Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Hồi ký - Hồi ức => Tác giả chủ đề:: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:19:50 pm



Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 10 Tháng Tám, 2026, 09:19:50 pm
- Tên sách: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
- Tác giả: Nhiều tác giả
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2009
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Tổ chức thực hiện:
   - Đại tá ĐỒNG KIM HẢI (Chủ biên)

Với sự tham gia của các đồng chí:
   - Trung tướng GS-TS. NGUYỄN NGỌC THANH
   - Đại tá Nhà báo HÀN THỤY VŨ
   - Đại tá PHẠM HỒNG THỤY
   - Thượng tá ThS. TRẦN THANH HẰNG


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 08:29:17 pm
LỜI GIỚI THIỆU


Tôi và cố Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Thiện), nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, vốn có mối quan hệ thân tình từ thời trai trẻ khi cùng nhau chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 320 - Đại đoàn Đồng Bằng trong kháng chiến chống Pháp.


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp đến những năm tháng làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia và khi trở về cuộc sống đời thường, tuy mỗi người một nhiệm vụ, một công việc, không thường xuyên gặp nhau, nhưng chúng tôi vẫn dành cho nhau những tình cảm tốt đẹp của tình bạn, tình đồng chí, đồng đội.


Đồng chí Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng mỗi khi có dịp nhắc nhớ về anh, nhất là khi được đọc cuốn sách do chính những đồng chí, đồng đội, người thân đã từng sống, chiến đấu, công tác, ghi lại những kỷ niệm sâu sắc về anh như: Trung tướng Vũ Cao, Trung tướng Đặng Quân Thụy, Trung tướng Đặng Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh, Đại tá nhà báo Hàn Thụy Vũ, Đại tá Phạm Hồng Thụy, Đại tá Trần Bá Điềm... được "gặp lại" anh qua một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn báo chí nhân ngày toàn thắng 30-4 những năm trước đây, đã cho tôi cảm nhận các tác giả đều dành một tình cảm mến phục, tiếc thương anh, một cán bộ lãnh đạo của Đảng, một vị tướng tài năng của quân đội ta đã có những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân, của nước.


Tôi rất tiếc, với trọng trách của đồng chí Lê Ngọc Hiền, nguyên là Phó Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Tư lệnh Mặt trận 719 - Đại diện Cơ quan Bộ Quốc phòng nước ta thời kỳ làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp, trước khi về cõi vĩnh hằng đồng chí chưa có một cuốn hồi ký ghi lại những hoạt động chiến đấu, những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy tác chiến đa dạng, phong phú của đồng chí gắn với lịch sử xây dựng, trưởng thành của quân đội ta.


Nhưng cũng chính vì vậy, cuốn sách do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân dày công tổ chức với sự cộng tác, thể hiện tình cảm yêu mến, quý trọng qua các bài viết của các tướng lĩnh, đồng chí, đồng đội đối với người đã mất cùng với di cảo - những bài viết của anh được sưu tầm, giới thiệu càng trở nên có ý nghĩa, mang đậm tính nhân văn sâu sắc, góp phần khắc họa, phản ảnh nhân cách, chân dung Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, có tác dụng giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội, mang lại cho bạn đọc nhiều xúc cảm mới và bổ ích.


Với ý nghĩa đó, tôi xin chia sẻ và trân trọng giới thiệu cuốn sách đến đông đảo bạn đọc.

VŨ OANH
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 08:31:56 pm
TÓM TẮT TIỂU SỬ
THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN
(1928-2006)

(Tóm lược Lời điếu do Đại tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đọc tại lễ truy điệu Thượng tướng Lê Ngọc Hiền ngày 26-4-2006. Tư liệu do gia đình cung cấp)



Đồng chí Thượng tướng Lê Ngọc Hiền tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Thiện, sinh năm 1928 tại xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, trú tại số 11 ngõ 30 Lý Nam Đế, Hà Nội - Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.


Sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù đã được các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng vì tuổi cao, bệnh nặng đồng chí đã từ trần hồi 15 giờ 8 phút ngày 18 tháng 4 năm 2006 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Sinh ra trong một gia đình tiểu thương, trên quê hương giàu truyền thống cách mạng. Lớn lên lúc nước nhà đang chìm đắm dưới ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của lý trưởng cường hào, đồng chí đã nuôi chí căm thù bọn quan lại và sự bất công của chế độ thực dân, phong kiến, sớm giác ngộ cách mạng. Mới 16 tuổi, vừa học xong trung học đồng chí làm công tác in và phát hành báo Độc Lập. Tháng 3 năm 1945, tham gia học Trường Quân chính kháng Nhật, rồi đội viên đội công tác xây dựng cơ sở đường giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hoà Bình. Tháng 8 năm 1945, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Sau đó, đồng chí nhập ngũ vào Quân đội và công tác liên tục cho đến khi nghỉ hưu.


Quá trình công tác, từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 2 năm 1955, đồng chí đã được giao đảm nhiệm các cương vị từ cán bộ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn;

- Tháng 3 năm 1955, được bổ nhiệm Cục phó Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

- Tháng 8 năm 1957, đồng chí được cử đi học quân sự ở Trung Quốc.

- Tháng 10 năm 1960, được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

- Tháng 8 năm 1962, đồng chí được cử đi học tại Học viện Vô-rô-si-lôp Liên Xô. Tháng 11 năm 1964 về nước giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến; năm 1967 được điều vào chiến trường Trị Thiên (B5) phụ trách Phó Tư lệnh mặt trận trực tiếp ở Chỉ huy sở tiền phương.

- Tháng 8 năm 1970, đồng chí được điều vào làm phái viên của Bộ Quốc phòng tại Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (mặt trận B2), giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền.

- Tháng 8 năm 1972, Tham mưu phó Miền, kiêm Tham mưu trưởng Đoàn 301 (tiền thân Quân đoàn 4 hiện nay).

- Tháng 12 năm 1974, đồng chí được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí giữ chức Tham mưu trưởng Chiến dịch.

- Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đồng chí được bầu vào Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, tháng 3 năm 1982 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 12 năm 1986 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đồng chí được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí là đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII (1981-1985).

- Tháng 12 năm 1987, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (Bộ Tư lệnh 719). Tháng 5 năm 1988 là Phó đại diện Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Campuchia; sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, đồng chí tiếp tục giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 8 năm 1995, đồng chí đã nghỉ hưu.

Năm 1958 đồng chí được phong quân hàm cấp Thượng tá; năm 1965 thăng quân hàm Đại tá; năm 1974 thăng quân hàm Thiếu tướng; năm 1980 thăng quân hàm Trung tướng; năm 1986 thăng quân hàm Thượng tướng.

Hơn nửa thế kỷ phục vụ cách mạng, 61 năm tuổi Đảng, 50 năm công tác trong Quân đội, là cán bộ lão thành cách mạng, trưởng thành từ chiến sĩ đến khi là một Tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí Lê Ngọc Hiền luôn thể hiện lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ hy sinh và thiếu thốn, được giao giữ nhiều cương vị từ cán bộ đại đội, đến cán bộ sư đoàn, đồng chí luôn là người chỉ huy mưu trí, sáng tạo và quyết đoán, chỉ huy đánh thắng nhiều trận, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên các cương vị Cục trưởng Cục Quân huấn; Cục trưởng Cục Tác chiến, rồi Phó Tổng Tham mưu trưởng, đồng chí đã nghiên cứu, tham mưu, chỉ đạo huấn luyện quân đội, kịp thời bổ sung cho các chiến trường, chiến đấu thắng lợi.


Khi được giao nhiệm vụ trực tiếp vào tham gia chỉ huy chiến đấu ở các chiến trường, trên các cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, tài thao lược của người chỉ huy, đồng chí đã cùng Bộ Chỉ huy mặt trận, Bộ Tham mưu Miền, chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị chiến đấu, giành nhiều thắng lợi trên các mặt trận. Hình ảnh anh Bảy Hiền còn để lại tình cảm sâu sắc trong lòng cán bộ, chiến sĩ Mặt trận B2. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ huy mưu trí, sáng tạo, cùng quân và dân nổi dậy tiến công trên khắp các chiến trường, hiệp đồng chặt chẽ tiến công giải phóng thành phố Sài Gòn, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối.


Với tinh thần quốc tế cao cả, đồng chí có nhiều đóng góp giúp đỡ cách mạng của hai nước bạn Lào và Campuchia; đặc biệt, trên cương vị là Tư lệnh mặt trận, với bản lĩnh và kinh nghiệm thực tiễn, đồng chí đã cùng Bộ Chỉ huy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp nước bạn Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng cơ sở chính trị, góp phần to lớn vào việc giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng, mang lại hòa bình cho đất nước Ăng Co. 


Với cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí đã có nhiều công lao trong xây dựng cơ quan Tham mưu chiến lược, chỉ đạo nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Được giao nhiều nhiệm vụ, trọng trách, dù ở cương vị công tác nào, là người chiến sĩ trực tiếp cầm súng đối mặt với quân thù ở chiến trường hay trên cương vị một tướng lĩnh, một người chỉ huy, đồng chí luôn phấn đấu hy sinh hết mình cho sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng. Khi được Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu, với tình cảm và trách nhiệm cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", đồng chí vẫn tích cực rèn luyện phấn đấu, tham gia tổng kết công tác, rút kinh nghiệm tác chiến từ cấp chiến thuật đến chiến dịch, chiến lược, góp phần truyền thụ những kinh nghiệm cho thế hệ sau; ngoài ra, đồng chí luôn tích cực tham gia Hội Cựu chiến binh, các phong trào tại địa phương, được nhân dân yêu mến, kính trọng. Hình ảnh đồng chí Lê Ngọc Hiền, một vị tướng bình dị, nhân hậu, trách nhiệm, sâu sát và quyết đoán trong công việc, luôn gần gũi thân thiết với anh em, đồng chí đồng đội, bạn bè.


Với công lao cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân và Quân đội đồng chí Lê Ngọc Hiền được Đảng, Nhà nước tặng thưởng:

- Huân chương Độc lập hạng Nhất.

- 2 Huân chương Quân công hạng Nhất.

- 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất.

- Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

- 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì.

- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huy hiệu 40 năm, 50 năm, 60 năm tuổi Đảng...

Tên tuổi của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã được đưa vào Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển BKQSVN - Nxb QĐND, H.2004, tr. 596).


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 08:34:29 pm
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG BÀI VIẾT VỀ THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN


VỊ TƯỚNG TRƯỞNG THÀNH TRONG KHÓI LỬA CHIẾN TRANH

Vũ Oanh
(Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nguyễn Phó Chính ủy Đại đoàn 320)


Cuộc trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, một dân tộc nhỏ đánh bại nhiều đế quốc to mà đã giành được thắng lợi to lớn, non sông trọn vẹn, Tổ quốc thống nhất. Trong lịch sử nhân loại, chưa từng có một dân tộc nào tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, chịu đựng nhiều hy sinh, mất mát mà cũng rất anh hùng như dân tộc Việt Nam.


Trong cuộc chiến đấu đó, ta có một đường lối chính trị đúng đắn, một đường lối chiến tranh nhân dân rất sáng tạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ tâm huyết, yêu nước, thương dân, tinh thần chiến đấu cao, rất tài năng, đạo đức tốt. Từ trong Cách mạng Tháng Tám, đội ngũ cán bộ đó ra đời, phát triển trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, được rèn luyện trong thực tiễn, được đào tạo rất cơ bản qua các trường quân sự chính quy trong nước và ngoài nước. Cuộc chiến đấu rất gian truân, có tiêu hao khá lớn lực lượng, nhưng cơ bản, ta đã bảo vệ được đội ngũ cán bộ. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến là công lao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, nhưng quyết định thắng lợi các chiến dịch, các trận đánh cụ thể là ở đội ngũ cán bộ. Chính đội ngũ cán bộ đã góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cả dân tộc.


Anh Lê Ngọc Hiền là một trong những cán bộ của Đảng, của Nhà nước, của Quân đội và nhân dân ta. Tôi biết anh Hiền từ khi tôi làm Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương. Chiến tranh trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ lan rộng, tôi được cử về công tác ở Liên khu ủy Liên khu 3 thì càng biết rõ anh hơn. Bây giờ, thực dân Pháp mở rộng chiếm đóng ra nhiều vùng ở đồng bằng, thực hiện càn quét bắt lính, cướp của, bình định vùng tạm chiếm. Âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của thực dân Pháp đã gây ra nhiều khó khăn cho ta khi lực lượng vũ trang cách mạng mới xây dựng, kinh nghiệm tác chiến chưa nhiều. Ở một số nơi, thành quả Cách mạng Tháng Tám có nguy cơ bị quân địch xóa. Nhưng do cuộc chiến đấu của quân và dân ta là chính nghĩa nên thời kỳ đầu, ta đã cầm cự được cuộc tiến công của quân Pháp. Sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, nhiều căn cứ du kích được xây dựng, bộ đội tâp trung và dân quân, du kích ngày càng phát triển. Tổng Quân ủy, do anh Võ Nguyên Giáp đứng đầu, đề ra phương châm hoạt động của bộ đội là "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Ở đồng bằng Bắc Bộ, anh Lê Ngọc Hiền là một trong những cán bộ đã thực hiện thành công phương châm này. Trong trận đánh ở Hoàng Dương - Tử Dương, hai thôn bên bờ sông Đáy, tiểu đoàn do anh Lê Ngọc Hiền chỉ huy đã bao vây, tiêu diệt gọn một đại đội Âu-Phi giữa ban ngày. Chiến thắng này làm nức lòng đồng bào đồng bằng, cổ vũ phong trào chiến tranh du kích phát triển, gây lo lắng cho quân Pháp. Sau chiến thắng Hoàng Dương - Tử Dương của ta, mỗi lần ra khỏi căn cứ đi hành quân cướp phá, địch không còn ngông ngênh như trước.


Mùa đông năm 1950, Trung ương Đảng giao cho Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 3 nhiệm vụ thành lập đại đoàn chủ lực hoạt động ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ với phiên hiệu 320 (Đại đoàn Đồng Bằng). Theo sự phân công của Liên khu ủy, anh Văn Tiến Dũng rút ra khỏi chức vụ Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu để nhận nhiệm vụ Chính ủy kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320. Tôi đang phụ trách Tuyên huấn Liên khu ủy Liên khu 3 được giao nhiệm vụ Phó Chính ủy Đại đoàn.


Đại đoàn Đồng Bằng mới thành lập nhưng các đơn vị chủ lực trong biên chế của Đại đoàn: Trung đoàn 48, Trung đoàn 64, Trung đoàn 52 đã được thành lập ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, đã tham gia chiến đấu nhiều trận ở mặt trận Hà Nội, mặt trận Trung Du, mặt trận đồng bằng Bắc Bộ và mặt trận miền tây Tổ quốc. Trung đoàn nào cũng đã lập được nhiều chiến công. Liên khu ủy điều động về một lúc hàng trăm cán bộ tỉnh ủy, huyện ủy đang hoạt động ở các địa phương để tăng cường cho đại đoàn. Đội ngũ cán bộ về xây dựng đại đoàn cũng đã từng trải trong chiến tranh, nhiều cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm tác chiến, kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu như các anh: Lê Quân, Phạm Ngọc Hồ, Lê Ngọc Hiền, Lê Tư, Sùng Lãm, Nguyễn Hòa, Kim Tuấn, Bùi Sinh... Về lãnh đạo đại đoàn, tôi cũng như anh Văn Tiến Dũng rất yên tâm về sức chiến đấu của các đơn vị và đội ngũ cán bộ của mình. Nhưng điều lo lắng nhất là làm sao Đại đoàn giành được thắng lợi trong ngày đầu ra quân, trụ được lâu dài, giành được thắng lợi cuối cùng.


Đại đoàn được giao nhiệm vụ trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ diện tích 21 ngàn ki-lô-mét vuông, với 8 triệu dân. Thực dân Pháp coi chiến trường Bắc Bộ giữ vai trò quyết định đến cục diện chiến tranh toàn Đông Dương nên tập trung lực lượng ở đây rất mạnh. Chúng xây dựng các tuyến phòng ngự khá kiên cố ở sông Hồng, sông Đáy, đường 5, đóng quân trong hàng ngàn đồn bốt. Với hệ thống chiếm đóng dày đặc, có công sự vững chắc, có pháo binh yểm trợ, kết hợp với lực lượng cơ động ứng chiến và không quân chi viện, địch có khả năng lớn để chống đỡ các cuộc tấn công quy mô lớn của chủ lực ta. Do có đường giao thông thuận lợi, trên chiến trường Bắc Bộ, địch có thể điều động lực lượng một cách nhanh chóng làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch trong chiến đấu có thể thay đổi đột ngột theo hướng không có lợi cho ta.


Sơn Tây là chiến dịch đầu tiên của Đại đoàn. Trên mặt trận bắc Sơn Tây, chỉ trong một đêm, Đại đoàn đã bất ngờ tiêu diệt chín đồn của địch: Phố Nả, Phú Hữu, Cao Lĩnh, Quảng Húc, Cao Độ, Vật Phụ, Vật Lại, Tây Đằng, Kim Bí. Ngày hôm sau, giữa ban ngày, một tiểu đoàn của Đại đoàn đánh tan cả một đại đội Âu - Phi tới tiếp viện, có pháo đi cùng yểm trợ. Sau bảy ngày đêm chiến đấu liên tục, Đại đoàn Đồng Bằng tiêu diệt hơn 700 tên địch, phá vỡ một mảng tề dõng ở bắc Sơn Tây mà bọn thực dân và chính quyền bù nhìn đã tốn công xây đựng nên trong 27 tháng chiếm đóng.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 08:50:04 pm
Trận ra quân đầu tiên của Đại đoàn đã giành chiến thắng vang dội. Trong ngày Đại đoàn làm lễ ra mắt, anh Văn Tiến Dũng nói: "Chiến dịch này là một động tác lột xác của chúng ta từ du kích lên chính quy, từ phân tán lên tập trung, từ đánh tiêu hao đến đánh tiêu diệt. Đại đoàn ta ra đời bằng động tác đó". Tôi nhớ lúc đó, anh Lê Ngọc Hiền cùng các cán bộ cấp trung đoàn, tiểu đoàn của Đại đoàn, những người quả cảm chỉ huy đánh giặc trong chiến dịch Sơn Tây, rất tâm đắc với những lời này.


Cuối năm 1951, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 giành thắng lợi lớn ở Phát Diệm, một khu phòng ngự kiên cố của Pháp, lực lượng lính Âu-Phi đóng khá đông, có phố xá, dân cư đông đúc, nhưng lại là nơi địch chủ quan, canh phòng rất sơ hở. Cùng lúc đó, Trung đoàn 64 của anh Lê Ngọc Hiền được lệnh đánh vào Hà Nam, địa bàn địch thường xuyên huy động hai, ba ngàn quân đi càn quét để thực hiện âm mưu "bình định", nơi phong trào chiến tranh du kích đang gặp khó khăn.


Từ Bồng Lạng, huyện Kim Bảng, Hà Nam, Trung đoàn 64 vượt sông Đáy. Tiểu đoàn Hưng Công được giao đi đánh Ngô Khê, một cứ điểm trọng yếu của địch nằm án ngữ đường 62, sát đê sông Đào. Tiểu đoàn Đồng Mít được giao đánh viện từ Phủ Lý xuống và từ An Bài lên. Tiểu đoàn 738 được giao bao vây bức hàng hai đồn An Bài và Hòa Mạc. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam lo việc huy động nhân dân đưa thuyền vận chuyển bộ đội sang sông. Quân dân gặp nhau, thuyền đang đi thì gặp mưa to, gió lớn. Việc sang sông và cuộc hành quân bị chậm lại. Đêm đó, trung đoàn định hành quân 20 ki-lô-mét thì chỉ đi được 5, 6 ki-lô-mét. Đến sáng, cả trung đoàn dừng lại ở một nơi trống trải. Trời vừa rạng, một bộ phận của trung đoàn gặp biệt kích Pháp. Anh Hiền cho toàn bộ trung đoàn ẩn náu, chỉ đưa đại đội 57 xuất trận diệt địch. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 57 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 23 tên biệt kích, buộc chúng phải tháo chạy. Đêm ấy, toàn bộ trung đoàn vào tới khu vực Đôn Thư, chuẩn bị đánh đồn Ngô Khê.


Quá nửa đêm ngày 11 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn Hưng Công nổ súng. Chưa đầy hai giờ đồng hồ, đồn Ngô Khê bị diệt. Thừa thắng, anh Lê Ngọc Hiền quyết định điều đại đội 22 sang phối hợp với bộ đội địa phương, diệt luôn hai căn cứ tề gần đó. Trời sáng, biết tin Ngô Khê đã bị diệt, địch tung 1 đại đội com-măng-đô đi ứng cứu, lại bị Tiểu đoàn Đồng Mít chặn đánh. Hàng trăm tên địch bị tiêu diệt, bọn còn lại phải tháo chạy.


Chiến thắng Ngô Khê gây tiếng vang lớn trong toàn tỉnh Hà Nam. Cả hệ thống ngụy quân, ngụy quyền rung chuyển. Tên tỉnh trưởng bỏ chạy về Hà Nội. Địch không dám đóng quân rải rác ở nhiều bốt, không dám đưa quân đi tiếp viện, phải dùng máy bay vận tải tiếp tế cho hàng loạt đồn bốt đang bị các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích bao vây.


Tình hình hoạt động của Trung đoàn 64 sau chiến thắng Ngô Khê gặp khó khăn. Địch tập trung máy bay, đại bác bắn phá dữ dội đội hình đóng quân. Đánh đồn lớn thì thiếu phương tiện. Diệt viện thì địch không chịu ra khỏi đồn. Anh Lê Ngọc Hiền cùng Đảng ủy trung đoàn tìm ra cách đánh mới: đánh địch trên nhiều hướng, đánh từ nhỏ đến lớn, phá chỗ dựa của quân ngụy và tề vũ trang.


Ngày 17 tháng 12, các tiểu đoàn tỏa đi trong toàn tỉnh Hà Nam và sang cả hai huyện bắc Nam Định. Tới đâu các đơn vị của Trung đoàn 64 cũng kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân du kích, tiến hành hoạt động đồng đều và rộng khắp, tạo thêm điều kiện cho địa phương xây dựng phong trào chiến tranh du kích. Từ đấy, toàn tỉnh Hà Nam đâu đâu cũng vang tiếng súng phá tề, trừ gian. Sau chưa đầy một tháng phân tán hoạt động, Trung đoàn 64 cùng lực lượng vũ trang địa phương Hà Nam tiêu diệt 45 bốt trong tổng số 50 bốt, lật đổ 312 ban tề trong tổng số 380 ban ở toàn tỉnh. Trung đoàn đã khuếch trương thắng lợi, tạo chỗ đứng vững chắc, mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời với vũ khí thu được đã giúp Hà Nam kiện toàn ba đại đội bộ đội, xây dựng thêm một đại đội, mỗi huyện kiện toàn hai trung đội và xây dựng thêm một trung đội, du kích xã có nơi lên đến hai trăm người.


Trong suốt năm 1951, tại thị xã Nam Định, đội biệt kích Hổ xám do tên Văng-dăng-be chỉ huy hoành hành. Đi đến đâu là chúng giết người, hãm hiếp phụ nữ, đốt nhà dân đến đó. Đờ-lát, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Việt Nam, rất tự hào về đội này, ca ngợi Văng-dăng-be là "một anh hùng trẻ tuổi có lòng dũng cảm phi thường". Anh Lê Ngọc Hiền bàn với các đồng chí trong Thị ủy Nam Định quyết định tiêu diệt đội biệt kích Hổ xám.


Một đêm đầu tháng 1 năm 1952, anh Lê Ngọc Hiền trực tiếp chỉ huy hai trung đội, gồm các cán bộ, chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, linh hoạt trong chiến đấu, đi diệt đội biệt kích Hổ xám. Anh cùng cán bộ, chiến sĩ đơn vị bí mật bao vây trại Tế bần, nơi đóng quân của chúng. Khi hai trung đội đã vào đúng vị trí, anh ra lệnh tấn công. Quân ta vào đến buồng ngủ của tên Văng-dăng-be thì hắn mới nhận ra. Hắn chỉ kịp bắn một loạt đạn thì bị diệt. Tiếp đó, đơn vị của anh Lê Ngọc Hiền diệt và bắt hàng toàn bộ hai đại đội biệt kích của Pháp, thu hơn hai trăm khẩu súng các loại.


Diệt đội biệt kích Hổ xám của địch, đơn vị của anh Lê Ngọc Hiền đã đánh vào nơi mà Xa-lăng, thay Đờ-lát làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở bắc Việt Nam, gọi là "Những khu vực nổi tiếng là vững vàng và những thành phố đến nay vẫn là yên tĩnh nhất". Chúng choáng váng và ra sức đề phòng. Nhưng chỉ một tháng sau, ở thị xã Phủ Lý, Trung đoàn 64 lại diệt thêm hai đại đội biệt kích gian ác không kém.


Cuối năm 1951, đầu năm 1952, ta mở chiến dịch Hòa Bình. Các Đại đoàn 308, 312, 304 hoạt động ở hướng chính, Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 được giao nhiệm vụ hoạt động mạnh ở sau lưng địch. Lúc đó, phòng tuyến sông Đáy của địch đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng quyết định vượt sông Đáy, sông Hồng, nhảy vào chỗ yếu của địch, giải phóng dân, phát động chiến tranh du kích. Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 được lệnh sang huyện Nghĩa Hưng và Nam Trực, tỉnh Nam Định. Sau nửa tháng chiến đấu, hai trung đoàn cùng lực lượng vũ trang địa phương phá vỡ hơn 80 ban tề, giải phóng hàng trăm ki-lô-mét vuông với hàng vạn dân. Vùng du kích ở ba huyện Nghĩa Hưng, Nam Trực, Hải Hậu được mở rộng.


Khi Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 hoạt động ở phía Nam Định thì Trung đoàn của anh Lê Ngọc Hiền nhận được chỉ thị đánh mạnh địch ở Phủ Lý và mở rộng địa bàn hoạt động về phía sông Hồng. Đến giữa tháng giêng năm 1952, các tiểu đoàn Đồng Mít, Hưng Công đã ra đến bờ sông Hồng. Tiêu diệt liên tiếp sáu đồn địch ở Phú Cốc, Bối Kênh, Lý Nhân, Bằng Ba, Bảo Long, Bưởi, uy hiếp địch ở phía bắc thị xã Nam Định, nghi binh kéo binh đoàn cơ động số 4 của chúng về bến Nhật Tảo, huyện Hưng Nhân, Thái Bình, tạo điều kiện thuận lợi cho hai cánh quân của đại đoàn vượt sông Hồng.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 09:01:30 pm
Tôi nhớ đến một trận đánh mà Trung đoàn 64 tiến hành thành công, không chỉ tiêu diệt được sinh lực mà còn để lấy nước cho dân phát triển sản xuất và sinh hoạt. Địch đóng đồn Đào Thành, chúng bịt luôn cống lấy nước ở đây, làm cho cánh đồng ở ba huyện của Thái Bình bị hạn. Diệt đồn Đào Thành, lấy nước về cho dân là yêu cầu khẩn thiết. Trung đoàn 64 được giao nhiệm vụ này. Anh Lê Ngọc Hiền cử tiểu đoàn 706 vượt sông Hồng sang đánh. Đánh ban đêm rồi đánh giữa ban ngày, tròn một ngày đêm, tiểu đoàn 706 diệt đồn Đào Thành. Đến cuối buổi chiều, ba cánh cửa cống được mở, nước từ sông Luộc đổ vào các cánh đồng. Nhân dân ba huyện ở Thái Bình vô cùng phấn khởi, gọi: "Đây là nước Cụ Hồ, đời đời phải giữ lấy".


Thu đông năm 1952, sau các chiến dịch quân ta mở và thu được thắng lợi ở Hòa Bình, khu 4, khu 5 và Nam Bộ, đặc biệt là chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp càng thêm sa lầy. Chúng càng tăng cường tập trung quân giữ đồng bằng Bắc Bộ, nhất là ở phía nam. Lúc này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng chủ trương: hoạt động phân tán trên nhiều hướng, đánh nhỏ, ăn chắc, đánh liên tục, có điều kiện thì tập trung đánh lớn, các đơn vị tác chiến sau lưng địch thì tiến công đi đôi với chuẩn bị chống càn. Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 hoạt động ở Thái Bình. Trung đoàn 64 tiếp tục đánh địch trên địa bàn quen thuộc ở Hà Nam và bắc Nam Định.


Tiểu đoàn Hưng Công vượt sông Đáy trở về với trung đoàn sau năm tháng ra vùng tự do chỉnh huấn. Tiểu đoàn Đồng Mít sau trận phục kích diệt một tiểu đoàn địch ở Lạc Quần, Nam Định, vượt sông Hồng, vòng qua Thái Bình, trở về địa bàn Hà Nam. Mở màn chiến dịch thu đông năm 1952, Trung đoàn 64 diệt gọn địch trong bốn trận phục kích ở An Lão, Chương Xá, Hòa Mạc, Vạn Điểm thuộc địa phận Hà Nam.


Mùa xuân năm 1953, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng quyết định mở chiến dịch với hướng chủ yếu là khu vực nam Hà Đông, bắc Hà Nam nằm trên phòng tuyến sông Đáy, nơi địch ra sức phòng ngự, có công sự kiên cố, do hầu hết quân tinh nhuệ đóng giữ. Đó là cửa ngõ của cơ quan chỉ huy đầu não của địch ở bắc Việt Nam nhưng cũng là nơi địch chủ quan. Bộ Tư lệnh đại đoàn xác định cách đánh là: kết hợp chặt chẽ và linh hoạt hoạt động của cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, giữa phân tán với tập trung, giữa tấn công ngoại tuyến với nội tuyến. Năm trận đánh bất ngờ và liên tục của Đại đoàn làm rung chuyển phòng tuyến sông Đáy của địch, trong đó Tiểu đoàn Hưng Công của Trung đoàn 64 diệt gọn đồn Đục Khê, một vị trí địch đóng quân để bảo về đồn Yến Vĩ nhằm chặn con đường giao lưu của du kích nam Hà Đông với vùng tự do.


Theo lệnh của Tư lệnh đại đoàn, để phối hợp với chiến trường chính, trung đoàn của anh Lê Ngọc Hiền nhanh chóng chia nhiều mũi tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, đánh mạnh để thu hút địch. Các đơn vị của Trung đoàn 64 tỏa ra nhiều ngả luồn sâu vào lòng địch, tìm địch mà đánh. Sau mấy tháng hoạt động, trung đoàn đã cùng các trung đoàn bạn và lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục làm cho địch rối loạn, bị động đối phó ở khắp nơi trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.


Từ cuối năm 1952, địch đã bắt đầu xây dựng hàng loạt vị trí kiểu boong-ke. Trước tình hình này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng đã nhận định: "Là một đơn vị nòng cốt trên chiến trường đồng bằng, rồi đây Đại đoàn sẽ phải đánh phổ biến với loại vị trí này. Nếu không kịp thời nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội, tạo khả năng đánh thắng những vị trí boong-ke thì con đường phát triển của đại đoàn sẽ gặp khó khăn". Bộ Tư lệnh Đại đoàn quyết định đánh đồn Yến Vĩ nhằm rèn luyện, nâng cao sức chiến đấu của bộ đội, đồng thời giải phóng hoàn toàn huyện Mỹ Đức để mở đường liên lạc của khu du kích nam Hà Đông với vùng tự do. Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền được giao nhiệm vụ chỉ huy Trung đoàn 48 đánh đồn Yến Vĩ. Anh Văn Tiến Dũng chỉ đạo trực tiếp trận đánh này.


Yến Vĩ là một vị trí được công binh địch nghiên cứu xây dựng rất kiên cố. Quân địch huênh hoang: "Yến Vĩ là linh hồn của sức mạnh bất khả xâm phạm". "Việt Minh đánh vào thì xác có chồng cao bằng dãy núi Hương Tích kia cũng chẳng làm gì nổi", chúng coi đây là "nơi an toàn nhất đồng bằng Bắc Bộ". Chuẩn bị đánh Yến Vĩ, anh Lê Ngọc Hiền và anh Nguyễn Hòa  đã đi đến sát đồn địch nghiên cứu cách đánh. Đây là trận đầu tiên đơn vị đánh vào loại công sự kiểu mới của địch. Trước khi vào trận, cán bộ các cấp được tập huấn kỹ cách đánh, các đơn vị luyện tập không mệt mỏi kỹ thuật, chiến thuật đánh boong-ke, xác định quyết, tâm đánh thắng địch.


