|
Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Bảy, 2026, 09:09:41 pm - Tên sách: Nhìn từ đồng đội và người thân
- Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2008 - Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian TỔ CHỨC VÀ HOÀN CHỈNH BẢN THẢO: - Đại tá TRẦN BÁ ĐIỀM (Chủ biên) - Đại tá LÊ VĂN TÂN LỜI GIỚI THIỆU Đồng chí Thiếu tướng Trần Minh Phú (Sáu Phú) nguyên là Phó Tư lệnh Quân khu 9. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí đã trải qua nhiều cương vị chỉ huy chiến đấu khác nhau. Phát triển lên từ một chiến sĩ bộ binh và trở thành một cán bộ quân sự có tài tổ chức chỉ huy đánh giặc, giành nhiều thắng lợi trên chiến trường đồng bằng sông nước Cửu Long. Những ai đã từng sống, chiến đấu giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, thời kỳ 1961 - 1975 ở chiến trường Khu 8 đều được nghe và biết đến thành tích và chiến công vô cùng oanh liệt của Tiểu đoàn 261 anh hùng và sau đó phát triển lên thành Trung đoàn Đồng Tháp 1 của Quân khu 8 (hai lần được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân), một đơn vị chủ lực được thành lập ngay tại chiến trường miền Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ). Cán bộ, chiến sĩ là những người con, em của nhân dân các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp. Đồng chí Sáu Phú là một trong những cán bộ đầu tiên tập kết từ miền Bắc trở về tham gia thành lập Tiểu đoàn 261 (tháng 2 năm 1961) và cùng với tập thể Đảng ủy - Ban chỉ huy tiểu đoàn, chỉ huy đơn vị lập nhiều chiến công xuất sắc, như trận Ấp Bắc lịch sử. Những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (1974 - 1975) đồng chí giữ nhiều cương vị quan trọng như: Phó Tham mưu trưởng rồi Tham mưu trưởng Quân khu 8, là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Bộ binh 8, đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh sư đoàn tổ chức đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử cùng quân dân Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) Khu 8 đánh vào căn cứ sư đoàn 7 chủ lực ngụy ở Đồng Tâm và nhiều vị trí khác quan trọng, đồng thời cắt đứt lộ 4 (nay là quốc lộ 1) đoạn từ Bến Chùa - Bến Chanh ngã ba Trung Lương - Tiền Giang, không cho lực lượng vùng 4 chiến thuật ngụy lên ứng cứu Sài Gòn và không cho địch từ Sài Gòn chạy về cố thủ ở đồng bằng sông Cửu Long. Giải phóng các tỉnh Khu 8, góp phần kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Sau ngày miền Nam được giải phóng, đồng chí tiếp tục tham gia chỉ huy lực lượng vũ trang Quân khu 9 chiến đấu bảo vệ biên giới Tây - Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia. Trên các cương vị Tham mưu phó, Tham mưu trưởng và Phó Tư lệnh Mặt trận 979, đồng chí Trần Minh Phú góp nhiều công sức lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang Mặt trận 979 - Quân khu 9 lập nhiều chiến công to lớn. Nhắc đến Thiếu tướng Trần Minh Phú cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 9 (thời chống Mỹ) đều bày tỏ một tình cảm kính phục và thừa nhận tướng Sáu Phú là một cán bộ quân sự dày dặn trận mạc và rất nổi tiếng ở vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Hình ảnh một cán bộ quân sự chỉ huy tài năng đã in đậm trong lòng biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội và nhân dân địa phương Khu 8. Từ trách nhiệm và tình cảm nhằm tri ân với những đóng góp to lớn của Thiếu tướng Trần Minh Phú với lực lượng vũ trang Quân khu 9, Bộ Tư lệnh quân khu và lãnh đạo các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp, Tiền Giang và nhiều cán bộ cao cấp, tướng lĩnh cùng bạn bè, đồng chí, đồng đội và gia đình đã nhớ lại và tích cực viết bài tham giạ cuốn sách "Thiếu tướng Trần Minh Phú - Nhìn từ đồng đội và người thân"; được cơ quan đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Cần Thơ nhiệt tình giúp đỡ hoàn chỉnh bản thảo, để cuốn sách được xuất bản trong năm 2008. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa trong công tác tổng kết biên soạn lịch sử của lực lượng vũ trang Quân khu 9 qua các thời kỳ kháng chiến. Cuốn sách không chỉ đơn thuần nói về cuộc đời đồng chí Sáu Phú mà thực chất đã khắc họa nên nhiều vấn đề về lịch sử, về tình đồng chí đồng đội, về tình cảm quân dân vô cùng sâu sắc. Thay mặt Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của các đồìig chí tướng lĩnh, bạn bè và gia đình, đặc biệt là sự giúp đỡ của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân để cuốn sách được ra mắt và đến tay bạn đọc. Mong các đồng chí và bạn đọc đóng góp nhiều ý kiến bổ sung để có dịp tái bản cuốn sách được đầy đủ hơn. Tư lệnh Quân khu 9 Trung tướng Trần Phi Hổ Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:14:52 pm LỜI NÓI ĐẦU Trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc Mỹ xâm lược, chiến đấu giải phóng quê hương đất nước. Ở đồng bằng sông Cửu Long đã có biết bao thế hệ những người con ưu tú trở thành cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang Quân khu 9. Trong số cán bộ, chiến sĩ ấy nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tướng lĩnh, cán bộ cao cấp trong quân đội, với bề dày thành tích vô cùng phong phú và rất đỗi tự hào. Thiếu tướng Trần Minh Phú (Sáu Phú) nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9, là một trong những tướng lĩnh được nhiều người biết đến với tài thao lược quân sự, chỉ huy bộ đội đánh giặc, lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Cuộc đời và những năm tháng chiến đấu trong quân ngũ của Thiếu tướng Trần Minh Phú có nhiều vấn đề rất có ý nghĩa, quý giá cho việc tôn vinh giá trị truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 9 và vùng đất Nam Bộ "thành đồng Tổ quốc", "đi trước về sau", "anh dũng bất khuất". Những giá trị cao đẹp, truyền thống của quá khứ hào hùng ấy nếu không được ghi chép và tái hiện lại sẽ là một thiếu sót lớn trong công tác tổng kết và biên soạn lịch sử qua các thời kỳ kháng chiến. Xuất phát từ những ý nghĩa trên và được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của, các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy qua các thời kỳ của lực lượng vũ trang Quân khu 8 (trước đây) và Quân khu 9 ngày nay, Cơ quan đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Cần Thơ, phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 9 để thu thập các bài viết thành cuốn sách nói về cuộc đời chiến đấu, xây dựng quân đội của đồng chí Sáu Phú trải qua 50 năm (1947 - 1997). Cuốn sách có tựa đề "Thiếu tướng Trần Minh Phú - Nhìn từ đồng đội và người thân" tập hợp trên 16 bài viết dưới dạng kỷ niệm sâu sắc về một cá nhân, một con người, nội dung các bài viết rất phong phú và đem đến cho bạn đọc nhiều cảm xúc sâu lắng. Nội dung cuốn sách không chỉ đơn thuần nói về cá nhân đồng chí Sáu Phú mà nó được tái hiện lại nhiều vấn đề của cuộc sống và chiến đấu của những năm kháng chiến, đem đến cho người đọc một giá trị nhân văn sâu sắc. Cuốn sách được tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả khác nhau, với nhiều kỷ niệm khác nhau và đặc biệt là thời gian qua đã lâu. Đồng chí Trần Minh Phú lại đã mất, nên tư liệu về cuộc đời đồng chí còn lại không nhiều. Do đó sẽ có những hạn chế nhất định, nhà xuất bản rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp phê bình của bạn đọc và chân thành cảm ơn các bạn bè và đồng chí đã gửi bài để cuốn sách được hoàn thành sớm trong năm 2008. NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:28:50 pm THIẾU TƯỚNG TRẦN MINH PHÚ CUỘC ĐỜI VÀ TRẬN MẠC Thiếu tướng Trần Minh Phú (Sáu Phú) nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9. Ông còn có tên khai sinh là Trần Văn Nhiên, sinh năm 1930 tại xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Quê hương có truyền thống cách mạng kiên cường với danh hiệu "Đồng khởi", cũng là quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, trung tướng Đồng Văn Cống và ông là một trong 18 vị tướng lĩnh của xứ Dừa. Tướng Trần Minh Phú sinh ra trong một gia đình "cố nông". Hai cụ thân sinh là ông Trần Văn Đầy (Bảy Đầy) và bà Nguyễn Thị Chưởng. Đồng chí Sáu Phú có một người anh trai là Trần Văn Điện và một người em gái là Trần Thị Chiên. Khi còn nhỏ ở nhà gia đình gọi anh là Trần Nhiên. Trước khi có phân chia thành phần giai cấp được coi là dân nghèo, dưới thời phong kiến đế quốc, gia đình ông nội và cha của anh Nhiên rất nghèo phải đi làm thuê, làm mướn cho địa chủ nhưng các cụ đều có lòng yêu nước rất sâu nặng. Tuy nghèo nhưng hai cụ thân sinh ra Trần Nhiên rất yêu quý con trai, ngay từ khi còn nhỏ đã có tướng mạo trắng trẻo đẹp trai và to cao, do vậy mà hai cụ đã dành hết khả năng cho con ăn học. Tuy vậy ở thời kỳ người dân bị nô lệ, mất nước với chính sách "ngu dân" của thực dân Pháp, ở miền quê nghèo Bến Tre đâu có nhiều trường lớp. Cậu Nhiên cũng chỉ học đến lớp 5, lớp 4 trường làng (như lớp 1, lớp 2 sau này). Năm 1942 mới 12 tuổi đầu đã phải ở nhà phụ giúp cha mẹ, làm việc kiếm sống phải chăn trâu cắt cỏ cho nhà địa chủ mà cha làm tá điền. Tuổi trẻ của người thiếu niên Trần Nhiên tuy nghèo khó như vậy nhưng cũng có nhiều kỷ niệm sâu sắc, không phải ngẫu nhiên mà hình như nó là nguyên nhân sâu xa bắt nguồn tạo nên tính cách của tướng Trần Minh Phú sau này. Lúc còn là thanh thiếu niên ở quê đi học anh đã chơi thân với nhiều người bạn cùng quê mà sau này một số trở thành tướng lĩnh cán bộ cao cấp trong quân đội, hoặc trong các tổ chức cách mạng của tỉnh Bến Tre như Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (Tám Vị) nguyên Phó Tư lệnh Sư đoàn 8, Tỉnh đội trưởng Bến Tre, đại tá Nguyễn Cang (Ba Cang) nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 9; đại tá Lê Minh Đào (Ba Đào) nguyên Chủ tịch tỉnh Bến Tre... Thuở còn đi học ở trường làng, không ai dám ăn hiếp trò Nhiên, lớp có những trò là con nhà giàu có vai vế trong làng chơi bi (bắn đạn cu li) ăn gian rồi còn lên mặt đánh bạn nhà nghèo, anh Nhiên bất bình nhảy vào bênh vực, có lúc tuy bị thầy giáo phạt, xử không công bằng, anh giám mạnh dạn khiếu nại bênh vực cho mình và cho bạn. Sinh thời bản tính Trần Nhiên đã có khí phách, hào hiệp, vui tính hòa đồng với mọi người nhưng biết yêu thương thông cảm với bạn nhà nghèo. Tuy cương trực thẳng thắn như vậy nhưng Trần Nhiên vẫn được thầy giáo yêu quý anh vì anh rất thông minh học giỏi. Thầy giáo còn sử dụng trò Nhiên giúp thầy đọc bài cho lớp, làm sổ sách cộng điểm tổng kết của học sinh và nhiều công việc khác. Ngay từ nhỏ anh đã bộc lộ là một con người có suy nghĩ độc lập và chịu khó chịu khổ vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, anh Nhiên trên 15 tuổi xin vào bộ đội, đi theo cách mạng nhưng đơn vị không nhận vì chưa đủ tuổi. Tháng 2 năm 1947, anh nhập ngũ vào Tiểu đoàn 310 bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, công tác và phấn đấu chỉ 6 tháng anh được kết nạp vào Đảng Cộng sẵn Việt Nam (kết nạp ngày 19 tháng 8 năm 1947, chính thức ngày 19 tháng 12 năm 1947) được giao giữ các chức vụ Tiểu đội phó, Tiểu đội trưởng, Chính trị viên trung đội và đến chức Đại đội phó thì Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết. Tháng 9 năm 1954 anh cùng các cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang ở miền Nam tập kết ra miền Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, đồng chí Trần Minh Phú là một cán bộ trưởng thành lên từ cơ sở. Từ khi vào bộ đội, anh tiến bộ rất nhanh, nâng cao nhận thức chính trị, giác ngộ giai cấp. Là một cán bộ, đảng viên gương mẫu đi trong mọi công tác chiến đấu và được tổ chức cấp tín nhiệm. Tuy nhiên thời kỳ kháng chiến chống Pháp đến khi tập kết, anh Trần Minh Phú chưa có những chiến công xuất sắc nổi bật như thời chống Mỹ sau này. Cũng như nhiều người con của quê hương "Nam Bộ thành đồng Tổ quốc" anh có một ý chí quyết tâm sắt đá, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, quyết tâm chiến đấu đến cùng để giải phóng quê hương đất nước. Được tập kết ra miền Bắc là nhiệm vụ tất yếu khách quan đồng thời với anh cũng là thời cơ lớn để được học tập rèn luyện nâng cao năng lực nhận thức trí tuệ, bản lĩnh của một cán bộ quân sự với những khả năng chỉ huy xuất sắc trên chiến trường miền Nam những năm tháng sau này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ năm 1955 - 1958, anh được Đảng, Nhà nước, quân đội cho đi học các trường đào tạo sĩ quan chính quy của quân đội ta. Học cả chương trình sĩ quan bộ binh và pháo binh. Khi ra trường (tháng 3 năm 1959) anh được bổ nhiệm chức Đại đội trưởng cối 82 của Sư đoàn 338 với quân hàm thượng úy và giữ chức vụ Phó Bí thư chi bộ đại đội. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:30:10 pm Là một trong những cán bộ miền Nam tập kết được tuyển chọn để huấn luỵện trở về chiến trường chiến đấu và tháng 5 năm 1960 anh được lên đường vượt Trường Sơn để về Khu 8 (miền Trung Nam Bộ) cũng là vùng đất quê hương của anh, địa bàn anh đã hoạt động trong chống Pháp rất quen thuộc.
Đồng chí Trần Minh Phú về đến chiến trường Khu 8 trong một bối cảnh cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang của nhân dân Nam Bộ "Đồng khởi" và toàn miền Nam năm 1960 đã giành thắng lợi. Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam bắt đầu được tái thành lập mà Tiểu đoàn 261 (thành lập tháng 2 năm 1961) là tiểu đoàn chủ lực đầu tiên (T2) Khu 8 được thành lập ở miền Trung Nam Bộ. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm các đồng chí Lê Văn Khuyên (Tám Dần) - Tiểu đoàn trưởng; đồng chí Lê Pha (Ba Tam) - Chính trị viên; đồng chí Lê Minh Đào - Tiểu đoàn phó. Lúc đầu chỉ mới có 2 đại đội điều từ các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường lên (tỉnh Đồng Tháp sau này), đến giữa năm 1961 tiểu đoàn được xây dựng củng cố hoàn chỉnh với 4 đại đội (3 đại đội bộ binh, 1 đại đội trợ chiến có súng cối và ĐKZ) quân số lên đến hơn 1.000 người. Đồng chí Hai Hoàng làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Châu Hoàng Nam (Tư Nam) - Chính trị viên, đồng chí Trần Minh Phú (Sáu Phú) - Tiểu đoàn phó 1, đồng chí Út Thu - Đại đội trưởng Đại đội 1 được bổ nhiệm chức Tiểu đoàn phó 2. Thời gian này đồng chí Sáu Phú cùng với Ban chỉ huy tiểu đoàn tích cực tổ chức huấn luyện quân sự, học tập chính trị cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261, những kiến thức quân sự học được ở trường sĩ quan lục quân anh Sáu Phú đưa ra để tổ chức huấn luyện bộ đội, thành công lớn của công tác huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261 không đơn thuần chỉ là bài bản đã học được ở trường chính quy mà điều nổi bật trong công tác huấn luyện bộ đội của người Tiểu đoàn phó 1 quân sự (anh Sáu Phú), cùng sự cộng tác của các đồng chí Trương Thành Lũy (Tám Kiều) và đồng chí Nguyễn Cang (Ba Cang) cũng từ miền Bắc mới trở về ở cơ quan Tham mưu Quân khu 8 đã vận dụng một cách sáng tạo kỹ chiến thuật cơ bản chính quy với thực tiễn chiến đấu ở chiến trường đồng bằng T2 (Khu 8 ) một địa hình trống trải nhiều kinh rạch để huấn luyện xây dựng đơn vị chiến đấu lập được nhiều chiến công xuất sắc. Với những cách đánh táo bạo, "vận động phục kích", "vận động tiến công", "tập kích bất ngờ" khi chúng đi càn quét đóng giã ngoại. Làm cho bọn địch ở chiến trường Trung Nam Bộ nhiều phen khiếp sơ Tiểu đoàn 261 có khẩu hiệu làm lòng "đi là chiến thắng, nổ súng là diệt gọn quân địch". Từ người Tiểu đoàn phó 1 anh Sáu Phú được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng 261 lãnh đạo chỉ huy đơn vị cơ động khắp các tỉnh Long An, Gò Công, Kiến Phong, Kiến Tường, Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang và thành phố Mỹ Tho. Tiêu biểu cho chiến công của Tiểu đoàn 261 trong những năm đầu đánh Mỹ "chiến tranh đặc biệt" là trận Ấp Bắc - Cai Lậy, Mỹ Tho (ngày 2 tháng 1 năm 1963) kết quả của trận đánh là một tiếng vang lớn, không phải ngẫu nhiên mà có được. Nó được kết tinh bởi ý chí niềm tin của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261 đã được huấn luyện kỹ về quân sự, chuẩn bị kỹ về tư tưởng quyết tâm. Cuốn nhật ký của Đại đội trưởng Nguyễn Minh Nhuận (Bảy Đen) người chỉ huy trực tiếp tại trận đánh Ấp Bắc đã ghi lại chi tiết và sống động về nguyên nhân kết quả trận đánh. Trong đó có công lao huấn luyện, lãnh đạo chỉ huy của người Tiểu đoàn trưởng Trần Minh Phú không nhỏ. Từ những thành tích và chiến công lãnh đạo chỉ huy Tiểu đoàn 261, năm 1964 lực lượng vũ trang Khu 8 được xây dựng phát triển lên nhiều tiểu đoàn 261B, 263... Quân khu 8 quyết định thành lập Trung đoàn Đồng Tháp 1, anh Sáu Phú trở thành Trung đoàn trưởng, là người chỉ huy những trận đánh lớn hơn, quy mô hơn nữa và cũng chính từ đây đồng chí Trần Minh Phú bộc lộ rõ thiên hướng một cán bộ quân sự tài năng, được đồng đội và nhân dân tin yêu kính phục, cấp trên tin tưởng. Kẻ địch thì khiếp sợ dùng mọi thủ đoạn để tìm giết anh Sáu Phú. Bọn địch ngầm tổ chức cuộc nhậu bỏ thuốc độc vào bia rượu để loại anh Sáu Phú. Nhưng chúng đều thất bại. Vì ta rất cảnh giác, anh Sáu Phú được mọi người thương yêu bảo vệ và có cả sự may mắn do bản tính đối xử rất tốt của anh Sáu Phú đối với mọi người đã giúp anh vượt qua cuộc mưu sát bằng thuốc độc ấy. Vì nhiều lần tìm cách đánh trận diệt đồng chí Sáu Phú không được, treo thưởng cũng không ai giết đồng chí Sáu Phú nên địch đã bày ra một cuộc liên hoàn, dùng tề điệp mật (đóng giả dân) mời Ban chỉ huy Tiểu đoàn 261 trong đó có anh Sáu Phú. Chúng đã bỏ thuốc độc vào chai bia (lúc này bia rất quý hiếm) nên lấy lí do thưởng riêng cho anh Sáu Phú người chỉ huy tài giỏi. Chúng không ngờ anh Sáu Phú nói: "sướng cùng hưởng, khổ cực cùng chia sẻ tôi không thể uống một mình, đem chai bia chia cho mỗi người một ngụm". Kẻ chủ mưu giấu mặt sợ qùa liền lấy lí do cất chai bia đi, không dùng nữa, mọi người cùng uống chung rượu đế. Thật ra lúc ấy ta không biết âm mưu của địch, thoát hiểm là nhờ tấm lòng yêu thương mọi người của anh Sáu mà làm cho địch không thực hiện được âm mưu xấu xa. Chuyện về tài chỉ huy đánh giặc của đồng chí Trần Minh Phú trong thời chống Mỹ, ở Khu 8 thì nhiều lắm và ở các bài viết kỷ niệm về anh Sáu Phú của các đồng chí đã từng chiến đấu, công tác với anh Sáu Phú (trong cuốn sách này) đã nêu khá đầy dủ. Nhưng có những câu chuyện đã trở thành giai thoại làm cho người được nghe vừa kính phục nhưng cũng vừa nghi ngờ không rõ có phải sự thật hay không? Khoảng từ năm 1971 đến 1973, anh Sáu Phú là Tham mưu phó và Tham mưu trưởng Quân khu 8. Được Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8 đánh giá rất cao về trình độ công tác tham mưu của anh Sáu Phú, đặc biệt đồng chí Lê Quốc Sản (Tám Phương), Tư lệnh Quân khu 8 lúc bấy giờ là cấp trên của đồng chí Sáu Phú nhưng là người luôn phục nể đồng chí Sáu Phú, coi anh Sáu như cánh tay phải đắc lực của Bộ Tư lệnh quân khu. Trong một trận càn lớn của địch vào ngay cứ của Bộ Tư lệnh Quân khu 8 ở xã Mỹ Thành, Cai Lậy, Mỹ Tho. Do bọn địch càn quét bất ngờ, quân lại quá đông (1 tiểu đoàn có pháo và máy bay trực thăng yểm trợ), buộc lực lượng bảo vệ phải đưa Bộ Tư lệnh quân khu sơ tán gấp đi nơi khác, địch vào chiếm cứ của Bộ Tư lệnh thu được bản đồ và một số tài liệu. Chúng mang toàn bộ "chiến lợi phẩm" trên ra cánh đồng gần đó đóng quân phục kích chờ lực lượng ta để diệt tiếp. Ngay trong buổi chiều hôm ấy, Tham mưu trưởng Trần Minh Phú trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn trinh sát đặc công của quân khu đang đóng quân gần chỗ cứ Tư lệnh quân khu bị càn, xây dựng phương án chiến đấu tập kích, quyết tâm tiêu diệt bọn địch càn quét đang đóng ngoài đồng ngay trong đêm. Mục đích chính là phải lấy lại những tài liệu, bản đồ vừa bị chúng thu (chưa kịp nộp về cấp trên) đồng thời dằn mặt cảnh cáo bọn ngụy chỉ huy đơn vị địch, vừa càn quét đánh vào Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân khu 8. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:32:01 pm Trận đánh diễn ra đúng như kế hoạch tác chiến mà đồng chí Sáu Phú trực tiếp chỉ huy. Ta diệt gọn tiểu đoàn địch (chỉ có một số tên chạy thoát) lấy lại những tài liệu và bản đồ của quân khu vừa bị mất buổi sáng nay.
Năm 1973, khi Hiệp định Pari được ký kết, đồng chí Trần Minh Phú được Quân khu 8 cử và Bộ Quốc phòng gọi ra Bắc học bổ túc ở Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Năm 1974 trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giải phóng miền Nam đang ở vào giai đoạn cuối, đồng chị Sáu Phú trở về chiến trường giữ chức Phó Sư đoàn trưởng rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8 cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy chiến dịch giải phóng căn cứ Đồng Tâm, cắt lộ 4 không cho địch từ Sài Gòn chạy về cố thủ ở miền Tây, không cho địch từ miền Tây lên ứng cứu cho Sài Gòn. Hoàn thành xuất sắc 3 nhiệm vụ lớn mà Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giao cho Sư đoàn 8 và Quân khu 8. Qua 15 năm (1960 - 1975) chiến đấu đầy hy sinh gian khổ ở chiến trường Quân khu 8, cùng với tập thể lãnh đạo chỉ huy Tiểu đoàn 261, Trung đoàn Đồng Tháp 1 và Sư đoàn Bộ binh 8, đồng chí Trần Minh Phú đã đóng góp một phần rất quan trọng vào chiến công chung của các đơn vị. Là người chỉ huy quân sự tài năng, quyết đoán va dũng cảm, đồng chí Trần Minh Phú vượt qua mọi khó khăn thử thách khốc liệt của chiến tranh, đưa đơn vị tiến lên lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đồng chí Trần Minh Phú được đề bạt cấp bậc thượng tá (tháng 4 năm 1975), đại tá (tháng 12 năm 1981), tiếp tục tham gia công tác lãnh đạo chỉ huy lực lượng vũ trang Quân khu 9 làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây - Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia. Từ năm 1983 đến 1989, đồng chí Trần Minh Phú được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mặt trận 979 - Quân khu 9. Được thăng quân hàm Thiếu tướng (tháng 6 năm 1988) và năm 1989 sau khi rút quân về nước đồng chí được giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 9. Trong những năm tháng làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, tôi đã được sống, công tác, chiến đấu cùng đồng chí Sáu Phú và chứng kiến tài chỉ huy quân sự của tướng Trần Minh Phú, trong đó điển hình là trận đánh phản kích quân địch, giải phóng một loạt cứ điểm tại biên giới Campuchia - Thái Lan thuộc tỉnh Pua sát giữa năm 1987. Diễn biến của chiến dịch và tài chỉ huy quân sự của đồng chí Trần Minh Phú có thể tóm tắt như sau: Lợi dụng vào thời cơ lực lượng quân tình nguyện Việt Nam lui về tuyến 2, giao phòng thủ tuyến biên giới lại cho lực lượng vũ trang bạn đảm nhiệm, ta lui cung chuẩn bị rút quân về nước. Bọn phản động Pônpốt đã dùng một lực lượng lớn bộ binh có pháo binh yểm trợ đánh chiếm các điểm cao 700A, 700B cụm cao điểm 453 và đồi Cù Là nằm sát biên giới Campuchia - Thái Lan, làm cho lực lượng chốt giữ của ta và bạn bật về phía sau. Các đơn vị tại chỗ Sư đoàn bộ binh 339 và Sư đoàn 4 bạn đã tổ chức đánh nhiều trận nhưng chưa khôi phục được những vị trí đã mất. Đồng chí Trần Minh Phú được Bộ Tư lệnh Mặt trận 719 và 979 giao nhiệm vụ lên Sở chỉ huy nhẹ tiền phương tại Sư đoàn bộ binh 339 (khu vực 20 nhà) để chỉ huy phản kích lấy lại các vị trí trên. Tôi được Cục Chính trị Mặt trận 979 phân công lên Sở chỉ huy nhẹ cùng đồng chí Sáu Phú, nên đã được chứng kiến từ đầu đến cuối chiến dịch. Khi vừa đặt chân đến Sở chỉ huy nhẹ tiền phương, đồng chí Trần Minh Phú cho tập hợp tất cả cán bộ chỉ huy lãnh đạo của Sư đoàn bộ binh 339 và Sư đoàn 4 bạn cùng cán bộ các cơ quan Mặt trận 979 họp để phân tích tình hình địch, ta và xây dựng quyết tâm chiến đấu. Điều đặc biệt sau khi nghe các đơn vị báo cáo tình hình ta và địch đồng chí Sáu Phú đã đưa ra những nhận xét đánh giá chính xác vừa có cơ sở thực tiễn, vừa thể hiện tính chất khoa học quân sự rất cao. Đồng chí nói: "Cũng với tất cả lực lượng này tôi sẽ trực tiếp chỉ huy các đồng chí phán kích giành lại các điểm cao đã bị mất". Đồng chí phân tích điểm yếu của ta vừa qua là đã phân tán hỏa lực và xung lực dàn trải ra để đánh khôi phục lại các điểm tựa đã bị mất, bộ đội chiến đấu ở thế bị động nên đã bị địch đánh bật ra nhiều lần. Quyết định của đồng chí dùng một bộ phận xung lực mạnh tập trung tất cả hỏa lực đánh vào đồi 700A và 700B nằm giữa tuyến phòng thủ, các cao điểm khác ta dùng hỏa lực kiềm chế, chỉ cần tiêu diệt địch ở 2 điểm cao 700A, 700B gây cho địch sự thôi động về tư tưởng và dẫn đến bỏ chạy ở các điểm cao khác mà chúng đang chiếm giữ, ta tổ chức một bộ phận phục kích đón lõng, khi chúng bỏ chạy để tiêu diệt từ đó khôi phục lại toàn bộ các điểm tựa và cụm điểm tựa đã mất. Do có nhận định đánh giá tình hình địch, ta chính xác với quyết tâm cao và phương án tác chiến phù hợp, đúng đắn, chỉ trong một đêm một ngày ta đã khôi phục lại toàn bộ tuyến đã mất đúng như phương án đồng chí Trần Minh Phú đã đề ra và truy kích địch liên tiếp một tuần lễ làm cho lực lượng địch ở khu vực bị suy sụp, ta thu rất nhiều vũ khí. Kết thúc chiến dịch, các cán bộ chỉ huy của các đơn vị ta và bạn chứng kiến sự chỉ huy tài tình của đồng chí Trần Minh Phú đều vô cùng khâm phục; sau chiến dịch được Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 và Bộ Tư lệnh 719 đánh giá rất cao người chỉ huy chiến dịch phản công. Đây là một trong rất nhiều trận mà đồng chí Trần Minh Phú đã thể hiện tài chỉ huy quân sự của mình trên chiến trường Campuchia trong 10 năm giúp bạn đánh đổ chế độ diệt chủng Pônpốt. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:33:24 pm Nói đến Thiếu tướng Trần Minh Phú là nói đến trận mạc và những chiến công quân sự nhưng chỉ nói như vậy là không đầy đủ, ông còn là một nhà quân sự khá toàn diện và rất quan tâm đến các mặt hoạt động công tác đảng - công tác chính trị.
