|
Tiêu đề: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Hai, 2009, 06:19:14 pm MỘT THỦA Tập truyện và ký Tác giả: Phạm Đình TrọngNhà xuất bản văn hoá Sài Gòn Xuất bản năm: 2008 Số hóa: Baogt LỜI GIỚI THIỆU Tôi đang cầm trong tay tập truyện và ký của nhà văn Phạm Đình Trọng. Nói là để viết lời tựa cho cuốn sách của anh thì tôi không dám vì anh là nhà văn lại là người lính cùng thời với tôi. Chúng tôi có nhiều kỉ niệm với nhau, duyên nợ với nhau, nhưng thường là những kỷ niệm buồn, duyên nợ nhạt. Tôi luôn coi mình là loại "công ít, tội nhiều", viết lách lăng nhăng, đua đòi câu chữ. Còn Trọng thì khác. Anh tỉnh hơn, nết na hơn, ít mê sảng hơn tôi. Anh thuộc loại người rạch ròi, quyết liệt. Yêu đất nước đến mức quá khích. Anh hay gây sự với thói hư tật xấu của người đời và luôn nhận về những thất bại. Tuy vậy, văn chương của anh lại khác. Điềm tĩnh, nồng nàn, sâu lắng đến kinh ngạc! Phạm Đình Trọng đặt tên cho cuốn sách của anh là Một thủa. Khi dùng chữ "Thủa" là anh có dụng ý nói về cái đã qua, đã muộn hoặc đã trở thành kỷ niệm. Một thủa của anh bao hàm một không gian mở trong khoảng thời gian hơn 30 năm, thậm chí còn dài hơn thế! Nó có thể bắt đầu từ khí cái làng An Phú Đông trở thành "Thánh địa kháng chiến của nhân dân Gia Định - Sài Gòn". Ở đó có những chàng trai xứ Bắc tham gia kháng chiến và đã viết lên bài tráng ca "An Phú Đông" bất tử. Khoảng thời gian ấy cũng có khi đánh dấu bằng cuộc đổ bộ lên quần đảo Trường Sa của các chiến sĩ Hải Quân anh hùng. Đọc Một thủa của Phạm Đình Trọng, tôi đã mất đi cảm giác xơ cứng! Những điều anh tâm sự, gửi gắm trong tác phẩm tuy xẩy ra vào thời gian đã qua, nhưng lại nóng hổi bởi hơi thở cùng những bức xúc hiện tại. Cách kể chuyện của anh thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc hiện tại, lúc xa xăm, làm cho người đọc phải đeo bám tới cùng. Cho dù là viết về quá khứ nhưng Phạm Đình Trọng đã biết cách khai quật lãng quên, buộc người ta phải cúi đầu nhìn lại những giá trị cũ theo cách tiếp cận mới. Anh cung cấp cho người đọc một nguồn thông tin đồ sộ qua từng số phận và từng địa danh gắn với lịch sử. Những dữ liệu mà anh cung cấp không chỉ làm phong phú tri thức cho người đọc mà còn giúp cho họ có cái nhìn khách quan, biện chứng khi tiếp cận lịch sử. Có thể nói điểm mạnh trong Một thủa của Phạm Đình Trọng là anh luôn trung thành và đưa vào tác phẩm của mình hình ảnh những người lính thực thụ. Đó là những con người dũng cảm, luôn chấp nhận thua thiệt, bởi họ không dám khác, không nỡ sống khác với bản thân của mình. Họ "lẩm cẩm" trong đời đôi khi chỉ là để giữ cho phần hồn được trăng trong, thanh thản. Điều làm tôi xúc động nhất chính là những bài ký anh viết trong khoảng thời gian tham gia chiến đấu chống xâm lược tại mặt trận phía Bắc và khoảng thời gian anh đi thực tế sáng tác ở quần đảo Trường Sa. Tại đây, anh đã chia sẻ với những người lính nối ưu tư, lòng khát khao và cả niềm hy vọng. Dưới ngòi bút của anh, những người lính nhọc nhằn, xơ xác ấy đang vật vã chịu đựng khó khăn đến nhức nhối. Họ vừa bước qua thời bão giông, lại phải gồng lưng gánh vác một thời giông bão. Cái "nợ" non sông tưởng trả xong, lại nhận thêm món nợ Non sông mới. Có những người lính chưa lo xong nhiệm vụ cứu nước, đã phải xin đồng đội về quê để lo việc "cứu nhà". "Nếu mình không về thì các con của mình hư hết. Mình không thể đẩy cho xã hội những sản phẩm hư hỏng được. Đời mình khổ nhưng sống lương thiện. Đời các con mình liệu có lương thiện không?" Đọc Một thủa của Phạm Đình Trọng, chúng ta không thể không yêu thương, kính phục người lính Trường Sa. Họ đại diện cho dân tộc Việt, bảo vệ những phần đất nhỏ nhoi nhưng rất đỗi thiêng liêng của non nước Việt. Họ kiên nhẫn tạo dựng cho mình hình ảnh của một làng quê; từ vườn rau, ao cá cho đến cả tiếng gà. Dưới ngòi bút Phạm Đình Trọng, người lính Trường Sa hiện lên với vẻ đằm thắm và thánh thiện vô cùng! Cũng thánh thiện vô cùng khi họ phải vượt qua sóng gió, hiểm nguy để cứu vớt một người nước ngoài mà ít phút trứoc đó đã vi phạm chủ quyền Việt Nam ở Hòn Chim. Chuyện tưởng có thế! Nhưng đằng sau nó là cả một bài học lớn. Bài học muôn thủa về chiến lược giữ nước mà Tổ tiên để lại cho chúng ta chính là tình yêu. Chỉ có sức mạnh của tình yêu mới giúp cho chúng ta chiến thẳng được kẻ thù có tình yêu sức mạnh. Chỉ có sức mạnh của tình yêu mới giúp cho chúng ta giữ vững hoà bình. Đó cũng chính là lời nhắn gửi sâu kín mà Phạm Đình Trọng chia sẻ với người đọc qua những trang viết của anh. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2008 Văn Lê Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 27 Tháng Hai, 2009, 08:14:52 pm Phiên chợ Biên Giới Bút kíĐường số Một từ Hà nội lên Lạng Sơn đã mở rộng và nâng cấp cho bốn làn ôtô chạy tốc độ cao nhưng từ thành phố Lạng Son lên chợ biên giới Tân Thanh con đường số Bốn vẫn nhỏ hẹp như thời hùm xám đường số Bốn Đặng Văn Việt chỉ huy trung đoàn chặn đánh đoàn xe chở lính Pháp đi ứng cứu đồn Đông Khê, Thất Khê bên Cao Bằng bị quân ta tiêu diệt hơn nửa thế kỉ trước. Con đường quanh co giữa những vách núi đá hoang vu bây giờ nườm nượp ôtô xuôi ngược. Chiếc ôtô con của chúng tôi cứ phải bám sau một chuỗi dài ôtô vận tải, không làm sao vượt lên được vì liên tục có ôtô ngược chiều. Ô tô xuôi ngược mang biển số đăng kí của hầu hết các tỉnh thành trong nam ngoài bắc. Xe từ đồng bằng Bắc Bộ, Thái Bình, Nam Định ... Xe từ các tỉnh của dải đất dằng dặc miền Trung, Nghệ An, Quảng Bình, Khánh Hòa, Phan Thiết ... Xe từ cao nguyên Lâm Đồng, Đắc Lắc… Xe từ cuối đất Nam Bộ, Cà Mau, An Giang. Nhiều nhất vẫn là xe có biển đăng kí 29..., 31... và 53..., 54... của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Xe tải của các công ty thương mại chở hàng nông sản đi và chở hàng tiêu dùng về. Xe du lịch lớn, nhỏ của cơ quan nhà nước, của tư nhân chở người lên chợ biên giới mua sắm. Thời hùm xám Đặng Văn Việt biến con đường số Bốn thành con đường lửa đốt cháy đoàn xe nhà binh Pháp thì tôi còn là đứa bé ê a học và lòng. Nhưng đến cuộc chiến tranh chống Mỹ tiếp ngay sau đó, tôi đã là người lính. Là lính thông tin rồi lính viết báo, viết văn, tôi đã trải qua liền ba cuộc chiến tranh. Tôi đã đi suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Tôi đã có mặt trong mũi tiến công của hải quân ta từ ngoài biển đánh vào cảng Công Pông xom (cảng Xihanuk ville) trong chiến dịch đánh đuổi quân Pôpốt giải phóng Cămpuchia khỏi họa diệt chủng tháng một năm 1979. Tôi đã có mặt ở Cao Bằng tháng ba năm 1979 khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc vừa bùng nổ. Tôi đã có mặt Ở Vị Xuyên, Hà Giang tháng ba năm 1987, khi cuộc chiến ở đây đang mất đi, giành lại từng mỏm đồi, từng chóp núi. Cuộc chiến tranh chống Mỹ là cuộc chiến tranh tổng lực càng ngày càng khốc liệt. Ngày ấy chúng tôi còn trẻ lắm và chúng tôi vẫn tin chúng ta sẽ chiến thắng nhưng không ai dám nghĩ rằng chiến thắng sẽ đến với thế hệ chúng tôi. Thế mà chúng tôi ra trận lòng cứ phơi phới nhẹ không. Là chuẩn úy vừa tốt nghiệp ở trường sĩ quan ra phụ trách một trung đội vô tuyến điện, tôi được trang bị chiếc máy thu thanh bán dẫn Li do của Hungari mà lính vẫn gọi là chiếc đài Lí Do. Cảm hứng anh hùng ca lâng lâng trong ..câu hát từ chiếc máy thu thanh cùng chúng tôi đi suốt con đường Trường Sơn nhọc nhằn gian khổ: Có những ngày vui sao Cả nước lên đường Xao xuyến bờ tre Từng hồi trống giục ... Cuộc chiến đấu chống bọn Pôn pốt ở Cămpuchia khởi đầu từ cuộc chiến đấu tự vệ giữ gìn sự toàn vẹn bò cõi ở biên giới Tây Nam. Chính quyền Pôn pốt điên cuồng thực hiện chính sách của nước ngoài, biến cả đất nước Campuchia xinh đẹp thành trại tập trung đày đoạ và tàn sát chính dân tộc Campuchia cùng với việc gây hấn lấn chiếm lãnh thổ nước ta. Còn chính quyền thù địch Pônpốt thì biên giới tây nam của ta không bao giờ yên ổn! Vì thế vừa đánh xong giặc Mỹ chúng ta lại phải hành quân vào một cuộc chiến tranh mới. Dù phải mệt mỏi, dai dẳng tới mười năm từ 1979 đến 1989, nhưng với đội quân vừa đánh thắng Mỹ thì bọn giặc áo đen Pôn pốt chỉ là một đám giặc cỏ! Cuộc chiến đấu ở dải biên giới phía bắc vẫn là cuộc chiến đấu giữ gìn bờ cõi, bảo toàn lãnh thổ thiêng liêng, vẫn là người lính đã làm nên chiến công thắng Mỹ nhưng trong lòng họ không còn khí thế phơi phới anh hùng ca của cuộc chiến tranh chống Mỹ, họ cũng không còn thế thượng phong như trước đám giặc cỏ Pônpốt. Cuộc chiến đấu ở dải biên cương này chỉ ở phạm vi cục bộ nhưng nặng nề, mệt mỏi gấp nhiều lần hai cuộc chiến tranh kia. Mệt mỏi, nặng nề tù trong lòng người lính. Thời chống Mỹ, cả xã hội đều nghèo khổ, ai cũng như ai đều chấp nhận chịu đựng, hi sinh, dành tất cả ưu ái cho mặt trận. Thằng giặc chia cắt non sông đã bị đánh tan. Đất nước thống nhất đi vào xây dựng, phát triển kinh tế. Trong cuộc sống đó, những người có vị trí làm ăn thuận lợi trở nên giàu có. Còn những người lính đi từ cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác thì bố, mẹ, vợ, con họ vẫn cơ cực, khốn khó như xưa, khốn khó hơn xưa. Nghịch cảnh ấy hàng ngày diễn ra trong cuộc sống của chính bản thân người lính, trong gia đình họ và trong xã hội. Với bộ quận phục dãi dầu, với công việc viết kịch bản phim tài liệu quân đội, hai mươi năm trước tôi đã đến điểm cao ác liệt nhất trên dải biên cương phía Bắc này và tôi nhận ra ngay cuộc chiến đấu âm thầm, dai dẳng, không kém phần quyết liệt ngay trong lòng mỗi người lính ở đây. Lầm lũi chịu đựng vượt lên, hàng ngày đổ máu giữ từng mẩu đất Tổ quốc, số phận nhũng người lính ấy cứ dai dẳng ở lại trong trí nhớ, trong tình cảm của tôi. Hôm nay trong dòng xe hối hả đổ lên chợ biên giới, nhìn những vách núi, những điểm cao giăng giăng suốt một dải biên cương tôi lại nhớ một vách núi, một điểm cao tôi đã từng đến trong những ngày khắc nghiệt đó. Trong chiếc xe du lịch bốn chỗ êm ái, mát lạnh, bon bon lên chữ biên giới Tân Thanh, suy nghĩ của tôi cứ ngược thòi gian trở về một chuyến lên biên giới thời không bình yên. Trong dòng ôtô hối hả xuôi ngược, trong dòng hàng hóa cuồn cuộn chảy, trong tấp nập bán mua kia liệu đã bình yên? Và tôi mỏ sổ đọc lại những ghi chép hai chục năm trước. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 27 Tháng Hai, 2009, 08:16:05 pm Con đường lớn bám theo bờ tây nam sông Lô càng ngược lên phía bắc càng chênh vênh dốc, càng gập ghềnh, quanh co giữa núi non chất ngất. Qua khỏi thị xã Hà Giang, con đường lại bị đạn pháo tù phía bắc bắn sang, đào xới nham nhở nên càng trắc trở, hiểm hóc. Từ đây lên biên giới, con đường chỉ có những người lính qua lại. Rồi đến bóng nhũng người lính cũng không còn nữa. Họ đã bỏ con đường lớn rẽ vào những con đường nhỏ ẩn hiện trong cây rừng. Sau cùng, những con đường nhỏ cũng không còn. Chỉ còn nhưng triền núi đất, nhưng triền núi đá giăng giăng như những bức tường thành, tầng tầng lớp lớp. Chỉ còn những đỉnh núi chót vót chon von lẫn trong mây sớm, chìm trong sương chiều. Những điểm cao này không phải chỉ nằm trong tầm đạn pháo, cối mà còn nằm ngay trong tầm đạn pháo bắn thẳng từ phía bắc. Có điểm cao phải hứng đạn nhiều đến nỗi đá núi bị lửa đạn nung thành vôi. Núi đá trước đây xanh rì cây và xám đen rêu phủ nay thành núi vôi trắng xóa. Trên những điểm cao đó, đến đường bay của những cánh chim trời cũng không còn nữa. Nhưng trên tất cả những điểm cao của đất đai Tổ quốc ở vùng biên cương nóng bỏng này đều có những người lính thân yêu của chúng ta đang trấn giữ.
Giữa những điểm cao chất ngất thì Xê Ba là một điểm cao rất bình thường nằm sâu trong lãnh thổ nước ta tới hơn một cây số. Nhưng con đường lên Xê Ba cũng vô cùng ác liệt, hiểm nguy.. Cuối năm 1986, trong một đợt hoạt động quân sự quyết liệt khác thường, quân lấn chiếm cố liều chết chiếm bằng được Xê Ba. Một tuần sau, trong một đêm tập kích bất ngờ một đơn vị nhỏ của trung đoàn đặc công 113 đã giành lại Xê Ba và giao cho 1 một đơn vị bộ binh trấn giữ. Đi viết về những người lính đặc công, tôi được Bộ Tư lệnh Đặc công dẫn trung đoàn 113 và tôi đã cùng những người lính giành lại Xê Ba đi lại con đường lên điểm cao Xê Ba. Từ đó tôi đã hiểu thêm về những điểm cao khác mà họ đã chiếm lĩnh. Hai ngày sau tôi đến đơn vị thì tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Hưởng, người chỉ huy chung trận đánh Xê Ba mới dẫn một tổ trinh sát đi nắm địch trở về. Trong tổ trinh sát có anh lính trẻ Phạm Ngọc Bích mà tôi đã được nghe kể rằng trong một lần đi trinh sát Xê Ba, Bích cho tay sờ vào một cửa hang lấy được cả gói lương khô của địch mang về báo cáo. Đến một cửa hang khác rộng hơn và có tiếng ngáy đều đều từ rất sâu trong hang, Bích chống tay vào miệng hang thả người xuống quờ chân thăm dò liền đạp phải vai thằng giặc ngủ trong hang. Tên giặc tung chăn hốt hoảng vùng dậy. Trước khi biến vào đêm tối, Bích còn kịp nhận ra hơi ấm và mùi khét lù chiếc chăn thốc ra, tiếng bọn giặc lục xục vùng dậy báo cho Bích biết trong hang khá rộng và chứa khá nhiều giặc. Hai đêm sau lên thanh toán lũ giặc, Bích tìm đường đến hang đó và dành cho nó ba quả thủ pháo, trong đó có cả quả thủ pháo một cân. Đánh xong, vào kiểm tra, Bích thấy những tên giặc chiếm đất chết giập vẫn còn nằm nguyên trong chăn. Chiếc chăn ngoài cùng chỉ còn những mảnh vụn nhỏ. Nghe kể về những hành động chiến đấu của Bích, tôi hình dung ra Bích là một người lính tùng trải, có bề dày thời gian ở biên giới và có thâm niên trận mạc. Tôi rất ngạc nhiên được biết khi đánh Xê Ba, Bích mới tròn hai mươi tuổi đời, chưa đầy hai tuổi quân, mới lên biên giới chưa được ba tháng và trước đó chưa tham gia một trận chiến đấu nào. Non trẻ vậy, làm sao Bích có được bản lĩnh chiến đấu bình tĩnh gan dạ, chủ động đến như vậy? Trong số rất ít người lên Xê Ba chỉ có thượng úy Cao Hoàng Việt, đại đội trưởng trục tiếp làm mũi trưởng là đã ở đặc công hơn mười năm còn lại đều là lính mới như Bích và họ cũng đã chiến đấu như Bích. Bích kể: - Từ hồi còn đi học, em đã say mê đọc nhiều truyện trên sách báo kể về những trận đánh của đặc công ta ở sân bay Biên Hoà, ở tổng kho Long Bình, ở kho xăng Nhà Bè, ở kho bom Thành Tuy Hạ, ở cảng Cửa Việt. Rồi trận đánh vào sân bay Buôn Ma Thuật mở đầu chiến dịch mùa xuân năm 1975 và những trận đánh giữ cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc cho đại quân ta vào giải phóng Sài Gòn. Đọc những truyện đó em như được đọc những truyện về Yết Kiêu, Dã Tượng trong sách lịch sử nên tên những người làm nên nhũng chuyện thần kì đó em không thể quên, cũng như em không thể quên tên Yết Kiêu, Dã Tượng. Tôi hỏi Bích: Những người đó là ai vậy? - Thì đó, những người mà em đã được biết tên trong những truyện đọc hồi đi học, nhiều người đang có mặt ở đây Thời đánh Mỹ, tư lệnh phó binh chủng Đỗ Văn Ninh ra vào sân bay Biên Hòa, tổng kho Long Bình dày đặc hàng rào, lính canh như đi chợ. Còn đánh chiếm sân bay Buôn Ma Thuật là tham mưu trưởng trung đoàn Phạm Văn Toanh chứ ai. Tư lệnh phó Đỗ Văn Ninh còn nhiều tuổi hơn bố em. lẽ ra em phải gọi là bác nhưng đơn vị không cho xưng hô bác cháu nên trong công việc bọn em đều gọi những bậc cha chú ấy là thủ trưởng còn khi nói chuyện tình cảm riêng tư thì là anh em. Từ khi được là lính của các bậc cha chú ấy nhất là từ khi lên biên giới, có những đêm trên chiếc sạp nứa em được nằm cạnh những con người như bước từ trong sách lịch sử ra, những đêm cùng đi trinh sát, cùng ăn lương khô, uống nước suối, cùng ngủ trong hang đá lạnh buốt sương em lại được thấy thêm sự lấp lánh khác của những con người ấy trong cuộc sống đời thường. Như tư lệnh phó Đỗ Văn Ninh đấy. Da đen cháy, thân hình chắc nịch như chiếc cối xay lúa thế mà hồi ở rừng miền Đông Nam Bộ, anh Ninh bị sốt rét tong teo đến nỗi cái rãnh thoát khói của bếp Hoàng Cầm đã sập cũng không bước qua nổi, phải chống tay lồm cồm bò qua! Thân hình tong teo ấy đã làm nổ tung hàng trăm máy bay quân sự ở sân bay Biên Hoà, làm nổ tan tành tổng kho Long Bình. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 27 Tháng Hai, 2009, 08:17:51 pm Tôi không ngờ nguời lính có gương mặt hồn nhiên như trẻ thơ lại có những cảm nhận chín chắn đến thế. Nghe giọng cảm kích của Bích nói về tư lệnh phó Đỗ Văn Ninh tôi lại nhớ những điều anh Ninh nói với tôi trong hai đêm tôi ở đây.
Tôi đã ngồi cạnh đại tá Đỗ Văn Ninh trên chiếc ôtô U oát đít tròn chạy từ Hà Nội lên đây. Suốt một ngày đi đường anh Ninh chỉ nói với tôi về chuyện văn chương. Vì thế tôi mới chỉ biết anh là người rất ham đọc truyện và hay làm thơ. Đến nơi đóng quân của trung đoàn bộ ở biên giới, tôi lại được anh Vũ Ngọc Vĩnh, trợ lí chính trị trung đoàn, nhường cho tôi chiếc giường của anh đặt cạnh chiếc giường anh Ninh trong căn nhà lá dã chiến. Và hai đêm qua, đêm nào tôi với anh Ninh cũng rì rầm đến khuya. Chỉ là những câu chuyện không đầu không đũa nhung qua đó tôi đã hiểu được phần nào cuộc đời anh, tâm trạng anh. Anh đã kể với tôi về người vợ và bốn đứa con của anh, hai trai, hai gái. Xa nhà đằng đẵng suốt tám năm chiến tranh chống Mỹ . Cuối năm 1975, nửa năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, nhân một chuyến về Bộ Tư lệnh ở Đông Mĩ, Thanh Trì, Hà Nội họp, trung đoàn trưởng Đỗ Văn Ninh mới về Bắc Ninh thăm nhà được mấy ngày rồi lại vội vàng vào Nam dẫn trung đoàn lên biên giới Tây Nam. Từ đó anh lại bị hút vào cuộc 1 chiến tranh mới ở đây. Đánh đuổi bọn Pônpốt, vào giải phóng Phnômpênh được mười ngày thì anh nhận được thư vợ “Anh về mà bảo ban con thế nào chứ chúng nó bỏ học hết rồi”. Bà vợ quê mùa xốc vác của Đỗ Văn Ninh đã phải viết như thế là gay lắm rồi đấy! Thời chống Mỹ hiểm hoi lắm anh mới nhận được thư vợ. Thư nào chị cũng kể chuyện từng đứa con khỏe, ngoan như thế nào. Thư nào có cũng động viên anh yên tâm công tác đừng lo lắng về mấy mẹ con. Lúc ấy cả nước đều sôi sục đánh giặc Mỹ xâm lược, đều hướng ra mặt trận đánh Mỹ. Còn thằng giặc Pônpốt ở góc biên giới Tây Nam xa xôi này và cuộc chiến tranh cục bộ với đám giặc cỏ ấy thì nhiều người vợ, người mẹ ở những làng quê miền Bắc không biết đến. Bài hát về người vợ đảm đang trong cuộc chiến tranh chống Mỹ với niềm tin "Giặc tan anh về" ngày nào cũng ngân nga chói lói trên loa phát thanh đầu làng. Nhưng giặc tan đã hơn ngàn ngày mà chồng vẫn đi biền biệt thì vợ không còn hiểu vì sao! Anh về mà bảo ban con! Đó là tiếng thở dài là sự hờn trách, là sự buông xuôi không còn chịu đựng, không còn gắng gỏi, không còn kiên nhẫn được nữa! Bây giờ con đã lớn, dạy bảo chúng đâu có đơn giản như lúc chúng còn nhỏ! Ngồi trên cánh võng chiến trận trong mảnh vườn rợp bóng vú sữa ở Phnômpênh đọc thư vợ rồi Đỗ Văn Ninh làm bài thơ Thương nhớ các con. Anh lấy tên gọi bốn đứa con làm từ đầu của bốn câu thơ đầu trong bài thơ tám câu: NHƯ những năm qua ở chiến trường HŨU tình cha nhớ với cha thương HUYỀN đen ánh mắt con thơ ấu THỨ lửa đời cha ấm dặm đường Thương sao người mẹ bên con dại Tần tảo vì con nắng, gió, sương Càng thương, càng nhớ, càng gắng sức Vì các con, vì đất nước quê hương Dù sao việc dạy dỗ con cái vẫn là công việc của người cha. Bức thư của vợ đã nhắc Đỗ Văn Ninh nhớ đến vị trí, vai trò không thể thiếu của người đàn ông trụ cột trong gia đình anh bấy lâu nay vẫn bỏ trống, bấy lâu nay vợ anh vẫn phải thay anh làm trụ cột đó. Nhưng đã đến lúc người đàn bà giỏi giang ấy không thể cáng đáng thay anh được nữa! "Còn thằng giặc trưóc mặt thì cứ phải đánh tới đi đã! rồi gia đình tính sau!" Đỗ Văn Ninh lại nhớ đến câu nói của ông bạn Năm Phong, trung đoàn trưởng bộ binh, nay là thiếu tướng, chính ủy quân đoàn. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 27 Tháng Hai, 2009, 09:42:27 pm Hai người chỉ huy hai đơn vị họp đồng tác chiến trong một mũi tiến quân từ hồi tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 rồi sau đó mỗi người một ngả chiến trường. Cho đến khi chuẩn bị bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 họ mới gặp lại nhau ở sở chỉ huy Chiến dịch trong cánh rừng cao su. Người lính bộ binh ôm lấy người lính đặc công kêu lên:
- Mày vẫn còn sống cơ à? Vừa nhận được thư và quà của vợ từ miền Bắc gửi vào lại gặp được bạn chiến đấu từ chiến dịch Mậu Thân lịch sử, Năm Phong lấy trà Ba Đình và thuốc lá Thăng Long ra mời bạn. Năm Phong đưa cho Ba Ninh hai bao thuốc lá Thăng Long và gói trà Ba Đình. Qua phút mừng rỡ mày tao, Năm Phong lại trở về nghiêm chỉnh: Ông cầm về cho anh em thưởng thức chút hương vị miền Bắc. ông biết không, bà vợ tôi viết thư bảo tôi rằng: Thôi, ông ơi tướng tá làm gì! Ông về dạy lấy con ông! Chúng tụ tập nhau một lũ đi biền biệt, tôi không biết chúng đi đâu! làm những trò gì. Tôi lo lắm! Tôi không dạy được con ông nữa. Ông có làm tướng đánh giặc nhưng cú đi xa mãi tôi cũng không được nhờ vả gì nhưng con ông lại làm tướng cướp thì tôi mất hết! Năm Phong thở dài: Không biết con ông thế nào chứ con tôi gay thế đấy! Nào ai có ham gì tướng tá! Chỉ vì thằng giặc cả thôi! Còn thằng giặc trước mặt thì cứ đánh tới đi đã rồi gia đình tính sau. Học được cách xác định của bạn, trong lòng người lính đặc công lại thấy nhẹ nhõm. Đỗ Văn Ninh nhét thư vợ vào ba lô, lấy tờ giấy ra viết cho vợ con mấy chữ, chép cả bài thơ Thương nhớ các con gửi về cho vợ con rồi lại lao vào công việc. Tiếng súng truy quét bọn Pônpốt chưa yên thì tiếng súng ở biên giới phía Bắc lại rộ lên. Người lính đặc công đánh giặc từ bắc vào nam, từ đông sang tây, bây giờ lại ngược ra bắc đến thẳng mỏm đất đầu cùng phía bắc của Tổ quốc. Bố Bích cũng là bộ đội thời chống Mỹ. Đánh xong thằng giặc Mỹ, ông trở về nhà, nhận một chiếc thuyền của họp tác xã, sáng đưa thuyền ra biển đánh cá, tối giong buồm trở về. Một ngày vật lộn với sóng gió. Lúc buồm no gió hướng vào bờ mới được ngơi tay chốc lát. Lúc ấy bố Bích lại nằm ngửa ngay trên sàn thuyền nghêu ngao câu hát quen thuộc của dân đi biển quê Bích: Bão to rồi cũng phải tan - Cuộc đời ta cứ vui tràn cung mây - Men tình ai trong thì say - Biển như một chén rượu đầy của ta. Từ ngày bố Bích được phục viên trở về, bữa com tối của nhà Bích bao giờ cũng rôm rả. Bây giờ Bích có đi vắng thì ở nhà vẫn còn năm đứa em nhỏ. Gia đình Bích vẫn là một gia đình hoàn chỉnh, có đủ bố mẹ và các con, một gia đình đề huề, vui vẻ, bình dị. Nhưng một gia đình bình dị như thế đối với tư lệnh phó Đỗ Văn Ninh, tham mưu trưởng trung đoàn Phạm Văn Toanh, tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Huống, đại đội trưởng Cao Hoàng Việt ... vẫn là một ước mơ xa vòi. Các anh đang có mặt ở đây là ở gia đình các anh chỉ có một người mẹ và những đứa con nhỏ! Ở nhà các anh còn bao nhiêu việc đang chờ các anh, còn bao nhiêu khó khăn phải có các anh mới giải quyết được! Các anh ai chả muốn có mặt ở nhà để làm nhũng việc đó nhưng các anh vẫn có mặt ở đây. Có phải khi liên hệ với gia đình mình, Bích mới thấy thấm thía về cuộc đòi của những người lính. Đại tá Đỗ Văn Ninh còn nhiều tuổi hơn bố Bích, lại là Anh hùng quân đội tư lệnh phó kiêm tham mưu trưởng binh chủng Đặc công nhưng ông vẫn chiếc ba lô bạc phếch trên vai rong ruổi vào nơi hiểm nghèo. Vẫn ngủ trên chiếc giường chỉ là một tấm gỗ đặt trên bơn khúc cây rừng chôn xuống đất trong căn nhà dã chiến tuềnh toàng, mái tranh, vách lá, nền nhà gồ ghề, lồi lõm. Vẫn tấm tăng ông đã dùng thời ở rừng miền Đông Nam Bộ, bây giờ lại căng lên hứng nước mưa dột đổ xuống giữa giường nằm của căn nhà dã chiến làm vội. Chính trong căn nhà đó Bích đã được nghe tiểu đoàn trưởng Hưởng, tham mưu trưởng trung đoàn Toanh xác định quyết tâm chiến đấu giành lại Xê Ba, nghe tư lệnh phó Đỗ Văn Ninh bổ sung, hoàn chỉnh phương án chiến đấu và phê duyệt quyết tâm đó. Những người đã gần cả cuộc đời xa nhà, lặn lội trận mạc, chịu đựng thiếu thốn, kham khổ, những người đã làm nên những chiến công đi vào sử sách bây giờ đang ở cạnh Bích và Bích được là đồng đội, là chiến sĩ của họ. So với những trận đánh mà những người lính thời chống Mỹ đã trải qua thì trận đánh của Bích ở Xê Ba đơn giản hơn nhiều. Căn cứ của giặc lấn đất trên Xê Ba không có hàng rào thép gai, không có bãi mìn, không có hào sâu tường cao. không có đèn pha, tháp canh, không có chó đánh hơi người, ngỗng phát hiện tiếng động. Chúng cũng không dám phơi mình trên mặt đất lùng sục đi tuần. Tên lính gác chỉ ló mặt khỏi miệng hang lo láo ngó nghiêng. Bọn chúng chưa kịp làm công sự, chỉ chui rúc trong hang hốc có sẵn của vách đá để cố giữ lá cờ chiếm đất. Mà những hang hốc ấy thì Bích đã đến sờ, đếm tùng miệng hang rồi. *** Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 27 Tháng Hai, 2009, 09:44:02 pm Tôi đã lần theo con đường những người lính đặc công đã đi từ doanh trại dã chiến của họ lên đến đỉnh Xê Ba. Từ doanh trại dã chiến, trước căn nhà lá sở chỉ huy trung đoàn trên mảnh đất mấp mô mọc đầy cỏ vốn trước là một chân ruộng năm cấy một vụ, những người lính lên chiếc ôtô tải đi về phía ước: Đến bản P., xe dừng lại. Bộ đội xuống xe hành quân bộ vào vị trí tạm dừng. Bản P. vốn trước là một bản trù phú đông vui. Từ ngày nổ ra chiến tranh biên giới, người dân phải bỏ nhà cửa ruộng vườn chạy ra ngoài tầm đạn pháo giặc, dựng làng mới. Nhũng ngôi nhà sàn gỗ lim mái ngói bề thế giữa vườn mít, vườn cam sum suê mà vắng lặng. Gốc cây buộc trâu vẫn còn một đoạn dây thừng nhưng những vết chân trâu dẫm lầm trên mặt đất thì đang chìm dần trong rêu, trong lá khô rụng. Những máng dẫn nước xộc xệch. nước chảy tung tóe. Những cối nước giã gạo, cối không có gạo, tiếng chày gỗ nện vào cối gỗ khô khốc, nhức nhối. Có chiếc cối ngã vật xuống rãnh nước. Nước đổ ra ngoài máng ào ào. tưng tóe. hoang vắng, buồn thảm. Những hố đạn đại bác khoét sâu vào đất, hố đạn cối bới đất nham nhở. Những vạt cây cụt ngọn. Những thân cây bị mảnh đạn xé tướp. Lại chạnh nhớ những bãi bom B52 ở rừng Trường Sơn thời đánh Mỹ. Trong khe núi hẹp, những mảnh ruộng bậc thang cỏ mọc lút bò.
