Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:08:22 pm



Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:08:22 pm
- Tên sách: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2015
- Người số hóa: macbupda, dungnuocgiunuoc


* Chỉ đạo công trình:

   - Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO

   - Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG

   - Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG


* Tổ chức thực hiện:

   - Thiếu tá, Th.S PHAN SỸ PHÚC

   - Đại úy, Th.S NGUYỄN HÀ HẢI

   - Đại úy, Th.S NGUYỄN ĐĂNG TIẾN

   - CN LÊ THỊ THANH HUYỀN


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:09:57 pm
LỜI NÓI ĐẦU


Biển và hải đảo có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài hơn 3.200km, hàng nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có một số quần đảo, đảo xa bờ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn. Biển Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá, cho phép chúng ta phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; cảng biển, vận tải biển, sửa chữa và đóng tàu; khai thác tài nguyên khoáng sản; du lịch; thông tin liên lạc...


Từ bao đời nay, các thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao công sức và máu xương để khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển và các hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền của Tổ quốc hôm nay, những bài học lịch sử về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vẫn cần được vận dụng sáng tạo, cùng với việc đề cao chính nghĩa, lẽ phải, phát huy nội lực đi đôi với tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc.


Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài, các thế lực nước ngoài, vào những thời điểm nhạy cảm của Việt Nam đã sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm và dùng mọi cách hợp pháp hóa bằng các thủ pháp hành chính, thậm chí cả việc ngụy tạo những chứng cứ lịch sử (văn bản, hiện vật, bản đồ...) để xuyên tạc những chứng cứ của Việt Nam, bao biện, chứng minh cho những mưu đồ của họ. Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng trên cả nước, từ rất sớm, Tạp chí Lịch sử quân sự đã quan tâm và chú trọng đăng tải, tuyên truyền giới thiệu các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu cả trong và ngoài nước, khẳng định quá trình các thế hệ người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông, đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong năm 1988, Tạp chí Lịch sử quân sự đã xuất bản số chuyên đề về Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến nay, Tạp chí Lịch sử quân sự đã đăng tải được một số lượng khá lớn các bài viết về đề tài này. Mỗi bài viết được khai thác, luận giải dưới một góc độ khác nhau, song tựu trung đều góp phần khẳng định sự thực lịch sử khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Tập hợp, giới thiệu các bài viết, bài nghiên cứu về quá trình người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và ý kiến của các nhà khoa học quốc tế về vấn đề này trên Tạp chí Lịch sử quân sự là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Việc làm này không những ghi nhận những đóng góp dù còn khiêm tốn của Tạp chí Lịch sử quân sự - một cơ quan chuyên công bố giới thiệu các kết quả nghiên cứu uy tín về Lịch sử quân sự của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - cơ quan nghiên cứu đầu ngành về Lịch sử quân sự của toàn quân và cả nước, trong việc tuyên truyền về đề tài biển, đảo mà còn nhằm góp phần hệ thống hóa tư liệu, cung cấp cho bạn đọc hiểu biết thêm về quá trình các thế hệ người Việt Nam tiến hành khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông và nhất là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Công trình sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, vừa củng cố niềm tự hào về lịch sử dân tộc, qua đó tăng cường ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong nhân dân mà đặc biệt là giới trẻ. Đồng thời công trình củng cung cấp thêm những cứ liệu lịch sử xác thực, có giá trị góp phần vào cuộc đấu tranh pháp lý trên trường quốc tế để khẳng định mạnh mẽ hơn nữa chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông và nhất là đối với hai quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc: Hoàng Sa và Trường Sa.


Công trình là hợp tuyển các bài viết công bố kết quả nghiên cứu, giới thiệu tư liệu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, hồi ức của các nhân chứng từng làm việc và chiến đấu tại Hoàng Sa, Trường Sa. Để tiện cho độc giả theo dõi, chúng tôi sắp xếp các bài viết thành các mảng vấn đề:


Phần thứ nhất bao gồm các bài viết đề cập về Quá trình khai phá, xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phần thứ hai gồm các bài viết phản ánh Quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, chứ không hoàn toàn rành rẽ, chuyên biệt, bởi nhiều bài viết đều cùng đề cập đến cả hai nội dung trên. Ban biên tập phân loại và sắp xếp trên cơ sở nội dung nào được đề cập trong bài viết tập trung hơn, sâu đậm hơn.


Phần thứ nhất: tập hợp 14 bài nghiên cứu, bài giới thiệu tư liệu phản ánh quá trình các thế hệ người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thời kỳ trước năm 1945. Trong đó, có một số bài viết đi sâu làm rõ về quá trình lịch sử khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên từng quần đảo.


Phần thứ hai: tập hợp 14 bài nghiên cứu, giới thiệu công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về quá trình các thế hệ người Việt Nam bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo, các hồi ký của những người từng công tác và chiến đấu tại Hoàng Sa và Trường Sa. Trong phần này, cũng có một số bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam và của các học giả quốc tế làm rõ những chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam và đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này.


Trong mỗi phần, chúng tôi sắp xếp các bài theo trình tự thời gian mà nội dung bài viết phản ánh và sau đó là trình tự thời gian công bố. Tuyển chọn các bài viết này, về cơ bản, Ban biên tập giữ nguyên tính thời điểm và giá trị tư liệu của bài viết như lúc đăng tải. Tuy nhiên, do đây là công trình tập hợp các bài viết trong khoảng thời gian dài, một số bài viết, bài nghiên cứu công bố trên Tạp chí Lịch sử quân sự từ thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX nên Ban biên tập đã chỉnh sửa hoặc lược bớt những chỗ đã lạc hậu cho phù hợp với tình hình mới và chúng tôi cũng tôn trọng, giữ nguyên cách viết của các tác giả về địa danh, tên người (nguyên gốc hoặc phiên âm).


Các số liệu về tọa độ địa lý, diện tích của hai quần đảo và một số đảo trong hai quần đảo, về số lượng củạ các đảo, bãi đá... trong mỗi quần đảo hay nhóm đảo trong mỗi quần đảo giữa các bài viết do thời điểm công bố và dựa trên những nguồn tư liệu khác nhau nên còn chưa có sự thống nhất. Để đảm bảo tính cập nhật mới nhất và có nguồn chính thống, Ban biên soạn chỉnh sửa và dẫn theo nguồn số liệu chính thức theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương trong cuốn "100 câu hỏi - đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam" do Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông ấn hành năm 2013.


Về tác giả các bài viết, trong khả năng cho phép, Ban biên tập cập nhật và chú giải về học hàm, học vị, cấp bậc (các tác giả công tác hoặc từng công tác trong quân đội), chức vụ cao nhất, đơn vị công tác, chức vụ hiện nay, chức vụ lúc đăng tải bài viết.

Đề tài phản ánh về quá trình các thế hệ người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một đề tài lớn, phong phú và có ý nghĩa lâu dài, nhiều mặt.

Dù đã có những cố gắng chỉnh sửa, cập nhật những thông tin tri thức liên quan đến vấn đề này, song cuốn sách này cũng sẽ không tránh khỏi những bất cập, khiếm khuyết. Ban biên tập rất mong nhận được sự đóng góp của đông đảo các nhà nghiên cứu và bạn đọc để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:18:11 pm
PHẦN THỨ NHẤT
QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ, XÁC LẬP, THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA


HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
TRONG TÂM THỨC VIỆT NAM*

(Tạp chí LSQS, số 6-1988)


ĐINH XUÂN LÂM**
GS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội


Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đã là một bộ phận cấu thành không tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Chân lý hiển nhiên đó đã được lịch sử cũng như công pháp quốc tế xác nhận. Bất cứ một âm mưu bành trướng nào, dù cho từ đâu tới, được dựng trên cơ sở xuyên tạc lịch sử và bóp méo sự thật tới đâu, đều là hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.


Sự gắn bó ruột thịt của Hoàng Sa - Trường Sa với Đất mẹ Việt Nam đâu chỉ có bằng lịch sử và pháp lý. Nó còn thể hiện sâu sắc trong đời sống tư tưởng và tình cảm của người dân nước Việt từ rất sớm, và ngày càng được củng cố, phát triển qua thời gian. Các tư liệu thành văn xưa về lịch sử và địa lý nước ta đều có ghi chép cụ thể các sự kiện về mối quan hệ mật thiết giữa hai quần đảo với đất liền, về tình hình khai thác tài nguyên thiên nhiên trên hai quần đảo, về công tác quản lý hai quần đảo của các triều đại trước kia. Đồng thời, văn học dân gian thắm đượm tình yêu quê hương, yêu lao động của các tỉnh "khúc ruột" miền Trung cũng khẳng định mạnh mẽ rằng từ rất xưa hai quần đảo đã đi vào đời sống văn hóa tinh thần, vào tập tục lễ nghi của cư dân ven biển nước ta.


Cảnh hàng năm những người lính được phái ra trấn thủ vùng hải đảo đã được phản ánh qua ca dao. Hai câu sau đây nói lên nỗi thương cảm sâu sắc của người vợ có chồng đi lính Hoàng Sa:

   Chiều chiều sóng dậy Biển Đông,
   Thương gái có chồng đi lính Hoàng Sa.


Với một ý thức trách nhiệm cao, đến phiên là những người dân ven biển miền Trung sẵn sàng ra đi, tất nhiên trong hoàn cảnh bấy giờ, ý thức trách nhiệm đó có phần được củng cố bằng lòng tin vào sự phù hộ của một sức mạnh siêu nhiên nào đó sau buổi lễ tiễn đưa do gia đình, bà con chòm xóm, hay chính quyền tổ chức:

   Cầu an, cầu phước, cầu vong,
   Trường Sa đi có, về không thấy về!
   Cho dù đi có về không,
   Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi!



Mặc dù mọi người đều biết rất rõ rằng cuộc sống "trấn thủ lưu đồn" ngoài vùng hải đảo giữa trùng khơi lộng gió, cách xa Đất mẹ thân thương, quanh năm vật lộn với phong ba bão táp, thường xuyên cảnh giác với quân thù ngày đêm rình rập, thật là muôn vàn gian khổ:

   Hoàng Sa một bãi cát vàng,
   Nước trong thấu đáy, hàng hàng lông chông
   ... Trường Sa lắm bãi nhiều cồn
   Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dậy mây.


   Ngày tiếp đêm là những cuộc tuần tra trên bộ, dưới nước, khắp vùng quần đảo mênh mông:
   Tuần bộ Trường Sa hùng binh,
   Tuần thành Trường Sa hùng binh,
   Tuần thuỷ Trường Sa hùng binh.


   Lại còn phải bảo đảm nhiều công việc lao động khác, như đánh cá, phơi lưới, giữ kho, canh trại...
   Bổ ngư Trường Sa hùng binh,
   Bảo võng Trường Sa hùng binh,
   Du hí Trường Sa hùng binh,
   Kỳ cổ Trường Sa hùng binh,
   Thủ khố Trường Sa hùng binh,
   Thủ tái Trường Sa hùng binh,
   Hoả đầu Trường Sa hùng binh
1 (Bổ ngư: đánh cá; Bảo võng: giữ lưới; Du hí: vui chơi, giải trí; Kỳ cổ: cầm cở, đánh trống; Thủ khố: giữ kho; Thủ tái: giữ đồn; Hoả đầu: nấu bếp).

   Khí thế của họ lúc xuống thuyền ra đảo tràn đầy phấn khởi và quyết tâm:
   Chủ tướng hành binh,
   Ba quân đều trẩy...
   Đứa trống, đứa kèn,
   Đứa cồng, đứa xập,
   Đứa cột con dao,
   Đứa lao con thuẫn,
   Đứa dẫn hành binh,
   Đứa phân ba ngả,
   Đứa đáp xuống thuyền,
   Tả cơ, hữu nghị,
   Tên pháo can qua,
   Mâu ma binh giáp,
   Thượng hạ trong thuyền,
   Đều thời trẩy hết.


   Niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh và khả năng của chính mình, chính đó là vũ khí tinh thần nâng họ lên hoàn thành nhiệm vụ:
   Đẳng đội Trường Sa hùng binh1(Hùng binh là danh hiệu của Nhà nước tôn phong cho những thuỷ quân hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở Trường Sa, do chiếu chỉ của vua Tự Đức ngày 12-12 năm Đinh Mão (1867))
   Thiên nhiên lực sĩ
   Vạn vạn tinh binh.


   Rõ ràng là Hoàng Sa - Trường Sa từ lâu luôn luôn đã là lãnh thổ của Việt Nam; Nhà nước Việt Nam đã là chủ hai quần đảo từ khi chưa có quốc gia nào đặt chân tới. Chỉ riêng việc hai quần đảo đi vào tình cảm, tâm thức của đồng bào các tỉnh miền Trung nói riêng, của nhân dân cả nước nói chung, đã là một cơ sở để khẳng định điều đó. Chính vì vậy, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam đối với Hoàng Sa - Trường Sa, nhân dân ta thực sự cũng đã đấu tranh cho sự trọn vẹn của những tình cảm chân chính của mình là lòng yêu quê hương, đất nước, yêu hoà bình và chính nghĩa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:20:28 pm
BIỂN, ĐẢO TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM*

(Tạp chí LSQS, số 3-2009)


NGÔ VĂN MINH**
(PGS, TS, Học viện Chính trị Khu vực III)


1- Biển trong tâm thức văn hoá, phát triển kinh tế và giao thương với các nước trên thế giới.

Từ xa xưa trong lịch sử, nhân dân ta đã có sự gắn bó với biển, đảo trong công cuộc dựng nước và giữ nước của mình. Chúng ta thấy rất rõ cuộc sống biển khơi của tiền nhân qua những hình trang trí trên mặt và tang các trống đồng Đông Sơn và tâm thức biển qua câu chuyện Lạc Long Quân có nguồn gốc Rồng ở biển, Thục An Dương Vương được Thần Kim Quy rẽ nước trở về với "Mẹ Biển", hoặc chuyện người xưa xăm hình thuồng luồng trên cơ thể, cũng như những ngôi nhà hình thuyền và hình ảnh những trận hải chiến được mô tả trong các bản trường ca của đồng bào một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cho thấy nguồn gốc Mã Lai - Đa Đảo của tiền nhân các dân tộc này. Giới khảo cổ học phát hiện được ở các đảo có dấu tích con người sinh sống hàng ngàn năm trước Công nguyên. Ngành ngôn ngữ học cũng phát hiện được một điều lý thú về sự tương đồng ngôn ngữ giữa đồng bào một số dân tộc ở Tây Nguyên, với các dân tộc khác trên những quốc đảo ở Thái Bình Dương. Trước đây, ông Yngông Niekđam1 (Yngông Niekdam (1922-2001), là một trí thức, bác sĩ, Nhà giáo nhân dân, người dân tộc Ê Đê, từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội liên tục từ Khóa I đến Khóa IX, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đổng dân tộc của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (BBT chú thích)), Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã từng nói chuyện với một nhân viên hàng không Inđônêxia bằng tiếng Êđê của mình.


Vì sinh sống ven biển và các đảo nên cư dân Việt cổ sớm thông thạo nghề đi biển, đánh cá, đóng thuyền. Píetri là một thanh tra kiểm ngư người Pháp làm việc ở Đà Nẵng thời thuộc địa, trong một công trình khảo sát về các loại thuyền buồm chạy ven biển Việt Nam, có nhận xét rằng: "Nếu trên thế giới có một khu vực mà sự phong phú của nghề đi biển bằng thuyền buồm chứa đựng trong hàng nghìn nét khác nhau thì khu vực đó phải là khu vực ven Biển Đông Dương"2 (Píetri, Ba loại thuyền buồm ven Biển Đông Dương ít được biết đến, Tạp chí Xưa & Nay, số 134 (182), tháng 2-2008). Nếu để ý sẽ dễ nhận thấy, các loại thuyền đánh cá dọc ven biển nước ta thật là phong phú, đa dạng: từ thuyền thúng chài tròn trịa đến ghe câu to lớn của Quảng Bình, ghe bầu của xứ Quảng, thuyền lưới ở vịnh Hạ Long. Kỹ thuật đóng thuyền của dân tộc ta cũng đã một thời khiến cho các nước phải thán phục. Cho đến cuối thế kỷ XIX, trong con mắt của người Hoa, nhiều loại thuyền của Việt Nam thuộc loại "mạnh, nhanh, linh hoạt và hoàn hảo"1 (Li Tana, Thuyền và kỹ thuật đóng thuyền ở Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tạp chí Xưa & Nay, số 131 (179), tháng 1-2003). Nền công nghiệp đóng thuyền ra đời. Nó vốn được hình thành từ thế kỷ XVII, XVIII và đã bắt đầu học tập kỹ thuật đóng thuyền của các nước phương Tây. Nhiều cơ sở đóng thuyền hình thành ở bờ Nam sông Đồng Nai và các làng dọc sông Cái Bè, sông Sài Gòn. Li Tana, tác giả của luận án tiến sĩ về Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII đã nhận xét rằng: "Có thể không phải là một suy đoán khi cho rằng thương nhân phương Tây đã chuyển giao công nghệ đóng thuyền của họ cho thợ đóng thuyền Trung Hoa và Việt Nam khi họ đặt hàng ở đó. Ít ai ngờ rằng nghề đóng thuyền tư nhân ở Đồng Nai giữa thế kỷ XVIII đã báo trước ngành công nghiệp đóng thuyền của Nguyễn Ánh, khi việc tiếp thu công nghệ đóng thuyền phương Tây trở nên rõ ràng trong cuộc chiến tranh của chúa Nguyễn với Tây Sơn"2 (Li Tana, Thuyền và kỹ thuật đóng thuyền ở Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tạp chí Xưa & Nay, số 131 (179), tháng 1-2003). Nghệ thuật điều khiển tàu thuyền bấy giờ của người Việt cũng thật độc đáo. Từ năm 1802, người Việt Nam đã mã hoá các lệnh cho người đứng lái để tránh va chạm với tàu khác, trong khi nước Pháp mãi tới ngày 4-11-1879 mới có nghị định hợp thức hoá điều đó. Đặc biệt, dưới thời Minh Mạng, nhận thấy những ưu điểm nổi bật của tàu máy hơi nước phương Tây, ông đã cho mua một chiếc với giá đắt để phỏng theo đó mà đóng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đốc công Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh, chỉ qua hai lần chạy thử trên sông Hương, chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên được chế tạo phỏng theo mẫu tàu hơi nước phương Tây (chỉ là tháo ra từng bộ phận để nghiên cứu chứ không có bản vẽ thiết kế) đã vận hành thành công vào năm 1839, sau chiếc tàu hơi nước hạ thuỷ đầu tiên trên thế giới chỉ 32 năm. Sau đó, hai chiếc tàu khác cũng được chế tạo và đều vận hành tốt.


Với lợi thế nằm ven Biển Đông nên giao thương giữa nước ta với các nước khác trên thế giới sớm được hình thành. Từ giữa thế kỷ II trước Công nguyên, cư dân sinh sống ven biển các quốc gia Phù Nam, Lâm Ấp, Văn Lang đã có giao lưu buôn bán với tàu thuyền các nước Trung Quốc, Ấn Độ. Đặc biệt, các nhà khảo cổ học còn phát hiện được chiếc huy hiệu in hình Antonio ở An Giang, chứng tỏ rằng, ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên, tiền nhân chúng ta đã xác lập được quan hệ buôn bán với cả thương nhân La Mã. Từ giữa thế kỷ VII trở đi, thuyền buôn các nước vùng Tây Á như Ả Rập, Ba Tư... trên đường qua lại buôn bán với Trung Quốc, đều ghé vào các cảng Thị Nại và Đại Chiêm của Champa để trao đổi mua bán. Đến thế kỷ IX, con đường tơ lụa hoặc con đường gốm sứ trên Biển Đông hình thành với điểm cực Tây là Roma, điểm cực Đông là Trung Hoa, đều đi ngang qua các thương cảng Côn Đảo, Cù Lao Chàm, Vân Đồn. Từ thế kỷ XVI trở đi, các thương cảng ở nước ta càng trở nên nhộn nhịp, nổi tiếng nhất là thương cảng Hội An ở Đàng Trong và Phố Hiến (Hưng Yên) ở Đàng Ngoài. Riêng với Đàng Trong, kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn giữ, các chúa Nguyễn đã rất tích cực trong việc mở cảng chiêu thương tại Hội An. Chỉ tính trong 6 năm, từ 1601-1606, Nguyễn Hoàng đã viết đến 8 bức thư kèm theo tặng phẩm gửi cho chính quyền Tokugawa Nhật Bản để thiết lập quan hệ buôn bán. Những năm về sau, ông trao cho quan trấn thủ Quảng Nam một cơ chế riêng, một quyền hành lớn làm tiền lệ cho các chúa Nguyễn kế vị về sau. Đó là, quan Trấn thủ được quyền giao thiệp trực tiếp với các thương nhân nước ngoài và kiểm soát ngoại thương. Trong thư gửi Toàn quyền Batavia vào năm 1637, chúa Nguyễn Phúc Lan nói rõ thiện ý của mình "thiết tha mong tất cả mọi nước đến buôn bán ở các bến cảng nước tôi". Để thắt chặt hơn tình giao hảo giữa hai nước trong giao thương, Nguyễn Hoàng đã nhận Hunamoto Yabeiji - một thương gia và cũng là phái viên đầu tiên của chính quyền Tokugawa - làm con nuôi. Kế theo, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương nhân Nhật tên là Araki Sotaao. Thương nhân Nhật và Trung Quốc được chúa Nguyễn cho lập phố chợ riêng tại Hội An, được đặt người đứng đầu và sinh hoạt theo phong tục tập quán nước mình. Thương nhân Hà Lan và Bồ Đào Nha được cho lập thương điếm. Sang giữa thế kỷ XVII, các di thần nhà Minh bất hợp tác với nhà Thanh vượt biển xuống Đàng Trong lánh nạn, được chúa Nguyễn cho lập các Minh Hương xã cư trú vĩnh viễn tại Hội An. Một điểm đặc sắc trong thời gian này là các chúa cho tổ chức các mùa hội chợ theo định kỳ 4 tháng một phiên để đánh thuế thu lợi. Ở thế kỷ XVII, nhà sư Thích Đại Sán - người Trung Quốc đến Đàng Trong, đã viết lại trong sách Hải ngoại kỷ sự về sự hưng thịnh của Hội An "hai bên đường hàng phố liền nhau khít rịt". Đến thế kỷ XVIII, một lái buôn người Quảng Đông kể với Lê Quý Đôn rằng, tại Hội An hàng hoá nhiều đến mức, "dù trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được"1 (Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr.234). Hội An không chỉ là nơi tập kết hàng bán đi các nước, nơi lái buôn các nước đem hàng đến bán cho Đàng Trong và là cảng trung gian để các lái buôn đến trao đổi buôn bán với nhau, mà còn là nơi để Đàng Trong giao lưu văn hoá, tiếp thu khoa học kỹ thuật của các nước, nhất là các nước phương Tây qua đường biển.


Ở Đàng Ngoài, năm 1641, chúa Trịnh cũng cử sứ thần mang thư đến Batavia và Đài Loan mời gọi thương gia Hà Lan đến buôn bán. Để tạo điều kiện cho hoạt động mua bán của các thương nhân nước ngoài, triều đình Lê - Trịnh còn cho phép họ được lưu trú tại các khu vực nội địa như Phố Hiến, Thăng Long. Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện các phố cảng như Sài Gòn, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Hải Phòng.


Nhìn lại quá trình phát triển ngoại thương từ thế kỷ XIII cho đến giữa thế kỷ XIX, có thể thấy rằng sự hưng thịnh của nó phụ thuộc rất nhiều vào chủ trương của triều đình. Việc nhà Lý cho lập trang Vân Đồn vào năm 1149 đánh dấu sự tham dự của Đại Việt vào hệ thống hải thương trong khu vực. Tuy nhiên, sự tồn tại và hưng thịnh của Vân Đồn chỉ trong hơn 2 thế kỷ. Do luật lệ ngoại thương có phần khắt khe ở thời Lê Sơ khiến cho nó không thể phát triển thành một đô thị thương mại và cuối cùng đi đến suy thoái hẳn vào cuối thế kỷ XV. Đến thời Trịnh - Nguyễn, nhất là với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, cái nhìn ra biển rõ hơn với những chính sách ngoại kiều, ngoại thương thoáng mở, nhưng tiếc rằng chỉ được một thời gian lại bị suy thoái mà nguyên nhân của nó có cả chủ quan lẫn khách quan. Trước hết, phải kể đến sức sản xuất hàng hoá nội địa không còn đáp ứng được cả số lượng và chất lượng theo yêu cầu ngày một cao của khách hàng nước ngoài. Trong khi đó, ở Quảng Đông (Trung Quốc) đã có những thị trường mới có sức hấp dẫn các lái buôn phương Tây hơn. Thứ hai, tình hình chính trị trong nước và các nước phương Tây bấy giờ không ổn định. Ở trong nước nổ ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ở châu Âu cũng nổ ra nhiều cuộc chiến tranh khiến cho việc ra nước ngoài buôn bán của các thương nhân gặp khó khăn. Thứ ba, ngoại thương trong nước luôn ở thế bị động chờ tàu thuyền nước ngoài đến mua bán chứ không có được những đội tàu đủ mạnh để đi xa. Vì vậy, khi lái buôn nước ngoài bỏ sang thị trường nước khác thì ngoại thương nước ta bị rơi ngay vào tình trạng đình đốn. Bước sang nửa đầu thế kỷ XIX, sự nhòm ngó của thực dân phương Tây khiến các vua đầu triều Nguyễn tỏ ra dè dặt, không dám mở cửa chiêu thương một cách thoáng mở như trước. Nhà Nguyễn đã khước từ các đề nghị lập phố buôn bán lâu dài ở Việt Nam của các nước Anh, Mỹ. Chính vì vậy, số lượng tàu thuyền các nước đến buôn bán tại nước ta thời gian này ngày một thưa thớt dần. Tàu thuyền của nước ta đi đến các nước buôn bán lại càng ít hơn. Không có tàu thuyền Việt Nam đi buôn bán ở các nước châu Âu.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:21:42 pm
2- Biển, đảo trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ luôn là ý thức thường trực của các thế hệ tiền nhân. Điều đặc biệt là dưới thời phong kiến, cha ông ta đã biết lợi dụng thuỷ triều vào công tác phòng thủ đất nước và chống giặc ngoại xâm. Ba trận thuỷ chiến oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc đều liên quan mật thiết đến con nước thuỷ triều. Đó là chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán vào năm 938 - trận đánh diễn ra trong một thời gian cực ngắn - giữa hai con nước thuỷ triều và tại một phạm vi rất hẹp ngay tại cửa sông ven biển, mà ý nghĩa thắng lợi thật to lớn, khiến cho quân địch, phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa, tướng giặc là Thái tử Lưu Hoằng Thao cũng bỏ mạng. Cũng với chiến thắng này, thời kỳ mất nước kéo dài gần một nghìn năm kết thúc hoàn toàn, nước ta bước vào thời kỳ trung hưng.