Kỷ niệm sâu sắc đầu tiên của tôi với ông cũng không phải là những trận đánh mà là một cuộc họp báo về tình hình tư tưởng bộ đội, chuẩn bị động viên xây dựng quyết tâm cho cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 8 bước vào chiến dịch mùa khô 1974 - 1975 và tổng tiến công, nổi dậy Xuân 1975. Hôm ấy cơ quan chính trị sư đoàn báo cáo cho Bộ Tư lệnh về tình hình tư tưởng bộ đội và các hoạt động công tác chính trị, tuy là một Sư đoàn trưởng nhưng ông ngồi nghe rất chăm chú từ đầu đến cuối và đưa ra những nhận xét rất xác đáng, hướng dẫn một số nội dung để anh em tiến hành công tác đảng - công tác chính trị phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Một lần khác vào khoảng giữa năm 1986 tôi được tham gia cùng ông lên Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979 tại tỉnh Bát Đom Bong. Khi nghe tin tiểu đoàn trinh sát đặc công của mặt trận tình hình tư tưởng quyết tâm và mối quan hệ nội bộ trong cán bộ có vấn đề. Ông cho gọi tôi lên (lúc này tôi là Phó Trưởng phòng Tuyên huấn Cục Chính trị Mặt trận 979 là người duy nhất của Cục Chính trị đang có mặt ở Sở chỉ huy tiền phương). Ông giao nhiệm vụ và trao đổi để tôi xuống giúp anh em tiểu đoàn củng cố lại đơn vị. Trong những năm tháng là Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 8, đồng chí Trần Minh Phú rất quan tâm đến công tác văn hóa văn nghệ và hoạt động đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội. Trong những lúc khó khăn nhất sư đoàn vẫn cho thành lập và duy trì hoạt động của đội văn nghệ quần chúng để lên tận phía trước phục vụ bộ đội. Thời làm kinh tế, khai hoang phục hóa Đồng Tháp Mười khu vực ở Mộc Hóa - Long An, bộ đội rất thiếu thốn về sinh hoạt tinh thần. Bên cạnh duy trì các đội văn nghệ quần chúng của các đơn vị trung đoàn và sư đoàn. Có thời gian đồng chí cho mời nhiều đoàn nghệ thuật (Đoàn ca múa Bông Sen, Đoàn nghệ thuật Quân khu 9) về biểu diễn phục vụ bộ đội, nhất là vào các dịp tổng kết, mừng công cuối năm. Bên cạnh việc chăm lo về vật chất, thì món ăn tinh thần là công tác văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cũng được đồng chí Sư đoàn trưởng quan tâm. Tôi còn nhớ đồng chí Sư đoàn trưởng quan tâm cho Phòng Chính trị được làm tờ tin (tờ báo của sư đoàn) ra mỗi tháng một kỳ với 8 trang và số bản in lên đến hàng ngàn bản. Phải lên tận nhà in Lao Động ở thành phố Hồ Chí Minh để in ấn. Mỗi lần phát hành tờ báo được ông quan tâm chi ngân sách quỹ vốn của đơn vị cho anh em hoạt động. Ông cũng rất quan tâm đến công tác nhiếp ảnh, điện ảnh, chiếu phim phục vụ bộ đội. Nhờ sự quan tâm đó đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội của Sư đoàn 8 trong những năm kháng chiến được nâng cao, công tác tư tưởng có nhiều thuận lợi trong đó bên cạnh vai trò của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh sư đoàn thì có công rất lớn của đồng chí Sư đoàn trưởng. Cuộc đời và những năm tháng chiến đấu của Thiếu tướng Trần Minh Phú là vô cùng phong phú và sinh động, những nội dung đề cập như trên một chỉ khắc họa được một phần về chân dung của đồng chí, các bài tiếp theo của các đồng chí cán bộ cao cấp, tướng lĩnh và gia đình trong cuốn sách này sẽ bể sung và hoàn chỉnh hơn. Sinh thời đồng chí Thiếu tướng Trần Minh Phú cũng rất tâm huyết muốn dành thời gian để kể và tái hiện lại những năm tháng chỉ huy chiến đấu của mình nhưng rất tiếc đồng chí đã ra đi đột ngột (năm 2003). Trước khi mất (năm 2001 - 2002) đồng chí đã cùng với các đồng chí Mười Thi, Mười Tùng, Tám Vị, Ba Cang, Hai Điệp... giúp đỡ cổ vũ động viên Đảng ủy - Chỉ huy Sư đoàn 8, hoàn thành cuốn Lịch sử Sư đoàn 8 (1974 - 2002). Đồng chí Sáu Phú đã đóng góp nhiều ý kiến cho Ban biên soạn cuốn lịch sử kịp thời bổ sung, tái hiện lại một số sự kiện quan trọng được chính xác và tương đối đầy đủ hơn với một tình cảm và trách nhiệm của người làm công tác nghiên cứu biên soạn lịch sử và là cấp dưới được sống với đồng chí nhiều năm, tôi ghi chép lại những vấn đề trên chắc rằng chưa thật đầy đủ, mong các đồng chí lãnh đạo quân khu và các đơn vị qua các thời kỳ đóng góp ý kiến, để chỉnh sửa bổ sung nâng cao chất lượng của cuốn sách hơn nữa khi có dịp tái bản. Đại tá Trần Bá Điềm Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:35:08 pm SÁU PHÚ - NGƯỜI EM CỦA TÔI Trung tướng Nguyễn Văn Thạnh Tôi họ Nguyễn, Sáu Phú họ Trần, thế mà hai chúng tôi thương nhau như ruột thịt. Vào đầu năm 1977 hai anh em chúng tôi đi học ở Học viện Quân sự cấp cao, Bộ Quốc phòng ở Thủ đô Hà Nội, không biết tôi và Sáu Phú có dáng vóc gì giống nhau, nhập trường chừng một tuần, anh chị em công nhân viên Học viện và một số học viên hỏi hai chúng tôi có phải anh em ruột không mà giống nhau quá. Tôi và Trần Minh Phú đều trả lời: hai chúng tôi là anh em ruột ở nhà tôi thứ Sáu, Phú thứ mười đi kháng chiến đổi lại để khi gọi đến thứ là nhớ nhau. Tưởng đâu câu chuyện vui, nhưng anh chị em tưởng là thật, thốt lên "anh em đều làm quan cao cấp, hạnh phúc quá" (lúc đó chưa ai được đề bạt cấp tướng). Thôi cứ để họ hiểu như vậy cho đến khi lớp học bế giảng, đấy cũng là một kỷ niệm trong cuộc đời chúng tôi. Hơn một năm học tập, nỗ lực thi đua trở thành tổ học tập xuất sắc, được Bộ Quốc phòng tặng bằng khen, chụp ảnh với Ban giám hiệu nhà trường lưu niệm. Sáu Phú tưởng là ham chơi hơn ham học, thực sự Phú rất cố gắng, miệt mài tranh thủ thời gian ôn bài, tìm hiểu nên cũng đạt điểm 5 trong các kỳ thi (thời đó điểm cao nhất là 5). Lao động sản xuất của tổ được Học viện gja cho, Sáu Phú hồi nhỏ quen lao động cực nhọc nên nay vẫn giữ được sức khỏe và tư chất người lao động nên nhận lãnh là cốt cán gánh vác những việc nặng lấp một cái mương trồng rau, nếu cả tổ làm ít nhất 2 tiếng đồng hồ. Sáu Phú và anh Thuận, 4 giờ sáng ra cuốc lấp đến 7 giờ là xong, cả tổ không ai tham gia nhưng hoàn thành rất tốt. Lúc còn ở đơn vị Quân khu 8 công tác tôi rất hiểu Sáu Phú luôn chịu cực chịu khổ bám sát chiến trường vượt qua bom đạn đi sâu vùng khó khăn nhất, chiến đấu công tác đã rèn luyện cho Trần Minh Phú đức tính kiên cường dũng cảm. Vào đầu năm 1971, tôi đang công tác ở Bến Tre được điện của Quân khu 8 gọi về đi dự hội nghị ở Miền. Tình hình lúc bấy giờ hết sức gay go ác liệt đường giao liên từ tỉnh về khu từ khu về các tỉnh đều bị gián đoạn, có đoàn đi cả tháng không về đến quân khu. Kẹt quá, tôi gọi Sáu Phú cho đón rước tôi về đơn vị đóng vùng Nam lộ 4, gặp nhau sẽ tính. Trinh sát rước tôi tại đầu cầu liên lạc 2 tỉnh Mỹ Tho - Bến Tre đưa về Long Tiên (Châu Thành - Mỹ Tho) Phú đưa tôi xuống ở với đơn vị (Trung đoàn 1) vì ở đây có bộ đội cho an toàn. Phú tìm gặp các đầu mối giao liên, du kích đều không đi được. Phú vào gặp anh Chín Hải (Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho) để tìm con đường nào đi nhanh về quân khu. Chín Hải cho biết chỉ còn có đường CK (công khai), nếu đi phải có giấy tờ hợp pháp, vào trong sát thị trấn Cai Lậy để giao liên rước đi. Sáu Phú nhiệt tình chạy đến bộ phận Công an làm một giấy giả để đi đứng, quan hệ thị trấn Cai Lậy lo xong một chỗ chiều tôi vào ngủ một đêm, hừng sáng ra lộ 1 lên xe về Tân Châu (An Giang). Công việc Phú lo rất chu đáo chỉ có một ngày tôi về đến quân khu. Qua đó cho thấy Sáu Phú là một cán bộ quân sự rất sát với cơ sở và quý trọng các đồng chí lãnh đạo địa phương, gắn chặt với cơ quan đoàn thể, hòa nhập trong cuộc sống với nhân dân, nên được lãnh đạo, cơ quan đoàn thể, nhân dân yêu mến. Trong Khu 8 mọi người đều biết và mến mộ anh. Nhờ đó mà anh giải quyết nhiều khó khăn trong công tác chiến đấu, giúp anh hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Năm 1974, Sáu Phú được ra miền Bắc học tập, nhưng vì chiến trường có yêu cầu được trở về sớm. Ngày 20 tháng 4 năm 1975 về nhận chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8 Quân khu 8, lúc ấy tôi Chính ủy, đồng chí Nguyễn Hữu Vị (Tám Vị) Sư đoàn phó - Chỉ huy Sư đoàn 8. Sau chiến thắng Ngã Sáu (Cái Bè) sư đoàn không trở lại vùng 4 Kiến Tường mà hành quân ngay về hướng thành phố Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm. Sư đoàn về vùng Kinh Năng gần chợ Bưng Châu Thành - Mỹ Tho. Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 8 có tôi và Sáu Phú đóng dã chiến ở hội trường Ban Quân sự huyện Châu Thành. Chiến trường trở nên ác liệt chưa từng có, bởi Trung đoàn 1 và Trung đoàn 320 đối đầu với 3 trung đoàn của sư 7 ngụy, đụng độ hằng ngày, không có trận đánh lớn, nhưng bom pháo, súng nổ suốt ngày đêm. Tại Sở chỉ huy sư đoàn thình lình một tiếng "ầm" trên nóc nhà, đoán là bị "pháo kích" nhưng coi lại không phải, một mảng máy bay trực thăng bằng gần chiếc chiếu bị A72 của ta bắn cháy, rớt ngang Sở chỉ huy bọn tôi nhưng không ai sao cả bởi vì mảnh máy bay trực thăng rơi không trúng. Chúng tôi tìm cách đưa được Trung đoàn 320 về Hốc Đùng sát nách ngã ba Trung Lương ém quân để chặn không cho địch lên ứng cứu Sài Gòn, và diệt quân Sài Gòn rút chạy về miền Tây. Các cụm pháo ở thị xã Mỹ Tho, Thân Cửu Nghĩa, Đồng Tâm tập trung nã vào khu vực này không sao kể hết. Anh em điện về chỉ huy sư đoàn báo cáo bom pháo quá sá, không lúc nào ác liệt đến thế. Sáu Phú đứng ở ngoài chỉ huy, nói anh em cơ quan đưa tôi (Mười Thi) phải chui vào hầm không ngồi ngoài được. Sáu Phú còn chỉ thị cơ quan củng cố hầm tránh pháo cho tốt. Nói vui: "vái cho bom qua đạn khỏi, độc lập rồi có về mà gặp vợ, gặp con, vậy thôi ngen!" Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cả chỉ huy sở như vỡ tung vui mừng khôn xiết làm cho nước mắt cứ trào ra nhưng vô cùng sung sướng. Nhiệm vụ của người chỉ huy còn nhiều việc phải làm. Tôi, Sáu Phú và 2 tiểu đội mang máy móc thông tin lên lộ 4 gần ngã tư chợ Bưng kéo ăng ten liên lạc với sư đoàn 7 ngụy. Tên tham mưu trưởng lên máy gặp Sáu Phú: "Tôi Sáu Phú Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 8 đây. Anh phải lập tức ra lệnh cho binh lính dưới quyền buông súng đầu hàng nếu không sẽ bị tấn công tiêu diệt". Tham mưu trưởng ngụy xin cho hoãn 10 phút để xin ý kiến cấp thẩm quyền. Hơn 10 phút sau chúng chịu đầu hàng, các đơn vị dưới quyền sư đoàn 7 ngụy và căn cứ Đồng Tâm giao lại cho quân giải phóng. Sáu Phú bàn với tôi: tôi và anh gặp Trung đoàn 1 giao nhiệm, vụ tiếp quản căn cứ Đồng Tâm ngay. Đến 10 giờ ngày hôm sau, Khu ủy Khu 8 họp bất thường phân công nơi ở. Bộ Tư lệnh Quân khu 8 và Sư đoàn bộ binh 8 vào căn cứ Đồng Tâm, Khu ủy và cơ quan về thành phố Mỹ Tho; Tỉnh ủy Mỹ Tho và cơ quan về thị trấn Cai Lậy. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:35:46 pm Đâu đó an bài và làm công tác chuẩn bị, 15 ngày sau tổ chức cuộc mít tinh lớn có diễu binh, diễu hành quần chúng mừng ngày đại thắng. Sư đoàn bộ binh 8 được huy động diễu binh. Tôi và Sáu Phú lên xe chỉ huy điều hành cuộc diễu binh, ngang qua lễ đài vì quá vui lại quên chào, tới nửa khán đài mới nhắc nhau, "hãy chào chứ" rồi giơ tay lên mũ chào muộn màng của hai ông chỉ huy. Kỷ niệm này còn được nhắc nhau nhiều lần trong những năm tháng sau này. Từ trước đến lúc ấy có biết diễu binh là gì.
Sau đó tôi và Sáu Phú vòng quanh thành phố Mỹ Tho gặp các cơ quan Khu ủy vui mừng không kể xiết. Sáu Phú nói: "Mình vui quá, nhưng nhớ đến nhiều anh em đồng chí, đồng đội cùng mình chiến đấu hy sinh, đã không còn tận hưởng với mình ngày vui đại thắng. Có lẽ giờ này vợ con anh em nó cũng vui mừng, nhưng nỗi buồn là vô tận. Nỗi buồn nào rồi cũng qua đi để rồi cùng vui với nhau bằng cuộc đổi đời...". Về ở căn cứ Đồng Tâm không bao lâu, bọn Pônpốt đưa quân đánh phá biên giới, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 nhất trí đưa Sư đoàn bộ binh 8 về Cao Lãnh thành lập Ban chỉ huy tiền phương lên biên giới chỉ huy đánh quân Pônpốt lấn chiếm, đưa ngay hai đại đội do Năm Thời chỉ huy lên vùng Chét Lài giáp biên giới An Giang, Tà Keo đánh bật bọn lấn chiếm ra khỏi biên giới. Tôi và Sáu Phú cùng bộ phận chỉ huy lên xã An Hữu, huyện Tân Châu sát biên giới thành lập Sở chỉ huy tiền phương còn Sở chỉ huy cơ bản sư đoàn và các đơn vị về thị xã Cao Lãnh và đóng quân vùng Cao Lãnh - Sa Đéc. Bọn Pônpôt triển khai quân ra sát sông Sở Thượng, hướng về vùng biên giới và thị trấn Hồng Ngự của ta. Sáu Phú có ý kiên: "Bây giờ tôi và anh qua tận đó quan sát tình hình và nắm thực địa để chủ động tác chiến tấn công. Từ trước giờ trận nào chỉ huy tôi không đi thực địa là không yên tâm". Lấy một bo bo và một ghe máy đi theo 1 trung đội, chạy qua thị trấn Hồng Ngự để bộ lên cầu Muông. Bên kia bờ sông Sở Thượng quan sát thấy công sự Pônpôt đào còn mới toàn bộ hướng qua đất ta. Tôi, Sáu Phú cùng 1 trung đội trinh sát, hành quân mỗi người cách nhau mười thước cặp bờ sông bên ta đi từ cầu Muông lên nghĩa trang qua Thường Phước. Ta đi bên này, địch ở bên kia sông súng sẵn sàng nhưng chúng không dám bắn, ta hành quân chậm, rải cự ly xa nhau kéo dài đội hình, cứ thế mà đi và quan sát địch, quan sát địa hình. Sau chuyên đi kiểm tra thực địa về sư đoàn làm kế hoạch tác chiến xong nhưng bọn Pônpốt cho rút quân về sâu bên trong với ý định, chuẩn bị kỹ hơn để tiếp tục tấn công ta rộng, mạnh, sâu vào đất ta. Sáu Phú là một người chỉ huy sâu sát, kế hoạch tác chiến rất cụ thể. Với nhiều cương vị khác nhau, từ lúc nhập ngũ đến lúc nghỉ hưu anh đã chỉ huy nhiều đơn vị, đánh được rất nhiều trận thắng, một sĩ quan, một tướng lĩnh có tài đánh giặc được nhiều người biết đến. Ngoài 70 tuổi, vóc dáng, phong độ còn rất tốt không may mắc bệnh hiểm nghèo, phát hiện được bệnh rất muộn. Quân y đã tận tình cứu chữa nhưng bệnh tình ngày càng trầm trọng. Tại Bệnh viện 175 Sáu Phú đi vào hôn mê. Hết sức thương đau khi tình lại mở mắt là hỏi vợ: "Anh Mười Thi, Tám Vị bây giờ ở đâu ?". Vợ trả lời: Hai anh ở dưới nhà. Khi vào thăm, Sáu Phú không còn biết tôi, thế là sắp từ giã cõi đời về nơi âm cảnh. Sát cánh bên nhau chiến đấu trên chiến trường Quân khu 8 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và 10 năm chiến đấu giúp bạn Campuchia cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Tình đồng chí, đồng đội, nghĩa đồng hương Bến Tre vẫn vẹn toàn. Một con người khiêm tốn, dũng cảm, ngoan cường, tài năng sáng tạo, đem hết tài năng sức lực cống hiến cho Tổ quốc, nhân dân. Sáu Phú mãi mãi sống trong lòng tôi và là một người em thân thương của tôi. Mùa Xuân 2008. Nguyễn Văn Thạnh (Mười Thi) Nguyên Bí thư Đảng ủy Phó Tư lệnh Chính trị - Quân khu 9 Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:37:30 pm THIẾU TƯỚNG TRẦN MINH PHÚ NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG VÀ NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU CỦA TÔI Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị Tôi và anh Trần Văn Nhiên (tức Trần Minh Phú) cùng ở vùng ba Châu (Châu Phú, Châu Thới, Châu Bình). Anh Nhiên ở Châu Phú, còn tôi ở Châu Bình. Vùng đất ba Châu nghèo, khá hoang vu, nhiễm mặn, nhiều chà là gai của huyện Ba Tri thời xưa. Nay chỉ còn hai Châu (Châu Hòa và Châu Bình) thuộc huyện Giồng Trôm. Thuở còn học lớp Đồng ấu, cứ đến ngày thứ năm và chủ nhật thì tôi thường sang chơi ở Châu Phú, Châu Thới. Tôi và anh Nhiên quen nhau từ dạo ấy. Chúng tôi chơi thân và thường tham gia đá banh bằng trái dừa, đá cầu, bắn bi. Trong những lần gặp gỡ chúng tôi hay kể chuyện cho nhau nghe có cả chuyện đánh lộn của trẻ con. Hồi còn học ở trường làng, cả lớp không ai dám ăn hiếp anh Nhiên. Anh rất vui tính, hào hiệp và rất khí phách. Gia đình anh thuộc lớp nghèo ở nông thôn. Anh luôn thông cảm với bạn nghèo và thường chơi thân với họ. Thuở nhỏ, anh kể cho tôi nghe, một hôm các bạn chơi bắn bi (bắn đạn cu li). Ai bắn thua thì bị gạch đạn ba cái vào lòng bàn tay (nếu gạch trúng khớp ngón tay sẽ đau điếng đến chảy nước mắt). Nhưng có một trò cùng lớp, con nhà khá giả có vai vế trong làng, không chỉ bắn bi ăn gian mà còn đánh một bạn nghèo của anh Nhiên. Anh Nhiên bất bình, nhảy vào can thiệp bênh vực bạn nghèo, nắm tay đấm thẳng vào sống mũi làm cho thằng chơi ăn gian chảy máu cam. Nó chạy đi thưa thầy. Thầy giáo bắt anh Nhiên cúi xuống bàn đánh ba roi. Anh Nhiên đứng dậy khiếu nại: "Thưa thầy, thầy thiếu công bằng, nó chơi ăn gian mà còn ăn hiếp trò kia, em bênh vực trò nghèo là đúng, tại sao thầy không đánh nó, mà đánh một mình em?". Thuở xưa, con nhà nghèo ít ai học hết tiểu học trong làng chỉ có một trường duy nhất dạy lớp năm lớp tư (tức lớp một, lớp hai bây giờ). Học xong trường làng, thông thường nhà nghèo thì cha mẹ cho con nghỉ học đi làm thuê, làm mướn hoặc ở nhà giữ em và phụ lao động nông nghiệp. Quan hệ giữa giàu và nghèo họ cũng đối xử khác nhau, người nghèo thường bị khinh và làng lính cũng ăn hiếp... Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân lao động đổi đời, người nghèo được mở mày mở mặt. Bọn làng lính, quan huyện, người thì bỏ trốn, người ra trình diện với cách mạng. Cách mạng khoan hồng với những người biết hối cải, chỉ trừng trị những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân. Tôi tham gia đoàn biểu tình mừng Cách mạng tháng Tám năm 1945; đoàn người đi tới xã Châu Phú thì tôi gặp anh Nhiên. Hai đứa tay bắt mặt mừng; anh hào hứng nói với tôi: "Kỳ này tao nhất quyết xin đi bộ đội mới được". Nhưng mãi hai năm sau anh mới có dịp gia nhập vào lực lượng võ trang. Năm 1954, anh tập kết ra Bắc, được Đảng, Quân đội cho đi học Trường Sĩ quan Lục quân. Rã trường anh xung phong trở lại miền Nam chiến đấu. Năm 1961, tôi và anh Sáu Phú có dịp gặp nhau. Lúc đó tôi dự khoá II lớp huấn luyện quân sự do Quân khu 8 mở ở Trấp Rùn Rìn gần biên giới Campuchia. Còn anh Sáu Phú làm cán bộ Tiểu đoàn 261 chủ lực Khu 8. Sau Tết Mậu Thân 1968, tôi được điều động về Quân khu 8. Đầu năm 1969, tôi và anh Sáu Phú cùng ở chung trong Ban chỉ huy Trung đoàn Đồng Tháp 1. Anh làm Trung đoàn trưởng, còn tôi làm Trung đoàn phó. Trung đoàn lúc ấy không đầy 300 tay súng, vì trong Tết Mậu Thân bị hao hụt nhiều chưa kịp bổ sung. Tôi và nhiều đồng chí khác nỗ lực giúp anh củng cố trung đoàn làm quả đấm quân sự mạnh của Quân khu 8. Trong lúc đó địch sử dụng trung đoàn 11 và trung đoàn 12 thuộc sư đoàn 7 thường hành quân vào vùng giải phóng theo chiến thuật "quét và giữ". Trung đoàn chủ lực của ta hoạt động trên địa bàn Mỹ Tho, Long An, Kiến Phong. Bộ đội thiếu cả lương thực lẫn đạn dược. Trung đoàn phải phân tán để dễ cơ động tránh càn quét của địch. Có lúc qúa khó khăn không tiền, không gạo thì anh Trần Minh Phú chỉ đạo tất cả cán bộ ba cơ quan và cán bộ tiểu đoàn phải xắn áo quần lội bám cơ sở, bám chi bộ địa phương và bám dân để vừa động viên nhân dân vừa mượn tiền, mượn gạo trang trải cho bộ đội. Anh Phú sống rất chân thành, giản dị, cởi mở nên được bà con rất thương. Anh cùng số cán bộ thuộc quyền vào dân mượn tiền, mượn gạo bao nhiêu cũng có. Nhiều gia đình, nhiều chị, nhiều mẹ bán cả heo lứa và gà, vịt để cho bộ đội mượn tiền. Anh Trần Minh Phú chỉ đạo các tiểu đoàn tránh các cuộc càn quét của địch để giữ gìn lực lượng. Nhưng khi tiểu đoàn của địch đóng quân qua đêm trong phạm vi tiểu đoàn ta phụ trách thì phải chủ động đánh tập kích vào vị trí chỉ huy, gây tiêu hao sinh lực và diệt chỉ huy của chúng. Trong những năm 1970 - 1971 ta đã đánh diệt 2 ban chỉ huy tiểu đoàn của trung đoàn 12 thuộc sư đoàn 7 ở Long Tiên và Bàng Long (Cai Lậy - Mỹ Tho). Giữa năm 1970, anh Trần Minh Phú chỉ đạo củng cố, bổ sung Tiểu đoàn 263 để tăng cường cho Bến Tre theo quyết định của Tư lệnh Quân khu 8. Anh Sáu Phú chỉ đạo Tiểu đoàn 263 về đóng quân ở xã Long Tiên. Một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 12 ngụy hành quân càn quét vào xã Long Tiên đúng như dự đoán. Anh Sáu Phú đã chỉ huy Tiểu đoàn 263 chủ động chặn đánh tiêu diệt một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 12 tại chợ cầu (xã Long Tiên). Ta thu hơn 100 súng các loại và nhiều máy thông tin, bắt sống 13 tên. Đầu năm 1972, anh Sáu Phú được quyết định đề bạt làm Tham mưu trưởng quân khu phụ trách tiền phương ở chiến trường Mỹ Tho, trực tiếp theo sát chỉ đạo Trung đoàn Đồng Tháp. Anh có vai trò quan trọng trong chỉ huy thắng lợi chiến dịch Nguyễn Huệ 1972. Vào ba ngày đầu chiến dịch, Trung đoàn Đồng Tháp đã đánh tiêu diệt hai liên đội bảo an của Gò Công đến phát quang dọc tuyến kinh Nguyễn Văn Tiếp, kinh Bằng Lăng, kinh Băng Dầy, kinh Mười, kinh Chà Là, bẻ gãy kế hoạch phát quang, phá rừng của địch ở tỉnh Mỹ Tho. Phát huy thắng lợi, tiếp sau đó Trung đoàn Đồng Tháp tiêu diệt hai tiểu đoàn của trung đoàn 11 thuộc sư đoàn 7, bao vây bức hàng, bức rút hàng chục dồn bót ở Cai Lậy, Cái Bè. Anh Sáu Phú là tác giả của kế hoạch bức hàng, bức rút đồn bót địch ở Trung Nam Bộ (Khu 8) bằng phương châm "vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt". Ta thực hiện thành công phương châm này, bức hàng bức rút nhiều đồn bót có cả đồn bót cấp đại đội và tiểu đoàn của địch trong chiến dịch Nguyễn Huệ trên chiến trường tỉnh Mỹ Tho. Khoảng tháng 8 năm 1972, Tư lệnh quân khu chỉ thị Trung đoàn Đồng Tháp phối hợp với Trung đoàn 88 đánh diệt chi khu Vĩnh Kim và đánh diệt viện từ 1 đến 2 tiểu đoàn địch trong lúc chúng bị căng kéo đối phó các nơi. Kế hoạch đánh địch được triển khai. Ta nổ súng đánh chi khu Vĩnh Kim, nhưng không thành công Trung đoàn Đồng Tháp và Trung đoàn 88 chặn viện theo trục lộ Vĩnh Kim, đánh diệt gọn một liên đội bảo an và làm thiệt hại nặng một tiểu đoàn Bảo an khác. Chiều hôm đó, anh Sáu Phú chủ trì họp với 2 Ban chỉ huy trung đoàn. Anh đưa ra nhận định ngày mai địch sẽ đưa một tiểu đoàn mạnh hơn đến giải vây chi khu Vĩnh Kim (đang bị ta vây lấn). Anh nhận định địch cho rằng "đối phương" sẽ rút quân trong đêm theo quy luật thông thường của Việt cộng. Hai trung đoàn của ta vẫn bám vị trí chiến đấu, củng cố công sự trận địa, sẵn sàng đánh với một tiểu đoàn chủ lực ngụy đến cứu viện. Đúng như nhận định của Tham mưu trưởng quân khu Trần Minh Phú. Tám giờ sáng hôm sau, địch đổ bộ dường không một tiểu đoàn biệt động quân có trực thăng vũ trang yểm trợ. Chúng hành quân thành ba mũi tiến vào giải vây cho chi khu Vĩnh Kim. Hơn một giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt tiểu đoàn biệt động quân, bắn rớt một chiếc trực thăng vũ trang do sĩ quan Mỹ lái. Ta thu hàng trăm súng các loại, bắt sống 20 tên. Đồng đội công nhận anh Trần Minh Phú là một cán bộ tham mưu giỏi, có quyết tâm táo bạo, giành thắng lợi lớn. Một tuyến công sự chiến đấu mà nằm 2 ngày đánh liên tiếp, nhiều cán bộ, chiến sĩ rất ngại, nhưng phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy. Sự táo bạo ấy tạo ra yếu tố bất ngờ và thực hiện trận đánh thành công. Anh chẳng những là cán bộ tham mưu tác chiến giỏi, chỉ huy chiến đấu gan dạ, mà anh còn có tài công tác tổ chức, chỉ đạo sâu sát các mặt công tác đảng - công tác chính trị, công tác Hậu cần, Kỹ thuật không thua gì những cán bộ chuyên ngành lâu năm có kinh nghiệm. Anh giỏi về quân sự, nhưng cũng lưu loát khi nói chuyện chính trị, văn hóa và có tài kể chuyện thu hút người nghe. Cán bộ các đơn vị trong lực lượng vũ trang và cả cán bộ các ngành dân chính đảng chăm chú nghe anh phát biểu ở các hội nghị về quốc phòng, quân sự địa phương và thích trò chuyện với anh trong giờ giải lao... Những ai đã từng sống, chiến đấu và gần gũi đều nhận thấy anh Trần Minh Phú bao giờ cũng lạc quan yêu đời, tính tình anh hiếu động, thường tìm thăm anh em, đồng đội; anh thích tổ chức "vui vẻ", càng vui vẻ thì anh càng có sáng kiến. Anh sống có nghĩa tình với anh em và đồng đội. Anh Trần Minh Phú là con người hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính ông bà, gần gũi với dòng họ. Khi anh còn đương nhiệm Phó Tư lệnh quân cũng như khi đã nghỉ hưu trở về đời thường thì năm nào cũng vậy, cứ chiều 30 Tết là anh có mặt ở quê nhà, thắp hương tưởng niệm ông bà. Sáng mùng Tết, anh đi thăm bà con thân tộc và chòm xóm. Sau đó anh trở lại thị xã Bến Tre, ghé thăm gia đình tôi và gia đình anh Nguyễn Cang, thắp hương mừng tuổi ông bà trước khi lên Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh thăm và chúc Tết anh em cán bộ, chiến sĩ. Lúc anh nằm trị bệnh ở Quân y viện 175, đông đảo đồng chí, đồng đội đã từng lăn lộn, sống chết với nhau trong kháng chiến lần lượt đến thăm anh bên giường bệnh. Ai ai cũng thương cảm về bệnh tình của anh. Tôi thật sự cảm động khi trên giường bệnh anh thường nhắc nhiều đến anh Mười Thi, Tám Vị, Ba Cang. Tôi đến thăm anh hai lần trước khi anh mất. Anh lúc mê lúc tỉnh, cháu Phúc con anh gọi: Có bác Tám Vị đến thăm, anh mở mắt rồi nhắm lại. Tôi đau lòng chứng kiến tử thần sắp cướp anh đi theo quy luật sinh - lão - bệnh - tử! Bài viết ngắn này như nén hương thơm, tôi xin nghiêng mình tưởng nhớ đến một người đồng hương, một người anh và là bạn chiến đấu thân thiết của một thời oanh liệt đã qua. Nguyễn Hữu Vị Nguyên Tỉnh đội trưởng Bến Tre Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 05 Tháng Tám, 2026, 07:39:10 pm ANH SÁU PHÚ, VỊ CHỈ HUY KÍNH YÊU CỦA TÔI Huỳnh Minh Đoàn Ủy viên Trung ương Đảng Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Trong những năm quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, ở chiến trường Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ) Trung đoàn Đồng Tháp 1 là trung đoàn chủ lực đầu tiên của khu, được các chỉ huy phân đội của trung đoàn cùng thời với tôi sau này tự hào bảo nhau: Chúng mình là lính của trung đoàn liên tục xuất hiện nối tiếp nhau các vị chỉ huy văn võ song toàn. Đó là các Trung đoàn trưởng: Trần Minh Phú; Nguyễn Hữu Vị, Nguyễn Cang... Ba Trung đoàn trưởng có cùng độ tuổi và là thần tượng của tôi, nhưng Trung đoàn trưởng Sáu Phú là người tôi yêu mến và duy nhất cả gan gọi "chú bằng anh" mà lẽ ra tôi phải gọi anh bằng chú mới phải đạo. Thật ra lúc đầu tôi gọi anh bằng chú vì anh hơn tôi đến 22 tuổi và cùng tuổi với mẹ tôi. Sở dĩ tôi dám "hạ cấp" anh từ chú xuống anh bởi vì anh rất vui tính như thanh niên, nói chuyện hài hước rất có duyên, gần gũi với cán binh thuộc quyền. Thỉnh thoảng vui đùa anh "kính gọi" đồng chí Chính ủy trung đoàn bằng "cụ", "cụ Điện" (Chính ủy trung đoàn là đồng chí Tám Điện). Hơn nữa vợ anh sau này là chị Hai Dung, rất trẻ, đẹp và là y tá công tác cùng đội phẫu thuật trung đoàn với tôi. Lúc anh chị mới yêu nhau tôi gọi anh là anh Hai, anh khoái chí và cười rất tươi, đó là lý do chính tôi "giáng cấp" từ chú xuống anh là thế. Lúc anh trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp 1, tôi là cứu thương, công tác tại trạm trực M61 (trạm trực cán bộ quân khu) phục Vụ cán bộ từ chiến trường quân khu về và cán bộ quân đội từ R (trên Miền) xuống quân khu công tác. Khi ấy tôi chưa biết mặt anh ra sao