Tháng ba lịch tây, cuối tháng giêng lịch ta. Mùa xuân hoa mận nở trắng vườn. Đang có đợt gió mùa đông bắc. Buổi chiều âm u giá lạnh. Giữ này mọi bếp nhà sàn đều đang đỏ lửa. Nhìn những nếp nhà xinh xắn nép vào vách núi tĩnh lạng, tôi cứ nghĩ đến nhũng bếp lửa ấm áp trong những nếp nhà kia vì thế tôi cứ nhìn lên mái nhà để tìm những sợi khói bình yên và ấm áp thong thả bay lên. Nhung bóng tối đã chờn vờn trên những mái nhà âm thầm mà vẫn không có một sợi khói nào! Bóng tối đã lấp đầy nhũng khung của rồi mà cửa lớn của nhỏ vẫn không có một ánh lửa đèn, một ánh lửa bếp hắt ra! Những ngôi nhà chết lặng trong không gian thấp thỏm. Cũng như tôi, cả hàng quân đều chăm chú ngước lên nhũng nếp nhà sàn đang chìm vào bóng tối tìm kiếm những sợi khói, những ánh lửa làm ấm lòng mà không có. Một khe hẹp giũa hai tảng đá trên một sườn núi thấp nhìn sang Xê Ba và cách Xê Ba chỉ vài trăm mét là nơi tham mưu trưởng trung đoàn Phạm Văn Toanh và tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Hưởng dùng lại theo dõi và chỉ huy trận đánh. Đạn cối từ Xê Ba bắn ra, đạn pháo từ phía bắc bắn sang yểm trợ cho Xê Ba đều dội xuống sườn núi này. Cây lớn đã bị đạn chém không còn một ngọn. Cây nhỏ bị hai đạn thổi xơ xác. Những khối đá bị đạn chẻ toác ra, chênh vênh, lắt lẻo. tỉnh thoảng lại có nhũng khối đá đổ rầm rầm kéo theo sự sạt lở cả một sườn núi. Không gian hoang sơ và dữ dội như đang trong thời khai thiên lập địa! Từ đây chỉ có những người lính quần đùi áo ngắn, lung buộc thủ pháo, nách kẹp súng AK đi tiếp lên Xê Ba. Trước khi đi tiếp, đại đội trưởng trục tiếp làm mũi trưởng, thượng úy Cao Hoàng Việt ngồi gập chân lại. tì đầu gối lên một tảng đá, nhắc lại quyết tâm chiến đấu và nhiệm vụ từng tổ. Tảng đá Việt đã tì gối lên vẫn còn đây Tảng đá có hai vệt lõm xuống, nhẵn lì tưởng như đó là dấu vết của đầu gối Việt tì lên. Cao Hoàng Việt là người con duy nhất của một cán bộ cao cấp bộ tư lệnh Đặc công. đại tá Cao Ngọc Hùng. Người lính già Cao Ngọc Hùng đã để lại phần lớn thời gian và sức lực cuộc đời trong hai cuộc chiến tranh liên tiếp hết đánh Pháp lại đến đánh Mỹ. Thời trai trẻ, hai vợ chồng ông Hùng được gần nhau còn ít ỏi hơn vợ chồng Ngâu. Vợ chồng Ngâu năm nào cũng có cả tháng bảy gặp nhau. Tuổi trẻ của ông Hùng vắt ngang hai cuộc chiến tranh. Tuổi trẻ ấy đã để lại trong những cuộc hành quân. Có thời kì ông Hùng vào chiến trường miền Nam biền biệt suốt bảy năm trời. Vì thế ông lẻ loi chỉ có mỗi đứa con. Cho đứa con hiếm hoi ấy vào bộ đội, vào binh chủng mà ông có uy tín, có cương vị cao không phải để con được chiếu cố. Không phải dùng cái uy tín, cái cương vị cao của bố làm bệ phóng, làm chỗ dậm đà cho con nhảy cao, nhảy xa trên con đường công danh, để đứa con sẽ được đi học hết trường trong nước đến trường ngoài nước rồi sẽ về làm một sĩ quan ở tổng hành dinh. Một công cho nhà binh nhàn hạ, yên ổn và lượng cao như bao nhiêu người khác đã trải thảm nhung cho con vào đời. Lính đặc công, luyện tập trong khắc nghiệt, chiến đấu trong hiểm nghèo, mình trần chân đất, đơn độc giũa căn cứ giặc làm gì có chỗ cho sự cầu an! Bằng cuộc đời chiến đấu của mình, đại tá Cao Ngọc Hùng hiểu rằng cuộc sống và chiến đấu của người lính đặc công là cuộc sống và chiến đấu của bản lĩnh, của khí phách. Hãy đi vào cuộc sống và chiến đấu đó con sẽ lớn lên và tự khẳng định mình. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 28 Tháng Hai, 2009, 08:22:15 am Hơn mười năm được rèn luyện trong cuộc sống đó, từ người lính binh nhì Cao Hoàng Việt đã trở thành thượng úy đại đội trưởng. Khi thượng úy Cao Hoàng Việt dẫn đại đội lên biên giới giữ đất đai Tổ quốc thì đại tá Cao Ngọc Hùng thanh thản về nghỉ hưu trí. Hằng ngày cầm tờ báo bao giờ ông cũng tìm đọc ngay những tin bài về mặt trận biên giới.
Nhưng nhũng tờ báo chỉ thông tin chiến sự, thông tin chiến công của người lính. Còn người lính ở đó sống như thế nào, cuộc đời, thân phận họ ra sao, những khó khăn trong cuộc sống vật chất và những nỗi niềm trong cuộc sống tình cảm của họ thì không hề có trên mặt báo. Mà cái quyết định làm nên chiến công của những người anh đã có từ trong cuộc sống bình thường hàng ngày của họ. Những người đàn ông đã ngoài ba mươi tuổi như Phạm văn Toanh, Phạm Văn Hưởng, Cao Hoàng Việt đều đã là trụ cột gia đình, có vai trò quyết định cuộc sống đói no, vui buồn của một gia đình. Nhưng sự có mặt của họ ở đây là vai trò đó của họ ở gia đình phải bỏ lại, gia đình họ không có người trụ cột tổ chức cuộc sống. Đồng đất Nghĩa Lâm. Nghĩa Hung, Nam Định quê Toanh thiếu trâu, người làm ruộng phải lấy cuốc thay cày và dùng sức người kéo bừa thì sức vóc người đàn ông càng quyết định. Chỉ những nhà có nhiều sức lao động của đàn ông mới tạo được cuộc sống đầy đủ. Toanh đi vắng, ở nhà chỉ có mẹ già, vợ và ba đứa con nhỏ, đứa lớn nhất một tám tuổi. Một người đàn bà ba mươi tuổi là lao động chính nuôi năm miệng ăn, vợ Toanh quanh năm tần tảo mà năm vẫn thiếu ăn ba tháng. Rảnh việc đồng áng chị lại buộc giỏ ngang hông, đi bộ bơn cây số ra biển, lội hết bãi trong, bãi ngoài, nhặt tùng con don, con vọp mang ra chữ bán lấy tiền đong gạo nuôi mẹ già, con nhỏ. Với đồng lương và thời giá lúc đó, dù sinh hoạt tiết kiệm nhất, nghiện thuốc lá mà không dám mua bao thuốc lá rẻ tiền nhất thì đồng lương thiếu tá của Toanh cũng chẳng gửi về giúp vợ được đồng nào. Chỉ khi nào về nhà, năm một hai lần. anh mang về được vài chục cân gạo. Nếp nhà của gia đình thiếu tá Toanh là căn nhà tồi tàn ở xã, nhà tranh. vách đất, mái dột. Trên cánh cửa căn nhà đó, Toanh ghi địa chỉ của mình và dặn vợ khi nào có việc gì, tức là khi gay go quá thì đánh điện cho anh. Biết anh ở mặt trận phải tập trung vào lo việc thành bại của trận đánh, lo sự sống chết của người lính nên chưa lần nào chị làm anh phải lo lắng thêm vì một bức điện cầu cứu của chị, kể cả lần đứa con nhỏ bốn tuổi đã biết đi, bị ốm lay lắt, khỏi ốm nó chỉ còn biết bò! Trước khi bước vào trận đánh này, Toanh có về qua nhà thì đứa con nhỏ của anh đang tập đi lần thứ hai! Bây giò nó đã đi vững như trước lúc ốm chưa? Những chuyện ấy Toanh chỉ thổ lộ với những cán bộ cùng lứa tuổi, cùng hoàn cảnh. Nhưng những chiến sĩ trẻ đang có mặt bên Toanh ở biên giới đều biết, cũng như họ đều biết những vết thương trên vai, trên ngục, trên đùi, trên bắp chân Toanh, biết những trận đánh lớn của anh ở Quảng Trị, Nam Lào, Đắc Tô, Tân Cảnh, Kông Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ... thời chống Mỹ và nhũng trận đánh bọn diệt chủng Pônpốt ở biên giới Tây Nam. Những người lính trẻ cũng biết rằng hai tháng trước vùng quê Ninh Bình của tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Hưởng bị bão lụt nặng, nhà Hưởng bị đổ tường. Ở nhà anh cũng chỉ có người mẹ già, vợ và hai con nhỏ. Đơn vị cho anh về nhà khắc phục hậu quả bão lụt. Không có tiền xây lại bức tường đổ, anh chỉ dọn dẹp cho căn nhà bớt ngổn ngang và dựng tấm phên lá chỗ bức tường đổ rồi lại vội vã về đơn vị kịp dẫn tiểu đoàn lên biên giới. Đại đội trưởng Cao Hoàng Việt lại có nỗi buồn khác. Việt có vợ là nhân viên đánh máy ở một cơ quan Hà Nội và đứa con trai hai tuổi. Cuộc sống thành phố không có hạt lúa ngoài đồng, ngọn rau trong vườn như ở nông thôn. Tất cả phải trông vào đồng lương còm nhân viên hành chính. Cuộc sống thành phố lại hào nhoáng, màu mè, lại dập dìu lứa đôi. Cuộc sống ấy đầy hấp dẫn và cám dỗ mà người vợ trẻ mới hai mươi ba tuổi cứ lủi thủi đi về một mình, sớm hôm một bóng! Cao Hoàng Việt đã nhận ra trong sự hòn giận của vợ có sự xao động, có sự hao hụt, phân tán tình cảm! Mấy hôm trước trận tập kích lên Xê Ba, Việt nhận được thư vợ. Đọc xong lá thư dài của vợ, Việt ngồi thừ ra. Từ đó Việt mang vẻ mặt âm thầm, chịu đựng! Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 12:20:06 pm Trong khe hẹp giũa hai tảng đá, vẫn với vẻ mặt âm thầm chịu đụng đó, đại đội trưởng Cao Hoàng Việt xiết chặt tay hai cán bộ ở sở chỉ huy Phạm Văn Toanh và Phạm Văn Hưởng rồi dẫn các chiến sĩ lên Xê Ba. Lính đặc công bao giờ cũng mang thủ pháo đi vào cuối tuần trăng. Đêm ấy là đêm hai mươi chín tháng mười lịch trăng. Đêm không trăng, vòm trời đêm mùa đông thăm thẳm. Bóng núi lom khom nhấp nhô như vồng lưng, như bờ vai những người lính đang lặng lẽ tiến vào vị trí địch.
Vật mốc của vị trí triển khai là một khối đá vuông vức và phẳng lì như một tấm phản. Từ đây các tổ tách ra theo mục tiêu đã được phân công. Theo lối Bích đã đi, tôi đến cửa hang mà khi đi trinh sát, Bích đã thả chân xuống thăm dò và đạp vào vai thằng giặc. Khi phân công mục tiêu, hang này được xác định là hang số một, hang chỉ huy và dành cho Bích. Bích đánh liền ba quả thủ pháo vào hang. Thận trọng vào hang kiểm tra rồi Bích lần theo đường dây điện thoại sang hang số hai phối hợp với tổ của mũi trưởng Việt. Khi tôi lên Xê Ba, trận đánh giành lại điểm cao này diễn ra đã gần tròn ba tháng. Đơn vị bộ binh đước đặc công giao lại Xê Ba đã kịp làm công sự bê tông giữ đất. Hang đá hoang sơ lại trả về hoang sơ. Đến cạnh miệng hang rộng hoặc tôi phải rùng mình vì có cảm giác từ trong hang vẫn còn bốc ra mùi tử khí lạnh lẽo và tanh tưởi. Bàn đến hang số hai, mũi trưởng Việt và một chiến sĩ vẫn chưa tìm ra cửa hang. Khi lên trinh sát, Bích thấy của hang trống, bây giữ một khối đá lớn đã chặn cửa hang. Bích liền lật khối đá ra để mũi trưởng Cao Hoàng Việt thả thủ pháo vào. Sau những loạt thủ pháo âm âm trong lòng núi, bọn giặc bị diệt gọn không kịp nổ một phát súng chống trả. Mũi trưởng Cao Hoàng Việt đến từng hang kiểm tra, bố trí lực lượng chống địch phản kích chiếm lại Xê Ba. Khi Việt về đến cửa hang số hai, nơi anh chọn đặt vị trí chỉ huy thì pháo giặc cấp tập dập đến. Khối đá Bích lật ra bên của hang bị pháo thổi bay mất. Cao Hoàng Việt bị quật dính vào vào đá cạnh gốc cây cụt. Tôi tần ngần đứng lặng hồi lâu bên gốc cây cụt ngọn đăm đăm nhìn vào vách đá, nơi Cao Hoàng Việt hi sinh, cố hình dung ra dáng hình anh in trên vách đá. Tháng giêng, đã sang tiết xuân, từ gốc cây bị đạn pháo phạt cụt đã bật lên nhũng chồi non mong manh. *** Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 12:21:41 pm Thời gian qua đi, cả dải biên cương heo hút đã trở thành hành lang buôn bán tấp nập. Gần đến chợ biên giới Tân Thanh, những vách núi đá dãn thưa dần, mở ra một khoảng không gian thoáng rộng. Chợ Tân Thanh lọt giũa khoảng núi đá thưa thoáng và ở ngay sát hai bên đường biên. Bên này đường biến, chợ trải rộng trên đất bằng. Chỉ riêng bãi đỗ xe đã rộng hơn mặt bằng chợ Đồng Xuân, Hà Nội. Bên kia đường biên, núi đá dựng đứng. Chợ là những khối nhà kính cao tầng dựa lưng vào vách núi. Bên này đường biên, hàng hóa chất ngất trên sạp, trên giá. Bên kia đường biên, hàng hóa ngồn ngộn trong tủ kính, trong ki ốt.
Hàng hóa trong chợ thượng vàng hạ cám đều là sản phẩm Trung Quốc. Trên suốt tuyến biên giới này, hàng Trung Quốc cấp tập đổ về đầy ắp những cái chợ đường biên. Người xe nườm nượp ngược lên biên giới phía bắc mua hàng vì hàng ở đây giá rẻ đến kinh ngạc. Vài so sánh: Bếp điện từ, ở Hà Nội, hàng Nhật chính hiệu giá hơn triệu đồng, hàng Trung Quốc giá hơn sáu trăm ngàn đồng. Ở chợ Tân Thanh, bếp điện từ của Trung Quốc cùng loại chỉ bốn trăm ngàn đồng! Chiếc va li du lịch hộp cứng có bánh xe, loại lớn ở Hà Nội, hàng các nước Âu Mỹ giá bán phải năm, bảy trăm ngàn đồng, loại độc đáo có khi tới cả triệu đồng. Hàng Trung Quốc mẫu mã y hệt hàng Âu, Mỹ giá chỉ hơn hai trăm ngàn đồng, ở chợ Tân Thanh chỉ một trăm ngàn đồng! Đồng hồ đeo tay đủ các nhãn hiệu nổi tiếng của Thụy Sỹ . Một chiếc Rado của Thụy Sỹ giá cả triệu đồng, hàng Trung Quốc nhưng vẫn có chữ khắc chìm ghi là sản phẩm Thụy Sỹ SWISS MADE giá chỉ hai trăm ngàn đồng ... Vì sao hàng Trung Quốc rẻ đến thế? Người Trung Quốc rất có năng khiếu trong sản xuất kinh doanh và rất nhạy bén nắm bắt thị trường. Ở thành phố Hồ Chí Minh, một mặt hàng mới của những thương hiệu danh giá trên thế giới vừa xuất hiện trên thị trường thì chỉ vài ngày sau những xưởng sản xuất gia đình người Hoa ở Chợ Lớn đã tung ra mặt hàng đó, mẫu mã y hệt, giá cả chỉ bằng một phần ba, một phần tư hàng chính phẩm. Sản xuất kiểu đó giảm bớt rất lớn thời gian và chi phí về nghiên cứu nhu cầu thị trường, tìm tòi ý tưởng sản phẩm, thiết kế mẫu mã, chế tạo công nghệ, quảng cáo tiếp thị. Ô tô chở mủ cao su, chở hải sản, chở cả quặng sắt, quặng gang của ta xuất sang Trung Quốc chạy theo đường lớn, qua các trạm kiểm soát hải quan, làm đầy đủ thủ tục thuế. Nhưng hàng tiêu dùng từ Trung Quốc vào ta, Ô tô chỉ chở đến bên kia biên giới. Từ đó hàng được xé nhỏ ra, chất lên lưng những "cửu vạn", theo lối mòn trong rừng, vòng tránh những trạm kiểm soát và thu thuế của hải quan. Hàng Trung Quốc bày bán công khai trong thợ Tân Thanh hay ở các chợ quê, chợ tỉnh trên cả nước ta phần lớn đều là hàng trốn thuế như vậy! Hàng của ta chảy lên biên giới phía bắc là nguyên liệu sản xuất như mủ cao su, quặng kim loại và cả kim loại, chiếm một tỉ trọng rất lớn và lúc nào cũng hút hàng nhưng hàng nông sản nhiệt đới của ta bán sang Trung Quốc thì đầy bất trắc. Có đoàn ô tô chữ dưa hấu phải nằm chờ hàng tuần, dưa thối bốc mùi trong xe, khách bên Trung Quốc vẫn chưa thèm mua hàng như đã hẹn! Tôi bỗng nhớ đến bài báo nhỏ mới đăng trên tờ Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh với cái tít in đậm: Cà rốt Lâm Đồng chết vì cà rốt Trung Quốc! Tin cho biết cà rốt Trung Quốc tràn ngập thị trường nước ta với giá rẻ, chỉ từ bốn ngàn đến bơn ngàn rưỡi đồng một kilôgam được tiêu thụ mạnh nên cà rốt nội giá cao hơn bị ế ẩm và hàng trăm nhà làm vườn thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng đành không thu hoạch trên 100 hecta cà rốt vì lái buôn chỉ mua với giá từ hai ngàn đến ba ngàn đồng một kilogam, không đủ chi phí trang trải sản xuất nên không có tiền trả công thu hoạch (báo Tuổi Trẻ, 27.3.2007). Lại như vụ án buôn lậu ở Hang Dơi năm trước. Hang đá hoang vu trước đây chỉ có loài dơi trú ngụ, cách chợ Tân Thanh chỉ vài cây số, nay biến thành kho chứa hàng ngàn tấn hàng Trưng Quốc nhập lậu. Đứng trước vành móng ngụa trong vụ án buôn lậu ở Hang Dơi bên cạnh nhũng trùm buôn lậu có cả cục trưởng, cục phó cơ quan Hải quan của tỉnh. Chảy máu hàng nguyên liệu sản xuất và bội thục nhập lậu hàng tiêu dùng nhiều độc tố! Độc tố hàng tiêu dùng nhập lậu ấy là: bóp nghẹt sản xuất trong nước, gây bất ổn thị trường và hạ gục nhiều nhân cách cán bộ! Đó là cuộc chiến mới hiện nay ở một vùng biên giới. Con đường số Bốn đến chợ Tân Thanh ở Lạng Sơn cứ gợi cho tôi nhớ đến con đường số Hai đến Vị Xuyên ở Hà Giang ngày nào. Những người lính ngày đó đã để lại ấn tượng quá sâu đậm trong tôi cho tôi cảm giác như hôm nay tôi đang về gặp họ. Đi trong hào nhoáng hàng hoá, đi trong rộn rã bán mua, tôi không nhìn thấy bóng dáng một người lính nhưng hình ảnh âm thầm, lầm lũi của họ cứ hiện lên sừng sững trong tôi như những vách đá âm thầm và sừng sững kia. Hết Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 12:23:00 pm Chuyện Trường Sa Thân Dừa Vùi Trong Cát Năm mươi tư cây dừa gầy guộc, cao lênh khênh trên đảo Song Tử Tây, cây nào cũng có dáng quằn quại, nhọc nhằn. Sáu tháng mùa khô nắng cháy và gió xé. Lá dừa xác xo, hoe vàng. Những mùa mưa đến, lá dừa lại tươi xanh từ các nách lá, những chùm hoa lấm tấm trắng lại bung ra. Đêm đi gác, anh chiến sĩ chợt nhận ra trong không khí ẩm ướt, thoang thoảng hương hoa dừa thơm mát làm anh có cảm giác như đang đi dưới hàng dừa bên đường làng hay đi trong bãi dừa ven biển quê nhà. Ngày nắng cháy, dừa tỏa bóng che mát cho một khoảng đảo bên gốc dừa, có những chiếc ghế đá nhỏ đặt hướng ra biển. Giũa vạt dùa có bốn nấm mộ. Những bao cát quây lại giữ cát khỏi trôi tạo thành bốn nấm cát hình chữ nhật dọc theo hướng đông - tây. Giữa nùm cát, những chân nhang đỏ cắm ngả nghiêng. Bốn nấm mộ nhưng chỉ có một nấm mộ có bia. Đầu phía tây, phía đất liền tổ quốc của nùm cát nằm giữa, có những bông hoa san hô lớn xếp quanh một tấm bia: LIỆT SĨ TỐNG VĂN QUANG. HI SINH NGÀY 14.4.1975. Ngồi trên chiếc ghế đá bên gốc dừa nhìn ra biển đang chuyển dần tù màu xanh ngữ ngàng sang màu tím trầm tư, tôi đã được nghe Nguyễn Hữu Cách, người chiến sĩ đặc công nước đã tham gia đánh đuổi quân ngụy Sài Gòn, giải phóng đảo kể về chặng đường các anh đi giải phóng quần đảo, kể về giọt máu trẻ đã thấm đỏ cát trắng san hô. Đầu tháng tư, đơn vị nhận lệnh đi chiến đấu. Quang đang bị nhọt sưng tấy một bên đùi. Chân cẳng như thế thì ở nhà? Quân y đơn vị đã viết giấy giới thiệu gửi Quang vào bệnh viện quân chủng. Lính đặc công, dù đặc công cạn hay đặc công nước cũng phải xé nhỏ thành những mũi nhỏ bé lầm lui lủi vào căn cứ giặc, mỗi lần đi là một lần dự lễ truy điệu chính mình, mỗi lần đi là cầm chắc cái chết! Bây giữ cả đại quân đang ào ạt tiến về Sài Gòn. Chỉ ba ngày đã giải phóng một dải đất rộng từ Huế đến Đà Năng. Bây giờ mới được hành quân theo đội hình lớn, đi là chắc thắng. Cả đơn vị lên ô tô đi còn một mình nằm lại bệnh viện thì sao đành! Quang xốc ba lô súng đạn lên vai, dứt khoát bám theo đơn vị. Ô tô chạy một mạch từ Quảng Yên đến Đà Nẵng vừa được giải phóng. Ngồi trên ô tô, không phải sử dụng đến đôi chân, Quang cùng y sĩ đơn vị tập trung xử lí cái chân dở chứng. Xoa cao. Chườm nước nóng. Tiêm kháng sinh liều Cao. Xe dừng, liền xuống đất, tập vận động. Bên chân đau dịu dần. Đến Đà Năng, ba đại đội của trung đoàn đặc công nước chọn ra những chiến sĩ có sức chiến đấu hiệu quả nhất tổ chức thành ba phân đội chiến đấu, đại đội trưởng làm phân đội trưởng. Cách và Quang đều ở phân đội Một do đại đội trưởng Quế chỉ huy. Phân đội Hai có đại đội trưởng Cường. Phân đội Ba của đại đội trưởng Minh. Mỗi phân đội có ba tiểu đội là ba mũi chiến đấu, mỗi mũi bảy người. Đại đội gần trăm người rút lại thành 1 phân đội chỉ có hai mươi mốt người và Quang được chọn trong số hai mươi mốt người đó. Ba phân đội trong đội hình một đại đội do trung tá trung đoàn trưởng Mai Năng, người anh hùng của những trận đánh tàu chiến Mỹ ở cảng Cửa Việt trục tiếp làm đại đội trưởng. Trong căn nhà sự chỉ huy quân cảng Đà Năng của quân đội Sài Gòn còn ngổn ngang giấy tờ và quần áo quân ngụy, đứng giữa sáu mươi ba người lính đặc công nước, trưng tá Mai Năng nhỏ nhẹ nói: Chúng ta phải nhanh chóng ra giải phóng Trường Sa. Chúng ta phải thật khẩn trương để những tình huống xấu không kịp xảy ra. Tình thế gấp gáp buộc chúng ta phải hành quân thật nhanh, giành thế chủ động, bất ngờ, giải quyết trận đánh thật lẹ Vì thế đội hình thiến đấu cần thật nhỏ gọn. Nhỏ gọn nhưng phải chắc thắng. Vì yêu cầu đó nên bộ tư lệnh chiến dịch đã chọn các đồng chí. Các đồng chí là những người lính đặc công nước thiện chiến nhất của hải quân nhân dân Việt Nam được Tổ quốc giao cho nhiệm vụ đi giải phóng quần đảo Trường Sa. Chúng ta phải giành lại quần đảo Trường Sa về với tổ quốc Việt Nam thống nhất và sẽ ở lại giữ đảo đến bạc đầu. Các đồng chí có nhất trí không? Sáu mươi ba người lính cùng bật lên âm thanh đanh gọn: Nhất trí! Mười giờ đêm cuối tuần trăng, cả đại đội hàng một lặng lẽ xuống con tàu nhỏ, không có số hiệu, đã từng chở nhiều chuyến vũ khí cho miền nam đánh Mỹ . Để giữ bí mật, trên tàu tắt hết đèn và chiến sĩ phải xuống hầm chứa hàng. Hầm chứa hàng kín nút, chật chội, thành sắt, đáy và trần sắt. Trong chiếc hộp sắt đó, võng mắc tầng tầng, lớp lớp. Võng Cách mắc trên võng Quang. Hơi người. Hơi dầu mỡ. Hơi nóng hầm hập, ngột ngạt. Tiếng máy tàu thình thịch, nhức nhối. Khoảng không gian chao đảo ngả nghiêng. May quá, tàu đã ra xa bờ, tùng tiểu đội được lần lượt ra khỏi hầm, trải tăng nằm trên sàn tàu thoáng mát. Nhưng thép sàn tàu bị mặt trời nung cả ngày, đến đêm vẫn còn nóng âm ỉ, không nằm được đành ra thành tàu ngồi. Gió chợt mạnh lên, mát lạnh. Rồi mưa sầm sập trút xuống. Lại phải chui xuống hầm hàng. Mưa quật như gõ trống trên nắp hầm. Mưa làm tấm thép nắp hầm nguội đi, tỏa sức nóng vào hầm, hầm tàu càng bức bối. Có mưa, sóng biển cũng dựng cao hơn. Chiếc hộp thép lèn chặt người bị tung lên cao rồi lại rơi hút xuống. Lần đầu tiên Cách bị say sóng. Cách cảm thấy cơ thể mình như một cái ông rỗng đang bị lộn ngược từ trong ra. Ruột gan muốn đẩy cả lên cổ, muốn nôn cho nhẹ mà không làm sao nôn được. Đầu váng vất, nặng trịch, người rã ra. Trong hầm tàu lúc nào cũng tối âm âm nên Cách không còn phân biệt được thời gian. Đã hai lần Quang hỏi Cách có ăn gì không, Cách đều lắc đầu. Đến lúc trong hầm tàu lại chộn rộn lên, từng tiểu đội lại được lần lượt thay nhau lên boong tàu đi lại và hít thở không khí nhẹ nhõm trên biển thì Cách biết rằng đã qua một ngày. Thế là tàu đã chạy đi một đêm một ngày. Đến bây giờ Cách mới thấy đói. Nhung khi Quang đổ nước vào túi gạo sấy và đưa cho Cách, ngửi mùi cơm gạo sấy nhạt thếch, Cách lại muốn nôn. Quang đưa Cách lên boong tàu Không khí thoáng mát trong lành ngoài trời làm cho Cách tỉnh táo và khỏe khoắn trở lại. Quang xin cho Cách một ca cháo nóng ở nồi cháo của thủy thủ. Cháo ngon quá! Cách húp một hơi hết ca cháo. Nhưng vừa ăn xong anh liền nôn thốc nôn tháo ra hết. Suốt từ lúc say sóng. Cách cứ muốn nôn mà không nôn được nên trong người cứ nôn nao khó chịu. Bây giờ nôn được rồi, tuy tiếc ca cháo nhung thấy người dễ chịu hẳn. Bầu trời đen thẫm, nặng trĩu, không một vì sao. Gió mát lạnh. Trời này sẽ còn mưa nữa. Mưa đi liền với gió to sóng lớn và lại phải thui xuống hầm ngột ngạt, lại say sóng đến mệt lử. Thôi kệ! Hãy cứ biết trời đang tạnh ráo, biển đang dịu sóng, đang được ở trên boong tàu, đang được hít thở khí trời phóng khoáng, trong lành. Cách đúng dậy, vươn vai, thở thật sâu và nói với Quang: - Khỏe rồi! Khỏe rồi? Chiến đấu được rồi! Quang bảo Cách: Cậu nhịn đói suốt tù hôm qua đến giờ, lấy sức đâu mà chiến đấu. Nếu không ăn được cơm thì cố ăn gói lương khô. Cách bảo: - Mình cũng thấy đói nhưng lương khô và cơm gạo sấy thì không thể nào nuốt được. Quang đi vào chỗ mấy gian buồng thủy thủ ở cuối tàu. Lát sau Quang ra, đưa cho Cách một ca mì ăn liền nóng hổi. Ngửi mùi mì nóng đã thấy tỉnh người lại. Vào đến Đà Nẵng, lính miền bắc mới biết đến mì ăn liền. Ai cũng thích thú và luôn thèm thuồng mùi nóng hổi và thơm phúc của ca mì ăn liền bốc hơi nghi ngút. Cách ăn hết ca mì còn thèm ăn nữa nhưng lại xin nữa sao tiện! Lại còn say sóng nữa, lại nôn ra hết thì uổng! Thôi, ăn tạm thế đã! Quang mang ca đi trả trở về liền trải cuộn bạt phủ nắp hầm hàng ra. Hai người nằm xuống tấm bạt trên nắp hầm chứa hàng. Cách nghe mồ hôi dấp dính tứa ra khắp người và nhận ra cơ thể đang hồi phục hoạt động nhịp nhàng trữ lại. Cách muốn gác đùi lên đùi Quang nhung thấy Quang có vẻ trầm ngâm suy nghĩ nên anh lại không dám động đến bạn nữa. Chợt Quang nói: - Mình vừa nghe mấy tay thủy thủ nói rằng còn hai ngày nữa tàu mới đến khu vực đảo. Như vậy bọn mình còn phải chui trong hầm tàu hai ngày nữa. Mình lo sức khỏe của cậu ngày mai còn gay go đấy? Cách bảo: Không sao! Ở trong hầm tàu đúng là người lử ra thật nhưng chui ra khỏi cái lò hơi ngạt ấy là mình sẽ tỉnh lại và cầm đến khẩu súng chiến đấu là mình sẽ khỏe ra. Đáng lo là cái chân cậu ấy. - Êm rồi! Mình biết mà, cái nhọt chỉ hành mình được hai, ba ngày là cùng! Nếu mình chịu thua nó, ở nhà không tham gia trận đánh cuối cùng mà trong đời lính chiến chỉ có một lần này thì tiếc vô cùng? Cách đặt tay lên chỗ đùi nổi nhọt của Quang thấy bắp đùi Quang tròn lẳn, căng đều chắc nịch. Quang vốn kín đáo và ít nói nên trong tiểu đội ít người biết những chuyện riêng tư của anh nhung đối với Cách thì Quang chẳng giữ lại điều gì. Bố Quang mất sớm nhung anh vẫn giữ lại ấn tượng về một người cha quặt quẹo đau ốm. Tất cả gánh nặng gia đình trút lên đôi vai mẹ Quang. Khi bố còn sống. mẹ đã khổ. Bố mất đi, mẹ càng khổ hơn. Một mình mẹ nuôi bốn chị em Quang. Nhà không có người đàn ông, ai cũng có thể hà hiếp, bắt nạt được. Chị em Quang lớn lên, hai cô đi lấy chồng, Quang đi bộ đội. Ở nhà chỉ còn mẹ và đứa em gái. Đứa em gái này có lần Quang đã khoe với Cách là nó đặc biệt giống mẹ, cũng dáng người cao dỏng thon thả, cũng tác phong nhanh nhẹn, tháo vát, cũng tính tình tận tụy, nhường nhịn. Nó lại hẳn mẹ ở chỗ được học hành chu đáo. Ở miền quê nghèo, con gái được học hết trung học phổ thông là hiếm lắm. Tất cả tình cảm với gia đình. Quang đều dồn cho mẹ và đứa em gái. Mỗi lần nhận được thư nhà Quang đều cho Cách xem. Thường là thư của đứa em gái viết cho Quang. Cũng có đôi lần mẹ Quang trực tiếp viết. Chắc mẹ phải cố gắng lắm mới viết nổi nửa trang giấy vở học trò bằng thứ chữ do phong trào bình dân học vụ cho mẹ từ thời mẹ còn trẻ, người đọc phải vừa đọc vừa đoán mới hiểu được. Những bức thư ấy Cách đọc cũng xúc động như được đọc thư của chính mẹ mình. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 12:27:38 pm Trưa ngày mười ba, tàu lượn quanh đảo Song Tử Tây ở ngoài xa. Đợi trời tối hẳn, tàu tắt máy thả trôi vào gần đảo. Cuối tuần trăng, mặt trăng mỏng manh, mòn vẹt vừa mơ hồ hiện ra trên cao đã biến mất. Trên tàu không một ánh đèn. Chỉ nhận ra những con sóng trắng lờ mờ sát thân tàu. La bàn và hải đồ giúp con tàu gióng hướng về phía đảo và xác định vị trí hòn đảo còn chìm sâu ba cây số trong đêm đen.
