Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:39:51 pm



Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:39:51 pm
- Tên sách: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
- Tác giả: Setein Tonnesson
- Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia - Sự thật
- Năm xuất bản: 2013
- Người số hóa: macbupda, nhinrathegioi


Dịch giả và hiệu đính:

   Lê Đức Hạnh - Phạm Đức Tuệ

   Nguyễn Văn Sự - Nguyễn Xuân Thắng


Kính tặng Philippe Devillers, là người mà năm 1946 đã có mặt ở Việt Nam, năm 1952 xuất bản cuốn Histoire du Viet-Nam (Lịch sử Việt Nam), năm 1968 tới Oslo kêu gọi phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông là nguồn cảm hứng để tôi viết cuốn sách này và cũng chính ông đã chỉnh sửa nó suốt từ năm 1981 bằng cách chỉ dẫn tôi tìm kiếm trong tài liệu lưu trữ, tới năm 1988, cho ra đời cuốn Paris - Saigon - Hanoi (Paris - Sài Gòn - Hà Nội) và cho tới nay, ông vẫn trăn trở với câu hỏi điều gì thực sự đã xảy ra ngày 19 tháng Mười hai đó.


Loạt sách "Philip E. Lilienthal biên tập"

Cuốn sách này nằm trong loạt sách vinh danh Philip E. Lilienthal, biên tập viên của Nhà xuất bản Đại học California. Trong thời gian làm việc tại đây (1954-1979), ông đã trở nên nổi tiếng trong lĩnh vực sách nghiên cứu về châu Á bởi chất lượng công việc xuất sắc và sự ưu ái dành cho các tác giả trẻ. Yêu quý và ngưỡng mộ biên tập viên ấy, bạn bè, gia đình, các tác giả và các tổ chức đã cùng nhau lập Quỹ Lilienthal để tài trợ cho việc xuất bản loạt sách theo phong cách phản ánh thị hiếu và thẩm mỹ của Lilienthal.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:40:56 pm
LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kết thúc 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân và hàng nghìn năm áp bức của chế độ phong kiến. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đây nhân dân ta thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Trong một khoảng thời gian ngắn kể từ sau ngày giành được độc lập, từ tháng 8-1945 đến tháng 12-1946, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã giành được những thành quả lịch sử quan trọng, xây dựng được cơ sở vật chất, cơ sở xã hội và cơ sở pháp lý cho chính quyền, tạo dựng sức mạnh to lớn của dân tộc trên nền tảng dân chủ nhân dân, với những dấu ấn quan trọng, như lần đầu tiên Quốc hội được dân bầu theo phổ thông đầu phiếu chính thức ra đời; đặc biệt là sự ra đời Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu khuôn khổ pháp lý, nền tảng, định hướng phát triển lâu dài để xây dựng và phát triển đất nước.


Nhưng cũng trong khoảng thời gian này, bối cảnh đất nước ta trong tình thế thật hiểm nghèo. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời đã phải đối mặt cùng một lúc với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Thù trong, giặc ngoài đe dọa nghiêm trọng nền độc lập non trẻ của đất nước ta. Phát xít Nhật tuy đã bại trận nhưng vẫn còn lực lượng tàn quân không nhỏ ở nước ta; 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch mà dân ta lúc đó gọi là "quân Tàu ô" do tính ô hợp của chúng tràn vào phía bắc vĩ tuyến 20 dưới chiêu bài giải giáp quân Nhật mưu toan "diệt Cộng, cầm Hồ", ở phía Nam quân Pháp núp sau quân Anh với âm mưu chuẩn bị gây chiến hòng chiếm nước ta một lần nữa. Bên cạnh đó còn đủ loại các lực lượng phản động thuộc các đảng phái chính trị như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng... Ngày 23-9-1945, tiếng súng Nam Bộ kháng chiến bùng nổ. Chính quyền nhân dân vừa mới thành lập đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, tình thế đất nước "ngàn cân treo sợi tóc". Với tinh thần dù hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đứng lên chiến đấu anh dũng dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã chiến thắng giặc đói, giặc dốt, giặc ngoài thù trong, đưa nước nhà vượt qua tình thế hiểm nghèo. Năm 1946 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son đáng ghi nhớ.


Để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tiến hành thương lượng với Chính phủ Pháp đi đến ký hai văn kiện quan trọng: Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 nhằm đẩy nhanh quân Tưởng về nước; Tạm ước ngày 14-9-1946 nhằm tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến toàn quốc mà ta dự đoán chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới. Vì chúng quyết tâm giành lại quyền thống trị ở Việt Nam và toàn bộ Đông Dương với bất cứ giá nào. Đêm 19-12-1946, tiếng súng đại bác của ta từ pháo đài Láng đã nổ vang rền, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc.


Nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp và diễn biến của sự kiện 19-12-1946 ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu lịch sử trong nước và nhiều người trong giới sử học nước ngoài dày công nghiên cứu, tìm hiểu trong suốt mấy chục năm qua và đã cho ra đời nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu, sách báo, tư liệu... xoay quanh chủ đề này. Cuốn sách Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? của Stein Tonnesson, nhà sử gia nổi tiếng người Nauy, nguyên Giám đốc Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Oslo, là một trong những tác phẩm đó. Với mong muốn cung cấp thêm những tư liệu của một nhà nghiên cứu sử học phương Tây về cuộc thương thuyết Việt - Pháp với bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và quá trình dẫn đến sự kiện ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, qua đó giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật cho ra mắt bạn đọc cuốn sách này qua bản dịch từ nguyên bản tiếng Anh.


Để viết cuốn sách này, Stein Tonnesson sưu tầm, sử dụng nguồn tài liệu chủ yếu được khai thác từ các kho lưu trữ của các nước phương Tây, kết hợp với tư liệu của Pháp và Việt Nam, để dựng lại bức tranh khá chi tiết mô tả các diễn biến của mối quan hệ Việt - Pháp - Hoa trong suốt 16 tháng (8-1945 - 12-1946), trong đó có hai sự kiện quan trọng nổi bật là Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và ngày 19-12-1946 lịch sử.


Dựa trên nguồn tư liệu do cá nhân nghiên cứu và khai thác được, Stein Tonnesson đã phác họa một bức tranh khởi điểm chiến tranh Đông Dương rất phức tạp và đầy kịch tính. Trong nội dung sách, xuất phát từ chỗ đứng và lập trường của mình, tác giả có những luận giải, đánh giá về một số sự kiện, nhân vật khác với đánh giá của chúng ta, như chủ trương giải tán Đảng cuối năm 1945, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và một số nhà lãnh đạo Việt Nam (Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp,...) trong những năm 1945-1946; vai trò của Quốc dân Đảng trong diễn tiến của lịch sử Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám, sự kiện quân đội Việt Nam nổ súng vào đêm 19-12-1946... Ngoài ra còn có một số tư liệu, thời gian tác giả đưa ra không khớp với tư liệu chúng ta hiện có. Tôn trọng chính kiến của tác giả và để bạn đọc thuận tiện nghiên cứu, tham khảo, chúng tôi cố gắng giữ nguyên luận chứng của tác giả và chỉ lược bớt một số đoạn cần thiết, đồng thời khẳng định rằng các luận chứng đó không phản ánh quan điểm của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật.


Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 9 năm 2013
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:41:58 pm
LỜI TỰA CỦA CÁC BIÊN TẬP VIÊN LOẠT SÁCH


Các nhà sử học đã viết vô số sách tiếng Anh về những sự kiện đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đầu thập niên 1960 và còn nhiều cuốn sách hơn nữa viết về Việt Nam đang xuất hiện. Có điều thật lạ là không nhiều học giả nghiên cứu về sự bùng nổ của cuộc chiến tranh đầu tiên ở Đông Dương những năm 1945- 1946 giữa Pháp và Việt Nam, bất chấp việc cả hai cuộc chiến này hợp lại thành một trong những cuộc chiến tranh dài nhất, quan trọng nhất và tàn khốc nhất trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Chính vì vậy, nghiên cứu sâu của Stein Tonnesson về chủ đề này có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? trình bày chi tiết, sắp xếp lại các sự kiện, các quyết định và con người đã đưa nước Pháp vào cuộc chiến tranh đầu tiên trong số hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài chống lại nước Pháp.


Ngay từ năm 1952, nhà nghiên cứu người Pháp là Philippe Devillers đã có ý nghĩ rằng giải thích chính thức của Pháp về lý do bùng nổ chiến tranh, đổ lỗi hoàn toàn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là không đầy đủ và thuyết phục. Người Pháp, đặc biệt là các quan chức Pháp tại Đông Dương cũng phải chịu trách nhiệm về việc này. Lập luận của Devillers căn cứ vào nghiên cứu về Việt Nam trong những năm 1945-1946, qua các cuộc phỏng vấn với nhiều người Pháp và người Việt Nam nắm giữ những vị trí ra quyết định và nhờ tiếp cận được với những tài liệu nội bộ tại Paris.


Hầu như không ai khuấy lên vấn đề này cho tới thập niên 1980. Cùng với việc mở các hồ sơ liên quan tại các kho lưu trữ ở Pháp, Anh và Mỹ, Stein Tonnesson không những có thể khẳng định nhiều kết luận của Devillers mà ông còn đi xa hơn nữa* (Devillers đã xuất bản một số sưu tập các tài liệu nội bộ chứng minh (theo quan điểm của ông) trách nhiệm của Pháp về sự bùng nổ cuộc chiến tranh. Philippe Deviilers: Paris - Saigon - Hanoi: les archives de guerre 1944-1947 (Paris: Gallimard/Julliard, 1988). Trong quá trình nghiên cứu trải dài hơn hai thập niên, Tonnesson đã nghiên cứu tỉ mỉ một lượng tài liệu lưu trữ đồ sộ về khởi điểm chiến tranh cất giữ tại Ban Lịch sử quốc phòng, Bộ Ngoại giao, và đặc biệt là ở Trung tâm lưu trữ hải ngoại, ông cũng nghiên cứu, tuy với khối lượng hạn chế hơn, các tài liệu lưu trữ tại Hà Nội và sử dụng nhiều nguồn tài liệu nguyên thủy cũng như nguồn kể lại của Việt Nam. Nhờ đó, ông đã xuất bản một tác phẩm có tính chất tiên phong, uyên bác và chứa lượng thông tin lớn dựa trên những nghiên cứu của mình, cả bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Căn cứ vào những tài liệu mới được tiết lộ ở một số nước, Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? thể hiện một nghiên cứu độc đáo và xuất sắc khó sánh kịp về khởi thủy của chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất** (Theo cách nói của các học giả phương Tây (BT)), cuộc chiến tranh dọn đường cho chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.


Tonnesson phơi bày thái độ của các nhà chức trách Pháp tại Đông Dương quyết tâm chà đạp lên chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ chối đề nghị đàm phán và cố tình dồn Việt Nam vào chân tường, nếu không nói là dồn vào bẫy. Ý đồ đen tối của họ là muốn phía Việt Nam nổi giận, tạo cho giới chức Pháp tại Đông Dương cái cớ mà họ cần để kéo nước Pháp vào chiến tranh. Ngày 19 tháng Mười hai 1946, họ đã được thỏa mãn: phía Việt Nam tấn công. Nhiều câu hỏi quan trọng liên quan đến quá trình ra quyết định của phía Việt Nam trong thời gian máy tuần trước thêm chiến tranh còn chưa có lời đáp. Lời đáp cho những câu hỏi đó phụ thuộc vào những tài liệu lưu trữ còn đang bị khóa chặt. Mặc dù vậy, trong lúc này, Tonnesson đã cung cấp cho chúng ta tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về những điều xảy ra trong khoảng thời gian 10 tháng bấp bênh từ tháng Hai đến tháng Mười hai 1946.


Cuốn sách này sẽ rất có ích cho những độc giả quan tâm đến các chủ đề: Việt Nam, Pháp, quốc tế, thuộc địa, hậu thuộc địa, giải phóng thuộc địa và chiến tranh ở Việt Nam. Dù sao đi chăng nữa, khởi điểm của chiến tranh năm 1946 chẳng qua là sự biến đổi "từ Đông Dương thành Việt Nam", từ một lãnh thổ thuộc địa thành một quốc gia có chủ quyền. Cuộc chiến đẫm máu và lâu dài bắt đầu tháng Mười hai năm đó ngay từ đầu đã có tầm cỡ toàn cầu, lôi kéo các cường quốc cùng như những tác nhân trong khu vực. Không như tất cả những cuốn sách khác từng được biết đến Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? cho thấy cuộc chiến đó đã được thai nghén và ra đời như thế nào.

Christopher Goscha, Đại học Québec ở Montréal
Fredrik Logevall, Đại học Cornell


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:42:52 pm
LỜI TỰA


Trong một bài phát biểu đáng nhớ tại Đại học Johns Hopkins tháng Tư 1965, Thượng nghị sĩ Mỹ J. William Fulbright bày tỏ sự phản đối đối với điều mà ông gọi là "chứng vĩ cuồng" nguy hiểm mới xuất hiện trong chính quyền Johnson. Vào thời điểm đó, Tổng thống Lyndon B. Johnson vừa mới bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam với hy vọng khiến chính quyền miền Bắc từ bỏ cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Việt Nam. Hành động của Pháp năm 1946 cũng gần giống như vậy, khi lần đầu tiên nước Pháp thực dân phải đối phó với phong trào "phi thực dân hóa", và cuốn sách viết về hành động của Pháp năm 1946 cũng có thể đặt tên là "Chứng vĩ cuồng".


Tháng Tám 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, tiếp theo việc Mỹ lấy lại Philippin và Anh lấy lại Miến Điện (nay là Mianma). Chính phủ Pháp ngay lập tức tính đến chuyện tái lập chủ quyền của Pháp trên toàn cõi Đông Dương, một vùng đất bị Nhật Bản chiếm trước đó sáu tháng. Cả Anh, Trùng Khánh (Trung Quốc) và Mỹ lúc đó đều không phản đối yêu sách này của Pháp. Để thể hiện sự thiết lập chủ quyền, Pháp bổ nhiệm Tướng Philippe Leclerc là người đứng đầu lực lượng viễn chinh Pháp và Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu là Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Còn làm gì tiếp với Đông Dương thì Pháp sẽ tính sau.


Ngày 11 tháng Ba 1945, ngay khi còn dưới ách đô hộ của Nhật Bản, Việt Nam đã "tái khẳng định quyền được độc lập" của mình. Cùng ngày Nhật đầu hàng, ngày 2 tháng Chín 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước một cuộc mít tinh lớn tại Hà Nội rằng "Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập" và "quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy"* (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr. 3), mặc dù cần phải để Trung Quốc và Anh vào Việt Nam trong vài tuần để đưa quân Nhật về nước. Trong một bức thư cảm động ngày 20 tháng Tám, hoàng đế Việt Nam là Bảo Đại đã cảnh báo nhà lãnh đạo Pháp Charles de Gaulle: "Xin ngài hiểu cho rằng phương tiện duy nhất để giữ gìn lợi ích của nước Pháp và ảnh hưởng tinh thần của Pháp ở Đông Dương là công nhận hoàn toàn nền độc lập của Việt Nam và từ bỏ ý tưởng lập lại chủ quyền của Pháp hay chế độ cai trị của Pháp ở đây dưới bất kỳ hình thức nào... Sẽ không ai tuân lệnh cho dù ngài có đặt được bộ máy cai trị của Pháp ở đây, và mỗi ngôi làng sẽ trở thành một thành lũy kháng chiến... Chúng ta có thể hiểu nhau dễ dàng biết bao và trở thành bạn bè, chỉ cần ngài ngừng nuôi hy vọng trở thành ông chủ của chúng tôi một lần nữa".


Lời cảnh báo này rơi tõm vào khoảng không. Pháp đã trở lại và trong vòng ba tháng, với sự giúp đỡ của Anh, Pháp đã chiếm lại miền Nam Việt Nam. Nhưng Pháp định làm gì để lấy lại miền Bắc, trong khi miền Bắc vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát của quân Tàu Tưởng? Với hy vọng quân Tưởng sẽ nhanh chóng rút lui, Pháp chuẩn bị cho "Chiến dịch Bến Tre" - đây là chủ đề mà Stein Tonnesson yêu thích. Mặc dù vậy, với kinh nghiệm chiến tranh du kích ở Nam Kỳ, Tướng Leclerc cho rằng chỉ cần trình diễn một chút sức mạnh là đủ. Ông ta toan tính cho quân đổ bộ vào Hải Phòng trong khi Jean Sainteny với tư cách Ủy viên Cộng hòa Pháp sẽ gợi ý Hồ Chí Minh "đầu hàng trong hòa bình". Canh bạc của Leclerc thất bại. Quân Tưởng chùng chình không chịu rút, giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh khỏi phải lựa chọn giữa đầu hàng hay rút về miền núi. Việc này cũng mở đường cho một thỏa hiệp lẽ ra có thể đưa đến qua trình phi thực dân hóa một cách hòa bình ở Việt Nam. Câu chuyện này được Stein Tonnesson kể lại và diễn giải trong phần đầu của cuốn sách.


Giới chức Pháp không chấp nhận thất bại nhẹ nhàng này. Họ muốn nền cộng hòa của Hồ Chí Minh tiếp tục lệ thuộc về kinh tế và chính trị vào nước Pháp và đặc biệt là họ cho rằng sự thống nhất của Việt Nam dưới chế độ cộng sản là không thể chấp nhận được. Với hy vọng thuyết phục Hồ Chí Minh từ bỏ Nam Kỳ, d'Argenlieu đề nghị thành lập một Liên bang Đông Dương gồm bốn nước, nhằm mục đích giữ chân chính quyền Hồ Chí Minh ở miền Bắc và chỉ đợi quân Tưởng rút là xóa sổ chính quyền này. Nhưng nhờ Hiệp định sơ bộ ký giữa Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng Chín, quân du kích lại giành được quyền kiểm soát mạnh mẽ vùng nông thôn, làng mạc Nam Kỳ. Trước nguy cơ Sài Gòn sụp đổ, d'Argenlieu quyết định tấn công miền Bắc, trung tâm quyền lực của Việt Minh. Nhưng ông ta phải hành động khẩn trương. Cũng như các tướng lĩnh của mình, d'Argenlieu tin rằng họ sẽ thắng miền Bắc trong vòng hai tháng.


Hai mươi năm sau, một kịch bản tương tự lại diễn ra. Trước tình hình khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn, và nhất quyết không chịu để miền Nam vào tay cộng sản, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định ném bom miền Bắc vào tháng Ba 1965. Khi đó tôi đang ở Massachusetts. Trên máy bay, tôi nghe thấy ai đó nói với bạn mình rằng: "Chỉ trong vòng sáu tuần là Hà Nội sẽ quỳ gối xin hàng!".


Lần lượt Pháp và Mỹ dấn sâu vào chiến tranh ở Việt Nam với niềm tin vào một chiến thắng nhanh chóng, nhưng cuối cùng thì cả hai đều thua trận, sau khi hàng triệu nam giới, phụ nữ và trẻ em đã thiệt mạng. Lời cảnh báo của Bảo Đại đối với de Gaulle đã trở thành một điều tiên tri.


Một bí mật quan trọng mà cuốn sách này tiết lộ là sự thất bại của hệ thống tình báo. Hầu hết báo cáo của Phòng Nhì Pháp (tình báo quân đội) và các cơ quan khác đều chính xác về tổ chức, nhân sự, và thậm chí cả các nguồn lực của Việt Minh. Tuy nhiên, họ không bao giờ hiểu được bản chất và chiều sâu của lòng ái quốc cũng như quyết tâm của nhân dân Việt Nam. Cuốn sách của Stein Tonnesson là kết quả của nhiều năm dày công nghiên cứu, tìm tòi trong các tài liệu lưu trữ của Pháp, Anh và Mỹ, cũng như những cuộc phỏng vấn người trong cuộc còn sống, đã khẳng định chắc chắn trách nhiệm của Pháp trong những sự kiện thảm khốc này. Tôi gặp Stein Tonnesson lần đầu tiên 27 năm trước đây, và tôi vui mừng là tôi đã giúp ông tìm ra con đường của mình trong mê cung này. Stein Tonnesson đã cho ra đời một kết quả nghiên cứu xuất sắc. Ông đã giành được sự ngưỡng mộ của tôi nhờ khả năng giải mã những tình huống phức tạp và rút ra ý nghĩa của hàng ngàn trang tài liệu lưu trữ, rồi diễn đạt điều đó một cách giản dị, trong sáng. Đây là một câu chuyện hồi hộp đến nghẹt thở. Chúc độc giả chia sẻ cảm giác hồi hộp đó.

Philippe Devillers
Paris, ngày 19 tháng Mười hai 2008


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:43:57 pm
LỜI CẢM ƠN


Cuốn sách này hình thành theo ba giai đoạn. Ban đầu tôi viết một luận án thạc sĩ ở Đại học Oslo năm 1981-1982 và xuất bản nó dưới dạng một báo cáo cho Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Oslo năm 1984. Tôi xin cảm ơn những người đã đưa tôi đến với tư duy lịch sử và cách làm việc với tài liệu lưu trữ: thầy hướng dẫn của tôi ở Đại học Oslo là Helge O. Pharo; thầy hướng dẫn của tôi tại Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế là Marek Thee quá cố; David G. Marr, người đã cư xử với tôi y như tôi đã là một nhà nghiên cứu có tiếng tăm khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên trong kho lưu trữ thuộc địa của Pháp; Alain Ruscio và Odette Vilmont, là người tôi có thể thảo luận bất kỳ một chi tiết nào về các sự kiện năm 1946; và trên hết là Philippe Devillers, người đã tiếp tôi tại Paris tháng Mười 1981, điểm lại cho tôi những kinh nghiệm và nghiên cứu của ông về giai đoạn 1945-1946 và hướng tôi đi đúng đường trong mớ tài liệu lưu trữ. Cả ông, Marr và tôi đều không thể thực hiện nghiên cứu của mình nếu thiếu sự giúp đỡ của các nhân viên lưu trữ. Những người bạn tốt của tôi trong số các nhân viên lưu trữ đã cho tôi sự giúp đỡ vô cùng quý báu trong cả giai đoạn đầu cũng như giai đoạn sau của nghiên cứu. Rất tự nhiên, tôi chọn Lucette Vachier ở Trung tâm lưu trữ hải ngoại tại Aix-en-Provence để cảm ơn đại diện cho tất cả các nhân viên lưu trữ ở đó.


Giai đoạn thứ hai, tôi viết một cuốn sách bằng tiếng Pháp trên cơ sở luận văn thạc sĩ của mình, cuốn sách này được Nhà xuất bản l'Harmattan xuất bản tại Paris năm 1947 dưới cái tên Déclenchement de la guerre d'Indochine: Les vepres tonkinoises du 19 décembre 1946 (Khởi đầu chiến tranh Đông Dương: Tiếng chuông chiều Bắc Kỳ ngày 19 tháng Mười hai 1946). Trong giai đoạn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ của Bruno Metz, là người không chỉ dịch bản thảo của tôi từ tiếng Anh sang tiếng Pháp mà còn đóng góp cho tôi những gợi ý xác đáng về nội dung và lập luận, cũng như sự giúp đỡ của biên tập viên của tôi, Alain Forest, người đã công phu tổ chức lại cuốn sách này và làm cho nó dễ đọc hơn. Tôi cũng xin cảm ơn Hội đồng nghiên cứu Nauy đã hỗ trợ tôi cũng như việc xuất bản cuốn sách; cảm ơn Học viện nghiên cứu quốc phòng Oslo, cơ quan tôi làm việc vào thời gian đó. Xin cảm ơn Huỳnh Kim Khanh quá cố, người đã kết nối tôi với Nhà xuất bản l'Harmattan sau khi thảo luận với Pierre Brocheux và Daniel Hémery ở Đại học Paris VII tại Jussieu; cảm ơn Denis Pryen ở Nhà xuất bản l'Harmattan, người đã dễ dàng cho phép tôi xuất bản một phiên bản tiếng Anh mới, cập nhật hơn của cuốn sách mà nhà xuất bản này đã xuất bản năm 1987.


Giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của quá trình hình thành cuốn sách này, tôi có một khoảng thời gian dài làm việc về những chủ đề khác như cách mạng Việt Nam năm 1945, sự hình thành các quốc gia ở Đông Nam Á trong hai thập niên 1940 và 1950, và lịch sử tranh chấp Biển Đông. Năm 1989, tôi đến thăm Việt Nam lần đầu tiên và được tiếp đón rất trọng thị tại Học viện Quan hệ quốc tế, Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam và Khoa sử - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đặc biệt, tôi muốn cảm ơn các bạn của tôi ở Học viện Quan hệ quốc tế, nhất là Lưu Đoàn Huynh, Nguyễn Vũ Tùng, Dương Quốc Thanh và Hoàng Anh Tuấn, những người luôn luôn sẵn sàng tiếp đón và giúp đỡ tôi. Từ sau năm 1989, tôi còn đến Việt Nam nhiều lần nữa và có nhiều cơ hội thảo luận kết quả nghiên cứu về những câu hỏi về khởi điểm của chiến tranh Đông Dương năm 1946 với các nhà nghiên cứu sử quân đội, ngoại giao và chính trị, trong đó có Bùi Đình Thanh, Dương Kinh Quốc, Trịnh Đào Hùng, Dương Trung Quốc và đặc biệt là Đinh Xuân Lâm, người đã dành thời gian dịch cuốn sách tiếng Pháp của tôi sang tiếng Việt trong khi chính ông đang rất bận rộn với nghiên cứu về Việt Nam thế kỷ XIX. Tôi cũng đã có hân hạnh được kết bạn và thảo luận về lịch sử Việt Nam với các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam được quốc tế công nhận như Pierre Brocheux, Laurent Césari, William J. Duiker, Charles Fourniau, Lloyd Gardner, Daniel Hémery, Gary Hess, Robert J. McMahon, Irene Norlund, Phan Huy Lê, Alain Ruscio, Masaya Shiraishi, Anthony Short, Hugues Tertrais, Ralph B. Smith quá cố, Judith Stowe, Martin Stuart-Fox và Marilyn Young, cũng như có cơ hội tham gia hai cuộc hội thảo Việt - Mỹ, tại đây một nhóm người trong đó có cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara thảo luận về bi kịch Việt Nam và những bài học với các nhà ngoại giao và sĩ quan Việt Nam.


Trở lại năm 1982, David Marr, Alain Ruscio, Odette Vilmont và tôi là các nhà sử học nghiên cứu hồ sơ về Đông Dương thuộc Pháp, trong khi phòng đọc tài liệu lưu trữ về thuộc địa có đông đảo các nhà nghiên cứu về Bắc Phi nghiên cứu lịch sử của chính nước họ. Chúng tôi tập trung vào các thế giới khác nhau. Vào giờ giải lao, tôi nói rất nhiều về vị quan chức thuộc địa Pháp Léon Pignon tới mức một người Pháp nghiên cứu về Bắc Phi, Olivier Vergniot gọi tôi là "Pignon bé con" (Little Kernel). Thập niên 1990, không khí nghiên cứu giảm sút, các nhà nghiên cứu về Bắc Phi giảm dần ở các phòng đọc. Tôi nhớ họ, nhưng tôi vui mừng thấy một thế hệ mới các nhà nghiên cứu sử Việt Nam từ nhiều nước lại lấp đầy các phòng đọc và hội thảo khoa học, họ viết ra những bài viết, luận án, sách báo tuyệt vời. Họ là Mark Bradley, Robert Brigham, Chen Jian, Anne Foster, Ilya Gaiduk, Gilles do Gantes Christopher Giebel, Christopher E. Goscha, François Guillemot, Andrew Hardy. Eric Jennings, Pierre Journoux, Vladimir Kolotov, Agathe Larcher. Phillippe LeFailler, Lin Hua, Fred IiOgevall, Shawn McHale, Nguyễn Văn Kỳ, Man Olsen, Qiang Zhai, Sophie Quinn-Judge, Martin Shipway, Martin Thomas, Frédéric Turpin, Claire Trần Thị Liên, Benoit de Tréglodé, Daniel Varga và Peter Zinoman. Đây là tôi chỉ liệt kê một số người ở đây. Tháng Hai 2008, Claire Trần Thị Liên tổ chức một hội thảo ở Paris về Việt Nam năm 1946, mời Philippe Devillers và tôi làm diễn giả. Nếu cần nêu đặc biệt tên ai đó trong số những người trẻ tuổi, tôi xin nhắc đến Frédéric Turpin. Đó là một trong những nhà sử học về Việt Nam mà tôi chưa từng gặp mặt, nhưng tôi hết sức ngưỡng mộ 666 trang cuốn De Gaulle, les gaullistes et l'Indochine, 1940-1956 (De Gaulle, những người gôlít và Đông Dương, 1940-1956) do Nhà xuất bản Les Indes savantes xuất bản tại Paris năm 2005.


Năm 2001, tôi trở thành Giám đốc Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Oslo, nơi tôi làm việc khi còn là sinh viên đại học những năm 1981-1982 và làm nghiên cứu sinh những năm 1988-1991. Khi Chris Goscha và Fred Logevall liên lạc với tôi năm 2005 để hỏi liệu tôi có muốn viết một cuốn sách mới cho Nhà xuất bản Đại học California dựa trên cơ sở báo cáo năm 1984 và cuốn sách tiếng Pháp năm 1987 của tôi hay không. Thoạt đầu tôi nghĩ rằng không thể nào sắp xếp để làm điều đó mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ của tôi ở Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế, nhưng Phó Giám đốc Viện là Kristian Berg Harpviken đã đồng ý lãnh đạo Viện trong thời gian công việc của tôi căng thẳng nhất, đồng thời Chris Goscha và Fred Logevall khuyến khích tôi và cho tôi những lời khuyên bổ ích, nhờ đó tôi đã cố gắng vượi qua giai đoạn 3 của việc viết cuốn sách này, kết hợp hai bản thảo ban đầu, dịch ngược từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, bổ sung một chương dựa trên một bài báo về thỏa thuận ngày 6 tháng Ba 1946 mà tôi đã đăng, bổ sung các thông tin mà các đồng nghiệp của tôi đã xuất bản từ sau thập niên 1980, viết Lời giới thiệu và Kết luận hoàn toàn mới. Trong giai đoạn 3 này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trên hết đối với Chris và Fred, nhưng tôi cũng biết ơn không kém đối với Philippe Devillers và David Marr, những người đã đọc và bình luận bản thảo của tôi. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ông Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội, ông Triệu Văn Hiển, Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và ông Phạm Quốc Quân, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử, vì đã cung cấp cho tôi những bằng chứng mới vào mùa hè năm 2007, đã cho phép tôi sử dụng tài liệu của họ và cho phép tôi sao chụp lại một số hiện vật trưng bày để dùng làm hình ảnh minh họa. Tôi xin cảm ơn một người họ hàng của tôi là Tor Fuglevik đã chụp ảnh bức tranh được dùng để làm trang bìa của cuốn sách này, cảm ơn Trần Kiều, một nhân vật lãnh đạo trong số Việt kiều tại Nauy cũng như người bạn của tôi là Hà Hoàng Hợp ở Hà Nội, cả hai người đã giúp tôi đọc một số văn bản quan trọng bằng tiếng Việt và cho tôi những lời khuyên bổ ích.


Hai nguồn tài liệu quan trọng về quá trình ra quyết định của phía Việt Nam trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuốn hồi ký gần đây nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một cuốn tiểu sử mới về cuộc đời Tướng Giáp của nhà sử học Việt Nam Trần Trọng Trung. Tôi trân trọng cảm ơn ông Trần Trọng Trung về những cuộc thảo luận với ông trước đây, cảm ơn Tướng Giáp vì đã dành thời gian đọc tác phẩm của Devillers và của tôi; vì đã dũng cảm đập lại những chất vấn của chúng tôi trong một vài cuộc phỏng vấn và sau này là trong hồi ký của ông; vì đã thẳng thừng nói với tôi vào ngày 18 tháng Chín 1992 rằng "chúng tôi" tự quyết định ngày 19 tháng Mười hai 1946; vì đã cho phép tôi tham dự buổi hội thảo mà tại đó, ngày 23 tháng Sáu 1997, ông bác bỏ ý kiến của Robert McNamara là cả hai bên, chứ không chỉ một mình người Mỹ, đã phạm sai lầm trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam; và cảm ơn ông vì đã tiếp tôi tại nhà của ông vào ngày 20 tháng Mười hai 2005 để bày tỏ ước nguyện hòa bình của một "lão chiến binh".


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:51:43 pm
LỜI GIỚI THIỆU


Giữa trận chiến, trong mắt của những con người căm ghét nhau chỉ có kẻ thù là nguyên nhân duy nhất của mọi đau khổ họ phải chịu; nhưng mãi về sau, khi cơn giận dữ đã cạn đi, nỗi căm hờn đã lắng xuống, nhà sử học thường nhận ra rằng mỗi bên trong cuộc chiến chỉ đúng có một nửa, mà một bên thì có lẻ đã quá cứng rắn, trong khi bên kia thì dường như quá kiêu ngạo. Sâu xa hơn nữa, nhà sử học phát hiện ra rằng điều đưa con người ta đến chỗ đối chọi nhau ghê gớm đến thế chỉ là một sai lầm, mà sai lầm tai hại đó đáng lẽ đã có thế tránh được.

Herbert Butterfield: Lịch sử quan hệ con người


Butterfield gọi hiện tượng này là "yếu tố bi thảm trong xung đột của loài người" và cho rằng lịch sử của tất cả các cuộc xung đột đều đi theo cấu trúc này nếu sau một thời gian người ta nhìn nhận, đánh giá và sắp xếp lại các sự kiện1.

Chiến tranh tàn phá Việt Nam trong hơn 40 năm liền. Không một nước nào khác phải chịu thương vong nhiều đến thế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong vòng năm tháng đầu năm 1945, phần vì máy bay Đồng minh ném bom làm gián đoạn giao thông vận tải, phần vì Nhật Bản và Pháp không ưu tiên vận tải gạo, nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 1 triệu người ở miền Bắc và khu vực Bắc Trung Bộ của Việt Nam2. Đây là thảm họa đầu tiên trong hàng loạt thảm họa nhân tạo xảy ra sau đó. Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, từ năm 1945 tới 1954, khoảng 365.000 người đã bị giết, trong đó phía Pháp mất 40.000 người, phía chống Pháp mất 200.000 người và 125.000 người là dân thường, chưa kể những người gián tiếp thiệt mạng vì chiến tranh3. Từ thời điểm Hiệp định Giơnevơ năm 1954 chia cắt Việt Nam thành hai miền cho tới khi chiến tranh giữa hai miền bắt đầu năm 1959, hàng vạn người đã bị giết ở miền Bắc trong cải cách ruộng đất (1954-1956) và ở miền Nam do chính sách đàn áp cộng sản, tội phạm và giáo phái tôn giáo, cũng như trong cuộc chiến giành quyền kiểm soát Lào.


Còn có nhiều ý kiến khác nhau về con số thương vong trong chiến tranh ở Việt Nam (1959-1975). Thường người ta cho rằng con sô này bị phóng đại, nhưng tất cả mọi người đều nhất trí rằng số thương vong lớn tới mức bất ngờ. Theo một nghiên cứu chi tiết về thương vong từng năm của Micheal Clodfelter và nhiều nguồn khác, Bethany Lacina ước tính miền Bắc Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam mất tới hơn 1 triệu quân. Miền Nam mất khoảng 250.000 quân, 46.122 lính Mỹ bỏ mạng trên chiến trường trong tổng số nạn nhân Mỹ là 58.153 người, và các nước khác trên cùng chiến tuyến với miền Nam Việt Nam mất hơn 5.000 người trong chiến tranh. Ngoài ra, chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của khoảng 65.000 dân thường miền Bắc Việt Nam và 650.000 dân thường miền Nam Việt Nam. Con số người chết vì chiến tranh lên tới hơn 2 triệu người, nhiều hơn bất kỳ một cuộc chiến tranh nào khác kể từ năm 19454. Nếu kể cả thương vong trên các chiến trường Lào và Campuchia với số người thiệt mạng ở mỗi nước xấp xỉ bằng nhau thì phải tính thêm tổng cộng khoảng nửa triệu người chết.


Chỉ vẻn vẹn có ba năm sau khi chiến tranh ở Việt Nam kết thúc và hai miền Nam - Bắc thống nhất, Việt Nam lại một lần nữa rơi vào xung đột vũ trang, lần này là với quân Khơme đỏ. Việt Nam tiến vào Campuchia những ngày cuối năm 1978 rồi hành động ở biên giới phía Bắc Việt Nam từ tháng Hai đến tháng Ba 1979. Trong 10 năm tiếp theo, thế cờ đã đảo ngược: Việt Nam tiến hành truy quét quân Khơme đỏ phản động ở Campuchia, trong khi Thái Lan, Mỹ... cung cấp vũ khí, chỗ ẩn náu và các hình thức hỗ trợ khác cho Khơme đỏ. Trong bối cảnh đó, người ta cho rằng xung đột vũ trang ở Campuchia từ năm 1979 đến 1989 đã cướp đi ít nhất 150.000 sinh mạng và khoảng 80.000 dân thường thiệt mạng vì mìn, những quả mìn rải rác ngày nay vẫn tiếp tục làm hoen ố cảnh vật bình yên của Campuchia, sát hại hoặc gây tàn tật nhiều trẻ em. Thế nhưng tấn thảm kịch của cuộc chiến tranh này (1978-1989) bị che lấp bởi vụ diệt chủng mà Khơme đỏ gây ra trước đó, vụ diệt chủng đã cướp đi sinh mạng của khoảng hơn 2 triệu người trên tổng số 7-8 triệu dân.


Cuối cùng, Chiến tranh lạnh kết thúc đã đem lại hòa bình cho Đông Dương. Năm 1989, quân Việt Nam rút khỏi Campuchia và Hiệp định Paris về Campuchia được ký năm 1991. Bốn năm sau, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ và đồng thời gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một tổ chức được thành lập năm 1967 với mục đích có phần là ngăn cản sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Tính tới năm 2009, Việt Nam đã ra khỏi chiến tranh được 20 năm. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao, văn hóa, thương mại với tất cả các nước láng giềng và các nước đối địch trước đây, thậm chí đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hai thập niên hòa bình vừa qua đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của đa số dân trong tổng số hơn 85 triệu người Việt ở Việt Nam và ngày càng đẩy mạnh hoạt động trao đổi giữa người Việt ở Việt Nam với 2,5 triệu người Việt ở nước ngoài5. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài bao gồm nhiều người có nguồn lực đáng kể đã rời Việt Nam trong hoặc sau thời gian chiến tranh cùng con cháu họ. Người Việt ở hải ngoại, hay còn gọi là Việt kiều, giờ đây là một nguồn vốn và kỹ năng vô giá rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam. Cũng chính vì muốn làm sáng tở những điều đã châm ngòi chiến tranh ở Việt Nnm, chúng tôi thấy cần phải làm sáng tỏ tính chất của nền hòa bình ở Việt Nam từ năm 1989 tới nay.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:54:45 pm
Liệu chuỗi chiến tranh liên tiếp ở Việt Nam có một điểm bắt đầu hay không? Anthony Short đặt câu hỏi này trong cuốn The Origins of the Vietnam War (Nguồn gốc chiến tranh ở Việt Nam) được ông viết năm 1989, đúng vào thời điểm cuộc chiến tranh cuối cùng đi vào giai đoạn kết thúc. Ông điểm lại lịch sử bắt đầu từ việc Pháp đặt chế độ thực dân ở Việt Nam (1858-1885) và phân tích bản chất chế độ cai trị thực dân của Pháp dựa trên nền tảng là trồng cây cao su, lao động cưỡng bức, buôn bán thuốc phiện và thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước, song song với việc xây dựng các cơ sở hiện đại, đường bộ và đường sắt kết nối các vùng của Đông Dương. Short khẳng định rằng "có lẽ đầu tiên phải tìm kiếm nguồn gốc chiến tranh trong mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam"6. Tiếp theo, ông mô tả bằng cách nào mà sự cai trị thực dân của Pháp tiếp tục được thực hiện trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng (1941-1945) và Nhật Bản đã tiến hành đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 như thế nào. Vụ đảo chính này dẫn đến một khoảng trống quyền lực, chính khoảng trống đó tạo ra thời cơ cho Việt Nam độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh) do nhà cộng sản dày dạn kinh nghiệm Hồ Chí Minh đứng đầu xây dựng một mạng lưới tổ chức rộng khắp trên toàn Đông Dương. Ngày 15 tháng Tám 1945, Nhật đầu hàng chính là tín hiệu kêu gọi tổng khởi nghĩa với lực lượng nòng cốt là những người cộng sản, đưa đến kết quả là sự khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc khởi nghĩa này nhanh chóng được biết đến với tên gọi "Cách mạng Tháng Tám". Thời khắc quan trọng nhất của Cách mạng Tháng Tám là ngày 2 tháng Chín 1945, thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trước đông đảo nhân dân tập trung tại Hà Nội. Ngày đó bây giờ là Quốc khánh của Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra hết sức nhanh chóng và tương đối hòa bình, mặc dù một số lãnh đạo bảo thủ theo phái Tờrốtxki đã bị loại bỏ.