nhưng lại cảm thấy rất thân quen với anh tự bao giờ, đặc biệt để lòng ngưỡng mộ anh như một thần tượng chỉ huy bậc anh tài, tôi ao ước và nuôi mộng phấn đấu sao cho bằng cỡ bậc em của anh. Bởi tôi thường được nghe rất nhiều cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về trạm trực ca ngợi anh - một nhà quân sự tài năng bẩm sinh luôn có quyết định sáng suốt táo bạo, đôi khi rất mạo hiểm, nhưng mạo hiểm tinh tường và chính xác. Chuyện kể rằng sau Tết Mậu Thân 1968 kéo dài sang năm 1969, lữ đoàn 2 sư đoàn 9 Mỹ và sư đoàn bộ binh 7 ngụy dốc sức càn quét đánh phá rất ác liệt trên địa bàn các huyện nằm theo trục lộ 4 (nay là quốc lộ 1) thuộc tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) đây cũng là chiến trường trọng điểm của Khu 8. Quân và dân ta giáng trả liên tục và quyết liệt chống đỡ, nhưng do chiến đấu dài dẳng ác liệt, không được bổ sung quân số, nên mỗi tiểu đoàn lúc ấy chỉ còn không hơn trăm tay súng. Có lần anh Sáu Phú theo một tiểu đoàn chiến đấu chống càn, quân Mỹ công kích ác liệt suốt ngày, từ tờ mờ sáng đến sẩm tối chúng co lại, ta tranh thủ giải quyết hậu quả chiến trường rồi nhanh chóng bí mật rời khỏi trận địa. Đến vị trí mới, anh em triển khai đội hình phòng ngự, đào công sự đên giữa khua mới xong, ai nấy mệt lả hết người nghẻo ngay tại công sự, chợp mắt một tí cho lại sức thì được lệnh phải cấp tốc hành quân di chuyển. Lúc đó ai cũng thầm trách anh sao mà ác quá, anh em mệt muốn chết mà ra lệnh hành quân. Có anh em bảo hành quân lúc này thà chết còn sướng hơn. Tờ mờ sáng, tiểu đoàn vừa đến điểm trú quân mới thì nghe tiếng máy bay B52 và bom nổ rền vang trên dãy địa hình mà tiểu đoàn vừa rời khỏi giữa đêm khuya, tiếp sau là hàng bầy trực thăng đổ bộ quân Mỹ bao vây đánh phá vào chiến địa không người. Lúc đó ai cũng bàng hoàng thốt lên: "ông Sáu Phú giỏi thật, đúng là thiên tài". Khoảng giữa năm 1970 trước lúc tôi về làm lính trung đoàn một tháng, đại đội thám sát trung đoàn 12 sư đoàn 7 bộ binh do thiếu tá Lã Văn Tiêu chỉ huy biệt kích ập vào ấp 1, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, đúng lúc anh đang ghé qua thăm gia đình má Bảy. Chúng áp sát bao vây để bắt sống "Việt cộng". Đồ đạc mất hết, may mà anh chạy thoát thân. Chúng thu chiến lợi phẩm và biết người vừa thoát hiểm là anh Sáu Phú, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp 1. Còn anh Sáu Phú chạy về tới vườn (cứ trung đoàn bộ) hổn hển nói với anh em: "thằng Trần Minh Phú này còn sống thì đại đội thám sát phải bị tiêu diệt". Tức giận vì vừa hút chết nhưng đồng thời nhận thấy thời cơ tiêu diệt địch, anh tự bảo phải chớp lấy, không được bỏ lỡ, nên ra lệnh cho P10A (tên gọi của Tiểu đoàn 261) trinh sát bám theo và tập kích tiêu diệt chúng ngay trong đêm. Đến hừng sáng P10A đồng loạt nổ súng tập kích, sau 30 phút chiến đấu, tên thiếu tá đại đội trưởng Lã Văn Tiêu cùng với đại đội thám sát bị tiêu diệt. Ta thu dọn chiến trường, bắt một số tù binh, chúng khai rằng: khi để sẩy ông Sáu; Lã Văn Tiêu báo cáo lên thượng cấp (trung đoàn trưởng trung đoàn 12). Dường như tên trung đoàn trưởng hiểu rõ anh Sáu Phú nên ra lệnh "Mày coi chừng khéo bị nó đánh". Lã Văn Tiêu kéo quân về dựa vào bót Giồng Tre để trú ẩn nhưng vẫn không tránh khỏi sự trừng phạt thích đáng. Nhìn lại lịch sử chiến đấu của Trung đoàn Đồng Tháp 1 thật oai hùng biết mấy, hễ anh quyết là đánh, đã đánh là thắng, đánh đâu thắng đó. Bởi vì anh có nhãn quan chiến thuật, chiến dịch sắc sảo, có tư duy phân tích địch, ta rất biện chứng và khoa học, cỏ nghệ thuật điều cán, khiển binh tài tình và đội ngũ cán binh thuộc quyền anh rất trung dũng ngoan cường, nên các loại kẻ thù từ dân vệ, bảo an quân, đồn tua, căn cứ pháo binh, kể cả căn cứ hành quân cấp trung đoàn; các loại lính "Trâu điên", thủy quân lục chiến đến sư đoàn bộ binh 7 khét tiếng ác ôn đều cúi đầu khiếp sợ trước mũi súng của Trung đoàn Đông Tháp 1 anh hùng do anh chỉ huy. Nói đến sư đoàn 7 ngụy lúc bấy giờ gồm có 3 trung đoàn thì 2 trung đoàn số 11 và 12 đảm trách địa bàn tỉnh Mỹ Tho, mỗi trung đoàn đều có một đến hai tiểu đoàn bị Trung đoàn Đồng Tháp 1 tiêu diệt. Riêng căn cứ hành quân của trung đoàn 12 chốt trên Thẻ 23 quốc lộ 4 cùng tên trung đoàn trưởng bị Tiểu đoàn 261A và đặc công 629 tiêu diệt trong đêm 30 rạng sáng ngày 1 tháng 4 năm 1970. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mỹ chủ mưu cho tướng Lon Non làm đảo chính, lật đổ chính quyền của Hoàng thân Norodom Sihanúc, thiết lập thể chế cộng hoà thân Mỹ, sát hại và xua đuổi Việt kiều. Ngày 29 tháng 4 năm 1970, Tổng thống Mỹ Ních Xơn ra lệnh cho 17.000 quân viễn chinh Mỹ và huy động phần lớn các sư đoàn chủ lực ngụy vượt biên giới tấn công Campuchia để hà hơi tiếp sức cho quân ngụy Lon Non đang bị các sư đoàn chủ lực của ta đánh tơi tả trên chiến trường Đông Bắc Campuchia. Trong thời điểm đó trên chiến trường Mỹ Tho quân địch có nhiều sơ hở; chớp lấy thời cơ anh Sáu Phú chỉ huy trung đoàn hợp đồng với lực lượng vũ trang tỉnh Mỹ Tho mở chiến dịch (ABC) bóc gỡ đồn bót mở rộng vùng giải phóng và đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn địch. Trung đoàn 11; 12 sư đoàn 7 bị thiệt hại nặng, buộc Vùng 4 chiến thuật điều động trung đoàn 15 sư đoàn 9 từ Sa Đéc sang tăng viện hành quân càn quét liên tục đụng đầu với Trung đoàn Đồng Tháp 1 và tiểu đoàn 15 ngụy bị Tiểu đoàn 261A tiêu diệt gọn vào chập choạng tối ngày 8 tháng 8 năm 1970 trên cánh đồng Chà Là - kinh Mười Xa Mỹ Thành, huyện Cai Lậy. Hôm nay nhắc tới anh Sáu Phú, tôi bồi hồi xúc động tưởng nhớ các đồng chí Sáu Kiếm (Chính trị Tiểu đoàn 10A; 10B), Sáu Thanh Lèo (Tiểu đoàn trưởng 10A), Ba Hẩm (Chính trị viên 10A), Tám Tân (Tiểu đoàn trưởng 261C), Ba Mẫn (Tiểu đoàn trưởng 10A) là cán bộ thuộc quyền rất tin cậy của anh. Các đồng chí ấy đã góp phần làm rạng danh truyền thống của trung đoàn, rất xứng đáng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng vì nhiều lẽ đến nay chưa được tuyên dương, nhưng tôi ngưỡng mộ các anh như những anh hùng thứ thiệt. Tái hiện lại những suy nghĩ của gần 40 năm trôi qua và với cách nhìn nhận có được của tôi hôm nay cho dù anh Sáu Phú cũng như mọi người đang sống và hoạt động, không sao tránh khỏi những vấp váp, khuyết điểm nhưng có thể khẳng định rằng: tướng Trần Minh Phú là người con ưu tú của Khu 8, bởi anh đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử, góp phần rất quan trọng làm nên những chiến công lẫy lừng, một khúc ca anh hùng của Trung đoàn Đồng Tháp 1 anh hùng. Đại tá Huỳnh Minh Đoàn Nguyên Chỉ huy trưởng BCHQS tỉnh Đồng Tháp Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:12:54 pm THIẾU TƯỚNG TRẦN MINH PHÚ NHÂN CÁCH MỘT CON NGƯỜI Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ Tháng 10 năm 1969, Trung đoàn 88 từ đội hình Sư đoàn bộ binh 9 tăng cường cho Quân khu 8. Đoàn cán bộ chúng tôi đi về chiến trường trước để nghiên cứu các mục tiêu quân sự ở các tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong Mỹ Tho còn đại bộ phận đóng quân ở Tà Lu, xóm phố Tân Lèo (nay là Vĩnh Hưng, tỉnh Long An) để chuẩn bị đánh chi khu Long Khốt, hướng dẫn đoàn chúng tôi về đồng bằng là đồng chí Ba Mỳ - Phó Tư lệnh Quân khu. Tháng 11 năm 1969, đoàn chúng tôi tới kinh Ba Gò Tháp thuộc huyện Mỹ An - Kiến Phong, ở tại bờ bao Trà Kính, ở miền Đông thì quen đánh địch xong là về cứ tha hồ phơi phóng, về đồng bằng chưa biết như thế nào, chỉ được phổ biến là hạn chế tiếp xúc với dân, vì nói tiếng Bắc là kẻ địch sẽ tập trung đánh phá và truy quét sẽ bị thiệt hại lớn khi chưa chiến đấu thực sự. Qua bốn đêm hành quân, quần áo lấm lem, tôi mang giặt và phơi lên các cây trâm bầu quanh bờ ao. Đang phơi thì có cán bộ to cao khoảng trên 30 tuổi kéo xuống và nói: Tôi phơi quần áo có gió sẽ khô, còn giờ này cấm phơi quần áo, nấu nướng không để có khói. Rồi anh tự giới thiệu là Sáu Phú cán bộ tác chiến của quân khu, nay về quân khu họp. Anh hỏi tôi là cán bộ gì ở đây? tôi trả lời là cán bộ tiểu đoàn; anh hỏi tiếp: Là cán bộ tiểu đoàn đã được phổ biến quy định ở chiến trường đồng bằng chưa? tôi nói có phổ biến nghe để biết, còn thực tế chưa xảy ra, mà ở đây có gì đâu. Anh Sáu Phú nói: Ừ cứ chờ đó, sẽ biết có gì. Đến 10 giờ ngày 4 tháng 11 năm 1969, khu kinh Ba Gò Tháp trên bầu trời xuất hiện một chiếc L19 bay nhiều vòng rất thấp, tôi còn nhìn kỹ cả tên phi công ngồi trong buồng lái. Đến 12 giờ trưa anh Sáu Phú gọi anh Hai Nhu - Huyện đội phó Mỹ An và có tôi đang ở đó. Anh Sáu Phú nói với anh Hai Nhu tối nay cậu đưa đoàn cán bộ này về kênh Chuối ngay, để tụi nó ở đây ngày mai thương vong hết có gì liên lạc với tôi ở kênh Bùi Đứng nhà Sáu Kỳ. Đến tối, anh Hai Nhu đưa tôi và đoàn cán bộ Trung đoàn 88 về kênh Chuối. Tôi hỏi kênh Bùi Đứng nhà ông Sáu Kỳ ở đâu vậy?, anh Hai Nhu nói kênh Bùi Đứng là điểm liên lạc báo cáo cho anh Sáu Kỳ là cơ sở của ta có tiếng nói như mấy ông, ông ấy vào đây từ năm 1954 ở gò Bắc Ky, toàn dân Công giáo. Đến 5 giờ sáng ngày 5 tháng 11 năm 1969, anh Hai Nhu lại, tất cả dậy ngay, xuống xuồng đi theo tôi trước khi trời sáng, theo lệnh của anh Sáu Phú. Tôi hỏi đi đâu?, anh Hai Nhu nói về kênh Kháng Chiến gần nhà tôi. Đến 9 giờ tôi nghe có tiếng trực thăng và pháo bắn vào khu vực chúng tôi mới ở tối hôm qua. Tiếp đó là trực thăng đổ xuống kênh Chuối và đánh vào kênh Ba Gò Tháp, không thấy gì chúng lại đi dọc kênh Ba Gò Tháp đụng du kích, hai bên nổ súng. Anh Hai Nhu bảo tôi dìm xuồng bỏ luôn, tất cả lội kênh theo tôi. Đến 13 giờ quân địch rút, chúng tôi thoát nạn. Đến 18 giờ thì anh Sáu Phú xuất hiện, anh Hai Nhu gọi tôi đến và nói: cậu thấy đồng bằng chưa? Tôi im lặng không dám trả lời, anh nói luôn tại sao nó đổ quân xuống đấy? Vì nó biết ta đang chuyển quân từ Campuchia xuống, điểm dừng chân là ở kinh Ba Gò Tháp. Các cậu xuống xuồng lênh đênh trên kênh không ngụy trang nên L19 quan sát phát hiện là nó đổ quân đánh phá ngay. Anh Sáu Phú nói: từ nay trở đi còn ở Mỹ An nhất cử nhất động phải theo chỉ đạo của anh Nhu. Sau đó ông gọi riêng tôi ra nói quần áo các cậu lúc nào cũng ở bọc nilon, có động di chuyển nhanh mới được, không được mua hàng trên các ghe chở qua, mua gì cứ nói với Hai Nhu, khi nấu cơm thật sớm và thật tối, buổi trưa thì nghiêm cấm. Bằng hiểu biết tường tận tình hình ở chiến trường đồng bằng và bằng cách lấy thực tiễn để giáo dục, cảnh tỉnh cho đoàn cán bộ của Trung đoàn 88 mới từ chiến trường rừng núi xuống. Trong đó tôi là người phụ trách, đã cho tôi một bài học rất sâu sắc và rất cảm phục đức tính sâu sát, tỉ mỉ, thương yêu anh em của anh Sáu Phú. Từ đó tôi cũng ngầm quan sát, học tập ở anh nhiều tác phong chỉ huy quân sự rất bản lĩnh mà cũng đầy nhân ái với cấp dưới. Tháng 3 năm 1970, ở Campuchia, Lon No chính Xihanúc, lúc đó tôi gặp anh Sáu Phú cùng đồng chí Tăng Thiên Kim (Tư Chương) - Tham trưởng quân khu đến thông qua kế hoạch tác chiến của trung đoàn tại kinh Phèn thuộc địa bàn chi khu Kiến Văn (Cao Lãnh ngày nay). Gặp anh tôi nhận ra ngay, anh cười bắt tay tôi và hỏi làm gì, tôi nói lại vẫn như cũ, và anh hỏi trận này anh ở khu vực nào, tôi nói đánh chi khu Kiến Văn trên quốc lộ 30 và chặn quân ngụy Sài Gòn không cho tiến Campuchia. Anh nói với tôi mục đích chính là vậy, nhưng đánh chi khu để dụ sư đoàn 7 ngụy đến ứng cứu để ta tiêu diệt chủ lực địch tại khu vực Xẻo Quýt giữ chân chủ lực địch ở đây càng lâu càng tốt, tôi hiểu thêm được ý định của trên. Tháng 6 năm 1970, tôi với cương vị là Tiểu đoàn trưởng, chiến trường lúc này vô cùng ác liệt trung đoàn rút bớt Ban chỉ huy về Campuchia thành lập trung đoàn mới, nòng cốt còn lại là Tiểu đoàn 9, còn Tiểu đoàn 8 tăng cường cho Kiến Phong; Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 10 phân tán hoạt động trên địa bàn Mỹ Tho. Tháng 1 năm 1971, toàn bộ trung đoàn từ Campuchia xuống lại đồng bằng Nam Bộ, đại bộ phận cán bộ được về lại trung đoàn; lực lượng quân khu có 3 trung đoàn chủ lực: Trung đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộ binh 320, Trung đoàn bộ binh 88 và nhiều tiểu đoàn trực thuộc như pháo binh, đặc công. Hội nghị quân chính tổ chức tại xã Long Tiên; đồng chí Lê Quốc Sản (Tám Phương) - Tư lệnh Quân khu 8, giới thiệu anh Sáu Phú có bí danh mới là anh Chín Vàng - Tham mưu trưởng tiền phương quân khu. Khi hội nghị giải lao, tôi tìm gặp anh để nói chuyện, anh nói bây giờ đồng chí là tiểu đoàn trưởng bộ binh, cho nên tổ chức đánh là khác so với miền Đông, không có thời gian tâm sự, anh hẹn tối đến chỗ anh trao đổi thêm. Đúng hẹn, tôi đến gặp anh tại ấp 3 Cái Sơn, anh phổ biến kinh nghiệm ở đồng bằng kinh rạch nhiều thế này cơ động đều bằng xuồng, nên đóng quân phải phân tán, khi có nhiệm vụ thì tập trung lại, phải quan hệ chặt chẽ với du kích, chỉ có vậy mới đỡ thiệt hại. Cách đánh dùng kinh nghiệm thực tế ở chiến trường nhiều hơn dùng sách vở... Những lời dặn của anh, tôi mang theo trong lòng suốt 5 năm giữ vị trí tiểu đoàn trưởng và tất cả các trận đánh lớn của quân khu tổ chức trên các địa bàn mà tôi tham gia lúc nào cũng có mặt anh ở tại Sở chỉ huy của trung đoàn. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:14:26 pm Bộ Tư lệnh Quân khu 8 trong giai đoạn này không tổ chức sở chỉ huy cố định mà phân tán theo các hướng chiến dịch, trọng điểm là nam - bắc lộ 4 từ đông huyện Cái Bè và toàn bộ huyện Cai Lậy, tây thành phố Mỹ Tho giao cho anh phụ trách; là người chỉ huy cao nhất về quân sự ở mặt trận này nhiệm vụ là tiêu diệt nhiều sinh lực dịch mở rộng vùng giải phóng là chủ yếu, diệt sinh lực địch phải là chủ lực...
Anh quyết định tổ chức vây đồn diệt viện, chọn điểm là chi khu Vĩnh Kim, diệt viện chọn đông - tây lộ Đông Hòa từ quốc lộ 4 và Bàng Long, lộ 28 vào Tiêu diệt chi khu Vĩnh Kim (có tên Sầm Giang) vì nằm sâu cách quốc lộ 4 từ 3 đến 4 km, cách sông Tiền 500 đến 800 m, chỉ có đánh chi khu này thì địch buộc phải cơ động lực lượng chủ lực giải tỏa, nếu địch mất chi khu Vĩnh Kim thì vùng giải phóng của ta lớn, nối liền Cái Bè sẽ bao vây uy hiếp trực tiếp thành phố Mỹ Tho từ hướng tây mà trực tiếp là căn cứ Đồng Tâm đại bản doanh liên hợp quân sự của Mỹ, ngụy, nòng cốt là sư đoàn 7 ngụy. Ta đánh Vĩnh Kim là yết hầu địch phải can thiệp ngay sẽ có B52 rải thảm, khi đó nhân dân sẽ thiệt hại lớn, nhận định như vậy, còn diễn biến sẽ có thay đổi. Ngoài không quân, bộ binh địch sẽ chi viện 2 hướng. Hướng chủ yếu vẫn là quốc lộ 4 tiện đường cơ động, đường hành quân của chúng là đông - tây lộ Đông Hòa, lực lượng phải từ 1 trung đoàn trở lên. Cánh quân thứ 2 chi viện giải tỏa cho Vĩnh Kim sẽ đổ quân từ Bàng Long, lộ 28 đánh vào, quân địch biết ta đánh Vĩnh Kim là lực lượng lớn, nếu giải tỏa phải có lực lượng đông, khơi ngòi đánh Vĩnh Kim giao cho tiểu đoàn của tôi vây lấn, còn đánh trong trung tâm chi khu giao cho Tiểu đoàn đặc công 269 của quân khu. Sau khi nhận định tình hình và bố trí lực lượng Trung đoàn bộ binh 1 (thiếu) và Trung đoàn bộ binh 88 (thiếu) đánh địch chi viện từ quốc lộ 4 theo lộ Đông Hòa vào giải cứu, còn phía nam từ Bàng Long vào giao cho Tiểu đoàn 514 của tỉnh. Đúng 2 giờ sáng ngày 8 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn đặc công 269 mở đầu và tiểu đoàn của tôi tiến hành vây lấn sau 2 ngày, quả nhiên địch điều động lực lượng giải cứu như nhận định của anh Sáu Phú và B52 cũng rải thảm xuống Bàng Long nhưng dân ở ngoai đồng nên không thiệt hại. Ta đã đánh thiệt hại lực lượng cơ động của sư đoàn 7 ngụy vào ứng cứu là trung đoàn 10 và trung đoàn 12, ta tiếp tục bao vây dụ địch, cách đánh của ta làm cho địch bị động đối phó lực lượng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ vừa diệt được nhiều sinh lực địch, vừa gỡ nhiều đồn bót. Từ tháng 7 năm 1973 mặt trận nam - bắc lộ 4 địa bàn Cai Lậy ta gần như làm chủ, có vùng giải phóng rộng nối liền từ đông huyện Cái Bè đến sông Bảo Định - tây thành phố Mỹ Tho. Địch đã điều động lực lượng là sư đoàn 9 ngụy và nhiều tiểu đoàn bảo an từ Sa Đéc lên tăng cường cho Mỹ Tho, chủ lực địch có trung đoàn 14 của sư đoàn 9 ngụy và biệt động quân từ biên giới; Chương Thiện, vùng 4 chiến thuật đưa về Đồng Tâm. Tháng 1 năm 1974, ta nhận được tin địch sẽ đánh vào khu vực này để giảm áp lực cho tuyến đường huyết mạch là quốc lộ 4. Nhận định của anh Sáu Phú ở mặt trận này quốc lộ 4 ta gần như làm chủ, đây là đường huyết mạch từ vùng 4 chiến thuật lên Tiền Giang về Sài Gòn, nên quân địch phải giành lại thế chủ động. Quân địch muốn giành thế chủ động, đẩy lực lựợng ta ra khỏi khu vực này, không thể đổ quân từ quốc lộ 4 đánh vào, vì đã nhiều lần đánh vào đều bị lự lượng ta đánh thiệt hại nặng phải tháo chạy. Sáu Phú phán đoán địch sẽ đổ quân trên lộ 28 và từ đó qua Bà Dừa vào xẻo Lá, Đìa Đưng, qua cánh đồng Sáu Não vào Long Tiên, Long Khánh ra quốc lộ 4. Quân địch biết vùng này là vùng 20 tháng 7 căn cứ của ta, sư đoàn 7 đã nếm mùi thất bại, nay sư đoàn 9 ngụy ở Chương Thiện mới lên. Chỉ huy địch sẽ sử dụng lực lượng này vào khu vực trên và anh quyết định điều Tiểu đoàn 10A do anh Ba Tôn chỉ huy (sau này là Tham mưu phó Quân khu 7), còn toàn bộ Trung đoàn 88 tăng cường thêm lực lượng của địa phương tham gia trận phục kích. Quy mô sử dụng lực lượng của địch đúng như nhận định của anh. Ngày 12 tháng 2 năm 1974, quân địch hành quân để giải tỏa quốc lộ 4 đang bị ta uy hiếp ngày và đêm, chính cánh đồng Sáu Não, Tiểu đoàn 10A của Trung đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn bộ binh 88 cùng lực lượng vũ trang huyện Cai Lậy đã chôn vùi gần hết trung đoàn 14 sư đoàn 9 ngụy chỉ còn một số tên sống sót, còn tên trung đoàn trưởng phải đóng giả làm dân, chạy ra được Cai Lậy. Trận đánh tiêu diệt trung đoàn 14 của sư đoàn 9 ngụy từ miền Tây lên ở cánh đồng Sáu Não - Long Tiên và hoạt động trên quốc lộ 4, tên tuổi của anh lan tỏa làm cho kẻ địch khiếp sợ; nắm thời cơ này quân khu chỉ đạo cho cơ quan địch vận in rất nhiều truyền đơn ký tên của anh, rải khắp nơi làm cho lính bảo an rất sợ, nhiều đồn tự tan rã và bỏ ngũ. Đối với Thiếu tướng Trần Minh Phú, tôi rất trân trọng anh về tài chỉ huy quân sự đánh giặc. Từ kinh nghiệm thực tiễn ở chiến trường Khu 8, anh đã nâng lên vận dụng rất sáng tạo, vừa có bài bản khoa học nhưng cũng rất bản lĩnh và tính quyết đoán cao của anh ở chiến trường đã đem đến cho đơn vị nhiều chiến công rực rỡ. Một người chỉ huy quân sự có bản lĩnh vững vàng và ý chí rất cao nhưng anh luôn dành tấm lòng ưu ái với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn bộ binh 88. Trong đó, đối với tôi đã được anh trực tiếp chỉ huy và trở thành những kỷ niệm không bao giờ phai mờ, suốt cả thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và lật cho ngụy nhào. Anh Sáu Phú là một cán bộ chỉ huy giàu tình cảm, anh xuống từng đại đội để phổ biến kinh nghiệm chiến đấu, đến từng trạm xá để thăm thương binh; đối với liệt sĩ, anh căn dặn: "Ghi tên tuổi bỏ trong lọ Pinicilin an táng cùng thi hài anh em, ở đồng nước này dễ mục lắm, để sau này hòa bình người thân dễ tìm phần mộ. Tôi có thời kỳ ra Bắc tập kết có đến thăm một số nghĩa trang còn nhiều liệt sĩ vô danh lắm". Đối với cán bộ trẻ như chúng tôi lúc bấy giờ rất mến phục anh Sáu Phú, thích được gần anh để anh truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu. Chúng tôi tự nghĩ đây là trường học mà anh là thầy, mà hiện nay trưởng thành là một cán bộ tham mưu cấp chiến dịch, tôi tiếp tục nghiên cứu các chiến lệ chiến trên chiến trường Nam Bộ, đặc biệt là Quân khu 8 thấy rõ các kiến thức quân sự thời chống Mỹ là vô cùng phong phú, nó đã tạo nên thành tích chiến đấu của các đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 8. Trong đó có phần đóng góp công lao rất lớn của anh Sáu Phú. Mỗi khi nhớ về Thiếu tướng Trần Minh Phú trong tâm trí tôi lại hiện lên một người chỉ huy mẫu mực, tình nghĩa thủy chung. Nay anh Sáu Phú đã đi xa về cõi vĩnh hằng trong lòng đất mẹ, những chiến công và cuộc đời chiến đấu của anh mãi mãi được nhân dân và đồng đội xếp vào hàng những người con ưu tú của quê hương "Đồng khởi" Bến Tre anh hùng. TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2008 Trần Ngọc Thổ (Tám Thổ) Nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:16:09 pm NHỚ ANH SÁU PHÚ MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ, MỘT TẤM LÒNG Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại Năm 2003, được tin anh vĩnh viễn ra đi, tôi ở xa không trực tiếp về tiễn đưa anh được, mãi hai tháng sau mới tới thắp được nén nhang vĩnh biệt. Nhìn hình anh trên ngôi mộ xây cạnh vườn nhà, tôi vẫn cứ bàng hoàng thấy như anh vẫn còn sống nói chuyện nước, chuyện nhà, chuyện "tếu táo" giữa đời thường. Tôi biết và quen anh hơi muộn, mãi mùa thu 1971 mới gặp nhau lần đầu, rồi cùng chiến đấu bên nhau trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, trên chiến trường Khu 8, Mỹ Tho - Đồng Tháp và sau đó trong những ngày chiến đấu ở Tà Sanh trên chiến trường Campuchia, làm cho tôi càng yêu mến, tôn trọng đối với anh. Cùng với những kỷ niệm về tình bạn chiến đấu của hai người sinh ra trên hai miền Bắc và Nam của Tổ quốc, vẫn sâu sắc, nguyên vẹn. Tôi không có ý định viết lại về cuộc đời anh Sáu Phú vì điều đó là không thể. Tôi cũng không có ý định đề cao anh quá đáng, vì cũng như bạn bè chiến đấu cùng thời, anh có thành tích chiến đấu rất đáng trân trọng, song vì là một con người, anh cũng có ưu, có khuyết nhược điểm như mọi người. Song, nói gì thì nói, thời đánh Mỹ suốt từ trận Ấp Bắc, chiến công vang dội cả nước, cho đến khi tiến vào giải phóng thành phố Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm, góp vào toàn thắng của cả dân tộc, anh luôn bám chặt chiến trường, cùng đồng bào đồng chí anh hùng của Khu 8 nói chung và Mỹ Tho, Bến Tre, Đồng Tháp nói riêng vượt qua muôn vàn gian lao thử thách và hy sinh cực lớn, lập nên chiến công hiển hách. Và, trong đội ngũ đó, anh đã nổi lên như một nòng cốt, một người chỉ huy giỏi, một thủ lĩnh kiên cường, được bạn bè, đồng chí tin tưởng, nhân dân thương yêu, kẻ thù khiếp sợ. Anh xứng đáng được ghi tên vào lịch sử của chiến trường Khu 8 quê hương yêu dấu của anh và của cả miền Nam. Từ năm 1990, đến khi anh vĩnh viễn ra đi mỗi lần về Quân khu 9 công tác, gặp anh lúc ở cơ quan lúc ở nhà riêng gần cầu Bà Lâm, huyện Cái Bè - Mỹ Tho, tôi đều khuyên anh nên viết hồi ký chiến đấu song anh đều "ừ", cười trừ, rồi "đánh trống lảng". Biết tâm lý của anh rất ngại mọi người, nhất là các bạn bè cùng trang lứa nghĩ là làm vậy để "đề cao cá nhân" có lúc tôi đã hơi nặng lời phê phán anh: "Thiếu trách nhiệm". Nói thế, song anh vẫn chẳng giận tôi và chỉ cười. Tôi cãi lý với anh: Chiến thắng là của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, không phải chỉ là của một cá nhân, dù cho là ai, song đóng góp của mỗi người, nhất là những con người điển hình, lại là dẫn chứng sinh động cho cái chung đó. Miễn là mình viết để làm sao con cháu mình qua chuyện riêng của mình mà hiểu cho hết giá trị của chiến thắng đó biết rõ tình hình chung và biết được cả công lao của cả một thế hệ bạn bè, đồng chí cùng mình "lập nghiệp lớn". Có ai cấm anh qua kể chuyện đời mình để viết về những đóng góp của thế hệ trước của anh như các anh Tám Phương (Lê Quốc Sản), Năm Thanh (Dương Cự Tẩm), Bảy Sĩ (Nguyễn Văn Sĩ), Ba Mì, Tư Chương (Tăng Thiên Kim) v.v... và các bạn bè đồng trang lứa với anh, như các anh Mười Thi, Tám Tàu, Bảy Trực, Ba Đào, Mười Phục, Tám Vị, Hai Điệp, Tư Tươi, Ba Cang, Năm Nhơn, Năm Sương, Ba Phong, Tư Đấu, Xích Điểu; các cấp dưới Sáu Lưỡng các chị Tám Nghề, Thủy Tiên, Năm Tâm v.v... Còn nữa, cũng có thể qua anh, các thế hệ sau biết còn có cả loạt con em miền Bắc đã cùng sống chết với đồng bào Mỹ Tho như các anh Ba Ty, Trần Long, Tám Nghiệp, Tám Tường, Năm Phán, Tám Thổ, Tư Vinh v.v... Có người đã vĩnh viễn nằm lại như anh Ba Ty người anh hùng của Điện Biên Phủ. Ở Khu 8 này ai có điều kiện viết rõ hơn anh? Và còn dân nữa chứ! Biết bao nhiêu ở cơ sở, bao nhiêu gương anh hùng cần được nêu lên. Ông cha ta dạy con cháu trong học hành phải tôn sư trọng đạo "không thầy đố mày làm nên". Đối với một người cán bộ quân đội cách mạng, quân đội nhân dân như ta mà "không có dân thì đố mày làm nên chiến thắng". Riêng với anh, không có dân đùm bọc che chở "cái gáo" cũng chẳng còn. Bị tôi cãi lý, dồn dập, anh cười lớn, giơ hai tay lên nói "xin chịu thua" và "sẽ làm". Thế rồi chần chừ mãi, cuối cùng anh ra đi không để lại một dòng nào cho con cháu và đời sau, thật vô cùng đáng tiếc. Nay được thư ngỏ của Ban Biên tập, cơ quan đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Cần Thơ yêu cầu viết bài góp vào tập sách viết về anh. Với khả năng và hoàn cảnh của mình, tôi chỉ dám kể lai một số kỷ niệm sâu sắc trong thời gian ngắn ở gần nhau, từ đó đã nảy sinh tình bạn của chúng tôi kéo dài mấy chục năm sau. Qua đó, tôi có thể thêm một vài nét minh họa về anh, về một số khía cạnh của anh mà tôi cảm nhận được. Vào mùa thu 1971, trên chiến trường miền Nam ta đã giành thắng lợi cực kỳ to lớn, bước đầu đánh một đòn quyết định vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ: Các thắng lợi đánh tan tác các cuộc hành quân lớn của địch ở Đường 9, Nam Lào, ở Đắc Tô - Tân Cảnh ở Tây Nguyên và trực tiếp hơn là thắng lợi đập tan cuộc hành quân lớn của quân đoàn 3 ngụy đánh vào Xuông Chúp - Đầm Be - Sơ-Lông thuộc tỉnh Kông Pông Chàm (trong đó, Đỗ Cao Trí - Tư lệnh quân đoàn 3 ngụy tử nạn) đã làm nức lòng toàn quân và dân ta trên khắp miền Nam và cả nước. Cả Đông Dương đã trở thành một chiến trường. Căn cứ hậu phương chiến lược được mở rộng. Bốn tỉnh Đông Bắc Campuchia (Rattara Kiri, Mondul Kiri, Stưng Treng và Kratie) hoàn toàn giải phóng, ở các tỉnh khác trên toàn quốc Campuchia, vùng nông thôn rộng lớn bao la, hoàn toàn do ta và bạn làm chủ. Hậu phương của Quân khu 8 dựa hẳn vào vùng nông thôn của hai tỉnh Xwairiêng và Prây Veng. Tuy địch cố ngăn chặn ta trên đoạn Mộc Bài - Xwairiêng thuộc quốc lộ 1 Đông Dương, song tác hại không đáng kể. Việc chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường Nam Bộ nói chung và Khu 8 nói riêng, chưa bao giờ thuận lợi như vậy. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:17:05 pm Tuy tình hình cụ thể ở đồng bằng Nam Bộ lại hoàn toàn khác hẳn. Sau thất bại Tết Mậu Thân 1968, địch đã tập trung mọi nỗ lực cao nhất, dùng lực lượng, phương tiện tổng hợp và phương thức tiến hành cũng rất tổng hợp để lấn chiếm, bình định vùng đồng bằng Nam Bộ, trong đó các tỉnh Long An, Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre là những trọng điểm ác liệt nhất. Chúng đã gây cho nhân dân ta những tổn thất vô cùng to lớn.
