Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: phonglan trong 07 Tháng Tư, 2009, 10:50:32 am



Tiêu đề: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Tư, 2009, 10:50:32 am
NGƯỜI CỦA BIỂN

                                                                                                 Tên sách: Người của biển ( Tiểu thuyết )
                                                                                                    ( Giải thưởng Bộ Quốc phòng-1989 )
                                                                                                 Tác giả: Đình Kính
                                                                                                 Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
                                                                                                 Năm xuất bản: 2003
                                                                                                 Số hoá: phonglan, ptlinh

1


     Chiếc xe con mang biển đỏ, cài kín lá nguỵ trang dừng lại trước ba-ri-e. Những người trên xe chưa kịp bước xuống thì trong chòi gác bên vệ đường, một người cao lớn, khẩu súng trường đeo trễ bên vai, chiếc mũ rơm rộng vành úp sùm sụp trên đầu che hết phần trán, da mặt sạm đen trông như người Mễ -tây-cơ, sấn sổ xô tới.
- Các anh mù à? Không thấy biển cấm hay sao mà còn cho xe lao lên? Muốn ăn rốc két hay ăn bom, hả?
Anh ta mắng sa sả, nét mặt hằm hằm, cánh tay phải với bàn tay thô, ngón như quả chuối hột, vung lên kẻ cả.
    Đoàn trưởng Tư và Lê mở cửa xe, nhảy vội ra.
- Chào đồng chí!
- Cho xe lùi lại ngay! Các anh muốn gọi máy bay tới thì đánh xe đi chỗ khác, còn đây là bến phà! Bến phà! Là sinh mạng hàng trăm con người, là mạch giao thông…
- Báo cáo đồng chí, chúng tôi có việc quân sự cần vào thành phố gấp.
- Thời chiến, việc nào chẳng là việc quân sự? Đã có lệnh cấm mọi loại xe cộ vào thành phố trong giờ cao điểm, dễ chừng cái việc ấy không phải là việc quân sự hẳn?
- Báo cáo…
- Tôi lệnh cho xe ra khỏi khu vực này, đồng chí thiếu tá có chấp hành không?

    Đoàn trưởng Tư lắc đầu, đành cho xe quay lại.
    Người điều khiển bến phà trở vào chòi, vơ vội cái loa gò bằng sắt tây, đưa lên miệng, gọi xuống bến. Dưới đó con phà từ bên kia sang, đang cập bờ đá. Những người có việc cần phải qua sông vào giờ này vừa trải qua những giây phút căng thẳng, thấp thỏm, như trút được gánh nặng tất tả ùa lên bờ.
- Đồng bào bình tĩnh. Không xô đẩy, chen lấn nhau. Cách bến năm trăm mét về phía tay phải có hầm trú ẩn công cộng. Phía bên trái có " tăng xê " cá nhân, nếu báo động… Này anh áo trắng và chị mặc áo xanh trứng sáo dắt xe Pha-vô-rít kia ơi, có biết đây là khu vực nguy hiểm không mà cứ nhơn nhơn đứng lại nói cười thế?

    Chuông điện thoại đột ngột réo gắt trong chòi, người trưởng bến quay vào, vồ lấy ống nói.
- A lô, vâng. Tôi nghe! … Nghe rõ.
    Anh ta quay ra, lại đưa loa lên miệng:
- Đồng bào chú ý: phía đông nam thành phố đang có máy bay địch hoạt động. Đề nghị đồng bào chờ phà nhanh chóng sơ tán khỏi bến. Cách năm trăm mét …
    Chiếc loa quay về phía đường cái:
- Đề nghị  các đồng chí lái xe cho xe ở tư thế sẵn sàng cơ động. Ai chưa nguỵ trang kỹ, phải nguỵ trang thêm.

    Đoàn trưởng Tư và Lê đứng tựa bên thành xe hút thuốc vặt. Đoàn trưởng nóng lòng một thì Lê nóng lòng mười. Ngoài việc chung, anh nôn nao mong chóng sang phố để gặp người yêu. Anh không ngờ hôm nay mình có cái may mắn bất ngờ được vào thành phố và lại đến ngay nhà máy, nơi Thuý làm việc. Từ lúc nghe đoàn trưởng thông báo rằng, trước khi đến Bộ tư lệnh quân chủng gặp đồng chí tư lệnh, anh và đoàn trưởng còn có nhiệm vụ nữa  là sang nhà máy đóng tàu Hải Phòng bàn một số việc cần kíp, anh vừa mừng vừa phấp phỏng… Đã lâu lắm rồi anh không gặp Thuý. Dù ngày nào cũng đọc thư của nhau, chẳng thể bù bằng mấy phút bên nhau. Bề ngoài Lê tỏ ra bận bịu, xếp tài liệu này, soạn tài liệu kia, nhưng trong anh đang rạo rực niềm vui. Đoàn trưởng Tư cũng rõ tâm trạng ấy, ông tủm tỉm:
- Lê này, thằng cha điều khiển bến phà này cứ cứng nhắc nguyên tắc thì bọn mình khó lòng sang sông sớm đấy.
- Để lát nữa tôi " tình cảm " với anh ta xem .
- Không dễ đâu! Trông hắn xua người ta mới thô bạo chứ. Mình ngẫm ra là những tay làm quản lý, những tay giữ kho, và những  tay trong coi bến phà cấm có ai mát tính. Tay nào cũng bẳn gắt như mắm. Nhưng thực ra không có những người nguyên tắc như  thế thì hỏng bét mọi việc. Nếu ở địa vị ấy, mình cũng vậy thôi. Hắn nói đúng đấy, thời buổi bom đạn này việc quái nào chẳng có thể bảo là khẩn. Đã đánh xe tới đây, tay nào không viện ra đủ lý do để được phới cho nhanh.

    Có tiếng còi báo động từ thành phố vọng sang. Bến phà đang nhốn nháo chợt yên ắng, quang quẻ hẳn. Mọi người nhanh chóng  tản xuống hầm trú ẩn. Xe đạp vất chỏng chơ. Một vài thanh niên không chịu xuống hầm cứ lấp ló ngửa mặt lên trời xem chừng, bị mọi người la ó, quát tháo, cuối cùng cũng phải thụt vào một cái hố nào đấy. Gần ba-ri-e, tiểu đội tự vệ bến phà đứng dưới hào. Khoảng chục khẩu súng trường chếch mũi về hướng đông. Người điều khiển bến phà lúc này đứng đầu đoạn hào, nhô hẳn nửa người khỏi mặt đất, một tay cầm loa, tay kia cầm cờ hiệu màu đỏ, đang gắt gỏng điều gì đó.

    Tư và Lê ngồi bên mép một chiếc hầm cá nhân dưới gốc cây. Cạnh đó là đồng chí lái xe.  Họ đều hướng về thành phố. Phía thương cảng, tàu hàng nước ngoài đậu nép vào nhau phơi ra dưới nắng. Những lá quốc kỳ nhiều màu treo cao phía sau. Dưới lòng sông, không một bóng thuyền qua lại. Tất cả đều yên lặng. Chợt có tiếng đạn cao xạ nổ đanh trên bầu trời thành phố. Giữa không trung, nhiều vệt khói bung ra, tan loãng. Ba chiếc " vỉ ruồi " lấp loá nắng, bạc phếch từ trong mây chui ra, rồi cắn đuôi nhau đâm xuống. Tiếng súng các cỡ lập tức rộ lên. Tiếng bom ình ình. Ít phút sau, trong thành phố có những cuộn khói đen nghịt cuộn lên.
- Nó lại ném bom mạn Thượng Lý! - Nhiều tiếng xôn xao.
- Không phải nhà máy xi măng, chúng ném bom kho dầu. Dầu cháy, lửa mới bốc cao thế.
- Lại có người chết, lại có người bị thương. Hình như  ngày nào không giết được người thì lão tổng thống Mỹ ăn không ngon, ngủ không yên. Phía Thượng Lý làm gì có mục tiêu quân sự?
- Sao không thấy chiếc nào rơi nhỉ?
- Chứ cái nhà cô thì vào thành phố làm gì cho khổ, hử ?
- Bác tính, không có việc thì đi làm gì để cả nhà phải lo. Hôm nọ cho cháu sơ tán về dưới cô nó, quên mấy thứ đồ dùng, hôm nay phải lộn về lấy. Mà chẳng rõ nhà có còn hay lại sập rồi?

    Nhìn đám khói bốc lên mỗi lúc một cao, lòng Lê như lửa đốt: Nhà máy đóng tàu cũng ở mạn Thượng Lý. Lê nhìn ngọn lửa và cố hình dung xem nó cách nhà máy là bao xa. Sự bất lực khiến anh cảm thấy bực bội. Bất giác Lê quay lại, hình như có ai đang nhìn anh. Và anh bắt gặp đôi mắt của người phụ nữ có con bồng trên tay. Anh bối rối, ngượng. Cứ mỗi lần gặp trường hợp như thế này, Lê cảm thấy như có rất nhiều ánh mắt trách móc hướng về phía người lính. Lê đưa tay sờ lên đôi quân hàm thiếu uý nơi cổ áo, rồi anh lặng lẽ lại bên ôtô.
    Chưa có còi báo yên nhưng mọi người đã ra khỏi hầm và đều quay vào nhìn thành phố. Nhưng cột khói không còn bốc vọt lên nữa mà hình như đang lan rộng ra. Rồi mọi người tản đi, vội vội vã vã với công việc đang dở dang.

    Lê bước nhanh về phía ba-ri-e.
- Nào, giấy tờ của đồng chí? Người điều khiển bến phà hỏi.
- Mời  đồng chí xem! - Lê đưa ra một lô giấy - Đây là giấy của Bộ Quốc phòng, đây là giấy của Bộ tư lệnh Hải quân, còn đây là giấy của Bộ Giao thông vận tải.
- Tôi sẽ bố trí các đồng chí đi chuyến phà tới. Các đồng chí cần làm việc với nhà máy đóng tàu, còn ôtô thì chắc chắn là không. Đây tới nhà máy thì chỉ đi bộ một nhoáng. Ngày nào tôi chẳng tới đó. Sao, không tin à? Mụ vợ tôi làm việc ở đấy, thợ hàn bậc bốn trên bảy. Cứ hỏi chị nào có chồng là trưởng bến phà Bính thì cả nhà máy biết. Còn ngày nào tôi cũng tới đó à ? Cái gì người ta cũng quen được, duy cái điều cứ  thấp thỏm vì người thân luôn luôn ở dưới tầm bom đạn Mỹ thì không thể quen. Ít ra tôi cũng phải biết hôm nay vợ tôi còn sống hay không chứ! Ngày nào cũng bom, cũng bom! …Nào đồng chí thượng uý pháo binh, đồng chí cần gì? Hả? Cho pháo sang sông ngay bây giờ à? Rắc rối nhỉ?

Lê định hỏi thăm người trưởng bến phà vài câu, thế nào anh ta chẳng quen biết Thuý, song anh chỉ chào rồi quay đi. Lê báo cáo với đoàn trưởng về quyết định của người trưởng bến.
- Chà, thằng cha ấy thông minh và được việc lắm! Đoàn trưởng Tư cười vui vẻ - Đáng ra chúng mình phải nhận ra điều ấy trước để khỏi bị hắn quát và khỏi làm phiền đến hắn mới phải.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 02 Tháng Sáu, 2009, 02:33:32 pm

2



           Thảo luận với ban giám đốc nhà máy đóng tàu xong, đoàn trưởng Tư và giám đốc An xuống ụ tàu. Lê được phép đi gặp Thúy. Anh thấp thỏm men theo hành lang tới phòng kỹ thuật.

           Mặc dù đến đây đã vài ba bận, đã quen biết nhiều người và hầu như cả nhà máy đã rõ quan hệ giữa anh và Thúy, Lê vẫn mất tự nhiên. Anh là người ứng phó kém. Trước những cô gái lém lỉnh, " mồm miệng liến láu như tôm tép nhảy ", anh thần ra, túng ta lúng túng, nói chẳng nên câu. Năm ngoái anh đã bị các cô ở phòng kỹ thuật trêu cho một chập, ngượng chín cả người. Lần ấy Thúy đi vắng, nhưng họ cứ giả cách nói vọng vào phòng trong như thể Thúy đang ngồi ở đó.
           Và điều khốn khổ là suốt cả buổi ấy, anh cứ tin là thật.
           - Nào, ra đi em ! " Anh không có nhiều thời gian đâu con chim chích bé nhỏ của anh ạ. Anh phải nhổ neo ra khơi! "          
           Các cô cười. Anh cũng cười, nhưng đôi vành tai thì nóng ran. Vậy là những lá thư gửi cho Thúy đã lọt vào tay họ.
          - Bình, mày kéo cái Thúy ra đây - Một cô bảo - Cớ sao lại phải xấu hổ. Người yêu của lính là không thể nhõng nhẽo vậy được đâu.
          - Nhưng chẳng lẽ tao làm công không à? - Cô tên Bình nói - Thì trước khi dẫn cái Thúy ra cũng cho hỏi anh Lê mọt câu chứ! Em hỏi nhé: những  ngày lênh đênh giữa biển, có thật anh nhớ cái Thúy " nhiều nhiều như nước đại dương"   không?
           Và họ lại cười, còn Lê thì chết cứng trên ghế, chỉ thiếu lô nẻ để chui tọt xuống.
           - " Nếu nỗi nhớ hóa thành nước được. Thì lòng anh là biển cả đại dương". Phải nói anh Lê làm thơ hay tuyệt.
           Lê thấy giận Thúy. Tại sao những điều anh viết trong thư lại đem phô ra.
           - Chỉ cần anh gật đầu nhận có nhớ cái Thúy, em sẽ dẫn nó ra ngay. Hai, ba nào!
           Mặt Lê nóng bừng, cười như mếu: Cầm cốc nước đưa bên miệng, lại đặt xuống. Hai cánh tay vô duyên như thừa ra. Thật lưỡng nan: ngồi lại cũng dở, đứng dậy bỏ đi cũng không ổn. May có bác Hạo từ phòng bên nghe ồn ào đã sang cứu nguy:
           - Này, làm gì mà cười ầm ầm vậy hả, mấy đứa kẻ cướp? - Bác quát - Cứ như là chợ vỡ - Rồi quay sang Lê bác bảo - Hôm nay em nó đi họp ở Hà Nội, tuần sau mới về Bác giám đốc mời anh lên họp tiếp...
           Lê như kẻ chết đuối vớ được cọc, vội vã đứng dậy:
          - Thế ạ? Vâng, cháu xin phép sang bên đó. Xin chào cả nhà nhé.
           Và anh bước như chạy. Ra đến hành lang mới dừng lại rút khăn lau mồ hôi.
           Trong phòng, tiếng các cô vẫn nhí nhóe:
           - Chúng mày ác bỏ đời đi ấy. Thấy người ta hiền cứ trêu già.
           - Thì cũng cười một tí cho bõ những ngày làm việc căng thẳng chứ.
           - Cái Thúy về, biết "anh" bị trêu, thương lắm đấy?
           - Số nó sướng. Sau này tha hồ bắt nạt!
           Lại tiếng cô Bình:
           - Lấy được chồng hiền cũng thích. Trông anh chàng dễ thương quá!
           - Tướng mày à, chỉ lấy được "thiên lôi ", hoặc "quỷ sứ " thôi em ạ .

            …Lần này chắc chắn là anh không bị hẫng nữa, bác An giám đốc vừa bảo: "Bây giờ thì mời đồng chí thuyền trưởng tranh thủ tới gặp cô kỹ sư nhà tôi, hôm nay cô ấy đang nghiên cứu cải tiến cách lắp ghép khung tàu". Chà, nhung phải đối đáp với các cô ở phòng kỹ thuật này cũng mệt đây. Song anh gặp may: trong phòng rất ít người, chỉ có Thúy, Bình, bác Hạo và Lâm Khanh - trưởng phòng - ở đó. Sau những thủ tục chào hỏi, họ nói chuyện với Lê một chốc rồi tế nhị viện cớ bận việc, bỏ ra ngoài. Lúc này ngồi trước mặt Thúy, Lê mới thực tin là mình được gặp cô. Chờ trong phòng không còn ai nữa, anh mạnh bạo nhìn thẳng vào mặt Thúy. Tuy vậy cũng mất đến mấy phút bối rối, hai người mới bắt được chuyện.
           - Mỗi lần đến chỗ em, hãi chết đi được
           - Tại anh ít về đấy. Lâu nay đi những đâu mà biền biệt thế. Thư cũng chẳng viết?

            Lê cười. Anh sung sướng vì được Thúy trách. Anh biết Thúy yêu anh, nhớ anh, cũng như anh có lúc nào nguôi nhớ Thúy, nhớ lắm! Những buổi chiều, khi mặt trời chỉ còn láng mỏng một màu phơn phớt tím hồng trên mặt biển, và xa xa, những ngọn núi đá mờ loãng, tan nhòe trong sương, đứng trên boong tàu nhìn cánh chim vội vã bay về hướng đất liền, nôn nao cả người. Cũng ước, giá có được đôi cánh như con chim kia? Lúc ấy anh cố mường tượng xem giờ này Thúy đang làm gì, đang ở đâu? Và khi tin chắc rằng Thúy cũng đang nghĩ đến anh, cũng đang mường tượng ra biết bao điều tốt đẹp vè anh thì anh như muốn bay lên mà hét thật to...
           - Đừng dỗi anh nữa, Thúy - Lê nói và kéo ghế dịch lại gần cô. - Dạo này anh bận mà. Giôn-xơn nó ném bom...
           - Nhà máy em cũng phải đi sơ tán một số. Nhưng em không đi. Đố anh biết em ở lại để làm gì?
           - Để những con tàu đóng cho bọn anh hạ thủy nhanh hơn.
           - Nữa?
           - Anh chịu?
           - Để mỗi lần có dịp về thăm em, anh không bị bọn nó trêu! Ôi, quên mất: em là tự vệ nhà máy rồi nhé!
          Lê nắm lấy tay Thúy và nhìn vào mắt cô.
          Nhưng rồi nhận ra sự đường đột của mình, anh luống cuống bỏ tay cô, khuôn mặt lúng túng đỏ ửng.Thúy âu yếm nhìn Lê, thấy thương quá .
          - Chúng mình đi đâu đó một lát nhé, anh.
          - Nhưng chú Tư hẹn anh ở đây. Chỉ ít phút nữa, anh...
          - Anh lại đi ngay? Giọng Thúy thảng thốt: - Lần nào cũng vậy!
           Lê im lặng, nhìn Thúy.

           Thúy sững sờ. Bây giờ cô mới ý thức đưược sự quý giá của thời gian. Vậy là lát nữa anh đi, cô chỉ đợc gần anh một chút thôi ư? Trời ơi, bao nhiêu ngày mong ngóng, bao nhiêu điều chỉ đợi anh về để nói, đê khoe, để kể... thế mà... Tự nhiên cô thấy sợ cái phút anh đứng dậy, ra đi. Cái phút ấy gần tới rồi, nhanh lắm và nó có thật. Ừ, vậy mà cô cứ dằn hắt anh, tránh móc anh. Sao cô không nói với anh một lời yêu thương? Lúc nào anh cũng vội vội, tội quá. Thúy cúi xuống, cầm lấy bàn tay anh, hấp tấp đưa lên môi, đưa lên mắt, đưa lên má mình rồi cô gục hẳn đầu vào ngực anh.
           - Đừng giận em nhé ! - Tiếng Thúy mỏng như một hơi thở. Đừng giận em!...
           Cô có cảm giác rằng lúc này nếu buông anh ra, anh sẽ biến mất và những phút gặp anh chỉ là giấc chiêm bao.
           - Lúc nãy đứng bên kia bến phà, nhìn chúng ném bom xuống thành phố, anh lo quá.
           - Còn em thì mỗi lần xuống hầm, lại nghĩ: chẳng biết hôm nay đơn vị của anh có làm sao không, và em lẩm bẩm khấn...
           - Khấn sao?
           - Ứ, không nói!
           - Dạo này thành phố báo dộng nhiều lắm hả em?

           Ngày nào cũng vài ba trận bom. Thành phố vắng teo. Các cụ nhà mình đã sơ tán về dưới chị Thanh tháng trước. Khi đi  để lại cho em chiếc cặp lồng, một chú mèo mướp. Ôi, con mèo xinh ơi là xinh, bao giờ anh về em sẽ nó cào cho mà biết, nó khôn lắm. Các cụ còn phần em một chiếc bánh xốp. Cứ dặn mãi rằng, ở lại phải ăn nóng, phải xuống hầm, phải cẩn thận... Chắc các cụ sợ anh " mồ côi " em.
          - Bố mẹ có nhận được thư anh không?
          - Có. Với nữa, lần nào nhận thư anh, em cũng tới khoe để các cụ biết cậu ấm của mình vẫn bình an mà !





Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Sáu, 2009, 10:36:34 am
       
          - Còn các cụ bên ấy?
          - Bố mẹ em thì tuần này xuống Kiến Thụy. Phải vận động mãi mẹ em mới nghe đấy.
          - Vậy là em ở lại một mình?
          - Đừng lo cho em. Hãy lo cho anh ấy. Chúng nó chẳng làm gì được đâu. Nếu hầm sập, em sẽ điện ngay để anh về cứu nhé!
          - Chỉ dại miệng.
          - Chúng em ở lại không buồn đâu. Anh biết cái Bình không? Con bé lần trước trêu anh nhiều nhất ấy, cũng yêu một chàng họ thủy nhà anh nhé. Quấn nhau lắm. Bom đạn thế mà tuần nào chàng cũng lóc   cóc đạp xe tới thăm nàng. Không về ấy à, coi chừng. Nó bảo rằng, đã yêu sợ chết không dám vào thành phố thì cho nghỉ luôn. Bom cũng phải đi! Người yêu mà toàn réo là "cái lão bọ nước".
          Thúy cười, đôi mắt long lanh. Bây giờ trông cô thật vui, thật tươi.
          - Cô cậu nói chuyện gì mà rôm rả thế? - Đoàn trưởng Tư và giám đốc An bước vào phòng.
          - Ôi chú Tư. Chú đến mà không cho cháu biết.
          - Thì chú đã cử sứ giả đến với cháu còn gì.
          - Sứ giả của chú chỉ làm cháu lo thôi. Hơn nửa năm nay không viết một lá thư.
          - À vậy thì phải phạt. Nhưng theo chỗ chú biết thì không hẳn vì cậu ta lười hoặc ít nghĩ tới cháu đâu. Có lý do đấy…
          - Chú chỉ bênh lính của mình.
           Giám đốc An hỏi:
          - Bên hải quân yêu cầu thay đổi một số chi tiết trên mặt boong, ý cháu thế nào, Thúy?
          - Cháu nghĩ đấy là dạng tàu đã được thiết kế hoàn chỉnh, các yếu tố kỹ thuật hợp lý rồi chứ ạ .
          - Sự hoàn chỉnh và hợp lý nhất, trước hết phải phù hợp với nhiệm vụ của con tàu chứ, cháu! - Đoàn trưởng Tư tham gia.
          - Vâng! Nếu đặt vấn đề như vậy thì cháu hiểu ạ.
          - Chú Tư lại cậy thế quân sự chèn ép, muốn ta hạ thủy sớm hơn kế hoạch đấy cháu ạ. Giám đốc An cười.
          - Cháu nhất trí cả hai tay. Nhà máy sẽ làm việc cả ngày lẫn đêm. Chúng cháu sẽ làm thêm giờ.
          - Anh thấy không, cô bé này khéo lắm! – Đoàn trưởng Tư quay sang nói với giám đốc An - Nó muốn người của chúng tôi về nhận tàu sớm mà.
          - Chú !
          - Với nó thì anh phải hỏi thế này: Cô định hạ thủy con tàu sớm hơn bao nhiêu ngày? Phải tính nó là người nhà của chúng tôi. - Rồi quay sang Thúy, ông bảo – Thúy này, chú và Lê vội lắm!
          - Dạ, cháu biết.
          - Thế cháu đã sẵn sàng để Lê đi chưa?
          - Cháu có giữ đâu ạ.
          - Đừng buồn, cháu - Đoàn trưởng Tư âu yếm vỗ lên vai Thúy - Thôi thì hãy tạm bằng lòng với cách nói của ông nhà thơ: "Hai người đoàn tụ hai đầu chiến trường"  vậy.

          Giám đốc An tiễn Tư và Lê đến đầu dãy nhà hai tầng, còn Thúy thì đưa hai người ra đến cổng nhà máy. Cô đòi được đi theo tới bến phà, nhưng Lê không chịu. Họ đứng thêm một chút với nhau rồi Lê vội vã bước nhanh, đuổi theo đoàn trưởng Tư.
          Trên gác hai, có một người dõi ra cổng và chẳng rõ sao, người ấy khẽ thở dài. Đó là Lâm Khanh, trưởng phòng kỹ thuật của nhà máy.


***


          - Cậu lại nghĩ tới Thúy đấy à? - Đoàn trưởng Tư nói khi ôtô đã chạy trên đường - Này, cái thời mình yêu bà xã nhà mình ấy mà, thế quái nào cũng làm phép để chí ít một ngày được gặp nhau một lần. Nào có phải gặp để nói chuyện, thậm chí không dám nhìn thẳng vào mặt nhau ấy chứ, mà chỉ cần thoáng thấy bóng nhau thôi. Thời đó không gọi là yêu, cái cụ gọi là phải mặt, hay là phải lòng. Thực ra thì các cụ gọi đúng tên cái tình cảm ấy hơn chúng ta nhiều. Vậy thì tình yêu là gì nhỉ?
          - Tôi cũng không biết gọi nó là cái gì cho phải...
          - Đấy nhé, người trong cuộc cũng lúng túng nhé.
          - Có điều khi yêu nhau, người ta thấy cuộc đời đẹp hơn. Chỉ nghĩ về nhau cũng thích.
          - Này anh bạn trẻ! Nếu cứ bằng lòng mãi rằng yêu nhau để mà chỉ nghĩ về nhau cũng thích thôi là không ổn đâu. Chúng ta có rất nhiều lẽ để bước vào cuộc chiến ngày hôm nay, nhưng có một lẽ rất quan trọng, đó là để cho các lứa đôi của thế hệ mai sau yêu nhau, chúng nó không phải xa nhau, yêu nhau không phải chi để mà mòn mỏi nghĩ đến nhau. Hả? Có vẻ lý luận hả? Nhưng đúng vậy. "Hai người đoàn tụ hai đầu chiến trường", đó là một cách nói. Đoàn tụ kiểu gì mà lạ thế? Nhưng chúng ta phải chấp nhận, bởi hoàn cảnh có cho phép gần nhau quái đâu. Con gái mình sắp sửa sinh cháu, mình gần lên chức Ông mà tính ra gần vợ được bao ngày? Có giỏi tổng cộng chỉ một năm. Lấy nhau trên hai mươi lăm năm rồi mà mỗi lần mình về, bà ấy vẫn còn ngượng. Hoàn cảnh Việt Nam ta quả không cho phép người phụ nữ có cái thói quen gần chồng, khỉ thế!
          - Hình như có tiếng máy bay thủ trưởng ạ? - Cậu lái xe nhắc.
          Chiếc xe dừng lại. Ba người ra khỏi xe. Trời nhá nhem tối. Phía Hải Phòng, nhìn rõ những đường đạn cầu vồng vút lên đan chéo trên bề mặt thành phố. Thỉnh thoảng, một chớp lửa tỏa sáng. Tiếng bom rùng rùng mặt đất.
          - Chúng nó lại vào thành phố. Ta đi kẻo muộn.



3



           Cơ quan Bộ tư lệnh Hải quân ở dưới chân ngọn núi đá trong triền núi dài ven biển. Những ngôi nhà lợp tôn được phủ lưới ngụy trang ẩn trong những lùm cây rậm nằm rải rác; từ xa nhìn vào khó mà biết đó là khu quân sự. Phía trước có con đường rải đá. Sườn bên phải là nhà khách, nhà ở, phòng họp, khu thông tin...
           Chỗ làm việc của tư lệnh đặt lưng chừng sườn bên trái, trong một hang đá. Hang khá rộng, được sửa sang chẳng khác căn nhà có nhiều phòng. Phòng trong, sau dãy bàn dài tấm bản đồ bọc mi-ca dựng lên như một bức vách, choán gần hết chiều dài của hang. Phòng ngoài cùng, cách phòng giữa một lớp gỗ dán, quét sơn xanh, luôn luôn có mặt đồng chí trung úy dong dỏng cao, da trắng, khuôn mặt tỏ ra khá khó tính. Ở đấy chuông điện thoại réo liên tục và luôn có người đến để làm việc.
          Khi đoàn trưởng Tư và Lê tới, trời tối đã một lúc, ngỡ muộn, song họ bị giữ lại ở phòng ngoài.
          - Tối nay đồng chí tư lệnh không tiếp ai cả - Đồng chí trung úy thông báo.
          - Nhưng chúng tôi có điện gọi của văn phòng Tư lệnh hẹn vào giờ này.
          - Thế thì các đồng chí chờ.
          Có tiếng chuông điện thoại. Anh ta vội cầm máy:
          - A lô tôi nghe! Anh nhầm rồi, trực ban tác chiến số máy 378 nhé. Sao? Nhưng đồng chí ấy đang bận. Làm việc khẩn à? Ở đây cũng rất nhiều việc khẩn. Đồng chí cứ gọi về trực ban tác chiến ở đó sẽ có người giải quyết. Vâng, 378 !
          Anh ta bỏ máy, nhìn đồng hồ rồi quay một chiếc máy khác.
          - A lô! Cho tôi gặp đồng chí trưởng phòng quân báo. Vâng! Tôi xin nhắc: Mười phút nữa đến giờ làm việc của tư lệnh với đồng chí…
          Lê thấy oi bức. Anh ra đứng ở cửa hang. Bầu trời xám xì thưa thớt sao. Mây vần vũ như thể sắp có giông.
          Thời tiết này sẽ hạn chế nhiều ít oanh tạc của máy bay địch, đêm nay chắc yên tĩnh.
          Lê nhìn vào bóng tối và bắt đầu sốt ruột. Anh vẫn chưa thật rõ tư lệnh quân chủng cho gọi anh lên với mục đích gì, để ít ra cũng phác sẵn vài nét sơ lược rồi dựa vào đó mà báo cáo. Anh nghĩ rằng ông quan tâm đến chuyến đi trinh sát gần một tháng vừa qua của anh vào vùng biển phía Nam. Chuyến đi ấy, anh đã báo cáo tỉ mỷ với đoàn: tình hình hoạt động trên biển của địch, ban ngày, ban đêm; thái độ của chúng khi gặp tàu ta; các dạng tàu nước ngoài hay qua lại từng vùng... và cũng đã đề xuất ý kiến cách ứng xử trong cáo tình huống. Nhưng điều ấy chỉ cần đoàn trưởng làm việc với Bộ tư lệnh là đủ, từ trước vẫn thế.   Khi Lê hỏi đoàn trưởng Tư về nội dung làm việc ở Bộ tư lệnh hôm nay, cũng chỉ được trả lời rất chung chung: vẫn là vấn đề đưa vũ khí vào chiến trường! Chẳng phải đoàn trưởng Tư giữ kín, mà thực ra ông cũng chỉ nhận được điện gọi lên báo cáo tình hình, kèm theo lời chua: đồng chí thuyền trưởng tàu 67 cùng đi vậy thôi .



-----------------------------
Chú thích:
- "Hai người đoàn tụ hai đầu chiến trường":  Một câu thơ của Chính Hữu.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 05 Tháng Sáu, 2009, 02:41:16 pm

           Có tiếng chân bước gấp lên cửa hang. Lê nhận ra một dáng người thấp đậm, mang quân hàm đại úy, anh đoán đây là đồng chí trưởng phòng quân báo. Trong hang, đoàn trưởng Tư đã đứng dậy. Tư lệnh quân chủng từ phòng trong bước ra; trông ông nhanh nhẹn, người gầy nhưng còn khỏe, da mặt hơi xanh song đôi mắt chưa biểu hiện sự mệt mỏi của người già; chiếc áo màu ghi hơi rộng so với khổ người, ve áo cài quân hàm đại tá. Cùng ra với ông là một đồng chí trung tá béo xệ, Lê không quen biết; hai người dường như vẫn chưa dứt câu chuyện.
           - Không nhưng và nếu gì cả - Tư lệnh nói, ông nhìn thẳng vào người trung tá, vẻ không hài lòng - Bằng mọi giá phải thông luồng. Đó là chỉ thị của Quân ủy. Anh cứ cho tiến hành. Chưa quen? Làm rồi sẽ quen. Đánh máy bay Mỹ, ta chưa quen, đánh, học, học, đánh rồi quen. Phá thủy lôi cũng vậy. Tôi hứa sẽ chi viện tối đa.
          - Tàu phá lôi, báo cáo là chúng tôi rất thiếu.
          - Tôi sẽ điều thêm.
          - Cán bộ kỹ thuật cũng...
          - Người của xưởng sẽ tới. Kỹ sư cả.
          - Còn tiêu chuẩn, chế độ...
          - Với người lính, chế độ cao nhất là được làm nhiệm vụ khó khăn vô điều kiện. Anh lại bắt đầu học lối đòi hỏi trước. Phải biết tin vào chiến sĩ. Nhìn dáng nặng nề của người trung tá lịch bịch đi xuống bậc đá, Lê không mấy cảm tình.
          - Nào xin mời vào cả trong này - Tư lệnh quay sang phía đoàn trưởng Tư và trưởng phòng quân báo - Anh Tư chờ lâu chưa? Xin lỗi, có việc đột xuất mà. Còn đồng chí thuyền trưởng đâu?
          Lê vội vã bước vào:
          - Báo cáo, tôi có mặt.
          - Đồng chí vừa đi một chuyến thú vị lắm hả? Nghe nói thủy thủ toàn tàu hao những hơn ba mươi lăm cân phải không? Đồng chí cũng say sóng chứ? Hôm nay tôi muốn trực tiếp nghe đồng chí đấy.
          Mọi người bước vào phòng. Căn phòng khá rộng, vách bên phải treo tấm bản đồ toàn khu vực Đông Nam Á; vách trái là tấm hải đồ Vịnh Bắc Bộ. Đồ đạc đơn sơ chỉ có bàn làm việc, điện thoại và tủ đựng tài liệu. Bốn góc phòng đều có ánh điện hắt xuống. Ngồi đây, nếu không có hơi lạnh của hang đá tỏa ra, khó nhận rằng đang ở trong núi.
          - Chúng ta làm việc luôn nhé - Tư lệnh nói khi mọi người đã ngồi xuống quanh chiếc bàn dài; ông ngồi phía đầu bàn, trước mặt là một số giấy tờ chưa kịp xếp - Thời gian ít lắm, tôi bận mà các đồng chí cũng bận, nên tránh dài dòng. Một là, anh Bột báo cáo để các anh bên đoàn 25 nắm luôn tình hình địch có liên quan đến nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào chiến trường. Hai là đoàn 25 cho biết tỉ mỉ chuyến đi trinh sát vừa rồi. Và ba là bàn biện pháp đưa hàng vào khu Năm.
           À, thì ra là vấn đề đưa hàng vào khu Năm - Lê nghĩ.
           - Mời anh Bột.
           Trưởng phòng quân báo đã chuẩn bị sẵn. Anh móc túi lấy kính rồi xin phép tư lệnh trình bày. Giọng anh trầm, dễ nghe; anh nói mạch lạc, không vội vàng. "Con người này hoàn toàn phù hợp với công việc quân báo của mình". Lê nhìn anh và nghe chăm chú. Đồng chí đại úy nêu một số nét tổng quát về cái gọi là "kế hoạch dốc toàn lực của hải quân Hoa Kỳ và hải quân Việt Nam Cộng hòa dê tận diệt âm mưu thâm nhập của Cộng sản Bắc Việt". Sau đó anh đưa ra một vài con số cụ thể về lượng tàu thuyền và máy bay của Mỹ - ngụy bố trí ven bờ biển miền Nam, từ vĩ tuyến 17 đến hải phận Cam-pu-chia. Cuối cùng, anh nói:
           - Hiện nay, để dễ kiểm soát và phân trách nhiệm, chúng chia vùng biển từ vĩ tuyến 17 đến sát hải phận Cam-pu-chia thành 9 khu vực, mỗi khu vực dài từ 80 đến 120 hải lý, rộng từ 30 đến 40 hải lý. Tin chúng tôi mới nhận được, gần đây đã có một cuộc họp gồm đại diện cục tác chiến hải quân Mỹ, đại diện vùng Thái Bình Dương, đại diện hạm đội 7, đại diện bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam với tên trưởng nhóm cố vấn hải quân Mỹ ở miền Nam để tiếp tục đốc thúc chiến dịch. Và chúng đã tăng số tàu hoạt động ngoài khơi từ 9 lên 14 chiếc; tăng gấp đôi số máy bay trinh sát; tăng tàu tuần tiễu ven bờ từ 54 lên 84 chiếc và tàu UPB từ 17 lên 26 chiếc. Mặt biển miền Nam đã được ken một khối lượng tàu chiến không nhỏ và, như chúng nói, thì mặt biển miền Nam đã được rải một lớp váng tàu chiến, tàu Bắc Việt muốn vào bờ, trước hết hãy xuyên thủng lớp váng đó. Đấy là chưa kể hệ thống ra-đa, máy bay trinh sát và lực lượng rất đông tàu thuyền đánh cá 1.

           Trưởng phòng quân báo ngừng lời. Tất cả im phắc. Đại tá tư lệnh, mắt vẫn không rời tấm hải đồ, đầu khẽ gật gật. Một lát sau ông nói:
           - Phải nhận rằng bộ máy điều hành chiến tranh của chúng có tổ chức và phản ứng nhanh. Các đồng chí cũng rõ đấy, một thực tế không thể phủ nhận là chúng đã đạt được nhưng hiệu quả nhất định trong việc ngăn chặn sự chi viện của ta cho chiến trường bằng đường biển. Năm vừa qua, ta đã tung đi bốn chuyến, mà không một chuyến nào thành công, đúng như vậy không anh Tư?
          - Báo cáo, đúng ạ?
          - Trước tình hình ấy, Bộ tư lệnh, được sự đồng ý của Quân ủy, quyết định tạm ngừng vận chuyển một thời gian để củng cố và nắm thêm tình hình địch, tình hình bến. Chúng ta đã cho tàu T.67 đi trinh sát và hôm nay và tôi muốn nghe người trực tiếp đi chuyến đó báo cáo để làm căn cứ cho Bộ tư lệnh hạ quyết tâm.

           Lê ngước lên nhìn tư lệnh và thấy lúng túng. Không rõ nên vào chuyện từ đâu và nói thế nào cho trúng ý. Anh nhanh chóng nhớ lại toàn bộ chuyến đi của mình. Bữa đó, xuất phát vào một đêm tối trời, bọn anh vượt qua vĩ tuyến 17, vòng ra vùng biển quốc tế, đi theo đường tàu buôn nước ngoài, hướng xuống quần đảo Boóc- nê-ô. Dừng lại "đánh cá" ở Vịnh Thái Lan; vào vùng biển Cà Mau, thuận đà ngược lên Côn Đảo, neo lại ngoài khơi nghe ngóng rồi đi sát vào vùng biển khu Sáu, khu Năm, trở về Bắc...

           Lê đứng dậy nhưng tư lệnh ra hiệu cho anh ngồi xuống. Anh báo cáo những gì anh đã thấy, đã gặp và những nhận xét của mình. Anh lo có lẽ nói dài, làm mất việc của người chỉ huy, nhưng tư lệnh tỏ ra chăm chú; ông vừa nghe vừa nhìn Lê, khuyến khích. Anh còn kể thêm nhiều chuyện, từ chuyện ăn dưa hấu rồi ném vỏ sang tàu Mỹ thế nào; chuyện giả vờ đánh cá ra sao, và chuyện họp bàn tìm cách để đánh lừa chúng. Nhìn thái độ tư lệnh, Lê biết, là ông rất thú những chi tiết ấy.
          Sau khi yêu cầu cho biết thêm một số điểm về tình hình mạt biển khu Năm, tư lệnh hỏi Lê:
          - Theo đồng chí, ta đưa tàu vào khu Năm được không?
          - Báo cáo, địa hình ở đấy không thuận lợi như ở Cà Mau - Giọng Lê tự tin - Ở Cà Mau có rừng đước, nhiều lạch; việc bốc hàng và ngụy trang tàu thuận lợi. Ta chỉ cần vào được bến, tàu chui vào lạch, coi như thành công. Còn ở khu Năm, thời cơ vào bến và bốc hàng chỉ cho phép trong một đêm, gần sáng phải quay ra, địa hình ở đó trống trải, bãi ngang là chủ yếu. Song nếu khâu hợp đồng với bến tốt, ta vẫn có thể lựa thời cơ vào được.
         - Hợp đồng với bến, cụ thể là vấn đề gì? - Tư lệnh hỏi.
         - Dạ, vẫn không có gì khác lắm với những chuyến đi trước, ta phải tính toán giờ nước lên để tàu vào không bị cạn, vẫn kịp rút ra; là có sẵn lực lượng để bốc hàng được ngay, bốc nhanh; là phải có tín hiệu, ám hiệu nhận nhau …
         - Tôi hiểu! Tôi hiểu! - Tư lệnh ngắt lời - Khâu hợp đồng với bến, Bộ tư lệnh sẽ lo - Và nhìn thẳng vào mắt anh, đột ngột hỏi - Lê này, đồng chí đi chuyến tới được không?
         - Tôi ạ ? Báo cáo, được.
         Tuy trả lời tư lệnh như vậy, nhưng Lê vẫn bối rối, anh nhìn sang đoàn trưởng Tư và an tâm khi thấy ông gật đầu.
          - Tất cả những gì ta đã biết, ta đã bàn, cho tôi một quyết định: tàu của đồng chí Lê đi khu Năm, anh Tư ạ. Chiến trường khu Năm đang rất cần vũ khí. Trên yêu cầu không, không phải yêu cầu mà trên chỉ thị cho ta chi viện gấp. Tình hình địch, các anh rõ rồi, hoặc là ta bó tay, chịu thua chúng, hoặc là tiếp tục tìm mọi cách đưa được vũ khí vào chiến trường. Ta sẽ chọn cách thứ hai. Cuộc chiến đấu ở trong đó không thể ngơi nghỉ... Về điểm này, với các anh, không cần giải thích dài. Nhiệm vụ cụ thể, Bộ tư lệnh sẽ xuống làm việc trực tiếp với đoàn. Riêng tôi, hứa là đến ngày tàu nhổ neo, nếu không bận việc, sê xuống với anh em. . . Mặt biển đã trở nên hết sức phức tạp, công việc của chúng ta địch rõ cả. Hai bên đã chơi bài ngửa; do vậy đòi hỏi ở các đồng chí nắm vững tình hình địch trên tuyến đường đi đã đành; nhưng điều trước tiên là phải dũng cảm, mưu mẹo, phải thông minh, linh hoạt; thận trọng, bí mật nhưng táo bạo và quyết đoán. Phải có bản lĩnh để đấu trí với chúng. Và - Tư lệnh tỏ ra xúc động. Ông dừng lại rồi hình như định nói thêm điều gì nữa, khuôn mặt đăm chiêu, nghĩ ngợi, đôi mắt nhìn xuống, nhưng ông đứng dậy và chỉ hỏi:
          - Các anh còn ý kiến gì nữa không? Hết rồi thì ta nghỉ.
           Mọi người đứng lên bắt tay ông. Khi ra tới phòng ngoài, ông dừng lại và quay sang Lê:
          - Thế gia đình ở đâu?



--------------------------------
Chú thích:
1. Những chi tiết và số liệu trên ghi theo tài liệu của địch mà ta thu được - TG


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 05 Tháng Sáu, 2009, 03:20:05 pm

          - Báo cáo với tư lệnh, quê đồng chí ấy ở Hải Phòng. Người yêu làm ở xưởng đóng tàu - Đoàn trưởng Tư trả lời thay - Cô ấy là kỹ sư, tham gia thiết kế tàu cho hải quân ta.
          - Thú vị nhỉ! - Tư lệnh vui vẻ - Chồng đi biển, vợ đóng tàu. Không phải "trai anh hùng, gái thuyền quyên" nữa mà là trai anh hùng, gái cũng anh hùng. Mỗi thời mỗi khác. Nhưng không rỉ tai cho cô ấy rõ nhiệm vụ của con tàu chứ.
         - Báo cáo, về việc ấy thì tuyệt mật ạ! - Lê trả lời.
         - Báo cáo tư lệnh, Bộ Giao thông đã có chỉ thị xuống nhà máy đóng tàu là cấm mọi sự dò hỏi về điều đó - Đoàn trưởng Tư nói thêm.
         - Hôm nay anh làm việc với bên đó thế nào? - Tư lệnh lại hỏi.
         - Báo cáo, thuận lợi. Họ chấp nhận mọi yêu cầu của ta.
         - Kể cả thời gian?
         - Vâng! Đồng chí giám đốc hứa sẽ cố hết sức cho tàu hạ thủy sớm hơn kế hoạch trước đây.
         - Cụ thể?
         - Điều ấy chưa định được. Dịp này chúng nó ném bom dữ lắm, nhà máy không đơn thuần chỉ làm một nhiệm vụ sản xuất.
         - Ai nghĩ rằng việc đưa vũ khí vào Nam chỉ là công lao của hải quân, là sự hy sinh của chỉ chúng ta thì thật sai lầm - Tư lệnh nói, vẻ mặt trầm ngâm…

          Tư và Lê về tới nhà khách, trời đã khuya lắm. Xa xa đâu đó vẳng lại tiếng gà gáy. Lê chưa vào nhà, anh đứng ở sân, tần ngần nhìn về hướng Hải Phòng. Ở đó, một vầng sáng hắt lên. Thành phố vẫn thức! Thành phố vẫn làm việc! Lê thấy xúc động. Một tình cảm như thể là niềm tự hào, niềm vui, và cả nỗi nhớ nữa hòa quyện, lan ập, khiến anh bâng lâng. Anh biết rằng cái vầng sáng đêm đêm vẫn hắt lên nền trời kia gửi gắm nơi anh nhiều điều lắm: nó cho anh niềm tin, cho anh niềm hy vọng, cho anh nỗi nhớ, lòng chung thủy và anh biết nó sẽ soi rọi cho anh trên mỗi chặng đường đi.

           Lê đứng lặng, trong lòng xốn xang và thấy mình như được nâng bổng lên với bao sự kỳ diệu. Đêm tĩnh mịch. Đâu đây nghe như có tiếng con chim đi ăn đêm gõ mỏ vào thân cây. Đằng xa, ẩn trong phiến đá nào đó, một chú tắc kè diềm nhiên gọi lên bảy tiếng. Ngọn núi đá neo trong bóng đêm tỏa ra luồng khí lành lạnh. Lê hít một hơi thật sâu, tự cười với mình và khoan khoái bước vào nhà.



