Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 09:03:06 pm



Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 09:03:06 pm
- Tên sách: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
- Tác giả:
- Nhà xuất bản:
- Năm xuất bản: 1997
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
   THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY VÀ ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TỈNH

TRỰC TIẾP TIẾP CHỈ ĐẠO
   Đại tá: NGUYỄN ĐÌNH XANH
   Thượng tá: PHẠM NGỌC ĐOÀN
   Thượng tá: NGUYỄN TIẾN NGUYỆT

NGƯỜI VIẾT
   NGUYỄN XUÂN LÝ


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 08 Tháng Sáu, 2026, 09:03:52 pm
LỜI GIỚI THIỆU


Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân khu và Tỉnh uỷ về tổng kết biên soạn lịch sử kháng chiến; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tổ chức nghiên cứu biên soạn cuốn "Yên Bái nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu - chiến thắng".

Cuốn lịch sử đã cố gắng tái hiện chặng đường lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng quyết liệt, sôi nổi, anh dũng hào hùng của Đảng bộ, quân và dân Yên Bái qua các thời kỳ cách mạng của Đảng.

Là tỉnh miền núi, nhiều dân tộc, địa hình hiểm trở, địa bàn chiến lược quan trọng của miền Tây Bắc, tỉnh trung gian của Quân khu; Yên Bái đã vượt qua bao nhiều gian khổ, khó khăn thách thức cùng với quân và dân cả nước tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (tháng 8-1945) tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ 1975 đến nay.


Trong suốt nửa thế kỷ qua, Đảng bộ, quân và dân Yên Bái đã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiến địa phương "vừa kháng chiến vừa kiến quốc", "vừa sản xuất vừa chiến đấu" đã lập được nhiều chiến công, thành tích to lớn, viết tiếp trang sử truyền thống oanh liệt của quê hương; Nửa thế kỷ ấy có biết bao sự tích anh hùng và những tấm gương hy sinh oanh liệt cho sự toàn thắng của cách mạng.


Được sự giúp đỡ của Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Quân khu, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Bộ chỉ huy quân sự xuất bản cuốn lịch sử nửa thế kỷ xây dựng chiến đấu và chiến thắng của tỉnh để phục vụ kịp thời và vận dụng phát triển kinh nghiệm vào xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; giáo dục bồi dưỡng, cổ vũ động viên cán bộ, đảng viên, chiến sỹ, nhân dân các dân tộc; trước hết là thế hệ trẻ trong tỉnh niềm tự hào và quyết tâm giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp, di sản vô giá của quê hương, anh dũng sáng tạo vượt qua nguy cơ thách thức, đoàn kết xung quanh Đảng, nêu cao tinh thần, ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình", kiên quyết chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ quê hương, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.


Mặc dù Ban lịch sử tổng kết đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu biên soạn thể hiện chân thực những sự kiên lịch sử, song đây là một công trình khoa học do vậy trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những khuyết nhược điểm, mong được các đồng chí, các bạn phê bình góp ý kiến để cuốn lịch sử của tỉnh ngày càng hoàn chỉnh.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc !

ĐẢNG UỶ QUÂN SỰ TỈNH


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 10:50:22 pm
MỞ ĐẦU
YÊN BÁI ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC QUAN TRỌNG
TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH ANH HÙNG


I- ĐẤT NƯỚC - CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG:

Yên Bái là tỉnh miền núi nhiều dân tộc ở phía Tây Bắc Tổ quốc, nằm sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, cách thủ đô Hà Nội 150 km.

Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Đông giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phú, phía Tây giáp Sơn La. Yên Bái có một vị trí địa lý quan trong mà lịch sử hình thành gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Từ xa xưa Yên Bái đã nổi tiếng là mảnh đất trù phú và tươi đẹp với những con người cần cù trung hậu, dũng cảm và giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất.

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh rộng 6.807 km2, dân số trước cách mạng tháng 8 có khoảng 10 vạn người, tính đến cuối năm 1990 dân số toàn tỉnh phát triển tới 604.062 người, thuộc 30 dân tộc anh em chung sống với nhau từ lâu đời1 (Mật độ dân số bình quân 126 người/1km2).


Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc do yêu cầu phục vụ nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử cũng như yêu cầu chiến lược của cách mạng như nhiều tỉnh khác, Yên Bái đã qua nhiều lần thay đổi về địa danh, địa giới, diện tích.

Thời kỳ các vua Hùng phần lớn đất đai Yên Bái nằm trong bộ Tân Hưng; thời phong kiến Bắc thuộc nằm trong vùng đất Tượng Quân, Giao Chỉ rồi Phong Châu; đến thế kỷ thứ XI (đời Lý) thuộc đất Châu Đăng; sang thế kỷ XV (đời Lê Thánh Tông) đổi thành phủ Quy Hoá thuộc tỉnh Hưng Hoá.


Năm 1900 thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái từ đó cho đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Yên Bái không có sự thay đổi lớn về địa lý hành chính.

Sau khi miền Bắc được giải phóng (1955) theo quyết định của Trung ương khu tự trị Tây Bắc được thành lập, 2 huyện Văn Chấn, Than Uyên được chuyển thành các châu của khu Tây Bắc, năm 1956 huyện Yên Bình (Tuyên Quang) được sáp nhập vào tỉnh Yên Bái, năm 1962 tỉnh Nghĩa Lộ được thành lập, các châu Văn Chấn, Than Uyên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Phù Yên, Bắc Yên trở thành các huyện của tỉnh Yên Bái.


Năm 1976 tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 tỉnh: Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Ca ; 2 huyện Phù Yên và Bắc Yên được chuyển trở lại tỉnh Sơn La.

Năm 1991 tỉnh Hoàng Liên Sơn được chia thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai.

Tỉnh Yên Bái ngày nay gồm 2 thị xã và 7 huyện với 178 xã phường, trong đó 2 huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải là huyện vùng cao và 3 huyện: Lục Yên, Văn Chấn, Văn Yên có một số xã vùng cao.

Mặc dù phải trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính do điều kiện lịch sử chi phối; Yên Bái vẫn giữ được bản sắc dân tộc và truyền thống của một tỉnh miền núi.

Sau khi chia tỉnh, Yên Bái đã nhanh chóng đi vào ổn định hoà nhập chung vào công cuộc đổi mới của Đảng, tạo thành một khối đoàn kết nhất trí cùng cả nước vững bước đi lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Yên Bái là tỉnh có địa hình địa vật phong phú, đa dạng vừa mang đầy đủ đặc điểm vùng rừng núi nhiệt đới vừa mang nhiều nét riêng biệt độc đáo của vùng lãnh thổ phía Tây Bắc Tổ quốc; có núi cao rừng rậm, vực sâu, dốc lớn, sông dài suối rộng - dài đan dày sen kẽ với những miền thảo nguyên, những thung lũng rộng lớn những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, bản làng trù phú.


Bên hữu ngạn sông Hồng có những dãy núi cao hùng vĩ trùng điệp, quanh năm mây phủ với những đỉnh cao chót vót: Phu Luông 2.985 mét, Lùng Củng 2.913 mét, Xu Phin 2.874 mét, phía Đông sông Hồng và sông Chảy là chân của dãy núi Tây Côn lĩnh với nhiều dãy núi ken dày nối tiếp nhau. Các dãy núi ở đây đều chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam nên ở Yên Bái ít bị gió bão.


Trong các dãy núi cao, qua kiến tạo lâu đời của thiên nhiên đã hình thành nhiều hang động kỳ thú, độc đáo, một số hang động rộng có thể trú quân cả tiểu đoàn hoặc dùng làm trạm phẫu thuật, kho tàng; đồng thời có thể xây dựng thành các sở chỉ huy để tiến hành kháng chiến rất thuận lợi, trong thời bình có thể cải tạo trở thành những nơi du lịch đặc sắc.


Nằm lọt giữa những dãy núi cao bao bọc xung quanh là cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha, được xếp hàng thứ 2 trong số những cánh đồng trù phú, giàu đẹp của vùng Tây Bắc. Dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Chảy có những cánh đồng tuy hẹp hơn nhưng đất đai rất phì nhiêu màu mỡ thuộc các huyện Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên và Văn Yên.


Do được thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ vùng Yên Bái là một trong những nơi sớm xuất hiện đời sống của người nguyên thuỷ. Qua khảo cứu, tìm kiếm và khai quật, các nhà khảo cổ đã tìm thấy các dấu vết người thượng cổ ở Tân Lập (Lục Yên), các gia cầm hoá thạch ở Hang Hùm (Lục Yên), công cụ băng đá ở Hang Thẩm Thoóng (Văn Chấn); đặc biệt là chiếc thạp đồng ở (Đào Thịnh, Trấn Yên)... minh chứng tổ tiên ta từ ngàn xưa đã biết lựa chọn vùng đất Yên Bái để cư trú và sinh tồn.


Yên Bái có một hệ thống sông suối, khe ngòi lớn, nhỏ tạo thành một mạng lưới dày đặc; với 2 dòng sông lớn: sông Hồng và sông Chảy, sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua tỉnh Lào Cai chảy về Yên Bái với chiều dài 131 km. Sông Chảy cũng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc qua Lào Cai vào Yên Bái dài 122 km; sông Hồng và sông Chảy chảy qua địa phận Yên Bái thuộc miền thượng và trung du, so với hạ lưu sông ở đây hẹp hơn, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, lắm ghềnh thác, lưu tốc lớn, nhiều vực xoáy nên rất hạn chế việc giao thông bằng đường thuỷ. Về mặt phòng thủ đất nước, núi non hiểm trở, sông lớn, suối dài, nhiều ghềnh thác sẽ gây cho quân xâm lược rất nhiều khó khăn trong việc tiến quân và tiếp tế; ngược lại rất thuận lợi trong tổ chức phòng thủ, tổ chức căn cứ du kích, sở chỉ huy, cơ động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương tại chỗ1 (Đường 13A ta đã xây dựng cầu Yên Bái bắc qua sông Hồng, cầu Ngòi Lâu và cầu Tô Mậu bắc qua sông Chảy trên đường từ ngã ba Khánh Hoà vào huyện lỵ Lục Yên).


Yên Bái có nhiều suối ngòi, có một số ngòi lớn như ngòi Thia (đài 165 km), ngòi Hút (dài 140 km), ngòi Lao (dài 69 km)... về mùa mưa vượt qua các ngòi suối gặp rất nhiều khó khăn; đặc biệt gặp những trận lũ rừng lớn có khi phải 2-3 ngày nước mới rút, người mới qua được; những đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn cho cả ta và địch trong chiến tranh.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 10:51:33 pm
Sông ngòi ở Yên Bái có nguồn thuỷ năng rất lớn, sau kháng chiến chống thực dân Pháp miền Bắc được giải phóng; trên sông Chảy ta đã xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà công suất 108 ngàn KW và hàng chục trạm thuỷ điện nhỏ, hàng ngàn thuỷ điện mi ni, bước đầu phục vụ đắc lực cho sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân trong tỉnh và công nghiệp ở miền xuôi; hệ thống sông ngòi ao hồ ở Yên Bái còn cung cấp môt nguồn thuỷ sản lớn; đặc biệt là hồ Thác Bà với diện tích 20 vạn ha, 3 tỷ m3 nước hàng năm cung cấp cho địa phương hàng chục nghìn tấn tôm cá tươi và còn là nơi nghỉ mát, du lịch đây thú vị.


Yên Bái khí hậu tương đối đặc biêt, vừa khí hậu nhiệt đới lại có khí hậu á nhiệt đới á ôn đới, nhiệt độ trung bình từ 18 đến 22 độ C; Yên Bái hầu như không có gió bão, lượng mưa hàng năm tương đối lớn - trung bình từ 1.425mm đến 2.762 mm/năm.

Yên Bái có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển nông lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc, hàng vạn ha rừng chủ yếu là tre nứa với nhiều loại gỗ quý: đinh, lim, sến, táu, vàng tâm; đặc biệt là các loại gỗ quý như pơ mu ở Trạm Tấu, Văn Chấn, quế ở Văn Yên và các loại đặc sản khác.


Trong lòng đất Yên Bái có sắt, cao lanh, garapít, mica, than vàng; đặc biệt là vùng đá quý Lục Yên.

Tóm lại: rừng núi Yên Bái vừa tươi đẹp, vừa có giá trị về kinh tế quốc phòng, là một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng đã và sẽ góp phần làm giàu đẹp quê hương, đất nước và bảo vệ vững chắc khu vực cửa ngõ miền Tây Bắc Tổ quốc.

Yên Bái có hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ tương đối phát triển, 70% số xã có đường ô tô vào tới xã; nhưng trước cách mạng và trong kháng chiến chống thực dân Pháp giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Ngoài đường xe lửa Hà Nội - Côn Minh chạy qua tỉnh, có đường quốc lộ 13A từ miền núi chạy về xuôi gặp đường số 2 và đường tỉnh lộ sang Tuyên Quang; với đường giao thông hạn chế có tính độc đạo nên trong chiến tranh việc làm chủ các huyết mạch giao thông chính có tầm chiến lược quan trọng đặc biệt. Trong kháng chiến chống Pháp chỉ cần khống chế làm chủ các con đường độc đạo trên đã làm cho hoạt động của đối phương bị tê liệt trên một phạm vi rộng. Còn đối với quân và dân ta việc đi lại tiếp tế chủ yếu bằng mang vác, gùi thô nên nhịp độ kháng chiến ở địa phương ngày càng phát triển.


Từ sau ngày giải phóng đến nay mạng lưới giao thông thuỷ bộ liên hoàn, thuận tiện cho việc giao lưu, cơ động sang tỉnh bạn và về thủ đô Hà Nội. Trong chiến tranh chống phá hoại của đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tháng 2-1979 hệ thống đường giao thông đã góp phần quan trọng cho việc cơ động vận chuyển xe pháo đạn dược đáp ứng yêu cầu của chiến tranh.


Hệ thống Bưu điện viễn thông của tỉnh cũng có bước phát triển nhảy vọt, đảm bảo việc thông tin giao dịch trong nước và đàm thoại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Khi chiến tranh xảy ra mạng lưới Bưu điện cũng đáp ứng được với yêu cầu lãnh đạo chỉ huy chiến đấu.


Yên Bái là một tỉnh dân tộc miền núi rất đa dạng về dân cư và xã hội.

Trải qua hàng nghìn năm sinh tồn và phát triển xã hội các dân tộc Yên Bái cho đến trước cách mạng tháng 8 đã có sự phân hoá giai cấp sâu sắc ở các dân tộc vùng thấp, có đủ thành phần xã hội1 (Địa chủ, phú nông, tư sản, tiểu tư sản, trung nông, bần nông, cố nông, công nhân). Ở các dân tộc vùng cao, quan hệ xã hội lại khác, vừa mang tính chất phong kiến vừa mang màu sắc chế độ tù trưởng, tộc trưởng những tàn dư này thể hiện rõ trong mối quan hệ gắn bó mật thiết trong nội bộ dòng họ, dân tộc, tôn sùng người đứng đầu bộ tộc, đứng đâu dòng họ. Về kinh tế các dân tộc đều mang tính chất tự cung tự cấp, nhiều dân tộc phần đông chưa biết chữ. Thực dân Pháp và các thế lực phong kiến phản động ở địa phương lợi dụng sự thấp kém lạc hậu của các dân tộc này để thực hiện chính sách ngu dân, chia để trị; đưa dân tộc này đi đàn áp dân tộc khác gây mối hận thù lâu dài. Hầu hết người Kinh vốn quê ở các tỉnh miền xuôi bị thực dân phong kiến áp bức bóc lột nặng nề phải rời bỏ quê hương lên miền núi định cư tìm kế sinh sống. Nhóm người Kinh qua năm tháng dần dần tụ lại ở dọc ven sông Hồng, sông Chảy hình thành những làng mạc đông đúc trù phú.


Về phong tục tập quán, đến trước cách mạng tháng 8 phần lớn các dân tộc có nhiều hủ tục mê tín dị đoan rất nặng nề, chỉ sau ngày miền Bắc được giải phóng các hủ tục lạc hậu mới dần dần được xoá bỏ.

Về tôn giáo: số người theo đạo Thiên chúa giáo chiếm tỷ lệ rất ít, chủ yếu hình thành theo dọc sông Chảy, ở thị xã Yên Bái, Nghĩa Lộ, Văn Yên, Trấn Yên.

Trải qua lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và gũi nước, cùng những truyền thống quí báu của dân tộc, nhân dân Yên Bái xây dựng nên nhiều truyền thống vẻ vang oanh liêt. Truyền thống nổi bật nhất là tinh thần yêu nước quật cường, bất khuất, mưu trí sáng tạo, kiên quyết đấu tranh với mọi loại kẻ thù xâm lược nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác.


Nằm ngay cửa ngõ, yết hầu của miền Tây Bắc Tổ quốc, Yên Bái trải qua bao thăng trầm của lịch sử đã viết lên bao trang sử hào hùng trong sự nghiệp chống ngoại xâm: bọn xâm lược phương Bắc trước đây nhiều lần tiến theo con đường độc đạo dọc theo sông Chảy hùng hổ tiến vào nước ta qua đất Yên Bái, nhưng đã bao lần xác quân xâm lược đã phơi đầy trên đất Yên Bái anh dũng; nhiều vị anh hùng thuộc đất Yên Bái mãi mãi còn lưu truyền trong nhân dân.


Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra trên đất Yên Bái, tuy cuối cùng đều bị thất bại nhưng các cuộc nổi dậy ấy đã nói lên tinh thần thà chết chứ không chịu làm nô lệ.

Năm 1258 nhân dân các dân tộc vùng Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Bình đã tham gia chiến đấu dưới sự chỉ huy của anh em tù trưởng Hà Bồng, Hà Đặc anh dũng đánh trả quân Nguyên Mông khi chúng xâm lược nước ta.

Năm 1285, nhân dân các dân tộc Yên Bái theo Chiêu Văn Vương, Trần Nhật Duật đứng lên chặn đánh quân Nguyên Mông ở trại Thu Vật (Yên Bình) làm kinh hồn bạt vía quân thù.

Cuối thế kỷ IXX thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn ươn hèn đầu hàng giặc cam tâm làm tay sai cho giặc.

Năm 1873, thực dân Pháp đánh ra miền Bắc và đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, nhân dân các dân tộc vùng Yên Bái cùng với quân thập đạo châu kéo về tham gia bảo vệ kinh thành Hà Nội thất thủ. Những tấm gương chiến đấu quên mình của các nghĩa sỹ đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước trong nhân dân.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 10:52:39 pm
Tháng 10 năm 1885 thực dân Pháp đánh chiếm Yên Bái:

Quê hương tuy bị giặc chiếm đóng nhưng các cuộc nổi dậy của nhân dân từng vùng trên đất Yên Bái vẫn liên tiếp nổ ra.

Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của tuần phủ Nguyễn Quang Bích; cuộc khởi nghĩa nổ ra ngay năm 1885 và kéo dài suốt 7 năm cho đến năm 1892 mới bị dập tắt. Nghĩa quân đã xây dựng căn cứ ở vùng Văn Chấn, Trấn Yên và hữu ngạn sông Hồng, nghĩa quân Nguyên Quang Bích cùng các lãnh binh ở Văn Chấn như: Vương Văn Doãn, Phạm Văn Tế, Phạm Thọ, Đặng Tiến Lộc, Đồng Phúc Thỉnh đã mở nhiều trận chiến đấu ác liệt với địch ở Tuần Quán, Đèo gỗ, Khe thác... có lần đánh tan cả đoàn thuyền 13 chiếc của địch ở đoạn sông giữa khu vực Trái Hút - Bảo Hà (19-10-1889) cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đã gây cho địch nhiều thiệt hại.


Sang đầu thế kỷ XX Yên Bái vẫn tiếp tục nổ ra nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân dưới sự lãnh đạo của các nghĩa sỹ yêu nước.

Cuộc bạo động do Lý Minh, Triệu Tài Lộc, Triệu Kiếm Tiên cầm đầu nổ ra ở Lục Yên tháng 10-19141 (Cuộc bạo động tháng 10-1914 còn gọi là cuộc, khởi nghĩa Giáp Dần vì nó xảy ra vào năm Giáp Dần) là một trong những cuộc nổi dậy gây tiếng vang lớn. Từ tổng Trúc Lâu (Lục Yên) nghĩa quân tiến về đánh đồn Trái Hút (19-10), đồn Bảo Hà (21-10), đồn Lục Yên (22-10); cuộc bạo động thất bại, bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, chúng đã xử tử 67 nghĩa quân nhằm khủng bố tinh thần của quần chúng2 (Ngày 02-12-1944 thực dân Pháp xử bắn 39 người ở nghĩa địa Tây Yên Bái, tiếp theo ngày 14-4-1945 chúng xử bắn 28 người ở Phú Thọ). Thực dân Pháp bắt bớ tàn sát dã man song vẫn không dập tắt được tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân các dân tộc trong tỉnh.


Sau khi tạm ổn bộ máy cai trị ở địa phương thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách khai thác thuộc địa; chúng ráo riết bắt phu làm đường, khai thác hầm mỏ, cướp đất lập đồn điền. Để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa thực dân Pháp tiến hành mở đường bộ Ba Khe đi Nghĩa Lộ, mở đường xe lửa Yên Bái đi Lào Cai làm cho dân chúng trong vùng phải lao động phá rừng, phá núi làm đường vô cùng nặng nề, khổ cực, nhiều người bị chúng đánh đập bắt lao động khổ sai kiệt sức phải bỏ xác chốn rừng sâu.


