Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Quyết tử cho Tổ quốc... => Tác giả chủ đề:: banzua trong 30 Tháng Chín, 2007, 09:02:00 pm



Tiêu đề: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page - Chiến dịch Biên giới 1950
Gửi bởi: banzua trong 30 Tháng Chín, 2007, 09:02:00 pm
Cách đây đúng 57 năm, một sự kiện long trời đã xẩy ra ở vùng biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên trong vòng 200 năm từ khi hầu tước Montcalm bại trận ở Quebec trước viên tướng Anh Wolf , chấm dứt sự có mặt của Pháp ở Canada; một đạo quân viễn chinh Pháp bị thất bại trong 1 trận đánh ở hải ngoại.
Nhân tiện ngày kỷ niệm này em tóm tắt lại các sự kiện nhìn từ phía Pháp của trận đánh này.
Các tài liệu ở đây đã được dùng trong quyển này mà em xem là quyển sách nghiên cứu công phu nhất hiện nay về trận đánh nhìn từ phía Pháp:


- Tháng 6 năm 1949:
Tướng Revers, sau chuyến đi nghiên cứu tình hình chiến sự ở Đông Dương, cho phát hành 1 bản báo cáo tối mật vào cuối tháng 6. Bản báo cáo, sau này sẽ được gọi là bản báo cáo Rờ-ve, được ấn hành 50 bản có số trong đó 38 bản được gửi thẳng đến các cơ quan chính phủ đang điều hành cuộc chiến tranh ở Đông Dương ngay vào tháng 7. Trong bản báo cáo, tướng Rờ-ve đã nêu ra vấn đề quân đội Pháp ở Đông Dương phải tập trung lại vì hiện nay nó đang phải chiếm đóng một vùng quá rộng so với thực lực của nó.

-15/6/1949, Sài Gòn:
Để tìm hiểu kết luận của bản báo cáo Rờ-ve, Thanh tra tối cao của Đông Dương Pignon, người trục tiếp nhận mệnh lệnh từ Paris tổ chức 1 cuộc họp không chính thức với tướng Blaizot, tổng tư lệnh quân viễn chinh ở Đông Dương; tướng Alessandri, phó tư lệnh; Digo, tổng thanh tra quốc gia Pháp ở Bắc Kỳ; Bonfils, trợ lý chính trị của Pignon; Dujardin, trợ lý ngoại giao; tướng Valluy, người thay mặt tướng Rờ-ve (lúc đó đã sang Pháp) và tướng Koch của bộ quốc phòng.
Qua Valluy, tướng Rờ-ve cho biết quan điểm của mình về tình hình chung và đề xuất việc gom nhỏ hệ thống phòng thủ phía bắc từ Cao Bằng về phía Thất Khê, nhưng chưa nói rõ ranh giới mới ("chúng ta phải bỏ tất cả các vùng bên ngoài Thất Khê và có thể cả Thất Khê nữa" lời tướng Valluy). Tất cả mọi người trong cuộc họp đều thấy được sự khó khăn của việc giữ chốt Thất Khê. Chốt này hoàn toàn cô độc cách Lạng Sơn về phía bắc đến 67km, con đường 69km từ Thất Khê đi Cao Bằn cũng nguy hiểm không kém 37km đường về phía nam từ Thất Khê đi Nà Cham. Tướng Koch còn phát triển suy luận này đến tận việc rút lui tất cả các đồn bốt phía bắc Lạng Sơn, để tập trung vào việc bảo vệ thành phố. Thành phố này, vì được bao bọc bởi một vùng trống trải lớn gọi là "bình nguyên Galieni", rất dễ cho việc triển khai các phương tiện hoả lực như không quân và pháo binh mà phía Việt Minh vẫn còn rất sợ.
Để bù đắp việc rút lui này, tướng Rờ-ve đề nghị việc chiếm đóng hoàn toàn vùng Thái Nguyên. Ở trong vùng ranh giới giữa Đồng Bằng và Trung Du, nó vẫn thuộc vùng đồng bằng, hơn nữa ở đây cũng là hậu cứ của nhiều đại đơn vị Việt Minh đến năm 1949.
Trong cuộc hội nghị này, chỉ có tướng Alessandri có ý định chống lại việc rút lui. Theo ông ta, nếu quân Việt Minh chiếm được Cao Bằng thì khi đó số hàng viện trợ của Trung Quốc cho Việt Minh không chỉ là bằng lưng người nữa mà sẽ là bằng xe tải chạy thẳng từ vùng biến giới theo đường số 3 xuống vùng đồng bằng hoặc đi lên vùng Tây Bắc. Lúc đó quân đội Pháp chắc chắn sẽ phải đối mặt với những vũ khí nặng hơn, hiện đại hơn.

-Tháng 7/1949, ở Sài Gòn
Tướng Blaizot hội đàm với các chỉ huy dưới quyền:
- Tướng Alessandri, chỉ huy lục quân
- Tướng Bodet, chỉ huy không quân
- Đô đốc Ortolli, chỉ huy hải quân
Những người dưới quyền đều chống lại việc bỏ vùng biên giới. Tướng Blaizot quyết định "khi có mệnh lệnh ở trên, mọi người đều phải thi hành". Tức là, mọi người phải thi hành kế hoạch Rờ-ve và không được cãi lại nó.

-Tháng 8 năm 1949:
Chương trình Rờ-ve được bắt đầu. Vùng phía bắc đường số 3bis đi từ Bắc Cạn đến Cao Bằng, do quân Pháp chiếm từ hồi chiến dịch Lea năm 1947, được sơ tán. Ngày 9-8, trung đoàn 3 lê dương, rút lui khỏi Bắc Cạn, hỗ trợ bởi các đơn vị bộ binh và kị binh thiết giáp Bắc Phi đi lên từ phía Cao Bằng. Các đồn bốt lê dương dọc đường như Nà Phác, Ngân Sơn, Bản Cao, Bel-air và Võ Chang cũng dần dần thu về.
Sau đó đến lượt các đồn bốt trên đường số 4, dọc biên giới phía bắc Cao Bằng: Trà Linh, Quang Uyên, Nguyên Bình, Nước Hải, Tà Lung... tất cả khoảng 30 đồn bốt.

Tháng 9 năm 1949
Ở Paris, vụ "xì căng đan các vị tướng" nổ ra khi báo chí biết rằng bản báo cáo tối mật Rờ-ve đã bị tiết lộ ra ngoài. Theo tin tức của phòng nhì, phía Việt Minh chắc chắn đã có trong tay bản báo cáo này từ hồi tháng 7.

Ở Sài Gòn, ngày 3/9, tướng Carpentier, đã từng là phó của tướng Juin trong chiến dịch Italia năm 1943, được điều sang Đông Dương thay tướng Blaizot. Carpentier, 1 chuyên gia về Bắc Phi, chưa bao giờ phục vụ ở Đông Dương.

Cũng ngày 3/9, trên đường số 4, 1 trận phục kích lớn đã xẩy ra ở Lũng Phài do trung đoàn 174 của Việt Minh tổ chức. Theo giấy tờ thu được trên xác 1 cán bộ Việt Minh vào tháng 2 năm 1950, trung đoàn 174 lúc này hay còn gọi là trung đoàn "Cao Bắc Lạng" có hơn 5000 tay súng chia ra trong 3 tiểu đoàn bộ binh (249, 251, 255) và các đại đội độc lập: 150 công binh, 151 giao liên, 152 vận tải và 153 trinh sát do một cựu sỹ quan quân đội Nhật Hoàng chỉ huy.
Ngày 3/9, đoàn xe đi Cao Bằng bao gồm 95 xe thuộc đoàn vận tải 516, 25 xe hộ tống và khoảng một chục xe dân sự rời Thất Khê để rơi vào ổ phục kích. Ngày hôm sau, các đơn vị cứu trợ đến nơi đã tìm thấy khoảng 100 xác chết và 55 xe bị cháy.

Ngày 2 tháng 10 năm 1949
Một đoàn xe mới đi tiếp tế Cao Bằng được chuẩn bị. Rút kinh nghiệm từ sự kiện trước, bộ chỉ huy huy động 1 lực lượng rất hùng mạnh để bảo đảm an toàn cho đoàn xe: tương đương với 4 tiểu đoàn bộ binh, 8 xe thiết giáp thuộc trung đoàn kỵ binh Ma-rốc và trung đoàn kỵ binh thợ săn số 1, trên không luôn luôn có những chiếc Kingcobra được máy bay trinh sát Morane hướng dẫn sẵn sàng yểm trợ.
Nhưng sự không thể tưởng tượng vẫn xẩy ra. Trung đoàn 174 tấn công một lần nữa, lần này ở phía nam Thất Khê, gần ải Lũng Vại. Kết quả phía pháp có 20 chết, 44 mất tích, 37 bị thương. Cả 1 trung đội kỵ binh spahi bắc phi bị tiêu diệt. Ngoài ra phía Pháp còn mất 74 khẩu súng tự động trong đó có 13 khẩu đại/trung liên, 1 khẩu Bofors 40, 6 xe GMC, 1 Jeep và scoot-car. Phía Việt Minh để lại 127 xác chết đếm được.
Sau trận này, bộ chỉ huy quyết định từ nay Cao Bằng sẽ chỉ được quyết định bằng đường không.

tháng 12 năm 1949, Paris
Ủy ban quốc phòng do Tổng thống Vincent Auriol cùng với thủ tướng Georges Bidault tổ chức, với sự có mặt của Carpentier, được bắt đầu. Mọi người đồng ý với việc từ bỏ kế hoạch Rờ-ve nhưng lại không nêu ra được 1 giải pháp mới nào để thay thế.

Ở Sài Gòn, thanh tra tối cao Pignon từ Paris về cũng không có mệnh lệnh nào rõ rệt. Từ đó tướng Carpentier dịch ra là lệnh của trên là "không bỏ Cao Bằng nữa"

Phía Việt Minh, đại đoàn 308 vừa được tổ chức lại. Lúc đó phía Pháp vẫn gọi nó là "lữ đoàn 308" (Brigade) vì nó mới chỉ có 2 trung đoàn 102 và 36. 2 trung đoàn này đã được tình báo Pháp theo dõi từ lâu. Trung đoàn 36 thành lập vào 10/1/1946 từ các đơn vị động viên ở Bắc Ninh và Bắc Giang cho nên được gọi là trung đoàn "Bắc Bắc". Trung đoàn 102 xuất hiện ở Hà Nội vào tháng 1 năm 1947 trong những trận đánh sau ngày 19/12/1946 được gọi là "trung đoàn Thủ Đô". Trung đoàn 88, xuất hiện ngày 1/7/1949, từ người nhập ngũ ở Hà Nam, Hà Tây, Cao Bằng, Hoà Bình cũng đã được sát nhập vào với 2 trung đoàn kia. Lực lượng của đại đoàn 308 lúc này đúng là đã tương đương với 1 sư đoàn (division). Nó được hỗ trợ bởi nhiều vũ khí nặng từ đại liên cho đến súng cối, nhiều khi có cả pháo bộ binh và sơn pháo.


thang 1 năm 1950
Hồ Chí Minh có mặt ở Bắc Kinh, chắc là để đàm phán về viện trợ. Trong 6 tháng nữa, quân Tung Quốc sẽ can thiệp trực tiếp vào Triều Tiên.
Theo tin phòng nhì qua tin điện đài bắt được, Lã Quí Ba được gửi sang Việt Nam để nghiên cứu những cần thiết của Việt Minh.

Ở Cao Bằng, sân bay được mở rộng nhầm để đón tiếp những chiếc máy bay vận tải loại lớn kiểu Junker 52, càng ngày càng trở nên cần thiết sau khi đường bộ bị phong toả.

Ngày 4 tháng 2 năm 1950, Paris
Tình hình chiến tranh lạnh ở châu Âu trở nên căng thẳng, chính phủ Pháp quyết định ngừng gửi quân tiếp viện sang Đông Dương trong vòng 6 tháng tới.

Ngày 24/2/1950, Sài Gòn
Tướng Các-păng-chiê viết thử gửi chính phủ, mô tả 1 tình hình càng ngày càng xấu đi ở Đông Dương. "Cuộc chiến sẽ trở thành quyết định trong những tháng tới trên 2 mặt : bảo vệ vùng biên giới và bình định vùng đồng bằng".

Ngày 20/3/1950, Sài Gòn
Trong buổi họp hội đồng phòng thủ Đông Dương, tướng Alessandri vẫn muốn theo đuổi chiến lược tập trung tất cả lực lượng nhằm ưu tiên bình định vùng đồng bằng sông Hồng, rồi sau đó mới chuyển sang vùng miền núi và tả ngạn sông Hồng.
Theo ông ta, việc bỏ đường số 4 là không tưởng. Về phía thanh tra tối cao, ông ta không muốn di chuyển các đơn vị đang đồn trú ở Nam Kỳ để bảo vệ Sài Gòn.

Ngày 22 tháng 3, Pa-ri
Một cuộc hội thảo mới của ủy ban các tổng tư lệnh quân đội Pháp về vấn đề Đông Dương kết luận : " Điều cần thiết số 1 là phải thay đổi đường lối quân sự ở Đông Dương hiện nay. Chúng ta phải tập trung lại lực lượng xung quanh vùng châu thổ sông Hồng. Ủy ban đề nghị việc gọi quân đội Quốc Gia của Bảo Đại đến giữ các vùng mà chúng ta sẽ rút đi." Cuối cùng lời kết của bản công văn: "chúng ta phải làm tất cả để tránh 1 thảm hoạ nếu Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho Việt Minh, như chắc chắn hiện nay họ đã làm"

Qúy 1 năm 1950
Đoàn chuyên gia Trung Quốc đã đến bên cạnh tướng Giáp để chỉnh đốn lại quân đội. Cả đoàn bao gồm khoảng 60 người do Vi Quốc Thanh, được mệnh danh là "tiểu Gia Cát", đứng đầu.
Ngày 30/1/1950, Liên Xô công nhận nước VNDCCH, trong tháng 2, HCM sang thăm Liên Xô.

Tướng Giáp bắt đầu chuẩn bị kế hoạch cho chiến dịch sắp tới : mở con đường từ Trung Quốc về phía trung/thượng du phía tây vùng đồng bằng. Để làm được điều này, mục tiêu là phải giải phóng được Cao Bằng và đuổi quân Pháp khỏi đường số 4. Tướng Giap có đi xem xét tại chỗ những cứ điểm phải chiếm là Đông Khê, Thất Khê và Cao Bằng.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 30 Tháng Chín, 2007, 09:04:15 pm
Ngày 25 tháng 5 năm 1950, 5 giờ 45 sáng, Đông Khê bị tấn công
Cứ điểm do 2 đại đội của trung đoàn 8 bộ binh nhẹ Ma-rốc (8RTM) trấn giữ. Cuộc tấn công được giao cho trung đoàn 174 của Việt Minh thực hiện. Trung đoàn được yểm trợ lần đầu tiên bởi súng cối 82 của CS (chứ không phải cối 81 của phe tư bản). Ngoài ra còn có một số sơn pháo 75mm, ước lượng cuả phòng nhì là 4 khẩu: 2 khẩu trên 1 ngọn đồi cách Đông Khê 1km về phía tây, 2 khẩu còn lại trong một vùng trũng hình yên ngựa 800m về phía đông-đông bắc của pháo đài.
Theo tình báo Pháp lúc đó thì có thể những khẩu sơn pháo này của Trung Quốc vì theo báo cáo của 1 điệp viên ở doanh trại pháo binh ở Long Châu cách biên giới Việt-Trung khoảng 40km, thì một số pháo 75 đã được di chuyển khỏi đây vào ngày 20/5 và trở lại vào ngày 31/5. Nhưng theo những tin tức gần đây, có lẽ những khẩu 75mm trên thật ra là những khẩu sơn pháo của Nhật và Pháp do các cựu lính Pháp và Nhật điều hành.
Ngay vào đầu trận đánh, đại úy Casanova, chỉ huy cứ điểm, bị trúng đạn pháo và chết làm cho tinh thần lính bắc phi suy sụp nhanh chóng. Theo tin tức trên bộ đàm và những gì trung úy Fourrier kể lại sau này, các sự kiện xẩy ra như sau:
Những khẩu pháo trong pháo đài nhanh chóng bị vô hiệu hoá, do trời xấu, không quân không thể yểm trợ được.
Ngày 26, vào buổi sáng, 2 chiếc tiêm kích thuộc phi đội I/5 "Vendee" bắt buộc phải bay thấp và chậm trên cứ điểm bị trúng đạn phải trở về Lạng Sơn trước khi tham gia trận đánh.
Chiều hôm đó, tầng mây cao hơn, một nhóm khác của phi đội, cùng với phi đội II/5 "Ile de France" phải đối phó với những làn súng máy dầy đặc của Việt Minh, kết quả là 9 máy bay trúng đạn phải hạ cánh khẩn cấp xuống Lạng Sơn.
Đại úy Brun, người chỉ huy mới của cứ điểm, trước sự thúc ép của hạ cấp, phải bỏ cứ điểm vào 2giờ 15 đêm 26-27 để đi về phía đoàn cứu viện đến từ Thất Khê. Theo lời của trung úy Jaubert chỉ huy lô cốt "Pagodon" thì tình hình chưa đến mức nguy ngập đến nỗi phải rút lui.
Hầu như tất cả những người trong đoàn quân rút lui về Thất Khê đều bị chết, mất tích hoặc bị bắt. Trên con số 419 quân nhân, trong đó có 8 sỹ quan ở Đông Khê, có 14 bị chết và 185 mất tích. Đại úy Brun bị bắt và xuất xuật hiện lại ở trại tù binh số 1 vào năm 1951.

Ngày 27/5/1950
Cứ điểm Đông Khê được lấy lại vào buổi chiều sau 2 giờ chiến đấu và 1 cuộc nhẩy dù táo bạo của tiểu đoàn 3 biệt kích dù thuộc địa (3BCCP) do thiếu tá Decorse chỉ huy và được 25 chiếc Kingcobra của phi đoàn 25 yểm trợ. Tổn thất của lính dù cũng rất nhẹ : 1 chết, 1 mất tích, 2 bị thương và 8 tai nạn dù. Từ đó xẩy ra việc chủ quan của cấp chỉ huy ở Đông Dương. Theo lời của 1 sỹ quan cao cấp lúc đó "Anh thấy không, chúng ta chỉ cần 400 lính dù là có thể đuổi được hàng ngàn bọn Việt Minh".
Thực ra có một số sỹ quan cũng hiểu được vấn đề. Sau trận đánh viên chỉ huy cứ điểm Lạng Sơn gặp đại úy Ốt-xa-ret-xơ, sỹ quan phòng nhì trực thuộc tiểu đoàn 3 biệt kích dù thuộc địa, có nói "Đây là 1 thành công lớn!", Aussaresses trả lời "đây là một kỳ diệu lớn thì đúng hơn!".
Thật ra phía Việt Minh trong trận này đã có sai lầm nghiêm trọng. Theo trung tá Đặng Văn Việt, vì các phương tiện liên lạc thô sơ phía Việt Minh, mệnh lệnh đã không được vận chuyển đúng lúc. Vài tuần trước, một viên cán bộ thuộc bộ tham mưu đã đưa mệnh lệnh trên cho trung đoàn để chuẩn bị tấn công Đông Khê, trung đoàn đã sẵn sàng phát triển đội hình xung quanh cứ điểm nhưng vẫn chưa có lệnh trên cho tấn công. Qua điện đàm, trung đoàn không thể liên lạc được với Giáp, vì thế viên cán bộ trên đã chủ động phát triển trận tấn công. Đặng Văn Việt làm theo bài bản 1 trận công đồn : pháo kích, xung phong, diệt chốt, thu dọn chiến trường rồi rút lui. Nhưng khi tiểu đoàn dù nhảy xuống, trong cứ điểm chỉ còn lại 2 đại đội của tiểu đoàn đang kết thúc việc vận chuyển chiến lợi phẩm, phần lớn của trung đoàn đã ở quá xa để có thể trở lại kịp thời.
Viên cán bộ đã bị cách chức, chuyển xuống làm chiến sỹ, Đặng Văn Việt cũng bị gọi về ATK khiển trách.
Ngày 31/5, tiểu đoàn dù rút về Hà Nội, tiểu đoàn 8 Ta-bo (bộ binh bắc phi) được đưa vào Đông Khê thay thế.
(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/DVV-2.jpg)
Trung đoàn trưởng trung đoàn 174 Đặng Văn Việt - Người Pháp gọi ông là "Đệ tứ quốc lộ đại vương"
Ngày 5/6/1950, Sài Gòn
Sau điều tra của bộ chỉ huy quân đội viễn chinh, do tướng Marchand, phó của Alessandri điều hành. Ông ta sau này có viết trong 1 bài báo: "Ngày 25 tháng 5, các đơn vị phòng thủ Đông Khê, trước sự tấn công của 4 tiểu đoàn địch được ủng hộ bở vài khẩu pháo, đã bỏ chạy khỏi cứ điểm không chiến đầu và không tổn thất, vì suy sụp tinh thần."

Mùa mưa 1950 ở Hà Nội
Không quân lần đầu tiên thử những loại vũ khí mới: rốc-két và Na-pam. Đặc biệt bom Na-pam được đánh giá rất cao bởi các phi công.

Tháng 6/1950
Tin tình báo cho biết phía Việt Minh đã ký kết 1 thoả thuận hợp tác với Trung Quốc. Một mặt, viện trợ của Trung Quốc sẽ tăng nhanh, mặt khác Trung Quốc sẽ mở các trại huấn luyện bộ binh cho Việt Minh trên đất Trung Quốc.

Ngày 14-15 tháng 6 1950
Vào 4 giờ sáng, chiến tranh Triều Tiên bắt đầu.

18 Tháng 8 năm 1950, Sài Gòn
lệnh tối mật của tướng Các-păng-chiê cho tướng Alessandri ở Hà Nội:
"Từ những gì đang xẩy ra ở Triều Tiên, để cảnh giác trước 1 cuộc tấn công của quân Trung Quốc xuống Bắc Kỳ... các căn cứ Cao Bằng và cụm Lạng Sơn-Đồng Đăng sẽ được quyết thủ không lui... Các cứ điểm Thất khê, Nà Chảm, Lộc Bình, Đinh Lập, Tiến Yên phải được phòng thủ vững nhưng có thể bỏ nếu bị uy hiếp tràn ngập. Những đồn bốt khác có thể bỏ nếu bị tấn công để tập trung lại quân lực càng nhiều càng tốt..."

Ngày 2/9, Sài Gòn
mệnh lệnh trên thay đổi, theo yêu cầu của thanh tra tối cao Pignon : Cao Bằng sẽ không được tử thủ nữa và sẽ phải rút lui, cứ điểm Đông Khê cũng vậy.
Tướng Carpentier để cho viên chỉ huy Bắc Kỳ quyết định về đường rút lui. Lúc đó Alessandri đang ở Pháp vì thế việc chọn do phó của ông ta là Marchand thực hiện. ông ta chọn con đường số phận : đường số 4. Sau này Charton có nói : "Nếu người ta cho tôi rút về theo đường số 3, và đoàn đi cứu lên gặp chúng tôi ở Chợ Mới cách Thái Nguyên 40km thì có lẽ mọi việc đã yên ổn"

Ngày 6/9/1950, Đông Khê
2 đại đội lê dương thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 le dương từ Thất Khê lên thay thế đơn vị Ta-bo.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 30 Tháng Chín, 2007, 10:44:51 pm
Ngày 13/9, Lạng sơn
Tướng Marchand, đến Lạng Sơn gặp viên chỉ huy căn cứ, đại tá Constans và viên chỉ huy Cao Bằng, trung tá Charton. Theo viên tướng, các căn cứ phải chuẩn bị chương trình bỏ Cao Bằng nhanh chóng, một khi có lệnh trên. Trong cuộc nói chuyện, Đông Khê không được nhắc tới.

Ngày 15/9, Thất Khê
Thiếu tá Bedo, chỉ huy tiểu khu Thất khê, gửi 1 bức điện cho Constans: "nhiều dấu hiệu cho thấy địch có vẻ sắp tấn công Thất Khê, yêu cầu chuẩn bị 1 tiểu đoàn dự bị phản kích". Theo tài liệu thông tin của phòng nhì, quân chủ lực Việt Minh đã hành quân về phía bắc từ nhiều tuần nay từ vùng hậu phương truyền thống trong hình chữ nhật Thái Nguyên-Tuyên Quang-Chiêm Hoà-Bắc Cạn. Đầu tháng 9, nó đã bắt đầu hành quân vào phía nam, giữa đường số 4 và biên giới Việt-Trung.
Ở Thất Khê lúc bấy giờ chỉ có 2 đại lê dương thuộc trung đoàn 3, 1 trung đội kỵ binh thợ săn bao gồm 2 xe bọc thép nhẹ cùng với 1 trung đội pháo 105. Tất cả khoảng 400 người.

Tuần thứ 2 của tháng 9
Các đơn vị VM đã được lệnh tấn công Đông Khê bắt đầu tập trung trong các núi đá vôi xung quanh thị trấn.
- Phía bắc và phía đông : trung đoàn 174 và 2 tiểu đoàn độc lập, tiểu đoàn 426 "Liên Khu" và tiểu đoàn 11 "Phủ Thông", cùng với 6 khẩu pháo 70 và 75, 4 khẩu SKZ 57 của trung đoàn pháo binh 95.
- Phía nam, từ 16/9, trung đoàn 209 của đại tá Lê Trọng Tấn sẽ phải có mặt với những khẩu pháo của trung đoàn pháo binh 178. Nhưng đến sáng ngày 16, những đơn vị này vẫn chưa đến nơi.

Khác với trận tấn công Đông Khê lần thứ nhất, lần này Giáp đã huy động cả đại đoàn 308 ở đằng sau, sẵn sàng chiến đấu giữa đường số 4 và vùng biên giới. Chẳng hạn trung đoàn 36, ngày 16 đã có mặt ở điểm Nà Kéo, cách đường số 4 600m-800m, sẵn sàng phục kích các đơn vị Pháp đi lên từ phía Thất Khê.

Ngày 16/9, Sài Gòn
Mệnh lệnh đặc biệt tối mật số 46 của tướng Carpentier gửi cho tướng chỉ huy ở Hà Nội :
"Tôi quyết định rút tất cả các đồn bốt ở Cao Bằng và Đông Khê. Thành phố Cao Bằng sẽ được rút lui hoàn toàn một khi chiến dịch tấn công lên Thái Nguyên bắt đầu vào 1 ngày gần ngày 1/10 nhất có thể được... Ngày của cuộc rút lui khỏi Cao Bằng sẽ do tư lệnh vùng Bắc Bộ quyết định theo tình hình chung và chậm nhất là vào ngày 15/10..."
Về tiến trình rút lui : " Các đơn vị ở Cao Bằng sẽ được củng cố bằng 2 tiểu đoàn Ta-bo đến bằng đường không. Cũng bằng đường không, thường dân trẻ em, người già và phụ nữ sẽ được đưa về Lạng Sơn. Những người đàn ông sẽ rút bằng đường bộ với quân đội. Đường rút lui sẽ là đường số 4, cùng với các đơn vị đồn trú ở Đông Khê... Chỉ có các đồ đạc quý giá và nhẹ mới được vận chuyển bằng máy bay. Những vật liệu và quân dụng khác sẽ được phá huỷ tại chỗ..."

Sáng ngày 16/9 năm 1950, Đông Khê, 6 giờ 30
Một trận pháo kích lớn đổ xuống những trận địa Pháp ở đây. Bốt phía đông cách pháo đài 200m rơi đầu tiên, vào 10 giờ 30.

Ngày 16/9, Cao Bằng
Trung tá Charton, chưa nhận được lệnh của cấp trên, vẫn giựa vào những thông tin của tướng Marchand cho ông ta cách đây 3 ngày. Ông ta chưa biết những do dự của bộ chỉ huy cấp cao, nhưng từ sáng đến giờ, ông ta biết rõ một thứ : " Tiến pháo nổ vang liên tục ở phía nam! chắc là ở Đông Khê ( cách 32km đường chim bay, 46km theo đường số 4), lần này có vẻ rất nghiêm trọng..."


Ngày 16/9/1950, Lạng Sơn
Bộ chỉ huy của đại tá Constans, chỉ huy trung đoàn 3 lê dương và các đơn vị đồn trú ở vùng biên giới đông bắc, người nhận của mệnh lệnh số 46, trước tình hình mới bất ngờ, phản ứng ngay.
Ông ta lúc này có trong tay 1 liên đoàn bộ binh bắc phi do trung tá Le Page chỉ huy:
- Tiểu đoàn 1 Ta-bo do đại úy Feaugas chỉ huy bao gồm 856 lính, 15 sỹ quan và 54 hạ sỹ quan.
- Tiểu đoàn 11 Ta-bo của thiếu tá Delcros, 860 lính, 14 sỹ quan, 50 hạ sỹ quan.
- Tiểu đoàn giã chiến của trung đoàn 8 bộ binh nhẹ Ma-rốc của thiếu tá Arnaud, 706 lính, 17 sỹ quan, 119 hạ sỹ quan.
- Tiểu đoàn 3 Ta-bo của thiếu tá de Chergé, 850 lính, 16 sỹ quan, 50 hạ sỹ quan. tiểu đoàn sắp được chở đến Cao Bằng bằng máy bay trong vòng 48 giờ nữa để chuyển cho Charton.
Tiểu đoàn 1 Ta-bo của đại úy Feaugas, lúc đó đang ở Đồng Đăng, đã nhanh chóng đi về phía Nà Chàm trước khi đườn bị các đơn vị bộ đội địa phương VM làm tắc hoàn toàn.

Chiều 16/9, Đông Khê
quân Việt Minh tập trung tấn công vào phía bắc và đông của pháo đài. Trung đoàn 209 đi lạc đường chỉ đến nơi vào buổi chiều. Nhưng vào 21 giờ một phần khu đồn phía nam cũng bị xâm nhập.

Đêm 16-17/9, Đông Khê
Trận pháo kích tiếp tục suốt đêm. Điểm cao "Montmartre" bị bọn Việt chiếm được. Điểm cao này cao 50m, nằm ở cạnh phía bắc của pháo đài. Vào 4 giờ sáng quân Việt Minh cho đặt ở đây những khẩu 75 để bắn trực tiếp vào các vị trí phòng thủ còn lại trong pháo đài.

Ngày 17/9, Binh đoàn Le Page
Trừ tiểu đoàn 1 Ta-bo, binh đoàn Le Page bị chặn lại ở vùng núi vôi Thà Lại, cách Đồng Đăng 5km. Đơn vị đi đầu, tiểu đoàn 3 ta-bo bị rơi vào 1 ổ phục kích. Kết quả 5 chết, 16 bị thương.

Ngày 17/9, Thất Khê
Đợt đầu của tiểu đoàn dù lê dương số 1 do thiếu tá Segretain chỉ huy được thả xuống phía đông pháo đài.

Ngày 17/9, Đông Khê
Tình hình trở nên rất khó khăn, trong pháo đài, hệ thống phòng thủ lê dương bị cắt ra làm đôi. Vào cuối buổi sáng, 1 chiếc Morane vẫn quan sát cờ tam tài bay trên pháo đài.
Trung sỹ nhất Rajault, phi công thuộc phi đội 3/6 "Roussillon" đồn trú ở Gia Lâm trên chiếc P63 Kingcobra 599, trong một đợt rải đạn yểm trợ cho pháo đài đã bị bắn rơi ở phía nam Đông Khê.
Cuối ngày hôm đó, trước sự chống cự của những người lính lê dương, cuộc tấn công dừng lại một thời gian. Vào 18 giờ 30, tướng Hoàng Văn Thái, chỉ huy trực tiếp trận đánh hạ lệnh tổng tấn công.

Đêm 17-18 tháng 9, binh đoàn Le Page
Le Page qua được Thà Lại, chạy thẳng 12km đến Nà Chảm.
Ở Đông Khê, trận đánh xẩy ra suốt ban đêm.

Ngày 18/9, Đông Khê
Trung tâm của hệ thống phòng ngự của pháp ở Đông Khê đã thất thủ. Đại úy Jeaugeon cùng khoảng 20 lính lê dương trốn thoát được về Thất Khê ngày 24/9. Đại úy Allioux, chỉ huy cứ điểm, bị bắt cùng với số còn lại.

Ngày 18/9, Cao Bằng
theo lệnh của Charton, 1 đại đội lính hỗ trợ người bản xứ cùng 1 trung đội lê dương theo đường số 4 về phía Đông Khê. Ngày 18, sau khi được tin Đông Khê thất thủ, toán lính này được gọi về. Vào tối ngày 18, Charton vẫn mù tịt về các quyết định của cấp trên về việc của ông ta.

Ngày 18/9, Sài Gòn
tướng Carpentier cùng tướng Marchand nghiên cứu tình hình cùng với tướng không quân Hartemann vào buổi trưa. Đông Khê thất thủ vừa làm biến mất khỏi đội hình 250 lính lê dương tinh nhuệ.
Carpentier có vẻ luống cuống, và ông ta quyết định đẩy ngày rút lui khỏi Cao Bằng sớm hơn, vào ngày 29/9. "Như vậy có nghĩa là phải bắt đầu cuộc hành quân lên Thái Nguyên 3 ngày sớm hơn, ngày 26 với toàn bộ phương tiện, và nếu có thể là với 7 tiểu đoàn"
Tướng Carpentier đã quá tin tưởng mũi nhử này. Toàn bộ quân chủ lực VM đã theo chương trình của họ lên vùng đường số 4, dù họ có muốn, thì trong vài ngày cũng không thể trở Thái Nguyên được.



Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 01 Tháng Mười, 2007, 11:55:28 pm
Một vài sơ đồ về CZ Biên Giới của Cục Quân huấn:
1. Quyết tâm:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/1-8.gif)
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/2-9.gif)
2. Diễn biến chiến đấu ở Cốc Xá:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/3-8.jpg)
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/4-4.jpg)

Do hơi khó scan nên các bác chịu khó xem hình nhăn nheo, lủng củng một tí. :D


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 02 Tháng Mười, 2007, 12:09:06 am
Thêm một số hình ảnh khác:
- Bộ chỉ huy chiến dịch:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/bochihuy.gif)
 Từ trái qua: Bùi Quang Tạo, Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái, Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm.

- Toàn cảnh Đông Khê:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/toancanhdongkhe-1.gif)

- So sánh lực lượng:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/sosanhlucluong.gif)

- So sánh kết quả một số trận đánh chủ chốt:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/sosanhketqua.gif)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Mười, 2007, 01:23:24 pm
Số Tây "bị thương" ở Cốc Xá và 477 có phải là bọn được ta trao trả ở Thất Khê không nhỉ.

Bảng này chắc chưa tính mấy trận ở Khau Luông, Trọc Ngà gần Đông Khê trước khi binh đoàn Le Page rút về Cốc Xá.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: dongadoan trong 05 Tháng Mười, 2007, 10:04:10 pm
À, nhân tiện chiangshan hỏi, post một bức ảnh về trao trả tù binh tai Thất Khê:(http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/4.gif)

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/TraotratubinhTK.jpg)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 16 Tháng Giêng, 2008, 06:01:25 am
Ngày 18/9, Lạng Sơn
Ngay sau cuộc họp, tướng Các-păng-chi-ê lấy ngay máy bay đi Lạng Sơn mà ông ta đến vào xế chiều để bàn bạc với đại tá Constans. Ông ta ra lệnh rõ ràng là chiến dịch rút lui khỏi Cao Bằng phải được giữ bí mật tuyệt đối, ngay cả với các binh đoàn trưởng Charton và Le Page.
Thời gian khi Charton nhận lệnh cho tới khi chiến dịch bắt đầu phải càng ngắn càng tốt. Phương châm của tướng Các-păng-chiê cho chiến dịch này là "bí mật, bất ngờ, không nặng nề".
Theo Các-păng-chiê, điều tiện nhất là Cao Bằng phải được sơ tán vào ban đêm. "Charton sẽ đi đến gặp Le Page, sau khi binh đoàn này đã chiếm lại Đông Khê" ông ta có nói. Chiến dịch chiếm lại Đông Khê có thể bắt đầu vào ngày 29/9 "nhưng nó có thể chịu được một chút co giãn" theo lời ông ta. Như thế có nghĩa là đại tá Constans nhờ cái "co giãn" đó có thể có thể tuỳ nghi chỉ định theo thời tiết và tình hình chuyên chở đường không đến Cao Bằng của các tiểu đoàn ta-bo.
Như vậy cũng có nghĩa là Charton không thể tự quyết định ngày giờ bỏ Cao Bằng, nếu không có lệnh của Constans.

Ngày 18/9, binh đoàn Le Page
Trong cả ngày 18, những chiếc xe của đoàn vận tải 516 thay nhau chở binh đoàn Le Page đến đồn "41 Đông" cách Lạng Sơn 46-47km, tức là đã qua Nà Sầm 15km. Le Page bỏ lại 2 khẩu pháo ở đồn Nà Sầm, vì từ đồn 41 chở đi, đường số 4 trở nên khó khăn cho xe cộ.
Tất nhiên, mặc dầu không có lệnh nhưng Le Page cũng đã đoán được mục đích cuối cùng của cuộc hành quân là đi đón Charton sắp bỏ Cao Bằng. Tối ngày 18, các đơn vị cuối cùng của Le Page đến chỗ tập trung. Vào 22 giờ, binh đoàn Le Page bắt đầu rời đồn 41 bằng chân.
Cũng ngày hôm đấy, những chuyến máy bay vận tải thả xuống Thất Khê phần còn lại của tiểu đoàn dù lê dương số 1 (1BEP)

Ngày 19/9, binh đoàn Le Page
Binh đoàn đến Thất Khê an toàn vào buổi sáng sau 1 cuộc hành quân 20km trong đêm.

