Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: seahawk1 trong 02 Tháng Mười Một, 2007, 11:17:33 pm



Tiêu đề: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 02 Tháng Mười Một, 2007, 11:17:33 pm
"Ba quân dễ kiếm, một tướng khó tìm", những trận chiến lớn bao giờ cũng gắn với tên tuổi các danh tướng. Vậy tớ xin mạo muội lập topic này để bàn về các danh tướng Việt Nam thời từ TK 19 trở về trước. Suốt từng đó năm chiến tranh không ít, danh tướng nước Nam hiển nhiên đời nào cũng có, xin khơi mào trước, mong các bác hưởng ứng.



Đọc sử việt nam thời Lê, SH thấy có một dòng họ đã sinh ra khá nhiều danh tướng cho triều đại này, hay chính xác hơn là cho các chúa trịnh, đó là dòng họ Hoàng Đình. Nổi lên đầu tiên là Hoàng Đình Ái, một danh tướng của Trịnh Tùng lập rất nhiều công trong thời nội chiến Lê Mạc. Đến cuối thời Lê Trịnh, dòng họ này vẫn làm tướng võ khá nhiều, nổi nhất là Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc (nếu ko có họ hàng với Hoàng Đình Ái các bác chỉnh lý hộ tớ), người đã giúp Trịnh Sâm dẹp được nhiều cuộc nổi dậy như của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Lê Duy Mật. Chính Hoàng Ngũ Phúc đã đem quân tấn công Phú Xuân năm 1773 buộc chúa Nguyễn phải trốn vào Gia Định. Ngay cả anh em Tây Sơn cũng khốn đốn với Hoàng Ngũ Phúc, đủ biết tài của ông này thế nào (cũng đặc biệt là Hoàng Ngũ Phúc, giống như Lý Thường Kiệt, cũng là thái giám. Có lẽ chỉ ở Việt Nam và Ottoman có nhiều thái giám làm danh tướng như thế). Họ hàng của Hoàng Ngũ Phúc còn có Hoàng Đình Thể và Hoàng Đình Bảo. Cũng tiếc cho nhà Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc chết khi đang thắng thế, nếu không rất có thể ông ta đã làm lịch sử VN thay đổi không ít. Ông này chết rồi quân đội nhà Trịnh cũng suy sụp. Huy quận công Hoàng Đình Bảo dính dáng vào chính biến cung đình bị kiêu binh giết. Còn Hoàng Đình Thể chết khá anh dũng. Năm 1786, khi Nguyễn Huệ bắc tiến, Hoàng Đình Thể đang làm phó tướng giữ Phú Xuân cùng Phạm Ngô Cầu. Nguyễn Huệ biết người biết ta nên đã dùng kế ly gián làm Cầu nghi ngờ Đình Thể trước. Do đó khi Thể đem quân ra đối trận với Tây Sơn, đánh hết cả thuốc súng phải lui quân thì Cầu đóng cửa thành không cho vào. Hoàng Đình Thể thế cùng lực kiệt đã tự vẫn chứ không thèm hàng Tây Sơn như Phạm Ngô Cầu (chuyện này giống Bàng Đức với Vu Cấm thời Tam quốc quá). Các bác biết gì thêm về dòng họ danh tướng này hay các danh tướng Việt Nam khác thì cùng bàn ở chủ đề này nhé


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Ngocvancu trong 30 Tháng Mười Hai, 2007, 02:13:54 pm
Tướng Đoàn Nhữ Hài trong loạn Thập nhị sứ quân được đặt tên cho 1 con đường ở Q.4 TP HCM cũng ít được biết tới


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: ivanhoe1234 trong 30 Tháng Mười Hai, 2007, 03:13:35 pm
Tướng Đoàn Nhữ Hài trong loạn Thập nhị sứ quân được đặt tên cho 1 con đường ở Q.4 TP HCM cũng ít được biết tới

Trời ơi, Đoàn Nhữ Hài là danh tướng dưới thời vua Trần Anh Tông chứ thập nhị sứ quân nào ở đây.



Tiêu đề: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Hai, 2007, 03:34:16 pm
Tướng Đoàn Nhữ Hài trong loạn Thập nhị sứ quân được đặt tên cho 1 con đường ở Q.4 TP HCM cũng ít được biết tới

Đoàn Nhữ Hài
(1280-1335)

Danh thần của nhà Trần. Ông quê ở làng Trường Tân, huyện Gia Lộc (Hải Dương). Lúc nhỏ, ông học giỏi, nhanh nhẹn, có chí lớn. Trong thời gian đi học ở kinh đô, một hôm, ông đang dạo chơi ở chùa Tư Phúc, gặp vua Trần Anh Tông. Vua biết ông học giỏi, nhờ ông viết tờ biểu tạ lỗi vì hôm ấy, từ sáng sớm, Thái thượng hoàng Nhân Tông vào cung gặp lúc Anh Tông do uống rượu say, ngủ quên chưa dậy. Nhân Tông giận lắm, bỏ về Thiên Trường. Tờ biểu đã làm vừa lòng Thái thượng hoàng, vua được thứ lỗi. Nhân đó, vua Anh Tông đã đưa ông vào làm Ngự sử trung tán. Một số quan bấy giờ đã làm thơ chê cười ông, nhưng ông vẫn bình thản làm việc tốt. Nhờ tài năng và chăm chỉ, năm 1305, ông được đưa vào Viện khu mật, tham gia bàn bạc các việc quan trọng của đất nước. Năm 1307, ông được cử vào Thuận Hoá phủ dụ nhân dân địa phương vì đây là vùng mới sáp nhập Đại Việt. Mọi việc diễn ra tốt đẹp, ông được phong Hành khiển. Sau đó được cử làm Kinh lược sứ Nghệ An. Quân Ai Lao xâm lấn miền Tây Nghệ An. Thượng Hoàng Trần Minh Tông thân chinh đem quân vào, ông được cử làm Đốc tướng quân Thần Võ cùng quân địa phương đi đánh, chẳng may khi qua sông bị Ai Lao đánh úp. Ông hi sinh giữa trận chiến.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Ngocvancu trong 30 Tháng Mười Hai, 2007, 08:25:18 pm
Trong tác phẩm "Mười hai sứ",tướng Đoàn Nhữ Hài lại tử trận tại Ngọc lũ,ông là một tướng của Đinh Bộ Lĩnh.Có thể có sự lầm lẫn từ Hán Việt hay chăng (Chẳng hạn như họ Huỳnh và Hoàng chữ Hán đều là 1,Vũ và Võ cũng tương tự như vậy)


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 03 Tháng Giêng, 2008, 10:21:36 pm
Tớ muốn hỏi tò mò, cuốn "Mười hai sứ (quân)" ấy có phải tiểu thuyết không? Nếu là tiểu thuyết thì nhầm lần (vô tình hay cố ý) là thường. Đến A.Dumas còn xào xáo lịch sử để viết truyện cho hấp dẫn nữa là. Tướng tài của Đinh Bộ Lĩnh thì có rất nhiều, như Lê Hoàn, Phạm Cự Lượng, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Đinh Liễn. Nhưng tớ chưa thấy nói tới Đoàn Nhữ Hài nào cả. Chỉ có một Đoàn Nhữ Hài quỳ trong mưa dâng sớ cho Trần Anh Tông để xin Thượng Hoàng Nhân Tông thôi. Ông này văn võ toàn tài, nhưng một lần nam chinh bị tử trận. Đoàn Nhữ Hài được nhắc tới khá nhiều và kỹ trong sử, còn có cả phố ở Hà Nội nữa. Chính ra mấy ông tướng họ Hoàng tớ có nói qua ở trên còn ít được nhắc tới hơn, có lẽ vì võ nghiệp của họ đều trong nội chiến chứ không phải chống ngoại xâm.

Thời chiến tranh Nam Bắc triều còn có một võ tướng nữa tớ cũng thấy thích là Nam đạo tướng Nguyễn Quyện của nhà Mạc. Có lẽ sau Mạc Kính Điển thì ông này là danh tướng khá nhất của nhà Mạc, nhưng cũng đơn thân nên hữu lao vô công, sự nghiệp không đi đến đâu. Trong Đại Việt sử ký có tả cha con Nguyễn Quyện đã chiến đấu rất anh hùng khi Trịnh Tùng công phá Thăng Long năm 1592. Cả 2 con trai Nguyễn Quyện đều tử trận, bản thân Nguyễn Quyện khi bị bắt có than một câu rất hay: "Trời đã bỏ nhà Mạc thì người anh hùng cũng khó thi sức".

Thú vị nữa là hình như Nguyễn Quyện và Phùng Khắc Khoan đều là học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm, cuối cùng hai người một văn một võ, một theo Lê một theo Mạc đều nổi tiếng một thời cả.

Trong phe nhà Mạc còn một người cũng làm tớ kính nể là phò mã Mạc Ngọc Liễn. Ông này vì có tài nên được ban quốc tính, gả công chúa cho, thành ra rất trung thành với nhà Mạc. Đến lúc Mạc Mậu Hợp bị bắt ông vẫn cùng tàn quân Mạc kháng cự. Nhưng đến lúc mất Mạc Ngọc Liễn để lại một bức di thư rất yêu nước, đọc rất xúc động. Bác nào thích đọc có thể tìm trong Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Ngocvancu trong 03 Tháng Giêng, 2008, 10:30:07 pm
Bạn nói đúng tác phẩm 12 sứ là tiểu thuyết lịch sừ,ở cuối quyển 2 tướng Đoàn Nhữ Hài đã dùng dao truy thủ của Quân sư Lê Thảo giao cho quyết đấu với tướng Lê Hoạt Hoàn của Nam Tấn Vương và đã bị Lê Hoạt Hoàn dùng kiếm đâm vào hông,vết thương này đã đã dẫn đến cái chết của tướng Đoàn Nhữ Hài Cám ơn vì những thông tin mà bạn vừa cho biết


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 14 Tháng Giêng, 2008, 10:23:59 pm
Bạn nói đúng tác phẩm 12 sứ là tiểu thuyết lịch sừ,ở cuối quyển 2 tướng Đoàn Nhữ Hài đã dùng dao truy thủ của Quân sư Lê Thảo giao cho quyết đấu với tướng Lê Hoạt Hoàn của Nam Tấn Vương và đã bị Lê Hoạt Hoàn dùng kiếm đâm vào hông,vết thương này đã đã dẫn đến cái chết của tướng Đoàn Nhữ Hài Cám ơn vì những thông tin mà bạn vừa cho biết

Bạn cho tớ hỏi tiểu thuyết này của tác giả nào thế? Hồi trước tớ có tình cờ đọc một cuốn gì đó của ông Trần Đại Sỹ, thấy kinh hoàng vì mức độ xào nấu của tiên sinh này quá. Thành ra tớ hay có định kiến là các nhà văn Việt Nam viết tiểu thuyết trên nền lịch sử vẫn cứ bị kênh như mặc complet đi mượn ấy, không nhuyễn, không thật (nghĩa là tạo ra được không khí lịch sử và tạo được "lớp bụi thời gian" trên tính cách hành động của nhân vật). Một ví dụ nữa là "Tây Sơn bi hùng truyện", đọc nhiều đoạn như ăn cơm sạn ấy. Quả thực lịch sử Việt Nam rất bi tráng, nhiều thăng trầm, tiếc là nhà văn Việt Nam chưa tạo ra được tác phẩm nào tương xứng. Tớ vẫn ước ao có ai viết được một cuốn tiểu thuyết về lịch sử Việt Nam hay như "Bằng lửa và gươm" hay "Những ngôi sao Eghe". Nhưng chắc còn phải ước dài dài nữa.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: ivanhoe1234 trong 14 Tháng Giêng, 2008, 11:00:04 pm
Trước tôi có cuốn Huyền thoại đứa con cá ông voi viết về trận Rạch Gầm-Xoài Mút, giấy đen sì, viết hơi thiên vị Nguyễn Huệ nhưng đọc những đoạn pháo thuyền bày trận, thuỷ chiến cũng thú vị lắm.

Ông Trần Đại Sỹ viết thì đúng là không thể mê được :)

Bác seahawk1 hiểu biết thật đấy. Tôi gần như mù tịt về thời Nam Bắc phân tranh này. Có lẽ võ tướng mà tôi cảm tình nhất là Quang Trung, thích nhất là các trận đánh của ông lại phảng phất phong cách blitzkrieg ;)


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 15 Tháng Giêng, 2008, 09:24:50 pm
Cuốn "Đứa con của cá ông voi" tớ cũng đã đọc. Đây là truyện thiếu nhi, viết như thế là đạt và rất có hồn rồi. Truyện thiếu nhi phải đơn giản hóa tính cách nhân vật, người tốt kẻ xấu rõ ràng, không như tiểu thuyết viết cho đối tượng độc giả trưởng thành hơn được. Bây giờ vẫn còn nhớ tác giả truyện này tả một thớt voi chiến của Nguyễn Huệ có đến 5 người ngồi trên, lại thêm một khẩu ca nông nữa. Hồi đó mới lớp 5 đọc thấy phê lắm, nhưng từ hồi được cưỡi voi thật ở Buôn Đôn thì thấy ông tác giả hư cấu buồn cười quá. Nhưng bù lại đoạn Nguyễn Huệ ra lệnh cho lính nhốt chim trong lồng để lừa Nguyễn Ánh thì rất ấn tượng và có căn cứ. Nguyễn Huệ đúng là một tài năng quân sự đáng nể phục, nhưng quả thực Nguyễn Ánh cũng đáng là tay đối thủ của ông. Nếu khiên cưỡng ví Nguyễn Huệ như Gia Cát Lượng thì Nguyễn Ánh đúng là Tư Mã Ý.

Đúng là tớ cũng khoái đọc sách viết về sử Việt Nam. Những thông tin về chiến tranh Nam Bắc triều mà tớ trích ở trên đều ở trong Đại việt sử ký toàn thư quyển 4 cả. Quyển này viết về thời đó khá kỹ, thành ra tớ đọc đi đọc lại thành nhớ. Bác nào đọc Đại việt sử ký còn biết thêm về câu chuyện tình rất thú vị của Trần Quốc Tuấn, được mô tả lại rất sinh động và đời thường. Đọc qua đoạn đó tớ lại hiểu thêm một lý do khiến Trần Quốc Tuấn luôn trung thành với nhà Trần như vậy.




 


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: doremon trong 15 Tháng Giêng, 2008, 10:03:32 pm
Bác nào đọc Đại việt sử ký còn biết thêm về câu chuyện tình rất thú vị của Trần Quốc Tuấn, được mô tả lại rất sinh động và đời thường. Đọc qua đoạn đó tớ lại hiểu thêm một lý do khiến Trần Quốc Tuấn luôn trung thành với nhà Trần như vậy.

Theo Đại Việt sử ký thì vợ Trần Quốc Tuấn là con gái của Trần Thái Tông (Trần Cảnh), tức là em họ của Trần Quốc Tuấn. Nhưng theo quyển "Danh tướng Việt Nam"-Tập 1 của Nguyễn Khắc Thuần thì lại nói vợ Trần Quốc Tuấn là con út của Trần Thừa (tức là cô ruột của Trần Quốc Tuấn). ???

Lần trước em cũng đọc bài cãi nhau về vụ này trên tạp chí Xưa và Nay rồi nhưng lâu quá nên quên hết rồi.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Ngocvancu trong 15 Tháng Giêng, 2008, 10:37:22 pm
Bạn nói đúng tác phẩm 12 sứ là tiểu thuyết lịch sừ,ở cuối quyển 2 tướng Đoàn Nhữ Hài đã dùng dao truy thủ của Quân sư Lê Thảo giao cho quyết đấu với tướng Lê Hoạt Hoàn của Nam Tấn Vương và đã bị Lê Hoạt Hoàn dùng kiếm đâm vào hông,vết thương này đã đã dẫn đến cái chết của tướng Đoàn Nhữ Hài Cám ơn vì những thông tin mà bạn vừa cho biết

Bạn cho tớ hỏi tiểu thuyết này của tác giả nào thế? Hồi trước tớ có tình cờ đọc một cuốn gì đó của ông Trần Đại Sỹ, thấy kinh hoàng vì mức độ xào nấu của tiên sinh này quá. Thành ra tớ hay có định kiến là các nhà văn Việt Nam viết tiểu thuyết trên nền lịch sử vẫn cứ bị kênh như mặc complet đi mượn ấy, không nhuyễn, không thật (nghĩa là tạo ra được không khí lịch sử và tạo được "lớp bụi thời gian" trên tính cách hành động của nhân vật). Một ví dụ nữa là "Tây Sơn bi hùng truyện", đọc nhiều đoạn như ăn cơm sạn ấy. Quả thực lịch sử Việt Nam rất bi tráng, nhiều thăng trầm, tiếc là nhà văn Việt Nam chưa tạo ra được tác phẩm nào tương xứng. Tớ vẫn ước ao có ai viết được một cuốn tiểu thuyết về lịch sử Việt Nam hay như "Bằng lửa và gươm" hay "Những ngôi sao Eghe". Nhưng chắc còn phải ước dài dài nữa.
Cuốn 12 sứ dược xuất bản làm 2 lần,1 lần trước năm 1975 ra được 3 tập theo như dự định của tác giả là 12 tập.Sau 1975 ra đủ 12 tập nhưng do Trần Đại Sỹ đứng tên tác giả.Những người đã từng đọc 12 sứ trước năm 1975 đều phải công nhận văn phong từng dòng từng chữ của 3 tập đầu y chang sách đã xuất bản trước 1975 nhưng kể từ tập 4 trở đi thì văn phong khác hẳn câu cú đọc cứ dựng tóc gáy cả lên.Nói sơ qua chắc seahawk1 cũng đã hiểu.Tôi đọc 12 sứ là ấn bản của trước năm 1975,Tướng ĐNH tử thương ở cuối tập 2 do bị Lê Hoạt Hoàn tướng của Nam Tấn Vương dùng kiếm đâm vào hông mà chết(Lê Hoạt Hoàn chứ không phải Lê Hoàn đâu seahawk1 nhé)


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: ivanhoe1234 trong 16 Tháng Giêng, 2008, 07:32:54 pm
Cuốn "Đứa con của cá ông voi" tớ cũng đã đọc. Đây là truyện thiếu nhi, viết như thế là đạt và rất có hồn rồi. Truyện thiếu nhi phải đơn giản hóa tính cách nhân vật, người tốt kẻ xấu rõ ràng, không như tiểu thuyết viết cho đối tượng độc giả trưởng thành hơn được. Bây giờ vẫn còn nhớ tác giả truyện này tả một thớt voi chiến của Nguyễn Huệ có đến 5 người ngồi trên, lại thêm một khẩu ca nông nữa. Hồi đó mới lớp 5 đọc thấy phê lắm, nhưng từ hồi được cưỡi voi thật ở Buôn Đôn thì thấy ông tác giả hư cấu buồn cười quá. Nhưng bù lại đoạn Nguyễn Huệ ra lệnh cho lính nhốt chim trong lồng để lừa Nguyễn Ánh thì rất ấn tượng và có căn cứ. Nguyễn Huệ đúng là một tài năng quân sự đáng nể phục, nhưng quả thực Nguyễn Ánh cũng đáng là tay đối thủ của ông. Nếu khiên cưỡng ví Nguyễn Huệ như Gia Cát Lượng thì Nguyễn Ánh đúng là Tư Mã Ý.

