Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Hồi ký - Hồi ức => Tác giả chủ đề:: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:57:44 pm



Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 28 Tháng Tám, 2026, 08:57:44 pm
- Tên sách: Năm tháng cuộc đời
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2007
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Là một thanh niên sớm giác ngộ cách mạng, năm 20 tuổi đồng chí Trần Sâm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 11 năm 1939, đồng chí bị địch bắt rồi lưu đày ở nhà lao Buôn Ma Thuột. Năm 1943, đồng chí ra tù tiếp tục hoạt động cách mạng ở tỉnh Quảng Trị.


Đồng chí Trần Sâm tham gia lãnh đạo nhân dân nổi dậy cướp chính quyền ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Sau khi giành chính quyền đồng chí được cử làm Ủy viên Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đồng chí được bầu vào Tỉnh ủy Quảng Trị. Năm 1946, đồng chí Trần Sâm được giao nhiệm vụ làm Chính trị Ủy viên Trung đoàn 95 rồi kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, được cử làm Phân khu phó Bình Trị Thiên. Tháng 12 năm 1950, đồng chí Trần Sâm được cử giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 4. Từ năm 1953 đến năm 1957, đồng chí được điều về Bộ Tổng tham mưu giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực. Sau đó được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Năm 1960, được bổ nhiệm là Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1963 đến năm 1965, đồng chí là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó tổng tham mưu trưởng. Từ năm 1965 đến năm 1975, đồng chí trở lại cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tổng tham mưu trưởng, phụ trách công tác tổ chức biên chế trang bị của các quân binh chủng, các chiến trường miền Bắc, miền Nam và Lào, công tác động viên lực lượng và viện trợ quân sự quốc tế... Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, đại biểu Quốc hội các khóa III, IV, V, VI, được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959, Trung tướng năm 1974, Thượng tướng năm 1986.


Cuốn hồi ức "Năm tháng cuộc đời" của Thượng tướng Trần Sâm do Đại tá Lê Hải Triều thể hiện, thông qua cuốn sách, bạn đọc sẽ hiểu thêm cuộc đời cách mạng của đồng chí Trần Sâm cuộc đời đó luôn gắn với tiến trình lịch sử của đất nước và quân đội trước, trong và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của quân và dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Qua đó càng thêm tự hào về dân tộc và quân đội anh hùng, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:42:16 pm
Chương một
BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI


Trước khi nói về những ngày tham gia cách mạng, tôi muốn dành ít dòng nói về Quảng Trị quê tôi thời niên thiếu.

Tôi sinh ra ở xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị quê tôi, nhìn trên bản đồ Việt Nam nằm ở đoạn thắt lại trên chiều dài Bắc - Nam, với một diện tích tự nhiên 459.200 hécta. Phía đông giáp biển Đông, với chiểu dài bờ biển hơn 100km; phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới 208km; phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, với địa hình như vậy, Quảng Tri tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và nhìn ra biển Đông bao la.


Dân số Quảng Trị trên 700.000 người, gồm nhiều dân tộc. Dân tộc Kinh chiếm 90%, còn lại là dân tộc Vân Kiều, Tà ôi (Pa Kô) và Cà Tu.

Nhân dân Quảng Trị có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, không hề chịu khuất phục trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Năm 1413, dưới cờ khởi nghĩa của Lê Lợi, nhân dân Quảng Trị đã nhất tề đứng lên đánh đuổi quân Minh giải phóng hai châu Tân Bình và Thuận Hóa. Nhân dân ta còn động viên hơn hai vạn thanh niên từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân gia nhập nghĩa quân Lê Lợi tiến ra Bắc đánh đuổi quân Minh giành quyền độc lập cho dân tộc. Vào thế kỷ XVIII trong cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra. Nhân dân Quảng Trị đã tham gia phong trào Tây Sơn diệt Nguyễn phá Xiêm, giải phóng Đàng Trong, đông đảo nhân dân Tân Bình, Thuận Hóa tập hợp dưới ngọn cờ đại nghĩa của Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, đánh đổ vua Lê - chúa Trịnh, đại phá Mãn Thanh thống nhất non sông, bảo vệ nền độc lập dân tộc.


Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược đất nước ta. Đầu năm 1874, cùng với nhân dân cả nước nhân dân Quảng Trị đã hưởng ứng "Hịch Bình Tây" của các sĩ phu Nghệ An đứng lên đấu tranh chống thái độ thỏa hiệp đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.

Ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình nhà Nguyễn phản bội, ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt dâng nước ta cho đế quốc Pháp. Nhân dân Quảng Trị đã giúp Tôn Thất Thuyết và phái chủ chiến của ông xây dựng căn cứ Tân Sở (Cùa, Cam Lộ). Đông đảo thanh niên trong tỉnh lên Tân Sở luyện tập quân sự chuẩn bị chiến đấu.


Sau cuộc tập kích quân Pháp đóng ở Huế ngày 4 tháng 7 năm 1885 bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lánh ra Quảng Trị và chọn Tân Sở làm căn cứ kháng chiến chống Pháp. Vùng đất hiểm trở này đã trở thành kinh đô dã chiến, là đầu não kháng chiến của phong trào Cần Vương. Tại đây, ngày 13 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ "Chiếu Cần Vương", vạch tội ác thực dân Pháp, kêu gọi văn thân yêu nước và nhân dân nổi dậy chống quân xâm lược Pháp. Hưởng ứng "Hịch Cần Vương" của vua Hàm Nghi, các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra trong tỉnh Quảng Trị, làm thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc và nêu cao ý chí kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta.


Ngót 100 năm bền bỉ đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp rồi đến các cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại trong thế kỷ XX, đặc biệt là trong 21 năm kiên cường kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc. Những năm tháng chiến tranh ác liệt đó cũng là những năm tháng hào hùng rực rỡ chiến công của quân dân Quang Trị.


Quảng Trị đã trở thành niềm thương nỗi nhớ của bao thế hệ con em quê nhà vào những năm đất nước còn bị chia cắt. Trong lịch sử dân tộc ta, việc chia cắt đất nước đều trùng hợp với việc chia cắt Quảng Trị, mà diễn ra không phải một lần. Gần nhất là cuối năm 1954, thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đối với Quảng Trị: tỉnh bị chia cắt, huyện bị chia cắt (huyện Vĩnh Linh), xã cũng bị chia cắt (xã Vĩnh Sơn). Con sông Bến Hải cũng bị chia đôi. Nỗi đau, sự thật phũ phàng đến vô lý. Mượn lời tâm sự của con sông bị chia cắt, nhà thơ Tế Hanh đã viết:

Tôi chảy ngày đêm không nghỉ
Đôi bờ Nam Bắc nhìn đau
Trời vẫn xanh, một màu xanh Quảng Trị
Tận chân trời mây núi có chia đâu.



Quảng Trị đã một thời làm cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kinh hoàng trên các mặt trận: Đường 9, Khe Sanh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, Thành cổ...

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quảng Trị đã có hơn 20 năm là tuyến lửa. Ở đây đã có hàng loạt những sự tích anh hùng, đã xuất hiện nhiều địa danh lẫy lừng chiến công, biểu tượng cho chí khí quật cường, quả cảm và niềm tự hào lớn lao của cả dân tộc ta. Chính điều đó đã tạo nên sự giàu có, sự phong phú và đồ sộ mang tính đặc thù, độc đáo trong toàn bộ hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Quảng Trị.


Nhà tù Lao Bảo, Lao Xá là những chứng nhân tội ác của thực dân Pháp đối với những người yêu nước và các chiến sĩ cộng sản.

Đôi bờ Hiển Lương trên vĩ tuyến 17 là vùng phi quân sự nhưng không một ngày ngừng tiếng súng, mang trên mình nỗi đau chia cắt đất nước hơn 20 năm (1954-1975).

Địa đạo Vịnh Mốc - pháo đài ngầm trong lòng đất. Với một tổng thể cấu trúc độc đáo, Vịnh Mốc vừa là nơi trú ẩn an toàn cho người dân vừa là nơi cố thủ chiến đấu của bộ đội, là kho hậu cần phục vụ chiến đấu tại chỗ và chi viện cho đảo Cồn Cỏ.

Hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh với mạng lưới dày đặc len lỏi giữa núi rừng Trường Sơn đi qua địa phận Quảng Trị, được đất và người Quảng Trị chở che đã trở thành huyền thoại. Một Khe Hó - điểm xuất phát đầu tiên của đường dây 559, một Khe Xon, Xom Rò, Cu Tiền - điểm bí mật vượt Đường 9 trong tuyến gùi thồ; một nghĩa trang Trường Sơn nơi yên nghỉ của mười nghìn không trăm ba mươi sáu cán bộ chiến sĩ, bộ đội và thanh niên xung phong Trường Sơn trong số hơn mười bảy nghìn người hy sinh... Đường Hồ Chí Minh không còn đơn thuần là con đường chuyển tải sức người sức của từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam, mà còn chuyển tải cả ý chí "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", quyết tâm giành lấy độc lập, tự do và thống nhất đất nước của cả một dân tộc.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:43:57 pm
Cồn Tiên - Dốc Miếu với tuyến hàng rào điện tủ Mác Na-ma-ra - hệ thống phòng thủ chiến lược có một không hai trên thế giới của Mỹ được thiết lập ở phía nam vĩ tuyến 17, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, là sản phẩm khoa học được mệnh danh là "con mắt thần bất khả xâm phạm"... đã bị bão lửa quân ta cuốn phăng vào tháng 3 năm 1972.


Đường 9 - Khe Sanh, con đường chiến lược huyết mạch được người Pháp làm ra và được quân đội Mỹ nâng cấp để phục vụ cho mục đích quân sự. Những địa danh trên Đường 9 sau những cuộc đụng đầu giữa quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn với quân dân ta các năm 1968, 1971, 1972 đã trở thành nỗi kinh hoàng của địch và thành "Hội chứng Việt Nam" của nước Mỹ sau chiến tranh. Khe Sanh biến thành "Khe Tử", đồi Động Tri biến thành "Đồi thịt băm" và Đường 9 biến thành "Đường chết" đối với Mỹ - ngụy.


Thành cổ Quảng Trị với cuộc chiến đấu giành giật 81 ngày đêm từ ngày 26 tháng 6 năm 1972 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972 giữa các chiến sĩ quân giải phóng với lực lượng lớn quân ngụy Sài Gòn mãi mãi không thể nào quên. Nơi đây, trên một diện tích chưa đầy 2km2 đã phải hứng chịu một khối lượng khổng lồ bom đạn mà sức công phá của nó bằng bảy quả bom nguyên tử (loại Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma năm 1945...).

Lịch sử đã để lại trên đất Quảng Trị những chiến công vang dội của quân dân ta cùng hàng nghìn địa danh ghi dấu nhiều sự kiện oanh liệt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc...

Bố tôi tên là Trần Tước, mẹ tôi tên là Lê Thị Cung. Thuở nhỏ bố tôi được học chữ Hán, lớn lên ông theo nghề thợ nề. Ông rất khéo tay, có thể đắp những con rồng, con phượng trên mái đình, mái chùa, rồi lấy những mảnh sành gắn vào trông rất sinh động. Ông đã từng vào kinh đô Huế làm nghề, xây dựng các lăng tẩm ở đây. Cha mẹ tôi sinh được tất cả mười người con. Đầu là hai chị, tôi là thứ ba. Tên tôi lúc mới sinh là Trần Hầu. Tiếp sau tôi là bốn em trai: Trần Khanh (sinh năm 1926), Trần Phán (sinh năm 1929), Trần Thừa (sinh năm 1931), Trần Thống (sinh năm 1934) và ba em gái nữa. Không hiểu vì lý do gì mà các chị và em gái tôi đều mất ở tuổi còn rất trẻ. Không ai sống được đến 20 tuổi.


Xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, do muốn vượt qua cảnh bị áp bức nô lệ, cũng như những người Việt Nam khác, ông nội tôi và bố tôi đều gửi vào tên con nhiều ý nghĩa. Hầu như việc đặt tên các con là ký thác vào đó một kỳ vọng. Ông nội tôi đặt tên các con trai là: Phát, Dương, Kiều, Chức, Tước, Bố tôi đặt tên các con là: Hầu, Khanh, Phán, Thừa, Thông.


Là con thứ ba, nhưng lại là con trai đầu nên bố mẹ rất quan tâm đến chuyện học hành của tôi. Học xong trường làng, tôi phải lên trường phủ ở Triệu Phong cách nhà 10km. Trong họ có bà cô nhà gần trường, bố tôi gửi tôi ở nhờ nhà bà. Nhà cô tôi cũng nghèo lắm. Tuy ở nhà cô nhưng gia đình cũng thường xuyên phải chu cấp.


Thế rồi, vào một buổi trưa giữa mùa mưa lũ, nước sông Vĩnh Định dâng cao, mấy bố con đang cơi nới nền nhà chống lũ thì bố nhìn ra cổng thấy tôi đầu trần, vai khoác tay nải đang lội nước vào nhà. Ông chạy vội ra ôm lấy tôi và nói:

- Tại sao con về lúc này? Con không sợ chết trôi à?

- Con biết trời mưa, nước lũ về là nguy hiểm. Nhưng nhà cô không còn gạo bố ạ...

Bố tôi là người ham học, nhiều lần ông nói với anh em chúng tôi:

- Bay cứ học đi đừng lo, học trường phủ tao dỡ nhà lên phủ, học trường tỉnh tao dỡ nhà lên tỉnh. Tao làm nghề thợ nề chỉ có bay với bê, đi đâu tao cũng làm nghề được.

Ông dỡ nhà lên phủ Triệu Phong đem theo cả vợ con. Bố tôi làm thợ nề có tiếng nên đi đến đâu cũng nhiều người biết. Vì vậy, ông được người đốc học, các giáo viên trường phủ, cả những quan chức nữa giúp. Thế là họ cho miếng đất sau trường để ông dựng nhà nuôi tôi và các em tôi ăn học, tiếp tục làm nghề thợ nề. Mẹ tôi thì gánh nước tHuế lấy tiền. Sau đó, mẹ tôi mở quán cơm bán cho học sinh ăn trưa.


Tôi học trường phủ 6 năm rồi thi vào trường Quốc học Huế. Cùng lớp với tôi có anh Trần Quỳnh1 (Đồng chí Trần Quỳnh nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Trần Quỳnh thi đỗ cả viết và vấn đáp. Còn tôi thi viết thì được nhưng thi vấn đáp thì trượt.

Buồn chán, tôi đành phải về dạy học cho con địa chủ kiếm cơm. Năm sau tôi hết tuổi thi vào trường Quốc học. Thời gian này tôi 15 tuổi nhưng cao lớn. Tôi vào Huế, tự tìm trường để học. Tìm mãi thấy trường Kỹ nghệ, thế là tôi nộp đơn xin thi vào trường đó. Tôi đỗ điểm cao nên được học bổng toàn phần. Tôi về nói với bố:

- Bố ơi! Con thi đỗ trường Kỹ nghệ rồi.

Chưa để tôi nói hết câu, ông gắt:

- Tưởng mày làm gì chứ thi vào trường đó ra lại làm thợ. Mà làm thợ giỏi như tao nổi tiếng cả tỉnh cũng không nuôi nổi con ăn học. Mày đi học nghề thì làm được gì?

Tôi nhẹ nhàng thưa với bố:

- Thi vào trường Quốc học thì con đã hết tuổi, mà đi học tư thì nhà không đủ tiền. Bố cho con học nghề đi bố.

Suy nghĩ một lát ông lẳng lặng đi ra. Biết bố rất hy vọng vào tôi, ông muốn tôi học lên bậc thành chung, tú tài ra làm ông thông, ông phán cơ. Nghe tôi nói ông mới nhớ ra là tôi đã hết tuổi vào trường Quốc học mà học tư thì làm gì có tiền...

Tôi học trường Kỹ nghệ ba năm, từ 1935 đến 1938. Trường này dạy nhiều nghề lắm: Thợ nguội, thợ hàn, thợ gò, thợ đúc... Tôi học nghề thợ nguội.

Khi tôi không thi được vào trường Quốc học Huế, bố tôi nói với em Khanh:

- Anh con không vào được Quốc học thì con phải cố gắng vào cho được trường Quốc học.

Chữ Khanh đẹp lắm. Khanh đỗ vào Quốc học Huế là niềm tự hào của gia đình.

Hồi đó, trường Quốc học Huế và trường Kỹ nghệ đều do người Pháp dạy. Học sinh vào học ở trường đều phải nói tiếng Pháp. Riêng môn Văn thì có người dạy tiếng Việt là nhà giáo, nhà văn Nguyễn Lân1 (Ông Nguyễn Lân sau này được Nhà nước phong hàm Giáo sư, Nhà giáo nhân dân) (bút danh Từ Ngọc), ông dạy chính ở Quốc học đồng thời cũng dạy ở trường Kỹ nghệ.


Thời gian này, ở miền Trung chỉ có trường Quốc học Huế và trường Kỹ nghệ là hai lò tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Cùng học với tôi hồi đó ở trường Kỹ nghệ có anh Nguyễn Côn, Trần Văn Trà, Hồ Trung Nam, Nguyễn Thanh Quảng, Lê Văn Tri...


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:45:00 pm
Ở trường, tôi cũng có một thiên hướng học thêm một nghề mang tính trí thức. Bố tôi không muốn tôi đi làm lao động chân tay. Thế là tôi học thêm ngành họa đồ.

Như vậy, ở trường thì học nghề nguội nhưng khi ra làm việc thì tôi lại làm nghề đo đạc họa đồ. Nhưng làm việc này không lâu, tôi quyết định vào các tỉnh phía Nam kiếm việc. Cái bằng tốt nghiệp trường Kỹ nghệ tôi cho vào ống tre ôm vào Huế rồi vào Đà Nẵng định bụng kiếm con tàu nào đó xuống làm phụ tàu để đi chỗ này chỗ khác. Tôi ở Đà Nẵng một thời gian, đi làm phụ bếp cho nhà quan chức Việt Nam. Thức ăn của tôi là những thứ người ta ăn thừa. Tôi nghĩ làm như vậy cũng chẳng được gì, thế là tôi bỏ, đi tiếp vào Nha Trang xin việc làm ở toa xe lửa. Hồi đó giấy tờ họ cũng làm chặt lắm. Tôi phải quay về quê để lấy một số giấy còn thiếu. Làm ở xe lửa đi lại thì có giấy của hãng xe nên không phải mất tiền, nhưng ăn uống mình phải tự lo. Tôi còn nhớ lúc đó đi vào đúng mùa mưa lũ, đường xe lửa bị lũ cuốn trôi, đoạn cách Đà Nẵng 10km, tiền ăn không có, áo quần bán hết cả, có một người lớn hơn tôi mấy tuổi rủ tôi đi bộ. Đi được mấy tiếng, anh rủ vào một quán ven đường, tôi chỉ ngồi ngoài cửa, anh hỏi: '‘Sao không vào ăn?". Anh ấy hỏi mãi, tôi mới thú thực là không còn đồng trinh nào. Thế là anh ấy đưa cho tôi 2 đồng trinh, được ăn hai bát cháo trắng, đủ sức lên đến Đà Nẵng. Tại đây, tôi gặp một số các anh ra trường trước cho tắm rửa, ăn uống và giúp đỡ tiền, quần áo trở về quê. Về quê được mấy ngày vừa lấy giấy tờ vừa thăm bố mẹ và các em, sau đó tôi trở vào Nha Trang.


Lúc đầu, tôi làm nghề thợ nguội lương tiền chả bao nhiêu nên một thời gian sau tôi xin chuyển lên tàu phụ xúc than.

Cuối năm 1938, tôi chuyển vào ga Tháp Chàm. Thời gian này, cao trào cách mạng những năm 1936 - 1939 đang nổ ra, thực dân Pháp ra tay đàn áp. Một số cán bộ ở Quảng Trị, ở Huế chạy dạt vào các tỉnh phía Nam. Trong đó có một số đồng chí vào ga Tháp Chàm. Trong số này tôi còn nhớ có anh Trần Công Xứng quê ở làng Thượng Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Anh là phái viên của Xứ ủy Trung Kỳ được cử vào xây dựng phong trào, giác ngộ công nhân ở ga Tháp Chàm.


Tôi thấy các anh là người tốt, nói năng cử chỉ đúng mực, tôi rất quý, tôi lo chỗ ăn, chỗ ở cho các anh, ngược lại các anh cũng tin tôi, giao cho tôi làm liên lạc. Từ việc nhỏ thấy tôi làm tốt, các anh giao việc lớn hơn: vận chuyển thư từ, tài liệu và đưa cán bộ từ ga Tháp Chàm vào Sài Gòn. Tôi nhớ có lần tôi mang một bao tải tài liệu từ Tháp Chàm vào Sài Gòn. Đến ga Sài Gòn có người của ta ra nhận. Mỗi lần trên thông báo một tín hiệu để nhận nhau. Cứ thế chúng tôi chuyển gần một trăm chuyến tài liệu trót lọt. Giai đoạn này tôi đã được trên tin tưởng giao cho nhiệm vụ tổ chức đưa cán bộ từ Trung Kỳ vào Sài Gòn. Trong số nhiều cán bộ tôi đưa từ miền Trung vào Sài Gòn rồi từ Sài Gòn ra miền Trung, tôi nhớ có anh Phan Đăng Lưu, anh Bùi San.


Chuẩn bị cho một chuyến đi từ Trung Kỳ vào Sài Gòn của mấy anh cán bộ thì công phu lắm. Mật thám kiểm soát rất gắt gao. Trước khi đi một hai ngày tôi bố trí các anh lên tàu, hướng dẫn các anh những công việc xúc than, đập than, lau chùi máy móc. Đến những ga có mật thám lên kiểm tra các anh phải làm việc cật lực. Người xúc than, đập than, người thì lau chùi toa xe để che mắt chúng. Các anh phải mặc quần áo công nhân để chúng tin là người nhà tàu thật. Các chuyến đi do tôi phụ trách đều an toàn.


Mấy anh em còn trẻ, chưa vợ con gì được bố trí ở một nhà. Nguyễn Hữu Khiếu vừa làm bàn giấy vừa làm những việc lặt vặt. Anh Xứng cùng ở với chúng tôi. Thấy tôi làm việc tốt, cẩn thận và chu đáo anh gợi ý đến việc kết nạp tôi vào Đảng. Lúc này, tôi được biết vào Đảng là một vinh dự nhưng cũng là việc rất nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng những việc mình lấm mấy năm qua đã là công việc của Đảng rồi. Vào Đảng trách nhiệm sẽ nặng nề hơn, nhưng là thanh niên thì quản gì gian nguy, quản gì vất vả. Thế là tôi tự nguyện làm đơn để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.


Buổi lễ kết nạp tôi vào Đảng là một ngày tháng 6 năm 1939 giản dị và trang nghiêm. Đứng dưới cờ búa liềm tôi nắm chặt tay giơ cao xin thề trước Đảng: "Dù gian lao khổ hạnh đến đâu tôi cũng nguyện trung thành với Đảng. Dù có bị tù đày, tra khảo thế nào tôi cũng quyết không xưng khai. Dù có phải hy sinh đến tính mạng tôi cũng quyết một lòng với Đảng. Nguyện chiến đấu dưới cờ của Đảng cho đến thắng lợi cuối cùng". Lời thề đó luôn luôn nhắc nhở tôi phải thực hiện. Lúc khó khăn tôi lại đem lời thề trước Đảng để răn mình. Và đến nay đã gần 70 năm tuổi Đảng, nhìn lại, tôi không cảm thấy xấu hổ với Đảng, với nhân dân, với quân đội.


Từ ngày tôi vào làm ở nhà máy, tôi đổi tên Trần Hầu thành Trần Sam.

Chi bộ đảng ở ga Tháp Chàm có ba người: Nguyễn Hữu Khiếu (Bí thư), tôi và Văn Tôn (Tôn sau này phản đảng, làm tay sai cho giặc).

Tháng 11 năm 1939, một hôm Nguyễn Hữu Khiếu và Tô Thị Xương (quê ở Huế) vào cơ sở trong làng để in tài liệu cho cách mạng, Nguyễn Hữu Khiếu hỏi tôi:

- Hôm nay ông có bận gì không?

- Tôi được nghỉ cả ngày.

- Thế thì ông đi với chúng tôi.

- Đi làm gì?

- Ông viết cho tôi bản tài liệu để in.

Đã nhiều lần tôi viết tài liệu, truyền đơn để cho Nguvễn Hữu Khiếu in rồi. Chữ tôi đẹp so với mấy người trong tổ.

Ba chúng tôi vào làng, Nguyễn Hữu Khiếu và Tô Thị Xương đi trước, tôi đi sau. Nhưng chúng tôi không ngờ có một thằng cũng hoạt động ở Huế, hắn rất yêu chị Xương nên theo chị vào Tháp Chàm. Thấy chị đi với Nguyễn Hữu Khiếu, máu ghen nổi lên. Đợi chúng tôi in tài liệu xong nó liền báo cho mật thám. Mật thám ập vào bắt Nguyễn Hữu Khiếu, Tô Thị Xương và thu toàn bộ máy móc in ấn và tài liệu vừa in. Tôi, khi viết xong bản tài liệu để in ra về ngay nên không bị bắt.


Khi tôi đang làm ở xưởng thì có một người cháu của Tô Thị Xương lên báo:

- Anh Khiếu, anh Xứng và cô Xương bị bắt rồi. Anh xem thế nào trốn đi, mật thám sẽ tìm ra anh đấy.

- Cảm ơn cô đã báo tin cho tôi, nhưng tôi sẽ không việc gì đâu.

Tôi lo cất giấu tài liệu, một số khác đem hủy. Tôi yên tâm là không có việc gì liên quan đến mình cả. Tôi đâu ngờ trong hòm tài liệu của Nguyễn Hữu Khiêu có thẻ căn cước của một người trước làm việc ở Tháp Chàm sau chuyển lên Cầu Đất không có dấu của cảnh sát ở Tháp Chàm. Người này gửi thẻ căn cước về Tháp Chàm xin xác nhận của cảnh sát Phan Rang, mật thám Phan Rang lên chỗ ở của người này lục soát tìm thấy một số tài liệu do tôi viết. Bị chúng tra hỏi đánh đập dã man, anh ta khai ở Tháp Chàm gửi lên. Tôi vẫn đinh ninh là mình vô can, mặc dù lúc nào cũng chuẩn bị sẵn một vali nhỏ, nếu có động là bỏ trốn.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:53:21 pm
Một hôm, tôi đang làm trên tàu, tàu cách ga Tháp Chàm khoảng 4 hay 5km tự nhiên có tín hiệu dừng lại. Tôi thoáng thấy có điều gì không ổn, chuẩn bị tinh thần đối phó.

Một toán mật thám nhảy lên tàu, chúng lao thẳng đến chỗ tôi. Chúng còng tay tôi giải đi trong sự ngỡ ngàng của mấy anh công nhân cùng làm trên toa xe. Chúng đưa tỏi về nhà lao Phan Rang. Tới nhà lao, bọn mật thám đánh phủ đầu tôi túi bụi. Vừa đánh chúng vừa nói:

- Làm cộng sản này! Làm cộng sản này!

Chúng bắt tôi khai báo cơ sở. Mặc dù mới 21 tuổi nhưng lúc đó tôi không hề sợ, thậm chí còn kiêu hãnh vì mình là cộng sản. Chúng đánh đập, tra khảo tôi mấy ngày liền, thậm chí còn treo tôi lên xà nhà tiếp tục đánh. Cuối cùng chúng đưa ra những bản tài liệu do tôi viết rồi đưa tới một thằng phản bội. Thằng này ở xã Long Hưng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cùng học trường Kỹ nghệ với tôi. Vì có tang chứng, vật chứng lại có cả người làm nhân chứng, không cãi lại được, tôi nghĩ: Đã đến nước này thì mình nhận là người yêu nước, muốn dân mình độc lập tự do, không muốn ngoại bang đô hộ. Đang được bay nhảy ngoài đời, bỗng nhiên bị nhốt vào một cái buồng chật chội, tối tăm, chỉ le lói một chút ánh sáng từ một lỗ nhỏ trên cao, tôi cảm thấy bức bối, cô đơn quá. Nhiều đêm tôi thao thức chuẩn bị lý lẽ để cãi khi chúng đưa ra tòa. Sau đó chúng đưa tôi ra Khánh Hòa để chuẩn bị mở phiên tòa.


Hôm mở phiên tòa, chúng đưa ra xét xử bốn người mà chúng cho là tù chính trị. Tên chánh án hỏi tôi trước:

- Tại sao anh làm cộng sản?

Tôi trả lời dõng dạc:

- Tôi đấu tranh cho dân tộc, dân chủ dân sinh là có tội à? Tôi chưa hiểu chủ nghĩa cộng sản thì làm cộng sản sao được. Nhưng nếu cộng sản thương nước thương dân thì có gì là xấu.

Mọi người dự phiên tòa rất ngạc nhiên. Có lẽ họ chưa bao giờ được nghe một bị cáo nào nói năng cứng cỏi như thế.

Tên chánh án lên giọng xách mé:

- Cộng sản gì các anh. Cộng sản cơm!