Dưới chế độ áp bức bóc lột nặng nề, hà khắc của thực dân Pháp nhiều cuộc đấu tranh của công nhân làm đường sắt, công nhân làm hầm mỏ, đồn điền ở Yên Bái đã nổ ra đòi cải thiện chế độ lao động, đòi tăng lương giảm giờ làm. Nông dân ở nhiều nơi như: Ẩm Phước, Mông Sơn (Yên Bình), Nga Quán, Cổ Phúc (Trấn Yên) cũng liên tiếp đứng lên đấu tranh chống bắt lính, bắt phu, cướp đất lập đồn điền. Những cuộc đấu tranh này đã làm cho thực dân Pháp hết sức lúng túng. Trong thời kỳ này các phong trào yêu nước ở các tỉnh miền xuôi đã có ảnh hưởng tới địa phương.


Năm 1924 ở thị xã Yên Bái đã xuất hiện một tổ chức yêu nước trong lớp nhất trường tiểu học Pháp Việt (Thanh niên đoàn) gồm 22 người, hoạt động được một thời gian ngắn thì bị lộ, bọn mật thám Pháp truy lùng ráo riết họ phải đổi thành đội bóng đá để tiếp tục tuyên truyền phổ biến các bài ca yêu nước trong thanh niên.


Ngày 9-2-1930, Yên Bái nổ ra cuộc khởi nghĩa lốn do Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu - các lãnh tụ của Quốc dân đảng lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng ra đời vào năm 19271 (Việt Nam Quốc dân đảng thành lập ngày 25-12-1927 do Nguyễn Thái Học làm lãnh tụ) với mục đích đánh đổ thực dân Pháp, xây dựng xã hội dân chủ tư sản; do tổ chức kết nạp các thành viên không chặt chẽ, hoạt động có nhiều sai lầm để cả bọn mật thám, chỉ điểm luồn lách chui vào tổ chức; đồng thời không đi vào vận động, nắm quần chúng nhân dân lao động nên vào những năm 1928 - 1930 Quốc dân đảng bị thực dân Pháp khủng bố đàn áp dữ dội có nguy cơ tan rã hoàn toàn. Trước tình hình đó các lãnh tụ Quốc dân đảng chủ trương bạo động với ý nghĩa cầu may hoặc là thành công hoặc là liều mạng sống thác với giặc để lại tiếng thơm lưu truyền trong đời.


Cuộc khởi nghĩa nổ ra đêm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 2 năm 1930 tại thị xã Yên Bái; quân khởi nghĩa đánh chiếm được đồn Thấp diệt và làm bị thương trên 10 binh sỹ địch nhưng không chiếm được đồn Cao nơi lính Lê Dương đóng do một tên Trung tá Pháp chỉ huy; không vận động lôi kéo được lính khố xanh tham gia, không có quần chúng ủng hộ, lực lượng tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa xây dựng được lực lượng, nắm chưa vững thời cơ do manh động nên khi thực dân Pháp phản kích cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp dã man, cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu, hàng trăm người bị bắt, bị xử tử hình trong dó có lãnh tụ đảng Nguyễn Thái Học..


Cuộc bạo động Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân đảng tan rã; đồng thời cũng chấm dứt vai trò chính trị của một Đảng đại diện cho chủ nghĩa quốc gia tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cuộc bạo động Yên Bái tuy thất bại song đã gây được tiếng vang lớn, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tinh thần quả cảm, gương hy sinh anh dũng của các nghĩa sỹ đã cổ vũ thêm ý chí, niềm tin trong nhân dân các dân tộc Yên Bái đứng lên tìm đường giải phóng khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp.


Ngày 3 tháng 2 năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam chính thức bước lên vũ đài chính trị. Từ đây cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng nước ta chuyển sang một bước ngoặt mới.

Cũng từ đây cuộc đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước của đồng bào các dân tộc Yên Bái dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Xứ uỷ Bắc Kỳ và Tỉnh uỷ đã nhanh chóng giành được thắng lợi. Lực lượng vũ trang Yên Bái được ra đời và tôi luyện trưởng thành trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:09:51 pm
II - CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG THÁNG 8 VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam kéo dài suốt trên 70 năm kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ngay sau khi ra đời Đảng đã tập hợp và phát động được đông đảo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh, làm dấy lên hai cao trào cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939; đây là hai cuộc "tổng diễn tập" cách mạng đầu tiên chuẩn bị cho cao trào 1939 - 1945 và thắng lợi của cách mạng tháng 8.


Ở Yên Bái một số thanh niên người thị xã được đi học hoặc làm ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền xuôi đã tìm học và cất giấu một số sách báo cách mạng bị thực dân Pháp cấm lưu truyền. Tiêu biểu trong nhóm này có anh Đỗ Văn Đức người thị xã, tháng 4-1930 Đức cùng những người khác đã tập hợp được 17 người thị xã thuộc các thành phần thanh niên học sinh, binh lính tổ chức thành một nhóm đọc sách báo bí mật và tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước trong những người thân quen1 (Dẫn theo tài liệu "Lịch sử cách mạng tháng 8 tỉnh Yên Bái" do Ban lịch sử Đảng của tỉnh xuất bản năm 1971. Về vai trò của anh Đỗ Văn Đức và những người trong nhóm chúng tôi chưa tìm được thêm tài liệu cụ thể về các nhân vật này); Nhóm này hoạt động đến đầu năm 1931 ra được vài số "Học sinh báo" và một vài lần rải truyền đơn thì bị lộ, thực dân Pháp đã thẳng tay khủng bố, bắt giam và xử tử một số đồng chí, nhóm yêu nước này bị tan rã1 (Báo "Đông Pháp" số ra ngày 12 và 13-10-1931 có đăng tin xử vụ án Cộng sản ở Yên Bái nhưng chúng tôi chưa có đủ tài liệu làm cơ sở để kết luận nhóm này là một tổ chức có lãnh đạo chỉ đạo của tổ chức cấp trên hay là hoạt động tự phát).


Thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương 1936 - 1939, các sách báo công khai của Đảng được lưu hành ở thị xã Yên Bái, đã có tác động đến các tầng lớp công nhân, nông dân, học sinh và viên chức trong khu phố. Thời kỳ này một số cán bộ của Đảng như các đồng chí Đào Duy Kỳ, Nguyễn Đức Quy đã đến Ngòi Hóp (Trấn Yên) và một vài nơi khác để tuyên truyền cách mạng trong nhân dân. Tuy thời gian hoạt, động không lâu và chưa xây dựng được cơ sở đã phải rút nhưng các đồng chí đã gây được một ảnh hưởng lớn, bước đầu làm cho quần chúng hiểu và có cảm tình với cách mạng.


Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, tháng 9-1940 Phát xít Nhật vào Đông Dương, trước tình hình mới Đảng đã họp các Hội nghị Trung ương lần thứ VI (tháng 11-1939) và lần thứ VII (11-1940), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần sau bổ sung cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần trước và đều nhấn mạnh vấn đề chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược. Hội nghị xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu lúc này của cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ giải phóng dân tộc; tích cực chuẩn bị cho vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.


Ở Bắc Bộ, khoảng giữa năm 1940 khu D được thành lập2 (Khu D gồm các tỉnh dọc đường xe lửa Hà Nội - Lào Cai và hai tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang) tháng 10-1940 Ban cán sự khu D cử cán bộ từ cơ sở ở Cát Trà (Cẩm Khê) Phú Thọ lên Lào Cai, Yên Bái xây dựng cơ sở cách mạng. Các đồng chí Hoàng Ngọc Chương (nam) và Yên (nữ) được cử lên Lào Cai tìm bắt liền lạc với một quần chúng cảm tình ở Phố Mới (thị xã Lào Cai), lên được ít ngày thấy quần chúng này có nhiều hiện tượng khả nghi theo bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động các đồng chí lại quay về xuôi. Tiếp đó đồng chí Chương lại lên các đồn điền Cổ Phúc và Ngòi Hóp (Trấn Yên, Yên Bái) tuyên truyền trong anh chị em công nhân thành lập được hội Ái Hữu; nhưng trên đường đồng chí về khu họp đến thị xã Yên Bái đồng chí lại bị bắt, sau đó các hội Ái Hữu ở Cổ Phúc và Ngòi Hóp không còn cán bộ chỉ đạo cũng ngừng hoạt động.


Cùng thời gian trên đồng chí Trần Thị Minh (tức Trinh) được Bạn cán sự khu D phân công lên Yên Bái dựa vào quần chúng cảm tình với cách mạng có quan hệ gắn bó với cơ sở của ta ở Cát Trù tổ chức được 3 tổ "Thanh niên phản đế" gồm 13 người ở Hiền Lương, Nãng Xã (Hạ Hoà, Phú Thọ) và Linh Thông (Trấn Yên, Yên Bái)1 (Nữ đồng chí Trần Thị Minh đã dựa vào chị Hang và gia đình ở Hiền Lương (Hạ Hoà, Phú Thọ) tổ chức được các tổ chức thanh niên phản đế do các đồng chí Đào Đình Bảng ở Linh Thông (Trấn Yên), Nguyễn Bội Vũ và Phạm Minh Đức (tức Thuần) ở Hiền Lương, Năng Xá (Hạ Hoà)), các tổ chức "Thanh niên phản đế" này dùng hình thức dạy hát và học hát những bài ca yêu nước để tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho thanh niên, thu hút số anh em nhiệt tình, tích cực vào hội phản đế. Các tổ chức "Thanh niên phản đế" đã mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng Yên Lập (Phú Thọ), Vân, Vân Hội (Trấn Yên, Yên Bái). Có lần họ đã tổ chức dán áp phích, rải truyền đơn ở xã Hiền Lương và thị xã Phú Thọ kêu gọi nhân dân đoàn kết chống thực dân phong kiến. Thanh niên phản đế được nghiên cứu về cách mạng tư sản dân quyền (cách mạng dân tộc dân chủ) và đã chuẩn bị vận động nhân dân đòi thực dân Pháp và chính quyền tay sai cho lập một trường dạy học tư để cán bộ khu D lên dạy học có điều kiện tuyên truyền và phát triển cơ sở cách mạng. Các tổ chức "Thanh niên phản đế" hoạt động đến đâu năm 1941 thì bị lộ, thực dân Pháp và tay sai bắt giam số thanh niên này, cơ sở thanh niên bị vỡ, phong trào cách mạng vùng này tạm thời bị lắng xuống1 (Trong cuộc họp của TNPĐ ở đình Hiền Lương có tên ăn trộm nằm trong hậu cung mà anh không biết. Sau tên này lại đi ăn trộm và bị bắt, y đã khai ra những người dự họp và nội dung cuộc họp trên để được xin giảm tội).


Tháng 12-1941 đồng chí Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài đã từ Trung Quốc trở về Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Tháng 5-1941 Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Hội nghị nhấn mạnh "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đạt dưới sự dinh tư, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được (Những sự kiện LSĐ - Tập I (1920 - 1945) NXB Sự Thật - Hà Nội 1976, tr. 510). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc chống thực dân Pháp và phát xít Nhật lấy tên là "Việt Nam độc lập đồng minh hội" gọi tắt là Việt Minh; các tổ chức quần chúng trước lấy tên là "Hội phản đế" nay ở trong Mặt trân Việt Minh lấy tên là các đoàn thể cứu quốc, Hội nghị nhận định "Với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa lớn"1 (Sách đã dẫn, tr.518).


Vấn đề dân tộc trước được nêu trong khuôn khổ toàn Đông Dương nay đặt vấn đề dân tộc trong mỗi nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia với tinh thần phong trào ba nước phải dựa vào nhau, thúc đẩy và giúp đỡ nhau. Hội nghị còn đề cập đến vấn đề gấp rút đào tạo cán bộ và tăng thêm thành phần giai cấp vô sản trong Đảng, "lấy vận động công nhân làm công việc đầu tiên trong công việc tổ chức quần chúng của Đảng ta"2 (Tr.512).


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:10:56 pm
Tháng 2-1943 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp, sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước - Hội nghị nhận định "Phong trào cách mạng Đông Dương có thể bỗng chốc tiến bằng những bước nhảy cao"3 (Tr.564). Hội nghị quyết định đẩy mạnh công tác mở rộng mặt trận Việt Minh, tăng cường công tác xây dựng căn cứ địa ở nông thôn, rừng núi, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị đầy đủ tinh thần và vật chất cho cuộc khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn này.


Sau Hội nghị đồng chí Hoàng Quốc Việt - Uỷ viên Ban thường vụ Trung ương Đảng đã trực tiếp lên Phú Thọ, Yên Bái nghiên cứu tình hình; đồng chí nhận định khu vực nằm ở tây bắc Phú Thọ và đông nam Yên Bái - nơi trước đấy có các tổ chức "Thanh niên phản đế" địa thế khá hiểm trở, địch ít chú ý, là một vùng yên tĩnh khá an toàn. Từ địa bàn này cơ sở cách mạng có thể phát triển rộng ra hai tỉnh Yên Bái, Phú Thọ sang tỉnh Sơn La, vào vùng Nghĩa Lộ, khi cần ta có thể rút về đây để giữ bí mật và bảo toàn lực lượng. Qua khảo sát thực tế đồng chí Hoàng Quốc Việt quyết định xây dựng khu vực này thành căn cứ cách mạng dự bị cho Trung ương trước mắt. Đây cũng là căn cứ để đón các đồng chí từ trong tù Sơn La vượt ngục ra ngoài hoạt động và làm nơi che giấu cho số cán bộ hoạt động ở miền xuôi bị lộ lên ăn ở và học tập trong thời gian chờ đợi sự phân công mới của Trung ương và Xứ uỷ. Đối với hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ xây dựng cơ sở khu vực này cũng nhằm phát triển phong trào chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương.


Tháng 10-1945 đồng chí Hoàng Quốc Việt phân công đồng chí Bình Phương lên bắt liên lạc với đồng chí Trần Quang Bình1 (Đồng chí Trần Quang Bình sau là Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện) (tức Đặng Văn Dĩ) là một cán bộ của Đảng ở tù ra đang bị thực dân Pháp quản thúc ở Năng Xã (Hạ Hoà, Phú Thọ), nhiệm vụ của hai đồng chí là thực hiện chủ trương trên của Ban thường vụ Trung ương.


Dựa vào các cơ sở thanh niên phản đế thời kỳ (1940 - 1941) ta đã xây dựng được các cơ sở Việt Minh ở Năng Xã, Hiền Lương, Đồng Luận, Bình Trà (Hạ Hoà, Phú Thọ), Linh Thông, Bảo Hưng, Vân, Vân Hội, Đồng Yểng, La Băng La (Trấn Yên, Yên Bái). Từ đó phát triển rộng ra các thôn khác thuộc tổng Động Lâm (Hạ Hoà, Phú Thọ). Lương Ca, Giới Phiên (Trấn Yên, Yên Bái) khu căn cứ cách mạng Vân, Hiền Lương được hình thành.


Ở các huyện, thị xã khác cơ sở cách mạng củng được xây dựng và phát triển.

Tại Văn Chấn từ mùa hè 1944 thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã bắt dân nộp tre, đi phu, lập "căng" Nghĩa Lộ chuẩn bị đưa số tù chính trị ở căng Bá Vân (Thái Nguyên) sang. Tháng 1-1945 thực dân Pháp thực hiện việc chuyển căng, gần 100 tù chính trị trong đó có các đồng chí đảng viên chi bộ căng Bá Vân bị giải bộ từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ, trên đường đi mặc dù chân tay bị xiềng xích, có lính áp giải đi kèm anh chị em vẫn hát vang những bài ca cách mạng và hô các khẩu hiệu đấu tranh. Ở những chặng đường nghỉ gặp quần chúng nhân dân đi qua các đồng chí tù nhân đã tranh thủ tuyên truyền trước nhân dân, lớn tiếng lên án chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranh giành độc lập và giải thích các chủ trương chính sách của Mặt trận Việt Minh. Các việc làm trên đã có tác động rất lớn cổ vũ lòng yêu nước và gây niềm tin tưởng trong nhân dân. Ở căng Nghĩa Lộ một số đồng chí được địch cho ra ngoài phố mua bán các thứ hàng cần thiết cho anh em cũng đã tranh thủ tuyên truyền giác ngộ được một số chị em tiểu thương. Qua những chị em này nhiều thanh niên và viên chức nhỏ đã có cảm tình với cách mạng, chi bộ ở căng Nghĩa Lộ đã ra báo "Đường Nghĩa" để tuyên truyền giáo dục ý thức cách mạng cho quần chúng và đã có kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa.


Đầu 1945 đồng chí Nguyễn Duy Thân1 (Đồng chí Nguyễn Duy Thân sau là ủy viên Ủy ban hành chính Bắc Bộ) (tức Linh) là cán bộ của Đảng mới thoát ngục Sơn La được Xứ uỷ cử lên phụ trách thay đồng chí Bình Phương chuyển đi công tác ở nơi khác; đồng chí Thân đã tiếp tục phát triển cơ sở ở Hạ Hoà (Phú Thọ), Trấn Yên (Yên Bái) và thị xã Yên Bái, riêng ở thị xã đồng chí Thân đã liên lạc được với đồng chí Nguyễn Hữu Minh (tức Minh Đăng), một số thanh niên cảm tình của Đảng qua đồng chí Minh đã bắt mối được với đồng chí Mai Văn Ty (tức Công) công nhân làm ở đề pô Yên Bái là đối tượng kết nạp Đảng từ những năm 1939 - 1940 ngày còn hoạt động bí mật trong nghiệp đoàn in Nhà máy in Viễn Đông (EEEO). Sau khi hai đồng chí Mai Văn Ty và Nguyễn Hữu Minh được kết nạp vào Đảng phong trào công nhân và thanh niên thị xã có những bước chuyển biến mới và phát triển ngày càng mạnh. Ngoài các hội viên cứu quốc, rất nhiều công nhân, thanh niên và viên chức nhỏ bước đầu được giác ngộ sẵn sàng đi theo Mặt trận Việt Minh.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính hất cẳng Pháp để độc quyền cai trị Đông Dương, thực dân Pháp bất lực và ươn hèn đã nhanh chóng đầu hàng Nhật bán rẻ Đông Dương cho bọn phát xít. Nhân dân ta lâm vào cảnh "một cổ hai tròng" vừa chịu sự đô hộ của thực dân Pháp vừa chịu sự đè nén của phát xít Nhật, mặc dù đã cam chịu đầu hàng bán rẻ quyền lợi cho phát xít Nhật nhưng trong lòng bọn thực dân Pháp vẫn vô cùng cay cú và căm tức bọn phát xít, chỉ đợi dịp là lại nhảy bổ vào cắn xé lẫn nhau. Tình thế cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn mới để kịp thời phân hoá kẻ thù và tranh thủ lôi kéo những người căm ghét Nhật, có cảm tình với cách mạng trong hàng ngũ Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp và ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"; đây là một chỉ thị đúng đắn và kịp thời của Đảng trước tình thế mới, đã có tác động to lớn và sâu rộng làm dấy lên một cao trào kháng Nhật cứu nước ngày một mạnh mẽ trong toàn dân.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:12:10 pm
Sau ngày Nhật đảo chính bọn Pháp ở thị xã Yên Bái phải rút vào Nghĩa Lộ, lúc này thực tế quyền cai quản thuộc địa đã vào tay Nhật và Pháp buộc phải từng bước nhượng bộ, vì thế bọn Pháp phải luôn sống trong một tình trạng nơm nớp lo sự, vừa lo đối phó với cách mạng vừa lo đối phó với Nhật. Trước tình hình đó các đồng chí tù nhân ở chi bộ căng Nghĩa Lộ đã chủ động tranh thủ đặt vấn đề với bọn Pháp đang cai quản căng cũng phối hợp đánh Nhật với điều kiện Pháp phải thả tất cả tù chính trị, nhưng chúng không chịu chấp thuận mà chỉ muốn ta cử một số anh em thạo tiếng Pháp cùng chúng thám thính quân Nhật. Việc thương lượng không kết quả các đồng chí ở căng Nghĩa Lộ lại tích cực chuẩn bị chờ thời cơ mới. Ngày 17 tháng 3 năm 1945 bọn Pháp định chuyển số anh em tù chính trị đi nơi khác để đưa tù thường phạm vào, cả nhà tù nổ ra cuộc đấu tranh chống di chuyển tù nhân. Tên phó sứ Pen-ki-ê (Pelkiei) và tên đồn trưởng Xi-vê (Civet) vào trong căng kiểm tra, thấy chúng chỉ có vài người đi theo một vài anh em đã xông vào vật tên phó sứ buộc tên này phải thả hết tù chính trị nhưng bọn địch đã nổ súng chống trả. Nhân lúc bọn địch bị rối loạn và hoang mang anh em tù nhân đã phá căng chạy ra ngoài, hơn mười đồng chí chạy thoát một số đồng chí bị hy sinh, cuộc phá căng tự phát ngoài dự kiến của chi bộ tuy không hoàn toàn thắng lợi nhưng đã bổ sung cho phong trào hơn 10 cán bộ. Đồng thời đã nâng cao được tinh thần yêu nước và lòng căm thù địch của nhân dân địa phương.


Cuối tháng 3 năm 1945 đồng chí Ngô Minh Loan (tức Hoàng Quang Minh) được Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ giao nhiệm vụ lên Yên Bái, Phú Thọ thay đồng chí Thân tiếp tục xây dựng và phát triển khu căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở hai tỉnh Yên Bái, Phú Thọ. Đồng chí Nguyễn Duy Thân được điều về nhận nhiệm vụ mới hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên ở thành phố.