Bác có nhớ chi tiết Nguyễn Lữ được giao thuỷ quân lên phía bắc phòng Trịnh, nhưng sau bí mật vào nam giúp Nguyễn Huệ không nhỉ. Dạo đó tôi cứ thắc mắc mãi về chuyện này, chỉ đoán là Nguyễn Lữ đợi gió không thuận cho thuỷ quân Trịnh mới vào.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 16 Tháng Giêng, 2008, 10:02:17 pm
Cuốn "Đứa con của cá ông voi" tớ cũng đã đọc. Đây là truyện thiếu nhi, viết như thế là đạt và rất có hồn rồi. Truyện thiếu nhi phải đơn giản hóa tính cách nhân vật, người tốt kẻ xấu rõ ràng, không như tiểu thuyết viết cho đối tượng độc giả trưởng thành hơn được. Bây giờ vẫn còn nhớ tác giả truyện này tả một thớt voi chiến của Nguyễn Huệ có đến 5 người ngồi trên, lại thêm một khẩu ca nông nữa. Hồi đó mới lớp 5 đọc thấy phê lắm, nhưng từ hồi được cưỡi voi thật ở Buôn Đôn thì thấy ông tác giả hư cấu buồn cười quá. Nhưng bù lại đoạn Nguyễn Huệ ra lệnh cho lính nhốt chim trong lồng để lừa Nguyễn Ánh thì rất ấn tượng và có căn cứ. Nguyễn Huệ đúng là một tài năng quân sự đáng nể phục, nhưng quả thực Nguyễn Ánh cũng đáng là tay đối thủ của ông. Nếu khiên cưỡng ví Nguyễn Huệ như Gia Cát Lượng thì Nguyễn Ánh đúng là Tư Mã Ý.

Bác có nhớ chi tiết Nguyễn Lữ được giao thuỷ quân lên phía bắc phòng Trịnh, nhưng sau bí mật vào nam giúp Nguyễn Huệ không nhỉ. Dạo đó tôi cứ thắc mắc mãi về chuyện này, chỉ đoán là Nguyễn Lữ đợi gió không thuận cho thuỷ quân Trịnh mới vào.

Trận Rạch Gầm - Xoài Mút diễn ra năm 1785, ở Đàng Ngoài lúc đó Trịnh Khải chỉ còn là bù nhìn, thực quyền nằm trong đám Kiêu binh lộn xộn. Đám này giống như Hồng vệ binh, đập phá hành hung thì nhất hạng, nhưng không phải là danh thần lương tướng đáng để Nguyễn Huệ phải e ngại. Thực ra sau khi Hoàng Ngũ Phúc chết thì Đàng Ngoài đã không còn danh tướng nào đáng ngại với Nguyễn Huệ nữa, Nguyễn Hữu Chỉnh tuy cũng là người có tài nhưng về tầm thì cũng chỉ như cá trong chậu, Nguyễn Huệ muốn hạ thủ lúc nào cũng được. Thành ra việc Nguyễn Huệ nếu thực có sai Nguyễn Lữ ra Bắc vờ như chuẩn bị bắc phạt cũng rất có lý, trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó nếu làm vậy chắc chắn có thể khiến Nguyễn Ánh tin Nguyễn Huệ muốn trước hết mở mang thế lực ra bắc, để hở mặt nam, khiến Ánh chủ quan không đề phòng.

Trở ngại lớn nhất với Nguyễn Huệ lúc đó, thật trớ trêu, lại chính là ông anh cả Nguyễn Nhạc. Ông này làm thủ lĩnh Tây Sơn buổi ban đầu, nhưng càng ngày càng bộc lộ hạn chế về tài năng của mình, và chính vì ý thức được điều này, cũng lại biết rõ em trai tài năng hơn hẳn mình, nên Nguyễn Nhạc đã làm không ít việc trói chân trói tay Nguyễn Huệ để giữ chức Thái Đức hoàng đế của mình. Nguyễn Huệ thì chưa đủ lạnh lùng nhẫn tâm để ra tay như Lý Thế Dân ở Huyền Vũ Môn, nên cũng nhiều khi không thỏa chí thực hiện hết hoài bão của mình. Mâu thuẫn giữa Nhạc và Huệ cũng là may mắn trời cho giúp Nguyễn Ánh rảnh tay không ít để củng cố Gia Định sau này. Còn Nguyễn Lữ thì đúng là nhân vật tệ hại. Chính sự bất tài, không thu phục được nhân tâm của ông ta đã khiến dân Nam bộ đồng loạt nổi lên giúp Nguyễn Ánh khi Nguyễn Ánh quay về tái chiếm Gia Định năm 1788, mốc đầu tiên đánh dấu thất bại cho Tây Sơn. Bởi cùng năm đó, Nguyễn Huệ chưa kịp nam chinh đối phó thì quân Thanh đã tấn công phía bắc, buộc Huệ phải ra bắc đối phó. Sau đó việc Huệ lên ngôi đã khiến hai anh em Huệ Nhạc bất hòa, cùng với việc củng cố nội trị đã khiến Nguyễn Huệ phải tới năm 1792 mới lên kế hoạch tấn công Gia Định được, nhưng chưa kịp đánh đã chết. Quả là sự tình cờ đôi khi cũng làm nên lịch sử. Sau Nguyễn Huệ, nhà Tây Sơn không còn ai biết lấy lòng dân, củng cố thực lực, nên dần dần nhân tâm đã ngả sang phía Nguyễn Ánh, đến mức dân chúng đã làm vè:

Lạy trời cho chóng gió nồm (gió mùa thổi từ nam ra bắc)
Cho thuyền chúa cũ (chỉ họ Nguyễn Gia Miêu, tức Nguyễn Ánh ở Gia Định) rong buồm trảy ra.

Nhân tâm đã mất thì nhà Tây Sơn cũng khó còn được.


Tiêu đề: Lý Thường Kiệt- nhà quân sự kiệt xuất
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:15:12 pm
Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) quê ở phủ Thái Hòa, Thăng Long (Hà Nội), tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, được mang họ Lý (họ nhà vua) khi đã lập được nhiều công trạng lớn. Trải qua ba triều: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, ông là người có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dẹp giặc Chiêm Thành, xây dựng đất nước. Khi Lý Nhân Tông lên ngôi mới 7 tuổi, Lý Thường Kiệt được triều đình giao giữ chức Phục quốc Thái úy, nắm cả binh quyền và quốc quyền. Có quyền lực trong tay, ông đã vạch ra một kế hoạch hoàn chỉnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong các chiến công của quân dân nước ta thời Lý, chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt mùa xuân 1077 là chiến công chói lọi nhất.

Bước vào nửa cuối thế kỷ 11, triều Lý đã xây dựng được một nhà nước trung ương tập quyền ổn định, nước Đại Việt phát triển phồn thịnh trên nhiều mặt, văn hóa Đại Việt bước vào thời kỳ phát triển. Cùng lúc, nhà Tống làm chủ Trung Quốc. Chúng âm mưu thôn tính Đại Việt ở phía nam trước khi đánh Liêu, Hạ ở phía bắc, tập trung quân, lương thực, khí giới ở ba châu Ung, Khâm, Liêm để làm bàn đạp tiến quân xâm lược nước ta. Mặt khác, nhà Tống thực hiện âm mưu chia rẽ các dân tộc Việt Nam ở miền núi với miền xuôi, lôi kéo Chiêm Thành chống Đại Việt.


Năm 1067, vua Lý Thánh Tông cử Lý Thường Kiệt thống lĩnh quân đội đánh tan quân Chiêm Thành, củng cố biên giới phía nam, tập trung lực lượng đối phó với nguy cơ bị xâm lược từ phương bắc. Nhà Lý tích cực chuẩn bị chống xâm lược bằng cách: phát triển nông nghiệp, giảm thuế cho dân, đoàn kết các dân tộc, ráo riết luyện quân, tập trận, đoàn kết vua tôi, hậu đãi hiền tài... Lý Thường Kiệt đã thân chinh đi kinh lý nhiều vùng, từ đồng bằng, miền biển đến miền núi. Ông chủ trương xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay), từ chân núi Tam Đảo đến Lục Đầu Giang. Dựa vào thế núi, sông, đồng trũng, ruộng lầy, quân dân Đại Việt đã xây nên một tuyến phòng thủ vững chắc, cách cửa ngõ đi vào thành Thăng Long chừng ba mươi dặm, tạo thế công - thủ đều thuận lợi.

Nắm chắc khả năng đất nước khó tránh khỏi cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã chủ động mở đầu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bằng cuộc tiến công trước, phá thế chuẩn bị của địch, đẩy chúng vào thế bị động ngay từ đầu và tạo điều kiện thuận lợi cho ta. Ngày 18-1-1076, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân chia làm hai mũi đi đánh chiếm châu Ung, châu Khâm và châu Liêm. Ngày 1-3-1076, quân ta hạ thành châu Ung. Tháng 4-1076, Lý Thường Kiệt cho quân rút về nước sau khi đã triệt phá thành, đánh tan viện binh của địch.

Ngày 18-1-1077, quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy với 10 vạn lính bộ binh, 1 vạn ngựa, 20 vạn dân phu tiến tới sông Như Nguyệt. Dưới sự chỉ huy mưu trí của Lý Thường Kiệt, quân ta đã chiến đấu anh dũng. Nhiều trận chiến đấu quyết liệt diễn ra. Địch quyết tâm vượt sông để tiến nhanh vào thành Thăng Long. Ta quyết giữ đến cùng. Quách Quỳ và Triệu Tiết tổ chức cho đại quân hai lần vượt sông thì cả hai lần đều bị đẩy lui. Khi chúng cụm lại thì bị các đội quân của ta đánh vào từng trại làm cho quân địch sống trong tâm trạng mệt mỏi, sợ hãi. Phòng tuyến sông Như Nguyệt đã giam hãm bộ binh và kỵ binh địch, đưa chúng vào thế khó khăn, thiếu thốn lương thực. Ở sau lưng, chúng luôn bị quân dân các địa phương của ta quấy rối, đánh tiêu hao, viện binh cũng không đến được. Đến khi nhận thấy quân Tống đã lâm vào tình trạng thế suy, lực giảm, tiến thoái đều khó thì Lý Thường Kiệt ra lệnh cho quân ta phản công. Đại quân của ta đã vượt sông, bất ngờ đánh úp vào đại bản doanh của quân Tống. Quân Tống nhanh chóng bị tan rã, chỉ có một bộ phận nhỏ rút được về nước.

Đầu tháng 3-1077, quân Tống thua chạy hỗn loạn trên khắp chiến trường. Hơn hai tháng tiến đánh nước ta, quân Tống đã bị quân dân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, tiêu diệt 8 vạn tên lính chiến, 7 vạn tên tiếp lương, phục vụ. Để kết thúc chiến tranh trong điều kiện ta đang ở thế thắng, tương lai dân tộc có lợi cho ta, với tư tưởng “không nhọc tướng ta, khỏi tốn xương máu mà vẫn bảo toàn được tôn miếu”, Lý Thường Kiệt đã chủ động điều đình với nhà Tống. Nhà Tống chấp nhận các điều kiện ta đưa ra, rút hết quân về nước. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống đã kết thúc thắng lợi, độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của dân tộc được giữ vững, mộng tưởng xâm lược nước ta của nhà Tống bị tiêu tan. Năm 1164, nhà Tống thừa nhận Đại Việt là một nước riêng biệt. Trong 200 năm, kể từ sau cuộc xâm lăng Đại Việt năm 1077 bị đại bại, nhà Tống đã không đụng đến nước ta một lần nào nữa.

Nghệ thuật đánh thắng giặc Tống của nhà Lý đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền khoa học quân sự Việt Nam. Người có công đầu là Lý Thường Kiệt, danh tướng tiêu biểu của triều Lý, một vị Anh hùng dân tộc, một nhà quân sự kiệt xuất có tài thao lược lỗi lạc cùng với tài chính trị và ngoại giao xuất sắc. Với việc đem quân đi phá ba thành Ung-Khâm-Liêm, Lý Thường Kiệt là người đề xướng tư tưởng phòng ngự tích cực trong chiến tranh. Với việc xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt và tiêu diệt đại quân địch ở đó, Lý Thường Kiệt là vị tướng đầu tiên của dân tộc ta tổ chức và lập thế trận chọn sẵn, dùng cách đánh sáng tạo để chuyển thế trận từ phòng ngự sang phản công tiêu diệt địch. Ông cũng là người đề xuất phương châm “Vừa đánh vừa đàm” tìm cách kết thúc chiến tranh có lợi nhất cho dân tộc


Tiêu đề: Re: Lý Thường Kiệt- nhà quân sự kiệt xuất
Gửi bởi: quan su va toi trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:17:02 pm
Nhanh thật, mới đó mà đã gần 1000 năm


Tiêu đề: Điện suý, thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:21:35 pm
Phạm Ngũ Lão, quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (Ân Thi, Hưng Yên ngày nay), cha mất sớm, mẹ già, nhà nghèo vừa làm ruộng, đan lát, vừa theo học luyện cả văn lẫn võ. Quân Nguyên-Mông lăm le xâm phạm bờ cõi lần thứ hai, Phạm Ngũ Lão ước ao được đền nợ nước cho thỏa chí làm trai.


Một hôm, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương) lên kinh đô Thăng Long. Quân sĩ hộ vệ đi trước dẹp đường, đến làng Phù Ủng thấy một thanh niên đầu trần, áo rách ung dung ngồi đan sọt giữa đường. Mải mê suy nghĩ, chàng trai không nghe thấy tiếng quát của đội quân dẹp đường. Quân sĩ lấy giáo đâm vào đùi người thanh niên chảy máu nhưng vẫn không nhúc nhích. Đến mũi giáo thứ hai, chàng trai vẫn ung dung làm việc như không biết đến mọi việc xung quanh. Sự việc được báo lên, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn kinh ngạc vội xuống voi. Thấy Phạm Ngũ Lão khôi ngô dũng cảm khác thường, ứng đối trôi chảy, lại có chí lớn, Hưng Đạo Vương cho thuốc dịt vết thương, cho Phạm Ngũ Lão quà để mang về biếu mẹ rồi nhận cho theo về kinh đô.

Triều đình chuẩn bị mở khoa thi võ chọn người cầm quân cấm vệ, Phạm Ngũ Lão được Hưng Đạo Vương căn dặn và cấp cho tiền, gạo ngựa về quê, hẹn ngày lên thi. Ở quê, Phạm Ngũ Lão ngày đêm khổ luyện ôn tập võ nghệ. Các môn cưỡi ngựa bắn cung, quyền roi, kiếm, cắp giáo nhảy qua hào, nhảy lên thành... ông đều thành thạo. Khi trở lại Thăng Long, tại đấu trường Giảng Võ, ông đỗ đầu các môn võ do triều đình tổ chức và được vua Trần giao chỉ huy quân cấm vệ, lực lượng tinh nhuệ nhất bảo vệ nhà vua và kinh thành.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai năm 1285, Phạm Ngũ Lão đã lập được nhiều công. Ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Khi địch đã núng thế, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang 3 vạn quân về phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường chúng rút chạy lên biên giới phía bắc. Trận này, cánh quân do Phạm Ngũ Lão chỉ huy diệt được phó tướng Lý Quán và Lý Hằng. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để lính khiêng chạy thoát, hàng vạn quân Nguyên chết ngập khắp nơi.

Tháng 10-1287, Thoát Hoan (con vua Hốt Tất Liệt) dẫn quân chia thành ba mũi xâm lược nước ta lần thứ ba. Theo sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng. Các tướng giặc Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi bị quân ta bắt sống. Phạm Ngũ Lão tiếp tục truy kích địch trên đường bộ, trực tiếp đối địch với cánh quân của Thoát Hoan. Quân Nguyên bị đánh tan tác, Thoát Hoan phải trà trộn vào đám tàn quân chạy trốn về nước, từ đấy không còn dám mơ tưởng đến xâm lược nước ta.

Trong bảo vệ đất nước mấy chục năm tiếp theo, Phạm Ngũ Lão bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao. Hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng và một lần ông còn dẹp yên tên nghịch thần là Biếm (1301).