4



           Nằm xuống giường rồi Lê văn không ngủ được, đầu óc anh tỉnh băng. Hôm nay có bao điều bất ngờ: vào thành phố và gặp Thúy, lên Bộ tư lệnh làm việc và có quyết định đưa vũ khí vào chiến trường khu Năm. Nhưng điều ấy, lúc này mới có điều kiện ngấm lắng.

           Nghĩ tới lần gặp Thúy chiều nay, Lê không khỏi thương cô và tự trách mình đoảng vụng. Bản tính rụt rè đã không cho anh biểu hiện đầy đủ tình cảm khát khao được gần Thúy. Vẻ bề ngoài ngớ ngẩn đến vô duyên đã khiến anh như thể là kẻ vô tâm: Thúy sống, làm việc và sinh hoạt ra sao, nào anh đã kịp biết! Chưa nhận ra cô béo thêm hay gầy bớt thì anh lại vội vội ra đi. Lần nào cũng thế. Tới đây, trụ lại thành phố, sống dưới tầm bom đạn Mỹ, Thúy của anh sẽ chèo chống ra sao? Dẫu biết rằng Thúy rất rõ tình cảm chân thực, nồng nàn của anh đối với cô và cô sung sướng vì điều ấy, anh vẫn bứt rứt giận mình. Thúy quan tâm nhiều đến anh, còn anh thì dành cho cô được là bao? Yêu nhau, người ta không chỉ có nhu cầu đòi hỏi mà còn có nhu cầu được bù đắp. Yêu cũng là thương.

           Hai người yêu nhau từ bao giờ, Lê cũng không thật rành. Tình bạn và tình yêu, cái ranh giới ấy rất mờ. Những ngày đóng quân gần nhà, hầu như chủ nhật nào Thúy cũng đạp xe sang thăm anh. Và điều ấy thành quen. Không chỉ quen đối với anh, mà còn quen đối với cả đơn vị. Thấy bóng cô thấp thoáng xa xa, bạn bè đã reo lên rất vui "Thúy đến!". Những lúc đó anh thật hạnh phúc. Thúy mang cho anh, lúc thì bắp ngô nướng, lúc thì củ khoai luộc. Cũng có lần Thúy ở lại khá lâu, cô đơm cúc vá những chỗ rách trên quần áo cho anh... Mọi người nhìn hai người, và anh thấy vui. Tại sao Thúy lại yêu anh nhỉ? Anh cũng không rõ. Chẳng hiểu rồi cuộc đời anh sẽ ra sao nếu thiếu vắng cô?... Bây giờ thì không có những phút giây thanh nhàn nữa rồi. Anh bận mà Thúy cũng bận. Những lần được gặp nhau, thật hiếm, và cũng thưa dần. Cuộc sống thời chiến đã đảo  lộn mọi sinh hoạt. Vì thế có dịp gặp Thúy, với anh như một giấc mơ...

           Lê trở mình. Anh nghe rõ tiếng gió thổi ù ù vào những hốc đá, tiếng lá rời cành lãng đãng bay; tiếng lạt sạt của những thân cây cọ vào nhau và hình như có tiếng vỗ cánh rất mỏng của con chim nào đó. Lê thèm bước ra ngoài. Anh muốn nhìn về phía góc trời, nơi có một vầng sáng vẫn hắt lên - Nơi vầng sáng ấy găm giữ biết bao kỷ niệm của thời thơ ấu, cái thời phấp phỏng ngẩn ngơ mỗi lần hoa phượng tàn, mỗi lần hoa phượng nở. Và chính nơi ấy đã cho anh nhận biết cuộc đời tuyệt đẹp này còn có bao điều kỳ diệu khi trong mình có thêm tình cảm mới lạ, ngọt ngào: tình yêu của Thúy. Thúy không cùng phố với anh. Cô ở  phòng trên ngôi nhà hai tầng gần trung tâm thành phố. Phòng chật, mỗi lần anh đến chơi, ông bà cụ lại cuống lên như thể người có lỗi, vơ vội đồ đạc.
          - Bố mẹ không phải thế - Thúy nói - Anh ấy có phải là khách đâu - Nói vậy, nhưng khi bố mẹ vừa đi xuống bếp, Thúy liền nói nhỏ vào tai Lê: Chúng mình ra phố nhé!

           Và họ ào xuống đường. Anh lai Thúy lòng vòng hết phố này tới phố kia. Họ ra bến Bính, xuống cầu Rào rồi lên những phố chính, hoà nhập vào dòng xe cộ. Và họ nói với nhau biết bao là chuyện, những câu chuyện không đầu, không cuối, không nội dung. Họ nói say sưa và dường như không bao giờ hết.

           Cũng có hôm hai người đưa nhau xuống bãi biển Đồ Sơn. Tuy thế, chưa bao giờ Lê và Thúy cùng tắm. Họ chỉ thơ thẩn đi tìm vỏ ốc trên bãi cát cạnh những ghềnh đá nhô ra biển. Có lần cả hai cúi xuống, cùng nhặt một vỏ ốc đẹp, hai bàn tay chạm vào nhau, thẹn, ngẩng lên cùng cười. Khi ngồi nghỉ dưới gốc phi lao, người nào cũng nhận ốc của mình đẹp, nhiều vân và hình thù lạ, song phần thắng thường thuộc về Thúy.

           Rồi trèo núi. Cả hai đều muốn giành phần lên trước. Khi tới nơi cao nhất, họ nhìn nhau và cười, và thở. Trên này mát, tóc Thúy bay tung trước gió. Lúc này trông cô mảnh mai, nhẹ nhõm như một cành lá. Cả hai cùng nhau ra biển, cùng nhìn về thành phố, đố nhau đủ điều. Rồi tranh nhau nói, tưởng như giữa bao la trời mây này chỉ có hai người .

           Đó là những ngày thanh bình yên ả, cuộc sống dường như chỉ có hoa và nắng, chiến tranh chưa vươn móng vuốt của nó ra miền Bắc...

          Hôm anh nhập ngũ, Thúy không đi tiễn. Cô bận thi vào đại học. Từ bấy đến nay đã bao nhiêu năm, nhanh quá! Thúy ra trường là kỹ sư, anh trở thành thuyền trưởng. Thời gian gần đây hai người ít gặp nhau, song hình ảnh Thúy có lúc nào nhạt mờ trong tâm trí anh? Anh phong giữ biết bao kỷ niệm về cô và thực sự thú vị với những kỷ niệm ấy. "Biết thú vị với những kỷ niệm đã qua cùng người yêu là được yêu hai lần", những lúc vui chuyện với bạn bè anh thường bảo vậy. Nghĩ về tình cảm của mình, chưa bao giờ anh băn khoăn cấn gợn. Yêu Thúy bao năm song anh vân giữ được sự trong sáng, trẻ trung và tươi non của mối tình đầu. Nếu có điều khiến anh áy náy thì có lẽ đó là anh chưa nói hết tất cả công việc của anh. Sự ấy xét trên khía cạnh lợi ích chung, xét theo hoàn cảnh là hợp lẽ, không thẻ khác, song anh vẫn mặc cảm như thể mình có lỗi. Anh thương Thúy vô cùng. Càng thương hơn khi biết rằng Thúy nghĩ công việc của anh rất khác. Trong trí tưởng tượng đượm chất học trò của cô, hình ảnh người thuyền trưởng phảng phất những nét lãng mạn: Anh đứng trong buồng lái gió biên thổi bung mái tóc, con tàu cưỡi sóng ra khơi nhả đạn vào tàu chiến, vào máy bay địch; chiến thắng trở về, con tàu nép mình bên quân cảng; biển cũng xanh và trời cũng xanh…

          Thúy không thể hình dung được những chuyến đi của anh: Lang thang trên biển hàng tuần, thậm chí hàng tháng, sóng, gió, bão và kẻ thù, cái chết lúc nào cũng đón đợi. Ra đi là xác định có thể không trở về. Đưa được khẩu súng vào chiến trường phải đánh đôi bao hy sinh. Nhiều đồng chí của anh đã lặng lẽ bỏ mình ngoài khơi. Song vũ khí vẫn phải đến chiến trường. Đó là mệnh lệnh, là lương tâm, là trách nhiệm: cuộc chiến đấu trong ấy không thể ngưng nghỉ một ngày.

          "Tới đây, anh lại đi. Anh sẽ đưa vũ khí cập một bến lạ. Bao thử thách đang chờ. Điều ấy thì em không thể biết. Đừng trách anh chưa nói cùng em..."

          Lê trằn trọc, bao ý nghĩ, bao nỗi mềm chen lấn, đan cài. Nghĩ đến chuyến đi tới, Lê thực sự lo lắng. Bao việc phải làm để con tàu có thể nhổ neo. Lê thấy sốt ruột…

          Hình như trời đã sáng. Có tiếng lịch kịch từ dưới nhà bếp đưa lên; tiếng gầu va vào thành giếng và xa xa có tiếng ôtô rú ga vọng vào vách núi.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 07:39:49 am

5


           Một người dong dỏng cao, dáng thô, tay dài, chiếc ba lô, "cóc" ngoắc một bên vai, chiếc mũ cứng trật trưỡng trên đầu, áo quân phục màu ghi, nửa trong quần, nửa ngoài quần, đeo quân hàm thiếu úy, hớt hải tới bên chiếc xe con.
          - Xe này về đoàn 25 phải không đồng chí? - Anh ta hỏi, người phải cúi gập xuống mới ghé mặt được vào cửa xe.
          - Tòng hả? - Lê kêu to rồi đẩy mạnh cửa, bổ xuống.
          - Trời ơi, thằng nỡm! Thằng "Lê trắng", thằng "Lê đẹp trai", thằng " Lê thư sinh"! - Anh ta hét toáng lên - Mày đấy à? - Rồi phốc tới nguềnh ngoằng vươn đôi cánh tay vượn ra ôm ghì lấy Lê - Cứ tưởng bỏ xác ngoài biển rồi? Khỉ ơi là khỉ, sao lại ngồi đây?
          - Thì buông ra đã. Tớ đến ngạt thở với cậu mất. Tòng chỉ nới tay chứ chưa chịu buông, giọng oang oang:
          - Phải đến mấy năm rồi, nhỉ? Cùng trong quân chủng mà chẳng lúc nào gặp nhau. Có gầy hơn, đen nữa, nhưng vẫn trẻ, vẫn đẹp trai. Ở đoàn 25 suốt à?
         - Từ ngày ra trường đến nay!
         - Cha mẹ ơi, lần này tao về sống hẳn với mày đây, nỡm ạ.
         - Về đoàn 25, thực chứ?
         - Cái mặt thằng Tòng chưa hề nói dối ai bao giờ nhé!
         - Lại được ở với nhau. Sao bảo quả đất hình dài - Lê đấm mạnh vào lưng bạn - Vậy thì vui quá rồi. Ở đây rất thiếu thuyền trưởng.
         - Thiếu hay thừa là việc của trên, lính tráng chỉ biết điều đâu đi đó. Khi có giấy gọi về phòng cán bộ, ngỡ là chuyến này họ chuyển sang làm đặc công tước lặn hụp bắt mấy chiếc tàu Mỹ chơi, chả là tao bơi giỏi mà. Hồi ở trường, không có tao thì mày đã ngoẻo ở sông Chanh còn gì. Ai ngờ lại về làm lính vận tải.
         - Làm lính vận tải nhàn quá hả?
         - Vâng, tôi biết các anh rồi, vào sống ra chết, xuất quỷ nhập thần, có nhiều sự tích như thần thoại... Tôi vốn bái phục từ lâu, vì thế khi biết về với các anh, tôi cứ run lên vì sướng. Sáng nay có quyết định, đang lớ ngớ, nghĩ là có lẽ phải đeo ba lô "đờ mi" cuốc bộ thì các cha ở phòng cán bộ cho hay là có xe của đoàn trưởng lên họp sắp trở về, vậy là quýnh quáo bổ ra. May! Bao giờ xe chạy?
         - Chờ cụ Tư! Cụ ấy đang vào cơ quan. Mỗi lần lên đây là tranh thủ làm việc với phòng này một tí, ban kia một tí. Có phải lúc nào cũng đánh xe đi được đâu.
         - Này, đến chỗ nào nói chuyện chứ, chả lẽ đứng thưỡn ra đây như hai thằng điên à?
          Tòng tháo ba lô, quẳng vào xe rồi hai người sóng vai
ra đường cái.

          Quê Tòng Vĩnh Phú. Anh nhập ngũ trước Lê một năm, nhưng hai người cùng vào Trường sĩ quan Hải quân một khóa. Ơ cùng tiểu đội gần và thân nhau. Ba năm học hai người như hình với bóng. Anh em vẫn đùa là thằng Tòng phải lòng thằng Lê, một thằng thì như con vượn đực, một thằng thì như con thỏ bạch. Tòng thông minh, học giỏi, môn nào cũng đạt loại ưu, lại không biết say sóng, nhưng chưa lần nào được khen thưởng, cuối khóa suýt nữa không được thi tốt nghiệp chỉ vì cái tính hay nói ngang, nói thẳng, có lúc đến đốp chát. Song chẳng bao giờ Tòng bận tâm hoặc buồn phiền vì những diều đó. "Sống cho đúng mình và không tự xấu hổ với mình mới khó, còn sống khôn khéo nhằm làm vừa lòng người khác thì khó gì". Tòng thường nói thế. Và Lê thấy Tòng có lý.

           Bên Tòng lâu, Lê phát hiện ra nhiều đức tính quý. Với bạn bè, Tòng sống hết mình, có thể móc đồng bạc cuối cùng khi bạn túng bấn, nhưng sẽ không bao giờ nói một câu với những ai anh cho là lươn lẹo, giả dối, nịnh bợ."Nhân loại còn khốn đốn vì còn những kẻ như thế" - Tòng nói vậy. Đã tin ai thì có thể bộc bạch tất cả, không tin thì kín bằng như hũ nút. Định làm điều gì là chí làm bằng được, khi đã nghĩ rằng mình đúng thì bất chấp. Tuy vậy, anh cũng là con người khá liều lĩnh. Song điều khiến Lê thực sự quý mến Tòng, gần như sự kính trọng là ở chỗ anh sống chân thực, chân thực với mọi người và chân thực với chính mình. Sự chân thực ấy bộc lộ rõ trong mối tình của anh đối với Lụa. Lụa hơn anh hai tuổi, đã có chồng và một con, nhưng không vì thế mà vơi khuyết tình yêu cháy bỏng tròn đầy nơi anh đối với người phụ nữ ấy. Lê cảm phục mối tình đó, trân trọng mối tình đó, tuy nhiên lúc đầu, khi mới biết chuyện, anh cũng ngại, những muốn khuyên bạn điều gì như thể là sự gợi ý.
          - Nhưng tao biết mày định khuyên tao thế nào rồi - Tòng nói - Chính tao cũng đã bao lần tự khuyên mình rằng hãy biết nén chịu, hãy gắng bứt ra khỏi sự đam mê để giữ hạnh phúc cho gia đình Lụa. Nếu quả rằng tao là cái nguyên nhân dẫn đến sự rạn nứt tình cảm của Lụa đối với chồng, thì thật có lỗi. Nhưng hình như không phải thế. Sự xuất hiện của tao là cái cớ chứ không phải nguyên nhân. Đã từ lâu, Lụa không yêu người đàn ông ấy nữa. Anh ta sống nhạt nhẽo và đơn điệu. Tuy thế tao cũng thấy mình không có quyền xen vào... Ừ, mà tao yêu Lụa từ bao giờ nhỉ? Chính tao cũng không rõ nữa Chiều chiều ra sông tắm, gặp cô ấy bên nương ngô, nói chuyện dăm bảy lần, hiểu nhau, cảm nhau, rồi nhớ. Khi nhận ra giữa tao và người phụ nữ ấy có cái gì đó khác lạ tao giật mình. Và tao trốn chạy: tao thưa ra bờ sông, tao tránh gặp mặt. Nhưng khổ một nỗi là người ta không đánh lừa được bản thân; càng trốn chạy, tình cảm giữa tao và Lụa càng thít vào. Lạ thế! Hàng tháng trời không gặp nhau, nhưng trong im lặng, cả hai lại hình như nói với nhau nhiều điều hơn, hiểu về nhau hơn.

           Rồi cả làng Ao Gỗ biết chuyện. Chồng Lụa tập hợp một số người họ hàng, uống rượu say, đe tìm tao để đánh. Lụa nói thẳng cho anh ta biết rằng: "Anh không có quyền làm thế. Đã lâu rồi tôi không yêu anh nữa. Tôi có quyền yêu người khác. Hãy để cho tôi tự do...". Nhưng cái gã nhạt thếch đó bảo là: yêu hay không yêu nữa hắn không quan tâm, hắn lấy Lụa có cưới xin, có đăng ký, nên hắn thực hiện quyền làm chồng. Về lý, anh ta đúng. Tao nghĩ rằng để giải quyết mọi chuyện, có lẽ tốt hơn hết là mình hãy lặng lẽ đi khỏi nơi này, khỏi cái làng Ao Gỗ. Nhân có đợt tuyển quân, tao cho đây là cơ hội giúp mình, nên đã đi ghi tên đầu tiên. Khi có giấy báo nhập ngũ, tao ngỡ rằng vậy là đã có hoàn cảnh để hai đứa cắt đứt mọi quan hệ. Nhưng tình cảm người ta không đơn giản.

           Đêm trước ngày lên đường, Lụa biết, cô ấy đi tìm. Hai đứa đưa nhau ra bờ sông Lô. Lụa bảo rằng tao đã không yêu cô ấy nữa. Lụa đấm thùm thụp vào ngực tao và cứ một mực rằng thế nào tao cũng đến với người con gái khác. Tao càng phân bua, cô ấy càng như điên như dại, gào lên: "Nói dối! Nói dối!". Chà, mày không thể tưởng tượng được đôi mắt long lanh cuồng dại của Lụa trong cái đêm hôm đó đâu. Cái nhìn như thiêu chết người ấy ám ảnh tao suốt. Cuối cùng thì cô ấy bắt tao thề. Thề gì? Đã yêu Lụa thì còn có thể đến được với ai nữa mà thề! "Em đã là vợ anh, nghe rõ chưa? - Cô ấy bảo - anh đi hãy tỏ ra là một người đàn ông. Chết thì em thờ, sống thì em chờ, bao nhiêu năm em cũng chờ. Nhưng nếu trăng gió với ai thì em giết, em giết. Giết anh rồi có thể em gieo mình xuống sông, nhưng nhất định là em không tha. Em là kẻ độc ác, hoặc anh chết, hoặc anh chỉ là của em". Cô ấy đã nói như vậy.

           Những lúc ấy Lê nhìn bạn, thấy thương vô cùng, song cũng chẳng rõ nên khuyên thế nào. Tình cảm con người chứ đâu phải cái công tắc điện...

           Từ ngày ra trường, mỗi đứa về một đơn vị, cho tới nay Lê với Tòng mới gặp nhau. Lê thấy Tòng không mấy thay đổi, có già đi chút ít nhưng tính tình vẫn bộc trực, sôi nổi.

           - Thế chuyện cậu và Lụa bây giờ sao rồi? - Lê hỏi khi hai người ra tới rặng phi lao bên đường.
           - À, chuyện về Lụa hả ? Cô ấy đã làm đơn ra toà xin ly dị chồng. Nhưng người ta đang tìm cách hoà giải. Hoà giải khỉ gì, một người như Lụa làm sao có thể sống với một gã đàn ông như thế, một thằng cha bần tiện. Có chiếc xe "Pha-vô-rít" bao năm nay chỉ thấy hắn treo ở góc nhà, đi đâu thì cuốc bộ, nhưng ngày nào cũng hạ xuống lau, rồi ngắm. Hắn tuyên bố rằng ai mượn vợ thì sẵn sàng, còn xe đạp thì chớ có đụng vào. Hôm nhà cụ Đáng bên cạnh có đứa cháu sốt nặng co giật suốt đêm, cần đưa đi viện gấp, không sao khác được, ông cụ đành sang mượn hắn chiếc xe. Ngần ngừ đến năm phút, không cho mượn thì dân làng họ ỉa vào mặt, mà cho mượn thì... Cuối cùng hắn bảo là để hắn lai đi. Chẳng phải hắn tốt bụng, mà sợ để người khác đi, dễ sây xước xe. Từ đó hắn tháo vành bánh trước cho vào tủ, khóa lại, còn xe vẫn treo chỗ cũ. À, cái cô Thúy của mày thế nào rồi? Cưới phắt đi chứ!
          - Cậu bảo mình cưới vợ ấy à? - Lê với tay giật một cành phi lao và vừa đi vừa bẻ vụn ra - Cô ấy mới ra trường, công việc còn mới mẻ, hai đứa đang muốn rảnh rang để công tác, với lại mình hên tục ra vào trong kia, ai biết có trở về hay không, cưới nhau rồi để khổ cho nhau à?
          - Suy nghĩ dở ẹc. Dễ chừng không cưới, mày chết, Thúy đỡ khổ hơn chăng? Vậy về mặt tình cảm mày chưa phải là chồng cô ấy?
          Cái gì ở hắn cũng đơn giản, nhưng thực có lý - Lê ngước nhìn Tòng và anh như thể cố tình trêu bạn:
          - Với nữa điều kiện chưa cho phép. Lại đang chiến tranh.
          - Điều kiện chưa cho phép! Điều ấy có thể chấp nhận. Còn vin vào cớ chiến tranh là không ổn đâu. Chiến tranh có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm nữa, nghĩ như mày rồi chết già ráo. Việt Nam ta lấy đâu ra người để chiến đấu.





Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 07:54:00 am
       
           Hai người lộn trở lại lối họ vừa đi. Tới sân, Lê thoáng thấy người trung tá béo xệ tối qua anh gặp ở phòng làm việc của tư lệnh, từ nhà khách đi ra.
          - Mày quen ông ta à? - Tòng hỏi khi thấy Lê cứ nhìn theo người trung tá .
          - Không, đây là lần thứ hai mình trông thấy ông ấy.
          - Một đại biểu đặc biệt, cho loại người thừa khôn ngoan, thiếu thông minh. Trung tá Tường đấy.
          - Cậu biết?
          - Còn lạ gì. Hồi mới ra trường, tao đã một thời dưới quyền ông ta và không ít lần va chạm. Một lần có đoàn kiểm tra trên BỘ xuống đơn vị, máy tàu tao hỏng, nhưng ông ta cứ bắt tao phải báo cáo là tốt. "Không nhất thiết đánh lừa cấp trên như thế " - tao bảo. Ông ta cáu: "Nhưng tôi ra lệnh". "Vâng, đồng chí có thể ra lệnh vì đồng chí là chỉ huy. Song sự trung thực cũng có thể ra lệnh cho tôi vì tôi là người trực tiếp phụ trách tàu này". Ông ta đấu dịu: "Nhưng hãy vì lợi ích đơn vị hãy tỏ ra cho cấp trên biết là chúng ta bảo quản máy móc không tồi". Vậy mà không rõ thế nào lại lên nhanh thế. Mới thiếu tá năm kia, nay đã trung tá. Một tay rất sợ trách nhiệm...
          - Hiện làm gì?
          - Trước đây là trung đoàn trưởng trung đoàn tàu 32, rồi lên làm gì đó ở Bộ tư lệnh một thời gian. Nay nghe đâu về lại trung đoàn 32 đảm nhiệm việc rà phá thủy lôi. Song ông ta chi thích ở cơ quan, rất hãi xuống đơn vị xuống chỗ ấy dễ chết mà. Này nghe nói đoàn 25 ta toàn những tay thủy thủ cự phách, tuyệt vời hả?
          - Tuyệt vời, theo cậu là thế nào? - Lê hỏi lại – Là dũng cảm à? Là sẵn sàng chết à? Vâng, rất cần và chúng ta không thiếu gì những người như thế. Nhưng chưa đủ đâu. Công việc đòi hỏi phải có những người biết hành động, biết dám sống... Về đoàn rồi cậu sẽ rõ. Nghe nói cậu có tham gia vào trận đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc?
          - Hồi đó đang làm thuyền phó. Mày thú vị với trận ấy lắm hả?
          - Một trận đánh tháng đầu tiên của hải quân ta! Tòng dừng lại, quay người đứng đối diện với Lê :
          - Đánh thắng! Vâng, nhưng về phương diện nào chứ! - Tòng bỗng sôi nổi hẳn, vừa nói vừa vung tay - Ta đã đuổi được chiến khu trục ấy ra khỏi hải phận. Nhưng khi chiêm nghiệm lại những gì đã qua, nên có cái nhìn tỉnh táo và nghiêm khắc. Về tinh thần dũng cảm, về tinh thần dám đánh thì khỏi bàn. Nhưng còn chiến thuật? Với cương vị là một  sĩ  quan hải quân, mày có thỏa mãn với cách đánh đó? Không hẳn trận nào đánh thắng cũng đáng bằng lòng về mọi phương diện.
         - Đấy nhé, như vậy là dám hành động chưa đủ, còn phải biết hành động nữa phải không? Đó là điều cần thiết cho công việc của những người ở đoàn 25 ta. Dám chết là điều rất dễ.

          Hai người vừa đi chầm chậm quanh sân nhà khách, vừa chuyện trò và cả hai đều thấy thú vị.
Khi đoàn trưởng Tư vội vã từ chân núi đi tới thì trời đã trưa. Chiếc ôtô nổ máy và lăn bánh ra con đường đá.
          - Mình vừa được phòng cán bộ thông báo cho biết trên bổ sung cậu về đoàn - Đoàn trưởng Tư quay sang nói với Tòng khi xe ra đến đường cái - Cũng nghe người  ta đồn rằng cậu ngang lắm. Nhưng mình lại không sợ những tay ngang đâu nhé . Mình sợ nhất những tay lúc nào cũng vâng dạ, nhưng chẳng rõ ruột gan hắn thế nào. Vợ con gì chưa hả, Tòng?
         - Chuyện vợ con ấy ạ? - Tòng hơi lúng túng - báo cáo đoàn trưởng, cũng muộn mằn. Đang yêu một cô, song cô ấy chưa bỏ được chồng.
         - Hả? - Đoàn trưởng Tư ngạc nhiên đưa mắt nhìn sang Lê như thể tìm sự xác minh.
         - Báo cáo thủ trưởng, cô ấy và anh chồng đã làm đơn xin ly dị ạ - Lê đỡ lời.
         - Rắc rối nhỉ. - Đoàn trưởng gật gật dầu, vẻ suy nghĩ rồi ông nói tiếp - Tòng này, tình yêu muôn màu muôn vẻ chả chuyện nào giống chuyện nào. Nhưng theo mình, đó là chuyện không đùa dược đâu. Cậu không cẩn thận là gỡ chẳng ra đấy.
         - Báo cáo, tôi cũng nhận thức được điều ấy và cũng đang gỡ đấy ạ ?
         - Gỡ? Phải tỉnh táo và cứng rắn mới được. Coi chừng kẻo gỡ chân nọ lại xích vào chân kia.
         
          Chiếc xe đi hết đoạn đường đá thì quặt sang con đường nhựa, hướng về phía trung đoàn đóng quân.
          - Các thủ trưởng nghe chừng tiếng máy bay hộ tôi nhé - Cậu lái xe bảo - Tháng trước xe của đoàn 8 đã bị chúng nó bắn rốc két khi đang trên đường về căn cứ. Đoạn đường này chúng hay cắn trộm lắm.
          - Nó cắn công khai chứ không cắn trộm đâu? Nhưng cậu cứ an tâm, chúng ta những tám tai, tám mắt cơ mà.
          - Mỗi lần có lính mới về đơn vị, thể nào các thủ trưởng chẳng cho trình bày nguyện vọng, phải không ạ? Tòng hỏi, mắt anh nhìn thẳng ra con đường nhựa loa loá phía trước.
         - Cậu lại muốn đi biển chứ gì?
         - Vâng! Tôi đề nghị được tiếp tục ở dưới tàu. Làm trợ lý trên cơ quan, tôi hãi lắm. Suốt ngày cứ ôm lấy chiếc bàn như gà mái ấp trứng ấy. Tôi cũng đã lường được công việc khó khăn ác liệt của đoàn ta, các thủ trưởng cứ an tâm. Lúc sáng, có một anh chàng trung úy rất đẹp trai, trước khi đưa quyết định cho tôi cứ thuyết mãi, nào là phải xác định tư tưởng cho tốt, nào phải an tâm công tác nào phải vững vàng kiên định vân vân và vân vân. Nghe sốt ruột quá, tôi mới gắt lên: " Này, anh đừng có đưa những điều ấy ra nói với tôi. Đã biết cầm khẩu súng, tôi rô được bổn phận, trách nhiệm và ý thức đầy đủ nghĩa vụ của mình, tôi biết mình phải sống thế nào cho phải chứ ". Anh ta đỏ mặt: "Nhưng đó là công việc của tôi". " Vâng, nếu là phần việc nhất thiết phải có của một trợ lý nhằm làm đúng thủ tục khi trao quyết định nhận công tác cho người khác thì mời anh cứ nói, tôi nghe". Anh ta im thít.

           "Thằng cha quả có ngang thật" - Đoàn trưởng Tư ngả người tựa vào ghế, mỉm cười.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 08:24:09 am

6


          Trận bom giội xuống thành phố lúc 9 giờ sáng.
          Còi báo động chưa kịp rúc thì bốn phía tiếng súng phòng không đã nổ ran. Ba tốp máy bay, mỗi tốp ba chiếc từ hướng biển thay nhau lao vào. Chúng lượn vòng, nhào lộn, gầm rít. Bom nổ. Nhà sập. Cây đổ. Khắp nơi lửa bốc rừng rực. Những ngôi nhà không trúng bom thì sạt mái, ngói rơi tơi tả. Thành phố chìm trong tiếng bom, tiếng đạn và âm thanh đủ loại. Mặt đất rung lên. Phía cảng, phía Chợ Con nhiều cột khói đen cuộn mù mịt lan tỏa khắp bề mặt thành phố.
          Trên con đường gần nhà hát, nhiều bước chân chạy hối hả. Rồi tiếng ai đó thất thanh:
          - Quay lại! Quay lại! Có hầm sập.
          Tốp người lộn trở lại. Mặt người nào cũng hốc hác,lem luốc. Cạnh ngôi nhà ba tầng vừa sập, phần trên cònchỏng chơ mấy cái cột sắt cong vênh, một hố bom lởm chởm, sâu hoắm xỉn đen đang bốc khói; cả một mảng tường đổ ụp xuống đè lên chiếc hầm công cộng mà người ta chỉ có thể nhận ra nhờ trí nhớ. Đất đá, gạch ngói ngổn ngang; quần áo, hòm xiểng, đồ chơi trẻ em bay vương vãi. Hơi nóng từ ngôi nhà, từ hố bom phả ra hầm hập.
           - Xà beng! Mang xà beng lại. Cửa hầm đây rồi! - Một giọng đàn ông hét to.
           Mọi người bắt đầu đào bới. .
           - Cẩn thận! - Vẫn tiếng người đàn ông nọ, có lẽ anh là tổ trưởng tổ cứu hầm sập - Gạt nhanh lớp gạch này ra. Mấy đồng chí có cuốc moi chỗ kia !
           Trên trời, máy bay vẫn quần đảo. Bom vẫn rền liên hồi. Súng vẫn nổ. Nhà vẫn cháy...

           Khoảng chừng ba phút thì tốp người phá thông cửa hầm. Đầu tiên họ đưa ra một người đàn ông trạc 45  tuổi, máu ứa khắp người, rồi đến hai phụ nữ, quần áo lấm lem, rách nát, đầy bùn đất, da mặt xanh lét.
          - Mang băng ca lại đây! - Người đội trưởng ra lệnh.
           Một lát sau họ kéo ra thêm được một phụ nữ nữa. Hai đùi chị giập nát, xám ngắt. Chị đã tắt thở. Kế đó là những thi thể nát bấy, quần áo dính vào người, máu me loang lổ.
          Một bà cụ từ đâu hớt hải bươn tới.
          - Con tôi! Các ông bà ơi, cứu con tôi với - Bà cụ gào lên. Rồi sà xuống, dùng hai bàn tay gầy guộc điên loạn bới bới, cào cào.
          - Các ông, các bà ơi...
          - Đừng la lên thế cụ ạ ! - Người đội trưởng nói - Điều cốt nhất lúc này là bình tĩnh. Mọi người hãy bình tĩnh...
          - Chú ý, máy bay quay lại đấy! – Có tiếng người hét lên.

          ... Ngồi dưới căn hầm cá nhân cách ngôi nhà đổ không xa, bà cụ Nhậm run bần bật. "Chưa có trận bom nào kéo dài như trận bom ngày hôm nay. Ngớt tiếng máy bay, đã ngỡ là yên, ngoằng cái, chúng lại vào, bom lại nổ. Vậy mà bố con ông ấy cứ định bắt bà đi sơ tán, đi sao đành mà đi". Bà thấp thỏm, chốc khốc lại nhô đầu lên nói vọng sang hầm bên:
           - Tôi nghe hình như bom nổ mạn nhà máy đóng tàu của con Thúy ông ạ.
           - Dễ chừng nó không biết xuống hầm đấy?
           - Ông lại đi đâu vậy?
           - Có người chết đằng kia, mình cứ đứng đây mà nhìn sao? - Ông cụ Nhậm vọt ra khỏi hầm, chạy về phía có ngôi nhà đổ.
          - Kìa ông? - Bà Nhậm thảng thốt. Nhưng bà phải ngồi thụp xuống: một chiếc máy bay rét ngay trên đầu. Tim bà đập thình thịch. Cha mẹ ơi cứ tưởng nó lao ngay vào mình. Không biết con Thúy nhà này có xuống hầm không?
         - Còi báo yên được một lúc thì ông Nhậm về. Lát sau Thúy cũng về. Cô  hớt hải chạy vội lên cầu thang, người lấm láp, mặt mày phờ phạc, da tái; chiếc mũ sắt úp chụp trên đầu.
         - Ôi, con làm sao không, Thúy? - Bà Nhậm lật đật ra đón.

          Như mọi lần, bà lại cuống quít nắn nắn khắp con gái. Và khi biết Thúy không xây xước gì, bà mới an tâm - Nhà máy có bị sao không, con? - Bà hỏi.
          - Bom nó chỉ làm sạt một góc phân xưởng cơ khí thôi mẹ ạ.
          Thúy bỏ mũ, vuốt vuốt lại tóc rồi ngồi xuống cạnh mẹ và cảm thấy ấm lòng.
          - Có ai can hệ gì không?
          - Bọn con bắn trả rát nên chúng không dám xuống thấp quăng bom lung tung.
          - Ôi, mày cũng bắn à, con?
          - Bà lạ nhỉ, con nó là tự vệ nhà máy.
          -Trời đất !
          - Nó bắn mình thì mình bắn lại chứ mẹ.
          - Ừ! Nó  bắn mình thì mình bắn lại, cái luật đời là vậy đấy bà ạ ! - Ông Nhậm thích thú giải thích, và ông nhìn con gái đang nép bên mẹ ra chiều hài lòng.
          - Mày đã ăn gì chưa? - Bà lại hỏi.
          - Con đi ngay đây mà. Ở nhà máy đang ngổn ngang, có bao việc cần làm, cần thu dọn; ổn định sớm để tiếp tục sản xuất mẹ ạ.
         - Lại đi?
         - Thấy chúng nó quần phía này nhiều, con lo quá, ngớt tiếng bom là chạy vội về xem bố mẹ, nhà cửa ra sao. Con mèo mướp đâu hả mẹ?
         Nghe nhắc đến tên, chú mèo từ góc nhà đi tới, nũng nịu dụi dụi đầu vào chủ kêu khe khẽ như muốn bảo: Tôi đây tôi vẫn còn sống đây". Thúy ôm nó vào lòng, vỗ vỗ yên đầu. Rồi cô đứng dậy:
         - Con đi đây, bọn cái Bình đang chờ ở ngã ba.
          Nhặt chiếc mũ đội lên đầu, cô nhảy xuống cầu thang. Bà Nhậm quýnh quýnh chạy theo:
         - Cẩn thận đấy con ạ, bom đạn nó không kiêng nể .ai đâu!
          Nhìn theo dáng đi chân không bén đất của con gái, bà Nhậm thương quá. "Số nó rồi vất vả, y hệt bố, lúc nào cũng lật đà, lật đật, lại gan nữa. Trưa nay nó ăn ở đâu?".

          Bà không được đông con như người ta. Trời cho bà có hai mụn. Thằng Đáng, năm đói ất Dậu tưởng bỏ bà đi may trời thương, qua khỏi, từ đó bà không rời nó một bước. Hồi chống Pháp, nghĩ mà tội, thằng Đáng vắt trên lưng ông Nhậm, bà quảy hai cái thúng, một bên là con Thúy, một bên là quần áo chiếu chăn dắt díu nhau đi. Biết con đói mà trong túi không dính một đồng xu. Lên đến Phúc Yên, gặp người quen, cho bát cháo, hai đứa giằng nhau húp. Nhìn sự thèm ăn của chúng, nước mắt bà chảy tràn hai bên má. Nào nhiều nhặn gì, có hai mống mà không đủ cho chúng no.

          Rồi ông Nhậm đi. Biết tính ông, bà không gàn, mà có gàn cũng không được. Ông lên chiến khu, làm ở công binh xưởng. Một tay bà thu vén vừa dựng nhà dựng cửa, vừa vỡ đất trồng rau, trồng sắn nuôi con.

          Hòa bình lập lại, ông về. Cả nhà đoàn tụ. Trở lại phố, ông bà có công việc làm, cuộc sống khá hơn, con cái được học hành, khi đó bà mới thấy thảnh thơi, mới hết lo lắng. Bà trẻ hẳn lại. Nhìn hai đứa ngày ngày cắp sách tới trường, tối cãi nhau những điều vừa học, lòng bà nôn nao, vui vui. Ngỡ cuộc sống từ nay cứ vậy, chỉ loăn, lo làm. Ai ngờ thằng Đáng, như bố nó ngày xưa, lại nằng nặc đòi đi. Mấy năm đầu, thỉnh thoảng còn ghé về thăm nhà, còn viết thư. Gần năm nay thì biền biệt. Ông Nhậmthường mắng bà: "Đừng cuống lên, nó đi "bê" đấy. Có hàng vạn người chứ không riêng con bà". Bà biết đi,"bê" là đi chiến đấu trong Nam, đêm đêm bà Nhậm khấn trời khấn Phật khấn quan âm Bồ tát và các thánh thần hai vai che chở phù hộ độ trì cho con bà. Rồi đến cái Thúy bỏ bà ở lại. Xách va li lên tàu, gặp bạn gặp bè là nói nói cười cười, là quên ngay mẹ. Nó không biết rằng đứng dưới sân ga, bà đang héo ruột lo cho nó đủ thứ, con gái mới lớn, nhữngviệc sinh hoạt của phụ nữ ai sẽ bày dạy chỉ bảo? Con bé kém chịu nóng, đêm đêm ai quạt cho nghỉ?... Cũng may là chỉ học mấy năm thì nó về phúc trời, được công tác gần nhà. Thế là bà đỡ đi một nỗi. Ai ngờ nay bà lại phải xa nó lần nữa.
         - Ông này! Hay là ta xin cho cái Thúy cùng sơ tán hả ông? Ông đến nhà máy nói với bác An một câu...
         - Dễ nhỉ - Giọng ông Nhậm chậm rãi. Nó là con bà, nhưng nó còn là người của xã hội, người của nhà máy; nó còn có bổn phận, còn có trách nhiệm của nó. Nó là thanh niên, là đoàn viên, hẳn bà đã biết. Bà đừng làm nó xấu hổ với bạn bè. Hơn nữa, phải có người trụ lại hành phố chứ Bà định chúng ta bỏ sản xuất hả? Bỏ sản xuất là thua. Ngày mai chủ nhật nó và cái Bình sẽ đưa tôi và bà sơ tán xuống Kiến Thụy, bà nhớ chứ?

          Bà Nhậm thở dài, đứng lên, đi xuống bếp sửa soạn bữa trưa.
          Sáng hôm sau, Lâm Khanh và Bình tới sớm.
          - Thúy ơi, tao không đưa hai cụ đi được đâu - ThấyThúy, Bình ôm lấy bạn, nói nhỏ cốt để chỉ hai người nghe - Anh Khanh sẽ đi với mày.
          - Sao thế? - Thúy ngạc nhiên hỏi.
          - Hôm nay hắn nhắn sẽ về, mày ạ. Về tạm biệt để đi xa. Khoe là chuẩn bị nhận nhiệm vụ rà phá thủy lôi ở đâu đấy nên có thể lâu lâu mới gặp được. Phá thủy lôi cũng nguy hiểm, nhỡ mai kia anh chàng có làm sao tao lại ân hận. Về để chia tay mà không gặp, thương lắm.Vậy nhé, được không?
          - Được! Bảo là cái Thúy gửi lời hỏi thăm và đừng có quên đất Cảng. Nói với chàng là bao giờ về, nhớ ôm theo quả thủy lôi để ra mặt họ nhà gái.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 08:51:10 am

           Khi Thúy và Lâm Khanh trở lại thành phố thì trời đã tối. Đường phố sáng ánh đèn nhưng quang quẻ, vắng lặng và hoàn toàn mất đi cái náo nhiệt, cái ồn ào của người, của xe trong những tối chủ nhật trước đây. Nhìn những dãy phố tiêu điều đứng lặng lẽ, những thân cây trơ trụi cháy den, những bức tường khô khốc ẩm khói, chưa đổ hẳn đứng chênh vênh bên những đống gạch vụn, nhìn những ngôi nhà mất mái oằn xuống, Thúy thấy buồn.
          Chẳng lẽ thành phố mãi mãi mất hẳn âm thanh ấy?
          Chẳng lẽ không bao giờ còn nữa tiếng nô đùa, reo hát ồn ào của trẻ em, tiếng chuông xích lô leng keng, tiếng còi ôtô tiếng bước chân, tiếng cười đùa, tiếng rao hàng hai bên vỉa hè...? Chẳng lẽ không bao giờ còn nữa tiếng đe, tiếng búa, tiếng máy chạy ầm ầm...? Yên vắng quá! Và Thúy thấy trống trải. Cô muốn về nhà máy thật nhanh để được nhìn thấy mọi người, để được nghe tiếng lửa sì ra đầu mỏ hàn, để được nghe tiếng búa gõ lên thép, lên tôn, để được nhìn lửa đỏ trong lò và để được nghe tiếng máy chạy, tiếng gắt gỏng của bác An, tiếng cười lanh lảnh của cái Bình...
          - Anh đưa Thúy về nhà nhé !
          - À, vâng - Cô như sực tỉnh, trả lời thảng thốt.
          Hai người rẽ về phía ngôi nhà hai tầng. Khanh ngồi với Thúy một lúc, nói vài ba chuyện không đâu rồi về. Thúy đưa Khanh xuống tới đường, cảm ơn anh và hẹn ngày mai gặp nhau ở phòng làm việc. Khanh trùng trình chưa muốn lên xe, nhìn ngôi nhà lặng ngắt, nhìn dáng Thúy mảnh mai, anh thấy ái ngại. Dường như Khanh muốn nói một điều gì, nhưng anh tần ngần, im lặng. Và tới lúc này, anh mới nhận ra: anh đã yêu Thúy.

          Thúy bước lên cầu thang. Đã cố bước nhẹ chân, cô vẫn thấy tiếng guốc của mình vang to quá. Và khi ngồi xuống bên chiếc bàn con, nhìn căn phòng trống trải, cô mới thấy chơ vơ, mới thấy hãi sợ. "Vậy là từ nay sẽ sống một mình nơi đây". Cô thấy nhớ mẹ, thương mẹ.

          Giờ này chắc mẹ đang nghĩ nhiều đến cô, đang lo cho cô và chắc chắn là đêm nay mẹ sẽ không ngủ. Lúc chia tay, mẹ nấn ná không muốn rời và dặn đủ điều, nào là khi qua cầu, nghe ngóng đã hẵng đi; phải cài chặt cửa đêm đêm; phải thật tỉnh ngủ để nghe còi báo động; đừng gội đầu bằng bồ kết đặc quá, dễ rụng tóc; đừng dầm nước trong những hôm đến ngày trong tháng... Rồi Thúy nghĩ tới Lê, nhớ anh. Anh đang ở đâu, anh Lê?  Có nóng ruột khi giờ này em cứ gọi tên? Ôi, ước gì lúc này có tiếng gõ cửa và một giọng thân thiết, quen thuộc cất lên: "Em vẫn thức sao, Thúy? Mở cửa cho anh!". Khi đó thì sao nhỉ? Nhất định là mình sẽ nhào ra mà ôm choàng lấy anh, rồi mình sẽ bắt anh ngồi xuống mà ngắm cho đã và nhất định là không cho anh đi khỏi đây nữa. Có nghe em gọi không, anh Lê! Anh Lê.

          Tiếng gió lùa, đập mạnh vào cửa sổ. Thúy hốt hoảng quay lại - "Có ma không nhỉ?". Toàn thân cô ớn Lạnh. Cô gõ mạnh xuống bàn và định hát một câu gì thật to. Chợt Thúy giật nảy, toan thét lên, có vật gì dụi dụi vào chân. Song Thúy đã kịp nhận ra: chú mèo mướp!
          - Đồ quỷ! Mày làm tao sợ hết hồn - Thúy mắng - Đi đâu về thế? Chưa ăn gì hả? Để tao lục cơm nguội. Tao cũng đang đói đây.
          Thúy ôm mèo trên tay, thấy đỡ sợ. Cô lại phía chạn đựng thức ăn:
          - Đừng chạy rong. Máy bay Mỹ nó cắt hộ khẩu đấy, nghe chưa?

          Thúy xúc một muỗng cơm cho vào bát, để lên bàn. Con vật nhìn cô rồi uể oải nhấm từng hạt. Ăn xong, cậu thè cái lưỡi hồng hồng ra liếm mép.
         
          Suốt đêm ấy Thúy không có ý định ngủ. Cô ôm mèo vào lòng và cả hai ngồi bên chiếc bàn nói chuyện. Con mèo có lẽ cũng hiểu tâm trạng chủ nên ngoan ngoãn nằm khoanh tròn trên đùi Thúy, chốc chốc lại ngước cặp mắt xanh lên nhìn cô, kêu meo meo ra chiều thông cảm, ra chiều hiểu chuyện.

