|
Tiêu đề: Ngọn lửa chiến tranh lạnh - Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2008, 11:13:34 pm Tên sách: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3
Tác giả: Lý Kiện Dịch giả: Nguyễn Đình Nhữ - Phạm Văn Thưởng Nhà xuất bản: Thanh niên Năm xuất bản: 2002 Số hóa: chuongxedap, ptlinh Chương 15 TỪ “LÃNG QUÊN” ĐẾN THỨC TỈNH, ÁNH MẮT NGƯỜI NGA LIẾC VỀ PHƯƠNG ĐÔNG. “TÁCCHIN” TRỞ LẠI ĐÀI CÂU CÁ, KHÁCH KHỨA TẤP NẬP RA VÀO LẦU SỐ 18 PHẦN 1 CHIẾN LUỢC NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC NGA THAY ĐỔI Nước Nga nhiều lần “lãng quên” Trung Quốc Sau khi Liên Xô giải thể, nước Nga trở thành nước láng giềng lớn nhất của Trung Quốc. Cuối năm 1991, sau khi ký kết kỷ yếu hội đàm quan hệ 2 nước Trung-Nga, quan hệ song phương không ngừng tiến triển thuận lợi. Lãnh đạo 2 nước nhiều lần trao đổi thư từ về những vấn đề quan hệ đôi bên. Ngày 21-1-1992 Thủ tướng Lý Bằng lần đầu tiên hội kiến với Tổng thống Nga Enxin trong thời gian tham dự Hội nghị cấp cao Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc tại Niu-yoóc, hai bên đã trao đổi ý kiến về những vấn đề quan hệ hai nước. Tuy vậy, ông Enxin rất ít nói tới Trung Quốc trong mọi sinh hoạt chính trị của mình. Trong khi quan hệ Trung-Xô rạn nứt, ông Enxin cũng không giống như một số người lãnh đạo Liên Xô lúc bấy giờ, dùng lời lẽ công kích Trung Quốc để được lòng Brêgiơnhép. Song, cũng chẳng phải vì ông ta có tình cảm sâu sắc gì đối với Trung Quốc; chủ yếu là vì công việc của ông rất ít liên quan đến vấn đề này. Là một thủ lĩnh phái phản đối chính trị, lần đầu tiên ông Enxin nói tới Trung Quốc, với góc độ chính trị vào năm 1989. Giữa xuân hè năm ấy, làn sóng chính trị gợn lên ở Trung Quốc gây xôn xao dư luận thế giới. Với tư cách là nhân sĩ “phái dân chủ”, lập trường của Enxin trước sự kiện ấy có thể thấy là giống hệt lời lẽ phương Tây. Thậm chí trong một thời gian khá dài, sau khi nắm quyền, ông Enxin rất ít nói tới quan hệ Trung-Nga. Có thời kỳ do quan hệ hình thái ý thức, cũng do tính phức tạp của cục diện Liên Xô, quan hệ Trung-Nga bị quan hệ Trung-Xô làm mờ nhạt. Tháng 5-1991, người lãnh đạo cao nhất nước Nga có nguyện vọng muốn gặp người lãnh đạo Trung Quốc; song vì nhiều nguyên nhân, cuộc gặp mặt không được thực hiện. Sau khi Liên Xô giải thể, nước Nga trở thành quốc gia độc lập, Trung Quốc đã sớm công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Nhưng điều đáng nói là, quan hệ Nga-Trung trong chiến lược ngoại giao của chính quyền Enxin chỉ chiếm địa vị thứ yếu trong một thời gian khá dài. Phái chủ nghĩa châu Âu đứng đầu là Ngoại trưởng Nga Kerelencô có tác dụng quan trọng trong việc chế định chính sách đối ngoại của Nga. Nét đặc trưng cơ bản về tư tưởng của chính sách đối ngoại nước Nga là nghiêng về thân phương Tây. Phái chủ nghĩa châu Âu cho rằng, mục tiêu trước mắt của chính sách ngoại giao Nga là tranh thủ viện trợ kinh tế của Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, tranh thủ sự ủng hộ của phương Tây; còn mục tiêu lâu dài là làm cho nước Nga hội nhập xã hội phương Tây, quay về với châu Âu, trở thành một thành viên của thế giới văn minh phương Tây, nhất thể hóa với phương Tây về chính trị và kinh tế. Trong bài phát biểu của Ngoại trưởng Nga đăng trên “báo Độc lập” ngày 1 tháng 4 năm 1992 có đoạn như sau: “Liên bang Nga cần phải gia nhập câu lạc bộ những quốc gia dân chủ phát triển nhất; nước Nga đối với các nước láng giềng - Mỹ, Nhật và Tây Âu không hề có sự phân kỳ và xung đột lợi ích nào mà không thể khắc phục được; vì vậy hoàn toàn có thể kiến lập quan hệ hữu hảo với các nước đó, tương lai còn có thể kiến lập quan hệ liên minh bạn bè” Sau khi Liên Xô giải thể, phương Tây đã có lúc muốn giúp đỡ nước Nga phục hồi kinh tế, đã lập định cái gọi là kế hoạch (Mác san), tuyên bố mỗi năm cung cấp cho nước Nga 20-30 tỷ USD, trong vòng 10 năm, chuẩn bị giúp Nga 200 tỷ USD để nước Nga hoàn thành bước quá độ từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Song, để được như vậy nước Nga phải chấp nhận những điều kiện cơ bản của cộng đồng châu Âu, Ngân hàng thế giới, nêu ra; nghĩa là thực hành giá cả tự do, thay đổi đồng rúp và kinh tế tư hữu. Chính phủ Gaida của ông Enxin trong khi hoạch định phương châm chiến lược quá độ sang kinh tế thị trường cũng phải đắn đo suy nghĩ về việc lấy khoản viện trợ lớn của phương Tây làm nhân tố cơ bản. Cho nên Enxin đã mấy lần mạo hiểm vượt qua luồng gió đối kháng về chính trị để cho ông Gaida thực hiện được nhiệm vụ của Chính phủ: một trong những nguyên nhân chủ yếu là ở chỗ chiến lược cải cách kinh tế của ông Gaida được giới ngân hàng phương Tây ủng hộ. Bản thân ông Gaida đã thể hiện rõ thái độ đối với Trung Quốc; ông ta tỏ ra khâm phục trước những thànhtựu mà Trung Quốc giành được; nhưng đồng thời kiên quyết cự tuyệt cách nói có chỗ tương tự về cải cách của Trung Quốc đối với nước Nga. Ngày 6-10-1992 ông ta nói trước Quốc hội rằng: - “Nước Nga không phải là Trung Quốc, chúng ta không thể vận dụng kinh nghiệm thành công của Trung Quốc từng bước thực thi cải cách kinh tế, không thể thực hành cơ chế song song trong quản lý kinh tế. Trong cơ chế ấy kỷ cương Nhà nước phải kết hợp với hoạt động kinh doanh. Trung Quốc không tồn tại chế độ phân quyền; ngoài ra, Trung Quốc cũng không phải là nhà nước liên bang; có nghĩa là muốn đi con đường của Trung Quốc thì phải chế định một chiến lược chính trị kiểu khác; kiểu chiến lược ấy hoàn toàn khác với chiến lược đã được xác định khi nước Nga đã lựa chọn phương pháp chống trị suy thoái (liệu pháp sốc) - Một bước là tới đích”. Vì vậy tháng 10-1992 khi nói tới cải cách ngoại giao của nước Nga, ông Enxin lại một lần nữa nhấn mạnh. - “Nước Nga không có lựa chọn nào khác, mà cần phải kiến lập quan hệ bè bạn lâu dài, thậm chí là quan hệ liên minh hữu nghị với các quốc gia dân chủ phát triển phương Đông và phương Tây”. Cũng giống như những bài nói nhắc tới quan hệ ngoại giao trước đây không hề có một chữ nào mà Tổng thống Nga nhắc tới Trung Quốc một nước láng giềng có đường biên giới chung dài nhất với nước Nga và có số dân đông nhất thế giới. Trung Quốc - nước láng giềng lớn nhất của nước Nga đã bị Tổng thống và Ngoại trưởng Nga nhiều lần “quên lãng”. Thậm chí, khi nhắc tới bạn bè chủ yếu ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đài Loan, ông Enxin cũng không hề nói Trung Quốc. Nhưng thực tiễn ngoại giao và tình hình thực tế cải cách kinh tế cùng với cuộc đấu tranh chính trị trong nước buộc Tổng thống Enxin không thể không sửa đổi và điều chỉnh phương châm Ngoại giao “xem nhẹ Trung Quốc”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 09:51:17 pm Kết thúc quan hệ tuần trăng mật giữa nước Nga và phương Tây. Năm 1992 có nhiều sự việc thúc đẩy đi đến thay đổi. Đầu tiên, là trong quan hệ giữa Nga và các nước phương Tây xuất hiện mâu thuẫn. Nước Nga đã từng ôm ấp đầy hy vọng đi với phương Tây, mong chờ các nước phương Tây có thể vượt qua nhận thực chung về “giá trị tự do dân chủ” mà viện trợ cho Nga. Nhưng khoản viện trợ ấy vẫn còn chưa có được nhân tố cơ bản về phương pháp chữa trị suy thoái của Chính phủ Nga (biện pháp sốc) là trông vào khoản vay lớn ở phương Tây; trong năm 1992 viện trợ của phương Tây chủ yếu là viện trợ nhân đạo: thuốc men, thực phẩm; còn phần lớn khoản cho vay đã hứa hẹn thì chưa có được xu nào. Nguyên là 7 nước lớn ở phương Tây hứa giúp Nga 24 tỷ đô la Mỹ, song trên thực tế chỉ quyết định cho trước 1 tỷ. Giả sử 24 tỷ đô la được trao tận tay thì ngoài nghĩa vụ trả nợ ra, thực tế nước Nga chỉ được 12 tỷ, với đất nước Nga rộng lớn mênh mông, đây quả là quá ít, huống hồ với 1 tỷ nhỏ nhoi! Khác nào tế cho những người thân phương Tây một bồn nước lạnh. Ngoài ra, về mặt ngoại giao chính trị, nước Nga đã từng theo đuổi phương Tây, nhưng phương Tây chưa bao giờ coi Nga là người bạn bình đẳng. Ngay cả đến Nhật Bản trước kia luôn luôn tôn kính Liên Xô cũng dám nêu ra những yêu sách cứng rắn đòi hỏi Nga phải giải quyết nhanh chóng vấn đề lãnh thổ 4 đảo phía bắc. Điều đó khiến chính quyền Enxin phải rà soát điều chỉnh chính sách thân phương Tây của họ. Ngoài ra, trong sự cố tháng 8, tuy ông Enxin được báo chí phương Tây coi là “Anh hùng”, song thực tế phương Tây đối với ông vẫn còn có tâm lý hoài nghi và lo lắng, không thể hữu hảo như đối với ông Goócbachốp. Quan chức của Chính phủ Hoa Kỳ đối với ông Enxin thì khi đậm khi nhạt. Buts khâm phục dũng khí và quyết tâm của ông Enxin đứng trên xe tăng diễn thuyết, nhưng lại không ưa khi ông lăng nhục Goócbachốp một cách thô bạo. Có một số quan chức Hoa Kỳ coi Enxin là một con người hám quyền lực và rất tự phụ. Kítsinhgơ - một quan chức ngoại giao nổi tiếng của Mỹ nói với các nhà báo rằng: “Tính chất quan trọng của ông Enxin đáng đề cao, nhưng đối với tính cách của ông ta và khi giao tiếp cần phải chú ý”. Cựu Thủ tướng Anh Thátchơ... hồi tháng 8-1991 với cách nói không được hữu nghị rằng: “Nhiều người cho rằng ông Enxin là một nhà khiêu khích, chứ không phải là nhà chính trị; do đó tháng 4-1990, khi tôi gặp ông Enxin tại London đã có thể khẳng định ông ta là nhà khiêu khích, tôi thấy thỏa mãn về điều đó. Tôi thẳng thắn nói với ông ta: - Tôi có thể nói chuyện với ông một cách chân thành cũng như với tất cả những người mà tôi đối thoại, ông biết rằng, tôi ủng hộ ông Goócbachốp, ca ngợi sự nghiệp của ông ta bởi ông ta đã lãnh đạo công cuộc cải cách ở Liên Xô tốt đẹp như thế nào; song, như vậy không hề phương hại đến bản thân tôi là người bạn của những người lãnh đạo khác của Liên Xô ... Ông ta nói với tôi là sẽ tham gia tranh cử Tổng thống Nga... Sau đó chẳng bao lâu, tôi thông báo cho Tổng thống Buts và bạn bè tôi ở Mỹ, để họ không nên mạo hiểm đối với bản thân ông Enxin”. Năm 1992, ông Enxin nhiều lần đi thăm phương Tây, tuy được đón tiếp rất thịnh tình và hữu nghị, nhưng ông vẫn cảm thấy phương Tây đối với nước Nga có một ý tình thiếu tin cậy. Phương Tây không muốn nhìn thấy một Liên Xô cộng sản hùng cường, và cũng không muốn nhìn thấy một nước Nga giàu mạnh. Ngoài Chính phủ Đức viện trợ một khoản lớn cho Nga do Liên Xô giúp họ thực hiện thống nhất đất nước, còn các nước lớn khác ở Tây Âu đều giữ thái độ bàng quan. Vì vậy chính quyền Enxin cũng dần dần thay đổi chính sách thân phương Tây. Đương nhiên, phương Tây vẫn là nhân tố trọng yếu về ngoại giao của Enxin, nhưng cũng dần dần tạo ra một cự ly nhất định. Tháng 9-1992, Tổng thống Enxin đột nhiên hoãn chuyến thăm Nhật Bản, đã cho Nhật “một cái tát thô bạo”. Đồng thời, phái chống đối trong Quốc hội cũng gây áp lực đối với chính quyền Enxin, về vấn đề Nam Tư, vấn đề Nga bán vũ khí, yêu cầu Nga phải thay đổi cách làm theo sức ép của Hoa Kỳ. Cuối 1992 và đầu 1993, Nga bất chấp Mỹ phản đối, đã ký Hiệp nghị bán kỹ thuật phóng vệ tinh cho Ấn Độ; về vấn đề Irắc, Nga đã phê phán Mỹ ném bom xuống mục tiêu dân thường ở Bát đa, về vấn đề Nam Tư, Nga giữ lập trường phê phán mãnh liệt quân đội Cơrôátchia được phương Tây giúp đỡ tiến công khu vực dân tộc Sécbi; ngày 25-1 Tổng thống Enxin chỉ trích “Hoa Kỳ có khuynh hướng ra lệnh cho Tổng thống Irắc Sát đam Hút xen và Tổng thống Sécbi Milôxêvích, còn công khai nói rõ “về vấn đề Nam Tư, chúng ta và Hoa Kỳ luôn luôn tồn tại ý kiến khác nhau”, và chỉ rõ, “nước Nga bắt đầu thi hành chính sách độc lập tự chủ”. Phó Tổng thống A.rútxcôi còn nói, nếu Mỹ lại sử dụng quân đội tiến công Irắc thì nước Nga sẽ sử dụng quyền phủ quyết tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Tháng 2-1993, trong văn kiện đề xuất chính sách ngoại giao của Bộ Ngoại giao Nga thể hiện rõ: “chúng ta không thể loại bỏ khả năng sau đây: Mỹ có ý đồ dùng chiêu bài hoà giải và duy trì hoà bình để thay nước Nga”, “Chúng ta cũng không cho phép phương Tây gạt bỏ Nga ra khỏi phạm vi thế lực Đông Âu”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 09:52:00 pm Trong bài nói của Thủ tướng mới nhậm chức Checnômưdin ngày 13-2 có nói, “phương Tây chẳng có mấy nước quan tâm tới sự hùng mạnh và thống nhất của nước Nga”. Còn Bộ trưởng an ninh Nga Bavannicốp thì chỉ trích cơ quan bí mật Tây Âu lập ra tổ chức bí mật chống Chính phủ phá hoại nước Nga bằng thủ đoạn trao đổi, buôn bán vũ khí và hàng độc hại. Tất cả những điều đó chứng tỏ quan hệ tuần trăng mật giữa Nga và phương Tây được hình thành sau sự biến tháng 8 đang đi đến kết thúc. Quan hệ quá thân thiện với phương Tây, quá dựa dẫm vào phương Tây đang chuyển sang quan hệ ngoại giao độc lập tự chủ, với chính sách dựa vào nội lực nước Nga để khắc phục tình trạng khủng hoảng. Tháng 12-1992 Tổng thống Enxin khi nhắc tới sự chuyển biến ấy đã nói: “Hấp thu quan niệm giá trị văn minh phổ biến cần phải suy nghĩ trên phạm vi lớn nhất về đặc điểm của nước Nga”; “Sớm làm cho chính sách của chúng ta, tất cả mọi hoạt động của chúng ta có chuyển biến mạnh mẽ, thật sự hướng vào nước Nga; hướng vào truyền thống Nga, thật sự hướng vào quá khứ, hiện tại và tương lai của nước Nga”; “Trong mọi cải cách, cái mà chúng ta cần dựa vào ngay trước mắt và tương lai, trước tiên là nguồn vốn vật chất và tri thức của nội lực chính mình”. Những thay đổi chính sách đối với phương Tây tất nhiên sẽ dẫn đến thay đổi quan hệ Nga-Trung. Nhân tố thứ hai ảnh hưởng tới quan hệ Nga-Trung là tình hình kinh tế của nước Nga. Ngày 2-1-1992, Chính phủ Nga bắt đầu thực thi kế hoạch (biện pháp sốc) lấy thả nổi vật giá làm tiêu chí, nhưng kế hoạch đó chẳng những không làm cho tình hình như ông Enxin tuyên bố hồi tháng 9 có chuyển biến tốt, ngược lại tình trạng kinh tế ngày một xấu hơn. Trước hết biểu hiện ở mức độ sản xuất suy giảm. Tình hình sản xuất của Nga năm 1992 so với 1991 giảm chừng 25-30%. Ngoài ra, mậu dịch bán lẻ giảm xuống tới 20%. Nghiêm trọng hơn là mức sống của dân giảm sút nhanh chóng. Tăng lương không đuổi kịp vật giá leo thang. Mức đó vật giá tăng trong năm 1992 là 700 đến 900%, mà lương chỉ tăng 4 lần. Điều đó làm cho trong 160 triệu dân Nga có tới 70% tức là gần 100 triệu người sống cảnh nghèo khổ, trong đó có tới 50% là quá nghèo khổ, ngay cả đến nhu cầu sinh hoạt cơ bản nhất cũng rất khó khăn. Tháng 3-1993, mức thu nhập bình quân hàng tháng của người dân Mátxcơva là 5.000 rúp. Với đồng lương ấy chỉ đủ mua 2kg cà chua hoặc 2kg xúc xích ngoài chợ đen. Hối suất giữa đồng đô la Mỹ và đồng rúp lên tới mức 1 đô la đổi được 700 rúp. Nhân dân khắp nơi kêu ca oán thán, sự ủng hộ đối với chính quyền Enxin giảm sút nghiêm trọng. Khủng hoảng kinh tế của Nga, tuy ở mức độ nhất định nào đó là do khủng hoảng kinh tế của Liên Xô để lại, không phải tất cả đều qui về chính quyền Enxin đã làm theo phương pháp chống suy thoái được chế định từ lý luận của học phái giá cả tự do, chính đó là nguyên nhân quan trọng. “Phương pháp chống suy thoái” bắt nguồn từ Mỹ. Năm 1958, Sác - một giáo sư trẻ ở trường Đại học Havớt chế định giúp Chính phủ Bôlivia “Phương pháp chống suy thoái” giải quyết nguy cơ giá hàng tăng vọt và khủng hoảng nợ nước ngoài, đã giành được thành công nhất định; năm 1989 Chính phủ công đoàn đoàn kết Ba Lan cũng đã thực hành Phương pháp chống suy thoái với sự giúp đỡ của giáo sư, làm cho, giá hàng thông thường từ 900% trong vòng hơn 1 năm của năm 1989 giảm xuống tới 200% năm 1991, năm 1991 lại giảm thấp tới mức 80%. Nhưng nước Nga là một nước lớn, điều kiện khác xa với Ba Lan và Bôlivia, do vậy Phương pháp chống suy thoái không đạt được hiệu quả ở nước Nga. Trên thực tế có thể nói giai đoạn bị lật đổ cũng là một tiêu chí thể hiện nước Nga thất bại. Tháng 12-1992 Chénômưđưn lên giữ chức Thủ tướng Chính phủ, tuyên bố chính sách kinh tế ưu tiên giá hàng của Gaida được chuyển sang chính sách ưu tiên sản xuất, và tăng cường bảo hộ xã hội đối với người lao động. Chính trong bối cảnh ấy, một số người lãnh đạo nước Nga chủ trương đánh giá lại các nước phương Đông, kể cả những thành công trong cải cách kinh tế của Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 09:52:58 pm Quan hệ Trung-Nga phát triển ổn định. Tháng 3-1992, Ngoại trưởng Nga Karalencô nhận lời mời của Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham sang thăm Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Ngoại trưởng Nga thăm Trung Quốc. Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham đã hội đàm với Ngoại trưởng Nga Karalencô, Thủ tướng Lý Bằng đã hội kiến với ông Karalencô. Hai bên chủ yếu thảo luận về vấn đề quan hệ hai nước, đồng thời cũng trao đổi ý kiến về những vấn đề quốc tế trọng đại mà đôi bên cùng quan tâm. Phía Trung Quốc nói rõ, Trung-Nga là hai nước láng giềng lớn, nhân dân 2 nước có tình hữu nghị truyền thống, hai bên có lịch sử giao hữu lâu đời. Chính phủ Trung Quốc xưa nay vẫn chủ trương, quan hệ quốc gia không nên chịu ảnh hưởng khác nhau về hình thái ý thức chi phối. Bất luận tình hình nước Nga thay đổi như thế nào, Trung Quốc đều mong muốn tiếp tục giữ gìn và phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị với nước Nga, trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Hai nước Trung-Nga đều là nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, cần phải phát huy tác dụng to lớn hơn trong công cuộc phát triển và bảo vệ hòa bình thế giới. Phía Trung Quốc còn nhấn mạnh lập trường nguyên tắc về vấn đề Đài Loan. Ngoại trưởng Nga nêu rõ: Tình hình nước Nga có thay đổi rất lớn, song phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc không hề thay đổi. Nước Nga coi trọng quan hệ với Trung Quốc, tôn trọng quá khứ, chú trọng tương lai, chính sách kiên định bất di bất dịch của nước Nga là: vừa phát triển quan hệ tốt đẹp với phương Tây vừa giữ gìn quan hệ láng giềng hữu nghị với phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc. Phía Nga khẳng định lập trường về vấn đề Đài Loan là không thay đổi. Về quan hệ mậu dịch kinh tế hai nước, đôi bên nhất trí cho rằng: Kinh tế hai nước Trung-Nga có tính bổ trợ cho nhau, quan hệ phát triển mậu dịch kinh tế có tiềm lực to lớn. Đôi bên có thể vận dụng phương thức hợp tác đa dạng, phát triển hợp tác kinh tế trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Hơn một chục quan chức địa phương và các nhà quản lý các xí nghiệp thuộc vùng Viễn Đông và Xibêri của Nga cùng đi với Ngoại trưởng Nga đã hội đàm trực tiếp với các nhân vật hữu quan miền đông bắc Trung Quốc, bàn bạc các vấn đề cụ thể tăng cường hợp tác kinh tế giữa các địa phương của hai nước. Trong thời gian thăm Trung Quốc Ngoại trưởng hai nước đã trao đổi thư phê chuẩn hiệp định về đoạn biên giới phía đông Trung-Xô; hiệp định ấy được ký kết trước khi Liên Xô giải thể. Sau khi Liên Xô giải thể, phía Nga hứa thực hành nghĩa vụ và quyền lợi mà Liên Xô gánh trách nhiệm trong hiệp định (thực tế đoạn biên giới phía đông ấy cũng chỉ liên quan đến hai nước Trung-Nga). Hai bên đồng ý tiếp tục đàm phán về đoạn đường biên giới Trung-Nga chưa được bàn bạc nhất trí, để cuối cùng giải quyết vấn đề biên giới hai nước. Hai bên còn đồng ý tiếp tục đàm phán vấn đề giảm lực lượng quân sự khu vực biên giới Trung-Xô bắt đầu từ năm 1989. Trong thời gian đi thăm, hai bên còn bàn tới cuộc gặp gỡ cấp cao; phía Trung Quốc tỏ ý hoan nghênh Tổng thống Enxin sang thăm Trung Quốc vào thời gian thuận lợi cho cả hai bên. Phía Nga đã nhận lời và hy vọng chuyến thăm được tiến hành trước cuối năm 1992. Ngày 3 đến ngày 5 tháng 6 năm 1992, Phó Thủ tướng Nga Saoxin sang thăm Trung Quốc, đã hội đàm với Phó Thủ tướng Điền Kỷ Vân. Hai bên căn cứ vào quan hệ hai nước, chủ yếu là trao đổi ý kiến về vấn đề hợp tác mậu dịch kinh tế; và đã đạt được hiệp nghị về công tác của Uỷ ban hợp tác khoa học kỹ thuật, mậu dịch kinh tế. Phó Thủ tướng Điền Kỷ Vân chỉ rõ: quan hệ hai nước bình ổn, sự trao đổi qua lại song phương trên mọi lĩnh vực mọi cấp bậc đang được mở rộng tích cực; quan hệ hợp tác trong lĩnh vực mậu dịch kinh tế giữa hai nước Trung-Nga có cơ sở tốt đẹp. Chính phủ Trung Quốc sẽ tích cực thúc đẩy và ủng hộ sự hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực mở rộng mậu dịch kinh tế khoa học kỹ thuật giữa các ngành, các vùng của hai nước. Phó Thủ tướng Saoxin nói rõ, Chính phủ Nga và Tổng thống Enxin hết sức quan tâm tăng cường quan hệ với Trung Quốc, phát triển quan hệ mậu dịch kinh tế với Trung Quốc là một hướng ưu tiên truyền thống trong chính sách kinh tế đối ngoại của nước Nga. Phía Nga mong muốn khai thác nguồn tiềm lực to lớn của sự hợp tác kinh tế hai nước, phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực cụ thể. Phó Thủ tướng Saoxin còn nói rõ, chuyến thăm của ông là bước chuẩn bị cho Tổng thống Enxin sang thăm Trung Quốc. Trong thời gian thăm, hai bên đã ký tuyên bố chung về hợp tác lao động xã hội trong các ngành lao động hai nước. Năm 1992, quan hệ mậu dịch Trung-Nga phát triển tương đối mạnh mẽ. Theo thống kê của ngành Hải quan, tổng ngạch mậu dịch song phương trong 1 năm đạt tới 4 tỷ 6273 USD. Trong đó, Trung Quốc xuất khẩu là 2 tỷ 938 USD nhập khẩu là 2 tỷ 433,536 USD. Con số ấy đã vượt qua mức mậu dịch Trung-Xô 1991: 3 tỷ 904,7 1USD. Quan hệ trao đổi trên các lĩnh vực quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục, thể dục thể thao và y tế đang được phát triển tích cực. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 09:54:34 pm Tính chất hỗ trợ giữa hai nước Trung-Nga rất to lớn. Do các nước phương Tây xa lánh, do quan hệ Trung-Nga phát triển ổn định, khiến nước Nga phải coi trọng mối quan hệ giao hữu với Trung Quốc; tăng cường mở rộng sự tiếp xúc với Trung Quốc. Chính sách đối ngoại mà trước đây vẫn được nhấn mạnh là ưu tiên phát triển quan hệ bạn bè thậm chí là quan hệ đồng minh của Nga đối với phương Tây cũng chưa bao giờ đạt được như thế. Vì vậy trong năm 1992, trong giới lãnh đạo Nga, lần đầu tiên xuất hiện quan điểm của phái “chủ nghĩa Á-Âu”. Quan điểm của phái “chủ nghĩa Á-Âu” cho rằng, chính sách Ngoại giao ngả theo phương Tây bắt đầu từ thời kỳ Goócbachốp và được Bộ Ngoại giao Nga kế thừa là không có căn cứ. Đó là vì: - Nước Nga phải qua nhiều năm mới có thể trở thành người bạn bình đẳng của các nước phương Tây phát triển, mà trước đây, nước Nga chỉ có thể là một người bạn thấp hèn của phương Tây. - Nước Nga là quốc gia lớn ở Á-Âu, nếu tất cả theo kiểu phương Tây là không phù hợp với tình hình nước Nga, “nếu để cho người nông dân Nga sức dài vai rộng khoác bộ lễ phục đuôi én kiểu tây thắt thêm cái nơ bướm, thật là hoàn toàn không có ý nghĩa và đáng buồn cười”. Phương Tây có thật lòng mong muốn nước Nga trở thành một nước phát triển hay không cũng đáng nghi ngờ. Do đó, phái chủ nghĩa Á-Âu đứng đầu là cố vấn ngoại giao Xđankêvích của ông Enxin và Đại sứ Nga tại Mỹ cho rằng, nước Nga cố nhiên phải duy trì quan hệ hữu hảo và bạn bè với phương Tây, song quyết không thể coi nhẹ phương Đông, Á-Âu đều phải coi trọng, cần giữ gìn quan hệ tốt đẹp với Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Ấn Độ và Trung Quốc. Ngoài quan điểm “Á, Âu đều trọng” ra, còn có một bộ phận chủ trương đặt mối quan hệ giữa Nga với Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Hàn Quốc và các nước theo đạo Itslam ở vị trí quan trọng hơn. Họ cho rằng lợi ích của nước Nga đòi hỏi phải coi trọng quan hệ với Trung Quốc và khu vực theo đạo Itslam; quan hệ đồng minh với phương Tây sẽ dẫn đến liên minh giữa thế giới Mosline với Trung Quốc, mà sự đối kháng ấy sẽ dẫn nước Nga tới đỉnh điểm của đối kháng toàn cầu, làm tổn hại đến lợi ích của nước Nga. Một số nhà Hán học thì phê phán gay gắt hơn chính sách Nga-Trung của chính quyền Enxin, cho rằng quan hệ Nga với phương Tây được ưu tiên hơn quan hệ với phương Đông, trong các nước phương Đông thì quan hệ Nga-Triều, Nga-Nhật được ưu tiên hơn quan hệ Nga-Trung, về mặt phát triển quan hệ với Trung Quốc, nước Nga còn lạc hậu xa so với các nước Cadacxtan, Tuyếc Mênixtan, Ucraina; đây là một “cách nhìn sai lệch”. Trung Quốc chính là một nước lớn, kinh tế đang tăng trưởng nhanh, là một trong những người bạn kinh tế của Nga quan trọng nhất trên thế giới. Một số phái phương Đông nay xuất phát từ phân tích lịch sử của nước Nga cho rằng, trong lịch sử nước Nga luôn luôn muốn tiến vào cổng lớn châu Âu, nhưng rốt cuộc không lọt vào được. Ngày nay, đã phải chuyển trọng điểm ngoại giao về châu Á rộng lớn. Trong giới lãnh đạo cao cấp của Nga, có không ít nhân vật chủ trương phát triển hơn nữa quan hệ Nga-Trung, họ cho rằng nước Nga cần phải đánh giá lại kinh nghiệm của Trung Quốc. Ngày 6-11-1992 Phó Chủ tịch Xô Viết tối cao Nga Vôrônin khi trả lời phóng viên “Báo sự thật” có nói: “Kinh tế, Trung Quốc có phần giúp đỡ chúng ta. Garđa thì phủ nhận điều này. Làm như vậy là vô dụng. Đương nhiên không nên vận dụng sống sượng máy móc, nhưng phải thấy được rằng, người Trung Quốc trước đây đi cùng một con đường với chúng ta, mà hiện nay họ đi lên thị trường không quá chật vật. Tổng giá trị sản xuất quốc dân tăng trưởng trong phạm vi 10%. Mức sống của dân không hề giảm sút, trái lại còn được cải thiện. Còn ông Gaida nêu ra với chúng ta là kinh nghiệm làm kinh tế của tổ chức vốn tiền hàng quốc tế ở Mêhicô (Mếcxich) và Ba Lan, mặc dầu vậy nền kinh tế của hai quốc gia này cũng chưa được thời gian thử thách... Trên thế giới chưa có một nước lớn nào có thể dựa vào ngoại viện mà thoát khỏi khủng hoảng, chỉ có dựa vào nội lực của mình mà phát huy tác dụng, dựa vào sức mạnh của nhân dân mình mới có thể thành công”. R.Khabulatốp trong bản báo cáo tại Quốc hội ngày 1-12-1992 cũng đã khẳng định “Mô hình hướng tới kinh tế thị trường xã hội” mà Trung Quốc, Hàn Quốc và quốc gia Arập phương Đông lựa chọn, đồng thời phê phán chính sách “thị trường tự do” kiểu Mỹ của Chính phủ Gaida. W. Orski, người lãnh đạo Liên minh công dân cũng chủ trương đánh giá lại những điểm thành công của Trung Quốc. Đương nhiên, chưa có ai cho rằng làm theo cải cách của Trung Quốc có thể đạt được thành công ở nước Nga. Nước Nga phải đi theo con đường cải cách của mình, nhưng phát triển hơn nữa quan hệ Nga-Trung chắc chắn là có lợi cho công cuộc cải cách của hai nước. Trước hết là vì hai nước Trung-Nga cùng là nước láng giềng lớn nhất, có đường biên giới dài nhất; thứ nữa là nền kinh tế hai nước Trung-Nga mang tính bổ trợ lẫn nhau rất lớn, có tiền đồ rộng lớn hợp tác cùng có lợi. Chính trong bối cảnh ấy, ngày 17-12-1992 Tổng thống Liên bang Nga Enxin lần đầu tiên đã sang thăm Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:07:01 pm PHẦN 2 CUỘC HÀNH TRÌNH TỚI BẮC KINH CỦA ÔNG ENXIN Lực lượng an ninh nghiêm mật sẵn sàng. 9 giờ 15 phút sáng (giờ Bắc Kinh) ngày 17-12-1992, chiếc máy bay “kiểu Nga” chở Tổng thống Enxin như một con chim bạc gầm rú từ không trung rồi hạ cánh an toàn trên bãi phẳng phía nam sân bay Quốc tế Thủ đô Bắc Kinh. Đồng thời, trong khoảnh khắc một tấm thảm đỏ tươi rộng 3m dài 30m được trải suốt từ chân cầu thang máy bay đến tận trước đội quân ký giả được lực lượng bảo vệ quây gọn thành một góc. Trên giá sắt hình thang cao 5 mét, hàng chục máy nhiếp ảnh cùng các loại “Đại pháo”, “Đoản thương” đủ cỡ nhằm thẳng vào cửa máy bay còn đóng kín: các nhà báo chen chúc từng đoàn, máy ghi âm xách tay đủ loại đã khai mở sẵn sàng chờ đợi. Sau 10 giây, cửa máy bay đã mở, vài nhân viên lực lưỡng kiểu cận vệ nhanh nhẹn bước xuống cầu thang. Tiếp theo là Tổng thống Enxin dáng vóc cao to, mái tóc bạc phơ xuất hiện trước mọi người. Ông giơ tay vẫy chào đoàn người ra đón, nụ cười tươi tắn rạng rỡ và ấm áp như bầu trời Bắc Kinh hôm nay. Đây là nụ cười từ Mátxcơva mang tới. Đệ nhất phu nhân Naia khoác tay Enxin sóng đôi từ từ bước xuống. Trưởng đoàn đón tiếp của Chính phủ Trung Quốc, Chủ nhiệm Uỷ ban cải cách thể chế nhà nước Trần Cẩm Hoa bắt tay thân thiết Tổng thống Enxin. Hai thiếu nữ Trung Quốc tặng Tổng thống và phu nhân những bó hoa tươi thắm. Lúc này, đoàn nhà báo xôn xao náo động; trong đám đông bỗng vang lên một giọng Nga: “Paolixư. Nicôlaiép, mau lại đây!” như nhắc nhở phóng viên người Nga ấy hiểu rõ tính cách của vị Tổng thống: ông Enxin có một đặc điểm là bỏ qua mọi sắp xếp nhật trình, sẵn sàng ứng khẩu vui vẻ trả lời câu hỏi của phóng viên báo chí. Vì vậy ông rất có duyên với họ. Trên chiếc xe chống đạn đặc biệt của nước Nga chế tạo. Câu nói đầu tiên của ông Enxin khi đặt chân lên đất nước Trung Quốc không chỉ là ngôn từ ngoại giao, câu nói ấy đã tạo nên điệu nhạc du dương cho cuộc hành trình đầu tiên đến Trung Quốc của Tổng thống nước Nga. “Hai nước Nga-Trung cần mở ra một kỷ nguyên mới cho quan hệ chúng ta. Hai dân tộc vĩ đại có chung đường biên giới 4.000 km đã từng hững hờ quan hệ suốt mấy chục năm trường, thậm chí còn thiếu sự hợp tác. Điều đó thật không bình thường. Chuyến thăm Trung Quốc lần này là cuộc đột phá thứ 2 ở châu Á sau Hàn Quốc”. Tổng thống Enxin liên tiếp trả lời 3 câu hỏi của nhà báo. Cuối cùng, ông đã bước vào chiếc xe “Đajin” giữa âm thanh vang dội “xin cám ơn, chúc ngài mạnh khoẻ!”. “Đajin” là chiếc xe đặc biệt chở Tổng thống Enxin, nặng 3,5 tấn, ngoại hình duyên dáng hào hoa, nước sơn đen bóng loáng, khiến mọi người không thể tin rằng đây là loại xe do “người anh cả” chế tạo. Tính năng chống đạn quả là độc nhất vô nhị. Người có nhận thức đều hiểu rằng đạn súng trường bay trong cự ly mục tiêu 20 mét có khả năng sát thương mạnh nhất. Giả dụ bạn dùng loại súng trường nổi tiếng “Karsnikew” bắn cách khoảng 20 mét, thì trên thành xe cũng chỉ sây sát một vết bằng hạt tấm mà thôi. Thiết bị thông tin hiện đại trên xe vẫn còn dáng dấp “Đế quốc Liên Xô” ngày trước, “nút thông tin đặc biệt” như 2 chiếc hộp giầy có thể bảo đảm cho Tổng thống liên hệ điện thoại với mọi nơi trên thế giới trong suốt 24 giờ hàng ngày, còn dây ăngten hình mỏ neo được lắp đặt dưới lầu số 18 trong nhà khách quốc gia ở Đài câu cá luôn phát sóng tầm xa vài nghìn km. Ngay từ 10-12, đích thân Phó cục trưởng cảnh vệ của Tổng thống đã chuyển 3 chiếc xe hiệu “Đajin” tới Bắc Kinh qua đường hàng không và cho chạy thẳng vào Đại sứ quán Nga tại Trung Quốc. “Đajin” hơn hẳn loại xe Cadắcxtan. Nhớ lại trước đây, thời Brêgiơnhép, Anđơrôpốp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và một vài Uỷ viên Bộ Chính trị mới đủ tư cách hưởng dụng loại xe này. Trên lãnh thổ mênh mông ấy “Đajin” tượng trưng cho quyền lực và vinh dự. Năm xưa Goócbachốp sang thăm Nhật Bản cũng ngồi xe “Đajin”chuyển qua đường không vận, giới báo chí Nhật Bản nhất thời xôn xao bình luận châm biếm, coi đây là sự thiếu tin tưởng đối với nước Nhật. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:09:31 pm Những bí mật khó giải thích nhất. Trong chiếc xe thứ 2 đi sát liền xe Tổng thống có 2 chàng trai lực lưỡng suốt ngày đêm ngồi canh giữ hộp “nút bấm trung tâm”. Đó là một trong những bí mật khó giải thích nhất trên thế giới. 10 giờ 15 phút, Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Dương Thượng Côn hân hoan chờ đợi tại phòng lớn chính diện Đại lễ đường nhân dân, đón nhận cái bắt tay đầu tiên trong lịch sử của Nguyên thủ hai nước. 10 giờ 20 phút, trong tiếng rền vang của 21 phát đại bác đón chào, Tổng thống Enxin đi duyệt đội quân danh dự quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Bước chân đều tắp đội ngũ chỉnh tề, diễu hành nghiêm trang trước Nguyên thủ 2 nước. 10 giờ 30 phút, sảnh đường tỉnh Hà Bắc trong Đại lễ đường nhân dân sáng lòa ánh điện, trong không khí hân hoan sôi động, Tổng thống Enxin và Chủ tịch Dương Thượng Côn tươi cười xiết chặt tay nhau hồi lâu trước hàng trăm ký giả các nước. Ngày hôm sau, báo chí các nước đều đăng tải hình ảnh mang ý nghĩa lịch sử ấy nổi bật ở vị trí quan trọng. 11 giờ 10 phút, sau khi hội kiến, Tổng thống Enxin cùng phu nhân về phòng nghỉ nhà khách Chính phủ tại Đài câu cá. Tổng thống Nga Enxin với ánh mắt sâu thẳm của mình lần đầu tiên được thấy hành cung của Kim đại Hoàng đế cách đây hơn 800 năm; những tuyết tùng, rừng trúc và bãi cỏ vẫn xanh tốt xúm xuê giữa mùa đông giá lạnh; say sưa thưởng ngoạn nơi lầu ca viện hát cùng lâm viên cổ đại phương Đông với suối khe róc rách suốt đêm ngày. Hơn 10 cận vệ theo sát Tổng thống. Quá trưa, từng đoàn xe tải chở hàng nghìn cảnh vệ ra ngoại ô tới đường ven Vạn lý trường thành. Cứ cách 20 mét lại có một người lính đứng nghiêm trang canh gác. Theo sự thỏa thuận của hai phía Trung-Nga, mỗi bên chỉ được chọn 5 ký giả thân cận đi theo, có đeo phù hiệu “Đặc chủng” màu đỏ do Cục Thông tin Bộ Ngoại giao cấp phát. Còn những ký giả khác chỉ được đứng yên tại 3 địa điểm cố định trên “đường ven” Trường thành. Đúng 3 giờ chiều, chiếc xe “Đajin” bon nhanh tới chân Trường thành. Ông Enxin trong bộ áo khoác dạ đen bước ra khỏi xe, say sưa phấn khởi ngắm nhìn một vùng núi non uốn lượn chập chùng. Ông Enxin trước tiên đi tới cây tháp lửa thứ nhất, mười mấy lính cảnh vệ Nga luôn vây quanh Tổng thống chừng 10 mét đan thành một hàng lưới cách ngăn. Ông Enxin là một sinh viên xuất sắc, trước đây, đã tốt nghiệp khoa Kiến trúc Học viện công nghệ Ural, đối với kiến trúc là ông thông thạo. Trước tiên ông hỏi Trường thành cao bao nhiêu rộng bao nhiêu. Người hướng dẫn hiển nhiên chưa hiểu hết ý của Tổng thống. Loay hoay trả lời tường cao thấp là tùy theo địa thế. Đôi lông mày ông Enxin lần đầu tiên nhíu lại, nét mặt tỏ vẻ hơi khó chịu: - “Nơi cao nhất là bao nhiêu?” giọng ông hơi cứng lại. - “Nơi cao nhất là 8 mét”. Với con số cụ thể mà người hướng dẫn trả lời xem ra đã giải tỏa thắc mắc của ông Enxin. Thế là ông nắm tay phu nhân, quay lưng về dẫy trường thành điệp trùng vạn dặm ghi lại một tấm hình tràn trề tình cảm êm ái ngọt ngào. Hôm sau, trong giờ phút chia tay ông Enxin tại vườn hoa Đài câu cá, Chủ tịch Dương Thượng Côn chỉ vào tấm hình trong tập ảnh nói: - “Này, tấm hình hai ông bà Tổng thống đã được đăng trên tờ “nhân dân nhật báo” rồi nhé!” Tấm ảnh tràn đầy không khí gia đình kia làm cho khách và chủ cùng vui chung cạn chén tươi cười. Với hàng trăm ký giả người Nga và phương Tây bay tới Bắc Kinh, ông Enxin tới đâu cũng đều là “con mồi” của họ. Tại Trường thành Tổng thống Enxin chỉ vào Trần Cẩm Hoa đứng bên cạnh và nói với các phóng viên: - “Mô hình Trung Quốc rất quan trọng, nó bao quát phương pháp cải cách không xáo động. Trung Quốc cải cách đã qua 14 năm, có lẽ còn cần một thời gian dài như vậy nữa. Đại hội lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Trung quốc đã xác định mô hình kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mà quan trọng nhất là thị trường. Các bạn muốn tìm hiểu cải cách của Trung Quốc, ông Trần Cẩm Hoa có thể trả lời các bạn”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:11:33 pm Ca ngợi Trường thành - công trình vĩ đại nhất. Ông Enxin dừng chân trước một mô đất, ngoái lại hỏi người hướng dẫn: - Thời cổ xưa chưa có xi măng, gạch với gạch kết gắn với nhau như thế nào vậy? Hướng dẫn viên trả lời: - Người ta dùng bột gạo nếp mà gắn kết lại. Nhưng “gạo nếp” được phiên dịch là “keo dính”. Ông Enxin lại cau mày, và khi ông Luôgaoshou Đại sứ Nga tại Trung Quốc giải thích sát nghĩa từ Trung văn, ông nói nhỏ đó là “gạo dẻo”, ông Enxin mới hiểu ý gật đầu, vỗ vỗ vào bức tường gạch nói “thật là rắn chắc”. Dòng người vây quanh ông Enxin vẫn cuồn cuộn di động trên tầng cao, nhân giây phút ông nghỉ chân, có một phóng viên liền hỏi bằng tiếng Nga: - Thưa ngài Tổng thống, xin ngài cho biết những ấn tượng về Vạn lý trường thành? - “Một công trình vĩ đại nhất”. Câu nói khái quát của ông Enxin, con người diễn thuyết xưa nay không biết mệt. - Ngoài ra, ngài còn nói gì thêm nữa không ạ? Anh phóng viên vội “trêu chọc” thêm một câu, sợ các bạn Nga cùng đi cắt ngang lời. “Đi qua nhiều nơi trên thế giới tôi chưa hề trông thấy một kiệt tác như vậy”. Lời bình luận vừa đủ ý nghĩa. Hai tầng bảo vệ vững chắc an toàn cho ông Enxin. 8 giờ sáng ngày 18-12, sương mù dày đặc và giá lạnh bao trùm cả Quảng trường Thiên An Môn. Mấy chục xe cảnh sát đã đậu sát ngay phía đông Bia kỷ niệm anh hùng nhân dân. Trợ lý Cục trưởng Cục Công an thành phố Bắc Kinh cho biết, hôm nay quảng trường có lệnh giới nghiêm cấp một, lãnh đạo Cục phải đích thân kiểm tra hiện trường. Đột nhiên, các phóng viên phát hiện một gương mặt hơi dài - gầy gò trắng trẻo, ánh mắt sắc như dao thường thấy trên màn hình ti vi. - Chào ông, xin cho được biết quí danh, ông là người bảo vệ Tổng thống phải không? - Vâng, tôi là Yahsanda, tôi phụ trách bảo vệ an toàn vòng trong cho Tổng thống. - Nhiệm vụ trọng yếu của ông là gì, mỗi đêm ở Bắc Kinh ông được ngủ mấy giờ? - Chủ yếu là tôi theo dõi các hiện tượng khác lạ trong mọi khu vực, có thể được ngủ khoảng 4-5 tiếng đồng hồ. Yahsanda vừa nói vừa liếc mắt quanh khu vực Bia kỷ niệm. - Chúng tôi còn có cộng sự chịu trách nhiệm kiểm tra an toàn vùng ven và nơi ở của Tổng thống. - Có một số nhân viên đã đi Thâm Quyến “đặt tiền trạm” rồi. Theo các bạn Nga tiết lộ. Chuyến thăm Trung Quốc lần này có hơn 100 nhân viên bảo vệ đi theo Tổng thống; còn thành viên đội cận vệ của ông Enxin có tới 300 người. Đội trưởng là Kerzakefu; đội cận vệ bảo đảm an toàn cho ông Enxin theo phương thức bảo vệ 2 tầng kiểu đặc công của Mỹ. - Đặt vòng hoa tại Bia tưởng niệm anh hùng nhân dân. Tầng thứ nhất là bảo vệ “vòng trong” như Yalisanda nói, hai bên kèm sát Tổng thống một phút không rời; tầng thứ hai là bảo vệ “vòng ngoài”; phòng làm việc, chỗ ở, nơi nghỉ ngơi của Tổng thống và những địa điểm mà ông tới thăm đều thường xuyên được bảo vệ và giám sát nghiêm ngặt. Ngoài ra, ông Enxin còn có thêm “Tổ kiểm tra chất lượng bữa ăn”, “Tổ thực nghiệm xe riêng của Tổng thống”. 8 giờ 50 phút, trong nhạc điệu “dâng hoa” trầm buồn của đoàn quân nhạc, Tổng thống Enxin đi theo hàng một lên đặt vòng hoa trước bia tưởng niệm anh hùng nhân dân. Đúng 9 giờ Tổng thống Enxin hội đàm riêng với Thủ tướng Lý Bằng trong vòng 90 phút, cùng trao đổi thảo luận 3 vấn đề. Đó là 90 phút làm cho người ngoài cuộc phỏng đoán thăm dò. Theo những nhân vật hữu quan cho biết, hình như đôi bên đã đạt được nhận thức chung trong mọi vấn đề. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:14:41 pm Giang Trạch Dân hội kiến và mời cơm Enxin. Đúng 12 giờ Tổng Bí thư Giang Trạch Dân hội kiến và mời cơm Tổng thống Enxin. Lần đầu tiên Tổng Bí thư Giang Trạch dân dùng tiếng Nga “chào các bạn” ký giả Nga tới thăm Trung Quốc tại sảnh đường trước lầu số 15 Đài câu cá. Trong bữa cơm, bằng khẩu khí thăm dò, ông Giang Trạch Dân hỏi Tổng thống Enxin xem có muốn thưởng thức rượu Mao đài của Trung Quốc hay không; khách trước đây đã từng dùng rượu Mao đài của Đại sứ Trung Quốc biếu tặng, nên đã được thưởng thức và rất thú vị. Cốc thứ nhất, chủ nhà và khách một hơi là cạn. Khi ông Giang Trạch Dân giới thiệu với khách rượu Mao đài là 500 Tổng thống Enxin cao hứng nói, trong tiếng Nga có một câu ngạn ngữ là “kiểm tra xong mới tin tưởng được”. Rõ ràng, văn hóa rượu đúng là cuộc chuyện trò vui vẻ nhất trong bữa cơm của những người lãnh đạo quốc gia. Ông Enxin thử nghiệm và bình luận về rượu Mao dài. Ông Enxin rút ra một que diêm to dài hai tấc, quẹt lửa đặt lên miệng chai, que diêm cháy hết cũng chẳng thấy phản ứng gì. Ông lắc lắc đầu không hiểu nổi. Tổng Bí thư Giang Trạch Dân cười và gợi ý nên đổ rượu vào hộp tàn thuốc lá rộng miệng. Ông Enxin lại quẹt một que diêm nữa, vẫn không kết quả. Lúc này, bà Enxin nhắc đấng phu quân của mình hãy gí sát ngọn lửa vào miệng hộp mới được. Đến que diêm thứ 3 thì miệng hộp vụt lên một ngọn lửa xanh đậm. Ông Enxin giảng giải một cách rất chuyên môn, phương pháp đánh giá nồng độ rượu: có 3 cách sau đây: rượu trên 550 bốc lửa màu xanh; dưới 550 thì ngọn lửa vừa xanh vừa đỏ; dưới 400 thì lửa đỏ hoàn toàn. 14 giờ 30 phút, Tử Cấm Thành (cung vua) đón tiếp những người khách đến từ nước Nga xa thẳm. Trước đó vài phút một phóng viên Hợp chúng xã tại Bắc Kinh có hỏi người Trung Quốc tại nơi đây rằng: - “Nước Nga là một thành viên của Liên quân 8 nước tiến công Bắc Kinh phải không?” Hai nước cùng coi nhau là quốc gia hữu hảo. Hoàng thành ngày xưa, nơi khiến mọi người run sợ, ông Enxin rất hứng thú về những công trình kiến trúc bằng gỗ cổ đại của Trung Quốc ở nơi đây. Khi ông được biết giá vé vào cửa Cố Cung là 8 đồng, bất giác ông buột miệng thốt lên: “Khoảng 1,5 đô la Mỹ”. Đúng 16 giờ, chưa kịp nghỉ ngơi, ông Enxin tiếp tục hội kiến với các nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc. Với phong cách dí dỏm châm biếm, bài nói hào hứng của ông luôn bị ngắt quãng bởi những trận cười khoái chí: - “Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý bằng đều nói giỏi tiếng Nga, ngày nay sự nghiệp cải cách mở cửa của Trung Quốc đã giành được những thắng lợi quyết định. Cơ hội học tiếng Hán đã chín mùi”. Một học giả cùng tham gia hội kiến tán thưởng thêm về khẩu khiếu của ông Enxin, một câu nói chọc cười “Đạo lý Trung Dung của Trung Quốc làm cho hội nghị Quốc hội lần thứ 7 không bị thất bại”, khiến mọi người càng tin tưởng vào đạo lý Nho học uyên thâm của đất nước Trung Hoa. 17 giờ 30 phút, một khoảnh khắc mang ý nghĩa lịch sử. Tổng thống Enxin và Chủ tịch Dương Thượng Côn chính thức ký “Bản tuyên bố chung vì cơ sở quan hệ hai nước”. Câu thứ nhất trong văn kiện ghi rõ: “Hai nước cùng coi nhau là quốc gia hữu hảo”. Đồng thời hai nước đã ký kết 24 văn kiện, ông Enxin nói: “Có thể nói là kỷ lục trên thế giới”. Ông Enxin trích dẫn lời nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình 18 giờ 15 phút, hơn 200 phóng viên báo chí tụ tập tại phòng tiệc tầng một khách sạn... Công tác “kiểm tra an toàn” nghiêm ngặt được thông báo trước một tiếng, mọi người tranh nhau tìm chọn địa hình có lợi nhất. Khi nói tới công cuộc cải cách của Trung Quốc, ông Enxin đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của ông Đặng Tiểu Bình: “Bất kể mèo trắng hay mèo đen, hễ bắt được chuột đều là mèo qui”, cả hội trường đều cười ồ lên. Ông Enxin nói tiếp: “Tôi nhờ Chủ tịch Dương Thượng Côn chuyển tới ngài Đặng Tiểu Bình lời chúc mừng tốt lành nhất; ngài Đặng Tiểu Bình cũng nhờ chuyển đến tôi lời thăm hỏi. Vì sức khỏe không cho phép, nên không thể gặp gỡ”. Các báo chí hải ngoại đã xôn xao dư luận thăm dò câu nói “sức khỏe không cho phép”; người phát ngôn Bộ Ngoại giao kịp thời giải thích. 9 giờ 15 phút sáng ngày 19-12-1992, do nước Nga có nguy cơ lâm vào tình trạng khủng hoảng nội các; Tổng thống Enxin phải hủy bỏ chuyến thăm Thâm Quyến về nước trước thời gian. Chiếc chuyên cơ “nhãn hiệu Nga” như một tia chớp vút tận không trung, hướng thẳng về Mátxcơva phủ đầy băng tuyết. Tuy vậy, trong 48 tiếng đồng hồ ngắn ngủi tại Bắc Kinh, ông Enxin đã để lại một cái mốc hướng tới tương lai trong lịch sử quan hệ hai nước Trung-Nga. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:19:26 pm PHẦN 3 TRUNG - NGA MỞ CỬA BIÊN GIỚI Ăn cơm, tắm hơi Hai nước Trung-Xô (nay là Nga) đã hàng chục năm ngăn cách, có lẽ rất ít ai nghĩ đến có được như hôm nay; quân đội đã từng đối địch nhau lại có thể trở thành khách trong doanh trại của mình; những đồn biên đã từng là thần bí của hai nước đã có thể cùng mở cửa. Sau năm 1986, nguyên quân đội biên phòng Liên Xô trong nhiều lần gặp gỡ hội đàm, đều bày tỏ mong muốn mở rộng quan hệ quân đội hai nước, tăng cường thăm viếng lẫn nhau, phát triển quan hệ bình thường giữa hai nước và hai quân đội. Sau này, trong một lần tham gia hoạt động liên hoan ngày lễ của đối phương, bộ đội Trung Quốc đã tới một đồn canh của quân đội biên phòng Liên Xô. Thật khác lạ và thần bí. Mà lần đầu tiên ấy lại mang tính ngẫu nhiên và kịch tính. “Đoàn đại biểu một cơ quan biên phòng chúng tôi tham dự hoạt động ngày lễ ở thành phố bên kia biên giới, người sĩ quan của đối phương ra đón tiếp, khi giới thiệu về chương trình đã đề nghị tất cả khách Trung Quốc tham gia tắm hơi, mà địa điểm là đồn biên phòng phía tây thành phố. Người đại diện bộ đội biên phòng của chúng tôi đã từng làm công tác ngoại giao quân sự nhiều năm, dày dạn kinh nghiệm. Anh rất nhạy bén, trong khi chưa kịp thỉnh thị và được cấp trên đồng ý, đã tùy tiện sang đồn biên phòng đối phương là không ổn. Anh khéo léo dùng lời lẽ ngoại giao: - “Hôm khác thì có thể, còn hôm nay không thuận tiện lắm”. Bình thường, được trả lời như vậy, thì đối phương hiểu ý ngay, thấy vậy là tôn trọng. Song, hôm ấy đối phương cố chấp nói rõ ý đồ, như đối với người nhà: - “Tôi hiểu ý các bạn, nhưng các bạn phải biết là ngay cả lãnh đạo của các bạn cũng đã tới đó, không phải một lần, các bạn đừng phiền ngại”. Người đại diện phía Trung Quốc mỉm cười hữu nghị, nhưng không trả lời là đồng ý. Có lẽ đối phương đã sắp xếp trước tất cả, người sĩ quan đón tiếp tuyên bố, bữa chiều nay ăn cơm tại đồn, người sĩ quan ấy hình như hiểu được rằng một quân nhân có tinh thần kỷ luật cao cũng không thể từ chối đi dự tiệc. Nếu không sẽ tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ ngoại giao. Phía Nga không hề đòi hỏi cân bằng Trong tình hình đặc biệt như vậy, người đại diện quân Trung Quốc đã suy nghĩ rất thận trọng, và tham gia bữa tiệc tại đồn biên. Đương nhiên, nói là đi dự tiệc, thực ra đây là lần đầu tiên bộ đội Trung Quốc tham quan liên đội quân biên phòng của nước láng giềng. Sau sự việc đó, theo qui định người đại diện đã báo cáo lên cấp trên. Cách làm đúng đắn của anh đương nhiên được khẳng định. Nó trở thành tiền lệ, Trung Quốc tham quan quân đội láng giềng. Về sau, quân đội nước láng giềng nhiều lần mời đại diện quân Trung Quốc tham quan. Kiểu tham quan ấy có thể nói là tương đối rộng mở; hình như họ cho mở cửa tất cả doanh trại liên đội, đồn biên, kể cả mọi thiết bị vũ khí, chỉ một điểm đó thôi cũng làm cho lính Trung Quốc kinh ngạc. Mà trước khi làm việc đó, họ đã nhiều lần tuyên bố. “Chúng tôi mở cửa là đơn phương, không đòi hỏi cân bằng, không hề có ý tứ muốn tham quan liên đội của các bạn, về điểm này xin các bạn tuyệt đối yên tâm”. Bây giờ chúng ta hãy theo dòng hồi ức của người đại diện bộ đội biên phòng Trung Quốc, “xuất dương” tham quan đồn biên phòng ở khu vực Viễn Đông của nước Nga mà mọi người lâu nay thấy xa lạ và thần bí. Quân đội biên phòng và quân đội chính quy của Liên Xô trước đây và của nước Nga hiện nay là 2 binh chủng khác nhau. Quân đội biên phòng được đãi ngộ cao hơn quân đội chính qui. Năm 1990, đại biểu quân đội biên phòng Trung Quốc chính thức tham quan đồn biên phòng đối diện biên giới Trung Quốc, ở trong một khu rừng. Nhà ở của binh lính và sĩ quan kề sát nhau. Có lẽ là để tăng thêm không khí thân mật gia đình và bè bạn, phía Nga mời lính Trung Quốc đến chơi nhà sĩ quan. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:22:35 pm Phòng bí mật cũng được công khai Súng ống đạn dược không đặt tại phòng ở, mà đều được bảo quản ở nơi cửa vào tầng một, có cửa sắt khóa kín, xếp đặt trật tự dễ đếm; tất cả đều do binh lính trực ban trực tiếp trông coi; nếu có nhiệm vụ, người trực ban sẵn sàng mở cửa sắt, binh lính khẩn cấp hành động, vừa mặcquần áo vừa nhận súng ống. Đối diện với buồng đồn trưởng là phòng tác chiến. Quân Nga cũng không coi đó là cấm địa. Họ mời bộ đội Trung Quốc vào tham quan. Đứng trước phòng tác chiến ấy mà xưa kia, hôm nay và sau này vẫn là đối thủ chủ yếu của mình, binh lính sĩ quan Trung Quốc tới tham quan bất giác thấy rất cảm khái. Trong phòng tác chiến có đủ cả điện thoại, bản đồ, sa bàn, có một lính trực ban đứng trước sa bàn. Người sĩ quan Nga đi theo hướng dẫn tham quan chỉ lên những tiêu chí phía trên nói, đây là vị trí phòng thủ của chúng tôi; trước đây chúng ta đối lập nhau, bây giờ thì đến được với nhau rồi. Nói tới đây, mọi người có mặt đều cười ồ lên. Có lẽ để tỏ rõ sự chân thành, ngay cả phòng lau súng, nhà hầm, phòng phục vụ đều được mở rộng cửa. Kiến trúc kiểu Nga rất coi trọng giữ ấm. Từ trong nhà ngầm có thiết bị hơi nóng dẫn ra thật ấm áp. Phòng giải trí đa năng Ở đây còn có phòng phơi sấy riêng biệt, quần áo lính giặt xong, đều thống nhất phơi tại đây. Phòng phục vụ của họ xây dựng lâu dài, liên đội quân đội Trung Quốc chưa có được đầy đủ. Trong phòng phục vụ có đồ cắt tóc, giặt là, cạo râu rửa mặt và các thứ phục vụ sinh hoạt lặt vặt. Trong tất cả các hạng mục tham quan, điều mà cả hai quân đội đều cảm thấy hứng thú nhất là biểu diễn thao tác trang bị vũ khí. Trên bãi tập của quân Nga tất cả vũ khí trang bị hiện đại của đồn biên phòng sử dụng đều được bày ra trật tự ngay ngắn trên thảm cỏ. Toàn thể binh sĩ trong đồn xếp hàng tập hợp báo cáo bộ đội Trung Quốc đến tham quan. Binh lính thao tác đều thấy rất rõ; trong các loại vũ khí ấy có súng lục, tiểu liên, súng trường phục kích, ống phóng hoả tiễn kiểu 40, ống nhòm ban đêm, kính viễn vọng, đèn chiếu, xe thường trực tổng hợp, điện đài; trong đó có thiết bị cảnh báo ra đa tiên tiến làm cho quân đội Trung Quốc thêm mở rộng tầm nhìn, với thiết bị ấy, có thể tự động thăm dò, tự động cảnh báo; máy quan trắc ban đêm, sử dụng trong mọi điều kiện thời tiết, đây là thiết bị trinh sát tương đối tiên tiến trên thế giới hiện nay. Quân đội Nga cũng như quân đội Trung Quốc, đều có thư viện, phòng giải trí, phòng học tập còn phòng vui chơi lớn nói chung là nhiều công năng, bục giảng quay 3600, có thể dùng nói chuyện, có thể đặt ti vi, còn có thể treo được bản đồ cỡ lớn để tiến hành diễn giải chiến thuật. Việc điều chỉnh các loại bản đồ đều là tự động hóa; người chủ trì có thể đứng trước bục giảng điều khiển, có thể chiếu phim. Thấy bộ đội Trung Quốc thích thú đặc biệt đối với thiết bị cảnh báo, phía Nga đã tặng luôn một bộ. Mời khách tắm hơi Sắp xếp cho khách biên phòng Trung Quốc tắm mát sa cũng là một nội dung tham quan. Hình như phía Nga đã tìm hiểu rất kỹ càng, tuy rằng mát sa đã xuất hiện ở Trung Quốc, nhưng hiện giờ ở những thành trấn quan trọng trên biên giới vùng Hắc Hà còn rất ít. Trong buồng tắm ấy trang trí rất đẹp. Ở cửa lắp đặt một đồng hồ tự động, người bước vào là tính giờ ngay, tránh thời gian quá dài, phát sinh phức tạp. Nhà tắm chia thành từng gian riêng, con cái trong nhà cũng có thể cùng tắm ở đó. Trên dưới, trái phải đều có vòi phun, xả vào người tắm, vô cùng thoải mái. Ngoài phòng tắm hơi nóng ra, còn có phòng nước lạnh, phòng thay quần áo, phòng ăn; tất cả những thứ đó đều có liên quan tới tập quán sinh hoạt thích tắm nước lạnh và vừa tắm vừa ăn của họ. Binh lính sĩ quan biên phòng Trung-Nga cùng tắm rửa trong một phòng. Người Nga lấy một đoạn cây dâu đã chuẩn bị trước, nhúng nước rồi đập đập lên cơ thể người Trung Quốc, nghe nói tắm như vậy có thể tăng cường huyết mạch tuần hoàn, làm cho con người thêm dễ chịu. Một thượng tá người Nga sức vóc vạm vỡ tự giới thiệu là biết xoa bóp, nhiệt tình thao diễn cho các vị khách Trung Quốc. Thủ pháp của ông ta rất thành thục, khiến các vị khách Trung Quốc tấm tắc ca ngợi. Viên Thượng tá Nga đã gần 50 tuổi tự giới thiệu là thủ thuật này được học từ người Trung Quốc. Vốn là, ông ta đã từng đóng quân trên biên giới Nga đối diện với miền tây Trung Quốc, học Lạt Ma Trung Quốc môn nghệ thuật xoa bóp này. Ông ta nói rằng theo luật nghĩa vụ của nước Nga, phục vụ trong quân đội đủ 20 năm là được về hưu, còn mấy tháng nữa ông ta sẽ được nghỉ. Ông ta nói, có lẽ đây là lần cuối cùng còn mặc quân phục được giao lưu với bạn Trung Quốc. Khách Trung Quốc hỏi ông ta là sau khi nghỉ hưu thì làm gì, ông ta bảo sẽ mở công ty buôn bán với Trung Quốc. Cuối cùng, ông nói nửa đùa đến lúc ấy tôi sẽ tới Trung Quốc tìm các bạn. Xem chừng, sau khi Liên Xô giải thể, không ít người Nga rất hâm mộ sự giàu có và khởi sắc của Trung Quốc. Những tặng phẩm nhỏ nhẹ như mỹ phẩm, bánh kẹo, hàng tiêu dùng mà bộ đội Trung Quốc mang theo đối với lính Nga xem ra đều rất quí giá. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:24:02 pm Quân Nga mong muốn mở rộng giao lưu Những năm gần đây, đồn biên phòng liên đội quân Nga trên vùng biên giới nhiều lần mở cửa. Họ cũng nhiều lần đề xuất mở rộng quan hệ giao lưu giữa hai quân đội để phát triển quan hệ hữu nghị bình thường hai bên, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng kinh tế mỗi nước. Người phụ trách quân khu Viễn Đông của Liên Xô trước đây, trong thời gian sang thăm Trung Quốc đã từng nhiệt tình đề nghị, không chỉ nên mở rộng giao lưu bộ đội biên phòng bai bên, mà còn có thể giao lưu quân khu cấp tỉnh, cấp đại quân khu, các đoàn thể thao văn hóa quân đội cũng có thể thăm viếng lẫn nhau, thậm chí ông ta còn mong muốn có sự giao lưu giữa các cơ quan lãnh đạo trong quân đội hai nước. Được cơ quan cao nhất của quân đội Trung Quốc phê chuẩn, tháng 8-1992, đợt đầu các đồn biên phòng của Trung Quốc ở Hắc Long Giang và Cát Lâm mở cửa với quân Nga, đón đợt khách đầu tiên. Người khách nhận lời từ Hắc Hà vượt qua đường biên giới Trung-Nga là Thượng tá Augiơchépsốp, ông là đại diện biên phòng của một quân khu Viễn Đông Nga. Ông dẫn đầu một đoàn năm người kể cả 1 nhân viên chụp ảnh. Đồn biên phòng mà họ tham quan là liên đội 7 của đơn vị giải phóng quân đóng tại thành cổ Ái Hồn. Xuồng đón khách Nga vừa cập bến, đại diện quân biên phòng Trung Quốc bước ra trước đón chào. Chiếc xe con đưa khách vào thẳng khu doanh trại gọn gàng sáng sủa của liên đội. Binh lính xếp hàng đón khách nước Nga Lính biên phòng Nga mặc quân phục màu xanh cỏ úa; cái làm nổi bật nhất so với quân đội Trung Quốc là lính Nga đội mũ có viền màu xanh lục, khác với quân đội Trung Quốc đội mũ có viền màu đỏ tươi, làm cho quân lính hai nước khi cùng xuất hiện trên đường phố thành cổ Ái Hồn, khiến đông đảo thường dân đều quan tâm theo dõi. Đơn vị mà quân Nga tham quan là liên đội mũi nhọn nổi tiếng của quân khu tỉnh Hắc Long Giang, đã sáu năm liên tục vinh dự lập công tập thể, điều này cũng hiếm thấy trong toàn quân. Đặc điểm nổi bật của liên đội này là các chỉ tiêu quân chính đều mạnh toàn diện. Khách vừa vào cổng lớn của liên đội là đã thấy binh sĩ xếp hàng hoan nghênh đón tiếp, tuy không sánh được với đội quân danh dự quốc gia, nhưng tinh thần cũng phấn chấn, đội ngũ chỉnh tề. Có lẽ do trở ngại về ngôn ngữ nên khi giới thiệu sắp xếp các hạng mục tham quan, phía Trung Quốc có điều động chiến sĩ liên đội khác tới biểu diễn nghệ thuật bắt tù binh, để bộ đội sĩ quan liên đội 7 không phải thay đổi trang phục màu khác,. nhằm tiết kiệm thời gian tham quan. Nhưng phía Trung Quốc không giải thích điều này. Mấy ngày sau, trong khi gặp gỡ hội đàm, quân Nga như phát hiện ra điều gì, nói đùa: “Hôm ấy, người biểu diễn của các bạn không phải là người trong một đơn vị”. Sĩ quan binh lính hai nước đọ sức tại trường bắn Có một hạng mục tham quan mà liên đội biên phòng Trung Quốc đã sắp xếp, đó là môn xạ kích 200 mét. Một người lính Trung Quốc bắn liền 10 phát trong 10 giây. Vừa dứt khẩu lệnh, 10 phát nổ đều trong giây lát, toàn bộ mục tiêu đồng loạt đổ gục, không sót cái nào. Kết quả thiện xạ ấy làm cho khách tham quan rất hứng thú; một sĩ quan Nga đề nghị hai bên cùng thi biểu diễn bắn bia tại hiện trường. Thế là, mỗi bên chọn ra một nhóm để thi tài. Kết quả là phía Trung Quốc chiếm ưu thế rõ ràng. Một sĩ quan phía Nga tỏ ra chưa thật khâm phục, bởi vì anh ta bắn ra một loạt đạn, lại có một phát không trúng. Anh ta đích thân đến nơi cấp đạn, tự tiện lấy đạn muốn bắn lại một lần nữa. Một sĩ quan Trung Quốc cười và nói với anh ta là “Theo những qui định của quân đội chúng tôi, tự mình lấy đạn là vi phạm nội qui trường bắn, phải huỷ bỏ thành tích; nhưng đối với khách lạ từ xa đến, chúng tôi rất ưu ái thành tích của bạn vẫn có hiệu quả”. Câu nói thâm thúy ấy khiến mọi người đều cười. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:28:48 pm Chương 16 TƯ DUY “CHIẾN TRANH LẠNH”, LÔ GÍCH BÁ QUYỀN. ĐẠN CŨ CỦA OASINHTƠN THAY THUỐC MỚI “YANG CHILAO” QUAY HỌNG SÚNG PHẦN 1 QUAN HỆ TRUNG-MỸ LẠI LÂM VÀO TÌNH TRẠNG BẾ TẮC Chính phủ Mỹ trừng phạt Trung Quốc Sau cuộc sóng gió xuân hè năm 1989 tại Bắc Kinh, Mỹ thi hành chính sách trừng phạt đối với Trung Quốc. Ngày 5-6 Tổng thống Bút trong bài nói chuyện về tình hình Trung Quốc, tuyên bố những biện pháp trừng phạt như sau: 1- Tạm ngừng việc bán các loại vũ khí và xuất khẩu thương mại giữa Chính phủ với Chính phủ. 2- Tạm ngừng việc thăm viếng lẫn nhau của những người lãnh đạo quân sự giữa nước Mỹ và Trung Quốc. 3- Đối với yêu cầu kéo dài thời gian, lưu học tập tại Mỹ của sinh viên Trung Quốc cho được suy nghĩ thỏa thuận. Ngày 20-6 Tổng thống Bút chỉ thị cho Chính phủ Mỹ thi hành những biện pháp như sau: 1. Tạm ngừng việc thăm viếng lẫn nhau với tất cả mọi quan chức cao cấp Chính phủ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 2. Mỹ sẽ ra sức trì hoãn đắn đo việc cơ quan tiền tệ quốc tế cung cấp cho Trung Quốc những khoản vay mới. Chẳng bao lâu, Quốc hội Mỹ chuẩn bị và thông qua văn kiện xét lại chính sách trừng phạt Trung Quốc. Tổng thống Bút đã tranh luận và thoả hiệp với Quốc hội: ngày 16-2-1990 đã ký “pháp lệnh uỷ quyền quan hệ ngoại giao năm tài chính 1990 và 1991” bao hàm cả việc xét lại chính sách trừng phạt Trung Quốc. Pháp lệnh này một mặt qui định biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc trên phương diện pháp luật, để cuối cùng xóa bỏ một số phương sách làm tăng thêm khó khăn; mặt khác để cho Tổng thống được quyền xử trí linh hoạt, như là có thể báo cáo với Quốc hội nói rõ những tiến triển về cải cách chính trị Trung Quốc, hoặc vượt trên yêu cầu lợi ích nước Mỹ, có thể bớt bỏ một phần hoặc toàn bộ chính sách trừng phạt đối với Trung Quốc. Phương án xét lại của Quốc hội Mỹ đối với sự trừng nhạt kinh tế Trung Quốc bao gồm 7 nội dung sau đây: 1. “Công ty đầu tư tư nhân hải ngoại” cần tiếp tục ngừng đầu tư bảo hiểm hoặc trợ giúp vốn đối với Trung Quốc. 2. Trung ương Đảng cần đình chỉ nguồn vốn được cung cấp theo “Luật ngoại viện” dùng vào các hoạt động của “Phòng phát triển mậu dịch” có liên quan tới Trung Quốc. 3. Tiếp tục ngừng việc xuất khẩu vũ khí đạn dược sang Trung Quốc, bao gồm cả máy bay trực thăng và các linh kiện. Các khoản cũ hạn chế sử dụng vào cả hệ thống và từng bộ phận, đặc biệt là thiết kế sản xuất hàng dân dụng, và chỉ được sử dụng vào hệ thống hoặc bộ phận sản phẩm phục vụ quốc phòng có khống chế xuất khẩu đến một quốc gia nhất định. 4. Ngừng xuất khẩu trang bị cảnh sát đối với Trung Quốc. 5. Tiếp tục đình chỉ việc cung cấp hỏa tiễn phóng vệ tinh do Mỹ chế tạo. 6. Ngừng hoạt động hợp tác năng lượng hạt nhân Trung-Mỹ. 7. “Ba tum” hạn chế xuất khẩu: (1) Tổng thống cần đàm phán với các nước thành viên “Ba tum” để thực hiện đa phương ngừng mở rộng giới hạn xuất khẩu đối với Trung Quốc. (2) Trong vòng 6 tháng kể từ ngày lệnh này được công bố, Tổng thống phản đối bất cứ cách làm mở rộng giới hạn xuất khẩu nào của “Ba tum” đối với Trung Quốc. Ngày 30-11-1989 Tổng thống Bút quyết định thêm một loạt biện pháp sau đây: 1. Những người lưu học của Trung Quốc xóa bỏ mọi ký kết trao đổi nghiên cứu học tập phải trở về nước phục vụ hai năm. 2. Đối với những cá nhân cư trú hợp pháp trên đất Mỹ từ ngày 5-6-1989 được bảo đảm tiếp tục hưởng quyền cư trú hợp pháp. 3. Đối với công dân đã ở tại nước Mỹ từ ngày 5-6-1989 có quyền làm việc tại Mỹ. 4. Đối với những người di cư bất hợp pháp đã hết hạn có đề nghị kéo dài thời gian, chỉ cần thông báo thời hạn đã hết mà không thực thi trục xuất. Ngày 6-4-1990, Tổng thống Bút lại chính thức công bố mệnh lệnh hành chính qui định rõ như sau: - 1. Những học sinh Trung Quốc ở tại Mỹ từ ngày 5-6-1989 có thể kéo dài thời gian xuất cảnh đến ngày 5-6-1994. - 2. Miễn trừ qui định có liên quan, để cho những học sinh Trung Quốc có hộ chiếu quá hạn hoặc bị hủy bỏ có thể thay đổi tư cách pháp nhân. - 3. Tiếp tục chấp hành biện pháp hành chính đã được thực thi từ ngày 30-11-1989. Ngày 16-6-1991 với lý do là công ty Trường Thành và công ty xuất nhập khẩu máy móc tinh vi của Trung Quốc tham gia hoạt động nghiên cứu đạn đạo và phổ biến kỹ thuật đạn đạo, Mỹ tuyên bố thi hành 3 biện pháp trừng trị Trung Quốc. 1. Hạn chế bán cho công ty máy móc tinh vi và công ty Trường Thành của Trung Quốc bất kỳ sản phẩm gì có liên quan với đạn đạo; 2. Hạn chế xuất khẩu cho Trung Quốc trạm công tác máy tính cao tốc; 3. Tạm ngừng xuất khẩu vệ tinh hoặc linh kiện vệ tinh cho Trung Quốc (kể cả tên lửa Trung Quốc phóng vệ tinh của Mỹ). Sau cuộc sóng gió chính trị giữa xuân hè năm 1989 ở Bắc Kinh quan hệ Trung-Mỹ gặp những khó khăn nghiêm trọng. Bắt đầu từ cuối năm 1990 mới từng bước được phục hồi và cải thiện. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:30:41 pm Thời cơ mới của quan hệ Trung-Mỹ Ngày 2-5-1990, trong khi trả lời phỏng vấn của Babala Uôntơ người phụ trách chương trình phát thanh truyền hình Mỹ, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân chỉ rõ: “Chính sách trừng phạt của Mỹ đối với Trung Quốc trước hết là không sáng suốt bởi vì quan hệ giao lưu trên các lĩnh vực kinh tế, mậu dịch, kỹ thuật, văn hóa... phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Về lâu dài mà nói, những trừng phạt Trung Quốc không chỉ là Trung Quốc tổn thất, đối với lợi ích của Mỹ cũng có tổn thất. Do đó hy vọng Chính phủ Mỹ thực hành những biện pháp sáng suốt hơn; chúng ta cùng cố gắng, phát triển tốt đẹp hơn quan hệ giao lưu kinh tế văn hóa giữa hai nước chúng ta”. Ngày 11-6 năm ấy, trong thư trả lời 9 sinh viên trường Đại học Tổng hợp ở Califoócnia, khi đề cập tới quan hệ Trung-Mỹ Tổng Bí thư Giang Trạch Dân nói: “Quan hệ Trung-Mỹ sau bao năm ngăn cách do con người gây nên được khôi phục và phát triển, không phải vì quan niệm giá trị song phương tương đồng, mà là vì có lợi ích chung to lớn. Một là, phát triển quan hệ hai nước Trung-Mỹ, là nhu cầu gìn giữ hòa bình thế giới và đặc biệt là khu vực châu Á Thái Bình Dương. Hai là, Mỹ là nước phát triển mạnh nhất, Trung Quốc là nước lớn nhất đang phát triển, phát triển mậu dịch kinh tế, hai nước đều có lợi, hơn nữa còn có lợi cho việc cải thiện quan hệ Nam Bắc và thúc đẩy kinh tế quốc tế phồn vinh. Ba là, nhân dân hai nước Trung-Mỹ đã có lịch sử quan hệ hữu hảo với nhau lâu dài, và mong muốn tiếp tục phát triển quan hệ hữu nghị; mặc dù thế giới có những biến đổi lớn lao, nhưng lợi ích chung giữa hai nước Trung-Mỹ vẫn luôn luôn tồn tại. Những người có hiểu biết đều sáng suốt nhận thức rằng, lợi ích chung tồn tại giữa chúng ta còn quan trọng hơn nhiều so với sự khác biệt về quan niệm giá trị”. Ngày 13-11 năm ấy Thủ tướng Lý Bằng hội kiến với đoàn đại biểu nghị sĩ Hạ viện Quốc hội Mỹ do nghị sĩ Mai Kơrau Kesila dẫn đầu, khi nói tới quan hệ Trung-Mỹ, đã nói rõ chế độ xã hội, truyền thống văn hóa hai nước Trung- Mỹ khác nhau, nhưng điều đó không hề ảnh hưởng tới sự phát triển quan hệ hai nước trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Tháng 7 và tháng 12-1989 Tổng thống Bút đã cử đặc phái viên Tổng Skaucôlufutơ hai lần sang thăm Trung Quốc. Từ ngày 30-11 đến 1-12-1990, Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham nhận lời mời của Quốc vụ khanh Mỹ Bâycơ đi thăm chính thức Hoa Kỳ. Chuyến thăm lần này là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ Trung-Mỹ. Đó là chuyến thăm Mỹ đầu tiên của quan chức cấp cao Trung Quốc kể từ tháng 6-1989 đến nay. Trong thời gian sang thăm Mỹ Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham đã hội kiến với Tổng thống Bút, Quốc vụ khanh Bâycơ, Bộ trưởng Thương vụ Mosibakơ và nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ. Hai bên cho rằng, Trung-Mỹ có lợi ích chung về nhiều mặt, gần đây quan hệ hai nước đã có nhiều cải thiện: Hai bên biểu thị sẽ cùng cố gắng thúc đẩy sự khôi phục và phát triển quan hệ Trung-Mỹ. Cuối năm 1990 và năm 1991, Phó Quốc vụ khanh Mỹ Chimitơ, Basialomu và các trợ lý Quốc vụ khanh XieFutơ, Solomen lần lượt sang thăm Trung Quốc. Năm 1990 và 1991 Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham nhiều lần hội đàm với Quốc vụ khanh Bâycơ ở Pari, Cairô và Niu Oóc Từ ngày 15 đến ngày 11-11-1991, Quốc vụ khanh Bâycơ chính thức đi thăm Trung Quốc. Hai bên Trung - Mỹ đã đạt được hiệp nghị hoặc hiểu rõ về nhiều vấn đề. Cuộc hành trình tới Bắc Kinh của Quốc vụ khanh Bâycơ được thế giới quan tâm theo dõi, ngoài những ấn tượng sâu sắc đối với người lãnh đạo Trung Quốc ra, bao dư vị cảm quan còn để lại chính là niềm tâm sự giãi bày tại nhà khách quốc gia Đài câu cá. - Một khách sạn thần bí và đặc thù trên thế giới. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:33:26 pm PHẦN 2 “SỰ KIỆN LẠC ĐẠN PAKIXTAN” Mỹ tự ý đơn phương trừng phạt Trung Quốc Tháng 8-1993 Chính phủ Clintơn đơn phương chỉ trích Trung Quốc “vi phạm chế độ khống chế kỹ thuật đạn đạo, bán “kỹ thuật linh kiện đạn đạo M-1I” cho Pakixtan. Họ bất chấp sự phản đối của Chính phủ Trung Quốc và Pakixtan, gây thêm trở lực cho quan hệ Trung-Mỹ. Cái gọi là “sự kiện lạc đạn Pakixtan” xuất phát từ cơ quan tình báo, Mỹ vu khống Trung Quốc “vi phạm” hiệp nghị theo sự tiết lộ của những nhân vật thông thạo tin tức của Mỹ, thì tiêu điểm tranh luận là ở tầm bay của đạn đạo M-11, phía Mỹ cho rằng tầm bay của loại đạn đạo này vượt quá 300 km. Phía Pakixtan thì nói, loại mua từ Trung Quốc là “đạn đạo tầm ngắn”, không hề vi phạm hiệp nghị hữu quan. Trung Quốc và Pakixtan cực lực phản đối sự trừng phạt của Mỹ. Nhưng cách làm của Oasinhtơn lại một lần nữa bày tỏ trước mọi người: Phía Mỹ tự ý đơn phương hành động trong những vấn đề có tính tranh luận, tùy tiện áp đặt trừng phạt đối phương theo ý của mình, đã biểu hiện đầy đủ phong thái của chủ nghĩa bá quyền. Từ sự kiện ấy, mọi người có thể dự báo rằng, trong những vấn đề mang tính chất tranh luận khác, Mỹ sẽ còn tiếp tục múa may chiếc gậy cường quyền, lấn át Bắc Kinh, làm cho quan hệ Mỹ-Trung thêm căng thẳng. Quan hệ mậu dịch kinh tế song phương gặp cơ may Nội lực Trung Quốc ở những năm 90 không thể so sánh được với thập kỷ 50, 60, đặc biệt là thành tựu về kinh tế 10 năm gần đây. Không phải chỉ mọi người đều thấy rõ mà ngay cả các nhân sĩ Mỹ cũng đều kinh ngạc. Dựa vào phương châm tài chính ngoại giao “an toàn kinh tế” mà Clintơn nhấn mạnh, nước Mỹ không dễ từ bỏ thị trường Trung Quốc có tiềm năng to lớn, để mở đường ra cho hàng hóa của Mỹ. Đồng thời, những người quyết sách của nước Mỹ cũng dự báo được sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc sẽ làm thay đổi tính chất xã hội Trung Quốc. Với sự suy nghĩ về hai nhân tố ấy, Mỹ không thể tự cắt đứt quan hệ mậu dịch kinh tế với Trung Quốc. Đó cũng là nguyên nhân chủ yếu mà Chính phủ Clintơn không xóa bỏ sự ưu đãi đối với Trung Quốc từ tháng 6-1993. Mỹ không muốn dao dộng cơ sở mậu dịch kinh tế Hành động trừng phạt lần này của Chính phủ Clintơn, nhìn qua ngạch mậu dịch hai nước, sự ảnh hưởng chỉ chiếm khoảng 5% tổng ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc hàng năm của Mỹ, còn toàn bộ giới hạn tầng diện các sản phẩm khoa học kỹ thuật cao cấp như vệ tinh, thông tin, điện tử thì cơ sở quan hệ mậu dịch kinh tế Trung-Mỹ không hề dao động cho nên quan chức trong Chính phủ gọi là trừng phạt “không mãnh liệt”. Cử chỉ ấy chứng tỏ Oasinhtơn không muốn phá vỡ quan hệ mậu dịch kinh tế Trung-Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ, được các xí nghiệp của Mỹ gửi gắm vào đó bao nhiêu khát vọng, bởi vì quan hệ ấy phù hợp với lợi ích trước mắt và lâu dài của Mỹ. Đặc biệt là Chính phủ chọn thời gian Quốc hội Mỹ nghỉ để tuyên bố quyết định này, ngoài sự cố gắng nhẫn nại ra, còn có ý vị để cho Chính phủ Clintơn tự mình tìm cách “xuống thang”; vì Chính phủ đã sớm công bố trước Quốc hội, hơn nữa trước 3 tháng đã nêu ra cái gọi là chứng cứ, chỉ trích Bắc Kinh “vi phạm” hiệp nghị hữu quan. Mũi tên nhằm vào Hàng không và Quốc phòng Trung Quốc Mức độ trừng phạt của Mỹ, những người có tri thức đều hiểu được rằng là nhằm vào công nghiệp hàng không và công nghiệp Quốc phòng. Trong vòng 2 năm, Trung Quốc không mua được vệ tinh của Mỹ, cũng không thể thay nước ngoài phóng vệ tinh nhân tạo chế tạo bằng kỹ thuật của Mỹ, ngoài ra các thứ thiết bị điện tử tinh vi khác của Mỹ có thể dùng trong quân sự cũng bị cấm xuất khẩu cho Trung Quốc. Tại sao mục tiêu cấm vận của Mỹ lại nhằm vào công nghiệp hàng không Trung Quốc? Bởi vì Mỹ cho rằng, công nghiệp hàng không Trung Quốc phát triển rất nhanh. Hai năm gần đây càng tranh thủ giao dịch buôn bán vệ tinh phi quân sự do Mỹ chế tạo, mà xu hướng này trong các nước - ngoài Mỹ ra, ngày một rõ ràng. Ngoài việc giao dịch buôn bán ra, công nghiệp hàng không và công nghiệp quốc phòng hiện đại có quan hệ rất chặt chẽ. Bất kỳ sự việc nào có lợi cho Trung Quốc phát triển hệ thống quốc phòng mũi nhọn, Mỹ đều cực lực phản đối. Nghe nói, nhiều cơ quan phía Mỹ đã từng nêu vấn đề “trừng phạt Trung Quốc như thế nào”, vấn đề ấy đã được nghiên cứu một thời gian; ngày 24-8, Quốc vụ viện vẫn còn họp bàn. Hết sức phòng ngừa Trung Quốc về mặt quân sự Những trở ngại trong quan hệ Trung-Mỹ, có một số vấn đề xuất phát từ sự không tín nhiệm lẫn nhau, nhưng cũng có những vấn đề lại có liên quan đến sự tín nhiệm. Mỹ xưa nay vẫn dựa vào lợi ích chiến lược thực tế để chế định ra chính sách ngoại giao, đặc biệt là quân sự, có thể nói là vô đạo đức, đạo lý hoặc tín nhiệm. Sau khi Liên Xô giải thể, Mỹ tuy muốn phát triển quan hệ mậu dịch kinh tế với Trung Quốc, là dựa vào yêu cầu lợi ích quốc gia, nhưng đồng thời cũng giả vờ coi Trung Quốc là “kẻ thù”, ít nhất cũng là một “kẻ thù tiềm ẩn”. Nhiều nhân sĩ chính giới học thuật đều cho rằng trong dự kiến tương lai, ở châu Á chỉ có Trung Quốc mới có thể trở thành nước quân sự lớn tầm cỡ thế giới, có tiềm lực gây chiến với Mỹ. Không phải chỉ chính khách bảo thủ “phái diều hâu” có cách nghĩ như vậy, mà ngay cả đến những học giả “phái tự do” và dư luận cũng đều chủ trương đề phòng Trung Quốc. Họ thường xuyên tuyên bố, chỉ trích Trung Quốc “bành trướng ra ngoài”. Nguyên nhân chính của sự không ổn định trong quan hệ Mỹ-Trung Mặc dù Chính phủ Trung Quốc luôn luôn phủ nhận có ý đồ bành trướng ra ngoài, nhưng phương châm ngoại giao của Mỹ không bao giờ tin vào sự giải thích và đáp ứng, mà chỉ chủ quan coi nội lực, điều kiện, thay đổi khách quan, chiến lược ngoại biên và chế độ xã hội của Trung Quốc làm nhân tố suy nghĩ chủ yếu. Tổng những nhân tố ấy bất luận là phái bảo thủ hay phái tự do đều tự nhận có đầy đủ lý do, thậm chí tìm ra được cái gọi là chứng cứ, để quyết đoán Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc quân sự. Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa bá quyền, bất cứ một cường quốc quân sự nào độc lập tự chủ mà không phù hợp với lợi ích của Mỹ, đều trở thành đối tượng chèn ép. Những năm 90 chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc rõ ràng là tự mâu thuẫn: Một mặt đòi hỏi phát triển quan hệ mậu dịch kinh tế Mỹ-Trung, nhưng một mặt khác lại không ngừng muốn phòng ngừa sự vươn lên của sức mạnh Trung Quốc. Cách trừng phạt Trung Quốc lần này của Chính phủ Clintơn, chẳng qua chỉ là một tiền lệ mới nhất của chính sách mâu thuẫn ấy. Mọi người có đủ lý do tin chắc rằng chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, có thể trong một thời gian dài còn bị mắc trong mâu thuẫn, từ đó làm cho quan hệ Mỹ-Trung không ổn định. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:36:22 pm PHẦN 3 ĐẦU ĐUÔI SỰ KIỆN TÀU “NGÂN HÀ” Sự kiện tàu chở hàng Ngày 4-9-1993, tại cảng Đaman Ảrập Xêút, các thành viên tổ kiểm tra của Trung Quốc, Ảrập Xêút và chuyên gia Mỹ với tư cách cố vấn kỹ thuật phía Ảrập tham gia kiểm tra tàu chở hàng “Ngân Hà” của Trung Quốc, qua 10 ngày làm việc vất vả, đã hoàn thành công việc kiểm tra toàn bộ hàng hóa trên tàu “Ngân Hà”, tổ trưởng kiểm tra của Trung Quốc Sa Tổ Khanh, đại diện Ảrập Xêút Abudula và cố vấn kỹ thuật Mỹ Maikiuen thay mặt Chính phủ nước mình, vẫn mang tâm trạng hoàn toàn khác nhau, ký tên vào biên bản kết quả kiểm tra cuối cùng. Trong biên bản báo cáo kiểm tra có ghi: “Thông qua việc kiểm tra triệt để toàn bộ các kiện hàng trên tàu “Ngân Hà”, kết quả cho biết trên tàu không chở hóa chất. Chính phủ Mỹ hứa sẽ thông báo kết quả kiểm tra kể trên đến chính phủ các nước có cảng mà tàu “Ngân Hà” Trung Quốc sẽ cập bến và cố gắng bảo đảm cho tàu “Ngân Hà” ra vào các cảng hữu quan bốc dỡ hàng hóa. Đến đây thì chân tướng của sự kiện gọi là tàu chở hàng “Ngân Hà” chuyên chở chất liệu vũ khí hóa học nguy hiểm đến Iran cuối cùng đã sáng tỏ. Ngày 23-7, quan chức sứ quán Mỹ tại Trung Quốc đột nhiên hẹn gặp quan chức Vụ quốc tế Bộ Ngoại giao TrungQuốc và tuyên bố phía Mỹ nhận được tin tức tình báo xác thực, ngày 15-7 tầu “Ngân Hà” Trung Quốc xuất phát từ cảng Đại Liên chở chất liệu vũ khí hóa học đang chạy về cảng A.Bas của Iran. Chính phủ Mỹ yêu cầu Chính phủ Trung Quốc sử dụng ngay mọi biện pháp đình chỉ hoạt động xuất khẩu này, nếu không Mỹ sẽ trừng trị Trung Quốc theo pháp luật của mình. Ngày 3-8 trong lần gặp gỡ mới với Bộ Ngoại giao Trung Quốc, phía Mỹ đã coi thường nguyên tắc cơ bản là không được xâm phạm quốc gia có chủ quyền, không được can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, yêu cầu Chính phủ Trung Quốc ra lệnh cho tàu “Ngân Hà” phải quay về điểm xuất phát; hoặc để người Mỹ lên tàu kiểm tra hàng hóa, để xác minh trên tàu có chở chất liệu hóa học nói trên không hoặc dừng tầu ngay tức khắc tại một địa điểm bất kỳ. Trên thực tế, bắt đầu từ ngày 1-8, hai quân hạm của Mỹ đã bắt đầu bám sát tàu “Ngân Hà” khoảng 2 hải lý, máy bay Mỹ cũng liên tục tiến hành trinh sát chụp ảnh trên bầu trời tàu “Ngân Hà”. Hành vi quấy nhiễu của máy bay và tàu chiến Mỹ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hành trình của tàu “Ngân Hà”. Ngày 3-8, tàu “Ngân Hà” buộc phải ngừng chạy, thả neo tại vùng biển quốc tế cách eo biển Hoóc Mốt 10 hải lý. Đồng thời, Mỹ đã phát tán tin tức “tình báo” rùng rợn nói trên đến các nước vùng Vịnh. Môi giới tin tức phương Tây cũng tô vẽ thêm đối với những “phát hiện” của Mỹ bắt đầu nói tàu “Ngân Hà” vận chuyển hóa chất nhạy cảm, lại nói thêm là chứa đầy vũ khí hóa học, thậm chí có cả vũ khí hạt nhân. “Ngân Hà” hình như trở thành một con tầu “dịch bệnh”. Phía Mỹ vững tin “tình báo xác thực” Người Mỹ nói rằng “tình báo” của họ “hoàn toàn chính xác”. Mặc dù phía Trung Quốc có qui định nghiêm cấm, hạn chế loại hoá chất này, song không bao giờ sơ suất, vội vàng phủ nhận, mà giữ thái độ đối xử nghiêm túc. Đối với tàu hàng “Ngân Hà” và hàng hóa vận chuyển, các ngành hữu quan của Trung Quốc đã tiến hành điều tra tích cực, cẩn thận và toàn diện, xác minh chi tiết về con tàu này. Kết quả điều tra chứng minh rằng, cái gọi là “tình báo” của Mỹ trăm đường sơ hở. Đầu tiên nói tàu “Ngân Hà” là tàu đóng hàng trên tuyến Trung-Đông của Công ty Vận chuyển viễn dương Quảng Châu Trung Quốc; tuyến cố định là cảng Thiên Tân - Thượng Hải - Hương Cảng - Sinhgapo - Giacácta - Đibai - Đaman - Côoét. Ngày 7-7, tàu này xuất phát từ Thiên Tân đến Thượng Hải, ngày 12 rời Thượng Hải đi Hương Cảng, định đến ngày 3-8 sau khi vào cảng Xanhgapo và Giacácta thì đến Đibai. Từ đó thấy rõ, tàu này không thể khởi hành từ cảng Đại Liên được, cũng không có kế hoạch đến bất cứ cảng nào của Iran. Mỹ nói mục đích của tàu “Ngân Hà” là cảng Abasi của Iran, nhưng cảng này căn bản không có bến đóng hàng, tàu “Ngân Hà” đến đó làm gì? Lại nói đến hàng: qua các ngành, đối chiếu cẩn thận chứng từ hóa đơn hàng hóa trên tàu, và kiểm tra thực tế với chủ hàng, tầu .”Ngân Hà” đúng là có chở hàng hóa đến Iran, tất cả là 30 kiện hòm. Chủ yếu là những văn phòng phẩm, tiểu ngũ kim, linh kiện cơ giới và thuốc nhuộm. Những hàng hóa này và 80% hàng khác trên tàu “Ngân Hà” theọ kế hoạch sẽ được vận chuyển sau khi bốc dỡ tại cảng Đibai ở tiểu vương quốc Ảrập. Còn hai loại hóa chất mà phía Mỹ nói có chứa trên tàu này, là không có. Lực lượng tình báo của Mỹ rất mạnh, nghe nói có thể “phát hiện được cả sợi lông tơ”. Song, cái gọi là “tình báo xác thực” xoay quanh tàu “Ngân Hà” cuồi cùng lại tan nát như vậy đó. Những người quyết sách của nước Mỹ vẫn tin tưởng chắc chắn, thực tế khiến mọi người kinh ngạc. Còn về hai loại hóa chất... Theo các chuyên gia hóa học cho biết một chất là thể lỏng trong suốt không màu, chủ yếu dùng để chế thuốc chống thối rữa, thuốc sát trùng, thuốc trừ cỏ và thuốc nhuộm dệt may, còn có thể dùng chế tạo mực bút bi. Một chất là dung dịch không màu hoặc vàng nhạt, phần lớn dùng để chế tạo các loại hợp chất hữu cơ, thuốc nhuộm, thuốc nông nghiệp và thuốc chữa bệnh, cũng đã có quốc gia dùng hai loại hoá chất này vào mục đích quân sự, như chế tạo ra hơi cay, vũ khí hoá học. Trong “công ước cấm vũ khí hoá học” được ký kết tháng 1 năm 1993 có qui định: đối với việc chuyển nhượng hai loại hóa chất này phải được khống chế. Theo những người phụ trách các ngành hữu quan của Trung Quốc cho biết, Chính phủ Trung Quốc ngay từ năm 1990 đã chế định những biện pháp cấm và hạn chế nó. Do vậy, khối lượng lớn hai hóa chất này căn bản không thể xuất hiện trên tàu hàng “Ngân Hà”. Mấy lần gặp gỡ vào cảng chờ đợi kiểm tra. Ngày 4-8 Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo cho Mỹ biết về kết quả điều tra của phía Trung Quốc, chỉ rõ những sai lầm nghiêm trọng của cái gọi là “tình báo” phía Mỹ, đề nghị Mỹ trao đổi nghiêm chỉnh, và nói rõ, Trung Quốc luôn luôn giữ thái độ thận trọng và có trách nhiệm đối với việc xuất khẩu hóa chất, chế độ khống chế xuất khẩu vô cùng nghiêm ngặt, không bao giờ xuất khẩu hóa chất và kỹ thuật thiết bị chế tạo vũ khí làm mục đích. Mỹ vô cớ nói tàu “Ngân Hà” Trung Quốc xuất khẩu hai loại nguyên liệu vũ khí hóa học sang Iran, và tuỳ ý quấy nhiễu hành trình thương nghiệp bình thường của tàu ấy, là vô đạo lý. Trong khi gặp gỡ, phía Trung Quốc yêu cầu phía Mỹ thực hiện ngay mọi biện pháp, đình chỉ mọi hoạt động cản trở hoặc gây rối, bảo đảm cho tàu “Ngân Hà” vào các cảng hữu quan bốc dỡ hàng hóa. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:36:59 pm Nhưng, tình báo của Mỹ và cách làm của chủ nghĩa bá quyền đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tàu “Ngân Hà” gặp khó khăn trên biển quốc tế vùng Vịnh, trên tàu lúc này bắt đầu thiếu dầu thiếu nước cần được cung cấp. Tối ngày 4-8 qua sự sắp xếp trao đổi giữa các bên, đương cục hữu quan Ảrập Xêút giúp đỡ tận tình, cho một tàu kéo áp sát tàu “Ngân Hà” cung cấp nhiên liệu và nước ngọt chừng 30 tấn. Nhưng chính ngay thời điểm này, phía Mỹ lại nói là tàu của Iran chạy thẳng áp sát tàu “Ngân Hà”, lại còn cảnh cáo tàu “Ngân Hà” không được chạy vào cảng Iran. Do Mỹ gây trở ngại nhiều mặt, vấn đề tàu “Ngân Hà” được phép vào cảng hữu quan bốc dỡ hàng vẫn không được giải quyết. Ngày 7-8, trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Hoa Tôn thừa lệnh khẩn cấp triệu kiến Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc cực lực phản đối hành vi bá quyền của Mỹ đối với tàu “Ngân Hà”. Tần Hoa Tôn nhấn mạnh: trong quan hệ quốc gia, đối xử với một quốc gia khác bằng hành động gọi là tình báo không cần thiết, là vi phạm nguyên tắc quốc tế và công pháp quốc tế. Hành động của Mỹ đã vô cớ làm tổn thương đến thể diện quốc tế của Trung Quốc, quấy rối giao thông vận hành đường biển của tầu bè Trung Quốc, phá vỡ quan hệ và trao đổi mậu dịch bình thường giữa các quốc gia có chủ quyền, gây cho Trung quốc nhiều thiệt hại nặng nề về kinh tế, uy hiếp nghiêm trọng sự an toàn về người và tầu thuyền phía Trung Quốc, đẩy quan hệ Trung-Mỹ lùi vào bóng tối. Phía Trung Quốc yêu cầu phía Mỹ cấp bách thi hành mọi biện pháp nhằm bảo đảm cho tàu “Ngân Hà” cập bến, bốc dỡ hàng hóa theo kế hoạch được thuận lợi, yêu cầu phía Mỹ phải chịu trách nhiệm và bồi thường về mọi tổn thất và hậu quả của cách làm vô lý trên gây nên; bảo đảm từ nay về sau không bao giờ quấy nhiễu vận hành đường biển và hoạt động thương nghiệp bình thường của tầu thuyền Trung Quốc. Trong tình thế Trung Quốc nhiều lần đề nghị gặp gỡ nghiêm chỉnh, phía Mỹ vẫn ngoan cố không chịu từ bỏ cái gọi là “tình báo” của họ. Ngày 12-8, một quan chức cao cấp của Mỹ vẫn tuyên bố. “Chúng tôi có đủ tin tức tình báo đáng tin cậy để chứng minh trên tàu “Ngân Hà” có chở vũ khí hóa học. Chúng tôi quyết tâm kiểm tra tàu đó”. Dùng sự thật để vạch trần chân tướng, nhanh chóng giải quyết những vấn đề trở ngại, tránh cho Trung Quốc và các chủ hàng chịu tổn thất nghiêm trọng, để các nhân viên thủy thủ bớt gặp khó khăn, ngày 4-8 Trung Quốc đã đề xuất với phía Mỹ, nước thứ 3 cùng với Trung Quốc tiến hành kiểm tra hàng hóa có liên quan trên tàu “Ngân Hà”. Với sự cố gắng của các bên, Chính phủ vương quốc Ảrập Xêút tỏ rõ ý nguyện chấp nhận cho tàu hàng “Ngân Hà” vào cảng Đaman, do nhóm kiểm tra của Trung Quốc cùng dại diện Ảrập Xêút tiến hành công việc kiểm tra phía Mỹ sẽ cử chuyên gia làm cố vấn kỹ thuật cho phía Ảrập Xêút cùng tham dự. Ngày 25-8 tàu “Ngân Hà” sau 22 ngày lênh đênh trên biển quốc tế, cuối cùng đã vào cảng Đaman của Ảrập Xêút chờ đợi kiểm tra. Quá trình kiểm nghiệm đầy sóng gió Ngày 26-8, nhân viên kiểm tra 3 phía Ảrập Xêút, Trung Quốc và Mỹ lần lượt tới căn cứ hải quân Trukele phụ cận cảng Đaman, dưới sự chủ trì của chuẩn tướng Ibulaxin tư lệnh căn cứ hải quân Trukele, đại diện nước chủ nhà Xút. 3 nước đã đạt được hiệp nghị: thẩm tra chứng từ vận chuyển hàng hóa của tàu “Ngân Hà”, tìm ra hàng hóa chuyển đến Iran, kiểm tra bề ngoài; với những hòm kiện khả nghi, có thể mở ra xem xét; sau khi kiểm tra xong cả 3 phía Ảrập Xêút, Trung Quốc, Mỹ đều ký tên vào biên bản, và công bố trước thế giới. 8 giờ sáng ngày 28, đại biểu 3 phía đều ra bến cảng. Chừng 10 giờ, trời nắng, bắt đầu kiểm tra, nhân viên của Mỹ bao nhiêu năm nay lần đầu tiên có dịp kiểm tra tầu bè Trung Quốc, anh thì mặc áo màu vàng sa mạc, anh thì đeo mặt nạ phòng độc, tay xách dụng cụ thí nghiệm, hình như là sắp chứng minh được tin tức “tình báo” của họ. Sau khi mở kiện hàng thứ nhất chuyển đi Iran, trước mặt mọi người là hàng dẫy thùng sơn đen gắn chì. Người Mỹ vui mừng như bắt được vàng. Nhưng sau khi mở ra thì trong là thuốc nhuộm 6 màu. Sau đó lại mở tiếp 23 kiện hàng chuyển đến Iran, bên trong quả là văn phòng phẩm, tiểu ngũ kim và linh kiện máy móc mà người Trung Quốc đã nói với họ ở Bắc Kinh, riêng chỉ có loại hóa chất phía Mỹ cần tìm là không có. Kết quả kiểm tra ấy hiển nhiên không phải là mong muốn của phía Mỹ. Nhìn kết quả ngay trước mặt, chuyên gia Mỹ không biết làm thế nào để chứng minh độ chính xác tình báo của mình, họ đề nghị mở rộng phạm vi kiểm tra. Với 6 kiện hàng chuyển từ Hương Cảng đi Iran được mở ra xem xét, nhân viên kiểm tra của Mỹ với tư cách là cố vấn kỹ thuật Iran bỏ qua tư cách của mình, đích thân nghiêng hòm bật tủ, kết quả thu được vẫn là số không. Lúc này phía Mỹ lại yêu cầu mở 19 kiện hàng hóa mà Trung Quốc chuyển đi nước khác ngoài Iran, kết quả vẫn như vậy. Về sau phía Mỹ chỉ còn thấy có loại hàng thể lỏng, cũng không bỏ qua, tất cả đều đem hoá nghiệm phân tích. Để tỏ ra coi trọng hóa nghiệm, tất cả thuốc hóa nghiệm đều từ quân hạm của Mỹ chuyển sang. Song, kết quả kiểm nghiệm càng làm cho người Mỹ khó chịu. Có người nói đùa rằng, nếu trên thuyền có chở cocacola, chắc là, người Mỹ cũng cho hóa nghiệm. Số mục hòm kiện bị bật mở không ngừng tăng lên, nhưng những thứ người Mỹ cần tìm vẫn vô tăm vô tích. Song họ vẫn chưa cam chịu, càng không chịu tiếp thu sự thật, cuối cùng họ xé bỏ hiệp nghị 3 bên đã ký, vô lý đề xuất yêu cầu kiểm tra toàn bộ hàng hóa trên tàu, bao gồm cả hàng hóa từ nước thứ 3 cũng phải mở hòm xem xét. Tổ kiểm tra của Trung Quốc yêu cầu phía Mỹ nêu rõ lý do chính đáng của việc mở rộng phạm vi kiểm tra. Ngoài việc lặp đi lặp lại “Oasinhtơn tin chắc là trên thuyền có chở hai loại hóa chất ấy”, phía Mỹ không đưa ra được bất cứ một bằng chứng nào. Người phụ trách phía Mỹ cuối cùng nói “thẳng thắn” rằng, Oasinhtơn mặc dù không nêu được chứng cứ, cũng phải hoài nghi hàng hóa chuyên chở quá cảnh trên tàu “Ngân Hà”, kể cả hàng hóa của nước thứ 3 chuyên chở như Nhật Bản, Xinhgapo, lại còn nói thêm, nếu không cho phía Mỹ kiểm tra toàn bộ hàng hóa thì Mỹ sẽ không thừa nhận kết quả kiểm tra cuối cùng. Ngày 1-9, quan chức Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẩn cấp triệu kiến quan chức sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, yêu cầu gặp gỡ trao đổi về những hành vi phản bội lời hứa vứt bỏ tín nghĩa của Mỹ biểu thị rõ lập trường phản đối phía Mỹ đụng chạm tới hàng hóa của nước thứ 3, tiến hành kiểm tra như vậy thì phía Mỹ phải gánh chịu hậu quả phát sinh từ đó. Đồng thời yêu cầu phía Mỹ phải: 1. Thừa nhận trên văn bản về kết quả kiểm tra đã thu được từ tất cả 49 kiện hàng hóa chuyển đi từ Trung Quốc không có loại hóa chất mà Mỹ nêu ra. 2. Hứa là sau khi hoàn thành kiểm tra hàng hóa chuyên chở trên tàu “Ngân Hà”, thì cùng với đại diện phía Trung Quốc và Xêút ký vào biên bản kết quả kiểm tra. Xé toang mặt nạ: phù trợ chính nghĩa Để phòng ngừa Mỹ lại sinh sự thêm, xóa bỏ kết quả kiểm tra, người phụ trách tổ kiểm tra của Trung Quốc yêu cầu ba phía ký xác nhận biên bản hóa nghiệm từng ngày. Dưới áp lực của chính nghĩa, Mỹ không thể không tiếp thu kiến nghị trên. Sau đó, hàng ngày dưới cột mục hai hóa chất là một dãy số không ngay ngắn; hàng cuối cùng là chữ ký của ba bên với những văn tự khác nhau. Ngày 4-9, chữ số thứ 782 trên tàu “Ngân Hà” cũng chính là kiện hòm cuối cùng được kiểm tra hoàn tất. Kết quả kiểm tra kiện hàng ấy và kiện hàng thứ nhất hoàn toàn giống nhau. Mỹ trương chiêu bài ngăn ngừa khuếch tán vũ khí hóa học hòng tóm được bằng chứng, nhưng tia hy vọng cuối cùng bôi nhọ danh dự Trung Quốc đã hoàn toàn tắt ngấm. Cùng ngày, đại diện ba phía Trung Quốc, Ảrập Xêút và Mỹ đã ký vào biên bản kiểm tra toàn bộ hàng hóa. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:39:42 pm PHẦN 4 SỰ KIỆN CHẠM TRÁN CỦA HẢI QUÂN TRUNG-MỸ TRÊN BIỂN HOÀNG HẢI Bám sát ba ngày, vô cớ nhiễu sự Ngày 27-10-1994, một tầu ngầm nguyên tử đang làm nhiệm vụ tuần tra bình thường trên mặt biển Hoàng Hải. Cuối thu, sóng gió trên biển Hoàng Hải nhẹ nhàng, tầm nhìn xa khá tốt. Đột nhiên, có tiếng máy bay náo động bầu trời, trong nháy mắt xuất hiện hai máy bay tiêm kích chống trinh sát ngầm kiểu “hải tặc” 5-3A sơn nền xanh nhãn hiệu sao trắng của Hải quân Mỹ bay vào không phận tầu ngầm hạt nhân của Trung Quốc. Máy bay Mỹ khi lượn vòng khi lướt qua, và thả máy thăm dò thu âm. Đứng trước sự gây rối đột ngột ấy tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc nhanh chóng chuẩn bị, tất cả sẵn sàng đối phó... Do đó phát sinh ra sự kiện “gặp gỡ tao ngộ” lịch sử giữa hải quân hai nước khiến mọi người quan tâm. Trong thời gian ba ngày, máy bay cất cánh từ hàng không mẫu hạm “Tiểu Ưng” của hải quân Mỹ không ngừng bám sát gây nhiễu tầu ngầm hạt nhân của Trung Quốc. Đến ngày 26-10 hai máy bay tiêm kích siêu âm của Trung Quốc bay tới hiện trường, tham gia bảo vệ tầu ngầm và cảnh cáo phía Mỹ, nếu vẫn vô cớ quấy nhiễu như vậy, thì đạn sẽ lên nòng “Nhằm thẳng tử thù nổ súng”. Đến lúc này máy bay Mỹ mới rút chạy. Vì sự kiện ấy phát sinh tại vùng biển Hoàng Hải, thuộc về hành động quân sự, nên hai bên Trung-Mỹ vẫn im hơi lặng tiếng. Cho đến trung tuần tháng 12-1995, “thời báo Roshafan” của Mỹ lần đầu tiên tiết lộ ra được dư luận quốc tế hết sức quan tâm. Tự thấy đuối lý, ra sức xoa dịu Hàng không mẫu hạm “Tiểu Ưng” gây hấn lần này thuộc hạm đội 7 Thái Bình Dương của hải quân Mỹ, căn cứ của nó ở Hoành Tu Hạ thuộc Nhật Bản. Khi phát sinh sự việc, “Tiểu Ưng” cách hiện trường vài trăm hải lý. Máy bay cất cánh từ đây làm nhiệm vụ bám sát thăm dò. Chạy tới cửa nhà người khác gây rối, Mỹ tự thấy đuối lý thế là ra sức làm dịu tính chất nghiêm trọng của sự kiện, hòng đả thông dư luận. Một quan chức Mỹ nói là: Máy bay cất cánh từ hàngkhông mẫu hạm “Tiểu Ưng” phát hiện ra tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc, lúc ấy tầu ngầm này vừa mới lặn xuống, nhưng kính viễn vọng còn lộ trên mặt nước, máy bay Mỹ đầu tiên xác định rõ xem có đúng là tàu ngầm không và vị trí của nó ở đâu, thế là mới có hành động theo sát và thả máy thăm dò ghi âm. Quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ còn biện bạch: “Lúc ấy tàu ngầm ở tầm sâu của kính viễn vọng, phát ra tạp âm rất lớn. Nếu khi các ông làm nhiệm vụ nghe thấy tạp âm lớn như vậy thì các ông cũng sẽ đuổi theo xem xét: khi phát hiện có tầu ngầm ở một vùng nào đó, Mỹ và nhiều nước khác có hải quân mạnh đều cùng tiến hành kiểm tra thường lệ. Ngày 14-12 tại Nhà trắng, phóng viên các nước liên tục phỏng vấn về sự kiện Trung-Mỹ lần này. Maikeli người phát ngôn Quốc vụ viện Mỹ cố làm ra vẻ bình tĩnh ôn hòa, chứng tỏ đang làm dịu tính nghiêm trọng của sự kiện. Ông ta cố gắng muốn làm cho phóng viên có mặt ở đây tin tưởng rằng: “sự kiện phát sinh tại vùng biển này là công việc chung thường lệ của hải quân Mỹ”, và thuần túy là “tình huống ngẫu nhiên”, nhưng đồng thời ông ta cũng thừa nhận, Mỹ rất coi trọng lợi ích và an ninh vùng này ở châu Á. Ngày 22-12, tại phòng Tùng Hạc câu lạc bộ quốc tế Bắc Kinh, ông Trần Kiến người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nói rõ về sự kiện này, Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm theo dõi: Trung Quốc hy vọng Mỹ sử trí tốt quan hệ song phương theo tinh thần ba bản tuyên bố chung giữa Trung Quốc và Mỹ là cùng tôn trọng toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của nhau, không hoạt động can thiệp lẫn nhau. Ông Trần Kiến nói đoạn này chậm và mạnh mẽ, hứa sau đây sẽ vui vẻ nói rõ kết quả điều tra sự kiện này với các vị ký giả. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:40:20 pm Dư luận phương Tây thừa cơ tô vẽ thêm Sau khi xảy ra sự kiện, hai bên Trung-Mỹ đều xử trí nhẹ nhàng. Xuất phát từ sự hợp tác lâu dài và lợi ích chung, quyết định như vậy là sáng suốt, nhưng một số dư luận phương Tây lại cố ý phóng đại sự việc: Tờ “Thời báo ngày chủ nhật” của Anh tô vẽ rằng: Máy bay chiến đấu phản lực của Trung Quốc vội vàng cất cánh, uy hiếp máy bay của Mỹ đang theo sát tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc, từ đó gây ra cuộc đụng độ quân sự... Cuộc đụng độ ấy khiến mọi người càng lo lắng thêm về hai nước Trung-Mỹ đang đi tới xung đột. Mặc dù như thế nào đi nữa, thời gian phát sinh sự kiện này làm cho người ta suy nghĩ sâu xa và dễ dàng liên tưởng. Trên thực tế, quân đội Mỹ thừa nhận, hơn một năm nay hải quân Mỹ đã nhiều lần “đụng độ” với hải quân Trung Quốc. Tháng 9-1994, có một chiến hạm của Mỹ không hẹn mà gặp tàu ngầm Trung Quốc. Một số người phương Tây xuất phát từ động cơ không thiện chí, vẫn muốn nhân việc nhỏ nhặt giữa hai nước Trung-Mỹ mà thổi phồng lên, đứng ngoài vỗ tay, mục đích không thể chấp nhận được. Chuyện tưởng còn như mới đó là: trước đây mọi người thường nghe thấy những sự kiện Mỹ và Liên Xô đụng độ săn đuổi nhau trên lãnh hải quốc tế, thường được nhìn thấy bức tranh sống động “đọ cánh trên không” “tranh tài trên biển” của máy bay tầu chiến hai nước lớn; đó là cuộc đọ sức thầm lặng kinh sợ trong thời kỳ hòa bình. Hiển nhiên, một Trung Quốc hướng tới hùng mạnh đang được người ta coi là đối thủ không thể xem thường, đồng thời có một điểm mà chúng ta cũng không thể xem thường, đó chính là Hoàng Hải nằm ngay cửa ngõ Trung Quốc, lại cách xa Mỹ 10 vạn 8 nghìn cây số, cho nên ở đây khác hẳn với những cuộc đụng độ Mỹ-Xô trên Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương ngày ấy. “Tiểu Ưng” bám trụ chỉ huy “Tiểu Ưng” là hàng không mẫu hạm công dụng đa năng của Mỹ, bắt đầu đưa vào sử dụng từ tháng 4-1961. “Tiểu Ưng” lúc đầu là loại hàng không mẫu hạm được chế tạo theo kiểu công kích, sau những năm 70 có cải tiến lớn, có thêm trung tâm chỉ huy chống tầu ngầm và máy bay. Từ đó trở thành hàng không mẫu hạm công kích chống tàu ngầm đa năng. Trang bị vũ khí trên tàu “Tiểu Ưng” khá đầy đủ, bao gồm cả hệ thống điện tử tiên tiến, hệ thống đạn đạo và pháo hạm, có chứa 80 máy bay các loại. Máy cảnh báo không trung “mắt chim ưng” E-2 dùng để thăm dò và phát hiện mục tiêu, có thể đồng thời xử lý mọi tin tức của hàng loạt mục tiêu trong phạm vi bán kính 250 km. Trong sự kiện lần này, Mỹ sử dụng loại máy bay chống tàu ngầm kiểu “hải tặc” S-3A. Loại này tốc độ nhanh, bay xa, khả năng chống ngầm mạnh và có thể tác chiến trong mọi thời tiết, chủ yếu dùng để tìm kiếm, giám sát và công kích tàu ngầm. S-3A trong khi thăm dò tàu ngầm có thể sử dụng hệ thống phao nổi thu âm, sau khi phao thu thanh tiếng máy bay đã ngấm nước, phao có thể phát sang máy truyền cảm, máy truyền cảm chìm vào trong nước đến độ sâu nhất định, sẽ truyền tin tức trở về. Thái Bình Dương mà không thái bình, Hoàng Hải sâu mà không yên tĩnh. Ngày nay các nước trên thế giới không thể không quan tâm đến đại dương, đại dương là kho báu lớn nhất trên trái đất, là vũ đài lớn nhất để các nước giao lưu đọ sức về chính trị, quân sự, kinh tế. Từ trên ý nghĩa ấy, từ ngày 27 đến 29-10-1994 “Sự kiện Hoàng Hải” có lẽ là cuộc thử thách đối với Trung Quốc bảo vệ quyền lợi trên biển. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:47:08 pm PHẦN 5 CUỘC ĐÀM PHÁN VỀ QUYỀN SẢN NGHIỆP TRUNG-MỸ LỘ RÕ CHÂN TƯỚNG Đại biểu Mỹ vô cớ bỏ cuộc Trước bữa cơm trưa ngày 15-12-1994, đoàn đại biểu tham gia đàm phán Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ đánh điện cho sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, thông báo cho đại biểu Mỹ biết 3 giờ chiều tiếp tục thương lượng về những vấn đề đàm phán lần này chưa nhất trí. Lúc này, trong tay đại biểu Trung Quốc còn giữ bản thảo mới nhất vừa hình thành sau một buổi chiều khẩn trương sửa chữa. Trong bản khởi thảo “về những điểm chính thực thi tăng cường kiểm tra và giám sát chỉ đạo chấp hành pháp luật quyền sản nghiệp tri thức” mà văn phòng xử lý Quyền sản nghiệp tri thức thuộc Quốc vụ viện, đã cố gắng tiếp thu nội dung hữu quan của văn bản phía Mỹ. Đoàn đại biểu Trung Quốc không bao giờ nghĩ rằng, sứ quán Mỹ lại phúc đáp như thế này: - Đại biểu cao nhất của Mỹ Lisentrư lúc này đang trên đường ra sân bay Bắc Kinh. Bởi vì sáng nay không nhận được thông báo của Trung Quốc, lại nữa vì bận việc hệ trọng tại hội nghị nhóm công tác “Phục quan” Trung Quốc họp tại Giơnevơ hiện đã thay đổi kế hoạch đàm phán tại Trung Quốc mà trước đây định từ ngày 12 đến ngày 18-12, đã ra sân bay đi chuyến 1 giờ chiều, qua Hương Cảng sang Giơnevơ. “Không một tiếng gọi qua điện thoại, quả thật hết sức vô lý!” thành viên đoàn đại biểu Trung Quốc không hề chuẩn bị tư tưởng, nên không thể không phẫn nộ. Chiều hôm đó, Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại và đoàn đại biểu Trung Quốc lập tức hẹn gặp Tham tán kinh tế Sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, biểu thị thái độ đáng tiếc trước hành vi vô cớ bỏ cuộc của đoàn đại biểu Mỹ, và chỉ rõ Mỹ không thiện cảm, thô bạo và thiếu lịch sự. Chiều hôm sau Tham tán kinh tế Sứ quán Mỹ gặp đoàn đại biểu phía Trung Quốc, nói đổi là Lisentrư vẫn còn ở Hương Cảng, nếu đàm phán còn hy vọng tiến triển, thì ông sẽ quay về Bắc Kinh ngay. Về việc này, đoàn đại biểu Trung Quốc trả lời rất rõ ràng. Bản thân ông Lisentrư có muốn về Bắc Kinh đàm phán hay không thì ông ta tự quyết định. Trở lại đàm phán chúng tôi hoan nghênh, không thì sau này đàm phán cũng được. Nhưng Lisentrư vừa xuống máy bay đến Hương Cảng đã phát biểu công khai với ký giả Pháp đơn phương công bố hai bên Trung - Mỹ đã cắt đứt cuộc đàm phán về Quyền sản nghiệp tri thức ngày 14-12, và nói Trung-Mỹ đã đàm phán qua 18 tháng “hiện tại đã đến giờ phút quyết định rồi”: Trong lời lẽ của ông ta mang khẩu khí uy hiếp. “Trước mắt cách cuộc đàm phán Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ chỉ còn lại hai tuần lễ; nếu Trung Quốc không từ bỏ hành vi xâm phạm Quyền sản nghiệp tri thức, thì sẽ chuốc lấy sự trừng phạt mậu dịch của Mỹ, và sẽ nguy hại tới viễn cảnh của hiệp định Trung Quốc gia nhập Tổng mậu dịch”. Ông ta còn tiết lộ, Kantơ đại diện Mậu dịch Mỹ sẽ quyết định vào ngày 31-12, trừng phạt mậu dịch đối với Trung Quốc. Liền sau đó, Lisentrư bay thẳng đi Giơnevơ. Mỹ trừng phạt vượt kế hoạch dự định Hành động ấy đã tuyên án cuộc đàm phán lần thứ 7 về Quyền sản nghiệp Trung-Mỹ hoàn toàn tan vỡ. Cuộc đàm phán Quyền sản nghiệp tri thức Trung Quốc bắt đầu từ tháng 6-1986 triển khai đã hơn 8 năm, người Mỹ lần này không phải chỉ uy hiếp, mà là trả đũa hành động chống trả sự kiện “Hoàng Hải”. Quả đúng như vậy, ngày cuối cùng của năm 1994, Kantơ đại biểu mậu dịch của Mỹ đơn phương tuyên bố, trước ngày 4 tháng 2 năm tới nếu không thỏa mãn yêu cầu về bảo vệ quyền sản nghiệp tri thức mà Mỹ nêu ra, thì Mỹ sẽ thi hành trừng phạt mậu dịch đối với Trung Quốc. Đặc biệt Kantơ còn tuyên bố đơn phiếu thương phẩm của Trung Quốc tổng giá trị khoảng 2,8 tỷ USD sẽ bị đình chỉ; con số ấy so với ngạch mà người bình thường tính toán trước đã xuất vượt gần 1,8 tỷ đô la Mỹ. Chính phủ Trung Quốc đã biểu thị thái độ cứng rắn, Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại ra thông báo: Căn cứ điều số 7 “Luật mậu dịch đối ngoại của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa qui định, so sánh với việc Mỹ phản đối thông báo, thì rõ ràng là phản đối thực thi điều 7 của thông báo”. Tin tức về hai bên Trung-Mỹ sẽ thi hành “thông báo” và “chống thông báo” được công bố ngày đầu tiên của năm mới, cả nước đều quan tâm theo dõi. Đối với công chúng Trung Quốc, đây là bản tin mới quan trọng hơn bất cứ một tin tức nào từ đầu năm. Mọi người đều trừng mắt nhìn thấy thời hạn cuối cùng “trưng cầu ý kiến” được xác định trong công báo. Công chúng Trung Quốc không kiềm chế nổi mà đặt câu hỏi là: Cuộc đàm phán Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ cuối cùng là như thế nào? Tại sao lại tan vỡ? Ý nghĩa của nó đối với tương lai Trung Quốc ra sao? 8 giờ tối một ngày cuối cùng của năm 1994, nhà báo Tại Tương đã tìm được ông Cao Lăng Hàn Phó vụ Trưởng Vụ Bản quyền Bộ Bản quyền quốc gia vừa từ Hải Nam về Bắc Kinh trong ngày hôm đó qua đường điện thoại. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:47:41 pm Tan vỡ là trách nhiệm thuộc về phía Mỹ Ông Cao Lăng Hàn là người đã từng làm công tác ngoại giao và văn hoá, đã tham dự toàn bộ công việc soạn thảo đàm phán từ chế định đến thực thi luật quyền xuất bản của Trung Quốc, bắt đầu từ năm 1993 ông làm chuyên gia về quyền xuất bản, bắt đầu tham gia công tác đàm phán Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ. Bản thân ông đã trải qua suốt quá trình cuộc đàm phán về Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ lần thứ 7 được tiến hành năm 1994. “Tình hình đàm phán về Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ trước đây, phía Trung Quốc vì không muốn ảnh hưởng đến cuộc đàm phán, nên nói chung ít nói ra ngoài. Nhưng, chúng tôi cũng đã thấy được cách làm của người Mỹ khác hẳn. Mỗi lần họ đi qua Hương Cảng, đều phát biểu ý kiến, mà báo chí Hương Cảng đều đăng. Lần này cuộc đàm phán Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ tan vỡ nếu chúng tôi cứ giữ thái độ im lặng thì sẽ cho mọi người có một ấn tượng sai lầm cho rằng trách nhiệm thuộc về một phía - Trung Quốc. Chúng tôi muốn thông qua sự thực để công chúng thấy được cuộc đàm phán Trung-Mỹ không đạt kết quả, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía Mỹ. 10 giờ 30 phút ngày 3-1-1995 tại lầu 7 Sở Xuất bản tin tức quốc gia, ông Xiexiang là ký giả đầu tiên được nghe nội tình của sự tan vỡ cuộc đàm phán Sản quyền tri thức Trung-Mỹ do ông Cao Lăng Hàn thông báo. Lisentrư vô cớ bỏ đi, nhưng lúc đầu có thể là có chuẩn bị. Ngày 30-6-1994, phía Mỹ lấy lý do là “Luật Sản quyền bất lực, hành vi xâm phạm mất sự khống chế”, liệt kê Trung Quốc vào loại “quốc gia trọng điểm” với kỳ hạn là 6 tháng. Thật rõ ràng, đây là gây áp lực mạnh hơn đối với Trung Quốc về vấn đề Sản quyền tri thức của Mỹ. Năm 1993, Mỹ đã liệt Trung Quốc vào danh sách quan sát trọng điểm của “điều khoản 301 đặc biệt” của họ. Cái gì gọi là “điều khoản đặc biệt 301”? Đó là điều thứ 301 trong luật mậu dịch nước Mỹ. Nội dung chủ yếu của điều khoản này, khái quát lại là, phàm là xâm phạm đến Quyền sản nghiệp tri thức của Mỹ, thì đại biểu mậu dịch của Mỹ sẽ nghiên cứu sử dụng biện pháp trả thù mậu dịch cứng rắn hơn. Sản quyền tri thức tạo thành cớ mới Họ qui định ra một loạt trình tự, phàm là đối với việc bảo vệ quyền sản nghiệp tri thức của Mỹ có vấn đề họ đều liệt kê vào danh sách, lại còn phân chia thành 3 cấp khác nhau: đầu tiên là quan sát, sau đó là quan sát trọng điểm, loại nữa liệt vào quốc gia trọng điểm. Ví dụ: quan sát: có nhiều quốc gia phát triển được liệt kê vào đấy như Đức, Nhật Bản; còn có một số quốc gia phát triển kinh tế tương đối nhanh trong các quốc gia đang phát triển cũng được liệt kê. Lần này Mỹ xếp Trung Quốc lên hàng cao nhất, liệt vào loại quốc gia trọng điểm. Cùng được xếp vào danh sách quốc gia trọng điểm với Trung Quốc còn có Ấn Độ và Áchentina. Những tháng 4 trước đây là thời gian rất mấu chốt. Theo qui định bình thường tháng 4 hàng năm Mỹ đều phải công bố một danh sách liệt kê các nước trọng điểm. Nhưng tháng 4-1993, Mỹ chỉ tuyên bố “chuẩn bị” xếp loại liệt kê danh sách 3 nước trọng điểm: Trung Quốc, Ấn Độ, Áchentina; còn thời gian chính thức công bố đẩy lùi đến cuối tháng 6. Bởi vì đầu tháng 6 sẽ giải quyết vấn đề đãi ngộ Trung Quốc, nước được ưu tiên nhất. Clintơn công khai tỏ thái độ: giải quyết vấn đề đãi ngộ Trung Quốc nước ưu tiên nhất không cùng móc kích vấn đề nhân quyền, số ngân phiếu mà Mỹ chế ước Trung Quốc ít đi, thế là vấn đề Quyền sản nghiệp tri thức lại là một cái cớ rất tốt. Nhìn từ những văn kiện phi chính thức mà Mỹ đưa ra, thì nội dung phá đám cũng không ngừng gia tăng. Cuối năm 1993 những văn kiện phi chính thức cho phía Trung Quốc, tổng số chỉ có 7 bản; nhưng đến cuối năm 1994 đã tăng đến 20 bản rồi. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:48:11 pm Dự cảm phía Mỹ vẫn còn leo thang Tháng 4-1994, đoàn đại biểu phía Trung Quốc đang ở Oasinhtơn, không khí lúc đó làm cho đoàn có một dự cảm, bất kể phía Trung Quốc cố gắng như thế nào, trong năm ấy sẽ không thể thuận buồm xuôi gió. Quả vậy đến cuối năm, người Mỹ khẳng định không thể tuyên bố kết thúc điều tra, nhất định phải nêu ra một đơn cớ đền bù. Quả nhiên, sát đến những ngày cuối năm, khi Trung Quốc bước vào giờ phút quan trọng của cuộc đàm phán “phục quan”, phía Mỹ nêu ra vấn đề Sản quyền tri thức và “phục quan” gắn liền với nhau, để cùng uy hiếp mậu dịch; và trăm phương nghìn kế gây bao trở ngại, tạo áp lực toàn diện cho cuộc đàm phán. Cuộc đàm phán lần này khởi điểm hai bên khác nhau, căn cứ khác nhau, mục tiêu mong muốn cùng khác nhau, không dựa trên một cơ sở hoàn toàn bình đẳng. Mỹ muốn lấy pháp luật của họ làm khởi điểm Theo nhận thức của phía Mỹ, cuộc đàm phán Sản quyền tri thức lần này lấy “điều khoản đặc biệt 301” của luật mậu dịch nước Mỹ làm xuất phát điểm. Phía Trung Quốc thì cho rằng, cuộc đàm phán phải lấy bản “bị vong lục thương lượng Quyền sản nghiệp tri thức Trung-Mỹ” được ký kết giữa hai nước, không phải là luật quốc tế, làm căn cứ đàm phán, không thể lấy luật pháp nước mình làm căn cứ đàm phán với một nước khác trong khi bản thân nó cũng không hợp lý. Trong suốt thời gian hơn hai năm từ khi bản bị vong lục thương lượng chính thức có hiệu lực, đối với những công việc mà phía Trung Quốc phải làm trong bị vong lục, phần lớn Trung Quốc đã hoàn thành: Trung Quốc đã sửa chữa “luật chuyên lợi”, “luật nhãn hiệu”, mở rộng sự bảo hộ của người có quyền lợi. Chỉ một năm sau khi “luật quyền sáng tác” và thực thi điều lệ có hiệu lực, Trung Quốc đã gia nhập “Công ước Bécnơ”, “Công ước bản quyền thế giới”, sau đó lại gia nhập “Công ước chế phẩm ghi âm”. Với thời gian ngắn trong vài năm Trung Quốc đã đi qua lịch trình mà nhiều quốc gia phải đi hàng trăm năm, kể cả Mỹ. Nước Mỹ tham gia “Công ước Bécnơ” từ năm 1988, cũng có nghĩa là họ phải mất 104 năm; quãng thời gian hơn một thế kỷ. Mỹ xuất phát từ lợi ích của mình, chờ đợi pháp luật về bản quyền của Trung Quốc vừa được ban bố, liền yêu cầu Trung Quốc phải cấp bách gia nhập tổ chức quốc tế bảo vệ bản quyền, và đòi hỏi phải thực thi. Cách làm của Mỹ thật không công bằng! Những con số Mỹ suy luận ra Ngày 28-12-1994, trong bài viết của nhà nghiên cứu về chiến lược kinh tế Mỹ đăng trên tờ “Bưu điện Oasinhtơn” có nói: chỉ riêng năm 1993, sự xâm phạm sản quyền của Trung Quốc đã làm cho công ty của Mỹ thiệt hại gần 1 tỷ đô la, 30 nhà máy đĩa hát phát quang (CD) của Trung Quốc mỗi năm sản xuất 7.500.000 đĩa CD giả. Không hiểu nổi con số này ở đâu ra? Đại biểu đàm phán phía Mỹ, năm 1993 từng cho biết mức tổn thất là 827 triệu đô la nhưng trước sau cũng không có căn cứ chính xác để mọi người tin được. Sự thực là, trước mắt nhà máy CD của Trung Quốc có khả năng thiết kế một dây chuyền sản xuất được 2.000.000 đĩa, khả năng thực tế vẫn còn thấp xa so với con số của Mỹ; nghĩa là theo sự tính toán sản xuất hết khả năng, một năm, 30 dây chuyền sản xuất cũng chỉ có thể sản xuất được 60.000.000 đĩa, mà trong đó có một phần chính là bản CD. Còn bao nhiêu triệu đĩa CD nữa từ đâu mà ra? Nghe nói, con số thống kê ấy thực chất là một liên minh sản quyền tri thức quốc tế ước tính ra, chẳng phải là tổ chức quốc tế mà là một tổ chức trong nước. Họ tính toán là vì đĩa lậu Trung Quốc làm cho ngành đĩa hát của Mỹ chịu thiệt hại hơn 300 triệu đô la, căn bản không có khả năng như vậy. Theo tỷ giá giữa đô la và nhân dân tệ thì bằng 2,4 tỷ nhân dân tệ; làm sao lại như thế được. Tổng giá trị của ngành ấy trong nước mới chỉ được như vậy. Nói tới đĩa lậu trong nước, thì người chịu tổn thất đầu tiên phải là xí nghiệp sản xuất băng hình trong nước của Trung Quốc. Công ty đĩa hát của Mỹ khả năng dịch vụ thực tế rất nhỏ, theo thống kê kiểm tra trên thị trường băng hình Trung Quốc, cũng không đến 4%, cho dù ở Mỹ có thể thống kê cũng rất hạn chế. Đĩa mềm máy tính: phía chịu tổn thất chủ yếu là xí nghiệp trong nước. Tại sao vậy? Bởi vì máy tính trên thị trường Trung Quốc đòi hỏi xử lý bằng Trung văn, trực tiếp dùng đĩa lậu không nhiều. Cho nên nói, con số mà Mỹ nêu ra do suy luận mà có, không đáng tin cậy. Cuộc đàm phán cuối năm ấy, tiêu điểm tập trung vào bản quyền. Một bản quyền lại lằng nhằng đến rất nhiều vấn đề: ngoài quyền sáng tác nói chung, còn có chế phẩm băng hình, đĩa mềm máy tính; đặc biệt mấy năm nay lên cơn sốt đĩa hát phát quang, đĩa hình phát quang. Lisentrư người được nhận quyền đàm phán, vốn không thiện chí, mà mang theo tinh thần trừng phạt đến Bắc Kinh. Họ mang theo một bản “dự thảo hiệp định”, trong đó đề ra những yêu cầu nghiệt ngã vô lý. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:49:05 pm Hàng loạt những yêu cầu vô lý của Mỹ - Yêu cầu Trung Quốc sửa đổi luật tố tụng dân sự và luật sản quyền tri thức, rút ngắn kỳ hạn kết án, hạ thấp tiêu chuẩn thu phí tố tụng, thủ tiêu chế độ đại lý thủ tục đăng ký nhãn hiệu. - Yêu cầu Toà án nhân dân tối cao của Trung Quốc bắt đầu từ ngày 1-1-1995 phải công bố giải thích tư pháp xử phạt hình sự về xâm phạm quyền sáng tác. - Yêu cầu thi hành biện pháp đình chỉ và xây dựng chế độ thực thi hữu hiệu, đổi qui định hành động chấp hành luật mà Chính phủ Trung Quốc đã và sẽ thi hành thành sự thừa nhận đối với Mỹ. Đòi hỏi Trung Quốc phải dựa theo yêu cầu tổ chức “lực lượng hiệp đồng trừng trị”; ở trung tâm thương nghiệp chủ yếu, một tuần tra xét một lần, ở những khu vực khác mỗi tuần một lần. Mỗi qúi, Chính phủ Trung Quốc cần phải cung cấp cho Mỹ những căn cứ số liệu thống kê kiểm tra, có phân loại khu vực và sản quyền tri thức... Họ đề xuất hàng loạt yêu cầu vô lý về các mặt chế độ lập pháp, tư pháp, tố tụng đặc biệt là vấn đề thâm nhập thị trường, đòi hỏi Trung Quốc mở rộng thị trường toàn diện về các chế phẩm băng hình của Mỹ. Thái độ cơ bản của Trung Quốc là Trung Quốc đòi hỏi một phần chế phẩm băng hình của Mỹ chỉ cần thông qua thủ tục thông thường là có thể được sản xuất và phát hành ở Trung Quốc. Nhưng Mỹ không muốn vậy, mà đòi hỏi độc chiếm đầu tư. Họ chỉ trích Trung Quốc bất lực trong việc chống hàng giả, là ý muốn của Chính phủ. Trung Quốc đã nhiều lần tỏ rõ lập trường cơ bản về việc Trung Quốc bảo hộ sản quyền tri thức, đã nhấn mạnh thực tế hệ thống pháp luật hữu quan dần dần hoàn bị, tình hình thực thi không ngừng được cải thiện, tuyên bố nghiêm trị đối với hành vi hàng giả. Đứng trước tình hình tương đối nghiêm trọng về hàng giả CD ở khu vực ven biển, cục bản quyền nhà nước Trung Quốc cùng 57 đơn vị ra “thông tri khẩn cấp về quản lý sự gia tăng phục chế đĩa hát phát quang, băng hình phát quang”, toàn quốc thu hồi được hơn 2.000.000 đĩa hát phát quang là hàng lậu. Chính phủ trực tiếp ra lệnh đình chỉ, chỉnh đốn 4 tuyến sản xuất CD tại Quảng Đông và bắt đầu từ 1-10 thực thi “Điều lệ quản lý chế phẩm băng đĩa hình” do Quốc vụ viện ban hành; các tuyến sản xuất CD trong cả nước phải đăng ký lại, và yêu cầu tất cả các xưởng sản xuất từ cuối năm 1994 nhất loạt sử dụng kỹ thuật chuyên lợi nguyên mẫu mã (SIR) do công ty Feilipu cung cấp. Để tăng cường khả năng chấp hành pháp luật từ tháng 7-1994, Quốc vụ viện còn xây dựng chế độ họp bàn xử lý sản quyền tri thức. Để ngăn chặn hành vi làm giả, Chính phủ Trung Quốc đã mất rất nhiều công sức, nhưng không thể trong một ngày giải quyết được tất cả mọi vấn đề. Song người Mỹ thì nói: “Chúng tôi không thể nhẫn nại, chúng tôi chỉ quan tâm thành quả”. Đối với vấn đề này, mọi người buộc phải nêu câu hỏi. Ý nguyện của Chính phủ Mỹ trừng trị hành vi buôn bán độc hại như thế nào? Phía Trung Quốc đã từng nêu những bản dự thảo tuyên bố Có một đại biểu trong đoàn đàm phán của Mỹ thái độ trịch thượng buột miệng nói rằng: “Những xí nghiệp có làm đĩa giả ấy không phải là xí nghiệp quốc doanh của các ông chăng? Chính phủ các ông tại sao không ra lệnh đóng cửa quách đi?” Đóng cửa nhà máy phải có căn cứ pháp luật, phải có chứng cớ. Nếu không nhà máy có quyền yêu cầu bồi thường. Đại biểu Mỹ còn ngang nhiên chỉ trích chế độ tư pháp của Trung Quốc, nào là “Chế độ tư pháp của các ông không đáng tin cậy”, “thị trường không khống chế được; cơ quan hành pháp bất lực; không xây dựng một cơ quan hành pháp thống nhất”. Đoàn đại biểu Trung Quốc lẽ đương nhiên là bác bỏ cách nói vô lý ấy. Ngày 13-12-1994 để thể hiện thiện chí của mình phía Trung Quốc đã cung cấp cho phía Mỹ (sơ thảo) “tuyên bố chung” theo tinh thần của hội nghị xử lý sản quyền tri thức của Quốc vụ viện. Bản tuyên bố căn cứ vào điều 5 “Tìm hiểu bị vong lục”, có quy định “Chính phủ hai nước thi hành những biện pháp hữu hiệu ở trong nước và vùng biên giới của mình để tránh và ngăn chặn hành vi xâm phạm sản quyền tri thức, và chặn đứng hành vi xâm phạm lấn tới”. Tổng kết thực tế thi hành bản “tìm hiểu bị vong lục” của phía Trung Quốc, đáp ứng những biện pháp trọng yếu mới được thi hành về việc tăng cường bảo hộ sản quyền tri thức; đồng thời theo những nguyên tắc nhất trí về quyền lợi và nghĩa vụ, đòi hỏi phía Mỹ đáp ứng theo yêu cầu TRIRS, sửa đổi luật chuyên lợi và các luật khác. Theo yêu cầu của phía Mỹ đối với Trung Quốc, bản thân Chính phủ Mỹ cũng nên đáp ứng việc xây dựng chế độ xử lý quyền sáng tác ở chính quốc; đối với việc xuất khẩu hàng hóa tại hải quan, thi hành biện pháp bảo vệ quyền sản nghiệp tri thức và các biện pháp khác. (Hiện tại hải quan Mỹ chỉ xử lý hàng nhập khẩu, không thẩm tra vấn đề sản quyền tri thức về mặt xuất khẩu hàng hóa). Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:50:10 pm Hai phát tín hiệu bắn lên không trung Tới hôm ấy Lisentrư hẹn gặp đại biểu đàm phán phía Trung Quốc, nói là không thể tiếp nhận văn kiện đòi hỏi phía Mỹ thay đổi chế độ, “văn bản tiếng Trung sẽ kích nộ Đại sứ Kantơ và các giới Mỹ”. Phía Trung Quốc bác bỏ luận điệu ngang ngược đó, kiên trì hiệp nghị song phương, đôi bên đồng thời cùng hưởng quyền lợi cùng gánh trách nhiệm nghĩa vụ, phía Trung Quốc quyết không tiếp nhận một “hiệp nghị” ngang ngược chỉ dồn về một phía. Sau khi cuộc đàm phán bế tắc, Lisentrư lại nói: Hội nghị xử lý sản quyền tri thức của Quốc vụ viện Trung Quốc đã có một văn bản “thực thi yếu điểm”, không thể không bổ sung những yêu cầu hữu quan của phía Mỹ vào trong đó, sau đó thông qua chính thức trao đổi văn kiện kết thúc đàm phán. Phía Trung Quốc đồng ý, đồng thời kiến nghị vấn đề thâm nhập thị trường không bàn bạc thương lượng trong phạm vi sản quyền tri thức... Ngày thứ 2. Trong lúc hai bên gặp nhau, phía Mỹ trao cho phía Trung Quốc bản dự thảo bổ sung “thực thi yếu điểm”. Không ngờ, đối phương hình như đã nhét toàn bộ những yêu cầu vô lý trong sơ thảo hiệp nghị của họ vào trong đó và với thái độ như tối qua, tuyên bố thâm nhập thị trường cần phải đạt tới hiệp nghị trong đàm phán về sản quyền tri thức. Phía Trung Quốc tỏ rõ sự cố gắng tối đa, chậm nhất là sáng ngày 16-12 đưa ra văn bản sửa đổi. Ngày hôm đó, các đại biểu bận rộn khẩn trương suốt buổi sáng, cơm không kịp ăn. Nhưng Lishentrư lại rất nhàn rỗi. Hai phát tín hiệu “thông báo” và “phản thông báo” Trung-Mỹ đã bay tới không trung nhưng xung đột tình cảm quyết không thể thay thế cho tư duy lý tính. Cả hai phía Trung-Mỹ đều hiểu được rằng, một khi vấn đề đã đẩy tới cực đoan, thì chỉ có thể là hai bên đều tổn thất. Theo thống kê, ngạch mậu dịch Trung-Mỹ năm 1994 đạt được 35,4 tỷ đô la, Trung Quốc đã trở thành người bạn lớn thứ 6 về mậu dịch của Mỹ; Mỹ thì là người bạn lớn thứ 3 của Trung Quốc về mậu dịch, lợi ích kinh tế đôi bên đã đan xen nhau phức tạp. Do vậy đều chưa có thể đóng cánh cửa đàm phán lại được, qua thương lượng, quyết định mở lại cuộc đàm phán vào ngày 18 đến 20-1-1995. Vòng đàm phán mới vẫn không có kết quả. Ngày 4-2-1995, phía Mỹ lại công bố một bản thông báo có liên quan đến giá trị thương phẩm nguyên là từ 2,8 tỷ đô la giảm xuống còn 1,08 tỷ; thời gian thông báo lùi tới 26-2 Bắt đầu từ 23-2, đại biểu tham gia đàm phán Sản quyền tri thức Trung-Mỹ tiến hành thương lượng từ trong 22 điếm bất đồng lại có thêm 5 điểm bất đồng nữa. Tối ngày 24 khi hai bên trao đổi văn kiện, Mỹ vẫn nêu ra nhiều yêu cầu vô lý. Ngày 25, phía Trung Quốc gửi văn kiện cho Mỹ, hai bên đều có nhượng bộ đạt tới hiệp nghị. Ngày 26, phía Mỹ lại gai ngạnh sinh sự, chỉ muốn ký vào bản tiếng Anh, sau đó qua trao đổi kỹ mới đồng ý ký văn bản tiếng Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:51:06 pm Hai bên bắt đầu thương lượng cấp Bộ trưởng Ngày 15-6-1996, Trung-Mỹ lại một lần nữa vì vấn đề Sản quyền tri thức mà phát sinh mâu thuẫn gay gắt. Vào hồi 23 giờ tối hôm ấy, văn phòng của đại biểu mậu dịch Mỹ, với lý do là “không thi hành hiệp nghị năm 1995, tuyên bố trưng thu thuế quan trừng phạt 100% đối với hàng dệt may, hàng điện tử trị giá 3 tỷ đô la của Trung Quốc, và kỳ hạn cuối cùng là ngày 17-6; 3 phút sau Trung Quốc công bố chống thông tri, đề nghị thu thêm thuế quan đặc biệt 100% đối với nông sản, xe cộ và linh kiện phụ tùng, thiết bị thông tin, phim ảnh của Mỹ, tạm ngừng nhập khẩu chế phẩm băng hình của Mỹ, tạm ngừng thụ lý thẩm phê các cơ quan xí nghiệp mậu dịch nội ngoại của Mỹ tại Trung Quốc đầu tư vào thương nghiệp, du lịch. Tất cả sự việc ấy làm cả thế giới xôn xao, phần lớn dư luận cho rằng, đại chiến mậu dịch một khi đã bùng nổ, thì kết quả chỉ có thể là đôi bên đều thiệt hại. Hiệp hội những người bán lẻ, dệt tơ lụa lần lượt gửi thư đến Chính phủ Clintơn, chỉ rõ chiến tranh mậu dịch nổ ra sẽ ảnh hưởng đến quần chúng nước Mỹ, nhất là lợi ích của tầng lớp có thu nhập dưới mức trung bình. Các công ty Futơ, Boyin, Tongyong, Motuoluola của Mỹ cũng quan tâm sâu sắc, bởi vì họ lo lắng thị trường Trung Quốc đối với họ sẽ là “cửa chắc đường dài, luỹ thép”. Còn đối thủ Nhật Bản và châu Âu sẽ thừa cơ thâm nhập; về phía Hương Cảng cũng chẳng hy vọng Trung-Mỹ tranh chấp “cháy thành vạ lây” mà làm cho mức mậu dịch đối ngoại, cơ hội kiếm nghề giảm sút. Hội buôn bán xuất nhập khẩu hàng điện cơ, hội buôn bán xuất nhập khẩu hàng dệt may, tổng hợp dệt may của Trung Quốc cũng lần lượt kháng nghị Chính phủ Mỹ. Thị dân và thương gia Bắc Kinh thì tỏ ra ủng hộ hành động phản thông báo của Nhà nước. Trung-Mỹ có thể lại sẽ giải toả nguy cơ được không? Lúc này ai dám bảo đảm. Chiến tranh mậu dịch bắt đầu, hai bên Trung-Mỹ hiển nhiên không muốn nhìn thấy cục diện ấy. Sau 20 ngày, trợ lý đại diện mậu dịch Mỹ Lisentrư đến Bắc Kinh, thương lượng không chính thức với Vụ trưởng Vụ điều pháp Bộ Mậu dịch đối ngoại Trung Quốc trong hai ngày, có tiến triển nhất định nên trong tuyên bố của Đại sứ quán Mỹ có nói: “Cuộc đối thoại thẳng thắn làm cơ sở tốt cho cuộc thương lượng tuần sau”. Sau đó Lisentrư đi luôn Quảng Đông nơi mà Mỹ gọi là có hàng lậu nghiêm trọng để khảo sát tình hình bảo vệ Sản quyền tri thức. Qua khảo sát, phía Mỹ không thể không thừa nhận phía Trung Quốc đã có nhiều cố gắng bảo vệ Sản quyền tri thức. Ngày 13-6-1996, cuộc thương lượng chính thức về sản quyền tri thức được bắt đầu tại Bắc Kinh, trong không khí hữu hảo tích cực. 10 giờ sáng trong hội trường Bộ Mậu dịch đối ngoại, đôi bên vui vẻ tươi cười, trước khi họp, thành viên đôi bên trong khi trò chuyện đều mong cuộc hội đàm “thu được thắng lợi”. Tối hôm ấy, người phát ngôn Bộ kinh tế đối ngoại cho biết Baxépxki đại diện mậu dịch Mỹ sẽ thăm Bắc Kinh. 22 giờ 30 phút đêm 14 Baxépxki xuất hiện tại sân bay quốc tế với bài nói thận trọng, qua hai phút thừa nhận rằng Trung Quốc đã bắt đầu thi hành hiệp nghị năm 1995, và nói cần phải khảo sát tình hình thực tế hiệp nghị. Những người hiểu biết cho rằng, người đại diện mậu dịch mới nhậm chức chưa đầy hai tháng mang theo sứ mệnh của Tổng thống Clintơn đến Trung Quốc. Sáng ngày 15, trước cửa Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại tại Bắc Kinh, kẻ ra người vào tấp nập, cuộc hội đàm thương lượng cấp Bộ trưởng về sản quyền tri thức Trung-Mỹ được mọi người quan tâm sắp bắt đầu. 9 giờ 30 phút, chiếc xe màu trắng chở đoàn đại biểu Mỹ chạy vào Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại. Đám đông ký giả phỏng vấn, Baxépxki, Lisentrư không trả lời câu nào, đi thẳng lên gác, tiến hành hội đàm phạm vi nhỏ trong vòng 2 giờ 15 phút với Thứ trưởng Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại Thạch Quảng Sinh, trợ lý Bộ trưởng Long Vĩnh Đồ tại phòng họp lầu 2. 11 giờ 45 phút, thành viên chính của hai đoàn đàm phán Trung-Mỹ sóng hàng đi xuống theo cầu thang trải thảm đỏ, trong đám đông có người phát hiện ra là các thành viên phía Trung Quốc tinh thần phấn chấn, phía Mỹ Baxépxki mặc áo lụa vạch đôi kiểu Trung Quốc nền đen hoa đỏ. Hình thức cuộc thương lượng cấp Bộ trưởng hiển nhiên là “hào hoa” hơn hai ngày trước, phía Trung Quốc các quan chức đứng đầu có Thạch Quảng Sinh, Long Vĩnh Đồ và Trương Nguyệt Giảo đại diện đàm phán cấp công tác; các nhân vật hữu quan của Hội nghị xử lý sản quyền tri thức thuộc Quốc vụ viện, Vụ Xuất bản tin tức, Bộ Văn hóa, Bộ Công an, Hải quan Trung Quốc đều có mặt, họ đối đáp bằng tiếng Anh như gió. Phía Mỹ nhiều người cũng rất “thông thạo tiếng Trung Quốc”. Trong buổi khai mạc hội đàm, Thạch Quảng Sinh nhấn mạnh: Trừng phạt không giúp cho giải quyết vấn đề, giải quyết bất đồng đòi hỏi song phương đều cùng hành động cụ thể. Baxépxki tỏ ý hy vọng chuyến đi Bắc Kinh thu nhiều thành quả, hai bên cần ủng hộ lẫn nhau trên lời nói và hành động. Lời lẽ nghiêm túc, song không khí thì tích cực. Từ thời điểm ấy, hai bên Trung-Mỹ bắt đầu đàm phán chính thức cấp Bộ trưởng và cấp công tác xen kẽ nhau định kỳ 3 ngày; đôi bên đều giữ kín như bưng với giới tin tức nhưng đôi bên không kể đêm ngày làm việc chạy đua với thời gian, đủ để thấy rõ rằng quá trình đàm phán khẩn trương quyết liệt như thế nào. Hai bên muốn đạt tới nhận thức chung trước hạn cuối cùng vào ngày 17, vấn đề rất nhiều, thời gian lại không chờ đợi. Ngày 16 ở Bắc Kinh một trận mưa đầu hè ào tới, oi ả tiêu tan nhưng trong lòng mỗi người vẫn nóng như lửa đốt. Ba bốn chục phóng viên vẫn chờ đợi trước cổng Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại để ngóng tin, nhưng vẫn chẳng nhận được gì. Cho đến 21 giờ 15 phút đêm, sau 2 tiếng nghỉ họp, họ thấy xe của đoàn Mỹ lại đến Bộ Mậu dịch kinh tế đồi ngoại, liền đó Tân Hoa xã phát đi bản tin: - Cuộc đàm phán có thể phải tiếp tục đến ngày mai. Ngày mai? Ngày mai lúc nào? Qua 3 tiếng nữa là ngày mai rồi, thế là suốt một đêm mưa rả rích, họ quyết định chờ cho đến tinh mơ ngày 17. Nhân viên đàm phán còn rất căng thẳng. Cuộc đàm phán từ ngày 15 kéo suốt đến 9 giờ đêm, phía Mỹ định đến trước 23 giờ 30 phút sáng. Người phiên dịch số một là Tiểu Vương đang ngủ say bị gọi dậy, phiên dịch suốt đêm thận trọng từng chữ, công việc vừa xong, phương đông chân trời đã sáng dần. Nhưng thành viên đoàn Trung Quốc, người lớn tuổi nhất chưa quá 50, người trẻ nhất ngót 20 tuổi, thứ vũ khí có sức mạnh mà họ học được từ bậc tiền bối của mình là: Giữ vững trận địa, không chiến đấu khi chưa chuẩn bị. Phía Trung Quốc đã chuẩn bị đầy đủ, trước khi đàm phán đã họp trù bị mấy lần, kiên định lập trường: trên nguyên tắc không lùi một tấc, ngoài nguyên tắc thì tỏ ra linh hoạt. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười, 2008, 10:51:35 pm Vấn đề nguyên tắc, không lùi một phân
Trên tinh thần đó, trong cuộc đàm phán 2 ngày 15-16 mang tính chất quan trọng, về những yêu cầu vô lý mà phía Mỹ vượt lên chủ quyền Trung Quốc, đòi Trung Quốc sửa đổi pháp qui theo nguyện vọng của Mỹ, định kỳ thông báo cho Mỹ về tình hình tiến triển trừng trị hàng lậu; cho công ty của Mỹ mua nhà máy đĩa quang của Trung Quốc, để họ hợp tác đầu tư hoặc đơn độc đầu tư, Trung Quốc kiên quyết phản đối bỏ về. Trương Nguyệt Giảo đại biểu dẫn đầu đàm phán cấp công tác sau sự việc đó đã cho biết, phía Mỹ đưa ra một “danh sách đen” gồm 13 nhà máy, yêu cầu Trung Quốc đóng cửa. Trung Quốc giữ nguyên tắc lấy sự thực làm căn cứ lấy pháp luật làm chuẩn mực; với những nhà máy đang có hành vi trốn lậu thì cho đóng cửa, đối với những nhà máy không trong danh sách của Mỹ, chỉ cần rõ có hành vi, Trung Quốc cũng sẽ xử lý nghiêm túc. Trung Quốc không thể làm việc theo ý nguyện của người khác: “Chúng tôi biết quản lý đất nước của mình như thế nào”. Còn về sản phẩm văn hóa không phải là giản đơn, Trung Quốc không thể tùy tiện mở rộng thị trường. Kể từ khi bắt đầu đàm phán, Trung Quốc đã nói với Mỹ: vấn đề này không có thêm trong đàm phán, không nên hy vọng Trung Quốc sẽ nhượng bộ trong giây phút cuối cùng. Cuộc đàm phán ngày 16, vì Mỹ yêu cầu quá cao đòi hỏi Trung Quốc mở rộng thị trường văn hóa, mà đi vào bế tắc mãi cho đến 0 giờ ngày 17, lập trường hai bên đã xích lại gần. Baxépxki than phiền: “Hai ngày qua quá vất vả, e rằng đêm nay tôi ngủ không được”. Thạch Quảng Sinh cười: “Không ngủ cũng tốt, ngày mai ngài về Mỹ rồi không cần phải chỉnh sai giờ”. Cả hội trường cười ồ thân thiện, làm cho không khí thêm thoải mái vì cuộc đàm phán quá căng thẳng khẩn trương. “Lợi ích quốc gia trên hết” Vòng chiến 2 ngày, thành viên đoàn Trung Quốc làm sao được chút thảnh thơi? “Lợi ích quốc gia trên hết”, câu nói luôn luôn trong tâm trí mọi người, giờ đây sao mà lại thiết tha gắn bó với từng câu nói từng hành động của mỗi thành viên như vậy. Thạch Quảng Sinh, vị Thứ trưởng ở tuổi 50, mưu lược chuyển xoay trên bàn đàm phán trí lực dồi dào, trong phòng nghỉ ngơi mệt mỏi tưởng chừng không mở được mắt. Long Vĩnh Đồ, người đã từng lưu học tại Anh, trưởng đoàn đại biểu “phục quan” Trung Quốc, giao thiệp với người Mỹ nhiều năm, lần này phò tá chủ soái tự nhiên rất thuận tay ăn ý. Trương Nguyệt Giảo một chuyên gia pháp luật lưu học tại Pháp nhiều năm, trong công việc tỏ ra vững vàng, là một cao thủ hội đàm như kim găm trong lụa; vì cuộc đàm phán lần này bà đã 3 ngày liền không chịu về nhà. Tướng soái làm sao, sĩ tốt cũng vậy. Tiểu Trương ở vụ điều pháp Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại nói rằng, mấy ngày liền anh không chợp mắt. 2 giờ 30 phút sáng ngày 17, khi các quan chức Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại bước ra cổng, mưa vừa tạnh, không khí trong lành thổi nhẹ qua những khuôn mặt mệt mỏi gian truân, nhưng đầu óc họ vẫn rất sáng suốt tinh tường: sáng hôm nay tiếp tục đàm phán. Một lần nữa tránh khỏi cuộc chiến tranh mậu dịch bùng nổ Sáng ngày 17, cuộc đàm phán đang tiếp tục, buổi trưa có tin đồn, Phó Thủ tướng Lý Lam Thanh buổi chiều sẽ hội đàm với Baxépxki. 12 giờ 40 phút Thứ trưởng Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại Thạch Quảng Sinh ra khỏi phòng hội đàm, nét mặt tươi cười, Chủ nhiệm Văn phòng hội đồng xử lý sản quyền Quốc vụ viện Đoàn Thụy Xuân vẫy tay chào các phóng viên đang chờ ngoài cổng. Qua gương mặt thoải mái nhẹ nhàng của quan chức Trung Quốc họ đoán rằng: cuộc đàm phán tiến triển tốt. Nhưng vẫn chưa có dấu hiệu xác đáng. 5 giờ chiều ngày 17 giờ phút cuối cùng đã đến. Lần đàm phán cuối cùng định bắt đầu vào hồi 17 giờ. Thời gian cứ trôi đi, 18 giờ... 18 giờ 30 ... 19 giờ... chiếc xe chở đoàn Mỹ vẫn chưa xuất hiện, có lẽ Baxépxki đang thỉnh thị lần cuối cùng về Oasinhtơn. 19 giờ 15 phút Baxépxki, trên chiếc xe sơn trắng đã vào Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại, hai bên tươi cười vui vẻ hàn huyên. Thạch Quảng Sinh nói với ông ta: “Tôi hết sức khâm phục tinh thần làm việc của ngài, nhưng cơm vẫn phải ăn. Ở Trung Quốc người xưa có câu “người là sắt, cơm là gang...”. Lời thăm hỏi thú vị làm cả hội trường đều cười vui vẻ thông hiểu. Lúc này, mấy chục ký giả ùa vào hội trường, trong giây lát một rừng “pháo” vươn nòng, nhập nhoạng chớp điện, 5 phút sau, những ký giả được mời ra, và họ vẫn còn đang ngóng đợi. Quá 20 giờ, Tân Hoa Xã, Đài truyền hình Trung ương, Đài phát thanh nhân dân Bắc Kinh, các cơ quan tin tức lớn nhất Trung Quốc, trong giờ phút đầu tiên tuyên bố trước thế giới: vấn đề sản quyền tri thức Trung-Mỹ đã được nhất trí, lại một lần nữa, trong giây phút cuối cùng đã tránh khỏi bùng nổ cuộc chiến tranh mậu dịch. Giờ này không biết có bao nhiêu người đang chúc mừng, thở phào nhẹ nhõm. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:02:18 am PHẦN 6 CUỘC ĐÀM PHÁN PHỤC QUAN MẮC KẸT NỘI TÌNH Vỡ mộng Giơnevơ Sáng tinh mơ ngày 21-12-1994, trước giờ phút tiếng chuông năm mới sắp điểm hồi, Tổ chức Mậu dịch thế giới sắp được thành lập, hội nghị lần thứ 19 tổ công tác Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan của Trung Quốc chưa đạt được sự nhất trí về cuộc đàm phán phục quan1 Trung Quốc. Tiếng chuông cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ tuyên cáo sự cố gắng tiến hành “phục quan” của Trung Quốc suốt 8 năm nay hoàn toàn vứt xuống biển Đông. Được tin ấy, người Trung Quốc cảm thấy đáng tiếc. Nhưng họ không kinh sợ mà lại bình tĩnh tiếp nhận sự thực này. Bởi vì từ bên kia đại dương đã sớm đưa tin: Chỉ cần người Mỹ phản đối, thì vấn đề phục quan Trung Quốc trong năm không được giải quyết. Trung Quốc tại sao cần vào cửa? Mỹ vì sao phản đối? Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin xoay ống kính lịch sử hướng về 48 năm trước đây. Lúc ấy, làn khói của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 chưa tan hết, nền kinh tế thế giới đứng trước hai nhiệm vụ nặng nề phục quan và phát triển, đa số quốc gia vừa quan tâm theo dõi vừa bế quan toả cảng, tiếp tục bảo vệ hàng rào thuế quan, ràng buộc chặt chẽ sự phát triển kinh tế và mậu dịch ngoại thương. Do các nước thi nhau nâng mức thuế quan, chế định mọi biện pháp hạn chế nhập khẩu, nên cuộc đại chiến kinh tế đột nhiên bùng nổ, chủ nghĩa bảo vệ buôn bán lan khắp toàn cầu. Trong tình thế nghiêm trọng ấy, khế ước “Liên Hợp Quốc kinh tế” một trong ba trụ cột lớn kinh tế ngày nay được cấu thành cùng với tổ chức tiền hàng quốc tế, Ngân hàng thế giới, đó là Tổng hiệp định thuế quan - Thương mại (GATT) dưới sự chủ trì của Mỹ, ngày 30-10-1947 do 23 nước ký kết thành lập tại Giơnevơ, tức là “Hiến chương Lahavanna” ngày nay. Ý định muốn Trung Quốc trở thành con rồng phương Đông cũng là một trong 23 nước định lập điều ước để lại một nét bút hoạch định thời đại trong khế ước ấy. Tôn chỉ của “Liên Hợp Quốc kinh tế” là: Các nước tính ước cùng nâng cao mức sống, bảo đảm đủ việc làm, bảo đảm thu nhập tăng trưởng theo yêu cầu ngày càng lớn và ổn định, sử dụng đầy đủ nguồn vốn thế giới, mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hóa, thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế để xử lý quan hệ tương hỗ về buôn bán và phát triển kinh tế giữa các nước, giảm thu thuế quan, hủy bỏ hàng rào mậu dịch và ưu đãi khác nhau về mậu dịch quốc tế, trên thế giới xây dựng một đại gia đình kinh tế, phá bỏ hàng rào ngăn cách, với mục đích phát triển kinh tế chính quốc, tạo thuận tiện cho người và cho mình, thúc đẩy thì trường quốc tế phồn vinh cùng giàu có. Trung Quốc là một trong 23 nước sáng lập đính ước Tổng hiệp định thương mại (mậu dịch) thuế quan, ngay từ năm 1947, Chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc với tư cách nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, trở thành nước sáng lập định ước của Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan. Nhưng ngày 6-3-1950 nhà cầm quyền Đài Loan tuyên bố rút khỏi Tổng hiệp định. Thế là, Trung Quốc một thành viên trong năm nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, không thể không đứng ngoài cửa “Liên Hợp Quốc kinh tế” Trung Quốc không tách rời thế giới, thế giới cũng không rời Trung Quốc. Ngày 10-7-1986, Trung Quốc sau gần 40 năm lang thang ngoài “cửa”, chính thức trịnh trọng gửi đơn tới Denger Đại biện Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan tại Giơnevơ đề nghị phục hồi địa vị nước sáng lập đính ước Tổng hiệp định của Trung Quốc, và mong muốn đàm phán với các nước đính ước Tổng hiệp định miễn giảm thuế quan. Từ đấy tấm màn phục quan của Trung Quốc đã được mở ra. Thái độ của Trung Quốc về phục quan rất tích cực và chân thành. Từ tháng 10-1987 đến tháng 2-1992, Chính phủ Trung Quốc đã 10 lần cử đoàn tham gia hội nghị tổ công tác GATT của Trung Quốc, nghị trình gồm gần 200 vấn đề có liên quan đến bị vong lục đề nghị theo thể chế ngoại thương của Trung Quốc và trả lời nước định ước. Năm 1990, Thủ tướng Lý Bằng trực tiếp gửi công hàm đến những người đứng đầu các nước đính ước Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch, thay mặt Chính phủ Trung Quốc trang trọng hứa rằng: Trung Quốc một khi đã phục quan, sẽ gánh vác nghĩa vụ quốc tế tương ứng đồng thời với những quyền lợi được hưởng. Giảm nhẹ thuế quan, mở rộng thị trường trong nước, xóa bỏ nhiều nguyên tắc buôn bán quá quen thuộc, một số sản nghiệp đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt “Gánh vác nghĩa vụ quốc tế tương ứng” có nghĩa là Trung Quốc sẽ phải gánh chịu trận bão táp thị trường to lớn. Ngày 13-2-1992 GATT tuyên bố cơ bản là kết thúc thẩm nghị thể chế ngoại thương đối với Trung Quốc. Tháng 2-1992 đến tháng 10-1993, tổ công tác Trung Quốc tiến hành hội nghị lần thứ 8 đến lần thứ 15, lập định hiệp nghị thư phục quan và vấn đề giảm nhượng thuế quan mậu dịch và thông lệ quốc tế. 5 năm qua thể chế ngoại thương Trung Quốc đã tiến hành hai lần cải cách quan trọng, Chính phủ Trung Quốc hai lần ra quyết định riêng về cải cách thể chế có liên quan đến thương mại, theo nguyên tắc độ thông suốt của Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch; Trung Quốc công bố 47 văn kiện nội bộ có liên quan, tuyên bố 122 văn kiện hết hiệu lực, công bố rõ pháp qui ngoại thương Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc tôn trọng nguyên tắc giảm dần đường ngăn mậu dịch của Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch; “lấy việc giảm thuế quan làm lời hứa, và từ đó được hưởng sự đãi ngộ quốc gia trong phát triển”. Năm 1992 xóa bỏ thuế điều tiết nhập khẩu. Ngày 2-1-1993 có 3.200 mặt hàng được hạ thấp thuế quan, bình quân thuế quan thấp xuống 7,7%. Ngày 17-11-1993, Uỷ ban thuế quan Quốc vụ viện quyết định, kể từ ngày 31-12-1993, sẽ điều chỉnh hạ thấp thuế suất thuế quan hàng hóa nhập khẩu với 2.898 thuế hạng, bình quân thuế giảm 8,8%. Đồng thời Trung Quốc thực hiện một loạt những biện pháp lớn về các mặt “điều chỉnh chính sách sản nghiệp quốc nội, tăng cường hiệp đồng giữa các ngành, cơ cấu tổ chức điều chỉnh rộng rãi, xí nghiệp quốc doanh hướng tới thị trường, tìm tòi chính sách bảo vệ sản nghiệp”. Tất cả điều đó chứng minh rằng, Trung Quốc đang dựa theo các qui định quốc tế hiện hành bổ sung vận dụng các thủ đoạn kinh tế như hối suất, thu thuế và tín dụng để điều tiết hoạt động kinh tế đối ngoại. Thúc đẩy kinh tế Trung Quốc tiếp cận kinh tế thế giới đẩy mạnh tiến trình tự do hóa mậu dịch thế giới, Trung Quốc đang tới gần Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch quốc tế. _______________________________ 1. Hội nghị đàm phán khôi phục vị trí của Trung Quốc trong Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan. Hiệp định này giành sự giảm thuế quan cho các nước chậm và đang phát triển. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:04:07 am Cuộc xung đột “94” Năm 1994 là năm rất không bình thường đối với “phục quan” Trung Quốc. Qua 8 năm cố gắng gian nan, đã đến tới đỉnh điểm căng thẳng của cuộc xung đột cuối cùng. Ngày 21-1, Uỷ ban kinh tế hỗn hợp kinh tế Trung-Mỹ tiến hành hội nghị lần thứ 8 tại Bắc Kinh. Đây là hội nghị đầu tiên của Uỷ ban kể từ khi gián đoạn, năm 1988. Hội nghị được khôi phục do phía Mỹ đề nghị. Tình hình chấp hành tìm hiểu bị vong lục và cơ cấu khai thác đa phương, như khôi phục địa vị nước đính ước Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch của Trung Quốc, đãi ngộ nước ưu tiên và sản quyền tri thức Trung-Mỹ, sản phẩm lao cải và thâm nhập thị trường. Ngày 21-2, Trung-Mỹ cử hành thương lượng song phương vòng thứ 8 về vấn đề “phục quan” của Trung Quốc, ngày 22 tháng 2 kết thúc. Đây là cuộc thương lượng song phương lần thứ nhất về vấn đề này của hai bên Trung-Mỹ sau cuộc hội đàm Urugoay kết thúc. Đoàn đại biểu hai bên đã trao đổi ý kiến một cách rộng rãi và sâu sắc hàng loạt vấn đề cụ thể có liên quan đến việc khôi phục địa vị nước đính ước Tổng hiệp định của Trung Quốc. Sau khi kết thúc, Ngô Nghi trong lúc hội kiến với đoàn đại biểu Mỹ có nói: Về mặt cải cách thể chế mậu dịch kinh tế Trung Quốc đã thi hành nhiều biện pháp lớn, có nhiều cố gắng tích cực trong đàm phán. Trên những vấn đề quan tâm về mặt đính ước mà Trung Quốc chuẩn bị đều thể hiện tinh thần linh hoạt. Từ ngày 15 đến ngày 18-3, tổ công tác của Trung Quốc về Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan đã họp hội nghị lần thứ 16 tại Giơnevơ, thẩm nghị vấn đề phục hồi địa vị nước đính ước tổng Hiệp định quan mậu. Đoàn đại biểu Trung Quốc do Thứ trưởng Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại Cốc Vĩnh Giang làm trưởng đoàn và Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế mậu dịch nhà nước Du Hiểu Tùng làm phó đoàn đã tham gia hội nghị. Trong hội nghị lần một của tổ công tác Cốc Vĩnh Giang nói, điều kiện Trung Quốc trở thành nước thành viên sáng lập Tổ chức mậu dịch thế giới đã chín muồi. Qua 15 năm cố gắng, Trung Quốc đã tiến hành một loạt cải cách về thể chế xây dựng thị trường, gần đây lại thực hiện mấy biện pháp lớn, làm cho thể chế mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc về cơ bản phù hợp với phạm vi qui định quốc tế của Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch. Ngày 9-5 nhận lời mời của Bộ trưởng Kinh tế đối ngoại Ngô Nghi, đại biện Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch Bide Chanselan tới thăm Trung Quốc. Khi nhận lời phỏng vấn của phóng viên Tân Hoa xã, ông nói Trung Quốc phải trở thành một bộ phận của thể chế mậu dịch đa phương của thế giới mới, mà không thể bị gạt ra ngoài. Ông còn nói, tính chất quan trọng của Trung Quốc với chính trị và kinh tế thế giới là rõ ràng và dễ thấy; Trung Quốc gia nhập tổ chức mậu dịch đa phương, có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển mậu dịch toàn cầu. Theo với thời gian, nhiều kiểu đàm phán phục quan cũng được tiến hành chặt chẽ, người Trung Quốc đã nhìn thấy tia sáng vào cửa, song lúc ấy vẫn còn gặp nhiều trở lực của một số ít quốc gia. Ngày 19-7, trong lúc hội kiến Thứ trưởng Bộ Thương vụ Mỹ Giắc Fơli Catơn, Thứ trưởng Bộ Mậu dịch đối ngoại nói: Trung Quốc quyết không thể vì khôi phục địa vị nước đính ước Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch mà trả bất cứ giá nào, hy vọng Mỹ trong vấn đề phục quan của Trung Quốc, với thái độ hiện thực thúc đẩy tiến trình đàm phán. Ngô Nghi nói: Mỹ đầu tiên nêu ra cái giá mà Trung Quốc khó có thể tiếp nhận, vì phục quan Trung Quốc mà tạo ra nhiều trở ngại. Mỹ kiên trì đòi hỏi Trung Quốc phải xóa bỏ tỷ lệ suất quốc hóa xí nghiệp nước ngoài đầu tư, còn trong một nắm văn kiện của Urugoay thì yêu cầu quốc gia phát đạt trong vòng 2 năm, quốc gia đang phát triển trong vòng 5 năm phải hoàn thành công việc này. Do đó, Mỹ yêu cầu đối với Trung Quốc là không có đạo lý. Ngày 14-10, Phó Thủ tướng Chu Dung Cơ trong hội nghị thường niên của tổ chức Quỹ tiền tệ thế giới và Ngân hàng thế giới có nói: kể từ năm 1986 đến nay Trung Quốc chính thức yêu cầu khôi phục địa vị nước đính ước Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch. Để tiến gần quỹ đạo qui định của kinh tế mậu dịch quốc tế, Tổng hiệp định quan mậu, Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt cải cách to lớn, bao gồm giản hóa thể chế quản lý mậu dịch kinh tế đối ngoại, hạ thấp biên độ đối với thuế quan, xóa bỏ chế độ song quỹ hối suất, thực hiện trao đổi có điều kiện đồng nhân dân tệ với hạng mục thông thường, từng bước mở rộng thị trường mậu dịch phục vụ trong nước. Ông chỉ rõ: “Trước mắt thể chế mậu dịch Trung Quốc đã cơ bản phù hợp với yêu cầu của Tổng hiệp định quan mậu. Do vậy, việc khôi phục địa vị nước đính ước Tổng hiệp định quan mậu của Trung Quốc không nên kéo dài. Phục quan Trung Quốc không chỉ có lợi cho Trung Quốc, mà lợi cả cho thế giới. Gạt Trung Quốc ra ngoài thì tính chất rộng rãi của Tổng hiệp định quan mậu và Tổ chức mậu dịch quốc tế sắp được thành lập sẽ chịu ảnh hưởng to lớn”. Ngày 5-10 Ngô Nghi trong thời gian tham gia hội nghị Bộ trưởng Mậu dịch luận bàn về hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương ở Inđônêxia, khi hội kiến với bà Baxépxki trưởng đoàn đại biểu Mỹ đã nói rõ: Cuộc đàm phán về vấn đề phục quan Trung Quốc nên hoàn thành trước khi thành lập Tổ chức mậu dịch thế giới, để Trung.Quốc có thể trở thành nước thành viên sáng lập của tổ chức mậu dịch thế giới. Ngô Nghi còn nói: Tháng 8 năm nay, Trung Quốc căn cứ vào hiện trạng mức phát triển kinh tế trong nước sẽ đề ra một loạt phương án giảm nhượng về thuế quan phi thuế quan hàng hóa công nghiệp và thương mại dịch vụ, Trung Quốc đã cố gắng rất lớn trong các phương án ấy. Bà trưởng đoàn Mỹ nói, hạ tuần tháng 9, hai bên Trung-Mỹ đã thương lượng về các phương án này, đàm phán đã có tiến triển nhất định. Bà ta nhấn mạnh: “Cái giá mà Mỹ đòi hỏi trong vấn đề phục quan Trung Quốc khi đạt tới mức độ thích đáng thì thôi; không phải để cho Chính phủ và nhân dân Trung Quốc cho rằng Mỹ đang đi đầu trong việc cản trở phục quan Trung Quốc”. Ngô Nghi chỉ rõ: về vấn đề phục quan, Trung Quốc không thể hy sinh lợi ích căn bản của Tổ quốc. Bà ta nói: “Nếu Trung Quốc không được phục quan kịp thời, thì tất cả những điều đáp ứng trong 8 năm đàm phán và mọi đáp ứng đã đạt được trong 3 bản giảm nhượng cùng nghị định thư nêu ra gần đây nhất cũng đều vô hiệu. Trung Quốc còn một ngày chưa được phục quan, thì không thể nói tới Trung Quốc thi hành văn kiện cuối cùng Urugoạy và các loại nghĩa vụ”. Bà ta nói: Tháng 11 khi tiến hành hội nghị Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương tại Inđônêxia, còn phải thảo luận mục tiêu tự do hóa mậu dịch khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nếu Trung Quốc không phục quan, thì việc thực hiện mục tiêu ấy cũng chỉ là câu nói trống rỗng. Thời gian đàm phán chuyển tới ngày 28-11, trong tình trạng không chịu đựng nổi, Chính phủ Trung Quốc nêu ra thời hạn cuối cùng kết thúc cuộc đàm phán thực chất. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:05:15 am Cái giá cực đại của người Mỹ Mùa hè năm 1994, trời Giơnevơ nóng nực không mưa, oi ả khác thường. Trong đại lầu Tổng bộ Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch bên hồ Laimen không khí hội nghị tổ công tác Trung Quốc lần thứ 17 khẩn trương căng thẳng. Ở hội nghị lần này, bài nói của trưởng đoàn Trung Quốc Cốc Vĩnh Giang ngôn từ chặt chẽ. Vị Thứ trưởng Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại cảnh báo phía đính ước hữu quan: “Sự nhẫn nại của các giới công chúng Trung Quốc đối với phục quan đang đứng trước sự thách thức nghiêm trọng”. Thái độ nghiêm túc của ông Cốc Vĩnh Giang không phải là cử chỉ không có mục đích. “Bão ngày mai là gió nổi hôm nay”, qua một thời gian thích đáng, cái giá quá lớn của phía đính ước hữu quan với sự nỗ lực phục quan Trung Quốc đã hình thành một áp lực to lớn. Hiển nhiên, cuộc đàm phán bên hồ Laimen phải chăng là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đấu tranh lâu dài của lực lượng chính trị kinh tế thế giới. Ngày 24-6-1994, trong lúc đoàn đại biểu Trung Quốc sắp lên đường đi tham gia hội nghị tổ công tác Trung Quốc, thì một văn kiện không chính thức của Chủ tịch Tổ công tác Trung Quốc gửi đến Bắc Kinh. Do nhận được quá muộn, quan chức đoàn Trung Quốc chỉ có thể phân tích và nghiên cứu trên máy bay. Tập văn kiện dài đến 20 trang đã tổng hợp giá cả của phía đính ước đối với phục quan Trung Quốc. Trong đó, rất nhiều giá đã vượt quá nghĩa vụ qui định của Tổng hiệp định quan mậu và của mậu dịch thế giới, thậm chí tước đoạt cả quyền lợi cần được hưởng của quốc gia đang phát triển mà Trung Quốc được hưởng. Bài nói nghiêm túc chặt chẽ của Cốc Vĩnh Giang chính là đòn phản kích nhanh nhẹn mạnh mẽ đối với sự bất hợp lý ấy. Đồng thời Trung Quốc còn nêu ra kiến nghị dùng “một mớ phương thức” giải quyết vấn đề phục quan Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là phương án tổng hợp nêu ra đối với Trung Quốc, hoặc là phải tiếp nhận toàn bộ, hoặc là cự tuyệt hoàn toàn không được lựa chọn. Trên thực tế, bất luận là biện pháp “phương thức cả mớ” hay là “kết thúc thời hạn đàm phán thực chất”, trong đàm phán quốc tế với qui mô rộng lớn, nội dung phức tạp cũng không hiếm thấy. Ngày 19-7-1994, trước khi tổ công tác Trung Quốc tiến hành hội nghị lần thứ 18 về Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan được coi là phiên đàm phán cuối cùng, Bộ trưởng Bộ Mậu dịch đối ngoại Ngô Nghi vẫn trầm tĩnh nói với Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp Mỹ Chielifu: “Trung Quốc quyết không thể vì phục quan mà trả bất kỳ giá nào, hy vọng Mỹ cần có thái độ thực tế”. Lúc này, đã tròn 8 năm Trung Quốc đề nghị phục quan. Do đó, Ngô Nghi nói: “Nếu phục quan Trung Quốc không thỏa đáng, thì tất cả mọi cố gắng trong 8 năm đàm phán đều đổ xuống sông xuống biển, mọi hứa hẹn đều vô hiệu”. Ngày 17-7, người phát ngôn tin tức của Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại Trung Quốc Niêu Phục Xuân trong hội nghị thông báo tin tức nhấn mạnh: Nếu phục quan không kết quả thì mọi hứa hẹn đều vô hiệu. Với lập trường trên nguyên tắc kiên quyết của Trung Quốc, các nước thi nhau đưa tin và bình luận, thăm dò, ca ngợi, kinh ngạc, mê hoặc, phản ứng v.v... Trung Quốc tuyên bố rõ ràng: nguyên nhân trực tiếp của lập trường ấy là, văn kiện phi chính thức được nêu ra lấy kiến nghị của Mỹ làm cơ sở tại hội nghị thứ 17 của tổ công tác Trung Quốc trong Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan hồi cuối tháng 8. Văn kiện ấy nêu ra những điều kiện hết sức khắc nghiệt mà Trung Quốc không thể tiếp nhận được. Vì nó đại biểu cho lợi ích của Mỹ, nên coi đó là “văn kiện của Mỹ”. Hạt nhân của “văn kiện của Mỹ” là yêu cầu Trung Quốc gia nhập Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan với tư cách là “quốc gia phát triển”. Như mọi người đều biết, để bảo vệ sự ổn định và phát triển nền kinh tế của nước đang phát triển, Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan có một loạt qui định có liên quan đến sự ưu đãi các nước đang phát triển, trên thực tế chính là muốn tước đoạt quyền lợi đáng được hưởng đồng thời với nghĩa vụ gánh vác, rõ ràng không được Trung Quốc tiếp thu. Trung Quốc là một nước đang phát triển chỉ có thể gánh vác nghĩa vụ tương ứng với trình độ phát triển kinh tế của mình. Trung Quốc kiên trì nguyên tắc công bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Việc khôi phục địa vị nước đính ước Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan của Trung Quốc được phần lớn các nước đang phát triển trên thế giới kể cả nhiều nước phương Tây ủng hộ. Thượng tuần tháng 9, Hội nghị Bộ trưởng Thương mại 4 bên: Liên minh châu Âu, Canađa, Nhật và Mỹ họp tại Lốtangiơlét. Bộ trưởng Liên minh châu Âu, Canađa, Nhật Bản đều tỏ rõ thái độ ủng hộ Trung Quốc phục quan chỉ riêng Mỹ cho rằng “Trung Quốc còn cách xa điều kiện phù hợp”. Phải đến một thời gian nào đó mới giải quyết được vấn đề phục quan Trung Quốc. Về vấn đề phục quan Trung Quốc, tại sao Mỹ lại gây trở ngại như vậy? Mục đích cuối cùng của Mỹ là thông qua đàm phán Mỹ giành được lợi ích lớn nhất từ Trung Quốc, để các công ty Mỹ trực tiếp đi vào chiếm lĩnh thị trường đầy tính hấp dẫn của Trung Quốc, mà không để cho các ngành công nghiệp non trẻ của Trung Quốc có cơ hội trưởng thành. Do đó, Mỹ kiên trì đòi hỏi Trung Quốc phục quan với tư cách quốc gia phát triển, và yêu cầu Trung Quốc ngay từ khi phục quan phải huỷ bỏ mọi chính sách phi thuế quan, kể cả yêu cầu về kiểm tra nhập khẩu, giấy phép, phối ngạch, thậm chí còn ngặt nghèo hơn so với các nghị định thư phục vụ có hiệu lực. Trung Quốc phải huỷ bỏ ngay yêu cầu tỷ suất quốc sản hóa xí nghiệp có nước ngoài đầu tư. Điểm này trong văn kiện gói gọn ở Urugoay đối với các nước đính ước đều có một thời gian quá độ, các nước phát triển là 2 năm, Mỹ lại đòi Trung Quốc phải thủ tiêu ngay. Nếu xử lý theo kiểu ấy thì Trung Quốc khó có thể làm chủ được vận mệnh kinh tế của mình, thậm chí khó giữ nổi cả vận mệnh chính trị. Tham tán thương vụ Đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ Vương Thiên Minh trong khi nhận lời phỏng vấn của phóng viên “Tuần báo Á Âu” đã chỉ rõ: “Mỹ vẫn tìm mọi biện pháp làm ảnh hưởng đến Trung Quốc, vấn đề tăng hiệp định mậu dịch thuế quan là một trong những thủ đoạn mới nhất của Mỹ, hòng gây ảnh hưởng đến Trung Quốc”. Trợ lý Bộ trưởng Bộ Mậu dịch kinh tế đối ngoại, trưởng đoàn đại biểu đàm phán phục quan của Trung Quốc Long Vĩnh Đề nói thẳng thắn rằng: “Trung Quốc có thể phục quan được trong năm nay hay không, là quyết định ở ý đồ chính trị của Mỹ”. Lập trường nói trên của Mỹ thể hiện rõ ràng trong vòng đàm phán song phương lần thứ 10 về vấn đề phục quan Trung Quốc kết thúc vào ngày 23-9. Lần thương lượng ấy, điểm quan tâm chủ yếu của Mỹ là lợi ích thương nghiệp của mình, với điều khoản cụ thể trong nghị định thư đàm phán phục quan Trung Quốc, thái độ là tiêu cực. Một quan chức của Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan có nói: Mỹ muốn nhìn thấy rõ “màu sắc của đồng tiền”, sau đó mới quyết định cuối cùng là có để cho Trung Quốc phục quan hay không. Trước khi thương thuyết nghị định thư phục quan Trung Quốc, hai bên Trung-Mỹ đã tiến hành đàm phán một tuần về vấn đề thuế quan và phi thuế quan hàng công nghiệp, nông nghiệp; thảo luận một loạt phương án thâm nhập thị trường mà Trung Quốc nêu ra. Nhưng sau khi bắt đầu đàm phán nghị định thư, phía Mỹ có ý đồ đưa thêm vào vấn đề còn lại trong đàm phán thâm nhập thị trường để mặc cả (mà cả) giành cho mình nhiều lợi ích thương nghiệp. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:06:22 am Tuyên ngôn cuối cùng của người Trung Quốc Với đà phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc, Trung Quốc ngày càng giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực mậu dịch kinh tế thế giới. Đưa nền kinh tế Trung Quốc hoà nhập vào quỹ đạo lớn của kinh tế thế giới, đó là tất yếu của lịch sử. Do đó, mặc dù Trung Quốc trên con đường gia nhập Tổ chức mậu dịch thế giới tạm thời chịu thua thiệt nhưng hình thái phát triển của lịch sử không thể bị ý chí của bất cứ ai xoay chuyển. Thử xem, ngày nay trong cuộc đại hòa nhập kinh tế thế giới, thiếu Trung Quốc một nước kinh tế đang vững bước đi lên, chiếm 1/5 dân số thế giới thì Tổ chức mậu dịch thế giới còn phù hợp với thực tế hay không? Lý Quang Diệu Nguyên Thủ tướng Sinhgapo tại Hội nghị cấp cao kinh tế Đông Á - châu Âu lần thứ 3 gần đây đã nói: “Đứng từ góc độ ổn định và an toàn mà nói, để Trung Quốc hoà nhập vào xã hội quốc tế không chỉ là vấn đề lựa chọn, mà là tính tất yếu”. Một chuyên gia về vấn đề Trung Quốc của Nhật Bản chỉ rõ rằng: “Gạt bỏ Trung Quốc - một nước có qui mô kinh tế to lớn ra ngoài thể chế Tổng hiệp định quan mậu1 là không thực tế. Không chỉ có vậy, để Trung Quốc gia nhập thể chế Tổng hiệp định quan mậu, đối với bản thân tổng hiệp định quan mậu mà nói không chỉ là một cách bảo đảm an toàn, mà cũng là một phương sách mạnh mẽ từ bên ngoài ủng hộ Trung Quốc trong “bước đi mềm mại” thực hiện kinh tế thị trường”. Như mọi người đều biết, qua 15 năm cải cách mở cửa, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế Trung Quốc với phát triển kinh tế thế giới ngày càng mật thiết. Xuất khẩu mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc đã đạt tới trên 20% giá trị tổng sản lượng quốc dân. Từ 1980-1992, mức tăng trưởng xuất khẩu mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc bình quân năm tăng trên 13%, tăng cao hơn mức tăng trưởng kinh tế quốc dân cùng kỳ. Năm 1993, về mặt xếp thứ bậc trong khu vực và các quốc gia xuất khẩu chủ yếu trên thế giới, Trung Quốc từ vị trí thứ 15, năm 1990 đã vươn tới thứ 11. Nếu coi khối thị trường chung châu Âu là một chỉnh thể thì Trung Quốc là nước đứng thứ 6. Qua hơn 10 năm cải cách, thể chế mậu dịch kinh tế đối ngoại của Trung Quốc thống nhất với những nguyên tắc của Tổng hiệp định quan mậu, điều kiện phục quan Trung Quốc đã hoàn toàn chín muồi. Người phát ngôn Bộ Mậu dịch kinh tế đồi ngoại, sau khi hội nghị lần thứ 19 tổ công tác Tổng hiệp định quan mậu kết thúc đã chỉ rõ: vì một nước đính ước rất cá biệt, xuất phát từ mục đích chính trị của mình không chịu nhìn vào thực tế, càng không chú ý đến mọi cố gắng của đoàn đại biểu Trung Quốc trong một tháng nay để đàm phán đi đến kết thúc, ngang nhiên đi ngược lại những lời hứa hẹn của họ là “kiên định ủng hộ Trung Quốc giành được địa vị nước đính ước Tổng hiệp định quan mậu”, sử dụng phương thức đòi giá cực đại, cố ý ngăn cản quá trình đàm phán phục quan Trung Quốc, làm cho hội nghị lần này không đi tới thống nhất ý kiến, kết thúc đàm phán mang tính thực chất về vấn đề phục quan Trung Quốc; nó hoàn toàn phản ánh hành động bá quyền trong lĩnh vực mậu dịch đa phương. Trung Quốc biểu thị sự phẫn nộ trước hành vi phá hoại nghiêm trọng nguyên tắc phổ biến của thể chế mậu dịch đa phương và trật tự thông thường về đàm phán mậu dịch đa phương, đồng thời, đối với Tổ chức mậu dịch thế giới có thể phải cảm thấy lo ngại trước hành động gây rối tuỳ tiện của một thành viên cá biệt. Kiên trì sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ là nguyên tắc cần phải tuân theo, trước hết trong đàm phán phục quan của Trung Quốc. Trong vấn đề có liên quan đến lợi ích căn bản, Trung Quốc xưa kia chưa bao giờ và tương lai cũng sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ áp lúc ngoại lai nào. Trung Quốc đòi hỏi phục quan và được trở thành một thành viên sáng lập Tổ chức mậu dịch thế giới, là nhu cầu để Trung .Quốc thực hành cải cách mở cửa. Cho dù Trung Quốc lúc nào gia nhập Tổ chức mậu dịch thế giới, Trung Quốc đều kiên trì cải cách mở cửa, và trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tiếp tục mở rộng hợp tác mậu dịch với các nước trên thế giới, góp phần cố gắng của mình cho sự phát triển nậu dịch kinh tế thế giới. Chúng ta tin chắc rằng, sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa không vì gặp khó khăn mà phát sinh ảnh hưởng; xây dựng kinh tế của Trung Quốc vẫn cứ phát triển lên phía trước nhanh chóng và mạnh mẽ, không ai ngăn cản nổi đoàn “tầu phương Đông” thẳng tiến. Thế kỷ 21, Trung Quốc sẽ chứng minh trước thế giới lời kết luận ấy. ______________________________________ 1. Tổng hiệp định mầu dịch thuế quan. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:08:30 am Phục quan đàm phán trở lại Mặc dù Chính phủ Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh lập trường nguyên tắc về vấn đề phục quan, nêu ra điều kiện phục quan Trung Quốc đã chín muồi, yêu cầu trong hội nghị lần thứ 19 tổ công tác Trung Quốc về mậu dịch thuế quan cử hành tại Giơnevơ ngày 20-12-1994 đạt được hiệp nghị đàm phán thực chất phục quan Trung Quốc, để Trung Quốc trở thành thành viên sáng lập Tổ chức mậu dịch thế giới được thành lập ngày 1-1-1995, nhưng vì thiểu số phía đính ước thiếu thiện chí, cố ý cản trở nên hội nghị lần cuối cùng vẫn không đạt tới hiệp nghị phục quan Trung Quốc. Bởi vì Tổ chức mậu dịch thế giới và Hiệp định mậu dịch thuế quan thời gian tiến hành trong một năm, nên lúc ấy có một số bình luận cho rằng: nếu Trung Quốc được phục quan trong năm 1995, thì về mặt lý luận vẫn có khả năng trở thành nước đính ước gia nhập Tổ chức mậu dịch thế giới. Do đó, năm 1995 Trung Quốc chỉ tiến hành ba lần thương lượng phi chính thức với phía đính ước về vấn đề phục quan và gia nhập Tổ chức mậu dịch quốc tế. Ngày 9-5-1995, cuộc đàm phán phục quan Trung Quốc gián đoạn gần 5 tháng được khôi phục lại tại Giơnevơ. Cuộc đàm phán phục quan lần này được khôi phục là do Chủ tịch tổ công tác phục quan Trung Quốc khởi xướng với sự yêu cầu nhiều lần của một số nước đính ước chủ yếu. Kể từ sau khi vấn đề phục quan Trung Quốc chưa đạt được hiệp nghị, nhiều nước đính ước nêu yêu cầu khôi phục đàm phán thật sớm; đặc biệt là Mỹ, liên minh châu Âu và Nhật Bản liên tiếp cử đoàn đại biểu cấp cao tới thăm Trung Quốc, tiến hành bàn bạc với Trung Quốc về vấn đề khôi phục cuộc đàm phán. Tháng 3, Kantơ đại diện mậu dịch Mỹ ra tuyên bố tỏ rõ, một khi khôi phục đàm phán, Mỹ sẽ cử đoàn đại biểu có mặt đầu tiên và hứa sẽ tham gia đàm phán với thái độ tích cực, linh hoạt và sát thực. Tháng 4, Briten Phó Chủ tịch mậu dịch quốc tế chủ quản Hội đồng liên minh châu Âu sang thăm Trung Quốc. Ông ta tuyên bố Liên minh châu Âu đã có quyết định chính trị, cho rằng Trung Quốc trở thành thành viên Tổ chức mậu dịch thế giới sẽ làm cho tổ chức này được tăng cường. Ông còn nói rõ, Liên minh châu Âu sẽ thúc đẩy cuộc đàm phán phục quan Trung Quốc nhanh chóng đạt kết quả với thái độ linh hoạt. Với sự yêu cầu mãnh liệt của các bên đính ước, Chủ tịch tổ công tác phục quan Trung Quốc gửi thư mời đến Trung Quốc và các nước đính ước, kiến nghị khôi phục đàm phán. Xét tình hình kể trên, Trung Quốc quyết định cử đoàn tham gia hội nghị lần này, cùng các bên đính ước tiến hành vòng thương lượng mới không chính thức. Long Vĩnh Đồ Trợ lý Bộ trưởng Mậu dịch kinh tế đối ngoại - trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã có bài nói ngay giờ đầu ngày mồng 9, mong muốn các bên đính ước, nhất là các nước chủ yếu tham gia đính ước, sau khi đã suy nghĩ qua mấy tháng, thật sự nhận thức được Trung Quốc tham gia Tổ chức mậu dịch thế giới có lợi cho sự phát triển mậu dịch kinh tế các nước trên thế giới. Tổ chức mậu dịch thế giới và Trung Quốc có quan hệ tác động lẫn nhau, và đều lấy nhận thức chung ấy làm cơ sở, nghiêm túc thực hiện điều hứa hẹn của họ với thái độ linh hoạt, thiết thực, và chỉ có như vậy, cuộc đàm phán phục quan Trung Quốc mới có thể tiến triển thật sự. Long Vĩnh Đồ còn nói: “Phía Trung Quốc đã chuẩn bị đầy đủ cho đàm phán lần này, và cùng cố gắng với các bên đính ước góp phần cống hiến của mình để tăng cường thể chế mậu dịch đa phương trên thế giới”. Trong hai tuần, Trung Quốc đã tiến hành đàm phán với gần 20 đoàn đại biểu các nước về vấn đề thâm nhập thị trường, thương nghiệp dịch vụ song phương, với sự chủ trì của Chủ tịch tổ công tác, tiến hành thương lượng về Nghị định thư phục quan Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:09:47 am Những gay cấn về cuộc đàm phán phục quan vòng 2 Ngày 11-7-1995, cuộc đàm phán phục quan Trung Quốc vòng 2 bắt đầu, vòng đàm phán này đầu tiên thương lượng cụ thể song phương. Tham gia đàm phán song phương với Trung Quốc lần này có 25 nước đính ước. Theo thống kê chính thức công bố của Tổ chức mậu dịch thế giới cho đến lúc này có tất cả 100 nước đính ước chính thức, song chỉ có 25 nước giữ quan điểm này hoặc quan điểm khác về vấn đề phục quan Trung Quốc, hoặc ít nhiều vấn đề cần thương lượng thêm với Trung Quốc. Theo qui định của Tổng hiệp định quan mậu - Tổ chức mậu dịch thế giới, khi kết nạp một thành viên phàm là những nước đính ước chính thức có nghi vấn này nọ đối với thành viên được kết nạp đều có quyền thương lượng với nước ấy, còn các nước đính ước chính thức không đề xuất thương lượng thì cứ tự động nói rõ với thành viên kết nạp là không có nghi vấn gì; chỉ có 1/4 tổng số các nước đính ước chính thức cần thương lượng với Trung Quốc. Bản thân con số ấy đã thể hiện rõ ràng chính xác đại đa số bên đính ước không tồn tại vấn đề gì về phục quan Trung Quốc. Qua hai tuần đàm phán song phương tích cực, lại có 7 nước đính ước có nhận thức chung trên mọi vấn đề phục quan Trung Quốc, đạt tới hiệp nghị. Như vậy là vấn đề phục quan Trung Quốc, trong 100 nước đính ước chính thức có tới 82 nước ủng hộ Trung Quốc. Trong 18 nước còn lại thông qua vòng thương lượng song phương, nhiều lắm cũng chỉ còn lại mấy vấn đề chờ đàm phán thêm để giải quyết. Vì vậy có thể nói thành tích thương lượng song phương của cuộc thương lượng vòng 2 là rất rõ ràng. Ngày 24-7, cuộc đàm phán phục quan vòng 2 của Trung Quốc năm 1995 bước vào giai đoạn thương lượng đa phương. Trong cuộc thương lượng giai đoạn này đoàn đại biểu Trung Quốc chủ động đề xuất một loạt kiến nghị mang tính xây dựng, trong đó bao gồm việc thông qua một thời gian quá độ hữu hạn để xoá bỏ chế độ thẩm phê quyền kinh doanh ngoại thương, nhằm đạt được mục đích từng bước mở rộng thứ bậc kinh doanh ngoại thương, về nghị định như bổ trợ nông nghiệp, và 6 văn bản phụ của nghị định thư phục quan Trung Quốc như là: thanh đơn hàng hóa do nhà nước định giá, thanh đơn giấy phép phối ngạch xóa bỏ từng phần, thanh đơn kiểm nghiệm hàng hóa cần được luật định hiện tại v.v... Những kiến nghị của Trung Quốc vừa nêu ra đã được Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Canađa và các nước đính ước tham dự đàm phán đồng tình và hoan nghênh, thậm chí ngay cả đến đại biểu Mỹ có lập trường đối lập cũng không thể không thừa nhận Trung Quốc cố gắng tích cực cho vấn đề phục quan. Do những nỗ lực của Trung Quốc hầu như được tất cả các bên đính ước tham dự đàm phán đáp ứng, vì vậy, sau cuộc đàm phán đa phương qua hai buổi với sáu tiếng đồng hồ, Đại sứ Thụy Sỹ Chủ tịch tổ công tác Trung Quốc của Tổng hiệp định quan mậu phụ trách đàm phán phục quanTrung Quốc nêu ra đề nghị, điều kiện khởi thảo nghị định thư phục quan Trung Quốc đã chín muồi, đề nghị có thể bắt đầu công việc dự thảo văn kiện. Như mọi người đều biết, nghị định thư phục quan là văn kiện quan trọng về phục hồi địa vị nước đính ước Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan của Trung Quốc, vì vậy, đề nghị của ông Chủ tịch tổ công tác trên thực tế mang ý nghĩa đột phá về vấn đề phục quan Trung Quốc. Nhưng ngay lúc ấy, đồng thời với việc thừa nhận Trung Quốc đã cố gắng tích cực về phục quan, thì Mỹ lại ngang ngạnh nêu ra Chế độ quyền kinh doanh ngoại thương trước mắt của Trung Quốc là trái ngược với nguyên tắc cơ bản về đãi ngộ quốc dân của Tổng hiệp định quan mậu. Còn hiện tại đoàn đại biểu Trung Quốc nêu ra kiến nghị về thời kỳ quá độ xóa bỏ quyền kinh doanh ngoại thương, đoàn đại biểu Mỹ không được đưa kiến nghị quyền trong nước ra thảo luận đề nghị này, cũng không được đưa vào việc khởi thảo văn bản nghị định thông qua. Cuối cùng những thắc mắc chất vấn mà Mỹ nêu ra gọi là: Trung Quốc vi phạm Tổng hiệp định quan mậu về đãi ngộ quốc dân, đối với những người có chút hiểu biết thường thức về mậu dịch quốc tế mà nói thì không chịu nổi, bởi vì đãi ngộ quốc dân chính là nói đến hàng hóa, chứ không phải nói tới xí nghiệp. Còn Mỹ đang sinh sự ở giờ phút quan trọng nhất về phục quan Trung Quốc trên những vấn đề không phải là nghi vấn mà mọi người đều rõ cả, không thể không phản ánh ý đồ của Mỹ cố ý cản trở phục quan Trung Quốc. Ngày 8-12, Tổ công tác Trung Quốc của Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan sau khi Trung Quốc tiến hành thương lượng không chính thức vòng cuối cùng với bên đính ước, được đổi tên là Tổ công tác Trung Quốc gia nhập tổ chức mậu dịch thế giới. Triển vọng tương lai đất trời rộng mở Phục quan, phải chăng một “trận đánh lâu dài”? Qua cuộc thương lượng đa phương không chính thức tiến hành tại Giơnevơ cuối năm 1995 của Tổ công tác phục quan Trung Quốc tiến triển tích cực, quan chức Mỹ cho rằng hội đàm lần này “mang nhiều tính tích cực”. Hạ tuần tháng 3-1996 lại bắt đầu một năm cuộc đàm phán song phương Trung-Mỹ; nghe “phong thanh” qua hội đàm, thời gian phục quan Trung Quốc không còn xa vời. Nhưng, ai dám bảo đảm ngày ấy sắp đến. Bởi vì khả năng tráo trở của một số nước đính ước ở phương Tây rất lớn. Đúng như Bộ trưởng Bộ mậu dịch kinh tế đối ngoại Ngô Nghi nhấn mạnh, nếu Trung Quốc bị gạt ra ngoài Tổng hiệp định quan mậu và Tổ chức mậu dịch thế giới “thì chúng ta sẽ đá bóng theo qui tắc của mình”. Cần phải thấy rằng trong thế kỷ này Trung Quốc trở thành thành viên Tổ chức quan mậu, không chỉ là nguyện vọng của Trung Quốc, mà còn là nguyện vọng của phần đông nước đính ước. Bởi vì Tổ chức mậu dịch thế giới không có Trung Quốc - một quốc gia có 1,2 tỷ người tham gia là thiếu vô tư; cũng tất nhiên sẽ giảm tính chất tiêu biểu và đối tác thuận lợi. Một khi Trung Quốc đứng ngoài Tổ chức mậu dịch thế giới và đi một mình, thì với các nước đính ước do Mỹ cầm đầu sẽ không thấy được cái “có lợi” ra sao. Trung Quốc cần Tổng hiệp định quan mậu, Tổng hiệp định quan mậu cũng cần Trung Quốc. Nhất là trong xu thế hiện tại mậu dịch kinh tế toàn cầu phát triển tới các nước đang phát triển có tiềm lực thị trường rộng lớn, mới có thể thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển một cách nhanh chóng, lành mạnh, cân bằng hữu hiệu. Từ sự phân tích rõ ràng ấy, phục quan không thể còn xa vời. Đúng như cựu Thủ tướng Sinhgapo Lý Quang Diệu đã nói: “Từ sự ổn định và an toàn của thế giới mà nói kết nạp Trung Quốc vào xã hội quốc tế không phải là một vấn đề lựa chọn mà là tính tất yếu” Trung Quốc có đủ niềm tin và đủ lý do cầm tấm “thẻ hội viên” của Tổ chức mậu lịch thế giới. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:12:24 am PHẦN 7 MƯỢN CỚ NHÂN QUYỀN CHỐNG TRUNG QUỐC Trung Quốc sáu lần chiến thắng mưu đồ của phương Tây Ngày 23-4-1996, hội nghị lần thứ 52 Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua một nghị quyết hành động với đa số phiếu: phủ quyết cái gọi là kiến nghị “Tình trạng nhân quyền Trung Quốc” mà Mỹ và thiểu số các nước phương Tây nặn ra; từ đó làm cho mưu đồ lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào tình hình chính trị Trung Quốc lại một lần nữa phá sản. Mỹ kích động một số nước làm văn bản phản đối Trung Quốc tại Hội đồng nhân quyền. Cũng chẳng có gì mới mẻ. Trước đó, họ đã năm lần đưa ra và ý đồ thông qua quyết nghị phản đối Trung Quốc tại Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc; song mỗi lần đều bị đa số thành viên phản đối và chịu thất bại. Trước Hội nghị Uỷ ban nhân quyền lần này, Mỹ vẫn công bố cái gọi là “báo cáo nhân quyền nước khác”, tăng cường bôi nhọ và gây khó khăn cho Trung Quốc, ngoài ra còn liên tiếp dựng đứng và phát tán đủ loại “tin tức” ghê rợn về vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc, để hòng làm xấu xa hình ảnh của Trung Quốc với quốc tế. Trong thời gian triệu tập hội nghị, để đạt được mục đích thông qua quyết nghị chống Trung Quốc, Mỹ và thiểu số các nước phương Tây tuyên truyền khắp nơi, gây áp lực nhiều phía, thậm chí thao túng một số tổ chức phi Chính phủ tăng cường hoạt động gọi là toàn cầu phản đối Trung Quốc, thật là, dùng hết mọi thủ đoạn. Nhưng đa số thành viên vượt qua áp lực đó, kiên trì lập trường nguyên tắc của mình, làm cho bản kiến nghị chống Trung Quốc lại một lần nữa thất bại. Sự thật đã được chứng minh, mượn cớ nhân quyền can thiệp vào nội bộ nước khác là không được lòng người. Mưu đồ thao túng cơ quan Liên Hợp Quốc thông qua quyết nghị chống Trung Quốc liên tục sáu lần thất bại, quyết không phải là ngẫu nhiên. Bởi vì nó chống lại tôn chỉ và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc. Không nhìn thẳng vào tình hình thực tế của Trung Quốc và cũng đi ngược lại trào lưu phát triển của thời đại nhất định sẽ không đạt được mục đích. Mấy năm gần đây là thời kỳ lịch sử trọng đại, nền kinh tế quốc dân và xã hội Trung Quốc phát triển mạnh mẽ cùng sự nghiệp dân quyền tiến bộ toàn diện. Trước mắt, tình hình chính trị Trung Quốc ổn định, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ, dân tộc đoàn kết, nhân dân làm chủ, an cư lạc nghiệp, mức sống không ngừng được nâng cao, tình hình nhân quyền có xu hướng cải thiện toàn diện tốt đẹp hơn. Đó là sự thật mà nhân dân thế giới đều thấy rõ. Mỹ và số ít các nước phương Tây không để ý đến thực tế ấy bất chấp nhiều lần phủ quyết của Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc, chủ quan cố chấp, liên tiếp đề nghị phản đối Trung Quốc; điều đó nói rõ lòng lang dạ thú thật khó đo lường. “Hạng Trang múa kiếm, ý tại Bái Công”, họ năm này qua năm khác mượn cái gọi là vấn đề nhân quyềnTrung Quốc khuếch đại ngôn từ, tỏ rõ không ngoài mục đích là mượn cớ hòng gây áp lực chính trị với Trung Quốc, phá hoại sự ổn định của Trung Quốc, hạn chế sự phát triển và lớn mạnh của Trung Quốc. Biện pháp lợi dụng vấn đề nhân quyền, ngang nhiên can thiệp nội bộ Trung Quốc, lẽ đương nhiên vấp phải sự kiên quyết cự tuyệt của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, cũng như sự chống trả quyết liệt của đại đa số nước trong Uỷ ban nhân quyên. Thực ra, căn bản Mỹ không đủ tư cách làm “quan tòa nhân quyền”. Cách đây không lâu, Trung Quốc đã công bố một văn bản “so sánh nhân quyền hai nước Trung-Mỹ” trước sự chỉ trích của Mỹ, từ 24 phương diện, về cơ bản nhân quyền được bảo đảm bình đẳng rộng rãi ở Mỹ kém xa với thực tế cơ bản Trung Quốc. Thật đáng châm biếm là đầu tháng 4-1996 đúng lúc Mỹ nêu đề án kích động chống Trung Quốc tại Hội nghị nhân quyền, thì tại nước Mỹ lại xảy ra sự kiện xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng là cảnh sát Mỹ đàn áp người Mêhicô di cư, khiến cả thế giới quan tâm theo dõi, mọi dư luận đều xôn xao. Mượn cớ nhân quyền chống lại Trung Quốc căn bản đi ngược lại tôn chỉ và nguyên tắc “Hiến chương 13” của Liên Hợp Quốc. Tôn chỉ Hiến chương Liên Hợp Quốc qui định “thúc đẩy hợp tác quốc tế... tăng cường khích lệ sự tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản đối với toàn nhân loại”. “Bản tuyên bố Viên và cương lĩnh hành động” được Đại hội nhân quyền thế giới thông qua năm 1993 cũng yêu cầu Liên Hợp Quốc lấy tôn chỉ của Liên Hợp Quốc làm “mục tiêu hàng đầu” xúc tiến nhân quyền. Nó phản ánh nguyện vọng chung của nhân dân các nước trên thế giới. Cơ quan nhân quyền của Liên Hợp Quốc cần là nơi mở rộng hợp tác quốc tế và đối thoại giữa các nước, không nên trở thành nơi đối kháng chính trị, càng không nên trở thành công cụ thực hành chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền của một đại siêu cường đối với các quốc gia đang phát triển. Đáng tiếc là Uỷ ban nhân quyền của Liên Hợp Quốc trong một thời gian dài bị bao trùm bởi không khí cuộc chiến tranh lạnh đối kháng chính trị. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhân dân thế giới đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, mong muốn lĩnh vực nhân quyền quốc tế thoát khỏi ám ảnh của cuộc đối kháng chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đi lên con đường thật sự hợp tác bình đẳng. Nhưng, Mỹ là một đại siêu cường duy nhất trên thế giới hiện nay vẫn ngoan cố duy trì phương thức tư duy thời kỳ chiến tranh lạnh, tăng cường chính trị hóa vấn đề nhân quyền. Nhân quyền trở thành thủ đoạn gây áp lực chính trị, can thiệp nội bộ nước khác của Mỹ và một số nước phương Tây; làm cho khuynh hướng đối kháng chính trị trên lĩnh vực nhân quyền ngày càng nổi cộm. Với nghị đề “Nhân quyền nước khác” tại Hội nghị nhân quyền năm 1996, đại biểu các nước phương Tây công kích đích danh hơn 60 nước châu Á, châu Phi, Trung Đông, Mỹ La Tinh và Đông Âu, ra sức phê phán công việc nội bộ của những nước này. Theo thống kê, từ 1992 trở lại đây, dưới sự kích động và thao túng của Mỹ, Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc lần lượt thông qua 58 quyết nghị nhân quyền can thiệp nội bộ nước khác, hầu như đều nhằm vào các nước đang phát triển. Trung Quốc càng là trọng điểm công kích của họ. Tuy rằng sáu lần thất bại liên tiếp, Mỹ và các nước phương Tây vẫn không cam chịu. Tại Hội nghị nhân quyền lần này Mỹ và phương Tây lại một lần nữa tung ra đề án chống Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:12:53 am Những hành vi trái ngược của Mỹ tại vũ đài nhân quyền quốc tế gây nên sự công phẫn và phản đối quyết liệt của quảng đại quốc gia đang phát triển. Tại Hội nghị lần này, các nước đang phát triển kể cả Trung Quốc trong bài phát biểu của mình đều phê phán các nước phương Tây gây đối kháng, áp lực và can thiệp vào công việc nội bộ nước khác; đề xướng đối thoại hợp tác và hiệp thương nhất trí; nêu ra ý kiến chất vấn và cải cách đối với phương hướng công tác của Uỷ ban dân quyền. Đây là đặc điểm của Hội nghị dân quyền lần này, nó phản ánh tiếng nói mạnh mẽ của các nước đang phát triển, đoàn kết đấu tranh với sự đối kháng chính trị. Ngoài ra, trong Hội nghị nhân quyền năm 1996, giữa Mỹ và một số nước châu Âu cũng bắt đầu xuất hiện một số ý kiến bất đồng về vấn đề chống Trung Quốc; có nước trong Liên minh châu Âu biểu lộ nguyện vọng muốn thay thế sự đối kháng trong Hội nghị nhân quyền bằng phương thức đối thoại mang tính xây dựng. Bản thân sự việc nói lên: ngày càng có nhiều người nhận thức được rằng, cách làm của thiểu số quốc gia ra quyết nghị gây áp lực đối với nước khác đã đi vào đường hầm không lối thoát. Đề án chống Trung Quốc của phương Tây sở dĩ khó thoát khỏi số phận thất bại là ở chỗ lợi dụng nhân quyền gây đối kháng chính trị, đi ngược lại tôn chỉ và nguyên tắc “Hiến chương Liên Hợp Quốc”, đi ngược lại lòng người và xu thế lớn của xã hội quốc tế. Đề án chống Trung Quốc của phương Tây bị phủ quyết, không phải chỉ là thắng lợi của Trung Quốc mà cũng là thắng lợi của quảng đại các nước đang phát triển và sức mạnh quốc tế bảo vệ tôn chỉ nguyên tắc “Liên Hợp Quốc”. Trung Quốc trước sau như một cùng các nước và mọi nhân sĩ ủng hộ chính nghĩa trên thế giới ra sức bảo vệ tôn chỉ nguyên tắc của Liên Xô, kiên quyết phản đối lợi dụng nhân quyền thi hành chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền; tích cực thúc đẩy hoạt động nhân quyền quốc tế phát triển lành mạnh. - Đại biểu Trung Quốc bác bỏ nghị án chống Trung Quốc. Ngày 23 trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia Hội nghị lần thứ 52 Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc Ngô Kiến Dân đã phát biểu ý kiến trước khi hội nghị biểu quyết về nghị án chống Trung Quốc của Mỹ và Liên minh châu Âu tung ra, ông phê phán nghiêm khắc nghị án này đồng thời bày tỏ lập trường kiên định của Trung Quốc phản đối nghị án ấy. Ngô Kiến Dân nói: Mỹ và thiểu số quốc gia phương Tây gần đây không ngừng phát tán luận điệu gọi là “Chính phủ Trung Quốc không quan tâm đến nhân quyền”, “tình hình nhân quyền Trung Quốc rất tệ hại”; đó là sự vu khống. Ông nêu ra những sự thực sau đây: Trước năm 1943, dân số Trung Quốc khoảng 500 triệu, có 400 triệu người đói ăn; ngày nay Trung Quốc có 1,2 tỷ người, cơ bản vấn đề ăn mặc đã được giải quyết. Trước 1949, bình quân tuổi thọ của người Trung Quốc là 35 tuổi, ngày nay đạt tới 70 tuổi. Năm 1949, tỷ lệ mù chữ cao tới 80%, ngày nay hạ thấp xuống còn 12,1%; tỷ lệ trẻ em đến trường là 98,7%. 100 năm trước năm 1949, nhân dân Trung Quốc chịu nhục cùng cực dưới ách của bọn đế quốc, chỉ là thứ dân trên đất nước của mình; công dân Trung Quốc ngày nay là người chủ của đất nước, được hưởng mọi quyền lợi do hiến pháp và pháp luật bảo hộ. Ngô Kiến Dân chỉ rõ: Trước sự thực kể trên bất kỳ ai không có thiên kiến đều phải thừa nhận, tình trạng nhân quyền Trung Quốc không phải là tồi tệ, mà là tiến bộ rất lớn. Đó không chỉ là hạnh phúc của nhân dân Trung Quốc, mà còn là sự cống hiến lớn lao của Trung Quốc đối với sự nghiệp nhân quyền thế giới. Ngô Kiến Dân còn nói: Từ 1990 lại đây, Mỹ đồng loã với thiểu số quốc gia phương Tây liên tục sáu lần trương chiêu bài “quan tâm đến tình hình nhân quyền TrungQuốc”, nêu đề án chống Trung Quốc tại Uỷ ban nhân quyền. Mà sáu năm ấy chính là sáu năm mà Trung Quốc tiến bộ rất nhanh trên nhiều mặt, kể cả lĩnh vực nhân quyền. Về mặt hưởng thụ quyền lợi kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân Trung Quốc đã có sự tiến triển to lớn, đồng thời về quyền lợi chính trị công dân cũng tiến bộ rõ rệt. Tỷ lệ tham gia tuyển cử là thước đo chỉ tiêu tình trạng quyền lợi chính trị công dân của một nước: tỷ lệ tham gia tuyển cử của Trung Quốc đạt tới 93,58%. Ngoài ra, tháng 10-1990 Trung Quốc bắt đầu thi hành Luật tố tụng hành chính. Tháng 5-1994 lại chế định Luật bồi thường quốc gia. Đây là hai bộ luật quan trọng bảo vệ giữ gìn quyền lợi của công dân. Nhân dân Trung Quốc gọi là “luật dân cáo quan”, điều ấy chưa bao giờ có trong lịch sử Trung Quốc. Cuối năm 1993, lúc ấy ông Ruxiaochen Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc trong khi trả lời phỏng vấn của phóng viên “Thời báo Niu Oóc” đã nói, tình trạng nhân quyền Trung Quốc hiện nay là thời kỳ tốt đẹp nhất trong hơn 100 năm nay. Ngô Kiến Dân chỉ rõ: Trong sáu năm qua nước công kích tình trạng nhân quyền Trung Quốc dữ nhất, lại chính là nước đã chà đạp nhân quyền Trung Quốc ghê gớm nhất và mắc nhiều nợ với nhân dân Trung Quốc về lĩnh vực nhân quyền trong lịch sử. Họ công kích Trung Quốc bằng mọi cách, nói cho cùng là họ không ưa con đường phát triển mà nhân dân Trung Quốc lựa chọn. Ngô Kiến Dân nói thẳng với những người kiên trì đề án chống Trung Quốc rằng: Không cần nói là họ đã sáu lần nêu đề án chống Trung Quốc, mà là đến 60 lần, thì nhân dân Trung Quốc vẫn cứ đi theo con đường của mình. Ngô Kiến Dân còn nói: Trên lĩnh vực nhân quyền có hai loại chủ trương đối lập nhau: một loại là hợp tác, loại kia là đối kháng. Loại đối kháng là biểu hiện của tư duy chiến tranh lạnh. Ông nói: Bất kể là văn minh phương Tây hay văn minh phương Đông, bất kể là cách nhìn nhân quyền bằng giá trị của quốc gia phát triển hay là của quốc gia đang phát triển đều có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa, không nên tồn tại vấn đề ai là tốt đẹp ai là xấu xa. Nhân quyền mang tính phổ biến, song nguyên tắc của tính phổ biến không có nghĩa là một bộ phận quốc gia phải tiếp thu quan điểm hoặc phục tùng quan điểm của một bộ phận quốc gia khác. Thế giới ngày nay, nhân dân mỗi nước đều có quyền lợi riêng của họ; nhân dân Trung Quốc, nhân dân châu Á, nhân dân các nước đang phát triển có quyền, cũng có khả năng theo phương thức tự chọn để sống và quản lý quốc gia trên đất nước của mình. Thực chất gây đối kháng chính là thi hành chính trị cường quyền, mặt sau của đối kháng là ham muốn thống trị, căn bản không phải là thúc đẩy nhân quyền, mà là coi rẻ nhân quyền. Ông nói, nghị án chống Trung Quốc mà Mỹ và một số nước phương Tây dựng nên vì mục đích chính trị, mũi nhọn ấy không chỉ nhằm vào Trung Quốc mà còn nhằm vào tất cả các nước đang phát triển. Ngô Kiến Dân nhấn mạnh: Nếu Mỹ và một số nước phương Tây thực lòng có ý thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền thì nên kiên quyết từ bỏ đối kháng, và hưởng ứng lời kêu gọi của các nước đang phát triển bằng hành động thực tế. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 12:13:51 am Nhân dân Trung Quốc được hưởng đầy đủ nhân quyền Cuốn sách trắng “Những tiến triển của sự nghiệp nhân quyền Trung Quốc” của Văn phòng tin tức Quốc vụ viện Trung Quốc công bố cuối tháng 12-1995 đã giới thiệu toàn diện những tiến triển và thành tựu mới của sự nghiệp nhân quyền Trung Quốc giành được trong 4 năm qua. Đó là một văn kiện quan trọng thể hiện toàn diện những tiến triển to lớn giành được trong sự nghiệp nhân quyền của Trung Quốc sau 4 năm, tiếp sau bài phát biểu về “tình hình nhân quyền Trung Quốc” hồi tháng 11-1991, lại một lần nữa chứng minh rõ lập trường nguyên tắc và quan điểm cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề nhân quyền. Cuốn sách có đầy đủ chứng cớ bác bỏ mọi chỉ trích và công kích của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ đối với sự nghiệp nhân quyền Trung Quốc; cũng là bản báo cáo chân thực về tình hình nhân quyền Trung Quốc. Gọi là “nhân quyền” là chỉ quyền lợi cơ bản của mọi người về vật chất và tinh thần cần được hưởng trên cơ sở bình đẳng. Quyền lợi ấy ở nội bộ một nước phải lấy sự bình đẳng giữa người với người làm cơ sở, trên quốc tế phải tôn trọng bình đẳng chủ quyền các nước, là nói tới tự do dân chủ. Không có bình đẳng chủ quyền giữa các nước với nhau, thì tất nhiên sẽ dẫn tới dân tộc này áp bức dân tộc khác, tất nhiên sẽ xuất hiện chính trị cường quyền và chủ nghĩa bá quyền. Khái niệm nhân quyền sinh ra sớm nhất ở sơ kỳ của chủ nghĩa tư bản, những nhà tư tưởng ban đầu của giai cấp tư sản vô luận là chủ trương “nhân quyền trời cho” (gọi là “nhân sinh và tự do bình đẳng”), hay là chủ trương “dân ước luận” cũng vậy, đều lấy bình đẳng của các thành viên trong xã hội làm điểm xuất phát. Lúc ấy nội dung chủ yếu của nhân quyền là quyền lợi công dân và quyền lợi quốc gia, mũi nhọn chĩa vào đặc quyền quí tộc phong kiến và giáo hội thần quyền, đó gọi là nhân quyền thời đại thứ nhất. Đến thế kỷ 19, do phong trào công nhân phát triển, nhân quyền lại thêm nội dung mới, đó là quyền lợi về kinh tế xã hội và văn hóa, thế là nhân quyền thời đại thứ 2 ra đời. Sau khi đại chiến thế giới thứ 2 kết thúc, các nước thế giới thứ 3 trỗi dậy, đứng trước tình trạng kém phát triển và lạc hậu do chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc để lại họ nêu ra quyền sinh tồn và quyền phát triển là nhân quyền tập thể, mũi nhọn hướng vào tất cả thực dân. Đây là thời đại 3. Quá trình phát triển của khái niệm nhân quyền chứng tỏ nội dung nhân quyền hết sức phong phú, nó hầu như liên quan tới mọi lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật và văn hóa, còn theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, khái niệm nhân quyền cũng không ngừng phát triển. Theo quá trình phát triển kể trên, có thể thấy được rằng, tại sao một số nước phương Tây chỉ nói tới quyền lợi công dân và quyền lợi chính trị mà không nói hoặc nói rất ít đến quyền lợi kinh tế, xã hội văn hóa và quyền sinh tồn, quyền phát triển. Bởi vì những nước ấy không thích thú gì với việc nâng cao quyền lợi kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân lao động và thúc đẩy quyền lợi ấy là mâu thuẫn với lợi ích căn bản của tập đoàn thống trị của họ. Mọi người đều biết rằng ở Trung Quốc cũ do sự áp bức của đế quốc phong kiến và bọn quan liêu, nhân dân Trung Quốc ngay cả quyền sinh tồn cũng không được bảo đảm, còn đâu mà nói tới “nhân quyền”? Sau khi nước Trung Quốc mới ra đời, Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng và bảo vệ. nhân quyền. Hiến pháp Trung Quốc qui định: “Tất cả mọi quyền lực của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đều thuộc về nhân dân”. Theo hiến pháp, nhân dân Trung Quốc được hưởng quyền lợi công dân và quyền lợi chính trị rộng rãi cùng các quyền lợi về kinh tế xã hội và văn hóa. Đặc biệt là từ khi cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Trước mắt cục diện chính trị Trung Quốc ổn định, kinh tế phồn vinh, các ngành nghề thịnh vượng, nhân dân an cư lạc nghiệp. Ngày nay ở Trung Quốc, chỉ cần không có hành vi phạm pháp, phạm tội, bất cứ ai cũng đều có thể phát biểu nhữngý kiến bất đồng trên mọi vấn đề, nó trở thành một nếp sống. Điều đó nói lên, nhân dân Trung Quốc được hưởng đầy đủ nhân quyền. Ngày nay, trên thế giới có một nước nào đó, mỗi năm đều công bố “báo cáo nhân quyền”, nhưng một số nước chỉ trích và xuyên tạc đối với tình hình nhân quyền nước khác, song không bao giờ nói tới tình hình nhân quyền nước mình. Lẽ nào tình hình nhân quyền của nước ấy đều tốt cả? Nhà luật học Mỹ Luisi Hangien trong “Nhân quyền quốc tế và nhân quyền tại Mỹ” có viết: “Hầu như không cần phải nói, ở Mỹ quyền lợi cá nhân còn lâu mới hoàn thiện được. Trước kia, mọi hành vi phạm tội ở Mỹ cực kỳ nghiêm trọng và lan truyền khắp nơi, như thực hành sát hại và tiêu diệt chủng tộc đối với thổ dân châu Mỹ, thi hành cưỡng bức chế độ nô lệ đối với người da đen, cách ly chủng tộc và đánh dấu lên người nô lệ, thực hành kỳ thị chủng tộc dân tộc và tôn giáo đối với các màu da: bao gồm cả việc di chuyển và tập trung qui mô lớn đối với những người Mỹ gốc Nhật, tiến hành hoạt động bài xích Hoa kiều, thực thi luật di dân chủng tộc trong suốt thời kỳ Đại chiến thế giới thứ 2. Sau chiến tranh lại tiến hành bắt bớ chống phá cộng sản, mặc sức chà đạp lên tự do chính trị của công dân. Những tội ác ấy tuy đã đều trở thành quá khứ, nhưng vẫn chưa phải kết thúc toàn bộ”. Là bởi vì hiện nay Mỹ “vẫn còn có hiện tượng kỳ thị chủng tộc và mất bình đẳng, đối với người cộng sản, nhân sĩ phái tả, những người khác với quan điểm chính thống và những người ngoại lai thì cự tuyệt cung cấp trình tự tố tụng công bằng và bảo.hộ; cảnh sát bạo ngược hoành hành, điều kiện nhà tù khắc nghiệt, Chính phủ cùng các phương tiện kỹ thuật tối tân được sử dụng tiến hành theo dõi kín đáo mọi nơi đối với những cá nhân trọng yếu, bần cùng, thất nghiệp (chủ yếu rơi vào người đa đen và dân tộc thiểu số),thiếu nhà ở và thiếu biện pháp bảo vệ sức khỏe, thậm chí đói rét, mất công bằng và mất bình đẳng mọi nơi về kinh tế còn đang tồn tại phổ biến trên đất Mỹ (Molon chủ biên: “Vấn đề nhân quyền trong luật quốc tế, pháp luật và chính sách”). Nhưng trước mắt, Mỹ vẫn trăm phương nghìn kế mượn cớ nhân quyền hoạt động chống Trung Quốc và các nước thuộc thế giới thứ 3, nhất là các nước châu Á. Một chuyên gia chỉ rõ, Mỹ trước hết cần làm tốt vấn đề nhân quyền ở nước mình, sau đó mới có tư cách bàn luận đến nước khác. Trước mắt, vấn đề nhân quyền phải do các nước trên thế giới thông qua đối thoại bình đẳng trong phạm vi Liên Hợp Quốc, để cùng nhau bảo vệ và thúc đẩy, tuyệt nhiên không nên để cho số ít quốc gia dùng phương thức “đánh khắp thiên hạ”, đem chế độ chính trị, mô hình kinh tế, quan niệm giá trị của mình bao gồm cả quan niệm nhân quyền cưỡng ép mọi người, càng không được phép dùng chuẩn mực của mình để phán xét tình trạng nhân quyền nước khác, đem nhân quyền gắn vào viện trợ đối ngoại, hợp tác kinh tế kỹ thuật, làm thủ đoạn trừng phạt và gây áp lực chính trị. Về phương diện này phải tôn trọng đầy đủ chủ quyền các nước, chống lại bất cứ nước nào mượn cớ nhân quyền để phủ định chủ quyền, thực hành phương châm bá quyền. Chỉ có như vậy mới thật sự thực hiện tôn chỉ và nguyên tắc của “Hiến chương Liên Hợp Quốc”, làm cho nhân quyền và tự do cơ bản của toàn nhân loại được bảo đảm đầy đủ. Tóm lại, vấn đề nhân quyền không chỉ có tính phổ biến, mà còn tồn tại tính đặc thù. Mỗi nước đều có đặc điểm khác nhau về chính trị, kinh tế, văn hóa. Cần phải căn cứ vào tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của các nước mà sử dụng phương pháp khác nhau giải quyết vấn đề nhân quyền; không thể dựa theo cái gọi là tiêu chuẩn giá trị phổ biến mà Mỹ nêu ra để đo lường và chỉ huy tất cả. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 07:27:38 pm Làm chính trị cường quyền thì không đủ tư cách nói nhân quyền Từ những năm 70 của thế kỷ này, nước Mỹ với tư cách “cảnh sát nhân quyền thế giới”, ra sức bán rao quan niệm nhân quyền và quan niệm giá trị của mình. Trước tiên họ đề ra chiến lược mới “Ngoại giao nhân quyền”, tiếp đến lại nêu ra khẩu hiệu “Dân chủ hóa quốc tể”, sau đó thì phát động thế tiến công nhân quyền mọi hướng. Mỹ coi vấn đề nhân quyền là thủ đoạn xử lý quan hệ kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa quốc tế, can thiệp vào công việc nội bộ các nước đang phát triển, xâm phạm chủ quyền quốc gia các nước đang phát triển, coi nhân quyền là công cụ tiến hành chiến tranh lạnh, tăng cường áp lực kinh tế chính trị, thâm nhập văn hóa tư tưởng, thực hành chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa. Họ bôi nhọ Trung Quốc, nước chuyên chính dân chủ nhân dân: nào là “nước nô dịch nhân dân”, “Chính phủ cực quyền”, “nền thống trị độc tài quan liêu quân sự”; gây áp lực về các mặt kinh tế chính trị, tư tưởng văn hóa, hòng chèn ép thúc đẩy thay đổi; áp đặt quan niệm nhân quyền, quan niệm giá trị cho nhân dân Trung Quốc. Đứng trước “thế tiến công nhân quyền” do Mỹ khởi phát liên tục, đồng chí Đặng Tiểu Bình với tài thao lược và nghệ thuật đấu tranh siêu phàm của một nhà cách mạng vô sản vĩ đại, không sợ áp lực, không tin tà đạo trực tiếp vạch trần mưu đồ “Ngoại giao nhân quyền”, bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển lý luận nhân quyền của chủ nghĩa Mác. Ngày 23-11-1989, bài nói của đồng chí Đặng Tiểu Bình trong khi hội kiến Chủ tịch Uỷ ban phương Nam, Chủ tịch Đảng cách mạng Tangania Niêrơrê đã chỉ rõ: “Các nước phương Tây nói chúng ta xâm phạm nhân quyền, kỳ thực họ mới chính là xâm phạm nhân quyền. Mỹ giúp Tưởng Giới Thạch gây nội chiến, Trung Quốc thương vong biết bao nhiêu người? Mỹ ủng hộ Nam Triều Tiên tiến hành chiến tranh, Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc thương vong bao nhiêu? Còn chưa nói tới, hơn thế kỷ qua cuộc xâm lược của thực dân đế quốc (kể cả Mỹ) làm cho nhân dân Trung Quốc chịu tổn thất bao nhiêu? Cho nên, họ nói tới nhân quyền là không đủ tư cách” (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình quyển 3). Ngày 1-12-1989 trong bài nói khi hội kiến các thành viên chủ yếu của Đoàn văn hóa hiệp hội xúc tiến mậu dịch quốc tế do Giôngnêixion dẫn đầu, đồng chí Đặng Tiểu Bình lại nhấn mạnh: “Nước ấy chính trị cường quyền làm căn bản không có tư cách nói nhân quyền, họ đã làm phương hại đến nhân quyền của bao nhiêu người trên thế giới! Hội nghị đứng đầu 7 nước tại Pa ri muốn trừng phạt Trung Quốc, có nghĩa là họ tự cho rằng có quyền lực tối thượng, có thể trừng phạt nhân dân các nước không nghe lời họ. Họ không phải là Liên Hợp Quốc, quyết nghị của Liên Hợp Quốc phải được đại đa số đồng ý mới có hiệu lực, họ căn cứ vào đâu mà can thiệp vào nội bộ Trung Quốc? Ai cho họ quyền lực ấy? Bất kỳ hành động nào chống lại chuẩn mực quan hệ quốc tế, nhân dân Trung Quốc không bao giờ tiếp thu và cũng không chịu khuất phục dưới mọi áp lực”. Mỹ tự xưng là một nước tự do có “truyền thống nhân quyền”, song sự thực đâu có như vậy. Bất luận là trong lịch sử hay trong thực tế họ vẫn tồn tại vấn đề lớn về nhân quyền, nhân quyền của họ rất không sáng sủa. Vấn đề kì thị chủng tộc ở Mỹ hết sức nghiêm trọng. Dân tộc thiểu số ở nước Mỹ có tới 50 triệu, bao gồm người Indian, người da đen, người Mỹ La Tinh, người châu Á. Đối với người Indian, Mỹ luôn thi hành chính sách cách ly tiêu diệt chủng tộc, đến nỗi người Indian gần như diệt vong. Người da đen là dân tộc thiểu số hàng đầu, có tới 27 triệu người. Trong lịch sử nước Mỹ đã có kỷ lục bán nô lệ người da đen, thực hành lâu dài chế độ nô lệ. Ngày nay chế độ nô lệ tuy đã xoá bỏ, song sự kỳ thị người da đen vẫn còn tồn tại. Sự kỳ thị thể hiện rõ nét trong các mặt chính trị, sinh hoạt xã hội, giáo dục v. v... Địa vị kinh tế, chính trị của người da đen thấp kém, có tỷ lệ thất nghiệp, bần cùng, bệnh tật và tử vong cao nhất, tình trạng giáo dục khắc nghiệt. Đúng như một nhà bình luận Mỹ đã nói, ngày nay người da đen ở Mỹ đang “đứng trước tình thế tự tiêu diệt”. Năm 1992 vì cuộc xung đột chủng tộc với quy mô lớn do một cảnh sát ở Lốtangiơlét điên cuồng đánh đập người da đen gây ra, đã trở thành một nguồn tin xấu trong lịch sử nhân quyền nước Mỹ, làm kinh động thế giới. Năm 1994 Mỹ cho xuất bản một cuốn sách gọi là “Đường thẳng gấp khúc”, công khai thổi phồng sự ưu việt chủng tộc của người da trắng, cho trí thông minh của người da đen kém hơn người da trắng. Tình trạng phạm tội bạo lực ở Mỹ cũng rất nghiêm trọng. Ở Mỹ bình quân hàng năm có 35 triệu lần hoạt động tội phạm, tội phạm bạo lực có 2 triệu vụ, với 6 triệu người bị hại do tội phạm bạo lực gây ra, có 24 vạn người bị mưu sát. Năm 1993 số người bị mưu sát ở Mỹ đạt tới kỷ lục 2 triệu 45 vạn người. Oasinhtơn trở thành “thủ đô hung sát” nổi tiếng, bang Floriđa được gọi là “bang tội phạm”. Trong bản báo cáo năm 1994 của Cục Điều tra Liên bang Mỹ công bố, không thể không thừa nhận “tội phạm mưu sát tuỳ ý lựa chọn mục tiêu sát hại, khiến mỗi người Mỹ đều có nguy cơ bị ám sát”. Một chế độ nhà nước như vậy, trên thế giới đếm được trên đầu ngón tay, còn có gì nhân quyền mà nói! Tù phạm nước Mỹ nhiều nhất thế giới. Theo tài liệu của tổ chức kế hoạch xét xử của Mỹ công bố năm 1994, thì tù nhân của Mỹ có tới 1,3 triệu, đứng đầu thế giới, tỷ lệ tù giam trong mấy năm qua tăng lên 22 %. Theo Bộ Tư pháp Mỹ tiết lộ, năm 1995 số tù nhân trong trại là 1,1 triệu, vẫn liệt vào hàng đầu thế giới. Nhà tù nước Mỹ đen tối nhất: người tù đầy lo âu, quản lý hỗn độn, đối xử hà khắc, hành vi xâm phạm quyền lợi thân thể và nhân quyền thường xuyên xảy ra. Theo báo cáo của Liên minh tự do công dân Mỹ, quan sát nhân quyền năm 1994 và bài viết của quan toà khu vực Niuoóc cho biết, ở Mỹ có một số nhà lao bẩn thỉu, đổ nát không còn ra nơi ở của con người. Nơi chữa bệnh quả là hang ổ của con vật thời Trung cổ đại. Giám thị có người cưỡi ngựa quan sát phạm nhân giống như người chăn dắt gia súc. Nhiều phạm nhân bị giam ở phòng riêng, quanh năm không thấy ánh sáng. Còn đánh chửi ngược đãi, lừa dối cướp giật tù nhân thì đã quá quen thuộc. Số người nghèo khổ và không có nhà ở nước Mỹ nhiều nhất. Theo báo cáo của Cục điều tra rộng rãi của Mỹ, số người nghèo khổ trong 4 năm liền liên tục gia tăng, năm 1993 đạt tới kỷ lục 39,3 triệu người, chiếm 15,3% dân số Mỹ. Chính phủ Mỹ thừa nhận, năm 1994 số người không có nhà là 7 triệu người, trong đó có 2 đến 3 triệu người ở đầu đường xó chợ. Việc coi thường phụ nữ ở Mỹ cũng nghiêm trọng. Số nữ nghị sĩ chỉ chiếm 10%, tiền lương của phụ nữ Mỹ chỉ bằng nửa lương nam giới, thời gian nữ giới được giáo dục không bằng 1/3 nam giới, trong những người trưởng thành từ nghèo khổ thì phụ nữ chiếm 2/3. Phụ nữ Mỹ thường bị bạo lực, ngược đãi, quấy rối tình dục. Theo thống kê của phía chức trách Mỹ, trong 5 năm qua có 1,9 triệu phụ nữ Mỹ bị cưỡng dâm, 7,6 triệu phụ nữ trở thành nạn nhân của những cuộc mưu sát, cướp bóc hoặc đánh đập. Những ghi chép về nhân quyền của Mỹ trên quốc tế thì như thế nào? Càng không sáng sủa. Theo thống kê của một nhà sử học, trong 200 năm kể từ năm lập quốc (1776) đến nay, Mỹ đã phát động hơn 70 cuộc chiến tranh và xâm nhập nước ngoài, những dân thường vô tội chết dưới bàn tay của bọn xâm lược Mỹ không sao kể xiết. Sau đại chiến lần hai, 40 năm kể từ năm 1950, Mỹ trực tiếp can thiệp vũ trang và xâm nhập quân sự hơn 20 lần đối với các nước thế giới thứ 3; lần nào cũng tàn bạo, trà đạp chủ quyền và nhân quyền nước khác. Ngoài ra, Mỹ cũng là nước duy nhất bất chấp luật lệ quốc tế, liều lĩnh bắn phá phủ Tổng thống Libêria và bắt trói Tổng thống Panama xét xử theo pháp luật của Mỹ. Mỹ thường xuyên chỉ trích nước này nước kia không tham gia và thi hành Công ước quốc tế nhân quyền, xâm phạm nhân quyền nước họ, song, bản thân Mỹ cho đến nay vẫn cự tuyệt ra nhập mấy Công ước quốc tế nhân quyền quan trọng mà Liên Hợp Quốc đã thông qua, trong đó bao gồm “Công ước quốc tế về quyền lợi kinh tế, xã hội và văn hoá”, “Công ước quốc tế xoá bỏ tất cả mọi hình thức phân biệt chủng tộc”, “Công ước quốc tế cấm chỉ và trừng trị tội ngăn cách chủng tộc”, “Công ước xoá bỏ coi thường phụ nữ” và “Công ước cấm có hình phạt khốc liệt hoặc tàn nhẫn vô nhân đạo hay làm nhục nhân cách”. Còn “Công ước quốc tế về quyền lợi công dân và chính trị”, thì mãi đến năm 1992 sau 26 năm các Công ước được thông qua, Mỹ mới cực chẳng đã phải ra nhập, lại còn liên tục bảo lưu, đặt sự hạn chế thực thi nghiêm khắc vào phạm vi luật pháp hiện hành của nước Mỹ, thái độ thực hiện hoàn toàn là “thực dụng chủ nghĩa”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 07:31:14 pm Chương 17 ĐỒNG MINH CŨ LẠI CHƠI “VÁN BÀI ĐÀI LOAN” LÝ ĐĂNG HUY THỪA CƠ MƯỢN SỨC MẠNH BÊN NGOÀI. GIẢI PHÓNG QUÂN NHÂN DÂN ĐẠI DIỄN TẬP Ở MIỀN DUYÊN HẢI ĐÔNG NAM HÀNG KHÔNG MẪU HẠM MỸ LẠI XUẤT HIỆN Ở EO BIỂN PHẦN I MÀN KỊCH LÝ ĐĂNG HUY ĐI THĂM MỸ Cơn sốt nhẹ của chính sách đối với Đài Loan Clintơn nhậm chức chưa lâu, giới chính trị và giới học thuật tranh luận một trận kịch liệt xoay quanh vấn đề chính sách của Mỹ đối với Đài Loan. Tiêu điểm của đôi bên không phải là muốn hay không muốn mối quan hệ tốt với Đài Loan, mà là quan hệ tốt như thế nào: có người chủ trương thi hành chính sách hiện nay là “Hai Trung Quốc” hoặc “Một Trung Quốc một Đài Loan”, rõ ràng là phản đối “Đài Loan độc lập”, cho rằng như vậy có thể bảo đảm ổn định tình hình khu vực châu Á Thái Bình Dương lại có thể tránh được sự rạn nứt quan hệ Trung-Mỹ. Một quan điểm khác thì cho rằng Mỹ nên thật sự ủng hộ Đài Loan độc lập, họ thổi phồng “Đài Loan là cái đòn bẩy quan trọng thúc đẩy Trung Quốc cải thiện tình trạng nhân quyền”, Mỹ nên ủng hộ Đài Loan gia nhập Liên Hợp Quốc, thậm chí có người đề xuất Mỹ nên “đặt quan hệ ngoại giao” ngay với Đài Loan. Nhưng kết quả thảo luận cuối cùng phía chủ trương thi hành chính sách hiện hành đối với Đài Loan rõ ràng chiếm ưu thế. Điều khiến mọi người chú ý là ngay cả một số “chuyên gia về vấn đề Trung Quốc” cũng chủ trương cải thiện quan hệ với Đài Loan. Năm 1993, sau khi hai nước Trung-Mỹ trải qua đụng độ sự kiện “tàu Ngân Hà và vấn đề đãi ngộ mậu dịch tối ưu đối với Trung Quốc”, quan hệ hai bên càng nghiêm trọng. Do đó, nội bộ nước Mỹ yêu cầu nâng cao quan hệ đối với Đài Loan và lời hô hào lấy việc đó làm kế hoạch quan trọng tăng áp lực đối với Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ. Đầu năm 1994, các quan chức hữu trách Quốc vụ viện, Hội đồng tư vụ an ninh quốc gia và chủ quản tư vụ Ngoại giao Thượng viện cùng soạn thảo báo cáo nghiên cứu “Điều chỉnh chiến lược khu vực Đông Á”. Phần chính sách đối với Trung Quốc trong “Báo cáo” đặc biệt nói tới việc Trung Quốc có vũ khí nguyên tử và khinh khí, thêm vào đó là những năm gần đây kinh tế phát triển rất nhanh, thực lực hải quân cũng đang lớn mạnh, sức mạnh tổng hợp đã tăng cường mạnh mẽ. Với tình hình đó, Trung Quốc trong 10 năm tới sẽ trở thành lực lượng uy hiếp quan trọng đến an toàn quốc gia của Mỹ, do đó Mỹ cần phải kịp thời điều chỉnh chiến lược Đông Á, để lợi ích của Mỹ ở các nước châu Á không bị thiệt hại. Chiến lược châu Á mà những người ấy thiết kế cho Mỹ là: Một là, tiếp tục giữ gìn sự tồn tại quân sự của Mỹ tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, tức là thông qua Điều ước an ninh Mỹ-Hàn Quốc và Nhật-Mỹ duy trì 100.000 quân Mỹ tại khu vực châu Á Thái Bình Dương. Hai là, tiếp tục lợi dụng thủ đoạn dân chủ, nhân quyền và mậu dịch “đẩy mạnh diễn biến hoà bình ở Trung Quốc”, “đưa Trung Quốc trên chính sách, biến thành quốc gia dân chủ (kiểu phương Tây)”. Ba là, gây quan hệ tốt với các nước xung quanh Trung Quốc, đồng thời thông qua vấn đề Đài Loan, Tây Tạng làm sức ép với Chính phủ Trung Quốc, để rồi từ 3 mặt đó “Sức chế Trung Quốc phát triển”. Bản báo cáo ấy còn viết: “Chính sách của Chính phủ Mỹ đối với Trung Quốc từ nay về sau phải là: Tiếp tục duy trì tiếp xúc với Trung Quốc về mặt kinh tế, cố gắng thông qua thủ đoạn mậu dịch thương mại thúc đẩy cục diện Trung Quốc thay đổi. Đồng thời, về vấn đề Đài Loan, Tây Tạng thậm chí cả Nam Sa thì ủng hộ và kích động khuynh hướng chia cắt”. Báo cáo cuối cùng còn nói: “Chính phủ Mỹ cần điều chỉnh ngay chính sách đối với Đài Loan, để dùng “con bài Đài Loan” làm thủ đoạn quan trọng ức chế Trung Quốc”. Trong bối cảnh ấy, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan vẫn không ngừng leo thang. 11 giờ trưa ngày 7-9-1994, trợ lý Quốc vụ khanh của Mỹ Uyxtơn Lốt gặp đại diện Đài Loan Đinh Mậu tại Mỹ. Ngay khi gặp Đinh Mậu Uyxtơn nói: Mỹ đã đồng ý đổi tên cơ quan đại diện của Điếu Ngư Đài tại Mỹ “Phòng làm việc của Uỷ ban hiệp điều Tư vụ Bắc Mỹ” thành “Phòng đại diện kinh tế văn hóa Đài Bắc tại Hoa Kỳ”. Đồng thời còn tuyên bố chính sách mới của Mỹ đối với Đài Loan: Chính phủ Mỹ sẽ tiến hành gặp gỡ nhà đương cục Đài Loan ở cấp cao hơn; Mỹ mong muốn đối thoại kinh tế với Đài Loan ở cấp Bộ trưởng nội các; cho phép quan chức Mỹ và Đài Loan gặp gỡ nhau, trừ các cơ quan Nhà Trắng và Quốc vụ viện Mỹ, ngoại trừ quá cảnh cần thiết, Mỹ sẽ không cho phép người lãnh đạo cấp cao của Đài Loan (bao gồm Tổng thống, phó Tổng thống và Viện trưởng, Phó Viện trưởng viện hành chính của Đài Loan) sang thăm Mỹ. Bộ trưởng Ngoại giao Đài Loan vẫn không được tới Oasinhtơn, Bộ trưởng Quốc phòng không được đến thăm Mỹ. Mỹ cho phép quan chức cao cấp của Chính phủ Mỹ thuộc cơ quan kinh tế và kỹ thuật được tới thăm Đài Loan. Nhưng, người lãnh đạo cấp cao hoặc quan chức cấp Bộ trưởng không đảm nhiệm chức vụ ở cơ quan kinh tế kỹ thuật cũng không được đến thăm Đài Loan. Mỹ ủng hộ Đài Loan gia nhập Tổng hiệp định mậu dịch thuế quan, và cố gắng thúc đẩy Đài Loan được gia nhập tổ chức quốc tế tương tự như Tổng hiệp định quan mậu, nhưng phản đối Đài Loan gia nhập các tổ chức quốc tế mà chỉ quốc gia có chủ quyền mới được tham gia. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 07:32:18 pm Cùng ngày hôm đó Uyxtơn với tư cách quan chức cao cấp Mỹ không xưng rõ họ tên đã tổ chức họp báo, giải thích rõ nguyên nhân Chính phủ Mỹ điều chỉnh chính sách đối với Đài Loan. Có một nhà báo hỏi: “Mỹ điều chỉnh chính sách đối với Đài Loan lần này có phải là Chính phủ Mỹ đã thay đổi chính sách một nhà nước Trung Quốc?” Uyxtơn Lốt ngụy biện rằng: “Điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đài Loan không một chút thay đổi sự thừa nhận cơ bản lập trường của Mỹ đối với Trung Quốc, tức là chỉ có một nước Trung Quốc, Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc?”. Lốt nói tiếp: “Mỹ và đương cục Đài Loan tiến hành tiếp xúc ở cấp cao hơn, mục đích là để giảng giải những vấn đề thực tế trong quan hệ song phương và nhu cầu tương hỗ qua lại mậu dịch kinh tế đôi bên, không nên hiểu lầm rằng Mỹ và Đài Loan phát triển quan hệ rộng rãi” Những giải thích ngụy biện của Lốt vô luận thế nào đều tỏ ra nhạt nhẽo yếu ớt. Ba bản tuyên bố chung hai Chính phủ Trung-Mỹ cùng ký kết đã ghi rất rõ ràng: “Nước Mỹ thừa nhận một nước Trung Quốc, Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc”, giấy trắng mực đen, không thể phủ định. Nhưng điều chỉnh chính sách lần này lại công nhiên cho phép “Bộ trưởng nội các” của Đài Loan được sang thăm Mỹ, là hành động chính trị tạo ra “hai nước Trung Quốc” hoặc là “Trung Quốc Đài Loan”, do vậy lẽ đương nhiên gây nên sự phản đối mạnh mẽ của phía Trung Quốc. Ngay sau khi Lốt tuyên bố điều chỉnh chính sách lần này của Chính phủ Mỹ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Hoa Thu đã thừa lệnh gặp Rui Xiaochien Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, nghiêm khắc trao đổi và kháng nghị phía Mỹ. Lưu Hoa Thu cảnh cáo rằng: Vấn đề Đài Loan nếu xử lý không thỏa đáng, quan hệ Trung-Mỹ không những phải ngừng trệ mà còn có thể bị thụt lùi. Nhưng, lập trường của Chính phủ Mỹ đối với vấn đề Trung Quốc vẫn không đổi. Họ tự xưng trong lúc này nêu ra chính sách mới đối với Đài Loan là đã kinh qua “suy nghĩ kỹ càng”. Kỳ thực, ngay từ mùa đông năm 1993, nội bộ Chính phủ Mỹ đã có người yêu cầu Clintơn điều chỉnh chính sách đối với Đài Loan. Nhưng, tháng 5-1994, do Chính phủ Mỹ không cho “Tổng thống” Đài Loan Lý Đăng Huy trên đường đi Trung-Mỹ nghỉ qua đêm tại Hawai, sự kiện ấy qua môi giới tin tức tô vẽ phóng đại thêm lên ghê gớm, nên ở Đài Loan nổi lên sóng kháng nghị mãnh liệt. Một số cơ quan trí tuệ của Mỹ bắt đầu bày mưu tính kế cho Clintơn, đề ra một loạt chủ trương cải cách chính sách đối với Đài Loan. Một bản báo cáo có liên quan đến vấn đề Đài Loan được công bố đầu tháng 9-1994 của “Hội tiền vốn truyền thống” thuộc cơ quan trí tuệ, chịu ảnh hưởng của Đảng Cộng hòa chỉ rõ: “Chính quyền Clintơn nên để Đài Loan gia nhập Liên Hợp Quốc và nâng cao địa vị quốc tế phát huy tác dụng tích cực hơn, nên tăng cường quan hệ Mỹ-Đài Loan trong tình hình “không là kẻ thù với Trung Quốc”. Thậm chí họ còn nói: “Trung Quốc Đài Loan tăng cường quan hệ kinh tế, do sự việc ấy dẫn tới về lâu dài mà nói sẽ làm yếu dần nền thống trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Kiến nghị thứ nhất mà bản báo cáo đề ra là “ủng hộ Đài Loan gia nhập Liên Hợp Quốc”, bởi vì nó “tượng trưng cho chiến tranh lạnh kết thúc”; về mặt tiền vốn cũng có lợi đối với Liên Hợp Quốc, mà với hành động ấy sẽ làm cho tốc độ tiến triển của phong trào đòi Đài Loan độc lập chậm lại; hòa hoãn quan hệ Trung Quốc - Đài Loan cũng sẽ gia tăng cơ hội tiếp xúc không chính thức về hiệp thương song phương Trung Quốc - Đài Loan. Kiến nghị thứ hai là, Trung Quốc - Đài Loan đồng thời gia nhập Tổng hiệp định thuế quan mậu dịch. Cái hay của nó là: Đài Loan gia nhập Tổng hiệp định quan mậu có thể giải quyết hữu hiệu cái án treo đối với sự mất cân bằng mậu dịch và bảo vệ sản nghiệp đối với Mỹ. Trung Quốc - Đài Loan gia nhập Tổng hiệp định quan mậu có thể làm suy yếu sự chi phối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với thể chế kinh tế và mậu dịch. Kiến nghị thứ 3 mà bản báo cáo nêu ra là: Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan để “duy trì khả năng kiềm chế của Đài Loan đối với hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc”. Báo cáo chỉ rõ: “Đối với Mỹ mà nói, lợi ích lâu dài lớn nhất là Đài Loan sẽ phát huy tác dụng tích cực đối với sự phát triển của giai cấp chủ xí nghiệp quốc nội Trung Quốc, với mối liên hệ kinh tế giữa Trung Quốc - Đài Loan tăng lên, giá trị và ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản dân chủ sẽ làm suy yếu sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với kinh tế và chính trị”. Chính vì những nguyên nhân kể trên, cho nên sự cảnh cáo và lập trường nghiêm chỉnh của Chính phủ Trung Quốc không thể làm cho phía Mỹ coi trọng đầy đủ, ngược lại về vấn đề Đài Loan, Mỹ ngày càng đi xa. Sau khi Chính phủ Clintơn tuyên bố điều chỉnh chính sách đối với Đài Loan không lâu, một số thế lực chống Trung Quốc trong Quốc hội Mỹ lại vẽ ra hành động quan trọng là mời Lý Đăng Huy sang thăm Hoa Kỳ. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 07:54:42 pm “Tập đoàn ngoài nghị viện” du thuyết khắp nơi Theo chế độ chính trị của Mỹ, các tập đoàn cùng lợi ích, vì lợi ích của mình có thể tiến hành du thuyết một vấn đề nào đó với nghị sĩ Quốc hội hoặc quan chức hành chính của Chính phủ, việc đó được pháp luật cho phép. Do vậy, để đạt được mục đích tự do, có nhiều thế lực chính trị đã tiến hành hoạt động du thuyết mạnh mẽ với các cơ quan Chính phủ và nghị sĩ Quốc hội. “Tập đoàn hoạt động ngoài nghị viện” của Quốc Dân Đảng tại Mỹ có thể nói là tiếng tăm lừng lẫy. Ngay thời kỳ đại chiến thế giới lần thứ 2, Chính phủ Quốc Dân Đảng lúc ấy thường xuyên cử tập đoàn du thuyết sang Mỹ hoạt động, để tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ đối với cuộc chiến tranh chống Nhật; anh em Tống Tử Văn, Tống Mỹ Linh và bạn bè Mỹ lúc ấy có thể nói là thế lực du thuyết sớm nhất của Chính phủ Quốc Dân Đảng tại Mỹ. Năm 1949, sau khi Trung Quốc giải phóng, ảnh hưởng của thế lực Quốc Dân Đảng ở Mỹ suy yếu dần, để bảo vệ những lợi ích đã giành được họ đành phải lợi dụng “tập đoàn hoạt động ngoài nghị viện” rộng lớn mạnh mẽ để tìm kiếm sự giúp đỡ của Chính phủ Mỹ. Lúc ấy, Henri- Rusi người đứng đầu giới xuất bản nổi tiếng của Mỹ và Oatơtradi Hạ nghị sĩ Quốc hội đều là du thuyết nổi tiếng của Mỹ ở Oasinhtơn. Họ đã từng thành lập “Uỷ ban hành động hàng triệu người”, phản đối Trung Quốc vào LiênHợp Quốc. Đồng thời ủng hộ Maikaxi phát động phong trào cuối cùng “Ai đánh mất Trung Quốc” với qui mô lớn. Trong tình hình quan hệ hai bờ eo biển lúc ấy hết sức căng thẳng, hoạt động du thuyết ở Mỹ sôi động một thời, cho đến những năm 60 chính sách đối với Trung Quốc của Chính phủ Mỹ không thể không bị cản trở. Sau những năm 70, Chính phủ Mỹ xuất phát từ sự suy nghĩ về chiến lược toàn cầu, không thể không coi việc phát triển quan hệ đối Trung Quốc là vị trí quan trọng; mặc dù nhà cầm quyền Đài Loan vẫn tiến hành hoạt động du thuyết với qui mô lớn tại Mỹ, nhưng những hoạt động ấy cuối cùng không xoay chuyển nổi cục diện phát triển quan hệ Trung-Mỹ. Đương nhiên, họ cũng thường xuyên lợi dụng ảnh hưởng của nó, trong cơn sóng gió của quan hệ Mỹ-Trung. Năm 1979 Quốc hội Mỹ thông qua “Luật quan hệ với Đài Loan”. Trong niên đại 80 Mỹ vi phạm tinh thần 3 bản tuyên bố chung Trung-Mỹ, không ngừng bán vũ khí cho Đài Loan, trong những sự kiện quan trọng ấy đều có bóng dáng của “tập đoàn hoạt động ngoài nghị viện”. Vào niên đại 90, với tình hình quốc tế thay đổi, thế lực chống Trung Quốc trong nội bộ nước Mỹ lại dấy lên làn sóng mạnh mẽ. Nhà cầm quyền Đài Loan lợi dụng thời cơ cũng tăng cường hoạt động du thuyết ngoài nghị viện và lại một lần nữa nổi lên làn sóng dữ dội. Căn cứ vào báo cáo của Bộ Tư pháp Mỹ trước Quốc hội, năm 1991 (đây là tư liệu mới nhất cho đến hiện nay) đã có 51 công ty và cá nhân hoạt động ở Đài Loan được đăng ký chính thức tại Bộ Tư pháp, tổng ngạch kính phí được cấp là hơn 5,1 triệu đô la. Từ năm 1979 Mỹ “cắt quan hệ ngoại giao” với Đài Loan cho đến đầu niên đại 90, đại lý du thuyết được mời tại Mỹ của chính quyền Đài Loan phần lớn là công ty du thuyết về mặt kinh tế, đặc biệt là các công ty đại lý được “Cục Mậu dịch quốc gia” thuộc “Bộ Kinh tế” và Hiệp hội mậu dịch đối ngoại mang mầu sắc quần chúng mời là nhiều hơn cả. Lấy năm 1991 làm ví dụ, có 11 công ty và cá nhân thay mặt cho Cục Mậu dịch quốc gia tiến hành hoạt động du thuyết, có 12 công ty và cá nhân thay mặt cho Hiệp hội mậu dịch đối ngoại. Kinh phí du thuyết của họ tại Mỹ cũng nhiều nhất. Trong thời gian từ 1988-1991, kinh phí du thuyết của Cục Mậu dịch quốc gia lên tới 3 triệu 82.500 đô la, kinh phí du thuyết của Hiệp hội mậu dịch đối ngoại cũng đạt tới 4 triệu 19.500 đô la, bình quân kinh phí mỗi năm dùng cho hoạt động du thuyết có tới hàng triệu trở lên. Sang niên đại 90, xuất phát từ mục đích “phục vụ ngoại giao”, “du thuyết chính trị” của nhà cầm quyền Đài Loan tại Mỹ cũng ngày một tăng cường, họ ném tiền qua cửa sổ, kinh phí tốn kém chưa từng có trong lịch sử. Bắt đầu từ 1993, Lý Đăng Huy sau khi đã hoàn thành mục tiêu gọi là “cải cách hiến pháp hành chính dân chủ” và “địa phương hóa chính quyền Đài Loan”, liền vội vàng bắt đầu “mở rộng không gian sinh tồn quốc tế”, để cho Đài Loan “giành được tư cách độc lập trên quốc tế”. Họ dùng tiền bạc trải đường, không ngừng mua chuộc mối quan hệ thông lộ, bắt đầu dùng hình thức “Ngoại giao nghỉ mát”, “Ngoại giao học thuật”, “châm mồi bốn phương” trên thế giới, và nhiều lần may mắn. Tết nguyên đán và mùa xuân năm 1994, Liên Chiến Viện trưởng hành chính và Lý Đăng Huy, Tổng thống Đài Loan lần lượt đi thăm Malaixia, Sinhgapo, Philippin, Inđôdêxia, Thái Lan bằng hình thức “nghỉ mát” và hội đàm với lãnh đạo các nước này. Ngày 1 đến 4 tháng 4-1995, Lý Đăng Huy cùng Giang Bính Khôn Bộ trưởng kinh tế và quan chức cấp cao đi tham nước Ả rập và Vương quốc Gióocđani 4 ngày. Mặc dù giành được một số “thành tựu”, nhưng chính quyền Đài Loan vẫn không thỏa mãn. Bởi vì họ cũng hiểu rằng, trên vũ đài quốc tế hiện nay, ảnh hưởng và tác dụng của nước lớn, nước nhỏ hiển nhiên là khác nhau; nước lớn phương Tây như Mỹ không những có thể xoay chuyển tình hình chính trị quốc tế hiện nay, mà “tấm gương” và tác dụng mẫu mực cho nước khác cũng không dễ coi thường. Vì vậy, ngoài việc không ngừng đến một số nước Á-Phi “nghỉ mát”, Lý Đăng Huy còn thể hiện rõ tâm sự của mình, bằng bất cứ giá nào sớm được thực hiện nguyện vọng sang thăm nước Mỹ. Theo chỉ thị của Lý Đăng Huy, một số quan chức đảng và chính quyền Đài Loan nhận nhiệm vụ, mở thế trận tuyên truyền mãnh liệt với Mỹ: một mặt họ dùng khoản chi “cửa chung” là 5,7 triệu đô la để mua chuộc Công ty quan hệ công cộng Kaxidi, nhờ thông mọi quan hệ với Oasinhtơn; một mặt khác trực tiếp đi thẳng vào chính quyền các bang, hòng dùng phương thức “địa phương ép Trung ương” buộc Chính phủ Mỹ thay đổi chính sách “một Trung Quốc”. Để thực hiện được mục tiêu ấy, chính quyền Đài Loan tiêu phí không tiếc tay đồng tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân Đài Loan. Theo phương án dự toán công bố của chính quyền Đài Loan, họ định trong năm 1995 tiêu 2,822 tỷ Tân Đài Tệ (tương đương 1,10 triệu đô la) dùng vào hoạt động “cửa công ngoại giao”, trong đó có một phần thông qua các tập đoàn du thuyết rót vào túi người Mỹ. Theo thống kê chưa đầy đủ, gần một năm nay khoản tiền lớn mà chính quyền Đài Loan đưa sang Mỹ hàng triệu đô la đã có 4,5 triệu quyên góp cho Trường đại học Kangnaier với danh nghĩa “Tình hữu nghị của Lý Đăng Huy”, khoản tiền ấy cuối cùng làm cho trường đại học Kangnaier “vốn là học thuật” mắc vào “Thế tiến công bằng viên đạn bạc” của họ. Trường đại học Stiaotrơdun vì thực hiện kế hoạch giao lưu lưu học sinh phải cần gấp một khoản tiền, nhà cầm quyền Đài Loan không do dự gửi luôn cho 1 triệu đô la Mỹ; gần một năm một số nghị sĩ Quốc hội, quan chức chính quyền địa phương tấp nập sang Đài Loan tham gia các loại hoạt động, mọi khoản chi tiêu của họ tại Đài Loan cũng đều do chính quyền Đài Loan trực tiếp chu cấp. Thế tiến công bằng viên đạn bạc của chính quyền Đài Loan nhanh chóng thu được thành quả “huy hoàng”. Từ năm 1994 lại đây, ở Mỹ có 24 hội nghị thông qua quyết nghị, yêu cầu Chính phủ liên bang Hoa Kỳ cho chính quyền Đài Loan được đãi ngộ đặc biệt; sau năm 1995, một số nghị sĩ được hưởng nhiều ân huệ của Đài Loan liên tục phát động chiến dịch tuyên truyền, và cuối cùng chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy được thực hiện. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 07:55:51 pm Tạo thế cho Lý Đăng Huy thăm Mỹ Với tác động “Ngoại giao bằng viên đạn bạc” của chính quyền Đài Loan, những thế lực chống Trung Quốc ở Mỹ luôn tạo ra rắc rối về vấn đề Đài Loan. Mục tiêu trước mắt là thực hiện chuyến đi thăm của Lý Đăng Huy, còn mục tiêu lâu dài thì là buộc Chính phủ Mỹ phải công khai thi hành chính sách “hai Trung Quốc”. Mặc dù Chính phủ Mỹ luôn công khai thể hiện vẫn giữ nguyên chính sách “một nước Trung Quốc”, nhưng trong thực tế lại thi hành chính sách “hai Trung Quốc” hoặc “một Trung Quốc một Đài Loan”. Cho nên từ khi đặt quan hệ ngoại giao hai nước đền nay, vẫn phát sinh sự việc phản bội 3 bản tuyên bố chung, đặc biệt là quan chức cấp cao luôn đi thăm Mỹ một cách công khai. Theo phóng viên thời sự xã của Nhật bản tại Oasinhtơn tiết lộ, tháng 2-1993, Liên Chiến “Viện trưởng hành chính” Đài Loan sau khi nhậm chức đã hai lần thăm Mỹ. “Bộ trưởng Ngoại giao” Tiền Phúc hầu như năm nào cũng đi Mỹ thăm các bang Boston và Côlôrđô. Ngoài ra, cựu “Viện trưởng hành chính” Du Quốc Hoa từ 1984 đến 1989 trong thời gian làm “Viện trưởng” cũng nhiều lần đi thăm Mỹ, đã qua Niuioóc, Lốtangiơlét, Chicagô. Họ đều đi thăm không chính thức với “tư cách cá nhân”. Nhưng những chuyến thăm của các “quan chức Chính phủ” cũng giống như Lý Đăng Huy thăm Mỹ lần này, đều được Chính phủ Mỹ cấp giấy đi du lịch chính thức, và trong thời gian tại Mỹ đã hội đàm với các quan chức Quốc vụ viện Hoa Kỳ. Còn Lý Đăng Huy năm 1985 thời kỳ làm “Phó Tổng thống” cũng đã thăm Mỹ, hội đàm với Lý Khiết Minh trợ lý Quốc vụ khanh lúc ấy (phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương) tại Niuoóc, còn tham quan Trường Sỹ quan Lục quân miền Tây Niuoóc, được đón tiếp như một nhân vật quan trọng. Vào niên đại 90, thế lực chống Trung Quốc ở Mỹ cảm thấy “chuyến thăm” bí mật ấy chưa thoả mãn nhu cầu chống Trung Quốc của họ, họ muốn gán cho Lý Đăng Huy một “chức danh”, và rùm beng tạo thế cho Lý Đăng Huy “sang thăm” nước Mỹ. Đương nhiên, mưu đồ ấy sớm muộn sẽ vấp phải sự phản đối mãnh liệt của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Tháng 5-1994, khi Lý Đăng Huy “đi thăm” Nicaragoa đã có ý đến Hawai để được “tiếp sức”, nhưng vì Chính phủ Trung Quốc biết trước mọi sự việc và đã nghiêm khắc trao đổi với Mỹ, mưu đồ ấy không được thực hiện. Khi Lý Đăng Huy nghỉ chân ở Hawai nhận được thông báo của Quốc vụ viện Mỹ, ông ta ngẩn ra ngay tại sân bay. Ngoài nhân viên phụ trách Hiệp hội Đài Loan của Mỹ tại Oasinhtơn Natê Baileji ra không hề có một quan chức nhà nước hoặc Bộ Ngoại giao Mỹ đón tiếp. Chuyến “vượt cửa” của Lý Đăng Huy lần này làm cho những thế lực chống Trung Quốc của Mỹ hết sức bực tức, họ lột mặt thông qua môi giới tin tức kịch liệt công kích Chính phủ Mỹ chịu “quỳ gối đầu hàng”' trước mặt Trung Quốc, mặt khác tăng cường hoạt động khắp nơi, hòng thông qua mọi thủ đoạn đạt được mục đích mời Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Ngày 12-8-1994, liên danh 37 nghị sĩ hai Đảng hạ viện Quốc hội Mỹ do Cát Giản Sinh (gechianseng), Chủ tịch nhóm chính sách kinh tế quốc tế của Uỷ ban Ngoại giao hạ viện cầm đầu gửi công hàm cho Lý Đăng Huy và chính thức mời Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ. Cát Giản Sinh trong khi họp báo đã giải thích như sau: “Chúng tôi biết rằng việc này không thể một sớm một chiều mà đạt được, điều mà chúng tôi muốn đề đạt với sự kiện này chính là, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan cần phải thay đổi”. Họ còn nói: “Sở dĩ chúng tôi phải liên danh gửi công hàm mời Lý Đăng Huy thăm Mỹ, không chỉ vì chúng tôi cũng như 76 nghị sĩ đều muốn nhân đây biểu lộ (tình cảm hữu nghị) đối với Lý Đăng Huy, mà còn vì chúng tôi đã từng đi thăm Đài Loan, chúng tôi ngày càng nhận thức được tính chất quan trọng của việc giữ gìn quan hệ mật thiết giữa Mỹ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”. Đương nhiên, lực lượng chống Trung Quốc ở Mỹ cũng hiểu được rằng bất kỳ cuộc đi thăm Mỹ nào của Lý Đăng Huy đều sẽ gặp phải sự phản đối kịch liệt của Chính phủ Trung Quốc, do đó phải tìm được cớ gì cho thích hợp, thậm chí phải thông qua một pháp lệnh đặc biệt để đạt được “Danh chính ngôn thuận”, mà lúc này nếu sửa đổi “luật quan hệ với Đài Loan” sẽ có thể tạo nên làn sóng dữ dội, vì vậy chỉ có thể chuẩn bị dọn đường, đi ngang về tắt. Qua mấy tháng bày mưu tính kế, cuối cùng họ tìm được một đột phá khẩu, đó là thông qua phương án sửa đổi “Luật di dân” để tìm ra điểm tựa hợp pháp cho Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Ngày 6-10-1994, Thượng nghị viện Mỹ thông qua phương án sửa đổi Luật di dân và thay đổi kỹ thuật quốc tịch, người nêu đề án ban đầu là thượng nghị sĩ Bulan (Đảng Cộng sản), nội dung như sau: Tổng thống quan chức cao cấp Đài Loan khi đề nghị thăm Mỹ để thảo luận với quan chức nhà nước liên bang hoặc chính quyền các bang về các sự việc sau đây, phải được phép vào nước Mỹ; Trừ phi quan chức ấy bị cấm nhập cảnh bởi Luật di dân. 1- Trao đổi với mậu dịch hoặc thương vụ Đài Loan muốn giảm thiểu ngạch số vượt mức mậu dịch của Mỹ đối với Đài Loan; 2- Ngăn cấm khuếch tán hạt nhân; 3- Đe doạ an ninh quốc gia đối với Mỹ; 4- Bảo vệ môi trường toàn cầu; 5- Tai hoạ khu vực. Tuyến chỉ đạo ngoại giao nước Mỹ vốn nắm trong tay Tổng thống, mà trong văn bản này lại nói nếu bị cấm nhập cảnh bởi “Luật di dân”, thì quan chức cao cấp Đài Loan vẫn sẽ không được vào cửa. Còn trong “Luật di dân” có một điều quy định đặc biệt, nếu Chính phủ Mỹ căn cứ vào yêu cầu của chính sách ngoại giao và có lý do hợp lý tin rằng khả năng nhập cảnh của một nhân sĩ ngoại tịch nào đó có hậu quả bất lợi nghiêm trọng đối với chính sách ngoại giao của Mỹ, thì có thể cấm nhập cảnh. Cho nên nếu Chính phủ Mỹ có ý muốn ngăn trở Lý thăm Mỹ, hoàn toàn có thể không chịu ảnh hưởng của “tam quyền phân lập”. Nhưng, đúng như phân tích ở trên, việc Mỹ điều chỉnh chính sách đối với Đài Loan đã được cân nhắc chuẩn bị từ lâu, mà chính sách đó cũng được hai đảng Cộng hoà và Dân chủ hoàn toàn ủng hộ. Cho nên về vấn đề này ý kiến của Tổng thống Mỹ và Quốc hội là nhất trí, do đó Tổng thống Clintơn ngày 25-10 chính thức ký luật này cũng không lấy gì làm lạ. Đương nhiên, Clintơn là Tổng thống một nước, lời nói và việc làm của ông ta không thể tùy tiện như nghị sĩ Quốc hội, tuy rằng ông ta muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao với Đài Loan, nhưng cũng không thể không suy nghĩ tới phản ứng của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Do vậy khi phê chuẩn luật này, cũng đã chỉ thị cho Quốc vụ khanh Cơríttốpphơ suy nghĩ về việc quan chức Đài Loan thăm Mỹ, cần phải cân nhắc hết sức thận trọng về lợi ích chính sách ngoại giao của Mỹ. Những lợi ích ấy bao gồm: duy trì sự ổn định và phồn vinh của hai bờ eo biển cùng toàn cục quan hệ với Đài Loan và Trung Quốc, cố gắng tìm ra điểm cân bằng trong những quan hệ đó. Với từ ngữ ẩn ý trong cách nói ấy có nghĩa là, chỉ cần có lợi đối với Mỹ, thì Mỹ sẽ phê chuẩn cho Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Qua một thời gian, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan vẫn không ngừng thay đổi, cuối cùng là đi ngược lại tinh thần 3 bản thông báo chung Trung-Mỹ, chuyến đi Mỹ của Lý Đăng Huy được phê chuẩn. Theo văn bản sửa chữa “Luật di dân” mà Quốc hội Mỹ thông qua, thì việc Lý Đăng Huy thăm Mỹ khác nào cung đã giương, tên đã hẹn giờ. Nhưng, Lý Đăng Huy đi Mỹ dĩ nhiên là thuộc về “chuyến đi riêng”, vẫn phải tìm được một người đón tiếp; còn phải kiếm được lý do quang minh chính đại để Chính phủ Mỹ “khó mà từ chối”. Và lúc này, một nhân vật được gọi là “thông hiểu Trung Quốc”, nguyên Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Lý Khiết Minh bay tới Đài Loan, hiến “diệu kế” cho Lý Đăng Huy sang thăm nước Mỹ. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 07:57:23 pm Lý Khiết Minh hiến kế, Lưu Thái Anh chạy cửa công Trước khi Lý Khiết Minh đi Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc đã làm trạm trưởng một trạm liên lạc của Cục Tình báo Trung ương Mỹ tại Đài Bắc, lúc này rất thân thiết với Lý Đăng Huy. Tháng 1-1994, Lý Khiết Minh nhận lời mời sang thăm Đài Bắc, tự nhiên lại được gặp mặt “người bạn cũ”. Hai người bao năm trước đây đã gắn bó với nhau tại Đài Bắc, nói tới quan hệ Trung-Mỹ gần đây và sự phát triển quan hệ của Mỹ đối với Đài Loan, lúc này Lý Đăng Huy nét mặt lộ vẻ khó chịu nói: “Muốn mở rộng sự đòi hỏi về chính sách của Mỹ đối với Đài Loan xem ra cần phải có sự tiếp xúc cấp cao mới được, nhưng giữa chúng ta không có quan hệ Ngoại giao, làm thế nào mới gỡ được vấn đề này?” Lý Khiết Minh quả là một chuyên gia tình báo tầm cỡ, thoáng suy nghĩ rồi ghé sát vào tai Lý Đăng Huy nói rõ cái “cẩm nang diệu kế” của mình: “Nếu ngài muốn thăm Mỹ trong thời gian gần đây, thì có thể Trường đại học Kannai nổi tiếng sẽ tặng ngài danh hiệu bác sĩ danh dự. Làm như vậy vừa tìm được đơn vị đón tiếp, lại vừa làm cho Chính phủ Mỹ bất khả từ chối”. Qua gợi ý của Lý Khiết Minh, Lý Đăng Huy cuối cùng đã hiểu ý. Ông ta xiết chặt tay Lý Khiết Minh, luôn miệng: “Thế mà hay, thế mà hay!”. Lý Đăng Huy liền chỉ thị cho Lưu Thái Anh Chủ nhiệm Uỷ ban kinh doanh của Quốc Dân Đảng, người bạn chí cốt đang ngồi bên cạnh trực tiếp lo liệu công việc này. Nói đến con người Lưu Thái Anh, ở đây không thể không nói tới một vài đặc điểm cá nhân. Một nhân vật chính giới tiêu biểu, gốc tích ở Đài Loan, xuất thân từ gia đình nghèo khổ, nhờ chị gái giúp đỡ, buộc phải theo học tại Đại học Đài Loan và đã thân thiết với Lý Đăng Huy, thày dạy ở đây hồi đó, hai người quan hệ ý hợp tâm đầu, đã có một quá trình gắn bó thân thiết. Trong niên đại 60 Lý Đăng Huy và Lưu Thái Anh lần lượt du học tại trường Đại học Kannai, hai người từ quan hệ thày trò chuyển thành tình bạn, quan hệ ngày càng gắn bó. Sau khi Lý Đăng Huy trở lại Đài Loan được thăng quan tiến chức, Lưu Thái Anh cũng được người “thày cũ bạn xưa” trọng dụng và nâng đỡ. Cho đến hôm nay, Lưu Thái Anh ngoài chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban kinh doanh của Quốc Dân Đảng, nắm đại quyền tài chính, còn kiêm nhiệm Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế Đài Loan. Bề ngoài là tư cách một học giả, nhưng về sau lại theo đuổi những sự nghiệp “kinh thiên động địa”. Vào khoảng Tết năm 1994, những chuyến. “đi nghỉ” của Lý Đăng Huy ở Philippin, Inđônêxia, Thái Lan đều là kế hoạch của Lưu Thái Anh, cũng là một thiên “kiệt tác” đầu tiên trong sự nghiệp làm “Ngoại giao bằng viên đạn bạc”. Việc tối cơ mật mà Lý Đăng Huy muốn thực hiện chuyến thăm Mỹ lần này lại là sự kiện trọng đại có liên quan đến “việc nước”, là đương nhiên phải do Lưu Thái Anh đích thân đảm nhiệm. Sau khi nhận lệnh của “thày-bạn”, Lưu Thái Anh lập tức lên máy bay đi thẳng Mỹ, và tìm ngay đến Công ty quan hệ công cộng Kaxidi nổi tiếng, bàn việc Lý Đăng Huy đi thăm Mỹ. Qua vài ngày đàm phán, cuối cùng công ty đồng ý tiến hành du thuyết cho chuyến thăm này. Đương nhiên, họ nhận được khoản thù lao thật hậu hĩ: với tư cách “Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế Đài Loan” hàng năm cấp cho công ty ấy 2 triệu đô la, với điều kiện là công ty này phải mở thông được mọi cửa để Lý Đăng Huy sang thăm nước Mỹ, đặc biệt là tranh thủ được sự ủng hộ tích cực của Thượng viện và Hạ viện Trung Quốc hơn. Sau khi đàm phán với công ty này giành được thắng lợi, Lưu Thái Anh lại vội vàng tới thăm Losi Hiệu trưởng trường đại học Kannai. Đúng lúc này, vị hiệu trưởng đang lao tâm khổ tứ vì kinh phí nhà trường khó khăn, thì nhìn thấy khách Đài Loan xuất hiện ngay tại phòng làm việc của mình, đôi mắt ông sáng hẳn lên. Ông ta hiểu rằng, vị khách Đài Loan kia là con người thân tín của Lý Đăng Huy, tục ngữ có câu “vô sự nào ai lên cửa Phật”, Lưu Thái Anh đến đây chắc là mang sứ mệnh đặc biệt. Với tư cách cao quí của ông hiệu trưởng, đương nhiên không thể tùy tiện thổ lộ tâm sự lo âu của mình với người khác kia. Nhưng Lưu Thái Anh hình như đã linh cảm được điều ấy, cho nên hai người trao đổi được một lát, Lưu Thái Anh liền từ từ rút trong túi ra tờ ngân phiếu và trao cho vị hiệu trưởng Losi. “Thưa ngài hiệu trưởng, đây là 2,5 triệu đô la, tôi muốn xây dựng tại quí trường một “Hội quĩ hữu nghị Lý Đăng Huy”, không hiểu có phù hợp không?”. “Ô kê, Ô kê, có được người bạn kiệt xuất là ngài Tổng thống Lý Đăng Huy, thật là một vinh dự cho Trường đại học Kannai”. Ông Hiệu trưởng thản nhiên nhận tờ ngân phiếu. “Đây còn 2 triệu đô la nữa, chúng tôi muốn xây dựng tại quí trường “bục giảng quốc tế Lý Đăng Huy”, có thể nhờ ngài giúp đỡ tác thành việc đó được không?” Lưu Thái Anh lại rút tờ ngân phiếu đặt trước ông hiệu trưởng. “Đương nhiên là có thể, đương nhiên là có thể. Nhưng không biết chúng tôi nên nghĩ gì đối với ngài?” “Tổng thống Lý Đăng Huy đang muốn mở thông cửa ngõ để sang quí quốc, nhưng khổ một nỗi là chưa tìm được cơ hội thích hợp. Ngài xem...”. Nói tới đây, Lưu Thái Anh ngập ngừng; dĩ nhiên ông ta đã thả mồi, thì đương nhiên phải chờ cá cắn câu. “Không có vấn đề gì, với danh nghĩa là Trường Đại học Kannai tôi sẽ gửi thư mời Tổng thống, còn về những vấn đề hữu quan bên này, chúng tôi cũng có thể giúp tìm biện pháp” Losi đập đập vào ngực mình nói với Lưu Thái Anh như vậy. Có ý tức là có tiền thì khiến được quỉ làm trò, quả nhiên với uy lực “Ngoại giao bằng viên đạn bạc” của Lưu Thái Anh, các “chính nhân quân tử” của giới chính trị học thuật Mỹ đều quì gối dưới chân hắn. Với sự cố gắng và tích cực hoạt động của Lưu Thái Anh, Losi, Hiệu trưởng trường Đại học Kannai đã 2 lần tới Đài Loan gặp Lý Đăng Huy và đồng đảng, bàn bạc công việc có liên quan đến chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy. Ở những nơi công cộng Loci luôn tán dương Lý Đăng Huy: (nào là) tay trái của Lý Đăng Huy là một “chính trị gia, học giả kiệt xuất”, (nào là) tay phải là một “nhà lãnh đạo siêu việt thúc đẩy nền kinh tế Đài Loan cất cánh và thực hiện dân chủ hóa chính trị”. Losi còn luôn luôn giới thiệu qua báo chí, rằng việc mời Lý Đăng Huy thăm Mỹ chỉ là sự động viên thỏa đáng những thành tựu đạt được trong mấy chục năm qua của mình; hơn nữa là bán rao chủ trương của ông ta mời Lý Đăng Huy thăm Mỹ với chiêu bài “tự do lữ hành” và “tự do học thuật”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:22:35 pm Chiêng trống vang trời - màn kịch khai diễn Vào năm 1995, “thế tiến công bằng viên đạn bạc” của chính quyền Đài Loan tại Mỹ ngày càng mãnh liệt, những người giong trống mở cờ cho đương cục Đài Loan tại Quốc hội Mỹ ngày càng nhiều hơn. Nhất là cuối năm 1994 sau khi bầu cử hai viện Quốc hội Mỹ, hàng loạt đảng viên Bảo thủ và Cộng hòa mang sắc thái chống cộng mạnh mẽ bước vào Quốc hội, họ dấy lên từng làn sóng chống Trung Quốc sôi động trong Quốc hội Mỹ. Ngày 9 và 10-12-1994, tại Niu Yóoc thành phố lớn nhất nước Mỹ đã tiến hành một cuộc “hội thảo nghiên cứu về chính sách Mỹ-Đài Loan năm 1994”. Hội nghị lần này dưới sự chủ trì của Uỷ ban luân lý và sự vụ quốc tế Caneiki, còn người tham gia thì không phải chỉ có các chuyên gia học giả nghiên cứu những vấn đề quốc tế của Mỹ, mà có cả một số quan chức cấp cao Ngoại giao Chính phủ Mỹ, thậm chí có cả “Uỷ viên lập pháp” của Đài Loan cử sang; tất cả thể hiện màu sắc rộng rãi nồng hậu của hội nghị. Thành quả của hội nghị lần này với tiêu đề “xu thế chính sách trong tiến trình dân chủ: Quan hệ Mỹ-Trung Hoa Dân quốc hướng tới thế kỷ 21”. Phó Chủ nhiệm Uy ban châu Á và sự vụ quốc tế Caneiki là Cơritstốpphơ. Xigu đã tóm tắt nội dung chỉ rõ, mục đích cuộc hội thảo lần này là “với phương thức hẹp lại một lần nữa suy nghĩ về chính sách của Mỹ đối với Trung Hoa Dân quốc”, để nêu ra kiến nghị của mình về “tiền đồ chính trị của Trung Hoa Dân quốc và đối sách cần thiết của Chính phủ Mỹ”. Thực chất hội nghị này là chuẩn bị lý luận cuối cùng cho chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy. Đầu tháng 2-1995, Hứa Thủy Đức thư ký Trưởng Ban chấp hành Trung ương Quốc Dân Đảng Đài Loan dẫn đầu một đoàn đại biểu sang thăm Mỹ, hội kiến với nhiều quan chức cao cấp Mỹ bao gồm Clintơn và lãnh tụ hai viện Quốc hội. Mục đích chuyến thăm của Hứa Thủy Đức chủ yếu là bán rao thành quả “cải cách dân chủ” với lãnh đạo cao cấp Mỹ, và tranh thủ hoạt động du thuyết lần cuối cùng cho chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy. Quả nhiên, với sự hoạt động mạnh mẽ của họ, lập trường của Chính phủ Mỹ về vấn đề này bắt đầu thay đổi. Ngày 9-2-1995, nhóm phụ trách châu Á Thái Bình Dương trong Uỷ ban quan hệ quốc tế hạ nghị viện Mỹ mở hội nghị thính chứng về vấn đề Đài Loan, và mời trợ lý Quốc vụ khanh thứ vụ châu Á Thái Bình Dương Uyxtơn Lốt tới làm chứng. Tại hội nghị Uyxtơn Lốt nói một cách thâm thúy: “Nước Mỹ tuy rằng không thể thay đổi triệt để chính sách đối với Đài Loan, nhưng Tổng thống Clintơn trao cho Quốc vụ khanh Cơrítstốpphơ toàn quyền cân nhắc toàn diện lợi ích ngoại giao của Mỹ, suy nghĩ cẩn thận vấn đề Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ”. Được Lốt cổ vũ, thế lực thân Đài Loan trong Quốc hội Mỹ chuẩn bị thực thi hành động cụ thể thúc đẩy chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy Ngày 6-3-1995, 26 nghị sĩ Thượng viện nêu kiến nghị yêu cầu Clintơn phê chuẩn Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ. Ngày 18-3, “Uỷ ban kinh tế Trung-Mỹ” đại diện cho lợi ích của mậu dịch và những người đầu tư Đài Loan ra tuyên bố, họ đã quyết định mời Lý Đăng Huy tham dự hội nghị hợp tác kinh tế Mỹ-Đài Loan sẽ cử hành vào ngày 23-3; Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ lại thông qua quyết nghị, thúc giục Clintơn phê chuẩn ngay chuyến thăm Trường đại học Kannai của Lý Đăng Huy với “tư cách cá nhân”, và hoan nghênh Lý Đăng Huy “nghỉ chân quá cảnh” tại Ankleigi thuộc bang Alatska. Sau khi Uỷ ban Thượng viện thông qua quyết nghị này còn ra tuyên bố, nếu Chính phủ Clintơn xem thường tiếng nói của họ, thì họ sẽ có thể sửa đổi “Luật di dân”, và sẽ xem xét lại “Luật quan hệ với Đài Loan”, để buộc phải “thay đổi toàn diện” chính sách của Mỹ đối với Đài Loan. Hạ tuần tháng 3, thế lực thân Đài Loan ở trường Đại học Kannai lại dấy lên phong trào vận động “Đài Loan cần có tiếng nói”. Họ chẳng những chỉ lấy chữ ký của nhân viên giáo chức trong trường, mà còn liên tục cử đại diện đi tới các nơi trong nước tuyên truyền cổ động để thúc đẩy chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy sớm được thực hiện... Sáng ngày 5-4, Uỷ ban quan hệ quốc tế hạ viện Mỹ thông qua quyết nghị, yêu cầu cơ quan hành chính cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ; đến chiều một số nghị sĩ lại nêu ra “Đề án sửa chữa luật quan hệ đối với Đài Loan” yêu cầu Quốc vụ viện Mỹ không được lấy lý do là có thể gây bất lợi cho chính sách ngoại giao của Mỹ, mà cấm “lãnh tụ dân cử” của Đài Loan sang thăm Hoa Kỳ, cũng như quyết nghị buổi sáng đã thông qua, đề án mà họ nêu ra sẽ có hiệu lực pháp luật chính thức, do đó hậu quả có thể xảy ra càng nghiêm trọng hơn. Ngày 2-5-1995, kết quả biểu quyết với số phiếu 39% của Hạ viện Mỹ đã thông qua quyết định mời Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ. Sau một tuần Thượng viện Mỹ cũng thông qua nghị quyết tương tự với kết quả 97/1 phiếu. Từ trung tuần tháng 5, các loại báo chí chủ yếu của Mỹ hình như vẫn quen đi trước, cổ động rùm beng cho chuyến thăm Mỹ của Lý Đăng Huy. Các tờ “Thời báo Niuoóc”, “Bưu điện Oasinhtơn” và “Luận đàn Chicagô” lần lượt đăng xã luận trong các ngày 10, 12, 22 tháng 5, tâng bốc Chính phủ Mỹ nên xóa bỏ lệnh cấm Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Có thể nói rằng, đến nửa đầu năm 1995, trong Quốc hội Mỹ đã chuẩn bị xong về cơ bản việc thăm Mỹ của Lý Đăng Huy. Nhưng cũng thời điểm này quan chức Chính phủ Mỹ vẫn khẩn thiết đòi hỏi Mỹ không thể cho phép Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ. Như Quốc vụ khanh Cơrítstôpphơ ngày 16-2 trong hội nghị thính chứng của Uỷ ban dự toán Thượng viện đã thể hiện rõ, nước Mỹ không muốn đi ngược lại tinh thần 3 bản thông báo Trung-Mỹ, không muốn mở rộng quan hệ với Đài Loan bằng bất cứ hình thức nào. Do vậy, “Nếu ông ta qua lại mà muốn quá cảnh tại Mỹ thì có thể tiếp nhận, nhưng nếu với tư cách “Tổng thống” đến thăm thì không phù hợp với quan hệ trong khuôn khổ Mỹ-Đài Loan”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:23:07 pm Ngày 10-3, sau khi Thượng nghị viện thông qua quyết nghị yêu cầu cơ quan hành chính cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ, nữ phát ngôn Quốc vụ viện Mỹ trong hội nghị thông báo tin tức thường lệ đã nói rõ: Chính phủ Mỹ sẽ không thể cấp “giấy chứng nhận quá cảnh dài hạn” cho Lý Đăng Huy. Ngày 11-3, trợ lý Quốc vụ khanh Lốt cũng tuyên bố một bản tin ngắn, đặc biệt, nói rõ: “Với lý do an toàn, thuận tiện và thích hợp” Mỹ sẽ cho phép Lý Đăng Huy “đi thăm quá cảnh dài hạn”, “nhưng không phải là kiểu đi thăm nêu trong bản quyết nghị”. Ông ta còn nói, Lý Đăng Huy đến Trường Đại học Kannai hoặc tham dự hội nghị thường niên Hiệp hội kinh tế Mỹ-Đài Loan đều “trái với lời hứa là nước Mỹ không quan hệ mở rộng với Đài Loan”. Mặc dù hạ tuần tháng 5, sau khi lãnh đạo cấp cao Chính phủ Mỹ đã đi tới nhận thức chung về chủ trương Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ, nhưng một số quan chức cao cấp Chính phủ Mỹ vẫn công khai thể hiện, Chính phủ Mỹ quyết không cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Ví như ngày 9-5, sau khi Thượng nghị viện biểu quyết ủng hộ Lý Đăng Huy thăm Mỹ, người phát ngôn Quốc vụ viện Jonathan còn nói, nếu như cho phép Lý Đăng Huy sang thăm, thì sẽ “gây ra hậu quả nghiêm trọng cho chính sách ngoại giao Mỹ”. Kỳ thực, những lời lẽ biện bạch của Chính phủ Mỹ chẳng qua chỉ là viên đạn hoả mù bưng tai bịt mắt mọi người. Đồng thời với những hành động bày kế cho chuyến thăm của Lý Đăng Huy do thế lực chống Trung Quốc trong Quốc hội Mỹ chuẩn bị, thì cơ quan hành chính của Mỹ đã nghiên cứu cẩn thận đến hậu quả của chuyến thăm gây ra. Ngày 15-5, Quốc vụ khanh Cơrítstôpphơ Lốt triệu tập một số người “thông Trung Quốc” tới phòng làm việc của mình, thảo luận về việc Chính phủ Mỹ có nên cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ hay không. Họ rút ra kết luận là nếu Chính phủ Mỹ cự tuyệt chuyến thăm của Lý Đăng Huy, ắt sẽ dẫn đến sự phản kháng kịch liệt của hai viện Quốc hội Mỹ, Chính phủ của Đảng Dân chủ sẽ vấp phải sự đả kích nặng nề về chính trị, và nếu phê chuẩn chuyến thăm ấy của Lý Đăng Huy, thì phía Trung Quốc sẽ phản ứng: Triệu hồi Đại sứ tại Mỹ về nước, kháng nghị mãnh liệt, song không thể cắt đứt quan hệ ngoại giao hoặc những biện pháp mạnh hơn. Họ cho rằng, Mỹ đi nước cờ này tuy rất mạo hiểm, nhưng có thể là thực nghiệm. Sau tháng 5, thực tế Chính phủ Mỹ đã quyết định cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ, cuối cùng chỉ còn là hình thức “dừng chân quá cảnh” hay là “chuyến thăm với tư cách cá nhân”; giữa Quốc vụ viện và Nhà trắng còn có một số ý kiến bất đồng. Cuối cùng Nhà trắng phủ định ý kiến của Quốc vụ viện nêu ra là yêu cầu Lý Đăng Huy đi thăm với hình thức “dừng chân quá cảnh”, mà trực tiếp đi thăm theo “tư cách cá nhân”. Tiếp theo, Nhà trắng loan tin có thể cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Ngày 19-5, người phát ngôn Nhà trắng Maikli và người phát ngôn Chính phủ Boens cùng họp báo. Maikli nói rõ, vấn đề quá cảnh của Lý Đăng Huy “đang được cân nhắc”. Thực ra, phía Maikli và Boens chỉ là tung ra làm hỏa mù “có cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ hay không”, còn phía kia là Chính phủ Mỹ đã thực thi hành động quan trọng. Cùng ngày họp báo ấy, quan chức Chính phủ Mỹ tới phòng đại diện Đài Loan tại Bắc Mỹ gặp Lỗ Triệu Trung, thông báo Mỹ đã đồng ý cho Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Đồng thời còn nói thêm, “hoạt động hội trường” Kannai chẳng bao lâu nữa sẽ tiến hành, hy vọng phía Đài Loan sớm trả lời. Lập trường phía Mỹ thay đổi khiến Lỗ Triệu Trung vui mừng khôn xiết. Họ còn điện gấp cho Đài Bắc báo “tin vui” này, Đài Bắc cũng điện trả lời ngay: “Mọi hành động đều đã chuẩn bị”. Ngày 20-5 Lỗ Triệu Trung tới bái kiến phó Quốc vụ khanh U.Ôntơman thông báo cho Mỹ biết, Lý Đăng Huy đã quyết định đi Mỹ trong một ngày gần đây, mong phía Mỹ sớm chuẩn bị. Ngày 23-5, Boens người phát ngôn Chính phủ Mỹ chính thức công bố tại cuộc họp thông báo tin tức về quyết định cuối cùng Chính phủ Mỹ là cho phép Lý Đăng Huy được thăm Hoa Kỳ: “Cho phép Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân, nhưng không được tiến hành mọi hoạt động rộng rãi”; đồng ý Lý Đăng Huy được tham gia hội trường của Đại học Kannai vào tháng 6 năm nay, và phát biểu ý kiến trong buổi lễ tiễn sinh viên tốt nghiệp; nới rộng giới hạn là quan chức cao cấp Đài Loan thăm Mỹ, quan chức Chính phủ Mỹ sẽ không tiếp xúc với Lý Đăng Huy, nhưng các nghị sĩ Quốc hội có gặp gỡ hoặc hội kiến hay không thì còn phải “nghe ngóng cẩn thận”. Clintơn phê chuẩn cho Lý Đăng Huy thăm Mỹ trong thực tế là đã làm đảo lộn tinh thần 3 bản thông báo Trung-Mỹ, thậm chí còn nhìn bất cập so với chính sách của Mỹ điều chỉnh năm 1994 đối với Đài Loan. Chính sách1994 qui định: “Tổng thống”, “phó Tổng thống” cùng “Viện trưởng Viện phó Viện Hành chính” đều chỉ có thể “quá cảnh” Mỹ, mà không được tiến hành “thăm viếng với tư cách cá nhân”, còn trong chính sách mới lại qui định, nhân sĩ cao cấp Đài Loan thăm Mỹ sẽ phải “xử lý theo đề án”, chỉ cần những chuyến thăm ấy mang “tính chất cá nhân”, Mỹ sẽ “nới rộng chính sách”. Có nghĩa là, không chỉ có chuyến thăm của Lý Đăng Huy lần này được thuận lợi, mà có thể “có tiền lệ về sau”; những hành động ấy lại sẽ phát sinh trong “thời gian thích hợp”. Do tư cách đặc thù của Lý Đăng Huy, nhưng bất kể đi thăm Mỹ với tư cách gì, đều không thể thay đổi sắc thái rộng rãi của nó, thật rõ ràng đã làm trái với lời hứa của Chính phủ Mỹ là không mở rộng quan hệ đối với chính quyền Đài Loan; về điểm này Chính phủ Mỹ thật khó giải thích nổi. Ngày 23-5, Boens người phát ngôn Chính phủ Mỹ khi trả lời nhà báo cũng nói mập mờ. Hỏi: Trước đây mấy tháng, trợ lý Quốc vụ khanh Lốt đã từng tới Bắc Kinh, trước hết là giải thích cần thông báo lại với người Trung Quốc, Mỹ không có suy nghĩ thêm gì về lập trường này. Ngài có thể cho chúng tôi biết, Quốc vụ viện đã bằng cách nào giải thích cho Chính phủ Trung Quốc vì sao thay đổi lập trường đó? Đáp: Vấn đề này... đúng như tôi vừa nói với các vị, ra được quyết định này đã phải suy nghĩ tới rất nhiều nhân tố. Tôi nghĩ ... tôi thật không thể chỉ rõ từng nhân tố cụ thể, song tôi chỉ muốn nói, có mấy nhân tố dẫn đến Chính phủ hành động ra quyết định. Chính sách ngoại giao không giống như xi măng, hàng chục năm nhất thành bất biến. Chính sách của chúng ta đương nhiên phải thay đổi theo diễn biến của thời đại. Hỏi: Nhưng, Chủ tịch Uỷ ban Ngoại giao thượng viện Mỹ dự đinh gặp Lý Đăng Huy, sao ngài có thể khẳng định đó không phải là quan hệ nhà nước? Đáp: Chúng tôi chỉ có thể chỉ đạo mình theo hành động của ngành hành chính Chính phủ Mỹ. Nhìn qua ngoại giao thường nhật, quan hệ song phương giữa Mỹ với bất kỳ một nước nào khác trên thực tế là cơ sở hành động của ngành hành chính ... Chúng tôi không thể nói với bất kỳ một nghị sĩ nào rằng, ông nào hay bà nào nên hay không nên gặp gỡ Lý Đăng Huy. Đó là do bản thân nghị sĩ tự quyết định, chúng tôi thật sự không thể hiện thái độ về vấn đề này. … Xét về mặt lý giải cơ sở quan hệ giữa chúng tôi với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và mối quan hệ này trên những hiệp ước tức là 3 bản tuyên bố chung, chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Chúng thực sự hứa hẹn sẽ bảo đảm mọi hoạt động giữa chúng tôi với chính quyền Đài Loan phải phù hợp với quan hệ Trung Quốc, có nghĩa là không thể có sự tiếp xúc trên phương diện quốc gia không thể có tiếp xúc với quan chức Chính phủ Mỹ. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:25:51 pm “Đài Loan độc lập” biểu diễn trò hề Sau khi Chính phủ Clintơn quyết định cho Lý Đăng Huy tới Đại học Kannai tiến hành “Ngoại giao hữu nghị”, bọn Lý Đăng Huy bôi son trát phấn mở màn trình diễn trò hề “Đài Loan độc lập”. Ngày 7-6-1995, Lý Đăng Huy dẫn đầu bầu đoàn thê tử, quan chức cao cấp cùng Cục trưởng tin tức Hồ Chí Cường lên đường sang Mỹ. Lý Đăng Huy đáp máy bay Bôing 747 của “Công ty hàng không Trung Hoa” thuộc liên hiệu B164 sang Lốtangiơlét tạm dừng chân, rồi đi thẳng Niuoóc. Thời tiết Niuoóc tháng 6 đang hè oi ả, trời nắng như thiêu, cả sân bay như một chiếc lồng hơi hầm hập, không gian ngột ngạt. Nhưng đội hình đón tiếp do Chủ tịch Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện Hemus, thượng nghị sĩ bang Niuoóc Tô Mát, và thượng nghị sĩ bang Alátxka Mukaurxki đứng đầu vẫn nghiêm chỉnh trong nhà đợi dưới trời hè 37 độ. 4 giờ 30 phút ngày 8-6, chiếc chuyên cơ chở Lý Đăng Huy hạ cánh xuống sân bay quốc tế Niuoóc, máy bay dừng hẳn, nhân viên công tác chờ đợi từ sớm đã vội vàng trải tấm thảm hồng. Để tỏ lòng tôn kính đối với một vị “Tổng thống”, thị trưởng Niuoóc - Bairdi cùng trưởng đại diện Đài Loan tại Niuoóc Ngô Tử Đan lên tận máy bay đón Lý Đăng Huy. Cửa máy bay vừa mở, Lý Đăng Huy trong bộ com lê màu xanh đậm sát cánh bên Bairdi xuất hiện trước cầu thang. Cho dù mệt mỏi, nhưng Lý Đăng Huy vẫn tỏ ra nhanh nhẹn giơ tay vẫy chào đoàn người đứng trong phòng đợi. Hemus nhanh nhẹn tiến lên phía trước xiết chặt tay Lý Đăng Huy, và hướng dẫn đi vào “phòng đón” đã chuẩn bị sẵn. “Chúng tôi đã đợi chờ rất lâu rất lâu rồi, cuối cùng giây phút ấy đã đến”. Hiệu trưởng Trường Đại học Kannai - Losi túi đã nhét đầy 4, 5 triệu đô la tiền trải đường của Lý Đăng Huy lên đọc diễn văn đón tiếp. “Chúng tôi cảm thảy tự hào vì có được Tổng thống Lý Đăng Huy, lãnh tụ chính trị kiệt xuất như vậy”. Thượng nghị sĩ bang Niuoóc Tô Mát là người chủ ra đón Lý Đăng Huy, đương nhiên bài diễn văn phải có khẩu khí riêng: “Trường Đại học Kannai của bang Niuoóc đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của ngài Lý Đăng Huy... Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Lý Đăng Huy, Đài Loan trở thành người thúc đẩy tiến bộ trên thế giới. Đài Loan gắn liền với tuyển cử công bằng và thị trường tự do nên được biểu dương”. Đến lượt Hemus, Uỷ ban Ngoại giao thượng viện phát biểu là thượng nghị sĩ mệnh danh ông ta dương dương tự đắc nói rằng, “Hôm nay các ngài đã tới Xirachiuzi, tôi hy vọng sớm tới Oasinhtơn thủ đô của chúng tôi”. Cuối cùng, đến Lý Đăng Huy bước ra dốc “bầu tâm sự” của mình: “Chuyến đi của tôi và gia đình tới Đại học Kannai lần này, cũng như cuộc leo núi du lịch đường dài. Khi đã lên tới đỉnh, nhìn thấy cảnh sắc tuyệt vời, mới cảm thấy thật là chuyến đi hữu ích”. Lý Đăng Huy sôi nổi nói: “Tôi luôn luôn tin tưởng rằng, chỉ cần có quyết tâm và nghị lực, một con người sẽ có thể thực hiện được ước mơ của mình”. Nói tới đây, Lý Đăng Huy càng dương dương tự đắc, và buột miệng nói bằng tiếng Anh: “Be Frealistc demand, doing the impossible”. (Trước hiện thực, thách thức với sự vật bất khả năng). Nói xong, Lý Đăng Huy nghĩ rằng, mình là “một nguyên thủ quốc gia”, không thể có hành vi tùy tiện, do vậy liền dùng tiếng Trung Quốc tiếp tục nêu quyết tâm: “Có người cho rằng chúng tôi không thể tham gia Liên Hợp Quốc, thì chúng tôi phải khiêu chiến với “bất khả năng”, đột phá cái “bất khả năng” ấy. Khiêu chiến trực diện với nó, là công việc mà chúng tôi phải làm, nếu không chúng tôi thiếu trách nhiệm đối với đời con đời cháu”. Với sự bố trí công phu của Losi, tối hôm ấy Lý Đăng Huy cùng ăn cơm với Hemus cùng nâng cốc hàn huyên chuyện cũ, tâng bốc hồi lâu, khi tiễn Lý Đăng Huy về đến khách sạn, thì kim đồng hồ đã chỉ 0 giờ 30 phút. Lúc này Lý Đăng Huy cảm thấy vô cùng mệt mỏi, nhưng tâm trạng không thể nào yên. Nghĩ tới ngày mai sẽ đứng trên “bục giảng Niuoóc” nổi tiếng với bài diễn thuyết soạn thảo công phu, Lý Đăng Huy càng thêm phấn chấn, lục hòm hành lý lôi ra bài viết đã chuẩn bị từ lâu, kéo rèm cửa, một mình khua chân múa tay trong khách sạn đọc thử một lần. “Không được, bài này giống như giảng chính trị ở Đài Bắc của mình, cứng nhắc quá, người Mỹ không nhá nổi món này”. Lý Đăng Huy xem qua từng trang lẩm nhẩm nói vậy, rồi ném sang một bên. Lý Đăng Huy muốn ra ngoài chạy quanh một chút, song lúc này, hai chiếc trực thăng của không quân Mỹ đang bay lượn trên bầu trời khách sạn, ngoài cửa toàn là lính đặc công của Chính phủ Mỹ cử đến làm nhiệm vụ bảo vệ, khuya lắm rồi đi ra không ổn. Thế là ông ta đành phải quay vào luẩn quẩn trong phòng. “Có đây rồi? Người Mỹ chẳng phải là thích hài hước đó sao? Sao ta lại không lấy gậy ông mà đập lưng ông?” Lý Đăng Huy đập nhẹ vào trán, cuối cùng chau mày, cân nhắc đắn đo. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:26:28 pm 3 giờ chiều ngày 9-6, dưới sự hướng dẫn của Losi, Lý Đăng Huy đã đến cung thể thao của Trường Đại học Kannai, trong này có thể chứa được 3000 khán giả, đã ngồi chặt những “bạn bè nhà trường” được chọn kỹ từ trước. Lý Đăng Huy nắn nót ca vát rồi bước lên bục giảng. “Bản thân vốn thích cầu gôn, hôm nay đến nước Mỹ, sung sướng nhất là được tham gia US.OPEN”. Ngay câu mở đầu Lý Đăng Huy đã tuôn ra câu nói hài hước mà suốt đêm qua vắt óc tìm kiếm được. US.OPEN ở đây vừa có thể hiểu là “Mỹ công khai thi thố” lại có thể là “nước Mỹ nới rộng đối với Đài Loan”. Tu từ ngữ song nghĩa ấy là câu hài hước tiêu chuẩn của Mỹ. Quả nhiên, Lý Đăng Huy dứt lời, cả hội trường vang dội tiếng cười. “Xem ra hôm nay mở màn biểu diễn khá hay”. Lý Đăng Huy thầm đắc ý về sự hóm hỉnh của mình, càng tin tưởng thêm vào bài diễn thuyết. “Đăng Huy được diễn thuyết ngay tại bục giảng nơi trường mẹ, cảm thấy thật vinh hạnh, chuyến trở lại trường lần này, có thể nói là cuộc lữ hành vất vả xa xôi. Nhưng, gia đình và bản thân được trở lại vườn trường xinh đẹp ngày xưa, trong lòng thấy vô cùng sung sướng”. Lý Đăng Huy lấy ra từ túi áo bài nói của mình, và bắt đầu tuyên đọc. “Lần này sang Mỹ tham gia ngày hội lớn của Trường Đại học Kannai không chỉ là vinh dự riêng của Đăng Huy, quan trọng hơn, đó là niềm vinh dự của 21 triệu đồng bào Đài Loan Trung hoa dân quốc. Trên thực tế, lần này Trường Đại học Kannai mời bản thân tôi sang thăm, chính là sự khẳng định nhân dân chúng tôi hàng chục năm qua đã giành được thành tựu trong sự nghiệp xây dựng đất nước”. Do đó, Lý Đăng Huy nói toạc ra rằng, “chủ thể mà hôm nay bản thân muốn nói tới cũng chính là “nhân dân chúng tôi”, thực chất cái coi là “chuyến thăm cá nhân” đã bị lật tẩy. Ở giờ phút ấy, Lý Đăng Huỷ không thể quên nói tới “Mở rộng không gian sinh tồn quốc tế” và “Ngoại giao thực tế”. Quả nhiên, sau khi nói tới “Cải cách hiến pháp hành chính”, liền gắn chủ đề vào vấn đề mở rộng không gian quốc tế như thế nào: “Đài Loan đã ở trong quá trình hòa bình, chuyển hóa thành chính trị dân chủ, đồng thời cũng tích cực tham dự hoạt động kinh tế quốc tế, và đã hình thành một khả năng gây ảnh hưởng không dễ coi thường trong xã hội quốc tế khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nhưng, vì Trung Hoa Dân quốc chưa được thừa nhận ngoại giao xứng đáng trong xã hội quốc tế, kinh tế Đài Loan về mặt ý nghĩa to lớn trên quốc tế do đó cũng bị coi nhẹ... Thẳng thắn mà nói, dân chúng tôi rất không hài lòng về địa vị quốc tế hiện nay của mình. Chúng tôi cho rằng, quan hệ quốc tế ngày nay không chỉ hạn chế ở sự vận tác chính thức trong pháp luật quốc tế truyền thống và tổ chức quốc tế. Vì sự thực, giữa quốc gia với nhau có nhiều hoạt động vẫn bị chế ước trong phạm vi “bán quốc gia” và “phi quốc gia”. Cho nên, sự cống hiến thực chất của một quốc gia đối với xã hội quốc tế cho dù là biểu hiện trong phạm trù hoạt động phi quốc gia cũng đáng được coi trọng”. Nói tới đây, Lý Đăng Huy tỏ ra rất xúc động, ông ta không còn để ý tới tư cách “Tổng thống”, ra sức kêu gào: “Suốt 40 năm qua, chúng tôi hết sức thực tế, hướng tới tương lai mà không nuối tiếc quá khứ, cần cù chịu khó mà không oán thán đất trời, do đó đã sáng tạo ra hiện thực sinh tồn và phát triển cho chúng tôi. Chúng tôi chân thành hy vọng các nước trên thế giới đối xử với chúng tôi bằng thái độ công bằng hợp lý, không nên coi nhẹ ý nghĩa, giá trị và tác dụng tiêu biểu của chúng tôi”. Ông ta căm tức nói rằng: “Có người nói là chúng tôi không thể phá nổi thế cô lập trong ngoại giao, nhưng chúng tôi sẽ đem hết sức mình “khiêu chiến với sự vật không có thể”. Tôi tin chắc rằng, cả thế giới này cuối cùng sẽ hiểu, Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan là người bạn phát triển thân thiện và có thực lực”. Vì Lý Đăng Huy quá xúc động, thêm vào đó là cung thể thao lại ngột ngạt khác thường, cho nên nói tới đây Lý Đăng Huy đã mồ hôi đẫm áo. Ông ta bất giác định thọc tay vào túi áo tìm khăn lau bớt mồ hôi. Song đứng trước công chúng tai to mặt lớn, làm như vậy hình như sẽ mất thể diện. Thế là, Lý Đăng Huy lại vội đặt tay lên bục giảng, nói tiếp trước mọi người: “Một lần nữa xin tỏ lòng cảm kích với chuyến đi thăm lại Trường lần này. Tôi chẳng những cảm kích về công nuôi dạy của Trường với tôi những năm trước đây, mà còn cảm ơn nước Mỹ... Trong thời kỳ đầu Trung Hoa Dân quốc chuyển tới Đài Loan, nước Mỹ đã viện trợ nhiều mặt, đóng góp đầy đủ cho sự phát triển kinh tế của chúng tôi. Chúng tôi không thể quên được sự ấm áp của “viên than trong băng tuyết”, cũng vì vậy mà có được tình cảm đặc biệt đối với người Mỹ”. “Ngày nay, chúng tôi là người bạn lớn thứ 6 về mậu dịch đối với Mỹ, mậu dịch song phương với Mỹ đạt tới 42,4 tỷ đô la, đồng thời cũng là nước đứng thứ 2 mua công trái của Chính phủ Mỹ. Chúng tôi đã chuẩn bị tăng cường quan hệ hai nước, cho nên thiết tha mong muốn chuyến thăm này sẽ mở ra một thời kỳ mới cho sự hợp tác hai bên”. Bài diễn văn của Lý Đăng Huy đã bộc lộ hoàn toàn tư tưởng “hai nước Trung Quốc” hoặc “một Trung Quốc một Đài Loan”. Trong bài nói của mình, Lý Đăng Huy đã sử dụng tới 16 lần “Trung Hoa Dân quốc tại Đài Loan” hoặc “Trung Hoa Dân quốc của Đài Loan”. Do vậy, mọi người cũng có thể thấy rõ, “chuyến thăm cá nhân” mà Chính phủ Mỹ đạo diễn mới cũng là một loại hàng gì. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:27:36 pm Một viên đá ném hai con chim hay là chim bay trứng vỡ Chính phủ Mỹ tự nuốt lời mình, lật lọng toàn bộ vấn đề Đài Loan làm tổn hại to lớn đến tình cảm của nhân dân Trung Quốc, do vậy lẽ đương nhiên dẫn đến phản ứng mãnh liệt và kháng nghị nghiêm khắc của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Ngày 23-5, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham triệu kiến khẩn cấp Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, Ruixiaochen, nêu kháng nghị nghiêm khắc phía Mỹ đã cho phép Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ. Phó Thủ tướng Tiền Kỳ Tham nói: “Vấn đề Đài Loan đã từng là vấn đề mấu chốt ngăn trở bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ, chỉ có sau khi Mỹ thừa nhận rõ ràng vấn đề Đài Loan thì hai nước Trung-Mỹ mới đặt quan hệ ngoại giao. Trung-Mỹ đặt quan hệ ngoại giao đã 16 năm nay, Chính phủ Mỹ lần lượt đều thi hành chính sách “một nước Trung Quốc”, xử lý vấn đề Đài Loan tuân theo hai bản thông báo chung”. Phó Thủ tướng Tiền Kỳ Tham nói tiếp: “Mỗi khi Mỹ vi phạm nguyên tắc 3 bản thông báo chung về vấn đề Đài Loan, quan hệ Trung-Mỹ sẽ nảy sinh khó khăn, trì trệ không phát triển được, thậm chí còn tụt lùi. Trong một thời gian gần đây, phía Mỹ bất chấp sự trao đổi của Trung Quốc, về mặt nâng cấp quan hệ Mỹ-Đài Loan, ngày càng xa hơn, hiện nay đã phát triển đến mức độ cho phép Lý Đăng Huy đi thăm Mỹ. Xét về tư cách Lý Đăng Huy, bất kể đi thăm Mỹ với danh nghĩa gì và hình thức nào đều là vấn đề chính trị nghiêm trọng, đều không thể làm thay đổi một sự thật là Mỹ dung túng và ủng hộ chính quyền Đài Loan, tạo ra “hai nước Trung Quốc” hoặc “một Trung Quốc một Đài Loan”. Cuối cùng ông Tiền Kỳ Tham nói: “Chính phủ Mỹ trước đây mấy hôm còn trịnh trọng nói là không cho phép Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ, nhưng hiện nay lại đi ngược lại lời hứa của mình, thực thi hành động phá hoại nền tảng quan hệ Trung-Mỹ, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Vấn đề Đài Loan có liên quan đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và sự nghiệp hoà bình thống nhất của TrungQuốc, có đụng chạm tới tình cảm 1,2 tỷ nhân dân Trung Quốc. Bất kỳ hành động nào tổn thương đến lợi ích căn bản của dân tộc Trung Hoa, thì Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đều kiên quyết không thể đáp ứng. “Chính phủ Mỹ phải suy nghĩ nghiêm túc đến hậu quả việc cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ, phải sửa chữa ngay những sai lầm. Chúng tôi mặc dù trân trọng quan hệ Trung-Mỹ, nhưng sự phát triển của tình hình buộc chúng tôi phải phản ứng mãnh liệt, phía Mỹ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Ngày 24-5 Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra thông báo, kịch liệt lên án Chính phủ Mỹ phản bội tín nghĩa, cho phép Lý Đăng Huy thăm Mỹ. Bản thông báo nêu rõ: “Đối với Trung Quốc, không có gì quan trọng hơn chủ quyền quốc gia và thống nhất Tổ quốc. Để bảo vệ chủ quyền quốc gia, thực hiện thống nhất Tổ quốc, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc sẵn sàng ứng đối với bất cứ hành động khiêu chiến nào!” Sau đó, Chính phủ Trung Quốc liền trao đổi nghiêm khắc với phía Mỹ về việc Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ, và phẫn nộ thi hành một loạt biện pháp: Chính phủ Trung Quốc sau khi được tin phía Mỹ cho phép Lý Đăng Huy sang thăm Mỹ, ngay lập tức chỉ thị cho Vu Chấn Vũ Tư lệnh không quân Trung Quốc đang thăm Mỹ ngừng ngay chuyến đi, và quyết định hủy bỏ và trì hoãn kế hoạch giao lưu song phương với Mỹ, bao gồm cả việc hủy bỏ chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Trì Hạo Điền, trì hoãn cuộc hội đàm về “chế độ đạn đạo, khống chế đạn đạo” và hoạt động thương lượng chuyên gia về lợi dụng năng lực hạt nhân trong hoà bình; chuyến thăm Trung Quốc của quan chức phụ trách tài giảm quân bị của Mỹ cũng tạm thời huỷ bỏ. Ngày 17-6 Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Lý Đạo Dụ được triệu hồi về nước. Vì trước đó, Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc cũng hết nhiệm kì về nước, do đó, một thời kỳ, hai nước Trung-Mỹ đều không có Đại sứ tại đối phương, đây cũng là lần đầu tiên xảy ra kể từ ngày hai nước đặt quan hệ ngoại giao. Tất cả mọi sự việc đó đều là hậu quả nghiêm trọng do Chính phủ Mỹ phản bội tín nghĩa, ra tay xếp đặt chuyến đi thăm Mỹ của Lý Đăng Huy gây nên. Tục ngữ có câu rất hay: “ác hữu ác báo, thiện hữu thiện báo”, không phải không có báo, thời gian chưa tới, hễ thời gian tới là có báo ngay! Người cầm quyền Mỹ tuy rằng muốn lợi dụng “con bài Đài Loan” để đạt được mục đích hạn chế Trung Quốc, nhưng “con bài Đài Loan” giống như củ khoai ngứa, kẻ cầm quyền nước Mỹ sớm lo không thì không kịp. Đồng thời còn chỉ rõ: Nước Mỹ không nên kiên trì mãi Đài Loan độc lập thông qua hình thức tự quyết, người Trung Quốc có quyền lựa chọn phương thức thống nhất không có sự độc lập hoặc chia cắt mà Mỹ ưa thích để biểu hiện chủ nghĩa dân tộc của mình. Vô luận ở thời điểm nào, bằng phương thức nào, Trung Quốc sẽ phải thống nhất. Đúng như Mao Trạch Đông ngay từ năm 1965 khi tiếp kiến Lý Tông Nhân từ Mỹ về đã nói Đài Loan nhất định có một ngày phải thống nhất với Đại lục đó là trào lưu lịch sử không thể đảo ngược. Bất luận là những năm tháng cuối cùng của thế kỷ 20, hay là tương lai trong thế kỷ 21, bất luận “Đài Loan độc lập” hoạt động điên cuồng như thế nào, bất luận thế lực nước ngoài mượn cớ nào để can thiệp, đều không ngăn nổi quyết tâm và niềm tin vào sự nghiệp hoà bình thống nhất của Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:29:02 pm PHẦN 2 QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN UY HIẾP VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM Khói lửa lại lan tỏa bầu trời eo biển Lý Đăng Huy chẳng những bỏ ngoài tai lời chỉ trích và lên án của nhân dân Trung Hoa, trái lại còn mượn cớ sự diễn biến xấu về quan hệ hai bờ, không tiếc tiền của xương máu của nhân dân Đài Loan, mua về một lượng lớn vũ khí và trang bị chiến tranh tiên tiến từ nước ngoài, và chỉ trong vòng nửa tháng đã 4 lần diễn tập quân sự nhằm vào Đại lục làm cho không khí hai bên bờ càng căng thẳng thêm. Để chống chia cắt, chống “Đài Loan độc lập”, thể hiện quyết tâm và khả năng bảo vệ thống nhất Trung Quốc, quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc lần lượt tiến hành mấy dợt diễn tập quân sự và thao tác bắn đạn đạo. Ngày 5-3-1996, quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc sẽ tiến hành huấn luyện bắn đạn đất đối đất tại vùng biển hướng nội tuyến các điểm 25,13 độ vĩ bắc 122,20 độ kinh đông; 25,13 độ vĩ bắc 122,40 độ kinh đông; 24,57 độ vĩ bắc, 122,40 độ kinh đông; 24, 57 độ vĩ bắc, 122,20 độ kinh đông; và 22,38 độ vĩ bắc, 119,25 độ kinh đông; 22,38 độ vĩ bắc, 119,45 độ kinh đông; 22,22 độ vĩ bắc, 119,25 độ kinh đông. Vì an toàn Chính phủ Trung Quốc yêu cầu Chính phủ các nước và chính quyền khu vực có liên quan thông báo cho tầu thuyền và máy bay của nước mình, khu vực mình không nên đi vào vùng biển và vùng trời nói trên. Bốn phát đạn đạo bắn trúng mục tiêu Đêm đã về khuya, bầu trời yên tĩnh. Mọi thiết bị thông tin hiện đại bí mật truyền đi mệnh lệnh tác chiến. Bộ đội đạn đạo tập kết kín đáo tại các khu vực, cơ động thần tốc hướng tới mục tiêu. Trong phòng chỉ huy, trên màn hình rộng luôn hiện rõ quang cảnh trận địa phóng đạn: sĩ quan chỉ huy trong quân phục hóa trang, bình tĩnh, quyết đoán, hạ lệnh, xử trí kịp thời với mọi tình huống; nhân viên tham mưu nhanh nhẹn chính xác nắm chắc tiến trình phóng đạn qua máy liên mạng. “Xạ thủ số 1 chuẩn bị xong! Xạ thủ số 2 chuẩn bị xong...” cùng với tiếng báo cáo rành rọt, từng quả đạn đạo màu trắng sữa đứng sừng sững trên trận địa theo đồi núi quanh co, sĩ quan binh lính tư thế sẵn sàng. Trong sở chỉ huy trên màn hình hiện rõ: trạng thái kỹ thuật đạn đạo tại trận địa phóng rất tốt, toàn bộ nhân viên đã vào vị trí, hệ thống quan trắc tình báo bắt đầu khởi động, các điểm quan trắc đều chuẩn bị chu đáo bảo đảm cho phân đội tiến hành tốt mọi hoạt động. Đạo đạn động tầm là phóng. “Phát hoả”. Theo mệnh lệnh chỉ huy, từng quả đạn đạo phun ra như những con rồng lửa, xé nát không trung bay thẳng tới mục tiêu dự định một cách chính xác. Quân đội Trung Quốc có quyết tâm có biện pháp, có năng lực hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng mà đảng và nhân dân giao phó. Ngày 15-3 tân hoa xã ra thông báo: Ngày 8 đến ngày 15-3, thành tích tốt đẹp của bộ đội đơn vị 2 pháo binh với 4 phát đạn đạo bắn trúng mục tiêu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện bắn đạn đạo đất đối đất tại vùng biển Đông Hải và Nam Hải; thể hiện đầy đủ bản chất quân sự hành chính tốt đẹp, khả năng nắm vững trang bị vũ khí hiện đại và kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là khả năng tác chiến phòng vệ trong điều kiện kỹ thuật cao của bộ đội đơn vị 2 pháo binh. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:30:58 pm Hải quân, không quân diễn tập bắn đạn thật Ngày 15-3, đồng thời với thông báo Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc kết thúc huấn luyện phóng đạn đạo đất đối đất tại vùng Đông Hải và Nam Hải, Tân hoa xã được quyền thông báo: Từ ngày 18 đến ngày 25-3-1996, quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc sẽ tiến hành diễn tập liên hợp lục hải không quân tại khu vực vùng biển vùng trời nội tuyến tiêu điểm 25,50 độ vĩ bắc 119,50 độ kinh đông; 25,32 độ vĩ bắc 120,24 độ kinh đông; 24,54 độ vĩ bắc, 119,56 độ kinh đông và 25,12 độ vĩ bắc 119,25 độ kinh đông. Vì an toàn, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu Chính phủ và chính quyền hữu quan thông báo cho tầu thuyền và máy bay nước mình không nên ra vào vùng biển vùng trời nói trên trong thời gian diễn tập. Trong cuộc diễn tập tác chiến liên quân lần này, hàng loạt trang bị khoa học kỹ thuật cao đã phát huy tác dụng quả đấm, khả năng tác chiến hợp đồng các quân binh chủng mạnh, uy lực vận dụng đánh lớn, biện pháp khắc phục ảnh hưởng của thời tiết ác liệt và môi trường biển phức tạp nhiều, tăng cường điều kiện kỹ thuật hiện đại đặc biệt là kỹ thuật cao. Tư lệnh quân khu Nam Kinh Trần Bính Đức và Chính trị viên Chương Tổ Kỳ đã biểu thị, quân đội chiếm khu Nam Kinh kiên quyết tuân theo sự chỉ huy của Trung ương Đảng, Quân uỷ Trung ương do đồng chí Giang Trạch Dân đứng đầu, sẵn sàng hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng mà Đảng và nhân giao phó, bảo vệ Tổ quốc thống nhất, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương Trương Vạn Niên trong khi gặp mặt cán bộ lãnh đạo diễn tập, đã chỉ rõ quân đội Trung Quốc kiên quyết quán triệt phương châm cơ bản “hoà bình thống nhất, một quốc gia hai chế độ” và tám chủ trương tiến trình hoà bình thống nhất Tổ quốc mà Chủ tịch Giang Trạch Dân nêu ra, tăng cường tinh thần trách nhiệm và sứ mệnh để cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp hoà bình thống nhất Tổ quốc. Phó Chủ tịch nước Trương Vạn Niên nhấn mạnh, Trung Quốc chủ trương nhất quán tận lực hoà bình thống nhất, nhưng nhất quyết không được phép từ bỏ sử dụng vũ lực. Nếu có thế lực nước ngoài can thiệp vào sự nghiệp thống nhất Trung Quốc và “Đài Loan độc lập”, thì chúng ta sẽ sử dụng mọi thủ đoạn kể cả dùng quân sự, kiên quyết bảo vệ Tổ quốc thống nhất, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:33:04 pm PHẦN 3 ĐẢO QUÝ RUNG CHUYỂN Chính quyền Đài Loan khẩn cấp bàn bạc đối sách Trong thời gian Trung Quốc diễn tập phòng thủ đạn đạo và bắn đạn thật, chính quyền Đài Loan hết sức căng thẳng, nhiều lần triệu tập họp lãnh đạo bàn bạc đối sách. Ngày 5-3 “Viện hành chính” Đài Loan mở hội nghị khẩn cấp nhóm quyết sách lâm thời, do “Viện trưởng hành chính” Liên Chiến chủ trì nghe báo cáo của các bộ ngành liên quan ứng phó với biện pháp của Trung Quốc phóng thử đạn đạo và ra một số chỉ thị. Cùng ngày, nhóm ứng phó với tình hình đôi bờ của “Viện lập pháp” cũng họp khẩn cấp về vấn đề này, nghe báo cáo ngắn của Bộ trưởng Quốc phòng Tưởng Trọng Linh. Ngày 8 nhóm quyết sách lâm thời của “Viện hành chính” lại họp để nghe “Bộ Quốc phòng”, “Cục An ninh quốc gia” họp báo về tình hình Trung Quốc đã bắn 3 quả đạn đạo và phát hiện thấy tàu quan trắc tại vùng biển phía nam Đài Loan. Ngày 11, Liên Chiến lại triệu tập họp nhóm quyết sách lâm thời, chỉ thị cố gắng duy trì thông đường hàng hải quốc tế và tuyến hàng không, tiếp tục ổn định thị trường cổ phiếu và thị trường ngoại hối. Ngoài ra để ứng phó với diễn biến tình hình đôi bờ, phó trưởng nhóm và các thành viên có liên quan đến “quốc tế” “ngoại giao” trong nhóm quyết sách lâm thời cố định mỗi tuần hội ý một lần. “Viện hành chính” và “Uỷ ban lục địa” đều ra tuyên bố tỏ vẻ cứng rắn, yêu cầu chính quyền cộng sản Trung Quốc tỉnh ngộ, đình chỉ mọi hành động nguy hiểm, nếu không thì mọi hậu quả gây nên, chính quyền cộng sản phải chịu trách nhiệm”. “Bộ Ngoại giao” gửi điện tới “Sứ quán” và Phòng đại diện của Đài Loan tại nước ngoài, nhắc lại “chính sách chống Đài Loan độc lập”, kêu gọi các nước “ủng hộ chính nghĩa, lên tiếng giúp đỡ Đài Loan”. “Bộ Quốc phòng” tuyên bố “nếu cộng sản Trung Quốc xâm phạm Đài Loan, thì nhất định sẽ bị chống trả mãnh liệt”. Tình trạng xã hội trên đảo bất ổn Trong thời gian Trung Quốc diễn tập phóng đạn đạo và bắn đạn thật, tình hình xã hội Đài Loan bất ổn, trao đổi tiền tệ thị trường cổ phiếu dao động; vì vậy chính quyền Đài Loan phải sử dụng đến dự trữ tiền tệ và ngân hàng hỗ trợ để ổn định thị trường tiền tệ, nhưng mọi nơi đều nhận thấy tâm lý căng thẳng bất an của dân chúng. Quân đội ở Kim Môn, Mã Tổ nơi tiến hành diễn tập liên tục, ban ngày áo pháo đều cởi hết, quân hạm được điều động liên tục tại cảng Cơ Long; cứ điểm đồi núi ven bờ bố trí nhiều vũ khí phòng không; máy bay quân sự lên xuống nhiều lần tại các căn cứ không quân Đào Viên, Đài Nam, Gia Nghĩa. Nhiều cư dân bắt đầu rời khỏi khu vực gần vùng biển huấn luyện đạn đạo, khiến nhiều nơi trên đảo vé máy bay khan hiếm, nhiều chuyến bay chuyển tuyến, hàng ngày ảnh hưởng tới hơn 300 lần bay. Ở thị xã Cao Hùng, “Chính phủ” địa phương tiến hành diễn tập phân phối thực phẩm theo kiểu thời chiến. Do nhà đương cục Đài Loan tuyên bố không loại trừ tình hình vùng biển Đài Loan càng xấu hơn, ngừng giao dịch thị trường cổ phiếu, ngoại hối. Các nhà đầu tư mẫn cảm bắt đầu bỏ mua lượng lớn cổ phiếu, nhiều cư dân tranh nhau đổi ngoại hối, mua lương thực và vàng bạc. Trong mấy ngày, giá vàng tăng lên tới 20%; chỉ trong ngày 8-3 dân chúng đã đổi tới 510 triệu USD. Mặc dầu “Ngân hàng Trung ương” Quốc Dân Đảng tự dùng vàng dự trữ ổn định thị trường ngoại hối, nhưng nhiều ngân hàng USD vẫn “cấp báo”, giao dịch chợ đen chỉ tăng không giảm. Ngày 5-3 chỉ số cổ phiếu giao dịch chứng khoán Đài Bắc tụt xuống 62,49 điểm, ngày 11 xuống tới 169 điểm. Chính quyền Đài Loan khẩn cấp tung ra thị trường cổ phiếu 300 tỷ để ổn định, chỉ trong ngày 11-3 đã mua vào 7 tỷ tiền Đài Loan, ước chừng khoảng 30% toàn bộ mức giao dịch, và sẽ còn mở rộng số mục tiền gốc. “Ngân hàng Trung ương” cũng hỗ trợ thị trường ngoại hối, ổn định mức 1 USD đổi 2,75 đồng tiền Đài Loan. Và tuyên bố dù cho dự trữ ngoại hối từ gần 90 tỷ USD, tụt xuống đến 50 tỷ cũng không tiếc. “Bộ kinh tế” Đài Loan cũng đưa ra “kế hoạch” quan trọng thoả đáng, nói là một khi “nhà nước” động viên thì có thể thương nạp 14 loại công nghiệp quân nhu, 500 nhà xưởng vào kế hoạch chấp hành động viên, thống nhất phối hợp trong sản xuất hàng quân nhu và dân dụng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:33:38 pm Làn sóng phản đối Lý Đăng Huy trong toàn đảo nâng cao Trong thời gian Trung Quốc diễn tập phóng đạn đạo và bắn đạn thật, hai đảng Dân Tiến, Tân Đảng và thế lực các phái chính trị ở Đài Loan kịch liệt phê phán Lý Đăng Huy - kẻ chịu trách nhiệm gây nên tình hình căng thẳng. Đảng Dân Tiến ra tuyên bố, yêu cầu Lý Đăng Huy hãy ngừng “kêu gào chiến tranh” vô vị xa vời, nên thành lập “Chính phủ nguy cơ”. Tân Đảng thì chỉ trích nguy cơ vùng biển Đài Loan “hoàn toàn do Lý Đăng Huy gây nên”. Trần Lý An ứng cử viên “Tổng thống” không đảng phái ở Đài Loan nói với các phóng viên: “Bỏ phiếu ủng hộ Lý Đăng Huy chính là bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh”. Ông ta nói: “Cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc cộng sản là nhằm vào khuynh hướng độc lập của Tổng thống Lý Đăng Huy, một điểm mà mọi người cần phải thấy rõ là cuộc sống của chúng ta không thể dựa vào cá tính xem thường và gây chiến của Tổng thống”. “Ông Lý phải rút thì mới cứu được Đài Loan”. Còn một ứng cử viên Tổng thống khác là Lâm Dương Cảng thì phê phán Lý Đăng Huy: “một người lãnh đạo quốc gia không thể kéo cả sinh mệnh sống còn của 21 triệu đồng bào cùng với ông ta vào một canh bạc”, và còn châm biếm rằng Lý Đăng Huy có “18 kịch bản đối phó với Trung cộng, ta hãy xem ông ta xử lý tình huống này như thế nào”. Ứng cử viên “Tổngthống” của đảng Dân Tiến, Bành Minh Mẫn cũng nói thẳng ra là: “Hành động Lý Đăng Huy gây ra”. Nhiều người của Tân Đảng cực lực phê phán Lý Đăng Huy là “gốc loạn của nguy cơ vùng biển Đài Loan”. Lâm Uất Phương chỉ rõ, 18 kịch bản của Lý Đăng Huy không có bản nào ứng phó được với cuộc diễn tập súng đạn. Trước sự can thiệp của Mỹ đối với eo biển Đài Loan được chính quyền Đài Loan hoan nghênh, Trần Lý An lại một lần nữa phê phán: “Không thể trông mong vào Mỹ với tư cách xen đầm quốc tế can dự sâu vào vấn đề Đài Loan”. Ông ta còn chỉ rõ: “Mỹ hoạt động vì lợi ích riêng của họ. Đài Loan trong trò chơi giữa Mỹ và Trung Quốc chẳng qua chỉ là con bài Mỹ đối phó với Trung Quốc mà thôi”. Dư luận trên đảo phản ứng mãnh liệt Dư luận trên đảo phản ứng mãnh liệt về cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc. Hầu như tất cả báo chí đều đăng tin về cuộc diễn tập trên trang đầu, cột chính và phần tin quan trọng, đồng thời có xã luận thể hiện mức độ quan tâm đến sự việc. Các báo chí chủ yếu như “báo Liên hợp” Đài Loan và “Trung Quốc thời báo” bắt đầu từ 6-3 có chuyên mục “Tin tức đặc biệt quan hệ đôi bờ” hoặc “Tin tức đặc biệt về cuộc diễn tập quân sự của Đại lục”, hàng ngày có từ 5 đến 7 bài đưa tin trọn vẹn về tình hình diễn tập quân sự của Trung Quốc, vượt xa “tin tức đặc biệt về bầu cử Tổng thống” và đã trở thành vấn đề nóng bỏng trước ngày bầu cử ở Đài Loan. Tổng hợp những phản ứng của báo chí Đài Loan: 1- Báo chí Đài Loan cho rằng diễn tập chủ yếu là mục đích chính trị: ý đồ làm ảnh hưởng đến cuộc bầu cử Tổng thống làm giảm số phiếu bầu Lý Đăng Huy, để “đè bẹp ý thức Đài Loan độc lập ngày một dâng cao”, biểu lộ lòng tin chống lại Đài Loan độc lập; 2- Thể hiện khả năng phong tỏa eo biển Đài Loan. Cho rằng diện tích bao trùm của cuộc diễn tập hải quân không quân đạt tới 17.000 km2 thực tập đạn đạo chọn 2 đầu nam-bắc Đài Loan, đủ để uy hiếp sự vận hành đường biển đối với Cơ Long, cảng Cao Hùng; tỏ rõ thực lực phong tỏa đường biển đối với Đài Loan; 3- Cho rằng hai cuộc diễn tập trên biển của Trung Quốc đều vượt qua trung tuyến biển Đài Loan, chứng minh rằng hơn 40 năm qua Trung Quốc phủ nhận ý đồ thoả thuận ngầm đường trung tuyến biển Đài Loan là rất rõ ràng. Cho rằng một khi Trung Quốc phủ nhận điều đó rõ ràng Trung cộng đang từng bước gây sức ép đề phòng Đài Loan; 4- Thăm dò phản ứng quốc tế lân cận Mỹ-Nhật. Cho rằng, so sánh hai lần diễn tập hiện tại và 1995, điều kiện khách quan đã khác nhau nhiều, tức là làm cho xã hội quốc tế cảnh giác rộng rãi đặc biệt là sự “quan tâm” của Mỹ và Nhật. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:35:43 pm PHẦN 4 CÁC GIỚI HƯƠNG CẢNG PHẢN ỨNG MÃNH LIỆT Chính phủ Hương Cảng theo dõi sát sao tình hình phát triển Trong thời gian Trung Quốc diễn tập phóng thử đạn đạo và bắn đạn thật, các giới ở Hương Cảng theo sát tình hình phát triển và phản ứng nhanh chóng; các báo chí chủ yếu đều đăng trọn vẹn bình luận, tin tức và bản đồ. Ngày 12 Cục Hành chính Hương Cảng họp, nghe báo cáo đánh giá về sự phát triển tình hình hai bờ có ảnh hưởng tới Hương Cảng của Chính phủ Hương Cảng; cho rằng kinh tế Hương Cảng tương đối ổn định, việc quản lý của Chính phủ cũng vững vàng, do vậy không cần thiết phải có phản ứng nhanh nhẹn về tình hình biển Đài Loan, nhưng Chính phủ Hương Cảng cũng rất lưu ý đến sự phát triển của sự việc. Vương Dịch Minh người triệu tập Cục Hành chính nói: việc quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay là tranh thủ Mỹ duy trì vô điều kiện sự ưu đãi đối với Trung Quốc, Hương Cảng muốn làm được nhiều về mặt này. Bà ta hy vọng đôi bờ đều với tinh thần “dĩ hòa vi quý” để tình hình được nhanh chóng giải quyết. Bà nói tiếp, bằng thái độ bình tĩnh tự kiềm chế mà xử lý vấn đề quan hệ đôi bờ, như thế sẽ có lợi cho Hương Cảng và khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nếu tình hình quan hệ đôi bờ vẫn căng thẳng leo thang, sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng đến kinh tế Hương Cảng. Trần Khôn Diệu nghị sĩ Cục Hành chính Hương Cảng nói: “Do Đại lục diễn tập quân sự, mà tình hình quân sự đôi bờ eo biển thật sự căng thẳng. Nhưng quan hệ căng thẳng ấy là tình huống tạm thời, phát triển quan hệ đôi bờ sau này vẫn cần giữ thái độ lạc quan”. Ông ta còn nói “quân Trung cộng liên tiếp diễn tập quân sự ở vùng biển sát Đài Loan chủ yếu là phát tin cảnh cáo mạnh mẽ với thế lực Đài Loan độc lập. Nhưng trừ phi Đài Loan tuyên bố chính thức độc lập, nếu không thì giữa 2 bên bờ sẽ không thể thật sự có chiến tranh”. Ông tin tưởng rằng sau khi Đài Loan bầu xong “Tổng thống” quan hệ đôi bờ sẽ tiếp tục hoà hoãn. Ông còn nhấn mạnh “Vấn đề Đài Loan trước sau vẫn là vấn đề nội bộ của người Trung Quốc, chỉ cần Đài Loan không tuyên bố độc lập, thì mọi vấn đề đều có thể thông qua thương lượng để giải quyết”. Mạnh Lý Giác nghị sĩ Cục hành chính nói: “Nếu phía Trung Quốc tiến hành đe doạ quân sự chỉ là đối với cuộc bầu cử “Tổng thống Đài Loan, thì sau khi làn khói bầu cử lắng xuống, đôi bờ sẽ có thể chuyển sang thương lượng chính trị. Song, nguyện vọng tốt đẹp ấy có thực hiện được hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào quyết định của phía Trung Quốc”. Ông nói tiếp: “Môi trường thương mại kinh tế thành công và ổn định, cần phải dựa vào tình hình quốc tế hòa bình. Nếu Trung Quốc dùng vũ lực, thì kinh tế Hương Cảng chắc chắn chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, thiệt hại to lớn. Nếu phương Tây thực hành trừng phạt kinh tế đối với Trung Quốc, thì viễn cảnh phát triển của Hương Cảng sau thời kỳ quá độ đến 1997 sẽ chuyển biến rất đen tối”. Trịnh Hải Tuyền một nghị sĩ khác cũng chỉ rõ, bất kỳ tình hình chính trị căng thẳng như thế nào nhất định sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, ông ta hy vọng đôi bờ nhanh chóng giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình. Giới học thuật kinh tế lo lắng tổn thất kinh tế Đặng Quảng Nghiêu cố vấn kinh tế Hương Cảng ngày 11-3 dự báo rằng, nếu tình hình đôi bờ xấu hơn nữa, dẫn tới chiến tranh, thì kinh tế Hương Cảng sẽ phải gánh chịu một đòn nặng nề. Ông ta chỉ rõ, trước mắt tình hình đôi bờ có tiếp tục phát triển hay không và Mỹ có tiếp tục ưu đãi thương mại đối với Trung Quốc hay không, đã trở thành hai nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của Hương Cảng. Theo con số thống kê của Chính phủ Hương Cảng công bố, tổng ngạch mậu dịch của 2 bờ chuyển khẩu qua Hương Cảng năm 1995 đạt tới 110 tỷ tiền Hương Cảng. Do đó, “2 bờ một khi có chiến tranh, thì ảnh hưởng đối với Hương Cảng thực tế không phải là nhỏ”. Theo tin tức báo chí Hương Cảng cho biết, nhân sĩ các giới xã hội Hương Cảng hết sức quan tâm đến diễn biến tình hình đôi bờ. Nhân dân Hương Cảng tin tưởng rằng, một khi đôi bên có chiến tranh, không chỉ kinh tế Đài Loan bị phá hoại, mà thành quả to lớn thu được của Đại lục trong gần 20 năm đẩy mạnh kinh tế cũng sẽ “ném xuống sông xuống biển”, và Hương Cảng cũng sẽ mất đi vai trò cầu nối giao lưu về mậu dịch và văn hóa đôi bờ, những tổn thất phải gánh chịu khó lường trước được. Giáo sư Lý Nam Hùng khoa Chính trị và hành chính Trường Đại học Trung văn Hương Cảng trả lời các nhà báo trước đây đã nói, người Hương Cảng quan tâm mật thiết đến sự phát triển tình hình vùng biển Đài Loan với tình cảm “lo lắng mà không làm gì được”. Ông ta cho rằng, nhìn trước mắt mà nói, “đôi bờ chưa có động cơ gây chiến tranh, khả năng chiến tranh rất ít, chỉ cần có thời gian, hòa bình đôi bờ vẫn là sự việc có lý có tình”. Ông ta tỏ ra lo lắng thế sự có thể do Mỹ trợ giúp hoặc là “Cọ súng tóe lửa” mà dẫn đến tai hoạ cho dân tộc Trung Hoa. Ông ta nói: “Gần đây thương mại Đài Loan thi nhau đầu tư vào Đại lục, Đại lục đã thu được thực lợi kinh tế không thể có được trong chiến tranh. Dư Lập Nhân nhà bình luận chính trị nổi tiếng của Hương Cảng cho rằng: Sóng gió vùng biển Đài Loan là do Lý Đăng Huy quá tức giận Trung cộng mà gây nên. Từ tháng 6 đến tháng 8-1995 Trung cộng luôn luôn phê phán Lý Đăng Huy, nói rõ những hiểu biết về Lý Đăng Huy có thay đổi: Trung cộng nhận định Lý Đăng Huy thực hiện “Đài Loan độc lập”, cho rằng Lý Đăng Huy làm như vậy sẽ đưa Đài Loan đến con đường cùng. Ông nói, quan niệm chính trị của Lý Đăng Huy kiểu Mỹ và Nhật Bản, không phải kiểu dân tộc Trung Hoa, căn bản không hiểu được văn hóa tâm lý dân tộc của người dân, cũng không hiểu được đạo lý về vấn đề nguyên tắc, thống nhất dân tộc Đài Loan không bao giờ quyết liệt với 1,2 tỷ nhân dân Đại lục như thế sẽ đẩy cục diện tới chỗ khó thu gọn được. Nhận thức không đầy đủ về triết học sinh tồn cơ bản không hiểu tâm lý dân tộc và “lợi ích dân tộc, cao hơn tất cả” của Trung cộng đó là điểm sai lầm nhất của Lý Đăng Huy. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:36:12 pm Giới tin tức giữ ý kiến của mình Các giới tin tức Hương Cảng đều bám sát đưa tin về tình hình vùng biển Đài Loan. Cách lý giải về sự phát triển tình hình của các báo chí không hoàn toàn giống nhau, nhưng chủ yếu là mong muốn chính quyền đôi bên giữ thái độ tự kiềm chế, thông qua phương thức hoà bình giải quyết vấn đề. “Nhật báo hàng ngày” nói, sau khi phóng thử đạn đạo và diễn tập quân sự hải không quân, dự đoán khoảng ngày 21 đến ngày 23, thời gian Đài Loan bầu cử sẽ có diễn tập đổ bộ qui mô lớn. Hành động ấy chủ yếu nhằm vào thế lực “Đài Loan độc lập”. Nếu Lý Đăng Huy không từ bỏ lập trường “Đài Loan độc lập”, thì áp lực của Trung cộng đối với ông ta sẽ không thể buông lỏng. “Thành báo” và một vài tờ báo khác cho rằng, trong thời gian diễn tập trên 300 chuyến bay hàng ngày giữa Đài Loan-Hương Cảng phải chuyển tuyến, việc vận chuyển hàng hóa hai cảng lớn Cơ Long và Cao Hùng bị đình đốn, tổn thất kinh tế rất lớn. Trong tình hình kinh tế Đài Loan giảm sút, nếu cuộc diễn tập kéo dài một vài tháng, thì sự tăng trưởng kinh tế cả năm của Đài Loan e rằng sẽ suy thoái. Chịu ảnh hưởng của thị trường cổ phiếu nước ngoài và căng thẳng quan hệ đôi bờ, ngày 11-3 chỉ số thường sinh của thị trường cổ phiếu Hương Cảng bỗng trượt giảm hơn 820 điểm, biên độ trượt giảm tới 7%, đây là độ trượt giảm lớn lần thứ hai kể từ năm 1987. Theo báo chí đăng tải, nhân sĩ ngành chứng khoán bộ phận Hương Cảng chỉ rõ, do sóng gió vùng biển Đài Loan, tiền vốn khống chế trong tay của họ không dễ dàng gì đầu tư vào thị trường cổ phiếu, để nhìn tình hình phát triển. Du Tông Di ở Vụ Công thương Hương Cảng đánh giá: nếu Mỹ huỷ bỏ ưu đãi đối với Trung Hoa, thì tổng ngạch mậu dịch toàn năm của Hương Cảng sẽ tụt xuống 6-8%, tổn thất tới 20-30 tỷ USD và có khoảng 90.000 người thất nghiệp. Một số báo chí tỏ ý hoài nghi về hiệu quả cuộc diễn tập của Trung Quốc. “Tin báo” ngày 12, trong bài bình luận có nói, Mỹ tập trung binh lực lớn nhất tại vùng biển Đài Loan kể từ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, không dễ gì khiến người ta lo sợ có thể dẫn đến tai hoạ. “Thành báo” trong bài xã luận nói: “Đối với Bắc Kinh, tĩnh tại nhìn biến động là thượng sách tối ưu, dùng vũ lực giúp Đài Loan bầu cử “bất lợi cho sự việc, mà thất nhân tâm”. Bài xã luận của “Tinh đảo nhật báo” nói là, “văn bài tấn công, vũ lực khiến sợ hãi” để đạt được mục đích hãy nên dừng lại, quá mức hoặc chưa đủ thì ắt có lợi cho Lý Đăng Huy. Yêu cầu Mỹ không nên nhúng tay vào sự việc đôi bờ “Thiên nhiên nhật báo” ngày 13-3 có đăng xã luận “Nước Mỹ xen vào biến yên nên họa”, lo ngại về hai hàng không mẫu hạm của Mỹ dẫn dắt đoàn tàu đi vào eo biển Đài Loan sẽ mở rộng tình thế bất an, xã luận viết: Hành động này của Mỹ là ủng hộ chính quyền Đài Loan và khiêu khích Đại lục. Bài xã luận chỉ rõ, việc cảnh cáo của Bắc Kinh cũng rất có lý, nghĩa là tin tức về hạm đội Mỹ vào eo biển Đài Loan, rất có thể dẫn nhầm bọn “Đài Loan độc lập” cho rằng Mỹ sẽ tận lực ủng hộ chúng, từ đó thúc đẩy hơn nữa “Đài Loan độc lập”, còn hành động của quân Giải phóng khó gì mà không leo thang. Xã luận dẫn lời của xa thần nhắc nhở Lý Đăng Huy chú ý “bất kỳ quốc gia nào xuất hiện phong trào phân biệt, tất nhiên sẽ dẫn đến chiến tranh, gây ra đổ máu”. “Cho rằng ngoại lực giúp đỡ có thể đe doạ Bắc Kinh, thật là không sát thực tế”. “Đông phương nhật báo”, ngày 13, trong bài bình luận “Đề phòng nước Mỹ lòng dạ bất lương” có nói: “Mượn chiến tranh làm suy yếu thực lực kinh tế của Đại lục Trung Quốc phù hợp với lợi ích của nước Mỹ. Nước đẩy thuyền đi, nước cũng lật nhào thuyền, người Đài Loan cần tỉnh táo với trợ giúp của Mỹ, đề phòng người ngoài lòng dạ khôn lường”. Đoàn thể phái hữu biểu tình kiến nghị Một số tổ chức phiến loạn chống đối Trung Quốc ở Hương Cảng và đoàn thể phái cứng rắn ủng hộ Đài Loan, kịch liệt phản đối cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc. Theo tin tức Trung ương xã Đài Loan phát đi từ Hương Cảng cho biết, các tổ chức nói trên “tấp nập cử đại biểu” tới trước cửa phân xã Tân Hoa xã tại Hương Cảng biểu tình nêu kiến nghị, yêu cầu ngừng ngay cuộc diễn tập quân sự tại vùng biển Đài Loan. Ngoài ra, Tổng hội Sùng Chính Hương Cảng, Viện đại học chuyên nghiệp Đài Loan, Tổng hội hữu nghị các trường Hương Cảng, Hiệp hội công thương Hương Cảng - Đài Loan gồm 23 đoàn Hoa kiều, ngày 12 liên danh đăng quảng cáo trên tờ “Minh báo”, yêu cầu Trung Quốc ngừng diễn tập quân sự, giải quyết khủng hoảng đôi bờ bằng phương thức hòa bình, “và yêu cầu đôi bên nắm vững tư tưởng của Tôn Trung Sơn và đại nghĩa dân tộc Trung Hoa; dưới tiền đề lớn một nước Trung Quốc tiến hành hiệp thương, sớm đi đến thống nhất đất nước”. Các đoàn kiều bào kể trên cũng bày tỏ hy vọng chính quyền Đài Loan tuân thủ lập trường “một nước Trung Quốc”, cùng với Đại lục hiệp thương những công việc hữu quan và tiền đồ thống nhất Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:38:46 pm PHẦN 5 HẠM ĐỘI MỸ LẠI XUẤT HIỆN TẠI EO BIỂN Oasinhtơn tỏ ra quan tâm nghiêm túc Ngày 5-3, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố huấn luyện phóng đạn đạo tại vùng eo biển Đài Loan, Quốc Vụ viện Mỹ triệu kiến Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ - biểu thị sự “quan tâm nghiêm túc” tới sự việc này, đồng thời thông qua Sứ quán Mỹ tại Trung Quốc nêu “kháng nghị chính thức”. Maikeli người phát ngôn Nhà trắng coi việc huấn luyện phóng đạn đạo của Trung Quốc là cuộc diễn tập “mang tính gây chiến”, “thật không có lợi” cho việc tăng cường ổn định ở khu vực này. Boens, người phát ngôn của Chính phủ Mỹ thì cho rằng, “mục đích cuộc huấn luyện phóng đạn đạo của Trung Quốc là đe doạ nhân dân Đài Loan trước khi bầu cử Tổng thống”, nhưng đồng thời lại cho rằng “không tồn tại sự uy hiếp Trung Quốc xuất quân hoặc tấn công Đài Loan”; “Bắc Kinh và Đài Bắc giải quyết những bất đồng với nhau bằng phương thức trực tiếp, hòa bình”. Ngày hôm sau, Maikeli trong hội nghị thông báo tin tức lại biểu thị sự quan tâm của Tổng thống Clintơn về cuộc huấn luyện phóng đạn đạo của Trung Quốc. Ông ta nói: “Tổng thống cảm thấy mạnh mẽ rằng, chúng ta cần phải hết sức hạn chế gia tăng tình hình căng thẳng eo biển Đài Loan”. Chính phủ Mỹ bày tỏ với Thứ trưởng Ngoại giao Lưu Hoa Thu đang thăm Mỹ rằng “chúng tôi không yên tâm”. Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Antôni-Lếch trong một bài nói chuyện về cuộc huấn luyện phóng đạn đạo của Trung Quốc đã nói đây là “một hành động mạo hiểm ngầm về ý nghĩa”, làm tăng tình hình căng thẳng tại khu vực này. “Nếu thực nghiệm đạn đạo xảy ra sai sót, ắt sẽ gây ra hậu quả thật sự”. Ngày 8-2, sau khi Trung Quốc bắt đầu huấn luyện phóng đạn đạo thì Maikeli lại nói rằng, cuộc huấn luyện phóng đạn đạo lần này là “khiêu khích và coi thường”, đồng thời “rất không yên tâm” với cuộc huấn luyện phóng đạn đạo mang tính chất ấy. Quốc vụ khanh Cơríttốpphơ trong khi trả lời nhà báo, gọi cuộc huấn luyện phóng đạn đạo của Trung Quốc là “thô bạo và mạo hiểm”. Nếu người Trung Quốc muốn thông qua vũ lực để giải quyết tranh chấp giữa họ với Đài Loan, thì sẽ dẫn tới “hậu quả nghiêm trọng”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Uyliam Peri trong một lần họp báo nói, ông ta “quan tâm nghiêm túc” đến cuộc diễn tập qui mô lớn tại vùng biển phụ cận Đài Loan của Trung Quốc và tỏ ra “không yên tâm” trước sự uy hiếp của cuộc diễn tập gây ra đối với giao thông đường biển ở khu vực này. Lốt trợ lý Quốc vụ khanh phụ trách Đông Á của Mỹ khi trả lời phóng viên truyền hình nói rằng: nước Mỹ cần phải nói rõ với Bắc Kinh là “đối với hòa bình và ổn định tại khu vực này chúng tôi có quan hệ lợi hại rất to lớn”. Nếu gây hành động quân sự đối với Đài Loan, “chúng tôi sẽ cực lực phản đói”. Đưa chiến hạm khuếch trương vũ lực Trong lúc này Mỹ lại lẩn tránh thực chất vấn đề. Sau khi Trung Quốc tuyên bố diễn tập chiến đấu trên biển, trên không tại eo biển Đài Loan, Quốc vụ khanh Cơríttốpphơ liền tuyên bố: Một hạm đội hỗn hợp đặc biệt do hàng không mẫu hạm “Độc lập” dẫn đầu sẽ tới vùng biển phụ cận Đài Loan trong mấy ngày gần đây để “hỗ trợ khi cần thiết”, song không thấy nói cụ thể sẽ giúp đỡ Đài Loan những gì. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Peri ngày hôm sau lại tuyên bố. Trước mắt hạm đội hỗn hợp đặc biệt do hàng không mẫu hạm “Nimít” dẫn đầu đang neo tại vùng vịnh sẽ đi vào vịnh Đài Loan hội hợp với hàng không mẫu hạm “Độc lập”. Theo tờ “Bưu điện Oasinhtơn” tiết lộ, đây là đầu tiên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Peri kiến nghị đưa hàng không mẫu hạn tới vùng biển Đài Loan, sau khi cố vấn an ninh quốc gia Lếch và Quốc vụ khanh Cơríttốpphơ bàn bạc đã chính thức đề cập với Clintơn. Ngày 9 Clintơn chính thức ra quyết định. Khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố quyết định này nói: cử hàng không mẫu hạm tới vùng biển Đài Loan là “một biện pháp phòng ngừa cẩn thận, chúng ta tăng cường lực lượng hải quân tại khu vực này” . Ông ta cự tuyệt trả lời câu hỏi liệu Chính phủ Mỹ, có phải đang “chuẩn bị xấu nhất” đối với Đại lục nếu tấn công Đài Loan. Quốc vụ khanh Cơríttốpphơ trong lần họp báo cũng lẩn tránh vấn đề có liên quan một khi Đài Loan bị Đại lục Trung Quốc tấn công thì Mỹ có cất quân can thiệp hay không, ông ta chỉ nói là: “Tôi không muốn nói tới vấn đề hành động quân sự cụ thể”. Maikeli người phát ngôn Nhà trắng trong hội nghị công bố tin tức cũng không trả lời rõ ràng vấn đề: nếu Đại lục tấn công Đài Loan thì Chính phủ có nghĩa vụ bảo vệ Đài Loan không. Ông ta nói: “Luật quan hệ với Đài Loan” không nói rõ ràng nước Mỹ nên làm như thế nào trước tình huống này, cho nên về vấn đề này phải giữ sự mập thờ nhất định. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:39:19 pm Phản ứng quá khích của Quốc hội Mỹ So sánh qua lời nói và việc làm của Chính phủ Mỹ đã hình thành một điểm rõ nét là, một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ hành động vô trách nhiệm. Tônixenli - lãnh tụ đảng đa số thuộc thượng viện Mỹ yêu cầu Chính phủ cho quân hạm của Mỹ tới vùng biển Đài Loan nhiều hơn nữa. Ông ta nói: “Mỹ cần phải nói rõ với người Trung Quốc rằng, nếu Trung Quốc có hành động quân sự đối với Đài Loan, “khi cần thiết”, chúng ta sẽ bảo vệ họ (người Đài Loan)”. Ông ta còn nói, Trung Quốc diễn tập quân sự tại vùng biển Đài Loan là “Uỷ viên Uỷ ban nhóm mậu dịch quốc tế”, thượng viện Phơran Kơmunrk trong bài đăng trên tờ “Uôn nhật báo” nói rằng, người lãnh đạo Trung Quốc cần hiểu rằng “Ngoại giao đạn đạo” của Trung Quốc nước Mỹ không thể tiếp nhận được. Nước Mỹ “không thể bàng quan khoanh tay tay đứng ngoài khi bị tấn công quân sự”. Ông ta còn kiến nghị Chính phủ “bán vũ khí phòng ngự” sang Đài Loan để giúp họ chống lại tấn công quân sự của Đại lục Trung Quốc. Nghị sĩ Đảng Cộng hòa trong tuyên bố một chính sách tuần trước nói: “Chính phủ Cộng sản Bắc Kinh cần phải nhận thức rõ là Mỹ không thể khoan nhượng hành động quân sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đối với Đài Loan, cũng không thể khoan nhượng họ phong tỏa đường không, đường biển Đài Loan”. 82 nghị sĩ Hạ viện đứng đầu là Kaus Chủ tịch Uỷ ban chính sách Đảng Cộng hòa nêu ra một bản dự thảo quyết nghị gọi là “bảo vệ Đài Loan”, yêu cầu Chính phủ Mỹ hiệp trợ “bảo vệ” Đài Loan khi Trung Quốc xuất quân, cung cấp các loại vũ khí phòng ngự cho Đài Loan như tàu ngầm, máy bay, đạn đạo phòng không, tăng cường lực lượng hải quân Mỹ ở khu vực này, buộc Trung Quốc đáp ứng giải quyết vấn đề Đài Loan bằng phương thức hòa bình, dự thảo nghị quyết ấy được hơn 100 hạ nghị sĩ ký tên ủng hộ. Theo tin tức cho biết, một bộ phận nghị sĩ chống Trung Quốc tại Thượng viện cũng đang tích cực hoạt động, yêu cầu thẩm nghị lại quan hệ Mỹ với Đài Loan, sửa đổi lại một số điều khoản “Luật quan hệ với Đài Loan”, và ý đồ muốn đề ra một bản nghị quyết tương tự như Hạ viện. Những điểm chủ yếu mà Quốc hội Mỹ kiến nghị Chính phủ thi hành nhằm vào cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc tại eo biển Đài Loan là: Bán cho Đài Loan các loại vũ khí phòng ngự tiên tiến hơn, để cho hạm đội Mỹ được tuần tiễu lâu dài vùng biển phụ cận Đài Loan, xóa bỏ quyền được ưu đãi của Trung Quốc, ủng hộ Đài Loan khôi phục “vị trí địa vị tại Liên Hợp Quốc”, sau khi Đài Loan bầu cử sẽ mời nhiều quan chức cấp cao Đài Loan sang thăm nước Mỹ. Hàng không mẫu hạm Mỹ tại sao lại tới Về việc chính quyền Mỹ điều hai hàng không mẫu hạm tới tập kết tại vùng phụ cận eo biển Đài Loan, dư luận Hương Cảng, Đài Loan xôn xao bình luận. Ngày 13-3, tờ “Đông phương nhật báo” Hương Cảng đưa tin: hạm đội chiến đấu của Mỹ do hàng không mẫu hạm “Độc lập” dẫn đầu tập kết tại vùng biển phụ cận Đài Loan, tiếp đó Tổng thống Mỹ lại ra lệnh hàng không mẫu hạm năng lượng hạt nhân “Ni Mít” điều tới vùng này, hình thành một kiểu cách tập kết hạm đội của Mỹ qui mô lớn nhất hiếm có gần đây tại vùng biển Đài Loan. Báo này cho rằng, những hành động của Mỹ rõ ràng là đẩy tình hình vùng biển Đài Loan cảng thẳng thêm lên. Vì vậy, với tư thế trợ giúp quân sự mà Mỹ bày ra, những người Đài Loan có thêrn chỗ dựa, chính quyền Đại lục thì nhận định là Mỹ muốn bá chiếm Đài Loan, những biện pháp đối với Đài Loan càng cứng rắn thêm. Tờ “Công thương thời báo” Đài Loan cho biết, một chuyên gia am hiểu vấn đề Trung Quốc của Mỹ, Bào Đại Khả ngày 13 nói là, Mỹ phản ứng mạnh mẽ cuộc diễn tập quân sự của Trung cộng, không có nghĩa là Mỹ đang suy nghĩ thay đổi chính sách “một nước Trung Quốc” của họ, mà là thể hiện lập trường kiên định của Mỹ “không được sử dụng vũ lực đối với vấn đề Đài Loan”. Ngày 12-3, phóng viên đặc phái của “Trung Quốc thời báo” của Đài Loan từ Oasinhtơn đưa tin, Phó Lập Dân một chuyên gia “mũi nhọn” về vấn đề Trung Quốc của chính giới Mỹ nói là: Mỹ cho đội hàng không mẫu hạm tới gần vùng biển Đài Loan là biểu thị thái độ hết sức quan trọng, ý nghĩa là ở chỗ Mỹ kiên trì vấn đề Đài Loan phải do hai bên giải quyết bằng phương thức hoà bình. Ngoài ra, Phó Lập Dân cũng không cho rằng, trước mắt cuộc diễn tập quân sự của Trung cộng có thể dẫn đến chiến tranh, cho rằng Trung Quốc “không có ý khêu ngòi chiến tranh”, mà là cảnh cáo Đài Loan không đi tới “phân biệt”. Ngày 18-3 “Công thương thời báo” Đài Loan đưa tin: với tình hình Đài Loan hiện tại, cho đến nay Mỹ vẫn chưa tỏ thái độ nhanh nhạy như xử lý vấn đề vịnh Ba Tư. Về phía Mỹ mà nói “Chính sách Trung Quốc” mơ hồ, có thể để cho Mỹ giữ vai trò cân bằng giữa hai eo biển, đương nhiên với Mỹ, cũng là vai trò có lợi nhất. Mỹ cho hạm đội tới gần vùng biển Đài Loan “ý nghĩa thể hiện tính chính trị, rộng lớn hơn hiệu nghiệm uy hiếp của tính quân sự”. Tờ “Kinh tế nhật báo” Đài Loan có nói, Mỹ triển khai vũ lực, có thể chứng tỏ Mỹ không bị “uy hiếp”, để nói với đồng minh của Mỹ rằng, Mỹ tồn tại lâu dài ở khu vực này, không phải là có mặt tạm thời. Để tùy cơ ứng biến với tình hình Đài Loan, ngày 11-3 tờ “Công thương thời báo” Đài Loan đăng bài phỏng vấn đối với học giả chuyên gia, Trưởng phòng nghiên cứu chính trị Trường Đại học Trung Sơn Đài Loan Lâm Trung Bân giữ thái độ bảo lưu đối với “Hiệp phòng Đài Loan”. Ông ta cho rằng Mỹ tuy không thể đem quân giúp Đài Loan, nhưng mở rộng phạm vi quân sự và tăng thêm thứ mục hoặc cấp hàng trước hạn, đều là đáp ứng khả năng của Chính phủ Mỹ sau này. Nghê Tuấn Khải phó giáo sư Phòng nghiên cứu quốc tế và chiến lược Trường Đại học Đạm Giang Đài Loan cũng cho rằng, vì sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Mỹ chưa bao giờ chính thức giao chiến với một nước có vũ khí hạt nhân, còn bài học đau đớn đối với chiến tranh Việt Nam đến hôm nay Mỹ vẫn không quên được. Do đó, một khi Trung cộng tương tranh vũ lực với Đài Loan, về viện trợ quân sự ngoài việc bán vũ khí của Mỹ, Đài Loan không nên tỏ thái độ quá lạc quan. Báo này còn viết: rõ ràng, trong xã hội quốc tế hiện thực, điều kiện chính trị quyết định điều kiện quân sự, giữa hai nước lớn Trung cộng và Hoa Kỳ tranh bá, rắp tâm giành bá quyền thế giới thế kỷ 21, “hai cái lớn cái nào chịu nhỏ”, Đài Loan nếu không cẩn thận, trở thành “tiền duyên chiến lược” của một bên nào đó, và trở thành “con tốt đầu” của bên kia, quyết chẳng phải là phúc của toàn dân. Tờ báo còn nhấn mạnh: “Muốn nước giảm sôi, sao lại thêm củi?” quan hệ đôi bờ vẫn nên dĩ hòa vi quý. Ngày 14-3 “Báo liên hợp” Đài Loan cũng nói: sách lược của Mỹ đối với vùng biển Đài Loan hoàn toàn quyết định từ lợi ích của họ, còn nhận thức của Mỹ về lợi ích quốc gia thường thay đổi theo diễn biến do thời gian, địa điểm, ý dân trong nước và nhận thức của người quyết sách mà không có nước nào khác có thể khống chế được. Mỹ có thể hành động không chút hàm hồ về vấn đề Đài Loan cũng có thể tuỳ cơ buông tay mặc kệ. “Đông phương nhật báo” Hương Cảng cho rằng: “Nghiêm khắc cự tuyệt Mỹ trợ giúp là lợi ích căn bản nhất của Đài Loan”. Báo này còn nói: Trung Quốc Đại lục 17 năm cải cách mở cửa, kinh tế phát triển mạnh mẽ, lực lượng ngày càng hùng mạnh. Mỹ luôn không yên tâm đối với Trung Quốc Đại lục vươn lên mạnh mẽ; gần đây mặt trận phương Tây đứng đầu là Mỹ liên tục tuyên truyền “Trung Quốc uy hiếp luận”, mục đích là tạo ra dư luận, hạn chế Trung Quốc phát triển. Mỹ với tâm trạng không muốn nhìn thấy Trung Quốc Đại lục hùng mạnh tại châu Á muốn dựa vào chiến tranh vùng biển Đài Loan làm cho Trung Quốc Đại lục tổn thương thực lực, kinh tế lùi lại 20 năm, phù hợp với lợi ích lớn nhất và căn bản nhất; huống hồ nếu đôi bờ chĩa súng vào nhau, trước hết Mỹ sẽ có thể bán được cho Đài Loan đạn đạo phòng không, máy bay chiến đấu và tàu ngầm, ngay lập tức kiếm được một món lời lớn. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:41:31 pm PHẦN 6 NGOẠI TRƯỞNG TIỀN KỲ THAM TRẢ LỜI BÁO CHÍ Trung Quốc chưa bao giờ hứa từ bỏ sử dụng vũ lực Ngày 11-3-1996, người phát ngôn tin tức của hội nghị lần thứ tư Quốc hội khoá 8 Chu Giác tổ chức họp báo tại Đại lễ đường nhân dân, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Tiền Kỳ Tham đã trả lời nhà báo trong ngoài nước về tình hình quốc tế và chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Phóng viên Tân Hoa xã hỏi: Cuộc “bầu cử” ở Đài Loan sắp tới, Chính phủ Trung Quốc sẽ đối phó như thế nào với tình hình Đài Loan sau “bầu cử”? Trả lời: Chính quyền Đài Loan muốn lợi dụng người lãnh đạo tạo cơ hội thay đổi phương pháp để khoác cái áo hợp pháp lên các hoạt động chia cắt Tổ quốc, điều đó hoàn toàn vô ích. Về cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc, đồng bào Đài Loan không phải lo ngại, nguy cơ lớn nhất đáng lo ngại là ở Đài Loan thật sự có người muốn dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài thực hiện Đài Loan độc lập, chia cắt Tổ quốc, toàn thể nhân dân Trung Quốc kể cả đồng bào Đài Loan quyết không đáp ứng. “Hoà bình thống nhất, một nước hai chế độ” là chủ trương nhất quán của chúng ta, chủ trương ấy đến hôm nay vẫn không thay đổi, cũng không thể thay đổi; nhưng chúng ta không bao giờ thừa nhận từ bỏ sử dụng vũ lực. Nếu thế lực bên ngoài xâm phạm Đài Loan hoặc xuất hiện Đài Loan “Độc lập”, thì chúng ta không thể buông tay ngồi nhìn. Cảnh giác cường quyền nhúng tay vào eo biển Phóng viên mạng tin tức hữu tuyến của Mỹ hỏi: Gần đây Chính phủ Mỹ quyết định cho hàng không mẫu hạm “Độc lập”, của Mỹ vào vùng biển Đài Loan. Xin ngài cho biết Chính phủ có cách nhìn như thế nào trước sự kiện này? Đáp: Quân hạm Mỹ hoạt động trên vùng biển quốc tế là bình thường không có gì lạ, nhưng nếu có ai ngang nhiên kêu gào cho hạm đội 7 can thiệp vào vấn đề thống nhất đôi bờ, thậm chí nêu ra phải “bảo vệ Đài Loan”, thì rất đỗi hoang đường. Có lẽ họ quên rằng Đài Loan là lãnh thổ của Trung Quốc, mà không phải là mảnh đất bảo hộ của Mỹ. Phóng viên báo Liên Hợp Quốc của Đài Loan hỏi: Nếu người lãnh đạo mới của Đài Loan tỏ ý muốn mau chóng tiến hành hội đàm khoan nhượng trên nguyên tắc một nước Trung Quốc, chấm dứt tình trạng đối địch đôi bờ và thương lượng trù bị cho hội đàm cấp cao đôi bên, xin hỏi Bắc Kinh có thể đáp ứng tích cực để hòa dịu không khí đôi bờ? Đáp: Ngày 30-1 năm ngoái, trong bài nói quan trọng của Chủ tịch Giang Trạch Dân nêu ra 8 điều kiến nghị, được sự quan tâm rộng rãi và nhiệt liệt hoan nghênh trong và ngoài nước. Lúc ấy mọi người lòng đầy hy vọng về quan hệ đôi eo biển, cho rằng sự phát triển quan hệ đôi bờ năm 1995 có thể sẽ rất tích cực. Song đáng tiếc là, những sự kiện phát sinh về sau đã xóa đi tất cả hy vọng đó, tình hình hai bờ eo biển trở nên căng thẳng. Trách nhiệm này không thuộc về chúng tôi, mà là ở những người lãnh đạo nào đó và thế lực nước ngoài ủng hộ họ, họ muốn thúc đẩy Đài Loan “độc lập”. Đó chính là nguồn gốc tạo ra tình hình căng thẳng trước mắt hai bờ vùng eo biển. Nếu như chính quyền Đài Loan thay đổi thái độ, không chỉ bằng lời nói, mà trên hành động quay trở lại lập trường “một nước Trung Quốc”, thì tình hình đôi bờ sẽ êm dịu. Nếu chính quyền Đài Loan với sự giúp đỡ của nước ngoài, tiếp tục trượt theo con đường “Đài Loan độc lập”, thì cuộc đấu tranh chống “Đài Loan độc lập”, chống chia cắt của chúng tôi sẽ không dừng lại. Phóng viên tin tức kinh tế Nhật Bản hỏi: Gần đây Mỹ quyết định đưa hàng không mẫu hạm từ căn cứ hải quân Nhật Bản tới eo biển Đài Loan. Đứng trước tình hình eo biển Đài Loan hiện nay, Hiệp định An ninh Nhật-Mỹ đã bắt đầu khởi động. Ngài nhìn nhận như thế nào về hiệp định này? Ngài mong muốn Chính phủ Nhật Bản thực thi lập trường như thế nào về vấn đề này? Đáp: Vấn đề Đài Loan là chính trị nội bộ của Trung Quốc, người ngoài không nên bàn luận, càng không nên có hành động gì can dự vào. Chỉ cần thế lực bên ngoài không ủng hộ, không dung túng một số người Đài Loan thực hiện Đài Loan độc lập, thực hành chia cắt, là không phải lo ngại cho tình hình đôi bờ eo biển căng thẳng, trái lại thì có thể làm cho tình hình eo biển sẽ căng thẳng thêm, phát sinh tình huống như vậy chưa chắc có lợi gì cho Mỹ. Kẻ chia cắt Tổ quốc không thể có kết cục tốt đẹp Phóng viên An Sa xã của Ý hỏi: ở Đài Loan có người cảm thấy Trung Quốc không yên tâm về “tiến trình dân chủ của Đài Loan, xin ngài cho biết cách nhìn như thế nào đối với vấn đề này? Đáp: Cách phán đoán ấy hoàn toàn sai lầm; điều mà chúng tôi không yên tâm là ở Đài Loan có một số người muốn thực hiện Đài Loan độc lập, muốn chia cắt Trung Quốc. Phóng viên báo Liên hợp buổi sáng Sinhgapo hỏi: Tư chính nội các Sinhgapo Lý Quang Diệu có nêu kiến nghị; Đài Loan, sau khi bầu cử, lãnh đạo cấp cao hai bên có thế tiếp xúc. Ngài đánh giá thế nào về kiến nghị này? Đáp: Tư chính Lý Quang Diệu là một trong những nhà lãnh đạo nước ngoài am hiểu tương đối sâu sắc về vấn đề hai bờ eo biển và vấn đề Trung Quốc. Vấn đề Đài Loan là công việc nội bộ Trung Quốc. Mọi mong muốn về vấn đê lãnh đạo và Chính phủ ngoại quốc muốn hòa dịu tình hình căng thẳng, thì quan trọng nhất là nên ủng hộ phương châm “hoà bình thống nhất, một nước hai chế độ của Trung Quốc Phóng viên Công ty truyền hình Ôttrâylia hỏi: Quốc vụ khanh Mỹ Cơríttốpphơ nói: Hạm đội Mỹ đang đi vào eo biển Đài Loan, khi cần thiết có thể hỗ trợ Đài Loan. Ngài có cho rằng cách làm của họ là dung túng thế lực “Đài Loan độc lập” hay không? Có phải là hành vi gây hấn không chút cần thiết hay không? Đáp: Tôi và Quốc vụ khanh Cơríttốpphơ thường xuyên tiếp xúc, tháng tới cũng có thể lại gặp nhau, tôi sẽ hỏi ông ta, họ quyết định như vậy có “thô bạo không?”. Phải nói rằng mùa xuân năm 1995 tình hình đôi bờ eo biển bình ổn, chính vì quyết định sai lầm của Mỹ cũng là “thô bạo” mới tạo ra tình hình như hôm nay, họ phải suy nghĩ xem làm thế nào để thay đổi cục diện ấy. Phóng viên Thông tấn xã Liên hợp Ôttrâylia hỏi: Xin ngài cho biết cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc tại eo biển Đài Loan có ảnh hưởng gì tới lợi ích của Đài Loan? Đáp: Chúng tôi đã tuyên bố rõ thời gian diễn tập, khu vực diễn tập, mong muốn mọi phía chú ý, không muốn gây nên những tổn thất không cần thiết. Tác dụng cuộc diễn tạp của chúng tôi là tăng cường tố chất và khả năng tác chiến của quân đội chúng tôi, tỏ rõ đất nước chúng tôi có quyết tâm có khả năng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của mình, bất kỳ nước nào cũng không nên bàn luận tới sự việc này. Hơn 400 phóng viên báo chí trong, ngoài nước đã tham dự cuộc họp. Đài truyền hình Trung ương tường thuật trực tiếp tại chỗ, người viết bài hiểu được rằng, nhiều người rất quan tâm tới cuộc họp báo này, mặc dầu hơn một giờ sóng phát trực tiếp, vẫn có không ít người theo dõi. Điều tra tin tức đường dây nóng của “Báo Thanh niên Bắc Kinh” cho biết, những người quan tâm phần đông là theo dõi dự báo tin tức ngày hôm trước, dựa vào trực giác của mình phán đoán Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham sẽ trình bày cách nhìn nhận về những vấn đề quốc tế trọng đại. Một nhà giáo họ Dương ở vùng ven biển nói rằng: “Mỗi người Trung Quốc đều mong muốn Tổ quốc sớm thống nhất, căm giận thế lực nước ngoài nhúng tay vào, kẻ bán nước chia cắt Tổ quốc quyết không thể có được kết cục tốt đẹp”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:43:41 pm Chương 18 KHỐNG CHẾ TRUNG HOA, PHẢI KHỐNG CHẾ TÂY TẠNG TRƯỚC, BÀN TAY ÁC LÀ VƯƠN QUA NÓC NHÀ THẾ GIỚI. GIÓ BÃO TRÊN CAO NGUYÊN ĐẦY TUYẾT NỔI LÊN, TRÁNG SĨ HOÀNH QUA BẢO VỆ THỐNG NHẤT PHẦN 1 NƯỚC MỸ NHÒM NGÓ TÂY TẠNG TỪ LÂU Lần đầu Mỹ lập kế “Tây Tạng độc lập” “Ai thống trị được Tây Tạng nóc nhà thế giới, thì người ấy sẽ giành được ưu thế đối với địch thủ”. Nêru nguyên Thủ tướng Ấn Độ đã hình dung vị trí chiến lược của Tây Tạng như vậy. Mặc dù luận điểm của Nêru còn thiếu căn cứ, nhưng hàng loạt các nước mạnh ở phương Tây từ lâu đã nhòm ngó lợi ích Tây Tạng là thực tế lịch sử không cần tranh cãi. Trong số nhiều nước, thì hai nước Anh-Mỹ can thiệp sâu nhất. Cùng với sự bành trướng thế lực trong đại chiến thế giới lần thứ 2, sự hào hứng của Mỹ đối với Tây Tạng từ chỗ thăm dò kín đáo, phát triển tới can thiệp ngang nhiên với qui mô lớn. Ngay từ thời kỳ chiến tranh chống Nhật, suy nghĩ tới lực ly tâm của Anh hoạt động ở Tây Tạng dẫn tới, Chính phủ Quốc Dân Đảng đã từng có kế hoạch tiến quân vào Tây Tạng, để thu được hiệu quả thực tế thống nhất Trung Quốc. Nhưng vì Mỹ theo lời đề nghị của Anh, cực lực phản đối chính quyền Quốc Dân Đảng Trùng Khánh dùng vũ khí viện trợ của Mỹ để đối phó với Tây Tạng, nên Tưởng Giới Thạch dừng lại. Đó tuy là việc nhỏ, nhưng lại tăng thêm sự hứng thú của Mỹ đối với Tây Tạng. Đến mùa hè 1942, Mỹ xa lánh Chính phủ Quốc Dân Đảng là nước đương sự, từ Cục chiến lược họ cử hai đặc công, được sự giúp đỡ của người Anh, mùa đông năm ấy đã tới Lạp Tát. Họ làm như vậy nhằm mục đích là muốn liên hệ trực tiếp với chính quyền Lạp Tát. Hai người đặc công ngoài việc mang thư riêng của Tổng thống Rugiơven tới Đạt Lai Lạt Ma còn mang theo nhiều lễ vật. Khi từ biệt đặc công Mỹ ngoài việc nhận cung cấp cho Tây Tạng thiết bị thông tin ra, còn hứa sau khi về nước sẽ du thuyết Chính phủ, để Tây Tạng được tham gia hội nghị hòa đàm sau chiến tranh, với tư cách quốc gia độc lập. Phía Tây Tạng nhân dịp này chính thức tuyên bố độc lập trước thế giới. Đại biểu đứng đầu của Anh tại Lạp Tát là Lulau không những phụ hoạ với đặc công Mỹ về hội nghị này, mà còn thể hiện muốn dốc toàn lực thúc đẩy cho công việc đó. Lúc này Trung Quốc đi vào cuộc chiến tranh chống Nhật gian khổ, còn hai nước đồng minh Anh - Mỹ thì đang bàn mưu chia cắt Trung Quốc như thế nào. Mỹ tranh luận “Hộ chiếu” lại lộ ý đồ Sau chiến tranh thắng lợi, được Anh-Mỹ dung túng, cái gọi là Tổ chức đoàn đại biểu mậu dịch của Tây Tạng cầm hộ chiếu của chính quyền địa phương Tây Tạng muốn mượn danh nghĩa buôn bán, để biểu thị Tây Tạng độc lập, nằm bên ngoài Trung Quốc. Song về pháp lý, Mỹ-Anh đều thừa nhận Trung Quốc có chủ quyền chính đối với Tây Tạng, chính quyền địa phương Tây Tạng không có quyền phát hành hộ chiếu, Mỹ-Anh đều rất rõ điểm này, càng không được chứng nhận. Do vậy, chứng nhận trên hộ chiếu của chính quyền Tây Tạng cấp cho Mỹ chỉ giới hạn đến Hương Cảng mà thôi. Đoàn đại biểu này dùng một văn kiện khác do lãnh sự quán Trung Quốc tại Ấn Độ cấp được phép tới Nam Kinh đến tháng giêng năm 1946. Sau khi “Đoàn đại biểu mậu dịch” tới Nam Kinh, chính quyền Quốc Dân Đảng phát hiện mục đích của đoàn này không phải là mậu dịch, mà là tìm sự phân biệt về mặt pháp lý, bèn khéo léo khẩn thiết khuyến cáo Hoa Kỳ; nếu được chứng nhận cho vào Mỹ thì sẽ làm cho chính phủ Quốc Dân Đảng khó chịu, và hình thành cục diện hỗn loạn giữa Bộ Ngoại giao và Viện Lập pháp. Đồng thời, chính quyền Quốc Dân Đảng cho người tới khuyên giải “đoàn đại biểu mậu dịch Tây Tạng” từ bỏ kế hoạch thăm Mỹ. Song, được Mỹ-Anh tiếp tục dung túng, “Đoàn đại biểu mậu dịch Tây Tạng” cuối cùng nhận được chứng nhận hộ chiếu của Chính phủ địa phương Tây Tạng từ Lãnh sự quán Mỹ tại Hương Cảng, lập tức đi Mỹ vào ngày 1 tháng 7 năm 1946. Hành động ấy của Mỹ, trên thực tế thừa nhận Tây Tạng là một thực thể chính trị độc lập, khiến Chính phủ Quốc Dân Đảng vô cùng kinh ngạc. Vì tình thế nghiêm trọng, ngoài việc Bộ Ngoại giao triệu kiến Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc ở Nam Kinh để kháng nghị, còn cử Cố Duy Quân Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ gửi bị vong lục tới Quốc vụ viện Mỹ, nghiêm khắc chất vấn dụng ý của Mỹ về việc này. Phải chăng Mỹ đã thay đổi lập trường của mình là thừa nhận Trung Quốc có chủ quyền ở Tây Tạng? Cân nhắc tình hình, Chính quyền Mỹ cho rằng lúc này không thể vì việc đó mà trở mặt tới Tưởng Giới Thạch, thế là Quốc vụ viện Mỹ dùng thủ đoạn lừa bịp, nói với Cố Duy Quân là dấu xác nhận của Lãnh sự quán Mỹ tại Hương Cảng không bao giờ đóng lên hộ chiếu của Chính phủ Tây Tạng cấp phát (thực tế đã đóng rồi), mà là đóng dấu xác nhận vào một bản khác. Lúc này Quốc Dân Đảng đang bận nội chiến, yêu cầu đối với Mỹ rất nhiều, sự việc này cũng bỏ qua cho xong chuyện. Thông qua sự kiện này, càng bộc lộc rõ ý đồ của Chính phủ Mỹ. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:46:38 pm “Sự kiện xua đuổi người Hán” Ngày 8-7-1949, đầu mùa hạ trời Lạp Tát mát mẻ dễ chịu, trên đường Bát Giác đoàn người truyền kinh triều bái thong thả di chuyển như dòng chảy. Đột nhiên, một đội quân người Tạng trang bị đầy đủ, khí thế hùng hổ xông vào một cửa hàng đầu phố, chạy tới trước một công trình kiên trúc kiểu Tây Tạng cao ba tầng, khẩn trương vội vàng canh phòng kiểm soát, bao vây chặt chẽ nơi làm việc của cơ quan Chính phủ Quốc Dân Đảng tại Lạp Tát. Người cầm đầu hùng hổ xông vào trong sân, nêu yêu cầu đòi gặp Trần Tích Chương Chủ nhiệm phòng Biện sự của Chính phủ Quốc Dân Đảng đại Tây Tạng. Trần Tích Chương được tin hết sức trấn tĩnh nói với người đứng đầu: “Xin hỏi, các ông nhận chỉ thị của ai, chưa được phép đã xông vào Phòng biện sự của Chính phủ Trung ương?” “Đừng có nhiều lời, tôi chấp hành mệnh lệnh của Cát Hạ Chính phủ địa phương Tây Tạng thông báo cho các ngài biết: Tất cả người Hán và nhân viên cơ quan tại Lạp Tát phải rời ngay khỏi Lạp Tát, định kỳ trở về nội địa!” “Cái gì” - Trần Tích Chương ngớ ra, căn bản ông ta chưa nghĩ tới Chính phủ Tây Tạng đã ra lệnh trục xuất đối với mình như vậy. “Mệnh lệnh của Cát Hạ, không được chống lại”, người cầm đầu quân Tạng nói đoạn quay ra đi thẳng. Trần Tích Chương chưa biết nên làm như thế nào, đứng ngẩn ngay tại đó… Cùng lúc đó tại nơi ở của những quan chức người Hán, nhân viên tình báo Quốc Dân Đảng và một vài dân buôn người Hán, cũng bị quan quân Tây Tạng xông vào. Sau khi những người khách không mời mà đến ấy khám xét tra hỏi một cách thô bạo, không chút khách khí liền ra thông điệp: ngay lập tức rời Lạp Tát quay về nội địa! Chính phủ Quốc Dân Đảng cũng đã coi trọng Tây Tạng Phòng biện sự của Chính phủ Quốc Dân Đảng tại Tây Tạng được trù lập từ năm 1934. Trước đó, Chính phủ Quốc Dân Đảng chưa hề thiết lập cơ quan chính thức. Dân quốc năm thứ nhất, Đạt Lai Lạt Ma đã có một thời thân nước Anh, xa lánh quan hệ với Chính phủ nội địa. Đến năm 1925, do Đạt Lai Lạt Ma tranh quyền với Ban Thiền, Ban Thiền bị trục xuất lưu vong tại Bắc Kinh, và được Chính phủ Bắc Dương bảo hộ. Đạt Lai Lạt Ma rất lo ngại về việc đó, để hạn chế Ban Thiền, ông ta khôi phục lại quan hệ với nội địa. Năm 1927 sau khi Chính phủ Nam Kinh được thành lập, thiết lập Uỷ ban Mông Cổ Tây Tạng, đã nhiều lần quan hệ với Tây Tạng Đạt Lai thứ 13 mới cử đại diện thường trú tại Nam Kinh để làm liên lạc. Còn việc nội chính Tây Tạng, Đạt Lai vẫn tự quản lý, không chịu mệnh lệnh của Trung ương. Năm 1934 Đạt Lai thứ 12 qua đời, Chính phủ Quốc Dận Đảng liền cử Hoàng Mộ Tùng Uỷ viên trưởng Uỷ ban Mông-Tạng đi viếng, quan chức cao cấp hai bên mới có dịp tiếp xúc. Qua thương lượng, phía Tây Tạng đồng ý để Hoàng Mộ Tùng để Lưu Phác Thầm tham dự đoàn đại biểu và một tuỳ viên ở lại thường trú tại Lạp Tát, làm nơi tiếp xúc hai bên, ngoài ra còn lắp đặt một trạm đài vô tuyến tại nơi thường trú của đoàn để tiện liên lạc với nội địa. Về vấn đề tìm kiếm một linh đồng Đạt Lai thứ 14, Chính phủ Quốc Dân Đảng lợi dụng cuộc đấu tranh giành quyền giữa các tập đoàn tăng lữ thượng tầng của Tây Tạng lúc này, dựa vào Phật sống nhiếp chính thân Quốc Dân Đảng, do ông ta đích thân tới vùng sông Hoàng Thanh Hải tiếp nhận một linh đồng, nói là tư cách của linh đồng hoàn toàn phù hợp với di ngôn của Đạt Lai thứ 13 trước lúc qua đời, sau đó Chính phủ Trung ương lại uỷ phái Ngô Trung Tín Uỷ viên trưởng Uỷ ban Mông Tạng mới nhận chức tới Lạp Tát, rút thăm lọ vàng tại Cung Becđala, đã quyết định linh đồng này làm Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (tức là Đạt Lai hiện nay lưu vong tại Ấn Độ). Lễ toạ vị được cử hành ngày 23-2-1940 do Ngô Trung Tín trực tiếp chủ trì. Sau đó, Ngô Trung Tín được phía Tây Tạng đồng ý, chính thức thiết lập phòng biện sự của Chính phủ Quốc Dân Đảng thường trú tại Tây Tạng ở Lạp Tát, trực thuộc Uỷ ban Mông - Tạng, do Khổng Khánh Tông làm trưởng phòng. Lúc này cơ quan thường trú của Chính phủ Quốc Dân Đảng tại Tây Tạng chính thức được thành lập. Thời gian này giao thông giữa nội địa và Tây Tạng hết sức khó khăn, nội địa không có một con đường nào có thể thông tới Lạp Tát. Khang Định tới Xương Đô chỉ có một con đường bộ nhưng cũng không thông suốt, còn Tây Khang lại nằm trong tay Lưu Văn Huy quân phiệt Tứ Xuyên. Ngọc Thụ ở Thanh Hải vốn cũng là một lối vào Tây Tạng nhưng lại bị quân của Mã Bộ Phương “vua Tây Bắc” cát cứ, không cho người ngoài qua lại. Nói tới vùng có nhiều dân tộc sống xen kẽ, tranh chấp thường xuyên, mà khí hậu thì khắc nghiệt, đồi núi gập ghềnh. Cho dù người có thể đi lại được cũng gian khó trùng trùng, vì vậy thời ấy từ Trùng Khánh đi Lạp Tát, chỉ có thể mượn đường Ấn Độ. Nhưng, mượn đường Ấn Độ lại còn phải được Đại sứ Anh tại Trung Quốc chứng thực. Như vậy, phía Anh không những nắm được mọi động thái của quan chức Trung Quốc ra vào Lạp Tát, mà thậm chí có lúc còn mượn cớ Tây Tạng không đồng ý để gây khó khăn. Bản thân quan lại của Chính phủ Trung Quốc muốn tới một vùng đất khác thuộc Trung Quốc, lại phải vòng qua nước khác và bị kiềm chế, thật khó mà nhẫn nhục. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:47:37 pm Tháng 2-1942 sau khi Tưởng Giới Thạch đi thăm Ấn Độ trở về, thấy nước Anh đang bận đối phó với phong trào Ấn Độ độc lập ở châu Á, lại càng không đủ lực lượng để can thiệp vào công việc của Tây Tạng, nhân thời cơ có lợi Tưởng Giới Thạch muốn đặt lại quan hệ với Tây Tạng. Đến năm 1944, tình hình quốc tế có nhiều thay đổi. Tưởng Giới Thạch quyết định lựa chọn một quan chức mà mình tín nhiệm hoàn thành sứ mệnh nói trên. Qua nhiều lần suy nghĩ Tưởng đã nhằm trúng Thẩm Tông Liêm bí thư tổ 4 Phòng Thị tùng. Thẩm Tông Liêm năm xưa tốt nghiệp ở Trường Đại học Thanh Hoa, đã từng lưu học tại Mỹ. Trong ấn tượng của Tưởng Giới Thạch, Thẩm thông minh tài cán, nhiều mưu lược. Khi Quách Thái Kỳ làm Bộ trưởng Ngoại giao, thì Thẩm làm trưởng Phòng tổng vụ. Cuối năm 1941, Quách vì tác phong bất chính bị Tưởng Giới Thạch miễn chức. Chức Bộ trưởng tạm thời do Tưởng kiêm nhiệm. Được Trần Bố Lôi chứng nhận, Lý Duy Quả là Bí thư phòng Thị tùng được điều làm Trưởng phòng Tổng vụ Bộ ngoại giao, còn Thẩm Tông Liêm thì được điều vào làm Bí thư tổ 4 Phòng Thị tùng. Thẩm Tông Liêm sau khi đã lọt vào dinh phủ của Tưởng Giới Thạch chuyên tâm nghiên cứu nhiều vấn đề mấy năm liền bầy mưu hiến kế cho Tưởng, có nhiều thành tích, được Tưởng ca ngợi, trong đó có một bản ý kiến thư, bàn luận với Tưởng Giới Thạch lợi dụng thời cơ trước mắt tăng cường quan hệ với Tây Tạng. Ý kiến ấy đánh trúng suy nghĩ của Tưởng. Ngoài ra, trong khi làm Bộ trưởng Ngoại giao Thẩm Tông Liêm đã từng cùng đặc sứ Đới Quí Đào đi thăm Miến Điện và Ấn Độ, tương đối hiểu biết về tình hình Ấn Độ. Đới cũng đã từng tán dụng Thẩm Tông Liêm là suy nghĩ kín kẽ, mạnh dạn và có hiểu biết ngay trước mặt Tưởng Giới Thạch. Điều đó đã gây cho Tưởng những ấn tượng tốt đẹp. Cho nên lần này uỷ thác cho Thẩm Tông Liêm đi sứ Tây Tạng, cũng có duyên cớ. Mùa xuân 1944, Chính phủ Quốc Dân Đảng sau khi công bố việc uỷ thác Thẩm Tông Liêm nhận sứ mệnh làm trưởng phòng biện sự thường trú tại Tây Tạng, Tưởng liền triệu kiến Thẩm Tông Liêm bàn bạc kỹ càng. Trong lúc chuyện trò, Tưởng đặc biệt nhấn mạnh chuyến đi công cán Tây Tạng lần này nhiệm vụ nặng nề, sứ mệnh trọng đại mong muốn trong điều kiện không làm cho chính quyền Anh-Ấn nghi ngờ, Thẩm cố gắng hoàn thành tốt đẹp 4 nhiệm vụ sau đây: - Một là, tuyên truyền thực lực và quyết tâm hoà bình thống nhất Trung Quốc của Trung ương. Chỉ rõ Trung, Mỹ, Anh, Xô đã kết thành đồng minh, kháng Nhật tất thắng. Trung Quốc đã trở thành một trong bốn cường quốc trên thế giới ngày nay. Trên cơ sở ấy, nói rõ với Chính phủ địa phương Tây Tạng về ý chí kiên định thống nhất Trung Quốc và niềm tin đạt được mục đích ấy của Tưởng Giới Thạch. - Hai là, khẳng định tình cảm hữu thiện và thái độ tôn trọng của Chính phủ Trung ương đối với nhân dân Tây Tạng. Chỉ rõ là Anh đang bị khốn quẫn về phong trào Ấn Độ độc lập hiện nay không còn đủ sức phù trợ Tây Tạng. Tây Tạng chỉ có tăng cường liên hệ với nội địa, hợp thành một khối thống nhất mới có được tiền đồ sáng sủa. - Ba là, mong muốn phía Tây Tạng đồng ý thực hiện sửa chữa tuyến đường mà trước đây phái viên Chính phủ Trung ương đã xem xét, công lộ Khang-Tạng, hễ chiến tranh kết thúc là tu bổ ngay, nhanh chóng mở mang cục diện giao thông ách tắc giữa nội địa và Tây Tạng. - Bốn là, để tăng cường hợp tác hữu hảo song phương, có kế hoạch xây dựng Cục Điện báo, ngân hàng, bệnh viện, và mở rộng hoặc bổ sung qui mô số lượng trường tiểu học hiện có. Ngoài ra, Tưởng Giới Thạch đáp ứng sẽ rút ra một khoản đặc biệt tính bằng vàng, ngoại tệ làm kinh phí hoạt động cho Thẩm Tông Liêm về những công việc này. Phàm khi gặp những công việc quan trọng cơ mật, Thẩm có thể trực tiếp điện xin chỉ thị Tưởng Giới Thạch, không cần qua Uỷ ban Mông-Tạng. Vì vậy, tổ cơ yếu Phòng Thị tùng cấp riêng một bản mật mã để Thẩm sử dụng. Từ đây có thể thấy được, Thẩm Tông Liêm đi sứ khác với nhiệm vụ bình thường. Tuy nhiên về danh nghĩa vẫn gọi là Trưởng phòng Biện sự thường trú tại Tây Tạng như trước đây, sợ rằng, gọi là đặc phái viên sẽ làm cho chính quyền Anh-Ấn và Chính phủ địa phương Tây Tạng nghi ngờ mà thôi. Trung tuần tháng 4-1944, chuyến đi của Thẩm Tông Liêm chia làm hai nhóm đi máy bay khách từ Trùng Khánh tới Cancútta Ấn Độ. Tiếp theo, Thẩm Tông Liêm dẫn một tuỳ viên đi thăm Niuđêli, lúc này Ấn Độ làm thay công việc Đại sứ quán tại đây. Khi Thẩm Xương Hoán Bí thư thứ 2 công thự cùng với Thẩm Tông Liêm tới hội kiến bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Anh-Ấn Sir Caroe được đón tiếp rất ân cần. Khi bàn tới địa vị của Tây Tạng Caroe thừa nhận Trung Quốc có chủ quyền chính đối với Tây Tạng, còn Thẩm Tông Liêm thì nhấn mạnh Trung Quốc sử dụng với Tây Tạng là chủ quyền lãnh thổ, không phải là chủ quyền chính. Lúc này Trung Quốc là một trong bốn nước đồng minh lớn chống phát xít, thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Nhật mà Trung Quốc sẽ giành được tất nhiên sẽ ảnh hưởng to lớn trực tiếp đối với phong trào độc lập của Ấn Độ và tình hình toàn châu Á. Cho nên lúc này Chính phủ Anh-Ấn liền thay đổi thái độ lạnh nhạt trước đây, rất coi trọng việc Chính phủ Quốc Dân đảng cử Thẩm Tông Liêm tới thường trú tại Lạp Tát. Thẩm Tông Liêm rời Niuđêli trở về Cancutta không lâu qua thành Cát Luân liền trở về Lạp Tát. Dưới sự hướng dẫn của Lý Quốc Lâm trưởng khoa tiếng Tạng Phòng biện sự thường trú tại Tây Tạng hơn 10 năm, Thẩm Tông Liêm lần lượt tới chào các quan chức của Chính phủ địa phương Tây Tạng gọi là Cát Hạ, Kham bố chùa Tam Đại và thượng hạ mật viện (tức là sư chủ quản trong chùa Lạt ma), cùng các Phật sống lớn nhỏ; tặng họ nhiều lễ vật, cá biệt còn mời dự tiệc. Ngoài ra lại ban phát bố thí cho các hoà thượng chùa Tam Đại và hai mật viện. Cuối cùng hẹn ngày đi yết kiến Đạt Lai. Lúc này Thẩm Tông Liêm hoạt động ở Tây Tạng rất mạnh mẽ, võ nghệ thật cao cường, khiến các nhân vật cao cấp Lạp Tát phải có cách nhìn khác trước, tình cảm giữa Hán và Tạng cũng do đó mà tốt đẹp hơn xưa. Còn có một việc cần phải nhắc tới: Thẩm Tông Liêm đến năm thứ 2 sau khi nhậm chức, chính là thời kỳ ông ta thúc đẩy quan hệ giữa nội địa Tây Tạng đạt tới đỉnh cao. Ngày 14-8 đài phát thanh truyền báo tin vui Nhật đã đầu hàng, cuộc kháng chiến của Trung Quốc thắng lợi, Phòng biện sự pháo nổ rền vang, quốc kỳ bay cao trên đỉnh ốc, bốn bề cờ các nước và cờ màu rợp trời. Hơn 400 người dân tộc Hán Hồi sống ở Lạp Tát rầm rập loan báo cho nhau, tự động tụ tập trước sân phòng biện sự hoan hô chúc tụng và tổ chức nước được điều hành. Ngày hôm sau, Thẩm Tông Liêm mở tiệc ăn mừng, các kham bố Phật sống của những chùa lớn, cát luân, đại diện Chính phủ địa phương Tây Tạng đều tới tham dự; đại biểu Anh-Ấn, Nêpan thường trú tại Lạp Tát cũng đến chúc mừng. Đương khi đắc chí, Thẩm Tông Liêm lại nhớ tới câu nói của Caroe về vấn đề chủ quyền, càng thấm thía nhận ra dư vị trong đó. Do vậy, ông ta quyết tâm nắm chắc thời cơ nhân đà tiến tới. Chẳng bao lâu, một bức điện tuyệt mật đích thân ông ta thẩm duyệt gửi Tưởng Giới Thạch đã được phát từ Lạp Tát về Phòng Thị tùng Tằng Gia Nham Trùng Khánh. Qua suy nghĩ kỹ càng, trong bức điện Thẩm Tông Liêm đã mạnh dạn nêu ra hai ý kiến quan trọng. Thứ nhất: Để tăng cường quan hệ với Tây Tạng, phải khống chế thật chặt Tây Tạng, để Tây Tạng không ngả theo phía Anh-Ấn. Việc làm cấp bách là phải nhanh chóng tu sửa quốc lộ Khang-Tạng tương tự như con đường Điền-Miến; mà muốn tiến hành công trình to lớn này, trước hết phải xóa bỏ cục diện cát cứ Tây Khang của Lưu Văn Huy, và trên cơ sở cải tổ triệt để chính quyền Tứ Xuyên, sẽ sát nhập tỉnh Tây Khang vào Tứ Xuyên; cử một đại diện Trung ương (như Ngô Trung Tín), dẫn một đội quân (ông ta kiến nghị sử dụng một bộ phận quân lực của Hồ Tông Nam) trấn giữ một vùng Thành Đô, Tây Xương, Khang Định sẽ dựa vào lực lượng quân ấy nhanh chóng sửa thông quốc lộ này. Thứ hai: Lợi dụng ảnh hưởng chuyến thăm Ấn Độ lần trước của Tây Tạng, Liên Hợp Quốc ủng hộ Ấn Độ độc lập đồng thời hội đàm giữa phái viên Trung ương Quốc Dân Đảng với Đảng Quốc đại Ấn Độ, đính ước hiệp định không chính thức, làm rõ mối quan hệ giữa Ấn Độ sau khi độc lập với Tây Tạng, phải thừa nhận Tây Tạng là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch xem xong, trao bức điện cho Trần Bố Lôi, yêu cầu Trần Hội Quần nghiên cứu cẩn thận. Sau đó khi Tống Tử Văn đi London tham gia Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước Trung, Mỹ, Anh, Xô; thừa cơ thăm dò thái độ của Anh đối vấn đề Tây Tạng. Còn nước Anh chỉ biểu thị vấn đề Ấn Độ độc lập là vấn đề tròng đại họ đang phải đối mặt, không có thời gian quan tâm đến việc khác. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:50:38 pm Tưởng Giới Thạch không có thời gian quan tâm đến Tây Tạng Thực tế thời gian ấy, người thật sự không có thời gian quan tâm đến Tây Tạng lại chính là Tưởng Giới Thạch. Sau khi kháng chiến thắng lợi, tình hình trong nước phát triển ngoài suy nghĩ của Quốc Dân Đảng: Tây Tạng một mặt dựa vào Mỹ điều đình nội chiến Quốc-Cộng, mặt khác lại đang chuẩn bị trở lại nội chiến. Hơn nữa lúc này vấn đề Đông Bắc, Tân Cương, Nội Mông cũng đang có xu hướng nổi cộm, như vậy thì làm sao Tưởng còn có tâm tưởng quan tâm tới Tây Tạng được nữa? Sau mấy tháng, Tưởng Giới Thạch dặn Trần Bố Lôi điện trả lời Thẩm Tông Liêm: Theo chỉ thị cho biết, tình hình nội địa trước mặt phức tạp, cho nên vấn đề Tây Tạng chỉ có thể giữ nguyên hiện trạng, không nên thay đổi nhiều. Ngô huynh tài hoa trác việt, năm qua có nhiều công lao ở Tây Tạng, đệ rất khâm phục; dựa vào thực tế, chỉ có thể lấy vô sự làm đại sự, lấy vô công làm đại công. Đệ vốn thiển kiến, mong được minh xét. Thẩm Tông Liêm là con người thông minh, sau khi nhận được điện trả lời, biết tình thế đã như vậy, việc đã quyết định chẳng làm được gì. Từ đó ông ta cũng không còn muốn tham quyền cố vị, mà rất muốn tìm kế thoát thân. Xưa kia dũng khí một thời, nay chỉ còn ném vào sọt rác. Thẩm Tông Liêm tuy bắt đầu thoái trí, song với cá tính kiên cường, vẫn muốn làm một việc lớn cuối cùng để bù đắp sự cáo từ, cũng cần trao đổi với Chính phủ Nam kinh. Lúc ấy Chính phủ Quốc Dân Đảng quyết định triệu tập “Đại hội đại biểu Quốc dân” trong năm 1947, và bố trí các tỉnh thành phố cử đại biểu đi dự, thế là Thẩm Tông Liêm liền tích cực vận động chính quyền Lạp Tát, đề nghị họ cử đại biểu khu vực Tây Tạng đi Nam Kinh, một là chúc mừng thắng lợi cuộc kháng chiến với Trung ương, hai là chờ tham dự “Đại hội”. Hành động ấy nếu như thành công, tất nhiên sẽ làm cho Trung ương và Tưởng Giới Thạch vừa lòng; do đó càng khen ngợi tài năng xử sự của Thẩm. Và như vậy ông ta cũng không đến nỗi phí sức hoài công. Đó là cách suy nghĩ của Thẩm Tông Liêm. Mọi công việc bố trí đã xong xuôi, Thẩm Tông Liêm điện về báo cáo Nam Kinh, nói rõ phía Tây Tạng đã quyết định cử hai đại biểu về chúc mừng thắng lợi của Trung ương và tham gia “Đại hội”, vì sự việc trọng đại, nên bản thân ông cùng đi theo về Nam Kinh. Tưởng Giới Thạch điện trả lời phê chuẩn. Mùa xuân năm 1946, Thẩm Tông Liêm cùng hai đại biểu Tây Tạng về tới Nam Kinh, được Uỷ ban Mông-Tạng đón tiếp long trọng. Liền sau đó Thẩm đưa đoàn đại biểu yết kiến Tưởng Giới Thạch lại được Tưởng kích lệ. Trước đó ông ta còn tới thăm Đới Quí Đào và Trần Bố Lôi, trao đổi kỹ quá trình làm việc hơn một năm tại Tây Tạng và cách đánh giá của ông ta về vấn đề Tây Tạng. Thẩm nói như thế là hiện nay mọi việc ở Tây Tạng không thể làm được gì nữa, bản thân lại mắc bệnh tim, không ở được bao lâu trên vùng cao giá lạnh, cho nên mong muốn Trần Bố Lôi đề đạt với Tưởng Giới Thạch cho được nghỉ. Tưởng Giới Thạch trả lời: Tạm thời có thể nghỉ ngơi, sau đây sẽ nhận nhiệm vụ khác. Đến đầu năm 1947, Thị trưởng Thượng Hải Ngô Quốc Trình mời Thẩm Tông Liêm ra làm Bí thư trưởng Chính phủ Thượng Hải, tất nhiên là Tưởng đồng ý, có thêm Ngô Quốc Trinh cùng Thẩm Tông Liêm là bạn cũ Thanh Hoa và lưu học tại Mỹ, luôn gắn bó với nhau rất tốt. Hôm sau, các nhân viên Phòng Thị tùng của Tây Tạng có cuộc gặp gỡ. Thẩm Tông Liêm nói tới khi nhận phái viên đi Tây Tạng, than thở rằng: “Nội lực bất cập, nội bộ chia rẽ, chúng ta không làm được gì với Tây Tạng”. Lấy câu nói ấy để tự chế giễu và kết luận cho bản thân ông thất chí trở về. Sau khi Thẩm Tông Liêm được điều đi, Chính phủ Quốc Dân Đảng lại quyết định Trần Tích Chương từ Bí thư Chủ nhiệm phòng biện sự thay chức Chủ nhiệm. Nhưng giờ đây, đường đường vị Chủ nhiệm này lại đứng trước nguy cơ bị đuổi khỏi Tây Tạng... “Chủ động khống chế” ngu xuẩn Trần Tích Chương vội tới tòa công vụ Cát Hạ trước cung Bố Đạt Lạp. Các uỷ viên chính vụ Nhiên Ba, Sách Khang và Ca Tuyết Ba đã tiếp kiến Trần Tích Chương. Đôi bên đã an toạ, thấy Trần Tích Chương vẻ mặt lo lắng, Nhiên Ba người đứng đầu chính vụ nói: “Hiện tại nội chiến Quốc Cộng rất ác liệt. Quốc Dân Đảng đi tới đâu. Đảng Cộng sản truy đuổi đến đó. Để tránh việc quan chức Quốc Dân Đảng ở Tây Tạng nhử quân Giải phóng tiến vào, hội nghị quan chức Tây Tạng quyết định: Chính phủ Tây Tạng tạm thời cắt đứt quan hệ chính trị với Chính phủ Quốc Dân Đảng, đề nghị nhân viên Phòng Biện sự của Chính phủ Quốc Dân Đảng trong vòng 2 tuần phải rời khỏi Tây Tạng qua Ấn Độ quay về nội địa”. Đây quả là tin sét đánh ngang tai! Làm nhiệm vụ tại Tây Tạng 5 năm, Trần Tích Chương một con người từng trải, trước mặt những quan chức cao cấp của Chính phủ địa phương mặt sắt đen xì, bỗng nhiên kinh hãi... “Nghe nói trong những người Hán ở Tây Tạng và vùng Khang Ba có cộng sản, chúng tôi không biết rõ ai là cộng sản; Tây Tạng là thánh địa Phật giáo, tuyệt đối không cho phép có cộng sản!” Thấy Trần Tích Chương vẫn im lặng, Nhiên Ba bổ sung tiếp. “Quyết định của các ngài thật đột ngột, tôi sẽ điện về báo cáo Chính phủ Trung ương, chờ điện trả lời, sẽ phúc đáp” -Trần Tích Chương như bừng tỉnh, bực bội trả lời. Nhiên Ba một con người lịch lãm xua xua tay nói: “Ông không phải điện nữa. Về phía Chính phủ Quốc Dân Đảng, Cát Hạ đã trực tiếp điện thoại rồi. Huống hồ hiện tại tất cả mọi cơ sở bưu điện đều đã phong tỏa, ông không thể thông tin được nữa”. Trần Tích Chương vẫn kiên trì nói: “Tôi chưa được lệnh cấp trên, rút về như thế này là không được”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:51:09 pm Bước ra khỏi Cát Hạ, trời đã xẩm tối, đường phố Lạp Tát lạnh vắng, Trần Tích Chương nhận được tin xác thực: Đài vô tuyến điện Lạp Tát thuộc Bộ Giao thông đã bị lính Tạng canh giữ, máy phát điện điện đài cũng đã bị cắt, không liên lạc được với nội địa nữa. Cùng ngày, một đội quân Cát Hạ trang bị toàn súng Anh bao vây trường học, đài thiên văn, những nhân viên nghi là “người Hán Cộng sản” được bí mật ghi danh sách và lần lượt bị bắt giữ. Từ Lạp Tát đến các vùng Tây Tạng, cho tới miền đông Tạng nghiêm mật bố phòng. Xương Đô quân quyền chấp chính: không đâu là không bùng lên một làn khói ảm đạm xua đuổi người Hán. Hơn 200 thân nhân viên chức cơ quan Quốc Dân Đảng thường trú và những nhân viên người Hán khác tại Tây Tạng đều bị tra xét nghiêm ngặt; ngày 11, 17, 20-7 chia 3 nhóm trục xuất khỏi Tây Tạng, đưa qua Ấn Độ theo đường biển trở về nội địa... Đây là “sự kiện trục xuất người Hán” chấn động dư luận trong ngoài nước. Tin tức lan truyền về nội địa, Chính phủ Quốc Dân Đảng vốn đã rệu rã càng kinh hãi mất hồn. Tờ “Trung ương nhật báo” ngày 19-8 đăng tin dưới đây: Ngày 8-7, Lạp Tát xảy ra biến loạn. Điện tín Lạp Tát với bên ngoài bị cắt đứt, toàn thể nhân viên Phòng Biện sự của Chính phủ Trung Quốc thường trú tại Tây Tạng trong vòng hai tuần phải rút về, đài vô tuyến điện thuộc Bộ Giao thông tại Lạp Tát bị phá huỷ, trưởng đài bị đâm trọng thương. Tất cả thương nhân người Hán tại Lạp Tát đều bị trục xuất, ngay cả các tăng ni Lạt ma gốc Hán trong chùa chiền cũng không thoát khỏi. Tin tức ấy làm mọi người kinh ngạc: tại Lạp Tát làm sao có nhiều lực lượng cộng sản như vậy? Vì sao các nhân viên cơ quan trường học của Trung Quốc tại Tây Tạng, thậm chí cả hoà thượng đều bị trục xuất. Đây là một vấn đề nan giải. Thực ra, vấn đề này không nan giải. Cuối năm 1949, số ít phần tử thân vua Tây Tạng mà tiêu biểu là Đạt Trát nhiếp chính cấu kết ngầm với tổng lãnh sự Ấn Độ tại Tây Tạng Lisácsun một nhân vật trọng yếu của đế quốc Anh tại Ấn Độ, một quan chức ngoại giao mắt xanh tay mang găng trắng, trăm phương nghìn kế lập định “Tây Tạng độc lập” để ngăn cản nhân dân Trung Quốc hoàn thành sự nghiệp giải phóng thống nhất Tổ quốc sau khi Quốc Dân Đảng thất bại. Một hôm Lisácsun tiết lộ một “tin” với cục trưởng “Cục Ngoại giao” Cát Hạ Liễu Hà Thổ Đăng Tăng Ba; Sách Khang Vượng Khâm Thứ Đăng ở Lạp Tát có rất nhiều cộng sản, để họ ở lại đây, sau này có thể làm nội ứng, nhử quân Giải phóng tiến vào. Hai “cục trưởng” nghe xong, giật mình vội hỏi: “Chúng tôi không biết Lạp Tát có cộng sản, họ ở chỗ nào?” Thế là, Lisácsun liệt kê ra một danh sách và địa chỉ giống như có thật, làm cho hai “cục trưởng” rất cảm kích, cho đuổi ngay những người ấy đi. Để ngăn cản quân Giải phóng tiến vào Tây Tạng, triệt để “cắt đứt quan hệ Tây Tạng với Trung ương, Cát Hạ quyết định tất cả nhân viên phòng biện sự của Quốc Dân Đảng thường trú tại Tây Tạng và những người gọi là cộng sản, nhất loạt “trục xuất” khỏi Tây Tạng. Cùng hưởng ứng từ xa, phối hợp chặt chẽ với Lisácsun đài phát thanh Anh-Mỹ đưa tin. - Tin điện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nói: “Tây Tạng lợi dụng Quốc Dân Đảng sắp tan rã, hoàn toàn có thể thoát ly chủ quyền của Chính phủ Trung Quốc” - Chuyên san Thông tấn xã của Anh viết: “Nước Anh chưa bao giờ thừa nhận cách nói Tây Tạng là một bộ phận của Trung Quốc, và chịu Trung Quốc quản lý”. “Bình luận viên” của Công ty phát thanh Côlômbia Mỹ, “công trình sư” được Chính phủ Anh cử tới, đang hoạt động tại Lạp Tát ... Đài liên lạc Thông tấn vốn có ở Lạp Tát, nhanh chóng biến thành “Đài phát thanh Tây Tạng”, đêm ngày sử dụng 3 thứ tiếng Tạng, Anh, Hán phát tin ra nước ngoài. Đài ấy ra sức tuyên truyền “quan hệ Hán Tạng chỉ là quan hệ theo chung tôn giáo, trong lịch sử Tây Tạng chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc”, “quân Giải phóng đi ngược lại ý nguyện của thần: với chính giáo Tây Tạng là thủy hoả bất khả tương dung”, kích động nhân dân đăng tục Tây Tạng “phải trai chết gái thay, người trước ngã người sau xốc tới”, “kiên quyết vũ trang chống trả” quân Giải phóng Cũng như vậy. Ông Lisácsun một người có phong độ thân sĩ nói với Đạt Trát nhiếp chính Tây Tạng tuổi đã xế chiều rằng: “Không thể ngồi mà hô độc lập, phải viết thư kêu gọi Liên Hợp Quốc”, thế là Chính phủ Cát Hạ dự thảo “Tuyên ngôn Tây Tạng độc lập”, đích thân Lisácsun sửa chữa và dịch sang văn bản tiếng Anh, rồi quyết định cử Gia Lạc Đôn Chu là anh thứ 2 của Đạt Lai và Hạ Cách Ba là quan thẩm kế đi Liên Hợp Quốc kêu gọi và yêu cầu ủng hộ. Sau đó, Lisácsun lại đồng loã với Tô Mát một nhân vật thần bí từ Mỹ tới, cùng Đạt Trát bàn bạc bí mật tổ chức ra cái gọi là “Đoàn đại biểu thân thiện” gồm 6 quan chức, dự định lần lượt đi 4 nước Mỹ, Anh, Ấn và Nêpan đề nghị viện trợ. Các đại biểu đều mang theo thư của Đạt Lai Lạt Ma và nhiếp chính Đạt Trát có đóng dấu, trong thư nói: Cộng sản đã chiếm lĩnh nhiều tỉnh nội địa, tiến sát Tây Tạng, yêu cầu 4 nước chỉ đạo chúng tôi tác chiến như thế nào, và mong muốn cử tới một đoàn nhân viên kỹ thuật có chuyên gia trưởng, cho vay một khoản đô la để giúp đỡ thực hiện Tây Tạng độc lập, gia nhập tổ chức Liên Hợp Quốc ... Âm mưu của họ một khi đạt được, thì một miền đất đỏ tương đương 12 tỉnh Triết Giang sẽ tách khỏi bản đồ Trung Quốc. Vùng cao nguyên xinh đẹp với hơn 1000 đầm hồ, những đồi núi chập trùng với bao nhiêu của quí, đặc biệt là hàng triệu dân tộc Tạng anh em gắn bó máu thịt với các dân tộc Trung Hoa sẽ vào tay một quốc gia xa lạ dị tộc; dãy Himalaia vốn là tấm bình phong của Tây Tạng điểm tựa vững chắc nhất của Tổ quốc cũng sẽ bị chặt đứt... Dân tộc Tạng và cổ tộc Trung Hoa vốn cùng dòng giống, là đồng bào cốt nhục. Giang sơn liền dải, văn hóa tương dung, cùng bảo vệ và xây dựng một quốc gia lớn nhất phương Đông cũng đã trải qua trên 700 năm lịch sử. Cả thế giới chú ý đến Tây Tạng, ánh mắt Mao Trạch Đông cũng chăm chú nhìn về Tây Tạng. Ngày 3-9-1949 Tân Hoa xã có bài xã luận: “Sự kiện nhà cầm quyền Tây Tạng xua đuổi người Hán và nhân viên Quốc Dân Đảng thường trú tại Tây Tạng được phát động theo kế hoạch của đế quốc Anh - Mỹ. Quân Giải phóng sẽ “không để một tấc đất nào nằm ngoài quyền cai quản của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”. Chỉ sau 4 ngày, ngày 7-9 “Nhân dân nhật báo” lại đăng xã luận “Nhân dân Trung Quốc nhất định phải giải phóng Tây Tạng”, kêu gọi nhân dân Tây Tạng hãy đoàn kết lại, đón quân Giải phóng. Nhưng Chính phủ Cát Hạ ẩn kín trong hang sâu núi tuyết vẫn bỏ ngoài tai những lời khuyến cáo trung thành của Bắc Kinh. Họ đã bị những kẻ mắt xanh đeo găng tay trắng lừa bịp quá sâu, đánh giá lực lượng của mình quá cao. Trên đường dịch lộ từ Lạp Tát tới Xương Đô vùng trọng yếu của miền đông Tạng khói bụi mịt mù, đại quân 7000 người được điều tới bờ tây sông Kim Sa, họ sẽ dựa vào hiểm trở và phép bùa ngoan cố chống lại quân Giải phóng tiến vào Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:52:18 pm Đồng bào Tây Tạng mong chờ giải phóng Hành động đi ngược trào lưu lịch sử, âm mưu gọi là “Tây Tạng độc lập” trái với nguyện vọng nhân dân Trung Quốc bị nhân dân các dân tộc Triều Tiên lên án và trừng phạt. Những người bất bình phẫn nộ đầu tiên với âm mưu “Tây Tạng độc lập” đó là các tầng lớp nhân sĩ yêu nước, các dân tộc Tây Tạng và nhân dân các tỉnh đông dân tộc Tạng như Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên. Ngày 1-10-1949, ngày thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Ban Thiền một trong hai đại giáo chủ Hoàng giáo Tây Tạng, từ Thanh Hải gửi điện mừng tới Chủ tịch Mao Trạch Đông và Tổng tư lệnh Chu Đức, “Chính phủ nhân dân Trung ương thành lập, những người có tâm huyết cùng nhau cổ vũ. Từ nay về sau nhân dân có thể đón chờ an lạc, đất nước có hy vọng phục hưng. Tây Tạng giải phóng sắp được thực hiện. Ban Thiền xin thay mặt nhân dân Tây Tạng gửi tới các ngài lời chào cao cả, và bày tỏ lòng nhiệt thành ủng hộ và kính trọng”. Một ngày cuối tháng giêng năm 1950 đang độ tuyết rơi, Văn phòng hội nghị Kham Bố Ban Thiền lại một lần nữa thay mặt Nhân dân Tây Tạng yêu nước gửi điện tới Chính phủ nhân dân Trung ương: Được tin chính quyền phản động Lạp Tát ở Tây Tạng lấy danh nghĩa là “Đoàn đại biểu thân thiện”, cử đại biểu phi pháp đi vận động các nước Anh-Mỹ, biểu thị “Tây Tạng độc lập”, ý đồ cấu kết với đế quốc, chống lại Chính phủ Nhân dân Trung Quốc, để đạt tới âm mưu chia cắt Trung Quốc bán rẻ Tây Tạng. Tây Tạng gắn liền với lãnh thổ Trung Quốc, được thế giới công nhận, nhân dân Tây Tạng cũng tự nhận mình là một trong các dân tộc Trung Hoa. Ngày nay chính quyền Lạp Tát hành động như vậy, thực là phá vỡ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đi ngược lại ý chí nhân dân Tây Tạng. Xin thay mặt nhân dân Tây Tạng, kính mong sớm cử nghĩa binh giải phóng Tây Tạng, củng cố quốc phòng Tây Nam, giải phóng nhân dân Tây Tạng. Chúng tôi nguyện lãnh đạo nhân dân yêu nước, kêu gọi nhân dân Tây Tạng phối hợp cùng quân Giải phóng phấn đấu đến cùng cho nhân dân và Tổ quốc. Ích Tây Sở thần thay mặt cho thế lực yêu nước “nóng bỏng” trước đây chạy khỏi Tây Tạng lưu vong trong nội địa, tới bái kiến đại biểu Trung ương ở Tây Ninh, nhiều lần khóc lóc “chân thành đề nghị quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc nhanh chóng tiến vào Tây Tạng, cứu đồng bào trong nước sôi lửa bỏng, để Tây Tạng được trở về trong lòng Tổ quốc!”. Ngày 21-11-1949, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Tổng tư lệnh Chu Đức điện trả lời Ban Thiền, trong điện văn có nói: Nhân dân Tây Tạng yêu Tổ quốc mà phản đối nước ngoài xâm lược, họ không vừa lòng với chính sách của Chính phủ phản động Quốc Dân Đảng, mà mong muốn trở thành một thành viên trong đại gia đình Trung Quốc mới, thống nhất giàu mạnh, các dân tộc hợp tác với nhau bình đẳng, Chính phủ Nhân dân Trung Quốc và quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc nhất định làm thỏa mãn ý nguyện ấy của nhân dân Tây Tạng. Trước mùa xuân 1950, với khí thế ngọn cờ của quân Giải phóng nhân dân các khu vực dân cư người Tạng trong 5 tỉnh Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc, Tây Khang và Vân Nam đã hoàn toàn được giải phóng, chính quyền mới của nhân dân tiếp tục được xây dựng. Tiếp theo sự kiện “xua đuổi người Hán”, bọn gián điệp Mỹ vào Tây Tạng hoạt động bí mật, kích động Tây Tạng thành lập một đội quân kỹ thuật. Tiếp nhận bọn chúng huấn luyện, cản trở quân Giải phóng tiến vào Tây Tạng. Chính quyền Tây Tạng đề nghị Mỹ “viện trợ” một tỷ đô la và cung cấp loại vũ khí sử dụng trong đại chiến thứ 2. Tiếp đó, chuyến vũ khí đầu tiên của Mỹ đã qua Cancútta Ấn Độ chuyển tới Lạp Tát, tư lệnh quân Tây Tạng đích thân dẫn người tới doanh trại quân Ấn tại Giang Tư để huấn luyện... Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:54:18 pm PHẦN 2 QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN TIẾN VÀO TÂY TẠNG Viên ngọc sáng ở biên thùy tây nam Chỉ sau tháng thứ 2 sau ngày thành lập nước, vị thống soái nước cộng hoà mới ra đời chuẩn bị hành trang cho một chuyến thăm đầu tiên. Ngày 16-12-1949, đoàn xe đặc biệt chở Mao Trạch Đông đi Liên Xô bắt đầu xuất phát. Đoàn xe mang biển hiệu 9002 gồm 3 toa, toa đầu là đại đội cảnh vệ, toa sau là hậu cần, Mao Trạch Đông và những người cùng đi ở toa giữa. Cùng đi với Chủ tịch Mao Trạch Đông có Trần Bá Đạt uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng Thư ký chính trị của Chủ tịch nước, Sư Triết là phiên dịch, Diệp Tử Long Thư ký cơ yếu, Uông Đông Hưng Phó Chủ nhiệm văn phòng Trung ương kiêm trưởng đoàn cảnh vệ Trung ương, Côvalép Tổng cố vấn Liên Xô đang công tác giúp đỡ Trung Quốc cũng đi theo. Phụ trách công tác bảo vệ tuyến đường Trung Quốc có Đằng Đại Viễn Bộ trưởng Bộ Đường sắt, Dương Kỳ Thanh Thứ trưởng Bộ Công an, Phùng Kỷ Cục trưởng Cục công an đường sắt. Từ Bắc Kinh đến Mãn Châu Lý, dọc theo đường sắt cứ 1 km bố trí một trạm canh. Thủ tướng Chu Ân Lai kêu gọi Đảng, chính quyền, quân đội các địa phương dọc đường, nhất định phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Mao Trạch Đông, không để xảy ra chuyện gì đáng tiếc. 5 giờ chiều, đoàn xe đặc biệt dừng tại ga Sơn Hải quan, trước cảnh “Thiên hạ đệ nhất quan” hùng vĩ, Mao Trạch Đông khoan khoái hít thở không khí trong lành, quyết định xuống ngắm cảnh. Ông khoác áo dạ, chân đi giày vải mũi vuông, tay kẹp thuốc lá thơm, từ trong toa bước tới Thứ trưởng Dương Kỳ Thanh khiêm tốn tươi cười nói: “Công an đại thần, tàu dừng tại đây bao lâu?” “Thưa, nửa giờ ạ” Dương Kỳ Thanh trả lời. “Ờ xuống tham quan một chút được không?” Mao Trạch Đông nói với giọng thương lượng. Dương Kỳ Thanh thấy Mao Trạch Đông xuống tầu, liền nói với Uông Đông Hưng ngồi cạnh: “Ngoài trời gió to, anh đưa thêm áo cho Chủ tịch!”, sau đó vẫy gọi Đằng Đại Viễn, Phùng Kỷ trong toa rồi bước xuống trước. Tại ga vì có chuyến tầu đặc biệt dừng bánh, bỗng rộn rã hẳn lên. Các nhân viên trực ban trên ga, trong phòng đợi, chợt nhìn thấy một thủ trưởng đi giữa gật đầu chào mọi người. A, Mao Trạch Đông! Đúng Mao Chủ tịch rồi! Một dòng chảy ấm áp hạnh phúc bỗng trào dâng trong tim họ, họ đang muốn hoan hô vang dậy, song nhìn qua ánh mắt bình tĩnh nghiêm nghị của người cảnh vệ đứng trước và đôi môi mím chặt của anh ta, họ hiểu ý đành nén lại trong lòng; chỉ bằng ánh mát của mình biểu lộ tình cảm tôn kính chân thành hướng về lãnh tụ... Mao Trạch Đông đứng cạnh đường mời các đồng chí phụ trách địa phương lên tàu, làm việc điều tra nghiên cứu. Với phong độ vui vẻ sinh động, Người bỏ qua mọi nguy hiểm cá nhân! Ngày 9-12, đoàn tầu đặc biệt của Mao Trạch Đông tới thành phố Mãn Châu Lý, dừng ngay tại vùng thảo nguyên mênh mông; vì đường sắt Trung Quốc cỡ hẹp, đường sắt Liên Xô cỡ rộng, cho nên phải chuyển tàu. Ngay tại ga biên giới Liên Xô, đã có một đoàn tàu cao cấp, đặc biệt chờ sẵn đón tiếp Mao Trạch Đông, một đoàn xe trang bị khá đầy đủ. Trên xe có đủ phòng họp, phòng ngủ, phòng nghỉ và phòng tắm, không khí thoáng rộng đường hoàng. Những người lãnh đạo Đảng, chính quyền quân đội ở Châuchita thuộc Liên Xô và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô ra tận biên giới đón tiếp Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông bước tới lần lượt thân thiết bắt tay những người ra đón, sau giây phút thăm hỏi, lại tiếp tục lên tàu Liên Xô. Vùng hàn lưu Xibêri thật nổi tiếng, những người khách Trung Quốc lần đầu tiên tới đây không để ý trên nóc tầu, cửa tầu đã bắt đầu treo những chuỗi hoa sương trong suốt, lấm tấm long lanh rung động. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 08:55:07 pm Nhìn ngoài trời tuyết rơi trắng xóa, Mao Trạch Đông búng nhẹ đầu tàn thuốc lá, tự như: “Xibêri... băng tuyết muôn trùng Tây Tạng có lẽ cũng như vậy...” Mao Trạch Đông suy nghĩ từ Mãn Châu Lý cho tới dãy Himalaia như một đường chéo góc trên bản đồ Trung Quốc. Tây Tạng - viên ngọc sáng của biên thùy Tây nam Tổ quốc. Đối với những người chưa hiểu biết gì về nó: Tây Tạng đi liền với những ngôn từ đất trời băng tuyết, cây cỏ hoang vu, thâm nghiêm giá lạnh, rùng rợn thê lương. Thực ra là một “ngoại thế đào nguyên” muôn màu muôn vẻ, cảnh sắc mê người. Nhìn về thế hình địa lý và điều kiện khí hậu, cao nguyên Tây Tạng 1 triệu 20 vạn km2, có thể chia ra vùng núi Himalaia, cao nguyên bắc Tạng, thung lũng nam Tạng, cao nguyên miền tây và lưu vực Tam Giang miền đông... Mỗi vùng đều có cảnh quan tự nhiên khác lạ, tình cảm hứng thú đặc thù. Ở vùng ven phía nam Tây Tạng, dãy núi Himalaia sừng sững khí thế chập chùng. Trong 14 ngọn núi cao trên 8000 m thì tập trung tại đây 9 ngọn. Trong đó có ngọn Trômôlungma (núi Thánh mẫu) cao nhất thế giới, lừng danh thiên hạ. Thảo nguyên bắc Tạng mênh mông cao từ 4500 đến 4800m so với mặt biển. Thảo nguyên bát ngát, hoang mạc mênh mông cùng các loài dê cỏ và ly ngưu chỉ có ở Tây Tạng. Độ cao ấy cũng tạo ra mùa đông dằng dặc và “ngày hạ chết non”. Trong 6 tháng mùa hè, mà cũng thường thấy đôi lúc tuyết rơi. Thảo nguyên bắc Tạng là một vùng nhiều đầm hồ thuộc cao nguyên nổi tiếng trên thế giới, có tới hơn 30 hồ có diện tích 400 km2; còn các đầm hồ nhỏ không sao kể xiết. Những đầm hồ ấy đều cao hơn mặt biển tới hơn 4000 mét. Vì vậy cũng là khu cao nguyên cao nhất hành tinh. Tây Tạng cổ đại gọi là Thổ Phồn. Từ pháp luật Thổ Phồn cho tới “Thập tam pháp điển”, “Thập lục pháp điển” pháp luật phong kiến lịch đại ngày xưa đều qui định: “Con người có 3 bậc thượng, trung, hạ, mỗi bậc lại chia thành 3 cấp thượng, trung, hạ”. Trong đó bậc thượng đẳng bao gồm vua Tạng, Phật sống lớn nhỏ và quí tộc; bậc trung bao gồm thương nhân, chủ chăn nuôi và viên chức; bậc hạ đẳng gồm nông dân, thợ rèn và thợ sát sinh. “Người có phân chia đẳng cấp, vì vậy giá nhân mạng cũng có thấp cao”. Giá nhân mạng của ông vua do pháp luật qui định: “Người Hồ giết hại Nhã Tư Vương, giá mạng tính bằng vàng theo thi thể; nông dân sát hại Cát Tát Vương, bồi thường tính không rõ”, giá mạng người bậc trung qui định “300 lạng đến 400 lạng vàng”. Cấp hạ đẳng, pháp luật qui định: “Người đi săn, thợ rèn, người sát sinh, bị hại giá mạng là một sợi dây thừng”. Về mặt quan hệ pháp luật hình sự, “Người thấp hèn và người quyền quý tranh chấp thì bị bắt” (Điều 3 “thập tam pháp điển”) “Người bị thương cao thấp có phân biệt: dân làm cho quan thương tích, xem xét tình trạng gẫy chân tay; chủ quá tay gây nô bộc thương tích, chữa khỏi không phải xét tội. Chủ đánh nô bộc bị thương không phải bồi thường” (Điều 8 “thập tam pháp điển”). Trong “thập tam pháp điển” điều 4 về luật trọng tội nhục hình qui định gồm có: móc mắt, chặt chân, cắt lưỡi, bẻ tay, đẩy xuống vực dìm chết đuối, xử tử. Những nhục hình tàn khốc này dùng chấn áp nông nô và nô lệ. Ai qua vùng Tây Tạng, có dịp sẽ thấy những mặt trống bịt bằng da người, cái dáo (tịch) làm bằng xương chân nữ nô lệ, cái bô bịt vàng làm bằng xương sọ nô lệ. Theo thống kê của nhà nước Quốc Dân Đảng trước đây, Tây Tạng có khoảng một triệu dân, chia ra hai giai cấp đối lập: một là giai cấp chủ nô chiếm khoảng 5% dân số tức là ba loại đại lãnh chúa quan gia (Chính phủ phong kiến địa phương), đền chùa và quí tộc, 3 loại lãnh chúa ấy xây dựng hàng nghìn nông trang, mục trường trên cao nguyên mênh mông của Tây Tạng, chiếm hữu toàn bộ đất đai đồng cỏ, tuyệt đại đa số súc vật và toàn bộ nô lệ; hai là nông nô chiếm khoảng 90% dân số và nô lệ khoảng 5%, nông nô không có ruộng đất, chỉ có dựa vào đất đai của chủ nô, bắt buộc phải lao động nặng nhọc cho chủ nô, chịu tạp dịch và tô thuế nặng nề; nô lệ thì không những không có ruộng đất và gia súc, mà còn không có cả quyền lợi con người. Chủ nông nô sử dụng một phần đất đai phì nhiêu làm “đất tự doanh”, lợi dụng sức lao dịch không công để tiến hành canh tác, hoặc do nô lệ cấy trồng; còn một phần ruộng đất nữa gọi là “sai địa” dùng hình thức địa tô hiện vật và địa tô lao dịch cho nông nô thuê cấy trồng. Người nông nô bị ràng buộc vào ruộng đất của chủ nô, ngoài việc nộp tô hiện vật hà khắc cho chủ nô ra, còn phải gánh chịu sai dịch và thuế khóa nặng nề, nhiều nông nô và nô lệ chịu không nổi áp bức bóc lột đã chạy trốn tháo thân, khi họ bị bắt thì phải chịu bao cực hình: cắt tay, chặt chân, khoét mắt, rút não. Vay nợ lãi ở Tây Tạng hết sức ghê người. Theo điều tra ở Lạp Tát, Sơn Nam, Hắc Hà, Xương Đô, Giang Tư thì 70% đến 80% nông nô mắc nợ, có nơi tới trên 90%. Đền chùa là chủ nợ lớn nhất, lãi suất thường là vay 4 trả 5 (25%). Chế độ chính trị kinh tế ở Tây Tạng như thế nào. Chế độ nông nô phong kiến dã man lạc hậu cực đoan ấy còn có thể cho phép tiếp tục tồn tại nữa không? Không? Mao Trạch Đông lắc đầu kiên quyết. Sự kiện xua đuổi người Hán ở Tây Tạng mấy tháng trước, giờ đây lại lởn vởn trong đầu óc Người. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 10:57:54 pm Mao Trạch Đông chỉ đạo từ xa Do thế lực phản động quốc tế can thiệp, vấn đề Tây Tạng ngay từ đầu đã rối ren phức tạp, mà lại bức thiết phải giải quyết ngay trước mắt. Tầu vẫn lăn bánh ầm ầm rung chuyển, Mao Trạch Đông thì luôn tay búng thuốc gạt tàn. Ông lật từng trang tập tài liệu về Tây Tạng mang theo, trầm tư suy nghĩ về bức thư gửi Trung ương Đảng: “Để không lỡ thời cơ giải phóng Tây Tạng, đánh tan dã tâm mở rộng xâm lược của bọn đế quốc, thúc đẩy Tây Tạng chuyển hóa theo nội địa, tiến quân vào Tây Tạng nên sớm, không nên muộn, càng sớm càng có lợi, nếu không thì, đêm càng dài mộng càng nhiều”. Thư nhanh chóng được gửi tới Bành Đức Hoài Phó tổng Tư lệnh ở quân khu Tây Bắc. Bành Đức Hoài hết sức sốt ruột. Bởi vì trước khi đi thăm Liên Xô (23-11) Mao Trạch Đông đã điện hạ lệnh cho ông tiến quân vào Tây Tạng: giải quyết vấn đề Tây Tạng cần tranh thủ hoàn thành vào mùa thu hoặc mùa đông năm tới. Căn cứ tình hình hiện tại, nên yêu cầu Cục tây bắc gánh trách nhiệm chủ yếu, còn Cục tây nam thì gánh trách nhiệm thứ yếu. Bởi vì tây bắc kết thúc chiến tranh sớm hơn tây nam, đường từ Thanh Hải đi Tây Tạng nghe nói bằng phẳng dễ đi, Ban Thiền và tuỳ tùng lại ở Thanh Hải. Giải quyết vấn đề Tây Tạng không xuất binh là không thể được, xuất binh đương nhiên không chỉ là một đường tây bắc, còn phải có một đường tây nam... Đánh Tây Tạng phải cần tới 3 quân đoàn, phân phối như thế nào, ai chỉ huy hiện nay vẫn còn khó quyết định. Nhưng Cục tây bắc cần gấp rút vạch kế hoạch về vấn đề chuẩn bị của cán bộ nhân dân Tây Tạng và những vấn đề khác cần chú ý hiện nay. Sau khi nhận được điện báo, Bành Đức Hoài, con người quả cảm đã từng tham gia không biết bao nhiêu trận đánh lớn ác liệt, nhìn thấy mà không tiến lên được. Ông không bao giờ sợ khó khăn gian khổ, cũng không có thói quen che giấu tâm tư. Khi ông đã tức giận thì mọi người xung quanh nhón chân mà đi và nên tránh xa ánh mắt của ông khi ấy. Sau khi được Bộ trưởng liên lạc Phạm Minh đi điều tra ông càng tin tưởng hơn, trước kia quân đội từ tây bắc tiến vào Tây Tạng chưa hề thành công, vậy trong điều kiện gấp gáp, chúng ta nắm chắc được bao phần thắng lợi? Bức điện của Mao Trạch Đông còn nóng bỏng trong tay, Bành Đức Hoài sùi bọt mép. Ông chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong phòng. Ngày 30-12 ông báo cáo thực tế: Báo cáo Trung ương cùng Mao Chủ tịch: ... Từ Bu Điền, Hòa Điền vượt qua núi Côn Luân đến Hắc Hà biên giới Tây Tạng qua Diêm Hồ cần 17 ngày, toàn đường nhỏ, la ngựa không đi được, vắng bóng người đi. Nghe nói từ Hắc Hà qua Diêm Hồ đến Lạp Tát đi ngựa phải 40 ngày, nói gọn cần 2 tháng. Từ Nam Cương vào Tây Tạng rất khó khăn. Máy bay vượt qua núi Côn Luân cũng phải có thiết bị đặc biệt. Riêng con đường ruột Kasigơ qua Puli, phía đông cao nguyên Pamia thồ ngựa đi được, nhưng phải qua đất Ấn Độ từ phía đông vào Tây Tạng. Phía Bắc đường đi tốt. Nhưng vì hạn chế về chính trị nên không có khả năng... nếu nhiệm vụ vào Tây Tạng qui về tây bắc, thì phải trú quân trữ lương thực tại Hoà Điền, Vu Điền, Ngọc Thụ, tu sửa đường sá, hoàn thành việc chuẩn bị vào Tạng, cần phải hai năm... Mao Trạch Đông ở Mátxcơva, vì không thông với cách suy nghĩ của Stalin, tinh thần không thoải mái, ông trút nỗi bực dọc với liên lạc viên Liên Xô, nói là các bạn mời tôi tới Mátxcơva, mà chẳng được việc, tôi đến để làm gì? Lẽ nào tôi tới đây để ăn uống, tiêu hóa, ngủ nghê? Thông tấn xã Anh còn rêu rao là Stalin đã giam lỏng Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông nhận được điện của Bành Đức Hoài, xem đi xem lại nhiều lần, lòng ông nặng trĩu. Những việc mà Bành Đức Hoài đã điều tra kỹ lưỡng, ông tin là không sai, từ tây bắc đi vào Tây Tạng là không thể được, chỉ có thể tiến quân từ phía tây nam. Nhưng Lưu, Đặng vào đóng giữ tây nam, trụ chân chưa vững, trước mắt lại bận tiễu phỉ. Nhưng địa vị quốc tế của Tây Tạng cực kỳ quan trọng, cần phải giải phóng, chỉ có nhờ tới Lưu, Đặng, Hạ thôi. 4 giờ sáng ngày 2-1, khi người cảnh vệ đi ra đổ tàn thứ hai đầy ắp những mẩu thuốc, Mao Trạch Đông vươn vai thư giãn, trao bức điện cho thư ký hoả tốc chuyển về nước. Điện gửi cho Trung ương, Bành Đức Hoài, và chuyển tiếp tới Tiểu Bình, Bá Thừa và Hạ Long, nội dung như sau: Từ Thanh Hải và Tân Cương tiến quân về Tây Tạng khó khăn rất lớn, nhiệm vụ tiến quân vào Tây Tạng và trù liệu mọi việc ở Tây Tạng cần xác định do Cục tây nam đảrn nhận. … Ý tôi là nếu không còn khó khăn nào mà không khắc phục được nữa thì nên tranh thủ bắt đầu tiến quân vào Tây Tạng ngay trung tuần tháng 4 năm nay, giải phóng Tây Tạng trước tháng 10. Vì vậy tôi kiến nghị: 3 đồng chí Lưu, Đặng, Hạ Long trong thời gian sắp tới (ví dụ trung tuần tháng 10) họp bàn một lần, quyết định các vấn đề cán bộ phụ trách bộ đội vào Tây Tạng và lo liệu công việc ở Tây Tạng, đồng thời bắt đầu bố trí ngay mọi việc... Mao Trạch Đông cũng cảm thấy còn khiếm khuyết, sau bức điện, lại ghi thêm: Tây nam vừa mới giải phóng, công việc của các đồng chí Cục tây nam rất bận rộn, hiện tại lại trao thêm nhiệm vụ vào Tây Tạng, nhưng vì nhiệm vụ quan trọng, lại mang tính chất thời gian, cho nên phải làm theo kiến nghị trên. Những kiến nghị trên có tiến hành được hay không, đề nghị Cục tây nam tính toán rồi điện trả lời cho biết. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 10:58:35 pm Đặng Tiểu Bình chỉ định Tướng Trương Quốc Hoa Tại Tằng Gia Nham Trùng Khánh, Lưu Bá Thừa và Đặng Tiểu Bình nhận được điện của Mao Trạch Đông, xem đi xem lại vài lần. Lưu Bá Thừa có vẻ “văn” hơn, lúc nghỉ ngơi tay không rời sách, tựa vách đá xem tới vài giờ. Có người gọi vui là “bà mẹ già” đương nhiên là chỉ nhìn bề ngoài thôi, còn cái tên gọi “thần chiến chột mắt” từ xưa đã nổi tiếng gần xa; còn Đặng Tiểu Bình một dũng khí anh tài rất băn khoăn không biết nên cử ai xuất binh Tây Tạng đây? Bộ đội tập đoàn 2 dã chiến đúng là không thiếu: 3 binh đoàn, 9 quân đoàn. Nhưng trước mắt đã chiếm lĩnh tỉnh Tây Khang yên ổn, chẳng phải là bộ đội cũ của tập đoàn 2 dã chiến, mà là quân đoàn 62 của Hạ Long. Nhìn về vị trí địa lý, kinh tế và thời gian, thích hợp nhất là quân đoàn này. Song hai ông đã thoáng bỏ qua suy nghĩ ấy, công việc gian khổ nhất vẫn phải là do bộ đội của mình chấp hành. Họ lại lần lượt rút ra chín quân đoàn của mình, cho rằng khả năng chiến đấu của quân đoàn 10 mạnh nhất, cử đi là thích hợp. Đáng tiếc là Đỗ Nghĩa Đức, quân đoàn trưởng sức khỏe gần đây giảm sút, vào Tây Tạng sẽ rất khó khăn. “Cho địa chủ đi vậy nhé?”, Đặng Tiểu Bình hút thuốc đã tê lưỡi dúi tắt mẩu thuốc, xua làn khói bay nói một câu “lạ tai”. Lưu Bá Thừa nghe nói mập mờ, vội hỏi: “Ai?” “Trương Quốc Hoa” Lưu Bá Thừa cười vui vẻ: “Tôi cũng đang dự định ông ta, được, hãy để ông ta đi”. Tham gia Hồng quân vừa tròn 15 năm, đã kinh qua trường chinh, đã từng quần đảo với quân Tưởng Giới Thạch đông gấp 10 mình, chiến công hiển hách, là quân đoàn trưởng quân đoàn 18, lại có kinh nghiệm phong phú mở mang khu mới, Trương Quốc Hoa sao lại là “địa chủ” được? Cần phải nói tới đội ngũ cán bộ của quân đoàn 18. Quân đoàn này có không ít cựu Hồng quân và dũng sĩ kháng chiến tương đối nhiều, còn có không ít cán bộ đã kinh qua công tác địa phương lại có cả một số trí thức. Nam Kinh sau khi giải phóng, đòi hỏi một loạt cán bộ đi tiếp quản, nhưng đa số bộ đội còn đang đánh giặc, không tìm được người. Lưu, Đặng, quyết định các trường của các quân đoàn đi tiếp quản Nam Kinh. Tại hội nghị phân công, khi Hiệu uỷ quân đoàn 18 Lâm Lượng nói là nhân viên nhà trường có hơn 4.500 người, cả hội trường ồ lên. Bởi vì con số này đã vượt quá tổng số người của các quân đoàn. Có người thì thầm: “Quân đoàn trưởng Trương giàu quá, đúng là “địa chủ!” cho nên quyết định nhiệm vụ tiếp quản Nam Kinh do trường của quân đoàn 18 đảm nhiệm. Tuy vậy sau đó, lại có thay đổi, trường đó được biên nhập vào binh đoàn 5 đi Giang Tây, Hồ Nam, Quí Châu thu mua lương thực, nhưng biệt danh địa chủ Trương Quốc Hoa đã lan truyền khắp nơi, ngay đến khi Đặng Tiểu Bình nói tới vấn đề cán bộ, cũng nói vui: “Cán bộ của quân đoàn 18 chẳng cần phải lo, Trương Quốc Hoa là địa chủ mà!” Nhưng hình như Trương Quốc Hoa đang lãnh đạo bộ đội mở mang Tân khu Xuyên Nam, số đông cán bộ đã được cử về các vùng Xuyên Nam làm lãnh đạo huyện thị. Chính uỷ Đàm Quán Tam đã uống rượu tiễn chân của quân đoàn 18, sắp đi thị xã Tự Cống làm Bí thư thị uỷ. Trương Quốc Hoa cũng đã nhận làm Chủ nhiệm thứ nhất hành sở Xuyên Nam. Bộ đội đang đóng quân giữ đất. Ngày 8-1, Thủ trưởng Lưu, Đặng đánh điện ra lệnh: Quân đoàn 18 đóng quân chờ lệnh, Trương Quốc Hoa và các cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp sư đoàn đến ngay Trùng Khánh. Trương Quốc Hoa giật mình, ông nghĩ ngay rằng: nhiệm vụ có thay đổi! Ông lên xe hoả tốc đi Trùng Khánh, suốt dọc đường suy nghĩ: Đi đâu nhỉ? Vân Nam chăng? Đây là địa bàn binh đoàn 4. Hay Tây Khang? Binh đoàn 18 đã đóng quân. Hay là đánh Đài Loan? Đã có tập đoàn 3 dã chiến, xem ra 8-9 phần là đi Tây Tạng, bởi vì chỉ có ở đây là trống. Đánh giá của ông quả không sải. Vừa tới Tằng Gia Nham, Lưu, Đặng liền nói với Trương Quốc Hoa về việc Mao Trạch Đông yêu cầu tập đoàn dã chiến 2 tiến quân vào Tây Tạng. Trong thời gian này Lưu, Đặng cũng thấy rằng quân đoàn trưởng của quân đoàn 10 không đi Tây Tạng được, mà để cho Trương Quốc Hoa lãnh đạo bộ đội quân đoàn 10 đi Tây Tạng, kế hoạch không thay đổi, đã quyết định rõ ràng rồi: để Trương Quốc Hoa tuỳ ý chọn 3 sư chủ lực trong tập đoàn dã chiến 2, tổ chức thành 1 sư 3 vạn quân. Lưu Bá Thừa thấy Trương Quốc Hoa im lặng, liền hỏi: “Ý kiến của anh thế nào?” Trương Quốc Hoa trầm tư suy nghĩ. Ông hiểu rất rõ, lực lượng chiến đấu của một quân đoàn tổ chức như vậy không thành vấn đề, nhưng vào Tây Tạng không chỉ có đánh trận, lớn hơn là đấu tranh chính trị, nên đối với một quân đoàn mới chưa quen biết mà nói là đáng lo nhất. Nhưng uẩn khúc tư tưởng quân đoàn 18 của mình cũng không dễ xoay chuyển. Vốn là phải đi Quí Châu, Lưu, Đặng suy nghĩ là quân đoàn 18 sau khi vượt sông bị điều động đi lại nhiều nhất, gian khổ lớn nhất; nửa chừng lại chuyển hướng tiến vào Xuyên Nam đất nước của sự giàu có Quan quân chưa được phấn chấn, lại phải quay đi 1800, từ mảnh đất thiên phủ mưa thuận gió hoà giàu có phì nhiêu lại đi tới Tây Tạng thần bí, băng tuyết đầy trời. Song, ông càng tin tưởng hơn một đội quân kỳ cựu vẫn luôn theo sát ông cho tới cả sau khi trở về xây dựng tập đoàn dã chiến 2. Ông hạ quyết tâm, ông ngửng cao đầu, ánh mắt ông nhìn thẳng vào Lưu, Đặng: “Tôi vẫn sẵn sàng để quân đoàn 18 làm nhiệm vụ tiến vào Tây Tạng” Lưu Bá Thừa đưa mắt thăm dò ý kiến của Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình quay sang hỏi Trương Quốc Hoa: “Anh cảm thấy đã chắc chắn chưa?” “Vấn đề không lớn”. Đặng Tiểu Bình liếc sang Lưu Bá Thừa, Lưu Bá Thừa cười và im lặng. Đặng Tiểu Bình biết cũng đồng tình, liền chỉ thị cho Trương Quốc Hoa: “Chúng tôi định như thế này: báo cáo ngay về Trung ương. Anh còn có khó khăn gì nữa không?” “Bây giờ thì tôi chưa nghĩ ra”. Lưu Bá Thừa dặn dò: “Có khó khăn thì phải nói. Cả tập đoàn dã chiến 2 sẽ ủng hộ viện trợ các anh”. Sau khi Trương Quốc Hoa đi ra, Lưu, Đặng điện gấp cho Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông cũng điện trả lời ngay: Hoàn toàn đồng ý với kế hoạch tiến quân vào Tây Tạng của các đồng chí Đặng, Lưu trong bức điện ngày 7-1. Hiện giờ Anh, Ấn và Pakixtan đều thừa nhận chúng ta, tiến quân vào Tây Tạng là có lợi. Theo thời gian tiến quân mà đồng chí Bành Đức Hoài nói là 4 tháng, từ trung tuần tháng 5 (bức điện trước tôi viết 3 tháng là viết nhầm) chỉ cần các đồng chí Lưu, Đặng, Hạ tăng cường đôn đốc Trương Quốc Hoa và quân đoàn 18, trong thời gian này tiến hành được rồi đấy... Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:00:04 pm Mỹ lợi dụng Liên Hợp Quốc can thiệp vào Tây Tạng Tháng 1-1950, Cục Tình báo Trung ương Mỹ cử tên gián điệp Laowei Tômát cùng với Sácsun, Đại Trát nhiếp chính Tây Tạng bí mật thương lượng thành lập một “Đoàn đại biểu thân thiện” phi pháp, dự định lần lượt đi Mỹ, Anh, Ấn Độ, Nêpan cầu viện, nghiễm nhiên tô vẽ cho Tây Tạng sớm trở thành dáng vẻ “một nước độc lập”. Để tăng cường sức mạnh tuyên truyền, Hợp chúng xã của Mỹ phát tin điện khắp thế giới: “Tây Tạng sắp cử đoàn sứ giả thân thiện lần lượt tới Anh, Mỹ, Ấn Độ, Nêpan và Bắc Kinh tuyên bố độc lập”. Ngày 20-1-1950 Tân Hoa xã đăng bài nói của người phát ngôn Bộ Ngoại giao của Chính phủ Trung ương, nghiêm chỉnh nêu rõ Tây Tạng là một sự thực thiêng liêng bất di bất dịch của lãnh thổ Trung Quốc, nói rõ Tây Tạng không có quyền cử riêng bất cứ một đoàn sứ giả nào, càng không có quyền tuyên bố cái gọi là “độc lập”. Khi đoàn đại biểu này cử trước nhân viên tới Giang Tư, do Bộ Ngoại giao Trung Quốc nêu kháng nghị: Anh Mỹ không thể không điện yêu cầu Chính phủ địa phương Tây Tạng rút đoàn đại biểu trở về. Đầu năm 1950, Mỹ định hợp tác với Anh, Ấn, hy vọng có thể cung cấp vũ khí cho Chính phủ địa phương Tây Tạng. Nhưng Ấn Độ đã độc lập tự chủ, nên do dự trong việc đóng vai làm phúc phải tội cho người khác như trước đây. Tháng 3, lãnh sự Mỹ tại Cancutta lần đầu tiên tiếp xúc với Sacaba nhân vật cấp cao Tây Tạng, do Mỹ cung cấp vũ khí, lập kế bí mật tàng trữ ở Sikkin, Nêpan và Butan sát gần Tây Tạng, để Tây Tạng thuận tiện sử dụng. Vì phía Mỹ ngại can thiệp, sợ can thiệp quá lộ liễu có thể làm bằng cớ cho Trung Quốc phản kháng, cho nên trước sau hy vọng nhờ bàn tay chính phủ Ấn Độ. Về điểm này có thể qua Quốc vụ khanh Aichixu, thế là ngày 29-4 trong chỉ lệnh Đại sứ thường trú tại Ấn Độ và nhân vật Tây Tạng vẫn thực thi chi tiết viện trợ quân sự. Đến ngày 18-6 sứ quán Mỹ báo cáo Quốc vụ viện, đại ý là mọi suy nghĩ cho quá trình quyết sách cần bao gồm nội dung sau: 1- Viện trợ quân sự cho Tây Tạng cần phải có khả năng chống cự thành công Trung cộng. 2- Đường vận chuyển khó khăn, về phương diện này phải xem xét thái độ của Chính phủ Ấn Độ. 3- Ảnh hưởng của sự việc có thể thúc đẩy Trung cộng tiến quân vào Tây Tạng và gây ra hậu quả ngược lại hay không? Nhưng không vì vậy mà bỏ qua ý định, sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Quốc vụ viện Mỹ tiếp tay với Cục Tình báo Trung ương, qua sứ quán Mỹ, nhiều lần thăm dò khả năng Chính phủ Ấn Độ thay đổi thái dộ nhưng vẫn không có được đầu mối mà tiến hành. Quân đoàn 18 động viên huấn luyện chỉnh đốn Tin tức đi Tây Tạng lan truyền, cán bộ chiến sĩ quân đoàn 18 vừa từ chiến đấu chuyển sang hòa bình tuy có nhiều suy nghĩ khác nhau, nhưng phần dông vẫn tỏ ra vui vẻ phục tùng. Trong khi họp hội nghị động viên, mọi người tò mò phát hiện thấy Trương Quốc Hoa bế một bé gái chưa đầy 3 tuổi ngồi ở trên. Bé gái là con đầu lòng của Trương Quốc Hoa. Tháng 6 năm 1946 Trương Quốc Hoa kết hôn với Phàn Cận Chân, 33 tuổi mới có con; được coi là viên ngọc trên tay. Cháu bé ngây thơ và đáng yêu, cũng rất bạo dạn, thấy cha đứng trên bục nói chuyện; cháu đầu đội mũ lưỡi trai, đứng dậy chào mọi người ở dưới, nghếch cái miệng nhỏ xíu nói: “Chào các chú, các cô, cháu xin hát một bài!” và cháu ê a cất tiếng. Mọi người ngồi dưới đều thích thú vỗ tay. Sau khi mọi người đã tề tựu, ông đưa con cho người ngồi bên, đứng dậy tiếp tục phát biểu: “Trước đây chúng ta hiệp đồng với đơn vị bạn giải phóng một tỉnh, tiêu diệt mấy vạn quân địch đã vui mừng phấn khởi, cảm thấy ghê gớm. Còn hiện nay tiến quân vào Tây Tạng quân đoàn 18 chúng ta là chính, không phải chỉ giải phóng một tỉnh, mà là giải phóng toàn Tây Tạng, đánh đuổi thế lực đế quốc ra khỏi Tây Tạng hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Chúng ta còn phải tới đây xây dựng Đảng, mở mang công tác Đảng, chúng ta không đáng tự hào sao?” Những chiến sĩ ở dưới ngồi im phăng phắc, lời nói của quân đoàn trưởng có sức động viên cổ vũ mạnh mẽ. “Ta coi vùng Tây Tạng là cằn cỗi, nhưng bọn đế quốc Anh không bao giờ xem là hoang vu, từ lâu chúng đã liều lĩnh lần mò vào Tây Tạng. Giờ đây đế quốc Mỹ cũng tích cực nhúng tay vào. Đối với đất nước của mình lẽ nào chúng ta lại không nhiệt tình bằng đế quốc?! Một tỉnh không vững, bốn tỉnh không yên, nếu Tây Tạng thật sự bị đế quốc chia cắt, biên cương tây nam của chúng ta sẽ lùi về tận sông Kim Sa, e rằng chúng ta ở Tứ Xuyên cũng không yên ổn!” Ở dưới có tiếng xôn xao, ai dám nói lý lẽ ấy là không đúng? Nhưng điều mà đại đa số đều lo lắng đó là gia đình vợ con mình. Trọng tâm bài nói của quân đoàn trưởng chuyển sang hướng khác, đánh trúng tâm lý mọi người: “Giải quyết vấn đề riêng tư cá nhân, người xưa có câu “Tự cổ người đẹp chuộng anh hùng, chúng ta đi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vĩ đại giải phóng Tây Tạng, có thể nói mọi người đều là anh hùng. Chỉ cần chúng ta chăm chỉ học tập, tích cực công tác, tinh thần thoải mái tiến vào Tây Tạng, tìm vợ không thành vấn đề; bất kỳ những cô gái ở nông thôn hay thành thị đều có thể yêu các chiến sĩ chúng ta. Có người đề xuất có thể kết hôn với con gái Tây Tạng được không? Mọi người đều hiểu rằng, đời nhà Đường cách đây hơn 1000 năm, đã có công chúa Văn Thành, công chúa Kim Thành kết duyên với các vua Tạng Tùng Tán Can Bố (Songzanganbu) và Xích Đức Tổ Tán (Chidezuzan). Ngày nay chúng ta tới Tây Tạng cũng có thể kết hôn với con gái Tây Tạng, mà những cô gái Tây Tạng đều rất cần cù và lương thiện, cũng rất xinh xẻo, vì điều kiện kết hôn, trước đây do hạn chế của chiến tranh, cần phải nghiêm một phút; sau một vài năm, nhà nước chúng ta thực hành chế độ tiền lương, điều kiện có thể rộng rãi, cho phép cán bộ đều có thể mang theo gia đình; chế độ hôn nhân của chiến sĩ theo chế độ nghĩa vụ quân sự, cũng rất dễ giải quyết”. Không biết ai là người khởi đầu mà cả hội trường đều vỗ tay, mỗi lúc một vang dội. Bao khuôn mặt trầm tư bỗng tươi tắn hẳn lên. Trương Quốc Hoa phải dang tay ra hiệu yên lặng, sắc mặt ông trở nên nghiêm túc: “Cần phải nhận thấy rằng, chúng ta tiến quân vào Tây Tạng lần này khác với cuộc trường chinh của Hồng quân; lúc ấy chúng ta thi hành di chuyển chiến lược, Tưởng Giới Thạch đem quân chặn phía trước, truy kích phía sau, máy bay đuổi trên không oanh tạc. Còn lần này được nhân dân cả nước ủng hộ, lại có nhân dân Liên Xô giúp đỡ, điều kiện ngày nay thuận lợi gấp trăm nghìn lần so với cuộc trường chinh ngày ấy, so với cuộc chiến tranh chống Nhật và chiến tranh giải phóng cũng ưu việt hơn; trang bị và cung ứng của chúng ta kể từ ngày xây dựng quân đội cũng hiện đại hơn. Có một số đồng chí lớn tuổi một chút ngại đi. Cho rằng trước ngực mình đã có vài ba tấm kỷ niệm chương vinh dự, muốn nằm dài trước những vinh quang ngơi nghỉ, không muốn tiến lên, như vậy thật không đúng. Cán bộ phải gương mẫu đi đầu, tư tưởng của mọi người đều phải thông suốt, phải vui vẻ ra đi tiến quân vào Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:00:55 pm PHẦN 3 PHẬT SỐNG CÁCH ĐẠT BỊ HÃM HẠI Đường vào Tây Tạng vất vả gian gian Bộ đội càng tiến vào sâu, vận chuyển và cung cấp càng khó khăn vất vả. Trên những con đường ngột ngạt của cao nguyên, đoàn người đi mãi đi mãi, có người bỗng ngã xuống và không bao giờ tỉnh lại. Có những con ngựa mắt vẫn mở, miệng và mũi cứ sùi bọt trắng đứng sừng sững bỗng đổ kềnh ra, trong khoảnh khắc không còn thở nữa. Đầu tháng 7, quân đoàn 18 đã tới Cam Tư một vùng tương đối giàu có. Tại một địa phương cách thành phố Cam Tư khoảng 35 km có chùa Bạch Lợi nổi tiếng gần xa, nằm giữa cánh rừng thông rậm rạp. Trương Quốc Hoa liền vào chùa bái kiến Phật sống Cách Đạt. Cách Đạt là một vị Phật sống yêu nước xuất thân từ nghèo khổ. Năm xưa trên đường trường chinh khi Hồng quân qua đây, vị Phật sống ấy đã làm Phó Chủ tịch Chính phủ Xô viết người Tạng, đã đặt quan hệ hữu nghị với Tổng tư lệnh Chu Đức. Nghe tin Trương Quốc Hoa tới, Phật sống Cách Đạt mặc bộ cà sa mới ra đón từ xa rồi mời bộ đội vào tận kinh đường, và cử ngay người đi chuẩn bị lương thảo. Vị Phật sống tự giới thiệu là anh em thân thiết của Chu Đức, nghe nói Trương Quốc Hoa khi tham gia trường chinh cũng đã qua đây, không khí càng sôi nổi, nói rất rõ ràng: “Các ông những người vô thần đã tới, nhưng tôi là người theo hữu thần luận, phải nhiệt tình đón tiếp các ông, ủng hộ các ông”. Trương Quốc Hoa ngước lên, thấy tấm “bản đồ chiến đấu của Bát lộ quân tại Sơn Tây” vẫn còn treo tọa giữa kinh đường. Cách Đạt còn lấy ra bản bố cáo và biểu ngữ của Hồng quân mà bao năm vẫn cất giấu trân trọng trong khám thờ Phật, nói lên cuộc sống dân chủ trong giai đoạn ấy, vừa nói vừa khóc: “Mao Chủ tịch không cho bộ đội tới, các dân tộc Tây Tạng chúng tôi sắp bị diệt chủng rồi”. Nói đoạn lấy áo cà sa lau nước mắt, chắp tay hướng về đông đọc kinh cầu khẩn. Trương Quốc Hoa nói với Phật sống Cách Đạt rằng, Chính phủ đã nhiều lần thông báo cho chính quyền Lạp Tát cử đại biểu về kinh đàm phán, nhưng họ không đếm xỉa tới phật sống Cách Đạt xin tự nguyện đi Lạp Tát khuyên giải. Cảnh ngộ của ba đoàn hoà giải Những người lãnh đạo của nước Trung Hoa mới trước sau như một kiên trì chờ đợi sự thức tỉnh của chính quyền Tây Tạng, hy vọng giải phóng mảnh đất cuối cùng của Đại lục Trung Quốc bằng phương thức đàm phán hoà bình. Vì vậy đã hết sức cố gắng về nhiều mặt. Ngay từ mùa xuân năm 1950, trên những con đường rừng núi khúc khuỷu quanh co, một đoàn người ngựa vẫn lần mò dò dẫm, được một vị pháp sư khoác áo cà sa đi giữa hộ vệ, ngồi trên lưng ngựa lắc lư tụng kinh cầu nguyện. Pháp sư Mật Ngộ nổi tiếng ấy dẫn đầu đoàn hòa giải. Khi khởi hành từ Thành Đô, đoàn khuyến hoà này gồm năm người, Mật Ngộ cùng với hai đồ đệ là Như Ý và Thắng Hưng; cùng với Giả Đề Thao, A-Vượng Gia Thế. Đoàn khuyến hòa đã liên hệ được với một nhóm thương nhân có ngựa cùng đi, tới Cam Tư phải vượt sông kim Sa, họ đều không có giấy tờ, không đi được, liền dựng lều chờ đợi bên bờ sông. Lúc này, đoàn khuyến hoà thứ hai do Phật sống Cách Đạt ở chùa Bạch Lợi Cam Tư dẫn đầu cũng tới đây. Cách Đạt có uy tín lớn ở Tây Khang, việc qua sông Kim Sa thuận lợi. Đoàn của pháp sư Mật Ngộ không đi được, đành nhìn sông nước than phiền. Đoàn khuyến hoà thứ 3 là đoàn Thanh Hải được tổ chức vào tháng 5-1950, do Phật sống Đương Tài anh trai của Đạt Lai dẫn đầu, còn Phật sống Hạ Nhật Thương Hô, Đồ Khắc Đồ ở Châu Hoàng Nam Thanh Hải và Phật sống Tiên Linh ở huyện Đại Thông làm đại biểu. Đoàn khuyến hoà Thanh Hải, tháng 7 chia làm 2 đồng khởi hành từ Tây Ninh và Nhân Đồng, đến tháng 8 gặp nhau tại Đại Hà Bác thuộc vùng lòng chảo Sài Đạt Mộc cùng vào Tây Tạng. Sau khi đến Đạt Na Khúc thì bị giam giữ, Trị Ngọc Nhuệ và bốn cán bộ người Hán bị quân Tạng giải về Sơn Nam giam lỏng. Trong các đoàn khuyến hoà trên đường vào Tạng, có ảnh hưởng lớn nhất là đoàn do Phật sống Cách Đạt ở chùa Bạch Lợi Cam Tư. Để Tây Tạng nhanh được hoà bình giải phóng, Phật sống Cách Đạt gửi điện cho Tổng Tư lệnh Chu Đức, yêu cầu tới Lạp Tát xúc tiến hoà đàm. Tổng tư lệnh điện trả lời, hoan nghênh nhiệt tình yêu nước của Phật sống Cách Đạt Ngày 10-7 Phật sống Cách Đạt với tư cách là Uỷ viên uỷ ban quân chính tây nam, phó Chủ tịch chính quyền nhân dân tỉnh Tây Khang xuất phát từ Cam Tư vào Tạng. Hôm ấy đông đảo quần chúng nhân dân địa phương tụ tập tiễn đưa, các cụ già còn đi theo hoan hô chúc tụng. Ngờ đâu tới Xương Đô, Phật sống Cách Đạt đã bị hãm hại! Nguyên do là, ngày 24-7 vừa tới Xương Đô; Phật sống Cách Đạt đã tiếp xúc rộng rãi với các tầng lớp nhân sĩ tăng ni, với sự nhận thức hiểu biết của bản thân mình đã giới thiệu là quân Giải phóng đóng tại Cam Tư rất tôn trọng quần chúng dân tộc Tây Tạng. Bọn phân biệt thân đế quốc ở Xương Đô vừa căm tức vừa sợ hãi. Đặc vụ đã bỏ thuốc độc vào nước uống của Phật sống Cách Đạt. Phật sống trúng độc, đau bụng, nhức đầu, nôn ra nước vàng, thổ huyết; ngày hôm sau 22-8 Cách Đạt đã viên tịch. Sau khi tắt thở toàn thân tím đen, thịt da nhũn mủn. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:01:49 pm Gián điệp sát hại Phật sống Cách Đạt Mùa xuân 1951 tại Trùng Khánh. Sương mù bao trùm lên núi Ca Nhạc, tùng bách xum xuê chen chúc quanh một biệt thự màu trắng, qua bức tường vây thấp thoáng những cột điện khi tỏ khi mờ, người lính bồng súng gác trước cổng tĩnh lặng qua qua lại lại. Ngôi biệt thự ấy chính là “Quách Bạch cung” nổi tiếng. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, đại biểu Mỹ Meilơ ký hiệp nghị với Đới Lạp Đạt, xây dựng một “Phòng hợp tác kỹ thuật đặc biệt Trung-Mỹ”. Sau này, Chính phủ Quốc Dân Đảng biến “Quách Bạch cung” và “Động Cặn bã” thành trại tập trung, bao nhiêu người cách mạng và nhân sĩ dân chủ đã hy sinh tại đó. Sau giải phóng, cơ quan công an Tây Nam lợi dụng địa thế cũng dùng làm đồn gác, bắt giữ hàng loạt tội phạm Quốc Dân Đảng, trong đó có Vương Lăng Cơ, Tằng Khuếch Tình, Từ Diễn Cử, Thẩm Tuý... Còn có một phạm nhân người nước ngoài, rất đáng chú ý, đó là Futơ trung tá lục quân hoàng gia Anh, một tên gián điệp; chính hắn can dự vào việc mưu sát Phật sống Cách Đạt Phó Chủ tịch chính quyền nhân dân tỉnh Tây Khang. Futơ vóc người cao to, tóc rậm mầu tro, râu cằm và ria mép tỉa tót khá cầu kỳ, năm ấy khoảng ngoài 30 tuổi. Hắn xuất thân từ một gia đình giàu sang có danh vọng, được giáo dục chu đáo, học chuyên ngành vô tuyến điện. Sau khi tốt nghiệp đại học, hắn không muốn quay trở lại sống kiểu gia đình cổ mà khát khao cái mới và ưa kích động, rồi đến một ngày đã gia nhập cơ quan tình báo, trở thành một quan chức ngành tình báo Hoàng gia. Đầu năm 1949, giông tố đỏ lan tràn đại lục châu Á, khói lửa ngút trời, nhiều điệp viên không muốn đi tới Viễn Đông, phương Đông xa xôi; khi Futơ còn đi học đã hết sức ngưỡng vọng, hiếu kỳ mạo hiểm càng thúc giục hắn muốn đi chu du một lần, thế là hắn chủ động xin lệnh ra đi. Sau khi tới Niuđêli, được bọn đầu sỏ tình báo Anh tại Ấn triệu kiến tán dương: “Cử một nhân viên đắc lực nhất của chúng ta tới Tây Tạng, là một nhu cầu lợi ích của nước Anh”. Hắn nói tiếp: “Chắc là ông đã rõ, mất đi chính quyền Quốc Dân Đảng được Mỹ ủng hộ, sự sụp đổ sắp diễn ra ngay trước mắt. Chúng ta không hứng thú gì đối với chính quyền xấu số này, điều cần quan tâm chỉ là sự quy thuộc của Tây Tạng, diện tích của nó lớn hơn nhiều quốc gia châu Âu”. “Trước khi tôi tới Niuđêli, có người đã lên lớp cho tôi như vậy”, Futơ tỏ ý không quan tâm. Tên điệp viên đầu sỏ nói: “Những tài liệu mà ông đọc đều là những thứ cũ rích cách đây 5 năm. Tây Tạng là một vùng tương đối phức tạp, những người cầm quyền ở đây chia làm mấy phái, hành động khác nhau. Song, chỉ cần họ thường xuyên xuất ra nguồn sản vật địa phương, thì nhà máy của nước Anh cũng đủ nguyên liệu, ý của tôi có thể tóm tắt trong một câu là, ông cần phải toàn tâm toàn lực giữ chốt tiền tiêu Tây Tạng”. “Tôi cần phải đi bao lâu?” Futơ nêu câu hỏi đầu tiên như vậy. “Thật khó nói, có thể là một năm, cũng có thể dài hơn”. “Tôi sẽ có thể được cung cấp những trang bị gì?” Futơ lại hỏi. “Điện đài, súng đạn, và có thêm hai báo vụ viên người Ấn biết tiếng Tạng”. Futơ nêu câu hỏi thứ 3: “Có hậu viện không?” “Nói chính xác là không có. Tây Tạng giao thông khó khăn, thường xuyên cử người đi là không làm được, không quân hoàng gia cũng không muốn hàng tháng cho máy bay vượt qua dãy Himalaia đầy nguy hiểm”. “Tôi muốn ký một bản hợp đồng, để cho nửa cuộc đời còn lại của tôi được bảo đảm!” Futơ suy nghĩ trong khoảnh khắc, rồi nêu yêu cầu như vậy. “Đương nhiên có thể tiếp nhận. Như thế này nhé, lương của ông một năm là 2 vạn bảng Anh, không kể các phụ cấp khác, thế nào, ông bằng lòng chứ?”. Đối phương cười. Sau nửa tháng, núp dưới danh nghĩa đại diện mậu dịch Futơ đi vào Tây Tạng, được Chính phủ Tây Tạng thân Anh đón tiếp như một vị thượng khách. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:02:22 pm Tại Lạp Tát Futơ không thay đổi kiểu trang phục, từ đầu tháng đến cuối tháng đều mặc thường phục, không một lần thắt ca vát lụa màu, hắn thường đi lại quanh vùng, còn phát kẹo sôcôla cho những trẻ con rách rưới ở đầu đường cuối phố, dần dà hắn được các thiện nam tín nữ bình luận ngợi khen, được bà con nơi đây xem là một con người tốt bụng. Dựa vào uy tín, hắn đi lại tự do khắp vùng Lạp Tát, thường xuyên kết nghĩa và hào phóng với “bạn bè mới”, đặc biệt là trong tầng lớp quan chức trung sơ cấp của chính quyền địa phương Tây Tạng, từ đây thu thập được rất nhiều tình hình bố phòng và nhu cầu của quân Tạng mọi nơi. Tại 1 căn phòng xây dựng bằng đá kiểu lô cốt ở Lạp Tát, hai tên báo vụ người Ấn đổi nhau thao tác máy thu phát, nhanh chóng truyền đi những tin tức tình báo cơ mật đã thu thập được. Tháng 4-1949, sau chiến dịch vượt sông của quân Giải phóng, Chính quyền Quốc Dân Đảng lung lay rệu rã, Chính quyền Tây Tạng cũng không ổn định, không ít gia đình quí tộc giàu có tính toán chạy sang Ấn Độ, bởi vì tập tục Ấn Độ cũng gần giống Tây Tạng. Nhưng, những nhân vật đầu sỏ trong Chính quyền Tây Tạng thì không muốn đi, để mất địa bàn, cũng có nghĩa là cây không có gốc, và đi đến đâu cũng không sống được. Thế là họ nghĩ tới Futơ coi hắn là một vị bồ tát cứu tinh, mời hắn vào tận cung Bố Đạt Lạp vàng son lộng lẫy. Ở đây, hắn đã mật đàm rất lâu với Đạt Trát nhiếp chính chủ trì sự vụ chính giáo của Tây Tạng, dự định một âm mưu ý đồ đen tối. Sau đó, bọn Quốc Dân Đảng đã rút chạy, bản “tuyên ngôn” của chính quyền Tây Tạng cũng được công bố, song không thể ngăn cản nổi sức mạnh đào núi lấp biển của quân Giải phóng nhân dân tiến thẳng vào hướng tây. Trời vào đông, cao nguyên Tây Tạng trắng xóa một màu, đơn vị bộ đội đi đầu quân Giải phóng đã đóng quân tại Cam Tư, chỉ còn cách dòng sông Kim Sa, sẵn sàng tiến vào Tây Tạng. Để tiếp cận quan sát tình hình Futơ đã rời khỏi Lạp Tát đi Xương Đô, thành phố phía đông Tạng, hắn như một con bạc, cuốn gói cả sứ mệnh và tiền đồ ra đi. Thành phố Xương Đô một vùng hỗn loạn, gia đình quí tộc nhà nhà chuyển dời lánh nạn, trên đường phố đã có nhiều xe ngựa vận hành, bắt đầu cuộc di tản đường dài. Bảy trung đoàn quân Tạng và dân binh đeo những khẩu súng trường cũ rích do Anh cấp phát đang tập hợp đội ngũ, chuẩn bị ra đi phòng thủ bờ sông Kim Sa; trong cơn hoảng loạn không biết ai đã nổ súng gây nên hỗn độn hoang mang, thế là bao nhiêu ngựa xe lạch cạch phóng ra cổng thành. Futơ chạy tới Phủ Tổng quản Xương Đô do chính quyền Tây Tạng thành lập. Sự thực hắn không thể tưởng tượng được bộ mặt ngôi nhà như thế nào: cửa, cột chăng đầy màng nhện, trong sân đầy rẫy phân chim, một góc tường đã sạt lở tự bao giờ, vài người lực lưỡng đang ngồi uống rượu hút thuốc dưới thềm, còn có mấy người nằm dài ngáy như kéo gỗ trên tấm bao tải. Lạp Lỗ Tổng quản đại nhân chợt nhìn thấy một người tây liền trợn tròn hai mắt, nói vẻ lịch sự: “Xin mời ngài ngồi, tôi có thể giúp gì ngài được đây?” Futơ nói: “Tôi muốn ở lại Xương Đô một thời gian. Tôi ở lại đây có một mối hàng”. Lạp Lỗ làm ra vẻ khổ não: “Ái chà, hiện giờ Xương Đô thật không an toàn, ngay đến bản thân tôi cũng rất lo ngại, rất sợ bị ám sát. Nhưng nói vậy thôi, chỉ cần ngài bỏ ra một khoản phí, thì vài anh bảo vệ vẫn có thể tìm được”. Futơ mỉm cười. Hắn rút tiền ra. Nhìn tờ bạc mới cứng, Lạp Lỗ cười híp mắt: “Ngài tuy là người nước ngoài nhưng từ nay chúng ta là anh em, dù có việc gì cứ lại tìm tới!” Trong đêm tối, sóng điện thần kỳ lan tỏa lên không trung. Futơ báo về Đêli: Quân Tạng đang bố phòng, tìm cách ngăn cản quân Giải phóng vượt sông Kim Sa, chính quyền Tây Tạng vẫn chưa có dấu hiệu tiếp xúc với Cộng sản, chí ít là trước mắt chưa thấy gì. Tiếp theo, là điện trả lời: tiếp tục quan sát tình huống. Xương Đô năm xưa đã có giáo sĩ nước ngoài tới truyền đạo do đó Futơ tới đây không làm cho ai kinh ngạc, thậm chí với danh nghĩa buôn bán, công khai xây dựng điện đài ngay tại Xương Đô cũng chẳng có ai tò mò. Thêm vào đó hắn nói tiếng Tạng khá thạo, vì thế hắn tìm hiểu được rất nhiều tư liệu tình báo về chính trị, quân sự, địa lý, văn nhân mà cục tình báo Anh cần tới. Mùa xuân 1950, chính quyền Tây Tạng cử một đoàn gọi là “sứ giả thân thiện” đi Bắc Kinh, Anh, Mỹ, Ấn Độ, Nêpan, bày tỏ nguyện vọng “độc lập”. Chính phủ Trung Quốc lập tức ra tuyên bố cực lực bác bỏ. Để chống lại thế lực nước ngoài can thiệp vào Hội chính Trung Quốc, Chính phủ Trung ương đề nghị Phật sống Cách Đạt một nhân sĩ tôn giáo cấp cao của dân tộc Tạng vào Tây Tạng, để tranh thủ đạt tới hiệp nghị hoà bình giải phóng Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:03:00 pm Hạ tuần tháng 7, Phật sống Cách Đạt cùng một đoàn tùy viên từ Cam Tư đến Xương Đô, và tiếp tục tiến về hướng tây. Sau khi nghỉ ngơi tại khách sạn, Phật sống Cách Đạt gặp Tổng quản Xương Đô Lạp Lỗ cùng quan chức địa phương liền trong mấy ngày; tuyên truyền kỹ lưỡng “cương lĩnh chung” của Hội nghị Chính trị hiệp thương đã thông qua, khuyên họ không nên coi quân Giải phóng là kẻ thù, song Lạp Lỗ và bọn họ vẫn bỏ ngoài tai. Phật sống Cách Đạt ở lại Xương Đô khoảng nửa tháng, công việc hoà đàm không có tiến triển, ông vô cùng sốt ruột. Ngày 03-8 Phật sống Cách Đạt định đánh điện tới Lạp Tát, trực tiếp hiệp thương với chính quyền Tây Tạng, và điện luôn cho một số bè bạn tại đó cùng thúc đẩy hoà đàm. Do vậy mà ông đích thân tới điện đài địa phương tại Xương Đô, trao đổi về việc đánh điện, ai ngờ đã tạo cho Futơ một cơ hội... Hôm ấy Futơ xuất đầu lộ diện với tư cách trưởng đài, ân cần tiếp đón Phật sống Cách Đạt... Sau khi hiểu ý Cách Đạt tới đây hắn mượn cớ sửa chữa máy phát, tạo thời cơ thông báo sự việc tới Lạp Lỗ và cấp trên tại Đêli. Tổng quản Lạp Lỗ vội tới nơi, bình tĩnh hỏi Cách Đạt: “Nghe nói ngài muốn đi Lạp Tát?” “Vâng, tôi được Chính phủ nhân dân Trung ương uỷ thác, đương nhiên phải đi Lạp Tát gặp các vị đại thần”. Phật sống trả lời. “Tôi xin nói rõ với ngài, bản thân Đạt Trát không muốn gặp ngài, bởi vì Cộng sản muốn tiêu diệt tôn giáo”. Lạp Lỗ ngang nhiên nói vậy. “Không đúng! Tôi biết Cộng .sản chủ trương khu dân tộc tự trị, bảo vệ tôn giáo tự do tín ngưỡng, tôn trọng phong tục tập quán của dân tộc thiểu số. Tôi đã gắn bó với họ”. Cách Đạt lần tràng hạt niệm Phật, không chút khoan nhượng. Lúc này, ở tầng dưới Futơ đã nhận được điện mật từ Niuđêli, chỉ thị cho hắn mượn cớ gây mâu thuẫn Hán - Tạng, thậm chí phát động xung đột vũ trang, sau đó mới có văn bản. Đọc xong điện văn, tình thế phức tạp khiến hắn phải lựa chọn: Nếu cho Cách Đạt chết ngay đầu đường, sẽ sinh ra ác chiến giữa quân Giải phóng và quân Tạng, chùa chiền nơi nơi bị phá hủy, quần chúng giáo đồ sẽ bạo loạn, quân đội nước ngoài đường hoàng tiến vào Tây Tạng. Yêu cầu “bảo hộ”, Futơ liền trở thành một nhân viên đặc công có chiến tích đặc biệt, và địa vị như diều gặp gió: nhưng nếu giết chết Cách Đạt thì còn một đoàn thị vệ kia bên cạnh Phật sống cũng chẳng phải dễ dàng đối phó nổi. Qua một hồi suy nghĩ cân nhắc căng thẳng, hắn quyết định sử dụng biện pháp giết người không dao, ám sát Cách Đạt. Futơ lôi chiếc va ly từ gầm giường ra, lấy một lọ thuốc in hai chữ “Kịch độc”. Đó là loại thuốc độc hoãn tính, uống sau một tuần mới kiến hiệu. Hắn tự tay pha một cốc trà đen thêm ba phần sữa và nhỏ vào một ít thuốc độc. Thủ đoạn của hắn thực hiện khi bưng khay vào phòng, hai thị vệ đi theo Phật sống không để ý tới hắn có gì khác thường. Phật sống Cách Đạt không còn muốn nghe Tổng quản Lạp Lỗ nói năng hồ đồ, chỉ ngồi trên đệm, đôi mắt lim dim, miệng thầm niệm Phật, hy vọng Bồ Tát khoan dung Lạp Lỗ. “Xin mời Phật sống dùng trà, có chuyện gì xin cứ thư thả”. Futơ đặt khay xuống, đặt cốc trà độc ngay trước mặt Cách Đạt còn hai cốc kia dành cho hắn và Lạp Lỗ. Cách Đạt mở mắt cám ơn, thị vệ bưng tới một thau nước để Phật sống rửa tay. “Mong Phật sống gặp tốt lành như ý”. Futơ nói vậy rồi nâng cốc cùng Lạp Lỗ uống vài hớp cạn chén. Phật sống Cách Đạt hít hít hương trà, thiếu sự đề phòng, nhắp từng hợp cạn cốc trà độc. Sau buổi chiều, giờ nghỉ ngơi Phật sống Cách Đạt thấy nhức đầu đau bụng, đành nghỉ tạm tại đây. Sau vài ngày Cách Đạt mặc dầu không dậy được nữa, nhưng vẫn không quên trọng trách của mình, nói với tùy viên của mình: “Đại quân với nhân dân Tạng là một gia đình, chúng ta phải giúp đỡ họ vào Tạng được thuận lợi”. Một tuần qua đi, Lạp Lỗ cho thầy thuốc riêng của hắn tới “chẩn đoán”, lại cấp thêm một liều thuốc. Phật sống uống thuốc xong thì không nói được nữa, sáng ngày 22-8 đã qua đời, mới 47 tuổi. Sau khi Cách Đạt chết, toàn thân tím, thất khiếu đều xuất huyết, vỡ nứt thịt da. Để thoái thác liên quan, Futơ và Lạp Lỗ nhanh chóng hỏa táng, đồng thời đưa các tùy viên về Lạp Tát “chủ trì siêu độ”; các nhân viên muốn về Cam Tư báo tang đều bị Lạp Lỗ giam lỏng tại Xương Đô. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:04:17 pm PHẦN 4 GIẢI PHÓNG XUƠNG ĐÔ Cuộc khiêu chiến mới Phật sống Cách Đạt bị hại làm cho nhân dân các dân tộc cực kỳ phẫn nộ. Sĩ quan binh lính quân đoàn 18 càng sục sôi căm giận, cùng giơ tay nguyền rủa quân Tạng cách đối bên sông. Tiếp theo lại một cuộc khiêu chiến nữa. Bộ đội của Trương Quốc Hoa tiến đến khu vực Trúc Khánh Khang Bắc, các chùa Lạt ma quanh vùng bỗng nổi chuông hồi, một đoàn người ngựa súng ống tụ tập theo một người mặc áo hồng bào đầu đội mũ lông cáo xông lên đỉnh núi, thổi kèn hiệu, tức thời một đoàn quần chúng Lạt ma không rõ từ đâu tới xả súng vào quân Giải phóng. Trương Quốc Hoa cho bộ đội ngừng tiến, dẫn phiên dịch tới nói chuyện với người ngăn đường đã ngừng nổ súng. Đến tối, đoàn người ấy lại cuồn cuộn xông tới. Trương Quốc Hoa tức điên người, ông chau mày: “Ta sẽ bắt tên cầm đầu kia!” Các chiến sĩ sau một lát đã bắt được tên chỉ huy mặc áo cà sa đỏ. Khi thẩm vấn, tên đầu sỏ ăn mặc kiểu Lạt ma cao cấp ấy lại là người Hán thân tín Trần Lập Phu. Hắn công nhận: mùa đông năm 1949 đã có một số người Mỹ và người Anh dưới sự bảo vệ của lực lượng vũ trang thường phục vượt bão tuyết, vượt sông Kim Sa. Họ đã lợi dụng tiếng chuông tiếng trống của chùa Lạt ma kích động quần chúng chặn đường Giải phóng quân vào Tạng. Ngày nay bọn phản động Tây Tạng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đế quốc, đã phát triển lực lượng từ 14 đại bản (nhỏ hơn Trung đoàn) lên tới 17 đại bản, vận chuyển từ ngoài vào một lượng lớn vũ khí, điện đài của Mỹ, mời sĩ quan huấn luyện, điều động huấn luyện quân Tạng các địa phương. Đồng thời ra lệnh chùa chiền tụng kinh thoá mạ quân Giải phóng. Không những đóng cửa hòa đàm, lại còn mưu đồ dùng sông Kim Sa làm đất hiểm, buộc quân đoàn 18 phải dừng bước tại đó. Tướng lĩnh quân đoàn 18 đều cho rằng, nếu không đánh thì khó mà tiến lên được. Căn cứ theo báo cáo của Trương Quốc Hoa, Cục tây nam thỉnh thị Trung ương thực thi chiến dịch Xương Đô. Sau ba ngày Mao Trạch Đông điện báo: Nước Anh vốn không cho phép đoàn đại biểu Tây Tạng về kinh, hiện đã cho phép. Nếu quân ta chiếm lĩnh Xương Đô trong tháng 10, có khả năng thúc đẩy đoàn đại biểu Tây Tạng về kinh đàm phán, giải quyết hòa bình (đương nhiên cũng có khả năng khác nữa)... sau khi chiếng lĩnh Bình Xương Đô, chỉ để lại đây 3000 quân qua mùa đông; mùa đông năm nay không vào Lạp Tát, mà rút chủ lực về Cam Tư; về phía Tây Tạng, có khả năng cảm thấy đây là một phương sách mà chúng ta tỏ rõ thiện chí với họ. Mao Trạch Đông còn hỏi han cặn kẽ tất cả mọi sự việc hữu quan: Các đồng chí gồm 16.000 người từ Cam Tư tiến vào Xương Đô, lương thực toàn dựa vào sức người và trâu bò vận chuyển, trong đó có 3000 người cần có lương ăn qua mùa đông, 13.000 quân chủ lực chuẩn bị rút về, chí ít cần có lương thực ba tháng trong thời gian vãng phản, bộ đội và trâu bò có đủ sức vận chuyển một lượng lớn như vậy không, vẫn phải xem xét báo cáo... Ngày 25 Quân uỷ Trung ương phê chuẩn kế hoạch chiến dịch Xương Đô, ngày 26 quân khu tây nam truyền “mệnh lệnh cơ bản chiến dịch Xương Đô”. Lưỡi gươm chính nghĩa, cái thần của chiến tranh sắp vạch ra tia lửa điện chói người. Ngày 28-8, Trương Quốc Hoa dẫn một đội quân chủ lực đầu tiên hơn 3800 người, mang theo trang thiết bị và lương thực của đội quân tiên phong xuất phát từ Tân Tân. Cuộc sống hành quân của họ hết sức giản đơn: một cốc nước sôi, vài thanh lương khô là xong một bữa. Một giấc ngủ ngay trên sườn đồi. Gặp chùa chiền không ngại khó khăn tìm vào thăm hỏi, gặp đồng bào Tạng, họ có thể chuyện trò bằng những câu vừa học được... Trên đường đi, bộ đội sĩ quan đói đến lả người, họ than thở với Trương Quốc Hoa. Không nỡ nhìn cấp dưới chịu đói, ông tuyên bố mỗi người mỗi ngày tăng thêm hai lạng lương thực. Nhưng Dư Thu Lý Bộ trưởng Hậu cần quân khu tây nam lại buồn, ông lấy đâu ra được hai lạng lương thực, bất đắc dĩ mọi người đành phải thắt lưng buộc bụng, ăn rút đi hai lạng. Khi tới Lạp Tát, đại quân chỉ còn đủ ăn ba ngày, Trương Quốc Hoa ngửa mặt lên trời than rằng: “Thảo nào thủ trưởng Lưu, Đặng đã nói người không ăn cơm sẽ chết đói, cái chân lý giản đơn ấy lại linh nghiệm như vậy?” Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:05:16 pm Tổng quản mới A Bái A Vượng Tấn Mỹ Xương Đô ở vào khu vực hội tụ của hai chi lưu lớn Trát Khúc và Ngan Khúc thuộc hạ lưu sông Lan Thương miền đông Tây Tạng, thời gian ấy cư dân có hơn 3000 người, trấn giữ nơi xung yếu của ba con đường Trung, Nam, Bắc đi vào Tây Tạng. Cát Hạ xây dựng phủ tổng quản ngay tại đây, chỉ huy 9 đại bản (trung đoàn) và hơn 8.000 người dân binh chiếm 2/3 tổng binh lực quân Tạng. Hơn 8000 được phân bố dọc theo phòng tuyến chính diện hơn 1000 dặm ven sông và khu vực tung thâm rộng hơn 700 dặm phụ cận Xương Đô. Khi quân Giải phóng tiến gần sát bờ đông sông Kim Sa, nguyên chuyên viên Tổng quản Xương Đô là Lạp Lỗ sắp hết nhiệm kỳ, Thượng thư Cát Hạ thỉnh cầu chuẩn cho về Lạp Tát. Theo lệ cũ, Tổng quản Xương Đô cần phải do một Cát Luân đương chức xuất nhiệm. Nhưng ba vị Cát Luân đang ở Lạp Tát không ai muốn đi nhiệm chức ở Xương Đô lúc này. Các quan văn võ càng sợ sệt hơn. Thế là Nhiếp chính Đạt Trát quyết định, phá vỡ định chế của nhà Thanh cho Tây Tạng thiết lập bốn vị Cát Luân, đề cử Tư bản (quan thẩm kế nhân sự) A Bái làm thêm ngạch Cát Luân, đi Xương Đô thay tiếp Lạp Lỗ. A Bái 42 tuổi thụ mệnh lâm nguy, hiên ngang nhậm chức mang theo ý vị bi tráng. Năm 1911 vua Thanh thoái vị, ở Giáp Mã Câu cách Lạp Tát về phía đông hơn 100 dặm, có một gia đình quí tộc sinh công tử, chính là A Vượng Tấn Mỹ. A Vượng Tấn Mỹ từ nhỏ đã thông minh hơn người. Ở vào tuổi trẻ con khác vẫn còn chơi bịt mắt bắt dê, thì A Vượng Tấn Mỹ đã được đi học tiếng Tạng tại một trường tư ở Lạp Tát. Năm 14 tuổi được nhận làm môn hạ của đại sư Phật học Hỉ Nhiên Gia Thế, học văn Pháp, thi học, lịch sử và triết học. Đại sư Hỷ Nhiên Gia Thế học vấn uyên bác, yêu cầu học sinh rất nghiêm khắc, đối với mọi người cương trực như cây thanh phong, nổi tiếng ở vùng Tạng. A Vượng Tấn Mỹ đi theo đại sư, đêm ngày chuông trống khổ học ba năm, lại nhận Phật sống Đại Thương phái hồng giáo khu vực Tam Nham vùng đất linh thiêng thần bí phía đông Tạng làm thầy, học tụng kinh niệm Phật, qua hai mùa nóng lạnh. Năm 20 tuổi trở về quê hương Giáp Mã Câu, đã nổi tiếng thông thuộc kinh luân. Giáp Mã Câu là một làng đồi núi có khoảng 140-150 hộ dân vừa trồng trọt vừa chăn nuôi. A Vượng Tấn Mỹ 20 tuổi thay mẹ quản lý điền trang gia đình. Ngoài giờ đọc sách thường cùng nông nô gặt hái, chăn nuôi. Hiện thực buồn thương khiến con người ấy sớm nẩy sinh tư tưởng dân chủ, ngày càng nhận thức rõ chế độ Tây Tạng cần phải cải cách ... Đối với sứ mệnh ấy, có người cho rằng lành ít dữ nhiều, thực tại chẳng phải là công việc dễ dàng, nhưng A Vượng Tấn Mỹ vẫn cứ thản nhiên, tiếp kiến nhiếp chính Đạt Trát, ngang nhiên trình bày ý kiến khiến cả triều đình đều kinh ngạc: “Quan trên đề cử tôi, uỷ nhiệm trọng trách, tôi nguyện thi hành nhưng hiện nay quân Giải phóng nhân dân đã tiến về hướng Xương Đô, có lẽ cũng sắp tới nơi. Chúng ta sớm muộn gì cũng phải tiếp xúc với quân Giải phóng, vẫn phải đàm phán. Xin quan trên trao quyền cho tôi, sau khi đi Xương Đô tôi tạm thời không nhận chức Tổng quản, mà trực tiếp đi tìm quân Giải phóng đàm phán. “Muốn tìm nguồn nước, phải lên núi tuyết. Tôi quyết đi về phía đông, tìm bằng được quân Giải phóng mới thôi”. Nhiếp chính Đạt Trát kinh hãi hồi lâu không nói, triều đình văn võ mặt mày tái xanh, mỗi người một cách suy nghĩ. Quan chức sau khi họp mở rộng, đệ đơn kiến nghị lên Cát Hạ, ủng hộ yêu cầu của A Bái. Đúng như luồng gió tháng 2 trên thảo nguyên tràn khắp đất Lạp Tát, nhưng gió mạnh hơn thì cuốn bụi mịt mù tạo nên dòng xoáy phản hồi trở lại. Trong kiến nghị thư của hội nghị quan chức mở rộng gửi Cát Hạ lại cho rằng, A Bái đã là Cát Luân đường hoàng, không nên quá dễ dãi đàm phán với quân Giải phóng. Hãy để cho Tư Bổn Hạ Cách Ba ở Ấn Độ tiếp xúc trước với cộng sản, chờ thời cơ chín muồi sẽ cho A Bái ra mặt đàm phán, Cát Hạ và Đạt Trát đã phê chuẩn thư kiến nghị của hội nghị quan chức mở rộng. Ngày 28-8 tới Xương Đô, A Bái hai vai nặng gánh phong trần quên rỗi nhọc nhằn, tự mình đi kiểm tra công việc phòng vệ ven sông, khảo sát dân tình, những tùy tùng và vệ sĩ thường thấy ông chau mày không nói năng gì. Sau một tuần ông điện cho Cát Hạ: “Vì thời thế hỗn độn, dân không chịu nổi số mệnh, vùng này có huyện chỉ 7-8 hộ dân còn bột cám ăn, đại bộ phận toàn ăn rau dại, hành khất từng đoàn, cảnh tượng thê lương”. Đứng trước sự việc Cát Hạ ra lệnh cho ông tấn công Ngọc Thu, ông kiến nghị “ngừng tấn công, hai bên Hán - Tạng tốt nhất là hoà bình giải quyết, nếu không được, cũng nên rút hết quân đội ra khỏi biên cảnh”. Đáng tiếc, Cát Hạ không tiếp thu ý kiến của ông. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:06:39 pm Mao Trạch Đông quan tâm tới động tĩnh ở Tây Tạng Về chiến dịch Xương Đô, Mao Trạch Đông đã có sẵn ý định, ông đã từng chỉ thị “tập trung binh lực ưu thế tuyệt đối bao vây kẻ địch từ bốn phía, cố gắng tiêu diệt toàn bộ không để lọt lưới”. Ông muốn tiêu diệt toàn bộ binh lực trong tình trạng quân Tạng tâm lý chưa chuẩn bị tốt, tránh sau này lại phải đánh du kích và tiêu hao lực lượng quân Tạng rải rác khắp nơi. Ông muốn làm cho Cát Hạ mất hết khả năng đề kháng. Ngày 31-8, Mao Trạch Đông phê chuẩn: “Mua 30 máy bay vận tải tầm cao, chi viện tiến quân Tây Tạng”. Hồi đó, nước Cộng hoà nhân dân mới ra đời được 10 tháng, Bành Đức Hoài dẫn đầu xuất quân sang chiến trường Triều Tiên đang chiến đấu khói lửa mịt mù bên sông Áp Lục. Nhưng, Mao Trạch Đông vẫn phải cắn răng giành 30 máy bay cấp cho bộ đội tiến quân vào Tây Tạng. Còn Tây Tạng trong con mắt của Mao Trạch Đông, đâu phải là chỉ 30 máy bay vận tải tầm cao đã có thể đảm đương được cả! Sau đó Thủ tướng Chu ân Lai lại phê chuẩn giành ra 200 xe vận tải zin-150 mua từ Liên Xô về chuyên dùng vào việc sửa chửa sân bay Cam Tư. Ngày 7-10, trung đoàn 154 sư đoàn 52 bộ đội cánh phải chấp hành nhiệm vụ bao vây yểm trợ vu hồi vượt sông Kim Sa, ngược dòng đi lên bắt đầu trèo đèo vượt suối. Do không khí trên cao nguyên mỏng loãng, ánh nắng chói chang phản chiếu lên băng tuyết làm lóa mờ đôi mắt của các chiến sĩ khiến cho có tới một nửa số người tạm thời không nhìn thấy gì, hai mắt sưng tấy nhức nhối khó chịu, mọi người đành nối những cuộn băng gạc lại thành từng chuỗi dây dài lần dắt nhau đi. Lội qua sông nước càng khó khăn hơn. Bao dãy núi bao suối khe chắn ngang đường tiến, dòng nước chảy xiết cuồn cuộn, những tảng băng như những mũi dao sắc nhọn xiên nát da thịt mọi người. Có những chiến sĩ chân đau chưa đỡ, lại thêm hành quân cấp tốc và khí hậu nghiệt ngã, đã hoại tử cả một bắp chân đành phải tháo khớp. Đói khát cũng uy hiếp cực kỳ nghiêm trọng, tất cả bộ đội đều bị đói khát dày vò, trung đoàn 154 đã ăn hết số lương thực được bổ sung từ Ngọc Thụ. Tại Trùng Khánh Trung ương cho sản xuất bánh bột trứng, dinh dưỡng cao thay thế lương khô, vì nhà tư bản giảm ngày công bớt nguyên liệu nên chất lượng giảm nhiều, theo chỉ tiêu qui định mỗi ngày 12 lạng thì đủ bổ sung năng lượng một ngày, nhưng phát đến tay chiến sĩ 12 lạng chỉ đủ ăn trong một bữa. Gạo được vận chuyển từ Tứ Xuyên tới vì đường đất khó khăn, mưa gió dầm dề, sớm bị mốc, men biến chất. Thiếu đói, đường dài lại trập trùng băng tuyết, cũng không có khoai dại rau rừng, có chiến sĩ đã ăn cả ruột bông trong áo rét, cả đất bột cho đến xương trâu, sừng bò đốt cháy thành than. Thương tâm nhất là những chiến mã, ngựa thồ hành quân theo bộ đội. Những “chiến hữu không biết nói” ấy giương mắt nhìn theo núi non vô tận ảm đạm mịt mù, có “chiến hữu” không còn đôi mắt nữa - vì băng tuyết đã chọc mù đôi mắt. Đói quá chúng đành “lấc cấc, lấc cấc” gặm nhai cả những cục băng. Đêm khuya những con ngựa đói gầy rét mướt chui đầu vào lán bộ đội, rúc mõm vào bụng chiến sĩ, tỉnh giấc, người chiến sĩ ấy đã bớt một phần ăn của mình cho ngựa, vuốt vuốt đầu những con ngựa ngã xuống dọc đường hành quân hàng trăm dặm, đã trở thành những cột mốc vô tình. Khi tới Xương Đô, chiến dịch kết thúc, hàng nghìn trâu ngựa, sống sót chẳng được là bao, những con người đói khát cồn cào ăn thịt những con vật chết đói chết rét, ngựa chết đổ xuống, người mổ ra ăn, ău cả máu cả thịt, ăn cả da, ngay xương ngựa cũng nướng thành than để ngốn vào bụng. Trên hàng nghìn cây số hành quân cấp tốc, Trung đoàn 154 và đội kỵ binh Thanh Hải có tới 1 phần 3 hoặc nhiều hơn nữa đã xa lìa đồng đội. Ngày 16-10, đoàn quân đi trước chỉ còn lại hơn trăm kỵ binh và hơn 100 bộ binh, họ chạy với tốc độ kinh người một ngày 170 dặm đến trước kẻ địch 4 giờ để chiếm lĩnh Ân Đạt, cắt đứt đường rút của quân Tạng ở Xương Đô về hướng tây. Tuyến phía nam 2 Trung đoàn quân Giải phóng tiến công Diêm Tỉnh, Ninh Tịnh, Bang Đạt, chặn đứng đường quân Tạng chạy về Sát Ngụng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:07:58 pm Quân Giải phóng đánh chiếm Xương Đô Thời điểm này Xương Đô đang trong tình trạng hỗn loạn. Tin quân Giải phóng vượt sông lan truyền khắp thành phố: binh lính, lạt ma, nhân dân tụ tập từng đoàn ven sông Ngan Khúc. Binh sĩ vác súng chạy tán loạn, không biết trốn đi đường nào. Ngày 12-10, từ Ninh Tịnh (huyện Mang Khang) phía nam Xương Đô đồn rằng đại bản doanh số 9 quân Tạng do Đức Cách dẫn đầu hơn 300 quân tuyên bố khởi nghĩa. Tinh thần quân Tạng hoang mang tan rã. Đêm 16-10, Tổng quản A Bái được tin quân Giải phóng đã đến sát Xương Đô, cả một vùng hậu phương Lâyuxi xuất hiện một đội quân người Hán khi ẩn khi hiện. Tổng quản từ lâu đã không muốn chống cự, ra lệnh: sớm mai bỏ thành rút về phía tây. Ngày 17, kho súng đạn cháy nổ rung chuyển đất trời Xương Đô. Sau đó, quan chức Chính phủ Tây Tạng, binh lính cùng bầu đoàn thê tử hốt hoảng dắt díu nhau theo đường núi phía tây chạy khỏi Xương Đô. Lính tráng tranh nhau chạy trốn, vì quân Giải phóng đã tràn khắp phố phường. Trong quá trình chiến dịch Xương Đô, quân Giải phóng chỉ gặp sự chống cự tại ba điểm ở Tiểu Ô Lạp và Cương Thác. Tại bến đò Cương Thác, tiến công vào đại bản doanh số 10 của quân Tạng là do cánh quân bên trái gồm tiểu đoàn công binh, tiểu đoàn trinh sát và pháo binh sư đoàn 52. Ngày 7-10, quân Giải phóng ở bờ đông sông Kim Sa bắt đầu vượt sang. Trong chốc lát trọng liên, pháo tầm gần đồng loạt nhả đạn vào quân Tạng bên kia sông; toàn trận địa như một biển lửa, quân Tạng nấp trong khe đá ngoan cố chống cự. Thuyền giấy dầu của quân Giải phóng chạy theo dòng thác, tiến sang bờ bên kia. Trên sông lưới lửa đan xen dầy đặc, có chiếc thuyền bị súng đạn và dòng chảy lật nhào; trong nháy mắt, thuyền và người bị nhấn chìm dưới đáy nước. Sau hai giờ, thuyền bị sóng nước đẩy xuống cuối dòng và cập bờ bên tây, quân Giải phóng vượt lên bờ đá sỏi lởm chởm, bắt đầu tiếp cận trận địa quân Tạng trước mặt. Đồng thời, pháo binh và hoả lực xối xả nã vào đội ngũ quân Tạng sau núi. Quân Giải phóng trên thuyền và hai bên bờ thét lớn, quân Tạng bỏ trận địa rút lui, tháo chạy về hướng tây... Với những sĩ quan binh lính quân Tạng bị thương, quân Giải phóng thu nhận và điều trị. Với bọn đầu hàng và thân nhân của họ, mỗi người được cấp 8 đồng để đi đường; cứ 3 người phát cho 1 ngựa. Sau khi lương thực được chuyển tới, quân Giải phóng còn cấp phát thêm để họ có tiền, có thức ăn và có ngựa vận chuyển trở về quê hương. Bọn nhân viên được phóng thích đều cảm ơn chính sách khoan hồng của quân Giải phóng, có tên đã cúi đầu rơi lệ, nói với cán bộ quân Giải phóng rằng: Giải phóng quân các ông là lính của Bồ Tát, là ân nhân cứu mạng, sau khi về quê hương, chúng tôi sẽ không bao giờ bán mình cho Cát Hạ nữa. Ngày 24 chiến dịch Xương Đô thắng lợi kết thúc cuộc chiến kéo dài 18 ngày. Qua hơn 20 trận chiến đấu lớn nhỏ, tiêu diệt toàn bộ tổng bộ quân Tạng cùng các đại bản doanh 3, 7, 8, 10 và phần lớn lực lượng của đại bản doanh 2, 4, 6; lại thêm đại bản số 9 khởi nghĩa, tổng cộng là hơn 5.700 tên chiếm 1/3 tổng số quân Tạng lúc ấy bị tiêu diệt. Trong đó còn bắt sống 18 tên quan chức văn võ ở các đại bản doanh, có cả 4 tên thuộc đặc vụ Anh-Ấn, thu 3 khẩu sơn pháo, 9 trọng liên, 48 tiểu liên, hơn 3.000 súng trường súng ngắn các loại và quân trang quân dụng khác. Chiến dịch Xương Đô thắng lợi, đúng như Lưu Thiếu Kỳ đã nói: “Là chiến dịch Hoài Hải giải phóng Tây Tạng”. Toàn bộ Tây Tạng được giải thoát khỏi sự đề kháng về tâm lý và hành động, chỉ còn một con đường, đó là đàm phán hoà bình. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:08:35 pm Đạt Lai lạt ma chấp chính Chiến dịch Xương Đô, đã giáng cho quân Tạng một đòn hủy diệt. Lúc này Mỹ không cam chịu thất bại ở Trung Quốc, âm mưu lợi dụng Liên Hợp Quốc can thiệp vào việc Trung Quốc giải phóng Tây Tạng. Chúng một mặt sai khiến “Đoàn đại biểu Tây Tạng” gửi “thư kêu gọi” Liên Hợp Quốc; mặt khác lại thúc giục đại biểu Chính phủ Xanvađo tại Liên Hợp Quốc ngày 15 tháng 11 đưa ra đại hội đồng một bản đề án can thiệp vào vấn đề Tây Tạng; vu khống hành động của Trung Quốc là “nước ngoài xâm lược, yêu cầu Đại hội đồng “thành lập Uỷ ban uỷ quyền nghiên cứu thảo luận từng bước thích đáng có thể thực hiện được về việc này của Đại hội đồng”. Ngày 1-11 năm ấy. Quốc vụ khanh Mỹ Aichinxun trong cuộc họp báo tại Oasinhtơn đã công khai vu khống nhân dân Trung Quốc giải phóng Tây Tạng lãnh thổ của mình là “xâm lược”, và nói bừa “Mỹ cho rằng đây là một sự kiện bất hạnh nhất, nghiêm trọng nhất”. Ngày 15-11, đại biểu Xanvađo tại Liên Hợp Quốc đưa ra đề án gọi là vấn đề “xâm nhập Tây Tạng” với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Laiin. Theo Thành Công Hồ “Trung ương xã” Quốc Dân Đảng đưa tin ngày 15, thì Thành Công Hồ cũng cho rằng đề án của Xanvađo là xuất phát từ Mỹ - “kẻ chủ mưu” Ngày 22-11, “nhân dân nhật báo” có bài bình: “Bài xích âm mưu của Mỹ đối với Tây Tạng”. Cuối cùng chính nghĩa buộc kẻ ngang ngược phải lùi bước - ngày 24-11 Uỷ ban Tổng vụ Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thảo luận quyết định: kéo dài thời hạn thẩm lý đề án này. Tình hình chiến sự Xương Đô truyền tới Lạp Tát, Cát Hạ vội vàng triệu tập đại hội quan chức trọng yếu và khám bố ba chùa lớn tham gia. Người tham dự phần lớn đều cúi đầu buồn bã, tỏ ý bất lực với quân Giải phóng. Quân Tạng thất bại hoàn toàn, đánh thì không đánh nổi, giảng hòa lại không cam tâm, cuối cùng thì đi theo cách nào? Mọi người dự họp tranh cãi om sòm mà không đề ra được một đối sách khả thi. Sắc mặt nhiếp chính Đạt Trát mỗi lúc một tái dần, cuối cùng đã phải than phiền, rồi quyết định mời Nãi Cùng, Cát Đông là hai vị thần hộ pháp chỉ lối đưa đường. Ở dưới chùa Triết Bạng phía tây Lạp Tát, có một ngôi chùa Nãi Cùng chuyên cung cấp thần hộ pháp. Đó là “đảo nhỏ diệu ngôn vĩnh hằng bất biến”, phụng thờ “Bộiagiáp bổ” thần hộ pháp chủ yếu của Tây Tạng. Còn Nãi Cùng Khúc quân tức là sứ giả của thần hộ pháp dự báo tương lai. Khúc quân ở chùa Cát Đông cũng là sứ giả như vậy. Hàng nghìn năm nay, Tây Tạng mỗi lần có quyết sách trọng đại, đều phải nhờ những thần vu dự đoán tương lai ấy chỉ giáo. Lần này tất nhiên càng cần họ dạy bảo. Trong không khí trang nghiêm thần bí, Khúc quân của hai chùa Nãi Cùng và Cát Đông được mới tới phật điện. Nãi Cùng Khúc quân mặc quần gấm hồng, trong ngoài 8 bộ y bào nặng dư trăm cân, chân đi giày da đen mũi cong, trước ngực đeo một tấm gương hộ dân bằng vàng xung quanh trang trí đá xanh. Một vòng tròn làm nổi bật khối thủy tinh màu tím, giữa khối thủy tinh tím là một viên bạc long lanh, trên có khắc chữ khẩn cầu thần bí. Nghi lễ bắt đầu. Khúc quân Nãi Cùng nhảy nhót một hồi, chỉ phán chung chung vài câu: phải thành tâm lễ bái, chăm chỉ đọc kinh, mới có thể bảo vệ dân an. “Thưa, bước sau nên hoà hay nên chiến ạ? Nên để ai nắm giữ đại quyền chính giáo toàn Tây Tạng?” Các quan chức ngồi chầu trong phật điện Đạt Lai khẩn thiết hỏi vậy. “Vẫn phải chăm chỉ đọc kinh, thành tâm lễ bái”. Khúc quân Nãi Cùng vẫn hàm hồ nói vậy. “Thưa Nãi Cùng tôn kính, vì đại nghiệp chính giáo Tây Tạng, xin ngài cho biết là chiến hay là hòa? Ai ra chấp chính đại quyền?” Các quan lớn đều nhớn nhác nhìn mặt Khúc quân Nãi Cùng. Khúc quân Nãi Cùng trán vã mồ hôi, lẩn tránh ánh mắt chằm chằm của mọi người, cuối cùng thừa nhận “hết thiêng rồi”. Xem ra, chỉ còn thỉnh giáo Cát Đông thần. Cát Đông thần uốn éo hồi lâu, nhân mọi người không chú ý định chuồn, bí thư trưởng Quần Bồi Thổ Đăng bước lên ngăn lại. Quần Bồi Thổ Đăng cảm động nói: “Lần này xin ngài chỉ giáo cho, công việc đại sự liên quan tới tồn vong của chính giáo Tây Tạng và sinh mệnh của chúng sinh, chúng con người trần mắt thịt khó quyết định được, thánh thần nhìn xa thấy rộng xin chỉ giáo cho, từ nay về sau nên làm thế nào mới được”. Khúc quân Cát Đông quay ngoắt người nhảy thót lên, rút kiếm bên hông đâm trái chém phải, Cát Luân vây quanh sợ hãi chạy dạt sang một bên, bỗng “Thần” lại nhảy tiếp cát bụi mù mịt. Cuối cùng, đột nhiên thần quì xuống trước mặt Đạt Lai Lạt ma, khóc thút thít nói: “Đạt Lai Lạt ma là trí tuệ là báu vật của toàn thể nhân dân Tây Tạng, chỉ cần người đích thân ra chấp chính, thì có thể mang lại nguồn hạnh phúc cho chúng sinh Tây Tạng”. Nhiếp chính Đạt Trát ngồi bên nghe vậy: mặt mày tái nhợt, tinh thần hoảng hốt. Ngày 8-10-1950 (lịch Tây Tạng) Đạt Lai Lạt ma làm lễ chấp chính. Vị Đạt Lai Lạt ma 17 tuổi ấy gánh vác trọng trách quản lý công việc chính giáo toàn Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:10:34 pm PHẦN 5 KÝ KẾT HIỆP NGHỊ HOÀ BÌNH GIẢI PHÓNG TÂY TẠNG Tín sử A Bái vội đi Lạp Tát Sau một trận đại chiến, dòng sông Kim Sa lại phẳng lặng như thường, dưới trời thu xanh thẳm, giống như một sợi dây trong suốt. Giờ phút này, A Bái đang ở trong cơ quan chỉ huy của quân Giải phóng tại Xương Đô, trước mắt ông có cái gì mờ ảo mênh mông. Ông sống một mình không có lính gác và người phục vụ ở tầng dưới một nhà lầu kiểu Tạng, không hề mặc quan phục nhung lụa, mà toàn thân là trang phục bằng lông thú màu đen kiểu Tây Tạng. Trong con mắt ông, kết cục như hôm nay, kỳ thực ngay từ khi gánh vác nhiệm vụ cũng đã dự cảm thấy rồi. Nếu không như vậy thì tại sao ngay từ đầu ba vị Cát Luân đương nhiệm tại Lạp Tát dù sống chết cũng không chịu đi. Nhưng khi dự cảm đã thật sự trở thành hiện thực rồi, ông vẫn còn cảm thấy rùng mình, đau khổ, hoảng hốt, miên man. Nghĩ tới vận mệnh Tây Tạng đầy băng giá dữ lành chưa rõ, lòng ông thấy nhức nhối bồn chồn. Thành phố Xương Đô sau cuộc chiến lại trở về tĩnh lặng. Đặc biệt là đêm khuya và sáng tinh mơ. Hơn một năm nay, thành phố nổi tiếng vùng Đông Tạng này đã chịu nhiều cảnh cùng quẫn huyên náo, suốt ngày đến đêm chấn động vang trời, bây giờ đây, tất cả đều tĩnh mịch. Sau những trận pháo kích kinh thiên, mọi âm hưởng hỗn tạp đều lùi về yên tĩnh. Sáng hôm thấy ông đi tới, Bình Thố Vượng Giới chàng trai Khang Ba 28 tuổi ấy tới đây sau khi Xương Đô giải phóng 13 ngày đã vui vẻ đón tiếp. Trước đây một năm trong cuộc xua đuổi người Hán, Cát Hạ xem anh là tội danh cũng bị trục xuất; con người ấy hôm nay đã trở thành đại quan của Cộng sản rồi, anh ta còn có thể găm một mũi tên báo thù để phục thù nữa chăng? Không thể không cảnh giác. Anh chàng Bình Thố Vượng Giới lúc này là Uỷ viên Uỷ ban quân chính Tây nam, Bộ trưởng dân vận quân đoàn 18, phó Bí thư công ủy Xương Đô; so với bước đường năm trước bị áp giải rời khởi Tây Tạng thật là một trời một vực. Người Khang Ba hung tợn hiếu chiến, ưa thích phục thù. Để phục thù, không quản gì đời con đời cháu. Bình Thố Vượng Giới nếu muốn phục thù đối với A Bái một nhân vật chính yếu của Cát Hạ thật chẳng khó khăn gì. Nhưng lần này, con người Khang Ba Bình Thố Vượng Giới thái độ khiêm nhường, anh mời Cát Luân A Bái từ phòng nhỏ tầng dưới đến ở lầu hai của nhà tầng đối diện. Trên tầng cao rộng sạch sẽ, cửa sổ sáng thoáng mát. Nhìn rõ gần xa non xanh nước biếc, khiến tâm hồn rộng mở thênh thang. Chẳng bao lâu, quan phục nhung lụa trước đây A Bái vẫn mặc lại được mang tới. Gần 40 võ quan các cấp đầu thú trong chiến dịch Xương Đô đều đã mặc những bộ quan phục của họ. Vương Kỳ Mai Phó Chính uỷ quân đoàn 18 và các tướng lĩnh khác của Giải phóng quân cũng thường tới thăm hỏi A Bái. Có một lần Vương Kỳ Mai trò chuyện với A Bái khá lâu, nói tới trận đụng độ hai bên lần ấy, súng đạn tàn khốc, đôi bên đều thương vong rất nhiều, bao nhiêu anh em Hán, Tạng đã ngã xuống chiến trường. chuyện trò mãi, Vương Kỳ Mai không cầm nổi nước mắt, giọng nói lạc đi. A Bái hiểu rõ hơn hoàn cảnh hiện nay của họ. Đối chiếu với những luận điệu hoang đường về quân Giải phóng của Cộng sản đã gieo rắc khắp vùng Tây Tạng như một đại dịch, A Bái càng cảm kích, làn khói hoài nghi đã tan dần đi trong tâm trí của mình. Trên tầng gác của A Bái suốt đêm điện sáng. Người lãnh đạo cộng sản ngồi với A Bái trò chuyện tới tận khuya. Không còn nhớ được đã bao nhiêu đêm, trên tầng lầu ấy ánh điện vẫn sáng như vậy. Những người lính gác chỉ nhớ được rằng, vào quãng nửa đêm, người cấp dưỡng vẫn còn bưng lên gác khay trà sữa và bữa ăn khuya. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:11:05 pm Hàng ngày ánh nắng ban mai soi những tia ấm áp dễ chịu vào trong phòng của tầng cao ấy. Khi thế lực chóp bu thân đế quốc ở Lạp Tát xúi giục Đạt Lai chạy ra nước ngoài, tình hình hỗn độn; A Bái cử các Tùy viên Kim Trung, Kiên Tán Bình Thố và Cát Chuẩn Lang Lâm từ Xương Đô đêm khuya cấp tốc đưa thư tới Lạp Tát. Họ tranh thủ thời gian ngày đêm lặn lội. Khi ngựa đã kiệt sức sợ không bảo đảm thời gian tới trạm, họ phải vác yên ngựa, chạy bộ đường dài. Hơn 2000 dặm họ chỉ đi trong 16 ngày đêm là tới nơi. Kim Trung và Tang Lâm đã chuyển thư của A Bái Tổng quản Xương Đô đệ trình Cát Luân tới Đạt Lai Lạt ma và Cát Hạ. Các Cát Luân vội vàng hỏi thăm tình hình Xương Đô, đường lối của Giải phóng quân và số lượng binh lính. Khi hai vị sứ giả báo là quân Giải phóng cách Xương Đô còn 3 ngày đường nữa ba vị Cát Luân đứng đầu tỏ ra kinh ngạc: “A chà chà. A chà chà.” và than rằng “Kẻ thù cứng rắn như gang thép, còn chúng ta thì mềm nát như tương”. Cát Luân Sách Khang hỏi han về tình hình gần đây của toàn thể quan quân ở Sở Tổng quản Xương Đô, rồi nói tiếp: “A Bái vất vả quá, chúng tôi không bao giờ trách móc ông ta. Quân đội chúng ta rất tồi tệ, sự thực không thể ra trận được. Giờ đây đành phải kiên trì chờ đợi, tình hình thế giới vẫn còn thay đổi”. Khi Xương Đô thất thủ Kim Trung và Tang Lâm chuyển tới Lạp Tát bức thư của A Bái A Vượng Tấn Mỹ và 40 quan chức khác cho Đạt Lai Lạt ma. Đây là một văn kiện rất quan trọng. Nó bẩm báo quá trình thất bại của cuộc chiến Xương Đô và mọi sự đãi ngộ tốt đẹp mà tất cả quan chức binh lính sau khi đầu thú được hưởng. Đoạn cuối như sau: Tại hạ cùng 40 quan chức văn võ của Chính phủ, đứng đầu là Cát Luân A Bái Tổng quản Xương Đô, 3 vị kham bố lớn nhỏ tại chức và các đại bản số 3, 8, 9,10 xin cúi đầu khấu bái, tam môn kiền thành bẩm báo: … Trước mắt là thời cơ để tiến hành hoà đàm Hán-Tạng. Cách làm cơ bản mà Chính phủ Cộng sản qui định là đoàn kết 5 dân tộc; các dân tộc lớn nhỏ tự lập Chính phủ tự trị, các nhân viên công tác được xác định theo số lượng nhiều ít của dân tộc và đa dạng dân tộc; dân tộc lớn tuyệt đối không được áp bức dân tộc nhỏ, đặc biệt là phải thực hiện chính sách đặc thù đối với Tây Tạng, trước hết là đại cứu chủ đoàn tri Phật vương Đạt Lai từ nay về sau vẫn chủ trì chính giáo. Cứu chủ nhiếp chính Phật sống và các quan chức tăng tục nhận chức như thường lệ; bảo vệ tôn giáo, chùa chiền và kinh đường; chế độ chính trị và quân sự hiện hành ở Tây Tạng đều không thay đổi; quân đội cải biên vào vũ trang Quốc phòng; giúp đỡ nhân dân Tây Tạng phát triển văn hóa giáo dục và nông mục, công thương nghiệp. Từ nay về sau, tất cả mọi chính sách biện pháp nhằm phát triển chính trị mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân khi cần cải cách đều phải hiệp thương với nhân dân và những người lãnh đạo chủ yếu, được quyết định theo nguyên tắc mọi người đều đồng ý; tôn trọng tôn giáo tín ngưỡng và phong tục tập quán địa phương, tất cả mọi quan hệ với hai nước Anh-Mỹ và Quốc Dân Đảng trước đây đều không bị truy cứu... Trước mắt nếu cuộc hòa đàm Hán-Tạng được tiến hành sớm, trong các điều khoản mà Chính phủ Hán nêu ra có điểm nào không thích hợp với tình hình Tây Tạng thì có thể nói rõ tường tận mọi khía cạnh lợi hại của nó, phía Chính phủ Cộng sản tuyệt nhiên không bảo lưu những biện pháp uy hiếp vũ lực, cưỡng bức kiềm chế, không được trình bày lợi hại, tất cả có thể bình tĩnh ôn hòa thương lượng quyết định. Tôi suy nghĩ kỹ càng xem xét cẩn thận, hoàn toàn không có cách nghĩ cách làm cưỡng bức, mệnh lệnh. Sự việc này bao gồm cả Chính phủ Cộng sản và 40 quan chức tăng tục văn võ tại hạ bảo đảm ...” 40 quan chức văn võ đứng đầu là Cát luân A Bái A Vượng Tấn Mỹ có thể nói đều là trọng thần tướng giỏi. Cuộc chiến Xương Đô, tất cả đều đã quy thuận theo quân Giải phóng và được xếp đặt thỏa đáng. Bản thân A Bái càng được coi như là thượng khách. Việc này khiến Cát Hạ hoàn toàn dao động. Suốt mấy ngày qua đầu đường cuối phố Lạp Tát đều bàn tán xôn xao sự kiện ấy. Xem ra những Giải phóng quân người Hán này, khác với quân đội Lưu Văn Huy Chủ tịch tỉnh Tây Khang của Quốc Dân Đảng, cũng không giống những binh lính của Triệu Nhĩ Phong Tổng đốc Thanh Xuyên Biên trước đây, càng khác với bọn lính Tây của Vinh Hách Bằng Anh quốc... Rốt cuộc họ là những con người như thế nào? Trong nội dung bức thư của A Bái có thật đáng tin cậy không? Kim Trung và Tang Lâm là hai sứ giả truyền tin tại Lạp Tát. Nhưng vì đường xa vất vả gian khổ khôn lường, họ chỉ muốn được nghỉ ngơi. Không ngờ, vài hôm sau, vào một buổi sáng sớm, hai vị sứ giả vừa tỉnh giấc, bỗng nhận được một tin kinh hãi: “Viên ngọc như ý” Đạt Lai Lạt ma đã ăn mặc thường phục cười ngựa ra đi ngay trong đêm tối, chạy đi Đông Á rồi! Theo Tạng lịch đó là ngày 11-11-1950. Đạt Lai Lạt ma sẽ từ Á Đông chạy sang Ấn Độ! Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:12:36 pm Đạt Lai Lạt ma dừng chân tại Á Đông Nguyên do là bức thư của A Bái và 40 quan chức làm những nhân vật cỡ lớn của Cát Hạ bán tín bán nghi, có người vừa tức vừa sợ. Họ cảm thấy rằng, nếu tiếp tục chiến đấu với quân Giải phóng, thì không có lực lượng: cử đại biểu hoà đàm chăng, lại chưa thật cam chịu. Thế là đặt quẻ bói toán ngay trước cửa thần, hỏi xem Đạt Lai Lạt ma nên ở lại Lạp Tát hay là đi sang Ấn Độ. Kết quả là rút được quả “ra đi”. Do đó, bèn bí mật vạch kế hoạch xuất ngoại. Cát Hạ báo tin cho Hạ Cách Ba quan thẩm kế đang ở Ấn Độ biết là Xương Đô đã thất thủ, đề nghị Đạt Lai ra nước ngoài, cho được trú tại đất tích. Sau vài ngày, Hạ Cánh Ba điện về. Về việc Đạt Lai ra đi, các nước Anh Mỹ nhận lời hỗ trợ, Ấn Độ sẽ đem quân tiếp ứng. Sáng sớm ngày 11-11 lịch Tây Tạng. Đạt Lai Lạt ma tạm thời ra lệnh Đại kham bố La Tang Trát Hỉ và Tư bổn Lễ Khang Oa làm Tư tài, thay thế chức vụ nhiếp chính, còn bản thân mặc thường phục rời khỏi cung Bố Đạt Lạp. Đạt Lai cưỡi một con ngựa tốt màu tro, dẫn theo 40 quan chức quí tộc và 200 lính Tạng, theo đường Hà Cốc Lạp Tát, đến Giang Thôn thuộc Khúc Thủy Tông thì vượt qua sông Nhã Lỗ Tạng Bố. Không ngờ sau khi qua Giang Tư tới Á Đông thì tình hình thế giới có thay đổi. Chính phủ Ấn Độ sợ áp lực quốc tế và cảnh cáo của Chính phủ Trung Quốc đã nuốt lời hứa; các nước Anh Mỹ lại sợ Đạt Lai sau khi xuất ngoại sẽ mất địa vị hiện có, Ban Thiền nắm giữ đại quyền Tây Tạng. Cho nên, khi Cát Hạ thỉnh cầu Chính phủ Ấn Độ đón tiếp Đạt Lai, Chính phủ Ấn đã trả lời như sau: Theo Công pháp quốc tế, Đạt Lai yêu cầu được an toàn tính mạng, Ấn Độ cho phép tị nạn, nhưng chỉ có thể được đối xử như nạn dân. Điện trả lời của Ấn Độ được chuyển đến tận tay quan chức Cát Hạ, tất cả đều xôn xao. Là nạn dân có nghĩa là sự nhục nhã nhưng trở về lại mất thời cơ, chuyến đi của Đạt Lai do đó đã rơi vào cảnh ngộ tiến thoái lưỡng nan. Đúng vào ngày Đạt Lai Lạt ma rời khỏi Lạp Tát, thì quân Giải phóng phát động truy kích Phổ Long Ba của đại bản số 7, lọt lưới trong chiến dịch Loại Ô. Phổ Long Ba sau khi chạy đến Lạc Long Tông dùng một bộ phận binh lực khống chế cầu Gia Dụ trên sông Nộ Giang, đồng thời thu thập hơn 200 quân Tạng bơi lội tan tác kêu gọi phải “phản công”. Để diệt trừ hậu họa, củng cố trận địa tiến lên, sư trưởng sư đoàn 52 hạ lệnh cho trung đoàn 154 tiêu diệt bọn địch này. Trung đoàn trưởng Khước Tấn Vũ dẫn một đại đội tăng cường, bôn tập 200 dặm, đến 18 giờ chiều ngày 11 đột nhiên xuất hiện ngay tại đầu cầu Gia Dụ, giành được cầu Gia Dụ đã bị phá hoại, vượt qua Nội Giang. Với sự hỗ trợ của đại diện tôn bản và nông mục địa phương, họ lại hành quân tiếp 180 dặm, sớm tinh mơ ngày 12 đã bao vây quân Tạng ở Lạc Long. Phổ Long Ba ở đại bản số 7 từ trong mơ vừa tỉnh lại thì bị bắt. Tết Nguyên đán năm 1951, uỷ ban giải phóng nhân dân Xương Đô được thành lập, quản lý 28 huyện (tông) của 2 phòng biện sự miền đông Tây Tạng, Chủ nhiệm là Vương Kỳ Mai, phó Chủ nhiệm và các Uỷ viên có A Bái A Vượng Tấn Mỹ, Bình Thố Vượng Giới, Phật sống Bạc Ba Lạp, Đức Cách Nữ sĩ tư giang vương bạch mẫu v.v... Đồng thời còn thành lập Uỷ ban công tác của nhân dân khu vực Xương Đô tranh thủ hòa bình Giải phóng Tây Tạng, Chủ nhiệm là A Bái A Vượng Tấn Mỹ. Bởi vì Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định chiến lược hoà bình giải phóng Tây Tạng, quân giải phóng đang chờ lệnh tại phụ cận Xương Đô, đợi sự lựa chọn của phía Đạt Lai. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:13:12 pm Chu Ân Lai với Hạ Cách Ba Từ đỉnh bên kia của nóc nhà thế giới cách xa với thành phố Xương Đô, tại Trát Ma Mang Bảo của cao nguyên A Lý, đại đội tiên phong của kỵ binh Tân Cương đã đi làm công tác quần chúng qua hơn một tháng. Họ phân phát chân dung Mao Trạch Đông và truyền đơn chữ Tạng, giúp đỡ nhân dân chăn nuôi, kiếm củi, gánh nước, chữa bệnh, thu nhặt phân trâu bò. Lúc này việc cung ứng cho đại đội tiên phong cực kỳ khó khăn, họ vẫn phải tiết kiệm quần áo lương thực, đem vải vóc, quần áo, lương ăn, đường sữa, chè thuốc đi cứu tế mục dân nghèo khổ. Dân Tạng đến với họ ngày càng đông hơn. Công tác quần chúng và đàm phán hoà bình của đại đội tiên phong đạt được thành công. Từ trong tập văn kiện lịch sử của Trung Quốc, có được bức điện gửi cho Mao Trạch Đông của Tài Đán Bằng Kiệt và Trát Tây Tài Nhượng đại biểu của khu vực Na Nhật Quá Lực Tùng Mộc ở A Lý: “Kính gửi Mao Trạch Đông Chính phủ nhân dânTrung ương. Kính thưa: Tướng quân Chính phủ nhân dân Trung ương Lý Địch Tam, người đã tới vùng Na Nhật Quá Lực Tùng Mộc, kết bạn với chúng tôi và tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ nhân dân Trung ương. Do vậy mà không dẫn đến chiến tranh, thực hiện hoà bình tốt đẹp. Lần này hai bang bảo chúng tôi đề nghị Phật sống Đạt Lai để Chính phủ Tây Tạng hiệp thương hoà bình với Chính phủ nhân dân Trung ương, nghe theo mệnh lệnh của Chính phủ nhân dân Trung ương... . Đáng tiếc là, trong những nhân vật cao cấp của Tây Tạng không phải đều như hai bang bảo ở A Lý thành thật muốn “làm dân trăm họ Chính phủ nhân dân Trung ương”, có một số người vẫn còn cố tình giương ngọn cờ “nước độc lập với Chính phủ nhân dân Trung ương”. Ngay từ tháng 4-1950, có một bức điện từ Cancútta Ấn Độ gửi tới “Ngài Mao Trạch Đông”, yêu cầu Chính phủ nhân dân Trung ương cử đại biểu “đi Hương Cảng thương thuyết”' một trong những người ký tên, đó là “Tư bổn Hạ Cách Ba”, sau hơn 20 năm con người ấy dùng cuốn “Lịch sử chính trị Tây Tạng” cổ động “Tây Tạng độc lập”, được một số người hưởng ứng. Sau 1 tháng 8 ngày, Tổng thư ký Chính phủ nhân dân Trung ương Lâm Bá Cừ đánh điện trả lời: “Đoàn đại biểu của các ngài là của Chính phủ địa phương Tây Tạng cử tới Chính phủ nhân dân Trung ương để thương thuyết về công việc địa phương Tây Tạng, không thể gọi là đoàn đại biểu ngoại giao của Tây Tạng cử đi Trung Quốc, địa điểm đàm phán phải là Bắc Kinh, không thể là Hương Cảng”. Ông Hạ Cánh Ba cùng bè phái của ông sau khi nhận được điện thì im lặng, lại thêm những người bạn mắt xanh ngăn cản, dần dà không thực hiện được. Ngày 2-8-1950, Thủ tướng Quốc vụ viện Chu Ân Lai điện cho Thân Kiện đại biện Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ chỉ thị phải kiên trì “phương châm của Chính phủ Trung ương đối với đoàn đại biểu Tây Tạng: Tây Tạng là 1 phần lãnh thổ của Trung Quốc, ta không thể thừa nhận đoàn đại biểu này là đại biểu Ngoại giao của Tây Tạng”. “Từ Ấn Độ qua Hương Cảng đi Bắc Kinh rất khó khăn, đề nghị cân nhắc nên chuyển về Tây Tạng đi qua tuyến đường trong nước như Thanh Hải, Tây Khang, Vân Nam tới Bắc Kinh”. Ngày 19-8-1950, Thủ tướng Chu Ân Lai lại gửi điện tới Thân Kiện đại biện Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ, truyền đạt tin tức quan trọng: “... Chính phủ Ấn Độ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng, và thông qua Đại sứ Ấn Độ tại Bắc Kinh biểu thị rõ Chính phủ Ấn Độ xưa nay chưa bao giờ có và cũng không có bất cứ dã tâm nào về chính trị hoặc lãnh thổ đối với Tây Tạng, đồng thời còn nói các nước khác cũng không được can thiệp vào Tây Tạng... Chính phủ Ấn Độ bày tỏ với Đại sứ quán Trung Quốc là họ rất muốn đoàn đại biểu Tây Tạng sớm tới Bắc Kinh, và nghe nói Chính phủ Anh đã huỷ bỏ quyết định không cấp chứng thực. Như vậy, đoàn đại biểu Tây Tạng có thể lên đường sớm hơn... với thái độ hết sức quan tâm và hữu hảo, các đồng chí giúp đỡ họ sớm thực hiện được chuyến đi, đồng thời đón tiếp trọng thể. Bức điện của Chu Ân Lai như một tia điện sáng rạch ngang bầu trời Tây Tạng mây mù, nếu như Hạ Cách Ba ra đi thuận lợi, cùng đàm phán với đại biểu Chính phủ nhân dân Trung ương tại Bắc Kinh, mặc dầu không thể thành công mỹ mãn như 5 đại biểu A Bái sau này; nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến tiến trình lịch sử tương lai. Nhưng, trong khi đoàn đại biểu Hạ Cách Ba dự định ngày 5-6 từ Cancútta đáp máy bay qua Hương Cảng tới Bắc Kinh đàm phán, thì người bạn nước Anh của họ đã tạm thời hủy bỏ thị thực, làm cho đoàn không thực hiện được chuyến đi. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:14:24 pm Đạt Lai thụ quyền cho đoàn đại biểu 5 người Đạt Lai Lạt ma đang trú ngụ tại “Chùa Đông Cát” Á Đông trên biên giới Ấn Độ, suốt ngày sống vất vưởng trong cảnh cùng quẫn tiến thoái lưỡng nan. Ngày 11-1-1951, Cát Hạt tại Á Đông triệu tập hội nghị quan chức. Đó là một hội nghị quan trọng của Chính phủ địa phương Tây Tạng. Trong một thị trấn nhỏ bé trên biên giới Himalaia, họ cân đi nhắc lại những sự thiệt hơn, gửi tới Đạt Lai Lạt ma một bản công văn, trong đó dẫn dụng câu nói của nhà ngoại giao Ấn Độ tại Niuđêli thủ đô Ấn Độ khi hội kiến đại biểu Tây Tạng: xem ra Chính phủ Tây Tạng thông qua đàm phán hoà bình là thượng sách... Những người “bạn Tây” của Cát Hạ Tây Tạng này hình như đều cùng có hai lời khuyên Cát Hạ, lại không hẹn mà cùng ra tay đẩy họ tới bàn đàm phán. Nhìn lại hơn một năm về trước, những người “bạn Tây” ấy đã ra sức cổ động Cát Hạ, xua đuổi người Hán; và không tiếc sức ủng hộ Cát Hạ ngoan cố chống cự tại sông Kim Sa; giờ đây Cát Hạ không thể không cảm thấy sự mất mát và cô độc. Ngày 18-1-1951 phái viên của Đạt Lai Lạt ma gửi tới Viên Trịnh Hiền Đại sứ Trung Quốc tại Niuđêli quà tặng và một bức thư. Trong thư nói: “Trước đây, trong thời gian còn nhỏ tôi chưa nắm quyền hành, quan hệ hữu hảo giữa Hán và Tạng luôn bị rạn nứt, thật đáng tiếc... Gần đây đã thông báo cho A Bái cùng tùy viên khẩn trương lên đường đi bắc Kinh. Song đường sá xa xôi, không dễ dàng đến kịp, để tranh thủ thời gian chúng tôi lại cử thêm người hỗ trợ A Bái qua Ấn Độ về Bắc kinh. Hiện giờ cử đi 2 sứ giả tin cậy là Trát Tát Sách Khang Tô Ba và Kham Trọng Khúc Phối Thổ Đẳng mang theo báo cáo tỉ mỉ của đoàn thể Cát Luân, hội đồng Tây Tạng cùng nhân dân, trình báo tới ngài, xin chuyển tới Mao Chủ tịch kính yêu những nguyện vọng tốt đẹp chân thành muốn tăng cường quan hệ hữu hảo Tạng-Hán. Mong sớm được phúc đáp, để tôi yên lòng. Xin gửi tặng 1 tấm khăn màu, 1 thảm đệm cao cấp”. Đồng thời, đại hội quan chức Tây Tạng cũng gửi thư cho Đại sứ Viên Trọng Hiền nội dung tương tự như trên. Vì lần này thái độ của Đạt Lai Lạt ma và hội nghị quan chức Tây Tạng rất thành khẩn, hành động cũng tích cực nên sớm nhận được hồi âm mãn nguyện. Chỉ có 13 ngày, Khúc Phối Thổ Đẳng và Trát Tát Sách Khang đi Niuđêli đã mang về thư trả lời của Đại sứ Viên Trọng Hiền gửi Đạt Lai Lạt ma và đại hội quan chức Tây Tạng. Trong thư của Đại sứ Viên bày tỏ “yên tâm vui mừng” khi nhận được thư và tặng phẩm của Đạt Lai Lạt ma và nói là “Mao Chủ tịch cho tôi được thay mặt người chúc mừng Đạt Lai chấp chính”, “Trung ương đồng ý và hoan nghênh việc cử thêm đại biểu qua Ấn Độ đáp máy bay tới Hương Cảng đến Quảng Châu rồi về Bắc Kinh. Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ sẽ tạo mọi thuận lợi và giúp đỡ chuyến đi này”. Bầu trời Himalaia “nhiều mây mát mẻ”. Gió xuân ấm áp bắt đầu thổi nhè nhẹ qua cao nguyên băng tuyết. Tại chùa Đông Cát Á Đông Đạt Lai Lạt ma gieo quẻ khấn cầu phật tổ, cuối cùng được phép cử một đoàn đại biểu 5 người đi Bắc Kinh tiến hành đàm phán. Đạt Lai Lạt ma phê chuẩn Cát Hạ cử A Bái A Vượng Tấn Mỹ dẫn đầu đoàn đại biểu, cử Kham Cùng (quan tứ phẩm) Thổ Đăng Liệt Môn, Đại Bổn Tang Pha Đăng Tăng Đốn Châu làm đại biểu: ba người đi đường nội địa về Bắc Kinh; cử Tổng tư lệnh quân Tạng tại Á Đông Khải Mặc Sách An Vượng Đôi và tăng quan bí thư trưởng Thổ Đan Đán Đạt làm đại biểu, từ Ấn Độ, ghi rõ họ tên chức vị 5 người trong đoàn đại biểu toàn quyền đàm phán của Tây Tạng. Trong đó có nội dung thừa nhận Tây Tạng là lãnh thổ của của Trung Quốc, có thể đáp ứng hàng năm biếu tặng Chính phủ Trung ương, ngoài ra không phải làm bất kỳ hình thức đáp ứng nào. Người đại diện ký kết của đoàn là Cát Luân Chính phủ địa phương Tây Tạng - Tổng quản quân chính Xương Đô- A Bái A Vượng Tấn Mỹ. Ngày 29-3-1951, A Vượng Tấn Mỹ dẫn đầu đoàn đại biểu lên đường đi Bắc Kinh. Hàng nghìn binh lính và nhân dân Xương Đô ra đường hoan tiễn. A Bái cổ quàng khăn trắng. Từ trên lưng ngựa, ông lưu luyến nhìn theo đồng bào ra tiễn, ung dung yên ngựa thong thả ra đi. Người đại biểu toàn quyền đứng đầu 42 tuổi ấy đôi khoé mắt rướm lệ long lanh. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:16:24 pm Chu Ân Lai, Chu Đức đón mừng khách quí Trùng Khánh thành phố núi sáng mùa xuân che phủ sương mù. Sáng sớm ngày 20-4 sương đã tan dần, một chiếc máy bay vút tận trời xanh, đưa A Bái vượt qua Tây An đi thủ đô Bắc Kinh. Chính phủ nhân dân Trung ương theo dõi chiếc chuyên cơ đang chở một sứ mệnh trọng đại. 12 giờ 15 phút trưa, máy bay hạ cánh xuống sân bay Tây An nạp tiên nhiên liệu. Lý Duy Hán Chủ nhiệm dân uỷ Trung ương thông báo qua điện thoại: Vì trời Bắc Kinh gió lớn, đề nghị đoàn đại biểu hòa đàm Tây Tạng chuyển sang xe lửa về Bắc Kinh. Uông Phong phó Chủ nhiệm dân uỷ Trung ương chờ sẵn ở đây, đã bố trí thật chu đáo để đại biểu Tây Tạng có nửa ngày thăm thành phố cổ kính này, tổ chức tiệc đêm thịnh soạn. Trong bữa tiệc, các đại biểu đoàn hoà đàm Tây Tạng không ngờ được gặp một người đó là đại sư Hỉ Nhiêu Gia Thố ở Thanh Hải, nguyên là thày dạy của A Bái hồi còn theo học, hiện giờ là Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân tỉnh Thanh Hải. Hỉ Nhiêu Gia Thố là đại sư Phật học nổi tiếng, lừng danh khắp vùng Tây Tạng và cả nước. A Bái được gặp thầy học của mình tại đây, vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Đại sư Hỉ Nhiêu là một Phật sống yêu nước, để khuyên giải chính quyền địa phương Tây Tạng sớm hòa đàm với Chính phủ nhân dân Trung ương, đã từng phát biểu bằng tiếng Tạng trên đài phát thanh. Do vậy Đại sư hết sức khen ngợi A Bái một người đệ tử đắc ý của mình đã dẫn đoàn đại biểu Trung Quốc về Bắc Kinh, tiến hành hòa đàm. Trong bữa tiệc Đại sư nói cười sôi nổi, động viên A Bái mọi người cũng cổ vũ A Bái. Hồi 11 giờ 35 phút dưới sự hướng dẫn của Mông Phong, A Bái và một số đại biểu Tây Tạng lên tàu rời Tây An. Chiều ngày 22-4-1951, trên thềm nhà khách tại ga Bắc Kinh hàng trăm quần chúng nhân dân tập trung đón khách. 19 giờ 10 phút, khi A Bái và các đại biểu Tây Tạng xuống tàu, trong khoảnh khắc các cháu nhi đồng với những bó hoa tươi thắm vây quanh đoàn đại biểu. Người dẫn các cháu tặng hoa, chính là Chu Ân Lai Thủ tướng Quốc vụ viện Chính phủ nhân dân Trung ương và Chu Đức Tổng Tư lệnh quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, cùng một số Bộ trưởng và chủ nhiệm các bộ ngành Trung Quốc. Thủ tướng nước cộng hoà mắt sáng như sao. Tổng tư lệnh quân Giải phóng uy nghiêm mà hoà nhã, đã siết chặt bàn tay từng đại biểu hòa đàm tới đây từ cao nguyên băng tuyết. Những tiếng cười cởi mở, những lời thăm hỏi thân tình, xua tan làn gió lạnh đêm xuân. Đoàn đại biểu A Bái vừa đặt chân lên mảnh đất Bắc Kinh mà đã cảm thấy hương vị của hoa xuân và ấm áp của trời xuân. Đoàn tàu như một con rồng lượn đang chuyển bánh trên đường Trường An dưới trời sao lấp lánh, các đại biểu Tây Tạng được đưa tới khách sạn Bắc Kinh mĩ lệ hào hoa. Tối 28-4, Thủ tướng Chu Ân Lai, Phó Chủ tịch Lý Tế Thâm, Phó Thủ tướng Trần Vân và Hoàng Viêm Bồi mở tiệc chiêu đãi các đại biểu hoà đàm Tây Tạng. Thủ tướng Chu Ân Lai trong bộ trang phục dạ màu ghi, nét mặt tươi cười cởi mở đón tiếp mọi người. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:17:12 pm Ký sự lịch sử Ngày 29-4, cuộc đàm phán phiên đầu tiên của Chính phủ nhân dân Trung ương và Chính phủ địa phương Tây Tạng được cử hành tại phòng giao tế của Uỷ ban quân quản Bắc Kinh. Đoàn đại biểu toàn quyền của Chính phủ nhân dân Trung ương gồm 4 người: đại biểu đứng đầu là Lý Duy Hán, còn các đại biểu khác là Trương Kinh Vũ, Trương Quốc Hoa và Tôn Chí Viễn. Lý Duy Hán là người cộng sản lâu năm, nổi tiếng trong ngoài nước, một chuyên gia về vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất và dân tộc của Đảng, có thời kỳ làm Bộ trưởng Mặt trận dân tộc thống nhất Trung ương kiêm Chủ nhiệm Ban dân tộc Trung ương. Trương Kinh Vũ là sư trưởng hồng quân thời kỳ tỉnh Cương Sơn, là Chủ nhiệm văn phòng Quân uỷ Trung ương sau ngày thành lập nước, đồng thời kiêm nhiệm Bộ trưởng - Bộ vũ trang nhân dân thuộc Quân uỷ Trung ương. Tướng trẻ Trương Quốc Hoa lúc ấy chưa tới Bắc Kinh, ngày 15-5 ông mới đến được. Tôn Chí Viễn là thư ký trưởng Uỷ ban quân chính Tây Nam, đeo cặp kính nhiều đi-ốp, trông ra dáng một giáo sư văn nhã Đại biểu Chính phủ địa phương Tây Tạng có 5 người: Đứng đầu là A Bái A Vượng Tấn Mỹ, và các đại biểu Khải Mặc Sách An Vượng Đôi Thổ Đam Đán Đạt, Thổ Đăng Liệt Môn, Tang Pha Đăng Tăng Đốn Châu. Ngoài A Bái ra, Khải Mặc Sách An Vượng Đôi là một nhân vật có thực lực nhất trong các đại biểu Tây Tạng. Ông là Tổng tư lệnh quân Tạng, nắm giữ binh quyền lại là chú của Cát Luân Sách Khang và thân cận với Đạt Lai ở Ấn Độ vừa tới. Cát Hạ truyền cho ông những phương pháp cơ mật, quyền uy của ông không dễ coi thường. Thổ Đam Đán Đạt là một tăng quan làm thư ký trưởng dịch thương, tính nết cương trực, có uy tín ở Tây Tạng. Thổ Đăng Liệt Môn là phó trưởng quan của nhiếp chính Trát Đạt, một nhân vật thuộc phái thực quyền; một số quan chức lớn của Cát Hạ gặp ông đều đón tiếp niềm nở, khúm núm nhún nhường. Tang Pha Đăng Tăng Đốn Châu, là công tử quí tộc, một trung đoàn trưởng đại bản 2 của quân Tạng. Ngoài ra còn có hai cán bộ cùng tham dự đàm phán, đó là Bình Thố Vượng Giới và Lạc Vu Hoằng. Lạc Vu Hoằng về sau làm Bộ trưởng Tuyên truyền công uỷ Tây Tạng. Bằng Triết cán bộ dân uỷ Trung ương làm công tác phiên dịch, vì ông ta nói ngữ âm Thanh Hải hơi nặng nên sau đó Bình Thố Vượng Giới cùng hỗ trợ phiên dịch. Không khí đàm phán buổi đầu thoải mái và suôn sẻ. Sau khi đôi bên xem xét giấy tờ xác nhận của nhau, chưa bàn vấn đề cụ thể, chỉ mới bàn trình tự, bước đi, Lý Duy Hán nói: “Chúng ta là một gia đình, mọi người thương lượng làm tốt công việc”. Trên bàn đàm phán được phân phát văn bản 10 điều kiện về đàm phán hoà bình của Chính phủ nhân dân Trung ương, tức là “công ước 10 điểm” của Cục Tây nam chế định cho bộ đội vào Tây Tạng để các đại biểu tham khảo. Đồng thời còn nghiên cứu vấn đề mời A Bái và Ban Thiền lên đài Chủ tịch Thiên An Môn dự lễ “1-5”. Cuối cùng trưởng đoàn A Bái đề xuất, quân Giải phóng ở Hắc Hà, Tân Cương đều đang tiến quân, Đạt Lai có thể không ở lại Tây Tạng đã trở thành vấn đề. Mong muốn quân Giải phóng tạm ngừng, nên dùng danh nghĩa đoàn đại biểu điện báo cho Đạt Lai, đề nghị không nên đi Ấn Độ. Trưởng đoàn Lý Duy Hán đồng ý thỉnh thị Trung ương. Chiều ngày 2-5 tiếp tục đàm phán. Đại biểu Chính phủ nhân dân Trung ương và Chính phủ địa phương Tây Tạng kiên trì nỗ lực để tìm ra một điểm chung. Đại biểu Tây Tạng tỏ ý tiếp nhận 10 điều kiện hòa đàm của Trung ương, nhưng cho rằng vấn đề tiến quân là tiêu điểm. Bởi vì Chính phủ Cát Hạ đã từng nêu ra mà không được đáp ứng, cho nên điều kiện này không thể tiếp thu. Lý Duy Hán chỉ rõ: Tiến quân vào Tây Tạng là phương châm đã định của Trung ương, Chính phủ nhân dân Trung ương giúp đỡ dân tộc thiểu số giải phóng Tây Tạng, tránh được sự xâm lược của đế quốc, Tây Tạng là trận địa tiền tiêu bảo vệ Tây nam của Tổ quốc, càng đòi hỏi quân đội bảo vệ quốc phòng mạnh mẽ. Trong hai ngày tạm nghỉ, các đại biểu Chính phủ Trung ương và cán bộ công tác thận trọng kiên nhẫn giới thiệu tôn chỉ của quân Giải phóng và tác phong đáng quý của họ, đồng thời đưa ra những văn kiện lịch sử thời nhà Thanh để chứng minh Trung ương có quyền đưa quân đội vào Tây Tạng, và đã sớm thành tiền lệ. Giải thích rõ việc củng cố quốc phòng là nhiệm vụ chung của các dân tộc trong cả nước, hy vọng các đại biểu Tây Tạng từ bỏ mọi nỗi băn khoăn, tích cực hỗ trợ vấn đề tiến quân vào Tây Tạng sớm đạt tới hiệp nghị. Trưởng đoàn Tây Tạng A Bái trải qua trăn trở suy nghĩ, trước hết tiếp thu ý kiến của đại biểu Chính phủ nhân dân Trung ương, ông khuyên giải các đại biểu khác cũng dần dần tiếp thu ý kiến đó. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2008, 11:17:40 pm Ngày 7-5, hội đàm tiếp lần thứ 3, đại biểu đôi bên cùng xác định phương châm tiến quân vào Tây Tạng, hoà bình giải phóng Tây Tạng. Tiếp tục đi sâu vào đàm phán hòa bình, mọi vấn đề khó khăn lần lượt được giải quyết, đại biểu hoà đàm Trung ương một lần nữa nêu vấn đề duy trì địa vị vốn có và quyền chức của Ban Thiền vào chương trình nghị sự. Nhưng đại biểu hòa đàm Tây Tạng cho rằng lần này là bàn bạc sự việc để giải phóng bằng hòa bình chứ không phải là vấn đề Ban Thiền: mà Chính phủ hợp pháp Cát Hạ của Ban Thiền vẫn còn chưa được thừa nhận. Lý Duy Hán đại biểu Chính phủ Trung ương đưa ra bản sắc phong của Lý Tông Nhân quyền Tổng thống Chính phủ nhân dân Trung ương Quốc Dân Đảng cấp cho Ban Thiền đời thứ 10, có cả một số ảnh chụp Ban Thiền làm lễ tại chùa Tháp Nhĩ ở Thanh Hải. Cuối cùng Đại biểu Tây Tạng đã công nhận địa vị hợp pháp của Ban Thiền. Đã thừa nhận đại sư Ban Thiền, thì phải khôi phục địa vị vốn có và chức quyền của Ban Thiền, và tất nhiên phải pháp định hóa điều này trong “Hiệp nghị”. Đại biểu hoà đàm Tây Tạng tỏ ý cần phải gửi điện thỉnh thị Đạt Lai Lạt ma tại Á Đông. Mãi đến ngày 28-5, đoàn đại biểu hoà đàm mới nhận được điện trả lời của Đạt Lai, bày tỏ hoàn toàn đồng ý vấn đề Ban Thiền được đưa vào hiệp nghị. Đến đây gánh nặng đè trên vai mỗi thành viên cửa đoàn đại biểu mới được trút bỏ. Hơn 20 ngày đêm, Chu Ân Lai chăm chú theo dõi toàn bộ tiến triển của cuộc đàm phán hoà bình. Người lắng nghe từng chi tiết cụ thể của báo cáo, tự bản thân bố trí hoạt động tham quan của đoàn đại biểu hoà đàm Tây Tạng, dặn dò phải dịch thật tốt văn bản hiệp nghị bằng tiếng Tạng... Sóng gió Trường Giang và Hoàng Hà ghi tạc mãi trang sử giải phóng Tây Tạng Trung Quốc. Ngày 23-5-1951 4 giờ chiều tại Hoài Nhân Đường Trung Nam Hải đã cử hành lễ ký kết “Hiệp nghị về biện pháp hòa bình giải phóng Tây Tạng”. Chu Đức, Lý Tế Thâm, Trần Vân, những người chủ trì lễ ký đứng nghiêm trang dưới lá quốc kỳ 5 sao cỡ lớn, đứng bên trái là Lý Duy Hán cùng 4 đại biểu của đoàn hòa đàm Trung ương. Ngồi ký tên trước bàn dài là A Bái A Vượng Tấn Mỹ cùng 5 đại biểu hoà đàm Tây Tạng. Họ dùng cây bút tre riêng biệt để viết chữ Tạng. Tối 24-5, để chào mừng hiệp nghị được ký kết, Chủ tịch Mao Trạch Đông mở tiệc chiêu đãi, có mặt trong bữa tiệc có đại sư Ban Thiền và các thành viên đi theo; 5 đại biểu toàn quyền trong đoàn Chính phủ địa phương Tây Tạng cùng các tuỳ viên; 4 đại biểu toàn quyền của đoàn chính phủ nhân dân Trung ương và các nhân vật hữu quan. Nhận lời mời tới dự còn có Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Lý Tế Thâm; Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Đổng Tất Vũ Trần Vân, Quách Mạt Nhược, Hoàng Viêm Bồi, và hơn 180 nhân sĩ có tiếng tăm của các ngành giới thủ đô Bắc Kinh. Trong không khí vui mừng náo nhiệt, Mao Trạch Đông, Ban Thiền và A Bái đều phát biểu ý kiến. Mao Trạch Đông nói rất nhiệt tình, người nhấn mạnh phải tăng cường đoàn kết. Người nói “Mấy trăm năm nay, các dân tộc Trung Quốc không được đoàn kết, nội bộ dân tộc Tạng cũng không đoàn kết, đó chính là kết quả sự thống trị của Chính phủ Mãn Thanh và Chính phủ Tưởng Giới Thạch, cùng là kết quả gây chia rẽ của bọn đế quốc. Giờ đây, lực lượng do Đạt Lai Lạt ma lãnh đạo, lực lượng do Ban Thiền lãnh đạo cùng với Chính phủ nhân dân Trung ương đã đoàn kết lại ... từ nay về sau trên cơ sở đoàn kết ấy, giữa các dân tộc chúng ta, trên tất cả mọi mặt, về chính trị kinh tế, văn hóa sẽ được phát triển và tiến bộ. Ngày 28-5, “Nhân dân nhật báo” đăng toàn văn hiệp nghị bằng hai thứ tiếng Hán-Tạng, có xã luận và thông báo quá trình đàm phán. Trên đất nước Trung Quốc bao la, tại nhiều địa phương quần chúng nhân dân tổ chức mít tinh diễu hành, nhiệt liệt chúc mừng Đại lục của Tổ quốc được hoàn toàn giải phóng. Đại sư Ban Thiền cũng ra tuyên bố ủng hộ “17 điều hiệp nghị”. Sáng ngày 13-7-1951, tại cửa hang San Nai Tui La vùng biên giới cách Á Đông nửa ngày đường, xuất hiện một đoàn người quần áo đủ màu. Đi đầu là một trung niên dáng mảnh mai trong trang phục màu tro. Con người ấy, xuất phát từ Bắc Kinh, bay qua Hương Cảng, Sinhgapo, Niuđêli đi suốt đêm ngày tức tốc tới đây, đó là Tướng quân Trương Kinh Vũ đại biểu toàn quyền của Chính phủ nhân dân Trung ương thường trú tại Tây Tạng. Ông cầm thư tay của Chủ tịch Mao Trạch Đông gửi tới Đạt Lai Lạt ma. Với những lời khuyên thiết tha của tướng Trương Kinh Vũ, đồng thời được sự chỉ lối của Hộ thần Cát Tường Thiên Nữ, Đạt Lai Đan Tăng Gia Thố thứ 14 đã lên đường trở về Lạp Tát vào ngày 21-7. Sau khi hiệp nghị được ký kết, tuân theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, quân Giải phóng nhân dân chia làm 4 đường thẳng tiến vào Tây Tạng. Ngày 12-10-1951, lần lượt tới thành cổ Lạp Tát và các vùng trọng điểm Giang Tư, Nhật Khách Tắc, Á Đông, A Lý, cờ đỏ 5 sao được cắm trên đỉnh dãy Himalaia. Từ đây Đại lục Trung Quốc hoàn toàn giải phóng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:37:47 pm PHẦN 6 NGUỒN LỬA ÁC TÀ Bọn quyền quí phản động chống đối chấp hành hiệp nghị. 4 giờ chiều ngày 23-5-1951, tại Hoài Nhân Đường Trung Nam Hải đã cử hành lễ ký kết “Hiệp nghị về biện pháp hoà bình giải phóng Tây Tạng”. Lễ ký kết vừa kết thúc tốt đẹp, có tiếng nổ giòn vang dội: “ùng ùng..”. đã có một bức điện do Chính phủ nhân dân Trung ương phát thông báo tin vui Á Đông miền tây Trung Quốc nơi giáp gianh giữa Tây Tạng và Ấn Độ xa xôi, bay tới chùa Đông Cát nơi có một vị Đạt Lai Lạt ma 18 tuổi. Sáng hôm sau, khi ánh nắng mặt trời tỏa sáng không gian, điện báo tin vui của A Bái A Vượng Tấn Mỹ từ Ấn Độ truyền về. Đạt Lai Lạt ma vừa nhận được điện liền triệu tập hội nghị toàn thể thành viên “Cát Hạ Á Đông” bàn bạc nghiên cứu chấp hành hiệp nghị. Đạt Lai Lạt ma vừa công bố bản tin ký kết “Hiệp nghị”, thì Tư Bổn Láng Sắc Lâm Ban Giác Tấn Mỹ liền đứng dậy phát biểu đầu tiên, ông nói: “Hiệp nghị được ký kết, sau đây cảnh ngộ của Cát Hạ chắc chắn rất khó khăn, mọi việc nhất nhất đều phải nghe theo Chính phủ Trung ương, tương lai Phật giáo Tây Tạng ắt sẽ bị tổn thất nặng nề, ký hiệp nghị này là sai lầm, không thể chấp hành được”. Tiếp đó, một số quan chức đứng đầu có Xích Giang Lạc Tạng Ích Tây, Sách Khang Vượng Thanh Cách Lan, Bạc Lạp Thổ Đăng Vi Đăng và Lạc Tang Tam Đán liền lên tiếng phụ hoạ, ủng hộ quan điểm của Láng Sắc Lâm Ban Giác Tấn Mỹ, kiên quyết phản đồi chấp hành hiệp nghị, đòi đệ đơn yêu cầu Đạt Lai chạy sang Ấn Độ. Trọng Dịch Khâm Ba Quần Bồi Thổ Đăng liền đứng dậy nói: “Hiệp nghị này rất hay, nó hoàn toàn thích hợp với yêu cầu phát triển tôn giáo và chính trị của Tây Tạng, nó thể hiện tập trung đúng hướng nhân dân của quảng đại dân chúng tăng tục; các đại biểu hoà đàm mà chúng ta cử đi đều là những người có uy tín trong Cát Hạ, hoàn toàn không phải vì một cốc rượu, mà đem đại quyền chính giáo Tây Tạng làm hàng hóa trao đổi. Vì vậy, hiệp nghị 17 điều được ký kết rồi, chúng ta nên chấp hành vô điều kiện; càng không nên đề nghị Đạt Lai chạy trốn; làm như vậy là phỉ báng Tây Tạng, phỉ báng Đạt Lai Lạt ma, là phỉ báng tôn giáo Tây Tạng”. Tắc Hiệp Tuyết Khang Đốn Chu Đa Cát thì kiên quyết ủng hộ ý kiến của Quần Bồi Thổ Đăng. Tắc Hiệp Tuyết Khang Đốn Chu nói: “Sự phát triển tôn giáo Tây Tạng nên dựa vào đại gia đình nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, không thể dựa vào nước ngoài, chuyện xa không nói chuyện xưa không nói, hãy lấy chuyện gần mà nói nhé. Tư Bổn Hạ Cát Ba vẫn nói, chúng ta sang Ấn Độ sẽ được đón tiếp nhiệt tình như thế nào, vậy mà, nay chúng ta đến cửa ngõ Ấn Độ đã phải đứng ngây ra bao lâu ở đó, tại sao không nhìn thấy hành động của họ. Dựa vào người nước ngoài giúp đỡ phát triển tôn giáo là không dựa được, trong lịch sử đã có nhiều bài học kinh nghiệm. Ý của tôi là kiên quyết chấp hành quyết nghị, dựa vào Tổ quốc của mình để phát triển tôn giáo. Tôi kiến nghị ngay lập tức đệ trình Đạt Lai Lạt ma, nên nhanh chóng trở lại Lạp Tát, tôi nói dứt khoát như vậy, dù có phải mặc quần đùi mà đi tôi cũng trở về Lạp Tát. Tôi tin tưởng rằng trong đại gia đình nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, tôn giáo Tây Tạng sẽ được phát triển, nhân dân Tây Tạng sẽ đi tới hạnh phúc”. Hai bên tranh luận với nhau như vậy mãi cho đến đêm vẫn chưa ngã ngũ, qua liền mấy ngày đấu khẩu, Tắc Hiệp Tuyết Khang Đốn Chu Đa Cát đã có ưu thế, “Cát Hạ Á Đông” quyết định Đạt Lai trở về Lạp Tát, nhưng hiệp nghị có được chấp hành hay không vẫn chưa quyết định được, đôi bên nhất trí: chờ đợi sau khi xem xét nội dung hiệp nghị sẽ quyết định. Ngày 28 Cát Hạ báo với Chính phủ nhân dân Trung ương, chỉ nói là hoàn toàn đồng ý vấn đề Ban Thiền đưa vào hiệp nghị, còn xử lý hiệp nghị như thế nào thì tuyệt nhiên không nhắc tới. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:39:13 pm Trương Kinh Vũ thuyết phục Đạt Lai trở về Lạp Tát. Tháng 6-1951, Trung ương uỷ nhiệm tướng quân Trương Kinh Vũ làm đại biểu toàn quyền thường trú tại Tây Tạng và yêu cầu nhanh chóng đi Tây Tạng. Sau khi nhận lệnh, Trương Kinh Vũ chuẩn bị hành trang gọn nhẹ lên đường, từ Bắc Kinh qua Hương Cảng theo đường biển tới Ấn Độ, rồi từ Ấn Độ đến Tây Tạng. Ngày 15-7 tới Á Đông trên biên giới Tây Tạng. Sáng hôm sau Trương Kinh Vũ tới chùa Đông Cát bái kiến Đạt Lai Lạt ma. Đạt Lai sợ Trương Kinh Vũ nêu vấn đề chấp hành hiệp nghị nên trong giao tiếp, mỗi khỉ đụng chạm tới gần nội dung “Hiệp nghị”, lập tức Đạt Lai lẩn tránh. Trương Kinh Vũ đều cảm thấy được tất cả, biết rằng Đạt Lai có ý tránh xa sự kiện này, cho nên ông không gạn hỏi và càng không truy bức Đạt Lai biểu thị thái độ đối với “hiệp nghị”, ông chỉ dựa theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, để Đạt Lai tự nêu ra là tốt hơn. Để có thời gian suy nghĩ trước khi nói với Trương Kinh Vũ về thái độ đối với “Hiệp nghị”, trong sinh hoạt, Đạt Lai hết sức quan tâm tới Trương Kinh Vũ; nên khi Trương Kinh Vũ đi Lạp Tát, Đạt Lai đưa ngựa cho Kinh Vũ sử dụng. Tất cả mọi hành động của Đạt Lai và Cát Hạ, Trương Kinh Vũ hoàn toàn biết rõ dụng ý, nhưng không bao giờ ông nói ra, tự mình nghiêm túc kiềm chế chờ đợi. Ngày 8-8, Trương Kinh Vũ tới Lạp Tát. Ngày 17-8 Đạt Lai Lạt ma dẫn các quan chức Cát Hạ tại Á Đông trở về Lạp Tát. Vì khi đón Đạt Lai Lạt ma, trong vấn đề tọa vị, Chính phủ địa phương Tây Tạng không làm rõ quan hệ giữa địa phương và Trung ương, nên căn cứ theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, Trương Kinh Vũ không đi đón, chỉ cử Bộ trưởng tuyên truyền quân đoàn 18 Nhạc Vu Hoằng làm đại biểu đi đón Đạt Lai, và qua lễ đón thăm dò thái độ Lạt ma đối với hiệp nghị. Nhưng trong lễ đón, Đạt Lai Lạt ma không hề có một chữ nào nhắc tới “Hiệp nghị”. Để thúc đẩy Cát Hạ sớm chấp hành “Hiệp nghị”, Trương Kinh Vũ sử dụng thế công ngoại vi, cử Nhạc Vu Hoằng hàng ngày tới thăm nom các quan chức trọng yếu; sau đó còn thay mặt Trương Kinh Vũ gửi biếu tặng phẩm. Mặc dầu Trương Kinh Vũ đã làm công việc thăm hỏi biếu tặng, nhưng Cát Hạ vẫn không tỏ thái độ là có chấp hành “Hiệp nghị” hay không. Trương Kinh Vũ ông không hề nóng vội, vẫn kiên trì thái độ chờ đợi, chỉ là tăng cường công tác mặt trận ở trên từ một phía khác, lại tiếp tục bái kiến các quan chức cao cấp của Cát Hạ. Phái thực lực chần chừ không chịu tỏ rõ thái độ đối với Trung ương Ngày 7-9, Phó chính uỷ quân đoàn 18 Dương Kỳ Mai dẫn một chi đội tiên phong đi tới Lạp Tát, báo một tin cho Cát Hạ biết là đại quân quân Giải phóng sắp vào Tây Tạng. Chính phủ Cát Hạ không hề ngó tới cánh quân nhỏ bé này, khi đội tiên phong trụ lại, họ liền đem quân chấn giữ 3 mặt nơi chi đội ở, dùng lực lượng 3 đại bản quân Tạng vây quanh chi đội tiên phong, nghiêm cấm nhân dân tới thăm quân Giải phóng. Quân Tạng ngày ngày xếp hàng khua chiêng gõ trống, gào gáy những ca khúc lưu hành nội địa trong niên đại 30: “Phòng Mĩ nhân trên Đào hoa giang”, “Mạnh Khương Nữ khóc trường thành”... tạo ra thế bốn bề địch hãm, hòng làm rã rời ý chí của cán bộ chiến sĩ chi đội tiên phong, đồng thời không cho chi đội ra mua lương thực, ý đồ muốn ép chi đội tiên phong ra khỏi Tây Tạng. Xét về tình hình Chính phủ Cát Hạ Tây Tạng không tỏ ý kiến đối với “Hiệp nghị” và thái độ của họ đối với chi đội tiên phong, Trương Kinh Vũ cảm thấy không chờ đợi được nữa, bèn đề xuất hỏi Chính phủ Cát Hạ chấp hành “Hiệp nghị” như thế nào, yêu cầu cho Trung ương biết rõ thái độ. Cát Hạ nói lảng (đỡ) là phải đợi sau khi A Vượng Tấn Mỹ thông báo quá trình ký kết “Hiệp nghị” sẽ trả lời sau. Trương Kinh Vũ lại phải kiên nhẫn chờ đợi A Bái A Vượng Tấn Mỹ trở về. Ngày 13-9 A Bái về đến Lạp Tát, liền thông báo với Cát Hạ về quá trình ký kết hiệp nghị, và thông báo trực tiếp với Đạt Lai Lạt ma. Song Cát Hạ vẫn không tỏ thái độ có chấp hành “Hiệp nghị” hay không. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:39:46 pm Trương Kinh Vũ cử Nhạc Vu Hoằng nhiều lần thúc giục Chính phủ Tây Tạng tỏ rõ thái độ với Trung ương về việc chấp hành “Hiệp nghị”. Chính phủ Cát Hạ nói lảng là tháng 8 đã qua rồi, tháng 9 không tốt lành, không thể bày tỏ thái độ đối với Trung ương. Để tỏ ra tôn trọng Cát Hạ, Trương Kinh Vũ lại phải kiên trì thái độ chờ đợi. Nhạc Vu Hoằng và Từ Đam Lô ở quân đoàn 18, Vương Kỳ Mai phó chính uỷ quân đoàn lại tới bái kiến quan chức cao cấp Cát Hạ đồng thời lần lượt trao cho họ từng bản “Hiệp nghị”, mở rộng hơn nữa uy thế của mặt trận thống nhất. Uy thế của Trương Kinh Vũ không xoay chuyển được thái độ của Cát Hạ, Cát Hạ chẳng những không tỏ thái độ chấp hành “Hiệp nghị”, mà còn tiến hành uy hiếp chi đội tiên phong, buổi tối hàng ngày từ vùng xung quanh họ nã súng vào khu doanh trại chi đội, tạo nên không khí căng thẳng, tình hình nghiêm trọng. Ngày 19-9, tiểu đoàn 3 trung đoàn 154 và đại đội cơ pháo của đơn vị nhận lệnh của Trương Quốc Hoa tiến vào Lạp Tát, tăng cường lực lượng cho chi đội tiên phong, ngọn lửa chiến tranh mới tạm xẹp xuống, nhưng với “Hiệp nghị” vẫn không tỏ rõ thái độ. Với sự truy hỏi nhiều lần của Trương Kinh Vũ, họ không thể thoái thác, đành phải nêu ra 3 vấn đề với Trương Kinh Vũ: 1- Vấn đề chức quyền của Uỷ ban quân chính, bao gồm cả vấn đề địa vị và chức quyền của Đạt Lai. 2- Vấn đề quân đội, bao gồm vấn đề cải biên quân trang. 3- Vấn đề thống nhất toàn bộ khu vực dân Tạng, bao gồm vấn đề khu vực Xương Đô quy về Chính phủ địa phương Tây Tạng. Về những vấn đề Cát Hạ nêu ra, Trương Kinh Vũ chỉ đạo Nhạc Vu Hoằng đến tận Chính phủ Cát Hạ giải đáp cụ thể từng vấn đề trước Tư Tào Lỗ Khang Oa Sách Khang và toàn thể Cát Luân cùng quan chức trọng yếu. Trương Kinh Vũ nói: “Uỷ ban quân chính là một cơ quan thay mặt Chính phủ nhân dân Trung ương cần phải có ở Tây Tạng, quân khu Tây Tạng chỉ là một cơ quan quân sự, nó sẽ có quan hệ thường xuyên với Chính phủ địa phương Tây Tạng, Uỷ ban Quân chính có thể quản lý công việc cả hai phía Chính phủ địa phương Tây Tạng và quân Giải phóng nhân dân. Quân Giải phóng nhân dân chỉ tới đây một quân đoàn, khoảng hai vạn người, đóng giữ khu vực biên phòng Giang Tư, Nhật Khách Tắc A Lý và Lâm Chi, chỉ đóng ở Lạp Tát chừng 4.000 quân, lương thực bộ đội không cần nhân dân Tây Tạng đảm nhiệm, Trung ương dùng tiền bạc mua dùng, những thứ khác do nội địa chuyển tới. Quân Tạng có thể biên theo thứ bậc giải phóng quân, hưởng đãi ngộ như giải phóng quân. Vấn đề thống nhất toàn bộ dân tộc Tạng do nhân dân các tỉnh Xuyên, Cam, Điền, Khang, Thanh bỏ phiếu biểu quyết, chỉ cần nhân dân tán thành là được, nhưng trước mắt vừa mới giải phóng, tất cả chưa thể làm rộng được, có một số khu vực đã giải phóng sớm, công tác tiến triển nhanh, nhưng hiện tại vẫn không thể bàn việc thống nhất được. Về khu vực Xương Đô, qua Trung ương phê chuẩn là có thể qui về Tây Tạng, vấn đề này xem ra không có vấn đề gì. Còn về chức vị của Đạt Lai Lạt ma, chức vị không thay đổi, Trung ương muốn Đạt Lai ra làm Chủ tịch Uỷ ban Quân chính”. Mặc dầu Trương Kinh Vũ đã trả lời những vấn đề Cát Hạ nêu ra, nhưng Cát Hạ vẫn không chịu đáp ứng lại thái độ đối với “Hiệp nghị”. Chẳng bao lâu Đạt Lai Lạt ma lại yêu cầu A Bái A Vượng Tấn Mỹ nêu ra 6 vấn đề với Trương Kinh Vũ: 1. Về “Hiệp nghị” không thể không thật sự thi hành. 2. Vấn đề địa vị của bản thân ông ta. 3. Thời gian Ban Thiền về Tạng. 4. Quân đội phải vào ít, không thể vào nhiều. 5. Bản thân ông ta muốn vào nội địa. 6. Quân đoàn trưởng Trương Quốc Hoa khi nào vào Tạng? Trương Kinh Vũ lần lượt giải đáp từng vấn đề, về việc Đạt Lai muốn đi nội địa, ngay hôm đó Trương Kinh Vũ đã thỉnh thị Trung ương, Trung ương bố trí ngay, và trả lời Đạt Lai muốn đi lúc nào cũng được. A Bái đã chuyển nội dung trả lời của Trương Kinh Vũ tới Đạt Lai, Đạt Lai rất toại nguyện, nhưng việc chấp hành “Hiệp nghị” vẫn chưa được Cát Hạ trả lời. Ngày 26-9, theo sáng kiến của A Bái A Vượng Tấn Mỹ, Đạt Lai triệu tập “Đại hội toàn Tạng”; để A Bái truyền đạt nội dung toàn văn “Hiệp nghị” và cả quá trình ký kết “Hiệp nghị” với toàn thể quan chức Cát Hạ, sau đó toàn thể quan chức tiến hành thảo luận về “Hiệp nghị”. Qua hai ngày tranh luận kịch liệt, phái chấp hành “Hiệp nghị” chiếm ưu thế, quyết định tới ngày quốc khánh sẽ điện về Trung ương biểu thị ủng hộ “Hiệp nghị”. Nhưng sau quốc khánh đã mấy ngày, phái thực quyền vẫn không chịu chấp hành quyết nghị của đại hội, trì hoãn không điện về Trung ương. A Bái cùng năm đại biểu hoà đàm nhiều lần thúc giục, phái thực quyền Cát Hạ vẫn không tỏ rõ thái độ. A Bái và năm đại biểu bàn bạc, để A Bái trực tiếp trao đổi với Cát Hạ, nếu việc chấp hành “Hiệp nghị” đối với Cát Hạ có khó khăn, đề nghị triệu tập đại hội toàn khu Tây Tạng, chúng ta có thể tới hội nghị trình bày giải thích rõ ràng tỉ mỉ. Thế là ngày 20-10, đại hội được triệu tập có hơn 300 người tham gia, bao gồm toàn thể quan chức tăng tục, các lệnh, giáp bản trong đại bản, cửu lãng, kham bố chùa Tam đại, thảo luận vấn đề chấp hành hay không chấp hành “Hiệp nghị”. A Bái lại một lần nữa thông báo nội dung “Hiệp nghị” và quá trình ký kết. 5 đại biểu lại nói rõ nguyện vọng đem tính mạng gia đình bản thân và tài sản bảo đảm, “Hiệp nghị” có lợi cho sự nghiệp của Đạt Lai Lạt ma, cho chính giáo Tây Tạng, cho lợi ích dân chúng trăm họ toàn Tây Tạng. Để đại hội phát biểu ý kiến tự nhiên, A Bái cùng năm đại biểu tự động rút ra ngoài, để quan chức nói hết những điều mong muốn. Sau khi A Bái và đại biểu ra khỏi, hội nghị nhằm vào vấn đề chấp hành hay không chấp hành “Hiệp nghị” và chia làm hai phái, tranh luận gay gắt, khẩu chiến liên tục ba ngày liền, phái chấp hành lại chiếm ưu thế. Thế là ngày 22 Cát Hạ đã viết một bản kỷ yếu hội nghị trình báo Đạt Lai Lạt ma. Sau khi nghiên cứu Đạt Lai đồng ý gửi điện về Trung ương bày tỏ sự ủng hộ “Hiệp nghị”, và chỉ thị cho Cát Hạ điện trả lời ngay. Ngày 22 Cát Hạ căn cứ theo chỉ thị của Đạt Lai, yêu cầu A Bái chuẩn bị nội dung điện báo, giao cho Cát Hạ thẩm định. A Bái mấy đêm liền viết xong điện văn trao cho Cát Hạ, Lỗ Khang Oa lấy cớ là nội dung chuẩn bị của A Bái không được, không phát điện báo, nhưng không để A Bái sửa lại, mà lại bỏ đi. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:40:25 pm Trương Quốc Hoa kiên nhẫn tuyên truyền 17 điều Ngày 12-10-1951 Trương Quốc Hoa dẫn đầu trung đoàn 154 trực thuộc quân đoàn 18 tới Lạp Tát. Lỗ Khang Oa thấy lực lượng hùng hậu của quân Giải phóng tiến vào, nếu không tỏ thái độ chấp hành “Hiệp nghị” thì sẽ rơi vào tình trạng bị động, ngày 24-10 mới lấy danh nghĩa Đạt Lai Lạt ma gửi điện tới Mao Trạch Đông tỏ rõ thái độ kiên quyết ủng hộ và chấp hành Hiệp nghị 17 điều. Mao Trạch Đông sau khi nhận được điện đã điện trả lời Đạt Lai Lạt ma. Đạt Lai sau khi nhận được điện của Mao Trạch Đông, chiều ngày 5-11 liền cử một kham bố linh lợi là Ngang Vượng Lang Cát mang theo một số lớn tặng phẩm thăm hỏi cán bộ chiến sĩ vào Tạng, và chuyển 100 bao gạo, 10.000 lạng vàng bạc; yêu cầu Trương Quốc Hoa gửi tới cán bộ chiến sĩ quân đoàn 18. Trương Quốc Hoa uỷ nhiệm cho Tham mưu trưởng chi đội tiên phong, Đội trưởng công tác địch vận của quân đoàn 18 Trần Cạnh Ba thay mặt nhận tặng phẩm. Hôm đó, Trương Quốc Hoa và Chính ủy quân đoàn 18 Đàm Quán Tạm thay mặt toàn thể cán bộ chiến sĩ quân đoàn gửi thư tới Đạt Lai Lạt ma cảm ơn sự quan tâm động viên đối với bộ đội. Sau khi Cát Hạ gửi điện tới Mao Trạch Đông, Trương Quốc Hoa thay mặt Lưu Bá Thừa Chủ tịch Uỷ ban quân chính Tây nam đã gửi tặng phẩm tới Đạt Lai Lạt ma. Những ngày này, bầu trời Tây Tạng mây đen che phủ, không khí nặng nề rơi xuống thành chấn phố phường. Khắp nơi người ta truyền nhau ca rằng: “Giải phóng quân tới nơi, Đạt Lai Lạt ma đã chết. Tiểu lạt ma nhảy xuống sông, ngâm nước chết chìm rồi”. “Tại Cung Bố Đạt Lạp, tượng phật lệ tuôn rơi” Bọn phản động đứng trên các tầng lầu ném đá xuống đội quân vào phố và quần chúng nhân dân; chửi rủa đội trống đi đầu là “ma quỉ”. Cát Hạ bố trí cho đội quân của Trương Quốc Hoa đóng tại bãi cát bên bờ sông phía Bắc Lạp Tát. Trương Quốc Hoa, Đàm Quán Tam ở trong viện Vũ Thỏa. Quân Tạng xây dựng doanh trại ba phía xung quanh quân đội của Trương Quốc Hoa, thâm ý đặt chủ lực quân đoàn 18 trong sự khống chế của họ. Trương Quốc Hoa tủm tỉm cười, chỉ ra lệnh cho bộ đội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tranh thủ thời gian nghỉ ngơi. Ông đi tìm gặp những người chấp chính Cát Hạ như vua Tạng Lỗ Khang Oa và Lạc Tang Trát Tây, nhờ họ mua lương thực giúp quân Giải phóng. Lỗ Khang Oa khẩy khẩy mũi, quay ngoắt người đi nói: “Ngày xưa Mãn Thanh có một đại thần vào Tạng cũng là họ Trương (chỉ Trương Manh Đường) chỉ dựng một nha môn tại Lạp Tát, không mang theo lính tráng, cớ gì mà ông đưa vào nhiều quân như vậy!” Trương Quốc Hoa cười nhạt: “Thiên hạ nhiều người họ Trương nhưng họ Trương ấy khác họ Trương này. Chúng tôi tới đây là chấp hành Hiệp nghị 17 điều, mong các ông cùng phối hợp, trước tiên là vấn đề lương thực”. Lỗ Khang Oa lần tràng hạt cười nói: “Thua trận tuy rằng khó chịu, nhưng đói bụng còn khó chịu hơn thua trận?!”. Trương Quốc Hoa và Đàm Quán Tam liếc mắt nhìn nhau, hỏi: “Ngài đã đọc hiệp nghị hoà bình giải phóng Tây Tạng chưa?” Lỗ Khang Oa nhún vai, nhìn các quan chức quí tộc tả hữu, ánh mắt dữ tợn, lặng thinh. “Hiệp nghị do đại biểu đôi bên cùng ký, giấy trắng mực đen rõ ràng, các ngài nên giúp đỡ Giải phóng quân vào Tây Tạng, củng cố quốc phòng. Nhưng các ngài thực thi hành động như thế nào?”, Trương Quốc Hoa nói vậy, rồi bảo tuỳ viên lấy văn bản “Hiệp nghị 17 điều” bằng tiếng Tạng đặt ngay trước mặt Lỗ Khang Oa. Lỗ Khang Oa định cầm lại thôi, miệng ngập ngừng: “A Bái đi Bắc Kinh, không bao giờ được quyền bàn quân sự, “Hiệp nghị 17 điều” thật đột ngột... bà con cũng không vừa lòng, cần phải sửa chữa..”.. Ánh mắt Lỗ Khang Oa lướt qua những người cùng đi với Trương Quốc Hoa, liền nảy ra một suy nghĩ, chỉ tay vào Trương Quốc Hoa nói: “Này ông Trương, ông thật to gan, dám đem quân tới đây!” Trung Quốc Hoa vẫn cố nhịn, kiên trì giảng giải về chính sách tôn giáo của Đảng, cuối cùng ông nhấn mạnh: Chống lại sự nghiệp thống nhất Trung Quốc kết quả sẽ thất bại. Hy vọng Cát Hạ cùng hợp tác, Chính phủ Tây Tạng cũng phải treo quốc kỳ... Lỗ Khang Oa không chịu nhượng bộ, nét mặt tối sầm: “Tây Tạng là một nước Phật độc lập, không phải treo quốc kỳ Trung Quốc, treo lên rồi lại hạ xuống cũng khó coi!” Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:41:02 pm Đạt Lai Lạt ma buông rèm xem kịch Trương Quốc Hoa về tới doanh trại, tức đến sôi máu. Ông vốn đã biết ăn bánh chay, uống trà béo, ăn tái bò, nhưng đến mỗi bữa bưng mâm lên không sao nuốt nổi. Một là bữa nào cũng món thịt dê, ăn mãi cũng chán. Hai là có ngày liền hai bữa đều ăn cháo, không chịu được. “Không ổn, xem ra ta phải đi gặp Đạt Lai Lạt ma thôi!” Trương Quốc Hoa bàn với Trương Kinh Vũ đại biểu của Trung ương, quyết định ngày 30-10 với danh nghĩa thay mặt Chủ tịch Uỷ ban quân chính Tây nam Lưu Bá Thừa tặng quà Đạt Lai Lạt ma, chính thức bái kiến Đạt Lai Lạt ma. Nhưng Chính phủ Cát Hạ lại muốn nhân việc này làm giảm uy thế của Trương Quốc Hoa. Từ Đạm Lô Hoà Bình Vượng được Trương Quốc Hoa cử đi bàn bạc chi tiết nội dung bái kiến. Chính phủ Cát Hạ đề xuất, khi Trương Quốc Hoa bái kiến Đạt Lai, phải theo đúng lễ tiết truyền thống, làm lễ khấu đầu, gọi là triều bái. Từ Đạm Lô Hoà Bình Vượng đương nhiên là không đồng ý, nói rõ về phong tục tập quán và đôi bên đều phải chiếu cố, tôn trọng lẫn nhau, quân Giải phóng không ưa thích gì việc khấu đầu, nhưng nhất định phải tôn trọng Đạt Lai. Chính phủ Cát Hạ nghĩ rằng binh hàng tướng mạnh không ngăn nổi đường đi của Trương Quốc Hoa, về nghi thức bái kiến đành phải nhượng bộ. Hai người trở về vừa nói, Trương Quốc Hoa suy nghĩ một hồi, rồi bố trí, 9 giờ rưỡi sáng hôm sau, dẫn một đoàn đông người mang lễ vật tấp nập kéo tới trước chùa Đại Chiêu. Trương Quốc Hoa dẫn Từ Đạm Lô, Trần Cạnh Ba, Nhạc Vu Hoằng, Bình Thố Vượng Giai cùng một đội quân khiêng gánh 13 kiện tặng phẩm biếu Đạt Lai đi trước, đội quân nhạc của quân đoàn 18 tiếp bước đánh trống thổi kèn, đội văn công múa ương ca nhịp nhàng đi sau, trước chùa rộn ràng như ngày hội. Để giữ đúng nghi lễ, Trương Quốc Hoa dẫn đội ngũ đi quanh chùa Đại Chiêu một vòng theo đúng hướng như dân Tạng chuyển kinh, sau đó đi về La Bố Lâm Ca là Hạ cung của Đạt Lai Lạt ma. Trương Quốc Hoa dâng lễ tới Đạt Lai, và bắt đầu làm nghi thức tôn giáo. Đạt Lai bước lên bệ ngọc, Trương Quốc Hoa lần lượt dâng 5 kiện lễ phẩm gồm bảo tháp, kinh phật, khăn Cáp Đạt. Từ Đàm Lô cũng dâng khăn tới Đạt Lai. Trương Quốc Hoa liếc mắt sang Bình Thố Vượng Giai. Bình Thố Vượng Giai tuy tham gia công tác Chính phủ, nhưng Trương Quốc Hoa vẫn để ông ta mặc trang phục dân Tạng, vẫn muốn ông khấu đầu sau khi tới Lạp Tát, hội kiến Đạt Lai, nếu Đạt Lai gợi ý xoa đầu, có thể không chịu sự ràng buộc của kỷ luật quân đội, để cho Đạt Lai xoa đầu. Khi Bình Thố Vượng Giai bước lên phía trước khấu đầu, Đạt Lai giơ tay xoa đầu ông ta. Vị Đạt Lai trẻ tuổi ấy sau khi nhận lễ tỏ ra rất cảm động, nói nhỏ với người dẫn lễ câu tiếng Tạng. Người dẫn lễ liền dùng tiếng Hán chuyển lời thăm hỏi của Đạt Lai: “Hán quan trên đường đi vất vả quá!” Nghi thức kết thúc, phía Tạng mời cơm có trà sữa và bánh cuốn. Sau bữa ăn mọi người đều đi ra, chỉ còn lại Trương Quốc Hoa và Bình Thố Vượng Giai theo Đạt Lai vào phòng, nghỉ ngơi ít phút, lại cùng Đạt Lai lên lầu ca vũ. Trước lầu ghép kính pha lê có buông bức màn mỏng, đoàn văn công quân đoàn 18 bắt đầu biểu diễn ngay trước sân khấu. Trương Quốc Hoa liếc nhìn Đạt Lai, thấy tay Đạt Lai cầm kính viễn vọng, vội vàng điều chỉnh tiêu cự. Xem ra Đạt Lai đã bị cuốn hút vào những tiết mục mới lạ này. Sau đó người thợ ảnh loay hoay định chụp, Đạt Lai hình như quên mất cương vị của mình, tự đứng dậy khênh giùm chiếc ghế... Trở về nhà ở, Trương Kinh Vũ hỏi về cuộc bái kiến hôm nay, Trương Quốc Hoa đặt mũ xuống bàn, vui vẻ nhưng khiêm tốn: “Mang theo đoàn văn công thế mà lại hay, Đạt Lai Lạt ma mặc dầu buông rèm xem kịch, nhưng rất say sưa chăm chú, Đạt Lai còn trẻ thế, mà xem ra cũng hiểu biết cả”. Trương Kinh Vũ gật gật đầu: “Tôi cũng thấy thế, ông ta là một thanh niên thuần phác. Anh xem vấn đề lương thực thế nào?”. Trương Quốc Hoa đập vào lòng bàn tay Trương Kinh Vũ cười nhếch mép. Ngày hôm sau, A Bái phấn khởi nói với mọi người, Đạt Lai đã ra lệnh cho 13 huyện chuẩn bị 1 vạn đấu lương thực, ngoài ra sẽ xuất kho của Cung Bố Đạt Lạp 5 nghìn đấu… Trương Quốc Hoa tươi tỉnh chưa được vài ngày, bỗng nét mặt lại tối sầm. Các huyện đều vấp phải sự cản trở của bọn phân liệt thân đế quốc, quyết không chuyển giao lương thực cho quân Giải phóng, còn lương thực xuất ra từ kho Cung Bố Đạt Lạp, kiểm tra lại, đều đã lên men mốc, không sử dụng được nữa. Lỗ Khang Oa và Lạc Tang Trát Tây không những không giúp đỡ quân Giải phóng mà còn dựng lên cái gọi là “Hội đồng nhân dân Tây Tạng” do bọn thương nhân và lưu manh vô nghệ làm nòng cốt gây rối loạn, tình hình càng thêm xấu hơn... Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:44:01 pm Trương Kinh Vũ trước hết chú ý tới cung Bố Đạt Lạp Tháng 3-1952 là thời gian hội đại pháp truyền thống, mấy kẻ giương ngọn cờ “Hội đồng nhân dân” đã trình cái gọi là “Thư đề nghị của nhân dân Tây Tạng” lên cung Bố Đạt Lạp, yêu cầu sửa đổi 17 điều, nhằm xua đuổi quân Giải phóng. Sáng ngày 1-4, vài Cát luân dẫn 3 đại biểu “Hội đồng nhân dân” tới nơi ở của Trương Kinh Vũ; đệ trình “thư đề nghị” với thái độ ương ngạnh. Buổi tối, hàng nghìn quân Tạng và Lạt ma có vũ trang đột nhiên bao vây công uỷ Tây Tạng và nơi ở của Trương Kinh Vũ, đặt súng máy trên tường, trên mái nhà chĩa thẳng vào quân Giải phóng. Trước đó, Lỗ Khang Oa, Lạc Tang Trát Tây tự ý ra lệnh điều đại bản pháo binh Nhật Khách Tắc vào Lạp Tát, bọn phản động còn âm mưu cướp kho vũ khí của quân Tạng trong cung Bố Đạt Lạp... Thị dân thấy vậy xôn xao tích trữ lương ăn nước uống, hiệu buôn đóng cửa, dân tình hoang mang. Với trách nhiệm là Tư lệnh quân khu Tây Tạng Trương Quốc Hoa lòng như lửa đốt, ra cổng tìm không thấy lái xe, ông bực tức tự dận ga nổ máy cho xe chạy... Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh và Lưu, Đặng, Hạ ở cục Tây nam luôn luôn theo dõi mọi việc xảy ra ở đây, ngày mấy lần điện hỏi tình hình. Mao Trạch Đông hạ quyết tâm: “Cần phải trừng trị bọn phản động, nếu không thì tình hình chính trị Tây Tạng không ổn định, người yêu nước không ngóc lên được; công tác sản xuất, mậu dịch, y tế, sửa đường, mặt trận thống nhất đều không phát huy được, chúng ta sẽ luôn luôn lâm vào tình thế bị động..”. “Với mọi hành động gây hấn của tập đoàn phản động chóp bu Tây Tạng, Công uỷ Tây Tạng phải chuẩn bị thật tốt lãnh đạo tăng lữ yêu nước và nhân dân tiến hành đấu tranh có lý, có lợi”. Trương Kinh Vũ, Trương Quốc Hoa nhận được chỉ thị, bàn bạc kỹ lưỡng đối sách. Các ông triệu tập các Cát luân, Trương Kinh Vũ quay ra cửa sổ, chỉ tay xuống dưới lầu nói: “Chúng tôi nhân nhượng nữa thì sẽ hỏng hết, 2 Tư tào (Lỗ Khang Oa và Lạc Tang Trát Tây) làm bao nhiêu việc xấu xa, chúng tôi đã nắm chắc mọi chứng cứ, đến giờ chúng tôi không còn cách nào hợp tác với 2 Tư tào được nữa, đề nghị chuyển lời của chúng tới Đạt Lai Lạt ma, đề nghị xử lý”. Các Cát luân nhìn nhau, nói gỡ cho 2 Tư tào: “Họ không biết nói năng, tuổi đã già, đầu óc thủ cựu, cách nói không rõ, xin ông Trương lượng thứ cho..”. Trương Quốc Hoa nghiêm sắc mặt, bình tĩnh với giọng oai phong, ông nói: “Chúng tôi không hề có bất cứ tư thù nào với cá nhân họ, vấn đề là ở chỗ thân với đế quốc hay là ủng hộ Tổ quốc? Chấp hành hiệp nghị hay là tổ chức vũ trang phiến loạn, phá hoại hiệp nghị? Đối với nội bộ các ông vô luận vấn đề gì, chúng tôi đều có thể bỏ qua, nhưng về nguyên tắc đúng hay sai thì phải làm rõ?”. Các Cát luân đành phải đồng ý cách chức 2 vị Tư tào. Trương Quốc Hoa quyết định đích thân tới cung Bố Đạt Lạp, hội kiến Đạt Lai. Trong tình thế bức xúc này, đi tới cung Bố Đạt Lạp rõ ràng là mạo hiểm khôn lường. Chiều tối, các tướng lĩnh đã ngồi tưởng tượng ra những khả năng của cuộc hội kiến. Trương Quốc Hoa và các cán bộ lãnh đạo đều cho rằng: nếu họ tăng cường gây khó khăn cho đại biểu Trung ương, triệt để quyết liệt với Trung ương, thì chúng ta có đầy đủ lý do chinh phạt họ, nhưng khả năng không lớn; nếu họ giam lỏng đại biểu Trung ương, buộc chúng ta nhượng bộ, đòi quân Giải phóng rút khỏi Tây Tạng, chúng ta sẽ cực lực đấu tranh, khả năng này tồn tại; nếu họ tuân theo ý kiến của Trung ương, nghiêm túc xử lý “Hội đồng nhân dân” giả tạo, sự rối loạn sẽ được giải quyết hòa bình, chúng ta hy vọng như vậy. Các tướng lĩnh đều tìm cách phòng ngừa khả năng thứ nhất, sẵn sàng ứng phó với khả năng thứ 2, tranh thủ khả năng thứ 3 xuất hiện. Ngày 4-8, Trương Quốc Hoa tiễn Trương Kinh Vũ đi ra gặp Đạt Lai, hai người lặng lẽ xiết chặt tay nhau, Trương Kinh Vũ động viên Trương Quốc Hoa: “Xem chừng họ cũng không dám quá mạo hiểm mà giết chúng ta, tôi cân nhắc khả năng giam lỏng nhiều hơn, nếu một khi tôi không trở về được, tôi sẽ tới đỉnh lầu cung Bố Đạt Lạp cùng Đạt Lai xem xét tình hình phản kích tự vệ của các đồng chí chúng ta. Tôi sẽ chúc các đồng chí chiến đấu phản kích thắng lợi. Các đồng chí thắng lợi càng nhanh, khả năng tôi bình yên trở về càng lớn”. Trương Quốc Hoa gật đầu quay trở lại ngay phòng tác chiến. Ông làm việc tỉ mỉ chu đáo và tính toán cả khả năng xấu nhất, ra lệnh cho cơ quan bộ đội trong quân khu chuẩn bị tốt sẵn sàng chiến đấu chỉ cần tình hình thay đổi, là có thể kịp thời xuất kích. Xung quanh trong ngoài cung Bố Đạt Lạp lính tráng bố phòng cẩn mật, dọc hai bên đường bậc thang từ chân núi lên tới đỉnh cao cứ 3, 4 bước lại có trạm gác canh phòng, toàn lính Tạng trang bị súng ống đầy đủ. Trương Kinh Vũ chỉ mang theo hai lính cảnh vệ và một phiên dịch viên người Tạng, thong thả ung dung đi trước hàng trăm họng súng, nhẹ nhàng bước lên cung Bố Đạt Lạp... Tại phòng tác chiến quân khu hết sức khẩn trương. Ngoài Trương Quốc Hoa ra, các cán bộ lãnh đạo khác đều có mặt. Không một ai nói chuyện ồn ào, chỉ có điện thoại viên giọng nhỏ nhẹ truyền báo tin tức. Mấy người nghiện thuốc phì phèo hết điếu này lại điếu khác. Đôi mắt Trương Quốc Hoa vì khói thuốc cay sè nhức nhối, chốc chốc ông lại gọi tham mưu đi quan sát. Tham mưu trưởng Lý Giác đã cho tham mưu tác chiến Dường Nhất Chân mang theo một kính viễn vọng tốt nhất ra bờ sông quảng trường phía Tây quân khu quan sát tình hình cung Bố Đạt Lạp. Nếu Trương Kinh Vũ có xảy ra chuyện gì, thì người cán sự bảo vệ đi theo sẽ từ trong cửa sổ phía nam trên đỉnh nóc cung Bố Đạt Lạp vẫy vẫy cờ dỏ hoặc bắn ba phát tín hiệu, báo cho bộ đội xuất kích. Không khí lúc này cứng như những tảng đá, các tướng lĩnh thấy ngột ngạt khó chịu, vừa nhìn đồng hồ ngẩng lên, lại vội cúi xuống xem giờ... Bỗng có tiếng “báo cáo” phá tan yên tĩnh. Dương Nhất Chân vội bước vào cửa báo cáo: “Đại biểu Trương vừa ra khỏi cung Bố Đạt Lạp!” “Chính xác chứ?” “Chính tôi nhìn thấy, ông đã bước ra, lên ngựa đi xuống núi mà”. Trương Quốc Hoa thở phào, quay sang Đàm Quán Tam cười cùng hiểu ý; sau khi bố trí xong bộ đội tiếp tục duy trì cảnh giác, ông thẳng người lên, gọi các trợ lý: “Đi, ta ra ngoài hít vài hơi trong lành, trong này chết ngạt mất thôi. Liền sau đó, Đạt Lai tuyên bố cách chức 2 Tư tào. Ngày 1-5, Cát Hạ tuyên bố “Hội đồng nhân dân” giả danh là tổ chức phi pháp, cho giải thể. Song con đường phân liệt chưa ngừng ở đó. Ngày 28-7, “Hội đồng nhân dân” thay hình đổi dạng, lại thành lập “Hội Cộng tế giáo hữu” và bí mật cử ba đại biểu mang theo văn kiện đã chuẩn bị trước, ý đồ vượt qua biên giới đi đến Liên Hợp Quốc thỉnh cầu, muốn nhờ thế lực nước ngoài trợ giúp, đuổi toàn bộ quân Giải phóng ra khỏi Tây Tạng. Nhưng ngày 13-9 họ đã bị bắt ngay tại biên giới. Đạt Lai ra lệnh tra khảo tội trạng. Tuy đã qua hai lần thẩm xét, cuối cùng vẫn được phóng thích. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:45:35 pm PHẦN 7 MAO TRẠCH ĐÔNG GẶP ĐẠT LAI, BAN THIỀN Đạt Lai, Ban Thiền cùng nhau về kinh Tháng 9-1954, Hội nghị đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc lần thứ nhất khóa 1 cử hành tại Bắc Kinh. Đạt Lai và Ban Thiền là đại biểu của khu vực Tây Tạng cùng về kinh họp bàn quốc gia đại sự. Trong lịch sử, Đạt Lai thứ 5, Đạt Lai thứ 13, Ban Thiền thứ 6, và ban Thiền thứ 9, đã lần lượt về Bắc Kinh, song Đạt Lai và Ban Thiền cùng đi với nhau thì là lần đầu. Trung ương Đảng rất coi trọng chuyến về kinh lần này của Đạt Lai và Ban Thiền, đã tổ chức hẳn một ban đón tiếp và phát riêng những văn bản, sắp xếp cụ thể những vấn đề có liên quan. Lúc này đường sá vẫn chưa thông xe được, ngày 11-7-1954 Đạt Lai xuất phát từ Lạp Tát đi đường Khang Tạng; ngày 1-7 Ban Thiền khởi hành từ Nhật Khánh Tắc, đi lối Thanh Tạng. Ngày 1-9, hai vị Phật sống gặp nhau tại Tây An, cùng nhau đi Bắc Kinh. Ngày 4-9 tới thủ đô Bắc Kinh, các vị lãnh đạo Chu Ân Lai, Chu Đức, ra tận sân ga đón tiếp. Theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, Trung ương đã bố trí rất chu đáo cho Đạt Lai, Ban Thiền và những người cùng đi về mặt sinh hoạt hàng ngày. Đạt Lai nghỉ tại Ngự Hà Kiều, Ban Thiền nghỉ tại Sương Quan Lâu, đó là 2 khách sạn tốt nhất Bắc Kinh lúc bấy giờ. Mao Trạch Đông hội kiến hai vị Phật sống Ngày 11-9, tại Cần Chính điện Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông thân mật hội kiến hai vị Phật sống. Đây là lần đầu tiên Mao Trạch Đông hội kiến Đạt Lai thứ 14, cũng là lần đầu tiếp kiến hai vị Phật sống. Theo cách nói của các nhân sĩ tôn giáo Tây Tạng, Mao Trạch Đông là hóa thân của Bồ Tát Văn Thà, Đạt Lai là hóa thân của Quan Thế âm Bồ Tát, Ban Thiền là hóa thân của Vô Lượng Quang Phật. Ba người là hóa thân của bồ tát chí thánh chí tôn tại thế nhân gian, có thể gặp nhau, tự nhiên trở thành một sự kiện đặc biệt khác thường, tượng trưng cho sự hưng vượng của Tổ quốc và hạnh phúc của chúng sinh. Quảng đại quần chúng tăng tục Tây Tạng cảm động muôn phần, họ nhảy múa truyền tin cho nhau, tin vui ấy nhanh chóng lan truyền từ Bắc Kinh đến Lạp Tát cho tới khắp cao nguyên vạn dặm, mọi người phấn khởi bàn tán xôn xao: Thật là điềm tốt lành trọn vẹn. Dân tộc chúng ta, đất nước chúng ta, như vừng hồng mới mọc, như ánh trăng thượng huyền, từ nay về sau sẽ phát đạt hưng vượng hơn, phồn vinh hơn. 3 giờ chiều ngày 15-9, Hội nghị lần thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khoá 1 khai mạc tại Hoài Nhân Đường Trung Nam Hải. Đạt Lai và Ban Thiền đều được bầu làm Uỷ viên đoàn Chủ tịch. Trước khi khai mạc, trong giờ nghỉ, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức đều thân mật gặp hai vị, thăm hỏi tình hình mấy ngày về Bắc Kinh. Sinh hoạt có quen không? Mấy ngày qua đi tham quan những nơi nào? Có những hoạt động gì? Xem tiết mục gì biểu diễn? Đạt Lai, Ban Thiền vui vẻ trả lời, tỏ ý vừa lòng về sự bố trí các hoạt động ấy; tỏ lòng cám ơn Mao Trạch Đông và các vị lãnh đạo. Mao Trạch Đông gật gật đầu: “Vừa lòng là rất tốt, vừa lòng là rất tốt” và chỉ về phía Chu Ân Lai, nói: “Các vị có khó khăn gì, có thắc mắc gì, có chỗ nào sắp xếp chưa chu đáo đều có thể tìm gặp Chu Ân Lai là người quản gia của đại gia đình chúng ta, là một quản gia cỡ lớn rất giỏi, công việc đại gia đình chúng ta đều do người quản gia ấy lo liệu. Các ngài có việc gì cứ tự nhiên tìm đến, sẽ được giúp đỡ”. Hôm ấy, Đạt Lai, Ban Thiền vô cùng phấn chấn, hai vị đều trong bộ áo dài vải đoạn mầu vàng cam. Trong tất cả các vị Phật sống họ là trẻ nhất, được mọi người chú ý nhất. Hai vị tới đâu là ở đó vỗ tay vang dội. Mao Trạch Đông chủ trì phiên khai mạc, và phát biểu bài nói quan trọng. Người tin tưởng nói rằng: “Chúng ta đang tiến hành một sự nghiệp vô cùng vinh quang và vĩ đại mà ông cha ta từ xưa tới nay chưa làm được. Mục đích của chúng ta nhất định phải đạt được, mục đích của chúng ta nhất định có thể đạt tới”. Đạt Lai và Ban Thiền không hiểu được tiếng Hán, đại hội đã chuẩn bị đồng thời phiên dịch cho các đại biểu dân tộc thiểu số. Đạt Lai và Ban Thiền đều đeo máy nghe. Hai vị đều bị cuốn hút vào không khí đoàn kết sôi động trong hội trường, lòng tràn đầy xúc động tiếp thu nhận biết được nội dung phong phú, hàm nghĩa sâu sắc trong bài nói của Mao Trạch Đông, cùng giá trị lịch sử vĩnh cửu và sức mạnh tinh thần vĩ đại. Ngày 28-9 hội nghị bế mạc. Tại đại hội lần này, Đạt Lai được bầu làm Phó uỷ viên trường đại học đại biểu nhân dân toàn quốc, năm ấy vừa 19 tuổi. Sau đó không lâu trong Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc khoá 2, Ban Thiền được bầu làm Phó Chủ tịch lúc mới có 16 tuổi. Thời gian này, Mao Trạch Đông nhiều lần động viên: “Các ngài là những người lãnh đạo nhà nước trẻ nhất, gánh vác trách nhiệm hết sức nặng nề. Hai vị còn trẻ, tương lai còn dài, cần phải đoàn kết tốt, cố gắng học tập, mạnh dạn công tác; chúng ta cùng cố gắng làm tốt mọi công việc của Tây Tạng, làm tốt công việc trong cả nước. Như thế thì nhân dân Tây Tạng mới được phấn khởi, nhân dân các dân tộc trong cả nước cũng sẽ thấy phấn khởi”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:47:39 pm Ngày Tết của người Tạng tại kinh đô Sau Hội nghị Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc và hội nghị Chính trị Hiệp thương, Đạt Lai, Ban Thiền đi tham quan nhiều nơi trong toàn quốc, cuối tháng 2 năm sau thì trở lại Bắc Kinh đúng vào Tết Mộc dương lịch Tạng. Nhưng, chính quyền phản động Tây Tạng đã mê muội vì tiền, lạc đường quên lối. Pháp danh tĩnh lặng trên một vùng băng tuyết, các Lạt ma niệm đọc thần chú thoá mạ Giải phóng quân; nam giới từ 16 tuổi đến 60 tuổi lần lượt bị gọi nhập ngũ, quân Tạng nhanh chóng bành trướng lên gấp bội, lính các binh chủng và xe cộ ùn ùn chuyển về miền đông Tây Tạng. Phuter báo vụ viên của Anh không ngừng phát sóng bí mật lên không trung ngay tại doanh trại quân Tạng ở vùng này... Ngày 23-2-1955, trong ngày cuối cùng năm lịch Tạng, buổi chiều và buổi tối, Mao Trạch Đông hội kiến Đạt Lai và Ban Thiền ngay tại vườn Phong Trạch nơi ở của người. Đạt Lai và Ban Thiền báo cáo với Mao Trạch Đông về những thu hoạch tâm đắc của mình trong quá trình tham quan thị sát nhiều nơi nội địa của Tổ quốc. Hai vị đều nói: mới giải phóng vài năm mà Tổ quốc phát triển khá nhanh. Chúng tôi thấy rất phấn khởi. Mao Trạch Đông nói: “Trên đất nước chúng ta nhiều nơi còn rất lạc hậu, Tây Tạng cũng lạc hậu; ta phải thừa nhận. Chúng ta thừa nhận là tốt, chúng ta học tập các nước tiên tiến, học tập Liên Xô. Như vậy, chúng ta học tập các quốc gia các dân tộc tiên tiến, chúng ta học tập lẫn nhau giữa các dân tộc trong nước, đoàn kết thân mật, cùng nhau xây dựng, thì các dân tộc chúng ta đều có triển vọng, toàn quốc đều có triển vọng”. Ngày 24-2 là ngày 1-1 lịch Tạng, Đạt Lai và Ban Thiền báo lên Chu Ân Lai là họ muốn vui tết đón xuân long trọng ngay tại Bắc Kinh, xin mời Chủ tịch Mao Trạch Đông, các vị lãnh đạo Trung ương và các nhân sĩ hữu quan cùng đón mừng năm mới. Chu Ân Lai vui vẻ nói: “Chúng tôi nghĩ rằng đã cùng đi với nhau rồi, Trung ương cũng đang chờ đợi sau khi các ngài về sẽ bàn chuyện đón Tết. Trung ương Đảng, Quốc vụ viện xin gửi tới hai vị, và qua hai vị gủi tới toàn thể đồng bào dân tộc Tạng lời chúc mừng năm mới”. Chiều ngày 24, Đạt Lai, Ban Thiền tới Trung Nam Hải rất sớm, chờ đón khách tại cửa phòng nghỉ. Hai vị Phật sống mặc áo dài vải đoạn màu vàng, nét mặt rạng rỡ vui vẻ tươi cười hớn hở. Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai đều đến sớm hơn thời gian dự định, trao đổi chuyện trò với Đạt Lai, Ban Thiền tại phòng nghỉ. Đạt Lai, Ban Thiền chờ đợi khá lâu, không thấy Tổng tư lệnh Chu Đức tới. Hai vị mong muốn Tổng tư lệnh Chu Đức tới cùng đón năm mới. Đạt Lai trò chuyện cùng với Mao Trạch Đông, nhưng ánh mắt luôn liếc nhìn ra phía cửa. Chu Ân Lai hiểu ý, khiêm tốn nói: “Tổng tư lệnh Chu Đức trước đây hai hôm đã đi thị sát rồi, không thể cùng các vị vui tết được, Tổng tư lệnh nhờ tôi chuyển tới các vị lời thông cảm và chúc mừng năm mới”. Hôm ấy, trên hàng nghề sa lông, Mao Trạch Đông ngồi giữa, Đạt Lai, Ban Thiền, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai ngồi hai bên, trên bàn trà bày nhiều thứ bánh trái, hoa quả, các hiện vật tốt lành, sắp đặt hoàn toàn theo tập quán truyền thống dân tộc Tạng. Mao Trạch Đông nói với Đạt Lai, Ban Thiền: “Lát nữa, tôi sẽ nói vài lời chúc mừng ngày tết, được không?” Đạt Lai, Ban Thiền đồng thanh: “Hoan nghênh! Hoan nghênh! Mao Chủ tịch có dạy bảo gì, chúng tôi rất sẵn sàng lắng nghe”. Mao Trạch Đông nói: “Không phải là dạy bảo, mà là chúc mừng”, nói đoạn lấy từ trong túi ra 1 tờ giấy đã gấp sẵn trao cho Lưu Thiếu Kỳ, nói: “Đồng chí xem xem, được không?” Lưu Thiếu Kỳ nhìn lướt, trao ngay cho Chu Ân Lai. Chu Ân Lai xem xong chuyển tới Đạt Lai, và nhẩm trong miệng “rất tốt, rất tốt”. Đạt Lai nhận tờ giấy từ Chu Ân Lai, chuyển tới Mao Trạch Đông rồi học khẩu khí của Chu Ân Lai nói bằng tiếng Hán: “Rất tốt! Rất tốt!” nói đoạn, Đạt Lai cười. Mao Trạch Đông cũng cười theo sảng khoái. Đạt Lai, Ban Thiền cùng chuyện trò vui vẻ với lãnh tụ đất nước, thân thiết vô cùng. Mọi người có mặt hôm ấy đều rất phấn khởi và cảm động. Các phóng viên liên tục, hướng ống kính theo năm vị lãnh tụ, ghi lại hình ảnh mang ý nghĩa lịch sử này. Mấy chục năm đã trôi qua, tấm ảnh Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai cùng Đạt Lai, Ban Thiền vui tết Mộc dương, lịch Tạng tại Bắc Kinh thủ đô của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được in ra không biết bao lần, cho đến hôm nay vẫn còn là báu vật thân thiết nhất của nhân dân Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:52:31 pm Mở đầu bữa tiệc, Đạt Lai Lạt ma phát biểu trước tiên, ông nhiệt liệt hoan nghênh và chân thành cảm ơn Chủ tịch mao Trạch Đông kính mến, Uỷ viên trưởng Lưu Thiếu Kỳ, Thủ tướng Chu Ân Lai, các vị khách quí tới dự chiêu đãi và đồng bào Tạng đang ở Bắc Kinh đón năm mới lịch Tạng; đồng thời gửi lời chúc mừng tới Chủ tịch Mao Trạch Đông và các vị khách quí, cầu mong được “Trát tây đức lạc,, Tốt lành như ý! Sau đó, Đạt Lai mời Chủ tịch Mao Trạch Đông phát biểu ý kiến. Hôm ấy Đạt Lai, Ban Thiền là chủ, dự kiến không có Mao Trạch Đông nói chuyện nhưng ngày đầu tiên trò chuyện cùng hai vị Phật sống đã rất vui vẻ chan hòa, lòng đầy phấn khởi, nên đã tùy hứng ứng xử như vậy. Trước tiên, Mao Trạch Đông gửi lời chúc mừng năm mới tới Đạt Lai, Ban Thiền cùng toàn thể đồng bào Tây Tạng. Sau đó Người nói: “Tất cả chúng ta đều phải cố gắng, tăng cường và củng cố hơn nữa tình đoàn kết giũa các dân tộc, tăng cường và củng cố hơn nữa tình đoàn kết giữa dân tộc Hán và Tạng cũng như nội bộ dân tộc Tạng, cùng nhau xây dựng Tổ quốc vĩ đại của chúng ta”. Bài nói của Mao Trạch Đông tại bữa tiệc được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt; nhiều nhân sĩ Tây Tạng vây quanh Chủ tịch, chúc rượu và tặng khăn Người. Các đại biểu học sinh chen nhau tới bắt tay Chủ tịch, gửi tới Người lời chúc mừng năm mới với tấm lòng tôn tính mến yêu. Thượng tuần tháng 3-1955, Đạt Lai, Ban Thiền chuẩn bị trở về Tây Tạng. Sau tết Tạng lịch, hai vị lần lượt tới Trung Nam Hải từ biệt Mao Trạch Đông. Ngày 8-3 Mao Trạch Đông tới nhà nghỉ của Đạt Lai tại Ngự Hà Kiều tiễn chân, nói chuyện thân mật hồi lâu. Cùng tham dự tiếp kiến có Tướng quân Trương Kinh Vũ đại biểu Chính phủ Nhân dân Trung ương thường trú tại Tây Tạng, Thứ trưởng bộ Mặt trận thống nhất Trung ương, Phó Chủ nhiệm dân ủy Trung ương Lưu Cách Bình và Mông Phong. Ngày 9-3, Mao Trạch Đông tới Sương Quan Lâu thăm Ban Thiền, câu đầu tiên Mao Trạch Đông nói: “Hôm qua tôi tới thăm Đạt Lai hôm nay tới thăm ngài, tiễn chân ngài lên. đường”. Cùng tham gia hội kiến có Uông Phong và Phó Chủ nhiệm dân uỷ Trung ương Lưu Xuân. Mao Trạch Đông hỏi han cặn kẽ mọi sự chuẩn bị cho chuyến về và chỉ thị cho Uông Phong, Lưu Xuân, Kế Tấn Mỹ (người phụ trách phòng hội nghị kham bố của Ban Thiền) phải làm tròn trách nhiệm, tận tâm tận lực để Phật sống về quê bình an vô sự. Ban Thiền cảm động và một lần nữa tỏ lời cám ơn. Lúc này, Mao Trạch Đông châm điếu thuốc “Trung hoa”, hít một hơi dài, nhẹ nhàng nhả khói, suy nghĩ giây lát, nói: “Hôm qua tôi có nói với Đạt Lai, bản thân tôi thu nhập không lớn, chi tiêu không nhỏ. Một là hút thuốc, hai là uống trà, ba là mua sách báo. Như vậy dư dật chẳng đuợc mấy đồng. Các ngài sắp ra về rồi tôi cũng chẳng có gì làm quà, tôi biếu các ngài 8 chữ: Đoàn kết tiến bộ, phát triển mạnh mẽ. Đó là vài lời tiễn chân”. Ban Thiền nói: “Lời chỉ bảo của Mao Trạch Đông hết sức quan trọng. Tôi nhất định ghi mãi trong lòng, cố gắng quán triệt”. Mao Trạch Đông lại nói: “Năm kia tôi đã nói với các bạn trong đoàn dự lễ quốc khánh (Tây Tạng) ý này, hôm nay nhắc lại lời cũ, cốt là để mọi người chú trọng, đoàn kết tốt hơn nữa giành tiến bộ và phát triển”. Mao Trạch Đông lại hỏi: “ông có mong muốn tiến bộ không?” Kế Tấn Mỹ nói: “Tán thành”. Mao Trạch Đông lại hỏi: “ông có mong muốn tiến bộ không?” Kế Tấn Mỹ trả lời “Mong muốn”. Mao Trạch Đông bỏ nửa điếu thuốc đang cháy dở xuống, dang đều 2 tay ra, ngừng trước mặt mọi người, sau đó lai từ từ khép lại, nhìn Ban Thiền với ánh mắt hiền từ, nói: “Tốt, chúng ta đã muốn cùng đi với nhau. Đoàn kết rồi, tiến bộ rồi, cũng sẽ phát triển. Hiện nay chúng ta còn rất nghèo, rất lạc hậu, Tây Tạng phải phát triển, nội địa phải phát triển, toàn quốc đều phải phát triển”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:55:40 pm Đạt Lai đột nhiên đòi gặp Mao Trạch Đông Ngày 10-3-1955, Chu Ân Lai mở tiệc trọng thể để tiễn Đạt Lai, Ban Thiền lên đường. Trong bữa tiệc, Chu Ân Lai và Đạt Lai, Ban Thiền đều có bài nói dạt dào tình hữu nghị, cảm động sâu sắc. Theo kế hoạch, ngày 12-3 Đạt Lai lên đường, có Lưu Cách Bình, Trương Kinh Vũ đi theo; qua Vũ Hán, Tam Hiệp rồi từ Tứ Xuyên vào Tây Tạng. Cùng đi với Ban Thiền có Lưu Xuân qua Tây An rồi từ Thanh Hải về Tây Tạng. Đạt Lai và Ban Thiền tính cách có khác nhau. Ban Thiền hướng ngoại, tính tình thẳng thắn. Đạt Lai tương đối hướng nội, tình cảm ít biểu lộ ra ngoài, tính nết ôn hòa. Nhưng sau khi vui tết lịch Tạng, đặc biệt là trong những ngày sắp rời khỏi Bắc Kinh, Đạt Lai luôn trong tình trạng phấn chấn, tình cảm xúc động. Chuyến đi lần này, kể từ khi được chọn làm linh đồng chuyển thế của Đạt Lai thứ 13 tới nay, là lần đầu tiên xa Tây Tạng, được nhìn thấy thế giới bên ngoài của một vùng tuyết phủ, mở rộng tầm mắt, hiểu biết thêm kiến thức, tiếp xúc với nhiều lớp người, quan hệ không ít bạn bè, đều có ảnh hưởng to lớn đến con đường tương lai lâu dài của vị Phật sống. Nhưng ông cho rằng, ấn tượng sâu sắc nhất, có ý nghĩa nhất, vẫn là cuộc gặp gỡ Mao Trạch Đông. Ngày hôm sau đã sắp xa Bắc Kinh rồi, Trung ương có nói là hàng năm đều họp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, từ nay về sau thường hay qua lại đi về. Tuy là nói vậy song từ Bắc Kinh tới Lạp Tát, núi non hiểm trở, xa cách muôn trùng, mỗi lần ra đi không phải là dễ; lần này vừa đi vừa về, mất ngót một năm. Lần sau, chưa biết khi nào về được, Đạt Lai đột nhiên nảy sinh một nguyện vọng mạnh mẽ: muốn gặp thêm Chủ tịch Mao Trạch Đông một lần nữa. Ông không nén được tình cảm xúc động, sau khi bàn bạc công việc với Lưu Cách Bình, Trương Kinh Vũ, Bình Thế Vượng Giai (Uỷ viên công uỷ Tây Tạng của Trung ương 1) đề nghị Lưu Cách Bình ở lại gặp riêng, ông nói: “Chủ nhiệm Lưu ơi, hôm nay tôi muốn đi gặp Mao Chủ tịch, đề nghị ông báo với Trung ương bố trí”. Lưu Cách Bình giật mình, mấy hôm trước, chả đã gặp rồi là gì? liền hỏi: “Hay là có việc gì quan trọng?” “Không” “Thế..”. Lưu Cách Bình do dự, hỏi tiếp: “Thế đi làm gì”. “Đi chia tay”, Đạt Lai trầm ngâm giây phút, nói: “Tôi muốn gặp Mao Chủ tịch một lần nữa”. Lưu Cách Bình thấy khó xử; từ khi Đạt Lai tới Bắc kinh, Trung ương đã chỉ định ông đi theo, cùng bên nhau suốt nửa vòng đất nước, đã hiểu biết nhau nhiều. Lưu Cách Bình biết rằng Đạt Lai đề xuất muốn gặp Mao Trạch Đông, chắc chắn là rất sát thực, đã được suy nghĩ cẩn thận. Làm sao có thể dễ dàng cự tuyệt được? Nhưng Đạt Lai, Ban Thiền hoạt động tại Bắc Kinh, đều phải qua Trung ương thảo luận quyết định, và do Chu Ân Lai bố trí. Việc lớn như vậy làm sao có thể quyết định ngay được, thêm nữa, Mao Trạch Đông rất bận, mọi hoạt động của Người, Trung ương có qui định chặt chẽ phải sắp xếp sớm, có khi bản thân Mao Trạch Đông cũng không chủ động được. Không thỉnh thị không được, thỉnh thị rồi cũng không được. Người có trách nhiệm sẽ chất vấn: ông Lưu Cách Bình, bản thân ông là Thứ trưởng Bộ Mặt trận thống nhất Trung ương, Trung ương trao cho ông công việc trọng đại như vậy, lẽ nào ngay một điều thuộc về kỷ luật của Đảng ông cũng không hiểu? Nhìn Đạt Lai Lạt ma trước mặt, thái độ thành khẩn như vậy kiên nhẫn như vậy, không hề tỏ ý từ bỏ yêu cầu của mình, Lưu Cách Bình thấy không thể khước từ. Làm thế nào bây giờ? Lưu Cách Bình con người có cá tính rất rõ, dám nghĩ dám làm, suy nghĩ một lát, ông nói với Đạt Lai: “Xin ngài đợi một chút, tôi đi thỉnh thị ngay”. Ông quyết định trực tiếp thỉnh thị văn phòng Trung ương, mọi hậu quả bản thân ông phải gánh chịu. Cơm trưa xong, văn phòng Trung ương vẫn chưa trả lời sau bữa tối, cũng không có động tĩnh gì. Theo kế hoạch đã định, mỗi hoạt động của Đạt Lai đều bình thường. Đến hơn 11 giờ đêm vẫn không có tin vui. Đạt Lai hơi thất vọng, không được mãn nguyện, còn có đôi phần hối hận, hôm nay hơi đường đột làm khó cho Trung ương. Lưu Cách Bình, càng cảm thấy không yên tâm, ông suy nghĩ rất nhiều, cảm thấy sự việc chưa xử lý tốt. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:56:21 pm Đạt Lai nói: “Lưu Chủ nhiệm ơi, Mao Chủ tịch rất bận, hôm nay xem ra không thể tiếp kiến được. Ông không cần chờ đợi nữa, sớm mai tôi đã đi, ông nên về sớm nghỉ ngơi đi”. Đạt Lai tự an ủi mình: “Thực ra tôi cũng không có công việc gì. Sau đây nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới Mao Chủ tịch”. Lưu Cách Bình hiểu rất rõ qui định của Trung ương, theo thường lệ, đến giờ này không có tin gì, chắc chắn là Mao Chủ tịch không tới được, ông thật lòng khuyên Đạt Lai nên đi nghỉ sớm, rồi cáo từ ra về. Tiễn chân Lưu Cách Bình đi ra, Đạt Lai thắp hương cầu khấn, ngồi tĩnh tại tụng kinh - đó là tập quán từ lâu rồi, cũng là điều qui định mà Phật sống phải tuân theo. Lúc này trong phòng của Đạt Lai, ngoài ông ra, chỉ còn hai người, một người là “Tẩm quan” chuyên lo công việc ăn nghỉ, tiếng Tạng gọi là “Thân bản”; còn một người nữa là trưởng phòng bảo vệ được Công ủy Tây Tạng cử đi, cũng là người dân tộc Tạng. Theo qui định, chờ cho Đạt Lai lên giường nghỉ ngơi, tắt đèn rồi mới được đi khỏi. Đột nhiên người gác cổng vội vàng chạy tới kêu: “Mao Chủ tịch tới rồi?” “Cái gì?” Đạt Lai quả thật không còn tin vào tai mình. Người gác cổng không còn giữ được lễ phép thường ngày, vội vàng nói: “Mao Chủ tịch đến rồi”. Đạt Lai nhanh nhẹn ra cổng đón tiếp. Mao Trạch Đông đã đi vào phòng khách chỉ có hai nhân viên công tác cùng đi, ngoài ra không có đồng chí lãnh đạo nào khác, Mao Trạch Đông nắm tay Đạt Lai cùng ngồi xuống ghế. Không có phiên dịch, đành phải nhờ trưởng phòng bảo vệ làm thay. Lúc này tầng trên tầng dưới đèn điện sáng trưng, cả khu vực sôi động tấp nập. Đạt Lai vội nói: “Nhanh đi tìm phiên dịch? Tìm Chủ nhiệm Lưu”. Chờ mọi người yên lặng, Mao Trạch Đông nói với Đạt Lai: “Thật thà xin lỗi, để Phó Uỷ viên trưởng chờ lâu quá. Tôi vừa nhận được báo cáo, nói là Đạt Lai muốn tới thăm tôi. Tôi bảo là đi sao được? Ngày mai đã phải về rồi, lẽ ra tôi phải tới tiễn chân. Khuya lắm rồi, có ảnh hưởng gì đến tụng kinh không? Nếu không ảnh hưởng thì Đạt Lai hãy đi nghỉ!” Đạt Lai lòng dạ không yên, xúc động nói: “Thưa Mao Chủ tịch, tôi thật sự xin lỗi, quá làm phiền Chủ tịch”. Đến lúc này Đạt Lai đi chú ý tới Mao Trạch Đông đang mặc áo ngủ hơi dài. Lẽ nào Chủ tịch đã đi nghỉ rồi? Nhìn ánh mắt ngạc nhiên của Đạt Lai, nhân viên công tác bên cạnh Chủ tịch nói: “Chủ tịch đã đi nghỉ rồi, đang nằm trên giường xem báo, nhận được báo cáo, liền dậy đi ngay”. Đôi mắt Đạt Lai rớm lệ. Và suy nghĩ xa xôi, suy nghĩ rất nhiều. Năm xưa Đạt Lai thứ 5 về kinh, Vua Thuận Trị muốn đi ra khỏi thành đón tiếp, nhưng văn võ bách quan phản đối, nói rằng Hoàng đế thiên quốc là Thiên tử, làm sao mà có thể ra khỏi thành đón khách được, mặc dù là khách rất quí trọng. Sau đó Vua đã ra khỏi thành với danh nghĩa “đi săn” để “hội ngộ” Đạt Lai thứ 5 ở ngoại thành,vừa tỏ ý hoan nghênh đón tiếp, vừa không mất vẻ tôn kính của Thiên tử, câu chuyện ấy trở thành giai thoại một thời. Đầu thế kỷ này, Đạt Lai Lạt ma về Bắc Kinh muốn gặp Hoàng thượng, Hoàng Thái hậu; Tây thái hậu, muốn Đạt Lai phải khấu đầu, cử hành đại lễ, không như vậy thì không gặp. Ban Thiền thứ 6 vào nội địa, Hoàng đế Càn Long hội kiến tại biệt thự nghỉ mát, cũng đã coi là “ơn vua trời biển”? Còn Ban Thiền thứ 9 thì lưu lạc giang hồ mấy mươi năm, gặp cảnh quân phiệt hỗn chiến, hỗn quân hỗn quan, chịu mọi gian truân, đủ điều khổ nhục. Mà hôm nay, Mao Chủ tịch quan tâm đến ta quí mến ta như vậy, làm sao mà không xúc động muôn phần? Mao Chủ tịch so với Thuận Trị, Càn Long, Tây Thái hậu, như đại dương với giọt nước, như non cao với cát bụi, như mặt trời với đom đóm. Con người tụng kinh niệm Phật thường dễ có ảo giác. Đạt Lai Lạt ma cảm thấy ngồi trước Mao Chủ tịch, như không phải trước một con người, mà là một pho bia lịch sử là một vừng dương. Theo hồi ức của Lưu Cách Bình sau này, thì sáng ngày 11, sau khi Đạt Lai nêu nguyện vọng muốn gặp Mao Trạch Đông, ông đã thỉnh thị ngay về văn phòng Trung ương, không hiểu mắc mớ ở chỗ nào. Mãi đến đêm khuya mới báo cáo lên Chủ tịch. Lưu Cách Bình lúc đó rất lo lắng: một là Đạt Lai không gặp được Mao Trạch Đông, e rằng ông ta không phấn khởi; hai là gây lộn xộn việc bố trí của Trung ương, sợ bị phê bình, cả hai đều khó xử. Ông sẵn sàng chuẩn bị tư tưởng chịu phê bình và viết kiểm thảo. Lưu Cách Bình yên tâm mừng rỡ: “Chủ tịch đã tới cũng giải thoát được cho mình”. Ông còn kể rằng: “Như chúng ta biết, Mao Chủ tịch từ năm 1949 về Bắc Kinh, chỉ có hai lần mặc áo ngủ ra khỏi Trung Nam Hải, một lần là năm 1972 đi dự lễ truy điệu Nguyên soái Trần Nghị người bạn chiến đấu của Mao Thạch Đông, một lần nữa là tiễn chân Đạt Lai Lạt ma. Sự kiện này khiến Đạt Lai Lạt ma cảm động sâu sắc. Trong thời gian rời Bắc Kinh đi tham quan thị sát, Lưu Cách Bình thường giảng giải cho Đạt Lai về lịch sử phát triển xã hội và lịch sử cách mạng Trung Quốc, Đạt Lai tỏ ra rất hứng thú khi học tập chủ nghĩa Mác. Sau khi về Lạp Tát, Đạt Lai đã sáng tác một chùm thơ “ca ngợi Mao Trạch Đông” với tấm lòng tôn kính. Ôi! Mao Trạch Đông! Ánh hào quang và sự nghiệp của người Như trời Phật tạo lập nên thế giới Từ thiện căn mới nảỷ sinh một lãnh tụ thiên tài Như vừng hồng tỏa sáng khắp nơi nơi Trước tác của Người như Ngọc châu bảo bối Như sóng biển dập dờn dữ dội Qua trùng dương lan tỏa tận chân trời. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:58:16 pm PHẦN 8 NGỌN LỬA ÁC LAN TỎA Trung ương phong quân hàm cho quân Tạng Theo “Hiệp nghị 17 điều” quy định: “Quân đội Tây Tạng phải từng bước cải biên thành quân giải phóng nhân dân, trở thành một bộ phận của lực lượng Quốc phòng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”. Nhưng do thế lực chóp bu ở Tây Tạng và bọn theo chủ nghĩa phân biệt trong ngoài nước ra sức gây cản trở, kế hoạch cải biên ấy vẫn chưa được thực hiện. Tháng 12-1952, Chính phủ địa phương Tây Tạng tự ý cắt giảm lực lượng già yếu dư thừa trong quân đội Tây Tạng, giữ lại biên chế 5 trung đoàn với 3200 người, trong đó có 178 sĩ quan. Chính phủ địa phương Tây Tạng ra sức khống chế đội quân vũ trang này trong tay của họ, với mục đích rất rõ ràng và dễ hiểu. Tháng 10-1955, Trương Quốc Hoa, Trương Kinh Vũ, Đàm Quán Tam, A Bái A Vượng Tấn Mỹ được Trung ương phong quân hàm Trung tướng để tỏ rõ thiện chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mặc dầu chưa được cải biên, tháng 4-1956, khi quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc ban bố quân hàm, Tướng Trương Quốc Hoa Tư lệnh quân khu Tây Tạng vẫn tổ chức lễ phong hàm long trọng đối với quân Tạng và đãi ngộ như sĩ quan quân Giải phóng. Cách Tang Vượng Đôi trong cuộc khởi nghĩa chiến dịch Xương Đô được phong quân hàm Đại tá và được tặng Huân chương Giải phóng hạng 2. Ngoài ra, sáu sĩ quan trong năm trung đoàn quân Tạng, lúc này đều được phong quân hàm Trung tá và Thượng tá. Sau khi thực hiện chế độ quân hàm, công tác tư tưởng trong bộ đội vào Tây Tạng phức tạp thêm. Vì vậy Công uỷ Tây Tạng đã phải làm nhiều công việc. Qua sự so sánh, rất nhiều chiến sĩ đã nghe theo cách nói của Trương Quốc Hoa, có sức thuyết phục mọi người: “Tư tưởng trường kỳ xây dựng Tây Tạng có cần phải xác lập hay không, quả không đơn thuần. Nó biểu hiện trong thời hạn ở lại Tây Tạng 10 năm 20 năm hoặc suốt đời, thậm chí không hề nghĩ tới nội địa đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng không nghĩ tới quê hương nơi mình sinh ra và trưởng thành, cũng không nghĩ tới gia đình cha mẹ vợ con, nếu đòi hỏi như vậy là một sai lầm lớn đối với sự nghiệp lâu dài xây dựng Tây Tạng. Bởi vì nghĩ như vậy, tức là đã quên đi Tây Tạng là một bộ phận thống nhất của sự nghiệp xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, sẽ không có quyết tâm và dũng khí biến Tây Tạng lạc hậu trở thành Xêbêria của Tổ quốc chúng ta..”. Có người cho rằng cách nói này đối với bộ đội là quá mức cầu toàn, tuy vậy Trương Quốc Hoa vẫn kiên trì: “Ở Tây Tạng, chịu gian khổ thậm chí phải hy sinh, điều ấy không có gì cần bàn cãi. Nhưng cần phải xuất phát từ trình độ giác ngộ hiện thời của bộ đội chúng ta. Trước mắt chỉ cần có được một nhận thức đúng đắn về chính trị”. Có người còn cho rằng, kiểu cách điệu này quá thấp. Trương Quốc Hoa đã lần lần giải thích: “Vẫn không thể nói ở Tây Tạng là không gian khổ, tư tưởng con người là phức tạp, có chỗ thuộc về vấn đề trường kỳ xây dựng Tây Tạng, có vấn đề không phải như vậy, cần phân tích cụ thể, giải quyết khác nhau, không thể tổng quát lại nói là tư tưởng trường kỳ xây đựng Tây Tạng không thông suốt, cũng không thể nêu lên những khẩu hiệu mang tính kích thích. Có một số đồng chí nghĩ về nội địa, nhớ quê hương nhớ người thân; chỉ cần không ảnh hưởng tới công tác, không nên phản đối tất cả điều đó”. Thành lập Uỷ ban trù bị khu tự trị Tây Tạng Tháng 4-1956, Uỷ ban trù bị khu tự trị Tây Tạng chính thức được thành lập. Đạt Lai làm Chủ nhiệm, Ban Thiền làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất, Tư lệnh Trương Quốc Hoa làm Chủ nhiệm thứ 2. Trung ương cử một đoàn đại biểu do Trần Nghị làm trưởng đoàn tại Tây Tạng, đặc biệt giải quyết một loạt công việc ở cấp cao, công tác Tây Tạng xuất hiện cục diện mới. Nhưng trước tình hình sáng sủa của buổi đầu, vẫn còn thấp thoáng những bóng đen lẩn khuất, trên con đường đi lên còn không ít khúc khuỷu gian nan. Bọn phản động trong Chính phủ địa phương Tây Tạng và giai cấp chủ nô bắt đầu có sự chống đối từ bí mật đến công khai đối với “Hiệp nghị 17 điều”. Chúng dùng trăm phương nghìn kế cản trở Tây Tạng tiến hành cải cách xã hội cần thiết, mặc dầu những cải cách này lúc ấy Trung ương vẫn rất khẳng định và thận trọng. Bọn cầm đầu phản động trong giai cấp chủ nô vẫn cố tình duy trì chế độ nông nô “tốt đẹp và thiêng liêng”. Còn những hoạt động của bọn “Tây Tạng độc lập” được thế lực đế quốc ra sức cổ động vẫn khi ẩn khi hiện, chưa lúc nào lắng xuống. Nhất là có một số người công khai trương chiêu bài “bảo vệ chính giáo” mang rõ tính chất bịp bợm và kích động không thể xem thường. Bộ đội vào Tạng tuân theo chỉ thị của Trung ương Đảng, luôn luôn cảnh giác với mọi thủ đoạn thâm hiểm của thế lực bên ngoài đối với Tây Tạng sau khi hòa bình giải phóng, và kiên trì khuyên ngăn những nhân vật cấp cao Tây Tạng không nên làm những việc gì bất lợi cho sự nghiệp thống nhất Trung Hoa; không thì hậu quả hối hận không kịp. Cùng với thời gian, cuộc đấu tranh giữa phân biệt và chống phân biệt ngày càng gay gắt và phức tạp. Bọn theo chủ nghĩa phân biệt được thế lực đế quốc bí mật thao túng, âm mưu lại một lần nữa tạo ra sự bất hòa giữa hai người Đạt Lai và Ban Thiền, từ đó lật đổ Ban Thiền, một đại sư kiên định lập trường yêu nước chống đế quốc ủng hộ Trung ương, gây nên cuộc đại loạn sau khi giải phóng Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 09:59:36 pm Màn kịch Ban Thiền giả Mùa xuân 1955, một quan chức tình báo Mỹ không rõ họ tên đóng vai “du khách” đi du lịch thành Cát Luân, đặc biệt đã hội kiến với Patesen một giáo sĩ người Scôtlan thuộc lĩnh vực chính trị. Đạt Lai Lạt ma có uy tín và thông hiểu tình hình Tây Tạng. Vị “du khách” ấy trước đây có tham gia hội nghị những phần từ cao cấp chạy trốn của Chính phủ địa phương Tây Tạng, và đã mời Patesen làm phiên dịch bốn ngày. Người Mỹ này nêu ra một phương án viện trợ 10 năm, âm mưu lật đổ sự thống trị của Trung quốc ở Tây Tạng, và sẽ cử một nhân viên đặc công Mỹ chuyên nghiệp không có quan hệ với Đại sứ quán Mỹ đặc trách công việc Tây Tạng, được Lạp Gia Bang Đạt Xương đại biểu Tây Tạng dự hội nghị gật đầu đồng ý. Hội nghị này do Patesen làm phiên dịch đã thay mặt Cục Tình báo Trung ương Mỹ quyết định cuối cùng về Tây Tạng. Mùa thu năm 1955, bọn chủ nghĩa phân biệt bắt đầu trình diễn màn kịch dựng lên Ban Thiền giả. Năm 1927, sau khi Ban Thiền thứ 9 qua đời tại Thanh Hải, phòng Hội đồng Kham bố Ban Thiền đã tìm thấy Cung Bảo Linh đồng nối ngôi tại Tuần Hóa Thanh Hải, và đã được Chính phủ Trung ương lúc ấy chính thức phê chuẩn, xác lập Ban Thiền thứ 10, tất cả đều phù hợp với thông lệ lịch sử Tây Tạng và trình tự tôn giáo. Đồng thời, Chính phủ Cát Hạ Tây Tạng cũng tìm được một Linh đồng tại Lý Đường Tứ Xuyên, nhưng chưa được xác nhận, mà lại không muốn từ bỏ; thế là họ tìm cách giữ linh đồng ấy tại thôn Giáp Khang thuộc chùa Trát Thập Luân Bố ở Nhật Khách Tắc, được coi là “Liệt đương phật sống”. Hiện tại bọn phân biệt lại đề cao Phật sống này, nói là “Ban Thiền thứ 10” thật sự lên thay thế. Thế là, lời đồn đại lan truyền khắp vùng Tây Tạng, có người còn tô vẽ thêm rằng: “Ban Thiền do quân Giải phóng đưa về là Ban Thiền giả, là người Hán áp đặt cho Tây Tạng. Ban Thiền thật là Liệt đương Phật sống”... Đến đầu tháng 10-1955, dư luận đồn đại ấy trở thành cao trào. Nhưng chính trong thời điểm ấy, vị Liệt đương Phật sống Ban Thiền giả ấy đã mất tích tại chùa Trát Thập Luân Bố và đi đâu không rõ. Tại văn phòng Công ủy Tây Tạng, tướng Trương Kinh Vũ triệu tập hội nghị khẩn cấp, bàn bạc cùng các lãnh đạo ban ngành hữu quan về tình hình đột biến vừa qua. Theo sự phân tích tình hình, vị Ban Thiền giả này rất có thể bị ép buộc chạy ra nước ngoài, bọn phân biệt có ý đồ dựng nên “Ban Thiền thật tại nước ngoài”. Hội nghị phân tích rằng: “Đây rất có thể trở thành một sự kiện chính trị đã có mưu đồ từ lâu, chúng ta nhất định không thể để cho âm mưu của họ thực hiện được”. “Nếu Ban Thiền giả chạy thoát, thì sẽ tổn thất nghiêm trọng tới uy tín của đại sư Ban Thiền trong lòng nhân dân Tây Tạng, gây ảnh hưởng bất lợi, thật nghiêm trọng cho đoàn kết dân tộc và tình hình Tây Tạng”. Mọi người tham gia hội nghị ai nấy đều hết sức sốt ruột, đều xôn xao đề nghị Công uỷ Tây Tạng và bộ đội quân Giải phóng vào Tây Tạng thực hiện biện pháp kiên quyết ngăn chặn âm mưu chính trị của các phần tử phân biệt. Qua bàn bạc khẩn trương, lãnh đạo Công uỷ Tây Tạng đã thỉnh thị Trung ương, quyết định thông báo điện, hạ lệnh cho các cửa khẩu, hải quan, yêu cầu quân đội tại các cửa khẩu, các trạm gác hải quan tổ chức lực lượng, kiểm soát nghiêm ngặt, một khi phát hiện thấy tông tích Ban Thiền giả, thì lập tức thực hiện mọi hình thức thích đáng, kiên quyết can ngăn hành động trốn ra nước ngoài. Mọi tuyến đều phát lệnh, các cửa khẩu trạm canh đều tăng cường cảnh giới. Sáng ngày 24-10, tại phía đông đầu cầu thôn Thanh Phi ở cửa khẩu biên giới Trung Quốc, trước cửa phòng ngoại sự Á Đông ồn ào huyên náo, người qua lại tấp nập không ngừng. Thương nhân, lái xe, dân vùng biên giới chen chúc đứng chờ bên cửa sổ chờ thị thực xuất nhập cảnh, có 3 người dân Tạng trang phục kiểu thương nhân tĩnh lặng chờ đợi không vội vã chen chúc, nét mặt thiếu tự nhiên. Mọi hành vi của họ khiến nhân viên biên phòng chú ý. Đến hơn 12 giờ trưa, người thưa thớt hơn, họ đi tới làm thủ tục thị thực, hai chiến sĩ quân Giải phóng hoà nhã tới gần. “Xin lỗi các ông, chúng tôi có chút việc muốn gặp các ông” “Việc gì vậy, chúng tôi chờ chuyển hàng hóa mà” Ba người ấy miễn cưỡng theo vào phòng, ngồi xuống ghế. Qua trò chuyện thiện chí nhiệt tình khoảng mười phút của Ca Đạt trạm trưởng biên phòng người Tạng, tất cả đều lộ rõ nguyên hình ... Một trong ba người ấy có một thanh niên ngoài 20 tuổi người tầm thước, mặt mũi trắng trẻo, thái độ ngượng ngùng đã lộ rõ tư cách đóng giả dân buôn, ngượng nghịu nói: “Tôi chính là Liệt đương Phật sống Ban Thiền giả mà người ta đặt cho, lần này họ bố trí cho tôi bí mật vượt biên ra nước ngoài”. Qua giải thích tuyên truyền về chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Liệt đương Phật sống đồng ý không ra nước ngoài nữa. Để đề phòng bất trắc, trạm biên phòng đồng ý để anh ta tạm trú tại Á Đông; sau đó Công uỷ Tây Tạng sẽ cử người tới, đưa Liệt đương Phật sống trở về Nhật Khách Tắc thật chu đáo, thỏa mãn nguyện vọng của vị phật sống này. Sự kiện Ban Thiền giả được dựng nên do bọn phản loạn trước đây tạo ra đã phá sản... Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:00:35 pm Chu Ân Lai gặp Đạt Lai và Ban Thiền tại Niu Đêli Tháng 11-1956, Đạt Lai Lạt ma, Đại sứ Ban Thiền nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Nê Ru, tới Niu Đêli tham gia kỷ niệm 2500 năm Thích Ca Mâu Ni niết bàn. Mấy ngày trước khi Đại sứ của vị phật ấy sắp tới, không khí chính trị khác thường, tổ chức “Hội đồng nhân dân” của thế lực phân liệt đã đi vào bí mật, bỗng lại phục hồi hoạt động công khai. Họ tụ tập gây rối, gửi thư kiến nghị, tung tin đồn nhảm; ngang nhiên kêu gọi phản đối Uỷ ban trù bị khu Tự trị Tây Tạng, phản đối cải cách dân chủ. Một thời gian khắp vùng Lạp Tát mây gió mịt mờ, tưởng chừng bão tố... Một ngày cuối năm 1956, lãnh đạo của quân Giải phóng nhận được báo cáo cho biết tình hình thế lực phân liệt định bí mật gây bạo loạn vũ trang tại Tây Tạng, đồng thời âm mưu bao vây Đạt Lai và Ban Thiền ở Ấn Độ, yêu cầu hai vị ở lại Ấn Độ, công khai tuyên bố “Tây Tạng độc lập” đẩy Đạt Lai và Ban Thiền đến bước đường cùng. Trong tình thế cấp bách ấy, tướng Trương Quốc Hoa và Trương Kinh Vũ khẩn trương quyết định thỉnh thị ngay Trung ương, đồng thời tổ chức lực lượng đấu tranh trực diện với thế lực phản động và bọn phân liệt. Để tỏ rõ thiện chí lớn nhất, Trung ương lại một lần nữa quyết định nhượng bộ một bước quan trọng với tôn chỉ “muốn tiến hành cải cách bằng phương thức thương lượng hòa bình” theo tình hình cụ thể ở Tây Tạng. Trung ương quyết định: Ra sức thuyết phục quảng đại quần chúng dân tộc Tây Tạng đã giác ngộ mong muốn nhanh chóng cải cách dân chủ, đồng thời công bố rõ ràng: Trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 2, Tây Tạng không tiến hành cải cách dân chủ, trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 3 có cải cách hay không, cũng phải đến lúc đó xem xét tình hình sẽ quyết định ... Như vậy có nghĩa là để đẩy mạnh cải cách dân chủ theo phương thức hòa bình, Trung ương kiên nhẫn kéo dài thời gian chờ đợi cho mãi tới 1967. Nhưng những nhân vật phản động chóp bu ở Tây Tạng ngày càng làm cho tình hình thêm phức tạp, cục diện Lạp Tát ngày càng mất ổn định, lúc này Đạt Lai và Ban Thiền đều đang ở Ấn Độ, tình hình Tây Tạng có nguy cơ không khống chế được. Do đó, Trung ương điện cho Trương Kinh Vũ và Trương Quốc Hoa: Bộ đội và sĩ quan quân Giải phóng ở Tây Tạng, đồng thời với việc chuẩn bị sẵn sàng ứng phó khi cần thiết, phải cố gắng đoàn kết quần chúng Tây Tạng và lực lượng yêu nước cấp cao, đi vào cuộc sống đấu tranh chính trị khó khăn hơn. Thủ tướng Chu Ân Lai đang thăm Ấn Độ cùng lúc nhận thêm một nội dung mới trong chương trình của mình là hội kiến Đạt Lai và Ban Thiền đang ở thăm Ấn Độ. Tại Niu Đê li Thủ tướng Chu Ân Lai gặp gỡ trao đổi với Đạt Lai và Ban Thiền trong thời gian khá lâu, lần lượt truyền đạt quyết định của Trung ương sẵn sàng kéo dài thời gian cải cách dân chủ ở khu vực Tây Tạng, hy vọng các vị cùng nhau đoàn kết góp phần cống hiến của mình vào sự nghiệp xây dựng Tây Tạng. Qua ý kiến trao đổi của Thủ tướng, Đạt Lai nói là: “Nhất định nghiên cứu nghiêm túc ý kiến của Trung ương”. Ban Thiền thì khẳng định với Thủ tướng Chu Ân Lai: “Kiên quyết ủng hộ quyết định của Trung ương, nguyện toàn tâm toàn lực chấp hành tốt chỉ thị của Trung ương, đã theo con đường quang minh chính đại yêu nước thương dân!” Với tấm lòng rộng mở và thái độ chân thành Thủ tướng Chu Ân Lai đã thuyết phục hai vị thần vương Tây Tạng, góp phần cống hiến to lớn làm xoay chuyển tình hình Tây Tạng. Ngay cả một số người có cách nhìn sai lệch cũng phải thừa nhận: “Cuộc trao đổi của Thủ tướng Chu Ân Lai với Đạt Lai và Ban Thiền trong thời gian sang thăm Ấn Độ có tác dụng không nhỏ...” Đại sư Ban Thiền trước tiên bằng hành động của mình đã tỏ rõ lập trường yêu nước kiên định, không sợ mọi trở ngại của thế lực phân liệt trong ngoài nước, mưu trí dũng cảm gạt bỏ mọi rối ren, quyết tâm trở về Tây Tạng. Sau đó ít lâu, Đạt Lai cũng rời Ấn Độ về nước... Âm mưu của thế lực chia cắt lại một lần nữa bị đập tan. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:01:44 pm Cục tình báo Trung ương Mỹ bày kế cho Đạt Lai đi khỏi Tây Tạng Mọi người thường nghĩ rằng hoạt động của Cục Tình báo Trung ương Mỹ chỉ tiến hành sau khi Đạt Lai và Trung ương công khai xảy ra xung đột, đặc biệt không hiểu rõ được trước khi sự việc đó phát sinh, việc kích động bạo loạn đã được tiến hành rất sớm. Ví như chuyện hồi ức của một người Tây Tạng có tên là Vượng Đới: Năm 1956 ông ta đã rời khỏi Tây Tạng, do đặc vụ Mỹ đưa ra nước ngoài huấn luyện, sau này bí mật nhảy dù về Tây Tạng tham gia hoạt động quân sự, qua khoảng 10 năm, mãi đến 1966 mới về định cư tại Nê Pan, quá trình ấy thần bí mà quanh co, giống như chuyện tiểu thuyết gián điệp điển hình. Tốp gián điệp đầu tiên được Cục Tình báo Trung ương Mỹ huấn luyện do Gia Lạc Đôn Chu tổ chức gồm 6 người. Lúc đầu đi bộ khỏi thành Cát Luân nằm trên biên giới Ấn-Tạng, sau đó Đôn Chu đưa xe chở họ tới Siligauri, cấp thêm la bàn, tiếp tục đi bộ tới Đông Ba (biên giới Bengal ngày nay) do đặc vụ Mỹ đón tiếp. Sau khi đã cải trang triệt để, lại đi bộ tới Đạt Ca. Sau đó bay hơn 5 giờ nữa, hình như là tới Đài Loan, thay mặc quân phục, cùng với anh cả của Đạt Lai được huấn luyện đặc vụ. Trong vòng 4 tháng học phân biệt địa hình, sử dụng vô tuyến điện và thao tác vũ khí. Mùa thu 1957, nhóm của họ nhảy dù xuống Tây Tạng bằng máy bay quân sự Mỹ. Ngoài trang bị vũ khí, tiền bạc và máy vô tuyến ra, mỗi người còn được cấp hai lọ thuốc độc, phòng khi bị bắt thì tự sát. Để xóa dấu vết, họ bỏ hết mọi nhãn hiệu trên các trang bị kể cả thuốc. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là tới Lạp Tát chống đối Đạt Lai, khiến Đạt Lai cắt đứt quan hệ với Trung ương công khai yêu cầu Mỹ viện trợ. Đáng tiếc là nhiệm vụ lần này không thể hoàn thành được. Thủ lĩnh của bọn họ đã gặp được Bạc Lạp Sĩ Đăng Duy Đăng thư ký của Đạt Lai, nhưng sau đó lại khuyên đồng bọn từ bỏ kế hoạch và cự tuyệt gặp lại. Sau khi thất bại, Cục Tình báo Trung ương Mỹ quyết định đến cuối năm 1958 thả dù một lượng vũ khí lớn cho những người Khang Ba hiếu chiến trong nội địa Tây Tạng, gồm 100 khẩu súng trường kiểu Anh, 2 móc chê và một số lựu đạn và đạn dược. Đồng thời chuyển doanh trại huấn luyện đặc vụ từ Đài Loan tới đảo Seban, rồi lại đưa về Camp Hale nước Mỹ (nguyên là vùng này địa thế cao thích hợp với dân tộc Tạng để có thể luyện tập võ nghệ Tây Tạng). Tháng 3-1959, trước khi xảy ra xung đột trực diện giữa chính quyền Tây Tạng và Trung ương, theo hồi ức của C. Patterson người Mỹ đã từng tham gia công việc cơ mật ở Cục Tình báo Trung ương Mỹ, cục này đã thực hiện kế hoạch lừa dối Đạt Lai rời khỏi Lạp Tát. Thợ nhiếp ảnh và báo vụ vô tuyến sớm được bố trí theo sát Đạt Lai, do đó giữa đường khi chạy sang Ấn Độ Cục tình báo đã bố trí cả máy bay đặc biệt thả xuống những đồ dùng cần thiết, máy bay vận tải C130 bay trong điều kiện bầu trời Tây Tạng không khí loãng mỏng, đồng thời Cục Tình báo tại căn cứ Đạt Ca kịp thời nhận được sự liên lạc chặt chẽ với chuyến đi của Đạt Lai. Đúng như R.Bisell nhân viên công tác tham dự kế hoạch này nói, không có kế hoạch và sự theo sát của nhân viên Cục tình báo Trung ương Mỹ thì Đạt Lai không thể ra đi thuận lợi. Song do diễn biến của thời cuộc, máy bay gián điệp U2 bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô, cuộc xâm nhập Cu Ba thất bại, lại thêm cuộc chiến bán đảo Đông Dương ngày càng xấu đi, khiến cho Cục tình báo Trung ương phải bỏ dở kế hoạch quân sự, tiếp tục hoạt động mạnh mẽ tại vùng Tây Tạng và Thanh Hải. Mỹ huấn luyện bọn phản loạn Tây Tạng Hàng loạt âm mưu bị đập tan, nhưng bọn phản động chóp bu tại Tây Tạng chưa chịu cam tâm. Mặc dầu Chính phủ Nhân dân Trung ương đã thiện chí, cố gắng lớn nhất giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng phương thức hòa bình, không chỉ tuyên bố kéo dài cải cách dân chủ, mà còn giảm bớt số lượng bộ đội và nhân viên công tác tại Tây Tạng, nhưng tập đoàn phản động chóp bu ở Tây Tạng vẫn không vì vậy mà ngừng hoạt động chia rẽ và phiến loạn, một âm mưu lớn hơn nữa lại bắt đầu thực hiện ... Ngày 20-5-1957 “Hội đồng nhân dân Tây Tạng” giả hiệu, nhanh chóng trở thành tổ chức võ trang phản cách mạng “Khúc tế cường châu” hay là “Tứ thủy lục cương”' ngang nhiên hô hào “vĩnh viễn không cải cách”. Mùa xuân năm 1958, sĩ quan giảng dạy của Cục Tình báo Trung ương Mỹ bí mật huấn luyện một nhóm phần tử chia cắt Tây Tạng tại Hải Nhĩ Doanh. Quản lý kế hoạch hành động kín đáo này là một nhân vật trọng yếu của Cục Tình báo Trung ương Mỹ, Sáctơ Maiuôn Bixair. Kế hoạch huấn luyện bọn phân liệt Tây Tạng của Cục Tình báo Trung ương Mỹ vẫn được tiến hành. Tháng 8-1958, mấy người Tây Tạng đã được Cục Tình báo Trung ương huấn luyện tại Hải Nhĩ Doanh lên một máy bay do người Mỹ lái, nhảy dù xuống phía nam Lạp Tát và khu vực Cống Ca, mỗi người được trang bị 1 súng ngắn, 1 súng trường tự động, máy phát tin và thuốc độc (tự sát khi cần thiết). Hai người Tạng nhảy dù xuống vùng phụ cận Lạp Tát, đột nhập vào cung La Bố Lâm Ca Hạ, hội kiến với Bạc Lạp Sĩ Đang là Tổng quản của Đạt Lai. Sau hội đàm Bạc Lạp trao cho họ một lá thư, dặn dò phát về Mỹ qua vô tuyến điện. Trong thư có nói, bạo động vũ trang không có tiền đồ, biện pháp tốt nhất là thả bom nguyên tử xuống Tây Tạng. Hai người Tây Tạng nhảy dù này, về sau đã liên hệ được với nhân viên đặc công Mỹ qua vô tuyến điện và sau đó chuyển về hoạt động tại vùng phía nam Tây Tạng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:04:03 pm Bọn phiến loạn xây dựng căn cứ địa vũ trang Ngày 20-4-1958, “Tứ thủy lục cương” đã tổ chức thống nhất hơn 5.000 phần tử phiến loạn từ các tỉnh phụ cận và vùng Xương Đô tập hợp lại, bí mật ký kết đồng minh với quân Tạng và chùa Tam Đại. Ngày 15-6, bọn phiến loạn xây dựng căn cứ địa vũ trang tại Triết Cổ Tông Sơn Nam. Mao Trạch Đông hết sức chú ý tới tình hình phát triển này, trong bản chỉ thị ngày 24-6 ghi rõ: “Tây Tạng phải sẵn sàng chuẩn bị đối phó với cuộc phản loạn toàn diện tại đó, ... Chỉ cần bọn phản động Tây Tạng dám phát động cuộc phản loạn toàn diện, thì nhân dân lao động ở đó có thể được giải phóng ngay, không chút nghi ngờ”. Tới tháng 7, “Tứ thủy lục cương” lại tổ chức “quân vệ giáo”, nêu khẩu hiệu “chống cộng sản, bảo vệ tôn giáo, Tây Tạng độc lập”. Mà tập đoàn phản động chóp bu Tây Tạng lại giúp đỡ lương thảo súng ống và con người, làm cho tình hình Tây Tạng như đạn đã lên nòng, bóp cò là nổ. Ngày 14-7, Trung ương chỉ thị cho Công uỷ Tây Tạng, ứng phó với các Cát luân, tỏ rõ lập trường nghiêm chỉnh, nói với họ rằng: Thái độ dung túng của Cát Hạ đồi với bọn phiến loạn Tây Tạng và ở vùng Giang Đông (Kim Sa) chạy vào Tây Tạng là hoàn toàn sai lầm. Nếu bọn phản động nhất định vũ trang phản loạn, thì Trung ương dứt khoát thực hiện vũ trang dẹp phiến loạn. Đặng Tiểu Bình phân tích thêm tình hình chỉ rõ: “Chính quyền Tây Tạng căn bản không chịu từ bỏ lập trường. Hiện tại không cần phát động quần chúng, chỉ cần chỉnh đốn đội ngũ, giao hữu và học tập. Về mặt xã hội cũng không cần thiết tăng cường giáo dục xã hội chủ nghĩa, vũ trang phiến loạn Tây Khang tới Tây Tạng, ngoài bản thân Cát Hạ ra, chúng ta không cử quân đi đánh”. Trương Quốc Hoa chỉ huy bộ đội cố gắng cụm lại các tuyến điểm giao thông, có đơn vị được điều về nội địa. Nhưng có sự giúp đỡ của thế lực phản động nước ngoài và mưu đồ của Cát Hạ, cuộc phiến loạn trong vùng Tây Tạng không ngừng leo thang. Quân phiến loạn đã đào địa đạo tới sát khu vực cơ quan ngân hàng nơi vợ Trương Quốc Hoa công tác. Nhưng trước mọi sự cố xảy ra đều có tình báo chính xác, nên nhân viên và tiền bạc đều di chuyển an toàn. Ngày 18-7, Trương Kinh Vũ, Trương Quốc Hoa hội kiến Đạt Lai, nói rõ lập trường của Trung ương. Đạt Lai không thể hiện rõ ràng. Trương Kinh Vũ hơi lo, nhưng nói rất thành khẩn: “Ngài có thể không vui vẻ với cá nhân tôi, nhưng Trung ương không cử ai tới nữa đâu, vũ trang phiến loạn sẽ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng!”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:04:51 pm Đặng Tiểu Bình chỉ thị “cách mạng hai tay” Sau đó, Trương Quốc Hoa về Bắc Kinh báo cáo. Ngày 9-8 Đặng Tiểu Bình mời Trương Quốc Hoa tới Trung Nam Hải, một lần nữa nói rõ chính sách và sách lược của Trung ương. Trương Quốc Hoa hỏi thăm về nguyên tắc quan trọng nhất: “Thưa Tổng Bí thư, đồng chí xem giới hạn giữa đánh và không đánh..”. Đặng Tiểu Bình hình như đã suy nghĩ trước: “Phiến loạn uy hiếp cơ quan Đảng, chính quyền và đường giao thông quan trọng thì đánh, nắm chắc đánh, không nắm chắc thì không đánh”. “Đồng chí nói đánh thì đánh phải thắng, về quân sự thực hành thế thủ, về chính trị thực hành thế công?” “Đúng, hai việc đều quan tâm, trước tiên phải bảo vệ giao thông huyết mạch”. “Chúng ta vẫn nêu vấn đề (6 năm không cải cách)?”. Đặng Tiểu Bình gật đầu và bổ sung: “6 năm không cải cách, nhưng gây loạn là do họ chịu trách nhiệm?” Sau 10 ngày, Đặng Tiểu Bình lại triệu kiến Trương Quốc Hoa và Phó Tư lệnh quân khu Đặng Thiếu Đông sắp trở lại Tây Tạng. Đặng Tiểu Bình nhìn lại hai cựu chiến sĩ Hồng quân lâu năm, sau khi hỏi han về việc bố trí quân sự trở lại Tây Tạng, dặn dò: “Họ không xâm phạm ta, ta không xâm phạm đến họ. Củng cố trận địa của mình, bảo vệ giao thông, nắm chắc thì đánh. Quân Giải phóng không nên tùy tiện xuất trận, không nên tùy tiện điều động bộ đội”. Đặng Tiểu Bình dụi tắt điếu thuốc cháy dở trên tay, ngước lên không trung, nói tiếp: “Hiện giờ cần chủ động. Tăng cường cứ điểm nhỏ, đề cao cảnh giác, lúc tăng gia súng để cạnh người”. Trương Quốc Hoa nói: “Có một số đồng chí hiểu sai về chính sách cụm lại, cho rằng chính chúng ta cụm lại rồi cụm lại nữa, nhẫn nại và nhẫn nại nữa, mới làm cho bọn phỉ được đàng chân lân đàng đầu”. “Cụm lại là đối đầu. 6 năm không cải cách, phương châm cụm lại không thay đổi”. “Bọn thống trị muốn biến thành một sự việc khác, điều ấy không quan hệ gì đến ta. Họ muốn thay đổi thì chúng ta phát động quần chúng. Tóm lại, phương châm cải cách hoà bình không thể thay đổi nhưng hoàn toàn bằng phương pháp hoà bình là không được, chúng ta phải sẵn sàng chuẩn bị”. Trương Quốc Hoa và Đặng Thiếu Đông giải thích chính sách đó là: “Cách mạng hai tay, chúng ta tăng cường chuẩn bị”. Sau khi “Tứ thủy lục cương” ký kết kế hoạch phản loạn với ba chùa Triết Bang, Sắc Lạp, Cam Đan và bọn đầu sỏ quân Tạng, các nơi phát động nổi loạn, từ đây những hoạt động tội ác cùng các sự kiện đẫm máu bắt đầu. Tháng 7 bọn phiến loạn phục kích đoàn xe vận tải của quân Giải phóng gần chùa Tranh Mạc phía tây Cách Tang, gây ra nhiều tổn thất. Ngày 17-9, quân phiến loạn lại phục kích đội xe quân y của quân khu Tây Tạng tại Ma Giang, giết hại 16 y bác sĩ và nhân viên. Ngày 18-12, bọn chúng lại phục kích đội xe của quân Giải phóng Cống Cát, sát hại 37 sĩ quan và bộ đội, làm bị thương 22 người. Ngày 19 phục kích phân đội hậu cần của quân giải phóng tại Trát Lang, sát hại trung đoàn phó Cân Xuân cùng 96 sĩ quan binh lính, làm bị thương 13người, gây nên một cuộc hành hung đẫm máu hiếm có. Tháng 1-1959, quân phiến loạn vây hãm huyện ủy Sở Mộc của Trung ương, quân phản loạn tới đâu đều đốt phá giết chóc và hãm hiếp, chúng không từ hành vi tàn bạo nào. Chỉ riêng khu vực Mặc Trúc Nhị Ca đã có tới 84 gia đình dân Tạng bị cướp bóc và giết hại. Chúng hãm hiếp hầu hết phụ nữ trong một thôn ở gần Trạch Đương, cả người già và trẻ con cũng không thoát nạn. Tại Nài Đông, bọn phản loạn đã moi tim dân bản để thị uy quần chúng... Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:05:13 pm Hành động tàn khốc đẫm máu ấy từ khu Tạng Khang Ba cứ lan rộng ra, một số người bị lừa bịp được bọn chủ nô khuyến khích cùng tham gia vũ trang. Đường quân Giải phóng vừa sửa chữa bị phá hoại. Phần lớn hàng quân dụng dân dụng đưa vào Tây Tạng bị cướp đi hoặc đốt phá ... Các cầu mới bắc cũng bị hủy hoại... Nơi đóng quân và chỗ ở của các đội quân công tác bị tập kích... Thậm chí, một số chiến sĩ đi làm nhiệm vụ riêng lẻ, viên chức nông trường quốc doanh, đội viên công tác và cả quần chúng, cũng bị quân phiến loạn bắt có, vây bắt, giết hại. Với những người bị bắt chúng dùng những hình phạt cực kỳ khốc liệt, hãm hại họ với nhiều phương thức hết sức dã man như moi tim, thiêu đốt, lột da vô cùng tàn nhẫn, tội ác khiến mọi người kinh hãi ... Tội ác cứ lan tràn mở rộng. Trước thái độ nghiêm chỉnh của ta, Đạt Lai chỉ thị cho quan chức Chính phủ Cát Hạ hiệp đồng với Uỷ ban trù bị khu tự trị đến khu vực Khang Ba làm việc. Quan chức Chính phủ trấn an bọn phiến loạn tại Xương Đô. Trong Chính phủ Cát Hạ, có người là đầu sỏ xúi giục ủng hộ phiến loạn. Tư Bổn Lãng Sắc Lâm phụ trách Thường vụ Chính phủ Cát Hạ đã câu kết với bọn phản loạn, cung cấp kinh phí cho phần tử phiến loạn với tư cách hoạt động Phật giáo. Đến cuối năm sau, phản loạn bắt đầu từ Khang Ba đã lan rộng tới vùng Sơn Nam. Đạt Lai chỉ thị cho Chính phủ Cát Hạ thỉnh thị Trung ương thông qua Công ủy Tây Tạng: “Xin đề nghị Trung ương trực tiếp xử lý vấn đề phiến loạn ở Khang Ba” Trung ương điện trả lời ngay: “Nếu bọn phiến loạn ngang nhiên tiến công cơ quan Chính phủ, trường học, phá hoại đường giao thông, thì quân Giải phóng nhân dân tại Tây Tạng, vẫn phải do Chính phủ địa phương Tây Tạng tự giải quyết”. Đạt Lai trao cho Cục cải cách Chính phủ Cát Hạ, quan chức Chính phủ và “Hội đồng trị an” chủ yếu là sĩ quan quân Tạng thành lập một tổ chức “giải quyết vấn đề này”. Trong phòng họp của Chính phủ Cát Hạ đèn đóm sáng trưng, quan chức tấp nập đi vào, nhưng đều là những đại biểu thuộc thế lực phân biệt. Hội nghị bàn bạc kín đáo bí mật, nhiều vấn đề cụm lại, hội nghị bàn bạc “vấn đề trị an” đã trở thành hội nghị.ủng hộ phiến loạn ép buộc Trung ương. “Để cho Chính phủ địa phương chúng tôi dẹp bọn phiến loạn cũng được, nhưng Trung ương phải cho tiền cho vũ khí, có vũ khí sẽ làm được tất cả”. “Để Trung ương giúp đỡ súng đạn, càng nhiều càng tốt không thì mượn cũng được, chúng ta cần rất nhiều vũ khi”. “Nên để quân Giải phóng đàm phán với bọn phản loạn, để họ cũng được nếm trải sự ghê gớm của người Khang Ba, còn nói tới vũ khí, chỉ cần vào tay chúng ta, sử dụng như thế nào họ không quản nổi”. “Đúng, có súng là có chỗ sử dụng, sau khi đã nắm được vũ khí, sẽ thấy được tình hình”. Điều đáng kinh ngạc là, khi “hội đồng trị an” họp xong mọi người đều nhận được chỉ thị “Bảo mật nghiêm ngặt, nội dung hội nghị không được tiết lộ ra ngoài, tất cả mọi người phải bảo đảm bằng tính mạng của mình…”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2008, 10:06:09 pm Sự kiện “cướp kho vũ khí” ở chùa Cam Đan Khúc Quách Đồng thời với việc triệu tập “Hội nghị trị an”, cùng một ngày của tháng 6-1958, thủ lĩnh phiến loạn khu vực Sơn Nam là Cống Bố Trát Tây dẫn hơn 1000 kỵ binh, giương ngọn cờ “quân chí nguyện bảo vệ tôn giáo” đột nhập huyện Nam Mộc Thôn bao vây chùa Cam Đan Khúc Quách, dễ dàng “chiếm đoạt” kho vũ khí bí mật của Chính phủ Cát Hạ “vơ sạch” hơn 500 súng trường Anh, 2 khẩu pháo, một số súng máy và súng trường Đức cùng số đạn dược, đàng hoàng chuyển đi. Sau đó, Cống Bố Trát Tây công khai tuyên bố. “Phàm những ai tham gia quân ngũ, đều được cấp ngay 1 khẩu súng trường và 52 lạng bạc, đồng thời gia đình còn được ghi công khen thưởng”. Ngày hôm sau, Công ủy Tây Tạng nắm được tình hình, bằng nhiều chứng cớ tỏ rõ sự kiện “Cướp kho vũ khí” là một màn kịch do Chính phủ Cát Hạ và phần tử phiến loạn trong ngoài câu kết với nhau biểu diễn, đã kịp thời trao đổi nghiêm chỉnh với họ. Nhưng đối phương lấp liếm, coi là chuyện đã rồi. Mặc dù Công uỷ Tây Tạng và quân Giải phóng nhiều lần nghiêm khắc cảnh cáo những phần tử có âm mưu mù quáng ấy, nhưng bọn phản động chóp bu trông chờ ngoại viện vẫn cố hành động. Thế là, một sự kiện chính trị đẫm máu đã xảy ra... Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 08:19:49 pm PHẦN 9 QUÁ TRÌNH DẸP LOẠN TÂY TẠNG Cuộc phản loạn đẫm máu tại Lạp Tát Đầu tháng 3 lịch Tạng là Tết trừ quỉ truyền thống của nhân dân Tây Tạng. Hôm ấy, tại cung Bố Đạt Lạp theo thường lệ tiến hành hoạt động lên đồng rầm rộ. Nhận lời mời của Đạt Lai Lạt ma, lãnh đạo công ủy và quân khu Tây Tạng tới cung Bố Đạt Lạp xem biểu diễn lên đồng. Khi ra về, Đạt Lai chủ động đề nghị với Phó Tư lệnh Đặng Thiếu Đông được tới quân khu xem văn công biểu diễn. Nhưng, sự qua lại bình thường ấy, đã trở thành cái cớ để Cát Hạ kích động tư tưởng quần chúng vũ trang toàn diện nổi loạn. Phút chốc, khắp phố phường, đường trong ngõ hẻm lan truyền: “Đạt Lai Lạt ma đi vào quân khu, đó là cái bẫy của quân Giải phóng tóm người..”. “Quân Giải phóng mượn cớ mời xem văn công, để dùng vũ trang bắt trói Đạt Lai, nhân dân hãy nhanh chóng vùng dậy bảo vệ lấy Người ...” Lúc này, cả Lạp Tát trong tình trạng vô cùng hỗn loạn. Những người chưa rõ sự thật xôn xao ra phố, xuống đường yêu cầu bảo vệ thần vương, không khí căng thẳng lâm nguy bỗng bao trùm thế cục. Tài Vượng Nhân Tăng phó Tư lệnh quân khu Tây Tạng ra đón Đạt Lai bị đánh trọng thương... Sách Lang Giáng Tố, một nhân sĩ yêu nước trong Ủy ban trù bị đã bị sát hại tàn khốc, xác kéo dọc đường... Ngày 19-3 bọn phiến loạn Lạp Tát tập hợp 7.000 người. La Bố Lâm Ca thành lập bộ chỉ huy phản loạn, chiếm lĩnh địa thế có lợi tại Lạp Tát, hình thành thế bao vây chia cắt cơ quan, quân đội, ra tuyên bố. “Quyết liệt với Trung ương! Chiến đấu cho Tây Tạng độc lập!” Trương Quốc Hoa đang ở Bắc Kinh, tuy ông đang chữa bệnh, nhưng vẫn liên hệ chặt chẽ với Tây Tạng. Tình báo cho hay: ngày 17-3, Đạt Lai và quan chức chủ yếu cùng gia đình đã hóa trang trốn khỏi Lạp Tát. Trước đó Đạt Lai đã ba lần trao đổi thư từ với chính uỷ Đàm Quán Tam. Qua đó thấy rõ mâu thuẫn tư tưởng của Đạt Lai, trong thư trách móc bọn phiến loạn, nói lên sự cùng quẫn, thậm chí ngỏ ý bí mật đi vào quân khu. Mặt khác, khi trốn khỏi Lạp Tát đã để lại một bức thư ngỏ gửi toàn thể quan chức tăng tục và quần chúng Tây Tạng, có nói “Tây Tạng xưa kia là quốc gia độc lập”, cho rằng tổ chức phiến loạn là hợp pháp, đồng thời còn chỉ định tổng lãnh đạo vũ trang phiến loạn. Đối với phương châm của Trung ương, Trương Quốc Hoa hiểu rất rõ ràng. Trung ương đã nói rõ: “Đối với con người Đạt Lai vẫn phải tranh thủ nhiều mặt, nhưng không sợ bọn phản động cướp mất Đạt Lai. Kẻ địch làm như vậy, bất luận có phải là quyết định của Đạt Lai hay không, đối với các đồng chí hoàn toàn vô hại”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 08:22:35 pm Trương Quốc Hoa nghiêm cấm bộ đội nổ súng trước Mao Trạch Đông đang ở Vũ Xương Hồ Bắc, được tin liền điện gấp cho Trung ương, Cục Tây nam, quân khu Tây nam và quân khu Tây Tạng, điện khẩn nhấn mạnh: Nếu Đạt Lai cùng tùy tùng tháo chạy, thì chúng ta không nên ngăn cản, bất luận là đi Sơn Nam hay đi Ấn Độ, hãy để cho họ đi. Trương Quốc Hoa cũng hiểu rõ, chính ủy Đàm Quán Tam và Tham mưu trưởng Lý Giác bố trí bộ đội xung quanh Lạp Tát sẵn sàng hướng nòng pháo vào trận địa bọn phản loạn, chỉ cần có lệnh là tất cả đều san bằng. Nhưng không một ai động tĩnh, nhìn theo tập đoàn Đạt Lai qua sông Lạp Tát dưới bóng trăng khuya, chạy về Sơn Nam ... Ông hoàn toàn tin tưởng vào lệnh cấm trong quân đội. Trước khi trở lại Tây Tạng, từ Bắc Kinh ông chỉ đạo tầm xa, vừa kịp thời báo cáo tình hình Tây Tạng với Trung ương, vừa truyền đạt chỉ thị của Trung ương tới bộ đội Tây Tạng. Lúc này Trương Quốc Hoa nghiêm lệnh bộ đội không được nổ súng trước, làm mọi việc với tinh thần nhẫn nại tối đa. 3 giờ 45 phút sáng ngày 20-3, bộ chỉ huy của bọn phiến loạn Lạp Tát tự cho mình đã nắm chắc phần thắng, hạ lệnh tấn công toàn diện vào Quân khu Tây Tạng, Công uỷ Trung ương tại Tây Tạng và Uỷ ban trù bị khu tự trị. Hàng nghìn tên phản loạn tập trung dày đặc dưới sự yểm trợ của hỏa pháo chia làm 3 hướng xông lên... Trương Quốc Hoa truyền đạt ý đồ tái chiến của Trung ương: tìm mọi cách thu hút quân địch, đồng thời quán triệt bộ đội phải chú ý bảo đảm an toàn cho những nhân sĩ yêu nước cấp cao. Để đảm bảo thắng lợi, Quân uỷ Trung ương cử thêm sư 130, sư 134 thuộc quân đoàn 54 và sư 11 Quân khu Lan Châu vào Tây Tạng dẹp loạn. Trương Quốc Hoa đêm ngày theo dõi chiến sự Tây Tạng, luôn đề xuất ý kiến của mình với Trung ương, điện báo đi về liên tục, tất cả nằm trong kế hoạch chặt chẽ; chiến sự tiến triển thuận lợi, ông có suy nghĩ thêm và điện mật cho Quân khu và Công uỷ: Sau khi Đạt Lai và bọn phản động đầu sỏ Sách Khang tháo chạy, quân phiến loạn Lạp Tát có khả năng cũng bỏ chạy. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội ở Lạp Tát là tìm mọi cách không cho chúng chạy thoát, đợi chủ lực đến diệt gọn. Ngoài sự cần thiết và có thể đánh chiếm cứ điểm của địch và xây dựng thêm cứ điểm mới (đã nói trước), tất cả các cứ điểm nhất thiết cố thủ, tiếp tục giữ kín thực lực, nhử địch đánh ta, bắt gọn quân địch, giữ các cứ điểm, đối với các tuyến đường kẻ địch có thể tháo chạy, tổ chức hoả lực phong tỏa và cho bộ đội đêm hôm tuần tra; có thể đốt đống lửa, tiếp tục dùng tín hiệu, bắn pháo sáng, làm cho địch hoảng sợ bất an, tăng khả năng khó tháo chạy trong đêm; xe bọc thép tuần tiễu suốt đêm ngày trên các công lộ có khả năng địch chạy trốn; phân đội hoạt động quanh vùng cứ điểm, đề phòng quân địch đột xuất đột kích, nhưng không được xuất kích tuỳ tiện, tránh tiêu hao sinh lực quá sớm... Những ý kiến ấy hoàn toàn phù hợp với kế hoạch của Trung ương và Quân uỷ, nghĩa là nhử kẻ địch rút về Lạp Tát, để tiện bề diệt gọn. Mao Trạch Đông chờ tại Vũ Hán cũng đồng ý với Quân uỷ điều thêm sư 134 và bộ đội phối thuộc hỏa tốc kéo về Cách Nhĩ Mộc và lệnh cho Trương Quốc Hoa lập tức tới đây dẫn sư 134 và bộ đội tăng viện từ phía bắc tiến vào Tây Tạng, đại vu hồi bao vây Lạp Tát, lệnh cho Đàm Quán Tam giữ chân kẻ địch tại Lạp Tát, nghiêm cấm xuất kích tuỳ tiện, để tránh dứt dây động rừng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 08:27:21 pm Giây phút quyết định, tổn thất nặng nề 4 giờ sáng ngày 20-3, quân phản loạn đã vây chặt đại viện Quân khu. Điện đài công suất lớn do liên tục nổ máy phát sinh sự cố, không phát được tín hiệu, cũng không thu được tín hiệu, nhưng ý định của Quân uỷ Đàm Quán Tam đã hoàn toàn nắm được: tức là không được xuất kích! Nếu ông hạ lệnh nổ súng trước, rất có thể ông trở thành kẻ phạm tội chống quân lệnh! Cho dù trong những năm tháng chiến tranh các tướng lĩnh mang quân hàm cao hơn ông cũng không dám hành động tuỳ tiện. Nhưng cơ quan chỉ huy quân khu đang trong tình trạng lâm nguy, binh sĩ hy sinh đổ máu, không thể chờ đợi được nữa! Đàm Quán Tam bỏ điếu thuốc đang cháy dở. Khoảng 10 giờ, ông ra lệnh cho bộ đội phản kích, đồng thời báo cáo lên Quân ủy. Sau 6 giờ, ông nhận được điện của Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, đại ý nói, lực lượng địch ta hoàn toàn chênh lệch khác nhau, không đồng ý chủ động xuất kích, chỉ có thể dựa vào chiến hào, tự vệ phòng thủ, đợi viện quân giải vây. Trái tim Đàm Quán Tam thổn thức không yên! Sự việc đến như hôm nay, ông dần dà bình tĩnh lại, vừa hạ lệnh cho bộ đội nhất định phải chiến thắng, vừa điện tiếp về Quân uỷ, trình bày tỉ mỉ về nguyên do tự quyết định phản kích của mình, kiểm điểm sự tổ chức chưa chu đáo, và tự nguyện xin xử trí. Trung ương điện trả lời ngay, khẳng định; vì phản kích đã giành được thắng lợi, nên không bị xử trí. Đàm Quán Tam xem xong điện báo, ông bủn rủn toàn thân, đôi mắt rưng rưng ướt lệ ... Khi nhận được điện trả lời nhắc lại phương châm tác chiến của Quân ủy, trận pháo kích của bộ đội dẹp phiến loạn kiềm chế các điểm Dược Vương Sơn, cắt đứt mối liên hệ vũ trang phản loạn giữa khu vực thành phố và La Bố Lâm Ca, làm rối loạn sự chỉ huy thống nhất của quân địch, và nhanh chóng chiếm lĩnh Trung ương chỉ huy La Bố Lâm Ca. Ngày 21 bộ đội cơ động chuyển vào khu vực thành phố, tiêu diệt lực lượng vũ trang phiến loạn, chiếm đóng các cứ điểm ở Ân Chu Luân Trạch, Lãng Gia Đa Cát Trạch, chùa Mộc Lộc, chùa Tiểu Chiêu. Ngày 22 quân phiến loạn ở chùa Đại Chiêu đầu hàng, bọn địch ở cung Bố Đạt Lạp cũng kéo cờ trắng. Ngày 23-3, quân khu tuyên bố triệt tiêu chính quyền thành phố, thành lập Uỷ ban quân quản Lạp Tát, trật tự xã hội thành phố trở lại bình thường. Mao Trạch Đông đang ở Vũ Hán, triệu tập Trương Kinh Vũ và Trương Quốc Hoa. Khi hai người tới biệt thự thạch ốc tại Đồng Hồ, Mao Trạch Đông mặc trang phục màu xám từ trong phòng lớn có cửa sổ ba phía soi xuống mặt hồ đi ra, vui mừng bắt tay thân thiết. Mặc dầu năm ấy có một số ý kiến bất đồng về quan hệ Trung-Xô và trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc làm cho Mao Trạch Đông không thật thoải mái, nhưng đối với cấp dưới đã quán triệt được ý đồ chiến thắng trở về, Người vẫn thể hiện phong độ hóm hỉnh. Trương Quốc Hoa và Trương Kinh Vũ ngồi hai bên hai chiếc bàn nhỏ đối diện Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông đột nhiên hỏi Trương Kinh Vũ: “Đồng chí đã khấu đầu trước Đạt Lai chưa?” Trương Kinh Vũ buột miệng: “Tôi thay mặt Trung ương đi gặp Đạt Lai, là đại biểu Trung ương, khấu đầu trước ông ta ...” Mao Trạch Đông cười khanh khách: “Để giải phóng toàn thể nhân dân Tây Tạng, đồng chí khấu đầu trước ông ta có sao. Đồng chí không khấu đầu, phải, ông ta chạy rồi, muốn khấu cũng chẳng được, đây người ta cũng “tiên lễ hậu binh, Bồ Tát chịu tội không xong” Mao Trạch Đông pha trò làm cho bầu không khí nhẹ nhõm vui vẻ. Ánh mắt của Người chuyển sang TrươngQuốc Hoa: “Bức điện của đồng chí gửi Quân uỷ tôi đã xem qua, nhiều ý hay lắm, lại có dự kiến - Bộ đội ở Tây Tạng chịu được gian khổ, giỏi đánh trận, không sợ chết”. Mao Trạch Đông nói một câu hàm súc: “Tây Tạng với tôi rất xa xôi nhưng mọi chuyện tôi đều biết, mà nơi rất gần tôi lại chẳng hiểu gì?” Mao Trạch Đông xua tan làn khói thuốc lởn vởn trước mặt, chuyển suy nghĩ sang vấn đề sinh tử: “Trước đây mấy hôm, bà Ana-luis cùng phu nhân tôi có đến thăm tôi, tôi nói với họ, tôi đã 66 tuổi rồi, tôi có thể ốm chết, cũng có thể chết vì tai nạn máy bay, hoặc bị bọn đặc vụ Tưởng Giới Thạch ám sát; tóm lại sợ chết chẳng ích gì. Sợ chết không ngăn nổi tử vong, chỉ có thể dẫn đến tử vong. Tôi không bao giờ muốn chết, tôi mong muốn được tận mắt nhìn những ngày cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc. Nhưng nếu tôi buộc phải chết, tôi cũng không sợ”. Hai vị tướng không yên tâm về những lời đó. Mao Trạch Đông lại chuyển nội dung câu chuyện, hỏi han tình hình thương vong của bộ đội và bố phòng trước mắt. Trương Quốc Hoa lần lượt trả lời. Mao Trạch Đông trình bày rõ về phương châm chung: “Tôi đã nói từ lâu, tình hình Tây Tạng không thể nóng vội, chúng ta không nóng vội Đạt Lai cũng không thể nóng vội. Đã phản loạn rồi cũng tốt, phản loạn trước cải cách trước, phản loạn sau cải cách sau, không phản loạn thì hoãn cải cách mà. Bây giờ đã phản loạn rồi thì đành phải vừa bình vừa cải. Phương châm chung là đánh quân sự, giành chính trị kết hợp với phát động quần chúng. Cuộc phản loạn vũ trang của bọn phản động thiểu số, kết quả là nhân dân lao động được giải phóng tương đối triệt để. Phản loạn đối với dân Tây Tạng là một việc xấu chẳng vẻ vang gì, nhưng kết quả xử lý của Trung ương đúng đắn, đối với dân tộc Tây Tạng đã biến việc xấu thành việc tốt”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 08:30:07 pm Phá tan sào huyệt bọn phiến loạn khu vực Sơn Nam Cùng với cuộc phiến loạn vũ trang Lạp Tát bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn, bọn phản loạn còn lại ở các khu vực khác vùng Tây Tạng đều sợ hãi như chim gặp cành cong, chúng vừa chuẩn bị ngoan cố giãy giụa, vừa tìm đường chạy trốn ra nước ngoài sau khi thất bại. Quân uỷ Trung ương ra lệnh giải trừ lực lượng vũ trang quân Tạng, triệt để nhổ tận gốc bọn phiến loạn phản động chóp bu. Để diệt trừ chủ lực bọn phỉ, ngoài Lạp Tát ra, quân Giải phóng còn tiến quân vào vùng Sơn Nam, một sào huyệt quan trọng khác gọi là “căn cứ địa” của quân phiến loạn. Vùng tiếp giáp Sơn Nam với Ấn Độ và Buntan có 24 con đường có thể thông ra nước ngoài, phía bắc liền sát với sông Nhã Lỗ Tạng Bố, khí hậu ôn hòa, sản vật phong phú, là một trong những vùng sản xuất lương thực quan trọng. Từ lâu tập đoàn phản loạn coi đây là “căn cứ địa” lý tưởng, bắt đầu xây dựng từ năm 1958, sau khi dẹp loạn Lạp Tát, thủ lĩnh phiến loạn và lực lượng vũ trang tan tác còn lại tập trung về Sơn Nam, cùng phối hợp với bọn phỉ tại đây, thành lập một bộ tổng chỉ huy khác. Ngày 8-4, Quân khu Thành Đô với hơn 4 Trung đoàn chia làm năm đường, từ khu tập kết tiến vào Sơn Nam. Sau khi vượt sông Nhã Lỗ Tạng Bố, đường thứ nhất bộ đội tấn công từ Tố Giang vào hướng Khúc Tùng, Triết Cổ; đường thứ 2, chia hai cánh trái phải nhanh chóng tiến thẳng vào khu vực Long Tử Tông, Đạt Mã Tông, Thố MaTông, cắt đứt đường thoát của bọn phỉ về phía Nam; đường thứ 3 tiến vào chính diện; đường thứ 4 bắt gọn bọn phiếu loạn trong khu vực Bạt Trì, Lãng Ca Tử, Giả Long, đề phòng địch chạy về hướng tây; đường thứ 5 làm nhiệm vụ cơ động, ngăn chặn lực lượng vũ trang phiến loạn xuyên Tạng chạy trốn. Thủ trưởng quân khu chỉ rõ: “Bộ đội các tuyến phải hành động hiệp đồng, ra sức vây diệt chủ lực, phiến loạn tại khu vực Long Tử Tông, Khúc Tùng”. Quân phiến loạn vùng Sơn Nam hết sức xảo quyệt, chúng phân chia chủ lực thành nhiều đội quân hoạt động. Chúng xây dựng căn cứ, củng cố tổ chức, tiếp nhận viện trợ vũ khí và vật chất của nước ngoài, cướp bóc giết chóc đốt phá khắp nơi nơi, tàn sát dân thường; nhắc tới bọn chúng, nhân dân vùng Sơn Nam không một ai không căm giận. Trong giờ phút cuối cùng tận số, quân phản loạn vẫn còn ngoan cố chống lại quân Giải phóng. Chúng tăng cường bao vây tấn công quân Giải phóng và cơ quan đại diện của Trung ương tại Tây Tạng, khống chế bến phà sông Nhã Lỗ Tạng Bố thông tới Sơn Nam; kêu gào “liều mạng quyết tử” với bộ đội giải phóng dẹp loạn tại công sự, cứ điểm trên lộ tuyến Khúc Thuỷ đến Trạch Đương. Do trong quá trình bình loạn, gặp phải tình huống khí hậu có nhiều thay đổi đột biến khôn lường, hành trình của bộ đội cũng có sự thay đổi. Bộ đội cánh phải tuyến 2 tiến triển nhanh, gặp nhiều thuận lợi, nhưng cánh bên trái thì không thể tới khu chỉ định đúng thời gian. Do vậy quân chủ lực tuyến 3 tấn công chính diện nghỉ ngơi chờ đợi tại chỗ hai ngày, để chờ hai cánh quân phối hợp. Thủ trưởng quân khu không thể không tùy cơ ứng biến điều chỉnh lại mọi hành động của bộ đội, chuẩn bị ép quân phiến loạn tới phía bắc Long Tử Tông chặn đánh vây diệt. Quân địch giảo hoạt tạo cho mình hai con đường tẩu thoát ra nước ngoài, sẵn sàng tháo chạy... Quả nhiên, sau khi cuộc chiến xảy ra, đôi bên giáp trận kịch liệt; nhưng bọn cầm đầu phiến loạn nhanh chóng ý thức được rằng: chẳng phải là đối thủ của quân Giải phóng nhân dân anh hùng, liền hỗn độn tháo chạy, tranh nhau thoát ra ngoài biên giới. Bộ đội Giải phóng không thể tiêu diệt gọn được toàn bộ quân giặc tại Sơn Nam, dù vậy, bộ chỉ huy của chúng bị quân Giải phóng tiến công công nặng nề, ngày 21-4 đã hoàn toàn tan rã. Nhân dân Sơn Nam vui mừng rơi lệ, một lần nữa cảm ơn quân Giải phóng cứu họ thoát khỏi sự tàn sát của kẻ thù. Một bà mẹ người Tạng nắm tay một anh đại đội trưởng, thút thít nói: “Ôi anh lính Bồ Tát, anh lính Bồ Tát! Nếu các anh không tới đây, chúng tôi không một ai thoát khỏi tay quân phỉ muốn vận mệnh chúng tôi phiêu bạt ở nước ngoài”. Bộ đội lại tiếp tục chiến đấu tại vùng Sơn Nam quét sạch quân địch, diệt hết bọn phản loạn còn sót lại, tước khí giới của chúng, giải tỏa mọi thiết bị gây tội ác, khống chế hoàn toàn khu vực Sơn Nam, san bằng cứ điểm của bọn phỉ xây dựng tại đây nhiều năm. Quan trọng hơn là cắt đứt đường bọn phản loạn còn sót lại trong vùng chạy ra bên ngoài và liên lạc với ngoại quốc, tạo cơ sở để bình dẹp triệt để quân đội phiến loạn khu vực Tây Tạng. Để đảm bảo chắc chắn con đường Thanh Tạng vận chuyển cung cấp an toàn, đề phòng bọn phỉ tháo chạy về hướng tây, quân đoàn trưởng quân đoàn 54 Đinh Thịnh dẫn bộ đội triển khai tiến vào sào huyệt khu vực miền tây cộng lộ Thanh Tạng bắc Tạng. Qua hơn 40 ngày truy lùng tiêu diệt, thượng tuần tháng 7 đã diệt được hơn 200 tên,về cơ bản đã quét sạch quân phỉ giữa các vùng Ban Qua Hồ, Thêm Trát và Hắc Hà, xây dựng chính quyền phối hợp với công tác phát động quần chúng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:04:33 pm Đập tan sự chống đối ngoan cố của bọn phản loạn khu vực Nạp Mộc Hồ Ngày 19-6, lực lượng vũ trang phiến loạn tập trung tại khu vực Thánh Long thấy trung tâm chỉ huy phản loạn Lạp Tát và Sơn Nam bị quân Giải phóng quét sạch, tất cả đều như gà phải cáo. Lực lượng phiến loạn của chúng tập trung tại các khu vực trọng điểm Nạp Mộc Hồ, Mạch Địa Ca và Xương Đô lẩn tránh sự truy đuổi của bộ đội dẹp loạn, tháo chạy về phía nam theo bờ bắc và bờ tây Nạp Mộc Hồ... Những nơi mà quân phỉ đi qua, làn khói tàn khốc cuồn cuộn, xóm làng cháy trụi, phố xá điêu tàn, chúng điên cuồng tàn sát nhân dân khắp vùng Tây Tạng, gây nên biết bao nợ máu. Bộ đội dẹp loạn được lệnh truy kích, bám sát quân đội phản loạn tháo chạy, cố gắng tiêu diệt hoàn toàn. Ngày 1-7 bộ đội dẹp loạn đã tới vị trí xác định, hình thành thế trận chặn trước đuổi sau, đánh đông ép tây. Lúc này bọn đầu sỏ quân phản loạn đã cảm thấy sắp tới ngày tận số, chúng ra lệnh cho bộ hạ: “Cấu trúc công sự, liều chết chống cự, không nộp vũ khí..”. Sáng ngày mồng 3, quân dẹp loạn bắt đầu tiến công quân phỉ, bộ đội dẹp loạn dưới sự chỉ huy của quân khu, chia làm hai mũi đông tây phối hợp diệt địch, quân chủ lực của địch bị bao vây chặt chẽ. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, bọn phiến loạn ngoan cố không chịu buông vũ khí, chúng dựa vào địa hình quen thuộc liều chết chống cự. Quân khu ra lệnh: “Bộ đội tiến đến Dương Bát Tỉnh, Đương Hùng, lập tức phân tuyến công kích từ nam lên bắc, phong tỏa toàn bộ công lộ và tuyến giao thông, vây diệt tất cả quân địch”. Ngày 7-6, với những hành động quả cảm của quân Giải phóng, toàn bộ lực lượng vũ trang phiến loạn đã bị vây hãm trong các khe suối phía nam Nạp Mộc Hồ, sau đó mở đầu cuộc tấn công cuối cùng. Với sự yểm trợ của hỏa lực hùng mạnh, bộ đội dẹp loạn anh dũng xông lên, mở trận quyết chiến mãnh liệt với quân thù, trận đánh vô cùng gian khổ, quân địch phân tán nhóm nhỏ ngoan cố chống cự. Đến chiều ngày 8-7, quân dẹp loạn đã tiêu diệt phần lớn lực lượng của địch, bọn còn lại tan tác chạy theo hai đường khe suối tìm cách thoát thân. “Không để một tên chạy thoát!” đó là lệnh của Trung ương, các nơi phong tỏa nghiêm mọi hang núi đường mòn, tiến hành lùng bắt trong vòng bao vây. Cuộc chiến đấu tìm diệt quanh co vất vả ấy trải qua 21 ngày, mãi tới ngày 21-7, cuối cùng đã tiêu diệt gọn hơn 4000 tên tại Nạp Mộc Hồ. Trong trận chiến đấu ấy, công tác chính trị của quân dẹp loạn đã phát huy uy thế mạnh mẽ, trong cuộc vây ráp thực hiện nguyên tắc bao vây kêu gọi khuyên hàng, có tên tù binh tên là Giáp Ba, một lần đã kêu gọi, không chống cự sẽ không nổ súng, đã kêu gọi được 238 tên lính của địch hạ vũ khí đầu hàng quân Giải phóng. Trận chiến đấu này cơ bản đã quét sạch được quân phiến loạn, bảo đảm đường vận tải Thanh Tạng thông suốt an toàn. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:05:55 pm Vây diệt bọn phiến loạn ở Mạch Địa Ca và Xương Đô Kể từ ngày 17-8, quân khu Thành Đô lại sử dụng binh lực khoảng 4 trung đoàn tiếp tục vây quét bọn phỉ cát cứ tại khu vực Mạch Địa Ca. Ngày 26-8, quân Giải phóng phải chịu đựng bao khó khăn của cuồng phong băng giá và thiếu dưỡng khí trên cao nguyên. Hơn 4.800 mét so với mặt biển, hành quân cấp tốc liên tục suốt đêm ngày, chỉ trong vòng một ngày đã hình thành trận thế bao vây hơn 5000 quân phiến loạn ở Mạch Địa Ca, mà trung tâm là Bành Tích Hồ. Ngày 27-8, bắt đầu cuộc chiến đấu vây diệt quân phỉ tại vùng này, qua bẩy ngày đêm tiến công quân sự và dùng chính sách thuyết phục, cuối cùng đã tiêu diệt được chủ lực quân phỉ, và chuyển vào cuộc chiến đấu tiễu trừ toàn diện. Trong vây quét thanh trừ, quân dẹp loạn phân vùng vây chặt, chủ yếu tuyên truyền chính sách, nhường cho tù binh ở trong lán trại, được ăn lương khô, còn chiến sĩ thì ngủ ngoài trời ăn rau rừng thay cơm, bằng hành động thực tế đã vạch trần luận điệu tuyên truyền phản động của bọn đầu cơ phiến loạn, nhanh chóng thu phục nhân tâm, được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, đến ngày 15-9 đã kết thúc cuộc chiến đấu dẹp loạn tại khu vực này. Cuối tháng 10, quân dẹp loạn lại lần lượt dẹp yên mọi hoạt động phản loạn vũ trang suốt vùng đông nam Xương Đô, từ đó đã chấm dứt cục diện hỗn loạn không ổn định một thời gian dài tại khu vực này, quần chúng nhân dân vui mừng khôn xiết. Đến cuối năm 1959, lực lượng vũ trang phiến loạn các vùng trọng yếu ở Tây Tạng cơ bản đã được dẹp yên, Trung ương có chỉ thị: “Tiếp tục cố gắng, nhanh chóng dẹp bọn phiến loạn vùng ven, không để lại hậu quả”. Bộ đội đóng ở Tây Tạng sau một thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi, ngày 15-2-1960, lại tiếp tục tấn công bọn phiến loạn vùng ven khu núi băng Ân Đạt phía đông bắc Tây Tạng. Đường giao thông ở những vùng này khó khăn, bọn phỉ ngoan cố lọt lưới chạy trốn ẩn náu trong khu vực này, lợi dụng thế lực phân hệt nước ngoài ủng hộ vật chất vũ khí điện đài, và đặc vụ huấn luyện, thành lập các tổ chức các cấp hoạt động điên cuồng, tuyên bố “quyết chiến đến cùng với quân Giải phóng” tại đây. Ngày 29-2, bộ đội sử dụng chiến thuật bao vây tấn công khu vực vùng ven, từng bước ép chặt toàn bộ quân phiến loạn trong vòng vây gần 100 km. Từ 15-3 bắt đầu tiến công. Khi tiến sát Lạp Tư, phát hiện thấy có hiện tượng bọn phiến loạn tháo chạy, một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn quân giải phóng nghiêm khắc ra lệnh: “Toàn thể mọi người ngừng đi bộ, trườn theo dốc xuống núi chặn đứng quân địch”. Lệnh vừa dứt, tất cả bộ đội sĩ quan nhanh chóng dũng cảm từ tỉnh núi tuyết phủ cao 800 mét với độ dốc 50-60 độ lăn mình lao xuống. Chỉ thấy hàng trăm chiến sĩ ôm chặt tay súng lăn trượt trên dốc núi băng tuyết, có người bị thương vẫn cố gắng bò trườn, có người hôn mê, tỉnh dậy lại tiếp tục xông lên, còn có chiến sĩ lấy thân mình làm đệm bậc trên đá cứng yểm hộ cho đồng đội. Trên sườn tuyết, trên mỏm đá, trong khe núi đâu đâu cũng thấm đỏ máu tươi, dưới ánh mặt trời càng thêm lóa mắt. Các chiến sĩ lăn xuống chân núi đã chặn đường quân địch tháo thân, đã mở ra cuộc kịch chiến dữ dội. Dịch Nãi Hồng trung đội trưởng của quân Giải phóng dẫn 3 chiến sĩ vượt qua hỏa lực dày đặc của 7-8 họng súng liên thanh, ngoan cường cắm chốt đánh lùi nhiều đợt phản kích của kẻ thù, để đại quân tranh thủ thời gian tới kịp. Đội quân phản loạn cuối cùng không thoát khỏi lưới lửa của chiến sĩ quân Giải phóng, đến ngày 15-4 toàn bộ quân địch tại đây bị tiêu diệt gọn; sau đó bộ đội lại chia đường bao vây tiếp tục bình diệt bọn phiến loạn khu vực vùng ven ở Ôn Tuyền, Na Khúc và Thanh Ba, đến cuối tháng 10-1960, toàn Tây Tạng chỉ còn sót lại rải rác hơn 1000 tên phản loạn, phần lớn đây là bọn thủ lĩnh và cốt cán phản động; chúng tụ tập tại vùng nam Xương Đô, tiếp tục chống lại quân Giải phóng tại khu vực vùng ven xa xôi nhất ở Ban Qua Nãi - Mặc Thoát. Trung ương lại ra chỉ thị tiếp: “Đối với những con người này chủ yếu dựa vào chính trị, phát động quần chúng, đồng thời tiến hành đấu tranh kiên quyết bằng quân sự”. Bộ đội Giải phóng chia đơn vị nhỏ, thành lập nhiều phân đội, thâm nhập quần chúng, mở rộng công tác chính trị, kết hợp đấu tranh quân sự, qua hơn một năm gian nan vất vả đã khiến phần lớn bọn phiến loạn này đã đầu hàng, một số bị tiêu diệt. Đến tháng 3-1962 quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đã quét sạch quân phiến loạn, còn một số ít chạy ra nước ngoài. Quân phiến loạn toàn vùng đã bị bình dẹp. Đến đây, cuộc đấu tranh dẹp quân phiến loạn phản động chóp bu ở Tây Tạng được tuyên bố kết thúc. Theo thống kê, quân Giải phóng đã tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống hơn 93.000 tên, thu 35.500 súng các loại 70 khẩu pháo, 41 bộ điện đài, bắn chết và bắt sống 25 tên đặc vụ xâm nhập bằng đường không. Quân Giải phóng cũng phải trả một giá khá đắt: hy sinh chiến trận 1551 người (có 168 sĩ quan), bị thương 1987 người (200 sĩ quan) Cuộc đấu tranh dẹp loạn được nhân dân Tây Tạng giúp đỡ ủng hộ rộng rãi, đại sư Ban Thiền thay mặt quần chúng nhân dân Tây Tạng gửi điện tới Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, lên án tội ác của bọn phiến loạn, ủng hộ cuộc đấu tranh dẹp loạn. Theo thống kê chưa đầy đủ, nhân dân Tây Tạng giúp đỡ quân Giải phóng dẹp loạn hơn 1.520.000 lượt con vật thồ kéo, đồng bào là lực lượng bảo đảm vững chắc cho thắng lợi trong đấu tranh. Trong cuộc đấu tranh dẹp loạn bộ đội đã chấp hành nghiêm chỉnh “chỉ thị về công tác chính trị, kiên quyết bình định bọn phiến loạn Tây Tạng” của Tổng cục chính trị ra ngày 21-3-1959, đã kết hợp chặt chẽ ba mặt đấu tranh quân sự, công tác chính trị và phát động quần chúng, quán triệt đầy đủ chính sách dân tộc, chính sách tù binh và chính sách tôn giáo của Đảng. Quân Giải phóng đi đến đâu kỷ luật cũng rất nghiêm minh, đối với kẻ thù đã hạ vũ khí, được ưu đãi, bị thương được điều trị, đầu thú được hoan nghênh. Với quần chúng bị cưỡng bức, qua công tác chính trị gian khổ thận trọng tranh thủ họ rời bỏ hàng ngũ kẻ thù, về gia đình làm ăn. Bộ đội không ở trong đền chùa, không động đến kinh sách, không sờ mó tượng Phật, không tơ hào đến cái kim sợi chỉ của dân, dùng hành động cụ thể làm thất bại mọi lời lẽ hoang đường của tập đoàn phản động. Qua 3 năm dẹp loạn Tây Tạng, bộ đội Trung Quốc đã anh dũng ngoan cường, phấn đấu trong gian khổ, khắc phục bao khó khăn, góp phần cống hiến to lớn cho cuộc đấu tranh đặc biệt trong điều kiện đặc biệt. Đúng như câu nói của Tướng Trương Quốc Hoa nguyên Tư lệnh quân khu Tây Tạng: “Cuộc đấu tranh dẹp loạn Tây Tạng là một trang sử vĩnh hằng vẻ vang trong lịch sử của quân đội ta!” Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:07:15 pm Bí mật về ý đồ “Tây Tạng độc lập” của Mỹ bị tiết lộ Ngày 7-12-1961, Cục Tình báo Trung ương Mỹ đưa một đội quân phản loạn Tây Tạng đã được huấn luyện từ căn cứ Haier, xuất phát trong đêm, dự định từ tinh mơ, khi dân chúng còn đang ngủ say, tới căn cứ không quân Peter Sen. Nhưng ý muốn lại trái với sự việc. Vì đường núi cao thấp quanh co, xe quân sự sa vào hố tuyết, nên không khớp với thời gian. Kết quả là người Tây Tạng khi tới căn cứ trời đã sáng bảnh. Chuyện bí mật của một mưu đồ thận trọng đã bị bại lộ, vì có nhiều người dân đến xem. Lúc này những người Tạng được huấn luyện bí mật dự định đi trên chiếc máy bay C.124, khi kiểm tra máy bay tại sân bay, lính Mỹ chĩa súng vào đám đông 47 người dân đến xem, yêu cầu họ đi khỏi, chúng nói với mọi người: “Vì an toàn quốc gia, không được ra ngoài bàn tán chuyện này, nếu không là vi phạm pháp luật nhà nước”. Không ngờ ngày hôm sau, sự việc đó lại đăng trên tờ “Koroladochue”. Theo luật an ninh nước Mỹ, Cục Tình báo Trung ương không được phép hành động quân sự trong nước, đồng thời cũng không có quyền bắt giữ công dân dù mang tính đề phòng, vì vậy sự kiện hỗn loạn tại sân bay Petersen, buộc Cục Tình báo phải ngừng kế hoạch hành động đen tối khác. Trong thực tế, Mỹ đã hoạt động ngấm ngầm ở Tây Tạng từ lâu, ngay từ năm 1951 đã có quan hệ với Gia Lạc Đốn Chu, anh thứ 2 của Đạt Lai Lạt ma, lập kế Tây Tạng tách khỏi Trung Quốc, chỉ huy bọn phản động chóp bu Cát Hạ nổi loạn. Năm 1959, Doures để cho Bizer trở thành chủ quản các kế hoạch hành động của Cục Tình báo Trung ương, thực tế là để cho hắn phụ trách mọi hành động bí mật toàn cầu. Trong đó có kế hoạch hành động của người Tạng ở Haier. Ngày 22-1 và ngày 3-3 năm 1959 Doures gửi bị vong lục về vấn đề Tây Tạng cho Tổng thống Aixenhao. Đại sứ Mỹ tại Đài Loan Banke luôn luôn cho Oasinhtơn biết rõ tình hình Tây Tạng, còn các tin tức khác đều từ Cục Tình báo Trung ương cung cấp. Quyền cục trưởng Cục Tình báo Trung ương Mỹ Kabeir và Cục trưởng phân Cục Viễn đông Peiclade thời gian này hầu như ngày nào cũng liên lạc điện thoại với Gray, họ còn bố trí một báo vụ viên vô tuyến cùng theo Đạt Lai đi “du lịch”. Nhân viên đặc công này có thể luôn luôn làm chỉ điểm thả dù đồ dùng sinh hoạt, còn có thể nhận được liên hệ của “quân tự vệ dân tộc” gần đó, đồng thời lại có thể cung cấp tin tức cho Cục Tình báo Trung ương hàng ngày. Ngày 2-4-1959 tập đoàn phiến loạn Tây Tạng yêu cầu Oasinhtơn “Các ngài cần phải nhanh chóng giúp đỡ chúng tôi, vận chuyển vũ khí đủ cho 30.000 quân sử dụng”. Ngày 23-4, Uỷ ban An ninh quốc gia của Mỹ mở hội nghị, Cục Tình báo Trung ương đã trình bày một bản báo cáo mật, một lá thư của Doures gửi Aixenhao và bức điện báo cáo về quan điểm của Đạt Lai Lạt ma. Trong thư của Cục trưởng Tình báo chủ yếu viết về quyết tâm của Đạt Lai Lạt ma muốn tiếp tục chống lại Trung Quốc. Tháng 5-1959 Chính phủ Aixenhao quyết định tiếp tục hành động, bắt đầu huấn luyện “đội du kích” Tây Tạng ngay trên đất Mỹ. Căn cứ của Mỹ huấn luyện “đội du kích” Tây Tạng đặt tại doanh trại Hair thuộc Koroladuochue, căn cứ này nằm trên cao nguyên hơn 3.000 mét, không khí loãng, tương tự như vùng Tây Tạng là cơ sở lý trưởng nhất của Cục Tình báo Trung ương. Khi người Tạng được đưa tới đây huấn luyện, nhiều người vẫn không biết mình trên đất Mỹ. Họ được phân nhóm huấn luyện, kế hoạch huấn luyện khoảng 500 người, chia làm 5 nhóm. Sau khi huấn luyện lại bí mật đưa về Tây Tạng, Tây Khang. Năm 1959 trong khi đang bí mật huấn luyện, Đạt Lai Lạt ma đã tới Liên Hợp. Lúc này Mỹ sợ mọi người chú ý tới vấn đề Mỹ nhúng tay vào Tây Tạng, do vậy nấp sau tấm màn, kiến nghị nhẹ nhàng đánh động Trung Quốc, có một “khiển trách ôn hòa”. Do Mỹ và tập đoàn phản động đầu sỏ Tây Tạng không nhất trí, ngày 21-10-1959, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua quyết nghị, chỉ tỏ ý quan tâm tới vấn đề “nhân quyền” ở Tây Tạng, còn về “độc lập” và “chủ quyền” mà người Tạng yêu cầu, Đại hội đồng chỉ ghi nhận chứ chưa nêu ra. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:09:25 pm Dùng Tây Tạng khống chế Trung Hoa Gây ra hàng loạt sự kiện hỗn loạn Quân Giải phóng nhân dân giành được thắng lợi triệt để trong cuộc dẹp loạn Tây Tạng, rõ ràng là một đòn nặng nề giáng xuống đầu bọn Mỹ và những kẻ âm mưu Tây Tạng độc lập, song chúng chưa chịu cam tâm. Sau đó Mỹ lại lấy cớ gọi là quan tâm tới “tự do” “nhân quyền” Tây Tạng, ủng hộ huấn luyện số ít phần tử phân liệt Tây Tạng, gây nên hỗn loạn hòng phá hoại sự nghiệp thống nhất dân tộc Trung Hoa, can thiệp vào công việc nội bộ Trung Quốc. Ngày 21-8-1987, Đạt Lai Lạt ma được sự ủng hộ của một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ, trong hội nghị nhóm nhân quyền do Hạ viện triệu tập, đã nêu ra vấn đề cái gọi là “địa vị Tây Tạng” căn bản không tồn tại và nêu ra “kế hoạch 5 điểm”, yêu cầu biến Tây Tạng thành cái gọi là “khu vực hoà bình”, đồng thời còn dựng chuyện, yêu cầu, “từ bỏ chính sách di dân Tây Tạng tại Trung Quốc”, “tôn trọng nhân quyền cơ bản và tự do dân chủ của nhân dân Tây Tạng”. Một số nghị sĩ Mỹ lại không đếm xỉa tới những chuẩn mực quan hệ quốc tế, công khai ủng hộ Đạt Lai kích động hoạt động chính trị “Tây Tạng độc lập”, phá hoại thống nhất Trung Quốc. Tiếp đến quốc khánh 1-10-1987 tại Lạp Tát đột nhiên xảy ra sự kiện bạo loạn do bọn côn đồ kêu gọi “Tây Tạng độc lập”, và cướp bóc đốt phá chém giết. Ngày 6-10, Thượng viện Mỹ thông qua một đề án có sửa chữa về cái gọi là “vấn đề Tây Tạng” do Pier nêu ra, phải trái lẫn lộn, vu cáo Trung Quốc “xâm phạm nhân quyền” ở Tây Tạng, và ngang nhiên yêu cầu cơ quan hành chính Mỹ can thiệp vào công việc ở Tây Tạng và nội bộ của Trung Quốc. Ngày 13-12, hai viện của Mỹ đã mở hội nghị liên tịch, thông qua cái đề án gọi là “nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xâm phạm nhân quyền, vu khống và nói xấu Chính phủ và nhân dân Trung Quốc”. Ngày 5-3-1988 do hoạt động của chính quyền Mỹ và sự can thiệp đen tối của bọn gián điệp, một số ít phần tử phân liệt Tây Tạng nhân cơ hội nghi lễ hội nghị cầu đảo đại pháp ở Lạp Tát sắp kết thúc lại gây ra sự kiện hỗn loạn. Ngày 10-12, mấy chục Lạt ma, ni cô cũng tuần hành gây sự tại Lạp Tát, cổ động “Tây Tạng độc lập”. Ngày 10-3-1989 Đan Tăng Đức đại diện đặc biệt của Đạt Lai thông qua hội nghị báo cáo do “Hữu hội Tây Tạng ở thủ đô” nước Mỹ triệu tập, công khai kêu gọi công chúng Mỹ viết thư gửi các nghị sĩ mở rộng hoạt động du thuyết. Đồng thời với sự giúp đỡ của “Uỷ ban giành tự do Tây Tạng ở Mỹ” lại tổ chức gây rối trước cổng trụ sở Liên Hợp Quốc, và biểu tình thị uy trước nơi ở của đoàn đại biểu Trung Quốc. Lại thêm một sự kiện nghiêm trọng can thiệp nội chính của Trung Quốc Ngày 13-9-1995 bất chấp việc Chính phủ Trung Quốc kiên quyết phản đối sự vu cáo và yêu cầu trao đổi nghiêm chỉnh, phía Mỹ lại bố trí Clintơn hội kiến với Đạt Lai. Đó là một sự kiện nghiêm trọng mà Chính phủ Mỹ cố ý gây nên can thiệp vào nội chính của Trung Quốc. Trước đó tống thống Mỹ Clintơn đã từng hai lần hội kiến với Đạt Lai vào năm 1993 và 1994. Gần một năm sau quan hệ Trung - Mỹ trong tình trạng vướng mắc. Đó là Chính phủ Mỹ chơi “con bài Đài Loan”, cho phép Lý Đăng Huy đi thăm Mỹ tạo ra “hai nước Trung Quốc”, “một Trung Quốc một Đài Loan”. Chính phủ Mỹ vốn sử dụng hành động thực tế, bỏ qua hậu quả tai hại mang lại cho quan hệ Trung - Mỹ do chuyến thăm của Lý Đăng Huy gây ra, song chẳng những không nhận thức việc làm ấy, trái lại còn sử dụng “con bài Tây Tạng”, dung túng ủng hộ Đạt Lai hoạt động chia rẽ Trung Quốc. Trong quan hệ Trung - Mỹ lại thêm rắc rối mới. Chính phủ Mỹ trong vấn đề Tây Tạng, Đài Loan đã can thiệp vào chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc, luôn luôn nói một đàng làm một nẻo. Chính phủ Mỹ đã nhiều lần công khai thừa nhận lãnh thổ của Trung Quốc, không thừa nhận “Tây Tạng độc lập”, không thừa nhận Tây Tạng là “quốc gia có chủ quyền”, không thừa nhận cái gọi là “Chính phủ lưu vong” của Đạt Lai. Nhưng Chính phủ, quốc hội Mỹ trong thâm tâm lâu dài ủng hộ Đạt Lai hoạt động chia cắt Trung Quốc. Mấy năm nay Tổng thống, Phó Tổng thống Mỹ nhiều lần hội kiến với Đạt Lai, đặc biệt là chuyến thăm Mỹ lần này của Đạt Lai, Chính phủ Mỹ chẳng những đón tiếp với nghi thức cao, mà còn để Đạt Lai được diễn đàn chính trị, nghe cổ động “Tây Tạng độc lập”. Khi gặp gỡ các nhân vật đứng đầu trong Thượng hạ viện của Đảng Cộng hoà, Đạt Lai cảm động đến rơi nước mắt trước những hoạt động nhiều năm mà Quốc hội Mỹ đã ủng hộ “Tây Tạng độc lập”. Trước đây không lâu Quốc hội Mỹ đã tuyên bố, Tồng thống Clintơn không chuẩn bị gặp mặt Đạt Lai. Nhưng Phó Tổng thống Gon khi gặp Đạt Lai tại Nhà trắng, lại để cho Clintơn gọi là “gặp mặt dễ dàng” Đạt Lai. Điều đó làm cho mọi người nghĩ lại trước đây không lâu Chính phủ Mỹ lên tiếng là không đồng ý Lý Đăng Huy thăm Mỹ, sau đó lại đột nhiên tuyên bố cho phép ông ta “thăm Mỹ, với tư cách cá nhân”. Từ đó thấy rằng, vô luận là Clintơn gặp mặt Đạt Lai, hay là Lý Đăng Huy được phép thăm Mỹ, trên thực tế đều là do Chính phủ Mỹ đã có kế hoạch chu đáo và sắp xếp sẵn từ trước. Cuộc gặp mặt được tính toán cẩn thận, được nguỵ biện là “gặp mặt thuận tiện”, chẳng qua chỉ là lời lẽ ngoại giao che đậy dung túng Đạt Lai hoạt động chia cắt Trung Quốc mà thôi. Chính phủ Mỹ biện bạch rằng, những người lãnh đạo nước Mỹ gặp Đạt Lai vì ông ta là “lãnh tụ tôn giáo”, không phải là “người lãnh đạo chính trị”, “cũng không phải là nhân sĩ chính giới”. Cái đó hoàn toàn là lời lẽ lấp liếm lừa mình dối người. Như mọi người đều biết, mấy chục năm qua Đạt Lai chẳng phải hoạt động tôn giáo, mà là mưu đồ hoạt động chính trị tách Tây Tạng khỏi Trung Quốc. Trong bản tuyên bố phát biểu tại Mỹ, Đạt Lai kêu gọi Mỹ hãy gây sức ép với Trung Quốc về “vấn đề Tây Tạng”, yêu cầu Mỹ “phát huy tác dụng quan trọng” để giải quyết vấn đề Tây Tạng, nói là “giải quyết vấn đề Tây Tạng là phù với lợi ích bản thân nước Mỹ”. Trong bài phát biểu tại trường đại học Harvad, Đạt Lai thậm chí còn yêu cầu Mỹ và các nước phương Tây giúp ông ta “giải phóng Tây Tạng khỏi bàn tay Trung Quốc”. Lời nói kể trên của Đạt Lai đâu có liên quan tới hoạt động tôn giáo? Sự thực Đạt Lai cũng như Lý Đăng Huy đều là chính khách, dựa vào thế lực bên ngoài, chiếc áo khoác tôn giáo của ông ta đã bị hành vi chính trị của chính mình lột trần. Về việc này, Chính phủ Mỹ không phải không biết. Chính phủ Mỹ luôn miệng nói, quan hệ Trung - Mỹ rất quan trọng, hai nước “có nhiều việc quan trọng cần phải cùng nhau làm”, mong muốn cải thiện quan hệ hai nước. Nhưng đồng thời Chính phủ Mỹ lại tìm mọi cớ luôn luôn tạo ra những mắc mớ mới trong quan hệ Trung - Mỹ, sau khi chơi “con bài Đài Loan” lại đánh tiếp “con bài Tây Tạng” làm cho vết thương cũ trong quan hệ Trung - Mỹ chưa lành lại thêm tổn thương mới. Trung Quốc chưa bao giờ làm một việc gì ảnh hưởng xấu tới nước Mỹ, mà trên vấn đề mẫn cảm Đài Loan, Tây Tạng liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc, Mỹ lại liên tiếp làm phương hại tới nhân dân Trung Quốc. Mọi người buộc phải hỏi rằng, trong vấn đề cải thiện quan hệ Trung - Mỹ, nước Mỹ thật sự có thiện chí hay không? Về phía Trung Quốc, xưa nay luôn coi trọng cải thiện và phát triển quan hệ Trung - Mỹ, chủ trương “tăng thêm tín nhiệm, giảm bớt phiền hà, phát triển hợp tác, không gây đối kháng”. Tiếng nói của Trung Quốc đáng tin cậy. Chính phủ Mỹ nếu thật sự không có ý thực hành chính sách “ức chế” lỗi thời đối với Trung Quốc, thật lòng mong muốn cải thiện quan hệ Trung - Mỹ, thì hãy nên xem xét lại những hành động thực tế, ngừng can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc, không tạo nên những khó khăn vướng mắc mới. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:12:37 pm Chương 19 “BÁ CHỦ” ĐÁNH THIÊN TRƯỢNG, GIÔNG TỐ NGOÀI TẦNG MÂY, NGĂN CHẶN SỰ UY HIẾP CỦA HẠT NHÂN, CÂY NẤM VƯƠN LÊN BẦU TRỜI LA BỐ BẠC. PHẦN 1 ĐỂ CHO THẾ GIỚI TIẾN TỚI HOÀ BÌNH Trung Quốc tuyên bố ngừng thử hạt nhân Ngày 29-7-1996 sẽ trở thành một ngày không thể quên của các nhà sử học khi nghiên cứu về lịch sử hoà bình thế giới, Chính phủ Trung Quốc trịnh trọng tuyên bố trước thế giới: Ngày 29-8-1996, Trung Quốc lần đầu tiên thành công thử nghiệm hạt nhân. Kể từ ngày 30-7-1994 lần đầu tiên thử nghiệm hạt nhân, suốt hơn 3 năm cố gắng, Trung Quốc đã xây dựng được một lực lượng tự vệ hạt nhân tinh nhuệ, hữu hiệu. Công dân Trung Quốc, những người làm công tác khoa học kỹ thuật, cán bộ chiến sĩ quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, cùng tất cả các nhân viên công tác xây dựng Quốc phòng, trong điều kiện hết sức khó khăn đã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh phấn đấu vươn lên, không sợ hy sinh, phấn đấu gian khổ, lập nên những công tích lịch sử bất hủ để nghiên cứu chế tạo và phát triển vũ khí hạt nhân, nâng cao chí khí dân tộc Trung Hoa, tăng cường thực lực bảo vệ hoà bình của Trung Quốc. Chính phủ và nhân dân Trung Quốc gửi tới họ lời thăm hỏi ân cần và lời chào cao cả! Chính phủ Trung Quốc kiên trì thi hành chính sách ngoại giao hoà bình độc lập tự chủ, luôn luôn chủ trương cấm toàn diện và triệt để thủ tiêu vũ khí hạt nhân. Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân là một quyết định bắt buộc vạn bất đắc dĩ, trong điều kiện lịch sử đặc biệt. Trong thời kỳ cận đại hơn 100 năm, dân tộc Trung Hoa đã từng bị kìm hãm, bị nước ngoài xâm lược và chà đạp, chịu đựng bao tai hoạ của chiến tranh. Nước Trung Quốc mới sau khi thành lập vẫn bị chiến tranh đe doạ, kể cả sự uy hiếp của vũ khí hạt nhân. Trung Quốc muốn tồn tại và phát triển, không còn cách lựa chọn nào khác là phải nghiên cứu chế tạo và phát triển một số vũ khí hạt nhân, không để uy hiếp người khác mà hoàn toàn vì yêu cầu phòng ngự, là để tự bảo vệ mình, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống hoà bình ổn định của nhân dân. Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân cũng là để bảo vệ hòa bình thế giới, để đập tan sự lừa bịp và đe doạ hạt nhân, phòng ngừa chiến tranh hạt nhân, cuối cùng là huỷ bỏ vũ khí hạt nhân. Kể từ khi Trung Quốc có vũ khí hạt nhân, đã trịnh trọng tuyên bố. Trung Quốc không bao giờ sử dụng trước vũ khí hạt nhân trong bất cứ thời gian nào hoàn cảnh nào. Trung Quốc còn hứa hẹn vô điều kiện không bao giờ sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ khí hạt nhân đối với những quốc gia và khu vực không có vũ khí hạt nhân. Trung Quốc là nước có vũ khí hạt nhân duy nhất trên thế giới nêu ra tôn trọng và lời hứa đó. Trung Quốc sẽ không bao giờ đưa vũ khí hạt nhân ra nước ngoài, cũng không bao giờ sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ khí hạt nhân đối với nước khác. Trung Quốc là nước yêu chuộng hoà bình, là lực lượng quan trọng bảo vệ hoà bình và ổn định thế giới. Trung Quốc tán thành thực hiện toàn diện cấm thử vũ khí hạt nhân trong quá trình đi tới triệt phá mục tiêu quân sự hạt nhân. Trung Quốc tích cực tham gia đàm phán hiệp ước cấm thử toàn diện hạt nhân tại Giơnevơ, tranh thủ thông qua hiệp thương nhất trí ký kết điều ước công bằng, hợp lý, có thể kiểm tra, tham gia rộng rãi và có hiệu lực lâu dài. Trung Quốc nguyện cùng các thành viên quốc tế tiếp tục cố gắng vì sự nghiệp đó. Trung Quốc là nước đầu tiên ký kết điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện Sáng ngày 24-9-1996, Trung Quốc cùng các nhà lãnh đạo 16 quốc gia đã ký Điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở Niuóoc. Thư ký Liên Hợp Quốc Cali trong bài phát biểu tại lễ ký kết có nói: Trước đây hai tuần Điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã được thông qua với đa số phiếu tuyệt đối sẽ thực hiện một mục tiêu lâu dài của quốc tế. Ông nói: “Hôm nay là giờ phút lịch sử mà chúng ta đã trải qua bao nỗ lực hướng tới cắt giảm quân sự và phổ biến rộng rãi hạt nhân”. Tổng thống Mỹ Clintơn, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham, Ngoại trưởng Pháp Deshalete, Ngoại trưởng Nga Pulimakef và Ngoại trưởng Anh Lifu chinde thay mặt các nước Nhật Bản, Hà Lan, Đức, Đan Mạch, Italia, Canađa, Áo, Aisơlen, Nam Phi và Chi Lê. Thử nghiệm hạt nhân là một thủ đoạn không thể thiếu được trong khả năng phát triển hạt nhân, nó là chỗ dựa khoa học để cải tiến thiết kế, định hình sản xuất, sử dụng phòng hộ vũ khí hạt nhân. Sau lần thử nghiệm hạt nhân đầu tiên trên thế giới năm 1945 của Mỹ, Liên Xô và nước Anh cũng đã thử nghiệm hạt nhân lần đầu của mìnhvào năm 1949 và 1952, Pháp năm 1960, ba nước Mỹ, Anh, Liên Xô chiếm vị thế lũng đoạn hạt nhân trên thế giới. Tính chất phá huỷ cực đại của vũ khí hạt nhân đã làm kinh động thế giới, nhiều nước đã kêu gọi cấm thử nghiệm hạt nhân. Năm 1954 tại Hội nghị Liên Hợp Quốc lần đầu tiên Ấn Độ nêu yêu cầu ký kết một Hiệp nghị quốc tế cấm thử nghiệm hạt nhân. Trước áp lực của quốc tế, hai nước Mỹ-Xô có hạt nhân đã phải tạm ngừng thử nghiệm hạt nhân một thời gian từ 1958 đến 1961. Bắt đầu từ tháng 9-1961 họ lại thử nghiệm hạt nhân nhiều lần trên tầng khí quyển, gây nên sự bất bình nghiêm trọng trong dư luận quốc tế. Mỹ, Liên Xô, Anh sau khi cơ bản đã nắm được các cứ liệu số hiệu ứng nổ hạt nhân trên tầng khí quyển và đầy đủ kỹ thuật thử nghiệm hạt nhân dưới đất, tháng 8 năm 1963 đã ký “Hiệp ước cấm thử từng phần”. Điều ước cấm thử nghiệm bất cứ một loại vũ khí hạt nhân nào hoặc bất cứ một vụ nổ hạt nhân nào trên tầng khí quyển ngoài không gian và dưới nước. Lúc đó Mỹ tuyên bố công khai rằng, ký kết điều ước này không có nghĩa là Mỹ không sử dụng, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và phát tán vũ khí hạt nhân. Sau khi “Hiệp ước cấm thử từng phần” có hiệu lực, Mỹ-Xô tăng cường thử nghiệm hạt nhân dưới đất. Sau khi họ tiến hành thử nghiệm với số lượng đầy đủ, tháng 7-1974 đã ký kết “Hiệp ước quy định bắt đầu từ 31-3-1976 cấm thử tất cả các vũ khí hạt nhân ở dưới đất ở mức 150.000 tấn trở lên”. Tháng 5-1976, Mỹ - Xô lại ký “Điều ước nổ hạt nhân hoà bình”, quy định lượng vụ nổ riêng lẻ không vượt quá 150.000 tấn. Thời kỳ từ 1977 đến sau những năm 80,. Mỹ-Xô đối lập gay gắt với nhau về vấn đề cấm thử toàn diện. Liên Xô liên tục tạo thế tấn công cắt, giảm quân sự hạt nhân với nội dung cấm thử toàn diện để mưu cầu địa vị cân bằng hạt nhân nhằm hạn chế nước Mỹ phát triển kỹ thuật vũ khí hạt nhân. Mỹ thì kiên quyết phản đối cấm thử toàn diện. Năm 1981 và 1983 lần lượt đề ra kế hoạch tăng cường toàn diện vũ khí hạt nhân chiến lược cải tiến và “kế hoạch phòng ngự chiến lược”. Phần đông các nước không có hạt nhân, bao gồm cả các nước không có hạt nhân phương Tây, đòi hỏi cấp thiết ký kết Điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện. Với áp lực của quốc tế, Mỹ không thể không thay đổi chính sách “không đàm phán” bằng đối thoại hữu hạn, Mỹ - Xô - Anh một mặt thì ký kết Điều ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện tiến hành đàm phán nửa vời, mặt khác đều tăng cường hoàn thiện các kho vũ khí hạt nhân của mình. Những năm 90 tình hình quốc tế có nhiều thay đổi. Sau khi Liên Xô giải thể, nước Mỹ mất đi một đối thủ cạnh tranh quân bị hạt nhân; trên thế giới bắt đầu xuất hiện một số quốc gia tiến gần “ngưỡng cửa hạt nhân”, nắm vững kỹ thuật vũ khí hạt nhân. Mỹ và một số quốc gia phát triển đã nắm được phương pháp mới về mặt kỹ thuật hạt nhân dùng thử nghiệm hạt nhân trong phòng thí nghiệm thay thế cho vụ nổ thực tế. Do đó, về kế hoạch vũ khí hạt nhân và chính sách cấm thử Mỹ đã phải điều chỉnh, tháng 7-1993 Mỹ tuyên bố tán thành sớm bắt đầu đàm phán đa phương và sớm ký kết Điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện. Cuộc đàm phán Điều ước cấm thử toàn diện cũng được bắt đầu vào đầu năm 1994. Đàm phán cấm thử hạt nhân toàn diện chỉ trong vấn đề không phát tán vũ khí hạt nhân và thực hiện giảm bớt quân bị hạt nhân. Hàng chục năm qua, việc đàm phán về cấm và hạn chế thử nghiệm hạt nhân cũng như một số điều ước, hiệp nghị được ký kết đều không phương hại gì tới việc thay thế, cải tiến vũ khí hạt nhân của nước lớn siêu cường; thế giới ngày nay vẫn tồn tại những kho vũ khí hạt nhân khổng lồ, siêu cường quốc hạt nhân lớn nhất thế giới không bao giờ từ bỏ chính sách đe doạ hạt nhân. Có cường quốc hạt nhân cho đến hôm nay vẫn không muốn nêu ra lời hứa không sử dụng trước vũ khí hạt nhân, còn có ý đồ thông qua cấm thử nghiệm mà duy trì ưu thế hạt nhân. Đồng thời, nước Pháp cũng chỉ sau khi tăng cường tiến hành hàng loạt thử nghiệm hạt nhân gần một năm nay mới tỏ thái độ tương đối tích cực đối với Điều ước cấm thử nghiệm hạt nhân toàn diện. Ấn Độ được coi là nước “ngưỡng cửa của hạt nhân” đã bày tỏ, trừ phi trong điều ước ghi rõ nội dung các quốc gia có hạt nhân trong một thời hạn nhất định triệt tiêu vũ khí hạt nhân, không thì sẽ cự tuyệt ký tên vào Điều ước cấm thử toàn diện. Ngày 24-9, Điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện đã đưa ra rộng rãi cho tất cả các quốc gia ký kết, ngày ấy có 65 quốc gia ký kết điều ước này. Điều ước sẽ có hiệu lực ngày thứ 180 kể từ ngày trao đổi thư phê chuẩn của 44 nước thành viên Hội nghị đàm phán giảm tải quân bị. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:13:49 pm Lập trường nguyên tắc và chủ trương của Chính phủ Trung Quốc Ngày 24 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham sau khi thay mặt Chính phủ Trung Quốc ký Điều ước cấm thử hạt nhân toàn diện đã ra tuyên bố, trình bày đầy đủ rõ ràng lập trường nguyên tắc và chủ trương của Chính phủ Trung Quốc về vấn đề cấm thử hạt nhân cắt giảm quân bị hạt nhân. Tuyên bố chỉ rõ: Trung Quốc chủ trương nhất quán cấm thử toàn diện và tiêu huỷ triệt để vũ khí hạt nhân, thực hiện không có vụ nổ thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng, cấm thử hạt nhâu toàn diện sẽ thúc đẩy việc cắt giảm quân bị hạt nhân, ngăn ngừa phát tán hạt nhân. Vì vậy Trung quốc ủng hộ thông qua đàm phán ký kết một điều ước công bằng hợp lý, có thể kiểm tra, tham gia rộng rãi và có hiệu lực lâu dài, nguyện tích cực thúc đẩy tiến tới hiệp ước được phê chuẩn và có hiệu lực. Đồng thời Chính phủ Trung Quốc còn trịnh trọng kêu gọi: - 1/ Cường quốc hạt nhân hãy từ bỏ chính sách đe doạ hạt nhân của họ. Các nước có kho vũ khí hạt nhân khổng lồ tiếp tục tiêu giảm với mức độ lớn. - 2/ Các nước có đặt vũ khí hạt nhân ở nước ngoài hãy chuyển toàn bộ vũ khí về nước mình. Tất cả các nước có vũ khí hạt nhân đều đảm bảo trách nhiệm không sử dụng vũ khí hạt nhân trước, bất cứ lúc nào và trong bất cứ điều kiện nào, đều hứa vô điều kiện không sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ khí hạt nhân đối các quốc gia và khu vực không có hạt nhân; đồng thời sớm ký kết văn bản pháp luật quốc tế về vấn đề này. - 3/ Tất cả các nước có vũ khí hạt nhân đều đáp ứng ủng hộ chủ trương xây dựng khu vực không có vũ khí hạt nhân, tôn trọng vị thế khu vực không có vũ khí hạt nhân và chịu trách nhiệm tương ứng. - 4/ Các nước không phất triển, không bố trí hệ thống vũ khí ngoài không gian và hệ thống phòng ngự đạn đạo phá hoại an toàn và ổn định chiến lược. - 5/ Đàm phán ký kết Công ước quốc tế cấm thử toàn diện và tiêu huỷ triệt để vũ khí hạt nhân. Tuyên bố chỉ rõ, Chính phủ Trung Quốc tán đồng biện pháp kiểm tra hạt nhân phù hợp với quy định của điều ước, để đồng thời kiên quyết phản đối bất kỳ quốc gia nào lạm dụng quyền kiểm tra hạt nhân, bao gồm cả việc chống lại nguyên tắc pháp luật quốc tế công nhận, sử dụng tình báo gián điệp, xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, làm phương hại lợi ích an toàn chính đáng của Trung Quốc. Tuyên bố nhấn mạnh, thế giới ngày nay vẫn đang tồn tại những kho vũ khí hạt nhân khổng lồ, vẫn tồn tại chính sách đe doạ hạt nhân, lấy sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên làm cơ sở. Trước khi thực hiện mục tiêu triệt huỷ toàn bộ vũ khí hạt nhân, bảo đảm an toàn, đáng tin cậy và có hiệu lực vũ khí hạt nhân của mình là lợi ích quốc gia cao nhất của Trung Quốc. Cuối cùng bản tuyên bố nhắc lại, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc mong muốn cùng Chính phủ và nhân dân các nước tiếp tục nỗ lực phấn đấu để sớm thực hiện mục tiêu cao cả cấm thử toàn diện và triệt để tiêu huỷ vũ khí hạt nhân. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:47:08 pm PHẦN 2 “BÁ CHỦ” ĐÁNH THIÊN TRƯỢNG Những điều bí mật ở “Giếng huỷ diệt” Từ Đại chiến thế giới lần thứ 2 đến nay, các Tổng thống Mỹ, bất luận là thuộc Đảng Cộng hoà hay Đảng Dân chủ đều nhất nhất tin chắc rằng: Trong tay mình có một nguồn sức mạnh đạn đạo hạt nhân chiến lược có thể huỷ diệt cả thế giới trong giây lát. Khắp nơi trên đất Mỹ kể có hàng nghìn giếng phát xạ dưới đất. Các đạn đạo đường chiến lược được lắp đặt ngay ngắn sẵn sàng, thẳng đứng trong những giếng ấy; một khi có lệnh, trong vài giây chúng sẽ loé lửa phụt khói, gầm rú bay lên. Những cái “giếng huỷ diệt” có thể gây nên đại hoạ cho nhân loại ấy được chia làm 6 căn cứ đạn đạo. Mỗi căn cứ đều được giới nghiêm, bao trùm không khí ghê sợ. Chúng ta hãy cùng đi “thám hiểm” tại căn cứ đạn đạo Mainuste. Ở đây không phải là núi thẳm rừng sâu, mà là một vùng bình nguyên mênh mông ở miền Tây Bắc Mỹ. Đường rộng thênh thang xuyên qua đồng nội, dáng dấp như một dải bạc khảm trên tấm thảm lụa màu xanh. Khi bạn ngồi trên xe cao tốc, phóng tầm mắt tới tận chân trời, ngẫu nhiên nhìn thấy những hàng giậu thông thường vây quanh các công trình kiến trúc nhỏ thấp. Song, chính ở dưới các công trình ấy, tàng ẩn kho vũ khí hạt nhân của một quốc gia siêu cường được coi là đứng hàng đầu trên thế giới ngày nay. Trung tâm khống chế phóng đạn đạo Mainuste. Đội quân đóng tại căn cứ đạn đạo Mainuste là liên đội đạn đạo chiến lược 91 không quân chiến lược, đó là liên đội 1 đạn đạo III dân binh. Bộ tư lệnh liên đội đặt tại thành phố Mainuste, thông qua sư đoàn 47 của căn cứ không quân Feirchairde thuộc bang Oasinhtơn; nhận nhiệm vụ theo bộ tư lệnh đội hàng không 15. Toàn bộ căn cứ có 150 đạn dạo III dân binh chiếm diện tích 78 km2. Liên đội đạn đạo 91 quản lý các trung đội đạn đạo 740, 741, 742 và trung đội bảo dưỡng. Trung đội đạn đạo do phòng tác chiến chỉ huy, trung đội bảo dưỡng do phòng bảo dưỡng quản lý. Mỗi trung đội đạn đạo được trang bị 50 đạn đạo III dân binh. Cứ 10 đạn đạo hợp thành một nhóm, tạo nên phố trí biên hình 10, ở giữa là trung tâm khống chế phát xạ. Để tránh đạn đạo đối phương cùng lúc phá huỷ 10 đạn đạo này, nên giãn cách giữa các giếng không nhỏ hơn 9 km. Giếng phát xạ là một kết cấu như cái thùng tròn, mỗi giếng chỉ phóng một đạn đạo. Trong thành giếng có ghép bản thép với độ dày nhất định, mặt ngoài đúc một lớp bêtông cốt thép dày 46 mm, nắp giếng theo kiểu hoạt động trượt khởi động nhanh bằng máy thuốc nổ, nặng 80 tấn. Trung tâm khống chế do hai phòng khống chế, phòng thiết bị và một công trình kiến trúc dưới đất hợp thành. Toàn bộ cơ quan biên chế liên đội đều phục vụ cho bảo dưỡng và tác chiến đạn đạo, gồm 3.700 quân nhân và 450 viên chức, mỗi trung đội đạn đạo có 42 nhóm cần vụ tác chiến, mỗi nhóm cần vụ có 2 sĩ quan. Họ lần lượt trực ban trong 5 trung tâm khống chế phát xạ của trung đội mình. Phòng khống chế của trung tâm khống chế phát xạ cách mặt đất khoảng 60m, xung quanh là từng phòng hộ dầy 2 m. Sĩ quan trực ban xuất phát từ căn cứ, ngồi xe đi tới trung tâm khống chế phát xạ. Sau khi họ đi bộ vào công trình kiến trúc kiểu thấp trong hàng giậu vây thì đi vào phòng khống chế nằm dưới đất bằng thang điện. Bước xuống thang điện phải qua hàng loạt hành lang, cửa chống nổ và thiết bị đứng khoá. Đi vào cửa cuối cùng của phòng khống chế, chỉ có thể do hai sĩ quan trực ban mở ra, nhóm tiếp nhận mới được đi vào. Việc giao nhận phải theo đúng trình tự quy định và chấp hành nghiêm ngặt. Điều quan trọng trước tiên là kiểm tra văn bản trong tủ bảo hiểm xem có phù hợp với mệnh lệnh mà họ tiếp nhận không. Mỗi người đều giữ một chùm chìa khoá, không mở hết mọi khoá thì tủ bảo hiểm không thể khởi động. Sau khi nhóm trực ban đi ra, nhóm tiếp nhận phải kiểm tra toàn diện thiết bị trong phòng khống chế, nội dung có 246 hạng mục. Phòng khống chế nằm sâu dưới mặt đất, nhưng không khí trong phòng lại đầy đủ. Đây là một gian phòng rộng khoảng 26 m2, trong phòng có thiết bị lọc không khí và máy điều hoà cấp tính. Từ giường nằm, tủ lạnh, và bếp ăn chẳng khác gì chỗ ở của một người độc thân. Cạnh giường có bảng điện tự động và đài khống chế. Bên phải đài khống chế là máy xử lý chữ số và máy xử lý tin tức chỉ huy. Trong phòng còn có một máy truyền điện cao tốc, máy nhận tin và điện thoại thông suốt trực tiếp với Bộ Tư lệnh không quân chiến lược. Đài khống chế của hai sĩ quan trực ban cách rất xa, cự ly tới 4 mét, một người dang hai tay ra cũng không tới, đó là để bảo đảm cho có hai người đồng thời thao tác mới có thể phóng được đạn đạo. Trên đài khống chế có lắp đặt bảng hiển thị cỡ lớn, hiện rõ trạng thái 10 đạn đạo của tiểu đội mình, đạn đạo ở trong trạng thái chờ phóng hay là có sự cố đều thấy rõ ràng. Nếu như trong tình trạng sự cố, thì bộ phận hỏng hóc và nguyên nhân cũng được hiện rõ. Trên đài khống chế còn lắp đặt một bảng khống chế phát xạ, thiết bị cảnh báo và hệ thống thông tin. Nhân viên cần vụ làm việc 12 giờ tại phòng khống chế. Nếu như 8 giờ sáng vào vị trí làm việc thì 8 giờ chiều hết ca, lên thang điện về buồng nghỉ. Nhóm thứ nhất trực hết ca, thì ở lại 36 giờ trên trận địa, trong đó có 24 giờ làm việc đúng vị trí. Sau khi họ về nghỉ một ngày tại căn cứ, thì lại bắt đầu quay lại một vòng trực ban khác. Đối với sĩ quan trực ban mà nói, khó khăn lớn nhất không phải là sợ chết mà là tĩnh lặng và vô vị. Họ nhờ có ti vi, điện thoại từ gia đình để tiêu khiển thời gian, nếu không như vậy thì lao vào học tập, không thế, họ quả là khó khăn thích ứng với cuộc sống như “chuột rũi”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 11:12:42 pm “Không quân” hay là “địa quân” Theo nhận thức thông thường, sở dĩ gọi là không quân, là bởi vì máy bay các loại được coi là vũ khí chủ chiến. Nhưng không quân chiến lược của Mỹ hình như đã có sự “biến dị” khá lớn, thủ đoạn chủ yếu cần dựa vào để hoàn thành nhiệm vụ không phải là máy bay mà là đạn đạo vượt đại châu. Bộ Tư lệnh không quân chiến lược Mỹ thành lập ngày 21-3-1946, lúc này địa chỉ chính thức được chọn là căn cứ không quân Andrup ở ngoại ô Oasinhtơn. Sau hai năm, Bộ Tư lệnh ấy lại chuyển tới Aumaka thuộc Nêbrasea. Toà nhà bộ tư lệnh một tầng trên mặt đất, bốn tầng dưới mặt đất để tránh ô nhiễm phóng xạ, phần dưới mặt đất có nắp đậy bê tông cốt thép 64 cm. Trong tình trạng khẩn cấp có thể bịt kín cửa ra vào, 800 người vẫn có thể làm việc trong đó liên tục hai tuần lễ. Không quân chiến lược quản lý đội hàng không số 8, số 15 và sư đoàn không gian hàng không không quân chiến lược số 1. Đội hàng không số 8 và 15 thường xuyên trong trạng thái cảnh giới hạt nhân, Bộ Tư lệnh lần lượt xây dựng căn cứ không quân Backsdair ở Luisiana và Magi ở Califonia. Mỗi đội hàng không đều do nhiều liên đội đạn đạo của liên đội máy bay oanh tạc hợp thành; sư đoàn không gian hàng không chiến lược số 1 chịu trách nhiệm tổ chức huấn luyện phóng đạn đạo và tiến hành hỗ trợ các lần thử nghiệm. Liên đội đạn đạo chiến lược là đơn vị lớn nhất của đội quân đạn đạo đại châu của Mỹ, bao gồm đầy đủ các cơ quan tác chiến, hậu cần và hành chính. Biên chế mỗi biên đội từ 1500 đến 2000 người; liên đội trưởng và liên đội phó đều do sĩ quan cấp thượng tá đảm nhiệm. Liên đội quản lý từ 3 đến 5 trung đội đạn đạo đại châu; trung đội trưởng do sĩ quan cấp trung tá đảm nhiệm. Mỗi trung đội quản lý 5 tiểu đội, tiểu đội là đơn vị cơ bản, được trang bị 10 đạn đạo và 1 hệ thống thiết bị khống chế phát xạ. Từ 30-8-1960, Bộ Tư lệnh không quân chiến lược chính thức tiếp nhận lực lượng đạn đạo chiến lược “Thần vũ trụ” số 1, đạn đạo đại châu đã dần dần đấu tranh “chiếm quyền” với máy bay oanh tạc trong quân chủng này và đã giành thế chủ yếu. Năm 1960 - 1967 là thời kỳ đạn đạo chiến lược của Mỹ tăng nhanh số lượng. Sau đó mãi đến 1980, vẫn giữ con số 1054. Trong đó có 54 đạn đạo II cực mạnh chứa nhiên liệu lỏng, ngoài ra là đạn đạo dân binh, đạn đạo II “Đại lực thần” là loại cũ bắt đầu trang bị năm 1963, năm 1982 đến 1987 đã hoàn toàn bị phế bỏ. Hiện nay có tới 1000 đạn đạo đại châu đang phục vụ, trong đó có 450 đạn đạo II dân binh, 500 đạn đạo III dân binh, 50 đạn đạo (MX) “vệ sĩ hoà bình”. Những đạn đạo này kéo theo 2.450 đầu đạn hạt nhân. Mỗi liên đội đạn đạo là một căn cứ, toàn bộ căn cứ được bố trí tại cùng đồng bằng phía tây sông Mixixipi và 2 bên sườn núi Luoki, xa khu vực dân cư đông đúc, liền sát thành phố nhỏ giao thông tiện lợi. Trong phạm vi khu căn cứ đều có sân bay máy bay oanh tạc chiến lược và sân bay máy bay chiến đấu chiến thuật. Bố trí cụ thể của lực lượng đạn đạo chiến lược trong căn cứ lục quân như sau: Liên đội đạn đạo chiến lược 351 có 150 đạn đạo II dân binh đóng tại căn cứ không quân Huaiteman ở Missouri. Liên đội đạn đạo chiến lược 414 có 150 đạn đạo II dân binh, 50 đạn đạo MX đóng tại căn cứ không quân Mamusterumu ở Montana. Liên đội đạn đạo chiến lược 91 có 150 đạn đạo III dân binh đóng tại căn cứ không quân Dafukes ở bắc Đacôta. Các căn cứ đạn đạo nói chung đều bố trí ở nơi đất rộng người thưa. Song, mặc dù vậy vẫn có một số người trong tổ chức chống hạt nhân kháng nghị. Bởi vì họ hiểu rằng, một khi chiến tranh xảy ra, căn cứ đạn đạo sẽ là mục tiêu đầu tiên bị tấn công, nhân dân quanh vùng sẽ có thể chịu vạ lây. Liên đội đạn đạo là đơn vị tác chiến cơ bản của không quân chiến lược, gánh vác sứ mệnh quan trọng tổ chức thực thi đột kích hạt nhân chiến lược. Chính vì nguyên nhân đó, phàm là sĩ quan binh lính phục vụ tại đây đều phải qua thẩm tra và huấn luyện nghiêm khắc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 11:13:57 pm Tổng thống - đường dây nóng- chiếc hộp đỏ Ở Mỹ, chỉ có Tổng thống mới có quyền ra lệnh cuối cùng “Cho bấm nút” đại chiến hạt nhân. Một khi Tổng thống mất trí thì bộ mặt nhân loại thật rùng rợn. Khi Tổng thống Nichxơn vì “sự kiện của nước” trước Hạ viện, ông đã từng đe doạ các nghị sĩ: “Nếu tôi nhắc điện thoại trong văn phòng Tổng thống lên thì sau 25 phút 60.000.000 người sẽ chết”. Câu nói ấy làm cho Bộ trưởng Quốc phòng Slaixinge sợ run người. Vì vậy Slaixinge đã cảnh báo với quân đội: “Trừ phi có chỉ thị của Bộ trưởng Quốc phòng, mới được phép chấp hành mệnh lệnh khác thường này của Tổng thống”. Đó là tháng 8-1974, một sự việc xảy ra 5 ngày trước khi Tổng thống Nichxơn từ chức. Khi Tổng thống đi ra bên ngoài, bất luận đi đâu thì thường có một sĩ quan cấp tá xách va ly màu đen theo sau. Trong va li có đặt mật mã phóng vũ khí hạt nhân, mật mã mỗi ngày thay đổi một lần. Trong vali có văn bản đặc quyền ra lệnh cho một đơn vị lực lượng hạt nhân nào đó phóng đạn và ghi chép những điều cần quyết định của Tổng thống. Mệnh lệnh của Tổng thống được truyền qua máy điện thoại màu vàng ở trên đài chỉ huy của nhân viên điều khiển cao cấp thuộc Bộ Tư lệnh không quân chiến lược. Viên sĩ quan thuộc Bộ Tư lệnh không quân chiến lược nối thông điện thoại màu vàng với điện thoại màu đỏ, lúc này Tổng thống qua mạng điện tín trực tiếp thông thoại với người chỉ huy lực lượng hạt nhân trực thuộc quân chiến lược. Đồng thời, mệnh lệnh của Tổng thống còn thông qua hai chuyên cơ bay lượn trên bầu trời Thái Bình Dương và Đại Tây Dương truyền tới lực lượng hạt nhân tàu ngầm đang hoạt động dưới tầm sâu đại dương. Chỉ cần Tổng thống khởi dụng mật mã, thay cho từ “phóng” thì vũ khí huỷ diệt bắt đầu vận hành không gì ngăn nổi. Sử dụng hệ thống kết cấu phức tạp như vậy để truyền đạt mệnh lệnh của Tổng thống nhằm hai mục đích, một là để bảo đảm chắc chắn lệnh tác chiến ở “phòng chiến tranh” Nhà trắng có thể truyền tới tất cả lực lượng hạt nhân chiến lược; hai là để phòng ngừa cá biệt sĩ quan hoặc binh lính vì mù quáng lệch lạc hoặc hoảng sợ mà bấm nút bay. Từ năm 1961 đã có sở chỉ huy bay (vệ tinh) suốt đêm ngày vòng lượn trên bầu trời nước Mỹ. Nó là trạm chỉ huy cần dùng đến một khi trung tâm chỉ huy quân sự Oasinhtơn bị huỷ diệt. Ngoài ra còn có một máy bay trong đó bày đặt như máy bay phản lực “E-4” ở “phòng chiến tranh” Nhà trắng để Tổng thống sử dụng. Nó mang biệt hiệu “Máy bay ngày phán xét cuối cùng”. Máy bay này có thể ngồi được 94 người, nếu tiếp dầu trên không nó có thể bay liên tục 3 ngày. Máy bay nằm tại căn cứ không quân Andrus cách phía đông nam Nhà trắng 30 km. Để bảo đảm chắc chắn nước Mỹ không bị đạn đạo do mất cảnh giác nên hệ thống cảnh giới các loại đạn đạo liên tục làm việc suốt đêm ngày. Trong giây lát nào đó một tên lửa đạn đạo Liên Xô từ trong giếng ngầm hoặc tầu ngầm bay lên, thì sẽ bị vệ tinh kiểm soát không gian phát hiện ngay lập tức. Sau vài giây, thiết bị truyền cảm tầm xa trên vệ tinh bắt đầu theo dõi, hình ảnh tên lửa đạn đạo kéo theo đuôi lửa quét dài sẽ hiện rõ qua màn hình vô tuyến. Sau đó mạng lưới ra đa liền tóm gọn mục tiêu đối phương. Tin tức tình báo ấy nhanh chóng truyền tới Bộ Tư lệnh không quân chiến lược, và trung tâm chỉ huy quân sự quốc gia của Lầu Năm Góc. Viên tướng trực ban Lầu Năm Góc thông báo cho cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống. Gian phòng tại trung tâm chỉ huy quân sự quốc gia, có thể nói là trung khu thần kinh để Mỹ tiến hành chiến tranh. Từ đây có thể thông thoại trực tiếp với Nhà trắng, Chính phủ Cục Tình báo Trung ương và quân đội. Điều đặc biệt là ở đây có đường dây nóng, có thể liên lạc ngay với Kremlin. Khi đường dây nóng mở máy liên lạc, người Mỹ sử dụng tiếng Anh, người Liên Xô sử dụng tiếng Nga. Để giảm bớt khả năng hiểu sai đôi bên, Mỹ-Xô đều cử nhân viên chuyên trách trực ban suốt đêm ngày. Cứ mỗi giờ đôi bên kiểm tra đường dây một lần, thay nhau phát tin để đảm bảo thông suốt liên lạc. Những tin tức này hàng ngày phát 24 lần, mỗi bên chiếm một nửa, nội dung muôn hình muôn vẻ. Như là những câu chuyện kiểu tóc phụ nữ Nga thế kỷ 17, người chăn cừu châu Phi phát hiện ra Sôcôla, chuyện chủ nông trường Mỹ, quy định của hiệp hội bóng gôn chuyên nghiệp, những bài viết về đời sống cá voi, chuyện gì cũng có. Vì những tin tức ấy chỉ là kiểm tra đường dây cho nên không mang màu sắc chính trị, nhưng cũng có khi bao hàm xạ ảnh. Như những năm thập kỷ 80, Liên Xô liên tục phát đi tiểu thuyết dài “chiến tranh và hoà bình” của đại văn hào Tônstôi; hình như muốn ám chỉ người Mỹ đang lựa chọn giữa hai con đường. Còn Mỹ thì trực diện, thường phát đi tin tức côn trùng lan tràn vùng Địa Trung Hải, ý nói chiến tranh nổ ra giống như thiên tai nhân hoạ, có khi không tránh được. 30 năm qua, vì khủng hoảng nghiêm trọng, mà sử dụng đường dây nóng chỉ có ba lần. Ngày 5-6- 1965, Israen được Mỹ ủng hộ, đột nhiên tập kích xâm nhập nhà nước A Rập, chiếm bán đảo Xinei vùng Ca sa, tiến quân sát thành phố Đamascus, ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của Liên Xô ở khu vực này. Lúc đó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Côxơghin gửi thông điệp cuối cùng cho Tổng thống Mỹ Giônxơn qua đường dây nóng, cùng đe doạ nhau, nhưng để tránh xung đột, đôi bên đều tự kiềm chế, tình hình dịu dần. Còn hai lần khác là do sai sót của máy tính điện tử ở Bộ Tư lệnh không quân chiến lược Mỹ và Bộ Tư lệnh phòng không Bắc Mỹ gây ra; may mà có kiểm tra đường dây nóng mới tránh xảy ra tai hại. Quyền lực to lớn của Tổng thống đối với bản thân ông ta cũng là một áp lực khó thừa nhận, bởi vì chiến tranh hạt nhân xảy ra không chỉ là tại hoạ đối với công chúng Mỹ mà cả với toàn thế giới. Song có khi ông ta phải quyết định trong vài phút. Điện thoại “đường dây nóng” cho một tia hy vọng cuối cùng để chặn đứng chiến tranh hạt nhân. Nếu tia hy vọng ấy tắt ngấm đi, thì tất cả mọi việc tiến hành theo sau cũng sẽ khó bề cứu vãn. Mệnh lệnh tác chiến nhanh chóng truyền đi khắp mọi trận địa đạn đạo. Các sĩ quan trực ban trong phòng điều hành ở trung tâm khống chế chỉ huy sau khi nhanh chóng chuyển mật mã cùng cứ số vào bản khống chế phóng đạn theo đúng trình tự hàng ngày, mở hộp đỏ treo trên tường, mỗi người đều lấy ra một chìa khoá trong hộp. Họ đồng thời tra chìa vào ổ khoá, nâng chuyển động trong vài giây để khởi động trình tự phóng đạn. Cùng lúc 5 sĩ quan làm việc tại trung tâm phóng đạn của một trung đội hoàn thành động tác kể trên, thế là bắt đầu cuộc đại huỷ diệt thê thảm tuyệt chủng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2008, 11:15:33 pm Bão tố cuồn cuộn ngoài tầng mây. Một câu nói của Rigân kinh động thế giới Ngày 23-3-1983 đối với đại đa số dân Mỹ đó chỉ là một ngày hết sức bình thường. Song, chính trong ngày ấy, đã xảy ra một sự kiện trọng đại làm xáo động toàn thế giới. Trời về đêm, ông Rigân Tổng thống nhiệm kỳ thứ 42 của lịch sử nước Mỹ, qua mạng truyền hình trên toàn nước Mỹ đã diễn thuyết trong 30 phút, kêu gọi mọi người hãy từ bỏ cuộc chiến tranh hạt nhân tàn sát đại quy mô, luôn ám ảnh như ma quỉ trong lòng nhân dân Mỹ. “Tôi kêu gọi các nhà khoa học: trước kia các bạn đã mang lại cho chúng ta vũ khí hạt nhân, nhưng ngày nay mong các bạn có thể đem tài năng vĩ đại của mình dùng cho hoà bình, tìm cho chúng ta một biện pháp để vũ khí ấy mất đi uy lực, trở thành một phế vật lạc hậu với thời đại!” Tổng thống Rigân tuyên bố. Chỉ cần các nhà khoa học cố gắng tích cực thì có thể từ bỏ chính sách quân sự hiện có - cùng nhau bảo đảm chắc chắn cho chiến lược phá huỷ hạt nhân. Cố gắng ấy chính là dẫn tới một thủ đoạn phòng vệ để lãnh thổ và nhân dân Mỹ tránh bị đạn đạo Liên Xô công kích. Chúng ta phải nghiên cứu chế tạo được hệ thống “hoả lực” tinh xảo hơn, kỹ thuật phòng ngự hữu hiệu hơn, có sức mạnh vượt lên sự công kích, thì có thể từ đó mà bảo vệ đất nước và nhân dân mình. Tổng thống Rigân còn chỉ rõ thêm: “Nếu chúng ta có thể chế tạo được vũ khí phòng ngự tính năng cao, có thể chặn đứng và phá huỷ được vũ khí hạt nhân chiến lược trong lúc đang bay, thì có thể mang niềm hy vọng càng sáng sủa đối với tương lai chúng ta sẽ tiến hành một sự nghiệp to lớn có thể làm thay đổi tiến trình lịch sử nhân loại. Bài diễn thuyết trên truyền hình giản đơn trong 30 phút này đã sinh ra hiệu ứng rung chuyển không kém vụ nổ bom nguyên tử tại Quảng Đảo và Trường Kỳ. Nó rõ ràng có tác dụng thay cũ đổi mới về mở mang, nghiên cứu sử dụng khoảng không vũ trụ vốn đã không bình yên càng thêm náo động. Kỳ thực, trước khi Tổng thống Rigân diễn thuyết trên truyền hình, ngoài mấy người bên cạnh ông ta ra, không ai hiểu gì về ý tưởng hệ thống phòng ngự chống đạn của Tổng thống. Sự thật ấy chứng tỏ, công bố tư tưởng chiến lược mới của Mỹ (bảo đảm chiến lược sinh tồn) là hành động quyết đoán của Tổng thống vận dụng ngoại lệ quyền thống soái của mình. Tổng thống Rigân và những người thân tín đều rất rõ, nếu mang nội dung bài diễn thuyết thông báo đến các quan chức Oasinhtơn thì không quá một giờ, sẽ có một nửa quan chức điện thoại đề nghị Tổng thống vứt bỏ bài diễn thuyết ấy. Chủ yếu là vì tập quán về lý luận và tư tưởng cùng kế hoạch đã định. Còn tính khả thi kỹ thuật của hệ thống phòng ngự chống đạn đạo không đáng tín nhiệm, vẫn là một con số chưa biết. Ngày thứ hai sau lần diễn thuyết này, một nhân sĩ có quyền thế luôn luôn ủng hộ xây dựng hệ thống chống đạn đạo bằng vũ khí hạt nhân khi nói tới bài diễn thuyết của Rigân, đã nói rằng: “Bài diễn thuyết này dẫn đến hiệu quả một gánh nặng luôn luôn đè lên đầu mọi người tới 25 năm”. Thế thì, thứ vũ khí mới làm cho vũ khí hạt nhân mất uy lực, Tổng thống Rigân nêu ra là cái gì? Một số ít nhà khoa học, tiêu biểu là tiến sĩ Taile gọi đó là “vũ khí hạt nhân thế hệ 3”. Nó có thể tập trung năng lượng ở mật độ cao, hiệu suất cao sinh ra “hiệu quả kinh người”. Ngày 23. 3, một nhân sĩ thân cận Tổng thống tiết lộ, thứ vũ khí này không sử dụng đầu đạn, thay thế vào đó là chùm hạt, chùm kích quang, chùm vi ba, các chùm lý tử thể, cùng với máy gia tốc ly thể và máy gia tốc đàn hồi. Những vũ khí mới ấy gọi chung là “vũ khí chùm năng lượng”; hoặc là “vũ khí phóng chùm tương đối luận”. Nhân vật hữu quan của Chính phủ khi trình bày giải thích về bài diễn thuyết của Tổng thống Rigân, cố vấn khoa học của Tổng thống, tiến sĩ Kinos nói với các phóng viên: Tổng thống Rigân, sau nhiều lần bàn bạc tham khảo với các cố vấn khoa học và quân sự của ông ta mới nêu ra quyết đoán cuối cùng. Theo suy nghĩ của Rigân trong bài diễn thuyết trên truyền hình, các quan chức chính trị và quân sự của Nhà trắng và Lầu Năm Góc khẩn trương bận rộn hẳn lên. Rigân đích thân chỉ định cố vấn an ninh quốc gia Uyliam. P. Kelake phụ trách tổ chức lực lượng trực tiếp chế định kế hoạch cụ thể sát với tinh thần bài diễn thuyết của Tổng thống. Tiếp theo, Nhà trắng lại ra chỉ lệnh số 6-83, yêu cầu Bộ trưởng Quốc phòng sớm trao hai bản báo cáo trước tháng 10-1983, đánh giá ảnh hưởng chiến lược và ý nghĩa chính sách về kiến nghị của Rigân, và phải đề ra một qui hoạch lâu dài có liên quan đến công tác nghiên cứu và phát triển. Sau đó Bộ Quốc phòng đã lần lượt thành lập “tổ nghiên cứu kỹ thuật phòng ngự” do cựu Cục trưởng Cục hàng không vũ trụ quốc gia Mỹ là C.Feilaiche làm tổ trưởng bao gồm hơn 50 nhà khoa học nổi tiếng và công trình sư, (còn gọi là Uỷ ban Feilaiche), còn có thêm “tổ nghiên cứu phương châm chiến lược tương lai” do nhà phân tích nghiên cứu quân sự Feileide.S. Hofuman đứng đầu Qua thảo luận, thương lượng, nghe ngóng ý kiến, cuối cùng kế hoạch đã được nhiều thành viên trong Chính phủ và Quốc hội giúp đỡ ủng hộ. Thế là, Rigân đã ký chỉ lệnh an ninh quốc gia số 116 ngày 6-1-1984, theo báo cáo nghiên cứu của Feilaiche đã chế định kế hoạch nghiên cứu, được gọi là phương án mới về phòng ngự chiến lược (SDI). Kế hoạch SDI thường gọi là kế hoạch “đại chiến tinh cầu”. “Đại chiến tinh cầu” nguyên là tên gọi của một bộ phim khoa học viễn tưởng hồi niên đại 70 của Mỹ. Chủ đề của phim này mới, trình độ nghệ thuật cao được nhiều người hoan nghênh, đã từng vang động một thời, năm 1977 được 7 giải thưởng Ôtsca. Chính vì vậy giới tin tức hài hước đã nhạy bén dùng hình tượng tên phim này gọi kế hoạch “phương án mới về phòng ngự chiến lược” là kế hoạch “đại chiến tinh cầu” và được mọi người tiếp nhận ngay. Kế hoạch “Đại chiến tinh cầu” đã cung cấp cho Mỹ cả một hệ thống phòng ngự chống đạn đạo nhiều tầng, người Mỹ gửi gấm vào đó niềm hy vọng sâu sắc. Mặc dầu về hiệu suất ngăn chặn cho đến nay vẫn chưa thấy nước Mỹ nêu ra rõ ràng, nhưng trong báo cáo “nghiên cứu kỹ thuật phòng ngự” của Uỷ ban, Feilaiche đã gián tiếp nói rằng cần: “xây dựng phòng ngự 3 tầng hoặc 4 tầng có hiệu suất là 99,9%”, từ đó thấy rằng mục tiêu phấn đấu của người Mỹ là làm cho kế hoạch “Đại chiến tinh cầu” trở thành lá chắn vững chắc trên bầu trời. Nhưng thực tiễn qua mấy năm, Nhà trắng cuối cùng nhận thức được rằng mục tiêu ấy không sát thực tế. Thế là tháng 1 năm 1991 Tổng thống Bus tuyên bố, phải điều chỉnh kế hoạch “Đại chiến tinh cầu” thành “Hệ thống phòng hộ toàn cầu đối phó sự đánh trả hữu hạn” trọng điểm. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:42:22 pm PHẦN 3 ĐỘNG THÁI HẠT NHÂN MỚI NHẤT CỦA NƯỚC MỸ Ômaca một công việc cơ mật cao độ Từ những năm 40 trở lại, các siêu cường hạt nhân đã tiến hành bao nhiêu lần thử nghiệm hạt nhân bí mật? Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mục tiêu đầu đạn hạt nhân của các nước được điều chỉnh như thế nào? Tầu ngầm nguyên tử của Mỹ có tác dụng to lớn như thế nào? Trong khi nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới, Oasinhtơn đã theo đuổi chính sách hạt nhân như thế nào? Cùng với sự không ngừng đưa ra ánh sáng của những hộp đen vũ khí nguyên tử nước Mỹ, thì những điều cơ mật cũng đã được công bố với quần chúng. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mục tiêu của Bộ Tư lệnh chiến lược nước Mỹ đã xác định vấn đề bức thiết nhất, trước mắt các chuyên gia là hướng các đầu đạn hạt nhân nhằm vào kho hạt nhân và căn cứ quân sự của Liên Xô. Tuy quy mô các kho hạt nhân của Mỹ, từ những năm 80 trở lại đã giảm đi hàng nghìn đầu đạn, căn cứ vào điều ước về vũ khí mà thời kỳ Tổng thống Bus đã ký thì còn phải tiếp tục giảm bớt. Nhưng, trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, thì “nguyên tắc Tổng thống chỉ đạo” đồi tượng tấn công và ứng dụng vũ khí hạt nhân từ năm 1981 đến nay vẫn chưa có gì thay đổi. Do đó, kế hoạch và thụ lý thao tác chính thức vũ khí hạt nhân của Mỹ và căn cứ vào con số 13 “an toàn quốc gia” mà Tổng thống đã ký. Trong khi ký và phát mệnh lệnh này, Mátxcơva có quân đóng ở Ápganistan, Beclin vẫn còn là thành phố bị chia cắt. Nguyên tắc của mệnh lệnh này tức là một khi chiến tranh nổ ra, sẽ phá huỷ nền công nghiệp và thiết chế quân. Nhưng thời gian gần đây, một số sĩ quan chỉ huy trung tâm Ômaca lại làm một công việc cơ mật khác: Tìm phương pháp làm chệch hướng hàng trăm mục tiêu đầu đạn trong kho vũ khí của nước Mỹ đang nhằm vào nước Nga. Ngày 6-12-1993 Thời báo Niuoóc Mỹ đăng toàn văn bài báo với hàng tin lớn: “Nước Mỹ đang suy nghĩ đặt chệch hướng các mục tiêu tấn công bằng tên lửa nhằm vào nước Nga”. Bài báo ấy tiết lộ: Lầu Năm Góc đã dự thảo một kế hoạch, hướng các đầu đạn tên lửa của họ ra biển không có người ở, đồng thời đang thảo luận với Nga làm thế nào để việc cam kết cùng nhau “thủ tiêu mục tiêu” có hiệu lực. Hành động có ý nghĩa tượng trưng to lớn này có thể làm giảm nguy cơ tấn công ngoài ý muốn. Một vị tướng Mỹ tham gia quy hoạch nói: “Nếu vì nguyên nhân nào đó, một đầu đạn hạt nhân phát nổ ngoài ý muốn, cách suy nghĩ của chúng ta là nó sẽ rơi xuống Bắc cực hoặc Bắc Đại Tây Dương. Sự lo lắng chủ yếu của chúng ta là nó có thể đánh trúng vào những đàn cá voi ở nơi đó”. Một giải pháp đã được vạch ra là xác định 24 mục tiêu trên đại dương. Một quan chức Chính phủ Mỹ nói, biện pháp này khó mà kiểm tra và hạn chế hạt nhân khi nguy cơ xuất hiện, thì chỉ vài phút là có thể thay đổi hoàn toàn. Nhưng đây vẫn là một động thái rất quan trọng. Một quan chức cao cấp Mỹ tham gia giải pháp ấy nói: “Chúng ta cố gắng xây dựng niềm tin giữa chúng ta với các nước khác. Chúng ta lo lắng vì những tên lửa hạt nhân của Pháp và Anh nhằm vào đâu. Chúng ta có thể làm như vậy là vì không cần phải có trạng thái vừa chạm đến là đã có sự phản ứng đối với người Nga”. Quy mô thay đổi mục tiêu mà quân Mỹ thực hiện đều được bảo mật, mục đích là dọn đường cho Bin Clintơn có thể tham gia cuộc gặp cấp cao tổ chức ở Mátxcơva vào tháng 1 năm 1994 hoặc để tuyên bố rùm beng trong các cuộc gặp ngoại giao sau này. Cách suy nghĩ, thay đổi mục tiêu kho vũ khí của các siêu cường là do Tổng thống Nga Ensin đề xuất. Tháng 1 năm 1992 ông tuyên bố: tên lửa vượt đại dương của Nga không nhằm vào các thành phố của nước Mỹ. Điều đó làm cho Chính phủ Bus bấy giờ và nhiều quan chức trong quân đội Mỹ vô cùng kinh ngạc. Tuy về mặt chính trị Chính phủ Bus hoan nghênh quan điểm đó, nhưng các chuyên gia của Mátxcơva và Oasinhtơn chưa thấy hết giá trị trên bên ngoài về lời nói của Ensin. Anbatốp chuyên gia phụ trách quân bị của Nga nói: Tên lửa tầm xa của Nga chưa bao giờ nhằm vào các thành phố của Mỹ, mà là nhằm vào tên lửa, cơ sở quân sự và tập đoàn công nghiệp của nước Mỹ. Anbatốp nói: Dù Ensin đã có lời bảo đảm nhưng lực lượng tên lửa chiến lược của Nga vẫn chưa thay đổi mục tiêu nhằm tới. Phương pháp suy nghĩ thay đổi mục tiêu đã có lực hấp dẫn nhất định đối với Bộ Tư lệnh chiến lược Mỹ. Bộ Tư lệnh chiến lược điều khiển tên lửa tầm xa của Mỹ, bắt đầu suy nghĩ đến quan điểm này vào mùa hạ năm 1992. Bộ Tư lệnh chiến lược do tướng Batherler lãnh đạo. Tướng Batherler đã từng giữ chức Chủ tịch Hội nghị liên tịch Tham mưu trưởng, trợ lý cấp cao của tướng Bao Weir. Tướng Batherler chỉ định thiếu tướng Robot - Lincater phụ trách phần lớn công tác kế hoạch. Hiện nay Lincater là Trưởng phòng kế hoạch và chính sách Bộ Tư lệnh chiến lược. Trước kia ông ta là uỷ viên Uỷ ban an toàn quốc gia Chính phủ, là sĩ quan đã có hiến kế quan trọng trong vấn đề quân bị. Mùa xuân năm 1993 tướng Lincater nói: “Sau cuộc đấu tranh tương đối lâu dài giữa hai siêu cường có vũ khí tinh xảo, chúng ta cho rằng việc xử lý mà chúng ta gánh vác hiện nay là nhiệm vụ quân sự quan trọng, tách rời khỏi thời kỳ tiếp xúc”. Đồng thời, họ cũng đề xuất một số biện pháp như: giảm bớt số đầu đạn hạt nhân, đồng thời cất những đầu đạn ấy đi. Điều đó đã vượt quá mức độ chuẩn bị tiếp thu của đại đa số các tướng lĩnh và những giải pháp hiện nay. Một sĩ quan cao cấp tham gia hoạch định kế hoạch nói: “Chúng tôi đã từng mong muốn được thấy mỗi phương án lựa chọn có thiết thực không, về chính trị có được hoan nghênh không, về tài chính có vấn đề gì không, cũng tức là nói, xoay chuyển tiến hành này sẽ phải trả giá quá lớn”. Mùa xuân năm 1993 tướng Batherler kiến nghị chọn ít nhất 3 bước đi thận trọng, nếu quan hệ giữa Mỹ và Nga lại trở lại đối kháng thì có thể nhanh chóng thay đổi những bước đi ấy. Những quan chức ấy nói: “Chúng tôi có thể nói thế này, tháng 2 năm ngoái, nếu anh muốn thực thi những bước đi ấy, thì chúng tôi có thể làm được. Tất cả công việc hoạch định kế hoạch đều do chúng tôi làm”. Có một số quan chức cấp cao của Chính phủ Clintơn nói: Chỉ có trong điều kiện nhất định họ mới đồng ý thực thi kế hoạch ấy. Những điều kiện ấy là: Thứ nhất: Người Nga cũng phải đồng ý xác định lại mục tiêu mà các tên lửa của họ nhằm tới và giải thích sẽ làm như thế nào? Thứ hai: Thay đổi mục tiêu phải làm dịu đi quan hệ căng thẳng về vấn đề vũ khí hạt nhân, mà một phần của hàng loạt biện pháp đã được lựa chọn. Điều đó phản ánh mọi người đã nhận thức được: Kiến nghị này, trên đại thể, chỉ mang tính tượng trưng. Các quan chức nói, mục tiêu không những làm cho tên lửa không nhằm vào nước Nga nữa, mà còn không nhằm vào các nước còn lại của Liên Xô trước kia, cuối cùng cũng không nhằm vào một số nước khác nữa. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:43:29 pm Thừa nhận bí mật tiến hành thử vũ khí hạt nhân. Theo một bức điện ngày 07 tháng 12 năm 1993 tiết lộ: Bộ Năng lượng của Mỹ hôm nay thừa nhận, Chính phủ liên bang đã giấu giếm việc bí mật tiến hành 252 lần thử vũ khí nguyên tử từ những năm 40 trở lại đây, trong đó bao gồm một số phóng xạ được phóng ra môi trường xung quanh. Bộ Năng lượng đã công bố hàng loạt văn kiện làm cho kế hoạch vũ khí hạt nhân bước đầu mang tính công khai. Văn kiện nói: ở địa điểm Nêvađa đã tiến hành thử nghiệm 204 lần nhưng không tiết lộ ra ngoài. Bởi vì Chính phủ sợ người Liên Xô sẽ được tin tình báo có liên quan. Ngoài ra còn 48 lần thử nghiệm bí mật được tiến hành ở Thái Bình Dương từ năm 1945 đến năm 1990. Nó tương đương với 1/5 tổng số lần thử nghiệm. Nhưng con số mà Bộ Năng lượng nêu ra còn lớn hơn nhiều so với mọi người tưởng. Một số năm gần đây, các quan chức tuyên bố, từ năm 1945 đến nay đã tiến hành 826 lần thử hạt nhân. Haize Ôliri Bộ trưởng Bộ Năng lượng nói: Một số tư liệu thử nghiệm hạt nhân đó chỉ là số kế hoạch vũ khí hạt nhân của Bộ Năng lượng trước kia bảo mật, đã được công bố để mở đầu những văn kiện và tài liệu của hàng trăm kế hoạch. Bộ Năng lượng chuẩn bị công bố số liệu Chính phủ còn tồn trừ bao nhiêu Pluton để sản xuất vũ khí nguyên tử, đồng thời công bố hơn 40 năm trước thử nghiệm bức xạ Pluton đã làm trên cơ thể con người. Ôliri trong một lần nói chuyện với công ty phát thanh toàn quốc đã nói, tài liệu công bố lần này “là cử động quan trọng, nhưng, đương nhiên đó chỉ là mới bắt đầu”. Ông ta nói: Bộ Năng lượng có khoảng 3.200 vạn trang tài liệu bảo mật, có liên quan đến việc thử nghiệm và sản xuất vũ khí hạt nhân, khoảng tháng 6 năm 1994 Bộ Năng lượng sẽ công bố một loạt văn kiện thứ 2. Ôliri nói, tài liệu công bố lần này, có thể nói rằng đã tìm được biện pháp giải quyết công bằng, “dù chiến tranh lạnh đã kết thúc, cũng phải nói với họ những sự việc mà công chúng cần biết”. Đồng thời không để cho những quốc gia chưa ký hiệp ước hạt nhân “thu được những tư liệu đầy đủ để sản xuất tên lửa của họ”. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Bộ Năng lượng phụ trách nghiên cứu và sản xuất tên lửa hạt nhân của Mỹ do sợ tiết lộ bí mật, cho nên hầu như bảo mật nghiêm ngặt tất cả kế hoạch vũ khí. Rất nhiều năm gần đây, các nhân viên nghiên cứu gặp không ít khó khăn để nắm được tình hình ô nhiễm những tư liệu có liên quan đến sức khoẻ do các nhà máy chế tạo vũ khí gây nên và số lần thử vũ khí hạt nhân bí mật và số lượng sản xuất đầu đạn. Những tư liệu đã công bố có thể giúp cho các nhân viên nghiên cứu và các học giả đánh giá được kế hoạch thử nghiệm vũ khí hạt nhân của nước đó. Bởi vì những tư liệu ấy đã đề cập đến số lần thử nghiệm bí mật ở cơ sở thử nghiệm Nêvađa. Nhân viên Chính phủ tuyên bố, từ năm 1945 đến nay đã có 826 lần thử nghiệm vũ khí hạt nhân nhưng nhân viên nghiên cứu hạt nhân cho rằng con số này phải vượt quá 940 lần, thậm chí có thể còn nhiều hơn. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:44:27 pm Sự chia rẽ giữa Chính phủ và Quốc hội Ngày 6 tháng 12 năm 1993 Nhật báo phố Hoar đăng bài của nhà báo Giôn Feiaca với tiêu đề “Cuộc chạy đua quân bị mạnh mẽ ở châu Á đã làm cho Nhà trắng và Quốc hội chia rẽ” giữa Quốc hội và Chính phủ Clintơn. Chính phủ hy vọng khi tìm cách phát triển vũ khí huỷ diệt hàng loạt sẽ có thái độ tương đối linh hoạt. Các quan chức nói, nếu Tổng thống ở một nơi nào đó không bị ràng buộc, tiến hành một số giao dịch nhỏ với các quốc gia khác nhau, thì cơ hội thành công của ông ta sẽ lớn hơn nhiều. Nhưng Quốc hội tán thành việc trừng phạt một số trường hợp ngang ngược, không cung cấp cho họ về số liệu viện trợ của Mỹ, hoặc không để cho chúng vào thị trường của Mỹ. Về vấn đề phát triển vũ khí của Hạ nghị viện và Thượng nghị viện, các chuyên gia lo lắng, để cho Tổng thống Clintơn linh hoạt tăng cường xuất khẩu kỹ thuật cao, chứ không phải tìm kiếm sự ngăn chặn việc phát triển vũ khí. Bài báo ấy cho rằng: Một số nước châu Á ngay lập tức đã có vũ khí huỷ diệt hàng loạt và đề cập với họ một số biện pháp của vũ khí. Xenli Xukenrsji cảnh cáo: “Nếu chúng ta để cho sự việc này tiếp tục phát triển không bị hạn chế, như vậy, chúng ta sẽ mất cơ hội. Lý do là tình hình chính trị thời kỳ này quá mẫn cảm, không có các xử lí”. Bài viết ấy đã công kích Trung Quốc và Ấn Độ là những nước dẫn đầu về chạy đua quân bị ở châu Á. Họ nói hai nước này đều mua kỹ thuật tên lửa của Nga để xây dựng kế hoạch không quân. Kỹ thuật không gian rất khó khống chế. Bởi vì tầng trên của hoả tiễn, vệ tinh thông tin phát nổ và các kỹ thuật có liên quan mà sự lắp đặt yêu cầu, cũng đều là mấu chốt siêu chuẩn xác của đường đi tên lửa và rất nhiều đầu đạn tên lửa. Bài viết ấy còn nói, các dấu hiệu gần đây cho thấy Trung Quốc đang nghiên cứu chế tạo những vũ khí ấy. Vũ khí ấy có thể đánh trúng và phá huỷ bất cứ thiết chế Quốc phòng nào mà nó biết. Do đó khiến người ta lo lắng, đặc biệt là dẫn đến sự lo lắng của mọi người ở châu Á. Giôn Fliaca cho rằng, Ấn Độ sẽ bị áp lực lớn, người làm công tác khoa học vũ khí của Ấn Độ và Nga thường xuyên có sự tiếp xúc Pakistan và Đài Loan là một phần thứ yếu vũ khí của họ. Cùng với sự chạy đua quân bị không ngừng tăng lên, Nhật Bản, Hàn Quốc và Inđônêxia sẽ có thể nhận thấy ngày càng khó tìm thấy thái độ bàng quan của nước ngoài. Những quốc gia này hiện nay đều có tiền và cơ sở công nghiệp, làm cho nơi đó càng trở nên nguy hiểm. Các quan chức Chính phủ Mỹ hình như nhìn thấy một cơ hội của cách làm tương đối linh hoạt đối với Ấn Độ và Pakistan. Gần đây hai nước đó đã thông báo với Mỹ, nếu đối phương đi xa hơn một bước, họ sẽ tiến hành cuộc hội đàm ngăn chặn vũ khí mới. Một quan chức của Chính phủ Clintơn nói: “Ở mặt này, chúng ta có một sự mở đầu mới mẻ. Chúng ta muốn xem trong mấy tháng sau, chúng ta có thể lợi dụng tình hình này được không. Nhưng, nếu mục tiêu của pháp luật chỉ là sự hạn chế vũ khí hẹp hòi thì không thể làm như vậy”. Thượng nghị sĩ Lali Fulâystơ trong lá thư viết cho Tổng thống Clintơn phàn nàn rằng: “Tôi không cho phép dưới chiêu bài viện trợ nước ngoài cải cách, đã vứt bỏ đề án sửa đổi của tôi”. Đề án sửa đổi của Fulâystơ là chấm dứt viện trợ đối với Pakistan vào năm 1990. Ông ta nói, trừ phi Tổng thống tuyên bố Pakistan không chế tạo vũ khí hạt nhân nữa. Giôn Fliaca cho rằng, phương pháp của Chính phủ và Quốc hội có thể đều có ưu điểm nhưng không có thời gian tranh luận. Pakistan và khảo nghiệm cách làm của Clintơn với một kế hoạch có sức hấp dẫn. Mục đích của kế hoạch ấy là mua 66 chiếc máy bay F-16. Số máy bay ấy trị giá 1 tỷ bốn trăm nghìn đô la Mỹ. Nhưng cuối cùng do đề án sủa đổi của Fulâystơ nên đã dừng lại. Lần mua bán này có lợi lớn. Nhưng, khuyết điểm là, máy bay chiến đấu F-16 có thể sẽ trở thành công cụ vận chuyển vũ khí hạt nhân của Pakistan. Bán linh kiện vũ khí hoá học, vũ khí sinh vật, vũ khí hạt nhân và những công cụ để vận chuyển những vũ khí đó, không phải chỉ cơ hội làm ăn, nó còn có thể tiêu diệt hàng trăm sinh mạng. Bài viết ấy cuối cùng nói: Điều mà nước Mỹ cần thiết bây giờ là cơ chế chính trị - đồ án sửa đổi của Rigân, đồng thời thúc giục đồng minh cũ, mới có cách làm và quyết tâm giống nhau. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:45:41 pm Mục tiêu khống chế quân bị Cần phải ngăn chặn phát triển vũ khí hạt nhân, tên lửa và vũ khí thông thường cùng với việc phát triển kỹ thuật nghiên cứu chế tạo những vũ khí nói trên. Để thực hiện mục tiêu trên, đầu tiên đòi hỏi phải có sự tham gia toàn cầu, đồng thời tích cực phát triển ngoại giao lấy thực lực của nước Mỹ làm hậu thuẫn và do nước Mỹ lãnh đạo. Ngoài ra là người ủng hộ mục tiêu đó, Mỹ đã chuẩn bị viện trợ thích đáng cho các nước hữu quan. Đó là điểm cốt lõi trong bài nói chuyện về điều khiển mục tiêu quân bị nước Mỹ, trong Hội nghị Ngoại giao của hạ nghị viện ngày 10/11/1993 của Chilien Đavít, Phó Chủ tịch phụ trách các vấn đề an toàn quốc gia của Mỹ. Đa vít cho rằng, ngăn chặn phát triển hạt nhân là trọng điểm khống chế quân bị thế giới sau chiến tranh lạnh. Sự uy hiếp an toàn nghiêm trọng nhất mà nước Mỹ phải đối mặt là sự phát triển vũ khí hạt nhân huỷ diệt hàng loạt, sự phát triển tên lửa và vũ khí thông thường cùng với việc phát triển kỹ thuật và nghiên cứu chế tạo những vũ khí cần thiết. Do đó, Chính phủ Clintơn rất coi trọng đến vấn đề ngăn chặn mở rộng. Nhà đương cục Mỹ cho rằng, mở rộng vũ khí hạt nhân, hiển nhiên họ đã đối mặt với một sự nguy hiểm khắc nghiệt nhất. Chính phủ Clintơn đang làm hết sức để ngăn chặn phát triển hạt nhân trên phạm vi toàn thế giới. Những hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân là cơ sở để thực hiện mục tiêu đó. Mục tiêu quan trọng đầu tiên của nước Mỹ là hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân mà các nước trên thế giới đều tham gia. Họ đang thúc giục các nước đã ký hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân cùng nỗ lực với họ để yêu cầu trong năm 1995 kéo dài Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân vô điều kiện và vô thời hạn. Nhà đương cục Mỹ nói rằng họ đang cố gắng bảo đảm cơ cấu nguyên tử quốc tế có sự giúp đỡ của quốc tế, họ còn có trách nhiệm nặng nề về khả năng chấp hành thực thi bảo vệ. Sự việc xẩy ra ở Irắc làm một bài học quan trọng. Họ phải đối mặt với sự uy hiếp của một số quốc gia quay lưng lại với nghĩa vụ được quy định trong hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân. Chính phủ Clintơn đã nêu ra hai kiến nghị quan trọng để ủng hộ toàn diện chiến lược cấm phổ biến vũ khí hạt nhân: Một là hiệp ước cấm thử toàn diện; Hai là cấm sản xuất loại vật chất có khả năng phân rã để dùng cho vũ khí hạt nhân. Nhà đương cục Mỹ tuyên truyền, dù người Trung Quốc đã tiến hành thử vũ khí hạt nhân, họ vẫn cố gắng thực hiện mục tiêu cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, đồng thời không ngừng nỗ lực để đạt được Hiệp ước cấm thử toàn diện. Dù 4 siêu cường hạt nhân khác đã tạm ngừng sản xuất vũ khí hạt nhân, Trung Quốc vẫn quyết định tiến hành thử nghiệm. Họ công khai nói rằng phải cố gắng để đạt được hiệp ước cấm thử toàn diện trước năm 1996. Nước Mỹ và rất nhiều nước khác đang khuyên người Trung Quốc không nên thử nghiệm. Đa vít nói, thông qua nhiều diễn đàn, như tập đoàn Ôstrâylia, nước Mỹ đang tăng cường xuất khẩu sự khống chế để ngăn chặn mở rộng sản xuất vũ khí hoá học và sinh học, đã có sự tiến triển. Họ đang cố gắng triển khai công việc tranh thủ giành được sự tuân thủ rộng rãi đối với các Hiệp ước vũ khí hoá học và vũ khí sinh học. Nước Mỹ đang làm công việc chuẩn bị ở Lahay, để làm cho công ước về vũ khí hoá học sớm có công hiệu vào năm 1995. Như Tổng thống Clintơn đã nói ở Liên Hợp Quốc: Nước Mỹ kêu gọi tất cả các nước trong đó có nước Mỹ nhanh chóng phê chuẩn công ước về vũ khí hoá học. Để tăng cường hiệp ước vũ khí sinh học, Chính phủ Clintơn đang sửa đổi cách làm của Chính phủ nhiệm kỳ trước, thi hành một số biện pháp mới, từ đó tăng thêm niềm tin tuân thủ hiệp ước. Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh, Irắc sử dụng tên lửa “Con sóc” đã làm cho thế giới cảm thấy sâu sắc sự nguy hiểm của việc mở rộng tên lửa đạn đạo. Đa vít nói, thử nghĩ xem, nếu tên lửa “con sóc” mang theo vũ khí có tính huỷ diệt hàng loạt, như vậy sẽ có hậu quả thế nào? Tên lửa của nhiều bên và chế độ khống chế kỹ thuật vẫn sẽ là công cụ chủ yếu của chính sách ngăn chặn phát triển tên lửa của nước Mỹ. Tên lửa nhiều bên và chế độ khống chế kỹ thuật đã có tác dụng. Họ muốn mở rộng phương châm chỉ đạo của tên lửa nhiều bên và chế độ khống chế kỹ thuật trở thành quy luật ngăn chặn phát triển tên lửa mang tính toàn cầu, để bạn bè của họ cùng nỗ lực, thúc đẩy các nước chưa gia nhập chế độ đó, dù là người mua hay người bán kỹ thuật tên lửa đều phải có trách nhiệm về hành vi của mình. Đa vít nói, nhà đương cục Mỹ bắt đầu điều chỉnh khống chế xuất khẩu vũ khí ra thế giới sau chiến tranh lạnh, cùng với việc tiến hành nghiên cứu toàn diện những người bạn trong Uỷ ban trù tính thống nhất mậu dịch Đông Tây. Uỷ ban trù tính thống nhất mậu dịch Đông Tây nên dần dần từng bước thủ tiêu hiệp ước Nga và Vacsava và nên hợp tác với Nga cùng các quốc gia mới độc lập khác trong một thể thống nhất mới. Quan hệ hợp tác này sẽ lấy việc tuân thủ khống chế xuất khẩu và tiêu chuẩn rõ ràng về nguyên tắc. Mỹ và các nước đồng minh đang thảo luận làm thế nào để xây dựng tốt nhất quan hệ hợp tác với Nga và các nước mới độc lập khác, để tăng cường hạn chế xuất khẩu vũ khí. Kiến nghị gồm: - Phương án nhiều bên, nếu không có sự giúp đỡ của người bán thương phẩm mẫn cảm, thì nhà đương cục Mỹ không thể hoàn toàn thành công. Nhưng, nếu người bán lợi dụng nước Mỹ hạn chế xuất khẩu để buôn bán, thì không thể công bằng đối với việc Mỹ xuất khẩu thương phẩm. Dù sao, nước Mỹ vẫn phải đơn phương hành động. Mục tiêu phương án của họ là gộp Nga, Trung Quốc và các nước mới thành lập khác vào một hệ thống các quốc gia có tiến hành buôn bán loại đó. - Đối với Trung Đông, Nam Á và nguy hiểm mới của những nơi nguy hiểm lớn khác, đặc biệt là Iran, Irắc, Libia và Triều Tiên cần chú ý. - Mở ra các ngành như máy tính. Về mặt này, nước Mỹ đang hành động, như ngày 29 tháng 9 đưa ra kiến nghị bãi bỏ việc hạn chế xuất khẩu máy tính và vi tính sang phần lớn các quốc gia khác. - Thông qua đào tạo và hoạt động khác, cải thiện cơ chế xuất khẩu với các nước mới độc lập. - Tuân thủ 2 hạng mục có liên quan và xuất khẩu vũ khí đã trở thành trình tự và chính sách nhất quán. - Các nước đồng minh nói chung tán thành kiến nghị của Mỹ. Nhưng, kiến nghị này trước khi được Uỷ ban trù tính thống nhất mậu dịch Đông Tây tiếp thu và công nhận, vẫn còn rất nhiều công việc phải làm và đàm phán. Công việc này sẽ kéo dài đến đầu năm 1994. Chính phủ Mỹ vẫn sẽ liên tục thông báo với Quốc hội về tình hình cố gắng đó. Đa vít cho rằng, trong hoàn cảnh an toàn quốc tế mới, nước Mỹ cần phải thực hiện mục tiêu ngăn chặn sự mở rộng của họ, tức là phải có sự suy nghĩ toàn diện bằng tư duy mới, cần phải có công cụ thực hiện mục tiêu của họ. Tính phức tạp của nhiệm vụ phòng trừ mở rộng mà họ giải thích là: Nó không chỉ đơn giản dừng lại ở kỹ thuật, vũ khí và lưu thông phần cứng, mà đề cập đến một vấn đề khó khăn phức tạp đan xen về buôn bán và an toàn, kinh tế, việc làm; còn đề cập đến quyền lợi cơ bản của quốc gia: chủ quyên quốc gia. Ngăn chặn mở rộng vũ khí hạt nhân cần phải có sự tham gia toàn cầu. Chính phủ Mỹ cho rằng, họ có cơ cấu và hiệp nghị quốc tế sẵn có, họ sẽ tiếp tục mở rộng, không chỉ yêu cầu toàn cầu tham gia, mà chiến lược khu vực phải thích ứng với những vấn đề cụ thể mà các nước quan tâm. Ví dụ, để thúc đẩy các nước Ucraina, Cadăcxtan và Nga tiêu huỷ vũ khí hạt nhân, trở thành nước thành viên không có vũ khí hạt nhân thì nước Mỹ chuẩn bị phải bảo vệ sự an toàn cho họ. Đồng thời trong tiến trình lịch sử đã tạo ra khả năng mới để ngăn chặn quân bị ở Trung Đông. Mỹ đang vận dụng việc khống chế quân bị và công việc an toàn khu vực để tổ chức, thúc đẩy biện pháp tăng cường niềm tin, một khi thực hiện giải quyết toàn diện, thì biện pháp ấy sẽ là cơ sở của kế hoạch to lớn. Chính phủ Clintơn nói: sự thành công của cấm phổ biến vũ khí hạt nhân phải do Mỹ lãnh đạo về mặt thúc đẩy việc cấm phổ biến, đặc biệt có lợi cho quan hệ giữa Mỹ và các nước khác. Nước Mỹ mong được sự hợp tác trên mục tiêu cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, làm một phần hữu quan liên minh an toàn của họ. Ngăn chặn sự mở rộng hạt nhân là trung tâm của quan hệ hợp tác chiến lược mới họ lập ra với các nước mới độc lập. Mỹ sẽ hợp tác không gian với Nga, Trung Quốc và Ấn Độ tuân thủ việc liên hệ cùng nhau khống chế tên lửa và kỹ thuật của nó. Đa vít nói cho rằng cấm phổ biến vũ khí hạt nhân phù hợp với lợi ích an toàn của các quốc gia trên thế giới. Là người ủng hộ mục tiêu cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, nước Mỹ chuẩn bị viện trợ thích đáng cho các nước khác, để có thể giảm nhẹ phần lớn sự đe doạ lợi ích an toàn của nước Mỹ bởi buôn lậu hoặc sách lược sai lầm về khu vực. Những viện trợ ấy là cái giá nhỏ bé để ngăn chặn nguy hiểm to lớn, nhỏ hơn nhiều so với chi phí cho việc mở rộng bổ sung sức mạnh và hệ thống phòng ngự quân sự. Mỹ cho rằng mình phải đứng đầu, nhưng họ cũng nhận thức được rằng họ không thể gánh nổi trách nhiệm toàn bộ cấm phổ biến vũ khí hạt nhân. Để thành công, họ cần có sự giúp đỡ của người khác, trước hết là khống chế sự mua bán vũ khí nguy hiểm và kỹ thuật có thể xẩy ra trên thế giới. Những người bạn đồng minh hiện có của Mỹ rất quan trọng trong việc tạo ra động cơ giảm bớt sự mở rộng làm ổn định khu vực. Mỹ vẫn phải xây dựng đồng minh mới để đón nhận sự khiêu chiến của việc mở rộng ấy. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:46:42 pm Kho vũ khí hạt nhân của Mỹ tiêu tốn tiền của lớn nhất. Đầu năm 1996, báo chí thế giới đều tiết lộ một tin rùng rợn, đó là trong thời gian đại chiến thứ 2 các nước đồng minh đã chuẩn bị một kho vũ khí hoá học và sinh học, dự định tiêu diệt tất cả sinh mệnh động thực vật của Đức và Nhật. Những tin này là tài liệu trong văn kiện bí mật được bảo vệ nghiêm mật 50 năm trong hồ sơ tuyệt mật của Anh. Những tài liệu bí mật này gần đây mới được công bố. Có lẽ năm mươi năm qua, có người trong khi thanh lý văn kiện bí mật của một số siêu cường ngày nay, cũng sẽ có sự phát hiện giống như cha mẹ ông bà họ. Họ cũng thấy được rằng: trái đất họ đang sinh sống suýt nữa bị huỷ diệt. Mọi người đều biết, trong kho vũ khí của các cường quốc đã có đủ vũ khí, có thể hai lần huỷ diệt trái đất tươi đẹp của chúng ta, căn bản không cần có vũ khí “siêu bí mật” nào nữa. Những vũ khí hiện có ngày nay đã đủ lắm rồi. Theo tài liệu thống kê của các chuyên gia, trước mắt thế giới có khoảng hơn 3.600 quả bom nguyên tử, sức công phá gấp 65.000 lần quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hirôsima Nhật năm 1945. Quả bom nguyên tử mà đến nay vẫn là hiểm hoạ đối với sinh mệnh của nhân dân Nhật Bản. Mặc dù Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược hạt nhân, Mỹ vẫn có hơn 9.000 vũ khí tên lửa. Vũ khí ấy đủ để huỷ diệt mấy lần trái đất. Sau Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược hạt nhân, thế giới vẫn còn hơn 2 vạn vũ khí tên lửa. Sức công phá của nó mạnh gấp 40 vạn lần quả bom nguyên tử Mỹ ném bom xuống Hirôsima. Đó là chưa kể đến vũ khí hoá học, sinh học và những vũ khí khác, được xếp trong kho vũ khí bí mật của một số nước. Bộ Quốc phòng Mỹ tiết lộ, trong kho vũ khí hoá học của họ có 360 vạn kiện vũ khí hoá học, trong đó bao gồm 330 vạn đầu đạn có thành phần hoá học đơn nhất và 315.683 kiện vũ khí có thành phần hóa hợp nhị nguyên. Đương nhiên, đây không phải là một tin quan trọng đối với nhân dân lao khổ. Như Chủ tịch Phiđen Catstơrô nói: nguyên tử chính là nghèo khổ, bởi vì nghèo khổ đang đe doạ cuộc sống của họ. Mỗi ngày nước Mỹ chi cho vũ khí nguyên tử là 8.000 vạn đô la Mỹ. Trong khoản thời gian từ năm 1940-1945, nước Mỹ chi cho vũ khí hạt nhân là 400 tỷ đô la. Thế mà năm 1945 chi 27 tỷ đô la để giải quyết vấn đề nghèo khó của thế giới thứ 3 thì đã kết thúc sự nghèo đói của hàng triệu con người. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:47:36 pm Công tác tình báo tuyệt vời Mỹ đánh giá là Liên Xô trong thời gian ngắn chưa thể tạo được bom nguyên tử, lý do chính là như thế này: Mỹ đã tập trung khống chế được Uranium trong phạm vi thế giới. Vì họ đã đánh giá sai như vậy nên những nhà chính trị Mỹ luôn luôn coi thường Liên Xô, vấn đề trước tiên mà họ suy nghĩ là: Trái bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô là “ăn cắp” được. Thế là một cao trào chính trị quét sạch gián điệp Liên Xô trên nước Mỹ được triển khai. Nhưng kết quả thanh tra cho thấy, Uranium tồn kho của Mỹ giảm đi có 4 gam. Mặc dù vậy, để xoa dịu dư luận công chúng, Chính phủ Mỹ vẫn khoác lác về tác dụng của gián tiếp nguyên tử trong việc Liên Xô chế tạo vũ khí hạt nhân. Giờ đây, trang sử gian nan khó nói ấy đã lật qua mặc dầu những người ra sức hạ thấp thành tựu của Liên Xô hồi đó cũng không thể không thừa nhận: Các nhà khoa học Liên Xô thực sự dựa vào trí tuệ của mình để phá thế lũng đoạn hạt nhân của Mỹ. Nhưng mọi người không vì vậy mà quên đi ngành tình báo Liên Xô đã thu được thành quả tuyệt vời về mặt này. Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, cơ quan tình báo Liên Xô đã lần lượt mua được những chuyên gia vật lý hạt nhân và các nhân viên liên quan tiếp xúc với bom nguyên tử của Anh, Mỹ và Canađa. Nhà vật lý người Đức quốc tịch Anh Ai.K. Ch.Fox từ năm 1942 đến năm 1949 trong thời gian nghiên cứu phương pháp phân lý thể khí chất đồng vị U tại Anh và Mỹ, đã cung cấp cho tình báo Liên Xô những bí mật về bom nguyên tử, về kết quả tính toán thu được theo nguyên lý của phương pháp khuếch tán thể khí và những tin tức tình báo về chất lượng đồng vị U sản xuất bằng phương pháp này có thể chế tạo được bom nguyên tử. Fox đã từng nhận lời mời của Aubenheisi làm công tác nghiên cứu tại Losialamosi. Vì hồi đó thiếu người, Fox lại tham gia vào kế hoạch nguyên tử của Anh, cho nên mời ông ta tham gia công việc là lẽ đương nhiên. Nhưng sau này sự việc ấy đã trở thành một tội lớn của Aubenheisi. Điều kỳ lạ là, bản thân Aubenheisi luôn luôn bị thẩm tra bảo vệ nghiêm ngặt, còn gián điệp thật sự dễ dàng lừa dối lọt qua. Cuối tháng 6-1944, Fox cung cấp cho Liên Xô tin tức tình báo kế hoạch thực tế về bom U. Năm sau lại trao cho ngành tình báo Liên Xô một cuốn nhật ký quan trọng, trong đó ghi chép đầy đủ tỉ mỉ về bom Plutoni (Pu), kể cả tình hình về thiết kế, phương pháp và chế tạo Plutoni trong kho nguyên tử Hanfude ở Oasinhtơn. Ngày 2-6-1945, Fox đã cung cấp cho Liên Xô một bản báo cáo về những tiến bộ to lớn thu được trong công tác tại Losialamosi ở Mỹ, và trao đổi với tình báo Liên Xô về cuộc thử nghiệm nổ bom nguyên tử sẽ tiến hành vào tháng sau. Ngày 16-9 lại cung cấp cho Liên Xô tin tức tình báo về quy cách, hàm lượng vật chất và chế tạo bom như thế nào, làm sao sẽ dẫn đến gây nổ. Fox còn cho cơ quan tình báo Liên Xô biết, để gây nổ Pu phải lắp đặt mười mấy thấu kính nội phá. Còn người lính Mỹ Đaoai Glinglais (Em một người phụ nữ Lucxămbua), thì cung cấp cho nhân viên tình báo Liên Xô tấm bản đồ về thấu kính nội phá lấy trộm được từ Losialamosi. Những tình hình ấy, Fox đã công nhận sau khi bị bắt tại Anh. Vì ông ta trong chiến tranh đã cung cấp tin tức tình báo cho nước đồng minh, bị xét xử nhẹ tù 14 năm, thực tế chỉ giam có 7 năm. Còn có một nhà vật lý tên là Brunơ Pentaikrwo đã có một thời gian mất tích kỳ lạ. Năm 1943 ông tham gia nhóm nghiên cứu “Anh- Canađa” Mentơri, làm việc một thời gian dài tại kho nước nặng Chicokrigei. Tháng 2-1949 làm Chủ tịch quản lý công tác khoa học ở Hawai. Về sau người ta mới phát hiện ra, Brunơ đã chạy sang Liên Xô. Ông ta được bố trí công tác tại phòng nghiên cứu vật lý hạt nhân thuộc Viện khoa học Liên Xô, Đúpna cách Matxcơva 130 km. Vì ông “góp phần cung hiến to lớn về vật lý học”, nên đã được bầu làm viện sĩ viện khoa học Liên Xô. Bom nguyên của tử Liên Xô hoàn toàn không phải là “lấy cắp” song công tác tình báo xuất sắc ấy quả thật chưa từng thấy. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 06:48:25 pm Đứng trước sự lừa bịp về hạt nhân Ngày 16-7-1945, “Ba bộ não” nổi tiếng một thời, gặp nhau tại Pốtsđam. Chiều 16, Bộ trưởng Lục quân Mỹ Stinsen tại Béclin mừng rỡ chuyển tới Tổng thống Tơruman một bức điện. Bức điện ấy là của tướng Gơrufus đánh đi từ Oasinhtơn, nội dung báo tin trái bom nguyên tử đầu tiên đã thử nghiệm thành công tại bang Ximoxigơ. Ngày 21-7 Stinsen khi nhận được báo cáo tỷ mỉ về cuộc thử bom, phấn khởi đến nỗi đọc không ra lời. Tơruman nghe xong sắc mặt rạng rỡ hẳn lên. Ngày 24-7 hội đàm “3 đầu não” vừa kết thúc, Tơruman cố ý bệ vệ đi tới trước mặt Stalin: “Thưa đại Nguyên soái, tôi muốn báo tin với ngài”, ông ta dương dương tự đắc nói: “Nước Mỹ chúng tôi chế tạo được một loại vũ khí mới”. Tơruman ngừng lại một chút, với ánh mắt giảo hoạt theo dõi phản ứng của Stalin. Nào ngờ con người cương nghị không chút động tĩnh, chỉ thấy ánh mắt của ông lướt qua Tơruman rồi hướng tới phương xa. “Loại vũ khí này”, Tơruman cho rằng Stalin chưa hiểu được ý mình nên dằn giọng chậm rãi nói thêm, “nó có sức phá hoại khác thường khó mà tưởng tượng nổi”. Cho rằng câu nói ấy đủ để Stalin run sợ, liền dừng lại ở đây, chỉ có cặp kính cận thị dán nhìn vào khuôn mặt Stalin, hy vọng thấy được sự kinh sợ không dấu diếm nổi. Nhưng Stalin lại rất lạnh nhạt buông ra một câu: “Xin cứ sử dụng nó đối phó với kẻ thù!” Có thể coi đây là hành vi lừa bịp lần đầu tiên về vũ khí hạt nhân. Tơruman muốn dùng bom nguyên tử đe doạ Stalin, buộc phải nhượng bộ; nhưng Stalin không hề lay chuyển. Song hậu quả mà Tơruman không mong muốn đó là kích động Stalin quyết tâm đuổi kịp nước Mỹ. Về điểm này, Stinsen đâu có thể nghĩ tới. Sau khi Tơruman khoác lác và đe doạ Stalin, phải nói thẳng thắn rằng mặc dù bom nguyên tử của Mỹ đã làm thay đổi thực lực của người Nga trên đại lục châu Âu, nhưng phải khẳng định rằng Liên Xô sẽ ra sức phát triển bom nguyên tử của họ. Do vậy, đi với người Nga cần phải thận trọng, phải tránh mọi hành vi quá mức, nếu không thì người Nga sẽ vì kích thích mà cố gắng vươn lên đuổi kịp nước Mỹ. Song mọi hối hận đều đã muộn, Satlin thực sự bị kích động quá mạnh. Sau khi ông bình tĩnh lại, trái tim ông vẫn như dồn dập sóng cồn. Nhưng ông là một vĩ nhân biết tự kiềm chế và che dấu được, đã dễ dàng lừa được đôi mắt của Tơruman. Sau khi ra khỏi phòng họp, Stalin như trở thành một con người khác, ông vội vàng nhắc người lái xe khẩn trương nổ máy lên xe, đến nỗi quên cả chiếc tẩu thuốc mà thường ngày không phút nào ông rời bỏ nó. Trong đầu óc ông luôn trăn trở suy nghĩ một vấn đề: Phải nhanh chóng vạch kế hoạch chế bom nguyên tử, phải khẩn trương hơn! Bất luận như thế nào trong vòng 4 - 5 năm phải có trong tay. Đây là cuộc thách thức đối với vị thế một cường quốc. Trong chiến tranh việc này chưa được quan tâm, thật sự là sai lầm lớn, sau chiến tranh phải dốc vốn đầu tư để có được trái bom nguyên tử! Chiếc xe con vừa dừng bánh, ông rảo bước vào phòng nghỉ trong nhà khách, gọi thư ký quay điện thoại để ông gặp người phụ trách công trình chế bom nguyên tử Kurchiatốp. Gặp được Kurơchiatốp, Stalin cầm ống nghe, nói giọng thân thiết: “Xin chào. Tôi là Stalin. Cần dùng mọi biện pháp khẩn trương tiến hành công việc của chúng ta. Tình hình đòi hỏi chúng ta như vậy. Ông có hiểu ý tôi không? Tìm mọi biện pháp ông hãy nghiên cứu xem chúng ta cần những gì, sau đó cho tôi được biết yêu cầu Chính phủ và Trung ương Đảng giúp đỡ ông như thế nào...” Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:01:08 pm “Chớp điện” loé lên từ một vùng băng giá Hội nghị Pốtsđam vừa kết thúc, Stalin liền triệu tập hội nghị những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học hạt nhân tại nơi nghỉ mát ở Lý Hải miền nam Liên Xô, nghiên cứu khả năng có thể nhanh chóng trong một thời gian ngắn phá tan thế lũng đoạn hạt nhân của Mỹ. Stalin hiểu rất rõ về quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hiroshima, nó dự báo trước chính sách ngoại giao của Mỹ sẽ ra đời coi Liên Xô là đối thủ. Vì vậy Stalin muốn chế định một kế hoạch đối phó về bom nguyên tử thật nhanh chóng bằng bất cứ giá nào. Cuối năm 1945, Stalin đặt tên cho hạng mục công trình hạt nhân của Liên Xô là “Barôkinốp”- chiến trường xưa, xảy ra cuộc chiến tranh giữa Napôlêông với người Nga năm 1812, và chỉ định Bộ trưởng Nội vụ, Uỷ viên hội đồng an ninh quốc gia Bêria phụ trách toàn diện kế hoạch này, Bộ trưởng Ngoại giao Môlôtốp phụ trách công tác chính trị, Malencốp phụ trách công tác nhân sự, Kurchianốp vẫn phụ trách nhóm các nhà khoa học. Để đạt được mục đích chế tạo bom nguyên tử trong thời gian ngắn bằng bất cứ giá nào, Stalin thực hiện lời hứa của mình - đáp ứng mọi yêu cầu cần thiết cho Kurơchiatốp. Chế độ tập quyền cao độ của Trung ương lúc này phát huy tác dụng chưa từng có, động viên mọi lực lượng các cơ sở nghiên cứu, trường đại học, xí nghiệp khai khoáng đều tham gia “công trình”. Chẳng bao lâu, phản ứng dây chuyền đã thành công. Để tăng nhanh tiến độ công trình Liên Xô đã dùng 2 biện pháp lớn: Một là, bắt đầu từ tháng 4-1946 tăng cường gấp 3 lần số cán bộ nghiên cứu trước đây, đồng thời cho họ được hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt như, tiền thưởng bảo mật, được cấp xe con và biệt thự; hai là, bắt đầu xây dựng một mạng lưới hệ thống thực nghiệm hạt nhân tại vùng Trung Á, để tập trung lực lượng tiến hành, mặc dù lúc này Liên Xô sau chiến tranh gặp muôn vàn khó khăn xây dựng lại đất nước, nhưng mạng hệ thống “khu V” vẫn từng bước được hình thành, được bảo đảm là công trình trọng điểm. Trong đó xây dựng một phòng thực nghiệm mới tại Ôbơnin, tập trung những cốt cán nghiên cứu nguyên tử, còn phần lớn các nhà khoa học bị bắt từ Đức về thì được tập trung về phòng thực hiện thực nghiệm tổng hợp tại Matxcơva làm công việc nghiên cứu. Còn Kurơchiatốp làm nhiệm vụ tổng chỉ huy ở đại bản doanh Matxcơva. Tháng 12-1946 Kurơchiatốp đã thu được phản ứng khống chế dây chuyền trong lò phản ứng hạt nhân, rõ ràng Liên Xô đã có thể chế tạo được bom nguyên tử. Để thu được lượng lớn nhiên liệu Uranium, Liên Xô tăng cường mở rộng khai thác trong nước. Đến năm 1947 Liên Xô lại xây dựng hơn 30 giếng khai khoáng tổng hợp cỡ lớn. Đồng thời bắt tay vào xây dựng 3 lò phản ứng hạt nhân, để tạo nguyên tố đồng vị Uranium thành Polutonium chế tạo ra bom nguyên tử. Mùa xuân 1948, Liên Xô bắt đầu xây dựng căn cứ bí mật gần núi Uran. Nhân dân cả vùng này đều cho sơ tán đi hết, dành cho những nhân viên, cán bộ trung thành đáng tin cậy và gia đình họ ở đó, đồng thời chọn 70.000 người trong 13 trại lao động cải tạo tập trung làm “công nhân lao động rẻ mạt”. Diện tích thi công chiếm 2.700 km2, bao gồm cả 8 đầm hồ thông suốt liên hoàn. Những người xây dựng đã tát cạn nước ở một hồ trong số đó, rồi đào sâu xuống dưới đáy khoảng 30 - 40 mét, dùng xi măng nhựa cao su và chì xây dựng thành công trình hiếm có, sau đó tại vẫn chứa nước vào. Đây thật sự là một nhà máy hạt nhân ngầm dưới nước. Mùa hè năm ấy, các nhà khoa học Liên Xô đã nắm được kỹ thuật phân lý Pơlutonium, và sau một năm họ đã có đủ lượng Pơlutonium để chế tạo một quả bom nguyên tử. Theo kế hoạch của Liên Xô, tháng 6-1949 tiến hành thử bom nguyên tử có chứa Polutonium. Quả thứ nhất được gọi là quả “bí ngô”. Công tác tổ chức thử nghiệm tuyệt đối bí mật, chọn một địa điểm ở vùng Cadăcxtan, với biệt hiệu là “chớp điện đầu tiên”. 4 giờ sáng ngày 29-8-1949, trên vùng “băng giá” nước Nga - nơi đội quân xâm lược của Napôlêông và Hít le đại bại, đã vụt lên tia “chớp điện” làm rung trời chuyển đất - quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô đã thử nghiệm thành công. Tia “chớp điện” ấy xuyên qua lớp lớp từng mây trên bầu trời Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, sang tận phương Tây, giáng một đòn trí mạng cho những kẻ mơ mộng lũng đoạn độc quyền vũ khí hạt nhân trên thế giới. Sau đó, cuộc cạnh tranh phát triển vũ khí hạt nhân, sức mạnh hạt nhân giữa 2 siêu cường Xô-Mỹ đi vào thời kỳ quyết liệt chưa từng thấy. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:06:32 pm Chương 20 CHÍNH QUYỀN HỒNG KÔNG CẦU VIỆN OASINHTƠN, “BÁ CHỦ THẾ GIỚI” TIẾNG CHUÔNG ĐƠN ĐỘC. ĐƯỜNG VỀ ĐẦY MƯA GIÓ, CHÍNH PHỦ TRUNG QUỐC ĐÃ CÓ DỰ TÍNH TRƯỚC. PHẦN 1 MỞ RA BỨC MÀN ĐÀM PHÁN Bà Thátchơ thăm Trung Quốc Ngày 22-9-1982. Bầu trời mùa thu ở Bắc Kinh trong xanh, yên tĩnh. Lá cờ có chữ “Mễ” lần đầu tiên cùng với lá cờ đỏ 5 sao vàng tung bay trên nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài. 1 giờ 20 chiều, chiếc chuyên cơ của không quân Hoàng Gia Anh từ từ hạ xuống sân bay Bắc Kinh. Bà Thátchơ Thủ tướng Anh bước xuống thang máy bay. Ra sân bay đón đoàn có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Văn Tấn và phu nhân, Vụ trưởng vụ Tây Âu, Vương Bản Tộ, Tổng đốc Hồng Kông Long Đức, “Vua tầu thuỷ” Bao Ngọc Cương v. v... Bà Magơrets Thátchơ sinh ngày 13-10-1925 tại quận Inglen. Năm 1951 bà kết hôn với ông Đaniks-Thatchơ. Năm 1943 bà vào học khoa hoá trường đại học Oxtơrơ, đã giành các học vị cử nhân khoa vật lý, thạc sĩ khoa văn. Trong những năm học đại học bà gia nhập Đảng Bảo thủ và làm Chủ tịch hiệp hội Đảng Bảo thủ trường đại học Oxtơrơ. Từ năm 1947-1951 bà làm công tác nghiên cứu hoá học ở công ty hàng không. Năm 1953 bà đỗ luật sư. Từ năm 1959 trở đi bà là đại biểu nghị viện Đảng Bảo thủ. Từ 1961 đến 1964 bà giữ việc phụ trách chính trị Bộ Bảo hiểm quốc dân. Năm 1964 sau khi Đảng Bảo thủ thất bại, bà lần lượt là người phát ngôn về vấn đề nhà cửa, ruộng đất, tài chính, nhân lực và giáo dục của Đảng Bảo thủ. Từ năm 1970 đến năm 1974 bà là người phát ngôn về tài chính trong nội các hậu trường của Đảng Bảo thủ. Năm 1975 bà được bầu làm lãnh tụ của Đảng Bảo thủ, trở thành một lãnh tụ nữ đầu tiên trong lịch sử chính đảng nước Anh. Năm 1979 bà giữ chức Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Tài chính. Trong những ngày bà Thátchơ thăm Trung Quốc, báo chí phương tây đều đăng tin: “Đúng vào dịp kỷ niệm 2.533 năm ngày sinh của Khổng Tử - nhà tư tưởng vĩ đại thời cổ đại Trung Quốc - người chủ trương “Dĩ hoà vi quý”, bà (chỉ bà Thátchơ) đã đến Trung Quốc, một đất nước có 5 nghìn năm lịch sử dưới sự tháp tùng của ông Đanis cùng các quan chức trong Chính phủ hoàng gia và 16 nhà báo”. Mục đích chuyến thăm này của bà Thátchơ là để tăng cường quan hệ Trung-Anh, mở rộng buôn bán giữa hai nước. Ngoài ra còn một việc lớn mà cả thế giới đều biết. Đó là: Tiến hành hội đàm với những nhà lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Hồng Kông. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:07:31 pm Thời cơ giải quyết vấn đề Hồng Kông đã chín muồi Từ những năm 70, theo sự phát triển thay đổi của tình hình trong và ngoài nước, thời cơ để Trung Quốc giải quyết vấn đề Hồng Kông đã chín muồi. Ở trong nước, sau Hội nghị toàn thể Trung ương 3 khoá 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc, do hoàn thành nhiệm vụ lịch sử dẹp loạn, công việc cải cách mở cửa ở các lĩnh vực đều không ngừng thay đổi sâu sắc; Tình hình chính trị toàn quốc ổn định, kinh tế phát triển. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, hiện đại hoá đã tiến vào một giai đoạn lịch sử mới. Về quốc tế kết cấu chiến tranh lạnh được hình thành sau đại chiến thế giới thứ 2 đã bắt đầu tan rã. Mâu thuẫn giữa các quốc gia không cùng chế độ đi vào hoà dịu. Hoà bình và phát triển đã trở thành trào lưu của thế giới. Qua nhiều năm cố gắng, địa vị quốc tế Trung Quốc được nâng cao chưa từng thấy, đã thiết lập quan hệ Ngoại giao với 130 nước trên thế giới. Căn cứ vào các mặt thay đổi của tình hình, ngày 16 tháng 01 năm 1980, ông Đặng Tiểu Bình đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu lên 3 nhiệm vụ lớn trong thập niên 80. Đó là gấp rút xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa, giữ gìn hoà bình thế giới, thực hiện thống nhất Tổ quốc. Trong đó một nhiệm vụ tối quan trọng để thực hiện thống nhất Tổ quốc là khôi phục chủ quyền đối với Hồng Kông và Áo Môn. Nói về Hồng Kông, đến ngày 30-6-1997, Hiệp ước thuê “Tô Giới” hết hạn, nước Anh sẽ chấm dứt quản lý “Tô Giới” Hồng Kông. Chính phủ Anh không có lý do gì không thực hiện qui định thuê “Tô Giới”, Chính phủ Anh cũng rất hiểu rằng “Tô Giới” chiếm 92% tổng diện tích Hồng Kông, đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của Hồng Kông. Đảo Hồng Kông và đoạn phía nam của đảo Cửu Long mà cách rời “Tô Giới” thì căn bản không thể tồn tại. Lập trường của Chính phủ Trung Quốc trước sau như một. Trung Quốc không thừa nhận một hiệp ước bất bình đẳng của chủ nghĩa đế quốc đè lên đầu nhân dân Trung Quốc. Như vậy Trung Quốc phải thu về không chỉ là “Tô Giới” mà phải bao gồm toàn bộ khu vực Hồng Kông, trong đó có đảo Hương Cảng và đảo Cửu Long. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:08:39 pm Phía Anh ném đá hỏi đường, phía Trung Quốc vững vàng chủ động Đối với nước Anh, Hồng Kông có lợi ích về kinh tế và chính trị vô cùng to lớn, là một “con gà biết đẻ trứng vàng”, là “viên ngọc trên vương miện” của nữ hoàng. Về kinh tế, trong ngân hàng nước Anh ở Hồng Kông, có số lượng lớn vàng và ngoại hối dự trữ, trở thành sức mạnh quan trọng của đồng bảng Anh. Hàng năm, nước Anh thu về những con số khổng lồ bằng sự buôn bán vô hình (như tiền tệ, cổ phiếu, vận tải đường thuỷ, bảo hiểm và thu nhập của công nhân viên v. v...) đủ để bù vào khoản nhập siêu về mậu dịch mà có dư. Về chính trị, Hồng Kông có giá trị chiến lược đặc biệt đối với nước Anh. Có thể tăng cường mối liên hệ giữa các nước trong Liên hiệp Anh như Ôttrâylia, Niudilơn và quần đảo Thái Bình Dương. Vì thế, nước Anh muốn kéo dài ách thống trị thực dân đối với Hồng Kông. Năm “97” đã đến gần, ảnh hưởng của nó đối với Hồng Kông ngày càng rõ ràng, trở thành căn bệnh đau tim của nước Anh. Trước hết là những nhà đầu tư trong và ngoài Hồng Kông không còn hứng thú đối với những hợp đồng đã ký với Hồng Kông. Bởi vì Chính phủ Anh ở Hồng Kông không có quyền ký những hợp đồng vượt qua năm 1997. Những nhà đầu tư vào lĩnh vực nhà đất ngày càng ít. Chính phủ Anh cảm thấy cần phải giải quyết nhanh chóng vấn đề Hiệp ước “Tô Giới” Hồng Kông, nếu không sẽ không thể lấy lại niềm tin của các nhà đầu tư. Vì thế, từ năm 1979, nước Anh đã nêu lên phương án quyết tâm của mình, đồng thời liên tục cử người đến Trung Quốc thăm dò đường đi nước bước, muốn mò ra con bài trong vấn đề Hồng Kông của Chính phủ Trung Quốc. Đầu năm 1979, Ngoại trưởng Anh nêu lên cái gọi là “Phương án bằng văn châu Âu”. Nội dung chủ yếu là trước năm 1997, nước Anh sẽ nhượng lại chủ quyền danh nghĩa toàn bộ khu vực Hồng Kông. Trên danh nghĩa Hồng Kông trở thành lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc phải ký với Anh một điều ước mới, có hiệu lực về luật pháp quốc tế, làm cho nước Anh có thể kéo dài quyền quản lý đối với Hồng Kông. Phương án ấy không nghi ngờ gì, vừa muốn Trung Quốc thừa nhận cắt nhượng đảo Hương Cảng và Nam Cửu Long cho nước Anh, vừa đồng ý cho nước Anh kéo dài thuê “Tô Giới”; thực chất là “Lấy chủ quyền đổi trị quyền”, làm cho nước Anh được phép tiếp tục tiến hành ách thống trị thực dân đối với Hồng Kông. Tháng 3 năm 1979, Tổng đốc Hồng Kông Mailiphơ thăm Bắc Kinh, đi theo còn có cố vấn chính trị Tổng đốc Nguỵ Đức Nguỵ (sau này giữ chức Tổng đốc Hồng Kông thứ 27, đổi tên thành Dịch Tín). Ngày 29, Đặng Tiểu Bình tiếp Maliphơ. Căn cứ vào chỉ thị của Bộ Ngoại giao Anh Mailiphơ, đề xuất với Đặng Tiểu Bình, mong Chính phủ Trung Quốc đồng ý hợp đồng thuê đất “Tô Giới” vượt qua ngày 30-6-1997; đồng thời đổi quy định thời hạn Hiệp ước thuê đất (27/6/1997) thành “có hiệu lực trong thời gian vương quốc Anh quản lý ở khu vực đó hòng đạt mục đích là làm cho người ta hiểu không rõ ràng về “thời hạn 97”. Đặng Tiểu Bình nói với Mailiphơ: Việc kéo dài niên hạn hợp đồng thuê đất, dù bằng bất cứ ngôn từ gì, cũng đều phải tránh đề cập đến vấn đề “quản lý của Anh quốc”. Từ đó mà cự tuyệt yêu cầu của phía Anh. Đặng Tiểu Bình đề xuất: “Hồng Kông là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc, nhưng “Chúng tôi coi Hồng Kông là một khu vực đặc biệt, một vấn đề đặc biệt để xử lý. Đến năm 1997 vấn đề Hồng Kông dù có giải quyết thế nào, thì địa vị đặc biệt của nó cũng đều được bảo đảm. Đó là trong thời gian tương đối dài ở thế kỷ này và đầu thế kỷ sau, Hồng Kông có thể làm theo chế độ tư bản chủ nghĩa, chúng tôi làm theo xã hội chủ nghĩa của chúng tôi. Vì thế, mong các nhà đầu tư của các nước hãy yên tâm”. Từ ngày 10 đến 12 tháng 5 năm 1980, Thủ tướng Anh Karahan thăm Trung Quốc. Sau khi gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông ta đã họp báo, nhắc đến việc thảo luận về vấn đề Hồng Kông. Nhưng ông ta thấy Trung Quốc không hề nôn nóng về vấn đề đó, không coi vấn đề Hồng Kông là một vấn đề bức thiết hoặc xếp vào việc được ưu tiên xử lý. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã từng nhấn mạnh với ông rằng, các nhà đầu tư có thể yên tâm đầu tư vào Hồng Kông. Vấn đề Hồng Kông sau này dù có giải quyết bằng phương thức nào thì cũng đều không thể làm tổn hại đến lợi ích của các nhà đầu tư. Ông cho rằng vài ba năm sau sẽ là thời cơ giải quyết vấn đề Hồng Kông và tin tưởng rằng sẽ đạt được một hiệp nghị. Ngày 3 tháng 4 năm 1981 Kalintơn một quan chức của Bộ Ngoại giao Anh thăm Trung Quốc, hội kiến thảo luận với Đặng Tiểu Bình về vấn đề Hồng Kông. Sau cuộc gặp Kalintơn đã tổ chức họp báo nói: Đặng Tiểu Bình “một lần nữa nhấn mạnh với tôi rằng các nhà đầu tư Hồng Kông có thể yên tâm. Ngữ điệu nhấn mạnh của ông ấy có trọng lượng hơn khi nhấn mạnh với Tổng đốc Hồng Kông hai năm trước đây”. Kalintơn nói: “Điều quan trọng nữa là tôi tin tưởng Chính phủ hai nước sẽ tiến hành những cuộc tiếp xúc”. Sau khi Đặng Tiểu Bình hội đàm với Kalintơn thì ngân hàng khổng lồ Hội Phong tập trung vốn để chuẩn bị mua lại ngân hàng “Lão Gia”. Điều đó khiến cho những người mẫn cảm phiền muộn. Khi đó Mailiphơ Tổng đốc Hồng Kông trong cuộc gặp với Kalintơn một quan chức Bộ Ngoại giao Anh quốc đã báo cáo khẩn cấp: Luật quốc tịch mới của nước Anh đã khiến cho Hồng Kông dấy lên những làn sóng khủng hoảng. Là người tin cẩn trong nội các của bà Thátchơ, Kalintơn báo cáo ngay với Thủ tướng: Nước Anh cần phải nhanh chóng giải quyết vấn đề Hiệp ước “Tô Giới”, như thế mới có thể lấy lại lòng tin của các nhà đầu tư. Khi bà Thátchơ xuất hiện trên quần đảo Manvinát với tư thế anh hùng được dân chúng hoan hô, thì có nhiều người Anh lại tập trung nhìn về Hồng Kông. Giải quyết vấn đề Hồng Kông đã có ngay trước mắt rồi. Nhưng phía Bắc Kinh vẫn chưa có động tĩnh gì. Đối thủ tranh cử của bà Thátchơ, ông Karahan đã từng gặp ông Đặng Tiểu Bình. Ông thấy đối phương không hề sốt ruột đối với vấn đề Hồng Kông. Ông Đặng nói: “Trong nước chúng tôi còn phải đối phó với nhiều vấn đề quan trọng hơn điều đó”. Đoàn đại biểu Quốc hội Anh thăm Trung Quốc. Phó Thủ tướng Đào Y Lâm, Uỷ viên trưởng Bành Xung Phúc tiếp đón ông, chậm rãi nói trong khi phía Anh đang nóng lòng đề nghị rằng: “Hồng Kông là vấn đề lịch sử để lại, hiện nay chưa cấp thiết, phải có thời gian thích hợp, giải quyết bằng phương thức thích hợp”. Vậy thì, lúc nào mới là lúc thích hợp? Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:11:14 pm Đặc phái viên của Thủ tướng Anh đến Trung Quốc thăm dò Nhằm mò ra ý đồ của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, ngày 6-4-1982, bà Thátchơ cử đến Trung Quốc một đặc phái viên. Hôm đó, gió cát bay mù mịt cả thành phố Bắc Kinh. Cũng là lúc một chiếc máy bay màu én bạc nhẹ nhàng đáp xuống sân bay Thủ đô. Cửa máy bay vừa mở, một người Anh mặc bộ âu phục hiện ra với thân hình cường tráng khoẻ mạnh, đôi mắt xanh trong và mái đầu chải mượt; dáng vẻ ấy chỉ có được của lớp người vào tuổi trung niên. Ông chính là Cheotrưxien đặc phái viên của bà Thátchơ. Lúc đầu ông đề bạt bà Thátchơ, nhưng chính ông lại là người bị đánh bại. Đó là những giờ phút nhục nhã nhất trong đời ông. Nhưng, giờ đây ông lại đến Bắc Kinh với trọng trách do bà Thủ tướng Thátchơ giao cho. Ông Cheotrưxien sinh năm 1916, ông có tinh thần chắc chắn thận trọng của một người thợ thủ công ưu tú, đôi lúc tỏ ra lạnh lùng. Bố ông lúc đầu là thợ mộc, sau này trở thành nhà thầu xây dựng số một nước Anh. Trong Ngoại giao Xien tỏ ra quá cẩn thận và nhút nhát, không hề có bản lĩnh khéo léo gần gũi như các chính trị gia khác. Cá tính ấy của ông lại làm cho ông luôn có thái độ thoải mái trong bất cứ trường hợp nào. Cũng chính vì cá tính ấy của ông, nên Thủ tướng Thátchơ mới mời ông xuất ngoại, làm người thăm dò phá vỡ bế tắc Trung-Anh. Để phối hợp với cuộc viếng thăm của Xien, tờ “Báo bưu điện” của Anh đưa tin: “Mong muốn của Chính phủ Anh hiện nay là một sự sắp xếp an toàn làm cho Trung Quốc kéo dài thời hạn cho thuê đất 50 năm chẳng hạn (tuy nhiên chúng ta không được dùng từ thuê đất). Điều kiện trao đổi là chúng ta thừa nhận Trung Quốc có chủ quyền đối với toàn bộ Hồng Kông không chỉ là Tô Giới. Hồng Kông trong con mắt chúng ta, sẽ trở thành một thành phố cảng tự do và trung tâm thương mại, do Chính phủ Anh quốc quản lý, nhưng chủ quyền lại thuộc về Trung Quốc. Chủ trương ấy trên thực tế là phiên bản của “Phương án văn âu”... đã đem chủ trương “Lấy chủ quyền đổi lấy trị quyền” để thăm dò các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Ông ta không thể không nghĩ tới những khó khăn to lớn khi làm việc đó. Người mà ông ta phải đối mặt là nhân vật hàng đầu của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa - Đặng Tiểu Bình. Ông ta không khỏi lo lắng khi đối mặt với con người gang thép “ba chìm bẩy nổi này”. Tại Trung Nam Hải Thủ tướng Trung Quốc và Chủ tịch Đặng Tiểu Bình đã hội kiến với Xien. Thủ tướng Trung Quốc giới thiệu với quý khách nước Anh những thành tựu trong 5 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc. Trung Quốc lúc này đang dần dần thoát khỏi nghèo đói, đã xuất hiện xu hướng của một nền kinh tế nhảy vọt, nhất là tình hình phấn khởi nức lòng người của 4 đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Chu Hải, Sơn Đầu, Hạ Môn. Xien ca ngợi những thành tựu mà Trung Quốc đã giành được trong cải cách mở cửa, rồi nêu lên vấn đề tương đối nhạy cảm - tương lai của Hồng Kông. Xien nói: “Năm 1997 đã gần đến, 5 triệu dân Hồng I7ông đang lo lắng không yên về tương lai sau này của Hồng Kông, các nhà đầu tư cũng vô cùng khủng hoảng. Vì sự phồn vinh và ổn định của Hồng Kông, chúng tôi cần phải công khai bày tỏ thái độ, tiến hành đàm phán để đạt một hiệp định mới. Đặng Tiểu Bình nói: “Cho dù sau này địa vị chính trị của Hồng Kông thế nào, thì hiện trạng nền kinh tế của Hồng Kông vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi, các nhà đầu tư có thể yên tâm”. Xien nghe câu nói ý tại ngôn ngoại của Đặng Tiểu Bình: Hồng Kông phải trở về Trung Quốc, nhưng chế độ kinh tế vẫn có thể giữ nguyên hiện trạng, có nghĩa là chế độ Tư bản của Hồng Kông có thể không thay đổi”. “Thưa ngài Đặng, lời bảo đảm của ngài khiến tôi yên tâm. Nhưng người Hồng Kông mong muốn có một cái gì dó cụ thể, như hiệp nghị...”. Xien mềm mỏng khéo léo bày tỏ hết ý đồ của phía Anh. Đặng Tiểu Bình nói dứt khoát: “Nếu có thể chúng tôi đồng ý có những cuộc tiếp xúc chính thức với Chính phủ, thông qua đàm phán để giải quyết vấn đề này”. Xien hỏi: “'Phải chăng ngài cảm thấy đàm phán bây giờ là vội vã?” Đặng Tiểu Bình nói: “Không! Chúng tôi đã có kinh nghiệm làm ở đặc khu kinh tế; Chúng tôi đã có quan hệ quốc tế ngày càng tốt đẹp. Bây giờ là lúc cần phải suy nghĩ để giải quyết vấn đề Hồng Kông rồi” Tổng đốc Hồng Kông vội vã trở về Anh Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:11:40 pm Xưa nay, luôn có một bức bình phong làm cản trở đàm phán về vấn đề Hồng Kông. Cuộc viếng thăm của Xien đã lột bỏ bức bình phong ấy. Cuộc viếng thăm Trung Quốc của Thủ tướng Thátchơ vào hạ tuần tháng 9 đã làm cho Tổng đốc Hồng Kông mới bổ nhiệm Lontơ thêm bận rộn. Lontơ sinh năm 1924 đã từng làm việc trong Bộ Ngoại giao Anh quốc, đã 4 lần làm nhân viên Đại sứ quán Anh quốc tại Trung Quốc. Từ năm 1974 đảm nhiệm chức Đại sứ quán Anh tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thông hiểu tiếng Trung Quốc, là người “thông thạo Trung Quốc” chính hiệu. Ngày 20-5,ông ta vừa nhận chức Tổng đốc Hồng Kông lần thứ 26 thì gặp phải sự kiện lớn hiếm thấy trong vòng một trăm năm? Chiếc ghế Tổng đốc Hồng Kông ngồi chưa nóng chỗ, thậm chí chưa kịp đi thăm Hồng Kông một vòng để nắm bắt toàn cảnh khu vực sẽ quản lý một chút, thì lại vội vàng đáp máy bay trở về Luânđôn. Vào ngày 2 tháng 7, ngày 28 gặp Thủ tướng Thátchơ. Bà Thátchơ tiếp Tổng đốc Hồng Kông vừa lật đật trở về tại dinh Thủ tướng, số 10 phố Tannin, hỏi thăm tình hình Hồng Kông. Lontơ trình lên hai bản báo cáo của chính quyền Hồng Kông, điều tra ý dân đối với vấn đề tương lai: “Nhìn từ ý dân, họ có một chút lo sợ về tương lai, đặc biệt là giới buôn bán. Họ đầu tư vào đó sẽ được bảo đảm, nhưng tương lai Hồng Kông một ngày chưa được sáng sủa, thì các thương gia vẫn chưa yên tâm đầu tư”. “Đúng, đó là tất nhiên. Có ai muốn ném tiền xuống biển?” Bà Thátchơ nói. “Vì vậy việc đi Bắc Kinh lần này của Thủ tướng vô cùng quan trọng”- Lontơ chia sẻ sự lo lắng. “Ông có ý kiến gì về vấn đề này?” Bà Thátchơ hỏi. “Tôi thấy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể không có thái độ về tương lai Hồng Kông, có thể là kiên trì nguyên tắc giữ vững chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc”. “Tôi nghĩ Đặng Tiểu Bình sẽ không vượt qua. Việc này rất khó làm” - Bà Thátchơ thừa nhận. “Ý kiến của bà thế nào? Bà đã chuẩn bị đàm phán với Đặng Tiểu Bình chưa?”. Bà Thátchơ im lặng một lát rồi nói: “Không còn cách nào để giữ chủ quyền Hồng Kông, nhưng có thể dùng chủ quyền đổi lấy trị quyền, do Chính phủ ta quản lý”. Lontơ bổ sung: “Tốt nhất nên có sự sắp xếp, để làm cho Chính phủ Trung Quốc kéo dài thời hạn thuê đất Tô Giới”. Bà Thátchơ đứng dậy, quả quyết nói: “Được chúng ta sẽ lấy đó làm mục tiêu để đàm phán với Đặng Tiểu Bình”. Lontơ cáo từ Thủ tướng, rồi lại vội vàng đáp máy bay trở về Hồng Kông. Nhưng chưa được nửa tháng, ngày 9 tháng 8 ông ta lại vội vàng đến Bắc Kinh, thăm Quảng Châu, Thâm Quyến, gặp hội đàm với Bí thư tỉnh uỷ Quảng Đông Nhiệm Trung Di, Phó Chủ tịch Quảng Đông Tăng Hữu Thạch, Phó Chủ tịch tỉnh kiêm Bí thư thành phố Thâm Quyến Lương Tương v. v... Hiển nhiên đây là một lần ngoại giao bí mật có liên quan đến giải quyết tương tai Hồng Kông. Ngày nay Trung Quốc không phải là thời kỳ của thập niên 45. Nước Anh ngày nay không thể coi Trung Quốc như Áchentina, uy hiếp bằng súng gươm được nữa. Hai đội quân đối mặt nhau, thì kẻ yếu sẽ phải lo sợ. Tháng 9, Lontơ lại trở về Luânđôn. Cùng đi với ông còn có 5 người của Cục hành chính và Cục lập pháp. Sau khi hội kiến với họ, bà Thátchơ bày tỏ thái độ: Khi hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, bà sẽ phản ảnh đầy đủ nguyện vọng và lợi ích của 5 triệu dân Hồng Kông. Giới bình luận Hồng Kông đã bình luận: “Đã từ lâu, Chính phủ Hồng Kông đều nhấn mạnh rằng, người Anh sẽ tiếp tục ở lại Hồng Kông, có sự trợ giúp thu nhập ngoại hối và phát triển kinh tế của Trung Quốc, đến khi bà Thátchơ trước lúc thăm Trung Quốc tiếp các quan chức ở Hồng Kông trở về, càng tô vẽ thêm ý nguyện và luận điệu của người Hồng Kông thực ra là giới chức”. Xien Tổng đốc Hồng Kông vừa mới nhận chức được mất tháng đã hai lần trở về nước Anh gặp Thủ tướng, rồi lại đến Quảng Châu, Thâm Quyến, bận đến nỗi trở tay không kịp. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2008, 07:12:48 pm Cuộc đàm phán Trung -Anh 4 giờ chiều ngày 22, Thủ tướng Trung Quốc và Thủ tướng Anh gặp nhau trong sự vây quanh của đoàn người đi theo. Đội thiếu niên tiền phong tặng bà Thátchơ và ngài Đaniks những bó hoa tươi thắm, “Người đàn bà thép” nổi tiếng trên chính trường chính trị thế giới, đã đi vào sử sách, vì một Thủ tướng đương nhiệm nước Anh lần đầu đến thăm nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đoàn quân nhạc cử quốc ca hai nước. Bà Thátchơ đi duyệt đội danh dự hải, lục, không quân dưới sự hướng dẫn của Thủ tướng Trung Quốc. Các cháu thiếu niên Thủ đô đánh trống vẫy hoa chào đón các vị tân khách nước Anh đến thăm. Bà Thátchơ tươi cười đáp lại. Các nhà báo trong và ngoài nước bấm máy lia lịa ghi lại những giây phút lịch sử này. Đi sau Thủ tướng Trung Quốc là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa và phu nhân, Thứ trưởng Chương Văn Tấn, Đại sứ Trung Quốc tại Anh Hà Hoa và phu nhân. Cùng đi với bà Thátchơ ngoài ngài Đaniks Thatchơ phu quân của bà Thátchơ, còn có huân tước Lontơ Tổng đốc Hồng Kông, Thư ký Thủ tướng Batơlơ, Thứ trưởng Bộ thương mại Guankơlây và các quan chức nước Anh. Đaniks Thátchơ là một nhân vật đặc biệt. Ông tháp tùng bà Thátchơ, song công việc bận rộn nhiều so với Thủ tướng phu nhân. Điều đó chứng tỏ ông không muốn an nhàn nơi nhung lụa, mà vì ông muốn giúp bà. Bà Thátchơ cũng luôn coi trọng ông. Trong hội nghị của nội các, tất cả tuyên bố của bà, bà đều trưng cầu ý kiến của ông Đaniks. Năm 1982 là năm bà Thátchơ bôn ba vất vả. Nhưng đi miền viễn đông lần này là lần duy nhất bà cảm thấy mệt mỏi trong 4 năm chấp chính của bà. Trong lúc này, đối với bà, Đaniks không thể thiếu được. Ông cần phải giúp đỡ bà về mặt tâm lý. Bà Thátchơ ở phòng số 12 Điếu Ngư Đài. Phòng số 13 có phòng ngủ của Tổng thống và phu nhân, đều ở tầng 2. Mỗi phòng rộng 50 mét. Bà Thátchơ không giống nhu những phụ nữ khác; Bà thích ở trong căn phòng mang phong cách của nam giới. Bà để cho tuỳ tùng của bà ở trong phòng nghỉ mang đậm màu sắc nữ giới. Bà không thích màu sắc nhạt, nhẹ nhàng nữ giới. Bà thích ở trong căn phòng có chạm khắc 116 hình thù khác nhau trên chiếc long sàng nặng 1,2 tấn. Long sàng này được phục chế phỏng theo long sàng hoàng cung đời Đường. Bà không hổ thẹn với danh hiệu là người “đàn bà thép”. Vừa kết thúc chuyến thăm Nhật Bản 6 ngày, bà lại với tinh thần tràn đầy đến đàm phán với Thủ tướng Trung Quốc. Vị lãnh đạo nước Anh ngồi đối diện với Thủ tướng Trung Quốc bên chiếc bàn dài phủ vải màu xanh lục. Ai cũng đều biết mục tiêu lần đi này của người “đàn bà thép”. Họ mong chờ hai nước Trung-Anh sẽ tiến hành hội đàm hữu nghị về vấn đề Hồng Kông. Nhưng, người “đàn bà thép” lúc này lại tránh nói đến điều đó, mà trước hết giới thiệu với Thủ tướng Trung Quốc về tình hình đường ống dẫn khí thiên nhiên của Liên Xô và lập trường của Anh phản đối Mỹ. Người “đàn bà thép” tỏ vẻ “thẹn thùng” “ôm đàn che nửa mắt”. Vì vậy Thủ tướng Trung Quốc không tiện đi thẳng vào vấn đề. Thế là, ông giới thiệu với bà Thátchơ về quan hệ Trung - Mỹ và Trung-Xô, đồng thời nhấn mạnh Trung Quốc ủng hộ chính sách ngoại giao độc lập tự chủ. Ông nói: “Chúng tôi phản đối chủ nghĩa bá quyền, ủng hộ hoà bình thế giới. Chúng tôi luôn luôn chủ trương phát triển quan hệ với tất cả các quốc gia trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Chúng tôi không dựa vào bất cứ một nước lớn nào. Chúng tôi không dùng chiêu bài Liên Xô để đối phó với nước Mỹ, không dùng chiêu bài của Mỹ để đối phó với Liên Xô và cũng không cho phép bất cứ nước nào dùng chiêu bài Trung Quốc. Bà Thátchơ ca ngợi chính sách Ngoại giao của Trung quốc. Bà nói: “Người ta không quên vấn đề Ápganistan, Liên Xô can thiệp vào Ápganistan, đó là một sai lầm”. Hội nghị kéo dài 2 tiếng. Trên phương diện lớn hai vị lãnh đạo đều được hội nghị nhất trí. Sau hội nghị hai bên đều tuyên bố. “Chúng tôi cho rằng đây là một sự mở đầu tốt đẹp”. Buổi tối hôm đó, trong lễ đường lớn rực rỡ ánh đèn, Thủ tướng Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi chào mừng Thủ tướng Magarét Thátchơ. Theo tập quán của Trung Quốc, trong bữa tiệc có rượu Mao Đài - một loại rượu nổi tiếng của Trung Quốc. Thủ tướng Trung Quốc đã lên án chủ nghĩa bá quyền Mỹ cùng hàng loạt cảnh chết chóc đổ máu của nhân dân Palestin bất hạnh. Ông cho rằng, cuộc viếng thăm lần này của bà Thatchơ là một sự kiện trọng đại trong quan hệ hai nước, là một mốc quan trọng trong sự phát triển của quan hệ hai nước. Ông tin tưởng, với sự nỗ lực chung của cả hai bên, chuyến thăm này sẽ thu được kết quả to lớn. Nền kinh tế, vũ khí hạt nhân và sự hợp tác khác sẽ được tăng cường thêm một bước. “Đương nhiên trong quan hệ hai bên chúng ta vẫn còn một vấn đề do lịch sử để lại cần có sự bàn bạc giải quyết. Nhưng, hai bên chúng ta phải có cách nhìn với quan điểm chiến lược lâu dài để phát triển quan hệ Trung-Anh, xử lý vấn đề giữa hai nước chúng ta phải dựa trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Tôi tin rằng, vấn đề này không khó giải quyết”. Vấn đề Hồng Kông mẫn cảm sau hàng trăm năm với nhiều biến cố, cuối cùng đã được bày ra trong bàn hội nghị sau câu nói ấy của Thủ tướng Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2008, 10:18:57 pm PHẦN 2 ĐẶNG TIỂU BÌNH HỘI ĐÀM VỚI NGƯỜI “ĐÀN BÀ THÉP” Trung Quốc một đất nước giàu có, do những nguyên nhân của lịch sử, xưa nay rất ít đón những nguyên thủ nước ngoài. Năm 1972 nhân dân Đại lục Trung Quốc đã chào đón Níchsơn Tổng thống Mỹ đến thăm. Nhưng giờ đây, những người nông dân mù chữ cũng được biết đến tên của người đàn bà không bình thường của một nước khác đến thăm: Margarét Thátchơ. “Bà là một đấu sĩ hung hãn, điên cuồng của giai cấp tư sản. Bà ta lạnh lùng, cứng rắn như một bướm thép bay lượn khắp nơi, không được lòng người”. Trên làn sóng đài phát thanh của các nước xã hội chủ nghĩa đã bình luận như thế về bà Thátchơ. Trước khi bà đến Bắc Kinh không lâu, nước Anh đã thắng trong cuộc chiến tranh chấp quần đảo Manvinát với Áchentina. Điều đó làm cho địa vị của bà càng được củng cố và có ảnh hưởng lớn ở trong nước. Đi Bắc Kinh lần này, bà ta mang theo dư vị chiến thắng quần đảo Manvinát, ngầm nói lên rằng nước Anh luôn luôn bảo vệ thuộc địa của họ, thậm chí sẵn sàng lao vào cuộc chiến. Bà hy vọng thừa thắng xông lên, tranh thủ lấy lại uy tín cho mình. Nhưng đối mặt với bà lúc này là một người có nhiều kinh nghiệm trong việc đối phó với chủ nghĩa đế quốc. Việc công bố quyết định Trung Quốc thu hồi Hồng Kông bên ngoài bàn đàm phán khiến bà trở tay không kịp. Mặc dù bà đã dự đoán trước được điều kiện tiên quyết này của Trung Quốc. Nhưng phong cách đàm phán ấy của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khiến bà không thích ứng ngay được. Bà cũng cảm thấy khó mà đối phó lại với phía Trung Quốc. Bà ta biết rằng cố giữ lấy chủ quyền của Hồng Kông là không hiện thực. Bà cũng chưa tính đến điều này. Nhưng, thứ nhất bà muốn Chính phủ Trung Quốc phân biệt “Tô Giới” và Hồng Kông. Thứ 2, bà ta muốn lấy chủ quyền đổi lấy trị quyền của nước Anh đối với Hồng Kông. Bà ta hỏi Thủ tướng Trung Quốc: “Nếu Trung Quốc thu hồi Hồng Kông, thì nhất định sẽ phải tìm hàng loạt biện pháp để giữ vững Hồng Kông giàu có và ổn định”. Bà ta lại hỏi: “Nếu hơn năm triệu người dân Hồng Kông cảm thấy không yên tâm về tương lai của mình, thì làm thế nào?” Thủ tướng Trung Quốc trả lời: “Tôi cho rằng người Hồng Kông không cần phải lo lắng về tiền đồ... Có điều gì làm cho họ cảm thấy không yên?” Bà cũng đã trình bày với Thủ tướng Trung Quốc về những ý kiến của nước Anh đối với việc giải quyết vấn đề Hồng Kông. Bà hy vọng có biện pháp giải quyết từng bước nào đó để làm tốt công việc chuẩn bị. Đây là lần đầu 2 nước Trung-Anh thảo luận vấn đề Hồng Kông. Bà biết rằng không thể đi sâu hơn nữa. Trung Quốc thực hành chế độ dân chủ tập trung. Có rất nhiều vấn đề mang tính thực chất, không phải một mình Thủ tướng quyết định. Vấn đề then chốt là ở ngày mai. Cuộc hội đàm ngày mai với Đặng Tiểu Bình nhất định sẽ gian khổ hơn nhiều. Bà Thátchơ biết rõ rằng “Đặng là nhà chính trị. Tổng công trình sư của tất cả chính sách và phương châm, có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc hiện nay”. Bà Thátchơ cố gìm nén sự hồi hộp lo lắng trong lòng, cố gắng tỏ ra vẻ nhẹ nhõm thoải mái, không để cho các nhà báo nắm bắt được bất cứ một thay đổi nhỏ nhất nào trong bà. Buổi chiều hôm đó, bà mang theo đoàn tuỳ tùng trung thành rời khỏi Điếu Ngư Đài đến Học viện âm nhạc Trung ương và Viện mỹ thuật giàu màu sắc Trung Quốc. Tiếp đó, bà đi tham quan triển lãm tranh ảnh do Hội văn hoá Trung-Anh tổ chức tại Bắc Kinh. Ở đó, bà đã nói chuyện thân mật với thiếu nhi Trung Quốc và chụp ảnh lưu niệm. Bà đi đến đâu, đều có hàng đoàn ký giả theo sau. Bà cảm thấy rất khó chịu. Bà còn đến chợ mua bán hàng nông nghiệp khu Hải Điện, ở đó, bà mua một túi to nho... Và giờ phút then chốt cuối cùng đã đến. Sáng ngày 24 tháng 9 năm 1982, bà cho gọi thợ đến sửa đầu tóc. Làm xong đầu tóc, dùng bữa sáng, bà nhìn đồng hồ: Chỉ còn nửa tiếng nữa là đến cuộc hội đàm rồi, liền thông báo cho Đại sứ Anh tại Trung Quốc và Tổng đốc Hồng Kông, cùng đến Đại lễ đường Nhân dân. Lúc này, trước Đại lễ đường Nhân dân, người đông như trẩy hội. Cửa lớn của Đại lễ đường Nhân dân được mở ra, bà Thátchơ, “người đàn bà thép” tươi cười bước lên bậc thềm. Bà mặc bộ com lê gíp mầu xanh, chân đi giầy đen cao gót, xách túi màu đen, cổ đeo một vòng trai, rực rỡ, ung dung và sang trọng. Trước tiên bà đến chào và nói chuyện với bà Đặng Đình Siêu ở dinh Tân Cương, rồi bà cáo từ, đi sang dinh Phúc Kiến tiến hành hội đàm với Đặng Tiểu Bình. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2008, 10:21:48 pm Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi nhất định phải thu hồi Hồng Kông Trước khi Đặng Tiểu Bình bước ra đón “Người đàn bà thép”, các nhà báo đã chen chúc, cố gắng chiếm một chỗ có lợi để chụp hình. Lúc này một phóng viên truyền hình nước ngoài bị ống kính máy ghi hình của một phóng viên Trung Quốc vô ý động phải; Anh ta giật mình quay lại đá vào mạng sườn đồng nghiệp. Người bị đá cũng không chịu. Hầu như đã mất hết lý trí, họ sẵn sàng ẩu đả. Đúng lúc đó, cửa lớn ở dinh Phúc Kiến mở ra. Đặng Tiểu Bình bước ra đón “Người đàn bà thép”. Sự chú ý của mọi người lập tức tập trung vào hai vị lãnh đạo, một làn sóng người bỗng nhiên trở nên phẳng lặng. Khi các nhà báo quan sát thấy “Người đàn bà thép” đi từ dinh Tân Cương đến dinh Phúc Kiến, được một nửa đường mà vẫn chưa nhìn thấy bóng dáng Đặng Tiểu Bình. Cửa lớn dinh Phúc Kiến vẫn đóng im ỉm, khác hoàn toàn với cảnh bà Đặng Đình Siêu đón tiếp lúc trước. Bà ta bước đi vẻ lo lắng hiện lên trên nét mặt. Có lẽ bà hồi hộp lắm. Chà chà, chủ nhà sao lại vắng? Chính lúc bà hốt hoảng đi đến cách cửa lớn chừng 20 bước, thì cánh cửa mở ra. Đặng Tiểu Bình tươi cười bước ra, bắt tay bà Thátchơ... Các nhà báo vội cướp thời gian quay ống kính vào hai người; ánh sáng magiê loé sáng không ngớt. Bà Thátchơ nói: “Là một Thủ tướng đương nhiệm đến thăm Trung Quốc, tôi vô cùng vui sướng được gặp ngài”. Không ngờ, Đặng Tiểu Bình lại nói “Vâng, tôi có quen biết mấy vị Thủ tướng Anh, nhưng những người mà tôi quen biết hiện nay đều không còn đương nhiệm. Hoan nghênh bà đã đến với chúng tôi”. Đó là một câu nói rất thật. Song người giàu óc suy đoán ý tại ngôn ngoại của câu ấy không khỏi suy diễn ra nhiều khía cạnh. Cho nên có một số nhà báo vừa nghe thấy đã cười thầm. Chẳng biết lúc đó “Người đàn bà thép” cảm thụ thế nào về câu nói đó! Sau đó, hai bên chủ khách đều vào dinh Phúc Kiến. Hai người ngồi đối diện nhau. Đặng Tiểu Bình ngồi dựa trên salon, thanh thản thoải mái. “Người đàn bà thép” ngồi ngay ngắn chỉnh tề, hai tay đặt lên đầu gối. Vì có rất nhiều nhà báo chụp ảnh, quay phim nên câu chuyện của họ chỉ dừng lại ở những câu thăm hỏi xã giao và bà Thátchơ nói: “Được biết ngài vừa mới có một chuyến công du trở về”. Đặng Tiểu Bình tiếp lời: “Tôi cùng với Chủ tịch Kim Nhật Thành đi Tứ Xuyên” “Lần đi này chắc vui lắm, thưa ngài” Bà Thátchơ hỏi sâu thêm một chút. “Rất thú vị! Chúng tôi được ăn những món ăn của Tứ Xuyên. Tôi rất thích món ăn Tứ Xuyên. Món ăn Tứ Xuyên và Quảng Đông, Quảng Tây rất nổi tiếng ở Trung Quốc”. Nói đến đây, Đặng Tiểu Bình quay sang hỏi Tổng đốc Hồng Kông thích món ăn Tứ Xuyên hay Quảng Đông. Tổng đốc nói: “Cả hai loại tôi đều thích. Song, cuộc đời ngoại giao của tôi bắt đầu từ Tứ Xuyên”. Đặng Tiểu Bình nói: “Như vậy ông cũng là người Tứ Xuyên rồi”. Ngồi bên cạnh, bà Thátchơ thú vị nói: “Huân tước Lontơ nói rất có phong cách ngoại giao”. Không khí lắng đi một lát bà lại nói về nhận xét của mình: “Tôi cảm thấy món ăn Tô Châu rất tuyệt”. Đó là vì vào khoảng 5 năm trước bà đến thăm Trung Quốc với tư cách lãnh tụ của Đảng Bảo thủ, đã từng đến tham quan Tô Châu, nên mới có nhận xét như vậy. Đặng Tiểu Bình không đồng ý với nhận xét của Thátchơ, cười nói: “Là lữ khách, đến đâu cũng thấy có món ăn ngon”. Câu chuyện đến đó, các nhà báo được mời ra ngoài. Cửa đóng lại, cuộc hội đàm chính thức được tiến hành. Đội hình của hai bên được sắp xếp như sau: Phía Trung Quốc có Đặng Tiểu Bình, Hoàng Hoa, Chương Văn Tấn, Kha Hoa. Phía Anh: Thátchơ, Lontơ, Batơlơ Hơrlita. Cuộc đàm phán vừa mới bắt đầu, “Người đàn bà thép” phát biểu trước. Bà ta ngạo mạn cho rằng muốn duy trì được sự giàu có phồn vinh của Hồng Kông thì người Anh phải ở lại. Vấn đề Hồng Kông nếu không xử lý tốt, sẽ có hậu quả tai hại. Tất nhiên vấn đề đặt ra, thì cần phải trả lời. Câu trả lời này, quan hệ đến sự tôn nghiêm và uy tín của dân tộc Trung Hoa, quan hệ đến Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ giải quyết thế nào đối với một sự việc to lớn mà lịch sử đã giao cho. Đặng Tiểu Bình trả lời bằng hai câu như đinh đóng cột: “Hồng Kông là lãnh thổ của Trung Quốc, chúng tôi nhất định phải thu hồi”. Câu nói ấy có một ý nghĩa to lớn, quyết không thoả hiệp, quyết không nhân nhượng. Tiếp đó, Đặng Tiểu Bình nói: “Chúng tôi đã chờ đợi 33 năm, lại thêm 15 năm nữa, tức là 48 năm, chỉ có trên cơ sở của một niềm tin tràn đầy, chúng tôi mới có thể chờ đợi trường kỳ như thế. Nếu sau 15 năm vẫn chưa thu hồi, thì nhân dân không có lý do gì để tín nhiệm chúng tôi, bất kỳ Chính phủ Trung Quốc nào cũng phải giải thể, tự giác rời bỏ vũ đài chính trị, không có cách lựa chọn nao khác”. Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh, Trung Quốc tin rằng, thu hồi Hồng Kông sẽ không có hậu quả tai hại. Nếu có người Trung Quốc sẽ sẵn sàng dũng cảm đối mặt với chúng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2008, 10:22:35 pm Sau đó, Đặng Tiểu Bình thản nhiên nói với Thátchơ rằng, vấn đề Hồng Kông rất đơn giản, theo tôi có thể giải quyết trong một hai năm. Đồng thời nói với Thátchơ 3 ý kiến có tính nguyên tắc của Chính phủ Trung Quốc. Đó là: Thứ nhất: Không dễ dàng thảo luận về chủ quyền. Hồng Kông vốn là đất của chúng tôi. Nhưng xuất phát từ hiện thực, có thể đàm phán về “vấn đề Hồng Kông”, mà không thể thảo luận về chủ quyền. Thứ hai: hy vọng một hai năm nữa sẽ giải quyết xong vấn đề Hồng Kông. Nếu không đến khi đó, Trung Quốc sẽ đơn phương tuyên bố chính sách của mình về giải quyết vấn đề Hồng Kông. Thứ ba: Giải quyết vấn đề của nó sau này, không giống giải quyết hiện nay. Giả sử Hồng Kông xuất hiện cục diện không thể thu hồi, thì chúng tôi sẽ suy nghĩ lại thời gian và phương thức thu hồi Hồng Kông. 3 ý kiến của Đặng Tiểu Bình có một trọng lượng tương đối. Lúc đó, Thátchơ đang mang theo dư vị chiến thắng ở quần đảo Manvinát đến đàm phán vấn đề Hồng Kông với Trung Quốc, ảo tưởng rằng có thể tiếp tục duy trì 3 hiệp ước bất bình đẳng để nước Anh xâm chiếm Hồng Kông. Nhưng Trung Quốc không phải là Áchentinna; Hồng Kông cũng không phải là quần đảo Phukerlan. Cuối cùng Đặng Tiểu Bình còn nói với Thatchơ rằng, Trung Quốc mong muốn đàm phán không xong, Trung Quốc cũng phải thu hồi Hồng Kông. Về cuộc hội ngộ lần này, hãng thông tin nước ngoài bình luận: Bà Thátchơ dù có chịu sự ảnh hưởng lớn của Sớcsin, có biệt danh là người “Người đàn bà thép”, dù bà ta có kiên trì “chủ nghĩa triết học bảo thủ truyền thống và chính sách kinh tế cứng nhắc”, thì trước mặt Đặng Tiểu Bình, bà ta vẫn còn là một con người non trẻ. Về nội dung cụ thể và kết quả cuộc hội đàm lần này, khi trả lời nhà báo, các quan chức nước Anh không đưa ra được bất cứ tình hình gì. Chỉ nói: Cuộc hội đàm “làm cho người ta rất hài lòng”, không khí “hữu hảo”. Buổi chiều hôm đó, khi trả lời các nhà báo, bà Thátchơ nói: “Hôm nay trong không khí hữu hảo, lãnh đạo hai nước đã tiến hành đi vào thảo luận vấn đề tương lai của Hồng Kông. Những người lãnh đạo của hai bên đã nói lên lập trường của mình về vấn đề này. Hai bên đều có mục đích chung là duy trì sự phồn vinh và ổn định của Hồng Kông, đồng ý sau cuộc viếng thăm này, sẽ tiến hành đàm phán thương lượng bằng con đường Ngoại giao”. Trên thực tế, chỉ có 2 câu: 1/Hai bên đều mong muốn Hồng Kông giàu có và ổn định. 2/sau này sẽ tiếp tục đàm phán. Tân Hoa xã Trung Quốc đồng thời phát đi bản tuyên bố chung, còn phát thêm một đoạn tuyên bố cứng rắn của phía Trung Quốc. Lập trường của Chính phủ Trung Quốc về việc thu hồi toàn bộ khu vực Hồng Kông, thì mọi người đã đều biết. Khi rời Bắc Kinh đi Thượng Hải, bà Thátchơ đã nói chuyện với phóng viên công ty phát thanh Anh quốc: Hỏi: “Thưa Thủ tướng, tuy trước kia bà đã đến Bắc Kinh, nhưng lần này là lần đầu bà với tư cách là Thủ tướng đến tham gia hội đàm cấp cao với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, vậy không khí cuộc hội đàm của các ngài diễn ra như thế nào?” Trả lời: “Cuộc hội đàm giữa tôi với Thủ tướng Trung Quốc và Chủ tịch Đặng diễn ra trong bầu không khí hữu hảo. Chúng tôi thừa nhận có sự ngăn cách. Nhưng chúng tôi cho rằng cái chung, mục đích chung lớn hơn sự ngăn cách của chúng tôi”. Hỏi: “Bây giờ nói đến vấn đề Hồng Kông. Tuyên bố chung có nói, bây giờ bắt đầu đàm phán thông qua con đường Ngoại giao. Mục đích chung là giữ vững sự ổn định và phồn vinh trên lãnh thổ này. Bà có thấy các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin tưởng mạnh mẽ rằng duy trì sự ổn đính và phồn vinh của Hồng Kông là phù hợp với lợi ích của mỗi con người, bao gồm lợi ích của họ”. Trả lời: “Trước khi tôi đến Trung Quốc, một số người từ Hồng Kông đến nói: Vấn đề quan trọng là ổn định và phồn vinh. Phải ổn định, đó không phải là ngoài ý muốn. Không có sự ổn định, người ta không làm nổi nhiều việc, mà phồn vinh là điều họ đã từng xây dựng nên... Sáng ngày 25 tháng 9 năm 1982, bà Thátchơ đáp chuyên cơ rời khỏi Bắc Kinh. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2008, 10:23:34 pm “Người đàn bà thép” cố ôm những hiệp ước cũ “Người đàn bà thép” đã bị vấp ngã ở Bắc Kinh. Trên nét mặt tuy lạnh lùng, nhưng sau khi kết thúc cuộc hội đàm vẫn hăng hái đi dạo ở Di Hoà Viên. Trong lời đáp từ bữa tiệc tối hôm đó, bà vẫn cao giọng ngâm câu thơ cổ Trung Quốc. Nhưng trong lòng bà như đang có lửa đốt. Đến Thượng Hải, bà tham quan Viện khoa học Trung Quốc, sở nghiên cứu sinh vật học Thượng Hải, chủ trì lễ khởi công đóng tầu ở nhà máy đóng tầu Thượng Hải Giang Nam đóng con tầu chở hàng có trọng tải 27 vạn tấn cho Hồng Kông... Sau khi rời Thượng Hải, bà lại đáp máy bay đi Quảng Châu dự lễ ký kết của Tổng công ty phục vụ liên hợp dầu mỏ Nam Hải Trung Quốc, sở quản lý bưu điện tỉnh Quảng Đông và Công ty trách nhiệm hữu hạn Cục điện báo Đài Đông Luân đôn Anh Quốc. Ngày 26-9-1982, bà Thátchơ đáp chuyên cơ ghé qua Hồng Kông rồi về nước. Ở đó, bà đã bàn bạc với nhà đương cục Hồng Kông những vấn đề khó khăn của Tô Giới Anh khi đã mãn hạn. Bà không bỏ sót một cơ hội nào để gặp những người dân ở nơi đó. Bà đã tổ chức chiêu đãi các nhà báo và nói: “Lập trường của Anh là căn cứ vào 3 hiệp ước. Trong đó có Tô Giới chiếm 92% diện tích Hồng Kông sẽ đến hạn trả lại Trung Quốc vào năm 1997. Hai hiệp ước khác là chủ quyền đối với đảo Hồng Kông và bán đảo Cửu Long, chiếm 8% toàn bộ diện tích. Nước Anh tuân thủ những hiệp ước đó bởi vì đến năm 1997 sẽ hết hạn thuê đất, chủ quyền sẽ thuộc về Trung Quốc ... Chúng ta tuân thủ hiệp ước của chúng ta. Nếu có người không thích những hiệp ước đó, thì cách giải quyết là do hai bên bàn bạc, được cả hai bên đồng ý nhưng không thể huỷ bỏ hiệp ước. Nếu có một bên không đồng ý những hiệp ước đó, muốn huỷ bỏ nó, thì bất cứ một hiệp ước mới nào cũng không thể thực hiện…”. “3 hiệp ước mà bà Thátchơ nói đến tức là: “Hiệp ước Nam Kinh” năm 1842, cắt nhượng đảo Hương Cảng; “Hiệp ước Bắc Kinh”năm 1960, cắt nhượng bán đảo Cửu Long, “Hiệp ước triển khai chỉ giới Hồng Kông” kéo dài việc quản lý 235 hòn đảo lớn nhỏ thuộc khu vực Hồng Kông đến năm 1999. Ba hiệp ước không bình đẳng này đều là những hiệp ước cắt đất, bồi thường chiến tranh do Chính phủ Mãn Thanh ký với nước anh dưới sự đe dọa của pháo hạm Anh Quốc. Dựa vào nó mà nước Anh đã thực hành ách thống trị thực dân ở Hồng Kông hơn 100 năm. 12 năm sau, trong hồi ký của mình, bà Thátchơ đã viết về cuộc hội đàm với Đặng Tiểu Bình: “Tuy không dễ dàng thông hiểu nhau, toàn bộ cuộc hội đàm cuối cùng thất bại không theo ý muốn. Tuy không đạt được mục tiêu ban đầu, tôi vẫn thuyết phục Đặng Tiểu Bình có một thông cáo chung ngắn gọn, tuyên bố. Trong cuộc hội đàm bước đầu hai bên đã đạt được sự hiểu biết chung về giữ gìn ổn định và phồn vinh cho Hồng Kông. Để lấy lại niềm tin cho người dân Hồng Kông, một thông cáo như thế là vô cùng quan trọng. Nhân dân Hồng Kông và tôi cũng đều chưa đạt được yêu cầu gì, nhưng tôi cho rằng chí ít cũng đã đạt được cơ sở bàn bạc kỹ càng hợp lý. Chúng ta đã có thể biết được lập trường của đối phương”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 05:49:48 pm PHẦN 3 CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ ĐẦY MƯA GIÓ Không thể chấp nhận hiệp ước xâm lược Ngay buổi chiều ngày Thátchơ nói về “ba hiệp ước không bình đẳng” sinh viên trường đại học Trung Văn và Hoa Viên vật lý công nghiệp Hồng Kông đã giương cao biểu ngữ “Phản đối hiệp ước bất bình đẳng” và “Không thể chấp nhân hiệp ước xâm lược” kéo đến kháng nghị bên ngoài cuộc chiêu đãi các nhà báo. Bản kháng nghị nêu rõ: “Chúng tôi không chấp nhận hiệp ước “sửa đổi” của Thủ tướng Anh. Thừa nhận những hiệp ước đó, Trung Quốc lại một lần nủa bị tổn thất”. Họ còn nói: “Hiện trạng Hồng Kông là vấn đề lịch sử để lại. Nước Anh không thể mượn cớ “có trách nhiệm với 5 triệu dân Hồng Kông” để vĩnh viễn thống trị Hồng Kông là vấn đề nguyên tắc, là vấn đề lớn giữ vững sự tôn nghiêm của dân tộc”. Năm 1972, một số uỷ viên của Liên Hợp Quốc đã trưng cầu hai nước Trung-Anh có nên trưng cầu danh sách các thuộc địa không. Lúc đó Hoàng Hoa đã khẳng định lậptrường của Trung Quốc là: Trung Quốc có chủ quyền đối với Hồng Kông. Vấn đề Hồng Kông là một vấn đề lịch sử. Khi nào thích hợp sẽ giải quyết bằng phương pháp thích hợp. Đồng thời nên để Hồng Kông ra ngoài danh sách thuộc địa. Phản ứng của Trung Quốc lúc đó là bảo lưu ý kiến, nhưng không tranh luận về hiệu lực của 3 hiệp ước. Một ngày trước khi bà Thátchơ đưa ra luận thuyết “3 hiệp ước có hiệu lực”, trong tuyên bố của sinh viên Hồng Kông nêu rõ: 3 hiệp ước đó là những hiệp ước bất bình đẳng mà thời đó nước Anh đã áp đặt lên nhân dân Trung Quốc bằng chính sách pháo hạm, cần phải bãi bỏ. Thông báo còn nêu rõ: “Hồng Kông là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Trung Quốc” “Thu hồi Hồng Kông là trách nhiệm thiêng liêng của nhân dân Trung Quốc”. Tờ “Tình báo” Hồng Kông bình luận “Trung Quốc lấy lại chủ quyền đối với Hồng Kông là điều đã dự đoán từ trước, mà chuyện không ngờ tới là việc cố giữ lấy hiệp ước của nước Anh. Bởi đó là những hiệp ước bất bình đẳng, mà đa số người dân Anh đều cho rằng đó là kết quả của cuộc chiến tranh nha phiến không vẻ vang gì. Đó là sự thực mà mọi người đều biết. Trong bài xã luận của tờ “Hổ báo” tiếng Anh viết: “Lập trường của nước Anh khư khư giữ lấy những hiệp ước đã ố vàng xưa kia là ngoan cố và không hợp thời”. Thạc sĩ Trịnh Vũ Trường Đại học Hành chính Hồng Kông nói: “Bất cứ một hiệp ước quốc tế nào được ký kết dưới sức ép bằng vũ lực hoặc sức ép chính trị đều không được luật pháp quốc tế thừa nhận. Ba hiệp ước “mà bà Thátchơ nêu ra, truyền đến Bắc Kinh, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vô cùng phẫn nộ; Ngay hôm đó, họ đã tuyên bố về lập trường của họ: Ba hiệp ước bất bình đẳng này đều là những hiệp ước của bọn xâm lược khoác lên đầu nhân dân Trung Quốc. Vì thế hoàn toàn vô hiệu. Những hiệp ước bất bình đẳng này không thể đem ra bàn bạc lại. Toàn bộ Hồng Kông đều là lãnh thổ của Trung Quốc, nhất định phải trở về với Trung Quốc. Trên bản đồ Trung Quốc sau sự kiện Hồng Kông, quyết không thể lại ghi dòng chữ “Thuộc địa Anh”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 05:52:52 pm “Sóng gió cải cách hành chính” của Bành Định Khang Trước tình thế không thể tiếp tục kéo dài ách thống trị thực dân, các cơ quan nước Anh khi rút khỏi Hồng Kông đã chọn một loạt hành động có mục đích rõ ràng. Đầu tiên là dùng con bài “dân chủ” trong chính trị, thúc đẩy cái gọi là “Cải cách thể chế hành chính”, mưu đồ trước khi chuyển giao chính quyền, xây dựng một số cơ cấu quyền lực do người Anh khống chế và “Thể chế chính trị dân chủ do trực tiếp người Anh lựa chọn” sinh ra, trở thành một Chính phủ đặc biệt sau này, để sau “97” thực hiện ách thống trị của nước Anh không có người Anh. Trong hơn 100 năm nước Anh thực hành ách thống trị thực dân đối với Hồng Kông, vốn không có dân chủ thế mà khi sắp đi khỏi Hồng Kông lại gấp rút tiến hành “dân chủ hoá”. Chính phủ Trung Quốc chủ trương thực hiện dân chủ ở Hồng Kông là căn cứ vào tình hình thực tế của Hồng Kông mà tuần tự tiến hành, hợp với luật pháp cơ bản của Hồng Kông. Như thế mới có lợi cho việc giữ gìn ổn định xã hội và kinh tế phồn vinh của Hồng Kông, phù hợp với lợi ích của nhân dân Hồng Kông. Ngày 9-7-1992, Bành Định Khang nhận chức Tổng đốc Hồng Kông thứ 28, thì ngày 7 tháng 10 ông ta đọc báo cáo “Tương lai Hồng Kông: Kế hoạch 5 năm” đề xuất phương án “cải cách hiến chế” (còn gọi là phương án cải cách hành chính). Trước khi phát đi bản báo cáo, Bành Định Khang không trao đổi với phía Trung Quốc, chỉ thông báo mang tính xã giao. Sau khi phía Trung Quốc biết được nội dung của nó, ngày 3/10 Lỗ Bình Chủ nhiệm những vấn đề Hồng Kông thông báo cho Bành Định Khang, hy vọng không nên công bố bản báo cáo đó, đợi sau khi 2 bên bàn bạc kỹ hãy công bố để bảo đảm thuận lợi cho việc chuyển giao chính quyền, giảm bớt sự xáo động chính trị không cần thiết. Nhưng Bành Định Khang không nghe, vẫn công bố bản báo cáo ấy. Trước khi công bố “Phương án cải cách hành chính” Bành Định Khang không bàn bạc với phía Trung Quốc, đi ngược lại với tuyên bố Trung - Anh về giai đoạn quá độ của Hồng Kông. Hai bên Trung - Anh phải tăng cường hợp tác cùng bàn bạc nêu lên những quy định tìm biện pháp thuận lợi vượt qua năm 1997. Điều 3 trong tuyên bố Trung - Anh quy định: Hiện trạng xã hội, chế độ kinh tế của Hồng Kông không thay đổi, cuộc sống không thay đổi. Điều 5 luật pháp Hồng Kông cũng quy định: Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông vẫn giữ nguyên chế độ và cuộc sống hiện có trong vòng 50 năm không thay đổi. Phương án cải cách Hành chính của Bành Định Khang đã sửa đổi lớn chế độ hiện hành, trực tiếp vi phạm những quy định trên. Vì vấn đề phát triển chế độ chính trị ở Hồng Kông, hai phía Trung-Anh đã nhiều lần bàn bạc. Phía Anh thừa nhận đã làm cho chế độ chính trị của Hồng Kông phát triển cùng với sự nối tiếp của luật pháp cơ bản, đồng thời đạt được sự thoả thuận và thông cảm đối với bộ phận lập pháp năm 1995. Phương án cải cách hành chính mà Bành Định Khang nêu ra ở nhiều chỗ đã đi ngược lại quy định của luật pháp cơ bản, cũng đi ngược lại sự thông hiểu lẫn nhau mà hai nước Trung - Anh đã đạt được. Trước hết, điều thứ 55 luật pháp cơ bản quy định, thành viên của Hội nghị hành chính Hồng Kông là do sự uỷ nhiệm của các quan chức chủ yếu của cơ quan hành chính, của Uỷ viên hội nghị lập pháp và các nhân sĩ xã hội. Nhưng Cục hành chính mà Bành Định Khang nêu ra hoàn toàn tách ra khỏi Cục lập pháp thành lập Chính phủ và Uỷ ban sự vụ Cục lập pháp, tổ chức này đều không có trong thể chế hành chính hiện hành và luật pháp cơ bản. Thiết lập một tổ chức có khả năng trở thành cục hành chính siêu việt hoặc một trung tâm quyền lực mới, không chỉ là cải biến thể chế chính trị hiện có, mà sẽ tạo thành một cục diện không có sự nối tiếp với pháp luật cơ bản. Hai là, quan hệ giữa hành chính và lập pháp. Luật pháp cơ bản thể chế hành chính có vai trò chủ đạo trong chế độ chính trị Hồng Kông. Bành Định Khang đã cố lờ quy định của luật pháp cơ bảu, mưu đồ thông qua hai cục tách rời nhau trong phương án cải cách hành chính, thiết lập Chính phủ và Uỷ ban sự vụ cục lập pháp, thúc đẩy chế độ của lập pháp và Uỷ ban thực hành, thay đổi tính chất của Cục lập pháp, ban ra một quyết sách cho cục lập pháp sửa đổi hành chính, chen vào quyền lực của quyết sách thực tế, biến thể chế hành chính chỉ đạo thành thể chế lập pháp chủ đạo. Ba là, biến chức năng tuyển chọn của các đoàn thể thành trực tiếp tuyển chọn của từng bộ phận. Chức năng tuyển chọn của các đoàn thể là bộ phận tương đối đặc biệt của chế độ Hồng Kông, có thể bảo đảm sự tham gia tương đối nhiều của giới công thương và nhân sĩ chuyên nghiệp đối với hội lập pháp và sự vụ công cộng, để cống hiến tương đối nhiều cho xã hội Hồng Kông. Cho nên luật pháp cơ bản quy định tổ chức của hội lập pháp 3 khoá đầu, sau khi thành lập đặc khu vẫn được giữ lại các nghị sĩ đã được đoàn thể tuyển chọn ra. Một bộ phận nghị sĩ này là do các đoàn thể cử ra, rõ ràng đó là tuyển cử gián tiếp mà không phải là tuyển cử trực tiếp. Phương án cải cách hành chính của Bành Định Khang, thực tế là làm tuyển chọn trực tiếp phân chia riêng biệt, vi phạm những quy định hữu quan của luật pháp cơ bản và nhân dân toàn quốc... Ngay buổi tối hôm Bành Định Khang phát đi bản báo cáo Thủ tướng Anh Hây-giơ đã tuyên bố ca ngợi báo cáo của Bành Định Khang là “phương án tốt nhất để đưa Hồng Kông tiến lên”, thể hiện sự ủng hộ đối với Bành Định Khang. Nhiều nhân sĩ và báo chí Hồng Kông đã lên tiếng phê phán phương án cải cách hành chính của Bành Định Khang, vạch ra thực chất và nguy hiểm của nó. Những người có liên quan của Trung Quốc cũng lên tiếng, chỉ rõ trước khi công bố phương án cải cách hành chính, Bành Định Khang không trao đổi với phía Trung Quốc là rất vô trách nhiệm. Đặc khu hành chính Hồng Kông sẽ được thiết lập dựa trên pháp luật cơ bản và quyết định hữu quan của tuyệt đại đa số nhân dân toàn quốc... Ngày 21-10-1992, Bành Định Khang thăm Bắc Kinh. Lỗ Bình Chủ nhiệm những vấn đề Hồng Kông đã hội đàm với Bành Định Khang 6 tiếng đồng hồ. Lỗ Bình đã thẳng thắn chỉ rõ phương án cải cách hành chính của Bành Định Khang đã vi phạm tuyên bố chung Trung - Anh, vi phạm nguyên tắc tiếp nối của luật pháp cơ bản Hồng Kông, vi phạm sự thoả thuận đã đạt được của hai Chính phủ Trung - Anh. Bành Định Khang không tiếp thu ý kiến của phía Trung Quốc; vì vậy cuộc hội đàm không thu được kết quả. Ngay hôm đó, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham gặp Bành Định Khang nghiêm khắc chỉ rõ: thay đổi lớn về thể chế chính trị của Hồng Kông là khiêu chiến đối với hợp tác Trung-Anh. Chúng tôi mong muốn hợp tác, không mong muốn đối kháng. Ngày 23 tháng 10, Bành Định Khang rời Bắc Kinh trở về Hồng Kông. Sau khi Bành Định Khang rời Bắc Kinh, Lỗ Bình đã tiến hành họp báo, giới thiệu tình hình cuộc hội đàm giữa ông và Bành Định Khang. Lỗ Bình chỉ rõ, thực chất sự khác nhau của hai bên, không phải là vấn đề đẩy nhanh bước đi dân chủ mà rốt cuộc cần phải hợp tác hay đối kháng. Nếu đối phương cứ muốn đối kháng thì chúng ta cũng chỉ có thể làm như vậy. Ngày 12 tháng 3 năm 1993, Bành Định Khang bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Trung Quốc đơn phương công bố “Phương án cải cách dân chủ”. Ngày 15 tháng 3 Thủ tướng Lý Bằng đọc báo cáo của Chính phủ trong buổi khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá 8 chỉ rõ: “Phía Anh đã gây trở ngại cho sự hợp tác. Do đó mà mọi hậu quả nghiêm trọng phía Anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Đồng thời chỉ rõ “Thực chất của cải cách thể chế chính trị là vấn đề chủ quyền. Chính phủ Trung Quốc quyết không thể đem nguyên tắc ra buôn bán. Trung Quốc không chịu nhượng bộ thêm nữa”. Ngày 14 tháng 4 năm 1993, Chính phủ hai nước Trung - Anh cùng tuyên bố ngày 22 cùng tháng sẽ tiến hành hội đàm. Đại biểu Trung Quốc có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Khương Ân Trụ, phía Anh có Đại sứ quán Anh tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Maizelin... Suốt cả cuộc hội đàm phía Anh không có thành ý, luôn giữ lập trường “3 vi phạm”. Mặc dù phía Trung Quốc đã cố gắng làm cho cuộc hội đàm đạt được một hiệp nghị biểu hiện ở sự thành ý và kiên nhẫn xuất phát từ lợi ích cơ bản là thực hiện ổn định Hồng Kông, giúp đỡ người Hồng Kông. Phía Anh luôn nảy sinh những sự việc mới, đưa ra nhiều miếng đòn ngầm, gây trở ngại cho cuộc hội đàm. Sự thực đã chứng minh, để tiến hành cải cách thể chế “3 vi phạm”, phía Anh đã không muốn hợp tác với Trung Quốc, hòng tạo thành sự thực ép Trung Quốc phải tiếp thu. Tháng 2 năm 1994, phía Anh công bố sách trắng “Chế độ chính trị đại nghị Hồng Kông”, đơn phương công bố nội dung cuộc hội đàm Trung - Anh, trở mặt công kích lập trường của phía Trung quốc. Ngày 28 tháng 2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố sự thật của những vấn đề xếp sắp cuộc tuyển cử ở Hồng Kông vào năm 1994-1995 trước dư luận. Tháng 9 năm 1995, nhà đương cục Anh ở Hồng Kông tiến hành tuyển chọn Cục lập pháp theo kế hoạch đã định của phương án cải cách chính quyền. Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố. “Trong tình hình cuộc hội đàm Trung - Anh chưa đạt được một hiệp nghị, nhiệm kỳ cơ cấu chính quyền 3 cấp phía Anh chủ trì, chỉ có thể đến ngày 30 tháng 6 năm 1997. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 05:55:03 pm PHẦN 4 MỸ NHÚNG TAY VÀO CÔNG VIỆC HỒNG KÔNG Mỹ lợi dụng Hồng Kông làm bốt gác đầu cầu Phía Anh sở dĩ không hợp tác với phía Trung Quốc trong thời kỳ quá độ, thậm chí có lập trường đối kháng, ngoài việc ỷ thế có thể đưa ra “con bài dân chủ”, “dân ý”, “kinh tế”, ngoài ra còn ỷ thế vào con bài khác như “át chủ bài” và “con bài quốc tế”. Phía Anh cho rằng Mỹ và các quốc gia phương Tây khác sẽ cùng chung một lập trường với Anh trong vấn đề Hồng Kông biến vấn đề Hồng Kông thành “quốc tế hoá”, kéo đồng minh phương Tây thành mặt trận giúp đỡ và tăng cường tư bản cho họ để đối kháng với Trung Quốc. Do yêu cầu chiến lược lâu dài với Trung Quốc, Mỹ đặc biệt “quan tâm” đến Hồng Kông. Ngày 20 tháng 9 năm 1991, thượng nghị sĩ Mác-đô-nan đã trình bày trước Quốc hội, “Nước Mỹ - Dự luật 1991 chính sách Hồng Kông” kiến nghị thông qua “Thông cáo chung Trung – Anh” những điều khoản liên quan đến việc Hồng Kông thực hành tự trị cao độ đưa vào phạm vi luật pháp của nước Mỹ. Đồng thời hàng năm phải do Quốc vụ viện và Bộ Thương mại Mỹ kiểm tra, rồi báo cáo với Quốc hội. Đối với địa vị Hồng Kông, một nguyên tắc quan trọng là kiến nghị phân biệt đối xử giữa lợi ích của Hồng Kông và Trung Quốc. Trong đãi ngộ tối huệ quốc, hạn nghạch nhập khẩu, Hồng Kông đều có thể có địa vị độc lập. Chính sách Viễn Đông của nước Mỹ, xưa nay đều chọn thái độ hiện thực chủ nghĩa. Bây giờ chính là lợi dụng Hồng Kông làm bốt gác đầu cầu, thúc đẩy “diễn biến hoà bình” ở Trung Quốc. Trung tuần tháng 11 năm 1991, Quốc vụ khanh Plâykơ Mỹ đến thăm Trung Quốc. Sau 18 tiếng đàm phán, hai bên đã đạt được hiệp định trong một số vấn đề. Song vẫn còn bất đồng ở vấn đề lớn. Hai bên đều cho rằng, những bất đồng ấy sẽ được bàn bạc sau này. Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc đương nhiên là một quá trình lâu dài, một vài lần đàm phán không thể thay đổi cục diện. Trước khi thăm Trung .Quốc Plâykơ đã có bài đăng trên “Tạp chí Ngoại giao” nói rằng Mỹ sẽ thường xuyên tiếp xúc với Trung Quốc, mục đích cuối cùng là làm cho Trung Quốc “thay đổi lớn”. Mọi người đều biết rằng “thay đổi lớn” cũng chính là “diễn biến hoà bình”. Trong buổi họp báo với các nhà báo trong thời gian thăm Trung Quốc, Plâykơ nói rằng nội dung đàm phán giữa ông và Trung Quốc phạm vi rất rộng, bao gồm nhân quyền, mua bán vũ khí, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, bản quyền Hiệp định mậu dịch thuế quan, và “điều khoản 301” của Luật thương mại. Ông nói: Bởi vì mục tiêu của nước Mỹ rất lớn, nên một số vấn đề bất đồng lớn, còn phải đợi sau này bàn thêm”. Mỹ đã hứa thi hành ở Hồng Kông, một chế độ Tư bản trong vòng 50 năm, đương nhiên sẽ gắn toàn bộ điều đó với chính sách đối với Trung Quốc. Thực tế trước khi Mác-đô-nan đề xuất “dự án” với Quốc hội, Mỹ đã tích cực tiến hành chính sách khác nhau giữa lợi ích của Hồng Kông và Trung Quốc. Đồng thời bảo vệ lợi ích quốc tế của Mỹ ở Hồng Kông. Do Mỹ và Anh có quan hệ đặc biệt, sau đại chiến thế giới 2, qua nhiều năm làm ăn buôn bán, nước Mỹ đã có ảnh hưởng lớn đối với Hồng Kông trong các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, giáo dục và tuyên truyền dư luận. Ngày 7 tháng 5, Uỷ ban ngoại giao Thượng nghị viện Mỹ phê chuẩn “Nước Mỹ - chính sách Hồng Kông”. Dự án này yêu cầu nêu lên được “tình hình lợi ích của Mỹ ở Hồng Kông”. Nó còn nói rõ: Sau năm 1997 nước Mỹ sẽ tiếp tục giúp đỡ dân chủ hoá ở Hồng Kông, quá độ tuyên bố chủ quyền cần phải bảo vệ nhân quyền, v.v... Dự án này sau khi thông qua Quốc hội sẽ được tổng thống Bush ký vào ngày 05 tháng 10 năm 1992. Theo “Nước Mỹ chính sách Hồng Kông” thì sau năng 1997 sẽ coi Hồng Kông là một thực thể cá biệt để duy trì quan hệ độc lập giữa Mỹ và Hồng Kông. Do đó một số chuyên gia về những vấn đề châu Á đã lên tiếng cảnh cáo đối với hành động đó. Ngày 23 tháng 12 năm 1992 Clintơn tổng thống kế nhiệm của nước Mỹ trong một buổi họp báo nói: “Trung Quốc đã kiếm được lợi nhuận lớn từ trong buôn bán với Mỹ. Số thâm hụt thương mại của Mỹ đối với Trung Quốc đạt tới 15 tỷ Mỹ kim”. Ông ta cho rằng, đó là ân huệ của nước Mỹ ban cho một nước Cộng sản. Lời nói ấy của Clintơn, rõ ràng ông ta đang chuẩn bị gắn thương mại với chính trị. Nếu Trung Quốc tiếp tục có thị trường thương mại của Mỹ để thu được ngoại hối, thì phải điều chỉnh lại chính sách đối với nhân dân trong nước tiến tới đối với Hồng Kông. Những yêu cầu ấy của Clintơn phải chăng là những luận điệu cũ như “cải thiện nhân quyền” và “dân chủ hoá” v. v... . Trung Quốc là một nước có chủ quyền. Vấn đề chủ quyền trong nước và cải cách chế độ hành chính ở Hồng Kông đều là công việc nội bộ của Trung Quốc, không cho phép nước ngoài can thiệp. Clintơn chưa lên nắm chính quyền đã lộ rõ sự quan tâm của ông ta đến vấn đề này, đồng thời đã thể hiện sách lược gắn thương mại với chính trị không thể không tránh khỏi sự phản ứng mạnh mẽ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 05:56:57 pm Quốc vụ viện Mỹ giúp đỡ Bành Định Khang Trong khi Bành Định Khang bị thất ý, Mỹ lại đem đến cho ông ta một món quà, tờ “Hương Cảng liên hợp báo” ngày 02 tháng 4 năm 1993 viết: quốc vụ khanh và Trợ lý Quốc vụ khanh Mỹ tiếp tục ủng hộ phương án dân chủ hoá Hồng Kông của Bình Định Khang. Ngay hôm đó, Quốc vụ viện Mỹ gửi bản báo cáo ấy cho Chủ tịch Hạ nghị viện và Chủ tịch Uỷ ban ngoại giao Thượng nghị viện, nhắc lại sự ủng hộ của Mỹ đối với Bành Định Khang. Báo cáo của Quốc vụ viện Mỹ cho rằng, phương án cải cách của Bành Định Khang “nhất trí” với luật pháp cơ bản của Hồng Kông, không phải “không chắp nối” với phía Trung Quốc như đã nói báo cáo nêu rõ, Chính phủ Mỹ cho rằng, kiến nghị của Bành Định Khang có hoàn toàn “tính xây dựng”. Báo cáo đầu tiên chú ý đến lợi ích trọng yếu của Mỹ ở Hồng Kông và sự hợp tác có kết quả của hai bên, tiếp đó chỉ ra, gần đây ngành thương mại Mỹ cũng tham gia đầu vào công trình sân bay Hồng Kông và một số công trình khác. Báo cáo nói: Những thay đổi về chủ quyền của Hồng Kông từ nay về sau, cùng với nhiều sự kiện khác, đều có thể ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ ở Hồng Kông và quan hệ Mỹ - Hồng Kông. Báo cáo nêu ra vấn đề quan trọng của nước Mỹ bạo gồm “quá độ bình ổn” của Hồng Kông. Báo cáo nêu rõ: Từ khi Bành Định Khang đọc báo cáo vào tháng 10 năm 1992 nói rõ lập trường của ông ta đối với tiến trình dân chủ hoá Hồng Kông đến nay, Bắc Kinh không ngừng công kích Bành Định Khang và nước Anh. Nhưng Mỹ vẫn kiến nghị ủng hộ Bành Định Khang. Báo cáo nói: “Nước Mỹ tiếp tục ủng hộ, Mỹ nhiệt liệt ủng hộ nền dân chủ ở Hồng Kông, Mỹ cho rằng kiến nghị của Tổng đốc Bành Định Khang có tính xây dựng. Mỹ mong rằng các ngành hữu quan nên nghiên cứu kỹ và thảo luận kiến nghị này”. Cuối cùng báo cáo nói: nước Mỹ mong rằng nước Anh và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa nhanh chóng trở lại bàn đàm phán. Nước Mỹ cho rằng, bất cứ sự dàn xếp nào ngoài việc phải dựa vào sự giúp đỡ cho người Hồng Kông ra, cũng phải đặt cơ sở cho sự phát triển thêm một bước nữa cho chế độ dân chủ sau này của Hồng Kông. Trung - Anh trở lại bàn đàm phán Trước sự khiển trách của dư luận thế giới, dư luận trong nước Anh đã bắt đầu nôn nóng, cho rằng: “Hai nước Trung - Anh thực ra không có xung đột lợi ích cơ bản. Nước Anh nên thu lợi từ trong nền kinh tế cất cánh của Trung Quốc. Trước đêm lễ Phục sinh, tướng Héctơ gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Tiền Kỳ Tham, yêu cầu mở lại cuộc đàm phán bàn về vấn đề tuyển cử ở Hồng Kông năm 1994-1995. Ông ta không giữ lại chủ trương, chính quyền Hồng Kông phải là phía thứ 3 trong cuộc đàm phán mà chỉ đề xuất cuộc hội đàm nên tiến hành giữa đại biểu của hai Chính phủ. Thư của Hectơ nhanh chóng nhận được hồi âm tích cực. Trước ngày lên đường về nước nhận nhiệm vụ mới, Đại sứ Anh tại Trung Quốc Maizelin đã cùng với phía Trung Quốc đạt được sự hiểu biết lẫn nhau trước khi trở lại cuộc hội đàm. Cuộc đàm phán này được tiến hành ở cấp Đại sứ ngoại giao, có thể tránh được sự tiếp xúc khó xử giữa Lỗ Bình và Bành Định Khang. Ngày 14 tháng 4, Chính phủ hai nước Trung - Anh tuyên bố. Ngày 22 đại biểu hai bên bắt đầu cuộc hội đàm bàn về thể chế chính trị của Hồng Kông tại Bắc Kinh. Đó là một tin vui mà nhân dân Hồng Kông đã chờ đợi từ lâu. Cuộc đàm phán định tiến hành vào ngày 22 tháng 4, thì ngày 16 từ Bộ Ngoại giao Anh phát đi một tín hiệu cứng rắn, nói nước Anh sẽ giữ các thành viên Cục lập pháp trúng tuyển năm 1995, bao gồm các nhân sĩ tiến bộ. Đến năm 1997 khi Hồng Kông bàn giao cho Trung Quốc họ không thể giải chức. Trước ngày Hectơ nói những điều đó, phía Trung Quốc đã nghiêm khắc cảnh cáo, yêu cầu các ông nghị lập pháp muốn làm cái gọi là “tàu chạy thẳng”, chỉ là sự ảo tưởng mê muội của Luânđôn. Nước Anh còn tỏ rõ, phương án cải cách hành chính có sự tranh luận mà Bành Định Khang đề xuất sẽ là lập trường mà nước Anh cần phải lựa chọn ngay khi bắt đầu cuộc đàm phán. Đó là nỗ lực của nước Anh thể hiện rõ lập trường đàm phán cứng rắn của họ từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 4 năm 1993 vòng đàm phán thứ nhất của hai nước Trung - Anh về vấn đề Hồng Kông được tiến hành ở Bắc Kinh. Vòng đàm phán này, hai bên chỉ dùng hết 3 tiếng đồng hồ trong 3 ngày thì tuyên bố kết thúc hội nghị. Hai bên đều tránh nói đến bất cứ sự tiến triển nào. Maizelin nói với các nhà báo: “Chúng tôi đều đồng ý giữ bí mật nội dung hội đàm, cho nên tôi không đưa ra bình luận gì. Điều quan trọng là chúng tôi đang đàm phán”. Cuộc đàm phán sẽ còn tiếp tục, hai bên đều phải báo cáo lên cấp trên và chờ chỉ thị. Vòng đàm phán thứ hai chỉ kéo dài hai ngày. Thời gian đàm phán của mỗi ngày là 4 tiếng. Nhìn từ nhiều khía cạnh, tiến triển tốt hơn vòng trước. Trước khi vào hội nghị, để các nhà báo chụp ảnh ghi hình 6 phút. Sự “hàn huyên” và “ngôn ngữ” của hai bên đều tỏ ra tốt đẹp. Maizelin nói với Khương Âu Trụ: “Trận mưa đêm qua ở Bắc Kinh là một điềm báo trước sự tốt đẹp”. Khương Âu Trụ tỏ vẻ tán thành. Đại biểu hai bên đều thoải mái mỉm cười dưới ống kính của các nhà báo. Sau khi hội nghị kết thúc Khương Âu Trụ nói các nhà báo “Cuộc đàm phán đang được tiến hành bình thường, hy vọng cuộc hội đàm sẽ thu được kết quả tích cực hai bên đã khôi phục sự hợp tác mật thiết trong vấn đề Hồng Kông”. Malzelin rất tán thành với nhận định ấy. Đương nhiên, đó không có nghĩa là cuộc hội đàm không có khó khăn, không có bất đồng, không có tranh chấp. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 05:58:08 pm Bành Định Khang thăm Mỹ Trong một loạt cuộc tranh luận, cuối cùng Bành Định Khang đã lên đường thăm Mỹ và ngày 3 tháng 5 năm 1993 đã được Clintơn tiếp kiến. Các nhà phân tích chính trị phương Tây cho rằng, Bành Định Khang đi phương Tây lần này để tranh thủ kéo dài đãi ngộ tối huệ quốc cho Trung Quốc; tranh thủ sự ủng hộ của Clintơn đối với phương án cải cách hành chính của ông ta. Trước hết nói về tranh thủ Mỹ tiếp tục đãi ngộ tối huệ quốc đối với Trung Quốc với tư cách là một Tổng đốc, Bành Định Khang bản thân khó có tác dụng trong việc hoà giải giữa hai nước lớn Trung-Mỹ. Thái độ của Clintơn đối với vấn đề đó là: “Đây là một vấn đề rất phức tạp”, “Hiện nay cách lập pháp hữu quan vẫn còn 1 tháng, chưa thể đưa ra quyết định cuối cùng”. Sau đó Bành Định Khang cũng thừa nhận từ trong cuộc nói chuyện với Clintơn chưa thể dự đoán được nước Mỹ sẽ chọn quyết sách nào trong vấn đề đãi ngộ tối huệ quốc với Trung Hoa. Các nhân sĩ giới thương mại Mỹ chỉ rõ, về vấn đề này, ảnh hưởng của Bành Định Khang với Clintơn không đáng kể. Sự suy nghĩ cơ bản về quyết sách của Clintơn còn là quan hệ chiến lược toàn cầu Mỹ - Trung là lợi ích kinh tế chính trị của nước Mỹ cùng với tiềm lực phát triển và thị trường to lớn của Trung Quốc. Về chế độ chính trị Hồng Kông, trên thực chất là mấu chốt chuyến thăm Mỹ của họ Bành. “Chơi con bài Mỹ để ép Bắc Kinh” đã từng là sự tính toán béo bở của một số quan chức cao cấp chính quyền Hồng Kông. Điều đáng chú ý là trước cuộc hội ngộ Clintơn và Bành, thì Clintơn và người phát ngôn của Nhà Trắng chỉ nói chuyện về quan hệ Trung-Mỹ. Clintơn nói: Tôi mong muốn Mỹ và Trung Quốc “giữ quan hệ tốt đẹp với mức độ lớn nhất”. Và nói rõ “Tôi không có ý cô lập Trung Quốc”. Ông nói, ông cảm thấy được khích lệ đối với cải cách kinh tế của Trung Quốc. Nhưng cho rằng đồng thời phải có “hành vi trách nhiệm, tôn trọng nhân quyền và chiều hướng phát triển dân chủ”. Ông lưu ý trong thời gian qua Trung Quốc có sự phát triển đáng khích lệ trong nhiều mặt. Ông lại nói: “Tôi vẫn cho rằng cần phải làm thật nhiều, và cũng mong muốn như thế”. Các nhà lý luận chính trị phương Tây còn chỉ ra, Clintơn đã đặc biệt chú ý trong giờ phút này nhắc lại chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Đồng thời cho người phát ngôn của mình thuật lại tỉ mỉ, mong muốn để cho Bắc Kinh có ấn tượng rằng nhà đương cục Mỹ đã đứng cùng chiến tuyến với Bành Định Khang, và cũng ám chỉ cuộc du thuyết của Bành Định Khang quyết không đủ để ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Clintơn đã nói khi được các nhà báo chất vấn và ý kiến của mình đối với phương án cải cách hành chính của Bành Định Khang. Ông ủng hộ Hồng Kông thúc đẩy dân chủ. Nhưng ông mong muốn kiến nghị của Bành Định Khang không thể có lỗi với bất cứ người nào, ông lại nói: Hồng Kông có dân chủ càng nhiều là rất tốt, mà Trung - Anh bắt đầu hội đàm cũng là một sự kiện tốt. Ông cho rằng, sau năm 1997 Hồng Kông vẫn tiếp tục giữ vững mở rộng tự do, sẽ rất cho lợi ích của Trung Quốc. Các nhà phân tích cho rằng, câu nói của Clintơn đáng được chú nhất không phải là ý kiến của ông ta đối với nguyên tắc dân chủ, mà là ông ta hết sức cẩn thận, vô cùng rõ ràng né tránh bất cứ câu chữ nào khi bình luận đến phương án của Bành gây nên sự phản ứng mạnh mẽ của Bắc Kinh. Họ chỉ ra, lập trường của Mỹ đối với vấn đề Hồng Kông đến nay vẫn là “Chấp hành tuyên bố chung Trung- Anh là vấn đề của hai nước Trung - Anh. Mỹ cũng như các quốc gia khác luôn quan tâm và hy vọng vấn đề này có thể được giải quyết trọn vẹn. Bành Định Khang tuyên bố chuyến thăm Mỹ đã đạt được mục tiêu Tối ngày 9 tháng 5 năm 1993, Bành Định Khang từ Niuoóc trở về Hồng Kông, ông nhắc lại với các nhà báo ở sân bay rằng chuyến đi Mỹ vừa mới kết thúc là có tác dụng và có hiệu quả. Bành Định Khang nói, ông rất phấn khởi được gặp các nghị sĩ Quốc hội, các nhân sĩ giới thương mại cùng rất nhiều nhân sĩ trực tiếp quan tâm đến công việc Mỹ - Trung và Mỹ - Hồng Kông ở Oasinhtơn và Niuoóc, để ông có cơ hội nói rõ thêm lập trường trong thương mại của Hồng Kông, nhất là giải thích lập trường trong vấn đề có thể tiếp tục kéo dài đãi ngộ tối huệ quốc đối với Trung Quốc không. Ông nêu ra một điểm rất quan trọng là thường xuyên đưa tình hình của Hồng Kông sang Oasinhtơn và Niuoóc. Đó cũng là công việc mà ông ta sẽ phải làm sau này. Bành Định Khang nêu ra, trong nhiều ngày qua và nhiều tuần là sau này, khi nước Mỹ xem xét chính sách đối với Trung Quốc sẽ nghiên cứu đến lập trường của Hồng Kông. Và nếu sau này không tiếp tục đãi ngộ tối huệ quốc với Trung Quốc, thì sẽ ảnh hưởng đến Hồng Kông. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 05:59:45 pm Không thể chờ đợi đành tỏ rõ lập trường Theo thời hạn “97” đã đến gần, Chính phủ Mỹ ra tay điều chỉnh lại chính sách đối với Hồng Kông. Từ trên hình thái ngoại giao, quân sự và ý thức đều được coi trọng. Mượn danh nghĩa bảo vệ lợi ích kinh tế của Hồng Kông Mỹ càng nhúng tay thô bạo vào vấn đề Hồng Kông. Xưa nay thái độ của Mỹ tương đối thận trọng với vấn đề Hồng Kông. Nói về báo chí Hồng Kông, Mỹ chỉ đóng vai “người quan sát hứng thú”, luôn chọn chính sách né tránh đối với cử chỉ và chính sách đối với giải quyết vấn đề Hồng Kông và các loại tranh chấp Trung- Anh. Nhưng, các chính trị gia ở Hồng Kông đã nhạy cảm nhận thấy, lập trường ấy của Mỹ từ sau đầu năm 1995 đã có thay đổi rõ ràng. Đặc điểm chủ yếu của nó là từ im lặng sang luận bàn, cho thấy họ lo lắng về tiến độ của Hồng Kông ... Tháng 3 năm 1995, chính quyền Clintơn thành lập một tổ chuyên môn phụ trách xử lý vấn đề Hồng Kông. Quốc vụ viện Mỹ quyết định tháng 3 năm 1996 sẽ công bố báo cáo định kỳ về vấn đề Hồng Kông nửa năm một lần sớm hơn trước kia. Một chuyên gia Mỹ nói, từ năm 1995 trở lại, chính sách của Mỹ đối với Hồng Kông “trên cơ bản từ chỗ không nhúng tay chuyển sang nghiêng về nhằm trúng những vấn đề có khả năng xuất hiện”, “Trên mức độ lớn, Mỹ chuẩn bị ủng hộ dân chủ, đồng thời phê bình người Trung Quốc không thực hiện lời hứa của họ”. Nghe nói, Chính phủ Mỹ đang xem xét nên chọn chính sách nào trước năm 1997. Có người nhấn mạnh: “Hồng Kông phải chiếm địa vị quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ”. Theo quan chức Mỹ ở Hồng Kông tiết lộ, Hạ nghị viện Mỹ đang dùng sức ép với Chính phủ, ép họ phải tăng cường ảnh hưởng và tác dụng trong vấn đề Hồng Kông. Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Hồng Kông Milơ nói: Sau “97”, chế độ chính trị tự trị, pháp trị và dân chủ v:v... “không thể bị ảnh hưởng và nhấn mạnh “Chính phủ Mỹ đang quan tâm chặt chẽ đến tất cả sự phát triển của các mặt”. Ông ta còn công bố “Nước Mỹ sẽ tiếp tục giúp đỡ Hồng Kông tham gia các tổ chức quốc tế và ủng hộ các hiệp nghị song phương”. Vì vậy, “cần phải cho phép Hồng Kông sau năm 1997 vẫn giữ được nền tự trị chân chính”. “Người lãnh đạo và cơ cấu của Hồng Kông cần phải tự đưa ra quyết định”. Tại sao Mỹ phá vỡ sự im lặng trong vấn đề Hồng Kông và không thể chờ đợi đành tỏ rõ lập trường và thái độ của họ. Hội trưởng Hội thượng mại Mỹ tại Hồng Kông Tô-mát đã nói thẳng: “Chỉ còn hơn 800 ngày, tốt nhất là bây giờ phải nói... nếu không sẽ muộn”. Hạ nghị viện Mỹ yêu cầu Chính phủ “giám sát” tình hình Hồng Kông Tháng 6 năm 1996, Hạ nghị viện Mỹ đã thông qua một dự thảo điều lệ, quy định Tổng thống Clintơn phải tăng cường giám sát những việc làm của Trung Quốc đối với Hồng Kông trước thời kỳ quá độ của Hồng Kông, để có những tài liệu chính xác cho Quốc hội khi cần thiết sẽ xem xét trừng phạt Trung Quốc, bảo vệ quyền lợi của Hồng công. Bản dự thảo này quy định Chính phủ Mỹ đặc biệt chú ý tình hình chính trị ở Hồng Kông, và mỗi năm báo cáo trước Quốc hội một lần. Nội dung của bản dự thảo dựa trên chính sách của Mỹ với Hồng Kông năm 1992, làm cho Chính phủ Mỹ phải cố gắng thúc đẩy nền tự chủ, tự do. pháp trị và tự trị chính đáng của Hồng Kông sau năng 1997. Theo quy định của dự thảo thì Tổng thống Clintơn phải nộp báo cáo trước Quốc hội vào cuối tháng 3 - 1997. Sự sắp xếp này, sẽ tạo cho Quốc hội nắm được đầy đủ tư liệu để hoạch định chính sách đối với Trung Quốc và Hồng Kông, bao gồm khi cần thiết Quốc hội sẽ đưa ra sự trừng phạt để bảo đảm nền “tự do tự trị” của Hồng Kông sau khi chuyển giao cho Trung Quốc vào năm 1997. Quan chức ngoại giao đóng ở Hồng Kông hoạt động gián điệp Điều đáng chú ý là, xung quanh vấn đề Hồng Kông, Mỹ còn phối hợp hoạt động quân sự. Báo chí Hồng Kông miêu tả: “Hạm đội 7 của Mỹ gần đây thường xuyên xuất hiện ở bến cảng Hồng Kông; thông thường phía sau hàng không mẫu hạm còn có hàng loạt tầu nhỏ hoạt động. Có khi còn nhìn thấy tầu ngầm Mỹ rẽ sóng cuồn cuộn chạy trong hải phận Hồng Kông. Sáng ngày 29 tháng 7 năm 1995, Giôn Trần - thượng tá sĩ quan liên lạc không quân và Fluaji thượng uý sĩ quan liên lạc trợ lý không quân của Lãnh sự quán Mỹ đóng ở Hồng Kông, không quản cái nắng gay gắt của miền nam Phúc Kiến, đã tới gần khu quân sự của Giải phóng quân ở ngoại thành thị trấn Chương Châu Phúc Kiến. 10 giờ 4 phút hôm đó 2 sĩ quan trên đang chụp ảnh thì bị các chiến sĩ Giải phóng quân phát hiện bắt giữ. Sau khi xem xét, lập tức tiến hành thẩm vấn. Thượng tá Giôn Trần và thượng uý Fluaji khai họ vào Trung Quốc ngày 23 tháng 7. Lúc đó là thời gian TrungQuốc đang diễn tập phóng tên lửa ở hải vực Đông Hải. Nơi họ tới lại là địa phận duyên hải Phúc Kiến nơi tên lửa sẽ trực tiếp rơi xuống. Đương nhiên người ta cho rằng họ đến để do thám diễn tập của Giải phóng quân. Khoa học kỹ thuật hiện nay rất tiến bộ. Nhưng, vệ tinh nhân tạo không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn nhân viên gián điệp. Nên thông thường phải có người đến thực địa kiểm tra, để kiểm nghiệm chính xác những tài liệu đã được vệ tinh thu thập. Hai nhân viên sĩ quan Mỹ biết rất rõ nhiệm vụ đặc biệt này. Sáng ngày 3 tháng 8 năm 1995, Bộ An toàn quốc gia Trung Quốc đã trục xuất hai người Mỹ ra khỏi cửa biển Hạ Môn. Sự kiện gián điệp Mỹ bị bắt lần này đúng vào lúc quan hệ Trung - Mỹ rơi vào tình trạng thoái trào nhất sau 16 năm thiết lập ngoại giao, đã gây nên sự chú ý rộng lớn. Các quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ xử lý êm nhẹ việc này. Người phát ngôn Nhà Trắng không thừa nhận cũng không phủ nhận hoạt động gián điệp của hai sĩ quan Mỹ, cũng không có ý sẽ trục xuất nhân viên quân sự Đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ để trả thù. Theo người phát ngôn Lầu Năm Góc trong cuộc họp báo ngày 03 tháng 8 năm 1995 là: Hai sĩ quan quân sự Mỹ đang hoạt động quân sự quan sát Trung Quốc, và báo cáo về đất nước mình. Theo tiết lộ, hai viên sĩ quan không quân Mỹ khi bị bắt vận thường phục, đang đi xe đạp, máy ảnh bỏ trong ba lô sau lưng. Nhưng Quốc vù khanh Mỹ lại cho rằng vì chuyện đó, ông ta không còn bất cứ lý do nào để liên hệ lại với Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 06:01:53 pm PHẦN 5 DỰ ĐỊNH XÂY DỰNG KHU HÀNH CHÍNH ĐẶC BIỆT Mời bốn lượt cố vấn về công việc Hồng Kông Điều thứ 3 trong Thông cáo chung Trung - Anh năm 1984 tuyên bố. “Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng thời xem xét tình hình lịch sử và hiện thực của Hồng Kông, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định khi khôi phục. chủ quyền đối với Hồng Kông, căn cứ vào quy định của điều 31 Hiến pháp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thiết lập Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông”. Ngày 4 tháng 4 năm 1990, kỳ họp thứ 3 Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khoá 7 thông qua “Quyết định của đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về việc thiết lập Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông”. Quyết định thiết lập Khu hành chính đặc biệt có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 1997, khu vực Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông gồm Đảo Hồng Kông, Cửu Long, ba khu “Tân giới” cùng những đảo to nhỏ và hải vực phụ cận đang quản lý. Nghị quyết Đại hội quyết định trong năm 1996, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc sẽ thiết lập Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông, phụ trách trù bị sắp xếp những công việc có liên quan để thành lập Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. Trước khi bắt tay chuẩn bị thành lập Khu hành chính đặc biệt, để thu thập rộng rãi những ý kiến và kiến nghị của người Hồng Kông, Chính phủ Trung Quốc quyết định mời văn phòng Quốc vụ viện Hồng Kông, Ma Cao và Tân Hoa xã tại Hồng Kông làm cố vấn về công việc Hồng Kông. Khi mời cố vấn về những công việc Hồng Kông, Chính phủ Trung Quốc giới định rõ ràng với tính chất tư vấn phi tổ chức, chứng tỏ phía Trung Quốc nghiêm khắc tuân thủ Tuyên bố chung Trung - Anh và sự hợp tác ủng hộ đối với Chính phủ Anh đối với việc thực thi có hiệu quả chế độ quản lý của Hồng Kông. Những người được mời làm cố vấn công việc Hồng Kông, đều là những nhân sĩ đã từng cống hiến cho sự phồn vinh và ổn định của Hồng Kông, đồng thời có tiếng nói và ảnh hưởng nhất định. Họ có sự hiểu biết sâu sắc về công việc Hồng Kông, có thể đưa ra được nhiều ý kiến tư vấn tốt cho thời kỳ quá độ ở Hồng Kông. Tháng 3 năm 1992, có 44 người được mời làm cố vấn. Sau đó, tháng 5 năm 1994, mời đợt 3 là 49 người. Tháng 4 năm 1995, mời đợt 4 là 45 người. Những cố vấn sau khi được mời đã bằng nhiệt tình yêu nước cao độ, đề xuất rất nhiều ý kiến và kiến nghị đối với những vấn đề quan trọng của thời kỳ quá độ và sự thuận lợi chuyển giao chính quyền bình ổn năm 1997 của Hồng Kông; trong đó có rất nhiều ý kiến được phía Trung Quốc tiếp nhận, có tác dụng rất tốt để phía Trung Quốc xử lý tốt một loạt công việc thời kỳ quá độ của Hồng Kông sau này. Thành lập Uỷ ban trù bị Ngày ký kết Hồng Kông trở về đã gần đến. Để thực hiện quá độ ổn định và chuyển giao chính quyền thuận lợi của Hồng Kông, sẽ có rất nhiều công việc chuẩn bị cụ thể và phức tạp phải hoàn thành. Vì vậy, trước khi chính thức thành lập Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông, năm 1996 sẽ thành lập cơ quan công tác chuyên môn dưới Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, vô cùng bức thiết và khẩn cấp. Các nhân sĩ các ngành trong xã hội Hồng Kông cũng đều kiến nghị sớm thiết lập một cơ quan như thế. Uỷ viên Uỷ ban trù bị gồm 57 người, trong đó 30 uỷ viên là người Hồng Kông, chiếm hơn 1/2, do Phó Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Tiền Kỳ Tham làm Chủ nhiệm; An Tử Giới, Hoắc Anh Đông, Lỗ Bình, Chu Nam, Khương Ân Trụ, Trịnh Nghĩa, Lý Phúc Thiện làm phó chủ nhiệm; thư ký trưởng do Lỗ Bình kiêm nhiệm, Trần Văn Tuấn, Trần Tử Anh làm phó thư ký. Ngày 12 tháng 5 năm 1994, hội nghị lần thứ 7 Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 8 quyết định bổ sung thêm 13 uỷ viên Uỷ ban trù bị. Chức trách công tác của Uỷ ban trù bị là: 1/ Đề xuất ý kiến về những công việc hữu quan của uỷ viên Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. 2/ Nghiên cứu và nếu kiến nghị về quyền khoá 1 và những biện pháp phát sinh cụ thể của Hội lập pháp Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. 3/ Nghiên cứu tăng cường mở rộng và tuyên truyền cho luật pháp cơ bản của Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. 4/ Đề xuất ý kiến xử lý đối với những điều khoản có sự động chạm giữa luật pháp hiện hành của Hồng Kông với luật pháp cơ bản của Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. 5/ Nghiên cứu và đề xuất ý kiến về việc vượt qua năm 1997, có thể phát sinh những sự kiện to lớn ảnh hưởng đến lợi ích của Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. 6/ Nghiên cứu và đề xuất ý kiến về việc Trung Quốc khôi phục chủ quyền thực hiện những công việc khác có liên quan đến quá độ bình ổn của Hồng Kông. Để thực hiện chức trách trên, Uỷ ban trù bị quyết định thiết lập 5 tổ chuyên đề chính vụ, kinh tế, pháp luật, văn hoá, xã hội và an ninh, các chuyên đề tiến hành nghiên cứu có hệ thống và toàn diện ... Nhà đương cục Anh tại Hồng Kông không thừa nhận hợp tác với Uỷ ban trù bị, gây nhiều trở ngại cho công tác của Uỷ ban trù bị. Uỷ ban trù bị giương cao ngọn cờ yêu nước, đoàn kết quảng đại đồng bào Hồng Kông, nghiêm chỉnh làm việc theo Tuyên bố chung Trung-Anh và luật pháp cơ bản của Hồng Kông, làm công tác chuẩn bị lớn trước khi thành lập Uỷ ban. Trong vòng 2 năm rưỡi, sau khi thành lập Uỷ ban trù bị, 6 hội nghị đã được triệu tập tại Bắc Kinh; 5 tổ chuyên đề đã triệu tập 89 cuộc họp. Các uỷ viên ở Hồng Kông và Đại lục đã hợp tác chặt chẽ. Trên cơ sở trưng cầu rộng rãi ý kiến của các ngành hữu quan ở Hồng Kông và nội địa đã đề xuất 46 ý kiến và kiến nghị tương đối hệ thống bằng văn bản về xây dựng chính quyền, phát triển kinh tế văn hoá và dân chủ, v.v... Có một số đã thành văn kiện chính thức, từ đó mà hình thành một khuôn mẫu hoàn chỉnh cho khu đặc biệt tương lai, làm cơ sở tốt cho việc chính thức thành lập Uỷ ban trù bị. Có được thời gian quí báu bảo đảm quá độ bình ổn của Hồng Kông năm 1997. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Mười, 2008, 06:02:45 pm Uỷ ban trù bị bắt đầu vận hành Trong Hội nghị toàn thể lần thứ 5 của Uỷ ban trù bị họp ngày 24 tháng 6 năm 1995 đã thông qua “Kiến nghị về việc thành lập Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông” sẽ thành lập vào tháng 01 năm 1996. Số người trong Uỷ ban từ 120 đến 150 người. Trong đó các uỷ viên Hồng Kông chiếm 50% trở lên. Uỷ ban trù bị đặt ở Bắc Kinh, đồng thời đặt trụ sở cơ quan làm việc ở Bắc Kinh và Hồng Kông. Qua nhiều lần nghiên cứu và hiệp thương, Hội nghị uỷ viên trưởng Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã đưa ra dự kiến danh sách 150 nhân viên của Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông để trình lên Hội nghị lần thứ 17 Uỷ ban thường vụ Quốc hội họp tại Bắc Kinh ngày 28 tháng 12 năm 1995. Hội nghị đã thảo luận và thông qua danh sách đó. Tiền Kỳ Tham giữ chức chủ nhiệm Uỷ ban. Trong 150 thành viên, có 56 uỷ viên Đại lục chiếng 37%, 94 người ở Hồng Kông chiếm 63%. Các uỷ viên được tuyển chọn ở Đại lục chủ yếu là những người phụ trách các ngành ở Trung ương và địa phương cùng các chuyên gia có liên quan tương đối nhiều đến công việc của Hồng Kông. 94 uỷ viên Hồng Kông đều là những cư dân lâu đời ở đó. Trong đó, giới công thương có 34 người, gồm những đại biểu nổi tiếng trong giới công thương nghiệp. Giới chuyên nghiệp có 33 người, gồm hiệu trưởng của 5 trường đại học Hồng Kông và các nhân sĩ trí thức chuyên nghiệp nổi tiếng. Ngày 26 tháng 01 năm 1996, Uỷ ban chính thức thành lập và triệu tập Hội nghị toàn thể lần thứ nhất. Hội nghị thảo luận thông qua quy tắc công tác của Uỷ ban trù bị. Trong thời gian hội nghị còn triệu tập Hội nghị chủ nhiệm, quyết định tuyển chọn 6 tổ chức triển khai công việc gồm trưởng hành chính, tổ lập pháp lâm thời, tổ pháp luật, tổ hoạt động khánh chúc v.v... Đồng thời xác định lựa chọn người thành lập các tổ đó. Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông là một cơ quan công tác, cũng là một cơ quan quyền lực tối cao toàn quốc. Nó không giống như Uỷ ban trù bị, nhưng lại có sự tiếp nối công việc của Uỷ ban dự bị. Ngày 28 tháng 01 năm 1996 việc xây dựng cơ sở quân đội đóng ở Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông do Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cử đến đã hoàn thành. Quân đội đóng ở Hồng Kông gồm có hải, lục, không quân, thuộc sự lãnh đạo của Uỷ ban quân sự Trung ương Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. 0 giờ ngày 01 tháng 7 năm 1997 đơn vị quân đội này sẽ chính thức tiến vào Hồng Kông gánh vác nhiệm vụ bảo vệ Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. Từ ngày 23 đến 24 tháng 3 năm 1996 Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông đã mở hội nghị lần thứ 2 tại Bắc Kinh, thảo luận và thông qua “Quyết định thành lập Hội lập pháp lâm thời Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông”, “Quyết định sắp xếp những ngày nghỉ của công chúng Hồng Kông nửa năm cuối 1997 và cả năm 1998”, “Quyết định Uỷ ban hoạt động của các ngành giới Hồng Kông mừng Hồng Kông trở về với Tổ quốc”, “Kiến nghị giải thích việc thực thi Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông (theo luật quốc tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa )”. Ngày 24, 25 tháng 5 năm 1996, Hội nghị toàn thể lần thứ 3 Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông được tiến hành tại thành phố Chu Hải tỉnh Quảng Đông. Hội nghị đã thông qua 3 quyết định: “Quyết nghị nguyên tắc suy nghĩ về những biện pháp phát sinh khi lựa chọn uỷ viên Uỷ ban”. “Quyết nghị lập bia kỷ niệm Hồng Kông trở về với Tổ Quốc”, “Quyết nghị về vấn đề sách giáo khoa”. Ngày 9, 10 tháng 8 năm 1996, Hội nghị lần thứ 4 của Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông họp tại Bắc Kinh. Hội nghị đã thông qua “Những biện pháp phát sinh cụ thể của việc lựa chọn các uỷ viên chính quyền khoá một Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”. “Những biện pháp tạm thời sử dụng cờ, huy hiệu của Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 14 tháng 10 năm 1996, Hội nghị báo cáo công tác tuyển chọn uỷ viên chính quyền 1 khoá 1 khu hành chính đặc biệt Hồng Kông tiến hành tại Hồng Kông. Ngày 04 - 05 tháng 10 năm 1996, Hội nghị toàn thể lần thứ 5 Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông họp tại Bắc Kinh. Hội nghị thông qua “Những biện pháp phát sinh của hội lập pháp lâm thời Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” và “Những biện pháp phát sinh của việc tuyển chọn những quan chức đứng đầu nhiệm kỳ 1 Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”. Ngày 01-02 tháng 11 năm 1996, Hội nghị toàn thể lần thứ 5 Uỷ ban trù bị Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông họp tại Bắc Kinh, Hội nghị Uỷ viên chủ nhiệm cũng được triệu tập trong thời gian họp, thông qua “Quyết định thiết lập tổ phát sinh biện pháp của Hội lập pháp khoá 1 Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông”, “Danh sách những người được chọn đứng đầu hành chính nhiệm kỳ 1 Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông” và “Quyết định về những công việc hữu quan, những biện pháp tuyển chọn người đứng đầu cơ quan Khu hành chính đặc Hồng Kông”. Theo sắp xếp của Uỷ ban trù bị, ngày 11 tháng 12 đã bầu ra những quan chức đứng đầu cơ quan hành chính Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông, Ngày 21 tháng 12 bầu ra uỷ viên Uỷ ban lập pháp lâm thời Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông. Giờ đây Hồng Kông trở về với Tổ quốc, lại bước vào một giai đoạn lịch sử mới. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:18:31 pm Chương 21 KHỐNG CHẾ TRUNG QUỐC, THỂ CHẾ TẤM LÁ CHẮN AN TOÀN NHẬT-MỸ. SÓNG DỮ ĐẢO ĐIẾU NGƯ LẠI NỔI LÊN, NGƯỜI TRUNG QUỐC CĂM THÙ KẺ ĐỊCH PHẦN 1 TĂNG CƯỜNG ĐỒNG MINH MỸ - NHẬT Những thay đổi mới về thể chế an ninh Nhật - Mỹ Những người quan tâm đến vấn đề Nhật-Mỹ đều biết rằng, Nhật Bản sau chiến tranh là “thành luỹ ngăn ngừa Cộng sản” của mặt trận phương Tây. Sự thành lập thể chế tấm lá chắn an toàn Nhật-Mỹ, làm cho Nhật tích cực tham gia chiến lược chống Liên Xô của Mỹ (Đặc biệt là chiến lược hạt nhân chống Liên Xô ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương). Bước vào năm 1980, khi Liên Xô tiến vào Nam Châu Á từng tấc đất một, thì thể chế an toàn ấy đã bắt đầu thay đổi. Một hiện tượng kỳ lạ là, cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, “Luận thuyết răn đe Liên Xô” cũng tiêu tan, thay vào đó là “luận thuyết răng đe Trung Quốc” và “luận thuyết răn đe Triều Tiên”. Căn cứ của phòng vệ Nhật Bản cũng vì thế mà phát triển quân sự. Quan hệ đồng minh quân sự Mỹ-Nhật được tăng cường. Quân sự hoá nước lớn, luận thuyết răn đe Trung Quốc (hoặc Triều Tiên) vô cùng ngang ngược, có thể nói là “ba ngôi một thể” để thúc đẩy chính trị, ngoại giao quốc tế của Nhật Bản trong những năm 90 phát triển. Nhưng động lực này không phải là động lực hoà bình. Rất dễ thấy Nhật Bản sau này có thể chiến đấu giỏi, nhưng đầy tính nguy hiểm. Chúng ta cùng lưu ý đến phái Diều hâu ra sức ca ngợi “thuyết tăng cường phòng vệ tự chủ”. Một số lãnh tụ chính giới Nhật còn mang tư tưởng “Clintơn Mỹ”, tức là Nhật không thể cứ chỉ đâu đánh đấy, tất nhiên chẳng sớm thì muộn sẽ ngang bằng phải lứa với chú Sam, thậm chí còn nói thẳng ra rằng, không cần khách khí với Mỹ. Càng không thể nghĩ tới là Nhật Bản đã có Fluton nhiên liệu hạt nhân vượt qua mức cho phép. Từ đó mà có thể sử dụng nguyên liệu ấy để chế tạo đầu đạn hạt nhân. Tháng 02 năm 1995, Mỹ công bố chiến tranh thế giới mới. Trọng điểm là các siêu cường vẫn tiếp tục duy trì căn cứ quân sự và số binh lính đã được bố trí ở các nơi trên thế giới. Các tài liệu cho thấy Mỹ đứng đầu về số nhân viên quân sự đóng ở Đức, đạt tới 10,32 vạn người, sau đó là Nhật (4,48 vạn người), Hàn Quốc (3,625 vạn người) Anh (1,455 vạn người), Ý 1,26 vạn người) ... Từ đó có thể thấy rõ, với chú Sam, thì tính chất quan trọng của căn cứ quân sự Nhật Bản được xếp số 1 hoặc 2, không thể thiếu. Trọng điểm 2 về chiến lược thế giới mới của Mỹ là yêu cầu Nhật và các đồng minh khác tăng cường lực lượng quân sự và gánh vác kinh phí lưu trú cho quân đội Mỹ. Gần đây nhân dân Nhật oán trách, dự toán cho phúc lợi của người già không ngừng giảm bớt, dự toán cho quân đội Mỹ đóng ở Nhật lại liên tục tăng lên. Đối Nhật không công bằng. Cuối năm 1995 trong cuộc bầu cử thủ lĩnh của đảng cầm quyền, phái Diều hâu đã đánh bại phái khiêu chiến. Điều đó chứng tỏ Nhật sẽ tích cực “cống hiến quân sự” trên toàn cầu và khu vực. Trong một bài báo đăng ngày 05 tháng 01 năm 1996 của tờ “Báo liên hợp buổi sớm” Singapo viết: “Nhật Bản sau này sẽ trở thành một đất nước quân sự hoàn toàn xa cách với ý nguyện của nhân dân Châu Á. Đương nhiên, quan hệ an ninh Nhật - Mỹ lúc đó sẽ có một định nghĩa mới”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:20:00 pm Mục đích thể chế an ninh Nhật-Mỹ Quả không ngoài dự đoán, ngày 17-4-1996 sau khi mật đàm giữa cơ quan đầu não, Mỹ-Nhật đã ký “Tuyên ngôn tấm lá chắn an ninh Nhật-Mỹ”. “Tuyên ngôn” ấy đặt ra một định nghĩa mới đối với “Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật”. Chuyển trọng điểm từ bảo vệ an toàn của Nhật Bản mở rộng thành giữ gìn sự an toàn của Nam Á Thái Bình Dương, thậm chí bao gồm cả Đông Nam Á. Mặc dù Nhật đã cố gắng phân biệt việc đó nhưng các quan chức Chính phủ đều muốn chí ít cũng phải kéo đến vành đai Philippin. Đối với tuyên ngôn chung, khi Đông Nam Á phát sinh vấn đề thì đội tự vệ Nhật Bản sẽ phối hợp hành động quân sự với quân Mỹ. Cục pháp chế nội các Nhật Bản chỉ rõ: “Đây thuộc về quyền tự vệ tập đoàn, không thể thừa nhận”. Nói về đội tự vệ chủ trương liên minh quân sự với Mỹ, một giáo sư của một trường đại học nói: “Nói quyền tự vệ tập đoàn vi phạm điều 9 của hiến pháp, là vì trong điều 9 ghi rõ: Không sử dụng sức mạnh quân sự làm thủ đoạn giải quyết tranh chấp quốc tế. Chúng tôi phản đối quyền tự vệ tập đoàn. Phái ủng hộ Hiến pháp của Nhật Bản, phản đối Nhật Bản kết thành đồng minh quân sự với nước ngoài. Nhưng đội tự vệ là một bộ phận chính đảng (Như Đảng Tân tiến) lại cho rằng “20 năm sau Trung Quốc trở thành một nhân tố bất ổn định lớn của Châu Á. Cho nên từ bây giờ trở đi phải kề vai sát cánh với Mỹ để giữ sức mạnh cân bằng với Trung Quốc”. Phòng phòng vệ muốn xây dựng quân sự ngày càng mạnh đã cường điệu lên rằng “Trung Quốc là mối de doạ đang tiềm ẩn” để tìm lý do cho liên minh quân sự Nhật-Mỹ. Một giáo sư trường Đại học Phòng vệ Nhật Bản nói: “Quyền tự vệ tập đoàn sớm được hình thành ở Nhật, do Hiến chương Liên hợp Quốc mang lại. Những quy định trước kia bây giờ không thể thay đổi không tránh khỏi quá cứng nhắc”. Ngày nay không có quyền tự vệ tập đoàn, tấm lá chắn an toàn Nhật Bản cũng không thể nói đến”. Ông còn so sánh: “Một bé gái 10 tuổi thề thốt với bé trai rằng sau này nhất định sẽ không lấy chồng. Nhưng khi cô ta đã 25 tuổi, biết đâu cô ta lại muốn lấy chồng”. Nhưng sửa đổi Hiến pháp không thể thành hiện thực. Do đó ông chủ trương giải thích điều thứ 9 của Hiến pháp để cơ quan đầu não của Nhật Bản có quyền quyết định lớn hơn, mà sau sự việc Quốc hội truy nhận là được. Tờ “tin mới” Nhật ngày 18-4 bình luận: “Tấm lá chắn an ninh Nhật-Mỹ, đặt trọng điểm trên tấm lá chắn an toàn của khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Bối cảnh của nó là hòng giữ thế quân bình với Trung Quốc hùng mạnh sau này. Nhưng khi sự răn đe “của Trung Quốc được thể hiện rõ ràng bằng hình thức cụ thể, thì Nhật-Mỹ sẽ phải ứng phó như thế nào, để giữ sự ổn định và phồn vinh của khu vục, Trung Quốc phát huy tác dụng tích cực và có tính xây dựng là vô cùng quan trọng. Tiến thêm một bước quan hệ hợp tác với Trung Quốc phù hợp với lợi ích của Mỹ-Nhật”. Có thể cho rằng đoạn nói trên là tham khảo ý kiến của Phó Thủ tướng Trung Quốc kiêm Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham. Đầu tháng, vị Ngoại trưởng này sang thăm Nhật đã nói: “Tấm lá chắn an ninh Nhật-Mỹ nếu vượt qua phạm vi hai nước, ảnh hưởng đến lợi ích của nước khác, sẽ có thể dẫn đến nhân tố phức tạp mới”. “Nếu trực diện chỉ ra sự uy hiếp từ phía Trung Quốc sẽ kích động Trung Quốc, làm cho Trung Quốc cô lập, đồng thời phá vỡ thế cân bằng ở Đông Nam Á. Điều này sẽ làm trở ngại cho sự tăng trưởng kinh tế khu vực này”. Có thể nói, đưa ra những suy nghĩ này từ đó chọn từ ngữ thoả đáng, hy vọng Trung Quốc phát huy tác dụng có “tính xây dựng”. Song, đối với khó khăn mà Trung Quốc sẽ gặp sau này được hình thành cùng với bán đảo Triều Tiên, không còn nghi ngờ, là một nhân tố bất ổn định ở Đông Nam Châu Á. “Tập trung khối lượng lớn quân sự trong đó bao gồm vũ khí hạt nhân” mà tuyên bố chung đã nói, hiển nhiên là chỉ Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:22:26 pm PHẦN 2 NHẬT BẢN THU XẾP XÂM CHIẾM ĐẢO ĐIẾU NGƯ Đảo Điếu Ngư là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc Mùa hè năm 1996, dưới sự dung túng và giúp đỡ của Nhật, các phần tử cánh hữu Nhật tiến vào Điếu Ngư đảo lãnh thổ vốn có của Trung Quốc với hành động hung hăng, gây nên một làn sóng phẫn nộ trong nhân dân. Từ xưa tới nay Điếu Ngư đảo là lãnh thổ của Trung Quốc. Nó nằm ở vùng giáp ranh phía đông thềm lục địa Đông Hải Trung Quốc. Về kết cấu địa chất, bao gồm nhiều đảo lớn nhỏ. Đảo Điếu Ngư nằm ở phía bắc Đài Loan 120 hải lý, phía tây đông cách lục địa Trung Quốc và Nhật Bản khoảng 2.000 hải lý. Độ sâu của nước ở vùng phụ cận từ 100-150m. Từ xưa tới nay, ngư dân các tỉnh Đài Loan, Phúc Kiến Trung Quốc đều thường đến đảo đánh bắt cá, hái thảo dược. Ngay từ những ngày đầu Triều Minh, Điếu Ngư đảo cùng quần đảo của nó đã có trên bản đồ Trung Quốc. Cuối thế kỷ 19, trước khi chiến tranh Giáp Ngọ bùng nổ, Nhật Bản không đề xuất và kiến nghị với Trung Quốc về chủ quyền của đảo Điếu Ngư. Tháng 4 năm 1895, Chính phủ Mãn Thanh bị ép ký “Điều ước Mãn quân” nhục nhã, cắt nhượng cho Nhật toàn bộ đảo Đài Loan cùng với các đảo phụ thuộc và quần đảo Bành Hồ. Từ đó về sau Nhật Bản mới có “Quần đảo Tiên Các” (tức quần đảo Điếu Ngư). Trước đó, trên bản đồ Nhật Bản đều ghi tên quần đảo đảo Điếu Ngư bằng tên của Trung Quốc. Sau khi Nhật Bản bị thất bại trong đại chiến thế giới lần thứ 2 đảo bị Mỹ chiếm đóng. Năm 1951, Mỹ - Nhật quay lưng lại Trung Quốc, phi pháp ký “Hòa ước Chicago”. Điều thứ 2 của “Hòa ước” tuy ghi rõ Nhật Bản từ bỏ tất cả quyền lực của Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, cả trên danh nghĩa quyền lợi. Nhưng điều thứ 3 sai lầm qui những hòn đảo lớn nhỏ của đảo Điếu Ngư dưới sự quản lý của Mỹ. Chu Ân Lai Thủ tướng Trung Quốc lúc đó đã nghiêm khắc tuyên bố, Chính phủ Trung Quốc kiên quyết không thừa nhận “Hòa ước Chicago”. Năm 1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải, quy định Nhật Bản phải hoàn trả tất cả lãnh thổ Trung Quốc đã bị họ chiếm đoạt “thích hợp với tất cả lãnh thổ của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, bao gồm Đài Loan và những hòn đảo lớn nhỏ xung quanh”. Văn kiện Nhật đã bộc lộ chân tướng Cuộc tranh chấp đảo Điếu Ngư lại một lần nữa ảnh hưởng đến quan hệ Trung - Nhật. Các quan chức Nhật đẩy trách nhiệm lên bản thân người Trung Quốc. Qua văn kiện của các quan chức địa phương Nhật kích động người Trung Quốc gây ra một làn sóng phản đối ở đảo Điếu Ngư lần này. Bởi họ muốn mượn thời cơ của “tấm lá chắn an toàn Nhật - Mỹ”, để năm 1996 chính thức nhập quần đảo Điếu Ngư vào Nhật Bản. Từ đó, tiến thêm một bước trong phân phối tài nguyên kinh tế Đông Hải. Năm 1996, trong bản tin mới lần đầu đề cập đến vấn đề đảo Điếu Ngư là ngày 19 tháng 2. Tuyên bố phát đi lúc đó chủ yếu là “đảo Độc”. Do phía Nhật nêu lên vấn đề chủ quyền, dẫn đến sự phản ứng quyết liệt của Nam Hàn. Các quan chức Nhật cho rằng phải giải thích tỉ mỉ với các nhà báo nước ngoài về lập trường của phía Nhật. Lúc đó có nhà báo nhắc đến Trung Quốc đang thăm dò mỏ dầu ở vùng phụ cận đảo Điếu Ngư, đồng thời chất vấn phía Nhật có nên giao cho toà án quốc tế phán quyết “đảo Trúc” và “đảo Tiêm Các” (tức đảo Điếu Ngư). Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nhật lúc đó nói: “Theo tôi hiểu, chúng tôi không có ý làm như thế. Bởi vì, trừ phi hai bên đồng ý, nếu không, không thể giao cho Toà án Quốc tế”. Từ trong lời nói của vị quan chức này có thể thấy, lúc đó Nhật Bản vẫn thừa nhận đảo Điếu Ngư và “đảo Trúc” là của mình. Do Nhật Bản coi vấn đề đảo Điếu Ngư là chuyện của hai nước Nhật và Cộng hoà Nhân dân Trùng Hoa. Ngày 14 tháng 02 nhà đương cục Đài Loan ra tuyên bố nhắc lại có chủ quyền ở Điếu Ngư đảo. Nhưng ngày 20 tháng 2 trong bản tin của Nhật công bố lập trường cứng rắn của Nhật. “Trong lịch sử và pháp lý, đảo Điếu Ngư luôn là một bộ phận của lãnh thổ Nhật Bản. Hạ tuần tháng 7, do sự kháng nghị của Trung Quốc cùng Đài Loan, tại Hồng Kông dấy lên làn sóng bảo vệ Điếu Ngư đảo, thì trong thời gian này truyền đi tin đồn Chính phủ Nhật sẽ nhượng bộ. Bản tin ngày 26 tháng 7, có nhà báo đã viết, trên thực tế, Chính phủ Nhật Bản đã đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc là lập tức đi bỏ cột đèn. Trả lời nhà báo về vấn dề này, người phát ngôn Nhật đã nói: “Nói thực, chúng tôi không có nguồn tin ấy. Cho nên tôi không thể công nhận. Nhưng tôi không cho rằng có thể như vậy. Thực ra ông ta đã gián tiếp thể hiện rõ lập trường kiên định của phía Nhật. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:23:09 pm Không cho phép quan hệ Trung - Nhật xấu đi Chiều ngày 11-9-1996, Từ Đôn Tín Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Nhật Bản đã nghiêm khắc đề cập đến việc Nhật Bản cho sửa chữa lại cột đèn trên đảo Điếu Ngư. Đồng thời nói rõ lập trường nghiêm túc của Trung Quốc. Từ Đôn Tín chỉ rõ, đảo Điếu Ngư và những đảo từ xưa tới nay là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc. Ông nói, gần đây dưới sự tiếp tay và dung túng của nhà đương cục hữu quan Nhật một số đoàn thể Nhật đã bất chấp sự trao đổi nghiêm túc nhiều lần của phía Trung Quốc đã chiếm lại đảo Điếu Ngư, xây dựng lại cột đèn và một số cột mốc khác, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc, gây nên sự phẫn nộ mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc đã cực lực kháng nghị với Nhật về điều này đồng thời trịnh trọng tuyên bố, bất cứ hành động đơn phương nào của Nhật, cũng không thể lay chuyển được chủ quyền vốn có đối với Trung Quốc. Cũng không thể thay đổi sự thực đảo Điếu Ngư là lãnh thổ của Trung Quốc. Nhật Bản xây dựng bất cứ công trình nào trên đảo đều là phi pháp và vô hiệu. Từ Đôn Tín nói: Hai bên Trung - Nhật đều hiểu vấn đề đảo Điếu Ngư và đồng ý tạm thời gác lại vấn đề này, sau này sẽ giải quyết. Nhưng giờ đây phía Nhật đã làm cho tình hình xấu đi, bỏ mặc thậm chí dung túng cho một số đoàn thể Nhật tự ý làm càn. Chính phủ Trung Quốc yêu cầu Chính phủ Nhật phải tuân thủ những thoả thuận mà hai bên đã đạt được, tìm ngay biện pháp loại trừ tất cả những hậu quả xấu và những tiêu cực có thể phát sinh từ đó bảo đảm từ nay về sau sẽ không xây ra những sự kiện tương tự. Hạ nghị viện Mỹ rêu rao có quyền giúp Nhật “bảo vệ Đảo Điếu Ngư” Sóng gió đảo Điếu Ngư lại nổi lên. Hạ nghị viện Mỹ có người nói: “Điều ước an ninh Nhật-Mỹ” khiến Mỹ có trách nhiệm giúp Nhật “bảo vệ đảo Điếu Ngư”. Câu nói ấy tuy không phải là thái độ của Nhà Trắng. Nhưng không thể không thu hút sự chú ý của mọi người. Gần đây, thế lực bảo thủ Mỹ - Nhật ngóc đầu dậy, coi sự nổi lên của Trung Quốc là một sự đe doạ. Mỹ ép Trung Quốc phải phối hợp với Nhật. Điều này phù hợp với ý đồ của Nhật muốn mượn sức mạnh của Mỹ để ép Trung Quốc. Mỹ một lần nữa xác nhận và nhấn mạnh liên minh an toàn của hai nước, phản ánh hai nước đang đối mặt với tình thế đa cực nhanh chóng phát triển. Mặc dù mâu thuẫn kinh tế và xung đột của hai bên khó mà giải toả, song sự hợp tác và hiệp ước an toàn chiến lược vẫn là một mặt chủ yếu trong quan hệ hai nước từ nay về sau. Mặc dù nhìn từ xa, ý đồ chiến lược của Mỹ nhằm thẳng vào Trung Quốc, rất có thể là một sự tình nguyện, có thành công hay không phải có thời gian kiểm nghiệm. Thực ra, Mỹ - Nhật đều có tính toán của mình. Ý đồ lâu dài của Mỹ là vẫn phải khống chế Nhật Bản. Vì thế mà phải coi trọng Trung Quốc. Mà Nhật Bản muốn ép Trung Quốc phải đẩy Mỹ lên phía trước, tránh xuất đầu lộ diện, làm cho quan hệ Trung - Mỹ thêm căng thẳng, để thu được lợi trong mâu thuẫn Trung - Mỹ. Lùi một bước để Mỹ - Nhật cùng hành động chung tay khống chế Trung Quốc, tất sẽ dẫn đến sự hỗn loạn trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, thậm chí trở lại cuộc “Chiến tranh lạnh”, ngược lại cũng có thể nguy hiểm cho lợi ích của Nhật - Mỹ. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:24:26 pm PHẦN 3 BÊN TRONG VIỆC LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO TRUNG - MỸ Níchxơn gạt Nhật Bản ra một bên. Trong khi Nhật Mỹ xây dựng đồng minh an toàn Nhật - Mỹ mới, không ít nhân sĩ am hiểu thời cuộc chỉ rõ: Hai nước Mỹ - Nhật tuy đã cùng nhau xây dựng mục tiêu chiến lược khống chế Trung Quốc, nhưng hai bên “đồng sàng dị mộng”. Một khi tình hình thay đổi, cái gọi là quan hệ đồng minh “vững chắc” ấy liệu có giữ được không, thậm chí hai bên có vì mâu thuẫn kinh tế mà lục đục, đều là điều chưa định được. Mọi người không thể quên, Níchxơn năm đó đã bỏ Nhật Bản, đến thăm Trung Quốc. 11 giờ 27 phút trưa ngày 21 tháng 2 năm 1972 chiếc chuyên cơ chở Tổng thống Mỹ Níchxơn từ từ đáp xuống sân bay Bắc Kinh. Níchxơn từ thang máy bay bước xuống. Lúc đó, Thủ tướng Chu Ân Lai bước lên, hai người bắt chặt tay nhau. Tình hình cuộc viếng thăm Trung Quốc của Níchxơn được vệ tinh truyền đi khắp nơi trên thế giới. Thủ tướng Nhật ngồi trong phòng xem truyền hình. Ông muốn biết Níchxơn đối với người Trung Quốc như thế nào. Níchxơn từ máy bay bước xuống bắt tay Thủ tướng Chu Ân Lai nói: “I’m very happy” (tôi vô cùng vui mừng). Tiếp đó là duyệt đội danh dự. Thủ tướng Nhật đứng dậy tắt ti vi. Tin Níchxơn thăm Trung Quốc khiến cho cả nước Nhật bàng hoàng. Sau khi nhận được “Thượng Hải công báo”, Bộ Ngoại giao Nhật bí mật chuẩn bị luật cho mối bang giao bình thường hoá Trung - Nhật. Không ngờ, một đoàn nhà báo vây lấy ông, muốn ông nói nhận xét của ông về chuyến thăm Trung Quốc của Nichxơn. Thủ tướng vừa đi ra vừa nói: “Chẳng phải ông ta đã nói đó sao. Đây là một sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ. Ông ta đã nói, người khác còn nói gì nữa?” “Ông ta”, đương nhiên là chỉ Níchxơn. Thái độ của thủ tướng Nhật đương nhiên là vô cùng bực tức, đau đầu. Thị trường rộng lớn của Trung Quốc luôn luôn có sự hấp dẫn đối với Nhật. Phần lớn thời gian sau chiến tranh, Nhật Bản đều tích cực tìm cách kiến lập quan hệ mật thiết với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tháng 6 năm 1952 Tôkyô và Bắc Kinh bắt đầu trao đổi buôn bán hai bên (dưới sự bảo trợ của thương nghiệp tư nhân nhưng được các quan chức địa phương ủng hộ). Đến đầu những năm 60, Nhật Bản đã trở thành một bạn hàng buôn bán lớn nhất của Trung Quốc. Nhưng do cuộc chiến tranh lạnh, đã hạn chế Nhật Bản thiết lập quan hệ bình thường với Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:26:15 pm Thủ tướng Nhật thăm Trung Quốc Ngày 7 tháng 7 năm 1972, nội các Tanaca thành lập. Sau hàng loạt hoạt động ngoại giao, cuối cùng đã thực hiện cuộc viếng thăm Trung Quốc của Thủ tướng Nhật. Ngày 25 tháng 9 Thủ tướng Nhật Tanaca lên đường tới Bắc Kinh. 11 giờ 30 phút trưa ngày 25 tháng 9, chiếc chuyên cơ chở Thủ tướng Nhật đáp xuống sân bay Bắc Kinh. Vòng đầu hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo Tanaca và Chu Ân Lai được tiến hành vào hồi 1 giờ 30 phút ngày 25 tháng 9 tại Đại lễ đường nhân dân. Khi cuộc hội đàm kết thúc. Thủ tướng Chu Ân Lai lại nói với “Tóm lại, yêu cầu thống nhất lớn, còn lại sự khác nhau nhỏ”, “Tất nhiên, lần đàm phán này, dù sao cũng phải có kết quả” Tanaca trả lời. Từ đó có thể thấy, cuộc đàm phán đã có sự mở đầu tốt. 7 giờ 30 phút chiều hôm đó, Thủ tướng Chu Ân Lai chủ trì bữa tiệc chiêu đãi tại Đại lễ đường nhân dân. Có 600 người tham gia bữa tiệc vượt qua số người khi Níchxơn thăm Trung Quốc. Bữa tiệc tiến hành được một nửa, khi đáp từ, Thủ tướng Nhật Bản đã nhắc đến cuộc xâm lược của Nhật Bản đối với Trung Quốc. Ông ta nói: “Hai nước... đã có lịch sử qua lại hơn hai ngàn năm, phong phú và nhiều màu sắc”. Ông nói tiếp: “Thế nhưng, điều đáng buồn là mấy năm trước đây, quan hệ Trung-Nhật đã phải trải qua một quá trình bất hạnh. Thời gian ấy, nước tôi đã mang đến cho nhân dân Trung Quốc sự phiền hà to lớn tôi xin bày tỏ sự hối hận sâu sắc về điều đó”. Nói đến đây, những người phía Trung Quốc vừa mới vỗ tay nghe câu nói “Mang đến phiền hà” thì liền im lặng. Không khí hoan nghênh nhiệt liệt trên Hội trường bỗng nhiên thay đổi. Chu Ân Lai với lời nói đạo lý đanh thép Ngày hôm sau, Chu Ân Lai đến thăm Tanaca và đã nghiêm khắc nói: “Trong bữa tiệc tối hôm qua, Thủ tướng nói “Mang đến phiền hà”. Câu nói ấy giống như làm ướt quần của cô gái qua đường rồi xin lỗi. Trung Quốc cảm thấy Nhật đã dùng một câu nói quá nhẹ nhàng sơ sài để xin lỗi họ xâm lược lục địa, phát động sự biến Mãn Châu, sự biến Nhật Hoa và chiến tranh Thái Bình Dương. Nhưng sau kết thúc bài đáp từ của Thủ tướng Tanaca, phía Trung Quốc vẫn vỗ tay nhiệt liệt. 2 giờ chiều, vòng đàm phán thứ hai giữa Thủ tướng Chu Ân Lai và Thủ tướng Nhật được tiến hành. Chu Ân Lai với khẩu khí nghiêm khắc khiển trách thái độ của Nhật Bản. Ông nói: “Nghe nói cuộc họp báo của Ngoại trưởng sáng nay, đã phá vỡ mối bang giao Trung - Nhật. Bình thường hoá mối bang giao Trung - Nhật là vấn đề chính trị không phải là vấn đề pháp luật. Cục trưởng Tacashima đã làm lẫn lộn. Tôi không cho rằng ý kiến của cục trưởng Tacashima là ý của Ngoại trưởng Tahei và Thủ tướng Tanaca”. Trước thái độ nghiêm khắc của Chu Ân Lai Tanaca rất thoải mái: “Không, đó không phải là ý kiến cá nhân, là ý kiến của Chính phủ. Về phía Nhật có một sự kiện rất gay cấn. Ngày 01 tháng 10 là quốc khánh của Trung Quốc. Cuộc viếng thăm này của Thủ tướng Nhật phải rời Bắc Kinh trước. Tức là nói, cuộc đàm phán không thể kéo dài. Thủ tướng có thể trở về tay không. Nếu cuộc đàm phán bị đổ bể, rất có thể bị truy cứu trong nội bộ Đảng, sẽ dẫn đến toàn bộ nội các phải từ chức. Nhìn từ thái độ nghiêm túc của phía Trung Quốc, nếu muốn hoàn toàn làm theo chủ trương của phía Nhật thì rất khó. Cuộc đàm phán vòng đầu của hai nguyên thủ kết thúc, đoàn đại biểu Nhật về đến khách sạn thì tâm trạng mọi người rất nặng nề. Ngày 27 tháng 9, ngay từ sáng sớm mây đen đã phủ đầy trời, gió nổi lên dữ dội, dường như dự báo một tương lai mờ mịt của cuộc đàm phán. Nhưng Thủ tướng Nhật vẫn theo đúng lịch trình đã bố trí: 8 giờ sáng ông rời khỏi khách sạn, đến tham quan Vạn lý Trường thành, cùng đi với ông có Cơ Bằng Phi. 4 giờ 10 phút chiều bắt đầu vòng đàm phán thứ 3 giữa Tanaca và Chu Ân Lai tại dinh Phúc Kiến Đại lễ đường nhân dân. Trước đó, phương án thoả hiệp của Nhật đã thông qua Cơ Bằng Phi và gửi đến tận tay Chu Ân Lai. Đối với phương án thoả hiệp, Chu Ân Lai có gật đầu hay không sẽ là mấu chốt của sự thành bại cuộc viếng thăm Trung Hoa. Thủ tướng Nhật và đồng sự của ông đều muốn qua biểu lộ tình cảm của Chu Ân Lai mà đoán được vận mệnh của cuộc hội đàm. Nhưng khó mà nhìn thấy lành dữ từ trên nét mặt của ông. Một lần nữa Tanaca lại cảm thấy Chu Ân Lai thật là “cao tay”. Chu Ân Lai không nhắc đến một chữ nào trong phương án thoả hiệp của Nhật. Sau khi hội đàm kết thúc, các nhân viên tham gia hội đàm của phía Nhật chợt nhận ra “Phách cuối cùng của Chu Ân Lai là đang chờ đợi ai”. Người mà Chu Ân Lai thỉnh thị không phải là ai khác, mà là Mao Chủ tịch. Mao Chủ tịch sẽ phản ứng như thế nào. Mọi người đều vô cùng lo lắng. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:26:42 pm Mao Chủ Tịch nói: “Không tranh luận không mang lại hiệu quả” Vòng đàm phán thứ ba của Tanaca và Thủ tướng Chu Ân Lai kết thúc, đại biểu Nhật trở về khách sạn dùng cơm. Lễ tân phía Trung Quốc thông báo: “8 hoặc 9 giờ tối Chủ tịch Mao Trạch Đông sẽ hội kiến Thủ tướng Tanaca” và những người cùng đi đang chuẩn bị thì bất ngờ Chu Ân Lai đến khách sạn để cùng Tanaca đến nơi ở của Mao Trạch Đông ở Trung Nam Hải. 8 giờ 30 phút, Mao Trạch Đông tiếp khách Nhật Bản tại bể bơi Trung Nam Hải. Chợt nhìn, Mao Trạch Đông trẻ hơn tuổi. Lúc gặp mặt, Mao Trạch Đông nói một cách sâu sắc: “Thượng đế sắp bắt tôi đi báo cáo rồi”. Nhưng Tanaca không hề thấy sức khoẻ của Mao Trạch Đông bị giảm sút. Tiếp đó, Mao Trạch Đông lại nói: “Tranh luận xong chưa? Không tranh luận không được đâu”. “Không, tôi và Thủ tướng bàn bạc rất tốt”. Tanaca giải thích. “Không tranh luận không mang lại hiệu quả” “Vâng”. Mao Trạch Đông nói chuyện rất khoẻ. Một lát sau câu chuyện chuyển sang tàng thư trong thư văn. Ông lấy từ trên giá sách xuống 6 cuốn “Sở từ tập chú” đưa tặng Tanaca. Ông nói “Tôi thích đọc sách, biết rằng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ. Nhưng không đọc, không ngủ được”. Cuộc hội kiến kéo dài 1 tiếng, nói rất nhiều chuyện... Cuộc hội kiến kết thúc, Mao Trạch Đông đưa tiễn họ ra tận cửa. Câu nói “Không tranh luận không mang lại hiệu quả”, mở đầu câu chuyện của Mao Trạch Đông lại hiện ra trong đầu Thủ tướng Nhật và những người cùng đi. Sự kiện Mao Trạch Đông hội kiến Tanaca và thái độ hữu hảo của ông đối với Tanaca rõ ràng chứng tỏ Mao Chủ tịch đã bật “đèn xanh” cho mối bang giao bình thường Trung - Nhật. Khi về tới khách sạn các thành viên đoàn đại biểu Nhật nghe kể tình hình cuộc gặp Mao Chừ tịch, đều không kìm nổi niềm vui sướng. Ngày 29 tháng 9 bản thông cáo chung về vấn đề bình thường hoá mối bang giao Trung - Nhật được công bố. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:30:07 pm PHẦN 4 LÃNH ĐẠO CẤP CAO TRUNG QUỐC THĂM NHẬT Ngoại trưởng Nhật phá lệ nghênh tiếp quý khách Sau khi bình thường hoá mối bang giao Trung - Nhật, Chính phủ và nhân dân hai nước đã nỗ lực cống hiến to lớn cho tình hữu nghị của nhân dân hai nước. Chính phủ Nhật Bản đã phá lệ đón tiếp các vị lãnh đạo cao cấp Trung Quốc đến thăm. Đó là ngày 20 tháng 10 năm 1978. 4 giờ 20 phút chiều, chiếc chuyên cơ quân sự có sơn 5 ngôi sao màu đỏ ở phía đuôi cánh từ từ đáp xuống sân bay Tôkyô. Chiếc thang máy bay vừa đặt xuống, Ngoại trưởng Nhật đang chờ sẵn ở sân bay đột nhiên thay đổi kế hoạch đón khách dưới chân thang máy bay, vào khoang thân máy bay. Vị khách được đón tiếp phá lệ thường ấy là Phó Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Trác Lâm phu nhân. Mục đích chuyến đi này của Đặng Tiểu Bình là tiến hành cuộc viếng thăm hữu hảo chính thức đồng thời tham dự lễ phê chuẩn Hiệp ước hoà bình hữu hảo Trung-Nhật. Cùng đi với Đặng Tiểu Bình còn có Hội trưởng Hiệp hội hữu nghị Trung - Nhật Liêu Thừa Chí và Kinh Phổ Xuân phu nhân, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Niệm Long v.v... Khi ông và Ngoại trưởng Nhật bước xuống thang máy bay thì 19 phát đại bác vang lên chào đón. Ông dừng lại một lát, ngước nhìn lên các cháu thiếu nhi vẫy cờ hoa chào đón. Đặng Tiểu Bình lần lượt bắt tay những người ra đón, rồi cùng Ngoại trưởng Nhật trở về khách sạn. Về tới khách sạn, cảm giác đầu tiên của Đặng Tiểu Bình là “Nơi đây giống như cung Vécxây nước Pháp thu nhỏ” Đặng Tiểu Bình đã nói đúng. Khách sạn này là Ly cung của Thiên hoàng. Từ năm 1968 đến năm 1974 được sửa sang lại thành khách sạn quốc gia Thiên hoàng, theo kiểu cung Véc xây Pari, chuyên để đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia, các vị đứng đầu Chính phủ các nước đến thăm. Ngày 12-8-1978 Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa và Ngoại trưởng Nhật ký Hiệp ước hoà bình hữu nghị Trung-Nhật tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh. Hôm nay vào giờ phút có ý nghĩa lịch sử hiệp ước hoà bình hữu nghị Trung-Nhật chính thức có hiệu lực, Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo đầu tiên của Trung Quốc đến thăm Nhật Bản thực hiện di chúc và ý nguyện của Chu Ân Lai. Đặng Tiểu Bình gặp Nhật Hoàng Hôm đó, bầu trời Tôkyô đầy mây, thỉnh thoảng ánh mặt trời ló ra yếu ớt. Nhưng sau khi lễ đón tiếp kết thúc, bầu trời đột nhiên bừng sáng, ánh nắng mùa thu dọi chiếu khắp nơi. Sự thay đổi của thời tiết khiến mọi người vô cùng phấn khởi, cho rằng đây.là hình ảnh tượng trưng cho tình hữu hảo trong sáng Trung - Nhật. Khoảng 10 giờ Đặng Tiểu Bình đến chào Thủ tướng Fukuda tại dinh Thủ tướng. 10 giờ 30 phút tiến hành lễ trao đổi văn kiện chính thức việc phê chuẩn Hiệp ước hoà bình hữu nghị Trung - Nhật tại dinh Thủ tướng. Trưa ngày 23, Đặng Tiểu Bình đến Hoàng cung, yết kiến Nhật hoàng và Hoàng hậu. Đây là lần đầu tiên một nhà lãnh đạo Trung Quốc yết kiến Nhật hoàng sau đại chiến thế giới lần thứ 2. Từ 2 giờ đến 5 giờ 25 phút chiều ngày 23 Fukuda và Đặng Tiểu Bình tiến hành hội đàm lần thứ nhất tại dinh Thủ tướng. Phía Nhật Bản đứng trên lập trường nhìn lại lịch sử chiến tranh xâm lược trước kia của Nhật, nhấn mạnh phải quán triệt ngoại giao hoà bình, tỏ ra cần phải giữ vững quan hệ hữu hảo với tất cả các quốc gia. Song, họ lại giải thích, tuy gọi là ngoại giao song phương nhìn từ góc độ kinh vĩ tuyến trước kia thì không phải tất cả các quốc gia đều có một “khoảng cách” như nhau. Dưới nguyên tắc hiến pháp hoà bình cũng có sự hạn chế trên sức mạnh tự vệ. Do đó, phải giữ vững Hiệp ước an toàn Nhật-Mỹ, tin tưởng vào Hiệp ước hoà bình thế giới. Trong phát biểu của mình, Đặng Tiểu Bình đã lý giải đầy đủ về Hiệp ước an toàn Nhật-Mỹ và phương châm ngoại giao của Nhật, trong đó có tăng cường sức mạnh tự vệ. Hai bên còn trao đối ý kiến về tình hình quốc tế, đồng thời trình bày cách đánh giá của mình. Sau khi cuộc hội đàm kết thúc Fukuda nói về những ấn tượng đối với Đặng Tiểu Bình với các nhà báo: “Rất khá. Tóm lại, rất am hiểu tình hình thế giới, tuy nhiên giống lập trường của đối phương”. 7 giờ 30 phút tối hôm đó, Thủ tướng Nhật tổ chức bữa tiệc trọng thịnh chiêu đãi Đặng Tiểu Bình và những người cùng đi. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:30:50 pm Khéo léo “giải quyết” vấn đề lãnh thổ Khi một nhà báo đề xuất đến Triều Tiên và Việt Nam trung tâm của tình hình căng thẳng ở Châu Á, Đặng Tiểu Bình với cách nhìn rộng về đặc thù của nó, nói về việc các nước bị chia cắt làm đôi, sớm muộn sẽ được giải quyết. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang phản đối chúng tôi. Nhưng, họ giải quyết thống nhất đất nước mình là chính nghĩa. Ngoài 2 nước Triều Tiên và Việt Nam ra, còn 2 nước Đức, 2 nước Trung Quốc. Những vấn đề này cần phải giải quyết 10 năm giải quyết không xong thì 100 năm sẽ giải quyết xong. Nguyện vọng này của các dân tộc và trào lưu này không thể có sức mạnh nào kháng cự nổi. Với câu nói ấy tờ “Bản tin buổi sớm” Nhật Bản bình luận nêu rõ Đặng Tiểu Bình có phong độ của một nhân vật vĩ đại. Các nhà báo Nhật còn nêu lên vấn đề quy thuộc của “quần đảo Tiên Các”. Trung Quốc gọi “quần đảo Tiên Các” là “Điếu Ngư đảo” (Đảo Câu Cá) là đảo phụ thuộc của tỉnh Đài Loan, là lãnh thổ của Trung Quốc. Sau chiến tranh Giáp Ngọ bị cắt nhượng cho Nhật. Tháng 9 năm 1972, khi Thủ tướng Nhật sang thăm Trung Quốc đã yêu cầu Thủ tướng Chu Ân Lai xác nhận rõ quyền quy thuộc của đảo này. Khi đó vì không để cho vấn đề khó giải quyết này trở thành vật trở ngại cho sự bình thường hoá mối bang giao Trung-Nhật, Chu Ân Lai nói: “Bây giờ chưa cần thảo luận. Trên bản đồ chưa đánh dấu, có dấu sẽ trở thành vấn đề”. Phía Nhật đã đồng ý về vấn đề đó. Ngày 10 tháng 8 năm 1978 Tanaca đã thảo luận với Đặng Tiểu Bình về vấn đề này. Lúc đó, đúng lúc sau khi hai bên tiến hành giao lưu về vấn đề đánh bắt cá trên mặt biển xung quanh đảo này của ngư dân Trung Quốc chưa được bao lâu, thì phía Anh muốn nhân dịp đưa Hiệp ước hoà bình hữu hảo, thừa thế yêu cầu Trung Quốc thừa nhận đảo này thuộc lãnh thổ Nhật. Nét mặt Đặng Tiểu Bình rất bình tĩnh, ông nói; “Quần đảo Tiên Các” chúng tôi gọi là “đảo Câu Cá”. Cái tên ấy chúng tôi có hai cách gọi. Hai bên có cách nhìn không giống nhau. Khi đang thực hiện vấn đề bình thường hoá mối bang giao Trung - Nhật, hai bên chúng ta sẽ không đề cập đến vấn đề này. Có một số người muốn bới vấn đề này ra, làm cản trở việc phát triển mối quan hệ Trung - Nhật. Chúng tôi cho rằng Chính phủ hai nước tách vấn đề này ra là đúng với đạo lý nhìn xa thấy rộng. Để vấn đề này lại không vội gì, đợi 10 năm nữa cũng không sao. Đời sau chắc chắn thông minh hơn chúng ta, nhất định sẽ tìm được phương pháp hai bên đều có thể tiếp tục. Khi một nhà báo nêu ra vấn đề khó khăn và tế nhị này, ngay lập tức cả hội trường căng thẳng, mọi người nín thở, chờ xem Đặng Tiểu Bình trả lời thế nào. Họ không thể nào nghĩ rằng Đặng Tiểu Bình lại dùng vấn đề quy thuộc lãnh thổ đã bị bao năm chiến tranh khói lửa của nhiều quốc gia để làm phương thức giải quyết vấn đề Trung Quốc dễ dàng và khéo léo như thế. Thế là, hội trường lại trở về không khí thoải mái. Khi ông trả lời đến vấn đề có liên quan đến hiện đại hoá Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã cho các nhà báo phương Tây thưởng thức phong cách đàng hoàng, chân thành thoải mái của ông. Ông nói: “Công cuộc hiện đại hoá thực hiện ở cuối thế kỷ này mà tôi vừa nói là chỉ trình độ tương đối tiếp cận với lúc đó. Thế giới đang tiến lên mạnh mẽ. Trình độ lúc đó của Nhật Bản khẳng định sẽ không như bây giờ. Chúng tôi phấn đấu để đạt trình độ bây giờ của Nhật, châu Âu và Mỹ thì không phải dễ dàng, cần phải đạt được trình độ của Mỹ sau 20 năm thì càng khó. Chúng tôi biết rất rõ những khó khăn này. Nhưng, chúng tôi vẫn xây dựng ý chí anh dũng tiến lên”. Để thực hiện “hiện đại hoá” phải có chính sách chính xác. Đó là chịu khó học tập, phải lấy kỹ thuật tiên tiến quốc tế hiện nay, phương pháp quản lý tiên tiến hiện nay làm khởi điểm cho sự phát triển của chúng ta. Trước hết phải thừa nhận sự lạc hậu của chúng ta, thừa nhận lạc hậu thì sẽ có hy vọng, chịu khó học tập hơn nữa. Đến thăm Nhật Bản lần này là muốn học tập Nhật Bản. Chúng tôi học tập tất cả các nước phát triển. Tin tưởng rằng với thái độ này chúng ta có nhiều hy vọng vào chính sách và phương châm của mình. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:31:25 pm Chính sách của Nhật đối với Trung Quốc trong sự biến hoá chung Mấy năm trước, chính sách đối với Trung Quốc của Nhật đã có sự thay đổi rõ ràng. Sách trắng phòng vệ Nhật Bản năm 1996 nhấn mạnh cái gọi là “Sự đe doạ từ phía Trung Quốc” lần đầu nêu ra rằng: “Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hoá chiến tranh hạt nhân và lực lượng hải, không quân, mở rộng phạm vi trên biển, diễn tập quân sự xung quanh Đài Loan, từ đó dẫn đến sự căng thẳng trong vùng biển Đài Loan, cần phải hết sức chú ý đối với động hướng này”. Báo cáo nhận định về quan hệ quốc tế của Nhật viết: “Nhiều dấu hiệu chứng tỏ, Trung Quốc đang muốn trở thành một siêu cường và bá quyền. Đó là điều vô cùng nguy hiểm”. Đối với thí nghiệm vũ khí hạt nhân hạn chế trước kia của Trung Quốc, cũng là vấn đề mà Nhật Bản kêu gào mạnh nhất. Tạp chí “Sinh tồn” của Anh mùa hạ năm 1996 có bài viết: Chính sách của Nhật Bản đối với Trung Quốc trong biên hoá chung: Từ chủ nghĩa. mậu dịch tự do đến chủ nghĩa hiện thực. Hiện tại, các nhà quyết sách của Tôkyô đang đối mặt với một số áp lực mâu thuẫn lẫn nhau. Thông thường, các nhà lãnh đạo Nhật dựa vào sự hiểu biết chung của lợi ích quốc gia Nhật Bản. Hiện nay, nó đã được thay thế bằng nhiều lợi ích chung giống nhau, xem ra không có khả năng lớn để nhanh chóng xuất hiện phương châm, chính sách lớn được sự nhất trí hoàn toàn. Bởi vì những người coi Trung Quốc là cơ may kinh tế đều có lo lắng chung về sự “đe doạ từ phía Trung Quốc”. Cùng với những điều đó, Tôkyô sẽ tìm tòi hàng loạt biện pháp khác. Trong đó có một số bổ sung chính sách nhất thể hoá hiện có. Ngoài ra, còn có một số cách làm sách lược ngăn chặn xuất hiện tình hình xấu nhất. Nói theo nghĩa rộng, trước sau Nhật Bản sẽ chọn 4 cách làm để đối xử với Trung Quốc. Cân bằng lực lượng, Nhật Bản yêu cầu Mỹ giữ vững thế lực quân sự tiền duyên để cùng với Trung Quốc cân bằng và ổn đinh khu vực châu Á Thái Bình Dương và tình hình chính trị của Nhật Bản. Tôkyô đã xác nhận rõ tác dụng của liên minh Nhật - Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương. Một mặt tìm biện pháp tất yếu để giữ vững lời hứa xây dựng quốc phòng của Mỹ; Mặt khác lại không bắt Nhật Bản gánh vác nhiệm vụ chiến đấu mới để tăng cường đối kháng với Bắc Kinh. Vì vậy, trong thời kỳ giữa sự cân bằng lực lượng và chủ nghĩa mậu dịch tự do đối với Nhật không nhất định là chính sách loại trừ lẫn nhau. Nhưng, những hành động cân bằng kỳ diệu ấy rất dễ bị sự thay đổi mối quan hệ Trung - Mỹ làm đảo lộn. Nhật Bản còn thưởng thức chính sách không chế Trung Quốc bằng “bàn tay nhung” để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc không ngừng tăng cường ở khu vực châu Á Thái Bình Dương. Về phương diện Tôkyô tăng cường đối thoại an toàn với các nước đồng minh phương Đông và quyết định khôi phục viện trợ cho Mianma v.v... có thể thực hiện được một đợt. Nói tóm lại, cuộc đấu tranh để cân bằng sức mạnh là vô cùng khó khăn đối với Nhật Bản. Bởi vì Nhật Bản đi khống chế Trung Quốc bằng sức mạnh không có trong tay và đơn phương độc mã, vì thế phải dựa vào sức mạnh của Mỹ. Nhưng Mỹ có thể không nhiệt tình. Như vậy đối kháng với Bắc Kinh có thể sẽ khiến cho Tôkyô quá sức không trụ nổi. Vì thế, Nhật Bản phải nhờ cậy vào sách lược khác để bổ sung cân bằng sức mạnh, đề xuất phương pháp tăng cường lực lượng quốc phòng, để đối phó với mậu dịch tự do có thể bị thất bại. Chủ nghĩa đa biên, Nhật Bản đã thể hiện rõ, họ thích lợi dụng cơ cấu đa biên ở Đông Nam Á để gián tiếp ảnh hưởng đếnTrung Quốc. Như một quan chức Bộ Ngoại giao nói “Nhật Bản muốn nói những điều tốt đẹp với Trung Quốc trong trường hợp song phương, nói những điều không hay trong trường hợp đa biên”. Ngoài ra, Tôkyô còn tiếp tục lợi dụng cơ cấu kinh tế đa biên, nhu tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương để làm cho Trung Quốc gia nhập hệ thống kinh tế khu vục. Đồng thời họ xúc tiến nhanh hơn Oasinhtơn, kết nạp Trung Quốc vào Tổ chức mậu dịch thế giới. Tuy cánh hữu và cánh tả Nhật Bản đều hoan nghênh cách làm đa biên này, nhưng Tôkyô ngày càng nhận ra rằng về răn đe và cân bằng lực lượng, những lợi ích mà chủ nghĩa đa nguyên đem lại rất hạn chế. Biện pháp tăng cường trách nhiệm. Trong khi hai nước Trung - Nhật đang mưu tìm một chính sách an toàn khu vực mới sau chiến tranh lạnh thì Chính phủ Nhật Bản lợi dụng biện pháp tăng cường niềm tin chung để làm hoà dịu tình hình căng thẳng. Tôkyô đang yêu cầu tiến hành bàn bạc kỹ lưỡng để có khả năng thực hiện hơn Bắc Kinh, mở đầu của nó là bản kiến nghị năm 1993, tức là hàng năm đều tổ chức hội nghị thảo luận vấn đề an toàn của hai nước. Nhật Bản ngày càng có nhiều những người lãnh đạo chính giới ý thức được rằng giải quyết vấn đề lịch sử là tiến thêm một bước quan trọng của sự tín nhiệm. Biện pháp kinh tế, Nhật Bản sẽ sử dụng biện pháp kinh tế hiện có giá trị tượng trưng. Các chuyên gia về vấn đề Trung Quốc hy vọng năm 1995 sẽ cắt khoản viện trợ, chỉ là một sự phản ánh tạm thời đối với việc thử vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Nhưng, thủ đoạn này rất có thể là cái gậy lớn dùng để trừng phạt Trung Quốc một lần nữa. Từ những năm 40 trở lại, chính sách đối với Trung Quốc của Nhật luôn luôn dựa vào 4 trụ cột. Đó là, an toàn, chính trị, lịch sử và kinh tế. Họ nắm một phương pháp có tính hoà giải, nhún nhường. Những cột trụ ấy hiện nay đều đã thay đổi. Nhật Bản đang thăm dò tìm đối sách mới đối phó với Trung Quốc - một nước có khả năng trở thành siêu cường trong khu vực. Do đó, một khi quan hệ Trung - Nhật xấu đi trở thành thù địch đối kháng thì cả khu vực Đông Nam Á Thái Bình Dương sẽ bị thiệt hại. Cho nên ủng hộ Nhật Bản kéo dài chính sách đối với Trung Quốc vẫn là một việc làm thoả đáng. Đồng thời, Mỹ, Trung Quốc, các đồng minh phương Đông và các mặt hữu quan khác cần phải nhận thức được rằng cách làm của Nhật Bản đối với Trung Quốc không thể cử khư khư giữ mãi khuôn phép đã lỗi thời. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:33:38 pm Chương 22 QUAN HỆ TRUNG - MỸ NGÀY CÀNG GAY GẮT. HAI BÊN NGA - MỸ KHÔNG NHÂN NHƯỢNG. CHIẾN TRANH LẠNH ĐÃ CHẤM DỨT HAY CHƯA? THỜI BÁO NEWOÓC - NHỮNG CHẤT VẤN VÀ NGHI NGỜ. PHẦN 1 CUỘC CHIẾN THƯƠNG MAI TRUNG - MỸ 5 năm trắc trở Từ năm 1991 đến nay, do có sự lục đục chính trị trong nội các Mỹ, quan hệ kinh tế hai nước Trung - Mỹ luôn rạn nứt và có những mâu thuẫn xảy ra. Nguyên nhân chính của sự bất đồng tập trung chủ yếu vào hai vấn đề là bảo vệ bản quyền trí tuệ và Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Do vậy đã vài lần Mỹ tung đòn trả đũa tuy nhiên vẫn chưa đủ mạnh nhưng cũng làm cho quan hệ hai nước ngày càng sa sút. Ngày 26 tháng 4 năm 1991 Chính phủ Mỹ đã dựa vào điều 301 trong “Luật Thương mại năm 1974” đã tuyên bố. Trung Quốc là “Nước được hưởng ưu đãi nhất”. Trong điều này hàm ý chủ yếu là bảo vệ quyền lợi của mình trên thương trường quốc tế. Còn với những điều khác thì Mỹ trả đũa và cho là những nước làm ăn “không hợp lý”, “không chính đáng”. Căn cứ vào điều này Mỹ có thể tiến hành điều tra đối với những nước mà Mỹ cho là làm ăn “không chính đáng”, hơn nữa còn phải có sự thương lượng với các nước có liên quan và cuối cùng sẽ do Tổng thống quyết định thực thi nâng cao mức thuế, hạn chế nhập khẩu và chấm dứt những thoả hiệp có liên quan. Vào ngày 27 tháng 5 Mỹ bắt đầu tiến hành điều tra vấn đề bản quyền trí tuệ đối với Trung Quốc. Về sau, hai bên đàm phán và chưa đi đến một thoả thuận nào, Mỹ tuyên bố trả đũa bằng việc thực hiện thuế quan đối với một số mặt hàng của Trung Quốc. Đêm ngày 17 tháng 1 năm 1992, trải qua 6 vòng đàm phán gay gắt, cuối cùng hai bên đã nhất trí về vấn đề bảo vệ bản quyền trí tuệ, đồng thời cũng vào đêm 17 tại Oasinhtơn đã diễn ra lễ ký bản ghi nhớ thông cảm lẫn nhau, cuối cùng Mỹ điều tra Trung Quốc theo “khoản 301 đặc biệt” và không còn xếp Trung Quốc là “Quốc gia trọng điểm” nữa. Từ đó để tránh một cuộc chiến trả đũa thương mại. Bảo vệ bản quyền trí tuệ phù hợp với quốc sách phát triển cơ bản của Trung Quốc, là lợi ích của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển ngày nay, cũng là nhu cầu cấp bách của Trung Quốc trong việc phát triển hợp tác kinh tế kỹ thuật quốc tế. Kể từ tháng 7 năm 1993 trải qua 9 vòng bàn bạc kỹ lưỡng trong suốt 20 tháng. Đêm ngày 26 tháng 2 năm 1995 hai bên Trung - Mỹ đã đi đến thoả thuận về vấn đề bảo vệ bản quyền trí tuệ, nhằm tránh một cuộc chiến thương mại khốc liệt ngay trước mắt. Sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã đề ra, chấp hành đầy đủ “Kế hoạch hành động bảo vệ và thực thi bản quyền trí tuệ”, hệ thống luật bản quyền trí tuệ của Trung Quốc đã được thế giới công nhận. Mấy năm trở lại đây, Trung Quốc còn thành lập ban chấp pháp về bản quyền trí tuệ, đã thiết lập nên toà án xét xử và bảo vệ bản quyền. Căn cứ vào luật pháp đã xét xử một loạt vụ án, đã đóng cửa một số cơ sở sản xuất lậu và đã thiêu huỷ hàng triệu băng đĩa lậu. Tất cả những điều này thì ai ai cũng biết. Tuy nhiên, đầu năm 1996, Thượng nghị viện Mỹ đã chỉ trích, hàng năm Trung Quốc đã đưa băng đĩa lậu trị giá 8 tỷ USD qua Ma Cao và qua các cửa khẩu sang Mỹ, làm tổn hại đến lợi ích của ngành thương mại Mỹ. Ngày 30/4 Chính phủ Mỹ lại vô cớ trách móc Trung Quốc không nghiêm chỉnh thực hiện những thoả thuận đã ký kết về vấn đề bản quyền năm 1995, coi Trung Quốc là một trong 35 quốc gia được hưởng “điều khoản 301 đặc biệt”. Ngày 13 và 14 tháng 5, đàm phán về luật bản quyền giữa 2 bên Trung - Mỹ một lần nữa tan vỡ. Ngày 15, Văn phòng đại diện thương mại Mỹ đã đơn phương tuyên bố. Kể từ ngày 17/6 các mặt hàng điện tử và dệt may của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ phải chịu mức thuế nhập khẩu 100%. Cùng lúc đó Chính phủ Trung Quốc cũng gay gắt tuyên bố nhằm trả thù Mỹ, đối với các sản phẩm nông nghiệp, thức ăn gia súc, ôtô, và các linh kiện điện tử của Mỹ phải đánh thuế đặc biệt 100%. Vả lại, Mỹ đã trả đũa lại ngay bằng những đơn hàng kế tiếp. Cuộc chiến thương mại Trung - Mỹ lại sắp được châm ngòi. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:34:29 pm Chính sách: cây gậy và củ cà rốt Một nhà báo nổi tiếng Mỹ nói: “Nước Mỹ cần phải áp dụng cách làm của Níchxơn đối với Trung Quốc, tăng cường đi lại, tiếp xúc và áp dụng những thủ đoạn kích động và đe doạ bằng vũ lực. Cách làm đó đã được Mỹ thực hiện suốt trong 20 năm, đến nay vẫn phát huy được tác dụng”. Thế là đãi ngộ tối huệ quốc trở thành củ cà rốt mê hoặc con người. Hạm đội 7 và “điều khoản 301 đặc biệt” đã trở thành cái gậy trong tay Mỹ hua lên. Theo các chuyên gia phân tích, trong vấn đề bảo vệ bản quyền trí tuệ, Chính phủ Mỹ vẫn rơi vào lập trường mâu thuẫn đã công khai thừa nhận lập pháp bản quyền trí tuệ của Trung Quốc là hay nhất châu Á, nhưng lại không có đủ những bằng chứng thuyết phục. Ngày 15 tháng 6 sau khi Mỹ khăng khăng đòi công bố xử lý Trung Quốc đối với đơn hàng trị giá 3 tỷ đô la, chẳng những gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía Trung Quốc, mà còn dẫn đến việc các quan chức trong giới thương mại Mỹ trên toàn thế giới phải quan tâm, lo lắng. Dư luận hầu như nhất trí rằng, nếu 2 bên Trung - Mỹ để xảy ra cuộc chiến thương mại thì người tiêu dùng của cả 2 nước sẽ gánh chịu sự thiệt thòi. Mức buôn bán 2 chiều sẽ giảm mạnh, nền kinh tế 2 nước sẽ chịu nhiều ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau. Một vài nhân sĩ Mỹ cho rằng, cuộc chiến thương mại này sẽ không làm cho bên nào giành được phần thắng nhưng “Mỹ sẽ mất đi mấy chục ngàn cơ hội việc làm”. Có dư luận đưa ra, nếu Mỹ vẫn kiên quyết trừng phạt Trung Quốc, thì nhìn về lâu dài, Mỹ sẽ để tuột mất thị trường Trung Quốc lớn nhất. Thực tế đã chứng minh, nền kinh tế Trung Quốc vẫn duy trì, tăng trưởng, phát triển lành mạnh, hơn nữa, thị trường ngày càng được mở rộng. Đến năm 2000 tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sẽ đạt và vượt với mức 4 tỷ đô la. Giới kinh tế Thương mại Mỹ sẽ đứng trước một cơ hội hợp tác và phát triển thương mại mang tính lịch sử tại Trung Quốc. Một vài chính trị gia và dư luận châu Á phê phán Mỹ trong việc tiến hành trừng phạt thương mại đối với Trung Quốc. Chính là nhằm vào khu vực này “làm 1 nền chính trị cường quyền”, và đối với khu vực này tạo thành hậu quả không lường”, đồng thời “tổn hại đến nền kinh tế thế giới”. Họ đều nhất trí kêu gọi 2 bên Trung - Mỹ nên thông qua đàm phán để giải quyết vấn đề tranh chấp này. Kể từ ngày 13 tháng 6 năm 1996 hai bên Trong - Mỹ đã bắt đầu chính thức đi vào bàn đàm phán trong vòng 5 ngày, nét chủ yếu của vòng đàm phán này là ép buộc Trung Quốc đóng cửa tất cả các xưởng sản xuất băng đĩa lậu và mở cửa thị trường ngành băng hình. Hai cái gọi là “đóng cửa” và “mở cửa” này của Mỹ rõ ràng là cái gậy treo củ cà rốt. Cũng như thế, trên phương diện ủng hộ Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Mỹ cũng thể hiện là không muốn quan tâm, nhưng lại lo lắng Trung Quốc sẽ rút khỏi vòng đàm phán mà mất đi thị trường Trung Quốc. Cho nên, Mỹ buộc Trung Quốc phải giải quyết các tranh luận trong quan hệ kinh tế, thương mại với Mỹ, để cho Mỹ củng cố thêm quyền chính trị và lợi ích kinh tế. Mặc dù, Chính phủ Mỹ có thiện ý, và đối thoại mang tính xây dựng, Mỹ không muốn “đi lên bằng con đường cũ” và “trở lại thời kỳ chỉ trích và cô lập lẫn nhau”, nhưng đa số các chuyên gia về vấn đề quốc tế cho rằng cái cốt lõi của nó vẫn là vì “thúc đẩy lợi ích của Mỹ”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:35:05 pm Hòa hoãn hai bên đều có lợi, đối đầu hai bên đều thiệt hại Trong sự phát triển quan hệ kinh tế thương mại Trung - Mỹ đang ở giữa ngã ba đường, các chuyên gia và các ngành có liên quan đã chỉ rõ, 2 bên Trung - Mỹ “hòa hoãn thì 2 bên đều có lợi, đối đầu thì cả hai đều thiệt hại”. Nếu Trung - Mỹ tiến hành trả đũa lẫn nhau, thì Trung Quốc sẽ phải chịu sự tổn thất nhất định, mà Mỹ cũng phải gánh chịu sự thiệt hại, mà tổn thất 2 bên thì cũng không bên nào hơn bên nào. Chính phủ 2 nước Trung-Mỹ đã ký Hiệp định thương mại vào ngày 7 tháng 7 năm 1979 hai nước đã được ưu đãi, tối huệ quốc. Từ đấy, con đường thương mại 2 nước đi trên một bước phát triển mới. Vào những năm 90, quan hệ kinh tế 2 nước Trung - Mỹ đã xuất hiện những mặt tích cực và cải thiện. Nhất là, khi Tổng thống Bin Clintơn tuyên bố vô điều kiện kéo dài việc cho Trung Quốc tối huệ quốc vào năm 1994, 1995 và thoát khỏi cái móc nhân quyền, quan hệ kinh tế thương mại. Đương nhiên, trên con đường phát triển quan hệ kinh tế thương mại Trung - Mỹ không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, trong thời gian đó cũng gặp phải không ít khó khăn. Nhưng trong mọi cố gắng của cả hai bên, thì sự hợp tác thương mại kinh tế của hai nước Trung - Mỹ đã giành được những thành tích đáng kể. Theo thống kê của phía Trung Quốc, kim ngạch thương mại 2 bên đã tăng từ 2 tỷ rưỡi đô la năm 1979 lên 40,8 tỷ đô la năm 1995, tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 20% cho đến cuối năm 1996. Mỹ đã đầu tư hơn 20.000 hạng mục tại Trung Quốc, trên thực tế đã vượt mức 10 tỷ đô la, Mỹ trở thành bạn hàng lớn thứ ba của Trung Quốc, Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ sáu của Mỹ, mà từ tình hình xuất khẩu hàng hóa phân tích, thương mại 2 bên có tính tương hỗ rất mạnh. Trong lĩnh vực đầu tư, đầu tư cho nhau không những đã tạo rất nhiều cơ hội việc làm cho các nước mà còn thúc đẩy giao lưu về văn hóa, kỹ thuật giữa hai bên. Công bằng mà nói, sự lâu bền của hai bạn hàng kinh tế mậu dịch Trung - Mỹ ngày càng lớn. Trung Quốc không muốn châm ngòi chiến tranh - không sợ đòn trừng phạt Là một quốc gia có chủ quyền; lập trường của Trung Quốc rất rõ ràng đúng đắn. Vụ trưởng Vụ tư pháp Bộ Thương mại với nước ngoài Trương Nguyệt Giao đã nhiều lần cho biết: Trung Quốc bảo vệ thành quả bản quyền trí tuệ Mỹ không dễ dàng phủ nhận, nên tách riêng hiện tượng xâm phạm bản quyền với hành động của Chính phủ, rất nhiều nước đang dốc sức chống lại tệ nạn buôn lậu ma túy nhưng cũng không hoàn toàn diệt được tận gốc như các loại tội phạm. Đồng thời, cũng phải thừa nhận rằng, Trung Quốc là một quốc gia lớn với 1,2 tỷ dân, nếu muốn cho mỗi người dân hiểu được và chấp hành pháp luật thì cần phải có một thời gian. Hiện nay, Trung Quốc đang chống lại việc ăn cắp bản quyền, và sức ép bên ngoài càng lớn. Như vậy là không công bằng. Đối với những nét chính trong đàm phán là mở rộng thị trường băng đĩa, Trương Nguyệt Giao cho biết: Còn lại 22 doanh nghiệp sản xuất đĩa CD thì chỉ có 4 doanh nghiệp là của Trung Quốc tự đầu tư sản xuất, tất cả các doanh nghiệp khác đều là xí nghiệp liên doanh. Ngay cả “thời báo Niuoóc” cũng đưa ra kết luận sau khi Chính phủ Bin Clintơn tiến hành điều tra các nhà máy của Trung Quốc: Các nhà máy của Trung Quốc ăn cắp bản quyền bắt nguồn từ nước ngoài: Theo báo cáo điều tra, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều có một bộ phận kinh doanh ở nước ngoài. Trong đó có một vài công ty là bạn hàng và các nước đồng minh thân cận với Mỹ tiến hành hoạt động. Vì vậy, tờ báo này đưa ra chất vấn: Trung Quốc phải chăng phịu trách nhiệm trong việc ăn cắp bản quyền sản phẩm Mỹ? Trước vòng đàm phán 5 ngày vào ngày 13 tháng 6 Chính phủ Trung Quốc một lần nữa nhấn mạnh, Trung Quốc không muốn nổ ra cuộc chiến thương mại, nhưng Trung Quốc cũng không sợ đòn trừng phạt, đồng thời Trung Quốc cũng không sợ áp lực và sức mạnh quyền lực. Để mà uy hiếp và trừng phạt lẫn nhau đối với việc giải quyết những tranh chấp thì không mang lại lợi ích gì, ngược lại sẽ làm cho sự chia rẽ càng thêm phức tạp, giảiquyết sự chia rẽ giữa các quốc gia thì chỉ có một con đường duy nhất là bình đẳng thỏa hiệp. Quyết tâm bảo vệ bản quyền trí tuệ của Trung Quốc là rất cương quyết, hành động thiết thực, đây là nhu cầu thiết yếu của chính mình, và không có sự cưỡng ép. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:37:42 pm PHẦN 2 QUAN HỆ TRUNG - NGA KIỂU MỚI Quan hệ Trung-Nga phát triển vững chắc Trung Quốc và Nga là hai nước láng giềng, có chung 4.000 km biên giới. Nhân dân hai nước đã có truyền thống hữu nghị. Sau khi Nga độc lập, qua sự cố gắng chung của hai bên, quan hệ hai nước Trung - Nga phát triển ổn định, tràn đầy sức sống. Trong các lĩnh vực chính trị, thương mại, khoa học, văn hóa và quân sự v.v... đều thiết lập sự hợp tác có hiệu quả chưa từng có, đặc biệt là chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Ensin tháng 12 năm, 1992 và trong thời gian thăm Nga tháng 9 năm 1994 của Chủ tịch Giang Trạch Dân. Hai bên đã ký “Tuyên bố chung Trung-Nga” và một loạt văn kiện quan trọng khác, nhắc lại Trung-Nga không sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên, tuyên bố hai bên không dùng tên lửa chiến lược đế nhằm vào đối phương, đặt nền móng vững chắc cho xây dựng tình hữu nghị lâu dài hướng tới thế kỷ 21. Tháng 5 năm 1995 Chủ tịch Giang Trạch Dân lại đến Mátxcơva dự lễ kỷ niệm 50 năm thắng lợi của cuộc chiến tranh chống phát xít, đã gặp Tổng thống Ensin, hai bên nhất trí tiếp tục nỗ lực chung để xây dựng quan hệ hợp tác hữu hảo lâu dài và ổn định. Tiếp đó, Thủ tướng Lý Bằng đã chính thức thăm Nga vào tháng 6. Sự thường xuyên tiếp xúc và gặp gỡ của những người lãnh đạo hai nước Trung-Nga đã thúc đẩy hai nước phát triển “quan hệ bạn bè có tính xây dựng” hướng tới thế kỷ 21 Bô rít Ensin thăm Trung Quốc 2 giờ 40 phút chiều ngày 24 tháng 4 năm 1996, chiếc chuyên cơ màu bạc từ từ đáp xuống sân bay Nam Ninh. Tổng thống Borit Ensin và phu nhân Lana bước xuống cầu thang máy bay, bước lên tấm thảm đỏ. Ra đón đoàn có bộ trưởng Bộ Lao động Lý Bá Dũng, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Đức Quảng, Đại sứ quán Trung Quốc tại Nga Lý Phong Lâm. Hai thiếu nữ Trung Quốc và hai thiếu nữ Nga chạy lên tặng hoa cho Tổng thống Ensin và phu nhân. Sau đó Tổng thống Ensin cùng đoàn đi đến phía đội danh dự đã chờ sẵn từ trước. Đoàn mô tô hộ tống đưa đoàn đi về phía thành phố. Đây là lần thứ hai Ensin đến thăm Trung Quốc trong vòng hơn 3 năm lại đây. Trong thời gian ở thăm, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã tiến hành hội đàm với ông. Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Bằng và Uỷ viên trưởng Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Kiều Thạch đã lần lượt hội kiến với ông. Chuyến thăm Trung Quốc lần này của Ensin, ngoài việc cùng với Chủ tịch Giang Trạch Dân ký “Tuyên bố chung Trung-Nga ở Bắc Kinh ra, hai nước Trung-Nga còn ký mười mấy văn kiện khác. Ở Thượng Hải, Chủ tịch Giang Trạch Dân và Tổng thống Ensin cùng với Tổng thống của các nước Cadăcxtan, Tátgikixtan và Kirgidixtanđã cùng nhau ký kết Hiệp định tín nhiệm tăng cường lĩnh vực quân sự ở biên giới. Sáng ngày 27 tháng 7 Borit Ensin đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Trung Quốc 3 ngày, đáp chuyên cơ rời Thượng Hải bay về hướng thủ đô Cadăcxtan. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:38:48 pm Lợi ích của quan hệ Trung-Nga Ngày 25 tháng 4 năm 1996 hai nước Trung-Nga công bố Tuyên bố chung. Tân Hoa xã có bài bình luận “Lợi ích của quan hệ Trung-Nga”. Bài bình luận đã chỉ rõ: Có thể tin tưởng, mối quan hệ Trung - Nga kiểu mới sẽ mang lại điều tốt đẹp cho nhân dân hai nước, mang lại hòa bình và sự phát triển cho cả loài người. Cuộc đến thăm tiếp sau của Tổng thống Nga Borit Ensin cùng cuộc gặp gỡ chính thức lần thứ 3 giữa các nhà lãnh đạo tối cao của 2 nước và những lời phát biểu chung của hai nước Trung - Nga không chỉ đánh dấu mối quan hệ láng giềng hữu hảo Trung - Nga trước thềm thế kỷ 21 đã bước sang giai đoạn mới, mà còn xây dựng được mối quan hệ đúng đắn, lành mạnh, gợi mở hướng có lợi giữa các nước mạnh hiện nay trên thế giới. Trung-Nga với tư cách là quốc gia mạnh đã quyết tâm mở rộng mối quan hệ hợp tác bạn bè chiến lược trước thềm thế kỷ 21. Mối quan hệ quốc gia kiểu mới không liên kết - không đồi kháng - không chỉ trích đối với nước thứ 3 này đã phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân 2 nước và cùng có lợi đồi với sự phát triển hòa bình, ổn định cộng đồng ở khu vực Âu, Á và toàn thế giới. Trong cuộc hội đàm, Tổng thống Bôrít Ensin và Chủ tịch Giang Trạch I)ân cùng nhấn mạnh cần phải từ chiến lược toàn cục và tầm nhìn vươn tới của thế kỷ 21 để xây dựng và phát triển mối quan hệ Trung - Nga trước mắt và tương lai. Thông cáo chung Nga - Trung được công bố ngày 25 tháng 4 là tuyên bố chung lần thứ 3, tiếp theo tuyên bố chung trên cơ sở quan hệ hai nước khi tổng thống Ensin thăm Trung Quốc tháng 12 năm 1992 đã ký với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo hai nước đã ký kết khi Chủ tịch Giang Trạch Dân thăm Nga. Tuyên bố này rất phong phú và mở rộng. Hai nước đã xây dựng các nguyên tắc của quan hệ hữu bảo, tín nhiệm có tính chất lâu dài, ổn định và xây dựng. Chứng tỏ hai nước quyết tâm phát triển quan hệ bạn bè hợp tác chiến lược tín nhiệm bình đẳng hướng tới thế kỷ 21. Trên thực tế, hai nước Trung - Nga đã xây dựng quan hệ trên mô hình mới, xây đắp nên một nền tảng chính trị tốt đẹp. Trong nhiều lần tuyên bố chung, hai bên đều nhấn mạnh cùng nhau tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm và can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng nhau tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi nước. Sự khác biệt về chế độ xã hội và ý thức hình thái, không ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của quan hệ hai nước. Không mưu cầu bá quyền khu vực và phản đối chủ nghĩa bá quyền, chính trị cường quyền với bất kỳ hình thức nào. Những nguyên tắc đã được xác lập này là sự bảo đảm có hiệu quả cho sự củng cố và phát triển quan hệ hai bên. Những hiểu biết chung trong rất nhiều vấn đề quốc tế cùng với hiệp thương hợp tác trong giải quyết công việc ở Liên Hợp Quốc của hai nước Trung-Nga rất có lợi cho sự phát triển hòa bình thế giới. Về mặt quân sự, hai nước Trung-Nga cam kết không sử dụng vũ lực. Nghĩa vụ đặc biệt hai bên là không sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên. Hai bên đều không được sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược nhằm vào đối phương. Tuyệt đại bộ phận tuyến biên giới Trung-Nga dài 4.300 km đã được cố định bằng luật pháp để tạo điều kiện xây dựng tình “láng giềng hữu hảo, hòa bình, an ninh” cho khu vực biên giới. Về phát triển quan hệ hai bên, trong việc phát triển quan hệ song phương hai nước Trung-Nga tăng cường buôn bán, hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Trung-Nga đã ký kết hàng loạt các hiệp nghị hợp tác, giúp cho sự bổ sung ưu thế của hai nước Trung-Nga biến thành hiện thực. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới ngày càng có khuynh hướng quốc tế hóa tập đoàn hóa, sự hợp tác kinh tế bình đẳng cùng có lợi của hai nước lớn Trung-Nga giúp sức xây dựng trật tự mới nền kinh tế thế giới và sự phát triển chung của các nước trên thế giới Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:39:32 pm Nga tiến xuống phía nam. Trước khi Ensin thăm Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Bin Clintơn đã sang thăm Nhật Bản và Hàn Quốc để tăng cường “hệ thống an ninh Nhật - Mỹ”. Xưa kia hai nước bá chủ thế giới vung roi tiến vế phía Đông. Sự thật làm cho người ta có cảm giác rằng thế giới nay đang ở trong trạng thái “Hòa bình lạnh”. Tổng thống Nga Ensin mang theo chính sách phương Đông của ông đến Trung Quốc. Một quan chức trong Bộ Ngoại giao Nga giải thích chính sách này là “Phương hướng Trung Quốc” của nền ngoại giao Nga. Đó là một cách giải thích mới. Như vậy đối với Đông Á nó có hàm ý gì? Chính sách phương Đông của Nga có thể khái quát bằng hai mặt: Một là ổn định Trung Á; Hai là phát triển phát triển về phía Nam. Chính sách này mang nội dung truyền thống chính sách phương Đông của dân tộc Nga, bây giờ nó được nhắc lại, không có gì mới. Có ý mới là bối cảnh hiện thực của nó. Trong mấy năm trước khi bầu cử Nghị viện năm 1995, Nga luôn theo đuổi chính sách hợp tác với phương Tây. Nhưng chính sách này hiện nay đã vấp phải những lời kêu ca của nhiều cử tri. Do sức ép của hiện thực này, buộc nước Nga phải phát triển về phía Đông. Sau khi Liên Xô giải thể, các nước Trung Á trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền. Khu vực Trung Á cùng các nước Ixlam ở miền Nam đều có chung hình thái văn hóa và ý thức. Những quốc gia này tồn tại và chuyển mình về phía Nam, sẽ hình thành một vành đai nhạy cảm cực mạnh. Hình thế này, tất nhiên làm cho vành đai này càng thêm tan rã. Bởi vậy sự ổn định của Đông Á đã trở thành đề tài chiến lược to lớn của nước Nga. Trong tình thế này nước Nga không thể né tránh việc hợp tác với Trung Quốc. Do hai nước lớn bắt tay nhau, cân bằng lực lượng ở khu vực này, tổ chức lại vành đai biên giới. Khi Bôrít Ensin thăm Trung Quốc đã ký 5 hiệp ước với Trung Quốc và 3 nước Trung Á. Đây có thể xem như nước Nga mong muốn có một kết quả cụ thể của sự ổn định miền Trung Á. Trong tình thế NATO mở rộng về phía đông, thế quân bình ở Đông Á có thay đổi, Nga có cảm giác bị thất bại và căng thẳng. Tuy Đông Á không phải là con đường chủ yếu để Nga tiến xuống phía Nam. Trên ý nghĩa truyền thống nhưng tình thế hiện nay đã thay đổi. Nền kinh tế của các quốc gia Đông Á đã tăng trưởng ổn định. Trước mắt là thị trường sôi động nhất của toàn cầu. Đồng thời ưu thế đất đai của Đông Á không ngừng phát triển. Nếu nói thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Thái Bình Dương, như vậy, Đông Á sẽ là mảnh đất chiến lược, nhạy cảm nhất của khu vực Thái Bình Dương. Sau đại chiến thế giới 2, Mỹ giữ vai trò chủ đạo ở khu vực này. Những năm 60, sau khi Trung-Xô chia tay, nước Nga hầu như bị ra khỏi Đông Á; Sau chiến tranh lạnh lại bị trục xuất ra khỏi Đông Á, trong bối cảnh này, tiến vào Đông Á là một bộ phận hợp thành quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Nga. Vì thế, Nga coi việc phát triển quan hệ với Trung Quốc làm “bốt gác đầu cầu” để tiến vào Đông Á, cũng có thể nói là chơi con bài “Trung Quốc”. Trong tình hình Mỹ tăng cường tồn tại với các nước Đông Nam Á và tăng cường quan hệ với Nhật Bản, Nga thực thi chính sách tiến xuống phía Nam, có thể nói là không có lựa chọn nào khác. Đương nhiên, Trung Quốc không nên đánh giá quá cao chính sách phương Đông của Nga, mà cần phải nhìn thấy, nước Nga thực hiện chính sách phương Đông là đã để mắt đến một hành động có tính chiến lược của thế kỷ 21. Trung Quốc cần phay nghiên cứu kỹ đối với sự tồn tại và ảnh hưởng, trong khu vực này của Nga. Trước hết phải xem xét đến ảnh hưởng to lớn của Nga đối với Đông Á. Nếu quá tin tưởng vào dư luận chung nói rằng Nga chỉ là động cơ của chủ nghĩa cơ hội thì sẽ dẫn đến sai lầm trong việc đánh giá tình hình. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:43:46 pm PHẦN 3 SỰ BẤT ĐỒNG GIỮA NGA VÀ MỸ VỀ VẤN ĐỀ BOSNIA Tình hình trước đây và hiện nay của vấn đề Bosnia Nước Cộng hoà Bosnia và Hécscôvina (gọi tắt là Cộng hoà Bosnia) nằm ở phía tây bán đảo Ban căng, vốn là 1 trong 6 nước cộng hoà của Nam Tư cũ. Diện tích 51.129 km2 với dân số hơn 4 triệu người, do 3 dân tộc Ixlam, Xécbia và Croatia hợp thành. Năm đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nam Tư và Nguyên soái Titô, 4 năm đổ máu chống phát xít đã đánh đổi 170 vạn sinh mạng lấy nước Cộng hòa liên bang Nam Tư, một trận khá quyết liệt, chấn động toàn thế giới. Nhưng sau này, do tác động của một số nhân tố trong và ngoài nước, chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo mâu thuẫn, dẫn đến mất cân đối. Tháng 4 năm 1992, 3 dân tộc của Bosnia đã xảy ra tranh chấp, tranh cãi về vấn đề: Liệu có tách khỏi Nam Tư cũ hay không, đồng thời tạo thành cuộc nội chiến lớn nhất châu Âu kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Trong thời gian nội chiến, Slovakia, Croatia và Bosnia, các nước phương Tây được thừa nhận độc lập một cách vội vàng đã đưa ra người hòa giải, phương án hoà bình mà họ đưa ra đều không được chấp nhận bởi các bên đều kiên định lập trường của mình. Tháng 11 năm 1995, dưới áp lực của Mỹ, Tổng thống của 3 nước Cộng hoà Bosnia, nam liên minh Xecbia và Croatia đã đạt được hiệp nghị hòa bình. Ngày 14 tháng 12 năm đó, hiệp nghị này được chính thức ký kết tại cung điện phủ Tổng thống Pháp. Đến đây tuyên bố kế thúc 3 năm 8 tháng nội chiến Bosnia. Chiến tranh Bosnia, vì sao khó kết thúc “Báo Hồng Tinh” của Nga khi nói về cuộc chiến tranh đau thương đã khiến 250 nghìn người chết và 2 triệu người trở thành vô gia cư này đã viết: “Bi kịch của NamTư, sở dĩ kéo dài như vậy là do các nước lớn khi hòa giải đều muốn xác lập địa vị của mình trong mối tương quan lực lượng của thế giới mới và châu Âu” 3 dân tộc chính của Bosnia là Ixlam, Xécbia, và Croatia lần lượt theo đạo Ixlam, và đạo Thiên Chúa giáo Truyền thống văn hóa và phong tục tập quán của họ không giống nhau, trong lịch sử có một số ân oán không rõ ràng. Đặc biệt là trong đại chiến lần 2, Bosnia đã từng xảy ra bi kịch 3 dân tộc tàn sát lẫn nhau, khi Nam Tư cũ bắt đầu giải thể, giữa các nhà lãnh đạo của 3 dân tộc Bosnia bắt đầu nảy sinh sự bất đồng. Hai dân tộc Ixlam và Croatia chủ trương Bosnia độc lập, nhưng dân tộc Xécbia kiên quyết phản đối, vì vậy thời kỳ đầu của nội chiến xuất hiện cục diện 2 dân tộc Ixlam và Croatia liên kết phản đối dân tộc Xécbia. Nhưng về vấn đề thể chế nhà nước, Ixlam chủ trương Bosnia duy trì thống nhất để có tác dụng chi phối Bosnia, nhưng 2 dân tộc Xécbia và Croatia không đồng ý liệt vào các dân tộc thiểu số. Vì vậy yêu cầu chia Bosnia làm 3 sau đó hợp thành liên bang. Sự chia. rẽ này lại dẫn đến 2 dân tộc Ixlam và Croatia sau này trở mặt thành thù, quyết sống mái với nhau. Ý đồ của các nước phương Tây là lợi dụng cuộc nội chiến ở Bosnia để làm suy yếu Xécbia do người của Đảng Cộng sản cũ nắm quyền. Vì vậy cố gắng thi hành phương châm chiến lược lấy 2 dân tộc Ixlam và dân tộc Croatia đánh dân tộc Xéc. Nga cố gắng ủng hộ nước đồng minh truyền thống của mình là Xécbia để tăng cường địa vị của các nước lớn và tranh giành ảnh hưởng trên bán đảo Ban căng. Mỹ xuất phát từ lợi ích của chiến lược Trung Đông, luôn đồng tình với nước Ixlam ủng hộ yêu cầu của Ixlam. Đồng thời, Mỹ còn lợi dụng nội chiến có Bosnia để kiềm chế các nước đồng minh Tây Âu nhằm duy trì ảnh hưởng của mình ở châu Âu vì vậy mà không thể giải quyết hòa bình trong xung đột Bosnia, chính là do cuộc tranh giành cấu xé lẫn nhau ở Bosnia của các nước lớn cộng đồng quốc tế vẫn chưa áp lộng hành động thiết thực có hiệu quả nào để kết thúc nguy cơ Bosnia. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:44:14 pm Đối đầu và đối thoại giữa Nga và Mỹ Đầu tháng 9 năm 1995, NATO tiến hành oanh tạc liên tiếp trận địa Xéc trong vòng 2 tuần. Nga đã đưa ra tuyên bố về vấn đề này, nghiêm khắc lên án NATO “mưu đồ biến Bosnia thành chiến trường thử nghiệm để chứng minh “tác dụng mới” của mình trong công việc của châu Âu và Quốc tế, thi hành chính sách hủy diệt sắc tộc đối với dân tộc Xéc, đe doạ sự an toàn của Nga và châu Âu, đồng thời đưa ra lời cảnh báo, nếu tình hình tiếp tục diễn biến, Nga sẽ thi hành biện pháp tương ứng, tăng cường viện trợ cho dân tộc Xéc, xem xét lại “quan hệ bạn hàng hữu nghị với khối NATO” và Điều ước quân sự Quốc tế. Đồng thời Nga cũng vẫn tiến hành những nỗ lực ngoại giao yêu cầu NATO ngừng ném bom oanh tạc dân tộc Xéc, kêu gọi các bên xung đột ngừng chiến, kiến nghị lập tức triệu tập Hội nghị quốc tế và Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, tìm biện pháp giải quyết về mặt chính trị. Nhưng Mỹ không những không quan tâm tới lập trường của Nga mà còn dùng máy bay tuần tra, oanh tạc trận địa Xéc, đồng thời phao tin rằng trước khi dân tộc Xéc chưa chấp nhận hoàn toàn điều kiện của các nước phương Tây thì NATO quyết không thay đổi lập trường của mình, đó là dùng vũ lực đối phó với dân tộc Xéc. Quan hệ giữa Nga, Mỹ và khối NATO cũng vì thế mà ngày càng căng thẳng. Oasinhtơn một mặt áp dụng chính sách lạm dụng vũ lực tăng cường tấn công và ném bom oanh tạc. Mưu đồ dùng biện pháp phá huỷ lực lượng quân sự để bắt buộc dân tộc Xéc phải chấp nhận phương án mới của Mỹ. Mặt khác lại cử trợ lý Quốc vụ khanh Hoorbok tích cực ngoại giao hoà giải ở khu vực Nam Tư cũ, thúc đẩy các bên xung đột ngồi vào bàn đàm phán. Thế là, Mỹ đã tấn công dân tộc Xéc, lại tăng cường ảnh hưởng và địa vị cửa mình ở bán đảo Ban căng, còn ngăn chặn ảnh hưởng của Nga. Điều khiến Nga tức giận là NATO khi quyết định ném bom oanh tạc dân tộc Xéc, ký “những ghi nhớ và thông cảm lẫn nhau” với Liên Hợp Quốc đều không bàn bạc với Nga. Ngoài ra, Nga và dân tộc Xéc vốn có quan hệ truyền thống trong lịch sử, các nước phương Tây dùng vũ lực tấn công dân tộc Xéc khiến cộng đồng Nga hoàn toàn không đồng ý. Các lực lượng xã hội tăng thêm áp lực đối với nhà lãnh đạo Mátxcơva yêu cầu áp dụng biện pháp cứng rắn đối với các nước phương Tây. Trước khi nghị viện Nga tiến hành tổng tuyển cử, các nhà lãnh đạo không thể không nghĩ tới tình hình, xã hội. Ngày 14 tháng 9 năng 1995, phó Quốc vụ khanh Mỹ nhận lệnh của Tổng thống Clintơn đi thăm Mátxcơva “định giải quyết những bất đồng sâu sắc về vấn đề Bosnia giữa Nga và Mỹ”. Hai bên đã bàn bạc, cùng nhau tìm ra một phương án giải quyết chính trị tình hình Nam Tư cũ. Sau khi phó Quốc vụ khanh Mỹ và Ngoại trưởng Nga tiến hành hội đàm “thẳng thắn và mang tính xây dựng”, Nga vẫn kiên trì yêu cầu NATO ngừng không kích, thực hiện ngừng chiến ở Bosnia, Mỹ đồng ý thay đổi tình hình hiện tại “từ chiến tranh hướng tới hoà bình”. Hai bên còn đồng ý lợi dụng ảnh hưởng của các bên xung đột ở Bosnia để đẩy mạnh việc giải quyết về mặt chính trị. Thực ra trước khi phó Quốc vụ khanh Mỹ đến thăm Nga, Tổng thống 2 nước đã trao đổi thư từ, tỏ ý nỗ lực để lập trường của 2 bên tiến gần nhau hơn. Ngày 14, Tổng thống Enxin còn phủ quyết 2 quyết định của Đuma quốc gia Nga về việc xóa bỏ chế tài quốc tế đối với Nam Tư. Do xung đột Bosnia mà quan hệ Nga và Mỹ vốn căng thẳng nay xuất hiện dấu hiệu dịu lại. Có dư luận phân tích rằng, Nga và Mỹ đều có lợi ở Ban căng và châu Âu, khó có thể giải quyết được bất đồng nghiêm trọng giữa 2 bên, nhưng trong tình thế hiện nay, Nga và Mỹ đều có những nhân tố chính trị, quân sự, để chế ước đối phương, hai bên đều không muốn tiếp tục đối kháng. Vì vậy 2 nước sẽ cùng mưu cầu hợp tác. Mục đích của ông chính là “phải ngăn chặn 2 nước xảy ra xung đột chiến lược”. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:44:51 pm Nga và Mỹ tranh nhau quyền chỉ đạo quân đội đa quốc gia Bosnia Cùng với việc xung đột Bosnia dần dần được giải quyết về mặt chính trị, sự tranh giành giữa Nga và Mỹ trong vấn đề giành quyền chỉ đạo quân đội đa quốc gia đóng ở Bosnia ngày càng rõ rệt. Ngày 8 tháng 10 năm 1995 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Bộ trưởng Quốc phòng Nga đã tổ chức cuộc hội đàm căng thẳng, kéo dài 1 ngày ở Giơnevơ, dự định xóa bỏ bất đồng giữa 2 nước, đạt được tiếng nói chung. Nhưng 2 bên, ngoài nhất trí cho rằng cần phải cử một đội quân đa quốc gia đến Bosnia để giám sát các bên xung đột, thực hiện hiệp nghị hòa bình ra, “vẫn tồn tại những bất đồng sâu sắc, về hàng loạt vấn đề như quyền chỉ huy quân sự, tên gọi quy mô, phân công nhiệm vụ và phân chia kinh phí... của quân đội đa quốc gia. Kiến nghị cử 1 đội quân đa quốc gia đến Bosnia là do Mỹ đề ra. Mỹ và các nước đồng minh NATO tỏ ý hoan nghênh Nga, một nước bạn truyền thống của Bosnia, cử binh lính tham gia vào đội quân đa quốc gia để tỏ rõ sự công bằng và trung lập của đội quân này. Nga cùng đồng.ý tham gia vào đội quân này để khỏi bị Mỹ và các nước phương Tây loại ra trong tiến trình hòa bình ở Bosnia và khỏi bị mất đi thế lực truyền thống và ảnh hưởng của mình ở khu vực Ban căng. Nhưng vấn đề nan giải là đội quân đa quốc gia này nên tổ chức như thế nào quyền chỉ huy và khống chế nên do ai nắm giữ. Trước tình thế giằng co giữa 2 bên, Mỹ buộc phải đưa ra một phương án trì hoãn: Chia quân đội đa quốc gia làm 2, quân đội NATO chủ yếu thi hành nhiệm vụ quân sự mang tính cưỡng chế, quân đội Nga và các nước khác thì chủ yếu phụ trách việc giúp Bosnia xây dựng lại đất nước. Hai bộ phận lập riêng 2 hệ thống chỉ huy, nhưng Nga cho rằng phương án mang “sự kỳ thị rõ rệt này” không những sẽ làm giảm nhanh tác dụng hòa giải ở Bosnia mà còn dễ gây ra sự chia rẽ nội bộ. Thực ra Mátxcơva lo lắng nhất là quân đội Nga bị đặt vào vị trí phụ. Mặt khác về vấn đề quy mô của quân đội đa quốc gia Nga, Mỹ cũng còn tồn tại những bất đồng lớn, Nga yêu cầu cử 1 sư đoàn tăng cường và 2 trại lính tham gia quân đội đa quốc gia ở Bosnia, tổng binh lực lên tới hơn 20.000 người, nhưng Mỹ mong rằng Nga chỉ cử nhiều nhất là mấy trại lính. Mỹ sợ rằng lực lượng của Nga và Mỹ trong quân đội đa quốc gia tương đương nhau sẽ cản trở hành động của quân đội Mỹ và toàn bộ đội quân NATO. Điều càng lo lắng hơn là quân đội Nga thừa cơ đóng quân lại Bosnia, gây nên cục diện giống như Liên Xô và các nước phương Tây ở Béclin bị chia cắt sau đại chiến lần thứ 2. Có thể nói Mỹ yêu cầu Nga tham gia vào đội quân đa quốc gia Bosnia chỉ là để làm đẹp cục diện, không hề mong muốn Nga tham gia một cách thực chất về vấn đề phân chia kinh phí của quân đội đa quốc gia Bosnia, chủ trương của Nga & Mỹ cũng khác nhau rất xa. Mỹ đề ra kinh phí của quân đội đa quốc gia do các nước thành viên tự chịu hoặc cùng góp. Nhưng Nga lại yêu cầu Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức Quốc tế có liên quan giúp đỡ. Do hàng loạt những mâu thuẫn và bất đồng trên, khi xây dựng quân đội đa quốc gia gặp rất nhiều khó khăn. Trong tranh luận của Nga và Mỹ về vấn đề này đã phản ánh rõ suy nghĩ của 2 nước lớn trong việc tranh giành lợi ích khác nhau ở khu vực Bancan. Cùng với việc quyết tâm đến tiến trình hoà bình Bosnia, sự xung đột lợi ích của 2 bên cũng ngày càng rõ ràng hơn. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:45:26 pm Mỹ đưa ra chủ trương mở rộng NATO Từ 1995 đến nay, Nga tích cực thi hành chiến lược ngoại giao “Nhiều mặt” (đa phương vị) Chiến lược ngoại giao “Đa phương vị” chủ yếu bao gồm 3 phương diện tìm hợp tác trong đấu tranh tăng cường địa vị chủ đạo mở rộng quan hệ với các nước châu Á Thái Bình Dương, vấn đề chủ yếu là tiếp tục khôi phục địa vị nước lớn của Nga, giành lấy quyền chủ đạo trong các công việc quốc tế. Để thực hiện được mục đích chiến lược ngoại giao “Đa phương vị”, Nga ngoài “vừa đấu tranh vừa hợp tác” với các nước phương Tây với việc giải quyết xung đột Bosnia ra, còn thương lượng với các nước phương Tây về vấn đề mở rộng khối NATO. Quan hệ với khối NATO luôn là đề tài quan trọng và chính sách đối ngoại của Nga, nó quyết định tính chất của mối quan hệ thế giới giữa Nga và phương Tây mà Mỹ đứng đầu Sau khi hiệp ước Vácsava giải tán và Liên Xô giải thể, Nga vẫn hy vọng rằng NATO là sản phẩm của “chiến tranh lạnh” cũng theo đó mà giải thể để xóa bỏ sự đối kháng chính trị và quân sự của châu Âu. Nhưng liên minh châu Âu, NATO, liên minh Tây Âu và “7 nước lớn” luôn phản đối Nga đứng ngoài cuộc. Hơn nữa, Mỹ còn nhân cơ hội điều chỉnh chiến lược của mình ở châu Âu, đề ra chủ trương mở rộng các thành viên của NATO, dự định chuyển phạm vi thế lực của phương Tây ở châu Âu sang phía Đông, để củng cố hậu quả của chiến tranh lạnh, cô lập Nga. Kế hoạch mở rộng NATO về phía Đông bị Nga kịch liệt phản đối. Nga từ tháng 12 năm 1994 trong hội nghị cấp cao Buđapét của Tổ chức An ninh châu Âu, Mỹ - Nga đã có giao chiến kịch liệt về vấn đề mở rộng NATO về phía Đông. Tổng thống Nga Enxin kiên quyết phản đối mở rộng NATO về phía Đông, NATO không thể mở rộng phạm vi trí lực của mình đến biên giới của Nga, Tổng thống Mỹ Clintơn nhấn mạnh NATO nên là trụ cột của an ninh châu Âu, Nga không có quyền phủ quyết việc mở rộng NATO về phía Đông. Từ sau hội nghị lần này, lập trường của Nga về vấn đề mở rộng NATO về phía Đông không có gì thay đổi. Nga đã từng có lần đề ra, phải xây dựng lại Hiệp ước Vácsava hoặc đồng minh về quân sự, chính trị, ở tuyến phía Tây, bố trí lại vũ khí hạt nhân và quân đội, sau này do một số nước khác phản đối việc này, thực lực của đất nước về tổng thể không bằng trước kia, đồng thời cũng không muốn tiếp tục đối kháng với các nước phương Tây nên phương án này không được thực thi. Nga yêu cầu không xâm phạm biên giới Nga đương nhiên hiểu rõ, bất luận nói về thực lực hay là luật quốc tế đều không thể phủ quyết mở rộng NATO về phía Đông. Ngoại trưởng Nga cho rằng, mở rộng NATO về phía Đông có thể trở thành hiện thực, vì vậy mà phải tiêu diệt (loại bỏ) các nhân tố tiêu cực do đó mà nảy sinh. Xem xét những điều khó tránh khỏi khi mở rộng về phía Đông, Nga yêu cầu chỉnh lý lại hiệp ước năm 1990 về trang bị quân sự của châu Âu, lấy Hiệp ước Vácsava và NATO làm cơ sở. Vùng phụ cận biên giới Nga không thuộc diện tích của NATO, bảo đảm không xâm phạm biên giới Nga. Đồng thời, Nga đang cố gắng chấn hưng kinh tế và thúc đẩy cải cách quân sự. Báo Pravđa của Nga bình luận rằng, chỉ có như vậy, mới có thể đảm bảo chắc chắn an ninh quốc gia, Nga mới có thể có những người bạn trung thành đáng tin cậy, bao gồm những bạn bè ở châu Âu. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:46:21 pm Hội nghị Lisbon Từ ngày 02 đến 03 tháng 12 năm 1996, Hội nghị cấp cao của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu đã họp tại Lisbon thủ đô Bồ Đào Nha. Các nguyên thủ quốc gia, các nhà lãnh đạo Chính phủ cao cấp, các đại biểu của 54 nước thành viên Tổ chức hợp tác và an ninh châu Âu, đã bàn bạc các vấn đề trọng đại về an ninh châu Âu, đã đưa những văn kiện như “Tuyên ngôn Lisbon về kiểu mẫu an toàn, toàn diện chung của châu Âu trong thế kỷ 21” v.v… Nhưng về vấn đề mở rộng NATO về phía Đông, Nga-Mỹ vẫn tiếp tục, mâu thuẫn vẫn chưa được giải quyết. Trong phát biểu của mình, Thủ tướng Nga nhắc lại, Nga phản đối NATO kéo dài đến biên giới Nga. Ông chỉ rõ, việc mở rộng NATO là muốn xây dựng một “giới tuyến châu Âu phân biệt mới”. Điều đó chỉ làm cho tình hình chính trị thế giới xấu đi. Mục tiêu chung của các nước châu Âu là xây dựng một châu Âu hòa bình. Mục tiêu này không thể đạt được bằng phương thức mở rộng Tổ chức quân sự. Thủ tướng Nga còn nói, Nga mong rằng tổ chức an ninh châu Âu sẽ phát huy vai trò chủ đạo về quân sự và chính trị của châu Âu sau này. Đánh thẳng vào lập trường của Nga, Phó Tổng thống Mỹ Igo nói: Mở rộng NATO sẽ “giúp cho an toàn của tất cả các quốc gia”; ông còn nói, trong hội nghị đứng đầu khối NATO năm 1997, sẽ quyết định kết nạp thành viên mới. Thư ký khối NATO Xulana còn nói, Hiệp ước NATO không đe doạ bất cứ một quốc gia nào. NATO mong muốn hợp tác với Nga. Tuy Thủ tướng Pháp Sirắc và Thủ tướng Đức Soaidơ tham giá hội nghị tỏ ra hiểu biết đối với đề xuất của Nga về chủ trương Tổ chức an ninh châu Âu, phải phát huy, vai trò chủ đạo ở châu Âu. Nhưng phần lớn các quốc gia tham dự hội nghị đều lo lắng Nga sẽ giành quyền phủ quyết đối với vấn đề xây dựng an toàn châu Âu. Thực ra, Nga đã lường trước lập trường cứng rắn của Mỹ thực hiện kế hoạch mở rộng NATO về phía Đông. Hơn nữa, mấy năm gần đây, một số thành viên của khối Vácsava trước đây yêu cầu gia nhập NATO, mở rộng NATO về phía Đông đã là một xu hướng. Cho nên, đối với Nga, trong lúc khẩn cấp này bàn, làm thế nào để đồng thời với việc NATO mở rộng về phía Đông tranh thủ được một chút đền bù trên vấn đề định vị trong kết cấu an toàn tự thân và an toàn châu Âu sau này. Trong vòng đàm phán này về việc cắt giảm vũ khí thường qui ở châu Âu mà các vị đứng đầu quốc gia đã đạt được, theo nhiều nhân sĩ phương Tây thì Nga sẽ yêu cầu Mỹ nhượng bộ để “cân bằng” lực lượng. Thủ tướng Nga cho rằng hiệp nghị này là “thắng lợi to lớn” đối với an toàn châu Âu. Các nhà quan sát phương Tây cho rằng, trong vấn đề an toàn châu Âu, Mỹ Nga tuy có chung một điểm, nhưng khi đề cập đến vấn đề thực chất của lợi ích chiến lược to lớn của mỗi bên thì họ đều không thể nhượng bộ. Vì vậy, trong vấn đề trọng đại, xây dựng một châu Âu an toàn sau này, Mỹ - Nga vẫn phải giữ quan hệ ngăn ngừa và phản ngăn ngừa. Công cuộc xây dựng một châu Âu an toàn vẫn sẽ là một quá trình phức tạp, gian khổ và lâu dài. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:47:04 pm Chính sách của Bin Clintơn đối với Trung Quốc, không ổn định Ngày 5 tháng 11 năm 1996, cuộc bầu cử của nước Mỹ với hình thức chạy maratông vừa mới hạ màn, Bin Clintơn vẫn ngồi vững trên ghế Tổng thống. Trên bàn làm việc của Tổng thống chồng chất điện chúc mừng của lãnh đạo các nước. Trong đó có một bức đến từ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở bên kia bờ đại dương. Về việc tái đắc cử của Bin Clintơn, đương nhiên Trung Quốc thấy bất ngờ, vì đối thủ của ông ta quá yếu. Theo Đại sứ Mỹ ở Trung Quốc tiết lộ, ngay từ tháng 3 năm 1996 các quan chức Trung Quốc đã dự đoán Bin Clintơn nhất định thắng lợi. Ông ta ca ngợi Trung Quốc có sự tiên tri sáng suốt. Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Bin Clintơn, quan hệ Trung - Mỹ đã khiến cho người ta không hài lòng. Bin Clintơn là Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ của mình không đến thăm Trung Quốc sau khi hai nước lập quan hệ ngoại giao. Tháng 10 năm 1995 Giang Trạch Dân đến trụ sở Liên Hợp Quốc tại Niuoóc để dự lễ kỷ niệm 50 nărn ngày thành lập Liên Hợp Quốc, cũng do bóng đen trong quan hệ hai nước mà không thăm Mỹ. Sau khi Liên Xô cũ tan rã, Trung Quốc trở thành một nước lớn xã hội chủ nghĩa. Các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc đứng đầu là Giang Trạch Dân tiếp tục đẩy mạnh chính sách cải cách mở cửa. Hiện thực tồn tại của nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa có chính trị ổn định, khiến các nước phương Tây và Mỹ không thể không tiếp tục đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Thất bại trong cuộc bầu cử năm 1992 của Bus, đã làm chậm tiến trình hữu hảo giữa hai nước, Bin Clintơn nhận chức Tổng thống không lâu, thì cũng nhận ra được tầm quan trọng trong việc giữ quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Vì thế, ông ta gác lại vấn đề nhân quyền và lấy tối huệ quốc làm phương châm chủ yếu trong chính sách đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Clintơn không có chính sách đối với Trung Quốc rõ ràng, có thái độ giao động không ổn định trong quan hệ với Trung Quốc, thậm chí còn nhường quyền chủ đạo của Tổng thống cho Quốc hội, dẫn đến những phiền phức lớn. Tháng 5 năm 1995 đoàn du thuyết của Đạt Lai ở Quốc hội Mỹ đã thể hiện sự ảnh hưởng lớn sau khi cắt đứt quan hệ ngoại giao, khiến cho nhà đương cục chính quyền Clintơn lật lọng không giữ lời hứa với Trung Quốc về việc không cấp thị thực cho Lý Đăng Huy. Từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 11 Quốc vụ khanh Mỹ đã đến thăm Trung Quốc 3 ngày, đã tiến hành cuộc gặp với phía Trung Quốc, bàn bạc tương đối toàn diện về quan hệ hai nước. Tiêu đề: Re: Ngọn lửa chiến tranh lạnh-Tập 3 Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 02:48:18 pm Cuộc gặp gỡ lần thứ tư giữa các nhà lãnh đạo cao cấp Trung-Mỹ Ngày 24 tháng 11 năm 1996, tại phòng họp báo Ngân hàng Trung ương Manila Philippin, Giang Trạch Dân Chủ tịch Trung Quốc và Bin Clintơn tổng thống Mỹ tham gia Hội nghị không chính thức các nhà lãnh đạo hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương, đã tổ chức cuộc gặp gỡ cả thế giới đều biết. Đây là cuộc gặp lần thứ 4 giữa các nhà lãnh đạo Trung-Mỹ. Ngày 19 tháng 11 năm 1993, trong thời gian Chủ tịch Giang Trạch Dân tham gia Hội nghị phi chính thức những người lãnh đạo tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương, đã có cuộc gặp gỡ với Bin Clintơn ở Oasinhtơn. Ngày 14 tháng 11 năm 1994, Giang Trạch Dân và Clintơn đã gặp nhau trong Hội nghị không chính thức những người lãnh đạo hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương ở Inđônêxia. Ngày 24 tháng 10 năm 1995, chủ tịch Giang Trạch Dân trong thời gian dự lễ kỷ mềm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc đã chính thức gặp gỡ Tổng thống Bin Clintơn tại trung tâm Lincôn Niuoóc. Giới báo chí đã dùng những cụm từ “hữu hảo” “tích cực” “có tính xây dựng” để hình dung không khí cuộc gặp gỡ ở Manila. Hai nhà lãnh đạo của hai nước cũng nhất trí cho rằng, lần gặp gỡ này có ý nghĩa quan trọng nối tiếp trước sau. Khi hai bên gặp mặt, trước tiên Chủ tịch Giang Trạch Dân chúc mừng Tổng thống Bin Clintơn đã tái đắc cử trong cuộc bầu cử lần này. Clintơn đã cảm ơn những lời chúc mừng tốt đẹp đó. Giang Trạch Dân nói: Trung-Mỹ là hai nước có ý nghĩa to lớn trên thế giới. Mỹ là một quốc gia phát triển nhất thế giới. Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển lớn nhất thế giới. Tình hình xấu, trong quan hệ Trung-Mỹ, không chỉ quan hệ đến lợi ích cơ bản của nhân dân hai nước Trung-Mỹ mà tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định và phát triển của thế giới. 3 năm gần đây quan hệ hai nước là phát triển theo hướng từng bước cải thiện, đặc biệt là nửa năm nay do sự cố gắng của hai bên, các cuộc viếng thăm và tiếp xúc cấp cao hai bên đã được tăng cường, hợp tác kinh tế thương mại phát triển ổn định. Vấn đề làm trở ngại quan hệ hai nước tiếp tục được giải quyết. Những cuộc đối thoại trực tiếp giữa các nhà lãnh đạo hai nước có lợi cho việc rút ngắn khoảng cách hai bên. Tổng thống Bin Clintơn nói, ông nhớ rất rõ, khi cuộc gặp lần thứ nhất giữa ông và Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, ở Oasinhtơn, Giang Trạch Dân nêu lên hai nước Trung-Mỹ có trách nhiệm đưa đối thoại chiến lược tới thế kỷ sau. Mỹ cũng mong rằng tiếp tục đối thoại với Trung Quốc, cùng cố gắng để giải quyết bất đồng trên một số vấn đề của hai nước, từ đó làm tròn trách nhiệm của mỗi bên. Phía Mỹ muốn thấy một Trung Quốc hùng mạnh, ổn định và an ninh. Hai nước Trung-Mỹ đều có lợi ích chiến lược chung trên rất nhiều vấn đề. Bin Clintơn còn nói, ông rất vui mừng thấy, gần đây hai nước Trung-Mỹ có tiến triển trên nhiều vấn đề. Nước Mỹ muốn xây dựng tình bạn hợp tác với Trung Quốc. Về vấn đề Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, hai bên đều đồng ý tăng cường tiến trình đàm phán bằng thái độ, linh hoạt thực tế. Chủ tịch Giang Trạch Dân nói Trung Quốc từ trước tới nay đều giữ thái độ tích cực đối với việc tham gia Tổ chức Thương mại thế giới. Hai bên đã bàn bạc và đi đến quyết định, nguyên thủ hai nước sẽ tiến hành thăm viếng lẫn nhau vào năm 1997-1998. Hai bên còn quyết định, Phó Tổng thống Igo sẽ sang thăm Trung Quốc năm 1997, sớm hơn một chút để cùng trao đổi với Phó Thủ tướng Lý Bằng về những vấn đề quốc tế mà hai bên cùng quan tâm; Hai bên còn trao đổi ý kiến về bảo vệ môi trường và nguồn năng lượng. Chủ tịch Giang Trạch Dân nhấn mạnh, tăng cường đi lại hữu hảo giữa hai nước, đặc biệt là thực hiện những cuộc viếng thăm cấp cao, đến Trung Quốc và trực tiếp quan sát, sẽ tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau. Các nhà lãnh đạo hai nước Trung - Mỹ đã trao đổi quan điểm đối với các vấn đề an toàn toàn cầu phổ biến vũ khí hạt nhân. Hai bên cho rằng, hai nước còn tồn tại một số bất đồng trong một số vấn đề. Hai bên nên đối thoại bình đẳng, tăng cường tiếp xúc, hiểu biết hơn nữa để tìm cách giải quyết một số vấn đề này. Chủ tịch Giang Trạch Dân còn thông báo với Tổng thống Bin Clintơn về tình hình gần đây ở khu vực Quảng Tây đã phát hiện xác máy bay và hài cốt phi công Mỹ trong đại chiến thế giới 2. Tổng thống Clintơn đã cảm ơn về sự kiện này. Ông cho rằng đây là vấn đề vô cùng quan trọng đối với quân đội và nhân dân Mỹ. Trung-Mỹ còn tồn tại một vấn đề lớn Trong sự bất đồng Trung-Mỹ có một vấn đề cũ tồn tại từ những năm 70 và một số vấn đề mới phát sinh gần đây. Mâu thuẫn và tranh chấp sẽ là tồn tại lâu dài. Mấu chốt ở chỗ, những người lãnh đạo nước Mỹ như Nichxơn, Kítsinhgơ phải hiểu rằng cần tôn trọng lợi ích của đối phương, tìm ra được những chỗ giống nhau và bảo lưu được những chỗ khác biệt, khống chế tất cả những xung đột trong phạm vi hai bên có thể chịu đựng. Những cuộc tiếp xúc cấp cao định kỳ là tiến thêm một bước quan trọng thiết lập và duy trì quan hệ lâu dài, 4 năm qua, Clintơn và Giang Trạch Dân ngoài việc hội đàm hai bên nhân dịp tham gia hội nghị quốc tế ra thì không tiến hành thêm một cuộc tiếp xúc nào. Trong 4 năm tới, hai bên phải xây dựng một đường lối để cho các quan chức cao cấp duy trì những cuộc tiếp xúc thường xuyên. Trong con mắt của Mỹ, 3 vấn đề Đài Loan, vấn đề nhân quyền cùng vấn đề xuất khẩu vũ khí và kỹ thuật quân sự là cần thống nhất. Phía Trung Quốc, ngoài coi trọng nhất vấn đề Đài Loan, vấn đề can thiệp nội chính ra, còn quan tâm xem trong hành động Mỹ cô lập Trung Quốc hay là đối xử công bằng với Trung Quốc. Về vấn đề Đài Loan, Clintơn có thể có hai sự lựa chọn. Một là yêu cầu Trung Quốc không giải quyết bằng vũ lực như trước kia, xúc tiến đối thoại hai bờ và cải thiện quan hệ. Còn hai bờ vẫn giữ nguyên hiện trạng hay đi vào hòa bình thống nhất là chuyện của nhân dân hai bờ Trung Quốc. Ngoài ra lại khuyến khích xây dựng “hai nước Trung Quốc” hoặc “một nước Trung Quốc, một nước Đài Loan”. Trung Quốc đã tỏ rõ lập trường kiên định là nếu Đạt Lai tuyên bố “Độc lập” thì sẽ sẵn sàng dùng vũ lực. Bất cứ nhà lãnh đạo nào của Mỹ cũng không được lầm tưởng rằng Trung Quốc chỉ giương oai. Dù sự lựa chọn ấy phù hợp với lợi ích của nước Mỹ, nhưng Clintơn phải có sự tính toán kỹ lưỡng. Về vấn đề nhân quyền, Bin Clintơn cũng có hai loại lựa chọn: Một là nói rõ với Trung Quốc về tình hình nhân quyền mà các nước quan tâm là “sự hiểu biết chung của người Mỹ”, Chính phủ không thể không tỏ thái độ. Trong xây dựng pháp chế, phía Mỹ có thể góp kinh nghiệm hỗ trợ nếu Trung Quốc có thái độ khiêm nhường đối với những người bất đồng ý kiến thì sẽ có lợi nhiều hơn đối với Trung Quốc. Mặt khác Mỹ sẽ làm lẫn lộn giữa chính trị và kinh tế để răn đe trừng phạt Trung Quốc. Đối với một số nước vừa và nhỏ, Mỹ có thể mặc sức làm tên sen đầm quốc tế Nhưng với một nước lớn như Trung Quốc, thì sự răn đe khó mà thực hiện. Het |