Có thể lập luận rằng chuỗi chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu cùng với việc quân Anh đổ bộ vào Sài Gòn tháng Chín và quyết định trao vũ khí cho tù binh chiến tranh của Pháp sau khi đưa họ ra khỏi trại tù binh của Nhật. Chớp thời cơ, ngày 23 tháng Chín 1945, những tù binh này tấn công lật đổ chính phủ cách mạng ở Sài Gòn. Vụ đảo chính châm ngòi cho cuộc thảm sát dân thường Pháp ngày 26 tháng Chín tại khu Cité Héraud. Trong số nạn nhân có Peter Dewey, con trai của một thượng nghị sĩ Mỹ nổi tiếng, người này trở thành người Mỹ đầu tiên thiệt mạng ở Việt Nam7. Sau đó, Pháp, Anh và Nhật tiến hành chiến dịch bình định, giết và tước vũ khí của các nhà cách mạng dân tộc ở Campuchia, miền Nam Việt Nam và Nam Lào. Sau giai đoạn ngắn bị xáo trộn, cộng sản nằm vùng và những người dân tộc chủ nghĩa khác đáp trả bằng chiến thuật du kích và ám sát nhằm gieo rắc kinh hoàng cho những kẻ hợp tác với Pháp. Không phải là không có cơ sở để cho rằng chiến dịch này là khởi điểm của "Ba mươi năm chiến tranh"8 ở Việt Nam, như ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn hồi ký gần đây của ông. Tuy nhiên, vào năm 1946, không có điều kiện, hoàn cảnh nào bắt buộc các bên phải lao vào một cuộc chiến tranh kéo dài đến như vậy. Ngày 6 tháng Ba 1946, nhằm tái lập sự hiện diện của Pháp ở Bắc Đông Dương lúc đó đang bị Trung Quốc chứ không phải là Anh chiếm đóng, Pháp đã ký một hiệp định sơ bộ với Hồ Chí Minh. Suốt chín tháng sau đó, các đại diện Đệ tứ Cộng hòa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cùng tồn tại. Quá nửa đêm 14 rạng sáng 15 tháng Chín, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký một bản tạm ước đề ngày 14 tháng Chín, có hiệu lực ngày 31 tháng Mười, trong đó có điều khoản ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam. Nhà sử học Pháp Alain Ruscio cùng kết luận rằng một chuỗi các vụ việc chứ không phải một sự kiện đơn lẻ đã châm ngòi cho chiến tranh:


Chúng ta hãy chú ý tới cả chuỗi các sự kiện chứ đừng chú ý tới một sự kiện đơn lẻ nào. Từ tháng Ba 1945 tới mùa hè năm 1947, các sự kiện xảy ra liên tiếp như một chuỗi các mắt xích, có sự kiện mang tính chất bước ngoặt, có sự kiện là hậu quả của sự kiện khác, nhưng hầu hết chúng (mà không phải tất cả) có tầm quan trọng gần như nhau. Lần theo những mắt xích này, chúng ta sẽ thấy chiến tranh đi từ chỗ ít có khả năng xảy ra đến chỗ đe dọa xảy ra, và cuối cùng trở nên không thể tránh khỏi. Gần nửa thế kỷ sau, mặc dù một vài sự kiện nào đó có vẻ nổi bật hơn các sự kiện khác, chúng ta vẫn phải nhìn tổng thể cả quá trình này9.


Trong cuốn sách này, xuất phát điểm của tôi là "chính sách thỏa hiệp" (politique d'accord) mà hai bên tìm cách áp dụng năm 1946 đáng lẽ có thể đem lại một kết quả tốt đẹp là ngăn chặn được chiến tranh, và cho tới tận ngày 19 tháng Mười hai 1946 vẫn còn có thể ngăn chặn chiến tranh. Do vậy, nguyên nhân trực tiếp gây ra các cuộc chiến tranh liên miên từ đó về sau không phải là do thực dân Pháp đã cai trị Đông Dương trong một thời gian dài, hay do Nhật đảo chính Pháp vào tháng Ba 1945, cũng không phải là do Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam hay thậm chí sự đàn áp dã man của Pháp và Anh trong giai đoạn 1945-1946 ở miền Nam. Nguyên nhân cũng không phải là mùa hè năm 1946, đàm phán Pháp - Việt đã thất bại, vả lại các cuộc đàm phán Pháp - Việt đã không hoàn toàn thất bại, mà hai bên đã đạt được một bản tạm ước. Đúng hơn, nguyên nhân trực tiếp của các cuộc chiến tranh Việt Nam là sự đổ vỡ trong quan hệ hợp tác Việt - Pháp trong khoảng thời gian tháng Mười một - Mười hai 1946 và hai bên đánh nhau trên đường phố Hà Nội trong vòng 2.003 giờ tính từ ngày 19 tháng Mười hai 1946. Đó là ngày chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất bùng nổ, khởi đầu cho chuỗi các cuộc chiến tranh liên tiếp gây ra những hậu quả bi thảm không chỉ cho người dân Việt Nam và các nước láng giềng, mà cả đối với Pháp, Mỹ và toàn thế giới.


Đây không phải là một cuốn sách lịch sử quân sự, mà là một nghiên cứu mang tính học thuật từ góc độ chính trị về nguyên nhân và hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc chiến tranh. Nó tìm câu trả lời cho hai câu hỏi: Tại sao chiến tranh không nổ ra vào ngày 6 tháng Ba 1946, ngược lại khủng hoảng nghiêm trọng lại được giải quyết bằng việc ký một hiệp định hòa bình? Và tại sao chiến tranh lại bùng nổ vào ngày 19 tháng Mười hai? Chương kết sẽ đề cập câu hỏi ai và bằng cách nào có thể tránh được chiến tranh. Phần tường thuật của cuốn sách kể lại giai đoạn từ tháng Hai 1946 tới tháng Giêng 1947 nhưng không đi sâu vào chi tiết những cuộc đàm phán kéo dài giữa Pháp và Việt Nam diễn ra từ tháng Tư đến tháng Năm ở Đà Lạt, một thành phố nhỏ ở cao nguyên Trung Bộ Việt Nam và ở Fontainebleau, miền Nam nước Pháp trong khoảng từ tháng Bảy đến tháng Chín. Thay vào đó, cuốn sách tập trung vào những cuộc khủng hoảng ngay trước và sau những cuộc đàm phán thất bại đó, trong đó một dẫn đến Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, một dẫn đến đổ máu để giành giật từng ngôi nhà, góc phố Hà Nội.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:57:10 pm
Cuốn sách này lật lại hai kết luận mà người ta vẫn cho là đúng. Thứ nhất là nhiều người tin rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba phản ánh việc phe cải cách tự do hoặc những người theo khuynh hướng thực dụng đang tạm thời chiếm ưu thế trong hàng ngũ lãnh đạo của Pháp, rằng chính những người này hiểu sự cần thiết phải nhân nhượng chủ nghĩa dân tộc của người Việt Nam về thỏa hiệp với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách này chỉ ra rằng ngay từ ngày 6 tháng Ba, Pháp đã chuẩn bị sẵn sàng để gây chiến với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rằng Pháp đã chơi một canh bạc lớn bằng việc đưa cả một đội quân xâm lược tới thành phố cảng Hải Phòng. Đây không chỉ là một màn trình diễn sức mạnh, mà còn là một phần của một cuộc hành quân đã được tính toán kỹ càng để giành quyền kiểm soát các trung tâm lớn ở miền Bắc, trong đó có Hà Nội. Tới cảng Hải Phòng sáng ngày 6 tháng Ba, hạm đội Pháp rơi ngay vào bẫy của quân Tưởng. Pháp chắc mẩm Tàu Tưởng sẽ giúp quân Pháp đổ bộ vào miền Bắc theo Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28 tháng Hai, nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch đã lừa Pháp. Khi tàu chiến Pháp tiến đến gần cảng Hải Phòng, quân Tưởng đã sẵn sàng chống lại nếu Pháp tấn công và thực sự là đã bắn vào tàu Pháp. Đồng thời, họ ép cả Chính phủ Việt Nam và đoàn đàm phán của Pháp ở Hà Nội ký một thỏa hiệp nhân danh hai nước. Cả Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều không ở vị trí có thể công khai đối đầu với Tàu Tưởng, vì vậy dưới sức ép của Tàu Tưởng, họ đành phải đặt bút viết lên giấy trắng mực đen những điều thỏa hiệp mà cả hai bên đều hy vọng là về sau có thể giũ bỏ. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba là một nền hòa bình mong manh do Tàu Tưởng dựng lên.


Kết luận thứ hai được nhiều người công nhận là Việt Nam đã có chủ ý tính toán trước khi quyết định bất ngờ tấn công Pháp và làm bùng nổ chiến tranh ngày 19 tháng Mười hai. Việt Nam hoàn toàn không phủ nhận điều đó, mặc dù Việt Nam hành động như vậy là để đáp trả việc Pháp chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn vào tháng Mười một. Trong quá trình chiến tranh Đông Dương, một số nhà nghiên cứu nổi tiếng đã nhìn nhận lịch sử như vậy, tuy nhiên luôn luôn có một trường phái khác nhấn mạnh rằng Việt Nam đã bị khiêu khích và phỏng đoán rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không kiềm chế được sự phẫn nộ của các nhà lãnh đạo dưới quyền khác10. Gần đây, xu hướng cho rằng Việt Nam phải chịu trách nhiệm về các vụ tấn công ngày 19 tháng Mười hai đã mạnh lên nhờ một số bài viết của các sử gia Việt Nam và của chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi để nhiều người đặt dấu hỏi suốt một thời gian dài về sự kiện ngày 19 tháng Mười hai, Tướng Giáp mới lên tiếng và tự hào tuyên bố rằng quả thật Việt Nam đã quyết định nổ súng đầu tiên11. Tướng Giáp khẳng định rất vững chắc cả trong cuốn hồi ký của ông và trong những lần trao đổi với tác giả cuốn sách này rằng ông - hay "chúng tôi", theo cách nói của ông - đã quyết định nổ súng đầu tiên: "Nếu chúng tôi đợi thêm thì Pháp có thể đã tấn công chúng tôi", ông nhận định như vậy năm 1992. "Nếu có bất kỳ sai lầm nào thì đó là chúng tôi đã đợi quá lâu".


Cuốn sách này lật lại kết luận của đa số về ngày 19 tháng Mười hai và chứng minh rằng ngày hôm đó đáng lẽ ra chiến tranh có thể tránh được. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, mặc dù được ký dưới áp lực của Trung Quốc, đã tăng niềm tin và sức mạnh cho các nhà lãnh đạo Pháp và Việt Nam muốn tránh đổ máu và tránh cái giá về chính trị và tiền bạc cho một cuộc chiến tranh lâu dài.


Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy. Người đứng đầu Chính phủ Pháp vào thời điểm chiến tranh bùng nổ, cựu chiến binh Đảng Xã hội (SFIO) Léon Blum, cũng có khuynh hướng theo đuổi hòa bình, và Marius Moutet, Bộ trưởng Hải ngoại thuộc SFIO, người đã ký Tạm ước với Chủ tịch Hồ Chí Minh đêm 14 rạng ngày 15 tháng Chín, tiếp tục bảo vệ "chính sách thỏa hiệp" của ông ta. Những kẻ hiếu chiến chủ chốt, những người phải chịu trách nhiệm không phải chỉ đối với việc chiếm Hải Phòng vào tháng Mười một, mà cả đối với việc chiến tranh nổ ra ở Hà Nội là nhóm ba người, còn gọi là "Tam đầu chế" ở Sài Gòn, gồm Cao ủy, Đô đốc George Thierry d'Argenlieu, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương - Tướng Jean-Etienne Valluy và ủy viên Cố vấn chính trị Léon Pignon, người muốn cắt đứt mọi quan hệ với chính quyền Việt Nam do cộng sản lãnh đạo. D'Argenlieu lúc đó không chỉ tuân theo hướng dẫn và mệnh lệnh từ Chính phủ Pháp đương nhiệm mà còn tìm cách thực hiện ước nguyện của người thầy đáng kính của ông ta - cựu lãnh đạo Pháp đã từ chức vào tháng Giêng 1946 là Tướng Charles de Gaulle. Khi việc Pháp chiếm Hải Phòng không phá vỡ ngay lập tức quan hệ Pháp - Việt, họ âm mưu gây thêm áp lực đối với chính phủ Hà Nội, nhằm mục đích chia rẽ giữa những người "trung hòa" và những người "cực đoan", hoặc khiêu khích Việt Nam nổ súng. Tình báo Pháp biết rằng Việt Nam đã chuẩn bị sẵn một kế hoạch tấn công và thực tế Pháp đã mua được một bản sao kế hoạch tấn công đó. Nhóm Tam đầu chế Pháp sốt ruột chờ đợi phía Việt Nam hành động. Mặc dù Paris đang ngập trong khủng hoảng nội các và bất đồng trong nội bộ chính phủ, ngày 12 tháng Mười hai, vị thủ tướng sắp rời nhiệm sở là Georges Bidault vẫn gửi một bức điện nói rõ với Sài Gòn là ông ta không đồng ý với chính sách hiếu chiến mà giới chức Pháp tại Sài Gòn theo đuổi, tiếp đó một đại diện của Tam đầu chế nhận được chỉ thị rằng Pháp không được phạm lỗi gây ra bất kỳ "vụ việc" nào nữa. Suốt ba tuần sau khi "mất" Hải Phòng, phía Việt Nam vẫn tự kiềm chế. Hồ Chí Minh liên tục kêu gọi Pháp, Trung Quốc và Mỹ can thiệp để vãn hồi hòa bình. Chắc hẳn không bao lâu sau Léon Blum sẽ đáp lại một cách tích cực lời kêu gọi đó, nếu như quân đội Việt Nam không tấn công vào đêm 19 tháng Mười hai ấy.


Ngày 17 tháng Mười hai, chính phủ mới của Blum với toàn bộ là thành viên SFIO, trong đó Blum là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, chiến thắng trong cuộc bỏ phiêu tín nhiệm của Quốc hội Pháp. Ngay ngày đầu tiên nhận bàn giao từ người tiền nhiệm Georges Bidault, ngày 18 tháng Mười hai, Blum quyết định cử Moutet tới Hà Nội thực hiện sứ mệnh hòa bình, nhưng đã quá muộn. Chiều ngày 19 tháng Mười hai, điều gì đó không ổn đã xảy ra giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam trong cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng ở một làng nhỏ ngoại ô Hà Nội. Quyết định của họ vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng quân của Tướng Giáp đã gấp rút chuẩn bị tấn công quân Pháp. Có thể Tướng Giáp đã ra lệnh cho quân của ông đánh phủ đầu vì nhầm tưởng Pháp sắp tấn công, cũng có thể ông bị các nhà lãnh đạo thiếu kiên nhẫn khác thúc ép phải hành động. Nhưng lúc đó có lẽ ông đã phạm sai lầm lớn nhất trong đời mình, khi nổ súng đúng vào lúc Việt Nam có cơ hội phơi bày sự xấu xa của chế độ thực dân trước một chính phủ Pháp tương đối biết điều, cũng như trước nhân dân Pháp và nhân dân toàn thế giới. Thay vào đó, giờ đây thế giới lại lên án Việt Nam gây hấn trước. Tướng Giáp đã bước thẳng vào cái bẫy mà Tam đầu chế giăng sẵn* (Quan điểm riêng của tác giả (BT)).


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 07:59:24 pm
Những cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã bắt đầu như vậy đó. Không dễ dàng thiết lập lại các dữ liệu và còn nhiều điều phải tiếp tục khám phá, nhất là ở phía Việt Nam, thế nhưng chúng tôi không tiếp cận được nguồn tài liệu lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn tài liệu sử dụng để viết cuốn sách này chủ yếu là tài liệu của Pháp, tuy nhiên tôi cũng sử dụng một số tài liệu của Anh và Mỹ. Chính vì không tra cứu được các tài liệu của Việt Nam, những phán đoán của tôi về chính sách và quyết định của Việt Nam dựa trên sự kết hợp của các báo cáo tình báo Pháp, sách và hồi ký của người Việt, chủ yếu là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và một số cuộc phỏng vấn với các cựu chiến binh và nhà sử học Việt Nam. Tưởng Giới Thạch đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ sự việc, nhưng tôi cũng không tham khảo được nguồn lưu trữ Trung Quốc. Tuy vậy, tôi có thể dựa vào nghiên cứu của King C. Chen và Lin Hua. Lin Hua đã nghiên cứu tài liệu lưu trữ tại Đài Loan - Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Pháp12.


Sinh viên ngành lịch sử khi theo đuổi chủ đề giải quyết khủng hoảng chính trị luôn phải vẽ sơ đồ hệ thống ra quyết định của chính phủ cần nghiên cứu của mình trước khi sinh viên đó bắt đầu tra cứu tài liệu lưu trữ. Như vậy, họ mới có thể bắt đầu với các hồ sơ của những cơ quan ra quyết định ở cấp cao nhất và giấy tờ của những người ra quyết định tối cao, rồi sau đó mới tiếp tục lần xuống các cấp thấp hơn nếu có thời gian. Điều tối quan trọng là không nên sử dụng hệ thống phân loại hồ sơ hiện tại làm căn cứ, mà phải tìm ra nơi cất hồ sơ hoạt động của những người và tổ chức quan trọng nhất. Tìm thấy những bản sao của cùng một tài liệu ở các nguồn lưu trữ khác nhau hay trong hồ sơ của các cơ quan khác nhau là việc bình thường, điều đó phản ánh chu trình lịch sử của các tài liệu đó. Quả thật, nhiều lúc ta phát hiện được những điều rất thú vị khi biết thời điểm, người nhận cũng như ý kiến bình luận của mọi người về một bản sao của một tài liệu được gửi cho các cơ quan khác nhau của chính phủ.


Khi hồ sơ của Việt Nam được công khai, ta cần hết sức chú ý tới thư từ, giấy tờ của các thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tài liệu của ban tham mưu quân sự của Tướng Giáp và tài liệu tổ chức đảng dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Trường Chinh. Hồ sơ của Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ Việt Nam cũng quan trọng, về sau, Pháp lấy được một số hồ sơ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cất giữ tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại ở Aix-en-Provence (được gọi là hồ sơ chính phủ thực tế). David G. Marr từ Đại học Quốc gia Ôxtrâylia đã nghiên cứu các hồ sơ này. Việc những hồ sơ này vẫn còn nguyên vẹn, không bị hủy khi Pháp giành được quyền kiểm soát Hà Nội dường như chứng tỏ cuộc tấn công của Việt Nam mới được chuẩn bị trước đó chưa lâu, và cho đến phút cuối cùng, Việt Nam vẫn để ngỏ phương án tiếp tục điều hành chính phủ từ trụ sở các bộ đóng tại Hà Nội. Mặc dù vậy, trong những hồ sơ này không có giấy tờ của các lãnh đạo cấp cao nhất. Những hồ sơ quan trọng nhất hoặc đã bị hủy hoặc được các vị lãnh đạo đảng mang tới các địa điểm sơ tán trong chiến tranh Đông Dương. Chắc chắn nhiều tài liệu đã bị thất lạc, nhưng khi Đảng Cộng sản Việt Nam cho phép nghiên cứu tài liệu lưu trữ của Đảng tại Hà Nội, rất có thể họ vẫn còn giữ một số tài liệu đặc biệt có ý nghĩa, có thể chỉ các nhà lãnh đạo Đảng được phép tiếp cận.


Ở Pháp, hai hồ sơ hoạt động cấp cao nhất là hồ sơ của Văn phòng Thủ tướng, ban đầu được lưu giữ tại khách sạn Matignon, sau đó được chuyển về Cục Lưu trữ quốc gia ở Paris (ký hiệu F60 C3035). Không may là những hồ sơ này không nói gì nhiều về chính sách đối với Đông Dương thuộc Pháp thời kỳ 1946, nhưng ta có thể thấy một vài bức thư thú vị và các tài liệu khác trong số giấy tờ riêng của Georges Bidault, các giấy tờ này cũng được lưu tại Cục Lưu trữ quốc gia (ký hiệu 457AP). Giấy tờ riêng của Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet được lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại ỏ Aix-en-Provence (ký hiệu PA28) cũng có một số tài liệu hay.


Những hồ sơ đồ sộ và quan trọng nhất về Đông Dương từ năm 1946 là hồ sơ của ủy ban liên bộ về Đông Dương (Cominindo) do Tướng De Gaulle thành lập ngày 15 tháng Hai 1945 nhằm mục đích điều phối chính sách của Chính phủ Pháp đối với Đông Dương, do đích thân Thủ tướng làm Chủ tịch ủy ban. Ban Thư ký ủy ban có trụ sở gần văn phòng của chính De Gaulle tại Bộ Quân sự (phố St. Dominique). Năm 1981, khi tôi lần đầu đến Paris để lục lọi trong tài liệu lưu trữ, dường như không ai biết hồ sơ của Cominindo nằm ở đâu. Có người bảo tôi rằng hồ sơ của Cominindo đã bị lẫn lộn trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Hải ngoại Pháp ở số 27, phố Oudinot. Thay cho những hồ sơ đó, tôi được phép tiếp cận một tập hồ sơ gồm bản sao của tất cả các bức điện được trao đổi giữa Sài Gòn và Bộ Hải ngoại ở Paris trong năm 1946. Đọc hết tất cả các bức điện đó là không thể, nhưng tập hồ sơ các bức điện chỉ cho thấy một vài phát hiện liên quan đến giai đoạn khủng hoảng từ tháng Mười một đến tháng Mười hai, trong thời gian này, thời gian biểu chính xác rất quan trọng. Có một điều rất thú vị là xem bức điện nào được coi là hỏa tốc, và mất bao nhiêu lâu những bức điện đó mới tới nơi nhận. Ngày nay, không còn hồ sở Đông Dương ở phố Oudinot nữa. Năm 1986, chủng đã được chuyển tới Trung tâm lưu trữ của Bộ Hải ngoại ở Aix-en-Provence để lưu trữ cùng với các tài liệu được chuyển lại từ Đông Dương sau khi chế độ thực dân kết thúc.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Tám, 2026, 08:01:39 pm
Tôi nghĩ là muốn tìm được chỗ để hồ sơ của Cominindo thì trước hết phải tìm được ra cơ quan nào đã tiếp quản công việc của Cominindo sau khi nó bị giải tán. Tháng Hai 1947, Moutet nhận ghế Chủ tịch Cominindo, khi đó nhân viên Ủy ban và hồ sơ tài liệu được chuyển từ phố St. Dominique về phố Oudinot. Tuy vậy, trong bối cảnh Đông Dương thuộc Pháp đã biến thành ba nước "liên hiệp" (Campuchia, Lào và Việt Nam), tháng Bảy 1950, một bộ mới được thành lập - Bộ Các nước liên hiệp, có trụ sở ở phố Lille, thế là hồ sơ của Cominindo lại bị chuyển chỗ. Ba năm sau, ba nước Đông Dương không còn là nước liên hiệp nữa và được công nhận hoàn toàn độc lập. Một lần nữa, người ta lại chuyển những tài liệu lưu trữ đó, lần này đến Bộ Ngoại giao ở Quai d'Orsay. Nhưng Bộ Ngoại giao không có đủ chỗ, nên người ta quyết định chuyển những tài liệu trước năm 1945 ngược trở về phố Oudinot, tại đây các tài liệu này được nhập vào hồ sở Đông Dương của Bộ Hải ngoại, làm thành hồ sơ nền mới về Đông Dương (INF). Đến năm 1986 thì Hồ sơ nền mới về Đông Dương được đưa tới Trung tâm lưu trữ Bộ Hải ngoại ở Aix-en-Provence. Đối với một nhà sử học, việc xác định nguồn gốc của một giấy tờ hay tài liệu trong Hồ sơ nền trước năm 1945 có phải là từ Bộ Thuộc địa (từ tháng Giêng 1946 đổi tên thành Bộ Hải ngoại) hay từ Cominindo là cả một vấn đề. Bộ Ngoại giao giữ tất cả những tài liệu từ năm 1945 trở đi, chúng được xếp vào một hồ sơ riêng, gọi là Hồ sơ nền về các nước liên hiệp. Trong đó có mớ tài liệu lưu trữ của Cominindo, mà những năm 1985-1989, khi tìm bới ở đó thì tôi thấy là một mỏ vàng chưa ai khám phá, thậm chí nhân viên lưu trữ cũng chưa có thời gian xử lý, phân loại. Thực ra mãi tới năm 2007, các nhà nghiên cứu mới có thể tiếp cận rộng rãi một số tập hồ sơ quan trọng nhất mà tôi sử dụng trong nghiên cứu này, vì khi đó mới hết hạn không công khai hồ sơ 60 năm. Hồ sơ nền về các nước liên hiệp là xuất phát điểm quan trọng nhất đối với bất kỳ người nào muốn tìm hiểu về chính sách của Pháp tại Đông Dương trong giai đoạn từ năm 1944 đến 1947. Có vấn đề là các nhân viên lưu trữ đã đánh số lại các tập tài liệu trong Hồ sơ nền về các nước liên hiệp và Hồ sơ về châu Á của Bộ Ngoại giao (còn gọi là Hồ sơ châu Á - Thái Bình Dương), cho nên không may là các số hiệu tài liệu tham khảo mà tôi đã ghi lại trong những năm 1980 giờ đây không còn đúng nữa. Xin độc giả lượng thứ cho việc tôi đã không đánh số lại được tất cả các hộp tài liệu và tập hồ sơ nêu trong cuốn sách này, nhưng có thể chuyển số hiệu tài liệu tham khảo của tôi thành số hiệu mới bằng cách đối chiếu số cũ với hệ thống đánh số phân loại mới với sự giúp đỡ của nhân viên lưu trữ.


Trong số các bộ và các cơ quan khác có đại diện tại Cominindo, bộ quan trọng nhất là Bộ Hải ngoại Pháp, Bộ Ngoại giao, các bộ thuộc lĩnh vực quốc phòng (Bộ Hải quân, Bộ Không quân, Bộ Lục quân, Bộ Quốc phòng), các tham mưu trưởng, Bộ Tổng Tham mưu quốc phòng và Cục Tình báo nước ngoài và phản gián. Hồ sơ của Cục Tình báo nước ngoài và phản gián có lẽ vẫn nằm trong tay cơ quan tình báo trung ương của Pháp và không tiếp cận được. Hồ sơ của Bộ Tổng Tham mưu quốc phòng được cất giữ tại Ban Lịch sử Lục quân ở lâu đài Vincennes, Paris. Hồ sơ này (ký hiệu 4Q) chứa những tài liệu quân sự cấp cao nhất liên quan đến Đông Dương và hết sức có ý nghĩa đối với nghiên cứu của tôi. Không may là hầu hết các sinh viên không biết đến sự tồn tại của hồ sơ 4Q hay không được phép tiếp cận nó. Thường thì họ được hướng dẫn tìm kiếm trong đống hồ sơ đồ sộ ký hiệu 10H, bao gồm các hồ sơ quân đội Pháp từ Đông Dương đưa về13. Nếu cần tìm hiểu quyết định của cấp cao nhất, ta nên bắt đầu với hồ sơ 4Q trước rồi mới phiêu lưu vào hồ sơ 10H.


Các hồ sơ dân sự từ Đông Dương đưa về Pháp nằm tại Trung tâm lưu trữ Bộ Hải ngoại ở Aix-en-Provence, nhưng đáng buồn là trong đó không có nhiều giấy tờ của Cao ủy Georges Thierry d'Argenlieu. Có lẽ ông ta đã mang theo những tài liệu đó khi chức Cao ủy của ông bị người khác thay thế vào tháng Giêng 1947. Cuốn Chronique d'Indochine (Biên niên sử Đông Dương) của d'Argenlieu được biên soạn trên cơ sở một bộ sưu tập tư nhân đồ sộ, nó được xuất bản năm 1985, sau khi ông qua đời. Năm 1991, gia đình d'Argenlieu trao các giấy tờ của ông cho Cục Lưu trữ quốc gia Pháp và năm 2000, Cục Lưu trữ đã hoàn tất việc kiểm kê những giấy tờ này (hồ sơ mang tên Tài liệu của George Thierry d'Argenlieu, ký hiệu 517AP). Khi viết cuốn sách này, đáng lẽ tôi phải tra cứu những tài liệu đó, như Frédéric Turpin đã tra cứu và sử dụng trong nghiên cứu của ông về de Gaulle và chính sách Đông Dương của những người ủng hộ de Gaulle11, nhưng tôi đã không có đủ thời gian làm vậy. Theo những gì tôi biết, hồ sơ hay nhất ở Aix-en-Provence là hồ sơ của Léon Pignon, Cố vấn chính trị của d'Argenlieu rồi sau đó trở thành Cao ủy vào năm 1948. Léon Pignon giữ một hồ sơ khổng lồ gồm báo cáo tình báo, bị vong lục và báo cáo về những diễn biến chính trị năm 1946, trong đó có cả những báo cáo và thư từ do chính ông ta viết. Một nhân vật quan trọng nữa ở phía Pháp là Jean Sainteny, tên khai sinh là Jean Roger. Với tư cách đại diện toàn quyền Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Bộ, Sainteny đã điều hành cuộc đàm phán dẫn đến các Hiệp định Pháp - Việt ngày 6 tháng Ba. Giấy tờ riêng của Sainteny hiện giờ đang được Tổ chức chính trị học quốc gia cất giữ ở Paris. Tư liệu của ông cực kỳ có giá trị và là cơ sở quan trọng để Philippe Devillers viết bộ sách tư liệu chú dẫn mang tên Paris - Saigon - Hanoi: Les archives de la guerre, 1944-1947 (Paris - Sài Gòn - Hà Nội: Tư liệu chiến tranh, 1944-1947), xuất bản năm 1988.


Kết quả nghiên cứu tài liệu lưu trữ của tôi là một bảng kê chi tiết, sắp xếp theo trình tự thời gian về sự hình thành các quyết định. Ký hiệu tài liệu tham khảo dẫn chiếu đến các tài liệu lưu trữ và các nguồn khác trong bảng kê đó không được thống nhất cho lắm. Hầu hết nguồn tài liệu tham khảo của tôi là bằng tiếng Pháp và một số rất ít bằng tiếng Việt. Khi trích dẫn các tài liệu nói trên, tôi sử dụng bản dịch tiếng Anh. Các bạn có thể đọc những đoạn trích bằng ngôn ngữ trong bản gốc và một số lời bình trong các chú giải đầy đủ hơn trên trang web của tôi, địa chỉ là www.cliostein.com, tại đây các chú giải được đánh số trùng với chú giải trong sách. Mục đích của cuốn sách này không phải là giới thiệu những tài liệu mới, mà chủ yếu là sửa chữa những sai lầm trong cách hiểu sự việc hiện tại. Mục đích nữa là vạch trần thủ đoạn mà những kẻ phá hoại gặp thời sử dụng để ngăn cản các nhà lãnh đạo của họ thực hiện nhiệm vụ cao cả nhất của mọi chính phủ: bảo vệ hòa bình.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 09:55:51 pm
Chương 1
SỰ VA CHẠM GIỮA CÁC NỀN CỘNG HÒA


Chuỗi chiến tranh Đông Dương bắt đầu như một vụ va quệt giữa hai nền cộng hòa mới mẻ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đệ tứ Cộng hòa Pháp, cả hai nền cộng hòa đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luồng tư tưởng xã hội và cộng sản, đồng thời cố gắng xây dựng sự đồng thuận rộng khắp với các nhóm ái quốc phi cộng sản. Cả hai nền cộng hòa này đều mong muốn hiện đại hóa Đông Dương thông qua công nghiệp hóa, thương mại và các cơ quan đại diện. Cả hai đều có khuynh hướng ngả theo ý tưởng xây dựng một diễn đàn chính trị chung cho người Việt, người Lào, người Khơme và các dân tộc thiểu số miền núi, để họ dẫn dắt nhau trong công cuộc hiện đại hóa. Cả hai đều đồng ý rằng Liên bang Đông Dương cần phải nằm trong một Liên hiệp Pháp mới và tiếp tục liên kết với Pháp trong một gia đình các quốc gia tiến bộ.


Điều đã khiến hai nền cộng hòa này va chạm không chỉ là việc Việt Nam độc lập, mà dù có sự xung đột gay gắt giữa một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết đòi Pháp công nhận chủ quyền và quyền quản lý của mình, và một bên là Pháp khăng khăng duy trì chủ quyền và sự quản lý của Pháp ở các thuộc địa. Một vấn đề cũng khó khăn nữa là giới hạn địa lý của đất nước Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám bắt nguồn từ Bắc Đông Dương, khu vực mà Pháp gọi là Bắc Kỳ, nhưng các nhà cách mạng luôn luôn trung thành với tư tưởng thống nhất một đất nước Việt Nam trải dài tới mũi Cà Mau. Họ dự định trao cho đất nước Việt Nam thống nhất này vai trò đầu tàu trong công cuộc hiện đại hóa toàn bộ Đông Dương, với tư cách là nước lớn nhất và phát triển nhất trong ba nước Đông Dương.


Pháp bác bỏ tư tưởng dân tộc của Việt Nam. Họ sử dụng từ "Việt Nam" một cách miễn cưỡng, thay vào đó họ gọi người Việt - dân tộc chiếm đa số trong xứ bảo hộ Bắc Kỳ, xứ An Nam và xứ Nam Kỳ - là "Annammít". Những người ủng hộ de Gaulle cũng như các nhà cải cách thực dân cánh hữu đều cương quyết cho rằng không nên để cho "Annammít" thống trị một Đông Dương hiện đại, dân chủ, mà phải xây dựng nó dựa trên năm đơn vị riêng rẽ gồm Campuchia, Lào, Nam Kỳ, An Nam và Bắc Kỳ. Từ "Việt Nam" là tác phẩm của phong trào dân tộc không theo cộng sản, chịu ảnh hưởng của Trung Quốc trong những năm 1920-1930, trong khi thời kỳ đó phe cộng sản chủ yếu sử dụng từ "Đông Dương". Pháp chấp nhận từ "Việt Nam" với suy nghĩ rằng Việt Nam là một tên mới chỉ dùng để chỉ Bắc Kỳ mà thôi, cùng lắm thì bao gồm cả nửa phía Bắc của An Nam. Pháp phản đối việc thống nhất ba miền, trong đó người Việt chiếm đa số gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ mà người Việt dân tộc chủ nghĩa thích gọi là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Từ "Bộ" chính là một cách nói lên rằng các miền Bắc, Trung, Nam đều thuộc về một quốc gia. Đối với Pháp, còn một vấn đề nữa là Nam Kỳ - vùng đất hiện đại và phát triển nhất về kinh tế của Đông Dương còn có quy chế là một thuộc địa hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp và quy chế này chỉ có thể thay đổi theo một quyết định của Quốc hội Pháp1.


Nam Kỳ là phần đầu tiên của Đông Dương bị Pháp biến thành thuộc địa và đầu năm 1945, Pháp vẫn thiết kế Nam Kỳ là nền móng của một Liên bang Đông Dương dân chủ dưới sự định hướng và dẫn dắt của Pháp. Sài Gòn sẽ trở thành trung tâm phát triển kinh tế của Đông Dương; Huế và Hà Nội bị coi là lạc hậu hơn và chịu ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc; Phnôm Pênh và Viêng Chân thậm chí còn kém phát triển hơn nữa và sẽ cần sự bảo hộ của Pháp một thời gian dài.


Cách mạng Tháng Tám 1945 đã cho ra đời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố đại diện cho một nước Việt Nam có chủ quyền và có quyền được độc lập. Căn cứ quyền độc lập của Việt Nam không phải chỉ là các nguyên tắc chung, mà còn dựa trên những sự kiện thời sự. Bảo Đại - vị hoàng đế An Nam được Pháp bảo vệ, đồng thời có quyền quản lý trên danh nghĩa đối với Bắc Kỳ - đã giành được độc lập trên danh nghĩa sau khi Nhật hất cẳng Pháp vào tháng Ba 1945. Tháng Tám 1945, khi tự nguyện thoái vị, Bảo Đại nhường lại quyền lực cho nền cộng hòa dân chủ non trẻ. Do đó, trong bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng Chín 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không tuyên bố, mà khẳng định nền độc lập của Việt Nam. Một thời gian ngắn trước khi Bảo Đại thoái vị, chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được từ tay Nhật một thứ mà Pháp luôn luôn không chịu từ bỏ: chủ quyền đối với cả Nam Kỳ mà cho tới lúc đó vẫn trực tiếp nằm dưới sự đô hộ của Pháp và thậm chí ngay cả Bảo Đại cũng không có quyền gì. Nhật làm thay đổi tình hình đó vào đầu tháng Tám 1945 trước khi Nhật đâu hàng Đồng minh, và khi cuộc cách mạng diễn ra ở cả ba miền Việt Nam, những người đứng đầu cuộc khởi nghĩa ở thủ phủ của Nam Bộ - tức Sài Gòn - không thành lập một nhà nước riêng của mình, mà tự coi là đại diện cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời có thủ đô là Hà Nội.


Pháp không dính dáng đến các cơ sở cách mạng ở miền Nam nhưng dự định thiết lập một hệ thống mới với mức độ tự chủ cao cho cả năm dân tộc Đông Dương. Các chính trị gia Pháp tự cho là mình đại diện cho một "nước Pháp mới", với sứ mệnh tái sinh không chỉ bản thân nước Pháp mà cả đế quốc Pháp trước kia bằng cách chuyển đổi nó thành một khối Liên hiệp Pháp vững chắc. Tâm trạng của Pháp có thể tóm gọn lại trong một cụm từ theo cách gọi của một nhà nghiên cứu là "lạc quan kiểu mẫu quốc", nghĩa là Pháp hy vọng quá trình xây dựng Hiến pháp cho mẫu quốc sẽ song hành một cách hòa bình với quá trình xây dựng Hiến pháp cho cả đế chế2. "Nước Pháp mới" là từ mà SFIO, Đảng Cộng sản (PCP") và cả phái de Gaulle đều dùng để chỉ đất nước mà họ tạo nên sau khi thống chế Philippe Pétain bị loại khỏi chính phủ Vichy và quân Đức bị đuổi khỏi Paris mùa hè năm 1944, một "nước Pháp mới" do Tướng Charles de Gaulle lãnh đạo cho tới ngày 20 tháng Giêng 1946.


"Nước Pháp mới" vẫn tồn tại cho tới khi Đệ tứ Cộng hòa được thành lập xong với Hiến pháp mới có hiệu lực kể từ ngày 24 tháng Mười hai 1946. Một số chính trị gia Pháp có ảnh hưởng nhất nghĩ rằng về lâu dài Pháp sẽ trao quyền độc lập cho các lãnh thổ hải ngoại của Pháp, nhưng Pháp sẽ không trao quyền độc lập này ngay lập tức, với lý do bảo vệ sự hiện diện của Pháp và ngăn cản các thế lực nước ngoài khác ùa vào chiếm các lãnh thổ vốn nằm dưới sự cai trị của Pháp. Họ dự tính bảo đảm sự hiện diện của Pháp ở Viễn Đông bằng cách dựng lên những đơn vị lãnh thổ tự trị hoặc tự quản nằm trong Liên bang Đông Dương do một cao ủy Pháp đứng đầu. Thông qua một hệ thống đại diện trên cơ sở bầu cử dân chủ, các nước Đông Dương sẽ được giải phóng dần dần, hướng tới mục tiêu và không loại trừ khả năng một ngày nào đó các nước này trở thành những quốc gia độc lập.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 09:56:55 pm
Tình hình diễn biến ở Việt Nam năm 1946 trở nên phức tạp hơn sau khi Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt bày tỏ quan điểm muốn xây dựng một hệ thống ủy trị quốc tế đối với Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó nhấn mạnh vai trò của Trung Quốc. Roosevelt coi Đông Dương là một phần khu vực hoạt động quân sự của Tưởng Giới Thạch trong chiến tranh kháng Nhật và ông ta hy vọng rằng quân Tưởng sẽ đóng vai trò dẫn đầu trong công cuộc giải phóng Đông Dương, ông ta không ủng hộ để cho lực lượng Đông Nam Á dưới quyền của một đô đốc hải quân Anh là ngài Louis Mountbatten tiến hành chiến dịch nhân danh quân Đồng minh ở Đông Dương vì rất có thể Mountbatten sẽ giúp de Gaulle giữ lại thuộc địa này, vả lại Bộ Tư lệnh lực lượng Đông Nam Á đóng ở tận Kandy, Ceylon thuộc Xri Lanca. Tại Hội nghị Potsdam tháng Bảy 1945, ba tháng sau khi Roosevelt qua đời và chỉ một thời gian ngắn trước khi Nhật đầu hàng, các bên liên quan đã đạt được một thỏa hiệp vội vã, theo đó Tưởng Giới Thạch chịu trách nhiệm về nửa phía Bắc Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 và Mountbatten nắm nửa phía Nam. Nhật đầu hàng tạo ra một khoảng trống quyền lực, nhân cơ hội này Cách mạng Tháng Tám nổ ra, quân Anh đi đường biển đổ bộ vào miền Nam Đông Dương để tước vũ khí và đưa quân Nhật về nước. Khu vực Nam Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 bao gồm Nam Kỳ, Campuchia, nửa Nam An Nam và khu vực cực nam của Lào. Đồng thời, một đội quân Tưởng đông đảo tràn qua biên giới tiến vào Bắc Đông Dương, gồm Bắc Kỳ, Bắc An Nam và phần lớn lãnh thổ Lào, với danh nghĩa tước vũ khí và đưa quân Nhật về nước.


Quyết định chia đôi An Nam tại trung tâm của nó, nơi cho tới lúc đó được nhà Nguyễn trị vì, giết chết khả năng phục hồi chính quyền phong kiến bảo thủ ở Huế sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào tháng Tám 1945. Như vậy là Huế đã mất hẳn vai trò lịch sử, trong khi Sài Gòn và Hà Nội trở thành hai trung tâm quyền lực chính. Anh giúp Pháp đàn áp cách mạng ở miền Nam và thành lập chính quyền Đông Dương mới đóng tại Sài Gòn do một người được de Gaulle lựa chọn đứng đầu - Cao ủy Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu. Trong khi đó, lực lượng chiếm đóng quân sự của Tưởng ở phía bắc cho phép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục tồn tại, Hà Nội vừa là thủ đô của Chính phủ Việt Nam, vừa là trung tâm của lực lượng chiếm đóng quân sự của Tưởng. Một điều đáng lưu ý là trước khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Hà Nội còn là thủ đô của cả Liên hiệp Đông Dương. Cho tới ngày 20 tháng Giêng 1946, khi de Gaulle bất ngờ tuyên bố từ chức lãnh đạo Chính phủ Pháp, quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (CE-FEO) dưới quyền của Tướng Philippe Leclerc de Hautecloque do de Gaulle ra lệnh triển khai ở Đông Dương, chỉ nắm được quyền kiểm soát ở miền Nam Đông Dương. Tại Hà Nội, đại diện của Pháp là Jean Sainteny không có quyền hành gì, ông này trước đó đã được máy bay Mỹ đưa từ Trung Quốc tới Hà Nội. Jean Sainteny cùng đã cố gắng chuẩn bị cho việc quân Pháp đến, đồng thời tìm cách bảo vệ dân thường người Pháp khỏi bị tấn công bởi những kẻ khích động cực đoan tại Hà Nội và quân Tưởng.


