|
Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:01:13 pm - Tên sách: Cuộc đời và những trang nhật ký
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2021 - Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian Lời nói đầu Đầu năm 1965, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bước sang một giai đoạn mới, chiến tranh đã lan rộng ra phạm vi cả nước. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và của Bác, lớp lớp thanh niên nô nức lên đường tòng quân ra mặt trận. Khí thế hừng hực, sục sôi trong các tầng lớp nhân dân, công nhân và trí thức. Tôi là lớp thanh niên vừa mới lớn lên, còn đang ngồi trên ghế nhà trường mà cũng xao xuyến, rạo rực muốn nhập ngũ. Học lên lớp Sáu, lớp Bảy, một số bạn đến tuổi xếp bút nghiên lên đường. Chúng tôi chia tay bạn mà cứ mong đến lượt mình. Trong thời điểm đó, mỗi năm có đến hai, ba đợt tuyển quân, năm 1967 có đến bốn, năm đợt tuyển quân, có những đợt chỉ cách nhau trên dưới một tháng. Tôi được tuyển trong năm đó, toại nguyện mơ ước lên đường ra mặt trận... Lý tưởng, hoài bão trong tôi cũng như bao anh em bạn bè cùng trang lứa bây giờ là được lên đường tiếp bước thế hệ đi trước thực hiện sự nghiệp vẻ vang của Đảng là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc... Và điều đó đã trở thành hiện thực. Sinh ra đã biết chiến tranh, lớn lên được nuôi ăn học hết lớp Bảy phổ thông, cũng vừa lúc đến tuổi trưởng thành, nhập ngũ vào Quân đội, tôi đi khắp các chiến trường đánh giặc Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế và bảo vệ biên giới quốc gia. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, ngoảnh lại cuộc đời đã hơn 40 năm trong Quân đội, tôi rất tự hào về những điều mà mình đã phấn đấu và làm được. Vào Quân đội khi tuổi đời còn rất trẻ, lúc trở về mái tóc đã hoa râm, quê hương có quá nhiều đổi thay. Ngày nhập ngũ, bố mẹ, họ hàng, bà con làng xóm luôn mong chờ và gửi gắm niềm hy vọng vào tôi, nay thì tất cả đã trở thành người thiên cổ, một thế hệ đã đi xa... Âu đó cũng là quy luật! Có nhiều lúc tôi cứ bần thần nghĩ về quá khứ nhưng rồi thấy con cháu "tre già măng mọc" kế tiếp đang khôn lớn, trưởng thành luôn bên cạnh, tôi lại ấm lòng, mãn nguyên và thấy mình may mắn hơn bao người, nhất là so với những đồng đội đã hy sinh hay đế lại một phần xương máu trên chiến trường. Đây cũng là lúc tôi có thời gian hồi tưởng lại chặng đường mình đã đi, từ trai trẻ đến giờ, nhất là khoảng thời gian song, chiến đấu, cống hiến hết mình cho Quân đội, và ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc sống, để lại đôi dòng tâm sự cùng con cháu và đồng đội về "Cuộc đời và những trang nhật ký". Thời gian đã lùi xa, bao đồng chí, đồng đội từng kề vai sát cánh, cùng với bao sự kiện diễn ra mà khả năng thể hiện của tôi có hạn không thể diễn tả đầy đủ, chi tiết được. Và cũng có thể còn có những hạn chế, thiếu sót dưới góc nhìn của cá nhân. Do đó, rất mong nhận được sự đóng góp xây dựng và cảm thông, lượng thứ của các đồng chí cùng bạn đọc. TÁC GIẢ Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:02:50 pm I. THỜI THƠ ẤU
Theo bố mẹ, tôi sinh đầu năm 1950 tại thôn Trung, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Thế hệ các cụ ngày trước, khi sinh con, bố mẹ có khi chỉ nhớ mang máng sinh cùng năm với con nhà nào trong xóm và khoảng tháng mấy chứ ít gia đình có thể nhớ được con cái sinh cụ thể vào ngày, tháng, năm nào, nhưng sau này, bố mẹ tôi lấy ngày sinh của tôi là ngày 20 tháng 4 năm 1950. Đây là thời điểm gay go, quyết liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Bố mẹ tôi kể lại, vừa sinh tôi được vài ngày thì một đơn vị lính Pháp và tay sai mở trận càn lớn vào ba thôn Đông, Trung, Thượng. Tất cả các cụ già, trẻ nhỏ, đàn bà chân yếu, tay mềm đều phải chạy ra các làng Bích Chu, Thủ Độ thuộc xã An Tường và các làng tề để lánh nạn. Mẹ tôi vội lót giẻ rách, quần áo cũ và một số đồ đạc vào đôi mủng, đặt tôi nằm gọn một bên theo mẹ đi tản cư... Gia đình tôi ở nhờ nhà người dân địa phương, có lúc phải ra lánh nạn ngoài cánh đồng mía, ngô đợi vài hôm tình hình yên ắng mới dám trở về. Dân tản cư hết, ở trong làng chỉ còn lại lực lượng du kích, bộ đội địa phương, dân quân chiến đấu. Nhưng thường thì do lực lượng ta mỏng, vũ khí thô sơ, chủ yếu là giáo mác, gậy tầm vông, dựa vào địa hình làng xóm để quần lộn với địch nên cuối cùng vẫn phải xuống hầm bí mật. Lính Pháp và tay sai mặc dù đông và vũ khí hiện đại đấy nhưng cũng chỉ dám càn quét làng xóm ban ngày, đến tối là vội vã rút quân về bốt Quảng, bốt Thùng chứ không dám ở lại làng qua đêm. Cứ như vậy cuộc chiến đấu liên tục diễn ra: Địch càn, ta chống càn rồi luồn càn hay rút xuống hầm bí mật; địch rút quân thì cán bộ, nhân dân lại trở về làng, du kích bật hầm hoạt động trở lại. Càng về sau, do địch thất bại trên khắp các chiến trường, trong khi lực lượng ta càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành nên địch cũng huy động lực lượng lớn hơn mở các trận càn lớn, quy mô, ác liệt hơn và cũng dài ngày hơn nhằm làm chủ tình hình. Sau này, mỗi khi có động (địch càn), ông nội tôi lại vội dắt hai cháu (tôi và anh trai) theo đoàn người tản cư ra làng Phù Chính (vùng tề) cùng xã. Hết càn, ba ông cháu lại dắt díu nhau trở về. Đầu năm 1953, trận thôn Táo, một trận đánh lớn, lịch sử của quê hương tôi đã diễn ra giữa một đại đội bộ đội địa phương của ta với một đại đội xe tăng, thiết giáp của địch. Một buổi sáng đầu năm 1953, cơ sở của ta báo tin một đại đội xe tăng, thiết giáp có bộ binh ngồi trên của địch xuất phát từ Việt Trì đi theo đê sông Hồng qua xã Lũng Hòa, Cao Đại, An Tường về xã Tuân Chính để phối hợp với các bốt Thùng, bốt Quảng Cư... mở một trận càn lớn, hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực, du kích địa phương và cơ sở cách mạng của ta. Đại đội bộ đội địa phương Vĩnh Tường nhanh chóng trinh sát chuẩn bị chiến trường và triển khai chiến đấu. Địa điểm chọn trận địa phục kích: Đầu làng thôn Táo - xã Tuân Chính là trận địa chặn đầu quân địch. Trận địa khóa đuôi là thôn Thùng Mạch - xã An Tường, đoạn đê cao giữa hai xã, hai bên là ngô, mía rậm rạp, tiện cho việc ém và giấu quân... Đúng như tin báo và dự kiến, khoảng 8 giờ sáng một ngày đầu tháng 2 năm 1953, bộ phận quan sát của ta báo về nghe thấy nhiều tiếng động, xe tăng và khói bụi theo đê từ xã Cao Đại tiến gần đến trận địa... Tất cả đã sẵn sàng... Khi địch tiến vào đúng trận địa phục kích, bộ phận chặn đầu được lệnh nổ súng. Bị chặn đứng, đoàn xe dừng lại, bộ phận khóa đuôi được lệnh chia cắt phía sau. Đoạn giữa, chủ lực ta được lệnh nổ súng, xung phong, tiêu diệt một số tên địch trên và ngoài xe. Lúc đầu do bất ngờ lọt vào đúng ổ phục kích của ta, quân địch bị hoảng loạn, chống đỡ yếu ớt. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, xung phong đánh gần, giáp lá cà, đâm lê, có nhiều đồng chí trèo lên xe, bám chặt quyết dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng. Bộ đội ta vũ khí chủ yếu là súng trường, lựu đạn, giáo mác trong khi lực lượng địch đông, hỏa lực mạnh nên dần dần chúng co cụm lùi xa trận địa chính, dùng hỏa lực súng máy trên xe chi viện cho nhau, xe sau chi viện cho xe trước nên thế trận giằng co rất quyết liệt. Đến gần trưa, trận đánh kết thúc, quân ta bị thiệt hại lớn. 34 cán bộ, chiến sĩ hy sinh được nhân dân địa phương đưa về mai táng, hiện đang yên nghỉ trong nghĩa trang của xã trước cổng trường cấp Hai và Ủy ban nhân dân xã Tuân Chính. Đây là trận đánh điển hình, xuất sắc, mưu trí, dũng cảm phát huy các loại vũ khí, trang bị hiện có trong biên chế như súng trường, lựu đạn, giáo mác... để đánh lại quân địch có trang bị hiện đại. Tuy trận đánh chưa giành thắng lợi nhưng đã để lại những bài học kinh nghiệm được phổ biến đến các chiến trường học tập rút kinh nghiệm. Hồi còn là học sinh, cứ mỗi khi đến ngày 22 tháng 12. Ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Ban Giám hiệu nhà trường lại mời các nhân chứng lịch sử kể chuyện truyền thống quê hương cho toàn trường nghe... Tôi còn nhớ mãi truyền thống cách mạng của quê hương trong đó có trận thôn Táo lịch sử. Và tôi thật sự tự hào vì trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã Tuân Chính - huyện Vĩnh Tường có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước, Quốc hội phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Xã có hàng chục Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có sáu sĩ quan Quân đội và Công an được phong quân hàm cấp tướng, một trong những xã có sĩ quan cấp tướng đứng đầu tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 18 tháng 9 (âm lịch) năm 1953, một trận đánh lớn nổ ra giữa dân quân, du kích, bộ đội địa phương với lực lượng đi càn của quân Pháp vào các thôn Đông, Trung, Thượng. Lực lượng bên ta mỏng, yếu hơn nên phải rút xuống hầm bí mật. Quân Pháp chiếm được làng, dồn dân tập trung một chỗ, đánh đập, tra khảo rất dã man. Những ai chúng nghi ngờ là bắn chết tại chỗ để uy hiếp tinh thần nhân dân. Một số nông dân đi làm đồng, chúng nghi là du kích nên bắn chết tại cánh đồng. Trước cảnh giặc càn, ông nội tôi và anh trai cùng một số gia đình khác vội dắt nhau ra làng Phù Chính tránh càn. Chủ nhà là bà Sơn, có nhà, có vườn rộng, chuồng trâu đào âm xuống lót rơm, vệ sinh sạch ở xung quanh nhà, rất tiện cho việc trông nom nhưng nếu dính bom thì thiệt hại cũng sẽ rất lớn. Mà quả thế, một loạt pháo 105mm từ bốt Tây Đằng (Ba Vì - Sơn Tây) bắn vào giữa làng, trúng chỗ ông cháu tôi trú, làm chết tại chỗ bốn người toàn trai trẻ dưới 20 tuổi, trong đó có anh trai tôi, hai người gia đình ông Cục, một người nhà bà Sơn, còn gần chục người nữa bị thương, trong đó có ông cháu tôi. Hai ông cháu tôi được mọi người nhanh chóng cấp cứu và đưa sang bệnh viện Sơn Tây chạy chữa. Rất may có bà Lợi thôn Đông, gái họ Thiều, thường xuyên đi chợ Sơn Tây, mang quần áo, đồ ăn thức uống cho hai ông cháu, vết thương không nặng lắm. Ông tôi bị nhiều mảnh pháo vào người, một mảnh sượt qua trán, còn tôi bị trúng ba mảnh đạn, trong đó mảnh vào đùi là nặng nhất. Nằm viện khoảng ba tuần thì ông cháu tôi được xuất viện. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:03:58 pm Trong lúc ông cháu tôi sơ tán lên Phù Chính và dính phải đạn pháo thì ở nhà, bố mẹ tôi cũng đi sơ tán nơi khác, biết tin anh tôi mất, ông cháu tôi bị thương, cả gia đình bàng hoàng vì mất, mát quá lớn và đột ngột. Gia đình tôi lên Phù Chính cùng gia đình chủ nhà lo mai táng cho những người đã mất, anh trai tôi được đưa về cánh đồng Vua (giữa làng Phù Chính - thôn Đông, bờ sông ngoài) để mai láng. Sau này khi cải táng, hài cốt anh tôi được đưa về đồng Mỏm (ruộng của gia đình). Anh trai tôi sinh năm 1941, khi mất mới 13 tuổi xuân. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh. Dù lúc đó tôi còn rất bé nhưng vẫn mơ hồ cảm nhận về nỗi đau mất người thân của những người trong gia đình.
Chiến tranh diễn ra ngày càng khốc liệt, quê tôi là vùng địch tạm chiếm, bốt địch dày đặc, các trận đánh diễn ra liên tiếp, nhất là khi phối hợp với các chiến dịch và chiến trường chính. Bom đạn cày xới làng xóm, nhà cháy cây héo khô, khắp đồng quê nồng hơi súng, xác xơ. Chết chóc đau thương bao trùm một miền quê vốn trù phú và giàu truyền thống cách mạng. Nhưng rồi chiến tranh cũng qua, ngày đó còn bé quá tôi chưa cảm nhận hết về niềm vui chiến thắng nhưng vẫn nhớ những ngày thực hiện cải cách ruộng đất làm thay đổi cuộc sống gia đình tôi. Những năm 1955 - 1960, gia đình tôi đươc chia gần một mẫu mộng. Có ruộng rồi, các gia đình đổi công cho nhau, làm như vậy rất thuận lợi, nhanh, bảo đảm thời vụ. Bố tôi hay tậu nghé về để vực, thuộc cày rồi lại đem bán mua con khác. Tôi biết làm nông từ rất sớm. Với cái nón mê, quần cộc, dưới sự chỉ bảo của bố, tôi đi trước cầm thừng dắt trâu, bố đi sau cầm cày, bừa, thế là chín, mười tuổi tôi đã trở thành lao động phụ trong gia đình. Mẹ tôi phát góc, bờ, đi cấy, thường đi sau, nấu cơm, xôi, bánh, hoa quả mang cho hai bố con tôi đi làm thật sớm cho mát và cũng để kịp có ruộng cấy. Lúc tôi đã bảy, tám tuổi rồi mà không có lớp, có trường, cả lũ trẻ chúng tôi đều không được đi học. Năm 1958, ông Đạo là người trong dòng họ, biết chữ, tập trung bọn trẻ, lấy nhà ở mọ Ngư (Ngư Để) làm lớp học. Lớp học chỉ có ba gian nhà ngoài, không bàn ghế. Hơn 20 học sinh phải kê bảng, sách lên phản, giường, cánh cửa để học. Sang năm sau thì bà giáo An dạy thay cho ông Đạo. Ngày 5 tháng 9 năm 1960, khi mười tuổi, tôi mới chính thức vào học lớp Một. Lớp học ở chùa Hoa Dương, ngách bên trái nhìn vào gọi là sảnh chùa, giữa không gian là năm cây cau thành hàng tốt, quả xum xuê, ngày mồng Một ngày Rằm, Tết là các vãi thường hái vào thờ. Trong những ngày đó, khói hương nghi ngút, sư cụ ra làm lễ, bọn trẻ chúng tôi tò mò dõi theo, có đứa bắt chước sư cụ bái lạy Phật. Thầy giáo của chúng tôi tên là Hồ, khoảng hơn 50 tuổi, quê xã Thái Học. Tính thầy điềm đạm, hiền hậu. Thầy nhiều năm dạy học nên có rất nhiều kinh nghiệm. Buổi học đầu tiên gieo vào lòng tôi ân tượng sâu đậm. Cả lớp im phăng phắc nghe thầy giảng, niềm khát khao con chữ bấy lâu nay của chúng tôi giờ đây mới được thỏa. Năm học lớp Hai và lớp Ba, chúng tôi được chuyển ra học tại miếu thôn Thượng, rộng và thoáng hơn ở chùa. Thầy giáo tên Vận, quê ở xã Đại Đồng. Thầy trẻ, đẹp trai, khoảng trên dưới 30 tuổi. Hai năm học, thấy rất tình cảm, gần gũi với học sinh. Vào lớp Hai, buổi đầu tổ chức lớp, thầy chỉ định tôi làm lớp trưởng rồi xin ý kiến cả lớp, tất cả lớp đồng thanh nhất trí, thế là tôi thành lớp trưởng trong hai năm học do thầy phụ trách. Giữa năm học lớp Hai, thầy phát động đóng góp quỹ lớp, mọi người đóng theo quy định, tất cả quỹ đều giao cho lớp trưởng giữ. Có mấy đồng bạc của lớp mà tôi lo mất ăn, mất ngủ vì tôi chưa có tiền và chưa giữ một số tiền lớn như thế bao giờ. Năm học lớp Ba, thầy tổ chức lớp đi lao động công ích một tuần tại Nhà máy đóng tàu Việt Trì. Do phương tiện khó khăn nên thời gian đi và về đã mất đứt hai ngày, chỉ còn năm ngày để lao động, khiêng sỏi ở bãi lên xà lan. Học sinh nhỏ tuổi, chưa lao động nặng bao giờ nên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, đi xa, mỏi chân, nhiều bạn bị tụt lại phải nhờ giúp đỡ... Tuần lao động công ích đó đã để lại rất nhiều kỷ niệm mà sau này bạn bè thỉnh thoảng có dịp gặp lại nhau vẫn hào hứng nhắc lại. Hai năm học thầy Vận, được làm lớp trưởng, tôi học tốt, ngoan, được nhà trường tặng giấy khen và thầy có phần thưởng... Bố mẹ tôi rất yên tâm, phấn khởi và tự hào về tôi. Năm tôi học lớp Bốn, do học sinh đông, trường chật chội nên lớp học tạm ở miếu, chùa và đình thôn Trung chỉ dành cho học sinh cấp Hai, còn tất cả các lớp khác sang học tại đình Phù Chính. Thế là sau ba năm học, đã quen thầy, quen bạn giờ đành phải xa nhau, biết bao lưu luyến. Lớp Bốn có khoảng trên 40 học sinh, toàn người thôn Đông, Phù Chính, Quảng Cư, riêng xóm Xuôi có gần chục người đều là anh em trong họ. Lớp học cách nhà hơi xa nên chúng tôi phải đi sớm, về muộn. Thầy giáo của chúng tôi tên là Soạn, quê ở Thượng Trưng (giáp đầu làng thôn Thượng). Thầy rất nghiêm và khó gần. Đi học muộn, nói chuyện, không thuộc bài, hay mắc khuyết điểm gì là thầy gọi lên bảng phạt, bắt đứng hàng giờ. Một lần, cả lớp tập trung lắng nghe thầy chữa bài tập cũ, bài tập làm văn của tôi được thầy chấm cho điểm cao và lấy làm mẫu để chữa, nhưng cần sửa một số câu. Thầy chữa xong và cầm bài đọc cho cả lớp chép. Cả lớp chép bài ngồi im phăng phắc, tôi ngồi không chép mà còn quay sang nói chuyện riêng. Thầy dừng lại, nghiêm sắc mặt, để bài lên bàn, gằn giọng: - Thiều Chí Đinh? - Có! - Tôi vội đáp lời. - Đứng dậy, lên bảng... Tại sao thầy đọc em không chép bài? Tôi ấp úng nói không thành lời. Thầy nói: - Em đứng gần lại đây... ngửa hai bàn tay, để lên bàn. Tôi ngoan ngoãn làm theo... Thầy cầm cây thước kẻ bảng dài khoảng 60cm giơ thẳng, đánh hai cái vào hai bàn tay tôi. Trời mùa đông rét lạnh, quá đau làm tôi không còn cảm giác gì nữa. Đó là một bài học để đời! Thi hết cấp, cả lớp đều đạt điểm đỗ trở lên và chuyển về trường cấp Hai tại Tuân Chính. Ngày 5 tháng 9 năm 1964, lần đầu tiên chúng tôi được học trường chính quy, nhà cửa khang trang, bàn ghế sạch sẽ. Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đều trên dưới 30 tuổi. Thầy Chi là Hiệu trưởng, quê ở Thượng Trưng, cao tuổi hơn cả. Các thầy cô đều tốt nghiệp trường sư phạm chính quy của những năm đầu đất nước hòa bình. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:04:55 pm Tôi học lớp thầy giáo Hòa làm chủ nhiệm, quê thầy ở Nam Hà. Thầy rất nghiện thuốc, chuyên môn giỏi, gần gũi, yêu thương học trò nên cánh học sinh chúng tôi rất quý mến thầy. Có những đêm thầy còn lặn lội tới thăm hỏi hoàn cảnh gia đình, phụ đạo thêm cho học sinh. Thầy là tấm gương mẫu mực về đức độ, tình cảm của người thầy đối với học sinh. Sau này, khi có cơ duyên với nghề quản lý giáo dục ở ngôi trường lớn nhất của Quân đội, mỗi lần nhìn các thầy cô trong trường, tôi lại như thấy có bóng dáng thầy Hòa chủ nhiệm của tôi thuở nào.
Khi tôi đang học lớp Năm thì cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng căng thẳng, ác liệt, lan ra toàn miền Bắc. Mỗi người chúng tôi phải đan một chiếc mũ rơm đội lên đầu khi đi học, vào lớp thì treo vào sau ghế ngồi, có báo động là nhanh chóng đội vào chạy ra hầm trú ẩn. Cứ thế, mỗi buổi học có khi diễn ra báo động liên tục vài lần. Trên trời, máy bay phản lực gầm rú. Mặt đất, pháo phòng không, tên lửa của bộ đội ở khắp các trận địa nổ ran mảnh đạn rơi lõm bõm ngoài đồng, trong làng. Đầu làng Phù Chính, ngoài bãi cát, giữa cánh đồng có một trận địa tên lửa Sam 2, tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 14,5mm và một số pháo khác bảo vệ. Mỗi khi có máy bay, ra đa cảnh giới rú còi báo động, chúng tôi lại chạy ra hầm trú ẩn. Không có ngày nào địch không đánh phá Hà Nội, Sơn Tây, Việt Trì, ga Hương Canh (thị xã Vĩnh Yên - Phúc Yên)... Dân quân tự vệ vừa sản xuất vừa chiến đấu, súng bộ binh K44, CKC lúc nào cũng đeo bên người, khi chưa có máy bay Mỹ thì giá ngoài bờ ruộng sẵn sàng chiến đấu. Học hết lớp Năm ở trường chính quy, đến năm học lớp Sáu, lớp Bảy, chúng tôi phải sơ tán toàn bộ khỏi trường. Lớp chúng tôi được sơ tán về đầu làng ở xóm trại trong vườn nhà ông Tình Hiếu. Nhà trường, xã thuê vườn lâu dài, đào hào sâu, đắp bờ xung quanh, có hào cơ động ra các hầm. Lớp làm bằng khung tre, lợp lá cọ, mát và đủ sáng cho thầy và trò dạy và học. Lớp học tách xa khu dân cư, kín đáo, bất ngờ nên không sợ máy bay địch đánh phá. Hai năm học cuối khóa, trong điều kiện chiến tranh, biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà thầy và trò chúng tôi đều vượt qua và học tập tốt. Tất cả các sinh hoạt thời chiến vẫn diễn ra đan xen với sinh hoạt đời thường. Chúng tôi học tập, lao động và vui chơi dưới sự đe dọa của máy bay Mỹ có thể bất ngờ kéo đến bất cứ lúc nào. Khó khăn, nguy hiểm rất nhiều nhưng không vì thế mà mọi hoạt động bị đình lại, âu cũng là nét đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1960, thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng và Nhà nước đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, làm ăn tập trung, đưa cơ giới, máy móc kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất và nâng cao đời sống. Nông dân quê tôi và toàn miền Bắc phấn khởi, tin tưởng đem hết ruộng, vườn vào hợp tác xã. Thế là từ đó, cứ theo tiếng kẻng, các đội rủ nhau ra làm đồng, kẻ cày, người bừa, cấy, nhổ mạ... đông vui nhộn nhịp. Hợp tác xã thôn Trung có trại nuôi lợn, trâu tập trung, nhiều đàn lợn chất lượng kém, kém kỹ thuật chăn nuôi, thiếu ăn nên lợn gầy, lâu lớn, có lúc chết nhiều. Mấy đứa bọn tôi được bố mẹ giao đi lấy rau lợn cho hợp tác xã nên sáng đi học, trưa về ăn vội phần cơm được ủ chiếu, chăn chiên cho nóng, xong là mang đôi quang, cái liềm ra đầm Vùng, đầm Khoang, đầm Bún, cởi quần áo, ngụp xuống, nhô lên khoảng hơn tiếng đồng hồ là có rong xếp vào quang gánh về sân kho, cân cho ông đội trưởng phụ trách chăn nuôi được 50 - 60kg là đạt hơn chục điểm, về nhà đưa cho bố mẹ chiếc phiếu điểm là được đi chơi, coi như đã hoàn Thành công việc trong ngày. Vừa học, vừa làm, cứ như thế suốt ba năm học cấp Hai, tôi cũng giúp bố mẹ có thêm chút thu nhập, ổn định cuộc sống gia đình. Quê tôi đầm nhiều, ruộng sâu nên hợp tác xã trồng sen và thả cá. Mỗi mùa mưa đến, cá cứ ngược theo dòng nước lên khắp các cánh đồng, dân làng đổ ra như trẩy hội để bắt cá rô rạch, các loại cá chép, mè, trôi, trăm... Mặc dù đầm do hợp tác xã quản lý nhưng mùa mưa cá lên nhiều, các ông trông đầm cũng không sao quản lý nổi, tôi và mấy thằng bạn cùng xóm có ngày bắt được cả tạ cá, không dùng hết còn đem bán. Cá trên sông đào cũng nhiều, nước to thì kéo lưới, cất vó, nước cạn thì rủ nhau đem nơm úp cũng được vài chục cân. Cá, tôm, cua, ốc, ếch thời đó quê tôi rất sẵn, đã đi là có thứ ăn, có khi còn được rất nhiều. Đầu mùa mưa, ếch, nhái, ễnh ương kêu râm ran nhức óc, có đêm ba, bốn thằng chúng tôi đem về hàng trăm con, con nào cũng to, vàng ươm, nhốt nồi, nhốt chum không hết còn đem nhốt tăngxê (hầm tránh máy bay) ở bụi tre đầu nhà để đem bán dần lấy tiền ăn học. Mấy thằng choai choai chúng tôi: Đinh, Đỏ, Nhi, Vũ, Tý, Đun, Cần, Lan, Thám... chơi với nhau rất thân, đi đâu, làm gì cũng có nhau, nhất là công việc mò cua, bắt cá đã trở thành một thú vui, niềm ham mê nên có bữa say sưa chúng tôi đi hết dộc Khoang, dộc Đánh, đầm Chối, chổ Rô, xuống đầm Quảng Cư để đánh bắt cá, đi suốt đêm, sáng về lại cắp sách đi học... Ban ngày chúng tôi học tập, lao động giúp gia đình, tối về lại miệt mài tự học. Nhà chúng tôi đều nghèo, đất nước thì đang khó khăn, dầu hỏa thắp sáng được Nhà nước, hợp tác xã phân phối cho mỗi khâu quá ít nên phải rất tiết kiệm mới dù cho các tối học, vậy là phải hai, ba anh em, thậm chí bốn anh em chung một cây đèn dầu. Ấy thế mà chúng tôi đứa nào cũng, say mê học, không coi đó là trở ngại. Có đêm đang học thì nghe kẻng báo động, phải vội tắt đèn chạy ra hầm phòng tránh máy bay. Lúc bấy giờ, việc học tập chưa quy củ như hiện nay nên trong một lớp học có nhiều độ tuổi khác nhau. Vì thế, đang học mà lớp chúng tôi đã có một số bạn đủ tuổi nhập ngũ. Nhiều bạn nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, của Bác háo hức đăng ký nhập ngũ nên lớp học cứ thế vơi dần đi sau mỗi đợt khám tuyển quân sự... Trong không khí "cả nước ra trận", nhìn bạn bè lớn tuổi hơn lên đường mà lòng tôi ao ước. Ba năm cấp Hai đầy biến động, khó khăn, gian khổ và thiếu thốn rồi cũng xong. Tháng 5 năm 1967, chúng tôi thi hết cấp. Sau khi thi đỗ tốt nghiệp cấp Hai, đa số chúng tôi 17, 18 tuổi, một số ít theo học cấp Ba, một số làm đơn thi trung cấp sư phạm, ngành y, cơ khí, còn lại xin đi bộ đội... Riêng tôi không định thi trường nào mà chỉ quyết đi bộ đội để được vào chiến trường chiến đấu. Mặc dù bố mẹ, gia đình, bạn bè khuyên bảo nhung tôi vẫn một mực theo ý tưởng của mình, không thay đổi. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:06:38 pm II. NHẬP NGŨ
Bảy năm học phổ thông và một mùa thi để lại những dấu ấn, kỷ niệm khó phai của một thuở học trò. Bọn con gái rất sôi nổi, nhộn nhịp làm đơn xin đi học trung cấp. Cánh con trai một số ít cũng thi, còn lại hầu hết là đi bộ đội. Bấy giờ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của chúng ta đang chuẩn bị cho một bước ngoặt rất lớn mà sau này mới biết: Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam. Nhưng bấy giờ thì ở miền Bắc, việc động viên thanh niên lên đường ra trận được tuyên truyền sâu rộng và trở thành lý tưởng của cả một thế hệ. Là học sinh, từ khi ngồi ghế nhà trường đến khi tốt nghiệp, mục tiêu của đa số bạn bè, trong đó có tôi là chiến trường miền Nam. Trong tâm khảm tôi, lúc nào hình ảnh của chiến trường miền Nam cũng như đang vẫy gọi! Một sáng mùa Thu, tôi nhớ không nhầm thì đó là khoảng 7 giờ ngày 11 tháng 9 năm 1967, như thường lệ, tôi và mấy thằng bạn thân vẫn đến nhà nhau chơi. Nguyễn Văn Lan đến nhà tôi trước, ngồi chơi một lúc, không thấy ai đến nữa, hai thằng rủ nhau đi chăn trâu. Lan về nhà dắt trâu, tôi dắt trâu nhà lên bờ sông thì phía sau có người gọi với. Ông Lê Sinh Lũ - phụ trách dân quân trực chiến vừa đi vừa chạy phía sau, báo cho biết vừa nhận giấy gọi nhập ngũ của tôi, rồi đưa quyển sổ cho tôi ký nhận... ông nhắc về chuẩn bị mọi thứ, cứ theo giấy mà đi. Tôi và Lan gặp nhau ở cầu sông, giáp thôn Trung và thôn Thượng rồi xem giấy gọi và dắt trâu về nhà. Buổi trưa, chú ruột tôi, ông Thiều Chí Sử, một người có học, chữ rất đẹp, làm kế toán hợp tác xã xem giấy gọi của tôi, ông bảo đó là giấy gọi tổng động viên, không phải giấy gọi nhập ngũ, có đi thì sáng đi, trưa về. Từ khi nhận giấy gọi đến khi tập trung chỉ có ba ngày, họ hàng, làng xóm, bạn bè đến thăm rất đông, có người bảo thời chiến biết thế nào được, giấy gọi vậy có khi tập trung là đi luôn. Quả đúng vậy, chỉ ba hôm sau, ngày 14 tháng 9 năm 1967, tôi lên đường nhập ngũ. Quê tôi có tục lệ lâu đời là hằng năm, ngoài Tết cổ truyền dân tộc, còn tổ chức tết Trung thu (rằm tháng 8 âm lịch) rất to, cũng gói bánh chưng, thịt lợn, không khí nhộn nhịp vui như Tết Nguyên đán, cũng cúng ông bà, tổ tiên vào đúng rằm và trẻ em cũng được mua sắm những bộ quần áo đẹp, đi chơi, thăm nhau, tối đến rước đèn ông sao, văn nghệ, ca hát, ngắm trăng... Chưa đến rằm Trung thu nhưng bố mẹ tôi bảo cứ ăn cỗ trước để ngộ nhỡ tôi nhập ngũ. Thế là gia đình thịt gà, làm mấy đấu gạo bánh, cúng ông bà, tổ tiên phù hộ cho tôi lên đường bình an, mạnh khỏe, tai qua, nạn khỏi, tránh được hòn tên mũi đạn, gặp nhiều may mắn và phấn đấu, rèn luyện, tiến bộ bằng anh, bằng em... Các ngày còn lại, làng xóm, anh em, bạn bè đến thăm và động viên tôi yên tâm lên đường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao. Các anh chị, bạn công nhân Nhà máy mỳ chính Việt Trì sơ tán ở tại nhà tôi cũng đến chơi và động viên. Tối 13 tháng 9 năm 1967, tại đình thôn Trung, chi bộ họp, mời cá nhân tôi ngày mai lên đường nhập ngũ ra gặp mặt, động viên. Chi bộ có hơn mười người. Ông Thiều Đức Tuế là Bí thư, chủ trì cuộc họp và giới thiệu tôi phát biểu. Tôi phát biểu ngắn gọn, hứa quyết tâm, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao, gia đình thì nhờ địa phương giúp đỡ để tôi yên tâm chiến đấu... Ông Tuế thay mặt đáp lời, căn dặn... sau đó mời mọi người ăn kẹo, uống nước. 12 giờ trưa ngày hôm sau, ngày 14 tháng 9 năm 1967, tôi được Lê Sinh Tung là em con bà cô đèo đến nhà chị Hoa - Xã đội phó để lên tập trung trên huyện. Lúc đó tôi mới biết là xã có một mình tôi nhập ngũ đợt này. Chúng tôi men theo đê lên thôn Bàn Mạch thuộc xã An Tường, ở đó tập trung thanh niên một số xã lân cận nhập ngũ đợt này để cùng nhau lên huyện tập trung. Trên đường đi, máy bay Mỹ ném bom, pháo cao xạ, tên lửa của ta nổ ầm ầm trên đầu. 14 giờ, Huyện đội tập trung số nhập ngũ, chúng tôi nghe tiếng còi đầu tiên trong đời quân ngũ, rồi nghe khẩu lệnh "Tập hợp". Một đồng chí mang quân hàm trung úy, đeo kính cận, tuổi ngoài 40, dáng nhỏ bé, gầy gò, giọng to, vang, sau này chúng tôi mới biết đồng chí đó là Huyện đội phó Vĩnh Tường, chủ trì giao quân. Ngó trước, nhìn sau, ba hàng ngang ước chừng khoảng một trung đội 30 người... Quân nhập ngũ thì ít nhưng số người thân đi theo thì đông gấp mấy lần. Riêng tôi chỉ có Lê Sinh Tung và chị Hoa đưa đi! Chúng tôi được biên chế thành một trung đội với ba tiểu đội. Chuẩn úy Phạm Minh Vũ - Trợ lý Tham mưu Tiểu đoàn 15 Sư đoàn 312 làm Trưởng đoàn, cùng ba đồng chị phụ trách quân nhu, quân y, quân khí trong đoàn tuyển quân. Giao và nhận quân xong, chúng tôi gặp gỡ làm quen trong tiểu đội, phân công ba đồng chí một tổ để tiện sinh hoạt, chỉ huy. Tôi, Báu (xã Vĩnh Thịnh), Tiến (xã Đại Đồng) quen thân nhau từ đấy. Mọi công việc bàn giao xong xuôi, huyện tổ chức mời bữa cơm, cả người đi, kẻ ở xuống sân kho hợp tác xã ăn uống vui vẻ. Mâm cơm có thịt lợn, gà, canh xương, miến, một bữa ăn ngon và no đầu tiên trong ngày nhập ngũ. Chia tay Lê Sinh Tung, chị Hoa về mà lòng tôi bùi ngùi, xúc động, bâng khuâng khó tả... Trên đê, hai bóng người thân xa dần và lẫn trong bóng tối. Tôi nhìn theo mãi, đến khi bóng hai người khuất hẳn tôi mới theo tiểu đội về nhà dân để ngủ. Tối đầu tiên xa nhà, tôi ngủ chập chờn không say giấc. 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1967, đơn vị tuýt còi báo thức, hiệu lệnh tập trung. Tại sân kho, trung đội xếp thành ba hàng dọc, đồng chí phụ trách kiểm quân và hạ đạt mệnh lệnh hành quân. Trời mới mờ sáng, chúng tôi hành quân theo đội hình hàng dọc, đi theo bờ đầm xóm Lâm, dọc xã Thượng Trưng, qua cầu làng Bèo (Phú Thứ) về Vực Xanh, làng Yên Cát (Vũ Di) thì dừng lại. Đồng chí Trợ lý Hậu cần của đoàn cấp mỗi người một bao đựng gạo (bao tượng), tập trung vào kho đong đầy bao rồi hành quân về làng Vân Ô, Vân Xuân đóng quân nghỉ đêm. Ăn cơm chiều xong, do ở gần nhà nên Lê Xuân Dậu rủ tôi về nhà chơi. Nhà ngói cổ, có cây thị to đầu nhà và một bể nước rất cổ kính (tháng 8 năm 1970, Dậu hy sinh trên đường về thị xã Xiêng Khoảng nước bạn Lào). Sáng sớm hôm sau, chúng tôi từ Vân Xuân qua Yên Lạc, rừng nhãn, về xã Thạch Đà (Yên Lãng) thì dừng chân và bổ sung vào đoàn 10 đồng chí giáo viên của huyện Lập Thạch. Quân số đoàn chúng tôi lên 40 đồng chí nhập ngũ đợt 14 tháng 9 năm 1967 quê hương Vĩnh Phúc. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:07:50 pm Từ Thạch Đà - Yên Lãng, chúng tôi phải hành quân đêm vì ban ngày máy bay địch đánh ác liệt các mục tiêu: Hà Nội - Sơn Tây, Việt Trì - thị xã Vĩnh Yên, ga Phúc Yên! Đến gần thị xã Phúc Yên, cầu Xuân Phương, chúng tôi phải dừng lại, củng cố đội hình rồi mới tiếp tục hành quân. Người cách người 10 - 20m nhưng vẫn nhìn thấy nhau vì trăng tháng 8 rất sáng. Chúng tôi phải chạy nhanh vượt qua trọng điểm để vào làng Tân Dân - Kim Anh nghỉ.
Cả ngày hôm sau chúng tôi được nghỉ. Cứ tổ ba người một nhóm ra rừng bạch đàn quan sát không quân ta và địch quần nhau trên bầu trời xung quanh sân bay Đa Phúc và dãy núi Tam Đảo. Năm 1966 - 1967, không quân ta chỉ có MIG-17 nhưng chiến đấu rất dũng cảm, dám chọi lại với không quân hiện đại của Mỹ với những F-4, F-105... Dưới mặt đất, các loại pháo phòng không, tên lửa, ra đa chiến đấu hiệp đồng rất chặt chẽ, nhịp nhàng. Đêm cuối cùng, chúng tôi hành quân từ Tân Dân qua dốc Dây Diều, cầu Đa Phúc... bị địch chặn đánh ác liệt nhưng chúng tôi vượt qua an toàn. Khoảng hơn 20 giờ ngày 18 tháng 9 năm 1967, chúng tôi hành quân đến đơn vị, thuộc Tiểu đoàn 15 Sư đoàn 312 - sư đoàn mũ sắt cơ động trực thuộc Bộ, đóng quân ở Phổ Yên - Bắc Thái. Ban Chỉ huy có Tiểu đoàn trưởng là Đại úy Nguyễn Khang, nhập ngũ năm 1946, quê Tam Nông - Phú Thọ; Chính trị viên là Đại úy Nguyễn Văn Hễ, nhập ngũ năm 1953, quê Nam Định. Sau khi kiểm quân và nắm tình hình, Tiểu đoàn trưởng động viên và mời chúng tôi ăn cơm tối. Một bữa cơm đầy ấn tượng bởi qua mấy ngày hành quân, bụng lúc nào cũng bị đói cồn cào trong khi mâm cơm lại khá thịnh soạn với thịt lợn, canh xương, miến. Chúng tôi vào bữa ăn như vào trận chiến đấu. Một loáng đã ăn gọn, hết sạch mâm. Các thủ trưởng Tiểu đoàn cùng ăn và động viên chúng tôi. Buổi đầu được tiếp xúc với các anh, chúng tôi cảm nhận được sự thân tình, gần gũi, ấm cúng như trong gia đình. Khoảng 21 giờ hôm đó, chúng tôi hành quân vào xóm Đồi, cách Tiểu đoàn khoảng 2km để nghỉ. Đồng chí Vũ - Trưởng đoàn lấy quân nhắc nhờ một số quy định về kỷ luật, dân vận và nhất là phòng không vì nơi đây gần ga Phổ Yên và một số mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ. Hai ngày tiếp theo, chúng tôi được sắp xếp tổ chức biên chế và nghỉ ngơi. Trung đội tôi được biên chế thành bốn tiểu đội tân binh, trang bị súng CKC, cuốc, xẻng và một số trang bị hậu cần. Sang ngày thứ sáu tuổi quân, tôi được cấp phát quân trang với hai bộ quân phục (một bộ cũ vải Triều Tiên các đơn vị đi B để lại, một bộ Tô Châu quá cỡ, quần phải gấp lên ba gấu nhưng không được phép tự sửa), ba mũ (mũ mềm, mũ sắt, mũ cối) và các loại quân trang khác. Nước ở các nhà dân đều hiếm, chỉ đủ sinh hoạt ăn uống, còn tắm phải ra sông Công cách đó khoảng 3km. Đúng một tuần xa nhà chỉ có một bộ quần áo, chân đi đất, đầu trần, hành quân liên tục, hôm nay tôi mới được xuống sông tắm. Dòng nước trong xanh, chúng tôi ngụp lặn, bơi thỏa thích, giặt và phơi quần áo để sau này khi có điều kiện thì gửi về nhà. Lên bờ, tôi lấy bộ Tô Châu mới ra mặc. Nó quá dài và rộng. Mọi người ngắm cho nhau, cười ồ. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ được huấn luyện tân binh một tháng với các môn tập bắn súng, ném lựu đạn, đào công sự, bảy tư thế vận động trên chiến trường... Các tiểu đội đều được biên chế 11 người, gồm 10 tân binh một tiểu đội trưởng. Tiểu đội tôi, Tiểu đội trưởng tên là Đối, Thượng sĩ, quê ở Hiệp Hòa - Hà Bắc, nhập ngũ năm 1959 phục viên năm 1963, tái ngũ năm 1965. Người anh cân đối nước da đen, khỏe, giọng nói to, vang, các động tác điều lệnh, chiến thuật, kỹ thuật của anh rất chuẩn, tính anh nghiêm khắc nên một tháng huấn luyện chúng tôi học được ở anh rất nhiều. Nhờ anh kèm cặp, rèn giũa mà các nội dung học, kiểm tra, hội thi cá nhân, tập thể, Tiểu đội tôi luôn dẫn đầu khóa huấn luyện tân binh. Gần kết thúc khóa huấn luyện, chúng tôi được thực hành kiểm tra bắn đạn thật bài 1 súng CKC và ném lựu đạn. Khi vào chuẩn bị bắn sao mà hồi hộp thế, ngực tôi nổi trống, cảm giác lâng lâng khó tả. Đến khi nghe gọi đến tên vào nhận đạn, tôi nhanh chóng cơ động đến quân khí Tiểu đoàn nhận ba viên đạn vàng chóe rồi mà tay vẫn run run. Khi vào tuyến bắn, tôi hít một hơi thật sâu, lòng tự nhủ phải thật bình bĩnh, thật tự tin. Tôi làm động tác nằm bắn, thử súng và lắp đạn, thong thả nhằm vào bia rồi xiết cò đúng như lời Tiểu đội trưởng và Trung đội trưởng căn dặn... Kết quả, tôi được một điểm 10, hai điểm 9, tổng là 28 điểm, đạt loại giỏi. Trong đợt kiểm tra có tôi và ba đồng chí nữa bắn giỏi, được chỉ huy tập hợp trước hàng quân, gắn hoa lên ngực, tặng khăn mùi xoa và một bánh xà phòng thơm. Đây là kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi những ngày đầu tiên trong đời binh nghiệp. Sau này, dù ở đơn vị, ở trường sĩ quan, dù là cán bộ cấp nào, các loại súng trong biên chế tôi đều bắn giỏi... Ngày cuối cùng huấn luyện là kiểm tra chắp nối và đánh thuốc nổ 50g. Tuy có run nhưng tôi vẫn đạt giỏi, ở nội dung ném lựu đạn xa, trúng mục tiêu 47m, tôi cũng đạt giỏi. Thế là một tháng huấn luyện tân binh, các môn tôi đều đạt điểm cao, được biểu dương và nhận tặng phẩm. Một buổi sáng cuối tháng 10 năm 1967, chúng tôi được lệnh đem toàn bộ ba lô, trang bị cá nhân ra sân kho tập hợp. Trung đội tôi được biên chế về Tiểu đoàn 15 trực thuộc Sư đoàn 312. Tiểu đoàn có ba đại đội: Đại đội 28, Đại đội 30 là đại đội công binh, công trình, chuyên làm sở chỉ huy sư đoàn, làm đường cơ động chiến đấu. Đại đội 29 là đại đội cầu phà. Tôi được biên chế về Đại đội 30. Đứng chờ, đón chúng tôi tại sân kho hợp tác xã là Thiếu úy, Đại đội phó Xuyền, anh nhập ngũ năm 1959, quê Bắc Ninh, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Công binh. Anh đeo xà cột, súng ngắn nhìn rất oai vệ. Sau khi kiểm tra quân, anh chỉ huy chúng tôi hành quân về đơn vị. Chiến tranh đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng ác liệt. Tất cả các mục tiêu chúng đều tập trung đánh phá cả ngày lẫn đêm như cầu Đa Phúc, ga Phổ Yên, thành phố Thái Nguyên, sân bay Đa Phúc... Toàn Tiểu đoàn và các đơn vị của Sư đoàn đều sơ tán trong dân hay ở đồi cây rậm rạp, mỗi đại đội cách nhau 1 - 2km. Mặc dù đóng quân phân tán, dã ngoại nhưng các chế độ, nền nếp, nội dung huấn luyện, duy trì kỷ luật rất nghiêm. Đại đội tôi đóng quân ở xóm Đồi, gần chợ Vạn, huyện Phổ Yên. Đại đội trưởng là Trung úy Đông, nhập ngũ năm 1946, quê Đông Anh. Người anh thấp, nhỏ, tác phong nhanh nhẹn, đi bắt tay hết lượt chúng tôi. Chính trị viên là Trung úy Nguyễn Văn Giáp, quê Ý Yên - Nam Hà, anh là Việt kiều từ Thái Lan qua Lào về nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:09:07 pm Tôi được biên chế về Tiểu đội 9 Trung đội 3. Tiểu đội trưởng là Trung sĩ Nguyễn Văn Chúc, nhập ngũ năm 1963 quê Tam Nông - Phú Thọ. Tiểu đội phó là Hạ sĩ, đảng viên Đường Xuân Thực, nhập ngũ tháng 3 năm 1965, quê Lũng Hòa - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc. Trung đội trưởng là Chuẩn úy, đảng viên Nguyên Kim Trọng, nhập ngũ năm 1962, quê Sông Lô - Việt Trì - Phú Thọ. Biên chế về đơn vị chiến đấu nên tất cả đều phải nhanh chóng hòa nhịp để kịp đáp ứng cho chiến trường.
Lúc bấy giờ, toàn quân, toàn dân đều hướng ra chiến trường, mọi công tác của chúng tôi, từ việc rèn luyện học tập đến ăn, ở, ngủ, nghỉ... cũng đều hướng tới mục đích đó. Việc đầu tiên là chúng tôi phải kiếm đủ gạch, nâng dần từ 15kg lên 30kg, nếu không có gạch phải kiếm đất đóng thành khối đủ trọng lượng. Trừ hai đến ba tối học tập sinh hoạt khác, còn lại các tối chúng tôi đều phải tập hành quân đường dài, mang vác nặng. Ban ngày, giờ nào việc nấy, từ sáng cho đến tối, tất cả chúng tôi như một cỗ máy, ăn cơm trưa xong không ngủ cũng phải nằm yên hoặc viết thư về nhà, không làm ảnh hưởng giấc ngủ đồng đội. Mỗi ngày ba buổi sáng, chiều, đêm đều tập trung huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật binh chủng: Thiết kế và đào sở chỉ huy sư đoàn, đào hầm, hào trú ẩn, hầm chữ T, chữ A, chữ Y trong chiến đấu. Một buổi, toàn Đại đội học tháo, phá bom nổ chậm, bằng lối học trực quan, Tiểu đoàn cho trinh sát xuống cầu Đa Phúc tháo một quả bom Mỹ đánh cầu chưa nổ. Chúng tôi khiêng bom trên xe ô tô xuống, để ở vị trí huấn luyện, bom mới toanh, các ngòi nổ được tháo rời... Lần đầu mới lạ, chúng tôi ai cũng run... Giáo viên là một đồng chí mang quân hàm trung úy. Đồng chí giới thiệu cách quan sát, đánh dấu, trinh sát và gỡ bom, sau đó phân công từng bộ phận ôn luyện lý thuyết, thực hành... Tất cả chúng tôi đều chăm chú lắng nghe và luyện tập vì nó rất sát thực sau này. Không chỉ các phong trào luyện quân, rèn luyện kỷ luật mà công tác tư tưởng, động viên tinh thần cũng được các cấp quan tâm đặc biệt. Khẩu hiệu "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu", "Miền Nam gọi chúng ta lên đường", phong trào viết quyết tâm thư gửi lên cấp trên xin được đi chiến đấu khiến toàn đơn vị hừng hực khí thế, ai cũng muốn nhanh được đi chiến trường... Sư đoàn 312 (trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Đại đoàn) nơi tôi đang học tập và công tác là một đơn vị có bề dày truyền thống, thành lập tháng 12 năm 1950 tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú. Ngày truyền thống của Sư đoàn cũng là ngày ta giành chiến thắng lớn trong phá chiến dịch "Chim rẽ giun" của quân Pháp tiến công vào chiến khu ta. Sư đoàn có ba trung đoàn, đều là những đơn vị có truyền thống vẻ vang gắn liền với tên làng, tên đất, tên sông nơi ghi dấu các chiến công của trung đoàn: - Trung đoàn 165 mang biệt danh Trung đoàn Thành Đồng biên giới. - Trung đoàn 209 mang biệt danh Trung đoàn Sông Lô. - Trung đoàn 141 mang biệt danh Trung đoàn Ba Vì. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Sư đoàn vinh dự được Bác đặt tên Đại đoàn Chiến Thắng. Những ngày đầu về công tác tại Sư đoàn, ngoài 12 bài hát quy định của Quân đội, chúng tôi được dạy bài hát truyền thống Sư đoàn. Các buổi tối sinh hoạt, dã ngoại, ngày nào chúng tôi cùng hát, hát một cách say sưa từ trái tim, từ lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ: "Mùa Thu Đông năm xưa tiếng súng phản công vang vang, đất nước reo vui mừng đoàn quân anh dũng ra đời...". Cho đến bây giờ, qua mấy mươi năm quân ngũ qua bao đơn vị, bao chiến trường mà tôi vẫn thuộc nằm long bài hát truyền thống ấy. Hai tuần bổ sung về đơn vị mà chúng tôi thấy mình trưởng thành lên rất nhiều, không còn cách biệt với "lính cựu" của đơn vị nữa. Các nội dung huấn luyện binh chủng, các buổi tập tổng hợp đã nâng dần trình độ của chúng tôi. Những buổi diễn tập của đại đội, tiểu đoàn, các nội dung dùng thuốc nổ, đào công sự, phá đá... đều đạt kết quả tốt, được các cấp đánh giá cao. Đó là thành quả từ tâm huyết của cán bộ huấn luyện, mồ hôi của những chiến sĩ chúng tôi đổ xuống thao trường không kể ngày hay đêm, với một mục tiêu duy nhất luôn nung nấu trong trái tim những chàng trai của lứa tuổi mười tám, đôi mươi: Ra chiến trường trực tiếp chiến đấu với quân thù. Miền Nam đang vẫy gọi chúng tôi, và chúng tôi đang hừng hực khí thế của bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, của lý tưởng cao cả hiến dâng cuộc đời cho cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Khoảng đầu tháng 11 năm 1967, lính tráng chúng tôi được cấp thêm tăng, võng, bi đông, túi cơm, bao gạo và một số thứ khác để tập hành quân dã ngoại. Trong lòng chúng tôi đều linh cảm sắp có sự kiện lớn diễn ra nên thì thào bàn tán, thấp thỏm ngóng trông. Nhưng đây là bí mật quân sự nên các cấp đều kín như bưng, anh em chúng tôi chẳng thăm dò được gì cả, chỉ nhìn nhau đầy ý nhị và giục nhau cố gắng học tập, rèn luyện cho tốt để chờ "sự kiện lớn". Một buổi chiều mùa Đông trung tuần tháng 11 năm 1967, toàn Tiểu đoàn báo động, tập trung tại sân kho hợp tác xã kiểm tra quân số, trang bị. Tiểu đoàn trưởng, Đại úy Khang ra mệnh lệnh hành quân. Chúng tôi hành quân theo sườn bắc, dọc dãy núi Tam Đảo, sát Nông trường Quân Chu (Đại Từ - Thái Nguyên). Trời tối, đường rừng, mang vác nặng 30kg, trên 30kg nên quả là khó khăn. Chúng tôi động viên nhau phải cố gắng bám sát, không để lạc, đứt quãng. Đoàn quân cứ thế bám nhau mà đi. Cán bộ tiểu đội phó, trung đội phó, đại đội phó, tiểu đoàn phó, chính trị viên phó đại đội, tiểu đoàn và quân y đi sau thu dung, cứ như thế đến 4 giờ sáng bộ phận đi đầu đến nơi, còn bộ phận yếu thì 7 giờ mới đến. Quãng đường đêm qua chúng tôi hành quân dài 35km. Trung đội tôi đến sau bộ phận đi đầu của Đại đội. Sau khi nhận vị trí, tôi tìm được cây mắc võng, nhưng không biết buộc, cứ buộc xong ngồi lên là võng lại tuột, loay hoay mãi Tiểu đội phó Thực phải buộc giúp. Ba lô để dưới chân, súng để dọc theo người, lên võng ngủ, vừa thiu thiu thì Tiểu đội trưởng Chúc vỗ vỗ vào người hỏi: - Ai! Dậy mắc tăng màn không muỗi. Tôi ngủ say không dậy, Tiểu đội trưởng quay lại, nói như quát: - Đồng chí nào đây! Dậy! Thế nhưng loay hoay mãi không mắc được tăng, màn vì không có dây buộc, tôi cho chăn, màn phủ kéo từ chân lên đầu, sau đó trùm tăng lên mà ngủ. Sáng hôm sau dậy ướt hết vì sương núi và mưa nhỏ. Chúng tôi được ngủ hết giờ thể thao. Sau khi ăn sáng cán bộ tiểu đội đi nhận nhiệm vụ về gọi từng tổ ra phân công công tác. Tiểu đội trưởng cho biết đây là buôi diễn tập tình huống sát với chiến đấu... Mỗi tổ ba người đào một hầm chữ Y hoặc chữ T có nắp tránh được bom pháo thông thường, ngụy trang kín đáo, có hai cửa chính, phụ lên xuống. Tiểu đội phó Thực phân công một đồng chí đào, hai đồng chí chặt gỗ đem về làm hầm. Chỉ hơn một ngày đêm, tổ ba người của chúng tôi đã có một hầm chữ Y đẹp, sạch sẽ, đúng quy định, của trên. Mắc võng nằm trong hầm, Tổ trưởng nằm dọc thân, hai chúng tôi mắc chữ Y, đầu chụm vào nhau, ba lô để dưới chân cột giữa, súng để trên võng dọc theo người, phủ chăn kín... Những ngày tiếp theo, chúng tôi đi huấn luyện dã ngoại mới biết tất cả các đơn vị trong Sư đoàn đều hành quân dã ngoại, diễn tập. Sau 10 ngày hành quân dã ngoại, diễn tập, toàn đơn vị được lệnh hành quân về vị trí đóng quân cũ. Về xóm Đồi gần chợ Vạn - Phổ Yên, đơn vị tiếp tục huấn luyện, sau đó trả kho những dụng cụ cồng kềnh và nhận bổ sung quân tư trang. Mỗi tiểu đội được bổ sung một hòm đạn, một hòm khí tài gây nổ của Nga, xà beng, thuốn mìn và một số trang bị chiến đấu. Chúng tôi chuẩn bị rất khẩn trương, nhộn nhịp với tâm trạng đầy háo hức và thì thầm to nhỏ với nhau: Chắc lần này là "thật" rồi! Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:10:45 pm III. HƯỚNG RA TIỀN TUYẾN
15 giờ ngày 30 tháng 11 năm 1967, toàn Tiểu đoàn tập trung tại đồi bạch đàn gần nơi Tiểu đoàn đóng quân để kiểm tra quân số, vũ khí, trang bị. Tiểu đoàn thành một hàng dọc, hành quân theo đường mòn, dọc theo đường làng, khe suối cạn..., vượt qua đèo Bụt sang Vĩnh Phú, về Nông trường Tam Đảo (gần hồ Đại Lải), chặng đầu khoảng 35km, cứ 45 đến 50 phút lại nghỉ 10 phút. Lên đến chân đèo Bụt thì trời đổ giông to, mưa lớn, cả đoàn quân phải dừng lại cởi ba lô lấy nilông khoác vào để hành quân tiếp. Trong đơn vị ai cũng vác nặng trên dưới 30kg. Ngoài ba lô, trang bị, súng, bao gạo bảy ngày ăn, tôi còn vác một bộ quân cụ gồm: Xà beng, cưa cá mập, thuốn và một hòm đạn 700 viên, súng thì Tiểu đội phó vác thay. Đi hết ba chặng thấy mệt, đau vai, nhưng không lúc nào vắng Tiểu đội phó Thực đi kèm, động viên cố gắng nên tôi vẫn khắc phục bám theo đơn vị. Lên đỉnh đèo, sang bên Vĩnh Phú do mưa to, đường trơn, tôi bị trượt dài, cả người lẫn trang bị đổ ập, văng ra, hòm đạn 700 viên ở đầu xà beng và chiếc cưa cá mập tụt ra, lăn xuống dốc chừng 20 - 30m. Cả tổ phải dừng lại đỡ ba lô, trang bị và kéo tôi dậy, sau đó Tiểu đội phó Thực cùng tôi làn xuống tìm, lấy hòm đạn mang lên và cứ thế hành quân đuổi theo đơn vị... Khoảng 4 giờ sáng hôm sau, ngày 1 tháng 12, chúng tôi đến đoạn dừng chân đầu tiên - Nông trường Tam Đảo. Hạ ba lô xuống là chúng tôi nhận ngay vị trí đào hầm trú ẩn, hai người chung một hầm chữ L, ngụy trang chu đáo, cán bộ kiểm tra đạt yêu cầu mới được nghỉ. Vì gần sân bay, là nơi không quân ta và không quân địch liên tục hoạt động, địch đánh phá suốt cả ngày nên cả nông trường và người dân xung quanh đều phải đi sơ tán. 10 giờ sáng, chúng tôi ăn cơm lấy nước uống rồi về hầm ngủ. Cuối năm, trời nắng, nóng nhưng cánh lính trẻ chúng tôi cứ nằm xuống là ngủ đươc ngủ rất say. 15 giờ chúng tôi thức dậy, lấy nước vào bi đông và một nắm cơm gạo đỏ, đem về bỏ vào túi cơm để chuẩn bị hành quân... Từng tiểu đội, trung đội sinh hoạt, sau đó tập trung đại đội, tiểu đoàn để rút kinh nghiệm hành quân bầu cá nhân và tập thể điển hình. Mỗi chặng hành quân đại đội, tiểu đoàn đều có họp rút kinh nghiệm như vậy nên có tác dụng động viên rất kịp thời. Trong tổ chức hành quân đường dài, mang vác nặng, ít có đồng chí tụt lại sau hoặc lạc, trừ người bị ốm nặng hoặc tai nạn. Chặng thứ hai từ Nông trường Tam Đảo, qua hồ Đại Lải - Phúc Yên về xã Hồng Châu - Yên Lạc là hành quân địa hình đồng bằng. Qua các làng mạc, nhân dân thấy bộ đội hành quân thì gọi nhau ra xem và mang theo ấm rót nước uống cho bộ đội, chuyện trò vui vẻ nên chúng tôi cũng đỡ mệt. Đến Hồng Châu - Yên Lạc - Vĩnh Phúc, sáng hôm sau Tiểu đoàn bắt tay vào san bến, lắp phà, làm mọi công tác chuẩn bị cho cả Sư đoàn vượt sông. Làm hai ngày một đêm thì xong, Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37mm kéo đến xây dựng trận địa ngay trên bến để bảo vệ đội hình Sư đoàn vượt sông... Các đêm tiếp theo, lần lượt theo kế hoạch, ba trung đoàn bộ binh, các tiểu đoàn trực thuộc, trung đoàn pháo binh, Sư đoàn bộ, cuối cùng là Tiểu đoàn 15 thu dọn và hành quân theo Sư đoàn. Cả đơn vị lặng lẽ, lần lượt lên phà qua sông rất có kỷ luật, an toàn. Qua sông Hồng, sang bờ nam là Phúc Thọ - Hà Tây, đơn vị theo đường số 21 về tập kết tại Lương Sơn - Hòa Bình. Sư đoàn dừng lại nghỉ và xem đội xung kích văn công Tổng cục Chính trị cổ vũ, động viên rất kịp thời. Hành quân gần nhà, tôi xin phép Đại đội và cấp trên cho tôi và anh Dư (Bồ Sao) về tranh thủ một ngày một đêm. Cắp gói quần áo cũ, hai anh em lên đường ngay. Trời tối lạc đường, loanh quanh mãi ngoài đầm và cánh đồng đến khuya chúng tôi mới về đến nhà, gia đình ai cũng mừng. Sáng ra, dân làng, bạn bè kéo đến thăm hỏi chuyện trò tíu tít. Chiều hôm sau, hai cô em gái mượn xe đạp đưa chúng tôi xuống địa điểm đóng quân hôm trước song đơn vị đã hành quân từ sáng. Chúng tôi đuổi gấp gáp theo đơn vị đến bến phà Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường. Sáng hôm sau ra bến sông, loay hoay công việc thì gặp Nguyễn Văn Lan đi xe đạp tới... Hỏi chuyện mới biết Lan đi công nhân Nhà máy đường Việt Trì. Tôi mua vội gói quà cho gia đình gửi Lan đem về giúp. Hai đêm ở bến phà Vĩnh Thịnh, chúng tôi tổ chức cho trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn pháo cao xạ, Sở Chỉ huy Su đoàn qua sông. Tiểu đoàn Công binh chúng tôi ngoài nhiệm vụ chính làm Sở Chỉ huy Sư đoàn, đường cơ động... còn tham gia chốt giữ mục tiêu, đánh cắt giao thông (phóng bôc phá, nổ mìn...). Tháng 1 năm 1968, chúng tôi đóng ở nhà dân, đồng bào dân tộc Mường, ở hai ven quốc lộ, sâu trong núi. Đồng bào vốn đã tiếp xúc nhiều với bộ đội từ kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến sau này nên rất có cảm tình với bộ đội Nhân dân thường xuyên cho bộ đội khoai, sắn và cả gạo nếp nương, đồ xôi ăn rất ngon. Thực hiện phương châm "đi dân nhớ, ở dân thương", bộ đội luôn được giáo dục, nhắc nhở và duy trì nghiêm ngặt kỷ luật Quân đội nên ở một thời gian dài mà không ai vi phạm, được nhân dân rất tin yêu. Ngoài công tác huấn luyện theo nhiệm vụ, đơn vị còn tổ chức giúp dân gặt lúa, thu hoạch ngô, khoai, sắn, làm đường qua bản, kết nghĩa, tổ chức văn nghệ quân - dân thật tình cảm và ấm cúng. Tết cổ truyền năm 1968, chúng tôi được ăn Tết cùng nhân dân, suốt từ ngày 23 cho đến mùng 4 Tết. Bà con mỗi nhà mổ một con lợn, ngoài Tết còn để dành ăn dần cho đến ba, bốn tháng sau. Bộ đội cùng gia đình bắt lợn, khiêng ra bờ suối làm thịt thật vui vẻ. Chúng tôi được ăn cải Tết đầu tiên trong quân ngũ ở bản Mường. Cỗ thật to, tiết canh đánh ra chậu, thịt luộc thái lót lá chuối, bày ra mẹt, lại có thêm bình rượu cần. Bác chủ nhà tên Khoản tuyên bố cả gia đình và bộ đội ăn Tết cho thật vui vẻ. Nước đổ ra chậu, mỗi thau có một cái sừng trâu, bác chủ giơ sừng trâu lên bảo: Tính đầu người, mỗi người uống hết một sừng mới nghỉ. Tất cả chúng tôi đều đưa mắt trầm trồ... Lá chuối bánh tẻ hơ qua, cuốn sâu kèn, gấp đầu nhỏ lại để ăn tiết canh. Lúc đầu chúng tôi thấy ngại, sau dần vui vẻ hòa đồng... Tiêu chuẩn Tết mỗi quân nhân được hai chiếc bánh chưng, một khẩu phần thịt, kẹo. Cả Đại đội gói tập trung, chỉ huy chọn mỗi trung đội hai, ba người khéo tay để gói bánh. Dân bản nghe tin bộ đội khéo tay, gói bánh bằng khuôn vuông đều chằn chặn nên nhiều người đến xem và học theo vì bà con chỉ biết gói tay, chưa gói khuôn bao giờ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:11:43 pm Đến chiều 30 Tết, trong bản làng đường đi lối lại sạch sẽ, gọn gàng. Cả Đại đội tập trung, Chính trị viên phổ biến và phân công công việc cụ thể. Mỗi tổ, mỗi tiểu đội một nhiệm vụ, tất cả nhanh chóng triển khai.
Tôi và anh Cử nhanh nhẹn, quen biết nhiều nên được phân công đi xin một cành đào. Chả mấy chốc hai anh em đem về một cành đào to. Mọi người đứng xung quanh ngắm nghía. Ai cũng khen đẹp. Nghe tin chúng tôi đem về cành đào rất đẹp, Chính trị viên Giáp chạy đến bắt tay biểu dương hai anh em, rồi anh cho gọi các đồng chí Nhã, Đạm, Thành có năng khiếu Vân nghệ, hát chèo rất hay, quê Hải Hậu - Nam Định. Các anh bưng ra một cái chum nhỏ, cắm cành đào đặt giữa sân chuẩn bị cho tiết mục "hái hoa dân chủ" (gắn lên cành hoa đào những mẩu giấy có nội dung hỏi đáp về thơ, ca, hò, vè.. ). Chuẩn bị xong, chúng tôi đưa "cây hoa dân chủ" lên nhà sàn gia đình bác trưởng bản. Nhà sàn cao, rộng, sạch sẽ, ước chừng cả đại đội ngồi vừa. Tuy là Tết đầu tiên xa nhà nhưng không khí nhộn nhịp vui tươi ấm áp cũng làm vơi đi nỗi nhớ nhà của cánh lính trẻ chúng tôi. Ăn cơm chiều xong, các tiểu đội vệ sinh nhà ở và phân công việc trực, gác cùng các công tác khác, cấp trên nhắc nhở: Tất cả ba lô, trang bị chiến đấu đều phải gọn gàng sẵn sàng cơ động... 20 giờ đêm 30 Tết (đêm 31 tháng 1 năm 1968), cả đại đội (trừ bộ phận trực và công tác) cùng nam nữ thanh niên đơn vị kết nghĩa của địa phương có mặt. Chính trị viên kiểm tra quân số và phân công vị trí ngồi, sau đó quán triệt một số nội dung của buổi vui chơi đón giao thừa năm nay, rồi chỉ định đồng chí Tuấn Nhã lên "quản ca" hát một vài bài hát theo quy định như "Vì nhân dân quên mình", "Giải phóng miền Nam", "Tiến bước dưới quân kỳ". Tất cả cùng hòa vang cất cao tiếng hát. Hát xong ba bài hát mà tôi cứ hừng hực, rạo rực trong người. Tiếp theo là tiết mục "hái hoa dân chủ". Ban đầu mọi người còn rụt rè, sau dần dà vui quá, ai cũng xung phong... Các tiết mục đều rất vui nhộn và đậm chất lính "cây nhà lá vườn"... "Hoa dân chủ" trên cành vẫn còn nhiều, mọi người vẫn còn muốn chơi nhưng thời gian theo kế hoạch cũng gần hết, Chính trị viên đứng lên tạm dừng cuộc chơi, đề nghị mọi người ổn định trật tự chú ý lắng nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ. Tất cả ngồi im, không một tiếng động, mắt chăm chú hướng lên bàn thờ Tổ quốc và chiếc đài bán dẫn để trên bàn. Chỉ còn mấy phút nữa là đến giao thừa thì nhạc hiệu nổi lên và sau đỏ, bằng giọng nói ấm áp, thân tình, Bác Hồ chúc Tết toàn thể đồng bào Nam - Bắc, bộ đội, kiều bào ta ở nước ngoài: "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua Thẳng trận tin vui khắp nước nhà Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ Tiến lên! Toàn thẳng ắt về ta!" Nghe Bác chúc Tết ai cũng thấy khí thế hừng hực, muốn lên đường ngay ra chiến trường giết giặc lập công, để mau chóng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mọi người bình luận, trong câu "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua" chắc sẽ có đánh lớn, thắng to... Sau này chúng tôi mới biết các chiến trường thống nhất lấy thời điểm Bác đọc thơ chúc Tết làm hiệu lệnh nổ súng tổng tiến công và nổi dậy đánh vào hầu hết các mục tiêu chủ yếu của địch, từ thành phố, thị xã, đến thị trấn, nông thôn, từ đồng bằng đến vùng rừng núi đều nổi dậy... Kết thúc đêm giao thừa, mọi người trở về nơi ở, quân tư trang cho cả vào ba lô, mỗi người nhận hai chiếc bánh chưng cho vào túi cóc buộc chặt, đi giày vải mới chờ sẵn. Cả ngày hôm sau và một số ngày tiếp theo cũng chưa có lệnh xuống cấp báo động... Cánh lính trẻ vẫn ba lô, súng đạn gọn gàng chờ lệnh. Ngoài đường số 15, từ dốc Cun - Tân Lạc - Lac Thủy - Hòa Bình, nhiều đoàn xe quân sự ba cầu, hai cầu mới toanh, ngụy trang kín mít, nằm chờ lệnh chở quân ra chiến trường... Sang tháng 2 năm 1968, tình hình chiến trường miền Nam vẫn diễn tiến ác liệt. Các sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ "ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam" trước Tết cổ truyền hành quân vào ém sẵn, tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh gồm 304, 320, 325, 324... Sư đoàn 308 vào sau. Sư đoàn 312 cũng được bổ sung quân, huấn luyện như các sư đoàn trên mà vẫn nằm im, giấu kín ở Tân Lạc - Hòa Bình... Thế rồi đến đầu tháng 2 năm 1968, một đoàn dài xe quân sự đến chở quân hai trung đoàn 209 và 141 đi bổ sung cho chiến trường Đường 9 - Khe Sanh, sau đó tuyển nhận tân binh xây dựng hai trung đoàn mới. Bổ sung tân binh, Sư đoàn lại hoàn chỉnh đủ quân. Đến cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1968, Sư đoàn hành quân về tham gia diễn tập hiệp đồng binh chủng đánh chiếm thành phố, lấy thị xã Hòa Bình làm mục tiêu giả định để diễn tập, Trung đoàn 165 là hướng chủ yếu, Trung đoàn 141 và Trung đoàn 209 là hướng phối hợp, có cả xe tăng T-34 tham gia. Kết thúc diễn tập đợt 1 ở thị xã Hòa Bình, Sư đoàn tiếp tục hành quân về Lương Sơn. Diễn tập đợt 2 có tiểu đoàn xe tăng và pháo binh yểm trợ, kết thúc diễn tập vào tháng 5, trời nắng như đổ lửa trên đường số 6 mà Tiểu đoàn Công binh chúng tôi phải hành quân đi lại bốn lần từ Hòa Bình đến Xuân Mai và ngược lại để thi công Sở Chỉ huy Sư đoàn và phục vụ diễn tập. Chúng tôi làm nhiệm vụ và diễn tập gần nông trường, do dân vận tốt, kỷ luật nghiêm nên nhân dân rất quý. Công nhân, nông dân hái cam, chè tươi mời bộ đội ăn uống rất thoải mái. Gian khổ nhất là tham gia diễn tập cùng với tiểu đoàn xe tăng T-34, bộ đội phải vào trong rừng xa, núi sâu chặt cây bổi về lót xích để xe tăng vượt qua đồng lầy. Cứ như vậy, tình huống diễn ra không biết bao nhiêu lần trong những ngày diễn tập. Sau đó, Tiểu đoàn 15 hành quân về một xóm nhỏ cạnh đường số 6, xã Tiên Trượng - Chương Mỹ. Kể từ cuộc diễn tập cuối năm đến khi đó đã tròn sáu tháng chúng tôi ăn ở với đồng bào dân tộc miền núi, giờ mới trở lại đồng bằng. Ở nhà dân ngủ nền đất, ăn cơm độn sắn, thỉnh thoảng cũng có bữa cải thiện ăn tươi tùy theo khả năng bảo đảm và cấp dưỡng của trên. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 09 Tháng Sáu, 2026, 07:12:24 pm Tháng 8 năm 1968, đơn vị hành quân từ Xuân Mai theo đường số 21, Miếu Môn, Đồng Quan, ga Thường Tín về xã Tô Hiệu. Đường rất khó đi, hai chặng hành quân trời nắng như đổ lửa, mang vác nặng, đội mũ sắt. Còn cách ga Thường Tín khoảng 15km thì tất cả đều ngấm mệt. Nhiều chiến sĩ bị tụt lại phía sau, tranh thủ nhờ xe bò, xe ba gác của dân chở giúp ba lô, trang bị. Cán bộ phát hiện ra, bắt đeo ba lô và chạy đuổi theo hàng quân. May sao, gần trưa đói, khát, hai bên đường các bà, các chị tay cầm ấm, tay cầm ca chạy dọc hàng quân rót nước vối, nước suối cho bộ đội. Cả một hàng quân dài mà không ai bị thiếu nước... Thật cảm động biết bao tình cảm của đồng bào đã dành cho bộ đội.