Văn võ toàn tài, trung thành, liêm khiết, vua Trần nhiều lần phong thưởng công lao cho Điện súy, Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ông được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quí đến mức muốn gả con gái yêu của mình cho vị tướng tài đức phải bày mưu làm lễ đổi họ chuyển con gái ruột là quận chúa Anh Nguyên thành con nuôi rồi gả cho Phạm Ngũ Lão (vì nhà Trần có quy định chỉ gả con gái trong dòng tộc).

Điện súy, Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão còn làm thơ. Tiếng thơ của ông hào sảng và đầy khí phách:


Tỏ lòng

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân hùng khí nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

Ngày 1-11-1320, Phạm Ngũ Lão mất tại phủ đệ của vua ban, hưởng thọ 66 tuổi. Ông làm tướng phụng sự nhà Trần gần 50 năm, qua ba đời vua. Thượng hoàng Trần Anh Tông đọc bài viếng Thượng tướng quân có đoạn:

“Dẹp giặc Lào, Xiêm tỏ tướng tài

Võ thần mấy kẻ được chen vai

Dưới cờ một dạ nên công lớn

Gia Cát trời Nam lại có hai.

Để tưởng nhớ vị tướng tài danh là người con của quê hương, dân làng Phù Ủng lập đền thờ Phạm Ngũ Lão ngay trên nền nhà cũ của gia đình ông. Ngoài đền thờ chính còn nhiều di tích có quan hệ đến Điện súy, Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: trinhlenam_89 trong 27 Tháng Năm, 2008, 08:41:37 am
                 Nguyễn Bặc một vị tướng trung quân ái quốc
 

   Nguyễn Bặc là con của Nguyễn Thước, một nha tướng của Dương Đình Nghệ. Ông sinh năm 924 ở Sách Bông, làng Đại Hữu, Châu Đại Hoàng (nay là xã Gia phương, huyện Gia viễn, tỉnh Ninh Bình). Ông cùng tuổi cùng quê với Đinh Bộ Lĩnh, thuở nhỏ cùng bạn tập trận cờ lau, lớn lên lại kết nghĩa anh em với nhau.
   Năm Tân Hợi 951 Đinh Bộ Lĩnh dấy nghĩa ở Đội Lĩnh Sơn, động Hoa Lư để dẹp loạn 12 sứ quân, qui giang sơn về một mối. Nguyễn Bặc đã tham gia khởi nghĩa và là vị tướng tài ba nhất của Đinh Bộ Lĩnh. Ông chỉ huy các trận tiến công, buộc Phạm Phòng Át (tức Phạm Bạch Hổ) ở Đằng châu (hải hưng), Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm (Sơn Tây) và Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Thanh Hóa) phải quy thuận. Trận đánh sứ quân Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt (xã Tứ Hiệp, huyện Thanh trì, Hà nội ngày nay) là một trận đánh rất lớn. Đinh Bộ Lĩnh cử các tướng Nguyễn Bộ, Nguyễn Phục, Cao Sơn, Đinh Thiết đanh Nguyễn Siêu. Cả bốn tướng đều hi sinh anh dũng. Đinh Bộ Lĩnh đem quân thân chinh, cử đại tướng Nguyễn Bặc làm tiên phong, đánh tan quân Nguyễn Siêu vào ngày 15 tháng 7 năm đinh mão (967). Trong trận đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Bặc chỉ huy cánh quân chủ yếu đánh vào thành Trại Quyền (Quốc Oai). Năm 968 sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, phong cho Nguyện Bặc làm đệ nhất công thần. Ông đã xin nhường chức ấy cho Đinh Điền là người cùng họ với vua, và xin đứng thứ hai trong "tứ trụ triều đình" (Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ). Năm 971, Nguyễn Bặc được vua phong là khai quốc công thần, Phụ Quốc, Thừa Tướng, Thái tế, Định Quốc Công, tức là vị tể tướng đầu tiên trong lịch sử nước ta. Ông đã giúp vua trong việc xây dựng chính quyền tập trung, thông nhât, lập triều nghi, xây cung điện, chấn hưng kinh tế, đắp thành, đào hào, củng cố nền độc lập, sẵn sàng chống lại sự xâm nhập của đời Tống. Trong công lao thống nhất sơn hà, xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập hồi thế kỉ thứ X, có phần đóng góp rất lớn của Nguyễn Bặc với cương vị là đại tướng số một (chữ Đại Tướng không phải ngày nay mới đặt ra, mà được ghi rõ trong thần phả đình Ba Dân, xã Tứ Hiệp và cả trong Thần phả xã Đông Kết huyện Thanh Trì. 

nguồn: Lịch Sử sự thật và sử học (nhà xuất bản trẻ)                              


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Sáu, 2008, 01:50:42 am
  Nước Việt ta là một đất nước với hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Những trang sử của ta được đánh dấu chủ yếu bằng những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Trong các cuộc chiến tranh đó đã để lại tên tuổi của rất nhiều vị tướng nổi tiếng. Hưởng ứng chủ đề của Seahawk1, mượn nguồn của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, xin giới thiệu với các bác một vị tướng Khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, người được đánh giá là "Công lao không kém gì Nguyễn Trãi" trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược vào thế kỷ 15. (Em giới thiệu ông này trước tiên vì nhà ông ấy ở gần nhà em).


NGUYỄN CHÍCH
(1382–1448)

 Quê ở Làng Vạn Lộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa,

 Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê, người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
 
 Theo Văn bia quốc triều tả mệnh công thần, Nguyễn Chích mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ. Ông là người ít nói, ít cười, hiền lành, trung thực, có chí lớn.

  Năm Nguyễn Chích 25 tuổi, nước Đại Ngu của nhà Hồ mất do cuộc xâm lược của nhà Minh. Ông nuôi chí đánh đuổi người Minh để cứu nước.

  Sử sách không chép rõ thời điểm Nguyễn Chích nổi dậy chống quân Minh, nhưng các nhà nghiên cứu thì ông khởi nghĩa khoảng sau khi nhà Hậu Trần mất (1413) cho tới trước khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (1418)[1]. Căn cứ ban đầu mà ông xây dựng là tại Vạn Lộc. Từ Vạn Lộc, Nguyễn Chích đánh ra các vùng xung quanh, cả huyện Đông Sơn quân Minh không dám đến cướp phá.

  Sau đó Nguyễn Chích tiến quân đánh chiếm núi Hoàng và núi Nghiêu là vùng giáp 3 huyện Đông Sơn, Nông Cống và Triệu Sơn, xây dựng khu vực này thành căn cứ lớn. Căn cứ này có vách núi dựng đứng và sông Hoàng chảy qua là chiến hào tự nhiên, thuận lợi cho việc phòng thủ lẫn tiến công.

  Từ Hoàng Nghiêu, Nguyễn Chích mở rộng phạm vi hoạt động ra vùng lân cận ở Thanh Hoá và bắc Nghệ An. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Hiệu lệnh của ông được thi hành ở các huyện Đông Sơn, Nông Cống và Ngọc Sơn".

  Quân Minh lo lắng. Tướng người Việt theo quân Minh là Lương Nhữ Hốt tìm cách dụ hàng Nguyễn Chích nhưng thất bại.

  Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Nghe tin thanh thế của Nguyễn Chích, Lê Lợi sai người mang thư đến mời ông về cùng tham gia quân Lam Sơn. Nguyễn Chích đồng ý theo Lê Lợi, nhưng thời gian đầu ông vẫn ở căn cứ Hoàng Nghiêu. Từ Hoàng Nghiêu, ông mang quân ra đánh Lương Nhữ Hốt ở đồn Cổ Vô, được Lê Lợi phong chức Vinh lộc đại phu Lân hổ vệ tướng quân. Sau đó Lê Lợi lại phong ông làm Đô đốc đạo phủ quản tổng đô đốc quân dân, tước Quan nội hầu.

  Cuối năm 1420, ông mang toàn bộ lực lượng gia nhập với Lê Lợi – lúc đó đóng mở Mường Nanh. Ông được Lê Lợi phong làm Thiết đột hữu vệ Đồng tổng đốc chủ quân sự.

  Từ năm 1421 đến 1423, ông tham gia nhiều trận đánh với quân Lam Sơn như trận Ba Lẫm (tháng 12 năm 1421) và trận Sách Khôi (tháng 2 năm 1422) đánh bại 10 vạn quân Minh của Trần Trí. Ông được Lê Lợi thăng lên chức thiếu uý.

  Từ năm 1418 đến 1423, quân Lam Sơn chỉ hoạt động quanh quẩn ở vùng núi Thanh Hoá, bị quân Minh nhiều lần đánh bại. Trong tình thế khó khăn, Lê Lợi đã phải giảng hoà với quân Minh để củng cố thực lực. Cuối năm 1424, khi sứ giả quân Lam Sơn là Lê Trăn bị quân Minh bắt giữ, Lê Lợi bèn cắt đứt giảng hoà với địch.

  Vào thời điểm đó, Nguyễn Chích đã hiến kế với Lê Lợi: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ".
 
  Chấp thuận kế hoạch của ông, Lê Lợi quyết định tiến vào Nghệ An. Đầu tiên quân Lam Sơn tập kích đồn Đa Căng (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Tháng 11 năm 1424 quân Lam Sơn liên tiếp giành thắng lợi, hạ thành Trà Lân và tiến vào Nghệ An, sau đó đánh bại quân Minh ở Khả Lưu, Bồ Ải (tháng 5 năm 1425).

  Thành Nghệ An bị bao vây cô lập, quân Lam Sơn tiến ra đánh Diễn châu và Tây Đô (tháng 6 năm 1425). Nhân đà thắng lợi, tháng 8 năm 1425, Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn mang quân vào đánh chiếm đất Tân Bình và Thuận Hoá. Hai thành này cũng bị vây.

  Các nhà sử học đánh giá rất cao về kế vào Nghệ An của Nguyễn Chích. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm kể từ khi thực hiện kế hoạch của ông, quân Lam Sơn làm chủ 1 vùng rộng lớn từ Thanh Hoá và Thuận Hoá, bao vây các thành địch. Nếu so sánh với thời gian 6 năm 1418 – 1423 chỉ quanh quẩn ở mấy huyện ở Thanh Hoá thì thấy hiệu quả của việc thay đổi chiến thuật này rất lớn.

 Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi kéo đại quân ra bắc, quân Lam Sơn liên tiếp thắng trận, đánh tan các đạo viện binh của Vương An Lão và Vương Thông, đẩy quân Minh vào thế phòng thủ ở Đông Quan và các thành ở Bắc Bộ. Trong thời gian đó, Nguyễn Chích được giao việc vây thành Nghệ An. Sau đó ông được Lê Lợi điều ra bắc, giữ chức tổng tri Hồng châu và Tân Hưng.

  Đầu năm 1427, ông cùng tướng Bùi Quốc Hưng mang quân bao vây, hạ thành Tiêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội) và Thị Cầu (Bắc Ninh), quân Minh trong hai thành này phải mở cửa ra hàng.

  Sau khi các tướng vây thành Đông Quan là Đinh Lễ, Lý Triện tử trận và Nguyễn Xí cùng Đỗ Bí bị bắt khi quân Minh đánh úp từ trong ra, Lê Lợi điều ông về vây mặt nam thành này.

  Cuối năm 1427, viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh lại sang cứu Vương Thông. Nguyễn Chích cùng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Khuyển lên trấn ải Lê Hoa để chặn Mộc Thạnh. Nghe tin đạo quân Liễu Thăng bị tiêu diệt, Mộc Thạnh rút quân về nước. Quân Lam Sơn đuổi theo truy kích một trận nữa.

  Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi, lập ra nhà Hậu Lê. Năm 1429, Nguyễn Chích được phong tước Đình thượng hầu, ban cho họ Lê của vua. Từ đó ông được gọi là Lê Chích.

  Thời gian đầu, Lê Chích được tham gia triều chính nhưng sau đó ông bị Lê Lợi cách chức. Các nhà nghiên cứu cho rằng, sử không chép rõ về tội lỗi của ông, việc ông bị cách chức do sự nghi ngại công thần của Lê Lợi.

  Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, con là Lê Thái Tông lên thay. Lê Chích được phục chức làm Đồng tổng quản châu Hoá, trấn thủ Thát Ải.

  Quân Chiêm Thành hai lần cướp phá, ông đều chặn đánh tan, giữ yên biên giới phía nam. Sau đó, Lê Chích còn lập công trong 2 lần đi đánh Chiêm Thành, được phong tước Đình hầu.

  Tháng chạp năm 1448, Nguyễn Chích mất, thọ 67 tuổi. Lê Nhân Tông truy tặng ông làm Nhập nội tư không bình chương sự, Hiến quốc công, thuỵ hiệu là Trinh Vũ.

  Thời Nguyễn, Gia Long liệt ông vào làm bậc công thần khai quốc nhà Lê thứ nhì (năm 1802).

  Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn ca ngợi ông như sau: "Bầy tôi có ông khai quốc, kể về bậc tài trí cần lao không phải là hiếm nhưng sở dĩ [vua Lê Thái Tổ] đã bình định được cả nước là do mưu chước của Lê Chích… Không cần phải đánh mà được thành Đông Đô, lấy hoà hiếu để kết thúc chiến tranh, tuy là mưu kế của Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để thu thắng lợi hoàn toàn thực chất là bắt đầu từ Lê Chích"...



Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Sáu, 2008, 02:23:19 am

   Giới thiệu về "ông tướng" mà không giới thiệu về "bà tướng" thì có vẻ như là "trọng nam khinh nữ", Xin giới thiệu tiếp với các bác về một bà tướng, Bà là người ở quê ngoại nhà em.

BÀ TRIỆU
Tên thật Triệu Thị Trinh, 
Sinh 2 tháng 10 năm 226
Mất 21 tháng 2 (âm lịch) năm 248
tại Hậu Lộc, Thanh Hóa



  Bà Triệu còn gọi là Triệu Trinh Nương, tên thật là Triệu Thị Trinh hay Lệ Hải Bà Vương, sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226) là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam,Bà là người Quân Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và là em của Triệu Quốc Đạt.

  Sách "Giao Chỉ chí" chép: "Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần".
 
  Truyền thuyết kể rằng: Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Có lần xuất hiện một con voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, làm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận.

  Năm 246, bà đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt dựng cờ khởi nghĩa và sau khi Triệu Quốc Đạt chết (248), bà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự xâm lược của quân Đông Ngô, do Lục Dận (cháu của Lục Tốn), thứ sử Giao Châu chỉ huy. Nhiều nghĩa binh đã tử trận vào năm đó. Theo Trần Trọng Kim, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được 5-6 tháng thì thua chạy đến xã Bồ Điền và tự tử. Khi ấy Triệu Thị Trinh mới 23 tuổi.

  Tại nơi bà mất là núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa vẫn còn di tích lăng mộ của bà, cách nơi bà mất không xa (ngay bên quốc lộ 1A) là khu thờ bà. Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 âm lịch, người dân trong vùng vẫn tổ chức tế giỗ bà để tưởng nhớ về người con gái anh hùng của dân tộc Việt.

  Hiện nay ở Hà Nội, tên bà được đặt tên cho một con đường: phố Bà Triệu

  Bà có câu nói nổi tiếng: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!".

  Huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô. Đó là chuyện "Bà Triệu thu phục được con voi trắng một ngà", chuyện "Đá biết nói" rao truyền lời thần nhân mách bảo từ trên núi Quan Yên.

  Người Việt Nam có câu:
  "Ru con con ngủ cho lành
  Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
  Muốn coi, lên núi mà coi
  Có bà Triệu tướng múa voi, đánh cồng".

  Người Trung Quốc có câu:
  "Hoành qua đương hổ dị,
  Đối diện Bà Vương nan". 
  (Múa ngang ngọn dáo dễ chống hùm,
  Đối mặt Vua Bà thì thực khó). 


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:08:34 pm

 
BÀ TRIỆU
Tên thật Triệu Thị Trinh, 
Sinh 2 tháng 10 năm 226
Mất 21 tháng 2 (âm lịch) năm 248
tại Hậu Lộc, Thanh Hóa


...

Hình như bài viết này khá giống bài đăng ở http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0_Tri%E1%BB%87u


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 03:46:02 pm
Đoàn Nhữ Hài cũng đưa vào hàng võ tướng thì VN có biết bao nhiêu người đây ? Đoàn Nhữ Hài là quan văn không có tầm nhìn chiến lược , kinh nghiệm của 1 võ tướng . Khi ông chết vua Anh Tông còn than rằng : "Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!" Đời nhà Trần thì thiếu gì các võ tướng nổi danh như : Nguyễn Khoái , Nguyễn Địa Lô , Trần Khát Chân vv chứ Đoàn Nhữ Hài thì sao sánh với họ đây ?


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 03:52:09 pm
Đoàn Nhữ Hài cũng đưa vào hàng võ tướng thì VN có biết bao nhiêu người đây ? Đoàn Nhữ Hài là quan văn không có tầm nhìn chiến lược , kinh nghiệm của 1 võ tướng . Khi ông chết vua Anh Tông còn than rằng : "Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!" Đời nhà Trần thì thiếu gì các võ tướng nổi danh như : Nguyễn Khoái , Nguyễn Địa Lô , Trần Khát Chân vv chứ Đoàn Nhữ Hài thì sao sánh với họ đây ?


Nguyễn Địa Lô có phải là tướng đâu bác. Ông này chỉ là gia nô thôi


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 20 Tháng Mười Một, 2009, 12:17:01 am
Đoàn Nhữ Hài cũng đưa vào hàng võ tướng thì VN có biết bao nhiêu người đây ? Đoàn Nhữ Hài là quan văn không có tầm nhìn chiến lược , kinh nghiệm của 1 võ tướng . Khi ông chết vua Anh Tông còn than rằng : "Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!" Đời nhà Trần thì thiếu gì các võ tướng nổi danh như : Nguyễn Khoái , Nguyễn Địa Lô , Trần Khát Chân vv chứ Đoàn Nhữ Hài thì sao sánh với họ đây ?