Từ đêm 15 đến đêm 19 tháng 5 năm 1953, Trung đoàn 48 đánh vào Yến Vĩ. Trước khi vào trận, anh Văn Tiến Dũng nói với ban chỉ huy trận đánh: "Ngày nào mà lá cờ tam tài còn cắm trên bốt Yến Vĩ thì ngày đó hàng vạn dân còn sống nheo nhóc trong các hang núi sâu, hàng ngàn mẫu ruộng phì nhiêu còn bỏ hoang. Các đồng chí phải giật được lá cờ đó xuống để dâng lên Liên khu ủy Liên khu 3 trong ngày sinh của Bác Hồ". Sau khi kiểm tra đầy đủ các phân đội, anh Lê Ngọc Hiền báo cáo với anh Văn Tiến Dũng rồi ra lệnh đánh. 21 giờ đêm 15 tháng 5 năm 1953, trận đánh mở màn. Qua năm đêm, bốn ngày, với quyết tâm cao độ, đánh địch bằng nhiều mũi, nhiều chiến thuật, các đơn vị của đại đoàn hạ đồn Yến Vĩ. Địch cho một tiểu đoàn Âu-Phi đến ứng cứu cùng bị diệt nốt. Chiến thắng Yến Vĩ bồi thêm một đòn chí mạng vào tuyến phòng thủ sông Đáy, vĩnh viễn chặt đứt một mắt xích quan trọng, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của tuyến phòng thủ mà địch coi là vững chắc nhất trên chiến trường Đông Dương thời đó trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.


Hơn bốn năm ở Đại đoàn Đồng Bằng, anh Lê Ngọc Hiền đã chỉ huy đơn vị đánh hàng trăm trận lớn nhỏ. Đánh đêm, đánh ngày, đánh phân tán, đánh tập trung, đánh trực diện, đánh phục kích, luồn sâu bất ngờ tập kích diệt địch, đánh địch trong boong-ke kiên cố... đơn vị do anh chỉ huy đều giành được thắng lợi. Từ đánh nhỏ lên đánh lớn, lúc đầu có trầy trật, nhưng rồi anh cũng nghiên cứu ra cách đánh mới có hiệu quả, kết hợp với cấp ủy và lực lượng vũ trang địa phương giải quyết thành công cách đánh của một trung đoàn vào vùng sau lưng địch.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 09:02:18 pm
Trong chiến đấu, anh là người hết sức nghiêm chỉnh trong chấp hành nhiệm vụ, luôn luôn có ý thức học tập, nghiên cứu, tìm tòi, nẩy sinh nhiều sáng kiến khắc phục khó khăn, tác chiến thắng lợi trên một chiến trường phức tạp, ta và địch đóng xen kẽ, địch đông, binh khí kỹ thuât của địch mạnh hơn hẳn ta. Trình độ chỉ huy tác chiến của anh được nâng cao không ngừng qua chiến đấu trong vùng đồng bằng. Chiến trường đồng bằng đã giúp anh tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong cuộc đời binh nghiệp dài dằng dặc của mình.


Những tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng điều lên phụ trách Cục Địch vận thuộc Tổng cục Chính trị. Anh Lê Ngọc Hiền ở Đại đoàn Đồng Bằng cho đến khi kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi. Mấy năm sau, anh được cử đi học trong nước và nước ngoài rồi về công tác ở Bộ Tổng tham mưu.


Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mỗi người một cương vị công tác khác nhau, tôi ít gặp anh. Nhưng qua đồng chí, anh em, bầu bạn, tôi biết giai đoạn này, anh đã trưởng thành lên rất nhiều, vẫn phát huy tốt những phẩm chất tốt đẹp của mình, vẫn rất xông xáo trên chiến trường, ở cương vị công tác nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kinh nghiệm của những năm tháng chiến đấu ở Đại đoàn Đồng Bằng được vận dụng có hiệu quả trong các cuộc chiến đấu trên mọi chiến trường và được nâng lên những bước mới cao hơn.


Anh Lê Ngọc Hiền có lòng yêu nước sâu sắc, giác ngộ cách mạng từ sớm, có tinh thần trách nhiệm cao trước mọi công việc được giao, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và chỉ huy chiến đấu ở mọi cấp, có tầm chiến dịch và tầm chiến lược cao, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội, mẫu mực trong đời sống gia đình.


Đến khi về hưu, tôi với anh mới được gần nhau, có điều kiện là đến thăm gia đình của nhau. Gia đình anh Lê Ngọc Hiền thực sự là một gia đình quân nhân, gia đình tướng lĩnh gương mẫu điển hình: qua nhiều thử thách, chịu đựng nhiều gian khổ, vợ chồng, cha con xa nhau luôn nhưng tình yêu thương, lòng thủy chung thì vô bờ, vô bến; tinh thần vượt khó vươn lên trong công tác, học hành thì không có giới hạn.

V.O


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 09:03:57 pm
VÀI KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ ANH LÊ NGỌC HIỀN


Trung tướng Đặng Quân Thụy
(Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VII), nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội (khóa IX))


Nhớ đồng chí Lê Ngọc Hiền, nhiều người nhớ tới một cán bộ chỉ huy mưu trí, dũng cảm, quyết đoán, trưởng thành từ chiến sĩ mà lên tới cấp Thượng tướng, đã lập nhiều chiến công xuất sắc trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta: chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và giúp nước bạn Campuchia; nhớ tới một thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đã lần lượt đảm nhiệm chức vụ Cục trưởng các cục trọng yếu như Cục Quân huấn, Cục Tác chiến, thường có mặt ở những chiến trường nóng bỏng trong Nam, ngoài Bắc và đã đóng góp nhiều vào sự trưởng thành của Bộ Tổng Tham mưu.


Tôi không được cộng tác liên tục với anh, nhưng có những khoảng thời gian làm việc cùng anh đã để lại cho tôi những ấn tượng rất sâu sắc.

Nhớ anh Hiền là tôi nhớ tới một người đảng viên gương mẫu, một đảng viên ưu tú.

Sau kháng chiến chống Pháp, anh được trên điều về làm Cục phó rồi làm Cục trưởng Cục Quân huấn. Hồi đó tôi được bầu làm Bí thư Liên Chi ủy (sau nâng lên thành Ban chấp hành Đảng bộ Cục Quân huấn). Một trong những cuộc tiếp xúc đầu tiên của anh Hiền với Cục là làm việc với Liên Chi ủy. Anh tìm hiểu rất tỉ mỉ về tình hình Đảng bộ, nhất là về tình hình cán bộ của Cục, về sinh hoạt và đời sống của anh em trong cơ quan.


Sau này, mặc dù bận nhiều việc, lại thường phải đi xuống các đơn vị kiểm tra tình hình huấn luyện nhưng anh vẫn thu xếp để sinh hoạt với cấp ủy. Anh rất quan tâm quán triệt nhiệm vụ của Cục cho cán bộ, Đảng viên, anh coi trọng công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, thường xuyên nhắc nhở cán bộ là chỉ đạo và tổ chức huấn luyện bộ đội tốt ở thao trường thì khi ra chiến trường sẽ tiết kiệm được xương máu. Trong thời gian ấy, thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương về xây dựng quân đội từng bước chính quy hiện đại, quân đội ta có nghiên cứu học tập kinh nghiệm của một số nước, đặc biệt là của Liên Xô chiến thắng phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai.


Trong cán bộ ta, có người có tư tưởng ngại học, chỉ muốn huấn luyện theo kinh nghiệm cũ, anh thường phát biểu: kinh nghiệm của bạn rất phong phú, bổ ích cho huấn luyện xây dựng quân đội, nhất là kinh nghiệm về tổ chức và chỉ huy quân binh chủng hợp thành trong chiến tranh hiện đại. Cần nghiên cứu và học tập một cách thực sự. Nhưng cũng có tư tưởng trong khi tham khảo nghệ thuật quân sự của bạn thì lại coi nhẹ kinh nghiệm của ta. Anh Hiền có ý kiến: học bạn, nhưng phải biết vận dụng vào điều kiện của quân đội ta, của nước ta, kết hợp với kinh nghiệm của ta. Đó là vốn quý mà quân và dân ta đã phải hy sinh bao nhiêu xương máu mới có. Học bạn nhưng không thể máy móc, giáo điều, dập khuôn theo bạn được.


Anh sinh hoạt rất đều đặn ở chi bộ, nghiêm túc chấp hành phê bình, tự phê bình ở chi bộ. Trong các cuộc bình xét hàng năm, anh luôn luôn được bầu là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Năm 1970, anh Lê Ngọc Hiền được cử làm phái viên của Bộ vào B2 (Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam) rồi sau đó ở lại làm Cục phó Cục Tham mưu Miền (Tham mưu phó). Hồi đó tôi là Phó phòng Tác chiến (tôi vào trước mấy năm) nghe tin anh được ở lại, tôi rất mừng.


Được biết đây là lần đầu tiên anh vào B2, tuy ở Bộ Tổng Tham mưu anh đã nghiên cứu kỹ tình hình trong các báo cáo và trên bản đồ, nhưng vào thực tế chiến trường có những vấn đề rất cụ thể và phức tạp không hình dung hết được qua báo cáo. Do đó, Phòng Tác chiến và các phòng khác trong Cục Tham mưu đã báo cáo tỉ mỉ tình hình các quân khu, các phân khu, các đơn vị chủ lực Miền, tình hình nhân dân các vùng, tình hình địch, tình hình địa hình, v.v... với anh và bố trí cán bộ để đi cùng anh xuống nắm tình hình các đơn vị, các địa phương.


Tôi thấy rất rõ "tác phong tham mưu" của một đồng chí thủ trưởng cơ quan tham mưu. Anh có thể ngồi hàng giờ, có khi hàng buổi để nghe cán bộ của các phòng thuộc Cục Tham mưu hoặc cán bộ các đơn vị về báo cáo, hỏi han rất kỹ tình hình địch, tình hình ta, các thuận lợi và khó khăn, ân cần khêu gợi anh em suy nghĩ về kế hoạch tác chiến.


Ở chiến trường trong điều kiện ta và địch xen kẽ, Cục Tham mưu vừa phải chỉ đạo tác chiến liên tục hàng ngày, lại vừa phải nghiên cứu kế hoạch chủ động mở các đợt tấn công theo chủ trương của Bộ Chỉ huy Miền và Trung ương Cục. Sau một thời gian tìm hiểu tình hình, anh Hiền đề xuất nhiều ý kiến xác đáng, sáng tạo trong các kế hoạch tác chiến, được các đồng chí cấp trên đồng ý. Cán bộ Phòng Tác chiến thường nói: anh "nhập cuộc" rất nhanh. Một đặc điểm của anh Hiền là bình thường thì hòa nhã, điềm đạm nhưng khi thảo luận kế hoạch tác chiến thì anh sôi động hẳn lên, phát biểu nhiều ý kiến độc đáo và có sức thuyết phục cao.


Đầu năm 1972, Bộ Chỉ huy Miền chủ trương mở chiến dịch tiến công lớn ở miền Đông Nam Bộ, kết hợp với các chiến trường K6, K8, K9 và miền Nam Trung Bộ. Chiến dịch mở đầu bằng trận tiến công đánh chiếm Lộc Ninh, một chi khu quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía bắc Sài Gòn của địch.


Anh Lê Ngọc Hiền được Bộ Chỉ huy chiến dịch phân công kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến đấu. Trong khi trực tiếp đi xuống các đơn vị để kiểm tra, anh đặc biệt quan tâm các đơn vị xe tăng vì đây là lần đầu tiên ở miền Đông Nam Bộ, ta sử dụng số lượng khá lớn xe tăng phối hợp với bộ binh và pháo binh tiến công vào một tổ chức phòng ngự kiên cố và phức tạp của địch. Nhờ có công tác kiểm tra và hướng dẫn kỹ lưỡng, chu đáo nên các đơn vị bộ binh cũng như pháo binh và xe tăng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch, giải phóng trọn vẹn huyện Lộc Ninh, mở đầu chiến dịch thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi để chiến dịch phát triển xuống Hớn Quản và Dầu Tiếng.


Sau này, trong các đợt hoạt động tiếp theo, anh Hiền thường tham gia tiền phương của Bộ Chỉ huy Miền và hoàn thành tốt đẹp các nhiệm vụ được giao, để lại trong lòng anh em của Cục Tham mưu Miền nhiều ấn tượng và tình cảm sâu đậm về một thủ trưởng tham mưu nhạy bén, nắm bắt tình hình nhanh chóng, năng động, sáng tạo, sâu sát cơ quan và đơn vị, một người anh sống giản dị, cởi mở, gần gũi với mọi người.


Những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ XX), chiến sự nổ ra ở biên giới phía Bắc, tôi được cử lên làm Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 2.

Đây là Quân khu đảm nhiệm hướng chiến lược Tây Bắc của đất nước ta, hồi đó đang ở trong tình hình vừa xây dựng, vừa phải chiến đấu liên tục. Anh Lê Ngọc Hiền là Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu theo dõi rất sát tình hình chiến đấu của Quân khu. Trong những ngày tác chiến khẩn trương, quyết liệt, mỗi lần Quân khu báo cáo về Bộ là đã nghe anh Hiền cùng cán bộ ở Sở Chỉ huy nhận báo cáo, anh hỏi sâu tình hình, khêu gợi thêm những vấn đề cần chú ý.


Sau mỗi đợt chiến đấu, anh lại cùng các đồng chí trong cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu lên nắm tình hình Quân khu, tham gia ý kiến vào phương án củng cố các đơn vị, quyết định bổ sung kịp thời trang bị kỹ thuật và đảm bảo hậu cần cho Quân khu.


Địa bàn Quân khu 2 trải rộng trên cả 9 tỉnh Tây Bắc ngày nay, đường sá xa xôi lại rất xấu, phương tiện của Quân khu có hạn. Anh Hiền đã chủ trì bàn bạc cùng Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật tích cực chi viện cho Quân khu để chuyên chở lương thực, xăng dầu, vũ khí đạn dược cho các tuyến xa của Quân khu ở Lai Châu, Điện Biên, v.v... Có những năm mưa lũ lớn dài ngày, xe không vào được các vùng sâu như Mường Tè, Mường Nhé (Lai Châu), nhân dân và bộ đội Biên phòng ở đó bị cô lập và cạn lương thực, anh đã đồng ý với đề nghị của Quân khu cho tổ chức nhiều chuyến trực thăng chuyên chở gạo, thực phẩm, thuốc men tới những vùng này để tiếp tế cho bộ đội và phối hợp với chính quyền địa phương cứu trợ nhân dân khỏi bị thiếu đói.


Những sự hỗ trợ quý báu đó của anh Lê Ngọc Hiền rất có ý nghĩa, tạo điều kiện cho Quân khu 2 xây dựng và chiến đấu thắng lợi, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tôi sẽ nhớ mãi anh Lê Ngọc Hiền, nhớ một đồng chí chỉ huy xuất sắc, một thủ trưởng tham mưu sâu sát, sáng tạo, một đảng viên gương mẫu đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đ.Q.T


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 09:05:53 pm
ANH HIỀN - NGƯỜI BẠN, NGƯỞI ĐỒNG CHÍ THÂN THIẾT

Trung tướng Đặng Kinh kể
(Nguyên Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu.
Nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam)
Thượng tá Trần Thanh Hằng ghi


Tôi với anh Lê Ngọc Hiền có nhiều kỷ niệm với nhau kể từ kháng chiến chống Pháp rồi sau này cùng công tác với nhau ở Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ. Cũng có lúc tôi phải xa anh Hiền vì nhiệm vụ trên cần nhưng rồi cách gì chúng tôi vẫn được gặp nhau, vẫn làm việc cùng nhau cho đến khi cả hai chúng tôi rời quân ngũ trở về đời thường.


Cuối năm 1951, Trung đoàn 48, Trung đoàn 64, Trung đoàn 52 của Đại đoàn 320 mở hướng tiến công chủ yếu vào vùng tạm chiếm Nam Định và Ninh Bình. Trung đoàn 48 tập kích thị trấn Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình tiêu diệt 1.000 lính Âu-Phi rồi tiến sang Nam Định, Thái Bình. Tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 64 do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền chỉ huy tiêu diệt hoàn toàn đại đội biệt kích "Hổ xám" Văng-dăng-be ở nhà Tế bần thị xã Nam Định, sau đó tiến quân tiêu diệt đại đội biệt kích Rút-co-ny ở Lạc Tràng, thị xã Phủ Lý. Những trận đánh của Đại đoàn 320 có sự phối hợp với bộ đội tỉnh Kiến An.


Hồi đó tôi là Tỉnh đội trưởng tỉnh Kiến An, tuy chưa được gặp anh Hiền lần nào nhưng đã nghe tiếng anh từ lâu. Anh em kháo nhau anh Hiền là vị chỉ huy trung đoàn dày dạn kinh nghiệm đánh địch ở đồng bằng. Hồi đó, bộ đội chủ lực vào sâu vùng tạm chiếm, tiêu diệt hàng loạt vị trí then chốt của địch làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của chúng. Để đối phó với quân chủ lực, bọn địch tập trung quân chống đỡ vì vậy các đồn bốt của chúng ở Hải Phòng - Kiến An bỏ ngỏ. Lợi dụng thời cơ sơ hở đó, bộ đội địa phương chúng tôi tấn công tiêu diệt hàng loạt đồn bốt của địch, mở rộng khu du kích Vĩnh Bảo nối thông với Tiên Lãng. Đặc biệt là trận chúng tôi đánh sân bay Cát Bi tháng 3 năm 1954, tiêu diệt 59 máy bay các loại, chặn đường tiếp vận hàng không, không cho địch tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Một phần chiến công đó có sự góp phần của Đại đoàn 320 trong đó có Trung đoàn 48 do anh Hiền chỉ huy.


Hòa bình lập lại, mỗi người mỗi nơi nên tôi không được gặp anh. Năm 1956, tôi được cử sang Trung Quốc học tại trường quân sự Nam Kinh. Trường tôi học đào tạo cán bộ quân sự cấp trung đoàn, hệ 4 năm. Lớp học có 44 cán bộ, do tôi làm chỉ huy.

Mùa thu năm 1957, tôi được tin một đoàn cán bộ quân sự cấp cao cũng sang Nam Kinh học tại Học viện Quân sự. Đó là lớp đào tạo cán bộ cấp sư đoàn trở lên, hệ 4 năm. Đoàn này ở khu ký túc xá bên cạnh trường tôi. Đoàn gồm có các anh: Hoàng Sâm, Trần Đình Xu, Vương Thừa Vũ, Tô Ký, Bằng Giang, Thế Hùng, Bùi Sinh, Sùng Lãm và Lê Ngọc Hiền. Đoàn cán bộ quân sự Việt Nam vừa sang, tôi vội sang thăm, tiện thể gặp người mà tôi "Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình".


Anh Hiền khá đẹp trai, cao lớn. Nói chuyện với anh, tôi cảm thấy anh với tôi có sự rung, cảm đồng điệu, anh thật dễ mến. Vốn biết nhau từ ngày anh chỉ huy bộ đội chiến đấu ở đồng bằng nên chúng tôi quấn quýt nhau, trở thành cặp bạn thân. Hồi bé ở nhà, tôi được bố dạy cho chữ Nho nên sang đây học tiếng Trung Quốc rất thuận tiện. Tôi nghe giảng trực tiếp không phải học qua phiên dịch, hơn nữa tôi sang trước nên tiếng nước bạn cũng thông thạo hơn. Anh Hiền và các anh mới sang phải học qua phiên dịch. Tôi thường sang bên các anh chơi, trao đổi với các anh về phong tục, tập quán của người Trung Quốc, trao đổi bài vở, hướng dẫn cho các anh học tiếng Trung Quốc. Anh Hiền được cái chịu khó học, sáng dạ, tiếp thu bài vở khá nhanh. Sang Nam Kinh học, cán bộ Việt Nam được hưởng phụ cấp 60 tệ (tiền Trung Quốc). Ngày nghỉ, tôi thường sang phòng anh Hiền chơi. Chúng tôi góp tiền liên hoan với nhau cho đỡ nhớ nhà. Có lần chúng tôi chuốc cho anh Hoàng Sâm đến say mèm. Nói lại chuyện này làm tôi nhớ tới các anh, bạn bè, đồng đội cùng lứa ra đi gần hết rồi.


Có một kỷ niệm mà tôi nhớ nhất là chuyện đá bóng với Đội Bát Nhất 2 ở Nam Kinh. Lớp tôi nhiều lần đấu với họ nhưng toàn bị thua, cay lắm. Khi Đoàn anh Hiền sang, tôi bèn bàn với anh Hiền tổ chức đội bóng đá Việt Nam hợp nhất hai trường để đấu với họ, quyết giành thắng lợi. Tôi làm nhiệm vụ giữ gôn còn anh Hiền làm hậu vệ. Hôm ấy, Đội bóng của tôi đấu với Đội Bát Nhất 2; hiệp 1, chúng tôi thắng, sang hiệp 2, đội chúng tôi bị Đội Bát Nhất tấn công. Do tranh nhau bóng chúng tôi bị phạt quả 11 mét. Tôi căng ra để đỡ quả sút này, quả bóng sút quá mạnh văng vào trán, tôi ngã và bị ngất, nửa tiếng sau mới tỉnh. Từ đó, Nhà trường cấm không cho chúng tôi đá bóng.


Tháng 10 năm 1960, tôi về nước, được điều về làm Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Năm 1962, sau khi học ở Học viện Vô-rô-si-lốp (Liên Xô) về, anh Hiền được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Tác chiến thay anh Đỗ Đức Kiên. Tôi lại được gặp anh. Để chuẩn bị giúp Bộ Tổng tư lệnh có kế hoạch đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy tại miền Nam, anh Hiền được phân công phụ trách mảng miền Nam và Lào. Anh Thế Hùng - Cục phó và tôi phụ trách mảng miền Bắc, các công trình quốc phòng. Nhiệm vụ của chúng tôi được phân công nhưng khi họp bàn đi đến quyết định thống nhất đều do anh Hiền - Cục trưởng chủ trì.


Hồi đó, trên quy định đồng chí nào làm nhiệm vụ phụ trách các công trình quốc phòng tuyệt đối không phân công đi miền Nam, không chuyển công tác khác vì đây là nhiệm vụ bí mật. Bỗng nhiên, tháng 5 năm 1964, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Liên lạc đối ngoại, tôi được lệnh chuyển sang làm Cục trưởng. Nhiệm vụ chính của tôi là phụ trách, giới thiệu kinh nghiệm huấn luyện cho lãnh đạo các nước chưa được giải phóng. Bấy giờ, ở miền Nam đang đánh lớn. Để tiếp nhận vũ khí, khí tài quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, anh Hiền được giao nhiệm vụ giúp Quân ủy Trung ương việc này.


Anh gặp bàn với tôi chuẩn bị điều kiện bảo đảm hậu cần để tiếp Đoàn chuyên gia kỹ thuật của Liên Xô sang giúp ta về tên lửa. Chuẩn bị chỗ ăn ở cho chuyên gia 4 trung đoàn đâu có dễ trong điều kiện cả nước có chiến tranh. Nhận thức tầm quan trọng của nhiệm vụ này, lại vốn thân thiết từ trước nên mọi yêu cầu của anh Hiền, tôi đều đáp ứng chu đáo.


Được hơn một năm, một buổi chiều thứ bảy, đầu tháng 2 năm 1966, điều bất ngờ đến với tôi. Hôm đó, tôi đang chuẩn bị ba lô quần áo về thăm vợ con ở Hải Phòng thì đồng chí Suyến - Phòng Hành chính Bộ Quốc phòng chạy sang báo tin: "Tối nay anh ra 28 Cửa Đông họp. Quân ủy quyết định anh đi Nam". Tôi bàng hoàng, nhiều lần tôi xin đi chiến trường đều không được chấp thuận, lần này đột ngột quá. Buổi tối hôm đó, tôi đến Cửa Đông đúng giờ. Ở đó đã có mặt đông đủ các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái và anh Đặng Thí. Hóa ra không họp hành gì mà các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức chia tay các đồng chí vào chiến trường. Anh Hoàng Văn Thái vào B21 (B2: Miền Đông Nam Bộ), anh Đặng Thí vào làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên, còn tôi được cử vào làm Tư lệnh Quân khu Trị Thiên.


Ngày 12 tháng 3 năm 1966. Đoàn chúng tôi lên đường vào Trị Thiên. Trước khi đi, tôi bàn kỹ với Cục Tác chiến với anh Hiền về bản Báo cáo quân sự của Quân khu Trị Thiên Huế với nhiệm vụ: Quán triệt tư tưởng tiến công địch, đẩy mạnh hoạt động tác chiến với phương châm đánh nhỏ, đánh vừa chắc thắng, ra sức củng cố phát triển dân quân du kích. Anh Hiền và các anh ở Cục Tác chiến cân nhắc từng nội dung và thống nhất các nội dung trong bản báo cáo của tôi. Vào chiến trường, tôi trực tiếp nghiên cứu tình hình, chuẩn bị đánh địch trong thành phố Huế. Sau khi nghiên cứu kỹ càng, tôi điện ra Bộ đề nghị xin đồng chí Mạc Văn Căng, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 42 cũ và một số anh em khác có kinh nghiệm đánh địch trong vùng địch hậu. Đề nghị của tôi được Bộ chấp thuận, anh Hiền thay mặt Cục Tác chiến giải quyết các yêu cầu của tôi không chỉ người mà còn có thêm 1.000 khẩu súng B.40, B.41.


Cuối năm 1967, tôi nhận được điện của Trung ương và Thường vụ Khu ủy cử đại diện ra B51 (B5: Tây Nguyên) gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền nghe phổ biến Nghị quyết Bộ Chính trị. Anh Hiền được giao nhiệm vụ làm Phái viên của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vào chiến trường phổ biến nghị quyết. Bữa đó, tôi bận nên không ra gặp anh được nhưng tôi nhận được một bịch thuốc lào Tiên Lãng, anh Hiền gửi cho tôi. Tôi thật sự cảm động. Ạnh Hiền nghiện thuốc lá, còn tôi nghiện thuốc lào, biết chiến trường thiếu thứ này, anh không quên mang theo gửi cho tôi. Hồi đó ở chiến trường cơm còn chẳng có mà ăn, thiếu gạo, thiếu muối phải ăn sắn, đốt cỏ tranh làm muối, nói chi đến thuốc lào. Bịch thuốc lào của anh là sơn hào hải vị đối với tôi và anh em ở chiến trường. Tôi chia ra gửi cho các đồng chí cấp dưới mỗi người mỗi ít. Đến giờ, tôi vẫn nhớ đến hương vị thuốc lào ngày ấy.


Năm 1968, tôi trở ra Bắc làm Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, sau là Quân khu 3. Năm 1978, tôi trở về Bộ Tổng tham mưu làm Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách khối quân sự địa phương. Tôi lại được cùng anh Hiền bàn bạc trao đổi công tác trong tổ chiến lược cho đến khi tôi nghỉ hưu.


Tình cảm giữa tôi và anh Hiền không chỉ là tình đồng chí, đồng đội mà còn như anh em ruột thịt. Sự quý mến đó xuất phát từ sự cảm nhận của tôi về anh, một con người hết lòng tận tụy với công việc, trung thành với Đảng với nhân dân, quan tâm yêu mến anh em đồng đội. Tên tuổi cùa anh gắn liền với công tác tham mưu tác chiến của quân đội ta, gắn với những chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Mỹ. Anh Lê Ngọc Hiền có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.


Tình bạn chiến đấu của chúng tôi còn được sự vun đắp của hai bà vợ. Vợ tôi, bà Lê Thị Huyền công tác tại Sở Thương nghiệp Hải Phòng. Những năm chị Thư cùng hai con nhỏ, công tác tại Bệnh viện Lào Cai, những năm địch bắn phá miền Bắc, vợ tôi thường gửi cho chị ít cá khô làm thức ăn dự trữ cho các cháu. Còn khi vợ tôi sinh cháu, tôi đang ở chiến trường, chị Thư giúp vợ tôi chăm sóc các cháu...

Đ.K


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 09:07:46 pm
NHỚ MÃI ANH LÊ NGỌC HIỀN

Trung tướng Lê Hai
(Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị)


Tôi quen biết anh Hiền từ những ngày kháng chiến chống Pháp ở Liên khu 3. Ngày đó, tôi đã có ấn tượng sâu sắc về tài năng quân sự của anh với trận Hoàng Dương-Tử Dương nổi tiếng. Tháng 5 năm 1950, anh Lê Ngọc Hiền là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lê Lợi thuộc Trung đoàn 66, anh đã chỉ huy tiểu đoàn đánh vận động tiêu diệt và bắt gọn một đại đội Âu-Phi ở Hoàng Dương-Tử Dương, huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Trận này đã thể hiện bản lĩnh chỉ huy mưu trí, linh hoạt, chủ động chớp thời cơ, quyết đoán, nhanh chóng triển khai lực lượng bao vây và tiêu diệt gọn quân địch của anh, được coi là trận đánh vận động điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ thời đó. Lúc đó tôi là Phó ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 3, được cấp trên chỉ thị tuyên truyền đậm nét về chiến thắng này. Sau trận này, Trung đoàn 66 được điều về đội hình Đại đoàn 304 để thành lập đại đoàn. Anh Hiền được điều về Trung đoàn 48, trung đoàn này, sau đó được điều về đội hình Đại đoàn 320, có danh hiệu là Đại đoàn Đồng Bằng. Tôi cũng được nhận nhiệm vụ chính trị viên tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 52 của Đại đoàn. Từ đó, tôi và anh Hiền có nhiều dịp gặp nhau trong các cuộc họp và các đợt hoạt động của Đại đoàn.


Thời gian tôi được công tác dài ngày nhất với anh Hiền là từ giữa năm 1978 ở mặt trận biên giới Tây Nam. Anh Lê Ngọc Hiền là Phó Tổng tham mưu trưởng, phụ trách tiền phương Bộ Tổng tham mưu, tôi được giao nhiệm vụ phụ trách tiền phương của Tổng cục Chính trị ở phía Nam. Thời gian đó, để thống nhất chỉ huy các lực lượng chủ lực và địa phương tại mặt trận Tây Nam, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiền phương Bộ Quốc phòng. Trung tướng Lê Đức Anh - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7 là Chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng và Thiếu tướng Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân đoàn 4 là Phó chỉ huy trưởng Mặt trận. Khi ấy cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam đã sang năm thứ hai kể từ khi quân Pôn Pốt ở Campuchia bất ngờ mở cuộc tấn công xâm lấn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1977.


Sau một thời gian bị bất ngờ, bị tổn thất trước kẻ thù mới vốn là đồng minh chiến lược của ta trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã đánh trả địch những đòn đau, trừng trị thích đáng quân xâm lược đã gây những tội ác dã man, khủng khiếp với nhân dân ta ở biên giới. Điều hết sức quan trọng là qua những tài liệu thu được của địch, chúng ta đã phát hiện rằng bọn Pôn Pốt từ lâu, ngay khi còn đang cùng chúng ta đánh Mỹ, đã có nghị quyết bí mật coi Việt Nam là kẻ thù.


Chính sách của giới cầm quyền Campuchia dưới thời Pôn Pốt, đối nội thì tiến hành diệt chủng và thanh trừng nội bộ để xây dựng một kiểu "chủ nghĩa xã hội trong sạch", không tiền, không chợ, không trường học, không tôn giáo, không đô thị; đối ngoại thì gây chiến tranh xâm lấn Việt Nam với ý thức dân tộc cực đoan, đánh Việt Nam lâu dài, tìm mọi cách giết hại dân thường Việt Nam để gây hận thù dân tộc, làm suy yếu Việt Nam, với tham vọng về đất đai: chiếm cả vùng Nam Bộ. Chúng cự tuyệt mọi cố gắng của Việt Nam nhằm thương lượng cứu vãn hòa bình, vu cáo Việt Nam xâm lược. Hàng vạn dân Campuchia chạy sang Việt Nam tị nạn khẩn thiết kêu cứu.


Những cuộc nổi dậy chống Pôn Pốt nổ ra ở nhiều nơi, các lực lượng kháng chiến yêu nước đang tập hợp lại, yêu cầu Việt Nam giúp đỡ. Các cán bộ lãnh đạo và chỉ huy của ta, trong đó có anh Hiền và tôi, được trực tiếp nghe những người tị nạn Campuchia kể lại những cảnh khủng bố cực kỳ tàn bạo của Pôn Pốt và kêu gọi Việt Nam cứu giúp gấp "chậm ngày nào thì dân tộc Campuchia chúng tôi bị Ăngka giết hại càng nhiều", mọi người đều vô cùng xúc động.


Thực tiễn chiến tranh đã chứng tỏ chế độ phản động của Pôn Pốt là nguồn gốc gây nạn diệt chủng ở Campuchia và cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác với Việt Nam. Lãnh đạo Đảng ta đã chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bằng thương lượng hòa bình, nhưng tập đoàn phản động Pôn Pốt cự tuyệt, dấn sâu vào tội ác. Vì vậy, ta chủ trương giải quyết càng nhanh càng tốt, để kéo dài thì ta thương vong càng lớn, ta không thể ổn định xây dựng đất nước và nhân dân Campuchia sẽ lâm vào họa diệt chủng khủng khiếp. Phải dùng một lực lượng quân đội mạnh của ta, có đủ binh chủng hợp thành tiến hành một cuộc tổng phản công bất ngờ, thần tốc, mãnh liệt, giành thắng lợi ở hướng Tây Nam. Để giành thắng lợi trọn vẹn về quân sự và chính trị phải dùng hai lực lượng ta và Bạn, cả hai lực lượng đều có vai trò quyết định nhưng lực lượng của Bạn là người quyết định cuối cùng.