Đến tháng 5 năm 1944 cơ sở Việt Minh từ khu Vân - Hiền Lương đã phát triển rộng ở hầu khắp các xã trong huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) phủ Trấn Yên (Yên Bái) và trên đường vào Nghĩa Lộ. Trong khu căn cứ chính quyền địch bị tan rã, nhiều ký hào, lý dịch được giác ngộ đã ngả theo hoạt động cho Việt Minh. Một số xã đã có tổ chức dân quân tự vệ, ở thị xã Yên Bái tháng 4-1945 đồng chí Ngô Minh Loan được uỷ quyền của cấp uỷ đã kết nạp đồng chí Nguyễn Văn Trí (tức Trí Dũng) vào Đảng và quyết định thành lập chi bộ thị xã Yên Bái gồm 3 đảng viên, đồng chí Mai Văn Ty được cử làm Bí thư1 (Chi bộ thị xã Yên Bái là chi bộ đầu tiên của tỉnh Yên Bái, chi bộ đã lãnh đạo cuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Yên Bái, 3 đồng chí trong chi bộ này đều đã hy sinh, đồng chí Mai Văn Ti sau cách mạng Tháng 8 được phân công phụ trách an ninh của tỉnh đã bị bọn VNQDĐ sát hại hồi tháng 9-1945 tại Phố Mới (Lào Cai), đồng chí Nguyễn Trí Dũng cũng bị bọn phản động VNQDĐ bắt và sát hại tháng 11-1945 tại thị xã Yên Bái, đồng chí Nguyễn Hữu Minh năm 1947 phụ trách huyện Văn Bàn bị giặc Pháp bắt do địch tra tấn dã man đồng chí đã hy sinh vào năm 1949). Sau khi được thành lập chi bộ đã củng cố các đoàn thể cứu quốc... tuyên truyền phát triển ảnh hưởng của cách mạng, xây dựng cơ sở trong bảo an binh, tổ chức đưa một số cán bộ thoát khỏi nhà tù Yên Bái sang khu căn cứ Vân - Hiền Lương bổ sung cho phong trào2 (Tháng 6-1945 đưa các anh Trần Đức Bắc, Tiến (Lãnh, Chi, Mỹ) sang khu Vân, tháng 7-1945 đưa Nguyễn Phúc Nguyên là bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình 1930 - 1931 sang Lương Tâm (Trấn Yên) tham gia lãnh đạo khởi nghĩa của tỉnh).


Cuối tháng 4-1945 đồng chí Mai Văn Ti bí thư chi bộ thị xã Yên Bái được đồng chí Ngô Minh Loan phân công phụ trách công tác an ninh, đồng chí Ti đã dựa vào quan hệ cùng ngành đường sắt lên đê pô xe lửa Phố Mới (thị xã Lào Cai) tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho công nhân và tổ chức được ở đây một tổ chức Việt Minh làm nhiệm vụ theo dõi bọn Việt Nam quốc dân đảng đang theo đường qua Lào Cai từ Vân Nam (Trung Quốc) luồn vào nước hoạt động.


Phong trào cách mạng ở hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ vẫn tiếp tục phát triển. Riêng ở hai huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) và Trấn Yên (Yên Bái) đến tháng 6 năm 1945 cơ sở Việt Minh đã lan rộng ra 40 làng với 2 vạn dân. Tại căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương số hội viên cứu quốc phát triển lên 756 người; nhân dân các dân tộc nhiệt tình ủng hộ Mặt trận Việt Minh lương thực, thực phẩm, tiền bạc, cả số vũ khí gồm trung liên, súng trường lấy được của Pháp khi chạy Nhật bỏ lại dọc đường. Tầng lớp hào lý cũng tích cực đóng góp với cách mạng như chánh tổng Lương Ca để ta sử dụng kho thóc ở Vân Hội 40 tấn, chánh tổng Hậu Bổng ủng hộ cách mạng một số tiền rất lớn (500 đồng tiền Đông Dương).


Thực hiện Nghị quyết hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15 tháng 4 năm 1945) đáp ứng nguyện vọng của quần chúng ngày 14-6-1945 trong một cuộc mít tinh lớn tại chùa Hiền Lương (Hạ Hoà, Phú Thọ) có đông đảo hội viên cứu quốc và nhân dân các làng Hiền Lương, Năng Xã, Tiểu Phạm, Linh Thông, Bình Kiện tham gia. Đội du kích tập trung của khu căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương được thành lập lấy tên là đội du kích Âu Cơ . Đội du kích Âu Cơ tiền thân của bộ đội địa phương tỉnh, lúc đầu có 23 người, vũ khí gồm 1 trung liên, 11 súng trường do nhân dân lấy được của Pháp ủng hộ và các loại vũ khí thô sơ như: dao, gậy, mã tấu. Ngày 15-6-1945 đội vào làng Đông Yểng huấn luyện chính trị, quân sự, nhân dân ở đây tuy nghèo nhưng rất mực thương yêu du kích. Ngoài việc giúp đỡ nơi an nghỉ, ủng hộ lương thực, thực phẩm đồng bào còn thường xuyên thăm hỏi động viên du kích. Đối với những chiến sĩ ốm đau đồng bào chăm nom cơm cháo và tự động lên rừng tìm thuốc chữa bệnh nên bệnh tật mau lành.


Ngày 19-6-1945 du kích đang tập luyện thì được nhân dân báo tin tri phủ Trấn Yên cùng một trung đội bảo an tiến vào làng Vân, ta cho liên lạc mật báo cáo chánh tổng Lương Ca (cơ sở của ta) tìm cách giữ chân chúng lại qua đêm; đồng thời cho du kích hành quân cấp tốc đến làng Vân bí mật phục kích. Rạng sáng ngày 20 tháng 6 năm 1945 du kích nổ súng, bị đánh bất ngờ chúng hoảng hốt xô nhau chạy lên khu rừng sau nhà, ta bao vây gọi hàng và buộc viên tri phủ phải nhận 3 điều kiện:

1- Không được khủng bố và đàn áp phong trào cách mạng.

2- Trả lại tiền thuế thu của dân.

3- Trả lại tự do cho các cán bộ cách mạng hiện còn bị giam giữ.


Tiếp đó ta mở vòng vây cho chúng về phủ, ta cũng không tước vũ khí của chúng để bọn Nhật khỏi nghi ngờ, sau đó một tuần lễ chi bộ thị xã vận động quần chúng làm áp lực buộc viên tri phủ Trấn Yên phải trả lại tự do cho 3 cán bộ của ta. Các đồng chí này lại được cơ sở đưa qua sông sang khu căn cứ. Đa số lính bảo an được ta tha hiểu được chính sách khoan hồng đã hăng hái tuyên truyền gây thanh thế cho Việt Minh.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:13:59 pm
Thắng lợi của trận đánh đầu tiên của du kích đã gây được lòng tin với nhân dân và LLVT địa phương, nhân dân trang khu cân cứ và các làng Đại Lịch, Ca Vịnh, Lương Tâm, Lương An ủng hộ bộ đội du kích trâu, bò, gạo, tiền... Một số làng thành lập đội tự vệ, du kích phấn khởi hăng say luyện tập và canh gác tuần phòng. Lính đóng các tổng Lương Ca, Giới Phiên, Động Lâm tự động mang súng về hàng; một số xin gia nhập du kích, một số thanh niên thị xã và cơ sở của ta trong bảo an binh cũng sang khu căn cứ xin tham gia lực lượng vũ trang do đó đội du kích Âu Cơ đã phát triển tới 127 người1 (Theo tài liệu tổng hợp chiến khu Vân - Hiền Lương của Ban nghiên cứu LSĐ tỉnh Yên Bái, bản đánh máy lưu tại bộ phận nghiên cứu LSĐ tỉnh Hoàng Liên Sơn). Nhân đà thắng lợi trên cán bộ ta đã về Văn Lãng (Hạ Hoà) tịch thu tiền thuế của lý trưởng, tước vũ khí của tên đội Dương ở đồn điền Thanh Lương (Phú Thọ). Các tổ chức cứu quốc cũng được phát triển, một số hội viên cứu quốc trong các làng đã có khoảng 500 người.


Ngày 27 tháng 6 năm 1945, một toán lính Nhật 22 tên do tên quan hai chỉ huy, có tên thông ngôn người Việt đi cùng theo đường quốc lộ 13 Yên Bái - Nghĩa Lộ qua làng Mỵ vào Vân Hội ra Hiền Lương hòng tìm diệt đội du kích của ta. Được nhân dân bám sát và báo cho ta biết là địch lấy thuyền của dân đi từ Vân Hội ra Hiền Lương, sau khi cân nhắc kỹ Ban chỉ huy đội du kích đã chọn trận phục kích ở Đèo Giang - một vị trí hiểm trở nằm án ngữ trên đường từ Vân Hội ra Hiền Lương. Đoạn ngòi này có bờ thẳm nước sâu, du kích chọn gò Vải đặt trung liên, từ trên gò cao này có thể quan sát suốt 1km mặt ngòi. Các chiến sĩ du kích được bố trí theo tổ "chim sẻ", mỗi tổ 3 người. Ngoài 2 tổ lên núi cao còn các tổ khác bí mật phục kích dọc bờ ngòi, 16 giờ cùng ngày 3 thuyền địch xuất hiện, đợi chúng lọt sâu vào trận địa phục kích ta mới nổ súng theo hiệu lệnh, tổ súng máy và các tổ "chim sẻ" nhất loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ bọn Nhật trên sông rối loạn không kịp ứng phó, kết quả ta diệt được 2 tên Nhật trong đó có tên quan hai chỉ huy. Du kích không bị thương vong người nào, trận đánh chỉ diễn ra chớp nhoáng trong khoảng 10 phút. Sau khi du kích rút bọn Nhật mò xác 2 tên đưa về trường làng Động Lâm hoả thiêu. Sáng 28-6-1945 chúng buộc phải quay về Yên Bái.


Sau 2 trận thắng lợi liên tiếp thanh thế của đội du kích càng lớn, lính bảo an tiếp tục đảo ngũ hoặc mang súng ra hàng, bọn Nhật không dám sục sạo nghênh ngang như trước nữa. Thanh niên các xã phấn khởi tình nguyện xin vào du kích, nhân dân càng nhiệt tình ủng hộ cách mạng, các làng trong khu căn cứ Vân - Hiền Lương tổ chức hệ thống báo động dây chuyền. Với tinh thần cảnh giác cao nhân dân đã phát hiện và giúp du kích bắt giữ 2 tên do thám của Nhật từ Phù Yên (Sơn La) luồn sang hoạt động, an ninh trong vùng được giữ vững. Qua tuần tra canh gác du kích đã phát hiện và cảnh cáo một số tên lưu manh giả danh Việt Minh để đi bức cướp của dân, thời gian này cơ sở Việt Minh ở huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) đã phát triển rộng khắp; đồng chí Ngô Minh Loan giao cho đồng chí Trịnh Xuân Tiến1 (Đồng chí Trịnh Minh Tiến là cán bộ của Đảng lên hoạt động ở vùng Đan Hà, Đan Thượng (Hạ Hòa) từ tháng 4-1945) phụ trách các cơ sở Việt Minh Hạ Hoà, đội du kích Âu Cơ cũng từ Đồng Yểng chuyển ra Vân.


Phong trào chống Nhật cứu nước chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ngày càng phát triển không ngừng. Chính quyền tay sai của địch ở các cháu, phủ, huyền trong tỉnh tỏ ra hoang mang cực độ. Thời gian này nạn đói khủng khiếp do đế quốc Nhật, Pháp gây ra đang đe doạ nghiêm trọng tính mạng hàng chục vạn quần chúng; Trung ương Đảng ra chỉ thị phá kho thóc của địch để cứu đói cho dân. Các đội du kích, tự vệ dưới sự chỉ đạo của các cơ sở Việt Minh đã cùng nhân dân tổ chức nhiều đợt phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo nạn đói tạm lắng xuống, nhân dân rất phấn khởi và càng tin tưởng ở Việt Minh. Trước yêu cầu của nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở địa phương, khi thời cơ đến Xứ uỷ cử đồng chí Bình Phương lên phụ trách hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái. Đồng thời Xứ uỷ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái do đồng chí Ngô Minh Loan làm Bí thư, các đồng chí Bình Phương và Đỗ Quang Ẩm làm uỷ viên1 (Ngày 30-6-1945, ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Yên Bái).


Ngay sau khi ra đời Ban cán sự liên tỉnh đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc vũ trang khởi nghĩa và thành lập Uỷ ban quân sự cách mạng của liên tỉnh gồm các đồng chí Ngô Minh Loan (chính uỷ), Bình Phương (chỉ huy trưởng) và Tràn Đức Sắc (uỷ viên).

Đầu tháng 7-1945 khí thế cách mạng của quần chúng tiếp tục dâng cao, Ban cán sự liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái họp chủ trương:

1- Gấp rút củng cố lực lượng và phát triển quần chúng, mở rộng khu căn cứ cách mạng.

2- Tổ chức các Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời ở các xã trong khu căn cứ.

3- Biên chế lại du kích 230 người thành trung đội và phân công, để một bộ phận nhỏ ở lại bảo vệ khu căn cứ còn đại bộ phận lực lượng tiến vào giải phóng Nghĩa Lộ, lấy nơi này làm bàn đạp để phát triển sang châu, huyện lân cận.


Thực hiện chủ trương trên, ngay sau cuộc họp của Ban cán sự lực lượng vũ trang ta đã tiến theo 3 mũi vào hội quân ở Ba Khe, sau đó tiến thẳng vào Nghĩa Lộ, 3 mũi tiến quân được phân công nhiệm vụ: một mũi qua làng Đồng Phú ra Đồng Đá Trắng nếu gặp địch ở ngoài thì đánh cảnh cáo, một mũi qua các làng Vân, Dọc, Thiến Kháo sang Ca Vịnh, một mũi qua làng Vân, Dọc, qua Mỵ. Cả ba mũi sau đó cùng gặp nhau ở Ba Khe.


Trên đường tiến quân cả ba mũi không gặp sức kháng cự nào của địch, các đồn bảo an đã rút trước khi du kích đến. Riêng bảo an đồn Lương Tâm, Ca Vịnh khi rút chạy không kịp mang theo cả vũ khí, ta thu được 27 khẩu súng trường. Kết hợp với nhiệm vụ vào giâi phóng Nghĩa Lộ du kích đã phá các kho thóc của địch ở Mỵ (500 tấn), Ca Vịnh (500 tấn), Sơn Lục (100 tấn), Bản Hốc và Gốc Bắng (1.000 tấn) chia cho dân. Cuộc tiến quân vào Nghĩa Lộ trở thành cuộc biểu dương lực lượng cách mạng, du kích đi đến đâu đều tổ chức giải thích chủ trương chính sách của Mặt trận Việt Minh và thành lập các đoàn thế cứu quốc đến đó.


Ngày 6-7-1945 sau khi hội quán ở Ba Khe lực lượng ta tiến vào Nghĩa Lộ, trước đó tri châu Đặng Phạm Lộc đã cho vợ con trốn và y chuẩn bị trốn theo. Cơ sở ta ở Nghĩa Lộ đã nắm được tình hình thuyết phục y đầu hàng cách mạng vì vậy khi ta đến ngòi Thia đã thấy Đặng Phạm Lộc cùng quản Nhương - quản bảo an mang cờ trắng ra hàng và đón ta vào Nghĩa Lộ (châu lỵ châu Văn Chấn). Nhân dân Nghĩa Lộ đã treo cờ đỏ sao vàng nồng nhiệt đón quân ta vào tiếp quản. Ta thu hồi toàn bộ sổ sách giấy tờ của chính quyền cũ cùng 60 súng trường, 14 hòm đạn, 20 hộp thịt và 1 kho thóc 1.000 tấn.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:15:18 pm
Ngày 18-7-1945 tại cuộc mít tinh thành lập Uỷ ban làm thời châu Văn Chấn có đông đảo nhân dân thị trấn Nghĩa Lộ và đại biểu nhân dân các làng bản ta tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, giới thiệu chính quyền mới của châu Văn Chấn ra mắt nhân dân và phổ biến 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Uỷ ban nhân dân lâm thời châu Văn Chấn là tổ chức chính quyền cách mạng cấp huyện đầu tiên được thành lập ở tỉnh Yên Bái và cũng là chính quyền cấp huyện đầu tiên của cả vùng Tây Bắc.


Cùng lúc ta tiếp quản Nghĩa Lộ, quân Nhật tiến vào đóng tải Mỵ, được tin báo ta để một bộ phận nhỏ ở lại thị trấn, một bộ phận hành quân ra Cửa Nhì bố trí đánh Nhật, lực lượng còn lại theo đường tắt ra Mỵ bố trí phía trên các đồi cao bắn nghi binh. Nghe súng nổ bốn bề quân Nhật tưởng quân ta đông hốt hoảng rút chạy về thị xã Yên Bái.


Sau ngày tiếp quản châu Văn Chấn đồng chí bí thư Ban cán sự liên tỉnh quyết định thành lập một đoàn cán bộ xuống xây dựng chính quyền các xã. Đồng thời cho tổ chức huấn luyện quân sự, chính trị cho đội du kích tập trung và mở một lớp đào tạo tiểu đội trưởng 15 ngày ở Cửa Nhì. Đội du kích Âu Cơ phát triển tới 500 người với 300 súng gồm các loại súng trường, tiểu liên, trung liên.


Ở huyện Lục Yên, một số cán bộ Việt Nam giải phóng quân của chiến khu Hoàng Hoa Thám từ Hàm Yên (Tuyên Quang) sang xây dựng cơ sở Việt Minh và tổ chức đội du kích Cổ Văn hồi trung tuần tháng 6-1945 vẫn ở lại dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng. Đội du kích Cổ Văn khi thành lập ở rừng sim thôn Từ Hiến1 (Thôn Từ Hiến thuộc xã Mường Lai, huyện Lục Yên) mới có 24 người với 17 súng, lúc này đã phát triển tới 50 người. Đội đã được nhân dân giúp đỡ làm lán trại, cho gà, vịt, thóc gạo làm lương ăn, với phương châm tích cực tự học, tự rèn nên đội du kích đã nhanh chóng trưởng thành về chiến thuật, kỹ thuật. Đội tổ chức phá kho thóc của Nhật ở Vĩnh Lạc và kho thóc của một tên địa chủ ở làng Sông cứu đói cho dân. Đội du kích Cổ Văn còn liên lạc với đơn vị Việt Nam giải phóng quân của đồng chí Trần Thế Môn lúc này đang ở Binh Hạnh (phủ Yên Bình) bàn kế hoạch phối hợp đánh đồn Lục Yên.


Ngày 6-7-1945 dưới sự chỉ huy của đồng chí Anh một cán bộ Việt Nam giải phóng quân, đội du kích Cổ Văn kéo quân qua chợ Ngọc vào Bình Hạnh gặp đơn vị giải phóng quân của đồng chí Môn hành quân từ Bình Hạnh qua chợ Ngọc thẳng đường Yên Bình - Lục Yên và chân đèo Uông. Khi nghe quân cách mạng kéo đến tên Nghiêm chỉ huy đồn hoảng sợ vội vã xin đầu hàng, kê khai số lượng binh lính và vũ khí trong đồn và biên thư nộp đơn cho quân cách mạng1 (Trung đội của đồng chí Xuân cùng với trung đội của đồng chí Trần Thế Môn tiến vào giải phóng Lục Yên).


Ngày 8-7-1945 du kích kéo vào châu lỵ Lục Yên, ở đây quản thị cũng đã tự nguyện đem nộp toàn bộ số vũ khí của lính khố xanh lính cỏ và lính bảo an phố gồm 70 súng trường, 2 súng ngắn và nhiều đạn dược. Quản lý 3 lính khố xanh xin đi theo quân cách mạng, còn các anh em binh lính khác xin về làm ăn với gia đình.


Cuộc khởi nghĩa ở châu Lục Yên thắng lợi, ngày 10-7-1945 ta thành lập Uỷ ban nhân dân lâm thời châu và các xã; chính quyền mới cách mạng liên tổ chức cứu đói cho dân, xây dựng cơ sở Việt minh và thành lập các đội tự vệ chiến đấu ở các xã trong toàn châu. Đội du kích Cổ Văn được nhiều thanh niên tích cực tham gia nhân dân nhiệt tình ủng hộ đã phát triển khá nhanh, đến cuối tháng 7-1945 đội đã có gần 200 chiến sỹ.


Tại phủ Yên Bình, từ sau ngày Nhật đảo chính đến tháng 6 năm 1945 đơn vị Việt Nam giải phóng quân của khu Nguyễn Huệ do đồng chí Hoàng Văn Xuân chỉ huy đã xây dựng được cơ sở Việt minh ở các xã nằm dọc ven hai bờ sông Chảy, một số nơi đã tổ chức được tự vệ. Ngày 14-6-1945 đơn vị phối hợp với tự vệ các làng Yên Mỹ, Mỹ Gia phá kho thóc chợ Ngọc và tiến đánh đồn chợ Ngọc, đồn này nằm ở xã Bình Mục chỉ có lính dõng và bảo an do tên bang tá Nguyễn Văn Khang chỉ huy. Lực lượng ta bí mật bao vây rồi nổ súng, trước khí thế của quân cách mạng toàn bộ lính dõng và bảo an vội vã nộp súng đầu hàng, tên bang tá Khang có nhiều nợ máu với dân - tay sai đắc lực của Nhật bị chính quyền cách mạng trừng trị. Tiếp đó các đơn vị Việt Nam giải phóng quân đã tổ chức được Uỷ ban nhân dân ở các xã Cẩm Nhân, Mỹ Gia, Bình Mục, Phúc Ninh, Chợ Ngọc, Tích Trung, Yên Thành, Am Phước... củng cố đoàn thể cứu quốc và các đội du kích, vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất xây dựng cuộc sống mới ở địa phương1 (Khi giải phóng huyện Yên Bình có 2 trung đội GPQ do đồng chí Trần Thế Môn và đồng chí Hoàng Văn Xuân chỉ huy, sau khi giải phóng được các xã vùng thượng huyện Yên Bình ta tiến hành lập huyện Toàn Thắng thuộc xã Tú Lĩnh huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) và huyện Quyết Thắng ở vùng Hà Tuyên. Đồng chí Trần Thế Môn sau này là Thiếu tướng - chánh án Tòa án quân sự Trung ương, đồng chí Hoàng Văn Xuân sau là Thiếu tướng).