Vào vị trí đơn vị đóng quân ở xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, cách ga xe lửa khoảng hơn 1km, đơn vị nhanh chóng tổ chức đi trinh sát để nắm tình hình và phân công nhiệm vụ. Tôi cùng 30 đồng chí đặc công nước trực thuộc Tiểu đoàn được phát thêm quần áo, mũ, vòi thở, kẹp mũi..., sau đó được cán bộ đặc công của trên về huấn luyện. Tiêu chuẩn ăn cho đặc công nước khá cao, tối đến lại được một y sĩ và một y tá chăm sóc sức khỏe, nhỏ thuốc mắt, vì cả ngày học mở mắt dưới độ sâu 20 - 30cm, nước bẩn nên ai cũng bị đau mắt. Thao trường là sông Đồng Quan, cách nơi ở khoảng 7km, sáng hành quân đi, tối hành quân về. Trời nắng như đổ lửa, chúng tôi phải ngâm mình dưới nước cả ngày. Thời gian đầu nhiều anh em bị ốm, sau cũng quen dần. Ban đầu huấn luyện cá nhân, sau nâng lên hai rồi ba người đem một lượng nổ chừng 50 - 100kg đánh cầu. Chúng tôi tập thả trôi từ trên vùng thượng lưu, cách cầu trên dưới 1km, ngụy trang bí mật đưa lượng nổ áp sát mố cầu, bấm kíp hẹn giờ cho nổ... Cứ vậy huấn luyện mãi cho đến khi thành thạo, có sát hạch và tính thành tích. Những hôm mưa to, nước chảy xiết, việc tập luyện rất khó khăn. Đến cuối khóa huấn luyện, chúng tôi được đưa ra sông Hồng để kiểm tra, sát hạch, khi ấy nước sông đã lên to, đục ngầu, chảy xiết... Khoảng tháng 9 năm 1968, chúng tôi hành quân về lại Xuân Mai để tiếp tục huấn luyện và học tập. Đầu tháng 10 năm 1968, một buổi tối chúng tồi vừa mắc màn đi ngủ được ít phút thì nghe còi báo động. Tất cả bật dậy mặc quần áo, đeo ba lô, trang bị ra sân kho tập trung rồi hành quân theo đường số 6 từ Xuân Mai đi Mai Lĩnh về Hà Đông - Hà Nội. Mọi người bàn tán tranh luận không biết đi đâu, làm gì (?). Mờ sáng hôm sau, chúng tôi được phổ biến: Đơn vị hành quân thực hiện nhiệm vụ mới không trở lại vị trí cũ nữa nên ai còn quên, để lại thứ gì thì báo cáo để đơn vị cử người về lấy. Thế là mỗi tiểu đội cử 1 - 2 đồng chí về lấy đồ, đơn vị hành quân tiếp, xuống khu vực bên trái đường số 6 gần Nhà máy thuốc lá Thăng Long đóng quân, học chiến thuật đánh thành phố, đánh nhà tầng, học chính trị. Các ngày nghỉ, quân phục chỉnh tề, tôi cùng hai đồng chí khác ra đường số 6 nhảy tàu điện đi chơi Bờ Hô, tham quan Phủ Chủ tịch, khắp thành phố Hà Nội mà không phải mất tiền, cứ bộ đội lên tàu là được đi không phải vé. Đang ở Hà Nội, tôi lại được triệu tập về Tiểu đoàn, vẫn 30 đồng chí huấn luyện đặc công, lên Hòa Bình huấn luyên nghiệp vụ trinh sát. Tất cả lên xe hành quân về hướng Lương Sơn - Hòa Bình. Chúng tôi được biên chế ba tiểu đội cấp phát súng AK báng gấp, dao găm, bút chì vẽ, tẩy, bảng, bản đồ... bắt đầu học. Bài đầu là học cách xác định điểm đứng, vật chuẩn xác định góc phương vị, đi theo góc phương vị, cách xem và đọc bản đồ 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000... Buổi đầu học khó, chúng tôi tiếp thu lơ mơ, chưa hiểu bài lắm, sau cũng quen dần, vừa học lý thuyết vừa thực hành học cách vẽ sơ đồ... Đi quan sát núi, trèo lên, trèo xuống quan sát để vẽ, có khi cả ngày vẽ đi vẽ lại mà không được một, hai bình độ. Sau ba tháng, tất cả chúng tôi cũng đạt được yêu cầu đề ra của một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn. Xong khóa học trinh sát, chúng tôi lại trở về đơn vị đóng quân ở Xuân Mai - Chương Mỹ - Hà Tây. Thấm thoắt đã được hơn một tuổi quân, một cái tết cổ truyền nữa lại sắp đến, chúng tôi nhộn nhịp chuẩn bị đón Xuân Kỷ Dậu, lần này là ở đồng bằng. Nhân dân khu vực đóng quân rất thương bộ đội trẻ, xa nhà nên thường xuyên có các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các phụ lão đến động viên, tặng quà bộ đội, có cả bánh chưng và gạo nếp... Các gia đình đều mời chúng tôi ăn chung trong những ngàỵ Tết. Đêm 30, cũng như thường lệ, hơn 20 giờ lại tập trung cấp đại đội để đón giao thừa và nghe Bác chúc Tết, cành đào năm nay kém hơn năm trước nhưng hoa, thơ ca, các trò chơi... vẫn không kém. Không khí rất vui nên chúng tôi cũng quên đi nỗi nhớ nhà... Và đến gần 12 giờ đêm, cả Đại đội lại im lặng thành kính nghe Bác chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước... Không ngờ rằng đó là lần chúc tết cuối cùng của Người. "Năm qua thắng lợi vẻ vang Năm nay tiền tuyến chắc càng thẳng to Vì độc lập, vì tự do Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn" Bác thâu, gói gọn toàn bộ chủ trương, đường lối của Đảng trong bài thơ chúc Tết khiến toàn quân và toàn dân càng thêm tin tưởng vào Đảng và Bác kính yêu, phấn đấu khắc phục mọi khó khăn để đi đến thắng lợi cuối cùng. Và năm 1969, trên chiến trường đã giành được nhiều thắng lợi, Mỹ lần lượt rút quân, Hội nghị Pari về Việt Nám có nhiều tiến triển, ở hậu phương, thanh niên nô nức lên đường tòng quân đánh Mỹ, nông nghiệp phát triển, những cánh đồng "năm tấn" ngày càng nhiều, thực hiện đúng khẩu hiệu "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Cuối tháng 2 năm 1969, một số cán bộ được điều động về các trung đoàn, sư đoàn. Một số được cấp trên điều xuống và bổ nhiệm tại chỗ: Thiếu úy Phạm Minh Vũ - Trợ lý Tham mưu Tiểu đoàn xuống thay đồng chí Trường giữ chức Đại đội trưởng; đồng chí Quý - Chủ nhiệm Công binh Trung đoàn 141 về giữ chức Tiểu đoàn trưởng thay đồng chí Khang đi 559; đồng chí Giang nhập ngũ năm 1953, quê Bình Định thay đồng chí Hễ. Đợt nhập ngũ chúng tôi tất cả đều được phong quân hàm hạ sĩ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 05:54:07 pm IV. LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở LÀO
Một ngày đầu tháng 3 năm 1969, lúc 4 giờ sáng, toàn Tiểu đoàn báo động di chuyển ra đồi bạch đàn ở đầu làng tập trung, một đoàn xe quân sự gồm J157, Hồng Hà, J130 ngụy trang kín xếp hàng chờ sẵn. Tiểu đoàn nghe cấp trên quán triệt mệnh lệnh hành quân, phổ biến một số quy định về phòng tránh máy bay, tác chiến trên đường, giữ bí mật trong suốt quá trình hành quân đi làm nhiệm vụ... Mọi người nhìn nhau thì thầm không biết đi đâu (?). Nhân dân khu vực đóng quân thức dậy, lưu luyến chia tay bộ đội... Xe nối theo nhau rẽ phải theo đường số 6 về thị xã Hòa Bình, dốc Cù Chính Lan, suối Rút... Đến trạm Bộ đội Biên phòng thì dừng chân nghỉ qua đêm ở rừng, hôm sau tiếp tục hành quân. Đường số 6 xóc, khó đi, nhiều đoạn xóc muốn hất chúng tôi xuống đường... Khoảng 15 giờ chiều, chúng tôi đến trạm thứ hai, sau mới biết đó là Nông trường Mộc Châu (Sơn La). Chúng tôi nghỉ lại doanh trại Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 Quân khu Tây Bắc. Hai ngày sau có hai đơn vị nữa đến, Tiểu đoàn 17 Sư đoàn 320A vừa chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh ra và một tiểu đoàn bộ binh đủ quân của Sư đoàn 304B (Việt Bắc) hành quân từ Phú Bình - Bắc Thái qua Vĩnh Phú, Sơn Tây lên Hòa Bình, Sơn La. Ba đơn vị được Bộ điều lên thành lập Trung đoàn Công binh 5 thuộc Quân khu Tây Bắc sang giúp bạn Lào mở đường chiến dịch. Chúng tôi dừng chân khoảng hai tuần để tổ chức biên chế. Trung đoàn 5 bấy giờ có Tiểu đoàn 45 và Tiểu đoàn 55 Trung đoàn bộ. Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 30413 Việt Bắc giải thể, quân số đưa về hai tiểu đoàn. Môi tiểu đoàn có ba đại đội, trung đội phòng không 12,7mm, thông tin và Tiểu đoàn bộ. Tôi được điều về Đại đội 2 Tiểu đoàn 45. Những ngày tiếp theo, chúng tôi được học chính trị, học về phong tục tập quán, công tác dân vận, quan hệ với nhân dân, học mấy bài hát của Lào, Lào - Việt, học ít tiếng Lào cơ bản nhất để có thể hỏi đường, quan hệ công việc... Ngày chuẩn bị lên đường sang nước bạn, đơn vị được đón Tư lệnh Quân khu - Đại tá Vũ Lập, một trong những chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đến thăm và nói chuyện. Tối hôm đó, chúng tôi được xem văn công Quân khu biểu diễn. Trước hai ngày đơn vị hành quân, tôi được điều lên làm chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn để đi tiền trạm. 15 giờ ngày 26 tháng 3 năm 1969, toàn đơn vị hành quân. Từ điểm xuất phát lên biên giới khoảng 18km, theo đường số 6, cửa khẩu Paháng sang sầm Nưa (Lào). Chúng tôi đi theo sườn núi, lên mãi, tựa như nóc nhà. Toàn núi cao, trời nắng, hanh khô, không có nước, máy bay địch đánh bom khiến rừng cháy nghi ngút. Đơn vị lên tới đỉnh núi thì trời tối, cả đơn vị có đến 1/3 chảy máu mũi, khô họng. Chặng đầu đi phải hơn 40km, xuống mãi chân dốc cửa khẩu mới được dừng, có nước. Có bộ phận phải 7 - 8 giờ sáng hôm sau mới đến vị trí. Đến sát thị xã Sầm Nưa, chúng tôi nghỉ lại một đêm ở trạm giao liên lấy sức đi tiếp. Qua thị xã Sầm Nưa vào đầu tháng 4 dương lịch. Thị xã ở thung lũng bằng phẳng, xung quanh toàn núi cao, rừng rậm. Do chiến tranh, địch đánh phá ác liệt, đa số dân bản đi sơ tán. Đám thanh niên, trẻ em, phụ nữ tập trung xem bộ đội hành quân, đem các ống bương ra lấy nước té cầu may cho bộ đội. Đây là Tết cổ truyền - "Tết té nước" của bạn, lúc đầu chúng tôi không hiểu, sau hiểu ra nên hai bên cười nói rất vui. Đi bốn chặng nữạ thì gặp bộ phận tiền trạm của Tiểu đoàn ra đón. Chúng tôi vượt qua sông Nậm Nơn, đi theo đường mòn theo suối vào mãi bên trong để tìm chỗ đóng quân. Mỗi trung đội một khu, cách nhau 1 - 2km. Trung đội 2 ở cùng Ban Chỉ huy Đại đội. Đặt ba lô xuống, chúng tôi lao vào chặt cây, đào hầm. Mỗi tiểu đội đào ba hầm, ngụy trang kín, bên trong có sạp rải võng nằm. Đào xong hầm và các hạng mục khu vực đóng quân, tất cả đều đi chuyển đạn, gạo, thuốc nổ và dụng cụ thi công mở đường. Mùa mưa đến, nước sông dâng cao, việc chuyển hàng khó khăn, đã có đồng chí bị nước cuốn trôi, Trung đoàn phải dùng cáp để vượt. Mọi công tác chuẩn bị đều diễn ra nhịp nhàng, đúng kế hoạch. Ngày 19 tháng 5 năm 1969 - Ngày sinh nhật Bác, cấp trên lấy làm ngày toàn đơn vị ra quân mở đường. Cả đơn vị hừng hực khí thế, kẻ khoan, người đào, đánh bộc phá... chỉ có mấy hôm mà khối lượng cong việc làm được nhiều đáng kể. Làm đến đâu ngụy trang đến đó, hai, ba tuần đầu vẫn giữ được bí mật nhưng sau cũng bị lộ vì trục đường dài đến mấy chục kilômét, qua nhiều địa hình trống trải. Một ngày đầu tháng 6 bất ngờ, ngoài máy bay trinh sát còn các loại máy bay ném bom của địch ập đến đánh phá liên tục, dữ dội vào các đoạn đường mới mở và các khu vực nghi quân ta đóng quân. Đại đội 1 hy sinh hai đồng chí, trong đó có anh Thanh, quê làng Bích Chu, xã An Tường, cùng nhập ngũ với tôi, anh được mai táng tại bản nơi đơn vị đóng quân (mãi sau năm 1993 các đội quy tập của Quân khu 2 mới cất bốc hồi hương). Là dân đồng bằng, sống trong rừng không quen, sinh hoạt khó khăn nên tôi cùng nhiều đồng chí bị sốt rét. Tôi ốm liệt giường hai tuần. Vừa dậy được thì cấp trên đã quyết định điều về bộ phận trinh sát Trung đoàn. Tôi nhanh chóng bàn giao công việc về đơn vị mới. Tiểu đoàn có tôi và đồng chí Lượng được điều động về trung đội trinh sát Trung đoàn. Trung đội trinh sát chúng tôi gồm hai tiểu đội. Tiểu đội Quân khu tăng cường toàn lính cũ, tiểu đội trưởng, tiểu đội phó toàn nhập ngũ năm 1962, quê Hải Dương, năm đồng chí nhập ngũ năm 1965 người dân tộc Mông, bảy đồng chí Trung đoàn mới điều lên là người dân tộc Kinh. Chỉ huy chung là Thiếu úy Tiến, kỹ sư cầu đường, đi thanh niên xung phong năm 1953, quê Đại Từ - Bắc Thái. Nhiệm vụ của Trung đội trinh sát là phát tuyến, đo đạc, cắm mốc giới, đánh dấu lên bản đồ để đơn vị thi công. Việc leo trèo khá vất vả, chúng tôi cứ phải đi sớm về muộn, luôn thông tầm, có khi không kịp tắm giặt, chỉ ăn lương khô, uống nước suối rồi đi ngủ. Rừng bên nước bạn Lào quá nhiều vắt, muỗi nên anh em phải kiếm dù may ghệt (tất dài) cho gấu quần vào. Vì đơn vị ở xa, công việc tách biệt, công tác bảo đảm rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa không ai về đơn vị lấy gạo được, chúng tôi phải kiếm măng rừng, rau rừng ăn trừ bữa. Một hôm đi sâu vào một vùng đất bằng phẳng, gặp một bãi to rau muống tốt, ngọn to như ngón tay, hái về luộc lên chấm muối ăn thấy ngon kỳ lạ. Khế chua là thế, chúng tôi gọi là rau muống chua, ngày nào cũng đi hái về nấu với đầu, đuôi cá khô. Măng các loại thì nhiều vô kể, rất dễ tìm. Đầu tháng 8, chúng tôi phát tuyến cắm mốc từ suối Con Cóc qua dãy núi Nậm Tiệp sang căn cứ La Khằng thật khó khăn, nguy hiểm, nhưng rồi cũng khắc phục được. Qua suối Nậm Tiệp vào căn cứ La Khằng - căn cứ bị ta san bằng trong đợt Mậu Thân 1968, địch không dám chiếm lại, từ chỗ đó chúng tôi xác định tuyến đường về Mường Hiếm cũng không khó mấy. Mưa liên tục, trắng trời, xối xả, tất cả các sông, suối lớn nhỏ đều ngập không thể qua lại được. Lợi dụng khó khăn của ta, địch đổ bộ đường không nống ra chiếm các vị trí chiến lược, có giá trị ở Cánh Đồng Chum. Chúng đã chiếm được nhiều điểm như Phu Nốc Cốc, Noọng Pẹt, Khang Khay... ở hướng chúng tôi cũng không an toàn, Trung đoàn lệnh rút về đơn vị. Trinh sát được phân công ở gần chỉ huy Trung đoàn bên bờ sông Nậm Nơn thơ mộng và xinh đẹp, toàn là rừng nguyên sinh, kín đáo, bí mật. Cơ quan tham mưu tập trung ở một bãi đất trong rừng để chuẩn bị kỷ niệm Quốc khánh mùng 2 tháng 9. Bữa trưa có ăn tươi theo tiêu chuẩn. Cả đơn vị bừng lên một không khí nhộn nhịp, vui tươi, phấn khởi của ngày Tết Độc lập. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 05:55:59 pm Chiều đến, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo về tình hình sức khỏe của Bác, mọi người đều sửng sốt, lo âu cầu mong cho Bác qua cơn bạo bệnh để khỏe mạnh và sống lâu. Sáng ngày 3 tháng 9 năm 1969, bản tin đặc biệt thông báo Bác mất, cả Trung đoàn bàng hoàng, không ai tin là sư thật. Những ngày để tang Bác, đơn vị vẫn gùi gạo, đạn ra phía trước, mỗi người tự làm một chiếc băng tang màu đen dài khoảng 3cm rộng 1cm, đeo lên ngực trái, không ai nói với ai, lầm lũi gùi hàng ra mặt trận.
Ngày truy điệu Bác, ai cũng khóc, tiếng khóc to nhất là của Chính ủy Trung đoàn. Anh nhiều lần dừng giữa bài diễn văn lấy khăn lau nước mắt, có lúc anh nghẹn ngào không cất được lên lời. Sau tang lễ Bác, Tiểu đoàn 45 nhận lệnh khẩn trương cơ động về Cánh Đồng Chum làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tôi đeo ba lô về Đại đội 2 trong bầu không khí khẩn trương, kẻ đi trả đồ ở kho, người nhận vũ khí, trang bị. Ban Chỉ huy điều tôi lên làm liên lạc kiêm văn thư Đại đội. Tôi báo cáo xin về tiểu đội cũ nhưng không được. Hôm sau, đơn vị hành quân ra mặt trận, làm nhiệm vụ mở đường chuẩn bị cho chiến dịch. Chúng tôi hành quân liên tục suốt bốn đêm theo đường số 6 về ngã ba Bản Ban nối với đường số 7 từ Nghệ An qua cửa khẩu Nậm Cắn sang. Trên hai quốc lộ, địch đánh phá ngăn chặn ta vận chuyển rất ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Toàn Tiểu đoàn phải rải ra mấy chục cây số để bảo đảm đường thông xe. Đại đội 2 chúng tôi nhận nhiệm vụ bảo đảm đèo đất và đèo đá đường số 7. Đại đội đặt hai đài quan sát và thông đường vì tính chất khẩn trương của chiến dịch. Làm văn thư là phải tổng hợp báo cáo, đưa công văn lên Tiểu đoàn, Trung đoàn, có lúc tôi còn được phân công lên đài quan sát ghi chép từng tốp, loại máy bay, loạt bom nổ, chưa nổ. Thời gian này, địch tập trung đánh phá ngăn chặn suốt ngày đêm, đường đèo hai trọng điểm liên tục trúng bom, tắc đường. Bộ đội Công binh, thanh niên xung phong Binh trạm 13 có mặt rất kịp thời khắc phục và thông đường chỉ sau đó vài giờ, bom không nổ cũng được giải quyết rất nhanh để thông xe chở đạn, gạo, kéo pháo, xe tăng tiến ra mặt trận. Trong đêm tối, bộ đội hành quân, thanh niên xung phong, công binh bảo đảm đường ríu rít chào nhau, không khí vui nhộn khó tả. Cuối tháng 11 năm 1969, Đại đội 2 được điều về bảo đảm thông đường số 6 với độ dài đoạn đường đảm nhiệm là 20km, và được phân công chốt một số vị trí trọng điểm. Một hôm, Trung đội 2 hành quân lên đồi ĐK để chốt, bộ phận đi đầu ba đồng chí, sau đó đến Trung đội trưởng, Tiểu đội trưởng. Bỗng một tiếng nổ long trời hất ba đồng chí đi đầu xuống vực sâu, làm một số đồng chí bị thương. Trung đội trưởng Thịnh (Thượng sĩ, nhập ngũ năm 1963, quê Thạch Đà - Mê Linh - Hà Nội), Tiểu đội trưởng Liên (Trung sĩ đảng viên, quê Hải Hậu - Nam Định) hy sinh tại chỗ, còn y tá Sử thì mãi đến 8 giờ sáng hôm sau mới tìm thấy. Đại đội tăng cường thêm lực lượng để cáng chuyển hai liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang ngã ba Bản Ban. Đây là lần đầu tiên đơn vị bị thương vong lớn như vậy, không khí đau thương, mất mát bao trùm. Tiểu đoàn, Đại đội tổ chức sinh hoạt, động viên tinh thần. Quyết biến đau thương thành hành động, quyết trả thù cho các đồng chí đã hy sinh, anh em lại liên tục bám đường thông tuyến, đánh địch bảo vệ đường và liên tục được cấp trên biểu dương, khen ngợi. Một cái tết cổ truyền nữa, cái tết thứ ba trong đời bô đội của tôi đang đến gần. Để chuẩn bị Tết, chúng tôi đem muối vào bản đổi lấy gạo, thịt lợn, gà cho cái tết ở chiến trường tương đối chu đáo. Trưa 30 Tết, nồi bánh chưng sắp vớt thì được lệnh bàn giao vị trí cho bạn và hành quân đi chiến dịch. Theo đường số 6 ra ngã ba Bản Ban, xuyên thẳng vào Trạm giao liên U2 thì dừng chân, lúc đó khoảng 4 giờ sáng ngày mùng Một. Đang triển khai nghỉ tối thì một loạt bom bi quả dứa rải đúng vị trí đóng quân, bom nổ rền, sát, mọi người chỉ kịp nằm rạp xuống tại chỗ hoặc lăn xuống hầm hố cũ. Từ Trạm giao liên U2, chúng tôi hành quân về dốc Mã Tử, qua bản Son, đi Khang Khay, nơi các đơn vị bộ binh vừa đánh chiếm xong. Và cứ thế, Tiểu đoàn Công binh 45 chúng tôi đi khắp mặt trận phục vụ Sư đoàn cho đến hết Chiến dịch 139. Trên hướng chủ yếu của chiến địch, Tiểu đoàn 45 chúng tôi có một trung đội tăng cường do Đại đội trưởng Tiến chỉ huy. Khi giải phóng Cánh Đồng Chum, ta đã giành chiến thắng nhưng cũng phải trả cái giá quá đắt, gần hết trung đội công binh hy sinh, trong có Đại đội trưởng Tiến và Báu, thằng bạn thân cùng nhập ngũ với tôi (quê Vĩnh Thịnh - Vĩnh Tường). Tháng 4 năm 1970, chúng tôi đi với Trung đoàn 141 tổ chức đánh bom cứ điểm Noọng nhưng không thành. Mùa mưa nên phải rút về hang Chà Là bổ sung quân số hao hụt, củng cố đơn vị và vận chuyển đạn, gạo. Căn hầm chữ U bên ngoài san bằng, có mái lợp ngụy trang kín, hào sâu đi hai bên để phòng tránh và cơ động, tại đây tôi được kết nạp Đảng lớp Hồ Chí Minh đầu tiên, ngày 9 tháng 6 năm 1970. Chi bộ có gần chục đồng chí, trang trí cờ Đảng, ảnh chân dung Bác. Mặc dù ăn ở dã chiến nhưng không khí rất trang nghiêm, xúc động. Đứng trước Đảng kỳ, tôi rưng rưng đọc lời thề sắt son và lời thề ấy đi theo tôi suốt cuộc đời, nâng bước tôi trên những chặng đường hành quân vất vả, những lúc gian nan nguy hiểm ngoài mặt trận. Bây giờ, qua hơn 50 năm nhìn lại, tôi thấy mình đã thực hiện được lời thề ấy. Tháng 8 năm 1970, mùa khô sắp đến. Mùa khô là mùa ra trận, cán bộ trong đơn vị có sự thay đổi, có đồng chí về nước, có đồng chí lên thay. Đơn vị đổi thành Tiểu đoàn Công binh 25 thuộc Bộ Tư lệnh 959, Tiểu đoàn 55 trở về Sư đoàn 320 để đi "B dài", Trung đoàn 5 thành lập tháng 3 năm 1969 đến nay cũng giải thể, lực lượng đưa về Quân khu Tây Bắc. Mùa khô năm 1970, Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi được điều vào sớm chốt giữ bản Tôn, dãy núi Phu Seo, bản Khổng để giữ thế và bảo đảm đường cơ động, vận chuyển. Địch đánh hơi thấy công tác chuẩn bị chiến dịch và cơ động của ta nên chúng tăng cường máy bay trinh sát, ném bom tọa độ vào các trọng điểm và các khu vực nghi ngờ. B-52 đánh phá ác liệt các cửa rừng, nhất là bản Khổng, tuyến cơ động vận chuyển vào bản Na. Bộ Tư lệnh 959 điều Tiểu đoàn 24 cao xạ 37mm vào nằm sát cửa rừng, san hố bom B-52 đưa pháo xuống, ngụy trang kín đáo. Hằng ngày, khoảng 17 giờ là bộ đội ở ven suối, đào hầm ếch dưới lùm cây, cách 3m một hầm, lên trực chiến. 6 - 7 giờ sáng đánh pháo xuống nằm ngay hố bom, vứt cành cây, sơn đất đỏ vào nòng ngụy trang pháo. Đêm, khi máy bay bay thấp trinh sát, ta bất ngờ chỉ cần điểm xạ một vài loạt ngắn là có khi bắn rơi. Cách đánh như vậy khiến địch chùn, hạn chế rất nhiều hoạt động của không quân địch. Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi đi mở đường, thông đường vận tải, gạo, đạn bảo đảm cho Trung đoàn 165 và một số đơn vị đánh bản Na và phát triển sâu vào trong, cùng Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 và một số đơn vị bạn theo hướng bản Phồn, đánh Loong Chẹng, thủ phủ của phỉ Vàng Pao. Tháng 1, tháng 2, các hướng chiến dịch phát triển thuận lợi, đều đánh chiếm được các mục tiêu đề ra và phát triển sâu vào bên trong, khi gặp khó khăn thì tạm thời dừng lại, ta tổ chức chốt giữ các điểm có giá trị chiến thuật, chiến dịch. Mùa mưa đến, theo quy luật, địch lại lấn ra chiếm các mục tiêu có giá trị và các điểm cao. Khoảng trung tuần tháng 6, địch dùng không quân đánh phá ác liệt vào các mục tiêu để dọn bãi. Về phía ta, chuẩn bị lực lượng, đào công sự trận địa, một chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum đã được chuẩn bị. Hai bên giành giật, đánh chiếm từng mục tiêu, điểm cao, căn cứ rất ác liệt. Lợi dụng mùa mưa, địch dùng không quân đánh chặn, cắt phá giao thông từ bên nước ta sang, không cho ta vận chuyển tiếp tế, gây áp lực và khó khăn, nhưng ta vẫn bảo đảm tốt và giữ vững được các mục tiêu đề ra. Đến cuối năm 1971, ta chuẩn bị và phản công giành thắng lợi to lớn ở Mặt trận Cánh Đồng Chum. Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi được phân công phòng ngự dãy núi Phu Seo - bản Tôn, sau đó được lệnh về ngã ba Khang Khay, theo đường mòn vào sâu bên trong dãy núi đóng quân chờ nhiệm vụ. Đến địa điểm mới, đơn vị nhanh chóng bắt tay vào củng cố nơi ăn, chỗ ở, đào hầm kiên cố, có hào cơ động, ngụy trang đi lại thật kín đáo, sẵn sàng chiến đấu cao vì ra khỏi ngã ba Khang Khay là Cánh Đồng Chum, chiến trường chính, nơi mà năm nào cũng diễn ra các trận đánh ác liệt. Một buổi sáng cuối tháng 5 năm 1971, tôi được Chính trị viên Đàm Văn Đễ và Đại đội trưởng Mai Đức Kiện giao nhiệm vụ về nước đi học sĩ quan. Tôi bàn giao công việc văn thư, bảo mật cho đồng chí Ghi và làm công tác chuẩn bị. Mặc dù còn một tháng nữa mới đến thời gian chuyển Đảng chính thức nhưng tôi được "chiếu cố" chuyển Đảng vì là trường hợp đặc biệt. Vậy là sau hơn hai năm trên đất bạn Lào, tôi được về nước, được đi học sĩ quan, niềm vui đến với tôi thật bất ngờ, cũng là niềm vinh dự và là khởi đầu cho cuộc đời gắn bó với con đường binh nghiệp. Hơn hai năm và gần trọn ba mùa mưa làm nhiệm vụ chiến đấu phục vụ chiến đấu trên đất bạn Lào, biết bao gian khổ hy sinh. Riêng đơn vị chúng tôi có hàng trăm đồng đội nằm lại vĩnh viễn không trở về, biết bao người mang trên mình thương tích của chiến tranh và bệnh tật để có được thắng lợi, cũng là để gắn chặt thêm tình đoàn kết keo sơn đã có truyền thống từ lâu giữa hai Đảng, hai quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện câu nói của Bác "giúp bạn là mình tự giúp mình". Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 05:58:04 pm V. TỪ MẶT TRẬN VỀ NƯỚC HỌC SĨ QUAN
6 giờ sáng ngày 1 tháng 6 năm 1971, tôi dậy sớm chuẩn bị và đi chào mọi người. Từ Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng) về đến biên giới cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An) khoảng gần 200km. Đoàn gồm tôi, Trung sĩ Vũ Minh Đạm - Tiểu đội trưởng quê Hải Đường - Hải Hậu - Nam Hà, một chiến sĩ quê Thanh Ba - Vĩnh Phú. Ngoài ba lô có hai khẩu AK, đủ cơ số đạn, lương thực đủ 10 ngày gạo, với thức ăn chủ yếu là muối và mỳ chính. Chúng tôi đi toàn đường mồn, cây rậm, rừng già, qua hai trạm nghỉ đêm không gặp ai, rất khó khăn cho việc dừng lại nấu ăn và nghỉ qua đêm. Chúng tôi phải kiếm củi để nấu cơm, moi móc các vị trí hầm hào, may quá nhặt được cái thùng đựng đạn K56 cũ gỉ, gò lại để nấu cơm, có ba người cho vào thấy gạo quá ít, chúng tôi quyết định nấu cả ngày mai luôn. Thế là nấu thùng không có nắp, tìm được chiếc bao tải gai, xuống suối giặt sạch đậy vào, rồi cũng chín. Ngả mũ, lót lá chia khẩu phần ăn tối, còn bữa sáng và trưa hôm sau thì lấy khăn nắm cho luôn vào túi cơm treo lên đầu võng để tránh chuột. Đêm xuống, ba chúng tôi mắc võng sát và chụm vào nhau, phân công luân phiên gác. Tôi thức gác ba tiếng. Đêm thật dài, xa đơn vị, lạnh và buồn... Sáng sớm chúng tôi lên đường. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp những đơn vị hành quân vào chiến trường. Gần về tới đất nước nên có các trạm giao liên, chúng tôi trình giấy, báo nghỉ tại trạm, thế là đỡ khó khăn về cơm nước và chỗ ngủ. Đêm thứ tám, chúng tôi cách cửa khẩu trên dưới 20km. Chúng tôi hành quân đêm theo đường số 7, đi được 7 - 8km thì gặp các đoàn xe quân sự, chúng tôi vẫy đi nhờ. Ngôi trên xe, có đoạn rất xóc nhưng cũng cảm thấy rất yên tâm, vì qua tám ngày đêm đi bộ, dốc cao, vực sâu, đường mòn đã quá mệt. Về đến cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An), Công an và Bộ đội Biên phòng kiểm tra giấy tờ xe rồi nhanh chóng cho chúng tôi qua cửa khẩu. Sau hơn hai năm xa Tổ quốc, sang chiến đấu giúp bạn, giờ đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc, lòng tôi nao nao xúc động. Xe chở ba chúng tôi về đến Bộ Tư lệnh 959 vào sáng ngày 10 tháng 6 năm 1971. Phía sau Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh toàn núi đá cao, dựng đứng, cây to kín đáo, nhiều hang, suối nước sâu chảy quanh. Chiến tranh như ngưng lại trong một khoảnh khắc thật nên thơ. Ba ngày tiếp sau, tôi nghỉ ngơi và làm thủ tục tại nhà khách. Tôi tranh thủ tìm thăm hậu cứ Tiểu đoàn Công binh 25. Chúng tôi tay bắt mặt mừng sau bao ngày xa cách. Bữa ăn trưa thật ấm áp với măng rừng và cả nhút Thanh Chương. 4 giờ sáng ngày thứ tư, tôi theo xe Phòng Dân vận, địch vận Bộ Tư lệnh về Hà Nội. Chiếc xe chở ba cán bộ địch vận và tôi chạy thật nhanh qua các mục tiêu quân sự, ga Vinh, ga Xi để tránh giờ không quân địch đánh phá. Từ sau Mậu Thân 1968, không quân địch tập trung đánh từ vĩ tuyến 20 trở vào, sang năm 1971 chúng đánh phá ác liệt hơn, nhiều tốp máy bay phản lực bay lượn, ném bom xung quanh và đánh chặn các cầu đường nên chúng tôi phải nhiều lần dừng xe ẩn nấp. Ra đến thị xã Phủ Lý, ngoài phạm vi đánh phá của địch, xe dừng lại vào quán phở. Mua ly cà phê phải mua kèm một bao thuốc lá, chúng tôi đành mỗi người mua một bao nhưng đều phải thuốc mốc hoặc mất mùi. Thời bao cấp, tất cả đều phân phối theo tiêu chuẩn, không có bán tự do, chỉ khi mốc mới bán kèm theo cà phê, phở, bia. Tôi ở lại trạm hậu phương của Bộ Tư lệnh 959 tại Hà Nội một đêm, hôm sau được chỉ dẫn ra bến Mía đi xe về Trường Sĩ quan Công binh. Xuống bến xe Bắc Ninh, đi nhờ xe đạp về trường làm thủ tục nhập học. Tôi được biên chế về Đại đội 1, Trung úy, Chính trị viên cầu ra đón, nhận hồ sờ và xếp nơi ăn nghỉ. Về trường khoảng 10 ngày, hôm ấy tôi đang lao động thì được báo có gia đình lên thăm. Tôi ra cổng đón, mừng quá. Bố tôi và hai em gái Sến, Sửu khệ nệ xách đồ với lồng gà ba con và cả vài cân gạo nếp... Thế là tôi đã xa nhà đi bộ đội, vào chiến trường gần bốn năm. Bố tôi bảo mẹ, các em ờ nhà mong lắm, con cố gắng xin về phép thăm nhà vài ngày, ở thăm ba ngày, đến ngày thứ tư, bố tôi và các em chia tay ra về. Lúc bấy giờ toàn trường đi lao động dã ngoại ở Tân Yên - Hà Bắc một tháng. Công việc nhổ lạc, san, cuốc ruộng, cấy, cày vốn không xa lạ với tôi nhưng thời tiết tháng 7 nắng nóng khiến nhiều đồng chí bị ốm và sốt rét trở lại. Một tháng lao động dã ngoại ở Tân Yên, nắng, mưa gian khổ, thử thách không thua kém ở chiến trường, chỉ khác là không có bom đạn và tiếng súng. Kinh tế đất nước khó khăn chúng tôi phải ăn độn, ăn đói và làm tám giờ mỗi ngày, tối sinh hoạt đến 21 giờ mới được nghỉ. Kết thúc thời gian lao động dã ngoại, đơn vị hành quân về trường, chúng tôi được thông báo đồng chí nào tốt nghiệp lớp 10 ở lại học chính quy ba năm, số còn lại chuyển về Trường Sĩ quan Lục quân đào tạo ngắn hạn. Tôi và một số đông thuộc diện về Trường Sĩ quan Lục quân. Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1971, đoàn xe hơn chục chiếc xuất phát từ thị xã Bắc Ninh theo đường số 1, cầu Đuống, cầu Long Biên qua Hà Nội, cầu Diễn, Đan Phượng Gạch (Phúc Thọ) vào trường. Trời mưa to tầm tã, đến phố Gạch nước ngập mênh mông, xe không đi được đành quay về trường. Chúng tôi được nghỉ vài ngày chờ nước rút, thời gian đó, Nhà trường giải quyết cho số chúng tôi về qua nhà trong bốn ngày. Phấn khởi quá, tôi thanh toán gấp và lên đường ngay. Tôi ra bến xe Bắc Ninh rất sớm, được ưu tiên đi chuyến đầu, xuống bến Nứa, về Vĩnh Tường thì quá trưa. Xuống bến xe, tôi đeo ba lô đi bộ về quê, đi từ phố huyện, qua hai hàng cây bạch đàn, phi lao xanh mướt, vượt cầu Thượng Trưng, rìa làng, giáp cánh đồng giữa hai xã Thượng Trưng và Tuân Chính, bà con xã viên làm đồng buổi chiều rất đông vui. Đang chuyện trò vui vẻ có người ngẩng lên nhìn thấy anh bộ đội đeo ba lô đi bộ, người này hỏi, người kia hỏi, rồi ở những thửa ruộng gần đường mọi người đều đứng nhìn, dõi theo, trêu đùa, cả cánh đồng rộn rã. Về đến đầu làng, nhiều người vẫn chưa nhận ra tôi. Tôi về đến cổng, vào sân thì đã nửa buổi chiều, chỉ có mấy đứa em nhỏ chơi đùa. Ít phút sau, bố mẹ tôi đang làm đồng biết tin chạy vội về, rồi lần lượt anh em họ hàng, làng xóm kéo đến chật nhà, chật sân. Vì làng xóm quê hương lớp lớp thanh niên chúng tôi lên đường đánh Mỹ, giải phóng miền Nam, cho nên bấy giờ làng tôi gia đình nào cũng có chồng, con lên đường đi đánh giặc, ở nhà chỉ còn lại đàn bà, người già và trẻ em. Tôi từ chiến trường về tranh thủ là trường hợp rất hiếm nên ai cũng muốn gần để hỏi chuyện chiến trường, hỏi tin người thân của họ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:00:54 pm Đêm về khuya, gia đình tôi mới được ăn cơm. Gần ba năm ở chiến trường, cứ mùa mưa tới là tôi lại bị sốt rét nặng, ít nhất hai tuần không ăn uống gì được, tóc rụng, đi lại trong hầm phải có người dìu, khi khỏi chỉ mong được ăn rau muống luộc với cà muối. Bây giờ đúng là "ước thấy", bữa cơm có thịt gà, lạc rang, cà muối và rau muống luộc, là món ăn ưa thích của tôi. Ăn cơm xong, tôi ra giếng tắm, vẫn chiếc giếng khơi trước cửa nhà, nước trong mát lạnh, cảm giác thật yên bình, đầm ấm.
Hai ngày tiếp theo, anh em, họ hàng, làng xóm, bạn bè kéo đến chơi chật kín, không có thời gian đi đâu được, mãi gần trưa, mẹ tôi rỉ tai cho biết bà ngoại bị ốm mấy tháng nay, bà hay nhắc tên tôi. Tranh thủ lúc vắng khách, tôi, mẹ và thằng Thi - em út sang thăm bà. Nhà bà cách nhà tôi không xa, thấy tiếng tôi nói bên ngoài, bà ngoại ngồi ngay dậy như có phép tiên, tôi đưa tay, bà rướn người, xúc động ôm chầm lấy tôi. Hai tay bà gầy, nhăn nheo đưa lên xoa xoa đầu tôi như thuở nào, giọng bà run run: "Thằng Đỉnh cháu tôi, khi đẻ nó mới được ba ngày thì chạy loạn. Tây nó càn, súng nổ khắp nơi. Ngoài đồng, ngoài đường, đình làng nhiều người bị bắn chết. Tôi và mẹ nó cùng vài người phải giẻ rách, quần áo cũ vào quang gánh đi tản cư ngoài Bích Chu - Thủ Độ. Nó đỏ hỏn, khát sữa, khỏe oe oe. Mới ngày nào... thật nhanh quá... Sau khi nửa nước hòa bình, tưởng là đời cháu tôi không có chiến tranh, loạn lạc, được sung sướng, được học hành, thế mà không ngờ lại chiến tranh. Cháu tôi đã lớn bằng từng này, đi bộ đội được mấy năm lại chiến đấu về, tôi thật sung sướng và hạnh phúc". Rồi bà hỏi thăm cuộc sống của tôi. Bà xoa đầu tôi bảo nhớ giữ gìn sức khỏe, nhớ thường xuyên viết thư thăm bà và gia đình. Khi tôi đi, bà sống được năm tháng nữa, mất ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch). Hai ngày đầu, tôi chủ yếu ở nhà tiếp khách, trừ buổi tối có đến thăm vài nhà anh, em, chủ, bác mỗi nhà một lúc. Sang chiều ngày thứ ba, hai vợ chồng ông bà Tư Giao chống gậy lên thăm, vừa bước vào sân hai ông bà khóc nức nở. Tôi và vài người chạy ra cầm tay dìu ông bà vào nhà ông bà vẫn khóc to và bảo: "Cháu đi may mắn còn được về còn chú đi chú không được về" rồi ông bà ngất xỉu. Tỉnh lại, ông bà cho biết nhiều lần lên thăm tôi nhưng cứ ra đến cổng lại khóc thương con nên không đi được. Dìu hai ông bà vào trong nhà, tất cả khách đều im lặng, không khí thật nặng nề... Quê tôi và cả hậu phương miền Băc thời đó nhiều nhà có hoàn cảnh con, em đi chiến đấu đã lâu mà không có tin tức, tất cả người ở hậu phương ngày đêm ngóng đợi, chờ mong mỏi mòn... Ai cũng hiểu chiến tranh là có mất mát, hy sinh - riêng tôi từ chiến trường trở về lại càng thấu hiểu điều đó... ông bà Tư Giao có năm người con, bốn gái một trai, ông Thiều Chí Lân sinh năm 1941, lớn lên đi công nhân, năm 1965 chuyển sang bộ đội và hy sinh ngày 28 tháng 9 năm 1967 tại Thăng Bình - Quảng Nam. Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ lấy cớ ném bom bắn phá ra toàn miền Bắc. Ở miền Nam, chúng ào ạt đưa vào 58 vạn quân, liên tục tiến công, càn quét bằng những chiến dịch lớn hòng "đánh gãy xương sống Việt cộng". Theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ, thanh niên cả nước hăng hái lên đường đánh Mỹ. Năm 1970, theo chủ trưởng của trên, số đi chiến đấu lâu, hy sinh được chọn lọc báo tử thí điểm đợt đầu. Họ hàng tôi có chú Thiều Chí Lân hy sinh, chú Thiều Đức Thái chiến đấu bị thương và bị địch bắt, tù đày ở Phú Quốc, được trao trả tù binh tháng 2 năm 1973 tại Lộc Ninh. Cấp trên cho về tranh thủ thăm nhà bốn ngày trôi qua nhanh quá. Tối hôm trước, chưa kịp ăn cơm xong thì mọi người trong làng trên, xóm dưới, anh em, bạn bè đã đến thăm, động viên. Đến khuya khách vãn, tôi và bố mẹ, các em mới kịp sửa soạn ba lô đồ dạc để mai lên đường. Bố mẹ tôi cứ lưu luyến, thao thức mãi không ngủ được, lại dậy tiếp tục trò chuyện và dặn dò thêm nhiều thứ. Biết tới đây tôi học ở Sơn Tây gần nhà nên bố mẹ mua cho tôi chiếc xe đạp để thỉnh thoảng về thăm. Nhà nghèo bán mấy tạ thóc, chạy vạy cũng đủ mua chiếc xe đạp Phượng Hoàng (thế mà cả khóa học một năm ở Trường Sĩ quan Lục quân chỉ cách nhà khoảng hơn 20km mà tôi không lần nào về được vì chương trình học rất gấp gáp). Sáng ngày thứ tư, gia đình làm cơm rất sớm thắp hương gia tiên cầu phù hộ cho tôi may mắn... Trời sáng, làng xóm, anh em lại đến chơi rất đông. Tôi lưu luyến chia tay. Hai cô em gai Sến, Sửu thay nhau đèo tôi bằng hai chiếc xe đạp lên phố huyện bắt xe về đơn vị. Hai ngày hôm sau mưa ngớt, nước rút xẹ đưa chúng tôi về Trường Sĩ quan Lục quân để học tập. Chúng tôi được về Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, nhanh chóng tiếp nhận trang bị chiến đầu, vì Nhà trường rút kinh nghiệm vụ máy bay trực thăng Mỹ đổ bộ xuống thị xã Sơn Tây giải cứu tù binh phi công tháng 11 năm 1970. Về trường khoảng một tuần, trời vẫn mua như trút nước, mực nước các sông lên to, chúng tôi được lệnh hành quân đội mưa đi chống lụt ở Phúc Thọ. Trận lụt này không kém trận lụt năm 1945, khi đó ta mới giành được chính quyền, vỡ đê, nạn đói, dịch bệnh... Nước mấp mé mặt đê, đục ngàu chảy xiết, đe dọa đến nhân dân một số huyện của Hà Tây và thành phố Hà Nội nên ta phải cho mở 17 cửa cống để phân lũ. Đơn vị được lệnh tỏa xuống các gia đình vận động nhân dân sơ tán. Chúng tôi chỉ kịp hành quân ra tới đầu làng thì nước đã đến bụng, rồi tràn vào khu vực đóng quân. Nhân dân trong vùng cũng bị thiệt hại lớn về tài sản, nhà cửa, hoa màu. Nước ngập, cấp trên điều đơn vị cùng các trường sĩ quan trong khu vực lên cống Chuốc, Suối Hai. Ban đêm, chúng tôi bì bõm qua thị xã Sơn Tây. Đường số 32 và các trục đường đều bị nước ngập trên đầu gối, có chỗ ngập ngang thắt lưng. Sáng hôm sau, tại điểm tập kết, chúng tôi lên máy bay trực thăng để sang vị trí hàn khẩu. Đơn vị lao động theo ba ca suốt ngày đêm dưới cái nắng chang chang của đồi núi chọc toàn đá sỏi. Xà lan, xe bọc thép cấp 5 xếp đầy đá hàn khẩu lấp chỗ vỡ. Khoảng một tuần, những cố gắng, nỗ lực của chúng tôi đã thành công. Sau gần hai chục ngày chống bão lụt gian nan vất vả, chúng tôi hành quân về trường, ổn định được vài ngày thì tôi hành quân lên Tiểu đoàn 8 (khu dã ngoại ở Giang Mỗ - Đà Bắc - Hòa Bình) đào tạo ngắn hạn một năm. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:02:33 pm Doanh trại những năm hòa bình dành để đào tạo sĩ quan quân đội cách mạng Lào và quân đội cách mạng Campuchia, sau chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đây thành nơi các tiểu đoàn lần lượt sơ tán đến.
Tiểu đoàn 8 biên chế thành ba đại đội 1, 2, 3, mỗi đại đội có khoảng 90 học viên. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm: Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng tên là Hợp, nhập ngũ năm 1946, quê Thanh Sơn - Vĩnh Phú; Đại úy, Chính trị viên tên là Chi, nhập ngũ năm 1947, quê Hải Dương; Đại úy, Tiểu đoàn phó tên là Hoa, nhập ngũ năm 1949. Tôi được biên chế về Đại đội 1, Đại đội trưởng tên là Nông, cấp bậc Trung úy, quê Thanh Hóa, tính hiền lành, năng lực chỉ huy giỏi, đã qua chiến đấu, rất gần gũi, sâu sát và thương học viên. Chính trị viên là Trung úy Thuận, quê Thanh Lãng - Vĩnh Phú. Đại đội phó tên là Lộc, quê Bắc Ninh, tính hiền lành, vui vẻ, gần gũi học viên. Các anh luôn nhắc nhở, động viên chúng tôi phải cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để sau này trở thành sĩ quan trung, cao cấp, những tướng lĩnh tài giỏi trong quân đội... Và quả thật sau này, một số phấn đấu rèn luyện đã trở thành cán bộ cao cấp, tướng lĩnh, trong đó có tôi. Khóa tôi học là khóa 33, học viên đào tạo hầu hết đã qua chiến trường, lập nhiều thành tích xuất sắc nên được chọn lựa về trường học tập. Quá trình đào tạo, nhà trường thường xuyên kiểm tra sức khỏe, lý lịch, bản lĩnh chính trị, tinh thần kỷ luật. Nếu không đủ tiêu chuẩn đào tạo là loại trả về đơn vị. Ngay từ ngày đầu, chúng tôi học tập, rèn luyện rất chính quy, giờ nào việc này. Sáng dậy thể dục, vệ sinh, ăn sáng cứ 15 phút một đầu việc. Đến giờ học tập, vai đeo súng vác học cụ chạy hàng cây số ra thao trường, giảng đường. Trưa về tập hợp vào cổng, đi đều và hát những bài hát theo quy định... Về chiến thuật, kỹ thuật được Nhà trường đào tạo từ thấp đến cao, động tác cá nhân, tổ, tiểu đội, trung đội, một phần chiến thuật đại đội, các loại súng trong biên chế của đại đội bộ binh... Sau khi ra trường, chúng tôi có thể nói thoát ly tài liệu huấn luyện bộ đội rất cơ bản và thành thục. Mỗi tuần, chúng tôi học từ thứ 2 đến thứ 7, có nhiều nội dung phải tự học thêm ngoài giờ để đảm bảo chất lượng. Ngày học, tối học và sinh hoạt, không có tối nào chúng tôi được nghỉ. Các sáng chủ nhật thì một nửa quân số lao động, lấy củi và tăng gia, còn chiều chủ nhật nếu cần thì vẫn phải ôn bài cũ. Tất cả nghị quyết chi bộ, kế hoạch của đại đội, hội đồng quân nhân đều xác định chỉ tiêu phấn đấu học các môn 100% đạt yêu cầu, có 80 - 90% khá và giỏi... Mỗi người có bản quyết tâm dán đầu giường. Chúng tôi ai cũng lo nhất là môn bắn súng, vì mỗi bài phải bắn 3-4 loại súng như CKC, AK, RPD, đại liên..., súng chống tăng các loại cũng vậy. Học đến đâu sát hạch kiểm tra đánh giá kết quả đến đó. Đầu tháng 6 năm 1972, Nhà trường tổ chức hành quân dã ngoại đường dài và huấn luyện chiến thuật trung đội, đại đôi. Cả Tiểu đoàn hành quân theo đường số 6 đi thị xã Hòa Bình về Lương Sơn huấn luyện chiến thuật trung đội tập kích, phục kích, vận động tiến công... và một số hình thức chiến thuật đại đội. Chẳng quản nắng mưa, ngày đêm, thầy và trò đều chuẩn bị cho các nội dung học tập thật kỹ và chu đáo. Tất cả các môn chiến thuật trung đội đều học ở núi cao, rừng rậm, khe sâu của tỉnh Hòa Bình, thầy trò phải đi lên xuống hàng chục lần mới kết thúc một khoa mục. Chúng tôi xác định luyện tập sát với chiến trường nên đói, khát, mệt nhọc đều phải khắc phục. Kết thúc các khoa mục huấn luyện ở địa hình rừng núi, Tiểu đoàn hành quân về Quốc Oai - Hà Tây, địa hình đồng bằng, để huấn luyện một số nội dung và chiến thuật trung đội, đại đội đánh công sự vững chắc. Đầu tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn hành quân về trường tổ chức kiểm tra bắn tổng hợp và lần lượt tất cả các học viên đều được kiểm tra các bài bắn ở trường bắn chính quy. Thời gian còn lại ở trong trường, chúng tôi học tiếp một số bài và sát hạch kiểm tra cuối khóa. Buổi chiều ngày 23 tháng 7 năm 1972, Đại úy, Chính trị viên Tiểu đoàn - đồng chí Chi đang giảng bài cho lớp học thì một sĩ quan đeo quân hàm thượng úy bước vào trao bức điện khân cho Chính trị viên. Đọc xong bức điện, Chính trị viên thông báo: Trời mưa to kéo dài, sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Đuống, hệ thống sông Thái Bình..., nước lên cao, toàn Tiểu đoàn dừng học, nhanh chóng hành quân đi chống bão lụt. Chúng tôi nhanh chóng cơ động về doanh trại, làm mọi công tác chuẩn bị, ăn cơm chiều và hành quân. Từ trường về xã Hạ Bằng - Thạch Thất - Hà Tây chặng đường dài khoảng 10km. Chúng tôi nghỉ lại tại đây và nhận tiêu chuẩn bồi dưỡng. Tiêu chuẩn gồm 1 hộp sữa bột 1kg, 1kg lương khô, 1kg đường, 4 gói pônitamin. 7 giờ 30 phút sáng hôm sau mỗi người chỉ mặc một bộ quần áo trên người, còn lại mang ra sân kho đổi cũ lấy mới. Ở dã ngoại trong nhà dân, chập tối chúng tôi vừa ăn lương khô, uống sữa, vừa thì thào bàn tán đoán già đoán non sẽ đi chiến trường và nhiệm vụ sắp tới (?). Đêm đã khuya mà không ai ngủ được. Sáng ra, toàn Đại đội đeo ba lô, trang bị hành quân ra sân kho hợp tác xã tập trung và lần lượt lên nhận quân tư trang gồm hai bộ quần áo dài vải Tô Châu (Trung Quốc) mới tinh màn tuyn, võng dù, mũ cối Trung Quốc, ba lô, bi đông, túi thuốc sĩ quan, đồ lót... Buổi chiều lĩnh dao găm, súng đạn, cuốc xẻng. Ba ngày đó, đơn vị chấn chỉnh biên chế, tổ chức tiểu đội, trung đội. Tôi được chỉ định làm Trung đội trưởng. Chúng tôi được ăn bồi dưỡng chế độ cao. Sáng ăn một tô phở to quá cỡ, nhiều thịt bò, gà. Trưa, chiều ăn như ăn cỗ (chỉ không có rượu). Tối về lại có đường, sữa bột, trứng... Từ khi vào bộ đội tới bấy giờ, tôi chưa bao giờ được ăn uống sung túc như thế. Chiều ngày 26 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn tập trung ở sân kho, trời nắng tháng 7 oi bức, mồ hôi nhễ nhại nhưng đơn vị im phăng phắc. Chính trị viên Chi dõng dạc đọc quyết định phong quân hàm của Bộ Quốc phòng. 242 người tốt nghiệp khóa 33 đều được phong quân hàm chuẩn úy (còn 28 đồng chí không có tên nên trả về đơn vị). Tối hôm đó, chúng tôi tự gắn và đeo quân hàm lên ve áo, người nọ ngắm, sửa cho người kia, vui mừng khó tả. Năm 1972, thời tiết có nhiều thuận lợi, mùa mưa đến muộn, mưa ít, cấp trên đã tổ chức đánh lớn trên ba hướng chiến lược: - Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh (Tây Nguyên). - Chiến dịch thung lũng Qué Sơn (Quảng Nam). - Chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Đáp ứng đòi hỏi về lực lượng của chiến trường, Trường Sĩ quan Lục quân cấp tốc bổ sung đi chiến trường ba tiểu đoàn. Cuối tháng 7 năm 1972, nằm trong bối cảnh chung đó, Tiểu đoàn chúng tôi vào chiến trường Quảng Trị... Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:05:56 pm VI. CHIẾN ĐẤU Ở CHIẾN TRƯỜNG B5 (QUẢNG TRỊ)
Ngày cuối cùng ở Hạ Bằng - Thạch Thất - Hà Tây, chúng tôi lưu luyến, bịn rịn bên nhau. Biết bao kỷ niệm sau một năm cùng nhau học tập, rèn luyện. Chúng tôi chụp ảnh, ghi địa chỉ để viết thư cho nhau, hoặc có điều kiện sẽ về thăm nhà nhau... Cùng đại đội với tôi có Cường, nhà ở thôn Phù Chính, có bố làm ở Bộ Lương thực ở Hà Nội, suốt một năm học ông chưa có dịp lên thăm con. Thời gian đi gấp quá, ra bưu điện chỉ kịp báo ngày đi, hai anh em gửi một số đồ đạc lại nhà chủ. Hai ngày sau bố Cường mới lên, được chủ nhà nói lại, ông sững sờ cảm ơn gia chủ và mang đồ của hai anh em chúng tôi về Hà Nội (Kết thúc chiến tranh, năm 1975, Cường được ra Bắc an dưỡng và được điều động về Tỉnh đội Vĩnh Phú tiếp tục công tác mấy năm nữa thì nghỉ hưu). 4 giờ sáng ngày 27 tháng 7 năm 1972, toàn đơn vị báo thức, ra tập trung sau đoàn xe quân sự đã phủ bạt và ngụy trang kín. Sau khi kiểm tra quân số, trang bị, Chính trị viên Tiểu đoàn nhắc: Để bảo đảm bí mật hành quân, tất cả tháo quân hàm cho vào ba lô. Ngoài tôi là Trung đội trưởng thì Trung đội có 21 sĩ quan, biên chế thành ba tiểu đội. Trang bị chiến đấu cứ hai xẻng một cuốc, ba người được phát một khẩu AK và 100 viên đạn, cùng dao tông, đèn pin cá nhân, dao găm... Thứ tự hành quân theo đội hình hàng dọc, xe cách xe 50 - 100m. Đại đội 1 đi đầu theo đường số 21 - đường số 6 đi Lương Sơn - Hòa Bình - dốc Cun; đường số 15 đi Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghĩa Đàn - Nam Đàn - Hà Tĩnh - Quảng Bình (Bãi Hà), là nơi tập kết giao quân. Khoảng 8 - 9 giờ ngày 27 tháng 7, đoàn xe gần 20 chiếc hành quân qua thị xã Hòa Bình. Nhiều tốp máy bay địch rượt theo uy hiếp nhưng đoàn xe vẫn giữ tốc độ, nối đuôi nhau tiếp tục hành quân. Gần trưa đến dốc Cun, đèo quanh co, khúc khuỷu, dốc cao, lại vài đợt máy bay sà xuống thấp bắn chặn, nhưng đoàn xe vẫn an toàn. Hành quân một ngày trời căng thẳng, đến khuya, đoàn xe của đơn vị mới đến gần chân dốc Bò Lăn thuộc Thanh Hóa. Địch đánh chặn, tắc đường mất ba ngày ba đêm. Xe, pháo đủ các loại ùn tắc kéo dài vài cây số, máy bay địch tập trung đánh phá suốt ngày đêm, ban đêm pháo sáng không lúc nào ngớt. Đoàn chúng tôi toàn cán bộ vừa tốt nghiệp, ai cũng sốt ruột mau chóng được ra mặt trận... Đường thông, đoàn xe tiếp tục lăn bánh, đơn vị dừng chân ở trạm giao liên Nghĩa Đàn - Nam Đàn (Nghệ An) - quê Bác. Nhân dân ở đây rất nghèo, nhà nhỏ, thấp, chật nhưng tinh thần cách mạng rất cao. Họ dành nhà cho bộ đội nghỉ ngơi. Cả tuyến dọc theo các tỉnh miền Trung, nhà nào cũng có bộ đội ở, cứ tối hành quân đi, đêm hoặc gần sáng lại có đơn vị khác đến. Dừng chân hai đêm ở quê Bác rồi đơn vị vượt sông La bằng phà và ca nô sang Đức Thọ - Hà Tĩnh, đến đêm di chuyển bằng ca nô vào Nông trường cam Lệ Ninh - Quảng Bình. Ngồi ca nô đi dưới sông mà trên bờ B-52 của địch rải thảm liên tục, những vệt lửa kéo đài, nổ đinh tai nhức óc, mảnh đạn, đất, đá văng cả xuống sông, bay vèo vèo qua đầu và lõm bõm xuống dòng sông... Trước lúc trời sáng, chúng tôi được dân quân dẫn vào từng nhà ở khu vực nông trường, mỗi nhà ở được nửa tiểu đội, cách nhau khá xa. Người dân và công nhân ở đây rất tốt và tình cảm với bộ đội, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, dặn dò cẩn thận. Gọi là nông trường cam nhưng bộ đội có mua cũng không ai lấy tiền mà cứ mời ăn thoải mái. Mua con gà "ăn tươi" để chuẩn bị vào chiến trường, dân chỉ lấy tiền một nửa... Không phải chỉ đơn vị chúng tôi mà đơn vị đi trước cũng được nhân dân đối xử như vậy, vì họ coi bộ đội như con em của mình. Cả ngày ở Nông trường cam Lệ Ninh, không khí của chiến tranh vùng giáp giới tuyến khá căng thẳng. Máy bay địch liên tục gầm rú trên trời, ném bom, đánh chặn, trinh sát chỉ điểm... Pháo cao xạ của ta không bố trí thành trận địa đại đội hoặc tiểu đoàn mà bố trí từng khẩu, từng trung đội dưới các bụi cây ngoài cánh đồng, đầu làng..., có thời cơ là đánh trả để bảo vệ đội hình hành quân, đường giao liên và kho trạm. Tất cả nhân dân, bộ đội đều hoạt động và sống trong hầm, hào dưới mặt đất. Trời vừa chạng vạng tối, đoàn xe quân sự được giấu kín và ngụy trang xung quanh nông trường lại xếp hàng dọc, tiếp tục lên đường, nhằm hướng tây về Cự Nam. Gần sáng tới trạm, xe dừng lại, tất cả nhanh chóng xuống xe rất trật tự. Trong bóng tôi, tôi nghe tiếng con gái gọi: "Trung đội đồng chí Thiều Chí Đinh ở đâu?", tôi đáp lại: "Có!". Quay lại thấy ba o du kích đội mũ tai bèo, khoác AK nhanh nhẹn tiến lại, một cô nói ngắn gọn: "Tất cả theo tôi!". Tôi chỉ huy Trung đội đi theo ba o dân quân xuống mép sông, mỗi tiểu đội theo một o lên thuyền gỗ, rồi chỉ nghe tiếng mái chèo quạt nước đẩy thuyền sang bờ sông bên kia... Tới nơi, tám người chia làm hai hầm, hạn chế đi lại trên mặt đất để bảo đảm bí mật. Cơm nước đã có giao liên báo gia đình nấu. Khoảng hơn 7 giờ sáng, nghe tiếng gọi ngoài cửa hầm, tôi bật dậy, khom người ra cửa hầm, thấy một bác trạc ngoài 50 tuổi, người nhỏ, gầy, đứng trên cửa hầm hỏi: "Chú có phải là cán bộ không?". Tôi đáp: "Phải!". Bác bảo: "ở trạm ni đơn vị nào đến đây cũng vậy! Trạm phát đường, sữa, bột, trứng, thuốc... để bồi dưỡng trước khi vào chiến trường. Giờ này trạm giao liên họ cấp rồi đó! Chú đi mà lĩnh kẻo muộn". Tôi cùng ba đồng chí ra trạm lĩnh về cấp cho anh em. Tám anh em chúng tôi ở trong hai gia đình, hai hầm cách nhau vài chục mét dưới những tán cây xanh che khuất, ngụy trang kín. Gia đình chủ nhà có năm người, hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ, nhà nghèo, làm ruộng nương nhưng rất tốt với bộ đội. Họ nấu cho chúng tôi ngày ba bữa, sáng ăn sắn luộc, trưa, chiều ăn cơm, có cá sông, canh rau sắn nấu chua rất ngon, hợp với cánh lính trẻ. Buổi tối trước khi chúng tôi lên đường, chị chủ nhà không quên gói cho mỗi người một đùm khoai thơm, bở, ăn mà nhớ mãi. Sẩm tối, tất cả đã tập trung đông đủ tại sân nhà. Chúng tôi chào anh chị chủ nhà, lưu luyến chia tay rồi đeo ba lô, súng đạn lên vai ra bến sông. Đò chở sang sông, tất cả tập hợp kiểm tra quân số và trang bị rồi nhanh chóng lên xe. Xe tiếp tục hành quân vào đến Bãi Hà - khu vực tập của toàn Mặt trận B5, chặng cuối cùng để phân bổ, điều động đi các đơn vị chiến đấu. Trạm tập kết Bãi Hà xung quanh là núi cao, rừng nguyên sinh, mọi hoạt động ở mặt đất được giữ kín, canh gác rất cẩn mật nên suốt cả một thời gian dài không bị địch đánh phá. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:07:09 pm Sáng hôm sau, khoảng 7 giờ, Chính trị viên Thuận mang giấy tờ, hồ sơ và quyết định giao cho 10 anh em chúng tôi - bộ phận đi đầu của Tiểu đoàn 8 được Chính ủy Mặt trận - Trung tướng Song Hào - ký điều về Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 gồm: Đỉnh, Phi, Ánh, Lanh, Mạn, Quỳnh, Tạo, Ba, Thăng Lục. Số còn lại có mặt ở trạm là được điều động đi ngay, vì lúc đó yêu cầu của mặt trận rất cần cán bộ... Chia tay Thủ trưởng Tiểu đoàn, Đại đội 1 Trường Sĩ quan Lục quân đầy lưu luyến xúc động. Các Thủ trưởng đều chúc chúng tôi mạnh khỏe hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hẹn gặp lại nhau ngày chiến thắng... Tay nắm chặt tay, ôm nhau ai cũng không kìm nổi những giọt nước mắt.