Tôi đáp lại ngay:
   
- Dân đói thì đòi cơm có gì xấu. Các ông có nhiều rượu nhiều thịt thì cần gì cơm nữa.

Tên chánh án xua tay:

- Ở đây không được nói láo.
   
Tôi nói ngay:

- Thế các ông bắt tôi vì lẽ gì?

- Vì làm tay sai cho cộng sản.

- Tôi viết tài liệu kêu gọi mọi ngươi đòi chủ Pháp tăng lương, giảm giờ làm, công nhân được đối xử như nhau, làm việc ngoài giờ phải được hưởng lương, đến hạn phải được tăng lương...

Tên chánh án đỏ mặt, đập búa xuống bàn quát:

- Im ngay, tòa kết án anh 5 năm tù giam, cả những anh kia cũng thế!
Phiên toà kết thúc. Luật pháp của bọn thực dân phong kiến là vậy.

Tôi bị đày lên Buôn Ma Thuột. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là đi đày. Nhà lao Buôn Ma Thuột thoạt nhìn từ ngoài chỉ thấy những ngôi nhà hai tầng quét vôi trắng, cây cối xanh tươi, những tưởng không khí ở đây trong lành. Vào trại rồi tôi mới hiểu không phải vậy. Chúng dẫn chúng tôi vào nhà giam riêng. Đó là căn nhà dài vài chục mét, chỉ có mấy cửa sổ nhỏ để nhìn ra ngoài. Căn nhà chật hẹp vậy mà chúng nhồi rất nhiều người, ẩm ướt ngột ngạt vô cùng. Tù nhân phải ăn cơm lạnh, cá ôi, phải đi làm khổ sai, chân luôn bị xiềng, kể cả khi đi làm, tối về thì bị cùm, sáng sáng chúng lấy gậy gõ lên đầu từng ngựời, điểm danh... ức lắm.


Một thời gian sau, tôi gặp các anh Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Lĩnh, Chu Văn Biên, Ngô Đức Đệ, Trần Văn Quang và nhiều anh lớp trươcs. Lúc này tôi mới biết Nam Kỳ khởi nghĩa. Được nghe kể lại những tấm gương hy sinh của các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... cùng nhiều đảng viên cộng sản và quần chúng, tôi vô cùng khâm phục. Đến lúc này tôi mới biết anh Phan Đăng Lưu là lãnh đạo của Đảng, tôi càng thương tiếc anh, một người mà tôi rất quý trọng ngay từ những chuyến đưa anh từ Trung Kỳ vào Nam Bộ.


Cuối năm 1940, nhà lao Buôn Ma Thuột tiếp nhận những tù chính trị ở Quảng Trị - Thừa Thiên trong đó có anh Nguyễn Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu, Hoàng Anh. Thế là trong chi bộ nhà lao có thêm những hạt nhân lãnh đạo.

Trong nhà tù của đế quốc những đảng viên trung kiên vẫn giữ chế độ sinh hoạt chặt chẽ. Ai có nghề gì thì dạy cho nhau nghề đó. Chúng tôi còn tổ chức học chủ nghĩa Mác - Lênin do ông Hồ Tùng Mậu (quê Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đảm nhiệm; học quân sự do ông Trương Văn Lĩnh (quê Nghi Phương, Nghi Lộc, Nghệ An) đảm nhiệm. Ông Lĩnh tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội từ năm 1927, là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được "cài" vào làm đảng viên Quốc dân đảng, ông đã từng tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, ra trường với quân hàm trung tá, giám đốc cảnh sát Quảng Châu1 (Sau này, về Việt Nam ông giữ chức hiệu trưởng trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay)).


Trong nhà lao Buôn Ma Thuột lúc này có hai khuynh hướng. Một, cho là đã bắt rồi cố ở cho mãn hạn xong về địa phương tiếp tục hoạt động. Số này phần đông là tù lâu năm, có người bị tù từ 1930, 1931. Khuynh hướng thứ hai, kiên quyết đấu tranh đòi cải thiện chế độ giam cầm, cải thiện chế độ ăn uống. Tôi ủng hộ khuynh hướng thứ hai. Khi nhà thầu đưa vào gạo xấu, thịt ôi... chúng tôi đã đấu tranh nhiều lần nhưng tên quản ngục vẫn làm ngơ. Chúng tôi quyết định tuyệt thực. Chủ trương đưa ra được toàn chi bộ nhất trí. Tù thường cũng hưởng ứng bằng cách hò la. Ngay từ ngày đầu, địch đàn áp quyết liệt. Chúng đánh đập tù nhân bằng roi và bằng báng súng rất dữ, nhưng anh em vẫn kiên trì chịu đựng quyết không lùi. Đến ngày thứ 7, tên cai ngục vào. Tôi biết tiếng Pháp nên thay mặt anh em phản đối, lên án chúng tra tấn đánh đập tù nhân, đòi chúng phải hủy bỏ ngay chế độ gạo hẩm, thịt cá ôi thiu. Tên cai ngục đã phải xuống thang. Cuộc đấu tranh thắng lợi.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:54:22 pm
Chế độ nhà tù được nới lỏng, tù nhân được chơi thể thao. Tôi còn nhớ chúng tôi tổ chức đá bóng. Tôi cao to nên được anh em giao cho giữ gôn. Anh Nguyễn Vịnh đá tiền đạo. Anh nhanh nhẹn, đá rất mạnh, là người ghi được nhiều bàn thắng nhất.

Tháng 4 năm 1941, anh Tố Hữu mãn hạn tù. Chúng đưa anh ra Huế được mấy ngày rồi lại đưa anh vào Quy Nhơn cuối cùng dùng xe tải chở anh lên Đắc Lây ở bắc Kon Tum.

Anh Nguyễn Chí Thanh vẫn bị giam cùng với chúng tôi.

Tháng 4 năm 1943, tôi mãn hạn tù. Tên quản ngục Mốt-xin gọi tôi lên bảo:

- Mày được tha rồi đấy. Đừng có dại làm cộng sản nữa mà mất đầu. Thiếu gì việc để làm, đi dạy học hay làm thợ chẳng hạn.

Chẳng cãi với nó làm gì, tôi chỉ hỏi lại:

- Thế tôi được tự do rồi chứ?

Nó không nói gì, gật đầu. Thật lòng, tôi cũng yên trí là lần này ra khỏi tù tôi tha hồ hoạt động. Nhưng tôi vẫn bị quản thúc ở quê.

Về Quảng Trị, việc đầu tiên là tôi tìm cách bắt liên lạc với tổ chức Đảng. Sau một thời gian tìm hiểu móc nối được với các đồng chí, chúng tôi bí mật đi vận động quần chúng, xây dựng cơ sở ở địa phương. Qua hoạt động bí mật một thời gian dài, lại trải qua tù đày, tôi thấy mình đã trưởng thành, chững chạc, nói năng hoạt bát, nhiều người tin và nghe theo lời tôi.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, viện có Pháp bác bỏ tối hậu thư, quân Nhật tiến công vào các vị trí đóng quân của Pháp ở Hà Nội. Chúng chiếm Phủ toàn quyền Đông Dương và bắt giữ các quan chức của Pháp, trong đó có tướng A-mê - Tổng tư lệnh quân đội Pháp toàn Đông Dương. Quân Nhật nhanh chóng đè bẹp sức kháng cự của quân Pháp ở mọi nơi. Đến chiều ngày 10 tháng 3 năm 1945, quân Pháp đầu hàng, quân Nhật làm chủ các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều tỉnh lỵ khác. Lúc này, lực lượng quân sự Pháp hoàn toàn tan rã, bộ máy thống trị của Pháp đã đầu hàng. Toàn bộ Đông Dương trở thành thuộc địa của phát xít Nhật.


Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thi: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"... Chỉ thị nêu rõ: Cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc làm cho những điều kiện của một cuộc khởi nghĩa vũ trang mau chóng đi tới chỗ chín muồi. Đồng thời với chỉ thị của Trung ương Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945, xác định: "Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, đổ chuẩn bị cuộc Tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ".


Trong bản chỉ thị lịch sử đó, Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật. Phải thay đổi khẩu hiệu, hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh cho phù hợp với thời kỳ mới. Phát động một cao trào chống Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa khi đã đủ điều kiện.


Tháng 6 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Trị họp hội nghị đề ra chủ trương: Phát triển các đội tự vệ, đẩy mạnh công tác tuyên truyền xung phong, xây dựng các chiến khu, vũ trang toàn dân tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, tiếp tục vạch mặt bọn phát xít Nhật và bọn tay sai Nhật, tổ chức và mở rộng ảnh hưởng của Việt Minh, thành lập Ủy ban giải phóng tỉnh và huyện. Hội nghị quyết định đổi Tỉnh ủy lâm thời thành Ban vận động thống nhất Đảng bộ Quảng Trị.


Cùng thời gian này, nhiều cán bộ, đảng viên của tỉnh bị địch bắt, giam tại nhà tù Buôn Ma Thuột trước đây đã lần lượt trở về địa phương hoạt động, tham gia phát triển và củng cố Mặt trận Việt Minh tỉnh, huyện, xây dựng và phát triển rộng rãi các đoàn thể quần chúng, củng cố và phát triển các đội tự vệ vũ trang, phát huy vai trò lực lượng các chiến khu để chuẩn bị giành chính quyền.


Đến giữa tháng 7 năm 1945, anh Tố Hữu được Trung ương phái vào Trung Bộ để thực hiện thống nhất Đảng bộ Trung Kỳ, chuẩn bị thành lập Xứ ủy. Đến Quảng Trị anh Tố Hữu cùng các anh Nguyễn Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Trần Quý Hai, sau khi bàn bạc với anh Trần Hữu Dực việc chuẩn bị Hội nghị thành lập Xứ ủy Trung Kỳ đã gặp anh Đặng Thí, Đoàn Bá Thừa, Nguyễn Hữu Khiếu, truyền đạt các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương, trao đổi việc thống nhất sự lãnh đạo ở Quảng Trị, góp ý kiến về các công tác cấp bách và chính thức đặt liên lạc giữa Xứ ủy, Trung ương và Quảng Trị. Từ đó Quảng Trị chính thức có quan hệ với cấp trên.


Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, sau đó mở cuộc tiến công vào đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu (Trung Quốc). Phát xít Nhật đứng trước tình thế sụp đổ và tình thế đó chỉ còn tính từng ngày. Trước thời cơ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.


Lời của Người biểu thị ý chí, quyết tâm của toàn dân tộc.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh Số 1 và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".


Ngày 18 tháng 8 năm 1945, Hội nghị đại biểu Ban thống nhất Đảng bộ Quảng Trị họp ở làng Phước Lễ, phủ Triệu Phong nhận định: "Chính quyền Phan Văn Hy tỉnh trưởng là con đẻ của phát xít Nhật, đang bất lực về chính trị, bại hoại về tinh thần, tê liệt về tổ chức. Chúng đang sẵn sàng đầu hàng cách mạng, chúng ta tiến hành thuyết phục, cảm hoá và lôi kéo họ". Hội nghị bàn thảo sôi nổi và khẩn trương đã quyết định tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945.


Về kế hoạch khởi nghĩa, lực lượng cách mạng của phủ, huyện nào phụ trách thì phủ, huyện đó tự chịu trách nhiệm trước kế hoạch của mình, còn việc khởi nghĩa ở tỉnh, chủ yếu giao cho lực lượng cách mạng của phủ Triệu Phong và một số xã của phủ Hải Lăng phối hợp với nhân dân nội thị.


Hội nghị cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm các anh: Trần Hữu Dực - Chủ tịch, Đặng Thí - Phó chủ tịch và các chị, các anh Hoàng Thị Ái, Lê Vụ, Nguyễn Hữu Khiếu làm ủy viên. Lúc này, tôi được phân công phụ trách huy động nhân dân trong xã Hải Xuân huyện Hải Lăng sẵn sàng kéo vào thị xã Quảng Trị thị uy, cướp dinh tỉnh trưởng.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:55:22 pm
Chiều ngày 22 tháng 8, tôi nhận được lệnh chính thức của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh phát ra. Tôi thông báo cho lực lượng toàn xã.

1 giờ sáng ngày 23 tháng 8, hàng nghìn quần chúng xã Hải Xuân đốt đuốc, gióng trống, chiêng, gõ tiếng mõ, thổi tù và mang theo nào cờ, biểu ngữ, gậy gộc, cuốc thuổng kéo vào thị xã.

Lúc này các đơn vị tự vệ chiến đấu đã đột nhập vào nội thị, chiếm lĩnh được tất cả cơ quan đầu não trong tỉnh.

Xã Hải Xuân cách thị xã Quảng Trị chỉ hơn 4km. Sau hơn 1 giờ lực lượng khởi nghĩa đã có mặt tại vị trí tập kết áp sát thị xã. Từ bốn hướng lực lượng quần chúng rầm rập kéo vào nội thị hô vang khâu hiệu: "Đánh đổ chính quyền bù nhìn Bảo Đại - Trần Trọng Kim; Thành lập chính quyền cách mạng; ủng hộ Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh".


Ủy ban khởi nghĩa đã cử một tiểu đội tự vệ chiến đấu tinh nhuệ do anh Trần Đình Phú chỉ huy đột nhập vào dinh khống chế tỉnh trưởng Phan Văn Hy và những nhân viên dưới quyền.

Tỉnh trưởng Phan Văn Hy nguyên là một bác sĩ có tiếng ở Quảng Trị, ông được bọn thân Nhật đưa ra làm tỉnh trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim. Sau khi Nhật đầu hàng, Phan Văn Hy nhiều lần muốn tiếp xúc với Việt Minh để mời Việt Minh tham gia chính quyền.

5 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Trần Hữu Dực được lực lượng tự vệ bảo vệ đứng trên tầng cao dinh tỉnh trưởng (Tòa công sứ Pháp cũ) trực tiếp hạ lá cờ quẻ ly xuống và kéo lá cờ đỏ sao vàng lên nóc dinh tỉnh trưởng trong tiếng hò reo của hàng chục nghìn đồng bào. Cùng lúc đó, trong thành Quảng Trị, anh Dương Đậu cũng cho hạ lá cờ vàng ở cột cờ trước "Hoàng cung" và kéo lá cờ đỏ sao vàng lên.


Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Quảng Trị đã kết thúc thắng lợi.

9 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh ra mắt chính quyền cách mạng được tổ chức. Hàng chục nghìn quần chúng, đội ngũ chỉnh tề trước dinh tỉnh trưởng. Với cương vị là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa, anh Trần Hữu Dực tuyên bố:

- Từ giờ phút này, ỦY ban nhân dân cách mạng tỉnh được thành lập, xóa bỏ hoàn toàn chính quyền bù nhìn.

Sau đó anh đọc mười chính sách của chính quyền cách mạng, kêu gọi toàn thể nhân dân trong tỉnh đoàn kết, nhất tề thực hiện mọi công việc theo sự hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp.

10 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, tại phòng khách của Ủy ban nhân dân cách mạng, Chủ tịch Trần Hữu Dực, Phó chủ tịch Đặng Thí đã có mặt. Anh Trần Phú Hướng dẫn Phan Văn Hy ngồi vào chiếc ghế dành cho ông ta. Phan Văn Hy vừa ngồi xuống ghế, anh Trần Hữu Dực nói ngay:

- Từ nay chính quyền đã về tay nhân dân, Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi thay mặt nhân dân cai quản mọi công việc của tỉnh nhà. Ông là người có chức cao nhất trong chính quyền cũ của tỉnh, nhưng xét thấy việc làm của ông trong thời gian làm tỉnh trưởng đã không gây nhiều thiệt hại cho cách mạng, nên cách mạng có chính sách khoan hồng đối với ông. Từ nay, ông là một công dân của nước Việt Nam độc lập. Hôm nay ông có trách nhiệm trình bày mọi công việc của chính quyền cũ với chúng tôi, sau đấy ông tiếp tục làm việc với ông Đặng Thí, Phó chủ tịch, tôi bận việc khác. Xin chào.


Nói xong, anh Trần Hữu Dực đi nhanh ra cửa. Anh Đặng Thí, một lần nữa khẳng định chính sách khoan hồng của cách mạng đối với Phan Văn Hy và nêu cụ thể mấy việc, anh nói:

- Thứ nhất, ông phải nói cho quân Nhật đóng ở Quảng Trị biết là từ nay mọi công việc phải quan hệ với Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi, còn chính quyền của ông không còn nữa. Thứ hai, ông phải thông báo cho các cấp thuộc hạ của ông bàn giao đầy đủ công việc, giấy tờ, tài sản cho Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi. Thứ ba, ông phải viết giấy báo cáo cho Ủy ban nhân dân cách mạng danh sách những người đứng đầu các công sở, kho tàng, tài sản... của chính quyền cũ.


Cuối cùng, anh Đặng Thí giới thiệu bác Hồ Ngọc Thâm1 (Thân sinh của Giáo sư - Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại) mới đến và nói:

- Từ nay đến khi nào ông rời khỏi dinh, mọi việc làm sẽ được bác Thâm đây - Người được Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi ủy quyền hướng dẫn ông.

Cũng trong thời gian đó, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra Quân lệnh Số 1: "Tất cả lực lượng vũ trang chiếm đóng hoặc dự bị, kể cả lực lượng hỗn hợp giữ nguyên tại chỗ. Người và vũ khí không được thay đổi, di chuyển cho đến khi có lệnh mới".

12 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh ra Quân lệnh Số 2: "Mở cuộc đăng ký tuyển quân cấp tốc, thành lập chi đội giải phóng quân với tổng số 1.500 chiến sĩ kể cả một số đơn vị trực thuộc như thông tin, quân y, quân nhu...".

Đến 15 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh ra Quân lệnh Số 3: "Tất cả lực lượng vũ trang chiếm đóng hỗn hợp đều bàn giao ngay nhiệm vụ, kể cả người và vũ khí, kho tàng, doanh trại... cho chi đội giải phóng quân. Những cá nhân bảo an binh nào muốn tham gia lực lượng vũ trang cách mạng, hãy làm đơn đăng ký và sẽ tuyển sau. Lệnh này phát ra phải được thi hành nghiêm chỉnh và nhanh gọn".


Ngày hôm sau, Ủy ban khởi nghĩa họp quyết định đổi tên thành Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Quảng Trị do anh Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, anh Đặng Thí làm Phó chủ tịch, anh Nguyễn Hữu Khiếu làm Ủy viên thường trực, tôi là Ủy viên Ủy ban kiêm Ủy viên thư ký Ủy ban tỉnh. Ủy ban nhân dân cách mạng cử cán bộ đến họp với công nhân, nhân viên nhà máy điện, nước, bưu điện, xe lửa, bệnh viện... để động viên mọi người duy trì các công việc bình thường. Lãnh đạo tỉnh rất quan tâm đến các hoạt động này nhằm chăm lo đời sống sinh hoạt bình thường cho nhân dân.


Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh đã ra lệnh phóng thích, trả tự do cho một số tù nhân trong nhà tù của chính quyền cũ và cũng ra lệnh bắt giữ ngay một số tên việt gian phản động, chống phá cách mạng. Việc làm này đã tiến hành hết sức khẩn trương và thận trọng.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chính phủ lâm thời ra mắt đồng bào cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Nhân dân ta sau hơn 80 năm nô lệ dưới ách thống trị của thực dân phong kiến nay đã trở thành người làm chủ đất nước, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 07:58:10 pm
Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra sáu nhiệm vụ đối nội cấp bách là: Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói; mở ngay cuộc lạc quyên, góp gạo để giúp đỡ người nghèo; mở chiến dịch chống mù chữ; tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ; mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư, tật xấu của chế độ thực dân để lại; bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.


Trong hai ngày 10 và 11 tháng 9 năm 1945, Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh Quảng Trị mở hội nghị cán bộ chủ chốt tại xóm Rào làng An Tiêm phía đông vùng ven thị xã Quảng Trị. Hội nghị có trên 30 đại biểu. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng vừa để thống nhất sự lãnh đạo của Đảng bộ vừa quyết định các vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang đồng thời bàn các biện pháp thực hiện sáu nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra.


Hội nghị đã cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cử anh Đặng Thí làm Bí thư Tỉnh ủy.

Dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ tỉnh, hệ thống chính quyền từ tỉnh đến các huyện và cơ sở nhanh chóng được thiết lập, kiện toàn đi vào hoạt động. Tôi còn nhớ vào dịp này đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ để thành lập đơn vị hành chính mới cấp xã; hai hoặc ba làng nhỏ được hợp nhất thành một xã.


Đầu tháng 9, anh Trần Hữu Dực được điều lên làm Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ. Cụ Lê Thế Hiến được cử làm Chủ tịch Ủy ban tỉnh thay anh Trần Hữu Dực, anh Đặng Thí tiếp tục giữ chức Phó chủ tịch, tôi vẫn làm Ủy viên thư ký.

Tháng 10 năm 1945, Ủy ban nhân dân chuyển thành Ủy ban kháng chiến do anh Nguyễn Xuân Luyện làm Chủ tịch thay cụ Lê Thế Hiến, anh Đặng Thí vẫn làm Phó chủ tịch. Tôi làm Ủy viên Ủy ban kiêm Ủy viên thư ký. Thời gian này, trong Ủy ban có ông Nguyễn Bá Sam là cán bộ năm 1930 - 1931, thế là mọi người thêm âm "â" cho tôi. Tôi mang tên Trần Sâm từ đó.


Nhiệm vụ của Ủy viên thư ký (với chức năng như thường trực Ủy ban kiêm Chánh văn phòng), luôn có mặt cùng Chủ tịch và Phó chủ tịch Ủy ban để ghi chép những nội dung công việc của tỉnh, ghi biên bản các hội nghị của tỉnh, giữ các tài liệu sổ sách của Ủy ban.

Sau hội nghị, các ban chấp hành thanh niên, phụ nữ, nông dân, công đoàn lần lượt được thành lập, có hệ thống từ trên xuống dưới.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, một số cán bộ của Đảng, chính quyền và các đoàn thể được cử lên huyện miền núi Hướng Hóa cùng với cán bộ tại chỗ vận động tổ chức nhân dân các dân tộc Vân Kiều, Pa Kô khắc phục khó khăn xây dựng chế độ mới, bảo vệ bản làng biên giới.


Về lực lượng vũ trang, chi đội giải phóng quân được thành lập từ trưa ngày 23 tháng 8 năm 1945, do Trương Linh, người quê Triệu Phong, trước là lính khố đỏ phụ trách. Ngày 19 tháng 9 năm 1945, Chi đội Giải phóng quân chuyển thành Chi đội Thiện Thuật do ông Quản Xuyên làm Chi đội trưởng. Ít ngày sau, anh Nguyễn Đăng Trình (Tùng Lâm), người huyện Gio Linh được Tỉnh ủy chỉ định làm Chi đội trưởng thay ông Quản Xuyên. Trương Linh làm Chi đội phó. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của tỉnh.


Chi đội Thiện Thuật gồm 1.500 cán bộ, chiến sĩ, hầu hết được chọn từ các đội tự vệ chiến đấu.

Tuy chính quyền đã thuộc về nhân dân, nhưng cách mạng nước ta lúc này đang đứng trước một tình thế hiểm nghèo. Nhân dân Quảng Trị cũng như nhân dân cả nước phải đương đầu với muôn vàn thử thách, khó khăn. Nạn đói đang tiếp diễn, hậu quả chính sách vơ vét của thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại chưa khắc phục được. Các ngành sản xuất bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm, tài chính trống rỗng, hơn 95% nhân dân mù chữ. Giữa lúc ấy, núp dưới danh "Đồng minh" vào tước vũ khí quân đội Nhật ở Đông Dương, quân Anh, Pháp, Mỹ và quân Tưởng Giới Thạch kéo vào Việt Nam hòng bóp chết nhà nước non trẻ của ta.


Ở miền Bắc, lấy danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào nước ta. Lợi dụng thời cơ đó, bọn phản động "Việt quốc", "Việt cách" ráo riết hoạt động chống phá cách mạng. Ở miền Nam, cũng dưới danh nghĩa quân Đồng minh, quân Anh kéo vào giải giáp quân Nhật. Núp bóng quân Anh, thực dân Pháp đã trở lại gây chiến ở Nam Bộ.


Tháng 3 năm 1946, tại trụ sở tự vệ chiến đấu thị xã Quảng Trị, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt toàn tỉnh để quán triệt chỉ thị "Hòa để tiến" của Trung ương, nhằm loại bớt kẻ thù, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài và kiểm điểm việc thực hiện chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương.


Trong phần kiểm điểm tình hình, hội nghị nhất trí đánh giá những cuộc vận động thực hiện ba nhiệm vụ trọng tâm là: "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" bước đầu đã đem lại cho Quảng Trị một sắc thái mới. Qua các cuộc vận động lớn đó, Đảng bộ Quảng Trị đã huy động được lực lượng toàn dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền, tạo nên nền móng của chế độ mới, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tổ chức được phong trào quần chúng rộng rãi với khí thế cách mạng sôi nổi. Quảng Trị đã góp phần cùng cả nước vượt qua những khó khăn, thử thách ban đầu tưởng như không thể vượt qua nổi.


Hội nghị quyết định phải tiếp tục củng cố, phát triển lực lượng vũ trang, lực lượng công an, đẩy mạnh sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường vận động quần chúng củng cố mặt trận Việt Minh, chú trọng công tác phát triển đảng. Hội nghị nhất trí bổ sung tôi, các anh Nguyễn Xuân Luyện, Trần Văn Ngoạn và Trần Mạnh Quỳ vào Tỉnh ủy.


Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, sau Hội nghị tháng 3 năm 1946, Tỉnh ủy cử anh Trần Quỳ sang làm Chính trị ủy viên (Chính ủy) Chi đội Thiện Thuật; nhưng anh Quỳ nêu nhiều lý do không nhận. Cuối cùng Tinh ủy cử tôi thay anh Trần Quỳ làm Chính trị ủy viên Chi đội Thiện Thuật.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 08:02:53 pm
Đầu năm 1946, Trần Khanh được thầy Nguyễn Lân giới thiệu đi dạy học ở Plây Cu. Trần Phán và Trần Thừa tôi vận động hai chú vào bộ đội ở Chi đội Thiện Thuật.

Thời gian này Chi đội trưởng Chi đội Thiện Thuật là anh Nguyễn Đăng Trình thường gọi là Tùng Lâm. Tôi và anh Tùng Lâm đã quen biết nhau từ trước. Sau cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, tôi làm Ủy viên Ủy ban kiêm Ủy viên thư ký của tỉnh Quảng Trị, chúng tôi càng gần và hiểu nhau hơn.


Việc đầu tiên của tôi trên cương vị Chính trị ủy viên là lo củng cố tổ chức. Tôi bàn với anh Tùng Lâm lựa chọn những cán bộ tốt, tuỳ theo năng lực mà bố trí làm chính trị viên từ trung đội trở lên đến tiểu đoàn. Với cán bộ quân sự thì lựa chọn những người đã từng là cai, đội lính khố đỏ, khố xanh có tinh thần yêu nước tự nguyện đứng trong lực lượng vũ trang cách mạng, có khả năng và trình độ chỉ huy. Hầu hết họ được cử giữ các chức vụ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng.


Thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Quảng Trị thành lập Ban liên kiểm Việt - Pháp và tổ chức lực lượng tiếp phòng quân. Lực lượng tiếp phòng quân do anh Đoàn La chỉ huy, làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ đường sắt và giám sát quân Tưởng rút lui. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Quảng Trị cử một phái đoàn do anh Đặng Thí làm trưởng đoàn, cùng với phái đoàn Chính phủ Lào tiến hành đàm phán với quân Pháp. Trong cuộc hội đàm này, phái đoàn ta đã đồng ý để cho quân Pháp mượn đoạn đường 9 từ Lao Bảo đến Đông Hà và đoạn đường 1 từ Đông Hà đến Huế để quân Pháp từ Lào về Huế thay quân Tưởng rút về nước. Lợi dụng sự kiện này, thực dân Pháp một mặt chuyển một bộ phận quân đội về đóng ở Huế, mặt khác, chúng đưa quân từ Lào áp sát biên giới Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị và các trục đường số 9, số 8, số 7.


Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh tổ chức Quân đội quốc gia Việt Nam. Chi đội Thiện Thuật chuyển thành Trung đoàn Thiện Thuật. Sau khi thành Trung đoàn Thiện Thuật, trung đoàn được bổ sung quân số và tăng cường trang bị. Ngoài ba tiểu đoàn 13, 14, 15 đã có từ trước, trung đoàn được, biên chế thêm các đại đội công binh, thông tin, trinh sát và một tiểu đoàn nữ. Sau một thời gian ngắn chúng tôi đề nghị Tỉnh ủy giải thể tiểu đoàn nữ, chỉ để một số tiểu đội làm nhiệm vụ bảo vệ.


Các chị em của trung đoàn đều cắt tóc ngăn như nam, quân phục là quần soóc, quấn xà cạp, mặc áo của lính khố đỏ Pháp. Các chị em làm nhiệm vụ canh gác rất nghiêm, ai vào doanh trại đều phải dừng lại, quay đằng sau, đợi đốc gác kiểm tra mới được vào. Bộ đội nam không ai dám trêu ghẹo các chị. Cũng cần phải nói thêm là số chị em này đa số không biết chữ.


