Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 01:43:29 pm



Tiêu đề: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 01:43:29 pm
"Đúng ra Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có 36 người. Hai người hôm đó nhận nhiệm vụ đi lấy lương thực, thực phẩm về cho đội nên vắng mặt trong buổi thành lập. Hai người đó là ông Trần Quang Hùng (cựu tư lệnh phó quân chủng Phòng không - Không quân) và ông Điện (cựu tư lệnh phó quân chủng phòng không)".

Người ta còn cho rằng: Cụ Hồ rất giỏi Ngũ kinh, Tứ thư nên việc lập đội có 36 thành viên là chuyện hợp lý.

Nếu điều đó đúng theo tôi cũng nên bổ xung 2 ông Hùng, Điện vào danh sách Đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ngày đầu.


Đây là thông tin mà bạn E236 đã tin cho tôi, vậy đề nghị các bác cho ý kiến! Và đúng như thế thì có phải cải chính lại sách vở như đã từng làm với vụ xe tăng ta tiến vào dinh Độc lập.


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: copbien51 trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 10:25:17 am
Bác có thể kể cho tôi biết danh sách, đôi nét về về 36 vị trong Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đầu tiên không...


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: menthuong trong 22 Tháng Mười Hai, 2009, 09:43:21 pm
Không biết cuốn do new@ giới thiệu có không, bởi tôi tìm chưa ra cuốn đó!

...Ngoài thuật lại những ngày đầu của đội VNTTGPQ cho đến tháng 9 năm 1945, cuốn sách còn giá trị ở phần thông tin tổng quát về những chiến sỹ đầu tiên ấy.
Một cuốn sách tốt.


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:13:43 am
"Đúng ra Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có 36 người. Hai người hôm đó nhận nhiệm vụ đi lấy lương thực, thực phẩm về cho đội nên vắng mặt trong buổi thành lập. Hai người đó là ông Trần Quang Hùng (cựu tư lệnh phó quân chủng Phòng không - Không quân) và ông Điện (cựu tư lệnh phó quân chủng phòng không)".

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không phải chỉ có 34, và cũng không phải chỉ có 36 mà còn có hơn số đó. Cũng cần nhắc lại rằng cán bộ và chiến sĩ của đội được tuyển chọn từ những cán bộ và chiến sĩ các đội du kích, đội vũ trang do Đảng lãnh đạo, họ đến từ khắp nơi. Vì lý do đường xá xa xôi, lại thêm phải vượt qua đồn bốt địch... cho nên có nhiều người đến chậm. Chính vì lý do này mà trong ngày thành lập đội chỉ có đúng 34 người. Phải vài ngay sau đó thì nhiều người mới đến được nơi tập kết, có thể kể ra đây những người đến sau như Thượng tướng Đàm Quang Trung, Thượng tướng Vũ Lập, Trung tướng Nguyễn Văn Cừ... Chính vì vậy, điều dễ thấy trong tiểu sử của những vị này, ngày tháng năm nhập ngũ đều ghi là 22 tháng 12 năm 1944. Con số chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chắc chắn phải nhiều hơn 36 nhiều, bởi trong ngày thành lập đội được chia thành 3 tiểu đội nhưng chức vụ của tướng Đàm Quang Trung sau khi đến là trung đội trưởng. Do đó nếu như tính luôn trường hợp của Đại tá Trần Quang Hùng và Đại tá Nguyễn Văn Điện thì không biết sẽ phải thêm vào bao nhiêu người nữa?! Chính vị vậy nói 34 là đúng vì đây là quân số đầu tiên, vì trước thời điểm thành lập chắc chắn là khó biết quân số, vì số người tuyển chọn là do các đội du kích, vũ trang chọn lựa gửi về.

Thông tin thêm về Đại tá Trần Quang Hùng và Đại tá Nguyễn Văn Điện có thể xem xem trong:

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1667.270

Như vậy, năm nhập ngũ của Đại tá Trần Quang Hùng là tháng 3 năm 1945. Giả thiết có thể đặt ra là ông cũng đựoc tuyển chọn tham gia thành lập đội, nhưng vì lý do như trên ông không tham gia được. Sau đó ông không tiếp tục ở trong đội mà được giao nhiệm vụ khác.

