|
Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 30 Tháng Bảy, 2026, 09:11:19 pm - Tên sách: Trận đánh cuối cùng
- Tác giả: Trần Đình Tám - Nhà xuất bản: Thanh Niên - Năm xuất bản: 2013 - Người số hóa: giangtvx, thongdiepthoigian Đôi lời cùng bạn đọc Nói đến chiến tranh là người ta hình dung ra sự hủy diệt, tàn phá nặng nề những thành quả mà con người đã xây dựng được, sự mất mát, đau thương, nỗi hận thù sắc tộc, quốc gia v.v... Hậu quả mà chiến tranh để lại có thể 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa mới khắc phục được nhưng có những vết thương lòng thì khó có thể hàn gắn được. Con người biết điều đó, nhưng chiến tranh vẫn xảy ra trên thế giới này mà những nước lớn có tiềm lực kinh tế, quốc phòng thường hay uy hiếp nước bé, xâm lược nước bé. Đặc biệt là cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam với tương quan lực lượng của hai nước thật là chênh lệch: Mỹ có sức mạnh vô cùng to lớn về kinh tế, quốc phòng, nhưng cuối cùng, Mỹ đã phải thất bại, rút quân về nước. Việt Nam đã chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 đất nước đã thống nhất. Với những trải nghiệm, vốn sống mà tác giả tích lũy được trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ của dân tộc, thông qua lời kể của các nhân chứng tác giả Trần Đình Tám đã viết cuốn: "Trận đánh cuối cùng" là một tập truyện ký, tái hiện phần nào cuộc chiến tranh ở Việt Nam do Mỹ tiến hành. Ở tác phẩm này, tác giả không kể về những trận đánh hay tài thao lược quân sự của quân đội và các tướng lĩnh Việt Nam mà giúp chúng ta hình dung phần nào về công tác chuẩn bị, sự công phu, việc đầu tư tốn kém của quân đội Mỹ khi tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng sự công phu ấy, sức mạnh kinh tế và quốc phòng của nước Mỹ đã phải thất bại trước sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn của nhân dân Việt Nam. Tác phẩm này góp phần sáng tỏ một chân lý mà bao thế hệ người Việt đã minh chứng: Sức mạnh tinh thần, lòng dũng cảm, sự nghiệp chính nghĩa của một đất nước sẽ chiến thắng bất kỳ kẻ thù nào, dù kẻ thù đó được trang bị cả những thứ vũ khí tối tân hiện đại. Những trang viết của nhà văn đưa người đọc trở về với một cuộc chiến tranh đầy máu lửa của một thời đã qua, chứng kiến lòng quả cảm và đức hy sinh tuyệt vời của một dân tộc, dân tộc ấy sẵn sàng chiến đấu, hi sinh tất cả vì độc lập tự do, vì chân lí "Không có gì quý hơn độc lập tự do" mà ông cha ta và Bác Hồ truyền lại đã trở thành chân lí sống của mọi thời đại chúng ta... Tác phẩm cũng cung cấp cho ta cái nhìn của những người Mỹ có lương tri, sự cảm thông của họ với nỗi đau thương mất mát của người Việt Nam trong chiến tranh... Là nạn nhân của cuộc chiến nhưng với truyền thống nhân đạo cao cả, dân tộc Việt Nam vẫn sẵn sàng xóa bỏ hận thù, "làm bạn với tất cả", với tấm lòng cởi mở, bao dung, nhân hậu, thông qua nỗi đau của mình, để thấy người Mỹ cũng phải chịu khổ đau bởi vì rất nhiều người trong số họ cũng từng là nạn nhân của cuộc chiến tranh ấy. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam đã kết thúc, nhưng đến nay người ta vẫn chưa thống kê được đầy đủ, chính xác những liệt sĩ đã hi sinh ở chiến trường Việt Nam. Sau chiến tranh, người mất, người còn, người tàn phế, người phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chất độc da cam, nhưng chắc chắn người phải chịu đựng nỗi đau lớn nhất là những bà mẹ Việt Nam mà có lẽ cho đến giờ, trong số họ, vẫn còn những bà mẹ vẫn chưa tắt niềm hi vọng đứa con thân yêu của mình trở về... Chiến tranh chỉ mang lại nỗi đau khổ cho con người. Không ai muốn chiến tranh xảy ra... Quả đất này là mái nhà chung của nhân loại - Đó chính là thông điệp mà tác phẩm này muốn gửi đến bạn đọc. Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Xin chân thành cảm ơn bạn đọc. NGUYÊN HÀ Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:48:30 pm Một chiều cuối đông năm 2010. Bác Thắng với vẻ mặt không vui lại hay thở dài. Thấy vậy, Hà - người cháu ruột hỏi bác:
- Bác cảm thấy trong người thế nào? Bác ôm đầu một lúc rồi nói trong nỗi buồn: - Năm nay bác gần bảy mươi tuổi rồi. Bác đã trải qua một quãng thời gian khá dài, lăn lộn trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Ở lứa tuổi này thường nghĩ về những kỉ niệm. Những năm tháng ở chiến trường miền Nam (1960-1975) bác đã bị nhiễm chất độc hóa học, bác đã nhìn thấy những rừng cây cháy trụi, mùi cỏ khô bị thiêu cháy, cảnh tượng thật điêu tàn, hoang lạnh đến thê lương. Đó là những hình ảnh đầu tiên bác thường nhớ tới. Thế nhưng chiến tranh ác liệt đến thế mà bác vẫn sống trở về với các con. Và cũng rất may, các con bác lại được sinh ra trước khi bác vào Nam chiến đấu. Trong cuộc chiến tranh ác liệt đó lớp lớp thanh niên nam nữ vào chiến trường. Không biết bao nhiêu người đã hi sinh... Những người chiến sỹ cùng chiến đấu với bác, đến nay bác cũng không biết ai còn ai mất, vì tuổi già, bệnh tật... Dù sao bây giờ nhớ lại cảnh chiến tranh là điều không đơn giản. Khi năm tháng qua đi, cái mới xuất hiện, cái cũ mờ dần. Trong bối cảnh hiện nay, "cơ chế thị trường" mỗi người ít nhiều đều mang tính cá nhân. Có rất nhiều cuốn sử đã ghi chép chân thực quá khứ nhưng một số người chỉ muốn nói quá khứ vĩ đại. Nhiều lúc bác cảm thấy như họ muốn phô diễn một điều gì đó. Bác cảm thấy họ không chú ý đến quá khứ lịch sử, tới những bức xúc với thời cuộc. Tính lịch sử của một thời chiến tranh rất mờ nhạt, đơn giản. Bác thấy trăn trở khi tuổi đã về già. Nếu những chứng nhân không nói gì thì lịch sử cũng không thể cất lên tiếng nói chân thực của nó, thời gian trôi đi, bóng tối phủ lên, quên lãng phủ lên, thì cái thời mở nước, giữ nước chỉ còn lưu lại là những cột mốc của chiến công. Thực tế cuộc sống đã làm cho bác trăn trở, những bóng đổ ấy sẽ bị màn đêm nuốt chửng. Không có cách gì khác. Ký ức của bác đang càng ngày cách xa cái thời điểm mà bác cùng với lớp lớp chiến sỹ lặn lội hi sinh trong chiến tranh, nơi mà không ít đồng đội của bác đã nằm lại đấy. Đến bây giờ, ở đó chỉ còn là cảnh trí, chiến trường rộng lớn từ Mục Năm Quan đến mũi Cà Mau là còn trở lại với bác, lần này qua lần khác như khuôn hình tiêu biểu của một bộ phim. Những cái ấy nó đã kích động một nơi nào đó trong tâm trí bác - Hãy nhớ đi - Nó nói với bác chiến tranh là một sự hi sinh, đổ máu... Đó là một điều đáng suy ngẫm. Những người cầm súng giết giặc ngoại xâm thắng lợi rồi nay họ ra sao? Hãy nghĩ xem tại sao một cường quốc giàu có như Mỹ, một đất nước nghèo đói như Việt Nam lại dám đánh Mỹ và thắng Mỹ? Đất nước thống nhất là điều vui sướng với tất cả mọi người. Nhưng điều làm tất cả chúng ta đau lòng và suy ngẫm là sự phân hóa người giàu kẻ nghèo vẫn còn tồn tại. Đó là lý do bác kể về cuộc chiến tranh mà bác đã tham gia. Để suy ngẫm. Có hòa bình hôm nay phải đổi bằng xương, bằng máu thịt. Nhưng ngày hôm nay vẫn còn một số cảnh kẻ tha hồ từng bát người thì khao khát từng ly, của cải vật chất không phải của mọi người mà lại tập trung vào một số người. Điều đó làm chúng ta trăn trở. Chiến tranh xảy ra bất kỳ nơi nào trên thế giới đều làm cho con người đau khổ. Nói đến đây bác ngước mắt lên nhìn Hà với cặp mắt đầy hi vọng. Hà nói: - Cháu sẽ viết được những điều ước mong của bác. Nhưng thực sự cũng có những khó khăn vì cuộc chiến tranh đã thuộc về quá khứ. Bác phải chắp nối các mối liên hệ trong chiến tranh của thế hệ bác và thế hệ của cháu, cấu thành một tập ký về chiến tranh. Có lẽ nó sẽ không theo một trật tự thời gian, nhưng có tính lôgic và chân thật. - Tuy nói vậy, Hà vẫn lo lắng và thầm hứa: "Cố gắng viết để bác yên lòng khi nhắm mắt xuôi tay, không có gì ân hận". - Bác cứ yên tâm mà nghỉ cho khỏe; sống được lâu hơn nữa. Mọi việc đã có thế hệ con cháu của bác sẽ tiếp tục đảm nhận, gánh vác... Chắc chắn ngày mai đất nước sẽ sán lạn. - Hà nói với bác như vậy. Bác nở nụ cười tin tưởng: - Bác rất tin tưởng điều đó. - Nói xong câu ấy bác Thắng ngả lưng nằm xuống giường. Từ ngày đó, Hà vẫn canh cánh để ghi những điều người bác kể lại. Sau đây là câu chuyện mà Hà đã ghi lại được trên giường bệnh qua lời kể của bác Thắng - một sỹ quan quân đội, cựu chiến binh Việt Nam, người đã từng tham gia trong những ngày cả dân tộc chống lại cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:50:16 pm I Sau khi Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi bị ám sát, người dân trên thế giới, nhất là nhân dân Việt Nam hy vọng cuộc chiến tranh sẽ sớm kết thúc, nhưng không phải như thế, Tổng thống Giôn-xơn lên nắm quyền, điều đầu tiên của ông ta quan tâm không phải là tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam mà là tiếp tục cuộc chiến xâm lược với quy mô lớn, ác liệt hơn và bắt đầu đưa chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam. Quân đội Mỹ với các nước chư hầu như: Nam Triều Tiên, Úc,... quân đội và các phương tiện chiến tranh Việt Nam ngày một đông có khi tới 55 vạn binh lính. Các loại vũ khí hiện đại nhất của Mỹ được đưa vào miền Nam Việt Nam. Các sân bay của Nhật, Thái Lan tiếp nhận các loại máy bay chiến đấu và các máy bay trinh sát vận chuyển hàng chiến tranh, có cả máy bay ném bom chiến lược B52. Mỹ muốn biến nước ta "về thời kỳ đồ đá" - như họ tuyên bố. Ngoài biển từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17, Mỹ phong tỏa mìn, ngư lôi, các tàu chiến thường xuyên túc trực ngoài Biển Đông. Phía Tây từ phía Bắc giáp Trung Quốc đến vĩ tuyến 17 dọc biên giới Lào-Việt, Mỹ thường xuyên thực hiện mưa nhân tạo, thực hiện các chuyến bay để thả các loại hóa học gồm chất bạc và chỉ tạo ra các đám mây lạnh gây ra mưa nhân tạo ngăn chặn các đường tiếp tế trên đường mòn Hồ Chí Minh. Trên mặt đường lầy lội, ươn, trượt, sạt lở và cuốn trôi đi các đoạn cầu gỗ nhỏ bắc qua sông qua suối, Mỹ biết hậu cần quân đội Bắc Việt Nam là dùng các dòng sông chảy vào sông Cửu Long để thả hàng tiếp tế xuống phía Nam. Thông thường, để tiếp tế được đựng trong các hòm gỗ tròn, nếu bị bom thả thì vẫn nổi lềnh bềnh ngập xuống trồi lên. Ngoài ra còn có một mục đích khác làm cho các dòng sông, suối ngập tràn nước biến thành thác lũ, để hàng tiếp tế trôi dạt vào rừng. Một bí mật khác làm thay đổi thời tiết ở biên giới Việt Lào là do đổ xuống hàng tấn hóa chất như loại "Nhũ tương" trên các đường mòn và dọc theo bờ sông, khi đã thấm nước do mưa nhân tạo, loại "Nhũ tương" này gây ra lũ lụt làm cho các đường mòn đầy rẫy chất cát trơn, sụt lở không thể nào đi được. Còn các bờ sông cũng bị sụt lở. Những hoạt động thả hóa chất hầu hết đều thực hiện ở Bắc Lào trên một phạm vi hạn hẹp biên giới Việt Nam. Nhưng sau đó được mở rộng ra bao gồm cả Đông Nam Lào, khu vực phía Tây Hà Nội và Sơn Tây được mở rộng gấp đôi. Việc thả hóa chất hầu hết vào giữa tháng 3 và tháng 11. Ở Bắc Lào và Bắc Việt Nam có những trận mưa như thác đổ. Việt - Lào đã chịu những trận lụt lớn mà các chuyên viên khí tượng giỏi nhất thế giới cũng không lý giải được tại sao trong một vùng mà năm nay mưa như trút nước, còn năm khác lại ít mưa. Hệ thống máy bay trinh sát SR-71, RF-4, U-2, RPV điều khiển từ xa hoặc máy bay không người lái Bun-pha-lo Huntơ thường xuyên trinh sát khắp trên đất nước, nhất là miền Bắc Việt Nam. Bộ Chỉ huy không lực chiến thuật đặc biệt là không lực thứ 7 của Mỹ đóng ở Sài Gòn, cùng tiến hành trinh sát có người lái ở độ cao thấp như RF-4 hoặc F101. Máy bay trinh sát SR-71 trinh sát chụp bằng máy ảnh kỹ thuật có tiêu cự dài với tỷ lệ nhỏ, song lại bao trùm một bề rộng 10 dặm trên mặt đất nước ta. Loại máy bay này có thể chụp rất rõ những con đường nhỏ nhất, thậm chí cả nét mặt và cử động của con người rõ nhất. Còn máy bay SR-71 thường xuyên cất cánh từ sân bay Kao-de-na Ô-ki-na-oa, những phim chụp được nhanh chóng gửi về cho các nhà phân tích của DIA trong đội trinh sát kỹ thuật 67 của SAG ở căn cứ Y-ô-kô-ta (Nhật Bản). Kiểm tra xong gửi về Oa-sinh-tơn xem xét kỹ thêm, tìm kiếm những thay đổi trong việc bố trí lực lượng hệ thống phòng thủ và những điều động quân sự của Việt Nam mà ảnh của SR-71 đã chụp được. Mỹ đã cử những tướng tài sang Việt Nam chỉ huy chiến tranh. Tướng Bờ-léc-bớc đã nhận định vũ khí của Cộng sản còn thiếu và thô sơ, họ rất giỏi dùng chiến tranh du kích để tiêu diệt quân đội Mỹ. Ông ta đã bố trí dọc theo dải Trường Sơn, núi rừng rậm rạp mà Cộng sản có thể lợi dựng hoạt động chống lại quân đội Mỹ. Năm 1966, ông ta đã rời khỏi ủy ban quân sự. Và về Cục thành lập nhóm "Kế hoạch bảo vệ giao thông gọi tắt DCPG. Công việc của nhóm là thiết kế và thiết lập hàng rào điện tử" hay còn gọi là "hàng rào xâm nhập" mà Bộ trưởng Quốc phòng Mắc-na-ma-ra hy vọng lạc quan là không có một tên Việt cộng nào có thể đi qua hàng rào này, cô lập và vô hiệu hóa Bắc Việt Nam chi viện cho miền Nam Việt Nam. Khi các máy dò tìm hàng rào điện tử được triển khai, Mắc-na-ma-ra có một đánh giá tốt về tiềm năng của nó. Những máy dò tìm DCPG triển khai đặt làm những "lính gác" đường suốt ngày đêm dọc theo biên giới Việt Lào với mật độ cao là cứ bốn bụi cây rậm dọc đường mòn Hồ Chí Minh đều có một máy, cột ăng ten giống như cây tự nhiên cắm trổng ở đấy liên lạc với nó suốt ngày đêm để nắm tình hình của đối phương. - Năm 1950, Bơ-léc-bớc một tướng Mỹ được cử đến Việt Nam hoạt động tâm lý chiến đồng thời vẫn là thủ lĩnh Học viện Quân sự Oát-poanh, sau đó ông ta được cử sang Phi-líp-pin để nghiên cứu các chiến thuật quân sự. Năm 1957, ông ta lại được cử sang Việt Nam làm cố vấn cao cấp cho một vị tướng của Việt Nam Cộng hòa chỉ huy vùng châu thổ sông Cửu Long. Đầu năm I960, Tổng thống Ken-nơ-đi ra lệnh gửi một nhóm quân sự đến nước Lào. Bơ-léc-bớc được giao nhiệm vụ tổ chức đội quân này. Vào năm 1965, khi cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành một cuộc chiến dữ dội. Bơ-léc-bớc về lầu Năm Góc đảm nhận những nhiệm vụ bí mật. Sau khi được giao nhiệm vụ, ông ta trở lại Việt Nam để chỉ huy đơn vị bí mật nhất, mà ít người ở Đông Nam Á biết tới, đó là SOG (là tổ chức OSS hoạt động mật ở Đông Nam Á. SOG là nhóm nghiên cứu và giám sát, còn OSS là cơ quan tình báo chiến lược). Đội quân này đội mũ nồi xanh, có gắn phù hiệu hình sọ người và ngọn lửa đen đang cháy. Họ là những người lính tình nguyện, được CIA tuyển chọn từ lực lượng đặc biệt của bộ binh, không quân, hải quân - SOG đã tham gia những cuộc hành quân nảy lửa, nên khó tin được họ chỉ có chức năng nghiên cứu và giám sát. Người của SOG không đeo phù hiệu công khai ở quân phục. Tổng hành dinh của SOG đặt tại Sài Gòn có khoảng 90 người Mỹ làm kế hoạch tác chiến trong các phân đội của họ ở miền Nam Việt Nam. Tại Nha Trang, SOG có một phân đội không quân. Tại Đà Nẵng có một bộ phận hải quân, ở các nơi khác gọi là Gấu Mèo - gần Long Thành, tỉnh Đồng Nai" đơn vị không quân và bộ binh được đóng ở đó. Trong các đơn vị hành quân của SOG, có từ 350 đến 500 người - đây là lực lượng của Mỹ. Một nhóm khác được đào tạo khoảng 400 đến 500 người Việt Nam thuộc các đơn vị "chuyên viên kỹ thuật", bí mật hành quân vượt sang Lào và Cam-pu-chia. Trước khi phối hợp với SOG hoạt động ở Bắc Việt Nam. Một vài nhiệm vụ khác của SOG không được đưa ra công khai có liên quan đến vụ tập kích 34 an-pha vào căn cứ ngoài biển Bắc Việt Nam, do ngụy quyền Sài Gòn huấn luyện, thực hiện. Một vài giả thiết cho rằng: Những vụ tập kích đó có thể đã làm bùng nổ sự kiện vịnh Bắc Bộ hồi tháng 8-1964. Bờ-léc-bớc một sỹ quan cấp cao chỉ huy một binh chủng hỗn hợp gồm: Hải quân, Lục quân, Không quân quốc tế hoạt động bí mật mà chỉ riêng một nhóm người được biết và trực tiếp báo cáo thẳng tướng bốn sao Oét-mo-len, chỉ huy trưởng quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam. Bờ-léc-bớc có một phụ tá tài năng đó là Si-môn - ông ta là một biệt động quân chiến đấu giàu kinh nghiệm, có hiểu biết tường tận về chiến trường Đông Nam Á, nhất là Bắc Việt Nam. Ông ta đã chỉ huy đơn vị "Sao Trắng" trong hai chuyến đi Lào và Bắc Việt Nam. Ông ta đã tổ chức trên 45 lần các toán biệt kích xâm nhập vào miền Bắc Việt Nam bằng trực thăng. Để Bắc Việt không phát hiện được biệt kích, ông thường thực hiện vào lúc hoàng hôn và rạng sáng. Bờ-léc-bớc chỉ đạo các toán biệt kích rằng: "Sau khi tiếp đất xong chạy vào rừng, nấp vào các bụi cây rậm, chờ Cộng sản họ lùng sục. Khi thấy họ, các anh phục kích lại họ". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:51:08 pm Bờ-léc-bớc chỉ huy SOG từ tháng 5-1965. Lúc này, quân Mỹ đổ bộ xuống Đông Nam Á đã tăng lên từ 22000 cố vấn đến trên 80000 cố vấn. Oét-mo-len và lầu Năm Góc phải tập trung xây dựng một lực lượng hậu cần khổng lồ. Những hoạt động của SOG thầm lặng và ít thấy nhưng nó nằm trong kế hoạch chiến lược chiến tranh ở Việt Nam.
Những hoạt động của SOG gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nhân dân miền Bắc, làm cho nghề đánh cá của họ bị ngừng trệ. Những thuyền của SOG bắt ngư dân ở vùng biển từ Vinh, Nghệ An đến khu phi quân sự, đưa về đảo Phượng Hoàng gần Đà Nẵng. Một số thuyền của Bắc Việt chở vũ khí vào Nam bị SOG đánh chìm hoặc bắt sống các tàu đó. Bơ- léc-bớc cho rằng những hoạt động này không tốn kém là bao nhưng hiệu quả lại rất cao, làm cho tâm lý nhân dân và quân đội Bắc Việt Nam hoang mang. Ông ta từ Việt Nam trở về Oa-sinh-tơn khuyên lầu Năm Góc cần phải đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý này. Ngoài việc đó ra, Bờ-léc-bớc còn lệnh cho không quân Mỹ phá hoại ngay trong lòng Hà Nội bằng việc phá hoại đập Thác Bà điều đó có thể trở thành món hàng mặc cả của thượng cấp còn hiệu nghiệm hơn cuộc "xung phong bằng kỵ binh" vào Cam-pu-chia. Hà ạ! Quân đội Mỹ và cả lực lượng của Mỹ sang tham chiến ở Việt Nam không những có số lượng đông mà còn được chuẩn bị hết sức chu đáo về mọi mặt. Nhất là lính Mỹ không những có đầy đủ sức khỏe mà còn được chuẩn bị về mặt tâm lý trong những lần khám tuyển sang Việt Nam chiến đấu. Những câu hỏi thử thách phản ứng tâm lý khi tham gia chiến đấu, ví dụ như: "Tôi khám thấy lá gan của anh bị sưng to đây này. Chà, tại sao vậy hả chú lính trẻ đầy tương lai? Ở Việt Nam có nhiều đỉa, anh có sợ không? Anh có sợ thú rừng không? Ở Việt Nam nhiều sông suối; rắn, rết, vắt nhiều vô kể. Anh có biết bơi không? Anh có thể đi bộ trong rừng nhiều ngày được không? Nếu thiếu lương thực anh có thể ăn lá cây rừng trong nhiều ngày được không? Anh có sợ rắn rết không? Da anh trắng hồng đẹp thế này mai sau anh sạm đen lại anh nghĩ sao? Anh có nghĩ gì khi chủ nghĩa Cộng sản bành trướng sang nước Mỹ? Cộng sản không cần nhà cửa, tài sản, vợ con. Họ là những người vô sản. Cộng sản sống kham khổ, mấy người mới bẻ được một cành đu đủ, anh có coi thường họ không? Nếu anh chiến đấu ở Việt Nam bị bắt làm tù binh, họ nhốt anh trong một căn phòng chật chội, đông ngột người, đầy chấy rận, anh có sợ không?" Cuối cùng hàng năm họ cũng tuyển được hàng trăm, hàng ngàn lính Mỹ đưa sang Việt Nam. Những người lính Mỹ đưa sang chiến trường được chia làm ba loại: Loại tình nguyện, loại không tình nguyện và một loại chống đối. Sức mạnh chiến đấu của lính Mỹ là bắt buộc theo kiểu Mỹ. Đơn vị bác đã bắt được lính Mỹ, khi hỏi khẩu cung họ khai rằng: Chúng tôi là những học sinh, sinh viên và các thanh niên ở lứa tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự được khám tuyển kỹ lưỡng. Sau khi khám tuyển xong lính Mỹ sẽ tập trung về các trại huấn luyện. Tháng đầu tiên họ phải tập thể lực, ăn uống đầy đủ và hướng dẫn luật ở chiến trường Việt Nam. Sau đó, tập luyện thể lực như chạy đường dài, vượt chướng ngại vật, và các bài tập thể dục như hít đất 12 lần, hành quân bộ mang vác nặng vượt suối, trèo đèo. Chương trình luyện tập ngày một nặng. Học lý thuyết và thực hành, xạ kính, hệ thống truyền tín và phương pháp liên lạc, đàm thoại và liên lạc định hướng chiến đấu, cộng thêm chương trình vượt ngục và kiếm sống. Mỗi lính Mỹ được phát một thẻ bằng tiếng Anh và tiếng Việt "Tôi là người Mỹ đề nghị giúp đỡ". Mỗi chương trình huấn luyện kết thúc trước quy định thì phải tập thêm môn điền kinh. Sau ba tháng tập luyện, ban ngày chuyển sang huấn luyện chiến đấu, ban đêm về xạ kính và nhận dạng mục tiêu trong bóng tối. Cả hai chương trình huấn luyện này được thực hiện trên không và mặt đất. Ngoài ra còn bổ sung chương trình khác như luyện tập di động việt dã, kiểm soát làng xã, lục soát nhà cửa, phá chướng ngại vật và thu dọn chiến trường. Các bài học về cứu thương, cấp cứu nơi trận địa, cách băng bó các vết thương, gẫy chân tay, vận chuyển thương binh, tiêm thuốc an thần. Những bài học này do các bác sỹ từ chiến trường miền Nam Việt Nam về giảng dạy. Ngoài ra còn có các chương trình huấn luyện đột kích và sử dụng các ám tín hiệu bằng tay. Tất cả chương trình huấn luyện cho lính Mỹ sang Việt Nam chiến đấu, có bài bản, giáo trình biên soạn tỉ mỉ. Nó được đúc rút thực tế từ chiến trường miền Nam Việt Nam. Mỗi khi quân đội Mỹ tấn công ở bất kỳ nơi nào, chúng đều có tổ chức điều tra cụ thể mọi mặt, xong tiến hành lập sa bàn (sơ đồ chiến đấu) phối hợp luyện tập tác chiến giữa không quân, hải quân, bộ binh và các lực lượng khác. Sau một vài lần diễn tập, người chỉ huy kiểm tra đánh giá kết quả. Nếu kết quả tốt thì chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu. Nếu kết quả không tốt phải tập đi tập lại nhiều lần. Người chỉ huy Mỹ răn dạy lính: "Trong chiến đấu, không được phép có sai lầm". Trong đội xung kích "cảm tử" của Mỹ có một loại dao đặc biệt để phá tung các chướng ngại vật. Loại dao này giống như mã tấu nhưng lưỡi dày hơn, đầu nhọn hơn. Mỗi người lính mang theo một cơ số đạn dùng cho súng M-16, có một lưỡi cưa của hãng Xít-kim sản xuất. Trong đội xung kích có một vài lính mang súng phóng lựu đạn M-79, trên ba lô có gắn hệ chiếu sáng, mỗi người lính có một đôi kính chống lóa mắt đặc biệt khi chiến đấu ban đêm. Và một số lính mang súng bắn đạn Ria, loại súng này khi bắn ra mỗi viên có thể giết chết một Việt cộng, nếu nằm trong vùng sát thương. Mỗi đơn vị mang theo súng chống tăng loại 66 ly cỡ nhẹ (LAW) để bắn xe tăng trên đường hành tiến. Ngoài ra còn được trang bị loại ống ngắm bắn ban đêm như loại trong chiến tranh Triều Tiên họ đã dùng có hiệu quả. Ở Việt Nam Mỹ sử dụng loại này rất nhiều. Quân đội Mỹ đã rút kinh nghiệm muốn chống lại Việt cộng, phải ưu tiên chiến đấu ban đêm. Kể từ ngày chiến tranh Triều Tiên cho đến chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ đã chi phi 18.1 tỷ đô la cho việc nghiên cứu cải tiến và phát triển các loại ống ngắm ban đêm. Bỏi vì bóng đêm bao trùm trái đất vào khoảng 50% thời gian mỗi ngày. Việc sử dụng ống ngắm ban đêm là một phương tiện cần thiết cho việc chiến đấu ở Việt Nam. Các phân đội chiến đấu của Mỹ được trang bị máy truyền tin, đất đối không, đất đối đất, để hỗ trợ tác chiến. Lính Mỹ thường được trang bị máy truyền tín AN-PRC-41, máy AN-PRC-77 và AN-PRC-88 loại máy này truyền tin cầm tay. Còn loại máy truyền tin cấp cứu AN-PRC-90 dài và to bằng bao thuốc. Bởi vậy trong chiến đấu lính Mỹ liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau rất nhanh và hiệu quả. Hà ạ! Khi Mỹ đánh vào Việt Nam, chúng chuẩn bị khá đầy đủ chu đáo. Ngân sách chuẩn bị cho chiến tranh khó mà tưởng tượng tốn kém là bao nhiêu. Vào những năm 1970, quân đội Mỹ đã tiêu xài cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên tới gần 10 triệu đô la mỗi ngày. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:52:18 pm II "Tổng thống Ních-Xơn rời Oa-sinh-tơn đi châu Âu lần thứ hai và đây là lần công du thứ ba ra ngoại quốc kể từ khi ông vào Nhà Trắng. Chuyến đi này sẽ đưa ông ta đến thăm năm quốc gia trong chín ngày gồm: I-ta-lia, Tây Ban Nha, Anh và Ai-xlen. Bí thư phụ trách báo chí của Nhà Trắng Ro-nam Gi-e-gơ-léc đã tuyên bố rằng: "Tổng thống có thể gặp Giáo hoàng Pôn VI và cùng trong ngày hôm đó sẽ viếng thăm hạm đội 6 đang tập trận trên Địa Trung Hải". Trong thông báo chính thức không đề cập đến việc Bộ trưởng Quốc phòng Le-dơ và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Mo-rơ đi theo Tổng thống, nhưng trên thực tế họ có đi cùng. Hai vị này đã gặp Tổng thống trên chiếm hạm Sơ-pơ-rin Phi-en vào buổi chiéu ngày hôm ấy. Le-dơ và Mo-rơ có trình với Ních-Xơn về đề nghị giải cứu tù binh Mỹ ra khỏi Sơn Tây, một vị trí nằm sâu trên đất Bắc Việt Nam. Ních-Xơn duyệt qua tình trạng tù binh với hai vị này và nói ông ta chấp nhận việc giải cứu trên nguyên tắc. Nhưng ông ta muốn họ trình bày cho Kít-sinh-giơ rõ mọi chi tiết trước khi ông ta có thể quyết định khi nào thì việc giải cứu được thi hành. Trong khi Le-dơ và Mo-rơ đi thăm Hi Lạp và Man Ta trong ba ngày thì Ních-Xơn đánh diện gọi ngay cho Bờ-xúc-xơ và viên phụ tá là Phi-líp Ba-bíp đến gặp ông ta tại Ai-xlen. Ông ta muốn hai viên chức này cân nhắc mọi điều hơn thiệt trong việc cố gắng tìm cách trao trả tù binh tại bàn hội nghị hơn là việc tổ chức một cuộc tập kích vào Bắc Việt Nam. Mặc dù, ông ta không nói rõ cho họ biết là đang có kế hoạch này. Báo cáo của hai viên chức này không được rõ ràng lắm. Ngay khi Tổng thống trở về thì Le-dơ, Mo-rơ, Bờ-léc-bớc và Ma No được tín là cuộc tập kích Sơn Tây "có thể" sẽ bị hoãn lại sau ngày 20- 25 tháng 10. Sau cái chuyến công du của các quan chức cao cấp Mỹ ở nước ngoài thì việc gì sẽ xảy ra cho đất nước Việt Nam đây? Mỹ tiến hành chiến dịch ngoại giao trên thế giới, họ muốn cô lập nước ta, làm những việc mà trước đến nay chưa đội quân nào làm được. Đó là tập kích vào Bắc Việt Nam để giải cứu các phi công Mỹ bị ta bắt khi họ đánh phá miền Bắc. Tất cả toán giải cứu của tướng Si-môn dùng điểm tâm lúc sáu giờ sáng ngày thứ năm ngày 19 tháng 11; 9 giờ được cấp phát đạn dược và các loại chất nổ. Sau bữa ăn trưa nhẹ, viên chỉ huy công tác tìm kiếm và giải thoát của không quân bắt đầu thuyết trình về công tác này trong vòng 1 giờ. Ông ta chỉ cho các lính Mỹ cách sử dụng máy truyền tín gọi cấp cứu, các loại dấu hiệu để gọi máy bay đến giải thoát và cuối cùng ông ta kết luận: "Đây là tổng quát về công tác tìm kiếm và giải thoát tại vùng đất này". Ông ta không nói cho họ biết là trong trường hợp nếu công tác bị thất bại thì họ có thể dùng đạn hỏa châu nhỏ bằng cái bút có đầu nhọn để giết chết kẻ thù nào đến gần hoặc là phải tự sát. Vào buổi chiều, cả ba toán xung kích đều ra bãi tập, mỗi toán tập 45 phút dưới sự kiểm soát của Dich Mê-đao, để thử lại các loại vũ khí. Tất cả mọi người cùng với vũ khí đều được chở ra bãi tập bằng xe bịt kín. Cuộc bắn tập này không gay gắt lắm mà chỉ có mục đích để cho mọi người kiểm tra lại vũ khí riêng của mình và điều chỉnh chắc chắn tầm bắn chính xác. Trở về lại doanh trại mọi người vội vàng lau chùi lại vũ khí, vũ khí không được tháo rời ra mà chỉ được thông nòng bằng vải và chất tẩy. Xong việc này thì họ bắt đầu tháo các bao đựng chất nổ để kiểm tra lại lần cuối. Tối hôm ấy không có chiếu phim sau bữa ăn. Trong thời gian còn lại trước khi đi ngủ, viên trưởng trạm CIA là Róc-tơn từ U-đon (Thái Lan) đến thuyết trình 1 giờ về các kĩ thuật tẩu thoát và vượt ngục. Ông ta là chuyên viên về các hoạt động điệp báo nhưng chỉ nói về hoạt động ở Lào chứ không phải là Bắc Việt Nam. Hầu hết bài thuyết trình của ông ta đều tập trung vào việc chỉ dẫn các dấu hiệu một mà để mọi người có thể sử dụng khi muốn báo hiệu cho máy bay trinh sát biết trường hợp cần được giải thoát hoặc cấp cứu. Sau cùng, Móc-tơn trao cho mỗi người một bản đồ nhỏ bằng nhựa ghi rõ các con đường tẩu thoát và cách thức vượt ngục, cùng với tấm vải nhỏ như khăn mặt của phụ nữ. Đấy là một tấm vải lụa nhỏ có in bản đồ một mặt và một mặt bên kia có gắn một địa bàn tí xíu nơi góc khăn mặt, phía bên bản đồ còn ghi những câu theo cách phát âm tiếng Lào và tiếng Việt, ví dụ như: "Hướng bắc ở đâu?", "Tồi cần nước uống", "Có thể tìm hộ tôi một bác sĩ được không?", "Tôi là người Mỹ"... Đến 9 giờ tối nhóm giải cứu phải tắt đèn không được nói chuyện và đi ngủ. Ngày hôm sau, trong bữa cơm trưa sớm hơn thường lệ, bác sĩ Ca-ta-do làm cho nhóm này ngạc nhiên khi bắt buộc mỗi người phải uống các viên thuốc ngủ, đích thân ông ta đứng kiểm soát từng người để biết chắc là đã uống xong. Khi Mo-rơ ban hành lệnh xuất phát công tác vào lúc 3 giờ 56 phút chiều hôm ây. Đến 5 giờ chiều là họ được đánh thức dậy để ăn tối. Ca-ta-do khuyên các lính Mỹ nên ăn thật nhiều, vì lẽ họ lên đường sau 5 giờ nữa, đây có thể là bữa ăn cuối cùng trong vòng 12 tiếng đồng hồ sắp tới. Đến 6 giờ thì Si-môn và Sai-nơ giải thích mọi việc lần cuối cùng. Buổi họp này kéo dài 45 phút. Si-môn nói trước khoảng 3 phút. Lúc này, ông ta mới nói rõ vấn đề: "Chúng ta sẽ đi giải cứu 70 tù binh Mỹ, mà cũng có thể nhiều hơn, tại một trại tù tên là Sơn Tây. Đây là một việc làm mà các tù binh này có quyền đòi hỏi và mong mỏi các đồng đội của họ thực hiện cho được. Mục tiêu ở cách Hà Nội 23 dặm về hướng Tây". Sau khi Si-môn dứt lời, bầu không khí hoàn toàn im lặng trong một vài giây đồng hồ. Một vài người huýt sáo khe khẽ. Nhưng ngay sau đó thì bất thình lình mọi người đều đứng dậy và vỗ tay vang dội. Những phản ứng của mọi người đồng thời chứng tỏ cho ông biết họ đã sẵn sàng. Si-môn nhớ lại: "Họ đã làm cho tôi sung sướng quá. Họ muốn thi hành công việc đó, việc này đã rõ ràng như vậy, và lạy Chúa, tôi nghĩ là họ được quyền muốn làm việc đó". Tướng Si-môn còn một điều muốn nói với nhóm giải cứu rằng: "Các anh không được để cho bất cứ việc gì làm xáo trộn công việc này. Nhiệm vụ của chúng ta là đi cứu tù binh. Nếu chúng ta bị sa vào bẫy, sự việc xảy ra mà Cộng sản đã biết chúng ta đến, thì đừng có ai tơ tưởng đến việc thoát ra khỏi Bắc Việt Nam - ngoại trừ trường hợp nếu các anh mọc được cánh để bay ra. Chứng ta ở cách đất nước Lào 100 dặm, đây là một phần đất ở trên thế giới này mà nếu có ai nghĩ đến rút chạy là một điều sai lầm. Nếu có việc tiết lộ tin đã xảy ra thì chúng ta sẽ biết ngay sau khi chiếc trực thăng thứ nhất hoặc thứ ba đáp xuống, đây là thời điểm Cộng sản nghiền nát chúng ta. Nếu có chuyện ấy xảy ra, tôi muốn toàn thể lực lượng này phải siết chặt lại với nhau. Chứng ta sẽ tháo lui về hướng sông Cồn và lạy Chúa, cứ để cho chúng tiến quân trên đồng trống. Cộng sản sẽ trả một giá đắt cho mỗi bước tiến quân qua đoạn đường chó đẻ đó". Sau khi tất cả lính của Si-môn đã sẵn sàng đeo ba lô lên lưng và đã gửi lại tất cả vật dụng cá nhân - như ảnh gia đình, thư từ, tiền bạc, mọi thứ mà họ cần gửi lại cho người thân - mọi người được đi bằng xe bịt kín đưa đến một nhà kho lớn nhất trong căn cứ. Tại đây một máy bay vận tải loại bốn động cơ C-130 đã chờ sẵn. Mọi người kiểm tra lại lần cuối vật dụng trang bị thì đã gần 1 giờ 45 phút. Sau cùng các tiểu đội trưởng kiểm tra lại từng vật dụng cụ cá nhân của từng người một: kính đeo mắt ban đêm, máy truyền tin cấp cứu AN-PRC 90, đạn hỏa châu, đèn bấm, túi cứu sinh, đèn cầm tay, găng tay, la bàn và nút bịt lỗ tai. Vào khoảng 10 giờ đêm, mọi người lên máy bay. Việc làm cuối cùng ở trên máy bay là mỗi người tự ngụy trang bằng cách bôi phấn đen và đeo phù hiệu cùng quân hàm lên vai áo. Giờ đây mọi sự che giấu không cần thiết nữa. Đến 11 giờ 25 phút đêm, một công điện khác được Ma-no gửi đi từ núi Sơn Trà cho biết rằng: Chiếc trực thăng HH-53 cuối cùng đã rời căn cứ xuất phát U-đon. Với tất cả các toán xung kích vào lúc 11 giờ 18 phút do máy bay vận tải C-130 dẫn đầu. Cuộc tập kích của Mỹ vào trại tù binh Sơn Tây nơi giam giữ các phi công Mỹ bắt đầu mở màn". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:56:43 pm III "... Khi máy bay gần đến Sơn Tây, Đô-nô-hiu cho chiếc trực thăng HH-53 mang mật danh "Quả táo thứ 3" vòng ngoặt lại ra khỏi đội Lính. Chiếc máy bay này do ông ta chịu trọng trách. 105 chiếc khác cất cánh từ các căn cứ không quân tại Thái Lan và từ ba tàu sân bay tại Vịnh Bắc Bộ để tập trung vào mục tiêu trong một chiến dịch dữ dội nhất vào ban đêm tại chiến trường Việt Nam. Đô-nô-hiu và các trực thăng tiến công bay phía sau đang hạ thấp xuống một cách vội vàng qua những đám mây bay rải rác ở độ cao 2000 trên bầu trời sông Hồng. Khi hạ thấp xuống còn độ 500 bộ cách mặt đất, Đô-nô-hiu thấy rõ các điểm định hướng đúng như bản đồ đã ghi rõ đấy là sông Đà cách mục tiêu 10 dặm về hướng Tây, hồ nhỏ cách đấy 7 dặm và sau cùng là sông Cồn với nhánh sông quanh gấp về hướng Bắc, khi còn cách hai dặm phía Nam Sơn Tây. Đô-nô-hiu cho trực thăng bay chậm lại với tốc lực 80 knốt1 (1 knốt = 1852 km). Trong khi đó chiếc Com-bát Ta-lon C-130 bay vụt qua và tách rời khỏi đội hình trực thăng. Hai chiếc trực thăng còn lại mang mật danh "quả táo thứ tư" và "quả táo thứ năm". Vút bay cao lên 1500 bộ để thi hành nhiệm vụ như máy bay thả hỏa châu dự bị trong trường hợp hỏa châu và pháo súng do chiếc C-130 thả xuống bị bịt ngòi hoặc lệch xa vị trí. Bây giờ là 2 giờ 15 phút sáng thứ bảy ngày 21 tháng 11, giờ Hà Nội. Năm giây đồng hồ quan trọng nhất của cuộc đời Đô-nô-hiu đang đến, sau 16 năm và 6300 giờ bay trực thăng. Ông ta là người đầu tiên bay đến trại tù Sơn Tây. Chiếc máy bay trực thăng mang mật danh "Quả táo thứ ba" bay sát ngọn cây với tốc độ hai hải lí, sẽ bay xuyên qua khoảng giữa hai vọng gác ở vách tường hướng tây trong doanh trại Sơn Tây. Hai khẩu súng Gắt-linh giống như hai khẩu súng đại bác, mỗi khẩu được gắn vào phía bên hông của trực thăng sẽ nhả đạn và bắn ra những đường đạn có làn ánh sáng với số lượng khoảng 4.000 viên một phút, để làm sụp đổ các chòi gác và doanh trại lính gác ở phía ngoài cửa chính nơi hướng Đông. Đô-nô-hiu không được phép bắn vào chòi gác tại cửa chính này, vì lẽ cơ quan DIA đã cho ông ta biết trước có thể dưới chòi gác đó có một chỗ chật hẹp dùng để giam cách ly phi công Mỹ bị kỷ luật. Nếu bắn trong thời gian này có thể giết hại phi công là những người mà họ đang cố gắng giải cứu cho được. Khi vị trí trại tù hiện ra trước mặt thì bầu trời trên vùng Sơn Tây bỗng chợt lóe sáng lên. Chiếc máy bay bắn hỏa châu C-130 đã thi hành nhiệm vụ vào đúng thời điểm. Đô-nô-hiu và phi hành đoàn có thể mở mắt trong một khoảng khắc nếu họ nhìn thẳng vào các đốm lửa hỏa châu sáng rực ấy. Đô-nô-hiu có thể nhìn thấy các loại đạn hỏa châu cách doanh trại Sơn Tây về phía Đông và phía Nam hai dặm, tựa hồ như đang có một cuộc chiến lớn bùng nổ trên mặt đất. Trong những giây đồng hồ cuối cùng khi sà xuống trại tù Sơn Tây thì một trường hợp căng thẳng lại xảy ra - Suýt sai mục tiêu. Trong khi đang cố gắng hướng cho máy bay về đúng mục tiêu giữa ánh sáng nhấp nháy liên tục của đèn báo hiệu truyền tải và giữa những tiếng nổ của đạn hỏa châu từ chiếc C-130 bắn ra. Đô-nô-hiu và Oan-đê-rôn quên lưu ý việc gió xoay chiều và thiếu các định hướng chính xác trên mặt đất. Chiếc máy bay trực thăng của họ bị gió thổi tạt về phía Nam khoảng 200 ya-dơ1 (Ya-dơ bằng 0.9144 mét). Bây giờ ông ta thấy ngay các chòi gác trên vách tường hướng Tây của trại tù Sơn Tây, nhưng các cây cối ở trong trại có vẻ cao to hơn ông ta tưởng. Mọi người quên các loại cây cao từ 40 đến 50 bộ, được chụp ảnh và tháng 6 vừa qua bây giờ đã cao vọt lên qua các trận mưa mùa hè trước ngày cuộc tập kích mở màn. Đô-nô-hiu kéo ngay cần lái tổng hợp để cho các cánh quạt hạ thấp trực thăng xuống, rồi bình tĩnh hạ lệnh cho phi hành đoàn: "Đúng 10 giây nữa, sẽ nổ súng". Nói xong, ông ta lướt nhẹ cho trực thăng sát ngọn cây trong doanh trại đồng thời bấm vào nấc truyền tín, hô to: "Chuẩn bị bắn". Đô-nô-hiu thấy cảnh tượng cả một vọng gác hướng Tây Bắc bị sụp đổ xuống ngay trong nháy mắt, các cột trụ 4x4 inh-sơ bị bắn nát như cám. Vọng gác hướng Tây Nam và doanh trại lính gác cũng bị sụp đổ tan tành. Các xạ thủ của Đô-nô-hiu là trung sỹ Dêm-rô-giơ và An-gút-so-oen thét lên trong máy truyền tin: "Trúng rồi! Trúng rồi! Đổ nát rồi!", Đô-nô-hiu tăng tốc lực quay mũi trực thăng về hướng Bắc và bay cao lên, tìm một cánh đồng ruộng nhỏ ở hướng Đông bên hồ. Tại đây ông ta đáp xuống và ngồi chờ, cách mục tiêu chỉ có một dặm rưỡi về hướng Tây. Ông ta chỉ còn có việc ngồi chờ cho đêh khi quân lính của Si-môn và các tù binh được giải thoát ra khỏi trại giam. Và Oan-đơ-rôn mở tăng thêm âm lượng các máy truyền tin. Trong suốt 27 phút còn lại, cả hai người phải dò tìm tất cả các làn sóng truyền tin để theo dõi hành động của Si-môn và các toán tập kích trong trại Sơn Tây. Sau suốt 3 giờ yên lặng, bây giờ tất cả máy truyền tín đồng loạt vang lên. Đô-nô-hiu cố gắng nghe tất cả. Chiếc trực thăng nhào xuống ngay trong trại Sơn Tây dữ dội quá, dữ dội hơn Đích Mê-đao đã tưởng, trong khi đó ông ta cố nằm sát người xuống sàn máy bay trên một chiếc đệm để khỏi bị bật ngửa lên. Mê-đao không biết rõ sự việc xảy ra như thế nào nhưng viên phi công H.Ka-len suýt nữa không điều khiển chiếc trực thăng mang mật danh "Quả táo thứ nhất" vào giây phút cuối, khi bay sát ngọn cây và bị vướng vào dây phơi quần áo mắc qua sân trại, như là sân bóng chuyền. Viên phi công phụ của Ka-len là He-rơ Gien-đơ còn nhớ rõ có một ngọn cây cao tới 150 bộ. Cây này bị cắt phăng ra như một ngọn cỏ. Thân cây, cành lá tung tóe khắp nơi. Một tiếng ầm vang lên rung chuyển cánh quạt trực thăng bị hỏng và cả thân trực thăng đổ nhào xuống. Trong khi cánh quạt còn quay tiếp những vòng cuối và chặt đứt một cây to gần đây. Cả chiếc trực thăng lồng lộn dữ dội và nghiêng về phía bên phải từ 30 đến 40 độ, rồi đổ ào xuống đất. Sự va chạm quá nặng làm cho một bình chữa cháy văng ra và đập vào chân viên kĩ sư cơ khí của Ka-len là Vrai-tơ làm anh ta vỡ cổ chân. Trong khi đó trung úy Góc-ge Pét-ri, một sĩ quan mũ nồi xanh 31 tuổi, tóc vàng cũng bị hất tung ra khỏi trực thăng. Mặc dù anh ta không phải là người đầu tiên được phép nhảy ra. Sau này anh ta giải thích "Sự va chạm ấy đã ném tôi ra khỏi máy bay". Đích Mê-đao vùng ngay dậy và chạy thoát ra cửa sau đuôi trực thăng, tay bấm vào loa phóng thanh. Ngay trong thời điểm đó, chiếc loa này còn quan trọng hơn bất cứ loại vũ khí nào mà ông ta được trang bị. Ông ta bắt đầu phát thanh với giọng bình tĩnh: "Chúng tôi là người Mỹ, xin các anh cúi xuống. Chúng tôi là người Mỹ. Đây là một cuộc giải cứu. Chúng tôi đến đây để cứu các anh ra khỏi chỗ này". Tiếng nói của ông ta vang vọng khắp nơi trong doanh trại tù binh. Nhưng không có tiếng trả lời. 13 người còn lại trong toán xung kích của Mê-đao chia nhau chạy đến các phòng giam và cổng trại chính. Khi tiếng động cơ của chiếc trực thăng HH-3 tắt ngấm thì trại tù Sơn Tây lại vang lên những tràng súng tự động. Mê-đao vẫn ngồi quỳ một chân và phát thanh thêm một lần nữa: "Chúng tôi là người Mỹ. Chúng tôi đến đây để cứu các anh...". Trong khi đó, chuyên viên truyền tín của ông ta báo cho Si-môn biết qua làn sóng chỉ huy: "Kế hoạch, đây là thằng bé mặt xanh. Chúng tôi đã vào tới nơi rồi". Ba phút đã trôi qua, một tiếng nổ ầm từ phía bức hướng Nam đã quật ngã Mê-đao xuông đất nhưng ông ta yên tâm khi nhìn thấy một lỗ trống thật to nơi vách tường. Như vậy có nghĩa là toán yểm trợ của Si-môn và toán chỉ huy của Sai-nơ đã đổ bộ an toàn xuống vòng ngoài doanh trại và đã phá nổ vách tường. Lỗ trống nơi vách tường này dùng để đưa tù binh thoát ra ngoài cho nhanh chóng. Lúc đó Mê-đao thấy một toán người chạy băng qua lỗ trống và họ vội vàng đặt mình trong tư thế chiến đấu ở ngay trong doanh trại. Nhưng Mê-đao đã nhầm. Toán lính này không phải của Si-môn mà tất cả đều là người của Sai-nơ. Si-môn đã đổ bộ nhầm mục tiêu, cả ông ta và 21 người lính, lực lượng lớn nhất trong cuộc tập kích Sơn Tây này đã đổ bộ xuống cách xa mục tiêu 400 mét về hướng Nam, tại một vị trí mà các chuyên viên tình báo đã cố ghi dấu trên bản đồ là "Trường trung học". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:58:10 pm Thật mỉa mai vì cách ba ngày trước đó, các chuyên viên tình báo đã căn dặn Si-môn và các phi công trực thăng đừng bị nhầm lẫn vị trí mục tiêu với trường học này. Cả hai địa điểm to bằng nhau, con kênh đào ở hướng Bắc trường trung học có thể bị nhầm lẫn với sông Cồn. Khi con sông này quẹo về hướng Đông đứng ngay lúc chảy về hướng Bắc của Sơn Tây, nếu như có gió nhẹ thổi từ đồng bằng sông Hồng lên thì đội hình trực thăng có thể bị thổi bay lạc hướng Nam độ một vì trăm ya-dơ trên đường bay. Gần đến doanh trại Sơn Tây. Đô-nô-hiu bị thổi tạt về hướng Nam với chiếc trực thăng HH-3 của ông ta và luôn cả H.Ka-len cũng bị tạt về hướng đó, nhưng cả hai đều kịp thời thay đổi lại đường bay để hướng về đúng vị trí. Đô-nô-hiu muốn dùng máy truyền tin để gọi các chiếc trực thăng bay sau đề phòng có thể bị nhầm lẫn, nhưng ông ta quyết định giữ im lặng vì không muốn gây tiếng động trong mỗi giây phút bất ngờ này. Trong khi đó ở phía sau, Uốc-rít-tôn đã bị gió thổi lạc hướng và vì có lẽ đang cố gắng chăm chú tìm chỗ đáp xuống phía ngoài doanh trại hướng Nam nên không thấy Ka-len thay đổi đường bay vào giây cuối.
Trong khi ấy, tại địa điểm trường trung học phía Nam Sơn Tây, khi chiếc trực thăng vừa đáp xuống thì sau một, hai giây Si-môn biết ngay đã có trở ngại. Xung quanh cơ sở này có dây thép gai bao bọc, mặc dù toàn thể doanh trại và khu vực phía ngoài trồng có vẻ giống như là trại Sơn Tây. Súng cá nhân đã bắt đầu nhả đạn xung quanh ông ta. Nhưng có một điều khác thường là ông ta không nghe tiếng của Mô-đao hét lên qua loa phóng thanh. Như vậy có nghĩa là Si-môn đã đổ bộ nhầm vị trí. Si-môn quay lại phía chuyên viên truyền tin là trung sĩ Oam-tơ Mi-lơ đang sẵn sàng chấp nhận mọi lời quở trách về việc đáp sai vị trí này. Tên trung sĩ này đã làm việc với Si-môn tại Lào và 3 năm ở trung tâm biệt kích biết rõ tính tình của Si-môn. Si-môn thét to lên: "Gọi chiếc trực thăng chó đẻ đó lại đây ngay. Nói với Sai-nơ chuyển gấp sang "Kế hoạch màu xanh". Xong ông ta quay lại một chuyên viên truyền tín khác là trung sĩ Đa-vít Ních-ken-sơn và ra lệnh: "Mở đèn chớp sáng và ghi dấu lại cho đúng vị trí đổ bộ". Trong khi đó chiếc trực thăng của Bo-rít-tôn đang quần ở phía trên, thấy rõ súng đạn nổ về hướng Bắc cách nơi của ông ta đã thả Si-môn xuống 400 mét liền hiểu ngay mình đã đáp nhầm chỗ. Ông ta tự nghĩ đấy là một sai lầm không thể tin nổi. Trong khi Bơ-rít-tôn cố gắng đáp trực thăng xuống giữa vùng đạn lửa dày đặc thì toán yểm hộ của Si-môn đang làm cho cơ sở trường trung học biến thành ngon lửa bùng cháy. Si-môn nghĩ rằng có thể một vài làn đạn đã châm ngòi các thùng chứa xăng. Toán lính của ông ta chỉ sử dụng súng cá nhân, không dùng chất nổ. Những cuộc tấn công đã xảy ra thật dữ dội - vì lẽ nếu không hành động dữ dội và nhanh chóng thì không giành được yếu tố bất ngờ. Không ai hiểu được họ đã làm cách nào để bắn sụp bức tường phía Nam doanh trại mà lại không dùng đến chất nổ. Sau khi bắn đổ nát bức tường xong, cả toán lính của Si-môn chạy ập vào sân trại và bắt đầu nhả đạn. Chỉ sau 5 phút mà cả cơ sở bùng cháy như một ngọn đuốc lớn. Trong khi Bờ-rít-tôn đáp trực thăng xuống để bốc toán lính của Si-môn lên giống như đáp xuống giữa một kho đạn đang bùng cháy - và chở họ đến địa điểm đổ bộ tại Sơn Tây, Si-môn liên lạc truyền tin với những chiếc máy bay khác để bảo đảm thêm an toàn. Có nghĩa là gọi thêm lực lượng oanh kích đoạn đường phía chân cầu nằm giữa trại từ Sơn Tây và trường Trung học. Lính của ông ta vừa tiếp tục bắn phá để chống lại, vừa nhảy lên chiếc trực thăng HH-53 của Bơ-rít-tôn. Cuộc tập kích Sơn Tây đã bắt đầu được 8 phút. Đến phút thứ chín, Si-môn liên lạc với Mê-đao và Sai-nơ để chỉ thị cho hai người trở lại kế hoạch trước, 30 giây đồng hồ sau, Bơ-rít-tôn thả Si-môn và toán lính xuống vòng ngoài trại Sơn Tây. Ông ta đã thực hiện được kỉ lục mới: Ba lần lên xuống máy bay trong ba cuộc xung kích với 9 phút rưỡi. Theo đúng kế hoạch ngay sau khi thả toán lính xuống thì ông ta vội bay đến chỗ chờ đợi. Toán phá hoại của Si-môn vội vàng chạy ào đến vị trí để đập phá làm sụp chiếc cầu tại hướng bắc trại tù, trong khi lính của Sai-nơ thi hành cho xong những điều cần phải làm theo đúng phương án đã định: Phá sụp trạm điện và cột đèn ở ngoài doanh trại, thanh toán luôn trạm bơm nước nằm trên kênh đào phía Tây Nam trại tù. Trong khi đó, tại trại tù, Đích Đê-đao và toán lính của ông ta do không bị thay đổi kế hoạch hành động nên vẫn đang cố gắng thanh toán các ổ đề kháng và lục soát các phòng giam. Họ đã bắn phá dữ dội và đổ bộ xuống một cách bất ngờ nhất. Ổ đề kháng nặng nề nhất của đối phương là khẩu AK-47 đặt gần giếng trong sân trại. Toán của Sai-nơ cũng phải đương đầu với sự chống cự dữ dội khác từ một khu nhà ở vào hướng Nam của một bức tường hướng Tây trong doanh trại. Sau khi đã kiểm soát từng phòng giam này đến phòng giam khác, toán lính của Mê-đao báo cáo là không có phi công Mỹ ở đây. Sau 10 phút tập kích, Mê-đao liên lạc truyền tin với làn sóng chỉ huy: "Rê hoang, đây là thằng bé xanh. Đến lúc này thì xin báo cáo không có ai cả". Báo cáo xong ông ta chạy đến từng phòng giam một để đích thân kiểm soát một lần nữa. Một phút sau anh ta lại báo cáo tiếp: "Kiểm soát chấm dứt. Không có ai cả. Trại tù Sơn Tây hoàn toàn trống rỗng". Si-môn ra lệnh cho một trong những người chụp ảnh chạy về phía các phòng giam để chụp các phòng trông. Sau đó ông ta gọi một chiếc A-1 đến oanh tạc chiếc cầu ở phía Bắc. 14 phút sau cuộc tập kích đã qua, ông ta lại ra lệnh cho một chiếc trực thăng HH-53 từ điểm hẹn đến đáp xuông tại vị trí Sơn Tây. Ông ta chỉ thị cho Ních-ken-sơn bắn hỏa châu để chỉ định phương hướng. 18 phút 50 giây của Bơ-rít-tôn bay trở lại Sơn Tây và đáp xuống một cánh đồng lúa hướng Đông Nam doanh trại độ 150 bộ. Si-môn ra lệnh cho Mê-đao và 12 binh sỹ lên trực thăng và cộng thêm ba nhân viên phi hành đoàn là Ka-len, Gen-dơ và Vơ-rai-tơ từ chiếc: "Quả táo thứ nhất" chuyển qua. Sai-nơ cũng được lệnh cho toán lính lên trực thăng, ngoại trừ toán an ninh và sỹ quan Kiểm soát. Nhiệm vụ của các sỹ quan Kiểm soát này đếm từng người một khi họ lên trực thăng để thoát khỏi trận địa Si-môn phải rời khỏi Sơn Tây với đông đủ số người như khi đến. Viên sỹ quan Kiểm soát báo cáo: "Đếm đủ 26 người, đếm đủ số". Si-môn ra hiệu cho chiếc trực thăng thoát nhanh ra khỏi miền Bắc Việt Nam. Bơ-rít-tôn cho "Quả táo thứ nhất" cất cánh và hướng về phía Tây. 22 phút sau cuộc tập kích, Si-môn gọi thêm một chiếc trực thăng HH-53 nữa đáp xuống. Bây giờ còn lại 33 người ở Sơn Tây. Đến lúc này thì các loại tên lửa đất đối không của Bắc Việt nổ ầm ầm trên khắp bầu trời tại khu vực mục tiêu. Đường bay của các tên lửa sáng lóe, vụt thẳng lên xuyên qua vùng trời Bắc Việt Nam. 27 phút đã trôi qua, toàn thể 30 người trong các toán xung kích của Si-môn, Sai-nơ và Mê-đao đã lên chiếc trực thăng HH-53 thứ hai. Si-môn nói với viên phi công là A-lê-sơn: "Đếm 33, đếm 22. Rồi chiếc trực thăng cất cánh về biên giới Lào. Si-môn cảm thấy nhẹ nhõm khi được báo cáo chỉ có một người bị thương. Đó là một trung sĩ bị loét da ở đùi. Khi chiếc HH-53 rời khỏi Sơn Tây độ 6 phút thì mới nghe tiếng nổ vang trong khu vực mục tiêu. Các túi chất nổ phá chiếc trực thăng HH-3 đúng thời điểm. Tất cả các nhóm xung kích của Si-môn và toàn thể phi hành đoàn của Bơ-rít-tôn tưởng như đã thi hành nhiệm vụ của mình một cách hoàn hảo. Chỉ có môt điều đáng đau khổ cho nước Mỹ là không có một phi công Mỹ nào được cứu thoát để theo về với ho. Vì một lẽ là Quân đội Nhân dân Viêt Nam đã biết sớm hay muộn Mỹ cũng tập kích vào Sơn Tây nên số giặc lái của Mỹ đã được họ sơ tán đến nơi khác! Đó chính là điều phi thường, một chiến công mà quân đội Việt Nam đã làm được. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 08:59:20 pm IV Việc tập kích vào trại tù binh Sơn Tây được Mỹ chuẩn bị rất chu đáo nhưng cuối cùng đã bị thất bại thảm hại. Nhưng nước Mỹ vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Sau thất bại ấy, Bộ Tổng Tham mưu hỗn hợp của Mỹ đã dành nhiều thời gian nghiên cứu trong một quá trình dài để hoạch định một phương án hành động ngay sau khi cuộc tập kích Sơn Tây chấm dứt. Sau khi cuộc tập kích vào Sơn Tây bị thất bại, Mỹ đã lo lắng gần như tuyệt vọng trong việc giải quyết vấn đề tù binh ở Bắc Việt Nam. Bởi vậy Lầu Năm Góc sẵn sàng đề nghị việc tái diễn một cuộc tập kích như Sơn Tây. Nhưng trên một địa bàn rộng lớn và có nhiều rắc rối hơn. Đầu năm 1972, các vị tư lệnh trong Bộ Tổng Tham mưu hỗn hợp của Mỹ đã họp mặt để xem xét kế hoạch này. Mo-rơ nghĩ đây là một kế hoạch tốt cho nên đã mời Le-đơ đến tham dự buổi họp thứ nhì vào đầu tháng 5. Trong thời gian này chỉ còn 62600 lính Mỹ ở tại Việt Nam, nhưng số tù binh Mỹ tăng lên 525 người và 1150 bị mất tích ở Đông Nam Á, Tổng thống Ních-sơn hạ lệnh bắt đâu tiến công dữ dội miền Nam Việt Nam, tiếp tục thả ngư lôi phong tỏa cảng Hải Phòng. Các cuộc tấn công bằng lực lượng không quân đến miền Bắc Việt Nam ngày một ác liệt, Mỹ đã dùng sức mạnh tổng lực của không quân, máy bay chiến lược B52 ném bom đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác suốt ngày đêm, đi cùng với nó, Mỹ yêu cầu Bắc Việt Nam thảo luận về vấn đề tù binh. Nhưng Bắc Việt Nam từ chối thảo luận về vấn đề phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc. Hoa Kỳ thất vọng vì máy bay chiến lược B52 và các loại máy ném bom khác vào miền Bắc có đi không về. Nhân dân Việt Nam một lòng một dạ quyết theo Đảng, Bác Hồ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Mỹ bị nhân dân thế giới phản đối ngay cả, nhân dân Mỹ cũng biểu tình phản đối nhà cầm quyền. Các vị tư lệnh hỗn hợp của Mỹ đã sẵn sàng lưu tâm đến bất cứ kế hoạch nào có thể đem được các tù binh Mỹ bị bắt về nước. Kế hoạch được soạn thảo đầy đủ, tỉ mỉ đến nỗi các sơ đồ chi tiết đặt ống cống tại trại tù. Hỏa Lò đã nhờ được các chuyên viên họa đồ và kỹ sư Pháp, người đặt các ống cống hàng bao năm trước đây thuật lại. Một cuộc tập kích như vậy sẽ là một "trò chơi" ngoài sức tưởng tượng, có thể coi là một canh bạc. Các chuyên viên kế hoạch biết trước sẽ có nhiều binh sĩ Mỹ tập kích chết hơn là số tù binh được cứu thoát, và Mỹ cũng không biết rõ được từng địa điểm một có giam giữ tù binh Mỹ. Cơ quan CIA chỉ có thể xác định được 9 địa điểm trong số 13 trại tù mà Bắc Việt Nam đã từng sử dụng hoặc đang sử dụng. Kế hoạch cũng có dự kiến chỉ giải thoát được số tù binh tại các trại tù đã được xác định mà thôi. Mỹ suy luận rằng sau cuộc đại tập kích này Hà Nội sẽ trao trả những tù binh nào còn sót lại mà các toán tập kích đã không thể tìm ra địa điểm để giải cứu được. Các toán biệt kích này sẽ được hoạt động tự do hơn là các toán biệt kích trước đây của Si-môn. Nhiệm vụ của họ không những chỉ lo việc cứu càng nhiều tù binh càng tốt mà lại còn cố lo bắt cóc được viên chức cấp cao của Bắc Việt Nam - cấp bậc càng cao thì càng có giá trị và áp giải những người bị bắt cóc này ra khỏi Việt Nam. Sau đó Bắc Việt Nam sẽ được mời thảo luận việc trao đổi giữa các tù binh còn sót lại với những cán bộ cao cấp bị bắt và như vậy canh bạc sẽ đảo ngược. Mặc dù kế hoạch này đã được triển khai đến mức một sư đoàn lính thủy đánh bộ sẵn sàng xuống tàu và các lực lượng khác sẵn sàng lên đường, nhưng cuối cùng lệnh xuất phát tối hậu đã không được ban ra. Một trong những chuyên viên trong kế hoạch này sau này có nói là theo quan điểm của ông ta thì một cuộc tập kích như vậy sẽ không tránh khỏi thất bại. Vì thế, tất cả đều chỉ là những kế hoạch ma... Trên thực tế cuộc chiến tranh kéo dài thêm 11 tháng nữa mới chấm dứt. Mỹ phải cuốn cờ về nước. Quân đội Việt Nam Cộng hòa tan rã. Bắc - Nam thống nhất một nhà. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày chiến thắng của dân tộc. Nói đến đây bác Thắng trầm tư suy nghĩ rồi nói tiếp: - Đây là một huyền thoại chiến tranh thế giới, một đất nước nghèo, công nghiệp chưa phát triển, thế mà chiến thắng được hai cường quốc là đế quốc Mỹ và đế quốc Pháp. Người ta có thể đánh giá ở những góc độ khác nhau về chiến công của Việt Nam. Nhưng theo bác, nhân dân Việt Nam chiến thắng là do lòng yêu nước nồng nàn, có một sức mạnh tinh thần to lớn, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người trước ngã xuống, người sau lại tiếp bước, không sợ gian khổ và hi sinh - Nói đến đấy, bác Thắng dừng lại một lúc suy nghĩ và lại kể tiếp về quãng thời gian đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 09:00:36 pm V Hà ạ! Chiến tranh đã lùi xa, những người chiến sĩ, đồng đội của bác đã hi sinh, có thể bác không nhớ hốt được. Thật sự, ngay cả nữ chiến sĩ mà bác yêu quý nhất bác cũng không còn nhớ rõ từng chi tiết trên khuôn mặt. "Không nhớ ngay lập tức từng chi tiết trên khuôn mặt ấy - ít nhất là như thế. Bác chỉ còn nắm giữ được cái phông, đơn thuần cảnh trí. Bác phải chắp nối các hình ảnh vào với nhau: Bàn tay mềm mại nóng ấm của người chiến sĩ; cầm vào tay mát như thạch; một cái thùy châm tròn trịa bé tí tẹo ở chính giữa hai lông mày, nó giống cô gái Ấn Độ, bộ quân phục màu cỏ úa, thói quen của người chiến sĩ ấy khi muốn diễn đạt một điều gì đó bắt đầu trong tư thế nhìn nghiêng. Người chiến sĩ gái ấy được sinh ra cùng quê với bác, Nam Liên - Nam Đàn - Nghệ An. Tên cô gái ấy là Thu Hằng, đã tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội. Chiến tranh ngày một ác liệt, cô đã xung phong vào quân đội ngày 13 tháng 5 năm 1966. Dọc đường hành quân vào Nam chiến đấu, Thu Hằng thường đi cạnh bác, đôi khi quay đầu sang hỏi bác một điều gì đó giọng run run, rồi mỉm cười, hơi nghiêng đầu một chút và nhìn sâu vào mắt bác như đang cố dõi một con cá nhỏ vừa bơi vụt qua một vùng nước của con suối trong vắt. Dù sao, nhớ gương mặt của từng chiến sĩ là khó với bác mà còn mất thời gian. Khi năm tháng qua đi, cái mới xuất hiện, cái cũ cứ mờ dần. Quãng thời gian ấy cứ kéo dài ra mãi, bác có thể kể hết cho Hà nghe không? Một điều làm bác nhớ mãi là hình ảnh của nữ chiến sĩ Thu Hằng và lời nói của cô ngày ấy: "Thủ trưởng Thắng có tin tưởng là ta sẽ thắng Mỹ trong cuộc chiến tranh này không?" Hằng hỏi bác với một vẻ mặt thật khó tả, nó muốn nói một điều gì đó sâu kín gấp gáp, đôi mắt cô long lanh như ứa lệ rồi nuốt khan nước bọt một hồi lâu, người bần thần nói tiếp: "Thủ trưởng cho em cầm tay, dù chỉ một lần thôi. Em biết trước sau rồi em cũng chết và có lẽ cả thủ trưởng nữa. Nhưng cuối cùng rồi ta sẽ chiến thắng". Nói xong câu ấy Hằng dừng lại một lúc rồi đặt tay lên vai bác. Bàn tay nóng ấm như muốn kéo bác vào lòng mình. Nhưng nghĩ sao Hằng đứng lại và ngắm nhìn bác. Đôi mắt đẹp của Hằng nhìn bác một lúc lâu, rất lâu. Rồi bỗng dưng Hằng vít cổ bác xuống, kiễng chân và hôn bác, giọng thì thào: "Thủ trưởng ơi! Em yêu thủ trưởng lắm". Lúc đó, bác bàng hoàng ngỡ ngàng như người mộng du. Không biết thật hay là mơ đây? Nếu bây giờ bác kể lại có lẽ chẳng ai tin. Nhưng ngày đó bác nghĩ mình là cán bộ, Hằng là một cô gái trẻ xinh đẹp, có bằng cấp nhưng vì chiến tranh Hằng phải ra trận. Nghĩ vậy bác đã nói: - Cảm ơn Hằng! Nhưng không được đâu. - Nói rồi, bác quyết tâm đứng dậy: - Em thật không hiểu nổi anh, chiến tranh khắp đất nước, nhà máy, xí nghiệp, nhà trường chúng ta, phải chiến đấu nhưng cuộc sống vẫn cứ phải sống. Anh là ai? Anh có phải là đàn ông không? - Nói xong câu ấy Hằng đứng dậy, quay mặt đi không thèm nhìn bác và bắt đầu nức nở khóc. Bác tiến đến ôm lấy Hằng, Hằng vùng vằng bỏ đi chỗ khác. Bác nhìn Hằng bằng một đôi mắt hốt hoảng, luyến tiếc, trong ánh mắt ấy muốn nói với Hằng chuyện ấy không được, nó sẽ khủng khiếp lắm, vì đây là chiến trường, vì bác là một cán bộ, đảng viên đang dẫn đầu một đơn vị ra trận. Cách đây mấy giây thôi đôi mắt huyền nhung của Hằng đầy tình cảm thế mà bây giờ nhìn bác không chớp, ứa lệ. Bác nhìn đôi mắt ấy và bỗng run lên. Đôi mắt bác vốn sắc lẹm đầy khí phách thế mà lúc này đây ứa lệ, tha thiết vô cùng, bác nói: - Xin em hãy thông cảm cho anh. Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước tàn khốc lắm. Nếu trong chiến tranh tình ái lứa đôi xảy ra thì sao? Lớp lớp thanh niên nam nữ đang rầm rập ra trận. Họ cũng như chúng ta, muốn có tình yêu, có lứa đôi, trong nhà lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. Nhưng giặc Mỹ không cho người Việt Nam hưởng những điều lành dị đó, những thứ mà tạo hóa ban tặng. Như em biết đây, đất nước ta bốn bề nằm trong một biển lửa. Dân tộc việt Nam không chịu chết mà sẵn sàng hy sinh để chiến thắng Mỹ. Anh không phải không quý em, anh yêu em vô cùng - Nói xong câu ấy không hiểu sao bác lại khóc. Những giọt nước mắt chảy qua gò má xuống miệng mặn chát. Bao nhiêu nỗi đau khổ từ đâu cứ đè lên trái tim và khối óc bác. Bác căm thù giặc Mỹ. Bác khóc rồi kể về nỗi khát khao tình yêu đôi lứa của con người. Hằng ngẩng đầu lên lấy một viên đá ném về phía trước rồi tiến về phía bác nói: - Anh ơi đất nước ta từ ngàn xưa đến nay có gây chiến với ai đâu, nước ta nghèo nhưng không hèn, kẻ thù nào đến cũng bị dân tộc Việt Nam đánh bại. Nước Mỹ cách nước ta nửa vòng trái đất, chẳng có ai làm hại Mỹ, thế mà Mỹ lại bao vây bốn bề tàn phá đất nước ta? Sao đời bất công thê? Em hiểu, anh khóc, em khóc vì nỗi thương đau không phải cuộc đời mình mà là cho cả dân tộc. Hằng đứng dậy run rẩy bước tới bên bác nói tiếp: - Thôi, bây giờ không phải là lúc yếu đuối, ủy mị mà phải tiếp tục vững bước chiến đấu. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 09:01:52 pm VI "Đơn vị bác phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn. Hàng chục ngàn bộ đội đã lưu thông trên đường mòn Hồ Chí Minh. Ớ giai đoạn đầu, hệ thống hàng rào điện tử của địch cũng không phát hiện được. Du kích bộ đội miền Nam được trang bị súng ống và đồ quân trang, quân dụng ngày một tốt lên. Khi chính quyền Sài Gòn và Mỹ phát hiện Bắc Việt tiếp viện cho miền Nam Việt Nam bằng con đường mòn Hồ Chí Minh, chúng đã tăng cường đánh phá suốt ngày đêm. Trong giai đoạn 1965, 1966, chỉ có bốn mươi phần trăm lượng xe hàng hóa tới đích. Nhưng Mỹ có đánh phá thế nào đi nữa thì con đường này không khác gì dòng nước chảy từ trên đồi cao xuống: Nếu gặp vật cản trước mặt, dòng chảy bị gián đoạn trong chốc lát - nhưng không bao giờ ngừng chảy - rồi tiếp tục vươn qua các chướng ngại vật để chảy xuống. Có lần Hằng tâm sự với bác: - Anh ạ! Khi cái chết từ xa thì không sợ, nhưng khi cái chết đến gần thì cũng sợ. Mà có lẽ chẳng riêng mình em. Anh Thắng! Em muốn tâm sự thực lòng cùng anh. Ngày nào cũng vậy trên đường mòn Hồ Chí Minh cũng có máy bay B52 và các loại máy bay khác bắn phá rải bom. Nhiều đồng đội, bạn bè của em hi sinh ngay trước mặt em. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ là em có hai mươi bốn tâm trạng khác nhau, không phải là không có lúc em đã đã nghĩ tới chuyện đảo ngũ, nhưng sau đó em lại tự sỉ vả mình và quyết tâm ở lại đơn vị tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Hà ạ! Con bác là lính không quân chiến đấu ở miền Bắc đỡ vất vả hơn những người lính chiến đấu ở chiến trường nhiều lắm. Những người lính chiến trường ngoài hứng chịu bom đạn, còn phải hành quân trong rừng rậm. Không lối đi, không điện, không đèn... vách núi dựng đứng... bệnh tật hoành hành. Người ta ước lượng bệnh tật đã giết chết tới mười phần trăm số người phục vụ trên đường mòn. Họ vừa hành quân vừa cõng hàng tấn vũ khí, đạn dược hàng hóa vào Nam. Nhiều người đã gục xuống vì đuối sức. Bác vừa chỉ huy vừa hành quân ít khi tắm rửa (nước đâu mà tắm). Bác chẳng hiểu vì sao đi ngoài cứ ra máu, thì ra lũ vắt đã bám vào hậu môn cắn. Phải mất nhiều ngày mới chữa khỏi. Trong rừng rậm, người chiến sỹ vừa phải đối mặt với kẻ thù, vừa phải đối mặt với tất cả sinh vật lớn nhỏ - kiến, đỉa, rắn độc, thú dữ.... Tất cả những con vật đó đã có thể hủy diệt sự sống của những người lính bất cứ lúc nào. "Mấy năm ở chiến trường, người lính thiếu thốn đủ đường, khi đi dọc đường mòn, ngoài việc mang vác vận chuyển hàng hóa vẫn phải mang lương thực, thực phẩm cho cá nhân nữa. Các binh đoàn thường xuyên không có thực phẩm để cung cấp nên bộ đội dọc đường hành quân phải tự tìm dự trữ thức ăn cho mình. Những người chiến sỹ phải chuẩn bị tâm lý không có hàng tiếp tế trong một thời gian dài. Khi đi mang theo bột nước mắm, khi dùng thì chan nước để ăn, thường xuyên ăn rau rừng và đôi khi bắt được thú rừng. Dọc đường đi đôi khi gặp voi, nai, trăn, chồn và hổ... Lính của bác nhiều khi sống lâu trong rừng phần thì đói phần thì thiếu. Một lần mấy anh lính trẻ đưa quần áo vào bản của người dân tộc để đổi thuốc lá hoặc trái cây để ăn. Nhưng những người dân tộc không dùng những thứ đó. Lực lượng chủ yếu của quân đội ta bám trụ dọc đường mòn Hồ Chí Minh nam giới, ít chiến sĩ gái. Nhiều người ba năm không nhìn thấy bóng phụ nữ, dù chỉ là trong vở kịch hay trong bộ phim nào đó. Rồi có thời gian, đơn vị phải tìm những thanh niên có hình hài giống con gái, có tiếng nói nhẹ nhàng vào vai với một vở kịch nào đóng vai con gái. Một đêm, đơn vị bác nhộn được một tin có đơn vị bộ độ nữ hành quân qua đường 12. Nhiều chàng trai háo hức được ngắm nhìn phụ nữ, dù phải mất cả hai giờ leo núi. Sau khi xuống núi, họ lại gặp phải sương mù dày đặc, mọi người chẳng thấy được những chiến sĩ kia, dù trong khoảng khắc. Thế đành phải hài lòng với việc nghe được tiếng nói của các cô gái ở phía bên kia. "Trên đường mòn Hồ Chí Minh, thật khó tìm ra những bệnh viện điều trị bệnh cho chiến sĩ, nhưng khó khăn nhất là các phương tiện cứu chữa người bị thương, ốm đau. Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến việc cứu chữa thương binh, một mặt tăng tinh thần chiến đấu, đồng thời tăng lực lượng cho quân đội. Nhưng do không có điều kiện thuận lợi nên thương binh phải mất hàng ngày, thậm chí hàng tuần mới được chăm sóc. Ngay cả khi có cơ sở y tế, sự khan hiếm thuốc men và y cụ đã ngăn trở công việc điều trị cho bệnh nhân. Đội ngũ y tế phải tự nỗ lực để bù đắp cho thiếu thốn khi có thể, còn khi không thể thì người thương binh buộc phải chịu đựng. Dù lực lượng quân y đã được mở rộng đáng kể so với hồi đánh Pháp, nhưng thực tế thương vong do công nghệ vũ khí của Mỹ hiện đại và điều kiện chiến trường xa xôi đã khiến các bệnh viện quá tải, y bác sĩ làm việc với mức tối đa. Những thiết bị y tế của Việt Nam do Liên Xô và các nước giúp quá cồng kềnh và nặng, nhưng phần lớn y cụ đều mất mát trong quá trình vận chuyển. Chỉ có khoảng một phần mười tới đích... và cũng không còn nguyên bộ. Chẳng hạn, máy X-quang tới nơi thì thiếu cái này cái khác. Bệnh viện trạm xá 211 thường xuyên bị máy bay đánh phá nên thường xuyên phải di chuyển. Nơi ở lâu nhất được một năm, thường chỉ ở được hai đến ba tháng là phải chuyển. Việc sơ tán một bệnh viện thật không đơn giản chút nào. Mỗi khi sơ tán bệnh viện với khoảng 400 nhân viên, cùng với khoảng 1.000 đến 1.800 người bệnh. Việc đảm bảo hậu cần, nơi ăn ở, khu chữa bệnh có rất nhiều công việc phải làm: Đào hầm hào, che giấu phương tiện máy móc, sơ tán bệnh nhân khu vực điều trị dưới hầm. Mỗi hầm chữ A tránh bom có độ sâu hai mét, sức chứa chừng bốn đến năm người. Để lập được một bệnh việc với khoảng 1.000 bệnh nhân và 400 nhân viên đòi hỏi phải đào chừng 280 hầm hở và hầm chữ A. Những công việc đó lại dồn vào các nhân viên y bác sỹ. Làm xong một căn cứ mới mất chừng một tháng. Bệnh viện được bố trí trong một khu rừng rất rộng, mỗi hầm trú ẩn cách nhau không quá ba mươi mét để tránh bom. Nếu một quả bom rơi xuống làm sập một hầm. Vì thế muốn đi thăm bệnh nhân, đôi khi phải mất một ngày mới đi khắp bệnh viện được. Bệnh viện được bố trí cách khu chiến sự một khoảng cách an toàn. Việc canh gác bảo vệ an ninh, và kể cả chiến đấu là do các y bác sỹ, các nhân viên đảm nhiệm. Không có đơn vị bảo vệ bệnh viện. Bệnh viện trong rừng rậm rạp, các vọng gác được thiết lập trên cây để quan sát máy bay, việc quan sát mặt đất lại khó khăn - Mỹ thường dùng trực thăng để thả các toán lính xuống đánh phá bệnh viện. Cây cối rậm rạp tới mức nhiều khi các vọng gác không thể phát hiện được trực thăng vì nó bay sát ngọn cây rồi thả lính biệt động xuống. Nếu nổ súng thì Mỹ sẽ gọi hàng đoàn trực thăng tới bao vây bệnh viện. Khi lính đổ bộ từ trực thăng xuống mặc áo chống đạn, tiếp đất xong số lính này lại bắn yểm hộ cho các toán lính khác nhảy dù xuống. Họ không nhảy bằng dù mà dùng thang dây từ máy bay tụt xuống. Bệnh viện không có lực lượng chiến đấu nên phải hết sức bí mật. Nếu bị lộ là đơn vị lại phải di chuyển. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 07 Tháng Tám, 2026, 09:02:55 pm Có một bác sỹ tâm sự với bác: Chúng ta sống trên Trường Sơn giống như Robinsơn Crusoe ở trên đảo hoang ấy. Điều kiện làm việc của bác sỹ thiếu đủ đường, không có dao phẫu thuật, các bác sỹ phải ứng biến trong hoàn cảnh khắc nghiệt, phải sử dụng mảnh kim loại, thường là từ số bom không phát nổ của Mỹ. Chúng tôi phải lấy kim loại từ những quả bom đó để làm dao mổ và một số thiết bị khác. Có nhiều khi phải dùng vỏ đạn pháo, hoặc mảnh nhôm từ xác máy bay. Tất cả các nhu cầu về y tế được đáp ứng theo kiểu này - từ thiết bị phẫu thuật, hộp diệt trùng y cụ, ống nghe... Nghĩ một lúc rồi bác sỹ ấy kể tiếp: - ở đời kể ra cái khó lại ló cái khôn. Người Mỹ ghét cay ghét đắng người Việt Nam nhưng vô tình lại cung cấp vật liệu quan trọng để bệnh viện chế tác ra những dụng cụ như: Pháo sáng người Mỹ thả xuống vào ban đêm để quan sát hoạt động của quân Bắc Việt đã cung cấp vật liệu cho nhiều ứng dụng: Ống pháo sáng được dùng làm ống nghe; dây dù được tách ra để làm chỉ khâu y tế, vải dù để băng bó, nắm cơm...
Trên đường mòn Hồ Chí Minh, máy bay Mỹ bị lực lượng ta bắn rơi rất nhiều. Mỗi khi phát hiện máy bay rơi, người ta đến tìm kiếm những vật liệu còn sót lại để dùng - dây điện được tháo từ máy bay, sau đó tách vỏ cao su ra khỏi lõi kim loại, vỏ cao su dùng làm ống truyền tĩnh mạch. Nói đến đây bác Thắng cười: "Người Mỹ giúp chúng ta rất nhiều trong thời buổi thiếu thốn thiết bị". Nghe vậy Hà hỏi: - Nếu như người Mỹ không "giúp" thì họ có thể vượt qua được không hả bác? Bác Thắng nhìn Hà với một vẻ dí dỏm: - Nếu Mỹ không "giúp" chúng ta thì ta phải tự sáng tạo ra chứ! Ví dụ như thiếu ống tiêm thì nhặt các vỏ trai về đập nhỏ và đốt lò, sau đó có thợ thổi thành ống tiêm. Hoặc thiếu cồn sát trùng, các dược sỹ vào gặp người dân tộc hỏi họ, họ chỉ cho cách làm ra cồn. Họ thường nấu rượu - rượu gạo, rượu sắn. Bộ đội nắm được cách làm ra cồn từ chất men, từ cây sắn. ... Các dược liệu của quân y viện 211 sử dụng chất liệu thảo mộc để chữa bệnh, do người dân tộc dạy. Một số cây gây mê, gây tê, gây buồn ngủ để cắt cơn đau. Nhưng cũng có mấy loại cây cho nhiều vitamin. Bệnh viện rất cần điện họ đã dùng máy phát quay tay thành máy đạp bằng chân. Hoặc có những đoàn xe của địch mà ta thu được, dùng lấy dầu của địch để phát máy nổ. Trước khi nhập ngũ bộ đội được khám sức khoẻ và thử máu phân loại nhóm máu rồi ghi vào thẻ quân nhân. Việc làm đó vào đây mới thấy tác dụng lớn vô cùng. Khi chiến sỹ bị thương phải cấp cứu thì các bác sỹ phải phẫu thuật ngay nếu thiếu máu thì đội ngũ nhân viên thường xuyên hiến máu trực tiếp từ người cho bệnh nhân. Trước khi rời khỏi Hà Nội các y bác sỹ đã kiểm tra nhóm máu nên họ biết rằng mình có thể hiến cho bệnh nhân nào. Tại bệnh viện 211 có nhiều nhân viên đã hiến máu đến sáu, bảy lần. Ở chiến trường có một thứ không thiếu đối với bệnh viện là thương binh. Bộ đội ta đã trở thành nạn nhân của một danh sách vũ khí kinh khủng trong kho của Mỹ. Thương binh đáng sợ nhất là bị bom bi gây ra. Nếu ai đó nhìn thấy quả bom bi phát nổ, bạn sẽ không nghĩ rằng con người có thể sống sót trong phạm vi bán kính một trăm mét. Khi bom nổ, hàng trăm mảnh đạn nhỏ phóng ra. Có trường hợp người bị thương vì bom bi, y bác sỹ cũng phải bó tay vì viên bi vào cơ thể một lỗ nhỏ nhưng sau đó di chuyển rất nhanh đến chỗ khác. Nhưng sau đó bệnh viện cũng tìm được cách cứu chữa cho các chiến sĩ... Bệnh viện ở chiến trường làm việc suốt ngày đêm để cứu chữa cho chiến sỹ. Có nhiều bác sỹ phải mổ, phải làm việc suốt để phẫu thuật. Nhiều khu mổ nằm trên mặt đất, bom rơi xung quanh. Rồi một ngày một ca mổ nằm lộ thiên, bỗng có một chiếc máy bay trực thăng bay trên đầu bắn đạn khói. Ca mổ phải nhanh chóng xuống hầm vừa xong thì máy bay phản lực đến ném bom bắn phá. Sau khi đã xuống hầm, tiếp tục mổ vừa lúc kết thúc ca mổ xong chuyển đến hầm hậu phẫu, thì máy bay phản lực Mỹ từ trên cao bổ nhào phóng tên lửa trúng vào cả bệnh viện. Hà ạ! Quân của bác sống trong rừng rậm mới thấy được nỗi khắc nghiệt của rừng thẳm. Sống trong rừng không phải chỉ đối phó với giặc Mỹ mà còn một loại địch lăm le phục khích khắp nơi. Đó không phải là đội quân của những chiến binh hai chân, mà rất nhiều chân, thêm vào nạn dịch bệnh gây ra bao nỗi khổ sở cho người lính sống trong rừng, các loại cầm thú như: Hổ, rắn, voi, to ăn, khỉ độc... Các loại sâu bọ không bao giờ bỏ qua cho những ai bước chân vào lãnh địa rừng thiêng nước độc của chúng. Bác chỉ nói một loại sâu bọ cho Hà nghe thôi cũng đủ kinh sợ rồi. Đó là "bét" có rất nhiều loại "bét" ở trong một vùng, một số loại sống trên cây, một số loại sống dưới đất. Khi bị đốt người ta thường lôi ra nhưng đầu chúng vẫn cắm vào da thịt, thật kinh khủng. Khi hành quân qua, chúng nhảy lên chân, lên người đốt. Những con "bét" này có thể chui vào tai, vào mũi... Có một chiến sỹ của bác khỏe mạnh bỗng dưng máu mũi, máu tai chảy ra đưa vào viện người ta phát hiện "bét" đã chui vào làm tổ ở đấy. "Bét" trong rừng không ít, nó đi hàng đàn rào rào. Chứng có mặt khắp nơi. Nếu dừng lại để bắt con này thì con khác nhảy vào cắn. Vì thế người lính phải hành quân rất nhanh qua những khu vực có "bét". Bét là một loại rất sợ nước. Nếu nhẩy xuống nước khỏi "bét" thì những con đỉa to nhỏ hàng đàn lao tới. Trong rừng, nhất là các tuyến đường hành quân, Mỹ phải rải rất nhiều mìn lá, nó giống như lá cây khô, một số loại mìn có từ tính, có loại khi dẫm phải mìn sẽ nhảy lên cao và phát nổ. Ký hiệu "Boumcing Betty" "Betty nhảy nhót". Khi bị kích hoạt, lò xo bên trong sẽ bật ngay khi chiến binh nhấc chân, quả mìn bật lên ngang tầm thắt lưng và phát nổ. Người chiến sỹ rất khó phát hiện loại mìn này. Nhưng khi nhỡ đạp phải thì cứ đứng như vậy, mìn sẽ nổ và bị mất một hoặc hai chân như không. Ngoài ra còn có mìn lá, hình dạng kích thước giống như lá thật. Loại mìn này rất khó phát hiện, chúng gây ra chết chóc hoặc thương tích nghiêm trọng. Có một loại mìn lá được thả xuống từ máy bay, sau khi chạm đất, nó bắn hàng hoạt sợi dây ra tứ phía. Người chiến sỹ rất khó lòng phát hiện những sợi dây này - chúng rất mảnh. Khi người chiến sỹ thấy quả mìn bỏ chạy theo hướng khác nhưng có thể vấp vào sợi dây và kích mìn nổ. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:32:00 pm VII "Sống chiến đấu trên đường mòn Hồ Chí Minh thật khốc liệt vì bom đạn Mỹ đã đành, nhưng có những cái khi nghe vô lý nhưng thực tế đơn vị bác đã gặp phải. Sau một ngày hành quân hết nước, gặp một dòng suối trong, thế là mọi người thi nhau uống, tắm và nấu ăn. Chiều hôm sau khi hành quân ngược thì thấy xác chết của lính Mỹ... Hành quân thiếu rau phải ăn rau tàu bay, lá sắn và một số loại rau cỏ khác có thể ăn được. Sau một thời gian, khoảng hai năm thì lính của bác mắc bệnh tiêu chảy hàng loạt có chiến sĩ chết, có người hôn mê, hoặc sốt cao. Bệnh viện 211 đã khám nghiệm tử thi thấy ruột của người chiến sĩ đã bị quá mỏng. Nhiều người đã bị thủng ruột do tiêu chảy. Thật khủng khiếp... Đến năm 1970 dịch bệnh giảm đi được một phần. Do ăn uống kham khổ có nhiều bệnh nhân thiếu vitamin, A và B. Thiếu vitamin B có thể khiến người ta chết vì bệnh tim... Thiếu vitamin A gây cho người ta khô mắt, dẫn đến mù... Ở rừng núi và khắp vùng Tây Nguyên bệnh sốt rét hoành hành. Bất cứ ai lên Tây Nguyên đều bị sốt rét hành hạ từ ba đến sáu tháng. Một bác sỹ nổi tiếng, là chuyên gia chống sốt rét được điều vào Nam để tìm kiếm phương cách tốt nhất để điều trị sốt rét. Trước khi hoàn thành cuộc nghiên cứu, bác sỹ đó cũng đã hy sinh vì bệnh sốt rét. Trong đơn vị bác đã xuất hiện nhiều ca ung thư gan, phải chuyển ra Bắc điều trị và sau này bác mới biết Mỹ đã phun chất độc rất nhiều. Những chiến sỹ hoạt động trên chiến trường ăn uống kham khổ lại phơi nhiễm chất độc sẽ dần bị suy giảm... hệ thống miễn dịch... Bác nghĩ rằng có ai đó còn ghi ngờ có thể kiểm chứng bằng khám nghiệm xương của người chết trong chiến tranh, bằng cách này người ta có thể đo được lượng hóa chất vẫn còn nằm trong mô xương. Hà ạ! Chiến tranh ở Việt Nam thật ác liệt. Các đơn vị bác chiến đấu ở đường mòn Hồ Chí Minh, nếu không biết cách phòng tránh thì máy bay Mỹ có thể phát hiện và thả bom. Máy bay B52 thường xuyên ném bom hầu như đêm nào cũng có. Dọc đường hành quân các đơn vị trước đã chuẩn bị những trạm nghỉ chân có các hầm chữ A, trong mỗi hầm có một cái xẻng. Sau khi B52 ném bom vào đơn vị, nơi trú ẩn, hết một đợt thì các chiến sĩ lại liên lạc với nhau. Nếu sập hầm họ sẽ xúm lại đào cứu giúp nhau. Nhưng thường là máy bay ném bom ít lần sập hầm. Mỗi người lính khi ngồi vào hầm trú ẩn phải bịt tai, không ngồi dựa lưng vào vách hầm, ngồi xổm, cánh tay buông song song với mặt đất, tay chân phải ở xa nhau đề phòng hầm bị sập, để tạo ra những ô trống chứa không khí nếu hầm bị sập. Rất nhiều trường hợp bị sập hầm được cứu sống. Trường hợp của ba cô gái người Hà Tĩnh tuổi mới 18, khi B52 đến ném bom, ba cô cùng xuống một lần - hầm sập, ba cô được cứu sống, nhưng một cô bị giập thận. Bệnh viện 211 đã ra sức cứu chữa nhưng khó hồi phục. Người chiến sĩ ấy là Hoàng Lan, biết mình không thể sống được, cô ấy nói muốn gặp bác. Bác vào viện thấy Hoàng Lan người gầy xọp đi và đi tiểu ra máu nhiều. Bác nhìn người chiến sĩ và không cầm được nước mắt. Thấy vậy Hoàng Lan nói trong hơi thở: "Thủ trưởng ạ! Đến ngày thắng lợi cuối cùng không còn lâu nữa nhưng không phải một sớm một chiều mà còn phải chịu đựng nhiều hy sinh. Em biết, thắng lợi rồi sẽ đến. Nhưng em muốn nhờ... Em muốn nhờ thủ trưởng một việc, khi em qua đời thủ trưởng cho anh em chôn cất cẩn thận, để ngày hòa bình người thân và tổ chức có thể tìm hài cốt của em đưa về quê cha đất tổ. Em nói thực bấy lâu nay chôn cất người chết quá sơ sài, đánh dấu không rõ ràng. Ngày mai có hòa bình không tìm được phần mộ đâu - Nói đến đây, Hoàng Lan lịm dần rồi hy sinh. Trước đây, đơn vị bác chôn cất chiến sỹ không có tấm bia trên mộ hoặc đánh dấu trên những ngôi mộ. Người ta thường vẽ sơ đồ, đánh dấu trên thân cây gần đó. Nhưng một thời gian cây phát triển lên, rồi thời tiết khắc nghiệp khiến các vết khắc trên cây không còn. Bây giờ chôn cất Hoàng Lan bác không làm theo phương pháp đó. Đơn vị lấy một mảnh giấy ghi tên, ngày sinh, quê quán của cô rồi bỏ vào lọ penicillin bọc kín nilong, đưa vào quan tài bằng tre chôn cất "... Nghe Hoàng Lan nói những lời trước khi hấp hối, bác nhớ lại một câu