần hết sức quan trọng vào bước tiến mau lẹ, vững chắc và đúng hướng của phong trào cách mạng cả nước.


Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời chưa đầy 10 ngày thì Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ được thành lập. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng phụ trách Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội. Đại hội Tông Công hội đỏ Bắc Kỳ quyết định ra Báo Lao động, Tạp chí Công hội đỏ. Cơ quan ấn loát đặt ở nhiều nơi, trong đó có một điểm tại phố Nam Đồng. Nhiều nhà máy, xí nghiệp ở Đống Đa thành lập tổ chức Công hội đỏ. Đi đôi với việc tăng cường công tác vận động công nhân, công tác vận động nông dân cũng được đẩy mạnh. Các làng xã: Mọc Chính Kinh, Mọc Quan Nhân, Mọc Giáp Nhất, Khương Thượng, Khương Trung, Khương Hạ... đều có tổ chức Nông hội đỏ. Phong trào học sinh, sinh viên, có tổ chức Sinh hội ở Trường Sinh Từ... Ngoài ra còn có tổ chức Viên chức ở Ga Hàng Cỏ. Cơ sở quần chúng cách mạng còn được mở rộng xuống các đường phố, các nhóm dân cư hoạt động theo nghề nghiệp.


Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, Thành bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Hà Nội cũng ra đời. Thành bộ một mặt tích cực phát triển gây cơ sở khắp nơi trong thành phố, mặt khác tuyên truyền, tổ chức những ngày lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, qua đó nêu cao tinh thần yêu nước và giác ngộ chủ nghĩa quốc tế vô sản cho đảng viên và quần chúng cách mạng.


Nhân ngày "Quốc tế chống chiến tranh đế quốc" (1.8.1929), thực hiện chủ trương của Thành bộ Hà Nội, đảng viên và quần chúng Đống Đa đi rải truyền đơn tiếng Việt và tiếng Pháp ở khắp các đường phố, thôn xã. Truyền đơn kêu gọi những người lao động đứng lên phản đối chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên bang Xôviết, kỷ niệm lần thứ 12 Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngay từ đêm 6 tháng 12 năm 1929, nhiều quần chúng gan dạ, mưu trí treo cờ đỏ búa liềm ở Ga Hàng Cỏ, Ngã Tư Sở... Lần đầu tiên cờ đỏ búa liềm tung bay trên bầu trời Đống Đa. Hàng nghìn truyền đơn được rải khắp địa bàn Đống Đa với các nội dung như: "Bảo vệ Liên Xô", "Không đi lính cho đế quốc Pháp", "Không đánh Liên Xô", "Noi gương Cách mạng Tháng Mười, đoàn kết cùng công nông toàn thế giới đứng lên làm cách mạng mau mau. Với tinh thần trách nhiệm chung, mọi người chúng ta đoàn kết lại để bảo vệ Liên Xô và chống đế quốc chiến tranh".


Chỉ trong một thời gian ngắn, hoạt động tích cực của Đông Dương Cộng sản Đảng lan rộng trong khắp cả nước. Trong nội bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có sự phân liệt ngày càng sâu sắc. Mùa thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng tuyên bố thành lập. Chịu ảnh hưởng của những sự kiện trên, tháng 1 năm 1930, những người tiên tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng cũng thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.


Trước yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng, cần phải sớm thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, tại Hồng Kông - Trung Quốc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Đông Dương. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Hội nghị thông qua Chính cương vắn tắt, sánh lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương.


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với chính cương, sách lược đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam hòa vào xu thế chung của thời đại - cách mạng vô sản và chấm dứt thời kỳ khủng hoảng bế tắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo.

Cuộc vận động thành lập Đảng và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển sôi nổi mạnh mẽ trong cả nước, tác động sâu sắc tới các tầng lớp nhân dân Đống Đa.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 17 tháng 3 năm 1930, tại nhà số 42 phố Hàng Thiếc, Ban chấp hành lâm thời của Thành Đảng bộ Hà Nội được thành lập, gồm ba đồng chí: Đỗ Ngọc Du (Bí thư), Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng ở Hà Nội càng có điều kiện phát triển. Nổi lên là những cuộc vận động quyên góp tiền ủng hộ bãi công của công nhân các địa phương, đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt, sa thải thợ của công nhân Nhà máy điện Bờ Hồ. Nhân ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1930, tổ chức Công hội đỏ tổ chức rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, cờ đỏ ở các phố Khâm Thiên, Bạch Mai, Ga Hàng Cỏ... kêu gọi công nhân lao động Hà Nội đứng dậy đấu tranh cùng công nhân cả nước.


Tháng 6 năm 1930, đồng chí Trần Văn Lan - Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp tại nhà số 177 phố Hàng Bông đề tổ chức lại Thành ủy Hà Nội. Từ đây, Thành ủy Hà Nội được chính thức thành lập do đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ làm Bí thư và hai ủy viên là Lê Đình Tuyển và Đỗ Danh Vưu.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:28:33 pm
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy Hà Nội tập trung chỉ đạo các cơ sở với phương châm hướng hoạt động vào phong trào công nhân, lấy phong trào công nhân làm nền tảng của Đảng và tăng tỷ lệ cán bộ lãnh đạo là công nhân ở tất cả các cấp. Thành ủy quyết định thành lập Đội Tuyên truyền xung phong, tập trung gây dựng cơ sở đảng và vận động quần chúng công nhân, nông dân, sinh viên, binh lính, thanh niên trong thành phố. Trên địa bàn Đống Đa, cơ sở đảng được mở rộng và thành lập ở Ga Hàng Cỏ, Sở Vô tuyến điện Bạch Mai. Các tổ chức nông dân, thanh niên và các giới lao động khác cũng được Đảng bộ chú trọng gây dựng.


Với sự có mặt của các cơ sở đảng, nhiều hoạt động tuyên truyền xung phong phát huy ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng được tổ chức với nhiều hình thức phong phú... Tháng 10 năm 1930, nhiều hoạt động táo bạo ủng hộ Xôviết Nghệ - Tĩnh diễn ra trên địa bàn Đống Đa. Hàng nghìn tờ truyền đơn với nội dung "Không được đụng đến công nông Nghệ - Tĩnh" được rải ở nhiều nơi. Đặc biệt là cuộc mít tinh ngày 11 tháng 10 năm 1930 ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến) với sự có mặt của hàng trăm người cùng truyền đơn, biểu ngữ, cờ đỏ... Đội viên tuyên truyền xung phong diễn thuyết ủng hộ Xôviết Nghệ - Tĩnh. Cuộc diễn thuyết thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, biến thành một cuộc mít tinh lớn. Thực dân Pháp phải điều động cảnh sát tới đàn áp.


Đầu tháng 11 năm 1930, tên Graép - Toàn quyền Nam Dương (Inđônêxia) sang Hà Nội để cùng với Pátkiê - Toàn quyền Đông Dương lập liên minh chống phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa ở Đông Nam Á. Hai tổ xung kích bố trí đốt hai cổng chào do bọn thực dân dựng lên, trong đó có một cổng chào ở Ga Hàng Cỏ. Sự kiện này khiến thực dân Pháp hết sức tức tối, còn nhân dân khắp thành phố thì vô cùng phấn khởi. Tháng 12 năm 1930, nhân kỷ niệm lần thứ 13 ngày Cách mạng Tháng Mười Nga, cờ đỏ búa liềm và truyền đơn giải thích việc Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương xuất hiện ở nhiều nơi. Nông dân các làng xã ngoại thành dấy lên phong trào đấu tranh chống nạn "phụ thu lạm bổ".


Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nhân dân lao động trong cả nước, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố hòng phá vỡ các cơ sở, bóp chết phong trào. Nhiều đồng chí lãnh đạo và đảng viên trung kiên của Đảng bị địch bắt, nhiều tổ chức đảng và cơ sở cách mạng bị phá vỡ. Trong bối cảnh đó, cán bộ đảng viên vẫn kiên cường đấu tranh để củng cố, khôi phục lại tổ chức Đảng. Tháng 9 năm 1931, Thành ủy lâm thời Hà Nội được thành lập lại, đồng chí Trần Quang Tặng - Bí thư Xứ ủy được bầu làm Bí thư Thành ủy. Từ đây, hiệu Bối Thịnh ở nhà số 5 Ô Chợ Dừa lại trở thành cơ quan giao thông của Thành ủy. Trong thời gian này, đồng chí Trần Quang Tặng về Nam Định thu nhận thêm công nhân để bổ sung cho hiệu Bối Thịnh. Trong số 5, 6 công nhân thợ rèn, thợ cơ khí mới được bổ sung cho hiệu Bối Thịnh, có anh Nguyễn Văn Lan làm liên lạc cho Xứ ủy Bắc Kỳ.


Mặc dù kẻ thù khủng bố, đàn áp dã man, các cơ sở Đảng và Công hội đỏ ở nhà ga Hàng Cỏ, sở Vô tuyến điện Bạch Mai vẫn được duy trì. Công hội đỏ còn được duy trì và tổ chức theo ngành dọc ở các khu lao động Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa.

Năm 1932, một số đồng chí cán bộ, đảng viên bị địch bắt được trả tự do, tiếp tục trở lại hoạt động. Tháng 7 năm 1932, tại một cơ sở đáng tin cậy ở làng Trung Tự (ngõ chợ Khâm Thiên hiện nay), một chi bộ đảng được thành lập gồm bốn đồng chí: Nguyễn Thị Nhâm, Hoàng Đình Dinh, Đỗ Danh Vưu, Nguyễn Trần Đỗ. Chi bộ được gọi là "Chi bộ dự bị" vì chưa liên lạc được với tổ chức Đảng cấp trên. Vì vậy, nhiệm vụ trước hết của Chi bộ là chấp mối liên lạc, khôi phục và phát triển các cơ sở cách mạng. Sau một thời gian hoạt động, Chi bộ thành lập được một tổ phản đế và một số cơ sở quần chúng trong giới phụ nữ buôn bán ở Hàng Bột, Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa... Đầu năm 1933 chi bộ cũng bắt liên lạc được với hai trong bảy tù chính trị vượt ngục đêm Nôen năm 1932, là các đồng chí Nguyễn Tạo và Lê Đình Tuyển. Từ đó, Chi bộ từng bước chấp nối được đường dây liên lạc, khôi phục cơ sở cách mạng và biên soạn một số tài liệu huấn luyện.


Trước sự phát triển lớn mạnh của cơ sở Đảng và phong trào quần chúng, Chi bộ dự bị thấy cần thiết phải thành lập cơ quan lãnh đạo cấp xứ và cấp tỉnh, thành. Vào một tối Chủ nhật cuối tháng 3 năm 1934, tại nhà đồng chí Hoàng Đình Dinh ở ấp Thái Hà, chi bộ tiến hành cuộc họp. Nhưng do thiếu cảnh giác, cuộc họp bị mật thám Pháp phát hiện, hầu hết các đồng chí dự họp đêm hôm đó bị địch bắt.


Tuy cán bộ của Đảng bị bắt, cơ sở Đảng ở ấp Thái Hà bị vỡ, nhưng phong trào cách mạng ở Đống Đa vẫn được duy trì và tiếp tục phát triển trước sự khủng bố ác liệt của kẻ thù.

Năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp đề ra ba nhiệm vụ chủ yếu là: Củng cố phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng, chống chiến tranh đế quốc. Đặc biệt, ngày 28 tháng 3, Đại hội thông qua Nghị quyết Đội tự vệ - văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng về quân sự, trong đó định ra chủ trương, phương hướng xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Đó là cơ sở cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các tổ chức vũ trang và phong trào đấu tranh cách mạng cả nước, cũng như ở Hà Nội, Đống Đa.


Trong năm 1935, địa bàn Hà Nội lại trở thành nơi đón tiếp một số đảng viên ở nước ngoài về và ở nhà tù Côn Đảo ra. Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ở Hà Nội nói chung, địa bàn Đống Đa nói riêng phát triển hết sức sôi nổi, mạnh mẽ. Đặc biệt là cuộc đình công anh em lính thợ Việt Nam tại sân bay Bạch Mai.


Năm 1936, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến đổi, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương chuyển hướng đấu tranh nhằm tập hợp mọi lực lượng dân chủ tiến bộ, đấu tranh chống bọn phản động Pháp ở thuộc địa, đòi quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh. Những hình thức đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp kết hợp với bí mật, không hợp pháp tạo điều kiện cho tổ chức của Đảng và Mặt trận Dân chủ phát triển.


Tháng 8 năm 1936, cơ quan lãnh đạo lâm thời của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội được thành lập, lấy tên là "Ủy ban sáng kiến". Tiếp theo phong trào Đông Dương Đại hội, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Hà Nội trong cuộc vận động dân chủ của Đảng do "Ủy ban sáng kiến" lãnh đạo diễn ra ngày càng sôi động. Đầu năm 1937, lợi dụng dịp đặc phái viên của Chính phủ Pháp Gi.Gôđa (Justin Godart) sang kinh lý Đông Dương, tiếp đó là Gi.Brêviê (Jules Brévié) sang nhậm chức Toàn quyền Đông Dương, Đảng vận động hai đợt biểu dương lực lượng quần chúng rầm rộ khắp cả nước. Bọn thống trị ngăn cản việc "đón" Gôđa vì sợ quần chúng tiếp xúc với Gôđa sẽ bùng lên những làn sóng đấu tranh mới. Chúng hoãn ngày Gôđa đến Hà Nội, hơn 30.000 quần chúng được huy động đi "đón" Gôđa bị lỡ lần thứ hai. "Ủy ban sáng kiến" liên lạc với tổ chức cơ sở Đảng ga Hà Nội theo dõi giờ Gôđa đến Hà Nội. Do tổ chức chặt chẽ, ngày 1 tháng 2 năm 1937, hàng vạn người Hà Nội, trong đó có các tầng lớp nhân dân vùng ga: phố Sinh Từ, Văn Miếu, Hàng Bột, Khâm Thiên..., kết hợp với nhân dân các tỉnh, được huy động về đứng xếp hàng trật tự trước cửa Ga Hà Nội và suốt dọc đường Gămbétta (Gambetta), nay là phố Trần Hưng Đạo, đến cửa nhà Đấu Xảo (nay là Cung văn hóa Hữu nghị) "đón" Gôđa với nhiều biểu ngữ đòi cải thiện cuộc sống, tự do dân chủ, tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, đại xá tù chính trị, bỏ thuế thân và các thuế khác. Cuộc đón tiếp Brêviê ngày 6 tháng 2 năm 1937 sau đó cũng khiến kẻ địch hết sức bối rối.


Như vậy, ngay trong thời kỳ khó khăn, nhân dân Đống Đa luôn cùng nhân dân Hà Nội cố gắng vượt lên, thực hiện những chủ trương của Đảng, tiếp tục khẳng định mình và khẳng định vị trí quan trọng của Đống Đa trong cuộc đấu tranh chung ở Hà Nội.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:30:04 pm
Cũng trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Trọng Cảnh liên hệ với một số đảng viên công nhân trước đây được đồng chí Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) huấn luyện, tổ chức, xúc tiến thành lập Chi bộ ngành in. Sau khi thành lập Xứ ủy Bắc Kỳ, tháng 3 năm 1937, Thành ủy Hà Nội được khôi phục do đồng chí Lương Khánh Thiện - Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ làm Bí thư. Ban Công vận Xứ ủy được xây dựng lại và quyết định thành lập tổ chức công khai gọi là Ủy ban Xướng xuất nghiệp đoàn gồm đại biểu công nhân và các ngành nghề khác. Ở Đống Đa, công nhân lao động ở nhiều ngành nghề như: mộc, xẻ, giặt, in... chủ động lập ra các hội ái hữu. Phong trào ái hữu phát triển mạnh khiến chính quyền thực dân buộc phải công khai cấp giấy chứng nhận cho một số tổ chức hội.


Nhà in Minh Sang ở phố Sinh Từ là trụ sở Ái hữu công nhân ngành in Bắc Kỳ. Tổ chức Thanh niên lập ra những nhóm nghiên cứu sách báo công khai, gọi là Nhóm nghiên cứu mácxít. Nông dân ngoại thành có nhiều tổ chức ra đời, như hội cấy, hội gặt, hội hiếu hỉ, hội đọc sách, thể thao, văn nghệ, lợp nhà... Sôi nổi và mạnh mẽ nhất là phong trào đấu tranh của công nhân các nhà máy, xí nghiệp. Tháng 4 năm 1937, hòa cùng phong trào công nhân nhà máy, xí nghiệp Hà Nội và các tỉnh, 48 thợ in Minh Sang đình công đòi tăng lương. Cuộc đình công thu được thắng lợi. Chủ phải tăng lương 5% cho thợ có mức lương trên 10 đồng Đông Dương và tăng từ 10 đến 15% cho thợ có mức lương dưới 10 đồng.


Phối hợp với công nhân, nông dân các làng xã ngoại thành cũng tập hợp lại, tổ chức những cuộc đấu tranh. Sáng 15 tháng 6 năm 1937, nông dân làng Yên Lãng kéo đến dinh Tổng đốc Hà Đông đòi giảm thuế.

Bước sang năm 1938, bất chấp mọi thủ đoạn đàn áp khủng bố của kẻ thù, phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội nói chung nhân dân Đống Đa nói riêng tiếp tục tăng lên. Đầu tháng 3 năm 1938, tiểu thương Cát Linh cùng 500 tiểu thương Hà Nội đưa yêu sách 14 điểm lên Đốc lý Hà Nội. Cuối tháng 3 năm 1938, hơn hai trăm công nhân Công ty vệ sinh Hàng Đẫy đình công đưa ra 10 yêu sách, trong đó đòi xóa bỏ chế độ phạt tiền bất công và đòi đổi Giám đốc công ty. Theo chỉ thị của Thành ủy, Ban Công vận dự định kế hoạch cho lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1938. Khu Đấu Xảo (nay là vị trí Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô) được chọn làm địa điểm tổ chức. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1938, hơn 25.000 công nhân lao động Hà Nội và đại biểu các tỉnh lân cận tập hợp thành 12 đoàn diễu hành, sau đó tập trung về khu Đấu Xảo dự lễ kỷ niệm. Các tầng lớp nhân dân, đại biểu các đoàn thể công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, tiểu thương lần lượt lên phát biểu ý kiến. Đây là cuộc mít tinh lớn nhất chưa từng có trong thời kỳ vận động dân chủ.


Phong trào cách mạng ngày một lên cao tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của nhân dân Đống Đa. Trong thời gian này, ngõ Trung Phụng là trung tâm hoạt động của nhóm thanh niên phản đế với các chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi như Trần Kế Hải, Hồng Quang... Các đồng chí tập hợp thanh niên ở Trung Phụng tham gia luyện tập quyền Anh qua đó tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho các đồng chí Trần Văn Diện (Trần Cư), Nguyễn Văn Thanh (Lê Quốc Thân), Lê Văn Ngọ, Trần Văn Thái (Trần Quốc Điệp), Đỗ Đình Nhẫn...


Cũng trong năm 1938, công nhân sân bay Bạch Mai phối hợp với công nhân Nhà máy xe lửa Gia Lâm tổ chức cuộc đấu tranh và giành được thắng lợi.

Năm 1939, phong trào đấu tranh của công nhân Hà Nội, trong đó có bộ phận quan trọng là công nhân ở Đống Đa, diễn ra với mật độ cao chưa từng thấy. Ngay từ những ngày đầu năm, ta tổ chức cuộc diễn thuyết ở ngõ chợ Khâm Thiên kêu gọi công nhân đứng lên chống áp bức, bóc lột; tổ chức dán áp phích, rải truyền đơn ở làng Trung Tự trong ngày hội Dinh. Công nhân Đống Đa tích cực tham gia cuộc đấu tranh của anh em thợ mộc, thợ xẻ toàn thành phố đòi tăng giá mạch cưa lên 25% và giành thắng lợi giòn giã. Ngày 21 tháng 6 năm 1939, công nhân Nhà máy in Minh Sang đình công, đưa yêu sách đòi tăng lương từ 15 đến 30%. Cuộc đấu tranh thu được một số kết quả nhất định.


Nhìn chung, cho đến năm 1939, trước khi Hà Nội thực hiện chủ trương vận động giải phóng dân tộc, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, các tổ chức vũ trang sơ khai được hình thành làm nòng cốt tuyên truyền, vận động và bảo vệ cán bộ, quần chúng cùng phong trào đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân Đống Đa đòi quyền dân sinh, dân chủ, tự do, cơm áo, hòa bình, chống chiến tranh đế quốc.


Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Pháp tham gia chiến tranh và lập tức thi hành chính sách thống trị phản động ở trong nước và ở các thuộc địa. Tại Hà Nội và trên địa bàn Đống Đa, chúng tăng cường đàn áp phong trào cách mạng, giải tán các tổ chức công khai của ta như các tổ chức ái hữu, tăng cường mật thám, chỉ điểm trong thành phố, nhất là ở các xí nghiệp quan trọng và các khu xóm lao động, tổ chức nhiều cuộc vây ráp, bắt bớ. Trụ sở các tổ chức ái hữu, các hiệu sách, các cơ quan báo chí công khai của Đảng bị khám xét. Nhiều tờ báo bị tịch thu và cấm xuất bản. Nhiều đảng viên bị bắt bớ, giam cầm. Đi đôi với đàn áp, thực dân Pháp ra sức vơ vét bóc lột sức người sức của để phục vụ cho chiến tranh, ban hành nhiều sắc lệnh trưng tập công nhân, trưng thu, trưng mua, sung công nhà cửa và các phương tiện vận tải, tăng giờ làm việc của công nhân, tăng thuế và đặt ra nhiều thứ thuế mới. Ở ngoại thành, chúng vơ vét thóc gạo để cung ứng cho quân đội, khiến cho vật giá leo thang, đồng tiền mất giá, đời sống nhân dân ngày càng thêm khó khăn.


Tháng 6 năm 1940, chi bộ Đảng ghép hoạt động ở Trung Phụng được thành lập gồm các đồng chí: Trần Văn Điệp (Trần Cư), Lê Quốc Thân, Lê Ngọ, Trần Văn Trác (Trần Quốc Điệp), Đỗ Đình Nhẫn...


Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật tiến công Pháp ở Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật. Từ đây, nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù thống trị, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Phong trào cách mạng đứng trước những thử thách mới. Tình hình đó đòi hỏi Đảng và các tổ chức cách mạng của quần chúng phải có đường lối, phương pháp hoạt động khôn khéo, mới có thể duy trì được phong trào cách mạng. Trước mạng lưới mật vụ mọc lên như nấm, thời kỳ này, các cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ở Hà Nội, cũng như ở Đống Đa được phân thành từng nhóm và hoạt động bí mật là chủ yếu. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, vai trò tích cực, chủ động của các cơ sở Đảng là hết sức cần thiết. Nổi bật nhất trong giai đoạn này ở Đống Đa và của cả Hà Nội là những hoạt động của Chi bộ Hỏa xa Hà Nội. Chi bộ có năm người, chính thức được thành lập tháng 6 năm 1940, ba tháng trước khi phát xít Nhật vào Đông Dương (trong thời gian này, Chi bộ ngành in, mộc, xẻ và trong giới thanh niên học sinh vẫn được duy trì). Vào dịp kỷ niệm 23 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Chi bộ chỉ đạo một số công nhân hỏa xa tổ chức treo cờ trên cột thu lôi ở Ga Hàng Cỏ, rải truyền đơn trên tuyến đường sắt Hà Nội đi Lạng Sơn. Ngày 25 tháng 12 năm 1940, hưởng ứng hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, Chi bộ lãnh đạo một tổ công nhân hỏa xa, chặn chuyến tàu tốc hành Hà Nội - Sài Gòn ở Ga Văn Điển cho một số đồng chí, lên tàu rải truyền đơn kêu gọi chống phát xít, thực dân.


Sự lãnh đạo sâu sát của tổ chức đảng và hoạt động tích cực của cán bộ đảng viên tác động tích cực thu hút đông đảo nhân dân các địa phương địa bàn Đống Đa tham gia phong trào đấu tranh cách mạng.

Ở Láng Trung, thanh niên trí thức Phạm Bộ Doanh được giác ngộ cách mạng từ khi đang học ở Hà Nội sau đó thôi học làm công chức. Anh là một cán bộ Thanh niên phản đế Hà Nội, hằng ngày làm việc ở nội thành sớm tối về nhà ở Láng. Năm 1940 nhờ quen nhà sư ở chùa Láng, để che mắt địch, nhân các ngày Chủ nhật lấy cớ để vãn cảnh chùa, anh thường đưa anh em Thanh niên phản đế ở nội thành về chùa Láng họp, mở lớp học chính trị, và kết nạp thanh niên vào Đoàn.


Trước sự phát triển của phong trào cách mạng trên địa bàn, thực dân Pháp càng chú ý tới vùng Đống Đa. Chúng đặt thêm nhiều bốt cảnh sát kiểm soát chặt chẽ các cửa ô vào thành phố, cử mật thám, bọn chỉ điểm sục vào các khu vực Khâm Thiên, Ngã Tư Sở và các khu lao động để theo dõi hoạt động của ta. Năm 1940, thực dân Pháp còn cắm khoảng 5 mẫu ruộng thôn Trung (Láng Trung) để lập pháo đài Láng. Chúng đặt bốn khẩu pháo cao xạ 75mm là loại vũ khí tối tân lúc bấy giờ để bảo vệ vùng trời Hà Nội. Trong pháo đài có sở chỉ huy, hầm trú ẩn, kho để đạn với hai khẩu đại liên và nhiều súng trường để yểm trợ cho pháo cao xạ. Chốt tại pháo đài có một đại đội lính Pháp và lính khố đỏ, do một viên quan hai Pháp chỉ huy.


Như vậy, trong thời kỳ 1930 - 1940, trước sự khủng bố, đàn áp của thực dân Pháp, để vận động, bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, các tổ chức vũ trang được hình thành dưới các hình thức sơ khai: Đội tuyên truyền xung phong, đội tự vệ, Công hội, Nông hội... Hoạt động của các tổ chức vũ trang sơ khai đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm nòng cốt duy trì, phát triển phong trào và tổ chức cách mạng trên địa bàn Đống Đa. Đồng thời, là tiền đề cho sự phát triển phong trào và lực lượng cách mạng trong cao trào cách mạng trên địa bàn Đống Đa trong những giai đoạn sau.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:31:45 pm
3. Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền (1941 - 1945)

Bước sang năm 1941, sự khủng bố của kẻ thù khiến nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, nhiều đồng chí bị địch bắt. Tuy nhiên, Đống Đa vẫn duy trì được nhiều cơ sở làm chỗ liên lạc và trao đổi tình hình. Tháng 3 năm 1941, đồng chí Vũ Biểu - Bí thư Chi bộ mộc xẻ tới gặp đồng chí Vũ Bằng và Lê Tiến Phúc tại xưởng mộc phố Khâm Thiên để phổ biến tình hình trong và ngoài nước, bàn biện pháp củng cố các tổ chức Đảng và quần chúng. Sau đó, các cơ sở Đảng và quần chúng ở Đống Đa lại tiếp tục được củng cố và phát triển.


Từ sau khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5 năm 1941, tại Khuổi Nậm - Pắc Bó - Cao Bằng) với việc đề ra nhiệm vụ cần kíp là giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng ở Hà Nội nói chung và Đống Đa nói riêng có sự chuyển biến tích cực. Mặt trận Việt Minh ra đời với các tổ chức theo ngành, theo giới lấy tên là Cứu quốc. Phong trào công nhân, nông dân và các tổ chức quần chúng khác chuyển mình theo tinh thần mới của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Cuối năm 1941, tại Hà Nội xuất hiện lời kêu gọi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và truyền đơn của Mặt trận Việt Minh.


Năm 1941, ở Láng Thượng, đồng chí Phạm Bội Doanh - Thành Ủy viên người Láng Trung, tuyên truyền giác ngộ kết nạp anh Phạm Khắc Minh vào Đoàn thanh niên phản đế. Những năm sau, lại tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho một số thanh niên ở Láng Trung1 (Các anh Lương Văn Thịnh, Phạm Văn Ứng, Trần Đức Nhuận), triệu tập anh em lên chùa Láng đọc cho nghe các tài liệu của cách mạng, kết nạp một số anh em vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Mặt trận Việt Minh, lập thành tổ ba người hoạt động ở thôn Trung.


Từ cuối năm 1941, lớp thanh niên cấp tiến ở Khương Trung được giác ngộ lập nên các tổ chức cách mạng. Tổ công nhân cứu quốc do đồng chí Nguyễn Trí Bàn (công nhân thợ gò ở Avia) làm Tổ trưởng có nhiều hoạt động tích cực như: treo cờ ở Vĩnh Hồ, rải truyền đơn ở Bạch Mai, Ngã Tư Sở... Tổ Thanh niên cứu quốc gồm các đồng chí Nguyễn Như An, Hoàng Công Oanh, Phạm Thành Dân và Trần Bộ Doanh liên lạc mật thiết với thanh niên học sinh Hà Nội, tích cực rải truyền đơn, phát hành báo chí cách mạng.


Tháng 7 năm 1942, chính quyền thực dân Pháp sáp nhập thêm vào Hà Nội vùng Hoàn Long và một số xã của hai huyện Hoài Đức và Thanh Trì. Quận cảnh sát III được thành lập đóng trụ sở ở cuối phố Khâm Thiên, bên dãy nhà số chẵn (nay là trụ sở Công an quận Đống Đa).


Trong thời gian này, tuy thực dân Pháp và phát xít Nhật tăng cường khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, một số cán bộ lãnh đạo phong trào cách mạng bị bắt, nhưng lực lượng nòng cốt còn lại vẫn kiên cường hoạt động, chấp nối lại cơ sở và tiến hành một số cuộc đấu tranh có quy mô vừa và nhỏ. Các tổ trinh sát Việt Minh xây dựng được một tổ binh sĩ cứu quốc trong sân bay Bạch Mai và tổ cảnh sát cứu quốc ở Quận cảnh sát III. Những cơ sở in tài liệu, truyền đơn, Báo Giải phóng và những căn cứ nuôi dưỡng cán bộ lãnh đạo của Đảng đặt xung quanh Ngã Tư Sở, chùa Láng, Cống Mọc được bảo vệ nghiêm ngặt. Công nhân ở các xưởng mộc vẫn giữ được liên lạc thường xuyên với các tổ chức Đảng và Việt Minh.


Tháng 2 năm 1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (nay thuộc huyện Đông Anh), bàn và quyết định hai vấn đề lớn là mở rộng Mặt trận Việt Minh và đẩy mạnh mọi mặt hoạt động để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền. Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ đó, Hội nghị chủ trương mở rộng các tổ chức cứu quốc trong mọi giới, lập các đội tự vệ, xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang...


Trong năm 1943, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí Vũ Mai, đoàn viên Đoàn Thanh niên cứu quốc phát triển tổ bí mật ba người gồm đồng chí Vũ Mai, đồng chí Trần Văn Tuấn ở Láng Trung và đồng chí Nguyễn Thế Hiển ở Láng Hạ.

Năm 1944, ở Yên Lãng hình thành ba tổ Thanh niên Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh: Một tổ do anh Nguyễn Văn Thể được cán bộ ở nội thành tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Sau đó tuyên truyền kết nạp thêm các anh Hồ Trọng Trung, Nguyễn Kim Long hình thành tổ ba người hoạt động ở thôn Thượng như rải truyền đơn, viết khẩu hiệu "Đánh Pháp đuổi Nhật, Ủng hộ Việt Minh" lên tường...


Một tổ khác do anh Hồ Trọng Dũng học sinh trường Páttơ lúc đó sơ tán về trại nhãn ở Cầu Giấy. Anh Dũng được anh Việt tuyên truyền, sau đó được giới thiệu các anh Vũ Cận, anh Bằng. Các anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc ở ngôi nhà ven đường Láng Trung, về sau tổ ba người lại tuyên truyền kết nạp ba người lớn tuổi hơn có uy tín với nhân dân là các anh Nguyễn Nga, Nguyễn Văn Dương và Đoàn Bản. Tổ này phân công nhau chuyển truyền đơn, báo in thạch... để tuyên truyền vận động nhân dân Ủng hộ Việt Minh. Nhiều đêm còn kẻ khẩu hiệu trên các bức tường để gây thanh thế Việt Minh. Sau đó trong tổ vận động nhân dân ủng hộ tiền cho Mặt trận Việt Minh.


Một tổ ở thôn Trung và thôn Hạ do anh Nguyễn Hữu Hạp quê ở Vĩnh Yên, trú trong ngôi nhà ven đường Láng ở thôn Láng Trung và anh Vũ Quang cùng ở nhà đó chỉ đạo. Trong tổ này có anh Hiền ở thôn Láng Hạ.

Như vậy, tổ anh Hồ Trọng Dũng và tổ anh Nguyễn Hữu Hạp đều do một mối của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội phụ trách. Và sau các anh Hạp và Vũ Quang được cử lên Vĩnh Yên công tác thì hai tổ này do anh Lê Đức Vân1 (Đồng chí Lê Đức Vân là Ủy viên Ban chấp hành Đoàn Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu) phụ trách thanh niên cứu quốc ở ngoại thành Hà Nội lãnh đạo. Hai tổ này còn có mối quan hệ với Thanh niên Cứu quốc ở Giáp Nhất do anh Nguyễn Hải Hùng phụ trách.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:33:09 pm
Tổ Thanh niên Cứu quốc của anh Hiền tìm cách mua được một khẩu súng trường do một người lính cất giấu và 100 viên đạn đưa sang làng Mọc. Về sau tổ này còn mò thêm được một khẩu súng trường do lính Pháp trốn chạy vứt xuống ao. Tổ anh Hiền còn bố trí địa điểm tại một ngôi nhà thờ ở Láng Hạ cho Đoàn Thanh niên Cứu quốc ngoại thành mở lớp học Chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Ban thường vụ Trung ương Đảng. Lớp học có 10 người, học trong mấy ngày được thanh niên Yên Lãng bảo vệ an toàn. Thanh niên Cứu quốc Hà Nội còn chuyển cơ quan in báo "Hồn nước" đến Yên Lãng một thời gian giữ được bí mật. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, các tổ thanh niên Cứu quốc ở thôn Thượng nhờ nhà thơ Tú Mỡ1 (Các anh Hồ Quốc Trung và Hồ Quốc Dũng là con nhà thơ Tú Mỡ) viết kịch bản "Thổ địa chống ngọc hoàng" rồi anh em tổ chức diễn kịch ở Chùa Láng để bán vé lấy tiền cứu đói và cũng là dịp tập hợp quần chúng để tuyên truyền chống phát xít Nhật và tay sai. Vì đây là việc mang danh nghĩa từ thiện nên phát xít Nhật cũng cho phép ta biểu diễn. Sáng hôm đó có chừng một nghìn người dân Yên Lãng và các làng xung quanh đến dự, thanh niên Yên Lãng diễn hai vở kịch "Thổ địa chống ngọc hoàng" và hài kịch Anh say"... Khi vở diễn đến nửa chừng thì trên sân khấu xuất hiện cờ đỏ sao vàng, một cán bộ Việt Minh ra diễn thuyết kêu gọi nhân dân đánh đuổi phát xít Nhật, Ủng hộ Việt Minh, kiên quyết đấu tranh giành độc lập. Trong khi đó ở bên dưới, hai chiến sĩ Việt Minh dùng súng lục kề vào đầu hai tên mật thám Nhật bắt ngồi im cho đến khi các chiến sĩ đội tuyên truyền của ta rút lui an toàn. Sau đó một tên mật thám gọi lý trường và phó lý bảo sao lại để Việt Minh hoành hành ở xã như vậy mà không cho tuần bắt giữ: ông phó lý liền thưa: "Các quan có mặt ở đây mà chẳng làm gì được họ nữa là chúng tôi, không có vũ khí thì phải đành chịu mà thôi".


Sau đó chính quyền Nhật đưa một tiểu đội lính khố xanh đến Láng Thượng truy tìm các chiến sĩ Việt Minh nhưng không tìm được ai, vì mọi người dân được hỏi đều bảo không biết người diễn thuyết, người trương cờ và hai người cầm súng ở đâu tới không phải người làng này. Đó chính là các đội viên Thanh niên tuyên truyền xung phong cứu quốc thành Hoàng Diệu. Lúc này Ban chấp hành Thanh niên Cứu quốc Hà Nội có cơ sở, nơi thường xuyên hội họp ở Hạ Yên Quyết và đặt trạm liên lạc ở một gia đình người Láng Thượng cổng ngoài chùa Láng. Đó là nơi đồng chí Vũ Oanh - Bí thư Thành đoàn thường đến đó gặp gỡ cán bộ lãnh đạo Đoàn thể để phổ biến chủ trương công tác cách mạng.


Cũng trong thời gian này, gia đình nhà thơ Tú Mỡ thường có cuộc họp của Phụ nữ Cứu quốc Hà Nội do chị Hồ Thị Hạnh con gái nhà thơ bố trí. Anh Minh Đặng phụ trách tuyên truyền xung phong của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội cũng thuê một căn buồng ở ven đường Láng để hoạt động công tác được thuận tiện. Do có nhiều tổ chức, nhóm Thanh niên Cứu quốc Hà Nội hoạt động ở các làng ven thành, hằng ngày gặp gỡ nhau trao đổi công việc nhận tài liệu, vũ khí ở các cơ sở ven đường Láng nên lúc đó cán bộ Đoàn Thanh niên gọi đường Láng là "Đường Việt Minh" vì ở ven đường đó cán bộ Việt Minh đi lại hoạt động gần như công khai.


Thực hiện chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh về "sửa soạn khởi nghĩa", các đội tự vệ chiến đấu trong công nhân làn lượt ra đời. Tiếp đó, Đội Tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu cũng được thành lập. Trong những ngày cuối năm 1944, trên đường phố Hàng Bột, Văn Miếu - Quốc Tử Giám xuất hiện những dòng khẩu hiệu lớn "Đánh đuổi Nhật - Pháp". Dọc đường Hà Nội - Hà Đông, đoàn sinh viên đi tham quan Chùa Hương mang theo truyền đơn, biểu ngữ, tuyên truyền chủ trương cứu nước của Việt Minh.


Nhìn chung, trong thời gian này, các tổ chức thanh niên cứu quốc, các đội tự vệ chiến đấu và tuyên truyền xung phong hoạt động tích cực. Họ thường phân tán thành những nhóm nhỏ lẻ từ ba đến năm người, như học sinh đi học, đạp xe mang theo truyền đơn, áp phích, biểu ngữ, súng ngắn. Đến các địa điểm như Ngã Tư Sở, ga tàu điện Cầu Mới..., anh em nhanh chóng triển khai đội hình, người diễn thuyết, người căng biểu ngữ, người rải truyền đơn... Công việc tiến hành nhanh, gọn, khẩn trương, có cảnh giới, bảo vệ. Từ khi tổ chức Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu ra đời (8.1944), vùng Láng - Mọc là một trong những địa bàn có nhiều thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức này. Ba tổ chức Thanh niên cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh được hình thành. Những tổ chức này hoạt động rải truyền đơn, viết khẩu hiệu, phân phát báo in thạch, kẻ vẽ khẩu hiệu trên các bức tường... và có mối liên hệ chặt chẽ với Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội và nhiều nơi khác.


Trong năm 1944, trên địa bàn Khâm Thiên - Thổ Quan hình thành cụm sửa chữa vũ khí của Việt Minh, với ba tổ cơ khí. Một tổ ở nhà số 240 phố Khâm Thiên, một tổ ở số 11B (nay là số 29) ngõ Hòa Bình, một tổ ở nhà ông Trịnh Đình Sơ làng Văn Chương. Các tổ sửa chữa không chỉ sửa chữa các loại súng mà còn chế tạo ra một số loại súng nhỏ cung cấp cho các đội vũ trang thực hiện nhiệm vụ trừ gian.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Quán triệt Chỉ thị trên, Thành ủy Hà Nội phát động cao trào "Kháng Nhật cứu nước" trong toàn Thành phố. Nhiều công việc được triển khai nhanh chóng, rộng khắp, như tiếp tục phát triển các tổ chức cứu quốc trong công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, gấp rút xây dựng và phát triển các đội tự vệ, các đội tuyên truyền xung phong thanh niên Hoàng Diệu, tổ chức quyên góp mua sắm vũ khí, cướp súng đạn của bọn lính Pháp, mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ về quân sự và chính trị tại nhiều địa điểm.


Sau khi đào chính Pháp, phát xít Nhật áp dụng nhiều biện pháp trấn áp, khủng bố ác liệt các tầng lớp nhân dân ta. Là cửa ngõ của thành phố, hằng ngày nhân dân Đống Đa tận mắt thấy từng đoàn nông dân da bọc xương, đói rách ùn ùn kéo đến cửa ô và nằm chết phơi thây trên các hè phố, rồi những đoàn xe bò chở xác người chết ra chôn ở vùng ngoại thành. Người dân Đống Đa, người dân Hà Nội bị đẩy tới đường cùng. Họ chỉ còn một con đường duy nhất là cầm vũ khí đứng dậy đòi quyền sống dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị nêu rõ: "Bám lấy nạn đói mà cổ động quần chúng lên đường tranh đấu, tổ chức những cuộc biểu tình đòi gạo, đòi ăn hay phá những kho thóc của đế quốc"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, lập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr. 270). Chủ trương "Phá kho thóc để giải quyết nạn đói" đáp ứng đúng lúc nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, từ tháng 4, nhiều kho thóc của Nhật ở phố Bắc Ninh, ở khu vực Lương Yên, ở bến Phà Đen bị phá, nhiều xe bò chở gạo vào kho bị tự vệ của ta chặn đường cướp lại.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:34:38 pm
Ngay trong tháng 3 năm 1945, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Quý, ở xã Trung Phụng, ông An Trưởng Quyền thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc xã; ở xã Mỹ Đức đồng chí Mai Văn Viết chỉ đạo thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc xã do ông Đoàn Văn Huyên phụ trách. Lực lượng tự vệ cũng được thành lập ở Trung Phụng và Mỹ Đức. Tự vệ ở Mỹ Đức do ông Nguyễn Duy Bính chỉ huy; ở Trung Phụng do ông Phùng Bá Thiện chỉ huy. Các tổ tự vệ thực hiện nhiệm vụ canh gác bảo vệ cán bộ; tổ chức mua và cướp vũ khí của Nhật; tổ chức đột nhập vào các kho Kim Mã, Hàng Bột lấy vũ khí của Nhật gửi lên chiến khu.


Sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự toàn thành phố đầu tiên ở chùa làng Tân (Nghĩa Đô), triển khai quyết định đẩy mạnh việc phát triển các đội tự vệ chiến đấu và hoạt động tuyên truyền xung phong, tổ chức mua sắm vũ khí, giết gian, trừ phản...


Ngày 20 tháng 4 năm 1945, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu tổ chức cuộc mít tinh toàn thành phố ở bờ đầm thuộc xã Mễ Trì có huy động thanh niên, sinh viên trong nội thành ra dự. Tại cuộc mít tinh, đồng chí Vũ Oanh phổ biến nhiệm vụ cấp bách của Đoàn. Một nhóm thanh niên Láng Trung do anh Lê Tuấn (Phạm Phú Uông) tham gia bảo vệ cuộc mít tinh ở vòng ngoài từ cầu Trung Kính vào Mễ Trì được an toàn. Sau đó, thanh niên Yên Lãng xuống tham gia bảo vệ cho dân phá kho thóc của Nhật ở làng Mọc Quan Nhân. Ngày 11 tháng 5 năm 1945, dưới danh nghĩa cắm trại, nam nữ thanh niên toàn thành phố lại họp mít tinh ở Chùa Láng. Để bảo vệ cuộc mít tinh, các chiến sĩ tự vệ chiến đấu bố trí lực lượng theo dõi, khống chế những tên mật thám khét tiếng gian ác hoạt động trên địa bàn. Nhờ có các cuộc mít tinh này, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội động viên được đông đảo thanh niên, sinh viên tham gia công tác, đồng thời gây được khí thế sôi sục cách mạng chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.


Tháng 6 năm 1945, một tiểu tổ của Đội Danh dự Việt Minh trừng trị tên Cai Bình ở Cầu Mới, Phán Sinh ở Ngã Tư Sở, Nguyễn Duy Quý ở ấp Thái Hà. Cũng trong thời gian này, thanh niên ở Láng tổ chức mít tinh, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh", "Đánh đuổi phát xít Nhật". Nhiều cuộc mít tinh của Thanh niên cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc còn được tổ chức ở Ngã Tư Sở, Ngã Tư Vọng. Tự vệ công nhân cũng có nhiều hoạt động sôi nổi. Tự vệ công nhân xe điện rải truyền đơn, dán áp phích, tuyên truyền trên các tuyến xe điện. Công nhân Ga Hàng Cỏ cùng công nhân nhiều nhà máy khác cũng tổ chức đấu tranh. Nổi bật là phong trào phá kho thóc của Nhật ở Mọc do đoàn viên thanh niên và các đội tự vệ công nhân dẫn đầu các đoàn quần chúng.


Thực hiện chủ trương của Đảng về phá kho thóc của Nhật, cứu đói, theo đề nghị của Đội tự vệ xung phong ngoại thành, Ban Cán sự giao cho Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu cùng Đội tự vệ ngoại thành thực hiện, đồng thời giao cho các đoàn thể cách mạng ở khu vực xung quanh vận động nhân dân tới tham gia.


Đội tự vệ xung phong ngoại thành tổ chức điều tra kỹ lưỡng và xây dựng kế hoạch phá kho tỷ mỷ, cụ thể, phân công các lực lượng rõ ràng.