Còn trường hợp của Đại tá Nguyễn Văn Điện thì có thể khẳng định chắc chắn là ông không tham dự buổi lễ thành lập nhưng là những người tiếp theo nhập ngũ. Một số chi tiết để khẳng định:

- Ngày nhập ngũ là 22 tháng 12 năm 1944.
- Tháng 12 năm 1944, ông là chiến sĩ Giải phóng quân Cao Bằng. Tiểu sử ông do Bộ Tư lệnh PKKQ ghi chưa chính xác, bởi Giải phóng quân mãi tận tầm tháng 4 tháng 5 năm 1945 mới thành lập dựa trên Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu Quốc quân. Như vậy Giải phóng quân Cao Bằng tương ứng với Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
- Trước khi vào đội thì ông là liên lạc cho lần lượt các ông Chu Văn Đế (Nam) và Đàm Quang Trung, cả hai ông đều là những người được tuyển chọn về thành lập Đội, riêng ông Chu Văn Đế là tham gia ngay từ ngày đầu tiên. Cho nên, Đại tá Nguyễn Văn Điện vắng mắt là do đi dẫn đường cho ông Đàm Quang Trung thì có lý hơn (vì khi đó là liên lạc của ông ĐQT).


Người ta còn cho rằng: Cụ Hồ rất giỏi Ngũ kinh, Tứ thư nên việc lập đội có 36 thành viên là chuyện hợp lý.

Cụ Hồ giỏi mấy thứ trên nhưng cụ không mê tín, cụ không chỉ giỏi mấy thứ trên mà còn hiểu biết biên chế quân đội. 3 tiểu đội, 34 người thì hơi... lẻ.



Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2009, 08:21:40 am
Em ủng hộ ý kiến của bác panphilov về việc không nên tính số thành viên đội VNTTGPQ là 36 người có cả hai đồng chí Trần Quang Hùng và Đại tá Nguyễn Văn Điện. Nếu tính cả hai người này thì quả thật phải tính rất nhiều người khác.

Đơn cử là trường hợp 3 nữ đồng chí: Trung tá Đàm Thị Loan (người Tày, phu nhân cố Đại tướng Hoàng Văn Thái), Nông Thị Thanh (sau là Bí thư huyện ủy Ngân Sơn, Giám đốc Bảo tàng Khu tự trị Tây Bắc, đã mất) và Hoàng Minh Cầm (sau này là Chủ tịch Hội Phụ nữ khu tự trị Tây Bắc). Cả ba bà đều có mặt tại rừng Trần Hưng Đạo ngày 19-12-1944, nhưng do được phân công chuẩn bị bữa cơm cho đội nên không tham dự lễ tuyên thệ. Ngay tối hôm ấy ba bà đã tham gia buổi liên hoan lửa trại của đội. Nhưng 3 bà vẫn không tính vào danh sách 34 đội viên đầu tiên:

1 - Trần Văn Kỳ, bí danh: Hoàng Sâm, dân tộc Kinh, quê: Tuyên Hoá, Quảng Bình;

2 - Dương Mạc Thạch, bí danh: Xích Thắng, dân tộc Tày, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

3 - Hoàng Văn Xiêm, bí danh: Hoàng Văn Thái, dân tộc Kinh, quê: Tiền Hải, Thái Bình;

4 - Hoàng Thế An, bí danh: Thế Hậu, dân tộc Tày, quê: Hà Quảng, Cao Bằng;

5 - Bế Bằng, bí danh: Kim Anh, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

6 - Nông Văn Bát, bí danh: Đàm Quốc Chưng, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

7 - Bế Văn Bồn, bí danh: Bế Văn Sắt, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

8 - Tô Văn Cắm, bí danh: Tiến Lực, dân tộc Tày, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

9 - Nguyễn Văn Càng, bí danh: Thu Sơn, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