Tôi được giao chỉ huy 13 sĩ quan, gồm 10 đồng chí sĩ quan Lục quân, ba đồng chí bác sĩ tốt nghiệp Đại học Quân y về Sư đoàn 325. Không có người dẫn đường, chúng tôi cứ đi theo lối mòn từ Bãi Hà về suối La La lịch sử. Đến đây, chúng tôi mắc võng hai bên bờ suối nằm nghỉ, chờ người đến đón. Trong ba lô mỗi người chỉ còn hai ngày gạo với muối trắng. Tôi phân công người hái rau, người cạy đá bắt cua (cua suối rất nhiều và béo), kiếm mũ sắt, sẵn dao găm đẽo chày giã cua. Hai ngày nằm chờ trôi qua, các đơn vị hành quân ra vào tấp nập. Từng đoàn thương binh hành quân ra, có đến hàng trăm thương binh băng đầu, tay, chống gậy tự đi mà chỉ có ba, bốn nữ y tá, y sĩ đi cùng. Các thương binh hầu hết chiến đấu trong Thành cổ, cuộc chiến đấu ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị diễn ra ngày càng gay go, ác liệt... Khoảng 8 giờ sáng ngày thứ ba, có hai người, một đeo xà cột, súng ngắn K54, một đeo AK, vừa đi vừa hỏi đoàn 13 người về Sư đoàn 325. Biết người đơn vị ra đón, chúng tôi mừng quá. Đó là Thiếu úy Đăng - Trợ lý Cán bộ Trung đoàn 18. Tất cả nhanh chóng gấp tăng, võng, ba lô để hành quân. Chúng tôi vượt qua sông Cam Lộ, đến khu C Sở Chỉ huy Sư đoàn gặp đồng chí Minh - Phó ban Cán bộ, bàn giao người về Trung đoàn 18, còn hai bác sĩ ở lại để điều đi các đơn vị trong Sư đoàn. Sáng hôm sau, chúng tôi hành quân theo đường số 9 qua thị trấn Cam Lộ về Đông Hà, giữa ban ngày trời quang, nắng chang chang, máy bay trinh sát của địch quần lượn, bắn pháo khói để chỉ điểm các mục tiêu đánh phá, máy bay bổ nhào, ném bom các mục tiêu, nhất là các nơi nghi trận địa pháo cao xạ của ta đóng quân. B-52 cứ 30 phút một loạt, liên tục kéo dài, pháo hạm, pháo tăng tốc bắn liên tục dọc đường số 9 về Khe Sanh... Một trung đoàn tân binh Hải Phòng hành quân vào bổ sung cho các đơn vị, trúng bom B-52 bị tổn thất khá nặng. 12 giờ trưa ngày 10 tháng 8 năm 1972, đoàn 11 người chúng tôi đi theo hướng dẫn của đồng chí Đăng về đến Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 ở trung tâm thị xã Đông Hà. Sư đoàn 325 là sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Sau khi giải phóng Quảng Trị, Bộ mới điều vào. Sư đoàn cỏ ba trung đoàn bộ binh: 101, 95, 18 và các đơn vị trực thuộc Chỉ huy Sư đoàn có Thượng tá Lê Kích - Sư đoàn trưởng Thượng tá Nguyễn Công Trang - Chính ủy. Giai đoạn đầu (tháng 6 năm 1972), Trung đoàn Bộ binh 18 tăng cường cho Sư đoàn 320B chiến đấu phía cánh Đông, Trung đoàn Bộ binh 101 chiến đấu ở Cửa Việt, Trung đoàn Bộ binh 95 phòng ngự bảo vệ Thành cổ và Sở Chỉ huy Sư đoàn ở Cam Lộ. Sở Chỉ huy Trung đoàn có hầm làm việc ở giữa, hai đầu là hai hầm chữ A, bên trái là hầm của Trung đoàn trưởng, bên phải là hầm của Chính ủy. Hầm làm việc cũng có tấm ván kê làm bàn, xung quanh kê những thanh gỗ làm ghế ngồi. Trong hầm là Thiếu tá Huỳnh Lang - Trung đoàn trưởng, quê Bình Định; Thiếu tá Ngô Khắc Dũng - Chính ủy, quê Hà Bắc. Hai anh là cán bộ từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, học hành cơ bản, có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, đặc biệt là kinh nghiệm cầm quân. Các anh ngồi vào ghế, mở xà cột lấy sổ, kính, bút ra bắt đầu làm việc. Chính ủy Ngô Khắc Dũng chủ trì, giới thiệu sơ lược truyền thống Trung đoàn, Sư đoàn và tình hình Trung đoàn hiện nay ở Mặt trận Quảng Trị. Rồi ông dừng lại, lướt qua một lượt hỏi tên, sau đó trao quyết định cho từng người. Tôi được trao quyết định làm Trung đội trưởng Trung đội 3; Lê Ngọc Ánh làm Trung đội trưởng Trung đội 2 Đại đội 7 Tiểu đoàn 8; Tạo, Lanh về Đại đội 5, Phi về Đại đội 6, bác sĩ Trình về Đại đội 24 quân y, số còn lại về Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 9. Trao quyết định xong, hai Thủ trưởng bắt tay chúc chúng tôi lên đường về đơn vị an toàn, mạnh khỏe, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ... Giữa trưa trời nắng như đổ lửa, nhà cửa, cây cối đổ gãy ngổn ngang, không còn ngôi nhà nào nguyên vẹn. Tất cả thành một đống đổ nát. Trên không, máy bay địch trinh sát, ném bom, quần lượn nhưng không có một quả bom nào đánh vào thị xã Đông Hà thời điểm đó, và sau này cũng rất ít vì ta ở thế bất ngờ, kín đáo mà chúng không thể ngờ tới. Ra đến cửa hầm chỉ huy Trung đoàn đã thấy hai trinh sát Tiểu đoàn chờ sẵn, hỏi tên và đưa chúng tôi về Tiểu đoàn 8 đóng quân trong làng gần đó. Về đến nơi, Thượng úy Vinh - Tiểu đoàn trưởng, Thượng úy Nghĩa - Chính trị viên ra tiếp chúng tôi, thăm hỏi và giao nhiệm vụ cho từng người. Một đồng chí liên lạc đưa tôi về Đại đội, qua cánh đồng làng Chung Chỉ, cách thị xã Đông Hà khoảng hơn 2km. Trung đoàn 18 được Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 điều vào Quảng Trị tháng 5 năm 1972, tăng cường cho Sư đoàn 320B đảm nhiệm Mặt trận cánh Đông từ Cửa Việt theo đường số 8 dọc ven biển vào đến sông Mỹ Chánh. Các đơn vị chân ướt chân ráo vừa hành quân vào, toàn tân binh chưa có kinh nghiệm, phải đối đầu với hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến của địch, dưới sự yểm trợ hỏa lực của Hạm đội 7, không quân Mỹ. Chúng đổ bộ lên bãi biển Long Quang - Hải Lăng, phía trước thì B-52 ném bom, pháo giàn từ hạm đội dọn bãi, san phẳng... Sau đó xe tăng, bộ binh đổ bộ lên tiến công. Trận đầu đụng độ, Tiểu đoàn 8 thương vong hơn 100 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có Tiểu đoàn phó. Những trận tiếp theo diễn ra tương tự, các tiểu đoàn 7, 9 cũng tổn thất nhiều, toàn bộ Trung đoàn phải rút ra củng cố. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:08:28 pm Tôi về Đại đội 7, quân số có 15 đồng chí, Đại đội trưởng là Thiếu úy Tiến, Chính trị viên là Thượng sĩ Hoằng đều quê Thanh Hóa. Đại đội phó là Trung sĩ Trọng, quê Thái Bình. Theo quyết định của Trung đoàn, tôi giữ chức Trung đội trưởng Trung đội 3, gặp Ban Chỉ huy Đại đội năm sơ qua tình hình Đại đội và Trung đội, tôi cũng hiểu phần nào những khó khăn, gian khổ của đơn vị.
Chiến sĩ liên lạc tên Trạch (quê Phúc Yên) dẫn tôi về Trung đội 3. Đi theo đoạn hào, qua khu nhà sập, nghe "soạt" một cái, Trạch rất nhanh, quay người và súng lại, mở khóa an toàn giơ AK lên định bắn. Quan sát thấy con mèo, tôi giơ tay ra hiệu không được bắn. Chúng tôi tiếp tục đi qua một bãi trồng có mương nước chảy qua, cạnh đó là một cái nền nhà cao, khung xiêu vẹo, bên dưới có chiếc hầm... Nơi đây gần Thành cổ, pháo bắn nhiều, đạn réo rít qua đầu liên tục... Cuối đoạn hào, Trạch chỉ cho tôi vị trí hầm. Tôi gật đầu và đeo ba lô chạy vọt qua. Hạ ba lô xuống miệng hầm, tôi thả người xuống hai bậc và cất tiếng gọi xem có ai ở dưới không. Không thấy ai, tôi cúi người chui vào, rồi có tiếng sột soạt trong hầm, tôi nhìn thấy lờ mờ cái bóng qua ánh sáng ngách cửa hầm, giọng nói lơ lớ, giống tiếng dân tộc, hỏi: "Ai đấy, đồng chí mới đến à, tân binh à...". Tôi ngồi xuống nền hầm trải lá cây, rải chiếc chiếu nhựa và hỏi chuyện. Đó là chiến sĩ tên Quế, quê Cao Bằng, nhập ngũ năm 1971, bị thương ở Mặt trận cánh Đông, vừa ra viện về. Trung đội chỉ có hai người. Tôi hơi ngạc nhiên, vì lúc ở Đại đội, không ai nói quân số của từng trung đội. Tôi hỏi, thế quân số đi đâu hết? Quê trả lời: "Mình đi viện về, chỉ có mình và đồng chí Huề - Trung đội phó". Lúc này tôi mới hiểu ra, Trung đoàn vào tham chiến được ba tháng, sau những trận đánh đã bị tổn thất khá nặng nề. Đây là thời gian rút ra để củng cố và bổ sung quân số. Một lát sau, Trung đội phó về. Tôi phân công công việc của từng người với nhiệm vụ chốt giữ làng, bảo vệ sân bay và các điểm cao căn cứ Ái Tử đề phòng địch đổ bộ đường không. Đến chiều, Đại đội cho liên lạc mang trang bị đến cho tôi, gồm một khẩu AK và 300 viên đạn, bốn quả lựu đạn. Hai hôm sau, toàn Trung đoàn được bổ sung tân binh Đoàn 22 Quân khu 4 mới hành quân ngoài Bắc vào... Trung đội tôi và các trung đội khác đều được bổ sung tân binh, biên chế thành ba tiểu đội, mỗi tiểu đội ba người, cả trung đội trưởng, trung đội phó là 11 đồng chí. Tiểu đội chỉ có ba người nhưng vẫn được trang bị một khẩu B40, một khẩu trung liên, một khẩu AK. Tiểu đoàn 8 được giao nhiệm vụ phòng ngự chốt giữ toàn bộ căn cứ Ái Tử và sân bay. Đại đội 7 được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 20 - 29 và các mỏm đồi cao còn lại. Ngoài huấn luyện kỹ, chiến thuật, huấn luyện phương án tác chiến ngoài thực địa, còn huấn luyện cho bộ đội cách sử dụng các loại súng có trong biên chế và vũ khí lấy được của địch như: AR15, M79, M72, súng chống tăng của Mỹ. Trung đội tôi chốt giữ điểm cao 20 đầu sân bay, xác định hầm hào công sự là chiếc áo giáp để giữ chốt nên chúng tôi ngày đêm tích cực đào hầm hào, làm đến đâu ngụy trang đến đó. Vì vậy, bom pháo ác liệt mà chúng tôi không có ai thương vong. Đầu tháng 9 năm 1972, Đại đội 7 đang chốt giữ khu vực Ái Tử, đột nhiên có lệnh hành quân gấp về phòng ngự Đông Hà, chúng tôi nhanh chóng thu quân và vượt sông Lai Phước. Vì cầu đã bị đánh sập, chúng tôi phải bơi sang Trung sĩ Phan Văn Phường - Trung đội phó, người to béo không biết bơi; phải dùng phao thổi phồng, buộc dây, hai người kéo trước, hái người đẩy sau mới sang được bờ bắc. Tôi đảm nhiệm hai chuyến, bơi qua rất mừng thấy Trung đội phó vượt được sông. Tôi đeo khẩu trung liên RPD với 100 viên đạn, bơi quá nửa sông thì mệt, nhưng quyết không để mất vũ khí, thế là cả người và súng đều chìm xuống sông. Đêm tối, lờ mờ qua ánh đèn pháo sáng anh em phát hiện nhao tới, túm tóc kéo lên. Rất may lúc chìm xuống sông, chân tôi chạm đất, còn sức tôi đẩy mạnh khẩu trung liên lên phía trước, buông tay ra lấy đà đạp mạnh, nhô lên thở, nhưng cũng uống vài ngụm nước sông vào bụng. Anh em kéo lên bờ, tôi còn kịp chỉ tay để anh em mò lấy được súng. Chẳng hiểu do nhầm lẫn thế nào mà khi đã vượt sông rồi chúng tôi lại nhận được lệnh trở về chỗ cũ ở làng Chung Chỉ, tiếp tục chốt giữ điểm cao 20 - 29 căn cứ Ai Tử. Sự nhầm lẫn ấy hóa ra lại là điều may mắn cho chúng tôi. Chiều hôm trước chúng tôi vừa đi khỏi vài cây số thì toàn bộ trận địa phòng ngự của Trung đội 3 bị bom B-52 đánh trúng. Khi chúng tôi quay về mới biết tất cả các hầm đều bị đánh sập. Nếu có mặt ở đó thì có lẽ trung đội tôi không còn ai... Riêng hầm tôi trúng hai quả bom. Bên kia sông Thạch Hãn là Thành cổ Quảng Trị. Các lực lượng giữ thành có Trung đoàn 95, Trung đoàn 18, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B và một số lực lượng quân, binh chủng của Bộ, chiến đấu quả cảm, kiên cường, giữ từng tấc đất kiên quyết giữ thành, giữ Quảng Trị. Ba mặt thành địch chiếm giữ và liên tục tiến công, chỉ còn bờ nam sông và phía bắc thành ta giữ được. Bến sông là nơi ta đưa quân và tiếp tế đạn gạo, chuyên chở thương binh ra, địch cũng dùng bom, pháo khống chế đánh chặn. Quân số thương vong mỗi ngày một cao, khoảng một đại đội mỗi ngày đêm... Nước sông lên to việc tiếp tế sang thành là rất khó khăn. Ngày 14 tháng 9, địch tiến công lớn, có hỏa lực không quân, pháo binh, xe tăng chi viện, đã chiếm được phần lớn các mục tiêu trong thành. Một số chốt, cụm chốt, các ổ đề kháng, hầm ngầm, quân ta vẫn giữ được và kiên cường chiến đấu chống trả. Đến ngày 16 tháng 9, địch mới hoàn toàn chiếm được thành. Những ngày đó bầu trời, mặt đất Quảng Trị, đặc biệt là khu vực Thành cổ và lân cận rung lên, rạn nứt vì bom đạn, ban đêm pháo sáng sáng rực như ban ngày. Suốt thời gian đó, mọi hoạt động trên mặt đất đều phải vô cùng kín đáo. Trong ngày 14 tháng 9 đó, buổi sáng cấp trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 bàn giao trận địa phòng ngự khu vực Ái Tử và sân bay, chuẩn bị sang giữ Thành cổ. Tất cả khẩn trương chuẩn bị tư trang cá nhân và trang bị chiến đấu gọn nhẹ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:09:50 pm Cán bộ từ trung đội trở lên mỗi người kiếm một chiếc túi, chủ yếu là túi mìn clâymo, trong đựng tăng, võng, quần áo lót, khăn mặt, đèn pin và một số tư trang gọn nhẹ. Trang bị chiến đấu gồm khẩu AK với 300 viên đạn, bốn quả lựu đạn, dao găm, bốn cuộn băng, hỏa lực cối, B40, B41... Tất cả sẵn sàng bổ sung vào chiến đấu cùng các đơn vị bạn giữ thành.
Đến 16 giờ, cả Tiểu đoàn nhận lệnh hành quân vào các trận địa, các chốt. Chúng tôi nằm ém quân dọc theo đường sắt từ sân bay Ái Tử vào đầu làng Nhan Biều đợi lệnh. Chiều tối được lệnh xuất quân, chúng tôi vừa đi vừa chạy tắt qua làng Nhan Biều 2 ra bến vượt. Bên khu vực Thành cổ và xung quanh, các loại súng nổ ran... Bom pháo đánh chăn dọc theo các làng Nhan Biều 1, 2, khu vực thành, bến sông, pháo sáng như ban ngày... Đến Nhan Biều 2, chúng tôi tạm dừng lại chặt chuối đóng thành bè. Ba lô, trang bị và toàn bộ quần áo dài bỏ lên bè, cứ ba người một bè, mỗi người một góc khiêng bè chạy ra bến vượt sông Thạch Hãn. Đại đội 7 đi đầu. Được một phần ba quân số vượt sông thì địch phát hiện. Chúng vãi đạn như mưa xuống sông tạo thành những cột nước cao vài mét, bắn tung tóe. Nhiều người hy sinh và bị thương. Có lệnh yêu cầu tất cả quay lại. Chúng tôi bơi ngược trở lại. Trời sáng dần, toàn Tiểu đoàn thức trắng, chạy ra, chạy vào, không sang được thành nên phải rút lui. Để bảo đảm an toàn, chờ lệnh tiếp theo, Tiểu đoàn quyết định không về chốt căn cứ Ái Tử và các điểm cao mà tìm chỗ trú quân dọc theo đường sắt, các bụi cây, sim, mua, ngụy trang kín, ít đi lại. Hôm ấy là một ngày nắng gay gắt, các khu đồi trọc cây cối lơ thơ, không thấy bóng dáng các loài động vật, côn trùng... Nhưng thật không ngờ, lại có một tiểu đoàn Quân giải phóng với đầy đủ trang bị, bí mật nằm giấu mình sẵn sàng đợi lệnh. Sẩm tối, đợi lúc máy bay trinh sát địch ít hoạt động, Tiểu đoàn lần lượt thu quân. Toàn Tiểu đoàn có Đại đội 6 hy sinh hai đồng chí, gần chục người khác bị thương. Đêm 15 tháng 9, cấp trên có lệnh vượt sông vào thành, với hỏa lực trên chi viện và hỏa lực của Tiểu đoàn. Chúng tôi nhanh chóng vượt qua đường số 1, men theo đường mòn, ba người khiêng một bè nhanh chóng ra bến sông. Một loạt hỏa lực bắn chặn, tất cả nằm rạp dưới hố bom, khói bụi mịt mù, không sao tiến lên được. Tôi quan sát đội hình bị gián đoạn đứt quãng, có bộ phận đã lui về phía sau. Có lệnh rút quân, Đại đội chúng tôi lại về chốt giữ điểm cao 20 - 29 như ban đầu. Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị là một trong những chiến dịch lớn của Quân đội ta. Khi tham gia tiến công giải phóng Quảng Trị, ta sử dụng ba sư đoàn bộ binh gồm: Sư đoàn 304 tiến công Ba Hồ - Động Toàn ở miền tây Quảng Trị; Sư đoàn 308 tiến công Cam Lộ - Đông Hà, căn cứ Ái Tử - Quảng Trị; Sư đoàn 320 tiến công Cửa Việt - Triệu Phong, hướng đông Quảng Trị. Ngoài ra còn có các lực lượng pháo binh, không quân, tên lửa, xe tăng của Bộ cùng tham gia. Đến ngày 22 tháng 6, địch mở cuộc tiến công hòng giành lại Quảng Trị. Chúng huy động hai sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn dù, lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn. Dưới sự chi viện tối đa hỏa lực không quân và pháo binh Hạm đội 7, chúng quyết tâm tái chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, hất "Cộng sản Bắc Việt" về bắc sông Bến Hải. Về phía ta, chủ trương của trên là quyết tâm giữ vững trận địa. Từ chủ trương trên, ta tập trung mọi nỗ lực, cố gắng để giữ bằng được Quảng Trị. Các sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ được điều động về, gồm: Sư đoàn 312 đang tác chiến ở Cánh Đồng Chum điều về phòng ngự phía tây thị xã (ngầm Phương Thúy) với các điểm cao 15, 52 59; Sư đoàn 320B phòng ngự cánh đồng Triệu Phong, Bích La Đông, Cửa Việt; Sư đoàn 308 phòng ngự phía tây thành, động Tích Tường, Như Lệ; Sư đoàn 304 phòng ngự động Ông Do, điểm cao 307; Sư đoàn 324 phòng ngự phía tây nam Quảng Trị, sông Mỹ Chánh, sông Ô Lâu và tây Thừa Thiên - Huế. Sư đoàn 325 gồm ba trong đoàn bộ binh: Trung đoàn 101 phòng ngự Cửa Việt, Bích La Đông đến chợ Sải; Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 18 phòng ngự chốt giữ Thành cổ cùng Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320; Trung đoàn 18 phòng ngự toàn bộ căn cứ Ái Tử, sân bay và bắc sông Thạch Hãn từ An Đôn, cầu Quảng Trị, bến vượt Xuân An về điểm cao 20, điểm cao 29, cầu Lai Phước. Toàn bộ các đơn vị tham gia chiến dịch phòng ngự gồm có sáu sư đoàn bộ binh cùng nhiều trung, lữ đoàn tên lửa, pháo phòng không, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, đặc công của Bộ mà đến lúc gay go quyết liệt nhất, chúng ta vẫn kiên cuờng bám trụ chiến đấu. Sau này, để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài ta buộc phải rút quân sang bờ bắc. Cho đến ngày ký Hiệp định Pari - ngày 27 tháng 1 năm 1973, ta vẫn giữ được vùng giải phóng Quảng Trị rộng lớn, có đồng bằng, cảng, thị xã Đông Hà, có cả vùng rừng núi... Điều này có ý nghía quan trọng về mặt chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán Hội nghị Pari, cũng là cơ sở thuận lợi để ta chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975. Sau khi rút khỏi Thành cổ, Tiểu đoàn 7 vượt sông sang bờ bắc chốt giữ ngăn chặn. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 8 đi trinh sát và chuẩn bị thay cho Tiểu đoàn 7 rút về phòng ngự phía sau để củng cố. Ngày 24 tháng 9, Tiểu đoàn 8 hành quân vào thay nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 rút ra. Đại đội 7 đi theo đường sắt về đầu cầu nhà sắt Trung đội 2 do Lê Ngọc Ánh chỉ huy. Chỉ huy Đại đội, Trung đội 1, hỏa lực Đại đội tăng cường theo đường sắt qua Nhan Biều 2 về trận địa phòng ngự làng Nhan Biều 1. Trung đội 3 theo điểm cao 10 qua Nhan Biều 2 về phòng ngự làng Nhan Biều 1. Đường ra bến vượt do tôi chỉ huy, hành quân vào buổi chiều. Địch dùng nhiều loại hỏa lực bắn ngăn chặn, các loại pháo bắn chụp xuống có thể gây sát thương nếu ngồi dưới hầm không có nắp. Chúng tôi đi theo mép đường bên phải, khi có pháo nhanh chóng nằm xuống, lăn ngay xuống rãnh nước, nhờ thế mà tất cả đều an toàn. Vào đến trận địa làng Nhan Biều 1, Trung sĩ Trọng - Đại đội phó đang chờ tôi để chuẩn bị bàn giao. Một loạt pháo rít qua đầu, mọi người nhao vào hầm tránh, Trọng còn lấn cấn chưa chịu vào... Loạt pháo tiếp theo nổ sát sạt, Trọng bị nhiều mảnh pháo găm vào người, hy sinh tại chỗ. Ngay đêm đó, Đại đội cử người chôn cất Trọng cách đó khoảng 5m, bộ đội phải chạy ra, chạy vào nhiều lần mới chôn cất xong vì pháo địch giội liên tục... Sau này, các liệt sĩ ở đây đều đưa đưa về mai táng cùng một chỗ, thành nghĩa trang Đại đội. Những ngày đầu, các tiểu đội tập trung đào và làm kèo, hố chiến đấu dọc theo đường số 1, sau phát triển hào cơ động sâu, rộng, đi lại dễ dàng hơn. Chỉ một thời gian ngắn, toàn đơn vị đã đào tương đối hoàn chỉnh các chốt, cụm chốt liên hoàn, được ngụy trang kín đáo, bí mật, sẵn sàng đánh địch. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 25 Tháng Sáu, 2026, 06:11:41 pm Sau khi chiếm được Thành cổ, địch tỏ ra chủ quan, chúng đi lại ngông nghênh, lộ liễu. Phía ta, trên trang bị cho mỗi trung đội ba khẩu súng bắn tỉa, loại có kính ngắm, bắn đươc cự ly 1.000m. Chúng tôi liên tục bắn tỉa sang thành, làm địch thương vong khá nhiều, rồi dùng cối 60mm có phần tử đo sẵn cơ động ra ngoài, cứ bắn nghi binh cấp tập ba đến năm viên xong lại rời sang vị trí khác. Chỉ vài phút sau, địch phản pháo san bằng khu vực cũ. Cứ như thế, chúng tôi nghi binh đánh địch mà địch không tiêu diệt được các loại hỏa lực của ta. Chiến thuật này hiệu quả rất cao, sau này khai thác tù hàng binh, chúng đã khai như vậy.
Sang đầu tháng 10, sau khi nắm lại toàn bộ địa hình ngoài mép sông, tôi mạnh dạn đề xuất với cấp trên phải đưa thêm lực lượng ra ngoài lô cốt, bến vượt, vì nếu ta ở xa mép nước, đêm tối địch vượt sông sang ta không biết, lực lượng mỏng sẽ khó giữ được... Được trên đồng ý, tôi nhanh chóng điều chỉnh hai tiểu đội chốt ngoài lô cốt, bến vượt do tôi chỉ huy, một tiểu đội và Trung đội phó chốt phòng ngự phía sau, bảo đảm cơm nước cho trận địa phía trước. Trong nửa tháng trời, cứ tối đến là cả Trung đội ra đào hầm, hào, công sự trận địa, đào hai hầm kèo tương đối vững chắc, một hầm ngoài cùng, trong rặng tre có tầm quan sát xa, rất kín đáo, các đoạn giao thông hào cơ động được nối thông với nhau, bên trái trận địa là một trung đội được tăng cường hỏa lực, trận địa được củng cố để sẵn sàng đánh địch. Sau khi rút lui, toàn bộ Sư đoàn 325 chuyển sang phòng ngự, đánh địch bảo vệ vùng giải phóng. Trung đoàn 101 phòng ngự từ ven biển Cửa Việt về Bích La Đông, chợ Sải, đến ngã ba sông, giáp Thành cổ. Trung đoàn 95 phòng ngự phía tây thành, chốt làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, điểm cao 15 - 59 - 52, ra bờ nam sông Thạch Hãn (ngầm Phương Thúy và Đá Đứng). Trung đoàn 18 chính diện phòng ngự từ An Đôn, cầu sắt, cầu Quảng Trị, bến vượt, lô cốt, làng Xuân An. Chiều sâu phòng ngự từ bờ bắc sông Thạch Hãn đến sông Lai Phước. Tiểu đoàn 9 phòng ngự làng Xuân An, Trung Kiên, sân bay Ái Tử. Tiểu đoàn 7 phòng ngự điểm cao 20 - 29, toàn bộ các căn cứ từ Ái Tử về phía sau đến sông Lai Phước. Sở Chỉ huy phía sau Trung đoàn 18 cách cầu Lai Phước, thượng nguồn bờ nam khoảng 1,5 - 2km. Sở Chỉ huy phía trước Trung đoàn 18 ở điểm cao 10. Tiểu đoàn 8 phòng ngự chính diện từ làng An Đôn, cầu sắt, dọc theo bờ bắc, bến vượt, lô cốt, giáp làng Xuân An, chiều sâu phòng ngự từ bờ bắc sông Thạch Hãn về nam điểm cao 10. Hai trung đoàn 101 và 95 cùng các đơn vị khác phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với địch, hai bên giáp mặt, hầu như nổ súng giao tranh liên tục, ngày nào cũng ở thế giằng co quyết liệt. Ta quyết giữ, địch quyết chiếm. Ta và địch nhiều khị giành giật nhau từng tấc đất, góc làng ở hướng tây điểm cao 367, động Ông Do, ta chiếm rồi địch lấy. Cuối cùng, địch chiếm trên cao, ta chiếm giữ phần thấp. Còn trên trận địa của Trung đoàn 18, ta và địch đều sử dụng lối đánh bằng hỏa lực bắn tỉa vì cách sông, hầu như ngày nào cũng có thương vong. Theo quy luật, trước khi tổ chức tiến công vào trận địa của ta, địch thường dùng B-52, hỏa lực pháo binh, xe tăng dọn bãi nhằm tiêu hao sinh lực, phá hủy vũ khí, phương tiến công sự, hầm hào, sau đó mới bắt đầu tiến công. 16 giờ ngày 1 tháng 11 năm 1972, địch sử dụng pháo binh, súng cối bắn dồn dập vào trận địa Trung đoàn, tập trung vào tiền duyên phòng ngự, đặc biệt là hướng phòng ngự của Tiểu đoàn 8. Sau đó chúng chuyển làn vào trận địa phía sau. Một loạt bom B-52 rải thảm dọc điểm cao 10 và làng Nhan Biều 3, giội trúng Sở Chỉ huy Trung đoàn 18. Trung đoàn phó, Đại úy Vũ Trọng Cưu cùng ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đêm hôm đó, địch sử đụng bộ phận đi đầu bí mật vượt sông sang trinh sát, bám bờ, bộ phận đi sau bơi thuyền cao su, đem theo dây cáp nilông cột hai đầu vào gốc cây và cứ thế đưa lực lượng và phương tiện qua sông, gần một tiểu đoàn triển khai tác chiến... Đến gần 1 giờ sáng, bộ phận gác tiền tiêu của ta mới phát hiện. Tiểu đội phó Thúy từ ngoài vọng gác tiền tiêu theo đường hào chạy vào hầm số 2 báo cáo tôi: Có nhiều tiếng động, tiếng người thì thào, tiếng cuốc xẻng đào công sự phía trước rặng tre trước trận địa, khả năng địch vượt sông sang... Tôi bật dậy, cầm khẩu AK báng gấp, đeo các trang bị chiến đấu gọn gàng, đánh thức ba chiến sĩ theo tôi ra phía trước. Mọi hành động hết sức nhẹ nhàng, bí mật. Chúng tôi triển khai vào các vị trí chiến đấu đã được phân công. Phía ngoài rặng tre, địch đã triển khai dọc theo mép sông, bên phải, cách trận địa Trung đội 3 không xa. Địch tưởng chưa bị lộ nên vẫn tiếp tục đưa quân vượt sông sang bờ bắc, triển khai đội hình đào công sự, trận địa chờ đến sáng mới bất ngờ tiến công ta. Ta trong địch ngoài, rặng tre dày đặc làm hàng rào ngăn cách. Tôi ra vị trí ngoài cùng để quan sát và nắm mọi diễn biến. Địch đông quá. Tôi cử đồng chí Bình chạy tắt về báo cáo Đại đội: Địch sang đông quá, đang triển khai đội hình và đào công sự trước trận địa Trung đội 3, kéo dài xuống mép sông, sang vị trí Đại đội 5, đề nghị chi viện hỏa lực bắn trước trận địa, mép sông, chia cắt không cho đội hình địch phía sau cơ động sang. Khoảng 30 - 40 phút sau thì đồng chí Bình quay lại. Trong lúc đó, tôi cử đồng chí Quý sang báo cho Đại đội 5 bên cánh trái và đề nghị Đại đội 5 triển khai chiến đấu, hiệp đồng tác chiến. Lúc ấy đồng chí Điểm - Đại đội phó Đại đội 5 cũng đã phát hiện địch. Từ lúc đó cho đến suốt trận đánh, chúng tôi luôn giữ liên lạc, hiệp đồng, chi viện và thông báo tình hình cho nhau. Chúng tôi thống nhất cho nổ bốn quả mìn ĐH10, ĐH20 làm mệnh lệnh nổ súng của toàn trận đánh. Về vị trí chỉ huy, tôi cho nổ mìn. Một tiếng nổ lớn làm chấn động cả một khu vực, khói bụi trùm kín lên cả trận địa... Tiếp đó là lựu đạn, B40, AK, trung liên tới tấp, liên tục quăng, ném, bắn vào đội hình quân địch. Bị đánh bất ngờ địch choáng váng, nhiều tên thương vong, một số chạy dạt về phía sau, số còn lại bám vào công sự, rặng tre, hàng dứa, chống trả quyết liệt. Do trời tối, hai bên chưa nắm rõ về nhau nên chỉ dùng súng bộ binh, lựu đạn, nổ rộ lên từng chặp 20 - 30 phút khi phát hiện đối phương hoặc để thăm dò, cứ như vậy cho tới khi trời mờ sáng, khoảng 6 giờ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:37:52 pm Trời sáng, hai bên tạm dừng bắn để quan sát, theo dõi các hành động của nhau.
Ra vị trí quan sát ngoài cùng trận địa, ở trên cao nhìn xuống, tôi thấy dọc theo bãi sông có nhiều công sự cá nhân ba lô, mũ sắt, trang bị chiến đấu của địch vứt ngổn ngang xác một số tên còn nằm phơi trên mặt đất... 7 giờ sáng, chỉ huy Đại đội phân công đồng chí Lê Công Chính - Trung sĩ, Đại đội phó ra tăng cường cho Trung đội 3. Tôi báo cáo tình hình địch ta, rồi dẫn Đại đội phó Chính ra quan sát thực địa. Xác định vị trí địch ẩn nấp, co cụm để chống trả, đồng chí Chính vác khẩu B40 trèo lên gốc tre đực ngắm bắn và bóp cò. Đạn nổ đinh tai, trúng mục tiêu, một số địch thương vong. Tôi kéo Chính nhao ngay xuống chiến hào tránh đạn địch. Phát hiện thêm một số mục tiêu gần trước mặt, Chính cầm quả lựu đạn mỏ vịt leo lên, ném thẳng vào. Lựu đạn nổ tung hầm ếch, diệt thêm mấy tên địch. Song một tên địch ở phía ngoài đã phát hiện ra vị trí của Chính, hắn ném một quả lựu đạn về phía anh. Lựu đạn nổ, toàn thân Chính đổ sập, hai tay dang rộng, mắt vẫn mở, anh hy sinh. Lúc đó khoảng 7 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11 năm 1972. Tôi và hai chiến sĩ đưa Chính xuống hào, vuốt mắt cho anh. Đại đội phó Lê Công Chính quê ở Nho Quan - Ninh Bình. Từ lúc nổ súng đến bấy giờ có hai đồng chí bị thương và Đại đội phó Chính hy sinh ngay tại trận địa. Tôi đi kiểm tra, động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu, bám trụ, quyết tâm giữ chốt. Được động viên, từng người hứa sẽ bám trụ chiến đấu đến cùng, quyết không rời trận địa. Khi tôi quay lại thì có lực lượng phía sau đến tăng cường, chi viện. Bốn đồng chí mang theo cả máy thông tin vô tuyến, bộ phận đài quan sát P130 của mặt trận. Sau khi nắm và quan sát trực tiếp tại thực địa, đồng chí chỉ huy nói với tôi: Ta, địch quá gần nhau, lại xen kẽ, pháo chiến dịch không thể bắn chi viện trực tiếp, mà chỉ bắn chế áp bờ nam sông, phía Thành cổ. Lần lượt các đơn vị hỏa lực của cấp trên cũng đến hiệp đồng, chi viện cho đơn vị chiến đấu, giữ chốt và phản kích. Từ 8 giờ đến 10 giờ, các loại hỏa lực pháo binh, súng cối của địch bắn phá ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta. Chúng tổ chức ba đợt tiến công đánh chiếm trận địa nhưng không thành, đều bị tổn thất nặng. Lần thứ ba, lúc 10 giờ, ngoài tiến công chính diện, chúng còn tổ chức một mũi vu hồi theo khe cạn, bên phải trận địa, đánh tập hậu nhưng bị ta phát hiện, đánh bật ra. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, kiên cường, bằng tất cả các loại vũ khí có trong tay. Lựu đạn được mở hòm, tháo lắp, kể cả thủ pháo của đặc công, xếp dày đặc kín mép hào, hố chiến đấu, địch tiến gần trong tầm ném, ta bắn găm, bắn gần, bắn quét AK, trung liên, B40, ném lựu đạn vào đội hình quân địch. Gần 10 giờ đồng hồ chiến đấu, địch tập trung tiến công nhiều đợt không thành, nếu để giằng co, kéo dài, rất không có lợi. Tiểu đoàn phân công đồng chí Trần Minh Thiệt - Tiểu đoàn phó ra sau lô cốt để hiệp đồng chí huy lực lượng Đai đội 7 và Đại đội 5 chiến đấu. Lực lượng chiến đấu của ta ngoài bến vượt và lô cốt hao hụt, khả năng chiến đấu tiếp theo rất khó khăn. Tôi quyết định báo cáo Đại đội cho điều bốn đồng chí chốt phía trong ra tăng cường. Quân số được bổ sung, tất cả chỉ có chín người nhưng cũng tăng thêm sức mạnh chiến đấu. Bên cánh trái, một trung đội của Đại đội 5 cũng được bổ sung quân số và tăng cường thêm Chính trị viên Đại đội ra chỉ huy. Hướng đầu cầu Quảng Trị, khu vực nhà sắt, trận địa phía sau ta vẫn giữ được bí mật, sẵn sàng chi viện cho hướng Trung đội 3. Hai khẩu đội cối 60mm của Đại đội do Khẩu đội trưởng Quý chỉ huy, chiến đấu dũng cảm, ngay từ đầu đã chi viện cho chúng tôi khá hiệu quả. Hai đại đội cối 82mm được Trung đoàn bố trí tại làng Nhan Biều 2 cũng chi viện cho chúng tôi suốt quá trình chiến đấu. 12 giờ sau khi hiệp đồng với tất cả các lực lượng, giữa bộ binh, pháo binh và các lực lượng khác, tất cả xuất kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch vượt sông. Hỏa lực cấp trên chuyển làn chế áp phía nam sông, chúng tôi xuất kích ra khỏi công sự, nhưng pháo binh, hỏa lực địch lại bắn dồn đập, các mũi chiến đấu của ta không thể tiến lên được, Chính trị viên Đại đội 5 hy sinh. Ta buộc phải lùi lại. Vừa nhảy xuống chiến hào, tôi nhận được điện: Phải nhanh chóng củng cố, hiệp đồng chặt chỗ, tiếp tục xuất kích, sẽ có chi viện của hỏa lực pháo binh, súng cối, cả đại đội xe tăng của Sư đoàn... Lệnh của trên, trước 15 giờ phải tiêu diệt toàn bộ quân địch, khôi phục lại trận địa phía bắc sông. Từ đầu trận đánh, đây là đợt chi viện hỏa lực tập trung có hiệu quả nhất của ta. Khi hỏa lực vừa dứt, tất cả xuất kích, xung phong, dùng hỏa lực, bắn gần, lựu đạn đánh trực tiếp vào đội hình quân địch. Đoán được quyết tâm giành lại trận địa phía bắc sông của ta, địch dựa vào công sự bám trụ, chống trả ta quyết liệt. Nhưng cuối cùng chúng phải bật khỏi công sự, tháo chạy, vượt sông sang bờ nam Thành cổ. Tôi cùng hai chiến sĩ Thúy, Quần sử dụng hết các loại vũ khí trang bị như trung liên, AK, B40, M79, M72... để chiến đấu, ngăn chặn, quyết không cho chúng vượt sông sang bờ nam. Bắn nhiều, bắn liên tục nên gần hết đạn, tôi điều hai đồng chí tới mở hòm lấy đạn, lắp vào bắn tiếp. Pháo địch bắn trùm lên đội hình cả hai bên, đạn rít qua đầu, nổ sát, cách chúng tôi chừng 2m. Phản ứng tức thời, tôi nằm bẹp xuống, đè lên chiến sĩ đang lắp đạn. Cả một đoạn hào dài đổ sập, đè lên hai chúng tôi. Miệng, mũi đầy đất cát, khói đạn trùm kín cả chiến hào, chúng tôi bới đất, lôi nhau dậy, người đau nhừ. Tôi bị một mảnh đạn găm vào gần quai hàm má phải, máu chảy nhiều, đồng đội băng xong tôi lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Tiểu đội trưởng Quý bị thương nặng, trên mình nhiều vết thương, vết thương nặng nhất vào thái dương, trên vành tai trái, đồng đội dìu qua, tôi nhanh chóng lấy cuốn băng cuối cùng ở dây lưng băng cho Quý. Máu vẫn chảy ròng ròng phải xé thêm chiếc màn băng cho anh và đưa anh vào hầm Sau trận chiến đấu, Quý hy sinh. Tôi xúc động đưa tay vuốt mắt cho anh và cử người đưa về tuyến sau. Quý quê ở Bình Xuyên - Vĩnh Phú, nhập ngũ ngày 19 tháng 8 năm 1971. Địch đã qua một phần ba sông. Gần bờ nước cạn, rong rêu nhiều nên chúng chỉ đi khom, bơi chậm, đến nửa sông thì bị ta tiêu diệt hết. Những tên còn lại chưa qua sông hốt hoảng bỏ chạy quay vào, cụm lại ở mép sông, trước trận địa. Xác địch nổi kín cả khúc sông, những ngày tiếp theo Trung đoàn phải dùng hai đại đội công binh và trinh sát ra chôn cất, bảo đảm vệ sinh toàn bộ khu vực trận địạ phòng ngự của đơn vị. 15 giờ ngày 2 tháng 11 năm 1972, trận phản kích của ta giành thắng lợi lớn, được cấp trên biểu dương, khen ngợi tất cả các lực lượng tham gia chiến đấu, trong đó có Trung đội 3 chúng tôi. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:39:36 pm Quá trình chiến đấu, Trung đội 3 hy sinh hai, bị thương bốn, còn lại sáu người, không đủ sức để giữ trận địa và tập kích. Đại đội điều tăng cường sáu đồng chí của Trung đội 1 do đồng chí Thành - Trung đội trưởng chỉ huy. Qua trao đổi, chúng tôi đi đến thống nhất: Tạm thời biên chế thành hai bộ phận. Đến 22 giờ, chúng tôi chia làm hai mũi:
- Mũi 1 do tôi chỉ huy đánh thẳng vào đội hình quân địch. - Mũi 2 do đồng chí Thành chỉ huy đánh thẳng xuống mép sông vòng trái. Đại đội 5 cũng chia làm hai mũi, có bộ phận đánh chặn, không cho địch chạy về Xuân An. Đúng giờ hiệp đồng, hỏa lực của ta chế áp 15 phút, tất cả xung phong nhưng bị hỏa lực địch từ phía nam sông và pháo binh địch đánh chặn. Trời tối, khẩu đội cối 60mm của ta thả ngược, đạn nổ vỡ nòng, cả khẩu đội hy sinh. Ta dừng tiến công, kết thúc một ngày chiến đấu ác liệt, kiên cường. 4 giờ sáng ngày 3 tháng 11 năm 1972, Tiểu đoàn phó Trần Minh Thiệt triệu tập tôi về lô cốt phía sau để bổ sung nhiệm vụ và hiệp đồng chiến đấu, cơ bản như tối hôm trước. 6 giờ sáng, tất cả các mũi xung phong đánh sớm, bất ngờ. Quân địch bị động, không kịp đối phó, phần lớn bị tiêu diệt, bộ phận còn lại chạy dọc theo bờ sông về Xuân An, bị chốt của Tiểu đoàn 9 chặn đánh, diệt gọn, không tên nào chạy thoát. Ta bắt được một tù binh ngay khi xuất kích. Tên tù binh mặt non choẹt, quê Sài Gòn, mới bị bắt lính, vào trận lần đầu, đang ẩn nấp dưới công sự cá nhân, cúi đầu, hạ súng, giơ hai tay lên xin hàng. Khai thác tại chỗ, hắn khai: Đêm qua không ngủ được vì sợ, toàn bộ quân địch vượt sông không tên nào chạy thoát. Đêm trước chúng vượt sông sang bờ bắc lúc 22 giờ bằng dây thừng cột vào hai gốc cây phi lao bờ bắc, khu vực bãi tha ma, hướng Đại đội 5. Chúng ngồi trên thuyền cao su, tay nắm vào kéo lần theo dây, vượt sông nhẹ nhàng bí mật, cứ thế quá nửa tiểu đoàn địch vượt sông trong một thời gian ngắn mà ta không phát hiện ra. Trận tập kích diễn ra hơn một tiếng đồng hồ thì kết thúc. Toàn bộ quân địch co cụm, vượt sông sang bờ bắc bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hơn 300 tên lính thủy quân lục chiến thuộc Tiểu đoàn 6 Lữ đoàn 369 được coi là đơn vị thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn, tham gia tái chiếm Quảng Trị là đơn vị cắm cờ đầu tiên ở Thành cổ ngày 16 tháng 9 năm 1972, được tổng thống chính quyền ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu gắn mề đay Anh dũng bội tinh... chúng đã bị Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 chặn đánh, tiêu diệt gọn. Ngày 5 tháng 11 năm 1972, đồng chí Trần Minh Thiệt, tôi và đồng chí Điểm - Đại đội phó Đại đội 5 được triệu tập lên Sở Chỉ huy Trung đoàn 18, cách cầu Lai Phước 2km về phía thượng nguồn, bờ nam, gặp Trung đoàn trưởng - Thiếu tá Nguyễn Đức Huy, Chính ủy Trung đoàn - Thiếu tá Phạm Công Nhân, Tư lệnh Sư đoàn Chính úy Sư đoàn cùng cán bộ của bốn cơ quan Sư đoàn và Trung đoàn 1 Sở Chỉ huy nằm sát bờ sông, vách đứng trên bờ hầu hết là rặng tre và cây xanh bao phủ, rất kín đáo. Khu làm việc có hầm trú ẩn, khung lợp tăng, ngụy trang, hai đầu là hai chiếc hầm kèo, hào chạy ra hai phía để sơ tán và chiến đấu bảo vệ. Sau khi ổn định và giới thiệu thành phần, Trung đoàn trưởng giới thiệu tôi và mời lên báo cáo diễn biến chiến đấu trận Nhan Biều. Trung thực, khách quan, tôi báo cáo từ đầu đến cuối diễn biến trận đánh, tình hình địch, ta, các mốc thời gian... Sau đó đến đồng chí Điểm, đồng chí Thiệt báo cáo bổ sung sau cùng. Hỏi nhiều về trận đánh là Thượng tá Duy Sơn - Tư lệnh Sư đoàn... Đồng chí biểu dương hai chốt tiền tiêu ngoài bến vượt và lô cốt đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, giữ vững trận địa. Phê bình cấp tiểu đoàn, trung đoàn nắm tình hình địch, ta thiếu chính xác, không kịp thời, báo cáo chậm, chỉ huy hiệp đồng có lúc chưa ăn khớp, kém hiệu quả khiến trận đánh kéo dài... Rồi đồng chí kết luận: Đây là một trận đánh xuất sắc, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch, thu được nhiều vũ khí, hiệu suất chiến đấu cao, cần tổng kết, đúc rút kinh nghiệm kịp thời và phổ biển nhanh đến các đơn vị toàn Sư đoàn... Hội nghị kết thúc, tôi được Chính ủy Trung đoàn Phạm Công Nhân trực tiếp trao quyết định bổ nhiệm Đại đội phó Đại đội 7 và thông báo: Tôi cùng một số đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Về đơn vị, tôi bàn giao chức Trung đội trưởng cho đồng chí Phan Văn Phường và nhận vị trí chỉ huy mới. Anh em trong đơn vị đều chúc mừng, tôi rất vui, hứa trên cương vị mới sẽ cố gắng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Theo mệnh lệnh của trên, ngay tối hôm đó, tôi cùng ba đồng chí trung đội phó có mặt ở vị trí phía sau Sở Chỉ huy Tiểu đoàn để đón nhận tân binh. Nhận xong thì phân về các trung đội, rồi biên chế luôn về các tiểu đội ở ngoài chốt. Toàn Đại đội được bổ sung 45 tân binh thuộc Trung đoàn 12 - Tỉnh đội Hà Tây, biên chế về mỗi tiểu đội bảy người, riêng tiểu đội cối 60mm và hai khẩu đội B41 đủ biên chế 11 người. Sức chiến đấu của Đại đội được nâng lên một bước mới sau chiến thắng Nhan Biều ngày 2 và 3 tháng 11 năm 1972. Đại đội 7 nhận bàn giao toàn bộ bên trái lô cốt về giáp Tiểu đoàn 9 ở làng Xuân An, Đại đội 5 rút về phòng ngự phía sau. Toàn bộ Trung đội 3 được đưa ra phòng ngự bên ngoài khu vực bến vượt và lô cốt, có tăng cường hỏa lực ĐKZ 82mm của Tiểu đoàn và một số hỏa lực khác gồm cả hai súng phun lửa, một phân đội đặc công nước của Đoàn 126 Hải quân để rải mìn, thủy lôi ở khu vực bến vượt. Từ kinh nghiệm thực tiễn xương máu, lần này các trận địa từ cầu sắt, nhà sắt phía trong phải làm công sự kiên cố, vững chắc, hào cơ động liên hoàn. Một chiến dịch xây dựng công sự, hầm hào kiên cố được phát động, với mục đích chủ động đánh địch, gây rối sát thương, khiến cho địch mất ăn, mất ngủ... Các trận địa phía ngoài, sát bờ sông cũng như nhà sắt, cầu sắt, đầu cầu, phía trong đường số 1 đều dùng các loại hỏa lực như cối 60mm, B41, đại liên, ĐKZ, 12,7mm, súng bắn tỉa... tích cực bắn sang sông, về phía Thành cổ và các lô cốt của địch. Địch sợ hãi, không dám đi lại chủ quan như lúc mới chiếm thanh. Riêng ở trận địa phòng ngự của Trung đội 3 do tôi chỉ huy, các đường hào vươn ra tận bờ sông. Chạy ngang, dọc xen kẽ những bụi tre, cây dứa là những hầm hào kiên cố, đài quan sát kín đáo, từ đó có thể quan sát, nắm chắc mọi hành động của địch ở bờ nam sông, khu vực Thành cổ... Các trận địa chính luôn được giữ bí mật, mà muốn hoạt động thì cần có nhiều trận địa giả. Mỗi lần cối, ĐKZ, B41... bắn ra, địch phản pháo rất nhanh, bộ đội ta có nhiều kinh nghiệm, nên cối chỉ thả ba đến năm viên là vác chạy theo giao thông hào. Địch lại phản pháo ác liệt, có khi đến cả tiếng đồng hồ mà cả người và vũ khí của ta vẫn an toàn. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:41:12 pm Trung tuần tháng 11 cho đến cuối tháng 12 mưa nhiều, liên tục, nước sông Thạch Hãn dâng cao, chảy cuồn cuộn, đỏ ngầu... Nước dâng lên sát đường số 1 khiến các chốt đầu cầu, nhà sắt, lô cốt, bến vượt như ốc đảo, nước mênh mông làm cho tất cả hầm, hào công sự chiến đấu đều bị nhấn chìm. Chúng tôi tận dụng những nền nhà của dân và chiếc lô cốt đưa bộ đội lên, sẵn sàng chiến đấu. Được vài ngày nước rút rồi trời lại mưa, nước lại dâng cao. Hầm trú ẩn, hào cơ động toàn đât cát, nước bên trên ngấm xuống, bên ngoài tràn vào có lúc hai người hai đầu hầm vừa quỳ vừa tát nước, cứ 15 phút đến 30 phút lại thay ca, có lúc phải lấy tay, lấy xẻng đào, rồi người đứng trên xốc nách, lắc, lôi, kéo dậy, hai chân tê dại không cảm giác... Cứ như vậy, bộ đội thay ca gác và tát nước liên tục, ngày thay ca vài lần. Sức khỏe anh em có phần giảm sút...
Cuối tháng 12 cũng là cuối mùa mưa, đầu mùa khô, nước rút đến đâu, bộ đội ta đào hào lấn ra đến đó, cho đến sát bờ sông như trận địa ban đầu... Trung tuần tháng 12 đến cuối tháng, trên bầu trời Quảng Trị bỗng vắng tiếng các loại máy bay, thi thoảng lắm mới có máy bay trinh sát OV-10, L-19 hoạt động. Thời gian này, địch đang tập trung đánh phá miền Bắc, trọng tâm là Thủ đô Hà Nội. Phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai bị dội bom dữ dội. 12 ngày đêm trong Chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" ta thắng lớn làm nức lòng quân dân cả nước và bạn bè quốc tế. Chiến trường Quảng Trị sục sôi, quyết trả thù cho đồng bào Thủ đô. Các loại pháo lớn, tầm xa, tầm chiến dịch của ta bắn về phía bờ nam sông Thạch Hãn, phía Thành cổ và một số các mục tiêu khác. Tiểu đoàn 8 và Đại đội chúng tôi phòng ngự trực tiếp ở phía bắc sông cũng hưởng ứng, đánh trả với khả năng cao nhất. ĐKZ, B41, 12,7mm, cối các loại, M79, M72, B72 (tăng cường) diệt các mục tiêu lộ thiên phía trước, ngoài mép sông và của một số mục tiêu trong thành. Những ngày đó, ta áp đảo, làm chủ các trận địa ven sông, địch nằm im và hạn chế hoạt động. Chiến dịch đánh phá Hà Nội bằng B-52 của địch thất bại, bị cả thế giới lên án. Đế quốc Mỹ buộc phải ngồi lại vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari. Về phía ta, cấp trên nhắc phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, không bị mắc lừa các thụ đoạn của địch. Trung tuần tháng 1 năm 1973, chúng tôi được giao nhiệm vụ nắm chắc địch ở bờ nam sông và khu vực Thành cổ, sẵn sàng chớp thời cơ đánh chiếm và phát triển lực lượng. Từ ngày 20 tháng 1, trên giao nhiệm vụ phải tiêu diệt hết các mục tiêu, hầm hào chiến đấu cũng như toàn bộ hỏa lực của địch ở phía mép sông. Đồng chí Thắng - Khẩu đội trưởng ĐKZ ngoài lô cốt và ĐKZ 75mm đầu cầu được tôi chỉ và giao nhiệm vụ từng mục tiêu, mỗi ngày phải bắn 40 quả đạn trở lên... Mờ sáng, trận địa dự bị ngoài mép sông bắn được ba quả đang lắp đạn thì địch phản pháo tới tấp, anh em vội kéo pháo chạy vào hầm trú ẩn. Giá pháo cách đó hơn 100m vừa bắn được một quả, lắp đạn xong thì lại bị pháo giàn bên sông của địch dội lại. Địch có nhiều đài quan sát, các phần tử bắn đo sẵn nên khi phát hiện vị trí của ta là chúng phản pháo rất nhanh và chính xác. Trong hai ngày đêm 25 và 26 tháng 1 năm 1973, ta dùng hỏa lực pháo binh, cùng tất cả các lực lượng phòng ngự trực tiếp, chủ động tiến công địch. Đêm 26 tháng 1 là đêm căng thẳng, ác liệt nhất. Các trận địa pháo, hỏa tiễn từ căn cứ Ái Tử bắn rít qua đầu. Trong căn hầm nhỏ của tôi có năm người, gồm hai chiến sĩ, hai trinh sát, một đồng chí liên lạc thay nhau trực máy, trực gác hai đầu hầm. Ba lần pháo địch dội trúng nóc hầm mà chúng tôi đều may mắn không việc gì. Một số hầm hào phía ngoài của anh em bị trúng pháo nhưng cũng rất may không ai bị thương. Sáng ra, toàn tuyến phòng ngự trực tiếp và hai bờ nam, bắc sông Thạch Hãn, nhất là khu vực Thành cổ diễn ra đấu súng, đấu pháo ác liệt giữa ta và địch. Tôi quan sát tất cả các mô đất cao, tường đổ, gốc cây cụt và nhiều chỗ khác, địch đông quá. Chúng tranh thủ trèo lên cắm cờ trước 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 (thời điểm Hiệp định Pari có hiệu lực là 7 giờ GMT, ở Việt Nam là 8 giờ sáng). Đúng 8 giờ sáng, hai bên ngừng tiếng súng. Phía ngoài đầu cầu, lô cốt, binh lính địch còn cảnh giác, đề phòng, nhưng ở bờ nam, từng tốp lính địch lại đứng lên ôm nhau nhảy múa, miệng kêu hòa bình, hòa hợp dân tộc, các anh Giải phóng ơi, không đánh nhau nữa, người Việt Nam ta nói chuỵện với nhau... Mặc dù cảnh giác nhưng tôi cũng cho vài tốp anh em không mang súng ra ngoài trận địa dự bị để hưởng ứng, vẫy chào. Ở phía đông, một số đơn vị của ta mất cảnh giác, địch thấy lực lượng ta ít, mỏng, khu vực bên ta lại là bãi cát, làng mạc, đồng bằng nên chúng bất chấp lệnh ngừng bắn, cho bộ binh, xe tăng tràn qua chốt, đánh chiếm một số vùng giải phóng. Ta phải huy động lực lượng tăng cường gồm xe tăng, pháo binh... phản công, đánh sâu vào cách trận địa cũ vài cây số. Trận địa phía tây của Sư đoàn, gồm làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, các điểm cao 15, 59, 52... chỉ dừng bắn được vài giờ, sau đó liên tục diễn ra những trận giành giật, giằng co từng góc làng, quả đồi giữa ta và địch. Thiếu đạn hỏa lực, chúng tôi phải chuyển đạn ĐKZ, cối 12,7mm, B40, B41 lên chi viện cho Trung đoàn 95 chiến đấu cho đến hết tháng 2 mới dừng tiếng súng. Đầu tháng 2 năm 1973, tôi được trên bổ nhiệm Đại đội trưởng để đồng chí Lưu Sỹ Hiệp ra Bắc đi học Trường Trung - cao. Ban Chỉ huy Đại đội có ba người: Thiếu úy Phan Văn Bạn (quê Hải Dương) - Chính trị viên, Thượng sĩ Nguyễn Văn Lạc (quê Nghệ An) - Chính trị viên phó và tôi. Đến tháng 6 năm 1973, đồng chí Ánh - Trung đội trưởng Trung đội 2 được bổ nhiệm Đại đội phó. Tranh thủ lúc ngừng bắn, chúng tôi điều chỉnh và bố trí lai các trận địa phòng ngự cho phù hợp, khẩn trương ngày đêm đào làm lại các hầm trú ẩn, hào cơ động, hào chiến đấu, làm đến đâu ngụy trang đến đó. Chỉ trong một thời gian ngắn đã làm được khá nhiều việc, tôi cũng cảm thấy yên tâm với cương vị chỉ huy mới. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:42:28 pm Ngừng bắn được vài ngày, trên trực tiếp giao cho Đại đội 7 làm cột cờ giới tuyến, ngay đầu cầu Quảng Trị. Chúng tôi đi tìm và lên căn cứ Ái Tử lấy được một cột cờ bằng sắt, cao, dựng lên, lấy bao cát vây xung quanh, xếp chân, giật ba cấp. Cấp trên đến kiểm tra đều khen. Lá cờ Giải phóng nửa đỏ, nửa xanh sừng sững hiên ngang tung bay bên đầu cầu bờ bắc. Tôi chọn một trung đội toàn người miền Trung, do Lê Ngọc Ánh làm Trung đội trưởng để canh gác và thay cờ hằng ngày.
Những ngày đầu ngừng bắn, rất nhiều đoàn cán bộ từ Hà Nội vào giới tuyến công tác, đoàn nào đến cũng xúc động, rơm rớm nước mắt khi nhìn thấy cảnh đổ nát, hoang tàn, cây cối trơ trụi, mặt đất chi chít những hố bom pháo; lá cờ Giải phóng vẫn hiên ngang phần phật tung bay cùng với đó là các chiến sĩ giải phóng còn rất trẻ, hồn nhiên, lạc quan yêu đời ra đón chào khách... Tổng cục Chính trị và cấp trên điều động vào tăng cường cho đơn vị một tổ làm công tác tuyên truyền, hoạt động đối ngoại. Một dàn loa công suất lớn được bố trí đầu cầu, hàng ngày phát thanh với nội dung chủ yếu là tuyên truyền đấu tranh chính trị với quân đội Sài Gòn ở bờ nam, yêu cầu chấp hành nghiêm Hiệp định Pari, không bắn phá, lấn chiếm vùng giải phóng. Ngoài ra, ta còn phát cả một số chương trình ca nhạc, dân ca... Địch ở khu vực đầu cầu bờ nam thấy vậy cũng bắt chước. Chúng mắc dàn sáu loa, sau tăng thành 12 loa, mở to hết cỡ, liên tục phát nội dung tuyên truyền xuyên tạc, hoặc nhạc vàng mở suốt ngày. Sau ta đấu tranh, chúng phải tuân theo việc mở to, nhỏ từng lúc... Gần Tết cổ truyền, một đoàn cán bộ từ ngoài Bắc tăng cường đem vào cho đơn vị nhiều cờ, tranh ảnh, lịch hòa hợp dân tộc, thuốc lá, thịt hộp, lương khô... Cấp trên chỉ đạo cho Quân giải phóng ở bờ bắc và quân đội Sài Gòn ở bờ nam gặp nhau tại đoạn giữa cầu sắt Quảng Trị bị đánh sập hồi đầu giải phóng, lấy khu vực giữa cầu làm ranh giới. Tôi chọn ra một tổ để chuyên làm nhiệm vụ này. Việc gặp nhau hai bên mục đích là nói chuyện tình cảm, truyền thống dân tộc, tuyên truyền các bên nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản của Hiệp định Pari, ngừng bắn, không lấn chiếm vùng giải phóng..., sau đó tặng lịch hòa hợp dân tộc, tặng thuốc lá, thịt hộp, quà Tết nhân dịp Tết cổ truyền. Quân đội Sài Gòn lúc đầu còn e dè, lo sợ, nhưng dần cũng quen, muốn các lần gặp nhiều hơn nữa... Tháng 3 năm 1973, sau khi hai bên ngừng tranh chấp, ở cánh Đông, Trung đoàn 101 cũng có một nhà hòa hợp, phía tây tại làng Tích Tường, Như Lệ, ta cũng tổ chức một nhà hòa hợp. Tết đến, cấp trên, hậu phương chuyển đến cho chúng tôi lợn, gạo nếp, kẹo, bánh, thuốc lá khá đầy đủ. Một cái tết đầu tiên vừa ngừng bắn, ở vùng giáp ranh sát nách địch mà lại có tiếng lớn kêu giữa trận địa phòng ngự đầu cầu... Cả bờ nam sông, lính Sài Gòn ra đứng rất đông, nói vọng sang: "Các anh Giải phóng ơi! Tết làm gì vui thế!" - "Đang thịt lợn!" - "Bên chúng em chẳng có gì cả!". Đúng thật bên ta hơn hẳn địch về vật chất... Trưa 30 Têt, cả Đại đội 7 chúng tôi tổ chức ăn Tết trên chốt, cụm chốt, các đơn vị đóng quân chạy dài từ đầu cầu Quảng Trị về đến Xuân An, các làng Nhan Biều 1, 2 đều có xôi thịt, kẹo, thuốc lá. Thêm một số nhân dân đi sơ tán về dự, không khí thật là ấm áp tình quân dân... Trung tuần tháng 2 năm 1973, để chuẩn bị cho kế hoạch trao trả tù binh hai bên bị bắt trong chiến tranh, có hai khu vực được xác định: - Sân bay Lộc Linh tỉnh Tây Ninh; - Sông Thạch Hãn khu vực Thành cổ Quảng Trị. Đoạn giữa trận địa phòng ngự của Đại đội 7 từ đầu cầu đến lô cốt bến vượt là nơi Ủy ban quốc tế và Ủy ban liên hợp quân sự sẽ chứng kiến việc trao trả tù binh. Đó là một khoảng trống có nhiều mìn, công binh của ta và Đại đội 7 phải dò gỡ và dựng hơn 20 chiếc nhà bạt để chuẩn bị cho Lễ trao trả tù binh. Một buổi sáng cuối tháng 2 năm 1973, trên đường số 1 từ Đông Hà vào Nhan Biều có một đoàn xe Hải Âu rất mới, xe cách xe khoảng 40 - 50m, chở những người ngồi trên áo trắng, quần kaki vàng. Khi xuống xe, tất cả đi lần lượt thành một hàng dài, tay xách túi da... Bộ đội cứ đoán già, đoán non là tù binh. Sao khỏe mạnh, ăn mặc lịch sự như đi nước ngoài thế (?) Thật khó có thể tin rằng đó là tù binh của phía bên kia được ta trao trả. Rồi đến phía bên kia trao trả tù binh cho ta, chủ yếu là những cán bộ, chiến sĩ bị địch giam giữ ở Côn Đảo, Phủ Quốc và các nhà tù trong đất liền. Tù binh được chở bằng xe tải từ Huế ra, mặc áo tù màu gụ, gầy còm, ốm yếu, nhiều đồng chí bị thương, đặc biệt có đồng chí bị cụt cả hai chân, hai tay phải có người dìu từ trên bờ xuống xuồng máy sang bờ bắc. Đến khu nhà bạt, tất cả phải dừng lại để Ủy ban quốc tế, Ủy ban liên hiệp quân sự kiểm tra, đối chiếu danh sách, sau đó bàn giao cho từng bên. Phía ta, đoàn người ra đón rất đông, ai cũng sung sướng, xúc động rơi nước mắt ôm chầm lấy những người đồng đội và đưa họ lên xe về Đông Hà. Tốc độ trao trả tù binh về sau tăng dần, do lượng tù binh của hai bên quá đông. Tù binh của ta, phía giải phóng, không biết ai thống nhất và thống nhất từ bao giờ, nhưng xuống xe, xuống xuồng sang bờ bắc, vào nhà bạt tập họp đều rất có kỷ luật, trật tự, leo xuồng máy ra sông là cởi hết áo tù vứt xuống sông, trên người chỉ có chiếc quàn xà lỏn. Về sau, phía địch cũng học phía giải phóng, các "thiên nga" (nữ quân nhân) đi đón cũng bắt tù nhân cởi quần áo, túi xách, mũ quăng bỏ. Mặt sông nổi đầy túi xách, quần áo, trang phục của tù binh... Có những toán tù binh được ta giáo dục, cải tạo, cảm hóa, khi trao trả họ lại không muốn về. Xuống xuồng trả về phía bên kia, họ bị bắt cởi bỏ trang phục nhưng không chịu, xuồng tự trôi xuôi 200m thì dính thủy lôi, nổ tan tành, tất cả chìm xuống đáy sông. Việc trao trả tù binh theo kế hoạch diễn ra từ cuối tháng 2 đến trung tuần tháng 6 năm 1973, mỗi ngày cứ đều đặn bên ta người chiến thắng trở về thì tù binh phía bên kia cũng lại lần lượt qua sông sang bờ nam. Đơn vị chúng tôi đảm nhiệm canh gác, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Ủy ban liên hiệp quân sự, Ủy ban quốc tế, đảm bảo an toàn cho khu vực trao trả tù binh nên cũng khá vất vả. Sáng sớm tập trung quân mở cửa rào bến, kiểm tra an toàn, thu dọn vệ sinh, bàn giao cho Ban Tổ chức. 18 giờ lại khóa cổng canh gác toàn bộ trận địa và khu vực trao trả tuyệt đối an toàn. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:44:08 pm Trung tuần tháng 6 năm 1973, sau khi việc trao trả tù binh kết thúc, toàn bộ Tiểu đoàn 8 bàn giao cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95 vào thay phiên. Đơn vị tôi rút về dãy đồi Linh Phong sau làng Nhan Biều 3, làm lực lượng dự bị cơ động cho Trung đoàn.
Đến tháng 6 năm 1973, đội hình chiến đấu - phòng ngự của Sư đoàn 325 bố trí như sau: Trung đoàn 101 phòng ngự cánh Đông từ nam Cửa Việt, Bích La Đông, ngã ba chợ Sải. Trung đoàn 95 phòng ngự bắc sông Thạch Hãn từ An Đôn đến đầu cầu Quảng Trị, bến vượt Xuân An, sân bay Ái Tử, các điểm cao 10-20-29 (toàn bộ căn cứ Ải Tử). Trung đoàn 18 được tăng cường Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 21 (thành năm tiểu đoàn), phòng ngự làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, điểm cao 15, 52, 59, nam sông Nhùng, bắc sông làng Thượng Phước, đồi Linh Phong. Trung đoàn Pháo binh 84 nằm trong đội hình Sư đoàn bố trí phía sau, chi viện cho các trung đoàn phòng ngự phía trước. Tiểu đoàn Đặc công 19 giải thể; thành lập Tiểu đoàn 16 pháo cao xạ 37mm. Tiểu đoàn 8 phòng ngự phía sau, là lực lượng cơ động trên các hướng phòng ngự nam sông của Trung đoàn, từ làng Tích Tường, Như Lệ lên điểm cao 52, 59. Từ ngày vào chiến trường, tháng 8 năm 1972, cho đến lúc bấy giờ, chúng tôi liên tục chiến đấu và phòng ngự trực tiếp, chưa có lúc nào ăn ở tập trung, củng cố đơn vị. Về nhận nhiệm vụ đứng chặn đồi Linh Phong, từng đại đội bố trí cách nhau trên dưới 1km. Xung quanh Tiểu đoàn là hầm âm có nắp; từng tiểu đội, trung đội gần đại đội, có hào cơ động, sân bãi tập trung và huấn luyện chính quy. Tuy chỉ có một thời gian ngắn nhưng cũng huấn luyện nâng cao về trình độ kỹ, chiến thuật cho bộ đội sát với nhiệm vụ chiến đấu. Ngày tám tiếng trên thao trường toàn đồi trọc, với cái nắng gay gắt vùng Quảng Trị, việc rèn luyện khá vất vả, nhưng rất thiết thực nên tất cả cán bộ và chiến sĩ đều cố gắng. Các đơn vị phòng ngự phía trước cũng giữ được tình hình ổn định. Ở phía sau, các đơn vị chuyển quân, hậu cần, kỹ thuật, vận chuyển lương thực vào các chiến trường phía trong hoạt động khá thuận lợi, bảo đảm đầy đủ cho nhiệm vụ trước măt cũng như lâu dài... Đầu năm 1974, trên điều Tiểu đoàn 8 vào phòng ngự từ động Chiêng Rồng, điểm cao 367, sông Mỹ Chánh, đến điểm cao 165 (sông Ô Lâu). Đại đội 7 chúng tôi đảm nhiệm phòng ngự dưới chân điểm cao 367 gồm các khu: Y1, Y2, Y3. Trung đội 1, Trung đội trưởng Trần Đương, quê Lục Nam - Hà Bắc, đảm nhiệm khu vực: Đồi Không tên, 9a, 9b, sát sông Mỹ Chánh (M1+M2); Trung đội 2, Trung đội trưởng Nguyễn Văn Ninh, quê Phù Ninh - Vĩnh Phú, đảm nhiệm toàn bộ dãy Sâu Róm - điểm cao 165 (sông Ô Lâu); Trung đội 3, Trung đội trưởng Phan Văn Phường, quê Lâm Thao - Vĩnh Phú. Chỉ huy Đại đội ở chân điểm cao 367 trong đội hình phòng ngự Trung đội 2. Thời gian thay phiên vào phòng ngự rất ngăn, phải bảo đảm bí mật, an toàn. Một tin vui, lan truyền đến tất cả cán bộ, chiến sĩ đơn vị: Theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 2 được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974, Sư đoàn 325 vinh dự được nằm trong đội hình Quân đoàn. Tất cả các đơn vị của Quân đoàn 2 đều có bề dày truyền thống, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều đứng chân trực tiếp ở chiến trường Trị - Thiên... Bộ Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn gồm: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Linh - Chính ủy; Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh; Đại tá Bùi Công Ái - Tham mưu trưởng; Đại tá Nguyễn Công Trang - Phó Chính ủy. Các đơn vị gồm có các sư đoàn 304, 325, 324, Sư đoàn Phòng không 673, Lữ đoàn Xe tăng 203, Lữ đoàn Pháo binh 164, Lữ đoàn Công binh 219 và một số đơn vị trực thuộc. Thành lập được một thời gian ngắn, Quân đoàn 2 cùng Quân khu 5 mở Chiến dịch Thượng Đức. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn 304 (thiếu một trung đoàn), một trung đoàn của Sư đoàn 324, lực lượng vũ trang địa phương Quân khu 5 có tăng cường hỏa lực pháo binh chi viện, do Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy. Trong chiến dịch này, ta tổ chức tiến công đợt một không thành công, thương vong lớn do chuẩn bị chưa kỹ. Tiến công đợt hai thành công, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, bắt tù binh, thu vũ khí và tổ chức phòng ngự giữ Thượng Đức. Địch tổ chức phản kích, đánh chiếm lại Thượng Đức, ta và địch giằng co quyết liệt, cuối cùng địch phải rút quân, ta giữ được Thượng Đức để sau đó, đến đầu năm 1975, tạo bàn đạp tiến công Đà Nẵng... Để phối hợp và chia lửa với các lực lượng trong Chiến dịch Thượng Đức, trên chỉ đạo cho Trung đoàn 18 và toàn bộ Sư đoàn 325 tích cực hoạt động quân sự, nghiên cứu cải tạo thế phòng ngự trên toàn tuyến (mang mật danh K18). Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:45:14 pm Trung tuần tháng 7 năm 1974, cấp trên có chủ trương cho cán bộ từ cấp đại đội trở lên lần lượt đi phép, tôi được đi đợt đầu. Nghe thông báo, tôi bàn giao công việc cho Đại đội phó Thìn rồi cùng liên lạc ra ngay Sở Chỉ huy Trung đoàn ở sông Nhùng. Tiểu đoàn 8 có bốn đồng chí đi phép thì ba đồng chí là chính trị viên đại đội, tôi được cấp trên chỉ định chỉ huy nhóm này. Trung đoàn đi phép gồm hơn 30 đồng chí do Chính ủy Hồ Sỹ Nguyên chỉ huy, đi trên chiếc xe Gát 63. Xuất phát từ điểm cao 30 (bắc sông Nhùng) ra đến Đông Hà khoảng hơn 20km mà xe bị hỏng nhiều lần, xe lại khá chật chội. Đến thị xã Đông Hà, Chính ủy lấy tinh thần xung phong, bốn đồng chí Tiểu đoàn 8 giơ tay xin đi xe ngoài, được Chính ủy cho thêm bốn ngày phép. Chúng tôi mừng quá, bắt xe khách đi luôn ra Hồ Xá - Vĩnh Linh. Xe chạy liên tục đến gần 21 giờ đêm thì ra đến ga Vinh. Ngồi trên xe mà lòng cứ bồi hồi, lâng lâng khó lả. Gần đến ga đã nghe tiếng còi tàu, bác tài xế bảo cứ bình tĩnh, may ra còn kịp. Chúng tôi xuống xe, mua vé kịp ngồi gọn vào thì tàu chạy. Chúng tôi lần lượt chia tay tại các ga Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, rồi chỉ còn mình tôi ra tiếp Hà Nội. Chiều hôm sau, tàu vào ga Hàng Cỏ. Tôi đeo ba lô, túi xách xuống tàu vào mua vé, cứ ngơ ngác, đường đi lối lại, bến tàu, sân ga... tất cả đều mới biết. Mua được vé lên tàu, tàu chạy đến ga nào tôi cũng phải hỏi, đến Việt Trì thì tàu mới dừng. Tôi xuống ga, mọi người tỏa đi các hướng, chỉ còn lại một mình, tôi loay hoay không biết đi đâu thì gặp hai cô nhân viên nhà ga. Thấy tôi mặc quân phục, đeo xà cột, súng ngắn, ba lô, các cô cười: Hình như anh bộ đội ngủ quên! Tôi nói muốn xuống ga Hướng Lại nhưng tàu không dừng. Một cô bảo, anh bộ đội ơi, đây là tàu nhanh nên không dừng nhé. Các cô chỉ tôi vào phòng bảo vệ chờ chuyến tàu xuôi lúc 4 giờ sáng. Lên tàu rồi xuống ga Hướng Lại, trời còn tối, tôi ra đường số 2 về Vĩnh Tường. Từ huyện qua Thượng Trưng về nhà đã hơn 7 giờ sáng. Thấy chú bộ đội đeo ba lô đi trên đường ai cũng quay lại nhìn. Thời đó cả nước lên đường ra trận, nhiều người có người thân đi lâu không có tin tức, ai cũng mong mỏi người thân trở về.