Chợt từ trong bóng đêm phía trước vạch lên trời đêm những đường sáng trắng. Đường sáng bùng vỡ ra thành quầng sáng leo lét treo lơ lửng trong không trung. Từ nơi vừa vọt lên những quầng pháo sáng ấy lại rạch ra những đường lửa đỏ lừ. Lẫn trong tiếng sóng đã nghe được cả nhũng tiếng nổ lục bục. Địch trên đảo Song Tử Tây đang bắn pháo sáng và vãi đạn ra biển. Vẫn biết đảo Song Tử Tây ở đó nhưng lục lượng địch trên đảo như thế nào, chúng còn ở lại đảo hay đã bỏ chạy thì ta không biết. Bây giờ, sự giật mình hoảng loạn vãi đạn ra biển kia đã nói rõ tất cả. Bọn giặc trên đảo còn đang nơm nớp chờ đợi sự định đoạt sẽ đến với chúng. Con tàu lại lảng ra xa. Những chiến sĩ trong phân đội của đại đội trưởng Quế đang giấu mình dưới hầm tàu được lệnh lên hết trên boong. Từng người bò theo bậc thang sắt đi lên. Nhung lên đến boong tàu, đang trong trạng thái ngất ngư, lơ lửng vì sóng lắc, lại không có chỗ tựa, đỡ, nhiều người không đứng vũng được, cứ ngã dúi dụi. Họ lại phải dìu nhau ngồi quanh đại đội trưởng Quế nghe phổ biến quyết tâm giải phóng đảo Song Tử Tây, hòn đảo cực bắc trong quần đảo Trường Sa. Đại đội trưởng Quế ngồi trên gót chân, quì gối xuống nóc hầm hàng, một tay cầm đèn pin chiếu vào tấm bản đồ. một tay chỉ bản đồ, xác định hướng đột nhập lên đảo của tùng mũi và tín hiệu nhận ra nhau. Ba mũi trên ba chiếc xuồng cao su bí mật tiến vào đảo từ ba hướng. Mũi trưởng của Cách là Hống và mũi Hống lên đảo từ hướng tây bắc, chính giữa đảo, có nhiệm vụ phải bắt liên lạc với hai mũi ở hai đầu đảo. Mệnh lệnh đồng loạt nổ súng là tiếng nổ của khẩu ĐKZ ở mũi phía bắc của đại đội trưởng Quế. Nhiều tình huống được đại đội trưởng Quế đặt ra, ngay cả tình huống xấu nhất là địch phát hiện được tàu ta từ xa, chúng tập trung hỏa lực ngăn chặn, xuồng cao su không vào đảo được thì chúng ta vẫn xác định sẽ rời xuồng bơi vo vào, bám đảo chiến đấu. Cách nghe những điều đại đội trưởng Quế nói một cách lơ mơ, bồng bềnh. Cách thỉ nghe rõ được mỗi câu: Các đồng chí rõ chưa? khi đại đội trưởng Quế hạ câu cuối cùng. Muốn hét to lên "Rõ” nhưng họng Cách khô cứng lại không nói nổi thành tiếng. Anh cũng chỉ nghe lác đác vài tiếng yếu ớt hưởng ứng lời đại đội trưởng Quế. Thì ra phần lớn chiến sĩ vẫn còn đang lử lả. Bên cạnh Cách, Nguyễn Văn Quyền còn bò ra sàn tàu mà nôn. Dù sao Cách cũng thấy người đang tỉnh dần lại. Trong lúc con tàu tắt máy thả trôi vào gần đảo thì từng bộ phận làm công việc chuẩn bị. Mỗi người được phát một túi mì ăn liễn. Một thùng nước sôi được thủy thủ trên tàu khiêng ra. Mọi người múc nước sôi đổ vào ca mì của mình và sì soạp húp. Không khí xôn xao, chộn rộn dần lên. Không còn ai nằm bẹp hoặc ngồi xỉu một chỗ. Những ca mì ăn liền nóng hổi đã làm dịu lại nỗi cồn cào, lử lả của những người lính đã quen bơi vo hàng ngày trên biển nhưng chưa quen ngồi tàu. Cách ăn hết ca mì thì Quang lại kiếm ở đâu được một quả chanh đưa cho Cách. Cách bóc vỏ chanh, đua cho Quyền hai múi, bảo: - Này, vi ta min xê đấy, ăn đi sẽ đỡ mệt ngay! Cách chia cho mấy người chung quanh, mỗi người một múi chanh. Chưa bao giờ Cách được ăn một múi chanh ngon đến thế. Vị chua dịu làm cho họng anh hết khô đắng, hết cứng ngắc. Miệng cũng hết khô, môi mềm lại và như đang chuyển từ màu tái nhợt nhạt sang màu hồng hào vốn có hằng ngày. Cảm giác trống trếnh và hốc háo mất đi. Đi nhận thêm trang bị, Cách thấy người chỉ còn hơi hiu hiu vì cảm giác đầu nặng, chân nhẹ nên bước đi chưa vững. Được nhận thêm lựu đạn, thủ pháo, phao bơi, mọi người bắt đầu nai nịt. Quần đùi. áo ngắn tay. Chân đất. Đầu trần. Dao găm, lựu đạn bên hông. Yếm bơi quàng trước ngực. Hai tay ôm khư khư một túi ni lông căng phồng như nhện ôm trứng đứng bên mạn tàu đợi đến lượt xuống xuồng cao su. Bên trong túi ni lông là súng, đạn, tăng, võng, lương khô, túi cứu thương cá nhân, dép cao su... Chợt Quang đập tay xuống vai Cách: - Mình đi trước nhé! Chuyển khẩu cối 82 xuống xuồng rồi Quang bám thang sắt bước xuống. Chiếc xuồng nhanh chóng mất hút vào bóng đêm. Cách xuống xuồng thứ ba, xuồng cuối cùng. Mặt biển tối thẫm. Tiếng sóng ầm ào. Con tàu lúc dềnh lên, lúc hụp xuống. Chiếc xuồng cao su lúc bị giằng ra xa, lúc bị hất đứng đứng lên như úp sát vào thành tàu. Đây là lúc xuồng rất dễ bị lật. Xuồng lật, người bị hất xuống biển còn có thể bơi lên xuồng nhưng vũ khí đã tuột khỏi tay thì đành gửi lại đáy biển. Một ngọn sóng hắt nước vào mặt làm cho Cách tỉnh táo hẳn lại. Hình như lính đặc công nước cứ xuống nước là khỏe ra. Bảy người đã ngồi yên trong lòng xuồng, làm cho chiếc xuồng đằm lại thăng bằng hơn. Sợi dây neo chiếc xuồng vào tàu được thả xuống xuồng. Chiếc xuồng tách khỏi con tàu hướng vào đảo. Còn một keo sống còn với sóng nữa ở chỗ bắt đầu thềm san hô nông. Đã nhìn thấy gã sóng trắng trước mặt. Nó đấy! Đảo nổi lên ở giữa thềm san hô rộng và nông như hạt vừng giữa chiếc bánh đa. Những con sóng đang ầm ầm xô vào đảo, bất ngờ húc phải thềm san hô nông, sóng chồm lên, vỡ tung ra. Con sóng sau chồm đến. Con sóng trước bị chặn lại, dựng lên, sôi sục không ngừng. Ban ngày ban mặt vượt qua được gờ sóng này đã trần ai. Chỉ sơ xảy một tí là bị sóng nuốt chửng, xuồng bị lật, người bị hất ra khỏi xuống, bị quật vào những vỉa san hô ngầm sắc như dao thợ cạo và bị cuốn đi mất tăm tích. Ban đêm mò mẫm lại càng không biết đâu mà xoay xở. Xuồng của mũi Cách chèo chống an toàn qua gò sóng hung dữ, lướt êm trên thềm san hô. Thềm san hô nông dần và những mỏm san hô nổi lên lô xô cũng san sát hơn, không thể bơi xuồng được nữa. Tháo hơi, dìm xuồng xuống vũng nước sát mép đảo. Cả mũi đi khom qua bãi lắp xắp nước rộng hơn chục mét thì gặp ngay vạt cỏ cao tới trên đầu gối. Lá cỏ khô ráp và thom như cỏ mật. Mấy con chim ngủ rúc trong cỏ thấy động chợt bay vù lên kêu "kéc" “kéc" trên cao và lại xào xạc táp xuống ở vạt cỏ liền đấy. Một tổ ba người được mũi trưởng Hống cử vào trinh sát. Thông thường mọi trận đánh, trước khi đánh, trinh sát ta đều đã ra vào căn cứ địch nhiễu lần, đếm ứng hàng rào, sờ từng mục tiêu, lấy gang tay đo cả bề dày bức tường lô cốt. Rồi trinh sát dụng lại mô hình căn cứ giặc bằng đất cho cả đơn vị nghiên cứu. Người chỉ huy cũng phân công mục tiêu, phân công huống đánh cho các mũi trên mô hình đó. Nhưng trong trận này, trước khi đánh chiến sĩ ta chưa ai một lần nhìn thấy đảo. Vì gấp gáp trên tàu ra đảo chỉ huy đơn vị mới xây dựng quyết tâm chiến đấu và quyết tâm đó được truyền đạt đến chiến sĩ chỉ bằng tấm bản đồ ngay trên sàn tàu trước lúc chiến sĩ rời tàu vào đảo. Nằm trên tấm thảm cỏ êm ái, Cách lại có cảm giác tròng trành như đang ở trên tàu. Lính đi biển gọi đấy là trạng thái "say đất". Gió biển mơn man mát rượi. Cơn buồn ngủ ập đến và Cách thiếp đi. Cách choàng tỉnh dậy bởi những tiếng thét thất thanh rộ lên trong đảo "Việt cộng? Việt cộng". Tán dừa, ngọn phi lao, chòi quan sát cột ăng ten hiện lên trong quầng pháo sáng. Trong quầng pháo sáng rờ rỡ, Cách cũng nhận ra mình và cả mũi chiến đấu nằm lồ lộ trên mặt cát. Đám cỏ tưởng rậm rạp nhưng chỉ có mấy bụi lơ thơ. Thế này thì lộ mất thôi Rồi rầm rầm tiếng nổ của các cỡ súng. Đạn rạch những đường đỏ lừ, thẳng căng cắm xuống bãi san hô phía sau khá xa. Tổ trinh sát bị lộ hay hai mũi kia đụng địch? Tán dừa, ngọn phi lao um tùm thế kia chắc đảo khá rộng. Thế mà lực lượng của ta lên chiếm đảo chỉ có ba mũi, hai mươi mốt người! Trời lại sắp sáng đến nơi rồi! Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 05:42:59 pm Bọn giặc vừa hốt hoảng la vừa xối xả vãi đạn nhưng không thấy động tĩnh gì, chúng lại im phắc. Hòn đảo lại lịm đi trong giấc ngủ thấp thỏm và mệt mỏi về sáng. Thì ra bọn giặc biết số phận của chúng đã như cá nằm trên thớt nên trong đêm đã mấy lần chúng thấy Cộng sản tấn công trong tưởng tượng. Sắp sáng rồi! Bây giờ hẳn bọn chúng yên chí rằng đã qua được một đêm bình yên nữa! Im ắng quá! Nghe rõ được cả tiếng rào rạo rất khẽ và đều đều như tiếng cào cào đang gặm cỏ lá tre. Giữa lúc im lặng đến căng thẳng ấy thì tổ trinh sát trở về. Tổ trinh sát vào đến căn nhà chìm, nền nhà tụt sâu thấp hơn mặt đảo tới gần một tầm người. Trinh sát ép mình vào bờ tường thấp đến ngang ngực qua khoảng trống giữa tường và mái nhà tôn, họ đưa mắt nhìn vào trong nhà. Một ngọn đèn dầu vàng vọt đặt trên chiếc bàn sắt ở giũa nhà. Trên hai dãy giường, bọn lính nằm ngổn ngang. Đứa cởi trần. Đứa để nguyên cả bộ đồ lính trận, hai chân còn mang cả giày để thõng xuống đất. Tất cả có mười ba tên. Súng ống chúng cũng để lộn xộn. Khẩu trung liên để trên bàn sắt. Khẩu M79 treo trên tường. Khẩu 12,7 li và mấy khẩu AR15 còn gác ở giá súng Một khẩu AR15 đặt ngay cạnh tên lính còn mang giày nằm ngủ. Tổ trinh sát bấm nhau định đi tiếp thì lại có tiếng thét hết hoảng “Việt cộng!" cất lên từ chòi quan sát. Pháo sáng và các loại súng lại xối xả nhả đạn nhưng bọn lính trong nhà chỉ có hai tên nhổm dậy, nghe ngóng, chửi thề một câu rồi lại nằm xuống tranh thủ ngủ bù cho một đêm thấp thỏm sắp hết. Bọn lính đảo đã quá mệt mỏi vì mấy tên lính gác thần hồn nát thần tính. Đợi im ắng, tổ trinh sát ròi căn nhà chìm.
Sau căn nhà là bia chủ quyền, rồi đến lòng chảo. Sang bên kia lòng chảo đã thấy lờ mò những ngọn sóng trắng ở nước. Đã sang đến mép đông nam đảo là đã đi hết khu vực của mũi. Tình hình địch đã nắm chắc. Còn phải đi bắt liên lạc với hai mũi kia để xác định mục tiêu từng mũi khỏi bỏ sót hoặc đánh trùng lại nện phải nhau. Cách xin đi bắt liên lạc với hướng của mũi trưởng Thông phía nam đảo mũi có Quang tham gia. Lui ra sát mép nước, Cách đi khom lẫn vào những món san hô nhấp nhô. Vừa bước lên dải cát san hô thoai thoải Cách nhận ra những vệt lõm trên cát từ mép nước vào trong đảo. Dấu chân! Địch đi tuần? Cách cúi sát mặt xuống cát. Chi chít dấu chân. Sao địch đi tuần nhiều thế Sao lại đi tù biển vào? Không phải! Dấu chân mũi của Quang để lại và cả mũi đã vào đảo. Cách yên tâm lần theo những dấu chân trên cát. Trên nền cát phẳng trắng mù, Cách đã nhìn thấy những gờ tối thẫm nổi cộm lên trong vạt cỏ trước mặt. Đúng dáng nằm của lính đặc công rờn Cạm. Cạch? Cạch! Cách gõ báng AK tín hiệu liên lạc. Cạch! Cạm! Trong đám cỏ có tiếng đáp lại. Cách lướt vào đám cỏ gặp mũi trưởng Thông. Mũi của Thông vào đến gờ sóng bị lật xuồng. Khẩu cối tám hai do tổ Quang giữ bị biển nuốt mất. Bảy người cũng bị sóng nuốt chửng lại vùng vẫy thoát được nhưng trang bị mỗi người chỉ còn hai quả lựu đạn đeo bên sườn. Bảy người hút nhau còn đầy đủ rồi bơi vo vào đảo. Cách đưa thêm cho Quang hai quả lựu đạn của mình. Cách về đến mũi của anh thì ở phía bắc đảo, chỗ mũi của đại đội trưởng Quế bỗng rộ lên một loạt tiểu liên. Lại pháo sáng. Lại ầm ầm những tiếng nổ, tiếng la hét, cả tiếng đập tấm tôn. Hòn đảo như một có thể đang cơn sốt cao. Sau cơn mê sảng vật vã, nó lại nằm chết lịm. Lượng đi liên lạc với mũi phía bắc trỏ về cho biết con co giật vừa rồi là do hai tên lính đi tuần soi đèn pin đúng vào mặt mũi trưởng Quế. Tên lính cứng người lại, miệng ú ớ, chiếc đèn pin rơi bịch xuống đất. Mũi trưởng Quế bật dậy định dùng võ đặc công hạ êm tên giặc nhưng tên đi sau đã kẻo một loạt tiểu liên và hai tên giặc bỏ chạy vào căn nhà chìm. Trong nỗi nom nớp bọn lính trên đảo nhiều lần tưởng tượng đã nhìn thấy những người quyết định số phận chúng xuất hiện. Đến lúc họ xuất hiện thật, hai tên lính đã tận mắt nhìn thấy họ, nhờ may mắn chạy thoát chui được vào hầm nói lại điều vừa chứng kiến thì bọn lính lại không dám tin. Thì đó, chúng đã phản ứng, đã vãi đạn kín quanh đảo, có thấy gì đâu! Những điều hai tên lính đi tuần vừa thấy chỉ là do thần kinh chúng quá căng thẳng mà tưởng tượng ra. Bị ám ảnh bởi cái gì sẽ tưởng tượng ra cái đó. Suốt một tuần nay, đêm nào chả có vài đứa tưởng trong ra bóng dáng Việt cộng hiện ra trên đảo? Xiết cò đến mỏi tay vẫn không có gì khác thường thì cũng phải nghỉ. Hòn đảo lại trở về yên tĩnh. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 05:49:22 pm Cách và hai chiến sĩ nữa bò đến ém sát căn nhà chìm. Bốn người còn lại giấu mình trong đám cỏ khô như rơm đợi tiếng súng ĐKZ ở hướng bắc nổ mở màn trận đánh.
Ngày ở trên biển đến rất sớm. Trời đã ràng rạng. Bọn lính như yên tâm rằng đã qua một đêm hãi hùng nên rũ hết thấp thỏm, thả mình vào giấc ngủ sâu muộn màng. Đúng lúc ấy, một chớp lửa nháng lên. Ầm! Tiếng nổ quá lớn. Cách giật mình tưởng tiếng đại bác. Bọn giặc trên đảo có cả đại bác cỡ lớn? Tiếng thét "Xung phong" rộ lên Cách mới biết rằng tiếng nổ vừa rồi là tiếng ĐKZ ở hướng đại đội trưởng Quế. Cách giật kíp quả pháo trong tay rồi thả vào trong nhà. Ba anh lính đặc công đồng loạt đánh hết pháo tay mang theo. Trong nhà liên tiếp lóe lên những chớp lửa. Những tiếng nổ trộn lẫn vào nhau. không phân biệt được tiếng nổ nào do mũi mình đánh, tiếng nổ nào của hướng khác. Cát bụi bay rào rào. Căn nhà hầm biến mất trong khói đen đặc. Từ trong đám mịt mù đó, một bóng người lao ra lập tức bị mũi trưởng Hồng quật ngã. Lạ thật ba cân thuốc nổ dành cho một cái nhà chìm con con mà tên lính vẫn còn lành lặn! Tên lính ngụy được mũi trưởng Hồng khai thác ngay. Anh bắt nó chỉ lô cất, hầm ngầm, hầm chỉ huy. Thấy bộ đội ta chỉ có mấy người, vẻ mặt ai cũng bình thản không có gì căng thẳng quyết liệt nên nó bình tĩnh thưa: - Thưa thày Hai, trên đảo không có lô cốt, hầm ngầm. Chỉ có hai nhà hầm. Nhà chỉ huy ở gần giữa đảo nhưng lui về phía nam. Hồng lại hỏi quân số trên đảo và người chỉ huy. Tên lính khai đảo có 53 lính do một thiếu úy và một chuẩn úy chỉ huy. Nhà chỉ huy chính là căn nhà chìm ở gần giữa đảo, mục tiêu của mũi Quang. Bọn địch ở đó vẫn đang bắn ra quyết liệt. Sau khi đã xục xạo kĩ khu vực ta đã làm chủ, Hồng phân công người canh gác và sẵn sàng chiến đấu. Anh bắt tên lính ngụy lại gần căn nhà chỉ huy, gọi những tên trong nhà ra đầu hàng sẽ được bảo đảm mạng sống. Đứng trước họng súng lăm lăm của Hồng, tên lính ngụy cất giọng run run: - Tôi là trung sĩ Thành xin có lời trình thiếu úy đảo trưởng. Quí thầy ...a ... a ..., quí anh giải phóng đã làm chủ đảo. Thiếu úy đảo trưởng ra hàng sẽ được an toàn. Nếu chống cự, quí anh giải phóng thả lựu đạn vô nhà, không thoát khỏi chết uổng mạng. Thưa thiếu úy đảo trưởng… Đáp lại lời gọi hàng, tiếng súng từ trong nhà bắn ra càng rát rạt hơn. Đạn mười hai li bảy cày tung cát. Phóng lựu M79 rũ mảnh rào rào. Đạn ARI5 quất tới tấp như mưa. Trong lúc địch chống trả điên cuồng và ta đang chuẩn bị đánh đòn quyết định thì từ cửa ngách ở góc nhà mé bên kia, nơi ta không có người khống chế, một tốp lính vọt ra, chạy ra bãi dừa. Đến lúc này ta mới nhận ra cạnh mấy gốc dừa mé nam đảo có mấy phi xăng và một chiếc ca nô nhỏ nằm giũa đám cỏ lá tre. Chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Quyền liền rượt theo. Hai tên lính Sài Gòn đã chạy đến nấp sau ca nô, xả súng bắn lại. Quyền lăn đến một gờ cát san hô. Gờ cát liền bị một loạt đạn quất tới. Quyền nảy lên, tay buông khẩu súng ra, ôm lấy bụng. Quang liên tung liên tiếp hai quả lựu đạn lại chiếc ca nô. Khẩu AR15 ở đó câm bặt. Lại một tốp lính Sài Gòn chạy ra ca nô. Quang rượt theo, bằng tay không liên tiếp quật ngã hai tên đi sau. Bỏ lại tên lính vừa bị hạ, Quang đứng lên. Một loạt AR15 từ chiếc ca nô quất tới. Quang đứng sững lại rồi đổ sụp xuống. Lúc ấy là năm giờ sáng ngày mười bốn tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi nhăm. *** Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 05:53:30 pm Nguyễn Hữu Cách ngừng lời đã lâu. Cả Cách và tôi cứ ngồi lặng nhìn ra biển. Mấy cánh chim từ biển bay về lượn vòng rồi xà xuống đảo. Một đôi chim từ trên đảo vọt bay lên. Tôi nhìn tấm bia liệt sĩ Tống Văn Quang, hỏi Cách:
- Trên đảo chỉ có một tấm bia liệt sĩ Tống Văn Quang. Như vậy giải phóng đảo ta chỉ hi sinh một người thôi phải không? Cách cúi xuống nhìn đăm đăm những mầm cỏ mới nhú trên mặt cát và nói: - Ta mất hai người anh ạ ! Cả Quyền nữa ! Nguyễn Văn Quyền quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Quyền bị thương rất nặng ở bụng, đã được y sĩ đi theo đại đội cấp cứu bước đầu rồi đưa ngay xuống tàu chợ gấp vào đất liền. Nhưng không kịp. Mộ Quyền ở Đà Nẵng nên ở đây chỉ có mộ Quang. Ngoài khơi xa, những con sóng trắng ngẩn ngơ lang thang vô định trên mặt biển đang tối sẫm dần. Bóng đêm sập xuống. Gió thổi xiết, cuốn cát bay rào rào. Cách lại nói: - Cây dừa cụt ngọn ở giữa đảo kia là do bị trúng đạn trong trận đánh giải phóng đảo đấy anh ạ! Còn hai cây dừa bị đổ ở cuối đảo là bị gió quật ngã trong mùa mưa năm ngoái. Đào hào chiến đấu, chúng tôi gặp nhiễu gốc dừa lớn đã chết vùi sâu trong cát san hô. Có cây chỉ còn là một vệt đất mùn tơi xốp với vài mảnh thân dừa, vài sợi rễ chưa phân hủy. Có cây bộ rễ đồ sộ, bền chắc của nó vẫn còn nguyên vẹn bám sâu trong cát. Chúng tôi đã trồng thêm cho đảo hơn năm trăm mầm dừa non. Những thơ có đất mùn của xác dừa, mầm dừa non lên xanh tốt nhanh lắm. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 06:11:51 pm Tiếng gà gáy trên biển
Hai hướng gió chính đắp đổi, gối nhau là gió đông bắc và gió tây nam đã vuốt cho những hòn đảo trong quần đảo Trường Sa có một hình dạng giống nhau là thon dài như những con tàu đang bơi trong sóng gió và đều chênh chếch theo hướng đông bắc - tây nam, hướng gió mải miết thổi. Đảo nào cũng nằm trên một thềm san hô rộng và nông. Mỗi lần ngồi xuồng lướt qua bãi san hô đối với chiến sĩ ta như một cuộc đi dạo ngắm thủy cung kì thú. Dưới làn nước trong vắt, loang loáng như tấm kính là thảm san hô rực rỡ đủ màu. Những đàn cá hình thù đa dạng, màu sắc lộng lẫy tung tăng bơi lượn. Những buổi tối nước xuống, chiến sĩ trên đảo thường đốt đuốc, lội ra bãi san hô, nước chỉ còn đến ngang gối, soi cá. Một người tay cầm đuốc là một đoạn cây ở đầu buộc nắm rẻ tẩm dầu, tay xách một lon dầu lửa. Ngọn đuốc cháy đùng đùng rà trên mặt nước. Một người tay cầm dao, tay xách một túi đụng cá, đi lò dò sau ngọn đuốc, mắt nhìn cắm xuống mặt nước. Dao là một cây sắt đánh mỏng, nhỏ và dài như một cây kiếm. Ban đêm, cá chỉ khẽ động đậy vây giữ thăng bằng để đứng yên một chỗ, lim dim ngủ. Cá nhỏ cỡ ba ngón tay trở xuống nhiều vô kể. Loại đó chỉ toàn vảy với xương, bỏ qua. Lưỡi dao lăm lăm trong tay chỉ phập xuống khi gặp loại cá mú to hơn bàn tay, lưng xám đen, thịt chắc hoặc loài cá khoai da non như lươn, to cỡ cổ tay và dài trên dưới nửa mét. Con cá còn đang giãy liễn bị tóm cho vào túi vải. Hai người chỉ lội ra bãi san hô một lúc chập tối là hôm sau đảo thừa cá ăn. Những ngày nước xuống thấp, thềm san hô phơi ra. Chiến sĩ đi dép Trường Sa ra bãi san hô lỏm chỏm, lật đá, bắt cá trong những hang hốc lắp xắp nước. Những chiếc dép nhựa xốp, hai quai, xanh, đỏ, trăng, đen đủ màu, trôi dạt vào đảo được lính đảo gọi tên là dép Trường Sa. Dầm nước biển, dép cao su và giày vải quân đội cấp phát đều chẳng chịu đựng được mấy nả. Nay biển trang bị cho lính dép Trường Sa. Tất nhiên những chiếc dép dạt vào đảo đều đã trôi nổi trên biển hàng trăm cây số nên chẳng bao giờ có đủ đôi đồng bộ! Thế là dép của lính đảo cứ cọc cạch chiếc xanh chiếc đỏ, chiếc lớn, chiếc bé! Dép Trường Sa nhẹ, dai, bền. có độ bám tốt cứ đạp vô tư trên những mỏm đá san hô có cạnh sắc lẻm. Mang dép Trường Sa đi lại trên cát đảo cũng tiện. Chỉ những hôm xếp hàng đội ngũ, tập bắn bia hoặc họp hành quan trọng như đại hội thi đoàn và chào cờ sáng thứ hai phải đi giày nghiêm chỉnh. Còn đi soi cá, đi tắm giặt, đi dạo hoặc các sinh hoạt thông thường khác lính Trường Sa cứ dép Trường Sa mà diện. Từ tháng một đến tháng ba có sương mù là mùa bắt cá mực. Mùa này mực vào thềm san hô khá nhiễu, bám quanh những tảng san hô hoặc nằm nghỉ ngơi tĩnh lặng trong những vũng nước yên ả. Chiến sĩ đeo kính lặn, ngồi xuồng, mặt cúi xuống sát nước, tay cầm xiên là một cây sắt sáu, một đầu vuốt nhọn, xẻ ngạnh. Thân mục đổi màu theo màu san hô rất khó phát hiện. Thấy mực liền phóng xiên vào giữa thân, lôi lên. Những ngày trở trời, từng đàn cá heo hàng vài chục con bơi quanh đảo. Lung chúng đen trũi, lững lững như như hạm đội tàu ngầm đang nổi lên. Có lúc hứng chí chúng liên tiếp phóng vọt lên khỏi mặt nước như một đám trẻ chơi nhảy lò cò. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Ba, 2009, 06:25:07 pm Buổi sớm, chiến sĩ đảo Phan Vinh ra mép đảo tập bắn bia. Bệ bắn sát mép đảo. Bia cắm trên bãi san hô nước triều đang xuống. Mặt biển đang phẳng lặng bỗng thấy chỗ mỏm san hô nhô cao phía ngoài bia số bảy nổi sóng khác thường, bọt nước bắn tung tóe như có người đang vùng vẫy. Lại thấy một mảng đen thoáng nhô lên khỏi mặt nước. Xao động một lúc mặt nước lại phẳng lặng nhưng có gọn sóng cuộn lên chuyển động hướng vào đảo đến mỏm san hô khác và mặt nước nơi đó lại nổi sóng tung tóe. Cá mập! Đó! Đó! Có nhìn thấy cái đuôi nó vừa nhô lên không? Đó, cái đuôi đen đó! Một chiến sĩ kêu lên. Đúng rồi, cá mập! Đến lúc này mọi người đều nhận ra một con cá mập khá lớn từ ngoài biển vào bãi san hô rúc đầu vào hốc đá bắt cá con. Ngoài hốc đá đuôi mập quật nước tung tóe. Khi con cá mập rúc đầu vào hốc san hô gần bia số bảy, anh chiến sĩ phát hiện ra cá mập liền lội ào ra, tóm đuôi cá, lôi lên khỏi mặt nước. Con cá mập đen và to như con lợn nuôi trên đảo cố vùng vẫy và quay lại xỉa rách áo anh chiến sĩ nhưng anh vẫn nắm chặt đuôi nó, vừa quay tròn vừa đi vào đảo
Vùng biển ấm và sẵn cá này cũng là nơi quần tụ những đàn cá mập đến săn mồi. Gặp được hốc san hô kín đáo, lũ cá bé nhỏ tưởng đã tìm được nơi yên ổn nghỉ ngơi! Nhưng luật biển cũng như luật rừng, làm gì có nơi yên ổn cho kẻ yếu! Vùng biển Truồng Sa cũng là ngư trường khá hấp dẫn đối với tàu đánh cá các nước quanh vùng. Tàu hải quân ta trực chiến ở đây đã phải thường xuyên xua đuổi hoặc bắt giữ tàu nước ngoài đến đánh cá hoặc mượn cớ đánh cá để cố tình đến xục xạo trong quần đảo. Từ tháng năm đến tháng mười là mùa gió tây nam thổi mạnh và cũng là mùa mưa ở đảo. Dịp này, những đêm trăng sáng, vích thường bò lên đảo, bới cát, đẻ trứng. Giống như rùa nhưng vích nặng tới trên một tạ. Thịt vích tuy có mùi tanh nhung mềm như thịt gà và đậm ngọt như thịt trâu. Hằng năm mỗi đảo nhỏ đều được vài chục con vích. Vích chưa lớn hết cỡ, khoảng năm mươi cân trở lại, bộ đội ta có gặp cũng không nỡ bắt. Tháng năm năm 1978, bộ đội đảo Song Tử Tây bắt được chú vích trên mai có hàng chữ Nam Yết 5.1977. Thì ra con vích này năm ngoái chiến sĩ ở đảo Nam Yết đã bắt được lại thả ra. Mà đảo Nam Yết cách đảo Song Tử Tây tới 75 hải lí, tức là gần 150 kilomet. Gặp những con vích đã thật lớn bò lên đảo, chiến sĩ ta chỉ bắt khi đợi nó đẻ hết trứng. Vích lấy chân bới cát thành hố đẻ trứng vào rồi lại bãi cát lấp lại. Trứng vích trắng bong tròn như quả bóng bàn nhưng lớn hơn một chút, ăn ngon như trứng gà. Những ổ trúng vích được chiến sĩ ta coi sóc cẩn thận như coi sóc ổ trứng gà ấp, trong đàn gà tăng gia ở đảo. Ô trứng vích vùi trong cát, được mặt trời sưởi nóng, chỉ một tháng sau là có một đàn hai, ba trăm vích con ra đời. Vích con vừa thoát ra khỏi vỏ, bốn chân run rảy liền vội vã đạp cát lao xuống biển. Trong ầm ào sóng biển, bao nhiêu đe dọa đang trục thờ những con vích non yếu ớt mà sao chúng phải hối hả lao xuống! Giữa đảo Trường Sa Đông có một hồ nhỏ, chiến sĩ ở đó đã có dự kiến sẽ cải tạo thành hồ nuôi vích để có nơi yên lành bảo toàn đàn vích con non nót. Chim biển cũng đẻ trứng vào giũa mùa mưa. Mọi mỏm san hô nổi lên mặt nước, ban đêm đều có chim trú ngụ nhưng khi đẻ trứng chúng phải tìm những đảo cao ráo khi nước triều lên cũng không ngập. Hồi đảo mới có quân lên ở, ban đêm đi tuần tra, chiến sĩ phải lựa bước chân để khỏi đạp phải trứng chim lăn lóc khắp đảo. Đảo nào cũng nhiều chim. Chim ở Trường Sa có nhiều loại đông đúc nhất là hai loại được gọi tên theo màu lông của chúng: chim đen và chim trắng. Chim đen nhỏ nhắn, chỉ khoảng nửa cân, khi đậu trông giống như chim bồ câu. Toàn thân đen. Chỏm cánh và đuôi đen thẫm hơn. Đỉnh đầu có chỏm lông trắng. Mỏ nhỏ và dài. Mắt nhỏ đen, có vành lông trắng chung quanh. Chim trắng khá lớn nặng tới hơn hai cân, cánh sải ra dài cả mét. Lưng và phía trên cánh có màu nâu nhạt, còn lại đều màu trắng. Mỏ to màu vàng nhạt. Giữa các ngón chân có màng da căng ra như chân vịt. Chim nào theo đàn chim ấy và khi đậu thúng đậu riêng thành vệt đen, vệt trắng trên đảo. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Ba, 2009, 01:56:53 pm Chim đen bay ra biển kiếm ăn sớm hơn và cũng về sớm hơn. Tử mờ sáng bãi chim đen đậu đã vắng ngắt không còn một con. Mặt trời lên, chim trắng cũng bay đi hết. Từ bãi đậu, cả đàn bay tung lên hướng về phía bắc rồi mới vòng xuống phía nam, kẻo thành vệt dài như một đám mây rợp cả một khoảng trời. Trên đường bay, chúng tách dần ra từng cặp, từng tốp, bay là trên ngọn sóng kiếm mồi, có lúc chúng táp xuống nước, bơi một lúc mới lại vụt bay lên. Chim chỉ hoàn toàn vắng bóng trên đảo một lúc buổi sáng. Khoảng chín giờ đã có từng đàn chim bay trữ về, bay lượn trên đảo. Đàn này bay về đàn khác bay đi. Khoảng bốn giờ chiều, chim đen đã về đỗ kín bãi. Tắt nắng, chim trắng bay về, lượn vòng dập dìu trên cao. nhá nhem tối mới táp xuống đảo.