10 - Nguyễn Văn Cơ, bí danh: Đức Cường, dân tộc Kinh, quê: Hoà An, Cao Bằng;

11 - Trần Văn Cù, bí danh: Trương Đắc, dân tộc Tày, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

12 - Hoàng Văn Củn, bí danh: Quyền, Thịnh, dân tộc Tày, quê: Võ Nhai, Thái Nguyên;

13 - Võ Văn Dảnh, bí danh: Luân, dân tộc Kinh, quê: Tuyên Hoá, Quảng Bình;

14 - Tô Vũ Dâu, bí danh: Thịnh Nguyên, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

15 - Dương Văn Dấu, bí danh: Đại Long, dân tộc Nùng, quê: Hà Quảng, Cao Bằng;

16 - Chu Văn Đế, bí danh: Nam, dân tộc Tày, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

17 - Nông Văn Kiếm, bí danh: Liên, dân tộc Tày, quê: Nguyên Bình, Thái Nguyên;

18 - Đinh Văn Kính, bí danh: Đinh Trung Lương, dân tộc Tày, quê: Thạch An, Cao Bằng;

19 - Hà Hưng Long, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

20 - Lộc Văn Lùng, bí danh: Văn Tiên, dân tộc Tày, quê: Cao Lộc, Lạng Sơn;

21 - Hoàng Văn Lường, bí danh: Kính Phát, dân tộc Nùng, quê: Ngân Sơn, Bắc Kạn;

22 - Hầu A Lý, bí danh: Hồng Cô, dân tộc: Mông, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

23 - Long Văn Mần, bí danh: Ngọc Trình, dân tộc Nùng, quê: Hoà An, Cao Bằng;

24 - Bế ích Nhân, bí danh: Bế ích Vạn, dân tộc Tày, quê: Ngân Sơn, Bắc Kạn;

25 - Lâm Cẩm Như, bí danh: Lâm Kính, dân tộc Kinh, quê: Thạch An, Cao Bằng;

26 - Hoàng Văn Nhưng, bí danh: Xuân Trường, dân tộc Tày, quê: Hà Quảng, Cao Bằng;

27 - Hoàng Văn Minh, bí danh: Thái Sơn, dân tộc Nùng, quê: Ngân Sơn, Bắc Kạn;

28 - Giáp Ngọc Páng, bí danh: Nông Văn Bê, dân tộc Nùng, quê: Hoà An, Cao Bằng;

29 - Nguyễn Văn Phán, bí danh: Kế Hoạch, dân tộc Tày, quê: Hoà An, Cao Bằng;

30 - Ma Văn Phiêu, bí danh: Bắc Hợp, dân tộc Tày, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

31 - Đặng Tuần Quý, dân tộc Dao, quê: Nguyên Bình, Cao Bằng;

32 - Lương Quý Sâm, bí danh: Lương Văn Ích, dân tộc Nùng, quê: Hà Quảng, Cao Bằng;

33 - Hoàng Văn Súng, bí danh: La Thanh, dân tộc Nùng, quê: Hà Quảng, Cao Bằng;

34 - Mông Văn Vẩy, bí danh: Mông Phúc Thơ, dân tộc Nùng, quê: Võ Nhai, Thái Nguyên;

(Danh sách 34 đội viên trên em lấy ở đây: http://www.caobang.gov.vn/default.aspx?tabid=253&ID=649&CateID=)


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: lonesome trong 23 Tháng Mười Hai, 2009, 11:55:21 am
Em nghĩ nếu lấy số 34 người thì nên gọi đây là danh sách những người tham gia tuyên thệ thì chính xác hơn là DS các TV đội VNTTGPQ.