Chiến thắng Bạch Đằng của quân và dân Đại Việt thời Trần, vào năm 1288, đánh thắng quân Nguyên làm cho "giang sơn ngàn thuở vững âu vàng". Trong Binh thư yếu lược, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có hẳn một chương Thuỷ chiến để khảo về nghệ thuật đánh giặc trên biển và nói về các loại thuyền chiến, lại có thêm thiên thuỷ chiến đưa ra kế "hiểm lạ" để đánh giặc trên sông biển. Hai lần chiến thắng quân Xiêm tại Rạch Gầm - Xoài Mút, lần thứ nhất vào năm 1785 của quân Tây Sơn và lần thứ hai vào năm 1833 của triều Nguyễn cũng đầy hiển hách.


Thời Lê Thánh Tông, nhà vua định ra quân lệnh về việc thuỷ chiến, cả thảy 31 điều, để rèn tập binh lính và đốc thúc họ phải thao diễn thuỷ binh thường xuyên. Từ thế kỷ XV trở đi, các triều đại phong kiến Việt Nam đầu tư xây dựng lực lượng thuỷ binh và những chiến thuyền lớn phòng ngừa mặt bể và chống lại các hành động cướp biển, gây hấn, vi phạm chủ quyền lãnh thổ của các nước. Đặc biệt, khi thuyền Hà Lan đến buôn bán ỷ có tàu to súng lớn, quẤn Đội thiện chiến, nổi tiếng là "chúa trùm mặt bể", đến bờ biển nước ta gây sự, bắt người đem đi, liền bị Thế tử Dũng Lễ hầu Nguyễn Phúc Nguyên cho thuyền chiến đánh tan tại cửa Eo (Thuận An - Huế) vào năm 1644, nhằm cảnh cáo hành động vi phạm chủ quyền của chúng.


Dưới thời Trịnh - Nguyễn, vấn đề chủ quyền biển, đảo rất được quan tâm. Chúa Trịnh đã cho người vẽ thuỷ trình và mô tả tất cả các hòn đảo trên Biển Đông. Chúa Nguyễn cho thành lập hai Đội Hoàng Sa để hằng năm ra đảo lấy hoá vật và khẳng định chủ quyền. Dưới thời các vua triều Nguyễn, công việc bảo vệ chủ quyền biển đảo càng được quan tâm và công việc cứu nạn các thuyền buôn nước ngoài trên vùng biển nước ta cũng được chú ý nhiều hơn. Ngay từ năm Gia Long thứ hai, nhà vua đã có chỉ truyền cho các đội thuyền, hằng năm bắt đầu từ tháng 3 cho đến tháng 7, phái các thuyền đi kiểm soát các đảo, không để cho thuyền giặc ngầm đậu, "Nếu bắt được bọn giặc để kết án, thì ắt có thưởng hậu. Nếu tuần bắt bất lực thì ắt trị tội nặng không tha"1 (Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 9, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.682). Các thuyền vận tải lớn đều có thuyền binh đi theo do thám và hộ tống, lại vũ trang khí giới cho ngư dân vừa đi đánh cá vừa do thám tình hình biển, đảo. Triều đình cho lập các đồn ải, tấn sở ở những nơi hiểm yếu để phòng bị và giao trách nhiệm cụ thể cho các quan trấn thủ, tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát, lãnh binh phải chịu trách nhiệm an ninh biển, đảo thuộc địa hạt mình cai quản.


Thời các chúa Nguyễn, lường trước những bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào, những người trong Đội Hoàng Sa tự lo trước hậu sự cho mình bằng cách mỗi người chuẩn bị sẵn một đôi chiếu, 7 dây mây và 7 cái đòn tre để nếu gặp chuyện chẳng lành trên biển thì đồng đội lấy chiếu quấn xác, dùng đòn tre nẹp thi thể, lấy dây mây buộc lại và kẹp theo một tấm thẻ tre ghi tên tuổi, quê quán và phiên hiệu của người xấu số, rồi bỏ xuống biển với một niềm hy vọng mong manh là nếu xác trôi vào bờ sẽ có người vớt lên chôn cất. Với những người thân ở quê nhà, khi nghe tin dữ sẽ nặn đất sét thành hình nhân bỏ vào quan tài làm lễ truy điệu, sau đó mai táng đúng như thủ tục đối với người chết để linh hồn người tử nạn quay về còn có nơi yên nghỉ. Mặc dù, đầy hiểm nguy như vậy nhưng những người ra đi luôn thường trực ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Khi trong nước xảy ra nội chiến giữa các thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn và nhà Tây Sơn, việc quản lý Hoàng Sa bị bỏ dở, lo sợ ngoại bang thừa cơ xâm phạm hải đảo nên những người dân ở Cù Lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi) tự đứng ra lập lại hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương. Trong lá đơn viết vào năm 1776 gửi lên chính quyền Tây Sơn, Cai Hợp của phường nói rõ mục đích lập đội thuyền là, nếu xảy ra chinh chiến sẽ "vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm", còn lúc bình sẽ "tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp".


Các nguồn tài liệu của triều Nguyễn như Châu bản, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí đều cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam dưới thời các vua triều Nguyễn luôn khẳng định chủ quyền quốc gia đối với các biển, đảo của mình, đặc biệt với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không chỉ khẳng định trong các bộ sử lớn mà triều Nguyễn còn có sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên, kỹ lưỡng đối với mọi kế hoạch hoạt động, như việc chỉ dụ về tuần phòng biển, đảo hằng năm, có lệ thưởng phạt đối với những người đi làm nhiệm vụ, việc đo đạc cắm lại mốc giới một cách khoa học hơn; lại còn lập miếu, dựng bia, trồng cây để đảm bảo cho việc lưu trú và nhu cầu tín ngưỡng của những người thực thi nhiệm vụ. Những người đi làm nhiệm vụ này được triều đình vinh danh là "Hùng binh Trường Sa, Hoàng Sa". Với đồng bào của mình, họ được xem là những nghĩa sĩ, khi hy sinh nơi hải đảo sẽ được suy tôn "Âm linh chiến sĩ tôn thần", và có những hình thức tưởng niệm trọng thể.


Như thế, về mặt khai thác tiềm năng biển, dưới thời phong kiến, do chính sách chung của các triều đại vẫn là "trọng nông ức thương", nếu có mở cảng chiêu thương cũng chỉ ở một hai nơi, lại bị động một chiều ngồi chờ thuyền buôn các nước đến, không có được những đội tàu lớn vươn ra ngoài đại dương đánh bắt thuỷ sản và đi buôn bán xa, nên nhìn chung vẫn chưa thật sự khai thác biển như là một lợi thế để làm giàu cho đất nước. Nhưng về mặt phòng ngừa, xác lập và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, triều đình cũng như trong nhân dân đều luôn thường trực ý thức trách nhiệm về vấn đề này, đều xác định biển, đảo là nơi "tối thị hiểm yếu" của quốc gia. Đấy là những cứ liệu lịch sử quý báu để chúng ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về chiến lược biển, đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh, giàu lên từ biển, đấu tranh bảo vệ và đảm bảo vững chắc chủ quyền quốc gia về biển, đảo.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:24:54 pm
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA,
BỘ PHẬN LÃNH THỔ THIÊNG LIÊNG CỦA VIỆT NAM
QUA CÁC BẰNG CỨ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ*

(Tạp chí LSQS, số 6-1988)


TRẦN CÔNG TRỤC**
(TS, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ)


Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ lâu luôn luôn là lãnh thổ Việt Nam, vì Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo đó khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và đã liên tục thực hiện thật sự chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó.


Cơ sở pháp lý vững chắc này đã được chứng minh bởi các bằng cứ lịch sử Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa suốt trong mấy thế kỷ.


I. Thời kỳ các nhà nước phong kiến Việt Nam trước năm 1884.

Chỉ căn cứ vào các sử sách, văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XVII, cũng đã thấy Nhà nước phong kiến Việt Nam là người đầu tiên trong lịch sử đã tổ chức chiếm hữu thực sự và liên tục thực hiện thực sự chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa1 (Hoàng Sa hay Cát Vàng hay Vạn lý Trường Sa, Đại Trường Sa là tên dùng để gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào thời kỳ lịch sử này. Các tài liệu phương Tây vào thời kỳ này cũng dùng tên Pracel, Parcel hay Paracels để gọi chung cả hai quần đảo này). Tính thật sự của hành động thực hiện chủ quyền Việt Nam trong thời kỳ này được thể hiện ở những bằng cứ có ý nghĩa pháp lý sau đây:


1- Về tổ chức hành chính, Hoàng Sa trong thời kỳ này đã được phiên thuộc vào tỉnh Quảng Nam.

Trong Toàn tập Thiên Nam chí tứ lộ đồ thư của Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, dựa trên cơ sở của các tư liệu thu thập được vào thời kỳ vua Lê Thánh Tông tiến hành các hoạt động mở mang bờ cõi về phía Nam, có ghi rõ trong đoạn chú giải bản đồ vùng phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: "giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (tức Hoàng Sa)2 (Trang 94-95, Microfilm bản đồ phủ Quảng Nghĩa và phủ Thăng Hoa trong tác phẩm Hồng Đức bản đồ lưu giữ tại Tokyo Bunko ở Tokyo (Nhật Bản) số 100.891. Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn xuất bản năm 1962 thêm phân phiên âm ra tiếng Việt Nam và chú giải, tr. 68-137).


- Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, đã chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi: "xã An Vĩnh huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài biển có núi, gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa...1 (Phủ biên tạp lục, tập II, Bản dịch tiếng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 116, 119, 120).


- Các bộ sử của triều đình nhà Nguyễn trong thời kỳ từ năm 1802-1884 cũng đã ghi rõ mối quan hệ địa lý, hành chính này. Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882, đoạn nói về lãnh thổ tỉnh Quảng Nghĩa, cũng viết: "phía Đông có đảo cát (đảo Hoàng Sa), liền với biển làm hào..."2 (Đại Nam nhất thống chí quyển VI, Bản dịch tiếng Việt Nam, Nxb Lịch sử, H. 1970, tr. 354, 370).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:26:57 pm
2- Tổ chức các Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải (cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản) đi khai thác, quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Với tư cách là người chủ thực sự hai quần đảo này, các chúa Nguyễn và sau đó là các vua Nguyễn đã tổ chức ra Đội Hoàng Sa và thường xuyên lệnh cho các quan, quân từng năm đi ra Hoàng Sa để quản lý, khai thác, điều tra, khảo sát địa hình, địa vật, dựng miếu, trồng cây, cắm mốc...

- Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, thế kỷ XVII ghi rõ: "Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn". 

- Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép rằng: "Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa, 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ 3 tháng nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng...".

"... Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, Cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hoá vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai Đội Hoàng Sa kiêm quản"...


Trong các bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục tiền biên và Đại Nam thực lục chính biên (soạn xong vào năm 1844 và 1848) cũng ghi chép rõ những nội dung nói trên:

... "Hồi đầu dựng nước, đặt Đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo... Lại có Đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật; Đội này cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản"1 (Đại Nam thực lục tiền biên, bản dịch tiếng Việt, tập I, Nxb Lịch sử, H. 1962, tr. 22).


Kế tiếp các chúa Nguyễn là nhà Tây Sơn, mặc dù phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và quân Xiêm, vẫn luôn luôn quan tâm duy trì hoạt động của các Đội Hoàng Sa. Trong một tờ sai của quan thượng tướng công năm 1786 có ghi rõ... "Sai cai Đội Hoàng Sa Hội Đức hầu dẫn 4 chiếc thuyền vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu liên, đồi mồi, hải ba cùng của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ"...


Hoạt động thường xuyên và có hiệu quả của Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải trong thời kỳ này cũng đã làm cho những tên thực dân phương Tây khi lăm le đến vùng biển của ta phải kinh ngạc và dè chừng. Trong báo cáo viết vào khoảng năm 1758, 1759 và bản bút ký viết năm 1768, đô đốc Pháp D'Estaing, người Pháp đầu tiên nghiên cứu một kế hoạch đột kích vào bờ biển miền Trung Việt Nam đã thú nhận: "Việc đi lại giữa quần đảo đó Paracels (tức Hoàng Sa) và đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại ngoài biển khơi", thế mà "các thuyền nhỏ của xứ này vẫn thường qua lại vùng quần đảo". D'Estaing còn cho biết đã trông thấy ở Huế có đến 400 khẩu đại bác, phần lớn là của Bồ Đào Nha mà người Việt Nam thu lượm được ở Paracels1 (Tập san của Hội nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes indochinoises) tập 17, số 1, quý I năm 1942, tr.86, 43). Và một người Pháp khác, Pierre Poivre, cũng cho biết rằng hai lần ông ta đến Huế năm 1749 và 1750, đã thấy có đến 1.200 khẩu đại bác của Bồ Đào Nha và Hà Lan, được lấy ở trên các xác tàu đắm ở Hoàng Sa2 (Tập san của Hội nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes indochinoises) tập 17, số 1, quý I năm 1942, tr.86, 43).


Từ năm 1802 đến năm 1886, các vua Nguyễn tiếp tục duy trì hoạt động của Đội Hoàng Sa, đồng thời liên tục cử quan quân, phái binh thuyền đi Hoàng Sa để tuần tra, nghiên cứu đường biển, đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ, trồng cây làm dấu cho người đi biển, dựng miếu, lập bia...


Trong Đại Nam thực lục chính biên và Đại Nam thực lục tiền biên đã chép rõ một loạt các sự kiện:

- Năm 1815, tháng Giêng năm Ất Hợi, vua Gia Long sai cai Đội Hoàng Sa là Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa để thăm dò đường biển.

- Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thuỷ quân cùng Đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển.

- Liên tục trong những năm 1833, 1834, 1835, 1836, vua Minh Mệnh lệnh cho Bộ Công cử người ra Hoàng Sa để dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối. Các vị tướng lĩnh như đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ, cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên, suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đã từng đưa binh thuyền ra Hoàng Sa để thực hiện lệnh vua ban:

"... Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, hình dị thế nào, phải tưng tận đo đạc vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi tính ước được bao nhiêu dặm... Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình1 (Đại Nam thực lục chính biên, quyển 165, kỳ thứ 2).


Những bài gỗ do Phạm Hữu Nhật mang ra Hoàng Sa để cắm trên các đảo ghi rõ:

"Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân (1836), Thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ"1 (Đại Nam thực lục chính biên, quyển 165, tờ 24b-25b. Quốc triều chính biên toát yếu, quyển 3, td 104a).


Các vua triều Nguyễn đã quy định lịch hoạt động của Đội Hoàng Sa hết sức chặt chẽ. Nếu năm nào không có điều kiện đi ra Hoàng Sa thì Bộ Công phải tâu trình xin nhà vua cho phép hoãn. Tờ tâu của thượng thư Bộ Công lên vua Thiệu Trị năm 1847 ghi rằng: "Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét để thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau". Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình"2 (Châu phê triều Nguyễn (Hồ sơ lưu trữ của triều đình Huế)).


Nhiều tác giả phương Tây như: Jean Louis Taberd, J.B Chaigneau, M.A- Dubois de Jancigny, E. Cortambert, và Léon de Rosny, P.A. Lapicque, Raoul Serene, Henri Cucherousset, Alexis Elie Lacombe... đã đăng nhiều bài viết nghiên cứu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên các báo, tạp chí từ những năm 20 của thế kỷ này (thế kỷ XX) đề cập đến các sự kiện nói trên và đều khẳng định rằng các vua chúa nước Việt Nam (mà lúc đó gọi là nước Cochinchine hay Annam) đã thực hiện chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này3 (Xem: Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (tiếng Pháp, tiếng Anh) Le Courrierdu Vietnam, H, 1984, tr.120-130).


Cũng trong các hồ sơ, tài liệu nói trên còn có những sự kiện chứng tở các chính quyền phong kiến Trung Quốc chẳng những không lên tiếng tranh chấp mà còn thừa nhận sự có mặt chính đáng của Nhà nước Việt Nam tại hai quần đảo này:

- Năm 1754, có hai lính Đội Hoàng Sa bị bão trôi giạt vào đảo Hải Nam và được các viên chức đảo Hải Nam xác minh đúng là người của Đội Hoàng Sa của Việt Nam hoạt động tại Hoàng Sa, nên cho trở về quê quán và chúa Nguyễn đã lệnh cho quan cai Thuận Hoá viết thư cảm ơn theo đúng thể thức ngoại giao. Trong công văn của chính viên đường quan huyện Văn Xương thuộc Quỳnh Châu (Trung Quốc) gửi cho xứ Thuận Hoá viết rằng:

"Năm thứ 18 (1754) niên hiệu Càn Long, 10 quân nhân ở xã An Bình thuộc đội kiếm vàng của huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Nghĩa, nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra "Vạn Lý Trường Sa" lượm nhặt các hải vật; tám tên trong bọn ấy lên bờ biển tìm lượm các hải vật, còn hai tên ở lại coi giữ thuyền. Vì một trận cuồng phong nổi mạnh làm đứt neo thuyền, nên hai tên ấy bị trôi giạt vào cảng Thanh Lan. Viên quan địa phương tra xét đích thực, nên cho áp chở hai tên này trở về quê quán"1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục).


- Năm 1795-1796, chiếc tàu Bellona của Đức và Imegi Maru của Nhật chở đồng cho Anh bị đắm ở Hoàng Sa. Dân đảo Hải Nam ra lấy cắp đồng ở trên hai chiếc tàu này. Anh đã phản đối, Phó vương tổng đốc Lưỡng Quảng (Trung Quốc) trả lời rằng: quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc, nên Trung Quốc không có trách nhiệm gì ở đây1 (Thư số 704A.EX ngày 20-3-1930 của Toàn quyển Đông Dương Pierre Pasquier gửi Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp đàng trong Eveil économique de Indochine, số 741, 12-6-1932).


Rõ ràng là trong giai đoạn lịch sử này. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và liên tục thực hiện thực sự chủ quyền của mình ở hai quần đảo này mà không gặp phải bất kỳ một sự phản đối của bất cứ quốc gia nào. Điều đó có nghĩa là Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi chúng chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:47:07 pm
II. Thời kỳ từ năm 1884 đến năm 1950

Trong khoảng gần 70 năm, với tư cách là người đại diện cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại theo tinh thần Hiệp ước ngày 6-6-1884, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã tiếp tục cai quản và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa2 (Tên quần đảo "Hoàng Sa" và quần đảo "Trường Sa" xuất hiện khoảng nàm 1838 trong bản đồ "Đại Nam nhất thống toàn đồ") với những nội dung:

1. Tổ chức khảo sát, nghiên cứu, khai thác, tuần tra, xây đèn biển, đài khí tượng, đài vô tuyến điện... ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Đưa quân ra quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đồn trú và chính thức công bố việc chiếm đóng này.

3. Thiết lập các đơn vị hành chính và sáp nhập chúng vào các tỉnh ở đất liền.


Sau đây là những sự kiện chủ yếu:

Năm 1899: Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị xây dựng một cây đèn biển ở quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1925: Một phái đoàn khảo sát do Giám đốc Viện nghiên cứu Biển Đông Dương, Krempf, dẫn đầu ra khảo sát quần đảo Hoàng Sa trên chiếc tàu De Lanessan. Đoàn này gồm có các kỹ sư của sở hầm mở Đông Dương, các kỹ sư của sở thuỷ văn hải quân Pháp và một đại diện của sở kiểm lâm Đông Dương.


Năm 1930: Ngày 14-4, thông báo hạm La Malicieuse do thuyền trưởng De Lattre điều khiển ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương để dựng bia chủ quyền1 (Điện số 689 ngày 18-4-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp tại Paris).


Năm 1933:

- Trong một thông báo của Hải quân Pháp, một biên đội gồm 3 tàu: Alerte, Astrolabe và De Lanessan, đã tiến hành chiếm hữu các đảo của quần đảo Trường Sa.

- Ngày 26-7-1933, Công báo của Cộng hoà Pháp, đăng thông báo của Chính phủ Pháp về việc Hải quân Pháp đã chiếm hữu các đảo Trường Sa, An Bang, Ba Bình, Song Tử Đông và Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, cũng như các đảo nhỏ phụ thuộc của các đảo này.

- Ngày 21-2, thống đốc Nam Kỳ Krautheimer ký Nghị định số 4762-CP sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tĩnh Bà Rịa.


Năm 1937: chính quyền Pháp phái Chánh kỹ sư trưởng công chính ở Hải Phòng tên là Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa để nghiên cứu địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thuỷ phi cơ và nghiên cứu các điều kiện định cư ở quần đảo này.


Năm 1938:

- Ngày 30-3, vua Bảo Đại ra Dụ số 10, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên1 (Nam triều quốc ngữ công báo số 8-1938).

- Ngày 15-6, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ra Nghị định số 156-S-V thành lập một đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.

- Dựng bia chủ quyền ở đảo Hoàng Sa thuộc quần đảo Hoàng Sa, cột mốc ghi: "Cộng hoà Pháp, Vương quốc Annam, quần đảo Hoàng Sa, 1816, đảo Hoàng Sa -1938".

- Xây xong đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện ở Hoàng Sa (quần đảo Hoàng Sa).

- Một đơn vị cảnh sát biển Việt Nam được phái ra Hoàng Sa để lập đội quân đồn trú.


Năm 1939:

- Ngày 5-5, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định số 3282 chia Đại lý hành chính Hoàng Sa thành hai Đại lý hành chính, gọi là Đại lý An Vĩnh (Délégation administrative de Croissant).


Năm 1946:

- Tháng 5, Pháp đưa tàu Savorgnan de Brazza ra giành lại quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1947:

- Pháp phái tàu chiến Le Tonkinois ra thám sát quần đảo Hoàng Sa, cho 10 lính Pháp và 17 lính người Việt Nam đóng ở đảo Hoàng Sa.


Trong thời kỳ này, chính quyền Pháp tại Đông Dương ngoài các hoạt động bình thường thực hiện chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn kịp thời lên tiếng công khai chính thức phản đối một số hành vi vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này do Trung Hoa dân quốc và Nhật Bản gây ra:

- Tháng 4-1939, Chính phủ Pháp gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Nhật Bản phản đối việc Chính phủ Nhật Bản tuyên bố đặt quần đảo Trường Sa dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản. Cũng xoay quanh sự kiện này, Thứ trưởng Ngoại giao Anh M.R. Butler đã trả lời chất vấn ở Hạ nghị viện Anh và khẳng định rằng: "Đảo Trường Sa ở phía Tây, một quần đảo rộng lớn mà Pháp đang thực hiện chủ quyền hoàn toàn theo một sắc lệnh năm 1933... Việc phản đối trước hết thuộc thẩm quyền của Pháp1 (Charles Rousseau: "Trung Quốc, Pháp, Nhật, Philippin và Việt Nam, tranh chấp liên quan đến vấn đề sở hữu của quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa". Rewe Général du Droit international pullic, Paris, số 3).

- Năm 1947, Chính phủ Pháp chính thức phản đối việc Trung Hoa dân quốc lợi dụng việc giải giáp quân Nhật, đã đưa tàu chiến ra chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào năm 19461 (Lãng Hồ, Hoàng Sa và Trường Sa - Lãnh thổ Việt Nam trong Tập san Sử địa Sài Gòn, số 29, tháng 1-3-1975).

Những sự kiện này là hành vi pháp lý quan trọng, có giá trị nói lên ý chí của một nhà nước có chủ quyền đối với vùng lãnh thổ có sự tranh chấp của các nước khác.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:48:57 pm
III. Thời kỳ từ năm 1950 đến năm 1976

Đây là thời kỳ Chính phủ Bảo Đại và kế tiếp là các chính quyền Sài Gòn bảo vệ chủ quyền và quản lý thực tế hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1950:

- Ngày 14-10, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho Chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo ra đảo Hoàng Sa để chủ trì việc bàn giao này.


- Năm 1951: ngày 7-9, Thủ tướng kiêm Ngoại giao trưởng của chính quyền Bảo Đại Trần Văn Hữu, long trọng tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không có đại biểu nào trong số đại biểu của 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco lên tiếng bác bỏ tuyên bố này.


Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, ngày 28-4-1956, quân đội viễn chinh Pháp rời khỏi miền Nam Việt Nam, Bộ tổng chỉ huy các lực lượng liên hiệp Pháp giải tán, quân đội Sài Gòn tiếp quản quần đảo Hoàng Sa. Tại đảo Hoàng Sa có khoảng 40 người thuộc quân lực "Việt Nam Cộng hòa" trú đóng.


Năm 1960: ngày 24-12, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 241-BNV-NV/3 cử ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng nhất giữ chức vụ phái viên hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1961: ngày 27-6, chính quyền Sài Gòn ký quyết định số 631-TTP-CV cử ông Hoàng Yên, cán bộ hành chính, giữ chức vụ phái viên hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 13-7 ký sắc lệnh 174/NV sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã gọi là xã Định Hải, thuộc quận Hoà Vang.


Năm 1966:

- Ngày 24-1, ra Nghị định 134/ND/NV cử ông Hoàng Văn Thao, giữ chức phái viên hành chính ở đảo Hoàng Sa và ông Nguyễn Văn Thuấn, giữ chức đảo trưởng đảo Quang Hoà, kiêm phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).

- Ngày 20-8, ra Nghị định 1513/ND/DUHC cử ông Phạm Cầu giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).

- Ngày 24-10, ra Nghị định 1939 ND/DUHC cử ông Phan Huề giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).


Năm 1967:

- Ngày 11-4, ra Nghị định số 809-ND/DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).

- Từ ngày 18 đến 22-5, vùng III Duyên Hải của Hải quân Sài Gòn diễn tập hành quân ra quần đảo Trường Sa.


Năm 1969: Ngày 21-10, ký sắc lệnh 709/BNV- HCĐP/26 sáp nhập xã Định Hải, quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hoà Long, quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.


Năm 1973: Ngày 6-9, Nghị định số 420-BNV/26 của Tổng trưởng nội vụ sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.


Năm 1974:

- Ngày 16-1, Bộ trưởng Ngoại giao chính quyền Sài Gòn Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Trung Quốc huy động tàu chiến xâm phạm lãnh hải quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Ánh, Quang Hoà, Duy Mộng và đã đổ bộ lên các đảo này.

- Ngày 1-2, lực lượng quân đội Sài Gòn được tăng cường để bảo vệ quần đảo Trường Sa.

- Ngày 5-2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố bác bỏ Tuyên bố ngày 4-2 của Bắc Kinh vu cáo quẤn Đội Sài Gòn "ngang nhiên cho tàu chiến xâm chiếm đảo Nam Uy (tức đảo Trường Sa)...".


Trong thời kỳ này, chính quyền Sài Gòn có trách nhiệm quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ đã có nhiều hoạt động thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với cả hai quần đảo này. Tuy nhiên, do phải tập trung đối phó với phong trào cách mạng ở đất liền và lại bị Mỹ bỏ rơi, chính quyền Sài Gòn đã không giữ nổi quần đảo Hoàng Sa trước hành động xâm lược của Bắc Kinh. Quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Bắc Kinh đầu năm 1974.


Vào thời điểm xảy ra sự kiện Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa và trong chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975, có hai sự kiện đáng chú ý:

1. Tuyên bố lập trường ba điểm của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam về sự kiện Hoàng Sa năm 1974:

- Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

- Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.

- Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

2. Từ ngày 14-4-1975 đến 29-4-1975, Hải quân nhân dân Việt Nam đã vượt biển, lần lượt giải phóng các đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, An Bang và Trường Sa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Tám, 2026, 08:50:35 pm
IV. Thời kỳ từ năm 1976 đến nay

Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp tục quản lý, bảo vệ cả về mặt tinh thần (animus) lẫn thực chất (corpus) chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế:

- Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã liên tục phản đối bất cứ hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của bất kỳ nước nào đối với hai quần đảo, thường xuyên thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa đã bị Bắc Kinh xâm lược và đối với một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa bị quân đội của một số nước khác chiếm đóng, bày tỏ thiện chí giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình.


- Nâng đơn vị hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lên cấp huyện: huyện Hoàng Sa thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng (Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng ngày 9-12-1982) và huyện Trường Sa sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng ngày 9-12-1982 và Nghị quyết của Quốc hội khoá 7, phiên họp thứ 4 năm 1982).


- Đẩy mạnh các hoạt động khai thác, thăm dò, thực hiện chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Trường Sa1 (Các sự kiện từ năm 1975 đến nay xin xem: Les archipels Hoang Sa et Truong Sa (Le Courrier du Viet Nam) 1984, tr. 143-158).


Các sự kiện, văn kiện, bằng cứ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo qua bao thế kỷ đến nay còn rất nhiều. Nhưng chỉ với một số dẫn chứng nói trên, chúng ta đã có cơ sở vững chắc để khẳng định dứt khoát chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, vì các cứ liệu được nêu có thể giúp ta trả lời rõ ràng được câu hỏi mà pháp luật quốc tế yêu cầu là: Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo này từ bao giờ và đã thực hiện chủ quyền như thế nào đối với hai quần đảo này?


Điều khẳng định này:

1. Nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây là người đầu tiên trong lịch sử đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đã thực hiện quyền cai trị và khai thác hai quần đảo đó với tư cách Nhà nước. Trước đó, hai quần đảo này chưa hề thuộc bất cứ một nước nào, không một quốc gia nào đương thời phản đối việc làm chủ của Việt Nam và cũng chưa bao giờ xảy ra việc tranh chấp đối với chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo suốt trong những thế kỷ trước thế kỷ XX.


2. Quyền làm chủ và cai trị của các chính quyền kế tiếp nhau trong nhiều thế kỷ đối với hai quần đảo ấy là thực sự, rõ ràng, có hiệu quả và phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Ngay từ đầu, các quần đảo nói trên đã được tổ chức thành những đơn vị hành chính của Nhà nước Việt Nam. Qua từng thời kỳ bộ máy chính trị ở các quần đảo đã được quy định cụ thể, được nghiên cứu, thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế.


3. Việc thực hiện chủ quyền trên các quần đảo này qua từng triều đại đã được Nhà nước tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau. Những công việc thăm dò, đo đạc, vẽ bản đồ, dựng bia, xây miếu, trồng cây, xây đèn biển, đài khí tượng... đã được tiến hành từ lâu đời và ngày càng được đẩy mạnh. Việc phái các đơn vị đồn trú, đóng giữ và kiểm soát, tuần tra cũng được đặt ra ngay từ đầu và được các chính quyền kế tiếp nhau đảm nhiệm.


4. Nhà nước Việt Nam qua các thời đại luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa làm chủ của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm lược, xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


5. Chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo đã được nhiều nhà hàng hải, nhà địa lý và nhiều giáo sĩ phương Tây xác nhận từ nhiều thế kỷ trước. Nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng cũng đã đánh giá và thừa nhận các chứng cứ của Việt Nam là có sức thuyết phục và có giá trị pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình đối với hai quần đảo. Bởi vì các chứng cứ đó đáp ứng được nguyên tắc pháp lý về sự "chiếm hữu thực sự" (occupation effectivité) hay nguyên tắc "thực sự" (effectivité) mà Công pháp quốc tế đề ra để giải quyết các tranh chấp về quyền thụ đắc lãnh thổ.


Charles Rousseau, giáo sư trường Đại học Luật Paris và là ủy viên Viện Luật quốc tế, đã nhận xét tổng quát về các luận cứ của các bên có tranh chấp chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước hết là của Việt Nam và Trung Quốc như sau: "Trên thực tế, các mối quan hệ lịch sử lâu đời và vị trí địa lý gần gũi là hai danh nghĩa quan trọng mà Việt Nam có thể nêu ra và họ đã làm điều đó... Đương nhiên là Trung Quốc cũng có thể sử dụng luận cứ này, ít nhất là đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhưng một danh nghĩa như vậy chỉ có giá trị nếu nó dựa vào việc chiếm hữu thực sự, cụ thể mà nước Việt Nam là nước duy nhất có thể thực hiện được ở đây hoặc là có khả năng vận dụng hơn tất cả các bên khác1 (Tạp chí Công pháp quốc tế, Paris, số 3-1972, tr. 1-7).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:14:21 pm
CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU LỊCH SỬ
*

(Tạp chí Lịch sử quân sự, các số 4 và 5-2008)

NGUYỄN NHÃ**
(TS, Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh)


1- Việt Nam là nước khẳng định chủ quyền sớm nhất (và đầu tiên) tại Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước đây, trong một thời gian dài, người Việt và người Phương Tây đều nghĩ rằng giữa Biển Đông chỉ có một quần đảo dài, mang một tên chung, rất nhất quán. Người Việt gọi là Bãi Cát Vàng hay cồn Vàng hoặc Hoàng Sa. Cũng có khi gọi là Đại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa.


Mãi đến năm 1787-1788, khi đoàn khảo sát Kergariou Locmaria xác định rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Paracel như hiện nay, người Phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Paracel ở phía Bắc với quần đảo ở phía Nam mà sau này đến thập niên 40 trong thế kỷ XX người Pháp mới gọi là Spratly chỉ chung cho quần đảo Trường Sa.


Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa hiện nay tính đến đảo gần nhất vào khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất 500 hải lý.

Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rõ vua, triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của họ ở Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam. Cũng xin nói rõ thêm là trong suốt thời kỳ phong kiến quân chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam (trong đó có triều nhà Nguyễn) luôn thần phục các triều đại Trung Quốc, nên không bao giờ xảy ra chuyện các triều đại Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình trên bất cứ phần đất nào của Trung Quốc, nhất là suốt một thời gian dài như thế. Xin lưu ý, Hoàng Sa tiếng Nôm là Cát Vàng hay cồn Vàng đã được xác định toạ độ như hiện nay trong An Nam đại quốc hoạ đồ của Giám mục Taberd in năm 1838, phụ bản của cuốn Từ điển Latin - An Nam.


Các tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam, của triều đình phong kiến Việt Nam như Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam hội điển sự lệ, Châu bản Triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí đã ghi rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam. Tháng 8 mùa Thu năm Quý Tỵ, Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng dụ Bộ Công rằng: "Dải Hoàng Sa trong vùng biển Quảng Ngãi..." (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 104). Năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh), Bộ Công tâu lên vua: "Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta rất là hiểm yếu (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165). Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), phúc tấu của Bộ Công cũng khẳng định: "Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà..." (tập Châu bản Thiệu Trị, tập 51, tr. 235). Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng đã chép một cách rõ ràng: "Phía Đông (tỉnh Quảng Ngãi) chạy ngang đến đảo cát: đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh...".


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:16:00 pm
2- Việc quản hạt hành chính của các chính quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước năm 1909 đã được ghi trong sách sử, địa chí của Việt Nam.

Trong suốt thời các chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn được quản lý hành chính bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa (hay Ngãi) lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toàn tập An Nam lộ đã ghi "Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép: "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam), huyện Binh Sơn, xã An Vĩnh". Địa dư chí của Phan Huy Chú chép: "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn, từ năm 1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà Nghĩa.


Năm 1801, Hoà Nghĩa đã được gọi lại với tên Quảng Nghĩa (Ngãi). Tại phủ này, ngoài viên Tuần phủ và viên Khánh lý còn có một viên Chính hộ lý, một viên Đề lãnh một viên Ký lục, một viên Cai phủ và một viên Thư ký. Sau đó, Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Hai xã An Vĩnh và An Hải ở phía Bắc cửa biển Sa Kỳ đều cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng (xã) An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông1 (Nguyễn Thông (1827-1884), quê ở làng Bình Thạnh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Gia Định (nay thuộc tỉnh Long An). Đậu Cử nhân rồi ra làm quan. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định năm 1859, ông từ quan và tòng quân đánh giặc. Nam Kỳ bị Pháp chiếm, ông dời ra Bình Thuận, rồi Khánh Hoà, Quảng Ngãi, ra sức bồi dưỡng sức dân, phát triển sản xuất, chuẩn bị kháng chiến. Khi giặc tới, triều đình Tự Đức lo sợ đình chỉ các việc ông làm) gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho Đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Ảnh được cử làm Đội trưởng Đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré (nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh huyện đảo Lý Sơn). Nhiều tài liệu như Việt sử cương giám khảo lược của Nguyễn Thông và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nghĩa (Ngãi). Tỉnh Quảng Nghĩa - đơn vị hành chính luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa, để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của triều Nguyễn sau này.


3- Đội Hoàng Sa, đội dân binh khai thác, quản lý Trường Sa và Hoàng Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đồng Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng cho việc họ quan tâm xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam là Đội Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đội này vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa.


Về thời gian bắt đầu ra đời của Đội Hoàng Sa, sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép Đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải ngoại kỷ sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của Đội "Hoàng Sa" và Phủ biên tạp lục viết năm 1776, chép "Tiền Nguyễn thị". Đại Nam thực lục tiền biên (1821) chép "Quốc sơ trí Hoàng Sa".


Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ đời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần cho đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi.

Khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì Đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn. Trong tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré cho biết: Năm 1786, Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại. Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của Đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng. Đến đời Gia Long năm thứ 2 (1803), Đội Hoàng Sa mới hoạt động trở lại, Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXII đã ghi rõ: "Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Năm 1815, vua Gia Long sai Đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa.


Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo các tài liệu như Dư địa chí, Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí thì hàng năm Đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch trở về. Riêng theo Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toàn tập An Nam lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; theo Phủ biên tạp lục thì thường đi vào tháng Giêng âm lịch đến tháng 8 về. Từ tháng 3 đến tháng 8 (tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) ở Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây Nam, rất thuận lợi cho việc đi biển; vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế, việc chọn thời gian hoạt động như trên của Đội Hoàng Sa là một sự lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân. Đến tháng 8, gió Tây Nam yếu, chuyển qua gió Đông Bắc thì thuyền của Đội Hoàng Sa trở về cửa Eo để nộp sản phẩm ở chính dinh là đúng lúc, hợp lý nhất. Lúc đầu đi sớm quá không thấy lợi, nên dời đến tháng 3 là hợp lý; chấm dứt vào tháng 8 để tránh bão là điều rất khôn ngoan. Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm. Riêng Đại Nam nhất thống chí ghi 3-4 ngày đêm. Khoảng thời gian trên đều là thời gian thực tế phù hợp với loại thuyền buồm nhẹ chạy nhanh khởi hành từ đất liền hay Cù Lao Ré đến đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên, trong suốt 6 tháng hoạt động, Đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, đến tận các đảo phía Bắc. Riêng các hòn đảo xa phía Nam thì đã có Đội Bắc Hải phụ trách, song cũng lệ thuộc vào Đội Hoàng Sa.


Về tổ chức, Đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự; vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời ấy ở Biển Đông. Ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang, người đứng đầu đơn vị hành chính lớn nhất là chưởng dinh cần có dinh lũy để vừa cai quản về hành chính, khai hoang, vừa chỉ huy quân sự sẵn sàng chiến đấu.


Thời chúa Nguyễn, mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên, song còn dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như Đội Hoàng Sa. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã dùng từ quân nhân để chỉ những người trong Đội Hoàng Sa, trong đó có 2 người bị trôi giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị bão vào năm Càn Long thứ 17 (1754), còn 8 người khác bị mất tích. Như thế, mỗi thuyền trong Đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người.


Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ gọi là ngôi miếu Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu của con cá voi (tương truyền do dân binh Hoàng Sa đưa từ đó về) và thờ lính Hoàng Sa. Ngôi miếu này đã bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.


Tại Cù Lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn), vẫn còn Am Linh Tự (tức miếu Hoàng Sa), ở thôn Tây xã Lý Vĩnh (tức phường An Vĩnh xưa) và Am Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải (tức phường An Hải xưa). Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính Đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đình làng. Hiện nay, chỉ còn đình làng xã Lý Hải, tức phường An Hải xưa. Lính Hoàng Sa được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm: "lính Hoàng Sa đi dễ, khó về". Trừ các chỉ huy như đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia đình, vừa khoẻ mạnh, vừa không vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xã Tự Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao Ré có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ những người đi lính Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh có nhà thờ và gia phả ông tổ Phạm Quang Ảnh, người được vua Gia Long cử làm Đội trưởng Đội Hoàng Sa năm 1815.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:17:41 pm
Về địa bàn hoạt động, Đội Hoàng Sa có phạm vi rất rộng. Khởi đầu là những đảo gần bờ biển nhất. Song trong 6 tháng, hàng năm, từ năm này qua năm khác, Đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản Đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ.


Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính Đội Hoàng Sa không đủ lực lượng để tự mình đi khắp nơi, song lại kiêm quản các đội khác (như Đội Bắc Hải) nên phạm vi hoạt động rõ ràng rất rộng, khắp các đảo trên Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung Việt Nam (khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên); từ phía Tây (Nam đảo Hải Nam) xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.


Các nhà cầm quyền Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII đã biết rằng Hoàng Sa (Bãi Cát Vàng hoặc Vạn Lý Trường Sa) là một dải dài hàng ngàn, vạn dặm chạy dọc Biển Đông. Khái niệm chung nhất này cũng được thể hiện ở việc giao nhiệm vụ cho Đội Hoàng Sa, đứng đầu là cai đội hay Đội trưởng do nhà nước bổ dụng, được kiêm quản Đội Bắc Hải ở phía Nam cùng nhiệm vụ để thâu tóm vào một đầu mối. Đây cũng là một quan điểm về quản lý các hoạt động kinh tế tại Biển Đông của nước ta thời bây giờ.


Vì Đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh có nhiều chức năng, nhiệm vụ đặc biệt ở Biển Đông, nên tổ chức này cũng rất đặc biệt. Đứng đầu là cai đội theo như Phủ biên tạp lục, quyển 2 đã ghi là: "Lịnh cai Đội Hoàng Sa tính quản". Như binh chế thời chúa Nguyễn mà chúng ta đã biết, đội có cai đội và đội trưởng chỉ huy. Chức cai Đội Hoàng Sa thường kiêm luôn các chức khác, như trường hợp Phú Nhuận hầu kiêm Cai thủ đồn cửa biển Sa Kỳ kiêm Cai cơ thủ ngự. Theo tài liệu tờ kê trình của Phú Nhuận hầu, ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), hiện lưu trữ tại nhà thờ họ Võ phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) thì Thủ ngự là đơn vị cai quản, tuần tra chống trộm cướp thời Nguyễn.


Tùy theo, số thuyền đi từ 4-5 chiếc đến 18 chiếc, mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản. Thuyền cũng là đơn vị nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn như chúng ta đã từng biết.

Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền đều là dân binh được gọi là "quân nhân" như Phủ biên tạp lục, quyển 2 ghi chép. Những quân nhân này chủ yếu là dân gốc xã An Vĩnh và một phần là dân xã An Hải ở đất liền và ngoài đảo Cù Lao Ré.

Hai xã An Vĩnh và An Hải ở hai bên cửa biển Sa Kỳ cùng với 2 phường An Vĩnh và An Hải do di dân đất liền ra Cù Lao Ré, trong đó xã An Vĩnh là chính, cung cấp dân binh cho Đội Hoàng Sa. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ riêng Việt sử cương giám khảo lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến hai hộ An Hải và An Vĩnh (tức hai phường An Vĩnh và An Hải ở đảo Cù Lao Ré).


Theo lời truyền miệng của dân địa phương Cù Lao Ré, việc tuyển lựa 70 suất của Đội Hoàng Sa theo nguyên tắc định suất cho các dòng họ. Song cụ thể là vẫn theo lệ bổ tuyển quân nhân thời chúa Nguyễn. Những người gọi là quân nhân ấy được tuyển theo hệ thống xã, huyện, phủ. Do phải luân phiên nên hàng năm các Đội Hoàng Sa phải lo điều chỉnh quân số sao cho đảm bảo lệ này. Các quân nhân Đội Hoàng Sa có nghĩa vụ của một dân binh bình thường, không giống như binh lính chính quy. Về mặt quyền lợi, ngoài việc họ được miễn sưu thuế, họ còn được hưởng phần dư, phần còn lại ngoài số quy định phải nộp cho nhà nước. Lương thực mang đi trong 6 tháng được nhà nước cấp phát. Song chủ yếu là gạo còn thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang củi lửa và theo lối truyền thống, họ giấu những bếp ở mỗi thuyền bằng các nùi dây dừa khô giữ lửa lâu. Đời sống của quân nhân (trong đó có Đội Hoàng Sa) thời chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dân, theo như Thích Đại Sán đã mô tả là rất khổ, phải nộp vào công khố bảy tám phần mười hoa lợi. "Người làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai trưởng. Bọn này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp lúc nhà nước có việc công, cai xã bắt dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo cơm đơm, gạo bới đi làm".


Các quân nhân Đội Hoàng Sa còn mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn tre. Nếu chẳng may có chết ở giữa biển thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dùng làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người xấu số được cài kỹ trong bó chiếu, làm dấu hiệu nhận biết nếu có ai đó vớt được.


Cũng trong Hải ngoại kỷ sự, Thích Đại Sán có nói đến thuyền đánh cá ấy gọi là thuyền Điếu Xá. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đã cho thuyền Điếu Xá đón tiếp đệ tử và vật hàng của Thích Đại Sán đến sau tại đảo Tiên Bích Sa (Cù Lao Chàm).

Khi Thích Đại Sán rời Quảng Đông đi bằng loại thuyền lớn, chứa tới 400 người, phải dùng cả 2 chiếc thuyền nhỏ dẫn đường. Tuy thuyền đi như bay, nhưng có lần bị mắc cạn, có lần suýt bị nạn vì không theo lối thuyền con chỉ dẫn...

... Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên, Đội Hoàng Sa thu lượm trước hết những hải vật quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai ngọc, song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển, tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).


Những hải sản quý trên tuy cũng có nộp cho nhà vua theo quy định, song thường vẫn cho Đội Hoàng Sa bán và họ thường bán cho thị trường ở Hội An tiêu thụ nhiều và có giá hơn.

Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ biên tạp lục thì ghi: "những đồ hải vật như gươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ".


Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hoá trong Phủ biên tạp lục có viết: "Ông tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức hầu", người chỉ huy Đội Hoàng Sa trong nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa, cụ thể như sau:

- Năm Nhâm Ngọ (1702), lượm được 30 thoi bạc.

- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được 5.100 cân thiếc.

- Năm Ất Dậu, lượm được 126 thoi bạc.

Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần, họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:18:47 pm
4- Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản của Đội Hoàng Sa trong khu vực phía Nam của Biển Đông - tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận.

Về sau, ngày càng có nhiều đội có chức năng và nhiệm vụ như Đội Bắc Hải được thành lập, vì Nhà Nguyễn dần dần tìm ra các đảo san hô rộng ở Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để Đội Hoàng Sa kiêm quản để quy về một đầu mối, hầu có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông.


Như thế, người chỉ huy Đội Hoàng Sa phải là vị quan lớn, như: cai đội Thuyên Đức hầu, đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Hoặc như Phú Nhuận hầu cũng thế, trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), đã kiêm luôn "Khâm sai cai thủ" cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức "Cai cơ thủ ngự", kiêm quản Đội Hoàng Sa1 (Tờ kê trình của Phú Nhuận hầu được lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn.


Trong Phủ biên tạp lục, quyển 2, Lê Quý Đôn đã ghi chép rất cụ thể về Đội Bắc Hải như sau: "Họ Nguyễn còn thiết lập một Đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương lấy những người tình nguyện bổ sung vào Đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác".


"Những người được bổ sung vào Đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò.

Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi, hải ba, đồn ngư (cá heo), lục quý ngư, hải sâm (con đỉa biển)...".

Như thế, về tổ chức, Đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất, số lượng tùy theo khả năng thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận hay làng Cảnh Dương tình nguyện, được cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động.

Về quyền lợi, cũng như đội khác, Đội Bắc Hải được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò, nhưng không thấy miễn tiền thuế. Đội cũng dùng thuyền tư nhân, thuyền câu với phạm vi hoạt động ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay và cả Côn Lôn, Hà Tiên.


Ở phía Nam Biển Đông, khu vực Trường Sa hiện nay, ít có bão lớn, không nguy hiểm, ít có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật từ tàu đắm như vàng bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt là loại cá heo (đồn ngư),...

Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chép. Đại Nam thực lục tiền biên (soạn xong năm 1844) chép rằng Đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam nhất thống chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi (soạn xong năm 1882), viết "Đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tim lấy hải vật cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản". Không có tài liệu nào cho biết Đội Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau Đội Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn Đội Bắc Hải ra đời sau Đội Hoàng Sa và trước năm 1776, tức là trước khi Lê Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:20:55 pm
5- Thủy quân triều đình Việt Nam đo đạc thuỷ trình và bản đồ, cắm cột mốc ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước khi lên ngôi hoàng đế (1802), Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot1 (Dayot là một trong số những người Pháp theo giúp Nguyễn Ánh. Sau thời gian giúp Nguyễn Ánh, ông về cư trú tại Áo Môn (Ma Cao - Trung Quốc) rồi mất tại đó năm 1821) giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông, trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa.


Lúc đầu, Đội Hoàng Sa có trách nhiệm xem xét đo đạc thủy trình như thời Gia Long. Tháng Giêng năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Ảnh, thuộc Đội Hoàng Sa, được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré). Đến năm Gia Long thứ 15, năm Bính Tý (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả thủy quân phối hợp với Đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình...


Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình.

Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, chép: "Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân biển binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa".


Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công, cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển, trong đó có vùng biển Hoàng Sa. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo, cùng với thủy quân phối hợp với giám thành, với địa phương Quảng Ngãi và Đội Hoàng Sa.


Mỗi lần đi đo đạc, phải chọn được thợ lái có năng lực, năm rõ các nơi đường biển nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm... mà tránh; ngoài ra, còn phải biết lấy núi nào làm chuẩn, biết chiều trời, tiêt gió để chuyển phương hướng, nên tiến hay dừng. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220, Bộ Công tâu rằng: người nào mười phần am hiểu thông thạo thì cho vào hạng ưu, thạo tám chín phần là hạng bình, thạo năm sáu phần là hạng thứ, châm chước bàn định. Ai đáng để bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng, ngoại ủy đội trưởng, ai đáng cấp tiền gạo gấp đôi... thì kê sách tâu rõ đợi chỉ gia ân. Những lời dụ và bàn được chuẩn y như sau: "Thơ lại thủy sư thì cửa biển hiểm hay dễ, xem gió, trông khí trời, nghiên núi, dò nước, nhìn kiếm tìm hướng, nhớ rõ địa cầu, ai được mười phần am hiểu thông thuộc là hạng ưu, ai được tám chín phần là hạng bình, ai được có năm sáu phần là hạng thứ. Các tên dư hạng ưu mà nguyên là chánh đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm cai đội, nguyên là đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng suất đội, ai là ngoại ủy đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm đội trưởng, gặp khi có khuyết thì ưu tiên bổ nhiệm ngay".


Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220, cũng chép: "Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều lần, được xong xuôi ổn thoả cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc, cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường, thuyền rất nguy khốn, mà tự mình chủ trì tiến ngừng phải tốt, rốt cuộc được xong xuôi yên ổn thì đều là hạng ưu. Phàm trong năm ấy sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn cả thì là hạng bình. Sai phái đường bể một lần xong xuôi yên ổn là hạng thứ. Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt".


Trên đây là quy định chung cho thuỷ quân đi biển và thủy quân đi đến Hoàng Sa, vừa là dịp để khảo hạch và cũng là dịp luyện tập, căn cứ vào đó mà thưởng phạt. Có thể đối với việc đo đạc ở Hoàng Sa, việc thưởng phạt đặc biệt hơn. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, nhưng sau đó lại tiếp tục. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đình hoãn, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng đình hoãn do Bộ Công tâu xin. Sau đó, đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa, bởi theo Phàm lệ sách Đại Nam thực lục chính biên, thời Tự Đức thì những việc đã thành lệ rồi không còn chép nữa.


Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa, bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm mà sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Như năm Minh Mạng thứ 19 (1838), lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, nên mãi tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. Lúc đầu, kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.


Nếu chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không sao, song nếu tùy tiện thì phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn tất công việc tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835), cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị phạt 80 trượng, song cho phục chức cai đội1 (Tộc họ Phạm Văn hiện có nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện nay, có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý Sơn).


Các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song cùng đi chuyến này, những người trong Đội Hoàng Sa như Võ Văn Hùng (tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh, thuộc huyện đảo Lý Sơn), Phạm Văn Sanh2 (Tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh, thuộc huyện Đảo Lý Sơn) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền Phi Long ngân tiền và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Tương tự, vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), do khởi hành chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh Gần trước được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi tiết trên đã minh hoạ rất rõ ràng việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trong việc đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:22:07 pm
Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được quy định cũng rất rõ ràng, có ghi trong Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 221, có ghi như sau:

''Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tưng vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? Và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm".


Như thế, việc đo đạc phải kết hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ họa đồ lại là các viên giám thành.

Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo Dụ của vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo tấu của Bộ Công ngày 21 tháng 6, năm Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo, đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.


Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ nhà Nguyễn tuy có kỹ lưỡng và chu đáo hơn trước, song vẫn còn lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của phương Tây lúc bấy giờ, nhất là chưa xác định được tọa độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu. Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải cứ có hải đồ là có thể đi biển chính xác, mà phải cần đến những người từng trải đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở Vệ giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc, qua sự biến ngày 4-7-1885 và sau đó nữa là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh thành Huế bị đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ quý giá về Hoàng Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc rằng từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa.


Từ thế kỷ XIX, sau khi lên ngôi hoàng đế, thiết lập triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, Nguyễn Ánh đã tiếp tục tái lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động của Đội Hoàng Sa trong thời gian đầu và của thủy quân.


Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, Giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long. Chaigneau đã viết trong hồi ký "Le mémoire sur la Cochinchine": "Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy". Giám mục Taberd viết: "Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia Long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam". Những người phương Tây nói trên không phải là những nhà nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền của Việt Nam như thế nào ở Hoàng Sa. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 50, đã ghi chép hoạt động của Đội Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình, do Phạm Quang Ảnh làm Đội trưởng vào năm 1815. Đến năm 1816, vua Gia Long lần đầu tiên ban lệnh cho thủy quân, với sự hướng dẫn của dân binh Đội Hoàng Sa, đi xem xét, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 52).