Trang bị vũ khí của trung đoàn có gần 200 khẩu súng thu được của lính khố xanh, khố đỏ trước đây, còn lại phần lớn là giáo mác, mã tấu. Quân phục không có, quần áo do anh em tự túc, ai có gì mặc nấy.

Trung đoàn đã tiến hành huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị cho cán bộ chiến sĩ, nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng và chiến kỹ thuật. Tỉnh ủy và Ủy ban đã phát động nhân dân thu gom súng đạn, đóng góp tiền bạc mua sắm vũ khí cho bộ đội. Nhờ vậy chỉ sau một thời gian, Trung đoàn Thiện Thuật chúng tôi đã ổn định tổ chức, trang bị vũ khí được tăng cường, trình độ chính trị và kỹ chiến thuật đã được nâng lên, sức chiến đấu đã mạnh hơn rõ rệt.


Ngày 28 tháng 6 năm 1946, Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ nhất tỉnh Quảng Trị khai mạc ở Thành cổ Quảng Trị. Đến dự đại hội có 120 đại biểu. Anh Tố Hữu - Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Bộ về dự và chỉ đạo đại hội. Đại hội đã thảo luận các báo cáo của Tỉnh ủy, tập trung đánh giá toàn diện tình hình từ sau Cách mạng tháng Tám đồng thời tập trung bàn kỹ các nhiệm vụ sắp tới, trong đó có nhiệm vụ tăng cường và củng cố sự thống nhất trong đảng bộ, phát triển các đoàn thể, thành lập Hội liên Việt tỉnh...


Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 13 đồng chí: Đặng Thí, Nguyễn Xuân Luyện, Trần Văn Ngoạn, tôi (Trần Sâm), Phan Trọng Tỉnh, Lê Khoang, Hồ Ngọc Tích, Nguyễn Cao, Nguyễn Hoạch, Nguyễn Hữu Khiếu, Hoàng Xuân, Nguyễn Bá Sam, Nguyễn Đàm.

Anh Đặng Thí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Anh Hồ Chiêu, Phó bí thư.

Tháng 8 năm 1946, Trung đoàn Thiện Thuật được trên tăng cường một số cán bộ có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu. Trong đó có anh Đinh Huy Phan thường gọi là Hùng Việt đã từng tham gia Giải phóng quân ở chiến khu Việt Bắc. Sau Cách mạng tháng Tám, anh tham gia đội quân Nam tiến, trực tiếp chỉ huy một đơn vị chiến đấu ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Anh được điều về làm Trung đoàn trưởng thay anh Nguyễn Đăng Trình. Tôi lúc này vẫn giữ cương vị Chính ủy Trung đoàn.
   Tháng 12 năm 1946, Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị được thành lập, gồm: Anh Đặng Thí, Bí thư Tỉnh ủy; anh Nguyễn Xuân

uyện, Chủ tịch Ủy ban tỉnh; tôi (Trần Sâm), Chính ủy Trung đoàn Thiện Thuật; anh Nguyễn Hữu Khiếu, Trưởng ty Công an và anh Hùng Việt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật.

Những ngày cuối năm 1946, Pháp đã bội ước Hiệp đình Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Hiệp ước có một số nội dung: Nước Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong khối liên hiệp Pháp là một nước tự do, có Chính phủ, có nghị viện, có quân đội, tài chính riêng. Chính phủ Pháp cam kết sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ. Nước Việt Nam chấp thuận để 15.000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc, số quân này sẽ phải rút hết sau một thời gian được quy định. Hai bên đình chiến để mở một cuộc đàm phán chính thức. Trong khi đàm phán quân hai bên ở đâu vẫn đóng ở đấy...


Sau khi vào miền Bắc, quân Pháp liên tiếp vi phạm hiệp định. Chúng tăng quân, gây nhiều vụ xung đột, mở rộng phạm vi đóng quân ngoài những khu vực hiệp định quy định. Tình hình chiến sự mỗi ngày một nóng lên. Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp".


Càng về cuối năm 1946, khả năng hòa hoãn càng giảm, nguy cơ nổ ra chiến tranh toàn cục càng gia tăng. Để giành chủ động, trước tình thế chiến tranh không thể tránh khỏi, đêm 19 tháng 12 năm 1946, lực lượng vũ trang cả nước được lệnh nổ súng tiến công địch.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:

"Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

Lơi kêu gọi của Bác là tiếng gọi của non sông, là mệnh lệnh tiến công thôi thúc, giục giã mọi người dân Việt Nam đứng dậy cứu nước.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, Đảng bộ, quân, dân tỉnh Quảng Trị cùng với cả nước nhất tề đứng lên sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 08:15:38 pm
Chương hai
CUỘC CHIẾN ĐẤU TRÊN MẢNH ĐẤT HẸP MIỄN TRUNG


Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến tỉnh, các cơ quan, kho tàng công binh xưởng đóng ở thị xã Quảng Trị đều chuyển lên phía tây của tỉnh, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Cũng trong thời gian này, nhân dân trong tỉnh đóng góp hàng vạn ngày công cùng du kích, bộ đội khẩn trương đào hào đắp ụ, dựng chướng ngại vật, phá cầu cống, gấp rút hoàn thành các tuyến phòng ngự quanh thị xã Quảng Trị và các thị trấn dọc quốc lộ 1 và đường số 9. Đồng thời huy động nhân dân cắm cọc ngăn sông Hiếu đoạn cửa Việt - Gia Độ, Xuân - Phiên - Hà - chợ Chùa, phá hoại những nơi mà địch có thể lợi dụng để đóng bốt và trú quân. Toàn bộ lương thực, thực phẩm, phương tiện sinh hoạt được nhân dân cất giấu hoặc phá bỏ. Thực hiện triệt để "Vườn không nhà trống" sẵn sàng từ bỏ cuộc sống thành thị, ra đi kháng chiến.


Tỉnh ủy chủ trương phải hết sức chăm lo việc đưa dân đi tản cư. Mỗi huyện và mỗi xã đều lập ban tản cư chịu trách nhiệm sơ tán dân.

Lúc này, bên kia biên giới Việt - Lào ở khu vực gần Lao Bảo, quân Pháp tăng cường lực lượng rất đông. Triệu chứng đó cho thấy quân Pháp sắp mở cuộc tiến công sang đất ta. Để sẵn sàng đánh trả cuộc tiến công của địch, các đơn vị chủ lực của ta rời khỏi doanh trại ra đóng quân trong rừng và phối hợp với nhân dân tổ chức kháng chiến chống quân Pháp xâm lược.


Với Trung đoàn Thiện Thuật, tôi bàn với anh Hùng Việt triển khai đội hình như sau: Tiểu đoàn 14 đóng ở thị xã Quảng Trị, sẵn sàng đánh địch tiến công từ Huế ra. Tiểu đoàn 15 đóng ở Đông Hà, làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, thay cho một đơn vị của quân Tưởng Giới Thạch rút về nước. Tiểu đoàn 13 đóng ở Khe Sanh.


Khi được phân công từng vị trí, các đơn vị nhanh chóng triển khai, ngày đêm đào công sự, xây dựng làng chiến đấu, phá cầu cống, đường sá để ngăn chặn địch tiến công, thực hiện chủ trương của trên là "Tiêu thổ kháng chiến".

Ngày 10 tháng 1 năm 1947, quân Pháp mở cuộc tiến công vào Quảng Trị, chúng chia thành hai cánh quân: Cánh thứ nhất khoảng 1.500 tên từ Huế theo đường số 1 tiến công từ hướng nam; cánh thứ hai khoảng 500 tên từ Trung Lào theo đường 9 hòng đánh chiếm tuyến hành lang Thái Phiên - Thuận Hóa thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam ra làm đôi. Để ngăn chặn và đánh trả các mũi tiến công của địch, tôi và anh Hùng Việt thống nhất điều Tiểu đoàn 14 được tăng cường và Đại đội Lê Hồng Phong lên phối hợp với Tiểu đoàn 13 đang ở Khe Sanh tập trung trên hướng tây đường 9, hình thành thế trận phòng ngự sẵn sàng đón đánh quân Pháp từ Lào tiến sang.


Ngày 11 tháng 1 năm 1947, quân Pháp sử dụng hơn 500 quân có trọng pháo và máy bay yểm trợ vượt sông Xê-băng-phai mở mũi vu hồi sau Lao Bảo đánh vào làng Tổng Thuật. Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 13 (tôi còn nhớ trung đội này dưới sự chỉ huy của Đại đội phó Nguyễn Tháp) đã chiến đấu kiên cường, chặn địch quyết liệt ở khu vực Ma Ca đoạn giữa Tổng Thuật và Khe Sanh. Đến trưa, Đại đội phó Nguyễn Tháp bị thương nặng phải về tuyến sau, nhưng cán bộ chiến sĩ Trung đội 3 vẫn chiến đấu gan góc đánh lại nhiều đợt tiến công của quân Pháp, buộc chúng phải dừng ở Ma Ca chờ quân cơ giới từ Lao Bảo đến tiếp viện. Có lực lượng tiếp viện chỉ huy quân Pháp lại xua quân tràn sang sông. Bộ đội ta tuy lực lượng ít, vũ khí thô sơ, nhưng đã chiến đấu rất quả cảm. Cán bộ, chiến sĩ ta lợi dụng từng tảng đá, ụ đất chống trả địch gây cho chúng nhiều thiệt hại, diệt tại chỗ 30 tên, làm bị thương nhiều tên khác. Nhưng, do lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch nên chúng tôi lệnh cho anh em rút lui để bảo toàn lực lượng.


Sau khi vượt sông Xê-băng-phai, quân địch vòng ra phía sau bất ngờ đánh chiếm Khe Sanh hòng chặn đường rút của bộ đội ta. Chúng tôi lệnh cho bộ đội vừa chiến đấu chặn địch vừa rút lui về Rào Quán. Trước tình hình đó, sau khi tôi trao đổi với anh Hùng Việt, anh đã cùng một số cán bộ tham mưu đến Rào Quán chỉ huy bộ đội tổ chức phòng thủ. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hùng Việt, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 14 đã tổ chức một hệ thống phòng thủ khá vững chắc, ngăn chặn quân Pháp nhiều ngày.


Ngày 12 tháng 1, một cánh quân Pháp có xe bọc thép đi cùng do thiếu tướng Tuốc-canh chỉ huy từ Lào vượt biên giới theo đường số 9 đánh chiếm Lao Bảo. Tiểu đoàn 13 và dân quân, tự vệ đã đánh trả quyết liệt quân Pháp trong các đồn điền cà phê nằm hai bên đường số 9, diệt hơn 60 tên, ngăn chặn bước tiến công của chúng. Do đường từ Lao Bảo về Khe Sanh bị quân và dân ta phá hoại, địch vừa đi vừa khắc phục nên tốc độ tiến quân của chúng rất chậm.


Ngày 15 tháng 1, các cánh quân của địch hình thành thế gọng kìm tiến đánh Khe Sanh. Sau khi chiếm được Khe Sanh, quân Pháp từ Ma Ca phối hợp với cánh quân cơ giới ở Khe Sanh về Rào Quán (Rào Quán nằm trên đường số 9, cách thị xã Đông Hà 55km). Cầu Rào Quán bị quân ta phá sập nên địch phải tập trung lực lượng sửa chữa trước khi tiến đánh.


Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tôi và anh Hùng Việt, Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 14, Đại đội Lê Hồng Phong và lực lượng dân quân du kích sẵn sàng đánh trả cuộc tiến công của địch. Lúc này anh Trần Hữu Dực - Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ đến Quảng Trị, tôi đã đưa anh lên trận địa phòng ngự động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm tiêu diệt địch bảo vệ nhân dân. Bộ đội Trung đoàn Thiện Thuật rất phấn khởi, hứa với đồng chí Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ: quyết chiến đấu với quân Pháp.


Lợi dụng địa thế hiểm trở, bộ đội ta đã triển khai thế trận, bí mật phục kích hai bên đường. Khi quân Pháp lọt vào trận địa các loại súng của ta nhả đạn vào đội hình quân địch. Bị đánh bất ngờ nên quân Pháp rối loạn. Nhân lúc địch rối loạn đội hình, các chiến sĩ Tiểu đoàn 13 xông lên đánh giáp lá cà với quân Pháp. Đại đội 2, Tiểu đoàn 13 đã phục kích diệt hai trung đội địch. Trung đoàn trưởng Hùng Việt ra lệnh cho Tiểu đoàn 13 phá cầu Rào Quán, buộc địch phải dừng lại mấy ngày để sửa chữa.


Trong những trận chiến đấu trên đường số 9, Tiểu đoàn 13 đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu tiêu biểu. Tôi còn nhớ chiến sĩ giữ trung liên Nguyễn Kế đã chiến đấu anh dũng, đợi địch đến gần mới nổ súng diệt gần chục tên địch. Tiểu đội đánh bom có đồng chí Phan Văn Trắc, đồng chí Trắc quê ở thôn Thượng Trạch, huyện Triệu Phong chiến đấu rất dũng cảm, được anh em đặt cho tên "Vua giật bom đường 9". Đồng chí Phan Văn Trắc được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Đây là huân chương đầu tiên mà Trung đoàn Thiện Thuật được nhận. Chiến sĩ ta còn phát huy các loại vũ khí thô sơ như chông, mìn tự tạo, bẫy đá diệt hơn 100 tên, làm bị thương nhiều tên khác.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 14 Tháng Chín, 2026, 08:29:32 pm
Tối ngày 16 tháng 1 năm 1947, tôi bàn với anh Hùng Việt cho Tiểu đoàn 13 rút về Đầu Mầu, chỉ để lại một số tổ giật bom, bố trí đánh địch trên đường 9 đoạn Rào Quán - Đầu Mầu, đồng thời điều Tiểu đoàn 14 trước đóng ở thị xã Quảng Trị phụ trách hướng Cửa Việt, Mỹ Chánh, nay điều lên bố trí ở Cùa, phía nam đường 9. Tiểu đoàn 15 trước đóng ở Đông Hà, phụ trách hướng Cửa Tùng, bắc Quảng Trị nay điều ra đứng chân ở khu vực Gio Linh, phía bắc đường 9.


Ngày 25 tháng 1 năm 1947, địch đánh chiếm đèo Vân Thúy rồi tràn vào chiếm vùng Cùa. Trước sự tiến công ào ạt của địch, cán bộ Tiểu đoàn 14 cho bộ đội rút về phía huyện Cam Lộ.

Trước tình hình Tiểu đoàn 14 để mất Cùa, anh Hùng Việt nổi giận, lệnh cho cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn xếp hàng trước sân vận động và rút súng định bắn. Thấy vậy, tôi chạy ra nói như ra lệnh:

- Đồng chí Hùng Việt không được làm thế. Khuyết điểm của cán bộ, tổ chức sẽ tùy mức độ mà kỷ luật. Đồng chí cho anh em về tổ chức lại bộ đội, tôi và đồng chí cùng anh em vào Cùa đánh địch.

Nghe tôi nói tổ chức sẽ kỷ luật, anh Hùng Việt hạ cơn nóng, cho súng vào bao, rồi bảo:

- Hôm nay các anh may vì có Chính ủy Trần Sâm, không thì các anh đã ăn đạn của tôi rồi. Tất cả về tổ chức bộ đội chuẩn bị đánh chiếm lại Cùa.

Khi chúng tôi vào Cùa thấy địch để lại những dãy lán trại làm nghi binh còn đại bộ phận quân địch đã kéo lên Mai Lãnh tập trung lực lượng tiến công Đầu Mầu.

Cuộc chiến đấu ở Đầu Mầu kéo dài suốt cả ngày 28 tháng 1 năm 1947. Ta và địch quần nhau rất quyết liệt. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn đã diệt 30 tên, làm bị thương gần 100 tên khác. Trung đoàn còn tập kích quân Pháp ở Tân Lâm, diệt và làm bị thương nhiều tên.

Ngày 3 tháng 2 năm 1947, chúng tôi dùng hai đại đội đi tắt đường núi đánh vào sau lưng đội hình quân địch ở Mai Lãnh, gây cho chúng nhiều thiệt hại rồi nhanh chóng cho anh em rút lui.

Chiếm xong Đầu Mầu, địch dừng lại ở đó nửa tháng để sửa chữa đường sá, cầu cống, chỉnh đốn đội ngũ và chờ quân tiếp viện. Chúng tôi cho trung đoàn lui về tổ chức phòng tuyến Đèo Đá và Cam Lộ. Tiểu đoàn 13 mặc dầu đã nhiều lần được bổ sung quân song cũng chỉ còn lại hai đại đội. Do hoạt động lâu ngày, chiến đấu liên tục nên sức khỏe của anh em giảm xuống rất nhanh. Tuy vậy mọi người đều cố gắng chiến đấu. Sau đó, Tiểu đoàn 13 được lệnh lui về Cam Lộ giữ Đèo Đá.


Nhờ có kinh nghiệm đối phó với địch trên trục đường số 9 nên nhiều nơi trong tỉnh công tác chuẩn bị đánh địch cũng được triển khai chu đáo hơn, thôn xóm nào cũng có "chiến khu" riêng trong núi. Mỗi gia đình cũng chuẩn bị hai, ba "căn cứ" kín đáo đề phòng khi địch đến là rút vào "căn cứ" ngay. Trong căn cứ đều có hầm giấu lương thực, của cải. Mỗi thôn đều tổ chức một đến hai tổ tự vệ canh gác, còn du kích thì tập trung tập luyện, khi có tin địch đến mới ra vị trí chiến đấu.


Được chi viện thêm quân và vũ khí, phương tiện, ngày 13 tháng 2 năm 1947, cánh quân Pháp ở Đầu Mầu - Đường 9 bắt đầu tiến công Đèo Đá và đánh chiếm huyện lỵ Cam Lộ. Tiểu đoàn 13 ngoan cường đánh trả quân địch, nhưng trước sức tiến công áp đảo của địch, tiểu đoàn phải rút qua phía bắc sông Cam Lộ. Quân Pháp tiến theo đường số 9 đánh thẳng về Đông Hà. Một bộ phận quân địch chiếm được chợ Phiên, rồi vượt sang phía bắc sông Cam Lộ. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 13 phối hợp với biệt động đội của tỉnh chặn đánh quân địch ở Cầu Đuồi suốt buổi chiều, diệt và làm bị thương nhiều tên địch.


Đại bộ phận quân Pháp theo đường số 9 tiến về Đông Hà, nhưng đến cây số 9 thì chúng sa vào trận địa có bố trí bom, mìn điểu khiển bằng điện và dây giật suốt 2km của ta, quân ta đã diệt một xe thiết giáp và nhiều tên địch. Đoạn đường ta bố trí bom, mìn đã làm cho địch phải mất 3 ngày để dò và tháo gỡ.


Ngày 17 tháng v2 năm 1947, địch vào Đông Hà chỉ còn "Vườn không nhà trống".

Như vậy, trên đoạn đương từ biên giới Việt - Lào đến Đông Hà dài 80km, mặc dù quân Pháp có lực lượng mạnh cả bộ binh, cơ giới, pháo binh và máy bay yểm trợ nhưng trước sự đánh trả quyết liệt của Trung đoàn Thiện Thuật và dân quân, du kích, tự vệ... chúng phải mất 38 ngày mới đẽn được Đông Hà (Theo kế hoạch của chúng, cuộc tiến công từ Lao Bảo đến Đông Hà dự kiến chỉ 4 đến 5 ngày). Không những thế, chúng còn phải bỏ xác trên dọc đường tiến công 300 binh lính và sĩ quan.


Trên hướng nam, sau khi chiếm được Thừa Thiên, ngày 12 tháng 2 năm 1947, quân Pháp sử dụng 1.500 quân có xe tăng đi cùng dưới sự yểm trợ của pháo binh và máy bay tiến công Mỹ Chánh. Để bảo toàn lực lượng, ngăn chặn đà tiến công của địch, quân ta đã phá cầu Mỹ Chánh.


Sau khi bắc lại cầu, ngày 13 tháng 2, địch tiếp tục hành quân đánh chiếm Diên Sanh (huyện lỵ Hải Lăng). Quân ta lui về tổ chức phòng thủ thị xã Quảng Trị.

Ngày 15 tháng 2 năm 1947, quân Pháp tập trung lực lượng chia làm ba mũi vượt sông Nhùng, đánh vào tuyến phòng ngự của ta ở nam thị xã Quảng Trị. Chúng tôi lệnh cho Tiểu đoàn 14 phối hợp với dân quân du kích xã Hải Long phục sẵn ở làng Thượng Xá. Khi quân Pháp vừa đến làng Thượng Xá bị các tay súng Tiểu đoàn 14 đánh trả quyết liệt.


Cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 14 với quân địch kéo dài suốt ngày 15 tháng 2, ta đã đẩy quân địch ra khu rừng thông gần ga La Vang, diệt hơn 20 tên, làm bị thương nhiều tên khác.

Trước lực lượng mạnh của địch (gồm hai tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh) quân và dân ta vừa chặn đánh ngăn cản bước tiến của địch vừa rút lui lên các khu căn cứ đã chuẩn bị sẵn.

Trước khi địch từ Huế đánh ra Quảng Trị, ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi đã tính phương án phòng ngự thị xã Quảng Trị. Chúng tôi quyết định điều Tiểu đoàn 14 từ Cùa về tổ chức phòng ngự ở thị xã. Trên tăng cường cho thị xã Quảng Trị một đại đội vệ binh. Nhìn chung, khắp nơi trong thị xã đều có lực lượng bộ đội và tự vệ bố trí. Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức cho bộ đội bố trí những trận địa đặt bom giật, bom treo, phá các nhà kiên cố, cả Trung đoàn Thiện Thuật sẵn sàng cuộc chiến đấu với quân Pháp.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 08:59:38 pm
5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 2 năm 1947, pháo binh địch bắn phá thị xã, sau đó chúng cho bộ binh chia thành hai hướng tiến đánh thị xã. Hướng thứ nhất từ Đông Hà đánh vào, hướng thứ hai từ Mỹ Chánh đánh ra. Chúng tôi động viên bộ đội đánh trả những đợt tiến công của địch. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 14 gan góc lợi dụng giao thông hào bám trụ chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Những trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, nhất là ở sân vận động, làng Trí Bửu, ngã tư Xuân Tịnh, trường Quảng Đức, đặc biệt là trận chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị. Trong trận này, đợi cho quân Pháp kông kênh nhau vượt tường, các loại súng của ta đồng loạt nhả đạn. Gần 100 tên địch đã bỏ mạng ở đây.


Sau gần một ngày chiến đấu, Trung đoàn Thiện Thuật đã loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch trên chiến trường thị xã Quảng Trị. Số địch bị thương chở đầy 15 xe ô tô.

Cuộc chiến đấu càng về chiều càng diễn ra quyết liệt. Địch tiếp tục tăng quân, quyết chiếm bằng được thị xã. Pháo binh địch bắn phá dữ dội vào trận địa phòng ngự của ta, sau đó chúng cho bộ binh tiến công- Trước tình hình đó, tôi và anh Hùng Việt thống nhất: Dùng hai khẩu đại liên và 20 chiến sĩ cố thủ ở chùa Phật Học để thu hút địch, còn đại bộ phận trung đoàn rút ra khỏi thị xã. Riêng đại đội ở làng Trí Bửu thì chiến đấu với địch đến chiều tối mới vượt sông Vĩnh Đình rút về An Tiêm. Ngoài ra, một số tổ cảm tử quân tiếp tục ở lại thị xã giật bom đánh địch ở ty công an, vườn hoa, ngã tư chợ Tỉnh.


Một hình ảnh tôi không bao giờ quên, đó là hình ảnh của 20 cán bộ, chiến sĩ trụ lại ở chùa Phật Học, họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh. 

Trong giai đoạn này, Trung đoàn Thiện Thuật cùng với lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị đã làm tròn nhiệm vụ không cho địch thực hiện kế hoạch giải vây Huế như đã định. Lực lượng của chúng bị sa lầy và tổn thất nặng từ Lao Bảo, Đông Hà,thị xã Quảng Trị... nên chúng không đủ sức vào giải vây Huế. Chúng phải dùng máy bay đổ bộ quân vào nam Thừa Thiên rồi đánh ra Huế giải vây cho quân Pháp đang bị vây hãm ở đây.


Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị họp mở rộng. Tham gia hội nghị có anh Đặng Thí - Bí thư và các anh Nguyễn Xuân Luyện, Nguyễn Hữu Khiếu, Lê Chưởng và tôi cùng một số người nữa. Hội nghị họp tại làng Lại An huyện Gio Linh nhận định: Sau khi đánh chiếm thị xã Quảng Trị, địch bị tiêu hao nặng nên chúng phải dừng lại một thời gian để củng cố lực lượng, tiến hành bình định vùng chúng mới chiếm đóng. Sau đó chúng sẽ mở đợt tiến công đánh chiếm Gio Linh, Vĩnh Linh... Thường vụ chủ trương: Địch có thể chiếm được đất nhưng ta không thể để mất dân. Địch cố chiếm đồng bằng, ta không những giữ vững địa bàn rừng núi mà phải giành giật với địch ở đồng bằng đông dân. Có thể chúng sẽ càn quét, tiêu diệt cơ sở kháng chiến, đánh bật cán bộ, đảng viên, bộ đội lên núi để lập hội tề. Nhưng cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang quyết không rời quần chúng, giữ vững các cơ sở ở đồng bằng để phá tề trừ gian. Cấp ủy các cấp một mặt phải nhanh chóng chuyển sang chỉ đạo đấu tranh vũ trang, bám đất, bám dân giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương, mặt khác phải kiên quyết đập tan kế hoạch lập ngụy quyền, ngụy quân của địch.


Hội nghị còn đề ra các biện pháp cụ thể như: Bảo toàn lực lượng bộ đội chủ lực, tăng cường lực lượng tự vệ chiến đấu, củng cố các huyện đội, lập các đội tự vệ chiến đấu của huyện, lập đội du kích đường 9 (sau gọi là đội biệt động đường 9), lập các đội trừ gian, phát động toàn dân bao vây kinh tế địch, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, củng cố xây dựng lại các chi bộ đảng ở các huyện phía nam của Tỉnh ủy, có mạng lưới giao thông liên lạc bảo đảm thông suốt từ trên xuống cơ sở và ngược lại.


Về quân sự, tôi đề xuất: Điều Tiểu đoàn 14 vòng lại vùng đồng bằng Triệu - Hải cùng với lực lượng dân quân tự vệ của hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng và các đơn vị chủ lực đã trở lại từ trước bảo vệ dân, bảo vệ mùa màng và phải đánh mạnh vào các lực lượng chiếm đóng của địch. Tiểu đoàn 15 vừa là lực lượng dự bị vừa cùng với lực lượng vũ trang hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến đóng trên địa bàn. Tiểu đoàn 13 bám địa bàn bắc Cam Lộ, giữ đường 76.


Ý kiến đề xuất của tôi được Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy hoàn toàn nhất trí.

Sáng ngày 8 tháng 3 năm 1947, anh Hùng Việt dẫn ba chiến sĩ của Tiểu đoàn 14 ra hướng dẫn sử dụng quả đạn pháo 75mm, biến quả đạn này thành quả mìn để diệt dịch. Tôi đang ngồi làm việc trong nhà thì bỗng nghe thấy tiếng nổ lớn. Tôi nhìn ra chỗ anh Hùng Việt và ba chiến sĩ thấy khói bụi mịt mù...


Anh Hùng Việt đã anh dũng hy sinh. Anh ra đi là một tổn thất to lớn đôi với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn. Anh là một trung đoàn trưởng dũng cảm và mưu trí. Tôi đau đớn tập trung toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trung đoàn có mặt ở đó, nghẹn ngào nói:

- Đồng chí Hùng Việt là một cán bộ quân sự ưu tú của Đảng, một chỉ huy trung đoàn dũng cảm và mưu trí. Đồng chí mất đi là một tổn thất vô cùng lớn lao đối với cán bộ, chiến sĩ chúng ta. Tôi đề nghị các đồng chí giữ bí mật về sự hy sinh của đồng chí Hùng Việt. Hãy coi như đồng chí đang cùng chiến đấu với chúng ta. Giữ bí mật này là mệnh lệnh, ai để lộ coi như vi phạm kỷ luật chiến trường. Các đồng chí nghe rõ chưa?

Với niềm thương tiếc và xúc động, tất cả đều nghẹn ngào: "Rõ!" - Lời hô, lời hứa nhỏ nhẹ, đau buồn, suốt đời tôi không thể quên.

Sau khi tổ chức an táng cho anh Hùng Việt và ba chiến sĩ, việc đầu tiên là tôi tập chữ ký của anh Hùng Việt. Cũng may chữ tôi và chữ anh Hùng Việt na ná giống nhau. Chữ ký của anh chân phương nên tôi không khó khăn lắm để bắt chước ký vào các mệnh lệnh của trung đoàn trưởng.