Nguyễn Địa Lô có phải là tướng đâu bác. Ông này chỉ là gia nô thôi
Đúng rồi mình nhầm , Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu , Dã Tượng là gia nô của Trần Hưng Đạo


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 20 Tháng Mười Một, 2009, 10:19:06 am
Tôi muốn biết từ cổ tới kim ở Việt Nam ta thì chúng ta đã suy tôn chưa và nếu có thì ai sẽ là:
1. Ông Tổ của lối đánh du kích?
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?
3. Ông Tổ của chiến trận dưới nước?
4. Ông Tổ của chiến trận có dùng kị binh ?
...
Cám ơn.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 20 Tháng Mười Một, 2009, 08:17:56 pm
Tôi muốn biết từ cổ tới kim ở Việt Nam ta thì chúng ta đã suy tôn chưa và nếu có thì ai sẽ là:
1. Ông Tổ của lối đánh du kích?
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?
3. Ông Tổ của chiến trận dưới nước?
4. Ông Tổ của chiến trận có dùng kị binh ?
...
Cám ơn.

Nếu đã có sự suy tôn thì chúng ta đều đã biết lâu rồi bác ạ  ;D


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: lonesome trong 21 Tháng Mười Một, 2009, 12:48:06 am
Tôi muốn biết từ cổ tới kim ở Việt Nam ta thì chúng ta đã suy tôn chưa và nếu có thì ai sẽ là:
1. Ông Tổ của lối đánh du kích?
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?
3. Ông Tổ của chiến trận dưới nước?
4. Ông Tổ của chiến trận có dùng kị binh ?
...
Cám ơn.
1/ An Dương Vương khi chống quân Tần
 ;D


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 21 Tháng Mười Một, 2009, 01:49:21 pm
Tôi muốn biết từ cổ tới kim ở Việt Nam ta thì chúng ta đã suy tôn chưa và nếu có thì ai sẽ là:
1. Ông Tổ của lối đánh du kích?
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?
3. Ông Tổ của chiến trận dưới nước?
4. Ông Tổ của chiến trận có dùng kị binh ?
...
Cám ơn.
1/ An Dương Vương khi chống quân Tần
 ;D
Không hiểu ??



Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 21 Tháng Mười Một, 2009, 02:04:06 pm
Tôi muốn biết từ cổ tới kim ở Việt Nam ta thì chúng ta đã suy tôn chưa và nếu có thì ai sẽ là:
1. Ông Tổ của lối đánh du kích?
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?
3. Ông Tổ của chiến trận dưới nước?
4. Ông Tổ của chiến trận có dùng kị binh ?
...
Cám ơn.
Ông tổ của lối đánh đặc công có đấy bạn à :
TT - Đại tá - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Công An (tên khai sinh Trần Văn Kìa, bí danh Hai Cà) đã qua đời vào 8g ngày 7-9-2008 do tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 89 tuổi.

Ông là người đã khai sinh ra cách đánh bí mật, chớp nhoáng tiêu diệt hệ thống tháp canh chiến lược De La Tour lần đầu tiên tại cầu Bà Kiên (Bình Dương) 19-3-1948 thành công vang dội. Kho tàng nghệ thuật quân sự VN từ đó được bổ sung một cách đánh mới: đặc công, sau này được Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập Binh chủng đặc công 19-3-1967 và lấy ngày 19-3-1948 là ngày truyền thống.



Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 07:03:30 am
Tôi muốn biết từ cổ tới kim ở Việt Nam ta thì chúng ta đã suy tôn chưa và nếu có thì ai sẽ là:
1. Ông Tổ của lối đánh du kích?
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?
3. Ông Tổ của chiến trận dưới nước?
4. Ông Tổ của chiến trận có dùng kị binh ?
...
Cám ơn.
1/ An Dương Vương khi chống quân Tần
 ;D

Nhầm. Mod xóa hộ


Sao lại phải xóa hả bác  :o Em thấy có lý đấy chứ. Vì học sử đã thấy nói đến sách "vườn không nhà trống" từ thời An Dương Vương rồi cơ mà. Lối đánh du kích là lối đánh quen thuộc của nhân dân ta do luôn luôn phải đối đầu với các lực lượng xâm lược mạnh hơn rất nhiều. Do đó, khó có thể nói ai là ông tổ nhưng theo sử sách ghi nhận đầu tiên thì đó phải là An Dương Vương. Tiếp đó là ghi nhận trường hợp của vua Triệu Việt Vương khi lập căn cứ chống quân xâm lược phương Bắc ở đầm Dạ Trạch.

Với Đại tá Trần Công An thì em đồng ý với nhận định "là người khai sáng lối đánh đặc công hiện đai" hơn là "ông tổ của lối đánh đặc công" vì trong lịch sử của Việt Nam không không thiếu các trận đánh dùng tinh binh (ít hơn quân giặc rất nhiều) bí mật áp sát, tập kích bất ngờ đánh nhanh rút gọn. Đặc biệt hơn nữa người ta luôn coi danh tướng Yết Kiêu thời Trần là "ông tổ của đặc công nước".

Về chiến trận dưới nước thì theo em nghĩ những người chỉ huy thủy quân đầu tiên  được ghi nhận trong lịch sử là "Nữ tướng miền biển" Lê Chân và "Tả tướng Thủy quân" Phật Nguyệt trong khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.





Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: lonesome trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 09:01:35 am
@panphilov: cám ơn bạn đã làm rõ ý của mình về trường hợp An Dương Vương. Mình lôi Thủy Tinh vào làm ông tổ của cách đánh dưới nước nên mới bảo là nhầm chứ khong phải nhầm chỗ ADV.
 ;D


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:37:47 am

Nếu đã có sự suy tôn thì chúng ta đều đã biết lâu rồi bác ạ  ;D

Suy tôn trong dân gian, trong mỗi chúng ta, theo tôi còn hơn và vĩnh cửu hơn sự suy tôn được xác nhận bởi các bằng sắc và ghi chép.

Thủy chiến ai qua được Ngô Quyền trong trận bạch đằng?
Đặc công nước chắc có Yết Kiêu, Voi chiến hẳn không thiếu Dã Tượng? Hai vị này đều là gia nô của Quốc công Tiết chế liệu có tính không?
Việc tổ chức thành công cuộc hành quân "Thần tốc" của Quang Trung nên vị anh hùng áo vải cờ đào này rất đáng được suy tôn là "Ông tổ của các cuộc hành binh thần tốc"...


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:49:30 am

Thực ra các bộ sử nước ta sơ sài quá đa phần là truyền miệng theo kiểu tam sao thất bản , 1000 năm bắc thuộc hầu hết là huyền sử độ chính xác không cao , về voi chiến thì từ thời bà Trưng , rồi tới bà Triệu đã sử dụng rồi bác ạ !


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:12:49 pm
Đoàn Nhữ Hài cũng đưa vào hàng võ tướng thì VN có biết bao nhiêu người đây ? Đoàn Nhữ Hài là quan văn không có tầm nhìn chiến lược , kinh nghiệm của 1 võ tướng . Khi ông chết vua Anh Tông còn than rằng : "Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!" Đời nhà Trần thì thiếu gì các võ tướng nổi danh như : Nguyễn Khoái , Nguyễn Địa Lô , Trần Khát Chân vv chứ Đoàn Nhữ Hài thì sao sánh với họ đây ?
Nguyễn Địa Lô có phải là tướng đâu bác. Ông này chỉ là gia nô thôi

Nên dùng từ gia tướng các bác ạ.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:49:36 pm
NGUYỄN CHÍCH
(1382–1448)

Từ năm 1418 đến 1423, quân Lam Sơn chỉ hoạt động quanh quẩn ở vùng núi Thanh Hoá, bị quân Minh nhiều lần đánh bại. Trong tình thế khó khăn, Lê Lợi đã phải giảng hoà với quân Minh để củng cố thực lực. Cuối năm 1424, khi sứ giả quân Lam Sơn là Lê Trăn bị quân Minh bắt giữ, Lê Lợi bèn cắt đứt giảng hoà với địch.

Vào thời điểm đó, Nguyễn Chích đã hiến kế với Lê Lợi: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ".

Các nhà sử học đánh giá rất cao về kế vào Nghệ An của Nguyễn Chích. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm kể từ khi thực hiện kế hoạch của ông, quân Lam Sơn làm chủ 1 vùng rộng lớn từ Thanh Hoá và Thuận Hoá, bao vây các thành địch. Nếu so sánh với thời gian 6 năm 1418 – 1423 chỉ quanh quẩn ở mấy huyện ở Thanh Hoá thì thấy hiệu quả của việc thay đổi chiến thuật này rất lớn.


Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn ca ngợi ông như sau: "Bầy tôi có ông khai quốc, kể về bậc tài trí cần lao không phải là hiếm nhưng sở dĩ [vua Lê Thái Tổ] đã bình định được cả nước là do mưu chước của Lê Chích… Không cần phải đánh mà được thành Đông Đô, lấy hoà hiếu để kết thúc chiến tranh, tuy là mưu kế của Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để thu thắng lợi hoàn toàn thực chất là bắt đầu từ Lê Chích"...

Đúng là nói đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn người ta thường nhắc tới cụ Nguyễn Trãi nhiều hơn và ít nhắc đến cụ Nguyễn Chích. Em rất thích câu đánh giá của cụ Lê Quý Đôn. Các bác chú ý là cụ dùng hai từ "mưu chước" và "mưu kế" nhé. Mưu chước liên quan đến chiến lược và mưu kế liên quan đến chiến thuật. Cho nên trong cái đoạn em bôi đỏ là không có chính xác, dùng từ kế là sẽ hạ thấp vai trò của cụ Nguyễn Chích.

Lúc mới khởi binh, nghĩa quân của Lê Lợi tiến hành chiến tranh du kích trong khu vực rừng núi Thanh Hóa (1918-1923) do lực lượng còn yếu. Một cuộc chiến tranh du kích nhằm 2 bước là (1) bảo tồn lực lượng và (2) từng bước phát triển lực lượng để rồi tiến tới đánh chính quy ở mức độ chủ lực với đối phương thì mới có thể kết thúc chiến tranh. Như vậy rõ ràng là nếu cứ tiếp tục ở Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn sẽ không có khả năng phát triển lực lượng.  "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ". Nghệ An là nơi hiểm yếu chọn Nghệ An làm chỗ đứng chân là chọn cái THẾ, đất rộng người đông chính là cái LỰC. Nói vậy hiểu sâu xa cái ý của Nguyễn Chích là khuyên Lê Lợi nếu không muốn thất bại thì phải phát triển lối đánh du kích thành lối đánh chính quy, chủ lực. Mà khi đã nói đến tạo thế, phát triển lực lượng thì đó là chiến lược tức là mưu chước. Mà trước đó ví dụ như Lý Bí chẳng hạn, rút vào Điển Triệt chỉ biết du kích thì rốt cuộc cũng bị bao vây mà thất bại thôi.

Còn cái đóng góp của Nguyễn Trãi đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đó là chiến lược "đánh và đàm" mà trong chống Pháp và chống Mỹ chúng ta gọi là "vừa đánh vừa đàm, quân sự kết hợp ngoại giao". Mà ngoại giao mà không có cái LỰC và cái THẾ thì là ngoại giao suông không có trọng lượng (Điện Biên Phủ trên không mà ta không thắng thì dễ gì thằng Mỹ nó ký hiệp định Paris). Nói vậy để ta hiểu hơn cái ý của Nhà sử học Lê Quý Đôn.

Như vậy, ta có thể coi Nguyễn Trãi là ông tổ của đường lối "Đánh và Đàm" và Nguyễn Chích là ông tổ của 2 bước "phát triển lực lượng và tổng phản công" trong chiến lược "cầm cự phát triển lực lượng phản công".








Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:51:16 pm
Vâng, cần gọi Yết Kiêu, Dã Tượng là gia tướng, không nên viết là gia nô!

...Ông Tổ ngành quân khí Việt Nam phải chăng là tướng quân Cao Lỗ?


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 07:56:32 pm
Nhà Lê theo mình võ tướng giỏi nhất vẫn là Trần Nguyên Hãn !


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:38:38 pm
2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?

Với Đại tá Trần Công An thì em đồng ý với nhận định "là người khai sáng lối đánh đặc công hiện đai" hơn là "ông tổ của lối đánh đặc công" vì trong lịch sử của Việt Nam không không thiếu các trận đánh dùng tinh binh (ít hơn quân giặc rất nhiều) bí mật áp sát, tập kích bất ngờ đánh nhanh rút gọn. Đặc biệt hơn nữa người ta luôn coi danh tướng Yết Kiêu thời Trần là "ông tổ của đặc công nước".

[/quote]

Đồng ý với bác Pan! Chắc trong lịch sử cha ông ta đã áp dụng lối đánh này rồi, à mà vụ quân Lam Sơn cho người đánh sập cây cầu khi Liễu Thăng cùng đám kị binh chạy qua có coi là do "đặc công" thực hiện không các bác?


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 24 Tháng Mười Một, 2009, 12:40:07 am
Bác caytrevietnam trận Chi Lăng thì mình nhớ không nhầm đâu có cây cầu nào đâu nhỉ ? Chỉ nói là Liễu Thăng dẫn quân đuổi theo sa vào mai phục bị chém đầu thôi chứ bác  ??? ???


Tiêu đề: Re: Lý Thường Kiệt- nhà quân sự kiệt xuất
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Mười Một, 2009, 05:49:20 am
 

Về lai lịch một "người Thăng Long gốc": Lý Thường Kiệt

                                                               GS. LÊ VĂN LAN

 

Trông ra phố Nam Đồng ngày trước (nay: phố Nguyễn Lương Bằng) và ngôi đình làng Nam Đồng (Năm Đồng). Đình thờ Lý Thường Kiệt, với cớ: nơi đây là đất mai táng người anh hùng dân tộc thời Lý.

Thông tin này cần được kiểm chứng, nhưng, dù sao thì cũng có phần phù hợp (phụ họa) được với một "tín hiệu chìm" khác: không một dòng sử quan phương nào chép về việc đã đưa linh cữu vị đại danh thần đồng thời là đại danh tướng Lý triều, sau khi mất, về một nơi nào - thường, theo quy luật trung cổ, thì phải là nơi chính quán - mà lại ở  ngoài Thăng Long! Có nghĩa ông là người Thăng Long.

Hiện có hai thuyết, xuất nhập về chi tiết, nhưng đại để, thì đều trực tiếp  nói rõ: Lý Thường Kiệt gốc người Thăng Long. Cả hai thuyết đều chỉ ra rằng: Lý Thường Kiệt là người Làng An (Yên) Xá (Sau đổi là Cơ Xá) trên bãi sông Hồng, phía sau thành Thăng Long. Nhưng, thuyết thứ nhất (dựa vào sách "Tây Hồ chí") cho rằng, trước khi trở thành người (và phúc thần) An (Yên) Xá, thì quê gốc Lý Thường Kiệt là: Làng Bình Sa.

Vào thời Lý Thái Tổ định đô, do việc mở mang kinh thành, làng Bình Sa phải di dời ra mạn bãi sông Hồng, nhường đất cho vua xây thành. Người Bình Sa, vì lẽ đó, trở thành người An (yên) Xá, tức Cơ Xá. Còn thuyết thứ hai, thì cũng nói đến việc Lý Thường Kiệt dời quê gốc ra bãi sông Hồng để thành người An (Yên) - Cơ Xá, nhưng lại (theo sự chỉ dẫn quan phương của các sách "Đại Việt sử ký toàn thư", "Lịch triều hiến chương loại chí"...) mà cho rằng chốn quê gốc ấy, là: phường Thái Hòa.

Nay, thử làm việc dung hợp hai thuyết này, thì có thể thấy ra một điều là: trong khi chỉ định làng Bình Sa như một chốn quê gốc của Lý Thường Kiệt, thuyết thứ nhất cũng đồng thời chỉ định vị trí xa xưa của làng này, là ở phía nam Hồ Tây. Và, khi nghiên cứu về vị trí của phường Thái Hòa, nhiều học giả đã cho rằng phường này vào thời Lý ở về mạn Tây thành Thăng Long (chỗ có núi Cung, gần các làng Ngọc Hà - Vĩnh Phúc xưa). Thế thì, ở đây, chẳng có gì là mâu thuẫn (khác biệt) cả (hoặc nhiều). Bởi vì: núi Cung (Ngọc Hà - Vĩnh Phúc) cũng chính là miền đất ở sát ngay bờ nam Hồ Tây (chỉ cách có một con đê - thành, cũng chính là vòng tường đất "La Thành" (đại La Thành) thời Lý Trần mà nay là đường Hoàng Hoa Thám.

Vậy, có thể cho rằng: Quê gốc của Lý Thường Kiệt là ở đất phía nam Hồ Tây, đồng thời là mạn tây (ngoài cửa Tây) thành Thăng Long. Cái tên Bình Sa (diễn nôm là "Bãi cát phẳng") của đất ấy, gần với đặc trưng cảnh quan tự nhiên (thiên nhiên) của nơi này thuở sơ khai nên có thể là địa danh cổ truyền và hồi cổ,  về và từ thời "tiền Thăng Long" khi đất kinh kỳ còn chưa được mấy khai phá (khai thác). Còn, tên Thái Hòa (các cổ thư quan phương, chép kèm với tên này, đều dùng rõ chữ "phường"), gần với văn hóa phong kiến (cung đình), nên có thể là địa danh - cũng của nơi này - thuộc về thời "đô thị hóa trung cổ" (cung đình hóa): "Thời kỳ Thăng Long" cả hai địa danh đều thuộc về, và chỉ về, một địa điểm (địa bàn): quê gốc của Lý Thường Kiệt.