Về phía ta, do chỉ đạo đối phó chưa thích hợp và kịp thời, nên lực lượng cách mạng cũng bị tổn thất, vùng giải phóng khá rộng, cuối năm 1967 ở đồng bằng đã bị líp lại, chúng bắt lính, dồn dân, kìm kẹp dân gay gắt. Chỉ tính riêng địch cắm trên đất Mỹ Tho (chưa tính Gò Công) đã là 664 đồn bót, Bến Tre khoảng trên 1.300. Tuy nhiên các lực lượng quân dân chính - đảng của các tỉnh và Khu (trừ Gò Công) đã bám trụ kiên cường. Lực lượng giữa ta và địch bố trí xen kẽ, "cài răng lược đến tận đầu giường". Xóm làng xơ xác, tan hoang, đến đâu cũng chỉ gặp đông nhất là đàn bà góa chồng. Chỉ riêng một con kênh nhỏ Bà Trần, huyện Cai Lậy có khoảng hơn ba chục "nóc gia" đã có 64 đàn bà trẻ góa chồng. Có cô mới hai mươi tuổi đã góa "ba đời chồng". Phương châm "dựa vào dân" được một số anh em nói cà rỡn là "Dựa hẳn vào đàn bà góa", mới nghe "tưởng như đùa" nhưng nghĩ sâu xa thì thực là đau lòng xót dạ. Tình hình đó được khái quát trong một câu phát biểu của chị Tám Nghề - nguyên Chính trị viên huyện Cai Lậy thời đó, trong hội nghị dân quân Khu 8, sau khi được nghe thông báo tỷ mỷ về thắng lợi "Đường 9 - Nam Lào" như sau: "Nhìn về toàn quốc thì phát nôn, nhìn về nông thôn mà phát ớn" (nôn đây là nôn nóng). Chị Tám Nghề vốn là một cán bộ chỉ huy kiên cường, dũng cảm, đã bám trụ ở chiến trường Cai Lậy suốt từ thời chiến thắng Ấp Bắc nên nắm rất chắc tình hình. Phát biểu của chị đã phản ánh đúng thực trạng chiến trường đầu năm 1971. Trong hoàn cảnh đó, suốt từ sau Tết Mậu Thân, anh Sáu Phú là một trong số những người không rời chiến trường trọng điểm, bám trụ, đánh trả địch, giữ dân giữ đất, giữ phong trào và cho tới hè 1971, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên cơ sở những thắng lợi của năm 1971, Trung ương Đảng ta ra quyết định mở cuộc tấn công chiến lược năm 1972, nhằm tiêu diệt lớn quân ngụy, giải phóng một số vùng trọng điểm ở Trị Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, đồng thời mở các chiến dịch tấn công tổng hợp lớn ở đồng bằng từ Trị Thiên, Khu 5 đến Nam Bộ, nhằm đập tan chiến lươc bình định nông thôn của địch, kết hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam "thực hiện vế đầu bài thơ chúc Tết của Bác trước lúc ra đi: "đánh cho Mỹ cút". Thực hiện nhiệm vụ đc ở Nam Bộ, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở hai hướng tấn công chiến lược: - Ở miền Đông Nam Bộ là đòn tấn công bằng lực lượng chủ lực Miền nhằm tiêu diệt lớn chủ lực địch, giải phóng Lộc Ninh - An Lộc (Hớn Quản). - Ở đồng bằng Nam Bộ mở một số chiến dịch tấn công tổng hợp đánh phá bình định, mở ra vùng giải phóng lớn ở đồng bằng. Đây được coi là nhiệm vụ trọng điểm, hướng trọng điểm là ở Quân khu 8 tập trung ở các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp). - Chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc "Nguyễn Huệ". - Bộ Chỉ huy Miền lập 2 Sở chỉ huy tiền phương Một Sở chỉ huy tiền phương ở hướng Lộc Ninh Bình Long để chỉ huy khối chủ lực do anh Tư Chi (Trần Văn Trà) - Phó Tư lệnh Quân giải phóng Tư lệnh. Sở chỉ huy tiền phương ở hướng Khu 8 do đồng chí Hoàng Văn Thái - Phó Bí thư Trung ương Cục - Tư lệnh Quân giải phóng đích thân chỉ đạo cơ quan Sở chỉ huy tiền phương Miền xuống đứng cạnh Sở chỉ huy cơ bản của Quân khu 8. Quân khu 8 cũng tổ chức Sở chỉ huy tiền phương xuống tại chiến trường do Tư lệnh quân khu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy. Anh Sáu Phú - Tham mưu Pho quân khu được chỉ định làm Tham mưu trưởng Sở chỉ huy tiền phương. Ngoài ra anh Bảy Trực và tôi là hai phái viên của Miền đi theo Sở chỉ huy tiền phương quân khu sau một thời gian ngắn được chỉ định làm Tham mưu phó (tăng cường). Riêng tôi có nhiệm vụ khi về phải chắp bút chỉnh văn bản tổng kết chiến dịch, nên cần phải bám chặt Tư lệnh và Tham mưu trưởng Sở chỉ huy tiền phương để nắm mọi tư liệu về ý định, quyết tâm kế hoạch và các tình huống chỉ đạo, chỉ huy của chiến dịch. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:18:28 pm Tôi và anh Sáu Phú quen rồi thân với nhau từ đấy. Chuyện về chiến dịch thì dài dài, tôi chỉ kể một vài tình huống để lại kỷ niệm sâu sắc trong tôi về anh:
1- Cứu Tư lệnh quân khu thoát hiểm: Tôi theo anh Tư Chương (Tăng Thiên Kim) - phó Tư lệnh Quân khu 8 xuống chiến trường vào đợt cuối tới Sở chỉ huy tiền phương quân khu, đặt tai kênh "Bùi Bích" vùng 4 Kiến Tường, vào ngày N-2 (tức là trước ngày mở màn chiến dịch hai ngày). Cùng vừa lúc đó, đoàn của Tư lệnh quân khu do anh Sáu Phú dẫn đi chuẩn bị chiến trường cũng vừa về tôi và suýt chết. Chuyện xảy ra là: Đoàn chuẩn bị chiến trường đi trước gần hai tháng sau khi bàn bạc với các Tỉnh ủy Đồng Tháp, Mỹ Tho về kế hoạch nổi dậy trong chiến dịch và kiểm tra các phương án tác chiến và chuẩn bị của lực lượng vũ trang xong thì quay về Sở chỉ huy chiến dịch chuẩn bị cho ngày nổ súng mở màn chiến dịch. Trên đường về khi vượt quốc lộ 4 gặp khó cho nên hơi gấp thời gian, tới bắc Cái Bè phải ghé vào nghỉ ở một "cứ" của Tỉnh đội Mỹ Tho, lúc đó có "Mười T" Tham mưu trưởng Tỉnh đội ở đó. "Mười T" tham gia bộ đội cũng đã lâu, có trình độ, song do dao động tinh thần lại bị địch dùng tiền, gái mua chuộc đã đầu hàng và được bí mật gài lại trong đội ngũ ta. Khi thấy đoàn Tư lệnh quân khu tới, hắn đón tiếp rất niềm nở, chu đáo, tự tay hắn dẫn Tư lệnh quân khu và anh Sáu Phú tới hai hầm bí mật chỉ có hắn biết, dặn nếu có "động" cứ xuống đấy, việc tổ chức chiến đấu bảo vệ ở trên sẽ do hắn lo người quá mệt, ăn uống xong phân tán đi nghỉ và ngủ say. Nhưng riêng anh Sáu Phú thì không. Nửa đêm, anh sang lán của "Mười T" để tra thì không thấy hắn ở đó. Hỏi số anh em ở cứ thì được biết là hắn và tổ điện đài của hắn (cũng là người của địch gài) đã bơi xuồng đi. Anh em biết nhưng không rõ đi đâu và cũng không dám hỏi. Chột dạ, anh đánh thức tổ trinh sát kỹ thuât dậy, và mở máy nghe các mạng vô tuyên điện của địch thì thấy chúng đang báo động và điều quân gấp trong đêm và qua sự cơ động của địch rõ ràng chúng đang tập trung mọi lực lượng có thể vào khu vực này nhằm một mục tiêu theo chúng là cực kỳ quan trọng. Thế là đã rõ! anh báo cáo gấp Tư lệnh và đưa tất cả lực lượng của đoàn và của căn cứ vào sẵn sàng chiến đấu. Tình hình cực kỳ nguy cấp. Nếu nổ súng chống càn, thì lực lượng quá mỏng, hơn nữa cái mạnh nhất là hệ thống vật cản bằng mìn (trái) thì có Mười T trực tiếp dẫn, địch không còn sợ nữa. Rút xuống hầm bí mật thì coi như "nộp mạng" cho địch. Anh báo cáo Tư lệnh quân khu và xử trí cực nhanh: Cho anh em ở "cứ" mở một đường mới qua bãi mìn dày đặc là hướng địch bất ngờ nhất, rồi nhanh chóng lọt vây ra ngoài. Gỡ mìn trong đêm khá lâu, khi lọt được ra ngoài thì trời đã hửng sáng, nhìn rõ mặt người. Song toàn đoàn đã nhanh chóng long kinh (bò theo mương), cũng may lúa đã lên cao nên có lúc chỉ cách địch không quá 100 mét, song chúng vẫn không phát hiện được). Ra khỏi vòng vây mà lại phải đi ban ngày trong vùng địch, ta xen kẽ, đồn bót dày đặc, song do anh em trinh sát thạo đường và người chỉ huy giỏi, đoàn đã đến được vị trí đóng quân của Trung đoàn 88 an toàn. Kể lại chuyện cho tôi nghe, anh Tám Phương - Tư lệnh quân khu kết luận: "Thật là may. Nếu không có Sáu Phú thì tình hình xảy ra chưa biết thế nào?" Tôi hỏi lại anh Sáu thì anh cười xòa nói: "Đấy là chuyện thường tình ở vùng địch hậu mà!". Còn tên phản bội Mười T thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bắt vì bị địch bỏ rơi đã phải ra tòa án quân sự cách mạng của Quân khu 8 và đã bị đền tội xứng đáng. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:19:46 pm 2- Lật cánh chiến dịch:
Đầu tháng 3 năm 1972, chiến dịch bắt đầu cùng với tất cả các chiến trường toàn quốc. Kế hoạch của chiến dịch trên hướng Quân khu 8 tóm gọn lại là: Khối chủ lực quân khu gồm 3 trung đoàn bộ binh và các đơn vị hỏa lực, binh chủng tập trung vào khu vực vùng 4 Kiến Tường và kênh Dương Văn Dương tiến hành bao vây đánh lấn đồn Kinh Quân, diệt các đồn bót nhỏ ở kênh Dương Văn Dương và ở hệ thống đồn nhỏ vùng 4 Kiến Tường, kéo cho được các lực lượng cơ động của địch đến cứu viện, tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chúng tạo điều kiện cho các vùng đông dân ở Cai Lậy, Cái Bè dùng các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận tấn công và nổi dậy, đập tan hệ thống kìm kẹp của địch, mở ra các mảng, vùng giải phóng lớn. Tuy nhiên, cho đến hết đợt 1 (tháng 3 năm 1972), trong khi ở các chiến trường khác, thắng lợi thì trên hướng Quân khu 8, kết quả còn rất hạn chế. Tuy ta có diệt được một số lượng lớn quân cơ động địch, song việc mở mảng, mở vùng giải phóng ở Mỹ Tho, Bến Tre coi như "giẫm chân tại chỗ" mặc dù các cấp ủy, các cơ quan quân sự địa phương và nhân dân đã "ráng hết sức" song vấn đề chính là "so sánh lực lượng tổng hợp" vẫn còn bất lợi. Trong một cuộc hội ý của anh Sáu Phú và ba anh Tham mưu phó, chúng tôi (sau này khi nhắc lại kỷ niệm xưa, anh vẫn hay nói đùa "bè lũ bốn tên chúng ta"), anh hỏi tôi: "Sĩ phu Bắc Hà, nghĩ sao?". Vì là dân "tân binh của chiến trường" tôi cũng hết sức dè dặt chỉ nêu cảm nghĩ của mình "có lẽ chọn hướng đột phá chiến dịch của chủ lực chưa trúng". Chủ lực đánh ở một nơi dân thưa, phong trào thấp, mở vùng, mở mảng lại ở nơi khác, lực lượng kìm kẹp của địch còn khá mạnh, có muốn nổi dậy cũng khó. Còn nên chọn ở đâu thì tôi chưa dám khẳng định. Anh vỗ đùi nói lớn: "Đúng, đúng lắm". Ngay từ khi chuẩn bị, tôi đã nghĩ như anh và đề nghị chọn điểm đột phá là ở "vùng 20 tháng 7" song không được chấp nhận. Lần này phải đề nghị lại, "lật cánh" xuống 20 tháng 7. Anh Bảy Trực giơ cả hai tay lên cười tán thành. Biết tôi còn lớ ngớ, anh Bảy Trực vốn quê cha đất tổ tại xã Song Thuận đã giải thích cho tôi rõ đây là vùng nam lộ 4, giáp sông Tiền mà vào dịp 20 tháng 7 năm 1963 đã nổi dậy đập tan hệ thống ấp chiến lược của địch, mở ra vùng giải phóng lớn đầu tiên của Mỹ Tho, nên mới mang tên đó. Phong trào cách mạng ở đây rất cao, song địch tập trung lực lượng để kìm dân khá mạnh, đồn bót dày đặc, nếu có chủ lực hỗ trợ, dân sẽ vùng lên. Phương án "lật cánh" được các anh chỉ đạo cơ quan hoàn thành trong có 1 ngày và trình lên trên, được Bộ Tư lệnh chiến dịch chấp nhận và được khẩn trương thực hiện ngay cho kịp đợt 2 của cuộc tấn công trên toàn Miền. Bây giờ nói lại nghe giản đơn, song lúc đó công việc bề bộn như núi. Tham mưu trưởng của Sở chỉ huy tiền phương lại là người phải gánh phần nặng nhất, song nhìn anh vẫn chững chạc, đàng hoàng, các chỉ huy đơn vị nhiều người cùng trang lứa với anh, song rất tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành răm rắp. Tư cách người chỉ huy lớn của anh bộc lộ khá rõ, mặc dù anh cư xử vẫn rất đơn giản, mộc mạc, chân tình. Có điều đối với tôi là rất lạ, khác với ở chủ lực, khi ra lệnh là theo địa danh tọa độ trên bản đồ, song anh thì lại chỉ thị tọa độ bằng tên dân: - Đơn vị X về khu vực bà "Hai Đầm già", đơn vị Y về chỗ "Bà Tư Đua", đơn vị N về chỗ bà "Tám Bướu", hậu cần về chỗ "nách Bà Tư Nở", pháo binh về chỗ nhà các cô "Tám, Chín, Mười tòng teng", đặc công về kinh "Ông Mười L" v.v... và v.v... Tôi vốn cần ghi để về tổng kết, song nghe "ù cả tai", phải nhờ anh Bảy Trực khoanh nhanh trên bản đồ. Điều ngạc nhiên là khi nhìn lại đó là một đội hình chiến dịch rất hợp lý. Rõ ràng là trình độ nắm địa hình và dân vào loại đặc biệt. Về kế hoạch tác chiến cụ thể tóm lại như sau: a. Lần lượt diệt 2 cứ điểm khống chế yếu khu Ba Dừa, chi khu Vĩnh Kim để kéo viện ra tiêu diệt lớn, gây nên "cú sốc" lớn cho hệ thống kìm kẹp của địch. b. Huy động tổng lực lượng quân sự, chính trị địa phương có sự yểm trợ một phần của chủ lực, bao vây diệt, bức rút, bức hàng hàng loạt các đồn bót lẻ của địch ở tất cả các thôn, xã liên quan. Ở mỗi nơi đánh xong việc lớn, chủ lực lại di chuyển đi đánh các đồn bót khác, để kéo lực lượng viện binh của địch đi theo, chỉ để lại một tiểu đoàn hỗ trợ cho địa phương. c. Hướng phát triển sau khi mở mảng, mở vùng ở 20 tháng 7 thì sang Chợ Lách, Bến Tre và về nam Cái Bè (hệ thống kênh Băng Rầy). d. Ở Bắc Cai Lậy, lực lượng của Tỉnh đội Mỹ Tho diệt địch ở Mỹ Phước Tây, một căn cứ khá lớn, sau đó phân tán sẽ mở mảng, mở vùng suốt từ Nhị Mỹ cho đến đồn Chùa Phật Đá, Sáu Âu trên kinh Nguyễn Tấn Thành. đ. Lực lượng chủ lực của Miền sẽ tăng cường xuống vùng 4 Kiến Tường và bắc Cái Bè, Sư đoàn 5 và Trung đoàn 24, để hỗ trợ phá cho tan hệ thống bình định của địch ở Kiến Tường và Mỹ Tho. Diễn biến đợt 2 đạt kết quả thật bất ngờ. Chỉ trong vòng trên dưới mười ngày, hệ thống kìm kẹp của địch bị tan vỡ hàng loạt do đòn tấn công tổng hợp của mọi lực lượng "điểm đúng huyệt". Ngoài hai đồn lớn mang tính khống chế yếu khu Ba Dừa và chi khu Vĩnh Kim hơn hai trăm đồn bót lớn nhỏ bị diệt, bị tan vỡ, bỏ chạy hoặc ra hàng. Ở bắc Cai Lậy, lực lượng của Tỉnh đội Mỹ Tho do anh Tám Tàu (Nguyễn Văn Thành) chỉ huy cũng diệt gọn căn cứ Mỹ Phước Tây, diệt, bức hàng, bức chạy hàng loạt đồn bót từ lộ 4 đến Chùa Phật Đá, Sáu Âu trên kinh Nguyễn Tấn Thành, mở ra vùng gải phóng rộng lớn, kết hợp với vùng giải phóng 20 tháng 7 uy hiếp nặng quốc lộ 4. Số dân được giải phóng của cả tỉnh ước trên dưới 200 ngàn. Cùng lúc đó, Miền cũng tăng cường Sư đoàn bộ binh 5 và Trung đoàn bộ binh 24 xuống Mỹ Tho, mở toang vùng bắc Cái Bè, tạo nên một hình thái chiến trường hoàn toàn đảo ngược. Thành quả bình định của địch ở trọng điểm Khu 8 suốt trong ba năm 1969 đến 1971 đã bị đập tan hoang. Trừ các đường lớn và kênh ngòi lớn ở dạng tranh chấp (ban ngày của địch ban đêm là của ta), các mảng, vùng giải phóng lớn đã được khôi phục. Thành công đó là của cả một tập thể, song dấu ấn cá nhân của anh Sáu Phú là không thể phủ nhận. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:20:35 pm 3- Chỉ đạo kết hợp đấu tranh chính trị và binh vận:
Trách nhiệm chính của Tham mưu trưởng Sáu Phú là tổ chức chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị chủ lực của quân khu tác chiến. Việc phối hợp với địa phương để chỉ đạo đấu tranh chính trị và binh vận do các đồng chí Tư lệnh phó khác đảm nhiệm. Tuy nhiên khi có thời cơ, anh rất nhạy bén, chỉ đạo kết hợp cả ba mũi giáp công và đạt kết quả tốt, lớn nhất là sau trận Vĩnh Kim. Ta diệt gọn căn cứ Vĩnh Kim (lúc đó là một chi khu). Chắc chắn địch sẽ phản ứng lớn để tái chiếm. Ta cũng gài thế diệt viện lớn. Vị trí chỉ huy của anh và một bộ phận nhẹ nằm sát ngay Sở chỉ huy của Trung đoàn Đồng Tháp 1, đơn vị chủ công. Tuy đã bố trí rất kín, song cả ngày hôm sau, vẫn có các má, các chị đi chợ về, ghé xuồng vào báo tin về lực lượng đich đang điều về đóng dài trên quốc lộ 4. Tin còn nhanh hơn của quân báo điện về và khá chính xác. Tuy nhiên vào buổi chiều tà, có một má trạc trên 70 tuổi miệng nhai trầu bỏm bẻm vào đòi gặp cho được Sáu Phú. Anh ra tiếp và được má cho biết: trong 4 tiểu đoàn đã tập trung (và sẽ còn nữa) có hai tiểu đoàn toàn con em dân "Đông Hòa, Tây Hòa" chúng sẽ lùa bọn này đi đầu để hứng đạn. Bọn bay có đánh thì cũng phải "nương nhẹ tay" một chút. Nói xong má ra về ngay. Đông Hòa, Tây Hòa là hai thôn lớn sát sông Tiền nam đồn Vĩnh Kim là nơi cơ sở cách mạng rất mạnh, song do 3 năm bị kìm kẹp, thanh niên (có cả du kích, cơ sở cũ) bị bắt đi lính. Nay nó làm vậy là để cho "ta lại diệt ta". Nếu ta không đánh thì bọn sư 7 chủ lực ngụy sẽ dễ dàng, theo sau vào tái chiếm lại Vĩnh Kim, mà nếu đã nổ súng thì còn làm sao "nương nhẹ tay" cho được. Rất nhanh và quyết đoán, anh cho mời ngay đại diện Huyện ủy và chi bộ xã (lúc đó ở cùng khu vực) tới bàn. Sau khi phân tích rõ âm mưu địch, anh yêu cầu địa phương tung hết cán bộ xuống Đông Hòa, Tây Hòa đến từng gia đình có con em ở hai tiểu đoàn trên vận động bà con nhanh chóng ra lộ 4 với cớ thăm con em, thông báo tình hình quê hương đã giải phóng và tìm mọi cách giúp anh em bỏ trốn về nhà hoặc phản chiến. Mọi người hăng hái đi ngay. Triển khai xong, anh cho người về báo cáo Tư lệnh, lúc đó đang ở chỗ anh Chín Hải (Lê Văn Thẩm) thư Tỉnh ủy để thống nhất chỉ đạo chung. Kết quả cũng lại hết sức bất ngờ. Vì xót thương con cháu, các má, các chị ở Đông Hòa, Tây Hòa ào ạt đốt đèn măng sông, dùng xuồng, dùng xe kéo ra lộ 4, mặc pháo địch vẫn bắn nhiều về đêm. Cán bộ binh vận của ta cũng đi theo để nắm tình hình và chỉ đạo tại chỗ. Theo lời kể của cán bộ địch vận của huyện có mặt tại chỗ thì lúc đó cả một đoạn quốc lộ 4 dài từ kênh Long Định đến xã Hữu Đạo náo loạn chưa từng có. Bà con kêu gào, khóc lóc đòi con em về vì "Sáu Phú nó đã kéo quân về mấy chục ngàn, súng lớn súng nhỏ dữ dằn lắm, nếu đánh với nó, chắc chết". Lúc đầu bọn sĩ quan hùng hổ, có đứa còn rút súng ngắn bắn chỉ thiên để hù dọa, song vẫn không có hiệu quả. Một tên đại úy chĩa súng vào ngực một người hăng hái nhất dọa bắn, thì ngay lập tức bị một cái vỗ vai rất mạnh. Một anh lính trẻ kè nòng súng vào sườn tên sĩ quan nói cộc lốc: "nè đại úy, bà già tôi đó!". Tất cả lính chung quanh cũng nhìn nó hầm hầm. Biết rằng, nếu làm quá sẽ được "lãnh đủ" đạn của lính mình, tên đại úy giơ hai tay lên trời, bất lực bỏ đi, các sĩ quan khác thấy nguy cũng bỏ đi nốt. Như rắn mất đầu, cả hai tiểu đoàn bảo an bị rã ngũ, mất sức chiến đấu. Cuộc càn dự kiến vào sáng hôm sau bị hoãn lại. Chúng phải điều động lực lượng biệt động ở nơi khác đến thay thế, nhưng hai hôm sau lực lượng chiếm lại Vĩnh Kim vừa chạm súng với ta đã mất tinh thần, tháo chạy. Trong thành công này, cũng có dấu ấn của anh Sáu Phú. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:22:03 pm 4- Sau Vĩnh Kim, chủ lực của Miền xuống. Các anh Bảy Cống (Đồng Văn Cống), Hai Nghiêm, Ba Thắng đều xuống theo Sở chỉ huy nhẹ của R (Bộ Tư lệnh Miền), tôi được lệnh rời Sở chỉ huy tiền phương Khu 8 về đi với các anh đó. Chia tay nhau má rất bịn rịn. Tuy ở cạnh nhau tính tròn 4 tháng, khói lửa chiến đấu ngút trời, nhưng tưởng như đã ở cùng nhau nhiều năm.
Chúng tôi thân nhau vì lý tưởng chung, song cũng có một phần giống nhau là cả hai đều là hội viên của "Hội những người thích đùa". Sau này, có nhiều đồng chí trẻ và cả con trai tôi nữa biết danh "Sáu Phú" một vị tướng trận mạc nổi tiếng đều ít nhiều có hình tượng: Đó là một con người "mặt sắt đen sì" hoặc là "hét ra lửa". Tôi cười và cải chính lại: "Đó là vị tướng có diện mạo đẹp trai, uy nghi, mặt đẹp, mắt to, lông mày xếch, tiếng nói sang sảng, khi chỉ huy chiến đấu thì rất đường bệ, song trong đời thường lạ rất hiền, yêu dân, thương lính và thích đùa rỡn, rất có duyên, nói theo tiến Bắc là rất "hóm hỉnh", kể chuyện tiếu lâm và nói lái là bậc thầy". Nếu sinh vào thời bình, mà diễn "hài" thì các nghệ sĩ Bảo Quốc, Vân Dung, Hồng Vân chắc đều phải tôn là "sư phụ". Anh không chỉ đùa rỡn khôi hài trong đời thường, mà cả trong lúc chiến đấu ác liệt và đôi khi cả trong hội nghị đang bàn những vấn đề lớn và khi mọi người cười rũ thì mặt anh vẫn tỉnh khô. Xin kể lại một vài chuyện vui nho nhỏ để các bạn trẻ và cả các con, các cháu anh hiểu thêm phần nào về tính cách của anh. Vở hài kịch trên sóng vô tuyến "PRC 25": Đó là vào khoảng cuối tháng 3 năm 1972, sau khi các lực lượng bảo an của Kiến Tường và Định Tường vào giải vây cho Kinh Quận bị ta tiêu diệt nặng, địch đưa lực lượng sư đoàn 7 vào cuộc. Lực lượng tiến vào khoảng 1 trung đoàn. Vì là chủ lực, chúng được phi pháo yểm trợ mạnh hơn, song lại không thạo địa hình bằng bọn bảo an, tiến chậm hơn song tiến rất có bài bản để chống bị phục kích, về ta, anh Sáu Phú cũng quyết định đưa gần hết hai trung đoàn bộ binh với hỏa lực đi cùng thật mạnh để tiêu diệt chúng. Tạo thế mãi từ 3 giờ sáng đến 11 giờ mới hình thành thế bao vây hoàn chỉnh, các lực lượng của ta mới chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công xong. Cái khó nhất là giai đoạn tiếp cận để xung phong, vì đội hình địch đi dài hàng cây số, song toàn đi giữa đồng trống muốn xung phong được thì bộ đội phải "long kinh" khá xa, nếu bị địch phát hiện sớm dùng pháo bắn chặn quyết liệt thì coi như "hỏng ăn". Nguy hiểm nhất là chiếc máy bay trinh sát, nó vòng đi lượn lại trên đầu để chỉ điểm cho pháo bắn yểm trợ và quan sát động tĩnh của quân ta. Chúng tôi theo dõi diễn biến khá căng thẳng, cơm mang đến cũng chẳng ai muốn ăn. Giữa lúc đó, đồng chí trinh sát kỹ thuật, gỡ tai nghe nói: "Thưa, thằng sư trưởng sư 7 đang ở trên máy bay để chỉ điểm cho pháo bắn". Anh Sáu bảo: Đưa máy đây cho mình. Thế là "màn hài kịch" bắt đầu. Đã qua mấy chục năm, tôi chỉ còn nhớ ý chính của màn kịch đó. Nếu mà ghi âm được để lại cho đời sau thì vui biết mấy! Tên sư trưởng sư 7 của quân ngụy, vốn có duyên nợ với Sáu Phú. Năm 1963 lúc còn là đại úy đồn trưởng, thì đồn của nó bị Tiểu đoàn Ấp Bắc (261) do Tiểu đoàn trưởng Sáu Phú chỉ huy, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Riêng hắn do chui xuống "cầu tiêu" ẩn nấp, thoát được. Bốn năm sau, là chỉ huy trung đoàn hắn cũng suýt chết, bỏ cả xe M113 tháo chạy, mất cả mũ mão, lon, sao. Và bây giờ năm 1972 gặp lại nhau. Vì vậy hắn hận Sáu Phú tận xương tủy và cũng sợ Sáu Phú như sợ cọp. Khi anh Sáu vừa mở máy kêu tên hắn, hắn đã nhận ra ngay. Câu đầu tiên của hắn: "Sáu Phú hả, tên Việt cộng mắc dịch". Anh cười tủm tỉm nhìn chúng tôi, vừa trả lời trên máy "Ừ, ông cố nội mày đây, nhưng sao đến giờ đầu mày vẫn còn thúi vậy?". Qua giọng nói của hắn biết hắn cay cú lắm dùng đủ các loại từ xấu xa chửi rủa. Ngược lại vẫn tươi cười nhìn chúng tôi, khi thấy chừng hắn đã mỏi mồm lại chêm một câu thật đau, làm cho hắn lại phát điên, phát cuồng. Quá giận mất khôn, hắn tắt luôn tần số liên lạc với pháo và bọn bộ binh ở dưới mặt đất để tham gia vào cuộc cãi, chửi lộn bậy. Còn anh miệng và tai vẫn đối phó với hắn song dùng "ký hiệu tay" cho anh Tám Kiều và các sĩ quan tác chiến đang ôm điện thoại đôn đốc các mũi tiến công tiếp cận nhanh để chiếm lĩnh tuyến xuất phát xung phong. Khi mọi việc chuẩn bị đã xong, anh Tám Kiều xin cho lệnh nổ súng, anh gật đầu. Thế là tất cả hỏa lực đi cùng, cối, ĐKZ, trung liên, đại liên dội lửa vào đội hình địch. Quân ta chia nhiều mũi xung phong đánh tan tác đội hình địch suốt chiều dài mấy cây số. Tiếng súng bộ binh, lựu đạn rền vang. Chỉ cần nghe tiếng AK nổ cũng đã đoán được quân ta đã làm chủ được chiến trường. Khi đó tên sư trưởng biết bị mắc lừa, vội đổi tần số để về chỉ huy quân, thì anh lại cho dò tần số và lại chen ngay vào khiêu khích nó. Khác với lúc đầu nó cố gắng ít nói, tránh trả lời để còn lo việc cứu nguy cho quân lính đang chạy tan tác. Thì anh lại nói liên tục, nói rất đau, khiến nó không thể không nổi điên. Khi dò tần số vô tuyến điện, bắt được tần số pháo, anh hạ lệnh "Ngừng bắn", khi gặp quân kêu cứu thì anh nói "Còn đánh chác mẹ gì nữa, phất cờ trắng mà đầu hàng di". Bọn địch thì chẳng biết ai ra lệnh nhưng tên sư trưởng thì quýnh hẳn hoi. Tiếng hắn gào trong máy: "thằng Sáu Phú đấy, nó phá đấy không được nghe". Màn hài kịch đó làm cho các "thính giả bất đắc dĩ" chúng tôi cười rũ rượi nhưng riêng anh chỉ cười tủm tỉm. Tôi viết cũng đã dài. Như mở đầu tôi đã viết, cuộc đời chiến đấu của anh rất dài và rất phong phú, tôi chỉ trực tiếp ở cạnh anh bốn tháng, vì vậy chỉ dám góp một vài chuyện nhỏ để thêm phần minh họa về anh. Thời gian đã trên 36 năm, tuổi đã cao, trí nhớ suy giảm, tài liệu gốc không có, chắc chắn khi kể lại có thể có thiếu sót. Rất mong các anh, chị ở chiến trường Khu 8 cũ, khi đọc nếu thấy có sai sót xin lượng thứ và đính chính lại cho. Để kết thúc cho bài viết của mình, tôi có gọi điện cho đồng chí Nguyễn Hữu Nguyên, một đồng đội cựu chiến binh hiện ở thành phố Hồ Chí Minh cho tôi một nhận xét về anh Sáu Phú. Anh Nguyên quê gốc Hà Nội, từ năm 1965 đến 1975 chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 trên chiến trường miền Nam, đặc biệt năm từ 1970 đến 1972 đều ở Mỹ Tho, biết nhiều về anh Sáu Phú. Sau 1978 anh chuyển sang làm sử, học sử và nay trở thành một tiến sĩ sử học được nhiều người biết đến ở thành phố Hồ Chí Minh Khi nghe câu hỏi của tôi, anh từ tốn trả lời một ngôn ngữ rất "học giả": "Đánh giá về anh Sá Phú ư? Theo em (anh kém tôi 12 tuổi) trong kháng chiến chống Mỹ oanh liệt của dần tộc ta anh Sáu Phú là một trong những con cá kình có lẽ là cá lớn nhất của dòng sông Tiền". Tất nhiên, "mọi sự so sánh đều khập khiễng" song riêng tôi, tôi hoàn toàn tán thành "lời so sánh" của anh Nguyên, và coi nó là một nén nhang kính viếng hương hồn anh và là một món quà tinh thần kính tặng chị Sáu và các con cháu của anh Sáu Phú và chỉ nhắn các cháu "hãy tự hào và sống xứng đáng với ông cha mình". Hà Nội, tháng 9 năm 2008 Nguyễn Đồng Thoại Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 12 Tháng Tám, 2026, 08:23:42 pm THIẾU TƯỚNG TRẦN MINH PHÚ NGƯỜI CHỈ HUY ĐỂ LẠI CHO TÔI NHIỀU KỶ NIỆM ĐẸP Trung tướng Trần Phi Hổ Thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi chiến đấu công tác ở miền. Tây Nam Bộ (Khu 9 cũ) đồng chí Sáu Phú hoạt động ở chiến trường miền Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ), do vậy chưa được quen biết nhau. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hai quân khu sáp nhập và những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới Tây - Nam của Tổ quốc; làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia, tôi chỉ được nghe đồng chí Trần Minh Phú, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mặt trận 979 là một cán bộ quân sự có tài chỉ huy đánh giặc nhưng vẫn chưa một lần gặp mặt. Mùa khô năm 1984 - 1985 tôi vừa nhận chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 Sư đoàn bộ binh 339, thì khoảng tháng 7 năm 1984 trung đoàn nhận lệnh của quân khu và Mặt trận 979 nhanh chóng hành quân từ tây đèo Đá trên đường 56 (Pua Sát) về hướng biên giới Campuchia - Thái Lan đến Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979 ở Năm Nhà nhận nhiệm vụ chiến đấu đánh dịch, khôi phục các trận địa phòng ngự ở đồi Không Tên, điểm cao 954 và 1004... do Trung đoàn 14 bạn chốt giữ bị địch đánh chiếm, uy hiếp trực tiếp đến Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979. Khi tôi được anh em liên lạc và tác chiến đưa đến Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận thì ấn tượng đầu tiên gây cho tôi sự chú ý là dưới tán che phủ kín đáo của tầng tầng lớp lớp cây rừng hiện ra một khu công sự, hầm hào, lán trại rất ngăn nắp và kiên cố. Nhưng ấn tượng mạnh hơn và gây cho tôi sự bất ngờ thú vị là đồng chí Sáu Phú - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979. Là người chỉ huy cao nhất tại Sở chỉ huy tiền phương, đồng chí Sáu Phú với dáng người cao to, trắng trẻo, vận quân phục gọn gàng phong thái rất uy nghiêm bước ra đón và bắt tay tôi, đồng thời hướng dẫn tôi đi ngay vào Chỉ huy sở để làm việc. Ở tại cơ quan chỉ huy tiền phương Mặt trận trong rừng sâu xa xôi mà tác phong của ông vẫn chính quy nghiêm trúc nhưng lại tạo cho tôi một cảm giác rất gần gũi, không thấy có khoảng cách. Tình hình chiến sự rất gấp nên ông và tôi không có thời gian trò chuyện, ông tiến về phía tấm bản đồ quân sự vừa chỉ và nói về tình hình địch, tình hình ta và những diễn biến chiến đấu thời gian gần đây những tình huống sẽ xảy ra và yêu cầu nhiệm vụ của Trung đoàn bộ binh 9 của tôi. Tôi chăm chú lắng nghe và ghi chép vào sổ và như nuốt lấy từng lời của ông, cách nói và diễn đạt của ông rất ấn tượng, ngắn gọn nhưng đầy đủ, súc tích và dễ hiểu. Tôi có cảm nghĩ với ánh mắt nhìn nghiêng, chiếu những tia nhìn về phía tôi, vừa giao nhiệm vụ ông vừa có ý thăm dò, quan sát xem người Trung đoàn trưởng có vẻ còn rất trẻ (lúc này tôi mới ngoài 28 tuổi, bị sốt rét da trắng xanh, nặng 45 kg giống như cậu học sinh trung học) mà ông chưa hề biết về tôi trước đó. Để xem người chỉ huy cấp dưới (lần đầu mới gặp) có khả năng hoàn thành nhiệm vụ ra sao? Tuy có cảm giác bị ông thăm dò về ý chí quyết tâm nhưng sao tôi lại thấy như được khích lệ động viên muốn được báo cáo giãi bày chứ không bị lúng túng. Cảm xúc của tôi lúc ấy thật khó tả, chỉ biết như ở ông một người chỉ huy cấp trên đã truyền sang cho tôi một nghị lực tinh thần mới; tôi đứng lên và báo cáo: - Thưa thủ trưởng lần đầu tiên được gặp thủ trưởng và đây cũng là lần đầu tiên thủ trưởng được gặp và chỉ huy Trung đoàn bộ binh 9 chiến đấu (vì trước đó Sư doàn 339 hoạt động ở mặt trận khác). Đơn vị chúng tôi đã chiến đấu nhiều trận với đối tượng địch ở đây và chúng cũng biết rất rõ về phiên hiệu khả năng tác chiến của Trung đoàn 9, nên từ khi nhận được lệnh của chỉ huy chiến dịch điều trung đoàn vào khu vực này, dọc đường hành quân tôi đã cho thông tin tắt hết máy VTĐ liên lạc chỉ huy đơn vị hành quân bằng hợp đồng ký ám hiệu, do đó vẫn giữ được tuyệt đối bí mật. Tôi xin hứa với Thủ trưởng, đơn vị sẽ hoà thành nhiệm vụ cùng với các đơn vị bạn đánh bật bọn địch ra khỏi khu vực các điểm cao mà chúng đang chiếm giữ. Sau đó tôi trình bày kế hoạch tác chiến của trung đoàn và hướng sử dụng lực lượng (Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 5 thiếu 1 đại đội) vào các mũi tiến công. Nghe tôi báo cáo xong, đồng chí Sáu Phú hỏi: Kế hoạch triển khai như vậy, đơn vị đồng chí có những khó khăn trở ngại gì không? Đồng chí có bảo đảm bộ đội chiến đấu giành thắng lợi không? Tôi báo cáo về tình hình tư tưởng quyết tâm của đơn vị và một số khó khăn về sức khỏe bộ đội, bị sốt rét rất nhiều, nhưng hiện tại anh em đã hồi phục khá, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh và đơn vị có sở trường chiến đấu vận động tiến công tốt nên tôi tin là đơn vị sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Sáu Phú tỏ vẻ yên tâm, nở một nụ cười rất ấn tượng và động viên tôi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả sau hai ngày chiến đấu tại các điểm cao 954, 1500, 1004 và đồi Không Tên Trung đoàn 9 đã hoàn thành tốt nhiệm vu chiến đấu thắng lợi có nhiều nguyên nhân, nhưng tại đợt hoạt động này, tôi có cảm nhận chính từ phong cách, tài năng chỉ huy và lòng tin vào cấp dưới một cách có cơ sở khoa học quân sự đồng chí Sáu Phú đã truyền cho chúng tôi niềm tin và sức mạnh để vượt qua khó khăn và chiến đấu thắng lợi. Trong đợt hoạt động ở phía tây đường 56, khu vực giáp biên giới Campuchia - Thái Lan từ tháng 17 đến tháng 10 năm 1984 tôi còn có nhiều lần trực tiếp nhận nhiệm vụ và liên lạc bằng điện đài với đồng chí Sáu Phú để chỉ huy đơn vị chiến đấu, cả lúc luồn sâu vào căn cứ của địch đánh những trận kết quả hiệu suất rất cao, thu nhiều vũ khí còn mới tinh của địch. Tôi đã nhận được ở đồng chí Sáu Phú một tình cảm lớn lao, sâu đậm Thời gian này tôi bị sốt rét rất nặng, trước khi vào chiến dịch đã bị "đái huyết cầu tố" điều trị mới ổn định, nhưng da còn xanh. Những lần gặp sau một đợt hoạt động. Đồng chí Sáu Phú đều quan tâm hỏi thăm sức khỏe của tôi. Tôi nhớ mãi lần đến Sở chỉ huy ông ân cần rót cho tôi một cốc nước nấu với sâm rừng pha chút đường, khuyên tôi nên dùng để bồi bổ sức khỏe và hướng dẫn anh em đơn vị tranh thủ lúc rảnh rỗi tìm đào sâm rừng phơi khô, nấu nước cho bộ đội uống để tăng cường sức khỏe. Thật sự lúc này tôi không còn cảm thấy ôn một vị chỉ huy quân sự "khét tiếng" nữa mà như người chú, người cha chăm lo đến những đứa con, đứa cháu trìu mến. Tác phong, đức tính giản dị chân thành của ông cộng với những tài năng quân sự, bề dày trận mạc mà ông trải qua đã cảm hóa, thuyết phục lớp cán bộ, chỉ huy cấp dưới của ông. Chúng tôi luôn lấy hình ảnh của ông như một tấm gương "thần tượng" để mà phấn đấu noi theo. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia trở về Tổ quốc, từ năm 1990 ông với cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9, còn tôi được đề bạt Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 339 (từ năm 1994 chuyển thành Sư đoàn 8). Lúc nào có dịp gặp nhau chủ yếu trong mối quan hệ công tác, ông đều dành cho đơn vị và cá nhân tôi một tình cảm thật đẹp và ấm áp. Tôi nhớ năm 1992 khi đơn vị về đóng quân ở căn cứ Trần Quốc Toản (Cao Lãnh - Đồng Tháp), cơ sở vật chất đời sống bộ đội vô cùng khó khăn. Tôi đề xuất với Ban chỉ huy sư đoàn về Cà Mau (quê tôi) xin đất cho đơn vị nuôi tôm cải thiện đời sống. Lúc này đồng chí Tư Châu - Sư đoàn trưởng, đồng chí Chín Chí - Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị - Bí thư Đảng ủy sư đoàn, nhưng không ai dám quyết định. Gặp lúc đồng chí Sáu Phú - Phó Tư lệnh quân khu xuống kiểm tra huấn luyện, chúng tôi báo cáo ý định sản xuất tôm ở Cà Mau, ông nghe xong là tỏ thái độ đồng tình và khuyến khích sư đoàn nên làm vì đây công việc có ích cho đơn vị, sản xuất làm ra của chất cho xã hội, không có gì phải lo. Ông còn kể chuyện năm 1976 - 1977, lãnh đạo Sư đoàn 8 ra khai hoang phục hóa Đồng Tháp Mười sản xuất lúa gạo cho đất nước, với bao nhiêu vất vả khó khăn và 7 những ý kiến trái ngược nhau, nhưng điều quan trọng là hiệu quả kinh tế xã hội. Ngày sư đoàn sáp nhập thành Sư đoàn 8 về căn cứ Đồng Tâm - Mỹ Tho cũng vậy. Ông cùng với đồng chí Tư lệnh quân khu Nguyễn Đệ (Ba Trung) xuống động viên khích lệ sư đoàn trồng vườn cây ăn trái với mấy chục nghìn gốc xoài, nhãn phủ xanh doanh trai và có thu nhập từ nguồn trái cây. Đến nay vườn cây vẫn đang cho kết quả tốt. Đối với Thiếu tướng Trần Minh Phú, ông là một cán bộ quân sự có tài chỉ huy đánh giặc, là cán bộ "Quân sự - Chính trị" song toàn. Trong cuộc sống đời thường, ông sống rất giản dị và nhân văn, thương yêu hết mực chiến sĩ và cán bộ cấp dưới. Ông đã bao lần rơi nước mắt khi cán bộ, chiến sĩ dưới quyền hy sinh. Với bạn bè, làng xóm, anh em ông sống rất mực nghĩa tình, thủy chung. Đối với tôi, Thiếu tướng Trần Minh Phú mãi mãi là tấm gương, là người cha, người chú lớp người đi trước đầy trách nhiệm với thế hệ đi sau, mặc dù ông đã đi xa (từ trần năm 2003), cũng từ tấm gương của ông đã nuôi dưỡng niềm tin và trách nhiệm cho tôi và biết bao đồng chí khác noi theo, yêu mến sư nghiệp cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, ra sức phấn đấu trưởng thành được như ngày hôm nay. Thật sự có công của những người chỉ huy cấp trên như ông, đây là một kỷ niệm đẹp không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Trần Phi Hổ (Ba Hổ) Tư lệnh Quân khu 9 Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:28:26 pm NGƯỜI CHÚ, NGƯỜI ANH, NGƯỜI CHỈ HUY MÀ TÔI VÔ CÙNG NGƯỠNG MỘ Thiếu tướng Nguyên Văn Lưỡng Tôi nhập ngũ vào lực lượng vũ trang tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) năm 1963. Qua một thời gian liên tục chiến đấu công tác, năm 1969 tôi được đề bạt chức Đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 514C. Hồi ấy tôi còn rất trẻ, tuổi mới mười tám đôi mươi, nghe cán bộ cấp Khu xuống vừa mừng, vừa lo, vì nghe nói "cán bộ Mùa Thu" khó tính lắm. Lúc này đồng chí Sáu Phú là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp 1. Mới chỉ nghe về người chỉ huy quân chủ lực Khu tài về chỉ huy đánh giặc đã "mê" lắm rồi, dù tôi là chỉ huy cấp nhỏ ở địa phương. Cuối năm 1969 tôi được gặp anh trong chiến đấu, trong hội nghị và cả trong cuộc sống, công tác. Từ đó đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp về "anh mà chú". Không chỉ có thế, chính anh đã dành tình thương của người đi trước dìu dắt tôi, chỉ bảo cách đánh, phong cách làm người chỉ huy, vì tôi còn quá trẻ, mà theo anh là cần đặc biệt dạy dỗ. Chính sự quan tâm dạy dỗ của anh và các anh, các chú đã thôi thúc tôi từ trong lửa đạn và cuộc sống của người chiến chinh để phấn đấu và trưởng thành như ngày hôm nay. Lần đầu tôi được gặp đồng chí Sáu Phú trong cuộc hội nghị của Quân khu 8, triển khai kế hoạch mở chiến dịch ABC. Chiều hôm ấy chú Tám Thành (Nguyễn Văn Thành, Tỉnh đội trưởng tỉnh Mỹ Tho) cùng một chú khác (trong đó có tôi) đến trước 14 giờ, địa điểm họp là rạch Cả Han, xã Mỹ Đức Tây, huyện Cái Bè trong một khu vườn rậm rạp, được xây dựng hầm hào cẩn thận, bố trí phòng họp nghiêm trang và rất bí mật. Đang ngồi chờ đợi thì có một người cao to trắng trẻo, tóc cắt cao đi trước, phía sau một người thâm thấp đeo kính cận tay cầm máy chụp hình xuất hiện; gặp nhau các chú, các anh mừng rỡ hỏi chào Người cao to quay sang tôi và hỏi: Chú em mày là bảo vệ các anh Tỉnh đội Mỹ Tho à? Chú Tám Thành liền đỡ lời, báo 2 anh đây là đồng chí Sáu Lưỡng tác chiến Tỉnh đội đó. Người cao to nói ngay: có ai nói chú này là cán bộ chỉ huy không mấy ông?; người đeo kính nói: vậy tao với chú mày cùng nghề Tác chiến nhưng tao Tác chiến lớn, chú mày Tác chiến nhỏ. Các anh, các chú đều cười khà. Tôi thì vừa mừng, vừa sợ không biết mình phải nói gì. Qua trò chuyện trao đổi tôi được biết người to, cao, trắng trẻo, tóc hớt cao là chú Sáu Phú - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp 1, người đeo kính là chú Tám Kiều - tác chiến Quân khu 8. Thành phần hội nghị có nhiều chú trong Bộ Tư lệnh tham dự như: chú Tám Phương (Lê Quốc Sản) chú Ba Thắng và các chú trong cơ quan quân khu mà tôi chưa được biết bao giờ. Gặp các chú, các anh lãnh đạo chỉ huy là một vinh dự lớn đối với tôi, đồng thời rất vui mừng thấy các anh, các chú thật uy nghi, chững chạc, nghiêm túc, nhưng rất cởi mở, thân tình. Tôi được nghe kể nhiều chuyện về chú Sáu Phú, Ba Cang, Tám Kiều, Võ Hoàng Tiến... Trong hội nghị, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 phân tích chỉ đạo chuyển phương thức tác chiến với chủ trương mở cao điểm tiến công tổng hợp lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt đặc biệt là vai trò của bộ đội tập trung Quân khu 8 cùng lực lượng vũ trang địa phương trong đánh địch tạm chiếm vùng giải phóng. Dự hội nghị này tôi là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Mỹ Tho đi phục vụ thủ trưởng. Vào hội nghị hình như chú Sáu Phú có để ý về tôi, một trợ lý tác chiến "còn rất trẻ" bởi lẽ lúc bấy giờ phần lớn là cán bộ lớn tuổi, có độ dày kinh nghiệm còn tôi thì quá nhỏ. Nghỉ giải lao chú Sáu Phú đến bên tôi hỏi thăm tình hình Ban Tham mưu Tỉnh đội và cơ quan Tác chiến được mấy người? Tôi phụ trách mảng công tác gì? Tôi báo cáo chú! nè bộ đội không gọi là chú cháu, mà phải gọi bằng anh; anh là Sáu Phú. Tôi vừa sợ nhưng cũng rất vui và tôi gọi bằng anh Sáu Phú từ đó. Đang trò chuyện C4 chú trong Bộ Tư lệnh đi qua, anh Sáu Phú giới thiệu. Đây là thằng Sáu Lưỡng Tác chiến Mỹ Tho, trong hội nghị này nó thuộc loại "tí hon". Chú Ba Thắng bắt tay tôi rồi ân cần bảo: "Chú là cán bộ rất trẻ, tốt lắm, cô" gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ". Nghe nói vậy, lòng tôi như mở hội. Trở về Tỉnh đội triển khai nhiệm vụ cho các đơn vị, địa phương, tôi được đề bạt giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 514C. Cùng đoàn cán bộ của tỉnh chuẩn bị chiến trường đông lộ 12, bắc lộ 4 (thường gọi mảng 3 Cai Lậy bắc). Tôi được biết có đoàn cán bộ Trung đoàn Đồng Tháp 1 cũng đi chuẩn bị chiến trường phía tây lộ 12. Như vậy bắc lộ 4 từ hướng đông lên: phía trước là bộ đội địa phương, phía sau là lực lượng tập trung của Khu, chúng tôi rất phấn khởi. Đột nhiên tình hình diễn biến hết sức phức tạp, địch tổ chức đánh phá ác liệt vào những khu vực dự kiến Sở chỉ huy, các khu trú quân, nhưng rất may lực lượng ta chưa triển khai theo kế hoạch. Cũng thời gian này trên thông báo: Mười T, Tỉnh đội phó Tham mưu trưởng Tỉnh đội do hèn nhát ra chiêu hồi đầu hàng địch, chỉ điểm cho địch đánh phá ác liệt. Các cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình thực tế để luồn lách, tránh địch đánh phá. Tiểu đoàn 514C được lệnh nhanh chóng cơ động rời mảng 3 xuống đông kênh Nguyễn Tấn Thành thuộc Châu Thành bắc. Sở chỉ huy quân khu cũng phải phân tán. Sau khi đầu hàng, Mười T đã cung cấp cho địch mọi tình hình, trong đó có cách đánh của ta để địch đối phó bước đầu có hiệu quả (có lúc ta lúng túng trước diễn biến của tình hình). Là một cán bộ trực tiếp chiến trường, anh Sáu Phú chủ động nghiên cứu nhiều phương thức đấu tranh, kết hợp giữa tác chiến với vận động quân chúng; thực hiện 2 chân (quân sự chính trị); 3 mũi (quân sự, chính trị, binh vận) để từ thế bị động giành lại thế chủ động và tiến công địch. Lấy kết quả đánh địch trên chiến trường để chứng minh một cách sinh động những quan điểm tư tưởng và phương thức tác chiến mà anh đã nêu ra. Để đạt được nhận thức và thống nhất cao là một quá trình, vì vậy trên chiến trường Mỹ Tho vào cao điểm sau các địa phương khác gần 2 tháng. Trước tình hình trên, việc đưa ra phương án tác chiến cách đánh..., bàn và thuyết phục lãnh đạo địa phương tin vào cách đánh ở thời điểm này không phải là dễ dàng. Bằng lý lẽ khách quan, khoa học và đặc biệt bằng ý chí và niềm tin của mình, anh đã thuyết phục được mọi người. Mỗi lần phối hợp với địa phương anh đều nghiên cứu cụ thể, tỉ mỉ tình hình các mặt ta, địch trên chiến trường. Bằng cảm quan nhạy bén và bản lĩnh chỉ huy của mình; anh đã làm cho lãnh đạo quân, dân, chính, đảng ở địa phương và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tin yêu. Riêng tôi thì đầy cảm phục về phương pháp chỉ huy mà mãi sau này tôi mới nhận thức một cách đầy đủ. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:29:10 pm Có lần đang bàn cách đánh đồn địch nhưng do ta thiếu hỏa lực nên rất khó khăn, anh nói với tôi một câu mà đến nay tôi còn nhớ mãi: "Nếu đánh giặc dễ thì người nông dân đã làm rồi, cần gì đến những cán bộ quân sự được đào tạo rèn luyện như tụi mình". Tôi thấy ở anh một cán bộ chỉ huy đầy tâm huyết, rất tin tưởng và yêu thương chú trọng bồi dưỡng những cán bộ trẻ có năng lực và có ý chí chiến đấu. Tôi là một trong những người được anh quan tâm bồi dưỡng trong thực tiễn, dù lúc ấy tôi không phải là cán bộ đơn vị chủ lực của quân khu, mà chỉ là cán bộ đơn vị địa phương Tỉnh đội Mỹ Tho. Với cương vị là Tham mưu trưởng Quân khu 8, anh góp ý kiến với Ban chỉ huy Tỉnh đội Mỹ Tho sử dụng đơn vị tôi vào những đợt thọc sâu xuống vùng Phú Mỹ, Tân Hương, nam thị xã Tân An từ 7 - 10 km (trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972 - 1973) để căng kéo địch. Không phụ lòng tin của anh và của cấp trên tôi đã tận dụng mọi thuận lợi, khắc phục mọi khó khăn, đã chỉ huy đơn vị bám trụ suốt 3 tháng ròng, cơ động đánh nhỏ lẻ có trận diệt một đại đội địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được tỉnh và Bộ Tư lệnh quân khu đánh giá cao. Đến năm 1973, tôi được bổ nhiệm Tham mưu phó Tỉnh đội phụ trách Tác chiến, lại có điều kiện gặp anh thường xuyên hơn. Sự giúp đỡ, bồi dưỡng cua anh và các chú, các anh trong Tỉnh ủy, Tỉnh đọi là điều kiện thuận lợi để tôi ngày càng trưởng thành trong đời binh nghiệp.
Sau chiến dịch Nguyễn Huệ, Quân khu 8 tổ chức hội nghị tổng kết. Trước Tư lệnh quân khu và lãnh đạo các địa phương Khu 8, đồng chí Tham mưu trưởng Trần Minh Phú nói vui: Lẽ ra phải gọi chiến dịch này là chiến dịch "Nguyễn Văn Huệ" vì nó kéo quá dài hơn 1 năm, thật bất ngờ mọi người cười rất thoải mái. Cũng trong hội nghị này anh đã phân tích vai trò của bộ đội chủ lực (có Sư đoàn 5 chủ lực R) để lãnh đạo địa phương đánh giá cho đúng. Mặc dù thời kỳ này chủ lực rất khó tổ chức một trận đánh then chốt vì vậy có một số người suy nghĩ: chiến dịch Nguyễn Huệ không đạt mục tiêu đề ra. Tôi nhớ anh Sáu Phú phân tích vai trò của bộ đội chủ lực trong thế trận "da báo". Chủ lực ta xuống chiến trường trọng điểm là tạo thế và lực cho lực lượng địa phương phát huy sức mạnh chiến đấu trong chiến tranh du kích, mà theo anh là một bước ngoặt ở đỉnh cao của chiến tranh nhân dân địa phương. Cách nhìn của anh Sáu Phú về chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương rất khách quan. Tùy tình hình và điều kiện cụ thể để sử dụng lực lượng nào chủ yếu, vai trò vị trí của mỗi lực lượng có một vị trí khác nhau, mà có chung một mục tiêu phải chiến thắng kẻ thù. Ở anh không có khái niệm "tranh công đổ lỗi, khen chê theo cảm tính" mà rất bao dung. Kỷ niệm của tôi với anh Sáu Phú trong thời kỳ chống Mỹ là như vậy, nhưng đó là những kỷ niệm trong chiến đấu, còn khi hoà bình Sư đoàn 8 lên làm kinh tế khai hoang Đồng Tháp Mười, lúc này sáp nhập Quân khu 8 vào Quân khu 9. Các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công thành tỉnh Tiền Giang tôi giữ chức Tham mưu phó phụ trách Tác chiến tỉnh mới. Có lần tôi được Tỉnh đội phân công đi kiểm tra 2 tiểu đoàn của tỉnh làm kinh tế. Lúc đầu rất khó khăn, không biết làm lúa trên đất chua phèn như thế nào (tuy xuất thân từ nông dân nhưng anh và tôi đều đi tham gia kháng chiến từ nhỏ) không có kinh nghiệm gi về sản xuất lúa. Khi đến thăm anh ở Lò Gạch, hiểu những khó khăn của anh em, mở đầu anh bảo: "Mày muốn biết làm lúa trên đất phèn ở đây thì đi tìm mấy ông già nông dân mà hỏi thì làm được thôi". Thật là thực tiễn, tuy giản đơn mà chúng ta lại học ở anh một bài học trên mặt trận sản xuất. Một lần khác khi tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 Sư đoàn 339 đứng chân hoạt động trên đường 56 (Pua Sát), lúc này anh Sáu Phú là Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979, gặp tôi anh tâm sự: "Anh nhớ chú mày quá nhưng không có điều kiện, anh đi chuyến này vào đây là mong gặp chú em", rồi anh trải lòng mình với tôi về những trăn trở suy nghĩ về tình hình tư tưởng bộ đội, anh nêu ra nhiều ý kiến phân tích sát với thực tế. Anh bảo: Hồi tụi mình đánh Mỹ được trang bị như bây giờ chắc chúng bại trận sớm hơn năm 1975. Chú mày cần chú ý, có trang bị vũ khí tốt chưa đủ, mà phải làm công tác tư tưởng tốt thì đơn vị mới hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi tin ở anh là một người anh, người chỉ huy quân sự năng động, đồng thời là một cán bộ làm công tác chính trị rất sâu sắc. Dù trong lao động sản xuất, xây dựng đơn vị hay làm công tác giúp bạn, anh đều nêu cao trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, làm hết sức mình, không so đo, tính toán. Tôi đã nghe nhiều nhận xét về anh, một cán bộ tài năng, có năng lực toàn diện, nhưng luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu cấp dưới. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Campuchia về nước (năm 1989) anh giữ cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9 phụ trách mảng công tác quân sự địa phương, thì tôi là Phó chỉ huy trưởng và sau đó là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang. Được cùng anh nghiên cứu tổ chức diễn tập chuyển phương thức từ xây dựng pháo đài cấp huyện sang "Khu vực phòng thủ", nhiệm vụ A2 phòng chống chiến lược phá hoại nhiều mặt. Là một cán bộ quân sự chỉ huy bộ đội chủ lực hầu như chuyên về Tác chiến chính qui, nhưng ở anh đã nghiên cứu công tác quân sự địa phương khá sâu, anh phân tích đóng góp vào phương án phòng thủ (khu vực) phù hợp, chính là một bước ngoặt trong tư tưởng chỉ đạo chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Năm 2004 tôi với cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9 phụ trách mảng quân sự quốc phòng địa phương (đúng vị trí công tác của anh trước đây trong những năm 1989 - 1995) tôi càng hiểu sâu thêm những đóng góp của anh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới. Kỷ niệm về tướng Trần Minh Phú đối với tôi rất nhiều. Nhớ về anh lòng tôi mãi mãi trào dâng một niềm kính phục và lúc nào cũng tôn vinh anh là một tấm gương sáng để noi theo. Một con người lúc sinh thời đã sống cống hiến hết mình cho quân đội cho lực lượng vũ trang Quân khu 9, cho quê hương đất nước, thật đáng tự hào và ngưỡng mộ biết bao và đối với tôi, anh là một vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân mà tôi tôn kính. Nguyễn Văn Lưỡng (Sáu Lưỡng) Phó Tư lệnh Quân khu 9 Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:32:02 pm VÀI KỶ NIỆM VỀ "SƯ PHỤ" CỦA TÔI Thiếu tướng Hồ Văn Sanh Người xưa có câu: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", ý muốn nói rằng, ai dạy cho mình một chữ là thầy mình, mà nửa chữ cũng là thầy mình! Trên tinh thần đó, tôi tôn anh bạn Sáu Phú của tôi lên làm "Sư phụ" thì chẳng có gì quá đáng, vì anh đã dạy cho tôi lắm cái hay trong cuộc sống đời thường và trong nhiệm vụ cách mạng. Không biết do cái duyên gì mà tôi và Sáu Phú thường ở chung đơn vị, khi tập kết ra Bắc, lúc ở chiến trường miền Nam, khi đi học ở Hà Nội và suốt cả quá trình làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia. Có lúc tôi là "sếp" của anh, có lúc anh là thủ trưởng của tôi, nhưng dù ở cương vị nào, chúng tôi vẫn là "bồ" của nhau, vì chúng tôi khá "hợp gu" nhau trong nhiều mặt. Có lẽ, tôi và anh có nhiều cái "gien" giống nhau, nhưng tôi ngẫm ra, nhiều cái "gien" của anh to khỏe hơn, của tôi thường bị còi xương ốm đói, nên anh có nhiều điểm vượt trội mà tôi phải bái phục! Có lần tôi nói với Sáu Phú: "Tôi sống với anh nhiều hơn sống với bà xã nhà tôi!". Điều này có hơi quá, nhưng đúng là tôi có nhiều thời gian sống với anh. Trong quá trình ấy, tôi thấy anh là một vị "hảo hán" rất "chịu chơi" trong nhiệm vụ, với bạn bè một "tip" người mà năm xưa được mệnh danh là "anh Hai Nam Bộ"! Sáu Phú là một "anh Hai Nam Bôn tương đối hoàn chỉnh rất biết ăn, biết nói và biết làm. Đồng thời cũng dám ăn, dám nói và dám làm chịu chơi mà có khi kẹt cũng đôi lần... "chơi chịu". Mỗi lần nhắc đến Sáu Phú, bạn bè thường nói đến thành tích chiến đấu của anh. Tôi cũng vậy nhưng tôi thường nhớ đến những chuyện vui mà Sau Phú là một kho tàng, với nhiều chuyện tiếu lâm luôn luôn được anh cải tiến, nâng cao, tô màu, phóng đại nên rất hấp dẫn. Trong các cuộc giao lưu, "loạn đàm" với bè bạn, nơi nào có Sáu Phú thì nơi đó rôm rả thu hút khách xung quanh với nhiều chuyện trên trời dưới đất, Âu - Á, cổ kim, có thật mà như bịa, bịa mà rất vui. Khi làm nghĩa vụ quốc tế, chính cái cởi mở cái vui tính của Sáu Phú là một thế mạnh để làm công tác dân vận và để gần gũi, "xáp vô" với cái ông bạn cũng rất thích thư giãn sau những chuyến công tác và những trận chiến đấu. "Lục Tà" Sáu Phú nói với bạn bằng miệng, bằng tay, bằng mắt, bằng cả toàn thân, vậy mà bạn rất thông cảm và rất thích gần gũi. Vui là vậy, nhưng khi cần thì Sáu Phú đấu tranh rất thẳng thắn, không khoan nhượng, có lý, có tình, có tính thuyết phục, có tính nguyên tắc cao. Anh cũng là một "cây" lý luận. Điều này đã được chứng minh trong các lớp học chính trị, các cuộc sinh hoạt về chủ trương, nghị quyết của Đảng. Sáu Phú là một cán bộ khá toàn diện. Tôi còn nhớ mấy việc, chứng tỏ "Sư phụ" tôi từ nhỏ đến lớn luôn là một cán bộ xông xáo, nhạy bén nhiệt tình. Năm ấy, sau đợt thi đua trong huấn luyện trên quê hương miền Bắc, Ban tổng kết thi đua của Trung đoàn 660 chọn cuối cùng được 2 đại đội để bình lấy một, tặng huân chương. Đó là Đại đội 4 của Sáu Phú và Đại đội 3 của Tiểu đoàn 1. Các vị "chức sắc" ở trung đoàn bàn mãi mà không quyết định được đại đội nào trội hơn. Các vị đành hoãn cuộc họp. Đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn cười hì hì nheo mắt một cái, nói với hội nghị: - Sẽ có cách phân rõ ai hơn, nhứt định là có cách, có cách! Sáu Phú (lúc ấy còn mang cái tên cúng cơm là Trần Văn Nhiên) rất nhạy cảm với cái nheo mắt của đồng chí Tham mưu trưởng, anh cười hề hề và lặp !