          Gần sáng thì có còi báo động. Thúy và mèo vội chạy xuống nhà. Nhưng lần này máy bay không vào. Chắc là chỉ rập rình ngoài khơi.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 09:13:24 am

7


           Thúy đã bắt đầu quen quen với cách sinh hoạt của mình. Sáng sớm ngủ dậy, nấu cơm thật nhanh, gắng ăn một ít, để lại cho mèo mướp nửa bát, còn bao nhiêu tống cả vào cặp lồng rồi tất tưởi đến nhà máy.
          - Mèo đừng ra ngoài nhé. Ra ngoài nhỡ có khách họ lại ngỡ tao đi vắng xa - Thúy ngồi xuống cạnh mèo và dặn - Chịu khó trông nhà, chiều về sẽ có quà. Thích gì nào? Một chú cá rô nướng giòn nhé. Có máy bay thì chui qua cửa sổ xuống hầm. Nào, nghe rõ chưa?
          - Meo! Meo!
          Ngỡ là mèo đã đồng ý, nhưng ra tới đường, quay lại, Thúy thấy nó lẽo đẽo phía sau. Cô dừng lại:
          - Sợ à? Tối tao về mà. Vào nhà ngay.
          Con vật ngơ ngác một lúc, rồi như hiểu, nó lủi thủi quay về, chạy nhanh lên cầu thang, phốc qua cửa sổ, vào nhà. Ngồi trên bàn nhìn xuống đường, thấy vắng teo, cu cậu buồn, liền nhảy sang giường, nằm cuộn tròn, lim dim mắt, nghĩ ngợi. Chợt nghe có tiếng chim sẻ cãi nhau chí choé trên cành bàng, mèo mở mắt rồi đứng dậy rón rén bước qua bàn, lại bên cửa sổ. Ngước lên thấy mấy ả sẻ cái xoè cánh rung rung làm duyên làm dáng với mấy cậu sẻ đực, mèo trừng mắt nhìn. Mèo đã định lặng lẽ trèo lên cây, thu mình vào một hốc nào đó, rình. Và các ả kia đang mải tí tởn, đừng hòng thoát! Nhưng có lẽ nhớ lời chủ dặn, nên cu cậu chỉ ngồi im bên thành cửa sổ vểnh râu lên dọa. Dẫu sao có lũ chim ấy, vẫn vui hơn.

           Hôm nào Thúy cũng đến nhà máy sớm. Song Lâm Khanh còn đến sớm  hơn. Vào phòng đã thấy anh ngồi bên bàn. Quê Hà Nội, đất Hải Phòng không quen ai nên anh ăn ở hẳn trong nhà máy.
          - À, Thúy đây rồi? - Vừa trông thấy cô, Khanh bỏ tập tài liệu đang đọc, reo lên - Hôm nay Thúy và tôi sẽ lên phòng giám đốc họp nhé.
          - Em à? Cần không anh? Em đang rất bận với cái đề tài cải tiến cách hàn ghép sườn tàu cho kịp mà.
          - Việc này cũng cần, cần hơn. Phục vụ mấy chiếc tàu hải quân đang đóng đấy.
          - Nhưng sao lại không thể là cái Bình, cái Hằng, bác Hạo hoặc anh Sơn. Trong phòng còn bao nhiêu người...Khanh nghĩ ngợi một lúc rồi bảo:
          - Nhưng hôm nay anh muốn Thúy cùng họp.
          "Anh Khanh để ý đến mày đấy em ạ . Được trưởng phòng quan tâm, sướng nhé" - Đã có lần Bình nói với Thúy như vậy. Song cô không tin, anh ấy thừa rõ là Thúy đã có người yêu. Anh Khanh có lạ gì anh Lê?
          - Bác An yêu cầu em à?
          - Giám đốc không yêu cầu cụ thể ai cả... Song... anh muốn em cùng dự cuộc họp này - Khanh nhắc lại.
          - Vâng, nếu vì công việc.

          Hai người lên tới phòng giám đốc đã thấy ông Hạng trưởng phòng cung tiêu, ông Bang quản đốc phân xưởng cơ khí và vài ba người nữa ở đó. Họ vừa hút thuốc lào vừa nói chuyện. Người kể rằng hôm qua thêm một đơn vị pháo nữa về, đào hầm đắp ụ cả đêm; người bảo nghe đâu Giôn-xơn vừa tuyên bố sẽ cho Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá.
          Giám đốc An ngồi phía đầu bàn, chốc chốc nghiêng cổ tay xem đồng hồ.
          - Anh Hành bên kế hoạch chưa thấy nhỉ? - Ông hỏi.
          - Báo cáo giám đốc, đề nghị cứ họp, lão ấy thì hôm nào chẳng đến muộn. Còn phải rửa bát, quét nhà đã. Chưa xong việc, cô ấy chưa cho đi.
          Mọi người cười rộ lên.
          Lát sau, có tiếng huỳnh huỵch chạy vội dưới cầu thang, rồi trưởng phòng kế hoạch Hành xuất hiện ở cửa.

          Trông anh không trẻ mà cũng chẳng già; người đậm, dáng vất vả, khuôn mặt vuông, khắc khổ; chiếc cặp ôm bên nách, miệng vẫn ngậm tăm.

          - Ôi dào, trời không nghe đất thì đất phải nghe trời 1.  Cô ấy nhà tôi dứt khoát không chịu đưa các cháu đi sơ tán, nói mãi cũng vậy thôi - Vừa ngồi xuống ghế, Hành đã phàn nàn - Kêu là "Anh định đầy mẹ con tôi à? Xuống đó để ăn nước ao, thắp đèn dầu, ngủ cạnh chuồng bò, chuồng lợn cho muỗi nó khênh ra đồng. Tôi không quen sống như thế ". Chà, tôi nài nỉ van vỉ thế nào cũng cứ khăng khăng đòi ở lại. Thôi thì mặc xác cô ấy.
          - Liệu có mặc xác được không? - Ông Bang ngồi cạnh đó huých khuỷu tay vào sườn Hành - Tại từ xưa tới nay ông chiều bà ấy quá, bà ấy quen rồi.
          - Chiều à? Tôi vừa cho cô ấy cái bạt tai!
          Phòng họp cười vang bởi câu nói của Hành và bởi cả khuôn mặt cố tỏ ra quan trọng, cứng cỏi khá hài hước của anh.
          - Ông bạt tai bà, hay bà bạt tai ông?
           Giám đốc An bắt đầu chủ trì cuộc họp. Ông thôngbáo tình hình sản xuất trong tháng, những việc làm được và những việc chưa làm được.Ông nói thong thả và mỗi vấn đề nêu ra đều có số liệu xác thực. Ông phân tích những mặt mạnh, những mặt yếu với một thái độ khách quan. Và những điều ông yêu cầu với từng phòng, từng phân xưởng là có cơ sở chứng tỏ ông đã nghiền ngẫm và nghiên cứu kỹ những vấn đề đó. Phần cuối, ông đề cập đến việc đóng tàu cho hải quân.

          Phòng họp thảo luận sôi nổi. Người đề ra biện pháp này, kẻ yêu cầu đủ vật liệu, đủ nhân lực... Ai cũng nhiệt tình, hăm hở và thấy rõ trách nhiệm. Tuy vậy không ít ý kiến bàn ngang, chỉ nêu khó khăn. Cuối cùng thì tấtcả đều thống nhất là phải làm và sẽ tổ chức làm việc thật hợp lý .
          - Như vậy là thực tế đang đặt ra cho ta nhiều yêu cầu ngoài dự kiến - Giám đốc An kết luận - tình hình lại phức tạp, máy bay Mỹ ngày nào cũng vào đánh phá và điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất. Tôi đề nghị mọi sinh hoạt phải đi vào nếp sống thời chiến. Từ nay, không có cái gọi là giờ hành chính nữa. Chúng ta không làm việc theo giờ mà làm việc theo sự đòi hỏi của công việc theo lương tâm người thợ; làm việc theo ý thức của một công dân trước thực tế của cuộc chiến đấu. Nhà máy sẽ làm việc liên tục trong hai mươi bốn giờ liền. Máy bay vào thì phòng tránh, đánh trả, máy bay đi lại tiếp tục sản xuất. Ai chưa ổn định gia đình, tôi yêu cầu các phòng ban, các phân xưởng sắp xếp để họ ổn định. Dừng nhấp nhổm, đừng ngóng chờ; phải xác định cuộc chiến còn kéo dài. Tôi mong các đồng chí từng hộ ban giám đốc bằng cách tổ chức lao động hợp lý ở bộ phận mình và có năng suất.



------------------------------
Chú thích:
1. Đáng ra phải nói: đất không chịu trời thì trời phải chịu đất


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 09:28:37 am

           Cuộc họp giải tán. Ra ngoài sân, Hành nói với ông Bang:
           - Dạng tàu gì mà lạ vậy? Khoang thì chứa hàng, trên boong lại như tàu đánh cá. Ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai... .
          - Sao ông không nói trong cuộc họp?
          - Mấy cha bên hải quân thật rắc rối, họ tự nghĩ ra cái kiểu tàu kỳ thật. Thay đổi thế thì "kế hoạch” chúng tôi theo sao kịp.
         - Ông không rõ là trên Bộ đã có chỉ thị phải đóng tàu theo mọi yêu cầu của Bộ tư lệnh Hải quân à? Mai đây các ông ấy lại sang yêu cầu đóng tàu đuôi vuông, đầu tròn không chừng...
          Chờ mọi người ra hết, Thúy mới lần xuống cầu thang.
          - Việc cải tiến cách lắp ghép khung tàu của cháu đến đâu rồi? - Giám đốc An bước kịp cô và hỏi .
          - Dạ, cũng còn vài vấn đề kỹ thuật cần xử lý nữa ạ.
          - Sắp tới cháu sẽ cùng với Lâm Khanh tính toán và sửa đổi một số chi tiết trên mặt boong như đã bàn trong cuộc họp; kỹ thuật phái đi trước một bước, bận đấy, vất vả đấy
          - Cháu sẽ cố gắng ạ.
          - Cháu sinh hoạt thế nào? Ở một mình buồn lắm hả? Có sợ không? Bác chưa lại thăm cháu được đấy, bận quá nhưng bác hứa sẽ tới. Nhất định thế.
          - Mời bác lại chơi. Cháu có con mèo ngoan lắm.
          - Thế à, nuôi cả mèo cơ đấy.
          - Nó là bạn của cháu. Bác ơi, cháu định mang tài liệu về nhà, tranh thủ làm thêm ban đêm, được không ạ?
          - Mang bản vẽ về nhà? Riêng cái sáng kiến của cháu thì được. Còn tài liệu xung quanh việc thiết kế tàu thì... cháu cũng biết đấy, dù là dạng kiểu gì, đây cũng là tàu quân sự, làm những việc quân sự. Chẳng phải là bác không tin cháu...
          - Dạ, cháu hiểu.
         
           Buổi chiều, trước khi về, Thúy rẽ qua ụ tàu. Cô đi một vòng rồi lại chỗ tổ thợ hàn.
           - Mày đấy à, Thúy! Lại đây! - Trông thấy cô, chị Huệ ngừng tay hàn - Thế nào, ở một mình buồn lắm hả? - Chị kéo Thúy ngồi xuống một khung sắt  - Dạo này gầy đi đấy. Hay là lại đằng chị ở cho vui?
           Thúy cười :
           - Vậy thì anh Cựu sẽ kiện em!
           - Ôi dào, cái lão Thiên Lôi ấy đứng hò hét suốt ngoài bến phà, có đêm nào chịu ngủ ở nhà. Chị bảo thì gắt ngậu lên: Cô đừng tường cái việc đóng tàu của cô mới quan trọng. Vấn đề đảm bảo giao thông cho bộ đội, cho nhân dân trong tình hình hiện nay là việc quân sự mang ý nghĩa đặc biệt. Cầu phà là mạch giao thông Vậy nhưng sau mỗi trận bom, lại lật đật tới nhà máy tìm chị. Lo mà !
          - Em đùa vậy thôi, em ở một mình quen rồi, có chú mèo mướp nên đỡ buồn. Với lại không thể bỏ nhà mà đi được Thỉnh thoảng cái Bình lại đằng em. Nó mà đến thì mồm miệng liến láu, chuyện suốt đêm. Cu cậu đang vui, khi người ta yêu người ta thấy vui chị ạ.
          -  Cô thì sao?
          - Em thì buồn. Anh Lê em có mấy khi về đâu, chị. Còn anh chàng Nam của cái Bình tuần nào cũng rẽ qua. Những hôm ấy anh chị ríu rít cả ngày. Nhưng dạo này anh Nam cũng bận rồi, đi xa rồi. Cái Bình nhớ đến úa cả người... Cháu về dưới bà có ngoan không, chị?
          - Nhắc tới cháu lại nhớ. Hôm nọ anh và chị có về thăm, lúc chị đi, cu cậu bíu chặt mẹ, không muốn rời. Chập chừng rồi. Hay cười lắm, khi cười, mắt tít lại như mắt bố. Đêm đêm nằm nhớ con không nghỉ được - Chị Huệ cười, nhường lại đưa tay áo lên quệt ngang mắt - Nhớ con, lại thương chồng, em ạ. Hồi đẻ cháu, anh vui lắm. Hễ về đến nhà là sà vào với con, hôn hít bế ẵm. Đêm nghỉ, chốc chốc lại nhổm dậy xem chừng con có bị chăn đè lên mặt không. Nó mà ho vài tiếng là cuống lên, rồi cà riềng cà tỏi với chị rằng không biết giữ ấm cổ cho con. Thì em tính, lấy nhau ngần ấy năm, bốn mươi tuổi rồi mới được một mụn con, mà cũng chạy hết thầy nọ thuốc kia dấy chứ. Tuần đầu đưa cháu về cho bà, hai vợ chồng ngẩn ngơ, buồn dứt. Anh ăn rồi lại ra bến phà, lầm lầm lì lì. Đàn ông họ gan, không như chị em mình,nhớ con đấy nhưng chẳng nói ra đâu.
            "Thật tội chị, em thương chị quá chị Huệ ơi " – Thúy cầm tay chị Huệ.
            - Mỗi người một cảnh, chẳng ai giống ai...
            - Chị phải hàn cho xong chỗ này đã - Chị Huệ đứng dậy - Phải tranh thủ những lúc chưa có báo động em ạ. Nghe nói bên hải quân yêu cầu hạ thủy tàu gấp phải  không Thúy?
           - Vâng, việc quân sự mà.
           - Họ đã yêu cầu là cần đấy. Chị em mình mỗi người phải gắng một phút.
            Ra khỏi cổng nhà máy, Thúy vòng xuống chợ mua ít thức ăn rồi về nhà .
            Mèo mướp thấy chủ vào, mừng rỡ nhảy tới, cuống quýt cọ người vào chân Thúy.
            - Mày không ra ngoài chứ? Ngoan lắm! Lại bỏ mứa cơm à? Không có thức ăn hả? Đừng cuống lên thế, biết mày đói mà. Tao đã mua cá đây, nhưng kho đã, chốc nữa sẽ ăn bù. Bây giờ có thể chạy xuống sân phơi một lúc cho thoải mái, nhưng đừng đi xa đấy... Hiểu chứ?
           - Meo! Meo!






Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 08 Tháng Sáu, 2009, 09:56:10 am

8


          Về đoàn ba hôm, Tòng được giao làm thuyền trưởng tàu T.37. Anh chàng sướng quá, quên cả ý tứ, oang oang nói trước mặt ban chỉ huy:
         - Báo cáo các thủ trưởng, không gì nhạt hơn là ngày ngày nằm dài ở phòng khách để chờ công đợi việc. Hồi mãn khoá ra trường, chúng tôi xin về qua nhà vài ngày, được giải thích rằng tình hình đang khẩn trương, các đơn vị rất khan cán bộ, cần về gấp để tham gia chiến đấu. Tưởng phen này không kịp cởi ba lô, nhảy xuống tàu là đi đánh nhau ngay. Ai dè về tới trạm khách cơ quán Bộ tư lệnh, gọi điện đến năm lần, bảy lượt mới có người của phòng cán bộ ra: "Các đồng chí cứ an tâm chờ, chúng tôi đang nghiên cứu. Chỉ mấy câu cụt lủn thế, rồi mất hút. Tưởng cũng chờ một hai hôm, ai ngờ nằm thâm chiếu trạm khách mà việc nghiên cứu ấy vẫn chưa xong. Biết chắc rằng trước sau gì cũng về làm thuyền phó ở một đơn vị nào đó, vậy mà không rõ sao cái điều ấy cứ phải kéo dài hàng tháng. Chẳng lẽ việc phân anh A xuống B, anh C xuống D cũng cân nhắc lâu vậy? Bây giờ ở đây giải quyết như thế này là nhanh rồi. Tôi xin cảm ơn các thủ trưởng - Tòng cười hơ hớ, đoạn bắt tay mọi người, hất ba lô lên vai, băm băm bô bổ đi xuống cảng.

            Về tới tàu Tòng sà ngay vào công việc. Tàu T.37 đã nửa năm nay không có thuyền trưởng. Chính trị viên  Đạm rất tốt, song bản tính cả nê, chuyện tàu thuyền anh nắm cũng không sâu nên đâm rụt rè, thành thử công việc chuyên môn trên tàu gần như một mình thuyền phó Xuyên quán xuyến, từ việc huấn luyện chiến sĩ đến việc sửa sang tàu. Vì thế thấy Tòng về, Xuyên và  Đạm mừng lắm. Mà chẳng riêng gì hai người mừng thủy thủ toàn tàu mừng. Ai chẳng muốn cái tập thể nho nhỏ của mình có đầu dàn để mà ăn mà nói với trên và để  khỏi lép vế so với tàu bạn. Lâu nay thủy thủ T.37 có mặc cảm rằng hình như tàu mình bị bỏ quên. Trong khicác tàu khác náo nức, lo âu, bận rộn với nhưng chuyến tới , thì thủy thủ tàu T.37 ngày ngày gõ gỉ, sơn tàu, lại gõ gỉ, huấn luyện. Mà huấn luyện toàn những điều chung chung, mang tính hình thức nhiều hơn là do sự đòi hỏi bức thiết của công việc. Ai cũng buồn vì thấy tàu mình thừa ra giữa bao sự bộn bề, khẩn trương của nhiệm vụ chiến đấu và chi viện cho chiến trường. Chính trị viên Đạm nhiều lần thắc mắc, nhưng giải thích rằng: đang thiếu cán bộ, chờ đã. Và cứ chờ...

           Việc bàn giao tiến hành nhẹ nhàng, chóng vánh. Tòng còn lạ gì với việc quản lý và điều khiển một con tàu. Bước đầu mọi việc đều suôn sẻ . Nhưng khi kiểm tra đến hệ thống máy thì Tòng thực sự khó chịu: Hình như đây không phải là con tàu mà là một ngôi nhà nổi bằng thép.
           - Nhưng đoàn có quan tâm tới đâu - Thuyền phó Xuyên phân bua - Máy hỏng đằng máy, lái hỏng đằng lái. Cứ nghĩ rằng tàu đã không hoạt động nên chúng tôi cũng chán cả việc sửa chữa.
           - Thế ý thức thủy thủ và lòng tự trọng của các anh biến đi đâu cả? Đoàn không quan tâm? Vậy chúng ta đã làm gì để đoàn quan tâm? Con tàu này trước hết là của chúng ta.
            Nói xong, Tòng tuông đi. Anh xộc thẳng vào phòng ở của bộ phận cơ điện.
            - Anh Mánh này, theo anh thì chúng ta có khả năng sửa được máy tàu không?
            Tòng hỏi, anh nhìn thẳng vào người trưởng ngành cơ điện dễ chừng hơn anh đến dăm ba tuổi, đen và chắc như một con cá trắm. Mánh vơ vội chiếc quần dài, xỏ vào.
            - Báo cáo, lâu nay thực tình tôi cũng chưn nghĩ tới - Mánh trả lời, hơi lúng túng trước sự xuất hiện đột ngột và câu hỏi cũng đột ngột của thuyền trưởng.
           - Nhưng bây giờ phải nghĩ tới thì sao?
           - Đề nghị thuyền trưởng cho chúng tôi một thời gian, như vậy câu trả lời mới chính xác. Nhưng theo chủ quan của tôi thì ta sửa được. Sửa được hay không là ở chỗ ta có muốn sửa hay không?
           - Đúng quá, anh Mánh! - Tòng vỗ mạnh lên vai Mánh và kéo anh cùng ngồi xuống chiếc giường chật hẹp bằng nửa chiếc giường cá nhân bình thường treo bên vách làm chỗ ngủ cho lính tàu - Chiều nay tôi và bộ phận cơ điện của anh sẽ xuống khoang máy. Anh em ta sẽ cùng nhau xem xét... Làm anh lính thủy mà bằng lòng ở trên một con tàu chết sao? Thà lên quách bờ cho đỡ khổ.
           - Thế thuyền trưởng tưởng chúng tôi sung sướng lắm à? - Mánh nói - Khi cả đoàn bận bịu, lo lắng với công việc thì sự nhàn rỗi của chúng tôi khác nào một hình phạt. Chúng tôi cũng có nỗi đau của người lính thủy khi phải giam mình gần nửa năm nay bên cầu cảng đấy chứ. Mỗi lần nhìn tàu bạn nổ máy ra khơi, lại chạnh buồn. Thuyền trưởng đừng nghĩ rằng chúng tôi bằng lòng. Chẳng ai có chút tự trọng lại bằng lòng khi thấy mình đang đứng ngoài cuộc. Là cán bộ, tôi nghĩ là phải hiểu  cho đúng người lính…
            Như sợ mình quá lời, Mánh dừng lại, anh bối rối nhìn quanh căn phòng chật hẹp, bừa bộn những quần áo và đồ dùng vất chỏng chơ.
            - Thuyền trường ngồi đây. Tôi gọi anh em pha nước uống đã .
            - Không? Tôi đang muốn nghe anh nói, anh Mánh ạ.
            - Tôi à ? Còn biết nói gì thêm nữa.
            - Chưa hết đâu! Anh cứ nói những điều anh hằng nghĩ. Tôi muốn hiểu cho đúng các anh, như anh nói đấy - Những điều tôi hằng nghĩ à? Vâng, thuyền trưởng đã hỏi, thì xin nói: Trước đây ta cũng có một con tàu mang tên T.37, nhưng người thuyền trưởng và toàn bộ thủy thủ cùng con tàu ấy mãi mãi không bao giờ trở về cảng nữa. Người thuyền trường đã điểm hôa cho nổ năm tạ bộc phá hủy tàu khi thủy thủ bắn hết viên đạn cuối cùng. Con tàu chúng ta đang ngồi đây lại được mang tên T.37 để mấy tiếng "T.37" không bao giờ mất đi, không bao giờ bị lãng quên. Chúng tôi cũng đã hai lần đưa vũ khí vào Cà Mau. Và một thời đã không xấu hổ với cái tên T.37. Đầu năm, do thiếu cán bộ, anh Tài, thuyền trưởng dược điều sang tàu T.45 để đi Bến Tre. Chuyến đó thả xong hàng thì bị địch quây. Anh Tài và một số anh em đặt giờ nổ bộc phá để hủy tàu. Sau đó rút lên bờ, đợi. Song do trục trặc thế nào đó mãi mười lăm phút sau, bộc phá vẫn không nổ. Tàu địch đang vào gần. Từ trên cồn cát anh Tài lao xuống, tới mép biển thì tàu nổ, anh hy sinh. Từ đấy chúng tôi như rắn mất đầu... Buồn chứ! Sao lại có thể bằng lòng được Nghĩ tới anh Tài, nghĩ tới anh em đã hy sinh, thật xấu hổ với sự chờ đợi  vô lý này.
            Tòng cầm lấy bàn tay dày, thô của Mánh:
            - Chúng ta sẽ xoá bỏ sự vô lý này. Anh Mánh nhất trí chứ?
            - Con người dễ chấp nhận hoàn cảnh anh ạ - Mánh nói như một nhu cầu tâm sự. Anh bắt đầu thấy có sự gần gũi, đồng cảm giữa mình và người thuyền trưởng mới - Đầu tiên chúng tôi có bức, có thắc mắc. Nhưng dần dà rồi quen. Tôi nói là "quen" chứ không phải "bằng lòng". Lại cũng đã có lúc tặc lưỡi: ôi dào, tại trên chứ đâu phải tại mình. Nói là tại trên, bởi vì đoàn phải có trách nhiệm hơn chứ. Các ông ấy thừa rõ tàu hỏng. Chính trị viên Đạm đã bao lần phát cáu, rồi cũng chịu; dễ chừng không có "T.37", không đưa dược vũ khí vào trong kia hẳn. Vâng, đành là thế. Và sự buông xuôi bắtđầu gặm nhấm mọi người. Chẳng ai ngó ngàng tới công việc nữa.  Cũng chẳng ai đốc thúc. Tháng ngày qua đi trong sự nhàm chán. Thuyền phó Xuyên mới ở trường ra, anh năng nổ, nhưng chưa có kinh nghiệm. Và dần dà cũng chán, muốn sang tàu khác. Chính trị viên Đạm hò hét lắm cũng nản. Lỗi tại ai à? Thật khó nói! Lỗi tại trên.  Đúng? Lỗi tại chúng tôi. Đúng!  Do thiếu cán bộ . Đúng! Có những khuyết điểm thật dễ bao che. Có  lú tôi nghĩ: Nếu máy bay tới oanh tạc thì thế nào nhỉ? Con tàu không cơ dộng được chỉ còn trơ ra làm mồi cho chúng nó. Và điều ấy có thể xảy ra chứ. Nghĩ mà rùng mình. Khi đó ai là người chịu trách nhiệm trước sự hư hại của con tàu Tôi tin là không một ai hết. Người ta dễ dàng. Điều kiện cho phép mọi người tự đánh lừa mình và rũ trách nhiệm... Tôi là thợ máy, vậy mà... Cũng khổ tâm lắm!

            Tòng bóp mạnh tay Mánh và thấy ấm lòng. Anh đã bắt gặp cái tất thủy thủ đang âm ỉ lắng sâu trong Mánh và có lẽ cái lõi ấy đều có trong hết thảy mọi người trên con tàu này. Họ đang khát khao một điều gì khác chứ không bằng lòng với sự đợi chờ, có điều là phải tổ chức. Và Tòng đã không lầm.

            Hôm đó, sau khi hội ý với Đạm, Tòng cho họp toàn tàu Anh không nói dài, với nữa, anh cũng không biết nói dài, lại càng không biết nói những lời chung chung. Anh nói rằng tất cả những người ngồi trên boong tàu này sẽ không xứng đáng là cái gì hết, nếu cứ huyễn hoặc rằng mình là thủy thủ, rằng mình đang ở trong một con tàu, mà thực chất đó chỉ là một khối thép đã chết lặng từ lâu.
           - Không ai cho phép chúng ta tự nhận như vậy, nếu ngày mai, ngày kia vẫn bằng lòng thế này. Chôn hai tiếng "thủy thủ" cho sâu, rồi kéo nhau lên bờ ở, thoải mái hơn - Tòng nói - Phải sửa máy, phải nhất quyết làm cho con tàu sống lại cái đồng chỉ ạ. Tôi và các đồng chí, chúng ta sẽ cùng làm. Khó? Đương nhiên. Làm việc gì chẳng khó. Chúng ta nằm dài đã nửa năm nay, vậy là quá lắm rồi! "Chúng tôi đã đủ cán bộ, tàu chúng tôi nhạy tốt, cớ gì không trao nhiệm vụ cho chúng tôi?" Lúc đó chúng ta có quyền đòi hỏi như thế. Và gặp anh em các tàu khác, chúng ta không phải cúi mặt. Chúng ta cũng không xấu hổ khi nghĩ tới anh Tài và các đồng chíđã hy sinh. Chúng ta sẽ là một T.37 đúng nghĩa, đúng chất của nó...
            Dường như không ai phản dối. Ý kiến của Tòng đánh đúng vào những điều lâu nay mọi người vẫn nghĩ.

            Như khối thuốc nổ được châm ngòi, tàu T.37 náo nức trong không khí mới. Từ sáng sớm, tiếng búa gõ vào thép đã vang lên. Cần phải tẩy sạch mọi han gỉ bám quanh con tàu? Tổ thợ lặn do thuyền phó Xuyên phụ trách đảm nhiệm việc cạo hà. Họ đã sẵn sàng thả mình xuống nước. Công việc đòi hỏi phải có những người khỏe mạnh, dẻo dai và bơi lặn giỏi. Xuyên đã được ưu tiên chọn những thủy thủ ưng ý nhất. Tổ hàng hải nhận công việc tu chỉnh trong buồng lái. Ở đây cần những người tỉ mẩn và khéo tay. Bộ phận thông tin tự làm lấy việc kiểm tra và sấy máy. Mánh dẫn tổ cơ điện chui xuống khoang từ khi chưa có tiếng búa gõ trên mặt boong. Họ hì hụi tháo, lắp. Người nào cũng bê bết dầu,mỡ và mồ hôi. Chân tay lấm láp. Tới gần trưa thì Mánh bô di tìm Tòng. Anh nở nụ cười thỏa mãn và chìa ra trước mặt thuyền trưởng một mảnh giấy:
           - Báo cáo, chúng tôi sẽ sửa được? - Mánh khẳng định, mắt anh sáng lên. Anh nhìn Tòng như thể muốn truyền sang người thuyền trưởng niềm vui của mình - Chỉ xin một số phụ tùng nhỏ, đã kê trong mảnh giấy này. Nếu trên cho đủ, không dầy một tuần sau, con tàu của chúng ta có thể ra khơi.
          - Tôi sẽ lo việc này. Tòng giật mảnh giấy nơi tay Mánh và đập mạnh tay lên vai người máy trưởng; mắt anh cũng sáng lên chẳng khác gì mắt Mánh - Tôi sẽ lên ban kỹ thuật ngay bây giờ.
           Trưởng ban kỹ thuật, một thượng úy ngoài ba mươi tuổi tiếp Tòng với thái độ chăm chú. Anh lướt nhanh những hàng chữ trên mảnh giấy Tòng vừa đưa rồi ngẩng lên:
           - Chỉ mấy thứ đơn giản thế này thôi.  Chà, nhưng liệu có dám chắc rằng sửa được không, Tòng? Đã lâu lâu mình không nghe tiếng máy của tàu T.37 nổ rồi đấy nhé! - Anh nói, vẻ ái ngại - Kiểm điểm lại, bọn mình cũng có khuyết điểm với T.37, nhưng mình mới về…
           - Thủy thủ trên tàu chúng tôi nói rằng sửa được hay không là ở chỗ ta có muốn sửa hay không.
           - Khá lắm! Vậy thì mình tin. Các ông có yêu cầu gì thêm ở ban kỹ thuật không? Có lẽ câu hỏi ấy hơi muộn mằn?
           - Trước mắt, có lẽ chúng tôi tự lực được.
           - Cần gì cứ ới một câu nhé. Bọn mình sẽ cữ người xuống. Mình cũng đã tính tới chuyện này. Có cậu về tàu, thật may.
           - Còn những thứ yêu cầu trong này?
           - Chiều nay mình báo cáo đoàn. Sáng mai ông cho người lên lĩnh được chưa?
           - Mong rằng trong đoàn ta có nhiều người làm việc như anh.
           - Sao lại nói thế?  Mình chỉ ủng hộ những việc làm đúng.
           "Một người hiểu biết và có trách nhiệm". Trên đường xuống tàu, Tòng nghĩ, "anh ta có thể giúp mình trong nhiều việc".

           Tòng về tới tàu, đúng vào lúc anh em đang ăn cơm. Mặt boong rôm rả tiếng nói cười. Tòng ngồi xuống cùng ăn.
           - Chúng tôi kiến nghị với thuyền trưởng, yêu cầu cho tiếp tục làm luôn đấy ạ - Một thủy thủ lên tiếng khi bữa ăn đã tàn - lâu nay chúng tôi ngủ nhiều rồi.






Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 11 Tháng Sáu, 2009, 04:06:29 pm

           Chính trị viên Đạm đón lời:
           - Lúc nãy thuyền trưởng đi vắng, tập thể chúng tôi bàn và ra nghị quyết: sẽ không nghỉ trưa trong thời gian sửa tàu. Điều đó có thêm một hợp lý nữa: chúng ta cần tranh thủ thời gian con nước ròng; vài ba bữa tới, nước cường, việc ta sửa đáy tàu gặp rất nhiều khó khăn. Đề nghị thuyền trưởng cho ý kiến?
          - Nếu là ý kiến tập thể, tôi xin chấp hành. Chỉ thêm một ý kiến nhỏ: nhằm bảo đảm sức khỏe cho mọi người, ta cần cử ra một tổ chuyên lo cải thiện bữa ăn. Đợt này nước xuống, tôm, cua, cá chắc sẵn.
         - Việc ấy tôi xin đảm nhiệm - Một thuỷ thủ da đen trũi nói - làm lính biển phải biết bắt biển nuôi mình chứ.
         - Nhất trí !
         - Đồng ý !
         - Hoan hô !
         - Tối nay tôi sẽ bơi ra hòn Néo xem sao - Tòng nói vui vẻ - nhất định họ nhà cua sinh cơ lập nghiệp ở đó. Mỗi ngày ta chỉ cần mươi chú là có nồi canh ngon.
         - Ôi thuyền trưởng cũng bơi được xa vậy ư?
         - Hồi chưa đi bộ đội, ngày nào mình chẳng bơi qua bơi lại vài lần trên dòng sông Lô. Ở đây ông nào đã lên mạn trung du nhỉ? Anh Đạm chắc đến rồi?
         - Đã có dịp đâu - Đạm trả lời - Hồi còn nhỏ, định theo bà đi hội đền Hùng mấy lần đều trượt...
         - Đầu tiên cô nàng mê tôi bởi tôi bơi giỏi đấy nhé!
         - Ai vậy thuyền trưởng? - Đám thủy thủ sán lại.
         - Ồ, hỏi vớ vẩn - Một thủy thủ cự - Còn ai vào đây nữa. Kể đi thuyền trưởng ơi, chắc là một câu chuyện  tình lý thú .
         - Nếu cô nào cũng mê người bơi giỏi thì cánh lính thủy bọn mình có nhờ.
         - Đen nhẻm và gầy khô như cậu có mà ... người ta mê khối.
         - Vậy thì lấy sơn màu quét lên những thằng bù nhìn rơm sao cho thật sáng sủa, đẹp mã gả cho những cô gái chuộng hình thức của cậu.
          Tiếng cười tràn mặt boong.
          Tòng thấy vui, anh kể:
          - Vì chưa có ai hay con sông Lô, nên tôi phải nói qua một chút. Dòng sông của miền trung du ấy không giống các con sông khác ở chỗ rất ít phù sa, cho nên hầu như quanh năm nước cứ trong leo lẻo. Nói là ít phù sa chứ không phải là không có. Qua mỗi mùa nước, hai bên bờ sông lại kín xanh lá ngô. Ngô bãi thân mập, lá to, bắp to; ăn những hạt ngô non đang lên sữa, ngọt như đường. Các ông đừng nghĩ rằng cái lão Tòng bẻm mép lại đang tìm cớ tán hay, tán tốt cho quê mình. Chính tôi đã ăn những hạt ngô ấy. Ăn sống. Tại sao biết ăn sống ngô non cũng là một câu chuyện thú vị, nhưng xin khất dịp khác. Tôi trở lại đề tài về bơi. Chiều nào cũng vậy, dù bận tới đâu cũng cố dứt việc để ra với dòng sông. Sự ấy đã thành lệ. Thành lệ từ bao giờ thì không nhớ, có lẽ từ lúc còn bé xíu, được ông nội dẫn đi tắm. Ông thường bế tôi tới chỗ nước sâu, rồi thả đó, mặc cháu nổi chìm, uống no nước. Tôi đành cố nhoài vào bờ, ông lại bế tôi ra, lần sau ra xa hơn lần trước. Có lẽ vì vậy mà tôi biết bơi sớm. Ông tôi thường bảo:"Làm đàn ông là phải biết dạn dày với sông nước, cứ lúi húi bên chuồng lợn, chuồng gà, còn gì là đàn ông nữa".
          …Tôi bơi qua, bơi lại vẫy vùng dưới sông như chú rái cá. Lúc đó có nghĩ đâu rằng đứng trong ruộng ngô trên bãi, cô ấy quên cả công việc, cứ thẫn thờ nhìn.theo và hình như chốc chốc lại thở dài.
          - Thở dài! Anh biết? Đừng phịa đấy nhé - Có tiếng chàng thủy thủ cắt ngang.
          - Ồ, sao ngây thơ thế. Im để nghe nào - Một chàng khác mắng lại.
          - Chiều nào chị ấy cũng đứng nhìn anh bơi à?
          - Rồi có một lần, bơi tới gần bờ, tôi nảy ra ý định lặn xuống và cố nín thở thật lâu. Khi ngoi lên, thấy phía mình vừa bơi qua, có bóng con gái đang chới với, mái tóc dày bung xoã trên mặt nước, nửa chìm nửa nổi. Hoảng quá bèn lộn trở ra cắp cô ta vào nách, kéo vào bờ. "Sao thế?" - tôi hỏi. Mặt cô ta tái xanh, tái xám; môi nhợt; thở không ra hơi. "Thấy anh chìm... tưởng chết, nên tôi xuống... cứu" - Cô ta trả lời. Ra vậy!. "Anh cười tôi à? - "Không! - Tôi bảo - bây giờ lấy quần áo của tôi mặc tạm nhé. Vào trong chòi kia mà thay. Quần áo phụ nữ mỏng, phơi một lúc là khô. Đừng mặc áo ướt về, chồng đánh cho đấy?" – "Ai đánh? Chồng tôi ấy à? - Mắt cô ta long lên - Anh ta mà biết đánh tôi thì tôi đã mừng". Nói vậy nhưng rồi cô ấy cũng cắp bộ quần áo hôi xì của tôi đi vào chiếc chòi canh ngô gần đấy. Chỉ còn trên mình một mảnh quần đùi rách, không sao khác được tôi lại phải ngâm mình xuống nước. Lụa vừa giặt vừa ngắm tôi bơi, chốc chốc lại ngước lên, vốc nước té về phía tôi, rồi cười, bảo: "Cô nào lấy được anh chắc hạnh phúc" - "Tôi ấy à?" - " Ít ra anh cũng là một người đàn ông chứ ". Khuôn mặt thanh thoát của Lụa thoáng buồn. Cô khẽ thở dài... Và hôm đó, mãi tới lúc trang lên tôi mới mò về tới nhà …
          - Cô ta đã có chồng à? Rồi sau đó sao nữa, thuyền trưởng?
          - Chuyện còn dài, nhưng để lúc khác, kể tiếp e phạm vào nghị quyết: không nghỉ trưa.
          Câu nói của Tòng nhắc một lời nhắc: các bộ phận hãy vào việc Mọi người tản ra, tiếp tục phần việc đang làm dở của mình.
          - Thế nào thuyền trưởng? Cái đề nghị của tôi ấy! - Mánh bước lại bên Tòng, sốt ruột hỏi.
          - Ổn cả. Ngày mai anh cử người lên ban kỹ thuật lĩnh số phụ tùng đó nhé.
          - Đủ?
          - Họ hứa đủ .
          - Nhanh vậy ư? Mọi bận muốn xin một chiếc ê-cu cũng phải đi lên, đi xuống mòn đường, lại giấy này giấy nọ, qua bao nhiêu thủ tục. Thuyền trưởng làm việc với đồng chí thượng úy trẻ trẻ hả? Anh Diên đấy. Anh ta mới về làm trưởng ban hồi đầu năm, thay cho một lão cũng thượng úy khó tính, máy móc và nguyên tắc, lại chẳng hiểu gì về tàu thuyền. Anh Diên là kỹ sư.
          - Tôi cũng nghĩ anh ấy là người có học.
          Phía dưới cầu tàu, tiếng ai gọi to:
          - Báo cáo thuyền trưởng, chính ủy xuống thăm tàu.
          Đạm và Tòng vội vã chạy ra đón.
          - Này, khi súng hóc, người lính cứ việc sửa, nhưng không phải vì thế mà không báo cáo đâu nhé - Chính ủy Bùi Kim bước lên cầu tàu, nói vui - Các cậu định làm một cú bất ngờ đối với đoàn chăng?
          Đạm và Tòng đứng im, cười bẽn lẽn, biết lỗi.
          - Báo cáo chính ủy, định là...
          - Nhưng mình rõ cả rồi. Định tiền trảm hậu tấu hả? Tuy nhiên mình cũng biểu dương tinh thần tiến công của tàu T.37 và không chỉ biểu dương suông. Có quà đây. Chính ủy lấy trong túi ra năm bao thuốc lá dúi vào tay Đạm:
          - Chia cho anh em!
           Đạm reo lên:
          - Nghỉ hút thuốc của chính ủy đã, anh em ơi!
           Đám thủy thủ liền vây lấy chính ủy. Boong tàu nhộn nhịp sôi nổi, vang tiếng nói, tiếng cười.
           Chính ủy hỏi Tòng:
           - Đã bàn kỹ với bên kỹ thuật chưa?
           - Báo cáo chính ủy, trước mắt, chúng tôi tự lực được ạ.
           - Khó khăn gì, cứ đề đạt nhé, đoàn ủng hộ.

           Hai người đi về phía tốp thủy thủ đang ngồi hút thuốc:
           Hôm nay mình sẽ tham gia sửa tàu với các cậu - Chính ủy nói và sà ngồi xuống cạnh mọi người.
           - Hoan hô!
           - Vậy thì nhất!
           - Đề nghị chính ủy làm việc nhẹ thôi ạ.
           - Không hình thức như thế. Cứ coi mình như một thành viên của tàu. Nào, thuyền trưởng đề nghị phân công việc cho tôi!
           - Báo cáo, vậy chính ủy sẽ tham gia sửa máy với tổ anh Mánh ạ.
           - Nhất trí! Ta tiếp tục làm việc chứ?
           - Hoan hô!
           - Hoan hô!
           Và hôm đó, công việc sửa tàu tiến triển thật tốt!


*


           Những ngày bận rộn này, Tòng khá vất vả. Anh sùng sục chạy khắp tàu. Hầu như chỗ nào cũng cần có ý kiến của anh.
           - Báo cáo thuyền trưởng, bánh lái đã ăn lái, nhưng độ "dơ" còn lớn, có cần thay trục không ạ?
           - Hết sơn chống gỉ rồi, đề nghị thuyền trưởng cho mấy chữ để chúng tôi lên đoàn lĩnh.
           - Cậu Hào ngâm nước nhiều, bị cảm lạnh, có lẽ phảii đưa lên trạm xá, anh Tòng ạ.





Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Sáu, 2009, 02:06:48 pm

           Tòng gầy nhiều, nhưng anh thấy vui: con tàu đang hồi sinh.

           Đúng như Mánh nói, bảy ngày sau, vào một buổi trưa con tàu bỗng rùng lên: Chân vịt cắt nước cuồn cuộn, tiếng máy nổ vang. Thủy thủ ào xuống khoang máy. Khói đen phủ kín mọi người. Nhiều tiếng cười, nhiều tiếng la hét. Mắt ai cũng sáng lên. Niềm vui dư tràn trên từng khuôn mặt. Tòng nắm chặt bàn tay thô, đầy dầu mỡ của Mánh trong hai bàn tay mình. Anh không nói gì, bởi có hét lên cũng bị tiếng máy át đi. Anh nhìn khuôn mặt nhọ nhem của Mánh và cả hai cùng cười...

           Buổi chiều, thượng úy Diên cùng hai cán bộ kỹ thuật xuống kiểm tra. Họ hoàn toàn hài lòng và ký vào biên bản cho phép tàu T.37 nhổ neo thử máy.

           Đó là một ngày vui khó quên. Tòng đứng trước vô lăng, mắt nhìn ra biển, bên cạnh là chính trị viên Đạm và thuyền phó Xuyên, khuôn mặt hồ hởi và tự hào. Con tàu dưới sự điều khiển của Tòng nhẹ nhàng lướt trên sóng.

           Khi lên báo cáo kết quả với đoàn, Tòng không ngờ đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim lại vui đến thế. Chính ủy tỏ lời khen ngợi thuỷ thủ của tàu, hứa sẽ thông báo việc này với toàn đoàn và  coi đó như một gương tốt về tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, còn đoàn trưởng thì bóp chặt bàn tay Tòng:
           - Mình đã không nhầm khi nghĩ rằng việc đầu tiên cậu phải tiến hành chính là những việc cậu đã cho làm. Một thuyền trưởng biết tự trọng phải là người như vậy.



9



          Thúy đang ngủ say, lơ mơ nhận ra có vật gì cào cào vào tay mình. Rồi tiếng mèo mướp kêu to bên tai. Cô choàng dậy.
          Nhìn qua cửa sổ thấy đạn đỏ trời, và nhiều chớp bom loá sáng. Thúy vội ôm mèo, hớt hải chạy xuống sân.
          - Ôi, mày khá lắm! - Thúy vuốt ve mèo khi cả hai đã ngồi gọn dưới hầm.

          Thành phố tối bưng, chỉ có những đường đạn vọt chéo trên bầu trời. Không thấy máy bay, song tiếng rít gần lắm. Thỉnh thoảng, một ánh chớp lóe lên rồi tiếng bom nổ ầm ầm đâu đó.

           Khi đã trấn tĩnh lại, Thúy ra khỏi hầm và nhìn về phía có nhiều ánh chớp. Hình như bom nổ mạn nhà máy của cô. Ở đó, tiếng súng đánh trả rộ lên. Thúy thấy nóng ruột. Có thể nhà máy đã trúng bom. Lại một loạt bom nữa. Lửa bốc cao hơn.

          Thúy thả mèo, không kịp nghĩ nhiều, cô vọt lên nhà, vơ vội chiếc mũ sắt, chụp lên đầu rồi chạy ra đường. Đến gần vườn hoa, có một người nào đó lao tới nắm tay cô kéo sang vệ đường, đẩy xuống hầm công cộng.
          - Cô điên à? - Anh ta quát.
          - Tôi cần đến nhà máy !- Thúy hét to.
          - Không thấy bom rải ngập phố sao?
          - Nhưng…
          Thúy chưa kịp nói thì ngay cạnh đó loé một tia chớp và rồi tiếng nổ. Cô ngã chúi xuống. Một luồng khí nóng phả tới, lùa vào hầm. Căn hầm chao, lắc. Đất đá, mảnh bom văng rào rào.
          - Ngồi vào phía trong - Người thanh niên ra lệnh.
          Thúy tựa vào thành hầm và thấy mặt đất đu đưa. Lúc này cô mới nhận ra trong hầm có nhiều người nhưng không nhìn rõ ai. Người thanh niên ngồi phía ngoài cùng.

          Máy bay vòng ra xa, tiếng động cơ nghe loãng dần. Thúy biết người thanh niên khó lòng đồng ý để mình ra khỏi đây, nhưng cô vẫn nhắc lại:
          - Tôi cần tới nhà máy!
          - Đừng liều! - Người thanh niên không nhìn Thúy, hướng mắt ra ngoài cửa hầm - Chúng sẽ lượn lại ngay bây giờ - Anh ta tỏ ra thông thạo - Chúng chưa chịu cút hẳn đâu.