Những cán bộ có trách nhiệm được quán triệt chủ trương này đều phấn khởi, nhất trí cao. Tiền phương Bộ Quốc phòng và Tiền phương các Tổng cục vừa tiếp tục chỉ huy, chỉ đạo việc đánh địch tạo thế trận có lợi, vừa tích cực giúp những người cách mạng chân chính Campuchia xây dựng lực lượng, vừa tập trung vào việc khẩn trương xây dựng kế hoạch chiến lược này.


Anh Lê Ngọc Hiền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm công tác tham mưu chiến lược, chiến dịch. Với cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến, anh đã tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Kế hoạch này khi thực hiện mở đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột đã tạo ra thời cơ lịch sử giải phóng miền Nam trong 2 tháng. Trong thời gian khẩn trương chuẩn bị giải phóng Sài Gòn, ngày 7 tháng 4 năm 1975 tại mặt trận, đã phổ biến quyết định của Bộ Chính trị thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng là Chính ủy; Phó Tư lệnh là các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện; đồng chí Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Anh Hiền được chỉ định là Tham mưu trưởng chuyên trách về tác chiến.


Trong quá trình thảo luận kế hoạch chiến dịch do anh Lê Ngọc Hiền trình bày, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch đi sâu thảo luận từng vấn đề cụ thể và cân nhắc toàn diện. Kế hoạch chiến dịch là kết quả sáng tạo và trí tuệ của tập thể Bộ Chỉ huy. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch duyệt lại lần cuối cùng kế hoạch chính thức của chiến dịch Hồ Chí Minh. Tư lệnh và Chính ủy đã ký tên vào quyết tâm đó. Với sự nỗ lực phi thường, tinh thần hy sinh chiến đấu của toàn quân, toàn dân, chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã giành thắng lợi trọn vẹn.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 19 Tháng Tám, 2026, 09:08:30 pm
Lần này cuộc phản công và tiến công chiến lược đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của bọn Pôn Pốt phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc ta và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt là một cuộc chiến đấu hoàn toàn khác, chưa có tiền lệ trong lịch sử quân đội ta, xét về đối tượng tác chiến, mục tiêu và lực lượng sử dụng, sự liên minh chiến đấu giữa ta và bạn, đặc điểm chiến trường, bối cảnh quốc tế... Được sự chỉ đạo sát sao của cấp trên, anh Lê Ngọc Hiền và cơ quan tham mưu đã đi sâu nghiên cứu, quán triệt những tư tưởng, quan điểm cơ bản của lãnh đạo, lắng nghe ý kiến của đông đảo cán bộ, khẩn trương xây dựng kế hoạch chiến lược, thể hiện được quyết tâm và trí tuệ của tập thể cán bộ có trách nhiệm. Bản kế hoạch chiến lược đã hình thành.


Tháng 12 năm 1978, anh Lê Ngọc Hiền đã báo cáo trước lãnh đạo Đảng bản kế hoạch chiến lược của tiền phương Bộ Quốc phòng, của Bộ Tổng tham mưu, được tiếp thu những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo rất cơ bản và toàn diện của lãnh đạo để hoàn chỉnh bản kế hoạch và triển khai thực hiện.


Vì nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của nhân dân Campuchia và Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23 tháng 12 năm 1978, quân đội ta đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của quân Pôn Pốt, sau đó chuyển sang tiến công cùng với các lực lượng vũ trang của bạn, được sự ủng hộ của nhân dân Campuchia đang khát khao được giải phóng đánh tan lực lượng quân sự gồm 23 sư đoàn quân Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam - Campuchia.


Sau một thời gian ngắn ở Campuchia, do yêu cầu tình hình chung anh Lê Ngọc Hiền trở về công tác ở Bộ Tổng tham mưu. Đầu năm 1987, anh Hiền lại được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia thay anh Đoàn Khuê về Bộ giữ chức Tổng Tham mưu trưởng.


Tình hình chiến trường Campuchia lúc này đã chuyển sang một cục diện mới. Ta và bạn đã giành được thắng lợi quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong mùa khô 1984-1985 đập tan toàn bộ hệ thống căn cứ của Pôn Pốt và các phái Khmer phản động trên tuyến biên giới phía tây, tây nam, tây bắc Campuchia, buộc địch phải chuyển hướng chiến lược. Nhiệm vụ của quân tình nguyện và chuyên gia lúc này là tâp trung giúp bạn giành thắng lợi cơ bản cả ba mục tiêu chiến lược đưa cách mạng Campuchia tiến tới ổn định vững chắc, bạn tự đảm đương nhiệm vụ. Các đơn vị ta tích cực giúp bạn xây dựng lực lượng, phối hợp và dìu dắt bạn chiến đấu. Bạn đã tự đảm đương được một phần quan trọng các khu vực trong nội địa và ta đang từng bước bàn giao cho bạn tự đảm đương tuyến biên giới. Anh Hiền đã cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh quân tình nguyện và các cơ quan đi kiểm tra các mặt trận, chỉ đạo việc đánh địch và giúp các bạn xây dựng bàn giao từng vị trí, từng địa bàn cho bạn. Với tác phong sâu sát, cụ thể, thận trọng và quyết đoán, anh Hiền đã đi nhiều nơi, từng mặt trận nội địa đến tuyến biên giới đánh giá tình hình cụ thể địch, bạn, ta trên từng khu vực và trên toàn chiến trường, lắng nghe ý kiến cán bộ, chiến sĩ, làm việc với bạn rất chân thành, trân trọng bạn, động viên bạn tự tin thay thế quân tình nguyện Việt Nam nhất là ở những vị trí suy yếu.


Theo kế hoạch thống nhất giữa ta và bạn, đến năm 1987 lực lượng cách mạng Campuchia tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ đất nước, quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục rút cho đến năm 1990 thì hết. Nhưng đến năm 1988, việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược đã đạt được kết quả tích cực, lãnh đạo hai Đảng nhất trí rút quân tình nguyện và chuyên gia về nước sớm hơn thời gian dự định. Ngày 30 tháng 8 năm 1988, lễ tiễn trọng thể Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam và các cơ quan về nước đã diễn ra tại sân bay Pôchentông, Phnôm Pênh trước 5 vạn nhân dân Campuchia và hàng trăm nhà báo trong và ngoài nước. Cùng thời gian đó ở các hướng khác, 5 vạn quân tình nguyện cũng hoàn thành nhiệm vụ trở về Tổ quốc. Ngày 26 tháng 9 năm 1989, những lực lượng cuối cùng của quân tình nguyện đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, trở về Tổ quốc. Lễ tiễn đưa quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Phnôm Pênh và các địa phương đã được chính quyền các cấp và đông đảo nhân dân Campuchia tổ chức trọng thể, cảm động. Đó là những cuộc biểu dương lực lượng vô cùng ấn tượng, thể hiện tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, trải qua bao thăng trầm, sóng gió vẫn đơm hoa kết trái.


30 năm đã trôi qua kể từ ngày 7 tháng 1 năm 1979 lịch sử, ta giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Anh Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về tình bạn, tình đồng chí thắm thiết giữa anh và tôi còn ghi sâu trong tâm trí tôi. Nhớ mãi anh Lê Ngọc Hiền, một người chỉ huy tài năng và bản lĩnh, tận tụy hết lòng vì công việc, sống giản dị, chân thành, giàu lòng nhân hậu, gần gũi với đồng chí, đồng đội, người được nhiều cán bộ, chiến sĩ hết lòng quý mến.

L.H


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:56:38 pm
NHỚ MÃI NGƯỜI ANH,
NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI TRÊN CÙNG CHIẾN TRƯỜNG

Trung tướng PGS-TS. Nguyễn Hải Bằng
(Nguyên quyển Giám đốc Học viện Quốc phòng,
nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.
Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh)


Tôi trở thành cấp dưới trực tiếp của anh Lê Ngọc Hiền hơi muộn. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh chiến đấu ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, còn tôi chiến đấu ở chiến trường rừng núi biên giới phía Bắc. Chỉ biết anh sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, trong các lớp tập huấn, hội nghị huấn luyện toàn quân. Cũng chỉ thực sự quen thân anh khi tôi và anh cùng chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Tôi vào chiến trường cuối năm 1964, còn anh được bổ sung vào chiến trường đúng thời kỳ khó khăn nhất, ác liệt nhất sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Và cùng từ đó, anh mang tên Bảy Hiền, gọi theo tập quán của đồng bào Nam Bộ, không hiểu do anh là con thứ bảy, trong gia đình hay trong Bộ Tham mưu Miền lúc bấy giờ đã có các anh từ thứ hai đến thứ sáu nên anh lấy thứ bảy cho khỏi trùng lặp. Thời gian này, tôi là cán bộ cấp dưới trực tiếp của anh, lúc đó anh đảm nhiệm chức danh Tham mưu phó, tôi giữ chức Trưởng phòng Quân huấn. Được biết trước đây anh từng phụ trách công tác huấn luyện toàn quân nên tôi muốn gặp anh để hỏi về công tác huấn luyện bộ đội. Tuy gặp anh thường xuyên trong các cuộc giao ban hàng ngày, nhưng bận triển khai công việc nên chỉ có thể gặp anh vào tôi thứ 7 hàng tuần. Mỗi lần đến gặp anh tôi đều rủ mấy anh em trưởng phó phòng trong Bộ Tham mưu Miền cùng đi, hồi đó chúng tôi còn rất trẻ, chỉ ngoài 30 tuổi, quyết tâm nhiệt huyết không lo, nhưng trình độ công tác tham mưu còn nhiều bất cập.


Cũng lạ, chiến trường miền Đông Nam Bộ vốn nổi tiếng là nơi mật độ bom đạn dầy đặc không nơi nào sánh kịp. Nhưng đến tối thứ 7 hàng tuần bỗng dưng giảm hẳn cứ như kẻ địch đơn phương ngừng chiến. Chúng tôi phải lựa chọn thời điểm này để thư giãn bớt áp lực công việc trong tuần; đồng thời đến thăm anh vừa để nghe anh truyền đạt những kinh nghiệm công tác ở cơ quan Tham mưu chiến lược. Chúng tôi gặng hỏi nhiều lần, nhưng anh đều khiêm tốn từ chối với lý do: "Mình mới ngoài Bắc vào chưa hiểu biết hết tình hình chiến trường chưa thể đóng góp ý kiến với các anh được, tốt nhất chúng ta nên trao đổi một số vấn đề mà mọi người chúng ta đang rất quan tâm". Rồi anh nói tiếp: "Theo mình có hai vấn đề, một là làm thế nào để công tác tham mưu của chúng ta có chất lượng và hiệu quả cao nhất trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, khó khăn thiếu thốn trăm bề như hiện nay; hai là phải có cách đánh như thế nào để tiêu diệt địch đúng với chức năng nhiệm vụ của binh đoàn chủ lực, nhưng giảm được thương vong tổn thất nhất cho bộ đội.


Với hai chủ đề anh Bảy nêu lên, chúng tôi bước vào tranh luận hết tối thứ 7 tuần này đến tối thứ 7 tuần khác. Vật chất chẳng có gì chỉ với ấm trà Blao Lâm Đồng, một bịch thuốc rê tự quấn lấy. Chúng tôi say sưa tranh luận, mỗi người trình bày quan điểm của mình cùng những giải pháp để thực hiện những quan điểm đó, hết sức tự do tư tưởng, chỗ nào còn thiếu thì tập thể bổ sung thêm, không đi lạc sang những vấn đề khác. Có hôm quá hăng hái tự dưng chuyển sang đề tài món ăn đặc sản của Hà Nội, anh Bảy liền cắt ngang để chuyển về trọng tâm cũ. Mỗi buổi tranh luận như vậy, anh Bảy đều có kết luận sơ bộ để chúng tôi về vận dụng trong cơ quan và chỉ đạo hướng dẫn đơn vị thực hiện.


Qua những buổi sinh hoạt dân chủ đó nổi lên những quan điểm của anh là công tác tham mưu phải đề cao tính tổ chức, tính kế hoạch và nhất là công tác tham mưu chiến lược cũng như chiến thuật, cũng phải có tác phong cụ thể tỉ mỉ, chuẩn xác; chống mọi biểu hiện tùy tiện, đại khái, thiếu kế hoạch. Còn vấn đề thứ 2 thuộc tư tưởng tác chiến, cách đánh thì phải lấy đánh nhỏ tiêu diệt nhỏ từng trung đội, đại đội quân Mỹ là chính. Trong tình hình hỏa lực của quân đội Mỹ rất mạnh như hiện nay, ta cứ máy móc tìm diệt tiểu đoàn Mỹ là không thực tế, vừa phải tập trung nhiều lực lượng trong một khu vực hẹp dễ gây thương vong lớn cho bộ đội, vừa mất thời gian chuẩn bị dài dễ bỏ lỡ thời cơ. Những quan điểm trên đây của anh Bảy rất phù hợp với điều kiện chiến trường lúc đó mà còn có giá trị thực tiễn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Chúng tôi - những cán bộ ở chiến trường miền Đông Nam Bộ ngày đó đánh giá cao những buổi gặp mặt do anh Bảy chủ trì. Những kết luận của anh trong các cuộc trao đổi đã giúp chúng tôi vận dụng có hiệu quả trong công tác, nâng cao trình độ thực sự. Những buổi gặp mặt đó đã trở thành lớp bồi dưỡng kiến thức tại chức độc đáo cho một số anh em chủ trì của cơ quan Tham mưu Miền, mà công đầu thuộc về anh Bảy.


Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đội ngũ cán bộ tại chỗ đã trưởng thành nên nhiều anh em miền Bắc bổ sung cho chiến trường miền Đông Nam Bộ hồi đầu những năm 60 được trở về hậu phương lớn công tác. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà nhiều anh em cứ nằm dài ở Trạm 66 hết tháng này sang tháng khác chờ tổ chức sắp xếp công tác. Anh em nằm đợi nóng ruột nên đề nghị tôi đến gặp trực tiếp anh Bảy để phản ánh tâm tư, xem anh Bảy có cách gì giúp anh em không. Lúc này, anh Lê Ngọc Hiền đã được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Cục trưởng Cục Tác chiến. Tôi đến gặp anh Bảy báo cáo lại tình hình của anh em, anh rất bức xúc về vấn đề này. Anh xin danh sách kèm lý lịch trích ngang của anh em, những người nào anh đã biết rồi thì không cần lý lịch trích ngang nữa, để anh trực tiếp liên hệ với các cơ quan hữu quan giải quyết. Tôi thuộc diện chiến trường cử đi học nên không phải nằm chờ.


Chỉ sau thời gian ngắn, một số anh được anh Bảy nhận thẳng về Cục Tác chiến công tác, số còn lại lần lượt được điều động về các đơn vị, các nhà trường. Rất tiếc, có vài người do không hiểu sự chậm trễ đó là tác phong quan liêu tắc trách của mấy anh cán bộ thuộc cơ quan nghiệp vụ mà ngộ nhận rằng mình lăn lộn vào sống ra chết ở chiến trường đến nay được về hậu phương thì tổ chức lại đối xử theo kiểu "vắt chanh bỏ vỏ" nên tủi thân, bỏ mọi chế độ chính sách với hai bàn tay trắng tự bỏ về nhà làm ruộng, lo củng cố gia đình, khi tổ chức phát hiện gọi lên dứt khoát không trở lại nữa.


Sau đó, vì điều kiện không thể trực tiếp gặp anh Bảy, anh em nhờ tôi chuyển lời cảm ơn của họ đến anh Bảy đã vì anh em mà phải chạy đôn chạy đáo hết cơ quan này đến cơ quan khác để lo sắp xếp công tác cho họ. Qua đó cũng thấy ở anh Bảy một tinh thần trách nhiệm cao, một tình thương yêu đồng chí, đồng đội không khi nào phai nhạt.


Thế rồi, vận may lại đưa đẩy anh Lê Ngọc Hiền và tôi cùng tham gia chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975. Lúc đó, anh có nhiệm vụ giúp đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng - đại diện Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tại Sở Chỉ huy Tiền phương của Bộ Tổng Tư lệnh bên cạnh Sở Chỉ huy chiến dịch. Còn tôi dẫn Sư đoàn bộ binh 316 thuộc lực lượng dự bị chiến lược từ Nghệ An vào tăng cường cho chiến dịch. Gặp nhau dọc đường tay bắt mặt mừng, anh nói vui:

- Không hiểu trái đất tròn thế nào mà chúng mình hay chạm trán nhau ở những nơi nóng bỏng.

Rồi anh rỉ tai tôi nói nhỏ về nhiệm vụ của Sư đoàn sắp tới đảm nhiệm trận then chốt quyết định mở đầu chiến dịch tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 23 ngụy, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Anh dặn tôi phải tuyệt đối giữ bí mật không được nói lộ với bất cứ ai kể cả các anh chỉ huy Sư đoàn, sau này gặp nhau ở khu tập kết, chúng ta sẽ trao đổi kỹ về nhiệm vụ của Sư đoàn. Khi tới khu tập kết chiến dịch, tôi tìm gặp anh Hiền, nội dung anh trao đổi với tôi nhiều nhất vẫn là cách đánh của Sư đoàn nên như thế nào với nhiệm vụ mới rất nặng nề, nhưng cũng rất vinh dự này. Anh bảo:

- Trước đây chúng ta đã trao đổi với nhau về cách đánh quân Mỹ phải lấy đánh nhỏ diệt nhỏ làm chính, nhưng tình hình bây giờ đã thay đổi cơ bản rồi. Mỹ chịu thua rút quân, hỏa lực giảm, cho phép ta tập trung các binh đoàn chủ lực lớn đánh hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn từng sư đoàn ngụy, giải phóng từng thị xã, thành phố để sớm kết thúc chiến tranh.


Nhiệm vụ của Sư đoàn bộ binh 316 là phải tiêu diệt lớn địch, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Như chúng ta đều biết năm 1972 đánh thị xã Bình Long chưa thành công, một trong những nguyên nhân chính là chúng ta đột phá từ ngoài vào trong theo kiểu đánh bóc vỏ nên không đủ sức đánh chiếm mục tiêu chủ yếu nằm sâu bên trong.


Lần này, chúng ta nên bỏ mục tiêu vòng ngoài, tập trung lực lượng bí mật luồn sâu đánh thẳng vào mục tiêu trọng yếu nằm sâu bên trong. Sau đó quay ra tiêu diệt các mục tiêu vòng ngoài còn lại.

Tôi hoàn toàn nhất trí với cách đánh mà anh Bảy gợi ý và cũng trao đổi quan điểm của mình. Tôi nói:

- Đối với bộ binh đơn thuần thì thực hiện cách đánh này không khó, chắc chắn sẽ làm được. Những với các binh chủng như xe tăng, pháo xe kéo, làm thế nào để đưa được binh khí kỹ thuật vào bên trong mà không bị vòng ngoài của địch phát hiện ngăn chặn, đấy là vấn đề cực kỳ khó khăn, ta phải tìm cách giải quyết.


Anh Bảy và tôi trao đổi rất lâu về các biện pháp ngụy trang nghi binh tiếng động và tổ chức cơ động lực lượng như thế nào để các binh chủng kỹ thuật kịp thời vào chiến đấu chi viện cho bộ binh đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu nằm sâu bên trong thị xã.

Sau giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi gặp lại anh Bảy Hiền ở Sở Chỉ huy chiến dịch. Anh rất vui và khen ngợi Sư đoàn 316, mặc dầu mới chân ướt chân ráo vào chiến trường hãy còn lạ nước lạ cái nhưng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Tôi cũng nói lời cảm ơn anh vì trong thành tích to lớn của Sư đoàn, có công đóng góp không nhỏ của anh.


Giờ đây, anh Lê Ngọc Hiền đã đi xa. Ngày tháng có thể phôi pha, nhưng trong lòng những cựu chiến binh của chiến trường miền Đông Nam Bộ năm xưa mãi mãi nhớ anh, một người không chỉ giỏi về công tác chỉ huy tham mưu, mà còn là một mẫu mực về phẩm chất đạo đức, suốt đời cống hiến cho cách mạng, cho quân đội, thủy chung với đồng đội, với bạn bè.

N.H.B


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:58:20 pm
VỊ TƯỚNG VỚI NHỮNG ĐÒN ĐÁNH HIỂM HIỆU QUẢ CAO

Trung tướng Khuất Duy Tiến
(Nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3
Nguyên Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu
Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1)


Tôi biết anh Lê Ngọc Hiền từ thời kháng chiến chống Pháp vì cùng một Đại đoàn 320. Anh trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, tôi là chiến binh Trung đoàn 48, tuy không trực tiếp dưới quyền chỉ huy của anh, nhưng cánh lính chúng tôi hâm mộ anh qua những trận đánh nổi tiếng và chiến công vang dội của Trung đoàn 64 do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền trực tiếp tổ chức chỉ huy. Tôi xin kể một số trận điển hình.


1. Trận bất ngờ tập kích tiêu diệt đội biệt kích Hổ xám do tên Văng-dăng-be trực tiếp tổ chức chỉ huy (tên này là con nuôi tướng Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi). Quân đội Pháp từng tuyên dương tên này là một anh hùng trẻ tuổi, có lòng dũng cảm phi thường. Sào huyệt của chúng đóng tại nhà Tế bần nằm sâu trong thành phố Nam Định. Vòng ngoài là vành đai đồn bốt bao quanh. Với quân số 140 tên hầu hết là bọn lưu manh đâm thuê, chém mướn có nợ máu với nhân dân, chúng gây nhiều tội ác đẫm máu có nợ máu với nhân dân, chúng gây nhiều tội ác với đồng bào làng xóm hai bờ sông Hồng, có lần chúng vượt sâu vào vùng tự do 20 km gây tội ác.


Theo chỉ đạo của Mặt trận và Đại đoàn, đáp ứng yêu cầu bức thiết của nhân dân, chỉ huy Trung đoàn 64 nghiên cứu kỹ nắm chắc địa hình, tình hình hoạt động của địch, phát hiện đầy đủ sự sơ hở của chúng. Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền tổ chức một đội đột kích gọn nhẹ, chọn lựa một số cán bộ, chiến binh gan dạ, dũng cảm, linh hoạt, biên chế đội hình thành hai trung đội, mỗi trung đội do một đại đội trưởng đảm nhiệm. Cán bộ tiểu đoàn xuống làm đội trưởng và Trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy trận đánh.


Đêm mồng 5 tháng 1 năm 1952 Đội bí mật vượt qua các tuyến phòng vệ của địch bất ngờ tập kích vào vị trí tế bần. Sau 15 phút chiến đấu, ngoài một số tên nổ súng chống cự bị tiêu diệt ta bắt sống 100 tên, thu 180 súng tiểu liên, 16 trung liên, 30 súng ngăn, 2 cối 60mm. Tên chỉ huy Văng-đéc-béc bị diệt ngay từ loạt đạn đầu. Quân ta 3 đồng chí bị thương.


2. Trận tập kích tiêu diệt đội biệt kích do tên Rút-cô-ni chỉ huy tại vị trí Lạc Tràng ở sâu trong thị xã Phủ Lý (Hà Nam).

Đêm mồng 7 tháng 2 năm 1952 quân ta bí mật vượt qua các tuyến phòng vệ của địch bất ngờ nổ súng tấn công. Tên Rút-cô-ni chết tại chỗ, bắt gọn 111 tên, thu 8 trung liên, 75 tiểu liên, 40 súng trường, 6 súng cối 60mm. Quân ta an toàn tuyệt đối.

Sau hai trận tiêu diệt 2 đội biệt kích ác ôn trong một tháng khiến nhân dân rất phấn khởi, lực lượng vũ trang địa phương hăng hái sát cánh cùng bộ đội giết giặc lập công. Địch hoang mang, lo sợ, tên trưởng Công an tỉnh Hà Nam bỏ trốn, hơn 100 lính nguy và vệ sĩ ở huyện Thanh Liêm, Bình Lục (Hà Nam) bỏ ngũ, nhiều tên mang súng ra đầu hàng.


3. Trận tiêu diệt cứ điểm Đào Thành đóng chốt ngay trên công chặn dòng nước tưới làm khô héo hơn 3 vạn mẫu ruộng của 3 huyện Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân tỉnh Thái Bình. Theo yêu cầu của Thường vụ Khu ủy Tả ngạn, Bí thư Đỗ Mười và chấp hành chỉ thị của Đại đoàn đêm 6 tháng 2 năm 1952, để giữ bí mật bất ngờ, Trung đoàn 64 cử Tiểu đoàn 706 từ địa bàn huyện Lý Nhân (Hà Nam) hành quân gấp vượt sông Hồng. Đêm 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1952, ta bất ngờ tấn công tiêu diệt cứ điểm Đào Thành.


Trận đánh diễn ra quyết liệt đến chiều cùng ngày mới kết thúc. Ta làm chủ trận địa, mở cống Đào Thành đưa nước sông Luộc vào kênh Sa Lung, cứu sống 3 vạn mẫu ruộng. Nhân dân vô cùng phấn khởi kéo nhau đi phá đồn địch, đưa nước vào ruộng. Nhiều cụ già sai con cháu lấy bình nước về thắp hương trên bàn thờ khấn vái tổ tiên mừng "nước Cụ Hồ". Phát huy thắng lợi, quân dân Thái Bình bức rút và tiêu diệt thêm 5 cứ điểm, mở rộng vùng căn cứ phía bắc Thái Bình.


4. Trận tiêu diệt cứ điểm Đục Khê (Mỹ Đức, Hà Đông)

Mở màn hoạt động Xuân - Hè 1953, Trung đoàn 64 nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Đục Khê do một đại đội địch chiếm đóng. Đây là một chốt trên tuyến phòng thủ sông Đáy có hệ thống công sự kiên cố và nhiều lớp rào thép gai bao quanh, liên kết với cứ điểm boong-ke Yến Vĩ nhằm ngăn chặn giao thông vùng du kích nam tỉnh Hà Đông với vùng tự do, biến nơi này thành vành đai trắng khiến hàng vạn mẫu ruộng màu mỡ bỏ hoang hoá.


Trung đoàn 64 sử dụng Tiểu đoàn 722 tăng cường 1 đại đội sơn pháo, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 4 năm 1953, bí mật chiếm lĩnh trận địa, bất ngờ nổ súng áp đảo. Sau 40 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch.

Ngày hôm sau, địch cấp tốc điều đại đội com-măng-đô số 25 đến khôi phục trận địa. Ngay đêm đó, vẫn Tiểu đoàn 722 bất ngờ tập kích tiêu diệt gọn, buộc địch phải bỏ ý định chiếm lại.


5. Trân phục kích táo bạo bất ngờ của Tiểu đoàn 706 do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền trực tiếp đốc chiến tại đoạn đường cầu Chân Chim - Đồng Mít (Mỹ Đức, Hà Đông) ngày 7 tháng 10 năm 1952 bằng hình thức độn thổ. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt gọn đại đội lính Âu-Phi, bắt 35 tên, thu toàn bộ vũ khí, ta bị thương 2 đồng chí.

Trận đánh hiệu suất cao, rút được nhiều bài học giá trị được Bộ Tổng tư lệnh tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu "Tiểu đoàn Đồng Mít" cho Tiểu đoàn 706.


6. Trận phục kích Tứ - Đền.

Trong chiến dịch Hoà Bình 1952 địch chiếm Chợ Bến, đường 21, thuộc huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Đông. Chúng tung quân lùng sục vùng Tứ Đền - Chợ Bến và tuyên bố đã đánh bật Trung đoàn 64, cắt đứt mũi gươm của Việt Minh kề ven sườn mà lúc nào cũng có thể thọc ra đường số 6.

Ngày 16 tháng 11 năm 1952 Tiểu đoàn 722 tổ chức phục kích tại Tứ Đền dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền.

Trận đánh diễn ra hết sức bất ngờ với kẻ địch, sau 40 phút chiến đấu, ta diệt gọn 2 đại đội Âu Phi trong đó có tên quan tư Đờ-vanh-xen chỉ huy và toàn bộ cơ quan tham mưu tiểu đoàn thuộc Trung đoàn lê dương số 3 (2/3 REI).


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 04:59:44 pm
7. Trận phục kích táo bạo, bất ngờ trên địa bàn Mạo Chử. Làng Mạo Chử nằm giữa đường số 1 và đường 21, thuộc vành đai trắng tuyến phòng thủ sông Đáy của địch, cách thị xã Phủ Lý 3 km, bao quanh có các cứ điểm Sở Kiện, Bình Lục, Kỳ Cầu, Cõi.

Địa điểm phục kích được chọn là cánh đồng cỏ lác hoang hoá. Tận dụng yếu tố bất ngờ, đêm 14 tháng 11 năm 1952, một đại đội thuộc Tiểu đoàn 738 bí mật ém sẵn cách đường 100m. Như thường lệ, hàng ngày địch vẫn dùng một đại đội tuần tra kiểm soát đoạn đường này. Đúng 8 giờ sáng, địch lọt vào trận địa, quân ta bất ngờ nổ súng vây chặt diệt gọn, bắt sống 30 tên thu 100 súng các loại. Ta bị thương 2 đồng chí.


Tiếp đó, ta tận dụng thời cơ và địa hình làng Mạo Chử, phục lại đánh quân ứng viện, diệt thêm 100 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Trận đánh táo bạo hiệu suất cao được Bộ Tổng tư lệnh tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Tiểu đoàn Mạo Chử cho Tiểu đoàn 738.

Qua một số trận đánh, trong điều kiện hạn hẹp tôi chưa thể phân tích chi tiết. Song mỗi trận đánh do anh Lê Ngọc Hiền tổ chức chiến đấu đều để lại những dấu ấn đậm nét từ cách đánh giá tình thế chiến trường, phân tích địch ta, lựa chọn phương thức tác chiến biến hoá khiến kẻ địch luôn bị rơi vào bất ngờ trở tay không kịp. Có anh Hiền chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ yên tâm, dũng cảm đánh và chiến thắng.


Trung đoàn 64 Đại đoàn 320, suốt thời kỳ đánh sâu vào địch hậu đồng bằng, với những chiến công xuất sắc, đã hai lần được Bác Hồ gửi thư khen và tặng danh hiệu "Trung đoàn dũng cảm đánh hăng". Cả ba tiểu đoàn đều được Bộ Tổng tư lệnh tặng Huân chương Quân công cao quý và ghi danh: Tiểu đoàn Đồng Mít, Tiểu đoàn Hưng Công, Tiểu đoàn Mạo Chử.


Trong thời kỳ chiến đấu chống Pháp, anh Lê Ngọc Hiền là một trong số cán bộ có nhiều công lao xây dựng truyền thống "Dũng cảm đánh hăng", "Quyết thắng" của trung đoàn 64, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kế tiếp ngưỡng mộ, yêu qúy và học tập.

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, anh Lê Ngọc Hiền được điều lên Bộ Tổng tham mưu công tác, tôi đã là cán bộ trung, cao cấp quân đội. Anh em có nhiều điều kiện gặp nhau qua các chương trình huấn luyện bộ đội, tập huấn cán bộ, tổng kết chiến dịch, các trận đánh lớn, qua các dịp anh xuống truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương - Bộ Tổng tư lệnh. Mặt khác, là bạn chiến đấu Sư đoàn 320 vốn đã hâm mộ anh từ lâu nên tình cảm giữa chúng tôi ngày càng gắn bó và có nhiều điểm tương đồng.


Tôi nhớ mãi hình ảnh của anh trong thời gian chuẩn bị và thực hành chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.

Chiến dịch Tây Nguyên thời kỳ đầu vào tháng 2 năm 1975 chỉ khoanh trên địa bàn nam Tây Nguyên (nên lấy tên là Chiến dịch 275). Thời gian này tôi là Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Mọi công việc triển khai công tác chuẩn bị, từ đầu quý III năm 1974 đến đầu tháng 1 năm 1975, các phương án tác chiến, các kế hoạch đang triển khai dồn dập, chúng tôi nhận được bức điện: "Ngày 21 tháng 1 năm 1975, đồng chí Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng từ miền Bắc vào phổ biến chỉ thị bổ sung của Thường trực Quân ủy Trung ương về chiến dịch Nam Tây Nguyên" cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Đây là lần thứ ba nhiệm vụ chiến dịch được Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh từng bước bổ sung hoàn thiện. Và cũng từ ngày đó, anh Hiền thường xuyên bám sát Bộ Tư lệnh và cơ quan Tham mưu Mặt trận. Mỗi khi thảo luận ý định, kế hoạch, phương án tác chiến cho tới khi xây dựng xong kế hoạch tác chiến, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên báo cáo thông qua Đại tướng Văn Tiến Dũng - Phó Bí thư Quân ủy Trung ương đại diện Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh.