Ngày 19/9, Cao Bằng
Các-păng-chi-ê hạ cánh xuống Cao Bằng. Ông ta cho Charton biết việc tiểu đoàn 3 ta-bo đang được chở đến Cao Bằng sau trận phục kích ở Thà Lài. Đơn vị này là tiểu đoàn tiếp viện duy nhất cho Charton trong 2 tiểu đoàn mà Các-păng-chiê đã dự định trong mệnh lệnh 46.
Mặc dầu Các-păng-chi-ê không nói với Charton những gì ông ta đã nói với Constans, nhưng tất nhiên Charton cũng đoàn được ý định sắp bỏ Cao Bằng của cấp trên. Nhưng chính sự không nói đó, dẫn đến việc Charton vẫn không biết được rằng cuộc phương châm nhanh gọn của cuộc rút lui. Chính vì thế mà sau khi Các-păng-chi-ê đã đi về, Charton có gửi 1 bức điện cho ông ta yêu cầu việc không vận chuyển vợ con lính bản xứ đi Lạng Sơn nữa để giữ tinh thần cho họ.

Ngày 20/9, Hà Nội
Các-păng-chi-ê, chuẩn bị về Sài Gòn, có gặp Alessandri, vừa từ Paris về. Theo Alessandri, 1 quân nhân có rất nhiều kinh nghiệm về Đông Dương và chống lại việc bỏ Cao Bằng, cuộc nói chuyện đã trở thành 1 cuộc tranh cãi quyết liệt. Nhưng cuối cùng, ông ta cũng phải tuân lệnh cấp trên.

Ngày 19/9 đến ngày 1/10, ở Thất Khê
binh đoàn Le Page đồn trú ở đây trong vòng 10 ngày. Không một cuộc hành quân nào được quyết định về phía Đông Khê. Chỉ có vài cuộc tuần tra xung quanh Thất Khê được tiến hành nhưng không có kết quả nào cả, ngoài 1 cuộc càn quét vào Po Ma. Ở đây toán đi càn đã phục kích được 1 nhóm Việt Minh trang bị vũ khí nặng, giấy tờ tìm thấy trên xác 1 sỹ quan pháo binh VM cho thấy phần lớn quân chủ lực VM cũng đang ở trong vùng : hàng chục tiểu đoàn trong đó có một số pháo binh, khoảng 12 tiểu đoàn vừa mới được huấn luyện ở Trung Quốc trở về.
Vào 17 giờ ngày 23/9, những tin tức này được gửi về Lạng Sơn, Hà Nội và Sài Gòn, nhưng không một viên chỉ huy Pháp nào đã chú ý đến thông tin này.

Những tuần cuối cùng của tháng 9, phía việt Minh:
Tình hình bắt đầu cho thấy rõ ràng rằng việc tiêu diệt Thất Khê là mục tiêu sau đó của tướng Giáp. Trong thời gian 12 ngày khi binh đoàn Le Page đi qua Thất Khê, tướng Giáp đã liên tục củng cố vị trí của mình chỉ cách thị trấn có vài giờ đường. Phần lớn của lực lượng chủ lực việt Minh bao gồm đại đoàn 308, trung đoàn 209 và trung đoàn pháo binh 95 tập trung trong vùng núi giữa biên giới TQ và đường số 4 kéo dài từ dẫy Nà Kéo cho đến dẫy Nà Mộc Ngần xung quanh Bôg Bạch và Pô-ma, trên một hành lang khoảng 12-13km.
Những đơn vị này, mà phía chúng ta có thể gọi là "lực lượng tổng trù bị" (Reserve Generale), được ủng hộ bởi những đơn vị địa phương của Liên khu Việt Bắc bao gồm các tiểu đoàn 428, 888, 426. Trong các tài liệu của tướng Gras và Erwann Bergot, có nói đến 1 tiểu đoàn 246, nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi, lúc đó phía Việt Minh không có tiểu đoàn 246 nào ngoài tiểu đoàn địa phương 426 trên, tiểu đoàn này đã cùng với trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt tấn công Đông Khê. Chỉ đến năm 1951 mới có 1 trung đoàn 246 được thành lập.
Những cuộc không sát xuống Đông Khê đều cho thấy lá cờ của Việt Minh đang bay trên đỉnh pháo đài, nhưng hầu như không thấy có dấu hiệu quân sự nào xung quanh đó. Các đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ thị trấn đều đã ẩn tránh trong vùng rừng núi lân cận. Việc trực tiếp phòng thủ cũng không còn là dẽ dàng trong một nơi đã từng là Đông Khê, nhưng hiện nay đã trở thành một nơi giống pháo đài Douaumont [pháo đài Pháp bị phá hủy bởi pháo binh Đức trong trận Verdun] sau các cuộc ném bom và pháo kích.
Trung đoàn 174, sau khi đã giải quyết Đông Khê, vẫn cùng với tiểu đoàn 426 và 4 khẩu 75mm, được lệnh cấp tốc hành quân xuống phía nam Thất Khê, vượt qua thị trấn bằng phía tây. Mục tiêu của nó là để cắt đường số 4 giưa Thất Khê và Nà Sầm, sẵn sàng tiêu diệt các đồn bốt vẫn còn đóng rải rác trên con đường này đến Lạng Sơn. Lúc này phòng 2 của chúng ta đã hoàn toàn mất tin tức về trung đoàn 174. Nhưng cùng một lúc nhiều dấu hiệu cho thấy Việt Minh đang chuẩn bị 1 trận đánh lớn, các làng mạc xung quanh Thất Khê đều vắng tanh, dấu hiệu cho thấy họ đã được điều động đi làm dân công cho Việt Minh.
Trong một tài liệu tối mật được gọi là "Cantal", do 1 điệp viên của phòng nhì ở Trung Quốc gửi qua sứ quán Pháp ở Đài Loan, có đề:
"Ngày 13/9, 300 lính pháo binh cùng với 1 số lượng súng không xác định được đã đến từ Vân Nam qua ngã Hà Giang trên đường số 2.
- Ngày 14/9: lính Việt Minh thao tập bắn trên 6 khẩu cao xạ ở Trừng Sỹ gần biên giới.
- Ngày 20/9 : 70 tấn gạo được tích trữ ở biên giới trong đó có 30 tấn đến trực tiếp từ TQ. Khoảng 300 lính TQ vượt biên giới với 6 khẩu cối 60.
- Ngày 22/9 : 1500 lính Việt Minh đến đóng ở 1 vị trí cách Long Châu 17km về phía bắc. 1500 lính VM khác đóng cách Đồng Đăng 5 km về phía bắc.
- Ngày 29/9 : một trạm điện đài của TQ liên lạc liên tục với các trạm của Việt Minh gần Cao Bằng, Bắc Cạn và Tà Lùng. Các ngày 4, 7, 10, 11 tháng 9, những đoàn xe tải khoảng 20 xe chở hàng về phía Việt Nam qua Trùng Khánh phủ. Ở các bệnh viện Long Châu và Fa Tong, có hàng trăm thương binh Việt Minh được chữa trị"
Ngoài ra, trong những ngày trước, cũng theo nguồn tin trên, tổng cộng khoảng 10.000 lính Việt Minh đã vượt lại biên giới. con số này tương đương với số lính của đại đoàn 308 vừa mới được huấn luyện trên đất TQ.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 01 Tháng Tám, 2008, 06:48:52 pm
Lão banzua bỏ bê cái topic này lâu quá.


Trận tiến công địch ở điểm cao Trọc Ngà
Của dBB29/eBB88/fBB308
Ngày 2-10-1950


I. Tình hình chung

1. Địa hình


Núi Trọc Ngà nằm trong dãy điểm cao phía nam Đông Khê thuộc huyện Thạch An, Cao Bừng, độ cao 400m, độ dốc từ 45-60o, trên đỉnh và sườn phía tây là đồi trọc, chân núi và ba sườn phía bắc, đông, nam có cây cối rậm rạp. Núi Trọc Ngà thuộc địa hình núi cao rừng rậm, có vị trí chiến thuật quan trọng khống chế đường số 4, xung quanh có nhiều rừng cây tiện cho ta giấu quân và cơ động lực lượng.


2. Tình hình địch

Sau khi mất Đông Khê, để cứu nguy cho binh đoàn Sác-tông ở Cao Bằng bị cô lập, sau 10 ngày cân nhắc địch bất ngờ đưa binh đoàn Lơ-pa-giơ lên chiếm giữ dãy điểm cao ưu thế về địa hình ở phía đông đường số 4, nam Đông Khê nhằm đón và hợp quân với binh đoàn Sác-tông rút từ Cao Bằng về Thất Khê, Na Sầm nhằm bảo toàn lực lượng. Binh đoàn Lơ-pa-giơ gồm 4 d rải quân từ Khâu Luông xuống Trọc Ngà.

Tại Trọc Ngà địch bố trí 1 c lính Ma-rốc thuộc d Ma-rốc số 1. Quân số gần 120 tên, có 1 đại liên, 3 trung liên.

Hoả lực chi viện: trận địa pháo 4 khẩu ở Nà Pá và KQ chi viện khi cần thiết.

Công sự trận địa: địch mới chiếm điểm cao, đang triển khai đào công sự.

Kết luận: điểm mạnh của địch là lính Ma-rốc đã qua chiến đấu, được trang bị tốt, có KQ và PB chi viện. Điểm yếu là công sự sơ sài, tác chiến trong thế bị động, tinh thần hoang mang sa sút.


3. Tình hình ta

Sau khi ta tiêu diệt Đông Khê, fBB308 bố trí lực lượng ở đông đường số 4 (cận nam Đông Khê) sẵn sàng đánh lực lượng ứng cứu của địch từ phía sau lên. Sau hơn 10 ngày phục kích, hết gạo ăn, ta phải tổ chức cho bộ đội đi lấy gạo cách vị trí đóng quân 30km. Đúng lúc đó binh đoàn Lơ-pa-giơ bất ngờ xuất quân chiếm giữ dãy điểm cao phía đông đường số 4 ở cửa ngõ nam Đông Khê. Các đơn vị thuộc fBB308 được lệnh gấp rút tổ chức bao vây tiến công tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ.

dBB29 gồm 3 cBB (217, 219, 221) và 1 c trợ chiến 223 do d trưởng Hùng Sinh và ctv Phạm Chí Nhân chỉ huy. Quân số biên chế hơn 400 người nhưng chỉ có mặt ở trận địa hơn 200 người (1/2 quân số đi lấy gạo chưa về kịp).

dBB29 là đơn vị có nhiều thành tích, đã qua nhiều trận đánh, vừa cùng e và f trải qua một giai đoạn huấn luyện quân sự, học tập chính trị khá cơ bản và được bổ sung thay thế vũ khí tương đối đồng nhất, bộ đội có quyết tâm cao.

Đơn vị bạn liên quan: phía bắc eBB36 đang chuẩn bị đánh địch ở Khâu Luông, điểm cao 663.


II. Tổ chức chuẩn bị chiến đấu

1. Nhiệm vụ


08.00 ngày 2-10-1950, dBB29 được giao nhiệm vụ:  được 2 pháo 75mm chi viện, tổ chức tiến công gấp đại đội Ma-rốc ở Trọc Ngà, chiếm lĩnh trận địa khống chế đường số 4, chia cắt binh đoàn Lơ-pa-giơ với địch ở phía sau, sẵn sàng phát triển lên phía bắc phối hợp với đơn vị bạn đánh bộ phận còn lại của d Ma-rốc số 1.


2. Tổ chức chuẩn bị chiến đấu

08.00-09.00 ngày 2-10, triệu tập hội nghị chỉ huy các đơn vị, quán triệt nhiệm vụ phổ biến kế hoạch tác chiến của d, tổ chức trinh sát nắm địch, chuẩn bị đường tiến quân.

09.00-11.00, tổ chức biên chế lại lực lượng, dồn quân của các đơn vị cho đủ biên chế từng b, giao cho cán bộ c phụ trách, phổ biến nhiệm vụ, bổ sung vũ khí. Đồng thời tổ chức đón số quân lấy gạo về, biên chế lập đội dự bị, tiếp tục đưa vào vị trí chiến đấu.

11.20, dBB29 đã làm xong các công tác chuẩn bị.


3. Cách đánh

Triển khai lực lượng tiến công địch trên 2 hướng, bí mật tiếp cận, triển khai đội hình hàng ngang, khi có lệnh đồng loạt nổ súng xung phong.


4. Sử dụng lực lượng

Thê đội 1: cBB219 tiến công trên hướng chủ yếu (hướng đông), cBB221 tiến công trên hướng thứ yếu (đông nam).

Thê đội 2: cBB217 bố trí phía sau thê đội 1 khoảng 100m, sẵn sàng tiến công khi thê đội 1 gặp khó khăn.

C trợ chiến 223 bố trí phía đông đồi Nà Mục, chi viện hoả lực cho BB khi có lệnh.

Bộ phận dự bị: hình thành do lực lượng đi lấy gạo về, tập kết phía đông Nà Mục sẵn sàng tiếp ứng.


III. Diễn biến, kết quả, ý nghĩa

1. Diễn biến


11.30 ngày 2-10-1950, dBB29 bắt đầu hành quân vào vị trí chiếm lĩnh trận địa. Đội hình hành quân hàng dọc theo đường từ bản Xiển đến Trọc Ngà, mỗi đơn vị cách nhau 100-150m. Bộ đội ngụy trang bằng lá cây rừng, bám sát bờ cây ven đường bí mật tiếp cận địch. Trời nắng, máy bay địch luôn có 4-5 chiếc quần đảo ném bom các trục đường mòn từ Bố Trạch, bản Xiển, Bố Luông và các điểm cao hai bên đường 4.

Do ngụy trang kín đáo, ta không bị địch phát hiện.

13.00, d đã tới đông chân núi Trọc Ngà. 13.10, sau khi nắm lại tình hình, d trưởng lệnh cho các đơn vị theo phương án đã định, triển khai đội hình hàng ngang bí mật tiếp cận địch.

13.20, các đơn vị vào xong vị trí xuất phát xung phong cách địch 30-100m, địch đang đào công sự vẫn không phát hiện.

Theo kế hoạch, 13.40 PB bắn chế áp chi viện BB xung phong. Nhưng do thời gian gấp, pháo không kịp vào chiếm lĩnh trận địa. Thấy thời cơ có lợi, d trưởng quyết định không chờ pháo, đề nghị e cho nổ súng. Được e đồng ý, d trưởng phát lệnh xung phong.

13.45, tiếng kèn tiến quân vang lên. Từ tuyến xuất phát xung phong, cBB219 và 221 cùng bật dậy dũng mãnh đánh thẳng vào đội hình địch trên đỉnh đồi. Trước sức tiến công áp đảo của ta, địch đang đào công sự không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn. Chỉ trong vòng 5 phút, dBB29 đã hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt tại chỗ hơn 50 tên, bắt sống 5 tên trong đó có tên c trưởng.

Bọn địch sống sót chạy xuống sườn núi phía tây ẩn náu, tản mát vào những cánh rừng rậm rạp ven đường 4. dBB29 tổ chức 2 mũi truy đuổi địch diệt thêm một số rồi kết thúc trận đánh.

17.00, sau khi tổ chức chốt giữ trận địa, dBB29 thu quân về vị trí tập kết chờ lệnh.


2. Kết quả

Địch: bị diệt hơn 50 tên, bị thương hơn 30 tên, bị bắt 5 tên; bị ta thu hơn 30 súng các loại.

Ta: hy sinh 3 đ/c, bị thương 5 đ/c.


3. Ý nghĩa

Trận Trọc Ngà là đòn phủ đầu rất kịp thời của fBB308 vào binh đoàn Lơ-pa-giơ. Trận đánh đã làm tan rã 1 c thuộc d Ma-rốc số 1 của địch, chia cắt binh đoàn Lơ-pa-giơ với hậu phương phía sau của chúng. Trận đánh đã tạo điều kiện thuận lợi cho eBB36 tiến công đánh chiếm Khâu Luông, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn Lơ-pa-giơ trong mấy ngày sau đó của chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 11 Tháng Tám, 2008, 03:28:32 pm
CHiến lợi phẩm thu được tại Lạng Sơn:
3000 viên đạn 105 ly
1000 viên đạn 155 ly.
Chiến lợi phẩm chiến dịch Biên Giới: Thu được 4 khẩu 105 lý. Vậy pháo 155 ly bị phá hủy? Chắc chắn Pháp nó có lôi 155 ly lên chứ các bác nhỉ


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:08:05 am
Em nhặt nhạnh được một số bài liên quan đến quan hệ Việt nam - Trung Quốc những năm 50. Em không có ý gì bênh vực Trung Quốc, mà chỉ đưa ra có tính tham khảo:
  Trong những năm qua, các sử gia Việt Nam có thiên hướng lướt qua vai trò Trung Quốc nhằm hoàn thiện "lịch sử dân tộc", trong lúc việc không tiếp cận được với nguồn tư liệu Trung Quốc đã cản trở các học giả phương Tây trong việc tìm ra thái độ và chính sách của Bắc Kinh trong cuộc xung đột ở Đông Dương.
Bắt đầu từ thập niên 1990, có thêm một số tác phẩm mới. Gần đây nhất, đáng chú ý là “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” của Qiang Zhai (xuất bản 2000) và “Mao’s China and the Cold War” của Jian Chen (2001). Cả hai tập sách do NXB đại học North Carolina ấn hành trong khuôn khổ sêri về lịch sử chiến tranh Lạnh.
Sử dụng các thông tin do Trung Quốc công bố vài năm qua (gồm tài liệu nội bộ mới giải mật, hồi ký, nhật ký và các quyển sử của các tác giả Trung Quốc), hai học giả quốc tịch Mỹ này tái hiện chính sách của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến ở Đông Dương.
Quyển sách “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” (Trung Quốc và các cuộc chiến của Việt Nam, 1950-1975) của Qiang Zhai (Tường Trạch?), giáo sư lịch sử thuộc Auburn University Montgomery, dành hai chương bàn về vai trò của các cố vấn Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp ở Việt Nam.
Không dễ để có câu trả lời có thể cân bằng giữa hai khuynh hướng: một nhấn mạnh các yếu tố ‘bản địa’ do xuất phát từ tinh thần dân tộc chủ nghĩa và một khuynh hướng từ thời Chiến tranh Lạnh xem Bắc Việt đơn thuần là tay súng bóp cò theo hiệu lệnh từ Moskva hay Bắc Kinh. Quyển sách của Qiang Zhai được nhiều tờ báo đánh giá là ‘nghiên cứu cân bằng và sâu sắc nhất về quan hệ Trung-Việt thời chiến tranh’, trong lúc cũng có người phê phán là quyển sách mô tả Việt Nam quá thụ động.
Với mong muốn giới thiệu các nghiên cứu lịch sử mới liên quan chủ đề mà nhiều người Việt Nam quan tâm, chúng tôi xin tóm tắt nội dung chính mà tác giả Qiang Zhai trình bày trong quyển sách. Nó có thể giúp người ta nắm bắt phần nào những gì công bố tại Trung Quốc trong mấy năm qua.
Tác giả Qiang Zhai cũng thừa nhận trong một bài viết năm 1993, “Do bài viết chủ yếu dựa trên tư liệu Trung Quốc, nó không tự xem là đã thể hiện đầy đủ về quan hệ Trung-Việt trong cuộc chiến Việt Nam lần thứ nhất". Và như trong ý kiến khép lại hội thảo Pháp-Việt về Điện Biên Phủ tổ chức năm ngoái ở Paris, Điện Biên Phủ vẫn là đề tài hấp dẫn cần tìm hiểu thêm và việc biết thêm các tư liệu gần đây cũng chỉ là một gạch nối trong quá trình tìm hiểu toàn bộ những gì đã xảy ra trong các năm dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:09:06 am
NGƯỜI BẠN LỚN ĐẦU TIÊN
Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Ngày 15-1-1950, VNDCCH đánh điện cho Bắc Kinh yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Mao Trạch Đông, lúc này đang ở thăm Liên Xô, gửi điện về cho Lưu Thiếu Kỳ, tổng bí thư Đảng Cộng sản TQ, chỉ thị tiếp nhận đề nghị của VNDCCH đồng thời bảo Bộ Ngoại giao chuyển đề nghị của Bắc Việt Nam cho Liên Xô và các nước Đông Âu khác.
Trung Quốc trở thành nước đầu tiên công nhận VNDCCH vào ngày 18-1-1950. Stalin theo sau vào ngày 30-1-1950, để tiếp theo đó là các nước Cộng sản khác ở Đông Âu và Bắc Hàn.
Đến tháng Tư, ông Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc gửi chuyên viên quân sự đến Việt Nam với tư cách cố vấn ở đại bản doanh Việt Minh và ở cấp độ sư đoàn, và với tư cách chỉ huy ở cấp độ trung đoàn và tiểu đoàn. Trung Quốc trả lời rằng họ sẽ gửi cố vấn, nhưng không gửi chỉ huy. Ngày 17-4-1950, quân uỷ trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh thành lập nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc. Nhóm này sẽ gồm 79 cố vấn, cùng một số trợ lý.
Từ tháng Tư đến tháng Chín năm 1950, Trung Quốc gửi cho Viêṭ Minh số lượng lớn viện trợ quân sự và phi quân sự, gồm 14.000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2800 tấn thực phẩm (số liệu lấy từ quyển ‘Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam và chống Pháp’, xuất bản ở Trung Quốc 1990).
Việc Trung Quốc quyết định giúp Việt Nam xuất phát từ ba lý do chính:
- Thứ nhất, Đông Dương là một trong ba mặt trận, cùng với Triều Tiên và Đài Loan, mà Bắc Kinh xem là dễ bị nước ngoài can thiệp. Lãnh đạo Trung Quốc không chỉ lo ngại về khả năng thù địch nước ngoài xuất phát từ Đông Dương mà lo cả tàn quân Quốc Dân Đảng ở Việt Nam. Sau khi đảng Cộng sản chiếm Quảng Tây tháng 12-1949, một số đơn vị Tưởng Giới Thạch đã trốn sang miền Bắc Việt Nam, trong lúc số khác lẩn trốn vào vùng núi tại Quảng Tây. Sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, tàn quân này bắt đầu tấn công quân chính phủ mới. Nhìn trong hoàn cảnh này, việc đánh bại quân Pháp ở Bắc Việt sẽ củng cố đường biên giới Trung Quốc.
- Thứ hai, nghĩa vụ giúp đỡ một nước cộng sản anh em khiến Bắc Kinh không từ chối yêu cầu từ phía Việt Minh. Một chỉ thị nội bộ do Lưu Thiếu Kỳ chuẩn bị ngày 14-3-1950 là ví dụ cho thấy Bắc Kinh liên kết cách mạng Trung Quốc và quốc tế: “Sau khi cách mạng chúng ta chiến thắng, việc giúp đỡ bằng mọi cách để các đảng Cộng sản và nhân dân ở mọi quốc gia bị áp bức tại châu Á giành thắng lợi là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác".
- Thứ ba, sự can dự của Bắc Kinh ở Đông Dương cần được nhìn theo quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc và láng giềng. Các vua Trung Quốc vẫn thường xem Việt Nam nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của phương bắc. Truyền thống này hẳn được Mao và các đồng chí của ông – những người xem lịch sử là chuyện nghiêm túc- tiếp nối. Còn người Việt vẫn có truyền thống tìm kiếm mô hình và cảm hứng từ Trung Quốc. Nên quyết định của ông Hồ Chí Minh nhờ Mao giúp đỡ không chỉ xuất phát từ lý do ý thức hệ. Quyết định đó cũng tương thích với thói quen tìm kiếm mô hình từ Trung Quốc, đồng thời tìm cách duy trì độc lập cho người Việt.
Tháng Tám 1950, ông La Quý Ba trở thành người đứng đầu một phái đoàn cố vấn chính trị sang Việt Nam. Trong bức điện gửi La Quý Ba, Lưu Thiếu Kỳ dặn La không áp đặt quan điểm lên người Việt và đừng làm mếch lòng nếu phía bên kia không chịu làm theo các đề nghị. Những dặn dò như vậy có vẻ cho thấy Bắc Kinh nhạy cảm trước lòng tự hào dân tộc của Việt Nam và mối thù địch truyền thống giữa hai nước. Tuy vậy, như những đoạn sau sẽ cho thấy, người Trung Quốc sẽ tỏ ra thất vọng và giận dữ khi các đồng chí Việt Nam của họ đi chệch khỏi đường lối Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:10:33 am
CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI
Trận đánh đầu tiên Việt Minh thực hiện với lời khuyên và hỗ trợ của cố vấn Trung Quốc là chiến dịch Biên giới năm 1950, với mục đích liên thông mạng lưới liên lạc với Trung Quốc. Quân Pháp lúc này kiểm soát các tiền đồn dọc biên giới Trung Quốc. Việc loại bỏ các vị trí này sẽ giúp củng cố căn cứ Việt Minh ở khu Việt Bắc, thông thương đường tiếp vận từ Trung Quốc và giúp cho lực lượng Việt Minh có vị thế tốt hơn nhằm tấn công xuống khu vực đồng bằng sông Hồng trong tương lai.
Ban đầu, Việt Minh dự định tấn công Lào Cai và Cao Bằng, hai cứ điểm quan trọng. Sau khi suy tính, Việt Minh thay đổi kế hoạch, chỉ tập trung vào Cao Bằng. Bên cạnh việc yêu cầu Trung Quốc gửi viện trợ và gửi nhóm cố vấn quân sự đến Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng đề nghị gửi sang một cố vấn quân sự cao cấp để điều phối chiến dịch Biên giới.
Lúc này, Trung Quốc cử vị tướng nổi danh Trần Canh (1903-1961) sang Việt Nam ngày 7-7-1950. Như Trần Canh viết trong nhật ký, thì ông này phát hiện Việt Minh bỏ qua việc huy động phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và nói điều này với bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Nếu là như vậy, Trần Canh đã áp dụng học thuyết "chiến tranh nhân dân" của Mao vào Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Quốc Dân Đảng, Mao đã thành công trong việc huy động phụ nữ cho chiến tranh.
VAI TRÒ TRẦN CANH
Ngày 22-7, Trần Canh gửi báo cáo về cho Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Một số đơn vị Việt Nam có tinh thần cao sau khi nhận huấn luyện và thiết bị tại Vân Nam và Quảng Tây, nhưng các cán bộ Việt Nam trên mức tiểu đoàn lại thiếu kinh nghiệm chỉ huy trong các trận đánh thật sự". Trần Canh đề nghị nguyên tắc của Chiến dịch Biên giới nên là “huỷ diệt lực lượng cơ động của kẻ địch trên các chiến trường và chiếm một số đồn nhỏ, cô lập nhằm giành thắng lợi ban đầu trong lúc tích lũy kinh nghiệm và thúc đẩy tinh thần chiến sĩ. Sau khi giành thế chủ động hoàn toàn, chúng ta có thể dần dần tiến tới các trận đánh quy mô lớn".
Về kế hoạch tấn công Cao Bằng của Việt Nam, Trần Canh đề nghị có chiến lược “bao vây đồn bốt trong lúc tấn công quân cứu viện". Đặc biệt, Trần Canh đề xuất Việt Minh nên tấn công một số đồn bốt biệt lập gần Cao Bằng trong lúc thu hút cứu binh của Pháp từ Lạng Sơn. “Nếu chúng ta có thể tiêu diệt ba đến năm tiểu đoàn cơ động từ Lạng Sơn, như thế sẽ dễ hơn trong việc chiếm Cao Bằng và một số đồn gần Lạng Sơn". Nếu thành công, Trần Canh tin rằng tình hình ở vùng đông bắc và miền Bắc Việt Nam "sẽ thay đổi lớn". Trong bức điện tín ngày 26-7, quân uỷ trung ương Trung Quốc đồng ý kế hoạch này.
Ngày 28-7-50, Trần Canh đặt chân tới căn cứ Việt Minh ở Thái Nguyên, nơi ông gặp ông Hồ Chí Minh và La Quý Ba. Trần Canh bảo với người lãnh đạo Việt Nam rằng Việt Minh chưa nên đánh chiếm Cao Bằng, là một cứ điểm mạnh lúc ấy, mà nên trước tiên tấn công các đồn nhỏ của Pháp để rèn quân. Về mặt chiến thuật, Việt Minh nên áp dụng kiểu bao vây một đồn bốt trong lúc tiêu diệt viện quân trong các trận đánh cơ động. Cụ thể, Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt. Ông Hồ chấp thuận kế hoạch này.
Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt.
Ngày 16-9-50, Việt Minh tấn công Đông Khê và chiếm đồn này hai ngày sau đó. Nhưng Trần Canh vẫn chưa hài lòng với hiệu quả của Việt Minh. Quân Pháp tại Đông Khê có khoảng 260 lính, trong lúc người Việt khoảng 10.000 lính. Khi trận đánh chấm dứt, Việt Minh có khoảng 500 thương vong và để hơn 20 lính Pháp trốn thoát. Trong nhật ký (xuất bản ở Trung Quốc sau khi Trần Canh qua đời, năm 1984), Trần Canh nói phía Việt Nam có một số khiếm khuyết. Đầu tiên, họ không tuân theo thời điểm tấn công như trong kế hoạch. Cuộc tấn công dự định bắt đầu vào chập tối 16-9-50, nhưng các đơn vị Việt Minh chỉ bắt đầu vào sáng hôm sau. Khi mặt trời mọc, họ phải rút lui vì đe dọa không kích của Pháp. Sau đó họ phải tấn công lần hai vào hoàng hôn của ngày 17-9. Thứ hai, các chỉ huy Việt Minh ngại ra trước tiền tuyến, nên mất liên lạc với các đơn vị tấn công. Thứ ba, một số cán bộ báo cáo sai lạc nhằm che dấu tin xấu. Trần Canh đã nói với tướng Võ Nguyên Giáp các vấn đề này.
Tuy vậy, việc chiếm được Đông Khê vẫn là thắng lợi lớn cho Việt Minh vì từ nay, Cao Bằng bị cô lập. Quân Pháp gửi tiếp viện đi từ Lạng Sơn qua ngả Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Cùng lúc đó, một đơn vị Pháp khác hướng về đại bản doanh Việt Minh tại Thái Nguyên. Trần Canh đánh giá rằng bước tiến của Pháp về Thái Nguyên nhằm thu hút quân Việt Minh từ Đông Khê để quân Pháp ở Cao Bằng có thể thoát ra. Vì vậy, Trần Canh đề xuất quân Việt Minh vẫn ở nguyên tại Đông Khê.
Ngày 30-9, quân Pháp do Lepage chỉ huy đến đánh Đông Khê từ ngả Thất Khê, nhưng bị phục kích. Hôm 3-10-50, trung tá Charton bỏ Cao Bằng và dẫn quân chạy về Nam. Nhằm ngăn đơn vị của Lepage và Charton hội quân, Việt Minh đưa quân bao vây đơn vị Lepage trước khi tấn công đơn vị của Charton. Ngày 8-10, quân của Lepage bị tiêu diệt. Hai ngày sau, đơn vị của Charton cũng bị chặn đánh. Cả Lepage và Charton bị bắt sống. Trong các trận tiếp sau, Việt Minh chiếm được Cao Bằng và Thất Khê. Quân Pháp tiếp tục rút khỏi Lào Cai, Lạng Sơn và Hòa Bình, để lại 11.000 tấn đạn dược và để trống gần như toàn bộ khu vực phía bắc đồng bằng sông Hồng.
Chiến dịch Biên giới quan trọng ở chỗ Việt Minh từ nay thông thương được với biên giới Trung Quốc. Việc Pháp rút khỏi Hòa Bình cũng mở đường liên lạc giữa Việt Bắc và vùng Bắc Việt ‘giải phóng’, kết thành một khu vực do Việt Minh kiểm soát.
Sau chiến dịch Biên giới, Mao Trạch Đông gửi điện tín cho Trần Canh, bày tỏ lòng vui mừng. Trần Canh sau đó đi nhiều nơi, tổ chức các lớp cho các chỉ huy Việt Minh. Ngày 11-10-50, Trần Canh nói chuyện với ông Hồ và ông Giáp, đưa ra các đề nghị cải tiến lực lượng, gồm các việc như tặng thưởng cán bộ, đối xử tù binh. Trần Canh yêu cầu các lãnh đạo Việt Minh tổ chức các buổi mừng công để quảng bá thắng lợi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn lựa và tặng thưởng các gương anh hùng. Về việc đối xử tù binh, Trần Canh đề nghị Việt Minh trước tiên yêu cầu họ viết thư cho gia đình và bạn bè để làm lung lay tinh thần đối phương, và rồi cố gắng chiêu mộ các tù binh Việt Nam trong lúc thả người Pháp và Marốc sau khi đã "giáo dục" những người này. Theo nhật ký của Trần Canh, ông Hồ và ông Giáp "vui vẻ" chấp nhận các đề xuất này.
Từ 27 đến 30-10, Việt Minh tổ chức các cuộc họp tổng kết cho các chỉ huy trên mức tiểu đoàn. Thay mặt Việt Minh, ông Trường Chinh đọc báo cáo đánh giá chiến dịch Biên giới. Theo đề nghị của ông Hồ Chí Minh, Trần Canh trình bày trước cuộc họp trong bốn ngày liền. Ông phân tích các lý do cho thành công của Việt Minh, ca ngợi lòng dũng cảm của chiến sĩ. Sau đó lại nhắc các khiếm khuyết, như việc sĩ quan thiếu quan tâm binh sĩ, việc chậm thi hành mệnh lệnh, và khuynh hướng chỉ báo cáo tin tốt.
Ông Hồ yêu cầu Trần Canh ở lại Việt Nam, nhưng Trần Canh nhận lệnh mới từ Bắc Kinh và rời Việt Nam đầu tháng 11-1950. Giữa năm sau, ông được bổ nhiệm làm phó chỉ huy tình nguyện quân Trung Quốc chiến đấu tại Triều Tiên. Sau khi Trần Canh ra đi, nhóm cố vấn Trung Quốc chịu trách nhiệm cho việc cố vấn cho Việt Minh.
TỔN THẤT VÀ TÁI TỔ CHỨC NĂM 1951
Cuối năm 1950, Việt Minh và nhóm cố vấn cùng quyết định thực hiện tấn công xuống đồng bằng sông Hồng. Một số cán bộ cao cấp xem chiến dịch Biên giới là một phần bước tiến mà sẽ từ từ dẫn tới tổng phản công.
Ông Võ Nguyên Giáp soạn thảo tài liệu năm 1950 nói về việc chuẩn bị cho cuộc tổng phản công. Trong đó, ông nói điều kiện đã chín muồi cho lực lượng cách mạng chuyển sang tổng tiến công để loại bỏ quân số lớn đối phương và chiếm các thành phố. Cũng có nhiều thành viên trong đảng ủng hộ việc chiếm đồng bằng để giảm bớt gánh nặng thiếu gạo tại các khu giải phóng.
Tháng Giêng 1951, tướng Giáp cho tấn công Vĩnh Yên, cách Hà Nội 37 dặm, áp dụng chiến thuật biển người đang được Trung Quốc dùng tại Triều Tiên. Tướng Jean de Lattre de Tassigny, tổng tư lệnh Pháp tại Đông Dương, đưa quân phản kích, dùng cả bom napalm. Việt Minh tổn thất ít nhất 6000 chiến sĩ.
Đến tháng Ba, trận tấn công Mạo Khê, gần Hải Phòng, lại thất bại. Cùng một định mệnh rơi xuống quân Việt Minh trong tháng Năm khi họ đánh Phủ Lý và Ninh Bình. Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn.
Đầu năm 1951, nhóm cố vấn Trung Quốc đề xuất một kế hoạch tăng hiệu năng cho cơ cấu lãnh đạo. Với sự đồng ý của ông Hồ, nhóm cố vấn giúp Bộ tổng tham mưu, tổng cục chính trị và tổng cục hậu cần cùng các sư đoàn "giảm biên chế". Các cố vấn Trung Quốc ở tầm mức sư đoàn mở lớp huấn luyện cho các cán bộ Việt Nam.
Phương pháp giáo dục ý thức hệ mà các cố vấn Trung Quốc đưa vào Việt Nam có tên gọi ‘chỉnh huấn’. Phương pháp Mao-ít dựa trên truyền thống Tống Nho nhấn mạnh tầng lớp ưu tú hãy tự rèn luyện để tu dưỡng chính trị và đạo đức. Với ảnh hưởng Nho giáo ở Việt Nam, không khó để cố vấn Trung Quốc tìm ra một lớp thính giả chấp nhận ‘tư tưởng đúng đắn’ trong hành động chính trị.
Nỗ lực củng cố quân đội là một phần trong chiến dịch xây dựng bộ máy nhà nước của nước VNDCCH trong năm 1951. Trong năm này, một nhóm cố vấn chính trị Trung Quốc, do La Quý Ba làm trưởng đoàn, được thành lập. Họ sẽ bận rộn tạo lập luật lệ và chính sách liên quan tài chính, thuế khóa, quản lý báo chí và phát thanh, đối xử với các nhóm thiểu số…
Một trong những diễn biến quan trọng nhất là thuế nông nghiệp, với cả địa chủ lẫn nông dân đều đóng thuế. Phần trăm thuế sẽ do các viên chức quyết định dựa trên lợi tức và chi phí các nhân khẩu. Do hệ thống thuế mới là mượn từ Trung Quốc, nên Đảng Lao động Việt Nam thành lập một cục thuế nông nghiệp đặc biệt để khảo sát hệ thống, mở lớp huấn luyện và giải thích luật mới cho dân chúng. Chính phủ cũng thành lập Ngân hàng nhà nước Việt Nam và công bố đồng tiền mới, mà tiền giấy in tại Trung Quốc.
Tuần sau, bài viết sẽ đề cập tiếp về chiến dịch Tây Bắc 1952 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Trong các bài tới, chúng tôi cũng sẽ trình bày quan điểm của Việt Nam về sự trợ giúp của Trung Quốc
***
Việt Nam miễn cưỡng nhắc đến vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng đối với người Pháp bởi vì tình cảm dân tộc mạnh mẽ của họ. Họ muốn chứng tỏ với thế giới rằng chiến thắng là kết quả của những nỗ lực anh hùng riêng của họ. Về tính khả tín của các nguồn tư liệu Trung Quốc, tôi nghĩ về phần lớn, chúng có thể tin được. Các tư liệu này thậm chí có thừa nhận những sai lầm mà cố vấn Trung Quốc phạm phải ở Việt Nam. (GS. Qiang Zhai, trả lời câu hỏi của ban Việt ngữ BBC)
TIỂU SỬ TƯỚNG TRẦN CANH
1922: Gia nhập Đảng Cộng sản TQ
Phó chỉ huy tình nguyện quân TQ ở Triều Tiên
1959: Thứ trưởng quốc phòng TQ
1961: Qua đời ở Thượng Hải
1984: Quyển nhật ký được xuất bản



Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:23:02 am
Một tác giả khác viết:
…
Tháng 4-1950, hai trung đoàn của Đại đoàn 308 theo đường Hà Giang qua Mông Tự (Vân Nam) lãnh khí giới, đạn dược(1). Một trung đoàn của Đại đoàn 312 theo đường Cao Bằng qua Hoa Đồng (Quảng Tây). Bắc kinh cũng cho lệnh chở vũ khí tới Cao Bằng để trang bị hai trung đoàn khác(2).
Ba trung đoàn qua Hoa Nam lấy vũ khí cũng qua lớp huấn luyện ba tháng về tác chiến, đặc biệt là kỹ thuật công kiên và kỹ thuật đánh bộc phá, trước đó vì không có chất nổ nên không biết. Nhưng không có súng chống tăng và phòng không(3).
Không có sự khác biệt nào giữa tài liệu Trung quốc và tài liệu Việt nam về những điểm nói trên(4).
Ngày 9-3-1950, Ba tới tổng hành dinh của Hồ Chí Minh (5). Võ Nguyên Giáp ghi là tháng 6-1950, phái đoàn Ba tới Việt Bắc “với cương vị vừa là đại sứ TQ (sai!), vừa là trưởng đoàn cố vấn Trung quốc”(6). Theo tài liệu TQ, ngày 7-7-1950, Chu Ân Lai không đồng ý cử đại sứ qua Việt nam vì hiện tình chiến tranh hiện tại khiến bất tiện cho việc nhận ngoại giao đoàn. Bởi thế nên giữ Ba như đại diện Đảng cộng sản TQ hơn là đại sứ Trung quốc(7). Hoàng Văn Hoan cũng chỉ được cử làm đại biểu chính phủ; tháng 12-1950 mới được chức đặc sứ, và tháng 4-1951 mới trình uỷ nhiệm thư( 8 ).
14-3-1950: AFP loan tin Hồ Chí Minh tới Bắc kinh(9).
19-3-1950: Ngày toàn quốc chống đế quốc Mỹ(10).
Từ tháng 4 tới tháng 9-1950, Bắc kinh viện trợ cho VM 14.000 súng trường, 17.000 súng tự động, 150 cỗ pháo đủ loại, 2,800 tấn thóc, cùng nhiều đạn dược, thuốc men, quân phục và máy truyền tin(11).
Hồ Chí Minh cũng xin Bắc kinh cung cấp cố vấn và cấp chỉ huy cho tới trung đoàn, nhưng Lưu Thiếu Kỳ không chấp thuận, chỉ cung cấp cố vấn tại bộ tổng tư lệnh xuống tới cấp sư đoàn(12).
Ngày 17-4-1950, Quân uỷ Trung ương Trung quốc cho lệnh Đệ Nhị, Đệ Tam và Đệ Tứ phương diện quân (Quân khu) lựa chọn từ cấp tiểu đoàn cố vấn cho quân đội Việt Minh. Đệ Tam quân khu được lệnh tổ chức Bộ tư lệnh cố vấn quân sự tại Việt nam; và Đệ Tứ Quân khu phụ trách việc huấn luyện. Ngày 26-4, lại chỉ thị một số bộ tư lệnh cử thêm 13 cán bộ trên cấp tiểu đoàn để phục vụ trong Bộ tư lệnh cố vấn quân sự. Tháng 5-1950, các cố vấn trên họp tại Bắc kinh và qua một khoá huấn luyện về nghĩa vụ quân sự quốc tế. Tướng Vi Quốc Thanh, Chính uỷ Quân đoàn 10 của Đệ Tam Quân khu, được cử phụ trách việc chuẩn bị. Tổng số phái đoàn này là 281 người(13).
Điều này tài liệu Việt, Trung đều giống nhau. Chỉ khác là tài liệu Trung quốc xác nhận tổng số cố vấn TQ lên tới… 281 người(14).
Để giúp các cố vấn hiểu biết hơn về Việt nam, TQ nhờ tướng Hồng Thuỷ (Võ Nguyên Bác hay Nguyễn Sơn, 1906-1956) dạy họ một lớp về địa dư, khí hậu và phát triển quân sự.
Võ Nguyên Giáp không nhắc gì đến Nguyễn Sơn, vì tháng 10-1950, Hồng Thuỷ bị gửi trả lại quân đội Trung quốc.
Ngày 27-6-1950, Mao và lãnh đạo cấp cao Trung quốc tiếp kiến các cố vấn quân sự TQ sẽ qua Việt Bắc. Mao giao cho phái bộ cố vấn hai nhiệm vụ chính:
1. Giúp VM thành lập một quân đội chủ lực.
2. Giúp quân đội VM trong việc thiết lập kế hoạch hành quân cùng tham chiến. Nhấn mạnh vào nghĩa vụ quốc tế. Yêu cầu các cố vấn bỏ tinh thần “tư tôn nước lớn” (big state chauvinism).
Cuối tháng 7-1950, Bộ tư lệnh cố vấn quân sự TQ chính thức thành lập, với Vi Quốc Thanh làm tư lệnh. Thanh có hai phụ tá là Mei Jiasheng (Mai Gia Sinh) và Deng Yifan (Đặng Nhất Phàn?). Bộ tư lệnh cố vấn quân sự này gồm 79 cố vấn và 202 phụ tá. Bản doanh trước tiên đặt tại Nam Ninh. Tại đây, Hoàng Văn Hoan giúp họ hiểu biết thêm về phong tục, tập quán của Việt nam. Thượng tuần tháng 8-1950 (12-8-1950), qua Việt Bắc(15). Theo Giáp, còn có Mã Tây Phu, công tác về hậu cần(16).
Giáp không nhắc đến Hoàng Văn Hoan. Hoan cũng cho rằng chỉ tới khu biên giới vào tháng 9-1950.
Chú thích:
(1) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 15
(2) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 15
(3) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 15
(4) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ 2001, trang 12-15; China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 15-19
(5) Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954”, The China Quarterly 132 (March 1993), 1993, trang 90.
(6) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 15-16
(7) Zhou gửi Hồ Chí Minh , 7-7-1950, trong Zhou nianpu, 1, trang 53; China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000 2000, trang 19
( 8 ) Hoàng Văn Hoan, 1987, Giọt nước trong biển cả, trang 332
(9) Tiếng Vang, 17-3-1950
(10) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 343
(11) Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954”, The China Quarterly 132 (March 1993), 1993, trang 93
(12) Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954”, The China Quarterly 132 (March 1993),, 1993, trang 91
(13) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 19
(14) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 19; Giáp, 2001, trang 16, 21
(15) Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954”, The China Quarterly 132 (March 1993),, 1993, trang 92;
China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 29
(16) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 15



Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:35:24 am
VỀ VAI TRÒ  TRẦN CANH (1903-1961) TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI
Theo tài liệu Trung quốc, tháng 6-1950, Hồ Chí Minh muốn đánh thông biên giới từ Việt Bắc qua Trung quốc, và xin Bắc kinh giúp đỡ thực hiện chiến dịch này(1). Hồ Chí Minh còn yêu cầu Bắc kinh gửi Trần Canh (Chen Geng), Tư lệnh Quân đoàn 4, Phương diện quân số 2 sang giúp vì hai người biết nhau từ thập niên 1920, khi Trần Canh là sinh viên Hoàng Phố (Huangpu) tại Quảng Châu và Hồ Chí Minh hoạt động cho Quốc tế cộng sản, trong việc tổ chức các phong trào nông dân tại Hoa Nam (1924-1927). Đảng cộng sản TQ chấp thuận, cử Trần Canh làm cố vấn trưởng và đại diện bên cạnh Quân đội nhân dân Việt nam trong Chiến dịch biên giới (7-10-1950) tức “Cao Bắc Lạng” hay Lê Hồng Phong 2 (cùng thời gian với các cuộc hành quân Bayard, Orage, Thérèse, Phoque của Pháp)(2).
25-6-1950: Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn. Biến cố này gây chấn động dư luận thế giới. Có thuyết cho rằng đây là điểm khởi đầu chiến lược chống cộng tại Á Châu của Mỹ. Nhiều học giả cho rằng chính phủ Truman đã quyết định can thiệp vào Đông Dương từ trước.
Ngày 18-6-1950, Lưu Thiếu Kỳ chỉ thị cho Trần Canh về việc soạn thảo kế hoạch giúp Việt nam đánh thông biên giới Trung Việt(3). Theo Trần Canh, ngày 7-7-1950 Trần Canh lên đường qua Việt nam. Trên đường ghé Yanshan (Yên Sơn), trung tâm huấn luyện Đại đoàn 308. Được tướng Zhou Xihan (Chu Tây Hán) báo cáo về việc huấn luyện. Sau khi vượt biên giới, Trần Canh nguỵ trang làm một sĩ quan quân đội nhân dân Việt nam, thám sát địa hình, địa vật.
Ngày 22-7-1950, Trần Canh điện về Bắc kinh, báo cáo dự thảo kế hoạch hành quân biên giới. Theo Trần Canh, một số đơn vị tinh nhuệ của Việt nam đang có tinh thần cao sau khi được huấn luyện ở Vân Nam và Quảng Tây, nhưng cấp chỉ huy trên cấp tiểu đoàn thiếu kinh nghiệm tác chiến thực sự. Trần Canh đề nghị đánh các lực lượng lưu động của địch trên mặt trận hay chiếm đóng một số tiền đồn hẻo lánh để lên tinh thần và kiếm kinh nghiệm. Sau đó mới tiến lên các trận đánh lớn. Trần Canh đề nghị nên vây hãm Cao Bằng trong khi đả viện từ Lạng Sơn. Đồng thời tấn công một số đồn bót nhỏ gần Cao Bằng để lôi kéo tăng viện khỏi Lạng Sơn(4). Ngày 26-7-1950, Quân uỷ Trung ương CSTQ chấp thuận).
Ngày 28-7-1950, Trần Canh tới Thái Nguyên. Gặp Hồ Chí Minh và La Quí Ba (Luo Qibo). Hồ Chí Minh ôm hôn thắm thiết Trần Canh, và làm bài thơ tặng Trần Canh(5).
Trần Canh ở lại đây 4 ngày; nói với Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Việt nam rằng chưa tiện đánh Cao Bằng ngay; mà chỉ nên bao vây, tỉa dần các tiền đồn và chặn viện. Đề nghị đánh Đông Khê để lôi kéo tăng viện từ Cao Bằng và Lạng Sơn. Hồ Chí Minh đồng ý(6).
Ngày 29-7, Trần Canh ghi trong nhật ký: Các cấp chỉ huy Việt nam thiếu kiên nhẫn, và chỉ muốn vũ khí(7).
Một tài liệu TQ khác ghi: Trung tuần tháng 7-1950, Trần Canh qua Việt Bắc. Sau nhiều buổi thảo luận với Võ Nguyên Giáp và các tướng lãnh Việt Minh, Trần Canh đề nghị tập trung lực lượng để bao vây, chia cắt và tiêu diệt lực lượng cơ động Pháp. Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đồng ý( 8 ).
Đại tướng Giáp, trong các hồi ký in năm 2001, không hề nhắc gì về sự có mặt của Trần Canh trước tháng 8-1950. Điều này đáng chú ý: Một, ông Giáp không nhớ rõ hoặc không muốn nói rõ. Hai, sự im lặng của ông Giáp có thể diễn dịch như chấp nhận những điều Trần Canh thuật lại.
B. Theo tướng Giáp, tháng 7-1950, ông ta bàn giao hậu cứ cho Nguyễn Chí Thanh, rồi sang Tân Trào (Tuyên Quang) chào Hồ Chí Minh Chí Minh. Hồ Chí Minh tuyên bố sẽ tham dự Chiến dịch biên giới (mà điểm chính là Cao Bằng). Ngoài đoàn cố vấn quân sự TQ, “Bác đã mời đồng chí Trần Canh cùng tham gia chiến dịch”(9). Đầu tháng 7-1950, Trần Đăng Ninh được lệnh lo sửa đường(10).
“Bác đã mời đồng chí Trần Canh cùng tham gia chiến dịch” mà tướng Giáp đề cập thật mơ hồ, nếu chẳng phải né tránh sự thực. Tại sao đã có cố vấn La Quí Ba, sắp có Vi Quốc Thanh, lại thêm Trần Canh “cùng tham gia chiến dịch?”. Tướng Giáp đáng lẽ phải khẳng định có chăng việc Hồ Chí Minh nhờ Trần Canh chỉ huy chiến dịch.
Ngày 30-9-1950, trung tá Le Page được lệnh đưa binh đoàn Bayard rời Thất Khê tiến lên Đông Khê, trong khuôn khổ chiến dịch Thérèse. Vì hai phần ba chủ lực của đại đoàn 308 có trách nhiệm đả viện dài theo lộ 4 bỏ đi thuỷ khẩu tải gạo, cánh quân Le Page tới gần Đông Khê thật bất ngờ(11).
30-9-1950: tiểu đoàn 1 Dù tới gần Đông Khê đồng thời, rút bỏ Nà Cạn. Bị chặn đánh. Tiểu đoàn 1-8 RTM ở phía sau cũng bị tấn công nặng.
1-10-1950: Chiến đoàn Le Page bị chặn lại ở phía nam Đông Khê.
Tối ngày 1-10-1950, đơn vị tiền tiêu của Le Page đã chạm súng với trung đoàn 209 Việt Minh. Le Page cho lệnh các đơn vị còn lại tản ra chiếm các cao địa phía nam Đông Khê.
Sáng ngày 2-10, Le Page dùng 2 tiểu đoàn đánh Đông Khê. Tiểu đoàn 11 Tabor chiếm được phía tây và cứ điểm bảo vệ phi trường. Tiểu đoàn dù bị chặn đứng tại các dãy núi vôi phía nam. 14G30, đại tá Consatns, tư lệnh Khu biên giới, cho lệnh Le Page dồn lực lượng về phía Quang Liệt - Nậm Nàng, bắc Đông Khê 15 cây số, để đón cánh quân di tản của trung tá Charton, sẽ từ Cao Bằng rút về. Ngày hẹn là 3-10-1950. Sau đó, toàn bộ rút về Thất Khê. Le Page cho lệnh ngưng tấn công Đông Khê. Để lại phía Nam 1 tiểu đoàn dù và tiểu đoàn 11 Tabor làm chốt cản đường triệt thoái về Lạng Sơn. Le Page cho tiểu đoàn 1 Tabor bọc về hướng tây cánh quân Dù, chiếm được một đồn cũ (Cốc Xá). Hai tiểu đoàn 1-8 RTM và 2 Tabor làm trừ bị ở Na Pa và Na Kéo gần quốc lộ 4. Cũng sáng ngày 2-10 này, đích thân Le Page dẫn tiểu đoàn 8 Tabor đi vòng sang phía tây Đông Khê, tiến về hướng quốc lộ 4, hy vọng bắt tay cánh quân Cao Bằng của Charton tại Quảng Liệt trước 12 giờ trưa ngày 3-10-1950. Tiểu đoàn 1 Tabor cũng nhận lệnh triệt thoái khỏi khu vực phi trường đi theo Le Page. Lúc này, các đơn vị của Đại đoàn 308 đã lấy gạo trở về. Bắt đầu tấn công hai tiểu đoàn 1 Dù và 11 Tabor. 15G00: một số đơn vị của Đại đoàn 308 bắt đầu tấn công các đơn vị Pháp tại các cao điểm phía nam Đông Khê. Vị trí Na Kéo bị pháo và tấn công ba đợt trong đêm ngày 2 rạng 3-10. Le Page có ý định đưa quân về phía tây, hợp sức cùng tiểu đoàn 1 Tabor. Thiếu tá Delcros phải xin Le Page cho rút về Lũng Phầy trước khi quá muộn. Le Page không dám tự quyết định, xin lệnh Cosntans. Constans chẳng có lựa chọn nào khác hơn là đồng ý. Nhưng bị VM tấn công dữ dội, lực lượng này phải rút về điểm cao 765, nơi Le Page đang trú quân.
Ngày 3-10, cánh quân do Le Page chỉ huy bị dồn về phía Cốc Xá (đỉnh cao 649). Quân VM vẫn vây đánh không ngừng. Trưa ngày 4-10, Le Page quyết định không tiến lên phía bắc nữa mà chỉ nhích dần tới Cốc Xá, gần cao điểm 477. Bị Đại đoàn 308 và Trung đoàn 209 VM vây đánh liên miên tại vùng núi đá vôi Cốc Xá. Đêm 4-10, Le Page tới Cốc Xá, nhưng tiểu đoàn 1 Dù chỉ tới được vị trí vào trưa ngày 5-10. Ngày 6-10-1950, Đại đoàn 308 tiến sát Cốc Xá, Le Page xin phi cơ yểm trợ.
Cánh quân triệt thoái Cao Bằng:
Tại hướng bắc, lúc 5G30 sáng ngày 3-10, Charton bắt đầu rút quân khỏi Cao Bằng theo quốc lộ 4. Gồm tiểu đoàn 3-3 REI Lê Dương, tiểu đoàn 3 Tabor, và 1 tiểu đoàn Nùng. Ngoài ra, còn có pháo binh, công binh và chuyên môn. Mang theo 500 viên chức hành chính tỉnh, quận. Vì phải sửa đường, chỉ đi được 10 cây số trong ngày đầu tiên. Sáng ngày 4-10, Charton nhận lệnh bỏ quốc lộ 4, rẽ qua hướng tây vào đường rừng ở Quảng Liệt (cây số 21). Pháo binh, xe cộ đều bị bỏ lại. Đoàn di tản kéo dài tới 5 cây số, trọn ngày 4-10 chỉ di chuyển được thêm 7 cây số. Tuy nhiên, mãi tới trưa ngày 4-10, Võ Nguyên Giáp mới nhận được báo cáo về cuộc triệt thoái của Charton. Giáp bèn cử Trung đoàn 209 (của Lê Trọng Tấn) lên chặn đường. Các đơn vị của Đại đoàn 308 tiếp tục tấn công Le Page ở Cao Xá(12).
Được tin Le Page bị vây đánh ở Cốc Xá, từ điểm hẹn Nậm Nàng, Charton phá huỷ xe, cho lệnh rời Quốc Độ 4, rẽ sang hướng tây để tránh phục binh tại vùng Đông Khê, tìm đường mòn về Thất Khê Ngày 5-10, Trung đoàn 209 VM bắt gặp cánh quân tiền tiêu của Charton ở Khâu Né, phía tây QL 4. Charton phải bỏ đường mòn, tìm đường đỉnh đi về Tân Bể. Bị các đơn vị VM chận đánh. Ngày này, cánh quân Charton di tản thêm được 6 cây số. Ngày 6-10, tiểu đoàn 3 Tabor tới được cao điểm 477. Nhưng cánh quân cuối còn cách khoảng 5 cây số. Tính ra chỉ di chuyển được thêm 4 cây số. 17G00, Charton, mới tới Lan Hai, và Le Page, đang bị vây hãm tại Cốc Xá, bắt được liên lạc vô tuyến. Hẹn bắt tay nhau tại đồi 477, giữa Lan Hai và Cốc Xá. Nhưng hai tiểu đoàn 130 và 166 của Trung đoàn 209 (Sông Lô) đã đuổi kịp đại bộ phận Lữ Đoàn Charton, khoảng 2.000 người. Quyết chặn không cho hai cánh quân Charton và Le Page bắt tay nhau như dự tính. Phần Binh Đoàn Bayard của Le Page không tới được điểm hẹn mà bị vây bọc ở thung lũng Cốc Xá. Mưa và sương mù hạn chế tầm hoạt động của không quân. Đêm 5 rạng 6-10, cánh quân Le Page mở đường máu tiến sang 477. Trưa ngày 6-10, khoảng 650 trên tổng số 2,500 binh sĩ của Le Page về tới cao điểm 477. Từ 6 giờ sáng ngày 6-10, tất cả các vị trí của cánh quân Charton ở 477 cũng bị đồng loạt tấn công. Charton xin tăng viện, nhưng Constans chỉ có thể điều động được 4 đại đội, lập thành Binh Đoàn De Labaume, gồm Lê Dương và Tabor, từ Thất Khê lên cứu viện. Bị chặn đánh ở phía nam Lũng Phầy (phía nam Nà Kéo)(13).
- Theo tài liệu Trung quốc, ngày 6-10-1950, sau khi đọc điện văn của Mao gửi cho Trần Canh (Chen Geng), Hồ Chí Minh quyết định đánh lớn ở Cao Bằng.
Ngày 7-10, tiểu đoàn 1 Dù và 3 tiểu đoàn Tabor của Le Page bị đánh tan. Le Page chạy về hướng Nà Kéo trên lộ 4. 17 giờ ngày 7-10-1950, Charton bị bắt sống cùng với Tỉnh Trưởng Hai Thu. Ngày 8-10-1950, Le Page bị bắt sống ở gần Nà Kéo(14).
10-10-1950: Pháp rút khỏi Thất Khê.
11-10-1950: Pháp rút khỏi Thái Nguyên.
11-10-1950: Trần Canh gặp Hồ Chí Minh và Giáp. Thảo luận về ưu khuyết điểm của Việt Minh. Trần Canh còn dạy bảo Hồ Chí Minh và Giáp cách vận động tinh thần anh hùng cách mạng (revolutionary heroism) để giữ tinh thần chiến đấu cao. Theo hồi ký của Trần Canh, Hồ Chí Minh và Giáp rất vui vẻ đón nhận “những nghi thức Mao ít” (Maoist rituals) này(15).
13-10-1950: Pháp rút Na Sầm.
Chú thích
(1) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 26
(2) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 26
(3) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 26
(4) Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954”, The China Quarterly 132 (March 1993),, 1993, trang 92; Canh gửi BCH-TƯ CSTQ, 22-7-1950; trong China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 28
(5) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 29. Tháng 6, Ba đã tới Việt Bắc (Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 15
(6) Hoàng Văn Hoan, 1987, Giọt nước trong biển cả, trang 350-351; China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 28-29
(7) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 29
( 8 ) Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954”, The China Quarterly 132 (March 1993),, 1993, trang 92
(9) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 16
(10) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 17
(11) Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 54
(12) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 61-79
(13) Lê Trọng Tấn 1994, trang 135; Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 77-79.
(14) Lê Trọng Tấn 1994, trang 135
(15) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 32


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:45:50 am
15-10-1950: Đại sứ Mỹ, Donald Heath, điện cho Washington, báo cáo tình hình Việt nam nguy ngập. Sự tổn thất 9 tiểu đoàn và 7.000 lính ở vùng biên giới có thể mang lại những hậu quả trầm trọng. Xin xúc tiến ngay việc thành lập quân đội Việt nam, gia tăng mức độ quân viện, và một số biện pháp khác. Heath báo động: Liên xô và Trung quốc đang xâm lăng Đông Dương, qua việc huấn luyện quân đội Việt Minh(1).
16-10-1950: Cao uỷ Pháp ban hành lệnh báo động ở Bắc Việt. Đàn bà, con trẻ phải di tản. Thanh niên từ 21 tới 25 phải nhập ngũ trong vòng 3 tuần lễ. Hà nội: Constans yêu cầu tướng Alessandri cho triệt thoái Lạng Sơn. Alessandri đồng ý, bay vào Sài gòn xin lệnh.
16-10-1950: Pignon và Carpentier họp bàn tình hình. Đồng ý cho Constans rút bỏ Lạng Sơn. 17-10-1950: Pháp rút bỏ Đồng Đăng.
18-10-1950: Pháp rút bỏ Lạng Sơn kéo về Tiên Yên. Giáp định cho lệnh truy kích tới Tiên Yên, nhưng Trần Canh khuyên không nên(2).
Phóng thích khoảng 800 tù binh. Điểm nổi bật của Trần Canh: “Đánh điểm, diệt viện”(3).
18-10-1950: Letourneau và Juin, tổng trú xứ ở Morocco, tới Đông Dương thị sát.
Thứ tư, 1-11-1950: Pháp bỏ Lào Cai, cố thủ Lai Châu để bảo vệ vùng Thái tự trị.
Từ ngày 27 tới 30-10-1950: Họp tổng kết (summing-up) Chiến dịch biên giới trên cấp tiểu đoàn tại Cao Bằng. Theo Võ Nguyên Giáp, trong dịp tổng kết chiến dịch tại Cao Bằng, sau khi Pháp rút bỏ Lạng Sơn (18-10-1950), Giáp gặp Vi Quốc Thanh cùng Trần Canh(4).
Giáp cũng ghé qua Thuỷ Khẩu, gặp Lý Thiên Hữu, phó tư lệnh Quảng Tây, từng xuống tận Thuỷ Khẩu giúp đôn đốc việc chuyển gạo. Gặp Vi Quốc Thanh và cố vấn TQ, uống rượu say(5).
“Trung quốc trợ giúp: 1,020 tấn vũ khí đạn dược, 180 tấn quân trang, quân dụng, 2,634 tấn gạo, 20 tấn thuốc dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô”(5).
Theo tài liệu TQ, Hồ Chí Minh muốn xin Trần Canh ở lại thêm một năm nữa, nhưng Trần Canh mới nhận lệnh thi hành một nhiệm vụ khác. Thượng tuần tháng 11-1950, Trần Canh rời Việt nam(7).
Theo Võ Nguyên Giáp, ngày 8-6-1951, Trần Canh được cử làm phó tư lệnh quân tình nguyện Trung quốc tại Triều Tiên. Tháng 8-1951, qua Triều Tiên. Bị thương vì bỏng bom napalm( 8 ).
Theo lời yêu cầu của Hồ Chí Minh , Trần Canh giảng dạy cho cán bộ quân sự Việt Minh suốt 4 ngày liên tiếp. Đưa ra những nhược điểm của Việt Minh: cấp chỉ huy không lo cho thuộc cấp; hình phạt thể xác; chậm trễ thi hành mệnh lệnh; và thói xấu chỉ báo cáo những tin tốt(9).
Hồ Chí Minh cho rằng chiến thắng thắng biên giới là “thắng lợi của tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản (triumph of proletarian internationalism) (10).
Hồ Chí Minh cho Trần Canh coi công điện gửi Stalin và Đảng CS Pháp về Chiến thắng biên giới(11). Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Tư tưởng quân sự của Mao hết sức thích hợp với hoàn cảnh Việt nam và cuộc đấu tranh vũ trang của ta” (Mao's military thought was very applicable to Vietnam)(12).
2-11-1950: Việt Minh tiến vào Lào Cai và Cốc Lếu.
3-11-1950: Việt Minh chiếm Sapa.
5-11-1950: Pháp rút khỏi Hoà Bình, Vụ Bản.
22-11-1950: Quốc hội Pháp nhóm họp về Đông Dương. Jean de Lattre de Tassigny, Tư lệnh lục quân Tây Âu, được cử làm cao uỷ kiêm tổng tư lệnh Đông Dương. (Xem 6-12-1950)
23-11-1950: Tăng viện Pháp tới Sài gòn. Gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 2 phi đội, 2 pháo đội.
27-11-1950: Hội nghị tổng kết tại Chợ Đồn, Thái Nguyên. Hồ Chí Minh Chí Minh, Nguyễn Chánh và Trần Quí Hai cũng tham dự(13).
Chú thích:

(1) FRUS, 1950, VI, trang 895-896
(2) Võ Nguyên Giáp. Đại thắng Điện Biên Phủ, 2001, trang 83
(3) Võ Nguyên Giáp. Đại thắng Điện Biên Phủ, 2001, trang 101
(4) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 90-94
(5) Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, 2001, trang 92
(6) Võ Nguyên Giáp, Đại thắng Điện Biên Phủ, 2001, trang 102
(7) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 33
( 8 ) Võ Nguyên Giáp. Đại thắng Điện Biên Phủ, 2001, trang 94
(9) China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 32
(10) Hoàng Văn Hoan, 1987, Giọt nước trong biển cả, trang 352; China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 33
(11) Giáp, Đại thắng Điện Biên Phủ, 2001, trang 92-94 không nhắc đến sự hiện diện của Hồ Chí Minh
(12) Hoàng Văn Hoan, 1987, Giọt nước trong biển cả, trang 352-353; China and the Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai, Nhà xuất bản đại học North Carolina, 2000, trang 33
(13) Võ Nguyên Giáp, Đại thắng Điện Biên Phủ, 2001, trang 98-103



Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:53:55 am
Tướng Trần Độ, một trong những người đưa quân đội Việt nam sang luyện tập ở Trung Quốc và về nước tham gia Chiến dịch biên giới kể:
Tướng Nguyễn Sơn và tôi
Ông Nguyễn Sơn có vóc người vạm vỡ rắn chắc khuôn mặt vuông, tóc quăn và rậm, da bánh mật. Ngày tôi biết ông ấy, không rõ ông đã bao nhiêu tuổi nhưng mặt đã có nếp nhăn. Tôi thấy ngay rằng ông là bậc đàn anh, một đàn anh đã tham dự cuộc “Trường chinh” bên Trung quốc. Còn ông thì xem xét cái này cái kia, không nói gì song qua thái độ biểu hiện xem chừng ông có ý xem thường. Ông cũng hỏi dăm ba câu như: Cậu năm nay bao nhiêu tuổi? Hà nội thì bộ đội được bao nhiêu! Bộ đội ở những đâu? Thành phần trong các đơn vị như thế nào! Loanh quanh những vấn đề tương tự như thế. Phần tôi trong lần gặp ấy có ấn tượng được gặp vị mà cụ Hồ thường bảo là “Thân kinh bách chiến”, nghĩa là một vị tướng chỉ huy cực kỳ dày dạn chiến trận ở nơi nổi tiếng ác liệt. Tôi lưu ý đến ông cũng là điểm ấy. Cho đến ngày ông làm tư lệnh quân khu IV, ông là người có sáng kiến tổ chức đại hội tập sau đấy các quân khu bắt chước tổ chức theo.
Đại hội đầu tiên tổ chức ở Thanh Hoá. Núi Nương là nơi diễn lập các môn.
Tôi vào Thanh dẫn đầu một đoàn các bộ văn nghệ sĩ như các ông Nguyễn Xuân Khoát, Mai Văn Hiến, Nguyễn Công Hoan. Nói là đi vào khu 4 công tác nhưng dụng ý của lãnh đạo là sơ tán anh em khỏi Việt Bắc, tránh trận càn của địch lên Việt Bắc vào gần cuối năm 1947. Khi tôi tới trình giấy tờ, ông Sơn thấy danh sách có tên mấy nhà văn, liền hẹn mời đích danh các ông, còn cán bộ chính trị, ông không nhắc tới.
Tôi liền dẫn mấy ông nhà văn vào phòng khách, là gian đầu của cái nhà tranh vách đất, có bộ ghế mây cũng tươm tất. Tôi kéo ghế ngồi lại. Ông Sơn chào khách:
- Hôm nay thấy có các anh văn nghệ sĩ, tôi mời các anh lại nói chuyện văn nghệ chơi.
Nhìn thấy tôi cũng ngồi lại, ông chỉ vào mặt bảo:
- Mày ngồi đây làm gì. Mày thì biết chó gì văn nghệ?
Ông bổ báng như vậy, nhưng tôi cũng hiểu là lời nói thân tình theo phong cách của ông. Hơn nữa ông ấy cũng nói một sự thật - tức là tôi mới là học trò đi bộ đội thì chưa biết gì nhiều thật. Còn các vị kia đều là người có tên tuổi, đều có tác phẩm, ông ấy muốn nói chuyện với họ. Tôi đáp:
- Tôi muốn ngồi nghe các anh nói chuyện để học tập!
Ông ấy liền bảo:
- Ừ, thì cứ ngồi đấy.
Rồi ông ấy bắt đầu câu chuyện. Ông bình luận trên trời dưới đất. Phải thừa nhận là nhờ ông mà tôi mới đọc được chữ Trung quốc và cũng mới biết được tên một số tác giả lớn của nước Nga như Macxim Gorki, Erenbua, Phadeép và các ông Lecmôntôp, Trecnưsepski, Gô gôn. Hôm ấy ông ta nhắc đến hết, làm tôi hoang mang thật sự. Tìm đâu được Gôgôn để đọc mà ông ấy ca ngợi đến thế. Lần đầu tiên tôi được nghe dến tên tác giả Những linh hồn chết. Mà ông ấy thì thông kim bác cổ. Tôi hỏi ông, đọc Gôgôn bằng tiếng gì? Ông nói bằng tiếng Trung quốc - không lẽ Trung quốc đã dịch Gôgôn từ thời ấy! Vừa trò chuyện, ông đưa cả rượu và kẹo ra mời khách, thật sự là một cuộc tiếp xúc rất là văn nghệ, không có công tác công tiếc gì cả. Thời ấy, dân văn nghệ tập trung ở khu 4 khá đông. Ông Nguyễn Tuân biết có ông Nguyễn Công Hoan vào thì nhắn mời đi uống cà phê một chầu. Tôi là trưởng đoàn nên cứ các ông ấy đi đâu thì tôi cũng có thể đi theo. Tôi biết hai ông này mà gặp nhau ắt có lắm chuyện thú vị nên tôi đi cùng. Tôi rất sung sướng được ngồi với hai nhà văn lớn mà thời đi học đã bò ra đọc các tác phẩm của các vị. Tôi ngồi hóng chuyện và quả là lý thú thật.
Ông Nguyễn Công Hoan là người rất vui tính thích hài hước. Ông đã khởi đầu bằng một câu chuyện hài về ăn uống làm chúng tôi cười nôn ruột, tiếc là lâu ngày tôi quên nội dung. Ông Nguyễn Tuân hưởng ứng đáp lễ, dí dỏm kể chuyện đi ăn mì, thật khó mà tái hiện đầy đủ cái chất Nguyễn Tuân ngất ngưởng ông rủ rỉ tả cái tiệm mì của một Hoa kiều. Ông vào gọi một bát mì, ngồi mãi không thấy gì mới giục:
- Sao lâu thế.
- Dạ xin xong ngay đây ạ
Tay chạy bàn đem ngay bát nước mắm để trên bàn. Mình yên chí ngồi đợi với hy vọng có ăn ngay. Nhưng đã lâu lắm vẫn không thấy bưng mì lên. Mình lại giục, nó lại giòn giã cao giọng đáo:
- Dạ. Có ngay đây!
Một đĩa rau thơm tiếp lời dạ theo ra bên bát nước mắm.
Và không còn gì hơn nữa đến hàng chục phút. Bụng như sôi lên. Lần thứ ba này mình không thèm giục mà là quát thẳng thừng. Thêm được đủ bộ cái bát con, đôi đũa và cái thìa. Và chỉ có thế! Lại đành bấm bụng ngồi đợi... đợi... đến gần phát khùng thật sự thì nó mới bưng bát mỳ ra. Một bát mỳ khói bốc nghi ngút. Nguyễn Tuân đến lúc này cũng đói mềm, tính ăn ngay. Chỉ sự chờ chực đã làm mỳ quá ngon rồi. Nhưng vẫn tính thận trọng hay quan sát trước khi ăn và “thấy bát mỳ có một con ruồi chết trong đó”. Đang đói meo nhưng vì bực quá quên cả đói mình mới gọi bồi lại: “Lại.. lại.. lại.. đây!”, Nguyễn Tuân tự nghĩ mình là trí thức nên đắn đo giữ cử chỉ hành động như thế nào cho tế nhị chứ không muốn trở thành thô lỗ như kẻ phàm ăn khác. Tên bồi lại gần hỏi: “Thưa cái gì ạ?”
Tớ không thèm nói mà chỉ tay vào bát mỳ có dụng ý trách nó là bát mỳ có ruồi chết. Nó nhìn và trả lời thật thản nhiên:
- Ờ... bát mỳ, thưa bát mỳ đấy mà!
Tức lộn ruột mà vẫn phải giữ tư thế trí thức, mình chỉ vào con ruồi. Hình như nó vẫn chưa nhìn ra, nó lại bảo:
- Ờ... bát mỳ dấy mà!
Đến nước này cứ trí thức lịch sự không xong mình mới bảo:
- Nhưng mà có một con ruồi!
Nó chăm chú nhìn con ruồi, ngẩng lên bảo:
- Ờ con ruồi nó chết đấy mà.
Tức quá mình quát to:
- Nhưng ruồi nó chết trong bát mỳ!
Nó bình thân đáp lại:.
- Ờ, tại mỳ nóng quá đấy mà!
Thế là Nguyễn Tuân bụng đói cồn cào phải đứng lên trả tiền bát mỳ đi ra không dám ăn, cũng không dám không trả tiền vì phải giữ tư thế của... vị trí thức.
Câu chuyện là thế nhưng cái chất Nguyễn Tuân làm cho nó rất mực bi hài.
Lại một lần không biết đi đâu đấy, quân khu đưa xe gíp đón cả đoàn, bảy tên lên xe đi hơn chục cây số. Thế là sau đó ông Nguyễn Công Hoan hễ đi bộ là than thở: “Úi giời, mình đi xe gíp nó quen rồi, giờ đi bộ sao ngại quá”. Chục cây số đi xe tai hại thế làm Nguyễn Công Hoan muốn quên thói quen đi bộ. Đi với các vị thì cứ như vậy chuyện không đâu cũng được các ông chế biến, làm cả đoàn vui cười dọc đường.
Sau đó chúng tôi gặp lại ông Nguyễn Sơn ở đại hội. Vẫn thói quen mặt bộ pijama lụa, lụa nâu hay lụa đà, đạp xe đua đi chơi phố. Ông ấy tính rất bình dân và dân chúng ở đây đều biết Nguyễn Sơn. Có buổi văn công biểu diễn văn nghệ nhưng chuẩn bị chưa kịp để mở màn thì ông ra... diễn thuyết. Một buổi diễn thuyết không chủ đề, không có dàn bài gì cả. Ông kể hết chuyện nó đến chuyện kia, chuyện các làng đánh du kích thiên biến vạn hoá. Ta chiến thắng ra sao! Kháng chiến nhất định thắng lợi vì sao! Cách nói của ông thật nôm na và không kém hài hước làm cho nghe cười tức bụng. Nhiều lúc khán thính giả rộ lên vỗ tay nhiệt liệt. Nói một thôi, ông lại vạch màn ngó vào trong hỏi: “Xong chưa?” Rồi ông lại đóng màn quay ra bảo: “Văn công vẫn chưa chuẩn bị xong, tôi xin phép lại nói tiếp nhé”. Cứ thế đến ba lần. Mỗi lần trở lại. Ông vẫn tiếp tục câu chuyện vừa dừng lại và đám đông lại vui cười như sấm. Lần ấy, tôi trú ở nhà một chị độ ba mươi tuổi, đã có con, cũng rất ham xem văn công. Ở nông thôn kháng chiến hễ có buổi văn công biểu diễn là không một ai bỏ qua. Thấy chị, tôi hỏi cảm tưởng:
- Chị thấy văn nghệ thế nào.
- Hay, hay lắm, vui lắm!
- Thế tiết mục nào chị thích nhất?
- Thích nhất tiết mục ông Sơn.
Với chị, ông Sơn đã thành là tiết mục văn nghệ hay nhất! Tôi cứ nhớ mãi lời nhận xét đánh giá đó.
Đúng là ông Nguyễn Sơn rất được quần chúng ưa mến. Còn giới trí thức thì đánh giá ông là nhà hùng biện. Người ta đồn nhiều và tỏ rõ sự thán phục ông trong việc nói truyện Kiều, điều này tôi không được biết. Còn thỉnh thoảng nghe ông nói về văn nghệ thì tôi bái phục sự hiểu biết của ông ấy, kể cả về văn học thế giới. Hồi ông ấy mới về nước, tôi thừa nhận ông có nhiều điều bất bình, như khi phong ông là thiếu tướng thì định không nhận. Mọi người đến mừng thì ông đã vặc lại: “Chúc mừng cái đ. gì! Tao thừa tướng chứ thiếu... sao!” Đợt phong đầu tiên năm ấy có mấy ông: ông Văn Đại tướng, ông Nguyễn Bình trung tướng, rồi các ông Hoàng Sâm, Nguyễn Sơn... Điều đó cho ta thấy rõ là ông không bằng lòng cách sử dụng ông và cấp bậc phong. Thoạt tiên ông là tư lệnh quân khu V hay là chỉ huy mặt trận trong đó thì tôi không nắm chắc, chỉ biết là lúc đó ông có viết một bài phân tích kinh nghiệm trận đánh, tên bài là Trận Phú Phong, còn ông đánh đấm ra sao tôi không rõ. Sau đó ông ấy ra làm tư lệnh khu IV, ông ra ngay tờ báo Tiền Phong hay gì đó, ông viết nhiều bài trong đó, chủ yếu là về quân sự. Ông phê bình chế độ chính uỷ tối hậu quyết định mà ông không tán thành. Chắc là ông có những ý kiến động các ông khác. Thế rồi ông xin trở lại Trung quốc và Bác Hồ đồng ý.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:55:14 am
Cũng dịp này tôi được phái sang Trung quốc chuẩn bị việc đưa quân sang huấn luyện. Ông Nguyễn Sơn được tổ chức ghép vào cùng đi với chúng tôi. Đến biên giới thì có xe GMC đón đi Nam Ninh. Cả đoàn phấn khởi vui sướng lắm. Yên vị trên xe, ông Nguyễn Sơn bảo:
- Thế là tao cùng đi với chúng mày!
Tôi đáp:
- Được đi cùng anh vui lắm.
Dọc đường tôi có hỏi:.
- Tại sao anh đòi trở lại Trung quốc như vậy?
- Trung quốc mới là tổ quốc của tao.
- Thế về Trung quốc anh định làm gì?
- Tao có ý định lập một đoàn kinh kịch! Tao sẽ làm trưởng đoàn dẫn quân đi diễn khắp các nước trên thế giới.
Tôi hỏi:
- Thế liệu anh anh có về Việt nam diễn không?
- Đi các nước thì đi chứ không thèm về Việt nam.
Trên đường đi ông ấy giải thích để tôi hiểu kinh kịch. Đường đi từ Tĩnh Tây đến Nam Sinh thì mấy trăm cây số phải qua một vùng không an toàn còn nhiều thổ phỉ và tàn quân Tưởng Giới Thạch, qua cái đèo gọi là Ma Thiên Lĩnh. Ông Nguyễn Sơn giải thích Ma Thiên Lĩnh là núi chọc trời, ở Trung quốc thì có nhiều. Ngày trước tôi đọc chuyện tàu có tên này, nay được đi qua thấy vừa thích thú vừa phiêu lưu. Bộ phận quân sự ở Tĩnh tây ngày đó tôi không biết là cấp gì những đã lưu chúng tôi lại, nói để tổ chức chuyến đi cho chu đáo. Lúc lên xe họ đưa tôi và ông Sơn lên chiếc xe có chữ “đặc đẳng” an toàn. Ông Sơn bảo:
- Xe này tốt lắm đây. Bên này có mấy cấp an toàn, đi loại xe này là thuộc cấp an toàn cao nhất, lái xe là loại rất giỏi, là những người lái một thời gian dài không để xe va quẹt, không để xảy ra tai nạn thì được phong là đặc đẳng an toàn. Có quý chúng mình lắm thì mới bố trí như thế này.
Tay lái này quả thực là giỏi. Anh là đại đội trưởng chỉ huy đại đội, tuyên bố:
- Dọc đường đi xin đồng chí Hồng Thuỷ làm chỉ huy trưởng, trực tiếp chỉ huy. Chúng tôi nhất nhất tuân lệnh đồng chí!
Ông Nguyễn Sơn thời ở Trung quốc lấy tên là Hồng Thuỷ, là Đảng viên Đảng cộng sản Trung quốc. Ông từ chối, nói:
- Không được. Tao là khách. Việc chỉ huy là ở chúng mày. Quân đội chúng mày sao tao lại chỉ huy!
Tay kia nhất định không chịu. Thế là ông Sơn buộc phải nhận chỉ huy. Đi qua Ma Thiên Lĩnh còn thấy xác xe hàng bị cướp đổ nghiêng hai bên lề đường, đồ đạc quần áo vương vãi xung quanh mấy xác xe, tuyệt không thấy người. Tay đại đội trưởng báo cáo ông Sơn kế hoạch đi tiếp. Cả đoàn xe có đến cả chục chiếc tạm thời dừng lại. Phái một trung đội đi lên trước chiếm lấy một điểm cao có thể khống chế được một vùng với đường kính vừa tầm đạn. Đoàn xe tiến lên sau và cứ thế cuốn chiếu qua quãng đường dài mấy chục cây số. Tay lái chiếc xe tôi ngồi phóng ghê lắm. Đặc biệt là cậu ta cứ đổ dốc là tắt máy, là lối đi rất mạo hiểm, xe lao như tảng đá lăn dốc. Không thuộc đường, tay lái không nhạy, không chắc thì không thể tránh nổi tay nạn. Ông Nguyễn Sơn cũng lạnh gáy, ông ấy nói riêng với tôi:
- Tao ghê thằng này quá! Tao không sợ trời, không sợ đất mà sợ thằng lái này.
Sau, ông phải bảo tay đại đội trưởng nhắc tay lái kìm hãm bớt lối đi quá mạo hiểm. Từ đó, khi đổ dốc xe vẫn giữ máy nhưng máu hăng của lái xe vẫn không giảm. Đoạn đường vun vút qua quắt, vòng cua này bẻ cua kia cứ lẹ làng như cỗ máy tự động điều khiển, xe cứ trôi đều êm ru. Phải thừa nhận tay này lái hay như một nghệ nhân điều khiển xe, làm người ngồi vừa sợ vừa thú vị.
Chuyến đi kéo dài hai ba ngày. Thường đến đêm thì đoàn xe dừng lại ở một thị trấn để xã hơi là dịp ông Sơn rủ tôi đi uống rượu:
- Phải làm chén rượu! Mày đi với tao!
Tôi nhận lời nhưng giao hẹn trước:
- Tôi đi nhưng không biết uống ruợu. Tôi ngồi chơi với anh, còn anh uống nhé!
Ông nhất định không nghe, buộc tôi nhất quyết phải uống. Đến là khổ sở. Đến Nam Ninh hai chúng tôi được đón vào một cái biệt thự. Người đầu tiên đến thăm là bí thư Trương. Ông tới thăm Hồng Thuỷ chứ không phải để thăm tôi. Hai ông gặp nhau mừng ra mặt, chuyện trò rôm rả. Còn tôi thì chầu rìa. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới bảo tôi rằng mai vào Quân khu mà gặp đồng chí tư lệnh Quân khu nắm tình hình. Chỉ thế thôi!
Ông Trương từng cùng ông Sơn dự cuộc “Trường chinh” nên nay gặp nhau tay bắt mặt mừng là phải, ông Trương còn mời ông Sơn xem buổi kinh kịch ở Nam Ninh. Ông Sơn bảo tôi:
- Mấy hôm nữa mày đi xem với tao. Tao sẽ giải thích thêm để mày hiểu thế nào là kinh kịch.
Hôm sau tôi định vào làm việc với Quân khu. Tôi phàn nàn với ông Sơn:
- Tôi không biết tiếng Trung quốc mà phiên dịch thì không có!
Ông Sơn liền bảo:
- Tao sẽ phiên dịch cho mày nhưng mà mày định bàn những gì với Quân khu. Nói truớc cho tao nghe, tao sẽ dịch cho.
Tôi cho ông hay là phải bàn định ngày giờ đưa bộ đội sang, chỗ ăn ngủ của bộ đội, chế độ ăn uống cung cấp như thế nào? Việc lĩnh vũ khí chương trình huấn luyện ra sao. Nghe tôi nói xong ông ấy bảo:
- Ờ, thế thì được rồi.
Khi tới nơi, ông gặp ông Lý Thiên Hữu, cũng lại là bạn thân cũ. Các ông đón chào nhau cực kỳ niềm nở, còn với tôi thì nhạt nhẽo và trong câu chuyện tôi lại giữ vai trò ngồi chầu rìa. Ông Sơn bắt đầu câu chuyện của chúng tôi với ông Lý. Nửa giờ trôi qua, ông Sơn nói với tôi:
- Thôi xong rồi, đi về.
Rồi ông ấy lại nói:
- Thôi thế này nhá! Mày lấy sổ ra ghi: Tao đã thảo luận với ông Lý rồi. Ông ấy đồng ý những điểm này rồi: ngày giờ sang này, quân trang quân dụng này, chế độ ăn, chế độ tiên vặt như thế này, cán bộ, chuyên gia huấn luyện, cố vấn bao giờ tới và đón tiếp ra sao, ba tháng học bắt đầu từ ngày nào và kết thúc lúc nào... Thôi, tao đã bàn đủ các vấn đề đó, mày cứ thế mà làm. Xong nhé..! Đi về!
Thật đúng là phiên dịch “bố”! Ông ấy bảo mình thông báo trước rồi căn cứ vào đó ông ta bàn bạc hết.
Phần tôi đúng là chầu rìa vì suốt buổi không phải nói một câu, không được hỏi lấy một lần. Nhưng nghĩ lại thì ông ấy làm thế cũng phải vì hiểu biết của ông ta bao trùm lên những chuyện mình cần đưa ra. Hơn nữa, tiếng tăm ông ấy thông thạo như tiếng mẹ đẻ. Chuyện để dịch từng câu nói chỉ thêm lủng củng phiền hà mất thì giờ vô ích. Những điều phải xử lý ông ấy làm chính xác hơn là có mình tham gia. Tôi thừa nhận cung cách của ông vừa gọn, lại đạt mọi yêu cầu nên cũng chẳng tự ái gì cả, cảm thấy nhẹ mình. Đến bữa đi xem chiếu bóng. Xảy ra chuyện “ông” cần vụ của tôi thú vị quá cứ ồ à như ở chỗ không người. Trước khi đi xem, anh thư ký cẩn thận nhắc tôi:
- Anh phải dặn tay cần vụ đi thì giữ im lặng mà xem, cứ rống lên làm anh em xấu hổ.
Trước khi lên xe tôi căn dặn:
- Này xem thấy gì hay không được la tướng lên người ta cười đấy.
Thế mà đến cảnh con trâu đi lại nó lại hét to: Trâu bước. Đến cảnh em bé trèo cưỡi trâu thổi sáo thì cậu ta thật sự quên mình đang ở đầu nói cười như vừa có một khám phá vĩ đại. Ngượng quá tôi cấu đùi nó khá đau mà nó cứ như không hay biết...
Hôm đi xem kinh kịch là đi cùng ông Trương và cả ông Lý. Lúc chờ màn, tôi thấy ông Trương bảo ông Hồng Thuỷ lên nói chuyện. Tôi tò mò hỏi:
- Ông ấy bảo nói cái gì đấy?
Ông Sơn cười rồi nói:
- Ông ấy bảo tao lên nói chuyện ngày xưa đi trường chinh với bộ đội giải phóng. Thời ấy cứ đến buổi xem văn nghệ, khoảng thời gian đầu chờ màn mở thì lại thường tao lên nói chuyện với khán giả. Nhưng mà bây giờ ở đây nói thế nào được.
Ông kia cứ giục:
- Hồng Thuỷ lên nói đi.
Sau đó ngồi xem buổi diễn kinh kịch, ông Sơn giải thích cho tôi hiểu từng động tác của diễn viên dụng ý miêu tả cái gì. Phải thừa nhận ông hiểu rất sành sỏi và có cách thưởng thức thật tinh tế.
Nhiệm vụ hoàn thành, tôi trở về nước, còn ông Sơn tiếp tục đi. Tỉnh Nam Ninh tổ chức bữa tiệc tiễn đưa tôi, đồng thời cũng tiễn đưa ông Sơn lên đường, mà cũng là cách để ông Sơn tiễn tôi trở về. Tiệc thì có rượu, người được tiễn phải uống rượu đáp lại thịnh tình của chủ bữa tiệc. Đó là chuyện cực hình đối với tôi. Tôi không uống được rượu, đến bia cũng làm tôi khó chịu. Từ hôm đến đến giờ, bạn bày rượu ra uống, tôi cứ cầm lên đặt xuống hoài. Hôm nay tướng Sơn ngồi bên cứ doạ:
- Này người ta mời mà không cố gắng uống thì chẳng há là khinh người ra sao? Mình đang muốn nhờ vả thì phải rán làm vui lòng người ta chứ!
Nghĩ lời ông cũng có lý, tôi không dám từ choí. Tướng Sơn lại ép:
- Mày uống mà không cạn chén là không được đâu! Có uống cạn với thái độ sởi lởi thì mới làm người ta vui lòng.
Tan tiệc, tôi phải nắm chặt tay vịn cầu thang nơi lết nổi về tới phòng ngủ. Sáng hôm sau: ông ấy vui vẻ hỏi thăm:
- Thế nào đêm qua về thấy thế nào?
Nhìn ông thấy lộ vẻ thích thú như đã thực hiện được một trò đùa. Lúc chia tay, tôi rất bùi ngùi, nghĩ bụng: Một con người đất nước đang cần mà lại bỏ ra đi! Ông lưu lại nơi tôi một sự luyến tiếc ray rứt. Suốt cả chặng đường ông đã đối xử với tôi rất thân tình và đầy cá tính Nguyễn Sơn.
Sau này tôi có nghe người ta nói lại là ở Trung quốc ông làm Cục trưởng Cục điều lệnh mà cấp là thiếu tướng hay trung tướng gì đó. Về sau bị đau ốm, ông đoán mình không qua nổi, có nguyện vọng muốn chết ở Việt nam nên đã đưa ông về điều trị ở bệnh viện 108. Ông Nguyễn Sơn mất 1956. Ông sinh năm 1908, thọ được 49 tuổi. Ra đi quyết không trở lại mà khi chết lại tha thiết muốn về nước! Đó là cái uẩn khúc của tâm linh con người!