Trong bối cảnh trên, cuộc đụng độ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đệ tứ Cộng hòa Pháp xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Ở miền Nam, Pháp nhanh chóng nắm quyền kiểm soát, không thừa nhận các đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, ở miền Bắc, chính phủ cách mạng Việt Nam kiểm soát bộ máy nhà nước và hầu hết các tỉnh thành, nhưng có quan hệ không mấy thân thiện với giới quân phiệt Tưởng muốn ép những người cộng sản Việt Nam chia sẻ quyền lực với lãnh đạo hai đảng thân Tưởng chống cộng sản là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Như vậy, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai mục đích: thứ nhất là bảo vệ nền cộng hòa ở miền Bắc bằng cách củng cố sức mạnh chính trị và hành chính, xây dựng một quân đội vững mạnh, và thứ hai là phục vụ kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Sau một loạt thất bại ban đầu, quân đội Việt Nam ở miền Nam đã tập hợp lại và thực hiện phương pháp chiến tranh du kích. Vừa tìm cách đàn áp nổi dậy ở miền Nam, Pháp vừa tiến hành đàm phán với chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội nhằm đạt được thỏa thuận Tưởng rút quân khỏi miền Bắc để Pháp rảnh tay trở lại miền Bắc - mảnh đất duy nhất mà Pháp chưa chiếm lại được. Ngày 4 tháng Mười 1945, Chính phủ Pháp bổ nhiệm Jean Sainteny làm Ủy viên của Cộng hòa Pháp tại Bắc Đông Dương (Bắc Kỳ và Bắc An Nam). Ông ta đàm phán lần đầu tiên với Hồ Chí Minh vào ngày 1 tháng Mười hai 1945, nhưng cuộc đàm phán này không có kết quả gì. Hầu như tất cả mọi người ở Hà Nội đều cho rằng một lúc nào đó Pháp sẽ đưa quân trở lại chiếm khu vực phía Bắc Đông Dương, mặc dù có thể Pháp và Tưởng cần phải thỏa thuận trước với nhau.


Cuốn sách này không có tham vọng đi sâu phân tích lập luận và quan điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như Đệ tứ Cộng hòa Pháp mới ra đời trong các cuộc đàm phán giữa các bên diễn ra tại Hà Nội dẫn đến Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946, hay trong các cuộc đàm phán thất bại tại thành phố cao nguyên Đà Lạt ở miền Trung Việt Nam từ tháng Tư đến tháng Năm 1946, cùng như tại Fontainebleau, ngoại ô Paris từ tháng Bảy đến tháng Chín 1946. Cuốn sách cũng sẽ không đi sâu vào khía cạnh quân sự của chiến tranh ở miền Nam. Cuốn sách sẽ tập trung vào vấn đề chiến tranh và hòa bình giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở trung tâm miền Bắc, với trọng tâm là hai giai đoạn khủng hoảng: tháng Hai - tháng Ba 1946 và tháng Mười một - Mười hai 1946; đợt khủng hoảng thứ nhất kết thúc bằng một nền hòa bình tạm thời, đợt khủng hoảng thứ hai dẫn đến một cuộc chiến tranh dài lê thê.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 09:57:34 pm
CHIẾN TRANH LẠNH CÒN XA


Ta cần nhớ rằng năm 1946, những hạt giống của Chiến tranh lạnh còn chưa thực sự nảy mầm. Những kỷ niệm về liên minh thời chiến giữa phương Tây và Liên Xô vẫn còn tươi rói. Lúc này dư luận vẫn chưa coi Xtalin là một người độc đoán, ở Paris, các nước Đồng minh đang tiếp tục tranh cãi điều khoản của các hiệp định hòa bình với Italia và các nước phe Trục. Chưa ai đoán được rằng năm sau người ta sẽ tuyên bố học thuyết Truman hay Kế hoạch Marshall; Đức vẫn còn là lãnh thổ bị chiếm đóng, chia thành bốn khu vực do bốn nước kiểm soát, ở châu Á, Mỹ chưa cam kết ủng hộ Tưởng Giới Thạch để đánh Hồng vệ binh, không những thế, lúc này Mỹ còn kêu gọi Tưởng đàm phán với Hồng vệ binh. Trong những giây phút ít ỏi có thể quan tâm đến Đông Dương thì cả Harry S. Truman và Tưởng Giới Thạch có cái nhìn tương đối thiện cảm đối với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, hy vọng rằng Pháp sẽ công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời mong muốn những người dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản sẽ có vai trò lớn hơn trong chính phủ này. Trong khi đó, sự hợp tác giữa những người cộng sản Việt Nam với một số rất lớn các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác nằm cả trong lẫn ngoài mặt trận Việt Minh hoàn toàn không dễ dàng. Trở lại châu Âu, PCF cũng có mặt trong chính phủ liên minh với SFIO, phe cấp tiến và Đảng Dân chủ Công giáo, và có đại diện trong Ủy ban điều phối chính sách của Pháp tại Đông Dương. Lúc này mọi cơ hội, mọi trận tuyên đều để ngỏ.


Cho tới tận tháng Hai 1946, nền cộng hòa mới của nước Pháp vẫn chưa có Hiến pháp mặc dù nhiều bản dự thảo đã được xem xét và loại bỏ trong một năm rưỡi trôi qua kể từ ngày Paris được lực lượng "nước Pháp tự do" dưới sự lãnh đạo của Tướng Leclerc giải phóng. Xin mở ngoặc một chút là Leclerc vốn là một nhà quý tộc có cái tên rất dòng dõi là Philippe de Hautecloque, nhưng ông ta thích dùng cái tên Leclerc, nghe bình dân hơn. Ông ta đã lãnh đạo lực lượng giải phóng Paris tháng Tám 1944, cho phép Tướng Charles de Gaulle đặt chính phủ lâm thời ở thủ đô của nước Pháp. Nước Pháp kiêu hãnh của Tướng de Gaulle đòi được công nhận là một trong bốn cường quốc của thế giới, giành được một ghế thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và toan tính đóng vai trò độc lập trong quan hệ với "hội Anh - Mỹ" và Liên Xô. Các nhà hoạch định chính sách Anh và Mỹ sốt ruột muốn đưa Pháp vào quỹ đạo phương Tây nên hết sức tránh những hành động có thể chọc giận Pháp hay làm cho phe cộng sản ở Pháp mạnh lên, đồng thời cố gắng bảo đảm những lợi ích thiết thân của Pháp như nhu cầu về than đá. Tương tự, Liên Xô cùng thấy cần phải thận trọng trong quan hệ với Pháp. Họ muốn Pháp không bị hút vào quỹ đạo liên minh Anh - Mỹ và vì vậy, họ hoan nghênh một số chính sách độc lập của Pháp ở Đức.


Ở châu Á, Cách mạng Tháng Tám tại Việt Nam là một bộ phận của phong trào giải phóng dân tộc rộng lớn sau khi Nhật đầu hàng, nhờ phong trào này mà Ấn Độ, Miến Điện (sau này là Mianma), Philíppin và Inđônêxia đã giành được độc lập. Đồng thời, Cách mạng Tháng Tám cũng mang tính chất của phong trào cộng sản, phong trào này cho tới năm 1949 mới thắng lợi ở Trung Quốc, nhưng ở Malaixia thì thất bại do đàn áp quân sự và ở Triều Tiên thì rơi vào bế tắc. Dù sao đi chăng nữa, năm 1946, chưa ai dự đoán được tất cả những kết cục này. Chiến tranh ở Đông Dương đã bắt đầu rất lâu trước khi khu vực này của thế giới được các nhà lãnh đạo Mỹ và Liên Xô chú ý. Nếu thắng hoặc người ta quan tâm đến Việt Nam thì cũng chỉ quan tâm ở mức độ vấn đề nằm trong quan hệ tổng thể với Pháp. Do vậy, nghiên cứu về khởi điểm của chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất phải tập trung vào quan hệ song phương Việt - Pháp, đồng thời không thể bỏ qua vai trò đáng kể của thế lực thứ ba là Trung Hoa dân quốc và không phóng đại tầm quan trọng của Liên Xô và Mỹ.


Đã đến lúc cần giới thiệu hai nền cộng hòa sắp đụng độ, các đảng phái và nhà lãnh đạo của hai nền cộng hòa này.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 09:59:46 pm
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Mặc dù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận nhiều công sở và nhân sự từ chính quyền thực dân Pháp và từ bộ máy Nhà nước Việt Nam của Bảo Đại, nòng cốt của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một liên minh giải phóng có tên là Việt Nam độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) do Hồ Chí Minh (1890-1969) lãnh đạo. "Hồ Chí Minh" là tên mới của một người mà nhiều đồng bào của ông biết tới với tên gọi Nguyễn Ái Quốc (có nghĩa là người yêu nước). Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập và lãnh đạo chủ chốt từ nước ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập năm 1930. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chí Minh hoạt động ở vùng biên giới Trung Quốc và Đông Dương, cung cấp tin tức bí mật từ Đông Dương cho bên ngoài... Mục đích của Hồ Chí Minh là giải phóng Đông Dương khỏi ách đô hộ "một cổ hai tròng" của Nhật và Pháp.


Ban đầu, Việt Minh được tổ chức và chỉ huy từ miền. Nam Trung Quốc, nhưng từ năm 1941 trở đi, Hồ Chí Minh chỉ huy Việt Minh từ những cơ sở bí mật ở Việt Nam gần biên giới Trung Quốc. Dưới lá cờ của Việt Minh, các nhóm dân tộc chủ nghĩa và cộng sản trong nước giành được quyền lực trên khắp các tỉnh thành và trung tâm hành chính lớn của Việt Nam vào tháng Tám 1945. Ban đầu, cuộc cách mạng không có một đầu mối chỉ huy tập trung, mà loang ra như một phản ứng dây chuyền, tỉnh thành nọ nối tiếp tỉnh thành kia và nhiều ủy ban Việt Minh được thành lập, có lúc có sự tham gia của tổ chức cộng sản, có lúc không. Ngay sau khi Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng Tám, các vị chỉ huy Việt Minh từ vùng giải phóng ở miền núi tiến về Hà Nội mà không có phương tiện liên lạc nào với các chỉ huy cách mạng ở các nơi khác. Hồ Chí Minh và những người đồng chí thân cận của Người được các chỉ huy cách mạng tại Hà Nội vui mừng đón tiếp, họ hợp thành chính phủ cộng hòa đầu tiên. Một phái đoàn được cử đến Huế để yêu cầu hoàng đế thoái vị, và khi Bảo Đại tự nguyện thoái vị, ông được mời về Hà Nội giữ vị trí cố vấn tối cao. Với tuổi tác, kinh nghiệm và khả năng thu phục lòng người, Hồ Chí Minh rõ ràng là ứng cử viên nổi bật cho vị trí chủ tịch nước của nền cộng hòa mới. Người giữ vị trí Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng. Lần đầu tiên, cái tên Hồ Chí Minh nổi bật trên trang nhất của các tờ báo trên toàn thế giới. Ngày 2 tháng Chín 1945, tại Hà Nội, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra trước đông đảo dân chúng cất tiếng hỏi qua một chiếc micro hiện đại: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?" và một tiếng reo vang trời của cả biển người hoan hỉ đáp lại lời Người, chỉ có rất ít người biết rằng Hồ Chí Minh chính là người cộng sản nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc. Chưa đầy hai tháng sau ngày Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố thành lập, Trung tâm tình báo của Bộ Ngoại giao Mỹ đã có một bản báo cáo điều tra tình báo dài 90 trang, trong đó có tiểu sử của 69 vị chỉ huy giải phóng dân tộc tại Đông Dương thuộc Pháp. Mười trang được dành để nói về Hồ Chí Minh, ông được giới thiệu là "Nguyễn Ái Quốc (ngày nay được biết đến với tên gọi Hồ Chí Minh hay Lý Thụy)". Bản báo cáo khẳng định một cách chắc chắn rằng Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là một và nói rằng đây là người thông minh nhất, giàu kinh nghiệm nhất trong số "các nhà lãnh đạo cộng sản dân tộc chủ nghĩa của An Nam, với khả năng tổ chức xuất sắc"3.


Nguyễn Tất Thành, về sau là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh, nói rằng ông sinh năm 1890. Điều này có thể chính xác và hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý về năm sinh này, nhưng chắc chắn là ngày sinh của Người không phải là ngày 19 tháng Năm như ngày được kỷ niệm chính thức* (Theo quan điểm của tác giả (BT)). Ngày này được chọn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1946 vì chính phủ muốn tổ chức một ngày lễ long trọng dành cho Người trước khi Người đi Pháp trên cương vị đứng đầu nhà nước. Vào năm 21 tuổi, nếu chúng ta công nhận là Người sinh năm 1890. Nguyễn Tất Thành rời Đông Dương, ra đi vòng quanh thế giới trên một chiếc tàu Pháp. Sau khi đến Anh và Mỹ, Người đến Paris, tại đây Người tham gia thành lập PCF và viết báo bênh vực quyền lợi của các dân tộc bị áp bức qua những bài báo ngắn trên các tờ báo nhỏ theo khuynh hướng xã hội. Trong thập niên 1920, Người làm việc với Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva, tham gia tổ chức Phòng Đông Nam Á của Quốc tế Cộng sản, sau đó hoạt động trong mạng lưới Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc và Xiêm, và năm 1930, Người đóng vai trò quyết định trong việc hợp nhất các lực lượng khác nhau trong phong trào cộng sản Đông Dương và thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương.


Mật vụ Pháp săn lùng Hồ Chí Minh suốt nhiều năm, cho đến năm 1931 khi Người bị Anh bắt giữ tại Hồng Công. Pháp đề nghị Anh dẫn độ Người về Đông Dương, nếu Anh đồng ý thì chắc chắn Người sẽ bị xử rất nặng. Anh đã có lúc cân nhắc đề nghị của Pháp, nhưng cuối cùng đã từ chối. Báo chí cộng sản quốc tế năm 1932 có tin là Hồ Chí Minh đã chết do bệnh lao4, nhưng thực ra Anh đã thả Người vào tháng Giêng 1933 và để Người lên một chiếc tàu Trung Quốc đi đến Sán Đầu. Cuối cùng, Hồ Chí Minh đã đến được Mátxcơva dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản tổ chức vào mùa hè năm 1935, nhưng không phải với tư cách lãnh đạo phái đoàn Đông Dương. Chính đại hội này đã quyết định thành lập những mặt trận dân tộc có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân để ngăn chặn chủ nghìn phátxít, một chính sách mà sau đó Đảng Cộng sản Đông Dương đã áp dụng, mặc dù đầu năm đó tại Đại hội lần thứ II của Đảng tổ chức tại Macao, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thông qua một chiến lược mang tính cục bộ hơn5. Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi của Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp đứng đầu là đảng viên SFIO Léon Blum, từ năm 1936 đến 1937, các đảng phái dân tộc và cộng sản ở Đông Dương được hoạt động hợp pháp. Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh không tìm cách trở về Tổ quốc trong thời gian này, ông bị kẹt ở Nga tới tháng Mười 1938, sống sót sau cuộc thanh trừng của Xtalin, rồi đến Tây An ở miền Bắc Trung Quốc6.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 10:02:00 pm
Gần cuối năm 1937, một lần nữa Đảng Cộng sản Đông Dương bị đàn áp dữ dội và nhiều đồng chí của Hồ Chí Minh như Lê Duẩn, Dương Bạch Mai, Trần Huy Liệu đã bị bắt trước khi Đảng đi vào hoạt động bí mật năm 1939. Năm 1940, một số lớn cơ sở đảng bị phá khi Pháp đàn áp một cuộc khởi nghĩa ở miền Nam, nhưng ban lãnh đạo mới của Đảng đã được thành lập ở gần Hà Nội. Lúc này, Trường Chinh, hay còn gọi là Đặng Xuân Khu, đã được thả ra khỏi nhà tù trong phong trào Mặt trận bình dân Pháp, ông làm biên tập cho tờ báo bí mật của Đảng tại Bắc Kỳ từ năm 1940 trở đi và đã duy trì hoạt động bí mật trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai mà không bị Pháp bắt. Ông trở thành nhà lãnh đạo tư tưởng của Đảng Cộng sản Đông Dương trong suốt 40 năm sau đó. Năm 1941, tại cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm mục đích tổ chức lại Đảng sau khi cơ cấu lãnh đạo của Đảng ở miền Nam đã bị Pháp phá hủy, Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư, ông giữ chức vụ này cho tới năm 1956 và trở lại cương vị này trong vài tháng của năm 19867. Những người khác, như Phạm Văn Đồng hay Võ Nguyên Giáp, lánh sang Trung Quốc năm 1940 và gặp lại Hồ Chí Minh ở đây. Trong số những người trẻ tuổi, hai người này đã trở thành những người thân cận nhất của Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng về sau đóng một vai trò then chốt trong chính phủ và ngoại giao, ông dẫn đầu phái đoàn Việt Nam đàm phán ở Pháp vào mùa hè năm 1946. Võ Nguyên Giáp là người sáng lập và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và vì vậy, ông có một vai trò rất quan trọng trong hai cuộc khủng hoảng mà cuốn sách này đề cập, sau lãnh tụ Hồ Chí Minh.


Võ Nguyên Giáp sinh ngày 21* (Theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 807, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng Tám 1911 (BT)) tháng Tám 1911 ở Quảng Bình, miền Trung Việt Nam và khi những dòng này được viết năm 2009, ông vẫn đôi khi tiếp khách tại nhà riêng của mình ở trung tâm Hà Nội. Khi còn nhỏ, ông học ở những trường trung học tốt nhất của Pháp ở Huế và Hà Nội và ngay từ khi còn ít tuổi, ông đã tham gia hoạt động chính trị. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong khi học luật và giảng dạy ở một trường tư thục tại Hà Nội. Sau khi Pháp đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do Đảng Cộng sản Đông Dương ở phía Nam lãnh đạo, ông thấy không thể tiếp tục ở lại Hà Nội. Ông chia tay người vợ trẻ và đứa con chưa chào đời để sang Trung Quốc. Tại đây, ông gặp Hồ Chí Minh và từ bỏ ý định đến thăm trung tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Diên An. Ông theo Hồ Chí Minh trở về vùng biên giới miền núi phía bắc thuộc tỉnh Cao Bằng, miền Bắc Việt Nam, học tiếng dân tộc thiểu số và kết giao với nhiều tộc trưởng, trưởng bản địa phương. Tháng Mười hai 1944, ông thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Trong chính phủ đầu tiên do Hồ Chí Minh thành lập sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Nội vụ; đến tháng Ba 1946, ông là Chủ tịch ủy ban toàn quốc kháng chiến. Tháng Tư và tháng Năm 1946, ông dẫn đầu phái đoàn Việt Nam thương thuyết bất thành với đại diện của Pháp tại Đà Lạt. Từ tháng Mười một, ông là Bộ trưởng Quốc phòng.


Trong hầu hết thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Dương thuộc Pháp tiếp tục được coi là một thuộc địa của Pháp dưới sự cai trị của Đô đốc Jean Decoux, ông này trung thành với chính phủ của Thống chế Pétain ở Vichy, chấp nhận cho Nhật đóng quân ở Đông Dương. Decoux tiếp tục nắm quyền kiểm soát công việc nội bộ của Đông Dương, thậm chí có đủ khả năng đàn áp các hoạt động của các đảng dân tộc thân Nhật. Jean Decoux đi theo chính sách phi hiện đại hóa, tìm cách khôi phục và duy trì các vương triều phong kiến tại Lào, Campuchia và An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp, nhấn mạnh các giá trị truyền thống và toan tính thiết lập hệ tư tưởng kết hợp giữa đạo Khổng và chủ nghĩa Pétain8. Đông Dương thuộc Pháp hợp tác với Nhật là lý do duy nhất khiến Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt cho phép mình tiến hành một chính sách đi ngược lại chính sách của Pháp ở Viễn Đông và kêu gọi thành lập một cơ chế ủy trị quốc tế để thay thế sự cai trị của Pháp9. Ngày 9 tháng Ba 1945, Mỹ mất một số lý lẽ biện minh cho chính sách bài Pháp của mình khi Nhật bất ngờ tấn công quân đội thực dân Pháp và lật đổ chính quyền Decoux. Từ trước đó khá lâu, Pétain đã buộc phải rời khỏi Pháp, do vậy, việc chính quyền Decoux vẫn còn yên vị có thể coi là bất bình thường. Chính phủ mới của Pháp là chính phủ của Tướng de Gaulle đã bí mật liên hệ với những thành viên có ảnh hưởng trong chính quyền Decoux, tuy nhiên, việc này không hoàn toàn được giữ kín. Nhật lo ngại Mỹ chiếm Đông Dương và sợ Pháp sẽ tiếp tay cho Mỹ, chính vì vậy, Nhật đã tiến hành đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba. Đa số lực lượng của Pháp nhanh chónh bại trận và bị đưa vào trại tập trung, nhưng một số lính Pháp đã chạy thoát sang Trung Quốc. Nhật lập ra một chính phủ bù nhìn tại Huế do hoàng đế Bảo Đại đứng đầu. De Gaulle lợi dụng cuộc đảo chính của Nhật để thúc đẩy Mỹ thay đổi chính sách đối với Đông Dương. Nhưng khi Roosevelt qua đời, chỉ vài ngày sau, Ngoại trưởng Mỹ là Edward Stettinius hứa với người đồng nhiệm phía Pháp rằng Mỹ sẽ tôn trọng chủ quyền của Pháp ở các thuộc địa Đông Nam Á. Mặc dù vậy, tại Hội nghị Potsdam tháng Bảy năm đó, Truman vẫn không hỏi ý kiến de Gaulle khi ông ta đồng ý chia Đông Dương làm hai phần cho Trung Quốc và Anh mà không hề giao cho Pháp vai trò quân sự nào10.


Trong lúc này, vụ đảo chính của Nhật đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho công cuộc kháng chiến của Hồ Chí Minh và Việt Minh. Việt Minh lập ra "vùng giải phóng" ở miền Bắc Việt Nam và mở rộng mạng lưới ra hầu khắp Đông Dương, đồng thời tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tình báo Trung Quốc và Mỹ, giúp đỡ các phi công Mỹ nhảy dù. Thậm chí, Hồ Chí Minh còn tiếp một phái đoàn Phòng Tình báo Mỹ tại căn cứ ở miền Bắc Việt Nam".


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 10:04:17 pm
Bước vào thời kỳ cuối của chiến tranh, Nhật không còn quan tâm nhiều đến việc đánh Việt Minh và tự bằng lòng với việc giữ các thành phố lớn và đường dây liên lạc. Nhật cho phép chính quyền Bảo Đại bổ nhiệm một số người Việt theo đường lối cải cách vào những vị trí quan trong trong chính quyền, Việt Minh tận dụng cơ hội này để đưa người thâm nhập vào chính quyền công khai. Từ tháng Tám 1944, ban lãnh đạo Việt Minh đã lập kế hoạch giành chính quyền ở Đông Dương khi chiến tranh ở châu Á - Thái Bình Dương kết thúc. "Chúng ta thậm chí không cần phải giành chính quyền bằng vũ lực, bởi vì sẽ không còn chính quyền nào nữa" - một tài liệu đề ngày 6 tháng Tám 1944 nhận định12. Tin tức về các vụ nổ bom nguyên tử tại Hiroshima, Nagasaki và việc Liên Xô tấn công Mãn Châu giữa tháng Tám 1945 là tín hiệu tiến hành "Cách mạng Tháng Tám". Các nhà hoạt động cách mọng nhanh chóng giành được chính quyền, đầu tiên ở Hà Nội và sau đó là Huế và Sài Gòn. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Giáp tiến về Hà Nội, rồi khi Bảo Đại thoái vị tại Huế, ngày 2 tháng Chín, đã đến thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của mình, khẳng định nền độc lập của Việt Nam với một sĩ quan Mỹ đứng ngay hàng đầu bên dưới khán đài và máy bay Mỹ bay trên bầu trời. Nhật không muốn đổ máu thêm chút nào để ngăn cản Cách mạng Tháng Tám. Họ đã thua trận và phần lớn trong số họ ở yên trong trại lính, tuy nhiên, vài nghìn người đào ngũ rồi gia nhập quân đội Việt Nam với tư cách huấn luyện viên, cố vấn quân sự, thậm chí trực tiếp tham chiến. Không bao lâu sau, Anh ra lệnh cho quân Nhật trong các trại lính tham gia đàn áp cuộc cách mạng ở miền Nam và họ đã thực hiện nhiệm vụ này đến nơi đến chốn. Như vậy là người Nhật đã chiến đấu và hy sinh cho cả hai phía13.


Khoảng trống quyền lực quân sự xuất hiện sau khi Nhật đầu hàng và kéo dài ba tuần cho tới khi lực lượng chiếm đóng của Anh và Trung Quốc tràn vào, là điều kiện thuận lợi để tiến hành cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh không thể biết trước được việc Nhật đầu hàng. Trước đó, Hồ Chí Minh và ông Giáp đã chuẩn bị lực lượng để tiến hành tổng khởi nghĩa nhằm hỗ trợ cho quân Đồng minh tiến vào. Không chuẩn bị tinh thần để thành lập một chính quyền thay thế cho Nhật khi Nhật đầu hàng, nhưng vì nắm giữ cương vị lãnh đạo của Việt Minh và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nên đương nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Giáp đã trở thành những người đứng đầu của nền cộng hòa mới. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường Chinh giữ Vai trò hậu trường hơn.


Sau khi Bảo Đại thoái vị, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có được tính hợp pháp cao trên toàn quốc, buộc các nhóm dân tộc trước đó vẫn còn nghi ngờ Hồ Chí Minh phải tìm chỗ đứng cho mình trong nền cộng hòa mới này. Việc các lực lượng Đông Dương thống nhất theo một hướng là điều thuận lợi cho ý đồ của Việt Minh. Đa số nhân dân đều sẵn sàng đoàn kết đấu tranh vì độc lập. Mặc dù vậy sự thống nhất của các lực lượng bên ngoài Đông Dương lại không theo hướng thuận lợi tương tự. Thậm chí, không có nước nào tính đến chuyện công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhiều nước rất lâu sau mới biết đến sự tồn tại của nhà nước này14. Thế giới lúc này ít nhiều coi như Pháp hiển nhiên có chủ quyền đối với Đông Dương, vả lại cuộc cách mạng của Việt Nam hầu như không được báo chí cộng sản quốc tế chú ý. Chính phủ de Gaulle bày tỏ ý định rõ ràng về việc sẽ gửi lực lượng viễn chinh Pháp đến để lập lại sự cai trị của Pháp đối với Đông Dương. Ngay sau khi Nhật đầu hàng de Gaulle tuyên bố bổ nhiệm Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu là Cao ủy, còn Leclerc là Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã rất sáng suốt nhận định như người phát ngôn của Đảng trong bài diễn văn tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội sáng mùng 2 tháng Chín: "Việc giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu"15.


Điểm thuận lợi là khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, đạo quân viễn chinh Pháp không ở gần Đông Dương, vì vậy, Anh và Tưởng là những lực lượng có mặt đầu tiên để tiếp quản Nhật đầu hàng, mặc dù cũng có một vài người Pháp xuất hiện với tư cách đại diện cho nhà nước chủ quyền và bắt liên lạc với sĩ quan và lính Pháp trong các nhà tù và trại tập trung của Nhật, cũng như liên lạc với hàng nghìn người Pháp đang sống vất vưởng từ sau ngày 9 tháng Ba. Năm 1943, khi lực lượng Anh ở Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Huân tước Mountbatten được thành lập, các bên chưa có thỏa thuận gì về trách nhiệm của lực lượng này trong việc tiến hành các chiến dịch của quân Đồng minh ở Đông Dương. Anh muốn Mountbatten chịu trách nhiệm về Đông Dương giống như Thái Lan và Miến Điện. Trong khi đó, kế hoạch ủy trị của Roosevelt tác động khiến Mỹ ủng hộ việc đưa Đông Dương vào vùng ảnh hưởng của Tưởng Giới Thạch. Có những lúc Đông Dương đã trở thành lý do bất hòa giữa các đồng minh, do vậy, thỏa thuận của Bộ Tham mưu hỗn hợp Anh - Mỹ tại Potsdam tháng Bảy 1945 về việc chia Đông Dương thành hai phần cho Anh và Tưởng là kết quả của một cuộc tranh cãi kéo dài. Thỏa hiệp chia đôi Đông Dương sẽ tác động sâu sắc và lâu dài tới lịch sử Việt Nam16.


Chừng 20 ngày sau khi Nhật đầu hàng và một tuần sau Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân Anh tới Sài Gòn bằng đường thủy, đồng thời một đội quân Tưởng đồ sộ tràn qua biên giới phía Bắc. Anh muốn chuyển giao quyền lực cho Pháp càng sớm càng tốt, nhưng một số chỉ huy phía Tưởng âm mưu ngăn cản Pháp tái chiếm Bắc Kỳ nhằm mục đích lập một chế độ thân Tưởng ở Việt Nam. Ngày 23 tháng Chín, lính Pháp thoát khỏi trại tập trung của Nhật được quân Anh cung cấp vũ khí đã gây binh biến tại Sài Gòn và chiếm được tất cả các tòa nhà công sở lớn. Một làn sóng giết chóc tiếp liền sau đó, trong đó có vụ thảm sát thường dân Pháp tại khu Cité Héraud. Ngày 5 tháng Mười, Tướng Leclerc đến Sài Gòn. Quân Anh, Pháp và Nhật Bản hợp sức với nhau để "làm dịu" tình hình, trong đó quân Nhật được sử dụng vào những hành động tàn bạo nhất. Cho tới tháng Hai 1946, với sự giúp đỡ của quân Anh, Pháp đã giành được quyền kiểm soát tất cả các thành thị lớn và đường giao thông chính, cũng như phần lớn các làng mạc ở nam vĩ tuyến 1617. Nếu như tại Potsdam, Mỹ nhượng bộ Anh mà giao toàn bộ Đông Dương cho Mounlbntten thì rất có thể Pháp đã tiêu diệt chính phủ cách mạng của Hồ Chí Minh ngay trong mùa thu năm 1945 và châm ngòi cho chiến tranh trên khắp Đông Dương18. Thế nhưng sự có mặt của đội quân Tưởng đông đúc đã cho phép Việt Minh thiết lập vị trí then chốt trong chính phủ cộng hòa mới, một chính phủ có quyền chính đáng đại diện cho cả nửa phía nam của đất nước nữa.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 10:08:19 pm
Việt Minh là gì? Đó là một tổ chức mặt trận dân tộc với nhiều thành viên không phải là cộng sản, nhưng nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thể hiện rõ nhất là ở cơ cấu lãnh đạo cấp cao. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cộng sản Việt Nam đã bị chia rẽ sâu sắc giữa hai phe, một bên là phe quốc tế cộng sản cho rằng phong trào cộng sản Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp, và bên kia là phe dân tộc theo đường lối của Lênin về quyền dân tộc tự quyết và noi gương Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Hồ Chí Minh thuộc phe thứ hai. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các đảng cộng sản ít nhiều nghiêng về chủ nghĩa ái quốc và tuyên truyền kháng chiến chống phátxít, đế quốc và chế độ quân phiệt, nhờ vậy mà phe dân tộc dần dần thắng thế. Trong mười năm đầu sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập, các vị lãnh đạo của Đảng phần thì bị bắt, phần thì ở lân cận Sài Gòn và chịu nhiều tổn thất khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị Pháp dập tắt năm 1940. Sau đó, một ban lãnh đạo mới đã được thành lập ở miền Bắc với nòng cốt là Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt. Họ thường xuyên liên lạc với phong trào do Hồ Chí Minh gây dựng ở vùng biên giới Trung Quốc, ngay từ đầu phong trào này đã do các lãnh đạo của Đảng chỉ huy. Sau khi Nhật Bản đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba, Việt Minh đã nhanh chóng lập cơ sở ở các tỉnh, huyện trên khắp miền Bắc Việt Nam, cũng như lập cơ sở trong nhóm người Việt ở Lào, nhưng miền Nam Việt Nam lại đi theo một con đường khác. Cộng sản miền Nam có tổ chức mặt trận riêng của họ là Thanh niên tiền phong, tổ chức này được Nhật làm ngơ cho hoạt động và không có liên hệ gì với Hồ Chí Minh. Lãnh đạo của Thanh niên tiền phong là một bác sĩ hội viên Hội tam điểm tên là Phạm Ngọc Thạch. Ông công khai hợp tác với nhà cầm quyền Nhật, đồng thời giữ liên hệ thường xuyên với các lãnh đạo đảng cộng sản hoạt động bí mật19. Như vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương ở miền Nam hoạt động công khai hơn ở miền Bắc và bị chia rẽ thành hai nhánh có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Việt Minh ở miền Bắc có ưu thế hơn, Thanh niên tiền phong giải tán và hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương ở miền Nam cũng rút vào bí mật nhiều hơn.


Ngày 11 tháng Mười một 1945, như đảng viên kỳ cựu Hoàng Tùng cho biết, theo quyết định của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Đông Dương đi một nước cờ khiến về sau Đảng phải chịu sự chỉ trích nghiêm trọng từ phong trào cộng sản quốc tế: tự giải tán. Ông Hoàng Tùng nhớ lại rằng Hồ Chí Minh đã phải rất cố gắng mới thuyết phục được Tổng Bí thư Trường Chinh đồng ý với một nước cờ dị thường như vậy20, về sau này, Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như Đảng Cộng sản Pháp đều nói rằng việc giải tán Đảng chỉ là để ngụy trang. Đảng chỉ chuyển sang hoạt động bí mật và tiếp tục hoạt động với tư cách Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, hay như ông Trường Chinh gọi là "Đoàn thể", ông và một số lãnh đạo Đảng như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng và Hoàng Văn Hoan âm thầm hoạt động trong bóng tối, trong khi các thành viên lãnh đạo cấp cao khác của Đảng như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam thì giữ những vị trí công khai trong chính quyền. Một thời gian, Nguyễn Lương Bằng còn giữ vai trò trên danh nghĩa là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh... Tài liệu của tình báo Pháp trong giai đoạn này có những tài liệu lấy được "Việt Minh và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng rất ít tài liệu xuất phát từ "Đảng Cộng sản" hay "Đoàn thể". Đảng không còn phát hành một tờ báo nào sau khi đóng cửa tờ Cờ Giải Phóng do ông Trường Chinh làm tổng biên tập. Báo đảng chỉ có một nguyệt san tạp chí mang tính chất lý luận là tạp chí Sự Thật tạp chí này thì nặng về lý luận tới mức ảnh hưởng của nó trên thưc tế khá hạn chế. Nếu Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động dưới vỏ ngụy trang thì lớp áo ngụy trang đó chắc chắn đã tác động tiêu cực tới hoạt động và sự phát triển của Đảng, thậm chí có lẽ làm giảm khá nhiều ảnh hưởng của Đảng đối với những quyết định quan trọng21.


Những lý do công khai của việc giải tán đảng là: thời cơ có một không hai để giành độc lập dân tộc; sự cần thiết phải đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt tầng lớp, đảng phái; quyết tâm chứng minh rằng người cộng sản sẵn sàng chịu những hy sinh lớn lao và đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp và đảng phái; mong muốn xóa bỏ những hiểu nhầm cả ở trong và ngoài nước22. Mặc dù vậy, lý do thực sự là để xoa dịu quân Tưởng, một lực lượng mà ai cũng biết là thù nghịch với cộng sản và đang chiếm đóng Việt Nam. Điều này không dễ dàng gì, nhưng cuối cùng việc giải tán đảng đã có kết quả. Mặc dù Tưởng Giới Thạch chính thức có chiến tranh với phe cộng sản Trung Quốc, nhưng lực lượng của Tưởng ở Bắc Đông Dương chung sống hòa bình với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà nòng cốt là cộng sản, và còn khuyến khích sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các đảng chống cộng như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội.


Từ năm 1941 đến tháng Ba 1946, Việt Minh đã vượt qua một số chặng đường. Chặng đường đầu tiên là giai đoạn hoạt động bí mật từ năm 1941 đến tháng Ba 1945, sau đó đến chặng thứ hai từ tháng Ba đến tháng Tám 1945, khi chế độ thực dân Pháp sụp đổ tạo ra thời cơ có một không hai để tuyên truyền và gây dựng cơ sở Việt Minh ở khắp khu vực Bắc Đông Dương. Chặng đường thứ ba từ tháng Tám 1945 đến tháng Ba 1946 khi Việt Minh và các thiết chế của chính quyền mới đan xen với nhau. Giai đoạn mà cuốn sách này nghiên cứu, từ tháng Ba đến tháng Mười hai 1946 tương ứng với chặng đường thứ tư, trong thời gian này đã có những cố gắng nhằm phân biệt giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tư cách một nhà nước và Việt Minh với tư cách một tổ chức mặt trận chính trị23. Một lý do cần phải tách biệt đảng và mặt trận là những lực lượng mà trong Chiến tranh thế giới thứ hai là kẻ thù của lực lượng của Hồ Chí Minh ở phía nam Trung Quốc, như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, đã nắm được một phần quyền lực chính trị, kiểm soát một số bộ trong chính phủ và tổ chức quân đội riêng chiếm đóng, kiểm soát một số vùng. Phần lớn bọn họ từ chối lời mời gia nhập Mặt trận Việt Minh và bị các nhà lãnh đạo cộng sản coi là những kẻ phản bội. Một mặt trận rộng lớn hơn là Mặt trận Liên Việt được thành lập để lôi kéo họ và tạo sự đồng thuận rộng rãi hơn trên toàn quốc, nhưng Liên Việt chỉ đạt được những thành công hạn chế và phong trào giải phóng dân tộc do cộng sản lãnh đạo tiếp tục được trong nước và thế giới biết đến với cái tên Việt Minh. Ngoài Đảng Cộng sản, Việt Minh còn có một Đảng Xã hội quy mô nhỏ và một Đảng Dân chủ có ảnh hưởng lớn hơn, cả hai đảng này đều tiếp tục tồn tại như "những người bạn đồng hành" với Đảng Cộng sản cho đến tận năm 1990 mới giải tán.


Trong chặng đường đầu tiên, Việt Minh được tổ chức theo hai trật tự song song, một trật tự theo chiều dọc với các lãnh đạo được bầu và một trật tự theo chiều ngang với lãnh đạo đảng được trên bổ nhiệm xuống. Theo chiều dọc, Việt Minh bao gồm nhiều loại hình tổ chức khác nhau: các đảng phái, tổ chức thanh niên, tổ chức phụ nữ, tổ chức tôn giáo, quân đội, v.v... Theo chiều ngang, Việt Minh chia thành các ủy ban Việt Minh, mỗi ủy ban chịu trách nhiệm về một khu vực địa lý. Cấp trên kiểm soát cấp dưới về mặt chính trị rất chặt chẽ, nhưng đối với những vấn đề thực tiễn đời sống mỗi ủy ban Việt Minh có quyền hành động tương đối tự do.


Ở mỗi vùng, các hệ thống tổ chức theo chiều ngang và theo chiều dọc hợp lại ở cấp cao nhất tại ủy ban Việt Minh. Chủ tịch ủy ban được cấp trên bổ nhiệm, nhưng một số thành viên nhất định được bầu để đại diện cho các tổ chức theo chiều dọc. Ở cấp quốc gia, Trung ương Đảng bao gồm đại diện của tất cả các tổ chức theo chiều dọc, đại diện của ba miền Việt Nam và lãnh đạo của một số tổ chức đặc biệt như quân đội, ban tuyên huấn, ban hành chính. Cho tới Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ủy ban Trung ương, nhưng khi Người trở thành Chủ tịch nước, ông Nguyễn Lương Bằng thay Hồ Chí Minh đảm nhiệm chức vụ này. Ban Chấp hành Trung ương hội bầu một Tổng bộ hay Bộ Chính trị, có trách nhiệm chỉ huy Việt Minh trong công việc thường nhật. Trong cuốn Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952 (Lịch sử Việt Nam từ năm 1940 đến 1952) xuất bản năm 1952 của Philippe Devillers, một cuốn sách có ảnh hưởng lớn trong giới chuyên môn và có độ tin cậy cao, Philippe Devillers liệt kê tám người sau đây có thể là thành viên Tổng bộ vào thời điểm năm 1946: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Hoàng Quốc Việt, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Lương Bằng24.