Về đến đầu làng, nhiều người nhận ra tôi, tay bắt mặt mừng ríu rít hỏi chuyện, vào sân vừa đặt ba lô xuống thì bố mẹ, các em đi làm đồng cũng về tới nhà. Mẹ tôi bảo, thấy người ta nói con về, thế là mừng quá mẹ bỏ lại tất cả, chạy về luôn. Ngoảnh trước, ngó sau chỉ một khoảnh khắc mà người đến thăm đã chật ních trong nhà ngoài sân, ai cũng mừng cho tôi mạnh khỏe, tiến bộ và may mắn được trở về... Ăn cơm trưa xong, việc đầu tiên là tôi cùng mẹ đến thắp hương bà ngoại, bà đã về với tổ tiên ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch). Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, bà vẫn thường nhắc đến tôi, thương tôi còn nhỏ tuổi đã ra đi gánh vác việc nước nhà. Gần một tháng đi phép, ngoài anh em mời bữa cơm thân mật ra, còn lại tôi vẫn ăn cơm với bố mẹ, các em. Hai, ba ngày đầu, ngày cuối có thịt gà, các bữa còn lại vẫn đạm bạc như xưa, trên mâm vẫn với đĩa rau muống luộc, dưa, cá, canh cua, cơm độn sắn, khoai nhưng thật ấm cúng, hạnh phúc. Các em tôi đều đi học, chỉ có cô em gái Sến đi lấy chồng đã có con, thêm cô em út Tuyết sinh cuối năm 1968 còn nhỏ, được bố mẹ nuông chiều nhất nhà. Lần này về phép, bố mẹ tôi ướm thử chuyện lấy vợ, nhưng tôi không nói gì, toàn đánh trống lảng. Một buổi tối, sau khi khách ra về chỉ còn lại bố mẹ và các em, vẻ nghiêm trang, mẹ tôi nói: "Con cũng lớn rồi, lần này về cưới vợ để bố mẹ có cháu bế, cháu bồng". Ngồi im một lúc, tôi bình tĩnh trả lời: Về phép xong con còn đi lâu dài, chiến đấu gian khổ, ác liệt. Lần này về, con chưa nghĩ tới chuyện đó. Nhưng bố mẹ tôi chưa chịu, cứ giới thiệu một, hai cô gái trong làng mà gia đình cân nhắc kỹ càng từ trước. Vẫn trong dịp nghỉ phép đó, vào một buổi chiều đâu tháng 8, Thiều Chí Vũ đến chơi. Hai anh em ngồi vui chuyện, rồi Vũ rủ tôi sang nhà bạn học cùng lớp, đó là Lê Thị Huy. Chúng tôi vào cổng gặp Huy từ trong nhà cầm cái rổ đi ra ruộng hái rau. Đứng một lát, em mời chúng tôi vào nhà chơi. Pha trà mời nước, nói dăm ba câu chuyện xã giao, khoảng 30 phút thì chúng tôi xin phép ra về để em còn nấu cơm. Trên đường về nhà, Vũ hỏi tôi thế nào, có được không? Tôi ậm ừ trả lời cho qua chuyện. Theo hẹn, sáng hôm sau hai chúng tôi lại đến chơi, vì chiều cô ấy lên trường. Huy đang học Trung cấp Y Phú Thọ. Chúng tôi hẹn thứ bảy tuần sau có dịp lại đến chơi. Gặp nhau được vài lần thì tôi chuẩn bị hết phép, mức độ hai bên mới chỉ quen biết nhau, chưa hứa hẹn gì. Lúc chia tay, tôi tặng Huy tấm ảnh thời học viên sĩ quan làm kỷ niệm. Sau khi chia tay Huy, về nhà trằn trọc suốt đêm không ngủ, có điều gì đó cứ xao xuyến trong lòng. Sáng ra, bố mẹ tôi làm mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà. Tôi ăn bữa cơm chia tay gia đình, rồi chú Hạc em rể đạp xe chở tôi xuống bến phà qua sông, sang Sơn Tây về Hà Nội, từ đó đi xe lửa đến Vinh rồi bắt xe đi Quảng Trị vào Đông Hà và về đơn vị. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:46:11 pm Tháng 9 năm 1974, trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 đánh chiếm điểm chốt H1C. Đêm 2 tháng 9 ta nổ súng, do chuẩn bị chưa kỹ, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, chỉ huy thiếu kiên quyết, dẫn tới trận đánh không thành công... Đầu tháng 11 năm 1974, Trung đoàn lại giao nhiệm vụ đánh điểm cao 325 (đồi Xanh). Đại đội 6 khi đi trinh sát vấp mìn, địch trong trận địa bắn ra, ta buộc phải rút lui. Ta tổ chức vượt sông Mỹ Chánh, nước thượng nguồn đột ngột dâng cao, trời lại tối, ba đồng chí bị lũ cuốn trôi, trong đó có cả Đại đội phó.
Trung đoàn vẫn quyết tâm đánh điểm cao 325 (đồi Xanh) nhưng giao cho trinh sát Đại đội 20 chuẩn bị, nếu thời cơ thuận lợi thì đánh, sau đó bàn giao cho Đại đội 6. Đại đội 20 do Đại đội phó dẫn đầu chia làm hai mũi đi trước. Trời mưa to, sấm chớp liên tục, hai mũi tiếp cận sát trận địa địch rồi bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch, đánh chiếm được điểm cao 325, thu nhiều vũ khí, sau đó bàn giao lại cho Đại đội 6. Cả đêm và sáng hôm sau trời mưa to, liên tục, ta không có điều kiện củng cố công sự, hầm hào chiến đấu. Đến 8 giờ sáng, trời đột ngột hết mưa, hửng nắng, ba mặt từ chân đồi, bộ binh địch vây kín, tiến công lên, hàng chục khẩu cối bắn dồn dập vào đỉnh đồi. Ta chỉ có hào cơ động và hố chiến đấu cá nhân không có nắp. Chiến sĩ ta thương vong khá nhiều, ta buộc phải rút lui theo hướng phòng ngự, địch tái chiếm lại điểm cao 325 vào trưa hôm đó. Cả ngày và đêm hôm sau ta tổ chức tìm kiếm được một số thương binh và các đồng chí bị lạc. Đến chiều, tại trận địa phía sau của Đại đội 7 (khu vực tăng gia sát sông Mỹ Chánh), Trung đoàn tổ chức cho Đại đội 15 ĐKB, Đại đội 14 cối 120mm đánh vào căn cứ Lương Điền, cầu Mỹ Chánh, điểm cao 367. Đài quan sát của Đại đội 15 do Đại đội trưởng Đĩnh chỉ huy đặt cách trận địa phòng ngự 9a, 9b của Đại đội 7 khoảng 1,5km (đồi Không tên). Lệnh nổ súng lúc 14 giờ, Đại đội 15 ĐKB bắn vào căn cứ Lương Điền, khu vực cầu Mỹ Chánh, sau khi bắn hiệu chỉnh xong thì bắn cấp tập ngay. Mới bắn được vài loạt thì bị lộ, ba mặt chân đồi bộ binh địch vây kín, súng nổ giòn một thời gian ngắn, sau đó im hẳn. Khoảng gần một giờ sau năm đồng chí đeo máy 2W, súng AK chạy về trận địa phòng ngự M1, M2 của Trung đội 2 Đại đội 7 báo cáo: Đài bị lộ địch quá đông, Đại đội trưởng và chiến sĩ liên lạc vừa chiến đấu, vừa chặn địch cho bộ phận đài rút về sau... Súng hết đạn Đại đội trưởng và liên lạc hy sinh, địch dùng xăng đốt xác các anh ngay tại trận địa (Đại đội trưởng Đĩnh quê Lâm Thao - Vĩnh Phú, sinh viên nhập ngũ ngày 6 tháng 9 I năm 1971). Đại đội 7 được trên giao nhiệm vụ luồn sâu phía sau điểm cao 367, các trục đường cơ động phục kích bắt tù binh. Chấp hành mệnh lệnh của trên, tôi tổ chức đi phục kích hai lần nhưng không thành công. Lần thứ ba tôi giao nhiệm vụ, quán triệt kỹ cho bộ phận luồn sâu do đồng chí Hòa - Trung đội phó Trung đội 1 chỉ huy bảy đồng chí. Tôi bắt tay từng đồng chí, nêu quyết tâm ra đi phải chiến thắng, phải diệt được địch, bắt được tù binh, thu vũ khí... Tất cả anh em đều phấn khởi hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sáng hôm sau, trên các chốt của Đại đội, nghe rộ lên mấy loạt súng, sau đó im bặt không thấy động tĩnh gì, gần trưa đồng chí Hòa cùng anh em dẫn về một tên tù binh, ba khẩu súng AR15, súng ngắn chiến lợi phẩm bàn giao cho Đại đội. Anh em báo cáo: Ta phục kích hai bên khe suối, đường mòn địch hay qua, ba tên địch ở trên chốt xuống bị ta phục kích diệt hai tên, bắt được một tên. Đây là tên thiếu úy, trung đội trưởng, quê Sài Gòn, học Trường Sĩ quan Thủ Đức ra... Tôi điện báo cáo ngay cấp trên, được Trung đoàn, Sư đoàn gửi điện khen và cử người xuống giải tù binh về để khai thác tin, lúc này Chiến dịch K18 rất cần mà chưa đơn vị nào bắt được tù binh. Cuối tháng 12 năm 1974, bộ đội địa phương Quảng Trị vào thay, toàn bộ lực lượng phòng ngự của Sư đoàn rút ra củng cố tổ chức, biên chế, trang bị, chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1975. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:48:27 pm VII. THAM GIA CÁC CHIẾN DỊCH XUÂN 1975
A. Chiến dịch Trị Thiên - Huế Cuối tháng 1 năm 1975, Trung đoàn 18 hành quân về doanh trại của Trung đoàn 95 vừa được trên điều động, hành quân bàng cơ giới đi theo đường số 9, Đường Hồ Chí Minh vào tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên. Tiểu đoàn 8 vào thay doanh trại của Tiểu đoàn 5. Chúng tôi nhận và đựa đơn vị vào vị trí, nhanh chóng củng cố và vui đón Tết cổ truyền. Tết đó có đủ tiết canh, lòng lợn, bánh chưng, rượu, không khí thật chan hòa, ấm cúng. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp tới, trên điều động đồng chí Phan Văn Bạn về Trường Hạ sĩ quan Quân đoàn, đồng chí Đậu Văn Bạch - Chính trị Viên phó làm Chính trị viên, Thiếu úy Giản - cán bộ thực tế của Học viện Chính trị giữ chức Đại đội phó, đồng chí Hiếu - Chính trị viên phó. Các đồng chí lớn tuổi, sức khỏe yếu đều được điều về tuyến sau. Đầu tháng 3 năm 1975, đơn vị được lệnh hành quân. Trung đoàn 18 đi đầu, từ Tân Vĩnh đến làng Núp, chân dốc 365, theo đường mòn cắt ra đường số 14 tập kết. Cac đoàn xe quân sự nằm chờ sẵn. Mới ra đến đầu đường đã gặp không khí vui như trẩy hội, các đơn vị thanh niên xung phong, công binh làm đường, dân công phục vụ chiến dịch, bộ đội ra vào tấp nập. Có một tiểu đoàn thanh niên xung phong toàn nữ quê Yên Lạc - Phúc Yên - Kim Anh (Vĩnh Phú), nhiều anh em đơn vị được gặp người thân, quen... Sáng sớm ngày hôm sau, chia tay với các đơn vị vừa làm quen, chúng tôi lên xe, ngụy trang kín, lần lượt lăn bánh theo đường số 14 vào chân đèo Bạch Mã, nghỉ lại chân đèo một đêm. Đây là khu du lịch thời Pháp đô hộ, vì ở trên cao nên đêm xuống trời rất lạnh. Khuya, tất cả không ngủ được, dậy đốt lửa sưởi, sáng ra hành quân, nhìn đường số 1 và phá Tam Giang gần ngay dưới chân núi. Theo phương án tác chiến ban đầu, Trung đoàn 18 tiến công trên hướng chủ yếu của Sư đoàn, gồm các mục tiêu điểm cao 494, 520, 560, sau đó phát triển chia cắt, đánh chiếm đường số 1 đoạn từ Gián Bó đến cầu Bạch Thạch (quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên). Trung đoàn 101 đảm nhiệm tiến công hướng thứ yếu của Sư đoàn (bên cánh trái) bao gồm dãy Côn Sắc, các điểm cao 320, 312... Trung đoàn 18 sử dụng Tiểu đoàn 9 tiến công hướng chủ yếu gồm điểm cao 494 và 560. Cụ thể: Đại đội 11 luồn về sau, bí mật triển khai đội hình đánh chiếm điểm cao 494, chia cắt 560 với phía sau; Đại đội 10 tiến công hướng chủ yếu vào điểm cào 560; Đại đội 9 tiến công hướng thứ yếu vào bên phải đội hình Đại đội 10. Khi đơn vị hành quân vào vị trí tập kết, tất cả bắt tay vào nhiệm vụ: Cán bộ từ trung đội trưởng đến trung đoàn trưởng đi chuẩn bị chiến trường, cấp phó và chính trị viên chỉ huy bộ đội vận chuyển gạo, đạn. Toàn Tiểu đoàn được phân công đi kéo pháo 122, P85, PCX 37 vào trận địa. Lúc đầu tưởng đơn giản nhưng sau khá phức tạp, phải chuẩn bị hết sức chu đáo, chỉ huy chặt chẽ mới đưa được các khẩu pháo nặng hàng tấn vượt dốc cao vào trận địa ở điểm cao 789 (toàn bộ dãy núi đối diện với các mục tiêu 560 - 520)... để bắn thẳng chi viện cho bộ binh. Đi trinh sát thực địa và thông qua quyết tâm, cấp trên thấy không chắc chắn, quyết định điều Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 vào tăng cường cho Tiểu đoàn Bộ binh 9 trên hướng chủ yếu. Cán bộ trung đội, đại đội đang đi trinh sát theo nhiệm vụ của Tiểu đoàn 8 thì có lệnh trên gọi về gấp, triệu tập sang Tiểu đoàn 9 để nghe giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng đánh điểm cao 560. Vì quá gấp, không có sự chuẩn bị, tôi chỉ biết nghe và chấp hành... về họp chi bộ, thông qua cấp ủy chúng tôi chỉ quán triệt cho đơn vị là tăng cường cho Tiểu đoàn 9 làm lực lượng dự bị trên hướng chủ yếu khi cần. Chiều 20 tháng 3 năm 1975, đơn vị hành quân vào vị trí tạm dừng ở chân điểm cao 366 sát Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 9. Đồng chí Triển - Tiểu đoàn trưởng cho gọi tôi lên và nói về nhiệm vụ cấp trên điều tăng cường gấp, cán bộ Đại đội 7 chưa đi trinh sát, Tiểu đoàn cử hai đồng chí trinh sát Tiểu đoàn dân cán bộ Đại đội 7 đi để biết đường và vị trí triển khai. Đại đội 10 đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh điểm cao 560. Tôi, ba trung đội trưởng và liên lạc theo trinh sát đi đường mòn, vừa đi vừa phát đường ống, luồn chui lên vị trí dự kiến Đại đội 10 sẽ triển khai. Tuy nhiên, từ đây nhìn sang điểm cao, các hướng đều không rõ, chúng tôi lui về vị trí đơn vị tạm dừng. Suốt đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 3 năm 1975, toàn Sư đoàn hành quân tiếp cận và triển khai chiến đấu. Một đêm căng thẳng trôi qua, tất cả các đơn vị đã vào vị trí triển khai đúng kế hoạch, bí mật, an toàn. 5 giờ 30 phút, giờ "G" - giờ súng nổ đã đến. Do sương mù dày đặc, pháo binh, hỏa lực mạnh chi viện đều không nhìn thấy mục tiêu. Các đơn vị đều xin cho lui lại giờ nổ súng. Trung đoàn, Sư đoàn báo cáo lên cấp trên và được phép lui lại 10 phút! 10 phút lặng lẽ trôi nhanh, tất cả trận địa đều hồi hộp đợi lệnh. Đúng giờ, tất cả các loại hỏa lực nổ inh tai, nhức óc vào các mục tiêu đã có sẵn phần tử. Tôi cùng chiến sĩ liên lạc Mốt thức suốt đêm ngồi trực bên Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 9 sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Hỏa lực chuyển làn, tất cả các hướng mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Hướng chủ yếu, Đại đội 10 mở cửa đánh chiếm mục tiêu đầu cầu không thành, tổ chức tiến công tiếp nhưng cũng chỉ đánh chiếm được đồi Yên Ngựa, do 1 tiểu đội địch chốt giữ bên ngoài. Địch dùng hỏa lực ngăn chặn, ta bị thương vong, tổn thất ngoài cửa mở đồi Yên Ngựa mà vẫn không thể tiến lên được. Đại đội trưởng Nhường, Chính trị viên Bông, nhiều lần điện xin chi viện nhưng trên chưa trả lời, lệnh tiếp tục tiến công. Hướng Đại đội 11, sau gần một giờ nổ súng mà không có pháo binh chi viện (tiến công độc lập), đã xung phong đánh chiếm được điểm cao 494, khóa chặt phía sau, bên sườn điểm cao 560. Hướng Đại đội 9, từ đêm vào triển khai đã bị lộ, đội hình triển khai ở vị trí quá dốc, nhiều đá nên bị thương vong lớn, Đại đội trưởng Quỳ cũng bị thương vào bụng. Đại đội 9 không phát triển được. Sau gần hai giờ tiến công, Tiểu đoàn 7 đánh chiếm được toàn bộ điểm cao 520 và các dãy núi xung quanh được phân công. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:50:07 pm Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 năm 1975, được trên đồng ý, Đại đội 7 lực lượng dự bị của Tiểu đoàn bước vào chiến đấu. Tôi tập hợp đơn vị tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn Bộ binh 9 ở chân điểm cao 366 phổ biến nhanh nhiệm vụ và chỉ huy hành quân. Đường mòn, dốc cao, đường ống, cây dây nhiều, bộ đội mang vác nặng vướng khó đi. Dẫn đầu là Tiểu đội phó Uông Đình Quý, tiếp theo đến một chiến sĩ, sau đó là đồng chí Trần Đương (Thượng sĩ, Trung đội trưởng Trung đội 1), tôi đi thứ tư, liên lạc. Mốt đi thứ năm. Đến cách cửa mở của Đại đội 10 khoảng 100m, ngoái lại không thấy ai, tôi cho Quý quay lại tìm. Toàn bộ đội hình sau tôi bị pháo binh bắn chặn, thương vong quá nhiều, tôi báo cáo về Tiểu đoàn cho tạm dừng để giải quyết hậu quả, củng cố đội hình và kiểm tra quân số, trang bị, 24 đồng chí hy sinh và bị thương trên tổng số 61 đồng chí vào trận. 37 đồng chí còn lại đã lên hết và triển khai xung quanh đồi Yên Ngựa mà ta vừa chiếm được, lúc đó khoảng gần 9 giờ.
Đại đội 10 bị thương vong quá lớn, khi chúng tôi lên thay, chỉ có thương binh được đưa về sau, số hy sinh vẫn còn nguyên trên trận địa... Qua hệ thống thông tin chỉ huy, Tiểu đoàn liên tục lệnh cho Đại đội 7 nhanh chóng củng cố đơn vị và tổ chức tiến công đánh chiếm điểm cao 560. Tôi báo cáo Tiểu đoàn là không thể tiến công được, vì hướng tiến công đã bị lộ, từ đồi Yên Ngựa vào điểm cao 560 quá xa, chỉ có con đường mòn, hai bên dày đặc mìn, không có hỏa lực khống chế. Xin được chọn hướng tiến công khác. Tôi cho cấp phó chỉ huy bộ đội hành quân theo sau, còn Đại đội trưởng, Chính trị viên, ba trung đội trưởng và Tiểu đội trưởng Tiểu đội 10 vòng bên trái đi trước chuẩn bị. Tất cả luồn, bò theo rừng cây rậm rạp, ra đến khu vực phát quang thì trời quang mây, rất gần cứ điểm 560, chỉ cách một bãi trống và một khe cạn, vách dựng đứng, toàn đá mồ côi và cả một bãi mìn dày đặc. Đơn vị tạm dừng để hội ý và phân công: Trung đội 3 và Trung đội 2 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu, do Đại đội trưởng và Chính trị viên chỉ huy. Trung đội 1 đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu bên phải đội hình, do đồng chí Giản - Đại đội phó chỉ huy. Dừng lại một lát tôi lấy tinh thần xung phong dò, gỡ mìn và mở cửa hướng chủ yếu. Vừa dứt lời thì Thượng sĩ Lương Xuân Toán - Trung đội phó Trung đội 2 xung phong, tôi đồng ý và giao cho Toán cùng hai chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ. Trời sáng, địch gần, bộ phận dò gỡ mìn làm chậm, tôi lệnh cho bộ phận khác vào thay. Bộ phận dò mìn đi trước, bộ đội bám sát theo sau. Đến hàng rào, tôi cho Cự, Thinh, Phướng bò vào chống, gỡ rào, ba đồng chí chui lọt vào trong. Trung liên bố trí yểm hộ phía sau. Có dấu hiệu bị lộ, ngay lập tức, tôi quan sát và vẫy tay ra lệnh cho B40, B41, trung liên bắn vào lô cốt đầu cầu, áp đảo địch. Tất cả dùng lựu đạn đánh vào chiến hào, cửa mở, tôi ra lệnh xung phong... Toàn đơn vị bật dậy đạp rào, bắn găm, bắn gần, nhanh chóng đánh chiếm chiến hào ngoài cùng. Diễn biến trận đánh rất nhanh. Chúng tôi bắt được bốn tên tù binh, khai thác tại trận địa vị trí sở chỉ huy tiểu đoàn địch, chúng chỉ lên đỉnh cao trước mặt. Tôi triển khai yểm trợ, đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Đi đầu là Tiểu đội trưởng Cự và Hùng, Thinh, cánh phải là Trung đội 1 cũng kịp tiến đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, bắt sống tên 3 tá tiểu đoàn trưởng, làm chủ khu vực sở chỉ huy. Tôi ra lệnh Trung đội 1 giữ chắc mỏm 1, dùng hỏa lực chi viện cho Trung đội 2, do đồng chí Thinh phụ trách, theo đội hình cuốn chiếu đánh sang mỏm 2 và 3, đi sau là Trung đội 3 lần lượt đánh chiếm nốt các mỏm còn lại. Ở phía ngoài, Đại đội 10 và Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 cũng phối hợp đánh chiếm toan bộ điểm cao 560 lúc 15 giờ ngày 21 tháng 3. Sau khi làm chủ điểm cao 560, Đại đội 7 bàn giao toàn bộ trận địa cho Tiểu đoàn 9 phòng ngự chốt giữ. Trên lệnh thu quân kiểm tra quân số, vũ khí, trang bị và rời khỏi trận địa ngay để tránh pháo binh trút đạn xuống hủy diệt. Mùa Đông trời tối rất nhanh, chúng tôi lần theo lối mòn cũ để đi, khó khăn vất vả lắm mới xác định được đường, vì cây cối đổ, gãy ngang lấp lối. Về đến vị trí buổi sáng mà bom, pháo đánh trúng đội hình, trừ số bị thương được chuyển đi, còn lại là tử sĩ vẫn còn nguyên vị trí chưa kịp chuyển. Tôi cho đơn vị dừng lại, qua ánh trăng lần tìm hết các đồng đội hy sinh để chuyển về tuyến sau. Loay hoay tìm rộng ra xung quanh thấy hố cá nhân sâu khoảng hơn một mét có một chiến sĩ ngồi, khẩu AK dựa vai, mặt ngửa lên trời, tôi kịp nhận ra chiến sĩ Diện có hàm răng cạp vàng, nhập ngũ ngày 1 tháng 10 năm 1974, quê Tứ Kỳ - Hải Hưng, vừa được bổ sung về đơn vị, tiếp theo là Trung đội trưởng Ninh, quê ở Lâm Thao - Vĩnh Phú. Cả một ngày chiến đấu liên tục, đói, khát, mệt nhưng với tinh thần cố gắng chúng tôi đưa sáu liệt sĩ của Đại đội về tuyến sau. Toàn đơn vị về đến hầm, khu tập kết ở chân đồi 366, lúc đó khoảng 2 giờ sáng ngày 22 tháng 3 năm 1975. Tôi vừa chợp mắt thì có lệnh lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Trên phổ biến tình hình, tất cả các đơn vị đang thừa thắng xốc tới, hành quân thâu đêm, xuyên rừng, lội suối để chuẩn bị đánh địch ngày hôm sau. Đồng chí Triển - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 giao nhiệm vụ cho Đại đội 7 khẩn trương hành quân về tây bắc điểm cao 560 phục kích, sẵn sàng đánh quân địch phản kích từ điểm cao 494, đường số 1 - Gián Bó. Về đơn vị tôi nhanh chóng đánh thức bộ đội dậy và tổ chức hành quân thực hiện nhiệm vụ. Đơn vị hành quân theo đường mòn. Pháo binh địch ở Mũi Né bắn chặn theo tọa độ khá chính xác. Đội hình đi thưa, vừa đi vừa chạy, đến địa điểm thì trời sáng, tôi đưa các bộ phận vào vị trí phục kích đánh địch ngay, ngụy trang kín đáo. Khoảng 10 giờ, chỉ huy Tiểu đoàn 9 gọi tôi lên điểm cao 560 nhận nhiệm vụ. Trời quang mây, máy bay các loại của địch gầm rú, ném bom bắn chặn, từng đoàn trực thăng bốn đến tám chiếc quần lượn bắn rốc két xuống đường số 1 dọc theo làng Bạch Thạch đến Gián Bó... Theo lệnh trên, Đại đội 7 nhanh chóng hành quân về Tiểu đoàn đang chiến đấu chia cắt đường số 1 khu vực làng Bạch Thạch... Thu quân và hành quân ngay theo các điểm cao 560, 494 xuống Gián Bó. Trên đường đi, Đại đội liên tục bị pháo binh, máy bay địch ném bom, bắn chặn... Đại đội 7 được Trung đoàn tăng cường 1 khẩu ĐKZ 75mm, qua điểm cao 494 xuống Gián Bó, từ trên cao nhìn xuống đường số 1 ngay dưới chân, thấy bảy chiếc xe tăng cùng bộ binh địch đang chậm chạp tiến đến khu vực Gián Bó, tôi ra lệnh triển khai đội hình chiến đấu, giá ĐKZ 75mm sẵn sàng bắn thẳng. Địch dừng ít phút, sau đó tất cả quay đầu chạy về Huế. Đại đội 7 được Tiểu đoàn 8 giao nhiệm vụ phòng ngự từ cầu Bạch Thạch theo làng vào chân điểm cao 200, rộng khoảng 700m, sâu hết làng về sau. Tôi triển khai các trung đội vào các vị trí thì trời cũng gần sáng ngày 23 tháng 3 năm 1975. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Sáu, 2026, 09:51:27 pm Dựa lưng vào thành công sự chợp mắt được ít phút thì trời sáng hẳn, nhìn qua cánh đồng lúa khoảng 300m, dải đồi trước mặt toàn lính địch.
12 giờ ngày 23 tháng 3, trên giao cho Tiểu đoàn 8 nổ súng tiến công đồi Bảo An, cây đa Đá Bạc, toàn bộ dãy đồi phía nam, tiến công phát triển đánh chiếm Mũi Né. Tiểu đoàn 7 phát triển theo đường số 1 ra Huế. Đúng thời gian hiệp đồng, Đại đội 7 vượt qua cánh đồng trống trải, đánh chiếm dãy đồi phía nam. Đại đội chia làm 2 mũi, mũi chủ yếu là Trung đội 3 do tôi chỉ huy vượt qua cánh đồng đánh vào dãy đồi trước mặt, mũi bên phải là Trung đội 1, đồng chí Dương chỉ huy, Trung đội 2 dự bị trên bờ cùng hỏa lực bắn kiềm chế. Đại đội 5 vượt qua cầu đánh đồn Bảo An, cây đa Đá Bạc. Đại đội 6 dự bị. Tất cả chúng tôi bí mật vượt qua cánh đồng lúa đang thì con gái, bùn ngập ngang ống chân, đi khom ra giữa cánh đồng vẫn giữ được bí mật. Tôi cho anh em vận động nhanh, bám bờ và xung phong đánh chiếm mục tiêu. Quân địch bỏ chạy, cối 60mm của ta bắn theo. Hai mũi tiến công song song theo đường sắt, tiến đánh điểm cao Mũi Né, Đại đội 5 theo mép nước và đường số 1 từ trận địa pháo phía tây bắc đánh lên, Đại đội 7 từ đường số 1 tiến công sang. Địch bỏ chạy, ta tiêu diệt một số, bắt sống một tù binh, làm chủ chiến trường. Sau đó, địch tập trung pháo binh ở đèo Phước Tượng bắn vào điểm cao Mũi Né. Đại đội 7 chia làm hai mũi, một mũi theo đường sắt, một mũi theo đường số 1 đang tiến công dọc đường giải phóng các mục tiêu tiếp theo thì nhận được lệnh tạm dừng, giữ các mục tiêu đã chiếm. 19 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1975, toàn bộ Tiểu đoàn 8 và một bộ phận chỉ huy cơ quan Trung đoàn 18 theo đường số 1 tiến công các mục còn lại và giải phóng quận lỵ Phú Lộc. Đại đội 7 đi đầu, chia làm hai mũi theo sườn đường số 1, đi sau là các đơn vị của Tiểu đoàn, sau cùng là Sở Chỉ huy Trung đoàn 18. Tât cả đi nhanh, im lìm trong đêm tối, súng đạn sẵn sàng, vừa đi vừa hỏi đường. Quận lỵ Phú Lộc nằm bên trái đường, cách cầu khoảng 200m, do trời tối không nhìn rõ nên đơn vị vượt qua cổng mới phát hiện ra, phải lùi lại triển khai chiến đấu. Địch khóa cổng, chúng tôi phá cổng vào. Chi khu Phú Lộc có năm lớp rào xung quanh, lô cốt, ụ súng kiên cố, tôi cho triển khai hai mũi tiến công, địch thấy ta áp sát không dám chống cự, lui vào hầm, hào theo cửa sau tháo chạy, ta vây ép bắt được một số tù binh, thu toàn bộ vũ khí trang bị, làm chủ chi khu quận lỵ Phú Lộc. 21 giờ, ta thu hai khẩu 81mm còn bố trí ở nguyên trận địa và hai khẩu 12,7mm. Ta sử dụng để bắn cầm canh trong đêm về phía nam. Sau khi làm chủ quận lỵ Phú Lộc, Đại đội 7 có nhiệm vụ chốt giữ chi khu, tôi đưa Trung đội 1 ra chốt giữ đầu cầu, gài mìn đề phòng địch ở Đà Nẵng tiến công ra. Đại đội 5, Đại đội 6 chốt giữ phía sau. Sáng sớm hôm sau, cấp trên điều Đại đội 7 đi làm nhiệm vụ mới. Đại đội được tăng cường một ĐKZ 82mm, một khẩu 12,7mm, 37 tay súng lên một xe Reo, có đồng chí Chính - Tiểu đoàn phó đi cùng. Quá nửa đường chúng tôi xuống xe đi bộ vào Sở Chỉ huy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên nằm trong núi để hiệp đồng tác chiến. Các anh cho người đơn vị ra cửa Tư Hiền, ở đó có một đại đội địa phương đang chiến đấu từ ngày 23 tháng 3, quân số thương vong lớn, đạn không đủ đánh, đang chờ chi viện. Đơn vị chúng tôi đến vừa đúng lúc, thay vào và chiến đấu luôn. Trên đồi cao, bố trí quân, hỏa lực khóa chặt cửa Tư Hiền. Địch đông, tháo chạy từ Huế theo ven biển, phá Tam Giang mở đường máu chạy về Đà Nẵng. Các loại súng, hỏa lực ĐKZ cối 60mm, 12,7mm bắn chặn, khóa chặt, địch chết nhiều nhưng khi ta dừng bắn chúng lại liều mạng vượt qua. Bắn nhiều đạn nên cũng hết, qua máy 2W tôi báo cáo về, cấp trên ra lệnh phải bịt bằng được cửa Tư Hiền không để cho địch rút về Đà Nẵng. Chính ủy Sư đoàn Lê Văn Dương điện vượt cấp xuống thằng Đại đội giao nhiệm vụ: "Đại đội 7 phải kiên quyết chặn, cắt không cho địch vượt qua cửa Tư Hiền... Chúng lui về Đà Nẵng là khó cho ta về sau". Chấp hành lệnh của Chính ủy, tôi ra lệnh hỏa lực bắn chặn, cắt và chi viện, tổ chức hai mũi đánh thẳng từ trên núi xuống mép biển, căt đôi đội hình địch, tù binh bắt được tới vài trăm tên. Tôi điện báo về xin chỉ thị, trên trả lời chỉ bắt tù binh là sĩ quan còn binh lính tha bổng. Chiều về tối, Đại đội 7 chốt giữ cửa Tư Hiền và áp giải hơn 100 tù binh toàn là cấp úy, cấp tá gom vào một khu vực và tổ chức canh gác... Khoảng 20 giờ thì chúng tôi được Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 101 do Trung đoàn phó Đắc chỉ huy ra tăng cường phối hợp. Cả đêm 24 tháng 3, với quân số hơn 40 đồng chí, chúng tôi phải chốt chặt cửa Tư Hiền không cho địch từ Huế chạy vào Đà Nẵng và canh giữ tù binh, không ai được ngủ, mệt, đói, khát. Rất may lúc đó có trung đội địa phương phối hợp, tặng cho anh em tôi mấy bánh lương khô, gạo sấy. Nước suối toàn mùi phân trâu nhưng chúng tôi vẫn phải uống, cả Đại đội bị "Tào Tháo đuổi" mất vài ngày. Sáng hôm sau, máy bay, pháo hạm địch tập trung đánh phá, hủy diệt cửa Tư Hiền. 12 giờ ngày 25 tháng 3, trên thông báo thành phố Huế được giải phóng. Chiều 25 tháng 3, Đại đội 7 được lệnh bàn giao toàn bộ khu vực cửa Tư Hiền cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên chốt giữ và hơn 100 tên tù binh sĩ quan cho địa phương, hành quân về đội hình Tiểu đoàn làm lực lượng dự bị phía sau. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Bảy, 2026, 09:29:30 pm IV. LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở LÀO
Một ngày đầu tháng 3 năm 1969, lúc 4 giờ sáng, toàn Tiểu đoàn báo động di chuyển ra đồi bạch đàn ở đầu làng tập trung, một đoàn xe quân sự gồm J157, Hồng Hà, J130 ngụy trang kín xếp hàng chờ sẵn. Tiểu đoàn nghe cấp trên quán triệt mệnh lệnh hành quân, phổ biến một số quy định về phòng tránh máy bay, tác chiến trên đường, giữ bí mật trong suốt quá trình hành quân đi làm nhiệm vụ... Mọi người nhìn nhau thì thầm không biết đi đâu (?). Nhân dân khu vực đóng quân thức dậy, lưu luyến chia tay bộ đội... Xe nối theo nhau rẽ phải theo đường số 6 về thị xã Hòa Bình, dốc Cù Chính Lan, suối Rút... Đến trạm Bộ đội Biên phòng thì dừng chân nghỉ qua đêm ở rừng, hôm sau tiếp tục hành quân. Đường số 6 xóc, khó đi, nhiều đoạn xóc muốn hất chúng tôi xuống đường... Khoảng 15 giờ chiều, chúng tôi đến trạm thứ hai, sau mới biết đó là Nông trường Mộc Châu (Sơn La). Chúng tôi nghỉ lại doanh trại Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 Quân khu Tây Bắc. Hai ngày sau có hai đơn vị nữa đến, Tiểu đoàn 17 Sư đoàn 320A vừa chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh ra và một tiểu đoàn bộ binh đủ quân của Sư đoàn 304B (Việt Bắc) hành quân từ Phú Bình - Bắc Thái qua Vĩnh Phú, Sơn Tây lên Hòa Bình, Sơn La. Ba đơn vị được Bộ điều lên thành lập Trung đoàn Công binh 5 thuộc Quân khu Tây Bắc sang giúp bạn Lào mở đường chiến dịch. Chúng tôi dừng chân khoảng hai tuần để tổ chức biên chế. Trung đoàn 5 bấy giờ có Tiểu đoàn 45 và Tiểu đoàn 55 Trung đoàn bộ. Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 30413 Viột Bắc giải thể, quân số đưa về hai tiều đoàn. Môi tiểu đoàn có ba đại đội, trung đội phòng không 12,7mm, thông tin và Tiểu đoàn bộ. Tôi được điều về Đại đội 2 Tiểu đoàn 45. Những ngày tiếp theo, chúng tôi được học chính trị, học về phong tục tập quán, công tác dân vận, quan hệ với nhân dân, học mấy bài hát của Lào, Lào - Việt, học ít tiếng Lào cơ bản nhất để có thể hỏi đường, quan hệ công việc... Ngày chuẩn bị lên đường sang nước bạn, đơn vị được đón Tư lệnh Quân khu - Đại tá Vũ Lập, một trong những chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đến thăm và nói chuyện. Tối hôm đó, chúng tôi được xem văn công Quân khu biểu diễn. Trước hai ngày đơn vị hành quân, tôi được điều lên làm chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn để đi tiền trạm. 15 giờ ngày 26 tháng 3 năm 1969, toàn đơn vị hành quân. Từ điểm xuất phát lên biên giới khoảng 18km, theo đường số 6, cửa khẩu Paháng sang sầm Nưa (Lào). Chúng tôi đi theo sườn núi, lên mãi, tựa như nóc nhà. Toàn núi cao, trời nắng, hanh khô, không có nước, máy bay địch đánh bom khiến rừng cháy nghi ngút. Đơn vị lên tới đỉnh núi thì trời tối, cả đơn vị có đến 1/3 chảy máu mũi, khô họng. Chặng đầu đi phải hơn 40km, xuống mãi chân dốc cửa khẩu mới được dừng, có nước. Có bộ phận phải 7 - 8 giờ sáng hôm sau mới đến vị trí. Đến sát thị xã Sầm Nưa, chúng tôi nghỉ lại một đêm ở trạm giao liên lấy sức đi tiếp. Qua thị xã Sầm Nưa vào đầu tháng 4 dương lịch. Thị xã ở thung lũng bằng phẳng, xung quanh toàn núi cao, rừng rậm. Do chiến tranh, địch đánh phá ác liệt, đa số dân bản đi sơ tán. Đám thanh niên, trẻ em, phụ nữ tập trung xem bộ đội hành quân, đem các ống bương ra lấy nước té cầu may cho bộ đội. Đây là Tết cổ truyền - "Tết té nước" của bạn, lúc đầu chúng tôi không hiểu, sau hiểu ra nên hai bên cười nói rất vui. Đi bốn chặng nữạ thì gặp bộ phận tiền trạm của Tiểu đoàn ra đón. Chúng tôi vượt qua sông Nậm Nơn, đi theo đường mòn theo suối vào mãi bên trong để tìm chỗ đóng quân. Mỗi trung đội một khu, cách nhau 1 - 2km. Trung đội 2 ở cùng Ban Chỉ huy Đại đội. Đặt ba lô xuống, chúng tôi lao vào chặt cây, đào hầm. Mỗi tiểu đội đào ba hầm, ngụy trang kín, bên trong có sạp rải võng nằm. Đào xong hầm và các hạng mục khu vực đóng quân, tất cả đều đi chuyển đạn, gạo, thuốc nổ và dụng cụ thi công mở đường. Mùa mưa đến, nước sông dâng cao, việc chuyển hàng khó khăn, đã có đồng chí bị nước cuốn trôi, Trung đoàn phải dùng cáp để vượt. Mọi công tác chuẩn bị đều diễn ra nhịp nhàng, đúng kế hoạch. Ngày 19 tháng 5 năm 1969 - Ngày sinh nhật Bác, cấp trên lấy làm ngày toàn đơn vị ra quân mở đường. Cả đơn vị hừng hực khí thế, kẻ khoan, người đào, đánh bộc phá... chỉ có mấy hôm mà khối lượng cong việc làm được nhiều đáng kể. Làm đến đâu ngụy trang đến đó, hai, ba tuần đầu vẫn giữ được bí mật nhưng sau cũng bị lộ vì trục đường dài đến mấy chục kilômét, qua nhiều địa hình trống trải. Một ngày đầu tháng 6 bất ngờ, ngoài máy bay trinh sát còn các loại máy bay ném bom của địch ập đến đánh phá liên tục, dữ dội vào các đoạn đường mới mở và các khu vực nghi quân ta đóng quân. Đại đội 1 hy sinh hai đồng chí, trong đó có anh Thanh, quê làng Bích Chu, xã An Tường, cùng nhập ngũ với tôi, anh được mai táng tại bản nơi đơn vị đóng quân (mãi sau năm 1993 các đội quy tập của Quân khu 2 mới cất bốc hồi hương). Là dân đồng bằng, sống trong rừng không quen, sinh hoạt khó khăn nên tôi cùng nhiều đồng chí bị sốt rét. Tôi ốm liệt giường hai tuần. Vừa dậy được thì cấp trên đã quyết định điều về bộ phận trinh sát Trung đoàn. Tôi nhanh chóng bàn giao công việc về đơn vị mới. Tiểu đoàn có tôi và đồng chí Lượng được điều động về trung đội trinh sát Trung đoàn. Trung đội trinh sát chúng tôi gồm hai tiểu đội. Tiểu đội Quân khu tăng cường toàn lính cũ, tiểu đội trưởng, tiểu đội phó toàn nhập ngũ năm 1962, quê Hải Dương, năm đồng chí nhập ngũ năm 1965 người dân tộc Mông, bảy đồng chí Trung đoàn mới điều lên là người dân tộc Kinh. Chỉ huy chung là Thiếu úy Tiến, kỹ sư cầu đường, đi thanh niên xung phong năm 1953, quê Đại Từ - Bắc Thái. Nhiệm vụ của Trung đội trinh sát là phát tuyến, đo đạc, cắm mốc giới, đánh dấu lên bản đồ để đơn vị thi công. Việc leo trèo khá vất vả, chúng tôi cứ phải đi sớm về muộn, luôn thông tầm, có khi không kịp tắm giặt, chỉ ăn lương khô, uống nước suối rồi đi ngủ. Rừng bên nước bạn Lào quá nhiều vắt, muỗi nên anh em phải kiếm dù may ghệt (tất dài) cho gấu quần vào. Vì đơn vị ở xa, công việc tách biệt, công tác bảo đảm rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa không ai về đơn vị lấy gạo được, chúng tôi phải kiếm măng rừng, rau rừng ăn trừ bữa. Một hôm đi sâu vào một vùng đất bằng phẳng, gặp một bãi to rau muống tốt, ngọn to như ngón tay, hái về luộc lên chấm muối ăn thấy ngon kỳ lạ. Khế chua là thế, chúng tôi gọi là rau muống chua, ngày nào cũng đi hái về nấu với đầu, đuôi cá khô. Măng các loại thì nhiều vô kể, rất dễ tìm. Đầu tháng 8, chúng tôi phát tuyến cắm mốc từ suối Con Cóc qua dãy núi Nậm Tiệp sang căn cứ La Khằng thật khó khăn, nguy hiểm, nhưng rồi cũng khắc phục được. Qua suối Nậm Tiệp vào căn cứ La Khằng - căn cứ bị ta san bằng trong đợt Mậu Thân 1968, địch không dám chiếm lại, từ chỗ đó chúng tôi xác định tuyến đường về Mường Hiếm cũng không khó mấy. Mưa liên tục, trắng trời, xối xả, tất cả các sông, suối lớn nhỏ đều ngập không thể qua lại được. Lợi dụng khó khăn của ta, địch đổ bộ đường không nống ra chiếm các vị trí chiến lược, có giá trị ở Cánh Đồng Chum. Chúng đã chiếm được nhiều điểm như Phu Nốc Cốc, Noọng Pẹt, Khang Khay... ở hướng chúng tôi cũng không an toàn, Trung đoàn lệnh rút về đơn vị. Trinh sát được phân công ở gần chỉ huy Trung đoàn bên bờ sông Nậm Nơn thơ mộng và xinh đẹp, toàn là rừng nguyên sinh, kín đáo, bí mật. Cơ quan tham mưu tập trung ở một bãi đất trong rừng để chuẩn bị kỷ niệm Quốc khánh mùng 2 tháng 9. Bữa trưa có ăn tươi theo tiêu chuẩn. Cả đơn vị bừng lên một không khí nhộn nhịp, vui tươi, phấn khờị của ngày Tết Độc lập. Chiều đến, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo về tình hình sức khỏe của Bác, mọi người đều sửng sốt, lo âu cầu mong cho Bác qua cơn bạo bệnh để khỏe mạnh và sống lâu. Sáng ngày 3 tháng 9 năm 1969, bản tin đặc biệt thông báo Bác mất, cả Trung đoàn bàng hoàng, không ai tin là sư thật. Những ngày để tang Bác, đơn vị vẫn gùi gạo, đạn ra phía trước, mỗi người tự làm một chiếc băng tang màu đen dài khoảng 3cm rộng 1cm, đeo lên ngực trái, không ai nói với ai, lầm lũi gùi hàng ra mặt trận. Ngày truy điệu Bác, ai cũng khóc, tiếng khóc to nhất là của Chính ủy Trung đoàn. Anh nhiều lần dừng giữa bài diễn văn lấy khăn lau nước mắt, có lúc anh nghẹn ngào không cất được lên lời. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Bảy, 2026, 09:51:45 pm Sau tang lễ Bác, Tiểu đoàn 45 nhận lệnh khẩn trương cơ động về Cánh Đồng Chum làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tôi đeo ba lô về Đại đội 2 trong bầu không khí khẩn trương, kẻ đi trả đồ ở kho, người nhận vũ khí, trang bị. Ban Chỉ huy điều tôi lên làm liên lạc kiêm văn thư Đại đội. Tôi báo cáo xin về tiểu đội cũ nhưng không được.
Hôm sau, đơn vị hành quân ra mặt trận, làm nhiệm vụ mở đường chuẩn bị cho chiến dịch. Chúng tôi hành quân liên tục suốt bốn đêm theo đường số 6 về ngã ba Bản Ban nối với đường số 7 từ Nghệ An qua cửa khẩu Nậm Cắn sang. Trên hai quốc lộ, địch đánh phá ngăn chặn ta vận chuyển rất ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Toàn Tiểu đoàn phải rải ra mấy chục cây số để bảo đảm đường thông xe. Đại đội 2 chúng tôi nhận nhiệm vụ bảo đảm đèo đất và đèo đá đường số 7. Đại đội đặt hai đài quan sát và thông đường vì tính chất khẩn trương của chiến dịch. Làm văn thư là phải tổng hợp báo cáo, đưa công văn lên Tiểu đoàn, Trung đoàn, có lúc tôi còn được phân công lên đài quan sát ghi chép từng tốp, loại máy bay, loạt bom nổ, chưa nổ. Thời gian này, địch tập trung đánh phá ngăn chặn suốt ngày đêm, đường đèo hai trọng điểm liên tục trúng bom, tắc đường. Bộ đội Công binh, thanh niên xung phong Binh trạm 13 có mặt rất kịp thời khắc phục và thông đường chỉ sau đó vài giờ, bom không nổ cũng được giải quyết rất nhanh để thông xe chở đạn, gạo, kéo pháo, xe tăng tiến ra mặt trận. Trong đêm tối, bộ đội hành quân, thanh niên xung phong, công binh bảo đảm đường ríu rít chào nhau, không khí vui nhộn khó tả. Cuối tháng 11 năm 1969, Đại đội 2 được điều về bảo đảm thông đường số 6 với độ dài đoạn đường đảm nhiệm là 20km, và được phân công chốt một số vị trí trọng điểm. Một hôm, Trung đội 2 hành quân lên đồi ĐK để chốt, bộ phận đi đầu ba đồng chí, sau đó đến Trung đội trưởng, Tiểu đội trưởng. Bỗng một tiếng nổ long trời hất ba đồng chí đi đầu xuống vực sâu, làm một số đồng chí bị thương. Trung đội trưởng Thịnh (Thượng sĩ, nhập ngũ năm 1963, quê Thạch Đà - Mê Linh - Hà Nội), Tiểu đội trưởng Liên (Trung sĩ đảng viên, quê Hải Hậu - Nam Định) hy sinh tại chỗ, còn y tá Sử thì mãi đến 8 giờ sáng hôm sau mới tìm thấy. Đại đội tăng cường thêm lực lượng để cáng chuyển hai liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang ngã ba Bản Ban. Đây là lần đầu tiên đơn vị bị thương vong lớn như vậy, không khí đau thương, mất mát bao trùm. Tiểu đoàn, Đại đội tổ chức sinh hoạt, động viên tinh thần. Quyết biến đau thương thành hành động, quyết trả thù cho các đồng chí đã hy sinh, anh em lại liên tục bám đường thông tuyến, đánh địch bảo vệ đường và liên tục được cấp trên biểu dương, khen ngợi. Một cái tết cổ truyền nữa, cái tết thứ ba trong đời bô đội của tôi đang đến gần. Để chuẩn bị Tết, chúng tôi đem muối vào bản đổi lấy gạo, thịt lợn, gà cho cái tết ở chiến trường tương đối chu đáo. Trưa 30 Tết, nồi bánh chưng sắp vớt thì được lệnh bàn giao vị trí cho bạn và hành quân đi chiến dịch. Theo đường số 6 ra ngã ba Bản Ban, xuyên thẳng vào Trạm giao liên U2 thì dừng chân, lúc đó khoảng 4 giờ sáng ngày mùng Một. Đang triển khai nghỉ tối thì một loạt bom bi quả dứa rải đúng vị trí đóng quân, bom nổ rền, sát, mọi người chỉ kịp nằm rạp xuống tại chỗ hoặc lăn xuống hầm hố cũ. Từ Trạm giao liên U2, chúng tôi hành quân về dốc Mã Tử, qua bản Son, đi Khang Khay, nơi các đơn vị bộ binh vừa đánh chiếm xong. Và cứ thế, Tiểu đoàn Công binh 45 chúng tôi đi khắp mặt trận phục vụ Sư đoàn cho đến hết Chiến dịch 139. Trên hướng chủ yếu của chiến địch, Tiểu đoàn 45 chúng tôi có một trung đội tăng cường do Đại đội trưởng Tiến chỉ huy. Khi giải phóng Cánh Đồng Chum, ta đã giành chiến thắng nhưng cũng phải trả cái giá quá đắt, gần hết trung đội công binh hy sinh, trong có Đại đội trưởng Tiến và Báu, thằng bạn thân cùng nhập ngũ với tôi (quê Vĩnh Thịnh - Vĩnh Tường). Tháng 4 năm 1970, chúng tôi đi với Trung đoàn 141 tổ chức đánh bom cứ điểm Noọng nhưng không thành. Mùa mưa nên phải rút về hang Chà Là bổ sung quân số hao hụt, củng cố đơn vị và vận chuyển đạn, gạo. Căn hầm chữ U bên ngoài san bằng, có mái lợp ngụy trang kín, hào sâu đi hai bên để phòng tránh và cơ động, tại đây tôi được kết nạp Đảng lớp Hồ Chí Minh đầu tiên, ngày 9 tháng 6 năm 1970. Chi bộ có gần chục đồng chí, trang trí cờ Đảng, ảnh chân dung Bác. Mặc dù ăn ở dã chiến nhưng không khí rất trang nghiêm, xúc động. Đứng trước Đảng kỳ, tôi rưng rưng đọc lời thề sắt son và lời thề ấy đi theo tôi suốt cuộc đời, nâng bước tôi trên những chặng đường hành quân vất vả, những lúc gian nan nguy hiểm ngoài mặt trận. Bây giờ, qua hơn 50 năm nhìn lại, tôi thấy mình đã thực hiện được lời thề ấy. Tháng 8 năm 1970, mùa khô sắp đến. Mùa khô là mùa ra trận, cán bộ trong đơn vị có sự thay đổi, có đồng chí về nước, có đồng chí lên thay. Đơn vị đổi thành Tiểu đoàn Công binh 25 thuộc Bộ Tư lệnh 959, Tiểu đoàn 55 trở về Sư đoàn 320 để đi "B dài", Trung đoàn 5 thành lập tháng 3 năm 1969 đến nay cũng giải thể, lực lượng đưa về Quân khu Tây Bắc. Mùa khô năm 1970, Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi được điều vào sớm chốt giữ bản Tôn, dãy núi Phu Seo, bản Khổng để giữ thế và bảo đảm đường cơ động, vận chuyển. Địch đánh hơi thấy công tác chuẩn bị chiến dịch và cơ động của ta nên chúng tăng cường máy bay trinh sát, ném bom tọa độ vào các trọng điểm và các khu vực nghi ngờ. B-52 đánh phá ác liệt các cửa rừng, nhất là bản Khổng, tuyến cơ động vận chuyển vào bản Na. Bộ Tư lệnh 959 điều Tiểu đoàn 24 cao xạ 37mm vào nằm sát cửa rừng, san hố bom B-52 đưa pháo xuống, ngụy trang kín đáo. Hằng ngày, khoảng 17 giờ là bộ đội ở ven suối, đào hầm ếch dưới lùm cây, cách 3m một hầm, lên trực chiến. 6 - 7 giờ sáng đánh pháo xuống nằm ngay hố bom, vứt cành cây, sơn đất đỏ vào nòng ngụy trang pháo. Đêm, khi máy bay bay thấp trinh sát, ta bất ngờ chỉ cần điểm xạ một vài loạt ngắn là có khi bắn rơi. Cách đánh như vậy khiến địch chùn, hạn chế rất nhiều hoạt động của không quân địch. Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi đi mở đường, thông đường vận tải, gạo, đạn bảo đảm cho Trung đoàn 165 và một số đơn vị đánh bản Na và phát triển sâu vào trong, cùng Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 và một số đơn vị bạn theo hướng bản Phồn, đánh Loong Chẹng, thủ phủ của phỉ Vàng Pao. Tháng 1, tháng 2, các hướng chiến dịch phát triển thuận lợi, đều đánh chiếm được các mục tiêu đề ra và phát triển sâu vào bên trong, khi gặp khó khăn thì tạm thời dừng lại, ta tổ chức chốt giữ các điểm có giá trị chiến thuật, chiến dịch. Mùa mưa đến, theo quy luật, địch lại lấn ra chiếm các mục tiêu có giá trị và các điểm cao. Khoảng trung tuần tháng 6, địch dùng không quân đánh phá ác liệt vào các mục tiêu để dọn bãi. Về phía ta, chuẩn bị lực lượng, đào công sự trận địa, một chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum đã được chuẩn bị. Hai bên giành giật, đánh chiếm từng mục tiêu, điểm cao, căn cứ rất ác liệt. Lợi dụng mùa mưa, địch dùng không quân đánh chặn, cắt phá giao thông từ bên nước ta sang, không cho ta vận chuyển tiếp tế, gây áp lực và khó khăn, nhưng ta vẫn bảo đảm tốt và giữ vững được các mục tiêu đề ra. Đến cuối năm 1971, ta chuẩn bị và phản công giành thắng lợi to lớn ở Mặt trận Cánh Đồng Chum. Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi được phân công phòng ngự dãy núi Phu Seo - bản Tôn, sau đó được lệnh về ngã ba Khang Khay, theo đường mòn vào sâu bên trong dãy núi đóng quân chờ nhiệm vụ. Đến địa điểm mới, đơn vị nhanh chóng bắt tay vào củng cố nơi ăn, chỗ ở, đào hầm kiên cố, có hào cơ động, ngụy trang đi lại thật kín đáo, sẵn sàng chiến đấu cao vì ra khỏi ngã ba Khang Khay là Cánh Đồng Chum, chiến trường chính, nơi mà năm nào cũng diễn ra các trận đánh ác liệt. Một buổi sáng cuối tháng 5 năm 1971, tôi được Chính trị viên Đàm Văn Đễ và Đại đội trưởng Mai Đức Kiện giao nhiệm vụ về nước đi học sĩ quan. Tôi bàn giao công việc văn thư, bảo mật cho đồng chí Ghi và làm công tác chuẩn bị. Mặc dù còn một tháng nữa mới đến thời gian chuyển Đảng chính thức nhưng tôi được "chiếu cố" chuyển Đảng vì là trường hợp đặc biệt. Vậy là sau hơn hai năm trên đất bạn Lào, tôi được về nước, được đi học sĩ quan, niềm vui đến với tôi thật bất ngờ, cũng là niềm vinh dự và là khởi đầu cho cuộc đời gắn bó với con đường binh nghiệp. Hơn hai năm và gần trọn ba mùa mưa làm nhiệm vụ chiến đấu phục vụ chiến đấu trên đất bạn Lào, biết bao gian khổ hy sinh. Riêng đơn vị chúng tôi có hàng trăm đồng đội nằm lại vĩnh viễn không trở về, biết bao người mang trên mình thương tích của chiến tranh và bệnh tật để có được thắng lợi, cũng là để gắn chặt thêm tình đoàn kết keo sơn đã có truyền thống từ lâu giữa hai Đảng, hai quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện câu nói của Bác "giúp bạn là mình tự giúp mình". Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 07:53:39 pm V. TỪ MẶT TRẬN VỀ NƯỚC HỌC SĨ QUAN
6 giờ sáng ngày 1 tháng 6 năm 1971, tôi dậy sớm chuẩn bị và đi chào mọi người. Từ Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng) về đến biên giới cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An) khoảng gần 200km. Đoàn gồm tôi, Trung sĩ Vũ Minh Đạm - Tiểu đội trưởng quê Hải Đường - Hải Hậu - Nam Hà, một chiến sĩ quê Thanh Ba - Vĩnh Phú. Ngoài ba lô có hai khẩu AK, đủ cơ số đạn, lương thực đủ 10 ngày gạo, với thức ăn chủ yếu là muối và mỳ chính. Chúng tôi đi toàn đường mòn, cây rậm, rừng già, qua hai trạm nghỉ đêm không gặp ai, rất khó khăn cho việc dừng lại nấu ăn và nghỉ qua đêm. Chúng tôi phải kiếm củi để nấu cơm, moi móc các vị trí hầm hào, may quá nhặt được cái thùng đựng đạn K56 cũ gỉ, gò lại để nấu cơm, có ba người cho vào thấy gạo quá ít, chúng tôi quyết định nấu cả ngày mai luôn. Thế là nấu thùng không có nắp, tìm được chiếc bao tải gai, xuống suối giặt sạch đậy vào, rồi cũng chín. Ngả mũ, lót lá chia khẩu phần ăn tối, còn bữa sáng và trưa hôm sau thì lấy khăn nắm cho luôn vào túi cơm treo lên đầu võng để tránh chuột. Đêm xuống, ba chúng tôi mắc võng sát và chụm vào nhau, phân công luân phiên gác. Tôi thức gác ba tiếng. Đêm thật dài, xa đơn vị, lạnh và buồn... Sáng sớm chúng tôi lên đường. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp những đơn vị hành quân vào chiến trường. Gần về tới đất nước nên có các trạm giao liên, chúng tôi trình giấy, báo nghỉ tại trạm, thế là đỡ khó khăn về cơm nước và chỗ ngủ. Đêm thứ tám, chúng tôi cách cửa khẩu trên dưới 20km. Chúng tôi hành quân đêm theo đường số 7, đi được 7 - 8km thì gặp các đoàn xe quân sự, chúng tôi vẫy đi nhờ. Ngồi trên xe, có đoạn rất xóc nhưng cũng cảm thấy rất yên tâm, vì qua tám ngày đêm đi bộ, dốc cao, vực sâu, đường mòn đã quá mệt. Về đến cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An), Công an và Bộ đội Biên phòng kiểm tra giấy tờ xe rồi nhanh chóng cho chúng tôi qua cửa khẩu. Sau hơn hai năm xa Tổ quốc, sang chiến đấu giúp bạn, giờ đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc, lòng tôi nao nao xúc động. Xe chở ba chúng tôi về đến Bộ Tư lệnh 959 vào sáng ngày 10 tháng 6 năm 1971. Phía sau Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh toàn núi đá cao, dựng đứng, cây to kín đáo, nhiều hang, suối nước sâu chảy quanh. Chiến tranh như ngưng lại trong một khoảnh khắc thật nên thơ. Ba ngày tiếp sau, tôi nghỉ ngơi và làm thủ tục tại nhà khách. Tôi tranh thủ tìm thăm hậu cứ Tiểu đoàn Công binh 25. Chúng tôi tay bắt mặt mừng sau bao ngày xa cách. Bữa ăn trưa thật ấm áp với măng rừng và cả nhút Thanh Chương. 4 giờ sáng ngày thứ tư, tôi theo xe Phòng Dân vận, địch vận Bộ Tư lệnh về Hà Nội. Chiếc xe chở ba cán bộ địch vận và tôi chạy thật nhanh qua các mục tiêu quân sự, ga Vinh, ga Xi để tránh giờ không quân địch đánh phá. Từ sau Mậu Thân 1968, không quân địch tập trung đánh từ vĩ tuyến 20 trở vào, sang năm 1971 chúng đánh phá ác liệt hơn, nhiều tốp máy bay phản lực bay lượn, ném bom xung quanh và đánh chặn các cầu đường nên chúng tôi phải nhiều lần dừng xe ẩn nấp. Ra đến thị xã Phủ Lý, ngoài phạm vi đánh phá của địch, xe dừng lại vào quán phở. Mua ly cà phê phải mua kèm một bao thuốc lá, chúng tôi đành mỗi người mua một bao nhưng đều phải thuốc mốc hoặc mất mùi. Thời bao cấp, tất cả đều phân phối theo tiêu chuẩn, không có bán tự do, chỉ khi mốc mới bán kèm theo cà phê, phở, bia. Tôi ở lại trạm hậu phương của Bộ Tư lệnh 959 tại Hà Nội một đêm, hôm sau được chỉ dẫn ra bến Mía đi xe về Trường Sĩ quan Công binh. Xuống bến xe Bắc Ninh, đi nhờ xe đạp về trường làm thủ tục nhập học. Tôi được biên chế về Đại đội 1, Trung úy, Chính trị viên cầu ra đón, nhận hồ sờ và xếp nơi ăn nghỉ. Về trường khoảng 10 ngày, hôm ấy tôi đang lao động thì được báo có gia đình lên thăm. Tôi ra cổng đón, mừng quá. Bố tôi và hai em gái Sến, Sửu khệ nệ xách đồ với lồng gà ba con và cả vài cân gạo nếp... Thế là tôi đã xa nhà đi bộ đội, vào chiến trường gần bốn năm. Bố tôi bảo mẹ, các em ờ nhà mong lắm, con cố gắng xin về phép thăm nhà vài ngày, ở thăm ba ngày, đến ngày thứ tư, bố tôi và các em chia tay ra về. Lúc bấy giờ toàn trường đi lao động dã ngoại ở Tân Yên - Hà Bắc một tháng. Công việc nhổ lạc, san, cuốc ruộng, cấy, cày vốn không xa lạ với tôi nhưng thời tiết tháng 7 nắng nóng khiến nhiều đồng chí bị ốm và sốt rét trở lại. Một tháng lao động dã ngoại ở Tân Yên, nắng, mưa gian khổ, thử thách không thua kém ở chiến trường, chỉ khác là không có bom đạn và tiếng súng. Kinh tế đất nước khó khăn chúng tôi phải ăn độn, ăn đói và làm tám giờ mỗi ngày, tối sinh hoạt đến 21 giờ mới được nghỉ. Kết thúc thời gian lao động dã ngoại, đơn vị hành quân về trường, chúng tôi được thông báo đồng chí nào tốt nghiệp lớp 10 ở lại học chính quy ba năm, số còn lại chuyển về Trường Sĩ quan Lục quân đào tạo ngắn hạn. Tôi và một số đông thuộc diện về Trường Sĩ quan Lục quân. Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1971, đoàn xe hơn chục chiếc xuất phát từ thị xã Bắc Ninh theo đường số 1, cầu Đuống, cầu Long Biên qua Hà Nội, cầu Diễn, Đan Phượng Gạch (Phúc Thọ) vào trường. Trời mưa to tầm tã, đến phố Gạch nước ngập mênh mông, xe không đi được đành quay về trường. Chúng tôi được nghỉ vài ngày chờ nước rút, thời gian đó, Nhà trường giải quyết cho số chúng tôi về qua nhà trong bốn ngày. Phấn khởi quá, tôi thanh toán gấp và lên đường ngay. Tôi ra bến xe Bắc Ninh rất sớm, được ưu tiên đi chuyến đầu, xuống bến Nứa, về Vĩnh Tường thì quá trưa. Xuống bến xe, tôi đeo ba lô đi bộ về quê, đi từ phố huyện, qua hai hàng cây bạch đàn, phi lao xanh mướt, vượt cầu Thượng Trưng, rìa làng, giáp cánh đồng giữa hai xã Thượng Trưng và Tuân Chính, bà con xã viên làm đồng buổi chiều rất đông vui. Đang chuyện trò vui vẻ có người ngẩng lên nhìn thấy anh bộ đội đeo ba lô đi bộ, người này hỏi, người kia hỏi, rồi ở những thửa ruộng gần đường mọi người đều đứng nhìn, dõi theo, trêu đùa, cả cánh đồng rộn rã. Về đến đầu làng, nhiều người vẫn chưa nhận ra tôi. Tôi về đến cổng, vào sân thì đã nửa buổi chiều, chỉ có mấy đứa em nhỏ chơi đùa. Ít phút sau, bố mẹ tôi đang làm đồng biết tin chạy vội về, rồi lần lượt anh em họ hàng, làng xóm kéo đến chật nhà, chật sân. Vì làng xóm quê hương lớp lớp thanh niên chúng tôi lên đường đánh Mỹ, giải phóng miền Nam, cho nên bấy giờ làng tôi gia đình nào cũng có chồng, con lên đường đi đánh giặc, ở nhà chỉ còn lại đàn bà, người già và trẻ em. Tôi từ chiến trường về tranh thủ là trường hợp rất hiếm nên ai cũng muốn gần để hỏi chuyện chiến trường, hỏi tin người thân của họ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 07:56:17 pm Đêm về khuya, gia đình tôi mới được ăn cơm. Gần ba năm ở chiến trường, cứ mùa mưa tới là tôi lại bị sốt rét nặng, ít nhất hai tuần không ăn uống gì được, tóc rụng, đi lại trong hầm phải có người dìu, khi khỏi chỉ mong được ăn rau muống luộc với cà muối. Bây giờ đúng là "ước thấy", bữa cơm có thịt gà, lạc rang, cà muối và rau muống luộc, là món ăn ưa thích của tôi. Ăn cơm xong, tôi ra giếng tắm, vẫn chiếc giếng khơi trước cửa nhà, nước trong mát lạnh, cảm giác thật yên bình, đầm ấm.