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:57:30 am
Trần Độ kể tiếp

Chiến dịch Biên giới
Năm 1950, tôi ra đơn vị, được ít lâu thì có nhiệm vụ đưa bộ đội sang biên giới huấn luyện và nhận viện trợ vũ khí. Toàn bộ trung đoàn trang bị lại mới mẻ và đồng bộ. Tôi được cử đi tiền trạm sang giao thiệp với các nhà chức trách Trung quốc trước để bố trí chỗ ăn ở, luyện tập, nhận vũ khí viện trợ. Đơn vị đi sang sau. Khi tôi ở bên đó và sắp huấn luyện xong thì biết tin ở nhà đang chuẩn bị chiến dịch Biên giới, song không hiểu qui mô như thế nào, đánh ra làm sao. Tuy vậy, tôi cho là cần phải đưa trung đoàn trở về ngay biên giới. Chỗ chúng tôi chỉ cách Cao Bằng mấy chục cây số thôi và biết sẽ được tham gia chiến dịch. Đây là chiến dịch đầu tiên, lại được tham gia thì náo nức vô cùng. Tôi nhận được thư của anh Tấn. Bấy giờ anh Tấn đã cùng bộ tổng tư lệnh lên biên giới chuẩn bị chiến trường. Anh Võ Nguyên Giáp trực tiếp đi chuẩn bị. Anh Tấn đi cùng đoàn và từ đó viết thư cho tôi. Anh ấy kể chuyện ở nhà đang chuẩn bị ra sao và cũng có phác qua phương án. Tôi hiểu là sẽ tập trung đánh và giải phóng Cao Bằng. Anh Tấn cũng cẩn thận và bảo chưa có quyết định ngã ngũ và có thể có phương án khác đang thảo luận. Anh dặn: “Cậu cố thu xếp đưa anh em về để tham gia chiến dịch”.
Chúng tôi cũng vừa kết thúc huấn luyện. Thu xếp xong xuôi, tôi tự động cho anh em về nước, tranh thủ đi thanh toán với nhân dân địa phương chào các cố vấn. Anh em trong đơn vị thì thu dọn để lúc “bốc” về là lên đường được ngay. Hôm ra về, bộ đội xuất phát sau, tôi cưỡi ngựa cùng một anh cần vụ bảo vệ đi về trước tìm anh Tấn để thu xếp chỗ trú quân và nhận nhiệm vụ. Tôi về với tâm trạng rất phấn khởi, tự cảm thấy mình làm được việc và lại kịp thời. Phải lần tìm mãi mới vào được đúng chổ của anh Văn. Trông thấy tôi, anh lộ vẻ ngạc nhiên, hỏi:
- Cậu ở đâu về?
- Tôi vừa bên Hoa Đồng về! Tôi đưa bộ đội về để tham gia chiến dịch.
Đang tươi cười nghe vậy anh Văn nghiêm mặt hỏi:
- Lệnh đâu mà cậu trở về!
Câu hỏi của anh làm tôi bừng tỉnh, bụng nghĩ: Bỏ mẹ rồi! Quân đội là phải có lệnh! Thư anh Tấn gởi là mang tính chất bạn bè đồng nghiệp, đồng sự trao đổi với nhau thôi mà mình lại bốc bộ đội về. Tôi ớ ra không biết trả lời như thế nào, cứ lúng ba lúng búng:
- Tôi nhận được thư anh Tấn thấy nói là đang chuẩn bị chiến dịch nên tôi đưa anh em về chuẩn bị cho kịp.
Ông Văn phẩy tay dứt khoát:
- Trở lại ngay lập tức! Phải giữ bí mật mà cậu lại lục tục đưa cả một đoàn quân lớn như thế thì lộ hết kế hoạch chiến dịch. Hỏng hết! Cậu đáng bị kỷ luật! Quay trở lại ngay lập tức! Không lôi thôi gì cả!
Thế thì bao nhiêu náo nức đang nóng cả đầu lụi tắt hết. Tôi tái mặt, chào anh Văn rồi nhảy lên ngựa quay trở lại. May sao bộ đội mới xuất phát chưa qua biên giới. Chao ôi! Trở lại thì phải làm bao nhiêu chuyện mới vừa thanh toán xong. Lại ăn ở làm sao? sinh hoạt thế nào lập tành ra sao? Còn một ít tiền thì chi phí thế nào cho đủ nuôi quân mà không để thiệt hại cho dân! Ở lại chờ lệnh, đó là quân lệnh! Cái kỷ niệm vô tổ chức này cứ nhức nhói mãi.
Khoảng một tuần sau mới nhận được lệnh về tham gia chíến dịch. Đơn vị tôi nhận nhiệm vụ cùng đơn vị ông Chu Huy Mân (trung đoàn 174) đánh Đông Khê. Trận đánh bắt đầu. Với tôi cũng là bắt đầu tham gia đánh trận. Trước đó nói là bộ dội đánh ở Hà nội nhưng chưa thể gọi là trận mạc được. Còn lúc này ở Đông Khê là trận đánh có tổ chức, có chỉ huy, với đơn vị lớn đàng hoàng. Tôi với anh Tấn đến ngày xuất quân đi vào trận địa cứ thao thức, bàn lên bàn xuống. Chuyện gì cũng thấy chưa ổn, lo khổ lo sở đến chẳng buồn ăn uống. Thời ấy bữa ăn cũng đã có gì đâu. Nhà bếp thổi cho mỗi người một nắm cơm ăn với muối vừng và ít thịt rang. Suốt đêm hôm đó, nằm ở chỉ huy sở cùng với các cố vấn Trung quốc, mọi người cứ thao thức, đi ra đi vào, dò hỏi tình hình. Ông Tấn khoái trá khoe với tôi:
- Lần này chỉ huy chiến đấu có telephon nhé!
Trước đó lệnh chỉ huy toàn chạy bộ mà truyền. Mấy tay cố vấn thì yêu cầu:
- Các đồng chí đi nghỉ đi để lại có sức mà chỉ huy, mà chiến đấu! Cứ thức như thế này thì không được!
Tôi lại lấy làm ngạc nhiên tại sao lại cứ phải đi nghỉ! Mai có sự kiện ghê gớm đến thế mà hôm nay ngủ được sao? Thật là lời khuyên dở hơi! Tôi liền hỏi họ:
- Như các đồng chí có nhiều kinh nghiệm thì trước trận đánh các đồng chí làm gì?
Tay cố vấn này cũng tinh nghịch trả lời:
- Trước trận đánh một bữa no, xong là chúng tôi đi ngủ. Như thế mới giữ được sức, cân bằng thần kinh ngày mai chỉ huy sáng suốt. Nến cứ thức suốt đêm, mai người nó mụ đi thì nguy hiểm lắm!
Nghe cũng có lý, anh Tấn và tôi đi nằm, nhưng chẳng làm sao ngủ được, cả hai thao thức suốt đêm, sáng hôm sau triển khai trận đánh. Trận đánh có nhiều chuyện xúc động lắm, kể ra đây cả cũng khó đầy đủ, khó nói đến nơi đến chốn. Đánh một đêm không xong phải rút quân về củng cố. Cán bộ chúng tôi chia nhau xuống các đơn vị động viên anh em, giải quyết các vấn đề. Gặp anh Hoàng Cầm lúc ấy là tiểu đoàn trưởng thấy anh đang lộ vẻ bực mình với đại đội trưởng Trần Cừ. Anh nói:
- Thằng Cừ nó khóc ở ngoài kia, tôi mắng cho một mẻ mà nó chưa chịu!
Tôi tìm gặp Trần Cừ. Qua câu chuyện tìm hiểu ra Trần Cừ thấy đại đội của cậu ta thương vong nhiều quá, toàn là những anh em thân thiết trước nay, buồn quá mà khóc. Anh Hoàng Cầm thì lo tinh thần đơn vị sa sút, tối lại đánh tiếp sợ khó thắng? Tôi cùng anh Hoàng Cầm nói chuyện nhiều với Trần Cừ. Thì ra Trần Cừ đau lòng vì bạn bè chứ không hề sa sút tinh thần chiến đấu. Đêm hôm sau, anh chiến đấu rất quyết liệt và thực hiện lấy thân mình lấp lỗ châu mai, là gương anh hùng đầu tiên trong quân đội ta.
Một kỷ niệm khác ở chiến dịch Biên giới là dân công lên tiền tuyến. Sau trận đánh Đông Khê ta còn đánh vận động diệt binh đoàn Lơpa và Sactông. Hai binh đoàn này, một từ Cao Bằng về và một từ Lạng Sơn lên, định hợp quân chiếm lại Đông Khê nhưng lại rơi vào tay ta. Đánh vận động thì mỗi đơn vị quân đội bổ sung một đơn vị dân công để vận tải đạn dược, lương thực và thương binh, tuyệt đại đa số là người địa phương và phần là các cô người Tày rất dễ thương. Các cô vừa đẹp vừa vui nhộn, quen leo núi, dáng đi rất uyển chuyển. Đứng ngắm thấy đẹp quá tôi gọi mọi người:
- Xem này, xem này, một đoàn văn công đang biểu diển. Họ đi như múa vậy.
Ngoài việc tập trung thành lực lượng vận tải rất cơ động, hoàn cảnh nào cũng bám sát bảo đảm hậu cần cho bộ đội chiến đấu, họ còn được phân bổ đi phục vụ ban chỉ huy, về các trạm y tế săn sóc thương bệnh binh, vận chuyển thương binh về tuyến sau. Dân công chính là nhân dân sát cánh với bộ đội để giành từng chiến công, để giải quyết mọi hậu quả sau trận đánh. Một hình ảnh đẹp đẽ, biểu tượng nhất của chiến tranh nhân dân. Ban chỉ huy trung đoàn của tôi cũng có một tiểu đội dân công phục vụ việc đưa đường, chở gạo, muối, nấu ăn... Tiểu đội này săn sóc ban chỉ huy rất tận tình. Nhìn bữa ăn của anh em chỉ có cơm nắm chấm muối vừng hoặc thức ăn sơ sài, các cô bàn đi kiếm rau rừng. Bình thường các cô vẫn anh anh em em thân tình nhưng khi định làm gì lại khép nép thưa gửi. Một cô đánh bạo đến trước ông Tấn:
- Báo cáo ông Tấn!
Nghe vậy anh Tấn hỏi:
- Cô cần gì?
- Ông Tấn cho phép em leo cái cây này.
Cô vừa nói vừa chỉ lên cây
- Leo làm gì!
- Lấy rau cho bộ đội ăn!
- Ờ, nhưng phải cẩn thận không ngã!
Hôm đó, ban chỉ huy được bữa rau ngon sau bao ngày xót ruột vì ăn không có rau. Cái cây cô kia xin trèo có nõn lá làm rau ăn hết sức ngon. Có cô thì xin phép đi vào rừng. Lúc về mang theo một bọc nào bưởi, nào ổi và các thứ trái cây rừng, vứt trên bàn ban chỉ huy bảo: “Ăn đi”. Phải nói bộ đội mà vắng dân công thì như cá thiếu nước. Và trong thực tế thì có nhiều thiên bí sử, tình sử giữa hai bên, chẳng ai mong muốn nhưng mà cũng khó mà ngăn nổi. Nói về thái độ tình cảm của chị em đối với bộ đội ta phải xác định sự hy sinh của họ vô bờ bến, gian lao không tính, nguy hiểm không sờn! Sự anh dũng, cái anh hùng của dân công và bộ đội không kém cạnh nhau mà đã nâng nhau lên đến đỉnh cao.
Sau chiến thắng của chiến dịch, bộ chỉ huy lập một ban thu nhận chiến lợi phẩm. Có anh em đã đụng phải một hầm rượu, đủ cho lính đồn của địch uống cả năm. Các thứ thuốc lá, bánh kẹo, bơ sữa nhiều lắm. Đó là chưa kể súng ống, quân trang, quân dụng, máy móc, thuốc Lơ Mo lấy về cả kho. Ông Đinh Đức Thiện đem pha trộn với thuốc ta hút. Các đơn vị cũng lấy hút. Thuốc này một người hút khói thơm lan cả một vùng. Sôcôla thì lính mình nông dân chê đắng. Tôi thích chụp ảnh cũng đi mò phim. Có chỗ thấy cả đống nhưng không dùng được nữa vì anh em không biết tưởng kẹo đã bóc ra cả. Cuộn phim cũng bọc giấy bạc như kẹo. Hôm tôi đi qua Đông Khê vừa giải phóng, thấy một nhóm chiến sỹ đang ngồi nhai bánh, ăn kẹo. Cán bộ thu dọn chiến trường đến quát tháo đòi kỷ luật, bắt anh em đưa nộp hết bất cứ thứ gì đã thu nhặt được với cái lẽ: chiến lợi phẩm lớn nhỏ đều là tài sản quốc gia, là chiến quả đổi bằng xương máu. Với máu thanh niên vốn xôi nổi, tôi rất ghét cái thói lên lớp dạy đời, nên đứng lên cãi lại. Tôi cũng nói ngang ngược không kém:
- Các anh có biết chiến thắng này do ai không? Và ai đổ xương máu ở chiến trường này. Có phải là những người lính không? Trớc khi đi vào trận đánh họ vui vẻ ăn bưởi rừng, ổi ma thay cơm, măng rừng thay thịt cá. Bây giờ chiến thắng rồi, có tí chút chất tươi vui vẻ với nhau. Các anh phải lên lớp làm gì nặng nề thế! Thôi các anh đi đi. Đây là đơn vị chúng tôi. Chúng tôi chịu trách nhiệm ở đây không cho ai lấy.
(còn nữa)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:58:51 am
Sau tay này báo cáo với ông Trần Đăng Ninh, trưởng ban thu dọn chiến trường - vốn là người rất nghiêm khắc. Trong một cuộc họp sư kết chiến dịch mấy chục người ông Ninh phát biểu nhiều điều, trong đó có điều tôi không ngờ tới:
- Một chính uỷ trung đoàn nói như thế này đây... Như thế là không được, là vô kỷ luật!
Thế là cộng với cái tội vô kỷ luật nào đó, ông ấy đề nghị Quân uỷ mặt trận thi hành kỷ luật và tôi bị cảnh cáo trong chiến địch.
Thực tình tôi rất thương anh em chiến sĩ. Hồi chuẩn bị chiến địch, cả thời gian dài lương thực thiếu thốn phải vào rừng kiếm các thức ăn thay cơm, phải nói là ai cũng chịu đói khổ. Thấy anh em đụng tới chiến lợi phẩm như những thứ lặt vặt đó, tôi không cho là vi phạm kỷ luật chiến trường, không nỡ nặng lời với họ. Với lời phân tích của ông Trần Đăng Ninh cho là khuyết điểm thì tôi cũng đành chịu. Hôm về dự tổng kết chiến dịch ở vùng chợ Chu, tôi lo ngay ngáy. Sau khi bị kỷ luật tôi cũng buồn. Buồn vì sự kém cỏi không đủ trình độ xử lý các công việc cho tốt. Giữa lúc mọi người vui sướng phấn khởi về chiến thắng, riêng tôi vừa buồn vừa lo, về dự tổng kết mà lòng ngay ngáy.
Anh Trường Chinh gọi tôi lên gặp trước hôm khai mạc hội nghị. Tôi toát mồ hôi: Thôi chết! Chuyện tôi ớ chiến trường đã đến tai các ông. Bị đổi công tác khác thì nguy! Mới khởi đầu có đã thế này mà phải thay đổi thì uổng quá”. Một cảm giác đau đớn lan toả trong tôi. Tối hôm tôi lên gặp anh Trường Chinh, ra đi lòng bâng khuâng lo lắng cực độ. Mỗi bước đi tới lòng càng quặn thắt. Tôi cũng nghĩ anh Trường Chinh vốn rất thân tình với tôi, xem tôi như em út, nay có chuyện nghiệm trọng thế này biết trình hày với anh thế nào? Điều tôi lo nhất là phải chuyển đổi công tác vì tôi đang say bám đơn vị mà kháng chiến, thấy ở đó có nhiều ý nghĩa.
Thấy tôi tới, anh Trường Chinh nhỏ nhẹ hỏi thăm tôi đã chiến đấu như thế nào, bộ đội ta ra làm sao, đánh nhau có kinh nghiệm gì hay không. Nỗi lo của tôi tiêu tan dần theo câu chuyện và anh cũng chẳng nói gì đến khuyết điểm của tôi cả. Thái độ của anh vẫn thân tình từ tốn như xưa. Rồi chính tôi tự nói ra:
- Trong chiến dịch này tôi có một khuyết điểm.
Tôi thuật lại với anh chuyện tôi bị kỷ luật. Anh ấy chăm chú nghe rồi thân ái khuyên:
- Chuyện đó rút kinh nghiệm thế là tốt, về cố gắng sửa chữa để tiến bộ. Cuộc chiến đấu còn dài, phải rút kinh nghiệm để chiến thắng lớn hơn, không có gì phải lo lắng.
Tôi sướng quá, yên tâm dự tổng kết. Có Bác Hồ đến, cuộc họp càng sôi nổi vui vẻ. Trên đường trở về đơn vị, căn cứ của sư đoàn chúng tôi đóng ở Phú Thọ, tôi cùng anh Tấn đi cùng đường bằng xe đạp. Cứ gặp máy bay địch rà đường thì cả hai vứt xe chui bụi rậm. Nó bay qua, lại đạp xe thong dong, tán đủ thứ chuyện. Tôi bảo:
- Chiến dịch này mình tiêu diệt nói năm tiểu đoàn. Cả Đông Dương, Pháp nó có 45 tiểu đoàn. Vậy thì chín chiến địch là xong ráo, là dành được độc lập!
Thật là thứ lập luận đơn giản máy móc nhưng ông Tấn nghe cũng cười ha hả ra vẻ hưởng ứng. Sau đó ông Tấn thông báo với tôi là chuyến này đơn vị sẽ phát triển lên cỡ đại đoàn, mà trung đoàn Sông Lô là nòng cốt. Sự phát triển đó rất phù hợp với mong ước của chúng tôi nên rất vui sướng.
Dần dần không biết bằng con đường nào, bằng công văn hay do bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ mà tin ấy ngày càng lan ra. Rằng đại đoàn thành lập sẽ có 209, tức trung đoàn Sông Lô, thêm trung đoàn Lao Hà (tỉnh Lào Cai và Hà Giang) mới được mang danh hiệu là “Thành đồng biên giới”, tức là trung đoàn 165, Trung đoàn thứ 3 sẽ thành lập mới, lấy tên sư đoàn 308 một tiểu đoàn độc lập, tiểu đoàn 16 huấn luyện tân binh và tiểu đoàn 11, tức là tiểu đoàn đã lập thành tích lớn điệt cứ điểm Phủ thông trên đường số 3 và tiểu đoàn 428, đơn vị trực thuộc của quân khu 1, tức là quân khu Việt Bắc. Tôi với ông Tấn bàn nhau đặt tên cho trung đoàn mới này. Vì nó gồm ba tiểu đoàn 16, 428 và 11 bèn lấy 3 con số đầu ghép lại thành tên trung đoàn 141. Bộ Tổng tư lệnh bổ nhiệm ngay anh Nam Long làm trung đoàn trưởng, anh Mặc Ninh làm chính uỷ, hình như có cả anh Trần Nguyên Độ nữa. Trong cả trung đoàn, tiểu đoàn 11 được coi là anh cả vì thành tích oanh liệt diệt Phủ thông. Đồn Phủ thông cách thị xã Bắc Cạn 20 km về phía Bắc, án ngữ ngã ba Bắc Cạn, Ngân Sơn, chợ Rã. Địch chốt ở đây nhằm giữ con đường huyết mạch từ Cao Bằng đi Bắc Cạn làm lá chắn từ xa bảo vệ quân Pháp đóng ở thị xã Bắc Cạn và khống chế uy hiếp vùng chợ Rã, Lượng Thượng, Na Rì. Đồn có 150 lính Âu-Phi giữ, trang bị mạnh. Trận đánh tuy không dứt điểm nhưng tiểu đoàn 11 đã chiến đấu dũng cảm, diệt gần hết quân địch, cung cấp nhiều kinh nghiệm quý về đánh công kiên, tiểu đoàn được Bộ Tổng tư lệnh tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Phủ thông”.
Chúng tôi rất mừng, yên tâm có được đơn vị như thế. Về đến nơi, chúng tôi bắt tay ngay vào tiếp nhận ba tiểu đoàn trên và lập ban chỉ huy trung đoàn, rồi lập trung đoàn uỷ. Bộ Tổng tư lệnh cũng ra quyết định thành lập đại đoàn được gọi là Đại đoàn 312. Thế là sau 304 đến 308 rồi 312, không rõ có ý nghĩa gì nhưng cứ cách nhau số 4 con số. Tiếp theo còn có 316 và 320. Sau đó lệ này không giữ nữa, miền Trung có đại đoàn 325. Khi lập bộ chỉ huy, anh Tấn được chỉ định là đại đoàn trưởng, tôi thì chính thức là phó chính uỷ nhưng là quyền chính uỷ. Tôi làm luôn bí thư đảng uỷ gồm các anh Nam Long, Mặc Ninh, Lê Thuỳ (Trung đoàn trưởng 165). Tôi nhớ buổi họp đầu tiên có cả anh Đào Đình Luyện.
Khi làm việc tiếp nhận và hình thành tổ chức trung đoàn 14 thì phải nhận ngay tham gia chiến dịch Trần Hưng Đạo, tức là chiến dịch Trung du ở vùng Vĩnh Yên. Lúc này chúng tôi mới có trong tay hai trung đoàn 141, 209 còn trung đoàn 165 ở biên giới chưa về kịp. Thế là đơn vị tham gia chiến dịch với lực lượng hai trung đoàn. Chúng tôi triển khai kế hoạch đánh đồn Ba Huyên theo phương châm Trung quốc là: “Đánh điểm diệt viện” tức là đánh một điểm buộc địch phải cho quân đến cứu viện thì đón đánh chúng ngoài công sự, có lợi cho ta hơn, để dành thắng lợi và tiêu diệt sinh lực chúng nhiều hơn. Nhưng thằng Đờ-lát Đờ-tax-xi-nhi lúc ấy đang triển khai kế hoạch của nó và nó bình định dữ lắm nên nó ra tay trước (chẳng hiểu nó có biết kế hoạch của ta không!). Đúng vào đêm chúng tôi chuẩn bị xuất quân đánh Ba Huyên thì chúng nó tiến lên. Pháo chúng nó nã vào vùng ta trú quân. Trước hôm đó, chúng tôi đã làm lễ thành lập sư đoàn, tập hợp cả hai trung đoàn lại làm mít tinh rất nghiêm trang, tạo khí thế cho việc xuất quân. Một cánh quân của nó tiến vào đã đụng phải 141 và 209 ở nơi trú quân. Thế là diễn ra trận đánh nổi tiếng gọi là tận Liên Sơn, Xuân Trạch. Một tiểu đoàn Âu Phi đã bị diệt gọn, mở đầu cho cả chiến dịch về sau của sư đoàn. Còn trận đánh Ba Huyên thì bộ tư lệnh sư đoàn cho lùi lại. Nói là bộ tư lệnh thật ra đã có gì đâu. Mới có vài cán bộ tham mưu, vài ông chính trị, vài ông hậu cần lo vận tải, quân y. Tôi còn nhớ lúc đó ngồi chuẩn bị chiến dịch tôi là chính uỷ cũng chỉ có một cái hố cá nhân, ngồi bên đó để nghe báo cáo và thảo chỉ thị. Đi theo chiến dịch có các nhà báo, nhà văn. Họ kéo đến chỗ tôi. Sư doàn chưa có nhà khách, đến hố cá nhân cho khách tránh bom đạn cũng chưa chuẩn bị được. Bí quá không biết giải quyết tiếp đón sao cho chu đáo, chỉ còn cách giới thiệu họ xuống các trung đoàn. Tôi nói: “Xuống đó còn có chuyện mà viết, ở đây chỉ có báo cáo”. Sau đó chiến dịch diễn biến, đánh quanh Vĩnh Yên, vùng thị xã, là những trận đánh nổi tiếng. Chuyện anh Hoàng Cầm chiến đấu về sau truyền đi rất thú vị. Một mình anh giữa cánh đồng quần nhau với máy bay địch bắn phá. Ông cứ xem hướng nó lượn, nằm ém vào bờ ruộng đối lại, tạo một góc nhỏ nhất và thoát khỏi làn đạn của địch. Hai liên lạc viên đi với ông đều bị tử thương. Một cán bộ tiểu đoàn là anh Hồ Kỳ Lân cũng hy sinh. Còn ông ấy không việc gì. Phải thừa nhận động tác chiến đấu của ông giỏi lắm và trước sự nguy hiểm ông ấy rất bình tĩnh.
Xong chiến dịch chúng tôi kéo nhau về họp tổng kết: Đại đoàn bắt đầu ra quân, anh em đã chiến đấu rất dũng cảm góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Trở về đất Phú Thọ hình như là 30 Tết, tôi mới triệu tập cuộc họp đảng uỷ đầu tiên ngay đêm hôm đó. Cũng là lẩn đầu tiên ngồi bên nhau đủ mặt, làm tôi xúc động sâu sắc. Tôi nêu ý kiến:
- Lần đầu tiên chúng mình gặp nhau, chưa hiểu đời riêng của nhau như thế nào. Tôi đề nghị để xây dựng mối quan hệ mật thiết làm việc với nhau lâu dài về sau, xin mỗi đồng chí tự thuật cuộc đời mình với anh em.
Buổi họp thành buổi tâm sự hết sức chân thành cứ tuần tự kể cho nhau nghe cuộc đời mình, hoàn cảnh gia đình xuất thân, tuổi ấu thơ, tiếp xúc với cách mạng, ngày vào Đảng, quá trình trong quân đội, lời tự nhận xét và những mong muốn trong tập thể này. Tối đó đèn sáng thâu đêm, có nhậu lai rai với bánh chưng, càng về khuya, câu chuyện càng đằm thẩm. Nhiều anh em cũng như tôi bộc bạch cả những sự non yếu của mình với dụng ý để hiểu nhau thật đầy đủ, thông cảm và khoan dung để toàn tâm toàn ý lao vào công việc. Sau cuộc nói chuyện tôi cảm thấy chúng tôi gần nhau hơn, tình cảm bạn bè nhen nhóm lên. Chúng tôi bàn cả kế hoạch xây dựng sư đoàn, bố trí tổ chức và cán bộ, chọn chỗ đóng quân, đặt kế hoạch huán luyện... Tất cả biểu thị quyết tâm xây dựng đại đoàn vững mạnh thi đua với 308. Ít lâu sau trung đoàn 165 mới về tới nơi, cũng vừa lúc nhận nhiệm vụ đi dự chiến dịch Hoàng Hoa Thám đánh ở đường 18 dốc Đông Triều thuộc tlnh Quảng Ninh ngày nay.
Cả đại đoàn kéo quân suốt từ Vĩnh Yên-Phú Thọ đi qua Thái Nguyên sang Bắc Giang, đi lên vùng Bắc Bắc Giang rồi đổ xuống Quảng Yên. Cuộc hành quân kéo dài ngày nhưng không gian khổ bằng lên Tây Bắc sau này. Mười ngày hành quân vất vả đến ngày 20-21 tháng 3 năm 1951 đại đoàn đến vị trí an toàn. Ngày 23 tháng 3 chiến dịch Hoàng Hoa Thám mở màn. Đại đoàn 312 là một trong những đơn vị chiến đấu trên hướng chính.
Chiến dịch Hoàng Hoa Thám bộc lộ trình độ chỉ huy của cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển chiến đấu quy mô tập trung lớn. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến của đại đoàn chưa hình thành rõ ràng, cơ sở vật chất chuẩn bị không chu đáo do đó bộc lộ nhiều lúng túng, mất dần thế chủ động khi gặp khó khăn, dẫn đến tổn thất lớn.
Ngày 26-4-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự hội nghị tổng kết chiến địch do bộ chỉ huy chiến dịch mở. Người nói:
- Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng tự phê bình trước, phê bình người sau. Phê bình mình là chính, phê bình người là phụ... Tự phê bình và phê bình là để thống nhất tư tưởng. Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc...
Cán bộ đại đoàn 312 dự hội nghị này vô cùng thấm thía những lời dạy của Bác(1)
Chú thích:
(1) Sách đại đoàn 312 trang 73
(còn nữa)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 05:59:44 am
Lệ thường cứ tổng kết chiến dịch là Bác Hồ đến thăm, cũng là sự mong ước của cả hội nghị như được trực tiếp báo công với Bác. Thật không gì vui hơn! Cuộc họp tổng kết chiến dịch này tất nhiên sẽ được đón Bác, nhưng mọi người đều mang tâm trạng nặng nề. Anh em chờ đón với sự lo phiền vì chỉ sợ Bác không vui. Bác vốn nghiêm sẽ phê bình việc đánh đấm vừa qua.
Hôm Bác tới, tôi nhớ câu đầu tiên Bác nói là:
- Mọi chiến dịch Bác đến để khen các chú, thế nhưng lần này Bác đến để Bác đì... các chú một trận!
Thế là tự nhiên không khí hội nghị nhẹ hẳn đi mặc dầu Bác nói trước là sẽ “đì một trận” nghĩa là có phê bình đó. Cách dùng chữ của Bác đén là tuyệt, theo lối dân ta thường nói và ai cũng hiểu cả. Không khí hội nghị đang có phần trầm lắng vì sự áy náy sợ Bác không hài lòng thì lời Bác vừa nói như giải toả tất cả. Việc Bác phê bình thành là điều tất nhiên và mọi người mong đợi.
Trước nay trong khi đối thoại với ai Bác đều rất chú ý đến tâm lý kẻ đó. Từ lời nói đến chữ dùng Bác đều cân nhắc sao cho thích hợp và đạt hiệu quả mong muốn. Bác hiểu là đi chiến dịch về mà không thu được thắng lợi thì ai cũng buồn rồi. Nếu Bác đến với thái độ nghiêm khắc, nói những lời nặng nề thì chỉ làm cho không khí thêm căng thẳng không cần thiết, không lợi cho sự tiếp thu phê bình. Ở đây tôi không nói về nội dung tổng kết như nội dung Bác phê bình mà chỉ nói lại kỷ niệm này thôi. Trên đường về, tôi và anh Tấn bàn với nhau là sự tác động thuận lợi này của Bác, có thể và phải tổ chức phê bình nghiêm túc ở từng cấp một, cố gắng làm sao để mỗi cấp nhận rõ trách nhiệm của mình. Có điểm cả hai anh em đều tán thưởng. Đó là các đơn vị đã giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ giữa lúc gay go vừa qua, là tình đoàn kết chiến đấu rất tốt đẹp, cần duy trì thành truyền thống và đề cao để mỗi chiến sĩ, mỗi cán bộ trong sư đoàn có ý thức với nhau từ nay về sau. Hai chúng tôi cũng tự xác định. Chúng mình là cán bộ sư đoàn càng phải tự phê bình nghiêm khắc để làm gương cho anh em và cũng để nhận rõ trách nhiệm bản thân chỉ đạo chiến dịch, qua đó anh em góp ý kiến sẽ đầy đủ hơn. Với tinh thần như thế, chúng tôi tiến hành cuộc phê bình và tự phê bình khi tổng kết chiến dịch Hoàng Hoa Thám. Kết quả là từng cấp, từng đại đội trở lên cho đến tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn thấy rõ phần trách nhiệm của mình không vin cớ này cớ khác, không đổ lỗi cho ai cả. Đặt giả thiết, nếu trận Tràng Bạch, trận Mạo Khê, trận này, trận khác đều thực hiện trót lọt thì chắc chắn chiến dịch đã diễn biến khác, nếu các nhiệm vụ đặt ra trong chiến dịch mà sư đoàn đều thực hiện trọn vẹn từ đầu đến cuối thì... với cách nhìn nhận mỗi người đều thừa nhận trách nhiệm của mình, đều tự xác định nghiêm túc hơn trong sự luyện tập kỹ càng, chuẩn bị cho trận đánh khác. Đấy là kỷ niệm qua mỗi chiến dịch mà chúng tôi đều chú ý khuyếch trương: Tinh thần tự phê bình nghiêm túc... Một thời gian sau, chúng tôi nhận nhiệm vụ là riêng sư đoàn độc lập một chiến dịch đánh giải phóng Nghĩa Lộ tức chiến dịch Lý Thường Kiệt. Tôi không đi sâu vào trận đánh mà chỉ ghi lại kỷ niệm phải rút quân ra khi chưa đánh dứt điểm được. Chúng tôi triển khai đánh hai đêm không hoàn thành. Đêm nào cũng phải rút ra, có cả hường hợp còn một đồng chí đang bị kẹt trong dây thép gai. Hai ba ngày sau anh ấy mới thoát ra tìm vào nhà dân và được bao che cứu giúp mấy ngày sau mới trở về đơn vị. Thương vong nhiều và chịu thiệt hại lớn mà không giải quyết được vấn đề. Khi quyết định rút ra Đảng uỷ có họp bàn, trao đổi với nhau khá nhiều ý kiến. Sư đoàn đã mở đầu chiến dịch, đã đánh đến hai đêm và bây giờ chuẩn bị đánh đêm thứ ba. Có khả năng giải quyết xong và cũng có khả năng không giải quyết được. Vậy phải lường trước việc ta xử lý như thế nào? Ai cũng thấy chiến dịch này nhiệm vụ của sư đoàn rất lớn, rất nặng, nếu làm được là đạt chiến công oanh liệt và sư đoàn có bước trưởng thành đáng kể. Đã đánh hai đêm cũng rút được nhiều kinh nghiệm chuẩn bị cho đêm thứ ba. Nhưng cũng thấy nếu không giải quyết được là bị sa lầy giữa thời tiết mưa gió có nhiều khó khăn trở ngại, thương binh nhiều, đơn vị có thể phải chịu đói khát... hậu quả thật khó lường hết. Chung quy đi đến nhất trí phải rút! Rút thì đau đớn thật nhưng mà còn hơn bị sa lầy. Với tôi, tôi thấy trong chiến đấu việc quyết định rút cũng khó khăn, thậm chí khó khăn hơn khi quyết định tấn công. Nó day dứt trong tâm trí chỉ huy cũng như chiến sĩ. Điều này còn lặp lại ở chiến địch Đồng Xoài sau này. Cũng tôi và anh Tấn đánh Đồng Xoài cho tới sáng tình hình vẫn rất gay go. Anh Tấn và tôi lại ngồi phân tích với nhau để đi đến một quyết định chính xác, làm nhớ lại ngày ở Nghĩa Lộ, chúng tôi đã kết luận là phải rút. Quyết định phải rút thì sẽ khó khăn về tình cảm tâm lý, phải có nghị lực mới vượt qua nổi. Có sự phân tích thật khách quan và rõ ràng mọi khía cạnh thì mới giám đi tới một quyết định khó khăn như vậy. Ở đời cũng vậy. Khi gặp khó khăn thì chính là khi ta phải tính toán đến nhiều quyết định không dễ dàng gì. Rút ra xong thì lại một kỷ niệm nữa về sự xử lý. Để tổng kết chúng tôi lại thực hiện theo tinh thần tổng kết chiến dịch Hoàng Hoa Thám, nhắc nhau là sư đoàn phải nhận khuyết điểm trước trong công việc chuẩn bị chiến dịch, về quyết định phương án tác chiến như thế nào? Trên cơ sở kiểm điểm của sư đoàn, yêu cầu trung đoàn kiểm điểm cách thực hiện của mình. Đặc biệt đối với trung đoàn 141 là trung đoàn chủ công đánh Nghĩa lộ cũng kiểm điểm theo tinh thần như vậy. Cuộc họp này chúng tôi tổ chức quanh thị trấn Yên Bái. Tôi nhớ tôi và anh Tấn cũng thức đêm thức hôm, trao đổi và phân tích đủ các mặt, cũng day đứt cùng nhau nhiều điểm. Nhưng hai anh em đều thống nhất nhau một điểm, là xác định trách nhiệm thật rõ ràng. Chính là sau đợt kiểm điểm này trong sư đoàn đã hình thành hẳn hoi cái phương châm: Thắng không tranh công, thua không đổ lỗi. Ở chiến dịch Hoàng Hoa Thám đã không đổ lỗi thì đến chiến dịch Lý Thường Kiệt này thua hơn cũng không đổ lỗi! Bởi vì ở Hoàng Hoa Thám thì cả chiến dịch thua trong đó có sư đoàn tham dự. Còn chiến địch này, chỉ riêng một sư đoàn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về cái thắng, thua của trận đánh không thể đổ lỗi cho ai cả. Trách nhiệm đó là từ cán bộ chỉ huy sư đoàn đến các chiến sĩ tổ ba ba, hoả lực, xung kích, bộc phá phải gánh chịu. Mọi người tự xác định trách, nhiệm của mình trong khi thắng cũng như thua, điều đó hình thành nên tinh thần thắng không tranh công, thua không đổ lỗi. Sư đoàn lấy đó làm nội dung đoàn kết cả đơn vị. Càng về sau mấy chữ Đoàn kết, anh dũng, chiến thắng cứ nổi lên như một nhu cầu, một bản sắc của sư đoàn. Cho đến sau chiến dịch Hoà Bình, ba tư chất đó được định hình hẳn thể hiện thường xuyên trên tờ báo “Anh Dũng” của sư đoàn, và danh hiệu của sư đoàn mà báo chí hay các sư đoàn khác thường nhắc đến là chiến thắng.
“Thắng không tranh công, thua không đổ lỗi” đã hình thành và trở thành là nét truyền thống đẹp của sư đoàn 12 qua quá trình như vậy: Chiến dich Nghĩa Lộ vừa kết thúc và đang tiến hành tổng kết thì đã nhận được nhiệm vụ đi Hoà Bình vì địch vừa nhảy dù chiếm vùng này. Bác Hồ và Bộ chính trị nhận định đây là thời cơ tiêu diệt địch và khi chúng co lại trong công sự thì ta đánh khó, nay nó kéo ra rời xa căn cứ là thời cơ để ta tiêu diệt nó.
Thế là cả sư đoàn hành quân cấp tốc để tham gia chiến dịch mới. Tôi xin ghi lại đây kỷ niệm đánh lô đồn 400, 600. Núi Ba Vì lúc bấy giờ sư đoàn 312 được phái sang sông đánh đồn núi Chẹ, đánh Ninh Mít... còn sư đoàn 308 và một phần 312 đánh tạt lên phía Tây chiếm Lai Đồng, Đồng Văn và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Địch ngoan cố tung quân đánh tràn ra xung quanh Hoà Bình, điểm ác liệt nhất là Ba Vì. Thế núi cao, nó khống chế toàn bộ một vùng rộng lớn. Cấp trên quyết định đánh và giao nhiệm vụ này cho sư đoàn. Sư đoàn đưa trung đoàn 141 giải quyết trận đánh. Đây là một trận đánh rất khó khăn vì vị trí hiểm trở ở trên cao, vách đá dựng đứng. Anh em điều tra thực địa đều thấy địa hình vị trí gây khó khăn cho việc kéo quân lên, cho việc dấu quân và bố trí hoả lực. Đó là thực tế ác liệt nhưng phải dứt điểm được trận này thì mới thay đổi được cục diện chiến dịch. Xoá sổ được vị trí này thì ta làm chủ được toàn bộ vùng rộng lớn ven sông Đà và đường số 6 bọn địch không thể ngang nhiên chiếm Hoà Bình.
Trận đánh được chuẩn bị chu đáo tối đa. Tôi trực tiếp nói chuyện với anh Hoá - tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn. Buổi trao đổi thật chân thành và cả hai bên đều rất xúc động. Nhiều vấn đề gay go thẳng thắn được đặt ra và được giải quyết theo từng tình huống cặn kẽ. Như với anh em tân binh thì giúp đỡ rèn luyện thế nào. Cách phân công bố trí đội hình, việc tiếp tế vũ khí... Nghĩa là cả về vật chất lẫn tinh thần đều không xem nhẹ mặt nào, khâu nào cũng được nghiên cứu dự liệu đến nơi đồng thời làm cho cả đơn vi hào hứng lập công, có tinh thần quyết thắng. Ban chỉ huy cũng bám sát diễn biến từng trận đánh với tâm trạng căng thẳng hồi hộp, bao lần tưởng đã dứt điểm đến nơi rồi nhưng hoá ra lại chưa được. Tin tức thực hư không ngớt đan xen dồn dập. Cuối cùng thì quân ta thắng, đánh chiếm cả cứ điểm. Qua kiểm tra thận trọng mới xác định là thắng lợi, là trận đánh tốt. Đi chiến dịch về, tôi viết một truyện ngắn với đầu đề “lòng tin” đưa in trên báo Quân đội nhân dân. Ngụ ý tôi muốn nói là để dành thắng lợi trong những trận đánh khó khăn như vậy thì lòng tin là yếu tố cực kỳ quan trọng. Tân binh tin vào cán bộ, cán bộ quân sự tin vào chính trị. Phía sau tin tưởng phía trước, nghĩa tất cả một lòng, với quyết tâm khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng..
Trong chiến dịch Hoà Bình, chúng tôi có dịp ăn tết ngoài mặt trận. Tôi và anh Văn Phác lúc ấy là chủ nhiệm chính trị ở lại trận địa ăn tết với dân công. Dân công đi Hoà Bình đông lắm. Bà con ở các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cũng có mặt, nổi nhất là con gái Bắc Ninh. Ở đâu thì mối quan hệ giữa dân công và bộ đội cũng rất mật thiết. Vừa là ý nghĩa quân dân ra trận, chia đôi gian khổ, chung sức giành chiến công, vừa là sự chung lưng đấu cật giữa lớp trẻ vui nhộn và hồn nhiên. Đặc biệt là giới nữ. Ở các cô toát lên một sức sống khác thường, tự tin hơn, năng nổ và chủ động. Các cô tới đâu ở đấy không khí sôi động lên. Một chuyến tôi cùng sang sông với các cô. Đoàn người kéo dài, tôi đi vào phần cuối. Ai cũng ráng hết sức mình để vượt dốc bờ sông vừa cao vừa trơn, nói đúng hơn là ráng sức trụ vững đôi chân trong bùn dốc vì cả đoàn dồn lên ép cứng người lại với nhau. Trong lần cằn nhằn cực nhọc vẫn không vắng tiếng khúc khích đùa nghịch chờ từng bước nhích chân trong bùn lầy. Những bắp chân tròn lẳn trắng nõn cắm sâu vào trong bùn nhão. Những bộ ngực căng tròn hổn hển qua làn vải áo. Và những ánh mắt, những nụ cười ánh lên nỗi vất vả đến là đẹp. Bỗng một câu thơ cất lên: “Ai đưa ta đến chốn này... lảnh lót hào hển. Nghịch ngợm nhiều hơn là ai oán. Cái lanh lảnh trong veo làm người nghe liên tưởng đến một làn môi tươi rói, đến một khuôn mặt sắc nước hương trời. Tôi mới buột mồm: “Úi giời hay quá!”. Thế là một cô thon thả da trắng ngần - ắt hẳn gái Bắc Ninh – dẫy lên như giẫm phải tổ kiến lửa. Cô ta dậm chân nhũng nhẵng “Ơ cái anh nầy! hay nhỉ?”. Tôi cảm thấy thú vị vì bị trách móc. Có gì mà người đẹp phải mắng mỏ. Tôi khen cô ngâm thơ hay, làm gì cô phải giãy lên đến vậy. Cô ta thấy mình đuối lý thì im, còn tôi tiếp tục đi với chiến dịch qua những màu sắc địa phương khác nhau. Chị em Hoà Bình đon đả đem cơm, ra mời làm tăng thêm nét hoang dã của chiến trường. Rồi các cô kéo đến chỉ huy sở chúc Tết. Tôi và anh Văn Phác có mặt lúc đó. Cả hai chúng tôi vui vẻ ra chào đón mời các cô uống nước, ăn kẹo và nói chuyện. Có lẽ cũng vì đột ngột nên ông Văn Phác để gớ bí, bật hỏi một câu: “Thế các cô đây đã có gia đình cả chưa?”. Một cô lí lắc đáp: “Chúng em đây ai mà chả có gia đình!”. Văn Phác càng lúng ta lúng túng gỡ thế bí: “Ừ, tôi hỏi gia đình là hỏi các anh ấy chứ. Các chị đã có các anh ấy chưa?”. Thế là các cô cười phá lên như nắc nẻ. Cả tôi và Văn Phác cũng cười lấp liếm cái ngớ ngẩn vô duyên của mình.
Sau chiến dịch Hoà Bình trên đường trở về bốn anh em gồm có các ông Tấn, Nam Long, Lê Thuỳ và tôi thi bắn chim với súng các-bin, vừa tiêu khiển dọc đường lại có thức chén cải thiện. Điều không may cho tôi là mấy ông kia đã mỗi tay bắn được hai con thì tôi vẫn tay không. Cả ba đều là cán bộ quân sự giỏi bắn, riêng tôi lớ ngớ chưa được con nào. Cuối cùng thì cũng được một con, là ngáp phải ruồi thôi. Con chim tôi bắn lại trúng đầu (kỳ tài)! Nên nguyên cả mình không một cái lông bị rơi chứ chưa nói đến thịt, trong lúc chim của các vị bắn đều tuíng ngực trúng ức. Con nào mình mẩy cũng nát nhừ. Tôi bèn lên mặt lý luận (vốn là sở trường) trêu vui:
- Các ông hai con nhưng bắn như thế chỉ còn lông và xương! Tôi một con nhưng chỉ nát đầu còn nguyên vẹn thịt. Vậy nói về chất lượng thí ai hơn ai?
Đùa vui thế nghĩ cũng chắc mẽ lắm. Không ngờ sự phản công của ông Tấn lại lột trần tay súng tồi của mình ra. Đã bắn thì phải ngẩm hồng tâm. Hồng tâm là ngực và ức. Tôi bắn trúng đầu chim thì chỉ là tay súng vụng về vi phát đạn đó thực sự là chuyện chó ngáp thật. Qua câu chuyện bạn đọc có thể thấy mối quan hệ giữa chúng tôi không chỉ có chuyện chiến trường gay cấn và căng thẳng mà còn bao nhiêu điều vui thế trong tình đồng đội đồng chí với nhau.
(còn nữa)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 14 Tháng Tám, 2008, 06:00:07 am
Đến chiến dịch Tây Bắc tôi muốn kể lại đây cảnh truy kích ở Sa pa. Sau khi chiếm đồn Gia Hội, ông Tấn kéo quân đuổi còn tôi thì ngồi lại phía dưới đốc, liên lạc giữa hai bên bằng điện thoại. Cậu liên lạc trực ở cạnh tôi gọi điện cho liên lạc ông Tấn. Sau công việc hai bên không khỏi dò hỏi nhau.
- Ở trên ấy có gì ăn không?
- Chú mày ở đó đấy chắc là sướng lắm nhỉ?
- Đ. mẹ! có cái đ... gì mà sướng! Sáng thì toàn là củ chuối, bốn ngày không có gạo rồi...
Đúng thế sau các đợt giải phóng Nghĩa Lộ, Gia Hội mặt trận quyết định phải ngừng truy kích địch lại và huy động toàn bộ bộ đội đi lấy gạo để chuẩn bị cho đợt hai vượt sông Đà..
Sông Đà có dòng chảy nổi tiếng dữ, nước chảy xiết. Qua sông lại không sẵn thuyền mảng, chỉ đóng bè thì làm sao cho cả ngàn người qua được. Cuối cùng là phải bơi qua sông và giăng dây dìu những ai không biết bơi đi qua. Các trung đoàn trưởng xung phong bơi qua thăm dò và mang đầu dây sang luôn thể. Nhìn dòng nước ai cũng ái ngại, lực lượng qua sông vừa đông vừa cồng kềnh, dòng nước thì băng băng như ngựa phi. Phải với tinh thần vì chiến dịch cao độ, quyết tâm vượt mọi trở ngại rồi người cũng như vũ khí quân trang đều qua sông an toàn. Cả đơn vị lao lên đánh Sơn La rồi cụm lại ở Nà Sản, vây đánh Nà Sản và kết thúc chiến dịch thắng lợi trở về. Đồng bào thiểu số đổ ra đón đoàn quân chiến thắng khắp các đoạn đường. Bác chỉ thị phải chuẩn bị tốt để anh em tiếp xúc với đồng bào. Đây cũng là một công việc nhiều công phu. Tôi soạn tài liệu để phổ biến cho bộ đội hiểu và nắm được phong tục tập quán của dân trên dọc đường đi. Sẵn máu văn nghệ của những cảm xúc sẵn có về đời sống và con người Tây Bắc tôi viết bài dưới dạng bút ký giới thiệu với anh em trong đơn vị về cảnh đẹp đất nước, về tinh thần phẩm chất con người ở các nơi này. Viết đến đâu tôi đưa in và cho lưu hành trong khắp đơn vị.
Đến chiến dịch Thượng Lào, chiến dịch với ý định giải phóng Sầm Nưa. Hành quân sang đất Lào lần đầu tiên tôi trông thấy nhà sư đi khất thực. Cứ sáng sớm từng tốp nhà sư bốn năm vị mặc áo vàng đi hàng dọc tay ôm cái bát to tướng. Men đường, dân đổ ra quỳ đón thành kính dâng xôi. Các sư ghé lại nhặt bó đầy bát của mỗi vị. Khác với cảnh ăn ở của người dân địa phương, các nhà cổ Tây ở thì sa hoa đến loá mắt. Cứ tới đâu thì anh em lại tiền trạm lại chọn nhà sạch sẽ sang trọng để ban chỉ huy sư đoàn tạm trú. Hồi hành quân dọc ngang sông Đà, tôi và anh Tấn có máy bộ đàm nghe được radio. Chúng tôi luôn luôn luôn phải theo dõi diễn biến trên tin tức, có bữa đến giờ chúng tôi mở đài thì chị chủ nhà hét tướng lên với anh chồng: “ồ! Đại đoàn đến nhà ta rồi”. Tôi băn khoăn không hiểu làm sao chị ta biết là đại đoàn, lại nói trúng vào ông đại đoàn trưởng và chính uỷ. Sau hai vợ chồng chủ nhà ra nằm xoài trên sàn nhà cùng nghe đài với chúng tôi. Chúng tôi tới Sầm Nứa thì địch đã tháo chạy. Chúng tôi cho một bộ phận đuổi theo. Ông Hoàng Cầm truy kích đến hai ba ngày mới trở về. Ông ấy khoe là dọc đường chết mất ba con ngựa. Con ông đang cưỡi mới thay là con thứ tư và ông hết lời khen nước kiệu của ngựa Lào. Ông này lúc nào cũng là một chiến tướng tả xung hữu đột mỗi lúc tôi gặp, sau đó đại quân kéo về theo một hướng khác. Còn tôi và các ông Trần Quân Lập, Hoàng Cầm, Lê Thuỳ thì đi với nhau cùng đội văn công của sư doàn. Tôi nhớ mãi cảnh thiếu thuốc lào cho đến Mộc Châu. Gặp ai xin được điếu nào đều trao tay nhau hít tí khói. Khoái đến tận rốn.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Tám, 2008, 10:14:31 am
@ bác rồng: chỉ có 3000 viên 105mm thôi à?



Trận tiến công cứ điểm Đông Khê
Của eBB209
Từ 16 đến 18/9/1950


I. Tình hình chung

1. Địa hình, thời tiết


Thị trấn Đông Khê thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, nằm dọc theo đường số 4, trên ngã ba đường đi Cao Bằng, Tà Lùng, Thất Khê. Cách Đông Khê 45km về phía bắc là TX Cao Bằng, 15km về phía nam là Pò Khẩu, 5-7km về phía đông là Phìa Khoá, 12km về phía tây là làng Hạc.

Địa hình khu vực có nhiều núi cao hiểm trở xen kẽ với làng mạc, có nhiều suối nhỏ có thể lội qua được, đường sá có đường 4 thuận tiện cho cả ta và địch cơ động.
Thời tiết lúc tác chiến là mùa thu, đêm lạnh, nhiều sương mù thuận tiện cho ta tiếp cận địch nhưng gây khó khăn cho quan sát, phát hiện mục tiêu.


2. Tình hình địch

Cụm cứ điểm Đông Khê nằm trong hệ thống phòng thủ Cao Bắc Lạng, trực thuộc phân khu Thất Khê. Sau khi bị ta tiêu diệt lần thứ nhất (5/1950), địch tập trung củng cố và xây dựng thêm một số ụ súng, lô cốt bê tông cốt thép.
Lực lượng địch có 2 c thuộc d2/e3 lê dương và 1 b bảo an do tên đại úy A-li-úc chỉ huy, quân số khoảng 350 tên. Vũ khí có 2 pháo 105mm, 2 cối 81mm, 2 cối 60mm, 2 pháo 57mm, 2 pháo 20mm. Bố trí thành 2 khu vực chính là khu trung tâm và ngoại vi.

Khu trung tâm: gồm có:

-   Đồn To: là vị trí chủ yếu của cứ điểm. Xung quanh có 2-3 hàng rào thép gai. Nhà cửa mái lợp tôn, có giao thông hào nối với nhau, có nhiều ụ súng và lô cốt. Lực lượng chốt giữ khoảng 2 b, 1 pháo 105mm, 2 cối 81mm, 2 pháo 57mm.

-   Cạm Phầy: cách Đồn To khoảng 200m về phía bắc, lực lượng khoảng 1 a + 1 trung liên.

-   Nhà thương, Nha cũ: phía tây bắc Đồn To 100-150m, lực lượng khoảng 2 b.

-   Phủ Thiện: tây nam Đông Khê 120-150m, lực lượng khoảng 2 b, 1 pháo 105mm, 1 pháo 20mm.

Vành đai ngoại vi gồm Phìa Khoá, Ký Sẩu, Pò Đình, Pò Hẩu, Yên Ngựa.

Ban ngày địch canh gác chặt chẽ, đêm tổ chức một số vọng gác cơ động ở các ngã ba, ngã tư, trên hướng nghi ngờ có lực lượng ta tiếp cận. Địch thường xuyên tuần tiễu xa cứ điểm 2km, mỗi tuần 2 lần đi lùng sục ra xa 10km. Hàng ngày có máy bay tiếp tế.

Tóm lại: cứ điểm Đông Khê có hoả lực mạnh, công sự kiên cố. các cứ điểm được xây dựng liên hoàn, có thể chi viện hỗ trợ nhau. Khi bị tiến công được KQ, PB chi viện, có thể được viện binh từ Cao Bằng và Thất Khê tới. Song địch cũng có điểm yếu là do phải bố trí trên một khu vực rộng, lực lượng phân tán, dễ bị chia cắt, bao vây. Tinh thần binh lính hoang mang, lo sợ.


3. Tình hình ta

eBB209 tham gia trên hướng thứ yếu gồm 3 dBB, các c trực thuộc, 1 cPB 75mm, vũ khí có một số SKZ, bazooka, đại liên…

Đơn vị đã có kinh nghiệm chiến đấu tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc ở địa hình rừng núi. Cán bộ chiến sĩ có tinh thần và quyết tâm cao. Đội ngũ cán bộ đã tham gia chiến đấu, có kinh nghiệm.
Nhân dân trong khu vực có truyền thống cách mạng, tích cực tham gia kháng chiến, giúp đỡ bộ đội.


II. Tổ chức chuẩn bị chiến đấu

1. Nhiệm vụ


eBB209 được tăng cường cPB370 (3 khẩu 75mm) tiến công trên hướng thứ yếu (phía nam) tiêu diệt địch ở Pò Đình, Pò Hẩu, Ký Sẩu, Khâu Áng, phối hợp với eBB174 tiêu diệt địch ở khu trung tâm.


2. Cách đánh

Sử dụng pháo cối chế áp, phá huỷ các hoả điểm, trận địa pháo, hầm ngầm, lô cốt. BB thực hành tiến công bao vây chặt, chia cắt nhanh, diệt từng bộ phận tiến tới diệt toàn bộ quân địch. Tổ chức một lực lượng sẵn sàng đánh địch ĐBĐK xuống phía nam.

Trận đánh chia làm 2 giai đoạn:

-   Đêm 15 rạng 16/9/1950 đến chiều 17/9/1950: tiến công địch ở ngoại vi (Khâu Áng, Pò Hẩu, Pò Đình).

-   Từ 17.00 17/9 đến hết ngày 18/9: tiến công khu trung tâm (Phủ Thiện, Ký Sẩu, Nha cũ), phối hợp với eBB174 tiêu diệt Đồn to, tiến tới làm chủ Đông Khê.


3. Tổ chức lực lượng

dBB130 triển khai ở tây nam cách Phủ Thiện 200m, được PB của e và MT trực tiếp chi viện, tiến công trên hướng chủ yếu của e, diệt địch ở Phủ Thiện, Trường học, Nha cũ, phối hợp với dBB166 và eBB174 tiêu diệt Đồn to.

dBB166, triển khai ở đông nam Pò Hẩu, Pò Đình 200m, được PB của e và MT trực tiếp chi viện, tiến công trên hướng thứ yếu của e, diệt địch ở Pò Hẩu, Pò Đình, Ký Sẩu, sau khi hoàn thành nhiệm vụ làm lực lượng dự bị cho e.

dBB154 triển khai ở đông nam Phủ Thiện 800m, làm lực lượng dự bị của MT, sẵn sàng đánh địch ĐBĐK ở phía nam và đông nam cứ điểm.

c cối của e và cPB370 3 khẩu 75mm của MT có nhiệm vụ chế áp PB địch ở Đồn to, bãi ô tô, phá huỷ mục tiêu trong các cứ điểm ngoại vi ở đông nam Phủ Thiện, chi viện BB chiến đấu, đồng thời sẵn sàng chi viện dBB154 tiến công địch ở Khâu Áng và đánh địch ĐBĐK ở phía nam.

c SMPK 12,7mm bố trí ở nam Pò Hẩu sẵn sàng bắn máy bay, đánh địch ĐBĐK, bảo vệ SCH và đội hình của e.


III. Diễn biến chiến đấu, kết quả

1. Diễn biến


Từ đầu 9/1950, e đã tổ chức đoàn cán bộ từ cấp c trở lên đi trinh sát khu vực Đông Khê. Quá trình trinh sát thực địa, e đã sơ bộ giao nhiệm vụ cho các đơn vị, hiệp đồng những nội dung chính với đơn vị bạn cùng tiến công vào Đông Khê.
Ngày 12/9/1950, eBB165 và LLVT Lào Cai đã nổ súng tiến công địch ở Ba Kha (Lào Cai), dBB248 đánh địch ở Đồng Đăng, Na Sầm (Lạng Sơn), nghi binh lừa địch, tạo điều kiện cho các đơn vị làm tốt công tác chuẩn bị tiến công địch ở cụm cứ điểm Đông Khê.

18.30 15/9/1950, từ vị trí tập kết, e bắt đầu hành quân vào chiếm lĩnh trận địa. Đội hình hành quân theo thứ tự: dBB130, dBB166, dBB154, e bộ và các đơn vị trực thuộc.

05.00, đội hình e cơ bản đã vào vị trí, riêng cPB 75mm bị lạc, vì vậy không thực hiện được kế hoạch nổ súng theo đúng quy định lúc 05.00 16/9.

05.30 16/9, 1 tốp địch tuần tiễu sục sạo trên đường Tà Lùng về cứ điểm gặp lực lượng của dBB251/eBB174. Ta chủ động tiến công, địch bỏ chạy về Đông Khê, sau đó gọi PB bắn mạnh về phía Phìa Khing, Phìa Khoá. Mặc dù cPB 75mm của eBB209 chưa vào vị trí, nhưng MT vẫn lệnh cho eBB174 nổ súng trước, tiến công Phìa Khoá, Yên Ngựa, đồng thời lệnh cho eBB209 nhanh chóng tổ chức đội hình phối hợp cùng tiến công.

10.30, eBB174 hoàn toàn làm chủ Phìa Khoá, Yên Ngựa. Địch cho 6 máy bay khu trục bắn phá về phía đông Yên Ngựa và xung quanh Nà Cúm, c SMPK 12,7mm đánh trả quyết liệt, bảo vệ vững chắc các mục tiêu vừa chiếm được và đội hình eBB174.

Suốt chiều 16/9, địch ráo riết chuẩn bị chiến đấu nhưng không tổ chức đợt phản kích nào mà chỉ dùng KQ, PB bắn phá xung quanh Yên Ngựa, Phìa Khoá và đông bắc Đông Khê, thả dù tiếp tế cho các cứ điểm.

Lúc này cPB cũng đã chiếm lĩnh xong trận địa, bắn cầm canh vào thị trấn. BCH MT thấy có thể tổ chức cho các đơn vị tiến công trên các hướng lúc 17.00, nhưng 16.30, PB ở phía nam phối thuộc cho eBB209 đã tự động nổ súng.