Sang giai đoạn 2, tức là từ sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống chiều dọc của Việt Minh chuyển thành các cơ quan thay thế hệ thống hành chính bản địa tại An Nam và Bắc Kỳ vốn là các lãnh thổ bị đặt dưới chế độ bảo hộ. Thực ra cộng sản đã cài nhiều người vào hệ thống này từ trước. Lúc này họ nắm quyền kiểm soát bộ máy nhà nước, bổ nhiệm người mới vào các vị trí và thành lập các hội đồng nhân dân. Chính vì vậy, người ta nói rằng giai đoạn này tổ chức Việt Minh đan xen với nhà nước. Ngày 6 tháng Giêng 1946, lần đầu tiên Việt Nam tổ chức bầu cử trên toàn quốc, nhưng hầu như khắp nơi ứng cử viên đều là Việt Minh, cử tri bỏ phiếu kín để lựa chọn một số người, những người nhận được nhiều phiếu nhất trúng cử, Trước khi bầu cử diễn ra, các tướng lĩnh Trung Quốc đã ép Việt Minh thỏa thuận cho hai đảng dân tộc thân Tưởng là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội đưa 70 đại biểu của họ vào thẳng Quốc hội không qua bầu cử. Giống như một kỳ thủ nhường đối phương kém hơn đi trước một nước để cho ván cờ ngang tài ngang sức, Việt Minh vẫn ở thế áp đảo...


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 10:10:00 pm
Khi tìm hiểu quá trình ra quyết định ở cấp lãnh đạo cao nhất diễn ra như thế nào, giữa Đông Dương Cộng sản Đảng, hay còn gọi là "Đoàn thể", Tổng bộ Việt Minh và Hội đồng Chính phủ (Nội các) có sự phân vai như thế nào, ta sẽ thấy hết sức thú vị và hữu ích25. Tất nhiên cơ quan tình báo Pháp cũng quan tâm đến vấn đề này. Tình báo Pháp cho rằng Tổng bộ họp mỗi tuần một lần, ngoài ra hằng tuần Tổng bộ Việt Minh còn họp một lần nữa với các quan chức chủ chốt tại tất cả các bộ quan trọng. Theo tình báo Pháp tại cuộc họp này, các quyết định của Tổng bộ được "thông báo để các bộ thực hiện", mặc dù những người dự họp có thể thảo luận về các quyết định này. Nếu điều này là đúng thì Tổng bộ có quyền lực lớn hơn Hội đồng Chính phủ. Mặc dù vậy, có thể là Pháp nhầm lẫn Tổng bộ với Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản. Các báo cáo tình báo của Pháp nói rất ít về Đảng Cộng sản Đông Dương và không báo cáo nào nhắc đến Trung ương Đảng. Trong khi đó, sau này các nhà sử học Việt Nam nói rằng tất cả các vấn đề mang tính chiến lược đều do Đảng quyết định. Cũng có thể người ta đã gjải thích sai lịch sử hoặc thêm thắt các cuộc họp của Đảng, nhưng khả năng lớn hơn là tình báo Pháp đã bị lừa. Khó có thể biết chắc làm cách nào mà Đảng bảo đảm được các chức năng cơ bản sau khi đã chính thức giải tán, nhưng có một tài liệu đặc biệt mà trong chương sau tôi sẽ còn đề cập có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó hé lộ một vài điều về Đảng. Đó là một nghị quyết về vấn đề tổ chúc do Trường Chinh chuẩn bị và được chính thức ban hành vào ngày 22 tháng Mười hai 1946, ba ngày sau khi chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Trang đầu của nghị quyết này chỉ có tên của tài liệu không có tên của tổ chức nào. Nhưng trang thứ hai bắt đầu bằng hô ngữ "các đồng chí C.S"., "C.S". có nghĩa là "Cộng sản", và có lời nói đầu ký tên "T.V.T.U.D.C.S.D.D" mà bất kỳ đảng viên cộng sản Việt Nam nào cũng nhận ra là viết tắt của "Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương"26. Điều này chứng tỏ rằng Ban Thường vụ của ông Trường Chinh thực sự tồn tại.


Tình báo Pháp hết sức chú ý tới mối quan hệ giữa những người "trung hòa" và những người "cực đoan" trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng. Nguồn cung cấp tin cho Pháp nói rằng có hai phe phái cạnh tranh quyền lực với nhau trong Đảng, Pháp âm mưu lợi dụng điều này để gây chia rẽ trong nội bộ Đảng. Pháp cho rằng Hồ Chí Minh là một người trung hòa. Tin tình báo cho biết Hồ Chí Minh thân cận với hai người trung hòa khác là đảng viên cộng sản Hoàng Hữu Nam và đảng viên xã hội Hoàng Minh Giám, về Võ Nguyên Giáp thì các nguồn tin tình báo không thống nhất... Pháp không phải là thiếu khôn ngoan khi âm mưu khai thác mâu thuẫn nội bộ của lãnh đạo Việt Minh, nhưng ý đồ chia rẽ của Pháp luôn luôn thất bại. Đó là vì những người cộng sản Việt Nam có sự gắn kết chặt chẽ và tính kỷ luật nghiêm khắc, hơn nữa còn được củng cố bởi lòng trung thành với Hồ Chí Minh.


Tính đến tháng Hai 1946, Hồ Chí Minh đã làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được năm tháng. Đó là năm tháng cực kỳ gian nan, vất vả. Người liên tục phải đàm phán với các đảng dân tộc chủ nghĩa đối lập, các cố vấn và tướng lĩnh Tưởng, các sĩ quan Nhật còn ở lại, và đại diện của Pháp đến bằng máy bay hoặc nhảy dù. Khả năng thu phục lòng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể cả đối với đối thủ của mình, đóng một vai trò lớn trong xử lý quan hệ với Tưởng và Pháp. Tướng Leclerc, Cao ủy Jean Sainteny, Bộ trưởng Marius Moutet và Thủ tướng Georges Bidault, chưa kể chính Thống chế d'Argenlieu, đều được Hồ Chí Minh gọi trong thư gửi họ là "bạn thân mến", và chắc chắn là Người cũng tìm được những từ ngữ thích hợp để lấy lòng các tướng lĩnh của Tưởng. Hầu như tất cả những người đã từng gặp mặt người cộng sản kỳ cựu với bộ râu dài bạc trắng ấy đều có ấn tượng sâu sắc về ông. Năm 1947, một sĩ quan Pháp đã viết: "Không còn nghi ngờ gì nữa, Hồ Chí Minh là một nhân cách vĩ đại với một trình độ văn hóa sâu rộng có được nhờ cần mẫn, quyết tâm tự học và trí thông minh xuất chúng, một lòng trung thành với lý tưởng của mình, tuyệt đối không thể mua chuộc, và một lòng yêu nước thiết tha". "Sự cương quyết, gắng sức, sự khôn khéo và bề dày kinh nghiệm làm việc theo phương pháp luận bônsêvích biến ông thành một lãnh đạo cách mạng nguy hiểm, ông sẽ không chùn bước trước bất kỳ khó khăn, trở ngại nào để đạt được mục đích của mình là nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam"27.


Tương tự như vậy, Jean Sainteny viết trong cuốn hồi ký của mình cũng nhắc đến những đặc điểm của Hồ Chí Minh: "Vốn văn hóa sâu rộng, trí thông minh xuất chúng, xông xáo, táo bạo vô cùng, cần kiệm, giản dị tới mức khắc khổ và tuyệt đối không thể bị mua chuộc". Giáo sư Paul Mus, một trong những chuyên gia Pháp về Việt Nam có rất nhiều thông tin, người đã đóng một vai trò không nhỏ trong "chiến tranh tâm lý" của Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai28 vào năm 1947 đã nói với một người quen của ông ta rằng Hồ Chí Minh là "một nghệ sĩ tài năng", và như mọi năng khác, ông chỉ có thể diễn xuất trên nền tảng là sự chân thành của mình. Bản thân Võ Nguyên Giáp đã xác nhận khả năng thuyết phục xuất sắc của người thầy của ông...: "Bác Hồ có tài đo ý nghĩ và cảm giác của kẻ thù. Bác tài tình, tỉ mỉ vạch phương án đối xử với từng nhóm, từng người... Thậm chí, trong số kẻ thù của Bác có những tên khét tiếng chống cộng sản cũng kính trọng Bác. Dường như họ hiền lành hơn khi đứng trước Người"29, ông Giáp khiến người ta kính sợ và nể phục, còn Hồ Chí Minh khiến người ta tôn thờ.


Giữa thế kỷ XX, khi làn sóng cách mạng vô sản đang dâng cao trên toàn thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là một trong những nhà lãnh đạo cộng sản xuất sắc nhất như Lênin, Xtalin Mao Trạch Đông, Kim II Sung và Caxtrô. Cho đến năm 2009, có lẽ ông là người duy nhất đã bước qua thử thách của lịch sử mà lòng kính trọng người ta dành cho ông vẫn nguyên vẹn. Ngay như tôi là một nhà sử học kém cỏi say mê tiêu thời gian bằng cách lật giở từng trang tài liệu bụi bặm cũng không thoát khỏi sức hấp dẫn lớn lao của Hồ Chí Minh. Thư từ, điện tín của Người luôn luôn khác thường. Do vậy, nếu kể đến những người ngưỡng mộ Hồ Chí Minh thì tôi xin tình nguyện xếp mình vào đó.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 10:11:44 pm
NƯỚC PHÁP MỚI


Nước Pháp mới không có sự lãnh đạo nhất quán như Việt Minh. Cho tới ngày 20 tháng Giêng 1946, nước Pháp nằm dưới sự lãnh đạo của một nhân vật nổi tiếng là Tướng de Gaulle, một người sống gần như tuyệt đối cùng thời với Hồ Chí Minh: cả hai đều sinh năm 1890, Hồ Chí Minh mất năm 1969, còn de Gaulle mất năm 1970. De Gaulle giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết kế cơ chế ra quyết định tại Đông Dương, cơ chế này tồn tại trong suốt năm 1946. Ngày 20 tháng Giêng 1946, ông từ chức Thủ tướng (Chủ tịch Hội đồng Chính phủ) và rút về quê ông ở Colombey-les-Deux- Eglises. Từ lúc đó, nước Pháp bước vào thời kỳ lập hiến đầy khó khăn, với bốn chính phủ liên minh nối tiếp nhau lên cầm quyền trong vòng chưa đầy một năm. Mặc dù vậy, có hai người cần đặc biệt chú ý vì họ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tìm cách đặt nền móng tái sinh một khối Liên hiệp Pháp và cải cách Đông Dương: đảng viên SFIO Marius Moutet (1876-1968) và đảng viên Đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo Georges Bidault (1899-1983).


Ngày 18 tháng Ba 1947, trong một bài diễn văn trước Quốc hội Pháp, Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet điểm lại những năm vừa qua và thú nhận là ông đã bị thuyết phục rằng Hồ Chí Minh chân thành mong muốn hợp tác với Pháp. Moutet phát biểu: "Tôi đã quen với kiểu người như ông ấy. Tôi đủ nhiều tuổi để hiểu họ". Ông đủ kinh nghiệm để biết rằng không nên coi lời nói của người "Viễn Đông" như kinh thánh. Mặc dù vậy, ông ta vẫn chắc chắn rằng Hồ Chí Minh có ấn tượng tốt với nước Pháp vì Pháp đã đối xử với ông trọng thị "như với một nguyên thủ quốc gia thực sự"30.


Marius Moutet hơn Hồ Chí Minh 14 tuổi, ông ta được bầu vào Quốc hội Pháp lần đầu tiên vào năm 1914, với sự ủng hộ mạnh mẽ của nhà lãnh đạo tiên phong trong SFIO là Jean Jaurès. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông chuyên phụ trách các vấn đề thuộc địa và nêu cao chủ trương đối xử bao dung, đồng hóa các thuộc địa, từ bỏ chính sách đàn áp dã man tại các thuộc địa và tôn trọng các quyền tự do dân chủ. Ngày 4 tháng Sáu 1936, khi SFIO của Léon Blum thành lập Chính phủ Mặt trận bình dân, Marius Moutet được Léon Blum chọn làm Bộ trưởng Thuộc địa, Moutet giữ chức vụ này cho tới ngày 10 tháng Tư 1938. Theo đề xuất của Moutet, Pháp cấm sử dụng lao động cưỡng bức ở tất cả các thuộc địa và tiến hành một số cải cách pháp lý theo hướng bảo vệ các quyền xã hội và dân chủ Moutet là Bộ trưởng Thuộc địa đầu tiên bổ nhiệm một người da đen tên là Félix Eboué vào một vị trí quan trọng trong chính quyền thuộc địa - thống đốc thứ nhất của Guadeloupe, rồi sau đó trở thành thống đốc của Khối châu Phi Xích đạo thuộc Pháp. Năm 1940, sau khi Pháp thua trận Hitler, Moutet là một trong 90 thành viên Quốc hội Pháp bỏ phiếu chống dự luật giao toàn quyền cho Thống chế Pétain. Sau đó, ông chuyển sang hoạt động bí mật. Sau ngày giải phóng Pháp, Moutet được bầu vào Hội đồng lập hiến và nhậm chức Bộ trưởng Hải ngoại Pháp từ ngày 22 tháng Giêng 1946, sau khi de Gaulle từ chức. Moutet tích cực phản đối ý đồ của de Gaulle thành lập một "nền cộng hòa tổng thống", trao quyền lực lớn cho ngành hành pháp. Cũng như nhiều cựu thần của Đệ tam Cộng hòa Pháp, Moutet mong muốn có một hiến pháp trao quyền lực lớn hơn cho Quốc hội để Quốc hội kiểm soát ngành hành pháp.


Trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai, chính sách thuộc địa của de Gaulle và Vichy thực ra không có nhiều khác biệt. Trong khi Vichy tìm cách củng cố sự cai trị trên các lãnh thổ hải ngoại để bù đắp sự kém cỏi quyền lực ở châu Âu, thì de Gaulle muốn sử dụng các thuộc địa như một món của cải để đóng góp cho phe Đồng minh. Như vậy là họ đều có lợi ích chung trong việc duy trì thế đứng vững chắc nhất có thể của Pháp ở các thuộc địa. Thế nhưng cũng chính tại đây, những người theo phe Pétain và những người theo de Gaulle lại đấu đá nhau ác liệt, khiến Toàn quyền Jean Decoux phải gắng sức đẩy những người gôlít (theo phe de Gaulle) ra khỏi bộ máy chính quyền Đông Dương. Trong khi Pétain và Decoux công khai thể hiện chính sách độc tài thì de Gaulle sát cánh vởi đại diện cánh tả và cánh trung, đảng cộng sản, đảng xã hội, đảng cấp tiến và dân chủ Công giáo. Sau khi chiến tranh kết thúc, Đô đốc Decoux đã có cuộc đụng độ ngắn với de Gaulle trong lần được de Gaulle tiếp tại Paris. Theo Decoux, Tướng de Gaulle cư xử "còn hơn cả lạnh lùng; phải nói là băng giá, đúng kiểu của "người kháng chiến số 1 của nước Pháp" tiếp một toàn quyền bình thường từng làm việc cho chế độ Vichy xấu xa"31. Lúc này, Moutet chưa chiếm được nhiều ảnh hưởng đối với chính sách thuộc địa của Pháp, nhưng các nhà tư tưởng tiến bộ trong Bộ Thuộc địa, dẫn đầu là một người có tư tưởng tự do, theo phe de Gaulle là Henri Laurentie, đang xây dựng phương án cải cách sâu rộng chế độ thuộc địa, biến "Đế quốc" thành "Liên hiệp", "các lãnh thổ được bảo hộ" thành "nước liên hiệp" và "thuộc địa" thành "lãnh thổ tự trị" hoặc "lãnh thổ tự quản"32.


Sự hợp tác của Decoux với Nhật Bản khiến de Gaulle gặp khó khăn trong việc thuyết phục Mỹ công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, trong khi de Gaulle không có cách nào gửi quân đến Đông Dương nếu không được quân Đồng minh cho mượn tàu biển. De Gaulle đành tìm cách bí mật gây dựng một phong trào kháng chiến trong số dân thường người Pháp và binh lính Pháp ở Đông Dương, dự định của de Gaulle, cũng như của Hồ Chí Minh là giúp đỡ quân Đồng minh khi Anh hoặc Mỹ sẵn sàng lấy lại Đông Dương từ tay Nhật. Khi biết tin Nhật tiến hành vụ đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945, de Gaulle lập tức có hành động ngoại giao, ông ta yêu cầu Đồng minh giúp "nhóm kháng chiến Pháp" tại Đông Dương, chuyển một lực lượng quân viễn chinh Pháp tới tham chiến với Nhật và yêu cầu Đồng minh công nhận chủ quyền của Pháp. Mỹ tỏ thái độ lừng khừng, xuất phát từ chính sách đã được biết đến từ lâu của Roosevelt là tuyệt đối không làm bất kỳ điều gì giúp Pháp ở Đông Dương. Khi đó de Gaulle bèn hỏi Đại sứ Mỹ Jefferson Caffery là Mỹ "muốn gì". Phải chăng Mỹ định đẩy Pháp tới chỗ trở thành "một trong những nước liên bang dưới sự bảo trợ của Liên Xô"33? Sau đó, những người Pháp không rơi vào tay quân Nhật và trốn được sang Trung Quốc đã nhận được một vài gói hàng tiếp tế muộn màng bằng đường không của Phi đội không quân 14 hoạt động tại Trung Quốc, dưới sự chỉ huy của tướng Mỹ là Claire Chennault.


Ngày 24 tháng Ba 1945, de Gaulle ra một tuyên bố của chính phủ đã được Bộ Thuộc địa chuẩn bị từ hơn một năm trước. Trong những người góp phần chuẩn bị tuyên bố này, có một vị quan chức xuất sắc về thuộc địa, đã phục vụ nhiệm kỳ đầu tiên ở Đông Dương trong những năm 1933-1936, tên là Léon Pignon. Bản tuyên bố này đã đặt nền móng cho chính sách Đông Dương của Pháp sau chiến tranh. Tuyên bố xác định mục tiêu thành lập một Liên bang Đông Dương gồm năm đơn vị, mỗi đơn vị được hưởng một mức độ tự chủ đáng kể34. Bản tuyên bố nói rằng Bắc Kỳ, An Nam, Nam Kỳ, Lào và Campuchia khác biệt nhau ở "văn minh, nòi giống và truyền thống". Một vị toàn quyền Pháp (chức vụ này về sau được đổi thành "cao ủy") sẽ đứng đầu liên bang và đóng vai trò "người phân xử cho tất cả"35. Tuyên bố ngày 24 tháng Ba ban đầu được coi là một tuyên bố mang tính chất tự do, và thực ra những lời bình luận đầu tiên của Việt Minh về tuyên bố này trong tờ báo bí mật lớn nhất khá tích cực36. Mặc dù vậy, hầu hết các bình luận viên về Việt Nam ở cả Đông Dương và Pháp đều phản đối tuyên bố này vì nó không công nhận sự thống nhất dân tộc của Việt Nam.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Chín, 2026, 10:13:30 pm
Khi biết tin Nhật đầu hàng ngày 15 tháng Tám 1945, de Gaulle bổ nhiệm sĩ quan tin cẩn của ông ta là Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, còn Đô đốc d'Argenlieu làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Leclerc đi trước để bảo đảm lực lượng chiếm đóng của Anh sẽ tôn trọng chủ quyền của Pháp và chỉ huy lực lượng Anh tại Sài Gòn, Tướng Douglas Gracey sẽ nhanh chóng chuyển giao trách nhiệm cho Pháp. D'Argenlieu cần nhiều thời gian chuẩn bị hơn vì phải tính toán để từng bước thực hiện tuyên bố ngày 24 tháng Ba. Như vậy là tại thời điểm de Gaulle từ chức ngày 20 tháng Giêng, để lại công việc nhà nước vào tay các chính trị gia, một bộ máy mang tính chất quân sự và trung thành với de Gaulle đã được thiết lập một cách vững vàng tại Đông Dương. Chính phủ mới của Pháp dưới sự lãnh đạo của đảng viên SFIO Félix Gouin (cầm quyền từ ngày 23 tháng Giêng tới ngày 12 tháng Sáu 1946) bận bịu với nhiều việc khác hơn là thay đổi bộ máy này và thay thế những người do de Gaulle bổ nhiệm tại các thuộc địa bằng những người khác. Điều này có nghĩa là đại diện của "nước Pháp mới" tại Đông Dương là hai sĩ quan cấp tướng có quan điểm kém tiến bộ hơn đa số chính trị gia trong chính quyền Pháp tại chính quốc. Ngay từ đầu, Leclerc và d'Argenlieu đã bị giằng xé giữa một bên là lòng trung thành với de Gaulle, lo ngại về thái độ phân biệt chủng tộc của người Pháp thực dân thời gian vừa qua bị người Nhật và người An Nam xử tệ và một bên là thái độ không mấy thiện cảm của họ đối với trào lưu tiến bộ và hiện đại hóa đang thịnh hành ở mẫu quốc lúc bấy giờ. Những người theo đường lối hiện đại hóa được sự ủng hộ của nhiều sĩ quan và viên chức dân sự trẻ đến Đông Dương sau khi Đức đầu hàng.


De Gaulle có ảnh hưởng lớn đối với chính sách đối ngoại của Pháp, làm lu mờ cả cựu lãnh đạo phong trào kháng chiến trung nước của Pháp là Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault. Bidault luôn luôn cảm thấy như mình sống trong cái bóng của ông tướng de Gaulle cao lớn, và về sau ông tiết lộ rằng ngày de Gaulle rời nhiệm sở là "ngày đẹp nhất" trong đời ông37. Đối với thế hệ sau, sự đối đầu giữa Bidault và de Gaulle giống như sự đối đầu giữa một người tí hon và một kẻ khổng lồ, và chắc chắn dù de Gaulle có thể nghĩ khác, nhưng không phải tất cả người Pháp đều ủng hộ de Gaulle, trái lại nhiều người vẫn có cảm tình với Bidault. Cũng như de Gaulle, Bidault không muốn làm một chính trị gia bình thường. Ông gánh vác một sứ mệnh của đất nước. Bidault ghét cay ghét đắng de Gaulle, và de Gaulle cũng vậy. Một bức ảnh nổi tiếng trên thềm chiến thắng sau khi chiếm lại được Paris vào tháng Tám 1944 thể hiện hình ảnh của vị tướng cao lớn sừng sững lấn át ông Bidault nhạt nhòa, người đã được lịch sự đề nghị bước sau de Gaulle một bước.


Trong khi de Gaulle phải đợi 12 năm tính từ tháng Giêng 1940 để nước Pháp lại cần đến ông, thì Bidault ngay lập tức giữ một trong những vị trí có ảnh hưởng nhất trong Đệ tứ Cộng hòa Pháp, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao từ tháng Chín 1944 tới tháng Bảy 1948 trừ một thời gian gián đoạn từ ngày 18 tháng Mười hai 1946 tới ngày 22 tháng Giêng 1947. Liên quan đến vấn đề trong cuốn sách này, khoảng thời gian gián đoạn này ngắn nhưng hết sức quan trọng. Khi de Gaulle còn tại vị, Bidault có rất ít quyền hành, nhưng khi Félix Gouin thay de Gaulle thì ngược lại, Bidault có quyền quyết định khá lớn. Tiếp theo, tháng Sáu 1946, Gouin từ chức giữa những trận tranh cãi nảy lửa về xây dựng Hiến pháp, Bidault nhậm luôn chức thủ tướng, đồng thời tiếp tục kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Như vậy, ông ta đã trở thành lãnh đạo chính trị quyền lực nhất nước Pháp lúc bấy giờ. Bidault là một tấm gương tiêu biểu cho sự nhất quán trong các quyết định về chính sách đối ngoại của Đệ tứ Cộng hòa. Người nào biết rằng nước Pháp có không ít hơn 25 chính phủ lên cầm quyền trong khoảng thời gian từ khi chính quyền de Gaulle thành lập năm 1944 tới khi de Gaulle quay trở lại nắm quyền năm 1958, thì hẳn phải lấy làm ngạc nhiên khi biết chỉ có một vài chính trị gia chủ chốt, đặc biệt là Georges Bidault và đảng viên Đảng Dân chủ Công giáo là Robert Schuman liên tục giữ vị trí Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng. Các chính phủ mà Bidault và Schuman tham gia đều phát triển những chiến lược nhất quán về cải cách kinh tế và hòa nhập châu Âu, nhất quán ngay cả trong những cố gắng thất bại để cải cách và duy trì Đế quốc Pháp38.


"Ngày đẹp nhất" trong đời Bidault, ngày 20 tháng Giêng 1946, cũng là ngày Marius Moutet trở lại Bộ Thuộc địa ở số 27 phố Oudinot. Bây giờ ông ta có một danh xưng mới: Bộ trưởng Hải ngoại. Trước đó một tháng, ông ta viết một vài bài báo theo chủ đề về Đông Dương trên tờ nhật báo của SFIO là tờ Nhân dân, tuyên bố rằng Pháp phải duy trì sự hiện diện trên cả châu Á và châu Phi, nhưng không được trái với ý nguyện của người dân bản địa. Nước Pháp đã cố gắng nhiều vì người dân Đông Dương, nhưng chưa đủ. Cần phải làm nhiều hơn nữa để cụm từ "chủ nghĩa thực dân" có một ý nghĩa tích cực39. Theo Moutet, để cho Mỹ hay Liên Xô cai trị cũng sẽ không tốt đẹp gì hơn chế độ thực dân của Pháp, đồng thời ông có quan điểm rõ ràng về hai vấn đề then chốt liên quan đến nguy cơ chiến tranh với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đó là thống nhất và độc lập. Hòa giọng với tuyên bố ngày 24 tháng Giêng của de Gaulle, ông cho rằng "các đặc điểm chính như địa lý, sắc tộc và chính trị của Đông Dương có tính chất đa dạng. Đông Dương bao gồm năm nước: Bắc Kỳ, An Nam, Campuchia, Lào và Nam Kỳ"40. Ông ta coi chính phủ cách mạng của Hồ Chí Minh là không có bất kỳ quy chế pháp lý nào, mặc dù ông ta cho rằng có thể đàm phán, thỏa thuận một số điểm với các nhà lãnh đạo Việt Minh, ông ta lên án Việt Minh dám đối đầu với chính quyền Pháp và dám "tự tin mà thành lập" một chính phủ: "Người ta không ngẫu hứng thành lập chính phủ, luật pháp và bộ máy hành chính ở một đất nước đa dạng, nơi dân chúng còn chưa có khả năng lựa chọn cái mình muốn trên cơ sở hiểu biết"41.


Lời phát biểu này cho phép chúng ta nhìn vào suy nghĩ của Moutet: ông ta cho rằng chủ nghĩa thực dân chính là việc khai hóa văn minh cho những dân tộc chưa được khai hóa. Ông phát triển ý tưởng này khi phát biểu trong một cuộc họp SF10 ở thành phố La Rochelle nằm trên bờ biển Đại Tây Dương của Pháp, tháng 1946: "Với tư cách một chiến sĩ của Đảng Xã hội, tôi kêu gọi phóng tầng lớp lao động. Ngày nay, tầng lớp lao động Pháp đã có phương tiện để tự giải phóng mình, vì đã giành được các quyền dân sự và chính trị. Nhiệm vụ của chúng ta hiện tại là mở rộng công cuộc giải phóng này bằng cách đấu tranh cho các dân tộc chúng ta có nghĩa vụ khai hóa và giúp đỡ. Tôi đã nguyện cống hiến cho sự cần thiết giải phóng và khai hóa họ ngay từ năm 1936 khi tôi là bộ trưởng trong Chính phủ Mặt trận bình dân"42.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 07:43:33 pm
Ý tưởng giáo dục các dân tộc khác được viết ngay trong lời nói đầu của Hiến pháp Pháp được thông qua trong cuộc trưng cầu ý dân ngày 13 tháng Mười 1946: "Trung thành với sứ mệnh truyền thống của mình, nước Pháp dự định dẫn dắt các dân tộc mà Pháp bảo hộ tới tự do quản lý đất nước của mình và tự giải quyết các công việc nội bộ một cách dân chủ"43. Trong bản hiến pháp đã mất rất nhiều thời gian soạn thảo này, ý tưởng khai sáng các dân tộc khác sao cho họ trở thành những dân tộc tự chủ và không loại trừ việc có thể độc lập được đặt song song với ý tưởng trái ngược là đồng hóa tầng lớp trên trong số người dân thuộc địa để có thể trao cho họ quyền công dân Pháp đầy đủ. Những cuộc tranh luận của người Pháp về vấn đề thuộc địa thường là những trận chiến giữa một bên là những người coi mối quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa là mối liên hệ giữa một nước phát triển và một số dân tộc và lãnh thổ kém phát triển, và một bên là những người coi mối quan hệ này là một chiếc cầu nối giữa mẫu quốc với các công dân của mình trên toàn thế giới. Mặc dù vậy, mâu thuẫn này không có ảnh hưởng gì lớn đối với quá trình cải cách thuộc địa sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhiều người cho là một số thuộc địa sẽ phát triển thành quốc gia độc lập, trong khi một số thuộc địa khác sẽ bị nhập vào lãnh thổ Pháp thông qua quá trình đồng hóa. Nếu các dân tộc thuộc địa đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn và ngay lập tức, thì chắc chắn không phe nào chấp nhận. Như vậy là năm 1946, nhà dân tộc chủ nghĩa Công giáo là Bidault và nhà khai sáng xã hội là Moutet thống nhất với nhau về những khía cạnh quan trọng nhất trong chính sách thuộc địa của Pháp.


Marius Moutet bị coi là một lãnh đạo yếu kém, phản bội lại nhưng mục tiêu của chính mình và của Đảng Xã hội hòa bình vì đã nhượng bộ ảnh hưởng của de Gaulle và vị đô đốc mà de Gaulle cử đến Đông Dương44. Điều này chỉ đúng một phần. Moutet dễ dàng bị người khác ảnh hưởng và e ngại những rủi ro chính trị. Mặc dù vậy, hai điều có lẽ sẽ thay đổi hình ảnh "lãnh đạo yếu kém" của Moutet. Thứ nhất, Moutet chưa bao giờ tỏ thái độ chống chủ nghĩa thực dân như nhiều người Pháp theo khuynh hướng xã hội trong những năm 1946-1947, ví dụ như vị tổng thư ký trẻ của SFIO là Guy Mollet. Moutet chưa bao giờ mong muốn nhượng bộ đòi hỏi độc lập và thống nhất của Việt Nam, và thực tế là Moutet ủng hộ nội dung cơ bản trong chính sách của Cao ủy d'Argenlieu theo phe de Gaulle. Do vậy, hành động của Moutet thực chất là nhất quán với quan điểm của ông ta hơn là người ta nghĩ. Thứ hai, không phải chỉ có cách thức lãnh đạo của Moutet là yếu kém. Vị trí của ông ta trong hệ thống ra quyết định mà de Gaulle đã tạo ra cho Đông Dương cũng kém nữa. Theo hệ thống này thì Bidault là người có nhiều quyền hành, chứ không phải là Moutet.


Bộ trưởng Hải ngoại Pháp chịu trách nhiệm trực tiếp đối với hầu hết các lãnh thổ hải ngoại của Pháp, nhưng riêng đối với Đông Dương thì không. Moutet muốn đích thân lãnh đạo chính sách của Pháp đối với Đông Dương - bộ trưởng nào mà chả muốn có thực quyền, nhưng theo một sắc lệnh ngày 21 tháng Hai 1945, de Gaulle đã thành lập một cơ quan độc lập để điều phối việc chiếm lại Đông Dương, đó là Ủy ban liên bộ về Đông Dương (Cominindo). Cũng giống de Gaulle, Gouin và Bidault đều nắm Cominindo và đích thân làm Chủ tịch ủy ban. Tuy nhiên, Gouin để cho Moutet quết định một cách thực sự, trong khi Bidault, cũng giống như de Gaulle, thì muốn nắm quyền sinh quyền sát trong chính sách của Pháp đối với Đông Dương45. Thành viên của Cominindo gồm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault, Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Edmond Michelet, Bộ trưởng Bộ Không quân Charles Tillon, Bộ trưởng Bộ Tài chính Robert Schuman, Tổng tư lệnh - Tướng Alphonse Juin và Cục trưởng Cục Tình báo Henri Ribière. Trong Cominindo Moutet là người duy nhất theo SFIO, còn Tillon là người duy nhất theo PCF. Ba người được bổ nhiệm còn lại theo Đảng Thiên Chúa giáo, quan điểm của họ thường chiếm ưu thế trong ủy ban Cominindo có quyền triệu tập những người có mặt tại các cuộc họp và điều này cho phép Bộ trưởng Không bộ là Alexandre Varenne một chính trị gia cấp tiến đã từng là Toàn quyền Đông Dương từ năm 1925 đến 1927, giữ chức Chủ tịch Liên minh bảo vệ thành quả của Pháp tại Đông Dương gần như lúc nào cũng có mặt trong các cuộc họp của Ủy ban. Cominindo có trụ sở ở Bộ Chiến tranh, số 16 phố St. Dominique. Nhiều nhất cũng chỉ có 26 người làm nhân viên tại đây, văn phòng Ủy ban do một chánh văn phòng đứng đầu, đây là người hiểu biết nhiều về những diễn biến hằng ngày tại Đông Dương hơn bất kỳ ai khác trong Bộ Hải ngoại. Các ngành khác của chính phủ có liên lạc trực tiếp với Sài Gòn thì chỉ có Bộ Tham mưu của Tướng Juin và Cục Tình báo của Ribière.


Tất cả các đường dây liên lạc dân sự đến và đi từ Đông Dương đều phải qua văn phòng Cominindo. Chánh văn phòng quyết định chuyển thông tin đến các bộ, tổ chức các cuộc họp hằng tuần gồm các đại diện từ các bộ liên quan để tham mưu cho các bộ trưởng và triệu tập đích thân các bộ trưởng khi cần ra những quyết định quan trọng. Dưới thời de Gaulle, François de Langlade giữ chức vụ này, ông ta là một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm về Đông Dương và sở hữu trang trại ở Malaixia thuộc Anh. Năm 1946, sau một thời kỳ chuyển tiếp với một chánh văn phòng không để lại chút dấu ấn nào trong chính sách của Pháp, một người trẻ tuổi tên là Pierre Messmer nhậm chức Chánh văn phòng46. Mặc dù theo phái de Gaulle hơn là theo cánh tả, ông ta là một đại diện tiêu biểu của nước Pháp mới, sẵn sàng thay đổi để thích ứng với những thay đổi của thời đại mới. Về sau, Messmer trở thành Thủ tướng Pháp từ năm 1972 đến 1974. Sau khi Nhật đầu hàng vào tháng Tám 1945, de Gaulle đã bổ nhiệm Messmer làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ với mong muốn Messmer sẽ đối phó với quân Tưởng chiếm đóng để bảo vệ lợi ích của Pháp, nhưng Messmer đã bị Việt Minh bắt ngay khi vừa nhảy dù xuống Bắc Kỳ và bị cầm tù cho đến khi ông ta trốn thoát. Trong khi đó, một thương gia trẻ tên là Jean Roger, con rể của vị toàn quyền quan trọng thứ hai trong tất cả các toàn quyền Pháp tại Đông Dương - Albert Sarraut (1911-1914, 1917-1919), có mật danh dùng trong thời kỳ kháng chiến của Pháp là Jean Sainteny, đã tự ý đảm nhiệm vai trò mà de Gaulle giao cho Messmer. Trước đó, Sainteny lãnh đạo một tổ tình báo Pháp ở nam Trung Quốc. Ông ta đến Hà Nội bằng máy bay Mỹ. Tháng Chín 1945, Sainteny được Hồ Chí Minh tiếp và từ đó trở đi, giữa hai người có một mối quan hệ kéo dài suốt đời họ, mối quan hệ mà Hồ Chí Minh đã khéo léo chuyển thành tình bạn. Sainteny có được sự ủng hộ của mộl người theo SFIO tên là Louis Caput, một nhân vật lai lịch không rõ ràng tên là Jacques Bousquet và một quan chức thuộc địa giàu kinh nghiệm là Léon Pignon. Léon Pignon đến Hà Nội sau khi soạn thảo tuyên bố ngày 24 tháng Ba 1945 đế làm trợ lý cho Tướng Marcel Alessandri, chỉ huy quân Pháp trốn từ Bắc Kỳ sang Trung Quốc trong khoảng thời gian từ tháng Ba đến tháng Tư 1945. Pignon có vẻ thích giữ một vai trò hậu trường khiêm tốn khi giúp Sainteny. Có lẽ nhiệm vụ của ông ta là bảo đảm Sainteny đi theo đúng chủ trương, đường lối của Pháp. Sau một thời gian cân nhắc, Chính phủ Pháp tại Paris chính thức bổ nhiệm Sainteny làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc An Nam, chức vụ đáng lẽ dành cho Messmer nếu ông ta không bị Việt Minh bắt. Bất chấp kinh nghiệm không mấy vui vẻ này, Messmer cũng không trở thành một người khắc nghiệt. Trước khi quay trở về nhậm chức Chánh văn phòng Cominindo, ông ta viết một bài báo ủng hộ chính sách tự do ở Đông Dương, thậm chí bày tỏ "sự thấu hiểu" những lập luận của Việt Nam về thống nhất hai miền Nam Bắc và kêu gọi Pháp giữ quan điểm trung lập, để cho người dân tai Đông Dương có thể tự quyết định47. Tháng Tư năm đó, Messmer làm giới chức Pháp khó chịu khi xưng hô "cậu - tớ" và cho phép Tướng Giáp làm như vậy khi họ chuyện phiếm với nhau trong phiên đàm phán Pháp - Việt tại Đà Lạt, một thành phố cao nguyên miền Trung"48.


Chánh văn phòng Cominindo giữ một vai trò trung tâm, nhưng không phải là một vai trò quyền lực. Các chính trị gia mới là người quyết định, còn nếu họ không quyết định thì các quan chức tại Sài Gòn sẽ quyết định thay cho các quan chức tại Paris. Chánh văn phòng trẻ tuổi Messmer không thể buộc Sài Gòn phải thực hiện một chính sách nào đó mà không có căn cứ là một quyết định chính thức của Cominindo, thế nhưng trong thời gian Gouin và Bidault làm Chủ tịch Cominindo, dường như Cominindo cố tránh không đưa ra quyết định. Khi Cominindo ra quyết định thì hầu như chỉ là quyết định phê duyệt những điều Cao ủy tại Sài Gòn đã làm. Gouin và Bidault đều bận rộn vì việc khác tới mức họ không thể theo dõi sát sao được tình hình Đông Dương. Đồng thời, Bidault có vẻ muốn để Cao ủy tự hành động hơn là để Bộ trưởng Hải ngoại dẫn dắt chính sách của Pháp.


Lý do chính thức để thành lập Cominindo năm 1945 là Bộ trưởng Thuộc địa không thể kiểm soát những hành động quân sự để tái chiếm Đông Dương49. Khi Pháp đã chiếm lại được nửa phía nam của Đông Dương và Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 với Hồ Chí Minh đã được ký, Cominindo không còn nhiều lý do để tồn tại, và Bộ Hải ngoại của Moutet làm thay một vài chức năng của Comimndo. Tháng Chín 1946, số nhân viên của Cominindo bị giảm xuống còn 17 người. Tuy vậy, Cominindo vẫn được duy trì và văn phòng thư ký của Cominindo tại Bộ Chiến tranh tiếp tục là trung tâm liên lạc chính thức giữa Paris và Sài Gòn. Về sau, Moutet tuyên bố rằng hệ thống liên bộ đã đưa đến một "sự xé lẻ trách nhiệm có tác động tiêu cực đối với việc quản lý hành chính tốt". Ông ta thấy mình bị tước khả năng thực hiện các chức năng bình thường và "các phương tiện hành động mà đáng lẽ ông ta phải có"50. Một khi ngay cả Thủ tướng cũng không chủ động sử dụng quyền lực của mình, tác dụng chính của Cominindo chỉ còn là củng cố quyền tự chủ của Cao ủy tại Sài Gòn.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 07:47:19 pm
LIÊN BANG NGŨ GIÁC


Đô đốc George Thierry d'Argenlieu, Cao ủy Pháp tại Đông Dương từ tháng Tám 1945 tới tháng Hai 1947 không được sinh ra hay nuôi dạy để làm chính trị trong thế kỷ XX. Ông ta có những kiểu cách quý tộc, những bài diễn văn khoa trương, ưa thích những nguyên tắc lễ nghi cứng nhắc. Phải khó khăn lắm ông ta mới che giấu được thái độ khinh bỉ đối với các chính trị gia kế nhiệm người hùng de Gaulle của ông ta. Những đặc điểm đó biến d'Argenlieu thành người đi đầu vận động chủ trương không khoan nhượng của Pháp đối với Việt Nam trong con mắt của những người quan sát đương thời cũng như của các nhà sử học sau này. D'Argenlieu thuộc về nước Pháp mới chỉ ở chỗ các nguyên tắc của ông ta đi theo kim chỉ nam của de Gaulle, và chắc chắn ông ta chịu phần lớn trách nhiệm về những chính sách dẫn đến chiến tranh Đông Dương, nhưng đồng thời ông ta cũng là vật tế thần cho những hành động và không hành động của Bidault.


D'Argenlieu đã phục vụ trong Hải quân Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, sau đó trở thành một thầy tu ở tu viên Carmelite trong thời gian giữa hai cuộc chiến. Năm 1939, ông được động viên sĩ quan dự bị, rồi sau đó dần dần leo lên chức vụ Cao trong lực lượng hải quân Nước Pháp Tự do của de Gaulle, ông ngưỡng mộ de Gaulle tới mức de Gaulle có thể tuyệt đối tin tưởng ở lòng trung thành của ông ta. Điều này trở thành vấn đề khi de Gaulle từ chức. Như bất kỳ ai đã đọc cuốn sách của d'Argenlieu được xuất bản sau khi ông qua đời, đó là cuốn Chronique d'Indochine (1985), ông ta tiếp tục coi de Gaulle, chứ không phải các chính trị gia theo đảng phái tạm thời nắm giữ các chức vụ trong chính phủ tại Paris, là hiện thân của nước Pháp. Năm 1947, d'Argenlieu trở lại tu viện.