(Chính từ chỗ này mà ta hiểu ra được: vì sao, sách" Tây Hồ chí" (và "Long thành vật sự") lại chép rõ về con đường mà ngày xưa, Lý Thường Kiệt đã thường đi để theo học thầy Lý Thường Kiệt đã thường đi để theo học thầy Lý Công ẩn ở trường Bái Ân , là: men theo bờ nam Hồ Tây; và, vì sao, lời kể dân gian vùng núi Cung, lại giỉ thích rằng: Sở dĩ núi có tên này, là bởi vì ngày xưa, ở đây có cung điện (phủ đệ, dinh thự) của một vị quan lớn lắm!)

Việc tìm hiểu con đường (cung cách) dẫn đến chỗ Lý Thường Kiệt trở thành người - Thăng Long - gốc từ nghìn năm trước, sẽ (và đã) là một trường hợp vừa điển hình, vừa hiếm lạ - để nghiên cứu ra được nhiều vấn đề dân số học Thăng Long (trong đó, có vấn đề về nguồn gốc và đặc trưng cư dân đô thị này) vào lúc mới định đô.

Hiện có một đầu mối - đúng hơn: một đầu mối kép - rất quan trọng, có thể giúp vào việc lần giở (mở) lại con đường ấy. Đó là: người cha của Lý Thường Kiệt, không phải họ Lý, mà là họ Ngô, và: ông họ Ngô này, có nhiều liên quan đến đất Thanh Hóa.

Tất nhiên các tài liệu, đều chép: họ tên người cha của Lý Thường Kiệt là Ngô An Ngữ, và: vào năm 1031 (lúc ấy, Lý Thường Kiệt 13 tuổi - "tuổi ta", tức: tính cả "tuổi mụ") ông họ Ngô này - giữ một chức quan võ của Lý triều - đã vâng mệnh vua Lý Thái Tông, từ Thăng Long, vào "đi tuần" miền Thanh Hóa, và mất tại đó.

Sự việc này, lâu nay, chỉ được sử sách khai thác ở khía cạnh trình bày về nhân cách Lý Thường Kiệt, tức chỉ quản g bá cho tính hiếu thảo của chú bé Ngô Tuấn - tên thực của Lý Thường Kiệt, khi ấy - đã "đêm ngày thương khóc" cái chết của cha đẻ mình, như thế nào. Nhưng gần đây, với việc dòng họ Ngô hiện đại, đã lập và công bố "tộc phả họ Ngô" (với nhiều chi tiết, tình tiết) phong phú, thú vị - tuy một số trong đó cũng còn cần được kiểm chứng giám định thêm) ta đã có thể nhận ra nhiều manh mối hơn, của sự việc này, ấy là căn cứ vào "Tộc phả họ Ngô" - Ngô An Ngữ, đầu tiên, đã theo giúp Lý Công Uẩn, khi ông này còn (và mới) là một quan chức triều Tiền Lê ở Hoa Lư, do đó, khi có việc dời đô (Hoa Lư) và định đô (Thăng Long) năm 1010, Lý Công Uẩn đã mang theo cả Ngô An Ngữ về triều đình Thăng Long. Trở thành người Thăng Long (một đời), Ngô An Ngữ đã lấy vợ (bà này, họ Hàn) là người phường Thái Hòa khi ấy, và, 9 năm sau ngày định đô - tức: năm 1019 - thì sinh hạ được cậu con trai đầu lòng, hết sức khôi ngô, tuấn tú, cho nên (bèn) đặt tên là: Ngô Tuấn - cái tên đầu tiên và chính gốc của Lý Thường Kiệt, trước khi được vua Lý và Lý triều ưu ái ban cho (đổi gọi) cái tên này.

"Tộc phả họ Ngô" còn cho biết: Ngô An Ngữ đã từ Thanh Hóa mà đi theo Lý Công Uẩn! Như vậy, ông này là một "chuyên gia" về Thanh Hóa. Và vì thế (nhờ thế) vẫn tiếp tục phục vụ triều đại Lý Thái Tông với tư cáhc này Ngô An Ngữ mới đuực phái đi tuần" (hoặc: "tuần kiểm") miền Thanh Hóa 1031, và mất ở đó.

Vì sao Ngô An Ngữ có nhiều gắn bó (liên quan) đến Thanh Hóa vậy? Tiếp tục tra tìm trong "Tộc phả họ Ngô", ta thấy ra một điều quan trọng và thú vị: ông họ Ngô này, chính là trực hệ (thế hệ sau) của ông họ Ngô khác, vốn đã được chính sử nhiều lần nói đến, với tư cách và hành trang của một nhân vật lịch sử đích thực: Sứ quân Ngô Xương Xí, từng - trong thời "Loạn Thập nhị sứ quân" (giữa thế kỷ X) - có căn cứ/và hùng cứ/ở đất Bình Kiều - Thanh Hoá.

Ngược được từ Ngô An Ngữ lên tới Ngô Xương Xí, thì, đến nay, ta đã có thể - dễ dàng và may mắn - gặp được chính sử. Bởi vì, tất cả các tài liệu sử cũ đều lưu chép: Ngô Xương Xí là con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập - hoàng tử trưởng của Ngô Vương Quyền. Từ những rối ren của vương triều Ngô sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), rồi Ngô Xương Ngập cũng mất (năm 944), rồi Ngô Xương Ngập cũng mất (năm 954), và em của ngô Xương Ngập (chú của Ngô Xương Xí) là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn rồi cũng mất (năm 965), mở đầu/ và ở trong/cục diện "Loạn thập nhị sứ quân", Ngô Xương Xí đã tự mình cũng trở thành một "sứ quân", tranh giành quyền lực với các "sứ quân" khác, nhờ (dựa vào) căn cứ Bình Kiều của mình ở Thanh Hóa.

Vì sao, trong khi các "sứ quân" khác, đều chiếm lĩnh và dựa vào các căn cứ của họ ở ngoài miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thì riêng Ngô Xương Xí lại lựa chọn/và chạy vào/trong đất Thanh Hóa?

Dễ dàng giải đáp điều này: Bởi vì, "bà nội" (Dương Thị Như Ngọc) và cả "ông trẻ" (Dương Tam Kha - em trai bà nội nữa), rồi "cụ ngoại" (Dương Đình (Diên) Nghệ) nữa, của Ngô Xương Xí, đều là người ở/và lập nghiệp từ/Thanh Hoá: Đất Dương Xá (làng Giàng)! và, đây mới là điều quan trọng nhất: chính ông nội của Ngô Xương Xí (tức: "cụ nội" của Ngô An Ngữ, và "kỵ nội" của Ngô Tuấn - Lý Thường Kiệt) là Ngô Quyền (Ngô Vương Quyền) tuy quê gốc ở Đường Lâm (Sơn Tây) nhưng cũng lại chsinh là rể đất Thanh (con rể của Dương Đình (Diên) Nghệ) và cũng đã từng từ đây mà lập nghiệp: đem lực lượng (của họ Dương) từ đất Thanh ra Bắc, mở "chiến dịch kép" - tiêu diệt kẻ phản bội Kiều Công Tiễn ở Đại La và cả phá quân xâm lược Nam Hán ở Bạch đằng, năm 938!

(Roc ra điều này, ta sẽ lại có cơ sở và tiền lệ, để hiểu: vì sao mỗi khi đất Thanh Hóa có điều bất ổn (dưới triều đại Lý Thái Tông), hoặc cần quản lý tốt (dưới triều đại Lý Nhân Tông), thì ở tất cả những trường hợp ấy, đến lượt Lý Thường Kiệt: Ông đều được phái đi từ Thăng Long, để "thanh tra, vỗ về", hoặc "trị nhậm, mở mang", và đều "hoàn thành nhiệm vụ" rất tốt đẹp và trở về kinh kỳ.

Lý Thường Kiệt (Ngô Tuấn), vậy, không những là người Thăng Long gốc (đời thứ hai), mà còn là cháu chắt chút (đời thứ năm) của cụ Tổ ("Kỵ") Ngô Quyền.

Con đường để Lý Thường Kiệt trở thành một nhân vật lịch sử lớn, vậy là đã trải qua một hành trình trăm năm - dài từ thê skỷ X chuyển qua thê skỷ XI - và đã dẫn qua nhiều miền đất nước - từ quê nội Sơn Tây, qua quê ngoại Thanh Hoá, mà về đến Thăng Long. Đấy là con người biết kế tục truyền thống (tinh anh) của dòng họ, và biết kế tục giá trị (tinh hoa) của nhiều nguồn, để mà một khi đã trở thành người thị dân kinh đô, thì ở trên "đất rồng thiêng", biết hưởng dụng (khai thác) các vị thế thuận lợi của và từ chốn kinh kỳ vào lúc mới  định đô và khai sáng vương triều, nỗ lực lập trí và hành động, do đó, thăng tiến mạnh mẽ được cho cuộc đời và sự nghiệp bản thân, đồng thời, thăng hoa đẹp để được cho chốn quê hương kinh kỳ của đất nước này.

                                             (Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số 7/2002)


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2009, 08:25:38 am
Bác caytrevietnam trận Chi Lăng thì mình nhớ không nhầm đâu có cây cầu nào đâu nhỉ ? Chỉ nói là Liễu Thăng dẫn quân đuổi theo sa vào mai phục bị chém đầu thôi chứ bác  ??? ???

Trong Đại Việt Sử ký toàn thư thì không nhắc đến cây cầu, nhưng theo các bộ sử khác của Việt Nam và Trung Quốc, thì đều có nói đến "cầu". Việt sử Thông giám cương mục dẫn lại theo Thông giám tập lãm: "Liễu Thăng định vượt qua cầu, cầu bị hỏng nên không tiến lên được". Còn Minh sử, Hoàng minh thực lục, Minh sử kỷ sự bản mạt và Đông lý văn tập thì nói Liễu Thăng đã vượt qua câu, cầu bị hỏng nên hậu đội không tiến lên được. Như vậy, dù còn chưa thống nhất ở chi tiết Liễu Thăng đã qua cầu hay chưa, nhưng đều có nhắc đến cây cầu trên đường tiến quân của quân Minh, gần nơi ta mai phục và giết được Liễu Thăng.

Còn tại sao lại có cây cầu này? Đó là vì: núi Mã Yên nằm ở phía nam cánh đồng Chi Lăng, quanh chân núi là cánh đồng lầy lội, hiện nay nhân dân địa phương còn gọi là Nà Pung, Nà Lúm (Tiếng Tày có nghĩa là đồng lầy, đồng thụt) muốn qua phải bắc cầu mới đi được.

Chi tiết hơn bác có thể xem trong sách Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, phần nói về chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: copbien51 trong 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:52:33 am
Lê Văn An (?-1437)
Danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, công thần khai quốc nhà Hậu Lê. Ông quê ở làng Mục Sơn (nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Ông đi theo Lê Lợi từ ngày đầu, và tham dự hội thề Lũng Nhai (1416). Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra (1418), ông đã chỉ huy đội quân Thiết Đột, đánh trên trăm trận lớn nhỏ, lập được nhiều công lao rất dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Năm 1424, ông đã tham gia một số trận đánh quan trọng như: trận Khả Lưu, trận Tân Bình – Thuận Hóa; trong trận Khả Lưu, ông xung phong đi đầu hãm trận, đánh lui quân Minh. Năm 1425, ông được cử cùng các tướng Lê Ngân, Lê Bôi mang thuyền tiếp ứng, phối hợp với Trần Nguyên Hãn đánh được hai thành, sau đó vây hãm và dụ hàng giặc ở thành Nghệ An (1425). Năm 1427, ông cùng với tướng Lê Lý (tức Nguyễn Lý) được lệnh đem 3 vạn quân hỗ trợ cho tướng Lê Sát ở Chi Lăng – Xương Giang. Ông đã lập công lớn trong trận đánh Xương Giang (11/1427).
Sau ngày toàn thắng, với những công lao trên ông được phong Nhập nội thành tư mã, hàm Suy trung Bảo chính công thần (1428). Năm 1429, khi Lê Thái Tổ sai khắc biển công thần, ông được phong làm Đình Thượng hầu.
Năm 1432, ông lại được gia phong làm Tán trị hiệp mưu công thần, Nhập nội kiểm hiệu Đại tư không, Bình chương quân quốc trọng sự.   
Năm 1434, nhân có biến loạn ở Lạng Sơn, ông được cử chức Tư mã Bắc đạo, đem quân đi đánh dẹp. Lập công tuy được thăng chức Nhập nội Đại tư mã, Đô đốc Tổng quản Bắc đạo nhưng ông vẫn bị chê trách  (vì đã bắt bớ tràn lan, không làm yên lòng dân).
Đương thời, ông là người hoà nhã, giản dị trong số các võ tướng triều đình, hay lấy lễ tiếp đãi các bậc sĩ đại phu.
Năm 1437, ông mất, được truy tặng Tư Không, thụy là Trung Hiến.
Năm 1484, ông được Lê Thánh Tông truy tặng là Thái phó, Khác quận công.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: copbien51 trong 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:55:35 am
Hoàng Đình Ái (1527-1607)
Là tướng nhà Hậu Lê, có công giúp nhà Lê trung hưng. Ông sinh ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Hợi (1527), là người Biện Thượng, huyện Vĩnh Phúc (nay là thôn Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Ông là con nhà cậu của Lượng Quốc Công Trịnh Kiểm.
Ông ra đời khi nước Đại Việt bị chia cắt trong thời chiến tranh Lê-Mạc. Khi ông lớn lên, đất Thanh Hoá quê ông đã thuộc về nhà Lê. Ông đầu quân theo giúp nhà Lê trung hưng và trở thành danh tướng trong cuộc chiến tranh này.
Năm 1557, ông cùng Phạm Đốc phục binh phía Bắc sông Mã chặn đánh quân Mạc tiến từ vùng Hòa Bình vào căn cứ của quân Lê Trịnh, trận này quân Lê thắng lớn.
Năm 1561 sau khi mất vùng Sơn Nam, phụ chính nhà Mạc là Mạc Kính Điển vượt biển đánh vào vùng duyên hải Thanh Hóa. Trước sức mạnh của quân Mạc, Tây Đô có nguy cơ bị thất thủ. Thái sư Trịnh Kiểm điều ông về chặn đánh cuộc tiến công của quân Mạc, giữ vững được thành đô, đuổi quân Mạc ra khỏi đất Thanh Hóa.
Năm 1570, Trịnh Kiểm vừa mất, anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau tranh quyền hành, tướng sĩ không hòa thuận, nhân dân hoang mang. Nhân cơ hội đó quân Mạc do Mạc Kính Điển đem 10 vạn quân chia làm 5 đạo với 700 chiến thuyền vào đánh Thanh Hóa quyết diệt quân Lê Trịnh.
Thế quân Mạc khi đó rất mạnh. Trịnh Cối không thể đương nổi đã dẫn bộ tướng đem quân hàng Mạc. Hoàng Đình Ái liền gọi các tướng Lê Khắc Thận, Nguyễn Hữu Liêu, Phạm Văn Khoái... vào yết kiến nhà vua Anh Tông và tôn Trịnh Tùng làm đô tướng để chống quân Mạc.
Dưới thời Mạc Kính Điển cầm quân, quân Mạc rất mạnh và thường chiếm ưu thế trước quân Lê. Mạc Kính Điển cùng tướng Nguyễn Quyện nhiều lần cầm quân vào đánh Thanh Hoá, Nghệ An.
Năm 1575, Kính Điển đem quân đánh Thanh Hoá. Quân Mạc mạnh, tiến đến đâu, quân Lê đều không dám chống lại, trốn xa vào núi rừng để trốn tránh. Kính Điển tự đem đại binh tiến đánh các sông ở Yên Định và Thuỵ Nguyên, lại chia quân cho Mạc Ngọc Liễn tiến đánh các huyện Lôi Dương và Đông Sơn.
Tháng 8 năm đó, ông nhận lệnh của Trịnh Tùng thống suất các tướng Đỗ Diễn, Phan Văn Khoái đem quân đi cứu các huyện Lôi Dương, Nông Cống, Đông Sơn, đóng quân ở núi Tiên Mộc. Ông phối hợp với Trịnh Tùng và thái phó Vũ Sư Thước đuổi được quân Mạc rút về.
Tháng 8 năm 1577, Mạc Kính Điển lại đánh sông Đồng Cổ. ông lại nhận lệnh cùng Nguyễn Hữu Liêu đem quân chặn phá quân địch, đánh nhau với quân Mạc ở Hà Đô. Quân Mạc lại phải rút lui.
Năm 1581, quân Mạc lại đánh vào Thanh Hóa. Hoàng Đình Ái thống lĩnh quân tướng chia làm 3 đạo, Nguyễn Hữu Liêu làm tiên phong, tự mình đốc đại binh làm chính đội, Trịnh Thái làm hữu đốc, Trịnh Đồng làm hậu đốc đánh quân Mạc suốt dọc sông Mã, trận này diệt hơn 600 quân, bắt sống 1 tướng Mạc, quân Mạc phải tháo chạy ra Bắc.
Sau khi Mạc Kính Điển chết (1580), nhà Mạc ngày một suy yếu, quân Nam triều ngày càng thắng thế. Tháng 12 năm 1591, Trịnh Tùng dẫn đại quân tổng tiến công vào Thăng Long, chia quân làm 5 đạo. Hoàng Đình Ái cùng Trịnh Đồng lĩnh đội thứ 2. Cuối tháng chạp năm đó, quân hai bên đụng nhau một trận lớn, quân Lê đại phá quân Mạc.
Sang năm 1592,ông theo Trịnh Tùng đánh bại quân Mạc nhiều trận lớn nữa, chiếm được kinh thành Thăng Long. Vua Mạc là Mậu Hợp bỏ trốn không lâu bị bắt và bị giết. Thân tộc họ Mạc chạy lên phía bắc tiếp tục cầm cự.
Ông trở thành một trong các công thần có công lớn nhất trong việc giúp nhà Lê trung hưng, khi đó ông đã 66 tuổi.
Tình hình Bắc bộ chưa ổn định do vây cánh họ Mạc còn nhiều. Từ năm 1593, Hoàng Đình Ái tiếp tục ra quân đánh dẹp các lực lượng họ Mạc chống đối, tiêu diệt nhiều cánh quân Mạc.
Tháng 3 năm 1598, ông lại đem quân đánh dẹp tàn quân Mạc ở Lục Ngạn, bắt được Mạc Kính Luân, thu 35 chiến mã và nhiều khí giới. Tháng 6 năm ấy, ông lại đến thành Lạng Sơn cử đô đốc Lâm quận công Trần Phúc đem 1.000 quân đến châu Thoát Lãng bắt được con trai Mạc Kính Cung, còn Mạc Kính Cung chạy sang Long Châu (Trung Quốc).
Tháng 3 năm 1601, con Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung lại mang quân về đánh Hải Dương. Lão tướng ông lúc đó đã 75 tuổi, vẫn nhận lệnh cầm quân đi dẹp. Ông đánh đuổi Kính Cung chạy lên Lạng Sơn.
Tháng 3 năm 1597, nhà Minh sai ủy quan là Vương Kiến Lập đến trấn Nam Giao đòi lễ cống và hội khám (diễu binh). Ngày 28 tháng 3 vua Lê Thế Tông thân đốc hữu tướng Hoàng Đình Ái, thái úy Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Liêu cùng tả hữu đô đốc 7, 8 viên, voi và 5 vạn quân đến trấn Nam Giao đề phòng khi mở cửa quan, hội khám quân Minh tràn sang giúp phía Mạc lưu vong bắt vua, hiếp tướng. Hoàng Đình Ái tâu với Trịnh Tùng:
Trịnh Tùng liền trao cho Hoàng Đình Ái thanh gươm “An quốc” tại cửa ải Nam Quan, ủy quan Vương Kiến Lập cùng tàn quân Mạc trông thấy quân Lê đông đúc, binh tướng oai hùng, lẫm liệt khí thế phải lẳng lặng từ bỏ những ý đồ đánh chiếm. Cuộc hội khám cử hành đúng nghi lễ, nhà Minh phải công nhận nhà Lê, bỏ nhà Mạc.
Về vùng đất huyện Kim Thành, Hải Dương, ông đã chiêu dụ nhân dân trở lại làm ăn sinh sống, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, xin vua cấp thóc giống, miễn thuế 3 năm, mở mang học hành cho con trẻ... Do đó miền Hải Dương dần dần trở lại bình yên.
Cuối năm 1607, ông ốm nặng. Ông mất ngày 15 tháng Chạp năm Đinh Mùi (1607) tại nội thành Thăng Long, thọ 81 tuổi. Vua Lê Kính Tông ra chiếu chỉ cả nước để tang 5 ngày, triều đình bãi triều 5 ngày, lấy dân 10 xã làm lính giữ phần mộ.
Để nhớ công đức của ông, sau khi ông mất nhân dân Mạc Xá, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương đã lập đền thờ “Chiêu cảm Đại Vương” để thờ ông.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: kientttt trong 01 Tháng Tám, 2010, 10:21:23 am
Bạn nói đúng tác phẩm 12 sứ là tiểu thuyết lịch sừ,ở cuối quyển 2 tướng Đoàn Nhữ Hài đã dùng dao truy thủ của Quân sư Lê Thảo giao cho quyết đấu với tướng Lê Hoạt Hoàn của Nam Tấn Vương và đã bị Lê Hoạt Hoàn dùng kiếm đâm vào hông,vết thương này đã đã dẫn đến cái chết của tướng Đoàn Nhữ Hài Cám ơn vì những thông tin mà bạn vừa cho biết