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: caytrevietnam trong 23 Tháng Mười Hai, 2009, 11:58:02 am
Có thằng em mới lên miền núi làm 1 bài nhân ngày 22/12, nội dung viết về 1 trong những người lính của đội VNTTGPQ

http://www.baodatviet.vn/Home/congdongviet/Gap-lai-chien-si-tre-nhat-Doi-VN-tuyen-truyen-giai-phong-quan/200912/73525.datviet

Nghe nó kể thì các cụ hiện nay mất cả rồi, chỉ còn 3 người (kể cả cụ Giáp)


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Mười Hai, 2009, 12:07:29 pm
Có thằng em mới lên miền núi làm 1 bài nhân ngày 22/12, nội dung viết về 1 trong những người lính của đội VNTTGPQ

http://www.baodatviet.vn/Home/congdongviet/Gap-lai-chien-si-tre-nhat-Doi-VN-tuyen-truyen-giai-phong-quan/200912/73525.datviet

Nghe nó kể thì các cụ hiện nay mất cả rồi, chỉ còn 3 người (kể cả cụ Giáp)

Buồn, lúc mà Internet đã phát triển và điều kiện cũng khá hơn thì hầu hết những nhân chứng sống lại không còn.
Bây giờ mà không có những người như bạn bác Tre thì cũng chẳng có ai lo chuyện ghi chép lại, và tầm chục năm nữa chắc cũng chỉ còn toàn sử bàn giấy để đọc.

Ước gì có thể gạt bỏ hết vướng bận...


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Mười Hai, 2009, 04:18:07 pm
Nhân tiện mới đọc bài viết này trên Báo Quân đội Nhân dân hôm qua.

Việt Minh đánh đâu được đấy

(http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2009/12/22/211209hha47.jpg)

Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của Thiếu tá Ngô Đức Thụ, phóng viên Báo và Truyền hình Quân khu 1, chúng tôi được gặp cụ Lê Thị Chói (tức Lê Minh Cầm) tại nhà riêng. 90 tuổi, lưng còng, bước đi đã chậm, nhưng trí nhớ của cụ vẫn rất tuyệt.

Kể lại những tháng năm tuổi trẻ tham gia phục vụ cách mạng, cụ để lại cho chúng tôi nhiều cảm phục về tấm lòng của một đảng viên suốt đời hi sinh, cống hiến cho cách mạng. Sớm tham gia tổ chức Hội Việt Minh từ những năm 1941 ở quê hương Hòa An (Cao Bằng), vận động nhân dân đoàn kết, chống bắt phu, đi lính cho phát xít, thực dân… khi phong trào phát triển và bị bọn mật thám ra tay trấn áp, Minh Cầm và một số đồng chí phải lánh sang Nguyên Bình hoạt động. Tại đây, cụ vinh dự được chứng kiến ngày Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời…

Hào khí cách mạng của một thời tuổi trẻ như sống lại, cụ kể: Cấp trên thấy phong trào lên mạnh, nhân dân một lòng theo Đảng, nên lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức một đội vũ trang, nhằm gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong nhân dân và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Nhiều người con ưu tú của Cao Bằng được lựa chọn tham gia đội quân đầu tiên ấy. Bộ phận nấu ăn cho đội có 3 phụ nữ  là Minh Cầm, Nhật Thành và Nhật Tâm (tên bí danh). Nhớ lại thời khắc lịch sử, cụ kể: Hôm ấy, vào buổi chiều muộn (ngày 22-12-1944), nắng không còn xiên xuống tán rừng, lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được tổ chức tại núi Sam Cao, trong khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, nay là xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình. Buổi lễ đơn giản, nhưng trang nghiêm. Đội gồm 34 chiến sĩ, xếp thành hàng, đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh; đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng trước hàng quân. Trước đông đảo đại biểu của các dân tộc Tày, Nùng, Dao của hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và đại biểu của Liên tỉnh ủy, cán bộ, chiến sĩ của Đội đồng thanh đọc 10 lời thề danh dự của Quân đội cách mạng Việt Nam, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khi được tổ chức giao phó...

Sau lễ tuyên thệ, bộ phận hậu cần được giao chuẩn bị một bữa cơm để “liên hoan”. Bữa cơm hôm đó chỉ có ít muối; cơm được nấu bằng nồi đất và mấy ống lam. Cấp trên, cấp dưới, cán bộ, đội viên ngồi quây quần bên nhau, vừa ăn vừa nghe các đồng chí lãnh đạo nói chuyện về tình hình cách mạng thế giới, cách mạng Trung Quốc đang phát triển mạnh, có lợi cho ta. Trong lòng ai cũng rất phấn khởi...