Phía Việt Nam thấy ở d'Argenlieu một tên thực dân phản động điển hình. Ông Giáp mô tả ông ta là một "tu sĩ bị lột áo", với "đôi mắt nhỏ, gian xảo ẩn dưới cái trán nhăn nheo và đôi môi mỏng dính". Sau một thời gian tiếp xúc với d'Argenlieu, Tướng Giáp nhớ đến ông ta như "một kẻ cáo già, xảo quyệt, kiêu ngạo và ti tiện"51. Ở Pháp có người cho rằng d'Argenlieu sở hữu một trong những bộ óc xuất sắc nhất của thế kỷ XX. Tướng Jean-Etienne Valluy, người kế nhiệm Tướng Leclerc làm chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông từ tháng Bảy 1946 mô tả d'Argenlieu một cách bao dung hơn, như là một người "hoàn toàn không kiêu ngạo, mặc dù hơi nghiêm túc và xa cách". D'Argenlieu là một trong những người mà sức mê hoặc của Hồ Chí Minh không tác động đến được. Tại một cuộc gặp giữa họ, Hồ Chí Minh nói: "Đô đốc thân mến, tôi kêu gọi những tình cảm Công giáo của ngài...". Vị tu sĩ cắt ngang lời Người: ''Thưa ngài Chủ tịch, xin lỗi ngài, nhưng chúng ta ở đây để thảo luận những vấn đề nghịêm túc". Vấn đề nghịêm túc nhất mà d'Argenlieu có thể tưởng tượng là Liên bang Đông Dương. Valluy về sau tuyên bố rằng d'Argenlieu hết sức say mê ý tưởng "ngũ giác Liên bang Đông Dương" gồm năm thành viên, như mô tả trong tuyên bố chính phủ của de Gaulle ngày 24 tháng Ba 194552.


Trong suy nghĩ của d'Argenlieu, Liên bang Đông Dương sẽ được quản lý bởi một hội đồng gồm 10 đại diện của Pháp và 10 đại diện từ mỗi nước thành viên53. Quyền hành chính của hội đồng liên bang là biểu quyết về ngân sách liên bang, quyết định về thuế và thông qua các đạo luật do chính phủ liên bang đề xuất. Chính phủ liên bang này sẽ do chính Cao ủy lãnh đạo, với sự hỗ trợ của các ủy viên có chức năng như các bộ trưởng của một nước độc lập. Sẽ có ủy viên chính trị, tài chính, ngoại giao, tư pháp, giáo dục, thông tin, v.v... Các ủy viên này hằng tuần sẽ họp nội các dưới sự chủ tọa của Cao ủy, với tư lệnh trưởng (Leclerc, sau đó là Valluy) làm phó54. Các ủy viên cần phải nắm tất cả các ngành quan trọng của chính phủ: quân đội, cảnh sát, thuế quan, bưu điện, đài phát thanh, v.v... với cấu trúc này thì các nước thành viên chẳng còn mấy quyền lực, nhưng d'Argenlieu muốn ký các thỏa thuận bằng văn bản với từng nước thành viên để xác định vị trí của nước đó trong Liên bang. Đặc biệt, ông ta sốt ruột muốn gây dựng một Nam Kỳ tự trị, vì Nam Kỳ có nền kinh tế phát triển nhất và nhiều kiều dân Pháp sinh sống nhất, ở Nam Kỳ, một số nhất định người bản địa giàu và có học vấn cao đã được cấp quyền công dân Pháp qua quá trình đồng hóa. Ngay sau khi chính phủ cách mạng bị đẩy ra khỏi các tòa nhà công cộng ở Sài Gòn ngày 23 tháng Chín 1945, đã nổi lên vấn đề sắp đặt quan hệ hợp tác một cách có hệ thống giữa người Pháp thường trú và người bản địa. Tuyên bố ngày 24 tháng Ba nói rằng chính quyền địa phương của mỗi nước trong số năm nước Đông Dương cần phải được cải cách và phát triển đồng thời cần mở rộng cơ hội bổ nhiệm cho tất cả mọi công dân. Về Pháp, những người thân cận nhất với cựu Toàn quyền là Tướng Decoux thuộc chính phủ Vichy phải quay về Pháp, nhưng những người có thể khoe là có một vài hành động "kháng chiến" đều được chào đón ở lại Đông Dương phục vụ với tư cách nhân viên, cùng với các quan chức trẻ mới từ Pháp sang.


Năm 1939, số nhân viên dân sự Pháp ở Đông Dương là khoảng 3.500 người, nhưng con số này năm 1946 đã lên tới 14.00055. Một trong những nguyên nhân của việc tăng nhân viên dân sự Pháp là đội ngũ quan chức cũ đã bị cách mạng quét đi và một nguyên nhân khác là nhiều người Việt có học thức đi theo Việt Minh. D'Argenlieu thường xuyên phàn nàn về tình trạng thiếu người56. Những kiều dân Pháp và một số người Việt Nam thuộc tầng lớp trên trong xã hội cùng nhau lập ra một hội đồng cố vấn. Người đứng đầu bên Việt Nam là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, Chủ tịch Đảng Dân chủ (khác với Đảng Dân chủ thuộc phe Việt Minh), một người kịch liệt chống đối cách mạng và có ảnh hưởng lớn đối với giới địa chủ bản địa giàu có. Mặc dù vậy, khó có thể nói là ông ta lôi kéo được các nhóm khác thuộc tầng lớp trên ở Nam Kỳ tham gia hội đồng của mình, vì họ sợ bị dán nhãn "theo Tây". Thế nhưng ngày 12 tháng Hai 1946, hội đồng cố vấn vẫn chính thức thành lập, gồm bốn người Pháp và tám vị "thân hào". Các thành viên người Pháp muốn biến Nam Kỳ thành một "quận hải ngoại" của Pháp, trong khi các thành viên người Nam Kỳ muốn Nam Kỳ có quyền tự trị57. Nhân viến pháp cả cũ lẫn mới, cũng như một số người bản địa đã được cấp quyền công dân Pháp đều cảm thấy lo sợ trước viễn cảnh Nam Kỳ bị nhập vào Việt Nam. Họ cũng lo sợ những thay đổi xã hội mà chủ nghĩa cộng sản có thể đưa đến.


Có lần người ta đã hỏi Hồ Chí Minh về quan điểm của Người đối với việc thành lập Liên bang Đông Dương. Ông trả lời rằng Việt Nam sẵn sàng chấp nhận một liên bang mang tính chất cơ bản là kinh tế, nhưng kiên quyết ngăn chặn âm mưu thiết lập lại chế độ Toàn quyền Pháp tồn tại trước chiến tranh dưới vỏ bọc liên bang58. Đây đúng là sự mô tả khá chính xác mục đích của d'Argenlieu, mặc dù có một khác biệt quan trọng giữa Toàn quyền trước chiến tranh và Cao ủy sau chiến tranh: trước chiến tranh thì Cominindo do Bộ trưởng Hải ngoại làm Chủ tịch, trong khi theo thiết kế mới thì Cominindo do Thủ tướng làm Chủ tịch, do đó Cao ủy độc lập với Paris hơn là Toàn quyền trước kia.


De Gaulle từ chức tháng Giêng 1946 là một cú sốc đối với hầu hết người Pháp ở Đông Dương59. Họ cảm thấy dường như vị tướng de Gaulle bỏ rơi đội quân của mình trước khi họ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng tất cả các lãnh thổ của Pháp. D'Argenlieu và Leclerc đã đi được một phần lớn chặng đường. Chính phủ cách mạng ở Campuchia đã bị kiềm tỏa, khiến cho vị vua trẻ Norodom Sihánouk giờ đây lại một lần nữa có thể nhận được những lời khuyên tốt từ phía Pháp. Nam Kỳ và Nam An Nam đã bị chiếm lại, đa số người tham gia khởi nghĩa đã bị bắt, bị giết. Tuy Pháp mới chiếm lại được phần cực nam của Lào, phần còn lại vẫn bị Tưởng chiếm đóng, nhưng Pháp có lý do để tin rằng quan hệ truyền thống của họ với vua Luổng Phạ Bang sẽ giúp họ lập lại sự hiện diện ở Trung và Bắc Lào. Tình hình Bắc Kỳ và Bắc An Nam đang bị Tưởng chiếm gây nhiều lo ngại hơn. Thậm chí, ngày 6 tháng Giêng 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức cuộc bầu cử được gọi là bầu cử toàn quốc và người Pháp tại Sài Gòn lo ngại rằng một chính phủ không có de Gaulle có lẽ sẽ không đủ mạnh để chiếm lại Bắc Đông Dương và đẩy quân Tưởng về nước. Liệu một chính phủ do đảng viên SFIO Félix Gouin đứng đầu có đủ mạnh và đủ quyết tâm để hoàn thành nhiệm vụ tế nhị là lập lại sự hiện diện của Pháp ở một đất nước mà phong trào cách mạng đang sôi sục, vừa bị Tưởng chiếm đóng lại vừa bị những người cộng sản dân tộc kiểm soát? Pháp phải chiến đấu trên ba mặt trận: đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chuẩn bị hành động quân sự và đàm phán với Tưởng.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:14:27 pm
Chương 2
CÁI BẪY CỦA TƯỞNG


Mùa thu năm 1946, trước khi thế giới nghe nói tới cuộc khủng hoảng là nguồn gốc của chiến tranh Đông Dương, Thủ tướng Inđônêxia là Sutan Sjahrir phàn nàn với lãnh sự Pháp ở Jakarta về những chính sách hẹp hòi của Hà Lan và Anh đối với Indônêxia. Hà Lan và Anh đã huy động lực lượng để ngăn cản Inđônêxia giành độc lập. Sjahrir cho rằng Hà Lan và Anh cần học theo tấm gương của Pháp, ông ta ao ước được ở vào vị trí của Hồ Chí Minh, người có đối tác là các quan chức Pháp sáng suốt đến thế, thái độ "tử tế" và "cảm thông" đến thế. Không còn nghi ngờ gì nữa, Cao ủy Pháp d'Argenlieu đúng là một "thiên tài". Làm sao trông mong Hà Lan cử tới Inđônêxia một người nhìn xa trông rộng, có đầu óc cởi mở như d'Argenlieu? Như Sjahrir nói, điều đó khác nào "hái sao trên trời", nhưng ít nhất người ta cũng phải phái đến ai đó có một chút "thiện chí" tối thiểu chứ!1


Ngày nay nhiều người đã quên rằng năm 1946, trong một khoảng thời gian ngắn, Pháp đã được coi là hình mẫu cho công cuộc giải phóng dân tộc ở châu Á2. Nguyên nhân là Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 ký tại Hà Nội với sự chứng kiến của các quan sát viên Anh, Mỹ và Trung Quốc đã mở ra một thời kỳ hòa dịu ngắn ngủi giữa Pháp và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và tạo điều kiện cho Hồ Chí Minh công du đến Pháp với tư cách một chính khách cấp cao vào mùa hè năm 1946.


HIỆP ĐỊNH NGÀY 6 THÁNG BA


Trong Hiệp định này, Pháp đã nhượng bộ ở ba điểm quan trọng. Thứ nhất, Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một đất nước tự do có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính riêng, mặc dù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được nhập vào Liên bang Đông Dương, rồi Liên bang Đông Dương sẽ trở thành một thành viên của Liên hiệp Pháp. Thuật ngữ "tự do" là một thỏa hiệp giữa đòi hỏi "độc lập" của Việt Nam và đề nghị dùng khái niệm "tự chủ" hoặc "tự trị" của Pháp, như vậy vấn đề "hoàn toàn độc lập" phải đợi đến tương lai mới được giải quyết. Nhượng bộ thứ hai là cam kết tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân để giải quyết câu hỏi có thống nhất hay không ba miền Bắc Kỳ, An Nam và Nam Kỳ (còn được gọi là các "kỳ", hay các "bộ" của Việt Nam)3. Nhượng bộ thứ ba là chấp nhận nêu trong một phụ lục về quân sự rằng số quân Pháp có mặt ở phía bắc vĩ tuyến 16 sẽ giới hạn ở 15.000 người trong một khoảng thời gian 5 năm. Phụ lục quân sự này được đàm phán trong đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng Ba và ngày hôm sau được ký đồng thời với Hiệp định, nêu rõ số quân Pháp được phép đóng ở từng địa phương. Phụ lục này bị Chính phủ Pháp phản đối dữ dội khi tin tức về nội dung Hiệp định được chuyển đến Pháp ngày 12 tháng Ba. Trên đây thực sự là những nhượng bộ quan trọng, và nếu như trên thực tế Pháp tôn trọng chúng thì hẳn Pháp đã xứng với những lời ca ngợi người ta dành cho.


Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba - một văn bản là đối tượng thảo luận và trình bày trong hầu như tất cả sách báo viết về các cuộc chiến tranh ở Việt Nam - thường được coi như là biểu hiện của chính sách ôn hòa tạm thời của Pháp mà về sau Pháp đã từ bỏ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Điều này dựa trên giả thiết rằng Pháp đã thật lòng thỏa hiệp như vậy vì nhận ra một cuộc chiến tranh kéo dài với phong trào kháng chiến Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo sẽ rất tai hại. Người ta cho rằng lúc này những người thực dụng như Jean Sainteny, trưởng đoàn đàm phán ở Hà Nội và Tướng Philippe Leclerc, chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, theo đuổi chính sách thỏa hiệp với sự ủng hộ của Bộ trưởng Bộ Hải ngoại là Marius Moutet, bất chấp sự phản đối của Cao ủy d'Argenlieu và phe chủ chiến. Người ta cũng vẫn nghĩ rằng Sainteny và Leclerc là những người có công lớn trong việc đạt được thỏa thuận trong Hiệp định4.


Mặc dù vậy, đáng buồn là Hiệp định không phải là kết quả của sự lên ngôi tạm thời của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa thực dụng hay chính sách ôn hòa nào. Dưới con mắt của Leclerc, Sainteny đàm phán ở Hà Nội chỉ với mục đích tạo vỏ bọc ngoại giao để quân Pháp có thời gian triển khai chiếm đóng miền Bắc. Leclerc thấy rất cần có Hiệp định để ngăn chính phủ Hồ Chí Minh rời thủ đô Hà Nội, rút về các căn cứ du kích ở miền núi và bắt đầu chiến tranh du kích trong khi quân Pháp chưa kịp triển khai, vì nếu vậy thì Pháp sẽ phải tiến hành một chiến dịch kéo dài và tốn kém. Leclerc không thấy cần phải ký hiệp định với Hồ Chí Minh trước khi quân Pháp đổ bộ. Ông ta muốn trình diễn sức mạnh với hy vọng Hồ Chí Minh sẽ phải chấp nhận ký một hiệp định theo các điều kiện của Pháp. Ý định ban đầu của Leclerc là tung lực lượng đổ tái chiếm đóng quân sự với sự giúp đỡ của Tàu Tưởng, rồi sau đó mới ép Hồ Chí Minh phải quy phục. Nhưng trên thực tế, Pháp đã rơi thẳng vào bẫy của Tàu Tưởng. Phía Tưởng không chấp nhận cho bất kỳ lính Pháp nào đổ bộ nếu Pháp chưa ký được thỏa thuận với Hồ Chí Minh. Thậm chí phía Tàu Tưởng còn dọa sử dụng hành động quân sự để ngăn chặn Pháp đổ bộ và thực tế đã bắn vào tàu Pháp khi chúng đến. Quân Pháp trên tàu đang rất cần nước ngọt, và trong bối cảnh này, Pháp không thể quay lái về Nam, từ bỏ cuộc xâm lược vì như thế thì quá đỗi mất mặt. Chính vì vậy, Tàu Tưởng đã ép Leclerc phải đạt được một thỏa thuận có thể nói là bằng mọi giá trước khi quân Pháp đổ bộ. Thực sự là Pháp và Việt Nam bị Tàu Tưởng buộc phải hòa hoãn5.


Hiệp định sơ bộ là kết quả của một số vòng đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, trên cơ sở các cuộc trao đổi từ ngày 1 tháng Mười hai 1945 trở đi6. Các cuộc trao đổi đó diễn ra trong bối cảnh một vỏ kịch quyền lực gồm ba nhân vật. Điều kiện rút quân của Tàu Tưởng là Pháp phải nhượng một số quyền cho Tàu Tưởng Pháp thì muốn tái lập sự hiện diện của mình mà không bị mất quá nhiều đặc quyền vào tay nước Việt Nam. Và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì muốn thoát khỏi sự chiếm đóng của Tàu Tưởng, đồng thời muốn được Pháp công nhận. Cả phía Việt Nam và phía Pháp đều đặt cược lớn vào canh bạc này và sẵn sàng nói chuyện với nhau bằng vũ lực, nhưng đều muốn tránh đối đầu vũ trang với Tàu Tưởng. Tàu Tưởng quyết tâm không cho phép chiến tranh nổ ra chừng nào quân Tàu Tưởng còn ở Việt Nam, đồng thời lợi dụng sự chiếm đóng tạm thời của họ để thu lợi nhiều nhất có thể được. Cho tới ngày 28 tháng Hai, Pháp đồng thời đàm phán với Tàu Tưởng tại Trùng Khánh và với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hà Nội. Vào thời điểm này, trong khi Tàu Tưởng chưa chính thức đồng ý để Pháp quay lại Bắc Đông Dương, Leclerc rất cần đạt được một thỏa thuận với Hồ Chí Minh để có thể đổ bộ xuống miền Bắc mà không bị Việt Nam chống trả. Do vậy, ông ta vận động Chính phủ Pháp đưa ra những lời hứa hẹn mới, thậm chí lấp lửng cả lời hứa trao trả độc lập cho Việt Nam. Mặc dù vậy, ngày 28 tháng Hai 1946, tại Trùng Khánh, Tàu Tưởng đã ký một hiệp định chuyển trách nhiệm chiếm đóng Bắc Đông Dương từ tay Tàu Tưởng sang tay Pháp. Thậm chí hiệp định này còn quy định rằng quân Pháp có thể đến vào nửa đầu tháng Ba. Chiến thắng ngoại giao này là cơ sở để tại Sài Gòn, Leclerc và d'Argenlieu quyết định ngay lập tức tổ chức một chiến dịch quân sự, đưa 21.000 quân ra Bắc bằng tàu biển, nhằm đổ bộ vào Hải Phòng và chiếm lại "phần lãnh thổ cuối cùng" mà Pháp chưa lấy lại được sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Lúc này Pháp cho rằng cứ việc đổ bộ mà không cần phải thỏa thuận điều gì với Hồ Chí Minh, vì đinh ninh là quân Tưởng ở phía Bắc sẽ ủng hộ việc Pháp chiếm lại Bắc Đông Dương. Thế nhưng Tàu Tưởng không muốn bị kẹt trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt nên đặt điều kiện rút quân là trước hết Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký một thỏa thuận. Đồng thời, Tàu Tưởng cũng dàn xếp một cuộc hòa giải giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập để thiết lập chính phủ liên hiệp ngày 2 tháng Ba. Như vậy là, dưới sự giám sát chặt chẽ của các sĩ quan Tàu Tưởng, hai bên đàm phán Pháp và Việt Nam đạt được thỏa thuận ngày 6 tháng Ba tại Hà Nội trong khi Leclerc đã đưa tàu vào Hải Phòng với quân Pháp súng ông kè kè. Mãi cho tới đêm mùng 5, rạng ngày 6 tháng Ba, Sainteny và Hồ Chí Minh mới đạt được thỏa thuận và đến cuối chiều ngày 6 tháng Ba, họ mới ký thỏa thuận này cùng với người đứng đầu một trong các đảng phái Việt Nam thân Tưởng là Vũ Hồng Khanh. Trước đó bốn ngày, Quốc hội Việt Nam thành lập và công nhận Chính phủ liên hiệp, ông Khanh trở thành Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc kháng chiến do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch. Theo quan điểm của Tướng Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phe đối lập rất cần phải chia sẻ trách nhiệm trong thỏa hiệp của họ với Pháp. Cả phía Pháp và phía Việt Nam đều hành động dưới sự ép buộc. Yếu tố ép buộc này và bối cảnh đàm phán phức tạp được thể hiện trong các nguồn tài liệu của Anh, Pháp và Mỹ, nhận xét mang tính kinh điển của Philippe Devillers, phân tích mới đây của Frédéric Turpin và ba tác phẩm quan trọng khác, một trong số đó dựa trên các nguồn của Trung Quốc. Không may là tác giả cuốn sách này đã không có cơ hội tiếp cận các tài liệu của phía Việt Nam có thể làm sáng tỏ chi tiết cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh để tồn tại về chính trị trong cuộc khủng hoảng từ tháng Hai đến tháng Ba này. Câu chuyện về những mối quan hệ phức tạp giữa Hồ Chí Minh với Sainteny, các quan chức Quốc dân Đảng đại diện cho lực lượng chiếm đóng của quân đồng minh, đại diện các đảng phái Việt Nam, thân Trung Quốc và chính các lãnh đạo cao cấp của Việt Minh vẫn chỉ được viết lại dưới con mắt của phía Việt Nam7.


Để hiểu được hoàn cảnh và lý do của Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, xuất phát điểm tốt nhất không phải là những điều Pháp vẽ ra về việc cải cách chế độ thực dân, mà là ham muốn - quả vậy Pháp coi điều này là hết sức cần thiết - xác lập lại chủ quyền của Pháp và chiếm lại trên thực địa phần lãnh thổ cuối cùng thuộc về đế quốc Pháp trước chiến tranh.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:24:42 pm
CHIẾN DỊCH BỂN TRE

Mật danh của chiến dịch tái chiếm Bắc Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 là Chiến dịch Bến Tre (Bến Tre là tên của thị xã và tỉnh nằm ở cửa sông Mê Công, phía nam Sài Gòn). Khi Sainteny ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh chín giờ sau khi những toán quân đầu tiên của lực lượng chiếm đóng Pháp tiến vào cảng Hải Phòng bằng tàu biển và bị quân Tưởng xả súng bắn, mục đích trước mắt của Pháp là ngăn ngừa sự bùng nổ của một cuộc chiến tranh quốc tế. Pháp không muốn có chiến tranh vào ngày này. Nếu không có hiệp định đó, các sách lịch sử hẳn đã phải viết lại rằng chiến tranh Đông Dương bắt đầu ngày 6 tháng Ba 1946, khi mà Tàu Tưởng trực tiếp đứng về phía Việt Nam chống lại Pháp.


Pháp đã chuẩn bị Chiến dịch Bến Tre từ nhiều tháng trước đó tại Phòng Ba Sở Chỉ huy của Tướng Leclerc8, nhưng không hề báo cho Đô đốc Anh là Huân tước Mountbatten. Hầu hết quân Anh tại Đông Dương đã rời đi hồi cuối tháng Giêng cùng với chỉ huy của mình là Tướng Douglas Gracey, nhưng một "lực lượng liên quân" nhở của Anh vẫn ở lại Sài Gòn, và về mặt chính thức, với tư cách chỉ huy cao nhất của quân Đồng minh tại Đông Nam Á, Mountbatten vẫn chịu trách nhiệm trước Bộ Tổng Tham mưu kết hợp của Anh và Mỹ về việc chiếm giữ Bắc Đông Dương. Tất nhiên, Pháp cũng không thông báo về chiến dịch này cho Tướng Lư Hán, người chịu trách nhiệm trước quân Đồng minh về việc chiếm giữ miền Bắc.


Cha đẻ của Chiến dịch Bến Tre là Trung tá Jean Lecompte. Kế hoạch của ông ta không chỉ được Leclerc phê duyệt, mà còn được đích thân Cao ủy d'Argenlieu chấp thuận trước khi được thông qua tại một cuộc họp của Cominindo tại Paris, ngày 20 tháng Hai 1946 với sự có mặt của d'Argenlieu. Cùng ngày, trong một bức điện gửi Tổng Tư lệnh quân đội Pháp, Tướng Alphonse Juin, Leclerc nhấn mạnh rằng Chiến dịch Bến Tre là tuyệt đối cần thiết, ông nói rằng nhờ dùng vũ lực ở miền Nam, Pháp mới đạt được kết quả tốt như vậy, và rằng Pháp sẽ mất nhiều thứ nếu nhầm tưởng ký một thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam thì không cần thiết phải trình diễn sức mạnh nữa. Việc thể hiện sức mạnh vượt trội của Pháp sẽ khiến cho "chính phủ này phải đầu hàng". Rồi sau đó mới đến lúc tỏ ra rộng lượng và kết thúc đàm phán với Hồ Chí Minh, chứ không sớm hơn9. Trong những chỉ thị cho Sainteny ngày 22 tháng Hai, Leclerc nhấn mạnh: "Dù đàm phán diễn ra như thế nào chăng nữa, tôi sẽ đến vào đúng ngày đã định"10. Trên cơ sở các trao đổi điện tín của Leclerc trong quá trình đẩy mạnh Chiến dịch Bến Tre, ta có thể thấy một chiến lược ba điểm như sau:

- Phải giữ Chính phủ Việt Nam tại Hà Nội, không để họ rút về vùng cao, vì nếu chính phủ này rút an toàn về vùng cao và tiến hành kháng chiến lâu dài chống Pháp thì có thể có những hậu quả tai, hại trong tương lai. Nhiệm vụ của Sainteny là giữ Hồ Chí Minh ở lại Hà Nội. Chính phủ Pháp phải góp phần làm lắng dịu công chúng Việt Nam bằng cách bố cáo những ý định quảng đại của mình.

- Chiến dịch Bến Tre phải được tiến hành bằng cách trình diễn sức mạnh thật rầm rộ.

- Chỉ khi Pháp chiếm thế thượng phong thì mới ký một thỏa thuận với chính phủ Hồ Chí Minh. Leclerc tin chắc rằng Hồ Chí Minh sẽ "đầu hàng" khi thấy sức mạnh của quân Pháp và ký vào thỏa thuận theo những điều kiện của Pháp.


Những người dưới quyền Leclerc như Thiếu tướng Repiton Préneuf, đứng đầu Phòng Nhì của Leclerc, hoàn toàn hiểu mức độ rủi ro của chiến lược nêu trên, đặc biệt là vào thời điểm này khi Tàu Tưởng chưa chính thức thỏa thuận cho Pháp chiếm lại Đông Dương. Chắc chắn họ hy vọng có thể đạt được một thỏa thuận với Hồ Chí Minh trước ngày quân Pháp dự kiến đổ bộ vào miền Bắc11. Ngày 22 tháng Hai, Leclerc có nói với Sainteny rằng ông ta phải đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý bằng văn bản về việc Pháp đổ bộ và đưa quân Việt Minh khỏi tuyến đường Hải Phòng - Hà Nội. Mặc dù vậy, Leclerc chia sẻ niềm tin của de Gaulle là trước hết cần phải cho thấy ai là kẻ mạnh rồi sau đó mới đàm phán. Vài tuần sau, sau khi Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã ký, Leclerc bị chỉ trích vì đã góp phần vào việc để mất những nhượng bộ to lớn vào tay Chính phủ Việt Nam. Rõ ràng rằng d'Argenlieu không thích những gì Leclerc đã làm. Vì vậy, ngày 27 tháng Ba, Leclerc viết một bức thư cho Tướng de Gaulle giải trình về Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, nêu lý do tình thế cấp thiết. Ông ta cho rằng tuyệt đối cần thiết phải ký hiệp định này vì sử dụng quân sự để thôn tính lại Bắc Kỳ là không thể được:


Nếu ngoài quân Tưởng, chúng tôi thấy một đất nước nổi dậy chống lại chúng ta hoặc đơn giản chỉ là một đất nước trong tình trạng hỗn loạn, rõ ràng chúng tôi có thể đổ bộ vào Hải Phòng, nhưng như tôi đã khẳng định nhiều lần - việc tái thôn tính dù chỉ là một phần Bắc Kỳ là không thể được. Ta không thể thôn tính một đất nước có vũ trang và đã được tôi luyện, lớn bằng hai phần ba nước Pháp nhờ một lực lượng nhỏ, ít nhất là năm 1946, điều này không thể xảy ra. Vả lại, vấn đề có thể loang ra quốc tế. Bởi vậy không thể coi nhẹ tầm quan trọng của các thỏa thuận đã đạt được12.


Cũng như các nhà sử học về sau này, trong hồi ký của mình, Jean Sainteny coi bức thư này là bằng chứng rằng Leclerc cũng nghĩ như vậy trước ngày 6 tháng Ba13. Nhiều khả năng họ đã nhầm. Nếu Leclerc quyết tâm đạt được thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam trước khi cho quân đổ bộ, thì ông ta đã không tự đặt mình vào vị trí đòi hỏi cuộc đổ bộ phải xảy ra vào đúng một ngày đã định, điều mà ông ta đã làm; ngày này do thủy triều lên tại cảng Hải Phòng quyết định. Tương tự, nếu ông ta có ý định đạt được sự đồng ý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi đổ bộ, hẳn ông ta phải báo cáo Chính phủ Pháp về vấn đề này trước khi khởi động Chiến dịch Bến Tre, nhưng thực tế ông ta nói ngược lại. Ông ta báo cáo với Cominindo là một cuộc đổ bộ hiệu quả, tiếp theo là nhanh chóng tiến về phía Hà Nội, có thể khiến Hồ Chí Minh "đầu hàng" và ký một thỏa thuận theo các điều kiện mà phía Pháp đưa ra. Thêm nữa, nếu ý định của Leclerc là đầu tiên ký thỏa thuận, rồi sau đó mới đổ bộ, thì ông ta việc gì phải gây áp lực để quân Tưởng giúp cung cấp vũ khí cho quân lính thực dân Pháp đang bị giam lỏng tại thành Hà Nội, hay đòi quân Tưởng tạo điều kiện cho các toán lính được vận chuyển bằng đường không đáp xuống sân bay Hà Nội - điều mà ông ta đã làm như chúng ta sẽ sớm xem xét. Leclerc được Cao ủy d'Argenlieu cho toàn quyền tiến hành Chiến dịch Bến Tre như ông ta thấy cần. Ngày 1 tháng Ba, khi Leclerc ra lệnh cho quân lên tàu hướng Bắc thẳng tiến, ông ta đã chơi một canh bạc khổng lồ. Và canh bạc này không phải chỉ đơn giản là chuyện Hồ Chí Minh có ký vào thỏa thuận trước khi số lính này đến nơi hay không. Pháp đặt cược chủ yếu vào việc Tàu Tưởng sẽ để cho lính Pháp lên bờ mà không cần Chính phủ Việt Nam đồng ý và giúp lính Pháp hành quân đến Hà Nội. Khi canh bạc này thất bại, Leclerc buộc phải cho phép ký một thỏa thuận theo những điều kiện mà Chính phủ Pháp cho là không thể chấp nhận được trong hoàn cảnh bình thường, ông ta đã lôi Pháp và một cái bẫy với hy vọng hoặc niềm tin rằng Tàu Tưởng sẽ không lợi dụng tình huống này mà còn giúp Pháp. Khi đó Tàu Tưởng đã sử dụng đòn bẩy bất ngờ của mình để buộc Pháp và Việt Nam Kỳ một thỏa thuận.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:32:12 pm
Tướng Philippe Leclerc là vị anh hùng vĩ đại của nước Pháp người giải phóng Paris tháng Tám 1944, người đã được phong hàm Thống chế sau khi chết trong một tai nạn hàng không tại châu Phi năm 1947, được các nhà sử học tôn trọng và thường được đánh giá cao hơn Đô đốc d'Argenlieu. Nhưng cả hai người đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc. Cả hai theo Cơ đốc giáo. Cả hai theo de Gaulle chống lại hòa ước của Pétain ngay từ những ngày vạn sự khởi đầu nan mùa thu năm 1940. Họ được bổ nhiệm vào những vị trí cao nhất ở Đông Dương mà chẳng hề biết gì về đất nước này. D'Argenlieu nắm chính quyền dân sự, còn Leclerc chỉ huy quân đội, chẳng người nào quyền cao chức trọng hơn người nào, nhưng về vấn đề chính sách, d'Argenlieu có lời nói cuối cùng. Leclerc thường được coi là người thực dụng hơn, trung dung hơn trong số hai người, ông ta nhận định rằng vấn đề Việt Nam chỉ có thể được giải quyết bằng chính trị, trong khi người ta cho rằng d'Argenlieu thiên về giải pháp sử dụng vũ lực14. Suy cho cùng thì họ không khác nhau là bao vào thời điểm này. Ngày 4 tháng Hai 1946, bị sốc vì chiến dịch "bình định" miền Nam Đông Dương, ngoại trưởng Mỹ yêu cầu đại sứ Mỹ tại Paris cung cấp thông tin về việc Chính phủ Pháp hậu thuẫn ai: "Leclerc, một người có đầu óc thực dân không khoan nhượng, khắc nghiệt hay là d'Argenlieu, người theo xu hướng hòa giải và dung hòa"15. Đây không đơn giản là sự nhầm lẫn tên tuổi, sự bất hòa giữa hai người về sau này thường bị hiểu sai. Xung đột giữa hai người bản chất là xung đột cá nhân và xuất phát từ quan điểm khác biệt về chiến thuật hơn là do bất đồng về nguyên tắc hay về quan điểm chiến lược. Năm 1973, Jean Sainteny nói rằng về cơ bản, hai người có quan điểm giống nhau, chỉ có điều d'Argenlieu bị ảnh hưởng quá nhiều bởi chủ nghĩa lạc quan giả tạo ở Sài Gòn. Leclerc hiểu tình hình miền Bắc rõ hơn, nhưng Chính phủ Pháp ủng hộ d'Argenlieu hơn16. Các nhà sử học quân sự Gilbert Bodinier và Philippe Duplay cho rằng cũng như de Gaulle, Leclerc tin tưởng vào việc phô diễn sức mạnh như một màn dạo đầu trước khi đặt bút ký các hiệp định, bằng chứng là trích đoạn một bài phát biểu của Leclerc về vấn đề Đông Dương vào tháng Mười 1945: "Sẽ hoàn toàn sai lầm nếu đàm phán theo kiểu thả lỏng với đại diện Việt Minh khi chưa chứng tỏ sức mạnh của mình... Hiển nhiên đây là vấn đề tái chinh phục, vì đàm phán với "người da vàng" không có tác dụng bao nhiêu"17. Phó cao ủy dưới quyền d'Argenlieu và người kế nhiệm Leclerc vào tháng Bảy 1946, Tướng Jean-Etienne Valluy là một trong những người cho rằng hai nhà lãnh đạo theo phe de Gaulle này khác nhau nhiều nhất. Valluy khẳng định Đô đốc d'Argenlieu và Tướng Leclerc khác nhau về bản chất và về tư tưởng. D'Argenlieu luôn luôn tìm cách thể hiện lòng ái quốc của mình và theo đuổi một chính sách gần như hoàn toàn nhất quán theo mô hình đã thiết kế. Trong khi đó, Leclerc là một người nhiều mưu mẹo khó có ai sánh kịp, nhưng không kiên định trong chính sách. Hành động của d'Argenlieu luôn luôn nhất quán với mục tiêu dài hạn tuân theo những nguyên tắc được người thầy vĩ đại của ông ta là Charles de Gaulle đưa trong bản tuyên bố ngày 24 tháng Ba 194518. Gần đây hơn, Prédéri Turpin đã có một nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa Leclerc và d'Argenlieu cho thấy d'Argenlieu luôn luôn được de Gaulle ủng hộ. Turpin cho rằng trong khoảng thời gian cận ngày ký thỏa thuận 6 tháng Ba, d'Argenlieu và Chính phủ Pháp đã "bật đèn xanh một cách bất cẩn cho việc khởi động Chiến dịch Bến Tre, trong khi Leclerc... thì tỏ ra là một người bốc đồng chứ không bình tĩnh một cách khôn ngoan"19.


Ngay sau cuộc họp của Cominindo ngày 20 tháng Hai thảo luân về việc tái chiếm Bắc Đông Dương, d'Argenlieu bật đèn xanh cho Leclerc triển khai Chiến dịch Bến Tre nhân danh Chính phủ Pháp Sư đoàn 9 Bộ binh viễn chinh Pháp và Sư đoàn 2 thiết giáp vừa hoàn thành việc "bình định" miền Nam Đông Dương lập tức lên chiến hạm của Pháp trong thời gian từ 27 tháng Hai đến 1 tháng Ba ngay sau khi d'Argenlieu trở về Đông Dương; ngày 1 tháng Ba một hạm đội hoành tráng gồm 35 chiến hạm rời Sài Gòn men theo bờ biển Bắc tiến. Đích thân Tướng Leclerc lên tàu Emile Bertin ngày 3 tháng Ba và "từ thời điểm đó, ông ta chỉ có thể liên lạc với Hà Nội và Sài Gòn bằng vô tuyến điện20. Mục đích công khai của chiến dịch này là để tiếp quản Bắc Đông Dương từ tay quân Tưởng, thực hiện nhiệm vụ chiếm giữ để quân Tưởng có thể rút trước cuối tháng 321. Tại sao lại tháng Ba? Vì trong trường hợp cần thiết, Pháp cũng cần thời gian để đè bẹp phong trào kháng chiến của người dân địa phương trước khi mùa mưa bắt đầu: "Chúng ta chưa nắm rõ thái độ của dân chúng An Nam đối với người Pháp ở Đông Dương, vì vậy, chúng ta phải chiếm các trung tâm lớn càng nhanh càng tốt để bảo vệ các trung tâm này"22. Những trung tâm lớn ở đây bao gồm Hải Phòng, Hòn Gai, Nam Định, Vinh, Huế và Hà Nội. Ở các thành thị này, từ ngày 9 tháng Ba 1945, người Pháp đã sống trong điều kiện tồi tệ dưới quyền Nhật Bản, Việt Nam và Tàu Tưởng. Hà Nội không chỉ có người dân Pháp mà còn có 3.000 lính và sĩ quan Pháp thuộc đội quân thực dân đã bị Nhật tước vũ khí và giam trong nội thành cho tới lúc đó.


Chiến dịch Bến Tre do các lực lượng sau tiến hành:

- Một lực lượng đổ bộ gồm Sư đoàn 9 Bộ binh do Tướng Jean- Etienne Valluy chỉ huy và Trung đoàn Massu thuộc Sư đoàn 2 thiết giáp, tổng cộng 21.000 người. Họ từ Sài Gòn di chuyển bằng đường biển, cập bến Hải Phòng. Cuộc đổ bộ này sẽ diễn ra vào các ngày 4, 5 hoặc 6 tháng Ba vì đó là những ngày duy nhất (cho tới ngày 16, 17 và 18 tháng Ba) thủy triều cho phép tàu biển có kích cỡ nhất định vượt qua doi cát nằm chắn giữa biển để vào cảng nằm cách biển 20 km23.

- Lực lượng ven biển đã đóng tại vịnh Hạ Long, phía bắc Hải Phòng.

- Quân Pháp trốn ở Trung Quốc sau khi thoát khỏi vụ tàn sát của Nhật Bản tháng Ba 1945. Họ chỉ nhận được sự giúp đỡ nửa vời và miễn cưỡng của những người dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc và quân Mỹ ở Trung Quốc, nhưng họ đã có thừa thời gian để nung nấu căm hờn vì đã bị người châu Á nói chung xử tệ, trong đó có cả những người "Annammít" đã bỏ rơi họ hồi tháng Ba, tháng Tư 1945. Những người lính Pháp này vẫn giữ được vũ khí cũ của mình và kiếm thêm được một số vũ khí mới, được tập hợp dưới sự chỉ huy của Trung tá Robert Quilichini. Một vài người trong số đó đã xâm nhập biên giới Bắc Kỳ và chiếm thị xã biên giới Lai Châu. Theo kế hoạch, họ sẽ di chuyển sang bờ tây sông Hồng (thực ra sau khi Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba được ký, họ bỏ sang Lào).

- Một lực lượng sẽ đến bằng đường không, hạ cánh xuống sân bay ngoại thành Hà Nội, với nhiệm vụ đặc biệt là vũ trang cho 3.000 lính Pháp còn lại ở Hà Nội. Họ nằm dưới quyền chỉ huy của Trung tá Lefèbvre d'Argence theo lệnh Tướng Raoul Salan. Trước đó, Salan đã được phong làm chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương, đã đến Hà Nội để sau đó chỉ huy vụ tấn công Chính phủ Việt Nam theo kế hoạch. Lúc này, ông ta đang là thành viên đoàn đàm phán Sainteny. Về sau, Salan chỉ huy các chiến dịch quân sự Pháp tại Hà Nội, song song với việc đàm phán với Tàu Tưởng để tiếp quản vùng lãnh thổ do Tàu Tưởng chiếm đóng24.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:34:15 pm
Mục đích của Chiến dịch Bến Tre là lấy lại Hà Nội từ tay "Chính phủ cách mạng Annammít" như Pháp nói. Người Pháp tại Hà Nội, cả lính và dân đều không ưa gì chính phủ này cũng như quân Tưởng chiếm đóng, nhiều người trong số họ ngóng chờ ngày trả thù cho những nỗi khốn khổ mà họ phải chịu từ ngày 9 tháng Ba 1945. Sau ngày 6 tháng Ba 1946, hiệp định được loan bá nhiều người Pháp, nhất là binh lính Pháp ở Hà Nội hết sức thất vọng. Một báo cáo của Cơ quan an ninh Pháp ngày 17 tháng Ba nói rằng họ bất bình vì "từ ngày 9 tháng Ba, họ chưa bao giờ mất hy vọng được trả thù, ít nhất là trả thù cho sự lăng nhục và quấy rối của những người Annammít mà họ đã phải nuốt hận chịu đựng. Đặc biệt là đa số binh lính Pháp bất bình vì bỗng chốc Hiệp định ngày 6 tháng Ba tước đi cảm giác hả hê mà họ mong có khi "trấn áp" những người đó"25.