Thời nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, đã thành lệ, thủy quân hàng năm liên tục đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...

Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một "lực lượng đặc nhiệm" gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương, trong số đó có dân binh Đội Hoàng Sa. Kinh phái do thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong Vệ thủy quân đóng ở kinh thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám thành trong Vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi, có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời, còn điều động dân binh ở tỉnh Quảng Ngãi, có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định như trong chuyến công tác năm 1835 và 1837 đã dẫn trên đây.


Nhiệm vụ của "lực lượng đặc nhiệm" này luôn được các hoàng đế Việt Nam theo sát và ra những chỉ dụ cụ thể, nhất là dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng này quan trọng đến chừng nào.

Cũng chính vua Minh Mạng ra Chỉ, Dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Chẳng hạn, năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân, mà Đội trưởng là Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải): "Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên", và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): "Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu". Cũng chính vua Minh Mạng theo dõi các chuyến đi công tác Hoàng Sa và đã nhiều lần ra Chỉ, Dụ thưởng phạt. Thường dân binh Đội Hoàng Sa Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy như cai đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội.


Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công; thi hành có Vệ thủy quân là chính, phối hợp với Vệ giám thành và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.

Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 154, thì: "Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa". Như vậy, thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng Giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:22:44 pm
Thuyền ô là thuyền sơn đen từ mũi đến lái, dài hơn 4 trượng, rộng 8 thước 4 tấc, 3 thước 2 tấc, 30 cọc chèo. Từ năm Minh Mạng thứ 15 (1834), có Chỉ, Dụ các tỉnh có vùng biển như tỉnh Quảng Ngãi nên đóng hai ba chiếc thuyền nhanh, cứ mộ dân ven biển sung làm thợ lái, thủy thủ, mỗi thuyền cần đủ trên dưới 20 người, làm thủy binh thuộc tỉnh khi gặp việc khẩn cấp để tuần tiễu, thông báo, vận tải cho nhanh. Thuyền nhanh này cũng theo quy thức hình dáng thuyền Điếu hải dài hơn 4 trượng, rộng 1 trượng 5 thước 5 phân, sâu 5 thước 1 tấc.


Từ Quảng Ngãi, phải thuê 4 chiếc thuyền của dân. Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ hơn thuyền Điếu hải thuộc thủy quân ở các tỉnh, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi, sở dĩ phải thuê vì thuyền của dân binh Đội Hoàng Sa vốn đi nhẹ, nhanh, dễ dàng cặp đổ bộ vào đất liền, dễ dàng tránh né các bãi ngầm, các thủy thủ lại quá quen thuộc, chưa kể thuyền ít người nên mang lương thực cung cấp cho sáu tháng dễ dàng hơn, và việc bắt chim, đánh cá để tự cung ứng cấp dưỡng cũng không còn là vấn đề lớn, để có thời giờ làm việc, đi thu lượm hải vật quý, lấy hàng hoá, súng ống từ tàu đắm. Tài liệu không cho biết rõ thuyền ô có đi theo ra Hoàng Sa hay không. Song, ít nhất lực lượng thủy quân trên có 4 chiếc thuyền câu. Cũng có năm, đi 5 thuyền thì có thể cả thuyền ô, khi lực lượng thủy quân đặc nhiệm này đã kết hợp với công tác của Đội Hoàng Sa. Và như vậy, sau này người ta không thấy sử sách nói nhiều về Đội Hoàng Sa nữa, vì lực lượng thủy quân đặc nhiệm này trở thành lực lượng chủ yếu và thường xuyên của nhà nước Việt Nam, và Đội Hoàng Sa mang tính dân sự càng ngày càng đậm nét hơn, chủ yếu hoạt động về lợi lộc tư nhân, về kinh tế mà thôi.


Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức quy củ, có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, đã chép rằng: trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ "Vạn Lý Ba Bình". Như thế, trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.


Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ là từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), với lời châu phê của vua Minh Mạng, cũng đã nêu rất rõ: "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 6, còn ghi rõ: "Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ:

"... Minh Mạng thập thất niên Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)".

(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).

Các cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy "lực lượng thủy quân đặc nhiệm", được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như Cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4, 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đảo, song rất khó tổng kết trên thực tế số cột mốc đã cắm được ở bao nhiêu đảo.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:24:20 pm
BẢN ĐỒ BÃI CÁT VÀNG CỦA ĐỖ BÁ VÀ
NHỮNG TƯ LIỆU ĐẦU TIÊN CHÉP VỀ ĐỘI HOÀNG SA
*
(Tạp chí LSQS, số 1-2002)

NGUYỄN QUANG NGỌC**
(GS, TS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội)


1. Về bản đồ Bãi Cất Vàng của Đỗ Bá.

Hiện nay, tại Viện nghiên cứu Hán Nôm vẫn còn lưu giữ được sách Hồng Đức bản đồ ký hiệu A2499, trong đó có Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư. Không chỉ ở trong nước mà tại Đông Dương văn khố Tokyo (Nhật Bản) cũng có một quyển Hồng Đức bản đồ khổ 32,5x22,0, dày 87 trang, mang ký hiệu X-2-24. Tất cả các tập bản đồ mà chúng tôi có điều kiện được khảo sát cả ở trong nước và ngoài nước đều là các bản sao của đời sau và đều có sách Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Thiên Nam tứ chí lộ đồ trong đó.


Năm 1896, nhà nghiên cứu người Pháp là Dumoutier (Đuy-mu-chi-ê) công bố công trình Nghiên cứu về một bản đồ cổ An Nam thế kỷ XV, trong đó mảnh số 19 có vẽ một bãi cát dài kéo từ cửa Đại Chiêm qua cửa Sa Kỳ đến Sa Huỳnh có ghi rõ là Bãi Cát Vàng mà người đọc có thể hiểu là Hoàng Sa Chử hay Hoàng Sa. Dumoutier dự đoán có nhiều khả năng bản đồ này được lập trong thời gian vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành vào năm 1471. Có thể đoán được rằng Dumoutier đã nghiên cứu bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được đính chung vào trong bộ Hồng Đức bản đồ. Cũng như nhiều tấm bản đồ khác trong bộ Hồng Đức bản đồ, rất có thể phần "hoạ" về Bãi Cát Vàng đã được vẽ từ thời Lê Thánh Tông, đúng như dự đoán khoa học của Dumoutier, nhưng phần "chú" tạo nên độ xác thực của bản đồ thì hình như không thuộc vào khung niên đại này.


Thật ra, trong kho sách Hán Nôm của ta, ngoài Hồng Đức bản đồ, cũng còn một số bộ sách khác có chứa Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hoặc Toàn tập An Nam lộ... Giống như Hồng Đức bản đồ, các bộ sách này cũng chỉ là bản sao và đều ghi tên tác giả là Đỗ Bá Công Đạo. Chúng tôi đồng ý với nhiều ý kiến cho rằng Toàn tập An Nam lộ là bản sao thời Lê gần với nguyên tác nhất1 (Sách được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2628. Tham khảo Trấn Bá Chí: Đỗ Bá Công Đạo với bản đồ Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 3-1990, tr. 27). Ngay trang đầu của sách (cũng đồng thời là trang bìa), dòng đầu tiên ghi rõ tên sách là Toàn tập An Nam lộ. Tiếp sau là dòng chữ "Chính Hoà thất niên" cho biết sách được soạn vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686). Phần dưới, nối với tên sách và niên đại là các dòng chữ: "Thanh Giang, Bích Triều nho sinh trúng thức Đỗ Bá thị tự Công Đạo tập". Điều đáng lưu ý ở đây là chính ông Đỗ Bá (tên chữ là Công Đạo), một Nho sinh trúng thức, người xã Bích Triều, huyện Thanh Giang (nay là xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) tự nhận mình là người tập hợp, biên tập bộ bản đồ này. Tập hợp, biên tập chắc chắn không phải là làm mới hoàn toàn, tuy nhiên việc Đỗ Bá đã ghi đậm dấu ấn của mình và biến thành bản đồ mang tên mình thì tập bản đồ này không thể coi là bản đồ các đời trước ông được. Vì thế, chúng tôi tin rằng tác giả chính hay tác giả hoàn chỉnh của bản đồ Bãi Cát Vàng chỉ có thể là Đỗ Bá mà thôi.


Sách Thanh Chương huyện chí xác nhận: Đỗ Công Luận (tên chữ là Công Đạo), người thôn Cẩm Nang, xã Bích Triều, huyện Thanh Chương (nay là thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)1 (Thanh Chương huyện chí, bản chữ Hán, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv 2577). Gia phả họ Đỗ (mà nhân dân địa phương gọi là họ Đậu) ở thôn Cẩm Nang cho biết Đỗ Công Luận (hay Công Đạo) chính là người vẽ bản đồ và ghi lại lộ đồ cho chúa Trịnh, phù hợp với các thông tin trong Toàn tập An Nam lộ: "Họ ta xưa có Đậu Bá, tự Công Luận hoặc Công Đạo tuổi trẻ đã đậu Hương giải, triều đình gia ân cho làm Giám sinh, nhưng ông không thích (không đến học). Ông lại là ấm tử, nên cho làm Tri huyện huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn làm quan. Ông thường than rằng đất ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hàng năm bị xâm lân, có lần giặc giã vào chợ Phuống giết người cướp của thậm khổ. Vào khoảng thời Chính Hoà (1680-1705) ông từ quan giả dạng người buôn, xuôi sông Lam, vượt Thuận Quảng, qua Chiêm Lạp và các nước, xem xét sông núi, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế mở biên giới vào phía Nam. Chúa Trịnh (Trịnh Căn) rất vui mừng, đưa bản đồ cất vào kho. Lại yêu cầu ông soạn vẽ cho bộ Tứ chí lộ đồ"1 (Gia phả họ Đỗ (Đậu) thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An do PGS, TS Trần Bá Chi (Đại học Quốc gia Hà Nội) sưu tầm và dịch).


Những thông tin cụ thể và xác thực về quê hương, dòng họ, gia thế và hành trạng của Đỗ Bá là cơ sở đủ để tin bản đồ Bãi Cát Vàng do chính chúa Trịnh Căn sai Đỗ Bá vẽ (ở đây phải được quan niệm là cả "hoạ" và "chú") trên cơ sở tư liệu cũ (có thể là bản đồ thời Hồng Đức), kết hợp với tư liệu mới bí mật điều tra tập hợp thêm tại vùng đất phía Nam. Bản đồ được chuẩn bị công phu trong nhiều năm và được hoàn thành vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686).


Trong Toàn tập An Nam lộ, phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi, phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng kéo dài từ khoảng cửa Đại Chiêm qua cửa Sa Kỳ. Phần chú trên trang bản đồ bằng chữ Nôm viết to và khoẻ, với nội dung như sau: "Bãi Cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển khoảng từ cửa biển Đại Chiêm kéo đến cửa biển Quyết Mông. Gió Tây Nam thuyền đi phía trong sẽ giạt lại đó. Gió Đông Bắc mà thuyền đi cũng bị tắc lại đấy, đều bị chết đói, của cải phải bỏ lại. Mỗi năm đến tháng cuối Đông (chúa Nguyễn) đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc... Từ cửa Đại Chiêm đến bãi đảo ấy đi thuyền một ngày rưỡi, từ cửa Canh Sa đi thuyền cũng mất một ngày rưỡi, ở bãi đó cũng sinh sản loại đồi mồi''.


Như thế, tập bản đồ đã cung cấp những thông tin hết sức cơ bản về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của đảo Hoàng Sa (mà khi ấy thường được gọi là Bãi Cát Vàng), cũng như chủ quyền của chúa Nguyễn đã được xác lập ở đó:

- Bãi Cát Vàng ở giữa Biển Đông và chạy song song với bờ biển, đoạn từ cửa sông Thu Bồn (cửa Đại Chiêm, Quảng Nam) cho đến cửa sông Trà Khúc (cửa Sa Kỳ). Trên đảo sản sinh loại đồi mồi và là nơi cực kỳ nguy hiểm cho thuyền bè qua lại.

- Bãi Cát Vàng là cái tên thông dụng và thuần Việt, sau mới được phiên ra chữ Hán Việt là Hoàng Sa (hoặc Hoàng Sa Chử).

- Bãi Cát Vàng là nơi có nhiều hoá vật của tàu đắm bỏ lại nên hàng năm chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền ra lấy vàng bạc.

Nhìn chung, thông tin trong phần "chú" về cơ bản là chính xác, tuy nhiên cũng có một vài số liệu cụ thể như chiều dài, chiều rộng, khoảng cách xa bờ của bãi cát là rất ước lệ, thậm chí mâu thuẫn với nhiều nguồn tư liệu khác. Chẳng hạn về chiều dài, chiều rộng của bãi cát nếu so với An Nam hình thắng đồ thì nhỏ hơn (400 và 20 dặm so với 500 và 50 dặm)... Đặc biệt, số liệu về khoảng cách từ các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ ra Bãi Cát Vàng trong bản đồ Đỗ Bá đã gây ra không ít băn khoăn cho người nghiên cứu. Thông thường tất cả các tài liệu đều chép thống nhất và chính xác từ đất liền ra Hoàng Sa mất 3 ngày 3 đêm. Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá (cũng như dị bản của nó là Nam Việt bản đồ) chỉ đưa ra con số 1 ngày rưỡi đường, thậm chí An Nam hình thắng đồ còn thu lại trong nửa ngày đường thì rõ ràng là một sự ước đoán thiếu chính xác, hoặc có thể do nhầm lẫn trong những lần sao đi chép lại (vì tất cả các bản chúng tôi nghiên cứu đều là bản sao). Điều cần phải nói thêm là Đỗ Bá vẽ bản đồ Bãi Cát Vàng trong điều kiện phải tiến hành điều tra bí mật và gián tiếp, không có điều kiện khảo sát trực tiếp hay tham khảo tư liệu một cách chính thức, đàng hoàng nên sự phỏng đoán của ông về khoảng cách xa bờ, chiều dài, chiều rộng của Bãi Cát Vàng... chưa được chính xác cũng là điều dễ hiểu.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:25:43 pm
2. Bản đồ Đỗ Bá trong mối quan hệ với những tư liệu đầu tiên chép về Đội Hoàng Sa.

Trong số những tài liệu thư tịch cổ Trung Quốc có chép đến hoạt động của Đội Hoàng Sa trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông, theo chúng tôi Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán có vị trí đặc biệt quan trọng. Thích Đại Sán là một hoà thượng nổi tiếng, quê ở huyện Cửu Giang, tỉnh Triết Giang (Trung Quốc), trụ trì ở chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông. Ông sang vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm Ất Hợi (1695) và trở về Trung Quốc vào năm Đinh Sửu (1697). Cuốn sách, đúng như tên gọi của nó, chỉ là ghi chép lại chuyến đi sang Đại Việt của tác giả. Ở quyển III có đoạn viết: "Khách có người bảo: mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng vào độ nửa tháng trước và sau ngày Lập thu. Chừng ấy gió Tây Nam thổi mạnh, chạy một lèo gió xuôi chừng 4, 5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần thổi lên, nước chẩy về hướng đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi dòng nước chẩy mạnh về đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn. Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng giữa biển, chạy từ Đông Bắc qua Tây Nam, động cao dựng đứng như bức tưng, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành. Bãi cát rộng đến trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn Lý Trường Sa, mù tít chẳng cỏ cây, nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước mà tạt vào, dẫu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Các Quốc vương thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng giạt vào. Mùa thu nước ròng cạn, chảy rút về hướng đông, bị một ngọn sóng đẩy đi, thuyền có thể trôi xa trăm dặm; gặp khi gió mạnh, càng sợ hiểm hoạ Trường Sa"1 (Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Bản dịch Viện Đại học Huế, 1963, tr.125). 


Bãi cát được Thích Đại Sán gọi là Vạn Lý Trường Sa chính là Bãi Cát Vàng với tất cả những đặc điểm tự nhiên, địa hình được mô tả trong phần "chú" của bản đồ Đỗ Bá. Thích Đại Sán nói đến đội thuyền do chúa Nguyễn (mà sách gọi là Quốc vương) cử ra khu vực bãi cát lượm vàng bạc, khí cụ của các tầu hư hỏng, phải chăng đấy là 18 chiếc thuyền được đề cập tới trong lời "chú" của bản đồ Đỗ Bá. Điều đặc biệt lý thú ở đây là Hải ngoại kỷ sự ra đời chỉ sau bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá 11 năm, nên nó như là một khẳng định thêm, một bảo đảm vững chắc cho tính xác thực của tấm bản đồ Đỗ Bá. Mặt khác, chính bản đồ Đỗ Bá, đến lượt nó lại trở thành minh chứng cho độ chính xác trong ghi chép của Thích Đại Sán.


Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán đã cho biết khá cụ thể, sinh động hoạt động thực thi chủ quyền của chúa Nguyễn ở giữa vùng biển, đảo Vạn Lý Trường Sa vô cùng nguy hiểm mà lâu nay thuyền bè Trung Quốc chỉ có một ứng xử là tìm cách tránh xa nó. Giá trị của trang tư liệu này còn được nhân lên ở chỗ nó được chính người Trung Quốc từ cuối thế kỷ XVII xác nhận và ghi chép lại một cách khách quan, trung thực. Sự tương đồng về nội dung phản ánh của 2 tài liệu (một của Việt Nam, một của Trung Quốc) xuất hiện độc lập, khách quan và cùng thời, là một bằng chứng hùng hồn khẳng định chúa Nguyễn là người nắm giữ chủ quyền ở khu vực Bãi Cát Vàng (hay Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa) một cách tự nhiên, hợp pháp và thật sự.


Những hình ảnh ban đầu của Đội Hoàng Sa đã được Đỗ Bá và Thích Đại Sán phác thảo những nét căn bản nhất vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, sau đó 7, 8 thập kỷ đã được nhà bác học Lê Quý Đôn khảo tả đầy đủ hơn, cụ thể và sáng rõ hơn trong Phủ biên tạp lục. Thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, Lê Quý Đôn đã giới thiệu tương đối đầy đủ và cụ thể vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa 130 đảo (bao gồm cả Trường Sa), cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai Đội Hoàng Sa (chủ yếu ở khu vực quần đảo Hoàng Sa) và Bắc Hải (chủ yếu ở khu vực quần đảo Trường Sa). Phủ biên tạp lục dần dần đã trở thành cuốn sách gốc cho các sử gia, địa gia đời sau dựa vào để giới thiệu bổ sung và làm phong phú thêm trang lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa bằng những chi tiết mới.


Cũng đúng vào năm 1776 khi Lê Quý Đôn viết sách Phủ biên tạp lục thì ở quê hương của Đội Hoàng Sa, dân phường Cù Lao Ré làm đơn trình bày Đội Hoàng Sa vốn có lịch sử lâu đời (trước năm 1691) và giải thích thêm về chức năng bảo vệ vùng biển, đảo của tổ chức đặc biệt này: "... Mong đội ơn trên: Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương... Bây giờ chúng tôi lập 2 Đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp...". Điều này, không chỉ xác nhận việc thành lập Đội Hoàng Sa để khai thác và bảo vệ các quần đảo giữa Biển Đông không chỉ là chủ trương của Nhà nước mà nó đã được thực thi đầy đủ, nghiêm chỉnh ở địa phương với những con người cụ thể có chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ rõ ràng, minh bạch.


Bên cạnh các nguồn tư liệu Việt Nam và Trung Quốc, nguồn tư liệu phương Tây cũng không kém phần phong phú, sinh động. Từ thế kỷ XVI trở về trước đã có nhiều ghi chép và bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây gọi vùng các quần đảo giữa Biển Đông (I.de Pracel) là Baixos de Chapar (Bãi đá ngầm Champa), Pulo Capaa (đảo của Champa) và đoạn Tbờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Kỳ như trong bản đồ Đỗ Bá được đánh dấu là Costa da Pracel (bờ biển Hoàng Sa). Như thế, từ rất lâu đời, các nhà hàng hải phương Tây đã coi các quần đảo này có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi. Bước sang thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, số lượng tàu thuyền của người phương Tây đi qua vùng Biển Đông thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng ngày càng phong phú và chính xác hơn. Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tàu ở Paracel đã được những người Việt xứ Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về vùng Quảng Nam. Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá, tiền bạc trên các tàu bị đắm ở Hoàng Sa. Năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tàu Amphitrite đã khẳng định một thực tế hiển nhiên rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam". Đây là một bổ sung hết sức đắt giá cho Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá và Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán vì nguồn thông tin này chắc chắn không phụ thuộc vào một trong hai nguồn thông tin trên và lại xảy ra gần như đồng thời (cách nhau nhiều nhất không quá 15 năm: 1686-1697-1701).


Đến giữa thế kỷ XVIII, ngoài tàu thuyền của người Bồ, tàu thuyền các nước Hà Lan, Anh, Pháp đến vùng Biển Đông nhiều hơn. Pierre Poivre (Pi-e Poa-vrơ) (1719-1786) là một giáo sĩ kiêm thương nhân người Pháp có dịp đi qua vùng Hoàng Sa kể lại trong Mô tả xứ Đàng Trong, 1749-1750 rằng "Tôi nghe nói hàng năm nhà Vua (chúa Nguyễn) thường cho vài chiếc thuyền ra Hoàng Sa để tim kiếm những báu vật tự nhiên cho bộ sưu tập của mình". Khi được Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát tiếp ở Phú Xuân, Pierre Poivre mô tả kinh đô mới xây dựng và xác nhận những khẩu súng của công ty Đông Ấn Hà Lan ở đây là thu lượm được từ quần đảo Hoàng Sa.


Khoảng non chục năm sau, năm 1759 Bá tước Đe-xtanh, Phó Thuỷ sư đô đốc của Pháp thị sát vùng Biển Đông đã gửi một bức tưng trình về Pháp cho biết ở Phú Xuân có đến 400 khẩu súng đại bác mà số lớn được đem về từ các vụ đắm tàu ở quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1768, ông viết từ Pari về cuộc hành trình này trên Biển Đông: "Đôi khi khó khăn được nhân lên gấp đôi ở vùng quần đảo Hoàng Sa. Tàu thuyền đi giữa đám đảo đá ngầm này và đất liền thì thực là khó hơn đi ở ngoài khơi. Hơn nữa vùng biển này lại luôn luôn có những thuyền nhỏ của người bản xứ qua lại, họ có thể biết được tàu chúng tôi đến đó".


Như thế, các ghi chép của người phương Tây đương thời chính là các Đội Hoàng Sa mà Đỗ Bá lần đầu tiên nhắc đến trong tấm bản đồ của mình. Sự thống nhất về thông tin được phản ánh trong tấm bản đồ của Đỗ Bá (1686) với cuốn sách của Thích Đại Sán (1697), nhận định của thương nhân người Pháp (1701) và những ghi chép của Lê Quý Đôn, của các thương nhân, giáo sĩ, các nhà quân sự, phái bộ ngoại giao phương Tây thế kỷ XVIII về các đội tàu thuyền Đàng Trong ở Hoàng Sa chỉ có thể được giải thích là lúc này hoạt động chủ quyền của chúa Nguyễn ở đây đã trở thành thường xuyên đến mức mà hầu như cả người trong nước và người nước ngoài đều không thể không đề cập tới nó. Các nguồn tư liệu này bổ sung cho nhau, kiểm chứng lẫn nhau và làm tăng lên bội lần giá trị của nhau.


Đặt Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá trong mối quan hệ với những tư liệu đầu tiên của Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây có chép tối hay có đề cập tới Đội Hoàng Sa, chúng ta có đủ cứ liệu để nhận định Việt Nam là nước chiếm hữu thật sự Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Paracels)1 () từ khi chúng còn là vùng đất chưa có chủ và đã thực thi chủ quyền của mình dưới danh nghĩa nhà nước, bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, độc đáo và được nhân dân địa phương chấp hành một cách triệt để.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Tám, 2026, 08:29:14 pm
ĐỘI HOÀNG SA - HÌNH THỨC TỔ CHỨC ĐỘC ĐÁO ĐỂ KHAI CHIẾM, XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC VÙNG QUẦN ĐẢO GIỮA BIỂN ĐÔNG*
(Tạp chí LSQS, số 3-2009)

NGUYỄN QUANG NGỌC**
(GS, TS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội)


Cuốn sách cổ ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về các Đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, viết vào năm 1776, trên cơ sở sưu tầm, tập hợp tư liệu, ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy trong 6 tháng ông làm Hiệp trấn hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.


Sách chép: "Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, có núi gọi là Cù Lao Ré...; phía ngoài lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập Đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải... Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ hai tháng nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, kiếm lượn, vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán, riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về...


Họ Nguyễn đặt Đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai Cai Đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc, của quý ít khi lấy được"1 (Lê Quý Đôn toàn tập (Phủ biên tạp lục), tập 1, Bản dịch Nxb Khoa học xã hội. H. 1977.tr 116).


Như vậy, thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, khách quan, xác thực, Lê Quý Đôn đã giới thiệu tương đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai Đội Hoàng Sa, Bắc Hải.

Bộ sách được hoàn thành chỉ sau Phủ biên tạp lục một thời gian ngắn là Đại Việt sử ký tục biên2 (Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Bản dịch, Nxb Khoa học xã hội, H, 1991, tr.243-244). Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê - Trịnh tổ chức biên soạn, nối tiếp vào quyển XIX sách Đại Việt sử ký toàn thư, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Đại Nam thực lục tiền biên là phần đầu bộ chính sử của triều Nguyễn, được khởi soạn năm 1821, hoàn thành và khắc in năm 1844, nhân nói đến sự kiện tháng 7-1754: "dẤn Đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió giạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp rồi cho đưa về. Chúa [Nguyễn Phúc Khoát] sai viết thư [cám ơn]1 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Bản dịch đã dẫn, tr. 164), đã mô tả Vạn Lý Trường Sa và các Đội Hoàng Sa, Bắc Hải được tổ chức từ thời "Quốc sơ" (tức là từ thời các chúa Nguyễn đầu tiên) không có gì khác với Phủ biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên.


Toàn tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo, người xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, soạn năm Chính Hoà thứ 7 (1686), phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng và ghi chú rõ: "Mỗi năm đến tháng cuối Đông [chúa Nguyễn] đưa 18 chiếc thuyền đến đó [Bãi Cát Vàng] nhặt vàng bạc"2 (Phần chú bằng chữ Nôm Toàn tập An Nam lộ trong Thiên hạ bản đồ lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2628). Khoảng một thập kỷ sau, vị Hòa thượng Trung Quốc nổi tiếng, trụ trì ở chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông, là Thích Đại Sán sang Đàng Trong, trên đường trở về Trung Quốc, đã mô tả khá chi tiết về bãi cát Vạn Lý Trường Sa và cho biết: "Các Quốc vương [tức các chúa Nguyễn] thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng giạt vào"1 (Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế xuất bản, tr.125). Năm 1701, nghĩa là chỉ 15 năm sau bản đồ Đỗ Bá và 4-5 năm sau Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, các giáo sĩ người Pháp trên tàu Amphitrite khẳng định: "Paracels là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam"2 (Jean Yves Clayes, Journal de Voyage aux Paracels, Indochine, No 45. 1941, tr.7).