chuyện khác, một câu chuyện về một người lính Mỹ sắp chết. Sau một trận đánh, quân ta thắng, đơn vị bác quay lại thu dọn chiến trường, những ngôi nhà cháy chỉ còn lại những khung gỗ lim đen sẫm, đứng trơ trọi trên nền đất, không có một bóng người, chỉ còn xác lính Mỹ và cả đồng đội của bác, ngổn ngang... Bác cho đơn vị thu dọn và chôn cất người chết xong. Bác vẫn tiếp tục đi, mùi thuốc súng đạn, máu người lênh láng. Bác cùng đi với chiến sỹ Bắc đã tốt nghiệp đại học Ngoại ngữ khoa tiếng Anh. Tổ của Bắc gồm năm người đi xuống một triền dốc. Bắc khựng người lại khi nghe thấy tiếng khóc. Người hay là ma đây? Trận đánh đã diễn ra ba ngày rồi sao vẫn có người sống? Bác cúi xuống vạch bụi cây ra, đột nhiên kêu lên? "Ôi! Có người...! Một người lính Mỹ vẫn còn sống!". Tổ của bác rẽ bụi cây ra thấy một người lính Mỹ nằm co ro, ngón tay trỏ vẫn để vào cò súng có lẽ đạn đã hết từ bao giờ. Người lính Mỹ nhìn bác với một cặp mắt rất kỳ lạ. Bác nhìn người lính Mỹ rồi kêu lên: - Nhanh lên, phải cứu... cứu gấp! Người lính Mỹ nhìn bác rồi rút ra một thẻ bằng tiếng Anh và tiếng Việt: "Tôi là người Mỹ đề nghị giúp đỡ...". Bác nhìn người lính một thoáng rồi nói: - Chúng tôi không cần những thứ này. Người Việt sẵn sàng giúp đỡ. Chiến sỹ Bắc dịch cho lính Mỹ nghe xong, anh ta nhìn bác với cặp mắt tin tưởng. Sau khi băng bó, chúng tôi chuyển lính Mỹ về bệnh viện 211. Bệnh viện đã tận tình cứu chữa nhưng vết thương quá nặng. Bác nói với bác sỹ Thuận: - Các anh cố gắng cứu sống người lính Mỹ này, họ sang đây không có người thân, không gia đình. Họ đã khắc từng ngày lên vành mũ để chờ ngày về nước. Việc cứu người là không chiến tuyến. Nghe vậy, bác sĩ nói lại với bác: - Thưa thủ trưởng! Điều đó chúng tôi đã được cấp trên căn dặn từ ngày khoác ba lô vào Nam chiến đấu. Nhưng người lính Mỹ này bị thương quá nặng, ở chiến trường không chữa được đã đành, kể cả bệnh viện New York cũng bó tay. Nhưng chúng tôi quyết tâm còn nước còn tát. Nghe vậy bác quay lại người phiên dịch: - Đồng chí ở lại đây để giúp người lính Mỹ và cần phải tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ. Nếu người lính Mỹ không sống nổi thì sau này chúng ta tìm cách báo cho người nhà của họ. Những ngày ở lại với người lính Mỹ, chiến sĩ Bắc nói lại cho bác biết: "Tên của người Mỹ ấy là Wiliam Elerbê, vợ của anh ấy Marian Bell. Người lính Mỹ đến miển Nam Việt Nam vào mùa thu năm 1968. Đến Việt Nam nhiều lúc anh ấy nhớ nhà và đau khổ, sợ hãi đến tuột cùng cái hố chiến tranh, hình ảnh cỗ máy xay người đang ngày ngày hiện ra trong đầu anh ấy - Wiliam Elerbê đêm đêm thương vợ, nhớ con đến cồn cào. Anh ấy đang sống trong một gia đình yên ấm, thế mà phải ra đi. Bạn chiến đấu của anh ấy đã chết từ trận trước. Hiện nay, anh không bạn bè thân thích. Sống và chiến đấu ở chiến trường Việt Nam thật kinh khủng, vũ khí thô sơ, thiên la địa võng, rừng núi chập chùng, có nhiều sông ngòi kênh rạch, ao chuôm, nhiều loại côn trùng đáng sợ, các loại cầm thú như: Hổ, báo, trăn, lợn rừng, rắn sẵn sàng tấn công con người. Còn nói về quân giải phóng của ta thì họ nhanh như con sóc, xuất hiện bất thần như có phù phép, lúc tín báo có "Việt cộng", hành quân đến chẳng có ai... Nhưng khi nói không thì lại xuất hiện. Những người dân bình thường thì không tài nào phát hiện được họ là ai. Vậy mà, một em bé chăn trâu rất hiền lành nhưng lại là một du kích dẫn lính Mỹ vào cạm bẫy. Nói về vũ khí thì quân đội giải phóng thua Mỹ hàng tỷ lần. Họ chỉ có vũ khí thông thường. Nhưng điều đáng làm cho anh ta sợ nhất là: Hầm chông, bẫy chông, ong vò vẽ... giăng khắp nơi không biết đường nào mà lần. Mỗi khi nghĩ đến đời binh nghiệp ở Việt Nam, anh ta lại khóc. Anh bạn chí thân của anh ấy thường nói: "Khóc được là tốt". Nhiều đêm, anh ta nằm mơ lúc thì thấy một viên đạn trúng vào đầu, lúc vào tím. Có nhiều đêm nằm mơ thấy có người nói chuyện với anh ấy trong bóng tối: Họ nói với anh ấy như kiểu cây cối rì rầm trong gió ban đêm. Ngày anh ấy lên máy bay xa nước Mỹ đến với đất nước Việt Nam có nghĩa là anh ấy xa nơi yên bình giàu có, xa vợ con mái ấm gia đình. Khi ngồi trên máy bay anh ấy thấy khó hiểu làm sao - khó hiểu quá. "Đất nước Mỹ từ xưa nay có ai động đến đâu. Sao người Mỹ lại sang Việt Nam, đánh người Việt Nam? Người Mỹ nói là để ngăn chặn Cộng sản bành trướng sang nước Mỹ - Có phải thế không?". Câu hỏi đó cho đến tận giờ phút này anh ta vẫn chưa trả lời được. Anh ta nằm bất động và trút hơi tàn cuối cùng". Bệnh viện 211 đã tập trung cứu chữa cho người lính Mỹ nhưng không cứu được vì anh ta bị thương quá nặng lại mây ngày không được ăn uống. Sau khi anh ta chết, đơn vị bác đã chôn cất chu đáo. Bác đã ghi số hiệu đầy đủ bỏ vào lọ penicillin chôn cùng để nay mai chiến tranh kết thúc thi hài người lính Mỹ được đưa về Tổ quốc". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:35:25 pm VIII "Hà ạ! Bác là người lính chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn, vùng rừng núi phía Nam, phía Bắc, gần mười năm trời. Ngày 30-4-1975, nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều đêm trong giấc ngủ, bác bỗng choàng dậy - Thật hay là mơ? - Thật rồi chẳng phải mơ đâu! Bác sung sướng về chuyện "huyền thoại" Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Điều đó có lẽ nhiều người không tin vì vũ khí của quân đội Việt Nam chỉ có những loại vũ khí cũ hồi chiến tranh chống Pháp để lại như An-2, Li-2, Ili-14 và AK-18. Sau này có thêm các loại máy phản lực như: Muf-17, Mur-17, Muf-19, Mut-21, P-94, P-96. Cao xạ chỉ có 12 ly 7, pháo 37, pháo 57, sau này mới có pháo 100, tên lửa SA-2, SA-3, tên lửa vác vai A-72. Những loại vũ khí này so với chiến tranh thế giới thứ hai đã có nhiều loại lạc hậu, chưa nói đến chiến đấu với Mỹ. Hơn nữa nước ta không có nền công nghiệp quốc phòng, phần lớn nhờ vào viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Chưa kể về kinh tế nước Việt Nam vốn là một nền công nghiệp lạc hậu so với nước Mỹ là một cường quốc đứng nhất nhì thế giới. Mỹ quyết tâm đánh thắng Việt Nam. Họ đã vận dụng các kỹ thuật hiện đại. Thế mà cuối cùng họ phải thất bại. Điều đó khiến họ cần phải suy ngẫm vì sao lại như vậy? Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ hầu như gia đình nào cũng sự mất mát, rất nhiều gia đình, nhiều làng xã bị đạn bom Mỹ san phẳng. Nhưng may mắn, bác vẫn còn sống. Tháng 6 năm 1968, trung đoàn của bác đang chiến đấu ở tỉnh Bến Tre - một khu vực đã bị "chất độc cam" làm trơ trọi cỏ cây. Mỹ đã thả thiết bị nghe trộm phát hiện trung đoàn của bác đang hành quân. Lúc phát hiện thấy đơn vị đang tiến vào một khu vưc trống trải, bác lệnh cho đơn vị sơ tán. Ngay lập tức, một chiếc trực thăng sà xuống. Giống như con đại bàng thấy mồi. Đơn vị ẩn nấp xong còn bác đang chỉ huy đơn vị. Bác chạy tìm nơi ẩn nấp máy bay đã sà xuống trên đầu. Bác vừa nhìn và chạy, tim đập dồn dập khi ngoái cổ lại nhìn thấy một người lính Mỹ đứng trên cửa máy bay, giương khẩu súng M-79 nhắm thẳng vào bác. Ngày thường, bác hay nói nửa đùa nửa thật thật nếu có chết thì cũng phải hô được "Đảng muôn năm!". Nhưng lúc này chỉ tập trung chạy vào một cái hang, nó cách xa bác gần một trăm mét, không kịp nữa rồi! Tiếng "phụt" từ khẩu súng M-79 vọng lại. Bác nằm lăn trên bãi trống. Nhưng may thay quả đạn rơi cách bác một mét nhưng không hề nổ. Bác không tin vào mắt mình, quả đạn nằm bên, cách chưa đầy một mét. Thật may thay, đó là quả đạn hỏng. Nếu không thì làm gì bác còn sống hôm nay, hả Hà? Rồi một lần nữa, mà bác không nhớ rõ cụ thể năm nào. Khi lục quân Mỹ mở chiến dịch Crimp. Nhiệm vụ của chiến dịch này là Mỹ vây đánh khu vực địa đạo Củ Chi. Bác chỉ huy ba mươi người. Khi quân Mỹ xông tới, đơn vị bác chiến đấu và liên tục di chuyển khiến kẻ địch hoang mang, khiếp sợ. Nhưng sau đó một đoàn xe tăng lao tới bắn pháo vào lực lượng của bác. Đơn vị bác phải rút vào địa đạo thì cửa hầm bị sập, không có lối ra, lại thêm không khí trong hầm rất ít vì chỉ có những lỗ thông hơi. Đơn vị bác bị vùi trong một đoạn đường hầm dài chừng 100 mét. Bác thầm nghĩ thế là cả đơn vị đã bị "chôn sống", làm sao mà lên được mặt đất? Quân Mỹ ở phía trên hầm chắc cũng nghĩ đơn vị bác đã chết rồi nên đã bỏ đi nơi khác. Lúc này đây bác mới cảm phục những người chiến sỹ trẻ, họ rất bình tình trước nguy nan... Bác họp đơn vị bằng cách người nọ nói cho người kia là phải đào hầm chui lên mặt đất tiếp tục chiến đấu. Trong hầm không có một tí ánh sáng, dưỡng khí rất ít, người trước đào người sau chuyển đất ra phía sau và cứ như thế thay nhau đào bằng những dụng cụ thô sơ như mũ sắt, dao găm. Cả đơn vị cắm cúi đào lên phía trên, họ biết rằng đó là hướng đi duy nhất, cả đơn vị vừa đào vừa lắng nghe những động tĩnh trên mặt đất, khi biết chắc cách mặt đất hai mươi phân. Bác lấy lưỡi lê chọc một lỗ nhỏ để cho không khí tràn vào. Nhưng cái chính là để nghe động tĩnh của Mỹ. Khi biết chắc Mỹ không có, bác chọc tầng đất cuối, anh em bò lên nằm nghỉ một thoáng rồi nhanh chóng phối hợp với đơn vị bạn đánh từ phía sau, lính Mỹ hoảng loạn tháo chạy và đơn vị bác bắn cháy một xe tăng. Rồi rút lui vào rừng. Bác đã sống ở địa đạo khá lâu và cũng nhờ địa đạo mà bác thoát chết nhiều lần. Có lần tưởng chết nhưng lại được sống. Bác từ trong địa đạo lần mò cửa hầm, với tay tìm tấm gỗ dùng làm nắp, bác từ từ đứng dậy, khẽ đẩy chiếc nắp gỗ hé lên và thò đầu ra quan sát xung quanh trước khi chui ra. Nhưng khi bác vừa mới đứng dậy thì giật mình vì có tiếng động mạnh từ trong hầm vọng ra, con gà sống từ đấy phóng ra. Con gà vừa chạy vừa kêu quang quác vỗ cánh rồi chạy thoát. Bác bắt đầu lo lắng, không phải vì việc con gà mất mà trực thăng Mỹ biết có người sẽ đến. Con gà chạy ra khiến viên phi công trực thăng phát hiện, đã bay vòng đi vòng lại rất nhiều lần. Sau thời gian dài quần đảo trực thăng bay đi. Khi biết máy bay không còn nữa, bác cùng với một cán bộ đẩy cửa hầm ra ngoài, nhanh chóng chạy vào khu rừng gần đây, nhưng chưa kịp hành quân thì đạn pháo 175mm từ ngoài câu vào địa đạo. Bác cùng đồng đội quay vào địa đạo. Đồng chí kia kịp vào, còn bác thì bị một quả pháo 175mm nổ rất gần, bác bị thương. Bác ngục ngã bất tỉnh. Lúc đấy, bác lơ mơ thấy có một người với tay từ địa đạo kéo vào. Sau một thời gian khá dài nằm điều trị ở bệnh viện 211 bác lại được tiếp tục hành quân chiến đấu. Có lúc bác cũng cảm thấy thương con gà, nhưng không có dịp quay trở lại địa đạo. Cần nói thêm cho Hà biết là ở dưới địa đạo bộ đội vẫn chăn nuôi. Hà ạ! Sau bao nhiêu năm Mỹ - ngụy đánh với quân đội ta không thu được kết quả nên đã chuyển hướng vừa đánh vừa đàm phán. Tại Hội nghị Paris, phái đoàn của Mỹ đưa ra nhiều yêu sách vô lý. Đoàn Việt Nam đều bác bỏ. Ở chiến trường miền Nam, Mỹ bắt đầu mở chiến dịch "Chiêu hồi" hay "Open Arm" (Mở rộng vòng tay). Mỹ - ngụy đã xây dựng những biệt thự sang trọng để cho những sỹ quan Cộng hoà ở, có công ăn việc làm cho vợ con họ, hưởng lương tối hậu. Tính hiệu quả của chương trình chiêu hồi trong nội bộ Mỹ còn nhiều tranh cãi, nhưng có lẽ thành công lớn nhất đối với Mỹ là chương trình gây ra một mối nghi ngờ trong lòng những người Cộng sản, bởi vì việc theo dõi và phát hiện người nào thiếu bản lĩnh chiến đấu là việc không đơn giản. Nhưng Mỹ đã nhầm, bộ đội Việt Nam, họ chiến đấu hy sinh vì độc lập thống nhất đất nước. Bác Hồ đã dạy "giàu sang không thể quyến rũ, uy vũ không thể chuyển lay". Chương trình chiêu hồi của Mỹ đã thất bại. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:36:45 pm Vài tuần khi quân Mỹ tấn công vào Campuchia, bác cùng với một tổ bảo vệ cho một sỹ quan cao cấp Việt Nam đối Svay Riêng từ ba ngày trước. Sỹ quan cao cấp vì công việc nên đã lưu lại quá thời gian cho phép.
Sáng 17 tháng 5, sỹ quan cao cấp họp bàn kế hoạch tác chiến với các lực lượng chiến đấu phía Tây Nam đến hai giờ sáng. Khi về họ chia ra làm hai hướng khác nhau: Cấp phó của sỹ quan cao cấp đi về một hướng. Còn bác và cấp trưởng đi về một hướng. Trên đường về căn cứ của quân giải phóng bác nghe thấy tiếng máy bay trực thăng trên đầu, một chiếc, hai chiếc. Thấy tình hình không được ổn, bác và đồng chí cấp trưởng cùng với hai đồng chí khác chui vào nơi trú ẩn và chờ đợi. Sau nửa tiếng, quân Mỹ đã có mặt khắp nơi, bác biết đã lọt vào giữa một trận càn lớn nhưng bác không ngờ rằng mục đích của địch lần này là tìm kiếm bắt đồng chí cán bộ cao cấp của ta. Từ nơi ẩn nấp, bác quan sát được các hoạt động của địch, mọi người trong tổ của bác nằm im nghe ngóng. Tình trạng ấy kéo dài trong nhiều giờ, máy bay trực thăng quần đảo trên đầu, mặt đất lính Mỹ lùng sục khắp nơi. Bác rất lo vì lính Mỹ có chó nghiệp vụ đi cùng. Trời! Giá như lúc này có thuốc chống chó. Nếu không thì có xà phòng bôi vào cũng được. Nhưng khi đi bác không nghĩ tới chuyện này nên chẳng mang gì cả. Tổ bác nằm im không động cựa, không nhúc nhích. Nếu địch phát hiện, nếu điều đó xảy ra thì tổ của bác sẽ chiến đấu không cho địch bắt. Sau một thời gian khá dài, thấy bầu trời yên tĩnh, bác ló mặt nhìn qua miệng hố, cẩn thận quan sát trong khu vực, biết chắc quân Mỹ đã rút lui. Bác thông báo cho mọi người chuẩn bị hành quân. Trong khi rút lui bác rất lo lắng không hiểu toán kia có an toàn không? Nhưng sáng 18 tháng 5, người sỹ quan cấp phó đã tới chỗ quân Việt Nam Cộng hòa để đầu hàng theo chương trình Chiêu hồi. Quân Việt Nam Cộng hòa lập tức thông báo cho người Mỹ. Mỹ nhận định tốp của bác đang hành quân trong rừng, quân Mỹ đã phản ứng kịp thời, mở một đợt càn và lục soát khẩn cấp. Sau này, bác mới biết tên sỹ quan phản bội đã có chuẩn bị trước nên đã chuyển vợ con từ Mỹ Tho, lên Sài Gòn, chuẩn bị đào ngũ mà ta không nắm kịp thời... Bác nghĩ đây là một sự sơ hở của phía ta nhưng chỉ là một trường hợp cá biệt. Hà ạ! Tuyệt đại đa số chiến sĩ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Bác còn nhớ đơn vị hành quân trong những khu rừng rậm rạp, hành quân kéo dải, có lúc phải lê từng bước vì vừa đói rét, vừa bệnh tật. Sau này, bác muốn cho một số chiến sĩ ra Bắc, nhưng họ quyết không đi, không một ai rời hằng ngũ chiến đấu. Bác vẫn nhớ như in người chiến sỹ gái tên là Thu Hằng đã nói với bác: "Dù em có mệt mỏi đến đâu, cũng phải dấn bước chiến đấu, vì miền Nam đang kêu gọi, cả đất nước đang sục sôi chống Mỹ xâm lược". Nói xong câu ấy, Hằng nhìn bác và nói tiếp: - Nếu em hy sinh nhờ thủ trưởng giúp em hai việc có được không? - Xin em cứ nói đi. Đối với chiến sỹ trăm ngàn việc anh cũng cố gắng giúp. - Không nhiều việc thế đâu thủ trưởng ạ! Một là thủ trưởng mãi mãi cho em chiến đấu ở miền Nam... Hai là thủ trưởng luôn nhớ tới em lúc sống chiến đấu cũng như lúc đã hi sinh. - Anh hứa sẽ làm tròn hai điều mà Hằng yêu cầu. Hằng mỉm cười bước đi và không nói gì thêm. Những tia nắng nhảy nhót trên vai người chiến sỹ ấy. Tiếng trọng pháo của địch từ ngoài biển bắn vào vang dội cả một khu rừng, cả hai bước vội trên một triền dốc thoai thoải, cách nhau một vài bước chân. Thế rồi ngày hôm sau chiến đấu, Hằng bị thương rất nặng. Biết mình không sống được, Hằng nói với bác những lời cuối cùng: - Em là một bác sỹ đa khoa, em mơ ước học xong sẽ được trở về quê hương chữa bệnh cứu người, nhưng em chưa giúp được gì cho người thân ruột thịt... mà đã phải hy sinh. Em mong anh sẽ trả thù cho em... Nói rồi cô thanh thản ra đi. Kết thúc chiến tranh, bác mới nghe người ta thông báo có khoảng hơn hai triệu dân thường thiệt mạng chưa nói đến sự hi sinh của các chiến sỹ trên chiến trường. Nhưng điều đau thương nhất là chất độc da cam đã để lại một hậu quả vô cùng lớn lao mà người Việt Nam phải gánh chịu trong nhiều thế hệ". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:39:32 pm IX Hôm nay, bác sẽ kể cho Hà nghe một câu chuyện khác. "... Vợ chồng ông Nhơn và bà Mè là những nhà giáo. Họ sinh được bốn người con trai: Sanh, Tài, Đại, Đạo và hai người con gái. Trong những năm đất nước bị chia cắt hai miền Nam Bắc, ông Nhơn dạy học và quản lí một trường học ở Chợ Lớn, ngoại ô Sài Gòn. Nhưng vì trường dạy cho học sinh những tư tưởng yêu nước, cách mạng nên chính quyền Sài Gòn bắt phải đóng cửa. Gia đình họ chuyển vào Sài Gòn sống với người thân. Tại đây, họ trở thành một cơ sở kiên trung của cách mạng. Năm 1960, khi chính quyền Sài Gòn đang chuẩn bị bắt các cơ sở cách mạng vì các hoạt động chống chính quyền, gia đình họ phải rời thành phố về tỉnh Trà Vinh. Là nhà giáo nên các con họ sớm nhận thức ra con đường cách mạng. Năm 1964, chiến tranh ở miền Nam ngày một lan rộng khắp nơi. Chính quyền Sài Gòn thẳng tay trừng trị những người có liên quan đến Cộng sản. Gia đình ông bà quyết chuyển đến vùng căn cứ của mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam - Tổng hành dinh nằm trong rừng sâu, bên ngoài Sài gòn. Nơi này nằm tại tỉnh Tây Ninh, được biết đến với cái tên gọi "Chiến khu R". Các con trai của gia đình ông bà tham gia và quân giải phóng. Bà Mè không nói ra nhưng rất tự hào về những đứa con đi chiến đấu với giặc Mỹ, mặc dù bà Mè cũng rất lo lắng việc sống chết của các con. Cuối tháng 2 năm 1968, bà Mè đang làm việc tại chiến khu R cùng với anh em cơ quan. Bác nhớ rõ đó là một ngày đẹp trời, trong ngôi nhà nhỏ, bà đang kiểm tra lại phần công việc đã làm và dự định làm những công việc tới. Cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn lịch sử mang tính chất quyết định. Nghe tiếng gõ cửa, bà mở cửa, bác bước vào. Bà Mè nhận ra ngay bác - người bạn chiến đấu của vợ chồng bà. Nhưng hôm nay vẻ mặt của bác không vui. Bác ngồi vào bàn, bà Mè nhìn vào đôi mắt của bác một hồi lâu rồi nói với một giọng bồn chồn. - Anh Thắng có tin gì xấu sao? Ngẫm nghĩ một lúc rồi bác lựa lời báo cho bà Mè: - Bà Mè ạ! Không biết tôi nói tin xấu này bà có chịu được không? Nghe vậy, bà run rẩy biết là một điều bất hanh đã đến với các con bà. Một lúc sau bà bình tĩnh lại và nói với một giọng bình tĩnh: - Anh Thắng ạ! Có điều gì không hay đến với các con em ở mặt trận thì cứ báo cho em hay. Em biết rằng cuộc chiến này, những người lính khó lòng thoát khỏi bom đạn của giặc Mỹ. Bác nuốt khan nước bọt một hồi lâu và cất lời: - Bà Mè ạ! Tài, con trai của bà đã anh dũng hi sinh đúng vào lúc con trai lớn Sanh cũng bị thương, tại An Lạc, quận Bình Thanh trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Bà Mè run rẩy, loạng choạng rồi ngất xỉu. Một lúc sau, khi bà tỉnh lại, bà nói với bác: - Anh có nghe nhầm không? Làm gì có chuyện hai đứa con em cùng bị một lúc. Chắc là anh có gì đó lầm lẫn? Nghe vậy bác nghĩ nên nói thật cho bà biết thì hay hơn. Nghe bác nói xong, thật kinh ngạc, bà Mè nói: - Anh Thắng ơi! Hai đứa con em là chiến sỹ của anh, bây giờ một đứa đã hi sinh rồi, dù có buồn đau đến mấy cũng không giải quyết được gì. Em hi vọng anh sẽ trả thù cho đứa con em. Còn vợ chồng em, dù đau đớn, cũng quyết không vì thế mà tuyệt vọng. Được hơn một tuần sau, bác nghe tin bà đã bình phục được ít nhiều, nhưng một tin đau khổ khác lại đến với bà. Đại con trai thứ ba, 22 tuổi bị địch giết ở Vĩnh Long trong khi đang làm nhiệm vụ. Còn Đạo 20 tuổi, bị thương nặng, nhưng nhờ bệnh viện tập trung cứu chữa nên đã qua khỏi. Đơn vị quyết định chuyển Đạo về công tác tại chiến khu R để động viên bố mẹ. Nhưng trong chuyến đi về chiến khu R của Đạo, dọc đường đi bị một quả đạn M-79 bắn nổ rất gần, nhiều mảnh đạn bay vào mặt và mắt Đạo, nhưng anh không chết. Sau ngày giải phóng đất nước, bác lại có dịp vào thăm gia đình bà Mè. Bà nhìn bác rồi nói: - Anh Thắng! Anh vẫn còn sống đấy à? Anh thật may mắn và cao số. Bây giờ hòa bình, không có đạn, cuộc sống cũng đã đổi thay nhiều lắm, dù ăn bát cháo cũng sướng. Nói xong câu ấy, bà giã trầu, miệng nhai trầu rồi kể tiếp: Như anh Thắng biết đấy, ba đứa con em hi sinh ở mặt trận còn thằng Đạo bị thương tàn tật. Ngày đó em còn khỏe, cũng cố gắng làm ăn và tưởng là sinh thêm một đứa nữa để tiếp tục cho nó ra trận. Nhưng chiến tranh đã kết thúc rồi, thật may mắn vì không còn ai phải ra trận nữa. Bây giờ, ngồi nghĩ lại quá khứ chiến tranh mà lạnh toát cả người. Bà nói: - Bây giờ có hòa bình rồi, có phải ăn bát cháo cũng sướng. Vừa rồi em vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Bác ngồi trầm tư suy nghĩ; bà Mè là một người mẹ tiêu biểu cho bao nhiêu người mẹ Việt Nam. Bác hiểu thấu tâm tư của những người mẹ, người cha khi các con mình đối mặt với chiến tranh, có con ngã xuống trên chiến trường và chẳng thể đưa hài cốt con tới nơi an nghỉ cuối cùng. Và không biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm trông chờ tin tức của con qua chương trình "Đi tìm đồng đội". Bà Mè cũng như muôn vàn người mẹ khác. Nghĩ vậy, bác hỏi bà Mè: - Sau những mất mát của gia đình, chị có căm ghét giặc Mỹ lắm không? Bà ngừng nhai trầu suy nghĩ một lát rồi nói: - Ngày đầu em cũng căm thù giặc Mỹ lắm, họ từ một nơi xa xăm đến Việt Nam bắn giết những đứa con mà mình đẻ ra. Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về bi kịch của bao gia đình, bao bà mẹ Việt Nam. Nhưng rồi cái nỗi đau ngày tháng cứ dằn vặt, em có lúc tưởng chừng như không sống nổi. Qua những nỗi đau của mình mới thấy thông cảm cho những bà mẹ Mỹ khi không tìm thấy hài cốt của con để đưa về nước. Những đứa con yêu quý của họ mãi mãi nằm trên đất nước Việt Nam mà không tìm thấy. Em nghĩ rằng cần phải tìm hài cốt của lính Mỹ đưa về cho các bà mẹ Mỹ đang trông chờ khắc khoải. Còn câu hỏi có ghét Mỹ không? Thực ra trong chiến tranh thì có. Còn bây giờ khi đất nước ta đã hòa bình, em không muốn bất cứ nơi nào có chiến tranh bởi chiến tranh đưa lại cho người chiến thắng và kẻ thất bại một nỗi đau vô bờ. Nỗi đau đó có ở cả hai phía...". Sau chiến tranh, người ta mới có dịp kể nhiều câu chuyện về các bà mẹ Việt Nam. Không nhớ là vào năm nào bác có dịp đến Bảo tàng Quân đội thấy có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mặc dù trong bảo tàng chưa phải là toàn bộ danh sách liệt kê, nhưng ngần ấy cũng đã làm cho bác trào nước mắt. Những người mẹ chịu cảnh người đầu bạc khóc những người con ở chiến trận ra đi mãi mãi không về với gia đình. Bà Nguyễn Thị Điển có chồng và ba con trai là liệt sĩ. Bà Trần Thị Tràng - có chồng và năm người con là liệt sĩ, còn một người con bị thương mất khả năng lao động. Bà Huỳnh Thị Tân - có năm người con hy sinh tại chiến trường... Nhìn những bức ảnh, những lời chỉ dẫn ở bảo tàng, bác không tài nào đứng vững phải ngồi xuống nhớ lại cảnh chiến tranh năm nào. Khi những người đồng đội của bác ngã xuống bác thấy đau đớn mấy ngày không ăn, không ngủ được. Còn người mẹ mất từ ba người con trở lên thì làm sao mà họ chịu nổi? Rõ ràng những bà mẹ chịu đau khổ trong chiến tranh đã đành. Nhưng nỗi đau sau chiến tranh mới là điều đáng sợ. Chiến tranh qua rồi nhưng những người mẹ tóc bạc vẫn đứng ngóng trông con về, mặc dù biết con đã hy sinh. Vì tình yêu đất nước, họ sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng hi sinh để đổi lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Có lẽ chính những suy nghĩ này mà bao người dân Việt Nam đã đứng vững suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Hà ạ! Không ít lần bác đến thắp hương ở tượng đài tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ. Bác chắp tay, nắm hương cháy mà không thể nào bước lên để cắm vào tượng đài, nơi có bát nhang. Ai đã từng lăn lộn ở chiến trường miền Nam mới thấy những đứa con của mẹ Thứ dũng cảm biết ngần nào. Nỗi đau xót của mẹ Thứ là lớn lao. Rồi đến bà Nguyễn Thị Rành, mất đi tám đứa con và hai người cháu. Những đứa con ra trận lần lượt hi sinh, bà lại gửi tiếp cháu ra trận chiến đấu. Chừng nào giặc Mỹ còn ở trên đất nước Việt Nam. Bà thường nói: Đất nước Việt Nam là của người Việt Nam, không thể có ai xâm chiếm được. Dù nỗi đau của bà Rành ngày một tăng nhưng ước mơ chiến thắng về ngày mai không bao giờ tắt. Những thông điệp này đã được nêu lên trong bức thư gửi cho con của các Bà mẹ Việt Nam anh hùng mà lúc được đọc trong bảo tàng Mỹ càng ngày càng tìm cách tìm đánh tàn ác hơn, khốc liệt hơn nhưng lòng dân Việt Nam càng dũng cảm và càng sẵn sàng hi sinh. Thật không có một loại vũ khí nào mạnh hơn là sức mạnh tinh thần và ý chí con người. Bà mẹ Nguyễn Thị Loan khi đứa con trai yêu quý của bà vừa mới hi sinh, bà chỉ còn lại một đứa con trai. Nó là tộc trưởng của một họ, là nòi giống cuối cùng của gia đình nhưng sau khi Lê Viết Dũng hi sinh bà đã tự làm đơn cho đứa con trai Lê Viết Hùng nhập ngũ chiến đấu và anh cũng đã hi sinh. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:40:37 pm Hà ạ! Sức chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam âm thầm lặng lẽ mà vô cùng to lớn. Không phải chỉ riêng những người phụ nữ là toàn bộ người dân Việt Nam. Nếu Hà có điều kiện đi khắp đất nước thì hầu nhau ở làng nào, xã nào, từ miền ngược đến miền xuôi, cũng có những người phụ nữ có chồng, có con đã hy sinh anh dũng cho Tổ quốc.