17.00 16/9, BCH MT lệnh cho nổ súng tiến công Đông Khê. Do trận địa PB ở đông bắc bị KQ địch hoạt động mạnh nên 18.45 mới chuẩn bị xong và bắn vào Cạm Phầy, Đồn to. Trong khi PB bắn, dBB249 bí mật áp sát Nhà thương, Cạm Phầy, dBB251 áp sát đông bắc cứ điểm.

Trên hướng eBB174, khi PB ngừng bắn, dBB249 tiến công Nhà thương, Cạm Phầy, dBB251 tiến công Đồn to.

Trên hướng eBB209, dBB130 tiến công địch ở Phủ Thiện (c363 tiến công Phủ Thiện, c366 tiến công Nha thông tin, Phố cũ, c360 tiến công địch ở Trường học, Nha cũ). Sau ít phút chiến đấu, e đã chiếm được Phủ Thiện, Phố cũ, Trường học không mấy khó khăn. BCH MT lệnh cho eBB209 tích cực phát triển chiến đấu, tạo điều kiện cho eBB174 tiến công Nhà thương và Đồn to nhưng bị hoả lực địch ngăn chặn không phát triển được.

Sau khi tiến công lần thứ nhất vào khu trung tâm gặp khó khăn, BCH MT nhận địch tuy ta có thương vong, đạn dược tiêu hao nhưng vẫn có điều kiện tiếp tục tiến công địch. Về địch phần lớn công sự đã bị phá hủy, một số cứ điểm ngoại vi bị diệt, quân số thương vong nhiều, tinh thần hoang mang dao động. BCH MT quyết định kiên quyết giữ vững các vị trí đã chiếm, xốc lại đội hình tiếp tục tiến công lúc 17.00 17/9.

Sau khi nhận nhiệm vụ các đơn vị tiếp tục củng cố, làm công tác chuẩn bị cho tiến công lần 2.

Trên hướng eBB174, dBB249 tạm dừng ở Cạm Phầy, Phía Khoá, dBB251, 255 tập kết ở Phìa Khinh để chuẩn bị tiến công Đồn to.

Trên hướng eBB209, dBB130 tiếp tục củng cố để tiến công Phủ Thiện, e điều c249/dBB166 về làm dự bị cho dBB130 và dBB154 làm dự bị cho e.

Cả ngày 17/9 PB địch không hoạt động, chỉ có KQ bắn phá trận địa ta, bị PK bắn rơi 1 chiếc xuống cánh đồng Nà Pá.

17.00 17/9, các đơn vị BB, PB ở phía nam đã sẵn sàng nổ súng. Lúc này KQ địch vẫn đánh phá ác liệt xung quanh cứ điểm Đông Khê.

eBB209 được lệnh dùng pháo cối bắn mạnh vào Đồn to, Phủ Thiện.

19.00, dBb255/eBB174 xung phong đánh chiếm Đồn to. Khi c653/dBB255 tiến vào đánh chiếm lô cốt A bị lô cốt 1, 4 bắn chặn nên chỉ chiếm được một phần Đồn to. eBB174 cử TMT e xuống trực tiếp kiểm tra tình hình, đồng thời điều sơn pháo 75mm lên bắc Cạm Phầy bắn vào Nhà thương chi viện cho c316/dBB249. c316 đã đột phá thắng lợi, tiêu diệt phần lớn địch ở Nhà thương, số còn lại chạy về Nha cũ.

dBB130 xung phong vào Phủ Thiện, phát triển lên Nha thông tin, Phố cũ, Nha cũ và bắt liên lạc với c316/dBB249.

00.30 18/9, phần lớn địch ở Đông Khê bị tiêu diệt, chỉ còn Khâu Áng, Nà Cúm và Đồn to. dBB255 phát triển vào bắc Đồn to bị địch bắn ra mạnh. MT lệnh cho eBB174 củng cố lực lượng và tăng cường hoả lực cho dBB255 tiếp tục đột phá. Sau khi củng cố đội hình, d rút c653 về làm dự bị cho e, c924 và 925 tiếp tục phát triển chiếm được lô cốt 1 và 4 thì bị địch ngăn chặn không phát triển được.

04.30 18/9, eBB174 điều c671/dBB251 phối hợp với dBB255 tiếp tục tiến công Đồn to. Đồng thời MT lệnh cho eBB209 nhanh chóng đột phá vào nam Đồn to, phối hợp với eBb174. Sau khi hoả lực chế áp ngắn, BB các hướng đồng loạt xung phong. Ta hoàn toàn làm chủ Đồn to.

Ở Nà Cúm, đến 02.00 18/9, c86/dBB249 tiến công Nà Cúm không đạt kết quả, đến 04.30 thực hành xung phong đợt 2 vẫn bị đánh bật ra. Được hoả lực e chi viện, dBB249 đã tiến công đánh chiếm được Nà Cúm.
Tại Khâu Áng, bị PB của eBB209 bắn mạnh, địch tháo chạy vào rừng nhưng bị dBB18/eBB36 chặn đánh, buộc phải đầu hàng. Trận tiến công cứ điểm Đông Khê kết thúc thắng lợi sau 54 giờ chiến đấu.


2. Kết quả

Địch: bị diệt hơn 100 tên, bị bắt 200 tên, bị bắn rơi 1 máy bay khu trục. Bị ta thu 2 pháo 105mm, 1 pháo 57mm, 1 cối 81mm, 1 trọng liên, 5 đại liên, 3 khẩu PIAT, 13 trung liên, 2 cac bin, 2 súng ngắn, 162 súng trường…

Ta (eBB209): hy sinh 13 đ/c (có 1 cán bộ c, 6 cán bộ b) và 3 dân công, bị thương 223 đ/c (3 cán bộ c, 21 cán bộ b). (Số hy sinh chắc chắn là in sai, nhìn vào số cán bộ hy sinh cũng có thể thấy điều đó)


3. Ý nghĩa

Chiến thắng Đông Khê đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4. Đây là trận chiến đấu công kiên có quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng, tập trung tiêu diệt 1 cứ điểm lớn của địch bố trí phòng ngự trong công sự kiên cố, hoả lực mạnh, quân số đông ở địa hình rừng núi hiểm trở.

Lần đầu tiên ta áp dụng thành công chiến thuật công kiên có hiệu quả ở cấp trung đoàn. Thắng lợi của trận Đông Khê đã tạo điều kiện quan trọng để chiến dịch Lê Hồng Phong II hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giải phóng một vùng biên giới rộng lớn, mở thông đường liên lạc giữa ta với TQ và các nước XHCN. Đồng thời mở ra một giai đoạn chiến đấu mới: chuyển từ cách đánh du kích sang đánh chính quy.




Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 15 Tháng Tám, 2008, 03:41:55 am
@ bác rồng: chỉ có 3000 viên 105mm thôi à?


Uh. Tài liệu chính xác đấy. Thu tại Lạng Sơn


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Tám, 2008, 01:33:10 pm
@ bác rồng: chỉ có 3000 viên 105mm thôi à?


Uh. Tài liệu chính xác đấy. Thu tại Lạng Sơn

Nếu em không nhầm thì bác panzerlehr/banzua đã từng trích số liệu này bên TTVNOL. Tạm thời chưa tìm được nguồn chính nên dùng tạm ở wiki:

# 13 Pháo
# 120 Cối
# 450 Xe ô tô
# 3 Xe bọc thép
# 240 Súng máy hạng nặng
# 1200 Trung liên
# 1200 Tiểu liên
# 8500 Súng trường
# 12500 viên đạn đại bác 105mm
# 6500 viên đạn đại bác 75mm
# 17000 viên đạn đại bác 3inch7 (94mm)
# 7000 viên đạn đại bác không giật
# 5 triệu viên đạn súng bộ binh.
# 600 tấn xăng

Link này http://www.net4war.com/e-revue/dossiers/indochine/RC4/rc4-05.htm (http://www.net4war.com/e-revue/dossiers/indochine/RC4/rc4-05.htm) thì lại không có đạn pháo: 13 pháo, 120 cối, 450 xe, 940 đại liên, 1200 trung liên, 8500 súng trường.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 15 Tháng Tám, 2008, 01:50:27 pm

Nếu em không nhầm thì bác panzerlehr/banzua đã từng trích số liệu này bên TTVNOL. Tạm thời chưa tìm được nguồn chính nên dùng tạm ở wiki:

# 13 Pháo
# 120 Cối
# 450 Xe ô tô
# 3 Xe bọc thép
# 240 Súng máy hạng nặng
# 1200 Trung liên
# 1200 Tiểu liên
# 8500 Súng trường
# 12500 viên đạn đại bác 105mm
# 6500 viên đạn đại bác 75mm
# 17000 viên đạn đại bác 3inch7 (94mm)
# 7000 viên đạn đại bác không giật
# 5 triệu viên đạn súng bộ binh.
# 600 tấn xăng

Link này http://www.net4war.com/e-revue/dossiers/indochine/RC4/rc4-05.htm (http://www.net4war.com/e-revue/dossiers/indochine/RC4/rc4-05.htm) thì lại không có đạn pháo: 13 pháo, 120 cối, 450 xe, 940 đại liên, 1200 trung liên, 8500 súng trường.

Không lẽ pót cả pic lên  ;D
Trade mark Rongxanh còn chưa đủ?  ;)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Tám, 2008, 11:45:45 pm
Không lẽ pót cả pic lên  ;D
Trade mark Rongxanh còn chưa đủ?  ;)

Hehe, sợ rồi ;D

Còn số liệu nào nữa không bác, phọt nốt đi ;) ;D


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 16 Tháng Tám, 2008, 08:47:18 am
He he, nói tiếp cho chú shiang sợ tiếp  ;D
Hôm qua tình cờ xem tổng kết chiến dịch Biên giới 1950 (xuất bản 1979), có nói thu được tận 7 pháo 105ly lận, ko nói rõ về số lượng đạn.  ;D

Số liệu mình viện dẫn 3000 viên 105 ly lấy theo báo cáo thu chiến lợi phẩm của hậu cần chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Tám, 2008, 09:11:12 am
Hehe đúng rồi, đợt đấy ta thu được nhiều pháo 105 lắm, nhưng pháo Mẽo (dùng ở ĐBP sau này) thì chỉ có 2 khẩu thôi.

Ông này ki bo nhỉ, xin thế rồi mà không chịu phọt thêm ;D


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: altus trong 17 Tháng Tám, 2008, 10:04:03 pm
Thế thì có khả năng 9,500 viên 105 đã được bộ đội cưa ra lấy thuốc trước khi về đến tay hậu cần chiến dịch rồi.  ;)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 18 Tháng Tám, 2008, 08:15:12 am
Nè thì phọt thêm nhé  ;D
==========
Nguồn: Báo cáo thu chiến lợi phẩm tháng 11/1950 (Tối mật  ;D)

Đội  thu chiến lợi phẩm đã thành lập được ở Đông Khê, Cao Bằng, Thất Khê và ở Lạng Sơn. Về kết quả thì hiện nay chưa thống kê được hết, vì có một phần tản mát trong dân chúng, một phần bộ đội trang bị ngay, một phần bị phá hoại mất.  Nếu lấy mấy con số chính do các đội chiến lợi phẩm thu được, thì kết quả như sau:

1. Vũ khí đạn dược
Súng:
Đại bác 105 ly: 4 khẩu
Đại bác 120 ly: 2 khẩu
Đại bác 57 ly: 3 khẩu
Đạn:
   Súng trung liên: 400.000 viên
      Đại liên: 30.000 viên
      Súng trường: 65.000 viên
      Tiểu liên: 25.000 viên
      Súng cối: 3.500 quả
      Đại bác: 700 quả
Còn một số súng đạn khác đã bổ sung cho các đơn vị ngay ở mặt trận, chưa có thống kê rõ.
Riêng ở Lạng Sơn, số chiến lợi phẩm súng đạn thu được ước độ từ 400 đến 500 tấn, gồm có các loại đạn 105 ly, 75 ly, 12,7 ly, các đạn súng cối, đạn súng Bren.

Cụ thể:
Đạn đại bác 105 ly: 3000 quả : 90 tấn
Đạn đại bác 155 ly: 1000 quả : 45 tấn
Đạn các cỡ 37, 94, 57, 75: 580 hòm : 24,2 tấn
Đạn cối 120 ly: 1472 quả : 17,5 tấn
Đạn cối 81 : 14 tấn
Đạn cối 60: 150 hòm
Đạn đại liên: 37 tấn
Đạn Bren: 130 hòm : 7,8 tấn
Đạn Mass: 200 hòm : 14 tấn
Đạn Đ.A.M: 200 hòm : 14 tấn
Bom từ 10 đến 30 kg: 600 quả : 6 tấn
Đạn Piat (bắn xe tăng): 300 hòm : 6 tấn.
Chú thích: Nhiều thứ đạn tính hòm vì không biết 1 hòm bao nhiêu viên.

2. Phương tiện vận tải:
Số xe các loại thu được: 60 xe (GMC, Dodge, xe công trình, Hồng thập tự, Jeep) (kể cả số hư hỏng, hiện nay đã sửa chữa được 30 chiếc chạy được.
Dầu xăng trên 500 phuy
Dầu hỏa 180 thùng
Các đồ phụ tùng có đủ để lắp được 1 xưởng khá để sửa chữa ô tô.

3. Phương tiện thông tin
ĐIện thoại mới: 20 máy, ước 100km dây chưa thống kê được  ở Lạng Sơn.
VTĐ (vừa nghe vừa đánh): 30 chiếc

Quân y: Đã chuyển ra ngoài được hơn 8 tấn

Quân trang: Hơn 4000 áo capot … riêng ở Lạng Sơn đủ trang bị cho hơn 2 trung đoàn.
Quân lương: Gạo, Bột mì, Muối, Đường, sữa: 1279 tấn.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 18 Tháng Tám, 2008, 08:17:38 am
Còn con số theo cuốn tổng kết chiến dịch Biên Giới, xuất bản năm 1979 thì khác tương đối.
Cần hỏi Tuannew!


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 19 Tháng Tám, 2008, 11:47:46 am
Tổng số thương binh chiến dịch Biên giới khoảng 1200 người. Con số hy sinh ko thấy


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: ngao5 trong 09 Tháng Chín, 2008, 07:19:29 am
Theo tác giả Tô Vũ trong Cuốn 9 năm khói lửa, dựa theo tư liệu của Pháp thì:

Tổng số thiệt hại Pháp trong gần hai tuần lễ tại đường thuộc địa số 4 (RC4) là 7.000 người lính Pháp, lính lê-dương và lính Bắc phi, 1.000 lính pạc-ti-dăng, 2.000 súng đại liên, trung liên, 8.500 súng cá nhân, 450 xe cam-nhông, 13 trọng pháo, 120 súng moọc-chi-ê, ba tiểu đội thiết giáp.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: rongxanh trong 11 Tháng Mười, 2008, 05:31:59 pm
Theo thống kê đạn sử dụng trong chiến dịch ĐIện Biên Phủ:

Toàn chiến dịch sử dụng 1200 tấn đạn, trong đó đạn lựu pháo là 500 tấn (Hơn 20.000 viên).
Trung quốc viện trợ 3.600 viên
CHiến lợi phẩm thu từ chiến dịch Biên Giới: 11.715 viên
Hơn 400 viên thu được ở Ba Na Phào trong chiến dịch Thượng Lào.
Hơn 5.000 viên thu được do đoạt dù của địch ở Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 27 Tháng Ba, 2009, 04:26:11 pm
Sau khoảng 2 năm bỏ bê cái topic này, em xin tiếp tục ;D

Tình hình lúc này trong sách là ta đã chiếm được Đông Khê, và bọn tây vẫn còn đang chuẩn bị kế hoạch bỏ Cao Bằng.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 27 Tháng Ba, 2009, 04:26:58 pm
Ngày 22 tháng 9, Sài Gòn
Tướng Các-Păng-chiê có gửi cho tướng Alessandri 1 bức điện lệnh: cuộc gặp gỡ giữa 2 người 2 ngày trước đó chắc đã rất căng thẳng vì trong bức điện Các-păng-chiê chỉ tự xưng bằng chức vụ của mình:

“… dành riêng cho tướng Alessandri… khi ở Hà Nội, vị tổng chỉ huy (Các-păng-chiê) đã đặt ra các điều kiện để các đơn vị đồn trú ở Cao Bằng rút lui… ông ta đã nói rõ là các đơn vị tại chỗ không được bắt đầu các cuộc phá hủy trước khi rút lui, nhằm tránh sự chú ý của kẻ thù. Nhất là các cây cầu, các kho đạn và các phương tiện vận tải được xử dụng ít nhất trong vòng 6 tiếng đầu sau khi rút lui. Ký tên: Các-Păng-Chiê”


Ngày 25/9, Cao Bằng
Tướng Alesandri hạ cánh xuống Cao Bằng và trò chuyện riêng với trung tá Sác-tông. Trong hồi ký của ông xuất bản sau này, Sác-tông có tường thuật lại buổi gặp gỡ này: “ông ta (Alessandri) nói với tôi 1 cách đầy xúc động rằng lệnh bỏ Cao Bằng đã được quyết định ở cấp trên”. Trong 1 bản thảo ko xuất bản trước đó, ông ta còn thổ lộ rằng Alessandri đã khóc trước mặt ông khi nói điều này.

Alessandri, cựu trung đoàn trưởng trung đoàn lê dương số 5, đã trải qua cả thời trai trẻ của mình ở vùng biên giới này trong những năm 20-30, cho nên những tình cảm của ông ta ở đây là có thật. Khác với tướng Các-Păng-Chiê và đại tá Constant, những người chỉ phục vụ ở Bắc Phi dưới lệnh của tướng Juin, họ không thể nào có được những gắn bó tương tự.

Sác-tông và Alessandri quen biết rất chặt chẽ đường số 4 giữa Đông Khê và Cao Bằng, họ biết phần khó khăn nhất là ở đèo Kìm ở km35 từ Cao Bằng (km 101 từ Lạng Sơn). Trên 20km cuối cùng đến Đông Khê con đường rất là khúc khuỷu giữa những điểm cao rậm rạp cây cối.

Sau khi chiếm được con đường vào năm 1947, những bốt án ngữ trên đoạn đường này đã phải được sơ tán vào tháng 8 năm 49 vì quá nguy hiểm. Ngay hiện nay (năm 2001) vùng này vấn còn rất thưa thớt dân cư.

Vì thế Alessandri ban đầu định cho đoàn cứu viện sẽ tới km 28 từ Cao Bằng để đón Sác-tông. Nhưng Sác-tông yêu cầu được tiếp đón từ km 22 gần 1 ngôi làng có tên là Nam Nang, yêu cầu này được Alessandri chấp thuận. Alessandri cho biết thêm là người chỉ huy chiến dịch sẽ là đại tá Constant, ông này sẽ thông báo ngày giờ chính xác bỏ Cao Bằng, và ngày giờ đó sẽ tùy thuộc vào tình hình của binh đoàn Le Page.

Sác-tông lúc này cũng biết qua tin tức của phòng nhì, thu lượm được từ những nhà buôn người Hoa ở Cao Bằng rằng lực lượng chủ công của Việt Minh đã rời Thái Nguyên và có mặt trên trục đường số 4.

Căn cứ ở thị xã Cao Bằng luôn luôn bị theo dõi bởi các nhóm vũ trang Việt Minh mà phòng nhì suy đoán là các đơn vị bộ đội địa phương đóng ở Ha Tri cách đó 8km về hướng đông-đông-nam. Họ dung loa gọi thẳng những tên tuổi các sỹ quan Pháp ở đây, chẳng hạn như: “thiếu úy Mo-ranh, trung sỹ Ma-ri (các chỉ huy phòng nhì) chúng tao sẽ cắt c.. chúng mày”…
Những tin tức về đội hình trong Cao Bằng đã bị họ moi ra từ những tù binh hay hang binh . Ít nhất 1 người lính lê dương tên là Domeri, gốc Hung đã được phòng nhì xem là đã đào ngũ và hàng địch.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 27 Tháng Ba, 2009, 04:29:19 pm
Ngày 25/9, Thất Khê
Những cuộc di chuyển của pháo VM đã được khám phá ra cách thị trấn khoảng 10km về phía đông bắc trong vùng Na Kéo, Na Mộc-Na Ngaun. Một cuộc càn quét được phát triển ra phía đó nhưng không thu được kết quả khả quan.


Ngày 27/9, Thất Khê
Quân đồn trú lại khám phá ra dấu vết 1 đơn vị VM gần đó (có thể là trung đoàn 174), tiểu đoàn dù lê dương được tung ra nhưng cũng không thu được gì rõ rệt.

Ngày 29/9, Binh đoàn Le Page

Trung tá Le Page nhận được lệnh sau đây: “mã số 879/3S… Lệnh chuẩn bị… từ ngày 30/9 vào 0 giờ, các hoạt động của nhóm Bayard (mật khẩu của binh đoàn Le Page) sẽ nằm trong sự chỉ huy điều động của tư lệnh chiến dịch vùng biên giới đông bắc, ký tên Constant”
Như vậy đến giờ phút này Le Page cũng vẫn chưa biết nhiệm vụ rõ rệt của binh đoàn minh chỉ huy là gì.

Cuối tháng 9, Cao Bằng

Từng đoàn máy bay chở đến Cao Bằng toàn bộ tiểu đoàn 3 Ta-Bo rút khỏi binh đoàn Le Page sau trận phục kích ở Tha Lai. Trên đài phát thanh Pa-ri, người ta vẫn nói rằng Cao Bằng sẽ được tử thủ.

Hà Nội:

Sau ngày 20/9, Alessandri đã viết ra 1 bản phác thảo kế hoạch triệt thoái khỏi Cao Bằng (hiện nay vẫn nằm ở kho văn khố quân đội Pháp SHAT): “Ngày 27, Bỏ Cao Bằng… cuộc gặp gỡ sẽ xẩy ra ở địa điểm “hầm” cách Đông Khê khoảng 8km, nhưng tình hình sẽ khả quan hơn nếu Le Page đến được km 20 từ Cao Bằng  (km 26 từ Đông Khê). Ông ta còn viết ngoằn ngoèo them: “về vấn đề phá huỷ, xem với tướng tổng chỉ huy”.

Bản phác thảo kế hoạch này hoàn toàn khác về ngày tháng cũng như là về địa điểm so với các mệnh lệnh của sở chỉ huy chiến dịch cho 2 binh đoàn. Alessandri có vẻ như đã bị ra rìa trong chiến dịch này và Hà Nội chỉ còn là nơi chuyển tiếp của mệnh lệnh từ Carpentier ở Sài Gòn lên Constant ở Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 28 Tháng Ba, 2009, 01:02:02 pm
Ngày 29/9, Cao Bằng
Ngày này Sác-tong nhận được 1 chuỗi điện tin từ Lạng Sơn chỉ rõ các điều kiện của cuộc triệt thoái:
“Bí mật, chỉ cho trung tá Sác-tông, 955/3S. Tên chiến dịch : Therese. Nó không bắt đầu trước ngày 2/10. Tôi sẽ cho ngày tháng bắt đầu sau. Chú ý, đây là vấn đề tuyệt mật, bằng mọi cách phải giữ nó bí mật cho dù phải hi sinh một số nhu cầu. ký Constant”

Điện thứ 2:
“965/3S Thứ nhất: chiến dịch Therese se huy động tất cả quân lực ở miền bắc trong thời gian chính, vì thế nó sẽ không thể kéo dài được.
Thứ 2: chiến dịch sẽ bắt đầu ngày mồng 2, và nó sẽ không thay đổi do lực lượng Việt Minh và Trung Cộng đang siết lại xung quanh Cao Bằng.
Thứ 3: không được chuẩn bị bất cứ việc gì trước đó làm lộ bí mật cho dù phải mất một số quân nhu vật dụng. Vào giờ phút cuối cùng, những ta sẽ xử dụng những cách phá hủy nhanh như ném xuống sông, tháo và giấu các chi tiết chính. 2 máy phát radio VHF phải được phá huỷ các viên đá quartz phải được gỡ bỏ. Yêu cầu nhắn tin lại sau khi nhận được lệnh này. Ký: Constant”.

Điện thứ 3:
“972/3S chỉ trung tá Sác-tong mới được quyền đọc… đây là những mệnh lệnh đã gửi cho nhóm Bayard: lệnh bắt đầu hành quân có hiệu nghiệm vào 0 giờ ngày 3/10. Thời gian này có thể  chỉnh lại sớm hơn… Nhiệm vụ của nhóm Bayard: giúp đỡ và bảo vệ nhóm Sác-tông. Chương trình hành quân: 1-di chuyển từ Đông Khê tới Nam Nang ở km 114 (km 22 từ Cao Bằng). 2- dưới quyền chỉ huy của trung tá Le Page, 2 binh đoàn sẽ cùng về Đông Khê. Sự thanh công của chiến dịch Therese giựa vào khả năng giữ bí mật của mọi người và sự phát triển nhanh gọn của nó. Yêu cầu mọi người cố gắng  và không được do dự. Ký: Constant”.

Điện thứ 4:
“980/3S Vào 0 giờ ngày thứ 3 mùng 3/10, anh phải rời Cao Bằng, gửi cho tôi lịch trình rút lui của các đơn vị dưới quyền anh. Ký tên: Constant”

Như vậy, Sác-tông đã được cho biết một cách chính thức rằng ông phải bỏ Cao Bằng, cuộc rút lui của ông phải trùng với các hoạt động của binh đoàn Le Page, nhưng ông ta không thể biết chính xác được binh đoàn Le Page đang ở đâu. Ngày rút lui cũng đã được chỉ định là ngày mùng 3, trong trường hợp này, Sác-tông chỉ có thể tuân lệnh và không thể tự ý tự quyết định được. Trong trường hợp ông ta tự ý rời Cao Bằng sớm hơn, binh đoàn của ông ta sẽ phải một mình chịu trận với hơn 10 tiểu đoàn Việt Minh mà không có sự hỗ trợ của Le Page.

Sác-tông hiểu rõ vấn đề này cho nên ông ta cũng muốn binh đoàn Le Page đến đón ông ta càng sớm càng tốt. Điều đáng ngạc nhiên ở đây là khi sác-tông đã  nhận rõ các thong tin thì Le Page vẫn chỉ mới nhận được 1 bức điện chuẩn bỉ, và cũng chưa biết là chuẩn bị cái gì. Chỉ 2 ngày sau, ngày 1/10, ngày thanh Therese theo lich thiên chúa, ông ta mới biết được tên của chiến dịch này.

Thiếu tá Delcros, trong bản báo cáo tổng kết chiến dịch cũng lên án việc giữ bí mật quá đáng và cũng xem nó là 1 trong những giải thích chính cho sự chiến thắng của Việt Minh. Hệ thống tình báo Việt Minh, từ những người giúp việc cho đến những thư ký phụ cận gần Các-păng-chiê và Constant đã cho tướng Giáp biết rõ tình hình của đối phương gần như qua truyền hình trực tiếp. Những trò giữ bí mật đòi hỏi bởi Các-păng-chiê và Constant cuối cùng chẳng khác gì những viên đạn mà họ tự bắn vào chân của họ trong quá trình tiến triển của chiến dịch.


Ngày 30/9, Cao Bằng:
Viên tham mưu trưởng của Constant hạ cánh xuống Cao Bằng để bàn bạc những chi tiết cuối cùng và công nhận những mệnh lệnh của Constant. Binh đoàn Sác-tông sẽ gặp Le Page ở km22. Nhưng theo Sác-tông, viên tham mưu trưởng đã không nêu ra những khó khăn của binh đoàn Le Page. Ông ta đã không nêu ra kế hoạch B trong trường hợp Le Page không lấy lại được Đông Khê. Một chi tiết chí tử cho binh đoàn Sác-tông.

Ngày 30/9, Thất Khê
Trung tá Le Page nhận được bức điện lệnh của Constant:
“880/3S Chiến dịch Tiznit (chứ chưa phải là Therese): nhóm Bayard sẽ tấn công và chiếm lại Đông Khê, một vài cứ điểm sẽ được lập ra dọc đường từ Thất Khê lên Đông Khê nhằm hỗ trợ cuộc rút sau này của binh đoàn. Mục tiêu chính của chiến dịch là Đông Khê chứ không phải là mở đường số 4 giữa Thất Khê và Đông Khê. Các cứ điểm thanh lập chỉ nhằm giữ an toàn cho  Thất Khê trong tình huống địch tập trung quân để tấn công cứ điểm này. Số đơn vị tấn công Đông Khê phải ít nhất là 2 tiểu đoàn với sự yểm trợ của các khẩu 3pound7 sẽ được thả dù và các khẩu pháo ở Thất Khê. Lương thực mang theo: 5 ngày, đạn dược: 1 đơn vị hoả lực cho toàn binh đoàn, nếu cần thiết đồ tiếp tế sẽ được thả bằng dù. Đông Khê phải được an toàn hoá trước ngày mùng 2 để có thể nhận nhiệm vụ mới vào 12 giờ ngày 2/10”.

Một bản mệnh lệnh đầy sự không rõ ràng. Đường số 4 từ Thất Khê lên Đong Khê đầy nguy hiểm, và các nơi rất lợi cho phục kích. Nếu Le Page làm tốt công việc thanh lập các cứ điểm dọc đường, ông ta đã thưc hiện một cuộc mở đường.
Với 4 tiểu đoàn, Le Page phải làm ở đây 1 công việc khổng lồ vì sự khinh địch của cấp trên vẫn ảo tưởng trong cái nhìn “1 tiểu đoàn Pháp có thể đánh tan hang ngàn bọn Việt”.
Trong ý tưởng của đại tá Constant, việc nắm giữ được Đông Khê và san bay của nó sẽ giúp đỡ cho việc tiếp viện tải thương cho binh đoàn Le Page mà không cần mở đường số 4. Nhưng ông ta cũng có vẻ không nghĩ tới việc sân bay nằm trong tầm bắn Việt Minh.
Một điểm nữa, các khẩu 105 không thể nào qua hơn được cầu Bascou, cách Thát Khê 5km và Đông Khê 15km do cầu đã bij VM phá huỷ. Như vậy Le Page sẽ tấn công Đông Khê không có sự yểm trợ của pháo 105.
Bức điện trả lời của Le Page có nêu lên vấn đề pháo và tình hình VM, nhưng câu trả lời của Constant chỉ nhắc lại tính gấp rút của chiến dịch. Le Page lại định xin them 24 giờ để có thời tiết tốt cho không quân yểm trợ, Constant vẫn từ chối.

Vào buổi tối ngày 30, các đơn vị của binh đoàn le Page được tung ra để nắm các điểm cao trên con đường nối Thất khê với Đông Khê.




Ngày 1/10, binh đoàn Le Page, buổi sáng
Binh đoàn bắt đầu hành quân 2 bên lề đường số 4 về phía Lũng Phai. Không một cuộc đụng độ nào xẩy ra. Vài ngày sau các tù binh Pháp sẽ biết được rằng họ đã bị theo dõi chặt chẽ, phía Việt Minh chơi chắc ăn, họ đợi phía Pháp phơi bày ý định  trước đã. Họ càng tiến lên phía trước, họ càng cách xa nguồn tiếp viện và yểm trợ. Cao nguyen Na Pa đang trở thanh 1 cái bẫy khổng lồ.
Các đơn vị được bố trí như sau từ phía nam đến phía bắc:
-Điểm cao 703 cách Lũng Phai 400m về phía tây nam: 1 đại đội của tiểu đoàn 11 Ta-bo.
-Lũng Phai: 1 đại đội nữa cũng của 11 Ta-bo.
-Điểm cao Na Ngân-Na moc:  1 đại đội của tiểu đoàn giã chiến trung đoàn 8 bộ binh Ma rốc.
-Làng Na Kéo: phần còn lại của tiểu đoàn 11 Ta-bo, đại đội 5 vài đại đội chỉ huy cùng với Delcros viên tiểu đoàn trưởng, tổng cộng 500 lính.

Phần còn lại của binh đoàn, bao gồm tiểu đoàn 1 Ta-bo, phần còn lại của tiểu đoàn giã chiến trung đoàn 8 bộ binh Ma-rốc và tiểu đoàn dù lê dương số 1 tiếp tục hành quân về phía Đông Khê.
Giai đoạn đầu của chiến dịch “Tiznit” kết thúc, Le Page đã thi hành theo đúng mệnh lệnh nhận được, chiếm giữ những vị trí quan trọng dọc đường số 4.

Ngày 1/10, Sài Gòn
Đô đốc Ortolli, chỉ huy hải quân ở Đông Dương, viết thư yêu cầu Alessandri can thiệp với viên thanh tra tối cao Pignon nhằm ngưng lại tất cả. ông ta cho rằng “kế hoạch Carpentier không thể chấp nhận được”.
Tướng Alessandri đã viết ngay cho Pignon: “Chúng ta có nên bỏ lỡ cơ hội tận dụng việc phe CS vẫn còn đang bị choáng váng sau nhũng thất bại ở Triều Tiên, để đánh những đòn mạnh nhằm cho phía VM thấy sự vô ích của những cố gắng của họ không?”

Ngày 1/10, Cao Bằng

Sác-tông đã cố tình không hpát lương tháng 9 cho lính của ông ta để tránh các vụ nhậu nhẹt quá sức làm hại đến chiếndịch rút lui. Ông ta có chặng đường 46km phải thực hiện đến Đông Khê và 24km nữa đến Thất Khê.
Có vẻ việc này đã làm cho tin tức lộ ra ngoài, các nhà buôn Người bán thấu bán thoát hàng hoá của họ. Rượu Whisky và Săm banh được bán rẻ như bèo.
Tất nhiên phía VM cũng được chuyển tin, những hành động chuẩn bị phá huỷ cũng bị theo dõi. Số lượng gạo trong kho đã bị tẩm xăng sẽ là nguồn lương thực chính cho tù binh Pháp những ngày sau đó. Có khoảng 150 tấn đạn dược còn lại ở Cao Bằng cần được phá hủy.

Ngày 1/10, buổi chiều, binh đoàn Le Page

Tiểu đoàn dù lê dương ở vị trí tiên phong, tiến về phía Đông Khê, trung đội sỹ quan thực tập sinh đi đầu do trung úy Faulques chỉ huy. Tiểu đàn 1 Ta-bo phát triển tới núi đá vôi phía tây nam pháo đài Đông Khê, rất thuận lợi cho việc quan sát.
Tiểu đoàn dù lê dương bị dính lại trước 1 vị trí sung máy VM đặt trên 1 gò đất thuộc vị trí bốt phía nam cũ của Đông Khê. Lúc này là 17 giờ. Tiểu đoàn trưởng Segretain quyết định dừng lại ở đây và yêu cầu Le Page đến thị sát tại chỗ. Sau khi quan sát và bàn bạc với Segretain, Le Page đồng ý đóng quân lại ở đây. Theo ông ta việc này hoàn toàn lô-gích, thời tiết quá xấu để không quân có thể yểm trợ, hơn nữa những khẩu pháo mà Constant hứa vẫn chưa đến nơi.
Các sỹ quan dù lê dương sống sót và đại úy Feaugas chỉ huy tiểu đoàn 1 Ta-bo sẽ trách quyết định thiếu kiên quyết này của Le Page. Họ cảm thấy phía trước vẫn còn ít địch, 1 cuộc tấn công thần tốc của binh đoàn chắc có lẽ đủ để lấy lại Đông Khê.
Thực ra, tướng Giáp đã rút kinh nghiệm sau thất bại lần thứ nhất hồi tháng 5, đã đồn trú  nhiều tiểu đoàn xung quanh pháo đài để tránh làm mục tiêu không kích, nhưng vẫn sẵn sàng tham chiến nếu Đông Khê bị uy hiếp. Vì thế việc “ít địch đằng trước” chỉ là ảo giác.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 28 Tháng Ba, 2009, 01:14:02 pm
Đêm 1-2 tháng 10, trên đường số 4 giữa Thất Khê và Lạng Sơn
Trung đoàn 174 đã đến nơi tụ tập, sẵn sàng tấn công các đồn bốt phía nam Thất Khê và cắt lien lạc giữa 2 thị trấn này. Đêm đó, bốt Tha Lai đã được “thăm dò”.

Ngày 2/10, Cao Bằng
Sác-tông chuẩn bị những phương án cuối cùng cho cuộc rút lui, ông ta thả 300 tù nhân trong đó đa số là điệp viên của VM.
Trong cuộc hối hả kho vũ khí đã bị lãng quên, do đã có lệnh viết rõ ràng phía Constant về việc phá huỷ các kho vũ khí, lính Pháp ở Cao Bằng đã không làm gì. Trong 1 cuộc phỏng vấn với đài truyền hình Pháp vào năm 1984, Sác-tông có nói là ông ta không còn nhớ đã ra lệnh phá hủy kho vũ khí đó hay không. Cũng không rõ Sác-tông đã nhận được lời yêu cầu của Các-păng-chiê cho Constant về việc đặt hệ thống nổ chậm ít nhất là 6 giờ chưa.
Về phần xe cộ, Sác-tông cũng đã không phá hủy, ông ta sau này đã biện luận cho việc này rằng trên 20km từ Cao Bằng về phía Lạng Sơn, đường số 4 còn tốt để còn có thể dùng chúng được.

Tất nhiên mọi việc phải làm gấp, nhưng với điều kiện binh đoàn Le Page phải có mặt ở km22. Sác-tông cũng biết rằng ông ta không đủ lực lượng để đi một mình 24 km còn lại đến Đông Khê, tướng Alessandri và Constant cũng đồng tình với ông ta. Lúc bấy giờ, Sác-tông không hề biết gì về tình hình ở phía nam Đông Khê, cũng như nhận những thông tin cụ thể từ phía Constant cho nên ông ta cũng không quá vội vàng.