Đến trung tuần tháng 7-1945 hầu hết các xã hai bên tả hữu ngạn sông Chảy đều tổ chức xong chính quyền cách mạng. Cùng lúc này tin châu Lục Yên được giải phóng vang dội đến Yên Bình, trước tình hình đó bọn cầm đầu chính quyền tay sai của Nhật ở địa phương càng hoang mang dao dộng; tên tri phủ Nguyễn Văn Hậu cùng một số nha lại bỏ trốn, bọn lính cơ gửi giấy cho cán bộ xin đầu hàng. Ngày 17-7-1945 hàng trăm quần chúng và tự vệ xã Yên Bình cùng với một đội du kích, 1 tiểu đội giải phóng quân tiến vào giải phóng Yên Bình và tiếp nhận sự đầu hàng của địch, 5 lính cơ xin theo ta, số còn lại xin trở về quê quán. Ta thu hơn 50 khẩu súng, cuộc khởi nghĩa ở Yên Binh đã thắng lợi (Trong 5 lính cơ theo ta có Vũ Nhung sau này làm Tỉnh đội trưởng Yên Bái (1949-1952)).


Để đề phòng khả năng bọn Nhật vào đàn áp, ta bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu, đồng thời vận động nhân dân các xã dọc đường Nhật có thể tiến vào thực hiện vườn không nhà trống, ngả cây to ven đường làm chướng ngại vật và đào hào cản địch. Tuy nhiên bọn Nhật mặc dù đã bại trận sắp sửa đầu hàng đồng minh nhưng lực lượng của chúng ở đây vẫn còn rất mạnh. Sau khi Yên Bình khởi nghĩa thắng lợi, Nhật tạm thời chiếm lại được phủ lỵ và dựng lên bộ máy chính quyền tay sai mới...


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:17:33 pm
Về phía ta, từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8-1945 tất cả các xã còn lại của phủ Yên Bình đã xây dựng được chính quyền cách mạng, dân quân tự vệ và các đoàn thể cứu quốc. Ngày 9-8-1945 ta bao vây phủ lỵ và dùng áp lực kêu gọi viên tri phủ Nguyễn Đình Sâm đầu hàng; trước lực lượng cách mạng rất mạnh bọn lính trong đồn thấy không thể chống cự được buộc phải nộp đồn và phủ lỵ. Ta thu được 1 trung liên, 18 súng trường, 1 súng ngắn, 1 tấn thóc và 9 con bò. Phủ Yên Bình được hoàn toàn giải phóng. Cùng ngày 9-8-1945 du kích các xã Nhân Long, Ngọc Chấn, Phúc Ninh, Yên Phú, Cẩm Nhân, Mỹ Gia... tập trung gần 100 chiến sỹ cùng nhân dân Bắc Mục (Hàm Yên, Tuyên Quang) bao vây đồn Bắc Mục, đồn này cách Cẩm Nhân (Yên Bình) 5km, địch có thể nống ra đánh vào Yên Bình, trong đồn có 3 tên Nhật và 1 tiểu đội lính khố xanh. Bị ta bao vây Nhật hoảng sợ bỏ trốn, lính khố xanh còn lại xin hàng. Ta thu toàn bộ vũ khí, giải thích chính sách khoan hồng của Mạt trận Việt minh cho số lính đầu hàng được trở về quê quán làm ăn. Trận hạ đồn Bắc Mục đánh dấu bước trưởng thành mới của lực lượng du kích địa phương, thắng lợi của trận Bắc Mục đã cổ vũ tăng thêm khí thế đấu tranh cách mạng của du kích và nhân dân địa phương.


Cùng thời gian từ cuối tháng 7-1945 đến trung tuần tháng 8 năm 1945 sau ngày khởi nghĩa giành thắng lợi ở châu Văn Chấn ta tranh thủ thời gian tổ chức huấn luyện, biên chế lại đội du kích tập trung và lợi dụng khi hàng ngũ địch đang dao động mạnh. Ban cán sự Đảng và Uỷ ban quân sự cách mạng liên tình chủ trương đưa một bộ phận vũ trang xuống phía Bắc Phú Thọ, phối hợp cùng du kích và tự vệ địa phương tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, còn một bộ phận khác đi giải phóng các vùng lân cận. Thực hiện chủ trương của Uỷ ban quân sự cách mạng các đơn vị vũ trang đã lân lượt giải phóng các châu Phù Yên (23-7), châu Văn Bàn (5-8), châu Than Uyên (7-8). Ở các huyện phía Bắc Phú Thọ lực lượng vũ trang được phái xuống đã tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện Hạ Hoà, Cẩm Khê (17-8), Yên Lập (18-8).


Thời gian này, thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân ta đã đến, ngày 8-8-1945 Liên Xô tuyên chiến với Nhật, chỉ sau một tuần Hồng quân Liên Xô đã đánh tan hơn một triệu quân Nhật thuộc đội quân Quan Đông tinh nhuệ nhất của Nhật, ngày 14-8-1945 Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Ở trong nước không khí chuẩn bị khởi nghĩa đang sục sôi khắp mọi nơi từ Bắc đến Nam, từ ngày 13 đến 15-8-1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trước khi quân đồng minh Anh - Mỹ vào Việt Nam, cùng ngày 13-8-1945 Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra quân lệnh số 1 hạ lệnh tổng khởi nghĩa ngày 16 và ngày 17-8-1945 Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào quy định quốc kỳ lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh, quốc thiều là bài ca "Tiến quân ca" và cử Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức chính quyền lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, ở Yên Bái tất cả các châu, phủ trong tỉnh đã lập được chính quyền cách mạng, bọn Nhật và chính quyền tay sai ở thị xã, tỉnh lỵ bị hoàn toàn cô lập, chúng vô cùng hoang mang dao động. Thời gian này đại bộ phận lực lượng vũ trang của tỉnh đã được bố trí ở Âu Lâu, Lương Tâm, Bảo Long (Trấn Yên) chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã, tỉnh lỵ Yên Bái (cũng là phủ lỵ Trấn Yên). Chi bộ thị xã đã động viên thanh niên tham gia tự vệ chuẩn bị phối hợp với lực lượng ở ngoài vào; động viên các cơ sở chuẩn bị lương thực, thực phẩm tiếp tế cho quân khởi nghĩa. Chi bộ thị xã còn bám sát tình hình địch và tình hình cơ sở, thường xuyên báo cáo ra Uỷ ban quân sự cách mạng. Tuy chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa của Trung ương nhưng căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban quân sự cách mạng đã chủ trương vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Lực lượng ta vũ khí trang bị còn ít, biết được trong trại bảo an binh có một số súng của Pháp trước đây còn để lại, Ủy ban quân sự cách mạng vạch ra kế hoạch đưa quân sang thị xã tước vũ khí của bảo an binh để trang bị cho các đơn vị du kích tập trung và tự vệ, thanh niên thị xã. Tiếp đó ta tổ chức chiếm các công sở (trừ đồn Cao có Nhật đóng); đối với Nhật lúc này đã đầu hàng và chờ đồng minh vào giải giáp vì vậy ta chủ trương không đánh mà huy động lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang biểu tình thị uy, thuyết phục Nhật trao chính quyền cho ta. Nếu Nhật ngoan cố không chịu trao chính quyền thì lúc đó ta mới chủ trương đánh.


Các đơn vị đang tích cực khẩn trương chuẩn bị thực hiện kế hoạch trên thì tuần phủ Yên Bái Đỗ Văn Bình cử đại diện sang Âu Lâu xin gặp Uỷ ban quân sự cách mạng thông báo bọn Nhật đề nghị ta sang đàm phán. Ta chấp nhận lời đề nghị và cuộc đàm phán giữa ta và Nhật đã diễn ra ở dinh tuần phủ: Trong cuộc đàm phán ta yêu cầu quân Nhật không can thiệp vào việc ta giành chính quyền ở tỉnh lỵ và yêu cầu chúng trao lại cho ta số vũ khí của Pháp trước đây và số súng chúng hiện có. Do thái độ cố tình trì hoãn của Nhật nên cuộc đàm phán không thu được kết quả. Đêm 17-8-1945 ta tiếp tục thực hiện kế hoạch đã định đưa 4 trung đội vượt sông sang trại bảo an binh gây áp lực buộc bọn lính coi kho mở kho trao cho ta 300 súng của Pháp. Số súng này ta trang bị ngay cho tự vệ thị xã, số còn lại được chuyển về khu căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương; ngày hôm sau xảy ra xung đột vũ trang giữa Nhật và ta, lúc này nước sông Hồng đang lên cao ngập cả đường phố thị xã ta đã bao vây bọn Nhật trên đồn Cao nhưng đến trưa 18-8 nước bắt đầu rút bọn Nhật phản công định dồn ta vào trường tiểu học để tiêu diệt; với tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm của các đơn vị của ta đã nhanh chóng phân tán vào các nhà dân, tổ chức bắn trả diệt được 2 tên, bọn Nhật phải rút lên đồn Cao cố thủ. Trong cuộc chiến đấu nhân dân thị xã đã nhiệt tình giúp đỡ cán bộ chiến sỹ ta như: tiếp tế đạn dược, phục vụ ăn uống. Ngày 19-8-1945 ta chiếm được trại bảo an binh và một số công sở của địch, cùng ngày lệnh tổng khởi nghĩa cũng được đưa về. Đồng chí Bí thư Ban cán sự đang ở Văn Chấn nhận được báo cáo tình hình chiến sự và lệnh tổng khởi nghĩa đã khẩn trương ra Âu Lâu và đưa một số đơn vị ra tăng cường. Ban cán sự họp chủ trương huy động lực lượng quần chúng ở thị xã và các vùng lân cận tiến hành đấu tranh giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Ban cán sự còn lựa chọn người thành lập Uỷ ban nhân dân làm thời của tỉnh và đề ra những công tác cụ thể chuẩn bị cho việc tiếp quản. Cuộc họp của Ban cán sự chưa kết thúc tuần phủ Đỗ Văn Bình lại sang khẩn khoản mời ta sang đàm phán, lần này diễn ra tại dinh tri phủ Trấn Yên; bọn Nhật rất hoảng sợ khi được tin cuộc tổng khởi nghĩa của ta đã giành thắng lợi ở Hà Nội và hầu hết các tỉnh trong cả nước. Trước tình thế đó chúng buộc phải giao lại chính quyền tỉnh Yên Bái cho ta; ta thoả thuận sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân của chúng, đồng thời quy định từ lúc này đến khi rút chạy muốn xuống dưới phố phải được sự đồng ý của ta.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 29 Tháng Bảy, 2026, 11:18:25 pm
Ngày 21-8-1945 cán bộ và lực lượng vũ trang ta vào tiếp quản tỉnh lỵ Yên Bái trong niềm hân hoan mừng đón của nhân dân thị xã; ngày 22-8 tại vườn hoa tỉnh lỵ (khu nhà kèn) hơn một vạn nhân dân các dân tộc ở thị xã và các huyện lân cận đã về dự mít tinh chào mừng Uỷ ban nhân dân lâm thời của tỉnh do đồng chí Hoàng Quang Minh làm Chủ tịch1 (Ủy ban nhân dân lâm thời của tỉnh Yên Bái gồm các đồng chí: Ngô Minh Loan, Nguyễn Phúc, Bình Phương...); đồng chí Nguyễn Phúc thay mặt chính quyền cách mạng lâm thôi tuyên bố xoá bỏ chế độ bóc lột của thực dân phong kiến đồng thời phổ biến chính sách của Mặt trận Việt Minh và kêu gọi mọi người xiết chặt hàng ngũ đoàn kết chung quanh chính quyền cách mạng lâm thời, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của mọi thế lực phản động ra sức xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.


Cuộc vận động cách mạng tháng 8 ở tỉnh Yên Bái đã hoàn toàn thắng lợi; từ đây tất cả các cấp chính quyền của tỉnh Yên Bái đã thuộc về tay nhân dân. Trong lịch sử 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ quê hương, lần đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái dưới sự lãnh đạo của Đảng đã viết nên trang sử vẻ vang oanh liệt nhất, làm rạng rỡ truyền thông đấu tranh kiên cường, bất khuất, anh dũng và đoàn kết nhất trí của nhân dân các dân tộc trên quê hương Yên Bái anh hùng.


Với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Yên Bái, từ đây nhân dân các dân tộc của tỉnh nhà thực sự đứng lên làm chủ cuộc đời mình, xoá bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến mấy ngàn năm ngự tự, chấm dứt gàn 60 năm đô hộ của thực dân Pháp kể từ khi chúng xâm lược tỉnh nhà (1886). Cũng từ đây nhân dân các dân tộc được sống trong tự đo độc lập, cùng bình đẳng và yêu thương như anh em một nhà, cùng chung lưng đấu cật xây dựng cuộc đời.


Thắng lợi của quân và dân Yên Bái trong cuộc đấu tranh giành chính quyền đã chứng minh sự lãnh đạo sáng suốt và tài tinh của Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch mà trực tiếp là Xứ uỷ và Ban cán sự liên tỉnh Phú - Yên. Thực tiễn đó chứng tỏ Ban cán sự liên tỉnh đã biết phát huy cao độ lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, biết nắm vững vấn đề dân tộc, biết tin ở dân và dựa vào sức mạnh của dân, thấy được vấn đề độc lập, tự do là nguyện vọng và mong ước tột bậc của nhân dân. Thực tiễn thắng lợi đó còn là kết quả tất yếu của việc vận dụng và nắm vững quy luật giành thắng lợi của thời kỳ tiền khởi nghĩa và khởi nghĩa, đã đi từ khởi nghĩa từng phần kết hợp với chiến tranh du kích, tích cực chuẩn bị mọi mặt, tạo thời cơ tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền toàn tỉnh trong cuộc tổng khởi nghĩa của cả nước.


Trong thời kỳ chuẩn bị giành chính quyền, đi đôi với việc xây dựng lực lượng chính trị, Ban cán sự liên tỉnh cũng hết sức chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, một công cụ sắc bén của đấu tranh giành chính quyền theo nguyên tắc "có người rồi có súng" đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn trên cơ sở dựa vào nhân dân và các đoàn thể cứu quốc, thu hút và lựa chọn những thành viên ưu tú trung kiên, tổ chức thành các đội tự vệ du kích, các đội vũ trang tuyên truyền tiến tới thành lập các đơn vị giải phóng quân của tỉnh. Từng bước trưởng thành đi lên của các lực lượng vũ trang tỉnh luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo, dìu dắt của tổ chức Đảng, trong sự yêu thương đùm bọc hết lòng của nhân dân, tích cực thử thách và rèn luyện trong ngọn lửa đấu tranh của cách mạng, chịu khó tự học, tự rèn theo phương châm "tự lực cánh sinh" và "lấy của địch để trang bị cho mình". Lực lượng vũ trang của tỉnh tuy vừa mới ra đời, còn rất non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm, trang bị lại thô sơ, huấn luyện quân sự còn đơn giản, gấp gáp, biên chế nhỏ bé nhưng đã thực sự ngày càng trưởng thành lớn mạnh phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trong những ngày sôi sục giành chính quyền lực lượng vũ trang của tỉnh đã góp một phần quan trọng hỗ trợ đắc lực cho các lực lượng quần chúng vùng lên khởi nghĩa thắng lợi - là một chiến công đầu hết sức oanh liệt đánh dấu một mốc quan trong trong chặng đường chiến thắng vẻ vang.


Lê-nin - Người thầy của giai cấp vô sản đã từng dạy rằng "Giành chính quyền đã khó, nhưng giữ được chính quyền lại càng khó hơn". Nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang tỉnh Yên Bái còn hết sức nặng nề, gian khổ và lâu dài. Trước mắt dưới sự lãnh đạo của Đảng - trực tiếp là Tỉnh uỷ và sát cánh cùng nhân dân các dân tộc, lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục đóng góp sứ mệnh thiêng liêng của mình trong công cuộc thiết lập và bảo vệ chính quyền cách mạng, là một mũi nhọn sắc bén trong việc hoàn thành tiếp nhận nhiệm vụ giành chính quyền ở Lào Cai, ráo riết chuẩn bị mọi mặt cùng nhân dân cả nước bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 09:56:35 pm
CHƯƠNG I
CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN, TỔ CHỨC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH DU KÍCH TRONG VÙNG ĐỊCH TẠM CHIẾM (9-1945 - 12-1949)


I- BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, DẸP TRỪ BỌN PHẢN ĐỘNG QUỐC DÂN ĐẢNG CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN

Cách mạng tháng 8 thành công, nhân dân ta nói chung, nhân dân các dân tộc Yên Bái nói riêng thực sự được đổi đời. Từ một người dân nô lệ trở thành một người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Thấu hiểu thân phận của người dân mất nước nay được độc lập tự do nhân dân càng tin tưởng và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng.


Các tầng lớp nhân dân ở Yên Bái ngay từ những ngày đầu đã hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền, xây dựng cuộc sống mới, gia nhập các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Các hội "Nông dân cứu quốc", "Phụ nữ cứu quốc", "Thanh niên cứu quốc", "Phụ lão cứu quốc" được đông đảo nhân dân tích cực tham gia.


Chính quyền cách mạng những ngày đầu còn non trẻ phải giải quyết muôn vàn khó khăn, một mặt phải đối phó với nạn đói, nạn mù chữ, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, ngân khố chống rỗng, nạn trộm cắp, cờ bạc và tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Mặt khác phải đối phó với thù trong giặc ngoài, chúng cấu kết chặt chẽ với nhau ráo riết hoạt động, luôn tìm cách phá hoại, gây áp lực với cuộc sống mới của nhân dân. Thêm vào đó chính quyền cách mạng những ngày đầu chưa có kinh nghiệm quản lý, điều hành xã hội do đó khó khăn ngày thêm chồng chất khó khăn. Được nhân dân tin tưởng và nhiệt tình ủng hộ, chính quyền cách mạng đã dần dần đi vào ổn định và phát huy được hiệu lực.


Ngày 3 tháng 9, tại Hà Nội Hội đồng chính phủ đã họp phiên đầu tiên đề ra nhiệm vụ cấp bách cần tập trung giải quyết trước mắt: chống giặc đói, giặc dốt, tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước; vận động phong trào cần kiệm, liêm chính, xoá bỏ các thứ thuế nặng nề, các hủ tục mê tín dị đoan, tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết các dân tộc.


Ngày 04-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tổ chức "Quỹ độc lập" kêu gọi đồng bào cả nước quyên góp "tuần lễ vàng" để ủng hộ chính quyền cách mạng, ổn định liên tài chính, xây dựng cuộc sống mới.

Thực hiện chủ trương trên, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân lâm thời động viên, vận động tuyên truyền nhân dân các dân tộc trong tỉnh hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ. Ra sức thi đua đóng góp xây dựng đất nước, trong khoảng thời gian ngắn toàn tỉnh đã dấy lên phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống "giặc đói", "giặc dốt" hết sức sôi nổi và rộng rãi. Đồng bào đã phá thêm nương rẫy, mở rộng diện tích gieo trồng, cán bộ chính quyền đi sâu vào từng bản vận động hướng dẫn nhân dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, mua sắm thêm dụng cụ sản xuất, tăng thêm chăn nuôi trâu bò, gia súc... Nhờ có những biện pháp cụ thể, sâu sát nên từng bước nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhân dân dần dần ổn định.


Trong "tuần lễ vàng", tuy đồng bào các dân tộc trong tỉnh còn rất nghèo nhưng với tấm lòng yêu nước, với tinh thần "góp gió thành bão", "tích tiểu thành đại" đồng bào đã sôi nổi hưởng ứng, của ít lòng nhiều tự nguyện quyên góp giúp Chính phủ trong tuần lễ vàng đã nổi lên nhiều "tấm lòng vàng" đầy cảm động; có những gia đình, dòng họ đã vui vẻ gửi đến chính quyền cách mạng cả những đồ trang sức quý báu của mình như: nhẫn vàng, hoa tai, xuyến bạc, chuông bạc hoặc các đồ gia bảo lâu đời của gia tộc. Tổng cộng toàn tỉnh đã quyên góp cho quỹ độc lập được 20 lạng vàng, 200 lạng bạc, 3 triệu đông Đông Dương - đó là hiện thân của lòng yêu nước, yêu độc lập tự do của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.


Cũng như nhiều tỉnh khác ở miền núi, thực dân Pháp và chế độ phong kiến đã để lại cho tỉnh Yên Bái một hậu quả vô cùng nặng nề: nạn mù chữ thất học chiếm trên 90%. Đi đôi với đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, dù bộn bề công việc phải giải quyết, chính quyền cách mạng vẫn chăm lo giải quyết nạn mù chữ. Tuy còn thiếu giáo viên, sách vở và các phương tiện học tập nhưng với quyết tâm thắng "giặc dốt" chính quyền mới vẫn kiên quyết tập trung sức đẩy mạnh cuộc vận động xoá nạn mù chữ, coi đây là một trong những nhiệm vụ nóng bỏng, cấp thiết, phong trào bình dân học vụ được phát động rầm rộ rộng rãi trong toàn tỉnh. Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân lâm thời đã thành lập Ban bình dân học vụ các cấp, tập trung những cán bộ, chiến sỹ có trình độ văn hoá xuống các làng bản hẻo lánh xa xôi vận động nhân dân học chữ "Bác Hồ". Đêm đêm khắp các bản làng từ vùng thấp đến vùng cao đều rực sáng ánh đuốc, ánh đèn, từng đoàn thanh niên nam, nữ, người già, người trẻ nô nức đến các lớp bình dân học vụ học chữ, học hát sinh hoạt đoàn thể, luyện tập quân sự.


Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân chú trọng tăng cường phát triển lực lượng du kích, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ vừa huấn luyện quân sự vừa học tập chính trị. Chỉ sau một thời gian ngắn từ đội du kích Âu Cơ nhỏ bé đã lớn mạnh thành các đại đội, tiểu đoàn với biên chế trang bị tương đối hoàn chỉnh. Để bảo vệ, giữ vững chính quyền cách mạng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài, được trên đồng ý lực lượng vũ trang Yên Bái đã sáp nhập với lực lượng vũ trang Phú Thọ thành trung đoàn Yên Phú do đồng chí Trần Thế Môn làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Bình Phương làm Chính uỷ và đồng chí Trần Kiên làm Trung đoàn phó. Trung đoàn ra đời đánh dấu bước trưởng thành mới của lực lượng vũ trang tỉnh cả về biên chế lực lượng, trang thiết bị và trình độ kỹ chiến thuật; đồng thời ở các huyện Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn, Văn Bàn, Trấn Yên đều thành lập các đội vũ trang, dân quân tự vệ được tổ chức chặt chẽ, trình độ ngày càng được nâng lên. Những đội vũ trang này tuy chỉ mới biên chế ở cấp tiểu đội, trung đội song lại là những "mũi nhọn" có mặt ở khắp nơi, tạo thành sức mạnh rộng lớn đủ sức đương đầu với địch trong những ngày đầu bảo vệ chính quyền và trong suốt cả cuộc trường kỳ kháng chiến.


Trong bối cảnh chung của đất nước, sau khi giành chính quyền tình hình diễn ra hết sức phức tạp, ở Nam Bộ từ cuối tháng 9 thực dân Pháp được quân Anh giúp sức tiến hành gây hấn ở Sài Gòn, tiến đánh Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ. Thời gian này trên đất nước ta ngoài quân Pháp ra còn có 4 vạn quân Nhật, ở miền Nam có hơn 1 vạn quân Anh, ở miền Bắc có hơn 20 vạn quân Tàu Tưởng cùng nhiều thế lực phản động, trong đó bọn Việt Nam Quốc dân đảng ráo riết hoạt động gây sức ép với chính quyền cách mạng còn non trẻ, lăm le làm đảo chính nhằm thôn tính Đông Dương gây mưu đồ chính trị riêng. Trước tình thế hiểm nghèo đó Trung ương Đảng chủ trương khôn khéo lợi dụng kẻ thù, tuyệt đối tránh đụng độ với quân Anh và quân Tưởng để cô lập chúng. Tranh thủ thời gian để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp đang âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa.


Ở Nam Bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang lan rộng, tình hình đất nước đang ở trong tình trạng ngày càng căng thẳng. Từ Lào Cai xuống đến Vĩnh Yên dọc đường xe lửa quân Tưởng và bọn Quốc dân đảng chiếm đóng.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 09:58:18 pm
Trước đó ngày 28-8-1945 quân Tưởng và bọn Việt Nam Quốc dân đảng từ Lào Cai kéo xuống Yên Bái và từ Tuyên Quang kéo sang Yên Bình. Chúng dựa thế đồng minh, cậy quân đông, nhiều súng, nhiễu nhương hạch sách đòi chính quyền ta phải cung cấp cho chúng một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm. Tìm mọi cách phá hoại cách mạng, bọn Tưởng tung tiền quan kim ra lũng loạn thị trường, dung túng cho quân lính vừa mua và ăn cướp nâng đỡ bọn gian thương người Hoa đầu cơ tích trữ, vơ vét của cải nhân dân ta. Bọn Việt Nam Quốc dân đảng do tên Nguyễn Hậu, Nguyễn Vĩnh cầm đầu ra sức quấy phá cách mạng. Chúng tập hợp bọn côn đồ và bọn phản động ở địa phương gây ra các vụ khủng bố, bắt cóc, tống tiền, thủ tiêu cán bộ cách mạng trắng trợn hơn nữa chúng tấn công lực lượng vũ trang ta ở đồn điền Lập Lăng (Nam Cường), chúng đóng giả quân Tưởng đến phòng thông tin tỉnh bắt cóc đồng chí Nguyễn Phúc - Phó chủ tịch UBND tỉnh và 8 cán bộ; đón đường bắt cóc đồng chí Nguyễn Văn Chí - Uỷ viên cảnh sát tỉnh. Sau khi tra tấn hết sức dã man biết không thể khuất phục được các đồng chí của ta bọn chúng đã lén lút sát hại các đồng chí: Nguyễn Phúc, Nguyễn Văn Chí. Trước tình hình đó Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo nhân dân tăng cường đoàn kết nhất trí, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ tích cực chuẩn bị mọi mặt để chờ chỉ thị mới của Trung ương. Đối với quân Tưởng ta vận dụng nguyên tắc vừa kiên quyết bảo vệ chủ quyền độc lập vừa kết hợp với sách lược mềm dẻo, tránh xô sát. Ta rút đại bộ phận các cơ quan của tỉnh và lực lượng vũ trang sang hữu ngạn sông Hồng, về đồng bằng, Bảo Long và Vân để bảo toàn lực lượng. Ta cử đồng chí Triệu Minh làm sỹ quan liên lạc giữa ta và quân Tưởng; đối với bọn Việt Nam Quốc dân đảng Tỉnh ủy chủ trương một mặt bao vây không cho chúng mở rộng phạm vi chiếm đóng, mặt khác, kiên quyết trừng trị những toán quân của chúng thọc ra vùng tự do của ta.


Tháng 11-1945, lực lượng vũ trang ta đã kịp thời đánh bật một toán quân Quốc dân Đảng khi chúng sang khu căn cứ. Đồng thời ta phục kích chặn chúng ở Tú Lệ, Đèo Ách tiêu diệt một số tên buộc bọn chúng phải tháo chạy.

Cũng trong thời gian này, bọn Quốc dân đảng đưa lực lượng sang định cướp kho súng của ta ở Nàng Xa, Tỉnh uỷ, Ban chỉ huy trung đoàn Phú Yên phân công đồng chí Trần Kiên và một tiểu đội do Lê Nguyên chỉ huy xuống Hiền Lương tổ chức phục đánh, ta bắt sống được 2 tên phản bội, khi khám nhà của chúng ta thu được một số vũ khí, bọn Quốc dân đảng vội vã tháo lui.


Bọn Việt Nam Quốc dân đảng chiếm trụ sở Uỷ ban hành chính huyện Yên Bình, nhà thờ Đạo và nhà dân để ỏ; bọn Tưởng đòi ta phải nộp 2 tấn gạo một ngày, chúng sục sạo cướp bóc trắng trợn của nhân dân ở chợ Ngọc, Phố Phủ, Phố Chợ. Ta cử cán bộ sang gặp quân Tưởng đồng ý cung cấp lương thực, thực phẩm cho chúng, mềm dẻo, khôn khéo ngăn cản không cho chúng đi sâu vào nội địa; đồng thời tổ chức các cuộc hành quân nghi binh, vận động nhân dân dùng hình thức bãi thị để đấu tranh với chúng. Mặt khác ta kiên quyết tiêu diệt các toán Việt Nam Quốc dân Đảng khi chúng vào cướp bóc ở chợ Ngọc, làng Khoang; bọn chúng thấy mất một số tên đòi bắt ta phải bồi thường tính mạng. Ta tổ chức nhân dân đấu tranh tố cáo tội ác của chúng; đồng thời cắt giảm một số lương thực nhằm làm cho sinh hoạt của chúng hết sức khó khăn buộc chúng phải im. Ngày 19-10-1945 bọn Bá Ngàn đưa 60 tên Việt Nam Quốc dân đảng ra đánh chiếm huyện lỵ Lục Yên, đội du kích mất tinh thần rút chạy. Sáng 20-10-1945 chúng bao vây huyện lỵ bắt dân phố tập trung tại quán chợ rồi xông yào các nhà cướp tài sản, hãm hiếp phụ nữ, bắt một số dân mang về nhà tên tri châu tra khảo hòng tìm các cơ sở Viêt Minh.


Được tin bọn Việt Nam Quốc dân đảng khủng bố ở Lục Yên, Tỉnh uỷ lệnh cho các đơn vị bộ đội và du kích của ta từ Đồng Lạng lên tổ chức bao vây huyện lỵ. Đêm 25-10 bọn Quốc dân đảng sát hại một số quần chúng cơ sở của ta rồi bí mật rút theo đường Soi Tía. Lực lượng ta tiến vào tiếp quản thị trấn, củng cố lại Uỷ ban nhân dân các xã, thành lập các đội dân quân, mở lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ và du kích.


Ngày 06-01-1946 cùng với nhân dân cả nước, trong niềm vui sướng vô hạn lần đầu tiên được hưởng quyền công dân của một nước độc lập tự do, tự mình cầm lá phiếu lựa chọn người đại diện chân chính của mình. Từ mờ sáng nhân dân Yên Bái từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nam nữ bình quyền đã nô nức đi bầu cử cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước: Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ở Yên Bái hai ông Trần Đình Khánh (dân tộc Tày) và Cầm Ngọc Lương (dân tộc Thái) đã đắc cử. Thắng lợi của cuộc bầu cử đã động viên toàn dân đoàn kết bảo vệ chính quyền và chuẩn bị kháng chiến.


Cuối tháng 2-1946 tên đội Nghi dẫn theo 5 lính khố xanh từ Yên Bình sang Lục Yên, mang thư của tên quản Lộc - chỉ huy Quốc dân đảng xin đầu hàng. Do thiếu cảnh giác Ban Việt Minh đã cử ông Chánh Cẩm đại biểu của Châu và một đơn vị vũ trang tuyên truyền sang Yên Bình tiếp nhận sự đầu hàng của bọn Quốc dân đảng và xây dựng cơ sở chính trị. Tên đội Nghi sảo trá dẫn ta vào ổ phục kích của bọn Quốc dân đảng ở bờ sông Chảy, bọn Quốc dân đảng nổ súng vào đội võ trang ta, một số bị hy sinh, một số bị chúng bắt, ông Chánh Cẩm đại biểu của châu Lục Yên bị chúng sát hại.


Từ đầu năm 1946, bọn Việt Nam Quốc dân đảng đã tổ chức thêm một số bộ máy cai trị, chúng càng bộc lộ rõ hơn bản chất phản động tay sai của bọn Tàu Tưởng.

Từ khi có hiệp ước sơ bộ 6-3-1946 giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp, bọn Việt Nam Quốc dân đảng càng điên cuồng, lồng lộn chống phá cách mạng. Theo hiệp ước Hoa - Pháp ngày 20-2-1946 quân Tưởng buộc phải rút về nước nhường cho quân Pháp vào miền Bắc Đông Dương; bị mất chỗ dựa bọn Việt Nam Quốc dân đảng cùng hung hăng thẳng tay khủng bố những người yêu nước. Tăng cường các vụ bắt cóc, cướp của giết người và thanh trừng sát hại lẫn nhau.


Tháng 4-1946 tên Vũ Hồng Khanh từ Hà Nội lên Yên Bái tổ chức nói chuyện với bọn Việt Nam Quốc dân đảng hắn ra sức đả kích xuyên tạc việc ta ký hiệp ước sơ bộ với Pháp.

Mặc dù phải chỉ đạo đấu tranh với bọn Tàu Tưởng, bọn Việt Nam Quốc dân đảng, Tỉnh uỷ vẫn chăm lo xây dựng củng cố tổ chức Đảng, phát triển đảng viên đến cuối năm 1946 đã có 52 đảng viên, giữ vững và phát huy tăng cường xây dựng chính quyền từ tỉnh đến xã, đồng thời tạo mọi điều kiện thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Trung đoàn Phú Yên (e92) ngày càng lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng; tổ chức được các lớp huấn luyện quân sự chính trị ngắn ngày, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, phát triển lực lượng dân quân, du kích ở khắp các làng xã.


Giữa năm 1946, sau khi phát hiện và đưa ra ánh sáng vụ án Ôn Như Hầu và một số vụ án khác, nơi bọn Việt Nam Quốc dân đảng gây nhiều tội ác đối với nhân dân và cách mạng. Trung ương Đảng và Chính phủ thể theo yêu cầu, nguyên vọng của nhân dân cho bắt giam và trừng trị bọn đầu sỏ phản động. Lực lượng vũ trang cách mạng được lệnh tiến công dẹp trừ bọn Việt Nam Quốc dân đảng đang chiếm đóng ở các tỉnh dọc đường xe lửa từ Hà Nội đến Lào Cai. Đồng chí Bùi Quang Tạo - Xứ uỷ viên được phân công phụ trách ba tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai và đồng chí Bằng Giang - Tư lệnh Quân khu I chỉ đạo cuộc dẹp trừ bọn phản động, giải phóng các vùng bị chúng chiếm đóng.


Tháng 6-1946 tranh thủ lúc bọn Quốc dân đảng đang hoang mang dao động mạnh ta dùng mưu kéo chúng tập trung lên Xuân Lan, Bái Dương, Nga Quán rồi bao vây bắt gọn; đồng thời tiếp tục truy kích bọn từ Phú Thọ chạy lên diệt thêm được một số tên.

Sau khi giải phóng thị xã Yên Bái, trung đoàn Phú Yên để tiểu đoàn Hùng Vương ở lại Phú Thọ, một tiểu đoàn vào đứng chân trong Nghĩa Lộ do đồng chí Vũ Nhung làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Bưởi làm chính trị viên, đồng chí Du làm tiểu đoàn phó một tiểu đoàn do Lâm Ngọc Phương làm tiểu đoàn trưởng, Việt Hồng làm chính trị viên đóng ở Bảo Lương, một tiểu đoàn do các đồng chí Hà Giang, Lê Quyên chỉ huy tham gia đánh Quốc dân đảng ở Phố Ràng, Bảo Hà, Lào Cai.


Tháng 9-1946, ta giải phóng Mậu A, Xứ uỷ quyết định điều các đồng chí cán bộ lãnh đạo của tỉnh tăng cường cho việc giải phóng Lào Cai.

Thắng lợi của việc dẹp trừ bọn Việt Nam Quốc dân đảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc chuẩn bị mọi mặt của Đảng bộ, quân và dân Yên. Bái bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:00:34 pm
II- XÂY DỰNG CƠ SỞ CHÍNH TRỊ, CHUẨN BỊ MỌI MẶT CHO KHÁNG CHIẾN

Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp trên đất nước ta, vào những ngày cuối năm 1946 tình hình ngày càng trở nên căng thẳng. Thực dân Pháp với âm mưu cướp nước ta một lần nữa đã công khai phản bội Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, trắng trợn khiêu khích và gây hấn ở nhiều nơi, can thiệp sâu vào kinh tế, chính trị và công việc nội bộ của nước ta. Tháng 11-1946 binh lính Pháp đã nổ súng vào quân ta ở Hải Phòng, Lạng Sơn và ở cả Hà Nội, ngày 18-12-1946 Pháp láo xược gửi tối hậu thư cho ta đòi ta đầu hàng vô điều kiện và giao lại chính quyền cho chúng. Tình hình đã đến lúc không thể nhân nhượng với Pháp, khắp nơi nhân dân ta đang tích cực khẩn trương chuẩn bị kháng chiến.


Sau khi nhận được tối hậu thư của thực dân Pháp, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng ở làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động cả nước đứng lên chống thực dân Pháp, kiên quyết giữ vững nền độc lập, tự do vừa mới giành được.

Đêm 19-12-1946, khắp các thành phố, thị xã... nơi có Pháp chiếm đóng, quân ta đã đồng loạt nổ súng để trả lời tối hậu thư của Pháp, ở Hà Nội quân và dân Thủ đô đã giáng một đòn quyết liệt vào thực dân Pháp, quân ta chiếm giữ từng ngôi nhà, khu phố để bảo vệ an toàn cho cơ quan Trung ương rút lên khu căn cứ.


Ngày 20-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với khí thế triệu người như một. "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng, gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc..." nhân dân cả nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch nhất tề đứng lên kiên quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do thiêng liêng của Tổ quốc.


Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch, Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến tỉnh mở nhiều cuộc họp Đảng, chính quyền kịp thời phát động nhân dân các dân tộc thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trên địa bàn tỉnh.

Ở Yên Bái, quân Pháp đã quay trở lại chiếm đóng một số vùng, cuối tháng 12-1946 chúng từ Phong Thổ đánh chiếm huyện Than Uyên, ráo riết tuyển mộ ngụy quân chờ thời cơ đánh chiếm vùng tự do của tỉnh.

Về phía ta, tuy chính quyền cách mạng được củng cố cơ sở quần chúng và lực lượng của ta đã được xây dựng tương đối vững. Song các tệ nạn do chế độ cũ để lại như tệ lưu manh, gái điếm, cờ bạc, nghiện hút vẫn còn hậu quả nạn đói và nạn lụt cuối năm 1945 ở một số vùng vẫn còn gay gắt. Trên 90% số dân thất học, các phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan vẫn còn phổ biến ở các xã vùng cao, xa xôi hẻo lánh.


Lực lượng vũ trang ở Yên Bái lúc này có trung đoàn 92 và một tiểu đoàn cảnh vệ, lực lượng dân quân du kích mới xây đựng được ở một số xã vùng trọng điểm, đồng dân cư, vùng căn cứ cách mạng có 1.800 đội viên với 95 súng trường, 600 súng kíp, 2 công binh xưởng sản xuất mỗi tháng được 100 quả lựu đạn1 (Tỉnh đội lúc này có Ban vũ trang Tỉnh đội gồm 36 cán bộ; cán bộ đại đội, trung đội do đồng chí Lê Hoan làm Tỉnh đội trưởng).


Trong bối cảnh hết sức khó khăn và phức tạp, lực lượng đảng viên ở Yên Bái tính đến tháng 1-1947 mới có 147 đảng viên gồm 18 chi bộ, có 2 Huyện uỷ (Văn Chấn, Trấn Yên), hầu hết là người miền xuôi độ tuổi từ 18 - 29, kinh nghiệm công tác chưa nhiều, nhất là kinh nghiệm lãnh đạo kháng chiến, kinh nghiệm công tác ở vùng dân tộc ít người.


Hội nghị cán bộ Trung ương họp lần thứ 2 (từ ngày 3 đến 6 tháng 4 năm 1947) nêu rõ: việc vận động dân tộc thiểu số cũng là một việc rất trọng yếu vì Pháp đang âm mưu kéo quốc dân thiểu số bằng cách lập các vùng tự do..., "nên đưa những phần tử tốt vào Uỷ ban kháng chiến và Uỷ ban hành chính, khen thưởng những người có công, giám thị những kẻ không tốt, đồng thời ngăn ngừa phong trào tự trị, phân biệt và nếu cần phải thẳng tay trừng trị bọn phản bội và bọn phá hoại thống nhất".


Dưới ánh sáng của các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, Đảng bộ Yên Bái đã nhận thức rõ về tầm quan trọng của công tác củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang và công tác vận động nhân dân các dân tộc tham gia kháng chiến.

Tỉnh uỷ phân công đồng chí Tỉnh uỷ viên phụ trách công tác vận động quần chúng, chấn chỉnh các Hội liên hiệp quốc dân, Hội thanh niên cứu quốc, Hội liên hiệp phụ nữ... Các hội viên cứu quốc từ 2.300 người hồi đầu năm 1947 đến cuối năm đã phát triển lên 30.000 người.

Tỉnh thành lập 3 đội tuyên truyền đi sâu xuống cơ sở để tuyên truyền chủ trương kháng chiến của Đảng và Chính phủ tới nhân dân.

Tính đến tháng 10-1947 nhân dân các dân tộc trong tỉnh tích cực khai hoang tăng diện tích được 1.000 mẫu lúa mộ, 3.000 mẫu lúa nương, sửa đường giao thông Yên Bái - Nghĩa Lộ. Tổ chức được trạm y tế ở nhiều nơi, đặc biệt công tác giáo dục phát triển mạnh: tỉnh có 1 lớp trung học phổ thông, có 1.200 học sinh tiểu học, 600 lớp bình dân học vụ với 800 giáo viên dạy bình dân. Đến tháng 8-1947, 8.000 người được cấp giấy chứng nhận thoát nạn mù chữ, hàng trăm người khác có trình độ tương đương lớp 5, 7.


Chuẩn bị cho cuộc kháng chiến tỉnh đã tập trung xây dựng an toàn khu ở đồng bằng Khánh Môn, Vân, Việt Hồng; chỉ đạo 2 xưởng công binh sửa chữa súng đạn và sản xuất vũ khí thô sơ, vận động nhân dân thực hiện "Tiêu thổ để kháng chiến", thực hiện "Vườn không nhà trống", cất dấu tài sản, lập các kho dự trữ lương thực thực phẩm. Ở các làng, xã, huyện đều có kế hoạch phòng khòng, phòng gian giữ bí mật, thực hiện 3 không (không biết, không nghe, không thấy). Tỉnh đã huy động trên 70 vạn ngày công tiến hành phá huỷ 158km đường xe lửa, phá sập 96 chiếc cầu, 133 nhà có gác 323 nhà một tầng1 (2 đại đội tự vệ và nhân dân do đồng chí Kim Dư và Chí Thứ chỉ huy thực hiện tiêu thổ kháng chiến ở thị xã suốt 28 ngày). Trên các đường quốc lộ du kích, tự vệ đắp các ụ đất, dựng trướng ngại vật để làm chậm bước tiến của địch; tạo điều kiện cho bộ đội du kích đánh tiêu hao, tiêu diệt chúng, nhân dân các huyện còn vót chông cắm thành các bãi, dựng các bãi cọc nhọn ở những nơi Pháp có thể nhảy dù, chặt các dây song đóng cọc căng trên sông ngăn không cho thuyền, ca nô của địch hoạt động.