Hai ngày tiếp theo, anh em, họ hàng, làng xóm, bạn bè kéo đến chơi chật kín, không có thời gian đi đâu được, mãi gần trưa, mẹ tôi rỉ tai cho biết bà ngoại bị ốm mấy tháng nay, bà hay nhắc tên tôi. Tranh thủ lúc vắng khách, tôi, mẹ và thằng Thi - em út sang thăm bà. Nhà bà cách nhà tôi không xa, thấy tiếng tôi nói bên ngoài, bà ngoại ngồi ngay dậy như có phép tiên, tôi đưa tay, bà rướn người, xúc động ôm chầm lấy tôi. Hai tay bà gầy, nhăn nheo đưa lên xoa xoa đầu tôi như thuở nào, giọng bà run run: "Thằng Đỉnh cháu tôi, khi đẻ nó mới được ba ngày thì chạy loạn. Tây nó càn, súng nổ khắp nơi. Ngoài đồng, ngoài đường, đình làng nhiều người bị bắn chết. Tôi và mẹ nó cùng vài người phải giẻ rách, quần áo cũ vào quang gánh đi tản cư ngoài Bích Chu - Thủ Độ. Nó đỏ hỏn, khát sữa, khỏe oe oe. Mới ngày nào... thật nhanh quá... Sau khi nửa nước hòa bình, tưởng là đời cháu tôi không có chiến tranh, loạn lạc, được sung sướng, được học hành, thế mà không ngờ lại chiến tranh. Cháu tôi đã lớn bằng từng này, đi bộ đội được mấy năm lại chiến đấu về, tôi thật sung sướng và hạnh phúc". Rồi bà hỏi thăm cuộc sống của tôi. Bà xoa đầu tôi bảo nhớ giữ gìn sức khỏe, nhớ thường xuyên viết thư thăm bà và gia đình. Khi tôi đi, bà sống được năm tháng nữa, mất ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch). Hai ngày đầu, tôi chủ yếu ở nhà tiếp khách, trừ buổi tối có đến thăm vài nhà anh, em, chủ, bác mỗi nhà một lúc. Sang chiều ngày thứ ba, hai vợ chồng ông bà Tư Giao chống gậy lên thăm, vừa bước vào sân hai ông bà khóc nức nở. Tôi và vài người chạy ra cầm tay dìu ông bà vào nhà ông bà vẫn khóc to và bảo: "Cháu đi may mắn còn được về còn chú đi chú không được về" rồi ông bà ngất xỉu. Tỉnh lại, ông bà cho biết nhiều lần lên thăm tôi nhưng cứ ra đến cổng lại khóc thương con nên không đi được. Dìu hai ông bà vào trong nhà, tất cả khách đều im lặng, không khí thật nặng nề... Quê tôi và cả hậu phương miền Bắc thời đó nhiều nhà có hoàn cảnh con, em đi chiến đấu đã lâu mà không có tin tức, tất cả người ở hậu phương ngày đêm ngóng đợi, chờ mong mỏi mòn... Ai cũng hiểu chiến tranh là có mất mát, hy sinh - riêng tôi từ chiến trường trở về lại càng thấu hiểu điều đó... ông bà Tư Giao có năm người con, bốn gái một trai, ông Thiều Chí Lân sinh năm 1941, lớn lên đi công nhân, năm 1965 chuyển sang bộ đội và hy sinh ngày 28 tháng 9 năm 1967 tại Thăng Bình - Quảng Nam. Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ lấy cớ ném bom bắn phá ra toàn miền Bắc. Ở miền Nam, chúng ào ạt đưa vào 58 vạn quân, liên tục tiến công, càn quét bằng những chiến dịch lớn hòng "đánh gãy xương sống Việt cộng". Theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ, thanh niên cả nước hăng hái lên đường đánh Mỹ. Năm 1970, theo chủ trưởng của trên, số đi chiến đấu lâu, hy sinh được chọn lọc báo tử thí điểm đợt đầu. Họ hàng tôi có chú Thiều Chí Lân hy sinh, chú Thiều Đức Thái chiến đấu bị thương và bị địch bắt, tù đày ở Phú Quốc, được trao trả tù binh tháng 2 năm 1973 tại Lộc Ninh. Cấp trên cho về tranh thủ thăm nhà bốn ngày trôi qua nhanh quá. Tối hôm trước, chưa kịp ăn cơm xong thì mọi người trong làng trên, xóm dưới, anh em, bạn bè đã đến thăm, động viên. Đến khuya khách vãn, tôi và bố mẹ, các em mới kịp sửa soạn ba lô đồ đạc để mai lên đường. Bố mẹ tôi cứ lưu luyến, thao thức mãi không ngủ được, lại dậy tiếp tục trò chuyện và dặn dò thêm nhiều thứ. Biết tới đây tôi học ở Sơn Tây gần nhà nên bố mẹ mua cho tôi chiếc xe đạp để thỉnh thoảng về thăm. Nhà nghèo bán mấy tạ thóc, chạy vạy cũng đủ mua chiếc xe đạp Phượng Hoàng (thế mà cả khóa học một năm ở Trường Sĩ quan Lục quân chỉ cách nhà khoảng hơn 20km mà tôi không lần nào về được vì chương trình học rất gấp gáp). Sáng ngày thứ tư, gia đình làm cơm rất sớm thắp hương gia tiên cầu phù hộ cho tôi may mắn... Trời sáng, làng xóm, anh em lại đến chơi rất đông. Tôi lưu luyến chia tay. Hai cô em gai Sến, Sửu thay nhau đèo tôi bằng hai chiếc xe đạp lên phố huyện bắt xe về đơn vị. Hai ngày hôm sau mưa ngớt, nước rút xe đưa chúng tôi về Trường Sĩ quan Lục quân để học tập. Chúng tôi được về Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, nhanh chóng tiếp nhận trang bị chiến đấu, vì Nhà trường rút kinh nghiệm vụ máy bay trực thăng Mỹ đổ bộ xuống thị xã Sơn Tây giải cứu tù binh phi công tháng 11 năm 1970. Về trường khoảng một tuần, trời vẫn mưa như trút nước, mực nước các sông lên to, chúng tôi được lệnh hành quân đội mưa đi chống lụt ở Phúc Thọ. Trận lụt này không kém trận lụt năm 1945, khi đó ta mới giành được chính quyền, vỡ đê, nạn đói, dịch bệnh... Nước mấp mé mặt đê, đục ngàu chảy xiết, đe dọa đến nhân dân một số huyện của Hà Tây và thành phố Hà Nội nên ta phải cho mở 17 cửa cống để phân lũ. Đơn vị được lệnh tỏa xuống các gia đình vận động nhân dân sơ tán. Chúng tôi chỉ kịp hành quân ra tới đầu làng thì nước đã đến bụng, rồi tràn vào khu vực đóng quân. Nhân dân trong vùng cũng bị thiệt hại lớn về tài sản, nhà cửa, hoa màu. Nước ngập, cấp trên điều đơn vị cùng các trường sĩ quan trong khu vực lên cống Chuốc, Suối Hai. Ban đêm, chúng tôi bì bõm qua thị xã Sơn Tây. Đường số 32 và các trục đường đều bị nước ngập trên đầu gối, có chỗ ngập ngang thắt lưng. Sáng hôm sau, tại điểm tập kết, chúng tôi lên máy bay trực thăng để sang vị trí hàn khẩu. Đơn vị lao động theo ba ca suốt ngày đêm dưới cái nắng chang chang của đồi núi chọc toàn đá sỏi. Xà lan, xe bọc thép cấp 5 xếp đầy đá hàn khẩu lấp chỗ vỡ. Khoảng một tuần, những cố gắng, nỗ lực của chúng tôi đã Thành công. Sau gần hai chục ngày chống bão lụt gian nan vất vả, chúng tôi hành quân về trường, ổn định được vài ngày thì tôi hành quân lên Tiểu đoàn 8 (khu dã ngoại ở Giang Mỗ - Đà Bắc - Hòa Bình) đào tạo ngắn hạn một năm. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:00:42 pm Doanh trại những năm hòa bình dành để đào tạo sĩ quan quân đội cách mạng Lào và quân đội cách mạng Campuchia, sau chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đây thành nơi các tiểu đoàn lần lượt sơ tán đến.
Tiểu đoàn 8 biên chế thành ba đại đội 1, 2, 3, mỗi đại đội có khoảng 90 học viên. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm: Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng tên là Hợp, nhập ngũ năm 1946, quê Thanh Sơn - Vĩnh Phú; Đại úy, Chính trị viên tên là Chi, nhập ngũ năm 1947, quê Hải Dương; Đại úy, Tiểu đoàn phó tên là Hoa, nhập ngũ năm 1949. Tôi được biên chế về Đại đội 1, Đại đội trưởng tên là Nông, cấp bậc Trung úy, quê Thanh Hóa, tính hiền lành, năng lực chỉ huy giỏi, đã qua chiến đấu, rất gần gũi, sâu sát và thương học viên. Chính trị viên là Trung úy Thuận, quê Thanh Lãng - Vĩnh Phú. Đại đội phó tên là Lộc, quê Bắc Ninh, tính hiền lành, vui vẻ, gần gũi học viên. Các anh luôn nhắc nhở, động viên chúng tôi phải cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để sau này trở thành sĩ quan trung, cao cấp, những tướng lĩnh tài giỏi trong quân đội... Và quả thật sau này, một sổ phấn đấu rèn luyện đã trở thành cán bộ cao cấp, tướng lĩnh, trong đó có tôi. Khóa tôi học là khóa 33, học viên đào tạo hầu hết đã qua chiến trường, lập nhiều thành tích xuất sắc nên được chọn lựa về trường học tập. Quá trình đào tạo, nhà trường thường xuyên kiểm tra sức khỏe, lý lịch, bản lĩnh chính trị, tinh thần kỷ luật. Nếu không đủ tiêu chuẩn đào tạo là loại trả về đơn vị. Ngay từ ngày đầu, chúng tôi học tập, rèn luyện rất chính quy, giờ nào việc này. Sáng dậy thể dục, vệ sinh, ăn sáng cứ 15 phút một đầu việc. Đến giờ học tập, vai đeo súng vác học cụ chạy hàng cây số ra thao trường, giảng đường. Trưa về tập hợp vào cổng, đi đều và hát những bài hát theo quy định... Về chiến thuật, kỹ thuật được Nhà trường đào tạo từ thấp đến cao, động tác cá nhân, tổ, tiểu đội, trung đội, một phần chiến thuật đại đội, các loại súng trong biên chế của đại đội bộ binh... Sau khi ra trường, chúng tôi có thể nói thoát ly tài liệu huấn luyện bộ đội rất cơ bản và thành thục. Mỗi tuần, chúng tôi học từ thứ 2 đến thứ 7, có nhiều nội dung phải tự học thêm ngoài giờ để đảm bảo chất lượng. Ngày học, tối học và sinh hoạt, không có tối nào chúng tôi được nghỉ. Các sáng chủ nhật thì một nửa quân số lao động, lấy củi và tăng gia, còn chiều chủ nhật nếu cần thì vẫn phải ôn bài cũ. Tất cả nghị quyết chi bộ, kế hoạch của đại đội, hội đồng quân nhân đều xác định chỉ tiêu phấn đấu học các môn 100% đạt yêu cầu, có 80 - 90% khá và giỏi... Mỗi người có bản quyết tâm dán đầu giường. Chúng tôi ai cũng lo nhất là môn bắn súng, vì mỗi bài phải bắn 3-4 loại súng như CKC, AK, RPD, đại liên..., súng chống tăng các loại cũng vậy. Học đến đâu sát hạch kiểm tra đánh giá kết quả đến đó. Đầu tháng 6 năm 1972, Nhà trường tổ chức hành quân dã ngoại đường dài và huấn luyện chiến thuật trung đội, đại đôi. Cả Tiểu đoàn hành quân theo đường số 6 đi thị xã Hòa Bình về Lương Sơn huấn luyện chiến thuật trung đội tập kích, phục kích, vận động tiến công... và một số hình thức chiến thuật đại đội. Chẳng quản nắng mưa, ngày đêm, thầy và trò đều chuẩn bị cho các nội dung học tập thật kỹ và chu đáo. Tất cả các môn chiến thuật trung đội đều học ở núi cao, rừng rậm, khe sâu của tỉnh Hòa Bình, thầy trò phải đi lên xuống hàng chục lần mới kết thúc một khoa mục. Chúng tôi xác định luyện tập sát với chiến trường nên đói, khát, mệt nhọc đều phải khắc phục. Kết thúc các khoa mục huấn luyện ở địa hình rừng núi, Tiểu đoàn hành quân về Quốc Oai - Hà Tây, địa hình đồng bằng, để huấn luyện một số nội dung và chiến thuật trung đội, đại đội đánh công sự vững chắc. Đầu tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn hành quân về trường tổ chức kiểm tra bắn tổng hợp và lần lượt tất cả các học viên đều được kiểm tra các bài bắn ở trường bắn chính quy. Thời gian còn lại ở trong trường, chúng tôi học tiếp một số bài và sát hạch kiểm tra cuối khóa. Buổi chiều ngày 23 tháng 7 năm 1972, Đại úy, Chính trị viên Tiểu đoàn - đồng chí Chi đang giảng bài cho lớp học thì một sĩ quan đeo quân hàm thượng úy bước vào trao bức điện khân cho Chính trị viên. Đọc xong bức điện, Chính trị viên thông báo: Trời mưa to kéo dài, sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Đuống, hệ thống sông Thái Bình..., nước lên cao, toàn Tiểu đoàn dừng học, nhanh chóng hành quân đi chống bão lụt. Chúng tôi nhanh chóng cơ động về doanh trại, làm mọi công tác chuẩn bị, ăn cơm chiều và hành quân. Từ trường về xã Hạ Bằng - Thạch Thất - Hà Tây chặng đường dài khoảng 10km. Chúng tôi nghỉ lại tại đây và nhận tiêu chuẩn bồi dưỡng. Tiêu chuẩn gồm 1 hộp sữa bột 1kg, 1kg lương khô, 1kg đường, 4 gói pônitamin. 7 giờ 30 phút sáng hôm sau mỗi người chỉ mặc một bộ quần áo trên người, còn lại mang ra sân kho đổi cũ lấy mới. Ở dã ngoại trong nhà dân, chập tối chúng tôi vừa ăn lương khô, uống sữa, vừa thì thào bàn tán đoán già đoán non sẽ đi chiến trường và nhiệm vụ sắp tới (?). Đêm đã khuya mà không ai ngủ được. Sáng ra, toàn Đại đội đeo ba lô, trang bị hành quân ra sân kho hợp tác xã tập trung và lần lượt lên nhận quân tư trang gồm hai bộ quần áo dài vải Tô Châu (Trung Quốc) mới tinh màn tuyn, võng dù, mũ cối Trung Quốc, ba lô, bi đông, túi thuốc sĩ quan, đồ lót... Buổi chiều lĩnh dao găm, súng đạn, cuốc xẻng. Ba ngày đó, đơn vị chấn chỉnh biên chế, tổ chức tiểu đội, trung đội. Tôi được chỉ định làm Trung đội trưởng. Chúng tôi được ăn bồi dưỡng chế độ cao. Sáng ăn một tô phở to quá cỡ, nhiều thịt bò, gà. Trưa, chiều ăn như ăn cỗ (chỉ không có rượu). Tối về lại có đường, sữa bột, trứng... Từ khi vào bộ đội tới bấy giờ, tôi chưa bao giờ được ăn uống sung túc như thế. Chiều ngày 26 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn tập trung ở sân kho, trời nắng tháng 7 oi bức, mồ hôi nhễ nhại nhưng đơn vị im phăng phắc. Chính trị viên Chi dõng dạc đọc quyết định phong quân hàm của Bộ Quốc phòng. 242 người tốt nghiệp khóa 33 đều được phong quân hàm chuẩn úy (còn 28 đồng chí không có tên nên trả về đơn vị). Tối hôm đó, chúng tôi tự gắn và đeo quân hàm lên ve áo, người nọ ngắm, sửa cho người kia, vui mừng khó tả. Năm 1972, thời tiết có nhiều thuận lợi, mùa mưa đến muộn, mưa ít, cấp trên đã tổ chức đánh lớn trên ba hướng chiến lược: - Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh (Tây Nguyên). - Chiến dịch thung lũng Qué Sơn (Quảng Nam). - Chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Đáp ứng đòi hỏi về lực lượng của chiến trường, Trường Sĩ quan Lục quân cấp tốc bổ sung đi chiến trường ba tiểu đoàn. Cuối tháng 7 năm 1972, nằm trong bối cảnh chung đó, Tiểu đoàn chúng tôi vào chiến trường Quảng Trị... Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:02:38 pm VI. CHIẾN ĐẤU Ở CHIẾN TRƯỜNG B5 (QUẢNG TRỊ)
Ngày cuối cùng ở Hạ Bằng - Thạch Thất - Hà Tây, chúng tôi lưu luyến, bịn rịn bên nhau. Biết bao kỷ niệm sau một năm cùng nhau học tập, rèn luyện. Chúng tôi chụp ảnh, ghi địa chỉ để viết thư cho nhau, hoặc có điều kiện sẽ về thăm nhà nhau... Cùng đại đội với tôi có Cường, nhà ở thôn Phù Chính, có bố làm ở Bộ Lương thực ở Hà Nội, suốt một năm học ông chưa có dịp lên thăm con. Thời gian đi gấp quá, ra bưu điện chỉ kịp báo ngày đi, hai anh em gửi một số đồ đạc lại nhà chủ. Hai ngày sau bố Cường mới lên, được chủ nhà nói lại, ông sững sờ cảm ơn gia chủ và mang đồ của hai anh em chúng tôi về Hà Nội (Kết thúc chiến tranh, năm 1975, Cường được ra Bắc an dưỡng và được điều động về Tỉnh đội Vĩnh Phú tiếp tục công tác mấy năm nữa thì nghỉ hưu). 4 giờ sáng ngày 27 tháng 7 năm 1972, toàn đơn vị báo thức, ra tập trung sau đoàn xe quân sự đã phủ bạt và ngụy trang kín. Sau khi kiểm tra quân số, trang bị, Chính trị viên Tiểu đoàn nhắc: Để bảo đảm bí mật hành quân, tất cả tháo quân hàm cho vào ba lô. Ngoài tôi là Trung đội trưởng thì Trung đội có 21 sĩ quan, biên chế thành ba tiểu đội. Trang bị chiến đấu cứ hai xẻng một cuốc, ba người được phát một khẩu AK và 100 viên đạn, cùng dao tông, đèn pin cá nhân, dao găm... Thứ tự hành quân theo đội hình hàng dọc, xe cách xe 50 - 100m. Đại đội 1 đi đầu theo đường số 21 - đường số 6 đi Lương Sơn - Hòa Bình - dốc Cun; đường số 15 đi Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghĩa Đàn - Nam Đàn - Hà Tĩnh - Quảng Bình (Bãi Hà), là nơi tập kết giao quân. Khoảng 8 - 9 giờ ngày 27 tháng 7, đoàn xe gần 20 chiếc hành quân qua thị xã Hòa Bình. Nhiều tốp máy bay địch rượt theo uy hiếp nhưng đoàn xe vẫn giữ tốc độ, nối đuôi nhau tiếp tục hành quân. Gần trưa đến dốc Cun, đèo quanh co, khúc khuỷu, dốc cao, lại vài đợt máy bay sà xuống thấp bắn chặn, nhưng đoàn xe vẫn an toàn. Hành quân một ngày trời căng thẳng, đến khuya, đoàn xe của đơn vị mới đến gần chân dốc Bò Lăn thuộc Thanh Hóa. Địch đánh chặn, tắc đường mất ba ngày ba đêm. Xe, pháo đủ các loại ùn tắc kéo dài vài cây số, máy bay địch tập trung đánh phá suốt ngày đêm, ban đêm pháo sáng không lúc nào ngớt. Đoàn chúng tôi toàn cán bộ vừa tốt nghiệp, ai cũng sốt ruột mau chóng được ra mặt trận... Đường thông, đoàn xe tiếp tục lăn bánh, đơn vị dừng chân ở trạm giao liên Nghĩa Đàn - Nam Đàn (Nghệ An) - quê Bác. Nhân dân ở đây rất nghèo, nhà nhỏ, thấp, chật nhưng tinh thần cách mạng rất cao. Họ dành nhà cho bộ đội nghỉ ngơi. Cả tuyến dọc theo các tỉnh miền Trung, nhà nào cũng có bộ đội ở, cứ tối hành quân đi, đêm hoặc gần sáng lại có đơn vị khác đến. Dừng chân hai đêm ở quê Bác rồi đơn vị vượt sông La bằng phà và ca nô sang Đức Thọ - Hà Tĩnh, đến đêm di chuyển bằng ca nô vào Nông trường cam Lệ Ninh - Quảng Bình. Ngồi ca nô đi dưới sông mà trên bờ B-52 của địch rải thảm liên tục, những vệt lửa kéo đài, nổ đinh tai nhức óc, mảnh đạn, đất, đá văng cả xuống sông, bay vèo vèo qua đầu và lõm bõm xuống dòng sông... Trước lúc trời sáng, chúng tôi được dân quân dẫn vào từng nhà ở khu vực nông trường, mỗi nhà ở được nửa tiểu đội, cách nhau khá xa. Người dân và công nhân ở đây rất tốt và tình cảm với bộ đội, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, dặn dò cẩn thận. Gọi là nông trường cam nhưng bộ đội có mua cũng không ai lấy tiền mà cứ mời ăn thoải mái. Mua con gà "ăn tươi" để chuẩn bị vào chiến trường, dân chỉ lấy tiền một nửa... Không phải chỉ đơn vị chúng tôi mà đơn vị đi trước cũng được nhân dân đối xử như vậy, vì họ coi bộ đội như con em của mình. Cả ngày ở Nông trường cam Lệ Ninh, không khí của chiến tranh vùng giáp giới tuyến khá căng thẳng. Máy bay địch liên tục gầm rú trên trời, ném bom, đánh chặn, trinh sát chỉ điểm... Pháo cao xạ của ta không bố trí thành trận địa đại đội hoặc tiểu đoàn mà bố trí từng khẩu, từng trung đội dưới các bụi cây ngoài cánh đồng, đầu làng..., có thời cơ là đánh trả để bảo vệ đội hình hành quân, đường giao liên và kho trạm. Tất cả nhân dân, bộ đội đều hoạt động và sống trong hầm, hào dưới mặt đất. Trời vừa chạng vạng tối, đoàn xe quân sự được giấu kín và ngụy trang xung quanh nông trường lại xếp hàng dọc, tiếp tục lên đường, nhằm hướng tây về Cự Nam. Gần sáng tới trạm, xe dừng lại, tất cả nhanh chóng xuống xe rất trật tự. Trong bóng tôi, tôi nghe tiếng con gái gọi: "Trung đội đồng chí Thiều Chí Đinh ở đâu?", tôi đáp lại: "Có!". Quay lại thấy ba o du kích đội mũ tai bèo, khoác AK nhanh nhẹn tiến lại, một cô nói ngắn gọn: "Tất cả theo tôi!". Tôi chỉ huy Trung đội đi theo ba o dân quân xuống mép sông, mỗi tiểu đội theo một o lên thuyền gỗ, rồi chỉ nghe tiếng mái chèo quạt nước đẩy thuyền sang bờ sông bên kia... Tới nơi, tám người chia làm hai hầm, hạn chế đi lại trên mặt đất để bảo đảm bí mật. Cơm nước đã có giao liên báo gia đình nấu. Khoảng hơn 7 giờ sáng, nghe tiếng gọi ngoài cửa hầm, tôi bật dậy, khom người ra cửa hầm, thấy một bác trạc ngoài 50 tuổi, người nhỏ, gầy, đứng trên cửa hầm hỏi: "Chú có phải là cán bộ không?". Tôi đáp: "Phải!". Bác bảo: "ở trạm ni đơn vị nào đến đây cũng vậy! Trạm phát đường, sữa, bột, trứng, thuốc... để bồi dưỡng trước khi vào chiến trường. Giờ này trạm giao liên họ cấp rồi đó! Chú đi mà lĩnh kẻo muộn". Tôi cùng ba đồng chí ra trạm lĩnh về cấp cho anh em. Tám anh em chúng tôi ở trong hai gia đình, hai hầm cách nhau vài chục mét dưới những tán cây xanh che khuất, ngụy trang kín. Gia đình chủ nhà có năm người, hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ, nhà nghèo, làm ruộng nương nhưng rất tốt với bộ đội. Họ nấu cho chúng tôi ngày ba bữa, sáng ăn sắn luộc, trưa, chiều ăn cơm, có cá sông, canh rau sắn nấu chua rất ngon, hợp với cánh lính trẻ. Buổi tối trước khi chúng tôi lên đường, chị chủ nhà không quên gói cho mỗi người một đùm khoai thơm, bở, ăn mà nhớ mãi. Sẩm tối, tất cả đã tập trung đông đủ tại sân nhà. Chúng tôi chào anh chị chủ nhà, lưu luyến chia tay rồi đeo ba lô, súng đạn lên vai ra bến sông. Đò chở sang sông, tất cả tập hợp kiểm tra quân số và trang bị rồi nhanh chóng lên xe. Xe tiếp tục hành quân vào đến Bãi Hà - khu vực tập của toàn Mặt trận B5, chặng cuối cùng để phân bổ, điều động đi các đơn vị chiến đấu. Trạm tập kết Bãi Hà xung quanh là núi cao, rừng nguyên sinh, mọi hoạt động ở mặt đất được giữ kín, canh gác rất cẩn mật nên suốt cả một thời gian dài không bị địch đánh phá. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:04:33 pm Sáng hôm sau, khoảng 7 giờ, Chính trị viên Thuận mang giấy tờ, hồ sơ và quyết định giao cho 10 anh em chúng tôi - bộ phận đi đầu của Tiểu đoàn 8 được Chính ủy Mặt trận - Trung tướng Song Hào - ký điều về Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 gồm: Đỉnh, Phi, Ánh, Lanh, Mạn, Quỳnh, Tạo, Ba, Thăng Lục. Số còn lại có mặt ở trạm là được điều động đi ngay, vì lúc đó yêu cầu của mặt trận rất cần cán bộ... Chia tay Thủ trưởng Tiểu đoàn, Đại đội 1 Trường Sĩ quan Lục quân đầy lưu luyến xúc động. Các Thủ trưởng đều chúc chúng tôi mạnh khỏe hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hẹn gặp lại nhau ngày chiến thắng... Tay nắm chặt tay, ôm nhau ai cũng không kìm nổi những giọt nước mắt.
Tôi được giao chỉ huy 13 sĩ quan, gồm 10 đồng chí sĩ quan Lục quân, ba đồng chí bác sĩ tốt nghiệp Đại học Quân y về Sư đoàn 325. Không có người dẫn đường, chúng tôi cứ đi theo lối mòn từ Bãi Hà về suối La La lịch sử. Đến đây, chúng tôi mắc võng hai bên bờ suối nằm nghỉ, chờ người đến đón. Trong ba lô mỗi người chỉ còn hai ngày gạo với muối trắng. Tôi phân công người hái rau, người cạy đá bắt cua (cua suối rất nhiều và béo), kiếm mũ sắt, sẵn dao găm đẽo chày giã cua. Hai ngày nằm chờ trôi qua, các đơn vị hành quân ra vào tấp nập. Từng đoàn thương binh hành quân ra, có đến hàng trăm thương binh băng đầu, tay, chống gậy tự đi mà chỉ có ba, bốn nữ y tá, y sĩ đi cùng. Các thương binh hầu hết chiến đấu trong Thành cổ, cuộc chiến đấu ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị diễn ra ngày càng gay go, ác liệt... Khoảng 8 giờ sáng ngày thứ ba, có hai người, một đeo xà cột, súng ngắn K54, một đeo AK, vừa đi vừa hỏi đoàn 13 người về Sư đoàn 325. Biết người đơn vị ra đón, chúng tôi mừng quá. Đó là Thiếu úy Đăng - Trợ lý Cán bộ Trung đoàn 18. Tất cả nhanh chóng gấp tăng, võng, ba lô để hành quân. Chúng tôi vượt qua sông Cam Lộ, đến khu C Sở Chỉ huy Sư đoàn gặp đồng chí Minh - Phó ban Cán bộ, bàn giao người về Trung đoàn 18, còn hai bác sĩ ở lại để điều đi các đơn vị trong Sư đoàn. Sáng hôm sau, chúng tôi hành quân theo đường số 9 qua thị trấn Cam Lộ về Đông Hà, giữa ban ngày trời quang, nắng chang chang, máy bay trinh sát của địch quần lượn, bắn pháo khói để chỉ điểm các mục tiêu đánh phá, máy bay bổ nhào, ném bom các mục tiêu, nhất là các nơi nghi trận địa pháo cao xạ của ta đóng quân. B-52 cứ 30 phút một loạt, liên tục kéo dài, pháo hạm, pháo tăng tốc bắn liên tục dọc đường số 9 về Khe Sanh... Một trung đoàn tân binh Hải Phòng hành quân vào bổ sung cho các đơn vị, trúng bom B-52 bị tổn thất khá nặng. 12 giờ trưa ngày 10 tháng 8 năm 1972, đoàn 11 người chúng tôi đi theo hướng dẫn của đồng chí Đăng về đến Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 ở trung tâm thị xã Đông Hà. Sư đoàn 325 là sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Sau khi giải phóng Quảng Trị, Bộ mới điều vào. Sư đoàn cỏ ba trung đoàn bộ binh: 101, 95, 18 và các đơn vị trực thuộc Chỉ huy Sư đoàn có Thượng tá Lê Kích - Sư đoàn trưởng Thượng tá Nguyễn Công Trang - Chính ủy. Giai đoạn đầu (tháng 6 năm 1972), Trung đoàn Bộ binh 18 tăng cường cho Sư đoàn 320B chiến đấu phía cánh Đông, Trung đoàn Bộ binh 101 chiến đấu ở Cửa Việt, Trung đoàn Bộ binh 95 phòng ngự bảo vệ Thành cổ và Sở Chỉ huy Sư đoàn ở Cam Lộ. Sở Chỉ huy Trung đoàn có hầm làm việc ở giữa, hai đầu là hai hầm chữ A, bên trái là hầm của Trung đoàn trưởng, bên phải là hầm của Chính ủy. Hầm làm việc cũng có tấm ván kê làm bàn, xung quanh kê những thanh gỗ làm ghế ngồi. Trong hầm là Thiếu tá Huỳnh Lang - Trung đoàn trưởng, quê Bình Định; Thiếu tá Ngô Khắc Dũng - Chính ủy, quê Hà Bắc. Hai anh là cán bộ từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, học hành cơ bản, có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, đặc biệt là kinh nghiệm cầm quân. Các anh ngồi vào ghế, mở xà cột lấy sổ, kính, bút ra bắt đầu làm việc. Chính ủy Ngô Khắc Dũng chủ trì, giới thiệu sơ lược truyền thống Trung đoàn, Sư đoàn và tình hình Trung đoàn hiện nay ở Mặt trận Quảng Trị. Rồi ông dừng lại, lướt qua một lượt hỏi tên, sau đó trao quyết định cho từng người. Tôi được trao quyết định làm Trung đội trưởng Trung đội 3; Lê Ngọc Ánh làm Trung đội trưởng Trung đội 2 Đại đội 7 Tiểu đoàn 8; Tạo, Lanh về Đại đội 5, Phi về Đại đội 6, bác sĩ Trình về Đại đội 24 quân y, số còn lại về Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 9. Trao quyết định xong, hai Thủ trưởng bắt tay chúc chúng tôi lên đường về đơn vị an toàn, mạnh khỏe, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ... Giữa trưa trời nắng như đổ lửa, nhà cửa, cây cối đổ gãy ngổn ngang, không còn ngôi nhà nào nguyên vẹn. Tất cả thành một đống đổ nát. Trên không, máy bay địch trinh sát, ném bom, quần lượn nhưng không có một quả bom nào đánh vào thị xã Đông Hà thời điểm đó, và sau này cũng rất ít vì ta ở thế bất ngờ, kín đáo mà chúng không thể ngờ tới. Ra đến cửa hầm chỉ huy Trung đoàn đã thấy hai trinh sát Tiểu đoàn chờ sẵn, hỏi tên và đưa chúng tôi về Tiểu đoàn 8 đóng quân trong làng gần đó. Về đến nơi, Thượng úy Vinh - Tiểu đoàn trưởng, Thượng úy Nghĩa - Chính trị viên ra tiếp chúng tôi, thăm hỏi và giao nhiệm vụ cho từng người. Một đồng chí liên lạc đưa tôi về Đại đội, qua cánh đồng làng Chung Chỉ, cách thị xã Đông Hà khoảng hơn 2km. Trung đoàn 18 được Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 điều vào Quảng Trị tháng 5 năm 1972, tăng cường cho Sư đoàn 320B đảm nhiệm Mặt trận cánh Đông từ Cửa Việt theo đường số 8 dọc ven biển vào đến sông Mỹ Chánh. Các đơn vị chân ướt chân ráo vừa hành quân vào, toàn tân binh chưa có kinh nghiệm, phải đối đầu với hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến của địch, dưới sự yểm trợ hỏa lực của Hạm đội 7, không quân Mỹ. Chúng đổ bộ lên bãi biển Long Quang - Hải Lăng, phía trước thì B-52 ném bom, pháo giàn từ hạm đội dọn bãi, san phẳng... Sau đó xe tăng, bộ binh đổ bộ lên tiến công. Trận đầu đụng độ, Tiểu đoàn 8 thương vong hơn 100 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có Tiểu đoàn phó. Những trận tiếp theo diễn ra tương tự, các tiểu đoàn 7, 9 cũng tổn thất nhiều, toàn bộ Trung đoàn phải rút ra củng cố. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:05:20 pm Tôi về Đại đội 7, quân số có 15 đồng chí, Đại đội trưởng là Thiếu úy Tiến, Chính trị viên là Thượng sĩ Hoằng đều quê Thanh Hóa. Đại đội phó là Trung sĩ Trọng, quê Thái Bình. Theo quyết định của Trung đoàn, tôi giữ chức Trung đội trưởng Trung đội 3, gặp Ban Chỉ huy Đại đội năm sơ qua tình hình Đại đội và Trung đội, tôi cũng hiểu phần nào những khó khăn, gian khổ của đơn vị.
Chiến sĩ liên lạc tên Trạch (quê Phúc Yên) dẫn tôi về Trung đội 3. Đi theo đoạn hào, qua khu nhà sập, nghe "soạt" một cái, Trạch rất nhanh, quay người và súng lại, mở khóa an toàn giơ AK lên định bắn. Quan sát thấy con mèo, tôi giơ tay ra hiệu không được bắn. Chúng tôi tiếp tục đi qua một bãi trồng có mương nước chảy qua, cạnh đó là một cái nền nhà cao, khung xiêu vẹo, bên dưới có chiếc hầm... Nơi đây gần Thành cổ, pháo bắn nhiều, đạn réo rít qua đầu liên tục... Cuối đoạn hào, Trạch chỉ cho tôi vị trí hầm. Tôi gật đầu và đeo ba lô chạy vọt qua. Hạ ba lô xuống miệng hầm, tôi thả người xuống hai bậc và cất tiếng gọi xem có ai ở dưới không. Không thấy ai, tôi cúi người chui vào, rồi có tiếng sột soạt trong hầm, tôi nhìn thấy lờ mờ cái bóng qua ánh sáng ngách cửa hầm, giọng nói lơ lớ, giống tiếng dân tộc, hỏi: "Ai đấy, đồng chí mới đến à, tân binh à...". Tôi ngồi xuống nền hầm trải lá cây, rải chiếc chiếu nhựa và hỏi chuyện. Đó là chiến sĩ tên Quế, quê Cao Bằng, nhập ngũ năm 1971, bị thương ở Mặt trận cánh Đông, vừa ra viện về. Trung đội chỉ có hai người. Tôi hơi ngạc nhiên, vì lúc ở Đại đội, không ai nói quân số của từng trung đội. Tôi hỏi, thế quân số đi đâu hết? Quê trả lời: "Mình đi viện về, chỉ có mình và đồng chí Huề - Trung đội phó". Lúc này tôi mới hiểu ra, Trung đoàn vào tham chiến được ba tháng, sau những trận đánh đã bị tổn thất khá nặng nề. Đây là thời gian rút ra để củng cố và bổ sung quân số. Một lát sau, Trung đội phó về. Tôi phân công công việc của từng người với nhiệm vụ chốt giữ làng, bảo vệ sân bay và các điểm cao căn cứ Ái Tử đề phòng địch đổ bộ đường không. Đến chiều, Đại đội cho liên lạc mang trang bị đến cho tôi, gồm một khẩu AK và 300 viên đạn, bốn quả lựu đạn. Hai hôm sau, toàn Trung đoàn được bổ sung tân binh Đoàn 22 Quân khu 4 mới hành quân ngoài Bắc vào... Trung đội tôi và các trung đội khác đều được bổ sung tân binh, biên chế thành ba tiểu đội, mỗi tiểu đội ba người, cả trung đội trưởng, trung đội phó là 11 đồng chí. Tiểu đội chỉ có ba người nhưng vẫn được trang bị một khẩu B40, một khẩu trung liên, một khẩu AK. Tiểu đoàn 8 được giao nhiệm vụ phòng ngự chốt giữ toàn bộ căn cứ Ái Tử và sân bay. Đại đội 7 được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 20 - 29 và các mỏm đồi cao còn lại. Ngoài huấn luyện kỹ, chiến thuật, huấn luyện phương án tác chiến ngoài thực địa, còn huấn luyện cho bộ đội cách sử dụng các loại súng có trong biên chế và vũ khí lấy được của địch như: AR15, M79, M72, súng chống tăng của Mỹ. Trung đội tôi chốt giữ điểm cao 20 đầu sân bay, xác định hầm hào công sự là chiếc áo giáp để giữ chốt nên chúng tôi ngày đêm tích cực đào hầm hào, làm đến đâu ngụy trang đến đó. Vì vậy, bom pháo ác liệt mà chúng tôi không có ai thương vong. Đầu tháng 9 năm 1972, Đại đội 7 đang chốt giữ khu vực Ái Tử, đột nhiên có lệnh hành quân gấp về phòng ngự Đông Hà, chúng tôi nhanh chóng thu quân và vượt sông Lai Phước. Vì cầu đã bị đánh sập, chúng tôi phải bơi sang Trung sĩ Phan Văn Phường - Trung đội phó, người to béo không biết bơi; phải dùng phao thổi phồng, buộc dây, hai người kéo trước, hái người đẩy sau mới sang được bờ bắc. Tôi đảm nhiệm hai chuyến, bơi qua rất mừng thấy Trung đội phó vượt được sông. Tôi đeo khẩu trung liên RPD với 100 viên đạn, bơi quá nửa sông thì mệt, nhưng quyết không để mất vũ khí, thế là cả người và súng đều chìm xuống sông. Đêm tối, lờ mờ qua ánh đèn pháo sáng anh em phát hiện nhao tới, túm tóc kéo lên. Rất may lúc chìm xuống sông, chân tôi chạm đất, còn sức tôi đẩy mạnh khẩu trung liên lên phía trước, buông tay ra lấy đà đạp mạnh, nhô lên thở, nhưng cũng uống vài ngụm nước sông vào bụng. Anh em kéo lên bờ, tôi còn kịp chỉ tay để anh em mò lấy được súng. Chẳng hiểu do nhầm lẫn thế nào mà khi đã vượt sông rồi chúng tôi lại nhận được lệnh trở về chỗ cũ ở làng Chung Chỉ, tiếp tục chốt giữ điểm cao 20 - 29 căn cứ Ai Tử. Sự nhầm lẫn ấy hóa ra lại là điều may mắn cho chúng tôi. Chiều hôm trước chúng tôi vừa đi khỏi vài cây số thì toàn bộ trận địa phòng ngự của Trung đội 3 bị bom B-52 đánh trúng. Khi chúng tôi quay về mới biết tất cả các hầm đều bị đánh sập. Nếu có mặt ở đó thì có lẽ trung đội tôi không còn ai... Riêng hầm tôi trúng hai quả bom. Bên kia sông Thạch Hãn là Thành cổ Quảng Trị. Các lực lượng giữ thành có Trung đoàn 95, Trung đoàn 18, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B và một số lực lượng quân, binh chủng của Bộ, chiến đấu quả cảm, kiên cường, giữ từng tấc đất kiên quyết giữ thành, giữ Quảng Trị. Ba mặt thành địch chiếm giữ và liên tục tiến công, chỉ còn bờ nam sông và phía bắc thành ta giữ được. Bến sông là nơi ta đưa quân và tiếp tế đạn gạo, chuyên chở thương binh ra, địch cũng dùng bom, pháo khống chế đánh chặn. Quân số thương vong mỗi ngày một cao, khoảng một đại đội mỗi ngày đêm... Nước sông lên to việc tiếp tế sang thành là rất khó khăn. Ngày 14 tháng 9, địch tiến công lớn, có hỏa lực không quân, pháo binh, xe tăng chi viện, đã chiếm được phần lớn các mục tiêu trong thành. Một số chốt, cụm chốt, các ổ đề kháng, hầm ngầm, quân ta vẫn giữ được và kiên cường chiến đấu chống trả. Đến ngày 16 tháng 9, địch mới hoàn toàn chiếm được thành. Những ngày đó bầu trời, mặt đất Quảng Trị, đặc biệt là khu vực Thành cổ và lân cận rung lên, rạn nứt vì bom đạn, ban đêm pháo sáng sáng rực như ban ngày. Suốt thời gian đó, mọi hoạt động trên mặt đất đều phải vô cùng kín đáo. Trong ngày 14 tháng 9 đó, buổi sáng cấp trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 bàn giao trận địa phòng ngự khu vực Ái Tử và sân bay, chuẩn bị sang giữ Thành cổ. Tất cả khẩn trương chuẩn bị tư trang cá nhân và trang bị chiến đấu gọn nhẹ. Cán bộ từ trung đội trở lên mỗi người kiếm một chiếc túi, chủ yếu là túi mìn clâymo, trong đựng tăng, võng, quần áo lót, khăn mặt, đèn pin và một số tư trang gọn nhẹ. Trang bị chiến đấu gồm khẩu AK với 300 viên đạn, bốn quả lựu đạn, dao găm, bốn cuộn băng, hỏa lực cối, B40, B41... Tất cả sẵn sàng bổ sung vào chiến đấu cùng các đơn vị bạn giữ thành. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:07:05 pm Đến 16 giờ, cả Tiểu đoàn nhận lệnh hành quân vào các trận địa, các chốt. Chúng tôi nằm ém quân dọc theo đường sắt từ sân bay Ái Tử vào đầu làng Nhan Biều đợi lệnh.
Chiều tối được lệnh xuất quân, chúng tôi vừa đi vừa chạy tắt qua làng Nhan Biều 2 ra bến vượt. Bên khu vực Thành cổ và xung quanh, các loại súng nổ ran... Bom pháo đánh chặn dọc theo các làng Nhan Biều 1, 2, khu vực thành, bến sông, pháo sáng như ban ngày... Đến Nhan Biều 2, chúng tôi tạm dừng lại chặt chuối đóng thành bè. Ba lô, trang bị và toàn bộ quần áo dài bỏ lên bè, cứ ba người một bè, mỗi người một góc khiêng bè chạy ra bến vượt sông Thạch Hãn. Đại đội 7 đi đầu. Được một phần ba quân số vượt sông thì địch phát hiện. Chúng vãi đạn như mưa xuống sông tạo thành những cột nước cao vài mét, bắn tung tóe. Nhiều người hy sinh và bị thương. Có lệnh yêu cầu tất cả quay lại. Chúng tôi bơi ngược trở lại. Trời sáng dần, toàn Tiểu đoàn thức trắng, chạy ra, chạy vào, không sang được thành nên phải rút lui. Để bảo đảm an toàn, chờ lệnh tiếp theo, Tiểu đoàn quyết định không về chốt căn cứ Ái Tử và các điểm cao mà tìm chỗ trú quân dọc theo đường sắt, các bụi cây, sim, mua, ngụy trang kín, ít đi lại. Hôm ấy là một ngày nắng gay gắt, các khu đồi trọc cây cối lơ thơ, không thấy bóng dáng các loài động vật, côn trùng... Nhưng thật không ngờ, lại có một tiểu đoàn Quân giải phóng với đầy đủ trang bị, bí mật nằm giấu mình sẵn sàng đợi lệnh. Sẩm tối, đợi lúc máy bay trinh sát địch ít hoạt động, Tiểu đoàn lần lượt thu quân. Toàn Tiểu đoàn có Đại đội 6 hy sinh hai đồng chí, gần chục người khác bị thương. Đêm 15 tháng 9, cấp trên có lệnh vượt sông vào thành, với hỏa lực trên chi viện và hỏa lực của Tiểu đoàn. Chúng tôi nhanh chóng vượt qua đường số 1, men theo đường mòn, ba người khiêng một bè nhanh chóng ra bến sông. Một loạt hỏa lực bắn chặn, tất cả nằm rạp dưới hố bom, khói bụi mịt mù, không sao tiến lên được. Tôi quan sát đội hình bị gián đoạn đứt quãng, có bộ phận đã lui về phía sau. Có lệnh rút quân, Đại đội chúng tôi lại về chốt giữ điểm cao 20 - 29 như ban đầu. Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị là một trong những chiến dịch lớn của Quân đội ta. Khi tham gia tiến công giải phóng Quảng Trị, ta sử dụng ba sư đoàn bộ binh gồm: Sư đoàn 304 tiến công Ba Hồ - Động Toàn ở miền tây Quảng Trị; Sư đoàn 308 tiến công Cam Lộ - Đông Hà, căn cứ Ái Tử - Quảng Trị; Sư đoàn 320 tiến công Cửa Việt - Triệu Phong, hướng đông Quảng Trị. Ngoài ra còn có các lực lượng pháo binh, không quân, tên lửa, xe tăng của Bộ cùng tham gia. Đến ngày 22 tháng 6, địch mở cuộc tiến công hòng giành lại Quảng Trị. Chúng huy động hai sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn dù, lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn. Dưới sự chi viện tối đa hỏa lực không quân và pháo binh Hạm đội 7, chúng quyết tâm tái chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, hất "Cộng sản Bắc Việt" về bắc sông Bến Hải. Về phía ta, chủ trương của trên là quyết tâm giữ vững trận địa. Từ chủ trương trên, ta tập trung mọi nỗ lực, cố gắng để giữ bằng được Quảng Trị. Các sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ được điều động về, gồm: Sư đoàn 312 đang tác chiến ở Cánh Đồng Chum điều về phòng ngự phía tây thị xã (ngầm Phương Thúy) với các điểm cao 15, 52 59; Sư đoàn 320B phòng ngự cánh đồng Triệu Phong, Bích La Đông, Cửa Việt; Sư đoàn 308 phòng ngự phía tây thành, động Tích Tường, Như Lệ; Sư đoàn 304 phòng ngự động Ông Do, điểm cao 307; Sư đoàn 324 phòng ngự phía tây nam Quảng Trị, sông Mỹ Chánh, sông Ô Lâu và tây Thừa Thiên - Huế. Sư đoàn 325 gồm ba trong đoàn bộ binh: Trung đoàn 101 phòng ngự Cửa Việt, Bích La Đông đến chợ Sải; Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 18 phòng ngự chốt giữ Thành cổ cùng Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320; Trung đoàn 18 phòng ngự toàn bộ căn cứ Ái Tử, sân bay và bắc sông Thạch Hãn từ An Đôn, cầu Quảng Trị, bến vượt Xuân An về điểm cao 20, điểm cao 29, cầu Lai Phước. Toàn bộ các đơn vị tham gia chiến dịch phòng ngự gồm có sáu sư đoàn bộ binh cùng nhiều trung, lữ đoàn tên lửa, pháo phòng không, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, đặc công của Bộ mà đến lúc gay go quyết liệt nhất, chúng ta vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu. Sau này, để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài ta buộc phải rút quân sang bờ bắc. Cho đến ngày ký Hiệp định Pari - ngày 27 tháng 1 năm 1973, ta vẫn giữ được vùng giải phóng Quảng Trị rộng lớn, có đồng bằng, cảng, thị xã Đông Hà, có cả vùng rừng núi... Điều này có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán Hội nghị Pari, cũng là cơ sở thuận lợi để ta chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975. Sau khi rút khỏi Thành cổ, Tiểu đoàn 7 vượt sông sang bờ bắc chốt giữ ngăn chặn. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 8 đi trinh sát và chuẩn bị thay cho Tiểu đoàn 7 rút về phòng ngự phía sau để củng cố. Ngày 24 tháng 9, Tiểu đoàn 8 hành quân vào thay nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 rút ra. Đại đội 7 đi theo đường sắt về đầu cầu nhà sắt Trung đội 2 do Lê Ngọc Ánh chỉ huy. Chỉ huy Đại đội, Trung đội 1, hỏa lực Đại đội tăng cường theo đường sắt qua Nhan Biều 2 về trận địa phòng ngự làng Nhan Biều 1. Trung đội 3 theo điểm cao 10 qua Nhan Biều 2 về phòng ngự làng Nhan Biều 1. Đường ra bến vượt do tôi chỉ huy, hành quân vào buổi chiều. Địch dùng nhiều loại hỏa lực bắn ngăn chặn, các loại pháo bắn chụp xuống có thể gây sát thương nếu ngồi dưới hầm không có nắp. Chúng tôi đi theo mép đường bên phải, khi có pháo nhanh chóng nằm xuống, lăn ngay xuống rãnh nước, nhờ thế mà tất cả đều an toàn. Vào đến trận địa làng Nhan Biều 1, Trung sĩ Trọng - Đại đội phó đang chờ tôi để chuẩn bị bàn giao. Một loạt pháo rít qua đầu, mọi người nhao vào hầm tránh, Trọng còn lấn cấn chưa chịu vào... Loạt pháo tiếp theo nổ sát sạt, Trọng bị nhiều mảnh pháo găm vào người, hy sinh tại chỗ. Ngay đêm đó, Đại đội cử người chôn cất Trọng cách đó khoảng 5m, bộ đội phải chạy ra, chạy vào nhiều lần mới chôn cất xong vì pháo địch giội liên tục... Sau này, các liệt sĩ ở đây đều đưa đưa về mai táng cùng một chỗ, thành nghĩa trang Đại đội. Những ngày đầu, các tiểu đội tập trung đào và làm kèo, hố chiến đấu dọc theo đường số 1, sau phát triển hào cơ động sâu, rộng, đi lại dễ dàng hơn. Chỉ một thời gian ngắn, toàn đơn vị đã đào tương đối hoàn chỉnh các chốt, cụm chốt liên hoàn, được ngụy trang kín đáo, bí mật, sẵn sàng đánh địch. Sau khi chiếm được Thành cổ, địch tỏ ra chủ quan, chúng đi lại ngông nghênh, lộ liễu. Phía ta, trên trang bị cho mỗi trung đội ba khẩu súng bắn tỉa, loại có kính ngắm, bắn được cự ly 1.000m. Chúng tôi liên tục bắn tỉa sang thành, làm địch thương vong khá nhiều, rồi dùng cối 60mm có phần tử đo sẵn cơ động ra ngoài, cứ bắn nghi binh cấp tập ba đến năm viên xong lại rời sang vị trí khác. Chỉ vài phút sau, địch phản pháo san bằng khu vực cũ. Cứ như thế, chúng tôi nghi binh đánh địch mà địch không tiêu diệt được các loại hỏa lực của ta. Chiến thuật này hiệu quả rất cao, sau này khai thác tù hàng binh, chúng đã khai như vậy. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:08:34 pm Sang đầu tháng 10, sau khi nắm lại toàn bộ địa hình ngoài mép sông, tôi mạnh dạn đề xuất với cấp trên phải đưa thêm lực lượng ra ngoài lô cốt, bến vượt, vì nếu ta ở xa mép nước, đêm tối địch vượt sông sang ta không biết, lực lượng mỏng sẽ khó giữ được... Được trên đồng ý, tôi nhanh chóng điều chỉnh hai tiểu đội chốt ngoài lô cốt, bến vượt do tôi chỉ huy, một tiểu đội và Trung đội phó chốt phòng ngự phía sau, bảo đảm cơm nước cho trận địa phía trước. Trong nửa tháng trời, cứ tối đến là cả Trung đội ra đào hầm, hào, công sự trận địa, đào hai hầm kèo tương đối vững chắc, một hầm ngoài cùng, trong rặng tre có tầm quan sát xa, rất kín đáo, các đoạn giao thông hào cơ động được nối thông với nhau, bên trái trận địa là một trung đội được tăng cường hỏa lực, trận địa được củng cố để sẵn sàng đánh địch.
Sau khi rút lui, toàn bộ Sư đoàn 325 chuyển sang phòng ngự, đánh địch bảo vệ vùng giải phóng. Trung đoàn 101 phòng ngự từ ven biển Cửa Việt về Bích La Đông, chợ Sải, đến ngã ba sông, giáp Thành cổ. Trung đoàn 95 phòng ngự phía tây thành, chốt làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, điểm cao 15 - 59 - 52, ra bờ nam sông Thạch Hãn (ngầm Phương Thúy và Đá Đứng). Trung đoàn 18 chính diện phòng ngự từ An Đôn, cầu sắt, cầu Quảng Trị, bến vượt, lô cốt, làng Xuân An. Chiều sâu phòng ngự từ bờ bắc sông Thạch Hãn đến sông Lai Phước. Tiểu đoàn 9 phòng ngự làng Xuân An, Trung Kiên, sân bay Ái Tử. Tiểu đoàn 7 phòng ngự điểm cao 20 - 29, toàn bộ các căn cứ từ Ái Tử về phía sau đến sông Lai Phước. Sở Chỉ huy phía sau Trung đoàn 18 cách cầu Lai Phước, thượng nguồn bờ nam khoảng 1,5 - 2km. Sở Chỉ huy phía trước Trung đoàn 18 ở điểm cao 10. Tiểu đoàn 8 phòng ngự chính diện từ làng An Đôn, cầu sắt, dọc theo bờ bắc, bến vượt, lô cốt, giáp làng Xuân An, chiều sâu phòng ngự từ bờ bắc sông Thạch Hãn về nam điểm cao 10. Hai trung đoàn 101 và 95 cùng các đơn vị khác phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với địch, hai bên giáp mặt, hầu như nổ súng giao tranh liên tục, ngày nào cũng ở thế giằng co quyểí liệt. Ta quyết giữ, địch quyết chiếm. Ta và địch nhiều khị giành giật nhau từng tấc đất, góc làng ở hướng tây điểm cao 367, động Ông Do, ta chiếm rồi địch lấy. Cuối cùng, địch chiếm trên cao, ta chiếm giữ phần thấp. Còn trên trận địa của Trung đoàn 18, ta và địch đều sử dụng lối đánh bằng hỏa lực bắn tỉa vì cách sông, hầu như ngày nào cũng có thương vong. Theo quy luật, trước khi tổ chức tiến công vào trận địa của ta, địch thường dùng B-52, hỏa lực pháo binh, xe tăng dọn bãi nhằm tiêu hao sinh lực, phá hủy vũ khí, phương tiến công sự, hầm hào, sau đó mới bắt đầu tiến công. 16 giờ ngày 1 tháng 11 năm 1972, địch sử dụng pháo binh, súng cối bắn dồn dập vào trận địa Trung đoàn, tập trung vào tiền duyên phòng ngự, đặc biệt là hướng phòng ngự của Tiểu đoàn 8. Sau đó chúng chuyển làn vào trận địa phía sau. Một loạt bom B-52 rải thảm dọc điểm cao 10 và làng Nhan Biều 3, giội trúng Sở Chỉ huy Trung đoàn 18. Trung đoàn phó, Đại úy Vũ Trọng Cưu cùng ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đêm hôm đó, địch sử đụng bộ phận đi đầu bí mật vượt sông sang trinh sát, bám bờ, bộ phận đi sau bơi thuyền cao su, đem theo dây cáp nilông cột hai đầu vào gốc cây và cứ thế đưa lực lượng và phương tiện qua sông, gần một tiểu đoàn triển khai tác chiến... Đến gần 1 giờ sáng, bộ phận gác tiền tiêu của ta mới phát hiện. Tiểu đội phó Thúy từ ngoài vọng gác tiền tiêu theo đường hào chạy vào hầm số 2 báo cáo tôi: Có nhiều tiếng động, tiếng người thì thào, tiếng cuốc xẻng đào công sự phía trước rặng tre trước trận địa, khả năng địch vượt sông sang... Tôi bật dậy, cầm khẩu AK báng gấp, đeo các trang bị chiến đấu gọn gàng, đánh thức ba chiến sĩ theo tôi ra phía trước. Mọi hành động hết sức nhẹ nhàng, bí mật. Chúng tôi triển khai vào các vị trí chiến đấu đã được phân công. Phía ngoài rặng tre, địch đã triển khai dọc theo mép sông, bên phải, cách trận địa Trung đội 3 không xa. Địch tưởng chưa bị lộ nên vẫn tiếp tục đưa quân vượt sông sang bờ bắc, triển khai đội hình đào công sự, trận địa chờ đến sáng mới bất ngờ tiến công ta. Ta trong địch ngoài, rặng tre dày đặc làm hàng rào ngăn cách. Tôi ra vị trí ngoài cùng để quan sát và nắm mọi diễn biến. Địch đông quá. Tôi cử đồng chí Bình chạy tắt về báo cáo Đại đội: Địch sang đông quá, đang triển khai đội hình và đào công sự trước trận địa Trung đội 3, kéo dài xuống mép sông, sang vị trí Đại đội 5, đề nghị chi viện hỏa lực bắn trước trận địa, mép sông, chia cắt không cho đội hình địch phía sau cơ động sang. Khoảng 30 - 40 phút sau thì đồng chí Bình quay lại. Trong lúc đó, tôi cử đồng chí Quý sang báo cho Đại đội 5 bên cánh trái và đề nghị Đại đội 5 triển khai chiến đấu, hiệp đồng tác chiến. Lúc ấy đồng chí Điểm - Đại đội phó Đại đội 5 cũng đã phát hiện địch. Từ lúc đó cho đến suốt trận đánh, chúng tôi luôn giữ liên lạc, hiệp đồng, chi viện và thông báo tình hình cho nhau. Chúng tôi thống nhất cho nổ bốn quả mìn ĐH10, ĐH20 làm mệnh lệnh nổ súng của toàn trận đánh. Về vị trí chỉ huy, tôi cho nổ mìn. Một tiếng nổ lớn làm chấn động cả một khu vực, khói bụi trùm kín lên cả trận địa... Tiếp đó là lựu đạn, B40, AK, trung liên tới tấp, liên tục quăng, ném, bắn vào đội hình quân địch. Bị đánh bất ngờ địch choáng váng, nhiều tên thương vong, một số chạy dạt về phía sau, số còn lại bám vào công sự, rặng tre, hàng dứa, chống trả quyết liệt. Do trời tối, hai bên chưa nắm rõ về nhau nên chỉ dùng súng bộ binh, lựu đạn, nổ rộ lên từng chặp 20 - 30 phút khi phát hiện đối phương hoặc để thăm dò, cứ như vậy cho tới khi trời mờ sáng, khoảng 6 giờ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:12:03 pm Trời sáng, hai bên tạm dừng bắn để quan sát, theo dõi các hành động của nhau.
Ra vị trí quan sát ngoài cùng trận địa, ở trên cao nhìn xuống, tôi thấy dọc theo bãi sông có nhiều công sự cá nhân ba lô, mũ sắt, trang bị chiến đấu của địch vứt ngổn ngang xác một số tên còn nằm phơi trên mặt đất... 7 giờ sáng, chỉ huy Đại đội phân công đồng chí Lê Công Chính - Trung sĩ, Đại đội phó ra tăng cường cho Trung đội 3. Tôi báo cáo tình hình địch ta, rồi dẫn Đại đội phó Chính ra quan sát thực địa. Xác định vị trí địch ẩn nấp, co cụm để chống trả, đồng chí Chính vác khẩu B40 trèo lên gốc tre đực ngắm bắn và bóp cò. Đạn nổ đinh tai, trúng mục tiêu, một số địch thương vong. Tôi kéo Chính nhao ngay xuống chiến hào tránh đạn địch. Phát hiện thêm một số mục tiêu gần trước mặt, Chính cầm quả lựu đạn mỏ vịt leo lên, ném thẳng vào. Lựu đạn nổ tung hầm ếch, diệt thêm mấy tên địch. Song một tên địch ở phía ngoài đã phát hiện ra vị trí của Chính, hắn ném một quả lựu đạn về phía anh. Lựu đạn nổ, toàn thân Chính đổ sập, hai tay dang rộng, mắt vẫn mở, anh hy sinh. Lúc đó khoảng 7 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11 năm 1972. Tôi và hai chiến sĩ đưa Chính xuống hào, vuốt mắt cho anh. Đại đội phó Lê Công Chính quê ở Nho Quan - Ninh Bình. Từ lúc nổ súng đến bấy giờ có hai đồng chí bị thương và Đại đội phó Chính hy sinh ngay tại trận địa. Tôi đi kiểm tra, động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu, bám trụ, quyết tâm giữ chốt. Được động viên, từng người hứa sẽ bám trụ chiến đấu đến cùng, quyết không rời trận địa. Khi tôi quay lại thì có lực lượng phía sau đến tăng cường, chi viện. Bốn đồng chí mang theo cả máy thông tin vô tuyến, bộ phận đài quan sát P130 của mặt trận. Sau khi nắm và quan sát trực tiếp tại thực địa, đồng chí chỉ huy nói với tôi: Ta, địch quá gần nhau, lại xen kẽ, pháo chiến dịch không thể bắn chi viện trực tiếp, mà chỉ bắn chế áp bờ nam sông, phía Thành cổ. Lần lượt các đơn vị hỏa lực của cấp trên cũng đến hiệp đồng, chi viện cho đơn vị chiến đấu, giữ chốt và phản kích. Từ 8 giờ đến 10 giờ, các loại hỏa lực pháo binh, súng cối của địch bắn phá ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta. Chúng tổ chức ba đợt tiến công đánh chiếm trận địa nhưng không thành, đều bị tổn thất nặng. Lần thứ ba, lúc 10 giờ, ngoài tiến công chính diện, chúng còn tổ chức một mũi vu hồi theo khe cạn, bên phải trận địa, đánh tập hậu nhưng bị ta phát hiện, đánh bật ra. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, kiên cường, bằng tất cả các loại vũ khí có trong tay. Lựu đạn được mở hòm, tháo lắp, kể cả thủ pháo của đặc công, xếp dày đặc kín mép hào, hố chiến đấu, địch tiến gần trong tầm ném, ta bắn găm, bắn gần, bắn quét AK, trung liên, B40, ném lựu đạn vào đội hình quân địch. Gần 10 giờ đồng hồ chiến đấu, địch tập trung tiến công nhiều đợt không thành, nếu để giằng co, kéo dài, rất không có lợi. Tiểu đoàn phân công đồng chí Trần Minh Thiệt - Tiểu đoàn phó ra sau lô cốt để hiệp đồng chí huy lực lượng Đại đội 7 và Đại đội 5 chiến đấu. Lực lượng chiến đấu của ta ngoài bến vượt và lô cốt hao hụt, khả năng chiến đấu tiếp theo rất khó khăn. Tôi quyết định báo cáo Đại đội cho điều bốn đồng chí chốt phía trong ra tăng cường. Quân số được bổ sung, tất cả chỉ có chín người nhưng cũng tăng thêm sức mạnh chiến đấu. Bên cánh trái, một trung đội của Đại đội 5 cũng được bổ sung quân số và tăng cường thêm Chính trị viên Đại đội ra chỉ huy. Hướng đầu cầu Quảng Trị, khu vực nhà sắt, trận địa phía sau ta vẫn giữ được bí mật, sẵn sàng chi viện cho hướng Trung đội 3. Hai khẩu đội cối 60mm của Đại đội do Khẩu đội trưởng Quý chỉ huy, chiến đấu dũng cảm, ngay từ đầu đã chi viện cho chúng tôi khá hiệu quả. Hai đại đội cối 82mm được Trung đoàn bố trí tại làng Nhan Biều 2 cũng chi viện cho chúng tôi suốt quá trình chiến đấu. 12 giờ sau khi hiệp đồng với tất cả các lực lượng, giữa bộ binh, pháo binh và các lực lượng khác, tất cả xuất kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch vượt sông. Hỏa lực cấp trên chuyển làn chế áp phía nam sông, chúng tôi xuất kích ra khỏi công sự, nhưng pháo binh, hỏa lực địch lại bắn dồn dập, các mũi chiến đấu của ta không thể tiến lên được, Chính trị viên Đại đội 5 hy sinh. Ta buộc phải lùi lại. Vừa nhảy xuống chiến hào, tôi nhận được điện: Phải nhanh chóng củng cố, hiệp đồng chặt chỗ, tiếp tục xuất kích, sẽ có chi viện của hỏa lực pháo binh, súng cối, cả đại đội xe tăng của Sư đoàn... Lệnh của trên, trước 15 giờ phải tiêu diệt toàn bộ quân địch, khôi phục lại trận địa phía bắc sông. Từ đầu trận đánh, đây là đợt chi viện hỏa lực tập trung có hiệu quả nhất của ta. Khi hỏa lực vừa dứt, tất cả xuất kích, xung phong, dùng hỏa lực, bắn gần, lựu đạn đánh trực tiếp vào đội hình quân địch. Đoán được quyết tâm giành lại trận địa phía bắc sông của ta, địch dựa vào công sự bám trụ, chống trả ta quyết liệt. Nhưng cuối cùng chúng phải bật khỏi công sự, tháo chạy, vượt sông sang bờ nam Thành cổ. Tôi cùng hai chiến sĩ Thúy, Quần sử dụng hết các loại vũ khí trang bị như trung liên, AK, B40, M79, M72... để chiến đấu, ngăn chặn, quyết không cho chúng vượt sông sang bờ nam. Bắn nhiều, bắn liên tục nên gần hết đạn, tôi điều hai đồng chí tới mở hòm lấy đạn, lắp vào bắn tiếp. Pháo địch bắn trùm lên đội hình cả hai bên, đạn rít qua đầu, nổ sát, cách chúng tôi chừng 2m. Phản ứng tức thời, tôi nằm bẹp xuống, đè lên chiến sĩ đang lắp đạn. Cả một đoạn hào dài đổ sập, đè lên hai chúng tôi. Miệng, mũi đầy đất cát, khói đạn trùm kín cả chiến hào, chúng tôi bới đất, lôi nhau dậy, người đau nhừ. Tôi bị một mảnh đạn găm vào gần quai hàm má phải, máu chảy nhiều, đồng đội băng xong tôi lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Tiểu đội trưởng Quý bị thương nặng, trên mình nhiều vết thương, vết thương nặng nhất vào thái dương, trên vành tai trái, đồng đội dìu qua, tôi nhanh chóng lấy cuốn băng cuối cùng ở dây lưng băng cho Quý. Máu vẫn chảy ròng ròng phải xé thêm chiếc màn băng cho anh và đưa anh vào hầm Sau trận chiến đấu, Quý hy sinh. Tôi xúc động đưa tay vuốt mắt cho anh và cử người đưa về tuyến sau. Quý quê ở Bình Xuyên - Vĩnh Phú, nhập ngũ ngày 19 tháng 8 năm 1971. Địch đã qua một phần ba sông. Gần bờ nước cạn, rong rêu nhiều nên chúng chỉ đi khom, bơi chậm, đến nửa sông thì bị ta tiêu diệt hết. Những tên còn lại chưa qua sông hốt hoảng bỏ chạy quay vào, cụm lại ở mép sông, trước trận địa. Xác địch nổi kín cả khúc sông, những ngày tiếp theo Trung đoàn phải dùng hai đại đội công binh và trinh sát ra chôn cất, bảo đảm vệ sinh toàn bộ khu vực trận địạ phòng ngự của đơn vị. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 03 Tháng Tám, 2026, 08:13:40 pm 15 giờ ngày 2 tháng 11 năm 1972, trận phản kích của ta giành thắng lợi lớn, được cấp trên biểu dương, khen ngợi tất cả các lực lượng tham gia chiến đấu, trong đó có Trung đội 3 chúng tôi.
Quá trình chiến đấu, Trung đội 3 hy sinh hai, bị thương bốn, còn lại sáu người, không đủ sức để giữ trận địa và tập kích. Đại đội điều tăng cường sáu đồng chí của Trung đội 1 do đồng chí Thành - Trung đội trưởng chỉ huy. Qua trao đổi, chúng tôi đi đến thống nhất: Tạm thời biên chế thành hai bộ phận. Đến 22 giờ, chúng tôi chia làm hai mũi: - Mũi 1 do tôi chỉ huy đánh thẳng vào đội hình quân địch. - Mũi 2 do đồng chí Thành chỉ huy đánh thẳng xuống mép sông vòng trái. Đại đội 5 cũng chia làm hai mũi, có bộ phận đánh chặn, không cho địch chạy về Xuân An. Đúng giờ hiệp đồng, hỏa lực của ta chế áp 15 phút, tất cả xung phong nhưng bị hỏa lực địch từ phía nam sông và pháo binh địch đánh chặn. Trời tối, khẩu đội cối 60mm của ta thả ngược, đạn nổ vỡ nòng, cả khẩu đội hy sinh. Ta dừng tiến công, kết thúc một ngày chiến đấu ác liệt, kiên cường. 4 giờ sáng ngày 3 tháng 11 năm 1972, Tiểu đoàn phó Trần Minh Thiệt triệu tập tôi về lô cốt phía sau để bổ sung nhiệm vụ và hiệp đồng chiến đấu, cơ bản như tối hôm trước. 6 giờ sáng, tất cả các mũi xung phong đánh sớm, bất ngờ. Quân địch bị động, không kịp đối phó, phần lớn bị tiêu diệt, bộ phận còn lại chạy dọc theo bờ sông về Xuân An, bị chốt của Tiểu đoàn 9 chặn đánh, diệt gọn, không tên nào chạy thoát. Ta bắt được một tù binh ngay khi xuất kích. Tên tù binh mặt non choẹt, quê Sài Gòn, mới bị bắt lính, vào trận lần đầu, đang ẩn nấp dưới công sự cá nhân, cúi đầu, hạ súng, giơ hai tay lên xin hàng. Khai thác tại chỗ, hắn khai: Đêm qua không ngủ được vì sợ, toàn bộ quân địch vượt sông không tên nào chạy thoát. Đêm trước chúng vượt sông sang bờ bắc lúc 22 giờ bằng dây thừng cột vào hai gốc cây phi lao bờ bắc, khu vực bãi tha ma, hướng Đại đội 5. Chúng ngồi trên thuyền cao su, tay nắm vào kéo lần theo dây, vượt sông nhẹ nhàng bí mật, cứ thế quá nửa tiểu đoàn địch vượt sông trong một thời gian ngắn mà ta không phát hiện ra. Trận tập kích diễn ra hơn một tiếng đồng hồ thì kết thúc. Toàn bộ quân địch co cụm, vượt sông sang bờ bắc bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hơn 300 tên lính thủy quân lục chiến thuộc Tiểu đoàn 6 Lữ đoàn 369 được coi là đơn vị thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn, tham gia tái chiếm Quảng Trị là đơn vị cắm cờ đầu tiên ở Thành cổ ngày 16 tháng 9 năm 1972, được tổng thống chính quyền ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu gắn mề đay Anh dũng bội tinh... chúng đã bị Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 chặn đánh, tiêu diệt gọn. Ngày 5 tháng 11 năm 1972, đồng chí Trần Minh Thiệt, tôi và đồng chí Điểm - Đại đội phó Đại đội 5 được triệu tập lên Sở Chỉ huy Trung đoàn 18, cách cầu Lai Phước 2km về phía thượng nguồn, bờ nam, gặp Trung đoàn trưởng - Thiếu tá Nguyễn Đức Huy, Chính ủy Trung đoàn - Thiếu tá Phạm Công Nhân, Tư lệnh Sư đoàn Chính úy Sư đoàn cùng cán bộ của bốn cơ quan Sư đoàn và Trung đoàn 1 Sở Chỉ huy nằm sát bờ sông, vách đứng trên bờ hầu hết là rặng tre và cây xanh bao phủ, rất kín đáo. Khu làm việc có hầm trú ẩn, khung lợp tăng, ngụy trang, hai đầu là hai chiếc hầm kèo, hào chạy ra hai phía để sơ tán và chiến đấu bảo vệ. Sau khi ổn định và giới thiệu thành phần, Trung đoàn trưởng giới thiệu tôi và mời lên báo cáo diễn biến chiến đấu trận Nhan Biều. Trung thực, khách quan, tôi báo cáo từ đầu đến cuối diễn biến trận đánh, tình hình địch, ta, các mốc thời gian... Sau đó đến đồng chí Điểm, đồng chí Thiệt báo cáo bổ sung sau cùng. Hỏi nhiều về trận đánh là Thượng tá Duy Sơn - Tư lệnh Sư đoàn... Đồng chí biểu dương hai chốt tiền tiêu ngoài bến vượt và lô cốt đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, giữ vững trận địa. Phê bình cấp tiểu đoàn, trung đoàn nắm tình hình địch, ta thiếu chính xác, không kịp thời, báo cáo chậm, chỉ huy hiệp đồng có lúc chưa ăn khớp, kém hiệu quả khiến trận đánh kéo dài... Rồi đồng chí kết luận: Đây là một trận đánh xuất sắc, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch, thu được nhiều vũ khí, hiệu suất chiến đấu cao, cần tổng kết, đúc rút kinh nghiệm kịp thời và phổ biến nhanh đến các đơn vị toàn Sư đoàn... Hội nghị kết thúc, tôi được Chính ủy Trung đoàn Phạm Công Nhân trực tiếp trao quyết định bổ nhiệm Đại đội phó Đại đội 7 và thông báo: Tôi cùng một số đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Về đơn vị, tôi bàn giao chức Trung đội trưởng cho đồng chí Phan Văn Phường và nhận vị trí chỉ huy mới. Anh em trong đơn vị đều chúc mừng, tôi rất vui, hứa trên cương vị mới sẽ cố gắng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Theo mệnh lệnh của trên, ngay tối hôm đó, tôi cùng ba đồng chí trung đội phó có mặt ở vị trí phía sau Sở Chỉ huy Tiểu đoàn để đón nhận tân binh. Nhận xong thì phân về các trung đội, rồi biên chế luôn về các tiểu đội ở ngoài chốt. Toàn Đại đội được bổ sung 45 tân binh thuộc Trung đoàn 12 - Tỉnh đội Hà Tây, biên chế về mỗi tiểu đội bảy người, riêng tiểu đội cối 60mm và hai khẩu đội B41 đủ biên chế 11 người. Sức chiến đấu của Đại đội được nâng lên một bước mới sau chiến thắng Nhan Biều ngày 2 và 3 tháng 11 năm 1972. Đại đội 7 nhận bàn giao toàn bộ bên trái lô cốt về giáp Tiểu đoàn 9 ở làng Xuân An, Đại đội 5 rút về phòng ngự phía sau. Toàn bộ Trung đội 3 được đưa ra phòng ngự bên ngoài khu vực bến vượt và lô cốt, có tăng cường hỏa lực ĐKZ 82mm của Tiểu đoàn và một số hỏa lực khác gồm cả hai súng phun lửa, một phân đội đặc công nước của Đoàn 126 Hải quân để rải mìn, thủy lôi ở khu vực bến vượt. Từ kinh nghiệm thực tiễn xương máu, lần này các trận địa từ cầu sắt, nhà sắt phía trong phải làm công sự kiên cố, vững chắc, hào cơ động liên hoàn. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:04:48 pm Một chiến dịch xây dựng công sự, hầm hào kiên cố được phát động, với mục đích chủ động đánh địch, gây rối sát thương, khiến cho địch mất ăn, mất ngủ... Các trận địa phía ngoài, sát bờ sông cũng như nhà sắt, cầu sắt, đầu cầu, phía trong đường số 1 đều dùng các loại hỏa lực như cối 60mm, B41, đại liên, ĐKZ, 12,7mm, súng bắn tỉa... tích cực bắn sang sông, về phía Thành cổ và các lô cốt của địch. Địch sợ hãi, không dám đi lại chủ quan như lúc mới chiếm thanh.