Bạn cho tớ hỏi tiểu thuyết này của tác giả nào thế? Hồi trước tớ có tình cờ đọc một cuốn gì đó của ông Trần Đại Sỹ, thấy kinh hoàng vì mức độ xào nấu của tiên sinh này quá. Thành ra tớ hay có định kiến là các nhà văn Việt Nam viết tiểu thuyết trên nền lịch sử vẫn cứ bị kênh như mặc complet đi mượn ấy, không nhuyễn, không thật (nghĩa là tạo ra được không khí lịch sử và tạo được "lớp bụi thời gian" trên tính cách hành động của nhân vật). Một ví dụ nữa là "Tây Sơn bi hùng truyện", đọc nhiều đoạn như ăn cơm sạn ấy. Quả thực lịch sử Việt Nam rất bi tráng, nhiều thăng trầm, tiếc là nhà văn Việt Nam chưa tạo ra được tác phẩm nào tương xứng. Tớ vẫn ước ao có ai viết được một cuốn tiểu thuyết về lịch sử Việt Nam hay như "Bằng lửa và gươm" hay "Những ngôi sao Eghe". Nhưng chắc còn phải ước dài dài nữa.
Cuốn 12 sứ dược xuất bản làm 2 lần,1 lần trước năm 1975 ra được 3 tập theo như dự định của tác giả là 12 tập.Sau 1975 ra đủ 12 tập nhưng do Trần Đại Sỹ đứng tên tác giả.Những người đã từng đọc 12 sứ trước năm 1975 đều phải công nhận văn phong từng dòng từng chữ của 3 tập đầu y chang sách đã xuất bản trước 1975 nhưng kể từ tập 4 trở đi thì văn phong khác hẳn câu cú đọc cứ dựng tóc gáy cả lên.Nói sơ qua chắc seahawk1 cũng đã hiểu.Tôi đọc 12 sứ là ấn bản của trước năm 1975,Tướng ĐNH tử thương ở cuối tập 2 do bị Lê Hoạt Hoàn tướng của Nam Tấn Vương dùng kiếm đâm vào hông mà chết(Lê Hoạt Hoàn chứ không phải Lê Hoàn đâu seahawk1 nhé)

Bộ tiểu thuyết Loạn 12 sứ quân không phải do Trần Đại Sỹ viết mà nó của tác giả Vũ Ngọc Đĩnh
Hiện tại theo minh được biết truyện của tác giả này về đề tài lịch sử có 4 cuốn các bạn có thể tìm đọc:
1. Loạn 12 sử quân
2. Ứng vận thần vũ Lê Đại Hành hoàng đế phá Tống
3. Băn rụng mặt trời - thời nhà Trần chống nhau với Nguyên Mông
4. Hào kiệt Lam Sơn



Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: bhavaghita trong 02 Tháng Chín, 2010, 11:17:23 am
thời Nam bắc triều, lịch sử chúng ta ít được biết nhưng đó là thời chúng ta xuất hiện nhiều hảo thủ và nói thật thời đó hay không kém thời Tam Quốc. Nếu như thời chiến quốc của Trun Hoa có quỷ cốc tiên sinh với 4 học trò chống nhau là : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi. Thì ở Thời Nam Bắc triều chúng ta cũng có Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm với những học trò tài giỏi cả về văn lẫn vỏ nhưng lại theo 2 phe chống nhau.
về văn ông có: Phùng Khắc Khoan và Lương Hữu khánh. hai người này là học trò của ông nhưng lại theo nhà Lê trong khi ông lại là tôi của nhà Mạc và 1 điểm lý thú là 2 người này 1 người theo tích dân gian là em cùng mẹ với ông còn 1 người là con của thầy: bảng nhãn lương Đắc Bằng. 2 người này theo nhà Lê và trở thành cột trụ trong triều đình Lê Trịnh sau này.
ông còn có học trò là Trạng nguyên Giáp Hải người trở thành trụ cột của nhà Mạc và nổi tiếng với mà tiếp sứ Nhà Minh với bài thơ "Vịnh Bèo" thể hiện rõ ý chí của ta và cho nhà Minh biết là Nước nam cũng có người tài, không dễ gì chiếm được.
về Võ ông có 2 học trò là con trai của người bạn thân là Trạng nguyên Nguyễn Thiến. 2 người học trò đó là Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn. Trạng nguyên Nguyễn Thiến là bạn thân của Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc Nguyễn bỉnh khiêm còn chưa có công danh ông ở nhà trạng nguyên Nguyễn Thiến và dạy 2 người con của Nguyễn Thiến. sau nhờ sự động viên của Nguyễn Thiến ông đã đi thi và đỗ trạng làm quan cho nhà Mạc. lúc này thế lực của Nguyễn Thiến trong triều Mạc rất lớn là thông gia với thái tể Lê Bá Ly. ông bị 2 sủng thần của nhà Mạc là Phạm Quỳnh và Phạm Dao xàm tấu nên buộc phải đem theo toàn gia quyến và 2 con hàng nhà Lê. Sau khi ông mất Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới sự đồng ý của nhà Mạc đã kêu gọi 2 anh em Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn về. Cả 2 anh em đều được nhà Mạc trọng dụng vua Mạc gả con gái cho Nguyễn Quyện và sau này Nguyễn Quyện trở thành danh tướng đệ nhất triều mạc chỉ sau mỗi Mạc Kính Điển. Chỉ vì Mạc Hậu Hợp quá ham nữ sắc, tính cướp vợ của bùi Văn Khuê khiến ông này đem toàn bộ thủy quân hàng nhà Lê nên nhà Mạc bị tổn thương nặng nề 1 mình Nguyễn Quyện lúc đó đã 80 tuổi không còn đủ sức chống lại khả năng hành quân như vũ bảo của Trịnh Tùng nên Nhà Mạc mất, 2 cha con Nguyễn Quyện bị Trịnh Tùng hại chết khi trong nhà lao.
1 Người ở Nhà Mạc rất đáng được kính trọng nửa là Mạc Ngọc Liễn. ông này là con của tướng quân Nguyễn Kính sau hàng Mạc Đăng Dung nên được ban quốc tính. Mạc ngọc Liễn chính là ngọn nến cuối cùng còn cháy sáng của nhà Mạc. lúc nhà Mạc bị diệt ông là người theo kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa tôn thất nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và tồn tại được vài đời. Cuối đời ông đã viết bức tâm thư gởi cho Vua nhà Mạc là Mạc Kính cung :" dù cho sau này có chuyện gì đi nửa tuyệt đối không được viết thư cầu cứu nhà Minh làm chuyện cõng rắn cắn gà nhà có tội ngàn đời với nhân dân xã tắc" đó là hành vi của bậc quẩn tử vĩ đại, nhà Lê không bao giờ bằng được. lúc đầu thì Nguyễn Kim, Trịnh kiểm cho người gởi thư cho Nhà Minh cầu cứu khiến cho nhà Minh cử 10 vạn quân đến sát biên giới khiến cho Mạc Đăng Dung phải thân chinh tự trói mình lên biên giới điều trần với nhà Minh. trả cho tụi nó 1 số đất mà trước đây ta đã chiếm. Nếu Mạc đăng Dung không chịu khuất thì nhà Minh kéo quân vào, quân Lê từ thanh Hóa đánh ra, tụi nhà Minh sẽ mượn tiếng phò thiên tử nhà Lê tấn công nhà mạc lúc đó thì thảm họa Hồ Quý Ly sẽ 1 lần nửa tái diễn. Nhưng lúc đó thực lực nhà Mạc rất mạnh, quân Minh dưới thời Gia Tĩnh đả suy yếu chỉ dám hù dọa chứ không dám tiến công và Mạc Đăng Dung chấp nhận nhún mình nên mới giúp cho đất nước tránh họa xâm lăng. Sau này hậu thế nhà Lê là Lê chiêu thống khi mất quyền lại 1 lần nửa cầu quân Thanh sang xâm lược nước ta. Không biết lão có hổ thẹn không khi nhớ đến Triều đại mà nhà Lê gọi là Ngụy triều có 1 bề tôi khi mất tất cả vẩn nhớ đến non sông xã tắc.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: linhtapsu trong 02 Tháng Chín, 2010, 03:27:04 pm
Thời Nam Triều -Bắc Triều thì Trịnh Tùng có lẽ là 1 bản sao của Tào Tháo , còn Mạc Kính Điển có thể ví như Gia Cát Lượng  :P :P!!


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 12:43:18 am
                           
Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân_Yết Kiêu

                                                (http://game.gate.vn/Images/Editor/image/!NguHoTuong/03-2012/5/yet_kieu.jpg)



                                                               1.Vị danh tướng xuất thân từ cảnh cơ hàn

Về huyện Gia Lộc, cách thị trấn khoảng 3 km về phía tây, đi qua những cánh đồng lúa đang trổ bông đón gió, ta sẽ đến Đền Quát, tại Hạ Bì (vốn là một làng chài ở tả ngạn sông Đáy), nơi thờ Yết Kiêu, một danh tướng tài đức song toàn, đặc biệt là tài thuỷ chiến trời Trần

Ông tên thật là Phạm Hữu Thế(1242-1301). Quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Phúc (nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu). Con ông Phạm Hữu Hiệu, người thôn Hạ Bì và bà Vũ Thị Duyên, người huyện Thanh Hà. Cha làm nghề chài lưới bên sông Quát, mẹ bán hàng nước ở bến đò.
Cuộc sống bần hàn của một gia đình ngư dân nghèo khó và sớm mồ côi cha đã khiến Phạm Hữu Thế rất vất vả, phải chài lưới, cào hến giúp mẹ kiếm ăn ngay từ nhỏ. Cuộc sống trên sông nước đã khiến ông bơi lội rất giỏi.

Sau này, trong năm tuỳ tướng tài giỏi và thân tín của Trần Hưng Đạo,có: Cao Mang, Đại Hành, Nguyễn Địa Lô, Dã Tượng và ông.
Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thế kỷ XIII, ông chuyên dùng tài bơi lặn của mình để xâm nhập sâu vào đội hình địch để đục thủng đánh chìm các chiến thuyền, mang lại nhiều chiến công vang dội đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến. Cũng bằng tài bơi lặn của mình mà ông đã nhiều lần xông pha nơi trận tiền, giữa đội hình địch để cứu nguy và bảo vệ cho chủ tướng. Chính ông đã bắt sống tên phù thủy tay sai giặc lợi hại là Nguyễn Bá Linh.
.Đã có lần Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ướm hỏi về việc lại ngôi vua từ ngành thứ về cho ngành trưởng .

Hưng đạo Đại vương thử hỏi:

“…Khi phụ thân ta (tức Trần Liễu) sắp mất có dặn bảo ta phải lấy cho được thiên hạ, thì Người mới an lòng nhắm mắt. Nhà ngươi thấy thế nào, có nên làm thế không?..”

Yết Kiêu thưa:

“…Làm vậy tuy có phú quý nhất thời mà ô danh muôn thuở. Tôi muốn làm quan hầu cho Đại vương đến lúc già chết, chứ không muốn làm quan với ông vua bất trung…”
Hưng đạo vương khen gợi và từ ấy rất trọng đãi...

Yết Kiêu mất ngày 28 tháng chạp năm Ất Sửu (1303), hưởng thọ 61 tuổi. Khi ông mất, vua Trần cho lập đền thờ ở bờ sông Hạ Bì  quê ông là đền Quát. Khu đền đã trải qua hơn 700 năm, đến thế kỷ XVII- XVIII  được tôn tạo khang trang và tu sửa nhiều lần vào triều Nguyễn. Khu di tích đền Quát được xếp hạng quốc gia (28-1-1989).

Hội đền Quát được tổ chức long trọng và rất lớn hàng năm vào rằm tháng giêng và rằm tháng tám.. Lễ hội có tục bơi thuyền chải nam, nữ. Yết Kiêu được tôn là ông tổ của ngành bơi lặn nước ta.

Ở Hải Dương, cùng với đền Quát còn có nhiều nơi thờ phụng Yết Kiêu, nhất là những nơi ông đánh trận ngày xưa. Đặc biệt tại làng chài có tên Nam Hải, thuộc xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng có một ngôi đền do nhân dân lập lên để thờ Yết Kiêu (tức Phạm Hữu Thế). Tại đây, nhân dân coi ông là người khai thiên lập địa, là vị Thành hoàng của cả xã. Vì hầu hết người dân Kênh Giang hiện nay vẫn giữ nghề sông nước, nhưng đã vươn xa hơn ra ngoài tỉnh và ra cả biển. Điều đặc biệt tại ngôi đền này còn lưu truyền được một vật vô giá, đó là chiếc mũ chiến cổ bằng đồng rất nặng của chính Yết Kiêu đội khi đi đánh trận. Lễ hội tưởng nhớ Yết Kiêu tại đây diễn ra vào 15- Giêng âm lịch hàng năm, cũng thu hút rất đông du khách thập phương tìm về tham dự.

Tại lễ hội có lễ tế công chúa Nguyên triều, và phải là những cô gái chưa chồng mới được tham gia lễ rước.(đọc phần sau sẽ rõ).

(http://vhttdlhd.vn/PublishingImages/Thethao/4.gif)
                                                                                  Thi bơi trải trong lễ hội.

Về danh tướng Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, đời sau có thơ vịnh rằng:
“Hồ Hải xông pha tỏ ý mình

Không nề lặn lội cứu sinh linh

Đáy nước khoan thuyền bắt Bá Linh

Cướp vía Thoát Hoan khi đắc báo

Giáp oai Hưng Đạo lúc hành binh

Một mai phá giặc thành công lớn

Rạng vẻ trời Nam một tướng tinh”.

còn tiếp....