Tôi nhớ trong thời gian từ cuối tháng 1 năm 1975. Sau khi anh Hiền truyền đạt chỉ thị bổ sung nhiệm vụ của Quân uỷ, tại Bộ chỉ huy Mặt trận diễn ra nhiều cuộc thảo luận quán triệt nhiệm vụ bổ sung, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến. Tất cả đều tập trung xoay quanh phương án đánh chiếm Buôn Ma Thuột - Mục tiêu then chốt quyết định - Trận then chốt quyết của chiến dịch bằng tập trung lực lượng chủ yếu đánh chiếm Buôn Ma Thuột khi địch chưa phòng ngự dự phòng; đồng thời tập trung trí tuệ xây dựng phương án đánh chiếm Buôn Ma Thuột khi địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự dự phòng.


Để đảm bảo chắc thắng trong công tác chuẩn bị phải lấy phương án tác chiến đánh Buôn Ma Thuột địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự dự phòng, dự kiến đầy đủ các tình huống có thể xảy ra để ứng phó trong quá trình thực hành chiến dịch.

Các kế hoạch, các phương án, các tình huống chiến dịch được thảo luận rất sôi nổi. Phương án thuận, phương án nghịch được bàn đi, bàn lại rất kỹ. Các buổi thảo luận quan trọng đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của anh Hiền như một thành viên của cơ quan chiến dịch.


Tôi nhớ buổi thảo luận cuối cùng tưởng có thể kết thúc vào lúc 21 giờ nhưng lại phát hiện vấn đề mới cần thảo luận rõ thêm. Mọi người đều nghĩ chắc 23 giờ xong. Anh Hiền còn bao thuốc lá bỏ ra tuyên bố hút hết bao này chắc kết thúc, nhưng thực tế đến 1 giờ 30 phút sáng hôm sau mới hoàn tất: "Phương án đánh Buôn Ma Thuột được xây dựng hoàn chỉnh".


Trong thời gian diễn biến chiến dịch

(Từ 4.3 đến 3.4.1975)

Sau đợt nghi binh thắng lợi, chủ lực của chiến trường đã chuyển từ Bắc Tây Nguyên tập trung xuống Nam Tây Nguyên triển khai lực lượng áp sát các mục tiêu theo nhiệm vụ:

+ Từ ngày 4 đến 9 tháng 3 năm 1975, thực hiện các bước tạo thế chốt đường 19 và đường 21, chia cắt Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Khu 5; cắt đứt đường 14 ngăn chặn địch cơ động đường bộ từ Bắc xuống Nam Tây Nguyên. Tập kích bằng đặc công và pháo binh và thị xã Kon Tum, Pleiku; đánh chiếm quận lỵ Thuần Mần (8-3); tiêu diệt quận lỵ Đức Lập (9-10.3).

+ Tập trung lực lượng mạnh tấn công đánh chiếm Buôn Ma Thuột hoàn thành trận then chốt quyết định thứ nhất, của chiến dịch. Đòn đánh hiểm bất ngờ thắng giòn giã (10-11.3).

+ Tiếp đến trận tiêu diệt lực lượng sư đoàn 23 nguy phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột bằng đổ bộ đường không, hoàn thành trận then chốt quyết định thứ hai của chiến dịch, trên địa bàn ta đã định trước (từ 12- 18.3.1975).

+ Để bảo toàn lực lượng còn lại, quân đoàn 2 ngụy bỏ Gia Lai, Kon Tum rút chạy về đồng bằng theo đường số 7. Trước thời cơ lớn, Sư đoàn 320 và lực lượng tăng cường truy kích thần tốc tiêu diệt quân đoàn rút chạy của địch, giải phóng Cheo Reo - Củng Sơn (từ 17-23.3.1975) - Hoàn thành trận then chốt thứ 3 của chiến dịch.

Cùng thời gian này Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 271 thừa thắng giải phóng thị xã Kon Tum, Plei Ku, Gia Nghĩa, biến chiến dịch Nam Tây Nguyên thành chiến dịch toàn Tây Nguyên, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Khuếch trương chiến quá, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1975, quân ta tiến xuống đồng bằng ven biển Khu 5, tiêu diệt, lữ đoàn dù 3, trung đoàn bộ binh 40, liên đoàn biệt động quân 24... cùng đơn vị bạn giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh...


Chiều 25 tháng 3 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiền rất hào hứng điện cho chúng tôi: "Quân dân Tây Nguyên đã điểm rất đúng huyệt, đánh những đòn hiểm, thực hiện rất hoàn hảo ba trận then chốt quyết định, biến chiến dịch Nam Tây Nguyên thành chiến dịch toàn Tây Nguyên đại thắng, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên mở rộng tới ven biển Khu 5". Anh nói tiếp: "Chiến thắng này chắc chắn tạo ra thời cơ mới!" (Thực tế chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng "đã mở ra bước ngoặt đưa cuộc chiến tranh từ chiến dịch tấn công có ý nghĩa chiến lược thành tổng tiến công chiến lược toàn chiến trường miền Nam").


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 31 Tháng Tám, 2026, 05:01:30 pm
Thời gian chuẩn bị và thực hành chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 12-4 đến 30-4-1975)

Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 3 "Đảm nhiệm hướng tấn công chủ yếu nhất của chiến dịch từ hướng tây bắc vào Sài Gòn với nhiệm vụ:

- Thực hiện trận đánh thôi động tiêu diệt căn cứ sư doàn 25 ở Đồng Dù; chặn và tiêu diệt lực lượng sư đoàn 25 từ Củ Chi đến Trảng Bàng không cho địch chạy về Sài Gòn.

- Tổ chức lực lượng đột kích mạnh thọc thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất; phát triển hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm bộ Tổng tham mưu ngụy... phát triển hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm dinh Độc Lập...

- Giữ vững các khu vực mục tiêu đã giao sau khi đã chiếm, bảo vệ kho tàng, ổn định trật tự an ninh"...

Bước vào chiến dịch, 23 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiền điện trực tiếp cho anh Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn 3: Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh giao thêm cho Quân đoàn 3 nhiệm vụ đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy vào sáng 30 tháng 4 năm 1975, coi đây là nhiệm vụ chính thức.


Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Lê Ngọc Hiền trên cương vị Tham mưu trưởng chiến dịch thường xuyên theo sát Quân đoàn 3 suốt quá trình diễn biến chiến đấu tiêu diệt địch, đánh chiếm các mục tiêu hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh nhận xét: "Quân đoàn 3 đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, có thể nói hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt xuất sắc".


Theo dõi công việc của anh Hiền, tôi thấy rõ trong quá trình chuẩn bị và tổ chức thực hành tác chiến anh nắm rất chắc ý định và chỉ thị của Tư lệnh chiến dịch và bám sát tình hình diễn biến, phát triển các hướng, các mũi tấn công của chiến dịch, tổng hợp đánh giá kết quả khái quát các tình huống đang diễn biến, chuyển đạt chỉ thị của Tư lệnh chiến dịch gọn, rõ, kịp thời, tạo thuận lợi cho các hướng các mũi chiến dịch phát triển nhịp nhàng ăn khớp, nhất là hướng Quân đoàn 3.


Với hướng Quân đoàn 3, anh phấn khởi khi nhận được các báo cáo: đã hoàn thành trận đánh thối động chiếm căn cứ sư đoàn 25 nguỵ ở Đồng Dù và các lực lượng còn lại của sư đoàn này. Đòn thọc sâu mãnh liệt của Sư đoàn 10 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; cùng Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ tổng tham mưu nguỵ và anh hào hứng thông báo các bước tiến quân trên các hướng, đặc biệt vui sướng báo tin Quân đoàn 2 đã hoàn toàn chiếm dinh lũy cuối cùng của nguỵ quyền, cờ chiến thắng của ta đã tung bay trên dinh Độc Lập.


Sau này khi tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh anh nói lại với tôi về tâm sự và đánh giá thành công vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và nhận xét ý định táo bạo, sự chỉ đạo sắc bén, tổ chức thực hành sáng tạo, điểm đúng huyệt với những đòn đánh hiểm tạo nên đại thắng.


Anh thích thú nói về đánh chiếm Sài Gòn (thủ đô của nguỵ quyền) một thành phố lớn đông dân cư, nhiều mục tiêu trọng yếu của cuộc tổng tấn công quyết thắng: "Thế mà thành phố hầu như còn nguyên vẹn, tính mạng tài sản của nhân dân được bảo toàn! Hay thật, độc đáo thật! Một tác phẩm quân sự đáng được trân trọng. Một bài học sáng giá về đường lối chiến tranh nhân dân và nghệ thuật chỉ đạo, thực hành chiến tranh nhân dân Việt Nam. Bài học lịch sử sâu đậm sắc nét mang tính kế thừa truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam kiên cường bất khuất từ ngàn xưa "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Anh nói tiếp: "Những nhà sử học, nhà quân sự học, các nhà văn học nghệ thuật chắc chắn sẽ có nhiều tác phẩm trên nhiều loại hình phong phú hiện nay và mai sau!..."


Tiếp theo là cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia thoát nạn diệt chủng Pôn Pốt. Anh đảm nhiệm trọng trách Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia năm 1987 (Tư lệnh 719) và Phó Đại diện Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Campuchia năm 1988.


Đến khi anh về nghỉ hưu (giữa năm 1995) anh có nhiều thời gian suy nghĩ, trao đổi với nhiều người, khảo sát lại các thời điểm chiến lược, các diễn biến chiến dịch, các trận đánh lớn trên các chiến trường, các thời khắc lịch sử anh đã chứng kiến, tổng hợp và phân tích, tham gia nghiêm túc vào tổng kết chiến tranh... Những buổi nói chuyện riêng tư, anh nói rất say sưa những tâm tư thầm kín, những tư duy của mình chưa được bộc lộ một cách tự nhiên như bản sắc con người của anh.


Anh say sưa ca ngợi đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược chiến tranh nhân dân và nghệ thuật tổ chức thực hành chiến lược chiến tranh nhân dân.


Tôi hỏi anh đã viết hồi ký chưa? Anh thản nhiên nói: tổ cũng muốn viết, nhiều lúc đã phác thảo đề cương đơn giản, mấy lần gạch xoá cuối cùng thôi không viết nữa! Viết về mình thì tốt nhất bằng truyền dạy con cháu mình nên người xây dựng gia đình có gia phong tốt đẹp trở thành tế bào hữu ích cho xã hội; còn viết về đất nước về quân đội, về các vĩ nhân thì nhiều người đã viết, nhiều sách nhiều tài liệu phong phú lắm rồi.


Có lần mình định viết những suy nghĩ và lòng thán phục của mình đối với những người học trò xuất chúng của Bác Hồ là những nhà chiến lược cách mạng Việt Nam xuất sắc, nhà chiến lược quân sự lỗi lạc đã chỉ đạo và tổ chức thực hành chiến lược quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi vĩ đại. Nhưng mình không phải nhà văn nên cách thể hiện của mình nó lủng củng, dài dòng, có lần viết được vài tờ rồi lại thôi.


Tôi động viên anh cứ viết, không ngắn thì dài, không gọn thì lê thê, lủng củng, miễn là bộc lộ được suy nghĩ, tâm tư, chính kiến của mình. Không đăng báo, không in sách, để lại thành gia bảo cho cháu con mãi mãi sau này, chúng nó truyền cho nhau bằng chữ viết của ông ta, cụ ta đấy; tâm tư, quan điểm, chính kiến, suy lý của cụ kỵ ta thời đó và lịch sử thời đó - đấy không những là của báu của gia đình mà còn là báu vật của quốc gia!


Anh cười: Cậu nói cứ như mình là một vĩ nhân, mình chỉ là một anh tham mưu quèn! Song tớ sẽ tìm cách viết, khi nào sức khoẻ tốt, đầu óc nhẹ nhõm sẽ viết. Tôi bảo: Anh nói qua băng ghi âm để lại cũng được, cần gì phải viết, lúc nào thấy có việc cần viết thì mở băng ghi. Anh à lên một tiếng: - Được đấy, tớ sẽ làm thử xem!


Bẵng đi một thời gian, chợt đến ngày anh lâm bệnh nặng. Hôm đó vào khoảng cuối năm 2005 tôi đến thăm anh, không ngờ đây là lần cuối anh em còn nói chuyện được với nhau (tuy là nói chuyện nhưng anh nói không rõ lời nữa rồi!). Anh nắm tay tôi rất chặt nói không rõ lời, những vẫn tỉnh táo bình thản. Tôi động viên anh với những lời tâm tình anh em. Tôi nói chúng mình tuổi đã cao bệnh tật là khó tránh, gia đình và tổ chức hết lòng hết sức chạy chữa, có thể qua khỏi, có thể cầm cự kéo dài, cũng có thể Bác Hồ quyết định triệu tập về bên Bác! Chúng ta vui vẻ tuân theo, đó là quy luật tất nhiên!


Chúng ta thanh thản ra đi từ giã cái hành tinh đẹp đẽ này, từ giã Tổ quốc Việt Nam ngàn lần yêu qúy, từ giã cái gia đình hạnh phúc ngàn lần thương yêu và tự hào rằng "ta đã dâng cả cuộc đời cho cách mạng, cho Đảng, cho nhân dân, cho cháu con, dòng họ, quê hương và vui mừng là con cháu ta những người kế tiếp ta đã trưởng thành đủ sức để đóng góp với đời - cuộc ra đi này cũng nhẹ nhõm như khi ta nhập ngũ - nhập ngũ lần thứ hai của cuộc đời phải không anh!"


Anh nắm thật chặt tay tôi với cặp mắt sáng rực trên môi nở nụ cười và mấp máy câu nói: "Cuộc đời anh em ta thật đẹp!"

Đấy là nụ cười chiến thắng của người chiến thắng, của vị tướng gắn với những đòn đánh hiểm, những trận đánh hiệu quả cao, những chiến công vang dội - Tự hào với sự hiến dâng cả cuộc đời mình cho cách mạng - cho Tổ quốc.

K.D.T


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:42:25 pm
THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN, NGƯỜI CÁN BỘ THAM MƯU CHIẾN LƯỢC, NGƯỜI CHỈ HUY SÂU SÁT CHIẾN TRƯỜNG

Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh
Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu


Lần đầu tiên, tôi gặp anh Lê Ngọc Hiền, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi ta mở chiến dịch phản công chiến lược, đánh bại các binh đoàn cơ động (GM) của quân viễn chinh Pháp tiến công ra chiếm thị xã Hòa Bình và đường số 6.

Đồng thời đây cũng là lần đầu tiên, ta đưa cả Đại đoàn 320 và một bộ phận Đại đoàn 316 vào mở cuộc tấn công lớn vào địch hậu nam-bắc sông Hồng của Liên khu 3 và nam-bắc sông Luộc ở Quân khu Tả Ngạn để phối hợp với chiến trường chính ở Hòa Bình đường số 6.


Trong lúc chiến dịch phản công ở Hòa Bình đường số 6 đang phát triển mạnh mẽ, tôi là phái viên tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu mang một bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh chiến dịch vào địch hậu châu thổ sông Hồng đưa cho đồng chí Văn Tiến Dũng - Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 để đẩy mạnh tác chiến ở địch hậu hơn nữa, phát triển chiến tranh nhân dân, mở rộng các căn cứ du kích trong lòng địch và phối hợp với chiến trường chính ở Hòa Bình đường số 6.


Trước khi vượt sông Hồng sang Thái Bình đưa thư cho đồng chí Văn Tiến Dũng, qua Trung đoàn 64 đang tác chiến ở Đại Hoàng, Nam Định, lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 của Đại đoàn 320 vào cuối năm 1951.

Từ cơ quan Đại đoàn bộ 320 trở lại nam sông Hồng, tôi đi cùng đồng chí Lê Ngọc Hiền theo dõi và tham gia một số trận đánh của Trung đoàn 64 ở hữu ngạn sông Hồng.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, Bộ Tổng tham mưu chuyển về thủ đô Hà Nội. Đến năm 1960, tôi lại được gặp và làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền, khi đó là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Những năm 1988-1999, tôi cùng anh Hiền làm công tác tổng kết của Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi hai người về nghỉ hưu.


Vậy là tôi đã gặp và cùng làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền trong gần 50 năm, tuy có quãng thời gian cả hai người đi học ở nước ngoài hay đi các chiến trường, không được làm việc cùng với nhau, nhưng tôi có những ấn tượng, cảm nhận:

Đồng chí Lê Ngọc Hiền là một cán bộ chỉ huy dũng cảm, bình tĩnh, đi sâu sát các đơn vị ở các chiến trường nóng bỏng!

Từ khi còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Đại đoàn 320, chỉ huy bộ đội trong các trận đánh đồn ở thị xã Phủ Lý, các trận tiêu diệt các đồn bót địch, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích trong địch hậu, quần lộn với các binh đoàn cơ động của quân Pháp, khi chúng rút quân ở Hòa Bình về tiến hành các cuộc càn quét liên tiếp ở tả, hữu ngạn sông Hồng, đồng chí đã dũng cảm chỉ huy giữ vững các vùng được giải phóng.


Khi lên làm Cục trưởng Cục Tác chiến, đồng chí Lê Ngọc Hiền đã nhiều lần đi truyền đạt các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cho các Tư lệnh chiến trường trong những thời điểm chiến tranh đang diễn ra khẩn trương ác liệt. Đồng chí cũng có từng thời gian đi sát các đơn vị chiến đấu và tham gia chỉ huy các mặt trận.


Là phái viên đặc biệt vào Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, đồng chí đã ở lại một thời gian dài làm Tham mưu phó tác chiến Miền, tham gia chỉ huy trong các chiến dịch ở B2, ỏ Campuchia (Chen La 1-2) và tham mưu trưởng trong các chiến dịch ở Bình Long, An Lộc (Nam Bộ). Sau đó, đồng chí được điều ra làm Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu.


Trong chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, đồng chí thường xuống các đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị và kiểm tra các nơi vừa mới bị địch thả bom bắn phá, ác liệt lúc khói lửa còn bốc cháy!


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đồng chí là "trợ thủ đắc lực" cho Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trong chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Trong cuộc phản công chiến lược giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của bọn phản động Pôn Pốt, đồng chí Lê Ngọc Hiền làm Tham mưu trưởng trực tiếp giúp đồng chí Lê Trọng Tấn về nghiên cứu kế hoạch chiến dịch, về thực hành chiến dịch. Đồng chí đã cùng một số cán bộ tác chiến và Quân chủng Phòng không - Không quân đi trực thăng tới các mũi thọc sâu của Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ đốc chiến vào thủ đô Phnôm Pênh.


Có lần chiến sự đang diễn ra gay go ác liệt, trực thăng của đồng chí Lê Ngọc Hiền bị quân Pôn Pốt ở mặt đất bắn lên. Chờ mãi đến 5 giờ chiều không thấy trực thăng về, đồng chí Lê Trọng Tấn rất sốt ruột, không ăn cơm chiều, buồn bã đi lại dọc sân bay để mong ngóng đón chờ đoàn cán bộ và đồng chí Hiền, một người chỉ huy xông xáo dũng cảm trở về.


Đồng chí Lê Ngọc Hiền là một cán bộ tham mưu chiến lược, say sưa, miệt mài nghiên cứu kế hoạch chiến lược và là "tay hòm chìa khóa" của Tổng hành dinh.

Là một Cục trưởng lâu năm nhất ở Bộ Tổng tham mưu, sau này là Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến, đồng chí Lê Ngọc Hiền được tham gia dự thảo và được dự họp làm thư ký nhiều lần với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương khi bàn về các vấn đề chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và làm các văn bản kế hoạch chiến lược qua các cuộc chuyển biến chiến lược, đồng chí nắm và hiểu biết sâu về tham mưu chiến lược. Anh em thường nói đùa: đồng chí Lê Ngọc Hiền là "một kho tư liệu", là một "tay hòm chìa khóa" ở Tổng hành dinh.


Với tinh thần làm việc, phục vụ tận tụy các đồng chí lãnh đạo Đảng và Bộ Quốc phòng, đồng chí Lê Ngọc Hiền ngày đêm suy nghĩ về tham mưu chiến lược. Bất kỳ lúc nào thủ trưởng, cấp trên gọi là đồng chí có mặt ngay để nghe chỉ thị và nghiên cứu các vấn đề chiến lược và đồng chí cũng thường xuyên bàn bạc, tranh thủ ý kiến các đồng chí Cục phó hay cán bộ tác chiến có liên quan để nghiên cứu tìm ra kế hay và thi hành các chỉ thị, các ý kiến hướng dẫn của các đồng chí lãnh đạo. Đồng chí là một thủ trưởng Cục Tác chiến được cấp trên tin cẩn nhất và được các thủ trưởng cấp dưới (Tư lệnh Quân khu, mặt trận) rất tín nhiệm thường hỏi và tranh thủ ý kiến của đồng chí trong các vấn đề về chiến lược, về chủ trương liên quan đến Quân khu, mặt trận mình phụ trách.


Với tinh thần tích cực, cường độ lao động cao, "miệng nói tay làm", không kể ngày nghỉ, giờ nghỉ, đồng chí Lê Ngọc Hiền thường có mặt ở Sở chỉ huy Cục Tác chiến, tất cả để phục vụ chiến trường, tất cả cho bộ đội giành thắng lợi, ít thương vong.

Với tác phong công tác thận trọng và tỉ mỉ, anh em trong cơ quan khi thảo các công văn hay bức điện để thông qua đồng chí Lê Ngọc Hiền để gửi các đơn vị, đồng chí đọc rất kỹ, có khi yêu cầu cán bộ phải sửa chữa nhiều lần, có người cũng tự ái. Nhưng anh em cũng rất thương đồng chí. Nhiều lần vào những ngày cơ quan nghỉ việc, nhưng đồng chí Lê Ngọc Hiền vẫn đạp xe một mình vào phòng làm việc. Có những buổi tối, đồng chí mải mê làm việc quá khuya, tận 2, 3 giờ sáng vẫn chưa về ngủ. Mắt đỏ hoe, ngồi viết hay đọc tài liệu, ngủ gật lên, gật xuống, anh em khuyên đồng chí về nghỉ, giữ gìn sức khỏe nhưng đồng chí vẫn cặm cụi làm việc.


Đi chiến trường B2 lâu, khi ra miền Bắc đồng chí Lê Ngọc Hiền được cấp trên cho nghỉ một tuần, nhưng mới được 5 ngày do yêu cầu nhiệm vụ, đồng chí đã phải vào cơ quan làm việc suốt ngày đêm. Gần đây tôi được đọc cuốn "Anh và Thư", cuốn tự truyện của chị Lương Ngọc Thư - vợ anh kể lại có thời điểm "anh chỉ có mặt ở nhà vào bữa ăn", nhiều bữa ăn nữa ở gia đình không có mặt anh..., đặc biệt tôi rất cảm động khi xem bức ảnh "cháu Lê Ngọc Đức chưa một ngày được gặp ông".


Đồng chí Lê Ngọc Hiền có lối sống giản dị, anh bình tĩnh xử lý, kể cả với những người khi có thái độ, ý kiến không đồng tình với mình, giữ gìn đoàn kết nội bộ, đó cũng là một đức tính tốt đẹp mà anh em trong cơ quan thường ca ngợi anh. Cùng vì vậy mà cuộc sống với vợ con trong gia đình anh rất vui vẻ, hạnh phúc, con cháu anh đều thành đạt, phương trưởng.


Anh Lê Ngọc Hiền ra đi vào ngày 18 tháng 4 năm 2006, nhưng cho đến nay, chúng tôi và gia đình anh vẫn nhớ mãi hình ảnh thân yêu, đức tính nhân hậu của anh.

H.N.K


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:44:13 pm
THƯƠNG NHỚ ANH LÊ NGỌC HIỀN

Trung tướng Vũ Cao
Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu


Trong ba cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc có năm lần tôi được làm việc với anh Lê Ngọc Hiền.

Lần thứ nhất vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, anh Lê Ngọc Hiền và tôi cùng ở Trung đoàn 34 Nam Định. Lúc đó anh là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 75, ông Mai Cánh làm Tiểu đoàn trưởng, tôi làm Trung đội trưởng hỏa lực của tiểu đoàn có nhiệm vụ chiến đấu trong nội thành Nam Định. Khi nổ súng tiến công, Tiểu đoàn 75 nhanh chóng đánh chiếm sở mật thám, nhà công sứ, Tòa thị chính, tạo thế cho trung đoàn ngày đầu toàn quốc kháng chiến, làm địch bất ngờ, thất bại, tinh thần dao động...


86 ngày dêm, Trung đoàn 34 cùng công nhân nhà máy sợi và nhân dân Nam Định liên tiếp tiến công vây hãm địch. Quân Pháp ở Bắc Bộ phải tổ chức hai cuộc phản công bằng "thủy, lục, không quân" để giải vây cho Nam Định nhưng đều bị thất bại. Trung đoàn 34 được Bác Hồ tặng danh hiệu "Trung đoàn Tất Thắng"!


Để bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài, Trung đoàn 34 rút ra ngoại thành Nam Định. Tôi được điều động về Ninh Bình làm Chính trị viên Đại đội bảo vệ khu căn cứ, xa anh Hiền từ đó.

Tiểu đoàn phó Lê Ngọc Hiền rất trẻ, để lại nhiều ấn tượng tốt với hàng ngũ cán bộ lúc đó về tính tình điềm đạm, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, tác phong nhanh nhẹn gần gũi mọi người, gương mẫu trong sinh hoạt, được anh em quý mến.

Năm 1966, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, tôi được điều vào chiến trường Quân khu 4 làm Trung đoàn trưởng pháo binh cơ giới. Tôi gặp lại anh Lê Ngọc Hiền trong chiến đấu ỏ mặt trận Đường 9 - Khe Sanh,... khi đó anh giữ chức Phó Tư lệnh B5.


Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến ở Thành Nam - Nam Định đã 20 năm (1947-1967) khi gặp lại, anh vẫn giữ tính điềm đạm, trong công việc, lúc trao đổi, anh phát biểu say sưa, rõ ràng khi đánh giá địch ta, tính thuyết phục cao, có vấn đề tranh luận ý kiến trái ngược nhau anh giữ bình tĩnh kiên nhẫn, trình bày ý kiến của mình rõ ràng hơn để thuyết phục người nghe, sau đó anh tóm gọn thống nhất vấn đề....


Những năm 70, sau chiến dịch, các cơ quan, lực lượng cơ động của Bộ được lệnh rút ra chuẩn bị nhiệm vụ cho chiến dịch mới. Quảng Trị và đường 9 giao lại cho các lực lượng tại chỗ của Quân khu 4 tổ chức các trận đánh, giữ thế chiến trường.

Ngày 25 tháng 1 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341 Quân khu 4.

"Bộ trực tiếp trang bị vào tham gia chiến đấu ở chiến trường B2.

- Ngày 10 tháng 2 năm 1975, Sư đoàn phải hoàn thành công tác chuẩn bị.

- Ngày 15 tháng 2, đơn vị đi đầu xuất phát vào chiến trường. Ngày 30 tháng 2 năm 1975, đơn vị đi đầu vào vị trí tập kết ở Phước Long".

- Ngày 3 tháng 2, kỷ niệm thành lập Đảng, toàn Sư đoàn tổ chức lễ xuất phát.

- Ngày 7 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 273 hành quân đi trước, nhiệm vụ thay cho Sư đoàn 9 phòng ngự tại xóm Rốt, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, đường 13.


Lần thứ ba, tôi gặp anh Lê Ngọc Hiền ở miền Đông Nam Bộ (B2) với cương vị Tham mưu phó Miền, rồi Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc họp giao nhiệm vụ. Bất ngờ gặp lại nhau, anh hỏi tôi: "Cậu ở pháo binh sang Sư đoàn 341 bao giờ?". Tôi trả lời về Sư đoàn 341 từ ngày thành lập 23 tháng 1 năm 1972, nhưng sang bộ binh kinh nghiệm quá ít, chiến trường mới nên bỡ ngờ, nhờ anh chỉ đạo. Anh nói: "Địch, địa hình ở miền Đông Nam Bộ có khác ở Quảng Trị, ta vừa đánh, vừa rút kinh nghiệm. Với Vũ Cao có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, từ người lính lên đại đội trưởng pháo binh, ở Điện Biên Phủ, rồi chiến đấu ở chiến trường ác liệt Quảng Trị thì khó khăn, bỡ ngỡ trên chiến trường mới Đồng bằng Nam Bộ chắc chắn sẽ vượt qua.


Bộ Tham mưu Miền và Quân đoàn 4 tổ chức một đoàn do cán bộ các cục và những trợ lý ở chiến trường lâu năm xuống giới thiệu kinh nghiệm công tác tổ chức bảo đảm, kinh nghiệm nắm địch phối hợp với lực lượng tại chỗ.

Lần thứ tư, tôi gặp anh Lê Ngọc Hiền tại miền Đông, anh ân cần trao đổi với tôi những kinh nghiệm chỉ huy, quan hệ nắm địch, đặc điểm địa bàn, giúp tôi hiểu và quen biết với chiến trường mới. Sau ngày chiến đấu ở Quảng Trị đến nay đã gần một chục năm. Thấm thoát anh Lê Ngọc Hiền và tôi đã gần 50 tuổi. Chúng tôi vẫn nhớ những kỷ niệm xưa. Tác phong của anh Hiền vẫn nhanh nhẹn, thể hiện tầm cỡ chiến lược sắc sảo. Anh được mọi người khen ngợi có tóc phong sâu sát "mắt thấy, chân tới, tai nghe". Trước trận đánh, anh xác định phái đi trinh sát nhìn tận nơi. Chân phải đi tới trận địa dự kiến bố trí lực lượng. Tai phải nghe được ý kiến về địch, về ta. Tính bình tĩnh - điềm đạm - lắng nghe là phương pháp tốt nhất của người chỉ huy, của người làm công tác tham mưu.


Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất. nước thống nhất chúng tôi gặp nhau ở giữa Sài Gòn - Gia Định, mừng vui vô hạn. Quân đoàn 4 được Bộ giao nhiệm vụ quân quản, trong đó có Sư đoàn 341 phụ trách quân quản 3 quận: quận 3, quận 11, quận Bình Thạnh.


Trong thời gian làm nhiệm vụ quân quản, Sư đoàn 341 đã góp phần xây dựng tổ chức chính quyền cách mạng từ đường phố, phường, quận, ổn định an ninh trật tự xã hội, đời sống của nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã tổ chức cho nhân dân học tập về đường lối chính sách vùng mới giải phóng của Cách mạng. Tổ chức đưa dân di vùng kinh tế mới. Tổ chức các đoàn thể quần chúng. Tổ chức học tập chính sách của cách mạng cho binh lính, sĩ quan, công chức của chế độ cũ. Sư đoàn được trên đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. "Vào thành vững như thành", được nhân dân tin tưởng và quý mến.


Song song với nhiệm vụ quân quản ở thành phố Sài Gòn - Gia Định, Sư đoàn 341 được giao nhiệm vụ xây dựng khu kinh tế nông nghiệp chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.

Ba tháng lao động, toàn Sư đoàn đã bỏ ra 19 vạn ngày công đào đắp 3 vạn mét khối đất, san mặt bằng hai vạn mét vuông đắp thành 24 cái ao nuôi cá với tổng diện tích 17 héc-ta. Xây dựng 10 dãy nhà nuôi lợn, nuôi gà. Trại lợn có hơn 2.000 con 900 nái đẻ, có trại gà 2 vạn con có máy ấp gà và 2.000 con bò. Xưởng sửa chữa vũ khí, nhặt, mua thêm máy móc đã sản xuất ra máy: tách hạt, máy xay, máy nghiền máy trộn, máy sấy... để chế biến thức ăn gia súc tại khu căn cứ Long Bình và một nông trường ở đồn điền "ông Quế" 800 héc ta trồng ngô, sắn để chế biến thức ăn cho gia súc, trại cá. Ngoài việc nuôi cá mè, cá chép, cá trắm cỏ... đơn vị còn xây bể ấp cho cá mè, cá chép, cá trắm đẻ để bán cá giống cho nhân dân địa phương...!


Nhân ngày kỷ niệm 19 tháng 8 và Quốc khánh 2 tháng 9, Thượng tướng Chu Huy Mân - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến thăm và kiểm tra Sư đoàn 341. Sau khi nghe báo cáo của Tư lệnh Sư đoàn, đồng chí đi thăm các đơn vị sẵn sàng chiến đấu và các đơn vị làm kinh tế, Thượng tướng hỏi một chiến sĩ làm kinh tế: Hiện nay quân đội ta có mấy nhiệm vụ? Người chiến sĩ trả lời: Báo cáo Thủ trưởng, có hai nhiệm vụ, "Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động xây dựng đất nước!".


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:46:00 pm
Ngày 28 tháng 8 năm 1977, tôi được cơ quan Bộ thông báo: Đồng chí Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thay mặt Quân ủy Trung ương xuống giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341. Thành phần đoàn còn có Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, đồng chí Phó Tư lệnh Quân đoàn 4.