Như thế, các tư liệu đương đại của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây đều chép rất cụ thể, rõ ràng và thống nhất về sự hiện diện của Đội Hoàng Sa vào thời kỳ đầu (buổi Quốc sơ) của các chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII. Vấn đề đặt ra là vào thời điểm cụ thể nào và vị chúa Nguyễn nào là người đầu tiên tổ chức ra Đội Hoàng Sa?


Tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày 15 tháng Giêng năm cảnh Hưng thứ 36 (1775), do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh đứng tên xin chấn chỉnh lại Đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: "Nguyên xã chúng tôi xưa có hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người...".


Đối chiếu tư liệu này với nguồn tư liệu phương Tây đương đại, chúng tôi có thêm những thông tin để xác định thời điểm ra đời của Đội Hoàng Sa. Năm 1633, phái bộ thương gia Hà Lan do Paulus Traudenius dẫn đầu đã đến vịnh Đà Nẵng và đến 1636, người Hà Lan đã được phép mở một thương điếm ở Faifo (Hội An), dưới quyền điều hành của Abraham Duijcker. Ngày 6-3, hai tàu Hà Lan là Warmont và Grol đi từ Nhật Bản đã đến Đà Nẵng, được chính quyền Đàng Trong tiếp đón. Ở Hội An, chúa Nguyễn Phúc Lan cũng đã tiếp Duijcker. Trong cuộc tiếp kiến này "Duijcker đã chuyển đến Chúa một điều khiếu nại. Đó là việc chiếc tàu mang tên Grootenbroeck đã bị đắm ở ngoài khơi bãi cát Paracels, đoàn thuỷ thủ đã được các người Việt xứ Đàng Trong cứu giúp, nhưng đồng thời cũng lấy đi tổng số món tiền là 25.580 réaux, vậy nên trưởng điếm Duijcker có nhiệm vụ xin được bồi hoàn món tiền đó. Ông ta được trả lời rằng những việc đó đã được xảy ra từ thời chúa trước (tức chúa Nguyễn Phúc Nguyên), không nên đề cập đến nữa, ngược lại, người Hà Lan từ nay sẽ được hoàn toàn tự do mang hàng hoá đến buôn bán, được miễn thuế, vả lại, sau này nếu có tàu Hà Lan mà bị đắm ở ngoài khơi thì sẽ không có chuyện tịch thu hàng hoá được cứu hộ nữa"1 (Ch.B.Maybon, Les marchands européens en Cochinchine et au Tonkin (1660-1775), Revue Indochinoise, 1916).


Tư liệu xung quanh vụ đắm tàu Grootenbroeck ở Hoàng Sa năm 1634 xác nhận vai trò của những đoàn người Việt xứ Đàng Trong ở quần đảo Hoàng Sa làm công tác cứu hộ, rồi đưa các nạn nhân về vùng Quảng Nam. Họ thường xuyên đi thuyền ra Hoàng Sa kiểm soát vùng biển và đảo. Chúng ta có đủ cơ sở để tin rằng lực lượng người Việt xứ Đàng Trong cứu tàu Grootenbreock tại Hoàng Sa năm 1634 chính là những người của Đội Hoàng Sa đảo Lý Sơn (được thành lập trước năm Tân Mùi (1631) qua phản ánh của tờ đơn xin chấn chỉnh lại Đội Hoàng Sa lưu tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh.


Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp giữa lúc nhu cầu chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông đặt ra gay gắt và bức thiết. Được thừa hưởng những cơ sở và kinh nghiệm của người Chăm và vương quốc Chăm-pa trước đây, Nguyễn Hoàng đã sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông, nhưng chưa thấy có tư liệu nào khả dĩ cho hay vào thời kỳ Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã có Đội Hoàng Sa. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chúng tôi, chỉ thật sự bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền. Các sự kiện có liên quan đến hoạt động của Đội Hoàng Sa xảy ra vào các năm 1631, 1634 hay trước 1631 một ít năm, thì cũng đều nằm trong thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Có đủ cơ sở để khẳng định Đội Hoàng Sa xuất hiện lần đầu tiên vào thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Nguyên hay chúa Nguyễn Phúc Nguyên chính là người đã sáng tạo ra một hình thức khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông hết sức độc đáo là Đội Hoàng Sa. Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang sử đẹp và bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa mở đầu, khai sáng.


Nguyễn Phúc Nguyên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng là người thông minh, dũng lược. Năm 22 tuổi là tướng chỉ huy một đội thuỷ quân đánh thắng 5 chiếc tàu của ngoại bang đến cướp phá ở vùng Cửa Việt, được khen là bậc anh kiệt. Năm 40 tuổi, được giao làm Trấn thủ Quảng Nam, ông đã mở rộng giao lưu buôn bán với các nước phương Đông và phương Tây (đặc biệt là Nhật Bản), xây dựng Hội An thành cảng thị quốc tế phồn thịnh - mà ngày nay đã được công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Năm 51 tuổi, trở thành người đứng đầu chính quyền chúa Nguyễn, ông đã cải cách nền hành chính, phát triển đất nước về mọi mặt, mở mang lãnh thổ xuống tận khu vực miền Đông và một phần miền Tây Nam Bộ, khởi dựng hình hài lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam hiện nay. Ông là người đầu tiên đặt ra Đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài - một hình thức độc đáo của quá trình khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:02:17 pm
QUÁ TRÌNH KHAI THÁC VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN
Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ TÂY SƠN
*
(Tạp chí LSQS, số 7-2021)

ĐỖ BANG**
(PGS, TS, Phó Chủ tịch Hội khoa học lịch sử)


Quần đảo Hoàng Sa - có nghĩa là "cát vàng"; Bãi Cát Vàng là tên gọi phổ biến của người Việt trước đây khi tiếp cận với vùng đảo này, năm 1838 trong Đại Nam nhất thống toàn đồ mới xuất hiện hai tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa; người Pháp và Anh gọi Paracel1 (Có nghĩa là "đá ngầm, ám tiêu" được người phương Tây chú thích trên các bản đồ hàng hải vào thế kỷ XVII-XVIII. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, người Pháp mới có tên gọi là Spratly để chỉ tên gọi Trường Sa, quần đảo nằm về phía Nam của Hoàng Sa mà họ vẫn gọi là Parácel); Quần đảo Hoàng Sa gồm hơn 37 đảo đá, bãi cạn chia làm hai nhóm. Nhóm phía Đông, có tên là nhóm An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo đá, bãi cạn, trong đó cộ hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5km2; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp thành hình vòng cung nên gọi là nhóm Lưỡi Liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa, diện tích gần 1km2, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Tri Tôn, Chim Yến...1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, 100 câu hỏi đáp về biển, đảo Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thống, H, 2013, tr. 29 (BBT chú thích)).


Vào cuối thế kỷ XVII, Đỗ Bá Công Đạo, quê ở Nghệ An, vượt biển vào Đàng Trong vẽ tập bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dâng lên chúa Trịnh, trong đó mô tả rõ quần đảo Hoàng Sa như sau: "Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Vinh, mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói cả. Hàng hoá thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...''2 (Lê Nguyên Lưu, Chiếc ghe của Đội Hoàng Sa, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên - Huế số 4 (75), 2009, tr.88).


Năm 1701, các giáo sĩ trên tàu L'Amphitrite sau khi thoát hiểm ở quần đảo Hoàng Sa cũng ghi lại: ''Chúng tôi dong buồm đi với gió thuận và chẳng bao lâu đến ngang tầm Hoàng Sa. Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc Đàng Trong. Đó là một khối đá khủng khiếp dài hơn trăm dặm, là nguyên nhân của những vụ đắm tàu từ trước đến nay. Nó trải dài dọc theo bờ biển Nam Kỳ. Tàu L'Amphitrite trong chuyến đi lần đầu sang nước Trung Hoa tưởng đã mất mạng ở đó"3 (Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa, Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Nxb Tri thức, 2002, tr. 19).


Dưới triều Nguyễn, Lý Văn Phức được triều đình cử đi công cán ở Philippines cũng ghi lại một ấn tượng tương tự trong bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa:

"Vạn Lý Trường Sa là một dải cát trắng từ biển nổi lên, phía Tây tiếp dương phận trấn Quảng Nghĩa, phía Nam giáp dương phận đảo Lữ Tống (Lưu Xông - Philippines), phía Bắc giáp dương phận tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang không thể lường đo được. Ấy là chỗ rất nguy hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì bãi cát ra rất xa. Một khi đi lầm (đi đụng phải) thì không thể trở lại. Ngày 14-5 Nhâm Thìn (năm 1832), thuyền Định Tưng rời khỏi Quảng Nghĩa, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính không làm thành một đường thẳng vo, lấy hướng Kim Mão (Đông hơi chếch xế Nam) mà tiến. Không dè trái gió, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau ngóng trông thấy nó, sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng tưng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền hỏi đà công (người cầm lái) y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: Lấy thước đạt thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (Tây) nhằm Quảng Nghĩa mà lùi, may nhờ phước lớn của triều đình về đến cửa biển Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không có việc gì"1 (Hoàng Xuân Hãn, Quần đảo Hoàng Sa, Tập san Sử địa, số 29, Sài Gòn, 1974).


Quần đảo Trường Sa nằm cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý, bao gồm hơn 100 đảo đá, bãi ngầm, bãi san hô nằm rải rác trong phạm vi biển, khoảng từ Vĩ tuyến 6°30' Bắc đến 12°00 Bắc và khoảng từ Kinh tuyến 111°30' đến 117°20' Đông. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 200 hải lý, cách điểm gần nhất của đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng gần 600 hải lý và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, 100 câu hỏi đáp về biển, đảo Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thống, H, 2013, tr.35-36 (BBT chú thích)).


Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữ vị trí chiến lược trọng yếu ở vùng Biển Đông, là nơi kiểm soát đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, nơi có thể chi phối an ninh thềm lục địa và đất liền của các nước trong khu vực.

Thấy được tầm quan trọng về vị trí hàng hải và an ninh của các quần đảo này nên từ thế kỷ XVTI - XVIII - XIX, chúa Nguyễn và các triều đại kế tiếp đã lập Đội Hoàng Sa và Bắc Hải để khai thác và bảo vệ các hải đảo ở vùng Biển Đông nước ta.

Cũng vì thế, vào cuối thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương Paul Douraer đã cho lập dự án trình lên Bộ Thuộc địa Pháp lập trạm Hải đăng, cho vẽ bản đồ quân sự và địa chất, xây dựng đài khí tượng, thuỷ văn, lập đội biên phòng và trú đóng tại Hoàng Sa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:06:03 pm
1- Quá trình khai thác và thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa dưới thời các chúa Nguyễn

Mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã tiếp cận với nhiều cửa biển nên đã hình thành một tư duy chính trị hướng ngoại. Đó là việc các chúa chú trọng khai thác kinh tế biển và mậu dịch đối ngoại trong thời kỳ thương mại quốc tế ra đời và phát triển ở thế kỷ XVII-XVIII.


Khai thác kinh tế biển, trước hết các chúa Nguyễn đã đẩy mạnh khai thác nguồn lợi yến sào, hải sản ven lục địa và các hải đảo, trong đó có Hoàng Sa, Côn Đảo mà Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục đã đặc biệt chú ý: "Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập Đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải. Phủ Quy Nhơn thì các cửa biển Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều có đảo, nhiều yến sào, lập đội Thanh Châu để lấy. Ngoài biển phủ Bình Thuận thì có núi gọi là Côn Lôn, rộng mấy dặm, cũng có nhiều yến sào. Ở ngoài nữa có núi gọi là Cù Lao Khoai1 (Hòn Khoai nay ờ ngoài khơi mũi Cà Mau), trước có nhiều hải vật và hóa vật của tàu, lập đội Hải Môn để lấy. cửa biển phủ Gia Định có núi gọi là Côn Lôn. Phía ngoài biển trấn Hà Tiên có núi gọi là Đại Côn Lôn2 (Tức đảo Phú Quốc hiện nay. Đảo có diện tích 565km2, cách Hà Tiên 45km), có dân cư"3 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học, H, 1964. tr. 119-120).


Như vậy, ngay từ thời các chúa Nguyễn đã tổ chức khai thác Hoàng Sa, Côn Đảo, Phú Quốc; trong đó Phú Quốc đã có dân cư sinh sống muộn nhất là từ thuở Mạc Cửu khai phá, rồi nhập vào đất Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Chu vào đầu thế kỷ XVIII.

Nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa còn kiêm quản thêm cả đội Bắc Hải, đội này được tuyển từ ngư dân vùng biển ở các tỉnh miền Trung và được chúa Nguyễn cử đi khai thác các đảo phía Nam.

Lê Quý Đôn cho biết: "Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, Cù Lao Côn Lòn và các đảo ở xứ Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm; cũng sai Đội Hoàng Sa kiêm quản''1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 124).


Trên cơ sở về những lợi ích của kinh tế biển qua việc khai thác các nguồn lợi của Đội Hoàng Sa và Bắc Hải, vào đầu thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho quan quân khảo sát để khai thác đảo Trường Sa, sách Đại Nam thực lục tiền biên có ghi chi tiết này vào mùa Hạ, tháng 4 năm Tân Mão (1711) như sau: "Sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn rộng hẹp bao nhiêu"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb sử học, H, 1962, tr.178).


Như vậy, các đảo hiện nay thuộc về lãnh thổ nước ta đã được các chúa Nguyễn lưu tâm từ rất sớm, có thể bắt đầu từ thời chúa Nguyễn Hoàng. Vị chúa này, được Vũ Thì An và Vũ Thì Trung cùng con cháu gốc người Chămpa giúp chiếm lĩnh Hoàng Sa. Sau đó, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), thương gia Nhật Bản Araki Sôtarô lấy công nữ của chúa nên được mang tên Việt là Nguyễn Đại Lương, tự Hiển Hùng, trông coi việc buôn bán với nước ngoài, đã giúp chúa Sãi tổ chức một đội thuyền hàng năm ra Hoàng Sa thu vớt hàng hoá1 (Thệ Thuỷ, Quần đảo Hoàng Sa và đội ghe của các chúa Nguyễn, Huế xưa & Nay, số 29, 1998, tr. 19).


Nhà sư người Trung Quốc là Thích Đại Sán (1633-1704) theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu đến Hội An và Phú Xuân (1694), sau khi về nước đã viết sách Hải ngoại kỷ sự, cũng xác nhận rằng: "Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Thời Quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lươm vàng bạc, khí cụ của thuyền hư tấp vào"2 (Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế. 1963, tr. 125).


Việc khai chiếm Hoàng Sa từ đó được các chúa Nguyễn cho thực hiện liên tục và đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, với tư cách là một tổ chức của nhà nước, chúa Nguyễn đã có kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên phong phú và làm chủ vùng quần đảo này3 (Theo Nguyễn Nhã, việc thành lập Đội Hoàng Sa để khai thác Hoàng Sa và các đảo ở Biển Đông phải có trước hoặc trong thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) [Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ sử học, trường Đại học KHXH & NV Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.66- 67]).


Về sau, chúa Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa, lấy trai tráng ở đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) sung vào thành lực lượng bán quân sự có tính chuyên nghiệp, hàng năm 6 tháng ra Hoàng Sa để khai thác sản vật và thu lượm hoá vật của các con tàu đắm, mang về nộp cho phủ chúa tại Phú Xuân. Điều này, đã được Lê Quý Đôn ghi chép rất cụ thể: "Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ1 (Loại thuyền này do dân chài tự đóng lấy, thuyền có mê (đáy) làm bằng tre đạn, trát phân trâu, quét dầu rái để giữ độ bền và không thấm nước; mạn thuỵền làm bằng gỗ chò hay gỗ sao. 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền, cánh buồm đan bằng lá hình chiếc rìu. Ưu điểm của loại thuyền này nhẹ, chạy nhanh, an toàn), ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiêng cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vằn rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo2 (Nay gần Thuận An), đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về"3 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 123).


Lê Quý Đôn đã sưu khảo được cuốn sổ ghi chép của Thuyên Đức Hầu về những sản vật thu được ở Hoàng Sa vào đầu thế kỷ XVIII như sau:

Năm Nhâm Ngọ (có lẽ 1702) lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân (có lẽ 1704) được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu (có lẽ 1705) được 126 hốt bạc, Năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), 5 năm ấy mỗi năm chỉ nhận được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 124).


Sự chuyên nghiệp hóa trong việc khai thác các nguồn lợi từ biển và các đảo đã mang lại một giá trị đáng kể đối với nền tài chính Đàng Trong và lợi ích cho người trực tiếp khai thác, đã nói lên sự đổi thay có tính thực tiễn với nhiều hiệu quả trong tư duy kinh tế biển của các chúa Nguyễn.


Việc khai thác các đảo và vùng biển tuy phương tiện còn thô sơ, chủ yếu dùng thuyền câu, mành lưới và các phương tiện thủ công để gom nhặt sản phẩm. Thu hoạch xong, thuyền đưa về Phú Xuân nộp vào kho nhà nước. Người khai thác nhận bằng như là chứng thực về công lao, hàng năm nộp thuế bằng sản vật theo lệ định, được hưởng một số ưu đãi về thuế khóa. Dù có nhiều hiểm nguy khi gặp bão tố, cướp biển nhưng vì gắn bó với nghề nghiệp lâu đời, đặc biệt là bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, họ sẵn sàng chấp nhận tất cả và xin được phủ chúa cho bám biển.


Hoàng Sa từ đó trở thành máu thịt của người dân Đàng Trong, là nỗi niềm lo âu, chờ đợi của bao nhiêu người ở đất liền khi người thân của họ đang thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo xa:

Chiều chiều ra ngóng biển khơi,
Ngóng ai như ngóng đợi người Hoàng Sa,
Chiều chiều ra ngóng biển xa,
Ngóng ai đi lính Hoàng Sa chưa về.


Đi Hoàng Sa là một nghĩa vụ thiêng liêng của trai tráng ở xã An Vĩnh, tự nguyện "đi lính" cho triều đình, được phiên chế vào Đội Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền cho Tổ quốc hơn là một địa chỉ làm ăn đầy mạo hiểm của cư dân trên đảo Lý Sơn.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:09:31 pm
Những người dân xã An Vĩnh luôn tự hào là đã công hiến cho đất nước Đội Hoàng Sa và xem đó như là quê hương của mình, nên đã chọn 70 trai tráng khoẻ mạnh còn đơn thân thay phiên ra Hoàng Sa để giữ gìn, khai thác. Họ xem mình như người nông dân ra đồng để sản xuất, vào rừng để kiếm củi mà không tính toán hơn thiệt, kể cả sinh mạng của mình.


Bởi vậy, một chuyến đi Hoàng Sa dài ngày, ngư dân An Vĩnh của đảo Lý Sơn ngoài chuẩn bị lương thực, nước uống 6 tháng; họ và gia đình còn chuẩn bị hành trang về tinh thần cho một cuộc hành trình về thế giới bên kia mà có thể đến với họ bất cứ lúc nào khi thuyền đã đi ra biển cả bao la. Đó là một đôi chiếu, sợi dây mây, 7 cái đòn tre và chiếc thẻ tre nhỏ ghi tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị để làm vật tin cho đời mỗi khi gặp tai biến.


Thấy được sự hiểm nguy khôn lường của những người con "đi lính" Hoàng Sa nên hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, dân xã An Vĩnh của đảo Lý Sơn làm lễ "tế sống" vì sợ không còn cơ hội gặp mặt người thân trước khi qua đời. Lễ này được thể hiện một cách bi tráng qua lễ "Khao lề thế lính Hoàng Sa" với mong muốn những hình nhân thế mạng trên những chiếc thuyền buồm trong câu chuyện cổ tích1 (Vật liệu của thuyền "hàng mã" làm bằng thân cây chuối, nan tre và giấy) sẽ chết thay cho con em họ, để những người lính Hoàng Sa có đủ nghị lực vượt qua phong ba bão táp yên bình trở về với gia đình.


Câu chuyện muôn thuở bi ai này cho đến hiện nay vẫn còn lưu truyền trong ngư dân ở vùng biển Quảng Ngãi qua câu ca dao:
   "Hoàng Sa trời nước mênh mông,
   Người đi thi có mà không thấy về,
   Hoàng Sa mây nước bốn bề,
   Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa".


Trong Đơn xin của phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh, do nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Ngọc sưu tầm ở địa phương, đã phản ảnh khá đầy đủ về quá trình khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa của cư dân xã An Vĩnh:

"Ngày 15 tháng Giêng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775), thần là Hà Liễu, Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh về kho nội thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn, phủ Hòa Nghĩa.

Mong đội ơn trên: Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có Đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1691) Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được lập hai đội nữa là Đại mạo hải ba và Quế Hương hàm với nhân số là 30 người. Hàng năm thường nộp thuế bằng 10 (thạch) đồi mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723) vâng lệnh truyền rằng: Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thỉ nộp thuế biệt nạp và mang theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung thêm dân binh cũng bắt đầu. Đến đó quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và phải chi tiền đi đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ chúng tôi lập hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tim nhặt các hạng vật đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng theo sở nguyện chắng dám kêu ca. Chúng tôi xin cúi đầu mong ơn.
Thân (xét) chuẩn cho"1 (Nguyễn Quang Ngọc, Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách Phủ biên tạp lục, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 2001, tr. 33-34).

Song song với khai thác và xác lập chủ quyền, các chúa Nguyễn rất chú trọng đến việc bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải; bảo vệ tài nguyên và tính mạng của người khai thác biển.

Các cửa biển và bán đảo gần bờ đều có quân đội trú phòng; còn ở các đảo xa như Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc thì người khai thác biển được quân sự hóa trở thành người lính chiến đấu để bảo vệ đảo, bảo vệ tài nguyên và tính mạng của mình. Điều này, đã thể hiện trong tờ đơn trình của Cai hợp Hà Liễu của Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, gửi cho phủ chúa vào năm 1776: "Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm"2 (Nguyễn Quang Ngọc, Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách Phủ biên tạp lục, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 2001, tr. 33-34).


Do quá trình khai thác lâu đời nên Hoàng Sa, Trường Sa mặc nhiên trở thành lãnh thổ của đất Đàng Trong; được nhà Thanh tôn trọng và được bảo vệ, che chở, cứu hộ những người Việt khai thác ở các đảo này mỗi khi bị lâm nạn trên biển. Lê Quý Đôn đã ghi lại một chi tiết đáng lưu ý:

"Hoàng Sa chính gần phủ Liêm châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: Năm Càn Long thứ 18 (tức năm 1757) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng Hầu làm thư trả lời"1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 123-124).


Văn bản ngoại giao này, đã cung cấp cho chúng ta một minh chứng lịch sử quan trọng là nhà Thanh đã công nhận chủ quyền của vùng đảo Hoàng Sa là thuộc về chúa Nguyễn. Nhà Thanh chỉ tham gia về những hoạt động nhân đạo cứu hộ, cứu trợ khi thuyền nhân gặp nạn và trao trả lại cho nước chủ quản mà không đòi hỏi một điều kiện nào.


Để làm chủ vùng biển và tạo thuận lợi cho nhân dân khai thác kinh tế biển, các chúa Nguyễn rất chú trọng việc bảo vệ trị an vùng biển, chống ngoại xâm, tích cực chống cướp biển để bảo vệ tài sản, tính mạng cho nhân dân.

Cùng với việc mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn còn chú trọng mở rộng tầm kiểm soát và khai thác vùng biển bằng các nguồn lợi kinh tế của biển và hải đảo. Ý thức này không những làm cho Đàng Trong phát triển toàn diện về lãnh thổ, lãnh hải, tạo nên một tiềm lực kinh tế và quân sự mà còn trở thành ý thức chủ quyền mạnh mẽ, một di sản quý báu cho muôn đời sau1 (Đỗ Quỳnh Nga, Công cuộc mở mang lãnh thổ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, Luận văn Thạc sĩ sử học, Trường Đại học Khoa học Huế. 2007, tr. 9).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:16:52 pm
2- Dưới thời Tây Sơn.

Dưới thời Tây Sơn, việc khai thác và thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn được tiến hành thường xuyên. Điều này, đã được thể hiện trong lá đơn của Cai hợp Hà Liễu ở phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Hoà Nghĩa (tên phủ được đổi dưới thời Tây Sơn tức Quảng Ngãi) trình lên chính quyền Tây Sơn vào ngày 15 tháng Giêng năm cảnh Hưng thứ 36 (1775) như đã nêu ở trên.


Cũng tại nhà thờ họ Võ còn lưu lại bản Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quân binh dân chư vụ Thượng tướng công "Sai Hội Đức hầu, Cai Đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thuỷ quân, cỡi 4 thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý... đều chở về kinh, tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý, hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều phải trị tội".


Ngoài ra, còn có bản Ngự phê Hoàng đế Tây Sơn cho lời tâu của xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được Thánh chỉ ban thưởng vàng và Châu phê "Chuẩn cho"1 (Nguyễn Quang Ngọc, Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn, trong sách "Tây Sơn - Thuận Hoá và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung", Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr. 271).


Trong một chuyến du hành đến nước ta vào năm 1792-1793, J. Barrow cũng xác nhận việc khai thác yến sào tại quần đảo Hoàng Sa của chính quyền Tây Sơn:

"Những tàu thuyền này được dùng trong công việc buôn bán ở vùng duyên hải và đánh cá. Và những tàu thuyền thu lượm giống Trepan (hải sâm) và những tổ chim yến trong quần đảo có tên gọi là Paracels (Hoàng Sa) thuộc nhiều loại mô tả khác nhau"2 (J.Barrow, Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), Bản dịch Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb Thế giới, H, 2008, tr. 92).


Hơn các triều đại trước và sau đó, chính quyền Tây Sơn (triều Quang Trung và Cảnh Thịnh) còn sử dụng cả số người gọi là "Tàu ô", "Tề ngôi" được phong là Đông Hải vương với chức Thông binh như Trần Thiên Bảo, Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh, Phan Văn Tài cai quản, bảo vệ an ninh vùng Biển Đông cho Tây Sơn để theo dõi tình hình nhằm chống lại nhà Thanh, quân của Nguyễn Ánh và hải tặc1 (Nguyễn Quang Ngọc, Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn, Sđd, tr. 265-266).


Kế thừa những thành quả của các chúa Nguyễn, triều đại Tây Sơn tiếp tục thực thi chủ quyền và khai thác Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Nếu gọi lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII gắn với cuộc "Nam tiến" được các chúa Nguyễn khởi động mạnh mẽ là đúng nhưng không đầy đủ. Đây còn là thời kỳ "Đông tiến" mang tính đột phá, đất nước ta từ đó mới có lãnh hải, nhân dân ta dưới thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn từ đó đã vươn ra làm chủ biển, đảo, trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa, một bộ phận thân yêu của Tổ quốc gắn với vận mệnh dân tộc hơn 4 thế kỷ qua.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:18:22 pm
QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
(Tạp chí LSQS, số 9, 10-2011)

TRẦN NAM TIẾN**
(PGS, TS, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)


Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đông Nam của Biển Đông, gồm trên một trăm đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm, ở khu vực biển trong vĩ độ 6°30'B-12°00'B và kinh độ 111°30'Đ-117°20'Đ trên vùng biển rộng khoảng 180.000km2, cách cảng Cam Ranh (Việt Nam) khoảng 250 hải lý, được chia thành 8 cụm đảo (Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên). Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10km2, trong đó Ba Bình là đảo lớn nhất (khoảng 0,5km2), Song Tử Tây là đảo cao nhất (khoảng 4-6m).