Mấy tháng trời, cả trung đoàn đều tin là Trung đoàn trưởng Hùng Việt vẫn đang chỉ huy. Trên thực tế, lúc này tôi là Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:00:56 pm
Tối ngày 8 tháng 3 năm 1947, thực hiện chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy và kế hoạch tác chiến của trung đoàn, Tiểu đoàn 14 do Tiểu đoàn trưởng Lê Bá Khoan chỉ huy được lệnh hành quân vòng lại ở vùng đồng bằng Triệu - Hải. Tôi thống nhất với huyện ủy Triệu Phong và Hải Lăng là phân tán Tiểu đoàn 14, phối hợp với dân quân tự vệ và các đội trừ gian ở địa phương tổ chức quấy rối địch, không cho chúng ăn ngon ngủ yên, phá âm mưu bình định của chúng.


Nắm vững phương châm chỉ đạo kháng chiến của Đảng, chúng tôi động viên cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 14 sử dụng nhiều phương thức chiến đấu như phục kích, tập kích chớp nhoáng... Cách đánh này vừa tránh thương vong cho chiến sĩ vừa đạt hiệu quả cao, quân địch rất hoang mang, lúc nào cũng nơm nớp sợ bị tiến công.


Đêm 20 tháng 3 năm 1947, bộ đội và dân quân đột nhập Trường Phủ, ném lựu đạn vào nơi quân Pháp tập trung, diệt một số tên. Cùng đêm, quân ta tấn công nhà Thương Chánh ở chợ Sãi (Triệu Phong) diệt 6 lính Pháp, phá một xe gíp.

Ở Hải Châu (Hải Lăng), được sự giúp đỡ nuôi dưỡng che chở của nhân dân, chúng tôi chỉ đạo Đại đội 5 Tiểu đoàn 14 phối hợp với dân quân tổ chức một trận địa lôi chiến rộng lớn, chôn bom rải rác khắp các thôn Bích La, Thương Trạch, An Trạch, Long Quang và chặn đánh địch khắp các ngả, diệt 80 tên, làm bị thương 20 tên khác.


Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ và nhân dân hai huyện Triệu - Hải, đã thực hiện phương châm bám địch để đánh, bám dân giữ vững cơ sở. Dần dần ta đã hình thành khu căn cứ đồng bằng Triệu Phong, trung tâm là chợ Cạn. Sau đó, khu căn cứ được mở rộng ra cả vùng đồng bằng Triệu Phong và Hải Lăng. Dựa vào căn cứ chợ Cạn, chúng ta đã kiểm soát được phần lớn vùng đồng bằng Triệu Phong, Hải Lăng - nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến của tỉnh Quảng Trị.


Sau khi chiếm được thị xã Quảng Trị và Đông Hà, quân Pháp một mặt tiến hành củng cố các vị trí vừa chiếm được, mặt khác cho quân lấn dần ra phía bắc, chiếm vùng tả ngạn sông Cam Lộ từ Tân Đình, Cam Vũ đến Cam Lộ Hạ, kiểm soát tỉnh lộ 74 tạo thế che chắn cho quân lính của chúng ở dọc đường số 9. Đồng thời chúng chuẩn bị bàn đạp tấn công hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh.


Ngày 27 tháng 3 năm 1947, quân Pháp chia hai cánh quân đánh chiếm Gio Linh. Cánh quân thứ nhất từ Đông Hà theo quốc lộ 1 đánh chiếm dập huyện. Cánh quân thứ hai theo đường 76 có thiết giáp yểm trợ và bọn việt gian dẫn đường. Chúng tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 13 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Lê Bá Vận và Chính trị viên Vũ Hồng Thanh, tổ chức những trận đánh trên đường 76, tập kích chợ Phiên (Cam Lộ), diệt và làm bị thương hàng chục tên, trong đó có một tên quan tư Pháp bị thương nặng, khi về đến Đông Hà thì hắn chết; bắn cháy một chiếc xc tăng. Ta còn bố trí một trung đội chủ lực lên vùng Đầu Mầu hoạt động quấy rối phía sau lưng địch. Đặc biệt trong thời gian này Tiểu đoàn 13 có trận đánh tại nhà Cửu Cầu (Cam Lộ Hạ), diệt gọn một trung đội địch, làm cho chúng hoang mang, khiếp sợ.


Ngày 30 tháng 3 năm 1947, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Linh cũng bằng hai cánh quân, dưới sự yểm trợ của 4 máy bay, 2 tàu chiến ở ngoài biển và hàng chục xe thiết giáp, xe cơ giới. Cánh quân thứ nhất theo đường sắt tràn qua sông Hiền Lương, cầu Tiên An và từ Tiên An chúng tiến đánh bến đò Phúc Lâm để chiếm huyện lỵ Vĩnh Linh. Cánh quân thứ hai, vượt qua cánh đồng và những cồn cát bờ biển vòng xuống Võ Xá, Hải Chữ tiến xuống chiếm Cửa Tùng, sau đó đánh lên hợp điểm với cánh quân thứ nhất ở huyện lỵ Vĩnh Linh. Hai cánh quân này gặp nhau ở vùng Hồ Xá (huyện lỵ Vĩnh Linh).


Trên đường tiến quân, quân Pháp vấp phải sự đánh trả quyết liệt của Tiểu đoàn 15 và các đội tự vệ thường trực, ta tiêu diệt hơn 30 tên Pháp, làm bị thương nhiều tên khác. Để bảo toàn lực lượng, chúng tôi lệnh Tiểu đoàn 15 sau trận chiến đấu ở cầu Tiên An, bến đò Hiền Lương, phải vừa đánh địch vừa lui theo đường Sa Lung - Bến Quang lên vùng căn cứ Ba Buôi - Keng Tăm (tây Vĩnh Linh), tranh thủ củng cố lực lượng.


Sau hơn một tháng hoạt động, tôi và một số cán bộ của Trung đoàn Thiện Thuật theo đường đồng bằng Gio Linh - Triệu Phong lên vùng Hải Đảo (Hải Lăng) liên lạc với Tỉnh ủy để chuẩn bị lương thực cho trung đoàn.

Đầu tháng 5 năm 1947, chúng tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 15 và lực lượng trợ chiến hành quân về căn cứ Hải Đạo.

Như vậy, đến ngày 31 tháng 3 năm 1947, địch đã chiếm hầu hết Quảng Trị. Kể từ đây nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị bước vào cuộc chiến đấu mới cam go, quyết liệt và lâu dài.

Nói thêm về Trung đoàn Thiện Thuật. Do trung đoàn mới xây dựng nên chưa có kinh nghiệm chiến đấu, vũ khí thô sơ, thiếu thốn, về mặt chiến thuật, bộ đội chỉ biết bố trí trận địa đánh địch trước mặt, hoặc phục kích, tập kích nhỏ. Chưa qua vận động đánh địch sau lưng, nặng về phòng ngự, nhẹ tiến công. Cán bộ có quyết tâm cao, có lòng yêu nước, căm thù giặc nhưng chưa được học tập chiến kỹ thuật, chưa có kinh nghiệm tổ chức, chỉ huy bộ đội tác chiến, chưa biết làm công tác vận động chính trị trong chiến đấu...


Những ngày đầu kháng chiến, nhân dân Quảng Trị đã cùng lực lượng vũ trang nêu cao tinh thần yêu nước đâ kiên cường chiến đấu, bám đất, bám dân. Cuộc kháng chiến ở Quảng Trị đã dần dần phát triển rộng khắp và kết hợp nhiều mặt. Công tác chuẩn bị lâu dài được tiến hành khẩn trương.


Kế hoạch bố phòng, kế hoạch xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực, dân quân, tự vệ được chuẩn bị tương đối đầy đủ. Công tác giáo dục tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện được chú trọng... nên khi chiến sự xảy ra quân dân Quảng Trị luôn bình tĩnh, vững vàng.


Sau khi chiếm Quảng Trị, quân Pháp đã thực hiện ý đồ: nối thông con đường chiến lược Đà Nẵng - Đông Hà - Sa-va-na-khẹt. Bộ chỉ huy quân Pháp ở Huế xúc tiến kế hoạch mở rộng vùng chiếm đóng. Đến mùa hè năm 1947, tổng số quân Pháp và tay sai ở đây là 2.800 tên.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:04:05 pm
Bộ chỉ huy quân Pháp chia Bình - Trị - Thiên làm ba chiến khu: Chiến khu Quảng Bình, chiến khu Quảng Trị, chiến khu Thừa Thiên.

Chiến khu Quảng Trị do một đại tá Pháp chỉ huy gồm bốn phân khu: Đông Hà, Quảng Trị, Gio Linh và Khe Sanh. Trong từng phân khu, chúng xây dựng hệ thống đồn bốt, căn cứ khá dày đặc. Quân Pháp liên tục mở các trận càn quét, khủng bố, chúng thực hiện ba sạch (giết sạch, phá sạch, đốt sạch). ở huyện Hải Lăng, chỉ trong một buổi chiều ngày 10 tháng 4 năm 1947, giặc Pháp đi càn đã cho lính xả súng bắn chết 115 người ở xóm Đò làng Quy Thiện, trong đó có hai em của tôi là Trần Phán và Trần Thống. Trần Phán năm đó 18 tuổi. (Phán sinh năm 1929). Chú đi bộ đội, ở Tiểu đoàn 14, Trung đoàn Thiện Thuật của tôi. Trong trận chiến đấu ở Đầu Mầu, chú Phán bị thương, quân y đơn vị đã chữa trị cho Phán tạm ổn, nhưng sức khoẻ vẫn chưa hồi phục nên cho chú về nhà tạm nghỉ để dưỡng thương. Khi địch càn vào làng, chú Phán dẫn em là Trần Thống năm đó 13 tuổi (Thống sinh năm 1934) chạy trốn nấp trong bụi cây. Quân Pháp phát hiện được đã xả súng bắn chết cả hai em.


Khi tôi nhận được tin hai em Phán và Thống bị giặc Pháp bắn chết, tôi không tin là thực. Đến khi về quê nghe bố tôi kể lại diễn biến như trên và chiều tối hôm đó ông cùng mấy người bà con đưa xác hai em về quê chôn, tôi nén xúc động, nói với bố mẹ:

- Bố mẹ đừng quá đau buồn mà đổ bệnh. Con hứa với bố mẹ là sẽ trả thù cho hai em.

Cùng thời gian này quân Pháp còn lùng sục đốt cháy nhà cửa của dân. Có nơi nhân dân phải làm đi làm lại năm, bảy lần. Âm mưu độc ác của quân Pháp không chỉ bắn, giết, đốt phá bằng bom đạn mà chúng còn làm cho nhân dân ta chết dần chết mòn vì đói rét, bệnh tật. Thực hiện âm mưu đó, chúng đã ra sức phá hoại mùa màng làm cho nhân dân đói khổ, buộc phải theo chúng. Địch coi đây là "chiến tranh thóc gạo". Chúng lấy việc kiểm soát lúa gạo, kiểm soát việc làm ăn để kiểm soát tình hình chính trị của nhân dân. Ngoài các biện pháp trắng trợn huy động tay sai đi cướp lúa của dân, chúng còn cho xe thiết giáp chạy giữa đồng lúa đang chín để phá. Tàn ác hơn, chúng còn cho lính xả súng bắn vào nông dân giữa đồng, bắn trâu bò, phá nông cụ, bắt nông dân phải tập trung lúa vào đồn...


Tình hình kinh tế - tài chính, hậu cần lúc này của tỉnh Quảng Trị nói chung và Trung đoàn Thiện Thuật nói riêng gặp nhiều khó khăn. Bộ đội bị sốt rét nhiều, thuốc ký ninh hiếm, anh em phải hòa thuốc vào nước cho nhiều người cùng uống.

Trong tình hình địch càn quét đánh phá hết đợt này đến đợt khác, bọn việt gian, tề điệp đua nhau mọc lên, lực lượng của ta ở đồng bằng phải hoạt động trong điều kiện khó khăn gay gắt. Nhiều đồng chí phải ngủ bờ, ngủ bụi, ban ngày ẩn nấp giữa các bãi cát nóng, ban đêm mới len lỏi vào thôn xóm tuyên truyền giác ngộ nhân dân, tìm bắt liên lạc, gây dựng cơ sở củng cố tổ chức dân quân, du kích, tự vệ.


Chiến khu của tỉnh nằm ở phía tây hai huyện Triệu - Hải từ Hòn Linh, Bạc Lở qua Khe Sụ, Khe Cau. Phía Ba Lòng kéo dài xuống Bơơng, phía Hòn Linh kéo dài xuống Hải Đạo. Chiến khu Ba Lòng là một địa thế rất lợi hại của quân dân ta. Ở đây có thể tiến đánh địch, lúc khó khăn tạm thời ta vẫn có thể giữ Vùng Trấm. Bơơng là căn cứ của Trung đoàn Thiện Thuật.


Về tổ chức, thực hiện chủ trương của Trung ương, Quảng Trị đã thống nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính thành Ủy ban kháng chiến hành chính.

Từ tháng 5 năm 1947, cuộc chiến đấu ở Quảng Trị đã có bước phát triển mới. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thiện Thuật đã cùng dân quân, du kích bám đất, bám dân, đẩy mạnh việc phục hồi, củng cố lực lượng kháng chiến. Các hoạt động của Trung đoàn Thiện Thuật và dân quân, du kích diễn ra khắp nơi, đẩy quân địch vào tình thế đối phó hết sức lúng túng. Chúng tôi ra lệnh cho các tiểu đoàn đẩy mạnh tiến công quân địch. Nhiều trận tập kích căn cứ địch ở Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, đường số 9 liên tiếp diễn ra. Quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên địch, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở Quảng Trị phát triển đều khắp.


Thời gian này, ở Quảng Trị xuất hiện nhiều làng xã chiến đấu kiểu mẫu như: Huỳnh Công Đông, Huỳnh Công Tây. Vùng đồng bằng tuy đất hẹp nhưng cũng hình thành những căn cứ như chợ Cạn (Triệu Phong), Phương Lang (Hải Lăng). Bọn tề ngụy cũng phải co vào các đồn bốt. Mỗi lần càn quét vào các khu căn cứ, địch phải tập trung quân lớn. Vậy mà nhiều cuộc càn chưa vào được căn cứ, chúng đã phải vội vàng rút quân.


Thu - Đông năm 1947, quân Pháp mỏ cuộc tiến công chiến lược vào Việt Bắc. Âm mưu của chúng là: Tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, loại trừ bộ đội chủ lực của ta và phá hủy mọi tiềm năng chiến tranh. Để đánh bại cuộc tiến công của địch, quân và dân ta đã mở chiến dịch phản công giáng cho quân địch phải chịu tổn thất nặng nề, buộc địch phải chuyển sang thế thủ.


Chiến dịch Việt Bắc là chiến dịch phản công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta tại căn cứ địa rừng núi. Trong chiến dịch này, bằng cách đánh du kích, vận động, mặc dù lực lượng trang bị của ta thua kém địch, nhưng quân và dân ta đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược của một vạn hai quân viễn chinh Pháp.


Phối hợp với chiến trường Việt Bắc, trước tình hình địch thay đổi chiến lược chiến tranh và thủ đoạn hoạt động, Trung đoàn Thiện Thuật chúng tôi đã thay đổi phương thức hoạt động, thực hiện phương châm "du kích vận động chiến", vừa tiến hành các trận đánh nhỏ lẻ, vừa tuyên truyền vận động quần chúng, thành lập các đội vũ trang, biệt động luồn sâu hoạt động trong lòng địch, xây dựng phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch.


Thời gian này, địch tiến hành các trận càn quét đánh vào các căn cứ của ta hòng tiêu diệt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến. Trong trận chống càn ở Hòn Linh, Ba Lòng, Trung đoàn Thiện Thuật chiến đấu dũng cảm mưu trí, diệt và bắt gần 400 tên địch. 

Mấy chục tên địch bị bắt, tôi bàn với lãnh đạo Tỉnh ủy phóng thích chúng. Tôi trực tiếp viết thư cho viên trung tá Pháp chỉ huy phân khu Quảng Trị thông báo việc ta thả tù binh. Trong thư tôi hẹn với viên chỉ huy phân khu Quảng Trị là ta sẽ phóng thích tù binh tại cầu Lai Phước trên đường số 1. Phía Pháp phải bảo đảm an toàn cho người áp giải tù binh của ta. Viết xong thư tôi cử chiến sĩ Nam, có thể hình cao lớn và tác phong hoại bát mang thư vào thị xã Quảng Trị đưa cho trung tá chỉ huy phân khu Quảng Trị.


Chiến sĩ Nam, bình tĩnh, hiên ngang đi vào thị xã. Binh lính địch ngăn lại, thấy thư gửi cho chỉ huy phân khu, hơn nữa Nam không mang theo vũ khí, thế là chúng cho anh đi.

Viên trung tá Pháp sau khi nhận lá thư bằng chữ Pháp do tôi viết từ tay chiến sĩ Nam đã tỏ ra lịch sự và chu đáo. Viên chỉ huy quân Pháp tỏ lòng biết ơn sự nhân đạo của quân đội ta và hứa sẽ thực hiện đúng theo yêu cầu của ta.

Sau này, Nam nói lại với tôi là viên trung tá Pháp định tặng cho Trung đoàn trưởng một món quà, nhưng Nam đã từ chối một cách lịch sự. Tôi khen ngợi việc làm của cậu ta và biểu dương Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:05:20 pm
Tháng 11 năm 1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ hai khai mạc tại Khe Sụ (xã Triệu Nguyên). Đại hội có 90 đại biểu chính thức và dự khuyết. Phần đánh giá tình hình một năm lãnh đạo kháng chiến của Đảng bộ, Đại hội chỉ rõ: Thắng lợi của quân dân Quảng Trị trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế trong năm đầu kháng chiến chống Pháp đã góp phần cùng quân và dân hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Bình giữ chân giặc Pháp, không cho chúng tấn công ra vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, cùng cả nước buộc thực dân Pháp phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh lâu dài", thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt đánh người Việt".


Về phương hướng, Đại hội đề ra các biện pháp cốt yếu để chống lại âm mưu thủ đoạn mới của địch, là củng cố khối đoàn kết toàn dân, coi trọng công tác mặt trận và các đoàn thể, xây dựng cơ sở quần chúng, củng cố, xây dựng lực lượng dân quân du kích, kiên quyết trừng trị bọn việt gian, giải tán các ban hội tề do địch lập ra, vận động ngụy quân, tổ chức phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, vận động quần chúng trực tiếp tham gia đánh giặc giữ làng. Đẩy mạnh sản xuất, chú trọng công tác văn hóa, giáo dục, y tế, mở các trường tiểu học ở những nơi có điều kiện như chiến khu Ba Lòng Cùa... Đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, xuất bản và phát hành tờ báo Tiếng Vang.


Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ hai đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 13 ủy viên chính thức: Đặng Thí, Trần Văn Ngoan, Lê Chưởng, Nguyễn Xuân Luyện, tôi (Trần Sâm), Nguyễn Quang Xá, Nguvễn Cao, Hoàng Xuân, Văn Việt Tùy, Hồ Ngọc Tích, Trần Hồng Chương, Vĩnh Mai, Nguyễn Đàm và 2 ủy viên dự khuyết: Trần Trọng Hoãn (tức Trần Trọng Tân), Phạm Ngọc Cấn. Anh Đặng Thí được Đại hội bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.


Cuối năm 1947, Phân khu Bình - Trị - Thiên được thành lập, trực thuộc Liên khu 4, Trung đoàn Thiện Thuật đổi thành Trung đoàn 95. (Tôi cũng không rõ tại sao lại đặt tên là Trung đoàn 95). Anh Lê Nam Thắng thay tôi làm Trung đoàn trưởng, anh Lê Chưởng làm Chính ủy, tôi được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cao Vân1 (Trần Cao Vân là một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân ở Huế đầu thế kỷ XX, nên khi mới thành lập Chi đội lấy tên là Cao Vân) (Trung đoàn 101) thay anh Hà Văn Lâu.


Chi đội Cao Vân thành lập tháng 9 năm 1945 ở Huế. Quân số ban đầu có khoảng 2.000 người. Năm 1946, đơn vị đổi tên thành Trung đoàn Cao Vân và cuối năm 1947 đổi thành Trung đoàn 101. (Tôi cũng không rõ tại sao trung đoàn lại lấy tên 101). Thời gian này, Trung đoàn Cao Vân có 3 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 16 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 319, Tiểu đoàn 17 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 328, Tiểu đoàn 18 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 227.


Tôi về Trung đoàn 101 giữa lúc giặc Pháp mở cuộc càn lởn. Chúng đốt trên 5.000 ngôi nhà, giết hại trên 2.000 người dân vô tội. Quân địch dùng các đội ứng chiến nhỏ kết hợp với quân chiếm đóng, càn quét khu du kích và vùng tự do ở đồng bằng Thừa Thiên hòng khủng bố, tìm bắt cán bộ.


Trước thế mạnh và những thủ đoạn càn quét ác liệt của địch trước những tổn thất lớn của ta, một số cán bộ, đảng viên hoang mang dao động. Nhiều tổ chức cơ sở đảng, cơ sở quần chúng bị tê liệt. Trước tình hình nghiêm trọng ấy, lãnh đạo các cấp chưa kịp thời đề ra những chủ trương thích hợp để ổn định tư tưởng, tổ chức, giữ vững phong trào kháng chiến thậm chí có nơi bị tan rã.


Đảng ủy Liên khu 4 đã họp phê phán nhận thức sai lầm và những biểu hiện hữu khuynh, tiêu cực trong cán bộ các cấp, nhất là trong một số cán bộ lãnh đạo chỉ huy chủ chốt, đồng thời đề ra những nhiệm vụ và biện pháp cốt yếu để chống lại hành động càn quét của địch: Phải xây dựng cơ sở quần chúng, tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh, vận động toàn dân trực tiếp tham gia đánh giặc, giữ làng. Kiên quyết trừng trị bọn việt gian, giải tán hội tề, vận động binh sĩ ngụy quân quay về với cách mạng. Duy trì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cũng như hoạt động quân sự, phối hợp chặt chẽ giữa các vùng trong một khu vực, các chiến trường trong Liên khu với chiến trường toàn quốc, không để địch dồn lực lượng đánh phá từng khu vực một.


Tôi cho rằng chủ trương toàn dân tham gia đánh giặc là một chủ trương đúng đắn, xuất phát từ đường lối kháng chiến của Đảng và được quân và dân Bình - Trị - Thiên vận dụng để khôi phục và phát triển chiến tranh du kích trong Liên khu 4, cuộc chiến tranh đó thực sự trở thành một cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, bền bỉ, kiên cường.


Ngày 1 tháng 2 năm 1948, Trần Thừa (em trai thứ bảy của tôi) là cán bộ đại đội quân báo thuộc hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong đã hy sinh trong một cuộc chống càn không cân sức. Quân địch dồn tổ quân báo của Thừa vào một góc vườn rồi kêu gọi đầu hàng. Tôi được một vài người kể lại, Thừa vừa hô: Đầu hàng này! Đầu hàng này! vừa rút súng bắn chết 3 tên địch. Bọn địch điên cuồng bắn vào Thừa. Thừa bị thương nặng nhưng vẫn kịp bới cát vùi súng và tài liệu rồi lấp cát lên.


Quá sốc trước cái chết của ba người con trai, ngay 20 tháng 4 năm 1948, mẹ tôi đổ bệnh rồi qua đời.

Ngày 16 tháng 6 năm 1948, tôi sử dụng một phân đội (chọn những người khoẻ, tháo vát, trang bị gọn nhẹ) đột nhập vào thành phố Huế giữa ban ngày tiến công kho xăng, nhà ga, bắn cháy nhà chứa quân dụng, gây cho địch nhiều thiệt hại.


Đêm 27 tháng 6 năm 1948, tôi bàn với anh Trần Quý Hai - Chính ủy Trung đoàn dùng Tiểu đoàn 227 do Chính trị viên Quách Sĩ Kha và Tiểu đoàn trưởng Trần Sơn Nham chỉ huy, bí mật hành quân vượt phá Tam Giang rồi chia thành nhiều mũi tiến công đồn Mỹ Lợi. Bị đánh bất ngờ, địch rối loạn, chống cự yếu ớt. Anh em ta vừa chiến đấu vừa gọi hàng, sau hơn 1 giờ đã diệt gọn đồn và lôi kéo 6 hàng binh người Đức. Quân ta rút trước lúc trời sáng.


Ngày 9 tháng 7 năm 1948, chúng tôi sử dụng Tiểu đoàn 319 tập kích đồn Hà Thanh (Phú Vang). Tôi dùng Kê Men - một hàng binh người Đức giả làm sĩ quan Pháp cùng 30 chiến sĩ cải trang thành ngụy binh ngang nhiên vào đồn. Lính gác mở cổng đồn, anh em ta xông vào nổ súng tiến công. Do bị bất ngờ quân địch không dám chống cự. Ta diệt 44 tên, thu 1 súng trung liên và 34 súng trường cùng nhiều đạn dược. Ta còn giải thoát được 7 cán bộ do địch bắt giam.


Tiếp theo trận tiêu diệt đồn Hà Thanh, Trung đoàn 101 chúng tôi còn phục kích địch ở cửa Tư Hiền, đánh chìm 14 thuyền chở 150 tấn lương thực của địch. Chúng tôi còn tổ chức trận vận động chiến đánh địch càn ở Dưỡng Mông ( Phú Vang).


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:06:38 pm
Tháng 8 năm 1948, Liên khu ra lệnh tổng phá tề lần thứ nhất. Ta chủ trương phá tề thành từng đợt đều khắp ở cả ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên để không cho địch tập trung khủng bố từng nơi.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhân dân vùng tạm bị chiếm đồng loạt nổi dậy phá kìm diệt ác, quét tề trên nhiều vùng rộng lớn. Do sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội và công an, dựa vào cơ sở quần chúng, một mặt kiên quyết trừng trị những tên ngụy quyền phản động, mặt khác tuyên truyền giáo dục lôi kéo những người lầm đường trở về với cách mạng, chỉ một thời gian ngắn, hơn 80% hội tề ở Thừa Thiên bị giải tán. Chính quyền nhân dân thôn, xã lần lượt ra đời. Trung đoàn 101 đánh địch ở Võ Xá, Mỹ Chánh, Phò Trạch, Ưu Điềm, Cầu Nhi, Xóm Xoài, Cầu Vực... hỗ trợ cho nhân dân đứng lên phá tề trừ gian, bảo vệ mùa màng, bảo vệ nhân dân.


Cuối năm 1948, thực dân Pháp tổ chức những đợt vận chuyển vũ khí, lương thực lớn tiếp tế cho Quảng Trị, Quảng Bình và Trung Lào. Bộ chỉ huy Phân khu chủ trương tổ chức những trận đánh giao thông, nhằm vào các đoàn tàu chở vũ khí quan trọng của địch, đoạt nhiều vũ khí, đạn dược để trang bị cho các đơn vị. Cho tới lúc này, tình hình trang bị của các trung đoàn vẫn còn yếu, mới đảm bảo quá nửa số chiến sĩ có súng. Số còn lại vẫn phải dùng đại đao, mã tấu.


Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, tôi quyết định chọn Hội Mít nằm trên tuyến đường sắt Đà Nẵng - Huế cách ga Lăng Cô 2km về phía bắc, kẹp giữa đầm An Cư, đường số 1 và dải núi trùng điệp ở tây tây nam để đánh địch. Địa hình ở đây có nhiều thuận lợi cho ta, song địch cũng có thể cơ động lực lượng đến phản kích khi bị ta tiến công.


Ngày 1 tháng 1 năm 1949, tôi dẫn Tiểu đoàn 319 từ căn cứ Đình Môn hành quân xuống khu vực Khe Chanh - Hội Mít qua phá Tam Giang bằng thuyền, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Lực lượng tham gia gồm 1 tiểu đoàn tăng cường, vũ khí 2 đại liên, 2 súng cối 81mm. Tôi cho chôn 2 quả bom loại 50kg do máy bay quân Pháp ném không nổ, quân giới của ta đem về cải tiến thành bom giật, trên đường xe lửa và ngụy trang cẩn thận, sử dụng 2 đại đội bộ binh và Đại đội hỏa lực 124 vào nhiệm vụ đánh chiếm tàu. Một đại đội chia thành hai cánh làm nhiệm vụ chặn viện ở Lăng Cô, Phú Gia tới. Đại đội độc lập 117 và du kích nam Thừa Thiên làm nhiệm vụ tổ chức nghi binh lừa địch.


13 giờ 45 phút ngày 12 tháng 1 năm 1949, như thường lệ, chiếc xe tuần đường chở một tiểu đội lính chạy qua, không phát hiện được gì, ít phút sau đoàn tàu quân sự kéo đến. Đợi cho đoàn tàu lọt vào nơi đã định, tôi ra lệnh cho chiến sĩ công binh Trần Tư giật bom phá đường. Sau 2 tiếng nổ dậy đất, khói bụi mịt mù, đoàn tàu địch trật bánh. Chớp thời cơ địch đang hoang mang tôi động viên cán bộ chiến sĩ trung đoàn lập tức nhảy lên đánh chiếm tàu.


Sau hơn 1 giờ chiến đấu, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 101 đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đại đội bảo vệ tàu gồm 300 tên, thu 10 trung liên, 30 tiểu liên, 180 súng trường và hàng vạn viên đạn. Lực lượng đánh chiếm tàu lập tức chuyển sang thu dọn chiến lợi phẩm, vận chuyển vũ khí đạn dược lên rừng cất giấu.