Tối ngày 11 tháng 7 năm 1945, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu do đồng chí Hà Minh Tuân phụ trách và Đội tự vệ xung phong ngoại thành do đồng chí Nguyễn Hải Hùng1 (Sau này đồng chí Nguyễn Hải Hùng là Đại tá, Cục phó Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị) phụ trách cùng phối hợp thực hiện. Liên đội 1 của đồng chí Hà Đình Kim và Liên đội 3 của đồng chí Đinh Quang Hàm thuộc Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu cùng Đội tự vệ xung phong ngoại thành tổ chức bao vây khống chế bọn lý trưởng, trương tuần... và bảo vệ từ vòng ngoài, hướng dẫn quần chúng tới đình Quan Nhân dự mít tinh. Trước đám đông quần chúng với hàng trăm đèn đuốc sáng rực, đồng chí Thái Hy, Liên đội trưởng Liên đội 2 cùng một đồng chí cầm súng ngắn bảo vệ, một người cầm cờ đỏ sao vàng, tuyên bố mục đích cuộc mít tinh, vạch trần tội ác của phát xít Nhật thu thóc của dân gây nên nạn đói giết hại hàng triệu người đồng thời kêu gọi mọi người đứng lên tham gia Mặt trận Việt Minh cứu nước, cứu nhà. Trước mắt, thực hiện chỉ thị của Việt Minh phá kho thóc của Nhật ngay tại đây để cứu đồng bào. Nghe thấy vậy, làn sóng người trên sân hưởng ứng nồng nhiệt, vừa hô to khẩu hiệu: "Đả đảo phát xít Nhật", "Ủng hộ Việt Minh", vừa phá cửa kho xúc thóc chia cho mọi người. Tin kho thóc ở gần ngay thành phố bị Việt Minh phá, chia cho dân nghèo được loan truyền nhanh khắp trong vùng. Quân Nhật và bọn tay sai không dám bộc lộ phản ứng. Các tầng lớp nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Việt Minh.


Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, Láng Hạ là địa phương có khá nhiều hoạt động sôi nổi. Ở đây không chỉ bố trí được địa điểm (một nhà thờ ở Láng Hạ) để Đoàn Thanh niên cứu quốc ngoại thành mở lớp học Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, mà còn là địa điểm cơ quan in Báo Hồn nước hoạt động an toàn trong một thời gian. Thanh niên cứu quốc thôn Thượng còn thông qua việc diễn kịch ở chùa Láng để cứu đói và là dịp tuyên truyền chủ trương chống phát xít Nhật cho quần chúng nhân dân. Khi diễn được nửa chừng thì trên sân khấu xuất hiện cờ đỏ sao vàng, một cán bộ Việt Minh ra diễn thuyết, kêu gọi nhân dân Ủng hộ Việt Minh, đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập dân tộc. Láng trở thành nơi gặp gỡ của nhiều tổ, nhóm thanh niên Cứu quốc của Hà Nội để trao đổi công việc, nhận tài liệu, vũ khí. Cùng với hoạt động của công nhân Ga Hàng Cỏ, những hoạt động của nhân dân vùng Ngã Tư Sở thúc đẩy phong trào cách mạng ở Đống Đa phát triển một bước mạnh mẽ. Nhân dân hăng hái sẵn sàng bước vào một cuộc chiến đấu quyết liệt để giành quyền sống.


Tháng 7, trước khí thế cao trào cách mạng, phát xít Nhật đang thua lớn, chính quyền tay sai địch ở Đại lý Hoàn Long và Yên Lãng hầu như tan rã. Ở Láng Trung, anh em thanh niên tổ chức học võ, lấy cớ chống trộm cướp để bảo vệ xóm làng nhưng thực ra là luyện tập quân sự để chuẩn bị khởi nghĩa.


Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định khẩn trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn tay sai trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện, Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Sáng 17 tháng 8, báo chí ở Hà Nội chính thức đưa tin Nhật đầu hàng, nhưng chính quyền bù nhìn vẫn công khai tuyên bố mục đích chống lại cuộc khởi nghĩa của Việt Minh. Ở xã Kim Liên, các ông Nguyễn Đình Cẩm, Nguyễn Xuân Nghiêm, Bùi Huy Lân... cùng với quần chúng trong các tổ chức cứu quốc treo cờ đỏ sao vàng ở đình Kim Liên, tổ chức mít tinh tuyên truyền, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, sau đó đi thu triện bạ, sổ sách của chính quyền cũ trong xã. Buổi chiều cùng ngày, các đội tự vệ và đông đảo quần chúng trong các tổ chức cứu quốc ở xã Kim Liên tham gia cuộc mít tinh ở quảng trường Nhà hát Lớn.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:35:26 pm
Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, chiều ngày 17 tháng 8, tại quảng trường Nhà hát Lớn, Tổng hội viên chức tổ chức mít tinh. Các tổ chức cứu quốc ở nội thành, ngoại thành và cả ở một số phủ, huyện giáp Hà Đông cũng được lệnh bí mật huy động quần chúng kéo đến. Số người tham dự mít tinh đông tới hàng vạn. Tại cuộc mít tinh, lực lượng tự vệ và các đội viên tuyên truyền xung phong của Việt Minh giương cao cờ đỏ sao vàng, kêu gọi nhân dân Ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng cách mạng. Dưới sự hướng dẫn của các đội viên tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát Lớn qua các phố Tràng Tiền, Đinh Tiên Hoàng, Hàng Đào, Hàng Ngang lên Cửa Bắc, diễu qua trước Phủ Toàn quyền của Nhật (nay là Phủ Chủ tịch) rồi về Cửa Nam. Đoàn người biểu tình vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu: "Ủng hộ Việt Minh", "Việt Nam độc lập", "Đả đảo bù nhìn". Trước khí thế hừng hực cách mạng của quần chúng, lực lượng bảo an và cảnh sát đành bó tay, án binh bất động. Quân đội Nhật và chính quyền bù nhìn cũng hết sức bối rối, hoảng sợ.


Tối 17 tháng 8, ngay sau khi lực lượng tự vệ vùng Sét (nay là Thịnh Liệt, Hoàng Mai) tham gia tuần hành trên quảng trường Nhà hát Lớn trở về, để khuếch trương thắng lợi của toàn thành, các chiến sĩ cùng với quần chúng cách mạng tiếp tục tuần hành qua các thôn, xóm. Đoàn biểu tình đã tập trung về sân trường học Giáp Tứ làm áp lực cho Thanh niên cứu quốc giành chính quyền về tay nhân dân. 19 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8, ta đã tuyên bố giải tán chính quyền bù nhìn, thành lập chính quyền cách mạng tại thôn. Hương lý đem triện đồng nộp cho chính quyền cách mạng. Đây là nơi giành chính quyền cấp thôn sớm nhất tại Hà Nội.


Sáng 18 tháng 8, tại làng Giáp Nhất, chỉ thị về việc khởi nghĩa cũng được truyền đạt đến Đội Tự vệ xung phong ngoại thành và các đoàn thể cứu quốc. Kế hoạch khởi nghĩa khu vực ngoại thành được xây dựng. Theo đó sẽ tổ chức mít tinh và giành chính quyền ở làng Hạ Yên Quyết đầu tiên, sau đó kéo thẳng về làng Giáp Nhất, làng Quan Nhân, hợp điểm ở làng Chính Kinh. Bên làng Thượng Đình cũng giành chính quyền sớm, rồi qua Cự Lộc, sang hợp điểm ở làng Chính Kinh. Đoàn biểu tình sau đó sẽ tiến ra Đại lý Hoàn Long. Còn các làng, đoàn quân biểu tình khởi nghĩa không đi qua thì ở đâu giành chính quyền ở đó, rồi nhanh chóng đón đoàn biểu tình chính cùng tiến lên giành chính quyền ở Đại lý Hoàn Long.


Phát huy thắng lợi ở Giáp Tứ, ngay sáng 18 tháng 8, các chiến sĩ tự vệ vùng Sét cùng với các tổ chức Việt Minh trong vùng tiếp tục cuộc hành trình khởi nghĩa giành chính quyền tại các thôn Giáp Lục, Giáp Nhị, Giáp Nhất, đồng thời, làm áp lực cho quần chúng giành quyền ở Hoàng Mai, Pháp Vân. Trong ngày 18, phần lớn các xã, làng phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội giành được chính quyền. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay các xã thuộc Tổng Bưởi, Dịch Vọng, Làng Tám, Tương Mai, Mai Động, Quỳnh Lôi, Thanh Nhàn.


Tối ngày 18 tháng 8, tại trụ sở Ủy ban quân sự cách mạng, các đồng chí lãnh đạo họp duyệt lại lần cuối kế hoạch khởi nghĩa, thông qua lời hiệu triệu sẽ đọc trong mít tinh khởi nghĩa sáng ngày 19, phân công lực lượng và cán bộ lãnh đạo các khối quần chúng chiếm lĩnh những cơ quan trọng yếu trong thành phố, sau đó tổ chức đi kiểm tra công tác chuẩn bị của các đơn vị tự vệ chiến đấu.


Đêm 18 tháng 8, đêm lịch sử của Đống Đa và của cả Hà Nội, các tầng lớp nhân dân hầu như không ngủ. Lực lượng vũ trang Đống Đa cùng với quần chúng cách mạng náo nức chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19 tháng 8, từ sáng sớm, các đường phố ở Đống Đa và Hà Nội tràn ngập cờ đỏ sao vàng. Các tầng lớp nhân dân Đống Đa xuống đường theo tiếng gọi của Mặt trận Việt Minh, khởi nghĩa giành chính quyền. Mọi người giương cao cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ cách mạng, hòa vào dòng người rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát Lớn, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu và hát các bài ca cách mạng.


Theo đúng kế hoạch, từ sớm, Đội Tự vệ xung phong ngoại thành có mặt ở làng Hạ Yên Quyết cùng tổ chức Thanh niên cứu quốc hô hào bà con tập trung trước đình làng. Đội tuyên bố lật đổ chính quyền cũ, cử ra chính quyền cách mạng lâm thời của làng do các đồng chí cán bộ Việt Minh trong làng giới thiệu. Từ đây, cuộc biểu tình tiến đến Giáp Nhất. Ở Giáp Nhất, rồi Quan Nhân cũng tiến hành tương tự như ở Hạ Yên Quyết. Giành chính quyền xong, đoàn quân khởi nghĩa lại được bổ sung thêm lực lượng. Theo kế hoạch, đoàn quân này cùng với lực lượng khởi nghĩa từ Nam Đồng, Thái Hà tiếp tục tiến về Đại lý Hoàn Long giành chính quyền ngoại thành. Cuộc biểu tình tiến vào trụ sở cơ quan ngụy quyền tại ấp Thái Hà với khí thế hùng dũng. Tiếng hô khẩu hiệu và các bài hát Tiến quân ca, Diệt phát xít, Du kích quân vang lên suốt dọc đường với khí thế hùng dũng ngất trời. Các đoàn quân khởi nghĩa ở các làng ngoại thành tụ hội về Thái Hà ngày càng đông. Trên đường xuất hiện nhiều xe ô tô chở quân Nhật qua lại, đầy ắp binh lính và súng đạn nhằm uy hiếp đoàn biểu tình. Tuy nhiên, quân Nhật cũng bị choáng ngợp trước khí thế của quần chúng nên chỉ thụ động đề phòng.


Đoàn quân tiến vào khu lô cốt bảo vệ Đại lý Hoàn Long tại ấp Thái Hà, 10 giờ 30 phút, binh lính ở đây được ta thuyết phục đầu hàng, giao nộp vũ khí cho cách mạng. Hoàn thành nhiệm vụ tại đây, một số đơn vị tiếp tục tiến về Nhà hát Lớn hợp lực với các lực lượng khác giành chính quyền toàn thành.


Trong khi đó, các đơn vị tự vệ chiến đấu nội thành, lực lượng xung kích của cuộc khởi nghĩa, tập trung kiểm tra trang bị, quán triệt nhiệm vụ rồi xuất phát. Từ phía Nam thành phố, Đoàn Thanh niên xung phong Hoàng Diệu do đồng chí Hà Minh Tuân chỉ huy, xuất phát từ làng Giáp Tứ, Giáp Nhị hành quân lên đến chợ Mơ. Tiếp đến là đoàn trưởng, các liên đội trưởng, các đội viên được trang bị súng trường, súng ngắn, kiếm, mã tấu. Sau khi lên đến chợ Mơ, một chuyến xe điện đặc biệt đợi sẵn ở đây, anh em khẩn trương lên tàu. Dọc đường tàu đi, nhiều nhà hai bên dãy phố đã treo cờ đỏ sao vàng trước cửa. Đoàn quân đi đến đâu, tiếng đồng bào hoan hô không ngớt, kèm theo tiếng hô khẩu hiệu: "Ủng hộ Việt Minh", "Hoan hô các chiến sĩ Việt Minh", "Hoan hô Đoàn tuyên truyền xung phong".


Từ phía Bắc và phía Tây thành phố, một số đội tự vệ chiến đấu do các đồng chí Lê Chiêu, Lê Tư, Hồng, Tuấn Sơn, Lam Ngọc, Nguyễn Văn Tý, Đào Văn Xuân, Lê Sĩ, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Văn Tường, Trần Ngọc Minh, Vi Dân chỉ huy cũng về tập trung tại nhà máy gạch Năm Diệm (vị trí khách sạn Horison, đường Cát Linh ngày nay) làm lễ xuất phát. Tổng số đội viên tự vệ chiến đấu tập trung tại đây khoảng trên 300 người, với khoảng 30 khẩu súng các loại, còn lại là gươm, kiếm, giáo mác, mã tấu. Đúng 5 giờ 30 phút, sau phát súng lệnh, đoàn quân xuất phát theo đường Cát Linh, qua Cửa Nam, Tràng Thi, Tràng Tiền đến khu vực Nhà hát Lớn. Hàng vạn quần chúng hai bên đường nhập vào làm cho đoàn quân mỗi lúc càng thêm đông đảo, khí thế càng lên cao.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:36:30 pm
Trên quảng trường Nhà hát Lớn và các phố lân cận, một biển người đứng thành đội ngũ dưới một rừng cờ đỏ sao vàng, xen lẫn là các khẩu hiệu: "Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim", "Thành lập Chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Nam", "Anh em binh lính hãy tham gia nhập hàng ngũ chiến đấu bên cạnh Việt Minh". Các đơn vị tự vệ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu được bố trí ở những vị trí quy định để bảo vệ cuộc mít tinh.


Đúng 11 giờ, cuộc mít tinh lớn gồm hàng chục vạn người bắt đầu trong không khí hào hùng, trang nghiêm và trọng thể. Sau lễ chào cờ và mặc niệm các chiến sĩ hy sinh vì cách mạng, trong tiếng súng lệnh và điệu nhạc Tiến quân ca, một lá cờ đỏ sao vàng cỡ lớn được kéo lên cột cờ giữa quảng trường. Trên ban công Nhà hát Lớn, một lá cờ đỏ sao vàng rộng lớn được buông xuống làm phông cho lễ đài cuộc mít tinh hàng vạn truyền đơn được tung ra giữa biển người. Đồng chí Nguyễn Huy Khôi, thay mặt Ủy ban quân sự cách mạng, đọc lời hiệu triệu của Việt Minh trước máy phóng thanh, hô hào quần chúng vùng lên khởi nghĩa, lập Chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Nam, giành độc lập, tự do cho dân tộc.


Quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng nhiệt liệt hưởng ứng bản hiệu triệu, tiếng hô khẩu hiệu vang động, khí thế ngút trời. Sau đó, cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành biểu tình tuần hành thị uy, chia thành hai khối lớn tỏa đi chiếm lĩnh những cơ quan trọng yếu của chính quyền bù nhìn theo kế hoạch đã định.


Khối thứ nhất, Đội Công nhân xung phong dẫn đầu, do đồng chí Nguyễn Khang và một số đồng chí trong Ủy ban quân sự cách mạng chỉ huy, có nhiệm vụ chiếm Phủ Khâm sai, Tòa Thị chính, Kho bạc, Bưu điện và Sở cảnh sát Hàng Trống. Khối thứ hai, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong Hoàng Diệu dẫn đầu, do đồng chí Nguyễn Quyết - Bí thư Thành ủy Hà Nội trực tiếp chỉ huy, có nhiệm vụ chiếm trại Bảo an binh và Ty Liêm phóng Bắc Kỳ.


Khi khối thứ nhất kéo gần đến Phủ Khâm sai, hai đại đội bảo an binh ở đây theo lệnh của bọn chỉ huy, đóng chặt cổng, chĩa súng từ trong hàng rào sắt ra ngoài. Ở đây, ta đã nắm được một số binh lính có cảm tình với Việt Minh. Quần chúng vừa hô khẩu hiệu thị uy, vừa kêu gọi Bảo an binh quay súng về phía Việt Minh để cứu nước, cứu nhà. Một bộ phận tự vệ công nhân nhanh chóng đột nhập vào cổng phía phố Đinh Lễ để treo cờ đỏ sao vàng ở khu làm việc của Phủ Khâm sai (số nhà 14 Ngô Quyền). Cùng lúc, các chiến sĩ tự vệ, do các đồng chí Vi Dân, Tuấn Sơn, Nguyễn Văn Điệp dẫn đầu cùng một số hội viên cứu quốc vượt hàng rào sắt nhảy vào. Đồng chí Vũ Minh Phước, một tự vệ công nhân ở nhà máy điện, nhanh chóng hạ cờ "quẻ ly" của chính quyền bù nhìn xuống, treo cờ đỏ sao vàng lên giữa tiếng hò reo vang dậy của quần chúng cách mạng. Trước khí thế và sức mạnh của cách mạng, lính bảo an buộc phải mở cổng và nộp vũ khí cho cách mạng. Quần chúng khởi nghĩa ùa vào. Ta tịch thu 200 khẩu súng của lính bảo an, trang bị ngay cho tự vệ để tăng cường sức chiến đấu. Ngay sau khi chiếm được Phủ Khâm sai, các đồng chí trong Ủy ban quân sự cách mạng gọi điện thoại, báo cho tỉnh trưởng, thị trưởng các địa phương Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh biết Việt Minh đã khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho chúng mau chóng bàn giao chính quyền cho Việt Minh tại các địa phương.


Trong khi đó, một bộ phận quần chúng và tự vệ của khối này, do đồng chí Nguyễn Huy Khôi trực tiếp chỉ huy, tiếp tục kéo sang chiếm lĩnh Tòa Thị chính Hà Nội. Thị trường Hà Nội, Trần Văn Lai ra tận cổng đón đoàn quân cách mạng. Tiếp đó, quần chúng cách mạng lần lượt đi chiếm Kho bạc, Sở Bưu điện và Sở Cảnh sát.


Khối quần chúng thứ hai, đi chiếm trại Bảo an binh, phải đối phó với tình huống phức tạp. Hôm trước, ta đã gửi thư cho chỉ huy trại, thuyết phục y quy thuận Việt Minh. Nhưng khi đoàn biểu tình kéo đến nơi, cổng trại vẫn đóng chặt, hai lính bảo an đứng gác ở bên ngoài. Đồng chí Nguyễn Quyết hạ lệnh cho tự vệ tước súng của hai lính bảo an và ra lệnh phá cổng. Chỉ huy trại buộc lòng phải cho người ra mở cổng và xin gặp đại diện của Việt Minh. Các đơn vị tự vệ lập tức tiến vào chiếm lĩnh các vị trí quan trọng trong trại, quần chúng cách mạng tiếp tục bao vây bên ngoài, hô khẩu hiệu làm áp lực. Các chiến sĩ Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu nhanh chóng treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ của trại.


Được tin mất trại Bảo an binh, một doanh trại quân sự quan trọng ở trung tâm thành phố, quân Nhật đem xe tăng và binh lính đến bao vây trại, đòi ta trả lại trại, đòi tước vũ khí của ta. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Quyết một mặt gọi điện và cử người đi báo cáo tình hình với đồng chí Nguyễn Khang, Chủ tịch Ủy ban quân sự cách mạng, một mặt bố trí tự vệ sẵn sàng chiến đấu trong trại. Trong khi đó, ở bên ngoài, quần chúng vẫn giữ nguyên hàng ngũ, không lùi một bước. Các đồng chí chỉ huy của ta tại đây dùng lời lẽ mềm dẻo thuyết phục quân Nhật, vạch cho chúng rõ: nếu chúng không can thiệp vào cuộc khởi nghĩa của ta thì ta cũng để cho chúng được yên ổn chờ ngày về nước, nếu chúng bắn vào quần chúng cách mạng, thì ta sẵn sàng trả lời chúng bằng vũ lực để giành lấy độc lập và chủ quyền của đất nước, Ủy ban quân sự cách mạng cũng huy động hàng vạn quần chúng vừa chiếm xong Phủ Khâm sai kéo tới, hợp lực với các khối quần chúng tại đây khép chặt vòng vây chung quanh các xe tăng, sĩ quan và binh lính Nhật, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh". Ủy ban cũng phái đồng chí Trần Đình Long dẫn đầu đoàn đại biểu ta đến Bộ Tổng tham mưu quân Nhật, đòi chúng phải lệnh cho xe tăng rút đi. Cuộc đấu tranh kéo dài đến 5 giờ chiều mới kết thúc. Quân Nhật cùng với bốn chiếc xe tăng của chúng buộc phải rút lui.


Lúc này, một bộ phận quần chúng cùng đội tự vệ, do đồng chí Hồng và Hoàng Mười phụ trách, đi chiếm lĩnh Ty Liêm phóng (sở mật thám cũ, nay là trụ sở Công an thành phố Hà Nội, ở phố Trần Hưng Đạo). Ở các nơi khác như nhà máy điện, sở xe điện, xưởng Avia, hãng Stai, Ôtôhan, Xe đạp Bécxê... anh em tự vệ và công nhân cứu quốc, sau khi tham gia giành chính quyền ở Phủ Khâm sai và trại Bảo an binh về, chủ động tước khí giới của lính bảo an, treo cờ, cử người canh gác và thành lập Ủy ban Công nhân cách mạng ở các nhà máy.


Đến tối 19 tháng 8, các cơ quan quan trọng của chính quyền Bảo Đại tại Hà Nội đã về tay cách mạng. Việt Minh hoàn toàn làm chủ thành phố. Hà Nội bừng sáng trong màu cờ đỏ và ánh điện. Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội hoàn toàn thắng lợi. Tin khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội nhanh chóng truyền lan khắp cả nước, làm suy yếu toàn bộ hệ thống cai trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai, làm nức lòng đồng bào cả nước, nhất là ờ Huế và Sài Gòn, thúc đẩy cuộc Tổng khởi nghĩa trong cà nước đến thắng lợi hoàn toàn.


Có thể nói Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đống Đa (Đại lý Hoàn Long) là thắng lợi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề, lực lượng, khí thế cho cuộc Tổng khởi nghĩa ở trung tâm Hà Nội giành thắng lợi.