Phong trào ủng hộ kháng chiến như: góp quỹ nuôi quân, lọ gạo kháng chiến, mua công phiếu kháng chiến được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng; đồng thời Uỷ ban hành chính kháng, chiến còn chỉ đạo việc thành lập các bản tản cư, làm sẵn lều lán ở trên rừng để khi chiến sự lan tới thì tản cư.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:02:51 pm
Cùng với công tác lãnh đạo chuẩn bị kháng chiến, Đảng bộ đặc biệt quan tâm công tác xây dựng củng cố tổ chức Đảng, phát triển đảng viên, học tập thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đồng chí Bắc Bộ ngày 01-3-1947; tổ chức các lớp bồi dưỡng lý luận theo chương trình cộng sản sơ giải. Đồng thời kết nạp lớp "đảng viên tháng 8", tính đến tháng 9-1947 Đảng bộ có 213 đảng viên, có ba Huyện uỷ và 18 Chi bộ, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ được nâng lên đủ sức làm hạt nhân lãnh đạo quân và dân Yên Bái bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Sau khi địch đánh chiếm Than Uyên, trung đoàn 92 bố trí tiểu đoàn 1 đóng ở Nghĩa Lộ ngăn chặn địch ở đèo Khau Phạ và đèo Trạm Tấu, tiểu đoàn 2 đóng quân ở Thượng Băng La ngăn địch từ Quang Huy (Phù Yên) tấn công sang... tiểu đoàn 3 phòng ngự ở Văn Bàn. Tiểu đoàn 1 phối hợp với du kích Tú Lê tấn công địch ở Ít Ong Sơn La, tiểu đoàn 2 đánh địch ở Quang Huy bắt sống 1 tên quan hai Pháp, thu được 1 đại liên và một số vũ khí; tiểu đoàn 3 tiến công Than Uyên đánh địch bật khỏi Dương Huy, do chưa có kinh nghiệm các đơn vị chủ yếu đánh tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch; sau lại tổ chức phòng ngự chưa dìu dắt dân quân du kích, chưa phát động xây dựng các cơ sở vũ trang địa phương nên hiệu suất chiến đấu đạt chưa cao; địch vẫn có điều kiện củng cố. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, phối hợp với chiến dịch tấn công Việt Bắc bọn địch ở Sơn La ào ạt tấn công sang Yên Bái, mở rộng phạm vi chiếm đóng; Ngày 02-10-1947 địch từ Quang Huy theo đường 41 đánh chiếm Thượng Băng La, bộ đội ta chiến đấu kiên cường dũng cảm, nhưng lực lượng ta ít, vũ khí trang bị còn thô sơ nên đành phải rút ra phía ngoài, ngày 08-10-1947 từ bàn đạp Thượng Bằng La địch tấn công đánh chiếm Nghĩa Lộ đồng thời đánh chiếm Ba Khe, Dốc Báng; ngày 10-10 địch chiếm đóng Quy Hội. Bộ đội ta lúc này tuy có tổ chức một số trận chiến đấu nhưng nặng vào phòng ngự (trận địa chiến) nên không cản được bước tiến quân của địch. Do nhận định sai hướng tấn công của địch nên an toàn khu của ta đã bị địch đánh chiếm, các cơ quan của tỉnh phải chuyển sang tả ngạn sông Hồng.


Tính đến cuối tháng 10-1947 địch đã chiếm được toàn bộ huyện Than Uyên, Văn Chấn, Văn Bàn và một số xã của huyện Trấn Yên. Những trận chiến đấu đầu tiên giữa bộ đội ta và thực dân Pháp đã cho ta một số kinh nghiệm, giúp ta hiểu rõ hơn chỗ mạnh, yếu của địch và ta. Pháp có ưu thế quân sự, lực lượng mạnh hơn ta gấp bội phần, được huấn luyện kỹ, có trang bị tốt. Bộ đội ta chiến đấu ngoan cường nhưng trang bị còn quá kém, chưa có cách đánh phù hợp, bảo đảm hậu cần khó khăn lại chưa có cơ sở chiến tranh nhân dân ở các xã, thôn bản vì vậy Pháp nhanh chóng chiếm các địa bàn.


Tuy 4/5 đất đai của tỉnh bị địch chiếm đóng, nhưng cơ sở du kích của ta như: Đại Lịch, Hưng Khánh, Đá Xô, Khau Phạ, Thượng Bằng La, Vần Dọc vẫn tiếp tục chiến đấu.

Đầu tháng 11-1947 Tỉnh uỷ Yên Bái họp chủ trương củng cố tinh thần, tư tưởng, ý chí chiến đấu cho nhân dân và các lực lương vũ trang. Tỉnh thành lập nhiều tổ công tác và đội tuyên truyền trở về vùng hậu địch hoạt động, vừa xây dựng cơ sở chính trị vừa vận động nhân dân tham gia kháng chiến.


Tỉnh uỷ nhận định: địch đóng ở Yên Bái 1.300 tên có 120 tên Pháp chỉ huy, chúng bố trí ở Văn Bàn 500 tên, Cửa Dụ 300 tên, Thượng Bằng La, Vân Dọc, Khánh Môn 500 tên; như vậy lực lượng địch bố trí dày đặc ở vùng ven sông Hồng hòng phối hợp với địch từ Lào Cai đánh xuống, từ Tuyên Quang đánh sang và từ Phú Thọ đánh lên. Nhưng phía trong thì bố trí lực lượng ít do vậy cần tập trung luồn sâu vào hậu địch hoạt động; đồng thời tập trung giúp đỡ 800 nhân dân từ Sơn La sơ tán sang, nhanh chóng ổn định đời sống. Cũng trong thời gian này ta thực hiện phương thức tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập, phân tán lực lượng về từng địa bàn nhằm phát triển mạnh chiến tranh du kích. Ngày 26-10-1947 Thường vụ Quân khu 10 ra quyết định thành lập Ban chính trị Tây Tiến do đồng chí Nguyễn Thế Y làm Trưởng ban1 (Ban chính trị Tây Tiến gồm 5 đồng chí do đồng chí Nguyễn Thế Y Chính trị viên e115 - Thường vụ Tỉnh uỷ - Bí thư Đảng uỷ trung đoàn làm Trưởng ban và 2 cán bộ quân sự do Quân khu uỷ cử 2 đồng chí Tỉnh uỷ viên tỉnh Yên Bái), Ban có nhiệm vụ giúp Quân khu uỷ chỉ đạo toàn diện các mặt công tác ở 2 tỉnh Yên Bái, Lào Cai.


Từ tháng 12-1947, các đội võ trang các đại đội độc lập và các cán bộ chính trị luồn sâu vào vùng sau lưng địch, vào sâu tới Ba Khe huyện Văn Chấn diệt một số tên tề điệp tay sai phản động nguy hiểm. Đội vũ trang cán bộ do đồng chí Chủ tịch Trần Đại Khánh làm đội trưởng vào vùng Đại Lịch cùng với đại đội 514, đại đội 524 lãnh đạo nhân dân tiến hành chiến tranh du kích, vừa đánh địch vừa bảo vệ nhân dân thu hoạch mùa màng; đồng thời làm tốt công tác phát triển Đảng để mỗi trung đội du kích có ít nhất một đảng viên. Chú trọng phát triển Đảng trong các trung đội cảm tử của du kích; cũng trong thời gian này đồng chí Nguyễn Tấn Phúc - Bí thư Tỉnh uỷ trực tiếp vào kiểm tra huyện Văn Chấn và xây dựng xã Đại Lịch thành căn cứ du kích.


Sau khi Chi bộ Đại Lịch được thành lập, du kích Đại Lịch phối hợp với 14 bộ đội đã tổ chức phục kích địch tại đèo Din, xã đội trưởng Minh Lưu chỉ huy tổ chức phục đánh địch đi từ Vân Dọc lên lấy tiếp tế. Ta gài bom khi địch đến ta giật bom rồi đồng loạt ném lựu đạn; thấy 1 tên Pháp bị chết văng súng ra - thiếu niên Hoàng Văn Thọ1 (Hoàng Văn Thọ là liên lạc giữa Xã bộ Viêt Minh và Ban chỉ huy xã đội. Trước trận đánh em xin đi nhưng đồng chí Hùng Sơn không cho, mãi sau này đồng chí Hùng Sơn, Minh Lưu mới nhất trí cấp cho em 1 quả lựu đạn, em đi cùng xã đội trưởng Minh Lưu, trận này đồng chí Minh Lưu bị thương) lao xuống cướp súng địch thì bị địch bắn và em đã anh dũng hy sinh. Trận này ta diệt được 1 tên Pháp và 2 lính dõng; đây là trận đánh đầu tiên của đội du kích Đại Lịch, cũng là trận đánh đầu tiên của du kích trong vùng địch hậu - trận đánh thắng lợi đã động viên khí thế bộ đội, du kích vững vàng chiến đấu. Xã đã tổ chức hệ thống đài quan sát, báo động, bám sát mọi hoạt động của địch ở đồn Đông Bồ và các hướng dùng mõ, tù và và ký hiệu ám hiệu để báo động cho toàn xã biết để chủ động đánh địch, đồng thời sơ tán về các lán trại ở trên rừng.


Đầu tháng 12-1947 du kích phối thuộc với bộ đội đánh 2 trận ở Bồ Kết và Bãi Chằm, Lũn Bũn diệt 40 tên địch, bắn bị thương một số tên khác.

Ngày 31-12-1947, đại đội 524 phối hợp với du kích xã Chấn Thịnh tổ chức phục kích đánh địch hành quân từ Hưng Khánh xuống vào Nghĩa Lộ. Đại đội trưởng Nguyễn Tiến Vinh2 (Nguyễn Tiến Vinh sau là Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Yên Bái (70 - 76)) chọn Mỵ làm trận địa phục kích, khi đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích ta nổ súng, sau 15 phút chiến đấu ta diệt 15 tên, trong đó có 2 Pháp, bắt sống 20 tên, một số tên sống sót chạy toán loạn lên rừng. Qua những trận phục kích thắng lợi củng cố thêm tinh thần cho quần chúng, các đội du kích có thêm kinh nghiệm chiến đấu, đồng thời cũng làm cho bọn địch hoang mang.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:05:14 pm
III- PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH DU KÍCH TRONG VÙNG ĐỊCH TẠM CHIẾM

Chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của địch, buộc địch phải chuyển hướng hoạt động quân sự. Chúng đã tập trung lực lượng mở các cuộc càn quét hòng phá các cơ sở của ta trong vùng tạm chiếm; đồng thời đánh nống ra các vùng tự do của ta, mặt khác địch ra sức xây dựng ngụy quân, ngụy quyền thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, "dùng người Việt đánh người Việt". Do vị trí chiến lược quan trọng của miền Tây Bắc, thực dân Pháp tìm mọi cách mở rộng phạm vi kiểm soát nhằm cô lập căn cứ địa Việt Bắc về phía Tây, bảo vệ căn cứ của chúng ở phía Thượng Lào và ngăn chặn sự liên lạc của ta với nước ngoài. Chúng tổ chức thành lập khu Tây Bắc, sau đổi thành khu tự trị Tây Bắc. Chúng cắt huyện Than Uyên, Văn Chấn, Văn Bàn về thành tỉnh tự trị Phong Thổ do Thổ ty Đèo Văn Ân là Tỉnh trưởng. Tại các vùng tạm chiếm thực dân Pháp tiến hành liên tiếp các cuộc hành quàn càn quét, lùng bắt cán bộ hòng nhanh chóng bình định địa phương. Xây dựng đội ngũ tay sai, chỉ điểm; đồng thời đôn quân bắt lính xây dựng các đại đội bảo an tập trang, lấy dõng đóng thành đồn, đưa dõng phối thuộc với bảo an, khố đỏ đi tuần tra, càn quét, đưa lính dõng ở vùng dân tộc này đi khủng bố ở vùng dân tộc, địa phương khác, kích động thanh niên địa phương đi trả thù; đặc biệt chúng ra sức tuyên truyền gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh.


Trước thắng lợi tạm thời về mặt quân sự, với nhiều thủ đoạn chính trị thâm độc thực dân Pháp hy vọng chúng có thể bình định được vùng tạm chiếm, biến vùng này thành hậu phương của chúng.

Về phía ta, sau chiến thắng Việt Bắc, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị mở rộng1 (Hội nghị Trung ương mở rộng họp từ ngày 15 đến 17 tháng 1 năm 1948) kiểm điểm một năm kháng chiến và đề ra nhiệm vụ mới của quân và dân ta. Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ phát động chiến tranh du kích rộng khắp ở mọi nơi nhất là vùng địch tạm chiếm.


Tháng 01-1948, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ xây dựng khu Tây Bắc thành căn cứ vững chắc và tiến lên giải phóng vùng Tây Bắc là một nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn trong việc đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân ta mau đến thắng lợi.

Thời gian này Tỉnh uỷ Yên Bái tập trung chỉ đạo xây dựng các cơ sở vùng địch hậu, Tỉnh đội Yên Bái được củng cố thêm một bước; đồng chí Lê Hoan - Tỉnh đội trưởng được điều đi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Vũ Nhung Trung đoàn phó Trung đoàn 115 được điều về làm Tỉnh đội trưởng. Thời gian này theo chỉ thị của trên Trung đoàn 92 đổi tên thành Trung đoàn 115 chỉ để lại một Tiểu đoàn 630 còn lại biên chế thành 7 đại đội, các đại đội được lệnh luồn vào hậu địch hoạt động.


Đầu năm 1948, tranh thủ thời cơ địch đổi quân ở Việt Trì về Thanh Thuỷ (thuộc khu 14); Bộ chỉ huy liên khu 10 điều d442, trung đội súng cối của đoàn 420, 2 trung đội pháo 75mm lên Yên Bái phối hợp với trung đoàn 115 mở đợt hoạt động quân sự đánh vào các vùng tạm chiếm, nhằm chặn đứng cuộc tiến công chiếm đóng của địch, uy hiếp tinh thần binh lính địch và mở rộng vùng giải phóng của ta, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến tranh du kích và công tác xây dựng cơ sở chính trị trong vùng địch tạm chiếm đóng phát triển, giữ vững, củng cố niềm tin của nhân dân với kháng chiến. Các đơn vị chủ lực phối hợp với du kích Trấn Yên tấn công đồn Đồng Bằng và các đồn bốt dọc ven sông Hồng. Đồn Đồng Bằng là một đồn lớn do đại đội 2 tiểu đoàn Thái thứ nhất 1e (BAT) và 1 trung đội lính dõng thuộc đại đội 53 chiếm đóng.


Đêm ngày 6 tháng 1 năm 1948, bộ đội ta nổ súng tiến công đồn Đồng Bằng, lần đầu tiên trên địa bàn Yên Bái xuất hiện pháo 75mm nên khi pháo binh ta bắn trúng đồn sập 1 hầm, giết chết hơn 10 tên và bắn hỏng một số lô cốt khác, binh lính địch hoảng sợ chúng co cụm chiếm giữ 1/4 đồn. Do trời tối bộ đội ta đi lạc đường nên khi xung phong đánh địch ngoan cố chống cự. Ta đợi để trời sáng mới xung phong, nên địch bí mật rút chạy ta không kịp truy kích địch. Ta diệt 26 tên trong đó có 5 tên Pháp, sau trận đánh thắng đồn Đồng Bằng địch rút 10 vị trí đồn bốt dọc ven sông Hồng. Đợt hoạt động quân sự từ ngày 6-1 đến 31-1-1948 ta đánh 35 trận, diệt 150 tên, bắt sống 24 tên, bắn bị thương 41 tên, phá huỷ một số phương tiện chiến tranh; bảo vệ được vùng tự do, tạo bàn đạp cho các đơn vị vượt sông luôn vào hậu địch hoạt động, nhân dân và bộ đội càng thêm tin tưởng phấn khởi.


Do nắm vững và tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương của Trung ương và Liên khu ủy Khu 10 về công tác vùng địch tạm chiếm nên phong trào kháng chiến ở Yên Bái có tiến bộ mới.

Đội võ trang Văn Chấn và đại đội 520 bắt liên lạc được với Chi bộ Sơn A phát triển hoạt động lên vùng Tú Lệ, đại đội 524, 526 đã xây dựng phục hồi các cơ sở ở Tề Suối Láng, Đồng Khê, Nậm Cài, tuy vào sâu trong hậu địch nhưng các đơn vị chưa chú trọng dìu dắt dân quân du kích, còn có tư tưởng ỷ lại, thụ động chờ cho các đội võ trang, các tổ công tác chuẩn bị xong cơ sở, mới đặt kế hoạch diệt tề, đánh Pháp. Do những thiếu sót trên dẫn đến 2 trung đội của đại đội 520 bị địch úp ở Nậm Cài thương vong nặng ở Văn Bàn.


Để xây dựng căn cứ địa ở Tây Bắc, Khu uỷ Khu 10 chỉ thị cho các tỉnh xây dựng các đội xung phong (Trung Dũng ở Sơn La, Quyết Thắng ở Lào Cai) và đội xung phong Quyết Tiến ở Yên Bái. Chủ trương của Tỉnh uỷ lấy tổ cán bộ võ trang đang hoạt động ở vùng Đại Bục, Đại Phác làm nòng cốt, bổ sung thêm một số cán bộ để thành lập đội xung phong Quyết Tiến do đồng chí Hồng Quân và Bạch Luân phụ trách. Ngày 15-3-1948 đội xuất phát theo đường bí mật vào hoạt động ở Suối Bu, Suối Giàng, cùng với đại đội 520 phát triển lên Tú Lệ, đội đã bắt liên lạc được với đội du kích Khau Phạ, du kích Khau Phạ chính thức được thành lập, khu căn cứ Đá Xô được hình thành, thời kỳ này các đơn vị tổ chức phục kích chặn đánh địch trên đoạn đường Tú Lệ - Gia Hội, thu ba súng trường, một số đạn dược. Sau đó tiến lên đánh đồn Tú Lệ, bắt sống tên bang tá Lò Văn Inh - chỉ huy đồn và 27 dõng, 2 súng máy, gần 20 súng trường.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:06:53 pm
Cùng thời gian này, Liên khu uỷ và Bộ tư lệnh liên khu 10 quyết định mở chiến dịch Nghĩa Lộ (còn gọi là chiến dịch Quang Huy - Gia Hội); nhằm phá âm mưu thực hiện kế hoạch "vết dầu loang" tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho các đơn vị võ trang, các đại đội độc lập luồn sâu hơn nữa vào vùng sau lưng địch. Các đại đội bộ đội thuộc Trung đoàn 115 phối hợp chiến đấu với 4 tiểu đoàn chủ lực của Liên khu; mục tiêu chủ yếu là hạ đồn Gia Hội, bộ đội ta anh dũng chiến đấu nhưng do vũ khí của ta quá lạc hậu nên ta không giành được đồn Gia Hội, chỉ hạ được 7 đồn nhỏ, gọi hàng 163 ngụy binh, tạo điều kiện cho công tác vùng tạm bị chiếm phát triển; từng bước đưa quần chúng ra đấu tranh, phong trào du kích thời kỳ này phát triển mạnh1 (Thời kỳ này ta xây dựng các khu du kích: Xuân Kỳ, Vi Thượng, Lương Sơn (Lục Yên), Tân Hợp, Đại Đông, Hưng Thịnh, Đại Khánh (Trấn Yên), Cát Thịnh, Chấn Thịnh, Đại Lịch, Thượng Bằng La, Bình Thuận (Văn Chấn), Đông An (Văn Bàn)).


Từ tháng 5-1948, địch nống ra chiếm đóng một số vị trí thuộc hữu ngạn sông Hồng (Đại Bục 18-5, Đại Phác 19-5, Đồng Bồ 21-5) vừa chiếm đóng địch tăng cường càn quét, đàn áp, khủng bố gắt gao, một số cơ sở của ta ở vùng Tú Lệ, Gia Hội bị vỡ, đại đội 520 và đội võ trang hoạt động ở vùng này phải bật ra ngoài.


Nhằm hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ - đầu tháng 6-1948 bộ đội chủ lực mở chiến dịch Yên Bình xá, lực lượng vũ trang của tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công địch từ bến Cóc lên Phố Ràng và từ Nghĩa Đô lên Yên Bình xã, diệt 7 vị trí, bức rút một số vị trí, bắt 300 tên gọi hàng 200 tên ngụy binh. Thắng lợi của chiến dịch Yên Bình xã gây được niềm tin, tinh thần phấn khởi, khơi dậy lòng yêu nước trong các tầng lớp nhân dân. Tạo thế cho các đại đội độc lập, các đội võ trang đẩy mạnh hoạt động trong vùng sau lưng địch nhất là tạo thuận lợi cho các đoàn cán bộ đi xây dựng cơ sở vùng hậu địch ở tỉnh Lào Cai1 (Từ tháng 2-1948 Tỉnh uỷ, Uỷ ban và LLVT tỉnh Lào Cai sơ tán về huyện Lục Yên. Từ vùng đất tự do Lục Yên các đơn vị, các đoàn cán bộ xuất phát vào hoạt động gây cơ sở vùng hậu địch).