          Và máy bay quay lại thật. Chúng sà thấp. Động cơ rú vang khiến căn hầm rung lên. Đạn các cỡ lại nổ.
          Chợt người thanh niên toài ra khỏi hầm, nhìn về phía dòng sông, reo to:
          - Trúng rồi!

           Trong hầm nhốn nháo, người ta chen nhau xô lại phía cửa. Thúy và vài ba người nữa nhoài đầu ra được. Hướng tay người thanh niên chỉ, chiếc máy bay cháy bùng bùng; trong đêm trông như một bó đuốc đang đâm xuống.

           Một lúc sau thì nghe tiếng còi báo yên.
           - Bây giờ cô có thể tới nhà máy của mình - Người thanh niên đưa tay kéo Thúy lên và nói - Hãy bảo với bạn bè rằng cô đã bị những người không muốn cô chết vô ích giữ lại dọc đường. Cô tới nhà máy xi măng? - Anh hỏi.
          - Không! Tôi là thợ đóng tàu.
          - À!
          - Còn anh? Cũng tới nhà máy à?
          Điện thành phố bật sáng. Hai người xuống đường.
          - Không nhất thiết ở lại thành phố vì có nhà máy - Anh ta bảo - Tôi từ cảng về. Đã hai hôm nay bốc dỡ không biết giờ giấc nữa. Tàu cần giải phóng nhanh. Nhà tôi ở Hạ Lý.
          - Vậy thì cùng được đi với anh một đoạn đường.
          - Nhà cô ở đâu? Phố Nguyễn Đình Chiểu à?
          - Không! Tôi ở phố Trần Phú!
          - Không đi sơ tán?
          - Tôi không thuộc diện những người không có nhiệm vụ ở lại thành phố. Tôi là tự vệ!
          - Tự vệ nhà máy cơ đấy! Ở nhà một mình?
          - Sao lại một mình? Tôi sống với con mèo mướp và chính nó đã gọi tôi dậy lúc có báo động. Anh không tin à?
          - Tin, bởi chính cô cũng là một con mèo. Lúc tôi lao ra kéo cô xuống hầm, cô đã cào tay tôi trầy cả da.
          Thúy cười. Người thanh niên cũng cười.
          Tới ngã ba, anh chìa tay về phía Thúy.
          - Tạm biệt! - Anh nói - Rất có thể không bao giờ chúng ta gặp nhau nữa, nên tôi muốn khuyên điều này: Cô rất đẹp, nói thật đấy, do vậy đừng quá liều lĩnh mà chết một cách uổng phí. Cô có người yêu rồi chứ?
         - Một người lính biển.
         - Không rõ sao tôi cứ tin rằng cô sẽ rất hạnh phúc. Tạm biệt !- Anh ta nhắc lại - Và chúc may mắn.
         - Chào anh!
          "Một người tốt", Thúy vừa đi vừa nghĩ.
           
          Gần tới nhà máy, đã nghe tiếng Bình nói trên loa truyền thanh. "Tôi xin hát bài thứ hai: "Tiếng còi vào ca".  Thế nghĩa là nhà máy an toàn, - Thúy bước như chạy về phòng làm việc. Tới hành lang, suýt nữa cô va vào Lâm Khanh.
          - Thúy hả !. - Khanh hoảng hốt - Lao ra đường khi chúng đang ném bom à? Sao em liều thế ? Đã phân công người trực chiến...
          - Ern cũng biết thế, nhưng cứ lo lo... Chúng ném bom xuống nhà máy hả anh?
          - Không! Chỉ một quả rơi cạnh ụ đà, nhưng chẳng sao cả. Bộ phận trực chiến bắn tốt lắm. Hỏa lực của nhà máy ta cùng với hỏa lực của nhà máy bạn đan thành một lưới lửa dày, làm sao chúng ném bom chính xác được! Cô Bình nhà ta hô lạc cả giọng. Sơn cũng bắn khá ... Em liều quá Thúy ạ.

           Khanh nhìn Thúy: Khuôn mặt cô dưới vành mũ sắt trông đẹp lạ lùng, lại trẻ ra nữa. Anh thấy bâng khuâng và điều ấy khiến anh nao nao. Thúy không nhận biết được tình cảm của anh. Cô chỉ thấy mừng khi hiểu rằng nhà máy vẫn bình yên. "Ôi, nhà máy của ta! Ôi nhà máy thương yêu của ta!" .
          - Sao em run vậy, Thúy? - Khanh ngạc nhiên hỏi.
          - Em đang vui, đang mừng mà? Anh Khanh, em ra ụ đà đây!

          Thúy vụt đi như một con chim, Khanh nhìn theo tấm lưng thon thả, đôi vai tròn trịa xa dần, ngẩn ngơ.
          "Hôm nay Thúy đẹp đến chóng mặt" - Khanh đứng tựa vào vách tường, cảm thấy buồn. Anh khẽ thở dài "chẳng lẽ yêu là có lỗi?".

          Thúy chạy khắp nhà máy. Chỗ nào cũng muốn tới. Gặp ai cũng muốn gọi. Điện vẫn sáng, chớp hàn vẫn lóa lên, than trong lò vẫn đỏ...
          - Chào anh Sơn!
          - Thúy đấy ư?  Không trực chiến mà cũng tới à? Chúng tôi vừa bắn đỏ nòng súng lên đấy!
          - Chị Huệ! - Thúy kêu to khi tới tổ hàn khung tàu.
            Chị Huệ ngừng hàn, gạt tấm kính che mắt lên, cười với Thúy, gật đầu với Thúy, rồi lại cúi xuống làm việc.
           - Bác An! Cháu chào bác An! - Thúy gọi từ xa.
           Giám đốc An đang đứng trên ụ đà cùng với một số cán bộ nhà máy, quay lại:
           - Thúy hả? Có việc gì vậy cháu?
           - Không có gì đâu ạ. Cháu chỉ muốn gọi tên bác thôi. Đừng giận cháu nhé.
            Nói rồi, biến mất.
            "Con bé này hôm nay sao thế?  Nó đang có điều gì phấn chấn hẳn?".

            Thúy đi nhanh tới ngôi nhà hai tầng. Cô muốn đến chỗ Bình. Nó đang hát. Hát say sưa. Cả nhà máy đang vang lên tiếng hát của nó: "Ôi nhà máy của ta!"



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Sáu, 2009, 02:40:03 pm

            Một lúc sau thì Thúy và Bình sánh đôi đi ra cổng.
           - Hôm nay tao tới chỗ mày, Thúy ạ. Hắn vừa gửi thư về - Bình vừa đi vừa khoe - Ôi, chàng kể bao nhiêu chuyện. Toàn chuyện phá thủy lôi. Nghĩ vất vả mà thương. Viết là nhớ. Làm như mỗi mình hắn biết nhớ thôi ấy. Dễ "người ta" không nhớ chắc? Hỏi thật nhé, mày có nhớ lão thuyền trưởng của mày không? Chưa nhớ như điên như cuồng, chưa nhớ đến bỏ ăn bỏ ngủ chưa thể gọi là yêu đâu em ạ. Nỗi nhớ là thước đo của tình yêu.

           "Ôi cái Bình! Mày thật ngốc, nhưng chẳng lẽ tao lại phô ra. Mày không hiểu khi một mình tao ngồi trong căn phòng…. Chao ơi , mày thật ngốc…"
           - Số mày đào hoa Thúy ạ. Ông Khanh cứ gọi là mê mày đến ngơ ngẩn. Trông thật tội!
           - Đừng nói thế. Anh ấy đối với tao rất tốt, nhưng là bạn thôi.
           - Mày với ông ấy là bạn, nhưng ông ấy đối với mày không chỉ là bạn đâu.
           - Anh Khanh thừa rõ anh Lê là chồng chưa cưới của tao và tao yêu anh Lê đến thế nào.
           - Ôi dào, tình cảm con người phức tạp lắm.
           - Phức tạp hay không là ở mình.

           Hai người ra tới cổng nhà máy thì gặp anh Cựu, chồng chị Huệ đang nghênh nghển nhòm qua hàng rào sắt.
           - Chào đồng chí trưởng bến phà! - Bình nhanh miệng lên tiếng, và chưa chờ anh Cựu phản ứng, cô ta liến thoắng - Báo cáo để đồng chí biết là thợ hàn Nguyễn Thị Huệ vừa rồi bị sức ép của bom, chúng tôi đã cho chở đi cấp cứu.
          - Hả, vợ tôi? - Người trưởng bến phà mở tròn mắt, khuôn mặt đờ dại lo lắng.
          Nhìn anh đờ đẫn như người mất hồn, Bình ôm bụng cười
          - Nó đùa đấy, anh Cựu ạ - Thúy bảo - Chị ấy không việc gì đâu. Anh nhìn thấy chớp hàn thứ ba bên trái  không? Chị Huệ đó.
          - Cái cô Bình này, chỉ hay trêu người - Khuôn mặt người trưởng bến phà giãn ra, anh nở ruột nụ cười đến là vui.
          - Chào hai cô nhé, tôi đi đây! Rồi anh tất tả, chúi người đi về phía bến phà.


*


            Giám đốc An và một số cán bộ nhà máy vẫn đứng bên ụ đà, gần chỗ bị bom. Quả bom nổ chẳng gây tác hại gì đến con tàu đang được lắp ghép, nhưng hố bom phải được lấp lại để không ảnh hưởng việc thi công.
           - Tôi đề nghị ngày mai huy động nhân lực làm gấp việc này - Giám đốc An nhìn mọi người và nói – Xung quanh ụ đà cần san phẳng. Với nữa, không nên có một hố bom như một cái hốc mắt õng nước trong nhà máy chúng ta.
          - Báo cáo thủ trưởng, việc huy động người không dễ đâu ạ - Trưởng phòng kế hoạch Hành có ý kiến.
          - Sao không dễ?
          - Phân xưởng nào cũng đang bấn lên. Ai cũng muốn làm xong phần việc của mình mà về. Còn trăm nỗi lo khác ở nhà. Làm trong giờ thì ảnh hưởng đến kế hoạch phân xưởng, làm ngoài giờ thì...
          Giám đốc An quay lại, nét mặt ông tỏ ra khó chịu.
          - Anh nói đúng, mỗi một người ở lại thành phố có trăm thứ lo khác ngoài công việc của nhà máy; người công nhân còn bao sự níu kéo phía sau. Nhưng đừng lấy ý nghĩ của mình mà áp đặt cho người khác. Ngày mai anh cứ cho thông báo: toàn nhà máy sẽ làm thêm một giờ để lấp hố bom, sửa ụ đà, tôi đảm bảo sẽ không một ai vắng mặt. Nói vậy thôi, công việc không cần tới số người đông như thế đâu, chỉ đội xung kích của đoàn thanh niên làm trong một tiếng là xong. Cần phải hiểu cho đúng người công nhân.
          - Báo cáo, đó là tôi lường trước khó khăn để mả có hướng khắc phục ạ.

           Giám đốc An không nói gì thêm, ông bước nhanh về phòng làm việc. Đêm đã khuya. Không khí sản xuất của nhà máy khiến ông an lòng. Ông mở cửa sổ, nhìn xuống, một niềm vui choán ngập trong lòng.

           Giám đốc An năm nay xấp xỉ sáu mươi. Trông ông đẹp lão da mặt hồng hào, tóc bạc trắng, trán rộng, mắt vẫn sáng, dáng người nhanh nhẹn, đĩnh đạc. Ông có tới ba bằng kỹ sư. Thời trẻ, ông du học ở Pháp, là sinh viên xuất sắc của trường đại học Xoóc-bon, được các giáo sư có tên tuổi quý mến. Rồi ông sang học ở Đức. Tại đó, một thời ông làm xôn xao giới khoa học bởi những bài báo.

           Cả nhà máy đóng tàu quý nể ông, không hẳn chỉ ở chỗ ông là người lãnh đạo có năng lực, mực thước, làm việc có kế hoạch, dứt khoát và thẳng thắn, lại là người am hiểu cặn kẽ các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau, mà người ta còn quý trọng ông ở tấm lòng. Cách đây hai mươi năm, cái thời mà tài năng đang ở độ chín nhất, khước từ mọi danh vọng, khước từ những phòng thí nghiệm đầy đủ phương tiện, là nỗi thèm ước khao khát cháy bỏng của bất kỳ người làm công tác khoa học nào, ông về nước, trở về với những cỗ máy thô sơ đặt trong rừng. Ở đó ông đón nhận cuộc sống gian khổ, đón nhận phương tiện làm việc gần như là hai bàn tay trắng một cách tự nguyện, một cách có ý thức. Và ông đã làm việc hết mình, cống hiến nhiều phát minh khoa học giá trị phục vụ hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Và những năm đánh Mỹ này, dù đã có tuổi, ông vẫn đảm nhận trọng trách nặng nề: giám đốc nhà máy đóng tàu Công nhân nhà máy coi ông như một tấm gương, một niềm tin.

           Hai mươi năm qua, là một đảng viên Đảng Xã hội, ông hoạt động tích cực, cùng với bao trí thức khác, tập hợp thành một đội ngũ đông đảo có nhiệt huyết, một lòng phục vụ dân tộc, phục vụ cách mạng. Đại hội nào ông cũng trúng cử vào Ban chấp hành đảng bộ Đảng Xã hội thành phố.

           Giám đốc một nhà máy lớn, không phải là đảng viên cộng sản, nhưng không bao giờ ông mặc cảm là người bị lãnh đạo. Ông tôn trọng ý kiến tập thể, nghị quyết đảng ủy và thực hiện nghị quyết đó một cách có hiệu quả, bởi đấy cũng là tâm trí của ông.



10



           Cuộc họp bắt đầu từ sáng sớm. Lâu nay nếp sinh hoạt ấy đã thành thói quen, những lúc cần tập trung đông người, đoàn thường tránh giờ cao điểm. Các trưởng ban, trưởng ngành, thuyền trưởng và chính trị viên tàu có mặt đầy đủ tại ngôi nhà làm việc của thủ trưởng đoàn. Đó là một ngôi nhà ba gian, có trần, nép bên cửa hang dưới chân núi. Gian trong là chỗ ở, cũng là nơi làm việc của chính ủy Bùi Kim. Đoàn trưởng Tư ở gian ngoài. Gian giữa rộng hơn, làm phòng họp. Từ xa nhìn vào, ngôi nhà lợp tôn, vách cũng làm bằng tôn lẫn vào những tảng đá khác chỏng chơ bên ngọn núi. Phòng họp hẹp, nhưng thoáng, các cánh cửa sổ làm bằng cót ép đều được mở tung.

           Tham gia cuộc họp có trung tá San, tham mưu trưởng quân chủng và trung tá Cao, cục phó cục chính trị cùng ba trợ lý trên Bộ xuống. Chính ủy Bùi Kim và đoàn trưởng Tư chủ trì. Mở đầu cuộc họp, chính ủy thay mặt thủ trưởng đoàn báo cáo một số nét về công tác vận chuyển vừa qua. Ông nêu lên những việc đã làm được và những việc chưa làm được cùng những nguyên nhân của nó. Chính ủy nói rõ ràng, khúc chiết và cụ thể. Cuối cùng, ông phổ biến phương hướng, kế hoạch vận tải sắp tới. Những khó khăn, những thuận lợi, tình hình ta, tình hình địch, v.v...

           Mọi người chăm chú nghe. Lê ngồi đối diện với Tòng, hai người cách nhau một mặt bàn khá rộng. Cạnh Tòng là Đạm. Tuy hơn Tòng tới ba bốn tuổi, lại nhập ngũ trước, nhưng nghe nói Đạm cũng quý nể thuyền trưởng mới của mình và hai người tỏ ra ăn ý lắm.

          Tòng không ngẩng lên, cây bút trong tay ngoáy lia ngoáy lịa vào cuốn sổ, nét mặt thỏa mãn và tự tin. "Dịp này hắn gặp điều gì vui mà trông phởn thế?  - Lê ngước nhìn bạn - Chắc Lụa đã báo tin thắng lợi hẳn?".
          Giờ giải lao, Lê lách đến.
          - Phải chăng được chính ủy biểu dương về việc cải tử hoàn sinh con tàu mà cậu lờ bạn đi? - Lê đùa.
          - Cậu nghĩ là mình sửa tàu để được biểu dương à? Xin có lời thách thức là máy tàu bên ấy không phải đã ăn đứt máy tàu bên này nhé. Khỏe ra trò, chạy dều...
          Tòng đứng dậy, hai người đến bên một phiến đá.
          - Vừa nhận được thư Lụa hả? - Lê huých khuỷu tay vào sườn bạn.
          - Cậu biết?
          - Đọc được trong mắt cậu.
          - Điều gì?
          - Niềm vui.
          Tòng cười to:
          - Cậu đã phạm hai sai lầm. Một là phán đoán hỏng bét, mình vừa viết thư thông báo địa chỉ mới cho nàng hôm qua; hai là đánh giá bạn rất thấp. Cuộc đời này chỉ có một niềm vui duy nhất là tình yêu thôi ư?
          - Nhưng niềm vui của tình yêu dễ bộc lộ.
          - Lâu nay có thoải mái và vui hơn, điều ấy đúng, bởi mình cũng tự nhận đang làm được nhiều việc có ích. Thế thôi! Hình như cậu lại chuẩn bị " đi " hả?




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Sáu, 2009, 03:21:48 pm

          - Xuỵt! Lê đưa mắt nhìn về phía phòng họp - Cậu cũng rõ là đoàn đã cấm tàu này thóc mách công việc của tàu kia.
          - Dễ chừng cấm được đấy!
          - Khẽ chứ, nhưng đó là nguyên tắc.
          - Ghê nhỉ! Nhưng báo cho cậu hay là mình rõ cả rồi. Cậu cho rằng mũi mình không biết đánh hơi chăng? Bao giờ mới tới lượt bọn mình nhỉ? Chúng ta sắp xa nhau phải không?
          - Đừng dò thế. Mình chẳng dại mà chui vào bẫy của cậu đâu.
          - Ha, ha! - Tòng lại cười to - Thằng này tỉnh táo hật. Giỏi! Nhưng điều này thì trả lời được chứ: tuần tới tàu cậu có ra Vịnh Hạ Long với bọn mình?
          - Đó là chủ trương sơ tán của đoàn, ai chẳng được phổ biến. Cứ cụm lại đây cho bọn nó táng bom à? Còn chuyện ấy thì... chính mình cũng không biết ngày giờ xuất phát; chỉ được phổ biến trước một ngày.
          - Cậu tự thú nhận rằng " có " đấy nhé. Nhưng an tâm. Thằng Tòng không phải là kẻ đần, đi bán rong những chuyện ấy để đổi vài ba điếu thuốc cuộn. Ít ra thì mình cũng hiểu được những điều sơ đẳng nhất về công việc của đoàn. Vào thôi chứ; trực ban gọi đấy!

           Cuộc họp dự định làm gọn trong buổi sáng, cuối cùng lại phải lấn sang một tiếng nữa vào buổi chiều.

           Tan họp, chính ủy Bùi Kim giữ Lê ở lại. Ông kéo ghế ngồi đối diện với anh. Lúc này khoảng ba giờ,  nhưng mặt trời bị che khuất bởi ngọn núi nên có cảm giác như chiều đã tàn. Căn nhà bị bóng núi trùm lên, ẩm, tối và lạnh lẽo. Nếu không nhìn thấy những lối mòn hằn bên chân núi, có thể nghĩ rằng nơi đây đã bị lãng quên từ lâu; những tảng đá lặng lẽ xếp chồng lên nhau, cây ràng ràng len mọc um tùm.
          - Trong cuộc họp, cậu phát biểu là - Chính ủy vào chuyện - là thời gian vừa qua, đoàn ta, sau một loạt những chuyến đi thắng lợi đã xuất hiện tư tưởng chủ quan, cho rằng "đi dễ như đi chợ", tới lúc địch làm gắt, khó đi, lại nảy sinh tư tưởng nôn nóng. Mình muốn nghe rõ hơn vấn đề này.
          - Tôi vẫn giữ nguyên ý kiến ấy - Lê nói, anh cảm thấy cần phải nói hết những điều mình nghĩ – Không phải chỉ nôn nóng, mà theo tôi, có thể gọi đó là những biểu hiện của sự cay cú. Tại sao tôi kết luận như vậy? Xin dẫn ra mấy điểm: đầu năm, tàu C.48 đi không thành công, phải hủy tàu, anh Đại hy sinh. Sau chuyến đó tôi nhớ đảng ủy đoàn họp và  đánh giá tình hình mặt biển đã trở nên phức tạp, địch đang ráo riết tăng cường kiểm soát mặt biển với mọi nỗ lực nhàm ngăn chặn sự chi viện của ta cho chiến trường. Nhưng liền đó, tàu C.235 được lệnh lên đường và kết quả là sau hai lần quay trở lại, lần thứ ba cũng không vào được bến, lại lộn về. Chưa có sự xử lý kịp thời, đoàn đã cho ngay tàu T.45 và tàu C.165 tiếp tục xuất phát với mục đích tàu này không vào được bến thì tàu kia vào. Đi hai bến thế nào cũng vào được một. Và kết quả thế nào, tàu C.165 bắt buộc phải đâm vào tàu địch, toàn bộ thủy thủ hy sinh; tàu T.45 phải hủy, anh Tài, thuyền trưởng tàu T.37 bổ sung sang đi chuyến đó cũng không trở về. Như vậy có phải chúng ta đã quá cay cú không?

           Chính ủy đứng dậy, ông khoanh tay trước ngực, đi vòng quanh phòng:
           - Cậu cứ nói tiếp.
           - Lý ra chúng ta cần phải ngừng lại để nắm thêm tình hình địch và chuyến đi trinh sát của tàu tôi cũng cần phải tiến hành sớm hơn. Điều ấy, với tư cách là một cán bộ trong đoàn, chúng tôi có đề nghị, song trong cuộc họp đã có ý kiến cho tôi là kẻ bàn chùn, không có tư tưởng tiến công. Thế nào là tư tởng tiến công? Khái niệm ấy cần được làm sáng tỏ. Kết quá cuối cùng đạt được mới đích thực là thước đo của tư tởng tiến công.
          - Mình thấy không có điều gì cần phản đối ý kiến của cậu - Chính ủy vừa bước quanh phòng vừa nói. Khuôn mặt đăm chiêu. Nhiều vết nhằn hằn trên trán. Rồi ông nói tiếp, nói chậm rãi, hình như ông nói với cả chính mình:
          - Mình không ngụy biện cho những ấu trĩ trong việc chỉ đạo công tác vừa qua. Nhưng phải nhìn nhận thật khách quan rằng, tình hình những ngày đó hết sức phức tạp những biện pháp xử lý đúng và không đúng rất dễ lẫn lộn, nó không dễ dàng nhìn thấy như khi sự việc đã rồi, quay lại đánh giá. Trong đảng ủy cũng có ý kiến cho ràng nên những việc vận chuyển một thời gian để xem xét nghe ngóng, mình đứng về phía ấy. Nhưng phần đông lại thấy cần tiếp tục những chuyến đi. Dừng lại là thua thằng địch, đi mới rút được kinh nghiệm. Và như vậy cũng là hợp lý chứ! Nếu những chuyến đi ấy thành công thì rõ ràng sự chỉ đạo đó đúng. Đáng tiếc là chúng ta tổn thất có thể nói là lớn. Vì thế mới đẻ ra vấn đề mà cậu gọi là những biểu hiện của sự cay cú. Khi chiêm nghiệm những điều đã qua, dễ dàng thấy cái hay, cái dở hơn khi đang tiến hành công việc đó, bởi khi ấy chúng ta đã có cả một thực tế, một kết quả … Cậu nói đúng, trong đảng ủy không phái không có những biểu hiện cay cú. Đảng ủy đã kiểm điểm và kịp thời nhận ra, vì vậy mới có chuyến đi trinh sát của cậu.
           Chính ủy dừng lại, ngước nhìn ra ngoài, rồi nói tiếp:
           - Một trong những nguyên nhân khiến chúng ta để cho cái mà cậu gọi là sự nôn nóng kéo dài đó, mình nghĩ rằng, chẳng phải những tay thuyền trưởng thừa khôn ngoan của chúng ta không manh nha thấy vấn đề, nhưng họ thiếu tự tin, không mạnh bạo đề đạt những suy nghĩ của mình, dần dần thành quen. Trách nhiệm những tổn thất vừa qua còn thuộc về những người ý thức được vấn đề, có chính kiến, nhưng khi va chạm với người này, người kia thì tự ái bỏ cuộc, nửa vời, không dám đi tận cùng. Và như vậy là biểu hiện một cái gì rất cá nhân. Cậu là trường hợp như thế. Và có lẽ cả mình nữa. Không kiên quyết bảo vệ cái đúng, đó mới là không có tư tưởng tiến công, thậm chí có tội.

           Lê ngồi im, tính hợp lý trong phân tích của chính ủy giống như những mũi kim kích thích, khiến sự suy nghĩ vốn dựa theo cảm tính của anh bừng thức. Có lẽ anh đã quá khắt khe, đòi hỏi quá nhiều ở lãnh đạo, mà chưa bao giờ tự hỏi: mình đã đóng góp được gì, hay sự tự ái cá nhân đã lấn át tất cả. Đúng, anh đã nửa vời... Nhớ lại cuộc họp lần ấy, Lê không khỏi xấu hổ với sự buông xuôi của mình. Khi anh đưa ra đề nghị: đoàn nên dừng lại tất cả những chuyến đi bởi tình hình địch còn căng, lập tức bị một "quả bom", giội xuống: " Đồng chí nào sợ ác liệt thì cứ nói thẳng ra. Đây là nghị quyết đảng ủy, chúng ta bàn để thực hiện, không bàn ngang, bàn lùi". Kế đó là một lô lý luận về tư tưởng tiến công, về ý chí kiên định vững vàng vân... vân… trùm lên cuộc họp. Lê châng hẩng, tái mặt. Anh thấy ngột ngạt, thiếu dân chủ và đang bị áp đặt, anh đã toan đứng dậy nói lại rằng: có thể suy nghĩ của anh do tầm nhìn hạn hẹp, không xác đáng, nhưng sự ấy cũng cần được làm sáng tỏ trên cơ sở nhận thức. Song anh đã không nhấc mình lên, anh dã tặc lưỡi: mình là gì nhỉ? Một giọt mực làm sao có thể thay màu cho cả chậu nước". Đầu anh nóng ran; lòng tự ái ứ nghẽn... Anh đã buông xuôi, bất lực và lúc này anh ngồi đây để phê phán người khác...

           - Mình nói quá lời chăng? - Chính ủy đặt hai tay lên vai Lê, giọng ông nhỏ, ấm, ẩn chứa một tình cảm.
           - Báo cáo chính ủy, tôi đang nghĩ tới những điều chính ủy vừa nói. Chính những kẻ như tôi cũng phải gánh chịu một phần trách nhiệm. Nhưng có phải vì thế mà trong cuộc họp vừa rồi tôi đã có điều gì đáng chê trách?
          - Dù là việc đã qua, nhưng không hẳn ai cũng dũng cảm nhận ra vấn đề. Mình ủng hộ thái độ thẳng thắn của cậu trong cuộc họp hôm nay... Bây giờ anh Tư sẽ trao đổi kỹ với cậu về chuyến đi sắp tới. Mình có việc phải xuống cảng gấp. Thế nhé - ông nói sang phòng bên - Chuyện trò của chúng tôi hết rồi đấy, mời đoàn trưởng sang gặp đồng chí Lê cho.


*


           Làm việc xong, đoàn trưởng Tư và Lê đứng bên cửa sổ cùng nhìn ra ngoài. Cơ quan đoàn bộ yên vắng. Gió se se. Cây ràng ràng mảnh khảnh hệt cây hương trụi lá ngả nghiêng. Những chiếc lá màu vàng thẫm từ lưng chừng núi chòng chành rơi rơi trong không khí. Trên những mảnh đất hiếm hoi lài ra bên chân núi vài ba anh trợ lý rỗi việc đang vãi hạt rau cải. Mùa thu đang hối hả trôi đi, chẳng mấy nữa những ngồng cải sẽ lẳng ngẳng vươn lên, nở đầy hoa vàng, trời xám xì và gió  mùa đông bắc lại tràn về.
          - Sắp sang đông đấy Lê ạ! - Đoàn trưởng vẫn nhìn ra ngoài, ông nói - nhưng vùng biển trong ấy dịp này mới là mùa bão.

          Mùa bão! Lê biết đoàn trưởng đang nghĩ gì. Anh thấy cảm động, một tình cảm như thể sự thương yêu, sự biết ơn ngập tràn khiến anh bối rối. Cầm súng từ lúc đầu còn xanh, tới nay đã hai thứ tóc, đoàn trưởng vẫn còn bao nỗi lo toan. Những điều qua rồi, lo chưa hết, đã lại phải để tâm cho những việc sắp tới. Lê ngước nhìn đoàn trưởng, anh nhận ra dịp này ông gầy và già đi nhiều. Bộ quân phục đã trở nên lụng thụng, khuôn mặt có thêm nếp nhăn, má hóp. Lê những muốn ôm lấy ông, nói một điều gì đó để ông an tâm, để ông vơi đi sự lo lắng, dẫu rằng cái tình cảm ấy chỉ khiến ông vui trong chốc lát.
           "Vùng biển trong ấy vẫn còn bão, vâng, cháu biết. Nhưng xin chú đừng suy nghĩ nhiều, hãy tin vào lớp trẻ chúng cháu. Và nữa, chúng. cháu cũng có ít nhiều kinh nghiệm, mong chú đừng lo".
           Nghĩ vậy, nhưng Lê chỉ nói:
           - Vâng, còn bão. Nhưng đó có thể là một may mắn và lợi thế cho ta. Càng sóng gió, bọn địch càng ít đề phòng. Đến lượt đoàn trưởng nhìn Lê. Có ai đi biển lại mong bão và coi đó như một may mắn? Cuộc chiến đấu này thật kỳ lạ. Những khắc nghiệt nhất của thiên nhiên lại trở thành đồng minh của người chiến sĩ.

           Đoàn trưởng choàng tay ôm lấy vai Lê, mái tóc bạc áp bên mái tóc xanh. Hai người đứng lặng, cùng lắng nghe tiếng gió từ biển lùa vào hớt hải lướt trên những phiến đá báo hiệu một sự đổi mùa.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Sáu, 2009, 04:01:16 pm

            Buổi tối trời se lạnh. Sương xuống phủ mờ chân núi. Ngọn núi thẫm đen vươn ra che kín một nửa bầu trời, nửa còn lại thưa thớt sạo, mây như một tấm vải mỏng chăng lên đó. Không khí ẩm ướt từ những hốc đá phả ra. Sống ở khu vực này cái cảm giác lạnh ẩm bao giờ cũng đến sớm. Đoàn trưởng Tư mở tủ lấy chiếc mũ vải có lưỡi trai, quà của cô con gái lớn biếu ông hôm về phép, đội lên đầu và bước ra khỏi phòng. Trời tối sẩm, đá dăm lạo xạo dưới chân, ông phải bước chậm để nhận đường. Không cẩn thận, dễ dàng vấp vào một mô đá nào đó.

           Lòng ông nhẹ nhõm: sau buổi làm việc với Lê, ông nhận ra người thuyền trưởng ấy hiểu được nhiều điều hơn ông tưởng. Những phương án Lê nêu ra thật hợp lý, khó có thể bắt bẻ và cũng khó có phương án nào hay hơn. Tàu cập bến khoảng 12 giờ đêm, hàng phải bốc xong trong ba tiếng để tàu quay ra vùng biển quốc tế trước lúc trời sáng. Vấn đề là tính toán con nước sao cho khớp để định ngày lên đường.

           Đoàn trưởng vòng sang phía sau ngọn núi: ông ra mép sông. Phía này trời sáng hơn, tầm nhìn không bị che chấn. Gió từ sông đưa lên thoáng mùi dầu thải, mùi tanh mặn của nước và mùi gì lờ lợ quen thuộc khó gọi tên nhưng nhận biết đó là mùi thường có ở những bãi sú ngập phù sa. Dịp này con nước cường về đêm, lòng sông no nước lờ đờ trải ra rộng mênh mang.
           Có tiếng hỏi phía trước.
           - Người nhà mà!  Đoàn trưởng Tư không dừng lại, lên tiếng - Tàu 37 đỗ đây phải không, đồng chí?
           - Báo cáo thủ trưởng đúng ạ! - Người lính gác trả lời.
           - Thuyền trưởng Tòng và chính trị viên Đạm ở "nhà"  không?
           - Đang đánh bài ạ.
           - Không họp hành gì ?
           - Báo cáo, vừa xong ạ.

           Ông leo lên cầu tầu, đi thẳng tới buồng lái. Dưới ngọn đèn dầu che kín ba mặt, ông trông thấy Tòng ngồi bệt xuống sàn, hai đầu gối cố co vào mà vẫn chỏng lên quá tai, trên đầu đội chừng năm sáu chiếc mũ cứng, mặt đầy vệt nhọ nồi, đang chăm chăm nhìn vào những con bài một cách hứng thú; đám lính vây quanh, cười ngặt nghẽo. Đối diện với Tòng là Đạm, mặt mày cũng như hề.
           - Chưa đủ cao hay sao mà còn phải xếp mũ lên đầu thế này? - Đoàn trưởng đánh tiếng.
           - Chào thủ trưưởng ạ.
           - Chào thủ trưởng!
            Nhiều tiếng đáp lại.
            Tòng quẳng bài, bỏ chồng mũ xuống, tuyên bố:
            - Giải tán!
            - Anh Tòng thấy thủ trưởng tới, chạy làng nhé.
            Tư sà xuống cạnh mọi người.
            - Sao không để anh em tiếp tục chơi?
            - Họ ăn gian, thông đồng với nhau, âm mưu "giết" thuyền trưởng và chính trị viên. Tay Xuyên cũng về hùa với lính - Tòng phân bua, khuôn mặt ngẩng lên, nhìn càng hài hước - Có việc gì cần không ạ?
           - Lâu nay bận, không xuống cảng được, hôm nay mình tới thăm anh em thôi.
           - Chắc có quà chứ ạ?
           - Quà gì, lính với tráng, chỉ vòi!

            Nói vậy, nhưng đoàn trưởng cũng móc túi đưa ra bao thuốc. Lính ta không e dè, mỗi người rút một điếu và đua nhau nhả khói. Phòng lái sặc sụa hơi người, hơi thuốc.
           - Em con sinh cháu chưa bố - Anh chàng người khô đét vừa quệt nhọ nồi lên má Tòng, láu táu hỏi.
           - Có lẽ sinh rồi? Lên chức ông cũng hồi hộp lắm các ướng nhé .
           - Năm ngoái bố hứa gả cho con, năm nay cô ấy sinh cháu, con bắt đền bố đấy - Vẫn tiếng anh chàng gầy.
           - Con chị nó đi thì con dì nó thế vậy.
           - Bố hứa nhé!
           - Thủ trưởng đừng hứa với thằng Khang - Một chàng non choẹt sấn vào, nói nhanh như sợ cướp mất lời – Nó tham lam lắm. Gặp thủ trưởng nào cũng xoen xoét: "Bố có con gái không bố ơi, cứ lênh đênh trên biển suốt thế này con chết già mất!".  Nó có đến mấy bố vợ hờ rồi đấy ạ.
           - Trâu ta ăn cỏ đồng ta, bố nhỉ? - Khang tán - Bố cứ gả cho con, bao giờ về hưu, muốn tới thăm cháu, bố đỡ đi xa.
           - Mà mình cũng không hứa nữa - Tư nói, tay ông vỗ mạnh lên đùi chàng lính đang ngồi xếp bằng bên cạnh, giọng rất vui - Mai kia, như con chị nó, lấy chồng tới lúc gần đẻ con mới biên thư báo cho bố, mình lấy đâu đền cho các tướng, hả?
          - Thấy chưa? A ha! - Chàng lính mặt non choẹt vỗ đùi cười to vẻ đắc thắng.
          - Phụ nữ bây giờ họ thế đấy thủ trưởng ạ. Bọn con lo lắm!
          - Nghe đồn rằng bố tàng trữ cả một kho chuyện tình phải không ạ? Hôm nay chúng con đề nghị nghiêm chỉnh, bố kể cho nghe vài chuyện - Khang vòi.
          Tư hất hàm về phía Tòng.
           - Anh Tòng đã xuất bản một vài đoạn. Chúng con muốn nghe thủ trưởng kể cơ ạ .
           - Có ai đưa chuyện người khác ra kể bao giờ
           Vậy thì bố nói về mối tình của bố và mẹ con ngày xưa cũng được.
           - Sao lại ngày xưa? Thế ra ngày nay đoàn trưởng hết yêu rồi chắc?
           Nhiều tiếng cười cùng bật ra.
           - Tình yêu nó méo, tròn ra sao, thủ trưởng - Một thủy thủ khác hỏi.
           - Ơ hay nhỉ, thanh niên lại đi hỏi ông già rằng tình yêu là thế nào. Nước chảy ngược. Các cậu bây giờ lại không ma mãnh gấp mấy tụi mình ấy chứ!
          - Nhưng chúng con cứ ở  trên biển suốt, khó lắm bố ơi!  Không rõ ngày xưa bố có "tìm hiểu" không, chứ chúng con bây giờ chỉ cần cô nào gật là cưới liền, lính làm gì có nhiều thời gian.
          - Mình hả? Tìm hiểu khỉ gì, cô ấy bán trầu cau ở chợ, mỗi lần qua lại thấy đôi mắt lúng liếng sắc như lưỡi dao bổ cau ngước lên nhìn. Một vài bận đâm quen, rồi nhớ. Vậy là ngày nào cũng viện cớ để dềnh dàng qua đó chí ít một lượt. Tối về quấn chiếu nằm co trên giường, đôi mắt tưởng cứa đứt da đứt thịt ấy lại hiện ra, đâm khó ngủ. Cứ thế tới non non một năm, không nói với nhau nửa lời, nhưng ngày nào không gặp, lại nhớ. Vậy rồi một bận, vừa ra khỏi cổng chợ, mình cảm giác như có ai đang đuổi theo. "Dừng lại cho nói câu này đã nào!"  Đúng tiếng cô ấy. "Này, người ta mang trầu cau tới ăn hỏi đấy?". Sao, cô ấy có người tới ăn hỏi à? Mình sững lại tự dưng thấy mắt hoa, cánh đồng trước mặt nghiêng nghiêng, quay quay, chao đảo, và có cảm giác đất dưới chân đang sụt di từng mảng; người như hẫng vào chân không, mồ hôi toát đầm lưng. Ra cái tình cảm của mình đối với cô ta cũng ghê thật! Tình yêu đâu cần nhiều lời!  "Thế... Thế bao giờ cưới?". Chờ cho cơn xúc động giảm giảm, mới hỏi, giọng lạc đi như thể ai nói chứ không là tiếng của mình nữa. Miệng hỏi thế, nhưng đầu lại nghĩ: "Nhất định phải trốn biệt tăm biệt tích tới nơi nào đó thật xa để không bao giờ thấy đôi mắt ấy nữa". "Không? - Tiếng cô ta thảng thốt sau lưng - Đã trả lễ rồi. Bị bố trói vào cột nhà đánh thiếu chết…"  Cả một khối nặng như trái đất vừa được nhấc ra khỏi người, mình quay phắt lại, và... À, mà mấy tướng này khôn, thì ra mình mắc mưu các cậu, chăng lưới giỏi thật!

           Đám lính ôm nhau cười nghiêng ngả. Gió từ mặt sông lùa vào mát lạnh. Bên ngoài, trăng đã ló ra mờ sau ngọn núi. Trời sáng đục.
           - Thủ trưởng "quay" lại, và... và sao nữa ạ? - Một chàng lính hỏi, đôi mắt tròn ngước lên nhìn đoàn trưởng chừng còn say nghe lắm.
           Đoàn trưởng Tư rung rung đùi:
          - Năm nay bà ấy có cháu ngoại bế, chắc mừng lắm - Rồi ông đứng dậy - Thôi, mình về đây, các tướng chỉ giỏi tán.

           Đám lính đắc chí xô đẩy nhau. Tư khó khăn lắm mới bứt ra khỏi họ. Ông chui qua cửa, bước nhanh ra ngoài.

           Bầu trời đã sáng hơn. Mặt nước dềnh lên mờ ảo dưới ánh trăng. Tiếng nước vỗ bờ về khuya nghe càng rõ.
          Tới cầu tàu, Tư dừng lại, nói với lên:
          - Chú ý đèn lửa Tòng nhé. Tuần trước tàu cửa "e" 31 đậu trong hang mà chúng còn xỉa rốc két vào đấy. Chủ quan là ăn đạn như bỡn.
          Ông men theo chân núi, lần về. Nhìn sang phòng bên vẫn thấy chính ủy Bùi Kim đang ngồi trao đổi với chính trị viên Lượng. Ông nghe loáng thoáng tiếng chính uỷ: "... Cần nhất là tránh tư tưởng nôn nóng.... quá khích... manh động…"

           Đoàn trưởng bước nhẹ chân về phòng. Ông châm đèn, khép kín các cửa sổ và ngồi xuống ghế. Ngọn đèn dầu lồng trong tấm bìa cuộn tròn chỉ hở mỗi lỗ nhỏ, hắt lên mặt bàn chùm sáng mỏng. Ông mở cuốn sổ, lần áo tìm kính rồi vừa nghĩ, vừa viết.

           Bên ngoài, thỉnh thoảng có tiếng giọt nước rơi tách tách lên mái tôn, tiếng bước chân dẫm lên sỏi nhè nhẹ của đồng chí vệ binh. Xa xa, mơ hồ như có tiếng máy bay lặn trong đêm. Ông bỏ kính đứng dậy nhìn ra: phía đường 10, vài ba chùm pháo sáng treo lơ lửng. Ông quay lại vặn nhỏ ngọn đèn và ngồi xuống viết tiếp:
           " …Vợ chồng chí Canh ra thăm không có phiếu gạo - Thuyền nhôm đứt dây, kéo theo T.8 trôi - Huyện ủy đề nghị rời ba két dầu chôn gần hội trường huyện đi nơi khác (máy bay bắn dễ cháy). Phân phối hai xe đạp (20 tháng 11 hết hạn) - Chọn người đi học cơ điện - đề bạt H.S.Q - Chấn chỉnh bộ phận cơ yếu - Đưa quân trang vào cấp phát..."




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 16 Tháng Sáu, 2009, 03:37:14 pm

11


          Nước vỗ mạn tàu lóc bóc, lóc bóc, càng về khuya nghe càng rõ. Gió lùa qua cửa sổ,mang theo mùi tanh lợ của phù sa tan loãng trong con nước đang cường. Và thoáng vị mặn. Nằm xuống lâu rồi Lê vẫn tỉnh. Những ý nghĩ chắp nối, đan chéo khiến anh không sao ngủ được Anh ngồi dậy, nhìn ra ngoài: về đêm, dòng sông phình rộng, nước dâng ngập bãi sú ven chân núi; mặt nước mông lung, nhờ nhờ trải rộng tới tận những ngọn núi đá bên kia bờ. Nhìn sang, bóng tối phủ nhoà mấy đỉnh núi mờ ảo và xa lạ, có cảm giác như bên đó là một thế giới nào khác, đầy bí ẩn.

          Đêm tĩnh lặng.

          Miền đất lạ! Địa hình lạ! Bến lạ! Những điều ấy ám ảnh Lê đã mấy ngày qua. Anh rà nát tấm hải đồ để soi rõ từng xuồng, lạch, từng bãi đất, bãi đá; dẫu vậy, thật khó tưởng tượng đầy đủ cái địa điểm vẫn được gọi là bến..Bến là khái niệm chỉ nơi tương đối an toàn mà người của ta có thể tới đó đón hàng, nó khác nghĩa với cái "bến" mà người ta thường quen mắt, quen gọi. Dọc bờ biển miền Nam, bất luận đâu cùng có thể là bến. Sắp tới Lê phải đưa hàng tới bến, mà muốn vào được đó, phái vượt qua địa hình phức tạp bao chắn phía ngoài: nhiều ngọn núi lô nhô trồi giữa biển, lắm đá ngầm, luồng cạn và hẹp. Một tài liệu của Pháp để lại nói rằng, muốn ra vào nơi đó an toàn, không va vấp, không mắc cạn phải là những tay thuyền trưởng lão luyện có trên dưới ít nhất cũng hai mươi năm hành nghề . Vậy mà Lê phải vào, vào ban đêm rồi quay ra, cũng trong đêm. Không phải Lê không tin vào khả năng chuyên môn của mình, nhưng đâu vì thế mà vơi cạn nỗi lo! Đi biển, chẳng thể nói chắc một điều gì, thiên nhiên báo giờ cũng là ngoại lực gây ra không biết bao nhiêu sự bất ngờ. Thực tế cho hay, nhiều thuyền trưởng dư thừa kinh nghiệm vẫn dễ dàng đưa tàu vào đá ngầm, vào bãi cạn.

           Bên ngoài, nghe như có tiếng cá quẫy: chắc nước bắt đầu rút. Sáng mai, bãi phù sa sẽ trơ ra, cạnh những gốc sú cọc càn phủ đầy bùn, những chú còng gọng to hơn thân, đỏ au lại lò dò đi ngóng mồi.

          Lê bước nhẹ ra khỏi phòng. Anh lần cầu thang xuống khoang. Khoang dưới tối như hũ nút.
          - Chú ngủ rồi, chú Tám? - Lê men lại phòng cơ điện, đứng ngoài cửa hỏi vọng vào.
          - Lê hả?
          Ông Tám Thạnh tụt xuống giường, lẹ làng bước tới:
          - Chà, ngày mai không bão thì cũng gió mùa đông bắc dó Lê .
          - Mấy cái khớp của chú lại đau?
          - Già rồi đâm lắm bịnh. Có chi đó?
          - Lên chỗ cháu uống nước.
          - Chớ mày cũng không ngủ được?
           Hai người quờ tìm cầu thang.

          Ông Tám Thạnh năm nay ngoài năm mươi lăm tuổi, làm máy trưởng của tàu. Thân hình ông vạm vỡ, nở nang, da dẻ lúc nào cũng đỏ tía, ăn khỏe, làm khỏe, cánh thanh niên theo được không dễ. Đã có tuổi, song chân tay ông vẫn nổi bắp cuồn cuộn, đám thủy thủ, thấy mà nể. Sinh ra ở biển, lớn lên với biển, cả cuộc đời gắn bó với biển, nên ông rất yêu biển. Ông không say sóng, không ngán gió bão; uống rượu như uống nước lã, uống vào càng tỉnh. Tuy vậy cả năm chẳng có một ngụm cũng chịu. "Có uống, không thôi, qua đâu phải nghiện". Ông chỉ nghiện thuốc.