Trong chiến tranh, lực lượng thanh niên, người còn sức ra trận, còn ở làng quê phụ nữ và những người già cả ra đồng cày cấy, chăn nuôi trồng trọt họ gửi ra mặt trận sức người và sức của, "xe của qua nhà không tiếc". Ở hậu phương phải ăn sắn, ăn khoai hay là hạt bo bo thay cơm. Nông dân cày cấy dựa vào ánh trăng. Nếu làm ruộng ban ngày là bị máy bay Mỹ ném bom. Mục tiêu quân sự đánh, dân sự cũng đánh - người dân Việt Nam phải sơ tán vào rừng núi. Những em nhỏ phải sơ tán vào rừng để học. Dân sơ tán vào khu rừng rậm, thỉnh thoảng lại bị dội bom. Người lớn, đào hầm cho các em nhỏ. Về sau các em nhỏ phải tự đào hầm trú ẩn. Những em nhỏ phải đào hầm thường xuyên vì ở nơi này bị lộ, địch đánh phá lại chuyển đến nơi khác, lại phải đào hầm. Lương thực mang đi không được nhiều, các em không đủ gạo và thực phẩm. Nhiều lúc hết lương thực, thực phẩm các em lại phải tự kiếm đồ ăn. Mỗi khi đói, các em phải vào rừng kiếm trái cây. Những người lớn đã dạy các em vào rừng kiếm sống qua ngày. Các em nhỏ có thể ăn nhiều loại trái cây. Đôi khi các em cũng đọc sách "kiếm sống trong rừng" - một loại sách viết cho lính Mỹ, trong đó mô tả cặn kẽ các loại nấm ăn được, không ăn được, sách dạy của Mỹ về cách bẫy bắt thú rừng nhỏ. Những khi đói, các em phải ăn rắn và bọ cạp. Có hai loại bọ cạp trong rừng. Một loại rất độc. Đó là loại bọ cạp nhỏ, màu nâu. Loại ăn được khá lớn dài khoảng một tấc, màu đen. Bọ cạp núi rất dễ bắt. Chúng nó bò lúc nhúc quanh hầm trú ẩn. Có một ít thịt trong càng của nó, khoảng nửa thìa, thịt có mùi vị giống tôm. Càng là bộ phận duy nhất có thể ăn được. Hà ạ! Khi bác tiếp xúc với những em nhở trong rừng, có em gầy gò, bệnh sốt rét hành hạ, ăn uống kham khổ thế mà nó vẫn chăm chỉ học tập. Ở trong rừng giáo viên thiếu nên nhiều thầy cô phải dạy suốt ngày đêm. Sách giáo khoa thiếu, các thầy cô phải tự nhớ lại những năm học ở cấp một hai, viết ra rồi dạy cho học sinh. Trẻ thơ được sơ tán trong rừng. Còn bố mẹ người lớn phải ở nhà vừa chiến đấu vừa lao động sản xuất. Mỗi khi có tiếng máy bay Mỹ gầm rú, ném bom, những đứa trẻ thường lo lắng, có khi hoảng sợ. Khi nghe tin bố mẹ an toàn thì các em lại thở phào. Nhưng cũng có một số em không may mắn, bố mẹ em bị chết bom. Tuy vậy, bác thấy các em đó đều cố gắng vượt qua, bình thản, động viên nhau lúc hoạn nạn. Thầy cô, người lớn quan tâm động viên những em có cha mẹ chết, cả lớp trẻ động viên an ủi và chăm sóc em ấy trước khi cho em ấy biết tin buồn đó. Chúng cố gắng không nhắc lại tin buồn. Tất cả người lớn và các em nhỏ thường xuyên bận rộn với những việc làm hàng ngày đến mức không có thời gian nghĩ đến những chuyện khác. Kể cả bi kịch gia đình. Các em tự chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để nguôi ngoai những nỗi đau khổ do chiến tranh gây nên. Hà ạ! Bác còn nhớ, một em nhỏ tâm sự với bác: "Bác Thắng ạ! Có một đêm cháu nằm, linh cảm thấy một điều gì đó không ổn. Hôm sau, khi cháu ngủ lơ mơ thấy một người cán bộ đến gặp người phụ trách cháu. Lúc đó người phụ trách tưởng cháu ngủ rồi. Cháu cố gắng giữ im lặng nghe họ nói chuyện. Cháu nghe họ nói về cái chết của các anh cháu. Cháu lặng lẽ khóc ròng và thầm hứa sẽ cố gắng học tập để sớm vào quân đội chiến đấu với giặc Mỹ". Nghe vây, bác hỏi nó: - Sao cháu không hỏi lại người chỉ huy mà cứ lặng lẽ chịu đựng khóc thầm. Cháu nuốt khan một hồi lâu rồi kể tiếp: - Hỏi làm gì hả bác! Người phụ trách cháu cũng vừa nhận được tin buồn như cháu. Cháu muốn nuốt hận thù để nuôi ý chí chiến đấu. Mà hầu như bọn cháu đứa nào cũng có nỗi đau do giặc Mỹ gây nên. Sau cái đêm biết tin các anh cháu mất, cháu lại lên cơn sốt rét và được chuyển đến bệnh viện. Cháu nằm trong căn hầm chữ A. Đột nhiên máy bay đến ném bom gần đó. Sau khi cắt cơn sốt rét, cháu lại tiếp tục đi học. Lần ấy, bom lại rơi trúng trường học, cháu được tin mười ba em nhỏ và hai cô giáo đã bị chết. Bác hỏi nó: - Các cháu sống trong rừng, máy bay thường xuyên ném bom, ăn uống không có gì, bệnh tật hoành hành như vậy, cháu nghĩ sao? - Nghĩ sao ư? Thật ra những cái bác nói thật đáng sợ, nhưng cái đáng sợ nhất là mất Tổ quốc, chúng cháu phải bảo nhau khắc phục khó khăn để tiếp tục chiến đấu lâu dài với bọn Mỹ bác ạ! - Thế cháu không nhớ cha mẹ, quê cha đất tổ, anh chi em và bạn bè hay sao? - Bác hỏi. Cháu nở nụ cười hồn nhiên và kể tiếp: - Có chứ! Ngày đầu nhớ nhà lắm - Không hẳn là nhớ cha mẹ mà nhớ mọi người trong gia đình, bà con cô bác. Có nhiều lúc cháu nhớ buồn cười lắm. Nhớ thương con mèo, con chó mỗi khi có tiếng máy bay gầm rú thế mà con mèo ngơ ngác kêu meo meo, còn con chó thì sủa náo loạn. Nhưng bây giờ sống trong rừng lâu ngày nên cũng đã quen dần rồi bác ạ! Sau một thời gian ở trong rừng, bọn cháu đã quen cuộc sống trong rừng... Nói xong câu ấy nó ngập ngừng một thoáng rồi nói tiếp: - Bây giờ cháu xin phép bác để vào học. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:43:29 pm X Nhìn đứa trẻ thoăn thoắt chạy vào trường, bác thấy một cảm giác đau xót, không hiểu rồi đây cuộc đời của cháu bé sẽ ra sao? Và bác bắt đầu nghĩ về những đứa trẻ trên thế giới này. Hà ạ, lúc nghe em bé kể về những nỗi khổ của tuổi thơ em, lúc đó bác không cầm được nước mắt. Em bé hỏi: "Sao bác lại khóc?" Thật sự bác không thể trả lời rành rẽ được, khóc vì thương em bé cũng có mà thương cho dân tộc mình thật nhiều. Quả đất này là mái nhà chung của loài người. Có nước giàu nước nghèo là lẽ tất nhiên. Nhưng cớ sao nước giàu lại đi đánh nước nghèo như Việt Nam? Nước Mỹ là một cường quốc. Còn Việt Nam là một nước nghèo, lại chậm phát triển mọi mặt do chiến tranh liên miên. Sao Mỹ lại dùng sức mạnh quân sự, vũ khí tiêu diệt một đất nước mà từ khi loài người xuất hiện đến giờ người Việt Nam chưa có một lời nói, một hành động nào chống lại Mỹ? Điều vô lí đó đến bây giờ bác mới nhận ra. Nước Mỹ có một lịch sử may mắn. Từ khi độc lập, thường dân nước này không phải sống những ngày chiến tranh. Nước Mỹ không có chiến tranh xảy ra. Ngoại lệ duy nhất là cuộc chiến tranh năm 1812, khi quân Anh đổ bộ vào nước Mỹ, bắn phá Nhà Trắng và nhiều dinh thự khác. Sự hội tụ của yếu tố địa lí, quá trình phát triển khá chậm của công nghệ vũ khí tầm xa trong phần lớn lịch sử nhân loại, cùng việc phát triển khả năng tự vệ từ xa - hàng rào ngăn chặn bên ngoài biên giới quốc gia - đã giúp nước Mỹ, che chắn cho dân thường khỏi phải chịu đựng sự khắc nghiệt của chiến tranh mà các nước khác phải chịu. Có lẽ vận may ấy đã khiến người Mỹ quên rằng chiến tranh thật khốc liệt đối với dân thường, một khi người dân ở ngay trong vùng chiến trận. Nghĩ vậy, bác mới thấy hai sinh linh giống nhau nhưng có hai cuộc đời khác nhau. Những đứa trẻ trên đất Mỹ sống sung sướng. Trẻ em Mỹ hằng ngày đi lại có bố mẹ đưa đón, hoặc ngồi trên tuyến xe buýt tới lớp đúng giờ trong phòng học có điện sáng, có điều hòa nhiệt độ, tan học về nhà với. bố mẹ được ăn ngon mặc đẹp, đến các bể bơi, các cung thể thao, mùa hè có thể đi nghỉ khắp nơi trên thế giới. Trẻ em Mỹ được học về các môn khoa học, cách vui chơi để tâm hồn thanh thản. Trẻ em Mỹ được sống ấm cúng trong một gia đình có cha mẹ, ông bà... sớm hôm có nhau. Trẻ em Mỹ có một cuộc sống sung sướng vô bờ bến, có lúc tính dậy ngỡ không phải là sự thật. Từ năm 1812, Mỹ không bị ai xâm chiếm hoặc thiệt hại gì về người và của cải. Có lẽ vậy mà một số người Mỹ đã trở nên vô cảm trước các tai họa mà nước xâm lược có thể gây ra chăng?. Hà ạ, bác nhớ thời kỳ đơn vị bác đóng quân ở Quảng Bình cách một trường học khoảng 50 ki lô mét. Bác và các đồng chí trong đơn vị thường đến giúp các em và thầy cô đào hầm.... Những em nhỏ Việt Nam trong chiến tranh thường phải sơ tán vào rừng núi hay những vùng nông thôn hẻo lánh hoang vu để học. Cách xa những nơi thường xuyên bị máy bay ném bom. Phòng học là những hầm chống bom đạn được đào sâu hơn hai mét, đủ rộng để chứa đủ 35 học sinh. Phía trên hầm làm khung bằng tre nứa hoặc gỗ rồi lấp lá lên, xong dùng đất sét trộn với rơm phủ lên một lớp dày để có thể che chắn được bom đạn. Lớp có một cửa hầm thông với địa đạo ngoằn ngèo kéo dài hàng trăm mét. Khi có máy bay, học sinh và cô giáo chuyển xuống địa đạo để tránh máy bay Mỹ ném bom. Hầm địa đạo được đào bằng bàn tay của học sinh và thầy cô giáo, đôi khi cũng có sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh. Thường ngày học sinh đi học từ sáng tinh mơ nhưng phải mang vòng ngụy trang. Các em kết những thanh tre nhỏ hình ông sao rồi cắm lá cây che kín người, máy bay Mỹ từ trên trời nhìn xuống tưởng là cây trồng tự nhiên. Nếu khi có máy bay đến thì nằm úp sấp mặt xuống đất để máy bay Mỹ không nhìn thấy. Sau những buổi học các em vẫn tham gia hoạt động tập thể như cày cây, làm ruộng. Ngoài ra có chương trình tập cứu thương, băng bó khi bị thương. Có lần các em đã băng bó cho một phi công Mỹ nhảy dù xuống bị gãy chân. Trong chiến tranh, các cơ sở y tế hầu như không có, các thầy cô đã lồng ghép vào chương trình nhiều bài giảng, nhiều ví dụ thực tế, các vấn đề thường gặp hằng ngày như dùng bát úp vào vết thương thủng ở bụng để không cho ruột chảy ra ngoài, garo cầm máu, sử dụng các loại lá cây chữa bệnh cầm máu; dùng những thanh tre nẹp lại khi bị gãy chân tay hoặc xương sống. Những em học sinh nam cũng như nữ khi học xong cấp ba đều tình nguyện đi vào chiến trường để chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Học sinh sơ tán vất vả hết chỗ nói, mỗi ngày chỉ có hai bữa ăn trưa và chiều. Suất ăn chẳng có gì, mỗi em được cấp một nắm cơm gói trong những tấm vải dù của Mỹ, cần nói thêm dù Mỹ thả xuống trong rừng rơi rất nhiều. Cơm nắm trong vải dù được lăn tròn, nện chặt làm như vậy cơm sẽ lâu thiu. Khi đến vùng sơ tán tìm măng rừng để nấu, nhưng bộ đội ở rừng đông nên việc tìm măng ăn không phải là dễ. Các em có thể ăn lá sắn thay rau nhưng ăn nhiều sẽ ngộ độc. Một vài lần hiếm hoi cũng được ăn dưa muối. Ngày đầu các đơn vị bộ đội đóng quân gần đó cũng săn được thú rừng nên cũng cung cấp một ít cải thiện, nhưng về sau bom đạn Mỹ giết sạch, hay là thú bỏ chạy trốn đi đâu mất. Mỗi khi hành quân chuyển địa điểm học tập, một lớp thường có hai thầy hoặc cô đi cùng, những người lớn thường vừa dẫn học sinh vừa cảnh giới mặt đất và máy bay trên không. Nhưng nhiều lúc cũng không nghe thấy vì rừng quá rậm rạp. Những thầy cô thường dự đoán khu vực có khả năng máy bay ném bom để dẫn các em đi theo lối khác hoặc cho các em dừng lại để nghe ngóng tình hình lúc đó mới dám vượt qua bằng cách đi nhanh hoặc chạy qua khu vực nguy hiểm. Trong khi di chuyển thường là không có hầm hào, nếu có máy bay các em nấp gốc cây hay tảng đá. Học sinh sơ tán như vậy nhìn chung cũng an toàn, thỉnh thoảng có một vài trường hợp đau lòng, có em đạp phải mìn lá. Khi nhấc chân quả mìn bay lên gần đầu em rồi nổ, chết ngay, cả lớp vây quanh than khóc, có em ngất lên ngất xuống. Các thầy cô chẻ cây tre đan thành cáng khiêng em đi chỗ khác để chôn cất. Những em nhỏ nước mắt ròng ròng chảy. Bác nhìn các em nhỏ mà lòng quặn đau vô cùng. Rồi mấy em bé nói với bác: "Bạn cháu chết hôm nay, ngày mai chúng cháu lớn lên ra trận sẽ tiêu diệt giặc Mỹ để trả thù". Thế đấy bom đạn Mỹ có thể giết chết người nhưng không thể nào giết chết ý chí của bao thế hệ người Việt Nam. Các em nhỏ đi sơ tán trong rừng thật đáng sợ nhiều thứ, trong đó cái đáng sợ nhất là biệt kích. Biệt kích địch thường được trực thăng thả xuống để cài cắm vào khu vực rừng núi. Lại nói về biệt kích, từ năm 1961, Cục Tình báo Trang ương Mỹ triển khai chương trình bí mật, đưa biệt kích Việt Nam Cộng hòa đột nhập vào lãnh thổ Bắc Việt Chiến dịch này, được lầu Năm Góc tiếp quản năm 1964, đến năm 1968 đã thất bại nặng nề khi gần 500 lính biệt kích bị giết, bị bắt hoặc trở thành điệp viên hai mang. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Roberrt S. Macnamara và cựu Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam, tướng William C. Wesmoreland, đã bị chỉ trích nặng nề về chiến dịch trên. Có lần bác được chứng kiến một toán biệt kích thả xuống. Chứng vô cùng hốt hoảng vì biết chắc là mảnh đất Việt không dung thứ chúng, sớm muộn rồi chúng cũng bị bắt. Ngay khi tiếp đất chúng đã đưa hai tay lên trời đầu hàng. Các chiến sỹ biên phòng bắt đưa về đồn xét hỏi. Những đứa trẻ sơ tán sợ nhất là mưa to, lũ quét. Khi nghe tiếng nước chảy ầm ầm thì cũng là lúc nước ập đến, trong trường hợp đó các em phải trèo lên những tảng đá to hay những cây cổ thụ. Có nhiều khi đang ở mùa hanh khô thế mà bỗng dưng mưa ào ào như trút nước. Sau này người ta mới biết Mỹ đã thả hóa chất tạo nên những cơn mưa nhân tạo. Mấy lần bác gặp những toán học sinh ướt như chuột ngồi co ro trên tảng đá. Bác hỏi vì sao như vậy, các em bảo: "Mưa quá to, nước sông lớn không biết bơi lội. Phải ngồi chờ bao giờ nước rút mới tiếp tục hành quân". Thật nguy hiểm, các cháu không biết bơi, dòng sông trở nên rộng hơn, nước chảy xiết. Những thầy cô buộc một đầu dây vào gốc cây rồi bơi qua bên kia buộc vào thân cây cổ thụ. Những đứa trẻ một tay cầm ba lô làm phao, tay kia nắm vào dây để qua sông, qua suối. Ba lô được cho vào một bọc vải nhựa không cho nước vào để làm phao cứu sinh. Những công việc này các em được thầy cô huấn luyện rất kỹ để thích nghi với hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Vì thế, các em nhỏ sau khi học xong cấp ba thường có đầy đủ bản lĩnh vào quân đội chiến đấu". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:47:32 pm XI Những ai chưa từng đến Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhất là từ ngày 5-8-1964 đến hết cuộc chiến tranh thì khó lòng thấu hiểu được sự tàn ác của chiến tranh như thế nào. Các thành phố, thị xã, thị trấn bất cứ lúc nào cũng có tiếng còi ú, báo động: "Đồng bào chú ý máy bay địch đang tiên vào thành phố". Người già yếu bệnh tật dìu nhau xuống hầm cùng với những cháu nhỏ. Những người còn sức lao động nhanh chóng ra các trận địa, các chốt bắn máy bay bằng các vũ khí thông thường. Người nông dân cày cấy trên đồng ruộng súng quàng vai, khi có máy bay dừng công việc lên bờ hay tập trung vào một cụm chờ máy bay đến vừa tầm là nổ súng. Không quân Mỹ thường lợi dụng khí hậu xấu hay là trời sắp tối, nhất là vào khoảng buổi trưa từ 12 giờ đến 15 giờ. Máy bay đi từng đàn, ít nhất là tám chiếc, có lần đến 36 chiếc tấn công nhiều hướng, nhiều độ cao khác nhau. Chúng thường lợi dụng những hôm trời đầy mây mù và mưa to. Bác được nghe kể, có lần ở vùng quê Nghệ An, một người vợ có chồng vừa hy sinh trong một cuộc đụng độ trên trận địa pháo với không quân Mỹ, chị luộc quả trứng để thắp hương, thấy khói, một máy bay từ đâu tới ném một quả bom tấn, cả làng biến thành một cái ao sâu tới ba bốn mét. Tất cả dân làng và cả đám tang cũng bị xóa sạch. Nay chỉ còn lại một hồ ao. Người ta đặt tên cho cái hồ đó là: "Hồ Tang thương". Hầu hết, các làng mạc và thị trấn, thị xã của miền Bắc đều bị Mỹ phá hủy. Hôm bác đi công tác ở Thành phố Vinh gặp ngưòi quen, ông già món mém kể: - Anh Thắng ạ! Tôi không nhớ rõ ngày nào nhưng hình như vào tháng 5-1967, lúc đó tôi bị đau không sơ tán được, phải xuống hầm trú ẩn kiên cố. Thế mà suốt mấy ngày, mấy đêm, hết đợt máy bay này đến đợt máy bay khác thay nhau dội bom. Khi tiếng bom không còn nữa, tôi bò lên thấy một cảnh tượng thật kinh khủng, nhà kiên cố và nhà tạm trở thành những đống gạch đỏ khè, máu người chết, khói bom đạn bốc lên kinh hoàng, ở đâu đó những ngôi nhà bằng gỗ cháy còn trơ lại bộ khung nhưng trên những cột, kèo vẫn tiếp tục cháy. Tôi nghe tiếng con chó ư ử? Chó khóc sao? Mà nó khóc thật, đôi mắt đỏ hoe, thấy tôi nó vẫy đuôi rồi trườn đến. Trận bom đã làm con chó gẫy mất một chân. Con chó cà nhắc cứ bới đào mặc dù tôi đã gọi nó nhiều lần: Vàng... Vàng lại đây. Nó nhìn tôi rồi lại nhìn xuống ngôi nhà của gia chủ bị bom đánh sập. Tôi đến gần con chó ve vẩy đuôi rồi nhìn xuống đống gạch đổ nát. Cái gì đây? Có tiếng người sao? Tôi nín thở. Đúng có tiếng người mỗi lúc một yếu dần, mồ hôi tôi toát ra đứng nghe tiếng người đang kêu gào trong lòng đất Những tiếng người đã tắt... Lực lượng cứu hộ đã không cứu được gia đình họ. Tôi muốn tìm đâu để mua một vài nén hương thắp cầu mong phù hộ cho những người còn sống. Nhưng năm tháng chiến tranh chẳng có gì để mua. Tôi đành quỳ xuống "vái lạy". Anh Thắng! Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đâu phải chỉ có Thành phố Vinh mà ở nơi nào cũng vậy thôi - Chiến tranh là tàn phá". Nghe ông già kể làm bác bồi hồi nhớ lại chiến dịch Linebacker II, đây là một chiến dịch lớn nhất đánh vào Hà Nội trái tim của Tổ quốc. Mỹ đã chuẩn bị tổng cộng 207 chiếc B52 và 2000 máy bay chiến thuật để tham gia vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972. Hà ạ, ngày đó (ngày 18 tháng 12 năm 1972), Tổng thống Nixơn ra lệnh mở chiến dịch Linebacker, mà sau đó được biết với tên gọi "Trận oanh tạc Giáng sinh" nhằm vào Hà Nội, Hải Phòng. Chiến dịch được không lực Hoa Kỳ tiến hành cho đến ngày 29 tháng 12 năm 1972. Hà ạ! Tháng 6-1972, bác được điều về Bộ Tư lệnh Thủ đô để tham gia chỉ huy chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và giải quyết các hậu quả của chiến tranh nên nhiều việc bác biết rất rõ. Đây là một cuộc huy động máy bay lớn nhất trong lịch sử thế giới. Mỹ đã sử dụng một đội ngũ phi công khá đông, để luân phiên lái cùng một máy bay, để liên tiếp dội bom suốt ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng. Ban ngày là máy bay cường kích chiến thuật và tiêm kích, ban đêm là B52 và F111. Suốt mười ngày của chiến dịch, một loạt mục tiêu quân sự như sân bay, trận địa pháo cao xạ và tên lửa phòng không, đường sắt, kho bãi và các mục tiêu khác bị dội bom suốt ngày đêm. Có ai đó nói mục tiêu của cuộc tấn công chỉ là làm tê liệt lực lượng quân sự của Bắc Việt. Nhưng không phải như vậy, dân thường đã bị tấn công vì không có một loại máy bay nào có thể ném bom bắn phá đúng mục tiêu dự định. Những nhà quân sự Mỹ thừa biết rằng xác suất sai lệch khi bắn phá là rất lớn. Hơn thế nữa những loại máy bay ném bom lại bị lực lượng phòng không Bắc Việt tấn công thì làm sao mà đánh đúng mục tiêu mà Mỹ muốn. Việc Mỹ đánh phá Hà Nội, Hải Phòng thì các nhà lãnh đạo tài tình của Đảng và Chính phủ ta đã nhận định được. Nhân dân sơ tán gần như triệt để, chỉ còn lại những người ở lại chiến đấu, sản xuất, hệ thống hầm hào chuẩn bị khá chu đáo. Hà Nội, Hải Phòng trên đường phố, ngõ ngách đâu đâu cũng có hầm hào trú ẩn được chia ra làm ba loại. - Phần lớn là hầm cá nhân hình tròn bằng ống cống hay là gạch xây, có thể trú ẩn được một hoặc hai người, được bố trí dọc hai bên đường phố ngõ ngách. Khi có máy bay người ta xuống hầm đậy nắp lại, phía nắp có hai lỗ bé để làm thông hơi và chỗ để kéo đậy mở nắp hầm. - Một loại hầm trú ẩn hình tam giác có độ sâu chừng một mét, phía trên dùng một dàn mái làm bằng tre, nhồi bùn và rơm đắp lên, chứa chừng khoảng 10 người. - Một loại nữa là hầm theo kiểu dích dắc. Kiểu hầm này cũng có mái che bằng rơm nhồi với bùn đắp lên hình chữ A. Đây là một loại hầm có thể chứa được hơn 30 người. Những ngày đế quốc Mỹ chuẩn bị đánh vào Hà Nội, ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội chủ trương sơ tán người và các phương tiện ra khỏi Thủ đô, chỉ trừ lại một lượng rất ít để đảm bảo chiến đấu. Những ngày này Hà Nội vắng tanh, vắng ngắt, không có tiếng ồn ào, chỉ có chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu với giặc Mỹ. Nhưng một điều bất ngờ, không hiểu từ đâu người ta nghe tin ngày Giáng sinh người Mỹ sẽ không ném bom vào dịp này. Vậy là, một số người Hà Nội đã trở về để lấy lương thực thực phẩm và thăm lại những người đang trụ lại. Vậy mà Mỹ vẫn ném bom huỷ diệt cả phố Khâm Thiên. Mỹ mở chiến dịch đánh vào Thành phố Hà Nội bằng một lực lượng không quân mạnh nhất. Với 207 chiếc B52 và 2000 chiếc máy bay chiến thuật. Hà Nội lại quyết tâm biến không phận của mình trở nên đầy bất trắc đối với phi công Mỹ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã biết kế hoạch của đối phương nên chuẩn bị khá đầy đủ, chu đáo. Máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc từ ngày 5 tháng 8 năm 1964. Những trận đánh của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng từ 18 tháng 12 đến 29 tháng 12 năm 1972, đây là một trong những đòn giáng trả nặng nề nhất của quân đội Việt Nam mà người Mỹ gọi là "Giáng sinh ác mộng ở Hà Nội". Trong những ngày đầu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, người Việt Nam còn dùng đến cả súng trường để đối phó với máy bay Mỹ. Sau đó đến các loại súng phòng không pháo 57 mm. Rồi người Việt Nam được trang bị tên lửa đất đối không. Có tên lửa rồi những người Việt Nam vận dụng tất cả mọi người, tất cả những người cầm súng cùng bắn máy bay Mỹ - Chiến tranh nhân dân. Trong cuộc chiến chống xâm lược của đế quốc Mỹ người Việt Nam buộc phải nghiên cứu thật kỹ mới có khả năng chống lại kẻ xâm lược. Ván cờ đó, người Việt Nam đã phát triển lên một tầm cao mới gọi là nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Người Việt Nam có một lịch sử chống ngoại xâm lâu đời. Họ đã có hàng nghìn năm, chống phong kiến phương Bắc rồi chống Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ. Người ngoài cuộc sẽ khó mà hiểu được làm sao người Việt Nam có một nền kinh tế lạc hậu, công nghiệp quốc phòng hầu như không có, thế mà hoàn thành sứ mệnh lịch sử giao cho. Không quân Mỹ khi tiến đánh miền Bắc Việt Nam thường bay theo nhiều hướng khác nhau. Máy bay Mỹ thường cất cánh từ tàu sân bay, sau đó bay dọc bờ biển, tìm đến một cửa sông lớn rồi theo dòng sông xâm nhập vào đất liền, khi bay trên các dòng sông với độ cao cực thấp. Nếu cất cánh từ Thái Lan và một vài sân bay khác thì đi dọc theo biên giới Việt Lào rồi tiến vào Hòa Bình, Suối Rút. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:52:24 pm Có mấy loại gây nhiễu ra đa là nhiễu từ các máy phát, và nhiễu tiêu cực, Mỹ còn tung lên bầu trời Bắc Việt những sợi dây bằng thiếc, bạc làm ra đa khó bắt được mục tiêu.