Khu vực biển quần đảo Trường Sa án ngữ có nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của thế giới và khu vực. Có năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông, bao gồm các con đường từ Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuyê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, New Zealand, con đường hàng hải Bắc Thái Bình Dương từ Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á, con đường từ Đông Á đến Úc và New Zealand, và từ Đông đến Trung Đông1 (Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao, Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật Biền ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004, tr. 161.). Nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc... phụ thuộc sống còn vào các tuyến hàng hải này.


Về tài nguyên thủy sản, quần đảo Trường Sa là nơi có lượng tài nguyên phong phú. Tại vùng biển Trường Sa, qua khảo sát bằng lưới rê, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được 18 họ hải sản với 32 giống và 37 loài, và bằng câu vàng xác định được 9 họ hải sản với 13 giống và 14 loài cá, trong đó có các họ cá có giá trị kinh tế cao như cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá thu ngàng. Cùng với tài nguyên thủy sản, vùng nước quần đảo còn là nơi có trữ lượng san hô lớn, có thể dùng sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ và sử dụng trong lĩnh vực y học. Bên cạnh đó, khu vực đáy biển thuộc quần đảo Trường Sa còn chứa đựng một trữ lượng dầu khí được đánh giá là rất lớn và các mỏ khoáng sản sunphát đa kim, kết cuội sắt mangan. Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu địa chất của Nga năm 1995 thì khu vực quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu khoảng 6 tỷ thùng, trong đó khí chiếm khoảng 70%.


Với những điều kiện nêu trên, quần đảo Trường Sa có vị trí chiến lược về quốc phòng, là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Theo các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 mà nước ta là một thành viên, quốc gia ven biển có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên một vùng biển rộng gấp rất nhiều lần diện tích lãnh thổ đất liền; kiểm soát các tuyến hàng hải, làm chủ các vị trí chiến lược về quốc phòng cũng như các tài nguyên biển và lòng đất dưới đáy biển. Tuy nhiên, hiện nay quần đảo Trường Sa, một phần lãnh thổ của Việt Nam, hiện đang bị một số quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực yêu sách chủ quyền. Các tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia đòi hỏi chủ quyền mà còn thu hút sự quan tâm của các cường quốc và là yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định trên Biển Đông.


Bài viết này, thông qua các tài liệu, tư liệu lịch sử đã có sẽ phục dựng toàn bộ quá trình xác lập, khẳng định và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa qua các thời kỳ lịch sử, góp phần tạo thêm cơ sở cho việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam hiện nay.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:22:01 pm
1- Quá trình khám phá, khẳng định và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII).

Trong hơn 2 thế kỷ, từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm ở Biển Đông, nên gọi là Vạn Lý Trường Sa (bãi cát dài vạn dặm) hay còn gọi là Đại Trường Sa (bãi cát dài lớn) hay còn gọi là Cát (Kát) Vàng hay Hoàng Sa (Hoàng có nghĩa là Vàng, Sa có nghĩa là Cát). Vào đầu thế kỷ XIX, bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ tuy có ghi Hoàng Sa ở phía Bắc và Vạn Lý Trường Sa ở phía Nam của Biển Đông, song hai quần đảo vẫn được vẽ trong một dải kéo dài liên tục từ Bắc xuống Nam, chưa thật sự có sự phân biệt rõ rệt như người Pháp sau này thể hiện ý muốn cho thấy Vạn Lý Trường Sa (tức phần phía Nam) thuộc về Nam Kỳ thuộc xứ thuộc địa, trong khi Hoàng Sa ở Trung Kỳ lại thuộc xứ bảo hộ. Quan niệm trên cũng giống quan niệm của các nhà hàng hải phương Tây khi trong các bản đồ do họ vẽ suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tên gọi là Parcel, Pracel hay Paracels đều chỉ một dải dài các hải đảo ở Biển Đông dọc theo bờ biển miền Trung của Đại Việt1 (Theo Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luận án Tiến sĩ lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002).


Cho đến nay, tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn có được có liên quan đến chủ quyền Việt Nam ở vùng Biển Đông là quyển Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII (1686). Trong quyển này, tác giả Đỗ Bá đã mô tả những quần đảo này rất chính xác và xác nhận rằng chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII. Đoạn trích dịch như sau: "Tại làng Kim Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản. Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là "Bãi Cát Vàng", dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Vào mùa gió nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển thường bị đắm giạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế. Tất cả những người bị đắm trôi giạt vào đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên đảo. Mỗi năm, vào tháng cuối của mùa đông, chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm ra tới đảo mất một ngày rưỡi, nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày"1 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d'histoire et de géographie, Sài Gòn, 1974, tr. 39-40). Theo nhận định của tác giả Võ Long Tê, quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thế kỷ XVII (năm 1686), đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển Hồng Đức bản đồ2 (Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460-1497)).


Thực tế cho thấy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Nhân dân ta đã di cư đến sống trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sinh hoạt và tiến hành khai thác các tài nguyên quanh đảo trong một thời gian dài. Lúc này, danh từ Bãi cát vàng chứng tỏ rằng những đảo này đã được những người Việt Nam hiểu biết nhiều về biển khám phá và khai thác từ lâu, trước khi chính quyền chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo. Người dân Việt Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất là sự khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII, qua rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này, trong đó có quần đảo Trường Sa.
   Trong các tài liệu, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Trường Sa. Lê Quý Đôn là quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam (bây giờ là vùng đất thuộc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định). Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất nhiều tài liệu của chính quyền các chúa Nguyễn để lại. Trong quyển 2 của Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã xác định một cách rõ ràng vị trí của "Đại Trường Sa gần xứ Bắc Hải". Mà Côn Lôn với Hà Tiên cũng thuộc phạm vi hoạt động của Đội Bắc Hải. Như thế, Đại Trường Sa hay Hoàng Sa vào cuối thế kỷ XVIII kéo dài đến phía Nam của Biển Đông, tức vị trí của Trường Sa hiện nay. Cuốn Tây Sa văn vật do Viện Bảo tàng tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) biên soạn và Nhà xuất bản Bác Vật tại Bắc Kinh xuất bản năm 1975 cũng xác định rằng "Bắc Hải là vùng quần đảo Nam Sa", tên Trung Quốc chỉ Trường Sa của Việt Nam. Đặc biệt, trong quyển 2 của Phủ biên tạp lục có 2 đoạn văn đề cập đến việc chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa bằng hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải:
   "... Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi xát quanh, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.
   Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào Cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ, lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ 5 năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.
   Họ Nguyễn lại đặt Đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tư Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai Đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được"1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của Viện sử học, Nxb Khoa học xã hội. H, 1977, tr. 119-120).
   Đoạn trích trên cho thấy việc khai thác hai quần đảo của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế kỷ XVII sang đến cuối thế kỷ XVIII. Hoạt động của hai đội này được tổ chức có hệ thống. Các thuỷ thủ do Nhà nước tuyển dụng, hưởng bổng lộc của Nhà nước, giấy phép và lệnh ra công tác do Nhà nước cấp. Như vậy, vào thời điểm này, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của Nhà nước trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong thời gian từ thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII, một tổ chức dân binh Việt Nam, Đội Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay cả các sách sử Việt Nam và cả của Trung Quốc đều chép Đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, kiêm lãnh việc khai thác và thực thi chủ quyền ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội "Hoàng Sa". Như vậy, Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi1 (Theo Nguyễn Q. Thắng, "các hải đội này được thành lập từ đời Nguyễn Phước Trăn (1687-1765) và có thể từ trước nữa - mà sau này chúng ta được biết qua Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán cùng các tư liệu của các giáo sĩ và thương gia phương Tây". Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Nxb Tri thức, H, 2008, tr. 129).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:23:23 pm
Đội Hoàng Sa là đội dân binh do Nhà nước lập ra và quản lý. Nhà nước, lúc bấy giờ là các chúa Nguyễn, bổ nhiệm chỉ huy đội kiêm chức vụ cai đồn cửa biển Sa Kỳ cùng chức thủ ngự, trông coi bắt giặc cướp biển, quản lý Biển Đông. Thông qua các sách sử để lại, Đội Hoàng Sa ngoài nhiệm vụ khai thác và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn kiêm quản cả Đội Bắc Hải hoạt động trong khu vực phía Nam của Biển Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận. Đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản Đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ. Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính Đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự mình đi khắp nơi song lại kiêm quản các đội khác (như Đội Bắc Hải) thì phạm vi hoạt động rõ ràng rất rộng, khắp các đảo trong Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung Bộ Việt Nam khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ phía Tây Nam đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.


Riêng về quản lý quần đảo Trường Sa, bên cạnh Đội Hoàng Sa quản lý chung, chúa Nguyễn đã tổ chức Đội Bắc Hải đi tìm kiếm hải vật ở khu vực Bắc Hải, tức khu vực quần đảo Trường Sa và cả Côn Đảo, Hà Tiên cũng ở phía Nam của Đại Việt. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và đến Đại Nam nhất thống chí (khởi soạn 1848, in năm 1910) của Quốc sử quán triều Nguyễn đều khẳng định "Đội Bắc Hải, khiến Đội Hoàng Sa kiêm quản, ra Bắc Hải, các đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật". Quá trình Đội Bắc Hải hoạt động cũng bắt đầu từ lâu, trước cả khi Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ra đời (1776). Như vậy, sớm nhất từ khi lãnh thổ Đại Việt mở rộng tới đất Bình Thuận vào khoảng năm 1697, Đội Bắc Hải đã ra đời do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều đội khác cũng có chức năng và nhiệm vụ như Đội Bắc Hải được thành lập, vì chính quyền chúa Nguyễn dần dần tìm ra các đảo san hô hết sức rộng ở Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để Đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu mối, để có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông.


Về tên gọi, nhiều người thắc mắc: tại sao Đội Bắc Hải đảm trách Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên, là những vùng phía Nam, mà lại gọi là Bắc Hải. sử gia Võ Long Tê có giải thích rằng Bắc Hải theo nghĩa chữ nho cũng có thể là "xa xôi". Như vậy "Bắc Hải" có thể hiểu là vùng biển xa xăm1 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens đhistoire et de géographie, Sđd, tr. 134, 61). Nghĩa thứ hai mà ta có thể giải thích là Đội Bắc Hải kiêm trách cả vùng biển miền Bắc lẫn những đảo ở phía Nam. Vì quyển Phủ biên tạp lục có ghi rằng Đội Bắc Hải hoạt động ở "vùng Biển Bắc, những đảo Côn Lôn, Cù Lao, vùng Hà Tiên và Cồn Tự"2 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens đhistoire et de géographie, Sđd, tr. 134, 61). Nếu theo giả thuyết trên thì ta phải hiểu là hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải bổ túc cho nhau chứ không có sự phân chia vùng hoạt động riêng biệt. Theo như ghi chép trong Phủ biên tạp lục thì sự phân chia giữa hai đội là ở sản vật được khai thác: Đội Bắc Hải gần như chỉ thu thập các hải sản, còn Đội Hoàng Sa thu thập cả các hoá vật, vàng, bạc... do tàu đắm để lại. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của các hải đội này là tuần tra, do thám, đo đạc thủy trình trên Biển Đông, nhất là bảo vệ mặt biển Tổ quốc3 (Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Sđd, tr. 129).


Để chỉ huy Đội Hoàng Sa, người chỉ huy phải là vị quan lớn như cai đội Thuyên Đức Hầu. Các vị quan này đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Thuyên Đức Hầu đã được phong tước hầu. Hoặc như Phú Nhuận Hầu cũng thế, trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã kiêm luôn "khâm sai cai thủ" cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức "cai cơ thủ ngự", kiêm quản Đội Hoàng Sa (tờ kê trình của Phú Nhuận Hầu được lưu giữ tại Nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn. Chính Phú Nhuận Hầu được giao nhiều chức vụ quan trọng. Cũng từ đó có uy tín để kiêm quản các đội khác như Đội Bắc Hải.


Đội Bắc Hải tuy không được chính quyền chúa Nguyễn coi trọng như Đội Hoàng Sa, song đội vẫn do Nhà nước quản lý, trực tiếp do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Về mặt tổ chức, Đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất, số lượng tùy theo tình hình khả năng các thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận hay làng Cảnh Dương, tình nguyện và được cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động. Quyền lợi cũng như đội khác, được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò; không thấy miễn tiền thuế. Phương tiện hoạt động của Đội Bắc Hải cũng dùng thuyền tài nhân, thuyền câu; phạm vi hoạt động ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay và cả Côn Đảo, Hà Tiên.


Lê Quý Đôn còn cho biết thêm rằng, sở dĩ Nhà nước sai chức cai Đội Hoàng Sa kiêm quản đốc Đội Bắc Hải này vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, tức là những hàng đồi mồi, hải ba, đôn ngư (cá heo lớn như con heo), lục quý ngư, còn những vàng bạc và các của cải quý báu khác (như súng ống) thì ít khi họ tìm kiếm được1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của Viện Sử học, Sđd, tr. 120). Do đó, các chúa Nguyễn đã để cho cai Đội Hoàng Sa kiêm quản Đội Bắc Hải. Thực tế, các sản vật quý, trong đó có vàng bạc hay súng ống, mới là mối quan tâm của các chúa Nguyễn, mà những thứ sản vật ấy chỉ có được do các tàu đắm. Vả lại, Đại Trường Sa ở phía Nam, tức Trường Sa hiện nay, ít nguy hiểm hơn đối với các tàu biển vì vùng này ít xảy ra bão, nên quy mô của Đội Bắc Hải cũng không lớn bằng Đội Hoàng Sa.


Các tài liệu của nhà Nguyễn tiếp tục nhắc đến hoạt động của Đội Bắc Hải. Đại Nam thực lục tiền biên (soạn xong năm 1844) chép rằng Đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam nhất thống chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, soạn xong năm 1882, cũng còn viết "Đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản". Tuy nhiên, không có tài liệu nào cho biết Đội Bắc Hải ngưng hoạt động lúc nào, trước hay sau Đội Hoàng Sa.


Khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra (1771), chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định, thì Đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn. Trong tài liệu còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré, cho biết: năm Thái Đức thứ 9 (1786), dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại. Chứng cứ còn để lại là tờ đơn của ông Hà Liễu gửi cho chính quyền Tây Sơn đề ngày 15 tháng Giêng năm cảnh Hưng thứ 36 (1775) và Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công gửi cho cai Đội Hoàng Sa đi thuyền ra quần đảo Hoàng Sa1 (Xem: Nguyễn Nhã, Các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XVII đến khi thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Nxb Thế giới, H 2008). Đến những năm cuối cùng của triều Tây Sơn, hoạt động của Đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưỏng, các hoạt động không còn thường xuyên như trước, sau đó thì ngừng hoạt động hẳn2 (Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Sđd, tr. 130).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:26:06 pm
2- Quá trình khẳng định và thực thi chủ quyền của nhà Nguyễn ở quần đảo Trường Sa (thế kỷ XIX).

Chủ quyền ở quần đảo Trường Sa tiếp tục được các vua nhà Nguyễn khẳng định trong thế kỷ XIX. Các bộ sử lớn của triều Nguyễn như: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí (1833), đều ghi chép việc chúa Nguyễn tổ chức khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cả các đảo khác nữa: Đội Thanh Châu phụ trách các đảo ngoài khơi Quy Nhơn khai thác tổ chim yến, Đội Hải Môn hoạt động ở các đảo Phú Quý, Đội Hoàng Sa chuyên ra quần đảo Hoàng Sa, sau đó lại tổ chức Đội Bắc Hải thuộc Đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các đảo xa ở phía Nam trong đó có quần đảo Trường Sa, đảo Côn Lôn và các đảo nằm trong vùng vịnh Thái Lan thuộc chủ quyền của Việt Nam3 (Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, Nxb Sự thật, H, 1982, tr. 13-14). Nhìn chung, nội dung về Hoàng Sa và Trường Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.


Đại Nam thực lục tiền biên (soạn năm 1821, khắc in năm 1844), tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Việt sử cương giám khảo lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) cho biết: ở buổi quốc sơ thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh. Trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí (soạn xong năm 1882, soạn lại lần 2 và khắc in năm 1910) xác định Hoàng Sa, thuộc tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Trong Quốc triều chính biên toát yếu, quyển III của Quốc sử quán triều Nguyễn, đời vua Minh Mạng, có 3 đoạn văn liên quan đến việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Ngoài ra, các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam1 (Theo Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tlđd). Dưới thời nhà Nguyễn, những hoạt động liên tục, định kỳ của thủy quân, cụ thể bắt đầu từ năm 1816, tại quần đảo Hoàng Sa mà như ta đã biết thời kỳ này Hoàng Sa và Trường Sa là một. Đó là những việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ của thủy quân, việc cắm mốc chủ quyền, dựng bia thành lệ hàng năm đến từng hòn đảo. 


Có thể nói, vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, vua Gia Long, đã củng cố thêm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Thực ra, trước khi lên ngôi Hoàng đế năm 1802, Nguyễn Anh cũng đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông, trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa. Năm Gia Long năm thứ 2 (1803), nhà vua đã cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại như Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXII đã ghi rõ: "Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Năm 1816, vua đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ, và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam. Đoạn trích sau đây trong bộ Đại Nam thực lục chính biên chứng minh điều này: "Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời vua Gia Long (1816) ra lệnh cho lực lượng hải quân và Đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình". Sự khẳng định chủ quyền hai quần đảo dưới triều vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây. Bài của M.A. Dubois de Jancigny viết như sau: "... Từ hơn 34 năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một dải đảo quanh co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng vua Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ"1 (M.A. Dubois de Jancigny, Thế giới, lịch sử và sự mô tả các dân tộc, các tôn giáo của họ, Ceylan (1830), Võ Long Tê viện dẫn, Sđd, tr.168). 


Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long. Chaigineau đã viết trong hồi ký Le memoire sur la Cochinchine: "Chỉ đến năm 1816, đương kim Hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy"1 (Salles. J.-B. Chaigneau et sa famille; Le Mémoire sur la Cochinchine de Jean-Baptiste Chaigneau, Volume 23, 1923, p. 424-427). Giám mục Taberd cũng viết: "Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia Long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam". Có thể nói, những người phương Tây trên không phải là những nhà nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam như thế nào.


Sang thời Minh Mạng (1820-1840), việc đo đạc thủy trình được tiếp tục đẩy mạnh. Song song với việc đó, Minh Mạng cũng rất chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động khẳng định chủ quyền của nhà Nguyễn trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông. Công việc đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển, được xem là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công, cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển trong đó có vùng biên Hoàng Sa lớn. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở Hoàng Sa lớn do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám thành, với địa phương Quảng Ngãi và Đội Hoàng Sa. Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa cũng được quy định rất rõ ràng, có ghi trong Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 221 như sau: "Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tưng vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thắng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm".


Như vậy, bắt đầu từ thời Minh Mạng, lực lượng thủy quân hàng năm đã đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa để vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, tổ chức nhiều các hoạt động khác... Lực lượng làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một "lực lượng đặc nhiệm" gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương, trong có dân binh Đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong Vệ Thủy quân đóng ở Kinh thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám thành trong Vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động binh dân ở tỉnh Quảng Ngãi, có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định. Nhiệm vụ của "lực lượng đặc nhiệm" luôn được Minh Mạng theo sát và ra chỉ dụ cụ thể. Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi1 (Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Trường Sa, mảnh đất thiêng của Việt Nam - Kỳ 1: Đội Bắc Hải (xem ghi địa chí bài viết của tác giả có nêu)).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:27:47 pm
Dưới thời Minh Mạng, các chuyến đi công tác ra Hoàng Sa được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có Vệ Thủy quân là chính phối hợp với Vệ Giám thành, và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Dưới triều vua Minh Mạng, lực lượng thủy quân được tổ chức quy củ, có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa2 (Nhiều tác giả, Biển Đông và hải đảo Việt Nam, Nxb Tri thức, H, 2010, tr. 81). Trong các chuyến đi đó, mỗi cột mốc ở đây đều có khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy "lực lượng thủy quân đặc nhiệm" được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như Cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4, 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đao, song rất khó tổng kết trên thực tế cắm cột mốc được ở trên bao nhiêu đảo1 (Nhiều tác giả, Biển Đông và hải đảo Việt Nam, Nxb Tri thức, H, 2010, tr. 82).


Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng, rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1833, vua Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa. Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 104, đã viết: "Tháng tám mùa Thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)... vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời"2 (Vụ Thông tin và Báo chí - Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, H, 1979, tr. 21). Năm sau, vua Minh Mệnh lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước để vẽ bản đồ. Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 122, ghi nhận điều này: "Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời Minh Mệnh: ... vua truyền lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ..."3 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens Ơhistoire et de géographie, Sđd, tr. 100).


Đến năm 1835 công việc xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 154: "Tháng sáu mùa Hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)... Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ: "Vạn lý Ba Bình" (muôn dặm sóng yên). Còn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ Đông, Tây, Nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía Bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về"1 (Vụ Thông tin và Báo chí - Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trưởng Sa, H, 1979, tr. 21).


Theo Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 165, vua nhà Nguyễn không những quan tâm đến việc khai thác đảo mà còn nhận thức được vị trí chiến lược của hai quần đảo, xem chúng là lãnh thổ biên phòng của Việt Nam và tổ chức cả một chương trình dài hạn để củng cố biên cương đó:

"Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa Xuân, tháng Giêng, ngày mồng 1... Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu.

Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tưng tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình". "Vua y lời tâu, phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ"1 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens đhistoire et de géographie, Sđd, tr. 25).


Trên cơ sở đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ trên bản đồ của triều dinh vua Minh Mạng. Qua những hoạt động trên, có thể thấy, chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã tiếp tục được thực thi bởi các vua nhà Nguyễn. Đội Hoàng Sa và Bắc Hải được giao thêm nhiều nhiệm vụ: tuần tiễu, đi lấy kích thước đảo để vẽ bản đồ, thăm dò địa hải, vẽ thuỷ trình... Những đội này cũng có nhiệm vụ thu thuế những người tạm sống trên đảo1 (Gutzlaff, Geography of the Cochichinese Empire in Journal of the Geographical Society of London, 1849, tập XIX. Viện dẫn trong sách "Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam", Nhà xuất bản Sự thật, Sđd, tr. 16. Trong đo, Gutzla.ff có viết: "Chính phủ An Nam thấy đặt một hạn ngạch thuế thi có thể thu được nhiều lợi bèn lập những trưng thuyền và một trại quản nhỏ ở chỗ này (tức quần đảo Paracel, mà tác giả gọi là KatVang) để thu thuế mà mọi người tới đây đều phải nộp...".). Trên cơ sở đó, từ thời vua Minh Mạng năm thứ 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, sau lại tiếp tục. Sau đó, đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lộ sách Đại Nam thực lục chính biên thời Tự Đức những việc đã thành lệ rồi thì không còn chép nữa. Các hải đồ về Hoàng Sa và Trường Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở Vệ Giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4-7-1885 và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Kinh thành bị đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ quý giá về Hoàng Sa và Trường Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã vẽ đưực một bản đồ chung về Hoàng Sa.


Trên thực tế, hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động dưới sự quản lý của nhà Nguyễn cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858). Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời chúa Nguyễn, trải qua các triều vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ, hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với hai quần đảo. Đây là những hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức nhằm thực thi chủ quyền đầy đủ của mình trên quần đảo Trường Sa. Những hoạt động này, kéo dài từ thời các chúa Nguyễn sang các vua Nguyễn mà không có một lời phản đối của Trung Quốc thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự thực thi chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.


Như vậy, chủ quyền của Việt Nam được thể hiện rõ bắt nguồn từ sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ dưới thời các chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và XVIII, và hành xử chủ quyền một cách liên tục dưới thời các vua nhà Nguyễn trong suốt thế kỷ XIX. Tất cả những minh chứng trên đã cho thấy Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII. Quyền này lại được củng cố thêm dưới thời các vua nhà Nguyễn. Trước thời Minh Mạng, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng được xem như một quần đảo, nên gọi hai quần đảo là Hoàng Sa, có khi gọi là Vạn lý Trường Sa. Tuy nhiên, sau khi các đoàn công tác được vua Minh Mạng ra lệnh lấy kích thước và thám sát cả hai quần đảo, thì bản đồ được vẽ sau đó (tức bản Đại Nam nhất thống toàn đồ), mối ghi rõ ràng hai tên khác nhau cho hai quần đảo. Có thể nói, những hoạt động liên tục hàng năm của đội Bắc Hải thời chúa Nguyễn và đầu thời nhà Nguyễn, cũng như những hoạt động của thủy quân trong suốt triều Nguyễn đã chứng minh một cách hùng hồn: quần đảo Trường Sa không phải là đảo vô chủ. Do đó, chúng ta có thể khẳng định, Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa trong một thời gian rõ ràng và xuyên suốt.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Chín, 2026, 08:30:00 pm
3- Quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay.

Sau khi thực dân Pháp thiết lập được ách đô hộ ở Việt Nam, nhân danh Vương quốc An Nam theo Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 cũng như Hiệp ước Patenôtre năm 1884, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Trường Sa trong tình trạng không có nước nào chiếm hữu. Sau đó, Bộ Ngoại giao Pháp đã có một thông tri đăng Công báo Pháp ngày 26-7-1933 về sự chiếm hữu đảo Spratley ngày 13-4-1930 và các đảo Aboine, Itu-Aba, Loai Ta, Thị Tứ và các đảo phụ cận từ ngày 7-4-1933 đến ngày 12-4-1933. Như vậy, cho đến trước năm 1933, khi chưa có nước nào, kể cả Trung Quốc đặt vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, chính quyền Pháp ở Việt Nam đã tổ chức chiếm hữu quần đảo Trường Sa (Spratley).


Về phía Trung Quốc, năm 1907, Trung Quốc chỉ mới bắt đầu tranh chấp với Nhật ở quần đảo Pratas. Đến năm 1909, Trung Quốc mới khảo sát trái phép theo phương thức cổ truyền phương Tây chỉ với đảo Hoàng Sa hay Paracels mà Trung Quốc cho là vô chủ. Thực ra, lợi dụng Việt Nam bị mất quyền tự chủ trong thời kỳ Pháp đô hộ, theo Hiệp ước Patenôtre năm 1884, quyền ngoại giao với nước ngoài do người Pháp đảm trách, chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) lấy cớ các đảo ở biển Nam Hải vô chủ, đã tổ chức chiếm hữu bất hợp pháp, vi phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam vốn đã từ lâu. Lúc này, Trung Quốc chưa có hành động nào đối với quần đảo gọi là Nam Sa hay Trường Sa của Việt Nam. Thực tế cho thấy, trước năm 1909, chưa hề có một bản đồ nào của Trung Quốc ghi tên Tây Sa và Nam Sa. Cuốn sách Trung Quốc địa lý giáo khoa thư do Thượng Hải Thương vụ An Thư quán, xuất bản năm 1906 ghi điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam như sau: "Phía Nam bắt đầu là Vĩ độ 18°13B lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm mút". Cho đến tháng 4-1935, mới xuất hiện địa danh Nam Sa trên bản đồ, song lúc ấy tên gọi Nam Sa chỉ là dùng để gọi bãi đá ngậm Macclessfield (tức Trung Sa).