          Cả tàu 67 kính trọng Tám Thạnh không chỉ ở chỗ ông lớn tuổi, coi như bậc cha chú, mà ông là người đi biển giàu kinh nghiệm. Chọc cây sào xuống đáy, nhấc lên ngửi, ông có thể nói chắc đây là vùng biển nào. Năm kia, khi tàu 67 kẹt trong sương mù, không rõ toạ độ ông Tám Thạnh bèn vốc một ngụm nước biển, đưa lên miệng uống rồi chém tay: " Chu cha, mình lọt vào Cà Ná rồi ". Chắc vậy há, chú Tám? Lê lo lắng hỏi. "Chắc chớ sao không. Còn đâu nước mặn hơn vùng này! ". Đi biển có ông Tám bên cạnh, Lê an tâm. Ông ít chữ nhưng nhớ lâu, thuộc địa hình vùng biển miền Nam như rõ bàn tay mình. Đã thoáng nhìn thấy bờ là không lo lạc ông sống trung thực, ngay thẳng và cởi mở nên được mọi người quý mến. Đám lính trẻ có điều gì khúc mắc, đều tìm đến ông. Ông là người trọng tài khách quan, thông minh dàn xử mọi vụ va chạm, mọi cuộc tranh luận. Ông đã nói, ai cũng nghe.
          - Bọn nhỏ đồn rằng tàu sắp vô hả Lê?

          Ông Tám Thạnh hỏi khi hai người đã ngồi xếp bằng trên chiếc giường con trong phòng thuyền trưởng. Trước mặt họ là hai chén nước nóng; hương chè thoảng thơm Lê đưa chén nước cho ông Tám:
          - Cháu mời chú lên có ý bàn về việc đó. Lần này chú biết ta vào đâu không?
          - Chớ không kêu thằng Lượng?
          - Đây không phải cuộc họp. Chú cháu mình nói chuyện cá nhân .
          - Vậy! Nói đi, sắp tới vô đâu?
          - Chú thử đoán coi?
          - Lại đi Bến Tre? Không, tao chắc mấy ông biểu mình vô rừng đước, hí?
          - Chú giữ kín, nghe. Vào quê chú đó.
          - Hừ?- Ông Tám đặt chén nước xuống giường - mạn nào?
          Lê ghé sát tai ông:
          - Hòn Hàng!
          - Hòn Hàng? Mày không giỡn tao chớ Lê?
          - Nghe nói chỗ đó khó vào lắm mà, chú! 
          - Hòn Hàng? Ờ, dễ cạn, dễ va....

          Ông Tám thừ người. Hai tiếng Hòn Hàng gợi cho ông bao điều, làm thức dậy bao nỗi niềm. Hòn Hàng, già nửa cuộc đời ông gắn bó với nó. Gắn bó trong những kỷ niệm tủi nhục xót xa. Tủi nhục xót xa, nhưng đấy vẫn là quê hương, vẫn là chốn người mẹ khốn khổ, bất hạnh của ông run rảy trong đêm, xúc tay bới cát, vùi lấp vội vã núm nhau rồi hớt hải ôm con băng qua lộ Một, vào rừng. Lớn lên, ông không rõ cha mình là ai. Hỏi mẹ, mẹ chỉ khóc. Người ta đồn rằng ông là con lão chủ nào đó. Mẹ ông bị cưỡng hiếp, và bị đuổi ra khỏi nhà khi tới kỳ sinh nở. Chưa đầy mười tuổi, mẹ chết, ông trơ trọi bơ vơ không cửa không nhà, ngày ngày lang thang ngoài bãi biển kiếm cá nuôi thân. Đặt lưng đâu, đó là giường; rúc vào vườn dừa nào nướng cá, đó là nhà. Mười ba mười bốn tuổi đã biết lặn. Lặn giỏi. Dân vùng này đồn rằng ông thuộc tính từng loại cá, và có thể dụ chúng theo. Cả vùng Hòn Hàng rõ tài bơi lặn của Tám Thạnh. Một năm  mười hai tháng, mỗi tháng 30 ngày, có ngày nào ông vắng mặt ở biển!... Một ngày nọ, có người ra dáng nhà từ thiện, béo ú, mặt híp, cái nhếch mép bí hiểm như thể là cười tìm đến và gạ nhận ông làm con nuôi. Ông thuận. Người đó kêu ông là Tám và dẫn về, cho nằm dưới nhà ngang với đám dân chài làm thuê. Ông ở lại đó ba năm, ngày ngày theo thuyền đánh cá ra khơi, lặn gỡ lưới. Có lần lưới quấn vào người, để thoát, ông bứt tung, ngoi lên. Năm thứ tư ông đòi tiền công. Gã cha nuôi nói rằng đã trừ hết vào khoản ông làm rách lưới dạo nọ. ông bực, bỏ đi. Tay trắng, ông lại ra với biển. Lại săn tôm, xỉa cá mang lên chợ. Ngày này qua ngày khác, ông sống đơn chiếc trong căn lều le te ngoài bãi, cam chịu số phận hẩm hiu. Năm năm tháng tháng qua đi và lạ lùng thay, cũng có một người đàn bà si ông. Đó là người đàn bà đã nhinh nhỉnh tuổi, nhưng dân Hòn Hàng vẫn gọi là cô Hai, con gái bà Ba - Cá - Hồng. (Tại sao bà ấy có cái tên như vậy, Tám Thạnh không rõ, chắc vì bà chuyên bán cá Hồng ngoài chợ ). Cô Hai có cặp mắt nhỏ tựa một vết nứt nhưng ánh nhìn sắc như dao cạo, liếc ai thì người đó đứt da đứt thịt. Đôi lông mày kẻ chỉ, đen thui, cong cong. Và một cặp môi ươn ướt mỏng như lá lúa, hay cười. Mỗi lần thấy Tám Thạnh mình trần, đẹp như tượng, người đỏ sẫm, ngực nở, chân tay to, chắc, cơ bắp nổi gồ, bóng như gỗ gõ xách cá từ dưới bãi đi lên, cô con gái bà Ba cuống quít như chạm phải lửa. Cô thở dài và nhìn ông chằng chằng. Rồi cô vật vã bắt mẹ cưới bằng được người đàn ông to con đó cho mình. Thoạt đầu bà Ba - Cá - Hồng không nghe. Con gái bà chẳng gì cũng đã từng làm vợ một viên chức trên tỉnh, có nhan sắc, hơn đứt gái vùng này; da trắng, khuôn mặt dẫu nhiều tàn nhang, vẫn dễ coi. Một khúc giò lụa lại rơi vào tay cái thá đen đúa, phàm ăn, không thước vải che người. Nhưng sau nghĩ tới mối hời  ở tài bơi lặn (điều bà từng biết đến) của gã kiết xác ấy có thể đưa lại, bà ưng. Với nữa cô Hai đâu để bà yên. Đêm đêm cô chặt chân xuống giường, rống lên như bò cái động đực: tôi khổ lắm! tôi khổ lắm! Và còn dọa rằng, nếu không có người đàn ông đó, cô sẽ nhảy xuống giếng. Bà Ba đành bằng lòng. Suy cho cùng, cô Hai đã cụng tuổi băm, tai tiếng quá trời trên tỉnhlấy chốn giầu sang cũng khó... Cưới chồng cho con xong, bà Ba nhờ người sắm thuyền, mua lưới để con rể đi biển. Chỉ nửa năm, bà phất lên. Những hôm động trời, cả vùng Hòn Hàng giấu thuyền, trèo lưới, người ta vẫn thấy Tám Thạnh đẩy thuyền ra khơi. Những ngày như thế, cá mực mới dẽ vào lưới làm sao. Nhưng ở chợ lại hiếm, bà Ba cứ đưa dao vào cổ người mua mà cứa. Bà giầu nhanh vì vậy. Tám Thạnh bằng lòng với cuộc sống mới của mình. Ông có nhà để ở, và có người đàn bà để kêu là vợ, ân ái cũng nồng nàn. Ông có việc, công việc ông yêu thích... Vậy rồi một hôm, xuống tới mép nước, Tám Thạnh sực nhớ ra chưa mang theo chai mắm, liền lộn về lấy. Đáy biển lạnh, người thợ lặn không thể thiếu  mắm. Cửa vừa mở, Tám Thạnh không tin vào mắt mình nữa. Trên giường, cô Hai, người gọi ông là chồng đang quắp chặt một gã đàn ông, cả hai không mảnh vải che thân. Họ xoắn vào nhau như một cặp rắn. Tám Thạnh không rõ, không hiểu gì cả. Hoàn toàn bản năng, ông lao mạnh cái bơi chèo đang cầm trên tay về phía cặp rắn, đạp cửa, nhào đi...

           Từ bấy đến nay dễ chừng hơn hai mươi năm, ông không về lại vùng biển đó. Vậy mà lần này...





Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 16 Tháng Sáu, 2009, 03:41:22 pm

           - Trên đã quyết rồi, Lê? - Ông Tám hỏi.
           - Dạ ! Cháu lo lắm.
           - Lo sao?
           - Xem trên hải đồ, cháu thấy luồng vào bờ rối tinh.
           - Chi nữa?
           - Địa hình bãi đổ hàng lại trống trơn, mình không ra kịp, dễ lộ lắm.
           - Chi nữa?
           - Như vậy chưa đủ bạc tóc sao, chú?
           - Ý kiến tao ri! Chuyện luồng lạch mày khỏi lo. Tao thuộc từng mỏm đá vùng Hòn Hàng. Cứ việc chỉ huy tàuvô tới đó rồi mặc tao. Còn điều thứ hai là phần việc của mày với mấy ông trên. Hợp đồng sao cho bến bốc nhanh nhanh mà ra.
          - Vì thế cháu muốn hỏi ý chú đó - Lê thấy vui, giọng anh sôi nổi - Vậy là cháu có phần an tâm, mấy hôm nay cuống lên đấy, chú - Lê vặn to ngọn đèn, với tay lấy tấm hải đồ dựng cạnh vách, trải lên giường.
          - Mày dẹp cái thứ này đi, tao nhìn vô đó khác chí nhìn vô vách, cứ nói miệng thôi. Lê rà tay lên hải đồ:
          - Ta nên đi từ phía Nam lên, theo luồng Cửa Ván để vào hay đi từ trên xuống, qua núi Một, chú?
          - Có phải qua núi Một, tới eo Lồng Cú, Hòn Hàng ở bên phải eo Lồng Cú?
          - Để cháu xem - Lê nhấc ngọn đèn sát lại tấm hải đồ cúi đầu xuống - Dạ đúng!
          - Vậy thì đi lối đó. Mình phải vô khi con nước dâng.
          - Dạ, vào khi nước lên.
          - Khi đó eo Lồng Cú đủ sâu. Đi lối đó kín, trong bờ nhìn ra không thấy, tàu lẫn cùng núi; ngoài ngóng vô, tàu bị khuất.
          - Dạ, cháu hiểu rồi! - Giọng Lê như reo.
          Ông Tám trầm ngâm một lúc, rồi hỏi:
          - Hồi nào đi?
          - Cháu cũng không rõ. Trên chưa phổ biến. Ngày mai ta ra hang Con Gái lấy hàng.
          - Ừ! Anh em biết chưa?
          - Chỉ có chú cháu mình và anh Lượng biết. Anh em họ đoán già, đoán non thôi. Đoàn chỉ thị: Vượt vĩ tuyến 17 mới phổ biến địa điểm bến.
          - Là tao hỏi, anh em rõ mai ta ra Hạ Long lấy hàng chưa?
          - Cũng chưa. Ra tới đó mới nói. Lấy hàng xong, ta neo ngoài vịnh, chờ ngày xuất phát. Ngày mai tàu của đoàn sơ tán ra đó. Chắc anh em nghĩ tàu ta cũng thế.

          Hai người ngồi im. Lê nhấp từng ngụm nước, thấy ấm lòng. Sự tự tin của ông Tám khiến anh vững tâm. Đã đi cùng ông vài ba chuyến, anh rõ lắm. Cái gì nắm chắc, ông mới nói. Đã nói là làm. Ở ông có cái chín chắn điềm đạm và bình tĩnh của người từng trải, của người đã từng bị cuộc đời hắt hủi, dềnh lên dằn xuống, không xốc nổi, bộp chộp như cánh trẻ. Kinh nghiệm cuộc đời hun đúc ông trở nên con người đằm lắng, có chiều sâu. Và vì thế ông trở thành chỗ tựa cửa Lê trong nhiều hoàn cảnh. Chi ủy có ba người, nhiều công việc Lê và chính trị viên Lượng đang băn khoăn cân nhắc thì những gợi ý của chi ủy viên Tám Thạnh gần như trở thành ý kiến quyết định.
           - Hết thuốc rồi, Lê? - Chợt ông Tám hỏi.
           - Còn? Nhưng thuốc nhẹ, không dám mời chú.
           - Đưa coi!
           Lê móc bao thuốc, ông Tám tỉa một điếu, đưa lên mũi ngửi rồi châm vào ngọn đèn.
           Lê chiêu thêm nước nóng vào ấm. Trời đã khuya lắm. Phía ngoài sao nhạt dần; và trên bãi nghe như có tiếng nước chảy lóc róc; biển đang thu nước về.
           - Khi tới đó, kịp vô bờ không, Lê? - Ông Tám chợt hỏi - Mày để tao lên, nghe?
           - Gấp lắm chú ?
           - Tao đi lòng vòng chút xíu. Hơn hai mươi năm rồi, Lê. Chà, những hàng dừa, chẳng rõ có còn...

           Ông Tám đốt điếu thuốc nữa, uống hết nước trong chén, rồi lắc lư người, ngẫm nghĩ. Con tàu khẽ đung đưa. Gió luồn qua cửa sổ mạn mang theo hơi sương ẩm lạnh vào phòng. Trăng khuya tròng trành ngoài mặt sông. Tình cảm quê hương lại trỗi lên trong ông Tám. Một con người đã lang bạt khắp chốn đó đây, đặt lưng đâu là giường, ở đâu là nhà, lại không mối quan hệ ruột rà, tưởng tình cảm dễ chai sạn, khô héo đối với nơi mình sinh ra, nhưng hình như không phải thế. Bấy lâu nay Tám Thạnh ít nghĩ tới, cố nén xuống, có lẽ do hoàn cảnh và ông cũng muốn vậy. Song quê hương, dù ám ảnh bao nhiêu ấn tượng chua xót vẫn loé lên trong đó một cái gì ngọt ngào ấm áp. Ngay những kỷ niệm xót xa, tủi hờn vẫn còn ấp chưa những điều trong lành, đẹp đẽ đã dễ gì quên. Nhưng năm trai trẻ của ông dù chỉ là gã làm thuê không nhà không cửa thì vùng biển ấy ông đã vẫy vùng, đã lặn hụp. Những ngày tháng ông phơi tấm ngực trần, đứng đầu mui thuyền đón gió, dễ nhớ lắm. Và các buổi chiều, khi con thuyền lặc lè cá đâm vào bãi, tanh sặc, người mua ùa lên chao chát giá cả, ông chua xót biết mình đã đưa cá về bến là hết vai trò, vẫn thoát đọng một chút vui vui thật khó lý giải. Miệt còn Hàng mới lắm cá làm sao! Những hôm thuyền về, cá mực ngập chợ Thương Long. Cái thị trấn cũng là cái chợ ấy, hiện giờ ra sao? Và ngôi nhà gạch xế chợ, ngôi nhà nơi ông có một đoạn đời ngắn ngủi ra vô, nơi ông có một đoạn đời cũng ngắn ngủi được coi là có gia đình,thoáng mát hơn đàn bà, hiện còn mất? Rồi những người bạn chài của ông thuở xưa, ai trụ lại đó, ai đã di xa? Ừ, giá đột nhiên ông xuất hiện ở thị trấn, đúng ngay giữa chợ cá Thương Long thì sao nhỉ? Có ai nhận ra, ngước lên nhìn mà thảng thốt: Tám Thạnh. Phải, Tám Thạnh nổi tiếng khắp vùng về tài bơi lặn. Chao ôi, những điều tưởng đã chôn chặt lại quẫy lên trong lòng...

            Ông Tám rít từng hơi thuốc, lắc lắc người, đôi mắt lặng đờ nhìn ra con sông. Thật khó nói cho trúng tình cảm của ông lúc này. Chỉ biết trong ông đang có một điều gì đó thật nôn nao...

           Lê quấn gọn tấm hải đồ, dẹp ấm chè sang bên.
           - Chú ngả lưng chút cho đỡ mỏi - Anh nói - chả mấy nữa sáng.
           - Há? À, ừ! - Ông Tám Thạnh sực tỉnh - Mày đi đâu?
           - Cháu ngồi đây thôi. Tranh thủ viết cho cô ấy mấy chữ, mai kia búi việc, không có thời gian, "người ta" lại trách. Cháu hay bị trách lắm chú ơi!
           - Nó vẫn ở trong thành phố?
           -  Nhà máy không sơ tán mà, chú?
           - Gan hí! Bom đạn như thế?... Ông Tám ngả mình xuống giường, khẽ thở dài - Đời chúng mày thiệt vui!






Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 16 Tháng Sáu, 2009, 03:47:27 pm

12


           Công việc nhận vũ khí lên tàu tiến hành lặng lẽ, khẩn trương.

           Mặt trời vừa lặn, bóng tối chưa kịp buông xuống mặt vịnh, tàu T.67 đã lừ lừ áp vào chân núi, kề hang Con Gái. Hang Con Gái sâu rộng, choán hết phần dưới ngọn núi. Vì vậy ngọn núi chỉ còn là cái vô bằng đá bọt ngoài. Mặt vịnh mờ sương chiều. Những ngọn núi sẫm đen lô nhô, lặng im đứng ken trong vịnh.

           Cầu tàu vừa lao, Lê và Lượng nhảy ngay xuống. Những người có trách nhiệm đã chờ họ trước cửa hang.
           - Theo chỉ thị của Bộ, tàu các anh nhận bảy mươi tấn đạn và ba ngàn khẩu súng các loại - Đồng chí thượng úy ra đón Lê và Lượng, nói - Nội trong đêm phải bốc xong. Chúng tôi chỉ có ba người, hơn nữa, công việc không thể huy động nhiều.

           Đồng chí thượng úy với chiếc đèn bão đã che kín ba mặt đặt ở góc hang đi trước. Ngọn đèn tỏa ra chùm sáng yếu ớt, vàng khè.
           - Đây là đạn!
           Mọi người dừng lại. Một chồng lớn những hòm gỗ xếp ngay ngắn, cao ngất nghểu sát nóc hang.
           - Toàn bộ số đạn này của các anh - Đồng chí thượng úy giải thích - còn đây là súng. Hòm đựng súng không đều vì có nhiều loại. Nhưng chắc các anh dư kinh nghiệm trong việc xếp sắp, bốc hàng.

           Lê nâng thử một hòm đạn, lại nâng thử một hòm súng rồi quay sang nói với Lượng:
           - Ta dùng cách chuyền tay nhanh hơn anh ạ.
           Một lúc, họ bước ra khỏi cửa hang.
           Ít phút sau, mọi người bắt dầu vào công việc. Trời tối Bóng núi đổ xuống khiến mặt vịnh sẫm đen. Xung quanh vắng lặng. Chỉ có tiếng gió lùa vào cửa hang phát ra u u.

           Việc chuyển hàng xuống tàu sớm hơn dự kiến. Già nửa đêm, các khoang tàu đã xếp đầy hòm súng, hòm đạn. Thủy thủ đã rút hết lên boong. Trong hang chỉ còn Lượng, Lê và đồng chí thượng úy. Họ ngồi trên chiếc phản kê sát vách đá, là chỗ ngủ của chủ nhân, hội ý công việc.

           Trên boong, lính ta đang ăn lương khô và tán chuyện. Người nằm, kẻ ngồi, lại có anh đứng ngắm biển, và ti tỉ hát.

            Mặt biển đen như mực. Thỉnh thoảng trên bầu trời, một ngôi sao lóe lên rồi kéo theo một vệt sáng dài rơi xuống mí nước xa xạ.

           Đằng mũi tàu, bộ bốn Hải, Mừng, Cang và Linh đang tán dóc. Hải ngồi tựa thành tàu, hai chân duỗi thẳng. Cang nằm mọp xuống boong, tay tì dưới cằm, đầu ngẩng lên; trông anh chàng như đang bơi. Mừng gối đầu lên đùi Hải, chân bắt chéo ngoe, phì phèo thuốc lá. Anh chàng không nghiện, nhưng thỉnh thoảng cũng vớ một vài điếu đút túi và lúc cao hứng, lôi ra hút. Miệng anh ta ngậm thuốc ngượng nghịu. Cang vẫn nói đùa là cóc ngậm giun. Linh đang ăn lương khô, miệng nhai trệu trạo, chốc chốc lại rướn cổ lên, nuốt.

           Trước mặt họ, cửa hang tối om, sâu hun hút; nhìn vào có cảm giác như tất cả bóng tối đều từ đó mà tuồn ra, phủ đen mặt biển.
           - Các ông có biết tại sao nơi đây lại có tên là hang Con Gái không? - Linh lật người, nằm xoay lại hỏi - Vậy  mà các cha dám để đạn trong ấy. Liều thật! Lại chỉ có ba người. Trong hang có ma đấy anh Hải ạ - Đấy, có tiếng người đàn bà hú ...
           Lập tức anh chàng bị một quả thụi của Cang.
          - À,  mình quên, quên rằng cậu Cang không thích nghe chuyện ma. Mình thôi vậy! - Linh cười. Trong bóng tối tiếng cười của cậu ta lúc búc, nghe như tiếng nước sôi nơi chảo.
           "Được rồi có lúc, ta sẽ cho nhà ngươi chết khiếp". Linh biết cái anh chàng Cang là chúa sợ ma. Nghe đâu hồi ở nhà, cậu ta không bao giờ dám đi đêm một mình. Mỗi lần sinh hoạt chi đoàn thanh niên, bà mẹ vẫn phải dẫn đi đến gần trụ sở, cậu ta sĩ diện đuổi mẹ về, nhưng tan họp, bà mẹ vẫn phải đến đón.

           Cang là con một. Bố mẹ lấy nhau tới sáu, bảy năm, chạy chữa đủ thầy, cúng vái đủ đền, chùa mới sinh ra, vì vậy được cả họ cưng chiều. Chưa đầy tháng, ông bà nội sắm lễ, đem lên bán cho cửa nhà Thánh. Như vậy Cang là con Thánh, con Thần rồi, chẳng lo ma quỷ nào cướp đi. Hồi nhỏ, Cang thường theo bà đi lễ, đi cúng. Hình ảnh những ông thầy chít khăn đỏ, mắt trợn, miệng nói lảm nhảm; những bà đồng bà cốt môi dày, lưỡi dài, dáng điệu kỳ dị chập chờn trong khói hương, ám ảnh cậu ta. Cang tin là có ma và rất hãi ma. Lớn lên, Cang như cái cây cớm nắng, mười lăm, mười sáu tuổi vẫn nằm ườn trên giường, mỗi buổi sáng, chờ mẹ vào đỡ dậy. Ăn cơm còn phải dỗ. Không biết làm bất cứ việc gì, mó vào đâu, đổ vỡ dấy. Hễ vắng nhà lâu lâu một chút là bà mẹ cuống lên bổ đi tìm. Quần áo thay ra tấp đống đấy, chờ mẹ giặt. Vậy mà không rõ bạn bè rủ rê thế nào, cậu ta liền bỏ học, đi bộ đội. Đến ngày cuối cùng bà mẹ mới biết, tất tả bươn lên huyện. Tới nơi thì đoàn tân binh đã đi xa. Bà không bỏ cuộc. Ba ngày sau bà lần tìm tới đơn vị huấn luyện lính mới. Nhưng khi thấy Cang có vẻ chững chạc và nom cũng ra dáng người lớn trong bộ quân phục thủy binh, xung quanh bạn bè Cang đều thế, thì bà thôi ý định bắt con về. Bà vừa cười vừa khóc, ngắm nghía Cang như thể anh chàng xa bà đã lâu lắm. Rồi luống cuống tuông ra phố, ẵm về nào khăn mặt, nào xà phòng, nào mũ, nào dép và cả một cái túi đựng quần áo đỏ chót; vừa lúc anh chàng Cang khệ nệ mang ra một ba lô, cũng gồm những thứ ấy khoe với mẹ.

           Về tàu chưa lâu, Cang được đi chuyến đầu tiên vào Cà Mau. Linh vẫn nghĩ rằng cái gã con cầu tự này có giỏi cũng chỉ đi được một lần là đập bệnh xin lên bờ, ai ngờ anh chàng trụ vững cho tới nay, còn tỏ ra can đảm và thông mình. Linh nhớ lần đi Bến Tre, khi tàu ta đang ở ngoài vùng biển quốc tế thì có chiếc khu trục Mỹ cặp kè áp bên mạn, bám theo; đám lính cởi trần đứng trên boong xì xồ chõ sang hỏi, anh chàng Cang chẳng rõ có hiểu mô tê gì ba cái thứ tiếng Anh đó, thấy vậy, cũng dạng chân, ném sang mấy cái vỏ chuối rồi xồ ra một lô tiếng Tàu: "Ni sua sấn mơ ủa phu tủng" (Anh nói cái gì tôi không hiểu), khiến cả tàu tròn mắt, phục lăn. Bọn Mỹ ngỡ đây chắc tàu đánh cá Hồng Công hoặc Đài Loan nên biến thẳng. Vậy mà đến nay, anh chàng vẫn không hết sợ ma. Lạ thế.

           - Kể chuyện gì vui vui đi anh Hải - Cang đánh lảng.
           - Chuyện gì? Chuyện tình yêu nhé?
           - Lại chuyện vuốt tay chị Thơm hả? - Mừng giễu.
           - Hồi ở nhà, mỗi lần đào mương làm thủy lợi, bọn mình vẫn chuyển từng sọt đất, y hệt cách ta bốc hàng vừa rồi - Hải như không để tâm đến câu diễu của Mừng, kể theo ý mình.
           - Rồi dịp đó anh bắt đầu yêu chị ấy? - Linh hỏi.
           - Không phải là mình bắt đầu yêu “chị ấy", mà đúng hơn là "chị ấy" bắt đầu yêu mình.
           - Lại thế!
           - Ông Hải là vua bịa đấy - Mừng, anh chàng nổi tiếng là hay chuyện, vui tính chen vào - Nghe ông ấy có ngày bán cả người yêu đi mà ăn. Muốn nghe, ông Hải "tái bản" cho nghe.
           - Ấy bịa mà khối kẻ cứ phải nghển tai không muốn để lọt một câu nào đấy...
           - Ôi dào!
           - Anh cứ kể đi - Linh hăng hái - Ai không nghe thì nhắm tai lại. "Tái bản" cũng được.
           - Kể đi, anh Hải - Cang hưởng ứng.
           - Mình cứ kể, tay nào không tin thì coi như không nghe nhé. Hồi ấy, mỗi lần đón sọt đất Thơm đưa, mình lại đặt hai bàn tay bê bết bùn của mình lên bàn tay của cô ấy. Sự ma mãnh đó chỉ có Thơm với mình biết, người ngoài làm sao phát hiện ra. Đầu tiên thì cô nàng lườm: "Em đổi chỗ đấy!". Dọa thế nhung cũng không đổi. Hôm sau lại vẫn thích đứng cạnh mình. Thế là trong ba ngày đào mương, mình được vuốt đôi bàn tay cô ấy có đến... bốn năm trăm lượt. Chứ không à, mỗi ngày chuyển bao nhiêu sọt đất, các tướng tính thử. Ban đầu cũng tưởng đùa thế cho vui, nhưng buổi tối, khi sinh hoạt chi đoàn xong, cô ấy lật đật chạy tìm mình. "Anh Hải, em hỏi cái này!" – "Thơm hả?" - mình dừng lại. Lúc đó trên đường làng chỉ có hai đứa, mình nghe tiếng tim Thơm đập rất mạnh và thấy đôi mắt cô ấy ngước lên, long lanh như hai giọt sao. "Anh Hải, em hỏi nhé, có phải... có phải... vâng, có phải anh, anh yêu em không?". Thôi chết con rồi bu ơi, tưởng trêu cô ấy, ai ngờ sự thể nó lại trở nên nghiêm chỉnh thế! Đùa dai, đùa dại rồi; biết trả lời sao đây? Đã trót thì phải trét, mình không dám nói thật, vả lại cũng không nỡ thế, cứ ậm à, ậm ừ như ngậm hạt thị "à ừ cũng...".  "Em cũng thế" - Cô ấy cúi xuống nói khẽ rồi lần tìm tay mình - "Em yêu anh"...
          - Và anh đến với chị ấy chứ? - Mừng sốt ruột hỏi.
          - Ấy chuyện bịa mà !
          - Ôi dào! Có lẽ bịa thật. Làm quái gì có cái kiểu yêu nhau như thế. Phụ nữ người ta kín đáo, tế nhị.
          - Vâng, bịa nên Thơm mới đẻ cho mình ba đứa con, nếu không bịa, dễ chừng phải đẻ ba chục đứa.
          - Toàn con gái cũng khoe, đếch biết đẻ.
           Nhiều tiếng cười bật ra.
          - Thì còn đời các cậu đấy. Đừng nói mạnh. Đẻ lắm con gái, càng được uống nhiều rượu.
          - Và mất công đuổi chó nữa chứ.
           Linh cười khích khích. Cang giục:
          - Anh kể hồi hai đi !
           Chợt Linh giật áo Hải:
          - Xuỵt! Nhìn kìa! Nhìn kìa... Cha mẹ ơi, chẳng lẽ... ma.
           Mấy chàng lính ôm chặt lấy nhau, lấm lét nhìn vào hang vừa sợ hãi, vừa tò mò. Từ khoảng tối ấy, có bóng người mờ mờ, nhập nhoè, lúc hiện, lúc biến...
          - Cha mẹ ơi, hang Trinh nữ mà ...
           Bóng người rõ dần.
          - Hừ, chính trị viên Lượng và thuyền trưởng Lê chứ ai.
          - Hả?
          - Ôi dào!
          - Vậy mà... Hú hồn.
          - Trời ơi! Thằng Cang nó tè ướt cả lưng tao rồi!






Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 16 Tháng Sáu, 2009, 03:51:06 pm

13


           Buổi chiều.
           Vịnh Hạ Long sáng đẹp. Trời hanh, lạnh, cao xanh, biển lặng. Những ngọn núi mọc lô nhô trên vịnh phơi ra các cạnh nét, các hình thù. Nắng cuối mùa chiếu xuống vàng dịu.

          Tàu T.37 phủ kín lưới ngụy trang nép dưới một vòm Đá. Con tàu hòa lẫn vào ngọn núi. Xung quanh rải rác nhiều ngọn núi khác: hòn "Ông" nhô lên như một cánh buồm, cạnh đó là hòn "Con Cóc". "Con Cóc" ngồi chồm hỗm, tư lự ngóng ra biển.

           Không rõ ngày xửa ngày xưa con rồng nào đã thả những hòn núi này xuống đây, mỗi hòn mỗi dáng, mỗi vẻ chẳng hòn nào giống hòn nào! Có hòn hệt con voi đang phủ phục, cái vòi quặp xuống; chịu đựng. Lại có hòn hao hao cái đầu ngựa ngựa mặt lên trời mà hí... Nhưng lính tàu T.37 thích nhất vẫn là hòn "Trống Mái", đôi gà vươn mình khỏi mặt nước, âu yếm cà mỏ vào nhau. Đôi gà đá ấy đã để lại cho thế gian không biết bao nhiêu truyền thuyết về tình yêu! Hạ Long có bao nhiêu hòn núi thì có bấy nhiêu giai thoại, bấy nhiêu chuyện kể...

          Trên boong, lính tàu T.37 vừa sửa lưới ngụy trang vừa nói câu chuyện. Thuyền phó Xuyên có mặt ở đó, anh là người tranh luận sôi nổi nhất.  Lúc này câu chuyện đang xoay quanh đôi gà đá. Xuyên đưa ra mọt nhận định: dọc bờ biển nước ta, nơi nào có hòn trống thể nào cũng có hòn mái; tình yêu và lòng chung thủy là nội dung có tính đặc thù của những giai thoại. Lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm qua, có thể nói là lịch sử của các cuộc đấu tranh chống xâm lược,vậy . mà bao giờ sự giải thích các hiện tượng có sẵn trong thiên nhiên cũng lại hầu như đều bắt đầu bằng một câu chuyện tình. Không ai phản đối. Mọi người còn nói rằng bản thân câu chuyện bố mẹ Xuyên lần tìm nhau trong những ngày hòa bình mới lập lại, xét ở góc độ nào đó cũng là một câu chuyện tình lý thú.

           - Ba má mình à? - Xuyên reo lên; mỗi lần có ai nhắc tới bố mẹ, anh tỏ ra rất vui và một tình cảm như thể là  sự hài lòng, sự tự hào lại dấy lên - Ừ, cũng có thể! Ra tới miền Bắc một thời gian, mình mới rõ là ba má còn kẹt lại trong đó. Khi gửi mình xuống tàu theo chú Năm, ba mình còn dặn: "Con cứ ra ngoài đó trước, ba quay lại tìm má rồi sẽ đi sau. Nhất định ba con ta sẽ gặp nhau trên miền Bắc, lâu cũng chỉ dăm bữa nửa tháng". Ai ngờ chuyến tàu chở mình và chú Năm là chuyến cuối cùng.
          - Ba anh không thể đi được bởi Trời đã đặt "hòn mái" trong đó, thì sao đặt "hòn trống" ở ngoài này!
          - Nhưng sao bị lạc, anh Xuyên? - Khang hỏi.
          - Mình đã kể rồi đấy - Xuyên nói - Nhiều khi hậu quả sự việc rất lớn, nhưng nguyên nhân gây nên lại chẳng ra sao, đầy ngẫu nhiên. Hồi đó, ba mình là cán bộ trên huyện, làm việc gì thì mình cũng không rõ. Tới ngày đình chiến, ba mình về. "Má con thằng Xuyên chuẩn bị đi tập kết nghe!" - ông bảo. Má mình hỏi: "Còn ông?". "Tôi cũng đi". Vậy là cả nhà lo gói ghém đồ đạc để lên đường. Tình hình hồi ấy rất lộn xộn: ta rút tới đâu, quân Ngô Đình Diệm lấn tới đó; người đi tập kết, kẻ lần đường tìm về quê , kẻ di cư vào... ; trên đường lúc nào cũng nườm nượp kẻ xuôi, người ngược, lính có, dân có ta có, địch có. Tất tưởi, vội vã. Cả nhà mình đi nhờ chiếc ôtô chạy Nha Trang. Mình không nhớ rõ chiếc ôtô đó là xe nhà binh hay xe của ai nữa. Hồi ấy mới hơn mười tuổi mà? Tới một thị trấn, ôtô đỗ, má mình nhảy vội xuống kiếm cái gì cho ba con mình lót bụng, ai dè má chưa kịp lên, thằng tài xế rú ga chạy biến. Ba mình hét mấy nó cũng không chịu dừng. Ra tới Quy Nhơn, ba gửi mình cho chú  Năm rồi quay lại tìm má ... Đã hơn chục năm rồi đó!
          - Thế lâu nay anh có nhận được tin tức gì của ba má không?
          - Có, nhưng ít. Hồi ở trường học sinh miền Nam, nghe láng máng nhiều tin, song không khớp. Lúc đang học Trường sĩ quan Hải quân, chú Năm tới thăm mấy lần. Chú bảo rằng trên Ban Thống nhất Trung ương cho hay là ba má vẫn khỏe, ông già vẫn hăng hái hoạt động như hồi chín năm, có điều cực hơn. Và chú nói cũng đã nhắn vào cho ba biết tin tức của mình. Chà, ông già được tin mình thành cán bộ hải quân, chắc mừng lắm. Hồi xuống tàu theo chú Năm ra Bắc, mình mới đứng tới thắt lưng ba, khóc thút thít kêu má hoài... Cũng nhanh. Mấy bận đưa vũ khí vào Cà Mau, mình cố lần hỏi, may có ai đó rõ ba, nhưng chẳng ai hay, thời gian lại khan, lúc nào cũng vội.

            Chuyện mây nước, núi non, chuyển sang chuyện gia đình, rồi lại bất chợt xoay sang chuyện đá bóng, chuyện nước Mỹ... Những câu chuyện của lính thường là thế, không chủ định, không đầu, không cuối, lan man. Tàu neo ở biển, rỗi nhiều: lính giết thời gian bằng cách đánh bài, tán chuyện.

            Về chiều mặt trời hắt nắng xuống biển lóng lánh. Bầu trời cao, xanh. Xanh thẫm. Bầu trời cũng khiến mặt biển xanh thẫm. Và những ngọn núi như vừa từ dưới biển nhô lên, sáng sủa, mới mẻ. Nếu đứng từ một nơi nào đấy thật cao nhìn xuống, chắc sẽ có cảm giác như  vùng biển này đang có một đàn trâu đen khổng lồ đằm mình, tắm mát.

            Đứng đằng mũi tàu, thuyền trưởng Tòng chăm chú nhìn xuống biển. Bao giờ mới đến lượt tàu của Tòng có nỗi thấp thỏm đợi chờ ra đi như tàu của Lê? Giá đổi được cho nhau. Cùng ra trường nhưng Lê may mắn hơn Tòng, ngay ngày đầu đã được về đoàn 25 vì thế anh chàng được đi nhiều, biết nhiều, được đến lắm vùng biển mới. Còn Tòng, những tháng ngày qua chỉ loay hoay ven biển miền Bắc. Vì vậy được điều khiển con tàu rong ruổi trên vùng biển thật xa, thật lạ vẫn là ước ao của Tòng. Máu phiêu lưu, thích đi đây đi đó, thích mạo hiểm vốn sẵn trong anh từ nhỏ, được kích thích trong những ngày làm lính hải quân, càng khuấy mạnh khi về đoàn, nơi mà Tòng biết có thể thỏa mãn lòng hiếu kỳ của mình. Anh cũng không lý giải được tại sao như thế. Một chàng trai ra đời ở trung du, cái vùng đất chỉ có đồi và đồi, tầm nhìn bị bao chắn; biển là một cái gì rất khái niệm và trừu tượng, lại như thể sinh ra dể gắn bó với biển. Nhưng điều ấy có gì lạ!. Biển hợp với tính cách anh! Biển không thích đơn điệu, biển ồn ào, dữ dằn, phóng khoáng nhưng lại mát mẻ, ấm áp. Biển cởi mở, lúc nào cũng bộc lộ hết mình, đúng mình cả nết tốt lẫn tính xấu. Vì thế chẳng phải ít người không yêu biển, nhưng điều này thì chắc nhắn, không ai không kính nể biển.  Kính nể cái khối nước bao la, sôi động ấy.

           Tòng đưa tay lên mặt che nắng để nhìn xa hơn. Phía trước vãn một khối đá khổng lồ màu ghi như bao hòn núi khác trên vịnh. "Ngụy trang khá lắm!". Tòng nghĩ và quay lại nhìn tấm lưới anh em thủy thủ vừa chằng nứu trên vòm đá, rũ thõng xuống mặt nước bao lấy con tàu. Anh hài lòng: lũ máy bay Mỹ làm sao có thể phát hiện ra!

           Tòng bước về phòng thuyền trưởng. Nhưng vừa tới buồng lái, anh đã vội nhào ra cửa, nhìn lên: tiếng động cơ máy bay bất thần rú vang, lượn ào qua ngọn núi.
           - Ai ở đâu, ngồi nguyên đó. - Tòng quát to khi thấy thấp thoáng vài thủy thủ chạy lên boong.
            Chiếc máy bay mất hút. Tiếng động cơ nhanh chóng biến theo. Tòng hô:
           - Tất cả vào khoang!.
            "Thằng này đi ăn lẻ, đánh lén, hay trinh sát?", Tòng giỏng tai nghe, mắt nhìn bầu trời. Chính trị viên Đạm từ phòng bên bước tới, đứng cạnh. Hai người cùng im lặng, lắng nghe. Hình như lẫn trong tiếng sóng có tiếng máy bay. Rồi tiếng động cơ rõ dần. Tòng nhìn qua mắtlưới ngụy trang: ba chiếc máy bay lấp loá nắng, bay theo đội hình tam giác, từ phía đông về hướng đất liền. Tiếp đến một tốp nữa. Lại một tốp nữa. Lát sau có tiếng súng, tiếng bom từ bờ dội ra.

           Chừng năm phút, lũ máy bay tan tác đội hình, hớt hải bay ra biển. Rồi một tiếng rốc két nổ đanh trên đỉnh núi. Bụi, khói bốc lên mù mịt. Một chiếc vòng lại, sà thấp, phóng thêm hai qủa đạn nữa. Tòng chạy tới mũi tàu, nhìn về phía hòn núi có tàu của Lê nép ở đó. Chúng phóng vu vơ hay có chủ định? Chẳng lẽ bọn địch tinh khôn tới mức đánh hơi ra quanh khu vực này có dăm ba con tàu của hải quân neo đậu?




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 16 Tháng Sáu, 2009, 04:16:01 pm

          Tòng cho kiểm tra lại lưới ngụy trang, dấp thêm mấy cây dứa xanh vào các vị trí cho thật hợp lý, rồi quay sang phía Đạm:
          - Tôi đề nghị cho anh em chuẩn bị vũ khí anh ạ.
          - Đồng ý, nên đề phòng trường hợp bị lộ, phải chơi bài ngửa với chúng nó.
          Thủy thủ được lệnh dưa vũ khí lên boong. Thuyền phó Xuyên tất tưởi chạy tới buồng lái:
          - Trên cho lệnh bắn rồi hả, các anh?
          - Nhắc anh em, cậu nào bắn khi chưa có lệnh, tù đấy - Tòng đe. Khang và Mánh khệ nệ khênh khẩu trung liên dặt đằng mũi. Giữa boong, mấy thủy thủ đang kích, kê và kiểm tra khẩu 12 ly 7.

           Ngoài khơi, tiếng máy bay ầm ĩ vọng tới. Hai chiếc F.4 từ sau ngọn núi lao lên, bay về phía tây, rồi đột ngột quay lại lướt vòng trên mặt vịnh. Chúng nghiêng cánh, lơ láo vòng sang ngọn núi có tàu T.67 của Lê. Tòng chột dạ : hay là chúng săn tìm chiếc tàu ấy? Chẳng lẽ !... Nhưng chỉ lượn một vòng và dường như không phát hiện thấy gì, chúng hạ độ cao, lao nhanh về hướng tàu T.37. Tòng có cảm giác như ngay lập tức chúng sẽ đâm cắm vào ngọn núi. Rất nhanh, như có một linh tính mách bảo: chúng phóng rốc két. Tòng cúi người:
          - Nằm cả xuống - Anh hét.
           Tòng vừa kịp nhận ra bên cánh chiếc máy bay một tia chớp thì tai đã ù đặc. Từ vòm đá bao quanh phía trên con tàu, bật ra tiếng nổ vang, đanh. Không khí như bị nén lại. Khói ùa xuống tàu. Đất đá bắn rào rào.
          - Không được bắn! - Tòng hô - Chúng phóng hú họa thôi!

           Hai chiếc máy bay lộn lại. Có lẽ chúng nhận ra điều gì liền xả một loạt đạn vào vòm đá. Cây lá bén lửa, cháy rừng rực, rơi xuống tấm lưới. Tro bay lả tả. Chiếc máy bay đi đầu bổ nhào. Loạt bom nổ cách tàu không xa. Nước cuộn lên hắt tạt vào chân núi. Thân tàu lắc mạnh. Tấm lưới ngụy trang đứt dây, thõng xuống. Rồi rơi hẳn. Khối thép trơ ra bên vách đá. Từng chùm lửa từ trên núi tiếp nối nhau bay xuống. Nhiều chỗ trên boong bốc cháy. Đạm chỉ huy dập lửa. Tòng chạy khắp nơi trên boong. Chỉ vài quả đạn xỉa trúng vòm đá là đi đứt? Bọn này chưa bỏ cuộc đâu! Đã bén mồi là chúng bám đến cùng. Chúng không thể quẳng bom sát chân núi, nhưng rốc két thì hãy coi chừng!

           Hai chiếc máy bay lượn vòng trên núi, thi nhau gầm rít, bắn rốc két, ném bom. Rồi một chiếc tách ra, mở rộng vòm lượn. Từ xa, nó đâm thẳng vào chính diện vòm núi. Loạt dạn lập tức khoan vào vách đá, trước mũi tàu. Tòng chững lại trên boong chừng một giây. Đầu nóng ran. Hy vọng vào sự may rủi, hay cơ động tàu ra nơi khác? Mà đi đâu? Nếu ló ra khỏi vòm đá, con tàu tức khắc ăn bom. Mà nán lại?... Chỉ một quả rốc két! Chiếc máy bay thứ hai cũng như chiếc đi đầu, lựa thế, bắn xối xả vào chính diện vách đá. Chưa kịp trấn tĩnh, Tòng đã nom rõ từ trên cao, một tốp máy bay nữa đang đảo qua đảo lại phía ngọn núi có tàu của Lê. Tòng choáng người.

          - Nổ máy! - Anh lệnh gấp - Chặt neo! - Đồng chí Xuyên chuẩn bị hỏa lực, chúng vào đúng tầm, bắn.!
          - Trên trời, lũ máy bay đang vờn lượn.
          - Ta vào bờ chứ? - Đạm hỏi.
          - Cần phải thế!
           Khang và một chiến sĩ nữa đang bổ rìu xuống dây neo. Đạm giằng lấy. Anh chặt liền hai nhát. Chiếc xích sắt bung ra. Tiếng máy tàu nổ ầm ầm. Khói phả đen đặc.
           Tòng nhảy vào buồng lái, lệnh:
           - Tiến một!
           Con tàu trườn ra khỏi chân núi, quay mũi.
           - Tiến hai !

           Lũ F.4 lập tức dồn lại, bám con tàu. Chúng nhào đảo Đạn từ tàu vọt lên. Máy bay không dám xuống thấp. Trung liên 12 ly 7 bắn xối xả. Trán Tòng đẫm mồ hôi. Chốc chốc anh lé mắt nhìn sang hòn núi bên cạnh: nơi đó vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ bọn địch đã phát hiện ra mục tiêu. Anh thấy an lòng. Con tàu chạy ngoằn ngoèo chít chi, lúc nhanh, lúc chậm, luồn lách giữa những hòn núi trên vịnh.

            Ngoài boong, Đạm và Xuyên dang chỉ huy đánh trả. Đạn bắn lên rất rát. Xuyên và mấy thủy thủ đảm nhiệm khâu 12ly7. Đằng mũi tàu, khẩu trung liên của Mánh nổ giòn từng loạt.