Hệ thống phòng không của miền Bắc được bố trí theo từng trạm, phối hợp tác chiến trên không theo từng hướng, từng độ cao. Đóng mở các loa để không quân cất cánh chiến đấu. Các hợp đồng này tạo ra bức tường lửa ở những nơi máy bay Mỹ đi qua. Trên mặt đất, bố trí ba hoặc bốn khẩu súng cao xạ một cụm, súng AK-47 tập trung bắn ở độ cao 300 mét; súng máy từ 300 mét đến 1000 mét; pháo cao xạ và tên lửa bao quát ở độ cao trên 1000 mét. Máy bay Mỹ khi vào đánh phá thường bay theo đội hình 4 chiếc đến 36 chiếc, ở nhiều độ cao khác nhau. Máy bay tiêm kích bom thường bay độ cao thấp. Đối với MuR và pháo phòng của ta không chủ yếu đánh loại tiêm kích bom. Cho nên khi phi công MuR đánh máy bay cường kích lại gặp ngay tiêm kích. B52 thường đi đội hành ba chiến một, hai bên có tiêm kích yểm hộ. Trong chiến tranh nhân dân ta áp dụng rất nhiều phương pháp để chống lại Mỹ. Trên các khe núi, bờ sông có những chốt phòng không. Khi Mỹ sử dụng máy bay F111, người dân đã quan sát chiến thuật và hành trình của nó. Dân quân tự vệ đã dùng vũ khí thông thường bắn hạ máy bay F111. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, miền Bắc Việt Nam bắt đầu triển khai tên lửa đất đối không SA-2 vào hệ thống phòng không. Các phi công Mỹ bị bất ngờ. Bộ đội tên lửa của ta đã bắn một phi đội F4 ở cách Hà Nội 60 km về phía Tây. Ba chiếc F4 rơi. Ngày hôm sau, Mỹ tập kích, trận địa tên lửa hôm trước đã bắn rơi ba máy bay F4. Nhưng khi đến thì trận địa tên lửa đã không còn. Thay vào đó là cao xạ, khi máy bay Mỹ bay ở độ cao thấp, súng cao xạ đã bắn cháy năm máy bay Mỹ. Hà ạ, người Việt Nam đã tạo ra những trận địa tên lửa cao xạ giả bằng các vật liệu như tre nứa giống như thật. Ngay tướng Willim W.Maimer, Phó Tư lênh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự của Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa về không quân (MACV) cũng phải thừa nhận: "Số lượng các căn cứ tên lửa đất đối không(SAM) của Bắc Việt Nam khá ổn định trong một suốt thời gian dài, khoảng 175 hay 200 căn cứ. Ông ta chưa bao giờ nghĩ rằng con số này là một mối đe dọa thực sự bởi có nhiều căn cứ được xây dựng hôm nay nhưng hôm sau lại bỏ trống. Mặc dù máy bay trinh sát của Mỹ đã tăng cường do thám nhưng cũng rất khó để biết được có bao nhiêu căn cứ hoạt động thật sự". Quân ta dùng máy bay Mi6 cẩu những MuR hỏng ra đặt trong ụ sẵn sàng chiến đấu ở gần sân bay. Các phi công Mỹ đến đánh phá. Nếu còn chiếc nào chưa bị phá hủy hoặc hư hỏng thì sửa lại. Ngày hôm sau lại cẩu đặt vào chỗ khác ở một sân bay nào đó, máy bay trinh sát của Mỹ phát hiện lại tiếp tục đánh. Cứ như thế công việc cẩu máy bay hỏng và làm máy bay giả ở các sân bay đã đánh lừa được không quân Mỹ. Còn máy bay tốt được cẩu vào các làng bản nơi hẻo lánh cất giấu, khi cần cẩu ra chuẩn bị chiến đấu trong một thời gian ngắn. Xưởng bảo dưỡng định kỳ máy bay được làm một tấm bạt cỡ lớn giống như cây cỏ tự nhiên. Nếu từ trên cao nhìn xuống giống như ruộng lúa nương ngô. Khi đưa máy bay vào một lực lượng nâng cột chống lên để giữ mái che, xưởng bảo dưỡng máy bay cũng thường xuyên di động trong sân bay. Nên số máy bay tốt bị địch đánh phá trên sân bay rất hiếm khi. Những trận địa tên lửa giả thì quân ta dùng vật liệu thông thường mô phỏng giống như tên lửa. Trận địa pháo dùng tre để tạo ra giống như thật được bố trí những nơi mà Mỹ cho là thật. Cho nên khi máy bay Mỹ đến thường bị những trận địa thật tiêu tiệt. Tiêu diệt xong, trận địa thật lại di chuyển. Một máy bay MuR 21 bí mật được chuyển vào sân bay Dừa Lạng - Anh Sơn - Nghệ An đã cất cánh đánh vào đội hình ba chiếc B52 đang ném bom rải thảm ở Trường Sơn. MuR 21 đã bắn bị thương nặng một chiếc, số B52 còn lại bỏ chạy. Và rồi hai chiếc MuR 17 bí mật chuyển vào đường 15 Quảng Bình chờ sẵn đánh vào 6 khu trục của hạm đội 7 làm cháy và bị thương nhiều chiếc khác. Trong cuộc chiến tranh chống sự phá hoại của đế quốc Mỹ, không quân Mĩ và không quân Việt Nam đã đưa nhiều phương pháp và đối pháp vào sử dụng. Việc bắt kịp năng lực và chiến thuật của không quân Mỹ là một thách thức lớn đối với quân đội Việt Nam. Người Mỹ không những có nhiều loại máy bay và cách vận dụng chiến thuật cũng khá sắc sảo. Người Mỹ luôn thay đổi chiến thuật để khiến người Việt Nam bối rối. Vì thế người Việt Nam phải nắm bắt để thay đổi cách đánh. Dù người Mỹ có thay đổi thế nào đi chăng nữa thì người Việt Nam vẫn có thể điều chỉnh cách đánh cho phù hơp với cách đánh của họ. Tên lửa SA-2 của Việt Nam có hiệu quả, nhưng khi phóng phải có ra đa dẫn tên lửa, Mỹ đã chế tạo thiết bị điện tử tự động gắn trên máy bay để định vị chỗ tên lửa phóng lên và phát xung làm mất điều khiển của ra đa mặt đất của quân đội Việt Nam. Nhưng SA-2 vừa được phóng ra ấy "bị mù", biến quả tên lửa đang điều khiển thành một quả tên lửa không điều khiển. Ra đa và tên lửa SA-2 thường được đặt một chỗ, phi công Mỹ có thể phóng tên lửa không đối đất phá hủy cả hai cùng một lúc. Trong hoàn cảnh ấy, người đi săn cướp - tức dàn tên lửa - đã trở thành kẻ bị săn tìm, bị máy bay Mỹ tiêu diệt. Người Việt Nam đã đủ sớm phát hiện những chiến thuật của Mỹ đang sử dụng. Không quân Việt Nam đã đưa ra đối pháp của mình để triệt phá chiến thuật của Mỹ. Khi có máy bay Mỹ vào đánh phá, bộ đội tên lửa Việt Nam hướng về phía có mục tiêu và phóng tên lửa không điều khiển. Sau khi quả SA-2 đạt được một độ cao nhất định nào đó thì cho ra đa phát sóng điều khiển. Thường cuối hành trình của tên lửa bộ đội mới phát sóng điều khiển tới mục tiêu. Bằng cách làm như vậy khiến phi công Mỹ không có đủ thời gian để định vị nơi phát ra sóng điều khiển. Người Việt Nam đã dày công nghiên cứu mọi hành vi của Mỹ để chống lại sự vượt trội về công nghệ của Mỹ. Đây là một việc làm đầy khó khăn gian khổ nhưng người Việt Nam đã làm được. Khi những toán quân Mỹ đầu tiên xuất hiện, người Việt Nam nhận ra rằng muốn chiến thắng một đế quốc có công nghệ cao và tiềm lực kinh tế, quốc phòng nhất nhì thế giới - Đây là một nhiệm vụ cực kỳ gay go vì đất nước chúng ta hạn chế về nguồn lực - thì người Việt Nam phải chấp nhận trường kỳ kháng chiến, chịu đựng gian khổ, muôn dân vắt óc suy nghĩ sáng tạo và luôn làm theo những lời dạy của Đảng và Bác Hồ. Người Việt Nam đã thể hiện sự hy sinh, lòng dũng cảm đáng kinh ngạc trên chiến trường để chiến thắng đế quốc Mỹ". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:54:16 pm XII "... Hà ạ! Sau khi biết Mỹ sẽ ném bom tàn phá Hà Nội, Hải Phòng, người Việt Nam đã tập trung các lực lượng phòng không tên lửa, máy bay về bảo vệ Hà Nội dày đặc. Ngày đó bác được phân công trở về Hà Nội phụ trách một đơn vị của quân khu Thủ đô trực tiếp chuẩn bị lực lượng chiến đấu và phóng tránh sơ tán người và các phương tiện ra Hà Nội. Bác nhìn người Hà Nội gồng gánh ra đi mà buồn vô hạn. Một ngày đầu tháng 12 năm 1972, trời mưa lây phây, gió mùa Đông Bắc thổi về lạnh buốt, từng đoàn người rời bỏ nơi chôn nhau cắt rôn ra đi. Một ông già khoảng 80 tuổi quàng một chiếc khăn chiên, tay chống gậy, ông cụ vừa đi vừa nói với bác: - Tôi già rồi sớm hay muộn rồi cũng chết, sao Mỹ không để cho tôi chết ở trên mảnh đất của tôi được sinh ra. Bác chưa kịp nói thì mấy đồng chí dân quân tự vệ đang dìu ông cụ, bằng giọng nói vui đùa đã trấn an ông: - Ông ơi! Ông cần phải sống để nuôi các cháu khôn lớn tiếp tục đánh Mỹ. Đất nước Việt Nam là của người Việt Nam, đâu có phải ao nhà của Mỹ mà chiếm hả ông? Ông già không nói gì rồi bước cùng với người phụ nữ và những đứa cháu ra đi. Bác tiến đến gần cầm tay hai ông cháu: - Ông ơi! Cháu biết rời khỏi Hà Nội là vất vả nhưng nếu ở lại thì bom Mỹ sẽ tàn phá. Ông cần phải sống làm chỗ dựa cho các cháu. Ông ngoái cổ lại hỏi bác: - Thế cháu không đi sơ tán à! - Vâng! Cháu phải ở lại tổ chức lực lượng đánh trả giặc Mỹ - Bác nói vậy. Ông già nhìn bác với một cặp mắt đau buồn, chắc lo ngại cho bác. Bác giúp ông bà cụ và các cháu lên xe sơ tán về vùng rừng núi. Hà Nội vào những ngày đó từng đoàn người đi bộ, đi bằng xe đạp, có những ông già, bà lão ngồi trên xe đạp để con cháu dắt xe ra khỏi Hà Nội. Hầu như hành trang của họ chẳng có gì, vài cái chăn, cái chiếu, nhà khá giả thì có chiếc xe đạp, vài con gà mái đang nuôi. Họ không muốn để lại vì sợ bom Mỹ cướp mất. Bác đứng như trời trồng, khi thấy mọi người hối hả sơ tán. Thật là buồn và đau lòng khi thấy mọi người ra đi. Họ bước đi một bước lại ngoái đầu lại nhìn. Người Việt Nam - người Hà Nội vốn luôn gắn mình với cội rẽ, nơi cha ông tổ tiên đã sinh ra họ. Sắp đến ngày giặc Mỹ tuyên bố ném bom, mọi người khăn gói ra đi. Lòng buồn nhưng rồi bác cảm thấy vui vui vì hiểu rằng họ ra đi để giành sự sống cho ngày mai, tiếp tục chiến đấu bảo vệ đất nước Việt Nam. Rồi một đêm vắng, bác nằm trong lòng Hà Nội thầm nghĩ: "Giá như nước Việt Nam có máy bay, có bom nguyên tử, và có tiềm lực mạnh như Mỹ thì đế quốc Mỹ có làm được gì Việt Nam không? Chắc chắn là không. Nước Mỹ là một nước lớn sao dám ngang nhiên tàn nhẫn làm những điều như vậy? Ngày mai đây thắng Mỹ, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển kinh tế, chế tạo vũ khí nguyên tử sang tiêu diệt nước Mỹ cho hả giận. Nhưng rồi bác nghĩ lại, người Việt Nam vốn trọng nhân nghĩa. Giặc nước ngoài đến xâm lược bị nhân dân Việt Nam đánh bại rồi nhưng vẫn bỏ qua quá khứ, để hướng về tương lai, dùng ân trả oán mới hết nợ". Bác đã nghĩ sai, trong lúc tức giận. Rồi một ngày trời đẹp thấy một số người dân Hà Nội kéo về, bác ngạc nhiên hỏi họ: - Mỹ đang chuẩn bị đánh vào Hà Nội, sao các bác lại về? Một người trung niên nói với bác: - Nghe người ta nói Tổng thống Níchxơn tuyên bố có thể ngừng ném bom trong ngày Giáng sinh. Chúng tôi tranh thủ về để lấy thêm lương thực. Nguồn tin đó người ta đã rỉ tai nói với nhau. Ngày Giáng sinh năm 1972, người ta hy vọng có một khoảng thời gian tạm ngừng ném bom. Một số người dân mất cảnh giác. Trong lúc đó, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng. Vào lúc 5 giờ chiều ngày 18 tháng 12 năm 1972, một thông báo khẩn cấp: "Máy bay ném bom của Mỹ sắp sửa dội bom xuống Hà Nội. Những người làm nhiệm vụ chiến đấu sẵn sàng bắn trả, tiêu diệt giặc Mỹ. Những người không có nhiệm vụ phải khẩn trương sơ tán". Nhưng số người về Hà Nội hôm trước cũng chưa kịp trở về nơi sơ tán. Đó là một tổn thất cho người Hà Nội. Nhất là phố Khâm Thiên. Tiếng còi ú báo động liên hồi vang lên lúc 20 giờ 15 phút, mọi người vào vị trí chiến đấu, số còn lại xuống hầm trú ẩn. 20 giờ 45, những trận mưa bom rào rào xuống Hà Nội mỗi lúc một gần vào trung tâm, tiếng bom nổ rung chuyển, quần áo mặc trên người như muốn xé ra từng mảnh, những cột khói bốc lên đen ngòm cao ngất, đất đá, gạch ngói tung lên trời rồi lại rơi ầm xuống đất. Những ngôi nhà năm tầng, ba tầng cũng phải đổ gục xuống, có những tảng bê tông to hàng tấn cũng bay lên trời cao. Bom đạn từ máy bay B52 trên trời ném xuống không biết bao nhiêu. Từ dưới đất, các loại súng, pháo cao xạ, tên lửa bắn lên đỏ rực trời. Những máy bay phản lực MuR 21, MuR 17, MuR 19 được lệnh xuất kích từ các sân bay vút lên trời cao cắt chéo, bủa vây những máy bay Mỹ. Đêm đầu tiên không biết bao nhiêu máy bay B52 rơi, có chiếc rơi cắm xuống hồ Ngọc Hà. Sáng tinh mơ ngày hôm sau, máy bay tiêm kích như F4, F105... từng đoàn bay từ ngoài biển vào thay nhau rải bom vào lòng Hà Nội. Cứ thế từ ngày 18 đến hết ngày 29-12-1972 máy bay Mỹ thay nhau, đêm thì B52, ngày thì máy bay ném bom chiến thuật thay nhau ném bom vào Hà Nội. Hà ạ! Với tổng số 207 chiếc B52 và 2000 máy bay chiến thuật đã tham gia đánh phá Hà Nội. Nhưng người Hà Nội vẫn kiên cường chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay B52 và máy bay chiến thuật trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng. Hà Nội - Việt Nam vẫn anh dũng kiên cường bất khuất đánh trả giặc Mỹ, buộc Mỹ đến hết ngày 29-12-1972 phải ngừng đánh phá. Nếu tiếp tục nữa, số máy bay B52 và máy bay chiến thuật của Mỹ sẽ bị bắn rơi hết. Hỏa Lò, Hà Nội những ngày đó tiếp nhận nhiều phi công Mỹ. Sau cuộc tập kích đánh vào Hà Nội, một số kẻ phản động lưu vong ở nước ngoài tưởng là Thủ đô Việt Nam thành tro bụi nhưng không, Việt Nam vẫn đứng vững, mặc dù không tránh khỏi tổn thất về người nhất là Khâm Thiên có 283 người chết, 266 dân thường bị thương và 178 trẻ em trở thành mồ côi. Những cái chết của nhiều sinh linh bé nhỏ đã được ghi lại bằng phim ảnh trong hệ thống lưu trữ của Hà Nội. Những cuộc tập kích bằng không quân Mỹ vào Hà Nội phải trả giá rất đắt, nhiều máy bay bị bắn rơi và phi công Mỹ bị bắt. Viên phi công Mỹ mà bác gặp là Herry Euimell đã bị phi công MuR 21 bắn rơi. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Tám, 2026, 05:55:16 pm Sau những ngày ném bom của giặc Mỹ đơn vị bác và các đơn vị khác trực tiếp giải quyết hậu quả do Mỹ gây ra. Gặp một người phụ nữ tên là Sang chờ sinh con ở bệnh viện Bạch Mai, cô kể lại:
- Bác Thắng ạ! ở nơi sơ tán không có bệnh viện mà cháu thì gần ngày sinh, lại nghe nói là ngày Giáng sinh Mỹ không ném bom nên cháu về Hà Nội. Lúc máy bay chuẩn bị đánh phá Hà Nội, các bộ phận bệnh viện trung tâm phải sơ tán ra nhiều nơi khác nhau để tiếp tục chữa cho các bệnh nhân. Năm giờ chiều, chồng cháu giúp cháu ngồi lên xe đạp ở yên sau. Cháu ngồi yên vị một tay ôm lấy chồng còn một tay ôm lấy bụng, tìm cách giữ thăng bằng còn đứa con trong bụng thì đạp mạnh làm cháu đau điếng người. Lúc gần đến bệnh viện thì tiếng còi ú báo động liên hồi vang lên. Khoảng cách cứ ngắn lại, chỉ trong nháy mắt tiếng bom nổ ngày một gần. Chồng cháu vất chiếc xe đạp cõng cháu xuống hầm trú ẩn của bệnh viện. Các cô y tá, bác sỹ châm ngọn đèn dầu nhỏ như con đom đóm. Mắt em mờ dần cố nhìn người chồng lần cuối, thấy anh ấy mồ hôi vã ra tái nhợt, nhưng vẫn mỉm cười và nói: "Em ơi! Hãy cố lên con sắp ra đời rồi, ngày mai nó sẽ là một người lính". Nghĩ vậy cháu vững tâm thêm, cảm thấy sinh linh bé nhỏ trong cơ thể sắp ra đời. Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 26-12-1972, con cháu cất tiếng khóc chào đời trong tiếng bom gào đạn rú. Con cháu năng 3.1 kg. Nhưng còn cháu thì bị xuất huyết nặng. Cháu gần như ngất xỉu, chỉ lơ mơ nghe bác sỹ bảo với cô y tá: Cần phải khâu nhanh vết rách âm đạo. Người y tá buồn rầu nói: "Thưa bác sỹ, thuốc tê không còn nữa và chỉ khâu tự tiêu cũng hết rồi. Người bác sỹ nữ khoảng 50 tuổi ngần ngừ một lúc rồi đeo kính. Thế là cuộc phẫu thuật được tiến hành. Cháu thấy rất lo vì ánh sáng không đủ, ngọn đèn leo lét. Cháu cảm thấy tai họa sắp ập đến, nhưng rồi bình tâm lại nghĩ: "Chỗ đau không phải là tim, thận... Nếu có làm sao thì chỉ có đau mà thôi, hoàn cảnh chiến tranh phải cố mà chịu đựng!". Người bác sỹ già phải căng mắt ra mới có thể đặt mũi khâu đúng chỗ. Nhưng chỉ sau một hoặc hai mũi khâu, bác sỹ nhận ra đã bị khâu nhầm. Bác sỹ gọi người y tá trẻ đến giúp sức. Trong khi phẫu thuật, mỗi mũi kim xuyên qua cháu lại gào lên trong đau đớn nước mắt giàn giụa. Cháu cảm thấy mũi kim xuyên qua da thịt, sau đó là sợi chỉ, cứ thế lặp đi lặp lại. Phẫu thuật xong ôn ổn một tý thì cháu phải tự đi xuống hầm. Cháu phải dò dẫm các bậc tam cấp xuống độ sâu chừng 1.5m. Khi xuống tới bên dưới, cháu thấy mình đang đứng trong một "hầm cóc" hở. Đứng giữa hầm cháu thấy bốn hầm chui, tỏa ra theo bốn hướng - để cho một người chui vào, miệng hầm cao chừng tám mươi phân, nằm cách sàn chính một khoảng cách ngang đầu gối. Các hầm cóc có thể xoay quanh 360 độ để chăm sóc cho bất cứ ai. Trong hầm thiếu oxy nghiêm trọng. Cháu cảm thấy nghẹt thở. Tiếng bom vẫn ầm ầm trên mặt đất, nơi đây tối tăm và ngột ngạt. Trước khi cháu chui vào hốc của mình, cháu nhìn lại thấy hai trong ba hốc đã có người, hốc còn lại là bốn trẻ sơ sinh quấn chăn nằm ngủ chung trong một cái hộp bằng bìa cát tông, trong đó có con trai Cháu nằm xuống lắng nghe và chờ đợi. Cháu nghe tiếng bom ngày một gần, nổ rất đanh. Trong hầm, bụi và đất rơi xuống mặt. Lúc này cháu thấy ngột ngạt và đau ở vết thương, chân tay tê cóng vì gió rét ở đây đất rất ẩm ướt, cháu chỉ nằm trên tấm chiếu cói đã ngấm nước. Cháu không tài nào chợp mắt được, mê man. Thỉnh thoảng cô y tá hoặc bác sỹ cúi đầu hỏi thăm sức khỏe, cặp nhiệt độ rồi cho uống thuốc. Nhưng cháu thấy kỳ lạ trong tiếng khóc của trẻ, cháu nhận ra ngay đó là con cháu. Con trai cháu khóc gào một cách khủng khiếp như tiếng báo động bom rơi. Đó cũng là đêm kinh hoàng nhất trong đời cháu. Đến 23 giờ 30 phút, tiếng bom vẫn gầm rú. Cháu được đưa lên mặt đất lúc 7 giờ sáng hôm sau. Sau đó, cháu lại được bố trí trong hầm chữ A, nhưng vẫn còn đau, phải ở thêm hai ngày nữa. Nằm trên mặt đất chốc chốc lại tiếng còi báo động, cháu phải bế con xuống hầm trú ẩn. Nghe tin cháu ra viện, chồng cháu vội vàng đạp xích lô đến thấy vợ và con, chồng cháu mừng rỡ bế xốc mẹ con cháu nhưng cũng không thể ở lâu trong bệnh viện được, chồng cháu lên xích lô vội vàng đưa hai mẹ con cháu khỏi Hà Nội đến nơi sơ tán. Rồi sau đó, bác gặp một cô gái tên là Mai, làm nghề nuôi dạy trẻ, cô kể cho bác nghe trường hợp một bé trai chừng chín mười tuổi bị đống đổ nát đè bẹp cả cơ thể bất động. Em nằm sấp, tay phải đang cố kéo chiếc lồng chim vào lòng, hai con chim vành khuyên vẫn đang sống, còn em bé trai đã chết. Cô không cầm được nước mắt khi thấy hành động của em bé trai như vậy. Hà ạ! Sau cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ từ ngày 18-12-1972 đến 29-12-1972, Hà Nội đã có 533 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn và 1200 ngôi nhà bị hư hỏng nặng. Bác đã đi khắp Hà Nội nhất là khu vực Khâm Thiên. Ở đây, bác đã gặp những người dân, họ nói với bác: "Chúng tôi đắng cay mất mát quá lớn nhưng không vì thế mà chúng tôi trả thù những tù binh là phi công Mỹ. Họ cũng là những nạn nhân của cuộc chiến tranh nên khi họ bị bắt, chúng tôi đã băng bó cho họ". Những phi công Mỹ bị bắt, sau này họ vẫn không tin rằng bi kịch của họ là kết quả của hành động chủ ý từ những người lãnh đạo Nhà Trắng mà chỉ là những nạn nhân. Một số người đã diễn tả giản dị: "Đó là một tai nạn không may trong một cuộc chiên không may?...". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:32:50 pm XIII "... Hà ạ! Sau khi Mỹ tập kích vào Hà Nội, bác gặp một người đồng hương từng chiến đấu ở miền Nam. Người bạn của bác là Phó Trung đoàn trưởng một trung đoàn đặc công. Người bạn ra Hà Nội công tác đúng vào dịp máy bay đánh vào Hà Nội. Nhìn cảnh hoang tàn đổ nát, Hùng, người bạn của bác đã tâm sự: "Anh Thắng! Thật đau lòng khi nhìn cảnh tang tóc này. Nhưng Hùng đã nói với mọi người đây là dấu hiệu thất bại của người Mỹ, người Việt Nam mình cố gắng chịu đựng, ngày chiến thắng sẽ không còn xa nữa. Người Việt Nam họ hiểu điều đó nên sẵn sàng hi sinh. Nhiều người dù mới cưới vợ vẫn xung phong ra trận giết giặc. Những người con Việt Nam sẵn sàng hi sinh tất cả, dù chiến tranh có lâu dài đến đâu cũng thực hiện bằng được độc lập, thống nhất đất nước. Người ta sẵn sàng chấp nhận xa cách, lâu dài, dù có hi sinh tính mạng cũng sẵn sàng. Mà những thứ đó không có một người nào ép buộc cả, mọi người đồng lòng tự nguyện tự giác. Trong chiến tranh chống Pháp, có những thanh niên anh hùng đã tự nguyện lấy thân mình lấp lỗ châu mai, lấy thân mình làm giá súng... và ngày nay, khi giặc Mỹ bổ nhào vào trận địa pháo ném bom, những người anh hùng ấy của Tổ quốc lại hô vang: "Nhắm thẳng quân thù mà bắn". Phi công của quân đội Việt Nam trong chiến đấu dù bị thương nặng, họ không hề nao núng, sợ hãi, dám dùng MuR 21 đâm vào B52 của giặc. Còn những kẻ xâm lược nói chung, và lính Mỹ nói riêng khó có được đức hi sinh tuyệt vời như những người lính Việt Nam. Mỗi người lính Mỹ chỉ phải tham gia phục vụ một năm tại Việt Nam, mỗi ngày sống họ lại khắc một vạch trên mũ hay ở một chỗ nào đó để ghi nhớ một ngày đau khổ đã qua ở Việt Nam. Họ đã quen cuộc sống có vợ hoặc có bạn tình ở bên cạnh. Tâm trí của người lính Mỹ tập trung vào những vấn đề khác hơn là tập trung vào chiến thắng. Đó là một điểm yếu - rất yếu của lính Mỹ ở Việt Nam, khi chiến tranh kéo dài, người Mỹ sẽ ngày càng mất ý chí chiến đấu. Người Việt Nam đã nhìn thấy trong tinh thần của người Mỹ vắng bóng sự quyết tâm để đi đến cùng cuộc chiến. Người lính Mỹ sang Việt Nam chỉ tính từng ngày, từng giờ để mau chóng rời khỏi Việt Nam. Người Việt Nam lại quyết tâm bám trụ đến cùng để đánh đuổi giặc Mỹ. Anh Thắng ạ! Ngay từ đầu, Hùng đã nhận thấy lính Mỹ sang Việt Nam thường là những gã trai trẻ dễ tổn thương, đang ngày đêm hướng về gia đình và người thân - Lối sống thực dụng ấy làm yếu đi khả năng thực hiện nhiệm vụ đặt ra trước mặt họ. Hai chiều hướng tinh thần trái ngược ấy hợp lại sẽ là một trong những nguyên nhân tạo ra chiến thắng cho Hà Nội - Việt Nam". Ngừng một lúc rồi anh Hùng lại kể tiếp câu chuyện lính đặc công trong đó có anh đánh vào kho vũ khí Long Bình: "Anh Thắng ạ! Căn cứ Long Bình rất lớn, bao trùm một diện tích chừng năm cây số vuông. Nhiều loại đạn dược được vận chuyển từ Mỹ tới đây, từ đạn súng nhỏ nhất tới đạn pháo và cả vũ khí của máy bay. Tại kho này, một trữ lượng vô cùng lớn có đủ khả năng cung cấp khắp các căn cứ của Việt Nam Cộng hòa. Quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã tìm cách làm sao cho kho vũ khí Long Bình trở nên bất khả xâm phạm. Anh Thắng có biết Mỹ đã tổ chức bảo vệ kho vũ khí như thế nào không? Nếu Hùng nói cường điệu một chút thì con kiến không thể lọt vào được tận trung tâm kho. Căn cứ được bao bọc bởi chín hàng rào kẽm cao hai mét, bên trên chằng chịt thép gai. Từ hàng rào thứ nhất (ngoài cùng) đến hàng rào trong cùng trải dài hàng trăm mét. Khoảng giữa là những gò đất và vùng ngập nước. Khoảng cách giữa hàng rào thứ nhất với hàng rào thứ hai lớn hơn nhiều cự ly giữa các hàng rào còn lại. Ngay bên trong vành đai ngoài của doanh trại là các tháp canh nằm cách nhau 200 đến 500 mét. Cách bố trí này tạo cho những người bảo vệ dễ dàng bắn chéo cánh vào đặc công ta nêu họ đột nhập. Mỗi chốt gác đều có hnh gác 24/24. Ban đêm, đèn pha trên tháp canh liên tục quét cả bên ngoài lẫn bên trong vành đai ngoài từ chập tối tới trời sáng. Nhiều hộp thiếc được buộc vào các hàng rào phía trong để bộ đội mình đột nhập vào sơ ý đụng phải sẽ phát ra âm thanh. Giữa các hàng rào còn có vô số mìn sát thương. Vị trí đặt mìn thường xuyên được thay đổi để đối phương đột nhập không thể phán đoán được. Bẫy pháo sáng cũng được cài nhiều nơi. Khi bị kích hoạt, ống phóng sẽ bắn pháo sáng lên độ cao một trăm mét, rồi một chiếc dù bung ra giúp pháo sáng treo lơ lửng rơi từ từ, soi rọi một vùng rất lớn. Kho đạn được bố trí ra nhiều khu vực để tránh các tai biến. Binh lính liên tục tuần tra xung quanh bằng xe cơ giới, mỗi đợt tuần tra cách nhau năm phút. Sau đó lính tuần tra đi bộ cùng với chó đánh hơi thường xuyên. Cách bố phòng của Mỹ - ngụy tại tổng kho Long Bình khiến quân ta khó lòng mà lọt vào được. Nhưng chính cái đó đã tạo ra một sơ hở, cỏ cây mọc um tùm đã tạo một tấm ngụy trang lý tưởng cho đặc công ta đột nhập vào căn cứ. Đặc công của ta đã dựa vào các nguồn tin mà nhân dân quanh vùng thường xuyên tự nguyện cung cấp tin tức về các hoạt động, những vấn đề đáng khả nghi. Tin tức được lấy qua những người cấp dưỡng, người bán rau quả. Còn đơn vị đặc công tổ chức cài người vảo trong đó hoặc tổ chức các buổi giao lưu, gặp bạn bè hoặc người thân trong kho để thu thập thông tin cần thiết, chẳng hạn như cự ly và các vị trí khu nhà kho. Có cả những sỹ quan Việt Nam Cộng hòa làm việc cho cách mạng cung cấp tình hình. Một thời gian khá dài thực hiện, tất cả các thông tin về tổng kho Long Bình đã được thu thập một cách đầy đủ chính xác. Trung đoàn đặc công quyết định đánh. Như anh biết đấy, việc tiền trạm là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, thế mà khi Hùng đưa ra quyết định đó các chiến sỹ đều xung phong để làm nhiệm vụ này. Hùng chỉ chọn hai người đảm trách, nhằm tránh tổn thất, có nhiệm vụ: Thử hệ thống vành đai phòng thủ và an ninh của căn cứ, thiết lập lối ra vào căn cứ và xác định thời gian thực tế để tiếp cận các mục tiêu bên trong căn cứ để đặt thuốc nổ. Trinh sát xong rút ra để khi đánh hai đồng chí này dẫn đường tiến vào khu căn cứ. Sau khi hai đặc công trở về an toàn, chúng tôi cho "tập khô" lại một vài lần nữa mà quân địch không biết có "Cộng sản" nằm cách họ khoảng hai mét. Toàn bộ đặc công rút ra an toàn, chỉ chốt lại một đồng chí đặc công trong tổng kho Long Bình - để liên tục theo dõi hoạt động của tổng kho và bực những lối đi mà đặc công đã thiết lập. Sau hai ngày, đơn vị đặc công nắm chắc là địch không phát hiện được vấn đề gì. Đơn vị đặc công của Hùng bắt đầu hành động. Tất cả có hai mươi đồng chí tham gia vào chiến dịch. Mỗi tổ có ba hoặc bốn người. Mục tiêu lớn cần mang nhiều chất nổ, vì thế phải tăng thêm người để mang thuốc nổ. Chừng nửa đêm, toàn đội đã lọt qua hàng rào cuối cùng. Chất nổ được gắn vào thiết bị hẹn giờ. Mi-8, thiết bị chỉ bé bằng ngón tay, cho phép cài thời gian phát nổ chậm để nhóm đặc công có đủ thời gian rút về nơi an toàn sau khi đặt chất nổ vào các kho vũ khí, đội đặc công bắt đầu rút lui ra khỏi khu vực tổng kho Long Bình. Khi trời hửng sáng, Hùng đứng tiên gò đất cao nhìn về căn cứ Long Bình, không khí yên tĩnh đã bị phá vỡ. Một tiếng nổ lớn, nối tiếp là những tiếng nổ lớn khác - tiếp theo đó là một loạt tiếng nổ liên hồi từ đạn dược ở kho Long Bình. Bình minh đến sớm hơn vào buổi sáng ấy, khi có tới 30.000 tấn chất nổ phát hỏa soi sáng cả bầu trời. Nơi Hùng và 20 đồng chí đặc công đứng đất rung chuyển, tiếng chấn động lan xa tới ba mươi cây số. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:40:57 pm Dọc đường về đơn vị, Hùng thầm nghĩ hai năm nghiên cứu đánh kho Long Bình đã thành công. Đơn vị đặc công không hy sinh một người nào. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. Mỹ quá mạnh nhưng phải đánh Mỹ theo cách của Việt Nam mới thắng được, anh Thắng ạ!