14 giờ 30 phút địch ở đồn Thừa Lưu và đồn Lăng Cô cho quân ra phản kích chiếm lại, nhưng đều bị bộ phận chặn viện đẩy lui.

Đến 17 giờ, đơn vị đã chuyển lên rừng hàng tấn vũ khí, nhưng tôi kiểm tra trên tàu vẫn còn 4 toa đầy ắp vũ khí và một khẩu pháo 75kg còn mới vẫn chưa mang đi được. Nhìn số vũ khí còn chất đầy trên tàu, tiếc lắm nhưng trời tối, rừng núi hiểm trở không tài nào mang nổi, tôi đành ra lệnh phá hủy khẩu pháo và nổi lửa đốt đoàn tàu, không cho địch cướp lại. Ta đã phá hủy hàng ngàn súng, trên 80 tấn đạn các loại, toàn bộ đầu máy và 17 toa xe trong đó có 4 toa chở đầy vũ khí.


Bị mất đoàn tàu quân sự chứa đầy vũ khí ngay trong tầm kiểm soát của địch, bọn chỉ huy quân Pháp ở Bình - Trị - Thiên rất bàng hoàng. Chúng hiếu rằng một khối lương lớn vũ khí, đạn dược lọt vào tay quân ta là một thảm họa không thể lường trước.

Sau đó địch cấm dân 7 ngày không được lên núi và mở cuộc càn tìm diệt chủ lực ta, mong cướp lại số vũ khí bị mất. Nhưng cuộc truy lùng của địch đã bị các chiến sĩ Đại đội độc lập 117 và du kích nam Thừa Thiên lừa cho lạc hướng. Trung đoàn 101 chúng tôi vận chuyển chiến lợi phẩm về căn cứ Đình Môn an toàn.


Chiến thắng Hội Mít - trận phục kích tiêu diệt gọn cả một đoàn tàu địch của Trung đoàn 101, có sức cổ vũ mạnh mẽ quân dân toàn Liên khu. Đối với địch, đây là tổn thất lớn nhất về lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh trong một trận đánh trên chiến trường Bình - Trị - Thiên từ trước đến thời điểm đó.


Để ghi nhận chiến công của Trung đoàn 101 trong trận Hội Mít, Bộ Tổng tư lệnh quyết định tặng thưởng cho Trung đoàn Huân chương Chiến công hạng ba.

Sau thất bại Hội Mít, tên phó tư lệnh Trung phần Việt Nam Đờ La-rốc cấp tốc chỉ thị cho binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược và vũ khí. Thời kỳ này mật độ sử dụng hỏa lực của địch ở Bình - Trị - Thiên giảm đi rõ rệt.

Cay cú trước thất bại trong những ngày đầu năm từ 17 tháng 1 đến 24 tháng 2 năm 1949, địch đã huy động quân có máy bay yểm trợ mở cuộc càn lớn vào vùng đồng bằng các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang. Sau đợt tổng lùng sục ở đồng bằng, địch tập trung lực lượng càn quét lên chiến khu.


Từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 14 tháng 3 năm 1949, địch huy động 2.000 quân, có không quân yểm trợ mở cuộc tiến công vào chiến khu Thừa Thiên, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Chúng chia làm ba cánh quân, cánh quân thứ nhất từ Động Truồi lên Khe Sụ, Ly Hy theo đường 14 Khe Tro. Cánh quân thứ hai, từ Tuần theo sông Hữu Trạch tiến vào Bình Điền. Cánh quân thứ ba, từ Gia Lễ tiến lên Dương Hòa, Lương Miêu án ngữ phía trước chiến khu.


Thấy trước âm mưu của địch, ta kịp thời chỉ đạo cho cơ quan và nhân dân sơ tán, hạn chế tổn thất do địch gây ra. Nhằm phá cuộc càn của địch, chúng tôi chỉ thị cho các đại đội độc lập phối hợp chặt chẽ cùng quân và dân trong tỉnh đánh địch đều khắp. Ngày 11 tháng 3 năm 1949, chúng tôi dùng Tiểu đoàn 319 bí mật luồn về sau lưng địch đánh trận vận động chiến ở Đôn Trì diệt và làm bị thương nhiều tên, thu 41 súng các loại.


Sau 20 ngày chiến đấu, Trung đoàn 101 phối hợp với dân quân, du kích tỉnh Thừa Thiên loại khỏi vòng chiến đấu 350 tôn địch (có một quan tư, một quan ba, một quan hai Pháp), cuộc tiến công của địch lên chiến khu thất bại, chúng không, thực hiện được mục tiêu đề ra.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:07:24 pm
Tháng 10 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Trung Lào do anh Hà Văn Lâu làm Tư lệnh, anh Trần Quý Hai làm Chính ủy, tôi (Trần Sâm) giữ chức Phó tư lệnh. Ba cơ quan của phân khu được chuyển thành ba cơ quan Mặt trận do các anh Lê Tùng, Phạm Như Quỳnh, Trần Chí Cường phụ trách. Ba trung đoàn 95, 101, 18 chủ lực của phân khu được chuyển thành lực lượng của Mặt trận. Mặt trận Bình - Trị - Thiên có nhiệm vụ đẩy mạnh tác chiến tập trung ở hướng chiến lược đường số 9 - miền Trung Đông Dương, dùng chủ lực tác chiến để phối hợp với chiến trường Bắc Bộ và khi có điều kiện sẽ tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tiến tới giải quyết chiến trường Bình - Trị - Thiên đồng thời với chiến trường Bắc Bộ.


Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Trung Lào được thành lập là một mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển mới của phong trào kháng chiến Bình - Trị - Thiên và sự phát triển lực lượng trên chiến trường. Nó phản ánh sâu sắc mối quan hệ mật thiết giữa địa bàn chiến lược Bình - Trị - Thiên với chiến trường chính Bắc Bộ.


Tháng 11 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch Lê Lợi nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế kìm kẹp của địch ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, khai thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 10, Liên khu 3 và Liên khu 4.

Phối hợp với chiến dịch Lê Lợi, Liên khu 4 mở chiến dịch Đồng - Xuân 1949 - 1950 tại ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, xây dựng và mở rộng căn cứ đồng bằng. Đây là một kế hoạch hoạt động phối hợp lớn giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân ba tỉnh Bình - Trị - Thiên. Chiến dịch Bình - Trị - Thiên mang tên "Chiến dịch Lê Lai", hướng chiến dịch chủ yếu mở ra ở nam tỉnh Quảng Bình. Lực lượng tham gia gồm các trung đoàn: 18, 95, 101 và một số tiểu đoàn của các địa phương. Ngay từ những ngày đầu chiến dịch, Bộ Tư lệnh Phân khu chúng tôi đã ra vùng đồng bằng Quảng Ninh, Lệ Thủy (nam Quảng Bình) để trực tiếp chỉ đạo hai trung đoàn 95 và 18 tác chiến ở đây.


Ngày 22 tháng 12 năm 1949, chiến dịch Lê Lai bắt đầu.

Mở màn chiến dịch, Tiểu đoàn 436 (Trung đoàn 18) được tăng cường một đại đội phóng bom tiến công đồn Vạn Xuân, nhưng thật tiếc không diệt được đồn này. Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 18 chuyển sang bao vây đánh quân tiếp viện. Đúng như dự kiến của ta, ngày 23 tháng 12 địch tám lần điều quân đến đánh giải vây, bị quân ta đánh chìm ba thuyền, diệt hàng chục tên địch.


Phối hợp với Trung đoàn 18, ngày 25 tháng 12, Trung đoàn 95 sử dụng Tiểu đoàn 227 chặn đánh một cánh quân từ Đồng Hới vào tiếp viện cho đồn Vạn Xuân. Ta đã diệt và làm bị thương hơn 30 tên, bắt 51 tên (trong đó có tên thiếu tá Pháp chỉ huy phân khu Quảng Bình và 22 lính Âu - Phi), thu 62 súng các loại, 2 máy vỏ tuyến điện, phá hỏng 7 xe.


Ngày 30 tháng 12, địch rút khỏi Vạn Xuân. Từ đây, phía tây khu vực sông Kiên Giang (huyện Lệ Thủy) được giải phóng, vùng tự do của ta được mở rộng.

Trung đoàn 18 tràn qua dốc U Bò, vận động xuống Lệ Kỳ đánh địch. Trung đoàn 101 vừa tới Quảng Điền, Hương Trà đã tổ chức trận phục kích diệt gọn 2 trung đội địch ở Bôn Trì, Bôn Phổ và tập kích đồn Thủy Cầu. Tại bắc Quảng Bình, Trung đoàn 57 vừa bổ sung cho chiến dịch đã tổ chức tập kích quân, địch ở Đơn Sa, phục kích địch ở Ba Đồn và Thanh Lê, diệt 100 tên.


Chúng tôi chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực ở hướng chính. Bộ đội địa phương, dân quân du kích tổ chức đánh mìn các đoàn tàu địch ở Đá Bạc (Phá Lộc), Hải Đạo (Hải Lăng), gài bom phá kho của địch ở nhà ga Huế, liên tục đánh giao thông trên đường số 1 và đường số 9. Ngoài ra ta còn dùng địch vận hạ đồn Lao An, Mỹ Chánh, Phù Ốc...


Bước sang đợt hai chiến dịch Lê Lai, trung tuần tháng 1 năm 1950, Trung đoàn 95 cơ động vào nam Thừa Thiên cùng Trung đoàn 101 mở đợt hoạt động mới ở đây.

Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1950, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 hành quân vào đến Hương Trà thì địch đã mở cuộc càn lớn vào Phò Trạch, Lương Mai, Phong Chương, Phong Cai... ở Hải Lăng và Phong Điền ở Thừa Thiên. Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Mặt trận chúng tôi trao đổi và quyết định hai Trung đoàn 95 và 101 quay trở lại Hải Lăng và Phong Điền chặn đánh quân địch. Tôi còn nhớ anh Lê Tự Đồng, Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 101 và anh Lê Bá Vận, Trung đoàn phó Trung đoàn 95 đã động viên bộ đội vừa đi vừa chạy gần 15km dọc theo bãi cát ven biển trở về nơi địch đang càn.


Vừa tới nơi, cán bộ chiến sĩ ta triển khai chiến đấu ngay. Suốt 9 giờ đồng hồ chiến đấu quyết liệt, đến tối ngày 27 tháng 1, không chịu được đòn tiến công của quân ta, quân Pháp lợi dụng đêm tối chạy về Huế. Sau một ngày chiến đấu, Trung đoàn 101 và Trung đoàn 95 đã diệt và bắt sống 400 tên, thu hơn 50 súng các loại. Trận đánh này kết thúc chiến dịch Lê Lai.


Phò Trạch và Lương Mai là trận vận động chiến lớn, chủ lực ta đã đọ sức quyết liệt với đội quân ứng chiến Âu - Phi của địch, là trận năng lực tổ chức chỉ huy của cán bộ và trình độ kỹ, chiến thuật của bộ đội ta được nâng lên một trình độ mới cao hơn, trận đánh đã khẳng định trình độ tác chiến vận động ở địa bàn đồng bằng của bộ đội chủ lực Bình - Trị - Thiên có bước trưởng thành rõ rệt.


Tháng 3 năm 1950, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận xét: Trận Phò Trạch - Lương Mai có thể coi là một trận vận động chiến kiểu mẫu trong toàn quốc suốt quá trình phát triển vận động chiến của quân ta ở đồng bằng.

Ba năm (1948 - 1950), quân dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, kiên trì và khẩn trương phát triển lực lượng ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên các địa bàn, làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, góp phần đánh bại âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp.


Ba năm, hơn 1.000 ngày, một phần ba cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân cả nước nói chung, của quân dân Bình - Trị - Thiên nói riêng. Vượt qua thử thách gay go, quyết liệt của những năm đầu kháng chiến, trên mảnh đất hẹp của Bình - Trị - Thiên khói lửa. Lực lượng của ta đã có bước phát triển rất quan trọng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cả nhiệm vụ quốc tế.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:10:19 pm
Chương ba
ĐI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ


Ngày 9 tháng 2 năm 1950, tôi được Bộ Tổng tư lệnh bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 4. Bộ Tư lệnh Khu 4 thời gian này đóng ở Nghệ An. Thấy hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn, bố già, vợ yếu, con gái mới được hai tuổi, các anh lãnh đạo Khu gợi ý tôi nên chuyển gia đình từ chiến khu Ba Lòng ra Nghệ An để có điều kiện tranh thủ lo việc nhà. Gia đình tôi có ba người nhưng chuyển ra cũng phải chia làm hai đợt. Đợt một, các anh đưa vợ tôi và con gái tôi (vợ tôi lại đang có mang sắp đến ngày sinh). Mấy tháng sau, các anh mới bố trí đưa bố tôi ra Nghệ An.


Đến Nghệ An, gia đình tôi ở nhờ nhà anh Lê Nam Thắng, ở xã Đồng Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (Bố tôi mất ở nhà anh Nam Thắng năm 1953 - lúc tôi đã ra Việt Bắc. Tháng 4 năm 1991, tôi và con trai, con rể đã chuyển hài cốt cụ về quê). Anh Thắng tên thật là Nguyễn Đình Khiếng, hậu duệ của danh tướng Nguyễn Xí thời hậu Lê. Anh hoạt động cách mạng từ rất sớm, là bạn tù với tôi trong nhà đày Buôn Ma Thuột. Sau này chúng tôi cùng chiến đấu trên mảnh đất Quảng Trị - Thừa Thiên. Khi tôi từ Trung đoàn 95 sang Trung đoàn 101, anh Lê Nam Thắng thay tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95.


Gia đình anh Thắng đã thu xếp nơi ăn chốn ở cho gia đình tôi rất chu đáo. Đang ở trong vùng ngày đêm bom đạn khói lửa, nay được ra sống ở hậu phương tương đối thanh bình, cả nhà tôi rất phấn khởi.

Nhân chuyện chuyển nơi ở từ Quảng Trị ra Nghệ An, tôi muốn dành ít dòng để nói về gia đình của mình. Tôi xây dựng gia đình sau Cách mạng tháng Tám. Vợ tôi là Lê Thị Lý, con ông Lê Văn Việt và bà Trần Thị Chút, ông Lê Văn Việt là bạn thân với bố tôi, cùng làm nghề thợ nề vào loại giỏi trong vùng. Cô Lý là thanh niên hăng hái tham gia cướp chính quyền ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Vợ chồng tôi sinh được năm người con. Con gái đầu là Trần Thanh Liễu, tốt nghiệp Đại học Quân y khoá 1. Chồng Liễu là Nguyễn Mạnh Đẩu, hiện nay là Trung tướng - Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật. Vợ chồng Liễu được hai cháu. Cháu trai Nguyễn Trần Quang, tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự. Cháu gái Nguyễn Trần Thùy Vinh, tốt nghiệp Học viện Báo chí Tuyên truyền. Các cháu đều đã có gia đình.


Con thứ hai là Trần Hùng, tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự, sau này là đại tá, Giám đốc Trung tâm 2 Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng - Tổng cục Kỹ thuật. Trần Hùng có hai đời vợ: Mai Huấn, Lê Thị Bích Thoa. Hùng được một con gái là Trần Mai Anh, tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội.


Con gái thứ ba là Trần Thanh Lan, tốt nghiệp Đại học Hóa tinh vi - Lômônôxốp (Liên Xô cũ), đại tá quân đội. Chồng Lan là Hà Lương Nhã. Vợ chồng Nhã - Lan được hai cháu trai là Hà Tuấn Linh và Hà Tuấn Anh. Hai cháu còn đang đi học.

Con gái thứ tư là Trần Thanh Hòa, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hum-bon, Cộng hòa dân chủ Đức (cũ). Chồng Hòa là Diệp Thế Vận. Vợ chồng Vận - Hoà được hai cháu gái là Diệp Thanh Hằng và Diệp Thanh Huyền, hiện đang đi học.

Con gái thứ năm là Trần Thanh Hà, tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội.

Các con trai gái, dâu rể của tôi đều được học hành đến nơi, đến chốn và thành đạt. Các cháu nội, ngoại của tôi đều chăm ngoan, học giỏi, biết nghe lời ông bà, cha mẹ và là niềm vui của chúng tôi lúc về già.

Trở lại những ngày kháng chiến chống Pháp.

Đầu tháng 2 năm 1950, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp và ra nghị quyết: Chuyển mạnh sang tổng tấn công. Nghị quyết nêu rõ: Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực và tinh thần của toàn dân thực hiện khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng".


Chấp hành Nghị quyết của Đảng, Đảng ủy Khu 4 chúng tôi họp ra nghị quyết: "Bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh là nhiệm vụ tối quan trọng cho chiến trường toàn quốc, là nhiệm vụ trung tâm lãnh đạo để sửa soạn chuyển sang tổng phản công có hiệu quả. Phải xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành một hậu phương vững chắc, một kho dự trữ nhân tài, vật lực, sẵn sàng tiếp tế kịp thời cho các chiến trường".


Trong sổ công tác của tôi đã ghi nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh tích cực hưởng ứng chủ trương của Khu ủy. Tính đến cuối tháng 10 năm 1950, ba tỉnh có gần 200.000 người ghi tên tòng quân. Nghệ An và Hà Tĩnh có 120.000 người. Riêng xã Hồng Yên huyện Cam Lộc có 1.112 người. Bộ Tư lệnh Khu 4 đã động viên bốn khóa tân binh, huấn luyện cho 36.120 người, bổ sung 5.000 người cho Đại đoàn 304, gần 500 người cho chiến khu Việt Bắc.


Trong năm 1950, Khu 4 còn huy động năm đợt dân công với hơn 470.000 lượt người phục vụ tiền tuyến, vận tải, tiếp tế, rào làng chiến đấu, sửa chữa đường sá, xây dựng kho tàng. Ngoài ra, trong năm 1950 Khu 4 còn cung cấp 8.500 tấn thóc, đóng góp quỹ khao quân 11.000 tấn thóc, nuôi 36.000 tân binh, 3.000 thương binh của chiến trường Bình - Trị - Thiên trong 8 tháng. Tiếp nhận 300.000 dân ba tỉnh Hà - Nam - Ninh sơ tán và một số cán bộ và nhân dân nước bạn Lào.


Nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh có bước phát triển toàn diện trong xây dựng, củng cố hậu phương cả về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần rất quan trọng ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu của quân Pháp tiến công lấn chiếm vùng tự do của Khu 4.

Đầu tháng 3 năm 1951, quân Pháp huy động 2.200 quân có pháo binh, cơ giới và máy bay chi viện, chia làm hai cánh mở cuộc càn lớn. Cánh thứ nhất, chúng sử dụng hơn 1.000 quân đánh vào Vĩnh An - Ưu Điềm. Cánh thứ hai, chúng sử dụng gần 1.200 quân đánh vào Thanh Hương - Mỹ Xuyên. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Bình - Trị - Thiên địch tổ chức cuộc càn lớn, lực lượng mạnh và chuẩn bị chu đáo.


Các trung đoàn 95 và 101 được lệnh nhanh chóng hành quân trong đêm chiếm lĩnh trận địa. 5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1951, ta bắt đầu nổ súng khép chặt vòng vây, vừa dùng hỏa lực khống chế vừa dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Quân địch hoang mang tháo chạy về phía thị xã Quảng Trị. Đạn cối của ta bắn dữ dội và bộ đội xung phong áp sát. Bộ đội và dân quân du kích hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng chặn đánh hất toàn bộ quân địch xuống đầm lầy Thanh Hương. Trận giáp chiến giữa ta và địch diễn ra ác liệt trên cánh đồng Thanh Hương. Đến 9 giờ ngày 12 tháng 3, trận chống càn Thanh - Mỹ Xuyên kết thúc thắng lợi. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.200 tên, 52 tên bị bắt, thu hơn 100 súng các loại.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:12:29 pm
Trận chống càn Thanh Hương - Ưu Điềm là trận vận động chiến lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ ở Bình - Trị - Thiên, với quy mô toàn bộ lực lượng chủ lực có mặt trên chiến trường. Chiến thắng Thanh Hương - Ưu Điềm đánh dấu bước trưởng thành của chủ lực ta trong việc vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, nhất là chiến thuật vận động chiến trong chống càn.


Nhờ sự chi viện kịp thời của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, lực lượng vũ trang kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên còn tiếp tục chủ động đánh mạnh vào hệ thống đồn bốt của địch, Ủy ban kháng chiến hành chính các tỉnh và huyện đã chỉ đạo lực lượng du kích, dân quân xã thôn bám địa bàn, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích vùng địch tạm chiếm phá hoại kho tàng, nhà máy, cầu cống gây cho chung nhiều thiệt hại nặng về kinh tế và quân sự. Dọc theo tuyến quốc lộ 1 từ Quảng Bình vào Huế, nhiều đoàn xe vận chuyển tiếp tế của địch thường xuyên bị chặn đánh.


Giữa năm 1951, thực hiện chủ trương của Chính phủ về tinh giảm trong các cơ quan Khu và các tỉnh ủy, bố trí hợp lý hơn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp để đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của kháng chiến, đến tháng 9 năm 1951, toàn bộ các cơ quan Khu 4 chúng tôi đã giảm 5.731 người. Song do thiếu điều tra, nghiên cứu đầy đủ nên các cơ quan của Khu tuy gọn nhẹ hơn trước nhưng hiệu quả công việc chưa cao.


Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tình vừa tích cực xây dựng hậu phương vừa đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng, trang bị vũ khí. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang của các tỉnh có đủ "ba quân, sáu cấp". Công tác vận động tuyển quân đã thu hút hàng vạn thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang chiến đấu.


Để chống thủ đoạn đánh phá mới của quân Pháp và tích cực chủ động tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, chúng tôi đã chỉ đạo quân dân Bình - Trị - Thiên thực hiện phương châm tác chiến là đánh nhỏ ăn chắc, nhằm vào nơi sơ hở nhất của địch, đánh quân ứng chiến là chính. Khi đánh xong là phân tán về từng tỉnh cùng bộ đội địa phương hoạt động, tích cực đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích.


Qua chiến đấu với địch trong chống càn, phá cầu, bảo vệ căn cứ du kích, nhiều địa phương đã chú trọng tới việc tổng kết phong trào chiến tranh du kích, tự rút ra những kinh nghiệm về tác chiến để nâng cao hiệu quả đánh địch, bảo vệ mùa màng, phổ biến kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu, tổ chức công tác dân công tiếp vận, tăng cường công tác phòng không, bảo vệ, tránh địch đánh phá.


Bị thất bại ở Mặt trận Hòa Bình, quân Pháp càng hoang mang, dao động. Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương chủ trương tập trung lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với phong trào chiến tranh du kích của ta. Ngoài ra, thực dân Pháp còn ra sức củng cố chiếm giữ vùng rừng núi Tây Bắc còn lại để mở rộng chiến tranh ở Lào, Cam-pu-chia, phát triển đội quân người Việt nhằm ổn định tình hình trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.


Đế quốc Mỹ cũng tăng cường viện trợ khẩn cấp cho quân Pháp và chính quyền tay sai ở Đông Dương để chống lại phong trào kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Mặc dù trong thế bị động và buộc phải đối phó ở khắp nơi, song được Mỹ làm hậu thuẫn, thực dân Pháp vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược. Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, quân Pháp thay đổi thế bố trí lực lượng và phương thức hoạt động: nhằm quay về củng cố vùng chiếm đóng, đồng thời tăng cường càn quct, lấn chiếm vùng giáp ranh, vùng căn cứ du kích. Chúng tập trung lực lượng phá hoại tiềm lực của phong trào kháng chiến để giành lại các vùng đông dân, nhiều của thuộc các huyện đồng bằng của Thừa Thiên - Quảng Trị - Quảng Bình.


Quân Pháp đã tăng cường đánh phá hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhất là phá hoại đê điều, kho tàng và các cơ sở kinh tế quốc phòng để làm cho tiềm lực kinh tế kháng chiến của ta bị suy yếu.

Đầu năm 1952, máy bay Pháp nhiều lần ném bom, bắn phá làm sập các công trình thủy lợi lớn ở ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh như đập Bái Thượng, đập Đô Lương, đập Nam Đàn, cống Trung Lương...

Để chống lại hành động bình định và đánh phá của địch, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị chỉ rõ: "Hiện nay, giặc Pháp đang tìm mọi cách điều động quân thực hiện kế hoạch càn quét vùng du kích và vùng căn cứ du kích của ta. Cho nên không được chủ quan khinh địch, lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải ra sức thi hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai để kịp thời củng cố các vùng du kích, căn cứ du kích và tích cực chống giặc càn quét".


Từ tình hình thực tế chiến trường và nhiệm vụ của phong trào kháng chiến Khu 4, Khu ủy chúng tôi nhận định: Quân Pháp còn chiếm Hòa Bình thì còn là mối đe dọa lớn đối với ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. Do đó, bộ đội phải bám sát địch, tiêu diệt chúng để bảo vệ hậu phương.


Lúc đó, địch cũng thay đổi phương thức đánh phá trên chiến trường Bình - Trị - Thiên. Chúng rút bớt các vị trí đóng quân nhỏ lẻ dễ bị cô lập ở vòng ngoài để tập trung xây dựng các vị trí kiên cố có thể chốt giữ lâu dài. Mặt khác, chúng điều các đơn vị quân ứng chiến cơ động phối hợp với lực lượng ngụy binh mở các cuộc càn quét liên tiếp, dài ngày vào các vùng căn cứ du kích nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta.


Trong các cuộc hành quân càn quét, quân Pháp đã thi hành chính sách tàn bạo như phá sạch, đốt sạch, cướp sạch để khủng bố tinh thần nhân dân. Cuộc đấu tranh ở mặt trận Bình - Trị - Thiên diễn ra giằng co, quyết liệt.

Mùa hè năm 1952, Khu ủy chúng tôi chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến nhằm tiếp tục tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát huy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, giải phóng huyện Quảng Trạch (Quảng Bình), mở rộng vùng giải phóng xuống phía Nam...


Nhờ những biện pháp chủ động và tích cực trong đấu tranh chống địch, quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đánh tan các cuộc đổ bộ của địch vào Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Nga Sơn (Thanh Hóa), Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Quỳnh Lưu, Nghi Xuân (Nghệ An). Thắng lợi của quân và dân Khu 4 đã làm thất bại ý đồ chiến lược của địch là làm suy yếu hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh của ta. Hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh tiếp tục được bảo vệ vững chắc và ngày càng phát huy sức mạnh, cung cấp sức người, sức của phục vụ mặt trận Bình - Trị - Thiên và các mặt trận khác trong cả nước.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:14:44 pm
Tháng 9 năm 1952, Khu ủy đã triệu tập hội nghị nhằm triển khai nhiệm vụ phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, đồng thời có biện pháp đẩy mạnh hoạt động quân sự trên chiến trường Bình - Trị - Thiên cho phù hợp với tình hình mới.

Để bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Tây Bắc, ngoài khả năng huy động tại chỗ của chiến trường, theo sự phân công của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Khu 4, mà cụ thể là ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh có kế hoạch cụ thể huy động nhân lực, vật lực cho chiến dịch, đồng thời tổ chức chi viện cho mặt trận Bình - Trị - Thiên, Thượng Lào. Chỉ trong một thời gian ngắn, ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã huy động sức người sức của và tổ chức nhiều đoàn dân công tiếp tế theo đúng yêu cầu được giao.


Tôi còn nhớ, trong chiến dịch Tây Bắc, tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đã huy động tới 180.000 lượt dân công với trên 3 triệu ngày công. Dân công Khu 4 đã phá đá, mở đường và vận chuyển trên 20.000 tấn lương thực, thực phẩm lên Tây Bắc. Hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An đã huy động gần 9.500 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt và nhiều thực phẩm các loại. Trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, hàng vạn dân công đã cùng bộ đội bí mật mở đường, gùi thồ, gồng gánh vận chuyển hàng hóa, lương thực cùng vũ khí ra mặt trận.


Sau chiến thắng Tây Bắc và Thượng Lào, hầu hết các đơn vị chủ lực của ta hành quân về vùng tự do ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tiến hành chỉnh huấn, củng cố tổ chức biên chế, trang bị, học tập chính sách giảm tô, đồng thời tranh thủ thời gian huấn luyện quân sự nhằm đáp ứng nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới.


Tháng 12 năm 1952, tôi được Tổng Quân ủy điều về làm Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng tham mưu đóng ở xã Điềm Mạc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Trước đó Cục Quân lực do anh Phan Phúc Tường làm Cục trưởng, tôi về thì anh Tường làm Cục phó. Trong năm 1953, nhiều cán bộ được điều từ các đơn vị về Cục Quân lực công tác, đồng thời một số cán bộ nhân viên của Cục chuyển sang công tác khác.