            Bom đạn vãi xuống quanh tàu. Mặt nước sôi lên. Giữ nguyên hướng đi. Tòng có thể đưa tàu vào bờ nhanh hơn. Nhưng phía trước có tàu của Lê. Tòng đánh mạnh tay lái. Con tàu hơi nghiêng, quặt sang phải. Tòng cho mở hất máy. Con tàu chạy sát những bờ đá. Máy bay vẫn gầm rú. Địa hình trên vịnh không dễ gì tạo cơ hội để chúng cắt bom. Chúng chỉ chúc xuống bắn. Một loạt đạn nổ cạnh buồng lái. Tiếng Khang hét to:
           - Anh Mánh!
          Tòng không rời tay khỏi vô lăng, toài nửa người ra cửa: Mánh loạng choạng đổ xuống cánh tay Khang. Tòng thoáng thấy vết máu.

           Phía đuôi tàu, một chiếc máy bay đang cắm xuống. Tòng ngoắt vào, dùng sức đánh hết lái về bên trái. Con  tàu nghiêng mạnh, tưởng ụp xuống biển. Chiếc máy bay nhỡ đà, chùm đạn lia xuống mạn phải. Cột nước dựng cao.
          - Khang đưa đồng chí Mánh xuống khoang. Hóa thay vị trí trung liên - Tiếng Đạm nói rất nhanh - Bộ phận mặt bong dập lửa! Bình tĩnh.

           Con tàu rạch nước, đâm thẳng. Lúc này Tòng đã nghe rõ tiếng súng cao xạ trên bờ. Lũ máy bay biết rằng không thể hiểu, đành vờn phía ngoài. Tòng đưa tàu áp sát một chân núi. Lúc đó nắng đã tắt.
          Khi con tàu dừng hẳn, Tòng buông tay lái, lao ra cửa. Anh vội vã thả mình xuống khoang máy: Mánh đang ở đó.


*


           Về khuya, một chiếc xuồng con hớt hải cập vào mạn. Khang lò dò bước vào phòng thuyền trường. Anh chàng hốc hác, dáng vẻ mệt mỏi, đôi mắt đờ dẫn. Tất cả sự tếu táo, nhộn nhạo ngày thường đã biến mất.
          - Báo cáo thuyền trưởng - Giọng Khang buồn bã... Báo cáo... Anh Mánh... Anh Mánh đã tắt thở.
          - Tắt thở? - Tòng chồm tới, nắm lấy hai bả vai Khang, lắc mạnh: Sao?
          - Báo cáo, đến bệnh viện, anh ấy vẫn tỉnh, còn nói đùa rằng. "Y tá, hộ lý, gái vùng mỏ, mắt cô nào cũng đen lay láy?". Hai giờ sau thì anh ấy... đi.

           Tòng buông thõng hai tay, quay mặt, ngồi rũ xuống. Hình như có một bàn tay vô hình nào đó đang bóp chặt trái tim anh. ... Trong phòng lặng im. Chợt Tòng đứng dậy:
           - Gọi cho tôi thuyền phó Xuyên!
           - Rõ!
           Xuyên bước vào phòng thuyền trường, đôi mắt ngơ ngác.
           - Đồng chí thay tôi chỉ huy tàu...
           Tòng chỉ nói thế rồi bước ra mạn, nhảy xuống chiếc xuồng.

           Trời tối như bưng. Những ngọn núi đen trũi, in đậm trong đêm, đứng lặng. Tòng cứ nhằm hướng có cái dải trăng trắng mờ mờ mà anh biết chắc là bờ, thả mạnh mái chèo. Đầu anh rối lên bao ý nghĩ. Mánh không còn nữa. Cái chết ấy có phải do Tòng gây ra? Chiều nay Tòng xử trí đúng hay sai? Hành động của anh phải chăng là liều lĩnh? Chẳng lẽ cái ý muốn thoát ra khơi nơi mà tin chắc rằng nếu tiếp tục neo lại đó, con tàu nhất định sẽ làm bia bất động cho lũ máy bay đến đánh phá là việc làm đáng chê trách? Hơn nữa, còn con tàu của Lê? Lúc đó quả thực Tòng đã sợ hãi khi nghĩ rằng tàu của Lê cũng có thể rơi vào tình cảnh như tàu T.37. Chiếc tàu ấy đã đầy ắp vũ khí và sắp ra đi. Mà tàu anh thì lộ rồi! Phải chăng như vậy là có lỗi, là vi phạm kỷ luật? Nếu anh cứ cho tàu trụ lại dưới vòm đá? Khi ấy tránh sao thương vong và con tàu cũng tránh sao khỏi hư hại. Rồi còn tàu của Lê? Xét về lý, anh hoàn toàn trắng án. Anh đã chấp hành đúng lệnh, dù máy móc. Và điều ấy sẽ bào chữa cho anh. Nhưng chẳng lẽ lại chọn một sự thuận lợi nhất cho riêng cá nhân mình? Anh Mánh ơi, tôi không nghĩ là mình sai, nhưng thật đau lòng và trớ trêu, anh đã không còn nữa. Sự thể lại tàn nhẫn vậy sao? Chẳng lẽ anh ra đi nhanh thế? Khi đưa anh xuống xuồng để anh Đạm và Khang chở vào bệnh viện, anh còn bảo: "Máy tàu mình tốt đấy thuyền trưởng ạ.Tiếng nổ của nó nghe giòn lắm. Chúng ta có thể đi tới tận Cà Mau"  vậy mà... chúng mình chưa được cùng nhau đi một chuyến thật xa. Sao vô lý, anh Mánh?

            Trái tim Tòng đau thắt. Cái dáng của Mánh hôm nào lại hiện ra: khuôn mặt lem luốc dầu mỡ cứ nhìn Tòng mà cười. Nụ cười hết cỡ, thanh thản và sung sướng làm sao!: "Máy tốt rồi! Máy tốt rồi! Tiếng reo ấy vẫn còn như dội lại đâu đây... Tòng cúi gập người, ráng chèo. "Thuyền trưởng đừng nghĩ rằng chúng tôi bằng lòng. Chẳng ai có chút tự ái lại bằng lòng, khi cảm thấy mình phải đứng ngoài cuộc....Nghĩ tới anh Tài, anh em đã hy sinh, thật xấu hổ với sự chờ đợi vô lý này. . . Chữa được hay không là ở chỗ ta có muốn chữa hay không!...Chỉ một tuần là chúng mình chữa xong máy thôi thuyền trưởng ạ. Chúng ta lại ra khơi, kém gì ai..."



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 16 Tháng Sáu, 2009, 04:23:28 pm
       
            Xuồng chưa chạm bờ cát, Tòng đã nhào lên bãi. Anh chạy tới bệnh viện. Ở đây người ta giữ anh lại phòng thường trực. Chị y tá cho biết rằng Đạm di nhờ xe tô về đơn vị báo cáo và lo việc chôn cất, còn Mánh đã được đưa xuống nhà xác.

          Tòng đờ người. Anh lặng im ngồi xuống ghế như pho tượng, nghĩ miên man. Cạnh đó, ngọn đèn bằng hạt đỗ chị y tá vừa đưa tới tỏa sáng mờ mờ. Bên ngoài, trời tối như mực. Đêm đã khuya lắm. Phòng thường trực lặng ngắt.
          - Đồng chí này! - Tòng đứng lên khi thoáng thấy người y tá bước qua cửa. - Nhà xác ở đâu?
           Người y tá còn trẻ dừng lại nhìn Tòng dò xét.
          - Phía sau ngọn đồi! - Cô nói, đôi mắt nhìn Tòng, vẫn chưa hết ngạc nhiên - Nhưng anh hỏi... có việc gì?
          - Tôi là thuyền trưởng...
          - Vâng, anh cứ nói.
          - Chị cũng biết đấy, tôi cần gặp anh ấy.
          - Cần gặp ai? Gặp ai?
          - Người lính thủy các chị vừa đưa xuống đó!
          - Ơ kìa, chẳng lẽ anh không rõ là anh ấy đã...
           Cô y tá mở to mắt, kinh ngạc nhìn thẳng vào mặt Tòng, rồi vội vã bước nhanh như chạy.

           Tòng quay vào thổi tắt ngọn đèn rồi ra khỏi phòng thường trực. Anh lần về phía sau ngọn đồi. Tòng đi chậm. Thỉnh thoảng dừng lại để nhận hướng. Xung quanh ngọn đồi, một vài thân cây đứng lặng. Gió hiu hiu. Chốc chốc, trong những bụi rậm trước mặt có tiếng động vài một con chuột từ đó lao ra. Ngọn đồi nhoà trong đêm. Tòng đã nhận ra gian nhà lá, tường gạch đứng chơ vơ lưng chừng đồi. Hai bên trống trơ. Phía sau nhà, lúp xúp vài ba bụi cây, bất động. Tòng bước nhẹ, quờ quạng tìm cửa. Thoảng có mùi hương, mùi đất ẩm đưa ra. Anh bước vào. Gian nhà tối om, lạnh lẽo. Tòng bật lửa. Ngọn lửa chập chờn run rẩy. Mánh nằm đó, trên bệ xi măng. Chiếc chăn chiên phủ kín người. Tòng bước tới, quỳ xuống bên cạnh. Anh kéo chăn rồi đưa tay vuốt lên mắt người trưởng máy. Dưới ánh lửa nhạt nhoà, khuôn mặt Mánh quắt hóp, vàng xanh, toàn thân cứng lạnh.

           Tim Tòng lại nhói đau - Dù thức về cái chết của Mánh khiến anh thấy tê buốt. Anh ngồi lặng như một khúc gỗ. Bốn bề im ắng. Cuối cùng anh nói, giọng tắc nghẽn:
           - Anh Mánh ơi, Tòng đây. Tòng đến với anh đây! ... Tòng có lỗi  không, anh Mánh?






Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 17 Tháng Sáu, 2009, 09:58:50 am

14


           Tàu T.67 nhổ neo lúc nửa đêm. Nó lặng lẽ trườn trên mặt vịnh. Chẳng thủy thủ nào nghĩ rằng cần ngủ vào giờ này, dẫu đêm đã khuya. Những người chưa đến ca trực đều tụ trên boong, ngồi nhìn ra hai bên mạn. Đã đi nhiều chuyến, song phút con tàu bắt đầu thực hiện cuộc hành trình, với mọi người vẫn có một cái gì thiêng liêng. Và dường như ai cũng muốn sự thiêng liêng đó ngấm vào mình thật đậm, thật sâu.

           Con tàu lầm lũi lách giữa các kẽ núi. Mặt nước đen đặc Phía dưới, một vệt sáng mờ, lấp loá ánh lân tinh. Những hòn núi neo lặng trong đêm trông nghiêm trang như các vị thần đứng canh biển.

           Mặt boong sáng lờ nhờ. Thủy thủ ngồi bên nhau, yên lặng. Không ai muốn quấy phá suy nghĩ của người khác. Ông Tám Thạnh ngồi đằng mũi tàu. Ông vẫn quen ngồi vị trí đó, mặc gió biển phả vào mặt. ông vốn thích thế. Miệng rít thuốc, mắt ngóng ra xa. Hôm nay ông mặc bộ bà ba bằng vải ni lông màu cánh gián, may theo kiểu mới nhất của dân đi biển miền Nam. Loại vải này đang thịnh hành trong đó, hàng ế của các nước tư bản tuồn vào, rẻ như bèo. Bộ đồ hơi bí nhưng đi biển tiện lợi: chóng khô. Cang ngồi cạnh, cằm tì lên gối ông Tám, tư lự ngó xuống biển. Anh chàng diện áo kẻ ca rô màu thẫm, thứ áo thủy thủ nước ngoài vốn chuộng, chân bó trong chiếc quần hẹp ống màu sáng, tóc để chờm quá tai. Bộ quần áo khiến Cang trẻ ra và trông khá ngộ nghĩnh, ra dáng một tay ăn chơi có hạng.

           - Cháu cứ tưởng vài ba tuần nữa mình mới đi! – Cang nói, hai tay ôm lấy bắp chân ông Tám.
           - Bộ mày không muốn vô sớm?
           - Là cháu nói thế. Mọi bận, nhận xong vũ khí, chờ hàng tháng sau mới lên đường.
           - Phụ thuộc vào bến chớ. Bến động làm sao đi?
           - Chú biết lần này ta vào đâu không? - Cang hỏi nhỏ, khuôn mặt ngước lên nhìn ông Tám.
           - Tao cũng... không rành lận?
           Ông Tám trả lời tỉnh queo. Từ khi con tàu nhổ neo, ông đang nghĩ tới nơi ấy, cái nơi lần này ông đưa vũ khí về : Hòn Hàng - quê ông. Vất mẩu thuốc xuống nước. Ông quàng cánh tay to thô của mình lên vai Cang, âu yếm:
           - Mà nóng ruột chi... vài ba bữa tới, thằng Lê sẽ phổ biến. Mình làm thủy thủ, biểu đi đâu là đi, vô đâu cũng vậy. Nè, tao nghe thằng Linh nói rằng mày sợ ma hả, Cang?
           - Đâu có chú ... chỉ sơ sơ.
           - Hồi bằng tuổi mày, tao đã đi lưới một mình. Một người ruột thuyền trụ giữa khơi suốt đêm. Làm chi có ma, mà có thì nó sợ mình, chớ mình đâu có ngán nó. Con gì cũng thua con người hết.
           Cang ngồi im. Hai người lại ngóng ra biển. Những ngọn núi thẫm đen lùi dần về phía sau. Bầu trời đầy sao, những ngôi sao về khuya sáng mọng, lấp lánh. Giữa boong tàu, dăm ba thủy thủ ngồi trên đống lưới tựa lưng vào nhau. Lưới còn mới, chưa có mùi tanh. Bộ lưới này đã đi "đánh cá" với họ mấy chuyến. Mừng mặc áo thụng đuôi tôm thả kín mông, vẽ chim cò. áo rộng, quần chật nên trông không cân xứng nhưng đó là "mốt". Như một thói quen, đã ngồi bên Hải là thể nào Mừng cũng tựa vào anh, đêm nay cũng vậy, Mừng ngoẹo đầu xuống vai Hải, ngửa mặt nhìn sao. Hải đánh quần soóc, áo cộc tay màu ghi. Đã ba con nhưng diện vào còn thanh niên lắm! Chiếc mũ nồi úp trên đầu, trông anh giống như diễn viên hơn là một thủy thủ chuyên nghề kéo lưới. Tuy thế chiếc mũ nồi ấy cũng tạo cho anh cái vẻ ngổ ngáo cần thiết. Bộ ria không làm cho Hải già thêm mà có cảm giác như đây là một anh chàng đua đòi, học làm sang.

            Con tàu sơn màu "be" nhạt và cái dạng hoàn toàn thành một con tàu cá nước ngoài. Trên boong cũng cẩu, cũng lưới và những đồ nghề đánh bắt cá khác. Lúc này nó cần ra vùng biển quốc tế trước khi trời sáng. Tất cả điều ấy đã được tính toán.

            Lê đứng trong buồng lái, mắt đăm đăm nhìn vào mảng tối phía trước: chỉ một sơ suất nhô là dễ dàng đưa tàu vào đá
           - Phải, năm độ?
           - Năm độ phải!
           Linh nhắc lại và đánh tay lái theo lệnh thuyền trưởng. Buồng lái tối bưng, chỉ có chút ánh sáng rất mỏng hất lên chiếc la bàn. Linh là chiến sĩ hàng hải cứng, nên được Lê trực tiếp phân công lái trong thời gian tàu đi trên vịnh. Anh chàng này bẻm mép, thông minh. Cánh thủy thủ vẫn nói đùa rằng thằng Linh say đứng bên tay lái như say đứng cạnh người yêu. Linh có thể đứng lái suốt đêm mà vẫn tỉnh.

           Tàu ra khỏi cửa vịnh. Mặt biển sáng hơn. Núi thưa dần. Lê thấy đỡ căng thẳng, đôi mắt đã có thể nghỉ ngơi chút ít. Anh ngồi xuống ghế và châm thuốc hút. Lê không nghĩ con tàu lại đi trong đêm nay. Buổi sáng, như thường lệ anh nhận được điện của đoàn hỏi tình hình sức khỏe anh em. Cuối chiều, khi nắng vừa tắt, một chiếc ca nô từ trong bờ chạy ra, cập vào mạn, Lê chưa kịp nghĩ có việc gì đã thấy tư lệnh quân chủng nhảy lên boong. Sau ông là đoàn trưởng Tư. Kế đó là đồng chí đại úy bí thư riêng của tư lệnh. "Có chuyện rồi" Lê nghĩ nhanh. Tư lệnh bắt tay hết lượt các thủy thủ rồi ông đi xem xét khắp tàu. Vẫn dáng đi nhanh nhẹn, dứt khoát. Ông xuống hầm để hàng, dừng lại đó khá lâu, rồi vòng lên buồng lái, xuống khoang máy... Trông ông rất vui, có lẽ tất cả những gì vừa thấy khiến ông hài lòng. Ông ra boong, ngắm ngó một lúc, rồi bước lại phía ông Tám Thạnh:
           - Độ này cái khớp của anh đau nhiều không, anh Tám? -
           Tư lệnh vui vẻ kéo ông Tám ngồi xuống đống lưới.
           - Dạ, báo cáo thủ trưởng, những hôm trở trời có nhức chút ít, nhưng tui còn mạnh. Vẫn đi biên được. Và cũng ham đi .
           - Tôi có cái này biếu anh, đi biển nhấm nháp cho vui.
           Tư lệnh với chiếc túi xách đồng chí bí thư vừa mang lại, lấy ra chai rượu rắn đưa tận tay ông Tám.
           - Loại này nặng, chắc hợp với anh.
           - Dạ, được thủ trưởng quan tâm, xin cám ơn! – Ông Tám đỡ lấy chai rượu, nét mặt xúc động.
           - Máy tàu tốt chớ, anh Tám? Anh em trong cơ quan đồn rằng, anh chữa máy giỏi lắm, chỉ nghe qua tiếng nổ là biết hỏng chỗ nào, có không?
           - Dạ thưa, làm máy đã nhiều năm nên cũng có chút ít kinh nghiệm. Tui ít chữ nghĩa, hồi vô rừng theo cách mạng, mới được học loa qua, nên chỉ dựa vào cái tai, cái mắt, cái tay mình. Anh em trẻ bây giờ được học kỹ, họ giỏi hơn tui nhiều.
          - Chuyến này đi bến mới, khó vô đó anh Tám?
          - Dạ!
          - Trên Bộ tư lệnh cũng lo lắm, nhưng bọn tôi tin ở anh, tin ở anh em.
          - Cũng nghe thuyền trưởng Lê phổ biến rằng Bộ tư lệnh rất quan tâm đến chuyến đi này. Anh em tui có bảo ban nhau cố gắng, xin hứa là sẽ đưa hàng vô tới nơi an toàn.
          Tư lệnh quay sang Lê:
          - Gọi anh em ngồi quây cả đây luôn. Chẳng phải tập hợp, báo cáo gì nữa. Tôi chỉ nói với anh em vài lời ngắn thôi.

          Từ lúc thấy thủ trưởng Bộ tư lệnh xuống, thủy thủ của tàu hơi mất tự nhiên, đứng từ xa rụt rè nhìn ông. Nhiều người chỉ nghe nhắc đến ông, hôm nay mới được gặp nên ngài ngại. Nhưng thấy ông xuề xoà, vui vẻ và xởi lởi thì cái mặc cảm xa cách giữa cấp trên và cấp dưới sớm mất đi. Khi ông gọi, mọi người liền sà tới ngồi vây xung quanh.
          Tư lệnh chỉ vào Hải:
          - Đồng chí đi được mấy chuyến rồi?
          Hải toan đứng dậy, tư lệnh ra hiệu cho anh cứ ngồi.
          - Báo cáo, ba chuyến, kể cả chuyến đi trinh sát vừa rồi !
          - Còn đồng chí? - Ông hỏi Cang.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 17 Tháng Sáu, 2009, 10:03:30 am

          Cang hơi lúng túng, mặt đỏ bừng. Anh chàng trả lời lí nhí, không được tự nhiên:
          - Dạ, thưa hai chuyến ạ ... cháu là lính mới.
          Tư lệnh quay về phía Lê:
          - Có ai đi chuyến này là lần đầu tiên?
          - Báo cáo tư lệnh, không có ạ - Lê trả lời.

           Vậy các đồng chí toàn là lính cựu, có kinh nghiệm cả rồi... Hôm nay tôi thay mặt Bộ tư lệnh trực tiếp xuống trao nhiệm vu cho các đồng chí, đồng thời chia tay với anh em luôn. Đáng ra cùng đi với tôi có cả chính ủy. Nhưng trước lúc ra xe, chính ủy có điện gọi đi họp trên Bộ gấp - Chính ủy gửi lời thăm tất cả các đồng chí và rất lấy làm tiếc là không được tới chia tay trước khi tàu lên đường. Dịp khác vậy... Công việc cụ thể đồng chí Lê và đồng chí Lượng sẽ phổ biến trên đường đi. Tôi chỉ nhắc một điểm: Bọn địch chẳng lạ gì công việc của các đồng chí và chúng không từ một thủ đoạn nào để ngăn chặn, nhàm làm thất bại sự chi viện của chúng ta cho chiến trường. Do vậy các đồng chí sẽ gặp không ít khó khăn, thậm chí phải hy sinh. Đương nhiên, tôi không nghĩ một ai ngồi đây lại chọn phương án ấy. Nhiệm vụ của các đồng chí nặng nề đấy, chắc mọi người đã ý thức được như vậy... Dịp này, trong đó lại đang mùa bão... Song, Bộ tư lệnh tin vào tất cả anh em có mặt ở đây. Đêm nay tàu các đồng chí sẽ xuất phát.

          Tư lệnh ngừng lại. Boong tàu lắng đi một lúc. Lê biết tư lệnh không thích nói dài, không muốn nói những lời sáo rỗng động viên chung chung, hơn nữa sự có mặt của ông đã nói đủ cả.
          - Xuống chia tay với anh em - Ông tiếp - tư lệnh chỉ có ít thuốc, ít trà để chúng ta cùng vui...

          Đồng chí bí thư bỏ ra năm bao thuốc Thăng Long và hai gói chè. Tư lệnh bóc thuốc, chia cho mỗi người mấy điếu Không khí boong tàu vui vẻ khi có khói thuốc. Mọi người vừa phấn khởi được tư lệnh tới thăm, vừa nao nao vì biết rằng ngay hôm nay con tàu sẽ lên đường. Tư lệnh cùng hút thuốc, ông hỏi han rất nhiều chuyện. Thủy thủ trả lời đã tự nhiên hơn.

          Đoàn trưởng Tư "máy" Lê ra boong, hỏi:
          - Tuần tới mình sang làm việc với nhà máy đóng tàu nhắn gì Thúy không?
          - Cách đây mấy hôm, tôi có viết thư về. Nếu gặp, nhờ thủ trưởng báo hộ rằng tôi vẫn khỏe.
          - Có vậy thôi à? - Ông vỗ vai Lê và cười - Được, mình sẽ lựa lời nói hộ ...

          Giữa boong tàu, thủy thủ sán lại gần tư lệnh quân chủng. Không rõ mọi người đang nói gì, chỉ nghe tiếng tư lệnh cười rất to.
          - Được nếu chuyến này thắng lợi trở về, nhất định tư lệnh sẽ xuống thăm và cùng anh em uống rượu. Uống tới say nhé. Lúc đó cho phép say.
          - Trên tàu cũng có người không biết uống ạ.
          - Khi vui "bất khả từ ".
          Mọi  người cùng cười. Câu chuyện đang sôi nổi thì đồng chí bí thư tới nói nhỏ điều gì đó với tư lệnh. Ông đứng dậy, mọi người cũng đứng dậy theo.
          - Tôi bận - Ông nói - Một lần nữa chúc các đồng chí gặp nhiều điều may mắn, mang thắng lợi trở về. Bộ tư lệnh và đoàn dõi theo các đồng chí từng giờ...
          Trước khi xuống ca nô, tư lệnh nắm chặt tay Lê và Lượng hồi lâu.
          Chiếc ca nô đi xa rồi, mọi người vẫn đứng trên boong ngóng theo.

          Công tác chuẩn bị rời bến được tiến hành khẩn trương. Lượng chạy đến các bộ phận nhắc nhở mọi người đốt hết thư từ tài liệu...

          Thuyền phó Xuân kiểm tra hệ thống ngòi nổ: các khoang đã được ém sẵn bộc phá.

          Hai giờ sau, chiến sĩ thông tin đưa cho Lê bức điện của trực ban tác chiến. Lê lướt nhanh hàng chữ:
"Giờ G không đổi - Liên lạc theo quy định. Mật ngữ: bảng hai - Hướng đi: phương án một".

           ...Con tàu đã ra khỏi vịnh. Mặt biển trải mênh mông. Bóng tối vẫn phủ kín biển nhưng tầm nhìn đã xa hơn, không lo tàu va vào đá nữa. Lê giao quyền chỉ huy cho thuyền phó Xuân rồi bước ra boong. Sao rắc đầy trời, tròng trành. Mặt biển mờ mờ, rộng hun hút, đường chân trời nhoè trong sương. Gió thổi qua boong lành lạnh. Lê ngồi xuống đống lưới, cạnh mọi người. Tiếng máy tàu trong đêm nghe đều đều, đơn điệu, có cảm giác như âm thanh ấy từ đáy biển dội lên. Chợt tiếng máy nổ to hơn: Lê biết thuyền phó Xuân đã cho tăng tốc độ. Con tàu lắc lư lầm lũi đi về hướng đông.

           Bên cạnh Lê, Mừng và Hải đang rủ rỉ trò chuyện. Trước cuộc chiến đấu, hình như người ta thường có nhu cầu tâm sự, thích nói về mình và thích nghe chuyện đồng đội. Những câu chuyện quê hương, chuyện gia đình. Giọng Mừng tò mò:
          - Thế cưới chị Thơm xong là anh nhập ngũ ngay à?
          - Chừng nửa năm sau đó.
          - Hồi mới đi, chắc nhớ lắm?
          - Cứ lấy vợ rồi biết!... Đã mấy lần xuýt trốn về đấy nhé, là nói thời kỳ đầu ấy. Cậu yêu rồi hả?
          - Ở nhà mẹ cũng dập dạp cho mấy đám, nhưng tôi chưa ưng. Chị Vui thì lần nào biên thư cũng khoe rằng, cùng công tác với chị có một cô hiền lắm, được cả người lẫn nết; chị bảo là chị đã nói hết về tôi với cô ta, chỉ cần có dịp qua đó một lần, hai bên giáp mặt nhau là xong. Nhưng đã có dịp nào? Mẹ thì giục riết lắm. Nghĩ cũng tội, già rồi cứ phái lọm cọm một mình. Dăm bữa nữa tháng chị Vui mới đảo qua, chị cũng bận, với  nữa còn chồng, còn con, còn bố mẹ đàng anh ấy chứ.
          - Bố cậu mất năm mẹ cậu bao nhiêu tuổi nhỉ? - Hải hỏi.
          - Tôi cũng chẳng rõ lắm, nghe kể lại là năm đó chị Vui lên bốn, tôi chưa đầy năm. Nay chị Vui hai bảy, mẹ tôi năm mươi. Như vậy năm ấy mẹ tôi chừng hai hai, hai ba tuổi.
          - Rồi cứ ở vậy nuôi con?
          - Cũng có mấy đám rập rình đánh tiếng, nhưng bà không nghe. Phần vì thương tôi với chị Vui, không muốn hai đứa bơ vơ hoặc phải sống với bố dượng, phần vì, điều này thì tôi rõ lắm, mẹ không thể nào quên được bố. Đã hai bốn năm rồi mà hình ảnh ông có bao giờ nhoà trong tâm trí bà. Hồi còn ở nhà, đêm nào trước lúc ngủ, mẹ cũng kể chuyện về bố, về mối tình của hai người cho chị em tôi nghe. Bà kể suốt, không chán và trong giọng kể của bà, tôi nhận ra một cái gì nuối tiếc, một sự mất mát lớn lắm không sao bù đắp được. Bố tôi lành, ít nói nhưng cục tính; đã có lần hất cả mâm cơm ra sân, nhưng sau đó thì ân hận; cứ lầm lầm lì lì làm hết việc trong nhà như để chuộc lỗi. Vì thế mẹ tôi giận, mà thương lắm. Hai người là bạn chăn trâu từ thuở nhỏ. Bằng tuổi. Mỗi lần ra đồng, bao giờ bố cũng thủ sẵn, lúc thì củ khoai, lúc thì mẩu sắn cho mẹ. Tuổi thơ của hai người là những ngày dãi nắng trên đồng làng. Sống với bố không lâu, chưa đầy năm năm chứ mấy, nhưng mẹ tôi có cả một bề dày kỷ niệm với ông từ tuổi thơ, chắc vì thế mà bà không thể đến với ai khác nữa. Mà bố tôi chết mới vô lý chứ! Đi bè về, ngã nước, nằm xuống hai hôm rồi mất... Nhanh quá! Người ta bảo là nòi nhà tôi thường chết sớm, ông nội tôi cũng sống có trên ba mươi, nhưng tôi không tin...
          - Ở hoàn cảnh cậu, đáng ra phải lấy vợ sớm - Hải cựa mình trên đống lưới, rồi duỗi thẳng hai chân để Mừng gối lên đó, anh nói nhỏ - Đề cụ vò võ một mình sao đành.
          - Vâng, tôi cũng biết thế, nhưng phải có thời gian chứ? Anh tính quanh năm, suốt tháng, lênh dênh trên biển thế này làm sao lấy. Mà lấy ai? Đành chịu tội với mẹ vậy.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 17 Tháng Sáu, 2009, 10:06:43 am

          - Các cậu khó tính, chứ như mình đây, sau cái buổi đào mương về, Thơm hỏi "anh yêu em phải không", thế là nên vợ nên chồng, ăn nhau là ở cái đận sau này, khi đã thành vợ thành chồng; chung sống với nhau sao cho hòa thuận, thương yêu, chứ đâu chỗ cứ phải kén chọn. Có anh nhấp nhổm tới năm sáu đám, khi cưới xong, cãi lộn suốt... Đã ba mặt con, ừ thì dẫu là con gái hết, Thơm chưa một câu nặng lời với mình. Một sự nhịn là chín sự lành, các cụ đã dạy, cứ thế mà sống. Trước đó, mình đâu có nghĩ  rằng sẽ lấy cô ấy. Chẳng qua do cái duyên cái số cả. Cậu cũng vậy, nếu bà chị đã tìm cho đám nào thì cứ gật đi. Chưa về được thì đánh thư về. Đang thời buổi chiến tranh, phụ nữ họ cũng phải thông cảm điều kiện của lính tráng chứ. Mạnh dạn lên, cô ấy chắc sẽ thươngcậu thôi. Nghĩ bà cụ lủi thủi sống một mình, tội lắm. Lúc thường đã một lẽ, còn lúc ốm, lúc đau nữa. Tuổi già như cây khô trước gió, chẳng biết đâu mà tính trước.
          - Tôi cũng đang nghĩ như anh đấy! - Mừng xoay người, dịch sát vào Hải - Mẹ hy sinh cho mình nhiều quá rồi, chuyến này về sẽ liệu...
          - Chà, hoàn cảnh cậu lại chẳng bù cho hoàn cảnh mình: Gia đình có những chín anh em, năm trai, bốn gái, ông bà già còn khỏe. Ông bố mình không giống những ông bố khác. Cưới vợ cho mình xong, ông dựng một căn nhà đầu rìa làng và xua hai vợ chồng ra đó. Không phải chỉ với mình cụ mới bắt ở riêng. Chín anh chị em nhà này đều thế. Dựng vợ gả chồng cho đứa nào xong là ông tống đi hết. Ông tuyên bố sẽ không thèm ở với một đứa nào, mà cũng không cho đứa nào ở với ông. Ông bảo rằng trên đời này chỉ vợ với chồng may ra còn có thể sống được với nhau, chứ con cái, khi đã lập gia đình là không thể sống chung với bố mẹ. Ngẫm ra ông cụ nhà mình có lý. Ở làng mình, khối chuyện cãi cọ, kiện cáo, mất anh mất em cũng chỉ vì cái sự ở chung, ăn chung ấy.
          - Mỗi người một cảnh, có ai giống ai!
           Mừng buông một câu, và cả hai im lặng. Boong tàu đã ẩm hơi sương. Sóng to dần. Con tàu bắt đầu chao lắc.

           Lê không cựa mạnh, cố ý khỏi ảnh hưởng đến câu chuyện của Hải và Mừng. Anh khẽ ngả người xuống đống lưới, mười ngón tay đan lại để dưới gáy. Mặt hướng lên bầu trời.

           Đúng là mỗi người một hoàn cảnh. Lê cũng có hoàn cảnh của riêng mình. Hoàn cảnh của anh không giống như hoàn cảnh của Hải, càng không như hoàn cảnh của Mừng. Bố mẹ anh vẫn còn. Và điều này như thể là sự công bằng ở đời: khi hoàn cảnh gia đình đòi hỏi nhất thiết phải có một người tháo vát để lo toan, gánh vác tất cả công việc thì may mắn thay, người đó trong gia đình anh không ai khác, mà chính là mẹ. Mẹ anh vẫn còn khỏe và sau khi anh đi, gánh lăng gia đình mà trước đây, Lê sớm ý thức đỡ đần phần nào, đã thực sự đặt lên hai vai bà. Đành rằng chị Thành là con cả, nhưng đã lấy chồng, sự giúp đỡ có chăng chỉ thiên về mặt tinh thần, tình cảm. Cũng chẳng thể đòi hỏi nhiều hơn, lẽ đương nhiên chị còn có phận sự đằng nhà chồng. Lê còn hai em nhỏ đang tuổi ăn học và ông bố quanh năm bệnh tật. Năm nay bố anh chắc yếu thêm nhiều lắm. Cụ bị bệnh hen đã lâu, mỗi năm khi mùa đông về, đến khổ: Ông đắp chăn nằm suốt ngày, tiếng thở khò khè tắc bí như có vật gì chẹn ngang cổ, đè lên phổi. Đã thế, có lúc nào chịu buông cuốn sách. Mẹ anh cứ trách rằng sở dĩ ông bị bệnh bởi không biết giữ mình, làm việc quá sức đêm nào cũng chong đèn đọc sách, viết lách tới hai ba giờ sáng. Riêng Lê thì anh hiểu. Đúng là ông bị bệnh vì làm việc quá sức, nhưng ông không thể sống khác được. Công việc là niềm vui, là nỗi say mê, là mục đích sống của ông; và Lê, bằng sự nhạy cảm của mình nhận ra ở ông có một cái gì đó cao hơn đằng sau việc chong đèn ngồi suốt đêm bên bàn. Và điều ấy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của anh khi bước vào đời...

           Vốn là học sinh nghèo ở trọ nhà một ông đồ, nhưng từ rất sớm, bố anh đã nhận ra rằng nho giáo với nhữngtriết lý tam cương, ngũ thường, tam tòng tứ đức, vân... vân.... đã không hợp nữa. Những kiến thức ấy chẳng thể giúp ích gì cho đời. Ông tằn tiện để được học chữ quốc ngữ, học tiếng Pháp; và văn hóa phương Tây - qua sách báo Pháp đã ập vào ông rất nhanh. Ông tiếp nhận hăm hở như ruộng hạn gặp nước. Ông nghiên cứu triết học Đức, nghiên cứu văn học Pháp, văn học châu âu, và từ những năm trẻ tuổi đã tìm hiểu khá kỹ về tôn giáo, thần học... Hầu như nhượng bộ môn thuộc kiến thức xã hội, ông đều biết đến. Rồi ông viết sách, viết những bài nghiên cứu. Nhiều người, nhất là giới trí thức biết đến ông. Song ông vẫn nghèo. Có đồng xu nào, mua sách báo hết.

           Thế rồi ông thầy đồ, người đã từng cho ông ở trọ, mặc dù không ham thích gì ba cái chữ Tây, cảm phục chí tiến thủ của chàng thanh niên, đã gả cô con gái út cho người đó. Từ ngày về làm bạn với bố, mẹ đã ý thức được rằng từ đây cho tới mãi về sau, gánh nặng gia đình của người trí thức này sẽ trút cả lên bà. Và với niềm vui lặng lẽ xem chút tự hào, bà tự nguyện đưa vai ra đỡ lấy. Ngoài việc viết lách, nghiên cứu, bố anh gần như không biết gì đến chuyện nhà, chuyện cửa. Tất cả những việc ấy mẹ anh lo tất cả. Gia đình anh là một chứng minh đầy đủ về luật bù trừ... Đáng ra bố anh vẫn có thể tiếp tục giảng dạy trường đại học dăm ba năm nữa, nhà trường cũng rất mong thế, nhưng vì sức yếu nên ông đành nghỉ hưu sớm. Mẹ anh báo: "Từ ngày về hưu, xem ra ông làm việc còn nhiều hơn thời đang giảng dạy ở trường. Làm vừa thôi, sắp chết đến nơi rồi ".  Bố anh cười nói vui: "Vì biết mình sắp chết nên tôi mới cố tranh thủ mà làm việc chứ bà". "Từ nay tôi sẽ cấm ông làm việc khuya".  Nói thế nhưng có bao giờ mẹ anh ngăn cản công việc của chồng. Đêm nào cũng vậy, khoảng mười giờ, mười một giờ khuya bà lại đem vào phòng cho  ông, hoặc cốc sữa nóng, hoặc cốc đậu xanh, hoặc cốcnước trà có pha đường. Điều ấy đã thành lệ. Bố còn thức là mẹ Chưa chịu ngủ. Ông viết ở phòng trong, bà khâu vá dọn dẹp ở phòng ngoài. Bố anh thường nói: “ Những gì tôi có được công của bà hai phần ba". Mẹ anh nhìn chồng: "Tôi không dám!". Nhưng nhưng lúc ấy, anh thấy đôi mắt mẹ thật vui, chan chứa một niềm hạnh phúc. Và trông mẹ như trẻ ra.

           Công việc và những quan điểm của bố ảnh hưởng tới Lê không nhỏ. Hồi nhập ngũ, anh xin ý kiến bố, ông bảo: "Kiến thức, rất cần; nhưng có được không phải chỉ bằng cách thu lượm ở nhà trường. Kiến thức còn ở ngoài đời. Hơn nữa, có kiến thức không phải chỉ để có, cái chủ yếu là làm được nhiều việc cho cuộc đời. Kiến thức là phương tiện chứ không phải mục đích...".

           Hiểu ý bố, anh đã ra đi một cách thoải mái. Từ bấy đến nay, thời gian cứ trôi, anh xa nhà đã sáu bảy năm... Những tháng dầu đông này, sức khỏe bố dang ra sao? Sơ tán về nhà chị Thành, bố có điều kiện đẽ tiếp tục nghiên cứu, viết lách? Mẹ chắc là ngày càng thêm vất vả. Trong những năm chiến tranh này, tần tảo để nuôi chồng và hai con đang tuổi ăn học, đâu phải dễ dàng. Hai em của Lê liệu có đủ khôn mà đỡ bố mẹ được phần nào không? Ôi quả là mỗi người một cảnh, có ai giống ai...

          Lê khẽ trở người. Trên boong đã lành lạnh. Tiếng nói chuyện không còn nữa. Xung quanh yên vắng, mung lung. Một lúc sau, anh đứng dậy, đi vào buồng lái.
          - Đã đến vị trí chuyển hướng! - Thấy Lê, thuyền phó Xuân báo cáo.
          - Thực hiện theo phương án!
          - Mười lăm độ trái - Xuân lệnh.
          - Trái mười lăm độ! - Linh đánh mạnh tay lái.

           Con tàu chếch mũi, ngoặt về hướng bắc. Theo kế hoạch, nó sẽ đi ngược lên đê ra đường hàng hải quốc tế, trà trộn vào đám tàu buôn, tàu đánh cá nước ngoài, từ đó mới bắt đầu xuôi xuống phía nam.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 17 Tháng Sáu, 2009, 10:12:41 am

15


           Những ngày cuối năm, nhà máy bước vào thời nước rút, công việc tưởng như lút đầu lút cổ.

           Dịp này Thúy thường về muộn. Hôm nay cũng vậy.  Mèo mướp đã quen nên dẫu phải chờ lâu, vẫn vui mừng nhảy ra đón, song Thúy không vồ vập như mọi bận. Cô đang buồn, cô vừa to tiếng với Lâm Khanh. Chẳng phải việc va chạm với trưởng phòng làm cô buồn, mà là thái độ ậm ừ nước đôi trong cách giải quyết công việc của Lâm Khanh khiến cô nghĩ ngợi. Tại sao một người giỏi chuyên môn, nhiệt tình hăng hái với công việc chung và gắn bó, yêu mến nhà máy như Lâm Khanh lại thiếu kiên quyết, cả nể vậy? Thúy biết chắc rằng cuối cùng thế nào anh cũng đề nghị cho ngừng việc hàn thép lá vào khung tàu, nhưng nghĩ lại chuyện, vẫn thấy bực. Và nỗi bực ấy cô trút cả lên đầu trưởng phòng của mình.

          ... Buổi chiều, khi xuống ụ đà, Thúy gặp chị Huệ. Khác với mọi lần, mỗi khi ra mép sông, Thúy thường thấy chị chúi mũi, chúi lái vào công việc. Thúy gọi, chị mới dừng tay, ngẩng lên. Vậy mà lần này lại có vẻ rỗi rãi.
          - Sao mà ngẩn ngơ thế, chị Huệ? - Thúy lên tiếng - Lại nghĩ tới anh Cựu ở bến phà rồi!
          - Ờ, mày đấy à, Thúy? May quá, chị cũng đang muốn tìm em.
          - Tổ thợ hàn của chị hết việc rồi hay sao mà đứng ngó trời ngắm đất vậy?
          - Việc thì biết thế nào là hết? Này, ngồi xuống đây chị muốn nói với em một việc.

           Hai người ngồi xuống khung sắt đã han gỉ. Phía trước, con sông cạn nước, đỏ quánh. Ở đó có nhiều ánh đèn hàn loé sáng. Mùi bùn quyện với mùi sơn, mùi sắt thép đưa lên hắc nồng. Tiếng búa gõ vào thép choang choang.
          - Em là cán bộ kỹ thuật, chị nghĩ em trình bày việc này tiện hơn. - Chị Huệ ngập ngừng, giọng quan trọng, chị nói vừa đủ để Thúy nghe.
          - Cũng có việc công nhân nói lợi hơn chứ, chị.
          - Đành rằng thế, nhưng đây là chuyện liên quan đến kỹ thuật.
          - Chị cứ nói, em giúp được gì chăng?
          Chị Huệ im lặng một chút như cân nhắc nên vào chuyện thế nào, rồi bảo:
          - Chị thấy sườn khung tàu chưa được đảm bảo, vậy mà ông Hành trưởng phòng kế hoạch vẫn cứ cho ốp thép lá lên. Như vậy sợ rằng...
          - Sao cơ, sườn tàu chưa đảm bảo? Chị biết? – Thúy xoay người nhìn thẳng vào mắt chị Huệ, hỏi nhanh.
          - Em cứ bình tĩnh nghe đã nào!
          - Chị nói đi?
          - Sáng qua ca chị hàn khung tàu, đang dở việc thì mất điện, còn vài thanh chưa hàn kịp, đành bỏ dở. Chị đã báo cáo, đề nghị ca sau hàn tiếp. Ai ngờ sáng nay đã thấy ốp thép lá lên. Ca anh Thành nhận kế hoạch làm việc đó
          - Trời! - Thúy thảng thốt; khuôn mặt cô biến sắc nhợt nhạt.
          Không kịp chào chị Huệ, cô hấp tấp chạy lại phía ụ đà rồi trèo lên con tàu.
          - Dừng lại! Dừng lại! - Thúy hét to khi tới tổ thợ hàn.
           Mọi người ngạc nhiên ngước nhìn cô.
          - Có gì vậy cô Thúy? - Người tổ trưởng hỏi.
          - Sườn tàu chưa đảm bảo... Đừng hàn nữa! – Thúy vừa thở, vừa nói .
          Tốp thợ hàn ngơ ngác nhìn nhau.
          - Chưa bảo đảm à? Ai ra lệnh? - Vẫn tiếng người tổ trưởng.
          - Ai ra lệnh... - Thúy hơi lúng túng - Tôi, tôi đề nghị các anh đừng lắp thép lá lên sườn tàu nữa. Tôi chịu trách nhiệm.
          - Trách nhiệm! Công việc đóng tàu chứ phải đâu trò trẻ mà  bạ ai cũng ra lệnh được - Người tổ trưởng càu nhàu rồi anh quay đi, hất tấm kính hàn xuống mặt, tiếp tục công việc.
          Thúy chưng hửng. Sững lại một lúc rồi cô hớt hải ra khỏi ụ đà, đi nhanh về phía ngôi nhà hai tầng. Lúc này, khi đã trấn tĩnh lại, cô cũng thấy hành động của mình vừa rồi thật  vô lý.
          Thúy bước vào phòng kế hoạch. Không để mọi người kịp nhận ra, cô nói luôn:
          - Báo cáo anh Hành, tôi xin được gặp anh mấy phút.
          Hành ngồi sau bàn làm việc kê giữa phòng, ngẩng lên; đôi mắt mệt mỏi:
          - Việc công hay việc tư đấy, cô em? - Giọng anh ta nhão nhợt.
          - Sườn khung tàu còn sót mấy mối hàn, đề nghị anh cho ngừng việc lắp thép lá lại.
          - Ngừng việc à? Thế nào, cô định hủy tiến độ của nhà máy đấy phỏng? Với cương vị gì vậy? Hành nói với ra, giọng đầy vẻ giễu cợt.
          - Việc hạ thủy có thể chậm lại, nhưng chúng ta không được phép làm ẩu. Chắc anh cũng rõ rằng khi gặp gió bão, sự vững chắc của sườn tàu là điều cần thiết để bảo đảm an toàn... Chỉ cần một mối hàn bung ra, con tàu bị sóng đánh tơi từng mảng.
          - Điều đó thì cô khỏi phải dạy tôi - Hành nói, giọng bực tức - Trước khi ngồi vào chiếc bàn này, một thời tôi từng làm thủy thủ và tôi hiểu thế nào là sức mạnh của biển cả..., còn công việc, tôi không quen làm tắt ngang. Hành như không để ý đến Thúy nữa, lại cắm mặt xuống mớ giấy bề bộn trên bàn.
          Thúy ức muốn khóc. Cô lẳng lặng bước ra cửa, đến hành lang, còn nghe tiếng Hành nói với nhân viên:
          - Người yêu là lính tàu, nên thông cảm với tình cảm bột phát ấy.
          Thúy muốn quay vào nói một câu gì đó, song cô lại bước về phòng kỹ thuật.
          Lâm Khanh không mấy ngạc nhiên khi nghe Thúy trình bày. Tuy vậy, anh cũng lên ngay phòng kế hoạch gặp Hành.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 17 Tháng Sáu, 2009, 10:18:43 am

           Biết chuyện, cả phòng kỹ thuật xôn xao. Người nào cũng tỏ sự bất bình. Sơn là người to tiếng phản đối nhất.
           - Làm ăn đại khái, bừa bãi, phi kỹ thuật Nếu đúng như Thúy nói, tôi đề nghị truất chức ông Hành. Dù tốn bạc vạn cũng phải gỡ ra làm lại. Vô trách nhiệm! Vô trách nhiệm hết sức. Con người ấy muốn đưa con tàu ra làm mồi cho đại dương chăng? Trong tiến độ mà phi kỹ thuật là hạng bét, hạng bét! - Anh chàng vung tay và gào thét như một diễn giả đang kêu gọi mọi người vùng lên!
           Hết giờ làm việc buổi chiều, Lâm Khanh quay lại. Chỉ còn Thúy ngồi chờ ở phòng.
           - Thế nào anh, ông Hành phải đồng ý cho ngừng công việc chứ? - Thúy hỏi.
           - Thúy có dám chắc rằng còn một vài mối hàn ở sườn tàu chưa xong không? - Lâm Khanh hỏi, vẻ mặt băn khoăn.
           - Chính người làm công việc đó nói với em.
           - Khó nhỉ!
           - Có gì khó? Ta gỡ ra, kiểm tra và cho hàn tiếp.
           - Không đơn giản như vậy đâu. Còn bao mối liên quan. Còn kế hoạch, còn sự hao hụt về kinh phí, và còn danh dự nhà máy.
           - Em nghĩ chúng ta đang làm công việc bảo vệ danh dự nhà máy.
           - Đành rằng thế. Liệu có động cơ cá nhân trong việc này không Thúy, anh Hành bảo rằng...
            Không để Lâm Khanh nói hết, Thúy bật dậy, khuôn mặt nóng bừng và bao nhiêu bực tức cố nén từ chiều, bung ra:
           - Hoặc anh không hiểu gì người công nhân, hoặc anh là kẻ vô trách nhiệm.
           - Kìa Thúy!
           - Vâng, nếu cốt hoàn thành kế hoạch để ông Hành và anh có dịp hoa chân múa tay ba hoa với cấp trên thì tôi đồng ý công việc tiếp tục. Song tôi sẽ làm một lá đơn mời hai anh ký vào: "Nhằm bảo đảm tiến độ, hạ thủy đúng kế hoạch, mặc dù còn một số trục trặc về kỹ thuật...".
           - Thúy, anh không có ý định nói như thế!
           - Vậy anh định sao? Chị Huệ vì trách nhiệm với nhà máy, vì số phận sau này của con tàu, vậy mà anh...
           - Nhưng anh Hành bảo rằng... Phải tế nhị. Công việc không thể nóng vội được - Lâm Khanh phân bua - Nếu còn sót một vài mối hàn thì trách nhiệm trước hết thuộc về phòng kỹ thuật chúng ta. Khâu kiểm tra có chỗ hở.
           - Thuộc về chúng ta thì chúng ta nhận kỷ luật với giám đốc.
           - Anh không sợ điều ấy, nhưng làm việc gì cũng phải chắc chán. Em cứ về, anh sẽ kiểm tra và bàn với anh Hành.
           - Anh nên nhớ rằng càng kéo dài thời gian, việc tốn kém càng lớn. Tối nay tôi sẽ quay lại nhà máy chờ giám đốc đi họp về. Tôi chưa bỏ cuộc đâu!
           Nói xong, mặc cho Lâm Khanh trơ giữa phòng, Thúy đi ra cửa. Như một thói quen, cô bước nhanh về nhà.