Anh Thắng! Mỹ đánh vào Hà Nội là muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Mỹ đã thất bại rồi, tài sản và người của chúng ta bị tổn thất nhưng ngọn lửa căm thù giặc Mỹ xâm lược càng dâng lên trong lòng người dân Việt Nam. Anh Thắng ạ! Khi toán quân Mỹ đầu tiên xuất hiện, người Việt Nam đã nhận ra rằng chiến thắng sẽ được quyết định qua việc Việt Nam làm thế nào để đối phó với một kẻ thù có công nghệ và vũ khí hiện đại - Đó là nhiệm vụ cực kỳ gay go đối với một đất nước hạn chế về nguồn lực. Người Việt Nam đã tìm ra cách bổ khuyết cho sự thiếu thốn nguồn lực vật chất bằng cách buộc Mỹ phải thất bại trước cách đánh của người Việt Nam. Họ sẵn sàng chịu đựng gian khổ và hy sinh, kiên cường bất khuất và sáng tạo ra cách đánh. Những người lính đã thể hiện bằng đầu óc sáng tạo khéo léo đáng kinh ngạc trên các chiến trường để đối phó với những lợi thế quân sự của người Mỹ. Ở dưới mặt đất người chiến sỹ đặt ra câu khẩu hiệu "bám chặt thắt lưng địch mà đánh. Những cách đánh này khiến cho kẻ thù không còn sử dụng được lợi thế vũ khí kỹ thuật hiện đại. Trên trời, không quân tìm lối đánh quần, có lợi thì cất cánh chiến đấu. Nếu không thuận lợi thì phòng tránh sơ tán. Và bí mật bất ngờ xuất hiện. Mỹ luôn tìm cách duy trì ưu thế về không quân trên bầu trời Bắc Việt Nam. Người Việt Nam quyết tâm biến không phận của mình trở nên đầy bất trắc đối với phi công Mỹ. Hệ thống phòng không độc đáo: Pháo tầng thấp, tầng cao, các trận địa tên lửa thật mà giả, giả lại là thật. Những trạm quan sắt lâu dài bổ trợ đặt ở trên các đồi, nhà cao tầng quan sát máy bay Mỹ để thông báo cho cao xạ tên lửa và máy bay chiến đấu MuR. Trong cuộc chiến tranh bằng không quân Mỹ phá hoại miền Bắc, người Việt Nam không sợ mà người Mỹ sợ". Nghe vậy bác có phản ứng tự nhiên. - Sao anh Hùng lại bảo Mỹ sợ Việt Nam? Nếu Mỹ sợ thì đã không dám đánh phá đất nước ta như vậy. Anh Hùng cười độ lượng và nói: - Mỹ sợ tính nhân văn của người Việt, mà chính cái đó là cơ sở cho việc chiến thắng về sức mạnh vũ khí và tiềm lực kinh tế. - Nói xong câu ấy anh Hùng lại kể tiếp cho bác nghe một câu chuyện vào thời điểm khác: "Vào khoảng trung tuần tháng 2 năm 1965, một tốp máy bay phản lực vào đánh phá ở khu vực Đồng Hới, Quảng Bình. Một chiếc F105 bị cao xạ ta bắn rơi, phi công nhảy dù, máy bay đâm xuống đất cách trận địa pháo 700 mét. Sau khi bắt được phi công, dẫn chứng phẫn nộ người cầm quốc, cào xông vào đánh phi công nhưng bộ đội đã ngăn cản và đưa phi công đến nơi an toàn. Họ được trả tự do vào năm 1973. Rồi một tốp năm máy bay của Hải quân Mỹ vào đánh phá sân bay Đồng Hới, sau khi đánh phá xong bay ra biển, bay rất thấp, cách mặt biển chừng 500 mét bị cao xạ 12 ly 7 và súng trường bắn rơi. Phi công Dickson nhảy dù đã cắm đầu xuống biển. Dân chài nhanh chóng đi tìm nhưng không thấy. Hai ngày sau, ngư dân xã Nhân Trạch, Quảng Bình đã phát hiện xác phi công Mỹ, họ vớt lên bờ chiếc dù đã cuốn chặt Dickson. Nhân dân đã thu được: súng ngắn, tiền Mỹ, hình ảnh gia đình, một chiếc đồng hồ, một lá cờ Mỹ nhỏ, một thẻ quân nhân và một mảnh kim loại khắc thông tin nhân thân và một vài thứ khác. Tất cả được đặt vào trong một hộp ni lông chống thấm. Nhân dân đã đào một hố sâu khoảng 2 mét chôn thi thể cùng các tang vật. Nhân dân và du kích đã khắc bia bằng sơn. Tên: Edwarda Dickson. Số: 9520447. Cấp bậc: Trung úy, Hải quân Mỹ. Sinh ngày: 3 tháng 9 năm 1937. Nhóm máu: A. Sau khi chôn cất xong, có một người phụ nữ ngồi thắp hương ngồi bên ngôi mộ của viên phi công, vừa cắm hương chị vừa cầu nguyện cho chiến tranh sớm kết thúc và mong cho linh hồn người lính Mỹ sớm được trở về Mỹ. Thấy vậy Hùng tiến lại gần người phụ nữ và hỏi: - Thưa chị! Chị có thể cho tôi biết vì sao chị lại thắp hương cầu nguyện cho người lính Mỹ đã ném bom giết hại người Việt Nam? Người phụ nữ ấy không trả lời và tiếp tục vái lạy, một lúc sau quay lại nói với Hùng: - Em biết, khi người lính này ở trên trời, họ là con quỷ dữ, nhưng khi đã bị bắt thì họ vẫn là một sinh linh muốn sống, chính lúc đó họ mới biết tội lỗi của mình, không nên có hành động tàn bạo với họ. Còn người phi công này phải nằm xuống ở nơi đất người, họ đau khổ lắm. Nhất là bố mẹ vợ con họ. Em cũng là vợ bộ đội nên thấu hiểu điều đó. Vả lại ngày sinh, năm tháng trùng với chồng em. Chồng em chiến đấu ở miền Nam đã hi sinh vì bom đạn Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa. Bây giờ anh lính Mỹ này chết vào ngày hôm nay. Vậy sự trùng hợp đó là do số phận hay là do chiến tranh? Và cũng nơi đầy, ngày hôm sau máy Mỹ lại vào ném bom một làng, pháo cao xạ của ta đã bắn rơi hai máy bay, một phi công Mỹ thoát ra biển, còn Lockhard bị bắt giải vào làng. Hùng thấy một người phụ nữ vừa mới cưới chồng xong, nhưng chồng chị đã chết trong đợt không kích đó. Chi đã căm thù đến cực độ khi thấy Lockhard, cầm dao định tấn công. Dân trong làng ôm chặt lấy chị và giải thích cho chị biết rằng khi đang ngồi trên máy bay thì viên phi công kia là kẻ thù của chị và nhân dân nhưng một khi đã trở thành tù binh thì anh ta phải được bảo vệ. Nghe vậy, người phụ nữ bàng hoàng đổ sụp xuống đất khóc, kêu gào... Một người lính, chắc là chính trị viên của đơn vị pháo đó đã an ủi giải thích với chị: - Chị ơi! Nước Việt Nam không biết bao nhiêu kẻ thù đến xâm lược, người Việt Nam vốn có lòng nhân đạo. Chúng ta không cho phép nỗi đắng cay và lòng hận thù che khuất hi vọng vào tương lai. Nếu cứ chứa chất thù hận thì đâu còn chỗ cho lòng yêu thương hả chị? Nghe vậy người phụ nữ ngừng khóc. Mọi người nhìn theo chị. Như thông cảm với hành động của chị phụ nữ, Hùng kể tiếp cho bác nghe một câu chuyện khác: - "Hồi Hùng chiến đấu ở biên giới Việt Lào, máy bay Mỹ ngày đêm dội bom mưa, bão đạn. Thế nhưng quân đội Việt Nam vẫn chiến đấu, chiến thắng. Có lần Hùng được cấp trên điều ra Hà Nội họp, đang nghỉ ở nhà khách có báo động, Hùng chạy ra ngoài thấy lửa phụt ra từ máy bay, phi công Mỹ nhảy dù từ từ rơi xuống một hồ nước nhỏ của Hà Nội. Hùng dương súng lao tới, khi phi công còn lơ lửng ở độ cao khoảng hai trăm mét. Hướng nòng súng về phía phi công đang bất lực, Hùng đặt ngón tay lên cò súng. Rồi bỗng dưng Hừng khẽ buông cò súng, chạy hết tốc lực đến đền Quán Thánh trên đường Thanh Niên. Khi tới bờ hồ, chiếc dù vẫn lơ lửng ở độ cao khoảng một trăm mét. Lúc bây giờ Hùng thoáng nghĩ đến các đồng đội của mình đã chết trong rừng ở đường Chín Nam Lào. Chính những phi công này đã ném bom, gây nhiều tổn thất. Cơn giận trong người ngày một dâng lên. Lúc ấy, Hùng chỉ nghĩ sẽ bắn chết phi công này. Thậm chí Hùng còn muốn phi công này phải chết đau đớn... Tất cả những việc cần làm là siết cò và phi công Mỹ phải chết. Nhưng trong khoảnh khắc, Hùng nhớ ra con người thì ai cũng muốn sống, hơn nữa trong quân đội ta đã có quy định với tù binh, phải đối xử nhân đạo. Hùng đã buông cò và cùng mọi người nhảy xuống hồ vớt phi công Mỹ, lên bờ, băng bó, kiểm tra giấy tờ và biết phi công đó tên là: John Mclain. Sau khi chiến tranh kết thúc được một thời gian, qua theo dõi báo chí Hùng được biết người phi công đó đã là Thượng nghị sỹ John Mclain. Thật là tệ hại, chiến tranh đã cướp bao nhiêu mạng sống, giá như hôm đó viên phi công Mỹ không được cứu thoát thì làm gì có Thượng nghị sỹ John Mclain hôm nay. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:41:45 pm XIV "... Hà ạ, bác và anh Hùng đã thức thâu đêm để chuyện trò, đàm luận... Sau đây, bác có thể kể cho Hà nghe những cuộc chuyện trò rất thú vị ấy" Anh Hùng ạ! Có rất nhiều nguyên nhân khiến người Việt Nam ta thắng Mỹ nhưng có một nguyên nhân quan trọng đó là ngoài tính nhân văn ra, người Việt Nam ta còn một sức chịu đựng vô bờ vô bến - Bác nói. Nghe vậy, anh Hùng suy nghĩ một lúc rồi nói: - Cũng cần nói thêm là một trong những nguyên nhân tạo nên sức mạnh động viên được toàn dân tộc lên đường chống Mỹ phải nói đến tài năng của các nhạc sỹ đã làm nên những bài hát rung động lòng người, mỗi khi cất lên người nông dân muốn cày sâu cuốc bẫm, người chiến sỹ muốn lăn mình vào đồn địch. Còn người công nhân muốn lao động suốt ngày đêm để làm ra sản phẩm. Các em nhỏ cắp sách tới trường học thật giỏi. Người phụ nữ "ba đảm đang" thay chồng công việc ở nông thôn, bản làng. Những nhạc sỹ, những nhà văn đã tạo nên một khí phách cho đất nước nhờ sự sáng tạo và sáng tạo để đánh giặc, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. "Tiếng hát át tiếng bom". Những đoàn văn công dọc đường mòn vào Nam, tới mỗi binh trạm đều dừng lại biểu diễn. Những người lính ở chiến trường họ được tiếp thêm sức mạnh bằng những lời ca thúc giục lòng người hàng ngày đối mặt với cái chết và sự sống, vững bước tiến lên vượt qua mọi gian khổ. Những nghệ sỹ dù ít được trực tiếp tham gia chiến đấu, nhưng chính họ đã truyền cảm xúc cho người chiến sĩ. Một sức mạnh tinh thần vô bờ bến. Tất cả những bài hát, bài thơ, vở kịch đều hướng tới khích lệ tinh thần chiến đấu của bộ đội cụ Hồ. Người Mỹ khó mà hiểu được một cách cặn kẽ vì sao trong cuộc chiến tranh này, nghệ thuật của Việt Nam có vai trò một cách nỗ lực như vậy. Trong khi đó người lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng hòa cũng có văn nghệ đi theo nhưng họ chỉ được nghe những bài ca sướt mướt, ủy mị, sến... chẳng hạn bài. "Đâu rồi những bông hoa?". Trong khi đó, người lính của Việt Nam lại được nghe những bài ca ái quốc, những khúc hát nói về tình yêu Tổ quốc, niềm vinh quang được cầm súng và được hy sinh cho Tổ quốc, cho đất nước. Những bài hát đã khiến người chiến sĩ càng quyết tâm trong sứ mệnh giành chiến thắng cho dân tộc. - Đúng vậy - Bác đã nói Hùng - Những công lao của các nghệ sĩ, nhà văn và các đoàn nghệ thuật là vô cùng to lớn đã động viên được mọi tầng lớp vào cuộc chiến đấu. Trong chiến tranh vũ khí và khí tài hiện đại là rất quan trọng - nhưng biết khơi dậy ý chí con người để có sức mạnh tinh thần càng quan trọng hơn để chiến thắng kẻ thù có sức mạnh vũ khí và kinh tế vượt trội. - Ngừng một lúc rồi anh Hùng nói với bác: - Nước Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Có thể có nhiều nguyên nhân. Nhưng theo Hùng thì người Mỹ đã không hiểu được bản chất, truyền thống của người Việt Nam trước khi tham chiến. Và họ không hiểu được nghệ thuật quân sự của người Việt Nam. Nghệ thuật quân sự ấy là chiến tranh nhân dân - toàn dân, toàn diện. Trong đó nghệ thuật khích lệ tinh thần con người nhất là người chiến sĩ truyền cho họ một nguồn động lực để vượt qua những gian khổ là rất quan trọng. Anh Hùng ạ! Ngày chúng tôi ở chiến trường có những thời kỳ thiếu thốn đủ đường, đến mức mà ban chỉ huy muốn cho một số phụ nữ chuyển ra Bắc. Nhưng khi họ nghe được tin đó có người đã viết đơn bằng máu xin ở lại. Người Mỹ không hiểu được điều đó. Người Việt Nam thiếu đủ đường, cái chết có thể đến bất kỳ, thế mà họ vẫn trụ lại, không đầu hàng và run sợ trước khó khăn và cái chết. Một đội quân vô hình nhưng vô cùng mãnh liệt hơn cả bom nguyên tử. Đó là sức mạnh tình thần. Người chiến sĩ Việt Nam có thể chết thay cho người khác, có thể nhường khẩu phần ăn cho đồng chí, đồng đội để cứu sinh mạng họ và bảo đảm sức chiến đấu cho nhau. Vào khoảng tháng 3 năm 1967 không quân Việt Nam tổn thất quá lớn. Mỹ đã phát hiện điểm yếu của các loại MuR mà đặc biệt là MuR 17. Có hôm không quân ta xuất kích 8 chiếc MuR 17, bốn chiếc bị Mỹ bắn rơi, bốn phi công hy sinh. Đứng trước một sức mạnh của không quân Mỹ như vậy, những phi công Việt Nam đã kiên cường bất khuất tìm ra cách đánh và cách tránh để cuối cùng không quân Mỹ đã phải nếm đủ mùi đắng cay của không quân Việt Nam... Hàng trăm, hàng nghìn phi cơ Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Những phi công trẻ đã hạ rơi B52, và có phi công đã dám lao mình vào máy B52. Có những phi công nhảy dù rơi vào rừng hơn một tuần, đã tìm đường về với đồng đội để xin vào tiếp tục trực ban chiến đấu. Pháo thủ ngồi trên làn pháo vẫn giương súng trong khi những máy bay phản lực Mỹ ném bom, phóng tên lửa vào trận địa. Chiến sĩ Nguyễn Viết Xuân vẫn hô vang: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!". Và không biết bao nhiêu người con ưu tú quả cảm xuất hiện. Đúng như một người nước ngoài nói: "ở Việt Nam ra đường là gặp anh hùng". Ngày đó trên đường mòn Hồ Chí Minh ác liệt lắm! Có những lần Mỹ đánh bom, đơn vị của đồng chí Nguyễn gần như thất bại hoàn toàn. Nhưng về đơn vị chiến sĩ đó làm một bài thơ ca ngợi sự anh hùng hy sinh của các chiến sĩ ấy. Đơn vị vẫn quyết tâm bám trụ. Các đoàn văn công lội suối trèo đèo liên tục biểu diễn ở các đơn vị trên chiến trường. Nếu có máy bay ném bom họ tạm nghỉ rồi lại tiếp tục biểu diễn "Tiếng hát át tiếng bom" là như vậy. Tiếng hát như trống trận thúc giục đoàn quân hãy vững bước tiến lên phía trước. Người lính nhận thấy, nếu người trước ngã xuống, người sau lại tiếp bước, chiến đấu đến ngày thắng lợi. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:43:33 pm Sau chiến tranh, có dịp, Hùng đã kể cho bác nghe về quãng thời gian nhập ngũ trong quân đội của Hùng:
Hùng nhập ngũ, được ở Hà Nội một ngày rồi hành quân vào Nam, mang theo ba lô nặng tới 50 kg là một thách thức thật sự, nhưng phải cố gắng rồi nó cũng quen dần không có gì đáng sợ. Nhưng Hùng sợ nhất là mỗi lần quân số được bổ sung cho số người đã hy sinh. Đơn vị Hùng đóng ở cửa Việt, có nhiệm vụ đánh quân Việt Nam Cộng hòa, bọn này được sự hỗ trợ của Mỹ thường xuyên hoạt động dọc bờ biển, bất thình lình đổ bộ vào đất liền. Nhiệm vụ của đơn vị Hùng là gửi thông điệp cho Hải quân Mỹ bằng cách chứng minh rằng bất kỳ cuộc đổ bộ nào cũng sẽ phải đối đầu với một hỏa lực mạnh của lực lượng quân giải phóng. Trung đoàn Hùng được chia ra nhiều đơn vị chiến đấu, cấp trung đội có nhiệm vụ bắn quấy rối, lợi dụng bóng đêm, các tổ chiến đấu tiến đến vị trí cách mép nước biển chừng một cây số. Để phòng thủ trước bất kỳ cuộc tấn công đổ bộ nào từ biển vào, đơn vị Hùng trang bị sáu xe tăng được chôn ngập xuống cát tới tận tháp pháo, và ngụy trang chu đáo. Trong sáu chiếc xe tăng của đơn vị Hùng, năm chiếc đã bị Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa bắn hủy. Nhưng đơn vị lại tiếp tục được tăng viện để chiến đấu. Khi giao tranh tạm ngừng trong chốc lát, cả hai phía tranh thủ chôn cất người chết. Một khu vực ở trên bãi biển được sư đoàn chọn làm nghĩa trang. Có một lần Hùng đi mai táng: Việc chôn cất đồng đội chẳng phải là điều gì lạ đối với Hùng, nhưng khi thực hiện công việc này tại Cửa Việt, Hùng nhận ra một thực tế khắc nghiệt. Không phải là con người mà chính là thiên nhiên đã quật mộ lên. Gió ở Cửa Việt ào ào thổi quanh năm không có gì che chắn. Tàn phá bãi biển, thổi bay lớp cát dày trên bề mặt và làm lộ thiên các thi thể chôn trong lòng đất. Bằng cách đấy, thiên nhiên tại Cửa Việt đã phơi trần sự khủng khiếp của chiến tranh mà con người muốn chôn giấu nỗi đau khổ. Một khi thi thể nào bị lộ thiên đơn vị lại tiếp tục chôn cất. Rất sâu và chu đáo, nhưng vẫn bị gió khai quật lên. Có khi đơn vị phải chôn cất tới hai lần. Chôn cất xong người chiến sĩ ngả mũ mặc niệm rồi lại vào cuộc chiến đấu mới. Anh Thắng ạ! Chiến tranh đã lùi về quá khứ thế mà những hình ảnh của đồng chí, đồng đội vẫn còn in đậm trong tâm trí Hùng. Nhiều đêm vẫn còn nhìn thấy những gương mặt trai trẻ, non tơ chưa một lần yêu thương. Nghĩ vậy nhiều đêm Hùng không cầm được nước mắt. Họ đã sẵn sàng hy sinh cho dân tộc có một ngày mai sán lạn. Anh Thắng ơi! Trong chiến tranh có nhiều chiến sĩ em đã chôn cất, một trong những người mà Hùng đau thương vô bờ là Chiến - bạn thân thiết, đã hy sinh ở Cửa Việt. Hùng đã chôn bạn đứng hai lần trước khi được điều động về Bộ Tư lệnh vùng. Ở chiến trường nhiều đêm Chiến tâm sự với em: "Chiến là đứa con duy nhất trong gia đình, từ lúc ra đời Chiến đã không được sự chăm sóc của cha mẹ. Nghe bà nội nói với Chiến là trước chiến dịch Điện Biên Phủ bố mẹ lấy nhau sinh được cậu ta, gửi nhờ ở nhà một người dân tộc rồi đi chiến đấu. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ bố mẹ Chiến hy sinh. Người dân tộc ở Điện Biên đã liên hệ địa chỉ mà bố mẹ dặn, đưa Chiến về ở Lập Thạnh, Vĩnh Phú. Bà nội nuôi cậu ta ăn học tưởng để vào đại học, nhưng khi tốt nghiệp phổ thông, Mỹ đánh phá ra miền Bắc, năm 1967, Chiến viết đơn bằng máu xin nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Có lẽ sự hy sinh của bố mẹ đã thúc giục cậu đi cứu nước. Hồi còn nhỏ em được bà dạy bảo: - "Sống chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà". Theo nguyện vọng đó, chính quyền địa phương đã chấp nhận cho cậu ta vào quân đội. Chiến sớm dạn dày kinh nghiệm chiến đấu. Vào quân đội cậu gặp phải một trận bom ác liệt đầu tiên, cực kỳ hoảng sợ. Sau một thời gian, cậu nhận ra việc đó là thường xuyên, nếu có chuyện gì xảy ra với bản thân thì những chàng trai trẻ tiếp tục xông lên thay cậu ta chiến đấu. - Thế em không định lấy vợ hả Chiến? - Hùng hỏi vậy. Chiến nhìn Hùng bằng cặp mắt sáng lên. Và nói với một giọng nuối tiếc, chiến kể tiếp: - Chiến có một cô gái rất xinh đẹp đang học Kinh tế quốc dân năm thứ ba, cậu đã có cảm tình với cô ấy và cô ấy cũng có cảm tình với cậu. Tên cô ấy là Thúy Lan người ở Vũ Thư, Thái Bình. Họ đã gặp nhau trong một trận đánh, cậu ta chủ động bắt chuyện, tỏ tình yêu với cô ấy. Thúy Lan hơn Chiến một tuổi, họ yêu nhau mãnh liệt lắm. Thúy Lan cao bằng cậu, tầm vóc trung bình, có má lúm đồng tiền. Họ đã hẹn cưới nhau ở chiến trường. Nhưng chuyện yêu đương trong rừng rậm giữa muôn ngàn quân, không hề đơn giản. Và tình hình càng trở nên khó khăn hơn khi đơn vị của Thúy Lan chuyển đến một địa điểm xa hàng chục cây số. Tuy nhiên, khoảng cách không hề ngăn cản tình yêu - nó đơn thuần chỉ là khoảng cách phải vượt qua. Họ rất yêu nhau, một lần Thúy Lan bị sốt rét, sốt rất nặng, Chiến đến thăm mang theo một ít đường và để ăn. Họ nói chuyện với nhau về những ước mơ tương lai, khi chiến tranh kết thúc. Chiến nói rằng hết chiến tranh về học tiếp ra làm việc có tiền mua một chiếc xe để vợ chồng cùng đi. Mặc dù Lan đang ốm nhưng khi Chiến về, cũng cố gượng dậy. Họ đã ôm hôn nhau thắm thiết. Chiến về đơn vị thì nghe tin đơn vị Lan bị địch tập kích và Lan đã hy sinh. Từ đó trở đi Chiến vẫn chưa yêu ai, chỉ tập trung cho chiến đấu. Những lời kể của Chiến vẫn văng vẳng bên tai Hùng. Cậu ấy đã hy sinh anh dũng trong trận Cửa Việt, em phải chôn cất đến lần thứ ba trước khi về đơn vị mới. Còn sau đó phần mộ của Chiến ra sao đến nay Hùng vẫn không rõ. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:45:38 pm XV Bác Thắng gượng ngồi dậy kể tiếp cho Hà: ".. Ở chiến trường thấy cuộc sống trong rừng đầy khó khăn gian khổ, người đàn ông đã khổ, nhưng người phụ nữ còn phải chịu thiệt thòi nhiều hơn vì những năm tháng thanh xuân, tình yêu, nhan sắc của họ vì chiến tranh. Những thanh niên nam nữ có không ít người chưa tốt nghiệp phổ thông đã ra trận chiến đấu, ở lứa tuổi đầy khát vọng. Mà cái khát vọng đầu tiên ở chiến trường là những bức thư được giao liên mang đến cho họ. Nhưng thư đến thì họ đã đi chỗ khác. Có lần đơn vị bác nhận được một bưu kiện của một người chiến sỹ vừa mới hy sinh hôm qua. Trong bưu kiện có một lá thư gửi kèm theo một gói quà. Gói quà gồm một hũ dưa muối - do những chiến sĩ muối, một chiếc khăn tay và một đôi bít tất. Bức thư của một cô gái tên là Liên có đoạn viết: "Em yêu anh lắm, yêu vô cùng nhưng chiến tranh đã làm anh và em xa cách. Trong thời kỳ chiến tranh khắc nghiệt này, em không có gì khác để tặng anh ngoài những món quà nhỏ này. Em gửi tới anh một chút quà để ăn tết. Em Liên". Sau bác tìm hiểu đơn vị của Liên, đó là một đơn vị phối hợp với các đơn vị khác thực hiện cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 31 tháng 1 năm 1968, đơn vị của Liên di chuyển dọc bờ sông mà không biết rằng họ đã bị lộ. Chỉ sau vài phút, một đơn vị pháo của quân Việt Nam Cộng hòa đóng cách đây vài cây số nhận được tin báo. Khi tiếng nổ xé gió thì đã quá muộn. Liên và một số đồng chí đã hy sinh. Sống trong môi trường chiến tranh, trong rừng thiêng nước độc, sức khỏe của bao cô gái đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Những cô gái đang tuổi dậy thì vừa mới rời ghế nhà trường, sống ở trong rừng lâu ngày da trở nên xanh xao vì sốt rét, nhưng họ vẫn phải vượt lên để chống chọi với cuộc sống, mang vác vũ khí, chống chọi với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Họ phải sống, chiến đấu nhiều năm trong rừng núi. Những cô gái ấy khi kết thúc chiến tranh thì cũng là lúc mà tuổi trẻ, tình yêu cũng đã qua cơ hội... Những cô gái tuổi đời còn rất trẻ, đầy sức sống, chuyện quan hệ nam nữ là một nhu cầu của cuộc sống. Nhưng kỷ luật chiến trường rất nghiêm ngặt. Quan hệ trai gái, tình dục trước hôn nhân là một điều cấm ky. Hầu hết phụ nữ đã tuân thủ đạo lý đó, sau hòa bình, họ lại về với cuộc sống như muôn vàn người khác. Nhưng một thực tế thật trớ trêu, họ đã đi qua tuổi xuân, quá lứa lỡ thì, họ sống độc thân, bằng cấp, thậm chí không tìm được việc làm. Có lần bác gặp một người chiến sĩ gái, cô tâm sự bằng dòng nước mắt chan chứa: - Anh Thắng ạ! Tiểu đoàn em có bốn mươi chị em chiến đấu trong chiến tranh luôn giữ gìn sự trong trắng, trở về, muốn tìm một người chồng nhưng không được. Những người đàn ông cùng lớp người thi đã hy sinh, người thì đã lập gia đình. Một số người đàn ông khác họ cho chúng em không bằng cấp, không nghề nghiệp. Thế là hầu hết chị em đành ở vậy, hàng năm tụ họp nói về chuyện năm xưa - chuyện chiến tranh. Nhiều đêm em không tài nào ngủ được nhớ lại chuyện xưa, chuyện cũ. Một buổi chiều khoảng năm 1968 em cùng anh Sáng vào rừng kiếm thức ăn, anh ấy bị rắn cắn. Em lấy thuốc cho anh uống phần còn lại đổ vào vết rắn cắn, em băng chỗ vết thương. Lúc ấy chúng em mới nhận ra là người cùng xã. Chúng em đã yêu nhau trong những năm tháng ác liệt ấy. Chúng em hứa bao giờ kết thúc chiến tranh bọn em sẽ thành lập gia đình, sinh con và tiếp tục thi vào đại học. Nhưng sau đó, được mấy tháng, anh Sáng hy sinh. Em ở vậy không yêu ai dù có người tỏ tình yêu em, nhưng em không thể! Chiến tranh qua đi, em được về với quê hương đó là một điều phấn khởi. Em vẫn độc thân. Chính quyền đã tặng cho em một ngôi nhà tình nghĩa. Em sống một mình, hàng ngày em đặt trước bậc thềm nhà một đôi giày, và hai đôi dép nhựa, tối đến em lại cất đi, sáng hôm sau em lại đặt đúng chỗ cũ. Một hôm, có bạn gái già cũng từ chiến trường về vào thăm em và vui vẻ nói với em: "Mày còn hạnh phúc, sau chiến tranh mày về còn có ngôi nhà tình nghĩa, lại có chồng con, còn tao thì khổ lắm". Nói xong cấu ấy chúng em ôm choàng nhau khóc. Sau đó, người bạn gái mới hiểu ra điều em lầm. Ngừng một lúc, rồi người bạn gái nói tiếp: "Có thể về mặt nào đó, mình chịu thiệt thòi, nhưng dù sao mình vẫn còn may mắn sống trở về nơi sinh ra. Còn không biết bao nhiêu bạn gái, bạn trai, đồng đội của chúng ta đã ngã xuống chiến trường đến nay chưa tìm được hài cốt. Anh Thắng ạ! Ở chiến trường chúng em thiếu đủ thứ: Thiếu lương thực, phải vào rừng kiếm cái gì đó để ăn, có khi tìm được nấm, nhưng lại ăn phải nấm độc, phải nhập viện, thiếu thuốc men, và các nhu yếu phẩm khác, nhưng mọi người vẫn động viên nhau sống chiến đấu cho một ngày mai. Chiến tranh qua rồi, không có bom rơi, đạn nổ, con người không phải chịu cảnh chết chóc, thật sung sướng. Nhưng cuộc sống thực vẫn còn nhiều khó khăn. - Thế em làm nghề gì, vốn lấy đâu ra? Người em gái không nói rất lâu rồi mỉm cười móm méo nói tiếp: - Như anh biết đấy con người cũng cần có việc làm, sau đó là để tồn tại, sau đó là một niềm vui. Em đã nghĩ ra cách làm. - Cách làm nào hả em? - Nói ra cách cũng được, nhưng đơn giản là em ngồi bán cà, bán rau ở góc phố, thu nhập không cao nhưng vẫn có việc làm. Ngồi ở đây em được thấy rất nhiều những toà tháp cao ngất ngưởng. Sao mà họ giàu thế hả anh? Ông Tâm trước đây ở nhà quê đầu đội mũ rơm nay giàu hết chỗ nói - một tòa tháp mười lăm tầng, mỗi tầng 300 m2, mà nghe đâu ông ấy còn có mấy lô đất ở Linh Đàm, Vũng Tàu. Nhìn ra xa một chút, trên đường Trường Chinh lại một tòa tháp của ông Hồng cao ngất ngưởng đứng sừng sững giữa trời cao và không biết bao nhiêu nhà của các vị đại gia khác cứ mọc lên chắn hết những hạt nắng, gió trời của những con người bình dị. Nghe vậy bác hỏi: - Tuổi trẻ và tình yêu của em đã hiến dâng cho đất nước, anh hỏi thật, nay sống một mình em có buồn không? - Anh Thắng ạ! Bây giờ bọn em có một nguồn vui khác là hàng năm tập họp lại ở một chỗ nào đó để kể lại những kỷ niệm ở chiến trường, người kể về những ngày chiến đấu ở đường mòn Hồ Chí Minh hay là địa đạo Củ Chi. Nhưng chị em bây giờ cũng bệnh tật ốm đau luôn. Chiến trường vũ khí của Mỹ đã không giết chết bọn em nhưng bệnh tật ốm đau đã làm cho bọn em đứa mất, đứa còn. Một vài năm lại có một bạn gái ra đi. Hẳn anh còn nhớ Hằng Nga một cô gái xứ Kênh Bắc có dáng dấp mềm mại, tóc đen bóng, da dẻ mịn màng, trắng như trứng gà bóc, đôi mắt long lanh sáng một cách đặc biệt, đường nét thật duyên dáng. Em là phụ nữ còn chết mê chết mệt. Còn bọn con trai các anh thì có khi nhìn thấy là trái tim rạo rực... Ngày Hằng Nga vào chiến trường không biết bao nhiêu người đàn ông ngỏ lời nhưng Hằng Nga vẫn quyết tâm lên đường chiến đấu. Những năm tháng ở trong rừng đã làm Hằng Nga tàn tạ. Hằng Nga mang trong mình một nỗi buồn là căn bệnh sốt rét không thể nào chữa khỏi. Hàng năm phải vào bệnh viện điều trị. Không chồng con lại mắc bệnh, không đủ tiền để chữa, lại chẳng có ai chăm sóc. Bọn em phải thay nhau đến túc trực ở bệnh viện. Bọn em đến chăm sóc Hằng Nga mới mường tượng ra phần nào xã hội đang biến động, đang phân cách... Ngay cạnh giường của Hằng Nga nằm bên trái là một bệnh nhân có một số phận khác hẳn. Nằm viện họ cũng sướng. Chắc lúc khỏe ở nhà họ sướng hơn. Ông này còn ít tuổi hơn Hằng Nga, chắc là đương chức đương quyền, không rõ là chức gì, nhưng suốt ngày hết đoàn nọ đến đoàn kia tới thăm ông ta. Hoa quả, quà bánh, phong bì... vợ ông ta rất trẻ, đẹp nõn nà, ăn mặc sang trọng nói năng dịu dàng. Bọn em đến chăm sóc Hằng Nga đôi lúc cảm thấy tủi cho bạn mình. Hằng Nga nằm viện, tất cả mọi việc chăm sóc đều nhờ vào bọn em. Những ngày cuối đời Hằng Nga lúc tỉnh, lúc mê, người phụ nữ trẻ đẹp năm nào, nay nhỏ bé và gầy yếu, không một lời rên la. Ba ngày liền, Hằng Nga trải qua những cơn đau chắc là kinh khủng lắm, mồ hôi túa đầy trán đầy mặt, những ngón tay co quắp như muốn níu giữ cuộc sống mong manh. Cuối ngày thứ ba thì Hằng Nga ra đi. Cái cơ thể của chị tóp teo nằm im lìm mềm oặt trên giường. Chúng em đứng vây quanh Hằng Nga, bất lực nhìn người đồng chí, người bạn lặng lẽ tắt thở. Bom đạn quân thù không giết được Hằng Nga, nhưng bệnh tật đã cướp đi sinh mạng chị. Tất cả đều do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại. Cũng có thể là sức lực lại thêm hao mòn sau những ngày hòa bình, vất vả chống chèo với cuộc sống. Anh nghĩ xem, Hằng Nga một mình mua rau quả ở quê rồi sáng sớm lên Hà Nội bán bằng xe máy quãng đường 50 km, trưa lại quay về và cứ như thế năm này qua năm khác vất vả với cuộc sống. Khi các y tá chuyển chị Hằng Nga sang xe băng ca, đưa về phía sau bệnh viện để chờ ngày mai táng. Nhưng rồi đất để mai táng không có mà phải mua, chúng em lại góp nhau người ít người nhiều để có phần đất mai táng cho chị. Chôn cất xong, chúng em ngồi vây quanh nấm mộ, gió thổi nghiêng ngả và cuốn đi những làn hương thơm lan xa, những hơi khói hương mỏng mảnh lan dần rồi tan biến vào không gian như đã tìm đến một vùng thiêng liêng huyền bí nào ấy! Chúng em luôn nhớ điều mà chị đã nói: "Hãy sống bản lĩnh và vững vàng. Trời không đóng hết mọi cửa với ai đâu. Chúng ta đã chịu đựng mọi khó khăn trong chiến tranh, đói khát, hy sinh này dù khó khăn nhưng lúc nào cũng phải bình thản sáng suốt...". Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:48:52 pm XVI "... Hà ạ! Người anh họ của bác tên là Oanh - Trần Oanh cũng phục vụ ở chiến trường miền Nam, giải phóng miền Nam ông Trần Oanh đã về nghỉ hưu mất sức làm ruộng cày cấy, chăm lo việc nhà. Có lần, bác đến thăm khi bác tỏ ra thông cảm những thiệt thòi ông ấy đã phản ứng dữ dội. Ông ấy nói rằng sự hy sinh của ông ấy, của bác chỉ là một sự đóng góp trong số hàng ngàn, hàng vạn người Việt Nam đã chịu đựng mất mát hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ để đất nước thống nhất. Theo bác nghĩ chiến thắng mà chúng ta giành được có lẽ không chỉ ở trên chiến trường miền Nam, cũng không chỉ là sự thua đau ở miền Bắc của không quân Mỹ - mà còn là những gì diễn ra dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Sự tồn tại của con đường này là một minh chứng về sự hy sinh, tinh thần chiến đấu ngoan cường và quyết tâm không bao giờ tắt của một dân tộc sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh để giành thắng lợi cuối cùng. Những ngày đến thăm Trần Oanh, bác đã được nghe ông ấy kể về câu chuyện của mình. "Hẳn em còn nhớ năm 1959, anh nhập ngũ và được nhận nhiệm vụ vào tham gia đường mòn này. Bọn anh khởi hành tại rừng Khe Hó dưới chân dãy Trường Sơn, ngay phía Bắc vĩ tuyến 17. Dân đường hành quân cho bọn anh là một thanh niên người Vân Kiều mang theo rựa và nỏ tre có tẩm thuốc độc. Đơn vị anh chia thành những nhóm nhỏ băng rừng về phía nam. Trời chập tối, bọn anh dừng ở một nương ngô. Một cụ già người Vân Kiều xuất hiện giữa nương ngô, dẫn toán anh về căn chòi nhỏ của mình trên nương rẫy. Ngày này qua ngày khác, tổ của anh cẩn trọng đi xuyên qua vùng rừng ở sườn đông dãy Trường Sơn tiến xa về phía nam. Sau mỗi đoạn đường, đơn vị anh lại tách ra một nhóm nhỏ lập chốt, để chịu trách nhiệm một khu vực nhất định. Các chốt tiếp vận nằm dưới tán cây rừng, loại chòi được đồng bào dựng lên trông nương rẫy. Ban đêm trong mỗi chòi, chừng năm người ngủ, muỗi, vắt lúc nào cũng như chực ăn thịt các anh. Ngày này qua ngày khác, trên các tuyến đường, những đoàn người miệt mài đi mang trên lưng đạn dược, súng ống và hàng hóa được gói trong những tấm vải không thấm nước... Thông thường, mỗi người cõng chừng 50 kg. Có người cõng tới 80 kg trèo đèo vượt suối trên một chặng đường dài. Cũng cần nói thêm cho em hiểu hồi đầu đường mòn nhỏ hẹp lắm, chứ không phải to như sau này. Em ạ! Hành quân dọc đường mòn anh phải tự mang theo thức ăn vì thực phẩm khan hiếm nên đơn vị anh phải mang theo mỗi chiến sĩ mang ít nhất mười cân gạo. Còn thực phẩm nói cho oai thôi, bột nước mắm để trong hộp lấy ra một ít trộn với nước để ăn. Đôi khi cũng bắn được nai, trăn, chồn và hổ. Đồng bào dọc đường hành quân, họ rất tốt nhưng nghèo, nhưng họ vẫn sẵn sàng giúp đỡ cho bộ đội. Sau khi Mỹ phát hiện ra đường mòn, chúng đã ném các loại bom. Trong giai đoạn 1965-1966 hành quân trên đường mòn bọn anh đã bị những trận mưa bom bão đạn dữ dội. Em ơi! Năm 1959 anh khoác ba lô vào quân ngũ - gần tám năm ở đường mòn - Trường Sơn, không vợ con, không gia đình, họa hoằn lắm mới nhận được tin nhà, còn thân thể ngày một yếu, bệnh tật hoành hành. Nói dũng cảm hy sinh thì dễ nhưng đứng trước cái chết, cái gian khổ thì không đơn giản. Nghĩ về tương lai, anh lại tiếp tục trụ lại "trên đường mòn". Có ở lại mới thấy sự hy sinh của người khác là vô bờ vô bên. Một thanh niên người mảnh mai, anh ấy đã gùi được 45kg đến 50kg trong vòng 4 năm với 1089 ngày làm việc, đã mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng đi qua chặng đường dài 41.025 km tương đương với đi một vòng quanh trái đất theo đường xích đạo. Thanh niên nam nữ tham gia phong trào thi đua, gùi hàng vào miền Nam ruột thịt. Chiến trường nhiều, đòi hỏi ngày một lớn, người ta đã sử dụng các phương tiện như: Voi, xe đạp thồ hàng, có người chiến sĩ đã thồ một chuyên được từ 100 đến 180kg, và kỷ lục cao nhất là 420 kg. Người lính cứ gồng mình trong bom đạn để đẩy những chiếc xe nặng nề lên dốc, xuống dốc, có những khi xe bị nổ lốp, người ta phải quấn giẻ rồi cuộn chặt dây cao su để tiếp tục vận chuyển, người trước ngã, người sau lại tiếp tục, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Em ạ! Có sống ở đường mòn Hồ Chí Minh mới nhận ra bộ đội mình thông minh và sáng tạo. Đường mòn từ Bắc vào Nam có rất nhiều lối ra. Anh được điều về một binh trạm lớn nhất, có ba lối ra - Quảng Nam, Đà Nẵng và Khe Sanh. Sư đoàn của anh có một nhiệm vụ chính - đó là duy trì các hoạt động của binh đoàn và xử lý các tình huống xảy ra trong khu vực. Sư đoàn anh gồm 8 trung đoàn với tổng số lính là 15.000 người, có nhiệm vụ bảo vệ dòng chảy liên tục của tuyến đường tiếp viện. Bốn trung đoàn công binh có nhiệm vụ sửa chữa đường sá, một trung đoàn phòng không; hai trung đoàn vận tải chuyển quân và thiết bị. Trên đường mòn, suốt ngày đêm, máy bay Mỹ ném bom bắn phá ác liệt. Những người lính trẻ vẫn hăng hái cho xe chạy. Với một chiếc đèn nhỏ lắp dưới gầm xe. Những người lái xe vẫn vững vàng tay lái vượt qua mưa bom, bão đạn, lên thác xuống ghềnh, vượt qua những tảng đá ngầm. Có nhiều đêm máy bay Mỹ thả pháo sáng như ban ngày. Máy bay Mỹ thường nhằm vào giao lộ ngầm và khúc cua. Những người chiến sĩ vững tay lái băng băng vượt qua. Xe không còn lành và thùng xe găm đạn lỗ chỗ. Nếu một chiếc xe bị hỏng, bộ đội nhanh chóng dỡ hàng và nhanh chóng giải phóng đường cho những chuyến khác tiếp tục tiến lên. Người Mỹ đã phải kinh ngạc, đường Hồ Chí Minh như một con bạch tuộc, cắt vòi này thì vòi khác mọc lên. Máy bay ném bom chặn đường này thì người ta đi đường khác. Nếu nhánh này bị tắc, công binh sẽ lập tức mở một con đường mới. Ai nấy đều quyết tâm duy trì các hoạt động giao thông để nhanh chóng giải phóng miền Nam. Mỹ ném bom hòng ngăn chặn nhưng thất bại đành chuyển sang phong tỏa bằng bom nổ chậm và bom phá. Bộ đội công binh đã đi tháo gỡ bom nổ chậm để tận dụng các bộ phận của bom - mìn như mạch dây điện... Nhưng tháo gỡ bom mìn là một việc mạo hiểm và gây nhiều thương vong cho bộ đội. Mỹ không phải thả một loại mà nhiều loại khác nhau như: Bom, mìn từ trường và bom thông thường, kíp nổ nhanh, kíp nổ chậm, kíp định giờ. Cho nên việc tháo gỡ là rất khó. Thời điểm khó khăn nhất là lúc mìn vừa được thả xuống, phải biết có bao nhiêu quả, hoặc loại mìn gì được thả. Mìn thả xuống, có quả nằm sâu xuống đất bùn, đất vùi lấp, để giải quyết được cái đó, bọn anh đã quyết định sử dụng một xe "thử". Anh xung phong ngồi bên cạnh người lái xe tải. Khi bước lên xe anh và lái xe xác định sẽ quyết tử để thông xe. Tài xế cho xe chạy chậm... được một đoạn chừng 150 mét. Đột nhiên, có một tiếng nổ rất lớn. Chiếc xe đã vượt qua khu vực có mìn. Nhưng may thay, quả mìn nằm khá sâu dưới đất nên sức công phá bị giảm, anh và người lái xe vẫn sống. Sau này, đơn vị anh dùng một nhóm sáu lính công binh - Ba người bên trái và ba người bên phải - để dò mìn. Sau đó dùng xe bọc thép từ trường loại xe này hoạt động rất hiệu quả hiếm khi mất an toàn. Quân đội luôn luôn có một cuộc chiến giữa sự sáng tạo của Mỹ trong việc chế tạo vũ khí hiện đại và sự sáng tạo của người Việt trong việc đối phó. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:52:13 pm Hoạt động ở đường mòn bị Mỹ đặt thiết bị nghe trộm mà Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mắc-na-ma-ra gọi là hàng rào điện tử. Bọn anh theo dõi chúng được thả xuống một khu vực có chiều rộng tới 100 km2 bao trùm một mạng lưới giao thông đường mòn. Khi phát hiện máy giống như cây rừng, đơn vị tìm cách dồn về một chỗ, cho xe chạy đi chạy lại, mở máy ghi âm có tiếng cười nói, những đoàn quân rầm rập để nghi binh. Người Mỹ tưởng rằng có quân Cộng sản hoạt động ở vùng đó. Khi người Mỹ bị dụ đến thì các đoàn xe của đơn vị anh lại hoạt động hành quân ở nơi an toàn.