Binh lính Pháp bị nhốt trong thành Hà Nội có lý do để ghen tị với các đồng chí của mình ở Sài Gòn, vì từ tháng Chín 1945, lính Pháp tại Sài Gòn đã được Anh bảo vệ và hỗ trợ, giúp họ lật đổ chính quyền cách mạng, đuổi tất cả những người theo cách mạng ra khỏi các công sở và lấy lại quyền kiểm soát Nam Kỳ. Một yếu tố quan trọng trong Chiến dịch Bến Tre là bí mật trang bị lại vũ khí cho càng nhiều binh lính Pháp bị nhốt trong thành Hà Nội càng tốt ngay sau khi quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng và trước khi số quân này đến Hà Nội. Điều này sẽ cho phép các cựu tù binh chiến tranh tự vệ, đồng thời bảo vệ thường dân Pháp và chiếm các vị trí chiến lược trước khi quân chiếm đóng tới. Ban đầu, Pháp đã tính tới khả năng thả dù vũ khí xuống thành Hà Nội, nhưng đã từ bỏ kế hoạch này vì cho rằng quá rủi ro. Người An Nam có thể đoán biết sự việc và vũ khí có thể rơi vào tay họ. Do đó, Pháp quyết định đưa 12 máy bay đầm già (dakota) chở đầy vũ khí từ Sài Gòn hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội, bí mật chuyển vũ khí sang xe tải rồi lái về thành phố. Các tài liệu không cho biết xe tải lấy ở đâu, nhưng nhiều khả năng là mua tại Hà Nội26.


Việc tái chiếm Hà Nội do ba đơn vị chính đảm nhiệm: (1) Lực lượng trong thành Hà Nội, chia thành các tiểu đoàn, chịu trách nhiệm duy trì trật tự trong một số khu vực đã xác định trước27; (2) Một lực lượng đi đường không (Chiến dịch Ponchardier); và (3) Trung đoàn Massu (được đặt tên theo chỉ huy trung đoàn là Đại tá Jacques Massu), trung đoàn này sau khi đổ bộ vào Hải Phòng sẽ nhanh chóng tiến về Hà Nội theo đường 5 hoặc nếu bị chặn lại, sẽ đi thuyền theo hai sông đào khác nhập vào sông Hồng và xâm nhập vào Hà Nội bằng các đường dốc đã làm sẵn dọc bờ sông.


Ủy viên Cộng hòa Pháp Jean Sainteny đã được cung cấp truyền đơn thông báo thiết quân luật, truyền đơn có in chữ ký của Tướng Lư Hán, chỉ huy quân Tưởng chiếm đóng với giả định là Lư Hán sẽ đồng ý28. Có lẽ không cần phải nói thêm rằng kế hoạch Chiến dịch Bến Tre hoàn toàn dựa trên yếu tố bất ngờ29.


Một số độc giả có lẽ đang tự hỏi: "Làm sao có thể như vậy?". Và họ đặt câu hỏi như vậy là hợp lẽ thôi. Chiến dịch Bến Tre đầy rủi ro. Gần như chắc chắn chiến dịch này sẽ trở thành một thảm họa. Không thể nào vũ trang cho 3.000 binh lính mà không ai biết giữa một thành phố có đầy quân Tưởng và người Việt, những người đó đều biết rằng đang có một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, kể cả nếu quân Tưởng có đồng ý đi chăng nữa. Tổ chức cho một đơn vị thiết giáp hành quân từ Hải Phòng đến Hà Nội mà không khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam cảnh giác quả là chuyện không tưởng. Ấy thế mà kế hoạch vẫn được vạch ra, và trong những ngày ngày 6 tháng Ba, người ta đã chuẩn bị mọi thứ để tiến hành kế hoạch này. Chiến dịch này có một phiên bản hòa bình mật Bouquet để tiến hành trong trường hợp Chính phủ Việt Nam chịu để cho Pháp chiếm lại miền Bắc30.


Có một vấn đề giấy tờ chưa được giải quyết: miền Nam Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 nằm dưới sự quản lý của Bộ Tư lệnh Đông Nam Á của Anh, do đó, trước khi tiến hành bất kỳ chiến dịch quân sự nào, quân viễn chinh Pháp cần được Mountbatten cho phép. Nếu lực lượng nằm trong khu vực kiểm soát của Mountbatten lấn sang khu vực kiểm soát của Tưởng Giới Thạch, Anh có thể gặp phiền toái với Trung Quốc. Tháng Giêng 1946, Mountbatten đã rút tất cả lính Anh khỏi Đông Dương và để cho Pháp toàn quyền kiểm soát miền Nam trong tất cả mọi vấn đề thực tiễn, ông ta quả thực đã trao quyền lực cho Tướng Leclerc. Tháng Giêng 1946, Anh đã yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu kết hợp của Anh và Mỹ cho phép để Pháp chính thức chịu trách nhiệm thay Anh, nhưng ngày 1 tháng Hai, Mỹ đã từ chối31. Anh chỉ muốn tránh xa mọi rắc rối32, nên ba tuần sau, Mountbatten rất sốc khi biết rằng Pháp chuẩn bị một chiến dịch lớn mà không báo gì cho ông ta cả. Ông ta phàn nàn và yêu cầu Leclerc cung cấp một bản báo cáo đầy đủ về diễn biến sự việc. Đầu tiên, Leclerc thoái thác trả lời, nhưng sau đó cũng cung cấp cho Mountbatten thông tin được yêu cầu, trừ thông tin về kế hoạch chiếm lại Hà Nội. Ngờ rằng sắp có chuyện, Mountbatten bèn quyết định phủi tay ngay, không dính líu thêm với Pháp nữa.


Ông đề nghị Chính phủ Anh đàm phán một thỏa hiệp với Mỹ càng nhanh càng tốt, cho phép Pháp được chuyển giao hoàn toàn trách nhiệm về miền Nam Đông Dương với ngoại lệ duy nhất: Anh sẽ chịu trách nhiệm đưa tù binh Nhật trở về nước. Vì Mountbatten đã được Leclerc cho biết quân Pháp sẽ đổ bộ vào Hải Phòng ngày 5 tháng Ba, Mountbatten công bố rằng trách nhiệm quản lý miền Nam Đông Dương được chính thức chuyển cho Pháp kể từ đêm 4 rạng ngày 5 tháng Ba, mặc dù thực tế ngày 29 tháng Ba tiểu đoàn Anh cuối cùng mới rời Sài Gòn33. Mối quan tâm chính của Mountbatten là làm sao để Anh không dính dáng gì tới bất kỳ xung đột nào giữa Pháp và Tàu Tưởng34. Ngày 21 tháng Hai, lãnh sự Anh ở Sài Gòn đã báo cáo về Anh rằng mặc dù là một người lạc quan, Tướng Salan đã dự tính một chiến dịch bình định ở Bắc Đông Dướng có thể kéo dài ít nhất một năm: "Theo một nguồn rất đáng tin cậy ở Hà Nội, Tướng Salan - người sẽ chỉ huy quân Pháp - rất lạc quan về kết quả của chiến dịch và cho rằng việc quét sạch các trung tâm lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, v.v. có thể diễn ra nhanh chóng mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể của phía An Nam. Tuy vậy, ông ta công nhận rằng quân Annammít sẽ rút lui về vùng đồi núi và có thể mất ít nhất một năm để dẹp yên toàn bộ vùng này"35. Mặc dù vậy, Mountbatten vẫn băn khoăn về việc Pháp định làm gì để tránh xung đột với Trung Quốc.


Tất nhiên là Pháp biết điểm yếu quan trọng nhất của Chiến dịch Bến Tre là chiến dịch này phụ thuộc vào ý định của Tàu Tưởng. Điều kiện của chiến dịch là Tàu Tưởng không những phải làm ngơ, mà còn phải giúp đỡ Pháp tái chiếm đóng Đông Dương. Chắc chắn về mặt pháp lý, Tàu Tưởng có nghĩa vụ phải làm điều đó vì Tàu Tưởng đã công nhận chủ quyền của Pháp, nhưng cho phép Pháp thiết lập lại sự hiện diện bằng vũ lực sẽ gây ra phiền phức chính trị nội bộ cho chính phủ Tưởng Giới Thạch và có thể khiến Việt Nam có thái độ thù địch những người Hoa sống tại Đông Dương36.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:36:13 pm
ĐÀM PHÁN VỚI TÀU TƯỞNG

Có thể nói rằng quả là không khôn ngoan chút nào nếu khởi động một vụ xâm lược và tự đặt mình vào tình huống không có đường rút nếu như người ta hoàn toàn không sẵn sàng đón nhận hậu quả của tình huống đó. Pháp sẵn sàng đối đầu với Việt Minh nếu Hồ Chí Minh từ chối ký thỏa thuận, nhưng Pháp không hề dự liệu khả năng khi đó sẽ xảy ra chiến tranh với Tàu Tưởng. Thế nhưng, trong thời gian từ ngày 27 tháng Hai đến 1 tháng Ba, trước khi rõ phản ứng của phía Tàu Tưởng, Leclerc đã phái một "hạm đội nhỏ" như d'Argenlieu gọi trong hồi ký của ông. Như đã nói hạm đội này không thể quay trở lại được vì trên tàu không có đủ nước ngọt cho binh lính dùng lâu hơn nữa, và do điều kiện thủy triều, các tàu Pháp dứt khoát phải vào cảng Hải Phòng ngày 4, 5 hoặc 6 tháng Ba. Các nhà lãnh đạo phía Pháp hy vọng rằng việc quân Pháp đến sẽ khiến Hồ Chí Minh ký thỏa thuận theo những đòi hỏi của Pháp, và rằng Tàu Tưởng sẽ đứng sau lưng Pháp37. Mặc dù vậy, cả Tàu Tưởng và Việt Nam đều nhận ra rằng Pháp đã đặt lực lượng của mình và quyền lợi của mình vào vòng nguy hiểm. Điều này khiến Pháp rơi vào thế yếu và Pháp gần như hoảng sợ khi phát hiện ra Tàu Tưởng hoàn toàn không sẵn sàng hợp tác, mặc dù theo Hiệp định Trùng Khánh ngày 28 tháng Hai thì Tàu Tưởng có nghĩa vụ pháp lý phải làm như vậy, đấy là chưa kể một số tướng lĩnh Tàu Tưởng đã được Pháp hối lộ những khoản tiền lớn.


Tướng Leclerc đã nhận ra mối nguy hiểm, và đó chính là lý do ông ta cố sức đề nghị Chính phủ Pháp ra một tuyên bố sử dụng thuật ngữ "độc lập". Ông ta nghĩ rằng điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Sainteny dụ Hồ Chí Minh ở lại Hà Nội cho tới khi quân Pháp tới. Leclerc cũng nhấn mạnh rằng trước khi khởi động Chiến dịch Bến Tre, ông ta nhận chỉ thị trực tiếp từ chính phủ mới của Pháp chứ không phải nhận chỉ thị của riêng d'Argenlieu. Trong thời gian Leclerc tiến hành công cuộc "bình định" Nam Đông Dương, giữa d'Argenlieu và Leclerc không có mâu thuẫn, căng thăng gì lớn, nhưng trước Chiến dịch Bến Tre, quan hệ của họ xấu đi trông thấy. Cuối tháng Giêng hoặc đầu tháng Hai, d'Argenlieu cử chỉ huy Sư đoàn 9 bộ binh, Tướng Jean-Etienne Valluy về Paris để xin chỉ thị khẩn của chính phủ. Ngày 26 tháng Giêng (chưa đầy một tuần sau khi de Gaulle từ chức), tại một phiên họp của Cominindo, Valluy trình bày một văn bản mà sau đó ông ta gửi cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Georges Bidault, liệt kê ba điều kiện để tái lập thành công chủ quyền của Pháp ở miền Bắc: (1) hành động quân sự, (2) hành động ngoại giao đối với Tàu Tưởng, và (3) hành động chính trị đối với "người Annammít". Ông ta cũng nói rằng không thể trì hoãn hành động thêm nữa vì "điều kiện khí hậu" cho việc đổ quân là tốt nhất trong khoảng thời gian cuối tháng Hai hoặc đầu tháng Ba. Valluy lập luận rằng không nên chỉ tiến hành một chiến dịch quân sự thuần túy vì bốn lý do sau: (1) chiến dịch đó sẽ vấp phải sự chống đối đồng thời từ phía Việt Nam và phía Tàu Tưởng, (2) chiến dịch đó có thể châm ngòi cho một cuộc thảm sát người Pháp ở miền Bắc, (3) chiến dịch đó sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra chiến tranh du kích kéo dài, và (4) cả trong nước lẫn nước ngoài đều sẽ phản ứng tiêu cực với loại hành động quân sự này. Do vậy, hành động quân sự cần phải núp dưới vỏ bọc chính trị và ngoại giao. Theo Valluy, Hồ Chí Minh nhiều khả năng sẽ cư xử "biết điều" một khi biết rằng mình đã thua trong canh bạc Đông Dương38. Có vẻ Chính phủ Pháp đã không cho Valluy chỉ thị như ông ta muốn.


Ngày 13 tháng Hai, d'Argenlieu đích thân đến Paris, để Leclerc đảm nhiệm chức cao ủy lâm thời. Với chức vụ này, Leclerc phải báo cáo cho d'Argenlieu. Lúc này, Leclerc sợ rằng d'Argenlieu tự đặt mình chắn giữa Leclerc và Chính phủ Pháp và diễn giải chính sách của Pháp ở Đông Dương theo cách thức không hoàn toàn phản ánh đúng quan điểm của các vị bộ trưởng phụ trách. Về sau này, d'Argenlieu gọi việc Leclerc cố gắng liên lạc trực tiếp chính phủ, bỏ qua d'Argenlieu là "nực cười"39. Ngày 14 tháng Hai, một ngày sau khi d'Argenlieu khởi hành từ Sài Gòn, Leclerc gửi thông điệp của mình tới Paris đề nghị chính phủ ra một tuyên bố công khai, hứa hẹn "độc lập" cho Đông Dương. Leclerc cho rằng phía Việt Nam sẽ chấp nhận "độc lập" có nghĩa là "tự quản". Ông ta hối thúc chính phủ ra tuyên bố này trước khi Pháp đổ bộ và Bắc Kỳ40. Điều này không có nghĩa là Leclerc muốn Pháp chỉ đổ bộ nếu như đạt được thỏa thuận với Hồ Chí Minh, ông ta muốn có một tuyên bố của chính phủ để có thể dụ Hồ Chí Minh ở lại Hà Nội và đàm phán cho đến khi và sau khi quân Pháp đã đổ bộ. Điều này cho phép Pháp đàm phán trên thế mạnh. Đối với Leclerc, cứ phải "già đòn non lẽ", và điều thực sự có ý nghĩa là thể hiện được sức mạnh và sự quyết tâm của mình. Mục đích của việc đưa ra hứa hẹn không phải là để cam kết điều gì trong tương lai, mà là để tác động tới cách ứng xử của đối thủ ngay trong hiện tại. Chỉ cần Pháp thiết lập được sự hiện diện áp đảo ở miền Bắc, những gì còn lại có thể được giải quyết dễ dàng hơn nhiều.


Có lẽ Chính phủ Pháp đã nghe theo đề nghị của Leclerc sử dụng từ "độc lập" - bất chấp sự phản đối của d'Argenlieu - nếu như trong một báo cáo kết quả cuộc họp với Hồ Chí Minh ngày 16 tháng Hai, Sainteny không cho rằng Hồ Chí Minh có thể chấp nhận điều gì đó ít hơn thế. Sainteny nhận được trả lời của Chính phủ Pháp do d'Argenlieu soạn thảo và được Cominindo thông qua, cho phép ông ta ký một thỏa thuận với Việt Nam trên cơ sở tự quản lý" (từ tiếng Anh "self-government" được sử dụng trong nguyên văn). Mặc dù vậy, d'Argenlieu khăng khăng rằng thỏa thuận này không được có bất kỳ điều gì thể hiện việc Pháp chấp nhận thống nhất ba "kỳ". "Chắc chắn, Hồ Chí Minh phải thừa nhận rằng quyết một giải pháp về vấn đề này trước khi để cho dân chúng ba "kỳ" thể hiện ý kiến của mình một cách hoàn toàn độc lập và tự do là trái với nguyên tắc dân chủ", Đô đốc d'Argenlieu trả lời Sainteny như vậy41. D'Argenlieu đã tính sai. Rất có thể là ông ta sử dụng lập luận nêu trên để chống lại việc nhượng bộ bất kỳ điều gì liên quan đến Nam Kỳ. Kế hoạch của ông ta là phát triển những thiết chế ở riêng Nam Kỳ, các thiết chế này sẽ từng bước chuẩn bị Nam Kỳ sẵn sàng cho việc lấy ý kiến dân chúng. Trong khi đó, khi nêu lập luận của d'Argenlieu trong đàm phán với Hồ Chí Minh, có lẽ Sainteny đã diễn đạt ý này như một đề nghị trưng cầu ý dân. Ban đầu Hồ Chí Minh phản đối, nhưng về sau lại chấp nhận. Một người muốn chứng tỏ mình là đại diện cho một nền dân chủ không thể dễ dàng giũ bỏ khái niệm trưng cầu ý dân, vì vậy, Sainteny đã hứa một điều mà về sau d'Argenlieu cho là vô cùng tai hại: Pháp sẽ tôn trọng quyết định của nhân dân ba "kỳ" thể hiện thông qua trưng cầu ý dân42. Sainteny đã làm trái quy tắc chỉ trưng cầu ý dân đối với một vấn đề sống còn nếu như biết chắc kết quả cuộc trưng cầu ý dân đó là có thể chấp nhận được. Còn Hồ Chí Minh thì đã làm đúng quy tắc này vì ông tin chắc là đa số người dân ủng hộ việc thống nhất đất nước, nhưng Sainteny cam kết tổ chức trưng cầu ý dân ở Nam Kỳ, một lãnh thổ mà theo quan điểm pháp lý của Pháp thì hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp. Lời hứa này đi quá xa những gì mà nước Pháp sẵn sàng thực hiện.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:38:09 pm
Trong thời gian ở Paris từ ngày 17 đến 25 tháng Hai, dường như Đô đốc d'Argenlieu không muốn bàn bạc về nguy cơ chiến tranh. Ông ta trấn an chính phủ, nói rằng các cuộc đám phán cả ở Trùng Khánh và Hà Nội đều diễn ra ổn thỏa. Ngày 20 tháng Hai, tại cuộc họp của Cominindo, ông ta nói rằng cả hai hiệp định Pháp - Tưởng và Pháp - Việt đều sắp được ký. Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Marius Moutet hẳn là hài lòng về việc này, nhưng để chắc chắn đầu tháng Ba, ông ta yêu cầu Cao ủy "làm rõ liệu ông có định đợi đến khi ký xong hiệp định với Hồ Chí Minh rồi mới nhận tiếp quản từ tay quân Tưởng hay không. Chúng tôi mong rằng ông cố gắng đạt được hiệp định này trước đã". Moutet cũng bày tỏ đôi chút lo ngại về kế hoạch vũ trang cho quân Pháp đang bị giam trong thành Hà Nội: "Tôi bổ sung là để ngăn ngừa những vụ việc tương tự những gì xảy ra ở Sài Gòn khi binh lính tại chỗ được vũ trang lại [tháng Chín 1945], cần phải có những biện pháp cần thiết để bảo đảm điều kiện cho việc tái vũ trang thành Hà Nội"43. Và những câu văn khó hiểu tiếp theo cho thấy ngài bộ trưởng không chắc là người ta sẽ tuân lệnh ngài: "Điều hết sức quan trọng là chỉ huy quân sự phải hiểu rằng quân đội không thể dùng làm phương tiện cho một chính sách nào đó. Chúng ta phải cố gắng đạt được kết quả bằng phương cách chính trị để tránh phải dùng các hoạt động quân sự. Binh lính không thể trở thành quan tòa của chính sách này, một chính sách mà có lẽ một số người trong số họ không ủng hộ"44.


Kể từ ngày 8 tháng Giêng, một đoàn đàm phán Pháp do Tướng Salan đứng đầu tiến hành đàm phán với chính quyền Tàu Tưởng tại Trùng Khánh về điều kiện để quân Pháp thay thế quân Tưởng ở Bắc Đông Dương. Các cuộc đàm phán này nằm trong bối cảnh Pháp và Tàu Tưởng tiến hành đàm phán ngoại giao về nhiều vấn đề khác nữa, không chỉ về Đông Dương mà còn về quyền của Pháp trên lãnh thổ Trung Quốc, về thương mại và về tô giới của Trạm Giang, còn gọi là Quảng Châu Loan, nằm trên bán đảo Lôi Châu ở phía bắc đảo Hải Nam. Trong Hiệp ước Trùng Khánh ký ngày 28 tháng Hai, Pháp trao lại Quảng Châu Loan, và các đặc quyền ngoại giao của Pháp tại Thượng Hải, Thiên Tần, Hàng Châu và Quảng Châu, và cam kết rằng Hải Phòng sẽ trở thành một cảng biển tự do đối với tàu buôn Trung Quốc45. Bù lại, Pháp muốn quân Tàu Tưởng nhanh chóng rút khỏi Đông Dương khi quân Pháp đến. Tuy vậy, ngày 27 tháng Hai khi quân Pháp lên tàu tại Sài Gòn, những người đại diện Pháp đàm phán tại Hà Nội vẫn chưa nói với đối tác Tàu Tưởng của mình rằng quân Pháp đã sẵn sàng đổ bộ và sẽ triển khai đổ bộ. Có một điểm trong Hiệp ước Pháp - Tưởng quy định rằng quân Pháp sẽ tiếp quản Bắc Đông Dương trong nửa cuối tháng Ba, nhưng điểm đó chỉ nói về hành động, "giao nhận" chứ không phải việc tiến hành chiếm đóng rầm rộ. Và các nhà đàm phán Pháp cũng không hé một lời với phía Tàu Tưởng về kế hoạch đối xử của Pháp với Chính phủ Việt Nam46.


Ngay sau khi ký hiệp ước song phương Pháp - Tưởng tại Trùng Khánh, Pháp thông báo cho Bộ Tham mưu của Tưởng Giới Thạch rằng quân đổ bộ của Pháp đang trên đường tới Hải Phòng và sẽ tới nơi vào đầu tháng Ba. Tin này không làm Tàu Tưởng hài lòng. Phía Tàu Tưởng còn bất bình hơn khi biết rằng Pháp cũng muốn được giúp đỡ để trang bị lại vũ khí cho quân Pháp ở thành Hà Nội47. Ngày 1 tháng Ba, đoàn đàm phán Pháp vẫn nghĩ rằng Tàu Tưởng đồng ý giúp họ trong cuộc đổ bộ sắp tới. Đại tá Jean Crépin, nhà quân sự cấp cao chủ chốt trong đoàn đàm phán của Pháp tại Trùng Khánh dưới quyền Tướng Salan gửi điện tín cho Leclerc: "Thỏa thuận đã đạt được. Hạm đội hãy nhổ neo". Thế nhưng khi Pháp yêu cầu Tàu Tưởng nhanh chóng dọn dẹp bến cảng, bảo đảm an ninh trên đường từ Hải Phòng về Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho 12 máy bay hạ cánh ở sân bay Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội và bảo đảm an ninh trên con đường từ Gia Lâm tới thành Hà Nội, Tàu Tưởng đã thẳng thừng từ chối. Pháp nhấn mạnh yêu cầu là chỉ huy quân sự phía Tàu Tưởng gửi những mệnh lệnh cần thiết tới Hà Nội ngay đêm 1 tháng Ba. Đoàn đàm phán Tàu Tưởng phản đối, tỏ ý muốn thoái thác với lý do sợ Việt Nam có thái độ thù địch người Hoa ở Bắc Kỳ, và họ tìm ra vô số lý do khác trong mấy ngày sau đó để từ chối thực hiện mong muốn của Pháp48. Đáng lẽ ra cuộc tranh cãi này phải được đích thân Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch giải quyết, nhưng ông ta lại đang bận rộn với Phiên họp thứ hai Đại hội Quốc dân Đảng lần thứ sáu, mà trong phiên họp này thì phe bảo thủ lại chỉ trích ông ta vì đã trao lại Việt Nam vào tay bọn thực dân Pháp. Chỗ bấu víu cuối cùng của Pháp là nhờ đại sứ Anh ở Trung Quốc là ngài Adrian Carton de Wiart nói giúp với ông bạn Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch, nhưng ý định này (mà Mountbatten không hay biết) cũng không thành công. De Wiart viết cho Mountbatten: "Hôm nay, đại sứ Pháp cử tham tán đến gặp tôi. Tôi rất lo ngại vì Leclerc đã cho tàu khởi hành từ Sài Gòn đến Hải Phòng, dự kiến ngày mùng 5 sẽ tới nơi. Leclerc nghĩ rằng hiệp định đã được ký rồi nhưng thực ra không phải... Pháp muốn tôi giúp và tất cả những điều tôi có thể làm là hỏi tổng tư lệnh liệu ông ta có trả đất cho Pháp hay không. Tôi nói với ông ta rằng nếu ông ta trả lời không, điều đó sẽ gây ra một tình huống hết sức không hay"49.


Trước đó một tháng, khi Tướng Valluy trình Cominindo kế hoạch tái chiếm Bắc Kỳ, ông ta đã nhấn mạnh rằng chiến dịch không được tiến hành dưới hình thức thuần túy quân sự, mà phai "núp bóng" hành động ngoại giao đối với cả phía Tàu Tưởng và phía Việt Nam50. Ngày 1 tháng Ba, "cái bóng ngoại giao" đã không mang lại kết quả ở Trùng Khánh, nhưng khi thốt bại trong đàm phán ở trung ương thì phải thử ở địa phương. Thế là Tướng Salan bèn cố sức thuyêt phục chỉ huy quân Tưởng tại Hà Nội giúp quân Pháp tràn vào Bắc Đông Dương. Nhiệm vụ của Salan không đơn giản, vì cả chỉ huy quân Tưởng chiếm đóng là Tướng Lư Hán và chỉ huy Đại đoàn 53 của Tàu Tưởng là Tướng Zhou Fucheng đều ở Trùng Khánh để tham dự đại hội của Quốc dân Đảng. Do vậy, Tướng Salan phải đàm phán với các chỉ huy cấp dưới như Tướng Ma Ying và Tướng Zhao Zhenfan và người đứng đầu phái đoàn cố vấn của chính quyền Tưởng tại Việt Nam là Shao Baichang. Ngày 3 tháng Ba, Salan gửi một bức thư cho Lư Hán định ngày đổ bộ là 6 tháng Ba, giải thích cách trang bị vũ khí cho binh lính trong thành Hà Nội và yêu cầu cho Pháp tự do vào tất cả các sân bay ở Bắc Đông Dương và sử dụng con đường nối Hải Phòng với Hà Nội51. Cuộc đối thoại giữa Salan và phía Tàu Tưởng nhanh chóng rơi vào bế tắc vì các tướng lĩnh phía Tàu Tưởng nói rằng họ cần thảo luận với nhau và cần thêm thời gian để biết chắc Trùng Khánh chỉ thị làm đúng như yêu cầu của Pháp. Lúc này thì Salan phải từ bỏ cố gắng để Tàu Tưởng hỗ trợ trong việc trang bị lại vũ khí cho lính Pháp trong thành Hà Nội và tập trung vào vấn đề khẩn cấp hơn, đó là việc cho quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng. Trong cuộc gặp bắt đầu ngày 4 tháng Ba và kéo dài tới tận cuối buổi sáng ngày 5 tháng Ba, trước sự hối thúc của Salan, Tàu Tưởng chấp thuận cho tàu Pháp "hiện diện" tại Hải Phòng vào ngày 6 tháng Ba, nhưng không cho đổ bộ bất kỳ tên lính nào. Tuy vậy, cuối ngày hôm đó, khi những mệnh lệnh mới từ Trùng Khánh đến Hà Nội thì có vẻ ngay cả thỏa thuận này cũng không chắc chắn. Vậy là Salan phải bắt đầu lại từ đầu. Đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng Ba, một lần nữa Salan lại đạt được thỏa thuận với mục đích ngăn cản chiến tranh Pháp - Trung bùng nổ tại Hải Phòng. Thế nhưng khi đến Hải Phòng sáng ngày 6 tháng Ba, tàu Pháp vẫn bị pháo binh Tàu Tưởng nã đạn.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:39:35 pm
Các cuộc đàm phán giữa Salan với sĩ quan Tàu Tưởng và chuỗi sự kiện dẫn tới cái gọi là "biến cố Hải Phòng" đã được mô tả kỹ trong cuốn sách của tác giả Lin Hun có tên Chiang Kai-shek, de Gaulle contre Ho Chi Minh (Cuộc đọ sức giữa Tưởng Giới Thạch, de Gaulle và Hồ Chí Minh) và trong cuốn sách của tác giả Prédéric Turpin mang tên De Gaulle, les gaullistes et l'Indochine 1940-1956. Turpin thấy biến cố này là "bi thảm và ngu ngốc" và cho rằng ít nhất Tướng Leclerc có một phần lỗi gây ra sự kiện đó vì ông ta đã nắm được thông tin đầy đủ về tình hình, do vậy biết rằng nếu cứ cố đổ quân thì có nguy cơ xảy ra sự biến nghiêm trọng52. Như Lin Hua và Turpin đã chứng minh một cách chi tiết, Leclerc và những người dưới quyền ông ta lúc đó biết rằng biến cố Pháp - Trung tại Hải Phòng không xuất phát từ bất kỳ sự hiểu lầm nào hay vì chỉ huy quân Tưởng ở Hà Nội ra chỉ thị trái với mệnh lệnh của Trùng Khánh. Mặc dù chính phủ trung ương của Tưởng và các chỉ huy quân sự của Tưởng ở Đông Dương có thể có quan điểm khác nhau53, họ đều thống nhất với nhau ở điểm cần phải ngăn cản Pháp gây chiến tranh đối với Việt Nam. Vì vậy, khi quân Tưởng nã pháo vào chiến hạm Pháp trên đường tiến vào cảng Hải Phòng, họ đang bảo vệ lợi ích của riêng họ, cũng như lợi ích của người châu Á chống lại sự xâm lược của phương Tây. Lãnh đạo hành động này là một viên tướng người Mãn Châu tên là Wang Lihuan, chỉ huy Sư đoàn 130, Đại đoàn 53. Mệnh lệnh nổ súng của Wang Lihuan căn cứ vào cách giải thích mà theo ông ta là đúng đắn nhất đối với chỉ thị của Trùng Khánh54. Khi ban lệnh này, ông ta chưa biết rằng hiệp định Pháp - Việt sắp sửa hoàn thành. Vụ đụng độ kết thúc lúc 11h sáng, khi ông ta biết tin phiên họp đàm phán cuối cùng giữa Sainteny và Hồ Chí Minh đã kết thúc và người ta đang chuẩn bị lễ ký. Nếu cho đến lúc này mà hai bên đàm phán chưa đạt được thỏa thuận thì Tướng Wang chắc hẳn sẽ tiếp tục chống lại cuộc tấn công của Pháp với sự cố vấn giá trị của các sĩ quan Nhật mà ông ta vẫn đang giam giữ55. Hành động của quân Tưởng hoàn toàn không phải do vô kỷ luật như một số nhà sử học nghĩ. Đó là một vụ tống tiền có chủ ý và có toan tính trước, nhằm mục đích ép Việt Nam và Pháp thỏa hiệp với nhau. Tàu Tưởng không muốn bị mắc kẹt trong chiến tranh Pháp - Việt, vì vậy, họ làm mọi cách để áp đặt hòa bình. Và họ đã thành công.


Trong nội bộ Quốc dân Đảng, từ lâu, phe tả khuynh dân tộc chủ nghĩa đã thúc đẩy chính sách giúp người Việt tự giải phóng từ tay Pháp. Một nội dung của chính sách này là tìm cách tăng cường ảnh hưởng của các đảng Việt Nam đối lập thân Tàu, các đảng này còn bài Pháp hơn nhiều so với đảng cộng sản. Phe bảo thủ dân tộc chủ nghĩa Quốc dân Đảng có mặt trong số sĩ quan cũng như cố vấn Tàu Tưởng ở Việt Nam. Tuy nhiên, mối lo riêng của Tưởng Giới Thạch là chiến tranh với lực lượng Hồng vệ binh của Mao Trạch Đông ở Bắc Trung Quốc đã bùng nổ trở lại từ tháng Hai 1946 sau một thời gian lắng dịu nhờ sự can thiệp của Mỹ. Tưởng Giới Thạch sợ quân Xôviết sẽ rút khỏi Mãn Châu Lý và để vùng đất này rơi vào tay cộng sản Trung Quốc, ở đông nam Trung Quốc (các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông), Tưởng chỉ muốn bảo vệ và củng cố sự kiểm soát của mình đối với khu vực này, đồng thời tìm cách để các tướng lĩnh địa phương cung cấp binh lính cho ông ta tiến hành chiến tranh ở miền Bắc. Ông ta không muốn dính líu vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà cũng không muốn bị coi là giúp Pháp đàn áp một dân tộc châu Á anh em. Ông ta muốn vùng đệm phía nam của ông ta yên ổn để còn tập trung vào chiến tranh giành Mãn Châu. Ông ta dự kiến điều Đại đoàn 60 chủ yếu là lính xuất thần từ tỉnh Vân Nam đến các cảng Hải Phòng và Hòn Gai để đi đường biển ra mặt trận Mãn Châu. Để làm được điều này, phải ngăn chặn chiến tranh giữa Pháp - Việt Nam. Tàu Tưởng đã ký hiệp ước ngày 28 tháng Hai không chỉ để chấm dứt các đặc quyền của Pháp trên đất Trung Quốc hay để thu lại một món tiền lớn, mà còn vì việc Trung Quốc công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương có thể góp phần bảo đảm sự công nhận của cộng đồng quốc tế đối với chủ quyền của Trung Quốc tại Mãn Châu - vùng lãnh thổ mà Nhật tách ra khỏi Trung Quốc và biến thành nhà nước Mãn Châu độc lập. Đây là một trong những lý do khiến Tưởng Giới Thạch cam kết rút quân chứ không theo đuổi chính sách giải phóng Đông Dương từ tay Pháp như Roosevelt từng mong muốn.


Vào tháng Hai, trước khi ký Hiệp ước với Pháp, Tàu Tưởng đã cố gắng cải thiện quan hệ giữa đội quân Tưởng chiếm đóng với các đại diện của Pháp tại Bắc Kỳ. Suốt từ tháng Chín 1945 tới lúc này đại diện của Pháp tại Bắc Kỳ liên tục lên án quân Tưởng cướp phá khắp nơi, không tôn trọng chủ quyền của Pháp và hầu như không làm gì để bảo vệ thường dân Pháp ở đây. Đội quân Vân Nam đói rách, vô kỷ luật một phần đã rút về Trung Quốc, một phần dồn về khu vực ven biển Hải Phòng - Hòn Gai, đẩy quân Việt Nam ra khỏi khu vực này. Thay thế đội quân Vân Nam là Đại đoàn 53 có kỷ luật hơn trực thuộc chính quyền Tàu Tưởng. Từ ngày 9 đến 26 tháng Hai, Tướng Lư Hán, tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam và chỉ huy tối cao các lực lượng chiếm đóng của Tàu Tưởng tại Việt Nam đã có mặt tại Hà Nội và trong thời gian này, ông ta cố gắng hết sức để thực hiện chính sách thân Pháp của Tàu Tưởng. Đổi lại, ông ta nhận được một "món quà quý" của Pháp và theo viên lãnh sự Pháp tại Côn Minh, ông ta khuyên Hồ Chí Minh thỏa hiệp với chính quyền thực dân Pháp56.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười, 2026, 08:40:38 pm
ĐÀM PHÁN VỚI VIỆT NAM

Nhiệm vụ của Jean Sainteny với tư cách ủy viên pháp tại Bắc Kỳ và miền Bắc An Nam không hề dễ dàng, ông ta đại diện cho nước Pháp tại một vùng mà công dân Pháp tiếp tục bị giam lỏng, trong khi quân Nhật đã bị quân Tưởng giải giáp vũ khí. Sainteny cố gắng bảo vệ các thường dân Pháp cũng như binh lính bị giam và xây dựng mối quan hệ với vị chủ tịch "Chính phủ cách mạng Annam" là Hồ Chí Minh. Từ tháng Mười 1945 trở đi, hai người thỉnh thoảng lại gặp nhau, một trong những lần gặp nhau đó là một vòng đàm phán đặc biệt quan trọng diễn ra ngày 1 tháng Mười hai 1945. Sainteny có phụ tá là Léon Pignon và một người theo SFIO tên là Louis Caput, trong khi đứng đằng sau Hồ Chí Minh là Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám. Từ sau cuộc tổng tuyển cử toàn quốc ngày 6 tháng Giêng khẳng định tính hợp pháp của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Sainteny đi sâu vào nội dung thực chất hơn. Hai vấn đề chính là quyền độc lập của Việt Nam và quy chế của miền Nam Việt Nam hay còn gọi là Nam Kỳ. Sainteny nhất quyết không chịu sử dụng từ "độc lập" hay trao cho Chính phủ Việt Nam chủ quyền dù dưới bất kỳ hình thức nào ở Nam Kỳ, vùng đất có ý nghĩa nhất về kinh tế ở Đông Dương.


Ngày 16 tháng Hai là một ngày có ý nghĩa quyết định. Hồ Chí Minh đang ở trong tình thế cực kỳ khó khăn về chính trị ngay trong thời gian nước rút chuẩn bị cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội mới được bầu trước đó không lâu, đối mặt với các đảng phái dân tộc chủ nghĩa đối lập được Tàu Tưởng công khai ủng hộ đang đòi ông từ chức. Cơn sóng gió này xảy ra trước khi người Việt Nam biết rằng Pháp đang tập hợp quân xâm lược, vì vậy, Hồ Chí Minh quay sang Sainteny và tỏ ý là có thể Hồ Chí Minh sẽ không yêu cầu "độc lập" ngay lập tức mà có thể chấp nhận "tự quản", với mục tiêu cuối cùng là độc lập. Như đã nêu trên, chuyện này xảy ra đúng vào lúc Leclerc yêu cầu Chính phủ Pháp ra một tuyên bố công khai có từ "độc lập". Sự mềm mỏng bất ngờ của Hồ Chí Minh cất cho Pháp được gánh nặng phải sử dụng một từ ngữ nguy hiểm và tạo ra cho người Pháp ảo tưởng tạm thời là họ sắp vớ bở. Họ sẽ sớm thất vọng.


Sau cái có vẻ như là một bước tiến lớn trong đàm phán, Sainteny đến Sài Gòn để nhận chỉ thị của Leclerc. Ngày 19 tháng Hai, ông ta trở về Hà Nội, trên đường phố hôm đó xảy ra những cuộc biểu tình của phe dân tộc chống cộng sản. Phe đối lập biết rằng Hồ Chí Minh đang đàm phán với Pháp và lợi dụng điều đó để phao tin Hồ Chí Minh sắp "trao đổi" nền độc lập của đất nước với Pháp và đòi Người phải rút lui, nhường chức chủ tịch nước cho cựu hoàng Bảo Đại. Sáng ngày 22 tháng Hai, tình hình chính trị cũng như việc Tưởng ủng hộ các đảng đối lập khiến Hồ Chí Minh lo ngại tới mức Người thực sự đã đề nghị trao chức chủ tịch cho cố vấn tối cao Bảo Đại, nhưng ngay trong tối hôm đó, Người thay đổi ý kiến và rút lời đề nghị đó* (Theo tài liệu của tác giả (BT)). Hồ Chí Minh chuyển sang chủ động đàm phán với cả đại diện của Tàu Tưởng và các chính trị gia đối lập, kết quả là họ đạt được một thỏa thuận ngày 24 tháng Hai về việc thành lập một chính phủ liên hiệp quốc gia mới. Điều này giúp cho Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định uy tín của mình và trở lại điểm cứng rắn hơn trong đàm phán với Sainteny.


Trong những ngày tiếp theo, hai người gặp nhau một vài lần nữa nhưng không có tiến triển gì về thực chất. Bỗng nhiên có tin Hiệp ước Pháp - Trung đã được ký tại Trùng Khánh, trong đó quy định Pháp sẽ thay thế Tàu Tưởng. Điều này khiến phía Việt Nam lại rơi vào tình thế khẩn trương mặc dù ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam không phải là thỏa thuận với Pháp mà là tập hợp tất cả các đảng phái vào chính phủ để tập trung sức mạnh chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc sắp tới. Vì lý do đó, kế hoạch khai mạc Quốc hội đầu tiên của Việt Nam đã được đẩy lên sớm một ngày, ngày 2 tháng Ba.