            Bữa cơm dọn ra chỉ có canh rau cải luộc và nước mắm. Thúy và mèo đều ăn uể oải, buồn tẻ.
           - Chịu khó ăn đi, mai tao sẽ mua cá cho mày. Hứa là có.
            Mèo mướp ngước mắt nhìn, rồi bước lại bên Thúy ngồi xuống.

            Buổi tối Thúy chưa kịp đến nhà máy thì Lâm Khanh tới. Cả hai người đều cảm thấy ngường ngượng. Thúy ân hận vì đã nặng lời với anh. Lâm Khanh không có lỗi trong chuyến này. Anh chỉ là cái cớ để Thúy trút nỗi bực của mình. Lâm Khanh thì nghĩ rằng có lẽ Thúy cho mình là người buông xuôi, rụt rè và giải quyết công việc hời hợt không đến nơi đến chốn. Thực ra sau khi Thúy về, anh đã xuống ụ đà và biết chắc những điều Thúy nói là đúng, với cương vị trưởng phòng kỹ thuật, anh cho ngừng việc hàn thép lá ra ngoài sườn tàu, sau đó anh đi tới nhà Hành. Và anh đã gặp điều không vui khi tới đó. Trong bộ phi-gia-ma kẻ sọc màu sáng, Hành kéo anh ngồi vào xalông và mở tủ lấy rượu. Vợ Hành cũng hết sức đon đả. Chị ta trên ba mươi, nhưng còn duyên, đầy sinh lực, người mẩy, da mặt trắng, mắt sắc, miệng rộng, đi đứng nhún nhảy như dưới bàn chân gắn lò xo. Không khí gia đình không có một biểu hiện gì chứng tỏ rằng họ đang sống trong hoàn cảnh chiến tranh. Khanh kín đáo liếc căn nhà và nghĩ: "Chẳng lẽ móng vuốt chiến tranh lại loại trừ ngôi nhà này? Ít ra chủ nhân cũng biết rằng sẽ tới lúc nào đó, rất có thể một quả bom hoặc một quả rốc két rơi trúng chứ?".
          - Giầu nghèo, sống chết có số cả anh Khanh ạ - Như hiểu được ý của Khanh, vợ Hành xởi lởi - Chẳng giấu gì anh, em đi bói, người ta bảo số em trường thọ, nghĩa là chưa chết được. Với nữa người ta ai chẳng khỏi chết, cho nên sống được ngày nào, cứ sống đàng hoàng... Anh Khanh uống chút rượu cho nóng người!
           Rồi chị quay sang chồng:
           - Anh đi xuống bếp trông cơm, chẳng mấy khi anh Lâm Khanh tới chơi, để em tiếp.
           - Cơm cháo là việc của đàn bà chứ nhỉ! - Hành lợt lạt cười đôi mắt nhìn vợ có ý thăm dò phản ứng.
           - Nhưng ở nhà này, ai bảo anh là đàn ông, anh Hành? - Giọng người vợ ngọt lạnh, nhưng nghe trong đó có một vẻ gì đầy uy quyền.
           - Là anh nói thế. Nấu cơm à? Ư thì nấu cơm... Việc gì Hành cũng làm được tất.
           - Kẻo mà khê lại xúi!
            Sợ phải ngồi lâu, Khanh nói luôn: .
           - Tôi có chút việc cần bàn với anh.
           - Có gì, cậu cứ nói với nhà mình, nhé!
            Khanh ngạc nhiên:
           - Việc nhà máy mà, anh! - Rồi Khanh nói nhanh như sợ mất thời cơ - Anh Hành ạ, tôi đã cho ngừng việc hàn những tấm thép lá.
           - Sao? - Hành hốt hoảng xoay người lại, trừng trừng nhìn Lâm Khanh.
           - Không thể khác được! Tôi chịu trách nhiệm trước giám đốc.
           - Anh chịu trách nhiệm à? Còn tôi? - Khuôn mặt Hành bợt ra, rồi lại đỏ lên - Tốn kém hàng vạn bạc, ai cho phép các anh... Tôi đây mới là người chịu tráchnhiệm về kế hoạch của nhà máy, rõ chưa? - Hành nói to. Cách đây ít phút trông người này hiền khô, nhũn như con chi chi trước vợ mà lúc này khuôn mặt anh đỏ gay, đôi mắt ngước lên vẻ dữ tợn - Ai cho phép? Ai ra lệnh? Ai cho các anh cái quyền cản ngang tiến độ công việc của nhà máy. Ai cho?
           - Lương tâm tôi, anh Hành ạ! - Giọng Khanh vẫn từ tốn.
           - Anh sẽ chịu mọi hậu quả, mọi hậu quả, rõ chưa!  Mà tôi sẽ không để các anh lũng đoạn nhà máy thế đâu.
            Hành bực bội dằn mình xuống ghế.
            Người vợ lừ mắt:
            - Anh Hành!  Anh phải nhớ anh Lâm Khanh là khách của tôi!
            - Xin lỗi em. Nhưng, nhưng anh bực quá ! Tất cả là tại cái con Thúy.
            Người vợ hất cao mặt, hai hàm rằng sít vào nhau:
            - Lại con Thúy nào nữa thế, hử?
            - Tôi đến để báo với anh về công việc - Khanh cố nén xúc động - Bây giờ thì chào anh, chào chị.
            - Kìa, anh Lâm Khanh - Vợ Hành bước tới ngăn Khanh lại - Em mời anh ở chơi với em kia mà!- Rồi quay sang chồng, chị ta vặc - Chỉ nóng !Tôi đã bảo đi xuống bếp!

            Ra khỏi nhà Hành, Khanh thấy buồn. Anh rẽ sang phải lần theo đường Trần Phú đến ngôi nhà hai tầng quen thuộc. Và lúc này, ngồi cạnh Thúy, anh thấy ấm lòng

            Thúy nhìn khuôn mặt đượm buồn của Khanh, thấy thương anh. Tai sao hồi chiều cô lại trút bực bội lên con gười ấy? Vô lý hết sức! Giá như khi ấy Khanh nổi cáu, quát lại Thúy, chắc rằng cô đỡ ân hận hơn. Lúc này cô muốn nói một câu gì đó như thể là sự xin lỗi để Khanh hiểu cô hơn, nhưng Thúy im lặng.
            - Vợ anh Hành làm gì, Thúy nhỉ? - Khanh hỏi.
            - Em cũng không rõ lắm. Nghe đâu trước đây có buôn bán ở chợ Sắt.
            - Em còn cơm nguội không?
            - Chờ em chạy ra phố kiếm chút thức ăn nhé.
             Thúy thấy vui, cô chạy vội xuống cầu thang.

             Khanh nhìn theo, xốn xang. Anh ngắm căn phòng bé nhỏ, đồ đạc đơn sơ nhưng xếp gọn gàng, ngăn nắp, thấy khát khao cuộc sống ấm cúng của gia đình. Cái tình cảm vốn có ở anh với Thúy, anh cố nén, lại bùng lên. Đã bao lần Khanh tự hỏi: tại sao anh yêu Thúy, nhưng không sao giải đáp được. Thêm nữa, anh nghĩ rằng khi đã giải thích được tôi yêu cô này vì , một là ... hai là .... , và ba là... thì đó đâu còn là tình yêu! Lúc ấy tình cảm đơn thuần là một phép cộng, một sự tính toán. Tình yêu có những bí ẩn chẳng thể lý giải... Không thể nhớ hết đã bao ngày anh thấp thỏm trước cửa phòng làm việc để chỉ được thoáng thấy bóng Thúy vào cổng nhà máy. Biết cô đi làm, anh an tâm. Và sau hết giờ, nhìn dáng Thúy thon thả, thắt đáy như lưng con kiến bống đi ra cổng, anh nao cả người. Anh đã quá quen rồi bước chân của Thúy, giọng nói của cô, giọng nói ấy với anh thân thuộc, gần gũi và cần thiết biết chẳng nào? Những hôm vì lý do gì đó, Thúy vắng mặt ở nhà máy, anh thấy nhớ, thấy chơ vơ, làm việc gì cũng phấp phỏng. Ngày nào không gặp Thúy, không nghe giọng nói của Thúy, dù Thúy không nói với riêng anh, anh thấy ngày ấy trống trải, cô đơn và thiếu thiếu một cái gì. Vậy mà cuộc đời thật trớ trêu, tất cả những tình cảm ấy, anh đành phải ghìm xuống. Anh biết Thúy chẳng bao giờ là của riêng anh: cô đã có người yêu. Khi yêu mà biết rằng mình không được yêu, người ta càng yêu hơn... Tình yêu có những quy luật thật lạ, trong nhà máy khối cô gái trẻ, đẹp để ý đến anh, mơ tưởng đến anh, thầm mong được anh để ý đến, nhưng như thể là bị trời hành, anh không thể yêu ai được. Anh dửng dưng trước mọi biểu hiện tình cảm của họ.

            Khanh ngó quanh một lượt. Căn phòng ấm áp và thơm tho quá ? Ở Hà Nội, Khanh cũng có ăn phòng như thế, một căn phòng trong ngôi nhà nhiều phòng gia đình dành cho anh; nhưng căn phòng ấy với anh lại lạnh lẽo và đầy hãi sợ. Đi khỏi đó, Khanh như trút được món nợ. Nơi ấy luôn luôn vẳng lại tiếng chửi rủa, tiếng nói bóng, nói gió của người mẹ kế lắm điều, một người không thiếu tiền mà thiếu tình. Những ngày là sinh viên, có mấy bữa anh về nhà . Nhớ bố anh chỉ đảo qua thăm một lát rồi đi. Nghĩ đến bố, anh vừa thương vừa giận... Mẹ anh chết khi anh mới mười ba tuổi. Thời còn sống, bà chắt bóp, tần tảo và có buôn bán ít nhiều nên tậu dược ngôi nhà khá khang trang giữa một phố sầm uất Gia đình sống khá giả . Sau khi mẹ qua đời, người  bố sinh ra nghiện ngập, rượu chè, cờ bạc. Những gì mẹ anh sắm được dần dần đội nón ra đi. Cuối cùng ngôi nhà cũng phải gán nợ. Người bô tiền để được đứng tên ngôi nhà ấy không ai khác, chính là người mẹ kế của anh. Từ đô gia đình suy sụp. Anh luôn luôn nghe nhữngtiếng dằn hắt: “Bố con ông lười, ăn bám tôi". "Tôi lấy ông, chẳng khác lấy nợ, như tự mua dây trói mình". "Tôi không sẵn tiền mà bám mãi thế!" vân vân... Bố anh dần dần chai lỳ trước cảnh đó. Anh thì không thể quen được. Song, may mắn thay, anh cũng thoát khỏi nơi ấy... Lắm lúc anh chua chát nghĩ giá có một quả bom rơi trúng ngôi nhà! Nhưng liền sau đấy, anh rợn người cho rằng mình độc ác và ích kỷ. Và những kỷ niệm về mẹ trong ngôi nhà dội tới khiến anh xót xa, đau nhói.

            Có một căn phòng ấm cũng cảnh hạnh phúc gia đình vốn là khao khát đốivới anh từ lâu.

            Khanh bước lại chiếc bàn của Thúy. Và anh bắt gặp đôi mắt trong trẻo của Lê thời mới nhập ngũ, trong tấm ảnh bán thân lồng sau kính. Tấm ảnh được treo ngay ngắn ở vị trí rất thích hợp và không hề có một vết bụi chứng tỏ chủ nhân ngày nào cũng sửa sang, ngắm ngó đến. Khanh nhìn người chiến sĩ hải quân trong ảnh thấy ghen tị với anh. Thực tình đã có lúc Khanh hoang mang nghĩ rằng phải chăng muốn có hạnh phúc là phải giằng lấy, phải cướp lấy; không có thứ hạnh phúc nào bỗng dưng rơi tọt vào tay. Nhưng vốn bản tính nhân hậu, rụt rè, nên anh âm thầm tự giày vò mình. Với nữa tình yêu chung thủy của Thúy đối với Lê là chỗ tựa vững chắc cho lòng tự trọng trong anh. Lòng tự trọng của người có văn hóa không bật đèn xanh để anh vượt quá giới hạn cho phép.

            Khanh rời mắt khỏi tấm ảnh, cố nén tiếng thở mạnh. Anh bước lại phía chú mèo mướp. Trước đây, khi Khanh tới, mèo mướp thường cong mình lên, vểnh râu ra, miệng u ứ và đôi mắt mở to, thế thủ. Nhưng nay không thế nữa. Nó đã quen, biết anh là bạn của cô chủ. Thúy về. Vội vã nhóm lửa, hấp lại cơm, kho thịt. Khanh muốn giúp Thúy nhưng ngại. Anh vớ cuốn sách trên bàn, ngồi đọc.

            Thúy tất tả với niềm vui sẽ đưa lại cho Khanh bữa ăn ngon miệng và trong ý thức có phần nào như để chuộc lại sự nóng nảy chiều nay. Khuôn mặt Thúy bên bếp lửa trắng hồng, đôi mi dài, cong... Khanh không dám nhìn lâu vào khuôn mặt ấy.

            Bữa ăn đơn giản nhưng Thúy bằng lòng. Khanh ăn không khách sáo, luôn khen ngon. Mặc dù đã ăn rồi, Thúy vẫn ăn thêm cùng anh bát nữa.
            - Ngày mai giám đốc đi họp về sẽ duyệt sáng kiến cải tiến cách lắp ghép khung tàu của em, Thúy ạ - Khanh nói khi hai người đã ăn xong - Sau đó em còn phải trình bày trước hội đồng kỹ thuật.
            - Riêng anh, cái sáng kiến đó thế nào? - Thúy hỏi.
            - Bình và Sơn khen lắm. Chắc giám đốc hài lòng. Em đã đưa lại cho phòng kỹ thuật niềm tự hào.
            - Sơn giúp em rất nhiều trong việc này. Những tính toán đều do Sơn làm cả.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 17 Tháng Sáu, 2009, 01:53:29 pm

           - Nghe nói đã yêu một cô thợ hàn ở tổ chị Huệ. Tình yêu đến với mọi người thật nhanh, thật dễ...
           Thúy cười:
           - Còn với anh thì sao?
           Khanh lúng túng, hai vành tai đỏ ửng. Anh mở cuốn sách cầm ở tay:
           - Thúy đọc, Vích-to Huy-gô à? ông ta là một nhà nhân văn lớn. Tấm lòng của ông đối với mọi người thật sâu sắc

           "Ôi biết làm thế nào, chẳng lẽ như vậy là mình có lỗi!" bước lên cầu thang sau khi đã tiễn Khanh ra tới đường, Thúy nghĩ. Cô đi nhanh vào phòng, cài chặt cửa và tự dưng thấy trái tim mình thổn thức. Cô có cảm giác  như chưa bao giờ mình nhớ Lê như lúc này. Lại gần bàn, Thúy thần mặt ngước nhìn tấm ảnh. Người lính thủy trong ảnh cũng nhìn cô, rất lâu. Ánh mắt anh như muốn bảo: Anh vẫn ở bên em mà! Thúy gỡ tấm ảnh, lấy tay vuốt nhẹ lên mặt kính. Cô ngắm chàng trai, rồi bất ngờ áp tấm ảnh lên ngực mình. Cô thả người xuống ghế, đôi mắt nhắm lại, hai má nóng bừng. Tim cô đập rộn lên. "Ôi, giá mà anh hiểu em yêu anh đến như thế nào!".


*


           Sáng hôm sau Hành đến nhà máy sớm. Anh ta xốc thẳng tới ụ đà.
           - Coi chừng ở đây có kẻ phá hoại sản xuất đấy nhé! - Tới tổ thợ hàn, anh ta rao bâng quơ, đe dọa.
           - Tại sao lại bắt chúng tôi ngừng việc, anh Hành? - Người tổ trưởng tổ thợ hàn hỏi - Thi gan với bom đạn, tranh thủ từng giờ để sản xuất, bây giờ ngồi chơi à? Kế hoạch của các anh hay nhỉ?
          - Không những chỉ ngồi chơi, mà sắp tới chúng ta còn phải tháo gỡ những tấm thép này ra chưa chừng - Hành cố tình nói với giọng khiêu khích.
          - Gỡ ra? Các anh coi sức lao động của chúng tôi là cái gì? Là nước lã à? Tiền bạc của Nhà nước chứ không phải vỏ sò, vỏ hến.
          Khuôn mặt Hành vẫn lạnh như không.
          - Ấy, nhưng có kẻ ton hót rằng chúng ta làm sai quy cách thì sao? Mà đã sai là dứt khoát phải sửa.
          - Kẻ nào? - Người đội trưởng sấn tới trước Hành, đôi mắt quắc lên giận dữ - Anh em công nhân chúng tôi không có trách nhiệm phỏng? Dễ chừng tôi không rõ con tàu này là của mình, làm những việc cho mình chắc? Kẻ nào dám nói bậy, hả?
          - Đương nhiên người đó không phải tôi! - Hành cười nhợt nhạt, vẻ thỏa mãn hiện rõ trên khuôn mặt - Đó là một kẻ giấu mặt. Ở đây họ có ý đồ cá nhân, hoặc đó là kẻ cố tình phá hoại sản xuất.
          Tốp thợ hàn xôn xao. Nỗi bất bình dấy lên trong hết thảy mọi người.
          - Chúng ta thách ai tìm ra cái gọi là sai quy cách?
          - Thế đấy! - Hành đứng lên một khung sắt, đôi mắt ranh mãnh lướt nhìn mọi người - Hôm qua có kẻ mách rằng khung tàu của chúng ta chưa bảo đảm...
          - Nhưng đó là sự thật thì sao, thưa đồng chí trưởng phòng kế hoạch?
           Có tiếng cất lên phía sau. Mọi người ngơ ngác quay lại. Chị Huệ bước tới phía Hành.
          - Chính tôi đã nói điều ấy và tôi chịu mọi trách nhiệm với lời nói của mình - Chị nhìn mọi người - Thưa các đồng chí, việc khung tàu chưa bảo đảm kỹ thuật là có thật... Tôi là thợ hàn, tôi rõ điều đó. Và cũng như các đồng chí, trách nhiệm của người thợ không cho phép tôi bỏ qua việc ấy... Tôi chỉ ân hận là, đáng lý ra tôi phải nói điều đó sớm hơn. Dù sao cũng chưa phải quá muộn... Anh Hành muốn tìm người mà anh cho là kẻ phá hoại sản xuất thì tôi, chính kẻ đó là tôi!
           Hành lúng túng, khuôn mặt tái nhợt. Hết sức bối rối nhưng cố làm vẻ bình tĩnh, anh ta xẵng giọng:
           - Được! Chị phải chịu, phải chịu mọi hậu quả...
           Trước mặt Hành, chị Huệ cứng cỏi, nhưng đến buổi chiều, gặp Thúy, chị gục đầu vào vai cô và khóc.
           - Sao phải khóc hả chị? - Thúy an ủi - Chúng mình sống trung thực...



16


           Chừng nửa buổi sáng, ông Tám Thạnh đẩy cửa bước vào phòng thuyền trưởng.
           - Mày ngủ à, Lê? - Ông gọi.
           - Cháu vừa thiếp đi một lúc - Lê bật dậy khỏi giường vươn vai - Đêm qua cháu thức trắng mà. Có chiếc tàu lạ bám theo mình suốt. Chú vào trong này!
           Ông Tám ngồi xuống mép giường:
          - Mặc nó chớ, trên biển thiếu gì tàu, hơi sức đâu...
          - Nhưng thằng này có triệu chứng đáng nghi lắm. Cháu phải cho tàu vòng lên hướng bắc nó mới thôi bám đấy.
          - Coi ra có bão Lê à!
          - Trời trong thế kia mà, chú!
          - Từ sáng tới giờ biển yên. Nhưng xem ra lại không yên. Đứng trên boong ngó xuống, tao thấy sóng lừng khác lắm. Từng đợt lên xuống đều đặn, tròn đầu, khoảng cách giữa hai đỉnh sóng dài, nom hiền lành, thứ tự. Triệu chứng báo hiệu có bão đó.
          - Chú cháu mình ra ngoài xem sao.
           Hai người bước trật trưỡng lên boong. Bầu trời cao, xanh, trong trẻo. Mặt biển gợn nhè nhẹ, trải ra ngăn ngắt. Con tàu chạy êm như đi trong sông. Xa xa, gần đường chân trời, từng vệt mây trắng xốp kết lại như chùm đuôi ngựa. Gần hơn, một dải mây mỏng giống chiếc khăn voan màu mỡ gà dăng lên nền trời.
           - Mây "ti"  chú ạ. Đúng là sẽ có bão. Trưa nay thể nào trên chẳng thông báo.
           - Tao lo cơn bão này to đó ...
           - Nếu mình biết trước, chủ động thì chẳng ngại.
           - Là tao cứ lo thế!
           Đến trưa có điện từ sở chỉ huy báo cho biết cơn bão số 10 đã hình thành ở toạ độ X, đang di chuyển theo hướng tây, tây bắc và sở chỉ huy cho phép ban chỉ huy tàu được toàn quyền xử trí khi gặp bão.

           Đo đạc và tính toán ở hải đồ, Lê biết vị trí tàu nằm ngay trên đường di chuyển của bão. Anh lập tức hội ý ban chỉ huy. Sau đó phân công mỗi người một việc. Lượng tiến hành tổ chức công tác chuẩn bị chống bão. Lê và Xuân hợp lực theo dõi hướng đi của bão để bằng mọi giá đưa con tàu chệch ra khỏi tâm bão. Công việc đòi hỏi phải quan sát các yếu tố khí tượng như gió mây, tình hình mặt biển, sự thay đổi của khí áp... để phán đoán và tính toán, tìm ra những kết quả làm cơ sở cho việc xử lý. Trách nhiệm ấy đặt lên vai Lê. Tính mạng hai mươi thủy thủ và số phận con tàu phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của anh. Nếu con tàu không có cách tách ra khỏi hướng đi của bão, hậu quả thật khó lường.

           Công việc chống bão tiến hành khẩn trương. Ông Tám Thạnh cùng bộ phận cơ điện kiểm tra lại hệ thống máy, hệ thống lái. Gặp bão, điều quyết định đầu tiên sự sống còn của con tàu là tình trạng máy, và hệ thống lái. Bộ phận mặt boong bịt kín các cửa sổ mạn, các lỗ thông xuống khoang, đóng chặt các nắp hầm hàng, chằng níu những vật dễ lắc... Mọi việc được làm rất gấp. Chính trị viên Lượng  kiểm tra tỉ mỉ từng khâu.

           Ba giờ chiều, Lê và Xuân, qua đo đạc và tính toán đã xác định được vị trí tàu đang nằm ở nửa vòng nguy hiểm. Cần nhanh chóng tránh xa tâm bão!

           Lúc này sóng chưa to, nhưng trên trời đã xuất hiện lớp mây như bức màn màu sữa. Sau đó mây thấp dần, biến thành màu xám, xơ xác từng mảng, bay rất nhanh và càng ngày càng nhiều. Lê biết đó là mây vũ tầng khổng lồ. Có nghĩa rằng tâm bão cách con tàu không bao xa.

           - Gió thực đo được bao nhiêu?
           - Báo cáo, cấp bốn! - Xuân trả lời.
           - Hướng?
           - Đông - đông nam!
            Lê ra lệnh:
           - Cho tàu chạy theo hướng sao cho có gió thực thổi chéo phía trước từ mạn phải khoảng ba mươi đến bốn mươi lăm độ!
           - Rõ - Xuân đáp và lệnh cho Linh đánh vô lăng sang phải.

           Gió nổi lên, giật từng cơn. Mưa bắt đầu nặng hạt. Bầu trời và mặt biển biến thành một khối xám đen. Sóng chồm lên dữ dội. Con tàu lắc mạnh.
           - Cho tàu đi gối sóng để luôn có gió thực thổi bên mạn phải! - Lê nhắc.

           Mặc dù sóng và gió ngày càng mạnh, nhưng Lê biết rằng con tàu đang chếch khỏi tầm bão. Còn phải vất vả chống chọi, nhưng sự nguy hiểm nhất đã được đẩy lùi.




-----------------------------
Chú thích:
1. Mây "ti": chỉ một loại mây xuất hiện khi có bão - Từ khoa học.
2."Nửa vòng nguy hiểm": Từ chuyên môn chỉ rằng: con tàu đang nằm trong vòng xoáy của bão, phía có thể bị cuốn vào tâm bão.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Bảy, 2009, 08:36:31 am

          Tàu chao, lắc như đưa võng. Mưa dội xuống xối xả. Biển đen kịt, quặn lên. Từng mảng nước dâng cao, rồi ập xuống, dồn mạnh vào thành tàu. Con tàu dồi lên, hẫng xuống, lại dồi lên. Bám chắc vào thành tàu, Lê đứng ở cửa buồng lái ngóng ra. Nước mưa và nước biển phả vào người anh ướt sũng.
          Nghĩ rằng mình đã xử lý đúng, Lê vẫn không hết lo lắng. Nếu cơn bão chuyển hướng, và tâm bão cứ đuổi theo tàu, điều đó có thể lắm, thì sẽ ra sao? Ai mà lường hết được. Nhưng chẳng lẽ lại có sự trớ trêu quái ác bất ngờ như vậy? Gió vẫn thổi bên mạn phải tàu kia mà! Gió thổi như thế chứng tỏ con tàu đang tách dần khỏi tâm bão với góc độ gần như thẳng góc với quỹ đạo di chuyển của bão. Trong lịch sử, chẳng đã có những con tàu gặp bão, nhưng biết tránh, vẫn thoát đó sao? Khi cơn bão ngày 3 tháng 3 năm 1927 hướng vào cảng Ma-đa-ga-xca, con tàu chở khách loại lớn Săm Bo và tàu chở khách viễn dương Duy-xét-xnơ đang ở ngoài khơi, đúng vào vùng bão sẽ đi qua, song nhờ sự xứ lý khéo léo và tài giỏi của những người thuyền trưởng, hai con tàu vẫn thoát khỏi tâm bão an toàn...

           Gió vẫn giật. Sóng vẫn chồm cao. Con tàu trước đại dương quá nhỏ nhoi, và trong sóng gió, số phận nó quá mỏng manh. Biển cứ vờn, con tàu cứ lặn hụp. Lê không rời cửa buồng lái, đôi mắt mở to chằm chằm nhìn xuống biển. Nước mưa quất vào mặt anh rát rạt. Gió thốc mạnh, chỉ chực giằng ra khỏi con tàu. Đôi tay Lê tê cóng.
           Chợt Lê có cảm giác như con tàu đang trôi xuôi sóng. Anh hoảng hốt quay mặt lại, hô to:
           - Trái mười lăm độ!
           - Mười lăm độ trái! - Linh cố xoay vô lăng. Nhưng liền đó bỗng kêu lên - Tàu không ăn lái!
           Lê buông tay, nhảy vào. Con tàu vật mạnh. Lê nhỡ đà văng vào vách. Anh cố đứng thẳng:
           - Tăng tốc độ tối đa!
           Lê rùng mình nghĩ rằng nếu tăng tốc độ mà con tàu vẫn không ăn lái, vẫn trôi theo sóng! Trôi theo sóng có nghĩa là vào tâm bão.
           Linh gò người giữ chặt vô lăng. Mũi tàu hơi rê sang trái, nhưng sóng vẫn cứ bạt xuôi chiều. Cá con tàu trôi theo hướng gió. Khuôn mặt đẫm nước của Lê nhợt nhạt. Nỗi sợ hãi khiến hai mắt anh trắng bạc. Vào tâm bão có nghĩa là đưa tàu vào chỗ chết!
          - Tăng tốc độ được nữa không, chú Tám? - Lê thảngthốt hỏi. Ông Tám Thạnh lúc đó đang đứng nhìn anh trân trân, ái ngại trả lời:
          - Tăng được chút xíu, nhưng dễ hỏng máy đó!
          - Chú cho hết vòng quay để thắng sức đẩy của sóng!
          - Đi gối sóng hả Lê?
          - Gối sóng!
          Con tàu rùng mạnh. Linh đánh lái. Mũi tàu chếch sang trái, đâm ngang sườn những đợt sóng.
          - Giữ nguyên hướng đó, chín mười độ !
           Con tàu vật vã lắc ngang, lắc dọc.
           Lê bám cửa nhìn xuống: con tàu đang cắt chéo sóng. Anh thở mạnh. Lúc này anh mới thấy rét run lên,toàn thân nổi gai. Đôi môi thâm tím. Tóc bết xuống trán.
           - Để tao theo dõi một lúc, Lê! - Ông Tám đề nghị.
           Không quay lại, Lê nói như gào:
           - Chú xuống trông chừng máy. Máy hỏng lúc này là chết!
           Ông Tám bám cầu thang, lần xuống khoang.
           Từ lúc biển trở chứng, đã có một số thủy thủ say sóng. Trước tiên là Mừng. Ban đầu anh chàng thấy choáng váng, lợm giọng, sau đó có gì trong bụng, ra bằng hết. Hai mắt nhắm nghiền, khuôn mặt nhợt nhạt, mệt mỏi, trông lép kẹp như con gián khô nằm dính trên giường. Đi biển, khổ nhất là say sóng. Hải không thuộc loại cứng sóng, nhưng anh đi lại được. Anh bám thành giường lần tới phía Mừng:
           - Thế nào, gần tới bến rồi, dậy chứ! Uống nước cam nhé?
           Lắc đầu!
           - Uống nước dứa nhé?
           Im lặng.
           Hải với chiếc chăn sợi đắp lên người Mừng. Bỗng tàu vặn mình, giật mạnh. Đang ở thế bất ngờ, Hải bị hất vào thành, đầu đập xuống khuỷu sắt, sưng vù. Mừng cũng bị hất khỏi giường. Cậu ta liền nhổm dậy. Thấy Hải ôm đầu nhăn nhó, Mừng toan chạy lại. Miệng vừa kêu được hai tiếng: "Anh Hải" thì bụng thót vào nấc thốc lên và tấm thân rũ xuống, trông thảm hại như chiếc phao bơi xẹp hơi.

           Từ lúc có bão, chính trị viên Lượng như con thoi chạy tới, chạy lui đốc thúc mọi người bịt chỗ này, chằng níu che chắn chỗ kia. Khi phần lớn thủy thủ đã say sóng, anh vừa động viên anh em, vừa làm thay phần việc của họ. Mệt rã rời, nhưng những lúc nguy nan, anh không thể ngơi nghỉ. Vừa thoáng thấy anh ở buồng lái, thoắt cái, đã có mặt ở phòng thông tin, rồi xuống khoang máy... Hầu như nơi nào cũng thấy mặt chính trị viên. Trong số thủy thủ của tàu, ngoài ông Tám Thạnh, người chưa bao giờ say sóng, còn có anh chàng Cang cũng xếp vào loại cứng sóng. Tuy ít tuổi, nhưng Cang được toàn tàu quý mến một phần nhờ lẽ đó. Từ lúc sóng gió nổi lên, Cang lần tới khắp các phòng trên tàu: Anh chàng làm liên lạc cho thuyền trưởng và chính trị viên. Cang men cầu thang xuống khoang máy.
           - Chú Tám! - Cang kêu to - Thuyền trưởng Lê hỏi tại sao tiếng máy nghe tưng tức thế, liệu có việc gì không?
           Tám Thạnh ngẩng lên:
          - Mày bảo với thuyền trưởng an tâm! Tao đã rành bệnh nó, đang chỉnh. Ngoài trời ra sao?
          - Gió đỡ hơn, nhưng mưa còn nặng lắm. Biển tối sẫm, nhìn ra chỉ thấy một mảng đen đặc.
          - Mưa to à? Mưa to là triệu chứng bão sắp tan đó.
          - Chà, thằng Lê khá! Đáng mặt đi biển.Tao tưởng chuyến này chú cháu mình chầu Thủy Tề ráo chớ. Mấy giờ rồi, Cang?
          - Chừng tám giờ. Cháu lên buồng lái, chốc nữa cháu xuống với chú.
           Một lúc sau. Ông Tám thấy Cang bước xuống.
          - Ở dưới này ít lắc hơn!
          - Chớ mày xuống chi đây cho váng tai, nhỏ? Nằm mà nghỉ.
          - Chính trị viên Lượng hỏi chú nấu cháo được không? Từ sáng tới giờ chưa ai có miếng gì vào bụng.
          - Sóng này nấu chi nổi! Mà thằng Lượng đâu?
          - Anh Lượng đang ngồi trong buồng thủy thủ trông nom mấy cha say sóng. Trên buồng lái chỉ còn thuyền trưởng, anh Xuân với thằng Linh.
          - Nấu rồi ai ăn? - Ông Tám phân vân - Mà nấu cách sao?
          - Cháu đã có cách.
          - Hử?
          - Ta thả màn vào nồi cho nước đỡ sánh!
          - Thả màn vào nồi? Thằng nhỏ này khá !
          Hai người loạng choạng lên khoang trên. Cang lần đi lấy màn. Ông Tám cho dầu vào bếp. Ông quẹt tới chục que diêm vẫn không nhóm được lửa. Gió tạt rất mạnh. Tàu lắc lư, tròng trành. Que diêm không kịp bén đã tắt. Lựa lúc sóng yên hơn, ông Tám buông hai tay, quẹt Que diêm vừa bén, ông đã chúi về phía trước, suýt va ngực vào nồi nước. Diêm lại tắt ngấm.
          - "Chà, đến nấu lấy cái mà ăn cũng khó. Trời với đất!" - Ông bíu thành tàu đứng lên, bực bõ lẩm bẩm. Bếp ở cuối tàu nên lắc cành mạnh. Ông Tám ngồi bệt xuống sàn, nhưng loay hoay mãi, vẫn không sao cho ngọn lửa bén bấc. Thấy Cang đưa màn tới, ông bảo:
          - Cang, tao ôm mày để mày quẹt diêm hí! - Đoạn một tay ông ôm ngang bụng Cang, tay còn lại bám chặt thành cửa.
           Ngọn lửa vừa bén, con tàu chợt nghiêng như muốn ụp xuống biển, ông Tám và Cang ngã dúi dụi, nằm đè lên nhau.
          - Xong! Có gạo rồi đó, mày thả màn vô.
          Chừng một giờ đêm cháo chín. Ông Tám đập thịt hộp đổ vào. Lượng múc ra xoong rồi cùng ông Tám và Cang lần đưa lên từng phòng. Tới buồng thủy thủ, Cang lay Mừng dậy. Anh chàng bẹp dí trên giường, từ từ mở mắt. Nhưng liền sau đó, từ từ nhắm mắt lại. Cang gọi Hải. Hải mệt lắm, nhưng vẫn cố gượng dậy. Anh biết rằng lúc này nếu buông xuôi, thiếu cố gắng thì khó đủ sức chống chọi với sóng gió trong những ngày tới. Từ đây đến bến, đường còn xa. Nhiều thủy thủ đã ngồi dậy. Kinh nghiệm cho biết rằng phải cố giữ sức lúc đi biển. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn, trông người nào cũng phờ phạc, mệt mỏi. Mừng và vài thủy thủ vẫn nằmbất động. Lượng ngồi xuống mép giường vỗ về, lay gọi từng người, nhưng họ vẫn như không hay biết.
           - Làm sao gọi chúng nó dậy ăn cho nóng! - Ông Tám ái ngại.
           - Để cháu!
           Cang cúi xuống sát người Mừng, hô to:
           - Báo cáo thuyền trưởng, hai khu trục Mỹ đang hướng tàu ta lao tới.
           Mừng và đám thủy thủ vội nhổm lên.
           - Cháo! Cháo! Ăn đi để lấy sức tụi bay! Bão sắp tan rồi.
           - Cháu mệt lắm mà, chú Tám! - Mừng nói thều thào rồi lại nằm vật xuống.
           - Thôi, thằng Lượng ở lại động viên tụi nó. Tao và thằng Cang đưa lên cho bọn trên buồng lái. Ông Tám và Cang lại lần đi.
          Lượng men tới từng giường, đỡ anh em dậy, bón từng thìa cháo. Mọi người nể chính trị viên đều gượng ngồi cả lên.
          Hải gắng húp hết bát cháo rồi đi tới chỗ Mừng. Da mặt Mừng nhợt nhạt.
          - Cố mà ăn cho có sức, sắp tới bến rồi? - Hải xúc thìa cháo đưa lên miệng Mừng.
          Mừng ngồi dậy, đỡ lấy bát cháo:
          - Anh để tôi !



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Bảy, 2009, 08:40:47 am

17


           Sáng hôm sau, ngỡ bão ngớt, nhưng liền đó, một cơn lốc lại nổi lên, mưa dai dẳng. Tới chiều, bầu trời sáng dần rồi quang hẳn. Biển xanh tím như vừa qua lần lột xác trở nên mới mẻ, dịu dàng.
           Con tàu vẫn đi theo hướng đã vạch sẵn.
           Lê lảo đảo bước ra khỏi buồng lái, lên boong. Anh mệt rã rời, có cảm giác châng lâng, nhẹ bẫng như đang lơ lửng trên không. Cái gì cũng như không thật nữa. Anh hít một hơi sâu vào lồng ngực, làm vài động tác thể dục, rồi đốt điếu thuốc, ngồi tựa ca bin, ngó xuống biển. Lê không khỏi ngạc nhiên khi nghĩ rằng mình vừa trải qua những giờ phút có thể coi như trong cơn ác mộng.
          Tiếng chính trị viên Lượng ở ngay phía sau anh:
          - Ta báo cáo chiến thắng về "nhà" cho "các cụ" mừng đi chứ!
          Lê quay lại, mỉm cười, gật đầu. Nhưng thoáng chút suy nghĩ, Lê bảo Lượng:
          - Mà khoan đã anh ạ. Có lẽ anh cùng với anh Xuân cho các bộ phận dọn dẹp, kiểm tra, củng cố lại tàu; còn tôi sẽ xác định thật chính xác vị trí tàu ta hiện tại và xem lúc nào chuyển hướng vào bến. Mọi việc gọn ghẽ, ta báo cáo luôn một thể. Mất chừng một tiếng chứ mấy. Anh thấy thế nào?
          - Đồng ý! - Loáng cái đã thấy tiếng Lượng dưới khoang - Thôi đừng tán dóc nữa, các tướng. Có bao việc cần làm đây: Bộ phận đồng chí  Hải phơi lưới. Cơ điện, dọn phòng ngủ. Hàng hải lau vũ khí. Thông tin kiểm tra máy. Còn lại, xuống hầm hàng...

           Bằng linh cảm và kinh nghiệm của người đi biển lâu năm, ông Tám Thạnh cũng rõ được rằng hiện giờ con tàu đang ở vào khoảng nào. Ông giao máy cho anh em rồi lẳng lặng bước lên boong, đứng nhìn về phía đất liền. Phía ấy mờ mịt, xa xăm, chỉ có một vệt rất mờ, ranh giới giữa trời và biển, song ông có cảm giác như mình đã nhìn thấy ngọn núi Một, nhìn rõ eo Lồng Cú, nhìn rõ những hàng dừa chạy viền mép nước, trên bãi... Chẳng lẽ đây là sự thật: Sau hơn hai mươi năm xa vắng, đêm nay Tám Thạnh lại đặt chân lên vùng đất ấy? Vùng đất tứ thời sặc sụa mùi cá, mùi tôm, mùi mực tươi và mùi bọt bể. Mấy tiếng đồng hồ nữa Tám Thạnh sẽ lại được ngửi hít mùi tanh lợ quen thuộc ấy sao? Cái mùi đã ngấm vào từng lỗ chân lông khiến cơ thể Tám Thạnh luôn tỏa ra hương vị quê hương. Tám Thạnh sẽ lần từng gốc dừa mà chuyện trò, mà hỏi han... Bao nhiêu điều cần biết sau khoảng thời gian đằng đẵng ấy. Bãi cát xế chợ có dài rộng ra? Thêm bao nhiêu nóc nhà mọc lên đó? Tám Thạnh vẫn hình dung ra vị trí túp lều đơn chiếc của mình nép dưới gốc dừa già, kề mép biển. Bao năm tháng côi cút cô đơn, Tám Thạnh đã chui ra, chui vào căn lều le te ấy. Tối tối chỉ biết chuyện trò với cây dừa, với bãi cát, với sóng. Đã ai chặt cây dừa hay nó vẫn đứng ngóng ra biển chờ Tám Thạnh về? Chắc dừa cũng đã già cỗi lắm! Có còn không những hàng quán lúp xúp ở chợ Thương Long? Cái chợ đầy tràn cá mỗi chiều, cái chợ lúc nào cũng ồn ã chao chát giá cả và lúc nào cũng tanh tưởi. Mà sao có tên là Thương Long, Hòn Hàng? Cớ chi kêu vậy chớ? Và bà Ba-cá-hồng, ông vẫn nhớ cái dáng núc ních của bà chạy lắt thắt trên bãi ra đón. Không phải bà đón Tám Thạnh, bà đón cá. Cái môi bìu ra như quả chuối khi ai đó kêu giá không vừa ý, ông nhớ rõ lắm... Và ngôi nhà cạnh chợ Thương Long... với người đàn bà ấy? Ừ, dẫu sao thì cũng một thời có người gọi ông là chồng và ông kêu họ là vợ; một thời da dẻ đỏ au của ông cũng có lúc mát lạnh tay đàn bà; ông đi biển về cũng có người thổi cho miếng cơm mà ăn, nướng cho con cá mà nhậu... Có những kỷ niệm thật vặt vãnh, nhưng thật khó quên...
           Ông Tám cứ đứng mãi thế, buồn buồn, vui vui, háo hức...

           Sau khi tác nghiệp hải đồ, Lê ước tính chỉ còn ba, bốn tiếng đồng hồ nữa đến vị trí chuyển hướng vào bờ. Lê mời bí thư Lượng và chi ủy viên Tám Thạnh lên để báo cáo quyết định của mình. Tất cả đều nhanh chóng nhất trí. Lê khẩn trương ra lệnh cho chiến sĩ thông tin mở máy để báo cáo lại tình hình T.67 vượt tránh cơn bão vừa qua và xin chỉ thị chuyển hướng vào bờ của sở chỉ huy. Song chờ mãi không thấy người chiến sĩ thông tin ra; nóng ruột, Lê xộc thẳng vào buồng máy. Người chiến sĩ thông tin run run bỏ "tráp" ra khỏi tai, khuôn mặt trắng bệch ngước lên, miệng lắp bắp:
           - Báo cáo... Máy hỏng. Có lẽ nước biển đã tạt vào nhiều quá !
           - Máy hỏng!?
           Hai tiếng đó giống như một nhát búa giáng vào Lê, khiến anh choáng váng. Mặt Lê bạc trắng chẳng khác da mặt người lính thông tin. Đôi chân run run như muốn quỵ. Máy hỏng! Máy thông tin hỏng có nghĩa là con tàu đã trở nên mù loà, chơ vơ quờ quạng giữa đại dương. Máy hỏng có nghĩa là không rõ tình hình trong bến, không rõ địch trên bờ, và như vậy tức là mọi hành động lúc này chẳng có nghĩa gì. Chao ôi, tác hại cửa cơn bão...
           Lê bíu chặt hai tay vào cửa và đứng thế cho tới lúc có tiếng chân của Lượng phía sau. Lượng hỏi:
           - Ý  kiến "các cụ" thế nào?
           Lê quay lại:
           - Không liên lạc được với sở chỉ huy!
           - Không liên lạc được với sở chỉ huy?
           - Máy thông tin hỏng, anh Lượng ạ.
           Lượng bước nhanh vào phòng thông tin. Hai chiến sĩ đứng như trời trồng. Họ định thanh minh rằng sóng gió, nhưng cả hai đều nín thinh trước cặp mắt của chính trị viên. Lê quay sang Lượng:
           - Cứ để các đồng chí ấy kiểm tra một lần nữa, đồng thời ta cho chạy máy phụ cấp điện. Có thể ắc quy yếu. Còn nước còn tát.
           Bên ngoài trời đã ngả chiều. Tất cả yên lặng. Chỉ có tiếng máy tàu rung lên đều đều.