Giọng kể khúc chiết, ánh mắt sáng lên và rất xúc động, cụ kể tiếp cho chúng tôi về những ngày đầu của đội quân cách mạng.

Hôm đi đánh đồn Phai Khắt, đồng chí Võ Nguyên Giáp cải trang, đội mũ phớt giống như “Ty châu đi kinh lý”, một anh người Dao dắt ngựa, một anh gánh hai bó lúa. 5 giờ chiều ngày 25-12-1944, toàn đội cải trang, nhanh chóng tiến thẳng vào đồn, bất ngờ đột nhập kho vũ khí, buộc địch nộp súng đầu hàng. Tên đồn trưởng Pháp vừa ở châu về chưa kịp trở tay đã bị bắn chết. Trận đánh đồn Phai Khắt chỉ mất ít phút, ta thu hơn chục khẩu súng và bắt sống 17 tên lính dõng... Sau trận đánh, cán bộ đội họp với địa phương bàn cách đối phó với địch, phân phát chiến lợi phẩm cho đồng bào, chỉ giữ lại một ít thóc gạo, rồi lại cấp tốc hành quân đi đánh đồn Nà Ngần. Sáng sớm hôm sau (ngày 26-12-1944), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân lại cải trang như một đội lính dõng, nhanh chóng chiếm đồn Nà Ngần. Tên quan khố đỏ và hai tên lính chống cự bị bắn chết tại chỗ, số còn lại đầu hàng, ta thu 30 khẩu súng... Đội quân cách mạng hạ liên tiếp hai đồn giặc, tin ấy lan nhanh khắp các thôn xóm, bản làng.

Dừng một lát, cụ kể: Sau khi bắt tù binh, đội giải thích cho họ rằng, Việt Minh làm cách mạng, đánh đồn là để giải phóng nhân dân, giải phóng đất nước, người Việt Nam không đánh người Việt Nam. Đội quân của Việt Minh “đông” lắm, có cả phụ nữ, rất thiện chiến, Việt Minh đánh đâu được đấy... rồi thả họ.

Người phụ nữ dân tộc Tày có vinh dự được phục vụ, chứng kiến những ngày đầu chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, sau này trở thành Bí thư Huyện ủy đầu tiên của huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, Hội trưởng Hội phụ nữ Khu tự trị Việt Bắc, Đại biểu Quốc hội khóa 2... Và niềm hạnh phúc lớn đối với cụ: Đúng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm nay (3-2-2009) cụ vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh.

Bài và ảnh: NGÔ ANH THU (theo Báo Quân đội Nhân dân)


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:50:36 pm
Có thằng em mới lên miền núi làm 1 bài nhân ngày 22/12, nội dung viết về 1 trong những người lính của đội VNTTGPQ

http://www.baodatviet.vn/Home/congdongviet/Gap-lai-chien-si-tre-nhat-Doi-VN-tuyen-truyen-giai-phong-quan/200912/73525.datviet

Nghe nó kể thì các cụ hiện nay mất cả rồi, chỉ còn 3 người (kể cả cụ Giáp)

Nguồn này của bác Tre nói ông Hà Hưng Long là chiến sĩ trẻ nhất của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (20 tuổi). Nhưng em lại thấy có nguồn khác khẳng định đồng chí Long Văn Mần mới là chiến sĩ trẻ nhất (16 tuổi):

http://www.luutruvn.gov.vn/Pages/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?itemid=697&listId=cb018edc-28eb-4aca-9b21-bd3ad3eef91d&ws=content


Tiêu đề: Re: Về số thành viên của đội tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 08:46:40 am
Em mới tìm lại được bài này, có thêm một số chi tiết về chiến sĩ Ngọc Trình và trận Chè Cáy:

Ngọc Trình là người dân tộc Tày, quê ở Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Anh vốn là một trong 34 chiến sĩ ở đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đầu tiên được thành lập trong khu rừng Trần Hưng Đạo ngày 22-12-1944, đứng thứ 32 trong bản danh sách của đội.