Ở những đảo mới có bộ đội ta lên ở, anh chiến sĩ đứng gác, chim xà xuống, đậu trên vai, anh cứ đứng im chỉ khẽ cọ má mình vào lông chim một cách trình thú. Nếu không có những cánh chim xập xè, ríu ran, những chiều tắt nắng ở đây sẽ không khỏi hiu hắt, ảm đạm! Coi đàn chim biển vừa là tài sản vật chất, vừa là tài sản tinh thần của đảo, các đảo dù rất nhỏ bé đều dành một phần đảo cho chim sinh sống. Lẫn trong vụn đá san hô trắng lóa là thứ đất vàng xám, mịn màng được tạo thành từ phân chim. Cây cỏ hiếm hoi tự nhiên có được ở một số đảo cũng nhờ thứ đất phân chim này. Cỏ lá tre. Cây bão táp. Sâm đất. Dừa. Mù u. Bàng quả vuông. Rau sam. Rau muống biển. Thế thôi không còn một loại cây gì khác. Ngoài năm mươi tư cây dừa cao vút, xanh tươi đang thả bóng mát xuống đảo chiến sĩ đảo Song Tử Tây khi đào hào còn gặp nhiều gốc dừa lớn đã chết mục trong cát san hô. Cơn người mới có mặt ở Trường Sa từ hơn thế kỉ nay nhưng dừa đã bám rễ ở đây từ bao trăm năm trước. Từ những bãi dừa ven biển Bến Tre, Khánh Hòa, Bình Định... có những quả dừa già rụng xuống biển, lênh đênh trên ngọn sóng rồi dạt vào những đảo cát san hô. Nhờ có thứ đất phân chim mà những mầm dừa bén rễ bám được vào đảo, gan góc vươn lên trong nắng gió, đem đến cho đảo màu xanh sự sống. Và Trường Sa là nơi duy nhất trên đất nước ta có ba loài cây lạ: cây sâm đất, cây bàng quả vuông và cây phong ba. Sâm đất thân cỏ bò lan trên đất như cây rau má, lá hình tim nhỏ bằng cúc áo, dày, mọc đối, mặt trên xanh, mặt dưới trắng mốc. Hoa mọc từ nách lá thành chùm lấm tấm trắng như hạt tấm. Củ nhiều và to như củ khoai lang, có củ dài như củ sắn, nặng tới cả cân. Nước uống hằng ngày của chiến sĩ ta ở đảo Song Tử Tây là nước sâm đất. Củ sâm đất thái mỏng, phơi khô. Mỗi bữa nấu cơm, anh nuôi của đảo đều nấu một thùng nước sâm. Cho nửa cân sâm đất khô vào thùng rồi đun một nồi quân dụng nước sôi đổ vào. Uống nước sâm. trong người thấy khoan khoái, ăn khỏe, ngủ ngon lạ thường. Bàng quả vuông, lính trên đảo còn gọi là cây bàng biển. Thân gỗ mọc cao. Lá như lá bàng nhưng to hơn, rậm hơn, xanh mướt hơn. Cành lá sum suê từ gốc và cả cây bàng biển là một khối màu xanh rậm rì. Cuối mùa khô từ tháng ba đến tháng năm cây thay lá, khối lá xanh thưa thoáng dần. Tháng sáu vào mùa mưa, lá non bung ra và những chùm hoa rủ xuống, cây lại xanh rì. Hoa bám quanh một cọng dài thành chùm như chùm hoa bàng nhưng chùm hoa bàng biển dài hơn, hoa cũng to hơn, giống như hoa chè và to bằng bát ăn cơm. Hoa nở vào ban đêm, thả mùi thom hắc vào ngọn gió biển, năm cánh gốc cánh hoa đỏ, nhạt dần đến giữa cánh hoa trở đi màu trắng. Nhị hoa khá nhiều, cuống nhị trắng, phần trên vàng. Hoa nhiều nhưng rất ít đậu quả. Quả có vỏ cũng như vỏ dừa có bốn cạnh phẳng vì thế cây mang tên bàng quả vuông. Cây phong ba dáng như cây đại, cành nhánh nhiều, mọc từ gốc, gấp khúc từng đoạn ngắn cong queo. Lá dày, nhiều lông nhám và cũng có mùi hăng hắc như lá thuốc lá nhưng nhỏ hơn nhiều, bằng lá xoài loại vừa. Thiếu thuốc lá lính nghiện thuốc lấy lá phong ba phơi khô thái nhỏ, cuốn giấy hút. Lá phong ba cũng có mùi thơm hấp dẫn như thuốc lá nhưng hút nóng và nhẹ tênh. Hoa nhỏ, trắng, cụm thành chùm, nở quanh năm và nở nhiều nhất vào tháng sáu mùa mưa. Tán lá phong ba tạo thành vòm như chiếc dù che nắng cắm trên đảo. Nhưng không phải đảo nào cũng có màu xanh của cây cỏ. Trong số các đảo có bộ đội ta ở chỉ có bốn đảo có cây xanh tự nhiên. Dừa, phi lao, cỏ lá tre, sâm đất ở đảo Song Tử Tây. Bàng quả vuông, mù u Ở đảo Son Ca. Cây bão táp ở đảo Nam Yết. Dừa, sâm đất, rau sam, rau muống biển xanh tết ở đảo Trường Sa. Trường Sa còn là đảo duy nhất có giếng nước ngọt. Thật kì lạ là đảo dài rộng mỗi chiều chỉ vài trăm mét, cao hơn mặt nước biển chỉ hơn một mét, dúm cát san hô trộn với phân chim nổi lên giữa mênh mông nước mặn, cách đất liền gần năm trăm cây số biển sâu hàng ngàn mét thế mà giếng đào ở chỗ nào trên hòn đảo ấy cũng ăm ắp nước ngọt mát như nước mưa. Nước giếng cũng đầy vơi theo nước triều lên xuống như là giữa giếng và biển không có gì ngăn cách mà nước giếng lúc nào cũng ngọt lịm. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Ba, 2009, 08:53:47 pm Điều kiện phát triển của cây xanh cũng mỗi đảo một khác. Mùa mưa đến, ở đảo Song Tử Tây có thể trồng được mọi loài rau xanh. Gieo hạt bí xanh, bí đỏ, cải thìa, cải bẹ, cải củ, rau muống, rau dền xuống đất phân chim, không cần bón phân, cây vẫn lên tết bời bời. Bí cho quả nhiều và to có quả bí xanh tới hai mươi bốn cân. Khẩu đội pháo tám người thu hoạch tới bốn tấn bí. Mùa mưa, lợn nuôi cũng mau lớn hơn. Không có thức ăn tăng trọng, ngoài nước gạo và cơm thừa, lợn chỉ ăn cỏ lá tre và sâm đất tháng cũng tăng mười hai. mười ba cân. Cách đảo Song Tử Tây chỉ gần một trăm hải lí, mà mùa mưa ở đảo Son Ca chỉ trồng được một loại rau xanh là bí đỏ. Bí đỏ lên được cũng chỉ để lấy lá, rất ít quả. Hết mùa mưa, quả bí bằng nắm tay, chưa già, cây bí đã chết. Lợn nuôi ở đây cũng chậm lớn. Lợn nái đẻ, rất ít sữa. Con mới được hai tháng. lọn mẹ đã hết sữa, lăn ra chết. Lính lại phải lấy sữa hộp nuôi đàn lợn con. Đàn gà con mới nở, lần lượt bị liệt chân rồi chết. Đàn gà sau. lính phải lấy tiêu chuẩn thuốc vitamin B1 của mình cho gà ăn, đàn gà mới sống sót.
Ngoài bốn đảo trên, ngày nay, bộ đội ta đã mang màu xanh diệp lục đến với nhiều đảo khác. Những chuyến tàu hải quân từ căn cứ Cam Ranh chở hàng tiếp tế cho các đảo vào đầu mùa mưa, ngoài lương thực, thực phẩm, thư từ, sách báo còn có những bao đất màu của đất liền và những trái dừa đã bật mầm, những bàu phi lao non, những túi hạt giống bạch đàn, hạt giống rau. Đất màu từ đất liền cho ra bổ sung thêm cho những đảo đã có cây xanh và tạo lên một lớp đất của sự sống cho những đảo mới nổi chỉ rào rạo cát san hô. Tháng năm năm 1978, bộ đội ta tiếp tục triển khai lên đảo Phan Vinh. Màu xanh của cải, của bí, của rau muống. của dừa, của phi lao cũng theo bộ đội lên đảo từ đó. Sáu tháng mùa khô, nguồn nước ăn của đảo phải trông vào các bồn chứa nước dự trữ trên đảo. Những năm mùa mưa đến trễ, giáp tết, tàu hậu cần hải quân phải chở nước ngọt từ đất liền ra đảo. Gian nan lắm mới đưa được giọt nước ngọt từ tàu vào đảo. Téc chứa nước bằng hợp kim cứng, nhẹ và không rỉ của quân Mỷ để lại trong đất liền được đưa ra đảo đặt trên chiếc bo bo cặp sát tàu. Nước ngọt được bom từ tàu vào téc. Hai chiến sĩ trên chiếc bo bo bám sợi dây cáp giăng từ tàu vào đảo đưa bo bo vào mép đảo. Những tấm tăng che mái võng được lính mang ra, túm lại, chứa nước ngọt vác từ téc vào bể. Mỗi buổi sáng, mỗi người chỉ được một ca nước ngọt vừa đánh răng vừa rửa mặt nhưng chiến sĩ vẫn chắt chiu dồn góp được những giọt nước ngọt hiếm hoi tưới cho cây. Gió ném cát san hô rào rào quật nát lá, thổi trơ rễ rau và nhổ bật cây rau lên ném đi. Lại phải huy động mọi vật liệu có thể huy động quây bốn phía mảnh vườn nhỏ bé giữa đảo. chắn gió bảo vệ mầu xanh mong manh của đảo. Suốt sáu tháng nắng như táp lửa, gió thổi làm biến dạng cả hòn đảo và không một hạt mưa rơi xuống đảo nhưng những luống cải, luống bí trong mảnh vườn được quây kín vẫn lên xanh. Hòn đảo nhỏ nhoi trần trụi đã xanh sắc lá nhưng suất đêm ngày chỉ có tiếng sóng biển ầm ào thì hòn đảo vẫn cô đơn, hoang vắng. trống trải quá. Ở đảo, ban mai đến sớm và bóng tối đến muộn nhưng đêm thâu cũng dài dằng dặc. Tối sập xuống chỉ còn biết chui vào nhà, có họp hành, sinh hoạt đơn vị cũng chóng vánh rồi lên giường chờ giấc ngủ. Những đêm thăm thẳm, những sáng tinh mơ, trưởng đảo Phan Vinh thèm được nghe một tiếng gà gáy đến bồn chồn. Một buổi tối anh bảo cơ yếu viết một bức điện rằng người lính biển chơ vơ trên hòn đảo nhỏ bé như con kiến trên chiếc lá lênh đênh sóng nước. Đời sống tinh thần của họ rất nghèo nàn, thiếu thốn. Tiếng sóng bủa vây đêm ngày làm cho người lính đảo luôn cảm thấy cô đơn. Vì thế ngoài đảo rất cần có những âm thanh của cuộc sống làng quê thân yêu, xóa đi sự độc chiếm của tiếng sóng đơn điệu, buồn tẻ. Xin lữ đoàn dùng kinh phí chính trị hoặc kinh phí câu lạc bộ mua và gửi ra cho đảo Phan Vinh đàn gà con và một con gà trống choai. Với người lính trên đảo, tiếng gà gáy là âm thanh, là hơi thở quê hương đất nước luôn ở bên họ. Vì thế tiếng gà gáy cũng có ý nghĩa chính trị rất lớn. Ngay trong đêm bức điện được chiến sĩ báo vụ vô tuyến điện chuyển về lữ đoàn. Rồi chuyến tàu từ Cam Ranh cặp đảo giáp tết năm đó ngoài bánh kẹo, gạo nếp, đậu xanh, lá dong rừng, lạt giang, cây mai rục rỡ hoa vàng, nhang thơm, bia, nước ngọt trái cây giò lụa rất nhiều thư, sách báo và thư chúc tết của chủ tịch nước, của tư lệnh quân chủng, của chính ủy lữ đoàn, đảo Phan Vinh còn nhận được hai lồng gà một lồng chín con gà con đang mọc lông măng và một lồng nhốt hai chú gà trống tơ đã trổ mã trông dáng điệu rất hùng dũng. Thư chính ủy lữ đoàn giải thích rằng hai con gà trống gửi cho đảo, một con theo yêu cầu của đảo trưởng và một con để đảo liên hoan đêm giao thừa. Đúng rồi. mâm lễ cúng trời đất lúc giao thừa phải có con gà trống tơ vì tiếng gà trống gáy mọi ban mai, mọi đêm thâu là âm thanh của sự sống, là phát ngôn về sự có mặt của sinh vật trong trời đất. Nhưng tối giao thừa đảo trưởng không cho làm thịt con gà nào cả. Cả hai con gà trống đều được giữ lại nuôi. Cúng trời đất đêm giao thừa đầu tiên mới đặt chân lên đảo thôi xin khất thiếu con gà trống là thiếu sự sống của động vật và cũng vì mới lên đảo , bận rộn quá, mâm lễ thiếu cả li rượu gạo là thiếu mất cái tinh túy nhất của sự sống thực vật chỉ có xôi, chè, giò và bia! Đàn gà con lớn lên, khỏe mạnh, sinh sôi và công việc củng cố đảo bớt gấp gáp thì giao thùa năm sau sẽ có đủ gà trống tơ và li rượu gạo có đủ sự sống động vật và sự sống thực vật cúng trời đất Thức đón giao thừa năm đó, chiến sĩ đảo Phan Vinh đã được nghe tiếng gà gáy sang canh. Tiếng gà như từ trong xa thẳm dội đến dồn dập, lăn theo ngọn sóng đi xa mãi. Sáng tinh mơ mồng một Tết, cả đảo bừng thức dậy trong tiếng gà gáy náo núc. Tiếng gà oai nghiêm hùng tráng như gọi mặt trời thúc dậy, gọi ánh sáng bừng lên. Tiếng gà đầm ấm lay động như kéo hòn đảo bơ vơ xích gần lại với đất liễn tổ quốc. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Ba, 2009, 09:05:57 pm Buổi trưa ở đảo An Bang
An Bang là một đảo nhỏ ở cực nam quần đảo Trường Sa. Trên đảo, sau ngôi nhà lớn ở trung tâm là một hàng dương ngọn đã cao vượt lên trên mái nhà. Sau hàng dương là một giếng nước, tuy nước còn hơi mặn nhưng rất trong mát. Những buổi trưa nắng, bóng dương thả rợp quanh giếng. Lúc đó ở giếng thường không ngớt tiếng ào ào xối nước tắm giặt. Nhưng trưa nay giếng nước vắng lặng. Đấy là một điều bất thường. Điều bất thường ấy bắt đầu từ lúc đảo biết tin có tàu từ đất liền ra. Đối với những người lính Trường Sa, mỗi lần có tàu từ đất liền ra là một sự kiện quan trọng, một ngày vui lớn như ngày tết đối với trẻ con. Thường ngày lính đảo phải ăn cá biển, thịt hộp, rau sấy khô, ăn mãi cá biển cũng chán, ăn thịt hộp đến ngày thứ tư thì không nuốt nổi nữa! Tàu ra mang đến cho đảo rau xanh, thịt tươi. Quí hơn nữa, tàu còn mang đến cả lương thục, thực phẩm của đời sống tâm hồn chiến sĩ. những thứ mà người lính ở đây còn thèm khát, mong đợi hơn cả rau xanh. thịt tươi. Đó là sách báo và thư. Mờ sáng tàu đã cập đảo. Cả buổi sáng toàn đảo hối hả chuyển hàng tù tàu vào. Đến trưa, lùa vội bát cơm rồi mỗi người tàn một chỗ yên tĩnh lấy thư ra đọc. Có người đã tranh thủ đọc ngay thư từ sáng khi vừa nhận được bây giờ cũng lấy thư ra đọc lại. Ở căn nhà mái tôn của ban chỉ huy đảo, cái nóng hầm hập từ mái tôn dội xuống. nắng lóa từ cát san hô trắng xóa hắt vào. Trong căn nhà rộng nhất đảo và cũng nóng nhất đảo ấy lúc này lại có khá đông người vào uống nước. mời nhau hút thuốc và kháo nhau chuyện gia đình vừa được biết qua những lá thư nhà vừa đọc xong. Trung úy đảo tưởng Nguyễn Văn Ngát ôm chiếc võng vải ra hàng dương, mắc võng vào một khoảng râm giữa hai cây dương xanh tết nhất. Nằm thoải mái trên võng rồi Ngát mới móc ở túi áo ngục ra hai lá thư. Thư của vợ là lá thư anh vẫn mong đợi còn thư của Đào Minh Thu đảo truồng cũ của An Bang thì hoàn toàn bất ngờ đối với Ngát. Cả hai thư Ngát đều đã đọc qua. Bây giờ anh đọc lại thư vợ trước. Thư vợ mang đến cho Ngát toàn những tin vui. Bố mẹ già vẫn khỏe. Đứa con gái ba tuổi đang bi bô học nói, hễ có ai hỏi bố đâu nó đều nói: Bố Trường Sa! Hỏi bố tên gì, nó cũng nói: Bố tên Trường Sa! Cuộc sống tuy còn vất vả nhưng không đến nỗi thiếu ăn! Có đúng thế không Ngát băn khoăn tự hỏi. Những người mẹ, người vợ bộ đội thường hay giấu những khó khăn thiếu thốn của gia đình để đời sống tinh thần của người lính khỏi nặng nề vì trách nhiệm và công việc hằng ngày của họ đã quá nặng nề rồi. Làm sao có thể đủ ăn được khi một lao động nông nghiệp phải nuôi tới bốn miệng ăn! Thời chiến tranh điều ấy còn có thể, vì lúc ấy còn có chế độ ưu tiên đối với những gia đình có người đi chiến đấu ở xa, gia đình thiếu ăn, hợp tác xã sẽ cân đối sản lượng, bán thêm thóc cho đủ ăn. Bây giờ là khoán. Nhà có nhiều lao động mới được nhận nhiều ruộng. Một mình cô ấy chỉ có thể làm được bốn sào ruộng của hợp tác xã cộng với hơn sào ruộng năm phần trăm của nhà là đã kiệt súc rồi. Vụ nào thuận, không bị sâu phá, không bị lụt. hạn, rét, nắng thất thường, thì thu hoạch bốn sào ruộng khoán sau khi trừ thuế và các khoản chi phí rồi cũng còn được hai tạ thóc, cộng với hơn tạ thóc của ruộng phần trăm là hơn ba tạ thóc. Hơn ba tạ thóc, bốn người ăn trong sáu tháng làm sao đủ được! Nhẩm tính như thế, Ngát cũng biết rằng những điều vợ viết trong thư chỉ để cho anh yên tâm mà thôi! Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Ba, 2009, 09:15:05 pm Ngát bần thần gấp thư vợ lại rồi mở thư Đào Minh Thu ra. Thượng úy Đào Minh Thu đã làm đảo trưởng ở đây hơn hai năm cho đến lúc Ngát ra thay cách đây hơn một năm. Sau khi công việc bàn giao giữa Thu và Ngát xong, buổi chiều Thu dẫn Ngát ra mép đảo, chỉ vào một khối đá mà Ngát phải nhìn kĩ mới biết đó là một khối bê tông. Những mặt phẳng với những góc cạnh bằng phẳng, ngay ngắn của khối bê tông chìm gần hết trong nước, chỉ còn phần đế gồ ghề, xù xì lộ trên mặt nước như mọi mỏm san hô. Thu nói:
- Khi bọn tôi mãi lên đảo, cả đảo là một bãi rác lớn. Cành cây, tấm ván, quả dừa khô, tấm xốp, đồ nhụa, dép mũ, cả quần áo, không biết từ đâu trôi đến, bị sóng dồn vào đảo. Rồi phân chim, xác chim chết, cá do chim bắt về cho con ăn không hết. Ở giữa đảo, tôi thấy mấy vỏ bao xi măng còn mới nguyên, một vỏ bao vẫn còn một phần xi măng đã chết cứng. Ít ngày sau, trong chuyến tàu đầu tiên chở hàng ra đảo chúng tôi nhận được hơn năm chục cây phi lao non. Đào lỗ trồng hàng phi lao ngay sau ngôi nhà định giữa đảo. thúng tôi phát hiện ra khối bê tông này đổ chìm dưới cát. Mặt trên của khối bê tông gắn tấm kim loại không rỉ hình vuông mỗi cạnh hai mươi mốt xăng ti mét. Trên tấm kim loại có hai hàng chữ khắc chìm. Hàng trên là chữ PULAN KECHIL AMBOYNA. Hàng dưới, chữ to, đậm hơn, khắc tên một nước trong khu vục này. Bốn mặt chung quanh của khối bê tông cũng có hàng chữ viết tay tên nước đó. Tấm biển kim loại còn sáng loáng và những vỏ bao xi măng cũng còn mới kia chứng tỏ khối bê tông mới được đổ chưa lâu chỉ trước lúc bọn tôi lên đảo vài tuần. Thu dẫn Ngát về chỗ hàng cây ở giữa đảo, chỉ chỗ lính mình đã đào lên khối bê tông. Đó là chỗ gốc cây phi lao ngay cạnh giếng. Thu lại lôi Ngát ra chỗ bia chủ quyền của ta ở ngay trước cổng đảo. Cạnh tấm bia ta mới dựng lại hồi năm 1978, có tấm bia cũ của chính quyền Sài Gòn, trên ghi: QUẦN ĐẢO TRUÒNG SA THUỘC TỈNH PHƯỚC TUY. PHÁI BỘ QUÂN SỰ THỊ SÁT ĐẾN VIẾNG QUẦN ĐẢO NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 1956 DƯỚI SỰ HƯỚNG DẪN CỦA HẢI QUÂN VIỆT NAM. Chỉ tấm bia cũ, Thu nói: - Tuy là bia do ngụy quyền Sài Gòn dựng nhưng các cậu cũng đừng phá, dù sao nó cũng là vật chứng của lịch sử. Những người dựng bia dù là thuộc chính quyền ngụy nhưng họ cũng là người Việt Nam. Người Việt Nam đã công khai đến đây dựng bia chủ quyền, nhận đất nhận đảo từ rất lâu trước những kẻ lén lút đến đổ khối bê tông giấu trong cát kia để cãi chày cãi cối rằng hòn đảo đã có chủ quyền của họ. Ngồi xuống bệ tấm bia chủ quyền. Thu thậm rãi - Chúng ta không thể sống được trên hòn đảo trần trụi. Ỏ đây mới có một chút bóng mát của cây xanh. Còn bóng mát của lịch sử thì trống trải quá! Dịp Quốc khánh năm ngoái, chi đoàn thanh niên của đảo tổ chức diễn đàn "Tự hào tổ quốc Việt Nam”, họ mời tôi nói về lai lịch quần đảo Trường Sa mà tôi không có đủ tư liệu để nói. Đó là thiếu sót lớn của người chỉ huy đảo. Đất liền đã gửi ra cho đảo từ ngọn rau xanh. Lính đảo hàng ngày được ăn no và dinh dưỡng cũng tạm đủ. Nhưng bữa ăn cho đời sống tâm hồn họ thì chưa có gì hết! Hiểu biết của chúng ta về lịch sử quần đảo còn nghèo nàn, thiếu thốn quá! Điều này làm tôi rất băn khoăn những ở tịt mãi ngoài này. sách vở thiếu thốn nên đành chịu! Thượng uy đảo trưởng Đào Minh Thu vào đất liền đến nay đã hơn một năm. Tưởng rằng anh đã quên nỗi băn khoăn khi ở đảo. Không ngờ hôm nay Ngát lại nhận được thư anh. Bóng mát của hàng cây anh đã để lại cho đảo Bức thu này là cái bóng mát của lịch sử anh gửi ra cho đảo đây. Thư Đào Minh Thu viết: Kính gửi anh Ngát và các anh đang có mặt trên đảo An Bang thân yêu Vào đất liền, việc bề bộn quá, việc đơn vị, việc gia đình, việc nào cũng không thể gác lại được. Nhớ đảo, nhớ điều mong đợi của đảo mà đến nay tôi mới viết thư cho đảo được vì đến nay tôi mới làm được một chút việc cho đảo. Hơn một năm nay tôi đã để ý tìm đọc sách báo viết về dải cát san hô xa tít ngoài biển đông đất nước ta. Sợ rằng một mình tôi tìm thì việc tìm kiếm sẽ phải kéo dài quá lâu, lại không đầy đủ, làm sao tôi có thể tìm đọc được hết các sách báo viết về Trường Sa, nên tôi đã nhờ mấy đứa cháu là sinh viên và đứa em vợ giữ thư viện của cơ quan tìm thêm. Đến nay tôi đã có một số tư liệu về lịch sử chủ quyền của chúng ta đối với dải cát san hô mà tôi đã để lại những năm tháng cuộc đời ở đó. Đến bây giờ chắc chắn đảo đã trồng thêm được nhiều cây xanh. Bóng mát của cây rồi sẽ phủ kín đảo. Nay tôi xin gửi ra đảo một chút bóng mát khác còn cần hơn cả bóng mát cây xanh. Đó là những hiểu biết của chúng ta về lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Ba, 2009, 09:24:26 pm Tư liệu về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
1. Lịch sử hình thành: Thời xa xưa, phía tây Thái Bình Dương có vòng cung núi lửa hoạt động. Vòng cung này kéo dài từ Nhật bản, qua Philíppin vòng xuống biển đông nước ta. Núi lửa nâng đáy biển lên tạo thành những ngọn núi ngầm. Trong môi trường nóng ấm của biển nhiệt đới, thảm san hô được hình thành trên đỉnh những ngọn núi lửa đã tắt. Giữa thảm san hộ rộng chưa nổi hẳn lên khỏi mặt nước sóng gió dồn những vụn san hô thành những đụn, những gò nhô dần lên khỏi mặt nước hình thành hai cụm đảo san hô ở biển đông nước ta. Đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 2. Hoàng Sa và Trường Sa trong tâm thức dân gian người Việt Dân gian ven biển miền Trung nước ta từ xa xưa cũng đã quá quen thuộc với những hòn đảo san hô nhỏ nhoi đó và những người đi biển vẫn gọi những hòn đảo đó là chuỗi đảo Cát Vàng hoặc quần đảo Bão Táp. Trong một đợt đi tuyển quân ở vùng Một hải quân, đến một xóm dân đánh cá ven biển tôi đã được nghe câu chuyện thần thoại kể về sự tích những hòn đảo ở biển đông nước ta. Câu chuyện kể rằng Nữ thần Núi Dài là thần linh dãy núi dài nhất nước ta. Dãy núi có chín trăm chín mươi chín ngọn cao chất ngất quanh năm chìm trong mây trắng. Nữ thần có ba người con gái. xinh đẹp. Người con đầu bà gả cho anh thanh niên cần cù làm ruộng ở đồng bằng. Người con gái thú hai bà gả cho chàng thợ săn thông minh khéo léo. Riêng cô con gái út xinh đẹp nhất nhà đã có nhiễu đám ngấp nghé nhưng cô chưa chịu ưng ai. Một lần cô út xuống thung lũng chơi với người chị cả. Đồng đất của vợ chồng chị cả cứ trải dài theo triền sông Cái, càng đi xa càng bằng phẳng và sông nước càng mênh mang làm cho cô út cứ mải miết đi tới tận bãi biển. Ỏ đấy cô thấy một con thuyền nhỏ từ khơi xa chạy vào bờ. Từ trên thuyền bước xuống một người con trai cúi trần, da đen cháy, cơ bắp cuộn lên như bện thừng. Như có sự sắp đặt của duyên số, vừa gặp nhau, hai người đều có cảm giác tin cậy như họ đã gặp được người bấy lâu họ vẫn chờ đợi. Cuối năm đó người con trai miền biển mang những đặc sản của biển cả, những con thuyền đầy muối trắng tinh những con thuyền đầy ắp cá chim, cá thu, tôm hùm, bào ngư, ngược lên thượng nguồn sông Cái cấu hôn con gái út vị thần Núi Dài. Gả con gái yêu cho chàng trai miền biển cao lớn khỏe mạnh mà con trai khắp vùng không ai sảnh được, vị nữ thần Núi Dài dù phải vô cùng xa cám con gái yêu quí nhưng cũng vì thế vùng đất gắn bó ruột thịt với nữ thần sẽ mở rộng ra mãi ngoài biển đông xa và nữ thần Núi Dài đã chấp nhận lời cầu hôn mặn mòi vị muối biển của chàng trai đánh cá. Thương nhớ con khôn xiết nên lúc cô út theo chồng về miệt biển, vị nữ thần cho con gái một túi đụng đầy vụn đất đá lấy ở chân núi và dặn rằng khi theo chồng ra biển xa, con hãy lấy đất đá trong túi rải xuống biển để cha mẹ trên núi cao có thể dõi theo được bóng dáng con. Lúc đầu cặp vợ chồng trẻ sinh sống trên vùng biển phía bắc. Mỗi lần theo chồng ra biển, nữ đàn bà lại ném những vụn đất đá xuống những con sóng bạc đầu bủa vây quanh thuyền. Ở chỗ những vụn đất đá rơi xuống, dần dần nổi lên những gò đất, gò đá cao thấp lô xô tạo thành đảo lớn nhỏ. Vừa mới xa mẹ Núi Dài, nỗi nhớ cồn cào da diết và túi đất cũng đang căng đầy, người vợ mải miết rải đất xuống biển. Đảo nổi lên chi chít trên vùng biển phía bắc tạo thành chùm đảo ngổn ngang thương nhớ trong vịnh Hạ Long ngày nay. Đến một năm gió bấc kéo dài, biển động mãi không thể thả lưới, hai vợ chồng phải dong buồm đi ve phía nam, nơi biển quanh năm hiền hòa, ấm áp. Túi đất vơi dần theo ngày tháng lênh đênh. Chuỗi đảo ven biển miền Trung cũng nối nhau nổi lên từ đấy. Trong đất liền, người mẹ Núi Dài ngóng theo cô con gái út cũng vươn theo mãi về Phía nam. Đau đáu dõi theo bóng dáng vợ chồng đứa con gái út, người mẹ Núi Dài xô ra sát những ngọn sóng bạc đầu mới sững lại nghễn cổ ngóng ra biển xa. nơi ấy trở thành những đèo cao chất ngất dựng đứng bên bò biển. Đó là những con đèo hùng vĩ ven biển miền Trung nước ta. Đèo Ngang. Đèo Hải Vân. Đảo Cả. Đèo Chín Ngóng. Đèo Mười Trông... Hai vợ chồng dừng lại ở vùng biển phía nam. Ở đó nhìn về phía Bắc những hôm trời cao mây quang đều thấy những đỉnh Núi Dài chất ngất trong sương mờ, đau đáu ngóng ra biển. Cũng ở đấy, người con gái út vị thần Núi Dài đã rải đến nắm đất cuối cùng trong túi đất quê nhà. Trong chuyển theo chồng đi xa mãi ra biển đông, người vợ mang chiếc túi đã hết đất ra giũ. Chỉ còn một ít cát bay ra. Gió tây nam thổi mạnh cuốn những hạt cát bay xa mãi về phía đông. Sau này ở vùng biên xa tít về phía đông nổi lên hai chùm đảo cát nhỏ nhoi. Đấy là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà dân gian vẫn gọi là quần đảo Cát Vàng. Được nghe ông già kể lại câu chuyện thần thoại này, tôi thích quá. Dân gian ta, bằng câu chuyện vừa rất thần tiên huyền ảo, vừa rất gần gũi với hiện thực thiên nhiên đất nước ta đã xác định rằng chuỗi đảo san hô xa tít ngoài biển đông nước ta là một phần đất đai Việt Nam, là một phần ruột thịt của con người Việt Nam. Hoàng Sa, Trường Sa là một phần xương máu của con người Việt Nam, luôn có mặt trong đời sống tình cảm của người Việt Nam còn được thể hiện trong ca dao dân gian. Một lần tôi đến xóm chài ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, bỗng giật mình khi nghe một người bà hát ru cháu: Chiều chiều sóng dậy biển Đông Thương gái có chồng đi lính Hoàng Sa. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 28 Tháng Ba, 2009, 06:28:39 pm Câu hát buồn về người vợ có chồng đi lính Hoàng Sa nhắc tôi nhớ đến trang sách của nhà bác học Lê Quí Đôn viết về đội quân Hoàng Sa trong sách Phủ biên tạp lục. “Họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa bảy mươi suất người An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền, ba ngày ba đêm thì ra đến đảo ấy… đến kì tháng tám thì về, vào của Eo, đến thành Phú Xuân… " Mảnh đất An Vĩnh mà Lê Quí Đôn nhắc đến trong sách Phủ biên tạp lục chính là một mảnh đất của đảo Lí Sơn tôi đang đứng. Câu hát về Hoàng Sa của người bà ru cháu ở An Vĩnh đã dẫn tôi đến gặp người hát để hỏi ve câu hát chia sẻ với thân phận người vợ lính Hoàng Sa. Đứa cháu đã ngủ. Bà đặt cháu nằm trên võng rồi vừa đưa võng vừa tiếp chuyện tôi. Từ nhỏ bà đã được nghe những người mẹ. những người bà ở An Vĩnh hát ru con, ru cháu những câu ve Hoàng Sa, nay bà chỉ hát theo nên không biết câu hát có từ khi nào và bà cũng chưa hề đến Hoàng Sa, chỉ biết rằng nó ở xa tít ngoài biển đông. Bà còn hát cho tôi nghe một câu khác cũng buồn, cũng bi thương như vậy về chính thân phận người lính Hoàng Sa:
Hoàng Sa trời nước mênh mông Người đi thì có mà không thấy về Hoàng Sa mây nhóc bốn bề Tháng hai lại về tế lính Hoàng Sa. Chỉ có bốn câu ca mà ba lần nhắc đến Hoàng Sa, nhắc đến cái mênh mang vô tận của trời nước Hoàng Sa, nhắc đến kiếp người đã hữu hạn lại quá ngắn ngủi của người lính trấn thủ Hoàng Sa. Tôi hỏi rằng Tháng hai lại về tế lính Hoàng Sa là sao? Bà không giải thích được nhưng bà chỉ cho tôi đến gặp ông Năm Tịnh ở thôn Đông ngay xã An Vĩnh này thì sẽ rõ. Ông Nguyễn Tịnh là con cháu một dòng dõi nhiều đời làm thày cúng, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tổ tiên của ông đã là chủ tế tất cả những lễ tế sống những người lính ra trấn giữ Hoàng Sa. Ông Tịnh bảo rằng: Chỉ đến mùa mưa ở Hoàng Sa mới có nước ngọt là nước mưa để sinh sống. Dù chỉ là những đảo san hô rất nhỏ bé và mỗi năm chỉ có sáu tháng mùa mưa con người có thể sống được ở Hoàng Sa, triều đình nhà Nguyễn vẫn quyết đưa quân ra những hòn đảo nhỏ bé đó, vừa thể hiện sự có mặt chính thức của đội quân do triều đình cử đến, khẳng định chủ quyền, vừa để tìm bắt hải sản quí hiếm và thu hồi của cải, hàng hóa, vũ khí trên những con tàu mắc cạn trên bãi san hô. Thời ấy, ra biển cách đất liền mấy trăm cây số cũng chỉ có chiếc thuyền gỗ thô sơ, hoàn toàn không có phương tiện thông tin liên lạc với đất liền và đoán định thời tiết chỉ dựa vào kinh nghiệm dân gian nhưng giữa biển khơi khi nhận ra những hiện tượng bất thường của thời tiết để đoán định thì đã trở tay không kịp! Sáu tháng đằng đẵng của đội quân bé nhỏ hoàn toàn đơn độc và trần trụi giữa biển cả thất thường và hung dữ, tai hoạ thường xuyên ập đến bất cứ lúc nào. Theo phép nước thì đội quân Hoàng Sa tháng 2 lên đường, tháng 8 trở về nhưng Người đi thì có mà không thấy về! Cũng có người may mắn trở về nhưng chuyến đi nào cũng có người không trở về. Chính vì những chuyến ra đảo của đội quân Hoàng Sa là đi vào chỗ chết như vậy nên trước khi họ lên đường, dân làng đã tổ chức cuộc tế sống những người lính Hoàng Sa. Nghe ông già trên đảo Lí Sơn kể chuyện dân làng làm lễ tế sống những người lính Hoàng Sa tôi lại nhớ đến việc lữ đoàn 125 hải quân truy điệu những người trên con tàu chở vũ khí cho miền Nam thời đánh Mỹ trước khi họ lên đường. Chỉ có mục đích và cách tiến hành buổi lễ mỗi thời một khác. Lễ truy điệu những người đưa con tàu vũ khí vào nam thời đánh Mĩ là lễ tuyên dương những người dám xả thân vì nước, lễ tuyên thệ của những Người quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Buổi lễ diễn ra đơn giản, ngắn gọn nhưng xúc động. Còn lễ tế lính Hoàng Sa mang đạm nghi lễ tôn giáo huyền bí, có thầy cúng chủ trì với nhiều nghi thức tế lễ linh đình kéo dài tới ba ngày đêm. Bao nhiêu người lính và bao nhiêu thuyền ra Hoàng Sa sẽ có bấy nhiêu thuyền giấy và hình nhân đưa lên bàn tế để dân lành thành kính tôn thờ rồi đốt ra tro thả xuống biển. Cuộc tế vừa là cuộc đưa tiễn những người lính Hoàng Sa vào cõi bất tử vừa là buổi lễ cầu xin thần linh của biển nhận những hình nhân thế mạng đã đốt thành tro thả xuống biển để cho những người lính có cha mẹ, vợ trẻ, con thơ đi làm nghĩa vụ giữ nước được sống trở về với cha mẹ vợ con. Coi trọng việc giữ gìn Hoàng Sa, Nhà Nguyễn cũng rất quan tâm đến người lính Hoàng Sa. Ngoài những đãi ngộ vật chất, Nhà Nguyễn còn ban hành những qui định dã trở thành phép nước trong việc chuẩn bị cho những người lính Hoàng Sa đi vào cõi vĩnh hằng: Con cả phải giữ đạo hiếu với cha mẹ nên không phải đi lính, chỉ con thứ mới đi lính Hoàng Sa và trong hành trang của những người lính ra Hoàng Sa thủa ấy ngoài lương thảo cho sáu tháng, mỗi người còn mang theo một đôi chiếu, bảy đòn tre, bảy sợi mây và tấm thẻ bài khắc tên tuổi, làng quê. Chiếu, đòn tre, sợi mây để bó xác, thẻ bài buộc theo xác để người sống nhận biết người chết. Ngoài trang sách của Lê Quí Dồn ghi lại bóng dáng những người lính Hoàng Sa xuất thân từ làng An Vĩnh, ngoài câu hát về người lính Hoàng Sa còn lưu truyền trong dân gian làng An Vĩnh, ở làng An Vĩnh còn rất nhiều vật chứng về những người lính trấn giữ Hoàng Sa. Đó là Vong Linh Tự nơi thờ vong hồn những người lính trẻ ra Hoàng Sa không trở về. Đó là những miếu thờ những cai đội dẫn quân đi Hoàng Sa, như miếu thờ cai dội Phạm Quang Ánh, người tổ chức đội Hoàng Sa và đưa đội ra Hoàng Sa năm 1815, khi ông mất. được vua Minh Mạng phong Thượng Đẳng Thần. Đó là ngôi mộ một người chỉ huy đội quân Hoàng Sa, cai đội Phạm Hữu Nhật được dân làng An Vĩnh xây cất, gìn giữ, dung bia đá ghi công. Câu chuyện thần thoại về nguồn gốc chuỗi đảo cát vàng ngoài biển đông, câu ca dao lưu truyền trong dân gian về người lính Hoàng Sa và những miếu thờ, những bia mộ người lính Hoàng Sa vẫn còn trên đất đai Việt Nam khẳng định sự có mặt của đội quân Hoàng Sa thời triều Nguyễn. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng, là bằng chứng tin cậy xác đáng không thể bác bỏ về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những bằng chứng không nước nào có được. Sau khi tận dụng triệt để cuộc tháo chạy của Mỹ và sự bạc nhược của chính quyền Sài Gòn để tiến hành chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. nước chiếm quần đảo cố viện dẫn ra những cứ liệu lịch sử thật xa xưa để chứng minh tổ tiên họ đã làm chủ quần đảo Hoàng Sa từ lâu đời. Không thể có được những chứng cứ chìm sâu trong đời sống tâm linh, lặn sâu trong tâm thức dân gian, khắc sâu trong số phận con người và còn hiển hiện sừng sững trên đất đai như những chứng cứ của chúng ta, họ phải thực hiện một kịch bản: Đưa một đoàn khảo cổ ra khai quật ở Hoàng Sa rồi họp báo, ồn ào công bố rằng đã tìm thấy những mảnh gốm, những đồng tiền kim loại từ đời vua kèo, vua cột của họ! Nhưng chứng cứ tưởng như vững chắc ấy vẫn bị những nhà khoa học thế giới phản bác rằng dù những mảnh gốm, những đồng tiền cổ đúng là tìm thấy ở Hoàng Sa đi nữa thì điều đó cũng chỉ là bằng chứng của sự giao thương, cũng chỉ chứng tỏ rằng đấy là nơi ghé lại, hoặc nơi gặp nạn của những con tàu buôn lênh đênh trên biển. Họ không biết rằng ở Việt Nam đội quân Hoàng Sa của triều đình Nhà Nguyễn từ mấy thế kỉ trước đã từng làm công việc của họ rồi: ra thu lượm của cải ở những con tàu của nhiêu nước gặp nạn ở Hoàng Sa! Nếu chỉ căn cứ vào gốm và tiền cổ để xác định lãnh thổ thì người Nhật Bản, người Trung Hoa đều có thể đến Hội An của Việt Nam để nhận đó là đất của Nhật Bản, đất của Trung Hoa vì ở Hội An không những khảo cổ tìm thấy tiền cổ Nhật Bản, gốm cổ Trung Quốc mà ở đó còn có kiến trúc cổ Nhật Bản, đình chùa cổ Trung Hoa, có mồ mả người Trung Hoa và có cả người Trung Hoa đang sinh sống làm ăn nữa. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 28 Tháng Ba, 2009, 08:57:24 pm 3. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Chủ quyền của ta đối với hai quần đảo san hô Hoàng Sa và Trường Sa cũng được xác lập từ rất sớm. Sống trên mảnh đất nhìn ra biển rộng, sớm phải ra biển kiếm sống, cũng sớm phải ngăn chặn giặc giã đến từ biển, ông cha ta sớm có nghề đi biển, cũng sớm tổ chức được đội thuyền chiến mạnh hoạt động trên biển. Chiến công oanh liệt của vua tôi nhà Trần ở của Bạch Đằng, những đoàn thuyền chiến hùng dũng rẽ sóng biển đông đưa vua Trần, vua Lê đi dẹp giặc phía nam, mở mang bờ cõi đã chứng minh điều đó. Không thể mở mang về phía bắc, chúng ta chỉ có một hướng mở về phía nam. Đi về phía nam, đường bộ vướng núi gập ghềnh đèo cao rừng rậm, lam sơn chướng khí. Chúng ta lại không có nhiều lừa ngựa như đất thảo nguyên phương bắc, chỉ biển cho người Việt thực hiện khát vọng đi mở cõi. Đợi mùa biển lặng, lựa ngày gió thuận, dong buồm ra biển, gióng thẳng hướng Nam. Vì thế lịch sử công cuộc mở cõi phương nam của người Việt gắn liền với lịch sử làm chủ biển đông của tổ tiên ta. Nếu không có biển đông, người Việt không có dải đất hình chữ S như ngày nay. Cùng với việc đặt tên cho những mảnh đất mới phương nam và ghi nhận những tên đó vào bản đồ Việt Nam, ông cha ta từ xa xưa cũng đã nhận dạng, đặt tên cho những hòn đảo ngoài biển Đông và ghi nhận những hòn đảo đó vào bản đồ Việt Nam. Bị đẩy vào dải đất chật hẹp còn hoang hóa phía nam, phía bắc là đất của vua Lê, chúa Trịnh, phía tây núi cao giăng thành, Chúa Nguyễn lúc đầu và vua Nhà Nguyễn tiếp sau càng phải tập trung mở mang bờ cõi về phía nam và phía đông để tạo thế đứng cho triều đại nhà Nguyễn tồn tại và phát triển. Quần đảo Trường Sa cũng như quần đảo Hoàng Sa lại trấn ngay trên vùng biển cửa ngõ phía đông nên ngay sau khi đặt kinh đô ở Phú Xuân, dù gặp rất nhiều khó khăn, nhà Nguyễn vẫn đưa quân ra trấn giữ Hoàng Sa. Những sự kiện Lịch sử về Hoàng Sa và Trường Sa Ở thời phương tiện đi lại trên biển còn thô sơ, động lực di chuyển chỉ dựa vào súc người và sức gió, việc đi lại còn đầy gian nan và bất trắc, các nước quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chẳng có nước nào đoái hoài đến những hòn đảo nhỏ xíu và khắc nghiệt cách xa họ hàng trăm cây số biển sâu thì người dân Việt Nam và quan quân nhà nước Việt Nam đã đến Hoàng Sa và Trường Sa. Những hòn đảo nhỏ nhoi, hoang sơ đó đã đi vào sử sách Việt Nam. đã đi vào tình cảm con người Việt Nam, đã cùng chung số phận truân chuyên với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. • Năm 1470, quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đã được ghi trong bản đồ Đại Việt, tấm bảnđồ được vua Lê Thánh Tông cho vẽ trước khi nhà vua thân chinh cất quân đi đánh Chiêm Thành. • Năm 1686 Đỗ Bá tự Công Đạo vẽ " Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” có vẽ đầy đủ hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lí Trường Sa trong đồ thư. • Năm 1776, nhà bác học Lê Quí Đôn viết sách Phủ biên tạp lục, năm 1821 nhà sử học Phan Huy Chú viết Lịch triều hiến chương loại chí. từ năm 1838 đến 1848, Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn các sinh Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên. Đại Nam nhất thống chí lại nhiều lần vẽ bản đồ đất nước ghi rõ vị trí quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và ghi chép về đội quân Hoàng Sa. Những tập sách sử liệu quí đó là những văn bản chính thút có giá trị lịch sử xác nhận chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. • Năm 1836, Bộ Công của triều Nguyễn nhấn mạnh vị trí hiểm yếu của quần đảo Hoàng Sa đã dùng tên Bản Quốc Hoàng Cương Hoàng Sa Xứ, Tối Thị Hiểm Yếu để gọi quần đảo. • Cũng trong khoảng thời gian trên, vào các năm 1834, 1836, 1853 nhà Nguyễn còn nhiều lần cử phái bộ đến khảo sát, đo đạc, dựng bia, trồng cây ở Hoàng Sa và Trường Sa. Về hành chính, triều Nguyễn sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Nam Ngãi. Từ đây những hòn đảo nhỏ nhoi, chơ vơ giữa những con sóng hoang sơ đã có một nhà nước, một tổ quốc, đã là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Trong khi đó các nước khác không hề có một tiếng nói, một việc làm nào đối với hai quần đảo này. Thực dân Pháp chiếm nước ta, chiếm luôn cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thực sự quản lí và sử dụng hai quần đảo trong chính sách cai trị, khai thác thuộc địa Việt Nam của Pháp và mở rộng lãnh thổ của Pháp tới tận Thái Bình Dương. Trong bản đồ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, chùm đảo trải dài từ vĩ tuyến 7 độ 25 đến 17 độ 05 bắc và từ kinh tuyến 111 độ đến 130 độ đông được ghi là quần đảo Paracels (quần đảo Hoàng Sa, từ 15 độ 45 đến 17 độ 05 bắc và 111 độ đến 130 độ đông) và quần đảo Spratly (quần đảo Trường Sa, từ 7 độ 25 đến 11 độ 30 bắc và từ 112 độ đến 114 độ 30 đông) • 1907, một viên quan địa phương của Trung Hoa là Tổng đốc Quảng Châu bỗng lên tiếng đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa. • Năm 1909, tàu chiến của hải quân nhà Thanh đến lượn vòng quanh Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo Phú Lâm, bắn hai mươi mốt phát đại bác như để báo cho những con sóng hoang vu biết đến sự có mặt của một lá cờ mới rồi họ vội vã rút đi. Thế là từ đây bắt đầu có thêm một tiếng nói bất nghĩa nhận đất Hoàng Sa, có thêm một lá cờ ngang ngược cắm xuống bãi cát san hô Hoàng Sa! • Ngày 30. 4. 1921. một địa phương khác của Trung Hoa là chính quyền tỉnh Quảng Đông lại kí văn bản số 831, sát nhập quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào đảo Hải Nam. • Mãi đến năm 1923 triều đình Huế mới lên tiếng phản đối văn bản nhận đất Hoàng Sa của chính quyền Quảng Đông. Từ đây bắt đầu cuộc tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa giữa một bên là chính quyền Việt Nam và chính quyền Pháp đang cai trị Việt Nam và một bên là chính quyền Trung Hoa. Từ giữa thập niên 1930, cả quần đảo Trường Sa cũng bị lôi vào cuộc tranh chấp này. • Ngày 13. 4. 1930. Pháp cho thông báo hạm Malicieuse do De Lattre chỉ huy ra dựng cột cờ và kẻo cờ Pháp ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa và ở đảo Ba Đình trong quần đảo Trường Sa. • Năm 1932, công sứ Trung Hoa Ở Paris gửi công hàm cho bộ Ngoại giao Pháp nhận dải cát Hoàng Sa là của họ: "Các đảo Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là lãnh thổ xa nhất của Trung Hoa về phía nam. • Ngày 25. 7. 1933, tổng thống Cộng hòa Pháp tuyên bố quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ An Nam. trong bán đảo Đông Dương là thuộc địa của Pháp (Công báo Cộng hòa Pháp, trang 7794,7837). • Ngày 3. 8. 1933, Hội đồng thuộc địa ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tình Thừa Thiên và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. • Ngày 25. 9. 1933, thông báo của Chính phủ Pháp với thế giới về quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa thuộc An Nam, thuộc địa của Pháp. • Cũng năm 1933, Nhật Bản đưa ra bằng chứng người Nhật đã khai thác phốt phát trên quần đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền. • Năm 1935, Trung Hoa công bố bản đồ lãnh thổ Trung Hoa trong đó có cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. • Ngày 1.11.1937, Trung Hoa tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. • Năm 1938, Sở Khí tượng Đông Dương xây đèn biển ở đảo Ba Đình trong quần đảo Trường Sa. • Năm 1939, trong cuộc hành quân xâm lược các nước Đông Nam Á, Nhật chiếm đảo Thái Bình trong quần đảo Trường Sa. • Đầu năm 1940, bị Nhật đảo chính cướp quyền cai trị của Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Jean de Coux ra lệnh ngưng hoạt động hành chính tại Hoàng Sa và Trường Sa, hạ cờ Pháp, kéo cờ Nhật. • Năm 1945, Nhật bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai. Dựa vào tuyên bố Cairo và tuyên bố Potsdam, năm 1946, thính quyền Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch đưa quân đội vào Việt Nam giải giáp quân Nhật họ liền đưa bốn tàu chiến đổ quân lên đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo Ba Đình trong quần đảo Trường Sa giải giáp quân Nhật. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 28 Tháng Ba, 2009, 09:04:43 pm • Ngày 7. 1. 1947, Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố đã chiếm toàn bộ quần đảo Tây Sa. nhưng thục ra họ mới chiếm được đảo Phú Lâm mà họ gọi là đảo Vĩnh Hưng. Mười ngày sau tuyên bố của Trung Hoa Dân Quốc đã làm chủ Tây Sa, ngày 17.1.1947, Pháp đưa pháo hạm Le Trikinors đến Hoàng Sa đòi quân Trang Hoa rút. Đòi hỏi không được đáp ứng, Pháp liền đổ quân lên chiếm đảo Hoàng Sa.
• Ngày 8.3.1949, Pháp công nhận độc lập của Việt Nam và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng lên. • Tháng 4.1950, quân đội Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa nhưng vẫn chiếm đóng đảo Ba Đình trong quần đảo Trường Sa. • Ngày 14.10.1950, Pháp chuyển giao quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa cho chính quyền Bảo Đại quản lí. • Ngày 7.9.1951, tại hội nghị kí kết hiệp ước hoà bình với Nhật Bản ở San Francisco, Mĩ, thủ tướng Việt Nam Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại diện Chính phủ 51 nước có mặt không có một ý kiến nào phản đối. • Sau hiệp định Geneve 1954 Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chính quyền. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm trong vùng do chính quyền Sài Gòn quản lí. Chính quyền Sài Gòn sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tình Quảng Nam và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy. Tháng 4. 1956. Sài Gòn đưa quân đội ra giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mỗi quần đảo có một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ đóng giữ. Đưa quân ra giữ đảo chính quyền Sài Gòn mới phát hiện ra chỉ ít ngày trước đó, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bí mật đưa quân lên chiếm một số đảo lớn trong cụm đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa là các đảo Phú Lâm, Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa. • Tháng 8.1956, chính quyền Sài Gòn đưa tàu hải quân ra khảo sát và dựng bia chủ quyền trên các đảo đã nổi hẳn lên khỏi mặt nước trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. • Ngày 4.9.1958, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa công bố bản đồ mới về lãnh thổ và tuyên bố lãnh hải 12 hải lí. Theo bản đồ và tuyên bố này thì Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chính là hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc. Nên nhớ rằng, Hoàng Sa và Trường Sa lúc đó theo hiệp định Geneve là phần lãnh thổ do chính quyền Sài Gòn quản lý. • Ngày 21.12.1959, chính quyền Sài Gòn đưa một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ ra chiến đấu giành lại các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa đã bị Trung Quốc chiếm từ ba năm trước. • Ngày 27.12.1959, chính phủ Trưng Quốc tuyên bố lên án chính quyền Sài Gòn xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. • Năm 1961, chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh khẳng định chủ quyền Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Truồng Sa. Vì sự bất ổn trong đất liền, chính quyền Sài Gòn phải rút hai hiểu đoàn lính thủy đánh bộ ở Hoàng Sa và Trường Sa về ném vào cuộc chiến tranh du kích đang lan rộng ở miền Nam và thay tiểu đoàn lính thủy đánh bộ bằng một trung đội địa phương quân của tỉnh Quảng Nam ra giữ Hoàng Sa và một trung đội địa phương quân tỉnh Phước Tuy ra giữ Trường Sa. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 28 Tháng Ba, 2009, 09:24:16 pm • Những năm 1964 - 1971, quân Sài Gòn và quân Trung Quốc thường xuyên chạm súng ở khu vục quần đảo Hoàng Sa.
• Năm 1970, Sài Gòn xây dựng sân bay ở đảo Hoàng Sa. Trước sự có mặt ngày càng nhiều tàu chiến Trung Quốc ở Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn đã có kế hoạch năm 1974 sẽ mở rộng sân bay để tiếp nhận được máy bay vận tải nặng C7 Caribou. • Năm 1971 Malaysia tuyên bố khẳng định chủ quyền với một số đảo phía nam quần đảo Trường Sa. • Năm 1972 Philippin tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và đưa quân lên chiếm các đảo Thị Tứ, Loại Ta, Vĩnh Viễn, Song Tử Đông mà chính quyền Sài Gòn đều đã dựng bia chủ quyền. • Ngày 11.1.1974, Trung Quốc tuyên bố xác định chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. • Ngày 19.1.1974, Trung Quốc đưa lực lượng mạnh áp đảo quân Sài Gòn, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. • Năm 1975, trong đoàn quân giải phóng ào ạt nhằm hướng Sài Gòn xốc tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, có một đội quân nhỏ tinh nhuệ được tách ra, cưỡi tàu vượt biển ra giải phóng những hòn đảo quân đội Sài Gòn đang giữ trong quần đảo Trường Sa. Giành lại được những hòn đảo xa xôi đó, hai chiến sĩ hải quân của lữ đoàn 146 anh hùng đã anh dũng hi sinh: Liệt sĩ Tống Văn Quang và liệt sĩ Nguyễn Văn Quyền. Những giọt máu của chiến sĩ hải quân nhân dân Việt Nam thấm xuống đảo Song Tử Tây ngày 14 tháng tư năm 1975. Các anh là người chiến sĩ giải phóng đầu tiên nằm lại núm đất ngoài cùng của đất nước ở phía mặt trời mọc. Từ đây những núm đất lưu lạc này mới lại được trở về với tổ quốc Việt Nam thống nhất. Máu các anh thấm xuống đất đảo đúng vào thời điểm tròn hai trăm năm kể từ khi Lê Quí Đôn ghi nhận quần đảo Trường Sa vào bản đồ đất nước. • Như vậy là không những Việt Nam đã nhiều lần xác định chủ quyền ữ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ 1470, 1775, 1836, 1963, 1972.. mà nước Pháp cũng nhiều lần bằng văn bản, bằng lời nói và việc làm thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam và thực thi sự cai trị của họ đối với thuộc địa Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa mà không có quốc gia nào lên tiếng phản đối, tranh chấp. Nhưng trong thực tế nhiều nước trong khu vực đã trên mọi cách để đứng được chân trên những hòn đảo san hô nhỏ nhoi nhưng có vị trí chiến lược to lớn này của Việt nam. Trước năm 1988, ngoài Việt Nam đã có ba nước có mặt ở Trường Sa là Trung Quốc Đài Loan chiếm đảo Thái Bình từ 1945. Phi líp pìn chiếm đóng bốn đảo Thị Tứ, Loại Ta, Vĩnh Viễn, Song Tử Đông, từ 1972 Malaysia chiếm một số đảo nhỏ cực nam quần đảo Trường Sa từ giũa những năm bảy mươi thế kỉ hai mươi. • Ngày 14.3.1988, Trung Quốc nổ súng đánh chiếm dải đá chìm trong quần đảo Trường Sa ta đã dựng bia chủ quyền từ năm 1978 và mới đưa quân lên giữ. Trung Quốc đã chiếm dải đá chìm này sau khi hơn 70 chiến sĩ hải quân ta đã hi sinh! Sau sự biến này, chúng ta phải đưa quân ra trấn giữ thêm một số đảo mới nhô lên khỏi mặt nước khi nước triều xuống. Những ngôi nhà sàn bê tông được dùng lên, những chân cột bê tông cắm xuống biển nâng khối nhà đúc bé nhỏ như những chuồng chuồng bồ câu chênh vênh trên ngọn sóng. Những khó khăn, gian khổ lại thống chất thêm trên đôi vai những người lính giữ biển. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:41:36 am Những cuộc tìm kiếm dầu mỏ ngoài biển Đông ngày càng tấp nập, kinh tế biển ngày càng có vị trí quan trọng, cuộc đua tranh thống trị thế giới của vài ba nước lớn ngày càng quyết liệt thì vị trí quần đảo Trường Sa giữa Thái Bình Dương mênh mông, trấn ngự ngay trên con đường biển, đường không Đông - Tây, nằm giũa khu vực Đông Nam Á sôi động và trù phú ngày càng quan trọng.
Anh Ngát và các anh qúy mến! Những điều tôi tìm được về hai chùm đảo cát vàng ngoài biển đông của chúng ta chỉ có thế. Không biết nó có làm nên được một chút bóng mát cho những người đang dãi dầu nắng xích đạo, gió đại dương? Tôi đang chuẩn bị ra quân nên không bao giờ tôi còn có dịp trở lại Trường Sa nữa. Gia đình tôi đang rất khó khăn và đang rất cần sự trở về của tôi. Tôi xa nhà cầm súng đã hơn hai mươi năm. Khi đi, tôi mới là một đứa con trong gia đình. Bây giờ tôi đã là người cha của ba đứa con mà đứa đầu đã bằng tuổi tôi ngày tôi vào bộ đội nhưng về văn hóa của nó bây giờ không bằng văn hóa của tôi lúc đó, trong khi văn hóa của thế hệ trẻ bây giờ đã được nâng lên rất cao. Khi tôi đi bộ đội, ngôi nhà của gia đình tôi là nhà lá ba gian thì bây giờ vẫn là ngôi nhà đó, chỉ có khác là nó đã tàn tạ ra, tuềnh toàng hơn trước rất nhiều trong khi chung quanh nhà xây cứ mọc lên san sát. Nếu tôi không về cứ để mặc cho vợ tôi một mình gánh cái gánh nặng gia đình càng ngày càng nặng thêm trong khi vợ tôi càng ngày càng yếu đi. Nếu tôi không về con tôi rồi không biết sẽ ra sao. Vợ tôi văn hóa thấp, nhận thức xã hội chậm, lại tối ngày đầu tắt mặt tối, chỉ biết lo cho con ăn cũng chưa xong, còn con hay, dở, tốt, xấu thế nào làm sao lo được! Bố mẹ tôi chỉ là những nông dân chân tấm tay bùn nhưng đã đóng góp cho đất nước, cho quân đội một người lính không đến nỗi tồi. Nhưng nếu tôi không làm trách nhiệm một người cha thì tôi sẽ góp cho xã hội ba công dân kém! Vì thế xin các anh thông cảm cho việc rời quân ngũ của tôi. Không còn được trở lại Trường Sa nữa nhưng khi các anh ở ngoài đó nhận được thư này của tôi, mong các anh coi tôi như vẫn đang có mặt ở Trường Sa với các anh. * * * Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:43:00 am Ngát gấp lại cả hai lá thư cho vào túi áo rồi ngửa mặt nhìn lên cành phi lao đang bơi bơi trong gió. Bức thư dày dặn của đảo trưởng Thu cộm lên trong túi áo trước ngực. Ngát dự định sinh hoạt đảo tối nay sẽ đọc thư đảo trưởng Thu cho cả đảo nghe rồi sẽ làm một chiếc tủ lưu giữ bức thư như một tài sản, một giá trị của đảo.