Riêng ở trận địa phòng ngự của Trung đội 3 do tôi chỉ huy, các đường hào vươn ra tận bờ sông. Chạy ngang, dọc xen kẽ những bụi tre, cây dứa là những hầm hào kiên cố, đài quan sát kín đáo, từ đó có thể quan sát, nắm chắc mọi hành động của địch ở bờ nam sông, khu vực Thành cổ... Các trận địa chính luôn được giữ bí mật, mà muốn hoạt động thì cần có nhiều trận địa giả. Mỗi lần cối, ĐKZ, B41... bắn ra, địch phản pháo rất nhanh, bộ đội ta có nhiều kinh nghiệm, nên cối chỉ thả ba đến năm viên là vác chạy theo giao thông hào. Địch lại phản pháo ác liệt, có khi đến cả tiếng đồng hồ mà cả người và vũ khí của ta vẫn an toàn. Trung tuần tháng 11 cho đến cuối tháng 12 mưa nhiều, liên tục, nước sông Thạch Hãn dâng cao, chảy cuồn cuộn, đỏ ngầu... Nước dâng lên sát đường số 1 khiến các chốt đầu cầu, nhà sắt, lô cốt, bến vượt như ốc đảo, nước mênh mông làm cho tất cả hầm, hào công sự chiến đấu đều bị nhấn chìm. Chúng tôi tận dụng những nền nhà của dân và chiếc lô cốt đưa bộ đội lên, sẵn sàng chiến đấu. Được vài ngày nước rút rồi trời lại mưa, nước lại dâng cao. Hầm trú ẩn, hào cơ động toàn đất cát, nước bên trên ngấm xuống, bên ngoài tràn vào có lúc hai người hai đầu hầm vừa quỳ vừa tát nước, cứ 15 phút đến 30 phút lại thay ca, có lúc phải lấy tay, lấy xẻng đào, rồi người đứng trên xốc nách, lắc, lôi, kéo dậy, hai chân tê dại không cảm giác... Cứ như vậy, bộ đội thay ca gác và tát nước liên tục, ngày thay ca vài lần. Sức khỏe anh em có phần giảm sút... Cuối tháng 12 cũng là cuối mùa mưa, đầu mùa khô, nước rút đến đâu, bộ đội ta đào hào lấn ra đến đó, cho đến sát bờ sông như trận địa ban đầu... Trung tuần tháng 12 đến cuối tháng, trên bầu trời Quảng Trị bỗng vắng tiếng các loại máy bay, thi thoảng lắm mới có máy bay trinh sát OV-10, L-19 hoạt động. Thời gian này, địch đang tập trung đánh phá miền Bắc, trọng tâm là Thủ đô Hà Nội. Phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai bị dội bom dữ dội. 12 ngày đêm trong Chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" ta thắng lớn làm nức lòng quân dân cả nước và bạn bè quốc tế. Chiến trường Quảng Trị sục sôi, quyết trả thù cho đồng bào Thủ đô. Các loại pháo lớn, tầm xa, tầm chiến dịch của ta bắn về phía bờ nam sông Thạch Hãn, phía Thành cổ và một số các mục tiêu khác. Tiểu đoàn 8 và Đại đội chúng tôi phòng ngự trực tiếp ở phía bắc sông cũng hưởng ứng, đánh trả với khả năng cao nhất. ĐKZ, B41, 12,7mm, cối các loại, M79, M72, B72 (tăng cường) diệt các mục tiêu lộ thiên phía trước, ngoài mép sông và của một số mục tiêu trong thành. Những ngày đó, ta áp đảo, làm chủ các trận địa ven sông, địch nằm im và hạn chế hoạt động. Chiến dịch đánh phá Hà Nội bằng B-52 của địch thất bại, bị cả thế giới lên án. Đế quốc Mỹ buộc phải ngồi lại vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari. Về phía ta, cấp trên nhắc phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, không bị mắc lừa các thủ đoạn của địch. Trung tuần tháng 1 năm 1973, chúng tôi được giao nhiệm vụ nắm chắc địch ở bờ nam sông và khu vực Thành cổ, sẵn sàng chớp thời cơ đánh chiếm và phát triển lực lượng. Từ ngày 20 tháng 1, trên giao nhiệm vụ phải tiêu diệt hết các mục tiêu, hầm hào chiến đấu cũng như toàn bộ hỏa lực của địch ở phía mép sông. Đồng chí Thắng - Khẩu đội trưởng ĐKZ ngoài lô cốt và ĐKZ 75mm đầu cầu được tôi chỉ và giao nhiệm vụ từng mục tiêu, mỗi ngày phải bắn 40 quả đạn trở lên... Mờ sáng, trận địa dự bị ngoài mép sông bắn được ba quả đang lắp đạn thì địch phản pháo tới tấp, anh em vội kéo pháo chạy vào hầm trú ẩn. Giá pháo cách đó hơn 100m vừa bắn được một quả, lắp đạn xong thì lại bị pháo giàn bên sông của địch dội lại. Địch có nhiều đài quan sát, các phần tử bắn đo sẵn nên khi phát hiện vị trí của ta là chúng phản pháo rất nhanh và chính xác. Trong hai ngày đêm 25 và 26 tháng 1 năm 1973, ta dùng hỏa lực pháo binh, cùng tất cả các lực lượng phòng ngự trực tiếp, chủ động tiến công địch. Đêm 26 tháng 1 là đêm căng thẳng, ác liệt nhất. Các trận địa pháo, hỏa tiễn từ căn cứ Ái Tử bắn rít qua đầu. Trong căn hầm nhỏ của tôi có năm người, gồm hai chiến sĩ, hai trinh sát, một đồng chí liên lạc thay nhau trực máy, trực gác hai đầu hầm. Ba lần pháo địch dội trúng nóc hầm mà chúng tôi đều may mắn không việc gì. Một số hầm hào phía ngoài của anh em bị trúng pháo nhưng cũng rất may không ai bị thương. Sáng ra, toàn tuyến phòng ngự trực tiếp và hai bờ nam, bắc sông Thạch Hãn, nhất là khu vực Thành cổ diễn ra đấu súng, đấu pháo ác liệt giữa ta và địch. Tôi quan sát tất cả các mô đất cao, tường đổ, gốc cây cụt và nhiều chỗ khác, địch đông quá. Chúng tranh thủ trèo lên cắm cờ trước 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 (thời điểm Hiệp định Pari có hiệu lực là 7 giờ GMT, ở Việt Nam là 8 giờ sáng). Đúng 8 giờ sáng, hai bên ngừng tiếng súng. Phía ngoài đầu cầu, lô cốt, binh lính địch còn cảnh giác, đề phòng, nhưng ở bờ nam, từng tốp lính địch lại đứng lên ôm nhau nhảy múa, miệng kêu hòa bình, hòa hợp dân tộc, các anh Giải phóng ơi, không đánh nhau nữa, người Việt Nam ta nói chuỵện với nhau... Mặc dù cảnh giác nhưng tôi cũng cho vài tốp anh em không mang súng ra ngoài trận địa dự bị để hưởng ứng, vẫy chào. Ở phía đông, một số đơn vị của ta mất cảnh giác, địch thấy lực lượng ta ít, mỏng, khu vực bên ta lại là bãi cát, làng mạc, đồng bằng nên chúng bất chấp lệnh ngừng bắn, cho bộ binh, xe tăng tràn qua chốt, đánh chiếm một số vùng giải phóng. Ta phải huy động lực lượng tăng cường gồm xe tăng, pháo binh... phản công, đánh sâu vào cách trận địa cũ vài cây số. Trận địa phía tây của Sư đoàn, gồm làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, các điểm cao 15, 59, 52... chỉ dừng bắn được vài giờ, sau đó liên tục diễn ra những trận giành giật, giằng co từng góc làng, quả đồi giữa ta và địch. Thiếu đạn hỏa lực, chúng tôi phải chuyển đạn ĐKZ, cối 12,7mm, B40, B41 lên chi viện cho Trung đoàn 95 chiến đấu cho đến hết tháng 2 mới dừng tiếng súng. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:07:48 pm Đầu tháng 2 năm 1973, tôi được trên bổ nhiệm Đại đội trưởng để đồng chí Lưu Sỹ Hiệp ra Bắc đi học Trường Trung - cao.
Ban Chỉ huy Đại đội có ba người: Thiếu úy Phan Văn Bạn (quê Hải Dương) - Chính trị viên, Thượng sĩ Nguyễn Văn Lạc (quê Nghệ An) - Chính trị viên phó và tôi. Đến tháng 6 năm 1973, đồng chí Ánh - Trung đội trưởng Trung đội 2 được bổ nhiệm Đại đội phó. Tranh thủ lúc ngừng bắn, chúng tôi điều chỉnh và bố trí lại các trận địa phòng ngự cho phù hợp, khẩn trương ngày đêm đào làm lại các hầm trú ẩn, hào cơ động, hào chiến đấu, làm đến đâu ngụy trang đến đó. Chỉ trong một thời gian ngắn đã làm được khá nhiều việc, tôi cũng cảm thấy yên tâm với cương vị chỉ huy mới. Ngừng bắn được vài ngày, trên trực tiếp giao cho Đại đội 7 làm cột cờ giới tuyến, ngay đầu cầu Quảng Trị. Chúng tôi đi tìm và lên căn cứ Ái Tử lấy được một cột cờ bằng sắt, cao, dựng lên, lấy bao cát vây xung quanh, xếp chân, giật ba cấp. Cấp trên đến kiểm tra đều khen. Lá cờ Giải phóng nửa đỏ, nửa xanh sừng sững hiên ngang tung bay bên đầu cầu bờ bắc. Tôi chọn một trung đội toàn người miền Trung, do Lê Ngọc Ánh làm Trung đội trưởng để canh gác và thay cờ hằng ngày. Những ngày đầu ngừng bắn, rất nhiều đoàn cán bộ từ Hà Nội vào giới tuyến công tác, đoàn nào đến cũng xúc động, rơm rớm nước mắt khi nhìn thấy cảnh đổ nát, hoang tàn, cây cối trơ trụi, mặt đất chi chít những hố bom pháo; lá cờ Giải phóng vẫn hiên ngang phần phật tung bay cùng với đó là các chiến sĩ giải phóng còn rất trẻ, hồn nhiên, lạc quan yêu đời ra đón chào khách... Tổng cục Chính trị và cấp trên điều động vào tăng cường cho đơn vị một tổ làm công tác tuyên truyền, hoạt động đối ngoại. Một dàn loa công suất lớn được bố trí đầu cầu, hàng ngày phát thanh với nội dung chủ yếu là tuyên truyền đấu tranh chính trị với quân đội Sài Gòn ở bờ nam, yêu cầu chấp hành nghiêm Hiệp định Pari, không bắn phá, lấn chiếm vùng giải phóng. Ngoài ra, ta còn phát cả một số chương trình ca nhạc, dân ca... Địch ở khu vực đầu cầu bờ nam thấy vậy cũng bắt chước. Chúng mắc dàn sáu loa, sau tăng thành 12 loa, mở to hết cỡ, liên tục phát nội dung tuyên truyền xuyên tạc, hoặc nhạc vàng mở suốt ngày. Sau ta đấu tranh, chúng phải tuân theo việc mở to, nhỏ từng lúc... Gần Tết cổ truyền, một đoàn cán bộ từ ngoài Bắc tăng cường đem vào cho đơn vị nhiều cờ, tranh ảnh, lịch hòa hợp dân tộc, thuốc lá, thịt hộp, lương khô... Cấp trên chỉ đạo cho Quân giải phóng ở bờ bắc và quân đội Sài Gòn ở bờ nam gặp nhau tại đoạn giữa cầu sắt Quảng Trị bị đánh sập hồi đầu giải phóng, lấy khu vực giữa cầu làm ranh giới. Tôi chọn ra một tổ để chuyên làm nhiệm vụ này. Việc gặp nhau hai bên mục đích là nói chuyện tình cảm, truyền thống dân tộc, tuyên truyền các bên nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản của Hiệp định Pari, ngừng bắn, không lấn chiếm vùng giải phóng..., sau đó tặng lịch hòa hợp dân tộc, tặng thuốc lá, thịt hộp, quà Tết nhân dịp Tết cổ truyền. Quân đội Sài Gòn lúc đầu còn e dè, lo sợ, nhưng dần cũng quen, muốn các lần gặp nhiều hơn nữa... Tháng 3 năm 1973, sau khi hai bên ngừng tranh chấp, ở cánh Đông, Trung đoàn 101 cũng có một nhà hòa hợp, phía tây tại làng Tích Tường, Như Lệ, ta cũng tổ chức một nhà hòa hợp. Tết đến, cấp trên, hậu phương chuyển đến cho chúng tôi lợn, gạo nếp, kẹo, bánh, thuốc lá khá đầy đủ. Một cái tết đầu tiên vừa ngừng bắn, ở vùng giáp ranh sát nách địch mà lại có tiếng lớn kêu giữa trận địa phòng ngự đầu cầu... Cả bờ nam sông, lính Sài Gòn ra đứng rất đông, nói vọng sang: "Các anh Giải phóng ơi! Tết làm gì vui thế!" - "Đang thịt lợn!" - "Bên chúng em chẳng có gì cả!". Đúng thật bên ta hơn hẳn địch về vật chất... Trưa 30 Tết, cả Đại đội 7 chúng tôi tổ chức ăn Tết trên chốt, cụm chốt, các đơn vị đóng quân chạy dài từ đầu cầu Quảng Trị về đến Xuân An, các làng Nhan Biều 1, 2 đều có xôi thịt, kẹo, thuốc lá. Thêm một số nhân dân đi sơ tán về dự, không khí thật là ấm áp tình quân dân... Trung tuần tháng 2 năm 1973, để chuẩn bị cho kế hoạch trao trả tù binh hai bên bị bắt trong chiến tranh, có hai khu vực được xác định: - Sân bay Lộc Ninh tỉnh Tây Ninh; - Sông Thạch Hãn khu vực Thành cổ Quảng Trị. Đoạn giữa trận địa phòng ngự của Đại đội 7 từ đầu cầu đến lô cốt bến vượt là nơi Ủy ban quốc tế và Ủy ban liên hợp quân sự sẽ chứng kiến việc trao trả tù binh. Đó là một khoảng trống có nhiều mìn, công binh của ta và Đại đội 7 phải dò gỡ và dựng hơn 20 chiếc nhà bạt để chuẩn bị cho Lễ trao trả tù binh. Một buổi sáng cuối tháng 2 năm 1973, trên đường số 1 từ Đông Hà vào Nhan Biều có một đoàn xe Hải Âu rất mới, xe cách xe khoảng 40 - 50m, chở những người ngồi trên áo trắng, quần kaki vàng. Khi xuống xe, tất cả đi lần lượt thành một hàng dài, tay xách túi da... Bộ đội cứ đoán già, đoán non là tù binh. Sao khỏe mạnh, ăn mặc lịch sự như đi nước ngoài thế (?) Thật khó có thể tin rằng đó là tù binh của phía bên kia được ta trao trả. Rồi đến phía bên kia trao trả tù binh cho ta, chủ yếu là những cán bộ, chiến sĩ bị địch giam giữ ở Côn Đảo, Phủ Quốc và các nhà tù trong đất liền. Tù binh được chở bằng xe tải từ Huế ra, mặc áo tù màu gụ, gầy còm, ốm yếu, nhiều đồng chí bị thương, đặc biệt có đồng chí bị cụt cả hai chân, hai tay phải có người dìu từ trên bờ xuống xuồng máy sang bờ bắc. Đến khu nhà bạt, tất cả phải dừng lại để Ủy ban quốc tế, Ủy ban liên hiệp quân sự kiểm tra, đối chiếu danh sách, sau đó bàn giao cho từng bên. Phía ta, đoàn người ra đón rất đông, ai cũng sung sướng, xúc động rơi nước mắt ôm chầm lấy những người đồng đội và đưa họ lên xe về Đông Hà. Tốc độ trao trả tù binh về sau tăng dần, do lượng tù binh của hai bên quá đông. Tù binh của ta, phía giải phóng, không biết ai thống nhất và thống nhất từ bao giờ, nhưng xuống xe, xuống xuồng sang bờ bắc, vào nhà bạt tập họp đều rất có kỷ luật, trật tự, leo xuồng máy ra sông là cởi hết áo tù vứt xuống sông, trên người chỉ có chiếc quần xà lỏn. Về sau, phía địch cũng học phía giải phóng, các "thiên nga" (nữ quân nhân) đi đón cũng bắt tù nhân cởi quần áo, túi xách, mũ quăng bỏ. Mặt sông nổi đầy túi xách, quần áo, trang phục của tù binh... Có những toán tù binh được ta giáo dục, cải tạo, cảm hóa, khi trao trả họ lại không muốn về. Xuống xuồng trả về phía bên kia, họ bị bắt cởi bỏ trang phục nhưng không chịu, xuồng tự trôi xuôi 200m thì dính thủy lôi, nổ tan tành, tất cả chìm xuống đáy sông. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:09:15 pm Việc trao trả tù binh theo kế hoạch diễn ra từ cuối tháng 2 đến trung tuần tháng 6 năm 1973, mỗi ngày cứ đều đặn bên ta người chiến thắng trở về thì tù binh phía bên kia cũng lại lần lượt qua sông sang bờ nam.
Đơn vị chúng tôi đảm nhiệm canh gác, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Ủy ban liên hiệp quân sự, Ủy ban quốc tế, đảm bảo an toàn cho khu vực trao trả tù binh nên cũng khá vất vả. Sáng sớm tập trung quân mở cửa rào bến, kiểm tra an toàn, thu dọn vệ sinh, bàn giao cho Ban Tổ chức. 18 giờ lại khóa cổng canh gác toàn bộ trận địa và khu vực trao trả tuyệt đối an toàn. Trung tuần tháng 6 năm 1973, sau khi việc trao trả tù binh kết thúc, toàn bộ Tiểu đoàn 8 bàn giao cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95 vào thay phiên. Đơn vị tôi rút về dãy đồi Linh Phong sau làng Nhan Biều 3, làm lực lượng dự bị cơ động cho Trung đoàn. Đến tháng 6 năm 1973, đội hình chiến đấu - phòng ngự của Sư đoàn 325 bố trí như sau: Trung đoàn 101 phòng ngự cánh Đông từ nam Cửa Việt, Bích La Đông, ngã ba chợ Sải. Trung đoàn 95 phòng ngự bắc sông Thạch Hãn từ An Đôn đến đầu cầu Quảng Trị, bến vượt Xuân An, sân bay Ái Tử, các điểm cao 10-20-29 (toàn bộ căn cứ Ải Tử). Trung đoàn 18 được tăng cường Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 21 (thành năm tiểu đoàn), phòng ngự làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, điểm cao 15, 52, 59, nam sông Nhùng, bắc sông làng Thượng Phước, đồi Linh Phong. Trung đoàn Pháo binh 84 nằm trong đội hình Sư đoàn bố trí phía sau, chi viện cho các trung đoàn phòng ngự phía trước. Tiểu đoàn Đặc công 19 giải thể; thành lập Tiểu đoàn 16 pháo cao xạ 37mm. Tiểu đoàn 8 phòng ngự phía sau, là lực lượng cơ động trên các hướng phòng ngự nam sông của Trung đoàn, từ làng Tích Tường, Như Lệ lên điểm cao 52, 59. Từ ngày vào chiến trường, tháng 8 năm 1972, cho đến lúc bấy giờ, chúng tôi liên tục chiến đấu và phòng ngự trực tiếp, chưa có lúc nào ăn ở tập trung, củng cố đơn vị. Về nhận nhiệm vụ đứng chặn đồi Linh Phong, từng đại đội bố trí cách nhau trên dưới 1km. Xung quanh Tiểu đoàn là hầm âm có nắp; từng tiểu đội, trung đội gần đại đội, có hào cơ động, sân bãi tập trung và huấn luyện chính quy. Tuy chỉ có một thời gian ngắn nhưng cũng huấn luyện nâng cao về trình độ kỹ, chiến thuật cho bộ đội sát với nhiệm vụ chiến đấu. Ngày tám tiếng trên thao trường toàn đồi trọc, với cái nắng gay gắt vùng Quảng Trị, việc rèn luyện khá vất vả, nhưng rất thiết thực nên tất cả cán bộ và chiến sĩ đều cố gắng. Các đơn vị phòng ngự phía trước cũng giữ được tình hình ổn định. Ở phía sau, các đơn vị chuyển quân, hậu cần, kỹ thuật, vận chuyển lương thực vào các chiến trường phía trong hoạt động khá thuận lợi, bảo đảm đầy đủ cho nhiệm vụ trước măt cũng như lâu dài... Đầu năm 1974, trên điều Tiểu đoàn 8 vào phòng ngự từ động Chiêng Rồng, điểm cao 367, sông Mỹ Chánh, đến điểm cao 165 (sông Ô Lâu). Đại đội 7 chúng tôi đảm nhiệm phòng ngự dưới chân điểm cao 367 gồm các khu: Y1, Y2, Y3. Trung đội 1, Trung đội trưởng Trần Đương, quê Lục Nam - Hà Bắc, đảm nhiệm khu vực: Đồi Không tên, 9a, 9b, sát sông Mỹ Chánh (M1+M2); Trung đội 2, Trung đội trưởng Nguyễn Văn Ninh, quê Phù Ninh - Vĩnh Phú, đảm nhiệm toàn bộ dãy Sâu Róm - điểm cao 165 (sông Ô Lâu); Trung đội 3, Trung đội trưởng Phan Văn Phường, quê Lâm Thao - Vĩnh Phú. Chỉ huy Đại đội ở chân điểm cao 367 trong đội hình phòng ngự Trung đội 2. Thời gian thay phiên vào phòng ngự rất ngắn, phải bảo đảm bí mật, an toàn. Một tin vui, lan truyền đến tất cả cán bộ, chiến sĩ đơn vị: Theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 2 được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974, Sư đoàn 325 vinh dự được nằm trong đội hình Quân đoàn. Tất cả các đơn vị của Quân đoàn 2 đều có bề dày truyền thống, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều đứng chân trực tiếp ở chiến trường Trị - Thiên... Bộ Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn gồm: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Linh - Chính ủy; Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh; Đại tá Bùi Công Ái - Tham mưu trưởng; Đại tá Nguyễn Công Trang - Phó Chính ủy. Các đơn vị gồm có các sư đoàn 304, 325, 324, Sư đoàn Phòng không 673, Lữ đoàn Xe tăng 203, Lữ đoàn Pháo binh 164, Lữ đoàn Công binh 219 và một số đơn vị trực thuộc. Thành lập được một thời gian ngắn, Quân đoàn 2 cùng Quân khu 5 mở Chiến dịch Thượng Đức. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn 304 (thiếu một trung đoàn), một trung đoàn của Sư đoàn 324, lực lượng vũ trang địa phương Quân khu 5 có tăng cường hỏa lực pháo binh chi viện, do Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy. Trong chiến dịch này, ta tổ chức tiến công đợt một không thành công, thương vong lớn do chuẩn bị chưa kỹ. Tiến công đợt hai thành công, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, bắt tù binh, thu vũ khí và tổ chức phòng ngự giữ Thượng Đức. Địch tổ chức phản kích, đánh chiếm lại Thượng Đức, ta và địch giằng co quyết liệt, cuối cùng địch phải rút quân, ta giữ được Thượng Đức để sau đó, đến đầu năm 1975, tạo bàn đạp tiến công Đà Nẵng... Để phối hợp và chia lửa với các lực lượng trong Chiến dịch Thượng Đức, trên chỉ đạo cho Trung đoàn 18 và toàn bộ Sư đoàn 325 tích cực hoạt động quân sự, nghiên cứu cải tạo thế phòng ngự trên toàn tuyến (mang mật danh K18). Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:10:45 pm Trung tuần tháng 7 năm 1974, cấp trên có chủ trương cho cán bộ từ cấp đại đội trở lên lần lượt đi phép, tôi được đi đợt đầu. Nghe thông báo, tôi bàn giao công việc cho Đại đội phó Thìn rồi cùng liên lạc ra ngay Sở Chỉ huy Trung đoàn ở sông Nhùng. Tiểu đoàn 8 có bốn đồng chí đi phép thì ba đồng chí là chính trị viên đại đội, tôi được cấp trên chỉ định chỉ huy nhóm này. Trung đoàn đi phép gồm hơn 30 đồng chí do Chính ủy Hồ Sỹ Nguyên chỉ huy, đi trên chiếc xe Gát 63. Xuất phát từ điểm cao 30 (bắc sông Nhùng) ra đến Đông Hà khoảng hơn 20km mà xe bị hỏng nhiều lần, xe lại khá chật chội. Đến thị xã Đông Hà, Chính ủy lấy tinh thần xung phong, bốn đồng chí Tiểu đoàn 8 giơ tay xin đi xe ngoài, được Chính ủy cho thêm bốn ngày phép. Chúng tôi mừng quá, bắt xe khách đi luôn ra Hồ Xá - Vĩnh Linh. Xe chạy liên tục đến gần 21 giờ đêm thì ra đến ga Vinh. Ngồi trên xe mà lòng cứ bồi hồi, lâng lâng khó tả. Gần đến ga đã nghe tiếng còi tàu, bác tài xế bảo cứ bình tĩnh, may ra còn kịp. Chúng tôi xuống xe, mua vé kịp ngồi gọn vào thì tàu chạy. Chúng tôi lần lượt chia tay tại các ga Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, rồi chỉ còn mình tôi ra tiếp Hà Nội. Chiều hôm sau, tàu vào ga Hàng Cỏ. Tôi đeo ba lô, túi xách xuống tàu vào mua vé, cứ ngơ ngác, đường đi lối lại, bến tàu, sân ga... tất cả đều mới biết. Mua được vé lên tàu, tàu chạy đến ga nào tôi cũng phải hỏi, đến Việt Trì thì tàu mới dừng. Tôi xuống ga, mọi người tỏa đi các hướng, chỉ còn lại một mình, tôi loay hoay không biết đi đâu thì gặp hai cô nhân viên nhà ga. Thấy tôi mặc quân phục, đeo xà cột, súng ngắn, ba lô, các cô cười: Hình như anh bộ đội ngủ quên! Tôi nói muốn xuống ga Hướng Lại nhưng tàu không dừng. Một cô bảo, anh bộ đội ơi, đây là tàu nhanh nên không dừng nhé. Các cô chỉ tôi vào phòng bảo vệ chờ chuyến tàu xuôi lúc 4 giờ sáng. Lên tàu rồi xuống ga Hướng Lại, trời còn tối, tôi ra đường số 2 về Vĩnh Tường. Từ huyện qua Thượng Trưng về nhà đã hơn 7 giờ sáng. Thấy chú bộ đội đeo ba lô đi trên đường ai cũng quay lại nhìn. Thời đó cả nước lên đường ra trận, nhiều người có người thân đi lâu không có tin tức, ai cũng mong mỏi người thân trở về.
Về đến đầu làng, nhiều người nhận ra tôi, tay bắt mặt mừng ríu rít hỏi chuyện, vào sân vừa đặt ba lô xuống thì bố mẹ, các em đi làm đồng cũng về tới nhà. Mẹ tôi bảo, thấy người ta nói con về, thế là mừng quá mẹ bỏ lại tất cả, chạy về luôn. Ngoảnh trước, ngó sau chỉ một khoảnh khắc mà người đến thăm đã chật ních trong nhà ngoài sân, ai cũng mừng cho tôi mạnh khỏe, tiến bộ và may mắn được trở về... Ăn cơm trưa xong, việc đầu tiên là tôi cùng mẹ đến thắp hương bà ngoại, bà đã về với tổ tiên ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch). Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, bà vẫn thường nhắc đến tôi, thương tôi còn nhỏ tuổi đã ra đi gánh vác việc nước nhà. Gần một tháng đi phép, ngoài anh em mời bữa cơm thân mật ra, còn lại tôi vẫn ăn cơm với bố mẹ, các em. Hai, ba ngày đầu, ngày cuối có thịt gà, các bữa còn lại vẫn đạm bạc như xưa, trên mâm vẫn với đĩa rau muống luộc, dưa, cá, canh cua, cơm độn sắn, khoai nhưng thật ấm cúng, hạnh phúc. Các em tôi đều đi học, chỉ có cô em gái Sến đi lấy chồng đã có con, thêm cô em út Tuyết sinh cuối năm 1968 còn nhỏ, được bố mẹ nuông chiều nhất nhà. Lần này về phép, bố mẹ tôi ướm thử chuyện lấy vợ, nhưng tôi không nói gì, toàn đánh trống lảng. Một buổi tối, sau khi khách ra về chỉ còn lại bố mẹ và các em, vẻ nghiêm trang, mẹ tôi nói: "Con cũng lớn rồi, lần này về cưới vợ để bố mẹ có cháu bế, cháu bồng". Ngồi im một lúc, tôi bình tĩnh trả lời: Về phép xong con còn đi lâu dài, chiến đấu gian khổ, ác liệt. Lần này về, con chưa nghĩ tới chuyện đó. Nhưng bố mẹ tôi chưa chịu, cứ giới thiệu một, hai cô gái trong làng mà gia đình cân nhắc kỹ càng từ trước. Vẫn trong dịp nghỉ phép đó, vào một buổi chiều đầu tháng 8, Thiều Chí Vũ đến chơi. Hai anh em ngồi vui chuyện, rồi Vũ rủ tôi sang nhà bạn học cùng lớp, đó là Lê Thị Huy. Chúng tôi vào cổng gặp Huy từ trong nhà cầm cái rổ đi ra ruộng hái rau. Đứng một lát, em mời chúng tôi vào nhà chơi. Pha trà mời nước, nói dăm ba câu chuyện xã giao, khoảng 30 phút thì chúng tôi xin phép ra về để em còn nấu cơm. Trên đường về nhà, Vũ hỏi tôi thế nào, có được không? Tôi ậm ừ trả lời cho qua chuyện. Theo hẹn, sáng hôm sau hai chúng tôi lại đến chơi, vì chiều cô ấy lên trường. Huy đang học Trung cấp Y Phú Thọ. Chúng tôi hẹn thứ bảy tuần sau có dịp lại đến chơi. Gặp nhau được vài lần thì tôi chuẩn bị hết phép, mức độ hai bên mới chỉ quen biết nhau, chưa hứa hẹn gì. Lúc chia tay, tôi tặng Huy tấm ảnh thời học viên sĩ quan làm kỷ niệm. Sau khi chia tay Huy, về nhà trằn trọc suốt đêm không ngủ, có điều gì đó cứ xao xuyến trong lòng. Sáng ra, bố mẹ tôi làm mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà. Tôi ăn bữa cơm chia tay gia đình, rồi chú Hạc em rể đạp xe chở tôi xuống bến phà qua sông, sang Sơn Tây về Hà Nội, từ đó đi xe lửa đến Vinh rồi bắt xe đi Quảng Trị vào Đông Hà và về đơn vị. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:11:20 pm Tháng 9 năm 1974, trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 đánh chiếm điểm chốt H1C. Đêm 2 tháng 9 ta nổ súng, do chuẩn bị chưa kỹ, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, chỉ huy thiếu kiên quyết, dẫn tới trận đánh không thành công... Đầu tháng 11 năm 1974, Trung đoàn lại giao nhiệm vụ đánh điểm cao 325 (đồi Xanh). Đại đội 6 khi đi trinh sát vấp mìn, địch trong trận địa bắn ra, ta buộc phải rút lui. Ta tổ chức vượt sông Mỹ Chánh, nước thượng nguồn đột ngột dâng cao, trời lại tối, ba đồng chí bị lũ cuốn trôi, trong đó có cả Đại đội phó.
Trung đoàn vẫn quyết tâm đánh điểm cao 325 (đồi Xanh) nhưng giao cho trinh sát Đại đội 20 chuẩn bị, nếu thời cơ thuận lợi thì đánh, sau đó bàn giao cho Đại đội 6. Đại đội 20 do Đại đội phó dẫn đầu chia làm hai mũi đi trước. Trời mưa to, sấm chớp liên tục, hai mũi tiếp cận sát trận địa địch rồi bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch, đánh chiếm được điểm cao 325, thu nhiều vũ khí, sau đó bàn giao lại cho Đại đội 6. Cả đêm và sáng hôm sau trời mưa to, liên tục, ta không có điều kiện củng cố công sự, hầm hào chiến đấu. Đến 8 giờ sáng, trời đột ngột hết mưa, hửng nắng, ba mặt từ chân đồi, bộ binh địch vây kín, tiến công lên, hàng chục khẩu cối bắn dồn dập vào đỉnh đồi. Ta chỉ có hào cơ động và hố chiến đấu cá nhân không có nắp. Chiến sĩ ta thương vong khá nhiều, ta buộc phải rút lui theo hướng phòng ngự, địch tái chiếm lại điểm cao 325 vào trưa hôm đó. Cả ngày và đêm hôm sau ta tổ chức tìm kiếm được một số thương binh và các đồng chí bị lạc. Đến chiều, tại trận địa phía sau của Đại đội 7 (khu vực tăng gia sát sông Mỹ Chánh), Trung đoàn tổ chức cho Đại đội 15 ĐKB, Đại đội 14 cối 120mm đánh vào căn cứ Lương Điền, cầu Mỹ Chánh, điểm cao 367. Đài quan sát của Đại đội 15 do Đại đội trưởng Đĩnh chỉ huy đặt cách trận địa phòng ngự 9a, 9b của Đại đội 7 khoảng 1,5km (đồi Không tên). Lệnh nổ súng lúc 14 giờ, Đại đội 15 ĐKB bắn vào căn cứ Lương Điền, khu vực cầu Mỹ Chánh, sau khi bắn hiệu chỉnh xong thì bắn cấp tập ngay. Mới bắn được vài loạt thì bị lộ, ba mặt chân đồi bộ binh địch vây kín, súng nổ giòn một thời gian ngắn, sau đó im hẳn. Khoảng gần một giờ sau năm đồng chí đeo máy 2W, súng AK chạy về trận địa phòng ngự M1, M2 của Trung đội 2 Đại đội 7 báo cáo: Đài bị lộ địch quá đông, Đại đội trưởng và chiến sĩ liên lạc vừa chiến đấu, vừa chặn địch cho bộ phận đài rút về sau... Súng hết đạn Đại đội trưởng và liên lạc hy sinh, địch dùng xăng đốt xác các anh ngay tại trận địa (Đại đội trưởng Đĩnh quê Lâm Thao - Vĩnh Phú, sinh viên nhập ngũ ngày 6 tháng 9 I năm 1971). Đại đội 7 được trên giao nhiệm vụ luồn sâu phía sau điểm cao 367, các trục đường cơ động phục kích bắt tù binh. Chấp hành mệnh lệnh của trên, tôi tổ chức đi phục kích hai lần nhưng không thành công. Lần thứ ba tôi giao nhiệm vụ, quán triệt kỹ cho bộ phận luồn sâu do đồng chí Hòa - Trung đội phó Trung đội 1 chỉ huy bảy đồng chí. Tôi bắt tay từng đồng chí, nêu quyết tâm ra đi phải chiến thắng, phải diệt được địch, bắt được tù binh, thu vũ khí... Tất cả anh em đều phấn khởi hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sáng hôm sau, trên các chốt của Đại đội, nghe rộ lên mấy loạt súng, sau đó im bặt không thấy động tĩnh gì, gần trưa đồng chí Hòa cùng anh em dẫn về một tên tù binh, ba khẩu súng AR15, súng ngắn chiến lợi phẩm bàn giao cho Đại đội. Anh em báo cáo: Ta phục kích hai bên khe suối, đường mòn địch hay qua, ba tên địch ở trên chốt xuống bị ta phục kích diệt hai tên, bắt được một tên. Đây là tên thiếu úy, trung đội trưởng, quê Sài Gòn, học Trường Sĩ quan Thủ Đức ra... Tôi điện báo cáo ngay cấp trên, được Trung đoàn, Sư đoàn gửi điện khen và cử người xuống giải tù binh về để khai thác tin, lúc này Chiến dịch K18 rất cần mà chưa đơn vị nào bắt được tù binh. Cuối tháng 12 năm 1974, bộ đội địa phương Quảng Trị vào thay, toàn bộ lực lượng phòng ngự của Sư đoàn rút ra củng cố tổ chức, biên chế, trang bị, chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1975. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:13:29 pm VII. THAM GIA CÁC CHIẾN DỊCH XUÂN 1975
A. Chiến dịch Trị Thiên - Huế Cuối tháng 1 năm 1975, Trung đoàn 18 hành quân về doanh trại của Trung đoàn 95 vừa được trên điều động, hành quân bằng cơ giới đi theo đường số 9, Đường Hồ Chí Minh vào tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên. Tiểu đoàn 8 vào thay doanh trại của Tiểu đoàn 5. Chúng tôi nhận và đưa đơn vị vào vị trí, nhanh chóng củng cố và vui đón Tết cổ truyền. Tết đó có đủ tiết canh, lòng lợn, bánh chưng, rượu, không khí thật chan hòa, ấm cúng. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp tới, trên điều động đồng chí Phan Văn Bạn về Trường Hạ sĩ quan Quân đoàn, đồng chí Đậu Văn Bạch - Chính trị Viên phó làm Chính trị viên, Thiếu úy Giản - cán bộ thực tế của Học viện Chính trị giữ chức Đại đội phó, đồng chí Hiếu - Chính trị viên phó. Các đồng chí lớn tuổi, sức khỏe yếu đều được điều về tuyến sau. Đầu tháng 3 năm 1975, đơn vị được lệnh hành quân. Trung đoàn 18 đi đầu, từ Tân Vĩnh đến làng Núp, chân dốc 365, theo đường mòn cắt ra đường số 14 tập kết. Cac đoàn xe quân sự nằm chờ sẵn. Mới ra đến đầu đường đã gặp không khí vui như trẩy hội, các đơn vị thanh niên xung phong, công binh làm đường, dân công phục vụ chiến dịch, bộ đội ra vào tấp nập. Có một tiểu đoàn thanh niên xung phong toàn nữ quê Yên Lạc - Phúc Yên - Kim Anh (Vĩnh Phú), nhiều anh em đơn vị được gặp người thân, quen... Sáng sớm ngày hôm sau, chia tay với các đơn vị vừa làm quen, chúng tôi lên xe, ngụy trang kín, lần lượt lăn bánh theo đường số 14 vào chân đèo Bạch Mã, nghỉ lại chân đèo một đêm. Đây là khu du lịch thời Pháp đô hộ, vì ở trên cao nên đêm xuống trời rất lạnh. Khuya, tất cả không ngủ được, dậy đốt lửa sưởi, sáng ra hành quân, nhìn đường số 1 và phá Tam Giang gần ngay dưới chân núi. Theo phương án tác chiến ban đầu, Trung đoàn 18 tiến công trên hướng chủ yếu của Sư đoàn, gồm các mục tiêu điểm cao 494, 520, 560, sau đó phát triển chia cắt, đánh chiếm đường số 1 đoạn từ Gián Bó đến cầu Bạch Thạch (quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên). Trung đoàn 101 đảm nhiệm tiến công hướng thứ yếu của Sư đoàn (bên cánh trái) bao gồm dãy Côn Sắc, các điểm cao 320, 312... Trung đoàn 18 sử dụng Tiểu đoàn 9 tiến công hướng chủ yếu gồm điểm cao 494 và 560. Cụ thể: Đại đội 11 luồn về sau, bí mật triển khai đội hình đánh chiếm điểm cao 494, chia cắt 560 với phía sau; Đại đội 10 tiến công hướng chủ yếu vào điểm cào 560; Đại đội 9 tiến công hướng thứ yếu vào bên phải đội hình Đại đội 10. Khi đơn vị hành quân vào vị trí tập kết, tất cả bắt tay vào nhiệm vụ: Cán bộ từ trung đội trưởng đến trung đoàn trưởng đi chuẩn bị chiến trường, cấp phó và chính trị viên chỉ huy bộ đội vận chuyển gạo, đạn. Toàn Tiểu đoàn được phân công đi kéo pháo 122, P85, PCX 37 vào trận địa. Lúc đầu tưởng đơn giản nhưng sau khá phức tạp, phải chuẩn bị hết sức chu đáo, chỉ huy chặt chẽ mới đưa được các khẩu pháo nặng hàng tấn vượt dốc cao vào trận địa ở điểm cao 789 (toàn bộ dãy núi đối diện với các mục tiêu 560 - 520)... để bắn thẳng chi viện cho bộ binh. Đi trinh sát thực địa và thông qua quyết tâm, cấp trên thấy không chắc chắn, quyết định điều Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 vào tăng cường cho Tiểu đoàn Bộ binh 9 trên hướng chủ yếu. Cán bộ trung đội, đại đội đang đi trinh sát theo nhiệm vụ của Tiểu đoàn 8 thì có lệnh trên gọi về gấp, triệu tập sang Tiểu đoàn 9 để nghe giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng đánh điểm cao 560. Vì quá gấp, không có sự chuẩn bị, tôi chỉ biết nghe và chấp hành... về họp chi bộ, thông qua cấp ủy chúng tôi chỉ quán triệt cho đơn vị là tăng cường cho Tiểu đoàn 9 làm lực lượng dự bị trên hướng chủ yếu khi cần. Chiều 20 tháng 3 năm 1975, đơn vị hành quân vào vị trí tạm dừng ở chân điểm cao 366 sát Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 9. Đồng chí Triển - Tiểu đoàn trưởng cho gọi tôi lên và nói về nhiệm vụ cấp trên điều tăng cường gấp, cán bộ Đại đội 7 chưa đi trinh sát, Tiểu đoàn cử hai đồng chí trinh sát Tiểu đoàn dân cán bộ Đại đội 7 đi để biết đường và vị trí triển khai. Đại đội 10 đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh điểm cao 560. Tôi, ba trung đội trưởng và liên lạc theo trinh sát đi đường mòn, vừa đi vừa phát đường ống, luồn chui lên vị trí dự kiến Đại đội 10 sẽ triển khai. Tuy nhiên, từ đây nhìn sang điểm cao, các hướng đều không rõ, chúng tôi lui về vị trí đơn vị tạm dừng. Suốt đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 3 năm 1975, toàn Sư đoàn hành quân tiếp cận và triển khai chiến đấu. Một đêm căng thẳng trôi qua, tất cả các đơn vị đã vào vị trí triển khai đúng kế hoạch, bí mật, an toàn. 5 giờ 30 phút, giờ "G" - giờ súng nổ đã đến. Do sương mù dày đặc, pháo binh, hỏa lực mạnh chi viện đều không nhìn thấy mục tiêu. Các đơn vị đều xin cho lui lại giờ nổ súng. Trung đoàn, Sư đoàn báo cáo lên cấp trên và được phép lui lại 10 phút! 10 phút lặng lẽ trôi nhanh, tất cả trận địa đều hồi hộp đợi lệnh. Đúng giờ, tất cả các loại hỏa lực nổ inh tai, nhức óc vào các mục tiêu đã có sẵn phần tử. Tôi cùng chiến sĩ liên lạc Mốt thức suốt đêm ngồi trực bên Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 9 sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Hỏa lực chuyển làn, tất cả các hướng mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Hướng chủ yếu, Đại đội 10 mở cửa đánh chiếm mục tiêu đầu cầu không thành, tổ chức tiến công tiếp nhưng cũng chỉ đánh chiếm được đồi Yên Ngựa, do 1 tiểu đội địch chốt giữ bên ngoài. Địch dùng hỏa lực ngăn chặn, ta bị thương vong, tổn thất ngoài cửa mở đồi Yên Ngựa mà vẫn không thể tiến lên được. Đại đội trưởng Nhường, Chính trị viên Bông, nhiều lần điện xin chi viện nhưng trên chưa trả lời, lệnh tiếp tục tiến công. Hướng Đại đội 11, sau gần một giờ nổ súng mà không có pháo binh chi viện (tiến công độc lập), đã xung phong đánh chiếm được điểm cao 494, khóa chặt phía sau, bên sườn điểm cao 560. Hướng Đại đội 9, từ đêm vào triển khai đã bị lộ, đội hình triển khai ở vị trí quá dốc, nhiều đá nên bị thương vong lớn, Đại đội trưởng Quỳ cũng bị thương vào bụng. Đại đội 9 không phát triển được. Sau gần hai giờ tiến công, Tiểu đoàn 7 đánh chiếm được toàn bộ điểm cao 520 và các dãy núi xung quanh được phân công. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:15:40 pm Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 năm 1975, được trên đồng ý, Đại đội 7 lực lượng dự bị của Tiểu đoàn bước vào chiến đấu. Tôi tập hợp đơn vị tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn Bộ binh 9 ở chân điểm cao 366 phổ biến nhanh nhiệm vụ và chỉ huy hành quân. Đường mòn, dốc cao, đường ống, cây dây nhiều, bộ đội mang vác nặng vướng khó đi. Dẫn đầu là Tiểu đội phó Uông Đình Quý, tiếp theo đến một chiến sĩ, sau đó là đồng chí Trần Đương (Thượng sĩ, Trung đội trưởng Trung đội 1), tôi đi thứ tư, liên lạc. Mốt đi thứ năm. Đến cách cửa mở của Đại đội 10 khoảng 100m, ngoái lại không thấy ai, tôi cho Quý quay lại tìm. Toàn bộ đội hình sau tôi bị pháo binh bắn chặn, thương vong quá nhiều, tôi báo cáo về Tiểu đoàn cho tạm dừng để giải quyết hậu quả, củng cố đội hình và kiểm tra quân số, trang bị, 24 đồng chí hy sinh và bị thương trên tổng số 61 đồng chí vào trận. 37 đồng chí còn lại đã lên hết và triển khai xung quanh đồi Yên Ngựa mà ta vừa chiếm được, lúc đó khoảng gần 9 giờ.
Đại đội 10 bị thương vong quá lớn, khi chúng tôi lên thay, chỉ có thương binh được đưa về sau, số hy sinh vẫn còn nguyên trên trận địa... Qua hệ thống thông tin chỉ huy, Tiểu đoàn liên tục lệnh cho Đại đội 7 nhanh chóng củng cố đơn vị và tổ chức tiến công đánh chiếm điểm cao 560. Tôi báo cáo Tiểu đoàn là không thể tiến công được, vì hướng tiến công đã bị lộ, từ đồi Yên Ngựa vào điểm cao 560 quá xa, chỉ có con đường mòn, hai bên dày đặc mìn, không có hỏa lực khống chế. Xin được chọn hướng tiến công khác. Tôi cho cấp phó chỉ huy bộ đội hành quân theo sau, còn Đại đội trưởng, Chính trị viên, ba trung đội trưởng và Tiểu đội trưởng Tiểu đội 10 vòng bên trái đi trước chuẩn bị. Tất cả luồn, bò theo rừng cây rậm rạp, ra đến khu vực phát quang thì trời quang mây, rất gần cứ điểm 560, chỉ cách một bãi trống và một khe cạn, vách dựng đứng, toàn đá mồ côi và cả một bãi mìn dày đặc. Đơn vị tạm dừng để hội ý và phân công: Trung đội 3 và Trung đội 2 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu, do Đại đội trưởng và Chính trị viên chỉ huy. Trung đội 1 đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu bên phải đội hình, do đồng chí Giản - Đại đội phó chỉ huy. Dừng lại một lát tôi lấy tinh thần xung phong dò, gỡ mìn và mở cửa hướng chủ yếu. Vừa dứt lời thì Thượng sĩ Lương Xuân Toán - Trung đội phó Trung đội 2 xung phong, tôi đồng ý và giao cho Toán cùng hai chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ. Trời sáng, địch gần, bộ phận dò gỡ mìn làm chậm, tôi lệnh cho bộ phận khác vào thay. Bộ phận dò mìn đi trước, bộ đội bám sát theo sau. Đến hàng rào, tôi cho Cự, Thinh, Phướng bò vào chống, gỡ rào, ba đồng chí chui lọt vào trong. Trung liên bố trí yểm hộ phía sau. Có dấu hiệu bị lộ, ngay lập tức, tôi quan sát và vẫy tay ra lệnh cho B40, B41, trung liên bắn vào lô cốt đầu cầu, áp đảo địch. Tất cả dùng lựu đạn đánh vào chiến hào, cửa mở, tôi ra lệnh xung phong... Toàn đơn vị bật dậy đạp rào, bắn găm, bắn gần, nhanh chóng đánh chiếm chiến hào ngoài cùng. Diễn biến trận đánh rất nhanh. Chúng tôi bắt được bốn tên tù binh, khai thác tại trận địa vị trí sở chỉ huy tiểu đoàn địch, chúng chỉ lên đỉnh cao trước mặt. Tôi triển khai yểm trợ, đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Đi đầu là Tiểu đội trưởng Cự và Hùng, Thinh, cánh phải là Trung đội 1 cũng kịp tiến đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, bắt sống tên 3 tá tiểu đoàn trưởng, làm chủ khu vực sở chỉ huy. Tôi ra lệnh Trung đội 1 giữ chắc mỏm 1, dùng hỏa lực chi viện cho Trung đội 2, do đồng chí Thinh phụ trách, theo đội hình cuốn chiếu đánh sang mỏm 2 và 3, đi sau là Trung đội 3 lần lượt đánh chiếm nốt các mỏm còn lại. Ở phía ngoài, Đại đội 10 và Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 cũng phối hợp đánh chiếm toan bộ điểm cao 560 lúc 15 giờ ngày 21 tháng 3. Sau khi làm chủ điểm cao 560, Đại đội 7 bàn giao toàn bộ trận địa cho Tiểu đoàn 9 phòng ngự chốt giữ. Trên lệnh thu quân kiểm tra quân số, vũ khí, trang bị và rời khỏi trận địa ngay để tránh pháo binh trút đạn xuống hủy diệt. Mùa Đông trời tối rất nhanh, chúng tôi lần theo lối mòn cũ để đi, khó khăn vất vả lắm mới xác định được đường, vì cây cối đổ, gãy ngang lấp lối. Về đến vị trí buổi sáng mà bom, pháo đánh trúng đội hình, trừ số bị thương được chuyển đi, còn lại là tử sĩ vẫn còn nguyên vị trí chưa kịp chuyển. Tôi cho đơn vị dừng lại, qua ánh trăng lần tìm hết các đồng đội hy sinh để chuyển về tuyến sau. Loay hoay tìm rộng ra xung quanh thấy hố cá nhân sâu khoảng hơn một mét có một chiến sĩ ngồi, khẩu AK dựa vai, mặt ngửa lên trời, tôi kịp nhận ra chiến sĩ Diện có hàm răng cạp vàng, nhập ngũ ngày 1 tháng 10 năm 1974, quê Tứ Kỳ - Hải Hưng, vừa được bổ sung về đơn vị, tiếp theo là Trung đội trưởng Ninh, quê ở Lâm Thao - Vĩnh Phú. Cả một ngày chiến đấu liên tục, đói, khát, mệt nhưng với tinh thần cố gắng chúng tôi đưa sáu liệt sĩ của Đại đội về tuyến sau. Toàn đơn vị về đến hầm, khu tập kết ở chân đồi 366, lúc đó khoảng 2 giờ sáng ngày 22 tháng 3 năm 1975. Tôi vừa chợp mắt thì có lệnh lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Trên phổ biến tình hình, tất cả các đơn vị đang thừa thắng xốc tới, hành quân thâu đêm, xuyên rừng, lội suối để chuẩn bị đánh địch ngày hôm sau. Đồng chí Triển - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 giao nhiệm vụ cho Đại đội 7 khẩn trương hành quân về tây bắc điểm cao 560 phục kích, sẵn sàng đánh quân địch phản kích từ điểm cao 494, đường số 1 - Gián Bó. Về đơn vị tôi nhanh chóng đánh thức bộ đội dậy và tổ chức hành quân thực hiện nhiệm vụ. Đơn vị hành quân theo đường mòn. Pháo binh địch ở Mũi Né bắn chặn theo tọa độ khá chính xác. Đội hình đi thưa, vừa đi vừa chạy, đến địa điểm thì trời sáng, tôi đưa các bộ phận vào vị trí phục kích đánh địch ngay, ngụy trang kín đáo. Khoảng 10 giờ, chỉ huy Tiểu đoàn 9 gọi tôi lên điểm cao 560 nhận nhiệm vụ. Trời quang mây, máy bay các loại của địch gầm rú, ném bom bắn chặn, từng đoàn trực thăng bốn đến tám chiếc quần lượn bắn rốc két xuống đường số 1 dọc theo làng Bạch Thạch đến Gián Bó... Theo lệnh trên, Đại đội 7 nhanh chóng hành quân về Tiểu đoàn đang chiến đấu chia cắt đường số 1 khu vực làng Bạch Thạch... Thu quân và hành quân ngay theo các điểm cao 560, 494 xuống Gián Bó. Trên đường đi, Đại đội liên tục bị pháo binh, máy bay địch ném bom, bắn chặn... Đại đội 7 được Trung đoàn tăng cường 1 khẩu ĐKZ 75mm, qua điểm cao 494 xuống Gián Bó, từ trên cao nhìn xuống đường số 1 ngay dưới chân, thấy bảy chiếc xe tăng cùng bộ binh địch đang chậm chạp tiến đến khu vực Gián Bó, tôi ra lệnh triển khai đội hình chiến đấu, giá ĐKZ 75mm sẵn sàng bắn thẳng. Địch dừng ít phút, sau đó tất cả quay đầu chạy về Huế. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:16:44 pm Đại đội 7 được Tiểu đoàn 8 giao nhiệm vụ phòng ngự từ cầu Bạch Thạch theo làng vào chân điểm cao 200, rộng khoảng 700m, sâu hết làng về sau. Tôi triển khai các trung đội vào các vị trí thì trời cũng gần sáng ngày 23 tháng 3 năm 1975.
Dựa lưng vào thành công sự chợp mắt được ít phút thì trời sáng hẳn, nhìn qua cánh đồng lúa khoảng 300m, dải đồi trước mặt toàn lính địch. 12 giờ ngày 23 tháng 3, trên giao cho Tiểu đoàn 8 nổ súng tiến công đồi Bảo An, cây đa Đá Bạc, toàn bộ dãy đồi phía nam, tiến công phát triển đánh chiếm Mũi Né. Tiểu đoàn 7 phát triển theo đường số 1 ra Huế. Đúng thời gian hiệp đồng, Đại đội 7 vượt qua cánh đồng trống trải, đánh chiếm dãy đồi phía nam. Đại đội chia làm 2 mũi, mũi chủ yếu là Trung đội 3 do tôi chỉ huy vượt qua cánh đồng đánh vào dãy đồi trước mặt, mũi bên phải là Trung đội 1, đồng chí Dương chỉ huy, Trung đội 2 dự bị trên bờ cùng hỏa lực bắn kiềm chế. Đại đội 5 vượt qua cầu đánh đồn Bảo An, cây đa Đá Bạc. Đại đội 6 dự bị. Tất cả chúng tôi bí mật vượt qua cánh đồng lúa đang thì con gái, bùn ngập ngang ống chân, đi khom ra giữa cánh đồng vẫn giữ được bí mật. Tôi cho anh em vận động nhanh, bám bờ và xung phong đánh chiếm mục tiêu. Quân địch bỏ chạy, cối 60mm của ta bắn theo. Hai mũi tiến công song song theo đường sắt, tiến đánh điểm cao Mũi Né, Đại đội 5 theo mép nước và đường số 1 từ trận địa pháo phía tây bắc đánh lên, Đại đội 7 từ đường số 1 tiến công sang. Địch bỏ chạy, ta tiêu diệt một số, bắt sống một tù binh, làm chủ chiến trường. Sau đó, địch tập trung pháo binh ở đèo Phước Tượng bắn vào điểm cao Mũi Né. Đại đội 7 chia làm hai mũi, một mũi theo đường sắt, một mũi theo đường số 1 đang tiến công dọc đường giải phóng các mục tiêu tiếp theo thì nhận được lệnh tạm dừng, giữ các mục tiêu đã chiếm. 19 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1975, toàn bộ Tiểu đoàn 8 và một bộ phận chỉ huy cơ quan Trung đoàn 18 theo đường số 1 tiến công các mục còn lại và giải phóng quận lỵ Phú Lộc. Đại đội 7 đi đầu, chia làm hai mũi theo sườn đường số 1, đi sau là các đơn vị của Tiểu đoàn, sau cùng là Sở Chỉ huy Trung đoàn 18. Tât cả đi nhanh, im lìm trong đêm tối, súng đạn sẵn sàng, vừa đi vừa hỏi đường. Quận lỵ Phú Lộc nằm bên trái đường, cách cầu khoảng 200m, do trời tối không nhìn rõ nên đơn vị vượt qua cổng mới phát hiện ra, phải lùi lại triển khai chiến đấu. Địch khóa cổng, chúng tôi phá cổng vào. Chi khu Phú Lộc có năm lớp rào xung quanh, lô cốt, ụ súng kiên cố, tôi cho triển khai hai mũi tiến công, địch thấy ta áp sát không dám chống cự, lui vào hầm, hào theo cửa sau tháo chạy, ta vây ép bắt được một số tù binh, thu toàn bộ vũ khí trang bị, làm chủ chi khu quận lỵ Phú Lộc. 21 giờ, ta thu hai khẩu 81mm còn bố trí ở nguyên trận địa và hai khẩu 12,7mm. Ta sử dụng để bắn cầm canh trong đêm về phía nam. Sau khi làm chủ quận lỵ Phú Lộc, Đại đội 7 có nhiệm vụ chốt giữ chi khu, tôi đưa Trung đội 1 ra chốt giữ đầu cầu, gài mìn đề phòng địch ở Đà Nẵng tiến công ra. Đại đội 5, Đại đội 6 chốt giữ phía sau. Sáng sớm hôm sau, cấp trên điều Đại đội 7 đi làm nhiệm vụ mới. Đại đội được tăng cường một ĐKZ 82mm, một khẩu 12,7mm, 37 tay súng lên một xe Reo, có đồng chí Chính - Tiểu đoàn phó đi cùng. Quá nửa đường chúng tôi xuống xe đi bộ vào Sở Chỉ huy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên nằm trong núi để hiệp đồng tác chiến. Các anh cho người đơn vị ra cửa Tư Hiền, ở đó có một đại đội địa phương đang chiến đấu từ ngày 23 tháng 3, quân số thương vong lớn, đạn không đủ đánh, đang chờ chi viện. Đơn vị chúng tôi đến vừa đúng lúc, thay vào và chiến đấu luôn. Trên đồi cao, bố trí quân, hỏa lực khóa chặt cửa Tư Hiền. Địch đông, tháo chạy từ Huế theo ven biển, phá Tam Giang mở đường máu chạy về Đà Nẵng. Các loại súng, hỏa lực ĐKZ cối 60mm, 12,7mm bắn chặn, khóa chặt, địch chết nhiều nhưng khi ta dừng bắn chúng lại liều mạng vượt qua. Bắn nhiều đạn nên cũng hết, qua máy 2W tôi báo cáo về, cấp trên ra lệnh phải bịt bằng được cửa Tư Hiền không để cho địch rút về Đà Nẵng. Chính ủy Sư đoàn Lê Văn Dương điện vượt cấp xuống thằng Đại đội giao nhiệm vụ: "Đại đội 7 phải kiên quyết chặn, cắt không cho địch vượt qua cửa Tư Hiền... Chúng lui về Đà Nẵng là khó cho ta về sau". Chấp hành lệnh của Chính ủy, tôi ra lệnh hỏa lực bắn chặn, cắt và chi viện, tổ chức hai mũi đánh thẳng từ trên núi xuống mép biển, cắt đôi đội hình địch, tù binh bắt được tới vài trăm tên. Tôi điện báo về xin chỉ thị, trên trả lời chỉ bắt tù binh là sĩ quan còn binh lính tha bổng. Chiều về tối, Đại đội 7 chốt giữ cửa Tư Hiền và áp giải hơn 100 tù binh toàn là cấp úy, cấp tá gom vào một khu vực và tổ chức canh gác... Khoảng 20 giờ thì chúng tôi được Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 101 do Trung đoàn phó Đắc chỉ huy ra tăng cường phối hợp. Cả đêm 24 tháng 3, với quân số hơn 40 đồng chí, chúng tôi phải chốt chặt cửa Tư Hiền không cho địch từ Huế chạy vào Đà Nẵng và canh giữ tù binh, không ai được ngủ, mệt, đói, khát. Rất may lúc đó có trung đội địa phương phối hợp, tặng cho anh em tôi mấy bánh lương khô, gạo sấy. Nước suối toàn mùi phân trâu nhưng chúng tôi vẫn phải uống, cả Đại đội bị "Tào Tháo đuổi" mất vài ngày. Sáng hôm sau, máy bay, pháo hạm địch tập trung đánh phá, hủy diệt cửa Tư Hiền. 12 giờ ngày 25 tháng 3, trên thông báo thành phố Huế được giải phóng. Chiều 25 tháng 3, Đại đội 7 được lệnh bàn giao toàn bộ khu vực cửa Tư Hiền cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên chốt giữ và hơn 100 tên tù binh sĩ quan cho địa phương, hành quân về đội hình Tiểu đoàn làm lực lượng dự bị phía sau. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:18:19 pm B. Chiến dịch Đà Nẵng
Mờ sáng 29 tháng 3, Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn triệu tập cán bộ Tiểu đoàn 8 cùng các cán bộ đại đội lên nghe phổ biến tình hình, nhận nhiệm vụ. Phó Tư lệnh nói: Thời cơ đã đến, chúng ta phải tập trung tiến công đánh chiếm đèo Lăng Cô, đèo Hải Vân nhanh nhất để đưa lực lượng vào giải phóng thành phố Đà Nẵng... Tiểu đoàn nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đại đội 6 ngồi trên bảy chiếc xe tăng đi đầu, Đại đội 7 chúng tôi cùng Đại đội 5, hỏa lực Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 ngồi trên mấy xe ô tô kế sau. Hỏa lực chế áp 30 phút đầu cầu đèo Lăng Cô chuyển làn lên đèo Hải Vân, lợi dụng thời cơ, cả Tiểu đoàn nhanh chóng vượt qua cầu, bám trụ và phát triển. Quân địch thấy bộ binh, xe tăng ta thì chống cự quyết liệt, nhưng sau đó tháo chạy. Ta vừa hành tiến vừa chiến đấu, giải quyết các mục tiêu còn lại và đánh chiếm đèo Hải Vân lúc 10 giờ ngày 29 tháng 3, rồi triển khai giữ. Xe tăng chúc nòng pháo về hướng quân càng và chân đèo sẵn sàng nhả đạn. Thiếu úy Cao Minh Lục - Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát 20 Trung đoàn 18 đi đầu đội hình, bắt được liên lạc với lực lượng vũ trang địa phương Đà Nẵng, biết tin lực lượng vũ trang và nhân dân Đà Nẵng đã chuẩn bị sẵn sàng đón quân giải phóng tiến vào, trong lúc đó quân địch rất hoang mang lo sợ... Cầu Trịnh Minh Thế cây cầu độc nhất trên đưcmg số 1 để tiến quân vào thành phố đã bị địch gài mìn. Nắm được tình hình, Phó Tư lệnh Hoàng Đan ra lệnh tiến công Đà Nẵng. Trên đỉnh đèo xuống đến kho xăng Liên Chiểu, Đại đội 7 cử một tiểu đội chốt giữ cây xăng ngay bên đường và bàn giao cho lực lượng địa phương sau khi Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Đầu đội hình đơn vị cách cầu Trịnh Minh Thế khoảng 200m thì dừng lại, công binh xuống khắc phục mìn, khoảng một giờ thì xong. Vượt qua cầu Trịnh Minh Thế, đoàn xe nhanh chóng tiến vào thành phố. Nhân dân Đà Nẵng cờ hoa rợp trời, người đông chật ních hai bên đường vẫy chào chúng tôi. Trong Chiến dịch Đà Nẵng, từ phía nam co Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng các lực lượng Quân khu 5 phối hợp, Sư đoàn 304 ở Thượng Đức đánh xuống... Các hướng phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã hơn 10 vạn quân đỊch chốt giữ ở đây. Chúng tôi bàn giao trung tâm thành phố cho đơn vị bạn để tấn công ra bán đảo Sơn Trà và quân cảng Đà Nẵng. Một cảnh tượng hỗn loạn chưa từng có: Bắn giết, cướp bóc, trèo leo lên tàu chạy trốn, một số thì buông vũ khí xin hàng. Chúng tôi dừng và chốt giữ tại cảng. Đại đội 7 được giao chốt giữ toàn bộ khu ra đa viễn thông trên bán đảo Sơn Trà. Lên đến nơi trời đã khuya, màn đêm yên tĩnh quá như chưa hề có trận đánh quyết liệt mới diễn ra hồi chiều. Mờ sáng dậy nhìn từ trong rừng ra bãi biển thấy rất đông lính ngụy và người nhà của họ ẩn núp trong đó chờ ra cảng vượt biển. Ở trên cao phóng tầm mắt nhìn ra biển và xung quanh, không gian bao la, biển trong xanh, sóng vỗ rì rào, nhìn về thành phố thấy xe cộ tâp nập, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng rợp trời, không còn tiếng súng nổ. Đến trưa, chúng tôi bàn giao khu ra đa viễn thông và trở về thành phố chốt giữ, bảo vệ khu vực tổng kho Đà Nẵng. Khi rút chạy, quân địch không kịp phá hủy, phân tán kho nên còn nguyên vẹn hàng nghìn xe ô tô các loại, hàng trăm khẩu pháo 155mm, 105mm. Thành phố Đà Nẵng được giải phóng có hơn 10 vạn binh lính vừa đầu hàng hoặc tan rã. Chính quyền mới được thành lập ngay sau đó, để ổn định tình hình, Ủy ban Quân quản được thành lập, thiết lập an ninh trật tự ngay từ ngày đầu. Sĩ quan, binh lính và nhân viên chính quyền cũ phải ra trình diện chính quyền cách mạng... Nhân dân phân khởi mừng thành phố được giải phóng, nô nức đến thăm hỏi các đơn yị Quân giải phóng. Đơn vị chúng tôi ngày nào cũng đón tiếp các đoàn thể và nhân dân đến thăm, tặng quà, ngày nấu cơm ba bữa gánh đến đơn vị mời ăn. Quần áo các má, các chị em thiết tha xin được đưa về nhà giặt giũ, khâu vá... Chúng tôi rất ngại ngùng vì lòng tốt của các má và chị em. Thực tình toàn đơn vị chúng tôi mỗi anh em chỉ có một bộ mặc trên người từ ngày đầu đi chiến dịch (21 tháng 3), ba lô chúng tôi để lại nên không có quần áo để thay, giặt, rất bẩn và hôi, nhiều đồng chí áo, quần rách bươm. Vài ngày sau đó cấp trên cấp bổ sung cho mỗi người một bộ, còn lại ba lô, tư trang cấp cá nhân vẫn nằm ở chân đồi 366, chân điểm cao 560 tây bắc Phú Lộc - Thừa Thiên. Qua gần 10 ngày tham gia hai chiến dịch Trị Thiên - Huế, chúng tôi liên tục đánh nhiều trận, chủ yếu trong hành tiến, chặn, cắt rất ác liệt, gian khổ nhưng chiến thắng vẻ vang. Trận trước đánh thắng tạo thế tạo đà cho trận sau, cứ như thế đơn vị liên tiếp giành thắng lợi, khí thế thi đua lập công sôi nổi. Sau khi dừng lại củng cố, bình bầu thành tích nhiều đồng chí trong Đại đội được thưởng Huân chương Chiến công các loại và bằng, giấy khen; cá nhân tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, anh Đậu Văn Bạch - Chính trị viên được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, đơn vị được lệnh rút quân về đóng tại cứ Quang Trung và được bổ sung 50 tân binh thuộc Sư đoàn 338 vừa hành quân từ Phú Thọ vào. Tân binh hầu hết nhập ngũ tháng 7 năm 1974, quê Hà Nội, được biên chế về ngay các tiểu đội, trung đội để sẵn sàng bước vào trận chiến đấu mới. Quân đoàn 2 được Bộ đồng ý tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn cùng với lực lượng vũ trang Quân khu 5 "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" dọc theo các tỉnh miền Trung vào đến cửa ngõ Sài Gòn, địch gọi là cánh quân duyên hải. Chuẩn bị xuất quân thì các cánh quân nhận được điện của Đại tướng Vố Nguyên Giáp với nội dung: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới chiến trường giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng". Nắm vững tư tưởng chỉ đạo và mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, toàn đơn vị khí thế hừng hực chuẩn bị lên đường ra mặt trận. Tất cả các xe đều dán khẩu hiệu "Thần tốc - táo bạo - chắc thắng" trên cửa xe và cắm cờ Giải phóng. Để phù hợp với nhiệm vụ, Sư đoàn, Quân đoàn tổ chức tiến công thành từng khối cấp trung đoàn có tăng cường pháo binh, phòng không, xe tăng và các binh chủng bảo đảm khác để vừa hành quân vừa tác chiến. Ngày 10 tháng 4 năm 1975, khối đi đầu Trung đoàn 101 có đại đội xe tăng, thiết giáp phối thuộc, từ Đà Nẵng theo đường số 1 thẳng theo hướng nam mà tiến. Tiếp sau là Trung đoàn 18, đến Sư đoàn 304, Sư đoàn 324 đi sau cùng. Các đơn vị binh chủng tăng cường cho các đơn vị bộ binh, thành khối binh chủng hợp thành, còn lại do Quân đoàn, các sư đoàn nắm. Toàn bộ đội hình hành quân bằng cơ giới, xe nào cũng cắm cờ Giải phóng, nối đuôi nhau, dài dằng dặc, đi giữa ban ngày. Nhân dân hai bên đường vẫy cờ, hoa chúc mừng đoàn quân giải phóng. Chúng tôi liên tục nhận được, hoa, kẹo, bánh, thuốc lá của nhân dân trao tặng cùng những lời chúc đi mạnh khỏe, chiến thắng! Qua đất Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định mới được giải phóng, chúng tôi dừng hai bên đường mắc võng tạm nghỉ. Nhân dân đến hỏi thăm, động viên thật tình cảm. Những ngày hành quân từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, nhiều bữa chúng tôi không phải nấu cơm mà là do nhân dân tiếp tế, thật đúng là cuộc chiến tranh nhân dân, bộ đội của dân, quân đội nhân dân nên đi đến đâu cũng được nhân dân tận tình giúp đờ. Trên đường hành quân, nhiều đoạn chúng tôi phải dừng vì địch dùng không quân đánh phá ngăn chặn, đường hỏng, cầu hỏng phải khắc phục. Đoàn xe kéo dài, nối đuôi nhau hàng chục kilômét, cử phải nhích dần từng đoạn, có ngày chỉ đi được trên dưới 20km. Bộ đội liên tục phải ăn, ngủ, nghỉ ngồi trên xe... rất căng thẳng, mệt mỏi. Không chỉ có không quân đánh phá, chặn đường, địch còn sử dụng pháo hạm ngoài biển bắn vào đội hình ở các khu vực trọng điểm, gây cho ta không ít thương vong, tổn thất. Vào đến Khánh Hòa, thành phố Nha Trang vừa mới được giải phóng, mùi bom, đạn, nhà cửa cháy khét lẹt, ngổn ngang bãi chiến trường. Lệnh trên tạm dừng, đơn vị triển khai hai bên đường, các khe núi, rừng cây đề phòng bom, pháo. Thị xã Phan Rang (Ninh Thuận), thị xã Xuân Lộc (Long Khánh) địch coi là hai lá chắn thép, quyết tử thủ để bảo vệ Sài Gòn từ xa. Quân khu 5 trước đó sử dụng Sư đoàn 3 đánh thị xã Phan Rang nhưng không thành. Ngày 14 tháng 4, đầu đội hình hành quân của Quân đoàn chỉ còn cách thị xã Phan Rang khoảng trên dưới 10km thì dừng lại chuẩn bị đánh Phan Rang. Trung đoàn 101 được tăng cường Tiểu đoàn 4 xe tăng - thiết giáp của Lữ đoàn Xe tăng 203, được pháo binh chi viện, đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu. Trung đoàn 18 làm lực lượng dự bị. Tất cả làm công tác chuẩn bị rất khẩn trương trong ngày 15 để sáng 16 triển khai đội hình chiến đấu. 5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 4, pháo binh bắn chế áp 30 phút, Phan Rạng rung chuyển bởi tiếng nổ, tiếng rít của pháo, súng cối, xe tăng. Bộ binh đồng loạt xung phong. Địch chống cự quyết liệt. Ta bị thương vong, tổn thất nhưng vẫn giành thắng lợi. Trung đoàn 101 cùng với Sư đoàn 3 giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang, diệt, bắt sống và làm tan rã hoàn toàn quân địch. Lá chắn thép Phan Rang bị san bằng, uy hiếp trực tiếp Sài Gòn. Thị xã Xuân Lộc sau nhiều lần tiến công không dứt điểm, ta thương vong lớn, Quân đoàn 4 phải rút ra củng cố. Ngày 22 tháng 4, ta cũng san phẳng lá chắn Xuân Lộc, mở đường cho cánh quân duyên hải hành quân vào tập kết ở khu rừng cao su Ông Quế thuộc tỉnh Đồng Nai (phía đông, đông nam Sài Gòn). Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:08:49 pm C. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
30 năm chiến tranh giải phóng của quân và dân ta, đây là chiến dịch cuối cùng và cũng là chiến dịch lớn nhất. Tham gia chiến dịch gồm Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và Đoàn 232 tương đương quân đoàn. Năm cánh quân trên năm hướng tập trung đánh vào Sài Gòn. Chiều và đêm 22 tháng 4 năm 1975, đi đầu đội hình Quân đoàn 2 gồm khối Trung đoàn 101, Trung đoàn 18, Sư đoàn bộ, Trung đoàn Pháo binh 84, sau đó là lần lượt Sư đoàn 304, khối trực thuộc Sư đoàn 3 Quân khu 5 tăng cường cho Quân đoàn. Sư đoàn 324 hành quân sau cùng, là lực lượng dự bị (phòng thủ khu vực Phan Rang - Ninh Thuận). Các đơn vị lần lượt hành quân trên đường số 1, vượt qua thị xã Xuân Lộc còn ngổn ngang xe, pháo cháy, xác lính địch chết, quân trang, quân dụng vứt đầy đường... chưa kịp thu dọn. Đêm 24 tháng 4 năm 1975 và những ngày tiếp theo, các đơn vị toàn Quân đoàn lần lượt hành quân vào tập kết tại khu rừng cao su Ông Quế, khẩn trương làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Hướng đông nam Quân đoàn 2 bố trí cụ thể như sau: Sư đoàn 304 tiến công trên hướng chủ yếu vào khu vực Nước Trong (Trường Bộ binh) do Trung đoàn Bộ binh 9 đảm nhiệm hướng thứ yếu tiến công đánh chiếm Trường Thiết giáp, Trường Biệt kích do Trung đoàn 24 đảm nhiệm. Trung đoàn Bộ binh 66 có xe tăng, thiết giáp, pháo 85mm, cao xạ 37mm phối thuộc là lực lượng cơ động thọc sâu khi có thời cơ vào mục tiêu chính dinh Độc Lập. Sư đoàn 325 được tăng cường Trung đoàn 46 Quân khu 3 tiến công trên hướng quận lỵ Long Thành - Cát Lái. Trung đoàn Bộ binh 101 được tăng cường một đại đội xe tăng, có pháo binh cấp trên chi viện, có nhiệm vụ hành tiến, triển khai tiến công quận lỵ Long Thành (Đồng Nai). Trung đoàn 46 (trên tăng cường) tiến công Lai Phước, phà Cát Lái. Tiểu đoàn Bộ binh 8 Trung đoàn 18 được chi viện hỏa lực tiến công Nhà máy cao su Bình Sơn, bảo đảm bên cánh trái cho Trung đoàn Bộ binh 101. Sư đoàn Bộ binh 3 Quân khu 5 tăng cường cho Quân đoàn 2, được tăng cường một đại đội xe tăng, có hỏa lực pháo binh Quân đoàn chi viện, có nhiệm vụ tiến công cầu Cỏ May, sau đó đánh dọc đường số 15 đi Bà Rịa - Vũng Tàu, khóa chặt đường sông Lòng Tàu không cho địch rút ra biển. Tiểu đoàn 8 chúng tôi tập kết tại khu rừng cao su, sáng ra được bộ đội địa phương đến chỉ dẫn các khu vực trú quân và dẫn đi hái rau rừng, lấy mít xanh về gọt nấu ăn. Vì nửa tháng hành quân trên đường chủ yếu ăn đồ hộp, thấy có rau chúng tôi rất mừng, nhưng mít xanh chúng tôi không biết nấu, phải nhờ chị em du kích miền Đông hướng dẫn. Chuẩn bị ăn cơm trưa thì có lệnh triệu tập gấp lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Tôi cùng Chính trị viên Đậu Văn Bạch đeo súng, xà cột vội lên đường. Chỉ huy Tiểu đoàn ở cách chúng tôi khoảng 2km, cũng trong rừng cao su. Khi hai chúng tôi tới nơi thì mọi người đã có mặt đầy đủ. Cuộc họp có cả Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Lẫm, Chính ủy Nguyễn An Gang và Tham mưu trưởng Trung đoàn cùng bốn cơ quan dự. Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho Đại đội 7 được tăng cường hỏa lực, tiến công đánh chiếm Nhà máy cao su Bình Sơn, bảo vệ sườn trái cho Trung đoàn Bộ binh 101 tiến công quận lỵ Long Thành. Lực lượng địch tại Long Thành gồm: Liên đoàn 933 biệt động quân, một bộ phận Lữ đoàn 468 thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn Pháo binh 105mm và lực lượng bảo an dân vệ và lực lượng địch ở Xuân Lộc kéo về, ước tính 1.500 tên. Sau khi đi trinh sát, nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường, tôi trực tiếp báo cáo Tiểu đoàn, Trung đoàn rằng nếu chỉ sử dụng Đại đội 7 thì nhiệm vụ đơn vị quá nặng, không chắc thắng. Đề nghị của tôi phù hợp nên được cấp trên chấp nhận sử dụng Đại đội 5, Đại đội 6 dự bị. Chiều ngày 25 tháng 4 năm 1975, xe ô tô ngụy trang kín đáo chở cán bộ chúng tôi theo đường số 2 từ Dầu Giây về Bình Sơn, Long Thành đi trinh sát chuẩn bị chiến trường. Trên trời, máy bay các loại gầm rít, quần lượn, bổ nhào ném bom, bắn phá các khu vực xung quanh... Từ ngã ba Xuân Lộc theo hướng đường số 2 đi Vũng Tàu, cánh rừng cao su Ông Quế kéo dài và rộng vào trong, đâu đâu cũng có các đơn vị đóng quân, các trang bị chiến đấu ngụy trang kín đáo sẵn sàng chờ lệnh. Xe dừng, theo chỉ dẫn của hai đồng chí địa phương, chúng tôi cắt hướng về căn cứ địch. Từ trong cánh rừng cao su, chúng tôi chọn đến một vị trí cao, kín, dễ quan sát căn cứ Bình Sơn. Nhà máy rộng, xung quanh trống trải, phía xa bên trái có một dáng đất trống, cao (sau này ta gọi là điểm cao 15). Tôi xác định mục tiêu tiến công chủ yếu, thứ yếu, xác định hướng tiến công, đường cơ động, vị trí triển khai cho các trung đội và vị trí đặt hỏa lực chi viện. Cụ thể, Trung dội 3, Trung đội 2 tiến công hướng chủ yếu vào nhà máy; Trung đội 1 tiến công bên phải chia cắt đường vào nhà máy không cho địch ứng cứu hoặc rút chạy. Bên trái Đại đội tôi là Đại đội 5, hướng thứ yếu của Tiểu đoàn, tiến công vào điểm cao 15, khóa chặt cánh trái vào nhà máy. Trời tối dần, tôi cho tiến sát vị trí địch, gặp một con suối, chúng tôi tụt xuống định vượt sang bên kia, nhưng suối quá sâu, phải kéo tay nhau lên bờ, người nào cũng ướt sũng. Chúng tôi chỉ vắt tạm nước rồi tiếp tục trinh sát địa hình xung quanh. Trên đường trở về đơn vị, trời khuya, chúng tôi vừa đói vừa khát nhưng không có gì để ăn, chợt ngẩng lên thấy nhiều cây có trái, đẩy đít nhau trèo lên, rút dao găm chặt một quả xuống, tưởng là mít xanh, nhưng không sao bổ được. Một người tay cầm cán dao, một người đứng giậm mũi dao mới bổ được làm đôi nhưng không ăn được, gai nhọn xuyên cả vào tay chảy máu, mọi người đều hỏi nhau mít gì mà lạ vậy? Sau này mới biết đó là quả sầu riêng. Tôi để lại một tổ bốn đồng chí cùng hai đồng chí địa phương dẫn đường ở lại bám nắm địch và sau sẽ dẫn đơn vị vào chiến đấu, còn lại đều trở về đơn vị làm công tác chuẩn bị. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:22:05 pm Chiều 26 tháng 4 năm 1975, tất cả các đơn vị Quân đoàn 2 trên các hướng đều chiếm lĩnh trận địa xong và báo cáo về Sở Chỉ huy Quân đoàn sẵn sàng nổ súng theo kế hoạch.