Thời kỳ này Ban chỉ huy Tỉnh đội kiện toàn, đồng chí Nguyên Thái - Bí thư Huyện ủy Trấn Yên được điều về làm Chính trị viên Tỉnh đội. Liên chi uỷ đã tập trung lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, cử các đồng chí cán bộ vào vùng hậu địch Than Uyên, Văn Chấn, Văn Bàn, Trấn Yên; tính đến tháng 6-1948 tỉnh đã mở được 3 lớp bồi dưỡng cho cán bộ tiểu đội, các huyện mở được 3 lớp cho cán bộ du kích với quân số 144 học viên để làm nòng cốt cho hoạt động du kích ở các địa bàn trong tỉnh. Nhờ có chủ trương đúng, tập trung cán bộ vào vùng hậu địch hoạt động những tháng cuối năm 1948 cơ sở kháng chiến phát triển rộng khắp. Từ vùng cao xuống vùng thấp, đặc biệt là ở xung quanh khu vực cánh đồng Mường Lò, đại đội 520 và đội võ trang xung phong Quyết Tiến cùng Ban cán sự huyện Than Uyên1 (Ban cán sự Than Uyên mới được thành lập) gây dựng các cơ sở chính trị và xây dựng các đội du kích ở các xã vùng cao quanh cánh đồng Mường Than. Các khu du kích Mường Kim, Na Khoang Mô Đê và Lao Chải được thành lập, cơ sở của ta ở vùng thấp đã phát triển được hầu hết ở các xã. Đại đội độc lập 520, đội võ trang và du kích Văn Bàn đã bắt liên lạc với cơ sở cũ ở Khánh Yên, Minh Lương, Võ Lao, ta vận động nhân dân đấu tranh chống đi phu đi lính, chống nộp lương thực, thực phẩm gây cho địch nhiều khó khăn. Đi đôi với xây dựng cơ sở chủ trương của tỉnh tập trung phá tề, bắt một số tên tề gian ác đã gây nhiều tội ác với cách mạng và nhân dân; đồng thời để rút kinh nghiệm răn đe những bọn tề đang hoạt động cho địch. Ta đã phá 20 Ban tề ở cấp xã2 (Gần 16 hội tề ở Văn Bàn, 4 hội tề Văn Chấn, diệt 30 tên tề gian ác, gọi hàng 16 dõng, giải tán 4 hội tề) thuyết phục lính dõng trở về với nhân dân, do được làm tốt công tác chuẩn bị nên đợt I phá tề thắng lợi, làm lung lay bộ máy chính quyền cơ sở của địch.


Hoạt động của du kích được tăng cường, ngày 28-10-1948 du kích Đồng Khê, Hưng Khánh phối hợp với các đại đội 524, 522 tổ chức phục kích địch. Nhận được tin tên Quan tư chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ và tên đồn trưởng đồn Gốc Báng đi thị sát tình hình Ca Vịnh về, trung đội 1 đại đội 524 có du kích Đồng Khê phối hợp tổ chức trận phục kích Khe Kẹn, diệt 15 tên, bắn bị thương 8 tên (trong đó có tên chỉ huy đồn Gốc Báng).


Tháng 12-1948 du kích Đồng Khê phối thuộc với một tiểu đội của đại đội 524 phục kích ở Khau Ly bắt sống, diệt 5 tên dõng, diệt cầu Ngọc Minh, bang tá Nghĩa Lộ - kẻ đứng đầu "Đoàn thanh niên Thái" một tổ chức phản động bán vũ trang. Ta gây dựng một số cơ sở trong hàng ngũ binh lính địch ở đồn Sài Lương Văn Chấn, Đại Phác, Trấn Yên, Phong Dụ, Cốc, Bảo Hà, Văn Bàn, nhờ lực lượng nội ứng diệt gọn đồn Mã Yên Sơn, Làng Mai - dụ hàng 100 ngụy binh.


Các khu du kích mặc dù nằm sát ngay các đồn địch, thường xuyên bị địch khủng bố, uy hiếp, nhân dân và du kích vẫn kiên quyết bám trụ làng bản đánh địch, qua đấu tranh đã trưởng thành về mọi mặt, -số lượng ngày càng tăng. Đến nay mỗi xã đã có một trung đội du kích được trang bị 10 khẩu súng. Các đội du kích không chỉ làm nhiệm vụ đưa đường, bảo vệ cán bộ, nay đã có thể độc lập tổ chức phục kích đánh địch và chiến đấu chống càn, chặn đánh các đoàn tiếp tế của địch. Tiêu biểu là trận một tổ du kích do đồng chí Hùng phụ trách và trận phục kích của tiểu đội du kích Thượng Bằng La do đồng chí Ngọt chỉ huy đánh bại một đại đội địch đi càn diệt 4 tên, bắn bị thương một số tên khác, buộc địch phải quay trở lại đồn. Trong năm 1948 các khu du kích ở Văn Chấn đánh 73 trận diệt 208 tên (trong đó có 2 tên quan hai, 1 quan ba), làm bị thương 52 tên trong đó có 4 tên Pháp, thu 45 súng các loại.


Sự phát triển của chiến tranh du kích ở địa phương và sự phối hợp hoạt động của du kích với bộ đội làm cho việc thực hiện kế hoạch "vết dầu loang" của địch chững lại, sau gần một năm địch chỉ đóng thêm được một đồn Ca Vịnh (19-10-1948). Trong tháng 10 tháng 11 bộ đội và du kích liên tiếp tấn công địch, tổ chức 38 trận phục kích diệt 61 tên, làm bị thương 11 tên, (trong đó có 11 tên Pháp), gọi hàng 100 tên, thu 2 trung liên, 2 tiểu liên, 16 súng trường, 2.000 viên đạn các loại.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:09:38 pm
Tuy vậy hoạt động của ta trong vùng địch tạm chiếm cuối năm 1948 cũng gặp nhiều khó khăn, một số cán bộ bị hy sinh, đó là tổn thất to lớn; điển hình là các trận địch đánh úp Khe Hả xã Nậm Tha (Văn Bàn) ngày 07-11-1948 trong trận này cả đội võ trang Văn Bàn hy sinh trong đó có đồng chí Phạm Đức Chu - Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến huyện. Trận 24-11-1948 đội võ trang xung phong Quyết Tiến trên đường về tỉnh báo cáo thì bị phục kích ở Sài Lương, đồng chí Hồng Quân và đồng chí Năng bị hy sinh.


Một số cơ sở của ta bị địch đánh phá, tư tưởng sợ địch nảy sinh trong một số người; một số không chịu được khó khăn gian khổ ra hàng địch như tên Hà Văn Duyệt xã đội trưởng xã Đại Khánh mang theo 5 du kích ra hàng Pháp ngày 11-11-1948. Trước tình hình đó ngày 17-11-1948 Tỉnh uỷ đã có chỉ thị về việc địch đánh úp Nậm Thà và xã đội trưởng xã Đại Khánh ra hàng địch, chỉ thị nêu rõ nguyên nhân của sự việc là do ta chủ quan, thiếu cảnh giác, cấp bộ Đảng địa phương chưa quan tâm đầy đủ tới việc xây dựng lực lượng du kích, chưa phân cống cấp uỷ trực tiếp lãnh đạo du kích; đồng thời chỉ ra những bài học kinh nghiệm biện pháp đối phó với những trường hợp tương tự xảy ra.


Ngày 17-11-1948, nhận được tin địch từ đồn Ca Vịnh hành quân vào Ba Khe, đại đội 524 tổ chức phục kích địch ở Đèo Mang diệt 19 tên, số còn lại chạy về Ba Khe gặp bộ đội (Đại đội 520) trận đánh bắt sống 14 tên.

Trong năm đầu của cuộc kháng chiến, 4/5 đất đai của tỉnh bị địch chiếm đóng, lúc đầu ta còn nhiều khó khăn, lúng túng. Song từng bước tìm ra được phương thức hoạt động đúng đắn, tính đến cuối năm 1948 ta có 6 đại đội độc lập hoạt động trong lòng địch 5 trung đội du kích và gần 20 đội du kích hoạt động, vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở bảo vệ cán bộ, tạo thuận lợi cho các đoàn cán bộ võ trang, cán bộ địch hậu có điều kiện để xây dựng, khôi phục các cơ sở kháng chiến ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Vượt qua thử thách ban đầu, Đảng bộ, quân và dân Yên Bái vừa tích cực củng cố xây dựng hậu phương vùng tự do vừa đẩy mạnh công cuộc kháng chiến trong vùng hậu địch, phối hợp với bộ đội chủ lực kiên quyết chủ động tiến công địch, từng bước hoà nhập cùng cuộc kháng chiến của toàn quốc.


Đầu năm 1948 Tỉnh uỷ mở Hội nghị cán bộ bàn về đẩy mạnh công tác vùng địch tạm chiếm, cử các đồng chí Tỉnh uỷ viên vào hoạt động trong vùng hậu địch, chuẩn bị mọi mặt cho tổng phá tề đợt II trong toàn tỉnh; đồng thời quán triệt tư tưởng tiến công kiên quyết chủ động tiến công địch, xác định vị trí, ý nghĩa vùng địch hậu của tỉnh rất quan trọng với việc xây dựng căn cứ địa Tây Bắc và giải phóng miền Tây Bắc. Tỉnh uỷ cũng phát động phong tràọ thi đua xây dựng lực lượng, chuẩn bị phản công, thực hiện tốt cuộc thi đua "Ái quốc" và luyện quân, lập công.


Ngày 7-2 Hà Văn Hạp du kích Hưng Khánh1 (Hà Văn Hạp nay thuộc xã Hồng Ca) dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay vận tải trên đường bay tiếp tế cho đồn Ca Vịnh 6 tên Pháp bỏ mạng. Thời gian này tiểu đoàn 630 đi làm nhiệm vụ do Bộ tổng tư lệnh giao.


Ngày 26-2-1949 đại đội 670 (Thăng Bình) được lệnh cùng với Hoàng Văn Khiết - Ủy viên Uỷ ban kháng chiến huyện Lục Yên vào bao vây đồn Làng Mai, khi bộ đội ta đã vây chặt đồn ta đã dùng địch vận kêu gọi châu đoàn xa và 27 lính dõng về hàng, ta thu 33 súng trường và 1 súng máy.


Do yêu cầu phát triển của chiến tranh, thời kỳ này Trung đoàn 115 chuẩn bị sáp nhập với Trung đoàn 117 Lào Cai thành Trung đoàn 165, Tỉnh đội Yên Bái được lệnh xây dựng các đại đội bộ đội địa phương của tỉnh và huyện. Trường quân chính của tỉnh đã mở 6 lớp huấn luyện cho 510 cán bộ tiểu đội và đội viên, các huyện mở 56 lớp huấn luyện cho 1.262 người. Thông qua huấn luyện cán bộ chỉ huy du kích, bộ đội địa phương được nâng lên cả năng lực nắm địch và trình độ chỉ huy phối hợp chiến đấu; đặc biệt là công tác huấn luyện sử dụng các loại vũ khí như chông, mìn, cạm bẫy tên nỏ. Nhờ có công tác huấn luyện nên sức chiến đấu của du kích được nâng lền.


Thời gian này Tỉnh uỷ chú trong công tác giáo dục bồi dưỡng và thông qua thử thách chiến đấu và công tác để phát triển đảng viên trong lực lượng vũ trang; toàn tỉnh đã có 2.635 đảng viên trong đó đảng viên trong lực lượng vũ trang 759 đồng chí, tỉnh rất chú trọng công tác phát triển đảng viên trong các dân tộc thiểu số; 6 tháng đầu năm 1949 đã kết nạp 3 đảng viên dân tộc H’mông. Tỉnh uỷ chú trọng công tác học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ đảng viên. 3 tháng đầu 1949 đã bồi dưỡng cho 112 chi uỷ viên, 131 đảng viên chính thức và 462 đảng viên dự bị, đi đôi với nâng cao trình độ lý luận tỉnh đã coi trọng công tác đổi mới lề lối làm việc nhằm phát huy và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.


Các tổ chức quần chúng được kiện toàn và có bước phát triển mới1 (Đoàn viện thanh niên cứu quốc có 5.976 đồng chí. Phụ nữ cứu quốc có 10.214 người. Hội nông dân cứu quốc có 9.150 người).

Đầu tháng 5-1949, Bộ tổng tư lệnh quyết định đánh mạnh ở Tây Bắc là hướng địch yếu, sơ hở; để mở rộng căn cứ địa từ sông Thao đến sông Đà, phá vỡ phòng tuyến Yên Bình xã - Bảo Hà, Nghĩa Đô cô lập tiểu khu Lào Cai, phá thế uy hiếp đối với Việt Bắc từ phía Tây, củng cố bàn đạp tiến công sang Thượng Lào.


Trước khi chiến dịch mở, Tỉnh uỷ triệu tập Hội nghị cán bộ toàn tỉnh bàn phương châm phối hợp hoạt động với chiến dịch biên giới đẩy mạnh công tác vùng địch hậu, tăng cường công tác nắm địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn cán bộ chủ lực đi chuẩn bị chiến trường. Thành lập Ban cung cấp chuẩn bị huy động lương thực, thực phẩm và dân công phục vụ cho chiến dịch.


Lực lượng vũ trang địa phương được lệnh tăng cường hoạt động ở trong vùng địch hậu, các đại đội độc lập và các đại đội bộ đội địa phương tỉnh đẩy mạnh hoạt động tại các khu vực Văn Chấn, Than Uyên, Văn Bàn thu hút sự chú ý của địch.

Ngày 19-5-1949, đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 59 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến dịch sông Thao mở màn, tiểu đoàn 54 được tăng cường đại đội pháo binh 303 nổ súng đánh đồn Đại Bục bằng cường tập ban ngày, 16h30’ cùng ngày tiểu đoàn 11 (Phủ Thông) nổ súng đánh đồn Đại Phác - đồn Đại Phác có 120 tên gồm 30 tên Pháp, 90 ngụy binh là Sở chỉ huy của đại đội 4 tiểu đoàn Thái thứ nhất; đồn Đại Bục có 80 tên gồm 10 tên Pháp, 70 ngụy binh. Sau hơn 1 giờ chiến đấu kiên cường dũng cảm ta đã chiếm được cả hai đồn, địch bị diệt hàng trăm tên, trong đó có 31 Pháp. Số sống sót theo đường Khe Liếp chạy về đồn Gốc Lựu, một số chạy theo đường Xuân Giang thì gặp du kích phục đánh bắn chết 1 lính khố đỏ, số còn lại chúng rút chạy lên rừng. Hai trận mở màn chiến dịch ta thu 2 đại liên, 6 trung liên, 4 súng cối 60 ly, 10 tiểu liên, 1 máy vô tuyến điện, 3 súng ngắn, 100 súng trường, 10 hòm đạn súng cối, 30 hòm đạn các cỡ, 1 hòm tiền Đông Dương và nhiều đồ dùng, quân trang quân dụng. Bọn hội tề một số bị chết trong đồn, số còn lại bị ta bắt; Huyện uỷ Trấn Yên phân công đồng chí Hồng Dương, Triệu Huy thành lập đội võ trang liên xã Đại Đồng - Tân Hợp.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:11:20 pm
Tiếng súng thắng lợi giòn giã của bộ đội chủ lực và dân quân du kích, nhổ gọn hai căn cứ điểm Đại Bục, Đại Phác đã làm rung chuyển hai phân khu Nghĩa Lộ, Lào Cai. Tranh thủ lúc tinh thần binh lính địch đang hoang mang, các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương liên tiếp tổ chức các trận tiến công dồn dập vào hàng loạt vị trí địch ở dọc ven sông Hồng.


Tiếp đó ngày 24-5 tiểu đoàn 54 tổ chức tiến công đồn Dóm nhưng không giành được thắng lợi; từ ngày 3 đến ngày 5-6 sau khi dùng địch vận không có kết quả bộ đội ta tiến công 2 vị trí Phát và Phục Linh nhưng cũng không diệt được hai đồn này.

Ngày 7-6-1949, 2 máy bay khu trục sang đến khu vực cầu Nhòi bị bộ đội d630 bắn, 1 chiếc bị thương bay đến Bảo Hà thì bốc cháy rơi xuống: 3 tên bị chết trong đó có 1 đại uý, 1 trung úy và 1 tên thiếu úy bị thương nặng.

Thua đau ở Đại Bục, Đại Phác và bị bao vây uy hiếp ở nhiều nơi Bộ chỉ huy Pháp vội vã điều quân từ Lào Cai, Phong Thổ đến tăng cường cho vị trí Dóm, Bảo Hà, Phát, Phục Linh, Than Uyên.

Đợt II "chiến dịch sông Thao" mở đầu bằng trận đánh kéo dài từ ngày 24 đến ngày 26-6 của tiểu đoàn 11, tiểu đoàn 54 và tiểu đoàn 79 có pháo binh, công binh phối hợp1 (Tiểu đoàn 11 do đồng chí Vũ Yên làm Tiểu đoàn trưởng, Mai Nhân làm Chính trị viên, là lực lượng chính đánh đồn Phố Ràng) đánh vào cứ điểm chỉ huy phân khu Phố Ràng cùng các vị trí Khe Phìa, Ngòi Mác, Thôn Mã lần lượt bị tiêu diệt. Phân khu Phố Ràng bị diệt. Phòng tuyến sông Thao bị phá vỡ trên một quãng dài 30km từ Bảo Hà đến Bắc Cường; đường liên lạc của địch giữa Bảo Hà với Lào Cai, giữa Bảo Hà với Nghĩa Đô bị cắt đứt.


Ngày 16-7, tiểu đoàn 54 và tiểu đoàn 79, các đại đội pháo binh 301, 307 tiến công tiêu diệt đồn Dóm, một đồn lớn của địch, nằm ở gần ven sông Hồng vừa được một số quân dù lên tăng cường. Địch hoảng sợ vội vã rút khỏi các vị trí Phát, Đồng Bồ, Ca Vịnh, Sài Lương - phòng tuyến sông Thao bị phá vỡ từ Ba Khe đến Bảo Hà.


Chiến dịch sông Thao (từ 19-5 đến tháng 7 năm 1949) kết thúc thắng lợi, ta diệt 9 vị trí, bức rút 16 vị trí, phòng tuyến sông Thao bị phá vỡ một mảng lớn. Cơ sở chính trị vũ trang của ta ở vùng tạm bị chiếm mở rộng gồm 82 bản làng với 20 ngàn dân, trên một địa bàn rộng 6.000 km2. Nhân dân Lào Cai, Yên Bái đóng góp cho "chiến dịch sông Thao" 45.000 ngày công, 120 ngựa thồ, 55 mảng vận chuyển ủng hộ 31.260 kg gạo và hàng ngàn kg thịt.


Phối hợp với chiến dịch ta mở rộng cơ sở ở Văn Bàn, từ Khánh Yên đến Dương Quỳ, Minh Lương, xây dựng thêm 7 cơ sở ở Văn Chấn. Các đơn vị bộ đội địa phương ngoài việc phục vụ các chiến dịch của bộ đội chủ lực đã tiến hành các trận phục kích, tập kích; đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch hậu. Du kích Trấn Yên và đại đội 522 phục kích diệt 28 tên địch, gọi hàng 27 tên lính khố đỏ và lính dõng, ở Văn Bàn có 30 dõng ra hàng, số này là thanh niên của xã Đồng Ấn, theo nguyện vọng của họ ta biên chế số này thành 1 trung đội du kích của xã. Tiểu đoàn 630 tấn công đồn Phát, địch ở Bảo Hà sang tiếp viện ta tổ chức chặn viện diệt 12 tên, bắt sống 1 tên.


Đêm 6 tháng 6 ta tập kích ở Cung Phen diệt 22 tên. Du kích Lục Yên cùng đại đội độc lập 672 (trung đoàn 165) phục kích diệt 50 tên, kêu gọi một số dõng và khố đỏ ra hàng. Ở Văn Chấn đại đội 524 đánh đồn địch ở Bản Hẻo (Sơn A) và đôn Cửa Nhì (Sơn Thịnh) gây cho địch nhiều thiệt hại, làm cho tinh thần binh lính địch hoang mang, dao động. Sau đó các đơn vị bộ đội địa phương và du kích tiến công tiêu diệt vị trí Gốc Bục và Bản Tư phá 2 kho thóc của địch khoảng 20 tấn. Ở Than Uyên sau khi đại đội 526 từ Văn Bàn bổ sung vào, các đơn vị bộ đội, du kích tiến hành bao vây, tiến công vào các vị trí địch. Một bộ phận của đại đội 520 cùng du kích xã Lao Chải đánh địch ở Dương Quỳ, phá 1 kho của địch lấy thóc, muối, vải chia cho nhân dân. Lực lượng của ta ở Than Uyên bắt liên lạc với Văn Chấn, bọn địch ở Than Uyên bị ta bao vây, mất liên lạc, thiếu lương thực lại bị tiêu hao mất một số nên thượng tuần tháng 7 năm 1949 địch buộc phải rút về Bình Lư (Phong Thổ). Địch rút khỏi Than Uyên - huyện Than Uyên được giải phóng, Uỷ ban kháng chiến các thôn, xã hoạt động công khai, Uỷ ban kháng chiến cấp xã phát động quần chúng nổi dậy phá tề, trừ gian, xây dựng chính quyền cơ sở. Huyện Than Uyên hoàn toàn được giải phóng - đây là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển trưởng thành của bộ đội địa phương và chiến tranh nhân dân địa phương. Sau giải phóng Than Uyên phong trào kháng chiến có bước phát triển mới. Các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân đều được củng cố. Riêng về công tác phát triển Đảng trong 9 tháng đầu năm 1949 đã tăng lên gần 1.000 đảng viên. Tại Than Uyên ta thành lập 3 Chi bộ ghép với hơn 30 đảng viên (Chi bộ Mường Than, Hua Nà, Chi bộ Mường Khoa, Thân Thuộc, Chi bộ Mường Kim, Khoen On).