Sau khi nghe lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn báo cáo, đồng chí Thứ trưởng giao nhiệm vụ:

"Sư đoàn 341 chuyển từ đơn vị thường trực sẵn sàng chiến đấu sang xây dựng kinh tế. Tổ chức thành các nông trường, làm cơ sở để đưa dân vào, lập thành những khu kinh tế mới. Địa bàn khu La Ngà thuộc tỉnh Đồng Nai. Khi cần chiến đấu sẽ trở về đội hình Quân đoàn 4. Trước mắt, vì tình hình biên giới căng thẳng và phức tạp. Bộ quyết định điều một Trung đoàn bộ binh đi làm nhiệm vụ ở Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang".


Ngày 20 tháng 9 năm 1977, bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đồng loạt xua quân tiến công lấn chiếm trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Ngày 28 tháng 9 năm 1977, Sư đoàn trưởng và Chính ủy Sư đoàn 341 đi nghiên cứu địa hình La Ngà, Sông Ray để dự kiến quy hoạch những khu kinh tế thì nhận được điện hỏa tốc: lên Tiền phương Bộ ở Tân Sơn Nhất nhận nhiệm vụ...

Tôi và Chính ủy Phạm Thành Minh từ La Ngà về ngay Sở chỉ huy Tiền phương của Bộ. Đồng chí Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, thay mặt Bộ Tổng Tham mưu, nói: "Bọn Pôn Pốt đã tràn sang phía Tây Nam, tỉnh Tây Ninh. Tình hình hết sức nghiêm trọng". Bộ đã thông báo cho Tổng cục Kinh tế biết:


Sư đoàn 341, tạm thời dừng làm kinh tế, cơ động lên tỉnh Tây Ninh làm dự bị cho Quân đoàn 4. Khi nào hoàn thành nhiệm vụ thì trả Sư đoàn về làm kinh tế. Trước mắt tổ chức hai tiểu đoàn, ngày 30 tháng 9 năm 1977, có mặt ở huyện Bến Cầu!.

Nghe đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ xong, tôi đề nghị xin cho nghỉ mấy phút để lãnh đạo chỉ huy Sư đoàn hội ý trao đổi quán triệt nhiệm vụ và có ý kiến đề nghị với Bộ. Trong lúc nghỉ, tôi tranh thủ báo cáo với anh Lê Ngọc Hiền, qua thái độ, thấy anh có thể đồng ý với những đề xuất của Sư đoàn. Họp tiếp, tôi xin phát biểu trước:

- Tình hình, âm mưu địch, Sư đoàn nhất trí với chủ trương của Bộ. Xin đề nghị, hôm nay Sư đoàn có Trung đoàn 270 đang đứng chân ở Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Đơn vị trực thuộc và Trung đoàn pháo binh 55 đã giải tán tổ chức thành Đội sản xuất. Sư đoàn hiện nay rất phân tán. Quân số, sau chiến dịch chưa được bổ sung. Súng, pháo đã thu lại đưa về kho của Bộ ở Long Bình.

- Xin Bộ cho lực lượng toàn Sư đoàn hiện có lên Tây Ninh làm dự bị cho Quân đoàn, lực lượng mạnh hơn, sẵn sàng chiến đấu tập trung hơn.

- Xin cho Sư đoàn tổ chức lại Trung đoàn pháo binh, Tiểu đoàn trinh sát, Tiểu đoàn thông tin. Tiểu đoàn công binh... Đề nghị Bộ cấp phát trang bị và bổ sung tiêu hao trong chiến đấu cho Sư đoàn, đặc biệt cho Sư đoàn thêm thông tin vô tuyến (PRC); xin đủ xe cơ động.

- Sư đoàn hứa với Bộ chỉ 30 tiếng đồng hồ sẽ có mặt ở Tây Ninh, sẵn sàng chiến đấu!

Đồng chí Lê Ngọc Hiền nghe tôi và Chính ủy Sư đoàn báo cáo thêm về tình hình tư tưởng bộ đội. Đồng chí cho hội nghị nghỉ giải lao và vào phòng sở chỉ huy liên lạc, làm việc với cơ quan Bộ. Sau đó, hội nghị tiếp tục, đồng chí nói:

- Tôi điện xin ý kiến của Bộ, Bộ đồng ý, phê chuẩn đề nghị của Sư đoàn trưởng và Chính ủy Sư đoàn 341. Bộ chỉ thị, Cơ quan Bộ, Sư đoàn khẩn trương tổ chức lực lượng và trang bị cho sư đoàn hoàn thành đúng thời gian, sẵn sàng chiến đấu.

Ngay trong đêm 28 tháng 9, các bộ phận làm kinh tế của Sư đoàn 341 từ Sông Ray, La Ngà, Long Khánh, Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về đơn vị củng cố tổ chức, chuẩn bị mọi việc cho sẵn sàng cơ động. Hàng ngày, tôi trực tiếp báo cáo với anh Lê Ngọc Hiền về tình hình chuẩn bị hành quân của Sư đoàn.


Sáng 30 tháng 9 năm 1977, bình minh vừa bừng sáng, 1.204 xe ô tô chở cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341 vào vị trí tạp kết ở hai huyện Bến Cầu và Trảng Bàng. Tôi trực tiếp gặp anh Lê Ngọc Hiền báo cáo: Sư đoàn hành quân an toàn - Trước giờ Bộ quy định (24 giờ/ 30 giờ). Anh Hiền rất vui, đã có lực lượng dự bị sẵn sàng ...


Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341 căm thù bọn phản bội gảy nhiều tội ác với đồng bào ở biên giới. Trung đoàn 266 của Sư đoàn được lệnh tiêu diệt toàn bộ quân địch thuộc trung đoàn 182 chủ lực của Pôn Pốt đang chiếm đóng ở xóm Cây Me - Thúc Múc. Trung đoàn 266 bí mật bao vây và tiến công tiêu diệt trung đoàn 182, nhưng rất tiếc không diệt gọn vẫn còn để một số tên luồn lách chạy về Pavec.


Những ngày tiếp theo, Sư đoàn 341 cùng với lực lượng của Sư đoàn 7 tiêu diệt một bộ phận quân địch ở Pavar 1 và 2, ở Chi Pu - Pray Kôki và giữ bàn đạp để tiến công.

Ngày 26 tháng 12 năm 1977, ta tiến công trên toàn tuyến, Sư đoàn 341 đã tiêu diệt một bộ phận của sư đoàn 3 Pôn Pốt, thu 1 xe Jeep, 1 bản đồ, 1 cặp tài liệu, trong đó có 1 tài liệu nghị quyết, của trung ương Pôn Pốt và của quân khu 203. "Xác định Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp"... Thu 3 xe ôtô GMC, 2 khẩu pháo 105 ly. Những tài liệu thu được đã khẳng định, làm rõ bộ mặt phán bội của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xari.


... Ngày 12 tháng 5 năm 1985, sau khi Quân đoàn 4 hoàn thành nhiệm vụ ở khu vực tỉnh Bát Tam Băng - Poi Pét... tôi nhận được điện điều động của Bộ về nhận công tác ở Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 13 tháng 5, tôi từ Poi Pét về Phnôm Pênh. Ngày 14 tháng 5, tôi bàn giao công việc và ngày 15 tháng 5, thì về Hà Nội.

Ngày 16 tháng 5, tôi vào báo cáo với Bộ và nhận nhiệm vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu.

Trong ba cuộc chiến tranh (chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và làm nhiệm vụ quốc tế), tôi được nhiều lần làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền, một vị tướng, một cán bộ tham mưu điềm đạm, chiến đấu dũng cảm, kiên quyết, mưu trí, tác phong gương mẫu, gần gũi mọi người, được anh em quý mến!


Về sau, tôi lại được về công tác với đồng chí Lê Ngọc Hiền ở cơ quan Tổng hành dinh. Tôi nhớ mãi anh - vị tướng đã cống hiến suốt đời trong Quân đội nhân dân Việt Nam!.

V.C


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:49:10 pm
THEO ANH HIỀN ĐI "CHỐNG GIẶC NƯỚC"

Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại
Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu


Anh Lê Ngọc Hiền đi xa đã được mấy năm, song trong lòng tôi mỗi khi nhớ tới anh vẫn vô cùng thương tiếc. Tôi và anh Ngô Quang Hậu là hai cán bộ của Cục Tác chiến đã trực tiếp công tác và chiến đấu dưới sự chỉ huy của anh suýt soát mười lăm năm trời. "Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình". Kỷ niệm "vui buồn, sướng khổ" cùng nhau, biết bao điều muốn nói. Trong đó, có một điều tôi không bao giờ quên là kỷ niệm cùng anh đi "cứu đê Nội Doi" mà chúng tôi thường nói đùa là đi "chống giặc nước!"


Đó là vào tháng 7 năm 1986, thời kỳ trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội đổi mới. Lúc đó đất nước ta đang ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội nặng nề nhất. Đời sống của nhân dân, cán bộ, bộ đội vô cùng khó khăn. Thêm vào đó chiến tranh vẫn diễn ra khá quyết liệt trên chiến trường Campuchia và trên biên giới phía Bắc thuộc Vị Xuyên - Hà Giang...


Giữa lúc đó, thì nước lũ lớn kéo về, tương đương như cường độ lũ của năm 1971. Đứng trên mặt đê các sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, sông Cà Lồ, ta có thể "khỏa nước rửa chân" được. Nguy cơ vỡ đê là cực lớn. Mà vỡ đê lúc đó thì hậu quả về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội sẽ vô cùng tai hại...


Lúc đó tôi là Trưởng phòng Chiến trường Cục Tác chiến, anh Trần Văn Biền là Đại tá Phó phòng. Phòng của tôi là cơ quan trực tiếp phục vụ Bộ Tổng Tham mưu trong việc chỉ đạo chỉ huy tác chiến trên các mặt trận (về phần lực lượng Lục quân). Nhiệm vụ kiêm thêm nhưng cũng chẳng nhẹ nhàng gì, là cùng với Phòng Quân chủng, vạch kế hoạch chống lụt bão hàng năm thông qua Bộ, rồi tiếp tục điều động bố trí lực lượng và phục vụ Bộ trong việc chỉ huy các lực lượng bộ đội ứng cứu khi có tình huống khẩn cấp cần hộ đê, cứu đê và cứu dân.


Hiểu rõ tình hình chung và trách nhiệm của mình, tất cả các đơn vị được phân công hộ đê đã có mặt trên các đoạn đê được phân công ngay từ lúc lũ bắt đầu về và chuẩn bị với cố gắng cao nhất. Các sĩ quan phụ trách từng vùng đi về kiểm tra liên tục. Ở Sở chỉ huy, ngoài các sĩ quan trực tác chiến, các sĩ quan phụ trách chống lũ lụt cùng thay nhau trực 24/24 giờ.


Cho đến trước khi sự cố "cống Nội Doi" xảy ra hai ngày, tất cả các hướng đều đã đứng vững và nước lũ bắt đầu chững lại, có chiều hướng rút. Mọi người mừng hết chỗ nói. Tôi tranh thủ cùng hai sĩ quan hướng Tây Bắc lên Vị Xuyên nắm lại tình hình, việc ở nhà tạm giao cho anh Biền phụ trách. Thượng tướng Phùng Thế Tài vốn phụ trách khối quân chủng cũng có việc khẩn phải vào Nam mấy ngày. Anh vốn kiêm nhiệm Phó ban Chống lụt bão Trung ương, là người chỉ huy cao nhất, trong toàn quân về phòng chống lụt, bão, nay có việc phải vắng mặt, mọi việc đều do anh Hiền kiêm thêm. Anh Hiền lúc đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách về chỉ đạo, chỉ huy tác chiến.


Tối hôm đó, ở Vị Xuyên (Hà Giang) về khá muộn, song tôi vẫn vào sở chỉ huy ngay để nắm tình hình. Mọi việc vẫn có vẻ "xuôi chèo mát mái", tuy nhiên do linh tính hay sao, tôi vẫn sốt ruột ở lại trực luôn, thay cho anh Biền. Thế rồi sự việc bất ngờ xay ra vào thời điểm, địa điểm và cả hình thức nữa, cũng bất ngờ luôn.


Đúng 5 giờ sáng, cơ quan của Ban chống lụt bão Trung ương, gọi điện khẩn cấp. Tôi cầm máy gặp anh Đông, chuyên viên, người đã cùng chúng tôi công tác nhiều năm. Anh thông báo: "Đê sông Cầu có thể vỡ, yêu cầu Bộ Quốc phòng tham gia cứu gấp". Hỏi kỹ lại mới biết là cửa cống Nội Doi, ở hạ nguồn sông Cầu, cách Đáp Cầu 6 ki-lô-mét, có hiện tượng rò rỉ nước từ chiều tối qua, địa phương đã phát hiện, sử dụng lực lượng tại chỗ, gồm cả bộ đội và dân công khắc phục không được. Ban chỉ huy chống lụt bão Trung ương đã cử một Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và một đoàn chuyên viên xuống hiện trường ngay trong đêm. Nghĩ rằng có thể khắc phục sự cố được nên chưa yêu cầu Bộ Quốc phòng, nhưng đến 4 giờ sáng thì cửa cống bị vỡ, nước chảy ào vào nội đồng, đê bị sạt lớn, nay nguy cơ vỡ đê là rất lớn... Anh Đông liên tục xin lỗi vì thông báo muộn.


Vốn dĩ đê sông Cầu và các cống, suốt cả mùa khô đã được kiểm tra, tu bổ, gia cố khá vững, nên lực lượng mạnh nhất của bộ đội ở đó không có, chỉ có lực lượng học viên của Trường Hạ sĩ quan Hậu cần tham gia, quân số khoảng 200 người, nhưng gần một nửa là nữ.

Tôi quay điện báo cáo gấp cho anh Hiền, đồng thời lệnh cho các phương tiện trực ứng cứu (ô tô, tàu thuyền, trực thăng) sẵn sàng lên đường. Chỉ sau 10 phút, anh đã có mặt. Nghe tôi báo cáo tóm tắt trên bản đồ bố trí các lực lượng chống bão lụt, anh Hiền rất băn khoăn "tại sao lại thông báo chậm thế, "để nước đến chân" mới nhảy thế này?".


Anh chỉ thị: "Ta phải lên tận nơi và giải quyết tại chỗ!" và hỏi tôi: "Đi bằng cách nào, dùng ôtô có biển báo ưu tiên được không?". Tôi đề nghị đi bằng trực thăng, hiện đã điều về sân Bộ Tư lệnh Không quân ở Bạch Mai. Đi ôtô mà tắc đường ở cầu Long Biên (lúc đó chưa có cầu Chương Dương) và ở cầu Đuống (cũ) thì gay lắm. Anh đồng ý ngay và hạ lệnh lên đường. Tôi chỉ kịp nhờ trực ban báo cáo cho Cục trưởng và điều đồng chí trung tá Phạm Đình Thanh, một chuyên gia xây dựng công trình của Phòng, đi theo để tư vấn cho chúng tôi về chuyên môn. Giải quyết rất nhanh vậy mà khi trực thăng nổ máy cất cánh, tôi nhìn đồng hồ đã là 6 giờ 30 phút.


Chỉ 8 phút sau, chúng tôi đã tới hiện trường, song phải vòng đi, vòng lại cũng mất 8 phút trực thăng mới hạ cánh được trên một doi đất cao vì chung quanh toàn nước.

Trong khi máy bay đang lượn vòng tìm bãi đáp, chúng tôi tranh thủ quan sát hiện trường từ trên cao. Mới nhìn qua đã thấy "dựng tóc gáy". Cả một quãng đê sông Cầu khá kiên cố, đã bị khoét sâu tới nửa, trên một đoạn dài khoảng 15 mét, trông như một chiếc "răng sâu" khổng lồ. Ở giữa là cống Nội Doi đã bật nắp, nước từ sông phóng ào ào vào nội đồng. Đúng là cảnh "tháo cống". Chung quanh, một số bộ đội đang lăn những "sọt đá" khối, mỗi sọt hàng tấn đá, vậy mà chỉ một loáng nó đã bị vuốt dài xuyên qua cống vào nội đồng, nhẹ nhàng như một quả bóng bầu dục đang trôi.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:51:03 pm
Khi chúng tôi tới cửa cống, một đồng chí đại úy chỉ huy trưởng lực lượng chạy ra chào và báo cáo. "Anh chị em đã có mặt từ tôi hôm qua, ngay khi được báo động, và hiện nay vẫn đang cố gắng hết sức để lấp cửa cống". Nhìn thoáng qua đã biết mọi người kiệt sức rồi. Khi được hỏi lực lượng dân công đâu thì được biết đêm qua được huy động khá đông, song trời tối, chỉ huy lộn xộn, nên rất vướng víu, đến khi cửa cống bị vỡ, thì mọi người bỏ về hết để lo sơ tán gia đình. Khi hỏi tới cán bộ địa phương đâu, thì cũng vừa lúc có bốn người mặc thường phục tới. Anh Hiền và chúng tôi nhận ra ngay là anh Quất - Bí thư Tỉnh ủy, anh Mai Thúc Lân - Chủ tịch ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Bắc1 (Nay là tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang) và hai đồng chí thư ký.


Chủ tịch tỉnh, giọng Quảng Nam2 (Anh Mai Thúc Lân về sau là Phó Chủ tịch Quốc hội) khàn đặc, chắc vì phải hò hét, chỉ huy suốt đêm nói không ra tiếng. Anh Quất - Bí thư cho chúng tôi biết, vì đây không phải là trọng điểm nên toàn huy động lực lượng tại chỗ là chính. Lúc đầu mọi người làm rất hăng, nhưng đến khi có nguy cơ vỡ đê, họ bỏ chạy về để lo sơ tán vợ con gia đình, không cản nổi. Trước tình hình đó, các anh đã phái tất cả cán bộ Tỉnh, Huyện đi huy động lực lượng cơ động ở nơi khác, song đã trên hai giờ rồi vẫn chưa có tin, chỉ còn lại lực lượng của Trường Hạ sĩ quan Hâu cần. Hỏi đến đồng chí Thứ trưởng và đoàn chuyên viên của Bộ Thủy lợi, thì được biết các anh đó đang ở trên một chiếc ca nô lớn đậu trên thượng nguồn, cách đó vài trăm mét, tất cả chúng tôi đều đến gặp với mục đích chính là nhờ tư vấn về kỹ thuật để tính kế điều quân, phương tiện và tìm biện pháp khắc phục. Tuy nhiên, các anh cũng bí. Ý kiến duy nhất là muốn cứu được đê thì trước hết phải bịt được công, rồi mới chữa đê sạt. Điều đó thì chẳng cần chuyên môn cao, ai cùng thấy, song khi hỏi: "Làm thế nào để bịt cống" thì vẫn chỉ là đổ các rọ đá hộc để giảm tốc cho nước rồi lấp công, nhưng kết quả như thế nào thì nhìn trên hiện trường đã rõ. Chúng tôi chào tạm biệt, rồi quay về hiện trường để bàn với các anh ở địa phương. Tiễn chúng tôi lên mặt đê là một anh chuyên viên đã già. Vẻ mặt rất chất phác, thật thà nhưng rất đau khổ, anh nói với đoàn chúng tôi:

- Tôi làm nghề đê điều đã mấy chục năm, tình hình này thì đê vỡ mất thôi không cứu nổi đâu, bây giờ là phải lo cứu dân cho đờ tổn thất thôi!

Tôi cảm ơn anh vì lời nói thật đó, song riêng anh Hiền không trả lời, môi mím chặt. Đã từng chiến đấu và công tác với anh từ miền Đông Nam Bộ, tôi chả lạ gì tính nết anh. Chắc chắn là anh quyết tâm cứu đê đến cùng, chứ không chịu bó tay như vậy.

Một cuộc hội ý ngắn của chúng tôi với các anh địa phương và đồng chí đại úy diễn ra ngay sát cửa cống Nội Doi... Anh Hiền nêu ý kiến:

- Dùng máy bay trực thăng lớn Mi-6, cẩu một xe tăng T34 hỏng ở nhà máy gần đó, thả chẹn ngay cửa cống để sau đó đổ đá chèn chung quanh.

Chúng tôi đề xuất ngay là không được, vì thả một khối sắt trên 30 tấn, bằng dây đung đưa đúng cửa cống trong điều kiện nước xoáy, gió to là cực khó, chỉ cần một sơ xuất nhỏ, đập vào cửa cống là coi như phá đê luôn. Phương án đó được đồng ý bỏ luôn.

- Đánh chìm một sà lan dọc theo đê, trước cửa cống để dùng phần nổi của sà lan chặn bớt áp lực nước, để thả đá lấp cửa cống.

Phương án này rất khả thi, song anh Phạm Đình Thanh, chuyên viên công trình cho biết, muốn đánh chìm sà lan đúng chỗ phải là công binh có tay nghề cao, lớp học viên này không làm nổi. Vả lại số anh chị em này thực sự đã kiệt sức và cần thay phiên.

Anh Hiền hỏi chúng tôi: "Bây giờ điều lực lượng nào?". Đã thống nhất với anh Thanh, tôi đề nghị "Điều Binh đoàn Hương Giang vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ" và sử dụng lần lượt, vì chỉ có một binh đoàn tinh nhuệ nhất mới làm nổi. Binh đoàn này đã tham gia giải phóng Huế, Đà Nẵng và đánh thắng trận cuối cùng, bắt Tổng thống Dương Văn Minh.


Anh lại hỏi: "Tại sao cần báo động cả một binh đoàn lớn như vậy?". Tôi trình bày phương án cụ thể: Hiện trường chỗ hàn khẩu chỉ cần một tiểu đoàn nhưng phải là công binh tinh nhuệ, còn cần hai tiểu đoàn, một đứng ở Trường Sĩ quan Công binh ở ngay thị xã Đáp Cầu để xúc đóng đất ở đồi cao ngay trong trường, một tiểu đoàn vận chuyển bằng đường sông xuống, vì trên đê hiện nay dân chạy lên trú ở đó phòng đê vỡ, không vận chuyển bằng xe tải được, mà xe chở quá nặng có khi làm sạt vỡ đê thêm. Còn toàn binh đoàn, lực lượng đã rải trên các vùng đê được phân công suốt từ Lục Nam, Phủ Lạng Thương đến Phả Lại, chỉ còn lực lượng dự bị ở nhà song cần được nâng cấp báo động để sẵn sàng cứu dân, nếu đê vỡ. Với tình hình hiện nay, nếu đê sông Cầu vỡ thì dân sẽ ào lên đê, không loại trừ vỡ dây chuyền, cả ở đê các sông Đuống và sông Thương, uy hiếp cả Hà Nội. Sở chỉ huy tiền phương của binh đoàn nên đặt ở Đáp Cầu.


Nghe trình bày xong, anh Hiền từ tôn trả lời, nét mặt vô cùng đăm chiêu:

- Tôi hoàn toàn đồng ý với các anh, ngay lúc mới tới, tôi cũng đã nghĩ như vậy, song điều động cả một binh đoàn vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ là quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, với sự đồng ý của Hội đồng Quốc phòng, có nghĩa là phải hỏi ý kiến các đồng chí Thường vụ Bộ Chính trị và Thường trực Chính phủ. Với chức danh như tôi nếu làm là vượt quyền rất lớn, hơn nữa ở đây lại rất gần Hà Nội. Tuy nhiên với tình hình hiện nay nếu về xin ý kiến đã thì sẽ không kịp, mà nếu tự ý làm sai thì "tội thật không nhỏ".

Tôi báo cáo lại với anh "Việc giữ cho đê không vỡ bây giờ chỉ tính giờ chứ không còn tính ngày. Nếu ta bay thẳng lên sở chỉ huy binh đoàn chỉ mất 10 phút. Nếu điều động nhanh, chỉ một giờ sau, ta có lực lượng ứng cứu ngay. Còn nếu bay về Hà Nội thì phải về đỗ Bạch Mai, rồi về xin ý kiến đủ thì coi như để cho đê vỡ, việc gấp lắm, xin anh quyết định cho".

Tôi về Cục Tác chiến từ tháng 3 năm 1975, với thâm niên ở Tổng hành dinh 11 năm, tôi rất biết về kỷ luật trong việc điều quân tự tiện mà sai lầm. Kỷ luật nhẹ là "giáng cấp, cách chức", nếu nặng có ảnh hưởng lớn thì phải ra "Tòa án binh", nên rất thông cảm với anh.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:52:44 pm
Hai đồng chí Bí thư và Chủ tịch tỉnh ngồi nghe chúng tôi bàn, không nói một câu nào.

Mấy phút im lặng trôi qua mà tưởng dài vô tận.

Anh Hiền đứng bật dậy nói: "Thôi, vì dân ta làm, nếu sai trên có bắt tội thì chịu!". Sau đó anh quay sang bàn với các anh ở tỉnh, đề nghị ba việc:

- Cho điều một sà lan để sẵn sàng đánh chìm ở cửa cống Nội Doi.

- Tăng cường vật tư hàn khẩu tối đa, cho trưng dụng một số thuyền bè của dân để chở vật tư từ Đáp Cầu tới Nội Doi. Nhân lực địa phương tập trung vào khâu này. Việc hàn khẩu sẽ điều công binh tới.

- Tăng cường lực lượng giữ trật tự, điều tiết giao thông đặc biệt ở hai cầu Bắc Giang và Đáp Cầu, để điều bộ đội xuống nhanh. Các anh địa phương đồng ý ngay và chúc chúng tôi đi thành công...

Chỉ cần 10 phút bay, chúng tôi đã có mặt. Ở Binh đoàn Hương Giang. Và cũng chỉ 30 phút sau, đoàn tiền trạm của Binh đoàn gồm Tư lệnh, Tham mưu phó, Trưởng phòng Tác chiến, Chủ nhiệm Công binh và một số sĩ quan tham mưu chủ chốt đã cùng lên trực thăng với chúng tôi xuống hiện trường, sở chỉ huy nhẹ tiền phương do đồng chí Tham mưu trưởng dẫn đầu đi bằng xe (có chuẩn bị trước) cùng hướng Đáp Cầu thẳng tiến. Đúng là binh đoàn có truyền thống "thần tốc" của thời Xuân 1975.


Các anh ở địa phương cũng chẳng chịu thua chúng tôi. Khi chúng tôi về, anh Mai Thúc Lân - Chủ tịch đã đón sẵn. Các yêu cầu của chúng tôi đã được đáp ứng đầy đủ. Một chiếc sà lan cũ đã đậu sẵn trên thượng nguồn cửa cống khoảng vài chục mét.

Và khi đoàn cán bộ của Binh đoàn vừa xem xét hiện trường ở cống xong, thì một tiểu đoàn của trung đoàn pháo binh (tất nhiên là không có pháo) và một đại đội công binh đang hộ đê gần đó cũng đã cấp tốc về có mặt. Tư lệnh Binh đoàn bắt tay vào việc ngay:

- Dùng số chiến sĩ pháo binh mới tới thay phiên ngay cho số anh chị em học viên hậu cần có nhiệm vụ đóng đá hộc vào các rọ sắt và chằng buộc theo hướng dẫn kỹ thuật của công binh.

- Chọn một số cán bộ chiến sĩ công binh giỏi, đánh chìm sà lan dọc theo mép đi trước cửa cống.

Chủ nhiệm Công binh Binh đoàn xắn quần áo vào chỉ huy trực tiếp. Tuy nhiên, khi thực hiện do nước xoáy quá mạnh nên vị trí sà lan đánh chìm cũng không đạt được yêu cầu cao nhất, vấn đề mấu chốt quyết định thành hay bại lúc này là làm sao "bịt được cửa cống" một việc mà tất cả chúng tôi và cả các chuyên gia sừng sỏ về thủy lợi cùng bí.


Giữa lúc đó một sĩ quan tham mưu công binh trẻ, đề xuất một ý kiến bất ngờ. Anh chỉ vào thành chiếc sà lan chìm có nhiều cọc sắt nhô lên nói:

- Ta thả sọt đá tự do, nước đá cuốn trôi. Nay nếu ta chằng các sọt đá thật chặt vào các dây sắt, buộc vào các cọc sắt ở sà lan thì nó sẽ phải dừng lại ở cống. Vấn đề là phải đo cắt dây buộc sao cho các rọ đá dừng trước cửa cống, nếu dài quá nó sẽ chui vào cống, cọ xát phá vỡ công. Ta làm độ 5 sọt buộc ở 5 cọc lần lượt thả cho chúng chồng lên nhau thì sẽ bịt được cửa cống, rồi tính sau".


Thật là một sáng kiến tuyệt vời! Anh Hiền bàn với đồng chí Thái Cán cho triển khai ngay. Rọ đá đã đóng sẵn đầy đủ, việc chính bây giờ là đo đạc chính xác chằng buộc cẩn thận và neo chặt vào sà lan. Kế hoạch là thả 5 rọ đá (mỗi rọ một tấn) lần lượt trước sau 30 giây.

Khi chuẩn bị xong, tất cả ai không có nhiệm vụ phải lùi ra xa 100 mét, phòng sự cố vỡ công và vỡ đê.

Tất cả im lặng như trước giờ nổ súng của một trận đánh lớn. Khi có lệnh của Chủ nhiệm Công binh, các sọt đá lần lượt được đẩy xuống nước. Nước kéo căng dây sắt cọ vào thành sà lan nghe rít lên thật kinh khủng. Rồi im bặt. Bỗng có tiếng reo vang của anh em công binh: "Thắng lợi rồi!".


Chúng tôi chẳng ai bảo ai, chạy vội lên nhìn vào hai cửa cống. Mới trước đây vài phút nước qua cống chảy ào ạt vào nội đồng thì nay như bị vặn vòi lại tắt ngấm chỉ còn chảy "róc rách luồn theo kẽ đá". Thật mừng, chảy nước mắt.

Tiếp theo, các rọ đã được liên tiếp thả xuống để gia cố bịt hẳn cửa cống ở ngoài sông. Tốc độ làm việc thật chóng mặt. Tuy nhiên, vì cống lấp bằng đá hộc nên nước vẫn cứ rỉ qua, thêm nữa mặt đê bị sạt, cần đắp lại ra sao cũng là một vấn đề lớn cần giải quyết, vì mùa lũ vẫn còn tiếp tục. Lúc đó, các anh ở Bộ Thủy lợi cũng tới và ai cũng mừng vì đã "lấp được cống". Anh Hiền và anh Thái Cán tranh thủ ý kiến các anh ở Bộ Thủy lợi về vấn đề kỹ thuật. Thế là một cuộc tranh luận sôi nổi xảy ra, song phương án nào nghe cũng có điều bất cập.


Trước tình hình đó, Chủ nhiệm Công binh của Binh đoàn đề nghị với anh Hiền và anh Thái Cán một phương án đã được các anh ứng dụng trong bảo đảm cầu đường cho binh đoàn đánh vào tây nam Huế tháng 3 năm 1975. Đó là "bó bột cho đê".

Tóm lại như sau:

- Ở ngoài đê, đóng hàng loạt cọc bao cả đê sạt và cửa cống (gồm cả sà lan đã chìm) sau đó dùng các bao đất cát nhồi chặt chen vào giữa tạo thành một đê bao tạm thời cho nước không ngấm vào đê chính và cửa cống.

- Ở trong đồng cũng làm như vậy nhưng ngắn hơn chỉ bao tập trung ở cửa cống vì đê cũ vẫn còn.

- Mức độ kiên cố chỉ bảo đảm qua mùa lũ này. Sau khi nước rút sẽ dỡ tất, sẽ xây lại cống, đắp lại đê, trục sà lan lên lên sửa chữa.

Phương án nghe rất đơn giản, thủ công nhưng lại rất khả thi về tất cả mọi mặt từ nhân vật lực, đến phương tiện đảm bảo, nên được phê duyệt.

Thế là cả một công trường được tổ chức ngay. Người đóng cọc, người chuyển vật tư, người thì lèn đất đá. Cả khúc sông Cầu dài 6 ki-lô-mét từ Đáp Cầu, tàu thuyền, sà lan của cả quân và dân nô nức chở đất đá vào Nội Doi. Khí thế của mùa Xuân 1975.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:54:03 pm
Cho đến 15 giờ 30 phút chiều, đê bao ngoài sông đã hình thành, đê bao trong sông cũng đã đạt khoảng 80%, nguy cơ vỡ đê Nội Doi đã cơ bản được khắc phục.

Anh Hiền trao nhiệm vụ cho anh Thái Cán hoàn thành nốt, thường xuyên báo cáo về Bộ và dự kiến đến tối có khả năng hạ cấp báo động, trao đổi về kế hoạch rút quân, chỉ để lại một bộ phận công binh hỗ trợ địa phương bảo đảm. Vốn tính cẩn thận. Anh chỉ thị cho anh Phạm Đình Thanh ở lại theo dõi và thường xuyên báo cáo bổ sung riêng về Bộ cho anh. Sau đó anh đi chào và cảm ơn các anh ở địa phương và Bộ Thủy lợi đã hỗ trợ cho bộ đội trước khi ra về.