17 giờ, tất cả pháo binh Quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn bắn vào các mục tiêu theo kế hoạch 40 phút. Pháo gầm rít làm rung chuyển cả một vùng khiến nhiều trận địa hỏa điểm quân địch tê liệt. Hướng chủ yếu của Sư đoàn 304 đánh chiếm được một phần căn cứ Nước Trong, phát triển vào sâu bị địch ra phấn kích ngăn chặn không tiến lên được, trời tối phải dừng lại củng cố. Ngày 27, Trung đoàn 9 nhiều lần xốc lại đội hình tổ chức tiến công căn cứ Nước Trong, bị thương vong, tổn thất khá nặng. Sang ngày 28, ta và địch cài răng lược. Đơn vị hết lương thực, nước uống, phải dùng xe phía sau đưa lên tiếp tế. Đến ngày 29 ta mới làm chủ được căn cứ Nước Trong, tiến ra chiếm cầu Sông Buông, phát triển ra ngã ba xa lộ. Địch cố thủ, ta phải dùng xe tăng áp đảo mới chiếm được ngã ba xa lộ, phát triển chiếm đầu cầu và cùng Lữ đoàn Đặc công 116 giữ cầu cho đến sáng 30 quân ta đánh chiếm toàn bộ cầu, tạo điều kiện cho Trung đoàn Bộ binh 66 (mũi thọc sâu của Quân đoàn) theo đường số 1 vào giải phóng các mục tiêu còn lại, thọc sâu đánh chiếm dinh Độc Lập. Hướng Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tiến đánh căn cứ biệt kích, Trường Thiết giáp, sau đó phối hợp Trung đoàn Bộ binh 9 giải phóng căn cứ Nước Trong, phát triển ra ngã ba đường số 15. Hướng Sư đoàn Bộ binh 3, được hỏa lực chi viện, xe tăng bên cầu chế áp, bộ binh vượt cầu Cỏ May đánh chiếm mục tiêu, nhưng bị địch dùng hỏa lực bên kia đầu cầu phản kích, ta bị thương vong lớn, phải tổ chức tiến công lại nhiều lần mới đánh chiếm được mục tiêu, phát triển đánh chiếm dọc đường số 15 đi Vũng Tàu. Ngày 28 - 29 tháng 4, Sư đoàn cùng lực lượng địa phương tại chỗ giải phóng thành phố Vũng Tàu, một lực lượng vòng phải khóa chặt sông Lòng Tàu không cho địch rút theo sông ra biển. Ngày 30 tháng 4, quân ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hướng Sư đoàn Bộ binh 325, sau khi hỏa lực các cấp tập trung bắn vào các mục tiêu theo kế hoạch, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 tập trung hỏa lực của Tiểu đoàn, các đại đội bắn vào Nhà máy cao su Bình Sơn làm tê liệt quân địch ngay từ phút đầu. ĐKZ, súng máy 12,7mm, đại liên chế áp phía trước, hai bên sườn cửa mở số 1, số 2, tôi cho đội hình cơ động dần, tiến sát cửa mở. Lệnh xung phong, bộ đội bật dậy như lò xo vượt qua bãi trống tiến sát nhà máy. Địch phục hồi, dùng hỏa lực bắn trả quyết liệt, quyết ngăn chặn các mũi tiến công của ta. Đang trên đường tiến, bỗng tất cả dừng lại. Trước mặt là một chiến hào rộng khoảng 3m, sâu hơn 2m, bộ binh không thể vượt qua. Tôi quan sát và ra lệnh nằm xuống, hai đồng chí một kéo tay nhau thả xuống hào, sau đó hai đồng chí đội đít, chân đẩy lên, cứ như thế lần lượt rất nhanh qua hết hào, theo đội hình cuốn chiếu nhanh chóng bám theo rãnh thoái nước đánh chiếm nhà máy từ ba phía. Chúng tôi làm chủ nhà máy lúc 18 giờ 30 phút. Hướng thứ yếu, Trung đội 1 khi được lệnh nổ súng đã nhanh chóng thọc sâu vào bên trong, chia cắt đường vào nhà máy, không cho địch rút chạy, chốt chặt ngã ba. Một mũi đánh thẳng vào bên trái và nhà máy, phối hợp hướng chủ yếu làm chủ Nhà máy cao su Bình Sơn. Sau trận đánh, các bộ phận tập trung tù binh dẫn giải bàn giao cho trên, đưa thương binh về tuyến sau. Đơn vị phát triển theo cánh phải đánh ra ngã ba đường số 25 để bảo vệ bên sườn trái cho Trung đoàn Bộ binh 101 tiến công vào thị trấn Long Thành. Hướng tiến công Đại đội 5 (bên trái), khi tiến vào bên trong, bị địch lợi dụng địa hình, địa vật chống trả quyết liệt nên không tiến lên được. Đại đội cơ động lên bao vây ba phía nhưng ba mặt điểm cao 15 đều có nhiều lớp hàng rào, do không chuẩn bị sẵn bộc phá nên không thể vào được. Đại đội tạm dừng tiến công và tổ chức trinh sát nắm lại tình hình, xác định cửa mở. Lực lượng luồn rào vào trinh sát, đi đầu là Tiểu đội trưởng, tiếp theo là đồng chí Chuẩn úy, Trung đội trưởng, sau là chiến sĩ. Bò được hàng rào thứ nhất, sang hàng rào thứ hai thì bị lộ, địch nổ mìn clâymo khiến hai đồng chí đi đầu hy sinh, một đồng chí bị thương bò ra được ngoài hàng rào. Đại đội 5 triển khai hai mũi tấn công bên ngoài cùng hỏa lực ĐKZ, 12,7mm, cối 82mm sẵn sàng chi viện, mở cửa tiến công điểm cao 15. Cán bộ Đại đội, Tiểu đoàn đang loay hoay tính kế thì phía xa, bên trái, theo trục đường qua sườn bắc cứ điểm có nhiều tiếng động cơ, đèn pha sáng quắc chiếu vào. Tiểu đoàn trưởng Trần Minh Thiệt cử ngay cán bộ ra chặn đường, bắt liên lạc, đó là xe ATS kéo pháo 130mm của Lữ đoàn 164. Ý định của Tiểu đoàn trưởng là nhờ Lữ đoàn dùng xe chạy quanh áp đảo tinh thần quân địch trong cứ điểm, nhưng đơn vị pháo binh không đồng ý, chỉ cho bốn xe quay lại dùng đèn pha chiếu thẳng vào căn cứ địch. Địch hoang mang tường ta sử dụng xe tăng tấn công, tháo chạy ra các hướng. Bên ngoài, ta đã triển khai sẵn, cơ bản địch bị bắt sống, căn cứ Bình Sơn bị tiêu diệt. Ta khai thông đường để đưa xe pháo vào sâu bên trong. Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 phát triển đánh chiếm ngã ba đường số 25 thì đội hình tiến công có xe tăng đi đầu, các xe cơ giới chở quân tiếp theo lần lượt qua ngã ba đường số 25 tiến công Long Thành. Trung đoàn 101 nhanh chóng triển khai và tiến công các mục tiêu bên trong thị trấn. Ban đầu địch chống trả nhưng rồi lần lượt bỏ chạy, có bộ phận leo lên tầng nhà, tháp nước, có bộ phận dạt ra xung quanh và rừng cao su. Đại đội xe tăng và bộ binh thừa thắng chọc thẳng ra đường số 15, rẽ phải, thẳng tiến khoảng 5 - 7km thì gặp xe tăng và bộ binh địch ở ngã ba Thái Lan (Trường Bộ binh) - Ta dừng lại triển khai, hai bên đấu pháo. Lệnh trên, Đại đội xe tăng quay lại Long Thành. Trời tối, do chủ quan, tưởng Long Thành hết địch, quân ta bị bọn núp ở trên nhà tầng, tháp nước dùng hỏa lực bắn cháy một xe tăng, một xe thiết giáp, toàn bộ hai kíp xe và bộ binh ngồi trên xe đều hy sinh. Trong đêm, thỉnh thoảng lại rộ lên nhiều tiếng súng nổ, địch trên tầng nhà, tháp nước bắn xuống, quân ta ở dưới bắn lên. Khu vực xung quanh và rừng cao su địch còn rất đông, điên cuồng chống trả hòng chiếm lại một số điểm. Ta và địch nổ súng giằng co cho đến sáng 27 tháng 4 năm 1975. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:23:08 pm Khi Trung đoàn 101 vượt qua ngã ba đường số 25, trên lệnh Đại đội 7 hành quân bảo vệ đội hình phía sau Trung đoàn 101. Tôi cho lực lượng chốt cầu Bình Sơn, Trung đội 3 và chỉ huy Đại đội bố trí trên đỉnh cao nhìn xuống, Trung đội 2 chặn phía sau, hình thành trận địa đánh địch được trên các hướng.
Trên hướng thứ yếu của Sư đoàn, Trung đoàn 46 tiến công đánh chiếm cầu Đông Hữu, Quán Tre, vận động đánh chiếm ngã ba Phước Thành thuận lợi, cô lập địch ở quân lỵ, tạo điều kiện cho Trung đoàn 101 tiêu diệt địch. Sau khi đánh chiếm được thị xã Long Thành, Trung đoàn 101 phối hợp với Trung đoàn 46 tiến công tàn quân địch ở ấp Thái Lạc. Kết hợp chặt chẽ hỏa lực và các mũi, hướng tiến công cả chính diện và bên sườn, đến 16 giờ 30 phút ta đã làm chủ mục tiêu, giải phóng hoàn toàn quận lỵ Long Thành. Khoảng hơn 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4, lần lượt đội hình xe pháo hạng nặng của Quân đoàn hành quân tới, đầu đội hình đến đầu cầu Bình Sơn. Long Thành còn địch, trời sáng, đội hình Quân đoàn quá lớn, máy bay địch có thể oanh tạc, đánh phá cả đội hình xe, pháo kéo dài hàng cây số chờ tiến lên phía trước. Đang kiểm tra bộ đội, tôi phát hiện có bảy tên lính ngụy Sài Gòn, tôi ra lệnh dừng lại, chúng bỏ chạy, bộ phận chốt cầu bắn lên, trên đỉnh bắn xuống, chúng lọt ở giữa, nhanh chóng bị tóm gọn gồm: Một tên thiếu úy, một tên giữ máy PRC 25, một tên giữ trung liên, còn lại là bộ binh. Chúng khai thuộc lính Sư đoàn 18, thất thủ ở Xuân Lộc chạy về, ở trong rừng ra thấy toàn bộ xe pháo trên đường tưởng là đồng bọn nên nhập vào và cứ thế đi, khi bị bắt chúng mới biết là Quân giải phóng. Sáng sớm 27 tháng 4 ta chưa dứt điểm được Long Thành, trên lệnh cho Trung đoàn Bộ binh 18 tăng cường Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 và Tiểu đoàn Bộ binh 9 cho Trung đoàn 101 tấn công Long Thành. Chúng tôi triển khai cách quận lỵ khoảng hơn 1km. Được lệnh tiến công, Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 và Tiểu đoàn Bộ binh 9 theo rừng cao su chặn, cắt đường số 15 đoạn từ Long Thành đi ngã ba Nước Trong, sau đó đánh thẳng theo đường số 15 vào Long Thành phối hợp với Trung đoàn 101 tiến công từ các hướng. Địch ờ Long Thành chống cự quyết liệt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nguyễn Ánh Dương hy sinh, Trung đoàn 101 xốc lại đội hình và tiến công dứt điểm từng mục tiêu, đến khoảng hơn 10 giờ, các mũi tiến công gặp nhau, thị trấn Long Thành được giải phóng (trừ ấp Thái Lạc chưa dứt điểm). Trung đoàn 18 được lệnh vượt qua Long Thành vừa giải phóng, nằm dọc theo đường sô 15, làm lực lượng dự bị cho Quân đoàn. Ngày 28 - 29 tháng 4, tất cả năm cánh quân đã tiến sâu vây chặt Sài Gòn. Đại sứ quán Mỹ lệnh cho người Mỹ di tản. Sai Gòn vốn đã náo loạn lại càng lộn xộn, náo loạn hơn, chen lấn, xô đẩy lên máy bay trực thăng để tháo chạy. Dọc theo sông Lòng Tàu từ Sài Gòn ra Vũng Tàu inh tai nhức óc tiếng động cơ máy bay trực thăng chở người di tản. Chủ trương của ta không bắn, mở đường cho chúng rút chạy. Xen vào đó là những máy bay quan chức từ Sài Gòn bay nhấp nháy đèn (theo quy ước) ra xin hạ cánh đầu hàng. 4 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, trận địa pháo 130mm của Quân đoàn 2 ở Nhơn Trạch trút bão lửa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, làm rung chuyển Sài Gòn. Chiều và đêm 29 tháng 4, toàn bộ Trung đoàn 101, đại đội xe tăng, thiết giáp, pháo binh Trung đoàn 84, Tiểu đoàn cao xạ 37 Lữ đoàn 673 tăng cường đã chiếm lĩnh và triển khai tại bến phà Cát Lái. Sáng sớm 30 tháng 4, hỏa lực quân ta bắn chế áp bờ nam sông Sài Gòn, trên sông Lòng Tàu tiêu diệt các tàu chiến trên sông, chi viện cho bộ binh và thiết giáp vượt sông. Địch dùng hỏa lực trên tàu, trên bờ bắn trả quyết liệt, ta dùng pháo 85mm, pháo xe tăng, pháo phòng không 37mm hạ nòng bắn quét, địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy. Lợi dụng thời cơ, ta dùng xe thiết giáp lội nước, phà, thuyền của dân chở bộ đội qua sông đánh chiếm Quận 9, phát triển sang Quận 4, phối hợp với các hướng tổng công kích giải phóng Sài Gòn vào 11 giờ 30 phút trưa 30 tháng 4 năm 1975. Ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 18 theo lệnh Quân đoàn, điều Tiểu đoàn 9 tăng cường cho Sư đoàn Bộ binh 304 tiến công đánh chiếm ngã ba Nước Trong, theo đường sô 15 đánh chiếm cầu Sông Buông và truy quét tàn quân địch đang lẩn trốn xung quanh khu vực. Sáng 30 tháng 4 tiến công đánh chiếm Trường Sĩ quan Thủ Đức và các mục tiêu xung quanh. Sáng 30 tháng 4, Trung đoàn 18, lực lượng dự bị cho chiến dịch, được lệnh lên xe theo đường số 15 ra ngã ba xa lộ hướng về Sài Gòn. Quá trưa, đang trên đường tiến quân thì được trên thông báo binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn đã đánh chiếm dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống ngụy Sài Gòn Dương Văn Minh đã lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng. Tin chiến thắng được nhanh chóng thông báo đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Tất cả chúng tôi cảm xúc trào dâng, lâng lâng xúc động. Mong ước, khát vọng cháy bỏng bấy lâu nay đã thành hiện thực. Hai bên đường rực rỡ cờ, hoa, nhân dân đổ ra chật kín vui mừng vẫy chào đoàn quân giải phóng đang rầm rập tiến vào Sài Gòn. Chiều và đêm 30 tháng 4 năm 1975, các đơn vị của tất cả năm cánh quân đều được lệnh tiến vào Sài Gòn, bộ đội đóng chật kín các khu vực. Đơn vị đến trước được nghỉ, ngủ trong nhà dân, đơn vị đến sau đóng ở vỉa hè, trên cả lòng đường ít người qua lại. Chiều hôm đó chúng tôi dừng xe trước cửa dinh Độc Lập vào trong quan sát. Những chiếc xe tăng chiến thắng vẫn còn đậu nguyên các vị trí với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Ngoài đường, trước cổng chính, chật kín người dân, bộ đội đứng nhìn nhưng rất có trật tự. Đêm hôm đó, đơn vị dừng chân nghỉ gần trước cổng dinh Độc Lập, trải tăng, võng xuống vỉa hè, góc phố để nghỉ, các tiểu đội, trung đội đều tổ chức canh gác, đề phòng tàn quân địch. Cả đơn vị hầu như không ngủ, nằm nói chuyện cả đêm. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:24:38 pm Ngày 1 tháng 5, các đơn vị được lệnh giãn ra, đóng quân xung quanh thành phố. Đơn vị tôi đóng ở Quận 4, Nhà Bè, kho bạc. Hầu như không ngàỵ nào chúng tôi không di chuyển quân trong thành phố, vừa để canh phòng sẵn sàng truy quét tàn quân, vừa để thị uy và tìm nơi đóng quân phù hợp.
Tối 7 tháng 5 năm 1975, theo lệnh của trên, tất cả các đơn vị chủ lực bàn giao cho lực lượng địa phương, quân quản, hành quân ra khỏi thành phố Sài Gòn. Toàn bộ Quân đoàn 2 hành quân ra xa lộ, đường số 15 về các vị trí đóng quân. Sư đoàn 304 đóng ở tổng kho Long Bình. Sư đoàn 3 Sao Vàng về đội hình Quân khu 5. Sư đoàn 324 đóng ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết... Các lữ đoàn đóng quanh khu vực Thủ Đức và căn cứ cũ Thủ Đức, Long Bình. Sư đoàn 325: Sư đoàn bộ, Trung đoàn 101 ở căn cứ Nước Trong, Trung đoàn Pháo binh 84 đóng ở căn cử thiết giáp - Trường Biệt kích. Trung đoàn 95 đóng ở thành Tuy Hạ. Trung đoàn 18 đóng ở Phước Lai, Phước Thiền (thuộc huyện Long Thành). Thời gian từ tháng 5 đến tháng 6, chúng tôi đóng quân ở nhà dân, được nhân dân yêu quý giúp đỡ về mọi mặt. Đơn vị thường xuyên đi truy quét tàn quân xung quanh khu vực đóng quân và huấn luyện một số nội dung do trên chỉ đạo. Ban Chỉ huy Đại đội 7 đóng ở ấp 5 - Phước Thiền - Long Thành. Bác Mười chủ nhà giàu có, "tiền đo theo khối", thóc để đầy kho ngoài đồng, vườn rộng nhiều cây trái như dừa, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi... ngày nào chủ nhà cũng hái cho ăn. Hai bữa chính đều được chủ nhà mời thêm một số món hợp khẩu vị, đồng bào Nam Bộ hầu hết nhà nào cũng có ti vi 14in, bình ác quy (vì không có điện lưới), xem xong ti vi thường có bữa ăn đêm bồi dưỡng, ở hơn một tháng thì đơn vị hành quân ra căn cứ Nước Trong. Chia tay nhau, chủ nhà và khách bịn rịn lưu luyến. Đến vị trí mới và các điểm sau này, gia đình bác Mười cứ hai tuần hoặc một tháng là thuê xe ô tô chất đầy quà, cả nhà đến thăm đơn vị. Sau này, năm 2005 và 2015, tôi có quay lại thăm nhà bác, bác gái đã đi xa, các con cháu của hai bác đều trưởng thành, tình cảm vẫn tha thiết như xưa, thật đáng quý. Căn cứ Nước Trong khi đó có ba đơn vị của Sư đoàn 325 đóng quân: Sư đoàn bộ, Trung đoàn 101, Trung đoàn 18. Tiểu đoàn 8 được ở bốn nhà lợp tôn, nền xi măng. Chúng tôi trải chiếu, bạt xuống nền để ngủ. Mùa Hè trời nắng, nóng, từ trưa đến chiều không ai ngủ được. Nước sạch dùng để sinh hoạt không đủ, phải chia nhau từng bi đông nước. Các đơn vị đều tổ chức huấn luyện theo hướng chính quy gồm: Điều lệnh, bắn súng, thể thao và một số môn chiến thuật khác. Trời quá nắng, bộ đội tập đúng giờ, có nhiều đồng chí ngất. Đầu tháng 7 năm 1975, đang huấn luyện thì tôi bị một trận sốt xuất huyết. Bệnh viện 43 của Quân đoàn đóng ở Thủ Đức quá đông bệnh nhân nên tôi không nhập viện được, phải quay về nằm điều trị ở Tiểu đoàn 24 của Sư đoàn đóng ở Trường Biệt kích cũ của địch. Tôi bị nặng, mất tuần đầu mê man không biết gì, phải nằm điều trị ba tuần mới khỏi. Sau Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975, đơn vị nhận nhiệm vụ mới: Trung đoàn 18 lên Chiến khu Đ. Tôi đang chỉ huy bộ đội truy quét tàn quân địch thì được cấp trên trao quyết định phong quân hàm Trung úy và cho nghỉ phép đợt đầu. Đây là niềm vinh dự lớn, bởi đó là sự ghi nhận của tổ chức về những thành tích công tác, chiến đấu của tôi trong suốt thời gian qua. Sau khi bàn giao công việc, tôi theo đơn vị xuống ga Hố Nai đi tàu ra Bắc. Đến ga Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây, đoàn cán bộ Quân đội từ miền Nam ra nghỉ phép xuống tàu, đi theo hướng từng quân khu. Mấy anh em đơn vị tôi sáp nhập vào đoàn các tỉnh thuộc Quân khu Tây Bắc để đi tàu Hà Nội - Yên Bái. Chúng tôi xuống ga Tiên Kiên, có cán bộ đón dẫn về từng khu vực làm thủ tục giấy tờ, các chế độ... sau đó mới có giấy phép về quê. Chúng tôi ăn đợi nằm chở ở Tiên Kiên - Lâm Thao - Phú Thọ đúng ba ngày. Trong ba ngày chờ đợi, tôi mượn xe đạp nhà anh Phan Văn Phường (anh Phường là Trung đội trưởng, cùng đoàn đi phép với tôi) để lên thăm Huy đang học ở Trường Trung cấp y Phú Thọ. Thời gian từ khi quen Huy, tôi vào chiến trường tôi và em vẫn thư từ qua lại và yêu nhau từ đó. Không thể tả hết nỗi bồi hồi xúc động khi gặp lại nhau sau hơn một năm xa cách. Chiến tranh không nói trước được điều gì nên dù hy vọng nhưng vẫn không khỏi bất ngờ và cảm giác may mắn trong ngày gặp lại. Đó là buổi chiều đầu tháng 10 năm 1975. Chúng tôi chỉ có hai tiếng đồng hồ để ở bên nhau tại ký túc xá nhà trường rồi lại phải chia tay. Em ở lại trường, còn tôi về trạm nghỉ Tiên Kiên. Em căn dặn tôi đủ thứ, nhất là nhắc tôi phải giữ an toàn, khi về nhà nhớ đến thăm gia đình... Chia tay nhau, tôi vừa đạp xe vừa ngoái lại nhìn cho tới khi bóng em khuất hẳn trong buổi chiều mùa Đông se lạnh. Mải miết đạp xe mà cũng hơn 8 giờ tối mới về đến nơi ở, mấy bạn đã lĩnh giúp các giấy tờ đi phép, tem phiếu lương thực, thực phẩm và xếp vào ba lô để sáng sớm mai lên đường. Tôi theo tàu đến Việt Trì, xuống ga Bạch Hạc thì đi bộ một mạch gần ba tiếng đồng hồ về đến nhà. Trên đường về nhà, qua thị trấn huyện, làng mạc, ở đâu mọi người cũng chào hỏi chúc mừng, cảm giác vừa tự hào, phấn khởi của người chiến thắng trở về, vừa bồi hồi xúc động khi mình còn được lành lặn trong khi bao đồng đội khác người nằm lại trên các chiến trường, người đang nằm điều trị tại các bệnh viện quân y. Về đến đầu thôn Thượng thì đã gần trưa, gặp mấy đứa em và bạn, ba ngày nay, ngày nào chúng cũng ra đầu làng đón tôi vì cả làng đều biết tôi sẽ được về phép qua ông Hoàng Quang Tịnh, người cùng làng gặp tôi lúc tôi vào nhập trạm để làm thủ tục giấy tờ. Trong ba ngày ấy, bố mẹ sốt ruột hỏi thăm và chờ đợi tôi, chỉ sợ ông Tịnh nhầm ai với tôi. Tôi vừa đặt ba lô thì trong nhà, ngoài sân đã chật kín người đến chơi, thăm hỏi. Tôi là bộ đội được đi phép đầu tiên của làng sau chiến thắng 30 tháng 4, trong làng còn rất nhiều người đi biền biệt hàng chục năm chưa có tin tức hoặc chưa được về thăm nhà lần nào. Mọi người chờ mong và đón tôi như người thân từ chiến trường trờ về với niềm hy vọng cũng sẽ có được hạnh phúc đón người thân của mình trở về trong nay mai, và thông qua tôi muốn nắm tin tức về người thân, tin tức về miền Nam. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:27:42 pm Không những ngày đầu mà cả các ngày sau, làng trên xóm dưới mọi người kéo đến thăm hỏi đủ thứ chuyện trong Nam ngoài Bắc, chuyện sinh hoạt, chiến đấu. Niềm vui chiến thắng xen lẫn nước mắt khi nhắc đến người thân với khắc khoải mong chờ và hy vọng. Cũng có người đến thăm tôi mà không cầm được nước mắt vì người thân của họ đã vĩnh viễn không trở về... Buổi tối tôi tranh thủ đến thăm gia đình người yêu và không quên đem theo thang thuốc em gửi tôi mang về. Hôm gặp trên trường, chúng tôi có hẹn thứ Bảy gặp nhau ở nhà, đường xa em về muộn nên sáng Chủ nhật chúng tôi mới gặp được nhau. Ngồi nói chuyện có đủ mặt mọi người trong gia đình em khiến tôi ngượng nghịu. 12 giờ trưa tôi đón em từ nhà qua đường làng, lên phố huyện. Chuyện chúng tôi đến với nhau qua lần về phép trước, năm 1974, thì ai cũng đã tỏ.
Ngồi sân ga đợi tàu, hai chúng tôi mới có dịp gần nhau tâm sự. Tàu đến, chúng tôi chia tay nhau mà bịn rịn, lưu luyến quá tàu chưa đi đã nhớ nhung rồi. Chúng tôi hẹn nhau gặp lại thứ Bảy và Chủ nhật trong thời gian tôi nghỉ phép. Tuần cuối kỳ nghỉ phép, hai bên gia đình tổ chức lễ "dạm ngõ" cho chúng tôi. Tuy nhiên, là cán bộ, đảng viên khi lập gia đình phải có bước báo cáo với tổ chức, thông qua lý lịch, có giấy đơn vị về mới được kết hôn, vì thế chúng tôi yêu nhau thời gian ba năm, "dạm ngõ" cũng được gần hai năm, đến ngày 30 tháng 7 năm 1977 mới nên vợ thành chồng. Thấm thoắt 40 ngày nghỉ phép đã hết. Bố, mẹ, các em và gia đình tổ chức làm mâm cơm cúng gia tiên và mời họ hàng, làng xóm liên hoan cho tôi lên đường, không khí thật thân thương, ấm cúng. Ba ngày chờ làm thủ tục và biên chế bộ phận vào Nam, tôi thật hạnh phúc vì Huy từ trường xuống với tôi từ chiều thứ Bảy. Chúng tôi dắt nhau đi chơi khắp nơi. Đây là quãng thời gian tôi được bên em lâu nhất. Sáng thứ Hai tôi lên tàu vào Nam, lòng xao xuyến bịn rịn, khó khăn lắm mới bước được lên tàu. Tàu chuyển bánh, tôi thò đầu qua cửa sổ vẫy tay chào Huy. Bóng em khuất hẳn tôi mới ngồi xuống. Vào đến đơn vị, tôi được cử đi lớp tập huấn do Sư đoàn tổ chức. Những ngày đầu tháng 12 năm 1975 sao mà rét thế, dân Sài Gòn nói đây là trận rét lịch sử mấy chục năm mới có. Sau lớp tập huấn, tôi về đơn vị tiếp tục nhiệm vụ truy quét tàn quân được một thời gian thì đơn vị triển khai đóng quân dọc đường số 1, từ ngã ba xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn đến Gia Tân - Gia Kiệm huyện Thống Nhất thuộc tỉnh Biên Hòa. Đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ an ninh khu dân cư Công giáo gồm toàn những người quê miền Bắc di cư vào từ năm 1954, và bảo vệ cuộc bầu cử Quốc hội, thống nhất hai miền, thu non sông về một mối sau nhiều năm chia cắt. Tiểu đoàn 9 đóng quân ở ngã ba Gia Tân - Gia Kiệm, Tiểu đoàn 7 và Sở Chỉ huy Trung đoàn đóng ở Trảng Bom, Tiểu đoàn 8 đóng ở khu vực nhà thờ Thái Bình. Đại đội 7 chúng tôi đóng ở khu vực nhà thờ Hà Nội, ngã ba xa lộ, chợ Sặt. Tháng 8 năm 1976, tôi cùng một số đồng chí được cấp trên cử đi học ở Trường Trung - cao Đà Lạt (sau là Học viện Lục quân) thì tháng 9 năm 1976 toàn bộ Quân đoàn 2 được điều ra đóng quân ở miền Trung. Cụ thể: Sư đoàn 324 cắt về Quân khu 4, Sư đoàn 968 đang đứng chân ờ Nam Lào về thay Sư đoàn 324; Sư đoàn 304 đóng quân ở Đà Nẵng, Quân đoàn bộ đóng ở thành phố Huế, các đơn vị trực thuộc đóng quân xung quanh và gần Sở Chỉ huy Quân đoàn. Sư đoàn 325 ra đóng quân dọc theo đường số 9 từ ngầm B đi Lao Bảo, Sở Chỉ huy Sư đoàn và các đơn vị trực thuộc ngầm B; Trung đoàn 95 đóng ở thị trấn Khe Sanh; Trung đoan 18 Trung đoàn 101 và một số đơn vị tăng cường sang Lào giúp bạn truy quét phỉ và tàn quân bảo vệ an ninh cho nước bạn. Tháng 5 năm 1978, Trung đoàn 18 được lệnh hành quân về nước, bổ sung quân số, trang bị, ổn định biên chế rồi tiếp tục hành quân vào Quân khu 9, tác chiến ở Hà Tiên, giáp Cămpốt của Campuchia. Trung đoàn 18 hai lần được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ở Trường Trung - cao Đà Lạt, tôi học lớp K2C hệ II đào tạo cán bộ tiểu đoàn - trung đoàn. Quá trình học tập, tôi thân thiết gắn bó với Phạm Hồng Lợi, và sau này hai chúng tôi đều mang quân hàm Trung tướng, hiện Phạm Hồng Lợi đang sinh sống ở thành phố Cần Thơ. Hai năm đào tạo tại trường, chúng tôi đều chăm chỉ, siêng năng học tập, rèn luyện. Phương pháp đào tạo là học đến đâu nắm chắc đến đó, kể cả lý thuyết và thực hành; học đến đâu kiểm tra đến đó. Cuối khóa, chúng tôi nhận được gần 200 câu ôn tập để thi sát hạch quốc gia, mỗi người chuẩn bị ra vở tự ôn, hai người một nhóm ra rừng thông Đà Lạt vấn đáp với nhau. Các bài thi, kiểm tra tôi và Lợi đều đạt khá và giỏi. Thi quốc gia cuối khóa, chúng tôi đạt 9,5 điểm, đứng đầu khóa học. Cả 36 người chúng tôi đều tốt nghiệp ra trường và được phong quân hàm Thượng úy. Ngoài học chuyên môn, mỗi tuần hai tối chúng tôi học văn hóa. Tuy vất vả nhưng chúng tôi đều ý thức việc học để nâng cao trình độ và phục vụ Quân đội lâu dài trong giai đoạn mới nên đều cố gắng vượt qua. Thời gian mới nhập học, mọi chế độ, tiêu chuẩn ăn theo từng cấp, khá sung túc: Sáng ăn phở hoặc bánh, xôi...; trưa và chiều cứ bốn người một mâm, các món gồm: Thịt, cá, trứng, đậu, rau, nước mắm, cơm, canh... Nhưng chỉ được vài tháng thì sinh hoạt lâm vào khó khăn. Cơm có tới 30% độn sắn, mỳ, hạt bo bo, thậm chí có lúc thức độn còn nhiều hơn cơm. Thực phẩm thiếu thốn, thậm chí thiếu cả rau. Cả nước bấy giờ lâm vào khủng hoảng kinh tế, đời sống khó khăn... Năm 1977, Nhà trường ra chỉ tiêu tăng gia mỗi đồng chí 70kg rau/năm, một con thỏ, nộp đủ chỉ tiêu mới hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ tích cực tăng gia mà bữa ăn của chúng tôi phần nào được cải thiện. Các chiều thứ Bảy và ngày Chủ nhật chúng tôi thường có bữa cải thiện, nhất là có rau từ vườn tăng gia. Sau một năm học tập, nghỉ hè tôi báo cáo Nhà trường xét giấy giới thiệu đơn vị cũ là Trung đoàn 18 về địa phương đăng ký kết hôn. Ngày 30 tháng 7 năm 1977 tôi và Huy nên vợ thành chồng. Chúng tôi sống thật đầm ấm, hạnh phúc và gần một năm sau thì có con gái đầu lòng: Thiều Thị Hạnh, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1978. Lúc tôi ra trường về tranh thủ thì con gái đã ba tháng tuổi. Bây giờ vợ tôi đang làm ở Trạm xá Nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ). Trung tuần tháng 9 năm 1978, tôi cùng sáu đồng chí nhận quyết định về Quân đoàn 2 công tác theo đúng nguyện vọng. Tôi được về Trung đoàn 18 Sư đoàn 325, đơn vị cũ của tôi, đơn vị có truyền thống trong chiến đấu, xây dựng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:29:54 pm VII. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA
Trung tuần tháng 10 năm 1978, Quân đoàn điều tôi về giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18, thay đồng chí Chiến được điều về Sư đoàn 306 mới thành lập. Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 thực chất có thể gọi là Trung đoàn 18B bởi toàn bộ Trung đoàn 18 cắt về Quân khu 9 vào tháng 5 năm 1978. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đều mới, chiến sĩ hầu hết nhập ngũ tháng 8 năm 1978, cán bộ tiểu đội, trung đội thì được điều từ Trường Hạ sĩ quan Quân đoàn và các đơn vị khác về. Ban Chỉ huy Trung đoàn gồm: Thiếu tá Trần Minh Thiệt - quyền Trung đoàn trưởng, ra trường trước tôi ba tháng; Đại úy Nguyễn Hồng Bào - quyền Chính ủy; Đại úy Trần Bá Viên - Trung đoàn phó; Đại úy Nguyễn Minh - Tham mưu trưởng (Sư đoàn 968 về); Đại úy Vũ Quốc Phòng - Phó Chính ủy (Trung đoàn 84 sang). Biên chế, trang bị Trung đoàn tương đối đủ, bước vào huấn luyện rất khẩn trương, mỗi ngày thực hiện một bài bắn từ súng bộ binh đến súng hỏa lực. Đơn vị đóng quân ở ngầm B Cam Lộ, Quảng Trị, xung quanh là đồi núi, rừng cây lúp xúp thuận tiện cho rèn quân và huấn luyện bộ đội. 15 giờ ngày 24 tháng 12 năm 1978, đơn vị nhận lệnh rời doanh trại, mang theo toàn bộ trang bị chiến đấu, quân tư trang hành quân đi diễn tập. Ra đến đường số 9 thì dừng lại tập hợp lên xe, toàn J130 mới, đi theo hướng đèo Hải Vân - thành phố Đà Nẵng. Khoảng 3 giờ sáng 25 tháng 12 năm 1978 đơn vị xuống xe vào nhận nhà ở. Sang ra bộ đội dậy nhìn xung quanh nhiều máy bay lên xuống, sau mới biết là sân bay Đà Nẵng. Theo kế hoạch của trên, toàn bộ Sư đoàn 304, Trung đoàn 95 và các đơn vị binh chủng hành quân bằng xe theo đường bộ vào chiến trường; Sư đoàn 325 gồm Trung đoàn 18, Trung đoàn 111 đi bằng máy bay. Sáng 26 tháng 12, sau khi xuống sân bay Cần Thơ, mỗi trung đội một xe ô tô tiếp tục hành quân vào tập kết trong khu rừng kín đáo cách thị trấn Chi Lăng (Bảy Núi - An Giang) khoảng 7 - 10km. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam diễn ra ngay sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975. Ngày 10 tháng 5 năm 1975 tập đoàn phản động Pônpôt sử dụng một lực lượng lớn đánh chiếm đảo Thổ Chu và một số điểm trên biên giới từ Tây Ninh đến Hà Tiên. Lúc đầu, để giữ mối quan hệ truyền thống, ta tìm cách đàm phán, nhưng chúng ngày càng lộ rõ bản chất phản động, hiếu chiến. Ngày 30 tháng 4 năm 1977, chúng đã tiến công toàn tuyến biên giới từ Tây Ninh đến Hà Tiên, gây cho ta không ít tổn thất, có chỗ chúng đánh sâu vào đất Việt Nam hàng chục kilômét giết hại nhiều dân thường, phụ nữ và trẻ em. Có đồn biên phòng hy sinh gần hết, bị mất trận địa, mất đồn. Đàm phán hòa bình, hữu nghị nhiều lần không có kết quả chủ trương của trên tập trung phản công kiên quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Cuối năm 1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia được thành lập, yêu cầu Việt Nam giúp đỡ về mọi mặt để lật đổ chế độ độc tài phát xít Pônpốt, giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng. Được sự thống nhất giữa Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia với Đảng và Chính phủ ta, Quân đội nhân dân Việt Nam bước vào cuộc chiến đấu mới. Chiến dịch lần này xác định quy mô rất lớn trong một thời gian ngắn với lực lượng tham gia ba quân đoàn chủ lực gồm: Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4; ba quân khu: Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9; Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân chủng Hải quân, một số binh chủng và lực lượng trực thuộc của Bộ, với khoảng 30 vạn quân. Từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 31 tháng 12 năm 1978, tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch đều nổ súng tiến công tạo thế để đưa lực lượng chủ yếu vào tham gia chiến dịch. Quân đoàn 2 lực lượng tham gia gồm: Sư đoàn 304 hướng chủ yếu xã Ba Chúc tiến công sang Xom Đông, Xom Tây, dãy núi Sâu Róm - Cờ Răng, Túc Mía, đường số 3 về Cămpốt - cảng Xihanúcvin, khóa chặt đường biển. Sư đoàn 325 là thê đội 2 sau Sư đoàn 304 mở rộng cánh tiến công sang hai bên và thay thế Sư đoàn 304 khi cần. Bộ tăng cường Sư đoàn 8 Quân khu 9 cho Quân đoàn 2, toàn bộ lực lượng Quân khu 9 đảm nhiệm biên giới An Giang - Hà Tiên đánh sang Cămpốt. Ngày 26 tháng 12, Sư đoàn 304 sử dụng Trung đoàn 9 nổ súng tấn công từ cánh đồng Ba Chúc qua kênh Vĩnh Tế sang Campuchia. Do chuẩn bị không kỹ về nhiều mặt, nắm địa hình địch không chắc, nên mặc dù được chi viện tối đa của pháo binh và không quân nhưng ta bị thương vong nhiều phải dừng tiến công và lui quân về tuyến sau củng cố. Đến ngày 30 - 31 tháng 12, ta tổ chức tiến công lần 2. Hỏa lực không quân, pháo binh, bắn thẳng của ta rất mạnh, địch không chống cự nổi, chết nhiều, phải bỏ tuyến phòng ngự tháo chạy. Tuyến ngoài bị chọc thủng khiến các tuyến trong mỏng hơn nhanh chóng tan rã, địch chạy vào rừng, co cụm để chống lại ta sau này. Thừa thắng, các đơn vị Sư đoàn 304 lần lượt vượt qua biên giới giải phóng các mục tiêu còn lại sâu trong nội địa, như dãy Sâu Róm, núi Con Sâu, Túc Mía, Ta Ni... Quân đoàn tổ chức Trung đoàn 24 cùng lực lượng các binh chủng theo đường số 3, đèo 244 giải phóng thị xã Cămpốt; theo đường số 4 qua đèo Píchlin giải phóng cảng Xihanúcvin, khóa chặt đường biển. Sư đoàn 325 với Trung đoàn 18 đi đầu, ngày 1 tháng 1 năm 1979 từ cánh đồng xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang, Tiểu đoàn 7 đi đầu Trung đoàn vượt phà, cầu phao do Lữ đoàn Công binh 219 bắc qua sông Vĩnh Tế sang đất bạn. Hành quân qua trận địa vẫn còn khói nghi ngút, xác chết ngổn ngang chưa kịp thu dọn, đơn vị đi liên tục cả ngày lẫn đêm, ăn lương khô, uống nước sông để cho kịp. Đường hành quân toàn theo bờ mương, bờ ruộng ngoài cánh đồng. Đêm tối, bộ phận đi đầu cứ thấy ào ào tiếng nước phía trước, lúc đầu chưa hiểu, sau mới biết trâu, bò thả rông ngoài đồng có đến vài trăm con, vịt có những đàn vài nghìn con đẻ đầy bờ ruộng. Sang ngày thứ ba trên đất bạn, chúng tôi đang truy quét tàn quân thì có lệnh cơ động ngay lên Túc Mía giải cứu cho Sở Chỉ huy Sư đoàn đang bị tàn quân Pônpốt uy hiếp. Tôi nhanh chóng thu quân và tổ chức dàn thế trận trên hai hướng từ làng ra cánh đồng bằng phẳng thành hai gọng kìm tiến và khép lại. Súng nổ dữ dội, quân Pônpốt bị tiêu diệt, bắt sống một số, số còn lại chạy tán loạn vào rừng. Sở Chỉ huy Sư đoàn an toàn, chúng tôi thu quân nhanh chóng chuyển hướng theo nhiệm vụ của Trung đoàn đang tổ chức tiến công truy quét địch ở dãy núi Con Sâu. Tiểu đoàn 7 thọc thẳng vào trung tâm thị trấn Ta Ni diệt nhiều tên địch, bắt sống bảy tên. Trên mặt trận, các hướng tiến công như vũ bão, đánh chiếm các mục tiêu và thọc sâu giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh lúc 11 giờ ngày 7 tháng 1 năm 1979. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:31:25 pm Sau khi giải phóng Phnôm Pênh, các đơn vị toàn chiến dịch tiếp tục tiến quân giải phóng hoàn toàn đất nước Campuchia, sau đó tổ chức các đợt truy quét tàn quân và giúp nhân dân Campuchia xây dựng chính quyền, ổn định cuộc sống.
Hướng Quân đoàn 2, Sư đoàn 304 đóng tại cảng và nằm dọc theo đường số 4 từ Cămpốt đến cảng. Sở Chỉ huy Quân đoàn và các đơn vị trực thuộc đóng ở thị xã Cămpốt. Sư đoàn 325, Sở Chỉ huy Sư đoàn ở thị xã Cămpốt, Trung đoàn 95 đóng gần Sở Chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn 111 đóng quân và truy quét tàn quân ở đường số 4, riêng Trung đoàn 18 đi sau đội hình Quân đoàn và Sư đoàn. Ngày 9 tháng 1 năm 1979, toàn bộ lực lượng chính của Quân đoàn, các sư đoàn tiếp tục hành quân. Sở Chỉ huy Sư đoàn 325 cùng một số bộ phận đi sau bị tàn quân chặn lại tại ngã tư Súc, tình hình quá nguy, cấp trên lệnh Tiểu đoàn 7 cách đó 10km về giải vây cho Sở Chỉ huy Sư đoàn. Lúc đầu nhận nhiệm vụ tôi cứ tưởng là mấy tên tàn quân, nhưng khi gần đến nơi mới biết lực lượng địch đông và mạnh. Bộ đội triển khai chiến đấu, còn tôi và cán bộ trung đội, đại đội lên gặp Trung tá Đặng Tụ - Sư đoàn phó nhận nhiệm vụ. Theo chân thủ trưởng qua mấy mặt ruộng bậc thang, địch bắn pháo xung quanh, chúng tôi kịp nằm xuống, chỉ có một đồng chí bị thương. Pháo, cối, súng bộ binh nổ không ngớt... Nhận nhiệm vụ xong, tôi cho các đơn vị triển khai đội hình chiến đấu. Đại đội 3 do đồng chí Đoàn là Đại đội trưởng, đồng chí Việt là Chính trị viên, đảm nhiệm phòng ngự trên hướng chủ yếu, từ ngã tư Súc sang phải đội hình phòng ngự của Tiểu đoàn. Đại đội 2 do đồng chí Vĩnh - Đại đội trưởng, đồng chí Nhu - Chính trị viên, đảm nhiệm phòng ngự bên trái Đại đội 3, dọc đường số 3 từ ngã tư Súc đi thị xã Cămpốt. Đại đội 1 do đồng chí Hiển - Đại đội trưởng, đồng chí Nhuần - Chính trị viên, đảm nhiệm phòng ngự phía sau và bảo vệ Sở Chỉ huy Tiểu đoàn và Sư đoàn. Cuộc chiến đấu phòng ngự ở ngã tư Súc ngày càng diễn ra ác liệt. Địch tổ chức tiến công nhiều lần, nhiều hướng trong ngày, trận địa phòng ngự toàn là cánh đồng lúa, bờ ruộng, ngã ba, ngã tư nên chỉ đào cơ bản là công sự cá nhân và một số ít hào cơ động vì thế khi chiến đấu việc chi viện cho nhau bị hạn chế. Ở phía trước, Đại đội 2 và Đại đội 3 chiến đấu kiên cường, diệt địch và đánh lui nhiều đợt tiến công, giữ vững trận địa. Gần đến trưa ngày 11 tháng 1 năm 1979, khẩu đại liên của Đại đội 3 sau ba ngày chiến đấu vẫn giữ nguyên trận địa ở gốc cây đừa, do bị lộ, địch điều ĐKZ 75mm lên, khẩu đội đại liên trúng đạn pháo, cả ba đồng chí hy sinh, khẩu súng bị hỏng hoàn toàn. Các ngày tiếp theo, địch tiến công thăm dò trên các hướng của Tiểu đoàn. Thương vong, tổn thất ngày một tăng, tôi đề nghị Trung đoàn trưởng và đồng chí Sư đoàn phó được phản kích tiêu diệt địch. 14 giờ chiều 12 tháng 1 năm 1979, Tiểu đoàn tổ chức triển khai trận địa chuẩn bị tiến công, trong lúc di chuyển để bố trí đội hình, khẩu ĐKZ 82mm từ sau ruộng mía bị lộ, địch bắn ba quả liền, Chuẩn úy Hùng - Trung đội trưởng quê Hải Phòng hy sinh tại chỗ, một số đồng chí bị thương. 17 giờ, các hướng triển khai xong, tôi cho cối 82mm, cối 60mm và các loại hỏa lực 12,7mm và ĐKZ bắn dồn dập 15 phút chi viện, các đơn vị đồng loạt xung phong diệt địch trước trận địa, thu được một số súng và cả máy thông tin, bắt hai tù binh. Sau trận đánh, theo lệnh của trên, Tiểu đoàn 9 vào thay phòng ngự, Tiểu đoàn 7 rút ra làm nhiệm vụ cơ động. Hai ngày sau, Tiểu đoàn 9 tổ chức phản kích nhưng do không hiểu địa hình và tình hình địch, Đại đội 9 tổ chức tiến công đi giữa cánh đồng, bên phải là làng, bên trái là con mương đắp nổi địch nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, Đại đội 9 hy sinh, bị thương gần hết. Qua gần một tuần chiến đấu ở khu vực ngã tư Súc, thương binh ngày một tăng, quá tải không có nơi điếu trị, trên phải điều trực thăng xuống chở thương binh đi. Ngày 15 tháng 1 năm 1979, tôi và Chính trị viên Khai lên Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 nhận nhiệm vụ tuyệt đối bí mật và rất khẩn trương. Về Tiểu đoàn, tôi triển khai chỉ huy các đầu mối lên nhận nhiệm vụ theo phương pháp lần lượt, nhiệm đơn vị nào đơn vị đó biết, không được phổ biến rộng. Tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn chỉ có các cán bộ đến nhận nhiệm vụ, trong và ngoài hầm canh gác cẩn mật không ai được qua lại. Tiểu đoàn hành quân vào lúc khoảng hơn 1 giờ sáng, trời sáng trăng, không khí se lạnh. Kiểm tra quân số các đơn vị báo cáo, Đại đội trưởng Vĩnh, Chính trị viên Nhung cứ ấp úng, tôi nghiêm giọng gặng hỏi thì các đồng chí cho biết còn thiếu một trung đội nằm ngoài cánh đồng lúa chưa ra... Ngay lập tức tôi ra lệnh cho chỉ huy Đại đội 2 sử dụng một tiểu đội bộ binh có Đại đội trưởng đi cùng, vào đưa quân ra, nhưng thấy không yên tâm, tôi quyết định tự mình cùng một tiểu đội trinh sát của Tiểu đoàn đi với Đại đội 2. Vào đến ngã tư Súc không khí im lặng khác thường, tôi triển khai các lực lượng bảo vệ đội hình rồi cùng Đại đội trưởng ra bờ ruộng lúa gặp trung đội còn đang nằm lại lệnh nhanh chóng thu quân rời khỏi trận địa. Khi đó địch đã vây kín xung quanh mà không biết ta lui quân. Khoảng 9 giờ sáng hôm sau địch thăm dò, biết ta rút, chúng tràn vào chiếm hết khu vực ngã tư. Tiểu đoàn tiếp tục hành quân trong đêm theo hướng các đơn vị đi trước. Đại đội 3 đi đầu, bộ phận tiền vệ do đồng chí Chung - Đại đội phó chỉ huy cùng một trung đội bộ binh và một khẩu cối 60mm, ra đến đường số 3 khoảng hơn 100m thì gặp địch dùng cối 60mm, M79 bắn chặn. Bộ phận đi đầu tản ra triển khai chiến đấu, địch phát hiện quân ta ít nhưng chúng chỉ bắn cầm canh. Trời sáng dần, qua quan sát ước chừng địch có khoảng hơn trăm tên, tôi xin ý kiến đồng chí Viên - Trung đoàn phó cùng đi với Tiểu đoàn được nổ súng tiêu diệt nhưng đồng chí không nhất trí vì e bị bao vây cô lập. Trời sáng hẳn, tôi triển khai các đơn vị vào các làng xung quanh, Sở Chỉ huy Tiểu đoàn ở giữa, theo chiến thuật "trâu đàn ngủ rừng". ĐKZ, súng máy cao xạ 12,7mm tăng cường cho Đại đội 1 và Đại đội 3, cối 82mm do Tiểu đoàn chỉ huy chung. Bộ phận đi đầu Đại đội 3 do mất tinh thần, địch bắn mấy quả M79, cối 60mm đã vứt chiếc giá đại liên K53 gần đầu đường số 3. Tôi ra lệnh cho đồng chí Đoàn - Đại đội trưởng giao nhiệm vụ cho một trung đội có Đại đội phó chỉ huy tổ chức bí mật lấy giá đại liên về. Hỏa lực của Đại đội, Tiểu đoàn sẵn sàng chi viện. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:32:34 pm Khi Đại đội 3 ra gần đến nơi, địch đã phát hiện lực lượng lớn quân ta vừa đi qua nên chúng đã tổ chức phục kích đội hình phía sau. Hai bên chạm trán nổ súng quyết liệt, ta tiêu diệt được một số tên, nhưng do địch quá đông nên ta vừa chiến đấu vừa rút lui. Trung sĩ Tính - Tiểu đội trưởng, quê Hà Tĩnh bắn kiềm chế rút sau cùng bị một viên đạn xuyên từ trán ra sau gáy gục trong bụi cây, người và súng đổ gập ở tư thế quỳ bắn. Sẩm tối, tiếng súng kết thúc, đơn vị đi tìm nhiều lần mà không thấy, quyết tâm không bỏ anh em hy sinh ở lại, tôi, ra lệnh cho đồng chí Đồng - Tiểu đoàn phó chỉ huy tìm kiếm, đến 23 giờ đêm mới tìm thấy.
Bên cánh phải của Tiểu đoàn, đồng chí Hạnh - Đại đội phó Đại đội 3 cùng hai chiến sĩ bị thương vừa chiến đấu vừa rút về hướng Đại đội 1, đạn bay vèo vèo trên đầu, phía sau khoảng một trung đội địch đuổi theo quyết bắt sống. Tôi ra lệnh để địch đến gần mới nổ súng, bảo vệ ba đồng chí của ta rút lui an toàn. Trung đội địch bị tiêu diệt trước trận địa, ta thu một khẩu ĐKZ 82mm còn mới. Địch đoán quân ta đông không dám tiến công vào làng mà chỉ ở ngoài quốc lộ bắn vào những chỗ chúng nghi ngờ. Sau khi tìm thấy Tiểu đội trưởng Tính hy sinh, đơn vị tiếp tục hành quân. Trung đội vận tải đảm nhiệm ca liệt sĩ và hai đồng chí thương binh, đi đến ngày thứ năm mới về tới đội hình Trung đoàn và bàn giao đưa về nước. Từ làng, qua cánh đồng cắt lên đường số 3, đội hình Tiểu đoàn vừa lên khỏi thì gặp một tổ đại liên và bộ binh địch phục kích trên đường. Do trời tối, chủ quan nên đội hình đi đầu chạm địch thì mới biết, súng nổ loạn xạ nhưng rất may là không ai việc gì. Tôi quyết định không hành quân theo đường số 3 mà đi tắt bờ ruộng, giữa cánh đồng, không qua làng, sợ bị phục kích. Trên cánh đồng, ta gặp rất nhiều địch sợ ta tập kích nên tránh, ở trong làng. Gần sáng, đơn vị tới gần sân kho, nghe tiếng động, địch lại gần tưởng đồng bọn, nhưng khi phát hiện là ta, chúng bỏ chạy tán loạn không kịp nổ súng. Đi khoảng hai giờ nữa thì trời sáng rõ, tôi quyết định dừng đội hình ở rừng cây to kín đáo, chờ tối đi tiếp. Địch thăm dò biết có lực lượng ta nhưng chúng không dám tiến công vào. Qua bốn ngày đêm độc lập đi giữa vòng vây địch, không liên lạc được với cấp trên, lương thực, thực phẩm cũng hết, chúng tôi phải tự kiếm thức ăn, chủ yếu là dưa hấu, dưa gang, mía, đu đủ, chuối... Khoảng 16 giờ ngày 18 tháng 1 năm 1979, Tiểu đoàn đến vị trí thay phiên phòng ngự tại đèo 244 cho Tiểu đoàn 8 rút ra. Lần gặp và chia tay Cao Minh Lục - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 lần này không ngờ lại là lần cuối tôi và Lục gặp nhau. Lục là người bạn thân, gắn bó và có nhiều kỷ niệm với tôi, từ năm 1971 cùng học Trường Sĩ quan Lục quân, cùng về Trung đoàn 18, rồi lại cùng đi học ở Trường Trung - cao Đà Lạt, Lục ra trường trước tôi ba tháng. Ngày 21 tháng 1 năm 1979 (sau ba ngày chia tay), Lục chỉ huy Tiểu đoàn truy quét tàn quân, bộ phận đi đầu sa vào ổ phục kích, Lục đứng trên lò đốt than để quan sát và chỉ huy, một mảnh đạn cối 60mm găm trúng bàng quang, dưới rốn 2cm, chảy máu trong, anh em cấp cứu và khẩn trương đưa về tuyến sau, trên đường đi Lục hy sinh. Lục nhập ngũ tháng 2 năm 1968, quê Hướng Hóa - Quảng Bình, có vợ và một con gái chưa đầy một tuổi. Các đơn vị nhanh chóng triển khai trận địa phòng ngự. Đại đội 3 phòng ngự trên hướng chủ yếu từ đường số 3, vòng trái vào chân dãy núi Sâu Róm về phía sau. Đại đội 2 phòng ngự từ đường số 3 vòng phải vào dãy núi đá 284 về hồ nước phía sau. Đại đội 1, phòng ngự phía sau, cơ động trên hai hướng, một trung đội phòng ngự phía trước và bảo vệ Sở Chỉ huy Tiểu đoàn, cối 82mm có hai khẩu do Tiểu đoàn nắm chi viện chung; ĐKZ, 12,7mm tăng cường cho Đại đội 3, Đại đội 2 còn một khẩu 12,7mm bố trí bên phải đường số 3 gần chỉ huy Tiểu đoàn. Khoảng 20 giờ tối hôm đó, địch tổ chức tiến công hai hướng vào Đại đội 3 và Đại đội 2. Các loại súng bất ngờ nổ ran, có cả cối 120mm, cối 82mm, ĐKZ... Lực lượng địch khoảng một đến hai tiểu đoàn. Trong khoảng hai tiếng chiến đấu, ta đánh lui nhiều đợt tiến công, tiêu diệt nhiều địch, bắt một tù binh, giữ vững trận địa. Ta hy sinh một đồng chí bắn B41 thuộc Đại đội 2. Qua các trận chiến đấu đánh trả và giữ vững trận địa ở tư Súc và trận đầu ở đèo 244, Tiểu đoàn đã rút ra được những bài học quý trong thực tiễn. Sáng ngày 21 tháng 1 năm 1979, địch cho trinh sát nghi binh thăm dò, sau đó đưa một lực lượng lớn lên triển khai tiến công nhiều lần vào hướng Đại đội 2 và Đại đội 3 nhưng không thành, địch dùng hỏa lực bẳn chi viện cho bộ binh theo sườn núi tiến công đánh chiếm trận địa Đại đội 2 rồi Đại đội 3. Tôi cho hỏa lực pháo binh, súng cối bắn chặn, chế áp đẩy lùi địch, hai khẩu 12,7mm khóa nòng bắn quét địch trèo lên bám sườn núi, diệt một số, số địch còn lại tụt xuống không dám trèo lên... Thời cơ đến, Đại đội 1, Đại đội 2 cùng xuất kích tiêu diệt địch phía trước, khôi phục lại toàn bộ trận địa, tiêu diệt hơn 60 tên, thu nhiều vũ khí và trang bị chiến đấu. Ta hy sinh 11, bị thương 18 đồng chí... Trận địa phòng ngự của Tiểu đoàn tại đèo 244 nằm kẹp giữa hai dãy núi, bên phải là dãy điểm cao 284 toàn đá, dốc đứng, dưới chân có hang sâu, nước chảy bốn mùa trong vắt, cả Tiểu đoàn sử dụng ăn uống và tắm giặt; bên trái là dãy núi Sâu Róm kéo dài, phía sau là đèo 244 và một con đập nước sâu trong xanh, phía trước là một cánh đồng bằng phẳng có một con mương thẳng kéo dài từ trận địa Tiểu đoàn ra phía trước, nhân dân trồng chuối, dưa hấu rất nhiều. Bên trong trận địa có hàng héc ta mía tím, một kho dự trữ đậu xanh, đậu tương, cá khô, mật thốt nốt, hai hồ cá, chim, lợn, gà rất nhiều và được phép sử dụng. Hơn một tháng chiến đấu phòng ngự ác liệt nhưng không phải lo chuyện hậu cần, bộ đội vẫn tăng cân. Sau một thời gian tham gia hoạt động tác chiến, Sư đoàn mở Hội nghị quân chính tại thị xã Cămpốt, thành phần toàn cán bộ chủ chốt từ cấp tiểu đoàn trở lên, và Hội nghị chuyên đề "Những trận đánh hay, những người chỉ huy giỏi". Tôi và đồng chí Trần Văn Loạn - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 được chọn báo cáo trước Hội nghị. Hội nghị đó có cả Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hữu An; Thiếu tướng, Chính ủy Quân đoàn Lê Linh cùng đại biểu bốn cơ quan Quân đoàn, Sư đoàn xuống dự. Cả hội trường chật ních người im phăng phắc lắng nghe tôi và đồng chí Loạn báo cáo một số trận đánh vừa qua, kinh nghiệm và bài học rút ra. Tư lệnh, Chính ủy Quân đoàn, Sư đoàn trưởng Đỗ Phạm, Chính ủy Sư đoàn Phạm Công Nhân đến bắt tay tôi rất chặt. Trong chiến dịch bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, tôi được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:34:24 pm Hơn 1 giờ sáng ngày 7 tháng 2 năm 1979, tôi thức dậy và đi vệ sinh, trước khi vào hầm ngủ, tôi quay lại nhắc đồng chí Điềm - Tiểu đoàn phó đang trực ca cùng các đồng chí thông tin, trinh sát trong kíp trực quay máy kiểm tra các hướng và cẩn thận giờ này địch hay bất ngờ tiến công. Tôi vừa khom người vào hầm thì cả trận địa bị trùm lên bởi các loại hỏa lực địch cùng tiếng nổ chát chúa đinh tai nhức óc. Phía trước Đại đội 2, lửa cháy ngút trời. Tôi nhanh chóng ngồi vào vị trí chỉ huy nhắc thông tin vô tuyến, hữu tuyến, đài quan sát, đài pháo báo cáp. Lúc đầu, thông tin hữu tuyến Đại đội 3, Đại 2, trận địa cối đều thông, tôi ra lệnh bình tĩnh nắm lại đơn vị, tình hình địch và kiên quyết chiến đấu, ngăn chặn địch giữ vững trận địa. Nhưng ngay sau đó đường dây Đại đội 2 mất liên lạc phải dùng vô tuyến điện. Đại đội trưởng Vĩnh phát hiện cỡ một đại đội địch vượt qua đường, bãi trống thẳng vào đài quan sát và Sở Chỉ huy Tiểu đoàn. Ngay lập tức tôi ra lệnh Đại đội trưởng cối 82mm dựng nòng, cự ly 5 - 100m trươc Sở Chỉ huy Tiểu đoàn bắn cấp tập, hai khẩu cũng hạ nòng bắn ngang, chặn đứng đội hình quân địch. Bị thương vong, địch tháo lui gọi hỏa lực mạnh, có cả pháo 105mm, cối 120mm, pháo 37 hai nòng bắn vào trận địa ta khoảng một giờ đồng hồ. Đặc biệt, chúng tập trung bắn vào điểm cao 284 vì nghi ta có chốt và đài quan sát. Hỏa lực dứt, địch tổ chức tiến công quyết liệt vào Đại đội 3, Đại đội 2. Bộ đội ta chiến đấu ngoan cường, giữ vững trận địa.