Trong buổi tối, Sác-tông nhận được điện khẩn cấp của Constant:
“981/3 tình hình chiều mùng 2… Le Page vẫn bị chặn trươc Đông Khê… tôi đã cho lệnh đi vòng qua Đông Khê tiến lên phía bắc để gặp ông… cuộc hánh quân chắc sẽ được thực hiện trong đêm nay vào những giờ đầu của ngày mùng 3… ông phải rời bỏ  Cao Bằng trước khi mặt trời mọc… bắt đầu từ bây giờ, tất cả các điện của ông phải có mã số mật cộng với tên của khoá trường võ bị Xanh-Xia của ông”.
“983/3 chiến dịch Therese bắt đầu vào 6 giờ, một bộ phận của binh đòan Le Page đã vượt qua từ phía tây, ở Quảng Liệt. ông phải đi càng xa càng tốt, gửi cho tôi một bản báo cáo sau mỗi 3 tiếng”.
Câu “đi càng xa càng tốt” rất là mù mờ này đáng phải được cặn kẽ thêm, đối với Sác-tông, nhiêm vụ không có gì thay đổi, ông ta tiến về phía trước và đợi Le Page tới gặp sau khi vượt qua thung lũng Quảng Liệt. Không ai ở đây thấy được sự khó khăn của Le Page phải vượt 20km trong vùng đồi núi và trong vòng 1 ngày. Thung lũng quảng Liệt với các mũi đá vôi thẳng đứng che phủ bởi cây cối cấm tất cả các cuộc hành quân ban đêm, chưa kể các ổ phục kích của VM. Từ ngày 27/5, phòng nhì đã biết nơi đây la 1 căn cứ hậu cần của VM cho chiến dịch đường số 4.
Sự mù mờ về địa điểm gặp nhau của 2 binh đoàn lúc này đã đưa đến những sự ngộ nhận chết người. Nếu 1 vị trí rõ rang được nêu ra, có lẽ tình huống xẩy ra sẽ khác.


Ngày 2/10, binh đoàn le Page
Buổi sang, một cuộc tấn công mới về phía Đông Khê được tổ chức, nhưng tình hình đã thay đổi, hoả lực VM dày đặc. tiểu đoàn dù lê dương lại bị chặn đứng lại khi vượt qua pháo đài phía đông nam.
Vào buổi trưa, điện lệnh của Constans: “chiến dịch Therese và mệnh lệnh số 3 phải được thực hiện…” Đây là lần đầu tiên Le Page nghe đến tên Therese một cách chính thức và thực chất ông ta vẫn chưa biết chi tiết của nó là gì! “nếu không lấy được Đông Khê, bỏ lại đây 1 màn lính mỏng, vượt qua nó và tiến về phía Nâm Nam ở km22”.
13 giờ chiều, tiểu đoàn 1 Ta-Bo chiếm được đồn phòng thủ phía tây pháo đài.
-14giờ30: một chiếc máy bay Morane thả xuống cho Le Page, bản viết tay chính thức mà Constans đã báo cho Sác-tông cách đó 3 ngày:
“1- Theo quyết định của chính phủ Pháp, đồn Cao Bằng sẽ được di tản.
2- Lệnh rút lui đã được trao cho trung tá Sác-tông ngày mùng 2/10, nó được thi hành vào 0 giờ ngày 3/10, các đơn vị sẽ tịêt thoái theo trục Cao Bằng-Đông Khê-Thất Khê
3- Trung tá Le Page được lệnh giúp đỡ cuộc triệt thoái này, trong thời gian đầu đoàn Bayard sẽ tiến đến chiếm lĩnh vị trí Nậm Nam ở km114 trên bản đồ 1/100 000. ông phải có mặt ở đây vào ngày 3/10 để đón binh đoàn Sác-tông… Trong thời gian sau đó, trung tá Le Page sẽ chỉ huy 2 binh đoàn cùng rút về Thất Khê qua Đông Khê.
4- Sự thành công của chiến dịch tùy thuộc vào yếu tố bí mật và bất ngờ, vì thế nó phải được thi hành một cách nhanh chóng…
Ký tên Lambert (tham mưu trưởng của Constans), lập ngày 29/9/1951”
Vì muốn giữ bí mật cho nên bộ tham mưu của Constans đã gửi cho Le Page chi tiết của cuộc hành quân của ông sau khi chiến dịch đã bắt đầu!
Một vài điểm khó giải thích ở đây: Nếu Le Page và binh đoàn của ông ta không lấy được Đông Khê ở lượt đi thì làm sao ông ta có thể lấy nó ở lượt về? tình huống này rõ ràng là đã không được các sỹ quan phòng 3 tác chiến của Contans phỏng đoán!

Trong chiến dịch Lea, năm 1947, một chiếc Junker 88 đã liên tục bay 24/24 trên Bắc Cạn với 1 bộ phận của ban tham mưu chiến dịch để nắm tình hình. 3 năm sau đó, không 1 bộ phận nào của phòng tham mưu ở Lạng Sơn đã thị sát chiến trường trong nhưng giờ phút quan trọng! Một sự thiếu trách nhiệm do tinh thần khinh địch và cầu an đã dần dần ăn mòn hết các viên chi huy ở đây. Đó cũng là những gì tài liệu của quân đội Pháp ở Đông Dương năm 1950-1951 cho thấy rất rõ. Những tác phong trên chỉ có thể dẫn đến tai nạn và điều đó đã xẩy ra...


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 29 Tháng Ba, 2009, 06:20:13 pm
Trận đánh bắt đầu

Ngày 2/10, buổi chiều, binh đoàn Le Page:

-   15giờ 40: 1 trung đội pháo do thượng sỹ Dubus chỉ huy được thả dù xuống Na Pa cùng với 2 khẩu 3pdr7 và 200 viên đạn.
-   17 giờ: đại đội 1 trungđoàn 8 bộ binh Ma-rốc trên đỉnh Na Moc-Na Ngaun bị đánh bật ra khỏi vị trí bởi tiểu đoàn 322 của trung đoàn 88, kết quả là 5 bị thương và “hang chục người mất tích” theo báo cáo lúc 9giờ 20 ngày mùng 4. Đại úy Feuillet, đại đội trưởng bị thương nặng.(Chắc đây là trận Trọc Ngà mà bác Chiangshan kể ở trang 1)
-   18 giờ: tiểu đoàn Ta-bo 1 bắt đầu bị nã cối và các trận đánh bộ binh đã xẩy ra quyết liệt vào 22 giờ.
-   Ở Na Kéo, tiểu đoàn Ta-bo 11 của thiếu tá Delcros cũng bị pháo kích ác liệt.
Trận đánh đã thật sự bắt đầu.

Đêm 2-3/10, Cao Bằng

Sau kết thúc các chuẩn bị cuối cùng, những đơn vị đầu tiên của binh đoàn Sác-tông bắt đầu rời thi xã vào 3 giờ sáng, đúng như mệnh lệnh của cấp trên. Thi xã hoàn toàn vắng khi mặt trời mọc.
Lúc này, Sác-tông vẫn đinh ninh là Le Page đã đi vòng qua Đông Khê qua đường mòn Quảng Liệt để đến gặp ông ta ở km22.
Từ ngày 29, Constans đã không có động tĩnh gì để thay đổi chương trình phía Sác-tông mặc dù phía Le Page nó đã hoàn toàn bị đảo lộn. Có lẽ đối với Constans, trên bản đồ 1/100 000 ở bộ tham mưu Lạng Sơn, đường mòn Quảng Liệt không khác gì mấy đường số 4 để làm cho ông ta lo ngại và điều chỉnh lại chương trình phía này.


Đêm 2-3 tháng 10, binh đoàn Le Page.
3 giờ sáng, sau khi trao đổi qua điện đàm với Constans, Le Page quyết định rời sở chỉ huy binh đoàn về điểm cao 760/765 cách Na Pa 4km tây-tây bắc để chuẩn bị đi vòng qua Đông Khê. Như đã được nhận lệnh, ông ta để lại trước Đông Khê 1 màn bộ binh bao gồm 2 đại đội của tiểu 11 Ta-bo và tiểu đoàn dù lê dương.
4 giờ sáng, tiểu đoàn 1 Ta-bo lại tiếp tục tấn công lên dãy núi vôi phía tây-tây nam Đông Khê. Trong 2 ngày vừa rồi, số tổn thất của đơn vị là 7 chết và 17 bị thương chủ yếu là ở đại đội 29.

Ở Na kéo, tiểu đoàn 11 Ta-bo đã chịu pháo kích cả đêm với cả pháo 75 ly, theo lời kể của thiếu tá Delcros nhưng không có thiệt hại nào. Khi đơn vị chiếm lĩnh vị trí 2 ngày trước đó, họ đã tìm được rất nhiều chiến hào đã được đào trước đó của tiểu đoàn 8 Ta-bo hồi tháng 5 và của tiểu đoàn VM đóng ở đay trong cuộc tấn công Đông Khê lần thứ 2.
Vào 6 giờ 30, 2 đại đội của Ta-bo 11 chịu nhiều đợt tấn công và cận chiến dữ dội do 2 tiểu đoàn VM, tiểu đoàn 80 và 84 trung đoàn 36 theo tài liệu phía Việt Nam.
Pháo 3pdr7 từ vị trí của nó nằm ở phía bên kia dốc núi không thể chi viện được. Đến sáng, không quân đến tiếp viện nhưng lại bắn nhầm vào vị trí lính Bắc Phi do nhầm màu xanh quân phục của họ với màu quân phục Việt Minh. Kết quả của đêm đó: tiểu đoàn 11 có 17 người chết và 35 bị thương.

Tiểu đoàn dù lê dương hầu như không có chạm trán trong đêm đó.


Ngày 3/10, binh đoàn le Page.
Sở chỉ huy mới của binh đoàn được thanh lập ở điểm cao 760/765 vào giữa trưa. Trung đoàn 8 bộ binh Ma rốc cũng rút về đóng ở đây. Tiểu đoàn 1, nhận được lệnh của Le Page, đang chiến đấu rút khỏi dãy đá vôi phía tây Đông Khê. Nó tới 760 trước ban đêm với toàn bộ thương binh của tiểu đoàn.
Vào 8 giờ sáng, tiểu đoàn 11 ở Na Kéo đang gặp kho khăn, phải nhờ tiểu đoàn 1 dù lê dương cứu đỡ. Vào 11 giờ, trận đánh ở đây lắng xuống.
13 giờ: thong tin của Constans cho le Page “binh đoàn Charton vào 11giờ20 ở km124 (km 12 từ Cao Bằng), tôi đã ra lệnh cho ông ta rời đường số 4 từ Nậm Nang để đi về phía Quảng Liệt. Vì thế, tất cả các đơn vị của ông phải tập trung vào hỗ trợ việc này…” Như vậy, Constans và Sác-tông vẫn còn hiểu lầm ý nhau vào giờ phút này.

Vào 16 giờ, trận đánh ở Na Kéo bắt đầu lại. Le Page ở điểm cao 765 cách đó 4km, theo dõi tình hình với rất nhiều lo âu. Vào cuối buổi chiều, Delcros cho biết rằng tiểu đoàn ông ta sắp bị tran ngập, quân VM đã chiếm được các đỉnh cao xung quanh Na Kéo. Ông ta muốn đưa thương binh về Lung Phai để các đơn vị đồn trú ở đây đưa họ về Thất Khê.
Vào 20 giờ, điện của Constans: “Các đơn vị ở Na Kéo không được rút lui quá Lung Phai, tôi đã mất liên lạc với binh đoàn Sác-tông mà tôi đã ra lệnh rời Nậm Nang để đi về Quảng Liệt. Các ông phải bằng mọi cách bắt lien lạc với họ! Sác-tông phải có mặt ở Lung Phai ngày mồng 4”

Ngày 3/10, Cao Bằng
Buổi sáng, Sác-tông đã thu xếp xong và rời thị xã. Trung úy công binh Clerget đã tự động cho nổ kho vũ khí chứa khoảng 150 tấn thuốc nổ ở giữa pháo đài. Hôm nay (2001), nơi kho vũ khí cũ vẫn là 1 hố bom đường kính khoảng 50m nay đã biến thành ao.

Binh đoàn Sác-tông tiến rất chậm và vẫn chờ lien lạc của Constans và nhất là của binh đoàn Le Page đến đón.

Đoàn xe kéo dài hang km bao gồm:
-   Tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 lê dương (3/3 REI) của thiếu tá Forget, 558 lính, 62 hạ sỹ quan và 16 sỹ quan.
-   Tiểu đoàn hỗ trợ quân sự Việt Nam của đại úy Tissier, 937 người trong đó có 72 người Pháp.
-   Trung đội công binh của trung úy Clerget, 37 người.
-   Pháo binh và hậu cần: 19 người.
Tất cả có 2 xe bọc thép, 3 xe Dodge 3cầu, 1 Dodge 4 cầu của công binh, 3GMC ben, 6 GMC tải, 8 Jeep, 2 khẩu 105, 1 khẩu Bô-pho 40 trên GMC và 1 khẩu cối 81 của 3/3 REI. Công với đoàn quân là hang trăm thường dân thuộc các dân tộc thiểu số do viên công chức của Bảo Đại đưa đi. Trước thực tế 1 trận đánh xẩy ra ở Cao Bằng, đa số dân cư ở đây đã rời thị xã cả tuần trước đó.

14 giờ, Constans gửi 1 bức điện mà Sác-tông đã không nhận được: “Le Page bị đánh rất nặng… từ Nậm Nang, bỏ đừơng 4 lấy đường mòn Quảng Liệt về Thất Khê”

18 giờ, cả đoàn dừng lại, bộ phận tiền phương đã tới km22 nhưng không thấy tăm hơi của Le Page. Binh đoàn sẽ nghỉ đêm ở đây. Vẫn chưa thấy dấu hiệu nào của VM.


Ngày 3/10, trên đường số 4 từ Lạng Sơn đến Thất Khê
Trung đoàn 174 cùn 2 tiểu đoàn 426 và 428 bắt đầu công vịêc cắt đường. Bốt 41 Tây nằm một mình trên song Kỳ Cùng bị tấn công và tiêu diệt lúc 21 giờ. Có 30 người sống sót vượt sông về bốt 41 Đông.


Ngày 3/10, Hà Nội
19 giờ, tướng Alessandri nhận được thong báo về tình hình chiến dịch:
“Binh đoàn Charton đã đến Nậm Namg, sở chỉ huy binh đoàn đang ở km 17, có vẻ như chưa gặp địch, đã ra lệnh cho họ vòng qua đường Quảng Liệt để có mặt ngày mùng 4 ở Lung Phai” Charton không bắt được lien lạc với Lạng Sơn, nhưng Lạng Sơn vẫn biết rõ tình hình của binh đoàn, có lẽ qua các đợt phát sóng 1 chiều của Charton.
“Binh đoàn Le Page ở phía nam và tây nam Đông Khê, vùng núi đá vôi phía nam đường số 4, điểm cao 760, 2 đại đội bắc phi ở điểm cao 703 phía nam Lũng Phai”.
Bản báo cáo đầy thông tin khả quan này đã không nêu ra những khó khăn của Le Page cũng như việc mất liên lạc với Charton. Trên cùng bức điện cũng có nhắc đến tình hình Thất Khê: “Thất Khê yên tĩnh, bốt 41 đông bị tấn công nhưng vẫn đứng vững, bốt 41 tây cũng bị thử, Lũng Vại bị tấn công”. Ở đây cũng không nói rõ tình hình thực tế là chỉ 2 tiếng sau, bốt 41 tây sẽ thất thủ.
Từ đó đại tá Lennuyeux gửi cho Các-păng-chiê một bức điện khá khả quan và sai thực tế: “Cứ điểm Cao Bằng đã được di tản sáng ngày mùng 3 theo đúng kế hoạch (!)… vào 16 giờ binh đoàn ở km19… Họ đã bắt được tin tức với binh đoàn đi từ Thất Khê hiện đang ở trên các điểm cao đông bắc… cuộc gặp gỡ chắc sẽ được hoàn thanh ngày mùng 4…”


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 29 Tháng Ba, 2009, 06:35:25 pm
Đêm 3-4 tháng 10, binh đoàn Charton
Mọi cố gắng liên hệ với Constans hoặc Le Page đều thất bại. Vào 2 giờ, họ đã không nhận được bức điện của Constans yêu cầu binh đoàn gấp rút đi đến Lũng Phai.

Binh Đoàn Le Page.
Sở chỉ huy binh đoàn cùng tiểu đoàn 1 Ta-Bo lập vị trí phòng thủ ở điểm cao 760, trong khi ở cạnh đó tiểu đoàn giã chiến của trung đoàn 8 cũng đang đào công sự. Họ bị bao vây bởi 1 đơn vị hỗn hợp bao gồm d54e102, d29e88 và d154e209 do viên trung đoàn trưởng trung đoàn 102 chỉ huy.
Vào 2 giờ sáng, Constans cho biết ông ta vẫn chưa lien lạc được với Charton và yêu cầu Le Page giúp đỡ. Trong tình huống hiện tại, Le Page không thể làm gì hơn được. Điều này cũng cho thấy sự lo lắng đang càng ngày càng hiện rõ ở bộ tham mưu của Constans.

Tiểu binh đoàn Delcros:
Bao gồm 2 đại đội bắc phi của Ta-bo 11 và tiểu đoàn dù lê dương đang làm màn trước Đông Khê. Các đơn vị này sẽ bị đánh bật khỏi Na Kéo. Bỏ lại những tử sỹ, họ định hành quân với thương binh về Lũng Phai cách đó 7km. Phía Việt Minh, d89e36 được đưa vào thay thế 2 tiểu đoàn của e36 nhưng lúc này lính Pháp đã rời bỏ vị trí.
Đây là lần đầu tiên từ thế chiến thứ 2 mà lính lê dương phải bỏ lại xác của đồng đội, điều đó chứng tỏ tình huống rất gay go.
Trong đêm, lính bắc phi đi trước, rồi đến tiểu đoàn dù lê dương và thương binh. Viên bác sỹ tiểu đoàn Pedoussant phải đối phó với rất nhiều ca nặng, một người lính lê dương bị bắn thủng ngực, anh ta chỉ được Pedoussant bịt 2 lỗ vào và ra của viên đạn bằng băng để tranh ngạt thở, 1 mũi tiêm Móoc-phin và sau đó gửi về đơn vị chiến đấu. Pedoussant muốn chữa trị cho tất cả thương binh nhưng 1 viên đại đội trưởng lê dương đã nóng nẩy ngăn cản. Một sỹ quan chỉ huy lê dương mất bình tĩnh là một điềm xấu, 3 ngày sau anh ta sẽ tử trận như tất cả các đại đội trưởng của tiểu đoàn dù.
Phía đầu của đội hình bị rơi vào 1 ổ phục kích, tất cả các cu-li bản xứ đều bỏ chạy để lại toàn bộ cáng thương binh cho binh lính của Delcros, các đơn vị bắc phi bị đánh tan tác, viên chỉ huy Delcros và đại úy Jean-Pierre chỉ huy phó tiểu đoàn dù lê dương bị lạc khỏi đội hình.
Cùng thời gian đó, đại đội bắc phi ở Lũng Phai cũng đã bị tiểu đoàn 18 trung đoàn 102 và tiểu đoàn 23 trung đoàn 88 đánh bật ra khỏi vị trí phải lui về cao điểm 703.

Cái rọ đã được đóng lại, cuộc rút lui chỉ còn có thể hoàn thành nếu đèo Lũng Phai được chiếm lại. Chỉ có vài lính ma-rốc của Delcros tương đương với 1 trung đội đã vượt qua được vòng vây để về đến Thất Khê.

Sáng ngày 4/10, tiểu binh đoàn Delcros.
Đội hình nhóm Delcros lúc này còn lại khoảng 1 đại đội bắc phi của 11 Ta-bo do đại úy Delacourt chỉ huy và tiểu đoàn dù lê dương.
Với sự đồng ý của Le Page, đơn vị bỏ ý định đến Lũng Phai và tiến về phía tây bắc nhằm sát nhập lại với Le Page ở điểm cao 765. Trên đường đi họ tìm ra được Delcros và Jean-Pierre cùng với 1 số người mất tích.

Phía Việt Minh:
Ngoài các đơn vị đang bám binh đoàn Le Page, các đơn vị khác có vẻ đang nghỉ ngơi sau trận đánh ở Na Kéo. Thực ra, tướng Giáp đang chuẩn bị 1 cuộc hành quân đổi cánh vòng qua dãy núi đá vôi mà binh đoàn Le Page đang tiến tới nhằm luồn vào giữa 2 binh đoàn.
Một viên đại đội trưởng ở trung đoàn 36 đã kể lại rằng nhiều đơn vị của trung đoàn vẫn còn khoẻ sau trận Na Kéo như c61d80, c43d84 và toàn bộ d89. Họ chuẩn bị truy kích các đơn vị Pháp đang rút lui.

Binh đoàn Charton

Sáng mùng 4, vẫn chưa có lien lạc với Constans hay Le Page cũng như máy bay Morane trinh sát bay trên binh đoàn. Đây là một điều khó hiểu vẫn chưa giải thích được. Điều kiện thời tiết không cản trở các phi vụ. Cùng thời gian đó các nhóm máy bay trinh sát ở Lạng Sơn còn bay đến tận Thai Nguyên Làm nhiệm vụ hướng dẫn pháo binh. Constans có ghi trong bản báo cáo tổng kết rằng ông ta đã thả 1 thư lệnh bằng đường không trưa ngày mùng 3, nhưng không một nhân chứng nào đã xác nhận điều này trong những người sống sót của binh đoàn Charton. Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Pháp năm 1984, Chảton có nói: “Nếu tôi biết rằng Le Page đã không lấy được Đông Khê để đến gặp tôi trên đường số 4, tôi đã phóng nhanh bằng mọi cách để đến điểm hẹn mới ngay trong ngày mùng 3”.
Từ sự vô ý này, số phận của 2 binh đoàn đã được định đặt.

Đến cuối buổi sáng ngày mùng 4, Sác-tông mới nhận được lá thư không vận của Lạng Sơn được ghi là ngày mùng 3:
“binh đoàn Le Page đang ở điểm cao 760háy lấy đường mòn Quảng Liệt ở km22 và đi gặp ông ta”
Điện đàm cũng bắt lại được vào 10 giờ 45:  “Đi nhanh lên, ông phải đến Lũng Phai trong ngày hôm nay cùng với Le Page”.
Tình hình nguy ngập của Le Page cũng bắt đầu hiện rõ đối với Charton, ông ta bị dính lại điểm cao 760 và không đến đón Charton được.


Hà Nội, 7 giờ sáng

Tin tức của đại tá Constans cho sở chỉ huy:
“-Binh đoàn Charton, vẫn ở chỗ cũ tối hôm qua, tôi đã lặp lại lệnh hành quân nhanh để có mặt ở Lũng Phai tối nay.
-binh đoàn Le Page: đang gặp những trận đánh lớn ở phía đông đường số 4. Các vị trí ở Na Kéo, Na Pa đã được rútbỏ cũng như điểm cao 703 gần Lũng Phai. Le Page đang ở điểm cao 760/765”
Constans có vẻ vẫn giấu việc ông ta đã không lien lạc được với Charton từ tối hôm trước, và vẫn báo cáo rằng ông ta đã “lặp lại lệnh” cho Sác-tông.
Cùng thời điểm đó, một bức điện khác của phòng 3 ở Lạng Sơn cho các tham mưu trưởng các vùng lân cận là:
“995/3S… Tình hình vào 16giờ15 ngày mùng 3, binh đoàn Charton ở PK119, không bắt được lien lạc vô tuyến với họ…”

Chính bức điện trên của Constans sẽ giúp ông ta đổ hết các trách nhiệm sang Sác-tông và làm Alessandri, Carpentier, Salan và các tướng lĩnh khác nghĩ rằng Charton đã không chấp hành mệnh lệnh cấp trên.  Nằm trong trại tù binh trong suốt 4 năm, ông ta đã không tự bảo vệ được.

Ngày 4/10, binh đoàn Charton

Charton phải tìm ra đường mòn Quảng Liệt. Trên bản đồ 1/100 000 xử dụng trong những năm 50, nó được hiển thị. Một con đường nhỏ chạy theo một dòng suối chảy từ đèo Khâu Bé đến xóm Quảng Liệt. Từ đây, một đường mòn khác dẫn tới một xóm tên là Cốc Xá. Từ Cốc Xá, vượt qua dẫy núi đá vôi là đỉnh cao 765 mà binh đoàn Le Page đang phòng thủ. Về phía tây thung lũng Quảng Liệt là dãy núi đá vôi mà binh đoàn Charton phải đi dọc theo. Ở Cốc Xá là đồi Qui Chân và điểm cao 477, nơi đây sẽ là địa điểm mới mà Le Page và Charton sẽ hẹn gặp nhau.
Ở Nậm Năng, vào cuối buổi sáng, trung uý Viltard cùng tiểu đoàn hỗ trợ bản xứ đã bỏ đường chính nối đuôi bở các đơn vị khác và dân thường. Trong khi đó trung úy Clerget bắt đầu phá hủy các phương tiện vận chuyển và pháo. Nhưng con đường mòn vẽ trên bản đồ được vẽ trước thế chiến không có ở nơi nó phải có. Thực ra chỉ có 1 con đường mòn ở km23 không được xử dụng từ hơn 30 năm. Binh đoàn lại mất thêm cả buổi chiều để tìm 1 con đường chỉ có trên bản đồ.

Ngày 4/10, binh đoàn Le Page, buổi chiều.
Vào buổi trưa, tiểu binh đoàn Delcros đã đến gần điểm cao765, trong khi các đơn vị của Le Page đang chuẩn bị hành quân về phía điểm cao 649 phía nam thung lũng Quảng Liệt. Đại đội của đại úy Guidon thuộc trung đoàn 8 được nhiệm vu chặn hậu để tiếp nối những đơn vị của Delcros đang rời rạc tới nơi. Do không thấy lính Pháp tới nữa, Guidon đã rời bỏ vị trí mặc dầu phần lớn nhóm của Delcros vẫn chưa tới nơi, trong hỗn loạn, vị trí đã bị VM chiếm lĩnh. Nhóm Delcros, trước hoả lực tới từ 765, phải lui lại. Binh đoàn Le Page còn bỏ lại cả những thương binh của tiểu đoàn 1 Ta-bo, họ bị kẹt lại với lính bắc phi của Delcros. Nhóm này sau khi bị chia ra 2 mảng trước sức ép địch đã đi vòng qua phía nam để vào thung lũng Quảng Liệt tưởng rằng Le Page ở đấy, họ chỉ gặp các đơn vị VM. Binh đoàn Le Page lúc này đã bị chia ra làm 3 mảng:
-Nhóm Le Page ở điểm cao 649
-Tàn quân thuộc tiểu đoàn 11 Ta-bo với Delcros.
-Tiểu đoàn dù lê dương của thiếu tá Segretain ở gần đỉnh cao 760.

Ngày 4/10, giữa Thất Khê và Lạng Sơn

Trên hướng này, quân VM tiếp tục tiêu diệt các trạm liên lạc với các binh đoàn sau bốt 41 tây, đến lượt bốt 41 đông. Vào 0 giờ 25 ngày mùng 5, sau gần 4 giờ cận chiến, đơn vị lê dương ở đây phải rút lui với 7 người chết, 13 bị thương và hơn 30 mất tích.
Đại đội 3 lê dương, đóng ở đồn 45, mất liên lạc với cấp trên, đã tự động bỏ chốt lui về Thất Khê. Như vậy là từ lúc này, không còn một hiện diện than thiện nào cho quân Pháp trong vòng 20km phía nam Thất Khê. Cũng lúc này, trung tá Đặng Văn Việt được lệnh cùng với trung đoàn 174 lên phía bắc tham gia vào chiến dịch tiêu diệt 2 binh đoàn Pháp đang rút lui.

Đêm 4-5/10, binh đoàn Charton

Các đơn vị tiên phong đang ở Na Lùng cách Lũng Phai khoảng 25km. Binh đoàn kéo dài trên nhiều cây số. Charton quyết định dừng lại nghỉ đêm.

Binh đoàn Le Page.

sở chỉ huy ở ngay chân đồi Cốc Xá, các tiểu đoàn 1 Ta-bo và 8RTM vẫn liên tục bị VM tập kích.

Nhóm Delcros

tiểu đoàn dù lê dương đóng ở điểm cao 533, cách Le Page khoảng 2km về phía nam. Trong khi đó Delcros và lính bắc phi của ông ta nằm rải rác khắp nơi từ vùng núi đá vôi đến thung lũng Quảng Liệt.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 03 Tháng Tư, 2009, 10:02:45 am
Bao vây


Ngày 5/10, Sài Gòn
Viên thanh tra tối cao trả lời bức thư của Alessandri viết ngày 1/10. “Lá thư của ông rất đáng chú ý… Tôi hoàn toàn đồng ý với ông và tôi đã chia sẻ được điều này với ngài Letourneau (bộ trưởng liên hiệp Pháp), nhưng để thuyết phục được giới chính trị gia ở Pa-ri lại là 1 chuyện khác… tôi sẽ mở một hội đồng quốc phòng để bàn bạc về chuyện này… thật ra tôi cũng muốn tránh những cuộc họp vì ở đây những bất đồng chính kiến thường gây ra sau này những thù hằn cá nhân…”: Một bài trả lời rất là “chính trị” theo kiểu “tôi đồng ý với ông nhưng tôi sẽ làm ngược lại”. Thật ra tất cả những hành động từ Pa-ri lúc này đều đã quá chậm để còn có thể cứu vãn được tình hình ở Cao Bằng.
Cùng ngày hôm đó, tướng Carpentier gửi 1 bức điện cho Constans từ Sài Gòn:
“Tôi không hiểu tại sao anh không cho tôi biết những gì đang xẩy ra, tướng Alessandri đã cho tôi một bản báo cáo về tình hình của binh đoàn Charton khác những gì anh đã nói. Tôi rất ngạc nhiên về sự chậm chạp của Charton, trái ngược lại với những mệnh lệnh mà tôi đã truyền cho anh. Tôi cũng rất thất vọng về cách chiến dịch này đang được điều hành và về sự thiếu hiểu biết thực tế mà anh đang nhốt tôi ở trong. Anh phải liên lạc ngay với Alessandri…”.

Ngày 5/10/1950, Hà Nội
Tướng Alesandri cũng không lên tiếng hay đứng ra tự điều hành chiến dịch đang càng giờ càng xấu đi. Ông ta để Constans đối thoại trực tiếp với Sài Gòn, và điều duy nhất ông ta làm là nhận và gửi điện cho Lạng Sơn hoặc Sài Gòn.
Một mệnh lệnh do phó của Alessandri gửi cho Constans vào 16giờ 30 cho thấy ở Hà Nội, người ta cũng không cần chú ý đến khoảng cách đường xá: “hãy lệnh cho Charton phải  đến Na Kao vào tối nay” (tức là Charton có vài giờ để đi hơn 20km trong vùng rừng núi hoang vu).
Một điều lạ là ở đây, trong cả 3 chỉ huy chiến dịch: Carpentier, Alessandri và Constans, không một ai nghĩ đến chuyện bay ra chiến trường để quan sát trực tiếp tình hình, điều mà chỉ vài tháng sau, tướng De Lattre De Tassigny sẽ làm mỗi khi ông ta chỉ huy 1 trận đánh…
 
Ngày 5/10, binh đoàn Charton
Toàn binh đoàn chuyển hành vào sáng sớm, thiếu tá Forget và de Chergé cố gắng tìm ra hướng đi mà chuẩn mốc của họ là đèo Khâu Bé, cắt ngang giữa 2 dòng suối, một chảy về Nậm Nang và 1 chảy về phía tây nam xuống Quảng Liệt. Cây cối ở đây rất rậm rạp, dảm tầm nhìn xuống dưới 10m. Đội hình các đơn vị bắt đầu rối ren, các chỉ huy chỉ còn nắm được nhưng toán trực tiếp xung quanh mình.

Charton nhìn thấy những phi vụ thả dù tiếp tế cách khoảng 8km về phía tây nam, bên kia dãy đá vôi, bây giờ ông ta đã có thể ước lượng được vị trí của binh đoàn Le Page.
Vào đầu buổi chiều, 1 đơn vị hỗ trợ tấn công một nhóm VM và thu được vũ khí.
Buối tối, đội hình binh đoàn được bố trí như sau: sở chỉ huy binh đoàn cùng tiểu đoàn 3 Ta-bo nằm cách 2.5km phía bắc điểm cao 590, tức là cách địa điểm đêm trước của đơn vị khoảng 7km đường chim bay. Phía sau là các đơn vị khác cùng thường dân trải dài trên nhiều km, chặn hậu là tiểu đoàn lê dương 3/3REI.
Các đơn vị hỗ trợ người bản xứ cũng rất dũng cảm bao phủ 2 sườn của binh đoàn, có nhiều trận đánh nhỏ xẩy ra mà họ là người chiến thắng.
Vào buổi chiều , toàn binh đoàn đều đã mệt nhử, một số ca tự tử đã được ghi nhận trong số thường dân đi theo binh đoàn.
Vào khoảng 12 giờ, lần đầu tiên 2 binh đoàn liên lạc với nhau trực tiếp được bằng điện đàm.


Ngày 5/10, tiểu binh đoàn Delcros
Thiếu tá Segretain, chỉ huy tiểu đoàn dù lê dương, cho đơn vị xuống thung lũng với những thương binh của đơn vị, ở đây họ bắt liên lạc được với những nhóm bộ binh bắc phi đã bị Việt Minh truy quét suốt đêm, trong số đó có thiếu tá Delcros.
Tình hình thương binh bắt đầu trở thanh cấp bách, một viên trung úy thuộc tiểu Ta-bo 11, bị thương cách đây 2 ngày do đạn bắn nhầm từ máy bay được đưa đến cho bác sỹ Pedoussant. Anh ta còn tỉnh, một cánh tay bị mở toang từ bàn tay đến vai, những triệu chứng hoại tử bắt đầu xuất hiện, Pedoussant phải thực hiện tại chỗ một ca tháo khớp vai  không gây mê, y hệt như thời Napoleon trước đó 150 năm. Không có dụng cụ khâu lại các động mạch, Pedoussant chỉ còn có thể gây tê bằng một chút penthotal, để có thể băng vết thương lại, sau đó trả bệnh nhân lại cho đơn vị với một số kháng sinh, moọc-phin và những lời cầu nguyện cho anh ta có thể ra đi một cách yên lành.
Vào 9 giờ, cùng trung úy Chiabrichvilli thuộc đại đội 1 ở điểm cao 533, Delcros và Segretain đã quan sát được phi vụ thả dù cách đó về phía bắc khoảng 2km và định hướng được sở chỉ huy của Le Page.
Cũng trong buổi sáng, họ gặp được 1 đoàn lừa thồ đến từ phía Le Page do trung úy Lefebure chi huy.
Vào 12giờ 30, Lefebure đưa về sở chỉ huy của Le Page khoảng 80 thương binh của nhóm Delcros. Đoàn lừa thồ được các đơn vị bắc phi sống sót của Delcros cùng 1 trung đội dù đi kèm.
Vào 14 giờ, đoàn vận chuyển bị tấn công, 8 thương binh cùng 5 người khiêng bị chết.
Vào 17 giờ 30, cả đoàn tới nơi sau 3 giờ trèo núi.
Tiểu binh đoàn Delcros lúc này chỉ còn đúng tiểu đoàn dù lê dương. Đóng trong thung lũng cách khoảng 2km nơi tập hợp ở điểm cao 477 gần một địa điểm tên là Cốc Xá.
Vào cuối buổi chiều, bất ngờ tiếng hô xung phong và tiếng kèn đồng vang lên ở điểm cao 533, nơi mà trung úy Tchiabrichvilli cung trung đội của anh ta đang chốt.Một cuộc tấn công chớp nhoáng, khi đại đội 1 từ thung lũng tiếp viện đến nơi, cả trung đội chỉ còn 2 hay 3 người sống sót, viên trung úy và phần còn lại của trung đội đã bị tiêu diệt. Theo đại úy Jean-Pierre, 24 người của trung đội đã bị hàng trăm lính VM tấn công.


Ngày 5/10, binh đoàn Le Page.
Sở chỉ huy của Le Page bị kẹt lại trong long chảo mà họ đã nghỉ đêm, phía bắc và đông của vị trí, tiểu đoàn 1 Ta-bo liên tục bị nhận áp lực từ phía địch. Những chiếc tiêm kích cơ yểm trợ liên tục làm đích cho súng máy VM từ điểm cao 765.
Le Page đặt trung đoàn 8RTM ở phía tây long chảo, nơi có đường ra vào duy nhất của vị trí dẫn đến xóm Cốc Xá và sau đó là thung lũng Quảng Liệt và binh đoàn Charton. Con đường đến Cốc Xá trên 1000m là 1/3 đoạn đầu bao gồm đường sỏi với những hòn đá to cắm xuống đất, tiếp đó là một khoảng trống bao vây bởi rừng rậm trải dài trên vài trăm mét và phần cuối cùng lại là vùng đá sỏi nằm giữa 2 bức tường đá cao khoảng 3-4m, nơi đây sẽ được gọi là vùng “hẻm núi”, cuối cùng là 1 con suối nhỏ chảy róc rách dường rừng cây rậm rạp, nơi đây sẽ được gọi là vùng “đầu nguồn” mục tiêu của những người sống sót.
Cả ngày mùng 5, tiểu đoàn Lê dương dù và Le Page liên tục hiểu nhầm vị trí của nhau. Ngay trong quyển sách ông ta viết năm 1981, Le Page vẫn tưởng vị trí của tiểu đoàn dù lê dương ngày mùng 5 ở cách vị trí thật sự đến 2 km về phía bắc. Trong khi đó, 3 viên sỹ quan duy nhất của tiểu đoàn dù sống sót sau trận này lại viết trong quyển nhật ký tiểu đoàn vị trí của Le Page là điểm cao 649, điểm cao nằm phía bắc long chảo. Cũng nên nhắc them là quyển nhật ký tiểu đoàn dù lê dương có một số chi tiết đã bị lãng quên không được nhắc tới, như trận phục kích lính bắc phi sáng ngày mùng 4, khi thiếu ta Delcros và đại úy Jean-Pierre bị thất lạc sau đó.
Trong ngày mồng 5 này, ban đầu Le Page đã ra lệnh cho tiểu đoàn dù chiếm lĩnh điểm cao 477, nơi mà binh đoàn Charton đang đi tới. Nhưng mệnh lệnh này đã không được tuân thủ, lệnh đã được phát ra chưa, và tiểu đoàn dù có nhận được nó đúng lúc hay không? Đây là những câu hỏi hiện nay chưa có câu trả lời nhất định. Thực tế là vào buổi chiều khi đơn vị chuẩn bị hành quân về phía bắc thì các trung đội đi sau đã bị VM tấn công, 2 trung đội của trung úy Marce và Berthaud bị bao vây, ngày hôm sau chỉ có Marce và vài người đã trở về được đơn vị. Chỉ riêng ngày mùng 5, tiểu đoàn dù đã mất hơn 100 lính lê dương và cũng không đi được đến điểm cao 477. Sau đó với sự thoả thuận của Le Page qua điện đài, đơn vị hành quân về phía vị trí của binh đoàn.
Sau 3 ngày từ khi chiến dịch bắt đầu, binh đoàn Le Page bắt đầu lâm vào tình thế bế tắc.