Cả hai bức thư đọc qua đều thấy vui vẻ và phấn chấn nhưng ngẫm nghĩ lại thì thật buồn. Hoàn cảnh của Ngát đã buồn. Hoàn cảnh của Thu còn buồn hơn. Ngát biết Thu từ khi mới vào bộ đội. Hai người ở cùng một tiểu đoàn trong lữ đoàn lính thủy đánh bộ, cùng trên con tàu đổ bộ vào cảng Côngpôngxom trong Cămpuchia khỏi họa diệt chủng. Trong cuộc xuất quân lớn giải phóng Cămpuchia tháng giêng năm ấy, 1979, mũi tiến quân của hải quân ta bị tổn thất nặng nề nhất. Trước sức tiến công của ta, bọn lính Pônpốt không nổ được một phát súng bắn trả mà tản nhanh vào rừng. Đến đêm, từ trong rừng chúng rót pháo, cối vào nơi ta dừng chân giữa đường trống trải, rồi từ trong rừng, từ trong bóng đêm đội quân áo đen bu bám lại, áp sát đội hình ta nổ súng. Truy kích bọn lính áo đen trong rừng còn nhiều bất trắc hiểm nguy hơn. Thượng tá chính ủy lữ đoàn chỉ huy một mũi truy kích giặc bị hy sinh trong rừng và Ngát bị lạc rừng. Một tuần nhịn đói trong rùng Ngát mới gặp được Thu dẫn một mũi đi tìm chính ủy. Ăn hết hai gói lương khô, uống cạn một bi đông nước, Ngát mới dẫn Thu đến chỗ chính ủy nằm lại. Rời đất Campuchia, về hậu cứ Cam Ranh nghỉ ngơi ít ngày rồi Ngát và Thu lại cùng ra một hòn đảo nhỏ ở Trường Sa. Thu là đảo trưởng và Ngát là trung đội trưởng ở đảo Sinh Tồn. Từ Sinh Tồn trở vào đất liền hai người cùng nghỉ phép một đợt. Sau đợt nghỉ phép, trở lại đơn vị gặp Ngát, Thu thở dài bảo: - Bọn chúng mình phải hi sinh ít nhất hai thế hệ, Ngát ạ! Ngát chưa hiểu Thu nói về việc gì thì Thu tiếp: - Hết lặn lội trong rừng lại ra dầu dãi ngoài biển, bọn mình chịu cực, chịu thiếu thốn đã đành nhưng chúng mình cứ đi biền biệt mãi, con cái không có ông bố dạy bảo, rồi đời chúng cũng chẳng ra sao! Ngát lo lắng hỏi: - Sao, con anh làm sao rồi? Thu kêu lên: - Đau thật! Thằng con tôi lúc nhỏ học rất khá, tôi đã mừng nghĩ rằng rồi nó sẽ khá hơn mình. Nhưng càng lớn nó học càng đuối. Không có người kèm cặp, hướng dẫn, lại bị lũ trẻ lêu lổng lôi kéo nên nó chỉ ham chơi, càng học kém. Năm sau học hành ì ạch hơn năm trước. Lớp trước phải thi lại hai môn. Lớp sau phải thi lại ba môn. Lớp sau nữa không còn đượcc thi lại nữa mà phải học lại. Bây giờ thì nó bỏ học rồi? Mây thằng rủ nhau bỏ học đều là con bộ đội cả! Dạy con phải có cái uy của ông bố. Đã không có bố ở nhà đưa con vào khuôn phép, lại không có tiền cho con đi học thêm, tức là tiền bồi dưỡng cho các thày để họ dạy cho con mình đầy đủ kiến thức của lớp, thì con mình làm sao học được. Trẻ con bây giờ cực khổ, tốn kém lắm! Ở lớp chỉ được học một phần kiến thúc. Học lớp nào muốn có đủ kiến thức lớp đó, phải đi học thêm! Thế là sáng học! Chiều học! Tối học! Học cả ngày chủ nhật! Học cả ba tháng hè! Học mụ mị đầu óc! Từ lớp một đã phải học thêm rồi! Muốn học thêm phải có tiền. Học triền miên như vậy, con mình lấy tiền đâu theo học để giỏi như những đứa khác! Im lặng một lát, Thu lại thở dài: Khổ! Đời bố đã khổ rồi mà đời con còn đáng lo hơn. Bố khổ nhưng không đáng lo. Bố khổ nhưng là con người lương thiện. Rồi con có còn là người lương thiện không? Chỉ sau đấy ít ngày Thu lại ra đảo An Bang. Thu đã trồng cho đảo hàng cây mà võng của Ngát đang treo trong bóng mát của nó. Thu đã xây cho đảo căn nhà mà Ngát đang ở. Trong nhà còn quá nóng vì chưa có tấm trần ván ép cách nhiệt. Làm tấm trần ấy thật đơn giản mà Ngát chưa làm được vì đơn vị trong đất liền chưa gửi ván ép ra. Những tấm ván ép mong đợi Ngát chưa nhận được nhưng Ngát đã nhận được thư của Thu. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:45:19 am Những ngày đầu tiên
Ba người bước lên đảo Đặng Quang Hiệp là chiến sĩ thông tin của đảo Trường Sa Lớn, hòn đảo lớn nhất và điều kiện sống cũng dễ chịu nhất trong quần đảo Trường Sa. Đầu năm nay, hết thời hạn ở đảo, anh đang đợi tàu đón về đất liền. Con tàu V841 quen thuộc đến neo cạnh đảo. Chiếc bòng ni lông căng phồng trên lưng, khẩu AK quàng trước ngực, cây ghi-ta nằm ngang trên vai, Hiệp cùng tiểu đội thông tin bước lên chiếc bo bo chạy ra tàu. Nhưng con tàu không chạy về hướng tây, hướng đất liền thương nhớ mà lại dóng mũi về hướng đông. Họ đi đến một hòn đảo mới. Từ nhiêu tháng nay, quần đảo không còn yên tĩnh. Tàu vũ trang của một nước lớn giả dạng tàu đánh cá từ lâu vẫn lởn vỏn trong quần đảo, bây giờ càng xục xạo ráo riết hơn. Các nước khác trong khu vực cũng lơ láo nhòm ngó. Tàu của họ quần lượn đêm ngày, nay đồ bộ lên đảo trống này, mai đổ bộ lên đảo vắng khác. Họ đưa người lên những đảo nhỏ ta chưa có quân đóng giữ nhưng từ lâu ta đã dựng bia chủ quyền. Kéo bia chủ quyền của ta đẩy xuống biển rồi họ cắm cờ của nước học giữa đảo. Ta cần nhanh chóng đưa quân lên giữ thêm một số đảo nhỏ mới nổi. Hiệp cùng một số chiến sĩ đảo Trường Sa được đưa sang giữ đảo Đá Giữa. Gió Tây Nam thổi mạnh. Con tàu phải vòng lên phía đông bắc, phía sóng dịu hơn, dừng lại cách gờ sóng lớn bao quanh đảo hơn nửa cây số và thả neo. Ba hồi còi dài vang động cất lên. Đây là lời chào ra mắt của con tàu với hòn đảo và thông báo cho hòn đảo biết rằng từ nay nó không còn hoang sơ cô quạnh nữa, từ nay hòn đảo đã có những người chủ xứng đáng và một cuộc sống mới đã bắt đầu đến với nó. Giật mình ngỡ ngàng trước âm thanh rền rĩ, lạ lẫm, lũ chim biển đậu trên những mỏm đá lô xô nổi lên trên thềm san hô phía gần tàu chao chát bay túa lên. Một chiếc xuồng cao su từ tàu được thả xuống biển. Hiệp lưng đeo bòng ni lông lớn nhảy xuống xuồng. Một chiếc cọc sắt dài được chuyển xuống cho Hiệp. Hai người lính thông tin là Sen và Nhân cùng chiếc bòng ni lông bọc ba lô kềnh càng trên lưng nhảy xuống theo. Sen mang khẩu B40 và một chiếc xẻng. Nhân mang AK và một cây cờ. Lá cờ còn mới nguyên cuộn chặt vào cán cho vào túi ni lông. Sen và Nhân mỗi người ngồi một bên mạn xuồng, cầm mái chèo gỗ gạt nước. Chiếc xuồng ràn rạt gối sóng lướt vào đảo. Cuộn dây cáp ni lông Hiệp mang theo, một đầu cáp đã được buộc vào tàu. Bây giờ cuộn cáp đang được Hiệp thả dần ra. Qua được gờ sóng dữ rồi, chiếc xuồng lướt nhẹ trên thềm san hô nước nông. Dưới khoảng hai mét nước trong vắt, xao động, thảm san hô rực rỡ đủ màu sắc như một vườn hoa lộng lẫy của thủy cung. Cá cũng đủ màu sắc lượn từng đàn. Có con cá cứ nghiêng mình liếc cái bụng ánh bạc vào nước loang loáng. Có đàn cá nhởn nhơ, tung tăng. Có đàn cá lao vun vút từng bầy như đang trong cuộc bơi thi. Tuy đã quá quen với cảnh sắc thảm san hô nhưng hết ngóng nhìn hòn đảo, Hiệp lại cúi xuống ngắm nhìn vẻ đẹp hấp dẫn của thềm san hô, tay vẫn liên tục thả những vòng cáp ni lông xuống biển. Chiếc xuồng xàn xạt chồm mũi gối lên cát đảo. Đầu trần. Bộ quân phục lính biển màu xanh đậm, bạc vai, bạc gối, ướt đẫm nước biển. Chân mang dép nhựa xốp trắng. Chiếc bòng xám đen chứa ba lô to kềnh như một khối đá đè trên lưng. Khẩu AK quàng trước cổ kéo dáng người chúi về phía trước. Một tay cầm cuộn cáp ni lông một tay cầm cây cọc sắt, Hiệp lom khom bước lên đảo. Đó là hình ảnh người lính Việt Nam đầu tiên đến với hòn đảo mới nổi lên trên mặt biển Thái Bình Dương mà những sĩ quan tham mưu ở lữ đoàn 146 phát hiện ra đảo mới tạm gọi là đảo Đá Giữa. Hình ảnh ấy thật quá bình thường, không tương xứng với sự kiện lịch sử mà những con người đó tạo nên. Nhưng phần nhiều sự kiện lịch sử đều bắt đầu từ những sự việc rất bình thường và do những con người cũng rất bình thường thực hiện. Đôi dép nhựa của Hiệp đạp lạo xạo trên cát san hô đi vào giữa đảo. Giờ này chim biển đã bay đi, xập xè kiếm ăn trên sóng nhưng vẫn còn một số ở lại, đỗ thành từng vệt đen trên đảo. Sen và Nhân chạy lên ngang Hiệp. Ba ngườt lính đi thành hàng ngang qua những vạt chim đậu. Bước chân của họ làm đàn chim tản ra rồi lại lách chách quẩn quanh chân họ. Nhân đi đến chỗ bia chủ quyền, mở lá cờ ra, cắm cán cờ xuống cát san hô phía sau tháp bia. Lá cờ lập được gió căng rộng ra, phần phật tung bay. Hiệp phóng cây cọc sắt xuống cát. Sen vung xẻng đóng cây sắt lút sâu xuống cát rồi buộc cuộn cáp ni lông vào cây sắt. Xong việc, ba người lính đứng hàng ngang phía sau bia chủ quyền và lá cờ, cùng đưa tay lên vẫy con tàu. Đột ngột Hiệp quát vang trầm: Nghiêm! Chào cờ, chào! Ba người đứng nghiêm xúc động nhìn lá cờ đỏ rực vờn trong gió như một ngọn lửa đang bùng lên. Hiệp đứng giữa giơ khẩu AK lên cao, hướng nòng súng lên trời kẻo một băng ròn rã. Tiếng hô của Hiệp quả bất ngờ và đột ngột đối với Sen và Nhân vì trong nhiệm vụ họ được trao đi trước lên đảo không có tiết mục chào cờ. Đại đội trưởng chỉ yêu cầu cột xong sợi cáp ni lông vào cọc sắt thì bắn ba phát AK để ngoài tàu biết thả xuồng cao su xuống biển bắt đầu đưa người và trang bị xuống xuồng bám theo dây cáp vào đảo. Bây giờ loạt đạn vừa là lời báo cáo với tàu rằng họ đã hoàn thành nhiệm vụ, vừa là tiếng súng nghi lễ chào hòn đảo và đánh dấu giờ phút người Việt Nam chính thức có mặt trên hòn đảo nhỏ nhoi giữa mù khơi. Giữa trời cao biển rộng gió lộng ngàn khơi, tiếng nổ của băng đạn AK nghe mảnh mai như tiếng nổ của băng pháo tép. Đàn chim biển quẩn quanh bên chân ba người lính chợt giật mình bay vù lên rồi lại bình thản đáp xuống. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:47:00 am VỀT CHÂN TRẦN TRẼN MẢNH SÂN LỚN
Bây giờ Hiệp mới đi quanh, đưa mắt nhìn bao quát để nhận mặt hòn đảo. Hình dáng hòn đảo giống cái gì nhỉ? Giống như dấu vết một bàn chân trần! Đúng rồi, hình dáng hòn đảo giống hệt vết một bàn chân trần khổng lồ in trên sóng nước. Hiệp lại nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng. Cô gái làng Phù Ủng bên sông Đuống sáng sớm ra thăm vườn bỗng thấy một vết chân trần quá khổ in trên đất vườn. Kinh ngạc sao lại có người có bàn chân lớn đến vậy, cô liền ướm thử chân mình vào. Từ đó cô mang thai và sinh ra chú bé Thánh Gióng phi thường cưỡi ngựa sắt phun lửa đánh tan giặc Ân xâm lược rồi vỗ ngựa về Trời không màng công danh do chiến công hiển hách mang lại. Người Trời đã để lại dấu thân trần quá khổ ở mảnh vườn giữa châu thổ sông Hồng bây giờ lại để lại dấu chân giữa biển Đông đây chăng? Chỉ có khác là dấu chân in trên đất thì lõm xuống còn dấu chân in trên biển thì nổi cao lên thành đảo. Dấu chân huyền thoại in trên đất đã làm cho một cô gái đồng trinh mang thai và sinh ra một con người huyền thoại cứu nước. Những dấu chân lãng đãng in trên biển cả đã gọi những người lính trẻ từ quê hương Thánh Gióng mở cõi ra biển. Cũng giống như mặt tiếp đất của bàn chân, giữa đảo chỗ gan bàn chân hòn đảo cũng trũng xuống thành một thung lũng và chỗ thấp nhất của thung lũng là cái ao hẹp và dài chạy theo chiều dọc đảo. Cách đây hơn một tháng, Hiệp được phân công đi theo bảo đảm thông tin cho phái đoàn của quân chủng hải quân sang đây kiểm tra lại hòn đảo lần cuối để quyết định có đưa quân lên đây hay không. Lần ấy, nước triều rút, ao cạn trơ. Ngắm cái ao, tham mưu trưởng quân chủng Bùi Ủy gật gật đầu nói rằng: Tuyệt lắm! Chỗ này nuôi vích tuyệt lắm! Khoét sâu lòng xuống, đắp cao bờ lên chút nữa và quây lưới lại sẽ có cái bể nuôi vích rất đẹp vừa là nguồn thu cho kinh tế, vừa tạo thêm cảnh quan văn hóa cho đảo! Bây giờ triều đang lên, nước ăm ắp trong khoảng trũng giữa đảo, đúng là một cái ao kín đáo. Ý kiến của tham mưu trưởng Bùi Ủy cũng có lí. Đúng rồi! Sở thú ở thành phố Hồ Chí Minh có bể nuôi cá sấu. Hà Nội có Hồ Gươm nuôi rùa. Còn Trường Sa sẽ có ao nuôi vích. Rùa của hồ. Cá sấu của sông. Và vích của biển lớn. Ba con vật ấy ba cảnh quan địa lí ấy chính là hình ảnh đặc trưng cho ba giai đoạn mở cõi của người Việt. Hồ là thời kì sơ khai, khép kín, ngưng đọng, chật chội. Sông là thời kì vận động, bồi đắp, mở mang và định hình quốc gia. Đại dương là thời kì mở của, giao lưu với thế giới. Giao lưu với thế giới phải đi ra biển. Ngôi nhà Việt Nam tựa lưng vào Trường Sơn, mở cửa hướng ra biển đông, thềm lục địa ở biển đông là mảnh sân trước nhà và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là hàng giậu, là cửa ngõ của mảnh sân ấy. Hai quần đảo cát vàng ấy còn là hàng chậu cảnh trước sân trong đó có một bể cảnh nuôi vích ở đảo Đá Giữa. Hồi còn Ở đảo Trường Sa, trong một đêm đi gác, Hiệp đã được chứng kiến một con vích đẻ. Đi tuần đến doi đất thấp phía bắc, Hiệp bỗng giật mình phát hiện trên cát ướt có vết rạch ngang đều đặn kéo dài từ biển vào trong đảo như vết xích xe tăng. Có phải vết xích xe bọc thép lội nước đổ bộ lên đảo? Hiệp ra hiệu chỉ cho người bạn cùng kíp gác thấy vết xe bọc thép. Hai người chuyển sang đi khom lần theo dấu vết và thấy trước mặt, sau gờ cát cao, nơi tận cùng của những dấu vết khả nghi, một con vích to như bàn đế khẩu cối một trăm hai mươi li đang bới cát xàn xạt. Đợi cho vích đào lỗ, đẻ trứng rồi lấp cát lại họ mới phóng ra, lật ngửa con vích lên. Muốn bắt vích chỉ có cách ấy. Vích bị lật ngửa, mai vích như chiếc chảo đặt ngửa vững chãi trong lõm cát san hô, vích không còn xoay trở được nữa, bốn chân chỉ còn biết bơi trong không khí một cách tuyệt vọng. Chạm được chân vào đất con vích sẽ có sức mạnh phi thường. Lúc đó dù có hai, ba người ngồi đè lên mai nó vẫn phóng bay xuống biển. Hôm sau, anh nuôi của đảo bới cát lấy được hai xô trứng vích và để lại vài chục quả vùi trong cát. Cát san hô bị mặt trời nung nóng trở thành lò ấp trứng vích và chỉ một tháng sau đảo sẽ có đàn vích con. Nhưng tiếc là đảo đã không giữ lại được số vích con ấy. Trong đợt sẵn sàng chiến đấu khẩn trương, suốt hơn một tuần lính đảo phải tập trung chuyển bê tông từ tàu vào đảo làm công sự, mọi người quên mất ổ trứng vích. Nhớ ra, tiến đến ổ trứng vích thì thỉ còn những vỏ trứng nứt đôi. Đàn vích con nở ra lại trỏ về với biển cả rồi! Dù có giữ lại được đàn vích đó cũng chưa chắc đã nuôi được chúng ở đảo Trường Sa vì nước trong những hố đào trên đảo Trường Sa là nước ngọt. Còn vững nước giữa đảo Đá Giữa thì vẫn là nước biển, đúng môi trường tự nhiên của vích. Nguồn thức ăn cho vích ở đây cũng sẵn hơn vì Đá Giữa còn là đảo hoang, cá chưa bị săn bắt, thềm đá san hô ở đây khá rộng và nhiễu cá hơn ở đảo Trường Sa. Buổi tối đốt đuốc ra bãi đá san hô chém cá là cách bắt cá dễ và nhanh nhất tuy chỉ bắt được cá nhỏ nhưng nuôi vích cũng chỉ cần loại cá đó. Vì thế việc nuôi vích ở đây trong tầm tay. Nhưng bây giờ cái vũng kia vẫn còn là cái rốn chứa rác ruởi của biển. Một cây gỗ tròn, thẳng và dài tới gần hai mươi mét, đường kính gần một mét nằm vắt ngang qua vũng. Ở một đầu cây gỗ có đóng khuy sắt chắc chắn chứng tỏ cây gỗ được đóng bè vận chuyển trên biển rồi bè gỗ bị bão xé tung ra, trôi dạt khắp nơi. Hiệp nhìn cây gỗ và hình dung ra cây cầu duyên dáng soi bóng xuống hồ nước nuôi vích của đảo. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:48:08 am ĐÂY LÀ TỔ QUỐC VIỆT NAM
Đảo dài khoảng trên một trăm mét, chỗ rộng nhất trên sáu mươi mét. Khắp mặt đảo ngổn ngang mảnh gỗ mục, khúc cây lớn còn tươi sắc gỗ, tre, buơng từng cây dài hoặc những mảnh vỡ, quả dừa khô, quả bàng vuông, lông chim, đồ nhựa, phao, lưới đánh cá, chai, lọ, dép xốp quần áo, túi rủ lông... Chỗ gờ sóng lớn ngoài cùng thềm đá san hô phía bắc có chiếc sà lan đắm nằm chênh vênh. Cạnh phía nam đảo, chiếc thuyền gỗ cắm sâu vào cát san hô, thành thuyền lộ ra ngang mặt đảo. Chiếc thuyền mắc cạn trên thềm đá san hô từ lâu và cát san hô dồn lấp gần kín chiếc thuyền. Nhìn cát san hô đầy ắp trong thuyền lại tưởng như chiếc thuyền chở cát san hô đến đây tự đánh đắm để đôn đảo lên. Chim bay về mỗi lúc một đông, đỗ thành vệt trên cát, đỗ kín trên những mỏm đá san hô lô xô quanh đảo. Có con chim xà xuống định đậu trên đầu Hiệp nhưng Hiệp đột ngột bước đi, nó vội bay lên. Ngước lên thấy con chim, biết ý định của nó, Hiệp liền đứng im một chỗ, đưa bàn tay lên cao. Lập túc con chim thanh thản, nhẹ nhàng đậu xuống bàn tay Hiệp. Con chim trắng, nặng đến hơn một cân. Chợt Hiệp nhận ra có nước dấp dính chảy tràn trên bần tay. Anh liền hất nhẹ tay cho cơn chim bay đi và nhìn vào bàn tay mình thì thấy bãi cứt chim ướt lầy nhầy trên bàn tay và mùi tanh của cá xộc lên. Điểm cao nhất trên đảo là bia chủ quyển. Bia đặt hơi lệch phía đông, nơi vụn san hô dồn cao hơn cả. Đấy là chiếc bia thứ ba ta đặt ở đây kể từ năm 1978. Một khối bê tông ba mặt, hình thang, cao một mét, chiều rộng đáy bốn gang tay, chiều rộng đỉnh một gang. Một phần ba phía trên mặt bia là hình lá cờ Việt Nam: Hình ngôi sao năm cánh lõm xuống, sơn vàng, nền cờ sơn đỏ, phía dưới lá cờ là hàng chữ VIỆT NAM in chìm vào bê tông, sơn đen. Chỉ thế thôi, cái khối bê tông đơn giản ấy cũng thầm nói với Hiệp rằng Đây là tổ quốc Việt Nam và mang lại cho Hiệp cảm giác thiêng liêng, xúc động khi đứng trước bia. Đảo Trưởng Sa nơi Hiệp ở cũ là đảo lớn, nổi cao, hình thành từ lâu, vụn san hô đã nát nhuyễn thành cát trộn lẫn với lượng phân chim đã tích tụ từ lâu tạo thành đất thực sự, một thứ đất vàng xám, mịn chặt, giữ được nước mưa, ngăn được nước biển. Ở hòn đảo nhỏ nhoi này, vụn san hô vẫn còn là cành, là thỏi, là cục, lổn nhổn như sỏi như đá, trơ trụi, rời rạc, nước mưa trút bao nhiêu xuống đảo cũng thấm ra biển hết, còn nước biển thì mặc sức thấm vào ao giữa đảo rồi khi triều xuống nước lại rút ra theo mực nước triều. Điều này sẽ làm cho cuộc sống ở đây vô cùng khắc nghiệt, khó khăn. Đảo trưởng nói rằng ổn định xong chỗ ăn chỗ ở lữ đoàn sẽ gửi đất màu và giống cây ra cho đảo. Bao giờ đây có mầm cây xanh nhỉ? Chỉ một mầm cây thôi cũng làm giảm đi một nửa sự khắc nghiệt của tự nhiên, cũng làm cho hòn đảo vững vàng hơn trước sóng gió. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:50:01 am RỆP CHIM
Hiệp chạy ra đón chiếc bo bo sắp vào đảo. Có thêm sáu người nữa vào đảo cùng với bạt dựng nhà, tấm ván giường, súng lớn, súng nhỏ, những hòm đạn và một phuy dầu lửa. Chuyến bo bo thứ hai chở vào ba người cùng với gạo, củi, mắm, muối, xoong, chậu ... Bốc hết hàng, bo bo quay ra tàu thì những người ở đảo bắt tay vào dựng nhà bạt. Mãi nhá nhem tối, nhà bạt mùi dựng xong. Đói và mệt! Chuyến bo bo cuối cùng trong ngày mới chuyển vào đảo nồi cơm nấu từ trên tàu và chuyển cho Hiệp chiếc hòm gỗ quân nhu nhốt một đàn gà mới xuống ổ, một mẹ, mười lăm con. Ổ gà, cả mẹ và con đều sinh ở đảo Trường Sa. Mẹ là gà Trường Sa F2 và con là F3, đã thích nghi với cuộc sống Trường Sa. Ổ gà ấy tiểu đội cũ bên đảo Trường Sa cho Hiệp để anh gây giống cho đảo mới. Hiệp mang hòm gỗ chuồng gà lên để giữa đảo. Mọi người vội vã ăn bữa cơm tối đã quá muộn. Đói đến rủn cả người nhưng Hiệp chưa ngồi vào ăn. Anh ra chỗ đàn gà, mở hòm gỗ, thả gà ra. Gió thốc đến, thổi xù lông đám gà con. Hiệp trải mảnh giấy trên cát liền bị gió thổi bay đi. Anh phải kiếm mảnh giấy dầu đặt xuống rồi lấy đá san hô chặn góc giấy và đổ vào đó một bát cơm. Nhưng gà mẹ cứ đứng một chỗ, xã cánh cho lũ gà con rúc vào tránh gió. Lũ con đông đúc chen nhau, đẩy nhau ra để được rúc vào sự che chở của mẹ và không ngớt la lối ầm ĩ như mách mẹ về sự tranh giành của chúng với nhau và như đòi hỏi, như hòn dỗi đối với gà mẹ. Đợi lũ con ngớt tiếng, gà mẹ mới khẽ khàng "Cục! Cục! giọng dịu dàng như dỗ dành, như khuyên bảo. Lũ gà con rồi cũng im tiếng, mỗi con đều tìm được một chỗ ấm áp dưới cánh gà mẹ. Yên ổn dưới đôi cánh mẹ, lũ gà con thỉnh thoảng chỉ còn khẽ kêu lên "Chíp! Chíp!" sung sướng và thỏa mãn. Tối rồi, chắc lũ gà không nhìn thấy cơm mà mổ, thôi, để sáng mai cho chúng ăn sớm. Hiệp lại cho đàn gà trở vào trong hòm gỗ và xách vào trong nhà bạt rồi mới đi ăn cơm. Xoong cơm đã nguội ngắt. Đĩa thịt lợn đóng hộp, xoong canh loáng thoáng mấy lát bí đỏ, ăn mãi thịt hộp đến chán ngấy. Hiệp chan canh bí đỏ vào cơm rồi lùa đủ ba bát cho xong bữa. Đã bắt đầu vào mùa mưa. Mưa có thể ập xuống bất cứ lúc nào, ăn cơm xong chưa kịp kiếm mảnh tre dạt lên đảo chẻ ra làm tăm lại phải hò nhau khuân hết súng, đạn, gạo, củi, ba lô:.. còn vất ngổn ngang trên đảo đưa vào trong nhà bạt vừa dựng. Làm xong đã hơn mười giờ đêm, mọi người mới tự thu xếp chỗ ngủ của mình. Mấy người chui vào nhà bạt, xếp lại những hòm đạn, những bao gạo, tạo ra những mặt bằng vừa một thân người nằm. Những người còn lại ngủ trên những tấm ván giường đặt ngay trên cát san hô ngoài trời. Hiệp và Sen cũng nằm trên những tấm ván đó. Nhưng giấc ngủ vữa chập chờn đến với Hiệp thì anh thấy nhoi nhói, lúc đầu chỉ nhoi nhói ở khoảng chân trần rồi râm ran, nhoi nhói khắp người. Hiệp lồm cồm bò dậy thì Sen cũng bật dậy ánh đèn gìn lóe lên. Trong quầng sáng đèn pin. Hiệp thấy những chấm nâu như hạt tấm bám đầy trên đùi. Trời ơi, rệp chim. Những hòn đảo còn của hoang sơ, của tự nhiên này, ban ngày là của đàn chim biển và ban đêm là của lúc nhúc lũ rệp chim. Người đến lấn đất của chim thì dễ, người và chim có thể chung sống với nhau một cách thân ái. Nhưng lấn đất của những con rệp bé như hạt cám thì không dễ. Ban ngày cát san hô bị mặt trời nung nóng và đàn chim cũng không còn ở đảo, lũ rệp chim phải chui sâu xuống cát san hô tránh nóng. Bây giờ đàn chim đã về kín đảo, lũ rệp bắt đầu bò lên chích máu chim đây. Lính trên đảo bị lũ rệp dựng dậy, nhốn nháo cả đảo. Tài tháo vát của lính đã được rèn luyện để vượt qua những khó khăn luôn bất ngờ xuất hiện bây giờ lại được bộc lộ. Sen nhìn thấy thùng phuy dầu lửa để bên đống củi. Anh đặt lại chiếc thùng phuy cho thật bằng rồi đặt tấm ván giường lên trên và leo lên nằm. Được đấy! Các loại sâu bọ đều sợ mùi dầu nên không dám bò theo thùng phuy lên giường. Nhưng chiếc thùng phuy quá nhỏ kê bên dưới giũa tấm ván giường, hai đầu tấm ván thùa ra ngoài thùng phuy quá nhiều, chiếc giường quá chênh vênh nằm bên trên chỉ lệch một chút là giường sập! Mấy người đi nhặt những đoạn tre dạt ngổn ngang trên đảo, buộc thành những cụm cọc choãi chân kiễng cắm xuống vũng nước trong chiếc ao nhỏ, tạo ra những chiếc cọc mắc võng. Những cánh võng giăng trên mặt ao như những con thuyền nhỏ bình yên trong ao làng. Công dụng đầu tiên của chiếc ao nhỏ trên đảo đó. Hiệp nhìn thấy chiếc xuồng cao su nằm trên bãi cát san hô. Anh đi đến, lật úp xuồng lại. Đáy xuồng bằng phẳng và khá rộng. Giường ngủ đây rồi! Cho chiếc giường hơi này nổi trên mặt nước thì lũ rệp trên đảo chỉ còn biết đứng nhìn mà khóc! Đẩy chiếc xuồng úp xuống thềm nước nông, cột sợi dây neo xuồng vào mỏm đá san hô, trải chiếu lên đáy xuồng, thế là có được cái giường nệm hơi êm ái, rộng rãi, mát mẻ, sạch sẽ và bồng bềnh trên sóng nước. Hiệp vừa nằm lên "giường" thì có tiếng Nhân gọi: - Hiệp ơi, còn chỗ không, cho mình nằm với? Sao bây giờ mới tìm chỗ ngủ? Bây giờ mới hết phiên gác. - Lên đây! Hai thằng nằm cũng rộng chán. Quá mệt sau một ngày đánh vật với sóng nước, quần quật chuyển hàng chục tấn trang bị từ tàu vào đảo, thời tiết ban đêm ở đảo lại nhẹ nhõm, mát mẻ quá, đặt mình xuống tấm nệm hơi êm ái lập túc Hiệp chìm vào giấc ngủ. Chiếc nệm hơi cứ bồng bềnh theo cơn sóng lắc ru trong tiếng sóng rì rầm sâu thẳm không dứt. Giấc ngủ của lính đảo được cả đại dương vỗ về hát ru. Về khuya gió mang hơi lạnh thổi ào ào. Hiệp tỉnh dậy vì lạnh và vì ở mỏm đá rất gần có con chim bị gió thổi hất xuống nước, vỗ cánh phành phạch mãi mà không lên lại mỏm đá được té cả nước lên người Hiệp. Hiệp vào nhà bạt mở bòng lấy tấm vỏ chăn ra đắp cả cho Nhân. Sáng hôm sau thức dậy. Hiệp thấy đáy chiếc xuồng cao su tối hôm qua phẳng phiu, đầy đặn mà bây giờ bùng nhùng, dúm dó, chống tay xuống chỗ nào ở đáy xuồng cũng tụt luôn xuống sát đáy san hô, không thể phẳng trở lại. Hiệp và Nhân bị dồn xuống nằm sát đáy thềm san hô. Thì ra chiếc xuồng cao su bị xuống hơi, đáy xuồng chỉ còn là tấm cao su trải xuống đáy cát trong thềm nước. Cũng may túi hơi tròn quanh xuồng còn đủ hơi giữ cho chiếc xuồng không bị nước tràn vào. Cứ để Nhân ngủ, Hiệp bước nhẹ ra ngoài xuồng, chạy vào nhà bạt, xách đàn gà thả ra giữa đảo. Anh rải cho chúng một nắm gạo lên mảnh giấy dầu. Gà mẹ sốt sắng gọi lũ con. Đàn con nhảy xô lại nhưng thấy vẫn chỉ có gạo trắng như mảnh cát san hô mặn, mỗi con uể oải mổ vài hạt cho mẹ chúng khỏi nài ép rồi cứ đứng xơ rơ nghiêng đầu nhìn ngó, chờ đợi, dáng buồn bã, mỏi mệt. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:51:22 am KHÁT
Hôm nay sóng còn dữ hơn hôm qua. Không thể nào đưa bo bo ra tàu để lấy nước ngọt vào nấu cơm được. Ngoài kia, con tàu cứ chạy vòng quanh đảo, tìm chỗ khuất sóng neo lại để đón bo bo từ đảo ra. Sóng dựng trùng trùng, chẳng có chỗ nào yên hơn chỗ nào. Trên đảo đã có đủ gạo. mắm, muối, thịt hộp, củi, dầu. Chỉ còn thiếu nước ngọt! Sơ suất quá! Đáng lẽ hôm qua phải đưa nước ngọt vào đảo trước. Bây giờ thế là nhịn! Không lẽ cứ ngồi chờ cơm? Việc đang ngổn ngang, ngồi không sao đành! Thôi, người nào việc ấy, đành nhịn đói mà làm, khi nào có cơm thì ăn sau! Theo kế hoạch, sáng nay ăn cơm xong, một số người tiếp tục chuyển nốt trang bị từ tàu vào, còn lại sẽ bắt tay vào sắp xếp tổ chúc cuộc sống trên đảo và công việc đầu tiên là đào hầm hào, dựng thêm nhà bạt, làm nhà bếp. Hiệp và Sen được phân công đào hào chiến đấu bao quanh đảo. Đảo đã thấp lại còn đào thấp xuống nữa! Cát tơi mịn, dễ đào đấy nhưng cứ đào hất lên thì cát lại chảy xuống. Dã tràng se cát và lính Trường Sa đào cát, có lẽ hai công việc ấy chẳng khác gì nhau! Hai công việc ấy đều nhọc nhằn, đều uổng phí, đều đòi hỏi sự kiên nhẫn, bền bỉ phi thường! Chỉ có điều khác là sự kiên nhẫn của dã tràng thì không có mục đích và hoàn toàn vô tích sự. Còn sự kiên trì của những người lính Trường Sa có mục đích rõ ràng và nhất định phải đi đến kết quả. Vừa sáng ra đã nắng gay gắt, rát rạt. Mồ hôi ròng ròng khắp người và Hiệp thấy khát nước ghê gớm. Lại thêm cái đói hành hạ. Đến lúc các cơ bắp của Hiệp dường như không co lại được nữa, Hiệp mới dừng tay ngồi nghỉ dưới nắng. Một đoạn hào tuy không sâu, chỉ đến ngang bụng, đã bao quanh một hướng đảo. Hiệp đưa mắt tìm đàn gà. Đàn gà cứ đứng cụm lại ở giữa đảo chịu đựng cái nắng đổ lửa từ mặt trời dội xuống và cái nóng ngùn ngụt từ cát trắng san hô hắt lên. Không tìm đâu được một bóng râm mà trú, con gà nào cũng rã cánh, há mỏ ra thở. Sen cũng không còn đủ sức hất xẻng cát lên nữa, liền buông xẻng, ngồi bệt xuống cát, ngó ra biển. Sóng chồm chồm dựng quanh đảo như mỗi lúc một lớn hơn. Kiểu này đến tối chưa chắc đã có cơm ăn! Trên đảo có thịt lợn hộp đấy nhưng thỉ nghĩ đến cái mùi thịt hộp đã ớn muốn ói. Hay là làm thịt con gà mẹ, rang lên, mỗi người một miếng cầm hơi? Hiệp nói ý định đó với Sen. Sen đánh mỗi thiếc quần đùi ngồi trên thành đoạn hào vừa đào, nắng dát sáng loáng trên làn da căng ướt đầm mồ hôi của anh. Sen ngắm đàn gà, nói: Giết gà mẹ thì đàn cơn còn lại cũng không sống nổi! Thế là chúng ta chén mất cả đàn gà quí! Uổng lắm! Không còn sức xúc cát thì báo cáo đảo trưởng cho vào nhà nằm nghỉ đợi cơm chứ đừng giết gà. Hiệp lại bàn: Bảo anh nuôi rang cho nắm gạo ăn tạm vậy! Sen kêu: - Trời ơi! ăn gạo rang cũng bằng ăn lương khô, khát nước chịu sao nổi. Đói còn có thể chịu đựng được vài ngày chứ trời nắng này mà thiếu nước thì không chịu nổi một ngày! Mình đang khát không chịu nổi nữa rồi! Phải làm tạm ngụm nước biển đây. Sen đứng lên, sải bước ra ngoài biển. Gần mép đảo, nước đục lờ, Sen lần ra xa, đến chỗ nước trong, khum tay vục nước đua lên miệng, nhấp một ngụm nhỏ. Không chịu nổi con khát khô cổ, Hiệp cũng đi theo Sen ra uống ngụm nước biển. Mãi đến khuya gió mới lắng xuống, sóng dịu lại và chiếc bo bo chở téc ra tàu lấy nước ngọt mới neo được vào cạnh tàu Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:52:39 am TIẾNG ĐÀN