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 12:56:33 am
                                         2.Thiên tài nhuốm màu huyền thoại cùng những chiến công hiển hách

                                                  (http://baohaiduong.com.vn/Upload/MU%20CO-9.jpg)
                                                      Chiếc mũ đồng cổ được cho là của danh tướng Yết Kiêu

Tương truyền, năm 15 tuổi, vào một buổi sáng tinh mơ, Phạm Hữu Thế ra sông gánh nước. Sương trắng mù mịt nổi khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu. một đen một trắng húc nhau chí mạng. Con trâu đen thua nhưng cuc, đánh sừng rất hiểm. Con trâu trắng phi phàm, húc khỏe nhưng ra đòn nhởn nhơ. Vốn có sức khỏe vật được trâu, Hữu Thế hạ đôi thùng gánh nước, dùng đòn ống vụt vài miếng thượng hạ,ý đuổi đánh, can ngăn. Trâu đen dính đòn chạy re, lao vào làng. Trâu trắng né đòn như người, một cú xiên rất hiểm làm trâu trắng ngã lăn và kỳ lạ thay tan thành ánh nắng mờ ảo rồi biến mất. Chỗ đất trâu đứng tìm thấy hai chiếc lông. Cầm lên ngắm, tự nhiên Hữu Thế thấy máu bừng lên mặt. Ông chạy ra ao, lao xuống nước, nước rẽ đôi, lên bờ thấy lông không ướt, có lẽ nó cũng muốn tan trong nắng. Hữu Thế vội nuốt vào bụng. Từ đó thân thể cường tráng, trí lực phi thường, bơi lội dưới nước như đi trên đất bằng .

Đêm ấy về nhà, ông kể với mẹ. Vũ Nương bảo đó là chuyện đại cát. Hai mẹ con đều mơ một giấc mơ hệt nhau. Sáng ra kể, xóm làng đều cho là lạ.Giấc mơ đó là, hai mẹ con được đón một đôi trai thanh gái lịch, họ vào nhà Vũ Nương, vách đất, nền đất biến thành lâu đài. Cái ao dào dạt sóng vỗ thành con sông dài tít tắp. Trời không trăng vẫn rực sáng. Ở gốc xoan, một con trâu trắng thừng xuyên mũi buộc chặt gốc cây. Hữu Thế dụi mắt bảo mẹ: “Đúng con trâu sáng con gặp đây”. Người con trai và cô gái bảo: “Ta là Ngưu Lang và Chức Nữ, nay dịp Ngâu chúng ta gặp nhau, không chăn trâu cho trời được, phải buộc mũi không nó đi khắp bầu trời biết đâu mà tìm”. Vũ Nương hỏi: “Chúng tôi ở đâu?”. Ngưu Lang bảo: “Lúc sáng tôi đi tìm trâu gặp con trai bà, con bà không làm hại trâu. Tôi muốn mời hai mẹ con bà lên trời chơi để trả ơn. Đây là đào tiên vườn Tây Vương Mẫu, tôi biếu bà một giỏ. Còn con trai bà sau này sẽ được lưu danh trong quốc sử vì có nhiều công lao giúp nước”. Hữu Thế tò mò hỏi: “Sông gì sáng thế?”. Người con trai bảo : “Cậu sẽ nổi danh vì sông nước mà không biết sông này ư!”. Nói rồi người con trai vỗ tay cho con sông cuộn sóng cao ngất: “Đó là sông Ngân Hà. Ta sẽ còn bảo trâu thần, cày thần xuống giúp đất Bàng Hà sau vài bốn trăm năm nữa”. Chợt trên sông Ngân rợp tiếng quạ kêu. Chúng vừa bay đầy trời vừa đan kết thành cây cầu Ô Thước. Ngưu Lang nhẹ nhàng bảo Chức Nữ: “Thôi ta về”. Cô gái mỉm cười đi theo, đằng sau là con trâu trắng. Thế là tan giấc mộng.

                                   (http://chaobacsy.vnweblogs.com/gallery/8364/YetKieu01.jpg)

Sự lạ lùng ấy ứng với bức hoành phi trong đền Quát “Thiên cổ dị nhân” (từ trước tới nay mới có người lạ thường như vậy). Thực ra, đây là một cách lý giải tài bơi lội của Phạm Hữu Thế để làm tăng thêm tính phi thường của viên tướng xứ Đông này, khẳng định tài bơi lội của ông như do thần linh mang lại.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai và lần ba, Phạm Hữu Thế với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” (đi dưới nước ung dung, tự tại như trên đất bằng) đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân. Ông đã được nhân dân và vua quan nhà Trần gọi là Yết Kiêu.

Giữ thuyền ở Bến Tân:Trong một trận đánh ở Nội Bàng (Chũ, Bắc Giang), Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân (trên sông Lục Nam), Dã Tượng đi theo Hưng  Đạo Vương.Quân giặc thế đang hăng, áp đảo, giết và bắt sống được nhiều tù binh quân Việt, khi quân Việt thua chạy, thủy quân bị tan cả. Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:
- Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền.
Hưng Đạo Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó.Một mình ông cắm thuyền ở lại, chờ đón kỳ được Trần Hưng Đạo và Dã Tượng
Trần Hưng Đạo thấy thế thốt lên:
- Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.
Nói xong chèo thuyền đi, kỵ binh Nguyên đuổi theo không kịp. Hưng Đạo Vương rút về Vạn Kiếp, chia quân đón giữ ở Bắc Giang.
Ý Trần Hưng Đạo muốn nói: người tướng tài giỏi, nổi tiếng phần lớn cũng là nhờ những người chung quanh mình ra sức làm việc, phò tá, nếu chỉ có một cá nhân mình thì không sao có thể làm nên sự nghiệp lớn

Nhiệm vụ của Yết Kiêu là tìm cách đục thuyền của giặc trong đêm. Khi màn đêm buông xuống, Yết Kiêu tìm cách vượt qua hàng lính bảo vệ thuyền giặc rồi nhẹ nhàng đục thuyền giặc. Mỗi thuyền phải đục khoảng trên 20 lỗ, đục được lỗ nào lại phải dùng giẻ đã cuộn tròn và buộc dây đút lút lại. Những cuộn giẻ ấy đều được buộc lại với nhau bằng một sợi dây.
 
Một đêm, Yết Kiêu đục được khoảng 30 thuyền giặc. Đến gần sáng khi đã đục đủ số thuyền đã định, Yết Kiêu liền kéo dây khiến những nút giẻ trôi ra khỏi thuyền, khiến hàng chục thuyền giặc bị đắm. Hoàn thành nhiệm vụ, ông lại nhẹ nhàng bơi về địa điểm an toàn.

Chuyện đánh giặc của Yết Kiêu được dân làng Lôi Động kể rất nhiều. Người người còn nhớ mãi chuyện ông dùng tài lặn đánh đắm thuyền giặc, bị bắt còn lừa được giặc nhảy xuống sông thoát….Lần ấy, ông có nhiệm vụ khóa đuôi một cuộc hành quân đường thủy. Thuyền lương đi chậm quá, ngoặt sang khúc sông khác thì thuyền địch đến. Những tên giặc Nguyên mình trần đầu trọc, thấy thuyền Yết Kiêu chỉ có một mình ông, chúng hò nhau đuổi hòng bắt sống ông.Chúng hí hố reo mừng, cá tươi, thịt béo, rượu nồng ngả ra kín đặc quanh Yết Kiêu. Bất ngờ, ông xuống tấn khiến thuyền lật úp. Quân Nguyên chờ mài không thấy ông nổi lên, rà đáy sông, buông lưới vẫn không thấy gì. Về đến quân doanh nhà Trần, ông mới tươi cười kể: Lúc đó có con cá chép cực lớn lượn qua, ông đã leo lên mình cá, bơi nhanh thoát ra khỏi vòng vây. Từ khi có hai chiếc lông trâu của Ngưu Lang, Yết Kiêu có tài bầu bạn với cá nước như với người.

Ở quê Hạ Bì, dân làng đã làm con cá chép bằng gỗ quý, mình dài 1m20, giữa thân đường kính 28cm, đục rỗng. Vây, vẩy được cách điệu bằng các hoa văn trang trí sinh động. Đầu cá to, râu dài vắt hai bên mép, miệng há to vểnh lên trông rất ngộ nghĩnh và độc đáo.
 
Có lần, Yết Kiêu bị vây bắt ở bãi sông. Ông núp mình dưới những bụi cây mọc lúp xúp và tránh sự lùng sục gay gắt của giặc. Chúng dùng kiếm đâm vào bụi cây, trúng đùi Yết Kiêu. Yết Kiêu cắn răng chịu đựng, khi kẻ thù rút kiếm ra, ông cố gắng chịu đau và dùng tay lau vết máu dính trên lưỡi kiếm để kẻ thù không phát hiện thấy mình.

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 01:13:31 am
                                                        3.Tướng quân Yết Kiêu và công chúa nhà Nguyên

Ít ai biết ngoài tài năng bơi lội và chiến đấu dưới nước từng gây kinh hoàng cho quân Nguyên Mông, danh tướng Yết Kiêu còn rất đào hoa khi đã chiếm được trái tim của cô công chúa triều Nguyên kiêu sa.


Mỹ nhân kế dụ tướng tài

Chuyện kể rằng, sau chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ 3 (năm 1288), đất nước được thái bình. Người người ra sức cấy cày bù đắp lại những mất mát do chiến tranh gây ra. Lúc đó lúa gạo nhiều đến nỗi mỗi khi ai đó đi đường xa không phải mang theo lương thực, chẳng may lỡ bữa có thể vào nhà lạ xin cơm. Chẳng những mời một bữa cơm, người dân còn cơm đùm, cơm nắm cho khách mang theo phòng khi lỡ bữa.
Nhưng lúc đó, quân Mông Cổ là nỗi kinh hoàng của các dân tộc Á – Âu, lại thua nước Nam tới 3 lần khiến vua Nguyên mất mặt và nhăm nhe ý định phục thù. Nhận thấy điều đó, vua Trần một mặt cử tướng đem quân giữ nơi xung yếu, một mặt phái một đoàn sứ bộ sang sứ cống Nguyên triều.
Bảng nhãn Lê Đỗ được cử đi sứ, mong nối lại hoà khí với nước mạnh hơn mình mà mang lại hoà bình cho nhân dân đất Việt. Yết Kiêu vốn là võ tướng thuỷ quân được cử làm tướng hộ vệ Lê Đỗ.


Biết Yết Kiêu là tướng giỏi thủy chiến, vua Nguyên muốn chiêu dụ ông về dưới trướng nên sai người lén đem vàng bạc và hứa phong chức cao nhưng ông một mực từ chối. Một viên quan tâu vua nên dùng kế mỹ nhân bởi “xưa nay chưa ai có thể qua ải mỹ nhân”. Vua Nguyên nghe cũng hợp lí nhưng biết chọn ai xứng đáng? Chọn người đẹp trong dân thì không xứng đáng, con các quan thì không ai chịu đem gả cho sứ thần Đại Việt, vua Nguyên đành đem công chúa út là Ngọc Loan thực hiện kế mỹ nhân.

Theo truyền thuyết kể lại, Ngọc Loan vừa tuổi mươi sáu thuộc dạng sắc nước nghiêng thành, lại đàn hát hay, đoan trang lễ phép nên được vua rất cưng chiều. Khi nghe cha nói sẽ gả cho một viên tỳ tướng Nam triều và giao nhiệm vụ cho nàng là “phải giữ bằng được ông ấy ở lại đây”, nàng có ý không bằng long nhưng cũng không dám cãi đành vâng lời cha.

Lần đầu tiên gặp Yết Kiêu, Ngọc Loan thấy ông là một dũng tướng, râu hùm, hàm én, đôi tay lực lưỡng, giọng nói sang sang vang xa. Đặc biệt khi trò chuyện với ông, nàng cảm nhận ông là một người rất dễ gần nên đem long yêu mến. Hàng ngày nàng đều tìm cớ để được vào gặp ông, khi thì mang đặc sản của phương Bắc mời ông thưởng thức, khi thì mời ông đi ngắm đất kinh kỳ.

Rồi tình yêu của Ngọc Loan với Yết Kiêu đến lúc nào cũng không biết nữa, chỉ biết rằng lúc nào nàng cũng nhớ đến Yết Kiêu. Thấy hai người thường đi chơi, trò chuyện với nhau vua Nguyên mừng lắm vì kế hoạch của ông xem như thành công một nửa. Tuy nhiên, Yết Kiêu chỉ coi Ngọc Loan là bạn, với ông nhiệm vụ mà vua Trần giao phó mới là quan trọng nhất, lúc nào ông cũng đặt chữ “Trung” lên hàng đầu.

Thời gian đi sứ đã hết, vua Nguyên đã tổ chức tiệc rất thịnh soạn tiễn đưa Sứ đoàn trở về Đại Việt. Trong bữa tiệc, vua Nguyên tỏ ý gả công chúa Ngọc Loan cho Yết Kiêu. Trầm ngâm một lát, ông quỳ xuống tâu “Cảm ơn đức vua đã cho thần có được diễm phúc ấy. Nhưng nước có phép vua, thần lại là tôi tớ của vua Trầnnên phải tuân theo lệnh vua. Thần xin phép về xin ý kiến của vua Trần, nếu được đồng ý thần sẽ qua làm lễ với công chúa”.

Vua Nguyên nghe nói thấy cũng có lí nên không giữ nữa mà đồng ý cho ông  trở về báo cáo với vua Trần. Ngọc Loan nghe thế quỳ xuống xin cha cho nàng được theo đoàn trở về Đại Việt. Yết Kiêu khuyên nàng “Tục nước tôi không cho phép con gái theo về nhà chồng mà chưa có mối, chưa có lễ vật, nàng lại là công chúa cành vàng lá ngọc càng phải giữ thanh danh, thể diện. Nàng cứ ở lại chờ tôi một thời gian để tôi nói với cha mẹ mang lễ vật tới”, nàng đành chấp nhận ở lại.


Một mối tình si của nàng công chúa, cảm đông cả đất trời

Hơn 2 năm sau khi Yết Kiêu về nước mà vẫn không thấy ông trở lại, Ngọc Loan long nóng như lửa đốt, nàng thường ra lầu cao ngóng về phương nam. Mỗi khi có đoàn sứ thần của Đại Việt đến, nàng chứa chan niềm tin nhưng mỗi lần hy vọng là mỗi lần thất vọng bổi không đoàn nào mang theo tin tốt lành cho nàng.

Suốt một thời gian dài nàng sống trong khắc khoải, chờ đợi, ruột gan héo mòn, nàng không ăn, không uống, suốt ngày chỉ ngồi trong phòng vẽ hình Yết Kiêu rồi treo ở những chỗ trang trọng. Nàng còn tự tay thêu đôi uyên ương để tặng nếu chàng quay lại nhưng mọi hy vọng của nàng trở nên vô vọng.

                                            (http://1.bp.blogspot.com/-gA0kWOkMWn4/T87DPdiFZzI/AAAAAAAADHk/1epzEfJo8lo/s1600/67_7_1324089444_1_nguoiduatin-Anhminhhoa.jpg)
                                        Kết thúc buồn cho tình yêu của công chúa Ngọc Loan _Ảnh mang tính minh họa


Cuối cùng nàng xin vua cha cho phép sang Đại Việt tìm gặp Yết kiêu, vua Nguyên một mực ngăn cản nhưng nàng quyết ý và bảo sẽ tự vẫn nếu cha không đồng ý. Không còn cách nào khác, vua đành chuẩn y và cử 9 nàng hầu, hai hoạn quan và một số quân lính đi theo bảo vệ nàng.

Từ kinh đô, đoàn người bắt đầu cuộc hành trình về phương nam xa xôi. Cứ thế, đoàn người ngày đi đêm nghỉ, sau hơn 2 tháng cũng tới được biên giới Việt Trung (đoạn thuộc Móng Cái – Quảng Ninh bây giờ). Nàng cho quân dò la tin tức và biết được Yết Kiêu đã mất, nàng vô cùng đau đớn, mặc đồ tang lập đàn tế cầu siêu suốt 7 ngày đêm. Nàng sai lính đẵn gỗ vàng tâm, triệu thợ điêu khắc giỏi tạc tượng mình và viết bức huyết tâm thư thổ lộ tình cảm của mình với Yết Kiêu. Xong xuôi, nàng sai thầy phù thủy yểm vào tâm tượng và đặt bức tượng mình vào than một khúc gỗ đã đục rỗng thả xuống sông cho trôi về Đại Việt. Rồi nàng khấn: “Cho dù chẳng được kết duyên cùng chàng ở chốn trần gian cũng nguyện hội duyên với chàng nơi thiên đường”. Nói xong, nàng quay mặt nhìn về phương Bắc, cởi hài và gieo mình xuống dòng song chảy siết quyên sinh, thấy vậy 9 nàng hầu và 2 thái giám cũng nhảy xuống sông theo chủ.

Người dân khu vực biên giới kể lại rằng: “Suốt mấy ngày trời trên đỉnh núi thấy khói hương nghi ngút, lại thấy một người con gái đầu tóc rũ rượi nên chẳng ai dám bén mảng đến”. Nhân dân Hạ Bì nhận được tin vô cùng xúc động đã tạc tượng nàng cùng đoàn tùy tùng và tổ chức lễ rước đưa nàng về đền thờ cùng với Yết Kiêu ở Hạ Bì.

Trong ngày lễ hội 15/1 âm lịch, dân làng rước tượng Yết Kiêu đặt bên cạnh tượng công chúa. Hiện trong đền còn tượng và di vật minh chứng cho tình yêu thủy chung của công chúa Ngọc Loan và Yết Kiêu.


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 23 Tháng Bảy, 2012, 06:13:48 am
Thế mà các nhà làm phim nước ta chả dựng được bộ phim nào về danh tướng "Thủy tổ của Đặc công nước" Việt Nam này. Bột có rồi, sao không ai ra tay gột nên hồ nhẩy?