Một phân đội Giải phóng quân đã từ Cao Bằng xuống Lạng Sơn hoạt động từ sau ngày 9-3-1945 đến những năm 1946-1947-1948 và đầu 1949. Thực hiện chủ trương của Bộ Tổng chỉ huy là “Đại đội độc lập - tiểu đoàn tập trung”, một số cán bộ Giải phóng quân được cử về các huyện, nhất là các huyện dọc đường số 4, như Tràng Định, Thoát Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình.

Anh Ngọc Trình được cử về huyện Thoát Lãng, huyện lị là thị trấn Na Sầm, giữ chức trung đội trưởng thuộc đại đội độc lập địa phương huyện.

Anh người thấp bé, các chị em bán hàng rất hay trêu đùa, nên anh dễ làm quen thân với thanh thiếu niên trong làng. Tính tình hoạt bát, nhanh nhẹn, chịu khó nên anh được dân làng rất mến. Anh lại nói năng nhỏ nhẹ dịu dàng, nên công tác dân vận rất khéo; nơi nào có khó khăn, nếu có mặt anh là công việc vận động đều được tiến hành thuận lợi và có hiệu quả.

Chính nhờ tác phong dễ hòa mình với nhân dân, nên anh đã vận động được thanh thiếu niên đưa trâu bò đến gần các đồn bốt địch, thả cho ăn cỏ. Từ đấy, mới gặp gỡ bắt nhân mối được với một số lính ngụy trong đồn Chè Cáy ở cách Na Sầm khoảng 3km về phía na, trên đường số 4 đoạn Đồng Đăng- Nam Sầm. Được giác ngộ, họ sẵn sàng làm nội ứng cho ta.

Nhân dịp ở đồn Chè Cáy, viên sĩ quan chỉ huy Vít-cô phải đổi về Lạng Sơn, quan mới về thay, tổ chức bữa tiệc tiến quan cũ, đón quan mới vào tối 12-9-1948. Thời cơ đến: đánh vào lúc địch liên hoan chè chén say sưa, hẳn thắng lợi là chắc chắn.

Đồn Chè Cháy ở trên một ngọn đồi xung quanh cây cỏ rậm rạp. Ngay tối hôm trước, ta đã bố trí ém phục ở lưng chừng đồi. Đây là một hành động rất cảm tử và táo bạo. Chỉ cần một nhân mối phản bội, hay một lính ngụy nào bất ngờ phát hiện ra là ta sẽ bị tiêu diệt.

Ngọc Trình rất tin vào các nhân mối của mình, anh trực tiếp chỉ huy bộ phận đó. Theo hẹn ước, đúng lúc tại phòng tiệc, hai quan Tây nâng cốc chúc tụng nhau theo nghi lễ tống cựu nghinh tân, người lính gác cổng là nhân mối của ta mở cổng cho trung đội Ngọc Trình ập vào. Những nhân mối khác gác lô cốt đóng chặt cửa lại, không  cho kẻ nào thoát ra.

Mọi việc diễn ra rất nhanh gọn. Cả hai tên đều bị bắn chết ngay tại chỗ. Số ngụy còn lại quy hàng. Ngọc Trình giải thích chính sách Việt Minh là đánh Pháp cứu nước, chứ không làm hại ai là người Việt Nam và ra lệnh giải thoát cho ngụy binh tại chỗ. Bộ đội thu vũ khí đạn dược, hạ lệnh phóng hỏa, đốt đồn bốt, nhanh chóng kéo quân về hậu cứ ở làng Pác Lạn, quê hương của đồng chí Hoàng Văn Thụ. Bà con dân bản tay bắt mặt mừng, đem tặng một con lợn để khao quân, mừng thắng lợi.