ại: có cách! có cách! Đêm ấy, anh tổ chức sinh hoạt văn nghệ, giữ tòan bộ đơn vị trong doanh trại và ngủ đúng giờ. Đến 10 giờ, cấp trên xuống báo động. Đơn vị tập hợp chỉnh tề sau 5 phút. Trong khi đó, ở Đại đội 3 cùng có lệnh báo động. Sau 10 phút, một số lính mới từ căn tin chạy về, áo quần xốc xệch. Đó là hiệu quả của cái nheo mắt của đồng chí Tham mưu trưởng mà Sáu Phú đã giải mã được và biến thành thủ khoa trong đợt thi đua. Trong cuộc họp đánh giá kết quả, Sáu Phú nhìn Năm Thành, Đại đội trưởng Đại đội 3, nheo mắt một cái kèm theo mấy tiếng hì hì. Năm Thành cũng là một "anh Hai Nam Bộ", hầm hừ nói: - Cái thằng khôn vặt, giỏi cho ngươi! Ta chịu thua lần này, nhưng đừng vội mừng, lần sau, ngươi sẽ biết tay ta. Hồi ấy, toàn trung đoàn chúng tôi chỉ có một cái loa công cộng nên anh em ít được nghe tin tức và nghe văn nghệ. Sư phụ Sáu Phú tôi lại có cách: Anh vận động anh em lên núi liên tục 3 ngày chủ nhật đốn củi về bán cho nhà bếp. Thế là có đủ tiền đi rinh về một cái radio hiệu Ôriôngtông mới cảo của Hungari. Để có 10 cục pin cung cấp cho nó, anh lại cho nhà bếp nuôi một con heo con. Khi khối pin trong máy sụt thế thì cục pin sống ngoài chuồng đã đủ cái thế để bán cho nhà bếp, để thay vào. Nhờ có cái Ôriôngtông này, xê bốn (Đại đội 4) lúc nào cũng vui, thu hút được nhiều quan khách ở đơn vị bạn. Học tập cách làm của xê bốn, nhiều đơn vị khác cũng vác dao lên núi và một số máy ôriôngtông lại được mang về từ Hà Nội để đưa tiếng cười lên khắp núi đồi, nơi đơn vị đóng quân. Cũng nên nhắc qua về việc "dám ăn" của "Sư phụ" tôi, anh to người nên ăn khỏe và ít khi để cho cái đói hoành hành. Lúc ấy ở trung đoàn có cái căn tin thứ bảy thường có vài món nhậu, hợp gu nhứt là hột vịt lộn. Có đêm lũ về, cầu sập - ấy vậy mà "Sư phụ" tôi dám "liều mạng" lội qua sông để mang về vài chục hột vịt lộn để cho một số "lãng tử" giải sầu trên các ngọn đồi, rồi cùng nhau hợp xướng "từ là từ phu tướng..." của bác Sáu Cao Văn Lầu trong bài Dạ cổ hoài lang, hay bài "Sầu vương biên ải" mà nghệ sĩ Út Trà Ôn đã làm rơi biết bao giọt lệ. Đó là một kiểu sanh hoạt của sư phụ tôi trong một thời "ngày Bắc, đêm Nam". Về cái "ăn", Sáu tôi có quan điểm "muốn ăn phải lăn vào bếp" và Sáu thường nghêu ngao câu Kiều được cải biên: "Nghề ăn cũng lắm công phu, muốn ăn ngon phải bỏ công ra làm". Thấm nhuần quan điểm trên, Sáu vượt sông là phải. Những việc trên, tôi không cho là chuyện "khôn vặt" như anh bạn Năm Thành. Tôi nghĩ đó là những cái cần có của một người chỉ huy, như sự nhạy bén trong tư duy, sáng kiến trong công việc, tính chủ động, tính chịu khó... "Sư phụ" tôi có những cái đó từ lúc thiếu thời, để đến khi "thừa thời", ông đã thành một người chỉ huy giỏi và được một cái "thiếu" khác là... Thiếu tướng trong quân đội ta. Những cái "nhạy" của "Sư phụ" tôi đã biểu lộ trong một tình huống sau đây: Năm 1989, sau khi rút quân về nước, bọn Pônpốt trở lại có ý định chiếm Bát Đom Bong rồi thừa cơ đánh thẳng vào thủ đô Phnông Pênh. Các đơn vị bạn lúng túng, bạn yêu cầu ta cho một lực lượng sang giúp để giải quyết tình thế. Sáu Phú đang tập huấn ở Hà Nội, được quyết định đi ngay sang Campuchia. Tôi cũng được cùng đi với anh (bằng máy bay). Đến nơi, ta mới có một tiểu đoàn trinh sát. Đến Bát Đom Bong sau khi làm việc với bạn, Sáu Phú phân công đơn vị đi "biểu dương lực lượng", cho xe đi các nẻo đường. Riêng anh thì công khai đến thăm các gia đình Việt kiều và các bà con ở địa phương. Sau đó tin đồn vang: Việt Nam trở lại. Rõ ràng có "Lục tà" Sáu Phú - mà "Lục tà" (Ông lớn) này đi thì tất nhiên có nhiều quân lắm. Lúc này địch đã đến cua chữ V, cách thị xã Bát Đom Bong không xa, chúng dừng lại để củng cố, chuẩn bị tấn công. Nhưng sau đó, chúng rút về biên giới, trong khi nhiều đơn vị của ta đã trở lại chiến trường với cái tên là "Quân đặc biệt". Các đơn vị bạn đã đứng lại được, cùng ta cứu một bàn thua trông thấy. Suy ra trong cái thắng lợi này có cái tài nghi binh của "Sư phụ" tôi, nhờ đọc Tam quốc diễn nghĩa mà bắt chước kế của Khổng Minh ngồi đàn trên cái thành không mà đối phương phải chạy. Sư phụ Sáu Phú tôi là một cán bộ có nhiều tài nhưng cũng không tránh khỏi một số tật. Ông bà ta thường nói: "Có tài thì hay có tật", đó cũng là thói thường. Cái tật của Sáu tôi có thể thông cảm được vì nó... nhỏ xíu hà! Nhiều người tài ít, tật nhiều mới là đáng sợ. "Sư phụ" Sáu Phú của tôi đã "ra đi", dù tuổi của anh còn kém cái "U 80" đã quá đát của tôi. Tôi tiếc thương anh, nhưng làm sao cưỡng lại được quy luật. Tôi mong ngày nào gặp lại anh, tôi sẽ được cùng anh ở một đơn vị nào đó để cùng nhau làm cách mạng, và tôi vẫn tiếp tục tôn anh là... "Sư phụ"! Hồ Văn Sanh Nguyễn Phó Tư lệnh Chính trị MT 979 Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:34:39 pm NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN Đại tá Nguyễn Minh Tua Anh hùng LLVT Anh Trần Minh Phú (Sáu Phú) và tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời chiến đấu giải phóng miền Nam (1960 - 1975). Tuy anh Sáu Phú mất đã 5 năm nhưng mỗi khi nhớ về những đồng đội là lòng tôi lại trào dâng với bao kỷ niệm khó quên về một người cán bộ chỉ huy quân sự tài năng ở Tiểu đoàn 261 anh hùng. Gần đây chị Sáu Phú gặp tôi có gợi ý cố gắng nhớ và viết lại vài câu chuyện chiến đấu mà tôi và anh Sáu đã trải qua gắn bó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày 20 tháng 7 năm 1959, tôi vinh dự nhập ngũ vào Tiểu đoàn 502 thuộc tỉnh Kiến Phong nay là tỉnh Đồng Tháp. Tôi ở đại đội của Út Thu, đại đội này anh Út Thu là Đại đội trưởng, anh Hồng là Đại đội phó. Tình hình hoạt động của quân địch lúc này sư đoàn 7 ngụy càn quét đánh phá ác liệt vào Đồng Tháp Mười, cuối tháng 9 năm 1959, đại đội Út Thu phục kích Gò Quản Cung nhằm mùa nước nổi, chúng có một tiểu đoàn địch càn vào vị trí đại đội của tôi đang đóng quân, Út Thu ra lệnh nổ súng giằng co hơn một tiếng đồng hồ, toàn thể đơn vị xung phong tiêu diệt tiểu đoàn này, bắt sống 105 tên, thu hơn 100 súng các loại. Chiến thắng này có ý nghĩa quan trọng bẻ gãy ý đồ của địch càn quét sâu vào vùng căn cứ của ta. Phát huy thắng lợi Tiểu đoàn 502 lập nhiều chiến công to lớn đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, làm tan rã hàng ngũ địch, mở rộng vùng giải phóng Đồng Tháp Mười. Sau đó được Bộ Tư lệnh Quân khu 8 rút một trung đội của đại đội Út Thu lên lập thành tiểu đoàn chu lực của quân khu, tôi với cương vị là Tiểu đội trưởng cùng đi với trung đội này. Ngày thành lập Tiểu đoàn 261 là ngày 2 tháng 1 năm 1961 tại địa điểm Chấp Tre Hội đồng Sầm giáp ranh giữa hai tỉnh Long An và Kiến Tường, là đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân khu 8 thời chống Mỹ. Với niềm vui phấn khởi ngày thành lập tiểu đoàn, chúng tôi bắt tay nhau thân thiết cùng với các chiến sĩ trẻ tuổi từ 18 đến 20 của quê hương đồng khởi Bến Tre, Mỹ Tho, Long An, Kiến Tường, Kiến Phong v.v... cùng nhau hẹn ước quyết tâm chiến đấu đến ngày toàn thắng. Biên chế Ban chỉ huy Tiểu đoàn 261 lúc này là anh Tám Dần - Tiểu đoàn trưởng, anh Ba Tam - Chính trị viên tiểu đoàn, anh Ba Đào - Tiểu đoàn phó. Ở Đại đội 1 có anh Út Thu - Đại đội trưởng. Trong thời gian ngắn, tiểu đoàn tiếp tục học tập và huấn luyện kỹ, chiến thuật, tổ chức bắn đạn thật đạt kết quả tôt. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng về phát triển lực lượng vũ trang, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 261 quân khu điều động anh Hai Hoàng đảm nhiệm Tiểu đoàn trưởng, anh Tư Nam phụ trách Chính trị viên tiểu đoàn, anh Sáu Phú phụ trách Tiểu đoàn phó 1, anh Út Thu được trên quyết định lên làm Tiểu đoàn phó 2, bổ sung anh Tư Huệ về làm Đại đội trưởng Đại đội 1. Từ đây tôi được sống và chiến đấu dưới quyền chỉ huy của anh Sáu Phú. Qua năm tháng với bao kỷ niệm có lẽ sẽ không phai mờ trong tâm trí tôi về một người chỉ huy quân sự có tài năng như anh Trần Minh Phú. Trước tình hình diễn biến phức tạp trên chiến trường, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" diễn ra vô cùng ác liệt, anh Sáu Phú là người kiên định vững vàng, định hướng cho bước đi vững chắc của Tiểu đoàn 261 là: Tích cực rèn luyện ý chí chiến đấu, thực hiện khẩu hiệu đề ra, tiểu đoàn "đi là chiến thắng, nổ súng là diệt gọn quân địch" anh luôn làm tốt công tác đảng, công tác chính, trị. Anh thường nói trong các cuộc họp cán bộ, gợi ý với đồng chí Tư Nam - Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn lấy tiêu chuẩn số 1 để kết nạp Đảng là dũng cảm trong chiến đấu, mạnh dạn đề bạt cán bộ trong từng chiến dịch; trong chiến đấu phải hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi còn nhớ rất rõ ý kiến anh Sáu Phú phát biểu trong cuộc họp Đảng ủy của tiểu đoàn: trước tình hình âm mưu thủ đoạn của Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chúng dùng 55 vạn quân Mỹ đổ bộ trên chiến trường miền Nam Việt Nam, năm 1967 tổ chức cuộc càn quét 1 Gian-xơn-xi-ty. Do đó trong lãnh đạo cần xây dựng tiểu đoàn có bản lĩnh chiến đấu kiên định, tấn công và tấn công liên tục để tiêu diệt địch, bồi dưỡng và phát triển lực lượng ta từ một tiểu đoàn rồi thành ba tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn mạnh nhất của quân khu. Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị của quân khu Tiểu đoàn 261 được giao thần tốc hành quân từ vùng 4 Kiến Tường đến Gò Công hơn 50 km, được anh Hai Hoàng - Tiểu đoàn trưởng và anh Sáu Phú trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 261 phục kích trên lộ Gò Công. Sáng ngày 3 tháng 1 năm 1962, tiểu đoàn biệt kích ngụy do tên Thịnh đại úy chỉ huy, lọt vào ổ phục kích của ta. Tiểu đoàn 261 bao vây quân địch, nổ súng hơn nửa tiếng đồng hồ, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, toàn thể tiểu đoàn dũng cảm xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch, ta bắt sống 50 tên địch, thu 180 khẩu súng các loại trong đó có một khẩu súng đại liên; ta hy sinh 4 đồng chí, bị thương 9 đồng chí. Đến 18 giờ cùng ngày tiểu đoàn làm lễ truy điệu cho những đồng chí hy sinh, anh Sáu Phú lấy khăn lau nước mắt và trực tiếp tiễn đưa 4 chiến sĩ (Thanh, Hùng, Công, Vinh) về nơi an nghỉ cuối cùng. Trận này tôi bị thương cánh tay trái nhưng vẫn bám đơn vị tiếp tục chiến đấu. Thắng lợi to lớn của Tiểu đoàn 261 đã tạo cho đơn vị có nhiều uy tín và gắn bó trong nhân dân, tích cực hành quân luồn sâu vào hậu cứ của địch. Vì vậy khi địch nghe tiếng Tiểu đoàn 261 đã bỏ đồn trốn chạy. Quá trình chiến đấu gần gũi bên anh Sáu Phú càng thấy rõ ở anh con người chỉ huy thể hiện có bốn chữ mà tôi nói và viết lên đây không hết, tôi không phải nhà văn, còn học vỡ lòng chỉ có đánh giặc là được, mong các tướng lĩnh và bạn bè chí cốt với anh Sáu Phú viết lên giùm làm tư liệu học tập người chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 261, bốn chữ đó la: "đức độ, tài năng". Đức độ của anh Sáu Phú thể hiện rõ nét ở trong chiến đấu, trong xây dựng lực lượng vũ trang từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh và trưởng thành chiến đấu thắng lợi. Anh Sáu luôn gần gũi sâu sát với cán bộ và chiến sĩ, mỗi khi anh em sai lầm khuyết điểm, anh không dùng đao to búa lớn, mà anh thường rỉ tai, nhỏ nhẹ tâm tình chỉ bảo cho anh em có phương hướng sửa chữa tiến bộ. Từ đó, cán bộ, chiến sĩ càng thấy thương mến người chỉ huy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 hơn. Trong trận chiến thắng Ấp Bắc ngày 2 tháng 1 năm 1963, quân địch dùng xe tăng, xe bọc thép, quân Mỹ ồ ạt tấn công vào trận địa phòng ngự của Đại đội 1 Tiểu đoàn 261, đồng chí Bảy Đen - Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy luôn tâm niệm khẩu hiệu: "Tiểu đoàn 261 đi là chiến thắng, nổ súng là diệt gọn quân địch", "Cán bộ chiến sĩ còn một viên đạn cuối cùng, một hơi thở cuối cùng cũng phải giữ vững trận địa". Chiến thắng Ấp Bắc có ý nghĩa lớn, làm thất bại chiến thuật "thiết xa vận", "trực thăng vận", "bủa lưới phóng lao" của Mỹ - ngụy mở ra một khí thế mới cho toàn chiến trường miền Nam có quyết tâm thắng Mỹ. Cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 261 vô cùng phấn khởi được Bộ Tư lệnh quân khu trao tặng lá cờ quyết chiến quyết thắng, từ bãi biển Hi-rông từ Cu Ba đến với tiểu đoàn vào ngày 2 tháng 1 năm 1964 anh Sáu Phú thay mặt tiểu đoàn nhận lá cờ này và tuyên thệ hứa hẹn trước quân khu tại xóm Đào, kinh Nguyễn Văn Tiếp thuộc Cai Lậy - Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Càng vinh dự tiểu đoàn càng mở nhiều đợt tấn công quân địch trên khắp tỉnh Mỹ Tho - Bến Tre - Long An - Kiến Tường - Kiến Phong v.v... Tranh thủ mọi lúc mọi nơi anh Sáu Phú kể chuyện truyền thống, tinh thần giúp đỡ lớn lao của quân dân Cu Ba trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước đến ngày toàn thắng. Anh kể chuyện thành tích của đồng chí Nguyễn Văn Tư ở Mỏ Cày - Bến Tre nuôi ong vò vẽ đánh giặc trở thành Anh hùng quân đội, trí thông minh sáng tạo của dân tộc Việt Nam biết tận dụng mọi thứ có trong tay để trở thành sức mạnh, vũ khí đánh giặc, làm cho kẻ thù khiếp sợ. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:36:15 pm Quân dân tỉnh Bến Tre ướp khô hơn 1.000 con ong vò vẽ gởi tặng nhân dân Cu Ba được triển lãm tại bãi biển Hi-rông nhân dịp ngày 5 tháng 1 năm 1969 tôi được đi Cu Ba, chị Hà Thị Quế - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam làm trưởng đoàn đến chào mừng đồng chí Phi đen, được đến thăm quân đội lữ đoàn xe tăng và nhân dân Cu Ba tại bai biển Hi-rông, tham quan sa bàn chiến đấu điều khiển bằng điện, chiến thắng bãi biển Hi-rông và xem sa bàn cùng bản đồ chiến thắng Ấp Bắc, chứng kiến thấy được khoảng 1.000 con ong vò vẽ gắn trong tủ pha lê được nhân dân tỉnh Bến Tre trao tặng, các nhà báo phóng viên Mỹ, Đức, Anh, Canada quây quần bên tôi và phỏng vấn về loại vũ khí đánh giặc của Việt Nam là bằng con ong vò vẽ và vũ khí thô sơ đã từng làm quân địch khiếp sợ.
Trước yêu cầu cách mạng, lực lượng vũ trang quân khu phải có những trận đánh lớn tiêu diệt quân địch nằm trong công sự vững chắc, lúc này càng thấy rõ tài năng của anh Sáu Phú sau khi anh nhận mệnh lệnh của quân khu sử dụng lực lượng Tiểu đoàn 261 và Tiểu đoàn 514 của tỉnh Tiền Giang tập kích tiêu diệt chi khu trù mật Hậu Mỹ thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Anh Sáu Phú tổ chức đoàn cán bộ đi nghiên cứu chi khu này suốt ba đêm liền, cùng với chúng tôi bò qua 6 hàng rào kẽm gai của địch đến tận bờ thành căn cứ, nhận thấy chi khu này rất rộng ở chiều dài 900 mét, chiều ngang 600 mét, chung gom dân lập ấp chiến lược trên 3.000 gia đình ở đây, bên trong chúng xây dựng công sự vững chắc theo hình chữ nhật chiều dài 300 mét, chiều ngang 200 mét. Qua nghiên cứu phát hiện địch bố trí 3 tuyến phòng ngự vững chắc, tuyến tuyền duyên chúng bố trí hỏa lực mạnh đan chéo sẽ tiêu diệt khi đối phương tấn công vào; tuyến hai địch phòng ngự bảo vệ trận địa pháo binh, kho hậu cần xăng dầu; tuyến ba chúng sẽ co cụm phòng thủ bảo vệ sở chỉ huy có 4 cố vấn Mỹ và thông tin điện đài. Thực hiện quyết tâm chiến đấu của quân khu, anh Sáu Phú dùng ba đại đội cùng với Tiểu đoàn 514 của tỉnh Mỹ Tho tiêu diệt chi khu Thiên Hộ - Hậu Mỹ, anh Sáu Phú và anh Tư Nam, Chính trị viên Tiểu đoàn 261 quyết định giao nhiệm vụ cho tôi (Nguyễn Minh Tua) chỉ huy xung kích 1 gồm 47 tay súng, một lá cờ Quyết chiến Quyết thắng vừa mới nhận và một chiến sĩ liên lạc trực tiếp theo tôi mang theo một máy PRC25 để liên lạc với Sở chỉ huy mặt trận, lúc này tôi quá lo lắng, tư tưởng có dao động nhưng nhờ anh Sáu Phú và anh Tư Nam gọi tôi lên tiểu đoàn liên tục động viên cần bình tình, xử lý tốt các tình huống dự kiến trong chiến đấu. Đúng 18 giờ ngày 9 tháng 4 năm 1964, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa an toàn. 0 giờ ngày 10 tháng 4 được lệnh nổ súng, pháo binh cấp tập bắn vào cứ điểm của địch, đặc công mở cửa rào, xung kích 1 tràn vào chiến đấu tiêu diệt quân địch. Bộ đội ta vượt qua tuyến 1 và tuyến 2 chọc thẳng vào trung tâm sở chỉ huy, tuyến 3 quân địch co cụm chống trả quyết liệt. Lúc này tôi nhận điện thoại của đồng chí Sáu Phú động viên liên tục nhờ thế phấn khởi, toàn thể cán bộ chiến sĩ xung kích 1 nhanh chóng dũng cảm đánh chiếm toàn bộ Sở chỉ huy và cắm lá cờ quyết chiến quyết thắng trên tầng lầu của Mỹ, trong đó có 2 tên Mỹ chết tại chỗ, còn lại 2 tên cố vấn đầu hàng, quân ta triển khai nhiều mũi tấn công nở hoa trong lòng địch, phối kết hợp liên lạc từ bên trong đánh ra bên ngoài đánh vào tiêu diệt toàn bộ cứ điểm này và giải phóng hơn 3.000 dân ở đây chúng tôi thật vô cùng phấn khởi. Trận này đồng chí trung đội trưởng Trung đội 1 hy sinh, hướng tấn công vào Sở chỉ huy địch anh em xung kích 1 do tôi chỉ huy 7 đồng chí bị thương, đồng chí Út 18 tuổi hy sinh, 6 giờ chiều cùng ngày toàn thể tiểu đoàn chúng tôi làm lễ truy điệu, anh Sáu Phú người chỉ huy tiểu đoàn quyết đoán trong chiến đấu, đứng trước hàng quân lấy khăn lau nươc măt khóc mãi cho đến giờ phút tiễn đưa 2 đồng chí về nơi an nghỉ cuối cùng. Phát huy chiến thắng Tiểu đoàn 261 hành quân về giải phóng toàn bộ hệ thống đồn bót Vĩnh Kim và lãnh đạo xây dựng ý chí quyết tâm tiểu đoàn cho trận đánh lớn tập kích quân địch nằm trong công sự vững chắc đó là căn cứ Đá Xanh bà con thường gọi là cái tên là Chùa Phật Đá nằm trên kinh Nguyễn Văn Tiếp xóm Đào thuộc Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Qua 4 đêm nghiên cứu anh Sáu Phú trực tiếp lặn lội qua sông vào mục tiêu nắm được chúng bố trí xây dựng nhiều lô cốt công sự bằng đá xanh, lực lượng có 1 đại đội rất ác ôn, nhân dân yêu cầu tiêu diệt bọn lính này, sau khi trở về, đơn vị hạ quyết tâm chiến đấu, tất cả cán bộ đi trinh sát của tiểu đoàn đều chọn hướng tấn công chủ yếu là trên đất liền chiều dài gần 40 mét, có 5 lớp rào kẽm gai và bùng nhùng mới đến bờ thành của đồn địch, anh Sáu Phú phân tích triển khai hướng tấn công chủ yếu ở đấy thì quá xa phải qua nhiều chướng ngại vật không đạt yếu tố bất ngờ, có thể tình huống xảy ra thương vong lớn. Kết luận của anh Sáu Phú bỏ hướng tấn công chủ yếu trên đất liền mà chọn hướng tấn công chủ yếu là từ dưới sông đánh lên tuy rất táo bạo nhưng sẽ đạt yếu tố bất ngờ hơn, chỉ có 2 hàng rào kẽm gai đến bờ thành lô cốt của địch. Qua phân tích và kế hoạch hợp đồng tác chiến của anh Sáu Phú anh em càng tin tưởng hơn. Sử dụng lực lượng lấy Trung đội 2 của Đại đội 1 làm xung kích 1 do đồng chí Nguyễn Minh Tua làm chỉ huy trưởng, cộng 3 chiến sĩ đặc công mang 3 trái bọc phá mỗi trái 10 kí-lô-gam với 8 chiếc xuồng ba lá, đúng 7 giờ tối ngày 9 tháng 8 bộ 1 phận xung kích 1 chúng tôi xuống xuồng bơi theo con rạch nhỏ Tân Hòa Đông rồi đến kinh Nguyễn Văn Tiếp ngang cứ điểm Đá Xanh chiếm lĩnh trận địa an toàn, một điều khó khăn nhất với chúng tôi là khi nổ súng 8 chiếc xuồng ba lá phải vượt qua con kênh nguy hiểm vì chiều ngang con kênh hơn 60 mét, độ sâu từ 5 đến 8 mét nước chảy rất mạnh, xoáy ốc. Biết khó khăn anh Sáu Phú đã làm công tác tư tưởng bằng cách phân tích rõ ưu thế của ta nếu giữ được bí mật tuyệt đối, qua đó củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ. Tôi rất phục anh Sáu là một cán bộ quân sự nhưng hiểu tư tưởng anh em và có cách giải quyết thật là chu đáo. Kết quả đúng giờ G nổ súng hỏa lực ta bắn cấp tập, đặc công mang trái bọc phá lặn qua sông châm điện nổ tung 2 hàng rào kẽm gai của địch, lúc này 8 chiếc xuồng ba lá như mũi tên vượt sông đánh chiếm bờ thành tiêu diệt lô cốt đầu cầu, triển khai lực lượng xung kích dũng cảm chiến đấu nở hoa trong lòng địch, hơn nửa tiếng đồng hồ căn cứ Đá Xanh bị ta tiêu diệt hoàn toàn, thu toàn bộ vũ khí và trang bị của địch, bắt sống 9 tù binh, guân ta bị thương nhẹ 2 đồng chí, không có ai hy sinh. Thắng lợi to lớn của trận này được anh Tám Phương tức đồng chí Lê Quốc Sản - Tư lệnh Quân khu 8 khen ngợi Tiểu đoàn 261 đánh nhanh, diệt gọn quân địch, đơn vị không có thương vong. Được sống chiến đấu dưới quyền anh Sáu Phú tôi càng hiểu và khâm phục tác phong chỉ huy sát chiến trường nắm vững các đối tượng tác chiến mạnh yếu của địch, tổ chức chiến đấu tốt công tác bảo đảm trước, trong, sau chiến đấu Quán triệt tốt, tính nguyên tắc hợp đồng chặt chẽ giữa bộ binh xung kích, đặc công, pháo binh thông tin liên lạc. Nắm vững thời cơ, giờ G, bí mật bất ngờ nổ súng. Dũng cảm xung phong tiêu diệt gọn quân địch, giành thắng lợi lớn, ta ít thương vong. Đó là lý tưởng của người chỉ huy tài năng của anh Sáu Phú, xứng danh bộ đội cụ Hồ. Anh Sáu Phú, Tiểu đoàn trưởng nhiều năm gắn bó với Tiểu đoàn 261 rồi tiến lên trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8 rồi lên Thiếu tướng Tư lệnh phó quân khu, sự trưởng thành và tiến bộ đó toàn thể cán bộ trong quân khu mừng sao kể xiết. Tin buồn anh Sáu Phú lâm bệnh nặng được Bộ Tư lệnh quân khu và các bác sĩ giỏi hết lòng cứu chữa, do cơn đau tim đột ngột anh Sáu Phú vĩnh biệt hồi 11 giờ ngày 5 tháng 4 năm 2003 thọ 73 tuổi. Về dự lễ truy điệu anh, kính cẩn thắp một nén nhang trong hàng ngàn nén nhang khói hương nghi ngút tiễn đưa anh về nơi vĩnh hằng, yên giấc ngàn thu. Cho phép tôi thay mặt cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn Ấp Bắc cùng gia đình anh Sáu tỏ lòng biết ơn Bộ Tư lệnh Quân khu 9, quân và dân Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Kiến Tường, An Giang, Đồng Tháp mang về đây những viên gạch hồng xây nên ngôi mộ anh Sáu Phú đẹp ý, tình người. Nguyễn Minh Tua Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:39:17 pm NGƯỜI TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG MỘT THỜI ĐÁNH GIẶC Đại tá Phan Chiến Đồng chí Trần Minh Phú (Sáu Phú), người cán bộ chỉ huy tài ba một thời trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ở miền Nam đầy hy sinh gian khổ, tôi có dịp sống chiến đấu cùng anh trong thời gian không dài chỉ từ 1963 – 1975, với cương vị anh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 (anh hùng) là một đơn vị nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Khu 8. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261 t tưởng chính trị vững vàng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc. Có được thành tích như vậy có phần đóng góp rất to lớn của người Tiểu đoàn trưởng Trần Minh Phú. Anh là người chỉ huy đầy mưu mẹo, khôn khéo với tư tưởng tiến công đã truyền vào từng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261 Hi-rông "Đi là chiến thắng, đánh là tiêu diệt địch". Đó là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt mà anh luôn quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn. Còn về cuộc sống đời thường anh là người chỉ huy, người đồng chí "buồn cùng chia, vui cùng sẻ" hòa đồng thương yêu mọi người. Tiểu đoàn 261 là tiểu đoàn chủ lực Quân khu 8 đầu tiên thành lập trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (tháng 2 năm 1961) nên được trang bị binh khí kỹ thuật khá mạnh của thời đó, vũ khí chủ yếu là súng Mỹ thu từ chiến lợi phẩm. Tiểu đoàn được quân khu tăng cường các đại đội như: Đại đội 268 ĐKZ 75 ly Đại đội phòng không 12,8 ly, Đại đội đặc công 314 có lúc đảm nhận một hướng chiến dịch được tăng cường các Đại đội súng cối 120 ly. Bản thân tiểu đoàn ngoài 3 đại đội bộ binh ra còn có Đại đội 4 ĐKZ 57, Đại đội 5 đặc công, Đại đội 6 súng cối 82 ly và Đại đội 7 súng máy tiểu liên, quân số chung lên đến cả 1.000 người. Đơn vị có truyền thống sẫn sàng phối hợp các đơn vị địa phương, dân quân du kích mở một hướng chiến dịch "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, mở màn, mở rộng vùng kháng chiến giải phóng quê hương xây dựng chính quyền nhân dân". Với nghệ thuật chỉ huy bất kỳ trong hình thức chiến đấu nào cũng giành thắng lợi như: phục kích, tập kích, công đồn đả viện, đánh công kiên như có dêm cùng lúc gỡ 3 đồn địch: Đồn Cầu Nò, đồn Bình Thạnh, dồn Ông Hổ ở huyện Bình Đại - Bến Tre... Anh Trần Minh Phú là người chỉ huy vốn được đào tạo ở miền Bắc, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn ở chiến trường miền Nam sau những năm Đồng khởi anh có những thực tế nhận định đánh giá về địch, nên trong suốt thời gian giữ cương vị là Tiểu đoàn trưởng chỉ huy đánh đâu thắng đó, gây cho địch nhiều hoang mang, khiếp sợ, buộc địch phải bị động đối phó mà vẫn không sao tránh những trận thua tan tác, nên địch dùng thủ đoạn mua chuộc và chúng treo giá nếu ai giết được đồng chí Sáu Phú chúng thưởng hàng triệu đồng. Có một việc mà tôi còn nhớ mãi địch tìm cách giết anh Sáu Phú bằng quân sự không được, chúng tổ chức cho bọn tay sai mật đóng giả thành dân mở tiệc chiêu đãi cán bộ đại đội Tiểu đoàn 261 sau trận đánh thắng lợi, chúng làm thịt chó mời trong bữa tiệc đó có tôi cùng dự, tất cả đều uống rượu đế, chỉ có ít chai bia, họ nói cái này có ít quá Tư nhường cho các anh (tức 4 đồng chí chỉ huy tiểu đoàn), nhưng với đức tính hòa đồng với anh em, đồng chí Trần Minh Phú kiên quyết từ chối nếu ít thì cũng chia chủ nhà và khách cũng uống mới vui, cuối cùng chúng phải mang vào cất không thực hiện được thủ đoạn (vụ án sau đó ta bắt thì chúng mới khai ra, ta mới biết). Nhờ cách sống hòa đồng, ngon cùng chia, đói cùng nhường, gần gũi gắn bó với người chỉ huy và anh em cán bộ, chiến sĩ đều quý mến nhau. Trong chiến đấu sẵn sàng hy sinh để cứu bạn, trong suốt thời gian anh chỉ huy anh em đơn vị không ai muốn chịu chuyển đơn vị khác hoặc đi học, sợ khi ra trường chuyển đơn vị khác, thậm chí đi dưỡng bệnh cũng không ai muốn xa đơn vị, xa người chỉ huy là anh Sáu Phú mà anh em yêu mến, kính phục. Anh là người chỉ huy cao nhất của Tiểu đoàn 261, sau mỗi trận đánh anh cho bộ đội nghỉ ngơi vài ngày để kiểm điểm rút kinh nghiệm, củng cố kiện toàn bổ sung vũ khí trang bị, điều chỉnh cán bộ học tập chính trị, riêng anh cùng một số cán bộ tác chiến, trinh sát tiếp tục lên đường chuẩn bị chiến trường cho những trận đánh tiếp sau. Nên lúc nào cũng có nhiều phương án chủ động đánh địch trên địa bàn quân khu. Tôi còn nhớ khi triển khai nhiệm vụ anh nói: "Ta đánh chỗ có địch, còn địch đánh ta thì đánh vào chỗ không có ta", và anh ít khi chấp nhận phải phòng ngự chống càn, vì địch có quân đông, trang bị hỏa lực mạnh, nhiều binh chủng hợp thành thủy lục, không quân nhiều bom pháo dội vào đội hình ta không tránh khỏi thương vong nên anh rèn luyện sức cơ động của bộ đội bằng đôi chân, đánh phía bắc cơ động phía nam; đánh phía tây bộ đội cơ động phía nam, linh hoạt luôn gây cho địch nhiều bất ngờ. Nhờ vậy mà suốt thời kỳ anh chỉ huy ít khi phải chấp nhận phòng ngự chống càn. Tình hình phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ quân khu cần có những quả đấm mạnh hơn, phải thành lập trung đoàn, anh được nhận nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Đồng Tháp lúc bấy giờ mới chia tay anh và nhiều đồng chí đi nhận nhiệm vụ khác nhau của trung đoàn, mỗi người một nhiệm vụ khác nhau theo sự phát triển và trưởng thành của cán bộ, nhưng cũng thỉnh thoảng gặp nhau rồi anh về nhận nhiệm vụ Tham mưu quân khu... Cho đến chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng Mùa xuân năm 1975, thành lập Sư đoàn 8 bộ binh bấy giờ mới có dịp gặp người chỉ huy cũ năm xưa cùng đánh trận cuối cùng vào sư đoàn 7 bộ binh ngụy ở căn cứ Đồng Tâm thành phố Mỹ Tho, kết thúc 30 năm chiến tranh giành độc lập thống nhất nước nhà. Đất nước vừa được yên thì bọn Pônpốt - Iêng xary sang lấn chiếm biên giới Tây Nam, sư đoàn lại lên đường giữ vững đất đai biên cương Tổ quốc và giúp bạn giải phóng Campuchia, anh lại tiếp tục ở chiến trường với cương vị là chỉ huy tiền phương Quân khu 9. Do yêu cầu nhiệm vụ tôi chia tay anh trên chiến trường Campuchia về Quân khu 7. Năm 1989, có dịp gặp lại anh Sáu Phú tại Hà Nội cùng dự hội nghị tập huấn toàn quân chỉ trong vài ngày thì anh được quân khu giao nhiệm vụ trở lại chiến trường Campuchia làm nhiệm vụ theo yêu cầu. Cho đến khi quân tình nguyện về nước được biết anh với cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9 với quân hàm thiếu tướng. Tôi cảm thấy thật xứng đáng và vô cùng tự hào có những người đồng đội như anh, một cán bộ quân sự tài năng, đức độ của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đến khi anh nghỉ hưu và lâm bệnh, tôi có đến thăm anh ở Viện 175 khi được tin anh từ trần tôi đang công tác tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng về kịp để chào vĩnh biệt người anh, người đồng chí người chỉ huy với niềm thương tiếc vô hạn. Tôi nghĩ phải có nhiều bài viết về anh để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu về một vị tướng của lực lượng vũ trang Quân khu 9. Giá trị của lịch sử đơn vị gắn liền với bao võ công oanh liệt của những người chỉ huy như anh, không bao giờ là cũ. Không thể chìm vào im lặng của dĩ vãng được, quý lắm, giá trị vô cùng. Phan Chiến Chủ tịch Hội CCB tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:42:04 pm NHỚ MÃI ANH SÁU PHÚ, NGƯỜI BẠN NGƯỜI ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI Đại tá Nguyễn Xuân Phán Trước khi vượt lộ 4 về đơn vị, tôi được nghỉ tai trạm giao liên Tân Phú thuộc huyện Cai Lậy, tình Mỹ Tho. Thật là thỏa mãn ao ước bấy lâu nay, chân đi tận nơi, mắt thấy tại chỗ địa danh Ấp Bắc, nơi ghi dấu chiến thắng vang dội làm nức lòng cả nước và bạn bè thế giới với trận đánh bại các chiến thuật tân kỳ "trực thăng vận và thiết xa vận" của địch lần đầu tiên đưa ra thử nghiệm ở chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Tôi vẫn tâm niệm được vinh dự đứng trong đội hình của Tiểu đoàn Hi-rông mà không biết Ấp Bắc coi như thiếu hẳn một mảnh truyền thống để học tập và động viên mình. Trưa hôm sau, lợi dụng khoảng thời gian giữa hai đợt tuần tra của tàu địch, tôi