Lần này tàu chở ra đảo một kĩ sư công binh cùng những khối bê tông đúc sẵn để lắp ghép công sự, hầm, hào. Rồi xi măng, sắt thép, tôn lợp nhà, gạch, đá, khung và cánh cửa sắt, lại có cả những bao cát vàng khai thác từ sông suối trong đất liền. Lính đảo lại một phe bị công việc cuốn đi không còn biết đến giờ giấc. Quần quật từ sớm đến khuya ngâm mình trong nước biển, chuyển những khối vật liệu nặng nề, kềnh càng từ tàu vào đảo. Tháo đôi găng tay bạt rách xơ vì bị cứa vào cạnh bê tông và cạnh sắt thép ra lại cầm lấy cái xẻng, cái bay, đánh hồ xây dựng công sự, nhà cửa. Những công sự bê tông đã chìm sâu trong cát san hô thì ngôi nhà mái tôn sáng loáng cũng nổi cao giữa đảo. Đó là ngôi nhà bốn gian nhỏ mỗi gian rộng dài chỉ bốn mét. Hai gian hai đầu nhà là phòng đảo trưởng và phòng chính trị viên đảo. Hai gian giữa không có tường ngăn cách là hội trường của đảo. Hội trường còn trống trơ, chưa có bàn ghế. Chỉ có lá Cờ tổ quốc căng chính giữa bức tường nhìn ra cửa. Sát tường, phía dưới lá cờ là chiếc tử nhỏ. Trên mặt tủ có chiếc đèn bão đặt cạnh chiếc máy thu thanh chạy pin. Buổi tối, có việc lên phòng đảo trưởng, Hiệp chỉ nghe từ chiếc máy thu thanh bán dẫn ở phòng họp nét nhạc quen thuộc mở đầu chuyên mục Kể chuyện cảnh giác. A, tối thứ bảy đây! Chiếc đài bán dẫn đã yếu pin, tiếng nói khào khào, bập bềnh chìm nổi khi trồi lên, khi chìm nghỉm trong tiếng gió lồng lộn đập ầm ầm trên mái tôn. Nghe đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam là cách giải trí. thư giãn và là sự tiếp cận thông tin duy nhất ở đảo nên từ khi chiếc máy thu thanh được đặt ở phòng họp của đảo, sau bữa com tối lính đều tập trung đông đúc quanh chiếc máy thu thanh. Chương trình tối thứ bảy của đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam lại có nhiều chuyên mục hấp dẫn với lính đảo thì tối thứ bảy lính tập trung càng đông. Nhưng tối nay chiếc máy thu thanh thều thào như người hấp hối, không còn ai ngồi với nó nữa. Rời nhà chỉ huy đảo, rời ánh sáng nhợt nhạt của ngọn đèn bão, Hiệp chìm ngay vào bóng đêm mịt mùng và lọt thỏm trong vòng tay quấn quít của những ngọn gió biển lúc nào cũng cuống cuồng, mạnh mẽ đến suồng sã. Mấy vì sao lẻ loi, xa tít như những lỗ thủng của vòm trời. Ban ngày trên biển đã hoang vắng, mênh mông. Đêm đến càng thăm thẳm, hư vô. Giữa biển đêm, con người càng thấy nhỏ bé, hoang mang. Cảm giác hoang vắng, trống trải xâm chiếm trong lòng, Hiệp trở về căn nhà bạt của mình, với lấy cây đàn ghi ta treo trên cây cột chống mái bạt. Anh thong thả rải vài hợp âm vừa để khởi động cho tay dẻo lại vừa để kiểm tra dây đàn. Dây mi hơi bị chênh. Hiệp căng lại dây đàn rồi chuyển thế ngón tay theo những hợp âm quen thuộc. Đã lâu lắm, đêm nay Hiệp mới được ôm cây đàn. Da tay nhợt nhạt vì hàng tháng trời dầm trong nước biển. Bàn tay trầy xước vì đá san hô, vì bê tông sắt thép. Ngón tay như cứng lại, thô ra vì những công việc nặng nề. Từ bàn tay, đó những âm thanh ngập ngừng, rời rạc rơi ra như những hạt mưa đầu trận mưa ngập ngừng rơi xuống mái nhà tôn. Mùa mưa ở đảo, mưa rào ập đến rất nhanh. Vữa thấy lác đác vài hạt mưa, lính chưa kịp rút quần áo phơi trước sân vào nhà thì mưa rào đã sầm sập trút xuống. Từ những âm thanh rời rạc, tiếng đàn của Hiệp nhanh chóng chuyển sang những họp âm dồn dập, cuồn cuộn tuôn chảy. Hồi Hiệp mới vào bộ đội, phụ trách quân y đại đội huấn luyện lính mới của Hiệp ở Quảng Yên là một chuẩn úy chuyên nghiệp có ngón đàn ghi ta rất cuốn hút. Những lúc rảnh, Hiệp thường vào phòng quân y nghe đàn. Khi chuẩn úy quân y rời đàn ra là Hiệp lập tức ôm lấy cây đàn, mò mẫm với những nốt, những phím, những thế tay, những gam, những hợp âm. Trong phòng quân y đại đội bên sân một quả đồi ở Quảng Yên, tay Hiệp đã bật những tiếng ghi ta đầu tiên và anh đã học được hết những bài đàn mà người y sĩ thường chơi. Quanh quẩn cũng chỉ có mấy bài. Dân ca thì có "Xe chỉ luồn kim", "Người ở đừng về". Nhạc nước ngoài có "Paloma", “Xan ta Lucia”. Nhạc Việt Nam có "Dư âm”, "Làng tôi", "Áo mùa đông", thế thôi! Bài nào Hiệp cũng thích nhưng thích nhất bài “Áo mùa đông”, vì giai điệu nhạc rất đẹp, vì lời bài hát gợi cho Hiệp nhớ đến hình ảnh ông nội. Gió bấc heo may, xào xạc rung cây lá, lá bay. Một mùa đông bao người may áo... Bài hát gợi nhớ cánh rừng Việt Bắc mùa đông về, gió bấc lùa hun hút. Dưới mái lán đơn sơ, những người lính áo nâu phong phanh, chiếc mũ nan trên đầu, chiếc áo bông mỏng không có tay với những đường trần hình quả trám ôm gọn những vồng ngực mang trái tim tuổi trẻ đi đánh giặc giữ nước. Người lính vệ quốc đoàn thời kháng chiến chống Pháp đó. Ông nội Hiệp đó. Chiếc áo bông ấy được gọi là áo trấn thủ có từ Một mùa đông bao người may áo, mùa đông đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, người lính vệ quốc đang thiếu thốn đủ bề và cuộc vận động may áo cho người chiến sĩ được phát động. Đó là Mùa đông binh sĩ đã đi vào trang sử đẹp của một cuộc kháng chiến được sách báo một thời gọi là cuộc kháng chiến thần thánh. Ông nội Hiệp đã mất từ mấy năm trước nhưng chiếc áo trấn thủ của ông vẫn được bố Hiệp nâng niu gìn giữ cùng với chiếc mũ tai bèo vượt Trường Sơn của bố. Bài hát đưa Hiệp về một thời như cổ tích, như huyền thoại. Những ngón tay Hiệp lại mềm mại nhấn nhá trên phím đàn và tiếng đàn cứ rạo rực như ngọn lửa bập bùng ấm áp trên bếp lửa nhà sàn trong đêm mùa đông. Chợt có tiếng nói nhỏ như thì thầm: - Chơi bài "Người ở đừng về" đi Hiệp ơi! Sen quát: - Im nào! Để cho nó đàn. Bài gì cũng được! Chơi tiếp đi Hiệp! Hiệp nhìn quanh, không hiểu mọi người vừa nói gì. Nhưng nhìn những ánh mắt, những gương mặt thờ đợi đang hướng vào anh thì anh hiểu. Hiệp lại cúi xuống cây đàn. Tiếng đàn lại như dòng suối rì rầm và bền bỉ chảy trong sâu thẳm lòng rừng. Dường như cả đảo đã có mặt trong căn nhà bạt bập bùng tiếng ghi ta. Những dáng người im lặng. Có người khẽ lắc lư theo tiếng đàn. Tiếng đàn như làn nước ngọt trong mát chảy tràn trên những làn da lạo xạo cát và trắng từng ngấn muối biển của những người lính đảo. Chợt có tiếng gọi từ trong góc nhà bạt: - Hiệp ơi, đến giờ liên lạc rồi! Vào mở máy đi! Nhận ra tiếng gọi của Nhân, Hiệp vội buông đàn đứng lên. Người ngồi bên cạnh liễn đỡ lấy cây đàn và tiếng ghi ta lại ngập ngừng, rời rạc vang lên. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 04:30:14 pm Xao Xác Cánh Chim
Truyện ngắn [/i]Đại tá Cao Ánh Đăng, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 146 bảo vệ quần đảo Trường Sa vừa đến đảo Trường Sa Đông thì chiến sĩ quân báo Lê Văn Sinh đến báo cáo có một tàu lạ khá lớn của nước ngoài vừa ghé vào đảo Chim họ cho người lên đảo và còn đang ở đó. Người cán bộ chỉ huy lữ đoàn đã nhiều năm lặn lội ngoài biển Trường Sa ngạc nhiên hỏi lại: - Đảo nào? Đồng chí nói tàu nước ngoài đổ người lên đảo nào? Anh chiến sĩ trẻ nói chắc chắn: - Họ lên đảo Chim của ta đấy thủ trưởng ạ! Không hiểu họ làm gì ở đó mà chim nháo nhác cả lên! Lữ đoàn trưởng nhìn người chiến sĩ còn quá trẻ nên chưa tin những điều anh vừa nói: - Đảo Chim cách đây gần hai chục hải lí cơ mà. Sao đồng chí biết? Anh chiến sĩ chỉ tay lên trời. Từng đàn chim biển như những đám mây màu nâu nhạt từ phía tây trôi lại rồi lả tả táp xuống những mỏm đá nổi lên lổn nhổn quanh đảo. Anh giải thích: - Chim từ đảo Chim bay về đấy, lữ trưởng ạ! Có người lên đó phá, chim mới kẻo cả đàn về đây. Nhìn đàn chim vẫn đang lũ lượt bay về, lữ đoàn trưởng Đăng giật mình nhớ ra rằng từ lúc còn ở trên tàu ông đã thấy sự di chuyển bất thường của đàn chim nhưng ông lại bỏ qua. Với vẻ mặt chăm chú, ông hỏi người lính: - Ừ, Có lẽ đúng đấy! Đồng chí thấy hiện tượng này lâu chưa? Được lữ đoàn trưởng lắng nghe, anh lính quân báo nói tự tin: - Chúng tôi theo dõi thấy mấy lần có tàu lạ ngang qua đây đi về phía đảo Chim thì khoảng hơn một giờ sau là chim kéo đàn từ đó dạt về đây! Lần nào cũng vậy. Đại tá Đăng cũng vừa nhận ra rằng đàn chim bay về đây đều là chim trắng, loài chim thuần chủng cư ngụ ở đảo Chim. Chim ở quần đảo Trường Sa có nhiều loại, đông đúc nhất là hai loại chim trắng và chim đen. Chim nào bay theo đàn chim ấy và khi đậu chúng cũng đậu riêng thành từng vệt đen vệt trắng trên đảo. Đảo nào cũng có cả chim trắng và chim đen. Chỉ riêng đảo Chim chỉ có một loài chim trắng. Đặt tay lên vai Sinh, đại tá Đăng không gọi người lính trẻ theo điều lệnh là đồng chí nữa mà thân mật: - Nghe cậu nhận định và phân tích thấy cậu có nghề quân báo đấy. Nào đi với tôi sang đảo Chim để xem nhận định của cậu có đúng không. Đại tá Đăng dẫn Sinh vào nhà chỉ huy đảo gặp đại tá Bùi Ủy, tham mưu trưởng quân chủng Hải quân đang ở đó. Nghe lữ đoàn trưởng Đăng báo cáo hiện tượng chim bay từ đảo Chim về đây và ý kiến của Sinh, tham mưu trưởng quân chủng cũng thấy cần sang ngay đảo Chim. ông lệnh cho phái đoàn quân chủng đi theo ông trong chuyến khảo sát quần đảo ra tàu tiếp tục cuộc hành trình. Giữa màu xanh thăm thẳm của biển bỗng thấy một dải nước óng ánh nhiều sắc màu rục rỡ: non tươi sắc lá, đỏ nhạt da cam. vàng hoe chuối chín và sáng trắng ánh bạc thì biết rằng đã đến khu vực dải san hô của Thái Bình Dương rồi đấy. Dải nước óng ánh rực rỡ là sự khúc xạ màu sắc của thảm san hô đã nổi cao chỉ còn cách mặt biển vài mét nước. Trên thảm san hô nông, rộng dài hàng cây số đó sóng dồn vụn đá san hô lại thành đụn. Đụn cát san hô cao dần lên. thậm chập nhô khỏi mặt nước biển, tạo thêm cho quần đảo Trường Sa một đảo san hô trẻ. Nổi trên thềm san hô kéo dài hơn chục cây số, đảo Chim bé nhỏ nhưng nằm lọt giữa cụm đảo phía đông của quần đảo Trường Sa nên nó có vị trí rất quan trọng với cả cụm đảo. Con tàu quân sự nhỏ bé, cũ kĩ và chậm chạp chở những người anh bảo vệ Trường Sa mải miết chạy dọc theo dải san hô rực rỡ gần một tiếng đồng hồ mới nhìn thấy phía trước một vệt nhỏ trắng mờ như một con sóng bạc đầu lúc hiện lúc mất. Vệt trắng di chuyển trên biển thì là sóng bạc đầu. Vệt trắng nhỏ kia cố định một chỗ và đang lớn dần lên thì đó là đảo. Đứng trên đài chỉ huy tàu đại tá Đăng nhìn thấy con tàu lạ trước khi nhìn thấy hòn đảo nhỏ nhoi. Không chú ý đến con tàu, ông Đăng cứ đau đáu nhìn hòn đảo bồng bềnh trên ngọn sóng. Đã nhận ra một chiếc xuồng máy và một thiếc thuyền gỗ neo sát đảo. Trên nền san hô trắng chỉ còn mấy vệt nâu nhỏ ở mép đảo. Đó là nơi chim còn đậu lại. Mấy bóng người đi lại giữa đảo. Ở mép đảo phía khuất, chim biển nối nhau bay tóa lên. Có con đáp xuống những mỏm đá nổi lên trên thềm nước nông. Có con bay biết về hướng đông phía đảo Truồng Sa Đông. Còn một tốp người nữa đang xục xạo mé đảo khuất đó. Họ xục xạo gì vậy? Không lẽ họ lặn lội hàng trăm hải lí đến đây chỉ để bắt mấy con chim biển? Đã nhìn thấy cả một đoạn tre dài buộc chiếc áo thun sọc cắm ở giữa đảo. Không thấy tháp bia chủ quyền đâu cả! Mới Tết nguyên đán vừa rồi, đại tá Đăng có mặt trên con tàu đi vòng quanh quần đảo. mang quà Tết đến những đảo có bộ đội ta ở và dựng bia chủ quyền ở một số điểm nổi. Đấy là lần thứ ba ta dựng bia nhận đất. Hai lần trước bia được lữ đoàn đúc bê tông từ trong đất liền rồi chuyển lên tàu đưa ra đảo nên bia chỉ đúc vừa phải để chiếc bo bo bé nhỏ có thể chuyển được bia từ tàu vào đảo. Chuyến tàu trước đến đặt bia, chuyến tàu sau ra kiểm tra, bia đã không còn! Lần này bia được đúc bê tông ngay trên đảo nên bia khá lớn. Khối bê tông hình tháp cao hai mét rưỡi, sử dụng hơn ba mươi bao xi măng, hơn năm mươi bao cát và đá đưa từ đất liền ra. Rồi còn lõi thép bên trong, khung thép làm khuôn đế tháp. Bia nặng gần chục tấn, đế chôn sâu trong cát san hô. Bốn mặt bia đắp nổi lá cờ Tổ quốc, dưới lá cờ, hàng chữ Việt Nam nét đậm chìm vào bê tông. Khối bê tông lớn như vậy khó mang đi được, cũng khó đục xóa những đường nét trên bia? Thế mà bây giờ không thấy tháp bia đâu. Sáng hăm ba tháng chạp ông Táo về Trời, con tàu đi dựng bia mới ghé vào đảo. Giữa mùa biển động, chỉ một việc đơn giản là thả neo tàu cũng vô cùng khó khăn. Sóng dữ quá! Sóng đánh văng cả neo tàu! Neo chưa tới đáy biển, tàu đã bị đẩy đi xa tít! Chỉ băng sức người đưa hàng chục tấn vật liệu vượt qua con sóng dữ ấy còn khó đến mức nào! Chuyển xi măng, sắt thép xuống chiếc bo bo mong manh như chiếc lá trên ngọn sóng lừng lững dựng thành, dựng vách. Rồi thành vách rùng rùng cuốn vòm cao ngất ngưởng ầm ầm đổ ụp xuống vực thẳm ở chân sóng. Chiếc bo bo bị xóa mất trên mặt nước sôi sục lại gan góc nhô lên trên đám bọt sóng trắng xóa. Sóng tưng lên, giật xuống, xoay tròn, dựng đứng muốn hất mọi thứ trong bo bo xuống biển và lật bo bo úp xuống. Những người lính trẻ vẫn bám bo bo, giữ thế cân bằng đưa bo bo vượt qua bức tường sóng. Họ phải đưa bo bo ra vào hàng chục chuyến hiểm nghèo như vậy mới chuyền hết vật liệu. Chiến sĩ công vụ Vũ Như Hưng cùng hai chiến sĩ đặc công nước hộ tống ông Đăng vào đảo trong chuyến bo bo cuối cùng, chuyến bo bo ít sóng gió nhất mà ông Đăng cũng thấy bải hoải. Lưng đeo chiếc bòng ni lông nhỏ, tay cầm cây tầm vông dài làm cán cờ, ông Đăng đến chỗ đặt bia chủ quyền, đôn đốc việc triển khai đổ bê tông bia. Kích thước, khuôn mẫu tháp bia đã có sẵn. Lính trẻ quần áo ướt đẫm nước biển người đào móng bia. người trộn hồ, người cưa gỗ đóng khuôn bê tông, công việc tăm tắp, trôi chảy, ông Đăng yên tâm liền trùm chiếc áo sơ mi lên đầu che nắng, ngồi bệt xuống cát mà thở. Mặc áo lính từ năm mười sáu tuổi vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Tập kết ra miền Bắc được đi học văn hóa rồi về Hải quân lại được sang Trạm Giang. Trung Quốc học sử dụng tàu thuyền. Đi qua suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ là người lính giữ biển với chiếc tàu bé xíu, cổ lỗ phải đương đầu với máy bay tàu chiến hiện đại của Mĩ từ hạm đội bảy liên tục vào đánh phá của sông, cảng biển miền bắc. Đất nước thống nhất, đưa vợ con từ ngoài bắc về quê Khánh Hòa rồi lại mải miết với những chuyến đi biển ròng rã hàng tháng trời ngoài quần đảo Trường Sa. Cuộc đời người lính Cao Anh Đăng đó! Bây giờ gần sáu mươi tuổi rồi, ông Đăng thấy không còn đủ sức khỏe cho những chuyến đi liên miên, dài ngày và đầy sóng gió của biển Trường Sa nữa. Trước đây càng xông xáo ông càng ăn khỏe, ngủ khỏe, người càng chắc lại. Làm việc cật lực từ sáng đến tối, nghỉ tay, có cơm ăn no, đánh một giấc đến sáng, lại thấy khỏe khoắn như thường, lại lao vào việc. Bây giờ chỉ đi biển một ngày, ông đã thấy bải hoải, người phờ phạc trông thấy ăn đã chểnh mảng! Ngủ càng trằn trọc! Thế là cơ thể đã lên tiếng đòi phải được chuyển sang chế độ làm việc nhẹ nhàng hơn, cường độ thấp hơn, nhịp độ chậm hơn. Công việc nhẹ nhàng ấy là nhổ cỏ, tưới cây ở mảnh vườn con con sau nhà, là dạy con cách ứng xử ở đời sao cho có lễ nghĩa, trước sau ... tức là những công việc của một người già trong gia đình, làm được đến đâu thì làm, được chăng hay chớ. Không có mệnh lệnh, không có kế hoạch, chỉ tiêu nào thúc ép. Đấy là công việc của người nghỉ hưu! Ừ thì về nghỉ! Nào có ai ham hố gì! Chẳng ai có thể giỏi giang được mãi! Mỗi người chỉ có một thời. Cái thời của người lính Cao ánh Đăng đã qua rồi. Cái thời của thế hệ ông phải kết thúc để lớp người sau được nắm lấy được làm chủ cái thời của họ. Ta được giao một cương vị, một quyền hạn để thi thố, để bộc lộ mình, đấy chính là cái thời của ta, chính là lúc ta phải thể hiện hết mình. Thời của mình hết rồi thì thanh thản giao lại cho người khác. Mỗi thế hệ có một cái vạch giới hạn về cái thời của mình. Nếu cái thời của thế hệ này kéo quá dài thì cái thời của thế hệ sau sẽ ngắn lại, hoặc không có! Thế là thế hệ trước có tội với thế hệ sau! Bất hạnh lớn nhất của một kiếp người là biết làm việc mà không được làm việc, có năng lục mà không được thể hiện, không được thi thố. Con hơn cha là nhà có phúc. Cái thời của bố lấn hết cả thời của con, thế là nhà vô phúc! Cái vô phúc của một nhà ấy cũng là cái vô phúc của một quốc gia! Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 04:36:44 pm Đối với thế hệ của người lính Cao Ánh Đăng, nhiệm vụ lịch sử giao cho là đánh giặc. Đánh tới bốn thằng giặc chứ đâu có ít nếu kể cả thằng giặc diệt chủng Pôn Pốt và giặc bành trướng! Thế là vẻ vang rồi! Thế là đã làm tròn sứ mạng lịch sử của mình rồi! Không phải hổ thẹn! Không phải ân hận! Cái thời ấy làm việc bằng sự tận tâm, tận lực, bằng sự chấp hành. Trên suy nghĩ, chỉ huy. Dưới chấp hành, thực hiện. Muôn người như một, thừa thắng xốc tới! Lúc ấy phải như thế, không thể khác được. Còn bây giờ chỉ tận tâm, tận lực chưa đủ. Mà lực thì ông Đăng cũng đâu có còn nữa! Cái tâm hăng say vẫn còn nguyên đấy, vẫn rất mong được làm những việc có ích cho đời đấy. Nhưng lực thì đã trống hụt rồi! Trước đây sự tham gia, sự có mặt của mình trong công việc của đất nước là cần thiết, là cách mạng, là tích cực. Nhưng bây giờ mình phải biết rút lui, phải biết vắng mặt mới là tích cực mới không cản trở sự phát triển của cuộc sống.
Biết thế đấy nhưng vắng mặt bây giờ sao vẫn thấy băn khoăn. Băn khoăn không phải vì tiếc rẻ cái quyền lực đang nắm giữ. Quyền lực bao giờ cũng có sức hấp dẫn. Quyền lực càng lớn thì sức hấp dẫn càng lớn! Quyền lực lữ đoàn trưởng nhỏ nhoi thôi nhưng không phải không có sức hấp dẫn. Băn khoăn cũng không phải vì lo lớp người sau không đảm nhận được những công việc của lớp người trước để lại. Bây giờ là thời của những người lính trẻ kia. Thời của họ thì họ phải đảm nhận được. Ngay việc ông Đăng đưa họ ra đây nhận đất cũng đã như một việc bàn giao. Bàn giao cái gian nan, cái chịu đựng mà đã là người lính thì phải chấp nhận, không thể thoái thác. Nhưng lại bàn giao cả cái bất trắc, chông chênh, bàn giao cái không yên ổn, cái mong manh giữa ngập ngàn sóng gió cùng bao nhiêu cái đe dọa khôn lường... cho những người lính trẻ kia thì ông đại tá già Cao Ánh Đăng làm sao không băn khoăn cho được. Những núm cát li ti như đám bọt sóng chẳng giúp được gì cho cuộc kiếm sống vất vả hằng ngày của người đi biển. Vì thế, ngay những nhà nước ra đời trên những hòn đảo ở chung quanh cũng chẳng ngó ngàng đến nó trong suốt chiều dài lịch sử kiếm sống trên ngọn sóng của họ. Trong khi đó, nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời ở châu thổ nhỏ hẹp sông Hồng đã mang khát vọng mở cõi như một định mệnh của dân tộc, như một sứ mệnh của lịch sử. Khát vọng ấy trở thành truyền thuyết dân gian Mẹ âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở ra trăm con chia nhau đi mở cõi. Năm mươi con theo mẹ lên núi khai phá đất rừng phía tây. Năm mươi con theo cha xuống biển mở cõi phía nam và phía đông. Khát vọng ấy trở thành ca dao khắc vào thời gian nỗi buồn xa cách chia li của cô gái theo chồng đi đến miền đất mới: Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Nhìn về quê mẹ ruột đau thín chiều. Khát vọng ấy trở thành ý chí kẻ làm trai: Làm trai cho đáng nên trai / Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng. Khát vọng ấy trở thành hào khí của lịch sử, trở thành tình cảm công dân của người con nước Việt: Từ thuở mang gươm đi mở cõi / Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long. Vì thế từ thuở biển Đông còn hoang sơ và dữ dội người Việt từ dải đất hình chữ S dưới chân dãy Trường Sơn hàng năm vẫn đi về Hoàng Sa. Trường Sa. Từ lúc nhà nước phong kiến Việt Nam còn nhỏ bé, những núm cát Trường Sa, Hoàng Sa giữa biển mù khơi đã được nhà nước đó quản lí chu đáo trong hệ thống tổ chức hành chính của các triều đại Việt Nam. Suốt mấy trăm năm dài dằng dặc thời kinh tế nông nghiệp thô sơ tự cấp tự túc chúng ta làm chủ Trường Sa, Hoàng Sa heo hút, có ai tranh giành với ta đâu? Thời công nghiệp phát triển, cả thế giới là một kho nguyên liệu và cả thế giới cũng là một cái chợ hàng hóa. Nước nào cũng phải mở cửa ra thế giới. Biển cả không phải chỉ cho mấy con cá, mấy hạt muối như trước nữa. Biển cả là giao thương. Biền cả là vóc dáng lãnh thổ. Biển cả là thế đứng của quốc gia trong trời đất. Biển cả là của nổi, của chìm, của ăn, của để. Của nổi là không gian mênh mông, hải phận rộng dài. Của chìm là những túi dầu! tứi khí trữ lượng lớn rải rác khắp đáy biển. Thế là một loạt nước liền lớn tiếng nhận phần Trường Sa, Hoàng Sa là của họ rồi họ hối hả đưa tàu lớn tàu nhỏ đến đổ người lên những núm cát nhỏ nhoi. Mấy nước quanh biển đông làm điều đó, dù sao cũng dễ hiểu. Biển đông đã trở thành mảnh sân lớn cạnh nhà họ. Nhưng một nước khác xa tít trên phương bắc chợt muộn màng nhận ra vị trí quá quan trọng của mấy dải cát san hô nhỏ bé, họ lại ráo riết và ngang nhiên cậy vào sức mạnh để có mặt ở vùng biển đảo vốn không phải là của cha ông họ để lại này. Công lý vẫn còn đó. Chúng ta có đủ lẽ phải, đủ chứng cứ lịch sử nói chuyện với họ, rồi họ cũng phải biết theo lẽ phải chứ? …. Đã có những người lính trẻ xong việc, rời tháp bia, đi xục xạo quanh đảo. Đại tá Đăng liền đứng lên đi lại chỗ đổ bê tông tháp bia. Chỉ còn những công việc cuối cùng. Người dừng bay xoa chỗ đỉnh tháp, nơi khuôn gỗ còn để trống để đổ nhưng xô bê tông cuối cùng. Người thu vét hồ dư dồn xuống hố chân tháp bia. Người san cát san hô lấp đầy chân tháp bia tạo ra quanh chân tháp một khoảng bằng phẳng, sạch sẽ. Chợt nhận ra trong con gió biển hoang sơ thoang thoảng mùi thom cơm nếp, Đại tá Đăng đưa mắt nhìn quanh và nhận ra sau gờ cát san hô nổi cao, dưới lõm thấp khuất gió, một ngọn khói mỏng bay lên và Vũ Như Hưng, chiến sĩ công vụ lữ đoàn đang lúi húi ở đó. Khá lắm, công việc vừa xong thì nồi cơm nếp cũng vừa chín, ông Đăng đi lại chỗ chiến sĩ công vụ Hưng. Chiếc xoong quân dụng đặt trên ba hòn đá san hô. Những đầu củi đã tắt lửa nhưng đống than dưới xoong vẫn chờn vờn sắc hồng, chốc chốc lại đỏ rực lên vì ngọn gió biển thốc đến. Từ đó, những sợi khói mỏng manh vừa bay lên đã tan ngay trong gió. Hưng ngồi trên bó củi khô mang từ tàu vào, mở vung xoong sêu mấy hạt cơm trên đầu đũa ăn thử. Ông Đăng bảo anh chiến sĩ: - Ngửi mùi thơm cũng biết nồi cơm nếp rất ngon! Gió thế này mà nấu được nồi cơm nếp dẻo, chín đều, cậu giỏi đấy! Chúng ta sẽ có một cái Tết ông Táo không thể nào quên ở đảo Chim. Nào, xới cơm ra đi! Hưng đứng lên, bắc xoong cơm nếp xuống, đặt xoong khác lên, đổ can nước ngọt vào, đun xoong nước sôi ông Đăng trở lại tháp bia mở bòng ni lông lấy lá cờ vải lồng cán tầm vông và cắm lá cờ cạnh tháp bia chủ quyền vừa đổ bê tông xong. Chiến sĩ công vụ Hưng trải tấm ni lông trước tháp bia chủ quyền và đặt lên một khay nhôm đầy lùm cơm nếp. Anh lại xúc cát san hô vào một vỏ lon thịt hộp, đặt trước khay cơm nếp. Ông Đăng lấy từ trong bòng ra bó nhang thơm, bật lửa đốt cả bó nhang. Những người lính trẻ tự về quây quần trước tháp bia. Ông Đăng chia cho mỗi người lính một cây nhang cháy đỏ. Mặt trời dội lửa ngay trên đỉnh đầu. Trong nắng chói chang, không thể nhìn thấy những chấm nhang cháy đỏ nhưng mùi nhang ngan ngát thì cứ bền bỉ quấn quít trong ngọn gió biển hoang sơ. Đứng giữa những ngươi lính trẻ, ông Đăng cầm ba cây nhang, hướng vào bia chủ quyền, vái ba vái và nói to: - Tổ quốc Việt Nam giao cho những người lính chúng tôi ra đây nhận đất nhận biển của cha ông giao lại. Ngày thiêng ông Táo về Trời, chúng tôi nhóm bếp lửa thiêng mời ông Táo đảo Chim chứng giám việc chúng tôi dựng lá cờ Việt Nam trên mảnh đất của tổ tiên Việt Nam. Những người lính Việt Nam thành kính kính báo. Ông Đăng lại vái ba vái rồi cắm nhang vào cát san hô trong lon thịt hộp. Những người lính trẻ làm theo ông Đăng. Những nén nhang nghi ngút khói cắm đầy trong lon thịt hộp. Cây tầm vông thẳng tắp, cao vút nâng lá cờ cao vượt trên tháp bia, phần phật trải rộng theo chiều gió, màu đỏ cháy rực lên trong nắng. Mùi thơm từ khay cơm nếp còn nóng hổi và mùi nhang trầm như từ trong xa thẳm thoảng đến. Đợi cho những cây nhang cháy gần đến chân, ông Đăng vái tạ. Hưng mang khay cơm nếp đặt ra chỗ rộng rãi và đưa bịch ruốc bông ra. Lính trẻ chạy ào ra mép nước rửa tay trong nước biển rồi ào ào chạy về xúm quanh khay cơm nếp. Một tay nắm cơm nếp, một tay dúm ruốc bông, những người lính trẻ ăn ngon lành bữa cơm Tết ông Táo ở đảo Chim. Hưng chỉ mang vào đảo một cái bát và đôi đũa duy nhất cho ông Đăng. Anh đưa bát cơm nếp lèn đầy ruốc bông cho ông đại tá già. Ông Đăng cầm bát cơm đổ lại vào khay và cũng dùng tay bốc com ăn như những người lính trẻ. Cơm nếp nấu khéo ăn với ruốc bông, ngon quá! Dù ngon miệng ông Đăng chỉ ăn khoảng lưng bát rồi ngồi nhìn những người lính trẻ ăn ngon lành. Thấy ông Đăng ra mép nước rửa tay, Hưng vội bỏ nắm com đang ăn dở, chạy ra chỗ xoong nước sôi, lấy ca múc nước sôi rót vào bi đông đã có sẵn chè Thái Nguyên. Ông Đăng đến bên Hưng, cầm bi đông nước. Đinh lại mang bát ăn cơm của ông Đăng đi rủa rồi đưa bát cho ông Đăng rót nước. Đám lính trẻ giải quyết gọn ghẽ xoong cơm nếp và bịch ruốc bông thì ông Đăng đưa bi đông nước cho họ. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 04:39:24 pm Hai mươi năm sống ở miền Bắc, ông Đăng đã quen với vị trà Thái Nguyên. Trở về miền Nam cuộc sống của ông cũng không thể thiếu được cái vị chát se đầu lưỡi, cái vị thơm và vị ngọt như không có thật mà cứ còn mãi trong cảm giác. Ngồi trên cát san hô bên tháp bia chủ quyền vừa dựng lên trên đảo Chim giữa sóng gió Trường Sa càng nhận ra rất rõ vị ngọt, vị thơm của lá trà đất rừng Thái Nguyên.