Anh và tôi ra trực thăng bay về lòng vui phơi phới. Tôi chợt nhớ lại câu nói đùa của anh với tôi vào buổi sáng nay khi sắp bay lên Binh đoàn:

- Nếu lần này, tôi có phải ra tòa, thì hai anh ra làm chứng cho tôi nhé.
Anh Thanh vốn nhanh miệng đáp luôn:

- Chúng tôi sẵn sàng ra tòa với anh với tư cách là các tòng phạm!

Nhưng bây giờ thì sẽ ra sao nhỉ? Về tới Sở chỉ huy, trong khi tôi tranh thủ tắm giặt và ăn uống ngay vì cả ngày vừa mệt vừa đói nhất là vừa khát, vì không có nước sạch để uống, thì anh lật đật đi báo cáo với cấp trên ngay.

Tới 19 giờ, anh tới Sở chỉ huy Bộ, thì mọi việc tốt đẹp, Binh đoàn xin chờ lệnh hạ cấp báo động và lui quân trong đêm để tránh rút ban ngày dễ tắc đường. Anh đồng ý và ký lệnh cho Trực ban Bộ thông báo ngay cho Binh đoàn.

Sau đó, anh vào phòng trực riêng của chỉ huy uống nước và hàn huyên với tôi. "Mình về lần lượt qua báo cáo anh Tấn1 (Đại tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng), anh Dũng2 (Đại tướng Văn Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), anh Đồng3 (Thủ tướng Phạm Văn Đồng), anh Trường Chinh, riêng anh Ba đang bệnh mình không vào được. Ở nhà qua các nguồn tin khác, các anh cùng đã biết kết quả ở Nội Doi, nên khi mình tự "kể tội", các anh đều gạt đi và khen làm như chúng ta quyết là đúng. Riêng với anh Tấn thì phấn khởi lắm vì cùng với sự nỗ lực của mọi người, đặc biệt là bộ đội Binh đoàn Hương Giang, đã "biến một việc làm không thể thành có thể".


Tôi cũng mừng cho anh.

Đang vui vẻ, bỗng trực ban chạy sang báo cáo: "Đê Phùng Khoang ở Đan Phượng, Hà Tây bị vỡ". Chúng tôi vội chạy sang. Nhìn trên bản đồ kế hoạch chống bào lụt đây là đê bối, nếu vỡ chỉ ngập một khoanh vùng hai xã. Đê này cũng nằm trong kế hoạch phân lũ, nghĩa là nếu nước quá lớn, ta sẽ chủ động phá để giảm áp lực cho đập sông Đáy ở Phùng. Vì vậy, từ đầu tuần toàn dân đã được lệnh sơ tán triệt để vào sâu, thêm vào đó ở đây đã bố trí cả một tiểu đoàn công binh cầu phà để hỗ trợ dân khi phân lũ. Hiện nay đơn vị cùng với địa phương báo cáo về, tính mạng và tài sản thóc lúa của dân đều bảo vệ được, chỉ có đang lạc một số trâu bò, công binh hỗ trợ dân tìm dắt về. Nghe báo cáo thì rất lạc quan vậy, song vì vừa bị bệnh "Hội chứng Nội Doi" ngay đêm trước, anh Hiền suy nghĩ bần thần rồi hỏi tôi:

- Biết anh mấy ngày nay rất mệt, song có đi được không? Ngồi tại chỗ mà nghe báo cáo thôi, nhỡ đêm nay vỡ đê chính ở Hà Tây là gay lắm.

Tôi trả lời sẵn sàng lên đường, cho gọi xe trực và sĩ quan hướng Quân khu 2 lên để đi xuống Đan Phượng. Anh Hiền dặn tôi tùy tình hình cứ mạnh dạn, xử trí rồi báo cáo về Bộ sau, tôi cười tủm tỉm và trả lời "rõ". Lúc tôi sắp lên xe, anh gọi giật lại, rồi chạy về xe mình, lấy một bọc to đưa cho tôi:

- Mấy anh em mang đi để ăn đêm.

Tôi giở ra thì đó là cả một chiếc "bánh mì gối" khá to. Ở thời bao cấp năm 1986, đó là của hiếm ở Hà Nội. Tôi kiên quyết không nhận. Anh Hiền bảo:

- Anh Dũng cho tôi coi như quà thưởng, trong đó có công cả của các anh nữa chứ.

Thôi thế này vậy, anh Hiền lấy dao cắt đôi, đưa chúng tôi một nửa. Anh cười rất hiền "thế là công bằng nhé, miễn từ chối".

Tôi nhận và đưa cho lái xe cầm. Anh nhìn tôi rất lâu và nắm chặt tay tôi, mãi anh mới nói:

- Thôi cố gắng nhé.

Tôi chào anh và xe nổ máy lên đường.

Giờ đây, anh Lê Ngọc Hiền đã đi vào cõi vĩnh hằng.

Tôi cũng đã trở thành một ông già tóc bạc da mồi, khi cầm bút ngồi viết, những dòng này, tôi vẫn cảm thấy như vừa bắt tay anh xong.

N.Đ.T


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:57:57 pm
ANH HIỀN CỦA TÔI

Thiếu tướng PGS. Ngô Huy Phát*
Nguyên Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường - Bộ Quốc phòng. Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320


Anh Lê Ngọc Hiền là một trong những người chỉ huy trực tiếp mà tôi mến phục vì tài năng đức độ của anh. Thời gian gắn bó với anh tuy không nhiều, chủ yếu là thời còn trẻ trong kháng chiến chống Pháp nhưng đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng khó quên. Trước ngày gặp anh, tôi đã bị chinh phục bởi chiến thắng oanh liệt Hoàng Dương - Tử Dương (5-1950) của đơn vị anh. Trận đánh do anh chỉ huy, bộ đội đã táo bạo vận động giữa ban ngày trên địa hình trống trái bờ đê thuộc lưu vực sông Đáy, huyện Ứng Hòa. Ta diệt hơn 2 đại đội lê dương trong đợt chúng tiến công ra chiếm 4 huyện phía nam Hà Đông (Thanh Oai - Thường Tín - Phú Xuyên - Ứng Hòa).


Thời ấy, đây là trận thắng lớn nổi danh cả vùng. Cái mới, cái hay của nó lại là trận đánh mở đầu cho một cách đánh mới mà sau này tổng kết ta gọi là chiến thuật "vận động tiến công". Lúc ấy, tôi hình dung người Tiểu đoàn trưởng tài ba ấy phải là người già dặn chiến trận. Nhưng thật bất ngờ khi lần đầu tiếp xúc với anh Lê Ngọc Hiền (cuối 1950) khi anh về nhận nhiệm vụ Trung đoàn phó đơn vị tôi thì lại là một chàng trai to con, đẹp trai hồng hào, dáng vẻ thư sinh nhiều hơn là con người của trận mạc. Tôi lúc đó là Bí thư của Trung đoàn trưởng Lê Quân, kiêm Trưởng ban Hành chính nên có nhiều dịp tiếp xúc với anh. Những lúc rỗi rãi anh em chuyện trò thân mật, tôi cảm thấy ở anh là người cởi mở, dễ gần, chân thực, chân tình, có điếu thuốc cũng bẻ nửa chia đôi.


Đơn vị lúc ấy đang chấn chỉnh tổ chức để về tập trung thành lập Đại đoàn, tôi tranh thủ đề nghị với anh cho tôi xuống đại đội chiến đấu nhưng anh cho biết: Thường vụ Đảng ủy đã cân nhắc sắp xếp tôi về làm Trưởng tiểu ban Tác huấn Ban Tham mưu Trung đoàn. Tôi nhớ lúc ấy tôi phản ứng ngay: "Tôi biết gì về Tham mưu mà bắt tôi làm". Anh Hiền giải thích: "Trung đoàn nay đã là bộ đội binh chủng hợp thành đánh tập trung có nhiều vấn đề khẩn trương phức tạp trong chiến đấu cũng như trong xây dựng nên cần có các cơ quan giúp việc, mà lập ra cơ quan Tham mưu là để tham gia mưu mẹo và tổ chức triển khai thực hiện, biến ý định quyết tâm của người chỉ huy thành chiến thắng. Tiểu ban Tác huấn là bộ phận đầu ngành của Ban Tham mưu phải có kiến thức và đoàn kết tốt với các bộ phận thì mới ra mưu mẹo đúng đắn được...". Những lời khuyên ấy đã như bài học vờ lòng chỉ dẫn tôi trong công việc mới sau này.


Lần này anh Lê Ngọc Hiền ở với chúng tôi không lâu, khoảng hơn một năm. Quý III năm 1951, anh Hiền được đề bạt làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, cùng trong Đại đoàn. Khoảng cuối năm 1952, anh được điều động về làm Trung đoàn trưởng đơn vị tôi, thay thế Trung đoàn trưởng cũ hy sinh. Anh về đúng lúc như tăng thêm niềm tin, ổn định tư tưởng đơn vị trước mất mát lớn của chúng tôi. Thu - Đông 1952, đơn vị chúng tôi tiếp tục trở về hoạt động vùng địch tạm chiếm các tỉnh phía nam đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với chiến trường chính Tây Bắc do Bộ mở.


Anh Hiền chỉ huy Trung đoàn chúng tôi đánh nhiều trận trong đó có trận đánh cứ điểm Vô Tình (gần chùa Cổ Lễ) diệt viện trên đường 21 Nam Định - Nam Trực, để lại trong tôi ấn tượng khá sâu sắc. Ấy là bài học "Kiên định quyết tâm, thắng không kiêu, bại không nản, linh hoạt, táo bạo khi có thời cơ".


Đêm 25 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 1 đánh cứ điểm Vô Tình, nhưng thất bại, bộc phá dùng hết mà cửa vẫn chưa được mở. Đơn vị lui quân, anh suy tư nhiều. Ngày hôm sau, anh Hiền cùng đơn vị rút kinh nghiệm, động viên anh em giữ vững quyết tâm, đồng thời đề nghị cấp trên xin đánh tiếp. Đêm 26 tháng 11, anh cùng cán bộ đi trinh sát thực địa xác định phương án. Ngày 27 tháng 11 chuẩn bị, đêm đánh luôn.


Kết quả thật bất ngờ, ta làm chủ căn cứ quá nhanh, địch không kịp báo cáo đồn thất thủ lên trên, bọn chỉ huy ở Nam Định vẫn yên chí đồn chưa mất. Qua đài VTĐ địch, ta phát hiện vấn đề này, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hòa ở trong căn cứ đề nghị và được anh chấp thuận cho lập kế nghi binh lừa địch, buộc chúng tiếp tế cho cho quân đi giải tỏa để ta diệt viện. Địch cho máy bay liên lạc kiểm tra, ta diễn như thật, làm như hai bên vẫn nổ súng cầm cự. Quả nhiên chúng mắc lừa. Chiều 28 tháng 11, địch đã biếu không ta hơn 70 dù đạn cối, thuốc men và một đại đội biệt kích cho Tiểu đoàn 2 đánh viện mà điểm chặn đầu là căn cứ Vô Tình. Tôi nhớ mãi bài học kinh nghiệm này ở anh.


Lần này, anh Hiền ở với chúng tôi cũng không được lâu, chỉ khoảng một năm. Sau kết thúc chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình, anh lại chuyển sang đơn vị khác và từ đó không có dịp trở lại Trung đoàn chúng tôi nữa. Nhìn lại quá trình công tác với anh, tôi thấy anh là người chỉ huy khá toàn diện, đánh công kiên, vận động, chống càn, môn nào cùng giành thắng lợi. Nhưng tôi cảm thấy ở với đơn vị tôi, anh Hiền có "duyên" nhiều với môn đánh vận động, nó đòi hỏi người chỉ huy thường phải chủ động quyết đoán, có trí táo bạo linh hoạt, mà ở anh có đầy đủ các phẩm chất ấy và anh đã dày công truyền cho chúng tôi những phẩm chất quý báu ấy.


Tôi nghĩ vậy bởi từ thực tế trận vận động tiến công Hoàng Dương - Tử Dương (1950), khi anh Hiền là Tiểu đoàn trưởng. Năm 1951, anh là Trung đoàn phó được phản công đi với Tiểu đoàn 1 kết hợp cùng quân dân địa phương chỉ đạo một đêm diệt 7 đồn, phá vỡ hệ thống phòng thủ bắc Sơn Tây của địch. Sáng hôm sau, địch cho một đại đội Âu-Phi theo quốc lộ 32 (Sơn Tây - Trung Hà) đến giải tỏa thì bị Tiểu đoàn 2 vận động phục kích tiêu diệt. Cùng thời điểm, chúng còn cho một đại đội Âu-Phi khác luồn rừng vu hồi phía sau đội hình Trung đoàn. Ta hoàn toàn bất ngờ với toán quân này. Tiểu đoàn 1 sau trận đánh đêm đang thu quân trên đường 32 thì bất ngờ gặp địch, anh em hầu như phải đánh tao ngộ ngay với địch. Anh Hiền cùng đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyền Xuân nhanh chóng điều một trung đội chiếm gò đất gần đó chặn chính diện, còn chủ lực bí mật vu hồi bên sườn, phía sau bao vây chia cắt tiêu diệt địch. Trận đánh nhanh chóng kết thúc. Tên trung úy chỉ huy phải tâm phục khẩu phục nộp súng, bản đồ và thốt lên: "Các ông rất kiên cường, đánh rất dũng cảm và thông minh".


Chiến thắng này góp phần cùng các đơn vị bạn và quân dân địa phương giành thắng lợi lớn cho trận đầu ra quân của Đại đoàn Đồng Bằng: một ngày đêm diệt 9 đồn, đánh liền 2 trận vận động, chiếm được khẩu pháo 105 ly, giải phóng cả vùng bắc Sơn Tây và buộc địch phải rút bớt lực lượng cơ động ở chiến trường chính Trung Du về đồi phó. Đại đoàn 320 đã quyết định lấy ngày 16 tháng 1 năm 1951, làm ngày truyền thống.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 16 Tháng Chín, 2026, 06:59:34 pm
Tháng 11 năm 1953, khi anh Lê Ngọc Hiền làm Trung đoàn trưởng, một lần địch từ căn cứ Ghềnh trong chiến dịch tây nam Ninh Bình xuống càn phá khu vực Bỉm Sơn. Anh điều Tiểu đoàn 2 đến Bỉm Sơn thì địch đã theo đường rút về Ghềnh. Cùng lúc này trinh sát phát hiện địch từ trong rừng tuồn ra Dốc Giang - Sòng Cạn (điểm trên đường 45 Phố Cát - Rịa). Anh đã nhạy bén phán đoán tình hình và ra lệnh ngay cho Tiểu đoàn 3 đang ở Phố Cát: "Địch từ Bỉm Sơn có một cánh luồn rừng về Rịa, đầu nó đã qua Dốc Giang - Sòng Cạn, tiểu đoàn nhanh chóng vận động chặn đầu nó lại, chủ lực tam mãnh1 (Tam mãnh: mãnh đả, mãnh xung, mãnh truy) diệt chúng (cụm từ anh Hiền thường dùng khi nói về chiến thuật). Đồng thời, anh ra lệnh cho Tiểu đoàn 2 luồn rừng đánh thốc phía sau lên. Kết quả, Tiểu đoàn 3 đã kịp thời chụp được đoạn cuối đội hình địch, diệt 1 tiểu đoàn lính ngụy Thái và 1 đại đội Âu-Phi. Trận đánh giành thắng lợi và cũng là trận đánh cuối cùng anh ở với chúng tôi.


Sang thời đánh Mỹ, tháng 1 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiền là Phó Tổng Tham mưu trưởng đi cùng Đại tướng Văn Tiến Dũng vào chiến trường, đại diện Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh chỉ đạo trực tiếp chiến dịch Tây Nguyên. Sau này, anh kể lại: "Ngày 15 tháng 3 nhận được điện Hà Nội báo ngày 14 tháng 3, Thiệu (Tổng thống ngụy Sài Gòn) lên Pleiku họp với Phú (Tư lệnh quân khu 2), cấp trên nhắc địch có thể tổ chức quân viện chiếm lại Buôn Ma Thuột, đồng thời có gợi ý không loại trừ khả năng chúng rút bỏ Tây Nguyên.    Anh Văn Tiến Dũng suy nghĩ nhiều, cả đêm 15 mất ngủ, nhưng sáng ngày 16 anh quyết định chuyển Sư đoàn 320 từ sẵn sàng đánh viện nhanh chóng chuyển thành thế chặn vây diệt không cho địch rút. Đồng thời, anh Dũng trực tiếp ra lệnh và động viên Sư đoàn 320 thực hiện nhiệm vụ mới...". Tuy anh Hiền không nói rõ vai trò của cơ quan Tiền phương Bộ đã tham gia như thế nào vào quyết tâm mới này, nhưng chúng tôi cũng dễ hiểu sự bận rộn của cơ quan trong việc thu thập tin tức, tổng hợp trao đổi tình hình để kịp thời đề đạt ý kiến cho người chỉ huy hạ quyết tâm.


Kết quả, từ ngày 17 đến 23 tháng 3, Sư đoàn 320 chúng tôi đã kịp chặn đứng địch và thực hiện "Tam mãnh" như anh thường dạy chúng tôi. Toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên rút theo đường bộ bị tiêu diệt, gồm 1 trung đoàn bộ binh, 6 liên đoàn biệt động quân (tương đương 6 trung đoàn), 4 thiết đoàn (tương đương 4 trung đoàn xe tăng thiết giáp) cùng hàng ngàn xe pháo các loại, góp phần cùng các đơn vị bạn và quân dân Tây Nguyên làm tan rã quân đoàn 2, quân khu 2 của địch, giải phóng Tây Nguyên, phát triển giải phóng thêm một số tỉnh duyên hải Trung Bộ, tạo thế thời cơ mới cho việc sớm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Lần thứ ba gắn bó với anh cũng là lần có thời gian dài nhất, đó là khi anh và tôi về hưu. Tôi ở cùng dãy phố với anh, cùng hoạt, động trong Ban liên lạc tình nghĩa các Cựu chiến binh Trung đoàn 48 Thăng Long mà anh là Trưởng ban. Anh cùng chúng tôi tận tâm giúp các gia đình liệt sĩ tìm mộ cũng như giải quyết các chính sách. Mặc dù những năm cuối đời, anh mang bệnh hiểm nghèo, nhưng khi sức khỏe cho phép, anh chịu khó đi sinh hoạt với các tổ. Anh chuyện trò thân mật, ôn lại những năm tháng hào hùng xưa, thăm hỏi anh em đau ốm, thăm viếng gia đình người quá cố.


Rất tiếc những ngày anh ngã bệnh nặng, khi tôi được tin đến thăm thì anh mệt nhiều chỉ còn nhìn nhau, nắm tay nhau, truyền cho nhau nghĩa tình thân ái đồng chí, đồng đội nhiều hơn là chuyện trò thăm hỏi. Vĩnh biệt anh Lê Ngọc Hiền, cuộc đời một người oanh liệt trọn vẹn, bạn bè nể trọng và quý mến. Hình ảnh của anh, người chỉ huy tài năng và đức độ vẫn luôn sống mãi trong tôi.

N.H.P


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:05:01 pm
NHỚ ANH LÊ NGỌC HIỀN
NHỮNG NGÀY TRÊN ĐẤT BẠN

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm
(Ba Cung)
Nguyên Phó Tư lệnh Mặt trận 479,
Đoàn trưởng Đoàn K88 chuyên gia giúp bạn Campuchia


Bè lũ phản động Pôn Pốt - Iêng Xari gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Tổ quốc ta. Chúng biến "bạn thành thù", tàn sát đồng bào ta một cách dã man, gây bao cảnh đầu rơi máu chảy. Trung thành với đường lối quốc tế của Đảng, quân đội và nhân dân ta vẫn duy trì tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, phấn đấu giải quyết cuộc tranh chấp bằng hòa bình thương lượng. Nhưng chúng ta càng đi theo con đường hòa bình thương lượng, thì chúng càng đẩy cuộc chiến leo thang, máu của nhân dân ta càng tiếp tục đổ, tội ác của chúng đối với nhân dân ta càng chồng chất. Lúc đó, cuộc chiến không còn mang tính chất địa phương, cục bộ trên từng đoạn biên giới, mà đã diễn ra trên toàn tuyến biên giới thuộc địa bàn ba Quân khu 5, 7, 9. Với giọng lưỡi của kẻ vừa ăn cắp vừa la làng, chúng đưa 19 sư đoàn vừa chủ lực, vừa địa phương áp sát biên giới mình, chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược lớn, nhưng đồng thời chúng lớn tiếng gào thét "Việt Nam xâm lược Campuchia" để đánh lừa dư luận nhân dân thế giới. Tình hình đó đã thực sự biến cuộc chiến mang tính chất toàn quốc. Quân và dân ta xác định rõ kẻ thù, quyết tâm đánh bại bọn phản động Khơme đỏ và các thế lực phản động quốc tế giật giây sau lưng chúng, bảo vệ vững chắc đường biên giới và vẹn toàn lãnh thổ. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân và các binh đoàn chủ lực đã vào cuộc.


Trong khi đó, nội tình đất nước Campuchia ngày càng rối ren, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari ra sức thanh trừng nội bộ và thực hiện đường lối diệt chủng dân tội tình, dưới chiêu bài "cách mạng triệt để" và xây dựng "chủ nghĩa xã hội đặc biệt". Chúng xóa bỏ toàn bộ thành quả cách mạng do nhân dân Campuchia đổ bao xương máu qua hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, Mỹ xâm lược mới giành được. Chúng phá hoại và làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Ăngko, xây dựng một xã hội kỳ quặc: không tiền hàng, không chợ búa, không trường học, không chùa chiền, thủ tiêu toàn bộ chế độ tư hữu, thiết lập một chế độ tập thể không tưởng. Chúng thực hiện xáo dân, đảo lộn tập quán làng mạc và nếp sống gia đình, cơ cấu tận cùng của xã hội, cưỡng bức nhân dân rời bỏ quê hương vào sông trong các "công xã" thực chất là trại giam trá hình, lao động khổ sai như nô lệ. Ai chống lại, hoặc không ăn cánh với chúng thì bị chúng giam hãm, tra tấn tù đày và thẳng tay sát hại. Theo con số thống kê chưa đầy đủ, sau ba năm, tám tháng, 20 ngày cầm quyền của cái gọi là "Campuchia dân chủ", chúng đã giết hại hơn 2.700.000 người vô tội, trong đó hàng vạn trí thức, nhà giáo, sinh viên, nhà sư và cán bộ, chiến sĩ, đảng viên ưu tú của cách mạng Campuchia. Tức nước vỡ bờ, không thể cam tâm im lặng, một số cán bộ chân chính đã vận động nhân dân nổi dậy chống lại đường lối diệt chủng của bọn Pôn Pốt ở nhiều nơi.


Ông Hun Sen (nay là Thủ tướng Vương quốc Campuchia) lúc đó là Trung đoàn phó của Trung đoàn 21, Kôngpông Chàm, đã cùng số đồng đội chí thân ly khai chế độ diệt chủng và chạy sang Việt Nam tìm đường cứu nước. Ông vận động những thanh niên yêu nước, yêu dân tộc tập hợp lại, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang chống Pôn Pốt. Tôi hân hạnh được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, trực tiếp là Thượng tướng Trần Văn Trà - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu giao cho nhiệm vụ trực tiếp với ông Hun Sen, giúp bạn xây dựng "lực lượng vũ trang đoàn kết dân tộc cứu nước". Lúc đầu là Phó phòng K, sau là Chính ủy Bộ Tư lệnh Đoàn 778, giúp bạn xây dựng lực lượng theo yêu cầu của ông Hun Sen.


Cuối tháng 4 năm 1978, tôi được mời đến cơ quan Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân ở phía Nam tại Tân Sơn Nhất, gặp Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền; thái độ tiếp xúc ban đầu và tác phong chân chất, giản dị của đồng chí làm tôi rất dễ gần gũi, chẳng khác gì lâu ngày được gặp lại người anh trong gia đình. Đồng chí cho tôi biết là mình đang làm nhiệm vụ ở tiền phương Bộ Tổng tham mưu, tham gia chỉ đạo lực lượng ta tác chiến chống quân Pôn Pốt xâm lược ở mặt trận biên giới Tây Nam. Với lời lẽ đầy tâm sự, đồng chí nói lên nỗi băn khoăn của mình về việc phải đánh nhau với một kẻ thù mà mới trước đây là bạn, chung một chiến hào chống quân xâm lược Pháp và Mỹ. Đồng chí nói: "Đảng và Chính phủ ta vẫn kiên trì đường lối hòa bình, thương lượng để giải quyết việc tranh chấp biên giới do Pôn Pốt gây nên. Còn muốn đánh thắng triệt để đối với tập đoàn Khơme đỏ phản động, vừa gây chiến với bạn, vừa giết hại dân tộc mình thì phải đánh sụp đổ chế độ diệt chủng của chúng, vì đó là nguồn gốc của cuộc chiến tranh. Mà muốn làm được việc ấy, phải chính là lực lượng của bản thân cách mạng Campuchia".


Tướng Lê Ngọc Hiền đứng dậy, bước lại vỗ vai tôi với thái độ và giọng nói đầy thân mật. Ông bảo: "Ấm được giao nhiệm vụ giúp đỡ Hun Sen xây dựng lực lượng đoàn kết cứu nước Campuchia là một vinh dự và vô cùng quan trọng, mà Ấm biết tiếng Campuchia là điều kiện rất thuận lợi...". Đồng chí khuyên tôi cố gắng giúp bạn, "nay lực lượng bạn còn nhỏ yếu, nhưng là cái vốn rất quý, đóng vai trò rất cơ bản và có tính chất quyết định cho sự nghiệp cách mạng Campuchia, đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong tương lai, lực lượng ấy sẽ cùng nhân dân phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, cách mạng Campuchia nhất định thành công!". Đồng chí căn dặn: "Bộ Tư lệnh Đoàn 778 phải thường xuyên quan hệ với tiền phương Bộ Tổng tham mưu, để theo dõi nắm tình hình ngoài chiến trường, sẽ có ích trong công tác giúp bạn xây dựng lực lượng!".


Chia tay Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền tại cơ quan tiền phương Bộ Tổng tham mưu ở phía Nam, những lời động viên, dặn dò chân tình của đồng chí đã góp phần giúp tôi thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong những ngày đầu giúp bạn.

Cho đến tháng 9 năm 1987, tôi đang là Phó Tư lệnh Mặt trận 479 kiêm trưởng chuyên gia chính trị giúp khu vực 4 của lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia (tổ chức khu vực tương đương cấp quân khu) với cấp quân hàm Thiếu tướng, được Bộ Quốc phòng Việt Nam điều động về Phnôm Pênh, làm "phái viên" bên cạnh Bộ Tư lệnh 719 (tức Bộ chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia).


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:08:16 pm
Lúc này, Đại tướng Lê Đức Anh và Thượng tướng Đoàn Khuê đã được Nhà nước điều động về nước và được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được bổ nhiệm làm Tư lệnh Mặt trận 719, thay đồng chí Lê Đức Anh.


Thượng tướng Lê Ngọc Hiền nhận nhiệm vụ Tư lệnh 719 trong lúc cách mạng Campuchia xuất hiện tình thế chiến lược mới. Đảng Nhân dân cách mạng Campuchỉa và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Campuchia cùng lúc tiến hành hai nhiệm vụ, vừa chỉ đạo chiến tranh đánh bại hoạt động phá hoại của lực lượng liên minh ba phái (Pôn Pốt, Srây Ka, Mulinaka) chống chính phủ, vừa tích cực đấu tranh tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Cuộc đàm phán đầu tiên giữa Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa nhân Campuchia Hun Sen và đại diện liên minh ba phái Hoàng thân Nôrôđôm Xihanúc diễn ra tại Pa-ri. Những sự kiện trên tác động không ít đến nhận thức, tâm tư, tình cảm của các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, đòi hỏi người Tư lệnh phải bình tĩnh, nhận thức đúng đắn trong hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn.


Về đến Phnôm Pênh, tôi được gặp lại Thượng tướng Lê Ngọc Hiền lần thứ hai. Lần này tôi được sống chung và phục vụ công tác cho đồng chí được gần tròn một năm. Nhiệm vụ của tôi lúc này là giữ vai trò liên lạc giữa Bộ Tư lệnh 719 và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia. Sống bên cạnh và làm việc chung với đồng chí Lê Ngọc Hiền, tôi đã học tập nhiều ở đồng chí tác phong tỉ mỉ, lề lối làm việc thực sự cầu thị, thái độ luôn hòa nhã với cấp dưới cũng như với tất cả mọi người. Những ý kiến, những vấn đề mới về xây dựng, hay hoạt động của lực lượng vũ trang có liên quan đến sự hiệp đồng, hay giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam cần trao đổi hoặc xin ý kiến Bộ Chính trị bạn, đồng chí Lê Ngọc Hiền truyền đạt cho tôi thật tỉ mỉ, chu đáo, làm cho tôi nhận thức đúng và đủ, để báo cáo với các đồng chí thường trực Bộ Chính trị bạn.


Thông qua các đồng chí thường trực Bộ Chính trị bạn như Heng Xomrin, Chia Sim, Hun Sen, Bu Thoong, Tia Banh, sau khi nghe tôi báo cáo, đã trao đổi thảo luận và có ý kiến thống nhất trả lời, tôi ghi chép cẩn thận về báo cáo lại với đồng chí Lê Ngọc Hiền, có lúc với cả đồng chí Lê Hai và đồng chí Lê Khả Phiêu. Mỗi lần như vậy, tôi cảm nhận thấy đồng chí Lê Ngọc Hiền rất chú ý lắng nghe ý kiến của tôi và bàn bạc tỉ mỉ với các đồng chí Lê Hai, Lê Khả Phiêu để thống nhất và trở thành ý kiến chỉ đạo cho các mặt trận, các cơ quan 719 và Đoàn 478, chuyên gia Quân sự Trung ương giúp bạn.


Ngoài công tác chỉ đạo hằng ngày, đồng chí Lê Ngọc Hiền rất quan tâm đến đời sống của cán bộ, nhân viên. Đồng chí thường nhắc nhở, động viên anh em chăn nuôi và trồng rau để cải thiện bữa ăn. Bản thân đồng chí đã chăn nuôi đàn ngan (vịt xiêm) đẻ trứng và ấp nở hàng chục con, được đồng chí chăm lo chu đáo, ngan con chóng lớn. Sáng sáng, ngan mẹ dắt đàn ngan con hàng chục con đi ăn ở bãi cỏ trước nhà, trông rất đẹp mắt. Ai cũng khen, anh em gọi đùa đó là đoàn xe tăng của ông Bảy Hiền. Vì thế, cái tình gần gũi của vị Thượng tướng Tư lệnh với cán bộ, nhân viên càng chặt chẽ hơn.


Sau đó, theo sự thống nhất giữa ta và bạn, cuối tháng 8 năm 1988, Bộ Tư lệnh 719 (Bộ Chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam trên đất Campuchia) rút quân về nước. Tôi được Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định làm Đoàn trưởng Đoàn K88, tiếp tục làm nhiệm vụ giúp bạn cho đến ngày Quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang trở về Tổ quốc. Buổi chia tay đầy cảm động, với tư thế của một người anh, đồng chí Lê Ngọc Hiền đã dặn dò tôi tất cả những gì anh cần dặn...


Tiễn các đồng chí cơ quan Bộ Tư lệnh 719 ở sân bay Pôchentông dạt dào tình cảm đồng chí, đồng đội; kẻ ở, người về, đặc biệt với đồng chí Thượng tướng Lê Ngọc Hiền còn đọng mãi trong tôi. Cho đến một năm sau, tại Hội trường Thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 11 năm 1989, tôi gặp lại Thượng tướng trong buổi lễ đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất về thành tích giúp bạn Campuchia, do Nhà nước ta trao tặng1 (Thượng tướng Lê Ngọc Hiền và tôi là hai trong số 11 người được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất). Bên lề buổi lễ, với tư cách Tư lệnh Mặt trận 719, người thủ trưởng cũ ở chiến trường Campuchia, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã giới thiệu tôi, một cộng sự đắc lực, với Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh cả của quân đội ta, cùng với giọng nói ân cần, ấm áp như ngày nào cùng chung công tác trên chiến trường.


Và nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7.1.1979 - 7.1.1999), Ban liên lạc truyền thống Mặt trận 719 tổ chức cuộc họp mặt tôi Hội trường C59 của cơ quan Bộ Tổng tham mưu ở phía Nam. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã không quản ngại đường xa, từ Hà Nội đáp máy bay vào dự. Trong lời phát biểu đầy tình cảm của mình, với danh nghĩa một vị tướng Tư lệnh chiến trường, từng tham gia chống chiến tranh xâm chiếm biên giới Tây Nam do Pôn Pốt gây nên từ những ngày đầu, cho đến kết thúc nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Campuchia, với vai trò Tư lệnh, đồng chí đã cùng tập thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận 719 ôn lại quá trình giúp bạn kịp thời, có hiệu quả, góp phần cứu đất nước và dân tộc Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng rất vinh quang và rất đỗi tự hào. Tôi có ngờ đâu đó là lần gặp cuối cùng, năm 2006, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền vĩnh viễn ra đi về với cõi vĩnh hằng.