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở Đống Đa và Hà Nội thắng lợi kết thúc một quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ của Đảng ta. Các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, từng bước phát triển lực lượng, trưởng thành qua các hoạt động đấu tranh với địch mà đỉnh cao là hoàn thành nhiệm vụ xung kích, nòng cốt và bảo vệ cho quần chúng giành chính quyền trong ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Đây là chiến công lớn đầu tiên hết sức quan trọng trong lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa.


Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đinh lịch sử, trước hàng vạn nhân dân Thủ đô và các tỉnh lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới sự khai sinh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một kỷ nguyên mới của dân tộc ta bắt đầu; kỷ nguyên của độc lập, tự do cho dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Mười lăm năm theo Đảng đấu tranh, Đống Đa tự hào là một địa phương có những tổ chức cộng sản trung kiên, các tổ chức quần chúng, tổ chức vũ trang cách mạng sớm ra đời, những chi bộ Đảng, những đảng viên, những cán bộ trong các tổ chức vũ trang, trong đó nhiều người là người con quê hương Đống Đa là những hạt nhân nòng cốt trong phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong quá trình trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đống Đa xây dựng cho mình những tổ chức chính trị sắc bén: Công hội, Công hội đỏ, Nông hội, Ái hữu, Cứu quốc, Đội tuyên truyền xung phong, Đội tự vệ chiến đấu... Các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng trên địa bàn Đống Đa không ngừng được xây dựng, phát triển lớn mạnh cả về tư tưởng, tổ chức, trình độ quân sự, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội và trên cả nước. Đó cũng là tiền đề cho sự ra đời, xây dựng phát triển lực lượng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:38:46 pm
Chương hai
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA RA ĐỜI THAM GIA XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(9.1945-1954)


1. Xây dựng lực lượng, chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng (9.1945 - 12.1946)

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong những ngày đầu xây dựng chế độ xã hội mới, cách mạng Việt Nam lại rơi vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Với bản chất hiếu chiến, phản cách mạng, tập đoàn đế quốc và thế lực phản động trong nước câu kết bao vây tìm cách tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ, hòng xóa bỏ thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được trong Cách mạng Tháng Tám. Ở miền Nam, thực dân Pháp được sự hậu thuẫn của quân Anh trở lại Sài Gòn thực hiện dã tâm chiếm nước ta một lần nữa. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc (quân Tưởng) vượt biên giới với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật nhưng thực tế là giúp bọn tay sai phản động chống phá cách mạng, xóa bỏ thành quả mà nhân dân ta vừa giành được. Chúng chiếm đóng các địa bàn có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự, đặc biệt là các tỉnh, thành phố lớn và các tuyến giao thông huyết mạnh, trong đó có Hà Nội.


Theo chân quân đội nước ngoài, các thế lực phản động người Việt như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội (Việt Cách) kéo về nước ra sức hoạt động chống phá cách mạng. Chúng gây sức ép bắt ta nhường cho chúng 70 ghế trong Quốc hội.


Trong khi đó, trên khắp cả nước, nạn đói khủng khiếp diễn ra từ cuối năm 1944 đến Cách mạng Tháng Tám làm gần 2 triệu người chết. Cùng với đó là hạn hán, lũ lụt xảy ra liên tiếp khiến nhiều nơi mất mùa gây ảnh hưởng nặng nề tới đời sống của hàng triệu người dân từ thành thị đến nông thôn.


Chế độ thực dân phong kiến để lại hậu quả nặng nề: hơn 90% nhân dân không biết chữ; các hủ tục, tệ nạn xã hội ảnh hưởng chi phối đời sống sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân các địa phương.

Chính quyền cách mạng từ Trung ương tới địa phương còn non trẻ chưa có kinh nghiệm trong tổ chức quản lý, điều hành xã hội.

Chỉ vài ngày sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, ngày 21 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Xứ ủy họp quyết định điều động cán bộ, kiện toàn cơ quan Đảng và tổ chức bộ máy chính quyền ở Hà Nội. Từ ngày 25 tháng 8, Thành ủy Hà Nội được tăng cường thêm cán bộ và thành lập Ban Cán sự ngoại thành. Ban Cán sự ngoại thành tổ chức lực lượng dân quân tự vệ ngoại thành có tính chất bán vũ trang.


Chính quyền nhân dân vừa thành lập đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Cuối tháng 8 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng và bọn phản động người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc (Việt Quốc, Việt Cách) tràn vào miền Bắc chiếm đóng hầu hết các thành phố, thị xã và đặt đại bản doanh ở Hà Nội.


Tình hình Hà Nội vô cùng khó khăn, phức tạp, đặc biệt là vùng ngoại thành, ruộng đất vẫn nằm trong tay địa chủ, nông dân vẫn nằm trên bờ vực của sự mất mùa, đói kém. Khu vực nội thành có nhiều khó khăn, phức tạp do quân Tưởng và bọn phản động gây ra. Chúng vừa gây rối trên nhiều đường phố, vừa tìm cách ám hại các cán bộ cách mạng, phá hoại các cơ quan lãnh đạo và cơ sở cách mạng. Vì vậy, Ban Cán sự ngoại thành chuyển về đóng tại một ngôi nhà ở Láng Trung. Đêm đêm một số cán bộ lãnh đạo của Chính phủ ra Láng Trung họp bàn công việc cách mạng. Tự vệ Láng Trung làm tốt công tác tuần tra, canh phòng đảm bảo trật tự an ninh, bảo đảm an toàn cho các đồng chí cán bộ của Trung ương, Chính phủ, của Thành phố và các cuộc hội họp ở đây.


Tự vệ các thôn xóm, các phố tổ chức trạm canh gác, tổ chức tuần tra hằng ngày, bắt được nhiều vụ trộm cắp, cướp giật trả lại tài sản cho người mất. Phát hiện, bắt, giao cho Ty Liêm phóng những tên Việt gian có những hành vi, hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Trong cuộc tuần hành biểu dương lực lượng khi quân đội của Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội, 30 cán bộ, chiến sĩ tự vệ phố Hàng Bột được cử đi đầu đoàn biểu tình với sự tham gia của 2 vạn quần chúng.


Ở Đống Đa, các thôn, xã ngoại thành thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời nhưng cơ sở Đảng còn rất mỏng, chí mới có chi bộ trong cơ quan Đảng thuộc bộ phận lãnh đạo. Cuối tháng 8 năm 1945, chính quyền nhân dân các cấp ở Đống Đa cơ bản thành lập xong. Đến tháng 10 năm 1945, thành lập Ủy ban nhân dân ở 47 khu phố nội thành, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ngoại thành và các làng cũng đổi thành Ủy ban nhân dân. Sau đó các Ủy ban nhân dân được gọi thống nhất là Ủy ban hành chính; Ủy ban công nhân cách mạng trong các nhà máy, xí nghiệp đổi thành Ủy ban Công nhân, sau lại đổi thành Ủy ban xí nghiệp, tạm thời làm nhiệm vụ quản lý nhà máy.


Hệ thống công an nhân dân sớm hình thành, lấy đội danh dự trừ gian trong Cách mạng Tháng Tám làm nòng cốt, được bổ sung thêm những người trung kiên nhất trong thanh niên và tự vệ ở các nhà máy. Các đội công an xung phong và trinh sát trừ gian được tổ chức theo ngành dọc do Trung ương và Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo hoạt động. Ban Cán sự ngoại thành tổ chức lực lượng tự vệ ngoại thành là những lực lượng bán vũ trang, thực hiện bước đầu chủ trương vũ trang toàn dân. Các tổ chức cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh thiếu niên, phụ nữ, trong các tầng lớp công chức, trí thức... tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Qua Đại hội Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu (27.8.1945), Đại hội Phụ nữ cứu quốc Hoàng Diệu (2.11.1945)..., lực lượng quân chúng trung kiên được phát triển một bước, làm cơ sở cho khối đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tập trung vào ba nhiệm vụ cấp bách là chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:40:04 pm
Cùng với việc chăm lo xây dựng lực lượng tự vệ chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng, nhân dân Đống Đa hăng hái vận động thanh niên tòng quân cứu nước. Cuộc tuyển quân đầu tiên trong ngày 13 tháng 9 năm 1945, thực sự là ngày hội của nhân dân Đống Đa. Khẩu hiệu cổ động xuất hiện khắp nơi. Các đội viên tuyên truyền xung phong cầm loa đi khắp ngõ phố, thôn xóm đọc thông báo của Ủy ban nhân dân cách mạng Thành phố. Hàng trăm thanh niên Đống Đa hăng hái xung phong lên đường nhập ngũ. Đặc biệt là ở Phương Mai, hầu hết các y sĩ, bác sĩ Nhà thương Vọng và các sinh viên y khoa thực tập tại đây tình nguyện gia nhập quân đội. Trong đó có các bác sĩ Đinh Văn Thắng, Nguyễn Hữu Thuyết, Trịnh Ngọc Phan, Đỗ Xuân Hợp, Hồ Văn Huê và các sinh viên y khoa Mai Sĩ Đoàn, Đặng Văn Chung, Trần Đình Đệ, Hoàng Đình Cầu, Võ Văn Chung... Sau này họ đều trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội và là những chuyên gia đầu ngành của ngành y tế nước nhà.


Ở xã Yên Lãng, thanh niên hăng hái xung phong gia nhập quân đội, theo thống kê chưa đầy đủ đợt gia nhập này có 12 người tòng quân. Lực lượng tự vệ trong xã cũng được củng cố lập thành một đại đội tổ chức huấn luyện quân sự bảo vệ nhân dân, sẵn sàng tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước1 (Cán bộ chỉ huy gồm có: Đoàn Bản, Đỗ Hóng San, Nguyễn Văn Thứ), Ủy ban hành chính Yên Lãng thuê rèn mấy chục mã tấu, cử người đi mua được một khẩu súng tiểu liên, hai khẩu súng trường và hàng trăm viên đạn của lính Tàu Tưởng để trang bị cho Đại đội tự vệ Yên Lãng.


Phát huy thế mạnh của ngoại thành, một số đơn vị chủ lực khai thác các thửa đất rộng để hoang làm chỗ xây dựng, huấn luyện, tăng cường khả năng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ và các lực lượng tự vệ trên địa bàn. Vì vậy, các thôn xã ngoại thành được xây dựng, củng cố và tăng cường về mọi mặt, trở thành vành đai an toàn bảo vệ lực lượng ta trong nội thành, cảnh giác với âm mưu của quân Tưởng và tay sai, nhiều cơ quan Trung ương cũng chuyển ra làm việc ở ngoại thành. Với nhiệt tình yêu nước và ủng hộ cách mạng của nhân dân, nhiều hoạt động của bọn phản cách mạng bị phát hiện và chặn đứng ngay tại các cửa ô. Một vài nhóm phản động do bọn Việt Quốc, Việt Cách nhen nhóm lên bị bắt gọn. Các lực lượng trinh sát chính trị, cảnh sát phối hợp với lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu được nhân dân hỗ trợ, giúp sức phát hiện và xử lý kịp thời lực lượng phản động gây rối ở ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở, Cầu Mới.


Cùng với nhiệm vụ phát hiện, xử lý các lực lượng phản động, các tổ chức vũ trang nhân dân Đống Đa hăng hái tham gia Cuộc vận động "Diệt giặc đói", "Diệt giặc dốt". Các làng xã ngoại thành, lực lượng tự vệ vừa tích cực vận động nhân dân, vừa gương mẫu hăng say lao động sản xuất, tận dụng triệt để ruộng có nước để cấy lúa, ruộng khô để trồng rau màu chống đói. Nhiều ruộng hoang, ruộng đay, thầu dầu được phá để trồng cây lương thực. Các ban khuyến nông được thành lập ở các xã để khuyến khích và giúp đỡ nông dân tăng gia sản xuất. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có ngô, khoai thu hoạch. Nạn đói được đẩy lùi một bước.


Cuối tháng 9 năm 1945, trước tình hình tài chính quốc gia kiệt quệ lại bị đế quốc âm mưu phá hoại nặng nề, Đảng ta chủ trương lập "Quỹ Độc lập" và tổ chức "Tuần lễ vàng". Hưởng ứng chủ trương của Đảng, một số xã như Yên Lãng có sáng kiến bỏ lệ đóng 5 cỗ chay nhân dịp kỵ Thánh hàng năm (26.9 âm lịch) để lấy tiền ủng hộ "Quỹ Độc lập". Nhân dân các địa phương trên địa bàn Đống Đa hăng hái tham gia đóng góp tiền của gây "Quỹ Độc lập". Nhiều gia đình đem hết vàng, bạc thậm chí cả đồ thờ quý giá của gia đình, dòng họ để đóng góp cho Quỹ. Các đội tự vệ, các cháu thiếu niên, nhi đồng tổ chức diễn kịch, ca múa để quyên góp tiền góp cho Quỹ. Đặc biệt, Đội tự vệ Hoàng Diệu phố Hàng Bột tổ chức nhiều buổi diễn ca múa nhạc và diễn các vở kịch "Hội nghị Diên Hồng", "Mạnh Lệ Quân thoát thân" bán vé, có buổi biểu diễn trong rạp Tố Như. Nhân dân trên địa bàn Đống Đa không chỉ mua vé xem biểu diễn mà còn nhiệt tình quyên góp ủng hộ "Quỹ Độc lập", ủng hộ tiền cho các đội tự vệ mua sắm vũ khí.


Phong trào "Diệt giặc dốt", "Bình dân học vụ" diễn ra sôi nổi khắp địa bàn Đống Đa. Những đội quân "tiêu trừ giặc dốt" có mặt ở hầu khắp các thôn xóm, cơ quan, xí nghiệp, đền chùa, trường học, gia đình để dạy chữ cho những ai chưa biết chữ, bất kể là người già, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật... Tối tối, khắp các ngõ phố, thôn, làng ở Đống Đa đều vang lên tiếng giảng bài, đọc chữ từ các lớp bình dân học vụ. Để khích lệ, cổ vũ mọi người nhanh đọc thông, viết thạo, Ban vận động xóa mù chữ ở một số địa phương có sáng kiến: Cứ sau một tuần học là tiến hành kiểm tra ngay trên cổng làng, cổng chợ, ai đọc được chữ thì cho đi cổng có cắm cờ, cắm hoa, ai không thuộc chữ phải đi cổng mù. Nhiều giáo viên đặt ca dao, hò vè để giúp người học dễ nhận mặt chữ.


Đặc biệt, trong phong trào "Bình dân học vụ", "Diệt giặc dốt" trên địa bàn Đống Đa, qua việc tổ chức các lớp dạy chữ cho các "cô đầu", những phụ nữ bị xã hội cũ xô đẩy vào "nghề bán thân" giúp các tầng lớp nhân dân hiểu sâu sắc bản chất xã hội mới, hiểu rõ địa vị làm chủ của nhân dân. Nhiều cô đầu sau này tích cực tham gia hoạt động xã hội, tham gia lực lượng tự vệ, tham gia lực lượng phục vụ chiến đấu, phục vụ kháng chiến.


Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới, xóa bỏ các hủ tục, mê tín dị đoan được toàn thể nhân dân Đống Đa hưởng ứng, tạo nên luồng sinh khí mới trong đời sống tinh thần của nhân dân. Qua các sinh hoạt văn hóa giúp nhân dân nhận thức sâu sắc về bản chất xã hội mới, khẳng định vai trò, quyền làm chủ của mình, từ đó tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào chính quyền cách mạng.


Ngay sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, xâm chiếm Nam Bộ, Thành ủy, Ủy ban nhân dân và đoàn thể Việt Minh Hà Nội lập tức phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Bốn ngày sau khi Pháp nổ súng tiến công Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945, công nhân viên chức Sở Hỏa xa, đi đầu là công nhân Ga Hà Nội, mở đầu phong trào tình nguyện làm thêm giờ ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Phong trào nhanh chóng lôi cuốn công nhân các nhà máy, xí nghiệp, công sở khác ở Hà Nội.


Đầu tháng 12 năm 1945, Phòng Nam Bộ được thành lập ở Hà Nội để thống nhất và đẩy mạnh hơn nữa phong trào ủng hộ Nam Bộ. Nhân dân Đống Đa có nhiều sáng kiến đóng góp, ủng hộ, thực hiện trách nhiệm của mình đối với miền Nam ruột thịt. Tết Nguyên đán Bính Tuất (1946), Tết Độc lập đầu tiên, đoàn thể Việt Minh tổ chức chợ phiên kéo dài trong 10 ngày (từ mùng 2 Tết đến ngày 12 tháng Giêng) tại chùa Láng. Xã Yên Lãng đăng cai về cơ sở vật chất, thực hiện công tác phục vụ và bảo vệ trật tự an ninh đảm bảo cho chợ phiên đạt kết quả tốt.


Từ mùng 2 tết có các hoạt động văn hóa - văn nghệ, tổ chức các gian hàng trưng bày các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp do nhân dân ngoại thành Hà Nội sản xuất, nhân dân đến xem mua bán đông, từ đó tổ chức quyên tiền ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 01 Tháng Chín, 2026, 08:41:24 pm
Khoảng 9 giờ sáng ngày mùng 2 tết Bính Tuất (tức ngày 3.2.1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh về khai mạc chợ phiên. Cùng đi với Bác Hồ có bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố và viên sĩ quan Tư lệnh quân đội Tưởng khu vực Hà Nội. Vì được Ban tổ chức chợ phiên thông báo trước nên nhân dân nội thành Hà Nội kéo đến rất đông, tới hàng vạn người để đón Bác Hồ. Mọi người đứng chật đường vào chùa Láng, khiến xe của Bác không qua được, Bác Hồ xuống xe, các cháu thiếu nhi và đồng bào vây quanh Bác, mọi người ai cũng muốn đến gần lễ đài để nghe Bác nói chuyện. Bác báo tin hiện nay thực dân Pháp dựa vào quân đội Anh nổ súng gây hấn với ta ở Nam Bộ, chúng âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Bác hoan nghênh đồng bào ngoại thành hưởng ứng tuần lễ "Nam Bộ kháng chiến" do Chính phủ phát động, bằng một việc làm thiết thực tổ chức chợ phiên này như thế là tốt. Bác căn dặn đồng bào cần ra sức tăng gia sản xuất với khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng", thực hiện tiết kiệm để chống đói và nuôi sức để chống thực dân Pháp. Cuối cùng Bác chúc các cụ phụ lão cùng đồng bào năm mới mạnh khỏe, vui tết độc lập đầu tiên của dân tộc.


Sau 10 ngày hoạt động, chợ phiên thu được kết quả tốt đẹp, số tiền do đồng bào ủng hộ, trừ chi phí còn hơn một vạn đồng ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Nhưng kết quả lớn nhất là thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân ngoại thành Hà Nội, quyết tâm sát cánh cùng đồng bào miền Nam chống ngoại xâm bảo vệ đất nước. Nhân dân xã Yên Lãng vinh dự đón Bác Hồ về thăm và tự hào vì đã đóng góp xứng đáng cho thành công của chợ phiên.


Từ đầu năm 1946, để bảo vệ Thủ đô, khu vực nội thành Hà Nội được chia làm ba liên khu và thành lập Đảng ủy, Ủy ban bảo vệ liên khu. Liên khu I nằm ở trung tâm phía Đông Bắc thành phố. Liên khu II nằm ở phía Đông Nam. Liên khu III ở phía Tây Nam, bao gồm toàn bộ Khu Đống Đa nội thành, có các tiểu khu: Văn Miếu, Hòa Xa, Thăng Long (Kim Mã); phía Đông giáp Liên khu II, lấy đường Hàng Lọng làm giới tuyến; phía Bắc giáp Liên khu I, lấy trục đường Nguyễn Thái Học - Kim Mã làm giới tuyến, phía Tây Nam liền kề với Khu Đống Đa ngoại thành. Liên khu III do đồng chí Lê Trung Toản làm Bí thư Liên khu ủy. Đến giữa năm 1946, đồng chí Đỗ Trình - Thành Ủy viên được cử làm Bí thư Liên khu ủy III thay đồng chí Lê Trung Toản chuyển công tác1 (Đồng chí Đỗ Trình (tên khai sinh là Phạm Văn Tri) sinh năm 1922, quê quán xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế; nhập ngũ năm 1945; gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945. Sau này đồng chí được giao nhiều cương vị trọng trách quan trọng: Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn (1948-1949); Chủ nhiệm Chính trị, rồi Trưởng phòng Huấn luyện Trường Sĩ quan Lục quân (1949-1954); Phó Cục trưởng Cục Quân huấn rồi Cục trưởng Cục Nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng Tham mưu (1955-1964); Phó Giám đốc Học viện Quân sự (1965-1967); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh (1968-1969); Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng (1969-1973). Phó Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự (1974-1979); Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng rồi Quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1979-1982); Phó Giám đốc, Giám đốc, Bí thư Đảng ủy Học viện Quân sự cấp cao (1984-1990); Phó Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự Bộ Quốc phòng (1991-2001); Ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (2001-2003); Chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (2003). Đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng năm 1982). Liên khu ủy được thành lập gồm 4 đồng chí: Đồng chí Đỗ Trình - Bí thư, phụ trách chung, phụ trách chính quyền và quân sự; đồng chí Minh Quang - Phó Bí thư phụ trách đảng vụ, tuyên truyền, đoàn thể quần chúng và chi bộ khu Văn Miếu; đồng chí Nguyễn Kỷ - Liên khu Ủy viên phụ trách công vận và Chi bộ khu Thăng Long; đồng chí Hà Đăng Ấn - Liên khu Ủy viên phụ trách khu Hỏa Xa.


Cơ sở Đảng trên địa bàn Liên khu III có: Chi bộ Văn Miếu (Bí thư Minh Quang); Chi bộ khu Thăng Long (Bí thư Trân), Chi bộ Hỏa Xa (Bí thư Hà Đăng Ấn), Chi bộ Thủy tinh Cầu Giấy (Bí thư Nguyễn Văn Sửu), Chi bộ sở Vô tuyến Bạch Mai (Bí thư Nguyễn Văn Tâm). Lúc này, số lượng đảng viên của Đảng bộ Liên khu có khoảng 30 đồng chí.


Đoàn thể Phụ nữ cứu quốc do đồng chí Minh Thanh làm Bí thư. Ở cấp cơ sở, Ủy ban bảo vệ khu Văn Miếu do ông Nguyễn Văn Mậu làm Chủ tịch và các Ủy viên Tống Lập, Tống Thị Thiên; Ủy ban bảo vệ phố Sinh Từ do ông Nguyễn Chính làm Chủ tịch; ông Phạm Gia Nhung làm Phó Chủ tịch; Ủy ban bảo vệ phố Khâm Thiên do ông Khuyến làm Chủ tịch; Ủy ban bảo vệ khu Thăng Long do đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo làm Chủ tịch, đồng chí Phong Nhã là Ủy viên; Ủy ban bảo vệ khu Hỏa xa Ga Hàng Cỏ do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch.


Ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân Đống Đa cùng nhân dân cả nước nô nức tham gia bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước khi diễn ra cuộc Tổng tuyển cử, nhân dân 118 làng ngoại thành, trong đó có 28 làng ngoại thành nằm trong địa giới quận Đống Đa nhất trí gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh tín nhiệm đề cử Người vào Quốc hội. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng "Tất cả cử tri hãy đến thùng phiếu", công dân Đống Đa nô nức tới các điểm bỏ phiếu làm nghĩa vụ vẻ vang của mình. Sau gần trăm năm nô lệ, lầm than, lần đầu tiên công dân Đống Đa 18 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ, tôn giáo tự tay cầm lá phiếu bầu những đại biểu xứng đáng thay mặt nhân dân quyết định vận mệnh của đất nước. Ngày bầu cử Quốc hội ở Đống Đa thực sự là ngày hội lớn, tiếng trống ếch của các em thiếu nhi đi cổ động, tiếng hô khẩu hiệu của học sinh, thanh niên vang khắp phố phường, làng xóm. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%). Cán bộ, chiến sĩ tự vệ các địa phương vừa thực hiện quyền, nghĩa vụ thiêng liêng của người công dân, vừa tích cực chủ động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an toàn tuyệt đối các khu vực bỏ phiếu, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên.


Liên tục từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1946, nhân dân Đống Đa cùng đông đảo nhân dân nội, ngoại thành tập hợp lại thành đội ngũ hàng chục vạn người phản đối thực dân Pháp vi phạm Hiệp định Sơ bộ, chiếm đóng trái phép Nha Tài chính Việt Nam (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch); phản đối hành động tiếp tục xâm lược ở miền Nam, lập ra cái gọi là "Chính phủ Nam Kỳ tự trị", mở rộng chiến tranh xâm lược Tây Nguyên và Nam Trung Bộ; tiễn phái đoàn Quốc hội ta đi thăm hữu nghị Quốc hội và nhân dân Pháp, tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp chính thức đàm phán ở Phôngtennơblô (Fontainebleau).


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:31:55 pm
Không bao lâu sau ngày bầu cử Quốc hội, Ủy ban bảo vệ các cấp từ nội thành đến ngoại thành được thành lập. Ủy ban bảo vệ Khu Đống Đa do đồng chí Nguyễn Vĩnh Lợi (tức Lê Khôi) làm Chủ tịch.

Tháng 5 năm 1946, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (gồm: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái và Bạch Mai) và 5 khu phố ngoại thành (gồm: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh).


Trong các ngày 16 và 30 tháng 6 năm 1946, nhân dân nô nức đi bầu Ủy ban nhân dân các khu phố và các xã. Sau đó Ủy ban nhân dân được đổi thành Ủy ban hành chính, Ủy ban hành chính Khu Đống Đa ngoại thành gồm vùng Nam Đồng, Thái Hà, Ngã Tư Sở và Láng do nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan làm Chủ tịch, Ủy ban bảo vệ khu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Việt Minh khu, nắm toàn bộ lực lượng tự vệ chiến đấu và chuẩn bị xây dựng các phương án tác chiến để đối phó với tình hình bất trắc có thể xảy ra trên địa bàn. Ngày 1 tháng 7 năm 1946, đại biểu nông dân 118 làng ngoại thành, trong đó có 28 làng của Khu Đống Đa ngoại thành họp kiến nghị Chính phủ kiên quyết đối phó với những hành động phá hoại Hiệp định Sơ bộ của thực dân Pháp.


Ngày 31 tháng 7 năm 1946, Liên hiệp Công đoàn Hà Nội chính thức được thành lập. Các chi hội công nhân Cứu quốc trước đây ở các nhà máy, xí nghiệp được đổi thành công đoàn. Nhiều công đoàn ở một số cơ sở như Nhà in Minh Sang, Ga Hàng Cỏ... được củng cố. Công đoàn Đống Đa nhanh chóng bắt tay vào hoạt động, hướng trọng tâm công tác vào xây dựng lực lượng vũ trang công nhân, đấu tranh với hoạt động lấn tới của thực dân Pháp và bọn phản cách mạng.


Thực dân Pháp ngày càng ngang ngược và lộ rõ âm mưu tái chiếm nước ta. Để có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946. Bản Tạm ước còn chưa ráo mực, mực dân Pháp đã trắng trợn bội ước và ngày càng lấn tới. Hội nghị quân sự toàn quốc họp ngày 19 tháng 10 năm 1946 nhận định: "...Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp". Hội nghị vạch ra nhiệm vụ, kế hoạch cho cả nước chuẩn bị sẵn sàng kháng chiến.


Trước tình hình đó, cùng với Thủ đô Hà Nội, nhân dân Đống Đa chủ động, tích cực bắt tay ngay vào việc chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới đầy cam go, ác liệt.

Lúc này, vấn đề đặt ra là phải ra sức chuẩn bị lực lượng kháng chiến, phát triển lực lượng vũ trang, củng cố lực lượng chính trị trên địa bàn. Ngay sau khi quân Tưởng rút về nước, lực lượng tự vệ Yên Lãng tiếp quản Pháo đài Láng và cùng với các chiến sĩ pháo binh tiến hành củng cố trận địa pháo. Sau đó, công nhân Bưu điện Hà Nội đặt ở đây một máy điện thoại hữu tuyến phục vụ cho việc đảm bảo liên lạc, chỉ huy chiến đấu. Hàng trăm thanh niên công nhân Đống Đa tình nguyện gia nhập Vệ quốc đoàn, Công an xung phong. Tự vệ Khu Đống Đa ngoại thành và Xí nghiệp Ga Hàng Cỏ là những đơn vị tự vệ mạnh ở Hà Nội lúc bấy giờ. Ngoài việc xây dựng quân đội chính quy thì việc tổ chức toàn dân tham gia lực lượng chiến đấu là hết sức cần thiết và quan trọng. Vì vậy có hai hình thức tự vệ ra đời là tự vệ chiến đấu và tự vệ thành.


Tháng 10 năm 1946, Thành ủy Hà Nội điều động tăng cường cho Liên khu III một số cán bộ: đồng chí Hồ Trúc, Phạm Hướng (bí danh Tư Koóng), Hoàng Công, Kim Quế và một số học sinh: Trần Phi Hiển, Trịnh Khắc Dung...

Trong tháng 10 năm 1946, Đống Đa cơ bản tổ chức xong lực lượng tự vệ chiến đấu và hậu cần của các phố, thôn xã và các xí nghiệp. Mỗi thôn, xã có từ 1 trung đội đến 1 đại đội tự vệ. Số thanh niên trẻ khỏe, tinh thần hăng hái của các địa phương được biên chế vào các trung đội, đại đội tự vệ chiến đấu, số còn lại được biên chế vào các đơn vị tự vệ rộng rãi.


Lực lượng tự vệ chiến đấu và hậu cần của các phố và xí nghiệp có khoảng 400 người, tổ chức thành 12 đội và đại đội.

Khu Thăng Long có 4 đội, gồm: Đội Phan - Tống (Phan Chu Trinh - Tống Lê Chân) do đồng chí Lộc chỉ huy; Đội Thăng Long do đồng chí Quách Ngọc Hải chỉ huy; Đội Tám mái do đồng chí Kẹo chỉ huy; Đội Thủy tinh Cầu Giấy do đồng chí Nguyễn Văn Sửu chỉ huy.


Khu Văn Miếu có 8 đội, gồm: Đội Sinh Từ do đồng chí Nguyễn Phi Hùng chỉ huy; Đội Việt Nam cứu quốc do đồng chí Hồng và đồng chí Mậu chỉ huy; Đại đội Hàng Bột quân số 145 người, do đồng chí Nguyễn Hữu Thành làm Đại đội trưởng; Đại đội Hàng Bột dưới do đồng chí Đỗ Lập Sơn là Đại đội trưởng; Đại đội Hỏa xa Hà Nội quân số 90 người do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Đại đội trưởng; Trung đội cựu binh sĩ cứu quốc làng Giảng Võ; Đội Khâm Thiên do đồng chí Ngọc làm Đội trưởng; Đội Thổ Quan do đồng chí Nguyễn Đình Hiếu làm Đội trưởng; Đội Tự vệ Sở Vô tuyến Bạch Mai do đồng chí Nguyễn Văn Tân làm Đội trưởng.


Lực lượng tự vệ các địa phương, các cơ sở ở Đống Đa vừa xây dựng phát triển lực lượng vừa tích cực hoạt động thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự trị an trên địa bàn, đập tan các hoạt động khiêu khích, phá hoại của quân Pháp và bọn tay sai.


Tháng 11 năm 1946, lần đầu tiên, toàn bộ lực lượng tự vệ Đống Đa được tập hợp lại dưới sự chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến Liên khu. Tất cả các đại đội, trung đội tự vệ đều có mặt đầy đủ ở khu đình Láng với các loại vũ khí trong tay. Trong khoảng 200 chiến sĩ tự vệ lúc đó có khoảng một phần ba là nữ. Vũ khí có 15 súng trường kiểu mútcơtông (mousqueton), 10 súng xìten (sten), ngoài ra, gậy, kiếm, mã tấu được trang bị đầy đủ. Cuộc tập hợp lực lượng tự vệ Đống Đa biểu thị quyết tâm cao của người dân Đống Đa sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến khó có thể tránh khỏi.


Ngoài lực lượng tự vệ còn có Đội Tuyên truyền xung phong. Buổi đầu cuộc kháng chiến, đội này bao gồm những anh chị em tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, các đồng chí ở Đội Tuyên truyền thành bộ Việt Minh thành Hoàng Diệu (Liên khu III).

Đội này hoạt động từ những ngày Cách mạng Tháng Tám mới thành công trên một địa bàn rộng, từ chợ Cửa Nam qua Khâm Thiên tới các ngõ Thổ Quan, Thịnh Hào, khu Thăng Long... Khi chuẩn bị kháng chiến, đội này tham gia vào các Ủy ban bảo vệ như đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm ủy viên tuyên truyền; đồng chí Bảo làm Chủ tịch; đồng chí Chu Xuân Ám làm ủy viên cứu thương, về sau, đội này thành Đội Tuyên truyền xung phong, có các đồng chí Kim Thoa, Hiển...


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:33:12 pm
Lực lượng Vệ quốc đoàn hoạt động trên địa bàn Đống Đa có Tiểu đoàn 523 (Tiểu đoàn trưởng là đồng chí An Giao) và một đội công binh gồm 20 người (thuộc Giao thông Công binh Cục - Bộ Quốc phòng). Tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho Đại đội 29 (đóng tại ngõ Văn Chương) chủ động liên hệ với địa phương để nắm lực lượng tự vệ chiến đấu, xây dựng kế hoạch phối hợp tác chiến và cử cán bộ về huấn luyện cho tự vệ chiến đấu Đống Đa. Một số lớp huấn luyện quân sự được tổ chức khá chu đáo, bài bản. Nhiều môn học mới như kỹ thuật công binh, làm đường, bắc cầu phục vụ chiến đấu, đào công sự... đối với anh em tự vệ Đống Đa là những bài học quý. Nhiều lớp huấn luyện cứu thương được mở ở các khu phố, các làng, xã như: lớp huấn luyện quân sự cho phụ nữ làng Thổ Quan do đồng chí Minh Quang phụ trách; lớp huấn luyện quân sự do Việt Nam nhân dân cứu quốc hội tổ chức cho các hội viên ở phố Bích Câu, do đồng chí Vơn vốn là lính lái máy bay của Pháp huấn luyện; lớp cứu thương mở tại ngôi đền ở số 35 phố Hàng Bột, do đồng chí Nguyễn Khắc Kỳ ở Cục Quân y - Bộ Quốc phòng huấn luyện...


Để có ngân quỹ phục vụ huấn luyện, mua sắm vũ khí, trang bị thuốc men, dụng cụ y tế..., Liên khu ủy vận động quyên góp tiền, được Phụ nữ cứu quốc hưởng ứng nhiệt tình. Phụ nữ nhiều đường phố có những sáng kiến hay để có tiền phục vụ công việc chuẩn bị kháng chiến. Phụ nữ cứu quốc và tự vệ Hàng Bột, Khâm Thiên tổ chức biểu diễn văn nghệ, mua vé tùy tâm. Đồng chí Lê Trung Tín - đội viên tuyên truyền Khâm Thiên, sao vẽ bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đem bán đấu giá trong buổi biểu diễn văn nghệ, thu được số tiền hơn 1.000 đồng Đông Dương. Qua những đợt bồi dưỡng, huấn luyện, mỗi chiến sĩ tự vệ Đống Đa đều cảm thấy mình lớn lên, có nhiều nhận thức mới không những về tri thức quân sự mà cả lý tưởng và tình cảm cách mạng, tình đoàn kết quân dân.


Cùng với lực lượng tự vệ, công an Khu Đống Đa góp phần tích cực vào việc truy quét, trấn áp bọn phản động, tàn dư của Quốc dân Đảng và tay sai của thực dân Pháp. Trong những tháng cuối năm 1946, trinh sát chính trị và cơ sở bí mật Khu Đống Đa khám phá toàn bộ tổ chức gián điệp Pháp ở Liên khu III do tên Nicolas Capde Ville (người Việt Nam vào "làng Tây") chỉ huy.


Để đảm bảo công tác chỉ đạo kháng chiến và tạo điều kiện cho các địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo trong chiến đấu, ngày 15 tháng 11 năm 1946, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định chia cả nước thành 12 khu. Hà Nội thuộc Khu XI được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ. Cùng với Đảng ủy mặt trận và các ủy ban được thành lập từ trước, ở các liên khu và các khu ngoại thành đều thành lập Đảng ủy mặt trận, Ủy ban bảo vệ với nhiều lực lượng đảng viên, quần chúng tham gia.


Trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch có nhiều chênh lệch, ta kém địch nhiều lần về quân số, vũ khí..., Bộ Tổng chỉ huy, Khu ủy và Ban Chỉ huy mặt trận Khu XI nghiên cứu một kế hoạch chiến đấu nhằm thực hiện mục đích giam chân và tiêu hao sinh lực địch trong thành phố một thời gian càng lâu càng tốt. Theo tinh thần ấy, ta chủ trương giành chủ động ngay từ đầu, tiến công làm rối loạn thế trận của địch, sau đó một bộ phận trụ lại, hình thành một khu cố thủ ở giữa thành phố, thu hút, kìm chân địch ở bên trong; còn đại bộ phận lực lượng của ta dãn ra, chốt ở các cửa ô, tạo thế bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, đánh địch cả trong và ngoài. Kế hoạch cụ thể: Liên khu I sẽ chốt lại trong thành phố, Liên khu II và Liên khu III cùng năm khu ngoại thành sẽ là nơi quân ta xây dựng vành đai bao vây địch. Nhân dân Khu Đống Đa ngoại thành, Liên khu III cùng các xóm làng ven nội tích cực sữa soạn các công việc chuẩn bị cho kế hoạch "Vườn không nhà trống" và "Tiêu thổ kháng chiến" để chặn bước tiên của địch. Khẩu hiệu vận động nhân dân lúc này là "Tản cư là yêu nước". Các phố đều thành lập "Ban tản cư". Việc vận động tản cư không đơn giản vì hầu hết mọi người đều mong muốn được tham gia kháng chiến, đánh thực dân Pháp. Tuy nhiên, theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ, từng đoàn người, trước hết là các cháu nhỏ, người già, người ốm, tàn tật,... thực hiện tản cư về các làng ven đô.


Những người ở lại tự nguyện vào các đội tự vệ, tổ cứu thương, tiếp tế... Hầm hào chiến đấu, hố cá nhân, nhiều ụ chướng ngại được xây dựng bằng đất đá, gỗ, tà vẹt, bàn tủ, ghế, giường mọc lên ở đầu và cuối phố Khâm Thiên, Hàng Bột, sẵn sàng phục vụ cho cuộc chiến đấu đang đến gần.


Trên địa bàn Đống Đa, cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội, có pháo đài Láng đặc biệt quan trọng. Năm 1940, quân đội Pháp bắt nhân dân làng Láng Trung nhổ lúa để chúng quây dây thép gai xây dựng pháo đài phòng thủ chống phát xít Nhật. Trên diện tích 4ha, chúng xây nhà kho để chứa đạn, làm một dãy nhà tre cho lính pháo thủ và một trung đội lính Nam Kỳ ở. Pháo đài có 4 khẩu pháo cao xạ 75mm nhưng chỉ có 2 khẩu còn hoạt động được. Một viên đại úy Pháp chỉ huy toàn bộ pháo đài. Sau khi đảo chính Pháp, chiếm được pháo đài quân Nhật cho xây thêm hầm kiên cố ở Gò Ma để chứa súng đạn. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nhật giao lại pháo đài cho quân Tưởng. Thời gian này, lính Tường muốn có tiền để tiêu xài nên tìm cách tuồn đạn ra bên ngoài, nhưng bị tự vệ làng Láng tuần tra phát hiện và kiên quyết tìm mọi cách giữ lại, không cho chúng tẩu tán. Vì vậy, khi Vệ quốc đoàn tiếp quản pháo đài, dưới hầm chứa vẫn còn rất nhiều đạn.


Ngày 29 tháng 6 năm 1946, tại Trại Vệ quốc đoàn thanh niên (Hàng Bài), lễ thành lập Đoàn Pháo binh Thủ đô được tổ chức. Pháo thủ ở Pháo đài Láng được tổ chức thành trung đội, là một trong bốn trung đội của Đoàn Pháo binh Thủ đô, do đồng chí Nguyễn Ưng Gia làm Trung đội trưởng, đồng chí Nguyễn Khoát làm Chính trị viên và 20 cán bộ, chiến sĩ. Lúc này, pháo đài được trang bị thêm một khẩu súng phòng không 12,7mm. Theo kế hoạch tác chiến của Bộ Chỉ huy mặt trận, pháo đài Láng sẽ cùng các pháo đài Xuân Tảo, Xuân Canh nã pháo vào khu vực thành và các căn cứ đóng quân của Pháp, phá hủy cơ quan chỉ huy, các kho tàng và phương tiện chiến tranh của chúng để mở đầu cho kháng chiến. Do vị trí và tầm quan trọng của pháo đài Láng, bộ đội pháo đài này suy nghĩ, tìm tòi, làm việc ngày đêm tìm cách chuyển thành công pháo cao xạ thành pháo mặt đất. Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Vương Thừa Vũ, Trần Độ trong Bộ Tư lệnh Mặt trận Hà Nội đến thăm pháo đài Láng, thăm hỏi, động viên các pháo thủ và kiểm tra các phương án tác chiến. Đồng chí Võ Nguyên Giáp rất hài lòng với công tác chuẩn bị tác chiến ở pháo đài Láng.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:37:46 pm
Về mặt bố trí lực lượng, các đội tự vệ chiến đấu được bố trí xen kẽ với Vệ quốc đoàn, phối hợp chiến đấu theo kế hoạch chung của toàn mặt trận. Trên địa bàn Liên khu III lúc này, lực lượng tự vệ và hậu cần của các phố có khoảng từ 8 đến 10 đội. Trung đội tự vệ Thổ Quan - Khâm Thiên có khoảng 50 người cùng với tự vệ các xã lân cận hợp thành đại đội tự vệ thành do Lê Đình Cầu làm Đại đội trưởng. Vũ khí của tự vệ Thổ Quan - Khâm Thiên chủ yếu là dao, kiếm, mã tấu, ngoài ra có 5, 6 khẩu súng trường các loại; 2 khẩu tiểu liên Phan Đình Phùng và 1 khẩu xìten. Sau này được trang bị thêm súng ngắn, các-bin, bom ba càng, đạn đại bác 75mm (nhưng không có súng), lựu đạn các loại. Còn ở Hàng Bột có 1 đội tự vệ mạnh với quân số 145 người; vũ khí có 11 khẩu súng các loại do các đội viên lấy được của giặc, còn lựu đạn và bom ba càng do trên cấp.


Từ cuối tháng 10 năm 1946, Liên khu được Ty Công an Hà Nội bổ sung 20 cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng trinh sát chính trị. Lực lượng này có nhiệm vụ phối hợp với các đoàn thể và lực lượng tự vệ rà soát và dự kiến các phương án đấu tranh với các phần tử có nghi vấn, điều tra những ngôi nhà địch có thể lập ổ đề kháng. Lực lượng công an bố trí ở xung quanh Quốc Tử Giám, Hàng Bột, Hào Nam, Nhà dầu Shell, Khâm Thiên, Văn Chương, Xã Đàn, Cầu Giấy, Láng, Ngã Tư Sở. Trụ sở cảnh sát Liên khu III đóng ở cuối phố Khâm Thiên - Ô Chợ Dừa (nay là Trụ sở Công an quận Đống Đa). Hoạt động trên địa bàn Liên khu III còn có lực lượng thuộc đội trinh sát Bắc Bộ, trụ sở đóng ở số 73 phố Hàng Bột.


Đầu tháng 12 năm 1946, dưới sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Mặt trận Hà Nội, lực lượng tự vệ Đống Đa cùng tự vệ một số huyện thuộc Hà Đông, Sơn Tây tổ chức một cuộc nghi binh lớn. Đêm đêm, hàng nghìn người mặc quân phục và trang bị đầy đủ hành quân từ ngoại ô vào thành phố, nửa đêm về sáng lại rút ra ngoại thành. Kế hoạch được tiến hành liên tục trong một tuần lễ làm cho thực dân Pháp không nắm được lực lượng của ta có bao nhiêu nên rất hoang mang. Ngày 16 tháng 12, cùng với Vệ quốc đoàn Thủ đô, Vệ quốc đoàn Đống Đa tham dự lễ tuyên thệ "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", "Quyết tử để bảo vệ Thủ đô" tại đình Mọc Quan Nhân.


Cũng ngày 1 tháng 12 năm 1946, tại trụ sở của Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội gần Ngã Tư Sở, đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đến kiểm tra và trực tiếp nghe Bộ Chỉ huy mặt trận báo cáo. Đồng chí Tổng Tư lệnh căn dặn Ban Chỉ huy mặt trận: "Phải hết sức tỉnh táo, hết sức kỷ luật, đề phòng sự khiêu khích, nếu quân Pháp trở mặt đánh ta thì chiến đấu phải hết sức kiên cường. Vận dụng chiến thuật phải hết sức linh hoạt, nhưng phải bảo toàn lực lượng".


Gần đến ngày chiến đấu, để thuận tiện cho việc lãnh đạo và chỉ huy hiệp đồng tác chiến, đồng chí Đỗ Trình cho rời trụ sở Liên khu ủy, Liên khu bộ Việt Minh và Ủy ban bảo vệ Liên khu từ nhà Dêpot ở đầu phố Khâm Thiên về Nhà máy Tóc - nơi đặt sở chỉ huy Tiểu đoàn 523. Cơ quan tuyên truyền của Liên khu từ Hàng Bột chuyển về làng Thành Công.