được một nữ giao liên đóng vai người bán cá chở qua sông Hàm Luông về Mỏ Cày (Bến Tre), nơi Tiểu đoàn 261 đang đứng chân. Các đồng chí trong Ban chỉ huy và anh em tiểu đoàn bộ đón tôi trong niềm hân hoan như đứa em, người anh đi xa lâu ngày mới về. Người đầu tiên ra tận bến xuồng gặp tôi là anh Sáu Phú. Anh ôm chầm lấy tôi và gỡ chiếc ba lô con cóc trên vai tôi anh xách tay vừa đi vừa hỏi chuyện gia đình tôi và bà con ngoài Bắc. Chúng tôi hân hoan trò chuyện đến tận chiều tối thì anh Sáu cùng đồng chí liên lạc dẫn tôi về nhà má Bảy nghỉ. Biết tôi còn bỡ ngỡ nhiều với chiến trường sông nước, anh Sáu Phú trao đổi kinh nghiệm chiến trường với tôi đến tận khuya và hẹn ngày mai hàn huyên tiếp. Sáng hôm sau, khoảng 9 giờ, theo quy luật thường hết giờ địch càn quét, tôi được tham dự cuộc họp tiểu đoàn từ cán bộ trung đội trở lên để nghe anh Hai Hoàng, Tiểu đoàn trưởng (người đã chỉ huy trận Ấp Bắc) phổ biến nhiệm vụ. Lần đầu tiên tôi được giao trực tiếp chỉ huy một trận đánh ở đồng bằng sông rạch. Anh Sáu Phú ngồi cạnh tôi thỉnh thoảng thì thầm trò chuyện nhất là khi anh Hai giới thiệu trận đánh này do anh Năm ngoài Bắc mới vô chỉ huy điều nghiên, anh Sáu lại cười động viên: không phải chúng tôi thử anh đâu nhé, tin tưởng lắm đấy. Chúng tôi được quân khu giới thiệu: anh thời kỳ chống Pháp đã ở Sư đoàn 320 hoạt động ở đồng bằng sông Hồng gần đây lại về Sư đoàn 330 (Nam Bộ) ngoài ấy. Anh là người miền Bắc đầu tiên về 261 đấy. Lần chuẩn bị chiến trường này anh có dịp gặp anh Ba Sơn, Tham mưu phó quân khu, cũng là cán bộ gốc 330 mới về Nam hơn năm nay, anh Năm càng có điều kiện để trao đổi và tích lũy kinh nghiệm. Sau hơn nửa tháng chuẩn bị, tôi đã chỉ huy đơn vị, cùng quân dân Bình Đại (Bến Tre) tiêu diệt một số đồn bót địch, phá tan hai ấp chiến lược, giải phóng hai xã cách thị trấn hơn một cây số đường chim bay, đưa thế chiến tranh nhân dân địa phương lên một bước mới. Vậy là tôi đã không hổ danh lính 261, không phụ lòng tin của các anh Hai Hoàng, Sáu phú những người ngay từ đầu đã coi tôi như ruột thịt trong nhà. Gần 12 năm (1963 - 1975), ở chiến trường Quân khu 8 (miền Trung Nam Bộ), tôi đã có 10 năm ở cùng Tiểu đoàn 261A, Trung đoàn 1 Đồng Tháp, Tham mưu quân khu với anh Sáu Phú. Không hiểu duyên nợ thế nào mà chúng tôi cảm thấy gần gũi thân thiết tâm đầu ý hợp; trận đánh nào chúng tôi cũng hoàn thành nhiệm vụ. Tôi còn nhớ lúc bấy giờ anh Bảy Sỹ (Nguyễn Văn Sỹ) - Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng quân khu thường có nhận xét: trận nào Năm Phán điều nghiên, Sáu Phú chỉ huy thì quân khu rất yên tâm và tin tưởng. Trong trận đánh quân Mỹ đêm 17 rạng 18 tháng 11 năm 1967 - trận đánh Mỹ lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long trả thù cho Chê-ghê-ra-va (Chê hy sinh ở Bolovia ngày 5 tháng 10 năm 1967) đã để lại trong tôi ấn tượng đặc biệt. Lúc bấy giờ, tôi và một số cán bộ đại đội đã chuẩn bị về Bến Tre nhận Tiểu đoàn 2 "Thép" để thành lập Tiểu đoàn 261B (Hi-rông B), nhưng anh Sáu ở Bộ chị huy tiền phương quân khu đề nghị chúng tôi ở lại d261A (Hi-rông A) chỉ huy trận này. Ta đã tiêu diệt cơ bản tiểu đoàn 3 lữ đoàn 2 sư đoàn 9 Mỹ ở đập Ông Tải, Hậu Mỹ Nam (Cái Bè - Mỹ Tho), thu 112 súng các loại, đơn vị được tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. Không những riêng tôi, mà với các đồng chí khác mới bổ sung về đơn vị, nhất là các đồng chí vừa từ miền Bắc vào đều được anh Sáu Phú phổ biến kinh nghiệm chiến trường để hoàn thành nhiệm vụ Anh là người hiểu biết thông thạo địa hình sông rạch hầu hết các tỉnh trong quân khu, nhất là Bến Tre, Mỹ Tho. Anh còn rành đội ngũ cán bộ tỉnh đội huyện đội và các đơn vị địa phương nên khi anh phổ biến nhiệm vụ, kinh nghiệm, ai cũng thỏa mãn ít có thắc mắc. Anh Sáu Phú là người thẳng thắn bộc trực, nhưng lại rất sâu sắc tình nghĩa, chỉ huy chiến đấu thì hết sức kiên quyết linh hoạt, xử lý tình huống kịp thời, giành thắng lợi giòn giã. Chúng tôi rất quý cái chất "Anh Hai" của anh và rất phục tư duy sắc sảo, khả năng cầm quân của anh. Về cuộc sống hàng ngày của anh cũng hết sức giản dị nên cán bộ, chiến sĩ cũng dễ gần gũi, có gì đời tư anh cũng tâm sự hết mình với anh em. Những kỷ niệm của tôi đối với anh Sáu Phú không những chỉ có trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước và kể cả khi hòa bình thống nhất đất nước. Thời kỳ này tuy "người Nam kẻ Bắc" nhưng chúng tôi vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau. Những tháng năm lăn lộn trên chiến trường Khu 8 đã để lại nhiều kỷ niệm để chúng tôi tự hào để mà yêu, mà nhớ, để mà hoài niệm theo độ lùi thời gian. Tôi nhớ nhất một kỷ niệm đẹp, hay nói đúng hơn, đó là nghĩa cử của người lính từng vào ra sinh tử với nhau, đó là dịp cuối năm 1975 đầu 1976 Quân khu 9 (lúc này Quân khu 8 đã sáp nhập vào Quân khu 9) bầu chọn Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh Sáu điện ra Bắc đề nghị tôi vào để anh cùng một số cán bộ Quân khu 8 cũ giới thiệu. Thú thực, tôi vô cùng cảm động trước tấm lòng thịnh tình của anh và các anh trong đó, song tôi xin từ chối đề nghị đồng chí Năm Thời (tức Lê Hữu Thời) người Bến Tre. Viết về anh Trần Minh Phú, người chỉ huy tác chiến rất kiên quyêt mưu mẹo, người cán bộ đời thường có cuộc sống giản dị, liêm khiết chí công vô tư lúc đương chức thật khó, bởi anh không thích người khác khen mình, kể cả người bạn gần gũi như tôi. Giờ đây, anh đã là người thiên cổ, nhưng tình bạn, tình đồng chí giữa anh Sáu và tôi mãi mãi không phai mờ. Tôi chỉ ân hận một điều, đó là năm 2003 anh qua đời tôi không vào được, phải mấy tháng sau. Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2008 Đại tá Nguyễn Xuân Phán Nguyên cán bộ Quân khu 8 thời chống Mỹ Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:44:06 pm NHỮNG KỶ NIỆM VỀ ANH SÁU PHÚ Đại tá Lê Văn Tân Cuối năm 1977 đầu năm 1978 tình hình chiến sự trên tuyến biên giới Tây - Nam diễn biến phức tạp; cấp trên quyết định điều động Trung đoàn 18 sư đoàn 325 (làm nhiệm vụ giúp bạn Lào, mới về nước) vào tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Tiên - Kiên Giang; một địa bàn chiến lược quan trọng phía tây - nam của Tổ quốc. Cuối năm đó trung đoàn về trong đội hình Sư đoàn bộ binh 8, lúc này anh Sáu Phú đã rời đơn vị đi học, tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Tuy chúng tôi những người lính mới về đội hình sư đoàn, chưa được gặp mặt anh Sáu Phú, nhưng qua đồng chí, đồng đội từng gắn bó với anh trong chiến tranh đã kể lại và dành cho người Sư đoàn trưởng của mình những tình cảm chân thành và sự kính trọng sâu sắc. Năm 1982, tôi mới có dịp diện kiến anh Sáu Phú trong hội nghị quân chính của sư đoàn tại Căm Pốt. Lúc này anh Sáu Phú về dự với cương vị Phó Tham mưu trưởng Mặt trận 979. Là lần đầu tiên gặp và đã nghe kể nhiều chuyện về anh, nên tôi chú ý quan sát: Trong hội nghị, anh lắng nghe những ý kiến phát biểu của cán bộ cấp dưới nhất là các đơn vị cơ sở, ngoài hội nghị anh tâm sự rất thân tình với anh em. Anh có giọng nói truyền cảm luôn cuốn hút người nghe, những vấn đề cán bộ cấp dưới đề cập trong hội nghị được anh phân tích một cách thấu đáo và đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện chiến trường và thực tiễn tình hình của đơn vị lúc bấy giờ. Năm 1985, tôi được điều về công tác tại Phòng Tác chiến Mặt trận 979, trong thời điểm ta bạn đã cơ bản hoàn thành các bước tiến công và làm chủ tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan. Các căn cứ lớn như Các Đa Mon (căn cứ của trung ương Pônpốt) Sóc San (căn cứ chỉ huy của Srây Ka) và một số căn cứ cấp sư đoàn ở tây Pua Sát, tây bắc Kô Kông v.v... bị ta tiến công triệt phá, tiêu diệt một phần sinh lực địch, số còn lại chạy qua bên kia biên giới lập căn cứ chống phá lâu dài. Với cương vị Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979 trong chiến công chung của lực lượng vũ trang ta và bạn có sự góp công góp sức rất lớn của anh Sáu Phú. Mới về nhận công tác tại phòng tác chiến Mặt trận 979, để có điều kiện làm quen với công việc tôi được giao đảm nhiệm trực ban tác chiến tại Sở chỉ huy Mặt trận 979. Chỉ huy sở Mặt trận là một căn nhà cấp bốn, các gian chính giữa được bố trí phòng họp báo giao ban; một đầu nhà là phòng làm việc, phòng nghỉ của anh Sáu Phú - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng và đầu còn lại là phòng làm việc của trực ban tác chiến. Để kịp thời chỉ huy và chỉ đạo các đơn vị, theo quy định của Tư lệnh mặt trận duy trì chế độ họp báo giao ban hàng ngày vào buổi sáng. Với trực ban tác chiến, ngoài việc theo dõi thường xuyên bám sát tình hình các đơn vị, chiều tối đôn đốc các đơn vị để nắm và tổng hợp tình hình có lúc đến nửa đêm. Hôm sau trực ban tác chiến lại dậy sớm tiến hành các bước: bổ sung chấn chỉnh nội dung bao cáo kiểm tra lại địa danh, tác nghiệp lên bản đồ xong trước giơ giao ban. Ngày đầu làm nhiệm vụ tôi dậy sớm hơn thường lệ để tiến hành các bước chuẩn bị tại phòng họp báo giao ban. Đang mải mê với công việc thì anh Sáu Phú bất ngờ bước vào, tôi chưa kịp đứng dậy chào, thì anh đã xua tay bảo không sao. Anh hỏi: tình hình các đơn vị? Tôi báo cáo sơ bộ tình hình các mặt từ biên giới vào tới nội địa cho anh nghe. Nghe xong, anh hỏi: Cậu mới ở Sư đoàn 8 về phải không? tôi đáp: vâng ạ; anh bảo làm cán bộ Tác chiến vất vả lắm, là những người luôn đi trước về sau, thức khua, dậy sớm, cố gắng nâng cao trình độ tổng hợp tình hình, nội dung phải ngắn gọn nhưng đầy đủ và chính xác; khi báo cáo phải rõ ràng phối hợp nhịp nhàng giữa nói và chỉ bản đồ. Về sau tôi mới biết, đã thành thông lệ, anh thường sang trực ban tác chiến nắm tình hình trước khi họp báo giao ban. Thực hiện chủ trương của trên, đưa chủ lực ta và bạn đứng hẳn trên tuyến biên giới; huy động mọi nguồn lực xây dựng tuyến phòng thủ (Mật danh gọi là K5) nhằm mục đích ngăn chặn có hiệu quả âm mưu của địch đưa lực lượng, phương tiện vào sâu trong nội địa; tạo điều kiện cho bạn xây dựng thực lực cách mạng ngày càng phát triển đủ sức đảm đương nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những ai đã từng chiến đấu giúp bạn ở Campuchia thời kỳ này mới thấu hiểu nỗi khó khăn vất vả gian khổ mà bộ đội ta và bạn phải chịu đựng. Các đơn vị ta và bạn vừa mới cơ động chiến đấu liên tục trong suốt mùa khô, không được nghỉ ngơi, sức khỏe giảm sút, quân số hao hụt chưa được bổ sung nay tiếp tục trụ lại xây dựng tuyến phòng thủ trên một địa bàn rừng sâu, núi cao, địa hình hiểm trở nạn sốt rét, nhất là sốt rét ác tính hoành hành, cơ sở vật chất bảo đảm từ ăn mặc, thuốc chữa bệnh v.v... thiếu thốn, đường vận chuyển tiếp tế từ phía sau ra phía trước rất khó khăn, lại xa dân, xa hậu phương. Trong lúc ta và bạn bằng mọi nỗ lực cố gắng bịt chặt biên giới, thì ngược lại địch cũng liên tục đánh phá để soi mở hành lang vận chuyển hàng tiếp tế cho lực lượng của chúng ở nội địa. Vì vậy cuộc chiến đấu của bộ đội ta và bạn trên tuyến biên giới lại càng gian khổ khó khăn và không kém phần ác liệt. Trước tình hình đó, các anh: Sáu Phú, Hai Dương Tử, Năm Thông, cả ba cán bộ là Phó Tư lệnh mặt trận phân công nhau lên biên giới trực tiếp bám trụ dài ngày để chỉ đạo các đơn vị ta và bạn đánh địch, xây dựng tuyến phòng thủ trên từng hướng từ Bến Đá - Kô Kông, lên cao điểm 1271, qua đồi Chu, đồi Thum, cửa khẩu 301 đến Ô Đa, Pai Lin (Bát Đom Bong) với chiều dài gần hai trăm năm chục cây số. Được Phòng Tác chiến phân công, tôi có dịp đi cùng với anh Sáu Phú kiểm tra tình hình và điều chỉnh đội hình đứng chân của các đơn vị trên hướng Bát Đom Bong. Thời điểm này là giữa mùa mưa năm 1985. Đến thị xã Bát Đom Bong, đoàn chúng tôi tổ chức hành quân bằng xe tải theo trục lộ 10 đến cua chữ V rẽ sang đường 10b, những chiếc xe Zin 131 oằn mình trườn qua những "ổ gà", "ổ voi" như những ao nước trên con đường quân sự làm gấp đến Vườn Cam, ngầm Săng Ke rồi An Đông nơi Sở chỉ huy Sư đoàn 330 đứng chân. Làm việc với chỉ huy sư đoàn, góp ý kiến về điều chỉnh đội hình, kế hoạch xây dựng các cụm điểm tựa của ta và bạn ở trên tuyến đường biên, lực lượng cơ động cho phía trước và chốt giữ bảo vệ tuyến hành lang ở phía sau, rồi anh trực tiếp đi kiểm tra các đơn vị đang bám trụ ở Ô Đa, Tà Sanh, Tức Sóc, cửa khẩu 301. Lên các chốt trên các điểm cao 412, 343, 509, 563, anh kiểm tra từng ụ súng từng đoạn chiến hào, góp ý cho anh em làm các thiết bị bắn đêm v.v... Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:45:20 pm Tôi còn nhớ, thời điểm đoàn lên kiểm tra, địch đang tăng cường bâu bám đánh phá ở phía sau, nhất là trên tuyến đường 10b từ cua chữ V đến An Đông và từ Bãi Tăng đi Tà Sanh, Tức Sóc, bằng các thu đoạn phục kích, tập kích hỏa lực, cài mìn đánh phá giao thông v.v... nhằm co kéo lực lượng ta giảm áp lực trên tuyến biên giới, tạo điều kiện cho chúng soi mở hành lang, đưa hàng vào nội địa. Phân tích tình hình anh kết luận: Do ta tổ chức bảo vệ chốt đường và hoạt động đánh địch đã thành quy luật, nên địch biết cách đề phòng, không bị tiêu hao lực lượng, nên chúng ngày càng lấn tới. Rồi anh chỉ đạo cho sư đoàn và các đơn vị có liên quan trong khu vực, tăng cường lực lượng bí mật phục kích vào hai thời điểm: Nhá nhem tối và rạng sáng hôm sau (nhưng phải tổ chức nghi binh đánh lừa địch thật tốt mới có kết quả) vì chúng đã bố trí hệ thống đài quan sát ở gần, ở xa (kể cả nghe lén điện thoại, thông qua các tuyến đường dây dã chiến) để theo dõi chặt chẽ các hoạt động của ta và bạn. Hai thời điểm trên địch sẽ rất chủ quan vì cho rằng: Thời điểm nhá nhem tối bộ phận hoạt động ban ngày đã về mà lực lượng phục kích ban đêm chưa ra và rạng sáng hôm sau thì ngược lại.
Đúng như dự đoán, chỉ một tuần sau khi triển khai, ta tổ chức phục kích đánh liên tiếp bốn năm trận liền, tuy diệt không nhiều địch nhưng đã làm cho chúng phải co lại không dám lộng hành như trước. Mùa mưa năm 1986, lợi dụng khu vực tiếp giáp giữa hai đơn vị của ta và bạn chốt giữ, địch tổ chức đánh chiếm một số điểm cao từ nam 1271, 971, 789, bình độ 700 đến đồi Không Tên do Sư đoàn 4 bạn đảm nhiệm, nhằm tạo thế đứng vững chắc làm đầu cầu đưa lực lượng, vật chất vào nội địa. Địa hình khu vực này rất phức tạp, phía tây dãy cao điểm là đất Thái Lan được chúng cho là "vùng đất thánh" từ trước tới nay ta và bạn chưa khi nào đụng tới (Vì rất nhạy cảm về chính trị và ngoại giao) sườn phía đông dãy cao điểm dốc đứng, nhiều khe suối tạo thành hệ thống vật cản trên hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Ta và bạn đã tổ chức nhiều đợt phản kích nhằm khôi phục lại trận địa, nhưng không đạt kết quả như mong muốn. Anh Sáu Phú - Phó Tư lệnh mặt trận được phân công lên biên giới trực tiếp chỉ huy các lực lượng ta và bạn khôi phục lại các trận địa đã mất. Đến khu vực Bảy Nhà (Sư đoàn bộ Sư đoàn 339 đứng chân) vừa nắm tình hình vừa bàn biện pháp xử lý với đội ngũ cán bộ chủ trì. Được hỏi, nhiều cán bộ đã có ý kiến rất thẳng thắn: nếu cứ đánh vỗ mặt như vừa qua thì rất khó khăn, có đánh thắng thì tỷ lệ thương vong sẽ rất cao; tại sao ta không đưa lực lượng luồn ra phía sau, qua đất Thái Lan để đánh? Sao lại phải sợ? bọn họ cho mướn đất để địch lập căn cứ, thì ta có quyền đánh, đồng thời cũng là lời cảnh báo cho họ biết đừng dung túng bao che cho bọn diệt chủng làm "đất thánh". Anh Sáu Phú vừa đồng tình vừa cảm thông nỗi bức xúc với anh em cán bộ cấp dưới; vì chính anh đã thấy và nhiều lần đề xuất với cấp trên, nhưng vẫn chưa được chấp thuận. Sau khi nắm tình hình, làm việc với cán bộ Tham mưu cùng đi để thiết lập Sở chỉ huy tiền phương và lên phương án đánh địch. Anh trực tiếp viết diện về Tư lệnh Mặt trận 979 và cơ quan 719 với nội dung rất kiên quyết. Điện gửi đi, anh và cán bộ ở tại Sở chỉ huy tiền phương với tâm trạng thấp thỏm trông chờ. Nhưng lần này thì khác, chẳng những Bộ Tư lệnh 979 mà cả cơ quan 719 ủng hộ và đề nghị, cuối cùng được trên chấp thuận. Thế là trong một thời gian ngắn với kiến thức quân sự và tài thao lược của anh, tổ chức bộ phận nghi binh đánh lừa địch ở chính diện, đưa phần lớn lực lượng bí mật luồn ra phía sau, bất ngờ nổ súng làm rối loạn đội hình địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các hướng, mũi phát triển tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, triệt phá nhiều kho tàng, thu nhiều súng đạn, khôi phục và làm chủ hoàn toàn tuyến biên giới từ đồi Chu, đồi Thum đến đồi Không Tên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Phòng Tác chiến Mặt trận 979 thời kỳ đó anh em cán bộ hầu hết quê ở phía Bắc xa gia đình, xa vợ con. Trong điều kiện khó khăn chung của đất nước, với cán bộ như chúng tôi phải dành dụm chắt bóp lắm trong hai năm mới đủ tiền trang trải cho một đợt phép về thăm quê. Công việc của chúng tôi thì vô cùng vất vả, khi vào chiến dịch thì không kể ngày đêm, nhưng chỉ cần một sai sót nhỏ thì đã có chuyện; có anh đã phải trả giá đắt, bằng cả sinh mệnh chính trị của mình. Anh em chúng tôi thường nói vui: nghề tác chiến "quyền rơm vạ đá". Tuy không nói ra nhưng anh Sáu Phú rất hiểu, cảm thông và sẻ chia với anh em chúng tôi. Trong những lúc ngập đầu với công việc, được anh Sáu ghé thăm động viên cả tinh thần và vật chất. Nhận từ anh khi thì một thùng mì cua, một cây thuốc hút hay một giỏ trái cây, vài lít rượu đế của chị Sáu gửi qua để bồi dưỡng cho anh, anh lại gửi lại cho chúng tôi. Chúng tôi hiểu và cảm phục anh, về vật chất tuy không lớn lắm nhưng nó gửi gắm vào đấy cả một tấm lòng của người cán bộ chỉ huy cấp trên đối với cấp dưới, là tình anh em đồng chí, đồng đội. Sau này tôi về công tác tại Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân khu 9, lại có dịp phục vụ anh nhiều hơn. Trong công việc cùng như trong cuộc sống đời thường anh Sáu Phú vẫn vậy, một người chỉ huy tài năng đức độ gắn bó thủy chung với anh em, đồng đội đồng chí. Cần Thơ, tháng 10 năm 2008 Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 24 Tháng Tám, 2026, 08:47:47 pm ANH SÁU PHÚ - SUI TÔI Đại tá Nguyễn Hồ Những năm tôi làm Giám đốc Công ty 404, thì anh Sáu Phú là Phó Tư lệnh Quân khu 9, mối quan hệ giữa tôi và anh là cấp trên và cấp dưới. Tuy anh là Phó Tư lệnh quân khu, nhưng anh không phụ trách về kinh tế, nên ít có dịp tiếp xúc làm việc với nhau nhiều chỉ có lúc rảnh rỗi tôi và anh hay gặp nhau hàn huyên tâm sự một cách vui vẻ. Tôi mến anh từ hồi anh còn chiến đấu giúp bạn ở Campuchia vì con người anh rất bình dân và giản dị, thoải mái, cởi mở dễ gần gũi với anh em. Tôi thích nhất là khi vui hứng anh hay hát những bài ca tiền chiến của nhạc sĩ Lê Thương như bài: "Hòn Vọng phu": "Lịnh vua hành quân trống kêu dồn, quan với quân lên đường..." mỗi lần ai hát bài hát ấy là tôi nhớ đến anh, và sau đó là những câu chuyện phiếm ai cũng rất mê anh kể có duyên, hài hước; nếu những ai mới tiếp xúc lần đầu cũng đều có cảm tình mến mộ. Kỷ niệm của anh Sáu Phú thì nhiều lắm, nhưng tôi xin kể hai kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên: Thứ nhất là khi tôi chưa làm sui với anh: Dạo đó Công ty 404 xây dựng được trạm trực ở thành phố Hồ Chí Minh mà chính tôi là người xin đất của Quân khu 7 để cất trạm, chỗ trạm ở khá rộng rãi khang trang, để dễ bề giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước. Do vậy mà tôi và anh Sáu Phú đi công tác lên thành phố thường hay ghé đó để nghỉ ngơi. Mặt khác vì nhờ vả Công ty 404 gửi gắm hai đứa con ăn ở nơi đó để học đại học cho đỡ chi phí; mướn nhà; ghé trạm cũng có hai cái lợi là anh em vừa làm việc chung lại vừa thăm hai con mình ăn ở học hành như thế nào? Thật sự lúc đó tôi ít lưu tâm để ý tình cảm riêng tư của chúng nó vì một phần tôi tin tưởng con gái tôi tuổi còn nhỏ đang thời kỳ học hành chắcnó chưa để ý chuyện yêu đương; còn anh Sáu thì anh phát hiện khá tế nhị thế nào đó. Nên có một lần đồng chí Tám mập (Đức Em), Trưởng trạm 404, thỏ thẻ tâm sự với tôi: Kỳ rồi ông Sáu Phú lên đây có kêu tôi dặn dò khá tỉ mỉ "Chú mày ở đây phải có trách nhiệm với thằng Phúc (con anh Sáu) và cháu Bích (con Bảy Hồ) không để tụi nó làm chuyện gì không hay, nếu để xảy ra chuyện gì bậy bạ làm mất uy tín của tao chỉ có nước "đội quần với thiên hạ" nghe Tám. Hoặc mày không ngăn chặn có chuyện gì thì tao không gặp mặt ông Bảy Hồ nữa. Nghe đồng chí Tám thuật lại câu chuyện anh Sáu Phú dặn, tôi càng cảm phục một con người quá tinh tế, phát hiện vấn đề khá nhạy cảm mà lẽ ra tôi phía đằng gái phải biết sớm hơn anh, dặn dò đồng chí Tám trước anh, dù sao đồng chí Tám cũng là cấp dưới trực tiếp của tôi, dễ nói chuyện hơn anh nhiều. Sau này trở thành sui gia với anh Sáu Phú tôi mới thấy sự sáng suốt tin tưởng chu đáo của anh đã răn đe dạy dỗ con anh, nên chúng nó đã gìn giữ cho nhau để đến ngày vui thật sự cho hai gia đình. Kỷ niệm thứ hai là chính thức làm sui với anh: Lẽ đời anh là cấp trên, tôi là cấp dưới, tuổi tác tôi cũng nhỏ hơn anh nhiều, anh có đầy đủ uy tín nói chuyện hôn nhân cho hai đứa hoặc chỉ cần thông qua một người môi giới như anh Ba Phương là được rồi (anh Ba Phương nguyên là Phó Giám đốc lương thực Tiền Giang đã nghỉ hưu ở gần nhà anh, giữa anh và anh Ba Phương thân nhau như ruột thịt). Song anh không làm thế mà anh nhờ đồng chí Ba Quân - Giám đốc Công ty 404 thường xuyên thăm dò dư luận phía nhà gái để anh bước tới, mặt khác anh còn thận trọng nhờ thêm anh Sáu Thọ - lúc đó là Chủ tịch tỉnh Tiền Giang, anh Chín Lợi - Phó Tư lệnh quân khu nói chuyện thêm về hôn nhân của hai chúng nó. Qua những việc làm của anh tôi càng rõ một con người xử sự ở đời thường rất chân lịch sự, không ỷ quyền, ỷ thế, biết tôn trọng phía nhà gái, bởi vậy khi trở thành sui gia tôi rất quý trọng anh ở nhân cách đối nhân xử thế, từ đó tôi suy luận ra rằng: Ở đời thường anh còn làm như huống chi ở cấp chỉ huy, được cấp trên, cấp dưới thương yêu quý trọng là phải lẽ lắm. Tôi rất tiếc thời gian làm sui với anh quá ngắn ngủi (chỉ hơn một năm) mà anh đà sớm ra đi. Anh sui ơi! nay không còn được nhìn mặt thằng cháu nội của anh nay vừa 4 tuổi, nó rất kháu khỉnh tinh nghịch, dễ thương. Ai gặp nó cũng khen đáo để nói nó giống hệt ông nội hồi còn trai trẻ. Còn riêng tôi thì được thằng cháu ngoại trai duy nhất trong 3 cháu ngoại nên cháu rất được nuông chiều của bà nội và ông bà ngoại, cháu có cái tên khá ấn tượng là Trần Nguyễn Anh Khôi để kỷ niệm sui gia hai họ Trần - Nguyễn. Nguyễn Hồ (Bảy Hồ) Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:23:54 pm NHỚ VỀ CẬU TÔI Thời gian thấm thoát trôi nhanh quá, mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi. Tôi đã đi nhiều nơi nhưng mỗi lần về quê đi ngang qua bờ dừa này, nó cũng giống như những bờ dừa khác nhưng sao tôi thấy bồi hồi xúc động, những kỉ niệm bé thơ lại hiện về trong kí ức. Ngày xưa, nơi đây có một ngôi nhà lá bé nhỏ nằm bên những gốc dừa lão cao ngất; bây giờ nhớ lại tôi còn thấy sợ, tôi thầm cảm ơn những trái dừa có mắt nhân từ. Không biết ngôi nhà có tự bao giờ nhưng từ khi biết cảm nhận được tôi thấy mình đã sống ở đây với ông bà ngoại và cậu tôi đó là (Trần Nhiên) Thiếu tướng Trần Minh Phú sau này, nhưng thỉnh thoảng cậu mới về thăm nhà. Mỗi lần cậu về tôi mừng rỡ chạy lúp xúp, quấn quýt theo chân cậu, vòng tay bé nhỏ ôm chặt cái đùi to trắng muốt, lúc đó tôi chỉ cao có bấy nhiêu, cậu tôi âu yếm nựng nịu và nói: "Cái mặt giống hệt trái bần dĩa". Tôi không hiểu đó là trái gì mãi đến sau này trên đường về quê bằng đò máy thấy những nhánh bần gie ra sông, trái nó lớn lắm và dẹp như cái dĩa bàn, tôi mỉm cười nhớ lại sự so sánh ngộ nghĩnh của cậu tôi. Tuy xuất thân trong một gia đình bần cố nông nhưng cậu không vạm vỡ như một nông dân mà có nét "Trương Phi", hiên ngang và oai phong như con nhà quyền quý. Dáng dấp cao lớn như người châu Âu, nước da trắng mịn màng, dáng đi như hổ, dáng ngồi như thạch giọng nói ấm nhưng vang xa. Tôi nghe kể cậu tôi đi bộ đội rất sớm, mới 16 tuổi; ông bà tôi nhớ lắm thỉnh thoảng ông bà tôi làm chiếc bánh bao ngon đi thăm cậu, đi bộ đội rồi mà ông tôi vẫn còn hôn hoài. Cậu kể lúc đó mắc cỡ cứ nói "Ba kì quá!". Từ lúc bé thơ ở làng quê Châu Hòa, cậu tôi đã nổi tiếng là "Năm Nhiên đẹp trai, thông minh nhất", trò chơi nào cậu tôi cũng chiến thắng. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ dáng dấp của cậu tôi lúc còn thanh niên cổ quấn khăn rằn, vai đeo súng. Cậu là hình ảnh tiêu biểu của anh "Bộ đội Cụ Hồ" mà nhà thơ Tố Hữu đã ngợi ca: "Hoan hô anh giải phóng quân! Kính chào anh con người đẹp nhất, Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất Sống hiên ngang bất khuất trên đời Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi"... Từ nhỏ, tôi đã xem cậu như người cha kính yêu của mình. Có lẽ vì thương cảm cho đứa cháu sớm mồ côi cha, không ở gần mẹ, vừa thôi nôi đã sống với ông bà ngoại nên cậu cưng tôi nhất nhà. Vì thế hễ lâu không thấy cậu về tôi nhớ lắm cứ theo hỏi ông bà. Bà tôi trả lời: "Cậu đi tập kết hai năm sau độc lập mới về". Với trí óc non nớt tôi không hiểu nổi hai từ "tập kết" và "độc lập" là gì nhưng tôi mừng lắm cứ gặp ai cũng khoe "hai năm nữa độc lập cậu năm về". Thế rồi thời gian cứ trôi đi, mãi tới năm tôi 11 tuổi, gia đình tôi tản cư ở Phú Hưng thì được tin mừng cậu tôi đã về Nam rồi và đã về tới Châu Hòa. Tôi thấy hồi hộp vui sướng lạ thường vì được đi thăm cậu. Sau bao năm xa cách, bây giờ gặp lại người thân yêu nhất tôi mừng lắm vì ngày cậu đi, tôi mới 4 tuổi. Gặp lại cậu là tôi nhận ra ngay vì hình ảnh hiên ngang oai hùng đó đã in sâu vào đầu óc non nớt của tôi tự thuở nào. Cậu ôm chầm lấy tôi hôn khắp đầu, khắp trán, tôi sung sướng hạnh phúc như được sống trong vòng tay của người cha thân yêu, cái tình phụ tử mà tôi không có được. Từ ngày cậu trở về Nam chiến đấu, tôi là người đi thăm cậu nhiều nhất, tiếc là ông tôi qua đời sớm nên không thấy được ngày vinh quy của con trai, một sĩ quan trẻ tuổi. Chiến tranh mỗi lúc một ác liệt hơn, khoảng cách thăm cậu càng cách xa dần. Tôi còn nhớ năm học lớp 10, khoảng năm 1969 - 1970 tôi cùng bà ngoại theo cô giao liên đi thăm cậu. Tôi mặc chiếc áo trắng, tay xách cặp như đang đi học. Trên đường đi phải khéo léo tránh những tai mắt của "chiêu hồi". Cô dẫn tôi đến Nhị Quý rồi xuống ghe đi một đỗi, sau đó qua cánh đồng rộng đến nhà anh Sáu anh. Hôm đó trời mưa nhiều mà phải lội ruộng sống ở thành thị lâu rồi, chân không lấm đất, nhưng được gặp cậu thì tôi phấn khởi lắm không sợ máy bay hay bom đạn gì cả, cố gắng lội nhanh theo anh Nhành. Chốc, chốc anh thương tình dừng lại tôi mà trách: "Mầy đi lâu quá!". Cuối cùng, tôi và ngoại cũng đến một ngôi nhà lá ẩn dưới lùm cây có cậu tôi ra đón. Cậu hôn tôi như thời thơ ấu, tôi thấy mình bé nhỏ lạ thường mặc dù lúc này tôi đã là một thiếu nữ. Đêm đó tôi ngủ sớm bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng trò chuyện của bà và cậu. Gà gáy sáng tôi và bà phải chia tay cậu, vừa ra khỏi nhà chừng 100 m, tôi trượt té xuống sình, bà mắng tôi một trận nhưng cậu thì dịu dàng vỗ về: "Có đau không con gái, vô gốc dừa thay đồ đi con". Ngoài chiến trận câu tôi là anh hùng nhưng trong gia đình cậu tôi rất dịu dàng, vui vẻ. Thế rồi thời gian trôi đi, chiến tranh càng ác liệt hơn, đôi chân cậu tôi đi khắp nẻo đường Nam Bộ, còn tôi vào sư phạm Vĩnh Long, mỗi lần xe đò đi ngang qua Nhị Quý - nơi đơn vị của cậu Nhiên hoạt động mà tôi có lần được vào thăm tôi đều dõi mắt nhìn theo thương nhớ... Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, gia đình tôi được sum họp, cậu tôi trở về oai vệ lạ thường, mặc dù đã hơn tứ tuần nhưng cậu tôi vẫn còn đẹp lắm, có lẽ vì thế mà cậu mắc "cái nạn đào hoa" cũng phải. Cậu tôi kể chuyện hay lắm, có những câu chuyện chiến trường sao mà khủng khiếp hơn cả trong phim. Còn chuyện lúc nhỏ tôi đã quên rồi nhưng cậu vẫn nhớ, cậu kể trước khi tập kết có lần cậu về thăm nhà thì tên trưởng đồn dẫn lính tới, cái nhà lá bé nhỏ quá không có chỗ nấp, cậu vội vã chung dưới gầm giường; ông tôi liền chạy ra cửa dã lã nói chuyện với chúng; còn tôi khum dưới đất miệng la: "cậu Năm ơi, cậu Năm" cậu tôi quýnh quá vội moi cục đất táng vào "trái bần dĩa"; tôi đau quá khóc ngất. Sau này, mỗi lần kể lại cậu nói "Thấy nó khóc thương hết sức". Tôi nghe kể cũng tự trách mình còn chút nữa hại chết cậu rồi. Đất nước đã hoàn toàn giải phóng, nước nhà độc lập rồi, những bạn đồng liêu với cậu đa số đã "gác súng" để về tỉnh làm nhiệm vụ của một "quan văn" nhưng có lẽ cuộc đời binh nghiệp đã gắn liền với số phận nên cậu tôi vẫn còn tiếp tục đánh giặc. Năm 1976, cậu thì trấn biên cương, mợ thì đau bệnh nên gởi bé Hạnh vừa tròn 4 tuổi về ở với tôi. Nhìn Hạnh tôi thấy thương vô cùng. Tôi mồ côi thiếu thốn tình thương phải rồi, còn Hạnh con nhà "quan" lỡ ra trong thời chiến, từ thuở nằm nôi đã sống ở chiến trường, mới 18 tháng gởi về nhà bác, đến khi gặp lại cha thì không nhận ra, run sợ khóc thét lên không dám đến gần. Hòa bình rồi mà cũng không sống gần cha mẹ phải về ở với chị. Con bộ đội thời chiến chinh sao mà tội nghiệp quá! Nhìn những đứa con của cậu tôi, con nhà tướng mà phải vất vả cực nhọc, tôi thương chúng vô cùng. Thế rồi những năm 1980, cứ mỗi lần nghỉ hè tôi lại về Tiền Giang sống chung với mợ. Suốt mỗi mùa hè, tôi chỉ được gặp cậu một lần, đó là lúc cậu từ Campuchia về thăm nhà, có khi chỉ được ít hôm thì có điện khẩn phải đi ngay. Chiến trường Campuchia càng ác liệt thì cậu càng ít về hơn. Suốt cuộc đời cậu tôi gắn liền với trận mạc. Trên đầu, sau ót cậu tôi có những vết sẹo đến phát sợ, thế mà trước khi rút quân về nước cậu tôi còn phải trả cái nợ chiến tranh bằng những vết thương cuối cùng ở chân vì bị phục kích trên đường trở lại chiến trường Campuchia. Hơn 50 năm binh nghiệp, chiến trường là nhà cậu tôi về hưu ở tuổi 70, thế nhưng tôi thấy cậu có vẻ còn tiếc lắm. Có lẽ vì làm việc quá sức nên lúc về già cậu tôi mắc nhiều chứng bệnh khó trị. Cậu qua đời sau cơn bệnh nặng, tôi đau lòng lắm. Thế là từ nay tôi vĩnh viễn mất cậu rồi. Chắc cậu tôi ra đi thanh thản lắm vì đã làm tròn nợ núi sông. Ngôi đình làng Châu Hòa lại viết thêm tên một vị thần mới "Thiếu tướng - Trần Nhiên". Vĩnh biệt cậu, người Bộ đội Cụ Hồ, cậu đã ra đi rồi nhưng hình ảnh cậu và những chiến công hiển hách vẫn sống mãi với bạn bè, với những người thân với non sông đất nước. Viết xong tháng 4 năm 2008 Nguyễn Thị Đẹp - Bến Tre (Cháu ruột gọi ông Sáu Phú bằng cậu) Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:31:28 pm VÀI KỶ NIỆM VỀ NGƯỜI CHÚ CỦA TÔI Còn nhớ ngày xưa tôi đi tập kết sau chú Sáu Phú. Ra miền Bắc cũng không ở chung nhưng thỉnh thoảng chú đến thăm tôi. Ở xa xứ mà có chú, tôi thấy ấm áp tình cha, chú. Mặc dù có những đồng đội lầm tưởng chúng tôi là hai anh em ruột vì tôi nhỏ hơn chú chỉ bốn tuổi mà chúng tôi lại có những nét giống nhau lắm. Gần chú, tôi cảm thấy mình bé nhỏ làm sao. Tôi thấy mình được thương yêu đùm bọc như một người cha đối với con. Chú hay giới thiệu với bạn bè: Tôi kêu "ông" này tới bằng "thằng" lận, ai nấy đều cười ngất. Có những đêm ngủ chung tôi hỏi chú tại sao lấy bí danh là "Sáu Phú" chú trả lời: "Thứ Sáu là thứ của thím mày, còn Phú là tên của Trần Phú" - vị Tổng đầu tiên của Đảng mà chú tôi rất hâm mộ và kính trọng. Trong gia đình, chú tôi rất thương yêu quan đến mọi người. Chú tâm sự với tôi có một điều chú rât ân hận là nơi trận mạc chú không nhận ra cháu mình, trong lúc chú nghe tiếng nó cố sức gọi "Ông Năm", thứ năm là thứ trong gia đình của chú. Chú kể: Trong một trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt ở Mỹ Tho, khi đoàn quân đi qua có nghe tiếng gọi "ông Năm", nhưng điều kiện chiến đấu vô cùng khẩn trương nên chú không nhận ra thằng Hai (cháu gọi chú bằng ông) nên chú khoát tay hối thúc "chạy nhanh lên chỗ này nguy hiểm lắm", vì nơi đó địch thường pháo kích. Thằng Hai theo đoàn quân chạy miết. Vài tháng sau nghe tin thằng Hai hy sinh ở Long An và chú cũng nhận biết tiếng gọi hôm đó là của nó, nên chú ân hận vô cùng. Đối với nhân dân, chú cũng rất mực thương yêu, chú tiếc từng sức người, sức của, vì thế ở đâu chú cũng được dân thương yêu kính trọng. Tôi còn nhớ trận đánh ở Hữu Định, chú ra lệnh cho bộ đội lui quân theo kinh Chẹt Sậy trước khi trời sáng. Bộ đội ta chuyền miệng báo tin, họ nói: Cứ nghe lệnh ông Sáu Phú là đi không biết mệt và rất vững niềm tin. Ở Châu Hưng, những cựu chiến binh năm xưa mỗi lần ngồi uống trà cứ hay nhắc đến Sáu Phú với sự thán phục. Khi chú làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 đánh đồn Châu Hưng 3, ở chiến trường Khu 8 có phong trào: "Bám thắt lưng địch mà đánh" thực hiện đánh bồi, đánh nhồi, đánh liên tục. Chỉ trong vòng không đầy mười hôm mà Tiểu đoàn 261 đã vượt sông Ba Lai đánh đồn Châu Hưng 3 ba lần làm cho dịch phải khiếp vía kinh hoàng. Chú nay đã đi xa, nhưng những kỉ niệm về chú vẫn còn sống mãi với người thân và nhân dân. Năm Bê (Cháu gọi ông Sáu Phú bằng chú) Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:44:55 pm NHỚ VỀ NGƯỜI CHỒNG THƯƠNG YÊU Tôi nhập ngũ vào đội giao liên Tỉnh đội Kiến Phong năm 1964 lúc vừa tròn 19 tuổi. Vốn ba má tôi là gia đình cơ sở cách mạng đã từng tham vận động nhân dân nổi dậy phá dinh điền Đông Phục (nay là thị trấn Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp) để giải phóng khỏi ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy. Công tác trong đội giao liên hơn 3 năm, tôi được các chú lãnh đạo cử đi học lớp y tá, cứu thương và sau khi tốt nghiệp (tháng 9 năm 1969) được về đội phẫu tiền phương của Trung Đoàn Đồng Tháp 1. Lúc này anh Sáu Phú đang là Trung đoàn trưởng, một cán bộ trắng trẻo, to cao, đẹp trai, đó là cảm nhận đầu tiên của tôi khi được gặp mặt anh Sáu Phú. Những tháng ngày sau đó, tôi được nghe anh chị em nói chuyện ca ngợi về tài chỉ huy quân sự đánh giặc của Trung đoàn trưởng Trần Minh Phú, có thường chuyện nghe người ta kể cứ như huyền thoại, vô cùng khâm phục, nhưng cũng nghe nói tánh anh Sáu Phú nóng như lửa nên rất ít dám đến gần. Mãi đến năm 1970 tôi nghe tin gia đình riêng của anh Sáu, chị Sáu Cao là vợ của anh Sáu Phú đã cưới trước khi anh đi tập kết năm 1954 nay (1968) có vấn đề trục trặc, tổ chức cho anh được thôi chị Sáu (như bây giờ gọi là ly hôn) để anh yên tâm công tác. Tôi càng cảm thấy thương mến anh Sáu Phú nhiều hơn và từ đó đem lòng thương yêu người Trung đoàn trưởng của mình. Tôi nhỏ hơn anh Sáu Phú những 14 tuổi, nhưng cảm nhận của tôi với anh không hề có khoảng cách nào hết, là một cô y tá trẻ và (như mọi người nhận xét) còn đẹp gái, nhưng cách sống của anh Sáu Phú đã hoàn toàn chinh phục trái tim thiếu nữ của tôi. Nhất là cách nói chuyện có duyên pha chút hài hước của anh làm cho người ta quên anh là một cán bộ quân sự "khạc ra lửa". Cứ vậy tôi đã bị anh Sáu Phú chinh phục. Đầu năm 1971, anh Sáu Phú được đề bạt Tham mưu phó Quân khu 8. Anh rời Ban chỉ huy Trung đoàn Đồng Tháp 1 về căn cứ cơ quan Quân khu 8 đóng giáp biên giới Việt Nam - Campuchia. Tháng 4 năm 1971 quân khu chỉ đạo cho Trung đoàn 1 cho tôi về cứ gặp anh Sáu Phú để tổ chức đám cưới. Khi chúng tôi yêu nhau, anh Sáu Phú đã báo cáo vói cấp trên và được Bộ Tư lệnh Quân khu 8 ủng hộ, đồng thời phân công anh Tư Chương - Phó Tư lệnh ký quyết định và tổ chức đám cưới cho hai chúng tôi. Thật không kể hết niềm hạnh phúc và vui mừng của hai chúng tôi và sự chăm lo giúp đỡ vô cùng giản dị mà ấm cúng của đồng chí đồng đội, các anh chị ở cơ quan Tham mưu Quân khu 8 đang có mặt ở căn cứ, mỗi bộ phận góp một con vịt hoặc con gà (từ sản xuất tăng gia) ít bánh kẹo và trà thuốc vậy mà đám "tuyên bố" của hai chúng tôi vui lắm. Có anh Bảy Cao - Tham mưu trưởng, anh Năm Hảo - Tham mưu phó Quân khu 8 dự và trực tiếp làm chủ hôn. Đã 37 năm rồi kể từ ngày cưới nhưng mỗi khi nghĩ tới ngày ấy lòng tôi lại rạo rực buồn vui khó tả. Ngày ấy tôi cũng không thể hình dung được hạnh phúc của hai chúng tôi lại trải qua một chặng đường dài vô cùng gian khổ, khó khăn, vẫn biết đất nước đang còn chiến tranh sự xa cách, sự hy sinh mất mát của những người lính như chúng tôi là không tránh khỏi. Tổ chức đám cưới xong quân khu giữ lại cho tôi làm y tá của cơ quan Tham mưu Quân khu 8 để được gần chồng và tháng 1 năm 1972 tôi sinh cháu gái đầu lòng đặt tên là Trần Thị Mỹ Hạnh. Mới sinh cháu được 7 tháng thì anh Sáu được lệnh ra miền Bắc học tập tại Học viện Quân sự cấp cao, lúc này sức khỏe của tôi không được tốt lại mang đứa thứ hai phải gửi cháu Hạnh về bên ngoại (mẹ tôi) nuôi hộ. Xa chồng xa con là một thử thách vô cùng to lớn của tôi lúc bấy giờ. Tháng 10 năm 1973, tôi sinh đứa con trai, cháu được đặt tên là Trần Minh Phúc. Năm 1974 trong lúc anh Sáu Phú đang học ở Hà Nội, tôi lại mắc bệnh bướu cổ, sức khỏe giảm sút, các anh lãnh đạo quân khu định cho tôi ra Bắc chữa bệnh và gặp chồng ở ngoài ấy. Tôi bèn gửi cháu Hạnh về bên nội (cha mẹ anh Sáu), cháu Phúc cho người chị cùng cơ quan nuôi hộ, một mặt cho cháu Hạnh biết cả nội lẫn ngoại, lỡ không may anh Sáu và tôi có bề gì thì các cháu sẽ bơ vơ, trong chiến tranh ai mà biết trước được? Đã chuẩn bị như vậy, nhưng cũng có những yếu tố khách quan nên tôi không ra Bắc được. Các anh đưa tôi vào bệnh xá dân y Khu ủy chữa trị. Bác sĩ Trần Bửu Kiếm trực tiếp khám cho tôi và nói: "Bướu của chị là bướu ác, nhưng may chưa ảnh hưởng đến tính mạng, để tôi cho uống thuốc nam uống thử xem sao". Thuốc nam bác sĩ cho tôi uống có những vị gì tôi không rõ lắm chỉ biết có cây "Ké đầu ngựa" vậy mà bệnh của tôi thuyên giảm, rồi hết hẳn cho đến nay không tái phát nữa. Thật là "ở hiền gặp lành" người xưa đã nói như vậy. Trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 anh Sáu Phú ra trường về làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8 (thành lập cuối năm 1974) hai vợ chồng không gặp nhau vì tôi đang ở cứ. Anh Sáu đi thẳng xuống chiến trường Mỹ Tho chỉ huy chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Một tháng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới từ căn cứ trở về Mỹ Tho đoàn tụ với chồng con và gia đình nội ngoại. Ngày sum họp tôi vô cùng hạnh phúc, nhưng chỉ được vài tháng anh Sáu Phú lại chỉ huy đơn vị về thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy quét tàn binh địch và lên Hông Ngự chống địch lấn chiếm, bảo vệ biên giới. Cuối năm 1975 tôi lại bị bệnh sỏi thận, phải lên Bệnh viện 175 để mổ, anh Sáu đang bận công tác các cháu được gửi về bên nội, gia đình lại xa nhau. Lúc ấy tôi nghĩ có lẽ giải phóng rồi xa chồng con là tạm thời thôi nên tôi yên tâm điều trị hết bệnh trở về quân khu, thì anh Sáu Phú chỉ huy sư đoàn lên biên giới Mộc Hóa (Long An) sản xuất khai hoang phục hóa Đồng Tháp Mười. Tôi được các anh cho đi học một lớp thú y, sau đó về tiểu đoàn sản xuất đóng ở Bà Lâm (Cái Bè, Tiền Giang) lúc này tôi lại có bầu và sinh cháu trai thứ 3 (năm 1977) tên là Trần Minh Tuấn. Anh Sáu bàn bạc và quyết định cho tôi về chăm lo việc gia đình, năm 1978 tôi nhận quyết định mất sức về phục viên, cầm quyết định trong tay với bao nỗi niềm suy nghĩ bây giờ về đâu? cả hai vợ chồng là bộ đội chỉ có ba lô trên vai không nhà, không cửa. Rất may anh Tám Phương (Lê Quốc Sản), Tư lệnh quân khu được Tỉnh đội Tiền Giang cho 2 công đất vườn giáp lộ 4 khu vực Bà Lâm (Cái Bè, Tiền Giang). Do anh đã nhận nhà đất trên thành phố nên trả lại và đề nghị Tỉnh đội cấp cho vợ chồng tôi. Có đất rồi lại lo đến nhà; anh Sáu xin và mua đơn vị một ít cây và tôn về dựng tạm nếp nhà cho vợ con trú ngụ trên 2 công đất ấy, lúc đầu không thể kể hết nổi khó khăn vất vả. Cũng trong năm 1978 dựng nhà cho vợ con tạm xong cũng là lúc tình hình chiến sự biên giới Tây - Nam diễn ra ngày càng quyết liệt, anh Sáu lên đường chiến đấu, vợ chồng lại phải xa nhau. Không ngờ cuộc xa nhau này kéo dài những 10 năm (1978 - 1989), tuy anh Sáu hơn 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia thỉnh thoảng đi họp, đi công tác về nước có ghé qua nhà thăm vợ con nhưng thời gian rất ngắn. Lúc anh Sáu nghỉ phép cũng chỉ mươi ngày hoặc nửa tháng rồi trở lên đơn vị. Cuộc đời anh có lẽ gắn với chiến trường, gắn với trận mạc, luôn ở tuyến trước; số phận đã sinh ra anh đã như vậy! Tôi và các con (sau này đã lớn khôn) đều hiểu và thông cảm cho anh. Nhưng phải nói anh Sáu Phú là một người vô cùng thương mến vợ con và trách nhiệm cao với gia đình, cha mẹ, anh chị em và dòng họ. Bất cứ lúc nào có dịp về thăm gia đình là anh dành hết tình thương yêu cho mọi người. Những ngày Tết anh đều sắp xếp về quê thăm viếng cha mẹ, bà con dòng họ và bạn bè thân hữu, giúp đỡ những người gặp khó khăn, do vậy ai ai cũng quý mến, kính trọng anh Sáu Phú. Đối với bảy đứa con của anh: Trần Thị Mí, Trần Văn Cung, Trần Văn Đua, Trần Thị Kim Cương, Trần Thị Mỹ Hạnh, Trần Minh Phúc, Trần Minh Tuấn, anh đều thương yêu và quan tâm như nhau. Các cháu nay đã trưởng thành và đã có gia đình riêng hạnh phúc, là những người công dân tốt. Các cháu rất tự hào và kính phục người cha của mình và nguyện noi gương cha, dạy dỗ các con mình thành những con ngoan trò giỏi. Kể đến đây làm cho lòng tôi vô cùng xúc động thương nhớ đến anh, mặc dù anh đã đi xa hơn 5 năm nhưng lúc nào tôi cũng thấy như có anh bên cạnh động viên an ủi tôi. Nhớ tới anh tôi càng tự hào, nhất là khi gặp các đồng chí đồng đội, bạn bè của anh những người đã từng sống chiến đấu công tác với anh đều quý mến anh, điều đặc biệt hơn nữa là các anh lãnh đạo Quân khu 9, các tỉnh Tiền Giang, Tre, Đồng Tháp đã hết lòng giúp đỡ để cuốn sách về Tướng Trần Minh Phú được hoàn thành để kỷ niệm vô cùng quý giá cho lực lượng vũ trang Quân khu 9 và gia đình tôi. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản và ra mắt bạn đọc trong và ngoài lực lượng vũ trang Quân khu 9, thay mặt gia đình tôi chân thành cám ơn các anh đã viết bài về anh Sáu Phú trong tập sách này. Cám ơn Bộ Tư lệnh Quân khu 9; các Tỉnh ủy, Ủy ban và Bộ chỉ huy Quân sự các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, Sư đoàn 8 và Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, trực tiếp là Cơ quan đại diện tại Cần Thơ, đã tích cực giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất để cuốn sách đến được với đồng chí, bạn bè của anh Sáu Phú và bạn đọc gần xa. Xin kính chào đoàn kết. Thái Thị Dung (Hai Dung) Vợ anh Sáu Phú Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:46:40 pm THAY LỜI KẾT Đọc tất cả các bài viết của các tướng lĩnh, cán bộ cao cấp và bạn bè, gia đình người thân của đồng chí Sáu Phú làm cho ta càng hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời Thiếu tướng Trần Minh Phú, cuộc đời một con người gắn với bao biến động của lịch sử, của vùng đất sông nước đồng bằng sông Cửu Long anh hùng. Những chiến công và thành tích chiến đấu do anh lập nên hơn 50 năm qua (1947 – 1997) trong quân ngũ thật là vô cùng to lớn. Với bề dày trận mạc, anh Sáu Phú đã tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp hàng trăm trận đánh và chiến dịch lớn nhỏ. Từ cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm gian khổ, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước oanh liệt và 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước chùa tháp Campuchia đã khắc họa chân dung một vị tướng quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam, của lực lượng vũ trang Quân khu 9 rất đỗi tự hào. Trong cuộc đời chiến đấu lâu dài gian khổ và ác liệt, anh Sáu Phú đã nhiều lần bị thương và không ít lần bị địch bao vây tìm cách tiêu diệt, treo tiền thưởng cho ai giết được anh và bằng nhiều thủ đoạn xảo quyệt như đầu độc bằng rượu bia, để loại anh Sáu Phú - người chỉ huy quân sự tài năng dũng cảm đã bao phen làm cho chúng bạt vía kinh hồn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thời kỳ 1961 - 1965 ở miền Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ) có nhiều giai thoại ca ngợi về tài thao lược chỉ huy đánh giặc của anh Sáu Phú. Thành tích đánh giặc của anh Trần Minh Phú bắt nguồn từ lòng căm thù giặc, sự giác ngộ cách mạng và tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc lại được Đảng, Quân đội giáo dục đào tạo, rèn luyện xây dựng nên một bản lĩnh vững vàng của người cán bộ đảng viên trong một quan đội anh hùng, một dân tộc anh hùng. Tướng Trần Minh Phú với tài quân sự đã được biết đến và được kết tinh bằng những bài học của tư tưởng quân sự Việt Nam, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và với tư chất thông minh cộng đức tính ham học tập cầu tiến bộ, khi có dịp được đến trường là anh ra sức học tập nâng cao kiến thức và trí tuệ một cách toàn diện. Tài chiến đấu, chỉ huy quân sự đánh giặc của đồng chí Trần Minh Phú để lại cho chúng ta nhiều điều phải suy ngẫm. Anh đánh giặc có bài bản, có kiến thức khoa học quân sự, nhưng lại rất sáng tạo chứ không hề máy móc rập khuôn. Kết quả những chiến công, thành tích của lực lượng vũ trang Quân khu 8 trước đây cũng như Quân khu 9 sau này do anh chỉ huy không phải là những trận đánh giống nhau mà nó diễn ra muôn hình vạn trạng. Nhưng trong những tình huống khó khăn phức tạp ấy, anh có những cảm quan quân sự đặc biệt "có người gọi là trực giác". Trực giác là một phẩm chất cực kỳ quan trọng của người tướng tài quân sự. Triết học Mác - Lê-nin khẳng định: "Trực giác là khả năng nhanh chóng phân tích những tình huống phức tạp và tìm ra cách giải quyết đúng đắn". Phrun-ze vị tướng tài, nhà quân sự nổi tiống của nước Nga đã từng nói: "Trong lĩnh vực quân sự muốn trở thành nhà chiến lược giỏi thì cần có những phẩm chất đặc biệt. Trong đó phẩm chất quan trọng nhất là cái mà người ta gọi là trực giác, tức là khả năng phân tích một cách nhanh chóng, tìm ra phương trong tất cả tính phức tạp của các hiện tượng xung quanh, dừng lại ở cái chủ yếu nhất, từ đó vạch ra một kế hoạch đấu tranh và công tác nhất định". Tất nhiên Thiếu tướng Trần Minh Phú chưa phải là một nhà chiến lược quân sự, anh là một nhà tổ chức chỉ huy tham mưu quân sự cấp chiến thuật, chiến dịch tài giỏi như vậy cũng rất đáng cho chúng ta học tập, nhất là đối với các thế hệ cán bộ quân sự của lực lượng vũ trang Quân khu 9 hôm nay và mai sau. Cuốn sách "Thiếu tướng Trần Minh nhìn từ đồng đội và người thân" không có tham vọng mô tả và tổng kết chi tiết cả cuộc đời đánh giặc của đồng chí Sáu Phú. Mục đích của ban biên soạn rất giản dị, chỉ mong dựng lại chân dung một con người với những giá trị nhân văn. Thông qua câu chuyện kể của đồng đội, đồng chí và người thân nhằm bổ sung tái hiện khắc họa lại hình ảnh một thời, để lại cho các thế hệ con cháu mai sau tìm hiểu tự hào và phát huy. Văn hoá đánh giặc và đánh giặc có văn hoá là truyền thống vô cùng tốt đẹp và cao quý của quân đội ta, dân tộc ta. Những người cán bộ quân sự tài năng sống hết mình vì nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự nghiệp chung như Tướng Trần Minh Phú sẽ là tấm gương sáng để lại cho đời sau. Xuất bản cuốn sách về Thiếu tướng Trần Minh Phú là một thể loại mới lần đầu tiên tổ chức ở cơ quan đại diện Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân tại thành phố Cần Thơ (không phải thể loại hồi ký) do đó chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân và ban biên soạn rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý, phê bình của bạn đọc, để có điều kiện tái bản chỉnh sửa nâng cao chất lượng hơn nữa và rút kinh nghiệm cho những cuốn sách tiếp theo. BAN BIÊN SOẠN Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:51:06 pm PHỤ LỤC NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ ĐÃ ĐƯỢC ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VÀ NHÀ NƯỚC CAMPUCHIA TRAO TẶNG ĐỒNG CHÍ THIẾU TƯỚNG TRAN MINH PHÚ Gần 50 năm tham gia quân đội, với 73 tuổi đời, năm mươi sáu tuổi Đảng, đồng chí Trần Minh Phú đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau đồng chí luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Với những công lao và thành tích to lớn đó, đồng chí được Đảng, nhà nước, quân đội tặng thưởng: - Một Huân chương Độc lập hạng Nhì. - Ba Huân chương Quân công hạng Nhì. - Một Huân chương Chiến thắng hạng Ba. - Bốn Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba. - Ba Huân chương Chiến công giải phóng Nhất, Nhì, Ba. - Một Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất. - Ba Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba. - Ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba. - Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. - Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. - Một Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất và huân chương Ăngko hạng Nhất do Nhà nước Campuchia trao tặng. Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:51:49 pm TRÍCH CẢM TƯỞNG CỦA MỘT SỐ ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI, BẠN BÈ VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU - ANH SÁU PHÚ "Cuộc đời của anh là cuộc đời đấu tranh cách mạng, người của chiến trường, người lính chiến. Sống với anh không dài lắm, song những thời điểm lịch sử đều không thiếu vắng anh. Anh góp phần làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cùng với đồng đội, đồng chí, đồng bào giải phóng thành phố Mỹ Tho, làm cho Mỹ Tho lại càng thêm một lần nữa tự hào về truyền thống vẻ vang của quê hương Nam Kỳ khởi nghĩa. Anh tuy tuổi đã cao, trải qua 2 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc. Khi Tổ quốc kêu gọi, anh lại lên đường làm nhiệm vụ quốc tế giúp đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng. Ở đây chúng mình cùng nhau chia sẻ bao niềm vui, nỗi buồn và cùng nhau trải qua vô vàn gian khổ khó khăn. Tôi muốn nhắc lại một điều trong lòng mình, anh đảm nhiệm trên một hướng chiến dịch rất thành công đánh bại Pônpốt trên tuyến biên giới mùa khô năm 1985. Tấm Huân chương mà Đảng, Nhà nước trao tặng anh trong thời khắc yêu cầu lòng hy sinh dũng cảm của ba quân cùng với người chỉ huy. Với anh đã cùng với tập thể lãnh đạo, chỉ huy và các đơn vị nỗ lực vươn lên, vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách giành những thắng lợi lớn lao trong thời ấy. Vĩnh biệt anh, bọn mình sẽ xứng đáng với bạn bè, đồng chí, đồng bào, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng, Bác Hồ đến ngày thắng lợi, mà khi còn sống anh hằng mong muốn". Trung tướng Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) Nguyên Tư lệnh Quân khu 9 Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:52:25 pm ĐÔI DÒNG VĨNH BIỆT "Đoàn đại biểu Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre, kính viếng đồng chí Thiếu tướng Trần Minh Phú, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9. Đồng chí Trần Minh Phú, đứa con thân yêu của quê hương Đồng khởi Bến Tre, suốt cả cuộc đời hy sinh cho nước, cho dân, đã công hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang. Nhân dân và lãnh đạo tỉnh nhà vô cùng thương tiếc đồng chí Trần Minh Phú, mong đồng chí an lòng ra đi về cõi vĩnh hằng. Nhân dân và lãnh đạo tỉnh Bến Tre nguyện hep tục sự nghiệp cách mạng mà có phần đồng chí góp, đưa Bến Tre sánh vai cùng các tỉnh bạn trong giai đoạn cách mạng mới". Ngày 07 tháng 4 năm 2003 Huỳnh Văn Be (Phương Hùng) Chủ tịch UBNN tỉnh Bến Tre Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:52:55 pm LỜI TÂM SỰ PHÚT CHIA LY "Đảng bộ và nhân dân tỉnh Đồng Tháp vô cùng thương tiếc đồng chí Trần Minh Phú, người cán bộ quân sự tài ba, người bạn lớn của Đảng bộ và nhân dân Đồng Tháp. Thương tiếc anh và nhớ công lao của anh; dấu chân anh cùng Tiểu đoàn 261A, Trung đoàn Đồng Tháp 1 in đậm nhiều nơi trên quê hương chúng tôi; dấu ấn "Quyết chiến và quyết thắng". Tỉnh ủy và nhân dân tỉnh Đồng Tháp xin cám ơn anh đã đóng góp nhiều công sức to lớn cho quê hương chúng tôi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với bản thân tôi luôn kính trọng anh, một người anh lớn, người con rể của quê hương Đồng Tháp, người chỉ huy tài năng mà tôi suốt đời ngưỡng mộ. Vĩnh biệt anh trong nỗi niềm tiếc thương vô hạn. Thay mặt Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và bản thân xin gửi đến chị Sáu cùng gia đình lời chia buồn sâu sắc nhất. Xin vĩnh biệt anh Sáu Phú!" T/M TU, UBND, MTTQVN tỉnh Đồng Tháp Huỳnh Minh Đoàn - Bí thư Tỉnh ủy Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:53:28 pm LỜI VĨNH BIỆT ANH SÁU PHÚ! Phải vĩnh biệt anh, tôi và anh em làm công tác sáng tác văn học và làm báo rất đau lòng. Anh là một cán bộ sĩ quan, một vị tướng lĩnh tài năng của quân giải phóng. Kẻ thù khiếp sợ khi nghe tới tên anh, nhất là trong những năm tháng đánh Mỹ. Anh em ngành Văn hóa Thông tin rất quý trọng anh. Là đứa em đã nhiều lần bên anh trong chiến đấu: Thẻ Mười Ba, Ba Dừa, Vĩnh Kim, tôi đã viết nhiều bài ca ngợi chiến tích do anh chỉ huy. Trong đó có một phần lớn vì sự kính phục anh về tài thao lược quân sự. Có lần tại nhà hàng "Sông Tiền" anh bảo hát bài vọng cổ "Bờ sông tuổi nhỏ" do tôi sáng tác về quê hương Bến Tre. Anh ngồi lặng im nghe tôi hát với nỗi niềm xúc động trào dâng, trong khóe mắt hai giọt lệ lăn dài trên gò má. Bởi vì một phần trong bài hát đó tôi có gửi gắm những tình cảm cho riêng anh khi xa quê hương yêu dấu Bến Tre. Anh đã đi xa rồi! Là người anh, người đồng chí cùng cảnh ly quê vì nghĩa lớn. Bây giờ đây phải xa anh vĩnh viễn, tôi quá đau lòng. Xin vĩnh biệt anh Sáu! Châu Thanh Tiêu đề: Nhìn từ đồng đội và người thân Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Chín, 2026, 08:53:50 pm CẢM XÚC CỦA MỘT VỊ TĂNG NI "Anh Sáu Phú người bạn vong niên của tôi! Hôm nay tôi đến lễ tang anh. Người bạn vong niên bậc tuấn anh Suốt cả cuộc đời lo việc nước Muôn năm ghi dấu bậc tài danh Ra đi để lại nhiều thương nhớ Người ở còn vương mối thịnh tình Chúc mãi phiêu diêu miền cực lạc Hồng trần lưu dấu bậc tài danh". Đại đức Thích Thiện Huệ Phó ban hoằng pháp tỉnh Tiền Giang |