Về dân quân du kích, 72 xã trong tỉnh đã có ban xã đội do 1 cấp uỷ viên trực tiếp phụ trách, mỗi trung đội du kích có từ 3 - 5 đảng viên, mỗi huyện có 1 trung đội du kích thoát ly. Các khu du kích trong tỉnh có 9 trung đội du kích; phong trào binh dân học vụ ở các vùng mới giải phóng lên cao: Văn Bàn tổ chức được 14 lớp có 6 giáo viên, Than Uyên có 30 giáo viên dạy ở 11 xã. Việc giảm tô giảm tức đã thực hiện được một phần, có 80 địa chủ giảm tô 25%, một số nơi đã tiến hành giảm tức. Yên Bái bước đầu nghiên cứu vấn đề chia ruộng đất cho nhân dân lao động. Nhân dân huyện Lục Yên mua 209.040 đồng công phiếu kháng chiến, nhân dân hai huyện Trấn Yên và Lục Yên bán cho Chính phủ 31.260 kg gạo khao quân và 750 tấn thóc.


Sau chiến dịch sông Thao địch chuyển hướng từ chỗ mở rộng địa bàn kiểm soát theo chiến thuật "vết dầu loang", đóng những cứ điểm nhỏ sang chỗ rút các đồn nhỏ tập trung củng cố các cứ điểm lớn như: Ken, Cóc (Văn Bàn), Nghĩa Lộ, Tú Lệ, Ba Khe (Văn Chấn), Nghĩa Đô (Lục Yên), chúng tập trung mở các cuộc hành quân càn quét phá các cơ sở của ta hòng cắt đứt đường dây của ta từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm.


Về phía ta, thời gian này các đơn vị chủ lực rút ra ngoài để củng cố chuẩn bị cho các chiến dịch lớn. Bộ đội địa phương vừa mới được xây dựng thay thế chưa kịp, tính đến tháng 10-1949 cơ quan Tỉnh đội mới được kiện toàn, do yêu cầu nhiệm vụ các đồng chí Huyện đội trưởng: Văn Bàn, Trấn Yên, Văn Chấn đều được chuyển nhận nhiệm vụ mới. Ở Yên Bái chỉ còn đại đội 520, đại đội 96 và đại đội 97 với 14 trung đội bộ đội địa phương hoạt động, 2 trung đội của đại đội 524 và 526 sau chuyển thành các trung đội cán sự của tỉnh được phân tán đi xây dựng cơ sở dân quân du kích, toàn tỉnh có 1.761 du kích, 3.052 dân quân.


Thời kỳ này công tác xây dựng Đảng vẫn được tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tính đến tháng 12-1947 Đảng bộ Yên Bái đã có 3.286 đảng viên, các thôn ven sông Hồng, dọc trên đường cái lớn đều xây dựng được các tổ Đảng. Cũng trong thời gian này tỉnh đã thực hiện chỉ thị thành lập Ban cung cấp để huy động nhân vật lực phục vụ cho kháng chiến nuôi bộ đội, phục vụ các chiến dịch do đồng chí Uỷ viên UBHC kháng chiến làm Trưởng ban.


Từ sau chiến dịch sông Thao, địch phát hiện bộ đội chủ lực của ta đã rút ra ngoài chúng tăng cường càn quét, cướp bóc tàn phá, đánh phá các cơ sở của ta.

Ngày 14-11-1949 địch tổ chức khoảng 200 tên hành quân từ Ken, Cóc đến làng Nhược đánh úp Huyện uỷ Văn Bàn; đơn vị bảo vệ cơ quan và du kích đánh trả quyết liệt nhưng do lực lượng không cân sức nên sau một thời gian chiến đấu ta hy sinh 6 đồng chí, địch xông vào bắt đồng chí Bí thư Huyện uỷ và tài liệu, gây cho ta nhiều khó khăn mới.


Tháng 12-1949, địch nống ra càn quét khụ vực Đại Khánh, Hưng Thịnh, Đèo Bụt, hai trung đội bộ đội địa phương phối hợp với du kích bảo vệ dân gặt, chặn đánh địch ở Đèo Bụt buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân; trận này ta hy sinh 20 đồng chí vì vậy phong trào kháng chiến vùng sau lưng địch gặp một số khó khăn. Ban chỉ huy tỉnh đội chưa đủ kinh nghiệm chỉ huy, chỉ đạo bộ độỉ địa phương chiến đấu; đặc biệt là xây dựng và chỉ đạo các đại đội bộ đội địa phương vào hoạt động trong vùng địch hậu.


Nhìn chung qua hơn 2 năm tiến hành kháng chiến, Đảng bộ, quân và dân Yên Bái đã trưởng thành từ Ban vũ trang 36 cán bộ chiến sỹ đến nay đã xây dựng được các đại đội bộ đội địa phương lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích lớn lên, trưởng thành toàn diện, trở thành nòng cốt chỗ dựa vững chắc cho toàn dân đánh giặc.


Công cuộc trường kỳ kháng chiến của tỉnh có thêm nhiều nhân tố mới, thế và lực của ta ngày càng phát triển lớn mạnh từng bước làm thay đổi so sánh tương quan địch - ta trên địa bàn tỉnh; đồng thời cũng mở ra bước ngoặt mới, cơ hội mới cho lực lượng vũ trang tỉnh nhà phối hợp với bộ đội chủ lực của Bộ, của Khu mở những chiến dịch quan trọng để tiêu diệt địch, giải phóng quê hương và mở thông đường vào miền Tây Bắc thân yêu của Tổ quốc.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:16:14 pm
CHƯƠNG II
XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, PHỐI HỢP VỚI BỘ ĐỘI CHỦ LỰC GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG VÀ CHI VIỆN CHO CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ


Bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta có những thuận lợi mới; thế và lực của ta ngày càng mạnh sau những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao.

Các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta; tạo nên thời cơ triển vọng hết sức thuận lợi cho công cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Nắm chắc tình thế và thời cơ thuận lợi, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Lê Hồng Phong I trên địa bàn miền Tây Bắc, mục đích của chiến dịch được Bộ tổng Tư lệnh đề ra: "Tối thiểu làm tan rã khối ngụy binh, tiêu diệt một số vị trí địch, lấy ảnh hưởng chính trị với quốc tế và nhân dân để nuôi dưỡng lực lượng ta, tối đa là khôi phục lại Lào Cai, mở thông đường quốc tế1 (Chỉ thị về nhiệm vụ tác chiến mặt trận Lê Hồng Phong số 13/CT 63 ngày 25-2-1950 của Bộ tổng tham mưu), Bộ tổng tham mưu xác định nếu có điều kiện thuận lợi mới giải phóng Lào Cai"2 (Chỉ thị về nhiệm vụ tác chiến mặt trận Lê Hồng Phong số 13/CT 63 ngày 25-2-1950 của Bộ tổng tham mưu).


Bộ chỉ huy mặt trận và Bộ Tư lệnh đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ tổ chức tiến công địch ở Tây Bắc, hướng chính là Lào Cai.

Tỉnh Yên Bái được tham gia phối hợp hoạt động với bộ đội chủ lực quấy rối tiêu hao địch ở các huyện Văn Bàn; đặc biệt ở khu đồn Võ Lao, đồn Minh Hương, đồn Ca Vịnh (Trấn Yên), bảo vệ kho tàng ở Bảo Hà, phối hợp với Trung đoàn 165 đánh đồn Nghĩa Đô (hướng thứ yếu của chiến dịch).


Ngoài việc chỉ đạo hoạt động quân sự phối hợp, Tỉnh uỷ Yên Bái chủ trương huy động nhân tài vật lực của địa phương phục vụ cho chiến dịch; đồng thời đẩy mạnh công tác chống càn xây dựng phát triển cơ sở rộng khắp trong vùng địch tạm chiếm. Đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc, khuyếch trương thắng lợi, tiếp tục củng cố phát triển tổ chức Đảng, chính quyền lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng. Đến đầu tháng 2 năm 1950 các công tác chuẩn bị chiến dịch đã hoàn thành, ta thực hiện nổ súng đánh địch. Ngày 08-2-1950 Chiến dịch Lê Hồng Phong bắt đầu.


Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, Trung đoàn 102 được tăng cường thêm tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn sơn pháo nổ súng tiến công đồn Phố Lu. Sau 2 đợt chiến đấu ác liệt kéo dài 6 ngày đêm, ta làm chủ hoàn toàn thị trấn Phố Lu, địch bị thiệt hại nặng: 2 đại đội bị loại khỏi vòng chiến đấu (trong đó có tên đồn trưởng Gôchiê) ta thu toàn bộ vũ khí khí tài1 (Theo lệnh chiến đấu: 1945 - 1954 Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu xuất bản năm 1957).


Trên hướng Nghĩa Đô - hướng thứ yếu của chiến dịch tình hình chiến sự diễn ra phức tạp, trong suốt 17 ngày từ ngày 7 đến 24 tháng 2 Trung đoàn 165 ba lần tấn công đều không thành công, ngày 24-2 địch tăng cường một tiểu đoàn biệt kích dù cho Nghĩa Đô; tuy vậy Nghĩa Đô vẫn bị ta uy hiếp mạnh, ngày 10-3 địch buộc phải rút khởi Nghĩa Đô và Bắc Hà, ta giải phóng Nghĩa Đô phía tả ngạn sông Hồng của Yên Bái không còn một đồn địch.


Thực hiện nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với chiến dịch, Đại đội 97 và 2 trung đội bộ đội địa phương huyện Văn Bàn đã hoạt động kiềm chế địch ở Ca Vịnh, Phong Dụ, Khe Cốc; tranh thủ lúc địch ở đồn Ken, Cóc, Võ Lao, Phong Dụ đang hoang mang dao động các đại đội 96, 97 của tỉnh vào giải phóng một nửa xã Phong Dụ, một phần thôn ba xã, các làng Võ Lao của người H’mông và người Dao, làng Cam Cọn (xã Kim Sơn).


Nhân dân các huyện Lục Yên, Văn Bàn, Trấn Yên đã có nhiều đóng góp cho chiến dịch. Riêng huyện Lục Yên đóng góp 10.000 ngày công, tổ chức 1 đại đội tải thương nữ 100 người, cung cấp 300 tấn thóc. Huyện Văn Bàn cung cấp 20 thuyền ván, 300 mảng cho bộ đội hành quân qua sông, sửa chữa 6 km đường, ủng hộ 11.753 đồng, 270 kg thóc gạo và 35 chiếc khăn tay. Huyện Trấn Yên tổ chức 25 đội vận tải tiếp tế mỗi đội có từ 5 - 15 người, ủng hộ 22.181 đông, 74 kg gạo, một số trâu bò lợn gà.


Tháng 4-1950, địch cho quân nhảy dù chiếm Nghĩa Đô, tăng cường càn quét phá các cơ sở của ta ở Võ Lao, mở rộng vùng kiểm soát của chúng lên tận các rẻo cao của người H’mông, tiến hành lập tề ở Võ Lao, Minh Lương, Dương Quỳ.

Trước tình hình đó, đại đội 85 chủ trương đánh địch để duy trì và củng cố cơ sở kháng chiến; 5 giờ ngày 6-6-1950 dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Trung Bảo bộ đội ta nổ súng tập kích địch ở vọng tiêu Khe dài ba xã. Sau 16 phút chiến đấu bộ đội ta diệt gọn vọng tiêu, diệt 4 tên trong đó có tên Fò Lý Fo - tên chỉ huy tề gian ác, bắt sống 2 tên thu 5 súng trường. Thắng lợi trên đã làm tăng thêm tinh thần chiến đấu của bộ đội, làm nức lòng nhân dân địa phương và phá âm mưu lập tề tại ba xã, cắt đứt đường hành lang cửa ngõ của đồn Cóc và đường từ Phong Dụ đi Võ Lao.


Ngày 17-6-1950, 1 trung đội địch có 4 Pháp chỉ huy từ Đồng Bồ nống ra càn quét, cướp phá thóc của dân ở thôn Đông Me xã Đại Lịch. Tại đây chúng bị Đại đội 86 phục kích, bị đánh bất ngờ địch không kịp chống đỡ, vội vàng tháo chạy toán loạn, để lại 4 xác chết, 4 tên bị thương. Thắng lợi này khẳng định bộ đội địa phương có đủ khả năng để tập phục kích, lực lượng địch ở ngay gần sát đồn.


Tháng 6-1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch biên giới đánh địch ở hướng Cao Bằng, Lạng Sơn; Lào Cai và Yên Bái tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu phối hợp với quân và dân Cao Lạng1 (Chiến dịch Biên giới (01- 10) ta diệt và bắt sống khoảng 8.300 tên địch, 8 tiểu đoàn Âu Phi và 2 tiểu đoàn ngụy; mở thông đường biên giới Yên Bái, Lào Cai đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nghi binh đánh lừa địch).


Trong chiến dịch biên giới; Yên Bái - Lào Cai có nhiệm vụ nghi binh, thu hút và kiềm chế quân ứng chiến của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, Yên Bái - Lào Cai đã tích cực chuẩn bị xây dựng nhiều lán trại, kho tàng dọc đường giao thông, kết nhiều bè mảng trên sông để đánh lừa địch. Do làm tốt công tác nghi binh nên trước khi quân ta nổ súng đánh đồn Đông Khê địch vẫn tưởng rằng hướng chính của chiến dịch là Lào Cai, Yên Bái nên chúng tăng cường quân ứng chiến lên Lào Cai, cử tên Quan 5 Côtxtơ ở khu Tây Bắc lên trực tiếp chỉ huy mặt trận này.


Tiêu đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 18 Tháng Chín, 2026, 10:17:54 pm
Ngày 12-9-1950 các đơn vị e165, e148 cùng bộ đội địa phương nổ súng tiêu diệt địch giải phóng Bắc Hà; ngày 01-11-1950 ta giải phóng thị xã Lào Cai, địch rút chạy ta tiếp tục truy kích đến ngày 12-11 địch rút chạy khỏi Phong Thổ, tỉnh Lào Cai hoàn toàn được giải phóng2 (Tỉnh Lào Cai trừ huyện Mường Khương lúc này do bọn ngụy chiếm giữ, ta chưa giải phóng được, còn toàn tỉnh đã được giải phóng).


Trong thời gian chiến dịch Yên Bái vừa chỉ đạo hoạt động quấy rối trong vùng địch hậu vừa tích cực tham gia phục vụ cho chiến dịch; đồng thời tỉnh chủ trương xây dựng Tiểu đoàn 81 bộ đội địa phương của tỉnh.

Tình hình thất bại ở mặt trận Cao Lạng và Lào Cai đã tác động mạnh đến tinh thần binh lính địch ở phân khu Nghĩa Lộ. Chúng tiếp tục rút khỏi các vị trí Võ Lao ngày 02-11, Dương Quỳ 10-11 ở huyện Văn Bàn chỉ còn đồn Phong Dụ, ở tại Nghĩa Lộ địch bỏ các đồn thấp lên đóng ở các đồn cao, đồng thời chuyển vũ khí khí tài đi Sơn La bằng đường không, đưa một số sỹ quan chỉ huy về Hà Nội.


Căn cứ vào tình hình trên Tỉnh uỷ Yên Bái nhận định địch đang rút khỏi Nghĩa Lộ và chủ trương chỉ đạo các huyện, các cơ quan chuẩn bị đón thời cơ; đồng thời nhanh chóng ổn định biên chế tổ chức d.81 để sẵn sàng truy kích địch nếu địch rút khởi Nghĩa Lộ đi Quang Huy hay Tây Nam Phú Thọ.


Đây là một chủ trương phản ánh trình độ nhận thức về quân sự chưa cao, thụ động chờ địch rút, không chớp lấy thời cơ để kịp thời tấn công Nghĩa Lộ. Ngày 17-11 khi về Hà Nội thấy ta không tấn công, Bộ chỉ huy Pháp lại thúc quân lên sắp xếp đội hình như cũ. Sau đó tăng cường củng cố và mở các cuộc càn quét bình định lấn chiếm gây cho ta không ít khó khăn.


Thời gian này, Tiểu đoàn 81 được lệnh giải thể, chủ trương xây dựng tiểu đoàn chủ lực của tỉnh là đúng nhưng trình độ quản lý chỉ huy tác chiến, cơ sở vật chất chưa đáp ứng song cũng đã cung cấp một số kinh nghiệm để sau này xây dựng tiểu đoàn chủ lực tốt hơn.


Trước diễn biến mới của tình hình, đầu năm 1951 Tỉnh uỷ chủ trương: đối với vùng giặc Pháp còn chiếm đóng gần vận dụng những kinh nghiệm của công tác hậu địch trong những năm qua, tiếp tục tăng cường xây dựng củng cố cơ sở, phát triển chiến tranh du kích, khôi phục lại các khu du kích, căn cứ du kích trong lòng địch.


Từ tháng 1 đến tháng 4-1951, địch mở 31 cuộc càn quét ra vùng tự do của ta hòng phá vỡ các cơ sở hậu địch, cắt đứt đường dây liên lạc giữa huyện với xã. Ở Than Uyên 4 khu du kích đều bị vỡ, huyện Trấn Yên có 7 khu thì 5 khu bị tan vỡ; còn lại khu du kích Cát Thịnh và Khau Phạ vẫn hoạt động nhưng cũng đang bị địch khủng bố dữ dội; địch tăng cường đôn quân bắt thanh niên từ 16 tuổi vào lính, dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc dụ dỗ và cưỡng ép khống chế nhân dân như: tổ chức bán muối, vải, thuốc lào, trả tiền công cho dân làm đồn, làm đường, làm sân bay. Điểm nổi bật của chiến tranh tâm lý là âm mưu chia rẽ và kích động sự hận thù giữa các dân tộc, chúng lập các đội bảo an, các đơn vị lính dõng người cùng một bộ tộc đưa dân tộc này đi đàn áp bắn giết dân tộc khác. Địch tổ chức 3 đại đội do các tên Bang Vận, Châu Tấn, Bang Dường chỉ huy (thuộc Văn Bàn), một đại đội người H’mông do tên Nủ Su chỉ huy, 1 đại đội người Dao do tên Páo ở Hố Mít chỉ huy và 1 đại đội người Thái do tên La Văn Sử và Tạo Dơ chỉ huy, 1 đại đội người Tày ở Thượng Bằng La, 1 đại đội người H’mông ở Tú Lệ. Đây là thủ đoạn rất thâm độc của kẻ thù.


Tại phân khu Nghĩa Lộ thời gian này các đại đội do mật thám chỉ huy năm vùng ngóc đâu dậy, chúng lập Uỷ ban giải phóng sông Hồng do tên Câm Dượt (Dân tộc Thái) đứng đầu.

Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch, đại đội 85, 86, 87 và 96 bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực thường xuyên quấy rối địch ở Ca Vịnh, ngăn không cho địch càn ra vùng phụ cận; đại đội 87 luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm xây dựng cơ sở bảo vệ các kho quân lương từ Trái Hút lên Phố Lu, đại đội 86 tác chiến trong đội hình của bộ đội chủ lực. Thời gian này Yên Bái đã thành lập được Hội đồng nuôi quân nhằm vận động nhân dân cung cấp lương thực cho bộ đội địa phương. Tỉnh mở lớp bồi dưỡng cho 65 cán bộ tiểu đội và tổ chức huấn luyện 192 tân binh tuyển thêm được 209 tân binh (Lục Yên 96 người, Trấn Yên 113 người).


Cuối tháng 3-1951, thực hiện chủ trương tiêu diệt một bộ phận sinh lực dịch ở Tây Bắc, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Bắc mở đợt hoạt động quân sự mùa hè nhằm củng cố vùng mới giải phóng, chiếm lại khu tam giác Bát Sát - Sa Pa - Phong Thổ; từ 01-4 đến 06-4 các đơn vị đã hoàn thành được nhiệm vụ - kết thúc đợt I1 (Chiến dịch củng cố biên giới đợt I ta đã tiêu diệt 100 tên bắt sống 180 tên địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Ta hy sinh 15 đồng chí; bị thương 5 đồng chí toàn đợt hoạt động ta diệt 133 tên, bắt sống 458 tên địch, loại khỏi vòng chiến đấu 1 tiểu đoàn địa phương quân, 1 đại đội Com măng đô), ngày 21 tháng 4 Ban chỉ huy Trung đoàn 148 chủ trương điều tiểu đoàn 910 đang ở miền Đông về đội hình trung đoàn chuẩn bị tiến công địch ở Than Uyên, Nghĩa Lộ.


Ngày 25-4, các đơn vị xuất phát từ Bình Lư đi Bản Bo, ngay đêm hôm đó ta tiến quân vào các vị trí tiền tiêu của địch ở Phiềng Phát và Thân Thuộc nhưng địch đã rút từ trước. Ngày 27-4 ta chiếm được Pắc Ta, địch ở các vị trí xung quanh vội vã rút về Than Uyên, ngày 29-4 ta đánh Than Uyên diệt và bắt sống một số tên, số còn lại rút về Mường Cang, Mường Kim, Tà Hùa, Quỳnh Nhai, Khau Cọ, địch buộc phải rút 2 đồn Minh Lương và Văn Bàn - giải phóng huyện Than Uyên. Thắng lợi tạo nên bước ngoặt phát triển của bộ đội địa phương và tạo ra thời cơ mới; từ thắng lợi này đã nảy nở trong tư tưởng của cán bộ chỉ huy hình thức vận động tập kích đánh địch trong công sự vững chắc.


Đầu tháng 5, Trung đoàn 148 chuẩn bị đánh Nghĩa Lộ, nhưng tình hình lúc này đã thay đổi, địch đã tăng cường phòng thủ Nghĩa Lộ; đồng thời ta cũng gặp nhiều khó khăn về vận tải tiếp tế... nên phải tạm hoãn kế hoạch đánh Nghĩa Lộ.

Ngày 11-5-1951, sau khi e148 rút, địch lại tổ chức đánh chiếm Than Uyên; thường xuyên phục kích trên các trục đường giao thông, kiểm soát ngặt nghèo nhưng nhân dân vùng tạm chiếm ngày đêm vẫn hướng về kháng chiến.