Em ạ! Trên đường mòn những ngày đầu đơn vị anh và các đơn vị bạn gặp tổn thất do phương án phòng tránh. Nhưng đến năm 1966 lực lượng đường mòn chuyển sang thời tấn công kết hợp bộ đội phòng không, bộ đội công binh, với một lưc lượng lớn. Quân ta không phòng thủ nữa mà luôn tìm kiếm kẻ thù trên không để đánh. Vũ khí ở Trường Sơn không phải chỉ có súng và pháo phòng không mà còn có cả tên lửa để bảo vệ đường mòn. Tối 18-6-1972, trung đội anh đã cảnh giác cao độ, phát hiện một chiếc AC-130A. Specữe từ từ tiến vào bắn phá đường mòn. Phi công AC-130A bắn ra một quả pháo để thu hút tên lửa nhiệt, nhưng quả A-T2 vẫn lao vào chiếc "Spectre II". Chiếc C-130A. Spectre của Mỹ bốc cháy. Anh nghe một tiếng nổ vang dội từ chiếc máy bay AC-130A và chiếc C-130A lao xuống đất vỡ tan. Em ạ! Người Mỹ đã cố hết sức để ngăn chặn tiếp viện của miền Bắc vào Nam nhưng không thể nào được. Người Việt ngoài việc chiến đấu dũng cảm họ còn rất sáng tạo. Họ đã mở ra nhiều đường, nhiều tuyến, có cầu thật, có cầu giả, đường thật đường giả. Mặc dù Mỹ đã cố gắng hết sức nhưng không thể nào đối phó được. Anh nghĩ lẽ ra người Mỹ cần phải nghiên cứu lịch sử Việt Nam để từ đó có thể cảnh báo cho giới lãnh đạo thời thập niên 1960 về hệ quả mà lực lượng mặt đất của Mỹ phải gánh chịu khi tham chiến giúp cho người Mỹ hiểu hơn về tính dân tộc và cái chí khí của người Việt Nam. Một đất nước Việt Nam nhỏ bé, tiềm lực kinh tế quốc phòng thấp kém. Nhưng người Việt thông làu lịch sử, họ nhận thấy - bằng sự hiệu quả của đường mòn Hồ Chí Minh - một cơ hội để bắt buộc quân thù phải đánh theo cách mà người Việt Nam muốn. Trong khi đó, những người Mỹ kém may mắn đã không biết rút ra bài học này từ lịch sử Việt Nam. Em có nhớ không, chúng ta là những người chiến sĩ, sống chết trên đường mòn Hồ Chí Minh. Khi Hiệp định Paris được ký kết, còn gì vui sướng bằng? Bọn anh ôm chầm lấy nhau nhảy tâng tâng và hát những bài ca yêu chuộng hòa bình rồi anh gào lên: "Mẹ ơi lau nước mắt/ Làng ta giặc chạy rồi... "1 (Thơ Tố Hữu). Em ơi! Đây là một cơ hội để đẩy người Mỹ ra khỏi cuộc chiến, công việc của Việt Nam là do người Việt Nam giải quyết. Đây là một cơ hội để Bắc Nam thống nhất. Ngay sau khi có hiệp định, đường mòn đã có một loạt thay đổi. Các đơn vị được tái tổ chức và giao nhiệm vụ mới. Một số tuyến đường khác được đóng lại, chỉ sử dụng những tuyến đường thuận lợi nhất dẫn tới miền Nam mới được duy trì. Một tuyến là Trường Sơn Tây, vươn tới Lào và Campuchia. Trước khi trở lại Việt Nam. Tuyến thứ hai là Trường Sơn Đông, nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Hai tuyến này được nối với nhau bằng hàng loạt con đường Đông và Tây, các con đường này nhanh chóng được bê tông hóa và cầu sắt xuất hiện. Em ạ! Thật là sung sướng khi con đường mòn được thông suốt. Anh vui sướng lúc nào cũng ngâm câu thơ của Tố Hữu: "Năm mươi sáu ngày đêm Khoét núi ngủ hầm Mưa dầm cơm vắt". Đó là thời kỳ chống Pháp, còn bây giờ chống Mỹ, máu của chiến sỹ đổ xuống trộn lẫn với bùn không uổng để ngày mai đây thế hệ con cháu chúng ta được đắm mình trong ánh hào quang. Đây là con đường dẫn tới đất nước độc lập, thống nhất. Anh và em cũng như muôn người Việt Nam có quyền hãnh diện về công sức của mình để phụng sự Tổ quốc. Em ơi! Trong ngày vui tiến vào Nam đơn vị anh được ngồi trên một chiếc xe tải vẫy cờ, miệng hát vang: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng". Miền Nam bắt đầu chiến dịch giải phóng đất nước, quân và dân ào ào như thác đổ; ngày thất thủ tất cả binh lính ngụy tháo chạy bở lại phía sau, tất cả ào ạt chạy về Sài Gòn. Số binh lính quan chức của Mỹ chưa rút kịp cũng chạy về Sài Gòn. Chỉ thị của trên là để cho Mỹ rời khỏi Việt Nam về nước. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, các loại máy bay vận tải cỡ lớn thay nhau hạ cánh để chở những người Mỹ về nước. Một cuộc tiễn đưa người Mỹ và người Việt Nam theo Mỹ lặng lẽ hối hả ra đi, không hề ngoảnh lại. Không hiểu cảm giác của em thế nào? Còn anh trái tim như vỡ òa ra vì vui sướng và luôn hát: "Mẹ ơi! Lau nước mắt Làng ta giặc chạy rồi... Trâu ta ra bãi ra đồi1 (Thơ Tố Hữu) ..." Nỗi vui sướng vì miền Nam được giải phóng rất lớn, nhưng cái lớn hơn nữa anh được gặp đứa em ruột - một phi công đã tham gia trong chiến dịch giải phóng thành phố Hồ Chí Minh. Anh đến sân bay Thành Sơn. Hai anh em ôm chầm lấy nhau ngỡ ngàng bởi trong cuộc chiến tranh này hai anh em vẫn sống. Thằng Hán kể về việc không quân dùng máy bay của địch để đánh đuổi Mỹ Ngụy: Anh ạ! Khi Mỹ - ngụy cố gắng chống đỡ thì binh lính của chính quyền Sài Gòn bắt đầu phản chiến. Không quân Cộng hòa không biết bao nhiêu người đã quay súng về với quân Cách mạng, đã có người lái máy bay F5 ném bom vào dinh Độc Lập, Mỹ - ngụy bỏ chạy để lại ở các sân bay đủ loại máy bay trực thăng HH-53, UH-1, MH1A, C-130, F5, A37... Các phi công từ miền Bắc vào chỉ sau một vài ngày là điều khiển thành thạo các máy bay của Mỹ. Có lẽ em không tưởng tượng được các phi công của ta có một trình độ nghệ thuật như thế nào đâu? Họ có một bản lĩnh sắt thép, có trình độ cao, tay lái lụa siêu. Tất cả máy bay cùng cất cánh trên các sân bay quần đảo khắp bầu trời. Biên đội hai chiếc, bốn chiếc, rầm rập bay lượn. Còn thằng Hán bốn anh em khác: anh Lộc, anh Từ, anh Thành, anh Mai được phân công lái máy bay A-37, loại máy bay này trông như con "bọ cạp" nó có thể mang tới bốn tấn bom nặng hơn trọng lượng máy bay. Rất cơ động, rất linh hoạt. 8 giờ 30 phút đội hình của thằng Hán vào cấp một, 9 giờ 20 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975 phi đội năm chiếc cất cánh rời sân bay Phù Cát (Phan Rang) chuyển đến sân bay Thành Sơn. Ở đây tốp này được quán triệt: phải đánh thật mạnh, đánh liên tục vào các mục tiêu quan trọng nhưng phải tạo điều kiện cho binh lính Mỹ rút lui một cách an toàn nhất. Cuối cùng quyết định đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, còn các sân bay khác để Mỹ - ngụy rút chạy. Khi đánh vào sân bay đó cũng chỉ đánh vào những kho dự trữ vũ khí, kho hậu cần của địch để tạo ra những đám cháy, tiếng nổ, gây hoảng loạn cho Mỹ - ngụy. Còn các đường băng không được đánh để các loại máy bay chở người sơ tán. Hôm đó trời quang, biên đội năm chiếc A-37. Thằng Hán bay số 2 thỉnh thoảng lại nghiêng cánh xem tình hình ở mặt đất, những đoàn người chạy bộ, dắt díu nhau, xe lớn, xe con nối đuôi nhau vào các sân bay. Họ xô đẩy nhau tranh lên máy bay cỡ lớn, cỡ bé để được thoát thân. Có những người lính cố gắng bám vào càng máy bay. Tại sân bay Tân Sơn Nhất máy bay liên tục cất cánh để đưa người Mỹ về nước. Trong chốc lát anh thoáng nghĩ mới một ngày hôm qua thôi, họ còn kêu gào Bắc tiến, biến Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Mỹ đã dùng mọi thủ đoạn mánh khóe, mưu mẹo, các binh lực, phương tiện chiến tranh để chiến thắng. Nhưng hàng chục năm nay không giải quyết được việc gì mà đã tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của và người. Để rồi hôm nay phải cuốn gói tháo chạy không kèn, không trống. Em nghĩ, Mỹ là một nước giàu mạnh có một tiềm lực kinh tế nhất nhì thế giới. Nhưng kết cục lại như ngày hôm nay bởi Mỹ không thấu hiểu về lịch sử người Việt Nam, tính cách con người Việt Nam, họ đã làm đúng lời Bác Hồ đã dạy: "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ, không chịu mất nước". Sức mạnh tinh thần lớn hơn tất cả.. Tốp của thằng Hán bay ở độ cao 400 mét, từ Phan Rí, qua Phan Thiết đến cửa sông Sài Gòn rồi quay lại bên trái là sân bay Biên Hòa, bên phải là sân bay Tân Sơn Nhất, biên đội năm chiếc tiến vào rồi kéo lên lấy độ cao một ngàn mét bổ nhào lần lượt trút bom xuống kho vũ tài, kho xăng và các máy bay đang nằm trong ụ. Các căn cứ trong sân bay bốc cháy, ngọn lửa cao ngất ngưởng. Biên đội năm chiếc A37 của thằng Hán về hạ cánh tại sân bay Thành Sơn an toàn. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:54:31 pm XVII Còn một chuyện này, bác muốn kể với Hà. Như trên đã kể, người anh họ bác là Trần Oanh, sau mười sáu năm ở chiến trường hôm nay ông ấy được hạ quân hàm về với ruộng đồng nơi sinh ra ông. Sau chiến tranh Trần Oanh được trở về sống với gia đình, vui sướng lắm, không phải chịu cảnh bom rơi đạn nổ. Cái ước mong của ông là một ngày nào đó được đi tìm đồng đội. Ông ấy vui sướng khi được gia nhập vào tổ chức tìm kiếm người mất tích (Missing in Action - mia), lại được đi trên đường mòn, một chứng tích cho sức mạnh ý chí của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến vì lý tưởng, bất chấp cái giá phải trả. Đường mòn giờ đây nằm im lìm dưới tán cây rừng, sau một quá khứ với những hoạt động nhộn nhịp. Hàng trăm nghìn chiến sĩ nam và nữ chiến đấu để bảo vệ an toàn cho tuyến đường đã ra đi - Giờ đây canh giữ cho đường mòn là những người đã ngã xuống, có người không bao giờ tìm thấy hài cốt. Cuộc chiến tranh kết thúc năm 1975 về phía Mỹ có rất ít trường hợp mất tích. Còn đối với người Việt Nam, cứ 87 người thì có một trường hợp chịu cảnh mất tích. Chiến tranh qua rồi, ai mất, ai còn, ai giàu sang, ai nghèo đói: điều đó ông đã hiểu. Nhưng ông thường xuyên mang một ý nghĩ "việc quy tập hài cốt của những người đã hy sinh về cho người thân, gia đình là rất quan trọng đối với người Việt Nam lẫn người Mỹ". Những gia đình đã gửi con ra trận, chiến tranh qua rồi họ muốn mang hài cốt người con đã hy sinh về với quê cha đất tổ, họ muốn đưa hài cốt về chôn tại nơi mà người thân của họ đang sống, linh hồn của người đã chết sẽ được yên nghỉ bên những người thân. Đó là tâm lý của người Việt Nam. Bằng cách này, họ tưởng như linh hồn của người đã hy sinh sẽ còn sống mãi mãi. Hà ạ! Bác càng nghĩ càng thương những người chiến sĩ Trường Sơn. Họ chịu đựng nhiều gian khổ lắm. Khi đồng đội họ hy sinh, một đám tang chôn vội, chôn vàng, những người chiến sĩ còn sống sót không kịp ngả mũ vĩnh biệt có khi cũng phải ra đi. Cuộc sống của bao chiến sĩ sống ở đấy năm năm, bảy năm... Họ tập đi không dấu chân, không để lại một vết tích gì khi đi qua, những bữa cơm đạm bạc không dám đốt lửa... Những người chiến sĩ ở đường mòn tự nguyện nhận những điều xấu nhất đến với họ kể cả cái chết, để hôm nay mới có ngày chiến thắng. Bao nhiêu năm ông Oanh rời khỏi chiến trường về chốn quê nhà, lao động, chắt bóp để có một ít tiền đi tìm đồng đội. Chuyến xe của ông đi trên đường mòn Hồ Chí Minh, không vận chuyển khí tài chiến tranh, mà bây giờ trên xe là những hài cốt của đồng đội vừa tìm thấy như Hà biết đây, việc tìm kiếm hài cốt của một chiến sĩ là rất khó khăn, bởi trong chiến tranh ác liệt, việc chôn cất không có điều kiện được chu đáo, thiếu hồ sơ tài liệu, mặt khác, sau một thời gian dài, cây cối mọc um tùm phủ kín gần toàn bộ đường mòn, khiến cho công việc nhận diện chiến trường xưa càng khó khăn. Bởi vậy ông ấy cùng đồng đội cố gắng tìm kiếm được bộ hài cốt nào hay bộ ấy. Ông phải cố gắng hết sức mình để đưa hài cốt của chiến sĩ về nơi sinh ra họ. Trên đường hành quân tìm kiếm hài cốt, ông ấy có một linh cảm luôn hiện lên trong tâm thức những người lính đi tìm đồng đội mà người ta gọi là ngoại cảm. Những người ngã xuống ở chiến trường không đơn độc. Hà ạ! Có một hôm đơn vị ông ây hành quân trên đường mòn bỗng dưng xe khựng lại, người lái xe chữa mãi không được. Ông ấy và đơn vị phải lưu lại ở đấy vào rừng kiếm thức ăn, đột nhiên bắt gặp một nơi chôn cất bảy chiến sĩ, đội tìm kiếm làm thủ tục và đưa bảy đồng chí lên xe. Người lái xe mở máy xe lại nổ rền thật khó hiểu. Ông ấy không tài nào lý giải được. Sau hiện tượng này, ông ấy có cảm giác linh hồn những chiến sĩ đã ngã xuống khi bảo vệ con đường này không hề chết. Trần Oanh tham gia cùng đoàn Mia đã góp phần tìm được hơn 1000 hài cốt. Nhưng lại không được đưa về quê cha đất tổ như anh nghĩ vì một phần địa chỉ không rõ ràng, một phần nữa họ yêu cầu đưa về nghĩa trang ở tỉnh Quảng Trị. Đây là nghĩa trang quốc gia lớn nhất nước và là nơi tưởng niệm xứng đáng đối với những người chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. Và rồi đây những người chiến sĩ ấy sẽ được người thân đưa về quê cha đất tổ. Hà ạ! Thế là ông Oanh đã trải qua một chặng đường dài mười sáu năm ở chiến trường và đã tham gia tìm kiếm các hài cốt chiến sĩ. Bây giờ ông ấy không thể đi được nữa. Bác nhìn ông Oanh với một đôi mắt thắc mắc: - "Sao anh lại không đi nữa? Anh đã có ngoại cảm tìm kiếm các liệt sĩ cơ mà". "Hiện nay sức khỏe của anh quá yếu, vừa rồi anh ra Hà Nội vào kiểm tra, sau khi siêu âm và làm một số xét nghiệm, Hội đồng y khoa kết luận anh đã bị ung thư gan". Bác đã trào nước mắt khi nghe tin ấy và động viên ông Oanh: "Anh cứ cố gắng mà điều trị chúng em ở bên anh chăm sóc và bảo nhau góp tiền giúp anh. Thôi anh ạ! Đừng nghĩ giàu nghèo sang hèn. Anh cố gắng mà sống". Mấy ngày sau bác vào bệnh viện K, thấy mấy đứa em đến thăm ông Oanh và động viên ông ấy khi ốm đau. Nhìn thấy bọn nó, ông Oanh vẫn cười và nói: - Các em cứ yên tâm đi, làm sao mà anh chết được. Ngày nay khoa học phát triển việc ung thư người ta vẫn chữa khỏi. Rồi ông Oanh kể cho bác nghe tình hình sức khỏe của ông. Dạo này ông ấy ít ngủ, về đêm ông nghe đài hay xem vô tuyến. Nhiều khi nghe những bài diễn văn của các nhà lãnh đạo anh thấy cũng vui và ước mơ khỏi bệnh, chờ tới ngày đất nước có một xã hội công bằng văn minh "Dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Công lao, máu của người chiến sĩ không uổng. Nhưng rồi có lúc lại nghe được những tín xấu như: Cô gái trẻ xông vào đánh công an và vụ một thanh niên dám dùng dao giết cả nhà để cướp vàng... Đêm khuya ông không ngủ, nghĩ một bộ phận thanh niên ngày nay hư hỏng thật. Nhưng rồi ông lại nghĩ cái gì làm cho thế hệ trẻ ngày hôm nay như vậy: "Tất cả nhiệm vụ của đất nước bây giờ đặt lên vai thế hệ trẻ, ngày xưa Bác nói: "Đất Việt Nam rừng vàng biển bạc nhưng nay rừng đã bị chặt phá. Còn biển thì tranh chấp". - Một hôm bác hỏi bác sĩ về bệnh tình của ông Oanh. Bác sĩ cho biết: "Chúng tôi làm nghề y nên phải cố gắng chữa bệnh tật cho người đau ốm. Những người như các anh là rất quý! Đã gần nửa đời người ở chiến trường. Nhưng thật ra bệnh u gan là rất khó chữa. Muốn kéo dài sự sống là phải có tiền. Bọn tôi sẽ động viên mọi người trong bệnh viện ủng hộ để giúp ông ấy sống thêm được ngày nào hay ngày ây. Ông ấy là tấm gương soi cho thế hệ mai sau". Thế là ông ấy vẫn tiếp tục tập luyện, uống các loại thuốc lá mà ngày xưa người dân tộc đã dạy. Điều đáng ngạc nhiên là những người mắc bệnh như ông ấy thường kêu la than phiền, nhưng đằng này ông Oanh vẫn cứ bình thản coi như không có gì xảy ra. Cuộc sống của ông ấy vẫn tiếp tục trong bệnh viện. Nhưng người yếu dần, nhất là những cơn đau thật là kinh khủng. Bác sĩ nói với người nhà ông là ông ung thư gan ở giai đoạn cuối rồi, không còn hy vọng sống. Cần báo cho gia đình người thân càng sớm càng tốt. Nhưng tiếc thay bố mẹ ông đã hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Vợ con không có. Bác sĩ hỏi ông ấy cần báo cho ai nếu gặp khó khăn, ông Oanh hơi cau mày: - Chẳng cần bác sĩ ạ, đừng làm phiền người khác, đường sá xa xôi tàu xe khó khăn, người ta lấy đâu ra tiền mà đi. Trước khi ông ấy qua đời muốn nhắc các em một điều là trong cuộc chiến tranh, anh và các em đã góp một phần máu thịt mới có hòa bình hôm nay. Các em cần phải cố gắng rèn luyện, rồi mai đây cuộc đời sẽ khác. Nói xong, câu đấy cơn đau lại hành hạ, cuối cùng ông Oanh đưa tay lên cao rồi trút hơi tàn. Thế là ông Oanh qua đời. Chiến tranh lùi về quá khứ, những người chiến sĩ tham gia trong cuộc chiến tranh chống Mỹ rồi sẽ lần lượt ra đi, để lại tất cả cho những người còn sống. Họ sẽ phải gánh vác và xây dựng đất nước như những người đã ngã xuống mong muốn. Tiêu đề: Trận đánh cuối cùng Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:56:28 pm Vĩ thanh Hà ạ! Thế là bác đã kể một phần cuộc đời bác trong chiến tranh và sau chiến tranh cho Hà nghe. Lâu nay bác vẫn nghĩ vì sao một đất nước mạnh như Mỹ có tiềm lực kinh tế, quốc phòng, cũng như nghệ thuật quân sự đứng hạng nhất nhì thế giới mà lại chiến bại ở Việt Nam? Năm 1960, khi bác đang học đại học, trong sinh viên lúc bấy giờ có phong trào tình nguyện vào quân đội tham gia chiến đấu chống Mỹ xâm lược. Là một người con của Tổ quốc, vinh dự được ra trận, bác rất tự hào được cầm súng. Bác được gặp bạn bè các thế hệ ở chiến trường, nhưng một điều bác cũng buồn bởi vì các bạn đã lần lượt ngã xuống trên chiến trường. Số còn sống sót sau chiến tranh tuổi già, rồi bệnh tật cũng lần lượt ra đi. Điều đó khiến bác đã cố gắng hết sức nhớ lại để kể cho Hà nghe. Trong chiến tranh, kẻ mất người còn nỗi đau chiến tranh đã giáng xuống cuộc đời những người ở cả hai chiến tuyến. Người Mỹ cũng chịu bi kịch chết chóc, và còn mang trên mình những tàn phế của cuộc chiến tranh. Một số binh lính Mỹ đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Những người thân của họ cũng đau khổ. Điều đó có lẽ ai cũng biết nhưng sao lại có chiến tranh? Người gây ra chiến tranh bao giờ cũng thấy mục đích họ muốn làm. Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II loài người nhận thấy chiến tranh là một sự tàn phá và hủy diệt. Khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời đã hình thành phe xã hội chủ nghĩa. Một loạt các nước châu Á, châu Âu hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa. Người ta thường nói: "Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa". Hay nói đứng hơn, Việt Nam bị nước Mỹ chọn để dựng chiến tuyến chống "cộng sản". Người Mỹ đã không hiểu về lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn được Mỹ giúp đỡ mọi mặt nhưng không ngăn cản được "cộng sản". Mỹ đã trực tiếp tham chiến. Người Mỹ đã khởi nguồn cho sự hiện diện mang tính định mệnh của nước Mỹ tại Đông Nam Á. "Biến Việt Nam về thời kỳ đồ đá". Người Việt Nam sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh như Bác Hồ nói: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Người Việt Nam chiến thắng giặc Mỹ xâm lược bằng ý chí - Sức mạnh tinh thần. Hà ạ! Đáng lẽ bác phải tự tay viết ra, nhưng như Hà biết đấy sau chiến tranh bác về với ruộng đồng lại mang bệnh "Bakixơn" tay chân run rẩy không viết được. Nhiều năm tháng bác trăn trở về những tồn tại. Người ta nói tìm cách thoát nước cho Hà Nội, nhưng nước vẫn chưa thoát được. Nói chống tham nhũng thì tham nhũng vẫn phát triển. Rồi nói giải phóng ùn tắc giao thông thì giao thông vẫn chưa được cải thiện là bao. Lực bất tòng tâm, bác không lại có vị trí trong xã hội vả lại sức quá yếu. Bác nhờ Hà viết cuốn sách này để bạn đọc chiêm nghiệm quá khứ - hiện tại. Hà ạ! Một trong những nhược điểm của con người là coi nỗi đau của bản thân luôn lớn hơn người khác. Khi chiến tranh qua rồi một số người được Đảng và Nhà nước giao cho một số vị trí có trọng trách với đất nước, nhưng họ quên mất dưới chân họ là máu và nước mắt của bao người. Họ đặt vợ con gia đình họ hàng và bản thân mình lên trên hết, quan tâm đến mình hơn người khác. Bác nói với Hà điều này, có sự tỉnh ngộ của người Mỹ về chiến tranh ở Việt Nam. Nhất là phải chứng kiến hậu quả chất độc Mỹ rải xuống Việt Nam, nay thế hệ thứ ba của họ vẫn phải chịu đựng. Chưa kể bom mìn và các chất độc hóa học còn nằm sâu dưới lòng đất Người Việt Nam đau khổ đã đành nhưng người Mỹ cũng đau khổ. Bác ở chiến trường thấy cái chết, sự hấp hối và sự chịu đựng của những kẻ xâm lược và những người bị xâm lược đều như nhau. Chúng ta là người Việt Nam, rất thấu hiểu người Mỹ, người Mỹ đã phạm nhiều sai lầm trong chính sách về Việt Nam. Người Mỹ đã ủng hộ chế độ thực dân Pháp, đi ngược lại quyền tự quyết của Việt Nam. Sự ủng hộ người Pháp mâu thuẫn với niềm tin của Tổng thống Roosevet rằng sau khi Nhật Bản thất bại, người Pháp không được phép tái áp đặt quyền lực đô hộ tại Việt Nam. Người Mỹ biết điều đó nhưng sao vẫn tiến hành ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau đó trực tiếp tham chiến với "Cộng sản"? Việc Mỹ gây chiến ở Việt Nam có khi cũng là ngộ nhận. Sau khi chủ nghĩa xã hội phát triển sang Cuba, châu Mỹ La Tinh và đang có xu thế lan ra khắp thế giới. Từ nhận thức đó các quan chức Mỹ luôn rao giảng trong cuộc chiến, "Việt Nam là một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm đối với Mỹ và Mỹ chuẩn bị một lực lượng hùng hậu như vậy để chiến đấu, chống lại Việt Nam". Qua tuyên truyền, người dân Mỹ nhận thức được rằng an ninh quốc gia Mỹ đang đứng trước một nguy cơ của "Cộng sản" - mà mũi nhọn là Việt Nam. Nhưng qua nhiều năm chiến tranh ở Việt Nam người Mỹ nhận thức ra rằng Hà Nội không hề tạo ra một sự đe dọa nào, gián tiếp và trực tiếp đối với nước Mỹ. Nhân dân Mỹ dần dần đã nhận thức được điều đó. Bác thấy, cuộc chiến Mỹ gây ra tại Việt Nam ngày một dữ dội thì nhân dân thế giới càng kịch liệt phản đối. Nhân dân Mỹ ngày càng nhận thức rõ Việt Nam không có một mối đe dọa nào đối với nước Mỹ. Qua cuộc chiến tranh, người Mỹ đã nhận ra rằng họ đang chiến đấu với một "thế hệ vĩ đại nhất" của Việt Nam - một thế hệ với quyết tâm thống nhất và duy trì sự tồn tại của dân tộc, sẵn sàng đứng lên đánh đuổi hết quân ngoại xâm này đến quân ngoại xâm khác. Người Mỹ cũng nhận ra rằng, dân tộc Việt Nam đã có một Đảng tài tình lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam đưa con thuyền cách mạng cập bến vinh quang, đến bờ của chiến thắng. Sự cống hiến của bác cũng như muôn người dân Việt Nam khác trong những năm tháng chiến tranh ác liệt là điều bác rất tự hào. Vì người Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Mặc dù chịu nhiều tổn thất, nhưng không có gì hối tiếc. Người Việt Nam đầy lòng vị tha không phải cùng dòng tộc mà còn vị tha cho kẻ thù. Điều này trở thành một phần văn hóa qua nhiều thế kỷ và có thể thấy rõ qua sự khiêm tốn của người Việt Nam sau mỗi chiến thắng. Họ sẵn sàng bình thường hóa, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước để hướng về tương lai. Người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, sống khiêm nhường. Người Việt Nam không nuôi dưỡng lòng thù hận đối với Mỹ. Người Việt Nam nghèo nhưng không hèn và người Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình. Quả đất này là mái nhà chung của các dân tộc trên thế giới, cần phải hòa bình hữu nghị, người Việt Nam sẵn sàng bắt tay với người Mỹ với niềm tin mong đợi về một mối quan hệ hòa bình hữu nghị mới. Hà đã nghe trọn vẹn câu chuyện bác Thắng kể trên giường bệnh, một câu chuyện kể trong hai năm và bắt tay vào viết lại từ tháng 1 năm 1976, trong khi viết Hà thường gặp bác để chỉnh sửa lại những sai sót. Khi Hà chỉnh sửa gần xong thì bác đã phải nhập viện. Hội chuẩn của y bác sĩ kết luận là bác Thắng bị ung thư xương. Bây giờ thì bác Thắng không nói được nữa vì người ta đã tháo xương hàm, không nói được và cũng chẳng ăn được. Để duy trì sự sống người ta cho bác ăn bằng "xông". Nhưng Hà vẫn đến trước là để chăm sóc bác Thắng và tranh thủ đọc cho bác nghe. Bác đặt tên tác phẩm của mình là "Trận chiến đấu cuối cùng" có lúc xúc động, bác không nói được chỉ gật gật đầu, nước mắt giàn giụa. - Sao bác lại khóc? - Hà hỏi vậy - Bác có muốn được xuất bản không? Nghe vậy bác Thắng nằm ngửa hai tay chắp lại vái lạy lên trời cao. Qua hành động của bác Thắng, Hà hiểu đó là sự mong mỏi của người sĩ quan chiến trường. - Bác muốn xuất bản cuốn sách này không? - Hà hỏi lại. Bác gật đầu. Mấy ngày sau, Đỗ Viết Thắng qua đời khi những điều bác muốn nói ra với mọi người vẫn còn ở dạng bản thảo. Nếu một ngày nào đó được xuất bản, Hà sẽ dành một cuốn đến trước mộ bác để đọc cho bác nghe và đốt để nó đi theo hồn bác. |