Sau chiến thắng Chè Cáy, Ngọc Trình được đề bạt lên làm đại đội trưởng đại đội độc lập huyện Thoát Lãng, thay đồng chí Đinh Giang lên tỉnh để xây dựng, tổ chức đơn vị mới.

Đầu năm 1949, cách mạng Trung Quốc đang trên đà phát triển mạnh, song do Quốc dân đảng dồn sức, cố bám giữ lấy miền Nam lục địa Trung Hoa, nên tình hình khu vực biên giới Trung - Việt rất khó khăn phức tạp.

Trước tình hình đó, tháng 3-1949, Trung Quốc cử đại diện sang ta, gặp Trung ương Đảng ta và đề nghị cho quân đội sang giúp xây dựng, củng cố Biên khu Điền Quế và Việt Quế (giáp Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh) để phát triển lực lượng chính trị và vũ trang, chuẩn bị hưởng ứng đón “đại quân Nam hạ”.

Với tinh thần quốc tế vố sản, coi giúp bạn cũng là tự giúp mình, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã chấp nhận đề nghị đó, để Bộ Tổng Tư lệnh đưa một bộ phận lực lượng sang phối hợp hoạt động trên đất Trung Quốc, mặc dù bên phía ta cũng đang gấp rút tiến hành chuẩn bị cho chiến dịch đường số 4.

Mũi từ Lạng Sơn có một lực lượng của Trung đoàn 28 do đồng chí Long Xuyên, Trung đoàn phó, chỉ huy, có hai đại đội địa phương của huyện Văn Uyên và huyện Thoát Lãng phối hợp. Đại đội Thoát Lãng do Ngọc Trình chỉ huy.

Đêm 12-5-1949, bộ đội Lạng Sơn vượt biên giới. Ngày 13-6, đánh đồn Hạ Đống (trên đất Long Châu, Trung Quốc). Một vùng đất đai rộng lớn, từ Thủy Khẩu, Bằng Tường xuống Ninh Minh (đối diện dọc biên giới ta từ Cao Bằng xuống Lạng Sơn) được quân ta giải phóng. Bộ đội đơn vị E28 Lạng Sơn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn mở rộng khu căn cứ và làm công tác vận động nhân dân bạn xây dựng cơ sở chính trị, tặng cường thắt chặt tình hữu nghị Trung - Việt ở vùng biên giới hai nước.

Riêng Ngọc Trình, người cán bộ đại đội trưởng ưu tú của đại đội địa phương huyện Thoát Lãng, có tài nắm địch, bắt nhân mối, làm công tác vận động binh lính ngụy khôn khéo, từng hạ đồn Chè Cáy năm trước, đến lần triển khai đơn vị sang Trung Quốc chiến đấu, đã tung hoành dũng cảm dẫn đầu đơn vị đuổi đánh địch từ trên đường Mục Nam Quang (nay là Hữu Nghị Quan) đến Bằng Tường, chẳng may bị một viên đạn trung liên bắn trúng giữa ngực, đã anh dũng hi sinh trên đất bạn.

Đồng đội và nhân dân Trung Quốc ở Bằng Tường vô cùng thương tiếc, đã đem thi hài Ngọc Trình cùng thi hài một tiểu đội phó của ta (người Bản Cháu, xã Trùng Quán, huyện Thoát Lãng, Lạng Sơn) và thi hài một du kích quân của bạn (người Trung Quốc) đem đến mai táng ở quả đồi gần làng Khòn Luông, Ái Hẩu, thuộc Bằng Tường (Trung Quốc).

Lúc hi sinh, Ngọc Trình đã có vợ, người xã Hoàng Việt, huyện Thoát Lãng (Lạng Sơn) và đang có thai được 6-7 tháng. Sau khi sinh, vợ anh đặt tên con là Long Văn Đăm (theo họ của Ngọc Trình). Hiện nay ông Đăm đang sinh sống ở Thôn Mè, xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

(Theo Tạp chí Thế giới mới của Bộ GD-ĐT, số 637, tác giả: đại tá Nông Văn Cận - nguyên chy phó tỉnh đội Lạng Sơn).