Hè - Thu năm 1953, thực hiện Nghị quyết của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tham mưu tiến hành chỉnh huấn chính trị, chấn chỉnh tổ chức biên chế, huấn luyện quân sự, chuyên môn chuẩn bị cho kế hoạch 1953 - 1954. Thực hiện chủ trương trên, qua nghiên cứu tình hình thực tế của Cục Quân lực, tôi đề xuất và được Tổng tham mưu trưởng nhất trí biên chế Cục Quân lực có ba phòng, hai ban, một trạm thu dung và Tổng đội chiêu sinh.


Phòng Thực lực do anh Văn Giang, Chính ủy Trung đoàn 48 Đại đoàn 320 được điều về làm Trưởng phòng. Phòng Cán bộ đo anh Hồng Long, Phó chính ủy Đại đoàn 308 cũng vừa được điều về làm Trưởng phòng. Phòng Quy chế do anh Nguyễn Hữu Hiển làm Trưởng phòng. Ban Hành chính do anh Đỗ Thái Lai làm Trưởng ban. Ban Chính trị do anh Hữu Chỉnh làm Trưởng ban. Trạm Thu dung do anh Lê Thế Tục làm Trạm trưởng và Tổng đội chiêu sinh do anh Đỗ Thi làm Tổng đội trưởng.


Thời gian này, Cục Quân lực vẫn đóng quân ở xã Điềm Mạc. Riêng trạm thu dung đặt ở Bản Chúc, xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa. Tổng đội chiêu sinh đứng chân ở Vĩnh Tuy, Hà Giang. Các trạm của Tổng đội rải từ Vĩnh Tuy lên tới Thanh Thủy, Hà Giang giáp biên giới Trung Quốc. Nhiệm vụ của Tổng đội chiêu sinh chủ yếu là tiếp nhận số cán bộ, chiến sĩ được chiêu sinh đi học sĩ quan lục quân và các trường quân sự khác, đưa anh em qua cầu Thanh Thủy sang Vân Nam, Trung Quốc và tổ chức đón học viên đã tốt nghiệp về phân phối cho các đơn vị theo kế hoạch của Cục.


Đi đôi với chỉnh huấn chính trị, Cục Quân lực đặc biệt chú trọng công tác xây dựng cơ quan về mọi mặt, đặc biệt là sơ kết hoạt động thực tiễn để từng bước đổi mới tác phong công tác, chuyên môn nghiệp vụ.

Trong quá trình tham mưu giúp Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về biên chế tổ chức, tiến hành các chiến dịch lớn, tôi và anh em trong Cục Quân lực đã tập trung cải tiến những khâu chủ yếu nhất là xác định tổ chức biên chế của đơn vị. Căn cứ vào tổ chức biên chế đã quy định, đối chiếu với thực tế để thấy hiện trạng, nhu cầu lực lượng (quân số, vũ khí, trang bị), thấy được chỗ cần giải quyết và tính toán khả năng cũng như dự kiến, để đạt kế hoạch giải quyết cho phù hợp.


Về nắm tình hình, chúng tôi xác định đi sâu vào hai chế độ: Báo cáo và kiểm tra, đây là khâu yếu nhất trong việc nắm tình hình bộ đội lúc đó và cũng là khâu then chốt nhất của công tác tham mưu trong việc nắm tình hình. Để giải quyết việc đó, phải đi sâu phân loại tình hình, phân công nhiệm vụ từng phòng, nghiên cứu, kiểm tra, xác minh, đề xuất giải quyết, đồng thời bổ sung vào đề án kế hoạch để báo cáo Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh.


Về chế độ báo cáo, báo cáo bằng vô tuyến điện, bằng điện thoại phải ngắn, rõ, đủ nội dung cần. Trong báo cáo bằng giấy, chúng tôi cũng quy định lúc thường và khi có việc bất trắc, khi chiến đấu. Lúc bình thường quy định từng tháng, từng quý, cả năm dưới báo cáo lên trên. Khi có sự việc bất trắc xảy ra phải báo cáo ngay. Khi chiến đấu căn cứ vào tình hình thực tế của từng chiến dịch để quy định cụ thể báo cáo vào trước, trong và sau chiến dịch.


Một vấn đề không kém phần quan trọng đó là lập sổ cái danh sách quân nhân, sổ này do Cục Quân lực in và cấp cho các đơn vị trong toàn quân. Trung đoàn và các tiểu đoàn độc lập, đại đội độc lập phải lập sổ cái danh sách quân nhân hiện có của đơn vị mình, thứ tự theo vần A. B. C để khi tra cứu được dễ dàng. Mỗi đơn vị lập thành hai quyển gửi lên trên một quyển, đơn vị giữ một quyển. Trong số, những thông tin cơ bản một quân nhân chiếm khoảng 5 dòng chạy dài qua 13 cột thứ tự: Họ và tên, năm sinh, chức vụ, ngày tham gia cách mạng, ngày nhập ngũ, đơn vị hiện nay (ghi từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn...), trình độ văn hóa, thành phần giai cấp, dân tộc, nơi sinh, quê quán, trú quán, họ tên cha (năm sinh, nghề nghiệp), họ tên mẹ (năm sinh, nghề nghiệp), họ tên các con, sở trường (giỏi về gì), khen thưởng, kỷ luật, khi cần báo tin cho ai. Có thể nói, đây là lý lịch quân nhân thu nhỏ (cả chiến sĩ và cán bộ).


Hàng tháng hoặc sau một chiến dịch, đơn vị báo cáo về Cục Quân lực những thay đổi, kèm theo danh sách. Căn cứ vào đó Cục Quân lực bổ sung vào sổ lưu ở Cục. Như vậy bất kỳ lúc nào, Cục Quân lực chúng tôi cũng có thể nắm được chất lượng của từng đơn vị cũng như toàn quân. Từ đó Cục Quân lực có căn cứ giải quyết một số vấn đề về chính sách, khen thưởng hoặc trả lời tin tức quân nhân.


Ngoài ra, Cục còn in các loại giấy báo tử, sơ đồ nơi chôn cất, giấy bị thương, đi viện, đào ngũ, mất tích, thuyên chuyển, xuất giải ngũ...


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 26 Tháng Chín, 2026, 09:16:00 pm
Qua thực tế công tác, tôi nhận thức được rằng: "Không kiểm tra việc làm, coi như việc đó không làm". Từ thực tiễn đó, chúng tôi đã áp dụng ba biện pháp kiểm tra để nắm tình hình bộ đội. Cục Quân lực cử cán bộ đi đơn vị nắm tình hình. Cục Quân lực xuống kiểm tra cơ quan quân lực cấp dưới về nghiệp vụ và Cục Quân lực đi cùng Thủ trưởng Bộ kiểm tra tình hình đơn vị (thường làm trước hoặc sau chiến dịch).


Kết quả của việc củng cố chế độ báo cáo và tăng cường công tác kiểm tra đã giúp cho Cục Quân lực chúng tôi nắm tình hình bộ đội được kịp thời, đầy đủ, chính xác hơn, giúp cho công tác chỉ đạo, chỉ huy bộ đội được đúng đắn, góp phần nâng cao sức chiến đấu của bộ đội.


Thời gian này, việc nắm tình hình quân số và vũ khí trang bị của những đơn vị làm nhiệm vụ ở phía sau và những đơn vị ở chiến trường miền Trung và miền Nam gặp nhiều khó khăn lại thường chậm. Chúng tôi phải cử cán bộ thay nhau đến các bệnh viện, đoàn an dưỡng để nắm tình hình quân số cán bộ, chiến sĩ các loại để làm kế hoạch bổ sung. Nhưng số quân này có nhiều đối tượng, nhiều nội dung nên thường khó theo dõi. Nếu là thương binh, bệnh binh thì phân loại nhẹ, vừa, nặng, nắm thời gian cần điều trị an dưỡng để trở về đơn vị là bao nhiêu và số mất sức chiến đấu là bao nhiêu. Đối tượng thứ hai cần nắm là số chiến sĩ mới và cán bộ dự trữ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cũng phải phân loại để có kế hoạch phân bổ. Việc nắm tình hình vũ khí trang bị cũng rất phức tạp. Hàng được, viện trợ thường khó nắm về chủng loại, thời gian, về sự đồng bộ của một khẩu súng, một khẩu pháo, một bộ khí tài thông tin, quan trắc...


Để tăng cường hiệu quả công tác tuyển nhận, huấn luyện tân binh, đáp ứng yêu cầu về lực lượng toàn quân trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, tháng 5 năm 1953, căn cứ vào tình hình thực tế, Cục Quân lực đề nghị Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh chia Đoàn 99 thu dung an dưỡng ở Việt Bắc thành Đoàn 99 thu dung an dưỡng và Trung đoàn 77. Trung đoàn 77 đứng chân ở Phú Thọ làm nhiệm vụ tuyển nhận và huấn luyện tân binh, do anh Văn Giáo làm Trung đoàn trưởng và anh Hùng Phong làm Chính ủy. Đồng thời, Cục Quân lực cũng đề nghị Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh thành lập Trung đoàn 55 đứng chân ở Thanh Hóa cũng làm nhiệm vụ tuyển nhận và huấn luyện tân binh do anh Chu Văn Yên làm Trung đoàn trưởng và anh Nguyễn Lập làm Chính ủy. Lúc này Khu 4 đã có Trung đoàn 44 làm nhiệm vụ tuyển nhận và huấn luyện tân binh phụ trách hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.


Về trang bị, trong giai đoạn này ngoài nguồn chiến lợi phẩm thu được trong các trận đánh, trong các chiến dịch với phương châm lấy súng giặc diệt giặc còn có nguồn cung cấp quan trọng là viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Đây là nguồn mà Bác tạo ra trong chuyến đi bí mật của Người sang thăm Trung Quốc, Liên Xô, mở ra cho ngành Quân lực một hướng tạo nguồn cơ bản và lâu dài, thắm tình quốc tế của những người vô sản.


Từ nguồn viện trợ này, tập trung trang bị súng bộ binh một số đại đoàn, trung đoàn, tăng cường thêm pháo 75 và tổ chức huấn luyện hiệp đồng trên đất bạn Trung Quốc cho một số đơn vị.

Sau chiến dịch Biên Giới, phòng Trang bị (Cục Quân lực) kết hợp với phòng Quân khí - Tổng cục Cung cấp (Tổng cục Hậu cần), đặc trách phần tạo nguồn trang bị. Cục Quân lực chủ trì nắm thực lực cùng phòng Quân khí theo dõi diễn biến tăng giảm, điều chỉnh bổ sung cũng như kế hoạch tạo nguồn và kế hoạch phân phối trang bị có được (trong đó có việc chỉ đạo tự sản xuất vũ khí).


Tôi cũng phải nói thêm, mối quan hệ công tác chặt chẽ giữa hai Cục Quân lực - Bộ Tổng tham mưu và Cục Quân khí - Tổng cục Hậu cần giai đoạn này là vừa làm vừa học, tất cả là để đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu trang bị của các đơn vị trong toàn quân kể cả việc hoán vị cán bộ cho nhau. Anh Lê Đình Tạo, Trưởng phòng Quân khí được điều về làm Trưởng phòng Trang bị cấp dưỡng Cục Quân lực một thời gian, triển khai việc tiếp nhận vũ khí do Trung Quốc viện trợ, sau đó lại trở về làm Trưởng phòng Quân khí. Anh Phạm Văn Túc, Trưởng ban Trang bị được điều sang Tổng cục Hậu cần làm Trưởng ban Kế hoạch phòng Quân khí. Sau đó phòng Trang bị cấp dưỡng chuyển hẳn sang Tổng cục Hậu cần.


Ngày 7 tháng 5 năm 1953, với sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Na-va làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương. Kế hoạch Pháp - Mỹ trong các năm 1953, 1954, 1955 hòng chuyển bại thành thắng trong chiến tranh xâm lược được vạch ra, gọi là "Kế hoạch Na-va".


Trung tâm của "Kế hoạch Na-va" là tổ chức khối chủ lực tác chiến. Muốn vậy, Na-va chủ trương rút lực lượng chiếm đóng về tập trung, thúc ép chính quyền bù nhìn nâng khối chủ lực tác chiến lên 7 sư đoàn (vào năm 1954), trong đó có 1 sư đoàn dù. Kế hoạch tác chiến của Na-va chia làm hai bước: Bước một, trong Thu - Đông 1953 và mùa xuân năm 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược, tránh quyết chiến ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam, nhất là vùng tự do Liên khu 5 và đồng bằng Nam Bộ. Bước thứ hai, vào Đông - Xuân 1954 -1955, với khối chủ lực cơ động vừa xây dựng xong, tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.


Thực hiện kế hoạch Na-va, thực dân Pháp tăng viện sang Đông Dương 12 tiểu đoàn quân viễn chinh rút từ Pháp, Bắc Phi, Triều Tiên...

Đế quốc Mỹ viện trợ 400 triệu đô la để tổ chức quân ngụy Việt Nam và quyết định tăng gấp rưỡi viện trợ cho Pháp, cung cấp thêm trang bị cho 6 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn cơ giới, 6 tiểu đoàn vận tải, 123 máy bay, 212 tàu chiến...

Theo số liệu tôi được biết, Mỹ viện trợ cho Pháp năm 1953 là 650 triệu đô la, đến năm 1954 lên hơn một tỷ hai trăm triệu đô la chiếm 73% chi phí chiến tranh Đông Dương.

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Đảng ta họp bàn về chủ trương tác chiến Đông - Xuân 1953- 1954. Có hai phương án tác chiến được đưa ra thảo luận. Phương án thứ nhất, tập trung toàn bộ hoặc phần lớn bộ đội chủ lực ở đồng bằng hoạt động tương đối phân tán, tranh thủ tiêu diệt một bộ phận quân địch, phối hợp đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, bảo vệ vùng tự do. Sau khi địch bị tổn thất đến một mức nhất định, vùng tự do được củng cố, ta sẽ tùy tình hình mà tiếp tục để bộ đội chủ lực ở đồng bằng hay điều động đi hướng khác.


Phương án thứ hai. Chiến trường đồng bằng chỉ có thể thu được những thắng lợi có hạn, không thay đổi được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thể bị tiêu hao, trong khi đó Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên đó, mặc dù khó khăn rất lớn về tiếp tế, nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, từ đó tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh hoạt động ở khắp các chiến trường sau lưng địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:32:13 pm
Qua cân nhắc tính toán một cách khoa học, Bộ Chính trị quyết định chọn phương án thứ hai. Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, cụ thể là, trên mặt trận chính diện, sử dụng bộ đội chủ lực mở ba cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt dịch chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, phối hợp cùng Quân giải phóng Pa-thét Lào giải phóng tỉnh Phong Xa Lỳ. Phối hợp cùng Quân giải phóng Pa-thét Lào và Quân giải phóng Ít-xa-rắc Cam-pu-chia tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch ở Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia, mở rộng vùng giải phóng tới sau lưng Sài Gòn, đánh thông đường chiến lược Bắc - Nam Đông Dương. Đoạt lấy địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá âm mưu củng cố và bình định miền Nam của địch.


Trên mặt trận sau lưng địch, trước mắt đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố và phát triển các căn cứ du kích và khu du kích, đẩy mạnh công tác vận động binh lính địch, phá kế hoạch xây dựng ngụy quân và dồn làng của địch. Tùy theo sự diễn biến của tình hình mà sử dụng một bộ phận chủ lực tiến sâu vào vùng sau lưng địch, phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh, phá tan kế hoạch bình định của địch, thu hẹp vùng tạm bị chiếm, mở rộng vùng tự do, phối hợp đắc lực với các cuộc tiến công trên mặt trận chính diện... Hội nghị Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh phương châm: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt.


Thực hiện chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh, tháng 9 năm 1953, Cục Quân lực đã cùng các cơ quan liên quan trong Bộ Tổng tham mưu xây dựng lại mẫu biên chế mới từ đại đội đến đại đoàn theo phương hướng gọn, nhẹ, tăng cường hỏa lực và sức đột kích. Cơ quan Quân lực các cấp, nhất là quân lực cấp chiến lược khẩn trương triển khai chuẩn bị về lực lượng, trọng tâm là chấn chỉnh, kiện toàn biên chế tổ chức các đại đoàn bộ binh chủ lực. Hỏa lực cần thiết cho Đông - Xuân 1953 - 1954 là các đơn vị hỏa lực mạnh gồm: Trung đoàn 45 lựu pháo 105mm do Trung Quốc viện trợ, gồm 20 khẩu với 3.500 viên đạn. Trung đoàn này đưa sang Trung Quốc huấn luyện cơ bản rồi đưa về nước. Trung đoàn 367 pháo phòng không 37mm được Liên Xô trang bị, huấn luyện ở Trung Quốc chuẩn bị đưa về nước. Ngoài ra còn một tiểu đoàn súng không giật ĐKZ75mm; tiểu đoàn hỏa tiễn H16 Ca-chiu-sa...


Quân lực Liên khu 3, Liên khu 4 và Liên khu Việt Bắc không những có kế hoạch mọi mặt về tổ chức lực lượng, nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng đồng bằng Bắc Bộ để phối hợp với hoạt động của bộ đội chủ lực trên các hướng chính, mà còn chuẩn bị tổ chức và bảo đảm vũ khí đạn dược cho lực lượng vũ trang và nhân dân trong khu sẵn sàng đánh địch khi chúng tiến công vào địa bàn.


Cục Quân lực còn chỉ đạo quân lực các liên khu trên tiến hành nhiệm vụ tuyển quân ở địa phương và đưa quân lên Tây Bắc làm lực lượng dự trữ để bổ sung cho các đại đoàn trong quá trình hoạt động chiến dịch. Đồng thời tiếp nhận trang thiết bị kỹ thuật được Bộ cấp và tổ chức chuyển về địa phương phân phối theo kế hoạch.


Ở Khu 5, quân lực một mặt tập trung chuẩn bị và bảo đảm cho một phần bộ đội chủ lực trong khu mở chiến dịch tiến công lên Tây Nguyên, đồng thời có kế hoạch về vũ khí, đạn dược và quân số cho cả ba thứ quân để đánh địch bảo vệ vùng tự do trong khu.


Ở chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, Cục Quân lực chỉ đạo cơ quan quân lực cấp dưới chủ yếu bảo đảm vũ khí, đạn dược cho lực lượng vũ trang trong hoạt động đẩy mạnh chiến tranh du kích.

Riêng quân lực các dại đoàn, Cục Quân lực chỉ đạo: chấn chỉnh kiện toàn biên chế tổ chức từng đơn vị trong đại đoàn đến cấp đại đội, kể cả lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu, bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Phương châm chỉ đạo quân lực các đại đoàn tổ chức biên chế phải: gọn, mạnh, cơ động nhanh đủ sức đánh thắng mọi đối tượng địch trên các chiến trường, trọng điểm là vùng rừng Tây Bắc và vùng rừng núi Bắc Lào (trừ Đại đoàn 320 hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ), phải bảo đảm lực lượng cụ thể để duy trì sức mạnh chiến đấu cho đại đoàn được liên tục trong đánh tiêu diệt lớn.


Căn cứ vào kế hoạch và chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh và chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu về công tác quân lực trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, một mặt Cục Quân lực hướng dẫn quân lực các liên khu và đại đoàn triển khai thực hiện, mặt khác tập trung vào việc chuẩn bị lực lượng cho toàn quân với yêu cầu đủ lực lượng để đánh được dài ngày, trong phạm vi rộng, tình huống khẩn trương, ác liệt. Chăm lo bảo đảm cho 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn pháo binh - công binh để Bộ Tổng tư lệnh sử dụng vào chiến dịch ở hướng đã lựa chọn, nhằm giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh.


Về quân số, trên cơ sở kế hoạch đã thống nhất giữa Bộ Tổng tham mưu với các địa phương đến cuối mùa hè năm 1953, các Liên khu đã tuyển nhận, huấn luyện đủ chỉ tiêu tân binh để bổ sung cho các đơn vị... Liên khu Việt Bắc là 4.000 tân binh. Khu Hữu Ngạn là 3.000 tân binh; Khu Tả Ngạn là 4.500 tân binh; Liên khu 4 là 7.000 tân binh, về số lượng quân tăng không nhiều, nhưng chất lượng được nâng lên.


Đến tháng 12 năm 1953, tổng quân số của ta lên đến 252.031 người, về bộ binh gồm 6 đại đoàn, một trung đoàn và 2 tiểu đoàn trực thuộc, về pháo mặt đất, 1 đại đoàn công pháo 351 (gồm 1 trung đoàn lựu pháo 105mm, 1 trung đoàn sơn pháo 75mm và 1 tiểu đoàn ĐKZ, 1 trung đoàn công binh nằm trong đội hình Đại đoàn công pháo 351). Pháo phòng không có Trung đoàn 367 pháo 37mm. Thông tin: 1 tiểu đoàn. Trinh sát: 1 tiểu đoàn.


Trong biên chế, khối chủ lực trực thuộc Bộ gồm 6 đại đoàn, 1 trung đoàn, 2 tiểu đoàn và toàn bộ khối binh chủng. Khối chủ lực trực thuộc liên khu gồm 11 trung đoàn và 15 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, ở Lào, bộ binh ta có 7 tiểu đoàn, 9 đại đội và 9 trung đội. Ở Cam-pu-chia, bộ binh có 8 đại đội và 47 trung đội. Bộ đội địa phương, mỗi tỉnh có 1 tiểu đoàn, mỗi huyện có 1 đại đội.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:40:59 pm
Thực hiện kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953- 1954, giữa tháng 11 năm 1953, bộ đội chủ lực của ta được lệnh tiến công lên Tây Bắc và tiến sang Trung Lào. Bị uy hiếp mạnh ở chỗ sơ hở và yếu nhất, địch tập trung lực lượng tăng cường cho tuyến phòng thủ rộng Nậm Hu nối Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Địch vội vàng đổ quân xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm "bất khả xâm phạm". Thực dân Pháp coi Điện Biên Phủ là vị trí then chốt, có tầm chiến lược phục vụ cho mục đích xâm lược không những với các nước Đông Dương mà còn cả khu vực Đông Nam Á.


Sáng ngày 22 tháng 11 năm 1953, tôi đang làm việc trong một căn nhà lợp lá cọ thuộc xã Điềm Mạc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên thì bất ngờ Bác đến. Hôm đó trời mưa, Bác đội chiếc nón lá, quần xắn cao trên đầu gối, tay chống cây gậy trúc. Thấy vẻ lúng túng của tôi, Bác cất tiếng hỏi:

- Chú tên là Sâm phải không?

- Thưa Bác! Cháu là Trần Sâm, Cục trưởng Cục Quân lực ạ. - Tôi cảm động thưa với Bác.

- Kế hoạch bảo đảm quân lực cho Đông - Xuân năm 53 - 54 đến đâu rồi?

- Thưa Bác, kế hoạch đã xong. Tất cả đều sẵn sàng lên đường đi chiến dịch.

- Bác biết các chú sắp đến ngày lên đường, Bác đến thăm và chúc các chú. Các chú động viên quân và dân Tây Bắc phải quyết đánh thắng chiến dịch này.

- Thưa Bác, chúng cháu sẽ cố gắng vừa bảo đảm quân số vừa bảo đảm vũ khí trang bị, đáp ứng yêu cầu của chiến dịch.

Rồi Bác ân cần căn dặn:

- Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả chính trị, không những đối với trong nước mà đối với cả quốc tế. Vì vậy, ta phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.

Nói xong, Bác bảo tôi dẫn Bác đến thăm Cục Tác chiến. Bác nhanh nhẹn chống gậy đi trước, tôi theo Bác, ngắm nhìn Bác mà trong lòng tràn ngập niềm vui xen lẫn nỗi xúc động...

Theo quyết định của Bộ Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ. Cơ quan tham mưu do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu phó làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Ban Quân lực chiến dịch có tôi, Cục trưởng và sáu người đại diện cho 3 phòng Thực lực, Cán bộ, Quy chế là các anh Đỗ Đức, Trần Quang Đẩu, Cao Khắc Giáp, Nguyễn Thục Phán, Vũ Lương và Lê Thế Tục.


Ngày 26 tháng 11 năm 1953, Ban Quân lực chiến dịch trong đội hình cơ quan tiền phương Bộ Tư lệnh lên đường đi chiến dịch. Từ Tổng hành dinh ở Định Hóa, Thái Nguyên, đội hình hành quân vượt sông Hồng, sông Đà, qua biết bao đèo dốc, lên đến Tuân Giáo, Lai Châu mất ròng rã 22 ngày.


Để làm tốt công tác quân lực đáp ứng yêu cầu của cơ quan tham mưu chiến dịch, tôi đề xuất và được Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái nhất trí thành lập đoàn tiếp nhận tân binh rút từ các Đoàn 99, 77, 44, 33 ở hậu phương đưa lên, tổ chức huấn luyện và bổ sung cho các đơn vị theo yêu cầu của tác chiến. Đoàn này lấy tên là Đoàn Bà Rịa do anh Văn Giáo làm Đoàn trưởng. Đoàn Bà Rịa còn có nhiệm vụ tham gia một số công tác ở hỏa tuyến như làm đường, ngụy trang sở chỉ huy, trận địa...


Cùng thời gian này, tôi còn đề xuất với anh Hoàng Văn Thái thành lập đại đội thuộc Cục Quân lực do anh Lê Thế Tục làm Đại đội trưởng. Đại đội có nhiệm vụ thu dung số giảm biên chế của cơ quan mặt trận (khoảng 200 người), phối hợp với Trung đoàn công binh 151 tổ chức làm con đường vào khe Hồng Lĩnh. Đại đội này được mang tên Hồng Lĩnh.


Trong khi tôi và một số cán bộ ba phòng tiếp tục làm công tác quân lực trong cơ quan tham mưu chiến dịch thì Cục phó Phan Phúc Tường cùng một số cán bộ, nhân viên lên biên giới Việt - Trung tổ chức tiếp nhận và vận chuyển nhanh pháo cao xạ 37mm, hỏa tiễn Ca-chiu-sa 6 nòng H6, súng ca nông Bô-pho... kịp thời đáp ứng yêu cầu chiến dịch.


Tôi cũng giao nhiệm vụ cho số cán bộ, nhân viên của Cục Quân lực ở lại hậu phương phải căng lực lượng ra làm nhiều công việc cùng lúc. Thủ trưởng, nhân viên các phòng, ban được tung đi các hướng: Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4... nắm tình hình quân số, huy động dân công phục vụ chiến dịch.


Cùng với nhiều biện pháp tiến hành trong quân đội thời gian này Cục Quân lực chúng tôi đã liên hệ trao đổi với các tổ chức chính quyền và nhân dân nhằm phát huy tích cực nhân tố hậu phương đối với công tác quân số. Vận động nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến, động viên con em tòng quân giết giặc.


Ở đây phải kể đến vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền đoàn thể và sự tự giác của nhân dân các địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác động viên thanh niên nhập ngũ. Số thanh niên nhập ngũ có khi lên đến hàng vạn nên công tác bảo đảm cung cấp cho bộ đội gặp nhiều khó khăn, nhất là số tân binh ở đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An. Sau khi nhập ngũ, anh em phải hành quân gấp, dài ngày qua vùng địch tạm chiếm lên Tây Bắc. Những khó khăn về ăn mặc của tân binh phải nhờ nhân dân giúp đỡ giải quyết, bảo đảm cho anh em nhu cầu tối thiểu trên đường hành quân từ địa phương đến nơi tiếp nhận của quân đội. Các địa phương đều tổ chức chu đáo tiễn đưa, động viên con em mình hăng hái giết giặc lập công. Chính quyền và nhân dân cũng tổ chức đón nhận thương, bệnh binh về địa phương nuôi dưỡng và sắp xếp lao động. Chính quyền và nhân dân còn tổ chức giúp đỡ gia đình quân nhân neo đơn, chăm sóc nuôi dạy con liệt sĩ, trông nom bố mẹ già của những liệt sĩ không nơi nương tựa... Những việc làm đó đã động viên, cổ vũ và làm yên lòng những người ra trận.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:45:47 pm
Tới 14 tháng 1 năm 1954, anh Hoàng Văn Thái cho gọi tôi đến nơi làm việc của anh. Anh nói luôn:

- Anh báo cáo tình hình quân số và việc bảo đảm trang bị kỹ thuật cho chiến dịch.

Tôi mở sổ công tác, chậm rãi nói:

- Đầu năm 1954, quân số đã bảo đảm được hơn 8 vạn, đáp ứng nhiệm vụ tác chiến và phát triển lực lượng quân đội. Riêng chiến dịch Điện Biên Phủ đã dành gần một vạn quân để bổ sung, duy trì sức chiến đấu liên tục của các đại đoàn.

Việc bảo đảm trang bị kỹ thuật đến giai đoạn tập trung đánh lớn. Kết quả ba nguồn bảo đảm chủ yếu tuy đã tích cực khai thác nhưng vẫn không đủ trang bị đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của quân đội.

Về nguồn sản xuất trong nước, tuy đã hết sức cố gắng nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguyên vật liệu rất khó khăn nên chỉ bảo đảm được một số loại thông thường và số lượng cũng chưa đủ cung cấp thường xuyên cho bộ đội. Việc tận thu chiến lợi phẩm đã giải quyết được khá nhiều khó khăn, nhưng cũng chỉ đủ đáp ứng mức thấp nhu cầu xây dựng và chiến đấu của bộ đội địa phương và một phần bộ đội chủ lực. Còn phần lớn trang bị kỹ thuật, nhất là những loại súng pháo có uy lực lớn phương tiện bảo đảm chiến đấu có tính năng tác dụng cao của bộ đội chủ lực đều nhờ vào nguồn viện trợ.