Ngày nay, mỗi lần giở những trang hồi ký "Một thời để nhớ" của tôi, tôi chỉ gặp Thượng tướng Lê Ngọc Hiền trong tấm ảnh phóng viên đã chụp được tại Hội trường Thống nhất, sau khi đồng chí giới thiệu tôi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Gương mặt hiền từ, đôn hậu, nụ cười cởi mở năm nào của đồng chí đã làm cho lòng tôi tưởng nhớ đến đồng chí - một người anh! Anh Lê Ngọc Hiền ơi! Tưởng nhớ anh, với những dòng ngắn ngủi này xin một nén hương thơm, cầu chúc linh hồn anh được siêu thoát.

P.Đ.A


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:16:33 pm
THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN,
ANH BẢY HIỀN TRONG KÝ ỨC CỦA TÔI

Thiếu tướng Hồ Văn Sanh*
(Bảy Sanh)


Do hoàn cảnh công tác, tôi cũng như nhiều cán bộ miền Nam ít có điều kiện gặp gỡ và làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền. Khi tập kết ra miền Bắc, tôi chỉ một lần được gặp đồng chí một cách tình cờ ở Trạm 66 và được nghe anh em nói về đồng chí. Lúc ấy đồng chí rất trẻ, rất khỏe mạnh, đang phụ trách một chức vụ quan trọng. Cuộc gặp gỡ ấy đã cho tôi một ấn tượng tốt về đồng chí. Tôi ước ao quân đội là có nhiều cán bộ "bề thế" như vậy. Sau đó, tôi về Nam chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, tôi thường được nghe nhắc đến tên đồng chí qua các công văn, chỉ thị từ miền Bắc gởi vào, và do đó, tôi biết đồng chí là một vị tướng lĩnh chủ chốt ở Bộ Tổng tham mưu. Mãi đến khi làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia tôi mới gặp lại đồng chí Lê Ngọc Hiền, lúc ấy là người chỉ huy quân tình nguyện. Chúng tôi thường gọi đồng chí với cái tên thân mật theo kiểu miền Nam là anh Bảy Hiền!


Trong quá trình làm việc với anh Bảy, chúng tôi có ấn tượng chung là anh Bảy "hiền" thật. Đối với cán bộ, anh luôn vui vẻ, cỏi mở, rất dễ gần gũi. Có gì cần uốn nắn, anh thường gặp gỡ, nhắc nhở, trao đổi không bao giờ quy chụp, đao to búa lớn. Ngoài giờ làm việc, anh thường chủ động "xáp vô" với chúng tôi, trò chuyện tìm hiểu... Dường như anh cũng muốn "Nam Bộ hóa" trong khi giao lưu với các "anh hai Nam Bộ", nhưng anh "nhập vai" rất khó. Vậy mà anh em chúng tôi rất quý mến và kính nể anh Bảy do phong cách của anh trên cương vị là người chỉ huy tài năng, là người anh mẫu mực.


Riêng tôi có vài điều rất đáng nhớ về đồng chí Lê Ngọc Hiền.

Một lần tôi đang ngồi với mấy cháu nhỏ người Campuchia trước sân chùa nơi Sở chỉ huy của đơn vị, nhờ các cháu dạy nói và dạy viết. Anh Bảy và mấy cán bộ đi vào chùa mà tôi không hay. Và anh cũng lẳng lặng ngồi xem tôi học. Đến khi mấy cháu "báo động" là có khách, tôi chạy vào thì anh bắt tay vui vẻ nói luôn:

- Hoan hô cậu học trò già của các cháu trẻ! Hoan hô các thầy giáo trẻ của cậu học trò già! Hoan hô, hoan hô!

Hôm ấy, trong buổi làm việc đồng chí lại nhắc đến việc học tập tiếng Khơme. Đồng chí nhấn mạnh: Quân đội ta chiến đấu trên đất bạn có nhiều khó khăn, trong đó việc không biết tiếng là một khó khăn rất lớn. Ta đánh địch không phải chỉ bằng quân sự, mà bằng chính trị, bằng công tác vận động quần chúng - không biết tiếng thì khó tìm hiểu tình hình, địch trước mắt mà không biết, muốn tuyên truyền, giáo dục nhân dân chỉ biết nói bằng tay thì khó có hiệu quả. Phải coi tiếng nói là vũ khí để đánh địch. Vì vậy, phải học tập. Cán bộ càng cần phải học tập. Cuộc chiến đấu giúp bạn còn lâu dài, càng cần phải học tập.


Qua thực tế chiến trường, chúng tôi càng thấy lời nhắc nhở của anh Bảy là vô cùng cần thiết. Và chúng tôi đã nghe lời anh. Đơn vị đã có phong trào học tập tiếng Khơme. Nhiều anh em sau này làm việc với bạn, với bà con, không cần phải qua phiên dịch.

Là thủ trưởng quân sự, nhưng khi xuống đơn vị anh Bảy luôn quan tâm trước tiên đến tình hình tư tưởng, chính trị của cán bộ, chiến sĩ. Anh thường căn dặn phải đề cao kỷ luật quần chúng, tăng cường công tác dân vận, giúp bạn xây dựng đảng bộ, xây dựng chính quyền, đoàn thể.


Có một việc "rối" mà tôi khó quên. Một lần, một chiếc xe chở một số người Âu chạy qua, bên hông xe có một câu tiếng Pháp "thầy thuốc không biên giới"! Anh em ta tán rộng ra là "tình yêu không biên giới"! Trong đơn vị lúc này chớm nảy ra một số vụ yêu đương với các cô gái địa phương vừa được ta giải phóng.


Trong một cuộc trò chuyện thân mật, tôi trình bày việc ấy. Nhiều ý kiến trao đổi, kẻ tán thành, người không. Đồng chí Bảy Hiền cười bảo:

- Đúng là tình yêu không có biên giới! Trong tình hình bình thường thì người nước này có thể yêu người nước khác và thành vợ, thành chồng với nhau. Nhưng trong hoàn cảnh không bình thường thì việc ấy không nên. Hoàn cảnh của ta hiện nay là không bình thường! Ta đang chiến đấu giúp bạn, nhiệm vụ nặng nề, nhiều vấn đề về chính trị còn đang hạn chế những mối quan hệ khác. Cho nên việc yêu đương như vậy là rất phức tạp, rất ảnh hưởng đến nhiệm vụ, mà có khi còn đẻ ra những vấn đề rắc rối khác. Nhưng sau này, khi tình hình bình thường thì việc yêu đương "xuyên biên giới" có sao đâu!...


Những lời lý giải của anh Bảy đã giúp đơn vị chúng tôi gỡ được một số trường hợp rối ren về tình cảm, và sau này đúng là chúng tôi có những cô dâu chánh gốc Campuchia.

Về vấn đề kỷ luật, tôi muốn nói thêm: lần nào nói chuyện với cán bộ, anh Bảy đều nhấn mạnh đến việc giữ nghiêm kỷ luật. Một việc sai phạm trên đất Bạn có tác hại nhiều hơn khi chiến đấu trên đất ta, tạo điều kiện cho địch xuyên tạc, làm cho dân nghi ngờ, dẫn đến những khó khăn trong chiến đấu và trong mối quan hệ khác. Phải ngăn ngừa là chính! Khi có trường hợp vi phạm, phải xử lý đến nơi đến chốn, có lý, có tình. Anh em ta chiến đấu căng thẳng, trong khi đất nước đã hòa bình. Tình hình này tạo cho anh em nhiều tâm tư, tình cảm không bình thường dễ biến thành những hành động sai trái, cần thông cảm với anh em, xử lý kỷ luật để giáo dục, để răn đe. Không trù dập!


Có lần, trong một cuộc nói chuyện vui với anh em, anh Bảy cười hỏi tôi:

- Các cậu bị mang tiếng là hay uống rượu, có oan không? Cậu có "nhậu không"? Trông cậu cũng có vẻ là một "nhậu sĩ" lắm!

- Không oan chút nào, thưa anh Bảy! Cấp trên rầy còn chưa đủ "đô"! Trong đơn vị thường xảy ra những vụ bê bối do rượu. Riêng tôi cùng... chút ít cho vui!

Nhân lúc "nhàn đàm" anh Bảy nói luôn:

- Hiện nay, nhiều đơn vị hay tổ chức "nhậu", chớ không phải riêng các cậu đâu! Nhưng có lẽ các "ngài" giữ bí mật khá hơn nên không bị lộ! Hoàn cảnh thiên nhiên và điều kiện kinh tế ở Nam Bộ đã ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt. Nên nhắc nhở anh em: Không biết nhậu thì đừng tập! Có nhậu thì đừng say! Có say thì đừng quậy!


Gẫm ra tôi thấy trong nhận xét của anh Bảy có sự thông cảm với thực tế tình hình trong Nam. Tôi lấy cái "ba đừng" của anh mà tự răn mình và nhắc nhở các "anh Hai" trong đơn vị. Nhưng không phải dễ mà sửa cái tật. Cho đến bây giờ, nhiều vị chưa uống đã la "dô, dô", "trăm phần trăm"... dậy cả xóm.


Tôi gặp gỡ và làm việc trực tiếp với anh Bảy không nhiều, nhưng những cuộc tiếp xúc rất "đời thường" với anh đã để lại trong tôi nhiều tình cảm tốt đẹp. Tôi rất thông cảm vì sao anh Bảy được tôn vinh là một vị tướng bình dị, nhân hậu, quyết đoán... Tôi rất phấn khởi được chiến đấu dưới sự chỉ huy và lãnh đạo của những thủ trưởng như thế!


Anh Bảy nay không còn nữa nhưng anh còn để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên về một thời chinh chiến trên đất bạn. Tôi viết ra đây không hết được lòng mình nhưng cũng xin đóng góp đôi điều để minh họa thêm vài nét về chân dung anh Bảy. Đây là suy nghĩ của tôi, và chắc chắn cũng là suy nghĩ của nhiều bạn bè của tôi về anh Bảy mà tôi đã hiểu được những tâm tư về người thủ trưởng của mình!


Tôi xin có mấy lời thơ kính viếng anh Bảy thân mến, coi như một nén hương lòng tôi gởi đến anh:

   Binh nghiệp nặng mang suốt cả đời
   Chiến trường xuôi ngược khắp nơi nơi.
   Tài năng, mà lại luôn bình dị,
   Người mất, còn lưu tiếng với đời!


H.V.S


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:17:46 pm
NGƯỜI CHỈ HUY TÀI BA TỪ KHI CÒN RẤT TRẺ

Thiếu tướng Tống Trần Thuật
Nguyên Cán bộ Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng


Đầu 1950, tôi được điều từ Trung đoàn miền Tây về công tác ở Trung đoàn 66 và được bố trí làm Đại đội trưởng Đại đội 14 ở Tiểu đoàn Lê Lợi do đồng chí Lê Ngọc Hiền làm Tiểu đoàn trưởng.

Vào thời gian này, Tiểu đoàn đang hoạt động ở địa bàn tỉnh Hà Nam được lệnh chuyển về Hà Đông đánh quân địch càn quét nống lấn ra hai huyện Ứng Hoà - Mỹ Đức.

Tại đây, quân địch đã chiếm Vân Đình, ngã tư Vác, Viên Nội. Ngoài lực lượng đồn trú, chúng còn một tiểu đoàn cơ động làm nhiệm vụ tấn công mở rộng vùng chiếm đóng.

Tiểu đoàn Lê Lợi về đóng quân ở huyện Mỹ Đức, trú quân ở khu vực Đức Thụ, Lai Thụ, Lê Xá được chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang tại chỗ cung cấp cho tình hình địch và quy luật hoạt động của chúng ở địa bàn này.

Trên cơ sở đó, đồng chí Lê Ngọc Hiền tổ chức và dẫn đầu một đoàn cán bộ đi nghiên cứu thực địa một cách kỹ càng và lập kế hoạch tác chiến ở khu vực Hoàng Dương - Tử Dương thuộc huyện Ứng Hoà, cho bộ đội tập luyện trên thực địa theo các phương án và tổ chức ngay lực lượng trinh sát bám sát địch nhất là tiểu đoàn cơ động của địch ở Ba Thá.


Sáng 12 tháng 5 năm 1950, địch sử dụng một đại đội có hơn một nửa là lính Âu-Phi do một tên trung úy chỉ huy từ Ba Thá tấn công ra hướng Kênh Đào - Đoan Nữ thuộc hữu ngạn sông Đáy. Trên đường tiến quân, bị lực lượng địa phương ta đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải quay về. Để tránh bị đánh, địch không rút theo đường cũ mà bất ngờ lội qua sông Đáy, qua bên tả ngạn theo đường đê rút về Ba Thá.


Được tin báo của trinh sát khoảng 10 giờ ngày 12 tháng 5 năm 1950, giữa lúc nhiều đơn vị chưa ăn trưa, đồng chí Lê Ngọc Hiền lệnh cho các đại đội nhanh chóng cơ động từ nơi trú quân lội qua sông Đáy triển khai đội hình bao vây tấn công địch.

Đồng chí Lê Ngọc Hiền lội qua sông trước, tại một vị trí cao trên đê nơi các đơn vị phải đi qua anh gặp chỉ huy từng đại đội giao nhiệm vụ chiến đấu:

- Đại đội 14 tiến qua làng Tử Dương đánh chặn quân địch rút lui.

- Đại đội 42 chiếm đê cao ép địch ra bờ sông.

- Đại đội 28 chặn và chia cắt địch.

- Trung đội trợ chiến chi viện cho các đơn vị cơ động.

Đúng 13 giờ 30 phút, chiến sự diễn ra: địch lội qua sông định bám lấy mặt đê để giành lợi thế nhưng Đại đội 28 đà nhanh chóng chiếm đê trước, khống chế địch, dùng hoả lực bắn quét mặt đê buộc địch dạt xuống chân đê phía bờ sông chạy về làng Hoàng Dương. Đại đội lập tức điều lực lượng từ làng Hoàng Dương tiến lên đê đánh dồn địch vào khu vực vườn chuối, diệt và bắt sống một trung đội địch. Đại bộ phận địch còn lại vẫn theo chân đê ven bờ sông chạy về đầu làng Tử Dương chiếm đền chợ Tía và khu lò gạch chống trả quyết liệt nhưng bị đại đội 14 làm nhiệm vụ chặn quân địch rút chạy, nhanh chóng tấn công bao vây tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, bắt tên chỉ huy. Cùng lúc, Đại đội 42 cũng tiến lên để phối hợp chiến đấu tiêu diệt địch.


Trong quá trình chiến đấu, đồng chí Lê Ngọc Hiền vẫn nắm vững chỉ huy, giữ vững liên lạc với các đại đội và tổ chức hiệp đồng chặt chẽ.

Trận đánh kết thúc vào 14 giờ 30, đồng chí Lê Ngọc Hiền đứng trên mặt đê ra lệnh cho đơn vị thu dọn chiến trường, kiểm tra trân địa, giải quyết thương binh liệt sĩ, thu hồi chiến lợi phẩm và giải tù binh về phía sau.

Một đoàn tù binh mặt cúi gằm xuống đất, giầy đeo lủng lẳng trên cổ, được bộ đội ta giải qua nơi trú quân giữa ban ngày, nhân dân trong vùng kéo nhau ra xem, nhiệt liệt hoan nghênh và úy lạo bộ đội chiến thắng trở về. Một số đồng bào vùng địch tạm chiến tản cư ra đây còn nhận mặt một số tên giặc trong đám tù binh đã từng gây tai họa cho xóm làng mình.


Kết quả trận đánh, ta tiêu diệt gọn đại đội dịch, diệt 7 tên, bắt 81 tên gồm 8 Âu, 21 Phi, 52 nguỵ trong đó có tên trung úy chỉ huy, thu toàn bộ vũ khí có 1 đại liên, 5 trung liên, 50 súng trường, 1 số máy bộ đàm. Phía ta 3 đồng chí hy sinh và 1 đồng chí bị thương.

Sau trận Hoàng Dương - Tử Dương, tiểu đoàn được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì.

Chiến thắng Hoàng Dương - Tử Dương là công lao của cán bộ và chiến sĩ toàn tiểu đoàn nhưng đồng chí Lê Ngọc Hiền đã đóng góp một phần rất quan trọng. Trước trận Hoàng Dương - Tử Dương, ngày 25 tháng 11 năm 1949, đồng chí Lê Ngọc Hiền cũng đã chỉ huy Tiểu đoàn đánh tiêu diệt gọn đồn Đồng Bến trên đường số 6 diệt một đại đội tăng cường và thu toàn bộ vũ khí.


Sau này trong cuốn hồi ký "Chiến đấu trong vòng vây", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi lời nhận xét: Đây là một trận vận động chiến xuất sắc ở huyện Ứng Hoà.

Đại tướng Văn Tiến Dũng trong lần nói chuyện với cán bộ quân đội cũng đã nói: Trận Hoàng Dương - Tử Dương là một trận vận động chiến tiêu biểu diễn ra ban ngày ở đồng bằng. Các học viên, nhà trường cần lấy trận này làm chiến lệ để cán bộ học tạp. Sau trận Hoàng Dương - Tử Dương một thời gian, đồng chí Lê Ngọc Hiền được điều về Đại đoàn 320 tiếp tục lập nhiều thành tích, là cán bộ chỉ huy giỏi và có tín nhiệm cao. Còn Tiểu đoàn Lê Lợi được chọn là đơn vị chủ công của Đại đoàn 304 tiếp tục lập nhiều chiến công xuất sắc cho đến khi kết thúc chiến tranh chống Pháp. Nay đồng chí Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng tinh thần chiến đấu và nghệ thuật chỉ huy của đồng chí đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc không bao giờ quên.

T.T.T


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:23:49 pm
VÀI KỶ NIỆM NHỚ VỀ THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HlỀN

Đại tá Trần Bá Điềm
Nguyên quyền Trưởng phòng Tuyên huấn -
Cục Chính trị Mặt trận 979 Campuchia


Cuối năm 1988, thời gian các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam thuộc Mặt trận 979 Quân khu 9 làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia đang tích cực chuẩn bị bàn giao lại địa bàn các tỉnh biên giới của Campuchia giáp Thái Lan (Kô Kông, Pu Sát, Bátđomboong) cho lực lượng vũ trang bạn (Campuchia) đảm nhận, lực lượng ta từng bước "lui cung" di chuyển về tuyến tập kết chuẩn bị rút quân về nước (theo hiệp định giữa ta và bạn đã ký) kết thúc vẻ vang mười năm giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của Pôn Pốt và hồi sinh dân tộc.


Cùng trong khoảng thời gian này, tôi được phân công lên Sư đoàn bộ binh 330 đang đóng tại căn cứ Vườn Cam, Batđomboong công tác với cương vị là Phó Trưởng phòng, quyền Trưởng phòng tuyến huấn - Cục Chính trị Mặt trận 979 đến sư đoàn theo dõi các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của đơn vị.


Một hôm, Ban chỉ huy Sư đoàn 330 nhận được điện chuẩn bị bãi đáp cho máy bay trực thăng Mi-8 hạ cánh và đón Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - Tư lệnh 719 (Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện ỏ Campuchia) và đoàn cán bộ cơ quan 719 xuống thăm và làm việc ít ngày.


Với cương vị công tác lúc bây giờ, tôi được biết tin Thượng tướng Lê Ngọc Hiền mới từ Hà Nội sang thay Đại tướng Lê Đức Anh (Tư lệnh Mặt trận 719) nhưng tôi chưa có dịp được gặp ông. Tôi rất mừng được cùng các đồng chí chỉ huy Sư đoàn bộ binh 330 ra bãi đáp trực thăng để đón tiếp thủ trưởng. Thủ tục đón tiếp thật giản dị. Trực thăng vừa hạ cánh, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền xuất hiện cười tươi vẫy tay chào và đi xuống tiến đến bắt tay từng người. Ban chỉ huy Sư đoàn mời Thượng tướng và đoàn vào nhà khách, bố trí chỗ nghỉ và chuẩn bị dùng cơm trưa. Bữa cơm ấy tôi có vinh dự được cùng đồng chí Nguyễn Thanh Dũng (Ba Dùng) - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị ngồi cùng bàn để tiếp Thượng tướng. Ông dùng cơm rất thoải mái với những cán bộ trẻ dưới quyền. Tôi để ý thấy đôi lúc hình như ông vừa ăn vừa suy nghĩ điều gì đó, mãi khi xong bữa ngồi uống nước trà, ông mới nói:

- Các đồng chí đãi mình ăn ngon quá, gạo trắng thơm và dẻo, vừa ăn mình lại nhớ cách đây ba bốn năm (khoảng 1982-1984) thằng cháu nội mình mới sinh đến lúc biết ăn dặm bột thì ở Hà Nội rất khó kiếm gạo ngon để xay bột cho nó. Hôm mình đi vào phía Nam công tác, bà nhà mình dặn phải cố gắng mua về cho thằng cháu 10 kg gạo ngon để xay bột.

Uống chút trà xong, ông nói tiếp:

- Chuyện mua gạo thì không khó, mình có thể nhờ anh em mua hộ cho, nhưng nhấc bao gạo từ xe lên máy bay thì không thể nhờ anh em được, vì đây là việc riêng tư của mình, là nghĩa vụ của người ông với thằng cháu.

Kể đến đây, mắt ông nhìn xa xăm và đột nhiên ông kết luận:

- Về đến nhà được bà cháu khen đáo để. Vậy đấy các đồng chí ạ! Làm tướng cả đời chiến trận, một việc tưởng là nhỏ nhặt nhưng lúc thiếu gạo, khó khăn kinh tế, cái nhỏ có khi thành vấn đề lớn lao. Phải cố gắng để ý quan tâm đến gia đình riêng một chút, các đồng chí ạ!


Lần đầu tiên được tiếp xúc với vị Thượng tướng với những lời tâm sự rất chân thật, rất đời thường nhưng cũng rất nhân văn, rất con người đã tạo cho tôi ấn tượng đặc biệt. Làm tướng không thể xa rời đời thường, càng không thể xa cách mọi người nhất là không hiểu những người xung quanh và người thân đang cần gì, đang suy nghĩ gì? Chuyện mua gạo xay bột cho cháu nội của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đặt vào hoàn cảnh hiện nay thì rất bình thường nhưng cách đây trên 20 năm là một việc làm bình dị nhưng đầy nhân hậu. Một số người có chức sắc, có quyền nhưng quan liêu, khó có thể làm được như ông.


Sau lần gặp đó khoảng 6 tháng tôi lại có dịp được đi cùng ông xuống một sư đoàn bạn Campuchia đóng quân trong rừng sâu (thuộc tỉnh Bátđomboong). Thượng tướng cùng một số chỉ huy Quân khu 5 của bạn kiểm tra, chỉ đạo anh em bố trí nơi ăn ở, phương án phòng thủ bảo vệ địa bàn trọng điểm. Khi kiểm tra xong, ông cho mời cán bộ chỉ huy và cơ quan sư đoàn bạn, chuyên gia Việt Nam đến hội trường của đơn vị (làm bằng cây lợp lá rừng) để nói chuyện. Tôi cùng được mời tham dự và có một kỷ niệm khó quên.


Phiên dịch buổi nói chuyện cho Thượng tướng Lê Ngọc Hiền hôm ấy là một đồng chí trong Ban công tác vận động quần chúng của Sư đoàn bộ binh 330, quê ở miền Tây Nam Bộ. Do hiểu không rõ nghĩa câu nói thủ trưởng nên đã dịch sai, chi tiết, cụ thể như sau:

Sau khi biểu dương những kết quả, thành tích của đơn vị bạn đã đạt được, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã thẳng thắn, chân tình chỉ ra những chỗ yếu kém của đơn vị bạn là việc ăn ở còn kém vệ sinh, bộ đội còn ngại đi xa lấy nước về dùng và để xung quanh cây mọc rậm, muỗi lắm nên quân số còn bị sốt rét nhiều. Trong câu nói phê bình, ông có dùng từ bộ đội còn "lười nhác", đồng chí phiên dịch đã dịch thành "khơ-lách-phụ-via" (sợ địch) vì ngờ thủ trưởng nói "nhát", tức là sợ.


Tôi thấy người phiên dịch đã dịch sai ý thủ trưởng, liền nói đồng chí dịch lại đi, thủ trưởng nói "bộ đội còn lười nhác" không phải "sợ địch". Nghe tôi nói, thủ trưởng Hiền và cán bộ bạn dự cuộc họp đều quay nhìn về phía tôi, thái độ các cán bộ bạn đang im lặng bỗng thay đổi nở nụ cười tươi khi hiểu ra câu nói của thủ trưởng; còn ông khi hiểu ra vấn đề liền nói: "Cám ơn đồng chí đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh lời dịch, không thì anh em bạn sẽ hiểu lầm tôi chê họ sợ địch thì không hay chút nào cả!".


Sau buổi họp, ông còn gặp riêng tôi, khen ngợi và hỏi tôi có biết tiếng Campuchia khá không? Học bằng cách nào? Tôi thưa, em sang làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia đã hơn 9 năm, tuy không phải trực tiếp làm công tác vận động quần chúng giúp bạn nhưng do thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và bộ đội bạn nên tự học bằng truyền miệng chứ không qua trường lớp nào cả, cũng chỉ nói chuyện giao dịch thông thường hằng ngày, chứ những từ khó thì cũng chịu thôi ạ!


Từ đấy thủ trưởng Hiền để ý đến tôi nhiều hơn và hình như ông cũng hỏi thêm anh em về tôi. Những lần gặp sau, ánh mắt trìu mến của thủ trưởng dành cho tôi làm tôi rất cảm động.

Cũng chính từ kỷ niệm thứ hai này đã dẫn đến kỷ niệm thứ ba, cũng là sự biết ơn của tôi với Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi. Chuyện xảy ra như sau:

Đầu năm 1989, tôi đang công tác tại Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979 tại thị xã Bátđomboong thì nhận điện của Cục Chính trị Quân khu điện lên báo tin đứa con trai thứ hai của tôi (sinh 1985) ở Cần Thơ bị ốm. Thiếu tướng Trương Minh Thông (Năm Thông) - Tư lệnh tiền phương và Thiếu tướng Hồ Văn Sanh (Bảy Sanh) - Phó Tư lệnh Chính trị Mặt trận 979 ở Sở Chỉ huy quyết định cho tôi được nghỉ phép về lo cho cháu. Đoạn đường từ Bátđomboong về đến Phnôm Pênh dài 300 km, đường số 5 rất xấu, xe con tại Sở chỉ huy rất ít nên phải chờ có chuyến xe tải Mặt trận 979 lên mới về được, đi xe ngoài của dân Campuchia thì không an toàn.


Đang nóng lòng chờ đợi thì Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đi máy bay trực thăng (Mi-8) từ Phnôm Pênh lên Sở Chỉ huy tiền phương 979 công tác. Sau buổi làm việc, đồng chí Năm Thông và đồng chí Bảy Sanh có nói với thủ trưởng Hiền về trường hợp của tôi. Thủ trưởng Hiền không hề đắn do, suy nghĩ gì cả và cho gọi ngay đồng chí phụ trách tác chiến của cơ quan 719 nói sắp xếp ngay chuyến máy bay chở thương binh từ Bátđomboong về Phnôm Pênh, đồng thời cho tôi đi nhờ luôn. Nhờ chuyến bay ấy tôi đã kịp về lo chữa cho cậu con trai hết bệnh và khoảng một tháng sau tôi đã an tâm trở lại đơn vị. Tôi chưa kịp gửi lời cảm ơn vì không gặp ông, thì bất chợt một hôm ông đi xe từ Sở chỉ huy xuống Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 đóng ở ngã ba Pôchentông (cách thủ đô Phnôm Pênh 20 km). Sau lúc làm việc với Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 và cơ quan (tôi được tham dự) ông hỏi:

- Có đồng chí cán bộ nào ở Mặt trận 979 chưa được đi thăm đền Ăngko? Tôi cho chuyến máy bay trực thăng lên Xiêm Riệp đón thương binh, chở anh em lên thăm luôn, vì thương binh có 3 đồng chí thôi!

Gần 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, nhưng vì địa bàn hoạt động của Quân khu 9 là tây nam Campuchia, khu đền Ăngko ở phía tây bắc, cách xa nơi hoạt động của Mặt trận 979 gần 500km. Do vậy hầu hết cán bộ 979 chưa có dịp nào được đi thăm. Ăngko, một kỳ quan của thế giới. Bỏ qua dịp này là thiệt thòi đáng tiếc, nhất là đơn vị sắp rút quân về nước.


Được lời như mở tấm lòng, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh - Phó Tư lệnh Chính trị thông báo cho các cơ quan Mặt trận xem ai có thể sắp xếp được công việc thì cho đăng ký đi. Lúc này anh em cơ quan phân tán đi công tác gần hết, ở tại Sở chỉ huy chỉ có tôi và đồng chí Bảy Hồng - Trưởng phòng Tổ chức Cục Chính trị và đồng chí Lê Văn Tân - Phòng Tác chiến Mặt trận cùng một số đồng chí của Cục Hậu cần Mặt trận, đăng ký. Tưởng là quá ít sẽ khó được đi, ai ngờ thủ trưởng Hiền gọi điện cho cơ quan tác chiến Bộ Tư lệnh 719 cho hai chúng tôi đi nhờ lên thăm đền Ăngko. Chuyến đi về trong một ngày (ngồi máy bay hai chiều chỉ mất hơn 1 giờ) nên chúng tôi có hơn 4 tiếng tham quan, thật là vô cùng hạnh phúc. Tôi và đồng chí Bảy Hồng mang theo máy ảnh chụp được nhiều ảnh kỷ niệm. Cuộc tham quan, du lịch Ăng Co đặc biệt và nhớ đời ấy đã để lại cho tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc.


Hôm nay suy nghĩ, nhớ lại các sự kiện, kỷ niệm nhỏ của tôi với Thượng tướng Lê Ngọc Hiền trên chiến trường Campuchia, khi ông đã về cõi vĩnh hằng, tôi xúc động và cảm nhận ông đúng là một vị tướng bình dị, nhân hậu và quyết đoán.

Từ thành phố Cần Thơ, bài viết nhỏ của tôi mong được thay cho nén hương thơm tưởng nhớ tới hương hồn ông - Thượng tướng Lê Ngọc Hiền kính mến!.

T.B.Đ


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:26:15 pm
NHỮNG KỶ NIỆM VỚI THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN

Đại tá Trần Ba
Nguyên Bí thư của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền


Năm 1976, tôi được cấp trên điều về Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu công tác sau 7 năm ở chiến trường Tây Nguyên.

Từ năm 1977, tôi làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc anh Lê Ngọc Hiền. Hơn 10 năm làm việc bên anh Hiền, lúc ở cơ quan Bộ, lúc ở chiến trường biên giới Tây Nam, lúc ở biên giới phía Bắc, vui, buồn có nhau. Tôi thấy anh Lê Ngọc Hiền là một vị tướng chỉ huy rất dũng cảm, xông xáo, có tinh thần trách nhiệm rất cao, luôn tận tụy với công việc, khiêm tốn, đoàn kết, gần gũi với anh em, gương mẫu giản dị trong sinh hoạt đời thường.


Tôi xin kể lại vài kỷ niệm thời gian sống và làm việc bên anh Hiền.

1. Không phải là cấp phó 1

Ở Bộ Tổng Tham mưu nhiệm vụ bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu không để đất nước bị bất ngờ trong mọi tình huống là nhiệm vụ trung tâm.

Anh Lê Ngọc Hiền được phân công phụ trách khối tác chiến, khối công tác trung tâm của Bộ Tổng tham mưu, liên quan chặt chẽ với các công tác khác như nắm địch, tổ chức lực lượng, huấn luyện... xoay quanh đó để bảo đảm tác chiến giành thắng lợi. Công việc của anh Hiền rất bận rộn, làm việc ngày đêm không kể thời gian.


Anh Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng thường giao cho anh Hiền phụ trách chung khi anh Tấn vắng nhà. Có lúc anh em cơ quan Văn phòng, các Cục nói anh Hiền là phó 1. Anh Hiền bảo tôi: cậu nói với anh em ở cơ quan là Bộ Tổng Tham mưu không có phó 1, mình không phải là phó 1.


Do yêu cầu của việc làm kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, những việc liên quan đến khối công việc của các thủ trưởng Bộ phụ trách bao giờ anh Hiền cũng chủ động xin ý kiến các anh. Khi cần làm việc trực tiếp với cán bộ các Cục, sau khi bàn bạc bao giờ anh Hiền cùng nhắc các đồng chí đó báo cáo lại với các đồng chí thủ trưởng Bộ phụ trách khối công việc đó.


Anh Hiền thường nói với tôi, ở Bộ Tổng Tham mưu, anh Lê Trọng Tấn là người vất vả nhất. Vì những việc lớn, quan trọng Tổng Tham mưu trưởng là người quyết định cuối cùng. Anh Hiền thường trực tiếp báo cáo và nhắc cơ quan phản ánh mọi thông tin trung thực, chính xác, giúp anh Tấn suy nghĩ quyết định.