Thực hiện sự chiếm hữu đối với quần đảo Trường Sa như trên đã nêu, thực dân Pháp sáp nhập Trường Sa vào đất thuộc địa Nam Kỳ, lúc này chỉ có ý nghĩa là tái xác lập chủ quyền vốn đã có từ lâu đời của Việt Nam mà Pháp chiếm làm thuộc địa. Suốt thời gian từ năm 1927 đến năm 1945, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã thường xuyên tổ chức khảo sát, khai thác ở quần đảo này. Chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đều thực hiện trách nhiệm quản lý vùng Biển Đông trong các thời kỳ chủ quyền bị xâm phạm cũng luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Trường Sa1 (Ngày 31-3-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố Nhật Bản kiểm soát quần đào Trường Sa. Tuyên bố chuyển tới Đại sứ Pháp tại Nhật bằng một thông điệp khẳng định rằng Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo Trường Sa vào năm 1917. Ngày 4-4-1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi một công hàm phản kháng quyết định của Nhật và khẳng định các quyền của Pháp. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5-4-1939 tại Hạ nghị viện, dại diện Bộ Ngoại giao Anh đã khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp).


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chấm dứt chế độ thuộc địa và kết thúc sự tồn tại của triều đình Huế, khiến cơ sở pháp lý của các Hiệp ước Giáp Tuất 1874 và Patenôtre năm 1884 không còn giá trị2 (Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, có một thời gian ngắn Trường Sa bị Nhật dùng vũ lực trái phép đem quân chiếm đóng (sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945). Cuối 1946 qua năm 1947, cũng trong một thời gian ngắn, lợi dụng thời gian tranh tối tranh sáng, quân đội Trung Hoa Dân quốc lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã đến chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu-Aba) vốn bị Nhật chiếm vài năm trước đó. Song đến đầu năm 1950, quân Trung Quốc đã rút. Sau đó đến năm 1956, cũng lợi dụng tình hình, Trung Hoa Dân quốc đã chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu-Abă) của Trường Sa và Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa). Sau đó, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp đã đánh chiếm Sài Gòn (từ ngày 23-9-1945), rồi Nam Bộ, thành lập chính quyền Nam Kỳ tự trị của người Việt thân Pháp và sau đó thành lập chính phủ Bảo Đại thân Pháp, ký kết với Bảo Đại hiệp ước năm 1947 và tranh thủ sự công nhận của các nước phương Tây để chống lại Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chính quyền thân Pháp ở Việt Nam hoặc thực dân Pháp đã liên tục quản lý quần đảo Trường Sa với các hải đảo đã chiếm hữu kể trên, kế tục sự chiếm hữu trước đó thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Cụ thể, ngày 4-9-1950, Đổng lý văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại, Hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn, đã công khai khẳng định lại quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Tại Hội nghị San Francisco (9-1951), ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tuyên bố: "Khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa"1 (Xem: France Asie, số 66-67 (Novembre-Décembre, 1951), tr. 502-505). Tuyên bố này, đã không gặp sự phản đối của bất kỳ đại biểu nào trong Hội nghị.


Đến năm 1956, khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam, Trường Sa được bàn giao cho chính quyền ở Việt Nam Cộng hòa quản lý, đã bảo đảm tính liên tục thực thi chủ quyền một cách hoà bình của mình đối với Trường Sa. Chính quyền Sài Gòn đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Ngày 14-2-1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Đến năm 1975, khi giải phóng miền Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản, tiếp tục trấn giữ; và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ năm 1976, tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa. Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ghi rõ:

''Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam"1 (Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao, Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật Biển ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr. 202).


Tiếp theo đó, trong Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Việt Nam đã khẳng định rõ ràng chủ quyền của mình ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt, trong tuyên bố của Chính phủ ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này, đã chứng minh rõ ràng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên tất cả cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn. Để cụ thể hóa chủ quyền của mình, ngày 9-12-1982, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai; đến kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa VII ngày 28-12-1982 đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai và sáp nhập váo tỉnh Phú Khánh. Tháng 6-1989, tỉnh Phú Khánh tách thành tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa. Từ đó cho đến nay, chính quyền của huyện đảo Trường Sa thuộc Khánh Hòa vẫn đang thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình.


Như vậy, với chức năng của một chính quyền cấp nhà nước, các chúa Nguyễn đã tiến hành xác lập, khẳng định và thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Họ kiểm soát sự khai thác các sản vật ở Biển Đông và những hành động cụ thể trực tiếp khai thác các sản vật của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải, một tổ chức dân binh liên tục gần hai thế kỷ suốt từ đầu thế kỷ XVII cho đến năm 1816. Những hành động xác lập và thực thi chủ quyền rất cụ thể như xây cột mốc, dựng bia, xây miếu, trồng cây, đo đạc thủy trình vẽ bản đồ của thủy quân Việt Nam từ năm 1816 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua và triều đình Huế từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, là những bằng chứng rõ ràng, không thể tranh cãi về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Trải qua các thời kỳ lịch sử, tất cả các chính quyền có trách nhiệm về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền hợp pháp của mình. Trong giai đoạn 1954-1975, trong khi 2 chính quyền ở miền Nam chịu trách nhiệm hành xử chủ quyền: một là Việt Nam Cộng hòa, hai là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cũng như chính quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất đã tiếp tục bảo vệ, không từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Đo đó, mọi sự tranh giành chủ quyền với Việt Nam là hành động trái phép với luật pháp quốc tế1 (Sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam (1956), các nước đã lợi dụng tình trạng phòng vệ yếu kém của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở các đào ở Biển Đông đã chiếm đóng trái phép: Trung Quốc chiếm đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa: Phú Lâm; Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất Itu-Aba (Ba Bình) của quần đảo Trường Sa; Philippines sau đó cũng tuyên bố Trường Sa trừ đảo Trường Sa (Pratley) là của Philippines nằm kế cận nước này, rồi cũng chiếm một số đảo đá trong đó có đảo Song Tử Đông. Đến năm 1988, bằng vũ lực, Trung Quốc mới chiếm một số bãi đá của Trường Sa (Việt Nam)).


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:19:04 pm
QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN
CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA*

(Tạp chí LSQS, các số 2, 3, 4, 5-2012)

TRẦN CÔNG TRỤC**
(TS, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ)


Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình tại quần đảo Hoàng Sa, ít nhất là từ thế kỷ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng pháp lý và cứ liệu lịch sử có giá trị để chứng minh sự thật hiển nhiên này qua các giai đoạn lịch sử có liên quan.


I. Trước năm 1884

1. Nhà nước Đại Việt thời chúa Nguyễn đã xác lập và thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa

Suốt trong ba thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ chức của Nhà nước Việt Nam, Đội Hoàng Sa, là bằng chứng hùng hồn về sự xác lập và thực thi chủ quyền của Đại Việt ở Đàng Trong đối với Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa ra đời ở cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré thuộc tỉnh Quảng Ngãi.


Sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép Đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải ngoại kỷ sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội "Hoàng Sa" và Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn) viết năm 1776, chép "Tiền Nguyễn Thị". Đại Nam thực lục tiền biên (1821) chép "Quốc sơ trí Hoàng Sa". Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (năm 1686) đã đề cập đến các hoạt động của Đội Hoàng Sa. Phủ biên tạp lục cũng như các tài liệu khác đều cho biết Đội Hoàng Sa khi trở về đất liền vào tháng tám âm lịch vào cửa Eo (Thuận An) hay cửa Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xuân. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến Kim Long vào năm Dương Hoà đầu tiên (1635) và thời chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân.


Như thế, chúng ta có cơ sở để kết luận Đội Hoàng Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay chắc chắn là từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào thời kỳ này, các thuyền của Đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân.


Dù ở thời chúa Nguyễn nào thì thời điểm lập ra Đội Hoàng Sa cũng chắc chắn là vào nửa đầu thế kỷ XVII, tức là vào đầu thời chúa Nguyễn. Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi. Phong trào Tây Sơn nổi dậy, chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì Đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn mà trong tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré, cho biết năm 1786 Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại. Đến những năm cuối cùng của triều Tây Sơn, hoạt động của Đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng, nên đến năm Gia Long thứ 2 (1803) vua mới cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại như Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXII đã ghi rõ: "cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Năm 1815, vua Gia Long sai Đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa.


Từ năm 1816, Gia Long bắt đầu cử Thủy quân cùng với Đội Hoàng Sa (không còn giao phó hoàn toàn cho Đội Hoàng Sa) lo kiểm soát, đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa trở thành tổ chức mang tính dân sự nhiều hơn. Theo truyền thống, dân Cù Lao Ré vẫn tiếp tục đi biển, trong đó có vùng Hoàng Sa là vùng biển có nhiều sản vật quý.


Vào thời Minh Mạng, năm 1835, vẫn thấy Đội Hoàng Sa hỗ trợ thủy quân đi công tác tại Hoàng Sa với đà công (lái thuyền) và dân phu. Thời Tự Đức, người ta không thấy biên niên sử còn chép các hoạt động của Đội Hoàng Sa, vì theo phàm lệ của Đại Nam thực lục, đệ tứ kỷ, chép vào đời Tự Đức, những việc thành lệ thường không được chép nữa mà thôi. Những hoạt động của Đội Hoàng Sa cũng như thủy quân từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đã trở thành lệ thường, như đã chép trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.


Ngoài ra, có văn tế sống lính Đội Hoàng Sa thời vua Tự Đức còn lưu lại ở đảo Cù Lao Ré.

Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo các tài liệu như Dư địa chí, Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, hàng năm, Đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Riêng theo Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toàn tập An Nam lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về. Theo Phủ biên tạp lục, thì Đội thường đi vào tháng Giêng âm lịch đến tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng). Từ tháng 3 đến tháng 8 (tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) ở Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây Nam, rất thuận lợi cho việc đi biển. Vùng Quảng Ngãi chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế, việc chọn thời gian hoạt động của Đội Hoàng Sa là một lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân.


Đội Hoàng Sa có nhiệm vụ thu lượm các sản vật từ các tàu đắm, các hải sản quý từ vùng biển quần đảo Hoàng Sa.

Về sau, Đội còn đảm trách đi xem xét, đo đạc thủy trình vùng quần đảo Hoàng Sa.

Riêng về nhiệm vụ do thám và bảo vệ vùng biển quần đảo Hoàng Sa nhằm chống lại nạn cướp biển, thì đơn xin của phường An Vĩnh tách khỏi xã An Vĩnh ngày 1 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) đã ghi rõ. Ngoài ra, chức cai Đội Hoàng Sa kiêm chức Cai cơ thủ ngự mà thủ ngự lại có nhiệm vụ do thám ngoài biển. Nhiều tài liệu cho biết cai Đội Hoàng Sa kiêm quản Cai cơ thủ ngự như Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển XXII ghi rõ: Võ Văn Phú được sai tái lập Đội Hoàng Sa, chính khi ấy là thủ ngự cửa biển Sa Kỳ.


Như thế, nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa rất nặng nề, không thuần túy về kinh tế, khai thác tài nguyên mà còn làm công tác xem xét, đo đạc thuỷ trình, do thám trên quần đảo Hoàng Sa, nhất là trong thời các chúa Nguyễn và thời kỳ đầu nhà Nguyễn.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:20:01 pm
Đội Hoàng Sa là một tổ chức Nhà nước, vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự; vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn; theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, quyển 3, thì lúc đó, có nhiều tổ chức tương tự như đội thủ ngự (đội coi về canh gác, ngăn chặn trộm cướp), đội Thổ Binh...


Đứng đầu Đội Hoàng Sa là một "cai đội"; những thành viên trong Đội được gọi là "lính". Đó là những quân nhân đi làm nhiệm vụ do vua ban.

Thời chúa Nguyễn, mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên, song còn dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Con số 70 là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như Đội Hoàng Sa. Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã gọi những người trong Đội Hoàng Sa là "dân binh", trong đó có 2 người bị trôi giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị bão vào năm Càn Long thứ 17 (1754), còn 8 người khác bị mất tích. Như thế, mỗi thuyền trong Đội Hoàng Sa có khoảng 10 người.


Tại xã An Vĩnh (nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ) còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ thờ bộ xương đầu của con cá voi (tương truyền do dân binh Đội Hoàng Sa đưa từ Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng Sa. Ngôi miếu này bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.


Tại Cù Lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn), vẫn còn Âm Linh tự, tức miếu Hoàng Sa ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh (tức phường An Vĩnh xưa) và Âm Linh tự ngoài trời ở xã Lý Hải (tức phường An Hải xưa). Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng An Hải (cả trên đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính Đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ, hàng năm, vào ngày 20 tháng 2 âm lịch (đến nay vẫn còn tại nhà thờ các tộc họ, các đình làng). Trong buổi tế sống lính Hoàng Sa đó, họ làm những hình nộm bằng khung tre và dán giấy ngũ sắc để giả hình người và đem tế tại đình. Tế xong họ đốt đi, hoặc đóng thuyền bằng thân cây chuối đặt hình nộm lên và thả trôi ra biển, gọi là "khao lề thế lính Hoàng Sa" còn gọi là "lễ tế sống lính Hoàng Sa" với quan niệm các hình nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy, tai nạn trên biển thay cho lính Đội Hoàng Sa và cầu mong cho người thân của họ bình an trở về. Ngày nay, tại các nhà thờ tộc họ có người đi lính Hoàng Sa đều có tổ chức tục lễ như thế và hiện tại gia đình các tộc họ cũng còn giữ bài văn khao lề thế lính Hoàng Sa, gồm một nửa chữ Hán, một nửa chữ Nôm.


Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên, Đội Hoàng Sa thu lượm những hải vật quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi bụng có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai châu, song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).


Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ biên tạp lục thì ghi: những sản vật như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ.


Lê Quý Đôn, khi làm Hiệp trấn Thuận Hóa, đã viết: "tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu", người chỉ huy Đội Hoàng Sa, trong nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa, cụ thể như sau:

- Năm Nhâm Ngọ (1702), Đội Hoàng Sa lượm được bạc 30 thoi.

- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được thiếc 5.100 cân.

- Năm Ất Dậu, lượm được bạc 126 thoi.

Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:20:45 pm
2. Nhà nước Đại Việt thời Tây Sơn chống hải tặc và bảo vệ Biển Đông (1771-1801)

Trong thời gian từ năm 1771 đến năm 1801, hầu như lúc nào cũng có chiến tranh, trên đất liền cũng như ngoài Biển Đông, từng khu vực có lực lượng hoặc do chúa Nguyễn, chúa Trịnh hoặc quân Tây Sơn làm chủ.

Hơn 9 năm sau ngày vua Quang Trung mất, mặc dù lực lượng thủy quân Tây Sơn đã bị hao hụt nhiều, năm 1801, Jean Baptiste Chaigneau, kẻ tham dự trận thủy chiến tiêu diệt hoàn toàn hạm đội Tây Sơn, đã viết thư cho Laurent Barizy (người Anh) ngày 2-3-1801, có nhận định về thủy quân Tây Sơn như sau: "Trước khi thấy được thủy quân địch, tôi vốn coi thường lực lượng này, nhưng tôi cam đoan với ông rằng đó là sai lầm, quân Tây Sơn đã có những chiến hạm trang bị 50 và 60 đại bác". Theo mô tả của Barizy, nhà quân sự người Anh, trong lực lượng thủy quân Tây Sơn ít ra có 4 loại tàu thuyền và dĩ nhiên thời này chỉ chạy bằng buồm hoặc chèo. Song chưa thấy tài liệu nào cho biết các tàu thuyền Tây Sơn được bọc đồng theo kiểu phương Tây hồi đó. Loại chiến hạm lớn có tối 600 hay 700 thủy thủ và trang bị 50 hay 60 đại bác nặng 24 cân Anh (livres); tuy chỉ có từ 5 đến 9 chiến hạm, song đã nói lên hỏa lực mạnh và lực lượng thủy quân đông đảo trên các chiến hạm của Tây Sơn. Chính vì vậy quân Tây Sơn thường có những quả đấm mạnh bằng thủy quân trong các cuộc tiến công vào đất Gia Định, nhất là sau chiến thắng quân Thanh, Xuân Kỷ Dậu, vua Quang Trung chuẩn bị đóng chiến thuyền vào Nam đánh quân Nguyễn Ánh.


Từ năm 1773, Tây Sơn chiếm được cảng Quy Nhơn rồi tiến lên phía Quảng Nam, kiểm soát bến Bình Sơn (Bến Ván), Quảng Ngãi, nơi có cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn), cái nôi của Đội Hoàng Sa, từ đầu thế kỷ XVII đã bắt đầu khai thác Biển Đông.

Chỉ vài năm bị đình đốn, ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), Cai hợp Hà Liễu ở phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) thuộc xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, đã làm đơn xin với chính quyền Tây Sơn được lập lại Đội Hoàng Sa và Quế Hương, sẵn sàng vượt biển ra các cù lao ngoài biển để làm nhiệm vụ theo thông lệ và sẵn sàng ứng chiến chống kẻ xâm phạm.


Đến năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng hoàng đế và từ đây mới có chính quyền Tây Sơn hoàn chỉnh. Năm Thái Đức thứ 9 (1786), ngày 14 tháng 2 (âm lịch), chính quyền Tây Sơn ra quyết định sai phái Hội Đức Hầu, cai Đội Hoàng Sa, chỉ huy bốn chiếc thuyền câu vượt biển ra thẳng Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển.


Các tư liệu còn lưu lại cho thấy người phụ trách các tổ chức hoạt động ngoài biển là Thái phó, một chức quan lớn trong triều; chính quyền Tây Sơn còn yêu cầu các thuyền của Đội Hoàng Sa phải mang biển hiệu thủy quân, song lại nhắc nhở không được lấy danh nghĩa thủy quân mà làm càn, bắt nạt dân làm muối, đánh cá.


Các đội khai thác Biển Đông như Đội Hoàng Sa, Đội Quế Hương, Đội Đại Mạo, Hải Ba, Đội Quế Hương Hàm không những có nhiệm vụ kinh tế mà còn như lời hứa của dân phường Cù Lao Ré, do Cai hợp Hà Liễu đứng tên, sẵn sàng ứng chiến với kẻ xâm phạm mỗi khi có truyền báo xảy ra chinh chiến.


Riêng Đội Hoàng Sa, đứng đầu là cai đội hay đội trưởng, lại thường kiêm cai thủ cửa biển Sa Kỳ cũng như kiêm quản cai cơ thủ ngự. Chức quan cai cơ thủ ngự thu thuế, phụ trách an ninh trên biển, chống hải tặc, cướp biển. Như thế, việc khai thác kinh tế biển luôn kết hợp nhiệm vụ quốc phòng, chống cướp biển, bảo vệ Biển Đông.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:21:39 pm
3. Nhà nước Việt Nam thời Nhà Nguyễn tiếp tục sử dụng Đội Hoàng Sa làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ Hoàng Sa

Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, thống nhất đất nước; tuy bận lo việc nội trị, song vẫn tiếp tục quan tâm đến việc khai thác biển cũng như an ninh trên biển. Chỉ một năm sau khi lên ngôi Hoàng đế, tháng 7 năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long đã cho lập lại Đội Hoàng Sa. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 12 viết: "Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Sau 3 tháng nhậm chức phụ trách việc tái lập Đội Hoàng Sa, Cai cơ Võ Văn Phú đã có quyết định ổn định tình hình ở chính quê hương của ông, cũng là quê hương của Đội Hoàng Sa. Trong tờ kê trình của Phú Nhuận hầu Võ Văn Phú vào ngày 1-10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã chép rằng: "Do nay đến bản phường (Cù Lao Ré), thấy các chức quan trông coi điện đài đều xin lui về, không nhận viên chức trong phường. Nay sợ rằng việc thờ phụng thần linh củng cần đến ba chức giữ việc trong làng. Nay đã họp bầu như cách lần đầu để lại giữ yên tĩnh tình hình hương đảng. Nhân tiện họp cử ông thủ hội Võ Văn Khiết là người thẳng thắn, thanh liêm, siêng nàng, cần mẫn, việc công cũng am hiểu, đều ưng thuận cho ông làm chức cai đình để ông dốc lòng lo lắng coi giữ đình, lại tiện phối hợp nhận phần sai dịch công tư trong làng và để ông ấy thấy rõ điều khen, điều chê về mình". Người giữ chức cai đình lại là người trong tộc họ quan cai thủ, nên nể mà nhận lời. Khi nhận chức cai đình cũng là lo việc sai dịch công tư trong làng. Trong thời buổi mới này lại rất cần những loại người như ông Võ Văn Khiết vừa thẳng thắn, thanh liêm, cần mẫn...


Cũng nhờ ông Khiết, mẫu người rất cần thiết cho giai đoạn mới của xứ sở, cái nôi của Đội Hoàng Sa đã sớm ổn định tình hình. Theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 50, tờ 6a: Tháng Giêng năm Ất Hợi (1815), vua Gia Long đã quyết định "sai bọn Phạm Quang Ảnh, thuộc Đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình".


Theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 52, từ năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cho thủy binh đi công tác Hoàng Sa, cùng với đội dân binh Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thủy trình.

Sang đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm, thuê thuyền của dân và người lái thuyền ở Quảng Ngãi hướng dẫn hải trình.

Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 ghi: "Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa".


Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển, trong đó có vùng biển Hoàng Sa.

Mỗi lần đi đo đạc phải chọn được thợ lái có năng lực, thông thạo luồng lạch, biết được các nơi đường biển nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm mà tránh, còn phải biết lấy núi nào làm chuẩn, biết nhìn trời, tiết giá để chuyển phương hướng, nên tiến hay dừng. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220 của triều Nguyễn, thì Bộ Công cho rằng người nào mười phần am hiểu thông thạo thì cho vào hạng ưu, thạo tám chín phần là hạng bình, thạo năm sáu phần là hạng thứ, châm chước bàn định, ai đáng đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng, ngoại ủy đội trưởng, ai đáng cấp tiền gạo gấp đôi... thì kê sách tâu rõ đợi chỉ gia ân. Những lời dụ và bàn được chuẩn y như sau: "Thư lại thủy sư thì cửa biển hiểm hay dễ, xem giá, trông khí trời, nghiên núi, dò nước, nhìn kiếm tìm hướng, nhớ ra địa cầu, ai được mười phần am hiểu thông thuộc là hạng ưu, ai được tám chín phần là hạng bình, ai được có năm sáu phần là hạng thứ. Các tên dư hạng ưu mà nguyên là chánh đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm cai đội, nguyên là đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng suất đội, ai là ngoại ủy đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm đội trưởng, gặp khi có khuyết thì ưu tiên bổ nhiệm ngay".


Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220 cũng chép: "Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều lần, được xong xuôi ổn thoả cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc, cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường, thuyền rất nguy khốn, mà tự mình chủ trì tiến ngừng phải tốt, rốt cuộc được xong xuôi yên ổn thì đều là hạng ưu. Phàm trong năm ấy sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn cả thì là hạng bình. Sai phi đường bể một lần xong xuôi yên ổn là hạng thứ. Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt".


Trên đây là quy định chung cho thuỷ quân đi biển và thủy quân vừa có dịp để khảo hạch và cũng là dịp luyện tập thủy quân, căn cứ vào đó mà thưởng phạt. Có thể đối với việc đo đạc ở Hoàng Sa, thưởng phạt đặc biệt hơn. Vì thế, từ thời vua Minh Mạng năm thứ 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì giá buốt phải đình lại, sau lại tiếp tục. Thí dụ như năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đình hoãn, đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng cho đình hoãn do Bộ Công tâu xin hoãn. Sau đó, đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lệ sách Đại Nam thực lục chính biên thời Tự Đức những việc đã thành lệ rồi không còn chép nữa.


Thời gian đi vãng thám, đo đạc ở Hoàng Sa đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:22:57 pm
Nếu chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không sao, song nếu tùy tiện thì bị phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn tất tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị phạt 80 trượng, song cho phục chức Cai đội. Tộc họ Phạm Văn hiện có nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý Sơn. Các viên Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song cùng đi chuyến này, những người trong Đội Hoàng Sa như Võ Văn Hùng (tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh), Phạm Văn Sanh (hiện họ Phạm Văn còn từ đường và khu "lăng" mộ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền Phi Long ngân tiền và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Cũng thế, vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), do khỏi hành chậm trễ, những người được kinh phái như Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, Tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh Gần trước được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi tiết trên đã minh hoạ rất hùng hồn việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trong việc đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.


Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được quy định cũng rất rõ ràng, có ghi trong Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 221, như sau: ''Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tưng vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm".


Như thế, việc đo đạc phải kết hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ hoạ đồ lại là các viên Giám thành.

Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thồi Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), các viên Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào.


Theo Dụ của vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hải đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vì hơn.


Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ nhà Nguyễn tuy có kỹ, chu đáo hơn trước, song vẫn còn lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của phương Tây lúc bấy giờ, nhất là chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu. Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải chỉ có hải đồ là có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến những người từng trải, đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các Giám thành vẽ hoặc được lưu ở Vệ giám thành hoặc ở thủy quân. Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một "lực lượng đặc nhiệm" gồm Kinh phái, Tỉnh phái và dân binh địa phương, trong có dân binh Đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay Thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong Vệ thủy quân đóng ở kinh thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân Kinh phái còn các viên Giám thành trong Vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với Kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động binh dân ở tỉnh Quảng Ngãi, có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định như trong các chuyến công tác vào các năm 1835 và 1837 đã dẫn trên đây.


Nhiệm vụ của "lực lượng đặc nhiệm" luôn được hoàng đế Việt Nam theo sát và ra chỉ dụ cụ thể, nhất là dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Điều này cho thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm này quan trọng đến chừng nào.

Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Thí dụ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến viếng thăm Hoàng Sa của thủy quân, chính Đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải): "Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên" và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): "Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu".


Cũng chính vua Minh Mạng đã lệnh cho các chuyến đi công tác Hoàng Sa và đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dân binh Đội Hoàng Sa, Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế do đã chịu cực khổ, vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy như Cai đội, Chánh suất đội, các viên chức Tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội.


Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa cũng được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có Vệ thủy quân là chính, phối hợp với Vệ giám thành và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.

Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 154, có ghi rõ: "Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa". Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng Giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng Hai (tháng 3 dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng Ba âm lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:24:55 pm
Từ Quảng Ngãi, phải thu 4 chiếc thuyền của dân. Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ hơn thuyền Điếu hải thuộc thủy quân ở các tỉnh, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi. Sở dĩ phải thu vì thuyền của dân binh Đội Hoàng Sa vốn nhanh nhẹ, dễ dàng cặp đổ bộ vào đất liền, dễ dàng tránh né các bãi ngầm, các thủy thủ lại rất thông thạo, chưa kể thuyền ít người mang lương thực cung cấp cho 6 tháng dễ dàng hơn, và việc bắt chim, đánh cá để tự cung ứng cấp dưỡng cũng không còn là vấn đề lớn, để có thời giờ làm việc, đi thu lượm hải vật quý, lấy hàng hoá, súng ống từ tàu đắm. Tài liệu không cho biết rõ thuyền ô có đi theo ra Hoàng Sa hay không. Song ít nhất lực lượng thủy quân trên có 4 chiếc thuyền câu. Cũng có năm đi 5 thuyền thì có thế cả thuyền ô khi lực lượng thủy quân đặc nhiệm này đã kết hợp với công tác của Đội Hoàng Sa. Và như vậy, sau này người ta không thấy sử sách nói nhiều về Đội Hoàng Sa nữa, vì lực lượng thủy quân đặc nhiệm này trở thành chủ yếu và thường xuyên của Nhà nước Việt Nam.


Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức quy củ, có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cả cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 6 đã chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi miếu cổ, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ "Vạn Lý Ba Bình". Như thế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu rồi.


Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua, cứ hằng năm, cử người ra Hoàng Sa ngoài đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia.


Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ: "Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dâu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bia khắc những chữ: Minh Mạng thập thất niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)". (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).


Mỗi năm cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy "lực lượng thủy quân đặc nhiệm", được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như Cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể.


Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng, rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian, bằng đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 154, cho biết năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà mãi đến đầu tháng 6 mùa Hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng mới cử Cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong.


Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng sau, đều trồng các loại cây. Theo Việt sử cương giám khảo lược của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để tìm dấu nhận. Thời gian hoạt động hàng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây. Dụng ý của vua Minh Mạng sai trồng cây cho rằng gần đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu để cho tàu thuyền dễ nhận biết mỗi khi qua lại.


Như thế, suốt hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn, Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, đã làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Những hoạt động này đã được các văn bản nhà nước như Châu bản của triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, bằng cấp... hiện đang được lưu giữ tại các cơ quan lưu trữ có liên quan.


Trong giai đoạn lịch sử này, có một yếu tố hết sức quan trọng không thể không đề cập đến khi khẳng định rằng Nhà nước Việt Nam đã quản lý một cách thật sự và có hiệu quả đối với Hoàng Sa. Đó là việc tổ chức đơn vị hành chính của quần đảo Hoàng Sa trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Trong suốt thời kỳ chúa Nguyễn, Hoàng Sa là đơn vị hành chính thuộc Thừa tuyên Quảng Nam, hay Quảng Nghĩa (hay Ngãi), lúc là phủ, khi là trấn, trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tối khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì. Như thế, mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt. Như thế, phủ Quảng Nghĩa có huyện Bình Sơn (trước đó là huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh. Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toàn tập An Nam lộ đã ghi "Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam) huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh". Địa dư chí của Phan Huy Chú chép "Hoàng Sa ỏ trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn, từ năm 1773, phủ Quảng Nghĩa được đổi thành phủ Hoà Nghĩa.


Sang thời nhà Nguyễn, Hoà Nghĩa đã được gọi lại với tên Quảng Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngãi đọc chệch). Tại phủ Quảng Nghĩa, ngoài viên Tuần phủ, Khánh lý, còn có một viên chính hộ lý, một viên Đề lãnh, một viên Ký lục, một viên Cai phủ và một viên Thư ký. Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xã An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho Đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Ảnh được cử làm Đội trưởng Đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn. Nhiều tài liệu (như Việt sử cương giám khảo lược của Nguyễn Thông và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn) đã xác nhận Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ, rồi trấn, rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chính luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của Đội Hoàng Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyến Trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:26:56 pm
II- Với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại, Cộng hòa Pháp tiếp tục khẳng định, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa trong thời kỳ Pháp thuộc (1884 đến 1945).

Với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại theo Hiệp ước Patenôtre năm 1884, chính quyền thuộc địa Pháp đã có những hành động cụ thể để củng cố, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bức thư của Lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp ngày 4-5-1909 đã nêu ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam: "Như tôi đã trình bày với ông khi kết thúc bản báo cáo gần đây của tôi (số 86 ngày 1-5-1909) về vấn đề các đảo Pratas, vấn đề này khiến chính phủ Trung Quốc chú ý đến các nhóm đảo khác nằm dọc bờ biển của Thiên triều và tới một mức độ nhất định có thể được coi như một bộ phận của Thiên triều, trong đó có quần đảo Paracels.
Cũng trong bức thư trên có một số nội dung đáng lưu ý sau đây:

- Do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas, Trung Quốc muốn bắt đầu chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam.

- Cuộc khảo sát trái phép đầu tiên là của Đoàn Ngô Kính Vinh đã cho thấy ở mỗi đảo Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà đá (tất cả tường mái là đá san hô và vỏ sò).

- Các ngư dân Việt Nam mang cả vợ con đến sống ở Hoàng Sa, bị đối xử tàn tệ, vợ con bị bắt đến Hải Nam.

P.A. La Picque, hồi năm 1909 đang cư trú ở Hồng Kông, đã thuật lại cuộc khảo sát Hoàng Sa của chính quyền tỉnh Quảng Đông năm 1909 như sau:

"Vào cuối tháng 5-1909, hai pháo hạm nhỏ ở Quảng Châu chuẩn bị ra khơi, trên tàu có hai người Đức thuộc Maison Carlwitz, ngoài ra còn có các thủy thủ Trung Quốc, trong đó hình như có một đô đốc "đường sông", nếu như hạm đội nhỏ đó, nhờ có đất liền che chắn, đến được cảng Du Lâm, một cảng ở phía Nam đảo Hải Nam một cách khá dễ dàng, thì nó vẫn bị nghẽn ở đó đến nửa tháng, chắc là để chờ ra khơi thì các đợt gió "Fong-sami" trở nên thuần lại và thường làm cho các nhà hàng hải dũng cảm đỡ say sóng".


"Cuối cùng, ngày 6-6-1909 (tức là ngày 19 âm lịch) phái đoàn trông thấy một đảo trong quần đảo Paracels rồi thăm vài đảo, và đến ngày 7-6-1909, lúc 4 giờ chiều, hai pháo hạm thẳng đường quay lại Quảng Châu như tờ báo Kono Che pao (tờ báo lớn nhất Quảng Châu) cho biết trong một bài báo ngày 20-6-1909".


Năm 1925, theo Khâm sứ Trung Kỳ LeFol viết trong thư ngày 22-1-1926, gửi Toàn quyền Đông Dương, người Pháp bắt đầu nghiên cứu sâu quá trình xác lập chủ quyền của "vương quốc Việt Nam" tại quần đảo Hoàng Sa, trước khi cử Giám đốc Viện Hải dương học và Nghề cá ở Nha Trang - ông M.A. Krempt, đi thám sát Hoàng Sa.


Qua kết quả nghiên cứu tìm hiểu về Hoàng Sa, Khâm sứ Trung Kỳ LeFol, trong thư đề ngày 22-1-1929, gửi Toàn quyền Đông Dương, cho biết: "Trong tác phẩm Géographie de la Cochinchine (được dịch ra tiếng Anh và đăng trên tạp chí Journal de la Société Asiatique de Bengale năm 1838), Đức cha Jean Louis Taberd (Giám mục Ismaropolis Khâm mạng toà thánh tại Nam Kỳ, Cao Miên và Champa) đã kể lại việc Hoàng đế Gia Long đã chiếm hữu quần đảo Paracels năm 1816 và long trọng kéo lá cờ Nam Kỳ trên quần đảo. Việc chiếm hữu đó đã được các biên niên sử của chính quyền An Nam hay Đại Nam nhất thống chí, Nam Việt địa dư, tập 2; hay Địa dư nước An Nam, xuất bản năm thứ 14 đời Minh Mạng và cuối cùng Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, hay Địa dư Duy Tân"; "các tài liệu trong kho lưu trữ của chính phủ An Nam cung cấp cho ta những chi tiết về hoạt động của Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ huy của Đội Hoàng Sa".


Và cũng chính trong bức thư kể trên, ông LeFol đã cho biết: trước khi mất, ông Thân Trọng Huề, Thượng thư Bộ Binh của Triều đình Huế đã viết một văn thư ngày 3-3-1925, khẳng định rằng: "Các đảo nhở đó bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này".


Người Pháp cho rằng Hoàng Sa vốn đã thuộc chủ quyền Việt Nam, không cần một hành động chiếm hữu chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa nữa, nên Viện Hải dương học và Nghề cá Nha Trang (L'institut Océanographique de Nha Trang) đã thực hiện cuộc khảo sát đầu tiên năm 1925 bởi tàu khảo sát kéo lưới Chalutier De Lanessan do M.A. Krerapt, Giám đốc, cùng các nhà khoa học như De La Cour, Jabouille.


Các cuộc khảo sát chủ yếu nghiên cứu về những ám tiêu của các bãi ngầm ở Hoàng Sa. Từ đó, tác giả đưa ra lập luận giải thích về sự hình thành các ám tiêu cùng với ảnh hưởng của gió mùa.

Ngày 8-3-1925, Toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp.

Ngày 19-3-1926, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép nghiên cứu mỏ ở đảo Trường Sa cho Công ty Phosphat mới của Bắc Kỳ.
Trong thư ngày 20-3-1930, Toàn quyền Đông Dương gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp cũng đã xác nhận rằng: "Tôi hoàn toàn đồng ý với những người viết thư cho ông là cần thừa nhận lợi ích nước Pháp có thể có trong việc nhân danh An Nam, đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa". Câu này trong bản ghi chú cho Vụ châu Á đại dương (ngày 15-5-1950), Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại giao Pháp đã viết rất rõ: "Việc chiếm hữu quần đảo Spartley do Pháp tiến hành năm 1931-1932 là nhân danh Hoàng đế ''An Nam". Trong trường hợp này cái danh nghĩa duy nhất mà Pháp đòi hỏi ở đây là việc thực thi chủ quyền có từ trước, là những danh nghĩa của "An Nam", và với tư cách là nước bảo hộ, chịu trách nhiệm về các quan hệ đối ngoại của "An Nam", Pháp có thể sử dụng các quyền đó để chặn các nước thứ ba, và có thể nhận được xét xử quốc tế việc thừa nhận các quyền nói trên. Nếu các quan hệ điều ước giữa Pháp và "An Nam" vẫn được xác định bởi Hiệp ước Bảo hộ được ký ở Huế ngày 6-6-1884, thì về phương diện này, không thể xuất hiện bất kỳ khó khăn nào. Chính phủ Pháp có quyền hành động với danh nghĩa nước bảo hộ, thay mặt nước bị bảo hộ thi hành các thẩm quyền mà nước bị bảo hộ này không thể thi hành. Tại Công văn số 704-A.ex, Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa báo cáo về lập trường của Phủ Toàn quyền đối với việc chính quyền địa phương Quảng Đông đòi chủ quyền đối với Hoàng Sa, trong đó nhấn mạnh việc thương lượng giữa Pháp với một chính quyền không có quyền hành gì ở miền Nam Trung Quốc là không thích hợp, và chắc chắn sẽ thất bại.


Ngày 4-1-1932, Chính phủ Pháp gửi Công hàm tới Công sứ quán Trung Quốc tại Paris khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Hoàng Sa và đề nghị giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hữu nghị hoặc bằng phương thức Trọng tài quốc tế. Công hàm ngày 4-1-1932 của Trung Quốc trả lời Công hàm của Pháp đã khước từ đề nghị giải quyết tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa bằng phương thức Trọng tài quốc tế. Trung Quốc lập luận rằng, khi vua Gia Long chiếm hữu quần đảo ấy, Việt Nam là một nước chư hầu của Trung Quốc.


Ngày 24-4-1932, Chính phủ Pháp phản đối Chính phủ Trung Quốc về việc nhà cầm quyền Quảng Đông dự định cho đấu thầu khai thác phốt-phát ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 29-9-1932, Chính phủ Pháp đã có kháng nghị nêu rõ các danh nghĩa lịch sử và các bằng chứng về sự chiếm hữu của An Nam, sau đó là Pháp, đối với Hoàng Sa.

Ngày 18-2-1937, một lần nữa, Pháp chính thức yêu cầu Trung Quốc áp dụng phương thức Trọng tài quốc tế để xác định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, phía Trung Quốc lại khước từ.

Ngày 26-11-1937, Pháp phái Kỹ sư trưởng công chính J. Gauthier ra Hoàng Sa để nghiên cứu tìm địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thủy phi cơ và các điều kiện định cư ở quần đảo này.

Năm 1938, Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và xây dựng một hải đăng, một trạm khí tượng (OMM đăng ký số 48860) đặt ở đảo Hoàng Sa và số 48859 ở đảo Phú Lâm, một trạm vô tuyến TSF trên đảo Hoàng Sa.

Ngày 30-3-1938, vua Bảo Đại ký Dụ số 10, sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngãi như các triều vua trước.

Ngày 15-6-1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 156-S-V thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Tháng 6-1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Hoàng Sa, với dòng chữ: "République Francaise-Royaume d'Annam-Archipels des Paracels 1816-Ile de Pattle 1938".

Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã rắp tâm biến các quần đảo trong Biển Đông trở thành bàn đạp để mở rộng sự chiếm đóng của mình xuống khu vực Đông Nam châu Á. Ngày 31-3-1939, Nhật tuyên bố sáp nhập các quần đảo trong Biển Đông vào các vùng lãnh thổ mà Nhật đã chiếm đóng. Ngày 4-4-1939, Chính phủ Pháp gửi Công hàm phản đối các quyết định nói trên của Nhật và bảo lưu các quyền của Pháp tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Ngày 5-5-1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brévié ký Nghị định số 3282 tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị hành chính: Croissant và các đảo phụ thuộc, Amphitrite và các đảo phụ thuộc.

Ngày 26-11-1943, Tuyên bố Cairo về việc kết thúc chiến tranh với Nhật và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh thổ nước khác bị quân Nhật chiếm đóng, có ghi: "Mục đích của 3 nước là Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1914...".


Ngày 26-7-1945, Tuyên bố Posdam khẳng định các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện.

Ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố thua trận, phải rút khỏi Đông Dương.

Ngày 26-8-1945, ngay sau khi Nhật đầu hàng, quân đội Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:29:18 pm
III- Lợi dụng Việt Nam đang lo đối phó với sự trở lại của thực dân Pháp và lo kháng chiến chống Pháp, quân đội Trung Hoa dân quốc và sau đó là quân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã tiến hành chiếm đóng các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1946-1956).

Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26-10-1946, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa dân quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các Bộ và 59 binh sĩ cảnh vệ của Hải quân, lấy cớ giải giáp quân Nhật, ra chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 29-11-1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa.


Cũng trong thời gian này, một công chức, tên là Bai Meichu, của chính quyền Đài Loan đã vẽ và xuất bản bản đồ "Nam Hải chư đảo"; trong đó, có thể hiện đường biên giới biển bao trùm khoảng 80% diện tích Biển Đông, thường được gọi là đường biên giới "lưỡi bò" mà không dựa vào bất cứ một tiêu chuẩn nào theo luật pháp và thực tiễn quốc tế. Chính tác giả và nhiều học giả Trung quốc đã không thể đưa ra được bất kỳ lý do nào để biện minh cho đường biên giới biển đã được thể hiện một cách tùy tiện này.

Tuy vậy, phía Trung Quốc đã dựa vào bản đồ này để liên tục tung ra các loại bản đồ Trung Quốc có vẽ đường biên giới biển 9 đoạn và đã chính thức hóa đường biên giới biển đầy tham vọng này tại một Công hàm mà họ đã gửi Liên Hợp Quốc tháng 5-2009 để phản đối Hồ sơ ranh giới ngoài Thềm lục địa do Việt Nam và Malaysia nộp lên ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc.


Ngày 13-1-1947, Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa; trong đó, Pháp đã nêu lên những bảo lưu về hậu quả pháp lý từ việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của quân đội Trung Hoa dân quốc, đồng thời nhắc lại đề nghị tìm giải pháp giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và ngày 17-10-1947, Thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Trung Quốc rút khỏi Phú Lâm. Pháp gửi một phân đội lính, gồm 10 lính Pháp và 17 lính Việt Nam đổ bộ đóng một đồn ở đảo Hoàng Sa và quyết định lập đài khí tượng trên đảo này. Chính phủ Trung Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25-2 đến ngày 4-7-1947 tại Paris. Tại đây, Chính phủ Trung Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ Trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề nghị.


Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào Hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp, song Pháp cho rằng theo Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Việt Nam dân chủ cộng hoà còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Với Hiệp định ngày 8-3-1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp (còn gọi là Quốc gia Việt Nam), do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với chính quyền cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, để củng cố cơ sở pháp lý hình thức trong quan hệ với Pháp, nhất là trên thực tế quân Pháp đang làm chủ Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Năm 1949, Tổ chức khí tượng thế giới (OMM) chính thức công nhận các Trạm khí tượng do Pháp xây dựng và đăng ký vào Danh sách các Trạm khí tượng quốc tế, với các số hiệu: Trạm Phú Lâm số 48859, Trạm Hoàng Sa số 48860...

Ngày 8-3-1949, Pháp ký với Bảo Đại Hiệp định Hạ Long trao trả độc lập cho Chính phủ Bảo Đại và tháng 4, Đổng lý Văn phòng Hoàng thân Bửu Lộc tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.

Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Đơn vị đồn trú của Trung Hoa dân quốc phải rút khỏi đảo Phú Lâm, trong khi đó Pháp vẫn duy trì quân đồn trú tại đảo Hoàng Sa.

Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho Chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủ trì việc bàn giao này.

Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự diễn ra từ ngày 5-9 đến ngày 8-9-1951, ký kết hoà ước với Nhật. Tại phiên họp toàn thể mở rộng, ngày 5-9-1951, Ngoại trưởng Gromyko (Liên Xô cũ) đã đưa đề nghị tu chỉnh 13 khoản của Dự thảo Hòa ước. Trong đó có nội dung: Nhật thừa nhận chủ quyền của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía Nam. Khoản tu chỉnh này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận.


Ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Không một đại biểu nào trong Hội nghị có ý kiến gì về Tuyên bố này.

Kết thúc Hội nghị là ký kết Hoà ước với Nhật ngày 8-9-1951. Trong Hòa ước này có điều 2, đoạn 7 ghi rõ: "Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracels và Spratly" (khoản f).

Ngày 24-8-1951, lần đầu tiên Tân Hoa xã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp, về những tham vọng của Philippines và kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.

Khi ra thông báo về bản Dự thảo Hòa ước với Nhật ở San Francisco, ngày 15-8-1951, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là "tính lâu đời của các quyền của Trung Quốc đối với quần đảo", trong khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa dân quốc không tham dự Hội nghị này.


Như thế, lợi dụng tình hình rối ren, Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội Trung Hoa dân quốc lợi dụng việc giải giáp quân Nhật từ Vĩ tuyến 16 trở ra theo quy định của Hội nghị Postdam, đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile de Boisée) cuối năm 1946 thuộc quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình (Itu-Aba) thuộc quần đảo Trường Sa vào đầu năm 1947. Đến năm 1950, khi lực lượng quân đội của Trung Hoa dân quốc phải rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa và Hoà ước San Francisco buộc Nhật từ bỏ sự chiếm đóng hai quần đảo này, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam.


Hiệp định Genève ký kết ngày 21-7-1954, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều 1: Quy định đường ranh giới tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở Vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo Điều 4 của Hiệp định. Cũng theo Điều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chính trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông ở dưới Vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chính của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa.


Tháng 4-1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam (sau gọi là Việt Nam Cộng hòa), đã ra tiếp quản các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, bao gồm đảo Hoàng Sa, với số quân là 40 người. Cũng trong thời gian này, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm đóng nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đảo Phú Lâm và Linh Côn. Ngày 1-6-1956, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:36:52 pm
V. Nhà nước Việt Nam thống nhất đã tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa từ sau năm 1975.

Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, thời cơ chiến lược giải phóng miền Nam đã đến. Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong mùa khô năm 1975, bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc...

Ngày 5-4-1975, Bộ Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam đã triển khai kế hoạch chiến đấu giải phóng quần đảo Trường Sa. Lực lượng tham gia giải phóng gồm có các tàu của Đoàn vận tải quân sự 125, Đoàn 126 đặc công, Tiểu đoàn 471, đặc công Quân khu 5 và Tiểu đoàn 407 cùng lực lượng đặc công tỉnh Khánh Hoà. Bộ Tư lệnh Hải quân chủ trương nhanh chóng đánh đảo Song Tử Tây trước để làm bàn đạp và rút kinh nghiệm đánh tiếp các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa và các đảo còn lại của quần đảo. Và từ ngày 13 đến ngày 28-4, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giải phóng và tiếp quản các đảo có quân đội Việt Nam Cộng hòa đang quản lý, đồng thời triển khai lực lượng tại các đảo và một số vị trí khác để bảo vệ quần đảo Trường Sa.


Ngày 9-9-1975, đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng thế giới đã tiếp tục đăng ký Đài khí tượng Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa vào hệ thống SYNOP của Tổ chức khí tượng quốc tế, với ký hiệu 48860 và khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.


Ngày 24-9-1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Nam Sa.


Ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và có quyền bảo vệ chủ quyền đó.

Ngày 2-7-1976, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập và hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 12-5-1977, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa riêng. Đoạn 5 của Tuyên bố viết: Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải nói ở Điều 1 đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong các điều 1, 2, 3, và 4 của Tuyên bố này.


Tại phiên họp thứ 7 cuộc đàm phán về biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (cuộc đàm phán này bắt đầu từ ngày 9-10-1977), Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đã bác bỏ vu cáo của phía Trung Quốc đối với việc Hải quân nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Phan Hiền đề nghị với ông Hàn Niệm Long, Trưởng đoàn Trung Quốc, về việc đưa vấn đề hai quần đảo vào chương trình nghị sự, nhưng phía Trung Quốc từ chối.


Ngày 30-12-1978, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong Tuyên bố ngày 29-2-1978 của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất bình bằng thương lượng hoà bình.


Ngày 15-3-1979, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt - Trung. Điểm 9 của Bị vong lục đã tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 1-1974.

Ngày 7-8-1979, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu của Việt Nam liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này, khẳng định lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.


Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng: "Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo.

Ngày 22-10-1979, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố phản đối việc Trung Quốc lập ra 4 vùng nguy hiểm trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, cắt ngang các đường bay quốc tế qua Biển Đông.

Ngày 28-11-1979, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố bác bỏ các quy định của Trung Quốc chỉ đạo hoạt động của máy bay dân dụng nước ngoài qua vùng trời quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện về "Tây Sa và Nam Sa". Ngày 5-2-1980, Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30-1-1980.

Tháng 6-1980, tại Hội nghị Khí tượng Khu vực châu Á lần II họp tại Genève (Thụy Sỹ), đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam vẫn được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm như cũ.


Tháng 7-1980, tại Hội nghị địa chất quốc tế lần thứ 26 ở Paris (từ ngày 7 đến 17-7-1980), Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Phạm Quốc Tường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất, đã gửi Công hàm cho Chủ tịch Hội nghị Địa chất quốc tế và Tổng thư ký Hội nghị vạch trần và tố cáo hành động của Đoàn đại biểu Trung Quốc đã lợi dụng Hội nghị để tuyên truyền cái gọi là Trung Quốc có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì chúng là sự kéo dài của lục địa Trung Hoa.


Tiêu đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 07 Tháng Mười, 2026, 07:38:35 pm
Tháng 12-1981, Tổng cục Bưu điện Việt Nam điện cho Chủ tịch Uỷ ban Đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Tháng 12-1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng. "Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam".

Tháng 10-1982, tại Hội nghị Toàn quyền của UIT (Hiệp hội quốc tế về Vô tuyến viễn thông), đại biểu Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève.

Ngày 12-11-1982, Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố về hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam.

Ngày 4-2-1982, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Tháng 1-1983, Hội nghị Hành chính Thế giới về thông tin vô tuyến đã đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị sắp tới.

Cũng tháng 1-1983, tại Hội nghị Hàng không khu vực châu Á - Thái Bình Dương họp ở Singapore, Trung Quốc muốn mở rộng FIR Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và FIR Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng Hội nghị quyết định duy trì nguyên trạng1 (FIR: Flight Information Region là "Vùng thông tin bay" hay "Vùng thông báo hướng dẫn bay").


Ngày 25-4-1984, Uỷ ban Địa danh Trung Quốc công bố tên mới cho các đảo, bãi, đá trong Biển Đông, trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 6-5-1984, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối việc đặt tên của Trung Quốc.


Tại Hội nghị Tổ chức Thông tin Vũ trụ quốc tế lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc.

Ngày 6-5-1983, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tuyên bố phản đối việc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặt tên cho các đảo, đá, bãi cạn... thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 12-1985, Việt Nam phê chuẩn Công ước Nairobi 1982, tuyên bố yêu cầu UIT sửa đổi Phụ lục AER2 của Thể lệ vô tuyến viễn thông, khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam, vì vậy Việt Nam không chấp nhận những thay đổi có liên quan đến các tần số đã được phân chia ở vùng 6D, 6F, 6G nêu trong biên bản Hội nghị Hành chính thế giới về thông tin vô tuyến năm 1978.


Ngày 5-1-1986, Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố việc Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng với Lưu Hoa Thanh, Trương Trọng Tiên, đi thị sát quần đảo Hoàng Sa, vào ngày 1-1, là hoạt động phi pháp, xâm phạm chủ quyền Việt Nam.

Ngày 28-11-1987, Thông tấn xã Việt Nam ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Mọi biện pháp hành chính và các hoạt động thăm dò khảo sát của nước khác ở khu vực hai quần đảo này đều bất hợp pháp, không có giá trị và vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.


Năm 1988, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các Công hàm ngày 16, 17, 23-3-1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14-4-1988, Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (Nghị quyết ngày 13-4-1988 thành lập tỉnh Hải Nam).


Tháng 4-1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách trắng "Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Luật pháp quốc tế".

Ngày 4-3-1992, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Công hàm phản đối "Pháp lệnh về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa". Công hàm khẳng định Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Ngày 22-1-1994, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố Việt Nam có quyền kiểm soát đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam là nước đầu tiên chiếm hữu và quản lý nhà nước hai quần đảo này từ thế kỷ XVII.

Ngày 23-6-1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, trong đó, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình với các nước có liên quan. Quốc hội còn nhân mạnh cần phân biệt vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa với vấn đề phân định các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia theo đúng các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế.


Ngày 1-1-1997, Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Huyện đảo Hoàng Sa đặt dưới sự quản lý của chính quyền thành phố Đà Nẵng. Trụ sở Uỷ ban nhân dân huyện Hoàng Sa đặt tại số 132 đường Yên Bái, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Song song với việc tuyển dụng cán bộ, nhân viên hành chính, ngày 25-4-2009, Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra Quyết định bổ nhiệm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa.


Ngày 2-6-1999, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thông báo lập trường của Việt Nam phản đối lệnh cấm đánh bắt cá tại vùng phía Bắc Biển Đông, trong đó có khu vực quần đảo Hoàng Sa, từ ngày 1-6 đến ngày 31-7-1999.