Hôm đó, Quốc hội tổ chức cuộc họp đầu tiên với mối đe dọa Pháp xâm lược treo lơ lửng. Trong một cuộc họp ngắn, 242 đại biểu Quốc hội có mặt đã ra một số quyết định và nhất trí tuyệt đối phê chuẩn Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu. Một trong những nhà lãnh đạo phe dân tộc là Nguyễn Hải Thần trở thành Phó Chủ tịch và một người khác - Nguyễn Tường Tam - là Bộ trưởng Ngoại giao. Người thứ ba - Vũ Hồng Khanh - như đã nêu ở phần trên cuốn sách, được bầu làm Phó Chủ tịch ủy ban toàn quốc kháng chiến do một người thân cận và được Hồ Chí Minh hết sức tin tưởng là ông Võ Nguyên Giáp lãnh đạo. Kỳ họp Quốc hội này ban đầu dự kiến kéo dài vài ngày, nhưng vì lý do an ninh, kỳ họp đã được rút ngắn xuống còn vẻn vẹn bốn giờ đồng hồ. Lý do có lẽ là Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Giáp cho rằng quân Pháp có thể ập vào bất kỳ lúc nào. Vì chưa có thêm tiến triển gì mới trong đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, chắc hẳn ban lãnh đạo Việt Nam phải chuẩn bị tư tưởng cho một cuộc đối đầu một mất một còn nếu như Pháp đổ bộ. Phía Tưởng cũng thấy trước mối nguy này và bắt đầu gây áp lực mạnh mẽ lên cả hai bên để "kiến tạo" hòa bình.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 08:40:08 pm
CƯỠNG BỨC HÒA BÌNH

Không thể xác định một cách chính xác vai trò của Tưởng Giới Thạch trong các sự kiện sau đây. Tức là có thể các tướng lĩnh Tưởng hành động độc lập với ông ta khi từ chối đề nghị hỗ trợ Chiến dịch Bến Tre của Pháp87. Nhưng có nhiều khả năng "Tưởng Quốc trưởng" đồng ý với các tướng lĩnh này và chính ông ta ra lệnh cho họ ngăn cản việc quân Pháp đổ bộ cho tới khi hiệp định Pháp - Việt được ký. Trong nội bộ Trung Quốc thì chính sách cưỡng bức, tống tiền đã manh nha trong phần kiến nghị của một báo cáo đề ngày 6 tháng Hai của Yuan Zijian, cố vấn chính trị của Tướng Lư Hán, chỉ huy quân Tưởng chiếm đóng ở Bắc Đông Dương: "Tại thời điểm này, Pháp không làm gì được Việt Nam, và chúng ta giữ chìa khóa của tình hình". Yuan Zijian kết luận rằng cách duy nhất để ngăn thảm họa nối tiếp nhau xảy ra là ép Pháp phải đạt được một thỏa thuận công bằng ở mức nhất định với Việt Nam, bao gồm cả thỏa thuận về quy chế chính trị của Việt Nam58.


Giờ thì chúng ta hãy cùng nhau điểm lại theo trình tự thời gian những sự kiện xảy ra trong bốn ngày Tàu Tưởng thực hiện cưỡng bức để có hòa bình:

Ngày 3 tháng Ba: Một sĩ quan liên lạc của Pháp ở Hà Nội hỏi đồng nghiệp Tàu Tưởng xem nếu Pháp đổ bộ khi chưa có thỏa thuận Pháp - Việt, liệu quân Tưởng có nổ súng hay không. Câu trả lời là có, nhưng phía Tưởng đang gây áp lực mạnh mẽ buộc các đảng phái ở An Nam đoàn kết. Pháp nên đợi một thời gian để phía Việt Nam thực sự đoàn kết lại trong một khối liên minh chân thành. Quân Pháp không được xuất hiện trước khi khối liên minh này hình thành59. Một ngày trước, Quốc hội đã phê chuẩn việc thành lập Chính phủ liên hiệp mới của Hồ Chí Minh, nhưng tới ngày 4 tháng Ba, Chính phủ liên hiệp kháng chiến mới họp.


Ngày 4 tháng Ba: Trong một cuộc hội đàm Pháp - Trung kéo dài tại Hà Nội, Tướng Ma Ying nêu khả năng "sinh biến với các phe phái Việt Nam. Nếu có đánh nhau, sẽ có lộn xộn, [và] an ninh trật tự sẽ bị ảnh hưởng; do đó, phải tìm kiếm một giải pháp hạn chế những rắc rối có thể xảy ra trong trường hợp có lộn xộn". Ban đầu, Salan trả lời là "quả thật có khả năng xảy ra đánh nhau, nhưng khi chúng tôi triển khai xong việc đổ bộ, trách nhiệm giữ an ninh trật tự sẽ chuyển sang chúng tôi và khi đó chúng tôi sẽ có đầy đủ phương tiện để bảo đảm an ninh trật tự. Có thể ban đầu có một số xáo trộn nhất định, nhưng tình hình sẽ nhanh chóng lắng xuống và không có lý do gì phải lo ngại xảy ra rắc rối lớn". Một thoáng sau, Salan nói thêm: "Vả lại đàm phán với chính phủ An Nam đang được tiến hành và không loại trừ khả năng chúng tôi làm bạn với họ... Khi các ông rời đi thì rất có thể thỏa thuận với An Nam đã ký xong, như thế tình hình sẽ sáng tỏ hơn nhiều". Phía Tàu Tưởng nói họ thấy nên giải quyết bằng con đường chính trị trước khi quân Pháp đến thì tốt hơn. Salan trả lời: "Chúng tôi đang cố"60.


Cũng trong ngày 4 tháng Ba, Chính phủ liên hiệp mới của Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp đầu tiên và trao cho Hồ Chí Minh quyền tiếp tục đàm phán. Trong khi đó, Cominindo hỏi Cao ủy d'Argenlieu liệu ông ta có trì hoãn chiến dịch quân sự cho đến khi thỏa thuận được với Hồ Chí Minh hay không, và nói thêm: "Chúng tôi mong muốn ông cố gắng hết sức để đạt được thỏa thuận với phía Việt Nam trước khi mở màn chiến dịch quân sự"61. D'Argenlieu cho Leclerc biết Chính phủ Pháp tỏ ý muốn chừng nào thỏa thuận với Hồ Chí Minh ký xong thì "chiến dịch tiếp quản" mới diễn ra, nhưng bổ sung rằng cá nhân d'Argenlieu đã biết rõ về kế hoạch đổ bộ của quân Pháp tại Hải Phòng, Hòn Gai và cướp ngục tại Hà Nội. "Và cuối cùng thì ngài phải tự quyết định thôi", d'Argenlieu nói62. Ý nghĩa của chuyện này có lẽ là mặc dù biết rõ mong muốn của Chính phủ Pháp, d'Argenlieu toan tính cứ đổ bộ ngay cả khi không có thỏa thuận với Hồ Chí Minh và cho rằng Leclerc cũng tính như mình. Để Chính phủ Pháp không chỉ trích họ, d'Argenlieu khuyến cáo Marius Moutet là cần phải cảnh giác với âm mưu của Tưởng và có thể phía An Nam đã "đi đêm" với quân Tưởng ở Đông Dương và điều đó rất có thể là gây ra xung đột vũ trang. Có lẽ vì d'Argenlieu không muốn nói trắng ra về nguy cơ này nên ngôn từ của ông ta đầy bí hiểm: "Nếu chính phủ tiếp tục ủng hộ chúng và đó là một điều cực kỳ quan trọng, chuyến này chúng ta sẽ cầu... Tôi cho rằng điều nên làm là cho phép mọi chuyên xảy ra phơi ra ánh nắng mặt trời một vài ngày để đánh giá hành động mà chúng ta quyết tâm làm. Đừng ngạc nhiên nếu các thông báo của tôi có vẻ lạnh lùng và bàng quan"63. Đây là lời lẽ của một người biết rằng quyết định của mình có thể làm bùng nổ chiến tranh, và chính phủ của ông ta sẽ không ưa gì quyết định đó, nhưng cũng sẽ không dám chỉ trích ông ta, chủ yếu là vì ông ta được Tướng de Gaulle ủng hộ.


Ngày 5 tháng Ba: Buổi sáng, chỉ huy Đại đoàn 53 quân Tưởng gửi một bức điện từ Trùng Khánh tới Hà Nội với nội dung: "Thúc Hồ Chí Minh ký với Pháp... Lệnh Sư đoàn 130, Đại đoàn 53 cản Pháp đổ bộ khi đàm phán Pháp - Việt chưa hoàn tất"64. Salan cùng báo cho Leclerc rằng quân Tưởng đã cam kết gây áp lực mạnh đối với Hồ Chí Minh trong đêm đó để thúc đẩy thỏa hiệp65.


Ở Hà Nội lúc này, các cuộc hội đàm giữa Salan với các tướng lĩnh Tàu Tưởng trực tiếp đả động tới tiến trình đàm phán giữa Sainteny và Hồ Chí Minh...

Tướng Zhao Zhenfan không dễ bị đe dọa, mà ngược lại còn kiên quyết: "Không như các ngài, tôi ngờ rằng sẽ có những vụ việc nghiêm trọng. Phía An Nam chắc chắn sẽ tấn công cả quân Pháp và quân Tưởng. Nếu xảy ra tấn công, chúng tôi phải tự vệ và không bảo vệ được thường dân Pháp nữa đâu". Salan bèn nhắc lại lời hứa của ông ta vài ngày trước là sẽ chịu trách nhiệm cá nhân nếu xảy ra bất kỳ vụ việc nào: "Có thể có chết chóc, nhưng không ai có thể ngăn cản điều đó cả. Theo cách lập luận của ngài thì người Pháp chẳng lẽ không bao giờ đổ bộ được hay sao... Điều tôi yêu cầu chỉ đơn giản là quân Tưởng không bắn vào quân Pháp, là không để xảy ra va chạm giữa quân Tưởng với quân Pháp, và rằng phía Tàu Tưởng để chúng tôi đổ bộ. Chúng tôi chịu trách nhiệm về những việc còn lại".


Phía Tàu Tưởng giả ngây giả điếc trước yêu cầu này và nêu lại sự cần thiết phải ký thỏa thuận với Hồ Chí Minh trước đã. Salan phản đối: "Không ai thỏa thuận được điều gì với ông ta... Chỉ cần chúng tôi lên bến thì mọi chuyện ở đây sẽ được giải quyết êm đẹp"66.


Cũng vào lúc đó, tác giả của kế hoạch Bến Tre là Trung tá Lecomte nhận ra rằng Pháp đã tự đưa mình vào một cái bẫy. Ông ta ở Hà Nội và chỉ có thể liên lạc bằng vô tuyến điện với Leclerc. Ông ta bèn viết tay một lời nhắn Sainteny mà về sau trở nên nổi tiếng với nội dung như sau:

Lúc này ta không thể sửa đổi cách triển khai kế hoạch của chúng ta nên chúng ta có nguy cơ vướng phải những xung đột đẫm máu với quân Tưởng, và những sự kiện như vậy sẽ còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên bình diện quốc tế. Hy vọng duy nhất của chúng ta để thay đổi thái độ của quân Tưởng là báo cho họ rằng thỏa thuận giữa ta với An Nam đã được ký. Trong tình huống nghiêm trọng này và xét phạm vi của cuộc xung đột có thể sẽ xảy ra, nhân danh Tướng Leclerc, người đã cho phép tôi nói với ông điều này, tôi yêu cầu ông ngay lập tức làm tất cả những gì ông có thể làm để đạt được một thỏa thuận càng sớm càng tốt, kể cả khi phải chấp nhận những điều mà về sau có thể phủ nhận67.


Như vậy là vào thời điểm này, về cơ bản, đáng lẽ Hồ Chí Minh có thể giành được bất kỳ điều gì ông muốn, ít nhất là trên giấy tờ. Nhưng tất nhiên Tàu Tưởng không chỉ tống tiền Pháp. Họ cũng gây áp lực với cả phía Việt Nam nữa. Không may là các nhà sử học vẫn chưa có điều kiện tiếp cận bất kỳ biên bản trao đổi nào giữa Hồ Chí Minh và tướng lĩnh Tàu Tưởng. Tối mùng 5 tháng Ba, Tướng Zhao gặp Hồ Chí Minh rồi sau đó đích thân chuyển đề xuất của Hồ Chí Minh tới đoàn đàm phán Pháp68. Vào thời điểm muộn màng này, bất ngờ đoàn Việt Nam đưa ra một vấn đề tranh cãi mới là sự cần thiết phải xác định số quân Pháp được phép có mặt ở miền Bắc, họ được ở lại bao lâu và đóng đồn ở những điểm nào. Còn vài giờ nữa thì sang ngày mới, Việt Nam vẫn kiên quyết không chấp nhận cho bất kỳ tên lính Pháp nào vào Hà Nội và đòi Pháp phải đưa tất cả những binh lính đang bị giam giữ tại thành Hà Nội về nước. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy lại không thể xin ý kiến Paris hay Sài Gòn, Sainteny và Salan đã đặt bút ký vào những nghĩa vụ mà về sau chính phủ của họ sẽ thấy khó mà tôn trọng. Những nghĩa vụ đó được viết trong một phụ lục quân sự đi kèm với hiệp định chính trị mà nội dung của nó đã được chốt lại69.


Ngày 6 tháng Ba: Rạng sáng, những chiến hạm Pháp đầu tiên đến Hải Phòng và vấp phải hỏa lực mạnh của quân Tưởng. Ban đầu, quân Pháp không đáp trả mặc dù phải chịu khá nhiều thương vong, nhưng sau đó quân Tưởng tiếp tục xả súng, Pháp liền nã pháo vào các cứ điểm của Tàu Tưởng khiến một kho đạn của Tàu Tưởng trúng phải đạn pháo của Pháp và nổ tung. Hai bên đọ súng tới 11h trưa, trong lúc đó hai đoàn đàm phán tại Hà Nội tiếp tục mặc cả về những chi tiết cuối cùng của phụ lục về các vấn đề quân sự đính kèm hiệp định. Từ 6h sáng, khi hai bên bắt đầu phiên đàm phán, nội dung hiệp định tạm coi là đã xong nhưng hai bên lại đàm phán tiếp về phụ lục cho đến tận 11h trưa, vì vậy đến 4h chiều văn bản mới làm xong. Tướng Salan chỉ có một khoảng thời gian ngắn để đọc lại văn bản trước khi đặt bút ký toàn bộ Hiệp định sơ bộ, bao gồm phụ lục về vấn đề quân sự. Lễ ký được tổ chức vào lúc 5h chiều70.


Một báo cáo tình báo của Pháp khẳng định phía Tàu Tưởng có vai trò nhất định trong việc tác động đến quyết định của Hồ Chí Minh vào giai đoạn đàm phán cuối cùng: "Giới chức Tàu Tưởng được [các thành viên đoàn đàm phán Việt Nam] thông báo diễn biên tình hình đàm phán đến từng phút một"71. Phía Tàu Tưởng có lẽ cũng thiết kế chi tiết để không chỉ Chủ tịch mà cả Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến là Vũ Hồng Khanh cũng đều ký vào Hiệp định cùng với Sainteny72. Điều này có ích cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh vì nó khiến Vũ Hồng Khanh và đảng của ông ta không thể lên án Việt Minh bán nước cho Pháp.


Tối hôm đó, d'Argenlieu giải thích cho Chính phủ Pháp lý do ông ta cho phép ký Hiệp định: "Các tham mưu của Tàu Tưởng ở Trùng Khánh lật lọng, đồng thời giới chức quân sự Tàu Tưởng tại chỗ thúc bách ta ký một thỏa thuận với chính phủ An Nam tại Hà Nội trước khi cho quân đổ bộ, tất cả điều này buộc chúng tôi phải gấp rút ký kết Hiệp định"73.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 08:43:09 pm
KẾT QUẢ

Từ 11h trở đi, Hải Phòng đã im tiếng súng, nhưng chưa người lính Pháp nào được đặt chân xuống mặt đất. Chiều hôm đó, một đại đội tượng trưng được phép đổ bộ. Ngày 7 tháng Ba, thêm một số lính Pháp được rời tàu sau khi hai đại diện Chính phủ Việt Nam lên tàu Sénégalais đón Leclerc. Leclerc nói với họ một cách thô lỗ rằng "dù phía các ông có đồng ý hay không" thì Pháp vẫn cứ đến74. Quân Tưởng chỉ định một khu vực quân Pháp được phép hạ trại, sau đó một nhóm lớn lính Pháp đầu tiên mới thực sự đổ bộ và hạ trại tại đó. Trong hai tuần tiếp theo, chưa có gì chắc chắn là Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba sẽ đứng vững. Phản ứng của dân chúng Việt Nam chưa có gì là rõ ràng. Mặc dù chữ ký của Vũ Hồng Khanh đặt đặt cạnh chữ ký của Hồ Chí Minh, song những người dân tộc nghĩa đối lập với Việt Minh vẫn lên án chính phủ bán nước. Trước tình hình đó, chính phủ triệu tập một cuộc míttinh lớn ở Hà Nội tối mùng 7 tháng Ba để bảo vệ lập trường của mình, ông Giáp, ông Khanh và Hồ Chí Minh phát biểu giải thích sự cần thiết phải thỏa hiệp với Pháp, đám đông dân chúng hoan nghênh, ông Giáp trình bày ba lựa chọn trước mắt: một cuộc kháng chiến lâu dài, một cuộc kháng chiến ngắn, hay thỏa hiệp bằng đàm phán. Lựa chọn thứ nhất sẽ gây ra nhiều mất mát, thương vong mà không chắc chắn thành công vì điều kiện thế giới chưa thuận lợi. Lựa chọn thứ hai sẽ dẫn đến thất bại vì Pháp có đầy vũ khí tối tân. Do vậy, chính phủ đã chọn phương án thứ ba. Phương án này cho phép Việt Nam có thêm thời gian xây dựng lực lượng cả về kinh tế và quân sự. Ông Giáp so sánh Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba với hiệp định của chính phủ cách mạng của Lênin với Đức tại Brest-Litovsk năm 1918: "Chẳng phải nhờ hiệp định này mà nước Nga đã trở thành cường quốc hay sao? Tư tưởng chủ đạo, mục tiêu cuối cùng của chính phủ là hòa bình để phát triển. Con đường mà hiệp định này mở ra dẫn đến độc lập hoàn toàn trong tương lai, và chúng ta quyết giữ mục tiêu đó"75. Phát biểu của ông Giáp và Hồ Chí Minh đã dẹp đường cho lực lượng Leclerc tiến từ Hải Phòng đến Hà Nội và đặt chân vào thủ đô Hà Nội ngày 18 tháng Ba. Theo nguồn tin lịch sử chính thức, Hiệp định ngày 6 tháng Ba được coi là một giải pháp giúp Chính phủ Việt Nam tránh phải tranh đấu đồng thời với cả Trung Quốc và Pháp. Chính phủ Việt Nam đã "tìm kiếm thỏa hiệp với người Pháp để chấm dứt tình trạng chiếm đóng của quân Tưởng Giới Thạch và để kéo dài thêm thời gian"76, cần thêm thời gian để dẹp không chỉ quân Tưởng chiếm đóng, mà còn phải tiêu diệt bè lũ "phản cách mạng" được quân Tàu Tưởng nâng đỡ, để xây dựng và chuẩn bị cho quân đội Việt Nam kháng chiến lâu dài.


Cũng khó mà biết được Pháp có ý định tôn trọng hiệp định này hay không. Lính Pháp trong thành Hà Nội chưa mất hy vọng trả thù, và quân viễn chinh Pháp vẫn lăm le triển khai Chiến dịch Bến Tre. Ngày 8 tháng Ba, d'Argenlieu than phiền riêng với Tướng Valluy: "Tôi kinh ngạc, vâng, ngài đại tướng ạ, tôi không biết dùng từ gì khác hơn là kinh ngạc, rằng nước Pháp có một lực lượng quân viễn chinh hùng hậu như vậy, mà các chỉ huy của lực lượng này lại muốn đàm phán hơn là đánh nhau"77. Ngày hôm sau, trong một bài diễn văn tưởng niệm những người kháng cự quân Nhật khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba năm trước, ông ta nói rằng ông ta chấp nhận Hiệp định ngày 6 tháng 3, rằng hiệp định này "cũng tốt"78, nhưng ông ta dùng cụm từ "chính phủ Hà Nội" khi nói đến Chính phủ Việt Nam, và ông ta so sánh quy chế của Việt Nam với quy chế của Campuchia đã ký hiệp định với Pháp ngày 7 tháng Giêng79. Trong khi đó, binh lính và sĩ quan Pháp ở Hải Phòng lăm le tiến về Hà Nội. Quân Tưởng chần chừ không muốn rút vì thấy tình hình chưa thực sự yên, nhưng Pháp hối thúc Tàu Tưởng trao chính quyền cho Pháp trước cuối tháng Ba, thực hiện nghĩa vụ theo Hiệp ước Trùng Khánh. Lúc này Pháp đặt lại với Tàu Tưởng vấn đề trang bị lại vũ khí cho lính Pháp trong thành Hà Nội. Quân Tưởng miễn cưỡng chấp thuận cho 10 máy bay Pháp chất đầy súng cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất ở ngoại thành Sài Gòn, bí mật mang tới sân bay Gia Lâm, từ đây, số súng này sẽ được chuyển vào nội thành Hà Nội bằng xe tải. Bất ngờ Tàu Tưởng đổi ý, Tướng Salan đành phải ra lệnh cho các máy bay này chuyển hướng hạ cánh ở Pạcxê, Lào. Ngày 21 hay 22 tháng Ba, súng mới được chuyển đến, lúc đó quân Leclerc đã có mặt trong thành phố mà không phát đạn nào được bắn ra80.


Không một ai cảm thấy biết ơn quân Tưởng vì đã đóng vai trò nhất định trong việc thiết kế Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba và giám sát buộc các bên tôn trọng hiệp định này trong mấy tuần sau khi hiệp định được ký. Hai mươi vạn quân Tưởng, đặc biệt là cánh quân Vân Nam đã cướp bóc, vơ vét mọi thứ trên mặt đất. Cả người Việt và người Pháp đều căm ghét chúng. Hầu như cùng lúc Hiệp định ngày 6 tháng Ba được ký tại Hà Nội, cựu Thủ tướng Winston Churchill đọc một bài diễn văn nổi tiếng tại Fulton, bang Missouri, trong đó có đoạn: "Từ Stettin ở biển Bantích tới Triest ở vùng biển Adriatic, một tấm màn sắt đã sập xuống cắt ngang lục địa [châu Âu]. Sau tấm màn đó là tất cả các thủ đô của các nước châu Âu cổ xưa thuộc Trung Âu và Đông Âu. Warsaw (Vácsava) Berlin (Béclin), Prague (Praha), Vienna (Viên), Budapest (Buđapét) Belgrade (Bengrết), Bucharest (Bucarét) và Sofia (Xôphia)... Tình hình cũng hết sức đáng ngại ở Viễn Đông và đặc biệt là ở Mãn Châu". Xtalin lúc này vừa quyết định rút quân Liên Xô khỏi Mãn Châu trước khi Tưởng Giới Thạch kịp bố trí một lực lượng quân đội đủ mạnh tại đây nhằm ngăn cản Hồng vệ binh tiếp quản Mãn Châu. Tháng Sáu 1946, nội chiến thực sự bùng nổ tại Trung Quốc, và ba năm sau, Tưởng Giới Thạch buộc phải chạy ra Đài Loan. Năm 1950, một số sĩ quan Tàu Tưởng từng phục vụ quân Tàu Tưởng tại Việt Nam trong thời gian 1945-1946 được Mao Trạch Đông cử quay lại "vùng giải phóng" ở Bắc Đông Dương với tư cách cố vấn, huấn luyện viên và chuyên gia cầu cống giúp Việt Minh81. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không chú ý nhiều đến việc tuyên truyền vai trò của Tàu Tưởng trong những năm 1945-1946, nhưng khi chúng ta rà lại những sự kiện xảy ra trong thời gian từ tháng Hai đến tháng Ba 1946, chúng ta thấy rõ rằng "nền hòa bình ngắn ngủi và mong manh từ tháng Ba đến tháng Mười một, tiền đề để Hồ Chí Minh đến thăm nước Pháp và bước vào chính trường thế giới với tư cách đại diện quốc gia, cũng như tạo điều kiện cho ông Giáp xây dựng quân đội Việt Nam, là một nền hòa bình do Tàu Tưởng dựng lên. Quân át chủ bài của Trung Quốc là cả Việt Nam và Pháp đều muốn tránh nguy cơ chiến tranh trên cả hai mặt trận. Tướng Valluy đã nói rõ với Thủ tướng Pháp rằng chiến tranh trên cả hai mặt trận là không thể chấp nhận được: "Chỉ có thể trì hoãn giải pháp cho Bắc Kỳ trong vòng tối đa là một hay hai tháng nữa. Giải pháp này không nên thể hiện dưới hình thức hành động quân sự thuần túy, vì điều đó sẽ khiến ta ở vào thế cùng lúc đối đầu với Tàu Tưởng và An Nam". Các nhà lãnh đạo Việt Minh cũng nhận định tương tự như vậy một thời gian ngắn trước khi họ quyết định ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba: "Nếu Pháp công nhận chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có thể hòa hoãn. Hòa hoãn để dẹp Tàu Tưởng tham tàn, tiêu diệt bè lũ phản cách mạng trong nước và tàn dư phátxít Pháp. Nếu không, chúng ta sẽ bị cô lập và phải chiến đấu với hai kẻ thù cùng lúc và có thể thất bại"82.


Tàu Tưởng đã tiếp tục tác động trong bao lâu để giữ nền hòa bình đó? Theo ý kiến chưa được khẳng định, cho tới tận ngày 18 tháng Chín, khi đơn vị lính Tưởng cuối cùng rút khỏi Hải Phòng, quân Tưởng mới buông tay. Chừng nào mà còn ít nhất vài tên lính Tưởng chiếm đóng ở Bắc Đông Dương, mọi sự đối đầu vũ lực công khai giữa Pháp và Việt Nam đều có nguy cơ gây chấn động ở tầm quốc tế. Tam giác quyền lực của ba quốc gia đều có lực lượng quân đội hiện diện trên cùng một lãnh thổ có khuynh hướng tạo ra cân bằng có lợi cho hòa bình. Tác phẩm của tam giác quyền lực là một loại tạm ước không chính thức, trong đó Pháp và Việt Nam giằng co với nhau, không bao giờ thỏa thuận. Tuy vậy, ngày 15 tháng Chín, ba ngày trước khi sự chiếm đóng của Tàu Tưởng kết thúc vào ngày 18 tháng Chín, Hồ Chí Minh và Marius Moutet quyết định ký một tạm ước khác, lần này chỉ của riêng hai bên.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 08:46:46 pm
Chương 3
BẢN TẠM ƯỚC


Đêm khuya ngày 14 tháng Chín 1946, Hồ Chí Minh đến nhà riêng của Marius Moutet tại Paris. Người đã ở Pháp suốt mùa hè vừa qua, trả lời phỏng vấn nhiều nhà báo, tạo nên một hình ảnh không thể xóa nhòa gây ấn tượng mạnh với nhiều nhà báo Pháp và nước ngoài, trong khi cuộc hội đàm chính thức Pháp - Việt tại Fontainebleau cách xa Paris, một nơi giao lưu quốc tế với nhiều xu hướng khác nhau về chủng tộc, về chính kiến, đã không đi đến một thỏa thuận nào. Sự bế tắc chủ yếu vẫn là vấn đề độc lập dân tộc và thống nhất ba "kỳ". Nước Pháp đã không sẵn sàng trao trả độc lập cho Việt Nam và người Việt Nam cũng không sẵn sàng mềm dẻo hơn trong lập trường thương thuyết của họ, trừ phi có một sự dàn xếp tạm thời. Và điều quan trọng hơn nữa là Pháp đã từ chối ấn định thời gian cho việc tổ chức trưng cầu ý dân về việc thống nhất đất nước, và người Việt Nam cũng không chịu ký một văn bản thỏa thuận nào trừ phi họ thấy thời hạn tổ chức trưng cầu ý dân được ghi trong lịch trình của họ.


Một ngày trước đó, các nhà thương thuyết Việt Nam - trừ Hồ Chí Minh còn ở lại Paris - đã rời khỏi Fontainebleau về cảng Marseille để lên tàu Pasteur về nước, để lại sau lưng họ công việc còn dở dang trong cuộc đàm phán Việt - Pháp. Hồ Chí Minh ăn trưa với Moutet và hai người thỏa thuận rằng việc Hồ Chí Minh về nước với hai bàn tay trắng là không thể chấp nhận được. Các bản dự thảo đã được trao đổi để đi đến một thỏa thuận sơ bộ, xác nhận lại Hiệp định ngày 6 tháng Ba, nhưng có một số điểm bổ sung và ấn định thời hạn cho một vòng đàm phán vào tháng Giêng 1947. Buổi chiều hôm đó Moutet đã tiếp Hồ Chí Minh tại nhà riêng và sau lúc nửa đêm 14 rạng ngày 15 tháng Chín, hai ông đã ký vào bản thỏa ước tại phòng ngủ của Moutet1. Trên đường trở về nhà Hồ Chí Minh đã linh cảm trước những phản ứng của dư luận trong nước nhằm hạ thấp kết quả chuyến đi Pháp dài ngày của Người từ tháng Năm đến nay. Người ta nói rằng Hồ Chí Minh đã thầm nhủ với mình: "là vừa mới ký một tờ khai tử"2.


Tuy nhiên, đồng bào trong nước của Hồ Chí Minh đã không lên án ông. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hưởng lợi từ bản thỏa ước, văn bản này đã gây tổn hại cho vị thế của Pháp, đặc biệt là ở Nam Kỳ. Điểm quan trọng nhất trong thỏa ước là ngừng bắn ở miền Nam, nơi đây du kích Việt Minh đã tăng cường hoạt động từ khi những lực lượng thiện chiến nhất của quân Pháp được đưa ra miền Bắc từ tháng Ba. Thỏa thuận về ngừng bắn ở miền Nam có nghĩa là sự thừa nhận trong thực tế lực lượng du kích và là một khó khăn cho Pháp trong việc tố cáo hoạt động của du kích như những hành động khủng bố. Tạm ước ngày 14 tháng Chín gồm 11 điều, nêu ra một cách đại cương những điều kiện cho việc hợp tác Pháp - Việt trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, ngoại giao và quân sự, nhưng nếu không kể việc ngừng bắn và lời hứa hẹn của hai bên tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, bản thỏa ước đã không nói lên những nhân nhượng mới của mỗi bên. Bản thỏa ước còn ghi nhận một vòng đàm phán mới để giải quyết dứt khoát những vấn đề then chốt trong bang giao Pháp - Việt, sẽ được tổ chức sau khi Đệ tứ Cộng hòa Pháp được tuyên bố thành lập vào tháng Giêng 1947.


Tại sao cả Pháp và Việt Nam đều cố gắng đi đến một thỏa thuận đầy chông gai vào mùa xuân (ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba) và mùa hè (ký Tạm ước ngày 14 tháng Chín) năm 1946? Tại sao hai bên đã làm cho nhau hài lòng khi ký Tạm ước ngày 14 tháng Chín? Trước khi đi vào phân tích việc thực hiện Hiệp định ngày 6 tháng Ba, chúng ta phải tìm lời giải cho những câu hỏi nói trên. Có thể có ba lý do cần được xem xét. Một là, việc quân đội Trung Hoa tiếp tục có mặt tại Bắc Đông Dương. Hai là, hai bên Việt và Pháp không bên nào hài lòng về Hiệp định 6 tháng Ba. Sau này, bên nào cũng cho đó chỉ là một bước tạm nghỉ để tiến lên hướng về mục tiêu của mình. Ba là, tình hình không rõ ràng tại nước Pháp. Nền Đệ tứ Cộng hòa mới thành lập, còn chưa có Hiến pháp, chưa có đường lối chính trị rõ ràng.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 08:48:51 pm
TRUNG HOA CHẬM RÚT QUÂN KHỎI BẮC ĐÔNG DƯƠNG

Việc kéo dài sự có mặt của người Trung Hoa tại miền Bắc có hại cho cả hai phía Pháp và Việt Nam. Trong lúc Pháp thấy Việt Nam tỏ ra vui mừng khi thoát được ra khỏi sự "che chở" của người Trung Quốc, thì các nhà lãnh đạo Việt Nam mong đến ngày đuổi được những phần tử "quốc gia chống cộng" ra khỏi chính phủ và các tỉnh dọc biên giới do bọn này đã chiếm được nhờ sự ủng hộ của quân đội Trung Hoa. Chính phủ liên hiệp vào tháng Tư đã yêu cầu Sư đoàn 53 quân Trung Quốc ở lại Bắc Kỳ cho đến khi Việt Nam Kỳ được hiệp định chính thức với Pháp, nhưng đó là chủ trương của Việt Nam Quốc dân Đảng mà người cầm đầu đang giữ cương vị Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ liên hiệp3.


Sự có mặt của người Trung Hoa là một trong những lý do khiến Chính phủ Pháp quyết định mời Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp. Leclerc và Sainteny muốn tách Hồ Chí Minh khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa. Ngày 15 tháng Ba, Leclerc gửi một bức điện cho d'Argenlieu cảnh báo sự cần thiết phải chống lại ý đồ của Trung Hoa muốn phá hoại quá trình hợp tác Pháp - Việt vừa mới khởi động sau ngày 6 tháng Ba: "Để làm thất bại mưu đồ ấy, chúng ta phải phá hủy sự cấu kết Trung - Việt càng sớm cà tốt, tách Việt Minh khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa và các đảng phái quốc gia cực đoan được Trung Hoa ủng hộ"4. Leclerc tạo thuận lợi cho các cuộc đàm phán Pháp - Việt được tiến hành ngay tại Pháp. Ông chỉ thị cho Tướng Salan thông báo cho Hồ Chí Minh cuộc đàm phán sẽ sớm được tiến hành tại Paris5. Đó là lập trường của Leclerc trước khi tiến quân vào Hà Nội. Lời hứa hẹn của ông đã không được d'Argenlieu tán thành, ông này đã báo cáo với Chính phủ Pháp một tuần sau đó rằng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu cuộc đàm phán Pháp - Việt được tiến hành tại Paris vì như vậy sẽ làm suy giảm quyền lực của vị cao ủy Pháp, khiến cho Bắc Kỳ có một vị thế tốt hơn các thành viên khác trong Liên bang Đông Dương. Rõ ràng, ông ta không muốn phá hoại mọi dự định của Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm Pháp sẽ gây ảnh hưởng đối với chính giới Pháp, và thông qua các cuộc tiếp xúc ở Pháp, sẽ phát huy vai trò người cựu trào của công cuộc truyền bá giáo lý cộng sản. D'Argenlieu chấp nhận rằng cần phải tách những người đại diện Việt Nam ra khỏi không khí chính trị không lành mạnh tại Hà Nội, nhưng là người thần tín của de Gaulle, ông cho rằng không khí chính trị tại Paris còn tệ hại hơn nữa. Theo d'Argenlieu, địa điểm tốt nhất cho cuộc đàm phán Pháp - Việt sẽ là Đà Lạt, ít nhất tại đây khí hậu mát mẻ là một nơi nghỉ dưỡng được ưa thích giữa mùa hè nóng nực đối với các quan chức cai trị thuộc địa. Ông ta còn nhắm vào mục tiêu dài hơi là sẽ biến Đà Lạt thành thủ phủ mới của Liên bang Đông Dương trong tương lai. Họp tại Đà Lạt, hội nghị đàm phán Pháp - Việt sẽ không bị các cuộc biểu tình tự phát hoặc có tổ chức của quần chúng gây rối không khí thương lượng"6. Ngày 24 tháng Ba, vị cao ủy mời Hồ Chí Minh ra gặp ông trong một cuộc nói chuyện tay đôi (nghĩa là không mời Leclerc tham dự) trên boong tàu chiến Emile Bertin tại Vịnh Hạ Long phía bắc cảng Hải Phòng. Tại cuộc gặp, d'Argenlieu đã bác bỏ đề nghị của Hồ Chí Minh sớm mở cuộc đàm phán Pháp - Việt tại Paris, như thế là trái với ý định của Leclerc. Điều này làm cho ông ta bực tức7.


Lập luận của Leclerc trong bức điện ngày 15 tháng Ba đã chỉ ra động cơ chính của thái độ hòa giải của vị tướng này là nỗi lo sợ xảy ra đồng thời hai cuộc xung đột Pháp - Việt và Pháp - Trung. Nhận định của ông ta dựa vào những điều đã xảy ra tại miền Bắc. Còn d'Argenlieu nhìn xa hơn, ông lo sợ Hồ Chí Minh sẽ giành được sự nhượng bộ của xu hướng thiên tả trong Chính phủ Pháp lúc bấy giờ, sau khi de Gaulle rời khỏi chính quyền. Ngày 27 tháng Ba, Leclerc bênh vực giá trị của Hiệp định ngày 6 tháng Ba trong một bản báo cáo dài gửi de Gaulle trước khi ông này rời chức vụ đứng đầu chính phủ8. Nếu lực lượng của ông phải lao vào cuộc chiến đồng thời với hai đối thủ là người Việt và người Trung Hoa thì như ông nói, "cuộc tái chiếm Bắc Kỳ dù chỉ là một phần cũng sẽ không thể thực hiện được", ông chỉ trích d'Argenlieu (tuy không nêu đích danh) vì đã không báo cáo hết sự thật về mối hiểm nguy đó cho Chính phủ Pháp. Theo Leclerc, Pháp chỉ có thể giành phần thắng bằng phương sách chính trị và các cuộc thương lượng. Trung Hoa rút quân càng sớm khỏi Bắc Đông Dương càng tốt, các vấn đề khác sẽ giải quyết dễ dàng hơn, vì lúc này vị thế của Pháp sẽ được cải thiện hơn trong quan hệ với Việt Nam9.


Nhưng Leclerc đã nhầm khi ông ta nghĩ rằng ảnh hưởng của người Trung Quốc đã làm cho người Việt Nam kém biết điều hơn. Như chúng ta đã thấy, người Trung Quốc bây giờ mong muốn Chính phủ Việt Nam hợp tác với Pháp. Nói rộng ra, Việt Minh cũng cần Pháp làm đối trọng với Trung Hoa, một khi người Trung Quốc rút hết quân rồi, Việt Minh sẽ kiểm soát được tốt hơn tình hình quốc nội, sẽ có triển vọng tốt hơn trong cuộc kháng chiến lâu dài sau này với Pháp và do đó sẽ tỏ ra kém sẵn sàng thỏa hiệp trong đàm phán với Pháp. Điều này đã được Léon Pignon vật then chốt trong việc đề ra chính sách Pháp, hiểu rất rõ. Ông đã làm trợ lý cho Sainteny trong các cuộc đàm phán dẫn tới Hiệp định ngày 6 tháng Ba, sau này đã có vai trò quan trọng trong đoàn đại biểu Pháp tại Hội nghị Fontainebleau. Từ tháng Bảy đến tháng Chín 1946 và từ ngày 2 tháng Mười, ông ta trở thành phụ tá về chính trị cho d'Argenlieu tại Sài Gòn. Pignon là cựu sinh viên có thành tích học tập xuất sắc tại Trường Thuộc địa Pháp và là "nhân vật tầm cỡ Machiavelli" của chính quyền thuộc địa Pháp. Đối với ông ta, quyền lợi của nước Pháp, chứ không phải lý tưởng mới là điều đáng kể. Đầu năm 1946, khi ảnh hưởng của Trung Hoa và các đảng phái Việt Nam thân Trung Hoa đang lên mạnh, Pignon đã có ý định tách Việt Nam khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và hướng về Pháp10. Do đó, ông ta đã hăng hái trợ giúp Sainteny trong các cuộc thương lượng với Hồ Chí Minh. Sau Hiệp định ngày 6 tháng Ba Pignon nhanh chóng nhận ra rằng Hồ Chí Minh là đối thủ đáng gờm nhất của Pháp, ông ta lại quan tâm nhiều hơn đến Cựu hoàng Bảo Đại, cũng như những người cầm đầu các đảng phái quốc gia thân Trung Hoa, như là các lực lượng đối trọng với Việt Minh. Mặc dù không được chào đón bởi cả người Việt Nam và người Pháp, nhưng sự có mặt của quân đội Trung Hoa lại là cần thiết cho cả Pháp lẫn Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề của mình mà không phải sử dụng vũ lực. Một khi quân đội Trung Hoa rút đi rồi, không bên nào phải lo sợ đối phó với mặt trận thứ hai. Pignon và d'Argenlieu gặp nhau trong tầm nhìn dài hơi của họ, hiểu rõ vấn đề hơn Leclerc chỉ nhìn trước mắt.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 09:00:44 pm
Leclerc tiếp tục nuôi dưỡng ảo tướng Việt Minh sẽ tỏ ra biết điều hơn sau khi quân đội Trung Hoa rút đi. Khi phần lớn lực lượng Trung Hoa đã rút khỏi Bắc Đông Dương vào đầu tháng Sáu, ông viết cho Maurice Schumann, người đứng đầu Đảng Cộng hòa bình dân (MRP) rằng không cần phải nhân nhượng nhiều hơn nữa đối với Việt Nam. Theo lập luận của Leclerc, nước Pháp bây giờ nắm được những vị trí then chốt tại Đông Dương. Tôi nghĩ trong hoàn cảnh đó sẽ rất nguy hiểm nếu các đại biểu của chúng ta trong đàm phán với Việt Nam bị mê hoặc vì những cách nói tuyệt vọng (như dân chủ, kháng chiến, nước Pháp mới) mà Hồ Chí Minh và đồng đội của ông đã hoàn thiện đến bậc thầy11. Schumann đã đưa bức thư của Leclerc cho Thủ tướng Georges Bidault.