2. Nếu xảy ra chiến sự, người đầu tiên biết tin phải là anh em mình

Một buổi trưa mùa hè năm 1984, anh Hiền đi sân bay Nội Bài tiễn đồng chí Đại tướng cố vấn trưởng của bạn. Tôi trực ở cơ quan thấy anh Tống Trần Thuật - Phó Cục trưởng Cục 2 lên gặp đưa diện của Quân khu 2 báo cáo đối phương tiến công lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, Hà Giang. Tôi và anh Thuật cầm điện chạy xuống phòng làm việc Tổng Tham mưu trưởng, thấy anh Lê Trọng Tấn đã ra sân Con Rồng để về nhà. Tôi báo cáo anh Tấn điện của Quân khu 2. Anh Tấn đọc điện xong, lập tức trở lại ngay phòng làm việc triệu tập cán bộ Cục Tác chiến, Cục 2... làm việc và ra mệnh lệnh những việc phải làm ngay. Tôi nhớ lúc đó đồng chí cán bộ Văn phòng còn đẩy tôi, việc gì thì việc, để anh Tấn về nghỉ trưa, chiều sẽ làm.


Kể từ giờ phút đó cho đến mấy năm sau (1984-1986) diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở tuyến biên giới Vị Xuyên, Hà Giang.

Ở Nội Bài về, anh Hiền vào ngay Sở chỉ huy triển khai thực hiện các mệnh lệnh của anh Tấn.

Buổi chiều, anh Hiền hỏi tôi ai biết trước tin này. Tôi kể lại sự việc. Anh Hiền cười bảo tôi: cậu nhạy bén, thế là tốt. Anh em mình quy ước mình phụ trách khối tác chiến, nếu có chiến sự xảy ra thì người đầu tiên biết tin phải là anh em mình.


3. Tôi sửa điện của cậu, cậu có tự ái không?

Viết điện là việc mà cán bộ tác chiến nào cũng phải làm. Anh Hiền viết điện chỉ đạo đơn vị thực hiện bao giờ cũng cẩn thận, tỉ mỉ, kỹ càng nên viết rất cụ thể, lo đơn vị không hiểu được ý của mình. Có lúc anh tự viết, có lúc anh nói ý của mình, tôi viết. Có lần sau khi sửa điện tôi viết, anh hỏi tôi: "Tôi sửa điện của cậu, gạch xóa nhiều, cậu có tự ái không?". Tôi nói: "Anh là người nghĩ ra việc, tôi chỉ là người chấp bút làm sao mà suy nghĩ sâu sắc bằng anh, có gì mà tự ái". Anh cười nói: "Ở Cục Tác chiến viết điện thông qua Thủ trưởng Văn (Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp), có khi mình chả được chữ nào. Cơ quan ta chỉ có Phan Hàm, Võ Quang Hồ viết điện là vừa ý Thủ trưởng Văn".


4. "Thế mới là Hoàng Cầm chứ"

Trong hai năm 1978-1979, anh Lê Ngọc Hiền làm nhiệm vụ thường trực cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Một lần, sau khi họp Đảng ủy Tiền phương Bộ (gồm anh Lê Đức Anh, anh Lê Ngọc Hiền, anh Hoàng Cầm), anh Hoàng Cầm ở Quân đoàn 4, lúc này đóng ở Tây Ninh, trước khi về họp anh gặp và bảo tôi: "Có những việc mà cậu biết được thì cho mình biêt để mình chủ động...". Tôi nói, anh họp Đảng ủy anh biết cả, có gì mà phải làm như vậy.


Anh Hoàng Cầm nói: "Mình là đảng ủy viên về họp Đảng ủy để bàn về việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Tiền phương Bộ, nhưng khi về đơn vị thì các anh ở Bộ là cấp trên, mình là người chỉ huy ở đơn vị. Trong chỉ huy quân đội phải có cấp trên, cấp dưới thì mới đánh giặc được".


Tôi kể lại chuyện này với anh Lê Ngọc Hiền, anh cười khà khà bảo tôi: "Cậu thấy không, thế mới là Hoàng Cầm chứ".

Tôi hiểu nói như vậy là anh Hiền rất quý anh Hoàng Cầm vì thường ngày hai anh rất thân nhau. Riêng tôi thì được một bài học về nguyên tắc, tác phong làm việc của người chỉ huy trong quân đội.


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:27:04 pm
5. Vào Phnôm Pênh

Từ ngày 26 tháng 12 năm 1978, ta mở chiến dịch phản công tiến công giải phóng Campuchia. Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Anh Hiền đốc chiến hướng thọc sâu của Quân đoàn 4 đánh chiếm Phnôm Pênh.

Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1979, trời đẹp. Trên chiếc trực thăng UH-1, chúng tôi được quan sát quang cảnh thật, hùng vĩ, dưới sông là đoàn tàu, phà của hải quân - công binh hành tiến đến bến phà Niếc Lương để giúp bộ binh, xe tăng vượt sông. Trên bộ là đoàn xe tăng và bộ binh ngồi trên ôtô của Quân đoàn 4 hành tiến vào Phnôm Pênh.


Trưa ngày 7 tháng 1 năm 1979, chúng tôi bay vào vùng trời Phnôm Pênh. Từ một dải đất trên sông Mê Kông, cao xạ 37 ly và súng máy phòng không của tàn quân Pôn Pốt bắn lên hai chiếc trực thăng chúng tôi, đạn khói trắng từng cụm nổ lộp bộp. Trên một chiếc trực thăng có anh Hiền, tôi, Lâm Hà cán bộ Cục Tác chiến, hai đồng chí bảo vệ và tổ lái. Chiếc kia là của anh em tác chiến Sư đoàn không quân 372, một đồng chí thượng úy trúng đạn bị thương.


Hai chiếc trực thăng của ta đáp xuống bãi đất đầu cầu Mô-ni-vông, anh Hiền đòi đi ngay để tìm bắt liên lạc với Sở chỉ huy Quân đoàn 4. Lúc này súng của ta và tàn quân Pôn Pốt còn nổ, trong thành phố vẫn còn các đám cháy, khói khét lẹt. Tôi và Lâm Hà nhất định giữ không cho anh Hiền vào phố. Chúng tôi lấy xe của đơn vị chạy vào thành phố, xác xe tăng và xác quân Pôn Pốt nằm rải rác dọc đường phố. Liên lạc được với Quân đoàn 4, chúng tôi quay lại đón anh Hiền. Từ sáng đến giờ, đói bụng, anh em đã nấu cơm, chưa kịp bưng bát cơm, anh Hiền đòi đi ngay. Tôi nhớ khi gặp anh Hoàng Cầm, hai anh ôm nhau, câu đầu tiên của anh Hiền là: "Hoàng Cầm có gì cho bọn mình ăn với".


Sau khi nắm tình hình, chúng tôi có anh em quân đoàn bảo vệ chạy quan sát tình hình thành phố, đến sân bay Pôchentông thì gặp anh Chánh - Tư lệnh Quân khu 9 và bộ đội cũng vừa vào đến nơi.

Khoảng 8-9 giờ đêm, chúng tôi bay về Sở chỉ huy cơ bản. Trực thăng hạ xuống sân bay, trời rất lạnh, thấy anh Tấn đã đứng ở đó. Tôi nhớ khi thấy anh Hiền, anh Tấn chỉ nói một câu: "Lần sau cậu không được làm như vậy" và lên xe ra về ngay.

Sau này nghe anh em ở nhà kể lại ở phía trước báo về có chiếc trực thăng của ta bị trúng đạn, anh Tấn rất lo, đứng ngồi không yên.


6. Vào Lạng Sơn

Ngày 17 tháng 12 năm 1979, chiến tranh bùng nổ trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Ngay hôm sau, anh em chúng tôi được lệnh rời chiến trường Tây Nam ra biên giới phía Bắc. Từ đó cho đến lúc đối phương rút quân ra khỏi toàn tuyến biên giới phía Bắc, anh Hiền cùng cán bộ Cục Tác chiến và các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu luôn ở mặt trận trực tiếp chỉ huy, đôn đốc các mặt bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Hướng tác chiến nào có khó khăn là anh em chúng tôi có mặt.


Một ngày đầu tháng 3 năm 1979, đối phương mở cuộc tiến công thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 5 của anh Hoàng Đan chặn đánh đối phương quyết liệt trong thị xã. Khoảng trưa hôm đó, nghe tin đối phương rút về bên kia biên giới, từ Sở chỉ huy Quân đoàn, anh Hiền yêu cầu trực tiếp vào ngay thị xã để nắm tình hình. Tôi nhớ lúc đó anh Lê Phi Long - Cục phó Cục Tác chiến ngăn anh Hiền: "Vào thị xã lúc này để chúng tôi đi". Anh Phi Long là một cán bộ dũng cảm, rất có trách nhiệm, lo anh Hiền vào thị xã lúc này xảy ra chuyện gì thì vô cùng ân hận, nhưng không cản được anh Hiền.


Chúng tôi tổ chức 2 xe, tôi và anh Phi Long đi xe trước, xe sau là anh Hiền và hai đồng chí vệ binh. Đường vào thị xã tràn ngập cảnh tàn phá, nhà đổ, trâu bò chết trên đường, phía trong thị xã tiếng pháo cối, khói lửa mịt mù. Vào đến thị xã thì nhà sập, cây đổ ngang chặn đường, không còn cách nào đành phải quay lại. Lúc ấy cũng là lúc đối phương rút toàn bộ quân về bên kia biên giới.


Kể từ ngày ấy, tháng 3 năm 1979 đến 2009 thấm thoắt đã tròn 30 năm. Sau những năm chiến tranh, cuộc sống đã có nhiều đổi thay, anh Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng tình cảm, những kỷ niệm của tôi đối với anh vẫn đẹp, vẫn vẹn nguyên.

T.B


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:29:45 pm
ANH LÊ NGỌC HIỀN
VỚI TIỂU ĐOÀN LÊ LỢI (1949-1950)

Đại tá Nguyễn Tự Lạc
Chiến sĩ cũ Tiểu đoàn Lê Lợi từ 1948 đến 1958


Giữa năm 1949, anh Lê Ngọc Hiền cùng anh Đào Huy Vũ về nhận nhiệm vụ Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên tiểu đoàn chúng tôi. Đó là thời điểm Tiểu đoàn vừa được điều từ Trung đoàn 34 (Hà-Nam-Ninh) về tái lập Trung đoàn 66 (danh hiệu là Ký Con) chủ lực của Liên khu 3. Địa bàn hoạt động là các tỉnh hữu ngạn sông Hồng. Ngoài phiên hiệu bằng số, tiểu đoàn còn có thêm danh hiệu là Tiểu đoàn Lê Lợi1 (Phiên hiệu cấp tiểu đoàn trở xuống bằng số trong chiến tranh đã thay đổi nhiều lần. Do vậy, xin dùng danh hiệu để nhận biết).


Tuy thời gian phụ trách Tiểu đoàn trưởng có hơn một năm2 (Tháng 8-1950, anh Lê Ngọc Hiền được để bạt Trung đoàn phó và chuyển sang Trung đoàn 64 của Liên khu 3 (hoạt động ở địa bàn các tỉnh tả ngạn sông Hồng) nhưng anh Lê Ngọc Hiền đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc về xây dựng, tác chiến của Tiểu đoàn. Điển hình nhất là Anh đã cùng Ban chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị xây dựng nên truyền thống chiến đấu trong vận dụng hai hình thức chiến thuật đánh đồn địch bằng hình thức cường tập và đánh vận động khi quân địch đang tiến công ra vùng tự do của ta.


Để chứng minh, tôi xin kể lại hai trận đánh tập trung tiểu đoàn do anh Lê Ngọc Hiền chỉ huy.

Một là trận cường tập tiêu diệt đồn Đồng Bến (huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình) đêm 25 rạng ngày 26 tháng 11 năm 1949.

Hai là trận đánh vận động tiêu diệt một đại đội địch Âu-Phi tại khu vực làng Hoàng Dương, Tử Dương (Ứng Hoà, Hà Đông) ngày 12 tháng 5 năm 1950.


1. Trận cường tập tiêu diệt đồn Đồng Bến

Thu Đông năm 1949, ở chiến trường Liên khu 3, Bộ quyết định mở chiến dịch Lê Lợi tại tỉnh Hoà Bình, nhằm phá thế uy hiếp của địch sau lưng địa bàn Liên khu, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá khối ngụy binh Mường. Lực lượng tham gia gồm các Trung đoàn 9, 66 và 209. Tiểu đoàn Lê Lợi được giao nhiệm vụ diệt đồn Đồng Bến thuộc huyện Kỳ Sơn nằm cạnh đường số 6, cách thị xã Hoà Bình về phía đông khoảng 10 km.


Sau khi đoàn cán bộ tiểu đoàn đi trinh sát về, được rõ đồn Đồng Bến bố trí trên một quả đồi tuy không cao nhưng hoả lực có thể khống chế các đồi thấp hơn và khu ruộng lúa xung quanh đồn. Đồn được xây dựng bằng gỗ, đất, nhà ở lợp cỏ gianh, hàng rào bằng tre nứa kiểu lông nhím. Lực lượng phòng thủ gồm một đại đội ngụy người Mường, do sĩ quan Pháp chỉ huy.


Bàn bạc lập kế hoạch tác chiến xong, Tiểu đoàn cho xây dựng đồn tương tự để huấn luyện bộ đội. Các đơn vị bộ binh được huấn luyện theo nhiệm vụ từng hướng, từng mũi. Đơn vị hoả lực (súng cối, súng phóng bom) huấn luyện bắn ban đêm. Trung đội công binh huấn luyện phá hàng rào bằng thuốc nổ và nghiên cứu làm bùi nhùi lửa (bằng ống tre con, có các móc cạnh quấn giẻ tẩm dầu, nối với giây cháy chậm, trước khi ném thì đốt giây cháy chậm) để các chiến sĩ xung kích ném vào các mái nhà gianh của địch gây cháy. Sau huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, từng bộ phận, tiểu đoàn tổ chức huấn luyện tổng hợp và diễn tập. Không phải chỉ tập một lần, một nơi mà mỗi lần di chuyển đến nơi trú quân mới là làm ngay thao trường để tập. Có hai lần diễn tập có tiếng nổ như công đồn thật. Lần thứ nhất ở làng Đầm, Bích Trì, huyện Bình Lục, Hà Nam và lần thứ hai ở khu vực Đồng Văn, huyện Duy Tiên, Hà Nam.


Sau gần hai tháng được giáo dục động viên về chính trị tư tưởng và khổ luyện về kỹ thuật, chiến thuật, trình độ chiến đấu của tiểu đoàn được nâng lên rõ rệt, tinh thần quyết tâm diệt đồn địch lập công được thấu triệt trong đảng viên, cán bộ, chiến sĩ. Tiểu đoàn sẵn sàng lên đường vào chiến dịch.


Trung tuần tháng 11 năm 1949, từ Hà Nam, tiểu đoàn hành quân qua cầu Đường (đường 21), rẽ vào Suối Bu và tới vị trí tập kết cuối cùng tại Suối Đất. Tại đây, chiều tối ngày 25 tháng 11 năm 1949, trước giờ xuất quân vào chiếm lĩnh trận địa thì tổ trinh sát bám địch về báo cáo: "Đồn Đồng Bến chiều hôm đó có thêm một trung đội áp tải hai con lừa thồ hàng tiếp tế cho đồn, có thể đêm nay số này vẫn còn nghỉ lại".


Tiểu đoàn nhận định, tuy số quân tăng nhưng không phải là quân chiến đấu, bố phòng địch vẫn như trước, càng thêm quân có thể càng khó cho chỉ huy của chúng. Tiểu đoàn vẫn giữ quyết tâm, thông báo tin trên cho các đại đội và ra lệnh xuất quân, vượt đường số 6 vào chiếm lĩnh trận địa, đánh địch theo kế hoạch. Khi bí mật tiếp cận đồn, bọn lính gác địch cũng có nghi ngờ bắn ra một vài loạt trung liên ở hướng chủ yếu của tiểu đoàn, làm một đồng chí liên lạc ở vị trí chỉ huy tiểu đoàn bị thương. Nhưng sau đó tình hình im ắng trở lại.


Qua giây nói, kiểm tra nắm được các đơn vị đã hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, anh Lê Ngọc Hiền lệnh bắn pháo hiệu bắt đầu nổ súng. Ngay loạt đạn đầu, hoả lực ta đã bắn trúng đồn giặc kết hợp xung kích phá rào, ném bùi nhùi lửa vào mái nhà. Đồn Đồng Bến phút chốc bốc cháy rực sáng. Địch hoảng loạn chống đỡ được một lúc, rồi yếu ớt dần. Trong vòng chưa đến một tiếng đồng hồ, quân ta đã làm chủ đồn, diệt và bắt gọn 132 tên, thu hơn 100 súng các loại, giải quyết thương binh tử sĩ và nhanh chóng rút quân về Suối Đất vào lúc trời vừa sáng. Sau đó tiểu đoàn hành quân về vùng Rịa, huyện Nho Quan, Ninh Bình tổng kết rút kinh nghiệm. Trong số chiến lợi phẩm ta còn thu được khá nhiều rượu, thuốc lá, bánh kẹo, đồ hộp, v.v... cùng hai con lừa, là hàng chuẩn bị đón Nô-en mà địch vừa được tiếp tế chiều hôm trước.


Có thể nói, diệt đồn Đồng Bến là trận công đồn thành công đầu tiên của Tiểu đoàn từ ngày thành lập đến lúc bấy giờ. Một trận đánh tập trung toàn tiểu đoàn, có hoả lực tăng cường của cấp trên (súng phóng bom), công đồn bằng hình thức cường tập, tiêu diệt gọn địch, thu toàn bộ chiến lợi phẩm1 (Có thể nói trên địa bàn Liên khu 3 thời đó, trong điều kiện trang bị của quân đội ta còn kém, nên cũng rất hiếm thực hiện được những trận công đồn thành công như vậy).


Cùng tham gia chiến đấu với tiểu đoàn trận này còn có các chiến sĩ văn nghệ Liên khu phái xuống. Trong đó có hoạ sĩ Nguyễn Nghiêm (vẽ bút sắt) và nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Ưu. Dọc đường hành quân qua một số dốc núi cao, trên đỉnh dốc lại xuất hiện một tấm panô nhỏ vẽ một số hình ảnh sinh hoạt bộ đội vui mắt, kịp thời động viên chiến sĩ ta quên đi cái mệt. Còn trong bộ ảnh của Nguyễn Đình Ưu có một tấm ảnh khá điển hình là trên nền trời đêm đen, đồn Đồng Bến đang bốc cháy rực sáng, nổi lên hình ảnh một người trước cửa mở (hàng rào) với tư thế hơi nghiêng nghiêng, tuy không thấy rõ khuôn mặt, nhưng trong tiểu đoàn ai cùng nhận ra ngay đó là Tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền, vì anh có cái dáng lưng hơi gù gù.


Diệt đồn Đồng Bến cùng là một trận đánh dược nhớ đến trong cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh. Năm 1955, trong chuyến lên thăm và làm việc ở Tây Bắc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dừng xe tại khu vực cầu Trôi, Đồi Mè quan sát địa hình khu vực Đồi Mè, Đồng Bến, Đầm Huống1 (Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Tiểu đoàn Lê Lợi về đóng quân tại Xuân Mai (Chương Mỹ). Khi đoàn cán bộ của Bộ đi công tác Tây Bắc, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bảo vệ Đoàn từ Mai Lĩnh đến thị xã Hòa Bình. Tại nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp dừng xe, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Phạm Công Cửu và tôi (cán sự tham mưu Tiểu đoàn) đã báo cáo và trả lời những câu hỏi của Đoàn.


Đồi Mè là nơi diễn ra trận phục kích diệt 34 xe địch (2-12-1951) và Đầm Huống là trận đánh đồn ngày 9-1-1952 trong chiến dịch Hòa Bình của Tiểu đoàn Lê Lợi. Ngày nay, tại nơi đây, nhân dân địa phương và Ban liên lạc Trung đoàn 66 đã xây dựng một tượng đài kỷ niệm).


Tiêu đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 01 Tháng Mười, 2026, 09:41:22 pm
2. Trận vận động chiến Hoàng Dương - Tử Dương

Bước sang năm 1950, quân Pháp ngày càng khó khăn, buộc phải rút quân khỏi Bắc Kạn, một số đồn lẻ ở Cao Bằng, dồn lực lượng về giữ Đông Khê, Thất Khê; tập trung lực lượng đẩy mạnh càn quét mở rộng chiếm đóng vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Về phía ta, cuộc kháng chiến đã có những bước phát triển.


Nhằm thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng "Tích cực cầm cự, chuyển mạnh sang Tổng phản công", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh Tổng động viên với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Để chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới, các Đại đoàn chủ lực được thành lập. Tiếp sau Đại đoàn 308, ngày 10 tháng 3 năm 1950, Bộ quyết định thành lập Đại đoàn 304 (gồm Trung đoàn 9, Trung đoàn 57 của Liên khu 4 và Trung đoàn 66). Theo quy định tháng 4 năm 1950 phải hoàn thành, nhưng do địch đang mở rộng vùng chiếm đóng ra phía nam đồng bằng Bắc Bộ nên Trung đoàn 66 phải ở lại cùng địa phương đánh giặc, bảo vệ nhân dân, vì vậy không thể về tập trung đúng thời gian Đại đoàn quy định.


Thời gian này, Tiểu đoàn Lê Lợi đang đứng chân ở Hà Đông sẵn sàng đánh quân địch nông chiếm ra vùng tự do thuộc hai huyện Ứng Hoà, Mỹ Đức. Tại đây, quân Pháp đã chiếm Vân Đình, ngã tư Vác, Viên Nội, làng Miêng. Ngoài lực lượng đồn trú, chúng có một tiểu đoàn Áu-Phi cơ động do tên đại úy Pơ-ti chỉ huy.


Tại vị trí đóng quân ở khu vực các làng Đức Thụ, Lai Thụ, Lê Xá, huyện Mỹ Đức, Tiểu đoàn Lê Lợi đã được chính quyền và bộ đội tại chỗ (Đại đội 29 thuộc Trung đoàn 48) cung cấp cho tình hình địch. Trên cơ sở đó, Tiểu đoàn lập kế hoạch tác chiến tại khu vực đoạn đường đê từ Tử Dương đến Hoàng Dương (huyện Ứng Hoà), Sau đó cho bộ đội tập luyện trên thực địa theo phương án. Mặt khác, phái một tổ trinh sát theo dõi bám địch, nhất là bám sát tiểu đoàn cơ động của địch ở Ba Thá, Quán Tròn.


Rạng sáng 12 tháng 5 năm 1950, địch sử dụng một đại đội thuộc tiểu đoàn cơ động (khoảng 80 tên do trung úy Beng-déc chỉ huy) từ Ba Thá tiến công ra hướng Kênh Đào, Đoan Nừ theo đường đê hữu ngạn sông Đáy. Trên đường tiến quân, chúng bị du kích và lực lượng cảnh giới của Đại đội 29 đánh ngăn chặn làm chậm tốc độ hành tiến. Gần trưa mới địch mới đến Kênh Đào, Đoan Nữ, nên chúng quay về. Để tránh bị đánh, địch không quay về theo đường cũ mà lội qua sông Đáy và theo đường đê tả ngạn sông Đáy rút về Ba Thá.


Khoảng 10 giờ sáng 12 tháng 5 năm 1950, được tin báo cáo tình hình địch của trinh sát tiểu đoàn và thông báo của cảnh giới địa phương qua mạng điện thoại, Ban chỉ huy Tiểu đoàn lệnh ngay cho các đại đội nhanh chóng cơ động từ vị trí trú quân lội qua sông Đáy, đoạn Áng Hạ, nhanh chóng triển khai đội hình bao vây tiến công địch.


Ban chỉ huy Tiểu đoàn qua sông trước. Tại một vị trí cao trên đê gần làng Vĩnh Hạ (nơi đội hình các đại đội phải đi qua), Tiểu đoàn trưởng gặp chỉ huy từng đại đội để giao nhiệm vụ bổ sung, điều chỉnh nhiệm vụ tác chiến (theo kế hoạch đã chuẩn bị thì sẽ đánh địch từ hướng Ba Thá xuống theo đê tả ngạn sông Đáy, nhưng nay sẽ đánh địch trên đường từ Kênh Đào quay về Ba Thá).


Đi đầu là Đại đội 14 (Đại đội trưởng Tống Trần Thuật, Chính trị viên Nguyễn Xuân Mậu, Đại đội phó Đàm Thế Viêm), tiến qua làng Tử Dương đánh chặn đường địch rút và chặn quân tiếp viện từ hướng Ba Thá xuống. Tiếp đến là Đại đội 42 (Đại đội trưởng - Quốc Biên, Chính trị viên - đồng chí Lập, Đại đội phó đồng chí Chung - người Nhật) tiến qua cánh đồng giữa hai làng Hoàng Dương, Tử Dương chiếm đê cao, đánh ép địch ra bờ sông. Đại đội 28 (Đại đội trưởng Hoàng Văn Thi - người Nhật, Chính trị viên đồng chí Tuất, đại đội phó Mai Hiền) tiến qua làng Nghi Lộc và Hoàng Dương đánh khoá đuôi địch. Trung đội cối 81mm của Tiểu đoàn bố trí ở Vĩnh Hạ chi viện cho các đơn vị.


Khoảng 13 giờ 30 phút, bắt đầu có tiếng súng nổ. Cụ thể như sau:

- Đại đội 28: một trung đội bám được lên đê đầu làng Nghi Lộc thì bị địch phát hiện bắn đồng chí Khá trung đội trưởng hy sinh. Đại đội trưởng Hoàng Văn Thi điều ngay khẩu đại liên 30-M2 lên bắn quét dọc đê, buộc quân địch ở mặt đê phải dạt hết về vườn chuối phía bên kia đê ven bờ sông. Đồng thời cối 81mm tiểu đoàn đã bắn trúng bến lội của địch.

Hai trung đội vận động qua làng Hoàng Dương đã đánh bật một toán quân nhỏ ở đầu làng và tiến lên đê. Dưới sự chi viện của hoả lực đại liên, toàn đại đội tiếp tục tiến công địch đang cụm lại khu vườn chuối, diệt và bắt gọn một trung đội địch, số còn lại chạy về phía Tử Dương.


- Đại đội 14: khi nghe tiếng súng nổ ở hướng Hoàng Dương, đại đội mới đến làng Cao Lâm, Ban chỉ huy Đại đội động viên anh em vận động nhanh hơn để kịp hiệp đồng. Khi trung đội đi đầu lên đến đê, phát hiện một tốp lính da đen đang tìm chỗ đặt khẩu trung liên gần khu Chợ Tía, Đại đội phó Đàm Thế Viêm dùng cácbin diệt tên xạ thủ. Địch bắn trả và cho quân tràn sang chiếm khu lò gạch đầu làng Tử Dương, hòng co cụm cố thủ tại đó để chờ quân cứu viện từ Ba Thá xuống. Lúc này quân ngụy đóng ở nhà thờ làng Miêng bắn sang phía Tử Dương để yểm trợ.

Đang lúc địch đánh trả quyết liệt, thì đồng chí Minh trung đội phó và đồng chí Giao liên lạc hy sinh. Lực lượng đại đội đã lên đủ. Đại đội trưởng Tống Trần Thuật tổ chức hoả lực chi viện cho bộ đội tiến công vào khu lò gạch nơi địch cố thủ. Mấy khẩu súng phóng lựu của ta đã bắn rất trúng, ghìm đầu địch xuống. Nắm thời cơ này trung đội trưởng Lê Trung Cơ đã dẫn bộ đội xung phong lên nhanh chóng chiếm được khu lò gạch, diệt và bắt gọn 2 trung đội cùng tên chỉ huy Beng-déc.


- Đại đội 42: tuy phải vận động qua cánh đồng trống trải giữa hai làng Hoàng Dương - Tử Dương, song nhờ có yểm trợ hoả lực của Đại đội 14, 28 và cối 81mm của Tiểu đoàn nên vẫn lên chiếm được đê mà ít thương vong. Khi chiếm được mặt đê, đại đội đã phát huy hoả lực bắn mạnh vào khu lò gạch và khu vườn chuối khép chặt địch trong vòng vây, buộc địch phải ra đầu hàng.

Trận đánh kết thúc lúc 14 giờ 30 phút. Vừa lúc đó một cơn mưa rào ập xuống nên máy bay địch không thể đến chi viện, chỉ có một chiếc Đa-kô-ta bay qua khu trận địa, song máy bay địch không bắt liên lạc được với quân địch ở mặt đất nên đã bay đi.

Cùng lúc này, Tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền đã có mặt trên đê, nơi xảy ra trận đánh, lệnh cho các đơn vị thu dọn chiến trường, kiểm tra trận địa, giải quyết thương binh tử sĩ, thu hồi chiến lợi phẩm và giải tù binh về phía sau.

Một đoàn tù binh, giày treo trên cổ, do bộ đội ta áp giải qua khu vực Đức Thụ lúc còn ban ngày. Nhân dân ra hoan hô, úy lạo bộ đội. Một số đồng bào vùng địch tạm chiếm tản cư ra đây, còn nhận mặt một số tên giặc trong đám tù binh trên đã từng gây tai hoạ cho xóm làng mình.


Kết quả trận đánh: diệt gọn đại đội địch (chết 7, bị bắt 81, trong đó có tên chỉ huy Beng-déc). Thu 1 đại liên, 6 trung liên, 7 tiểu liên, 1 súng ngắn, 50 súng trường, 1 máy phôni và nhiều đạn dược. Phía ta, hy sinh 3, bị thương nhẹ một số đồng chí.

Sau trận này, Tiểu đoàn Lê Lợi được Bộ Tổng Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Nếu như trận Đồng Bến là trận công đồn ban đêm ở địa hình rừng núi thì trận Hoàng Dương - Tử Dương là trận đánh vận động ban ngày ở địa hình đồng bằng và cũng là trận đánh vận động đầu tiên tiêu diệt gọn một đại đội địch của Tiểu đoàn Lê Lợi1 (Tuy trước đó, Tiểu đoàn có đánh một số trận khi quân địch nống ra vùng tự do như trận Cổ Đam, Ninh Bình (12-12-1947); trận Giao Cù, Nam Trực, Nam Định (5-1-1948); trận đánh địch nhảy dù xuống vùng Chanh, Chè, Thanh Liêm, Hà Nam (12-1948) nhưng chưa thực hiện được tiêu diệt gọn).


45 năm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong cuốn hồi ký "Chiến đấu trong vòng vây" đã nhận xét: "... Đây là trận vận động chiến xuất sắc ở huyện Ứng Hoà thuộc tỉnh Hà Đông". Trong một cuộc nói chuyện với cán bộ, Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng nói, đại ý: "Trận Hoàng Dương - Tử Dương là một trận vận động chiến tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ. Các học viện, nhà trường cần lấy trận này làm chiến lệ để cán bộ học tập".


Mặc dầu quy mô trận đánh không lớn như những chiến công lẫy lừng mà các đơn vị trong quân đội sau này đã giành được, nhưng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao nhất của quân đội ta đã có nhận xét như trên vì nó diễn ra trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang chuyển sang giai đoạn mới "phản công, tiến công địch". Phương châm, phương thức tác chiến cũng đã chuyển từ "du kích - vận động chiến" sang "đẩy mạnh vận động chiến", đánh những đòn tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch, song song phát triển đều khắp chiến tranh du kích trên các chiến trường, nhất là các mặt trận vùng sau lưng địch.


Trong phạm vi Tiểu đoàn Lê Lợi cũng vậy (có thể rộng ra là cả Trung đoàn 66). Những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp và sau này trong chống đế quốc Mỹ xâm lược, Tiểu đoàn (Trung đoàn) cũng đâ tiến hành nhiều trận đánh tập trung tiểu đoàn hoặc trung đoàn tiêu diệt hàng tiểu đoàn địch. Nhưng trận Hoàng Dương - Tử Dương là mở đầu xây dựng nên truyền thống đó. Tiếp đến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có thể nói những trận đánh của Tiểu đoàn, Trung đoàn diễn ra ở thung lũng Ia-đơ-răng, Plây Me, Đắc Tô, Tân Cảnh (Tây Nguyên)... cũng mang dáng dấp truyền thống từ Đồng Bến, Hoàng Dương - Tử Dương năm xưa.


Và khi kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, vinh dự cho Tiểu đoàn Lê Lợi (trong đội hình Trung đoàn 66) được tham gia đánh chiếm dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày nay Ban Liên lạc truyền thống Tiểu đoàn Lê Lợi chúng tôi đã chọn ngày 25 tháng 11 hàng năm (ngày chiến thắng Đồng Bến) để họp mặt. Và ngày đó không ai có thể quên được anh Lê Ngọc Hiền, người Tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều công lớn lao trong xây dựng truyền thống chiến đấu của Tiểu đoàn Lê Lợi.

Hà Nội, 6-7-2009
N.T.L