Đến trung tuần tháng 12 năm 1946, nhất là sau vụ quân Pháp tàn sát đồng bào ta ở phố Yên Ninh và khiêu khích ở trụ sở Bộ Tài chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao) không khí chiến tranh, tình hình Hà Nội trở nên ngột ngạt, căng thẳng. Các lực lượng tự vệ, tuyên truyền của Liên khu III được lệnh ngày đêm tập trung tại nơi quy định, mang sẵn gạo, thức ăn dự phòng cho cá nhân. Gần đến ngày chiến đấu, Liên khu III được Bộ Chỉ huy Khu XI cấp cho 5 quả bom cỡ 50kg để phá nổ những vị trí của ta bị địch chiếm. Lực lượng tự vệ hoàn thành việc đục thông tường từ nhà nọ sang nhà kia. Lực lượng Vệ quốc đoàn đóng bí mật trong Văn Miếu đào xong đoạn đường hầm chạy ngầm từ Văn Miếu trước cửa nhà Gian Đa (Jeane D’Arc).


Sau đợt kiểm tra của Bộ Chỉ huy mặt trận, Ban Chỉ huy tự vệ Đống Đa triển khai kế hoạch kiểm tra lực lượng tự vệ chiến đấu tại một số địa điểm quan trọng từ ngã tư Khâm Thiên đến Ngã Tư Sở. Qua kiểm tra, nhìn chung lực lượng tự vệ chiến đấu đã sẵn sàng, nhân dân đã tản cư được phần lớn, việc đục tường, đào giao thông hào về cơ bản đã tiến hành theo kế hoạch. Bộ phận Vệ quốc đoàn đóng ở Văn Miếu đã triển khai phương án tác chiến ra trước cửa nhà Gian Đa. Được sự hướng dẫn, giúp đỡ của công binh Tiểu đoàn 523, lực lượng tự vệ chiến đấu Nam Đồng - Xã Đàn - Ô Chợ Dừa, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Đức đắp chiến lũy vững chắc cao khoảng 3m, rộng gần 3m, dài hơn 30m tại ngã ba Ô Chợ Dừa. Từ chiều ngày 19 tháng 12, ta khẩn trương đắp hai ụ đất vững chắc ở đầu phố Khâm Thiên gần phía phố Hàng Lọng (nay là đường Lê Duẩn) và đầu Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng), Văn Miếu để chặn địch đánh nống ra ngoài, mãi đến đêm mới hoàn thành. Trật tự trị an nhìn chung được giữ vững. Quân và dân Đống Đa chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến một cách bình tĩnh, với tinh thần "Quyết từ để Tổ quốc quyết sinh".


Đống Đa không chỉ là nơi đặt trụ sở của Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội, mà còn là nơi được chọn làm địa điểm rút quân tập kết của cán bộ, công nhân viên Sở Công an Bắc Bộ và Ty Công an Hà Nội. Theo kế hoạch thì bước một, chuyển xuống Khâm Thiên (tiệm khiêu vũ cũ của Nhật ở cuối phố Khâm Thiên); bước hai, chuyển xuống Ngã Tư Sở và khi kháng chiến bùng nổ thì về chùa Láng, Trung Kính và Mễ Trì.


Quân dân Liên khu III và Khu Đống Đa ngoại thành sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu với sự chuẩn bị khẩn trương, tích cực, khá chu đáo với niềm tin chiến thắng.

Địa bàn Đống Đa trở thành một mắt xích và là cửa ngõ quan trọng trong vành đai ngoại thành. Đây vừa là chỗ đứng chân an toàn của cán bộ nội thành, vừa nằm trên tuyến đường rút quân ra Hà Đông, Sơn Tây lên Việt Bắc của Trung ương Đảng và Chính phủ. Trong quá trình xây dựng và củng cố lực lượng, Đống Đa là địa bàn để Trung ương Đảng chọn xây dựng vị trí quân sự của thành phố như pháo đài Láng, đồng thời là địa bàn để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nội và ngoại thành. Trên thực tế, Đống Đa vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, chỗ dựa trực tiếp cho lực lượng chiến đấu nội thành ở phía Tây Nam thành phố. Trong 16 tháng, Đống Đa góp phần tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị đi vào kháng chiến, lực lượng đó không chỉ là Tiểu đoàn chủ lực 523 và các đội tự vệ chiến đấu... mà là tất cả công nhân, nông dân, thanh niên, trí thức, người buôn bán nhỏ,... Nhiều người tuy không trực tiếp đứng trong hàng ngũ Vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, nhưng với tinh thần "Thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ", hết lòng vì Tổ quốc, vì Thủ đô, các tầng lớp nhân dân Đống Đa luôn luôn hướng về cách mạng, tin theo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì vậy mà trước ngày Toàn quốc kháng chiến, nhân dân Đống Đa tích cực chuẩn bị "vườn không nhà trống", "tiêu thổ kháng chiến", dựng chiến lũy, đào đường giao thông, đục phá tường nhà, làm đường vận động chiến đấu, tải thương, tiếp tế...


Lực lượng vũ trang nhân dân và các tầng lớp nhân dân Đống Đa sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khó với chí quyết tâm, và niềm tin tất thắng.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:42:28 pm
2. Tham gia chiến đấu giam chân địch trong thành phố 60 ngày đêm (19.12.1946 - 19.2.1947)

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sau khi nêu rõ dã tâm của thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa, Người kêu gọi:

"Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giảo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc..."
1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 534)


Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Đống Đa cùng cả nước nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp.

Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến thành phố gặp đồng chí Đỗ Trình - Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu III, để giao nhiệm vụ. Đến 15 giờ ngày 19 tháng 12, đồng chí Đỗ Trình nhận được mật hiệu: "Chuyến hàng sẽ đến vào 18 giờ" - theo quy ước sẽ cộng thêm 2 giờ là 20 giờ. Nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Liên khu III là tiến công vào mục tiêu địch chiếm đóng, ngăn chặn địch từ trong thành đánh ra, kìm chân địch một thời gian khoảng vài tuần lễ, phối hợp tác chiến với các Liên khu I, Liên khu II, bảo vệ đường ra An toàn khu của Trung ương. Kế hoạch phối hợp tác chiến giữa Đại đội 29 lực lượng Vệ quốc đoàn với lực lượng tự vệ Hàng Bột được triển khai cụ thể. Đại đội 27 điều hai trung đội tới phối hợp với tự vệ Khâm Thiên - Thổ Quan, một trung đội đóng tại phố Nam Đồng làm lực lượng dự bị. Đại đội 28 đóng chốt vùng Nhà Tiền (nay là trụ sở Công ty cổ phần in Tiến Bộ, phố Nguyễn Thái Học).


Chủ động đánh địch và đẩy địch vào thế bị động, thực hiện quyết định của Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam ra lệnh cho các đơn vị bảo vệ Hà Nội nổ súng chiến đấu. Chấp hành mệnh lệnh, đúng 20 giờ 00 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, đèn toàn thành phố Hà Nội vụt tắt. Đó là hiệu lệnh chiến đấu, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Giờ cứu nước đã đến, toàn thành cùng nổ súng. Khẩu đội Phi Hùng tại pháo đài Láng do Trung đội trưởng Ưng Gia chỉ huy được giao nhiệm vụ bắn những quả đạn đầu tiên vào đại bản doanh quân xâm lược Pháp trong Thành Hà Nội làm hiệu lệnh tiến công. Cùng lúc, đại bác ở pháo đài Xuân Tảo cùng nhả đạn vào các mục tiêu đã quy định. Trong tiếng đại bác gầm rú, tự vệ Hàng Bột đắp nốt ụ chướng ngại ngang đường. Cột điện và cây to được đánh đổ gục tạo thành chướng ngại vật chắn ngang các đường phố. Chuyến tàu điện cuối cùng trong ngày chở bà con đi tản cư, sau khi đổ khách ở Ngã Tư Sở quay về cũng được lật đổ. Một đoàn xe lửa chở đầy đá chạy ra hướng Sinh Từ được cắt toa làm thành barie chắn các đường Sinh Từ, Hàng Đẫy. Đoàn tàu khách từ Nam Định về ga Hà Nội được lệnh dừng trả hết khách ở cột đèn tín hiệu miếu Hai Cô để bảo đảm an toàn cho hành khách, sau đó đầu máy chạy đến barie phố Khâm Thiên đỗ lại làm thành chướng ngại vật. Nhân dân ném đồ đạc xuống mặt đường xây dựng thêm chiến lũy. Nhân dân các làng xã nổi trống, mõ từ làng này sang làng khác, huy động lực lượng tiếp ứng cho lực lượng vũ trang nội thành.


Lực lượng ở Liên khu III phối hợp với Khu Đống Đa ngoại thành chốt giữ và tổ chức bảo vệ trục Đường số 6, đoạn đường Hà Nội - Hà Đông để các cơ quan của Đảng, Chính phủ từ trong nội thành rút dần ra Hà Đông, Sơn Tây, rồi tiến lên Chiến khu Việt Bắc tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến. Phố Hàng Bột, ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở, Mễ Trì là những chỗ dừng chân của Bộ Chỉ huy tiền phương để chỉ đạo tác chiến trong thành phố. Tại các điểm nói trên, tự vệ chiến đấu và nhân dân tổ chức bảo vệ các đồng chí cán bộ Trung ương và Bộ Chỉ huy mặt trận an toàn.


Trong khu vực Ga Hàng Cỏ, Đội tự vệ công nhân Hỏa Xa từ phố Khâm Thiên đánh vào các mục tiêu có địch, đốt phá một số toa xe hàng hóa của địch.

Lực lượng đánh vào khu gia binh Pháp và tòa báo Vì nước ở đầu phố Hàng Bột, do đồng chí Trần Hải - Chính trị viên đại đội chỉ huy 2 tiểu đội của Trung đội 56 và 1 tiểu đội tự vệ. Quân ta vừa nổ súng vừa gọi hàng. Địch rút lên gác, không bắn trả. Cửa vào tầng dưới địch chặn chắc nên ta không phá được. Quân ta chất chăn màn và các vật liệu dễ cháy, tưới xăng lên định đốt thì địch xin hàng. Ta lệnh cho chúng mở cửa ra hàng. Ba tên Pháp cùng vợ con mang theo khẩu một khẩu xìten và một khẩu súng ngắn ra hàng.


Trong trận đánh Nhà dầu Shell, tiểu đội gác tại đây do sơ hở trong khi chuẩn bị tác chiến nên bị lộ, địch sinh nghi và chuẩn bị ứng phó. Khi đèn tắt, chúng chủ động tiến công trước, ta phải rút ra ngoài. Sau đó, Đại đội 27 thuộc Tiểu đoàn 523 được điều đến đánh, gặp địch tăng viện nên phải rút.


Tại khu Thăng Long, lực lượng ta đánh vào một đơn vị lính Pháp đóng tại Nhà thờ Đa Minh. Một tình báo địch đội lốt tu sĩ chạy thoát.

Phối hợp với lực lượng Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu tuyến trước, lực lượng công an và tự vệ bắt giữ một số đối tượng nghi vấn, một số sĩ quan Pháp và Pháp kiều ở sân bay Bạch Mai...

Các lực lượng Vệ quốc quân, Tự vệ đoàn, Tự vệ chiến đấu, Công an xung phong phối hợp tác chiến, tiến công uy hiếp địch ở Sở Xe điện, Nhà giặt... Trong trận đêm 19 tháng 12, đồng chí Bảo Hà, người dân tộc Tày, có mặt từ những ngày đầu trong đội Tuyên truyền giải phóng quân, là chiến sĩ Vệ quốc đoàn, xạ thủ đại liên, trúng đạn hy sinh tại chỗ, ở mặt trận Hàng Bột có hai chiến sĩ tự vệ là Phạm Gia Chung (cảm tử quân) và Nguyễn Văn Nho (cáng thương), ở Mặt trận Khâm Thiên, đồng chí Đạt anh dũng hy sinh.


Nhà Đêlêvô (nay là trụ sở Công an quận Đống Đa) là một ổ chiến đấu tiền tiêu của Pháp được trang bị tiểu liên, lựu đạn, xe cứu thương, khống chế đường Hàng Bột - đường giao thông nối liền nội thành với khu an toàn của thành phố và của Trung ương Đảng ở Hà Đông. Ta dùng Trung đội 57 thuộc Đại đội 29, Tiểu đoàn 523 và 1 Trung đội tự vệ khu Văn Miếu do Đại đội trưởng Lưu Vân trực tiếp chỉ huy. Lực lượng ta kiên quyết vừa tiến công vừa kết hợp gọi hàng. Có một tên người Pháp cùng vợ là người Việt và một tên người Việt mang theo súng ra hàng. Khẩu đại liên của ta bố trí bên dãy phố đối diện bắn thẳng sang vị trí của địch. Địch bắn trả quyết liệt, đồng chí Vọng - chiến sĩ xạ thủ bị hy sinh. Dựa vào hỏa lực và tường chắn kiên cố, địch ngoan cố chống cự, ta đánh tầng một, địch rút lên tầng hai. Đồng chí Nguyễn Hữu Thành chỉ huy bộ phận tự vệ đưa quả bom 50kg vào, nhưng bom không nổ. Cuộc chiến đấu giằng co đến gần sáng. Đồng chí Phạm Gia Nho - Tiểu đội trưởng tự vệ anh dũng hy sinh. Đại đội trưởng Lưu Vân cùng một số chiến sĩ và tự vệ trèo lên mái nhà, dỡ ngói thả lựu đạn xuống diệt được vài tên và gọi một số ra hàng. Địch cho xe cơ giới chở quân đến cứu viện. Mặt trận kịp đưa khẩu badôca cơ động đến bắn cháy một xe. Đến chiều quân địch dùng chiếc xe cắm cờ Hồng thập tự để ngụy trang chở quân tháo chạy vào thành.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:44:20 pm
Sáng ngày 20 tháng 12, sau khi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Vương Thừa Vũ đến thăm Đại đội tự vệ công nhân phố Khâm Thiên và quyết định điều hai tiểu đoàn của Chiến khu II tăng cường cho Hà Nội.


Đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng cùng Chính trị viên Trần Độ xuống kiểm tra đơn vị pháo binh ở pháo đài Láng. Tại đây các đồng chí lãnh đạo truyền đạt Lời kêu gọi của Bác Hồ, căn dặn và thăm hỏi thân mật cán bộ, chiến sĩ. Sự quan tâm sâu sát của các đồng chí chỉ huy tăng thêm niềm tin và sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ ở Láng, Khâm Thiên cũng như toàn bộ lực lượng tự vệ chiến đấu, Vệ quốc đoàn ở Đống Đa.


Rạng sáng ngày 20 tháng 12, địch chiếm lại được một số vị trí như khu Đấu Xảo, Ga Hàng Cỏ.

Tranh thủ lúc chiến sự tạm ngừng, các đồng chí Đỗ Trình, Minh Quang, Nguyễn Kỷ trong Liên khu ủy kịp thời xuống các vị trí chiến đấu và các khu phố để kiểm tra tình hình chiến đấu và động viên cán bộ, chiến sĩ. Các đồng chí phổ biến quán triệt tình hình nhiệm vụ chiến đấu đến từng cán bộ, chiến sĩ, đồng thời vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của địch muốn cô lập, chia cắt lực lượng của ta chia cắt các liên khu, nội và ngoại thành để tiện tiêu diệt từng khu vực một.


Ngày 21 và 22 tháng 12, địch đánh ra Kim Mã. Tự vệ ta chủ động bố trí sẵn lực lượng, chặn đánh địch ở gần chùa Kim Mã (nay là Nhà hát chèo Trung ương). Trong trận này, đồng chí Vơn, một chiến sĩ tự vệ bắn tỉa rất giỏi hy sinh. Đồng đội đưa thi hài anh về nơi an nghỉ cuối cùng tại khu vực núi Bò.


Đêm 22 tháng 12, máy bay địch bắn phá ném bom vào các làng Lương Sử, Hào Nam và một số địa điểm khác trên địa bàn Liên khu III. Bom đạn giặc giết hại một số đồng bào chưa kịp tản cư. Hành động của địch càng làm tăng thêm lòng căm thù và ý chí chiến đấu cho quân dân Liên khu III.


Đảng ủy Khu XI, Ủy ban kháng chiến và Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội có kế hoạch chỉ đạo Ủy ban kháng chiến và lực lượng vũ trang các cấp theo dõi sát sao tình hình và âm mưu của địch, các liên khu II và liên khu III phải chặn địch từng bước, bám chắc lấy các cửa ô, phối hợp tác chiến chặt chẽ với Liên khu I, kết hợp trong ngoài cùng đánh, vừa tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, vừa cố gắng bảo toàn lực lượng của ta để chiến đấu lâu dài.


Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu XI, Đảng ủy và Ủy ban kháng chiến Liên khu III, Khu Đống Đa ngoại thành chỉ đạo quân dân trên địa bàn bám đất, bám địch, bám dân thực hiện "mỗi đường phố là một chiến tuyến, mỗi ngôi nhà là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ", giành giật với địch từng góc phố, từng căn nhà. Cuộc chiến đấu không phân chiến tuyến, ở đâu cũng có lực lượng của ta, cũng xuất hiện nhiều ổ đề kháng, những cây súng bắn tỉa..., chướng ngại vật xuất hiện khắp mọi nơi. Những khẩu hiệu, áp phích với dòng chữ "Sống chết với Thủ đô" do các đội tuyên truyền xung phong, tự vệ, phụ nữ phố Hàng Bột viết đẹp, trang nghiêm được dán trên khắp các tường nhà, hè phố. Xưởng cơ khí của một tư nhân được chuyển thành xưởng chuyên chữa súng cho bộ đội Tiểu đoàn An Giao (tức Tiểu đoàn 523, gọi theo tên đồng chí Tiểu đoàn trưởng) và tự vệ chiến đấu. Các tổ tuyên truyền, tiếp tế, cứu thương... hoạt động tích cực, sôi nổi. Loa truyền thanh vang lên, vừa đưa tin thắng lợi, vừa làm công tác địch vận. Đặc biệt ở Liên khu III, trong những ngày đầu kháng chiến, có tờ báo Thép để thông báo tin tức chiến sự. Các đội viên tuyên truyền phân phát báo xuống tận các chiến sĩ và nhân dân ngay trong ngày đầu báo được in (20.12.1946).


Trong khi chiến sự diễn ra ác liệt trên nhiều vị trí của Liên khu III, các làng xã Đống Đa ngoại thành tiếp tục thực hiện "vườn không nhà trống" và "tiêu thổ kháng chiến". Đặc biệt, sân bay Bạch Mai của địch bị quân dân Liên khu III khống chế. Liên lạc và đường giao thông thường ngày của địch từ Hà Nội đi các tỉnh hầu như bị tê liệt.


Sự gắn bó các hoạt động thống nhất quân - dân dưới sự lãnh đạo của Khu ủy là nét nổi bật trên địa bàn Đống Đa khi bước vào cuộc kháng chiến. Để tiện việc phối hợp chỉ đạo, trụ sở Khu ủy, Ban Chỉ huy Việt Minh Liên khu III và Ủy ban kháng chiến Liên khu III bố trí cùng một khu vực với Tiểu đoàn bộ 523. Lúc đầu ở Trại Tóc (Ô Chợ Dừa) sau chuyển về ấp Thái Hà, rồi về Nhân Mục. Nhờ đó, việc chỉ huy điều động và huy động các lực lượng của ta được thực hiện chặt chẽ hơn.


Trong những ngày đầu kháng chiến, các Ủy ban kháng chiến có ba nhiệm vụ rất nặng nề: tiếp tế lương thực, bổ sung quân số và cứu, tải thương. Để giải quyết nhiệm vụ cứu, tải thương, vấn đề đặt ra là phải có năng lực và đường giao thông. Khi đặt vấn đề đục tường từ nhà nọ sang nhà kia, làm con đường vận động chiến đấu cho bộ đội, di chuyển thương binh, tiếp tế, liên lạc, đảm bảo bí mật an toàn, thì nhân dân từ ngã tư Khâm Thiên tới Ngã Tư Sở đều sẵn sàng. Vì vậy một thành công to lớn của lực lượng tự vệ và nhân dân Đống Đa thời kỳ này là thiết kế được một con đường - đường huyết mạch, đường chiến đấu, đường nhân dân - từ đầu Hàng Bột giáp Hàng Đẫy trở xuống, từ ngã tư Khâm Thiên xuyên qua các nhà số lẻ vào ngõ Trại Khách Thổ Quan, vượt Đê La Thành xuống cánh đồng Xã Đàn và Khương Thượng tới Ngã Tư Sở, ra cánh đồng Kim Giang, cánh đồng Lủ, xuống thẳng Hà Đông, tới An toàn khu.


Các trung đội tự vệ chiến đấu Trung Phụng, Thổ Quan, Nam Đồng, Kim Lũ, v.v... góp phần to lớn vào việc tạo dựng con đường chiến đấu, tiếp tế, tải thương trong những ngày đầu kháng chiến. Chính con đường đó góp phần xứng đáng vào nhiều chiến công oanh liệt của quân dân Đống Đa trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống thực Pháp xâm lược.


Thấy được tác dụng lợi hại của pháo đài Láng, giặc Pháp cho máy bay trinh sát dò xét chỉ điểm cho pháo địch bắn vào. Sáng 22 tháng 12 năm 1946, để tiêu diệt mối đe dọa do máy bay trinh sát địch gây ra, khẩu đội của pháo đài Láng đã xuất sắc bắn trúng máy bay trinh sát địch, xác máy bay rơi ở phố Hàng Bột. Đây là lần đầu tiên ta bắn rơi máy bay địch trên vùng trời Hà Nội. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư khen chiến công của các chiến sĩ pháo đài Láng.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:45:24 pm
Bị mất một máy bay, ngay đêm hôm đó giặc Pháp cho pháo binh bắn bừa bãi vào làng, làm cho một người dân bị chết và một người bị thương. Sau đó mấy ngày địch lại cho máy bay đến ném bom vào pháo đài Láng nhiều lần, có một quả bom trúng khẩu đội số 3, một pháo thủ hy sinh ngay tại chỗ và một pháo thủ bị thương nặng đưa đi cứu chữa sau ít ngày cũng hy sinh. Sau các trận bắn pháo và ném bom của địch, Ban chỉ huy pháo đài phải rút ra đền Ngọ. Ban đêm nhân dân Yên Lãng được huy động vào đắp lại trận địa bị bom đánh phá và đào đắp một pháo đài giả rất công phu ở cánh đồng thôn Hạ, gồm: ụ súng, nòng pháo làm bằng cây cau, pháo thủ giả bện bằng rơm, chòi chỉ huy, hầm để đạn v,v... cũng được làm giả như thật. Sau đó địch cho trinh sát thấy có pháo đài mới liền tập trung bắn pháo và ném bom vào pháo đài giả nên pháo đài thật an toàn hơn trước. Tuy vậy, cuộc chiến đấu ngày càng khó khăn, không có điện, ban đêm anh em phải đốt rơm để lấy ánh sáng nhìn vào kính ngắm, ăn uống hoàn toàn do dân Yên Lãng nuôi, nhiều ngày địch bắn pháo hoặc ném bom ác liệt, cơm không mang vào được. Đội tiếp tế là phụ nữ Yên Lãng, nhiều khi phải gánh cơm tiếp tế cho bộ đội dưới làn pháo của địch. Ông Vũ Quýnh, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ (sau đổi là Ủy ban kháng chiến) thường xuyên dẫn đầu đoàn đại biểu các ngành, các đoàn thể trong xã ban đêm đến pháo đài tặng quà, động viên các chiến sĩ quân đội và tự vệ chiến đấu, bảo vệ pháo đài, lập công xuất sắc.