- Thế nguồn viện trợ thì sao? - Anh Hoàng Văn Thái ngắt lời.

Tôi nói tiếp:

- Viện trợ trở thành nguồn bảo đảm chính về trang bị kỹ thuật cho bộ đội chủ lực ta trong giai đoạn này. Tuy nhiên, do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ, số súng, pháo được viện trợ so với nhu cầu chiến đấu thì còn thấp cả về số lượng, chủng loại và chậm về thời gian. Hiện nay toàn quân ta mới có 2 trung đoàn pháo mặt đất, 2 tiểu đoàn súng cối. Tất cả đều được sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trung đoàn sơn pháo 75mm co 24 khẩu là chiến lợi phẩm thu được của Nhật và Pháp từ năm 1945. Trung đoàn lựu pháo xe kéo 105mm 24 khẩu do Trung Quốc viện trợ. Hai tiểu đoàn súng cối 120mm và 82mm được tổ chức bằng cả ba nguồn.


Hiện nay, nhờ viện trợ, ta đã tổ chức được 1 trung đoàn phòng không, gồm pháo cao xạ, xe kéo 37mm và súng máy 12,7mm vừa thành lập xong tháng 12 năm 1953 đang trên đường lên Điện Biên Phủ.

Nghe xong, anh Hoàng Văn Thái nói:

- Như vậy, hỏa lực mặt đất và pháo phòng không, khí tài... ta đều nhờ vào viện trợ của nước bạn. Khâu quyết định thắng lợi của công tác tiếp nhận và cấp phát trang bị kỹ thuật là kế hoạch và việc tổ chức thực hiện kế hoạch, nhất là kế hoạch vận chuyển, kể từ khi nhận được trang bị kỹ thuật đến khi giao xong trang bị kỹ thuật cho đơn vị. Các anh phải có kiến nghị ưu tiên viện trợ trước những loại súng, pháo và đạn có uy lực lớn. Những phương tiện đảm bảo chiến đấu có tính năng tác dụng cao.


Ngừng một lát, anh Hoàng Văn Thái còn dặn tôi tỉ mỉ:

- Khi nhận hàng phải tổ chức sắp xếp phân chia, quy định nơi để và chuyển tiếp từng loại dọc theo trục đường vận chuyển và ưu tiên chuyển nhanh những thứ cần về trước. Để khắc phục khó khăn trong khâu vận chuyển (phương tiện ít, số lượng nhiều, đường xa, thời gian gấp) nên những thứ nặng cần có xe cơ giới vận chuyển thì làm kế hoạch và hợp đồng thống nhất với hậu cần để bảo đảm vận chuyển đến nơi quy định. Những thứ nhẹ, bộ đội có thể mang vác theo trong hành quân thì làm kế hoạch động viên bộ đội tự vận chuyển.


Hai anh em trao đổi quên cả thời gian, lúc xong việc tôi nhìn đồng hồ đã 12 giờ 20 phút đêm.

Qua sự chỉ đạo của anh Hoàng Văn Thái, Cục Quân lực cùng các đơn vị và cơ quan bạn đã bảo đảm được nhu cầu rất lớn về trang bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chiến đấu của bộ đội. Chỉ tính riêng số đạn các loại bảo đảm cho chiến dịch Điện Biên Phủ đã lên tới 1.400 tấn (gấp 8 lần chiến dịch Biên Giới). Riêng số đạn pháo, Cục Quân lực cùng với Cục Quân khí đã khai thác từ nhiều nguồn, điều động bảo đảm cho pháo binh chiến dịch một khối lượng 20.000 quả đạn. Trong đó có trên 11.700 quả đạn từ chiến lợi phẩm thu được sau chiến dịch Biên Giới (Thu - Đông 1950); 360 viên từ nguồn viện trợ của nước bạn; 400 viên từ chiến lợi phẩm thu được trong chiến dịch Trung - Hạ Lào và khoảng 5.000 quả đạn lấy từ nguồn tiếp tế của địch cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Khó khăn lớn nhất lúc này là đưa pháo vào trận địa theo kế hoạch. Khi tất cả các khẩu pháo đã ở yên trong vị trí và sẵn sàng nhả đạn, trận đánh mới có thể bắt đầu. Bằng sự nỗ lực rất lớn của bộ đội, thanh niên xung phong và dân công, trong một tháng chúng ta đã hoàn thành con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ dài 82km. Trước đó, con đường này chỉ rộng 1m nay mở rộng cho xe kéo pháo đi lại dễ dàng vào cách Điện Biên Phủ 15km. Từ đây, các khẩu pháo sẽ được kéo bằng sức người vào những trận địa. Đường kéo pháo rộng 3m, chạy từ cửa rừng Nà Kham - qua đỉnh Pha Sông cao 1.150m - xuống Bản Tấu. Đường Điện Biên Phủ - Lai Châu tới Bản Nghìn mở đường mới hoàn toàn. Để bảo đảm bí mật con đường phải được ngụy trang không cho máy bay trinh sát phát hiện. Thời gian làm đường dự kiến trong một ngày một đêm. Ta đã rải bộ đội suốt dọc đường và làm xong trong 20 giờ. Việc tiếp theo là đưa lựu pháo 105mm và pháo cao xạ 37mm vào vị trí tập kết. Nhiệm vụ này được giao cho Đại đoàn 351 và Đại đoàn 312, dự kiến hoàn thành trong ba đêm.


Trên đường thủy, các chiến sĩ công binh qua nhiều ngày ngâm mình dưới nước lạnh buốt phá thác, phá ghềnh đã khai thông dòng Nậm Na để chở gạo của đồng bào Tây Bắc chi viện cho bộ đội ở Điện Biên Phủ.

Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định thành lập Bộ Chỉ huy kéo pháo do đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Đại đoàn 312 làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Chính ủy Đại đoàn 351 làm Chính ủy.

Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn chúng tôi đi kiểm tra đường kéo pháo, chúng tôi thấy con đường kéo pháo khá dài, vực sâu, rất khó đưa pháo vào trận địa đúng thời gian dự kiến và việc tiếp đạn khi chiến đấu sẽ rất khó khăn.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:46:46 pm
Sau bảy đêm, pháo vẫn chưa tới vị trí quy định. Thời gian nổ súng dự định ngày 20 tháng 1 năm 1954 phải lui lại năm ngày. Chúng ta chưa lường hết trở ngại khi dùng sức người kéo những khối thép nặng hai tấn qua những dốc cao 30, 40 độ, có chỗ lên tới 60 độ lại bị máy bay, pháo binh địch bắn cản đường.


Sáng ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đảng ủy chiến dịch họp. Đảng ủy phân tích tình hình, có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Tình hình thực tế lúc này địch đã tăng cường lực lượng cho Điện Biên Phủ, nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ được điều ra chốt giữ các vị trí tiền tiêu. Đặc biệt, địch xây dựng xong trận địa phòng ngự vững chắc, thành một tập đoàn cứ điểm rất mạnh. Nếu ta vẫn theo phương châm "đánh nhanh giải quyết nhanh" sẽ gặp khó khăn tổn thất.


Trước khi kết luận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đại ý: Tình hình khẩn trương, cần sớm có quyết định. Vô luận tình hình nào, chúng ta vẫn phải nắm nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng. Trước khi tôi lên đường, Bác đã trao nhiệm vụ: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và Bộ Chính trị, đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: Nếu đánh, có chắc thắng trăm phần trăm không?


Cuối cùng, Đảng ủy cũng đi tới nhất trí là đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà khó có biện pháp cụ thể để khắc phục.

Đại tướng kết luận: Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tấn công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị phải bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.


17 giờ ngày 26 tháng 1 năm 1954, các trận địa pháo bắt đầu kéo pháo ra khỏi trận địa. Sau này Đại tướng tâm sự: Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi.

Ngày 31 tháng 1 năm 1954, sở chỉ huy chiến dịch chuyển từ Nà Tấu vào Mưòng Phăng nơi có rặng núi cao nằm ở phía đông cánh đồng Mường Thanh. Sở chỉ huy đóng tại Mường Phăng cho đến kết thúc chiến dịch. Những cuộc họp, những chủ trương lớn có tính quyết định trong quá trình tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đều diễn ra tại đây.


Trước tình hình thay đổi phương châm tác chiến, Cục Quân lực chúng tôi phân công cán bộ nắm chắc tình hình biên chế, tổ chức lực lượng của các đơn vị tham gia chiến dịch, phối hợp cùng các cơ quan có kế hoạch quân số cả kế hoạch ban đầu và kế hoạch bổ sung, bảo đảm sức chiến đấu liên tục dài ngày. Đồng thời căn cứ vào yêu cầu chiến dịch, Cục Quân lực đã chủ động phối hợp với Cục Quân khí, Cục Quân giới lập kế hoạch bảo đảm vũ khí trang bị cho phương châm "đánh chắc tiến chắc".


Cuối tháng 2 năm 1954, hậu phương đã gửi 2.200 quân bổ sung và 20 cán bộ cấp tiểu đoàn, trung đoàn tăng cường cho cơ quan tiền phương để giải quyết vấn đề cung cấp. Ngoài ra ở hậu phương còn chuẩn bị 3.000 thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu. Hầu hết ô tô vận tải được đưa ra mặt trận. 628 xe vận chuyển ngày đêm trong suốt thời gian chiến dịch. Các đoàn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè mảng ngược dòng sông Mã chở gạo từ Thanh Hoá lên Điện Biên Phủ, vượt thác sông Đà mang gạo từ Liên khu 3, Hòa Bình, Phú Thọ đến mặt trận. Nhân dân đã huy động 11.800 chiếc thuyền để tiếp tế cho Mặt trận Điện Biên Phủ. Hơn 2 vạn xe đạp thồ phục vụ chiến dịch. Kỷ lục thồ tăng từ 160 lên 250kg, cao nhất là 325kg. Đông đảo dân công nam nữ ngày đêm trèo đèo lội suối, mặc gió mưa rét mướt, mặc máy bay địch oanh tạc quyết chở lương thực, đạn dược cho bộ đội đánh giặc. Trên 26 vạn dân công miền ngược, miền xuôi cả vùng tự do và vùng tạm bị chiếm đã phục vụ tiền tuyến trên ba triệu ngày công. Việc cung cấp tiếp tế cho một lực lượng lớn tác chiến trên một mặt trận rất xa hậu phương trong suốt thời gian dài đã được khắc phục. Nhân dân ta đã lập nên một kỳ tích ngoài sự tính toán của địch.


Ngày mồng 5 Tết, Bộ Chỉ huy chiến dịch triệu tập hội nghị cán bộ ở Mường Phăng, quán triệt phương châm tác chiến mới và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Cuộc họp này thiếu đại biểu vì Đại đoàn 308 đang trên đường truy kích địch. Mở đầu cuộc họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương chúc Tết toàn quân sang năm mới thu nhiều thắng lợi mới và biểu dương những đơn vị đã kéo pháo ra an toàn. Đại tướng thông báo Hội nghị Trung ương và việc Bác đã phê chuẩn chủ trương tác chiến mới của Đảng ủy chiến dịch, thông báo quyết tâm của hậu phương sẽ dốc sức chi viện cho tiền tuyến tới khi giành toàn thắng. Tin chiến thắng trên các chiến trường Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Tây Nguyên, trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ đã mang lại sự phấn khởi cho hội nghị.


Câu hỏi lớn đặt ra là ta sẽ làm gì để giành thắng lợi trên mặt trận Điện Biên Phủ. Quân địch ở đây hiện có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của nước Pháp. Ngoài ra, chúng có 2 tiểu đoàn pháo 105mm (24 khẩu), 2 tiểu đoàn súng cối 120mm (20 khẩu), 1 đại đội pháo 155mm (4 khẩu), 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc). Lực lượng không quân thường trực tại sân bay Mường Thanh có 7 khu trục, 5 trinh sát, 4 máy bay vận tải và 1 trực thăng. Quân Pháp sẽ dành hai phần ba lực lượng máy bay ném bom toàn Đông Dương, 100% máy bay vận tải để yểm trợ trực tiếp cho Điện Biên Phủ trong trường hợp bị tiến công. Tổng số quân địch ở Điện Biên Phủ tính đến thời điểm đó là 16.200 tên. Với quân đông, hỏa lực mạnh, cộng với công sự vững chắc, bố phòng chặt chẽ, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương. Ngay trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, quân Pháp cũng chưa hề xây dựng được một hệ thống phòng ngự dã chiến mạnh như ở Điện Biên Phủ.


Lực lượng của ta có 9 trung đoàn bộ binh, gồm 27 tiểu đoàn, 1 trung đoàn sơn pháo 75mm (24 khẩu), 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm (24 khẩu), 4 đại đội súng cối 120mm (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 37mm (24 khẩu) và 2 tiểu đoàn công binh.

So sánh lực lượng bộ binh ta hơn địch về số tiểu đoàn (27/12), nhưng quân số mỗi tiểu đoàn của ta chỉ bằng hai phần ba quân số tiểu đoàn địch và trang bị yếu hơn nhiều, về lực lượng pháo yểm trợ trực tiếp cho bộ binh ta hơn địch về số lượng (64/48), nhưng lượng dự trữ của ta về đạn pháo lại rất hạn chế. Ta không có xe tăng và chỉ có 1 trung đoàn cao xạ 37mm để đối phó với toàn bộ không quân địch. Tuy nhiên lợi thế của ta ở Điện Biên Phủ khá rõ. Ta chủ động tiến công, địch bị động phòng ngự, ta là lực lượng bao vây, địch là lực lượng bị bao vây. Lợi thế này cho phép ta tự quyết định đánh hoặc không đánh, lựa chọn địa điểm, thời gian mở cuộc tiến công.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:48:45 pm
Phương châm chiến dịch thay đổi, kế hoạch bố trí và sử dụng pháo binh phải sửa đổi lại. Sau 9 ngày đêm dùng sức người kéo pháo vào trận địa, các chiến sĩ bộ binh và pháo binh ta lại kéo pháo ra và cùng công binh mở đường kéo pháo vào trận địa mới. Bộ đội ta đã bí mật mở 5 tuyến đường để kéo 24 khẩu lựu pháo 105mm và 24 khẩu pháo cao xạ 37mm cùng chuyển hàng trăm tấn đạn vào trận địa mới.


Đầu tháng 3 năm 1954, công tác chuẩn bị mọi măt cho cuộc tấn công vào tập đoàn cứ điểm đã hoàn thành.

Ngày 11 tháng 3 năm 1954, sở chỉ huy nhộn nhịp hẳn lên, khi được Đại tướng - Tổng Tư lệnh thông báo có thư của Bác gửi cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận. Trong thư Bác có đoạn: "Các chú sắp ra mặt trân. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang... Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất. Chúc các chú thắng to. Bác hôn các chú".


17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng. Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Pháo binh ta bắn vào Him Lam, phân khu Trung tâm, sân bay Mường Thanh. Nhiều hầm hào công sự của địch bị phá hủy. Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó chỉ huy Him Lam, chỉ huy trưởng phân khu Trung tâm và toàn bộ ban tham mưu phân khu bị tiêu diệt. Trận địa pháo binh địch ở Mường Thanh bị tê liệt, kho xăng bốc cháy, 5 máy bay bị phá hủy.


Trung đoàn 141 và Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 được pháo binh chiến dịch chi viện tiến đánh cứ điểm Him Lam. Quân địch bám công sự chống trả quyết liệt, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai tạo điều kiện cho đồng đội tiến vào tung thâm... Đến 23 giờ 30 phút, ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Him Lam.


Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3 năm 1954, ta mở cuộc tiến công cụm cứ điểm đồi Độc Lập. Chỉ sau ba giờ chiến đấu ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm. Đợt tiến công thứ nhất kết thúc, ta đã tiêu diệt nhanh gọn hai cụm cứ điểm kiên cố vào bậc nhất của địch là Him Lam và đồi Độc Lập, sau đó làm tan rã thêm 1 tiểu đoàn địch, chiếm luôn cứ điểm thứ ba là Bản Kéo. Ta đã tiêu diệt và bắt sống 2.000 tên địch, bắn rơi 12 máy bay, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, uy hiếp nghiêm trọng sân bay Mường Thanh.


Ngày 16 tháng 3 năm 1954, địch tăng viện 3 tiểu đoàn nhảy dù cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đợt tiến công thứ hai của ta đánh đồng loạt các cứ điểm phía đông, phát triển trận địa tiến công chia cắt địch, thắt chặt vòng vây, không chế đi đến triệt hẳn tiếp tế của địch.

17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, cuộc tiến công vào các ngọn đồi phía đồng tập đoàn cứ điểm bắt đầu. Sau 45 phút, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tiêu diệt gọn 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 RTM, đánh chiếm đồi C1. Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) sau 1 giờ 30 phút chiến đấu cũng tiêu diệt gọn một bộ phận tiểu đoàn lính dù ngụy, chiếm đồi E. Trung đoàn 204 (Đại đoàn 312) sau 2 giờ chiến đấu, tiêu diệt tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 RTA, đánh chiếm đồi D. Ngay đêm đó và cả ngày hôm sau quân địch tổ chức nhiều đợt phản kích nhưng đều bị ta đánh bại.


Cuộc chiến đấu trên đồi A1, điểm cao quan trọng nhất trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ diễn ra hết sức gay go. Trong đêm đầu, quân ta chiếm được hai phần ba cứ điểm. Đến tảng sáng và suốt ngày hôm sau, địch cho nhiều lực lượng có pháo binh, xe tăng yểm trợ chiếm lại một phần cứ điểm. Ta và địch giành đi giật lại quyết liệt từng tấc đất. Quân địch dựa vào hầm ngầm và trận địa kiên cố liên tiếp phản kích. Đến ngày 4 tháng 4 mỗi bên giữ một nửa điểm cao. Ở đồi A1, giữa trận địa ta và địch hoàn toàn không có vật cản nên tính quyết liệt càng lớn.


Bộ Chỉ huy mặt trận chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng trận địa tiến công và bao vây quân địch khắp các mặt trận Đông, Tây, Nam, Bắc, chia phân khu Nam và phân khu Trung tâm, bảo đảm cho bộ đội từ núi cao tiến xuống cánh đồng Mường Thanh chiến đấu với địch trên địa hình trống trải và bằng phẳng cả ban ngày lẫn ban đêm. Cơ quan tham mưu chiến dịch hướng dẫn các đơn vị xây dựng trận địa. Đại đoàn 308 xây dựng trận địa trên cánh đồng phía tây. Đại đoàn 312 phụ trách trận địa phía đông. Đại đoàn 316 phụ trách trận địa cánh cung cắt rời phân khu Hồng Cúm với phân khu Trung tâm.


Lúc này, việc tiến công cứ điểm A1 đã thu hút tâm trí các đồng chí cơ quan tham mưu chiến dịch. Qua nghiên cứu địa hình tôi nói với anh Trần Văn Quang, Cục trưởng Cục Tác chiến:

- Anh Quang ạ, cứ điểm A1 là điểm cao quan trọng nhất khống chế toàn bộ Mường Thanh. Hiện nay ta chiếm một nửa, địch chiếm một nửa. Hay ta đào một đường hầm từ trận địa của ta đến chân hầm ngầm của địch, rồi đưa một lượng bộc phá lớn vào đó đánh sập hầm địch, anh thấy thế nào?

Suy nghĩ một lát, anh Trần Văn Quang đập mạnh vào vai tôi:

- Hay, hay lắm! Tôi sẽ báo ngay với anh Văn.

Thế rồi kế hoạch đào một đường hầm để đưa một lượng thuổc nổ 1.000kg được giao cho Đại đoàn 316. Tôi ngày 20 tháng 4 năm 1954, anh Lê Quảng Ba - Tư lệnh Đại đoàn trực tiếp chỉ đạo đào đường hầm dưới lòng đất vào cứ điểm A1.

Suốt trong quá trình diễn biến của chiến dịch, ngoài việc tham gia vào kế hoạch tác chiến, chúng tôi còn phải trực tiếp nắm chắc tình hình quân số của từng đơn vị, mức độ tổn thất của ta qua từng trận đánh, từng đợt chiến đấu, kịp thời có kế hoạch điều chuyển, bổ sung, bảo đảm lực lượng để chiến đấu liên tục dài ngày. Bộ đội chiến đấu trong điều kiện vô cùng ác liệt, nên ngoài số hy sinh, tỷ lệ bị thương tương đối lớn, chúng tôi đã cùng quân y mặt trận tổ chức phân loại thương tật, phân tuyến điều trị hợp lý, giảm tỷ lệ tử vong, đồng thời có thể huy động những trường hợp bị thương nhẹ sau khi bình phục trở lại đơn vị chiến đấu.


Bước sang đợt hai chiến dịch, theo chỉ thị của Đại tướng Tổng Tư lệnh, Cục Quân lực chúng tôi gấp rút tiến hành chuẩn bị cho việc thành lập Đại đoàn pháo phòng không 367. Chúng tôi đã phối hợp với cơ quan cán bộ điều động một số cán bộ, chiến sĩ đang tham gia chiến dịch. Điều Trung đoàn 55 bộ binh Quân khu 4 ra thành lập Đoàn 305 tiến hành xây dựng trận địa, kho tàng, cử người đi học pháo binh ở Trung Quốc.


Trung tuần tháng 4 năm 1954, chiến hào của ta từ hai hướng đông và tây khép vào cắt đứt phân khu Nam và phân khu Trung tâm, cắt đôi tập đoàn cứ điểm. Từ ngày 15 tháng 4, bộ đội ta lại từ giữa sân bay Mường Thanh đào ra, từ ngoài đào vào cắt đôi sân bay. Tập đoàn cứ điểm địch bị cắt ra từng khúc. Phạm vi đóng quân của địch thu hẹp mỗi chiều chỉ còn 1.200 đến 1.300m. Tất cả nguồn tiếp tế của địch chỉ còn trông vào việc thả dù. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự trở thành địa ngục đối với quân địch.


Ngày 22 tháng 4 năm 1954, Tiểu đoàn hỏa tiễn 224 được thành lập. Chúng tôi điều ngay một đại đội của tiểu đoàn này lên Điện Biên Phủ để tham gia đợt tiến công thứ ba.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:54:59 pm
Đợt tiến công thứ ba bắt đầu vào đêm 1 tháng 5 năm 1954. Quân ta đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây, tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) nhanh chóng tiêu diệt quân địch còn kiểm soát một nửa đồi C1. Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) tiêu diệt hai vị trí 505 và 505A, dưới chân các ngọn đồi phía đông ở tả ngạn sông Nậm Rốm. Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311A ở phía tây. Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) đánh lấn vào khu C, phía đông bắc phân khu Nam.


Đêm 3 tháng 5, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311B. Bộ đội ta chỉ còn cách sở chỉ huy địch 300m.

Ngày 4 tháng 5, địch thả tiểu đoàn dù dự bị cuối cùng xuống Điện Biên Phủ.

18 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, pháo binh ta và đại đội hỏa tiễn sáu nòng bắn dồn dập vào tung thâm quân địch. Đến 21 giờ ngày 6 tháng 5 bộ đội công binh cho nổ khối thuốc 1.000kg TNT đặt giữa đồi A1. Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) chia làm nhiều mũi đánh vào tiêu diệt đơn vị quân dù lê dương ở điểm cao cuối cùng đồi A1. Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) tiêu diệt đồi C2. Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) đánh chiếm vị trí 310 ở phía tây.


Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, địch vẫn còn phản kích. 14 giờ ngày 7 tháng 5, Tiểu đoàn 130 Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 tiến công vị trí 507 ở gần cầu Mường Thanh. Binh lính địch kéo cờ trắng ra hàng. Hai vị trí địch trên tả ngạn sông Nậm Rốm cũng bị tiêu diệt. Từ các hướng quân ta tiến vào khu trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biẽn Phủ.


17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, tướng Đờ Cát-tớ-ri và bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng. Lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" được Bác trao cho quân đội ta phất cao trên nóc hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngay trong đêm, Đại đoàn 304 tiến công vào phân khu Nam. Quân địch ở đây còn trên 2.000 tên tháo chạy. Quân ta đuổi đánh, đến nửa đêm toàn bộ quân địch bị bắt.

Ngày 8 tháng 5 năm 1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận được thư Bác. Bác viết: "Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời ngợi khen cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.


Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn...".


Hai ngày sau khi cuộc chiến đấu kết thúc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu một đoàn cán bộ từ Mường Phăng tới thăm chiến trường Điện Biên Phủ. Trạm tù binh ở rải rác hai bên đường. Một số tên tắm giặt ở suối dưới sự canh gác của những chiến sĩ trẻ, bé nhỏ, vẻ mặt hiền lành. Dọc đường đoàn dừng lại vào thăm một đơn vị pháo binh. Điều kiện chiến đấu ăn ở của các đồng chí pháo binh khá tươm tất.


Ta đã thông báo cho địch biết thương binh của tập đoàn cứ điểm tập trung ở Mường Thanh, nên mấy ngày này máy bay quân Pháp không hoạt động tại khu vực này.

Xe chúng tôi dừng lại trước cụm cứ điểm Him Lam với ba quả đồi đứng chụm vào nhau bên phải đường 41. Chúng tôi trèo lên đồi xem xét vị trí địch chúng đã chọn một địa thế rất có lợi cho việc phòng ngự. Đồng chí cán bộ chỉ huy chiến đấu ở đây đưa chúng tồi vào xem một ụ súng, trong đó địch đặt một khẩu trung liên có kính ngắm tia hồng ngoại để phát hiện ta ban đêm. Chúng tôi nhìn qua lỗ châu mai thấy ở đây kiểm soát một khu vực rất rộng. Đi khỏi Him Lam, trước mặt chúng tôi hiện ra cánh đồng Mường Thanh. Bên trái, dãy đồi phía đông của tập đoàn cứ điểm không còn một ngọn cỏ. Bên phải đường 41, từ chân những quả đồi ra đến bờ sông Nậm Rốm là những căn cứ địch dày đặc, chỗ nào cũng chỉ thấy chiến hào, ụ súng và dây thép gai. Chúng tôi đi qua chiếc cầu sắt bắc ngang sông Nậm Rốm nối liền khu đông với trung tâm Mường Thanh. Đứng giữa Mường Thanh, trên là trời, dưới là hầm hố, dây thép gai và súng đạn, xe cộ ngổn ngang. Tôi nhìn thấy một chiếc máy bay cắm đầu xuống đất, không xa sở chỉ huy Đờ Cát là mấy.


Chúng tôi lên xem đồi A1. Từ đỉnh đồi ta có thể nhìn rõ toàn bộ hình thái của tập đoàn cứ điểm và trận địa chiến hào của ta. Nhìn toàn bộ tập đoàn cứ điểm địch, chúng tôi thấy rõ điểm mạnh của nó và cũng rõ vì sao địch đã chống giữ được ở đây 55 ngày đêm.    Sau đó chúng tôi đi thăm sân bay, thăm đồi Độc Lập. Từ đồi Độc lập trở về, chúng tôi đi Hồng Cúm, ghé qua bản Noong Nhai, nơi địch đã ném bom tàn sát mấy trăm đồng bào ta bị chúng tập trung ở đây. Xe không thể đi tiếp đến Hồng Cúm vì đường hào trục vẫn còn cắt ngang.


Ngày 13 tháng 5 năm 1954, ta tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng Điện Biên Phủ tại khu đồi phía đông sở chỉ huy Mường Phăng. Đại diện các đơn vị tham chiến và Bộ Chỉ huy chiến dịch đều có mặt đông đủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc nhật lệnh tuyên dương công trạng các đơn vị trong toàn quân đã dũng cảm gan dạ, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, góp phần giành đại thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Cám ơn anh chị em dân công, đồng bào Tây Bắc và đồng bào hậu phương đã ra sức chi viện cho tiền tuyến. Đại tướng hoan nghênh tinh thần đoàn kết, phối hợp chiến đấu của hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia. Cuối cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói:

- Nhân danh Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi hạ lệnh cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên khắp các chiến trường toàn quốc phải tích cực chiến đấu để củng cố và khuếch trương thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, củng cố và khuếch trương kết quả của chiến thắng Đông - Xuân tiến tới những thắng lợi rực rỡ hơn nữa.

Đại đoàn 312 được vinh dự nhận cờ Quyết chiến quyết thắng của Bác trao.

Mọi người có mặt vỗ tay như sấm, nét mặt ai nấy đều rạng rỡ niềm vui chiến thắng.

Ngày hôm sau, các đại đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ được lệnh chuyển gấp về xuôi để phát triển thắng lợi. Đại đoàn 308 về Thái Nguyên và Bắc Giang. Đại đoàn 312 về Vĩnh Yên và Phúc Yên. Đại đoàn 304 đưa Trung đoàn 4 về Nam Định và Ninh Bình. Riêng Đại đoàn 316 nhận nhiệm vụ thu dọn chiến trường, đưa tù binh về trại giam, sau đó để lại Điện Biên Phủ một trung đoàn còn toàn bộ sư đoàn chuyển về Thanh Hóa.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 08:57:16 pm
Trước khi sở chỉ huy chiến dịch dời về đồng bằng, tôi phân công anh Nguyễn Thục Phán phối hợp với anh em bên Cục Quân khí cùng đơn vị Đại đoàn 316 thu dọn chiến trường.