Các đợt tiến công liên tục kéo dài từ hơn 1 giờ đến khoảng hơn 5 giờ sáng thì tạm dừng, tiếng súng thưa dần rồi im hẳn. Qua các phương tiện thông tin tôi ra lệnh các đơn vị phải hết sức cảnh giác, đề phòng địch tiến công tiếp, củng cố công sự, hầm hào bị hư hỏng, bổ sung đạn dược các loại. Trong khoảng gần hai giờ đồng hồ im tiếng súng, hai bên tranh thủ quan sát, thăm dò lẫn nhau. Tôi cùng Trung đội trưởng Lợi trinh sát ra đài quan sát bên ngoài phía trước trận địa thấy nghi ngút lừa, khói nhà cháy. Phía trước có khoảng hơn chục tên địch chết phơi xác trước đài quan sát Sở Chỉ huy Tiểu đoàn. Ở đài quan sát, nghe có tiếng động cơ từ xa, tôi nghe lại thật kỹ và khẳng định đó là tiếng xe tăng, tôi nhanh chóng báo cáo lên Trung đoàn và ra lệnh cho toàn Tiểu đoàn vào vị trí chiến đấu. Khẩu ĐKZ 75mm được điều lên tăng cường cho hướng Đại đội 3. Lại một đợt hỏa lực khá mạnh, ác liệt kéo dài khoảng 30 phút. Hướng chân điểm cao 284 (Đại đội 2 chốt giữ) địch bắn phá ác liệt hơn cả, chúng chọn đây là hướng tiến công chính. Trời quang, có nắng rất tiện cho quan sát trận địa, ta phát hiện lực lượng địch có khoảng một trung đoàn bộ binh tăng cường, có tám xe tăng, ba xe thiết giáp (hướng phải Đại đội 2 có bảy xe tăng, một xe thiết giáp; hướng Đại đội 3 có một xe tăng, hai xe thiết giáp). Sau đợt hỏa lực bắn phá ác liệt, trên hai hướng Đại đội 3 Đại đội 2, địch tập trung xe tăng và bộ binh tiến công vào trận địa, hỏa lực pháo xe tăng và 12,7mm bắn ngang, cây cối gãy đổ rầm rầm khiến một số chiến sĩ mới hoang mang. Đội ngũ cán bộ tiểu đội, trung đội dày dạn kinh nghiệm kèm cặp rất sát những chiến sĩ mới nên không một ai rời trận địa, tinh thần bình tĩnh trở lại. Để xe tăng, bộ binh địch đến gần trong tầm bắn hiệu quả, tôi ra lệnh nổ súng. Trên các hướng, súng đồng loạt nổ giòn, hỏa lực của cấp trên, Tiểu đoàn chi viện kịp thời, bắn chặn, bắn trúng đội hình, diệt nhiều địch khiến chúng không tiến lên được, nhiều đợt tiến công đều bị ta đẩy lui. Khẩu pháo 85mm của Sư đoàn tăng cường đặt trên đồi Không tên phía sau trận địa bắn thẳng, uy hiếp được xe tăng và bộ binh địch. Khẩu cao xạ 37mm bên cạnh pháo 85mm cũng hạ nòng bắn quét. Địch khiếp sợ phải lui quân. Như vậy, từ sáng đến gần trưa, trong hơn ba giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 7 đã anh dũng, ngoan cường đánh lui, đánh bại nhiều đợt tiến công bằng bộ binh và xe tăng của địch, giữ vững trận địa. Lúc 15 giờ, trên hướng Đại đội 3, đồng chí Việt - Chính trị viên báo cáo trực tiếp cho tôi có một xe tăng, hai thiết giáp với bộ binh đi sau đang ở cách trận địa khoảng 400 - 500m. Tôi ra lệnh cho Đại đội 3 củng cố lại đội hình, tăng cường chỉ huy ra hướng chủ yếu, kiên quyết chiến đấu, ngăn chặn, tiêu diệt bộ binh, xe tăng địch giữ vững trận địa. Đài pháo 122mm của Sư đoàn đặt ở kế bên, tôi xin chi viện pháo binh, tập trung hướng Đại đội 3. Pháo binh ta bắn rất hiệu quả, bộ binh đánh trả và ngăn chặn địch giữ vững trận địa. Một chiếc xe tăng trong rừng lao ra, 12,7mm trên xe bắn rát, cây cối phía trước trận địa gãy gập, đổ ngổn ngang. Đại đội 3 tập trung hỏa lực B40, B41, ĐKZ tiêu diệt. Chiếc xe tăng bị thương nhanh chóng lùi nấp sau mô đất dùng hỏa lực bắn trả. Nhận được tin báo, tôi lệnh cho Đại đội 3 Đại đội 1 điều tất cả các loại hỏa lực chống tăng lên, điều khẩu ĐKZ 75mm hướng Đại đội 2 tăng cường cho Đại đội 3 với quyết tâm tiêu diệt chiếc xe tăng. Trời sẩm tối, các xạ thủ lần lượt điều lên ở cự ly gần để bắn, có đồng chí bắn xong ngất xỉu vì trong ngày bắn quá nhiều đạn, không chịu nổi... Về khuya, Đại tá Đoàn Chương - Phó Chính ủy Quân đoàn và Đại tá Phạm Công Nhân - Chính ủy Sư đoàn điện biểu dương đơn vị chiến đấu rất dũng cảm, lập công xuất sắc, giữ vững trận địa. Trung tuần tháng 2 năm 1979, trên chủ trương mở rộng hoạt động ra phía trước trận địa và xung quanh. Tiểu đoàn 7 có nhiệm vụ xuất kích từ trận địa phòng ngự theo đường số 3 đánh lên hướng ngã tư Súc. Khoảng 7 giờ sáng tôi mới nhận được điện lên Trung đoàn họp. Theo nhiệm vụ hiệp đồng 8 giờ nổ súng. Để kịp thời thực hiện, tôi vừa nghe Trung đoàn giao nhiệm vụ vừa điện thoại về cho đồng chí Khai - Chính trị viên ở nhà triệu tập các đại đội trưởng, chính trị viên lên nhận nhiệm vụ. Họp xong tôi chạy như bay về Tiểu đoàn, khi đó mọi người có mặt đủ, ngồi quây tròn trên bãi đất phẳng, tôi ngồi xuống dùng ngón tay vẽ sơ đồ, hiệp đồng các đơn vị, sau đó giao nhiệm vụ cho các bộ phận. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 17 Tháng Tám, 2026, 09:35:15 pm 8 giờ hỏa lực chuẩn bị 15 phút, chuyển làn bắn theo yêu cầu của bộ binh. Đại đội 1 bên cánh trái làm nhiệm vụ chủ yếu, Đại đội 2 bên cánh phải làm nhiệm vụ thứ yếu. Đại đội 3 dự bị, Đại đội 4 chi viện chung. Bên cánh trái, đồng chí Phong - Đại đội trưởng báo cáo gặp hồ nước lớn trước mặt, tôi lệnh lên đường số 3 và vòng trái tiếp tục tiến công đánh chiếm ngã ba đường số 37 rồi chốt lại chờ xe tăng và bộ binh lên.
Lúc đầu, do bị ta tiến công bất ngờ, địch nhanh chóng tan rã, nhưng khi ta dừng lại bảo vệ ngã ba đường số 37 thì địch cụm lại tổ chức đánh trả. Hai bên giằng co quyết liệt, Trung đội trưởng Thụy thuộc Đại đội 1 hy sinh, tiếp theo đó là Trung đội phó Tung hy sinh và một số đồng chí bị thương. Bộ binh Tiểu đoàn 9 ngồi trên xe tăng theo đường số 3 tiến về thị trấn Côngpông Trạch, bộ binh Tiểu đoàn 7 bố trí hai bên phải, trái đường số 3 dẫn dắt xe tăng cùng tiến. Do chuẩn bị không kỹ, địa hình không thuộc nên khi xe tăng rẽ vào đường đi Côngpông Trạch thì trời gần tối buộc phải lui quân thật nhanh. Hai bên đường quân địch khá đông, chúng cụm lại chặn đánh xe tăng. Đại đội 1 chốt giữ ngã ba chặn đứng quân địch, sẩm tối, xe tăng vượt qua về Cămpốt, Đại đội 1 chốt lại bị địch vây ba mặt, vừa chiến đấu ngăn chặn, vừa rút theo đội hình cuốn chiếu. Sau một ngày chiến đấu căng thẳng và mệt mỏi, ta diệt hơn 60 tên địch và bắt sống chín tên, thu nhiều vũ khí và trang bị. Quân ta hy sinh năm đồng chí, 23 đồng chí bị thương. Cuối tháng 2 năm 1979, trong lúc tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng, chủ trương của mặt trận là tập trung lực lượng, hiệp đồng binh chủng mở chiến dịch tiến công lớn vào các căn cứ của địch. Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân khu 9 sử dụng lực lượng tiến công, truy quét trên toàn chiến trường. Trung đoàn 18 được chi viện hỏa lực pháo binh, không quân, xe tăng, thiết giáp tiến công từ trận địa phòng ngự lên phía trước và các khu vực xung quanh. Tiểu đoàn 7 được tăng cường một đại đội xe tăng và ô tô - Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 cũ của tôi thời đánh Mỹ. Dự quê Thanh Hóa - Chính trị viên, Cành quê Quảng Bình - đội trưởng đều thuộc lớp cán bộ cũ của đơn vị, gặp nhau anh em mừng lắm, bắt tay ngay vào triển khai chiến đấu. Mờ sáng, pháo 130mm, 122mm bắn cấp tập vào ngã năm, sau đó bộ binh, xe tăng ào ạt tiến công đánh chiếm ngã năm bắt liên lạc với Sư đoàn 320 Quân đoàn 3 từ ngã tư Súc đánh sang. Lúc đầu địch cố chống cự nhưng nhanh chóng tan rã, các điểm chốt đều bị ta tiêu diệt. Trên sử dụng Trung đoàn 18 đánh thẳng vào Quân khu 23 của Pônpốt. Tiểu đoàn 8 do đồng chí Huynh - quyền Tiểu đoàn trưởng đi đầu. Tiểu đoàn 9 do đồng chí Tuân - Tiểu đoàn trưởng luồn sâu, bọc lót phía sau. Tiểu đoàn 7 làm lực lượng dự bị. Trên tăng cường cho Trung đoàn một đại đội pháo 105mm có bốn khẩu, một trung đội pháo cao xạ 37mm có hai khẩu. Thực hiện lệnh tiến công, Tiểu đoàn 8 ngày đầu không đi nổi 10km, đội hình tiến công hàng dọc, hai bên rừng già nguyên sinh rậm rạp không triển khai lực lượng được, cứ phải đi chậm, dò dẫm trong khi lại liên tục bị địch phục kích, gài mìn, bắn tỉa, đánh chặn. Ngày thứ hai, đội hình đi hàng đôi, đến gần trưa, do chủ quan, mệt, Đại đội 7 đi đầu lọt vào giữa trận địa phục kích của địch. Địch nổ súng chặn đầu, khóa đuôi và hai bên mép ta luy, đủ các loại súng tới tấp nhả đạn, lựu đạn nổ mù mịt. Ta bị động chống trả, lui dần về sau. Đại đội 7 và lực lượng đi đầu bị thương vong lớn, số còn lại rút về sau mất sức chiến đấu. Kết thúc trận đánh, ta hy sinh bảy đồng chí, bị thương hơn 20 đồng chí. Tiểu đoàn thay Đại đội 5 vào và tiếp tục hành tiến. Ra đến bãi bằng, địa hình tương đối trống trải, Trung đoàn điều hai khẩu 37mm đi trước, mỗi khẩu do một trung đội bộ binh đẩy, pháo thủ ngồi trên, bắn ngay khi cần. Gần tối, vượt qua suối lại ngược dốc lên, đầu đội hình vừa chớm chân dốc thì hai bờ bên suối súng nổ ran. Quân ta, một số đồng chí hy sinh tại chỗ, số còn lại nhanh chóng rút xuống suối triển khai, vấp phải mìn gài sẵn của địch, ta hy sinh thêm một số. Hai khẩu pháo cao xạ 37mm kịp hạ nòng đạp cò nhưng vướng cây trước mặt, đạn nổ khiến một số bị thương, trong đó có cả quyền Tiểu đoàn trưởng Huynh. Chỉ mới có hai ngày đầu mà Tiểu đoàn 8 đã hy sinh, tổn thất quá lớn, tinh thần chiến đấu đơn vị suy giảm. Trước tình hình trên, trong đêm, Trung đoàn triệu tập cán bộ đại đội, tiểu đoàn lên họp, phát huy ý kiến dân chủ. Trung đoàn quyết định thay Tiểu đoàn 7 vào chiến đấu, Tiểu đoàn 8 rút ra làm dự bị. Về vị trí đóng quân, tôi triệu tập cán bộ giao nhiệm vụ chiến đấu mới. Một giờ sáng, anh nuôi dậy nấu cơm, nước cho bộ đội, 4 giờ sáng phải triển khai chiến đấu xong. Khó khăn lớn nhất bấy giờ là nước ăn, tôi quyết định tập trung từng đại đội đào sâu xuống lòng khe suối cạn, nhờ thế vấn đề nước được giải quyết ngay trong đêm. 4 giờ 30 phút tôi điện bảo cáo Trung đoàn trưởng, đầu dây bên kia là đồng chí trực ban báo lại Trung đoàn trưởng vừa đi ngủ. Đến 5 giờ kém 5 phút tôi lại điện báo cáo, vẫn giọng đồng chí trực ban, tôi gắt lên yêu cầu cho gặp ngay Trung đoàn trưởng. Trung đoàn trưởng cầm máy, tôi báo cáo công tác chuẩn bị xong, đơn vị đã sẵn sàng... Ngay sau đó, trận địa pháo 105mm nổ ran, kèm theo đó là súng cối các loại, ĐKZ, 12,7mm, tất cả đồng loạt 15 phút. Hỏa lực vừa dứt, bộ binh ta tiến quân. Bị bất ngờ, địch tháo chạy, quân ta truy kích. Tốc độ tiến công rất nhanh, chưa đầy một giờ đồng hồ mà đội hình tiến công đã đi được hơn 3km, bỏ lại Sở Chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn 8 khá xa, trận địa pháo 105mm, cao xạ 37mm không theo kịp chi viện. Trời sáng hẳn, đơn vị cứ bám theo trục đường tiến quân, hai khẩu ĐKZ theo đội hình cuốn chiếu, chỗ nào nghi ngờ là bắn dọn đường cho quân ta tiến. Khoảng 10 giờ, Tiểu đoàn triển khai về phía điểm cao 105, con đường tiến quân vắt qua dãy núi. Ở phía trước, Đại đội 1 báo về phát hiện có nhiều người, không rõ là ta hay địch. Tôi nhắc Đại đội quan sát kỹ không để nhầm. Tiến cách khoảng 500 - 700m, tôi cho đội hình dừng và cho Đại đội 1 bắn ba phát một. Nhận được tín hiệu quân ta, trên sườn và đỉnh đồi 105 toàn bộ bộ đội Tiểu đoàn 9 đứng dậy nhảy múa vui mừng vì cả tuần xuyên rừng, luồn sâu chặn địch nay mới được gặp lại đồng đội. Bộ đội hai bên ào lên ôm chầm lấy nhau thật sung sướng sau bao nhiêu hy sinh gian khổ đã vượt qua. Tiểu đoàn 7 vượt qua điểm cao 105, đến ngã ba đường thì dừng lại để xin định hướng, loay hoay mãi cuối cùng triển khai bốn khẩu pháo 105mm bắn ba loạt để xác định hướng đi, tiếp tục tiến thì gặp con suối, hồ nước. Tất cả bi đông bộ đội đã khô, thấy nước ai cũng sà xuống làm một ca đầy, uống một hơi cho đã, rồi dìm bi đông lấy nước vào bình. Ai uống xong cũng nhổ ra vì nước màu vàng, nhớt nhớt lại tanh tanh, nhưng khát quá nên vẫn phải uống. Khi dừng đóng quân quá lên phía trên mới phát hiện có nhiều xác chết nổi lềnh phềnh thối rữa, hôi tanh nồng nặc. Lui lên một đoạn để trú quân lại phát hiện hai hố chôn người tập thể. Sáng ra, để tiếp tục hành quân, ta lại dùng pháo binh bắn xác định hướng, hai loạt pháo nổ gân đội hình đi đầu do kế toán trinh sát tính toán nhầm phần tử vì bản đồ cũ, may không ai bị thương. Theo đường dân sinh, chúng tôi ra tới chân đèo Píchlin đường số 4. 15 giờ, toàn Trung đoàn ra tới đường số 4. Gần trưa hôm sau, chúng tôi được chở bằng ô tô về Cămpốt. Ngồi trên xe mà lòng cứ lâng lâng vui mừng, thế là sắp được trở về Tổ quốc. Trung đoàn 18 là đơn vị cuối cùng của Quân đoàn 2 rời khỏi nước bạn Campuchia. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:43:43 pm IX. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
Quân đoàn 2 là một trong ba quân đoàn chủ lực tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1979, Quân đoàn tổ chức những trận đánh và truy quét lớn vào những nơi tập trung quân và hậu phương của địch, sau đó lần lượt các đơn vị rút về nước, nhanh chóng ra Bắc thực hiện nhiệm vụ. Các đơn vị hành quân đường bộ bằng ô tô, Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 đi máy bay. Trung đoàn 18 rút sau cùng đội hình Quân đoàn vào ngày 6 tháng 3 năm 1979, hành quân từ thị xã Cămpốt qua phà Hà Tiên ngày 7 tháng 3 năm 1979, xuống ga Thái Nguyên sáng 16 tháng 3 năm 1979 rồi tiếp tục hành quân lên Phú Lương tập kết dọc theo đường số 3 đi Cao Bằng. Sau một tháng tiến công xâm lược dọc tuyến biên giới phía Bắc, do bị áp lực của quốc tế, bị thương vong tổn thất nặng nề, các hướng tiến công đều bị quân ta ngăn chặn và đánh bại, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Quân đoàn 2 hành quân thần tốc ra Bắc nhưng chỉ có Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 là tham gia chiến đấu bảo vệ thị xã Cao Bằng cùng Quân khu 1. Ngày 26 tháng 3 năm 1979, Quân đoàn 2 hành quân về hướng đông bắc, hướng phòng thủ chủ yếu quốc gia. Cụ thể: Sư đoàn 304 đứng chân ở huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn, Mẹt - Lạng Giang - Hà Bắc. Sư đoàn 306 (mới thành lập tháng 11 năm 1978) đứng chân ở Lục Nam - Hà Bắc. Sở Chỉ huy Quân đoàn ở thị trấn Lạng Giang. Các lữ đoàn trực thuộc đứng chặn xung quanh Sở Chỉ huy Quân đoàn trên hai huyện Lạng Giang và Lục Nam. Sư đoàn 325 đứng chân huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Sở Chỉ huy Sư đoàn đóng ở xã Nghĩa Hồ thuộc huyện Lục Ngạn. Đến vị trí mới, tất cả cán bộ, chiến sĩ đều bắt tay vào các công việc rất khẩn trương, còn cán bộ đại đội, tiểu đoàn trở lên đều phải đi trinh sát chuẩn bị chiến trường. Đối phương sử dụng chiến thuật "biển người", tập trung hỏa lực mạnh, bắn trong thời gian dài, sau đó sử dụng lực lượng đông tiến công hai bên sườn, luồn phía sau. Lực lượng chốt, phòng ngự của ta mỏng nên một số trận địa phòng ngự, chốt của ta bị mất, thương vong tổn thất khá nặng nề. Trên tuyến Hữu Nghị Quan - Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn, quân ta rút sang bờ nam, toàn bộ thị xã Lạng Sơn, khu vực xung quanh tan hoang, đổ nát khi đối phương rút quân. Lúc xảy ra chiến sự, Trung tướng Đàm Quang Trung - Tư lệnh Quân khu 1, nắm được kế hoạch Bộ điều động Quân đoàn 2 ra hướng Quân khu, đã động viên bộ đội yên tâm giữ chốt, giữ địa bàn, phía sau đã có Quân đoàn 2, quân đoàn chủ lực thiện chiến, có truyền thống và thành tích vẻ vang sẵn sàng chi viện... Vì thế, đi đến đâu chúng tôi cũng được các đơn vị bộ đội và nhân dân đón tiếp nồng hậu, nhiệt tình, giúp đỡ. Chỉ trong một thời gian ngắn, các đơn vị đã chuẩn bị phương án chiến đấu chu đáo, từ Cao Bằng đến Lạng Sơn, Quảng Ninh. Lúc ra đến Thái Nguyên rồi về Hà Bắc, tôi tranh thủ viết thư về nhà thăm bố mẹ, vợ con. Từ cuối tháng 12 năm 1978 khi đi chiến đấu không có dịp viết thư về làm cả gia đình lo lắng. Đến khi chiến sự diễn ra ở biên giới phía Bắc, em trai tôi là Thiều Chí Hợi đi công nhân địa chất ở Cao Bằng cũng bặt tin làm bố mẹ tôi sốt ruột ra ngóng vào trông, hỏi thăm tin tức khắp nơi và khóc ròng. Vợ tôi thì mới sinh con nhỏ ngày 21 tháng 5 năm 1978. Khi nhận được thư tôi và sau khi đối phương rút quân, em tôi từ Cao Bằng trở về, cả nhà vỡ òa vui sướng. Trung tuần tháng 4 năm 1979, em tôi đưa mẹ, vợ và con gái đầu của tôi là Thiều Thị Hạnh lên thăm tôi đang đóng quân ở Hồng Giang - Lục Ngạn - Hà Bắc. Từ Vĩnh Tường - Vĩnh Phú lên Hà Bắc chưa đầy 200km mà phải đi hai ngày một đêm mới tới nơi, xe cộ quá khó khăn, đi lại rất gian khổ... thế mà mẹ, vợ con tôi vẫn quyết tâm tìm lên. Nhận được tin, tôi xúc động quá, chạy ra đón cả nhà. Tôi mới gặp con gái một lần vào tháng 8 năm 1978. Con vẫn đang ngả trên vai mẹ ngủ ngon lành, vợ tôi vỗ vỗ vào lưng đánh thức con dậy. Hạnh bừng mở mắt ngoảnh lại ôm chầm lấy bố. Tôi om con mà mắt rưng rưng. Lúc đó con gái tôi 11 tháng tuổi, mới chập chững biết đi. Đơn vị mới hành quân từ chiến trường ra còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Bộ đội ở nhờ nhà dân không đủ phải căng tăng ở ngoài đồi. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 7 ở tạm khu vực nhà xe cũ nát, trống tuềnh trống toàng, phải lấy phên nứa che tạm. Nằm cũng vậy, phải rải phên nứa xuống đất. Mẹ, em trai, vợ con tôi ở được khoảng chục ngày mà tôi không có nào nghỉ, chỉ khi xế chiều và tối tôi mới có mặt ở nhà. Anh em, bạn bè cùng đơn vị đến thăm khá đông. Hôm mẹ tôi cùng vợ con trở lại quê, tôi phải nhờ anh em đi chen vé từ 2 giờ sáng, mượn hai chiếc xe đạp đèo ra cách Chũ khoảng 7km, lên xe vào lúc hơn 5 giờ, trời vẫn còn lờ mờ tối. Về đến nhà, vợ tôi điện lên báo an toàn mà cũng phải mất năm, sáu ngày tôi mới nhận được điện. Tháng 9 năm 1979, vợ con tôi lên thăm lần thứ hai, khi đó tôi đang ở Giáp Sơn. Những ngày đầu ở Hồng Giang thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Bộ đội ăn, tắm đều là nước suối tù. Tháng 5 năm 1979, để luyện tập theo phương án chiến đấu và thị uy đối phương, Quân đoàn 2 dưới sự chỉ đạo của Bộ thực hành một cuộc diễn tập lớn mang tên "Chi Lăng tháng 1 năm 1979". Toàn Quân đoàn xuất quân vào trận. Sư đoàn 325 được tăng cường chi viện hỏa lực theo đường Hữu Nghị II từ Lục Ngạn - Sơn Động - Đình Lập đi Bản Chắt, biên giới Việt - Trung, hành quân liên tục thâu ngày, qua đêm, ban ngày trời nắng như thiêu, như đốt, ban đêm trời lạnh. Bộ đội ngủ tăng võng, ăn ở dã ngoại, cơm nắm, gạo sấy, uống nước suối. Trung đoàn 18 đảm nhiệm tiến công chủ yếu vào khu vực bản Mục, bản Có. Tiểu đoàn 7 được giao luồn sâu, chia cắt đánh thẳng vào đội hình và sở chỉ huy sư đoàn địch, sau đó phát triển lên điểm cao 445 (sông Kỳ Cùng), bản Chắt, khôi phục tuyến biên giới quốc gia... Cuối tháng 7 năm 1979, một tin vui đến với đơn vị và cá nhân tôi, trên tổ chức tổng kết chiến đấu ở Campuchia, Tiểu đoàn 7 chúng tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, cá nhân tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:45:01 pm Năm này, trên cơ sở văn bản hợp tác toàn diện giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam, Liên Xô tăng cường viện trợ quân sự cho Việt Nam nhằm nâng cao sức mạnh của quân đội. Liên Xô trang bị cho ba sư đoàn bộ binh cơ giới gồm Sư đoàn 304 Quân đoàn 2, Sư đoàn 308 Quân đoàn 1, Sư đoàn 320 Quân đoàn 3.
Sư đoàn 325 là sư đoàn bộ binh tăng cường, cấp tiểu đoàn được nâng lên một đại đội cối 82mm có bốn khẩu, mỗi đại đội bộ binh trang bị thêm hai khẩu đại liên PKMS. Trung đoàn bộ binh có một đại đội cao xạ 23mm với bốn khẩu, một đại đội pháo 76,2mm có sáu khẩu. Sư đoàn có một trung đoàn pháo binh, một tiểu đoàn cao xạ 37mm 12 khẩu, một tiểu đoàn pháo chống tăng 18 khẩu, một tiểu đoàn xe tăng T-54B, một đại đội pháo phản lực BM13 với bốn xe, một đại đội tên lửa A72... Tiểu đoàn 7 chúng tôi được trên giao nhiệm vụ cùng tiểu đoàn xe tăng tham gia tiến công tất cả các hướng chủ yếu của Sư đoàn trên tuyến biên giới Quảng Ninh - Lạng Sơn - Cao Bằng. Buổi đầu tập làm quen giữa bộ binh và xe tăng, chúng tôi vẽ hình xe tăng và cử một trung đội đứng hai bên hình xe tập hô lên, xuống cho đến khi thành thục mới lấy xe ra tập. Các buổi luyện tập tổng hợp cũng như các cuộc diễn tập sau này, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 16 xe tăng gắn bó thân thiết với nhau. Kết thúc năm 1979, Trung đoàn 18 được chọn làm thí điểm cho toàn quân về thực hiện chế độ một người chỉ huy, tôi được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy, Tiểu đoàn trưởng. Ban chỉ huy Tiểu đoàn gồm ba người: Tôi là Tiểu đoàn trưởng; đồng chí Đồng, quê Thạch Hà - Hà Tĩnh là Phó Tiểu đoàn trưởng về chính trị; đồng chí Vĩnh, quê Thanh Hà - Hải Dương là Phó Tiểu đoàn trưởng. Đơn vị đóng quân ở xã Giáp huyện Lục Ngạn, tỉnh Hà Bắc, xung quanh là ruộng, đồi, đơn vị ngăn cách với dân một con suối nhỏ. Tiểu đoàn kết nghĩa với Hợp tác xã Thái Hòa do bác An là Chủ nhiệm Hợp tác xã. Hợp tác xã thường điều động trâu cày bừa và bà con xã viên giúp bộ đội cấy lúa, tăng gia, quân dân đi lại gắn bó keo sơn. Từ năm 2008, khi xa Quân đoàn, xa đất Lục Ngạn - Bắc Giang, tôi và gia đình bác An vẫn giữ liên lạc với nhau, tình cảm thật lưu luyến. Đầu năm 1980, để củng cố và bổ sung cho phương án tác chiến, Quân đoàn, Sư đoàn chủ trương mở đường cơ động bắc huyện Đình Lập, Lạng Sơn làm kinh tế kết hợp quốc phòng, lấy tên là "Mở đường 50" mừng 50 năm Ngày thành lập Đảng. Toàn đơn vị hành quân làm đường ba tháng, gian khổ, đói, rách, rét, tất cả đều khắc phục vượt qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trung tuần tháng 3, Tiểu đoàn 7 được giao nhiệm vụ: Được tăng cường hỏa lực, trang bị bắn chiến đấu cấp tiểu đoàn do cố vấn Liên Xô và cấp trên chỉ đạo, thực hiện chiến thuật tiểu đoàn bắn chiến đấu với toàn bộ trang bị hiện có. Đây là nội dung từ trước tới nay chưa có, khi nhận nhiệm vụ quả thật tôi rất lo, lo nhất là khâu bảo đảm an toàn nhưng cũng được động viên bởi nhiệm vụ thể hiện sự tin tưởng của cấp trên đối với đơn vị và cá nhân mình. Và quả thực, với sự nỗ lực của toàn đơn vị, chúng tôi đã không phụ lòng tin cậy đó. Tháng 8 năm 1980, tôi đang chỉ huy bộ đội huấn luyện dã ngoại khu vực đèo Váng thuộc xã Phong Minh thì trên điện về Trung đoàn nhận nhiệm vụ. Tôi được bổ nhiệm Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng Trung đoàn 111, Trung đoàn đóng quân ở xã Cẩm Đàn, huyện Sơn Động, tỉnh Hà Bắc. Niềm vui thật bất ngờ và lớn lao, đánh dấu một bước ngoặt của cuộc đời quân ngũ. Trung đoàn 111 được thành lập năm 1978 thay cho Trung đoàn 101 được cắt về Sư đoàn 968 Quân khu 4. Từ Campuchia về nước, Trung đoàn đóng quân hoàn toàn dã ngoại, không có doanh trại, không ở nhà dân, tự dựng nhà bằng tranh tre vách đất trên địa bàn đồi núi để ở. Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ gặp vô vàn khó khăn, lại xa Sư đoàn, mỗi lần về Sư đoàn công tác phải đạp xe khoảng 25km. Ban Chỉ huy Trung đoàn gồm: Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Vũ Hồng Thái, quê Nam Định; Đại úy, Phó Trung đoàn trưởng về chính trị Trần Sỹ Kính, quê Thanh Hóa; tôi và đồng chí Phó Trung đoàn trưởng hậu cần, kỹ thuật (sau một thời gian thì bỏ chức danh phó trung đoàn trưởng hậu cần, kỹ thuật). Các tiểu đoàn mang phiên hiệu 1, 2, 3 và tám đại đội trực thuộc. Tháng 5 năm 1981 tôi được thăng quân hàm Đại úy. Ngày 3 tháng 6 năm 1981 (âm lịch) bố tôi lâm bệnh nặng, qua đời ở tuổi 64. Bố mất được một tuần thì tôi mới nhận được điện báo của vợ. Mặc dù rất đau buồn muốn về nhà ngay nhưng công việc đơn vị bận rộn, đến 49 ngày bố tôi mất cấp trên mới cho tôi về. Bố tôi mất được hai tuần thì con trai tôi là Thiều Chí Huỳnh cất tiếng khóc chào đời (ngày 17 tháng 7 năm 1981 dương lịch). Con tôi sinh ra không được khỏe mạnh vì thiếu dinh dưỡng, nhưng sau này lớn lên rất đẹp trai, nhanh nhẹn, hoạt bát, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, hiện đang là Phó Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên, vợ là giáo viên cấp Hai, sinh ba con, hai gái: Thiều Mai Anh, Thiều Bảo Khánh và con trai Thiều Chí Trung. Những năm tiếp theo, do có nhiều biến động về nhiệm vụ và công tác cán bộ, từ Trung đoàn đến Sư đoàn có nhiều thay đổi, lớp cán bộ chống thực dân Pháp dần dần về hưu và về cơ quan Bộ, nhà trường. Tôi lên cơ quan tác chiến Sư đoàn, rồi xuống làm Phó Trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Trung đoàn 95, rồi lại sang Phó Trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Trung đoàn 101. Tháng 8 năm 1985, tôi được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 và thăng quân hàm Thiếu tá. Cuối năm 1985, sau khi tổng kết nhiệm vụ và triển khai công tác năm 1986, tôi nghỉ phép hơn một tháng. Gia đình thì nghèo, anh em lại đông, phải tính chuyện tách ra. Trong thời gian nghỉ phép, hai vợ chồng tôi tự đóng gạch tính xây bếp rộng và có không gian để ở. Nhà có ruộng đất phần trăm, chúng tôi hạ ruộng lấy đất về đóng gạch. Hơn một tháng trời tập trung làm, đóng được gần hai vạn viên gạch mộc, hai vạn viên ngói mũi, phơi khô xếp lại, che đậy rất cẩn thận. Sau này nhờ người đốt cho, nhưng lò xếp đun giữa sân bị sự cố, may mà còn cứu được phần nào vừa xây đủ chiếc bếp ba gian ngoài vườn, trước cửa nhà. Đóng gạch xây bếp xong thì vợ tôi sinh đứa con thứ tư là Thiều Chí Huynh vào ngày 14 tháng 9 năm 1986. Sinh con nhưng phải nằm viện điều trị, may mà hồng phúc lớn, cháu qua khỏi và cứ lớn dần, trưởng thành theo năm tháng. Là con trai út nên bố mẹ, anh chị rất nuông chiều, nhất là chị gái cả Thiều Thị Hạnh đi đâu, làm gì cũng bồng bế cho em đi theo. Sau này con học Đại học Thể dục thể thao, hiện đang công tác tại Trung tâm Thể dục thể thao Quân đội, vợ là Công an công tác tại Hà Nội. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:46:36 pm Năm 1987, theo dự báo của cấp trên, sẽ lần lượt sử dụng các quân đoàn chủ lực lên tác chiến và thay phiên phòng ngự biên giới phía Bắc, đặc biệt là tuyến biên giới Vị Xuyên Tháng 3 năm 1987, Bộ mở đợt tập huấn toàn quân tại chiến trường Vị Xuyên các nội dung huấn luyện chiến đấu lên chốt thay quân, sinh hoạt của bộ đội...
Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 được Bộ chính thức giao nhiệm vụ thay quân vào tháng 8 năm 1987. Các đơn vị được bổ sung quân số, trang bị và huấn luyện trước khi bước vào chiến đấu. Toàn Sư đoàn lấy địa hình Chi Lăng - Lạng Sơn để huấn luyện bộ đội sát thực tế của chiến trường Vị Xuyên. Trung tuần tháng 3 năm 1988, Sư đoàn tập kết tại Nông trường Việt Lâm, bổ sung trang bị, làm công tác chuẩn bị để vào thay phiên cho Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 rút ra. Theo kế hoạch của trên, việc thay phiên diễn ra trong bốn đêm. Đêm đầu tiên chỉ huy từ cấp trung đội trở lên vào nắm tình hình, làm quen việc, trang bị, thông tin, địa hình. Ba đêm còn lại, mỗi đêm một phần ba quân số lần lượt bí mật vào... Cuối tháng 3 năm 1988, tất cả các đơn vị vào phòng ngự thay cho Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 rút ra, Trung đoàn 95 hy sinh một đồng chí tiểu đội trưởng quê Bắc Thái. Sau khi thay phiên, tôi đi kiểm tra toàn tuyến của Trung đoàn và quyết định họp phiên Đảng ủy Trung đoàn củng cố niềm tin, động viên tinh thần hy sinh, vượt qua gian khổ cho cán bộ, chiến sĩ; đề nghị cấp trên điều chỉnh và rút bớt lực lượng phía trước để giảm bớt quân số phục vụ bảo đảm, nhất là khu vực phòng ngự bốn hầm, khu H. Sau Hội nghị Đảng ủy, một chiến dịch được phát động trong quần chúng, thanh niên, đảng viên, cán bộ toàn đơn vị về làm hầm hào, sửa sang công sự kiên cố, vững chắc (áo giáp sắt) để chiến đấu lâu dài. Đêm tối, sáng trăng đều phải làm, không khí rất nhộn nhịp. Vào thay phiên được hơn ba tháng thì toàn là lao động, củng cố công sự, hầm hào. Khi trận địa phòng ngự tương đối vững chắc, chúng tôi đề nghị Sư đoàn sử dụng hỏa lực pháo binh, súng cối đánh trả khi cần. Trưa ngày 22 tháng 6 năm 1988, bộ phận phòng ngự khu vực bốn hầm vừa ăn cơm xong, kịp phân tán vào các ngách hầm, một quả cối 100mm rơi lọt cửa, nổ tung khiến một đồng chí hy sinh, làm bị thương hai đồng chí. Nghe Tiểu đoàn trưởng Tuyến báo, tôi ra lệnh cho bộ đội phòng tránh, chờ thời cơ lên cấp cứu thương binh. Vừa dứt lời thì một quả cối 100mm lại rơi sát mép cửa hang Mán Thượng khiến hai đồng chí hy sinh, làm bị thương bốn đồng chí, trong đó có Thượng úy, Tiểu đoàn phó về chính trị Tiểu đoàn 1 và Đại đội trưởng Đại đội 2. Khi ta thay quân thì đối phương cũng thay quân, ổn định tình hình thì chúng bắn để xác định lại các phần tử. Tôi lệnh cho toàn Trung đoàn cảnh giác đề phòng. Đến chiều, phát hiện các trận địa của địch, tôi báo cáo Sư đoàn và ra lệnh các trận địa đánh trả. Bốn đại đội cối 82mm, 120mm đều bắn chính xác. Hai bên nổ súng quyết liệt, một trận đấu pháo giữa hai bên chưa có từ trước đến nay. Hai bên dừng tiếng súng thì trời tối. Các đài quan sát bộ binh, pháo binh, binh chủng và trận địa được tôi giao nhiệm vụ rất cụ thể, chặt chẽ và thường xuyên nắm chắc địch phía trước, các hoạt động, các trận địa pháo binh địch mới xuất hiện để có thời cơ là đánh trả. Cứ như vậy, hỏa lực pháo binh của ta bí mật đánh trả pháo binh, bộ binh địch rất hiệu quả. Từ tháng 6 năm 1988 cho đến cuối năm 1988, khi đơn vị rút, địch rất sợ pháo binh, hỏa lực của ta, mọi hoạt động giữ bí mật, đi lại kín đáo chứ không còn dám ngạo mạn, giương oai. Tháng 8 năm 1988, trên hướng H4 bình độ 300, địch đào trận địa mở rộng, hướng lỗ châu mai to, rộng về hướng trận địa Đại đội 7. Trung đoàn điều khẩu đội ĐKZ 82mm lên, chớp thời cơ bắn liền hai phát làm sập hầm, địch chết và khẩu chống tăng bị diệt mà chúng không dám phản ứng. Tuy nhiên, các đơn vị phòng ngự trước bị chúng dùng pháo bắn cả ngày uy hiếp đến nỗi ăn, vệ sinh ngay trong hầm chứ không ra ngoài được. Trên khu H gồm H3 (Pho Tượng), bốn hầm, quân ta làm chủ và hoạt động địch vận tốt nên bớt phần căng thẳng, đi lại cũng dễ dàng hơn. Mặt trận Vị Xuyên, khó khăn nhất là công tác bảo đảm cho bộ đội về mặt hậu cần. Hơn 600 quân trên chốt mà lực lượng còn lại của cả trung đoàn gùi, thồ bảo đảm, mỗi ngày mỗi người từ một đến hai chuyến chuyển hàng lên, sau này anh em quen dần, nâng lên gấp đôi nên đi một lần là xong. Cứ sáng tinh mơ hoặc chiều tối qua đài quan sát và Sở Chỉ huy Trung đoàn ra lệnh là đi theo từng tốp, từng tổ mang hàng lên chốt gồm: Gạo, đạn, nước... xong về là tắm giặt nghỉ ngơi và điệp khúc hôm sau lại thế cho đến hết nhiệm vụ phòng ngự năm 1988. Sau này, tôi cho cải tạo trước cửa hang Mán Thượng một cái giếng trời, cứ mưa to là đủ nước gùi lên chốt, bộ đội không phải xuống suối cụt lấy nước, vừa giảm công sức vừa đỡ nguy hiểm. Ngoài thực phẩm theo chế độ trên cấp và cải thiện rau rừng, măng đắng đưa vào bữa ăn, chúng tôi còn triển khai các chốt, Sở Chỉ huy Trung đoàn nuôi thêm gà, chó, lợn, trồng rau bầu, bí. Sở Chỉ huy Trung đoàn có giàn mướp khá tốt, nhiều quả, không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp của Sở Chỉ huy, mà còn giúp cho việc ngụy trang kín đáo. Trên chốt, bộ đội rất khéo tay, làm cả giá đỗ, đậu phụ,... Cuộc sống tuy ác liệt, gian khổ, khó khăn nhưng chúng tôi, những người lính giữ chốt, giữ biên cương Tổ quốc vẫn cứ lạc quan, yêu đời. Ngày 5 tháng 9 năm 1988, kỷ niệm 43 năm Ngày truyền thống Trung đoàn 101, bộ phận hậu phương gửi rượu vang, rượu chanh, rượu nút lá chuối và thịt lợn, bò, gà... lên chốt phân phát cho các đơn vị, không khí nhộn nhịp. Các trận địa đều điện về Sở Chỉ huy Trung đoàn chúc mừng, tôi điện lại nhắc cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu tốt, quyết tâm giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tô thắm truyền thống Trung đoàn 101 (Cao Vân) anh hùng. Chiều 5 tháng 9 năm 1988, các loại pháo lớn của địch bắn mạnh sang trận địa ta, nắm thời cơ, tôi lệnh đồng loạt pháo binh đánh trả. Hai bên đấu pháo hết buổi chiều, địch sử dụng pháo nòng dài 130mm bắn qua thị xã Hà Giang, nhân dân chạy toán loạn, phía sau dân chúng tưởng là đối phương tiến công lấn chiếm chốt. Khi Trung đoàn 101 sử dụng pháo binh đánh trả, thấy vậy Trung đoàn 18, Trung đoàn 95 báo sang hiệp đồng chí viện và cũng bắn trả. Kết thúc trận đánh, đồng chí Tùng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18 điện sang bảo tôi lần sau có bắn nhớ điện sang cho Trung đoàn 18 tham gia. Đầu tháng 11 năm 1988, Sư đoàn 325 bàn giao phòng ngự Vị Xuyên cho Sư đoàn 316 Quân khu 2. Chúng tôi có một tuần làm công tác chuẩn bị, sau đó bí mật giao phiên. 10 tháng chiến đấu đầy kinh nghiệm nên hai sư đoàn bàn giao rất nhanh, gọn, bí mật. Những ngày bàn giao, địch sử dụng pháo binh, súng cối bắn phá ác liệt nhưng chúng ta thay quân vẫn bảo đảm an toàn. Toàn bộ cấp phó chỉ huy bộ đội ra tập kết và tổ chức hành quân về hậu cứ, cấp trưởng ở lại bàn giao trận địa, vũ khí, trang bị chiến trường ra sau. Sáng hôm sau, cả đoàn chúng tôi tổ chức ra viếng nghĩa trang liệt sĩ của Sư đoàn, thắp hương kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc. Sư đoàn 325, một trong bảy sư đoàn lên tham gia chiến đấu ở Vị Xuyên, được Bộ đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được toàn quân phổ biến học tập, trong đó có công tác chính trị, tư tưởng, công tác dân vận. 10 tháng chiến đấu oanh liệt, Sư đoàn đã có 43 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, riêng Trung đoàn 101 có 11 liệt sĩ trong cả quá trình chiến đấu. Cuối tháng 11 năm 1988, toàn Sư đoàn hành quân về đến hậu phương Lục Ngạn, nhanh chóng ổn định, củng cố và làm nhiệm vụ tiếp theo. Địa phương, đơn vị bạn xung quanh, cấp trên, học viện, nhà trường liên tục đến thăm và tặng hoa chúc mừng thành tích chiến đấu ở biên giới của các trung đoàn, Sư đoàn. Trung đoàn 101 chúng tôi được Thiếu tướng Nguyễn Công Trang và Khoa Công tác đảng, công tác chính trị Học Viện Quân sự cấp cao đến thăm, chúc mừng và học tập kinh nghiệm. Sau đó, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm và chúc mừng đơn vị. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:49:18 pm X. NHỮNG THÁNG NĂM HÒA BÌNH
Để xây dựng quân đội chính quy, hiện đại như chủ trương của Đảng, cán bộ phải có trình độ học vấn, chuyên môn tương xứng, vì thế tất cả cán bộ các cấp đưa vào nguồn phát triển mà chưa học hết cấp Ba đều phải đi học. Hết năm 1988, tôi bàn giao Trung đoàn trưởng cho Đại úy Mai Ngọc Tác (quê Thanh Hóa) từ Trung đoàn 95 sang thay, tôi đi phép, nghỉ Tết rồi đầu tháng 2 năm 1989 lên Trường Văn hóa Quân đoàn 2 học 18 tháng. Tháng 8 năm 1989 tôi được thăng quân hàm Trung tá. Lớp tôi có tất cả hơn chục đồng chí, tôi là người tuổi quân, tuổi đời, chức vụ cao nhất, rồi đến đồng chí Đặng Thái Nhã - Thiếu tá, Phó Trung đoàn trưởng về chính trị Trung đoàn 18, còn lại là cánh trẻ, phần lớn là cán bộ của Sư đoàn 325. Chúng tôi học các môn toán, vấn, lý, hóa một tuần năm buổi, tối tự ôn. Mặc dù đã nhiều tuổi và gác bút nghiên từ lâu, kiến thức mai một nhưng chúng tôi đều rất chăm chỉ, khiêm tốn, chấp hành nghiêm kỷ luật Nhà trường. Trưa thứ Bảy đến Chủ nhật, trừ những đồng chí ở xa, còn lại đều được về tranh thủ, tôi đem theo chiếc xe đạp để tuần nào cũng về nhà. Từ trường về nhà mất khoảng gần bốn giờ đạp xe, tuần nào cũng vậy, chả thế mà có 18 tháng học mà ba chiếc quần sờn, rách đít, rách gối phải khâu. Cuộc sống cả nước bấy giờ đang khó khăn thiếu thốn, nên hết giờ là lại đi bắt cá, mò cua, hái rau rừng để cải thiện, ở nhà, vợ tôi đau yếu liên miên, hết đi Viện 109 lại Viện 43, Bệnh xá Nhà trường. Bốn đứa con còn nhỏ đều đi học, cáng đáng trông nhau, lại còn mấy sào ruộng, hai con lợn trong chuồng... nhưng may mắn tôi có con gái lớn Thiều Thị Hạnh dù mới chỉ 11 tuổi đã rất tháo vát, giỏi giang, lại được nhờ bà nội, anh em trong gia đình lo toan để vợ tôi đi chữa bệnh suốt mấy năm trời. Đến khi tôi về học Học viện Quân sự cấp cao vẫn còn phải lo đưa vợ đi Viện Quân y 108 chạy chữa trong một thời gian dài. Thật may, tất cả khó khăn đều trôi qua. Tháng 6 năm 1990, chúng tôi tốt nghiệp cấp Ba, các đồng chí trong lớp đều về đơn vị công tác, riêng tôi lại tiếp tục theo học Học viện Quân sự cấp cao, nhà trường lớn nhất toàn quân, trong hai năm 1990 - 1992. Tôi là một trong những sĩ quan nhiều may mắn, được đào tạo rất cơ bản theo hệ thống cán bộ chính quy từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp. Năm 1971, từ Cánh Đồng Chum tôi được về đào tạo sĩ quan lục quân khóa 33, ra trường tháng 8 năm 1972, vào chiến trường Quảng Trị. Năm 1976 - 1978, tôi được đi học trung - cao Đà Lạt, ra trường đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng... Lần này, tôi đến trường với niềm tự hào, hãnh diện được học tập tại ngôi trường lớn nhất của Quân đội, đào tạo những sĩ quan chỉ huy tham mưu cao cấp, nguồn tướng lĩnh Quân đội ta sau này. Lớp học của tôi có 29 học viên, khai giảng ngày 5 tháng 9 năm 1990. Những ngày đầu, chúng tôi được học cấu tạo, tính năng, tác dụng, cách sử dụng các loại vũ khí của các binh chủng, quân chủng như: Pháo binh, phòng không, thông tin, trinh sát, hóa học, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa phòng không mặt đất, tên lửa biển, hải quân, không quân... Học lý thuyết ở trường sau đó lần lượt đến các trường sĩ quan xung quanh, thành phố Sơn Tây để thực tế pháo binh, phòng không, công binh; đi Hải Phòng, Quảng Ninh tham quan hải quân, tàu chiến, tên lửa bờ... Tiếp sau là học chiến thuật cấp sư đoàn, chiến dịch tiến công, phòng ngự; học các nội dung về triết học, đường lối của Đảng, công tác đảng, công tác chính trị... Sáng lên lớp năm tiết, chiều tự nghiên cứu, tự ôn, tuần học từ thứ Hai đến thứ Bảy, tháng có xe tuyến về tranh thủ một lần. Năm thứ nhất, Nhà trường cho nhận đề tài, chuẩn bị tài liệu viết tiểu luận, năm thứ hai viết luận văn cho tùy chọn đề tài. Tôi chọn tiểu luận năm thứ nhất, luận văn tốt nghiệp năm thứ hai đều với đề tài "Sư đoàn bộ binh tiến công địch ở địa hình rừng núi buộc địch phải đổ bộ đường không ra ứng cứu giải tỏa". Đại tá Đinh Quang Cựu, quê Hải Dương, giáo viên Khoa Chiến thuật là giáo viên hướng dẫn viết luận văn; Đại tá Nguyễn Văn Độ, giáo viên Khoa Chiến thuật là giáo viên phản biện. Hai thầy hướng dẫn, chỉ đạo tôi rất nghiêm túc, tỷ mỷ từ khi nhận tài liệu, nghiên cứu, tổng hợp đến khi viết luận văn. Tôi phải thông qua đi thông qua lại nhiều lần, chỉnh sửa những lỗi rất chi tiết của luận văn tốt nghiệp, còn phải một mình đóng cửa luyện tập cho đến khi thành thục. Sự chỉ bảo của các thầy và sự nỗ lực của bản thân đã đem lại kết quả, bảo vệ luận văn cuối khóa, thi tốt nghiệp quốc gia tôi đạt xuất sắc với số điểm tối đa, cao nhất khóa học, được Học viện khen thưởng. Hai năm học tại Học viện Quân sự cấp cao là lúc tình hình thế giới, trong nước đầy những biến động, nếu không xác định tốt và giữ vững niềm tin thì không thể học được. Cuộc sống cũng đầy khó khăn, lương thấp, vợ ốm, các con còn nhỏ. 29 học viên chúng tôi chỉ có một số đồng chí điều kiện kinh tế khá giả, số còn lại chỉ dám dùng tiền lương ít ỏi mua xà phòng, kem đánh răng, còn lại tiết kiệm nuôi vợ con ăn học, không dám mua sắm, chi tiêu cho bản thân. Tháng 7 năm 1992, tốt nghiệp Học viện, tôi và Phạm Ngọc Khóa được điều trở lại Quân đoàn 2. Đầu tháng 9 năm 1992, tôi trở lại Sư đoàn 325 đang đóng quân ở huyện Lục Ngạn. Chỉ huy Sư đoàn gồm: Đại tá Trần Văn Loạn - Sư đoàn trưởng; Đại tá Nguyễn Hữu Khải - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn, Phó Sư đoàn trưởng về chính trị; Thượng tá Trịnh Đình Thức - Phó Sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (đến tháng 12 năm 1992 anh được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện của Quân đoàn 2 và tôi thay vị trí của anh). Cuối năm, Quân đoàn chỉ đạo Sư đoàn chuẩn bị và diễn tập cấp Sư đoàn có thực binh và bắn đạn thật tại Trường bắn Quốc gia, thực hiện đề tài của Học viện Quân sự cấp cao do Bộ chỉ đạo: "Sư đoàn bộ binh mang vác tiến công địch phòng ngự ở địa hình rừng núi". Tôi được phân công chỉ huy hậu cứ và đón tiếp khách, là dịp được gặp lại các thầy ở Học viện và bạn bè cùng lớp, mới xa nhau cách đó mấy tháng. Kết thúc diễn tập, do biên chế, vũ khí trang bị thay đổi nên cách đánh cũng phải thay đổi, còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh. Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 và Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 được Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chọn là hai đơn vị xây dựng điểm toàn quân về sư đoàn vững mạnh toàn diện, làm căn cứ nhân rộng ra toàn quân học tập. Do đó, về tổ chức biên chế, trang bị đều phải thống nhất rất cao, cán bộ được chọn lọc có đủ năng lực, phẩm chất để huấn luyện và xây dựng đơn vị theo yêu cầu mới. Cấp trên cũng đầu tư xây dựng nâng cấp, sửa chữa doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp. Sau những năm xây dựng, nhiều cán bộ nghỉ hưu lên đơn vị tham quan hết sức ngạc nhiên và trầm trồ khen ngợi. Tháng 8 năm 1993, tôi được thăng quân hàm Thượng tá, chuyển từ sĩ quan trung cấp lên sĩ quan cao cấp, một bước chuyển rất quan trọng trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Dù biết chắc ngày đó sẽ tới nhưng trong lòng tôi không khỏi bâng khuâng xúc động, nghĩ về cuộc đời đã trải qua, về bạn bè đồng chí, về gia đình và quê hương. Tháng 8 năm 1997, tôi được thăng quân hàm từ Thượng tá lên Đại tá. Tháng 10 năm 1997, tôi được bổ nhiệm giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325. Không phụ lòng tin của cấp trên và sự trông cậy của cấp dưới, tôi cùng chỉ huy Sư đoàn: Đại tá Phạm Quang Tách - Phó Sư đoàn trưởng về chính trị (đến tháng 8 năm 1998 đồng chí Nguyên thay), Đại tá Lê Đình Chinh - Phó Sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng, Đại tá Trịnh Khắc Tính - Phó Sư đoàn trường quân sự là một tập thể đoàn kết, trách nhiệm, đổi mới xây dựng Sư đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao, nâng cao chất lượng cuộc sống và bữa ăn bộ đội. Tháng 3 năm 1998, đón Tết cổ truyền xong, đơn vị vừa ra quân huấn luyện thì vinh dự được Trung tướng Đào Trọng Lịch - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và cơ quan Bộ xuống kiểm tra huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Qua nghe báo cáo tình hình Sư đoàn huấn luyện sẵn sàng chiến đấu (nhất là các phương án Quân đoàn giao cho Sư đoàn), xuống kiểm tra ăn ở, huấn luyện của Trung đoàn 95, đồng chí khen ngợi và động viên Sư đoàn. Lúc ăn cơm, đồng chí hỏi thăm quê quán của tôi, thấy gia đình tôi còn khó khăn, đồng chí rất chia sẻ và giới thiệu tôi với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh để tạo điều kiện giúp đỡ. Thế nhưng tôi chưa kịp thực hiện lời Thủ trưởng dặn thì Thủ trưởng bị tai nạn máy bay hy sinh tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nước bạn Lào tháng 5 năm 1998. Chỉ mới gặp một lần nhưng Trung tướng Đào Trọng Lịch đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về một vị tướng chỉ huy tài năng, đức độ, luôn quan tâm đến đời sống cấp dưới. Cuối năm 1998, trên tổ chức và chỉ đạo Quân đoàn 2, Quân khu 3 diễn tập chiến dịch phản công địch trên địa bàn Quân khu 3, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương về Hà Nội, do Thượng tướng Nguyễn Chơn - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng ban Chỉ đạo. Diễn tập có chỉ huy cơ quan Quân đoàn, chỉ huy cơ quan các đơn vị trong toàn quân đến dự. Sư đoàn 325 gồm: Chỉ huy cơ quan Sư đoàn, chỉ huy cơ quan Trung đoàn 18, Trung đoàn 95 và toàn bộ Trung đoàn 101 thực binh. Cuộc diễn tập diễn ra hai tuần, chuyển trạng thái toàn bộ các đơn vị, tập kết khu vực rừng núi Chí Linh dọc đường số 18. Khu vực tác chiến giả định của chiến dịch là quân địch đổ bộ đường biển lên Quảng Ninh, Hải Phòng đánh chiếm toàn bộ ven biển Quân khu 3, tiến công theo đường số 18 và đường số 5 là chủ yếu, đánh chiếm Bắc Ninh và mục tiêu chủ yếu là Thủ đô Hà Nội. Cuộc diễn tập kết thúc, Sư đoàn 325 được trên đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đàm bảo an toàn. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:50:52 pm Những năm tiếp theo, tôi và chỉ huy Sư đoàn luôn đi sát đơn vị để chỉ đạo xây dựng điểm một số mặt, trong đó có ăn ở, đời sống và nâng cao chất lượng huấn luyện. Cán bộ cấp tiểu đoàn, trung đoàn và cơ quan giữa hai giai đoạn huấn luyện đều phải tập trung tập huấn 10 ngày. Trong tập huấn, đội ngũ cán bộ được tổ chức, biên chế trang bị theo từng tiểu đội bộ binh; các chế độ ngày, tuần, 24 đầu công việc trong ngày... đều thực hiện nghiêm túc. Đây thực sự là một cuộc đổi mới về chất lượng huấn luyện, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy của Sư đoàn.
Về hậu cần đời sống, hội thi doanh trại xanh, sạch, đẹp; phong trào vườn, ao, chuồng, giàn... được nhân rộng trong toàn Sư đoàn mang lại hiệu quả thiết thực, được các đơn vị về tham quan học tập. Mô hình đó còn được phát huy, nhân rộng đến nhiều năm sau này. Tháng 7 năm 2000, Bộ chỉ đạo Sư đoàn 325 diễn tập TN-20 với đề mục "Trung đoàn bộ binh được tăng cường cơ động phản kích nhanh" theo đề tài mới của Bộ. Lực lượng tham gia diễn tập gồm Trung đoàn 101 được tăng cường một đại đội thiết giáp 60PB, một đại đội pháo 122mm (bốn khẩu), một đại đội pháo cao xạ 37mm hai nòng và một số binh chủng khác, ba máy bay trực thăng, gần 200 ô tô các loại. Ban Chỉ đạo ba cấp: Sư đoàn, Quân đoàn 2, Bộ Quốc phòng, do Bộ chủ trì. Trung đoàn 101 biên chế đủ gần 2.000 quân, làm công tác chuẩn bị và sẵn sàng bước vào diễn tập. Cuộc diễn tập đúng vào mùa mưa, mưa to kéo dài, nước sông Lục Ngạn, Lục Nam lên to, chảy xiết. Trung đoàn Công binh 219 tăng cường bắc cầu phao để bộ binh, xe pháo đi qua. Ban Chỉ đạo cùng Trung đoàn ngồi xe cơ động trên hai hướng: Hướng thứ yếu theo trường bắn, đường số 31 - Sơn Động, Mai Siu, tây dãy núi Yên Tử - Tân Mộc, cắt ra Uông Bí - Quảng Ninh. Hướng chủ yếu gồm bộ binh, xe thiết giáp, pháo binh, cao xạ... từ trường bắn qua Chũ, Lục Nam, Trại Mít vượt cầu phao sông Lục Nam, Tân Mộc qua dãy núi Yên Tử, Uông Bí - Quảng Ninh là nơi diễn tập. Quá trình hành quân, hai hướng không liên lạc được với nhau, đội hình bị chia cắt vì sông suối, trời tối, bộ đội đói mệt, cán bộ toàn quân đến tham quan học tập cũng bị lạc nhiều đoạn, mãi đến gần diễn tập mới thu đủ các đầu mối đơn vị. Theo kịch bản, cán bộ bám nắm "địch" và dẫn quân vào trận địa, pháo sáng bắn lên, hỏa lực chuẩn bị, sau đó bộ binh, xe thiết giáp 60PB tò các mũi, các hướng tiến công tiêu diệt "quân địch" trong khu vực phân công; kết thúc thu quân, hành quân về đơn vị. Thế nhưng kết quả không mỹ mãn, Bộ không rút ra được vấn đề gì mới ngoài cách đánh truyền thống. Tháng 10 năm 2000, tôi được Đại tướng Phạm Văn Trà - Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thường vụ Quân ủy Trung ương gặp mặt trao quyết định bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Nhận bàn giao của đồng chí Phạm Ngọc Khóa, từ đầu năm 2001, tôi bắt tay ngay vào chuẩn bị Đại hội Đảng bộ Bộ Tham mưu và Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 2001 - 2005. Tại Đại hội Đảng bộ Quân đoàn, tôi được số phiếu tín nhiệm cao tuyệt đối và được bầu vào Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn. Xác định công tác huấn luyện cán bộ là then chốt, việc đầu tiên mà tôi tham mưu cho Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn là tăng cường huấn luyện cán bộ. Lớp tập huấn tập trung đầu tiên do Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo, thành phần gồm cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, cơ quan Quân đoàn; lớp thứ hai là quân nhân chuyên nghiệp. Lớp tập huấn được biên chế thành tiểu đội, trung đội, được rèn luyện chính quy, duy trì nghiêm kỷ luật. Qua 10 ngày học tập, tất cả các cán bộ đều nhận thấy nội dung rất thiết thực và hiệu quả để xây dựng đơn vị. Lớp tập huấn được đặt cho cái tên gần gũi và thiết thực là: 10 ngày làm chiến sĩ. Về sau, hình thức tập huấn này được Bộ đánh giá cao và nhân rộng. Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2002, tôi được đi học lớp bổ túc A tại Học viện Chính trị tại Hà Đông. Tháng 2 năm 2004, tôi được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn 2 thay đồng chí Phạm Ngọc Khóa về làm Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Mấy anh em trong Bộ Tư lệnh sống với nhau hòa thuận, đoàn kết, rất tâm đồng ý hợp. Tôi và anh Lương Cường - Phó Tư lệnh Chính trị rồi Chính ủy khi thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW (anh Lương Cường hiện là Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Chúng tôi luôn bên nhau lúc công việc cũng như khi thể thao, quan tâm chia sẻ với nhau cả việc chung cũng như việc riêng. Trên cương vị mới, tất cả anh em chúng tôi phấn khởi, đoàn kết triển khai các nhiệm vụ, trọng tâm là nhiệm vụ kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống Quân đoàn 2 anh hùng. Tháng 12 năm 2004, tôi được thăng quân hàm Thiếu tướng. Anh em, bạn bè, đồng đội đến chúc mừng, vợ con tôi ở quê ra có mặt trong ngày vui đó. Có được thành công đó, tôi không bao giờ quên ơn nghĩa tổ tiên, gia đình, quê hương và đồng chí, đồng đội. Ngay ngày hôm sau, tôi cùng vợ con về quê thắp hương bàn thờ tổ tiên, thưa với bà con làng xóm. Tháng 3 năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức cho một đoàn cán bộ từ cấp trung đoàn, lữ đoàn trực thuộc, chỉ huy cơ quan sư đoàn, Quân đoàn đi thăm lại chiến trường xưa và trinh sát dọc theo biên giới từ Quân khu 5 đến hết Quân khu 7. Đây là dịp tôi gặp lại nhiều bạn bè, đồng chí gắn bó trong chiến đấu, trong công tác và học tập. Trong dịp này, tôi được trở lại bán đảo Sơn Trà nói chuyện với bộ đội về thời gian cách đó 30 năm, ngày 29 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 cùng xe tăng tiến công đánh chiếm đèo Hải Vân, qua cầu Trịnh Minh Thế, tiến thẳng vào thành phố Đà Nẵng cùng các đơn vị bạn giải phóng Đà Nẵng, đại đội tôi, đơn vị đầu tiên đánh chiếm và chốt giữ bảo vệ toàn bộ khu vực ra đa viễn thông... Thật không ngờ, sau đúng 30 năm tôi lại có mặt và nổi chuyện với bộ đội ở đây, khu vực ra đa viễn thông, con mắt thần của biển, giữ gìn biển đảo của Tổ quốc. Trong dịp lễ kỷ niệm 30 năm Ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 2005, tôi cùng vợ theo giấy mời vào Thành phố Hồ Chí Minh dự lễ. Thủ trưởng Nguyễn An Gang - nguyên Chính ủy Trung đoàn 18, đang nghỉ hưu tại quận Gò Vấp, biết tin tôi vào đã mời đến nhà. Người nọ thông tin cho người kia, thế mà có đông đủ nguyên cán bộ Quân đoàn 2 đang ờ Thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm đến họp mặt: Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (nguyên Tư lệnh Quân đoàn), anh Đinh Thế Huynh - Tổng Biên tập Báo Nhân dân, anh Quốc Triệu - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội... Chúng tôi xúc động nghẹn ngào ôm lấy nhau không nói được thành lời. Về nghỉ hưu nhưng Chính ủy An Giang vẫn rất ham và giỏi làm kinh tế, nay đang giữ chức Giám đốc Nhà máy bia. Vợ anh, chị An, ở tuổi gần 70 vẫn nét thùy mị, nhỏ nhẹ như ngày nào, tiếp chúng tôi như người thân đi xa lâu ngày gặp lại. Tháng 1 năm 2007, tôi lại có dịp đi tiếp địa hình Quân khu 9 từ Đồng Tháp, An Giang, Hà Tiên, Kiên Giang ra đảo Phú Quốc, dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia thăm lại chiến trường xưa. Chúng tôi vào thắp hương tưởng niệm đồng bào Ba Chúc (Bảy Núi - An Giang) bị Pônpốt giết hại, thắp hương cho đồng đội ở nghĩa trang dốc Bà Đắc, nghĩa trang Hà Tiên (là hai nghĩa trang đều có các liệt sĩ của Quân đoàn). Cuối năm 2007, tôi được bổ nhiệm Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng. Vậy là chia tay Quân đoàn, nơi tôi đã gắn bó mấy mươi năm cuộc đời quân ngũ. Tiêu đề: Cuộc đời và những trang nhật ký Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:51:25 pm LỜI KẾT Sinh ra ở vùng quê nghèo, nhà đông anh em, được bố mẹ nuôi ăn học đến hết lớp Bảy phổ thông, tôi một mực đi bộ đội. Năm ấy tôi ở tuổi 17, cả xã chỉ có một mình tôi lên đường nhập ngũ. Từ ngày nhập ngũ đến khi nghỉ hưu là 44 năm cuộc đời gắn bó với Quân đội, trong đó tôi gắn bó nhất với các đơn vị Quân đoàn 2. Tôi cùng đồng đội trải qua các chiến trường vô cùng gian khổ, ác liệt như Cánh Đồng Chum (Lào), Quảng Trị 1972, tham gia các chiến dịch giải phóng miền Nam, bảo vệ Tổ quốc ờ biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng năm 1979, phòng thủ ở biên giới Vị Xuyên năm 1988. Cuộc đời tôi trải qua những gian lao, hiểm nguy nhưng nhìn lại cũng nhiều may mắn. Tôi đã đi qua chiến tranh để về với gia đình, được đào tạo qua năm trường Quân đội, trải qua nhiều chức vụ và được thăng quân hàm đến Trung tướng... Đó không phải chỉ là nhờ sự may mắn, mà còn từ chính sự tu dưỡng, rèn luyện, ý chí phấn đấu của bản thân; nhờ hồng phúc của tổ tiên và được gia đình, làng xóm, đồng đội, anh em, bạn bè giúp đỡ, nhất là sự hy sinh lớn lao của người vợ hiền... lòng tôi luôn luôn trân trọng và hàm ơn những giúp đỡ, hy sinh đó. Ngoảnh lại quá khứ 70 năm của cuộc đời, đặc biệt là những năm đánh giặc trên các chiến trường, tôi tự hào về những gì mình đã trải qua và làm được, hạnh phúc vì có một gia đình viên mãn. Tôi ghi lại những dòng này làm kỷ niệm và tri ân đồng đội, anh em, bạn bè, quê hương và gia đình. |