Ngày 5/10, đường số 4 phía nam Thất Khê
Những người sống sót của các đồn 41 đông và tây, 45 rút về đến Thất Khê, trên khoảng 2 đại đội ban đầu chỉ còn 77 lính lê dương và 2 sỹ quan trong đó chỉ có 6 thương binh đã đi theo kịp. 


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 03 Tháng Tư, 2009, 10:06:45 am
Đêm 5-6 tháng 10, binh đoàn Charton
Bộ phận tiền tiêu của binh đoàn bao gồm tiểu đoàn 3 Ta-bo và 1 nhóm lính Pác-ti-dăng bản xứ nghỉ đêm ở 1 vùng trũng cách điểm hẹn khoảng 6km đường chim bay về phía bắc.

Binh đoàn Le Page,

Không có biến động gì trong đội hình phòng ngự

Tiểu đoàn dù lê dương
Hành quân ban đêm về phía Le Page, 2 nhóm gặp nhau vào buổi sáng sớm.

Trên đường số 4 giữa Lạng Sơn và Thất Khê,
đến lượt bốt Bản Bé bị tấn công, suốt đêm các đơn vị VM tìm cách vượt bãi mìn xung quanh bốt nhưng không thanh công.


Ngày 6/10, binh đoàn Le Page,
Tình hình phòng thủ của các đơn vị bắc phi bắt đầu xấu đi rất nhanh vào buổi sáng, những khẩu sung máy và cối của VM đã bao phủ hoàn toàn vị trí phòng thủ của các đơn vị này. Ở ngay chân núi đá vôi, hơn 100 thương binh nặng của binh đoàn được đặt ở đây. Không còn đủ nhân lực để đưa họ đi tiếp, binh đoàn có phải bỏ họ lại không? Bác sỹ trưởng Ẹnjalbert đã đặt câu hỏi này cho Le Page nhưng chỉ nhận được câu trả lời mập mờ. Tình hình lúc này không cho một phương án nào khác.
Như có thể thấy, bộ chỉ huy quân đội viễn chinh không hề có 1 chương trình di tản thương binh nào ra khỏi vùng chiến sự trong trường hợp xấu, tức là Đông Khê không được chiếm lại. Địa hình nơi đây không cho phép ngay cả những máy bay hạng nhẹ kiểu Morane hạ và cất cánh.
Vào 12 giờ trưa, Constans gửi 1 bức điện về Hà Nội: “Binh đoàn Le Page yêu cầu di tản khẩn cấp những thương binh nặng bằng trực thăng nếu có thể được”. Lúc này, các nhà chỉ đạo trong chính phủ cũng như những tướng tá chỉ huy Pháp vẫn còn dị ứng về vấn đề trang bị trực thăng cho quân đội. Nhờ sự cố gắng của viên chỉ huy quân y ở Đông Dương, bác sỹ thiếu tướng Robert, ở Đông Dương lúc này quân Pháp có 2 chiếc trực thăng nhẹ “Hiller”, mỗi cái có thể chở được 2 cáng thương binh mỗi đợt. Lần đầu tiên chúng được xử dụng vào ngày 16/5/1950, nhưng do sự hiếm hoi của loại máy bay này, các cơ quan trách nhiệm chỉ cho nó được xử dụng để đưa những thương binh nặng và nó cũng chỉ được hoạt động trong những vùng an toàn như Nam Kỳ, nam trung bộ và Căm pu chia. Vùng Bắc Bộ, được xem là quá nguy hiểm, nằm ngoài tầm hoạt động của chúng.

Trong cả ngày hôm đó những bức điện liên tục được gửi cho Le Page bởi Constans cho thấy tình hình đầy kịch tính của chiến trận.
Vào 10 giờ 15: “Anh săp được yểm trợ bằng 1 phi vụ ném bom Na-pam, hãy lợi dụng nó để đi gặp Charton, (trung đoàn) 174 đang ở phía nam vị trí của anh và nó cỏ thẻ hoạt động chống lại anh từ ngày mai…”. Ngày 6/10/1950 được đánh dấu là lần đầu tiên bom Na-pam được xử dụng ở Việt Nam bên cạnh những quả bom thường và những phi vụ bắn “strafing” vào đội hình Việt Minh.
Vào 10 giờ 55: “anh phải rút khỏi đây, hãy cho tôi biết trước buổi trưa ý định của anh…”
Vào 11 giờ 10: “Rút ngay, tôi nhắc lại, rút ngay…”
12 giờ 35: “hãy lợi dụng cuộc không kích vào 13 giờ 30 để rút…”
14 giờ30: “Hãy lợi dung ban đêm để rút…”
15 giờ10, “Anh phải rút bằng mọi giá, nói với Charton chuẩn bị 1 lực lượng mạnh để lấy Bản Ca và Nà Kao, trung đoàn 174 đang hành quân về phía anh và đã được xác định ở Vạn Mít vào 14 giờ 30… ”

Trong buổi chiều, theo đại úy Jean-Pierre, trong 1 cuộc tuần tra anh ta đã phát hiện ra rằng lính bắc phi đã rút lui bỏ vùng “hẻm núi” phía Cốc Xá, và hiện nay quân VM đã chiếm đóng vị trí này. Theo 1 phiên bản khác được ghi lại trong quyển nhật ký hành quân của tiểu đoàn dù, vùng này thực ra do 1 trung đội dù lê dương thuộc đại đội 3 chiếm giữ nhưng nó đã bị đánh bật ra mặc dù được sự chi viện của 1 đại đội Bắc Phi. Dù gì đi nữa, cánh cửa rút lui của Le Page đã bị đóng lại.

Ngày 6/10 phía VM,
Các đơn vị VM đang tập trung trong thung lũng Quảng Liệt sau 4 ngày hành quân thần tốc từ Nà Kéo vòng qua dãy núi đá vôi dọc theo cao nguyên Na Pa trong khi binh đoàn Le Page đang chốt chặn con đường dễ đi nhất qua hẻm Cốc Xá. Một phần của VM, đã đi vòng qua sau lưng Le Page để vào trong thung lũng trên đường đi Cốc Tôn và Bản Ca, trong khi phần còn lại tiến về phía Quảng Liệt.
Cuối cùng, tiểu đoàn 89 thuộc trung đoàn 36 đã luồn lách vượt qua vách đá dựng đứng trên Cốc Xá để chiếm vùng hẻm núi.

Trong các ngày 4, 5 và 6, hai nhóm đơn vị VM đã lần lượt tới được vùng thung lũng phía tây vị trí của binh đoàn Le Page.
-   Nhóm1 bao gồm d23e88, d84e36 và d18e102 do viên trung đoàn trưởng e88 chỉ huy.
-   Nhóm 2 bao gồm d80, d89 thuộc e36 và d11 độc lập do viên trung đoàn trưởng trung đoàn 36 chỉ huy.
Vào buổi chiều ngày mùng 6, tiểu đoàn 89 đã chiếm lĩnh con đường độc đạo đi về phía Cốc Xá, họ bắt đầu đặt ở vùng “hẻm núi” và “đầu nguồn” những ổ súng máy, thành lập 1 hệ thống phòng thủ chiều sâu, đơn vị tiền tuyến là đại đội 395 của đại đội trưởng Nguyễn Tiến Trang với sự yểm trợ của 2 đại đội 397 và 399 cùng tiểu đoàn ngay phía sau. Chưa kể các khẩu súng máy trên 2 điểm cao kề bên Cốc Xá có thể bắn chéo cáng sẻ vào toàn bộ con đường hành lang.

Cuối ngày mùng 6, binh đoàn Le Page,
Vào 17 giờ, Le Page họp tất cả các tiểu đoàn trưởng của binh đoàn và cho biết cuộc tấn công vào hẻm Cốc Xá sẽ bắt đầu vào 18 giờ. Sau đó ông ta liên tục thay đổi giờ khai hoả, từ 18 giờ đến 20 giờ rồi 0 giờ và cuối cùng là 3 giờ sáng theo bản báo cáo của Delcros. Tiểu đoàn dù lê dương sẽ là đơn vị tiên phong, những người lính lê dương sống sót vẫn còn nhớ đến câu động viên của ông ta cách đây 50 năm: “số phận của toàn bộ binh đoàn đang nằm trong tay các anh!”. Lúc này, cũng là lúc Le Page nói chuyện lần đầu tiên trực tiếp qua điện đàm với Charton, ông ta cho biết tình hình của binh đoàn đang bị bao vây và sắp phải phá vòng vây này, ông ta cũng hẹn găp Charton ở 477 vào cuối đêm.
Những trao đổi điện đàm cuối cùng của Le Page với Constans trước giờ tấn công:
19 giờ 50: “cho tôi biết giờ anh rút lui”
21 giờ 16: “Anh phải rút khỏi đây bằng mọi giá, tôi nhắc lại, bằng mọi giá”
22giờ45: “anh phải rút tối nay bằng không sẽ không còn cơ hội nào nữa, tình hình thời tiết xấu, hỗ trợ không quân sẽ không được đầy đủ…”

Ngày 6/10, binh đoàn Charton
Ngày này cũng cho thấy tình hình của binh đoàn Charton xấu đi rõ rệt. Đại úy Morichere, chỉ huy 1 đại đội hỗ trợ bản xứ, rất tin tưởng sau những trận tiểu chiến thắng lợi ngày hôm qua, quyết định vượt rặng đá vôi phía đông Quảng Liệt để đến gặp Le Page. Anh ta đã đụng với một đơn vị VM lớn, có thể là 1 tiểu đoàn. Kết quả, cả 1 đại đội hỗ trợ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Một phi vụ thả dù tiếp tế cho binh đoàn được thực hiện, nhưng do thời gian gấp gáp, một số đơn vị đã không nhận được đồ tiếp viện.
Vào cuối ngày hôm đó, tiểu đoàn 3 Ta-bo cùng 1 đại đội hỗ trợ đã đến chiếm được điểm cao 477 phía Bản Ca, trong khi đó tiểu đoàn 3 lê dương bị chậm lại vì phải hỗ trợ đoàn dân thường vẫn còn ở cách đó đến 3km phía điểm cao 590. Tại đây đơn vị đã chạm với các tiểu đoàn 29 (trung đoàn 88) và 54 (trung đoàn 102) của VM.
Cùng  lúc đó, thiếu tá de Chergé, ở 477 cũng nhận được tin 1 đơn vị lớn VM đang ở Bản Ca, và trung đoàn 174 có thể sẽ có mặt ở đây vào buổi sáng.

Ngày 6/10, giữa Thất Khê và Lạng Sơn
Vào 16 giờ, đơn vị cứu viện thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 6 cho đồn Lũng Vại đang bi tấn công  đã bị chặn lại cách Lũng Vại 4km.
Vào 18 giờ, bốt Bo Cung bị tấn công. Sau 1 trận cận chiến điên cuồng bên trong đồn, nhờ sự yểm trợ của pháo binh ở Nà Sầm cách đó 4km, cùng với 1 khẩu đại liên đặt trên núi đá vôi cách bốt 200m, quân VM rút lui.


Ngày 6/10, Thất Khê
1 đơn vị hỗn hợp do đại úy Labaume chỉ huy, bao gồm 2 đại đội còn lại của tiểu đoàn 2 lê dương và các đại đội bắc phi của tiểu đoàn 11 Ta-bo chốt ở 703, trở thành đơn vị sẽ tiếp nhận 2 binh đoàn  Pháp ở cửa ngõ Thất Khê.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 03 Tháng Tư, 2009, 10:41:00 am
Ngày 6/10, binh đoàn Charton
Ngày này cũng cho thấy tình hình của binh đoàn Charton xấu đi rõ rệt. Đại úy Morichere, chỉ huy 1 đại đội hỗ trợ bản xứ, rất tin tưởng sau những trận tiểu chiến thắng lợi ngày hôm qua, quyết định vượt rặng đá vôi phía đông Quảng Liệt để đến gặp Le Page. Anh ta đã đụng với một đơn vị VM lớn, có thể là 1 tiểu đoàn. Kết quả, cả 1 đại đội hỗ trợ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Một phi vụ thả dù tiếp tế cho binh đoàn được thực hiện, nhưng do thời gian gấp gáp, một số đơn vị đã không nhận được đồ tiếp viện.
Vào cuối ngày hôm đó, tiểu đoàn 3 Ta-bo cùng 1 đại đội hỗ trợ đã đến chiếm được điểm cao 477 phía Bản Ca, trong khi đó tiểu đoàn 3 lê dương bị chậm lại vì phải hỗ trợ đoàn dân thường vẫn còn ở cách đó đến 3km phía điểm cao 590. Tại đây đơn vị đã chạm với các tiểu đoàn 29 (trung đoàn 88) và 54 (trung đoàn 102) của VM.
Cùng  lúc đó, thiếu tá de Chergé, ở 477 cũng nhận được tin 1 đơn vị lớn VM đang ở Bản Ca, và trung đoàn 174 có thể sẽ có mặt ở đây vào buổi sáng.
Tình hình ngày 6/10 của binh đoàn Charton theo bản đồ của bác Tuấn ở trang 1.
(http://i288.photobucket.com/albums/ll163/banzua/charton0610.jpg)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 03 Tháng Tư, 2009, 10:53:19 am

Đêm 2-3 tháng 10, binh đoàn Le Page.
...
Ở Na kéo, tiểu đoàn 11 Ta-bo đã chịu pháo kích cả đêm với cả pháo 75 ly, theo lời kể của thiếu tá Delcros nhưng không có thiệt hại nào. Khi đơn vị chiếm lĩnh vị trí 2 ngày trước đó, họ đã tìm được rất nhiều chiến hào đã được đào trước đó của tiểu đoàn 8 Ta-bo hồi tháng 5 và của tiểu đoàn VM đóng ở đay trong cuộc tấn công Đông Khê lần thứ 2.
Vào 6 giờ 30, 2 đại đội của Ta-bo 11 chịu nhiều đợt tấn công và cận chiến dữ dội do 2 tiểu đoàn VM, tiểu đoàn 80 và 84 trung đoàn 36 theo tài liệu phía Việt Nam.
Pháo 3pdr7 từ vị trí của nó nằm ở phía bên kia dốc núi không thể chi viện được. Đến sáng, không quân đến tiếp viện nhưng lại bắn nhầm vào vị trí lính Bắc Phi do nhầm màu xanh quân phục của họ với màu quân phục Việt Minh. Kết quả của đêm đó: tiểu đoàn 11 có 17 người chết và 35 bị thương.

Ngày 3/10, binh đoàn le Page.
...
Vào 8 giờ sáng, tiểu đoàn 11 ở Na Kéo đang gặp kho khăn, phải nhờ tiểu đoàn 1 dù lê dương cứu đỡ. Vào 11 giờ, trận đánh ở đây lắng xuống.
...
Vào 16 giờ, trận đánh ở Na Kéo bắt đầu lại. Le Page ở điểm cao 765 cách đó 4km, theo dõi tình hình với rất nhiều lo âu. Vào cuối buổi chiều, Delcros cho biết rằng tiểu đoàn ông ta sắp bị tran ngập, quân VM đã chiếm được các đỉnh cao xung quanh Na Kéo. Ông ta muốn đưa thương binh về Lung Phai để các đơn vị đồn trú ở đây đưa họ về Thất Khê.
Vào 20 giờ, điện của Constans: “Các đơn vị ở Na Kéo không được rút lui quá Lung Phai, tôi đã mất liên lạc với binh đoàn Sác-tông mà tôi đã ra lệnh rời Nậm Nang để đi về Quảng Liệt. Các ông phải bằng mọi cách bắt lien lạc với họ! Sác-tông phải có mặt ở Lung Phai ngày mồng 4”


Đêm 3-4/10,Tiểu binh đoàn Delcros:
Bao gồm 2 đại đội bắc phi của Ta-bo 11 và tiểu đoàn dù lê dương đang làm màn trước Đông Khê. Các đơn vị này sẽ bị đánh bật khỏi Na Kéo. Bỏ lại những tử sỹ, họ định hành quân với thương binh về Lũng Phai cách đó 7km. Phía Việt Minh, d89e36 được đưa vào thay thế 2 tiểu đoàn của e36 nhưng lúc này lính Pháp đã rời bỏ vị trí.
Đây là lần đầu tiên từ thế chiến thứ 2 mà lính lê dương phải bỏ lại xác của đồng đội, điều đó chứng tỏ tình huống rất gay go.
Trong đêm, lính bắc phi đi trước, rồi đến tiểu đoàn dù lê dương và thương binh. Viên bác sỹ tiểu đoàn Pedoussant phải đối phó với rất nhiều ca nặng, một người lính lê dương bị bắn thủng ngực, anh ta chỉ được Pedoussant bịt 2 lỗ vào và ra của viên đạn bằng băng để tranh ngạt thở, 1 mũi tiêm Móoc-phin và sau đó gửi về đơn vị chiến đấu. Pedoussant muốn chữa trị cho tất cả thương binh nhưng 1 viên đại đội trưởng lê dương đã nóng nẩy ngăn cản. Một sỹ quan chỉ huy lê dương mất bình tĩnh là một điềm xấu, 3 ngày sau anh ta sẽ tử trận như tất cả các đại đội trưởng của tiểu đoàn dù.

Trận đánh mà bọn tây gọi là trận Nà Kéo.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/1-8.gif)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 04 Tháng Tư, 2009, 12:47:41 pm
Tiêu diệt

Đêm 6-7 tháng 10 năm 1950, binh đoàn Le Page,
Tiểu đoàn dù lê dương số 1 chuẩn bị xung kích trong đêm tối, cuộc chuẩn bị đã bị chậm lại do phải tập trung những lính lê dương rải rác khắp nơi trong long chảo để đối phó với những cuộc tấn công của VM. Trong thời gian chờ đợi, rất nhiều người đã ngủ thiếp đi sau nhiều ngày căng thẳng và mệt mỏi. Như trường hợp bác sỹ Pedoussant, ông ta chỉ bị đánh thức do tiếng ồn của trận đánh. Theo Delcros, cuộc tập hợp các đơn vị dù lê dương và bắc phi chỉ kết thúc vào cuối đêm và cuộc tấn công phá vòng vây nhằm vào vị trí “hẻm núi” và “nguồn nước” chỉ được bắt đầu vào 5 giờ sáng.

Đơn vị đi đầu trong cuộc xung phong ban đêm đầy kịch tính này là trung đội của trung úy Chauvet, liền sau đó là đại đội 2 của đại úy Bouyssou rồi tiểu đội sinh viên sỹ quan của trung úy Faulques. Ở bên phải, phía bãi đá phía nam là đại đội 3 của đại úy De Saint Etienne. Bên trái, phía bắc là đại đội 1 của đại úy Garrigue cùng với đại đội chỉ huy của đại úy De Borde. Tất cả có khoảng hơn 350 lính dù lê dương còn lại sau những trận đánh trước dó.

Trong 1 cuộc xung phung được nhiều nhân chứng xem là ghê rợn nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương,với tiếng nổ liên hồi của lựu đạn và cối, súng tự động của Việt Minh đã gặt những người lính dù lê dương như gặt lúa. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 giờ, cả tiểu đoàn đã bị tiêu diệt, tất cả các chỉ huy đại đội đều đã tử trận, đa số các trung đội trưởng đều đã bị chết hoặc bị thương. Vượt qua những xác lính dù lê dương, tiểu đội sinh viên sỹ quan của trung úy Faulques đã đến được cách “nguồn suối” chỉ còn vài chục mét trước khi bị tiêu diệt, trung úy Faulques bị trúng 3 viên đạn vẫn cố gắng cùng với những thương binh lê dương cuối cùng lết về phía mục tiêu để bị bắn hạ hết người này đến người khác, trong những giây phút dài dằng dặc đó, không một người rên la lên 1 tiếng.
Trung úy Stien, chỉ huy phòng nhì của tiểu đoàn, cùng nhóm Pác-ti-dăng, vượt qua được vách đá để xuống thung lũng trước khi bị tiêu diệt ở đây.

Trong thời gian trận đánh, những người lính bắc phi đang ở các vị trí phòng ngự trong lòng chảo đều đổ xô về phía lối thoát duy nhất làm tắc nghẽn cả con đường đi về phía “hẻm núi”. Vào khoảng 6 giờ 30 sáng, những sỹ quan của tiểu đoàn Ta-bo số 1 bắt đầu cho hát bài hát “La Shahada”, bài thánh ca truyền thống của các chiến binh A-rập. Nó bắt đầu bằng: “Đức Allah là vị chúa tể duy nhất của ta và ngài Ma-ho-mét là đấng tiên tri của Người…”. Được cổ vũ bởi lời hát, những người lính hồi giáo ào lên phía trước, những làn sóng người đầu tiên bị gặt đổ trước những họng súng máy VM, nhưng những người đi sau đã tràn ngập qua các ổ phòng ngự này. Một số người lính bắc phi, trong cơn say máu đã bắn vào tất cả các mục tiêu di động phía trước cho dù nó là Việt Minh hay là những người lính lê dương còn sống sót. Một viên trung úy Bắc Phi đến trước hẻm núi, hỏi đại úy Jean-Pierre: “Chúng tôi phải đi về hướng nào?” và được Jean-Pierre trả lời: “các anh cứ việc đi theo những xác chết của lính lê dương”.
Những người lính Bắc Phi đã đến được vị  trí “nguồn nước”, nhưng ở đây họ vẫn còn phải vượt 1 vách đá để xuống vùng thung lũng, nơi binh đoàn Charton đang đợi, trong khi đó những khẩu súng máy VM ở các điểm cao xung quanh vẫn không ngớt rải đạn vào họ.
Những thương binh của binh đoàn được để trong lòng chảo cùng với các bác sỹ tình nguyện ở lại:
-   Đại úy bác sỹ Enjalbert của tiểu đoàn 1 Ta-bo
-   Đại úy bác sỹ Levy của tiểu đoàn 11 Ta-bo
-   Đại úy bác sỹ Pedoussant của tiểu đoàn dù lê dương số 1, ông ta cũng bị thương vào thời điểm đầu của trận xung phong khi 1 viên đạn cối nổ ngay trước mặt ông ta.
Còn đại úy bác sỹ Rouviere của trung đoàn 8 bộ binh bắc phi, lần cuối cùng người ta thấy ông ta là ở gần vách đá vôi xuống thung lũng với nhiều vết thương ở tay và ở đùi, ông ta đã xin mọi người để lại cho ông ta 1 khẩu súng lục…


Đêm 6-7 tháng 10, binh đoàn Charton
Quân Việt Minh tiếp tục đè mạnh lên cao điểm 590 của tiểu đoàn 3 lê dương. Phía tây, Charton thấy nhiều đơn vị vũ trang đang di chuyển trong ánh đuốc, có lẽ đây là tiểu đoàn 23 trung đoàn 88. Trong khi đó hang ngàn bộ đội VM khác đang âm thầm tiến về hướng của ông ta.
Một điểm đáng lo lắng khác là tình hình của binh đoàn Le Page, với hang trăm thương binh mà đáng lẽ phải là đơn vị đi giải cứu cho binh đoàn của ông ta.

Vào 5 giờ sáng, tiếng âm vang giữ dội của trận đánh phía Cốc Xá chỉ làm ông ta lo lắng hơn.


Ngày 7 tháng 10, binh đoàn Charton
tiểu đoàn 3 lê dương rời điểm cao 590 để đi về phía 477.
Vào sáng sớm bộ đội VM bắt đầu tấn công . Đại đội hỗ trợ bản xứ bị đánh bật khỏi Bản Ca và lùi về phía tiểu đoàn Ta-bo ở phía bắc. Đây là công việc của tiểu đoàn 84 trung đoàn 36. Cách đây 5 ngày nó cũng đã tham gia vào trận Nà Kéo, sau đó cùng với các đơn vị VM khác, nó đã hành quân vòng qua phía nam dãy núi đá vôi về phía Cốc Tôn và Bản Ca.

Vào 7 giờ sáng, đến lượt tiểu đoàn 3 Ta-bo bị tấn công. Đại đội 36 của đại úy Peyris đóng ngọn đồi số 3 bị tran ngập và phải rút về phía đại đội 51. Khi đến nơi, tiểu đoàn 3 lê dương có tổ chức 1 cuộc tấn công lấy lại ngọn đồi này nhưng đã thất bại, thiếu tá Forget, chỉ tiểu đoàn đã tử thương ở đây. Phần lớn những dân thường đã bỏ chạy khỏi binh đoàn, đa số trong bọn họ, những người công giáo, sẽ đến được Lạng Sơn vài ngày sau và đã trú ở ngay trong nhà thờ ở đây. Cuộc di tản của họ chưa kết thúc vì Lạng Sơn sẽ bị bỏ rơi và 4 năm sau họ lại phải khăn gói lần nữa để vào phía nam vĩ tuyến 17.

Charton cho 2 đại đội hỗ trợ bản xứ do trung úy Viltard đến đóng quân ở đồi Qui Chân, nhìn về phía Cốc Xá để đón tiếp binh đoàn Le Page. Trong suốt buổi sáng, họ nhìn thấy đến nơi từng nhóm hỗn hợp bộ binh bắc phi thuộc tất cả các đơn vị cùng với cả 1 số lính dù lê dương thoát ra khỏi vòng vây. Một khi đến nơi, những người lính dù lê dương được tập hợp lại thanh đơn vị chiến đấu, họ còn lại 130 người. Tiểu đoàn trưởng Segretain vẫn còn sống, cũng như viên phó Jean-Pierre và 6 trung-thiếu úy. Ngược lại, những đơn vị bắc phi đã mất hết khả năng chiến đấu và không thể tập hợp lại được nữa. Một số không còn vũ khí và nhiều sỹ quan cũng tỏ ra mất hết tinh thần. Trung tá Le Page và sở chỉ huy của ông ta đã gặp trung úy Stien và vài lính Pác-ti-dăng sống sót, họ đã cùng vượt qua vòng vây để đến gặp Charton.
Theo 1 nhân chứng tại chỗ, câu nói đầu tiên của Le Page khi gặp Charton là: “Ah anh Charton! Tôi chưa bao giờ vui sướng bằng lúc gặp anh lần này…”, 2 người đã bắt tay nhau và trao đổi một vài chi tiết về trận đánh ở Cốc Xá vừa qua. Theo chương trình của Constans, Le Page, viên trung tá nhiều thâm niên hơn, sẽ chỉ huy 2 binh đoàn để đi về Thất Khê.
Câu trả lời của Charton: “ngài trung tá, trong khi ông chỉnh đốn lại các đơn vị của ông, tôi sẽ tiếp tục đưa binh đoàn của tôi đi về phía nam.”
Le Page đáp ngay: “Không được, tôi vẫn là người có trách nhiêm trong cuộc hành quân này”.
Trung tá Charton lấy 1 khẩu tiểu liên Thompson trong tay 1 người lính lê dương và lên tiếng “thôi an hem! Chúng ta đi nào…”. Nhưng ông ta đã không thể hành quân ngay được.
(lời kể lại của trung sỹ Mary)

Sở chỉ huy của Charton nằm ở vùng trũng giữa đồi 477 và 1 điểm cao 600m phía nam. Xung quanh ông ta là những thương binh, thường dân và cả những tàn binh Bắc Phi của binh đoàn Le Page. Viên bác sỹ đại úy Asquaciati của tiểu đoàn 3 lê dương cũng đang hấp hối ở đây với 1 vết thương ở cột sống ngực. Cho toàn bộ các thương binh chỉ còn có bác sỹ trung úy Iehle của tiểu đoàn 3 Ta-bo.

Bị tấn công bởi các đơn vị Việt Minh càng giờ càng đông thêm, các đơn vị tiêu tàn của 2 binh đoàn chống cự đến 16 giờ. Vào lúc này, bộ đội VM bắt đầu tràn lên điểm cao 477. Sau 2 lần không thanh công trước sự chống cự của 1 đại đội bắc phi thuộc tiểu đoàn Ta-bo 3, cuối cùng phía VM cũng làm chủ đươjc điểm cao và bao phủ hoàn toàn vị trí đóng trụ của 2 binh đoàn.

Đến đây cuộc gặp gỡ không thanh của 2 binh đoàn cũng vào hồi kết thúc. Trước khi trời tối, 1 chiếc KingCobra đã đến bay lượn trên vị trí 477 nhưng nó không còn thấy một ai nữa cả Pháp lẫn Việt Minh.


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 04 Tháng Tư, 2009, 01:13:20 pm
Hồi cuối

Sự rối loạn lan tràn trong 2 binh đoàn sau đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay trong hồi ức những người sống sót.
Sau cuộc tranh cãi nhỏ buổi sáng, Charton sẽ không còn liên lạc được với Le Page nữa. Sau khi không thành công trong việc xin chi viện 1 tiểu đoàn dù mới cùng với không quân, Charton ra lệnh cho viên quyền tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn lê dương số 3, đại úy Labignette, và những gì còn lại của tiểu đoàn này làm hậu tuyến bọc hậu cho các đơn vị khác rút lui. Trước khi màn đêm buông xuống đơn vị này sẽ bị tiêu diệt, trong số 635 lính lê dương của tiểu đoàn rời Lạng Sơn 4 ngày trước, chỉ có 32 sẽ đến được Thất Khê, trong đó chỉ có 1 sỹ quan trên 15 người lúc đầu. Những đơn vị khác cố gắng bám theo dòng suối chảy ra song Kỳ Cùng để về Thất Khê, sau khi vượt qua chốt của  d84e36. Vào 16 giờ30, Charton để lại máy điện đài mong rằng Le Page đi sau sẽ lấy được nó. Sau đó cùng với viên phó của Le Page là thiếu ta Lebataille, thiếu tá Arnaud chỉ huy trung đoàn 8 bộ binh bắc phi và những đơn vị Bắc Phi còn lại, ông ta tiến xuống vùng thung lũng.
Về phía Le Page,  sau khi không trao đổi được với Charton, yêu cầu thuộc cấp cố gắng đến được điểm cao 608, nơi đơn vị tiếp đón của đại úy Labaume đang phòng thủ. Nhóm này bao gồm những người lính bắc phi của thiếu tá Delcros cũng như của binh đoàn Charton. Về phần tiểu đoàn dù lê dương, Le Page cho quyền tự do hành động. Trong số 479 lính lê dương nhảy dù 3 tuần trước đó, có 23 người sẽ trở lại được Thất Khê.
Những nhóm lính rút lui theo hướng thung lũng Bản Ca, Nà Cao hầu như đều bị chết hoặc bắt sống vào tối hôm đó và ngày hôm sau.Những người khác cắt qua dãy núi về phía 608 có nhiều may mắn hơn, ngày hôm sau, khi đơn vị Labaume được lệnh rút về Thất Khê, họ đã tiếp nhận được khoảng 800 người sống sót.
Trung tá Đặng Văn Việt với trung đoàn 174 cùng với d322e88, phục kích ở phía tây bắc Thất Khê cũng đã thừa nhận là ông ta đã để thoát nhóm Labaume này.
Trong số những người sống sót, đa số là bộ binh bắc phi, có lẽ do họ là những người đầu tiên bỏ chạy, họ cũng đưa được về 2 viên chỉ huy: thiếu tá Delcros và De Chergé. Thiếu tá Arnaud và đại úy Faugas đều bị bắt và làm tù binh của Việt Minh trong vòng 4 năm.
Viên phó của Le Page, thiếu tá Labataille đã tử trận trên đường đến Thất Khê, Charton, người dính đầy mảnh lựu đạn đã bị bắt, ông ta sống sót nhờ quân hàm quan năm của ông ta đã được VM nhận ra trước khi nhận phát lưỡi lê kết liễu. Le Page bị bắt 2 ngày sau bởi c42d84 chỉ huy bởi đại đội trưởng  Trần Đăng Khiên, một người nói tiếng Pháp rất giỏi.

Trên 5807 binh lính và sỹ quan của 2 binh đoàn, có tất cả 1388 người đã đến được Thất Khê hay Lạng Sơn trước khi những nơi này được di tản. Một số cũng đến được những nơi này sau đó để nhận thấy rằng chúng đã đổi chủ. Một viên hạ sỹ quan cùng 7 lính bắc phi đã đi bộ trong vòng 3 tuần, xử dụng thực phẩm của dân để cuối cùng đến được… Hải Phòng! Số còn lại đều đã chết trận hoặc làm tù binh của VM.
Trong binh đoàn Le Page có 1021 thoát được trên 3193, binh đoàn Charton chỉ có 367 trên 2614 (thong số của đại tá Lennuyeux gửi cho Carpentier).

Ngày 9/10 vào 21giờ15, hội chữ thập đỏ ở Hà Nội do giáo sư bác sỹ Huard hiệu trưởng trường y Hà Nội làm đại diện đã liên lạc được với phía Việt Minh và được thông báo là họ sẽ để những thương binh nặng ở trên đường số 4, điểm cao 703 cách Lũng Phai vài trăm mét. Sau khi thoả thuận lại, họ đồng ý cho phía Pháp đón thương binh ở sân bay Thất Khê ngày 18 vào 10 giờ. Giáo sư Huard sẽ đi với chuyến đầu tiên, cuộc không vận sẽ kéo dài đến ngày 4 tháng 11 với số lượng 4 chuyến bay mỗi ngày. Trung úy Faulques, bị thương nặng ở Cóc Xá, cũng ở trong số thương binh được trả lại. Thiếu tá Segretain tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù lê dương bị thương nặng khi bị bắt, trên đường cáng tới Thất Khê để được trao trả, đã qua đời và được phía Việt Minh chôn cất với nghi lễ quân đội.


Thảm kịch đường số 4 vẫn chưa kết thúc, tiểu đoàn biệt kích dù thuộc địa số 3 của đại úy Cazaux thả xuống Thất Khê ngày 8/10 với đại đội còn lại của tiểu đoàn dù lê dương số 1 cộng them đại đội 4 của trung đoàn 3 lê dương và trung đội thiết giáp đóng ở Thất Khê làm nhiệm vụ chặn hậu cho các đơn vị ở Thất Khê rút lui ngày mùng 10. Họ bị chậm lại 1 đêm để vượt sồng Kỳ Cùng mùa lũ khi các phương tiện vượt sông đã bị các đơn vị đi trước để lại bên kia sông. Họ sẽ bị chặn lại gần đèo Cách, ở địa danh Po Ké và Bản Nhậm bởi các tiểu đoàn địa phương 426, 428 sau đó là trung đoàn 174.

Tiểu đoàn biệt kích dù thuộc địa đang trong thời kì hồi hương nên không có đủ quân số. Họ phải chia ra từng nhóm nhỏ để bị tiêu diệt gần hết, chưa được 1 người lính dù trên 10 sẽ đến được Lạng Sơn. Đại uý Cazaux sẽ chết sau đó trong trại tù binh.
Trung đội thiết giáp, sau khi vứt những xe thiết giáp và bán xích của họ xuống song Kỳ Cung đã cùng lính dù chiến đấu, ở gần vị trí đồn 41 đông cũ, toàn bộ trung đội sau đó mất tích. Viên trung úy trung đội trưởng Pascal, sẽ chết bệnh 1 tháng sau trên đường đến trại tù binh. Hiện nay, 1 chiếc xe thiết giáp của đơn vị vẫn còn được trưng bày ở Thất Khê ngay cạnh đường số 4 trong 1 doanh trại quân đội.
Cũng như đại đội cuối cùng của tiểu đoàn dù lê dương đi chặn hậu cho đơn vị chặn hậu. Nó cũng biệt tích luôn, và 4 năm sau, viên đại úy Moreau đại đội trưởng sẽ được thả từ trại tù binh VM.
50 năm sau, lính dù và lính lê dương vẫn còn tranh cãi về việc họ đã bỏ những bốt dọc đường số 4 sớm quá.

Cuộc rút lui khỏi Thất Khê cũng do đại tá Constans chỉ đạo, nhưng ở đây không phải ông ta đã hốt hoảng như những người chặn hậu suy nghĩ. Cùng ngày hôm đó ông ta đã chuẩn bị việc rút khỏi Lạng Sơn sẽ xẩy ra 6 ngày sau. Ở Thất Khê, viên chỉ huy tiểu khu đã tỏ ra lung túng, ông ta đã trao cho viên phi công rời Thất Khê cuối cùng lá thư trăn trối của ông và chuẩn bị khá lộn xộn cuộc rút như việc quên để lại những con xuồng cho bộ phận chặn hậu vượt song Kỳ Cung, ngoài ra ông ta cũng quên thong báo cho bệnh viện quân y giã chiến của thiếu tá bác sỹ Rouchette, ông này chỉ biết được tin này khi gặp viên sỹ quan công binh cuối cùng sắp rời thị trấn. Đoàn bác sỹ, y tá và thương đã vội vã rời thị trấn, được đưa qua sông Kỳ Cung nhờ sự giúp đỡ của những người lính lê dương cuối cùng còn ở bờ bắc và họ đã đến được Nà Sầm an toàn một ngày sau mà không hề gặp 1 đơn vị Pháp cũng như VM trên đường.     


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: banzua trong 04 Tháng Tư, 2009, 01:51:35 pm
Vị trí các đơn vị Pháp trước chiến dịch đường số 4. Bản đồ lấy ở đây:

http://jaubert.chez.com/indchine.htm

(http://i288.photobucket.com/albums/ll163/banzua/implantationrc4.jpg)


Tiêu đề: Re: Le rendez-vous manqué Charton-Le Page
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Tư, 2009, 10:56:46 am
Trong link của bác banzua còn có cái bản đồ này cũng khá hay:

(http://jaubert.chez.com/zonedescombats.jpg)