Sau đó anh em báo cáo, chiến lợi phẩm thu được ở Điện Biên Phủ rất lớn, gồm: 1.288 tấn vũ khí đạn dược (gần bằng tổng số 1.456 tấn vũ khí đạn dược mà ta đảm bảo cho toàn chiến dịch). Trong đó đáng kể có 30 khẩu pháo 105mm và 155mm và 6 xe tăng, về quân trang cấp dưỡng, đáng kể là 30.000 chiếc dù.


Năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nguyễn Mạnh Đẩu, con rể tôi, lúc đó là Thiếu tướng - Phó hiệu trưởng chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1 mời tôi và con trai tôi (Trần Hùng, đại tá, Giám đốc Trung tâm 2 thuộc Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng - Tổng cục Kỹ thuật) đang ở Thành phố Hồ Chí Minh trở lại Điện Biên. Tôi nhận lời...


Từ sân bay Nội Bài, sau 50 phút bay, máy bay đã hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh. Đại diện Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Điện Biên ra tận cầu thang máy bay đón chúng tôi. Những cô gái Thái ôm những bó hoa tươi thắm tặng từng người trong đoàn. Ấn tượng đầu tiên đối với tôi, Điện Biên đã thay da đổi thịt. Sân bay Mường Thanh được nâng cấp để đón khách về dự kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng.


Từ sân bay về nhà khách, tôi được anh em cho biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghỉ ở nhà khách Tỉnh ủy. Thế là tôi bảo lái xe rẽ vào. Nguyễn Mạnh Đẩu lên phòng, một lát sau, anh Trần Văn Quang cùng đi xuống. Anh Quang sinh ra trong một gia đình cách mạng ở xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Anh ruột anh là Trần Văn Cung, một trong bảy đảng viên của chi bộ ở Hàm Long - Chi bộ đầu tiên của Đảng ta. Anh Quang là bạn tù với tôi ở nhà lao Buôn Ma Thuột, bạn chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Chúng tôi chạy lại ôm nhau nghẹn ngào.


Anh Trần Văn Quang cùng tôi đến chào Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi đi về phía Đại tướng ở tiền sảnh nhà khách Tỉnh ủy Điện Biên. Vừa nhìn thấy tôi, Đại tướng ôm choàng lấy tôi vỗ vỗ vào lưng: "Ơi anh Sâm! Ơi anh Sâm! Bao năm ta gặp lại nhau đây!".

Cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ và thú vị. Một Tổng Tư lệnh - Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, một Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến và tôi - Cục trưởng Cục Quân lực. Nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay gặp nhau giữa lòng Điện Biên Phủ trong ngày hội lớn còn gì vui hơn.


Những ngày ở Điện Biên, việc đầu tiên là chúng tôi thắp hương cho đồng đội ở nghĩa trang đồi A1, rồi đi thăm lại chỉ huy sở ở Mường Phăng, thăm nhà Tác chiến nơi giao ban hàng ngày của Bộ Chỉ huy chiến dịch, thăm Him Lam, Hồng Cúm, thăm nhà trưng bày chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.


Hôm đứng trên ngọn đồi A1, Nguyễn Mạnh Đẩu đọc cho chúng tôi nghe bài thơ Đẩu vừa làm. Tôi xin ghi lại bài thơ về Điện Biên của con rể tôi:
   Con về Điện Biên tròn phần hai thế kỷ
   Từ thuở cha đánh Pháp trận cuối cùng
   Ôi Điện Biên chiến thắng lẫy lừng
   Tỏa sáng ngàn năm bất hủ
   Những chiến binh băng mình trong máu lửa
   Đã tạc vào lịch sử đoá hoa cương
   Con đã vào Chỉ huy sở Mường Phăng
   Nơi Đại tướng cùng Bộ tham mưu chiến dịch
   Ôi trí tuệ tuyệt vời, quyết tâm bằng thép
   Vạch trúng con đường xuyên thẳng tới trung tăm.
   Con về thăm A1, Hồng Cúm, Him Lam
   Những chiến tích vô cùng oanh liệt
   Giành giật đem ngày máu thấm từng tấc đất
   Có chiến công nào chẳng đổi những hy sinh
   Con đã vào đây từ dốc ấy, Pha Đin
   Nhớ thuở ông cha bàn chân trần khứa máu
   Từ muôn ngả non sông về đây hội tụ
   Vực thẳm đèo cao in dấu những đoàn quân...
   Chúng con về đây xin dâng nén hương thơm
   Kính cẩn tâm linh, những hàng bia thẳng lối
   Di tích trầm hùng - chất chứa điều nhắn gửi
   Hãy từ Điện Biên rọi sáng tới tương lai.



Tôi nghĩ, phải bằng cách nào đó để có thể nói lại với mai sau về những sự tích anh hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Phải làm sao để các thế hệ mai sau không lãng quên quá khứ anh hùng ấy của dân tộc. Nhưng phải chăng, thật buồn, có lúc có nơi, chúng ta đã quên đi ít nhiều.


Không! Chúng ta phải tựa vững vào quá khứ, tựa vào lịch sử như tựa vào một bức tường thành bền vững để từ đó mà tiến lên.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 09:02:23 pm
Chương bốn
THAM GIA XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHỮNG NĂM ĐẦU HÒA BÌNH


Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia được ký kết tại Giơ-ne-vơ. Với hiệp định này các nước tham gia hội nghị công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam ta. Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam quy định lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng hai bên tập kết. Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến. Quân đội liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến. Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi như một biên giới lãnh thổ. Thời gian tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam được ấn định vào tháng 7 năm 1956.


Đến 0 giờ ngày 2 tháng 7 năm 1954, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam. Đây là thời điểm đánh dấu quân đội ta cùng toàn dân kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Lịch sử quân đội ta và nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới.


Đầu tháng 8 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam rời Điềm Mạc và khu vực chân núi Hồng chuyển về đóng quân tại Vai Cầy, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gần chân núi Tam Đảo, thuận tiện cho việc chỉ đạo triển khai công tác chuẩn bị lực lượng vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội, sẵn sàng đón các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô!


Tháng 9 năm 1954, ngày tạm biệt căn cứ địa ATK (an toàn khu) diễn ra hết sức cảm động, lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Đội hình hành quân của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh chia thành hai bộ phận. Bộ phận lớn hành quân cơ giới đi ngược trở lại con đường năm xưa ta hành quân lên ATK tiến hành kháng chiến, tức là từ Đại Từ đi Đèo Khế - Sơn Dương - Bình Ca - Phú Thọ - Trung Hà - thị xã Sơn Tây. Đến Sơn Tây thì dừng chân trong Thành cổ Sơn Tây. Thời gian ở đây khoảng 1 tháng, tiếp tục công tác chỉ đạo toàn quân thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuẩn bị cho việc tiếp quản các thành phố, thị xã và tiếp quản khu vực 300 ngày. Còn bộ phận nhỏ gồm số anh em đi công tác về chậm, số sức khoẻ yếu và các chị em có con mọn (Cục Quân lực lúc đó có chị Phương Minh Hiền mới sinh) cũng hành quân bằng cơ giới, đến Phú Thọ rẽ theo đường số 2 qua Đông Anh theo đường số 3, qua cầu Long Biên về Hà Nội sau.


Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, thực hiện chủ trương chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm yêu cầu xây dựng quân đội trước mắt và lâu dài, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng tổ chức tiếp nhận khẩn cấp hàng viện trợ quốc tế, với mật danh "Kế hoạch Z".


Với "Kế hoạch Z", trong vòng tháng 7 và tháng 8 năm 1954, Tổng cục Hậu cần và Cục Quân lực tổ chức tiếp nhận lượng hàng viện trợ còn lại của kế hoạch năm 1954 và hàng viện trợ khẩn cấp qua hai cửa khẩu: Thủy Khẩu (Cao Bằng) và Đồng Đăng (Lạng Sơn). Cục Quân lực cử anh Phan Phúc Tường - Cục phó tham gia Ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo tổ chức tiếp nhận khối lượng lớn hàng hóa trong điều kiện thời gian ngắn, phương tiện vận chuyển, kho tàng thiếu, lại phải bảo đảm tuyệt đối bí mật là một khó khăn lớn. Nhưng bằng kinh nghiệm tích lũy qua những lần tiếp nhận viện trợ quốc tế trước, anh Phan Phúc Tường và các anh trong ban chỉ đạo đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đầu tháng 9 năm 1954, "Kế hoạch Z" đã kết thúc thắng lợi. Ta đã tiếp nhận 11.546 tấn vũ khí trang bị và 1.116 ô tô các loại bảo đảm bí mật, an toàn.


Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ và thỏa thuận giữa hai phái đoàn quân sự Việt Nam và Pháp tại Hội nghị quân sự Trung Giã (từ ngày 4 đến 27 tháng 7 năm 1954), hai bên phải trao trả tù binh và thường dân bị bắt. Theo sự phân công của Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, anh Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp phụ trách trao trả tù hàng binh. Cục Quân lực và Cục Địch vận chịu trách nhiệm chủ yếu tổ chức thực hiện. Cục Tác chiến có nhiệm vụ tham gia một số phần việc trong quá trình trao trả.


Việc trao trả tù binh giữa hai bên được tiến hành ở hai nơi là Việt Trì (Phú Thọ) và Hải Thôn, thị trấn Sầm Sơn (Thanh Hóa).

Là cơ quan chủ trì công tác trao trả tù binh, sau khi nắm chắc số lượng quân nhân, cán bộ, thường dân của ta bị địch bắt và tù hàng binh của Pháp, lên kế hoạch tiến hành trao trả cụ thể, tôi và anh Phan Phúc Tường cùng nhiều cán bộ, nhân viên Cục Quân lực đã trực tiếp lên Việt Trì và vào Sầm Sơn để chỉ đạo công tác trao trả. Do nắm chắc số người của ta bị địch bắt, tôi đã trực tiếp đấu tranh với phía bên kia về những thủ đoạn gian trá của họ.


Bằng sự nỗ lực rất cao của cơ quan và đơn vị, đến ngày 4 tháng 9 năm 1954, việc trao trả tù hàng binh đã cơ bản hoàn thành. Ta đã trao trả cho Pháp 13.414 tù hàng binh (kể cả số bị bắt ở Lào là 695 người và 546 người bị thương, bị ốm ta đã trao trả trước). Trong số ta trao trả có 9.247 tù binh Âu - Phi, gồm 1 cấp tướng, 3 đại tá, 12 trung tá, 38 thiếu tá, 530 sĩ quan cấp úy. Phía Pháp trả cho ta 68.359 cán bộ, chiến sĩ và thường dân bị bắt. Trong đó 11.014 quân nhân. Số cán bộ bị bắt gồm 5 cấp khu, 16 cấp tỉnh, 652 cấp huyện, 7.387 cấp xã, 3 cán bộ trung đoàn, 2 cán bộ tiểu đoàn và 925 cán bộ đại đội.


Việc trao trả tù hàng binh và dân thường bị bắt mặc dù chưa đạt được ý muốn nhưng cũng đã đạt kết quả tốt. Thắng lợi này đã làm thất bại âm mưu trì hoãn, kéo dài việc trao trả của địch, buộc chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đó là thắng lợi của ý chí và tình cảm thân thương đối với đồng chí, đồng bào ta bị địch bắt giam trong nhà tù của chúng. Đối với tù hàng binh địch, ta đã thể hiện chính sách nhân đạo, bảo đảm chế độ cung cấp đầy đủ. Cùng với thực hiện trao trả tù hàng binh, Bộ Tổng tham mưu còn chỉ thị các cơ quan tổ chức đón tiếp các đơn vị cán bộ và thân nhân ở miền Nam, Lào và Cam-pu-chia tập kết ra miền Bắc. Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gọi tôi lên giao nhiệm vụ: "Anh khẩn trương liên hệ với các chiến trường, mặt trận nắm lực lượng bộ đội tập kết ra Bắc và lực lượng ở lại miền Nam chuẩn bị cho chủ trương chiến lược lâu dài khi địch phản bội hiệp định. Từ đó lập kế hoạch xây dựng cơ sở đón tiếp, bảo đảm cung cấp và có kế hoạch chấn chỉnh biên chế tổ chức các đơn vị tập kết phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới!".


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 09:03:57 pm
Bắt đầu từ tháng 9 năm 1954 đến trung tuần tháng 5 năm 1955, việc tổ chức chuyển quân tập kết và đón tiếp đồng bào, chiến sĩ miền Nam tập kết, bộ đội ở Lào trở về đã kết thúc thắng lợi. Hơn 12 vạn người đã được đón tiếp, sắp xếp nơi ăn nghỉ chu đáo. Việc làm đó đã góp phần động viên cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam những ngày đầu ra miền Bắc. Cục Quân lực chúng tôi đã chủ động cung cấp quân số tập kết cho Ban chỉ đạo, chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị kế hoạch đón tiếp, huy động phương tiện vận chuyển, bố trí ăn nghỉ, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của việc chuyển quân tập kết. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1954, nêu rõ: "Tăng cường Quân đội nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân ta, cần phải xây dựng quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chính quy, tương đối hiện đại".


Chấp hành Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đã từng bước nghiên cứu kế hoạch xây dựng quân đội thích ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Tháng 8 năm 1954, anh Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng giao cho tôi làm Trưởng ban nghiên cứu xây dựng lực lượng vũ trang. Ban này còn có Cục trưởng Cục Tổ chức làm phó ban cùng một số cán bộ chuyên viên Cục Quân lực. Ngày 21 tháng 8 năm 1954, Ban nghiên cứu đã hoàn thành đề án kế hoạch xây dựng quân đội từ tháng 8 năm 1954 đến tháng 6 năm 1955.   Đề án đề cập một số vấn đề cấp thiết về xây dựng quân đội từ chiến tranh chuyển sang hòa bình.


Ngày 17 tháng 9 năm 1954, Tổng Quân ủy phê chuẩn đề án kế hoạch xây dựng quân đội do Ban nghiên cứu soạn thảo. Để triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng quân đội 1 năm (8.1954 - 6.1955), Cục Quân lực cùng với các cơ quan có liên quan trong Bộ Tổng tham mưu đã đề xuất ý kiến sơ bộ về việc thực hiện chỉnh biên bộ đội chủ lực, nhằm thống nhất về biên chế, huấn luyện và chỉ huy.


Phương án chỉnh biên tập trung vào xây dựng 6 đại đoàn bộ binh hiện có, 3 đại đoàn lựu pháo, 1 đại đoàn cao xạ và tập trung bộ đội địa phương thành 4 đại đoàn mới, thiết lập tổng đội phòng ngự bờ biển.

Trung tuần tháng 9 năm 1954, Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh chỉnh biên bước thứ nhất, tập trung ở 6 đại đoàn bộ binh và các đơn vị pháo binh. Tổng Tư lệnh quy định các đại đoàn thực hiện biên chế tạm thời và phải hoàn thành chậm nhất trước ngày 20 tháng 11 năm 1954.


Trong quá trình thực hiện, Cục Quân lực đã thực hiện tốt vai trò cơ quan tham mưu giúp Bộ Tổng tham mưu phối hợp cùng Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần theo dõi chỉ đạo và giúp đơn vị chấn chỉnh biên chế tổ chức. Đến tháng 11 năm 1954, toàn quân đã hoàn thành việc chỉnh biên 6 đại đoàn (308, 304, 312, 316, 320, 325). Biên chế mới thực hiện theo chủ trương gọn, nhẹ, giảm bớt quân số, tăng thêm trang bị ở mỗi cấp, nhất là vũ khí hỏa lực mạnh như: Bazôka ở đại đội, ĐKZ 57 ở tiểu đoàn, ĐKZ 75 và pháo 70mm ở trung đoàn, cao xạ 37mm ở cấp đại đoàn và tăng cường phương tiện thông tin liên lạc.


Tháng 12 năm 1954, Cục Quân lực chúng tôi và các cơ quan liên quan giúp Bộ Tổng tham mưu hoàn chỉnh đề án xây dựng lực lượng biên phòng, trình lên Bộ Quốc phòng. Theo đề án này, bộ đội tình nguyện ở Lào sau khi tập kết về nước được xây dựng thành Bộ đội Biên phòng lúc đầu có tên là Tổng đội Biên phòng, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo. Tổng đội Biên phòng gồm 4 trung đoàn, có nhiệm vụ: Bảo vệ biên giới, chống xâm lược, giúp địa phương phát triển dân quân du kích, củng cố cơ sở dọc theo biên giới Việt - Lào. Phạm vi đóng quân và hoạt động chia làm bốn khu vực. Khu vực thứ nhất từ biên giới Việt - Trung đến Mường Hung; khu vực thứ hai từ biên giới Mường Hung đến sông Chu (Thanh Hóa); khu vực thứ ba từ Quỳ Châu đến đường số 7 (Nghệ An); khu vực thứ tư từ nam đường số 7 đến vĩ tuyến 17. Bộ Tư lệnh Biên phòng được thành lập trên cơ sở Bộ Tư lệnh Thượng Lào.


Trong tháng 12 năm 1954, Cục Quân lực báo cáo Bộ Tổng tham mưu cụ thể kế hoạch xây dựng các đơn vị bộ đội miền Nam, bộ đội tình nguyện ở Lào và bộ đội địa phương trong 6 tháng đầu năm 1955.

Về xây dựng bộ đội miền Nam, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, để chủ động đối phó với tình huống đối phương phản bội Hiệp định Giơ-ne-vơ, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các liên khu miền Nam ngoài việc chuẩn bị chấn chỉnh lực lượng ra Bắc tập kết theo kế hoạch cần phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương bí mật cất giấu vũ khí, trang bị quân sự và bố trí những cán bộ, đảng viên trung kiên chưa bị lộ ở lại hoạt động.


Việc xây dựng lực lượng bộ đội miền Nam sau khi tập kết ra Bắc, đáp ứng yêu cầu tình hình mới là vấn đề được Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đặc biệt quan tâm. Vì vậy, đầu tháng 11 năm 1954, Tổng Quân ủy quyết định thành lập tổ phụ trách xây dựng lực lượng bộ đội miền Nam tập kết do các đồng chí Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà và Nguyễn Chánh chủ trì, giúp Tổng Quân ủy làm kế hoạch và tổ chức thực hiện.


Trung tuần tháng 11 năm 1954, tổ phụ trách xây dựng lực lượng miền Nam họp đề nghị Tổng Quân ủy một số vấn đề về tổ chức lực lượng bộ đội miền Nam tập kết. Hội nghị này anh Hoàng Văn Thái mời tôi cùng dự. Anh Hoàng Văn Thái giao cho tôi giúp Bộ Tổng tham mưu thảo đề án xây dựng bộ đội Nam Bộ và bộ đội Liên khu 5. Theo đề án do tôi chuẩn bị trình Tổ phụ trách xây dựng lực lượng bộ đội miền Nam thì Nam Bộ tổ chức một đại đoàn chung - Đại đoàn 330, gồm hai trung đoàn miền Đông, một trung đoàn miền Tây và Lữ đoàn 338, được tổ chức huấn luyện, trang bị theo hướng chính quy hóa.


Ngày 10 tháng 10 năm 1954, một ngày lịch sử. Đúng 5 giờ sáng, hết giờ giới nghiêm, cả Hà Nội tưng bừng náo nhiệt ngày hội lớn, ngày hội chiến thắng. Thủ đô hoàn toàn giải phóng. Nhân dân quần áo chỉnh tề, cờ hoa rực rỡ, đứng đông nghịt trên các hè phố được thông báo là có bộ đội đi qua. Trong Sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu ở Sơn Tây trực ban tác chiến theo dõi chặt chẽ tình hình từ Sở chỉ huy Đại đoàn 308 ở sân bay Bạch Mai báo về.


8 giờ sáng ngày 10 tháng 10, dưới quyền chỉ huy của anh Vương Thừa Vũ, Đại đoàn 308 và các đơn vị phối thuộc qua các cửa ô tiến vào Hà Nội trong niềm hân hoan vô bờ của nhân dân Thủ đỏ Hà Nội.


Tiêu đề: Năm tháng cuộc đời
Gửi bởi: thongdiepthoigian trong 13 Tháng Mười, 2026, 09:05:28 pm
Trung tuần tháng 10 năm 1954, quân ta lần lượt về tiếp quản Thủ đô. Cục Quân lực hành quân bộ từ Sơn Tây qua thị trấn Phùng đến Cầu Giấy rồi tập kết tại chùa Láng, kiểm tra lại quân số, sau đó vào thành Hoàng Diệu.

Cục Quân lực ở tạm dãy nhà cạnh đường Nguyễn Tri Phương. Nhà này có lắp kính toàn bộ các cửa phía trước, chưa có tên gọi, nên anh em gọi là Nhà Kính, ở đây một thời gian, Cục Quân lực chuyển vào làm việc tại Khu A - tên gọi dành cho khu làm việc của Bộ Tổng tham mưu và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cục Quân lực ở góc tây nam của Khu A. Trạm tiếp đón 60 do anh Nguyễn Văn Nhung làm Trưởng ban. Tháng 10 năm 1954, trạm tiếp quản Nhà thương Võ Tánh (cạnh chùa Bích Câu, phố Hàng Bột (Tôn Đức Thắng bây giờ). Sau một tháng trạm chuyển về nhà thờ Liễu Giai, phố Đội Cấn, Hà Nội. Cùng ở có cả Trạm 50 Tổng cục Chính trị và Trạm 70 của Tổng cục Hậu cần. Cuối năm 1956, ba trạm này hợp nhất làm một lấy tên là Trạm 66, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.


Thời gian này, Cục trưởng vẫn là tôi, Cục phó là anh Phan Phúc Tường, anh Hồng Long (anh Hồng Long là Cục phó kiêm Trưởng phòng Cán bộ. Năm 1956 phòng Cán bộ nâng cấp thành Cục Cán bộ, tách khỏi Cục Quân lực trực thuộc Bộ Tổng tham mưu). Cuối năm 1955, anh Phan Phúc Tường có quyết định chuyển công tác khác, anh Phan Thêm được điều về làm Cục phó. Phòng Tổ chức biên chế do anh Văn Giang làm Trưởng phòng (sau này tách thành hai phòng là phòng Tổ chức, do anh Văn Giang làm Trưởng phòng; phòng Biên chế, do anh Đỗ Đức làm Trưởng phòng). Phòng Quân số, do anh Dương Quốc Cầm làm Trưởng phòng (anh Võ Lương là trưởng phòng đầu tiên). Phòng Trang bị do anh Tống Thái làm Trưởng phòng. Phòng Cần vụ quân đội do anh Trần Quang Đẩu làm Trưởng phòng (Trưởng phòng đầu tiên là anh Văn Lê). Phòng Cần vụ quân đội sau đổi thành phòng Điều lệnh rồi chuyển sang Cục Quân huấn - Bộ Tổng tham mưu. Phòng Bổ sung phục viên, do anh Nguyễn Hữu Giáp làm Trưởng phòng. Phòng Thống kê do anh Trần Thịnh làm Trưởng phòng. Ban Hành chính do anh Tô Hào làm Trưởng ban và anh Thái Văn Nghiệp là chính trị hiệp lý viên.


Một công việc không kém phần quan trọng của Cục Quân lực thời gian này là tham gia tổ chức lễ duyệt binh mừng thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác trở về Hà Nội, đồng thời biểu dương sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang ta, biểu tượng sự đoàn kết mạnh mẽ của toàn dân chung quanh Đảng, Bác Hồ.


Cục Quân lực đã nỗ lực ngày đêm góp sức vào thành công của lễ duyệt binh này, thông qua việc điều động quân số và trang bị trong toàn lực lượng vũ trang. Lực lượng duyệt binh có đủ đại diện các thành phần binh chủng của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích cả ba miền. Riêng về trang bị, chúng tôi phải điều chỉnh, sắp xếp thay đổi để tất cả các loại vũ khí, xe cộ dùng trong duyệt binh đều là chiến lợi phẩm thu được từ khắp các chiến trường. Đặc biệt là từ Điện Biên Phủ. Chúng tôi cử anh Ngô Song, phòng Trang bị, thường trực tại Ban Tổ chức - Bộ Tổng tham mưu để chăm lo về khâu trang bị, từ khi tập dượt cho đến khi tiến hành lễ duyệt binh chính thức.


Ngày 1 tháng 1 năm 1955, lễ duyệt binh tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội được tổ chức. Trên lễ đài có Bác, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Chính phủ, đại biểu các chính đảng và tôn giáo. Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp duyệt các đơn vị và đọc nhật lệnh cho toàn quân. Tiếp đó Đại đoàn 308, một số đơn vị đại diện cho các chiến trường Tây Bắc, Đông Bắc, Trung Du, Đồng bằng, Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, quân tình nguyện Việt Nam tại Lào và Cam-pu-chia, đại diện các đại đoàn pháo binh, phòng không, các đơn vị dân quân du kích diễu qua lễ đài rồi tỏa đi một số đường phố Thủ đô. Sau khối quân đội là khối các cơ quan, đoàn thể, các ngành và nhân dân.


Đây là cuộc duyệt binh đầu tiên của quân đội ta. Do được chuẩn bị và luyện tập chu đáo, lễ duyệt binh ngày 1 tháng 1 năm 1955 diễn ra tốt đẹp, trật tự, an toàn.

Trở lại vấn đề về xây dựng quân đội, Quân ủy Trung ương căn cứ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương xác định kế hoạch xây dựng quân đội 1 năm, 2 năm rồi 5 năm (1955 - 1959). Nội dung xây dựng lực lượng là: Phải đi từ quân đội đơn thuần là bộ binh, đến quân đội có đủ các binh chủng, quân chủng. Xây dựng một quân đội cách mạng, chính quy, tương đối hiện đại, có bộ binh, pháo binh và một số binh chủng bảo đảm đồng thời đặt cơ sở đầu tiên cho các binh, quân chủng như thiết giáp, không quân, hải quân để sang kế hoạch sau sẽ thực hiện hiện đại hóa lên một trình độ cao hơn. Cụ thể: Giảm tổng quân số; chấn chỉnh tổ chức biên chế; cải tiến trang bị vũ khí; xúc tiến đào tạo, huấn luyện cán bộ, xây dựng các trường quân sự; kiện toàn cơ quan tham mưu các cấp; thực hiện các điều lệnh; huấn luyện chính quy về quân sự, chính trị, văn hóa và thể lực; đẩy mạnh công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học quân sự; xây dựng và nâng cao cơ sở vật chất; xây dựng các binh chủng chính quy, tương đối hiện đại đồng thời tham gia xây dựng kinh tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị.


Cục Quân lực đã lập kế hoạch xây dựng lực lượng quân đội và được Bộ duyệt. Kế hoạch 1 năm (7.1954 - 6.1955); Kế hoạch 2 năm (9.1954 - 9.1956); Kế hoạch 5 năm (1955 - 1959).

Từ ngày 3 đến ngày 12 tháng 3 năm 1955, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 (mở rộng). Hội nghị kết luận: "Đế quốc Mỹ đang trực tiếp can thiệp vào Việt Nam ngày càng sâu, kẻ thù trước mắt hiện nay của chúng ta là đế quốc Mỹ, kẻ thù đầu sỏ nguy hiểm nhất". Để chiến thắng đế quốc Mỹ đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một quân đội hùng mạnh tiến lên chính quy hóa, hiện đại hóa.


Chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng và ý kiến chỉ đạo của Tổng Quân ủy, rút kinh nghiệm gần một năm thực hiện kế hoạch xây dựng quân đội (7.1954 - 6.1955), Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần bổ sung một số nội dung cho phù hợp với sự phát triển của tình hình, điều chỉnh kế hoạch 1 năm thành kế hoạch 2 năm.


Với kế hoạch điều chỉnh 2 năm, tổng quân số dự định là 30 vạn, tổ chức biên chế chủ yếu là lục quân gồm bộ đội chính quy (chủ lực) và bộ đội địa phương. Chủ trương xây dựng bộ binh gồm 12 đại đoàn, 14 trung đoàn độc lập, 3 trung đoàn và 1 tiểu đoàn biên phòng, 2 trung đoàn và 2 tiểu đoàn phòng thủ bờ biển. Pháo binh có 3 đại đoàn lựu pháo, 2 trung đoàn dã pháo, 1 tiểu đoàn hỏa tiễn. Công binh có 4 đoàn công trình vượt sông, 2 đoàn công trình đường sắt. Duy trì Trung đoàn 151 và 3 tiểu đoàn độc lập hiện có. Bộ đội vận tải có 3 trung đoàn ô tô, 1 đến 2 đoàn thuyền và ca nô, 1 trung đoàn cơ giới. Bộ đội bảo vệ gồm các trung đoàn trực thuộc Bộ và bộ đội bảo vệ các tỉnh. Với không quân, thành lập Cục Hàng không. Với hải quân, thành lập Cục Phòng thủ bờ biển.