Cái tết ông Táo ra đảo Chim dựng bia chủ quyền, cơm nếp ăn bốc, pha trà bằng bi đông và uống trà bằng bát ấy mới cách đây hơn ba tháng. Thế mà cái khối bê tông bia chìm sâu trong cát san hô và nặng hàng tấn ấy bây giờ không còn nữa! Con tàu chạy vòng quanh đảo Chim và dừng lại thả neo ở nam đảo. Chiến sĩ quân báo Lê Văn Sinh và chiến sĩ công vụ Vũ Như Hưng nhanh nhẹn thả chiếc xuồng cao su xuống biển và nhảy xuống theo. Giữ cho chiếc xuồng ổn định trên sóng rồi hai người lính trẻ đưa tay đón lữ đoàn trưởng Cao Ánh Đăng và tham mưu trưởng quân chủng Bùi Ủy bước xuống xuồng. Còn cách đảo vài thân xuồng đại tá Đăng đã nhảy ào xuống thềm nước nông, xăm xăm lội vào đảo. Sinh và Hưng bám liền sau ông. Chim biển bị đập chết ngổn ngang. Có con chưa chết hẳn, cứ phành phạch vỗ cánh cố lết trên cát. Đại tá Đăng đưa mắt tìm kiếm bia chủ quyền và lá cờ. Mặt đảo trống trơ. Giữa đảo, không còn ngọn tháp nhô cao. Chỉ thấy từ chỗ đặt bia, một vệt cát bị cày lên, kéo dài đến tận mép nước. Theo dấu vết để lại thì tháp bia chủ quyền đã bị kéo ra đẩy xuống đáy biển rồi! Để kéo được khối bê tông lớn có móng bám sâu trong cát, chỉ mấy người đang xục xạo trên đảo kia không làm được! Họ phải dùng cả động cơ con tàu để lôi bằng được tháp bia chủ quyền của ta xuống biển! Mé đảo phía bên kia, tốp người đột nhập đứng nhìn về phía ông Đăng. Thấy ông Đăng phăm phăm đi về phía họ, họ liền vội vã chạy ra chỗ cột xuồng. Chiếc xuồng rồ máy, chở tốp đông người chạy ra tàu của họ. Còn lại hai người xách mấy con chim biển đi đến chiếc xuồng gỗ. Người đội mũ rộng vành, mặc áo thun sọc ngang trèo lên xuồng nhưng người đầu trần, mặc chiếc sơ mi trắng lốp ném mấy con chim vào xuồng lại quay lại lượm thêm mấy con chim nữa. Những lần trước bắt gặp người nước ngoài đột nhập lên các đảo của ta, đại tá Đăng đều lệnh cho tiểu đội lính đặc công nước to khỏe mang súng AK kiên quyết giữ họ lại và dẫn họ đến gặp ông. Bằng vốn tiếng Hoa có được từ thời được sang học ở Trạm Giang, Trung Quốc, ông nói chuyện với họ. Thật lạ, những người đột nhập lên đảo của ta, dù tự nhận là người Malaysia hay người Philippin nhưng họ đều hiểu được thứ tiếng Hoa còn sót lại trong trí nhớ của ông Đăng sau mấy chục năm trời không sử dụng. Ông Đăng nghiêm khắc nhắc nhở họ rằng đây là lãnh thổ Việt Nam, họ không được tự tiện xâm phạm rồi ông yêu cầu họ phải rời đảo ngay. Đổ người lên đảo vẫn là loại tàu đánh cá nhưng con tàu lần này khá đồ sộ. Những người đổ bộ lên đảo không phải chỉ toàn người trẻ như những lần trước mà có cả mấy người lớn tuổi và họ đã lên xuồng máy ra tàu của họ rồi. Hai người trẻ trên chiếc xuồng gỗ vẫn đang thong thả đẩy mái chèo. Người mặc áo sơ mi trắng lốp còn giơ mái chèo lên cao vẫy bốn người trên đảo như gửi lời chào tạm biệt. Ông Đăng đi lại chỗ đặt bia chủ quyền. Một rãnh rộng kéo dài từ chỗ đặt bia ra mép nước. Chỗ Hưng nhóm bếp nấu xoong cơm nếp, vẫn còn ba khối đá san hô ám khói đen lăn lóc. Vài cái chân nhang đỏ bầm như vết máu tươi vảy trên cát trắng. Trên cát san hô trắng loá những cụm chân nhang như những giọt máu tươi vừa đổ ra đang thấm nhanh vào cát. Ông Đăng cúi xuống cầm một nắm chân nhang và đi theo rãnh cát ra mép nước. Sinh và Hưng đã đứng ở đó. Họ chỉ cho ông Đăng thấy tháp bia chủ quyên còn cả khuôn đổ bê tông chưa kịp dỡ nằm dưới đáy thềm nước nông, trên nền san hô rục rỡ. Khối bê tông nặng vài tấn thì nằm đáy biển còn lá cờ vải với cán tầm vông dài thì ở đâu? ông Đăng lại bùi ngùi tiếc lá cờ có đường chỉ của con gái ông. Lá cờ mua ngoài cửa hàng được may để lồng vào cán sắt nên chỗ lồng cán cờ rất hẹp. Cán cờ sắt nhỏ xíu cắm vào vụn san hô lổn nhổn không thể đứng vững. Cây sắt nhỏ cán cờ cũng không thể dài! Hơn nữa sắt cắm vào vụn san hô no muối biển sẽ bị muối biển gặm đứt ngay. Ông Đăng phải tìm cây tầm vông dài làm cán cờ và phải đưa lá cờ về nhà nhờ vợ may lại chỗ lồng cán. Trước hôm tàu nhổ neo ra đảo, túi bụi với công việc, mãi khuya ông Đăng mới về nhà thì vợ con đã đi ngủ. Vợ bỏ quê Ninh Bình, bỏ cả công việc kế toán ở sở giáo dục Ninh Bình vào quê chồng. Xa quê. xa bà con họ hàng, đời sống tinh cảm chỉ còn trông vào bên chồng thì ngày tết chồng lại bỏ nhà ra biển! Thương vợ con, ông Đăng tìm kim chỉ định tự may lại cán cờ. Tìm thấy kiến chỉ nhưng nghiêng ngó mãi ông vẫn không luồn được chỉ vào kim thì vợ và con gái thức dậy. Đứa con gái lớn sinh ở Ninh Bình đã có gia đình riêng ở Nha Trang. Đứa con gái nhỏ sinh ở Nha Trang đang học đại học thủy sản ở ngay Nha Trang nên ngoài giờ học đều có mặt ở nhà với mẹ. Đứa con gái nhỏ đã tháo chỉ và khâu đường chỉ mới để ông lồng được cây tầm vông vào cán cờ và lá cờ đã bay cao trên tháp bia chủ quyền. Cây cờ bị ném xuống biển thì tầm vông khô sẽ nổi trên ngọn sóng và lá cờ có đường chỉ của đứa con gái nhỏ bây giờ đang trôi dạt trên biển! Cứ thế này rồi chúng ta sẽ phải đến đây đặt bia chủ quyền lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ bao nhiêu nữa? Nếu lần sau đến đây mà những người nước ngoài đã đứng đầy trên đảo với lá cờ của họ, với tháp bia chủ quyền của họ, với súng lớn súng nhỏ tua tửa thì sẽ ra sao? Tham mưu trưởng quân chủng, đại tá Bùi Ủy đi đến, ông Đăng liền chỉ cho đại tá Ủy thấy tháp bia chủ quyền nằm dưới đáy nước nông và nói: - Tình hình này, phải đưa quân lên giữ đảo Chim thôi, anh Ủy ạ! Đại tá Ủy nhẹ nhẹ gật đầu: - Bộ tư lệnh quân chủng cũng thấy điều đó nhưng mùa bão biển đến nơi rồi. Mấy năm nay bão dữ quá, ở trong đất liền có nhà cửa chắc chắn mà còn tơi tả, nhà sập người mất, huống chi là trên núm cát trần trụi này! Cất được chỗ ở vững chãi ở đây phải hàng tháng trời! Vì thế phải đợi qua mùa bão này đã. - Không kịp anh ạ! Tình hình ráo riết lắm rồi! Tôi e rằng sau mùa mưa bão ta mới đưa quân ra đây thì chúng ta chỉ còn biết đứng trên tàu mà nhìn vào đảo thôi chứ không thể vào đảo được nữa đâu...!? Đại tá Ủy vẫn gật gật đầu: - Lữ đoàn cứ biên thế người cho đảo Chim đi! Tôi sẽ báo cáo bộ tư lệnh tình hình gấp gáp này. Sẽ có quyết định sớm! Vấn đề bây giờ chỉ còn là làm sao để bộ đội mình trụ lại được trên đảo trong bão táp Trường Sa thôi! Bỗng Hưng kêu to: - Chiếc xuồng bị lật! Mọi người nhìn theo hướng nhìn của Hưng và nhận ra chiếc xuồng gỗ nhỏ chở hai người nước ngoài đã bị lật ở chỗ gờ sóng dữ ngoài cùng bãi san hô. Chiếc xuồng bị sóng quăng quật, lúc trồi lên, lúc biến mất rồi bị đánh văng về phía đảo. Chiếc xuồng gỗ tênh hênh trên mặt nước, không còn người nào trong lòng xuồng! Gờ sóng trắng xóa không thấy tăm hơi hai người trên xuồng đâu nữa! Đại tá Ủy hỏi: - Còn chiếc xuồng máy nữa? Nó được cẩu lên tàu rồi! Trên con tàu nước ngoài, người đứng đầy trên mạn tàu nhìn chiếc xuồng bị nạn nhưng không thấy họ làm gì để cứu hai người của họ. Bốn người đứng trên đảo dõi ra chỗ gờ sóng, xăm soi từng đám bọt sóng nhưng không thấy một chấm màu nào khác ngoài màu trắng xóa. Chợt Sinh kêu: - Có một người bị sóng cuốn ra tít ngoài xa rồi! Mất rồi! Lại chìm mất rồi! Đó! Lại nổi lên đó! Theo hướng tay Sinh chỉ, mọi người đã nhìn thấy một mái tóc đen vật vờ, một mảng áo trắng lõa xõa, lúc nổi lúc chìm phía trong gờ sóng và đang bị cuốn nhanh về phía nam đảo, càng lúc càng xa con tàu nước ngoài nhưng gần lại chiếc tàu của ta. Khoảng biển chỗ đó không sâu, chỉ vài mét nước nhưng rất nguy hiểm. Lính đi biển gọi đó là vùng "nước sôi", nước quẩn theo chiều thẳng đứng có luồng cuộn từ dưới lên, có luồng bị hút từ trên xuống. Dưới đáy là những vỉa san hô lỏm chỏm sắc như cật nứa. Ở đảo Nam Yết có chiến sĩ trẻ mới ra đảo đi xuồng ra câu gần vùng nước sôi không may bị tật xuồng, bị hút ngay vào rốn "nước sôi". Những người bơi giỏi nhất chạy xuồng từ trong đảo ra cũng chỉ dám lượn xuồng tìm kiếm ở vòng ngoài, phía luồng nước cuồn cuộn bị đẩy ra từ vùng "nước sôi". Đến khi tìm thấy, vớt được người lên thì quần áo, da thịt đã bị rạch nát tơi tả. Một tình huống của lương tâm đặt ra với những người đứng trên đảo Chim. Lữ đoàn trưởng Đăng nói với tham mưu trưởng Ủy: - Trôi về phía nam thì trên tàu của họ không nhìn thấy được. Đấy họ vẫn đang ngóng cả vào chỗ xuồng bị lật. Nếu có nhìn thấy, họ đuổi theo cũng không kịp vì phải vượt qua gờ sóng dữ rất gay go và mất nhiều thời gian. Chỉ có ta ở đây ra là có thể kịp. Ta có nên ra tay cứu họ không? Tham mưu trưởng ủy nhìn Sinh và Đăng, hỏi: - Hôm nay sóng dữ quá! Hai đồng chí có thể cứu họ được không? Hưng nói: - Được ạ! Lính đặc công nước đã ở Trường Sa mấy năm rồi sóng nước này chúng tôi đã quen. Chỉ có điều là bọn này có đáng được cứu không thôi? Ông Ủy bảo ông Đăng: - Phải cứu họ, anh Đăng ạ! Có thể cứu được thì chúng ta phải cứu. Tất nhiên giữ an toàn cho quân mình vẫn phải trên hết. Ông Đăng lệnh cho hai người lính: - Hai cậu lên xuồng ra xem có thể cứu được họ thì cố cứu. Sinh và Hưng cởi chiếc áo lính hải quân đang mặc định ném xuống gò cát cao thì ông Đăng đưa tay đón. Chiếc xuồng cao su đã đưa họ vào đảo được đẩy xuống nước. Hai người hai mái chèo hối hả quạt nướ'c. Đúng là lính đặc công nước Trường Sa. Sóng ngất ngưởng. Gió ném bọt nước rào rào như mưa. Chiếc xuồng cao su nhẹ tênh lềnh bềnh trên ngọn sóng bị sóng và gió cuốn đi với lực rất lớn, rất khó cưỡng lại. Nhưng chiếc xuồng vẫn gióng hướng thẳng căng, lao vun vút, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa chiếc xuồng và người bị nạn. Chiếc xuồng Cao su dừng lại. Nhưng mái tóc đen và mảng áo trắng không còn thấy đâu nữa. Sinh rời xuồng lao xuống biển. Dáng người chắc nịch và mái tóc cắt ngắn gần như trọc của Sinh dù nhìn từ xa cũng không thể lẫn với người khác được. Cái đầu gần như trọc lóc nổi lên dập dờn trên sóng. Rồi cái đầu trọc lóc ấy cũng không thấy nữa. Sinh lặn hơi đầu tiên. Một. Hai. Ba. Ông Đăng nhẩm đếm thời gian. Đến giây thứ mười thì ông không đếm nữa. Nhìn mặt nước vắng ngắt, ông Đăng lại nghĩ đến bao nhiêu bất trắc, bao nhiêu đe dọa khôn lường của biển cả. Cá mập Trường Sa cũng thường lượn quanh gờ sóng dữ đón mồi. Vội ra cứu người, họ không kịp mang phao cá nhân, không kịp mang cả vũ khí thống chọi với cá mập! Trần trụi lao vào sóng gió Trường Sa thì làm gì có an toàn nhưng vì mạng sống của một đồng loại vẫn phải lao vào. Mặt nước chỗ Sinh lặn xuống vẫn hoang vắng đến lạnh người. Nước cuộn lên sùng sục, trắng xóa. Kia rồi, cái đầu trụi tóc đã nhô lên mặt nước. Ông Đăng thở phào nhẹ nhõm. Hơi lặn của lính đặc công nước từng trải đấy, khá thật! Sinh lại sải tay bơi. Động tác bơi mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán thế kia là hắn vẫn hoàn toàn làm chủ tình thế. Sinh lại biến mất ở cuối luồng nước quẩn. Trên chiếc xuồng cao su, Hưng cầm mái chèo chống chọi với sức xô đẩy của những con sóng lừng lững, cố ghìm xuồng lại chỗ Sinh đang ngụp lặn để sẵn sàng ứng cứu cho bạn. Sau hai lần lặn, lần thứ ba Sinh vừa lặn nửa hơi liền thấy một thân người nằm ngang nổi bềnh lên mặt nước. Cái đầu trụi tóc của Sinh cũng nhô lên theo. Chiếc xuồng cao su liền áp đến chỗ Sinh thân người bất động được Sinh và Hưng đưa vào xuồng như đưa một khúc gỗ. Tiêu đề: Re: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Tư, 2009, 04:41:51 pm Chiếc xuồng lao mạnh vào bãi cát. Sinh vác sấp người bị nạn trên vai, nhảy ào xuống đảo và chạy thình thịch quanh một vòng tròn. Đầu người bị nạn thõng xuống đất, phía sau lưng Sinh. Bỗng từ miệng anh ta, nước ộc ra xối xả. Để cho nước chảy hết, Sinh cúi xuống đặt nhẹ người bị nạn trên cát, cởi phanh chiếc áo trắng của anh ta ra. Anh gắn chặt miệng mình vào miệng người bị nạn và hút mạnh hết hơi lạnh và không khí ngưng đọng trong miệng anh ta. Sau mấy lần ép ngực hít sâu và nhổ ra khá nhiều thứ nước nhầy từ miệng anh ta, Sinh chuyển sang tư thế ngồi quì, hai thân quì hai bên sườn anh ta, người đổ về phía trước, hai bàn tay xoè vừa xoa vừa dồn sức nặng toàn thân lên đôi bàn tay đè mạnh xuống khuôn ngực nở nang nhưng xám ngắt và giá lạnh.
Động tác của Sinh mạnh mẽ, nhịp nhàng, đều đặn thành thạo và kiên nhẫn. Bỗng Sinh cảm thấy sau một lần nhấn hai bàn tay xuống lồng ngực, làn da giá lạnh dưới tay anh khẽ nảy lên rồi thoi thóp nhịp nhàng lên xuống. Mắt Sinh sáng lên. Không dồn sức ấn xuống lồng ngực người bị nạn nữa, tay Sinh nhẹ nhàng xoa vỗ khắp cơ thể anh ta. Làn da giá lạnh dưới tay Sinh ấm dần lên. Sinh chăm thú nhìn gương mặt trẻ trung như đang sáng lên, sinh sắc lên. Đôi mắt anh ta đang nhắm nghiền bỗng từ từ hé mở và đôi môi khẽ mấp máy. Sống rồi! Sinh kêu to và ngừng xoa bóp. Anh ngồi phim xuống cát bên cạnh người bị nạn và thở một hơi thật mạnh. Đến lúc được chấm dứt sự gắng súc kéo dài liên tục Sinh mới thấy bải hoải. Sinh cũng thở hào hển nặng nề như người thanh niên vừa từ cõi chết trở về. Ông Đăng đưa cho Sinh chiếc áo của Sinh ông còn vắt trên vai: - Mặc áo vào đi kẻo cảm lạnh, Sinh ơi! Người bị nạn đã mở to mắt nhìn mấy người đang xúm quanh anh ta. Hưng đắp cho anh ta chiếc áo của Hưng. Bỗng có tiếng còi trầm vang kéo dài từ con tàu nước ngoài. Mọi người càng ngạc nhiên hơn khi thấy lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam tưng bay trên cột cờ cao chính giữa con tàu. Mọi con tàu đi biển đều dành chỗ đó để giương cao lá cũ của tổ quốc mình. Đến khi vào hải phận của nước nào thì chỗ đó phải thay bằng lá cờ nước thủ nhà. Con tàu này vì làm điều phi pháp nên giấu biệt quốc tịch, không dám trương cờ nước mình lên. Bây giờ lá cờ Việt Nam kiêu hãnh bay trên ngọn tháp chính giữa con tàu không quốc tịch. Từ trên tàu lại thả xuống biển hai chiếc xuồng máy. Năm, sáu người đứng ngồi lố nhố trong chiếc xuồng máy thứ nhất phóng thẳng vào đảo. Chiếc xuồng thứ hai lao đến chỗ Sinh đã cứu được người của họ. Chiếc xuống thứ nhất phóng xích vào bãi cát đảo. Một người trẻ nhanh nhẹn nhảy xuống, bắc tấm ván gỗ từ thành xuồng vào đảo Một người trạc ngoài năm mươi tuổi béo lùn, mái tóc điểm bạc, dáng đường bệ, bước lên tấm ván, đi vào đảo và tiến thẳng đến chỗ mấy người trên đảo. Nhìn gương mặt Á Đông gần gũi của người nước ngoài, ông Đăng đang nhẩm lại vốn từ ngữ tiếng nước ngoài mà ông được học mấy chục năm trước và ông chờ người nước ngoài lên tiếng. Nhưng ông Đăng đã thất vọng vì ông hoàn toàn mù tịt khi người nước ngoài phát ra những âm thanh lạ tai làm ông không hiểu đó là tiếng nói nào và ông chỉ hờ hững nắm bàn tay múp míp khi người nước ngoài chìa tay về phía ông. Người nước ngoài quay sang bắt tay đại tá Bùi Ủy và vẫn những âm thanh ấy nói với ông Ủy. Ông Ủy lên tiếng trả lời rồi hai người trao đổi với nhau thì ông Đăng biết rằng đó là tiếng Anh. Năm 1975 vào tiếp nhận Bộ tư lệnh hải quân của quân đội Sài Gòn, chàng thượng úy hải quân trẻ tuổi Bùi Ủy được làm chủ một tủ sách lớn toàn sách tiếng Anh ma chỉ nhìn lướt qua tranh ảnh hình vẽ trong sách cũng biết đó là sách về binh nghiệp lính biển: biển cả, tàu thuyền, tác chiến trên biển, công sự hầm hố phòng thủ bờ biển... toàn những kiến thức mới mẻ, cần thiết mà thượng úy Bùi Ủy thì mù tịt tiếng Anh. Thượng úy Ủy bèn mò mẫm tự học và anh đã đọc được những quyển sách rất quí kia. Sau này con gái Bùi Ủy học khoa tiếng Anh trường đại học ngoại ngữ, ông đã nhờ con gái uốn nắn cho về phát âm. Khi những người nước ngoài chuyển người bị nạn xuống chiếc xuồng máy đưa ra tàu của họ, ông Ủy liễn quay sang nói với ông Đăng về nội dung đối thoại của ông với người nước ngoài. Rõ ràng những người này ở một nước gần gũi với chúng ta nhưng họ lại dùng tiếng Anh nói rằng họ là một đoàn các nhà khoa học đi khảo sát biển. Họ rất cảm kích trước sự dũng cảm và tấm lòng nhân đạo cao cả của bộ đội Việt Nam đã cứu sống một thủy thủ của họ. Ông Ủy nói rằng người bị nạn đã tỉnh lại đang rất cần được hỗ trợ y tế nhưng ở đây không có thuốc men và cũng không có người biết nghề y. Cần đưa gấp anh ta về tàu chăm sóc. Chiếc xuồng chở người bị nạn nổ máy phóng ra biển. Người nước ngoài hết nhìn ông Ủy lại nhìn ông Đăng nói một thôi một hồi. Ông Ủy nói lại với ông Đăng rằng ông ta xin lỗi về việc đám thủy thủ đổ bộ lên đảo. Lâu ngày quanh quẩn trên con tàu nhỏ hẹp, những thủy thủ trẻ nhớ đất liền lên đảo để được chạy nhảy trên mặt đất. Đứng cạnh con người béo tốt, quần áo trau chuốt, trông ông Đăng càng gân guốc, khắc khổ và già nua nhưng cốt cách ông toát lên vẻ nghiêm khắc, cúng cỏi. Lên đảo chỉ để được chạy nhảy sao lại phải nhọc công lôi cả tháp bia chủ quyền nặng vài tấn của người ta xuống biển? Nghiên cứu biển gì mà thảm sát chim biển, tàn phá đảo như giặc cướp? Chẳng cần lật tẩy sự quanh co của họ nhưng cũng là dịp tốt để ta chỉ cho họ thấy chứng cứ xác đáng chủ quyền của ta với quần đảo. Hơn chục năm làm tư lệnh đơn vị bảo vệ quần đảo Trường Sa đủ thời gian tho ông Đăng có khá đầy đủ tư liệu về lịch sử quần đảo và những tư liệu đó lúc nào cũng có trong chiếc cặp da ông Đăng đeo bên mình. Lấy ra quyển sổ lớn bìa cứng trong cặp. Ông Đăng mở sổ nói với ông Ủy: - Anh chỉ cho họ thấy chủ quyền của chúng ta ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã được chứng minh bằng lịch sử. Đây này, trang 7794 công báo của Cộng hòa Pháp viết: Năm 1470 vua Lê Thánh Tôn cho vẽ bản đồ nước Đại Việt thuở ấy có ghi cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và đây, ngày 25 tháng bảy năm 1933 Tổng thống nước cộng hòa Pháp đã long trọng tuyên bố quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc lãnh thổ An Nam trong bán đảo Đông Dương. Rồi năm 1951, trong hội nghị 51 nước, có cả đại diện chính phủ Trung Quốc, kí hiệp ước hoà bình với Nhật Bản ở thành phố San Francisco nước Mĩ, đại diện Việt Nam lúc đó là bộ trưởng ngoại giao của chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Tất cả những tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa ấy đều không có nước nào có ý kiến khác! Những điều ông Đăng nói đều được ông Ủy nói lại với người nước ngoài. Người nước ngoài chăm chú nghe rồi nói: - Rất tiếc, chúng tôi không được biết những điều đó. Chúng tôi là những nhà khoa học nghiên cứu biển, chỉ quan tâm đến thế giới tự nhiên của biển. Vừa nói, người nước ngoài vừa ngóng ra con tàu của họ. Nhận được người rồi muốn chuồn cho nhanh đấy hả? ông Đăng túc giận nhìn vẻ mặt lộ rõ sự sốt ruột của người nước ngoài. Đưa người bị nạn lên tàu rồi, chiếc xuồng máy đang phóng trở lại đảo. Lá cờ Việt Nam cũng không thấy trên con tàu của họ nữa. Nhìn chiếc xuồng máy đã vào gần đến đảo, người nước ngoài lại nói với ông Ủy và ông Đăng với giọng trân trọng: - Để tỏ lòng cảm kích của chúng tôi trước tấm lòng nhân hậu, độ lượng của các ông, chúng tôi xin kính tặng các ông một kỉ vật nhỏ. Sao? Một món tiền để trả công cứu người chăng? Sòng phẳng nhỉ! Sự sòng phẳng nhất là chấp nhận sự thật lịch sử, chấp nhận dải cát san hô này đã có chủ, đừng nhăm nhe nhòm ngó nữa! ông Đang nhìn ông Ủy, cái nhìn chờ đợi người cán bộ cấp trên lên tiếng. Ông ủy khẽ khàng: - Xin lỗi ông, chúng tôi không thể nhận quà của các ông khi chủ quyền của đất nước chúng tôi không được các ông tôn trọng. Người nước ngoài vẫn khẩn khoản: - Chúng tôi hiểu trước mặt chúng tôi là những người lính đã làm nên chiến thắng được cả thế giới khâm phục nên chúng tôi không dám lấy vật chất ra làm quà tặng. Kỉ vật của chúng tôi thỉ có chút giá trị về tinh thần. Nhưng điều quan trọng là tặng các ông kỉ vật đó là chúng tôi đã ghi nhận điều các ông nói về chủ quyền đối với quần đảo. Kỉ vật đó là lá cờ của các ông cắm trên hòn đảo mà thủy thủ của chúng tôi mang về tàu định giữ làm kỉ niệm một lần đến đảo. Các ông cứu được người của chúng tôi làm cả tàu chúng tôi xúc động và biết ơn, lập túc chúng tôi treo lá cò lên vị trí cao nhất trên tàu và kéo ba hồi còi chào lá cờ cao cả. Đó, chiếc xuồng mang lá cờ đang trở lại đảo đó. Chúng tôi xin trao lại các ông lá cờ như lời xin lỗi và sửa sai của thúng tôi. Nghe nhắc đến lá cờ, ông Đăng mừng quá vội chạy ra mép nước nơi chiếc xuồng sẽ dạt vào. Ông Ủy và người nước ngoài cũng đến đón chiếc xuồng. Người nước ngoài đón hộp giấy trên tay một người bước từ xuồng lên. Ông nâng chiếc hộp trên hai tay trao cho ông Ủy. Chuyển chiếc hộp cho ông Đăng. Ông Ủy nắm chặt tay người nước ngoài hồi lâu. Ông Đăng mở hộp lấy lá cờ ra và nhận ra ngay đường chỉ của con gái may chỗ lồng cán cờ. Ông Đăng lại nhớ đêm ấy mãi khuya ông mới về đến nhà. Con gái đang ngủ phải thức dậy may lại lá cờ và cái tết trong hòa bình mọi nhà đều đoàn tụ ấy nhưng vọ con ông ăn tết ở quê chồng, quê cha mà không có chồng..không có cha. Ông đã bỏ mặc ba mẹ con tự lo liệu, tự tổ chức lấy cái tết còn ông mang lá cờ ra Trường Sa. Nước mắt ông tụ nhiên ứa ra. Ông Đăng đưa lá cờ lên mặt như hôn lá cờ nhưng thực ra lấy lá cờ kín đáo thấm dòng nước mắt trào ra, kín đáo giấu đi sự mềm yếu, hay mủi lòng, dấu hiệu của tuổi già. May quá, người nước ngoài đang bắt tay và sôi nổi nói lời từ biệt ông Ủy và mọi người đều xúm quanh đó nên không ai thấy những giọt nước mắt của ông Đăng. Ông Đăng không biết rằng Lê Văn Sinh đã thấy tất cả. Lá cờ không làm anh xúc động bao nhiêu nhưng giọt nước mắt của người lính già cứ làm anh bùi ngùi. Anh đến bên ông Đăng. ông Đăng vòng tay ghì chặt vai Sinh vào ngực mình. Khá lắm, chính cậu đã giành lại lá cờ này đấy, Sinh ạ! Trên cát san hô sát mép nước, một con chim trắng lớn gần bằng con ngỗng bị đánh chưa chết hẳn, cứ đập cánh lết đi một đoạn lại nằm dính xuống cát há mồm thở. Lông chim rải dày trên đảo. Mỗi đợt gió mạnh lại cuốn lông chim tung lên trời mù mịt như bão tuyết, như mây mù che kín đảo. Sinh cúi xuống, hai tay nâng con chim bị thương lên như nâng một đứa bé. Con chim vùng vẫy quyết hệt, tuột khỏi tay Sinh, rơi bịch xuống cát, không lết đi được nữa, nó cố đập đôi cánh để cất mình lên nhưng không còn nhấc nổi đôi cánh nữa. Re...éc! Re... éc! Trên trời, đàn chim tiếp tục rời đảo bay đi, đánh rơi tiếng kêu khắc khoải xuống ngọn sóng đang lúc biển động. ông Đăng và Sinh cùng ngửa mặt nhìn đàn chim rồi ông Đăng đưa mắt tìm kiếm khắp đảo. Kia rồi, đoạn tre buộc chiếc áo sọc cắm giữa đảo. Ông Đăng đi đến rứt chiếc áo sọc ném đi, lồng lá cờ vào cây tre và cắm cây cờ vào đụn cát cao bên cạnh hố sâu của móng tháp bia chủ quyền để lại. Ông lại ngửa mặt nhìn trời. Đàm chim vẫn đang xao xác bay đi. Phía trên đàn chim là mặt trời xế trưa đang chói chang nắng. |