Lập trường của Leclerc đã cứng rắn hơn nhưng thái độ chung của ông ta không có gì thay đổi, đều theo một hướng chung là phải có lực lượng tại chỗ đủ để răn đe đối phương dù xuất phát từ quan điểm riêng của ông. Khi nào sự có mặt về quân sự đã được củng cố vững chắc, Pháp có thể quyết định thái độ hào hiệp đến mức nào nếu muốn. Khi Tướng Leclerc rời khỏi vị trí chỉ huy của ông và quay về Paris, ông nói với một nhóm nhà báo có ảnh hưởng rằng thái độ cương quyết của Pháp có thể làm cho người Việt Nam duy trì thái độ ôn hòa hơn. Trong trường hợp xảy ra xung đột, Chính phủ Việt Nam phải rút lui về nội địa. Và nếu điều đó xảy ra, sự kiểm soát của Pháp đối với xứ Nam Kỳ giàu có và các địa điểm then chốt ở miền Bắc Việt Nam sẽ có thể, sau đó một thời gian, buộc người Việt Nam phải thay đổi thái độ12. Leclerc rời sở Chỉ huy của ông ngày 18 tháng Bảy. Người thay thế ông là Tướng Jean Etienne Valluy, cho đến lúc đó ông này vẫn là chỉ huy quân Pháp ở Bắc Đông Dương. Đó là lúc các cuộc đàm phán Pháp - Việt đang diễn ra tại Fontainebleau, các tiểu ban lần lượt thành lập và thảo luận từng chương, mục trong một hiệp ước tương lai sẽ được đưa ra hội nghị toàn thể thông qua. Với dự định thúc đẩy lập trường tiến bộ xa hơn nữa, trước khi quân đội Trung Hoa ra đi, Pháp không hề đưa ra thêm một sáng kiến đáng kể nào để đi tới thỏa hiệp. Trong báo cáo cuối cùng kết thúc nhiệm kỳ của mình, Leclerc nhấn mạnh quân đồn trú Pháp ở miền Bắc như "những tù nhân" bị bó chân tay, không có chỗ nào mà cựa, đó là một vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Điều đó là kết quả của bản phụ lục về quân sự gắn với Hiệp định ngày 6 tháng Ba, và tiếp theo là bản thỏa ước tham mưu (Convention de la Conférence d'état-major) mà Tướng Salan đã ký ngày 3 tháng Tư13. Hiệp định ngày 6 tháng Ba quy định rằng một lực lượng gồm 10.000 binh sĩ Việt Nam và 15.000 binh sĩ Pháp (gọi là quân tiếp phòng) sẽ thay thế quân đội Trung Hoa tại phía bắc vĩ tuyến 16. Số quân Pháp và Việt Nam đóng tại mỗi doanh trại cùng đã được ấn định. Binh sĩ Việt Nam do người Việt kiểm soát nhưng đặt dưới quyền của một tổng chỉ huy Pháp. Quân số Pháp tại miền Bắc Việt Nam được ấn định rõ ràng là không quá 15.000 người trong khi không có một mức trần nào quy định cho quân đội Việt Nam ngoài lực lượng tiếp phòng. Một phái bộ quân sự thường trực Việt Nam được đặt bên cạnh Bộ Chỉ huy Pháp và để phòng ngừa không xảy ra các vụ rắc rối ở địa phương, nhà đương cục Việt Nam sẽ được Pháp thông báo trước 48 tiếng đồng hồ về mọi cuộc di chuyển như thay quân, tiếp tế... Một ban liên lạc hỗn hợp Pháp - Việt đươc tổ chức ở các cấp quan trọng. Khi Valluy rời khỏi chức vụ chỉ huy quân đội tại miền Bắc để vào Sài Gòn nắm quyền Tổng Chỉ huy Quân đội Pháp tại Đông Dương thì người thay thế ông tại miền Bắc là Đại tá Jean Crépin, nhưng ông này chỉ tại vị được một tháng, trong thời gian đó xảy ra vụ đụng độ tại Bắc Ninh, phía bắc Hà Nội. Một thời gian ngắn sau đó, tướng ba sao Louis Morlière nắm quyền chỉ huy quân đội Pháp tại miền Bắc. Trong suốt thời gian thay đổi các chỉ huy quân Pháp tại miền Bắc, không xảy ra một vụ rắc rôi nào lớn gây tổn hại đến quan hệ với quân đội Trung Hoa cũng như Chính phủ Việt Nam, và sự có mặt của quân đội Trưng Hoa đã là nhân tố chủ yếu để ngăn ngừa các vụ đụng độ như vụ Bắc Ninh không để đi đến leo thang chiến tranh.


Chừng nào sự có mặt của quân đội Trung Hoa còn kéo dài thì cả hai phía Pháp và Việt Nam không thể làm cứng rắn thêm lập trường của mình dẫn đến tình hình căng thẳng không thể kiểm soát được. Việt Minh muốn thanh lọc dứt khoát các đảng phái quốc gia thân Trung Quốc trước đây nhờ sự ủng hộ của quân đội Trung Hoa đã chiếm đóng một số nơi. Sự hợp tác với các đảng phái quốc gia trong Chính phủ liên hiệp không hề dễ dàng được cải thiện. Việt Minh rõ ràng mong muốn quân đội Trung Hoa rút lui nhanh chóng, và người Pháp có thể cũng không mong họ ở lại thêm nữa. Người Trung Quốc tiếp tục đe dọa người Pháp đòi phải trả giá cho việc rút quân của họ. Người Trung Quốc hứa hẹn rồi tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ rút quân theo Hiệp ước Pháp - Hoa ký tại Trùng Khánh ngày 28 tháng Hai. Họ chần chừ việc rút hết quân đến tháng Sáu và để lại một số đơn vị quan trọng của lực lượng Vân Nam tại thành phố chiến lược Hải Phòng. Cuối cùng, ngày 18 tháng Chín họ mới xuống tàu rời khỏi cảng Hải Phòng để kéo quân lên miền Bắc Trung Hoa, tham gia nội chiến đã bùng nổ tại Mãn Châu vào tháng Sáu. Cuối cùng, việc thiết lập cơ cấu quyền lực tam giác ở Bắc Đông Dương đã mở đường cho cuộc xung đột hai cực giữa Pháp và Việt Minh, được cả hai bên chờ đợi một cơ may thúc đẩy lập trường từ trạng thái hòa hoãn mà họ buộc phải chấp nhận lúc ký kết Hiệp định ngày 6 tháng Ba đến trạng thái đối đầu trong quan hệ Pháp - Việt.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 09:02:54 pm
HAI LỰC LƯỢNG TIẾN LÊN

Lý do thứ hai khiến hai bên Pháp và Việt Nam không đi đến một thỏa thuận mới nào sau ngày 6 tháng Ba, ngoại trừ một bản thỏa ước ký ngày 14 tháng Chín tại Paris, là cả hai chính Pháp và Việt Nam không bên nào thực sự thấy rõ giá trị của nó. Cả hai bên đều coi thỏa thuận đạt được như là bước đệm để đưa vị thế của mình lên cao hơn nữa hơn là bắt đầu một quá trình thỏa hiệp hoặc đi đến một giải pháp mà hai bên cùng thắng cuộc. Thay vì chuẩn bị cho mình về mặt tâm lý và thực tiễn để cùng tiến lên phía trước, hai bên đều tìm cách thay đổi quan điểm lập trường để nâng cao vị thế của mình trước khi đi vào một vòng đàm phán mới.


Đã có thể có mảnh đất để thỏa hiệp. Việt Nam Dân chủ Cộn hòa có thể chọn lựa việc tập trung sức để xây dựng một quốc gia độc lập trong phạm vi miền Bắc, tránh tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam, tạm hoãn vấn đề thống nhất đến giai đoạn sau này. Nói cách khác, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể chấp nhận một điều gì đó ít hơn là sự độc lập, tùy thuộc vào việc Pháp thừa nhận trưng cầu ý dân để thống nhất đất nước. Người Pháp có thể để miền Bắc đi theo con đường của họ và tập trung vào việc hiện đại hóa xứ Nam Kỳ, Campuchia và Lào. Nếu không, họ có thể thừa nhận một quá trình phát triển tiến tới thống nhất Việt Nam trong khi vẫn cố đòi được hưởng một số đặc quyền, được thừa nhận có mặt về quân sự của Pháp trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã không đưa lập trường hai bên xích lại gần nhau để thỏa hiệp theo một cách khác, từ đó thay vì mua bán chủ quyền và thống nhất, nó đã đưa hai trong những yêu cầu chính của quốc gia đi được nửa đường. "Tự do" không phải là hoàn toàn giống như "độc lập", nhưng có thể được hiểu là con đường đi đến độc lập. Trưng cầu ý dân cũng không phải là thống nhất đất nước một cách trọn vẹn nhưng có thể hy vọng đem lại thống nhất.


Khi Sainteny nói với Hồ Chí Minh sau khi ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba rằng ông đã hài lòng như thế nào khi thấy con đường chiến tranh đã bị chặn đứng, Hồ Chí Minh trả lời: "Bản hiệp định đã làm tôi đau lòng vì căn bản các ông đã thắng cuộc. Các ông biết rõ tôi muốn hơn thế... Nhưng rốt cuộc tôi cũng hiểu người ta không thể đạt được mọi thứ trong một ngày'"14. Thỏa hiệp sẽ giành được một cách dễ dàng khi một bên tiến thì bên kia lùi thay vì cả hai cùng tiến hay nghĩ rằng họ đang làm như vậy. Người Việt Nam đã tìm kiếm con đường củng cố vững chắc thể chế cộng hòa ở miền Bắc, tăng cường sự kiểm soát toàn miền Bắc (Bắc Kỳ hay Bắc Bộ theo cách gọi của họ) ngay sau khi quân đội Trung Hoa rút đi. Họ cũng muốn nhân cơ hội này loại bỏ những đại biểu các "đảng phái quốc gia" khỏi Chính phủ liên hiệp kháng chiến, đã được mơ tưởng thay thế sự thống trị Pháp bằng ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ. Và ở Nam Kỳ (hay Nam Bộ theo cách gọi của Việt Nam), Chính phủ Việt Nam đã chấp nhận giảm bớt việc tăng cường hoạt động du kích để làm nản lòng những phần tử hợp tác với Pháp chừng nào sự thỏa thuận đã giành được. Người Pháp, về phần mình, đã cố gắng thành lập chính phủ tự trị địa phương tiến bộ và thân Pháp tại Nam Kỳ và xây dựng Lào, Campuchia thành những thành phần vững chắc của Liên bang Đông Dương. Trong khi thực hiện những công việc trên đây, Pháp cố tránh gây ra những rắc rối mới với chính phủ Hà Nội mà họ coi như chỉ đại diện cho Bắc Kỳ. Người Pháp hy vọng xây dựng các thiết chế liên bang mạnh mẽ rồi hợp tác với chính phủ Hà Nội như đại diện của một trong năm xứ trong Liên bang Đông Dương. Về lâu dài, người Việt Nam không còn muốn sự có mặt về quân sự của người Pháp trong khi người Pháp cũng chẳng muốn chấp nhận một nhà nước do Việt Minh kiểm soát. Chủ trương của người Pháp là không để Hà Nội kiểm soát miền Nam, trong khi người Việt Nam đặt mục tiêu hàng đầu là thống nhất Nam - Bắc.


Tất cả những điều này có nghĩa là hội nghị trù bị Pháp - Việt ở Đà Lạt (d'Argenlieu thích chọn địa điểm này) từ 17 tháng Tư đến 11 tháng Năm và cuộc đàm phán chính thức diễn ra tại Fontainebleau từ ngày 6 tháng Bảy đến 10 tháng Chín ngay đầu đã đi vào chỗ bế tắc. Cả hai bên đều đã chuẩn bị kỹ và đã tiến hành một số cuộc thảo luận náo nhiệt. Nhưng điểm bế tắc là ở vấn đề trưng cầu ý dân để thống nhất Việt Nam đã được hứa hẹn hồi tháng Ba 1946. Người Việt Nam khăng khăng đòi Pháp phải ấn định một thời hạn và họ tin chắc sẽ thắng trong cuộc bỏ phiếu sau này. Người Pháp thì lập luận rằng đó mới chỉ là một dự kiến mà đã dập tắt mọi hy vọng của người Nam Kỳ trong việc thành lập các thiết chế tự trị mạnh mẽ, có nghĩa là từ chối đặt thời hạn trước cho trưng cầu ý dân. Điều này đã quyết định số phận của các cuộc thương lượng.


Tại Đà Lạt, hai nhà thương lượng chủ yếu về phía Pháp là Max André, người của Đảng Dân chủ Công giáo, nghị sĩ Quốc hội Pháp, và về phía Việt Nam là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, người của Việt Nam Quốc dân Đảng. Trong khi d'Argenlieu đứng đầu Liên bang Đông Dương, cố đóng vai trò là người chủ trung lập. Với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao, ông Tam không tham gia đàm phán trực tiếp, trong thực tế, Đoàn đại biểu Việt Nam do Võ Nguyên Giáp dẫn đầu. Không khí hội nghị ngay từ đầu đã không mấy tốt đẹp. Khi hội nghị tan vỡ, d'Argenlieu cảm thấy đã đến lúc củng cố phần còn lại của Đông Dương và rời khỏi Bắc Kỳ trở về với số phận dành cho ông. Ông báo cáo về Paris rằng sự có mặt của người Trung Quốc khiến cần thiết phải tiếp tục đặt chân một cách thận trọng lên miền Bắc, nhưng nếu nước Pháp tập trung vào việc tăng cường sức mạnh của các quốc gia thành viên khác trong liên bang, thì "quốc gia tự do ở miền Bắc" chắc chắn sẽ mong muốn gia nhập liên bang trong giai đoạn sau, ít nhất là về mặt quân sự, kinh tế và văn hóa. Ông ta khẳng định: Hội nghị Pháp - Việt tại Fontainebleau, nếu thất bại - như đã dự kiến - thì cũng chẳng gây tổn hại gì nhiều lắm cho liên bang. Lào, Campuchia, Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ - không nêu tên nước Pháp - sẽ được "hoàn toàn tự do hành động"15. Khi chính phủ bác bỏ đề nghị này, ông ta mời các đại biểu của các "quốc gia" khác trong liên bang đến Đà Lạt dự một cuộc họp được ông gọi là "Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai"16.


Thiết nghĩ, không cần phải lục lại hồ sơ của các cuộc thương lượng17 vô bổ này, chúng ta chỉ cần nhìn vào các nỗ lực của mỗi bên trong việc đưa ra hội nghị các quan điểm, lập trường của họ trong khi chờ đợi quân đội Trung Hoa rời khỏi miền Bắc. Người Pháp có kinh nghiệm trong việc vận động thành lập Nam Kỳ tự trị và xây dựng các thiết chế liên bang để cai trị tất cả năm xứ trong liên bang trước đây, nhưng phong trào du kích tại miền Nam đang làm tiêu tan các kinh nghiệm đó và Việt Minh đang cố gắng thiết lập sự kiểm soát bên trong đối với toàn miền Bắc, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang để tiến hành kháng chiến lâu dài. Nhưng hành động đó có thể giải thích là do không đạt được sự thỏa thuận nào tốt hơn những gì đã nói ra ở Đà Lạt hay Fontainebleau.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 09:04:45 pm
Tại Sài Gòn, các nhà đương cục Pháp thành lập Chính phủ lâm thời Nam Kỳ, nhưng vì tuyệt đại đa số người miền Nam tán thành thống nhất18 nên chính phủ lâm thời chỉ đại diện cho một thiểu số rất nhở những người giàu có thân Pháp. Chính phủ này phải đối phó với công luận đối nghịch và sức mạnh đang tăng lên một cách đáng kể của phong trào du kích do Việt Minh lãnh đạo, hợp tác với các giáo phái mạnh mề. Người Pháp không bao giờ tin rằng chính phủ Nam Kỳ có thực lực. Cuối cùng, thử nghiệm Nam Kỳ tự trị có thể coi là một thất bại của Pháp.


Mấu chốt trong liên bang của d'Argenlieu là Nam Kỳ. Một tuần sau ngày 6 tháng Ba, Hội đồng Nam Kỳ đòi được hưởng cùng một quy chế như Chính phủ Việt Nam, muốn trở thành "một quốc gia tự do". Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ, Jean Cédile tuyên bố rằng Hiệp định ngày 6 tháng Ba chỉ là một thỏa thuận có tính chất địa phương đối với miền Bắc và cuộc trưng cầu ý dân nêu trong Hiệp định chỉ được tổ chức một khi trật tự được hoàn toàn khôi phục19. Ngày 26 tháng Ba, Hội đồng Nam Kỳ đã chỉ định bác sĩ Nguyễn Văn Thinh là Chủ tịch chính phủ mới của Cộng hòa Nam Kỳ, nhưng điều này chỉ có hiệu lực từ ngày 1 tháng Sáu trước khi ông ta được Cao ủy chính thức công nhận. Quyết định ngày 26 tháng Ba đã làm dấy lên một làn sóng mưu sát những tên "phản quốc" và gia tăng chiến tranh tuyên truyền đang diễn ra giữa những người "tán thành thống nhất" và những người "chủ trương ly khai" tại miền Nam. Vào tháng Tư, một phái đoàn Nam Kỳ đã đến thăm Paris và d'Argenlieu yêu cầu Chính phủ Pháp đưa ra một quyết định càng sớm càng tốt. Chính phủ tảng lờ không trả lời. Sau đó, theo lệnh của d'Argenlieu, ngày 1 tháng Sáu 1946 Cộng hòa Nam Kỳ ra một bản tuyên bố chính thức. Hai ngày sau một bản thỏa ước Pháp - Nam Kỳ được ký kết giữa Ủy viên Cộng hòa Pháp Jean Cédile và bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Ngay sau đó Hội đồng Nam Kỳ mở rộng thành phần tới 92 thành viên, tất cả đều do Cao ủy chỉ định. Có nhiều lời đồn đại như chắc chắn hậu quả của trưng cầu ý dân sẽ là thống nhất đất nước. Nhà báo Philippe Devillers dẫn chứng lời của một thành viên người Pháp trong Hội đồng Nam Kỳ ví hành động đó được hiểu như một cuộc bỏ phiếu ủng hộ hay chống lại nước Pháp và 90% số phiếu sẽ là "chống lại chúng ta"20. Lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn Charles Reed nghĩ rằng 65-70% số phiếu sẽ là tán thành thống nhất. Ông nhấn mạnh báo chí của phe tán thành thống nhất bỏ xa báo chí phe ly khai về số lượng phát hành21. Cộng hòa Nam Kỳ mới giành được sự ủng hộ rất hạn chế.


Ngày 31 tháng Năm, Hồ Chí Minh và Đoàn đàm phán Việt Nam rời Hà Nội tới Paris, Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Họ đến Pháp đúng vào lúc cuộc tổng tuyển cử vừa kết thúc ngày 2 tháng Sáu, dẫn đến cuộc khủng hoảng nội các đang diễn ra. Chính phủ mới chưa thành lập. Trưởng Đoàn đàm phán Phạm Văn Đồng đã sẵn sàng ở Pháp sau khi dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam thăm hữu nghị chính thức Pháp từ ngày 26 tháng Tư. Do chưa chuẩn bị đầy đủ, do cuộc khủng hoảng nội các chưa kết thúc và cùng do d'Argenlieu phản đối cuộc đàm phán diễn ra trên đất Pháp, nên ngày khai mạc Hội nghị Fontainebleau đã phải lùi lại nhiều tuần lễ. Do đó, Hồ Chí Minh và những nhà thương lượng Việt Nam có thời gian nhàn rỗi trong những ngày đầu lưu trú trên đất Pháp. Hồ Chí Minh đi nghỉ tại Biarritz, một thành phố nhỏ trên bờ biển Đại Tây Dương của Pháp rất xa đấu trường chính trị của Pháp. Tuy nhiên, bắt đầu từ ngày 22 tháng Sáu đến 4 tháng Bảy, ông được tiếp đón như một vị khách chính thức của Chính phủ Pháp tại Paris, rồi ông ở lại đó trong khi những nhà thương lượng Việt Nam gặp gỡ đối thủ của họ tại Fontainebleau. Hội nghị chính thức khai mạc ngày 6 tháng Bảy, ngay lập tức đã gặp khó khăn với những lời tố cáo của người Việt Nam đối với người Pháp vì đã bảo trợ cái gọi là Cộng hòa Nam Kỳ một tháng trước đó. Hội nghị giậm chân tại chỗ mà không thể làm sáng tở các vấn đề then chốt là độc lập và thống nhất của Việt Nam. Cuối tháng Bảy, Đoàn đàm phán Việt Nam được biết d'Argenlieu đã triệu tập Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai khai mạc ngày 1 tháng Tám mà không mời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự, chỉ có các đại biểu được chọn lọc kỹ lưỡng từ một vài vùng lãnh thổ mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho rằng chưa có chủ quyền đầy đủ. Điều này thôi thúc người Việt tạm thời cắt đứt thương lượng. D'Argenlieu không báo trước cho Moutet về Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai sắp khai mạc, khiến vị Bộ trưởng Hải ngoại Pháp phản ứng mạnh mẽ không phải về chủ trương triệu tập mà về thời điểm họp không thích hợp. Moutet tán thành về nguyên tắc việc xây dựng Liên bang Đông Dương năm quốc gia do Pháp đứng đầu cơ quan chấp hành.


Trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang bế tắc, tại Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai họp vào tháng Tám, các đại biểu của Nam Kỳ họ với các đoàn đến từ Lào, Campuchia và những quan sát viên đến từ Nam Trung Kỳ và một số vùng thiểu số cao nguyên. Theo quan niệm của d'Argenlieu, Hiệp định ngày 6 tháng Ba chỉ liên quan đến Bắc Kỳ, nhưng ông dự định tạo ra một hệ thống các hiệp định tương tự ký với tất cả các thành viên khác trong Liên bang. Hiệp định đầu tiên đã được ký trước đó với Campuchia ngày 7 tháng Giêng. Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã được d'Argenlieu xem là chỉ áp dụng với Bắc Kỳ và là hiệp định thứ hai thuộc loại này (sau Campuchia). Văn bản thỏa thuận thứ ba đã được ký với Nam Kỳ ngày 3 tháng Sáu và bản thỏa thuận thứ tư được ký với Lào vào ngày 27 tháng Tám. Riêng Trung Kỳ chia ra hai phần Bắc Trung Kỳ và Nam Trung Kỳ hai bên vĩ tuyến 16 không thể có một văn bản thỏa thuận tương tự. Hội nghị liên bang của d'Argenlieu tại Đà Lạt đã tỏ ra thất bại một phần vì tại Fontainebleau, Đoàn đàm phán Việt Nam đã phản đối kịch liệt, buộc Chính phủ Pháp phải chỉ thị cho Sài Gòn tạm gác lại một số điểm trong chính sách xây dựng liên bang và tại Đà Lạt, các Đoàn đại biểu Campuchia và Lào không nhiệt tình ủng hộ vai trò của Pháp thống trị liên bang như d'Argenlieu đã hy vọng. Và hội nghị còn đưa ra những đề xuất chi tiết về thành phần và nhiệm vụ của các thiết chế liên bang cũng như việc lấy Đà Lạt là thủ đô tương lai của liên bang. D'Argenlieu đã chuẩn bị chuyển bộ máy của cao ủy từ Sài Gòn lên Đà Lạt và đã ra lệnh chuyển số lớn trang thiết bị từ Pháp sang phục vụ công việc này, song số thiết bị đó đã không đến đúng thời hạn mong muốn khiến ông ta phải phàn nàn22.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 09:08:00 pm
Lý do chính khiến người Pháp không chịu ấn định thời hạn tổ chức trưng cầu ý dân ý là những hành động "khủng bố" đang hoành hành khắp nơi tại Nam Kỳ. Trong báo cáo kết thúc nhiệm vụ vào tháng Sáu 1946, Leclerc chỉ trích chính phủ Hà Nội vừa thương lượng với Pháp, vừa ủng hộ cuộc chiến tranh chống nước Pháp ở miền Nam. Đó là sự thật, nhưng Chính phủ Việt Nam không ngại ngùng chối bỏ vấn đề đó. Họ lên tiếng đòi chủ quyền trên "toàn bộ lãnh thổ Việt Nam" và coi cuộc đấu tranh du kích ở miền Nam như một biện pháp ủng hộ đòi hỏi đó. Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám 1945, Việt Minh đã lãnh đạo phong trào ở miền Bắc lan rộng xuống cả miền Nam. Tại Nam Bộ, hai giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài đã rút về nông thôn và lực lượng tờrôtxkít khá mạnh ở các đô thị. Phong trào cộng sản ở miền Nam do các phần tử trí thức lãnh đạo, họ thiên về lý thuyết hơn là thực tiễn và họ kém thành thạo về mặt sách lược và ngoại giao hơn các đồng chí của họ ở miền Bắc. Sự tranh chấp của phong trào quốc gia ở miền Nam đã tạo thuận lợi cho cuộc bình định của Leclerc cuối năm 1945 và đầu năm 1946. Ông ta đã lần lượt tước vũ khí của Hòa Hảo, Cao Đài và Việt Minh. Thoạt đầu, ông ta giành được thắng lợi vang dội về quân sự. Nhiều binh sĩ Cao Đài rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, quay súng chạy sang phía quân Pháp. Tháng Ba 1946, Leclerc đánh giá rằng quân đội của ông không chỉ kiểm soát được các thành phố và đô thị mà cả 80% các thôn ấp23. Tuy nhiên về chính trị, nước Pháp đã đối đầu và xa rời dân chúng. Và khi Việt Minh tổ chức lại lực lượng của họ và cải thiện một cách có hệ thống mối quan hệ hợp tác với các giáo phái, thì phong trào du kích lại nổi lên ngay cả ở những làng trước đây người Pháp nghĩ rằng đã bình định được. Leclerc đã bố trí các đơn vị nhỏ tại nhiều đồn bốt nhỏ. Khi du kích triển khai các cuộc tiến công vào ban đêm thì các đồn bốt nhở đó đã không trụ vững và người Pháp lại phải tái tập trung quân đội của họ. Theo báo cáo mới đây của Leclerc, đến tháng Giêng 194724, người Pháp chỉ kiểm soát được 10% các thôn ấp ở Nam Kỳ. Đương nhiên, trong vòng chưa đầy một năm, tỷ lệ các làng do Pháp kiểm soát đã rớt từ 80% xuống 10%. Đúng hơn là những thắng lợi mà Leclerc đã đạt được trong hai tháng Giêng và tháng Hai 1946 đã trở nên trống rỗng mặc dù chưa hiện ra một cách rõ ràng ngay lập tức. Lực lượng kháng chiến Việt Nam cần có thời gian tập hợp lại và củng cố sau cuộc đàn áp ồ ạt từ tháng Chín 1945. Không phải chỉ có Sư đoàn Bộ binh thuộc địa số 9 (9è DIC) và Sư đoàn Xe bọc thép số 2 (2è DB) đã tham gia tích cực vào việc đàn áp lực lượng kháng chiến Nam Bộ mà còn có cả quân Anh - Ấn, được quân Nhật trợ giúp (sau khi đầu hàng Đồng minh, quân Nhật lại được tái tập hợp dưới sự chỉ huy của sĩ quan người Anh trong những cuộc hành quân đẫm máu). Theo báo cáo của quân Anh, có 3 người Anh 37 người Ấn, 85 người Pháp, 129 người Nhật và 1 người Mỹ (Trung tá Peter Dewey) trong số thương vong ở Nam Đông Dương những tháng lộn xộn bắt đầu từ tháng Mười 1945 cho đến khi trật tự tưởng như đã được vãn hồi vào ngày 13 tháng Giêng 1946. Trong số thương vong người Việt có 641 người bị quân Anh - Ấn sát hại 1.565 người bị quân Pháp giết, 2.756 người là nạn nhân của quân Nhật25. Lính Nhật giết, làm bị thương và bắt được tù binh Việt Nam nhiều hơn so với quân Anh và Pháp. Sĩ quan chỉ huy Anh kinh ngạc thấy tinh thần kỷ luật trong chiến đấu của lính Nhật trong những cuộc hành quân tác chiến vì nghĩa vụ đáng lẽ ra không phải của họ. Khi Việt Minh tập hợp và tổ chức lại lực lượng kháng chiến và phát động chiến tranh du kích tại miền Nam, quân Anh đã rút đi, quân Nhật đã được đưa về nước, các sư đoàn thiện chiến của Pháp (2è DB, 9è DIC) đã đưa ra miền Bắc. Sư đoàn 3 Bộ binh thuộc địa (3è DIC) của Pháp, ít kinh nghiệm chiến đấu hơn, được đưa vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Campuchia. Nguyễn Bình, người chỉ huy lỗi lạc của du kích Nam Bộ mới được đưa từ miền Bắc vào đã tổ chức lại cuộc kháng chiến và nhanh chóng giành được thắng lợi hơn hẳn những người chỉ huy tiền nhiệm của ông.


Việc tổ chức lại các lực lượng du kích ở miền Nam không chỉ được thực hiện bơi những người lãnh đạo Việt Minh Nam Bộ, mà còn do Nguyễn Bình, một cựu đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng đã giác ngộ chủ nghĩa cộng sản và sớm có một vai trò tương tự như Võ Nguyên Giáp ở miền Bắc. Ông dẫn đầu phái đoàn quân sự của Chính phủ Trung ương gửi vào miền Nam, sau đó nắm quyền chỉ huy trực tiếp chiến khu miền Đông Nam Bộ, bao gồm Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng thời giữ trách nhiệm phối hợp ba chiến khu miền Nam. Nguyễn Bình nổi lên như một người chỉ huy huyền thoại, có uy tín lớn trong nhân dân mà không một nhà lãnh đạo đấu tranh chống thực dân nào ở miền Nam sánh kịp. Cho đến tháng Ba 1946, ông tập trung cố gắng vào việc tổ chức lại bộ máy kháng chiến, tránh những cuộc giao chiến lớn. Đầu tháng Ba, khi phần lớn lực lượng Pháp chuyển ra Bắc, Nguyễn Bình thấy thời cơ thuận lợi đã đến với ông, ông chuyển sang hành động. Đó là lúc Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ thành lập. Bấy giờ, không một nhà lãnh đạo địa phương nào ủng hộ Chính phủ lâm thời Nam Kỳ hay hợp tác với người Pháp có thể thoát được nguy cơ bị ám sát. Con số các vụ sát hại về chính trị tăng lên nhanh chóng và các lực lượng du kích bắt đầu quấy rối các đơn vị quân Pháp đi lẻ. Ngày 10 tháng Tư, một mặt trận thống nhất dân tộc thu hút các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và các nhóm kháng chiến khác tham gia đã được thành lập dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Bình. Ngày 19 tháng Tư, Nguyễn Bình ra lệnh tổng tiến công để "ủng hộ" Hội nghị Đà Lạt lần thứ nhất26. Chiến tranh du kích ở miền Nam phát triển mạnh từ tháng Năm đến tháng Tám và khi quân Pháp rút quân đóng ở các đồn bốt lẻ, tập trung thành những đơn vị lớn, những ban hội tề (chính quyền bù nhìn) đều rời khỏi các thôn ấp không ai che chở. Theo Pignon, việc tập trung lực lượng quân Pháp thành những đơn vị lớn là cần thiết về mặt quân sự nhưng là một tai họa về chính trị27. Trong thời gian Hội nghị Fontainebleau đang họp, Pignon đã tố cáo các nhà đương cục quân sự Pháp là "cực kỳ ngây thơ"28. Trong hai tháng Chín và Mười, trong thời gian lệnh đình chiến theo qu định của Tạm ước ngày 14 tháng Chín có hiệu lực thi hành Nguyễn Bình đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích ở miền Nam29. Các phương pháp được sử dụng trong chiến tranh du kích đã được hướng dẫn qua các chỉ thị phát đi từ Hà Nội, ký tên Trần Huy Liệu, một cựu đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng đã kết nạp Nguyễn Bình vào Quốc dân Đảng và chính ông đã giác ngộ chủ nghĩa cộng sản khi bị giam giữ trong nhà tù từ cuối năm 1930. Hai người trước đây đã kết bạn với nhau, nay ông Bình là người thực hành, còn ông Liệu thì làm bộ trưởng chịu trách nhiệm về công tác tuyên huấn trong chính phủ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trần Huy Liệu đã dẫn đầu phái đoàn Chính phủ lâm thời vào Huế tiếp nhận việc thoái vị của Bảo Đại cuối tháng Tám 1945. Trong các tài liệu sử học của Việt Nam, việc giáo dục các nguyên tắc chiến tranh du kích thường gắn với tên tuổi của Tổng Bí thư Trường Chinh và Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Nhưng trong thời gian đầu, các tài liệu do Trần Huy Liệu khởi thảo đều "duy ý chí" và ông đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng và vào cuối đời, ông chỉ còn là một nhà sử học chuyên nghiệp. Bỏ qua số phận của Trần Huy Liệu thời gian sau này, chúng ta thấy những chỉ thị của ông từ năm 1946 đã miêu tả một cách sinh động các chiến thuật mà những "con hổ" Việt Nam đã sử dụng trong gần 30 năm sau này trong cuộc chiến với những "con voi" phương Tây. Ông nói:

Các chiến sĩ du kích hành động trong một không khí gia đình. Bí mật và bất ngờ là điều kiện giành thắng lợi trong những cuộc đụng độ với đối phương bối rối, kém thông tin và hoạt động trong môi trường không thuận lợi.

Điều kỳ diệu của chiến tranh du kích là có sự tham gia của toàn thể dân chúng. Người lính là người dân và dân cũng là lính. Chiến thuật là tránh đánh vào các vị trí được phòng thủ tốt, tiến công các đồn bốt sơ hở, tiến khi quân thù rút và rút khi quân thù tiến, tổ chức các trận phục kích quân địch có quân số đông và thiện chiến. Một trong các chiến thuật du kích là làm cho kẻ thù như bị "mù", chiến sĩ du kích không mặc quân phục, không tập trung trong các lều trại và họ lẩn trốn trong đám đông được nhân dân che giấu nếu cần thiết. Trong trường hợp đó, lính Pháp không thể phát hiện được sự có mặt của họ. Một cách đánh du kích nữa là làm cho kẻ thù như bị "điếc"30.

Trên đây chỉ là một phần trong những chỉ thị của Trần Huy Liệu. Những lời chỉ dẫn đó cho biết người Việt Nam thông thạo về chiến tranh du kích đến mức nào.


Tiêu đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2026, 09:10:06 pm
Các bức điện từ Sài Gòn gửi về Paris trong tháng Chín và tháng Mười cho biết nhiều vụ "đụng độ" đã xảy ra giữa quân Pháp và các lực lượng "phiến loạn". Các chi tiết và sự đánh giá mức độ nghiêm trọng khác nhau nhưng tất cả báo cáo đều nêu lên số lượng lớn các quân "phiến loạn" mà người Pháp đã tiêu diệt31. Một báo cáo ngày 7 tháng Mười đã minh họa "một trận phục kích xảy ra ở vùng Tân An đã làm một đồng chí hy sinh và hai đồng chí bị thương. Thương vong của quân phiến loạn rất nghiêm trọng32. Lính "páctidăng" - ý nói các binh sĩ Việt Nam đứng trong hàng ngũ quân Pháp (ngụy binh) thường chiếm số đông trong số thương vong của Pháp. Người Pháp cố gắng thành lập đội quân páctidăng, rồi đến ngày 19 tháng Chín, cao ủy Pháp yêu cầu Paris trang bị cho 9.300 lính páctidăng tại Nam Kỳ và 3.200 lính páctidăng ở Nam Trung Kỳ33. Có vẻ như lính páctidăng thường được sử dụng để canh giữ các tiền đồn có nhiều nguy cơ bị tiến công nhất. Cũng trong ngày 19 tháng Chín, Sài Gòn báo cáo: "Tại vùng Hóc Môn, Thủ Dầu Một, các đội tuần tra của chúng ta đã hoạt động thuận lợi: 6 tên phiến loạn bị giết, 3 bị thương, 23 bị bắt làm tù binh trong đó có nhiều ủy viên "ban ám sát". Trong cùng một vùng, páctidăng đã bỏ một bốt dưới áp lực của bọn phiến loạn và 2 người thiệt mạng, 1 người mất tích"34.


Trong hai tuần lễ cuối cùng trước lệnh ngừng bắn theo định của Tạm ước ngày 14 tháng Chín có hiệu lực từ ngày tháng Mười, Việt Minh đã tiến hành một cuộc tấn công quân sự. Ngày 26 tháng Mười, d'Argenlieu thông báo về một cuộc tấn công lớn vào thành phố Mỹ Tho nằm ở tây nam Sài Gòn35. Đến tháng Mười, nhà báo Philippe Devillers khẳng định Việt Minh thực tế kiểm soát được ba phần tư lãnh thổ Nam Kỳ36.


Như vậy, điều chúng ta đã thấy ở miền Nam là hai bên đều cố gắng cải thiện vị thế của mình. Nước Pháp thành lập các thiết chế tự trị mới bất chấp lời hứa của họ trong Hiệp định ngày 6 tháng Ba và Việt Minh, về phần mình, cũng gia tăng hoạt động nổi dậy. Trong bối cảnh đó, hai bên đều cố nâng cao vị thế của mình bên này bắt bên kia phải trả giá. Ở miền Bắc, tình hình diễn ra tương tự. Sau nhiều lần trì hoãn, quân đội Trung Hoa cuối cùng đã rời khỏi Hà Nội và Việt Minh có thể từng bước loại bỏ ảnh hưởng chính trị của các đảng phái thân Trung Hoa.


Khi quân đội Trung Hoa rút đi, chính phủ nhanh chóng tái chiếm phần lớn các tỉnh trước đây quân đội Trung Hoa đã nhường lại cho các đảng phái thân Trung Quốc và dân quân vũ trang. Phần lớn những nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng đã sang Trung Quốc hoặc tới một số ít đồn trại kiên cố gần biên giới Việt - Trung. Trong tháng Bảy, các sở chỉ huy sào huyệt của chúng đều bị các đơn vị công an xung phong tiến công và lục soát. Nhiều thi thể nạn nhân là quân nhân Pháp bị tra tấn và bị giết đã được phát hiện, được xem như những bằng chứng mà các đảng phái thân Trung Quốc là thủ phạm của những vụ bắt cóc công dân Pháp37. Theo quan điểm của người Pháp tại miền Bắc, Việt Minh hiện nay hoàn toàn ôn hòa, nếu đem so sánh với Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Sau đó, Việt Minh có thể trấn áp lực lượng đối lập và độc quyền hóa quyền lợi chính trị của họ ở miền Bắc và không gây ra tình trạng đối đầu với Pháp. Thật khó khăn đối với người Pháp khi muốn phản đối nhà đương cục Viẹt Nam khi họ bắt một số người bị kết tội đã tổ chức bắt cóc và giết hại thường dân Pháp, hoặc khi họ can thiệp để ngăn chặn những tờ báo đối lập không được gây ra các chiến dịch nảy lửa chống lại nước Pháp. Lại nữa, việc chỉ xóa bỏ sự chống đối về chính trị ở miền Bắc đã được nhà đương cục Pháp tại Sài Gòn quan sát với sự chán ngán, nhất là Léon Pignon, phụ tá chính về chính trị và ủy viên về các công việc chính trị của Cao ủy d'Argenlieu. Ông ta có thể thấy bức tranh chính trị rộng lớn hơn và mong muốn Việt Minh bị tổn thương vì các cuộc đấu tranh nội bộ và sự thách thức thật sự đến từ bất kỳ phe đối lập nào, bất kể thái độ đối với Pháp như thế nào. Pignon biết rằng những hành động đó liên quan đến quyền lợi hơn là về thái độ, và sau này sẽ thay đổi cơ cấu quyền lực ở Hà Nội. Trong một cuộc trò chuyện với tác giả năm 1973, Pignon thừa nhận rằng, khi ông từ Fontainebleau quay trở lại Sài Gòn, ông đã mất hết hy vọng về một giải pháp hòa bình chủ yếu vì Việt Minh đã giải quyết xong với các phe nhóm chính trị đối lập ở miền Bắc, như thế Pháp sẽ phải đối phó với một khối đại đoàn kết dân tộc38.


Thế là ở miền Bắc cũng như miền Nam, Việt Minh đã tăng cường vị thế của mình. Trong hai tháng Bảy và Chín, tình hình Pháp lại không được như thế. Họ đã đưa được quân đội ra miền Bắc và rải lực lượng ra đóng ở các vị trí được quy định theo Hiệp định ngày 6 tháng Ba và các bản phụ lục về quân sự, nhưng vị thế của họ trong tương quan so sánh không phải vì thế mà được cao lên nhiều lắm. Các đơn vị quân Pháp lại miền Bắc đã xây dựng kế hoạch để có thể sử dụng được mọi tình trạng khẩn cấp nhằm gia tăng sự kiểm soát các thành phố nơi họ đã triển khai lực lượng. Mọi nỗ lực xây dựng lòng tin lẫn nhau và sự hợp tác giữa quân Pháp và Việt Nam chỉ giành được những thành công rất hạn chế.


Khi một thỏa thuận đạt được giữa hai bên nhưng không bên nào thật sự hài lòng, thì sau đó vẫn còn có cơ hội để sự thỏa thuận đó có hiệu lực vì nhu cầu hòa bình, niềm tin lẫn nhau và tiếp đó là sự thỏa hiệp. Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã có giá trị tích cực, không phải về mặt quốc tế, kể cả ở Pháp cũng vậy. Geor Bidault đã nói ở Đại hội đồng Đảng MRP họp ngày 8-10 tháng Ba rằng Đông Dương đã được "cứu vớt"39. Các đảng phái cánh tả ở Pháp thấy khuây khỏa trong lòng khi được tin những người chỉ huy phe de Gaulle ở Đông Dương đã bằng lòng thích nghi được những nguyện vọng của người Việt Nam và nhiều người thuộc phe tả ở Pháp đã nhiệt tình đón tiếp và chăm sóc Hồ Chí Minh khi ông đến thăm Pháp. "Hòa bình" là giá trị nổi bật trong thời kỳ sau chiến tranh ở châu Âu và đã có nhiều lực lượng phản đối các dự định đưa thêm quân vào cuộc chiến tranh thuộc địa mới. Có lẽ vì thế mà rốt cuộc có thể có cơ may để thi hành nghiêm chỉnh thỏa thuận đã đạt được cũng như có thể mở thêm những cuộc thương lượng mới có kết quả hy vọng. Nhưng muốn thế chắc phải thay đổi người lãnh đạo ở một bên hay cả hai bên trong cuộc thương lượng và trước tiên là ở Pháp. Mặc dù người ta bênh vực về lý thuyết và lấy làm kiêu hãnh về Hiệp định ngày 6 tháng Ba, Chính phủ Pháp không gây áp lực đối với d'Argenlieu để nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định, thay vào đó, lại cho phép ông ta tổ chức và xây dựng Liên bang Đông Dương chống Việt Minh chứ không phải chống Việt Nam. Một cách giải thích đối với tình hình đó có thể là sự bất ổn chính trị ở Pháp đã ngăn cản Chính phủ Pháp trong việc tiếp tục thi hành một chính sách hòa hợp nhất quán.