Ngày 23 tháng 12, trong khi tiến đánh một số vị trí Liên khu I và Liên khu II, quân Pháp cho hai xe tăng từ cửa thành phía Tây chạy ra án ngữ góc đường Hàng Bột - Cát Linh, thỉnh thoáng lại nã đạn vào các vị trí mà chúng nghi là có lực lượng của ta, nhưng dựa vào nhà dân quân ta bắn tỉa, làm địch bị thương và chết một số. Cùng ngày ở Khâm Thiên, nhờ súng lớn ở Ga Hàng Cỏ bắn yểm trợ, địch liên tiếp tiến công vào trận địa ta. Bộ đội và tự vệ đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải rút lui. Đến đêm hôm đó, Ban Chỉ huy Đại đội 29 thuộc Tiểu đoàn 523 trực tiếp chỉ huy hai trung đội luồn sâu vào các phố Hàng Đẫy, Cao Bá Quát cùng tự vệ và nhân dân diệt địch. Dọc đường tiến quân, quân ta không gặp một sự kháng cự nào của địch. Trung đội 50 Đại đội 27 cùng tự vệ tiến công Nhà dầu Shell lần thứ hai, địch cố thủ và chuyển quân sang các tầng gác cao bên quán cơm Hỏa Xa và quán trà Phú Xuân bên phố Hàng Lọng (nay là phố Lê Duẩn). Ta lọt vào trong hàng rào dây thép gai, không gặp địch nên rút quân ra ngoài.


Ngày 24 tháng 12, bộ binh cơ giới địch từ nhà Gian Đa đánh nống ra phố Hàng Bột, quân ta nổ súng quyết liệt, chặn đánh địch bằng mọi cách, mọi phương tiện, buộc địch phải tháo chạy. Trong những ngày từ 21 đến 25 tháng 12 năm 1946, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 523 lệnh cho Đại đội 27 chuyển quân từ Ngã Tư Sở lên phố Khâm Thiên để phối hợp chiến đấu với tự vệ. Ngày 25 tháng 12 năm 1946, quân Pháp phun xăng đốt hầm ở trại Cai Mơ (Sinh Từ), 15 đồng chí ta, gồm lực lượng tuyên truyền, tự vệ hy sinh, trong đó có ông Nguyễn Chính - Chủ tịch Ủy ban bảo vệ phố Sinh Từ.


Để tiêu diệt các ổ chiến đấu của địch ở Nhà dầu Shell và quán cơm Hỏa Xa, không cho chúng tiến công ra Ô Chợ Dừa, đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12, lực lượng Liên khu III quyết định tập kích Nhà dầu Shell lần thứ ba. Đại đội 27 thuộc Tiểu đoàn 523 được tăng cường một khẩu pháo 37mm với 6 viên đạn và một khẩu trọng liên 12,7mm với 175 viên đạn, phối hợp với đội quyết tử của Tiểu đoàn 20 và 2 trung đội tự vệ chiến đấu của Liên khu III cùng tự vệ Hỏa Xa nhanh chóng triển khai kế hoạch chiến đấu theo hai hướng. Hướng chủ yếu đánh trực tiếp vào Nhà dầu Shell. Khoảng 1 giờ 30 phút ngày 25 tháng 12, pháo 37mm và trọng liên của ta bắn vào các ụ chiến đấu của địch khống chế sân Nhà dầu. Đội quyết tử làm nhiệm vụ đột kích liên tục xung phong, vượt qua hàng rào cùng các mũi tiến công khác đánh chiếm sân Nhà dầu. Địch điên cuồng từ gác cao quán cơm Hỏa Xa bắn vào quân ta. Ngay lúc đó, thấy một xe thiết giáp của địch tiến vào, đồng chí Giáp - quân khí viên, nhảy lên xe, cướp súng 12,7mm bắn vào quán cơm Hỏa Xa và các ụ súng của địch ở Nhà dầu buộc địch phải tháo chạy.


Hướng thứ yếu là quán cơm Hỏa Xa trong Ga Hàng Cỏ. Sau khi nghe tiếng súng bên Nhà dầu nổ, quân ta áp sát tường nhà, bắt đầu bắn súng và ném lựu đạn lên các cửa sổ ở gác hai rồi vượt tường vào trong sân, đánh vào các nhà. Quân địch kháng cự rất mạnh nhưng không trụ được trước sức tiến công quyết liệt của lực lượng ta nên phải tháo chạy.


Như vậy, trên các hướng, quân dân Đống Đa đều hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch tác chiến chung. Ta tiêu diệt khoảng 20 tên, chiếm hai ô chiến đấu, phá hủy một xe thiết giáp, một trọng liên 12,7mm, thu hồi một số súng và lựu đạn. Quân ta có 7 đồng chí bị thương. Ngay sau trận đánh, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hà Nội đã đến gặp gỡ và biểu dương các chiến sĩ tham gia trận đánh này.


Trận tiến công Nhà dầu Shell là một trận đánh hay, đạt kết quả khá, có sự phối hợp mật thiết giữa lực lượng chủ lực và tự vệ chiến đấu. Nét độc đáo trong trận này là sự mưu trí, dũng cảm, biết cướp vũ khí và phương tiện địch để đánh lại chúng ngay trong chiến đấu một cách hiệu quả.


Về mặt tổ chức lực lượng cứu, tải thương, tiếp tế, vận chuyển..., Ủy ban kháng chiến Liên khu III và Khu Đống Đa ngoại thành tổ chức được một lực lượng cứu thương từ trong nhân dân lao động, chủ yếu là chị em phụ nữ. Đặc biệt, tập hợp được hàng trăm phụ nữ ở các nhà hát cô đầu, nhà chứa, tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức chị em thành Cô đầu cứu quốc hội phục vụ kháng chiến.


Với những hy sinh quên mình và thầm lặng đó, phụ nữ Đống Đa góp phần xứng đáng vào thành tích chung của quân dân toàn khu. Họ không chỉ là lực lượng chính trong các đội cứu, tải thương, tiếp tế, địch vận... mà còn có nhiều chị em cầm súng trực tiếp đánh giặc.


Chiều 28 tháng 12, thực dân Pháp bất ngờ cho một xe tải quân sự đổ quân xuống bãi Sêptô (nay là Sân vận động Hà Nội). Để dọn đường cho cuộc tiến công vào khu vực Bích Câu, chúng bắn cấp tập đạn cối 81mm vào các trận địa của ta. Lợi dụng lúc địch chưa triển khai xong đội hình tiến công, Đại đội trưởng Lưu Vân chỉ huy một lực lượng tập trung hỏa lực mãnh liệt về phía địch. Sau mấy giờ chiến đấu, hai bên đều bị thương vong một số, quân Pháp buộc phải rút lui, ta vẫn giữ vững trận địa ở đây.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:46:58 pm
Phát huy thắng lợi của bộ đội chủ lực, lực lượng tự vệ chiến đấu quyết định tập kích Nhà thờ Nam Đồng. Lực lượng quân Pháp đóng giữ ở đây khá đông, lại có một ổ đại liên khống chế cả một vùng rộng lớn, hoàn toàn bất lợi cho mọi hoạt động của tự vệ và Tiểu đoàn chủ lực An Giao. Nhiệm vụ này được giao cho Tiểu đội tự vệ chiến đấu thuộc Trung đội Thịnh Quang. Lợi dụng đêm gió mùa đông bắc cuối năm, các chiến sĩ tự vệ vượt ao phía sau gò Đống Đa. Nhưng do công tác điều tra nắm bắt tình hình địch không tốt, một tổ 5 người lọt đúng hướng bố trí đại diện của địch ở dãy bờ tre bao bọc phía sau nhà thờ. Tổ tập kích bị thương vong lớn. Đây là một bài học lớn cho lực lượng tự vệ, nhất thiết phải có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa quân chủ lực với tự vệ chiến đấu trong những trận đánh lớn thì mới thu được kết quả, tránh tổn thất đáng tiếc.


Đúng như nhận định, sau khi có tăng viện, thực dân Pháp tiến hành kiềm chế lực lượng của ta trong nội thành, tập trung lực lượng lớn đánh nống ra các cửa ô và ngoại thành hòng đẩy lùi lực lượng của ta ra xa, cô lập một bộ phận lực lượng của ta đang chiến đấu trong nội thành. Mở đầu chiến dịch đánh nống ra ngoại thành, thực dân Pháp đã chọn Ô Chợ Dừa làm hướng tiến công đầu tiên. Khoảng 5 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1946, khoảng 600 bộ binh, 30 xe tăng, thiết giáp và xe cơ giới tiến công theo đội hình chữ A dọc hai trục giao thông lớn Hàng Bột và Khâm Thiên về hướng Ô Chợ Dừa. Đồng thời, chúng dùng không quân ném bom vào sở chỉ huy của Tiểu đoàn 523 và cơ quan Liên khu III ở trại Tóc.


Về phía ta, bộ đội và tự vệ chiến đấu Đống Đa được Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội thông báo trước tình hình. Đồng thời, qua theo dõi các hoạt động của địch và kết hợp với những tin tức do cơ quan trinh sát cung cấp, quân dân Đống Đa tiến hành công tác chuẩn bị tác chiến một cách khẩn trương, khá chu đáo: ở phía phố Hàng Bột là Đại đội 29 của đồng chí Lưu Vân; phía phố Khâm Thiên là Đại đội 3; ở ụ Ô Chợ Dừa, phố Nam Đồng là Đại đội 4, thuộc Tiểu đoàn 56. Các đơn vị này đều phối hợp với tự vệ khu phố chuẩn bị tác chiến. Vì vậy, khi quân địch chưa tới Ô Chợ Dừa thì bộ đội chủ lực Tiểu đoàn 523 cùng với lực lượng tự vệ từ những căn nhà, góc phố, công sự, ụ chiến đấu ở khắp mọi phía chủ động nổ súng chặn bước tiến của chúng. Bị chặn đánh bất ngờ, địch dùng xe tăng, xe bọc thép, có máy bay chiến đấu yểm trợ vòng qua làng Văn Chương, ra Khâm Thiên đánh thọc sườn lực lượng của ta. Cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt, ta và địch tranh chấp từng căn nhà, góc phố, ụ chiến đấu... Do tương quan lực lượng không cân sức, với ưu thế hỏa lực và sinh lực, sau một ngày đọ sức, đến khoảng 6 giờ tối 30 tháng 12 năm 1946 địch chiếm được trụ sở Công an quận V và nhiều nhà cao tầng ở xung quanh Ô Chợ Dừa, phố Khâm Thiên và Hàng Bột. Phía ta, phòng tuyến bị vỡ, lực lượng bị tổn thất khá lớn: đồng chí Nguyễn Đình Phả - Trung đội trưởng Trung đội 58 hy sinh tại căn nhà đầu phố Hàng Bột; đồng chí Phúc - chiến sĩ tự vệ Thổ Quan - Khâm Thiên cũng hy sinh trên đường rút ra Chùa Bộc. Kinh nghiệm chiến đấu ở Ô Chợ Dừa, Khâm Thiên, Hàng Bột, đặc biệt là những thiếu sót trong việc tổ chức lực lượng phòng thủ ở tất cả các hướng được phổ biến tới toàn Mặt trận Hà Nội, đặc biệt là các lực lượng chiến đấu chưa thành công, khắc phục những thiếu sót, chuẩn bị cho những trận chiến đấu sắp tới. Ngay đêm 30 tháng 12, trên dọc đường Nam Đồng, khu vực ấp Thái Hà, quân ta củng cố các ụ chướng ngại, đặt bom ở cống Nam Đồng, tiếp tục tập kích khiến cho địch phải rút khỏi Ô Chợ Dừa.


Cùng lúc tiến công các vị trí ở khu vực Ô Chợ Dừa, quân Pháp đánh ra Kim Mã, mở hai gọng kìm khép chặt Liên khu III hòng nghiền nát lực lượng vũ trang của Liên khu. Tự vệ Kim Mã dũng cảm chiến đấu chặn bước tiến của địch. Cuộc chiến tuy không ngang sức, nhưng lực lượng tự vệ, bộ phận tiếp tế lương thực, đạn dược vẫn lạc quan và dũng cảm chiến đấu. Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội, qua theo dõi mấy ngày chiến đấu của toàn mặt trận rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu của các lực lượng chiến đấu. Sau trận ngày 30 tháng 12 ở Ô Chợ Dừa, Bộ Chỉ huy mặt trận nhận thấy, lực lượng Liên khu III, do bị tổn thất, nên sẽ có nhiều khó khăn trong những trận chiến đấu tiếp theo. Mặt khác, Giảng Võ là một vị trí quan trọng của Đống Đa và liên quan tới Mặt trận Hà Nội. Nếu Giảng Võ rơi vào tay địch thì pháo đài Láng sẽ bị uy hiếp. Vì vậy, Bộ Tư lệnh mặt trận Hà Nội điều Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 56 đang hoạt động ở phía Nam Liên khu II tới Giảng Võ cùng phối hợp chiến đấu. Ngay sau khi được điều động, Đại đội 2 nhanh chóng tập kết lực lượng, phối hợp tự vệ chiến đấu thành, tự vệ chiến đấu hai làng Hoàng Cầu và Hào Nam chiếm lĩnh trận địa Đê La Thành vào đêm 1 tháng 1 năm 1947.


Sáng ngày 6 tháng 1 năm 1947, lợi dụng thời tiết mưa phùn, gió bấc, khoảng 1.000 bộ binh địch với sự yểm trợ của xe cơ giới, xe tăng, pháo binh và không quân đánh nống ra phía Đê La Thành, uy hiếp pháo đài Láng, tiến công bao vây làng Giảng Võ, Ô Chợ Dừa. Tuy bị đánh bất ngờ với một lực lượng lớn, nhưng quân ta kiên cường chiến đấu, tổ chức phản kích lại.


Ở đầu dốc làng Hoàng Cầu diễn ra trận đánh giáp lá cà giữa lực lượng ta và địch, trong đó có tiểu đội nữ cứu thương thuộc Đại đội 2 và chị em cấp dưỡng cũng xung phong ra trực tiếp chiến đấu. Quân ta dùng lưỡi lê, kiếm, dao xông ra đánh địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai anh dũng ôm bom ba càng tiêu diệt một xe tăng địch. Tinh thần chiến đấu bám trụ của các chiến sĩ ngoan cường, song do chiến đấu trong một tình thế hoàn toàn bất lợi, bị bao vây bốn mặt, lại không cân sức về lực lượng, Đại đội trưởng Vũ Công Định phải quyết định cho đơn vị phá vòng vây rút ra ngoài. Tiểu đội nữ cứu thương bị thương vong gần hết. Đại đội trưởng Vũ Công Định, Chính trị viên Lê Chí Thực cùng một nữ cứu thương ở lại chiến đấu nghi binh, chặn địch để bảo toàn lực lượng rút ra khỏi làng. Cả ba đồng chí chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh để cho đồng đội rút lui an toàn.


Về phía địch, tuy chiếm được Giảng Võ, nhưng chúng cũng phải đền mạng 30 tên, 1 xe tăng và 1 xe ủi đất bị phá hủy.

Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 56 nêu cao tấm gương chiến đấu anh dũng ngoan cường, không hề dao động, nhụt chí trước sức mạnh vũ khí của địch và hy sinh gần hết. Bộ Tổng chỉ huy truy tặng Huân chương Chiến sĩ cho các chiến sĩ Đại đội 2. Tại Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ hai, các chiến sĩ Đại đội 2 được nêu gương cho toàn quân học tập.


Cùng sáng ngày 6 tháng 1 năm 1947, địch từ Khâm Thiên, Hàng Bột tiếp tục tiến công chiếm Ô Chợ Dừa. Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 56 phòng ngự ở khu vực này. Địch tập trung tiến công Trung đội 1, bên dãy số lẻ phố Hàng Bột (tức khu vực cơ quan Quận ủy và Ủy ban nhân dân quận ngày nay). Trung đội 1 chiến đấu kiên cường, lợi dụng đường xuyên tường, giành giật với địch từng ngôi nhà, từng căn gác. Chiến sĩ Trần Văn Phúc ném quả đạn pháo từ ban công nhà gác xuống phá một xe ủi đất, làm nhiều tên địch bị chết và bị thương. Đến trưa, địch chiếm được dãy phố bên số lẻ và tiến đánh dãy phố bên số chẵn. Đại đội 4 kịp thời điều động lực lượng đánh chặn khiến địch phải rút về Khâm Thiên.


Mặc dù còn có những hạn chế nhất định trong phối hợp tác chiến và bị tổn thất, song cuộc chiến đấu ở Giảng Võ và Ô Chợ Dừa là một trận đánh phòng ngự cấp đại đội rất kiên cường, nổi bật trong 60 ngày đêm chiến đấu ở Thủ đô. Các lực lượng nêu cao tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", chiến đấu anh dũng, mưu trí, ngoan cường, gây cho địch những tổn thất nặng nề.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:48:14 pm
Đầu tháng 1 năm 1947, trụ sở Khu ủy, Ủy ban kháng chiến Liên khu và sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 chuyển về khu nhà của Hoàng Trọng Phu ở ấp Thái Hà. Các trạm cứu thương, tiếp tế, tổ tuyên truyền cũng đóng quanh khu vực đó. Ban Chỉ huy khu Thăng Long chuyển về đóng ở Giảng Võ. Bộ phận Nhà in báo Thép chuyển từ làng Cót về Tây Mỗ... Việc chuyển trụ sở và vị trí đóng quân của một số lực lượng là căn cứ vào tình hình cụ thể của cuộc chiến đấu lúc bấy giờ, đồng thời cũng đón trước khả năng địch đánh rộng ra vòng cung Bạch Mai - Ngã Tư Sở - Cầu Giấy. Lực lượng tự vệ Khâm Thiên, Thổ Quan rút về đóng rải rác ở đình làng Khương Trung, Khương Hạ, Thượng Đình và khu vực Ngã Tư Sở để tiếp tục chặn địch đánh nống ra ngoại thành.


Để tăng cường sức mạnh cho Liên khu III và tạo một địa bàn thích hợp trong trường hợp địch liều mạng mở rộng phạm vi chiếm đóng, đầu tháng 1 năm 1947, Ủy ban kháng chiến Hà Nội quyết định sáp nhập Liên khu III với Khu Đống Đa ngoại thành thành Liên khu III - Đống Đa. Đồng chí Đỗ Trình tiếp tục làm Bí thư Liên khu ủy và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu. Địa bàn mới, lực lượng mới là cơ sở tăng cường khả năng chiến đấu, quấy rối tập kích địch của lực lượng vũ trang. Các tổ tuyên truyền, địch vận tuy phải hoạt động trên một địa bàn rộng hơn, khó khăn hơn, song anh em đoàn kết, gắn bó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tất cả vì mục tiêu đánh Pháp, bảo vệ Thủ đô. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục bổ sung lực lượng và vũ khí, nhất là quân chủ lực, lập những đội tự vệ chiến đấu độc lập, đồng thời thống nhất chỉ đạo, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang trên địa bàn. Vì vậy, từ giữa tháng 2 đến tháng 3 năm 1947, toàn bộ Tiểu đoàn 56 đóng ở Hà Đông (do đồng chí Anh Đệ làm Tiểu đoàn trưởng) được điều lên thay thế Tiểu đoàn 523 của đồng chí An Giao rút về phía sau củng cố lực lượng.


Ngày 13 tháng 1 năm 1947, tại Ô Chợ Dừa, đồng chí Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu XI, đại diện chính quyền ta gặp đại diện quân Pháp với sự có mặt của lãnh sự quán Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc. Hai bên thỏa thuận ngừng bắn vào ngày 15 tháng 1 năm 1947 để nhân dân và ngoại kiều tản cư ra ngoài.


Với thái độ ngoan cố, mong muốn sớm làm chủ nội thành bằng cách đánh mạnh ra ngoại thành, ngay trong ngày 15 tháng 1, lợi dụng lúc ta ngừng bắn, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, gồm hơn 1.000 bộ binh, 150 xe cơ giới và xe tăng, tiếp tục mở những trận tiến công mới trên đường vành đai Vĩnh Tuy, ngã tư Trung Hiền, Ngã Tư Vọng, Bạch Mai, Ngã Tư Sở, Cầu Giấy. Sau nhiều giờ chiến đấu quyết liệt, trước sự hung hãn của bộ binh và hỏa lực địch, quân ta ở các chốt điểm trên rút lui để bảo toàn lực lượng. Thực dân Pháp làm chủ tuyến đường vòng cung bao quanh thành phố. Cùng ngày, chúng đánh Nhà thương Vọng (nay là Bệnh viện Bạch Mai), Nhà Vô tuyến điện và các trận chiến đấu ở đây cùng sân bay Bạch Mai diễn ra quyết liệt, ta tiêu diệt gần 200 tên địch, phá hủy 5 xe cơ giới và rút khỏi vòng vây của địch.


Ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch từ Kim Liên tiến đánh Nhà thương Vọng. Lực lượng ta trong Nhà thương lúc này có Đại đội 68 thuộc Tiểu đoàn 64 cùng 3 trung đội tự vệ và khoảng 100 cứu thương, cấp dưỡng dồn từ các nơi về, tổng cộng khoảng 500 người. Khi phát hiện địch từ Kim Liên đánh vào, ta triển khai lực lượng phòng ngự. Ba trung đội tự vệ bố trí ở bãi trống phía Bắc Nhà thương, Đại đội 68 triển khai đội hình bên trong gồm: 1 trung đội bố trí dọc theo tường rào phía Bắc, 1 trung đội ở phía Đông, 1 khẩu đội đại liên bố trí ở chòi cao phía cổng chính, 1 khẩu đại liên bố trí ở sát bờ tường bên đường quốc lộ số 1.


Lúc 5 giờ sáng 15 tháng I năm 1947, quân Pháp dùng máy bay, pháo 75mm, cối 81 mm bắn phá dữ dội vào Nhà thương. Sau đợt bán phá, địch cho 8 xe tăng, thiết giáp, cùng 10 xe vận tài chở khoàng 300 lính Âu - Phi tiến đến. Khi cách 300m chúng triển khai lực lượng rồi dồn hàng trăm dân thường lên phía trước để đỡ đạn cho chúng.


Bộ đội và tự vệ của ta trong bệnh viện dùng súng trường bắn chỉ thiên và dùng loa kêu gọi bà con chạy tản ra xung quanh. Địch dùng súng máy bắn vào dân rồi mở cuộc tiến công. Quân ta chờ địch đến gần, bất ngờ dùng đại liên bố trí trên chòi cao phía cổng bệnh viện bắn vào đội hình địch, diệt hàng chục tên, số sống sót phải tháo chạy. Sau 6 lần liên tục tiến công không thành, địch tiếp tục dùng pháo binh và máy bay bắn phá ác liệt.