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 11:31:49 am
Thế mà các nhà làm phim nước ta chả dựng được bộ phim nào về danh tướng "Thủy tổ của Đặc công nước" Việt Nam này. Bột có rồi, sao không ai ra tay gột nên hồ nhẩy?

Lịch sử Việt Nam anh hùng hiển hách, nếu dựng được lại trên phim như nước ngoài (điển hình là Trung Quốc) thì là một điều rất tốt. Nhiều người muốn làm nhưng đa số thất bại hoặc chỉ thành công trong một góc nhỏ thôi. Nguyên nhân thì có quá nhiều: cơ sở vật chất, phim trường, kĩ thuật, vốn, ....

Mong sẽ có một ngày, qua màn ảnh nhỏ, người Việt Nam được đắm mình trong những câu truyện oai hùng của ông cha.

Hiện giờ thì chúng ta chỉ có thể làm một ít phim tài liệu như thế này thôi, mời các bác xem tạm:

http://clip.vn/?fm=se&id=V3I2Rw== (http://clip.vn/?fm=se&id=V3I2Rw==)

http://www.youtube.com/watch?v=ZJWCC5af8ls (http://www.youtube.com/watch?v=ZJWCC5af8ls)


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 10:52:06 pm
Bảo Nghĩa vương_Trần Bình Trọng


(http://w.game8.vn/relax/img/2012/02/07/Tran%20Binh%20Trong.jpg)

Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc!



Gia thế và xuất thân uẩn khúc

Trần Bình Trọng là danh tướng thời Trần, có công lớn hộ giá bảo vệ cho hai vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai. Sau khi hi sinh, ông được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương.
Chính chữ “Bảo” đứng đầu tước hiệu của Trần Bình Trọng như thế, đã mở ra con đường nhận hiểu được nhiều hơn về lai lịch vị anh hùng tử tiết lẫm liệt.
Bởi vì, dường như đã có một “quy luật” trong việc phản ánh tước hiệu của các quý tộc nhà Trần, mà chỉ cần căn cứ vào chữ đứng đầu của tước hiệu là có thể nhận ra thân phận (dòng dõi) của những người mang tước hiệu ấy. Chẳng hạn, ai có chữ “Chiêu” – như “Chiêu Minh đại vương” (Trần Quang Khải), “Chiêu Văn vương” (Trần Nhật Duật)… hoặc giả cả “Chiêu Quốc vương” (Trần Ích Tắc – kẻ đã đầu hàng để được nhận danh hiệu “An Nam quốc vương” của giặc) nữa – thì đó đều là con của Thái tông Trần Cảnh. Trong khi đó, con cháu của An Sinh vương Trần Liễu (anh ruột Thái tông Trần Cảnh), như: Trần Tung (tức: Tuệ Trung thượng võ – anh ruột Trần Quốc Tuấn) – “Hưng Ninh vương”, hoặc chính Trần Quốc Tuấn – “Hưng Đạo vương”, rồi các con của Trần Quốc Tuấn: Trần Quốc Nghiễn – “Hưng Vũ vương”, Trần Quốc Tảng – “Hưng Nhượng vương”, Trần Quốc Hiệu – “Hưng Trí vương”... thì đó đều là những người có chữ “Hưng” ở đầu tước hiệu cả. Theo “quy luật” này, đã nhận được ra: Trần Quốc Toản – “Hoài Văn hầu”, là thuộc dòng dõi Trần Bà Liệt – “Hoài Đức vương” (anh của Trần Liễu, Trần Cảnh, con chậm được thừa nhận của Trần Thừa – Thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần).
Như thế, chữ “Bảo” (đứng đầu tước hiệu “Bảo Nghĩa hầu” và rồi “Bảo Nghĩa vương” của Trần Bình Trọng) có thể cho phép liên hệ (về mặt dòng dõi) người anh hùng mắng giặc tử tiết này, với một bậc tiền bối, cũng có chữ “Bảo” đứng đầu tước hiệu. Đó là Lê Tần – “Bảo Văn hầu”.
Vào thời gian cuối năm 1257, đầu năm 1258, ở cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Nguyên, đặc biệt là ở trận đánh lịch sử Bình Lệ Nguyên, Lê Tần là danh tướng và công thần số 1 của vua Thái tông Trần Cảnh. Chính vì thế, được Trần Thái Tông cho đổi gọi họ tên, thành “Lê Phụ Trần” (người họ Lê giúp nhà Trần) – bước chuyển hóa đầu tiên, mở đường cho việc sau đấy được “tứ quốc tính” (ban cho họ của vua), chuyển thành quý tộc họ Trần, với tước “Bảo Văn hầu”. Trong buổi chầu đầu năm Mậu Ngọ (1258) mừng chiến thắng, Bảo Văn hầu còn được nhận thêm cả đặc ân chưa từng thấy từ vua Trần Thái Tông: Được cưới công chúa Lý Chiêu Thánh, vốn đã là hoàng hậu “Chiêu Hoàng” của chính Thái tông Trần Cảnh (vào năm 1226, trước khi bị phế truất vào năm 1237, vì “tội” không sinh được con trai). Nhưng, khi “về” với Bảo Nghĩa hầu (Lê Phụ Trần) thì - ở tuổi đã 41- Lý Chiêu Thánh lại sinh hạ được một lúc hai con, trai và gái. Người con gái có hiệu là “Ứng Thụy công chúa”, sau được gả cho Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Còn người con trai, được chép vào sử bằng danh hiệu Thượng Vị hầu, Tông, thì đấy chính là Trần Bình Trọng.
Sinh vào khoảng năm 1258-1259, đến lúc quát mắng giặc mà tử tiết, Trần Bình Trọng ở vào độ tuổi 26-27. Tất cả sử sách cổ truyền đều thống nhất ghi thêm một chi tiết tiểu sử của ông là: “Dòng dõi vua Lê Đại Hành” – giống hệt như Lê Tần. Và, cũng giống như người cha “Bảo Văn hầu” họ Lê của mình, được lấy vợ (cũ) của vua Trần Thái Tông, Trần Bình Trọng cũng là “chồng sau” (đời chồng thứ hai) của công chúa Thụy Bảo – con gái của vua Trần Thái Tông.

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 10:57:47 pm
Chiến đấu ngoan cường, mang về thắng lợi chiến lược


Trước nguy cơ xâm lược lần thứ hai của quân Nguyên _Mông, vua Trần Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Bình Than(1282), hội nghị Diên Hồng (1285) để tìm kế đánh giặc.Mặt khác, vua còn tổ chức các cuộc thi võ ở Kinh thành để chọn người tài giỏi chỉ huy quân đội. Trần Bình Trọng khi đó mới 16,17 tuổi nhưng đã tỏ ra tài, giỏi mưu lược và có võ nghệ hơn người. Trong các cuộc thi võ đó ông thường xuyên dành được chiến thắng, vua Trần tỏ ra rất hài lòng lên đã gả công chúa Bảo Thụy cho ông.Sau đó ông được phong hầu, cho cai quản một đội quân.
Tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên-Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai của Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt, cầm đầu chia quân làm hai cánh tấn công xâm lược Đại Việt. Quân Nguyên Mông là đạo quân cực kỳ thiện chiến, nhanh chóng chiếm ưu thế tuyệt đối trước quân Đại Việt, ít hơn và không quen chiến trận. Sau thất bại trong vài trận đánh mở màn, tổng tư lệnh quân Đại Việt, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về giữ Vạn Kiếp (nay thuộc vùng Vạn Yên, Chí Linh,Hải Dương). Sau đó, quân Đại Việt lui về Thăng Long, nhưng cũng không giữ được trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên.
Hưng Đạo Vương quyết định rút khỏi Thăng Long, lui về Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định). Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và hai vua Trần giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc - Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết.
Tư lệnh quân Nguyên là Thoát Hoan đặc biệt ưu tiên cho cánh quân truy đuổi này với hai đạo cả thủy lẫn bộ đều do những tướng giỏi, hữu thừa Khoan Triệt và tả thừa Lý Hằngcùng Ô Mã Nhi, chỉ huy, đều dùng quân khinh kỵ và thuyền nhẹ để truy đuổi bằng được hai vua Trần.
Trần Bình Trọng đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc. Nhưng do sự chênh lệch quá lớn về quân số, thế địch ồ ạt, sử dụng chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh.Trần Bình Trọng bị bắt, nhưng trận đánh là một thắng lợi cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược với cuộc kháng chiến khi kể từ đó, quân Nguyên hoàn toàn mất dấu bộ chỉ huy kháng chiến.
Nó góp phần làm nên những chiến thắng vang dội về sau như trận chiến Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết v. v.

(Đà Mạc hay cũng gọi Thiên Mạc, mà sau này có tên bãi Mạn Trù là một bãi đất nằm ven sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục 6 tờ 42a3-4 viết: “Sông Thiên Mạc tức hạ lưu sông Phú Lương ở tại bãi Mạn Trù của huyện Đông Yên vùng tỉnh Hưng Yên”. Trần Bình Trọng chỉ huy một cứ điểm ở đây.)

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 10:58:57 pm
Tử tiết lẫm liệt


Đoạn sử bút có thể xem là sử liệu gốc – vì được viết ngay vào đời Trần và của một người nhà Trần (đầu hàng giặc là Lê Trắc, tác giả sách “An Nam chí lược”) – có câu nguyên văn như sau: “Ngày 21, Nhâm Thìn, quân Nguyên đánh vỡ ải Thiên Hán, chém được tướng địch là Bảo Nghĩa hầu”. Một đoạn sử bút khác – trong bộ “Nguyên sử” (An Nam truyện) – viết: “Quân Nguyên bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng”.
Hội các sử liệu gốc phương Bắc này lại có thể hiểu: Ngày Nhâm Thìn (chuyển sang dương lịch là ngày 26-2-1285) giặc xâm lược nhà Nguyên đã giết Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng mà các tác giả “Nguyên sử” – do nghe phong thanh - nên ghi nhầm và gọi là: “Kiến Đức hầu Trần Trọng”.
Nhưng còn con số “ngày 21” mở đầu câu sử bút của Lê Trắc thì đó là ngày âm lịch của sự kiện giặc đánh vỡ ải Thiên Hán (tức: Thiên Mạc, Mạn Trù) vào ngày 24-2-1285 (dương lịch), và bắt được Trần Bình Trọng – tướng trấn ải, chẹn giặc đuổi theo các vua nhà Trần, rút chạy khỏi Thăng Long về mạn Nam.
Từ ngày 24-2-1285 đến ngày 26-2-1285, là 3 ngày của một chuỗi sự kiện: Từ chỗ sa vào tay giặc, đến chỗ khảng khái nhận lấy cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng (mà nhiều sách vở gần đây đã viết gọn lại, thành ra chỉ còn là một sự kiện quát mắng giặc).
Chuỗi sự kiện đó - căn cứ vào việc ghi chép của các bộ chính sử cổ truyền của ta - đã bắt đầu bằng việc: 1- Trần Bình Trọng tuyệt thực; rồi: 2- giặc tra hỏi về “quốc sự” (tức: Cả về chiến tranh lẫn chính trị) nhưng Trần Bình Trọng đều không hé răng; đến: 3- giặc dụ dỗ, mua chuộc (bằng tước “vương” của phương Bắc nhưng Trần Bình Trọng không mắc “bả”, mặc dù khi ấy, ông đang chỉ có tước “hầu”; và cuối cùng mới là: 4 – Trần Bình Trọng quát mắng giặc:

Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.

Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Ở đây mọi người chú ý rằng, trong rất nhiều tài liệu, câu nói này được ghi là:

Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi

Có sự khác biệt giữa hai câu là chữ “ma” ở câu trên được thay bằng chữ “quỷ” ở câu dưới. Theo sự giải thích của GS.Lê Văn Lan thì:
Chỉ có các bộ chính sử của ta - “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục”... - mới ghi được sự kiện quát mắng giặc của Trần Bình Trọng. Và thống nhất chép những lời quát mắng ấy, là (dịch): “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Nhiều sách vở gần đây, đổi (dịch) chữ “ma” thành chữ “quỷ” là không đúng cả về nghĩa lẫn lý. Còn sử phương Bắc (kể cả vào gần đây bộ “An Nam chí lược” của Lê Trắc) viết sát (gần) về thời gian diễn ra sự kiện hơn – thì đều không nói gì, cả về sự kiện lẫn lời quát mắng ấy.

Ông quyết làm “hồn ma”, tức: nhận lấy cái chết trung trinh chứ không phải nhận mình là “quỷ” – tức: phương diện xấu của sự chết
Trong chuỗi sự kiện ông bị bắt, có bước (3) là việc giặc dụ dỗ mua chuộc Trần Bình Trọng bằng tước “vương”. Đây là thủ đoạn quen thuộc của chúng. Sách “Từ điển nhân vật xứ Nghệ” – căn cứ vào gia phả họ Bùi ở Quán Treo (Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) – có chép chuyện Bùi Cầm Hổ (1300-1483): “Năm Ất Mão (1433), Lê Lợi cử ông sung chức phó sứ sang Trung Quốc. Người Minh bảo ông: “Về gây rối loạn trong triều chính, sẽ phong vương cho”.
Ông đáp: “Tôi sang đây, vâng mệnh vua nước tôi, giữ quốc thể, không phải để phản vua, bán nước”. Người Minh giận lắm, song cũng rất phục ông.

Lời lẽ của nhà ngoại giao họ Bùi và vị tướng quân nhà Trần, cung bậc có khác nhau, nhưng tinh thần và ý tứ vẫn chỉ là một.

Thực tế, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 7 tờ 36b2 đã chép là vua Trần Nhân Tông, khi nghe báo tin Trần Bình Trọng hy sinh, đã vật vã kêu khóc, chứng tỏ sự hy sinh ấy đã có một tác động to lớn trong giới lãnh đạo đất nước thời bấy giờ.
Cũng vì cảm cái nghĩa khí anh hùng ấy, 4 năm sau ngày Trần Bình Trọng quát mắng giặc mà tử tiết, tức là vào đợt “định công các tướng sĩ” tháng 4 năm 1289, ở đời trị vì của vua Trần Nhân Tông – như sách “Lịch triều hiến chương loại chí” đã chép – cùng lúc với việc Trần Hưng Đạo được “tiến phong tước đại vương” – Trần Bình Trọng cũng đã được truy phong (từ “hầu tước” lên “vương tước”), thành “Bảo Nghĩa vương” và tặng thêm 2 chữ "Trung Nghĩa"

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 23 Tháng Bảy, 2012, 11:05:18 pm
Đánh giá cảu đời sau


Trần Bình Trọng được các sử gia đời sau đánh giá rất cao vì lòng yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm, trở thành một ví dụ điển hình cho các cuộc kháng chiến chống phương Bắc sau này.

 So với các danh tướng nhà Trần lúc bấy giờ, Trần Bình Trọng về tuổi tác, về tài năng, về chiến công đều không thể sánh ngang với tướng Phạm Ngũ Lão, tướng Nguyễn Khoái, càng không thể sánh với Thái sư Trần Quang Khải hay Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn; nhưng danh tiếng thì không hề thua kém một ai cũng vì người đời sau kính phục khí tiết hiên ngang, bất khuất của ông, ông là vị tướng đánh một trận uy danh để muôn đời. Ở Trần Bình Trọng toát lên cái dũng của kẻ sĩ “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”, tư tưởng vững như đá, lạnh như đồng, không lung lay, khuất phục trước cám dỗ có lợi cho bản thân. Nếu chấp nhận đầu hàng, ông chắc chắn được nhà Nguyên phong vương ở phía Nam, nhưng ông cũng thừa biết rằng cuộc sống tự do vương giả đó là sống nhục, cả đời không dám ngẩng mặt nhìn đồng bào, bằng hữu cũ của mình. Biết mình đúng mà không dám bảo vệ quan điểm của mình là bất trí, van xin quỳ lụy cường quyền để cầu sự sống còn cho mình là bất dũng, vì lợi ích của mình mà phụ lòng người đã tin vào mình là bất nghĩa. Kính phục thay những con người dám hiên ngang đối đầu với bạo quyền để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ điều mình cho là đúng; nhưng cũng buồn thay khi thấy tinh thần bất khuất của Trần Bình Trọng để lại cho đời sau, trước gian lao nguy hiểm không phải con cháu ai cũng đủ khí tiết, can đảm để noi theo.

Đền thờ Trần Bình Trọng xưa tọa lạc tại xã Mạn Trù, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc làng Mạn Trù, Xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu , Tỉnh Hưng Yên. Ngày Kỷ Niệm: 21 tháng Giêng âm lịch

Hiện nay ở các thành phố lớn của Việt Nam đều có những con đường mang tên ông. Tên Trần Bình Trọng còn được lấy đặt cho nhiều địa danh khác trên khắp đất nước Việt Nam.

Có hai bài thơ nổi tiếng viết về Trần Bình Trọng của Trần Tuấn Khải và Phan Kế Bính. Nội dung bài thơ của Phan Kế Bính như sau:
Giỏi thay Trần Bình Trọng!

Dòng dõi Lê Đại Hành.
Đánh giặc dư tài mạnh,
Thờ vua một tiết trung.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam ma  thác cũng vinh.
Cứng cỏi lòng trung nghĩa.
Ngàn thu tỏ đại danh.
Thơ của Hoàng giáp Đặng Minh Khiêm (TK XVI):

Thề cam lòng làm ma nước Nam
Quyết ngoảnh mặt không thèm vương đất Bắc
Bãi Đà Mạc tỏ chí hiên ngang
Dòng dõi vua muôn đời vững chắc.
Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái:

Trần Bình Trọng là tôi trung
Thà làm Nam ma, chẳng lòng Bắc vương