Đến 11 giờ, một cách quân địch gồm 500 tên có 8 xe tăng đi cùng sau khi đánh chiếm Vĩnh Tuy và ngã tư Trung Hòa, theo đường Đại La đánh vào Nhà thương Vọng. Khi xe tăng địch húc đổ tường đột phá vào hướng Đông Nam, tổ bom ba càng của ta lao ra phá hỏng 1 xe tăng địch. Quân địch tiếp tục xông lên. Quân ta kiên cường chiến đấu, trụ bám trong từng căn nhà để ngăn chặn địch. Đến 18 giờ, các lực lượng của ta rút về hướng Khương Thượng, sân bay Bạch Mai. Trong trận này ta diệt khoảng 200 tên địch. Phía ta có 50 bộ đội và tự vệ anh dũng hy sinh.


Đêm 15 tháng 1 năm 1947, Bộ Chỉ huy mặt trận điều các tiểu đoàn 13, 16 và 212 bất ngờ tiếp cận tập kích và quấy rối các vị trí địch ở Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa, Ga Hàng Cỏ... gây cho chúng nhiều tổn thất. Công tác địch vận của ta phối hợp chặt chẽ, kịp thời với việc tập kích tiêu hao sinh lực địch, khiến chúng mệt mỏi, hoang mang.


Dịp Tết Đinh Hợi, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, quân dân Liên khu III - Đống Đa vẫn tổ chức đón tết cổ truyền với đầy đủ hoa, bánh chưng, chè lam, rượu, thịt. Có gia đình ở Ngã Tư Sở ủng hộ cả tạ gạo và 1 con lợn làm sẵn cho chiến sĩ ăn tết. Đội kịch Thăng Long dàn dựng vở "Tiễn chồng đi trận" do đồng chí Giao sáng tác, tổ chức biểu diễn phục vụ bà con và các đơn vị đang chiến đấu trên địa bàn, góp phần quan trọng tiếp thêm sức mạnh và cổ vũ tinh thần chiến đấu, phục vụ chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.


Nhìn chung, từ khi quân Pháp mở chiến dịch đánh ra cửa ô, quân dân Liên khu III - Đống Đa chiến đấu hết sức mưu trí, dũng cảm, ngoan cường. Trong cuộc chiến đấu không ngang sức, các đơn vị chiến đấu của ta được nhân dân ủng hộ, che chở, chặn địch từng bước, quyết bám trụ từng ngôi nhà, góc phố. Chính vì vậy, tuy địch chiếm được đường vành đai thành phố, trong đó có các điểm chốt giữ của Liên khu III - Đống Đa, nhưng ta cũng loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 650 tên, phá hủy nhiều xe thiết giáp, xe cơ giới, thu hồi nhiều súng đạn của địch. Đặc biệt, lực lượng của ta ở vòng ngoài vẫn được bảo toàn. Ngay cả pháo đài Láng, một vị trí chiến đấu liên tục kể từ đêm 19 tháng 12 năm 1946, thường xuyên bị địch bắn phá, tuy đạn hết, lương cạn, nhưng vẫn kiên cường bám trụ và chiến đấu. Đến ngày 11 tháng 1 năm 1947, bộ đội pháo đài Láng mới được lệnh rút lui về phía sau, mang theo khẩu pháo có 1 bánh xe mới được tăng cường.


Đêm 17 tháng 2 năm 1947, một đêm mưa phùn gió rét, khắp các cửa ô, nông thôn ngoại thành rền vang tiếng súng. Các lực lượng Liên khu III - Đống Đa mở các mũi tiến công nghi binh, quấy rối, thu hút lực lượng địch ở khu vực Láng, Cầu Giấy tạo điều kiện cho Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi địa bàn Liên khu I. Sau đó, từ đêm 18 đến rạng sáng 19 tháng 2 năm 1947, với sự giúp đỡ của nhân dân, du kích Tứ Tổng (nay là phường Tứ Liên, quận Tây Hồ), Tàm Xá, Xuân Canh, Trung đoàn vượt qua sông Hồng an toàn. Cuộc rút quân thần kỳ của quân dân Liên khu I thắng lợi vẻ vang trong sự yểm trợ, phối hợp tác chiến phân tán, thu hút lực lượng địch của quân dân Liên khu III - Đống Đa và Liên khu II.


Kể từ 20 giờ 3 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, Pháo đài Láng nổ phát súng đầu tiên mở đầu Toàn quốc kháng chiến đến ngày 19 tháng 2 năm 1947, với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", quân dân Liên khu III - Đống Đa luôn sát cánh với Liên khu II và các quận ngoại thành, phối hợp chặt chẽ với Liên khu I, làm tròn nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Khu ủy XI giao cho, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân Thủ đô, kiên cường đánh địch, kìm chân địch trong 60 ngày đêm; góp phần quan trọng bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài; làm thất bại âm mưu hòng nhanh chóng tiêu diệt lực lượng ta và các cơ quan Trung ương ở Hà Nội, khiến cho địch bị tổn thất đáng kể về người và trang bị, vũ khí.


Qua chiến đấu ác liệt dài ngày, quân và dân Liên khu III - Đống Đa được thử thách, ngày càng vững vàng, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với khí thế mới. Tổ chức lực lượng vũ trang phát triển mạnh, đảng viên, cán bộ, đoàn viên các đoàn thể cứu quốc đều được rèn luyện, sẵn sàng đảm nhiệm những công việc nặng nề hơn.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:55:47 pm
3. Phát triển và đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn quận Đống Đa (1947- 1950)

Để mở rộng phạm vi chiếm đóng và tiêu diệt, đẩy lùi lực lượng ta, quân Pháp tập trung lực lượng đánh mạnh ra ngoại thành Hà Nội nhất là về phía Tây Nam, theo trục Đường số 1 và Đường số 6.

Nhằm ngăn chặn bước tiến của quân thù, tạo thêm thời gian cho việc củng cố hậu phương, Thành ủy và Khu ủy XI chỉ đạo các lực lượng tự vệ Liên khu III - Đống Đa và các khu vực ven nội thành tiếp tục chiến đấu kìm giữ chân địch. Ở Liên khu III - Đống Đa, các đại đội tự vệ của Ga Hàng Cỏ, tự vệ Khu phố Văn Miếu, Khâm Thiên, tự vệ Khu Đống Đa bố trí bám đánh địch trên đường Ô Chợ Dừa - Ngã Tư Sở, chặn đánh địch ở Mọc Quan Nhân, Cự Lộc, Chính Kinh, Kim Lũ. Ở phía Tây Bắc, tự vệ ta cũng chặn đánh địch ở dọc sông Nhuệ. Ở phía Nam, ta đánh địch trên Đường số 1 từ Giáp Bát xuống Văn Điển, quân ta ra sức chiến đấu, song do tương quan lực lượng quá chênh lệch, bất lợi cho ta nên vẫn không cản được giặc, phải rút lui dần ra ngoại thành, sang đất Hà Đông, Sơn Tây.


Do vị trí chiến lược quan trọng của Hà Nội, thực dân Pháp quyết tâm xây dựng Hà Nội thành một căn cứ quân sự mạnh, trung tâm đầu não xâm lược ở chiến trường Bắc Bộ, chiến trường được chúng coi là cái "nút" quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đồng thời, Hà Nội cũng trở thành thủ phủ của "Liên bang Đông Dương", trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của chế độ thực dân mà Pháp dựng lại bằng sức mạnh quân sự trong vùng chiếm đóng. Trên địa bàn Đống Đa, chúng ra sức củng cố, tăng cường lực lượng tại các đồn bốt, trấn giữ các cửa ngõ ra ngoại ô như Vọng, Ngã Tư Sở, Mọc, Cầu Giấy...


Từ cuối tháng 2 năm 1947, với tinh thần "Tản cư là kháng chiến", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", không chỉ có nhân dân trong các đường phố khu vực nội thành mà cả nhân dân các làng ven nội thành, nhất là những nơi gần Đường số 6, sân bay Bạch Mai, Ngã Tư Sở, nơi địch chiếm đóng, đều tản cư ra các vùng ngoại thành, bất hợp tác với giặc. Lúc này, cư dân trong thành phố còn lại rất ít, các hoạt động kinh doanh, sản xuất bị ngưng trệ, phố xá đổ nát ngổn ngang, đầy bóng dáng quân xâm lược hung hãn đeo trang bị vũ khí quanh người. Các làng xóm ven nội cũng tiêu điều vắng lặng, ruộng vườn, nhà cửa bị cướp phá tan hoang.


Sau các trận đánh chặn, cầm chân bước. tiến của quân Pháp, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được lệnh rút khỏi địa bàn nhằm bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Song vì hoàn cảnh khẩn trương, do địch đánh mạnh vào khu vực Đống Đa, nơi có Đường số 6 nối Hà Nội với Hà Đông, có sân bay Bạch Mai là những chỗ địch rắp tâm chiếm giữ bằng mọi giá, và một phần cũng do ta chưa dự liệu được đầy đủ mọi tình huống cho việc rút lui, nên khi ra khỏi thành phố, lực lượng bị phân tán ra nhiều nơi. Khu vực các cơ quan, đơn vị của Liên khu III - Đống Đa đến tản cư là các huyện Thanh Trì, Thanh Oai, Hoài Đức, Đan Phượng (thuộc Hà Đông). Đây là bốn huyện có nguồn lực khá dồi dào, lại sát với ngoại thành Hà Nội nên trở thành hậu phương hết sức thuận lợi cho Mặt trận Hà Nội trước mắt cũng như lâu dài.


Nhằm khắc phục tình trạng phân tán và để thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ, tháng 3 năm 1947, theo chủ trương của Khu ủy và Ủy ban kháng chiến Khu XI, các cơ quan, đơn vị của Liên khu III - Đống Đa được lệnh quy tụ về tập kết ở Thanh Oai, lấy vùng Cự Đà - Khúc Thủy làm trung tâm. Cũng thời gian này, năm khu ngoại thành Hà Nội được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới. Khu Lãng Bạc và Đại La sáp nhập thành quận IV, khu Mê Linh và Đề Thám sáp nhập thành quận VI. Khi tập kết về Thanh Oai, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được sáp nhập lại, đổi thành quận V của Hà Nội.


Địa bàn hoạt động của quận V là một khu vực rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng của mặt trận phía Tây và Tây Nam Hà Nội. Phía Nam Hà Nội, bắt đầu từ Ngã Tư Vọng, dọc theo đường quốc lộ 1 đến Văn Điển, ven sông Nhuệ qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hống về Rùa rồi qua Trừ, Chẩy, Từ Châu; phía Tây Nam Hà Nội, từ Hà Đông xuống Ba La, Thạch Bích, dọc theo bờ sông Đáy đến Chuông, Miêng, ngã tư Vác, vòng sang Đồng Quan, Tía.


Ở vùng ngoại thành bị quân Pháp tạm chiếm, quận IX hoạt động trong phạm vi từ Ngã Tư Vọng vòng sang Ngã Tư Sở theo đường Láng qua Cầu Giấy, xuống Dịch Vọng, Mễ Trì đến phía Bắc Đường số 70.

Trong các phố nội thành Hà Nội, do hoàn cảnh đặc biệt nên hoạt động của các lực lượng quận V đan xen với các quận IV và quận VI nên lúc này không xác định ranh giới cụ thể.

Theo chủ trương chung của Thành ủy và Ủy ban kháng chiến thành phố (Khu XI), nhiệm vụ chủ yếu của quận V lúc này là nhanh chóng tập hợp, chấn chỉnh đội ngũ, kiện toàn các cơ quan Đảng, chính quyền, các đoàn thể và xây dựng phát triển lực lượng trên đất Thanh Oai. Đồng thời vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn đứng chân, vừa tích cực hoạt động quấy rối, tiêu hao sinh lực địch ở các vùng tạm bị chiếm, nắm tình hình nhân dân, tình hình địch để từng bước gây dựng lại cơ sở kháng chiến trong lòng Hà Nội.


Với tinh thần khẩn trương, chỉ trong một thời gian ngắn, các cơ quan dân, chính, đảng của quận V được thành lập và củng cố. Lúc này, đồng chí Minh Quang được Khu ủy phân công làm Bí thư Quận ủy thay đồng chí Đỗ Trình đi nhận công tác khác. Sau một thời gian ngắn, đồng chí Minh Quang được điều lên công tác ở Khu XI, đồng chí Nguyễn Kỷ được phân công làm Bí thư Quận ủy. Quận Ủy viên là các đồng chí Hồ Trúc, Hà Đăng Ấn, Lê Quân... Ủy ban kháng chiến quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch. Đảng đoàn của Mặt trận Liên Việt do đồng chí Ước làm Chủ nhiệm. Phụ nữ quận do đồng chí Nguyễn Kim Phượng (Vân) làm Bí thư. Bên cạnh đó, quận còn thành lập các bộ phận chuyên trách về từng mặt công tác như: Ban Quân báo do đồng chí Lê Trần Lợi (Sáng) phụ trách, Ban Tiếp tế do đồng chí Ước phụ trách, Ban Tuyên truyền xung phong do đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh phụ trách, Ban Ca kịch do đồng chí Nguyễn Kim Quế phụ trách. Đội Úy lạo thương binh có các đồng chí Thái Tiên, Hồng Ngọc tham gia.


Đây là đợt chấn chỉnh tổ chức, sắp xếp lực lượng có ý nghĩa then chốt, đặt cơ sở cho guồng máy kháng chiến quận V hoạt động phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tiếp nối bước đi thắng lợi của Liên khu III - Đống Đa trong những ngày đầu oanh liệt bước vào cuộc kháng chiến. Quá trình sắp xếp, chấn chỉnh đó diễn ra nhanh gọn, để lại những kỷ niệm tốt đẹp trong ký ức mọi người. Đặc biệt là sự lưu luyến chia tay nhau khi đi nhận nhiệm vụ mới.


Trong đợt chấn chỉnh này, nhiều cán bộ, chiến sĩ được bổ sung vào Vệ quốc đoàn, một số đồng chí sang quân báo... Đồng thời, quận cũng tiếp nhận lực lượng mới cấp trên cử về, trong đó có đồng chí Lê Thanh (Quận đội trưởng), đồng chí Lê Tuấn (Quận trưởng Công an). Nhiều thanh thiếu niên tình nguyện đi theo kháng chiến như Phạm Vũ Kiếm, Đoàn Đình Hải, Diệu Tân, em Toán; nhiều chị em phụ nữ do hoàn cảnh trước Cách mạng Tháng Tám, vốn là những "con sen", "cô đầu" từng hăng hái, dũng cảm tham gia chiến đấu trong những ngày khởi chiến ở nội thành, nay cũng thoát ly khỏi thành phố gia nhập hàng ngũ kháng chiến trong sự đón nhận trìu mến, tin tưởng của mọi người.


Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 15 Tháng Mười, 2026, 08:59:03 pm
Để hoàn thành những nhiệm vụ do Đảng bộ quận đề ra, cùng với công tác chấn chỉnh các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, Quận ủy và Ủy ban kháng chiến quận chú trọng tới công tác xây dựng, củng cố các lực lượng vũ trang của quận. Ban Chỉ huy quân sự quận được thành lập do đồng chí Lê Thanh làm Quận đội trưởng, đồng chí Hồ Trúc làm Chính trị viên trưởng, đồng chí Chu Văn Biên (Nguyễn Hoa) làm Quận đội phó, đồng chí Lương Hoài Tín làm Chính trị viên phó. Các đơn vị vũ trang tập trung của quận được xây dựng gồm hai đại đội du kích (Đại đội 2 và Đại đội 3), một trung đội nữ du kích và Trường huấn luyện. Cán bộ, chiến sĩ là những anh chị em trẻ khoẻ đã qua chiến đấu, được rút ra từ số dân quân du kích, tự vệ thành đang có mặt ở Thanh Oai.


Đại đội 2 do đồng chí Ngọc "già" làm Đại đội trưởng, đồng chí Phương làm Chính trị viên kiêm Đại đội phó. Đại đội đóng quân ở các thôn Kim Lân, Tri Lễ, Ước Lễ đến Từ Châu. Nhiệm vụ của đại đội là vừa huấn luyện, củng cố, vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ khu vực dừng chân của ca quan quận, chặn địch đánh vào theo hướng Đường số 22 (Hà Đông - Vân Đình).


Đại đội 3 do đồng chí Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) làm Đại đội trưởng và hai đại đội phó là đồng chí Châu và đồng chí Lê Đình Cầu. Nơi đóng quân lúc đầu của Đại đội là các thôn Hữu Lê, Hữu Từ, Cự Đà, Khúc Thủy, sau chuyển về Bối Khê, Úc Lý, Cự Thần, Đống Giã. Đại đội có nhiệm vụ vừa huấn luyện, xây dựng đơn vị, vừa cơ động, phối hợp với Đại đội 2 chiến đấu bảo vệ các cơ quan của quận và nhân dân trên địa bàn Thanh Oai.


Trung đội nữ du kích do đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm Trung đội trưởng kiêm Chính trị viên. Nhiệm vụ chủ yếu của trung đội là làm công tác địch vận, vũ trang tuyên truyền, đánh tập kích địch và phối hợp chiến đấu với các đại đội khi cần thiết.

Trường huấn luyện quân sự được thành lập ở Cự Đà, sau chuyển về đóng ở Hưng Giáo do đồng chí Lam Sơn làm Giám đốc, các đồng chí Lê Thanh, Chu Văn Biên làm Phó Giám đốc. Trường còn có hai người Nhật lấy tên Việt Nam là Được và Quý tình nguyện ở lại tham gia kháng chiến với ta giúp việc huấn luyện chuyên môn kỹ thuật. Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ tổ và tiểu đội trưởng, đồng thời tham gia đánh địch nếu địch tiến công ta từ hướng Đường số 71 vào.


Trong thời gian này, quận chủ trương gấp rút huấn luyện quân sự cho các lực lượng. Trừ các bộ phận canh gác chốt chặn phía trên, đại bộ phận lực lượng vũ trang đều được tổ chức huấn luyện, học kỹ, chiến thuật, sử dụng các loại trang bị, vũ khí hiện có. Một bộ phận tập luyện ngay tại thao trường nơi đóng quân; bộ phận lớn hằng ngày tập trung huấn luyện tại Trường huấn luyện của quận. Tuy điều kiện ăn ở còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, song các lực lượng của ta không ngại gian khổ, ngày đêm hăng say luyện tập mong một ngày đánh tan quân xâm lược, trờ lại Thủ đô yêu dấu.


Mặc dù trọng tâm nhiệm vụ là xây dựng, huấn luyện và củng cố đơn vị, song ngay trong quá trình đó, du kích tập trung quận V cũng bố trí một bộ phận đột nhập vào nội thành Hà Nội đánh địch. Ban ngày học tập, huấn luyện, chiều tối cán bộ, chiến sĩ ta chia nhỏ lực lượng vượt phòng tuyến địch tập kích vào các vị trí của địch ở Quang Bằng, Định Công, Kim Lũ, sân bay Bạch Mai, Ngã Tư Sở...


Nội dung tuyên truyền là các tin tức kháng chiến, đường lối, chủ trương của Đảng, Chính phủ, thủ đoạn, âm mưu của địch. Bộ phận in báo Thép của Liên khu III - Đống Đa, sau khi di chuyển từ Mỗ về Cự Đà, trước khi chuyển nhập về Báo Thủ đô của Khu XI cũng kịp in xong cuốn Du kích Nga, Người chính trị viên quân đội do đồng chí Hồ Trúc sưu tầm, biên soạn được cung cấp và sử dụng làm tài liệu huấn luyện chính.


Việc chỉnh đốn đội ngũ, sắp xếp lại lực lượng cũng như tăng cường huấn luyện, chú trọng công tác chính trị tư tưởng, công tác vận động quần chúng tuy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa lớn đối với quận V, là bước trưởng thành quan trọng của các lực lượng quận V Đống Đa trên con đường kháng chiến. Đội ngũ cán bộ của Quận ủy và các ngành quân sự, công an, các đoàn thể của quận V được tăng cường, chặt chẽ hơn về tổ chức, tự giác hơn về kỷ luật, có kỹ thuật tác chiến và sử dụng các vũ khí, khí tài hiện có; quan hệ giữa lực lượng kháng chiến quận V với nhân dân địa phương và đồng bào tản cư ngày càng thắt chặt vì sự nghiệp chung là kháng chiến thắng lợi. Những kết quả đó là điều kiện hết sức quan trọng để quận V - Đống Đa vượt qua được những khó khăn, thử thách to lớn trong những ngày tạm rút khỏi thành phố. Đó cũng là những nhân tố bảo đảm cho quân dân Đống Đa cùng với nhân dân Thanh Oai đánh thắng các cuộc phản kích của địch trong thời gian này.


Ngày 2 tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp cho quân đánh ra theo Đường số 6 chiếm đóng thị xã Hà Đông. Từ thị xã Hà Đông, chúng thiết lập vành đai bảo vệ, uy hiếp trực tiếp vùng Cự Đà, Khúc Thủy phía Nam thị xã, nơi các cơ quan và lực lượng quận V đang đóng quân. Để bảo toàn cơ sở, các cơ quan, đơn vị của quận được lệnh lùi về Bối Khê, Bồ Nâu, Úc Lý. Nhân dân Hà Nội đang tản cư ở ven thị xã Hà Đông lại tản cư tiếp về Bối Khê, Đại Địch.


Ở vùng đứng chân của quận V - Đống Đa trên đất Thanh Oai, trong tháng 3 năm 1947, các đơn vị vũ trang của quận phối hợp với dân quân, du kích địa phương và bộ đội chủ lực đánh chặn quân địch, bảo vệ căn cứ. Nhiều trận đánh diễn ra ở Nhân Hòa, Cự Đà, Đa Sĩ và trên Đường số 70 trong suốt ngày 2 tháng 3 năm 1947. Địch phải quay về đồn trú ở Thanh Liệt và Đường số 70, không gây được thương vong đáng kể cho ta. Ngay trong đêm đó, trung đội của đồng chí Vũ Văn Sự (thuộc Đại đội 2) tập kích địch trên Đường số 70 diệt một số tên, phá hủy một xe bọc thép. Cụm quân địch ở Thanh Liệt cũng bị ta tập kích.


Nhân lúc địch rải quân chốt chặn nhiều nơi, một bộ phận lực lượng của quận V đánh quấy rối nhiều vị trí địch ở Hà Nội như Ngã Tư Sở, sân bay Bạch Mai, Nhà dầu Shell và các điểm đóng quân khác của chúng ở thị xã Hà Đông, ở Ba La, dọc Đường số 22 Hà Đông - Vân Đình, tiêu diệt một số tên. Riêng trận đánh vào Nhà dầu Shell, ta đốt cháy hàng nghìn lít xăng dầu của địch, có chỗ bốn ngày sau chúng mới dập tắt được.