           Thủy thủ trên tàu đã hiểu điều gì đang xảy ra. Họ đứng quanh cửa buồng thông tin nghe ngóng. Thời gian trôi chậm, nặng nề.
           Lê đứng cạnh hai người lính thông tin. Họ đang loay hoay với cỗ máy. Anh cố không biểu hiện rằng mình sốt ruột.
           Phía ngoài, tiếng sóng vỗ mạn đều đều, ì oạp. Và tiếng gió lướt trên mặt boong rin rít.
Một lúc, người chiến sĩ thông tin đờ đẫn ngước lên, lảng tránh cái nhìn của Lê.
          - Báo cáo, do nước vào, bộ phát sóng hỏng. Cuộn dây dao động bị đứt.
           Lê buông thõng tay. Anh lẳng lặng bước ra. Lượng cũng buồn bã ra theo: Đám thuỷ thủ ùa vào buồng lái.
           Lê nhìn xoáy ra trước mũi tàu. Yù nghĩ rối lên. Vào bến? Quay trở về? Sự quyết đoán và tỉnh táo của người chỉ huy lúc này mới cần thiết làm sao! Hoàn cảnh không cho phép chần chừ.
           Phía sau Lê , đám đông thủy thủ đang đứng lặng, chờ đợi Con tàu cứ đi thẳng. Thời gian cứ trôi.
           - Đề nghị các đồng chí bình tĩnh về vị trí của mình - Lượng nói - Mọi việc để chi ủy và ban chỉ huy quyết định. Mời chú Tám và thuyền phó Xuân vào hội ý.
           Khi chỉ còn bốn người, Lê nêu ý kiến:
           - Quay trở Lại thôi, anh Lượng và các đồng chí ạ.
           Xuân sững sờ:
           - Sao? Quay trở lại à? - Và đôi mắt Xuân nhìn đăm đăm vào Lê.
           - Theo tôi thì không thể khác được. Chúng ta đã không rõ tình hình bến.
           - Quay lại là bỏ lỡ thời cơ. Không thể thế được! Chiến trường đang cần vũ khí. Chúng ta không được  phép hành động như vậy. Đêm nay nhất thiết chúng ta  phải vào bến! Các đồng chí, tôi đề nghị chúng ta hãy bàn cách vào.
           - Đúng, phải vào bến!
           Phía ngoài cửa có tiếng một thủy thủ nói vào. Rồi nhiều tiếng xôn xao:



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Bảy, 2009, 08:14:03 pm
       
           - Chúng ta đi nhiều chuyến còn nguy hiểm hơn, khó khăn hơn.
           - Vượt bão vào đây không phải để quay về!
           - Trên tàu chẳng một ai run sợ, thuyền trưởng ạ!
           Ánh mắt Lê lướt qua từng gương mặt thủy thủ, rồi anh điềm tĩnh nói:
           - Tôi xin lưu ý các đồng chí rằng: Trên tàu là một tổ chức quân đội; có người lãnh đạo, có người chỉ huy. Trong tình huống cấp bách, các đồng chí hãy trật tự để chi ủy và ban chỉ huy lựa chọn phương án - Lê nói tiếp - Các đồng chí ạ, điều chúng ta cần nhất lúc này là tình hình bến, song chúng ta không nắm được... Chúng ta cần phải quay ra.
           - Quay ra? - Xuân cau mặt. Rồi anh quay nhìn ông Tám Thạnh, lại nhìn chính trị viên Lượng. Lượng vẫn đứng im, suy nghĩ.
           Một lúc sau, thuyền phó Xuân, mặt tái lạnh, giọng run run, anh nhắc lại những lời căn dặn của trên và lời hứa của toàn tàu trước hôm T.67 lên đường. Cuối cùng giọng Xuântrở nên mạnh mẽ, đầy thuyết phục:
          - Quay về ? Chúng ta còn mặt mũi nào nhìn thấy cấp trên. Chúng ta đâu còn xứng đáng với các đồng chí của chúng ta đã hy sinh... Thà chết vinh quang còn hơn sống nhục nhã. Chúng ta nhất định phải đưa vũ khí vào bến đêm nay...
           Tiếng ồn ào lại nổi lên. Nét mặt mọi người hăm hở như đã sẵn sàng lao vào nơi hiểm nguy. Lê bước lên một bước. Dưới ánh sáng ngọn đèn, khuôn mặt Lê nhợt nhạt, nhưng cặp mắt lạnh sắc.
           - Tôi hiểu nỗi lòng của đồng chí Xuân và số anh em thủy thủ. Tôi hoàn toàn thông cảm với tình cảm ấy. Thật đáng hổ thẹn khi trong mỗi chúng ta không còn tình cảm đáng quý đó. Nhưng thưa tất cả các đồng chí, trước tình cảnh hiện tại, tôi muốn mỗi một thành viên trên con tàu này hãy sáng suốt và tỉnh táo, biết kìm nén tình cảm, lấy lý trí để xét đoán. Các đồng chí cũng  rõ là sự nôn nóng sẽ đưa chúng ta tới đâu và hậu quả như thế nào rồi! Trong năm qua, chúng ta đã mất bốn con tàu. Bao nhiêu đồng đội bỏ mình trên biển, chúng ta quên điều đó rồi sao? Những người đã chết không cho phép chúng ta có quyền phiêu lưu. Tình hình bến ra sao, ở đây ai rõ? Chúng ta như người đã bị mù. Đưa tàu vào bến trong hoàn cảnh như thế là mong chờ vào cái gì? Mong chờ vào sự may rủi! Tính mạng hai mươi con người, và cao hơn, ý nghĩa có tính quyết định của chuyến đi, sự cần thiết phải bảo vệ con đường vận tải trên biển mà tôi và các đồng chí đều hiểu, không cho phép chúng ta mong chờ ở sự may rủi. Có phải vậy không, đồng chí Xuân?
            Xuân lúng túng, hai tai dỏ ửng, nhưng cái nhìn của anh vẫn không biểu hiện sự nao núng.
            - Khi đưa tàu trở về, các đồng chí nghĩ rằng tôi không đau lòng sao? - Lê tiếp - Đồng chí tư lệnh gọi tôi lên hỏi cặn kẽ tình hình và sau đó trực tiếp giao nhiệm vụ thực hiện chuyến đi này. Sao tôi không rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó? Ai tiễn chúng ta đi? Phải, cũng chính là đồng chí tư lệnh. Và chúng ta đã hứa thế nào, tôi rõ lắm ...
            Lượng quay sang ông Tám Thạnh:
            - Giờ xin mời chú .
            Ông Tám nhìn Lê, nhìn Xuân, nhìn Lượng, rồi quay nhìn tốp thủy thủ.
            - Các đồng chí, Tám Thạnh xin thưa vài lời - Giọng ông run run - Tàu ta chạy tiếp mấy tiếng nữa là đến Hòn Hàng. Trước mắt là quê tôi đó. Hai mươi năm rồi, tôi chưa một lần trở lại nơi ấy. Nhớ lắm! Thương lắm! Ở Hòn Hàng có những điều chua chát, nhưng vẫn là quê hương. Ở đó có những cây dừa già, có mùi tanh của cá ...Tôi rất thèm được nhìn lại vùng đất ấy, vùng biển ấy lần cuối cùng trước lúc nhắm mắt xuôi tay. Thật lạ lùng làm sao, chuyến này lại cho tôi sự may mắn đó. Không ai ao ước, nóng lòng muốn đêm nay tàu vô đó bằng tôi. Các đồng chí ạ, đã mấy đêm nay tôi trằn trọc không ngủ. Cứ nghĩ rằng chỉ ngày một ngày hai nữa là mình sẽ đặt chân lên đất quê mà nao cả lòng... Khi đi trai trẻ , lúc tuổi tác đã cao mới trở về, liệu còn được trở về nơi sinh ra mình lần nữa không chớ? Khó lắm! Bão tan, tàu ta nguyên vẹn, tất cả các đồng chí đều mừng, mà người mừng nhất là tôi: Sắp vào Hòn Hàng rồi! Sắp được về quê rồi! Thế nhưng các đồng chí nghĩ thử coi: nếu phía Hòn Hàng địch đang giăng lưới bẫy ta? Ừ, đành rằng gặp địch thì đánh vô, cần hy sinh thì hy sinh, có chuyến ta đã như vậy. Nhưng liệu sự hy sinh đó có mang lại cái gì, hay mất cả hàng, lộ cả bến? Các đồng chí cân nhắc đi, có phải đưa tàu vô là liều không? - Ông Tám Thạnh đột ngột dừng lời, ông thở hổn hển. Những thớ thịt ở má như giật mạnh hơn. Cặp mắt vàng đục. Rồi ông nói tiếp: - Thuyền trưởng Lê nói đúng đó, chớ mong chờ vào sự may rủi. Hồi xưa tôi đi đánh cá, cũng mong vào sự may rủi. Nhưng đánh cá và đánh giặc khác nhau chớ... Chính trị viên Lượng hỏi ý kiến tui, thì ý kiến Tám Thạnh là: Tàu 67 ta nên quay trở về! Xin hết!
           - Chú Tám! - Lê nghẹn ngào.
           Ông Tám Thạnh gắng nén xúc động. Tiếng thở nặng nhọc như vừa làm việc gì quá sức. Và chợt ông bật khóc. Mọi người đứng im thít. Lê nhìn ông, lòng tràn ngập những tình cảm tốt đẹp; sự tôn kính, sự biết ơn lẫn sự thương cảm. Anh muốn ôm lấy ông, muốn gục đầu vào khuôn ngực nở nang, rắn chắc của ông mà khóc, mà nói rằng: Nhất định có ngày con đưa chú về thăm mảnh đất ấy! -  Anh quay vội đi, khoé mắt anh ánh nước.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Bảy, 2009, 08:19:45 pm

18


          Tư lệnh quân chủng bước thong thả trong phòng. Người hơi gập, đầu cúi. Nét mặt trầm tư. Những vết rạn chân chim in rõ hai bên khoé mắt. Điếu thuốc cháy trên tay. Xung quanh yên vắng. Chỉ có tiếng giày của ông gõ lên sàn đều đều. Công việc bộn bề khiến ông lo nghĩ. Địch thả bom từ trường rào chắn các cửa sông. Việc tháo gỡ những quả mìn ấy chưa có kết quả khả quan, vẫn trên bước mò mẫm và thử nghiệm. Sự thông luồng trở nên khẩn cấp. Trung tá Tường phụ trách công việc điện về trình bày rặt khó khăn là khó khăn, anh ta xin thêm cán bộ kỹ thuật, xin thêm thợ lặn. Xem ra nhiệm vụ tiến hành chưa được bao nhiêu. Đó là một con người rụt rè và thiếu quyết đoán, đúng hơn là ngại việc và sợ trách nhiệm, lúc nào cũng nhăm nhăm xin ý kiến cấp trên. Đã có lần ông nổi nóng:
          - Sao việc ấy anh lại hỏi tôi? Anh chỉ huy đơn vị anh phải biết và anh phải làm chứ. Bộ tư lệnh chỉ giao việc và chỉ thị chủ trương, còn cái cụ thể, người chỉ huy trực tiếp phải lo lấy!
           Tư lệnh không mấy thiện cảm với loại người thiếu chủ động, sáng tạo, chỉ đâu đánh đấy hệt cái máy như thế. Song không thể để anh ta ở trên cơ quan mãi được. Những người ấy để ở cơ quan càng chóng giảm năng lực. Phải đưa xuống đơn vị mà cụng đầu với thực tế. Chưa quen rồi quen. Thói lười suy nghĩ sẽ không có chỗ ở những nơi đó ...

           Tư lệnh rít từng hơi thuốc. Nhiều lo toan như cùng dồn đến... Hôm qua địch ném bom mạn Hòn Gai; thêm một tàu của đoàn 71 trúng rốc két. Bọn Mỹ đang mở chiến dịch săn tìm và tiêu diệt tàu hải quân. Máy bay xăm soi trên trời, tàu chiến nghênh ngó ngoài khơi. Đơn vị tàu phóng lôi mấy lần xuất kích đánh khu trục Mỹ đều quay về. Cần có phương thức tác chiến mới. Không thể ăn non, đưa tàu phóng lôi ra biển làm mồi cho máy bay Mỹ. Cần tạo được yếu tố bất ngờ. Tạo sự bất ngờ như thế nào, đó là vấn đề cần nghiên cứu... Đồng chí chính ủy ra ngoài ấy làm việc mãi đến giờ vẫn chưa về. Như vậy, tình hình đã hết sức phức tạp.

           Mấy hôm nay, điều khiến tư lệnh lo lắng nữa là việc tàu T.67 của thuyền trưởng Lê chở vũ khí vào Nam đi đến vùng biển ngang Quảng Ngãi mất tích. Sau cơn bão số 10, ông được cơ quan tác chiến báo cáo: mất liên lạc với T.67. ông đã chỉ thị dùng các biện pháp để dò tìm, lần kiếm, nhưng xem ra mọi sự cố gắng của cơ quan tham mưu đều vô hiệu. Năm ngoái, khi tàu T.65 "mất tích", trước đó ít phút, cơ quan tác chiến còn nhận được bức điện: "Chúng tôi gặp địch". Và mấy ngày sau, qua tin tức của địch, qua đài phương Tây và từ bến báo ra, ta rõ được sự việc: Tàu T.65 bắt buộc phải đâm vào tàu địch, nhận sự hy sinh. Còn trường hợp này? Khi mất tích, T.67 nằm vào vị trí cơn bão đi qua, chẳng lẽ con tàu đã bị bão dìm xuống biển. Qua cục tác chiến, tin tức từ bến đưa lại cũng không cho phép có kết luận gì cụ thể; bến vẫn đợi, và vẫn không thấy tàu vào. Vậy con tàu đi đâu? Tại sao đứt liên lạc?

            Ngày nào trên Bộ cũng điện xuống hỏi tình hình T.67, càng khiến tư lệnh lo lắng. Ông biết chuyến đi của T.67 được sự quan tâm đặc biệt trên Quân uỷ. Hôm lên Hà Nội báo cáo tình hình vận chuyển chi viện cho chiến trường, khi ông trình bày kế hoạch vận chuyển mới, mở đầu bằng chuyến đi khu Năm của thuyền trưởng Lê, các đồng chí trong Quân uỷ nghe rất chăm chú. Người nào cũng biểu hiện sự vui lòng, hài lòng. Cuộc họp rất sôi nổi, các đồng chí trong Quân ủy lần lượt bắt tay ông và chúc Quân chủng Hải quân đạt nhiều thắng lợi trong việc chi viện cho chiến trường. Tiễn ông ra cửa, đồng chí bí thư Quân uỷ còn dặn: "Mặt trận khu Năm đang rất cần vũ khí. Các anh trong đó điện ra khẩn thiết yêu cầu được chi viện gấp. Anh về động viên, tổ chức anh em phát huy tính sáng tạo, thông minh, tài giỏi thời gian qua, trước mắt gắng đưa được vài ba chuyến vào đó. Có vũ khí, coi như ta đã thắng một nửa. Anh em trong ấy đang ngóng chờ lắm...". Và ông đã hứa quyết tâm chấp hành chỉ thị của trên. Vậy mà...

           Tư lệnh rít tiếp một hơi thuốc dài, thả mẩu thuốc vào chiếc gạt tàn rồi đến bàn làm việc. Bác sĩ đề nghị ông bỏ thuốc, ông đã thôi một thời gian, vài ba hôm nay bỗng dưng nghiện trở lại.

           Ông nhìn lên tấm hải đồ: Ký hiệu tàu T.67 vẫn nằm nguyên vị trí con bão số 10 đi qua.

           Điều gì sẽ xảy ra sau việc tàu T.67 mất tích? Con đường vận tải trên biển sẽ gặp những trở ngai gì? Tiếp tục đưa vũ khí vào khu Năm và toàn Miền bằng phương thức nào?... Những câu hỏi ấy là ẩn số chưa có lời giải.

           Tư lệnh ấn chuông. Đồng chí trung úy dong dỏng cao lập tức có mặt.
           - Hỏi phòng thông tin tình hình liên lạc với H.03  (tức T.67) và gọi cho tôi đồng chí trưởng phòng quân báo.
           - Rõ!
           Mấy phút sau, đồng chí đại úy đậm người bước vào.
           - Theo đồng chí thì tại sao T.67 mất tích - Tư lệnh hỏi, mắt ông nhìn thẳng vào người đang đứng trước mặt.
           - Báo cáo, rất có thể vì một sự cố ngẫu nhiên; hỏng máy thông tin chẳng hạn! - Đồng chí trưởng phòng quân báo trả lời và xin phép ngồi xuống.
           - Thế còn bão?
           - Không loại trừ khả năng ấy, nhưng báo cáo, theo chỗ chúng tôi biết, thuyền trưởng tàu T.67 là người có chuyên môn vững, lại giàu kinh nghiệm đi biển, không dễ gì bị bão cuốn trôi nhanh chóng và dễ đàng như vậy. Thêm nữa, sau khi bão tan, hồi 17 giờ, chúng tôi nhận được tin bọn địch thông báo cho nhau: Lúc 15 giờ, máy bay trinh sát Hoa Kỳ phát hiện một tàu đánh cá lạ trong vùng biển quốc tế, ngang Quy Nhơn, cách bờ gần một trăm hải lý, chúng cho đó là tàu của Phi-líp-pin hoặc của Hồng Kông bị trôi dạt do bão. Riêng chúng tôi phán đoán, rất có thể đó là tàu T.67 của ta. Vì theo kế hoạch, thời gian ấy, tàu T.67 phải ở vào khoảng vị trí đó.
           - Liệu T.67 có lặp lại trường hợp T.65 năm ngoái? - Tư  lệnh hỏi tiếp.
           - Báo cáo, điều ấy chắc là không. Bởi cho đến hôm nay, tin tức chúng tôi thu lượm được qua nhiều nguồn, chứng tỏ những ngày qua hải quân Mỹ và hải quân Sài Gòn không hề có một sự đụng độ nào trên biển. Trước đó quanh đường đi của T.67 cũng bình yên.
           - Nếu vậy thì nhất định T.67 sẽ quay về!
           Tư lệnh ngả người ra sau ghế, những nếp nhăn trên trán hơi giãn ra.

*

           Mấy đêm qua, chính ủy Bùi Kim và đoàn trưởng Tư thức trắng. Hai ông không rời sở chỉ huy. Nỗi lo và trách nhiệm đè xuống khiến hai ông gầy sọp. Chính ủy đã lệnh cho các mạng thông tin mở máy túc trực suốt ngày đêm, nhưng cho đến hôm nay vẫn không nhận được một tín hiệu nào từ phía con tàu. Đảng ủy họp, mọi phán đoán, mọi giả thiết đều được đặt ra, nhưng vẫn chưa có câu trả lời.
          Đã qua đêm thứ ba.
          Đoàn trưởng Tư bước ra khỏi sở chỉ huy. Người mệt rã rời, đầu nặng trĩu, ông lần về phòng nghỉ.
          Hôm nào đồng chí cần vụ cũng đưa về bát cơm nguội ngắt, khẩu phần ăn sáng của đoàn trưởng, nhưng mấy bữa nay ông không đụng đũa.
          Nhìn cái cằm nhọn tua tủa râu, da mặt tái xám, đôi mắt thâm quầng của đoàn trưởng, cậu lính trẻ ái ngại:
          - Hôm nay đoàn trưởng cố ăn bát cơm nhé! Có trứng, lại có canh.
          - Đâu ra mà lắm món thế? - Ông hỏi.
          - Canh thì tôi nấu. Còn trứng thì... Mà thủ trưởng ăn đi đã. Mấy anh trong cơ quan mắng tôi rằng dạo này chểnh mảng thế nào để đoàn trưởng gầy thế.
          - Lại lấy trứng ở nhà bếp hả?
          - Dạ không -Anh chàng vội phân bua - Con gà của thằng Rành bên cảnh vệ đẻ được mấy trứng, nó bắt tôi đưa về làm thức ăn cho thủ trưởng. Nó bảo rằng tụi mình còn trẻ, ăn uống thế nào cũng xong, còn đoàn trưởng thì không thể. Nhìn "cụ" lúc nào cũng bận rộn, lo lắng, thương lắm. Nó nói bố nó bằng tuổi thủ trưởng, ở nhà chỉ việc trông cháu. - Nói xong, anh chàng đứng ngây ra nhìn.
           Đoàn trưởng âu yếm:
           - Các cậu cũng vất vả lắm. Mình biết!
           - Tôi lấy sẵn nước kia! Thủ trưởng rửa mặt rồi ăn cơm. Hôm nay tôi quyết định thủ trưởng phải ăn...
           Đoàn trưởng cười, ông với chiếc khăn, đi ra hiên:
           - Cứ an tâm. Mình chưa quỵ đâu anh bạn ạ. Ra cảng nhắn anh Tập tàu 28 chiều nay lên cho mình gặp nhé.
          - Nhưng thủ trưởng đừng bỏ cơm - Nói rồi, cậu ta chạy vụt đi.
         
           Sau khi vã nước lã lên mặt, đoàn trưởng thấy tỉnh táo hơn. Ông ngồi vào bàn. Lúc này mới có thì giờ bóc lá thư ra xem. Lá thư của vợ, ông nhận được chiều hôm qua.
           Nội dung lá thư làm ông bực. Vợ ông phàn nàn về thằng con trai út, ngày càng thêm hư hỏng. Theo bà, chỉ mỗi biện pháp xem ra còn hy vọng cứu vớt là gửi nó cho công an nhờ giáo dục hộ, thực ra là cho đi cải tạo. Vợ ông bất lực và xin ý kiến ông. Cách đây mấy hôm nó gây sự đánh nhau và đâm bị thương con ông giáo Đạt ở bãi chiếu bóng.
          "Tệ thật, sao lại sinh đốn ra thế?" Đoàn trưởng cố nén tiếng thở dài.

           Sự lo lắng của vợ qua lời lẽ trong thư làm ông nghĩ ngợi. Vợ chồng ông không đông con, chỉ có ba đứa. Khi ông đi "Vệ quốc đoàn" vợ ông, cô gái bán trầu cau ở chợ ngày nào, đang mang thai. Thực tình ông cũng muốn vợ đẻ cho mình đứa con trai nhưng con đầu lòng lại là gái. Tuy nhiên, điều đó mãi ba bốn năm sau, khi ông về thăm nhà lần đầu mới rõ. Ông rất vui vì con gái ông bụ bẫm, rất giống ông và biết nói những câu ngộ ngộ: "Bố ơi trên mũ bố có cờ"; "Bố ơi, mẹ bảo bố đi nghệ quốc đoàn"; "Con hái ông sao ở mũ bố xuống nhá"...

           Lần ấy, vợ chồng ông có thêm đứa thứ hai, cũng lại con gái. Hay tin, anh em trong đơn vị trêu ông không biết đẻ, toàn vịt giời. Ông cười và nghĩ rằng gái trai gì cũng được, miễn là sau này nó nên người.

           Hai cô gái đầu đều học hành đến nơi đến chốn. Cô lớn hiện là giáo viên cấp hai. Lấy chồng, dạy cùng trường. Hai vợ chồng vừa biên thư khoe với ông họ đã có con trai. Cô thứ hai đang thi vào đại học. Vậy mà chẳng rõ sao thằng thứ ba trở nên hư hỏng.

           Không phải đến bây giờ, khi chẳng còn cách nào khác, người vợ đành báo, ông mới rõ sự lêu lỏng của con. Những lần về phép, ông đã nghe nhiều người ca thán về nó. Nào là chuyện gây gổ đánh nhau. Nào là lập hội ăn cắp. Mới tí tuổi đã nghiện rượu, nghiện thuốc. Ông bực lắm. Ông rày vợ là không biết dạy con, nuông chiều nó quá mức. Người vợ chỉ tấm tức khóc. Ông gọi con vào, đe nẹt, dọa mắng, thậm chí bực quá, có lúc đánh. Uy quyền người bố khiến nó sợ và tỏ ra biết điều. Nhưng ông đi, nó lại tính nào tật ấy. Lại lấy tiền của mẹ rủ rê bạn bè đi biệt hàng tuần.
           Và lần này nó đâm bị thương con người ta.

           Đoàn trưởng thấy thương vợ. Lấy nhau chưa đầy mùa lúa, ông bỏ nhà đi. Từ bấy đến nay, hơn hai mươi năm, nếu tính chi li ra, người vợ chỉ được sống cạnh chồng không đầy người hai tháng. Niềm vui, nỗi an ủi, nơi để bộc lộ tình cảm là những đứa con. Khi hai đứa con gái lớn ngộc, bà đang lo chỉ ngày một, ngày hai là chúng lấy chồng, bỏ lại bà trơ trọi một thân một mình thì bà lại có thai vào dịp tiểu đoàn phó Tư nghỉ phép để chuẩn bị bổ sung sang Quân chủng Hải quân. Năm sau bà sinh con trai. Bà trẻ trở lại. Mừng quá! Tất cả tình thương của người mẹ, vợ ông dồn cả cho đứa con út. Nó được nuông chiều, nâng niu; nó được chăm bẵm, quý mến. Nó là niềm vui, là sự bù đắp khi hai đứa con lớn, lại như ông, ra đi. Có ai ngờ rằng... Đến bây giờ, khi vợ ông, là người vốn có đức chịu đựng đã không kiên trì được nữa đành nhờ pháp luật can thiệp để cứu vớt đứa con mình rứt ruột đẻ ra thì chắc rằng sự hư hỏng của nó đã trượt quá xa rồi.

            Đoàn trưởng ngồi thừ bên bàn. Những ngón tay gầy guộc, xanh xao ôm lấy khuôn mặt.

            Buổi sáng mùa đông ẩm sương. Hơi nước tỏa ra như khói mỏng lởn vởn quẩn quanh chân núi. Bầu trời mờ mịt như có tấm màn chăng qua. Phía đường cái, tiếng động cơ ôtô rù rì vọng lại. Cơ quan đoàn vắng vẻ.

            Có tiếng chân lật bật bước trên đá dăm. Đoàn trưởng quay lại: khuôn mặt xương xương thô vụng và cái dáng lêu đêu của Tòng hiện ra ở cửa.
           - Báo cáo đoàn trưởng, tôi xin vào! - Giọng Tòng oang oang - Mấy hôm nay tôi đi tìm thủ trưởng suốt.
            Bỗng anh chàng hốt hoảng nhào lại phía đoàn trưởng:
           - Đoàn trưởng cảm phải không? Trời ơi, sao xám xanh thế này?
           - Đâu có. Mình vừa ở sở chỉ huy về.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 06 Tháng Bảy, 2009, 09:00:40 pm

            - Nhìn sắc mặt thủ trưởng không được khỏe. Tình hình thế nào ạ?
            - Tình hình gì? - Đoàn trưởng xoay lại - Tay này chỉ thóc mách!
             Tòng cười:
            - Thủ trường đừng giấu tôi! Cả cơ quan đang ồn lên về vụ tàu T.67.
            - Tức là cậu rõ rồi?
            - Vâng, cũng nghe hơi...
             Tòng kéo ghế, ngồi xuống.
           - Cậu có nghĩ rằng hậu quả là do cơn bão số 10?
           - Không! - Tòng trả lời chẳng chút ngần ngại - Thằng Lê chả ngu đến nỗi để sóng gió ăn sống nuốt tươi con tàu dễ như thế. Tôi rõ nó lắm. Làm thuyền trưởng lại không biết điều khiển con tàu thế nào để tránh bão, còn ra cái thá gì nữa! Chắc trục trặc gì về máy móc đây.
           - Hy vọng thế!
            Đoàn trưởng xếp gọn mấy thứ trên bàn rồi xoay ghế, ngồi đối diện với Tòng.
           - Nào, gặp mình có việc gì? Muốn xin về mấy ngày thăm cô Lụa chăng? - Giọng ông vui vẻ trở lại.
           - Dạ, tình hình này, đâu dám ạ! Nhưng cũng chịu thủ trưởng đấy! Gỡ được cái xích đó ra khó thật. Tôi luôn cố, mà nó vẫn lằng nhằng quá. Xin tiếp tục cố nữa ạ!
            Đoàn trưởng cười:
           - Đùa vậy thôi. Mình hiểu cậu chứ! Bây giờ nói vào công việc đi!
           - Vâng, muốn báo cáo với thủ trưởng chuyện này - Tòng hơi cúi xuống, khuôn mặt thoáng nét buồn - Việc anh Mánh chết, tôi cũng đau lòng lắm chứ ạ. Có ai muốn thế! Khi quyết định cho tàu ra khỏi vòm đá, tôi cũng biết là liều, nhưng không thể khác được. Tàu đã lộ.Nếu chúng tôi chấp hành mệnh lệnh một cách cứng nhắc, thương vong chắc sẽ lớn hơn... Bây giờ mọi việc đã rồi và nghe đâu trên có ý định kỷ luật chúng tôi về hành động đó.
           - Mới có một vài ý kiến đề nghị. Đảng ủy chưa quyết định.
           - Tôi xin một nguyện vọng!
           - Cậu cứ nói.
           - Nếu trên xét kỷ luật, tôi xin nhận cả. Nếu con tàu ra khỏi vòm đá là khuyết điểm thì khuyết điểm ấy thuộc về tôi. Tôi chủ động và quyết định mọi điều. Tôi đã làm, tôi xin chịu trách nhiệm. Anh Đạm không đáng bị kỷ luật... .
           - Ghê nhỉ? Định làm một người hùng mai danh ẩn tích chăng? - Đoàn trưởng Tư nhìn Tòng bằng ánh mắt giễu cợt và ánh mắt ấy khiến Tòng bối rối, thoáng như xấu hổ. Đoàn trưởng nói tiếp - Và nếu hành động vừa rồi của tàu T.37 đáng được tuyên dương anh hùng thì cậu lại bảo rằng công lao thuộc về chính trị viên Đạm phải không?
           Khuôn mặt Tòng chợt đỏ. Anh lúng túng, miệng lắp bắp định nói câu gì nhưng không bật ra thành lời.
           "Cụ Tư ghê thật". Anh nghĩ và không dám ngước lên.
           - Cậu xoàng lắm! Đạm không thường như vậy đâu. Đạm cũng dám chịu trách nhiệm về hành động của mình chứ!
           " Đúng là mình xoàng thật! Ngu quá! Biết chuyện chắc anh Đạm phật lòng lắm. Sao lại coi thường anh ấy như vậy?"
           - Mà ai đã kỷ luật các cậu...
           - Vâng là tôi cũng cạn nghĩ vậy thôi... - Tòng không ngẩng lên, nói lí nhí. Đoàn trưởng nhìn vẻ luống cuống của người ngồi trước mặt, thấy hài lòng. Dẫu sao anh chàng cũng còn biết hổ thẹn với ý nghĩ đó cua mình.. Điều ấy đáng quý. Tòng về đoàn chưa lâu, nhưng ngay từ đầu ông đã có cảm giác tin con người này. Anh ta có thể vụng về nóng vội trong nhiều việc, song sự nóng vội đó không bắt đầu từ ý đồ cá nhân. Tự trọng và tự ái là hai khái niệm khác nhau. Những người biết tự trọng luôn có cái mặc cảm xấu hổ với những việc làm sai của mình. Những người mang động cơ cá nhân lại thường huyễn hoặc, đánh lừa mình và đánh lừa mọi người. Khi người ta đã không biết tự xấu hổ, người ta sẽ mắc rất nhiều khuyết tật. Khuyết tật lớn nhất là nói dối và điều ấy mặc nhiên như một thói quen. Sự nói dối xa lạ với con người đang ngồi trước mặt ông.
           Đoàn trưởng toan nói một điều gì để anh ta rõ được tình cảm của mình, nhưng ông biết con người này không thích sự vuốt ve.
           - Gặp đoàn chỉ để đề đạt ý định nhận mọi khuyết điểm về mình thôi sao? - Đoàn trưởng nói và Tòng nhận ra trong giọng nói ấy đã có sự cởi mở.
           - Báo cáo, còn một nguyện vọng nữa ạ! - Tòng ngẩng lên, khuôn mặt hớn hở - Báo cáo thủ trưởng đoàn, toàn bộ thủy thủ tàu tôi nhất trí đề nghị lên thủ trưởng cho được nhận nhiệm vụ . Cụ thể là xin được giao trách nhiệm chở vũ khí chi viện cho chiến trường. Hơn nửa năm nay tàu T.37 sống trong cảnh chờ đợi rồi...
           Tòng lần túi lôi ra một mảnh giấy gấp làm tư:
           - Đây là đơn có đủ chữ ký của mười chín anh em trong tàu gửi lên thủ trưởng đoàn.
           - Các cậu định làm reo đấy à? Cậu đầu têu việc này phải không?
           - Đó là nguyện vọng chung của anh em, tôi thấy hợp lý nên mới làm người chấp bút. Làm anh lính thuỷ mà chỉ biết neo tàu vào các vòm đá để trốn máy bay cũng ngượng chứ ạ!
           - Thế đấy, cả một tập thể biểu tình đòi nhận nhiệm vụ...
           - Còn một việc nhỏ nữa ạ!
           - Lại việc gì nữa thế?
           - Tàu chúng tôi cũng có tí vốn liếng nho nhỏ. Anh em muốn gửi về giúp gia đình anh Mánh, gọi là chút tình cảm quý mến của tàu đối với người đồng đội đã khuất. Xin ý kiến thủ trưởng đoàn.
           Tư nhìn Tòng. Giọng ông trìu mến:
           - Việc ấy mình ủng hộ. Nhưng cậu cần báo cáo để chính ủy rõ .
           "Sắp tới hắn còn nghĩ ra điều gì nữa đây?". Nhìn thân hình cao lênh khênh của Tòng hớn hở bước trên con đường đá dăm về cảng, đoàn trương Tư thấy vui vui. "Tay này nếu nhốt lại, không cho làm việc, chắc điên".
           Sương tan dần. Bầu trời sáng hơn. Hơi ẩm từ ngọn núi tỏa ra hăng hắc, lành lạnh.
           Chợt có một loạt đạn cao xạ từ đâu đó vọng lại và tiếng động cơ máy bay lướt nhanh trên ngọn núi. "Hôm nay chúng trinh sát sớm vậy?". Đoàn trưởng ngả người ra sau ghế. Ông hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, thấy dễ chịu hơn.
           Lấy thư vợ đọc lại lần nữa rồi gấp cẩn thận bỏ vào ngăn bàn, đoàn trưởng đi lên sở chỉ huy.
           Ở sở chỉ huy lúc này có mặt hầu hết cán bộ trong đoàn. Chính ủy Bùi Kim ngồi lặng lẽ như nán chờ đợi một cái gì.
           Căn phòng yên vắng.
           Gần trưa một sĩ quan tác chiến, người đầy bụi vội vã bước vào phòng:
           - Báo cáo, tàu T.67 đã quay trở về
           Mọi người dường như cùng lúc bật cả dậy.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 06 Tháng Bảy, 2009, 09:05:52 pm

19


           Lê lên đoàn nhận nhiệm vụ đã ba ngày, hẹn hôm nay về vẫn chưa thấy, khiến Lượng rất sốt ruột. Chẳng lẽ việc con tàu sẽ tiếp tục ra đi cấp trên còn cân nhắc lâu như vậy. Hay có gì trục trặc chăng? Từ hôm tàu phải quay về, Lượng rất buồn. Hôm đi cùng với Lê lên đoàn báo cáo, anh có cảm giác mấy tay thuyền trưởng và chính trị viên tàu bạn cứ nhìn mình. Xung quanh hình như có nhiều tiếng bàn tán: "Tàu của tay Lượng và Lê đi theo chiến thuật hình chữ "O" - Lại phải ậm ạch mang cái "bụng chửa" về à?... Họ đâu rõ hoàn cảnh cụ thể và cách xử lý cự thể của các anh! Buồn, nhưng trong anh vẫn nuôi mối hy vọng: Anh và con tàu T.67 chắc chắn được tiếp tục làm nhiệm vụ.
           Lượng đứng trên boong, ngóng vào bờ. Trời ngả về chiều. Mây lãng đãng vờn quanh đỉnh núi. Nắng nhạt, trời mỏng trên mặt biển.
           Gần tối Lê về. Chiếc thuyền con vừa cặp mạn, Lượng đã xô ra, hỏi ngay:
           - Thế nào, trên đồng ý chứ?
           - Có nhiều việc phải bàn gấp với anh đây - Lê bám dây, đu lên boong.
           Hai người vào buồng thuyền trưởng.
           Đám thủy thủ biết Lê về, đứng ngấp nghé ở cửa thấp thỏm ngóng chừng. Lượng quay lại, xua tay:
           - Nghe lỏm cán bộ hội ý là xấu, rõ chưa.
           Mấy tay "tham mưu con" nhìn nhau rồi lấm lét đi lên boong. Họ biết chính trị viên dạo này khó tính.
Lượng khép cửa, ngồi xuống mép giường:
           - Bao giờ nhổ neo? - Anh nóng lòng hỏi.
           Lê ngồi đối diện với Lượng:
           - Chờ con nước! - Lê nói - Ngày giờ ra đi chưa rõ. Trên lưu ý anh em mình, tình hình địch căng, nơi ta vào chúng vừa điều về một giang đoàn. Bọn này mới thành lập nên hăng hái sục sạo, và đang máu mê chiến tích. Mấy bữa vừa rồi anh em trong đó ngóng ta suốt. Ám hiệu nhận nhau không đổi.
           - Sao trên không cho nhổ neo sớm. Chờ tới bao giờ? Chật cứng cả một tàu đầy đạn, chẳng may "ăn" phải quả rốc két là đi tong hết. Các ông trên không tính tới chuyện đó. Anh em thủy thủ thì nóng ruột. Mấy hôm nay nhấp nha nhấp nhổm mong thuyền trưởng đi họp về để biết tình hình. Đó, họ đang bàn tán, đoán già đoán non trên boong.
           - Nhưng, còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện chứ anh! Trước mắt, ta có mấy việc làm gấp anh ạ - Lê nói.
           - Tôi cũng nghĩ là những ngày tới sẽ bận - Lượng xoay người về phía Lê - Tôi đã lệnh cấm từ nay không được một ai lên bờ. Cận ngày đi, để anh em la cà trên phố rồi hối không kịp.
           - Thứ nhất, cột giả giá lưới đánh cá quá cao làm mất độ ổn định của tàu, phải tìm cách hạ thấp xuống. Có thể sắp tới ta vẫn gặp sóng gió - Lê vẫn nói theo ý nghĩ của mình - Thứ hai là phải sơn lại tàu, kẻ lại biển số, bố trí lại mặt boong. Trên báo rằng chuyến đi vừa rồi, máy bay Mỹ đã chụp ảnh tàu ta. Vì vậy phải cải dạng theo kiểu khác. Rồi cho người đi nhận thực phẩm, chuẩn bị lấy nước, lấy dầu. Và vẫn phải ngụy trang tàu kín hơn nữa... Những việc đó cần khẩn trương. Ngày nhổ neo chắc cũng gần thôi.
           Lượng im lặng. Người hơi lắc lư: "Tất cả những việc ấy huy động anh em làm trong vài ngày là xong".
           Tối đó Lượng cho họp. Anh phổ biến và phân công việc cho từng bộ phận, rồi về phòng mình. Anh có ý định ngủ sớm, đã mấy đêm nay hầu như không chợp mắt. Ngày mai có bao công việc đang đợi.
           Bóng tối phủ đặc mặt nước. Những ngọn núi nhoà trong màu đen của biển. Sóng đưa vào mạn ì cặp. Con tàu dập dềnh nhè nhẹ. Đâu đó như có tiếng bom ì ầm vọng lại và thoáng có tiếng ù ì cửa động cơ máy bay.
           Lượng nằm yên, lắng nghe những âm thanh từ xa vọng tới. Anh có cảm giác như mình trôi trên một vùng biển lạ .
           Phòng thủy thủ, mọi người cũng chưa ngủ. Tiếng nói chuyện nghe mỗi lúc một rõ. Hải cười lúc búc:
           - Tớ hả? Tớ đếch mong thư ai cả. Vợ mình không có thời gian tắm cho ba ả thị tẹt, lấy đâu ra sự rỗi rãi mà viết thư. Các tướng tưởng chăm ba đứa con nhàn lắm hả?
            - Ai bảo anh tham, đẻ nhiều? - Giọng Linh khiêu khích.
            - Vâng, còn đời các bố đấy? Lấy vợ rồi lại không sòn sòn như gà, cứ mang đầu tớ ra mà chặt.
            - Phải biết cai chứ?
            - Cai! Chờ đấy mà cai. Đi biền biệt, vài ba năm mới về thăm bu cháu một lần, có mà cai cái cóc khỉ.
            - Lấy vợ phải chọn tiêu chuẩn gì đầu tiên, anh Hải? - Cang hỏi.
            - Làm vợ phải biết... sợ ma!
             Mọi người bật lên cười.
            - Sợ ma cũng còn khá hơn những kẻ say sóng - Cang phản kích, thủy thủ đếch gì mà chưa trông thấy biển đã nôn? Cứ như con rệp khô dính trên giường. Lần sau đi biển, đề nghị thuyền trưởng sắm cho cái túi ni lông mà đeo như cái rọ treo ở miệng con bò ấy.
           - Em cũng là một phương thuốc chống say đấy các bố nhé - Linh tham gia - chứ không à? Mình nghiệm ra thế! Hễ nghĩ đến người yêu là cậu nào, dù úa héo tới đâu cũng tươi tỉnh lên ngay. Sở dĩ cậu Mừng nhà ta là vua say sóng bởi chưa có em nào để mà nhớ, để mà nghĩ lúc sắp say. Đúng vậy không Mừng? Trước khi làm thủy thủ, phải yêu đã.
           - Xì! Đã say sóng thì đếch có thuốc nào chữa được ráo. Em mà nằm trong bụng cũng cứ nôn ra tuốt.
           - Ha ha! - Tiếng cười vang khoang tàu.
           - Lúc nãy là mình nói đùa, chứ tiêu chuẩn người vợ của cánh lính như chúng ta, trước tiên là sự chung thủy. Lòng chung thủy, rõ chưa? Lênh đênh trên biển có trăm thứ phải lo: lo bão, lo say sóng, lo gặp địch, lo không vào được bến...lại còn cộng thêm nỗi canh cánh về sự không chung tình của vợ nữa thì thà sống quách một mình cho sướng cái thân đời.
           - Anh Hải nói chí phải!
           - Cậu thì biết đếch gì mà cũng chõ vào. Mảnh tình vắt vai chẳng có.
           - Điều cần nhất là lòng chung thủy! Đồng ý!
           - Chung thủy!
           
           Lượng trở người, cố nén tiếng thở dài. Anh toan quát một tiếng, nhắc mọi người đi nghỉ, nhưng lại nằm im. Anh nghiêng người, xoay mặt vào vách. Lòng chung thủy! Phải, tiêu chuẩn đầu tiên của người vợ là lòng chung thủy! Lượng nhắm mắt, cố ngủ. Nhưng những hình ảnh của quá khứ bấy lâu anh chôn chặt, bỗng chờn vờn hiện ra. Và đôi mắt người đàn bà ấy lại tự dưng nhìn anh, rõ thế. Bao năm rồi, tưởng đã quen được, vậy mà sao ánh mắt ấy vẫn cứ ám ảnh anh? Cuộc đời thật chẳng dễ dàng một điều gì...
         
          ...Khi anh quyết định lấy cô ta, đã không ít người gàn. Nhưng anh bỏ ngoài tai hết, mặc dù không sao trả lời được câu hỏi: cớ gì Đào muốn làm vợ mình? Anh biết hồi đó trong làng phải đến trên dưới nửa tá đàn ông theo đuổi cô gái mắt đen, sắc như lưỡi dao cau, trắng trẻo, mỡ màng, lúc nào cũng nẩy phây đầy sự quyến rũ này. Trong số đó, có người giàu có, dư của ăn của để, khối người có địa vị và cũng khối kẻ sẵn sàng suốt đời làm nô lệ cho Đào. Nhiều người giải thích: "Vì mày dễ dãi cả tin, lấy mày để nó dễ bề "đây đó" chứ sao?". Lượng không tin, và điều này như một chứng minh: Cưới nhau xong, vợ chồng anh sống hạnh phúc, biết chiều nhau và cặp kè như sam. Tuy vậy lúc bấy giờ vẫn có người, chẳng rõ vì thực tình ái ngại cho anh hay vì ghen ghét đã bảo thẳng: "Không biết giữ, có ngày mất  vợ. Đâu có loại dàn bà gặp anh đàn ông nào cũng ưỡn ẹo liếc nhìn lẳng lơ như ả Thị Mầu...". Anh tặc lưỡi: "Ôi dào, miệng thế gian...". Anh biết làm vừa lòng vợ và nghĩ rằng đã là vợ chồng thì phải tin nhau.
           Khi Lượng có ý định nhập ngũ, Đào một mực không thuận. "Anh đừng đi, nếu họ bắt tù tội thì em nuôi. Cớ gì để vợ vò võ một mình?". Anh nghĩ rằng người vợ nào thương yêu chồng, lúc xa cách chẳng biểu hiện như vậy, nên lấy làm vui.
           Đêm trước ngày lên đường, Đào quàng tay ôm lấy anh, thút thít khóc và không rõ đùa hay thật, bảo: " Anh đừng đi, em sợ mình không giữ được cho anh. Anh mất vợ đấy!". Coi Đào vì quá yêu mình mà dọa thế, anh mắng: "Bậy nào, đi rồi về, chứ chết hẳn".
           Hai năm sau anh về, Đào đã hai lần phá thai. Không đợi nghe lời xì xào nhỏ to cửa người ngoài, ngay đêm phép đầu tiên, Đào đã thú hết tất cả. Chị chàng còn trách: "Tại anh cả. Con gái có thì, anh biền biệt thế, ai chịu được".
           Lượng choáng váng. Anh có bực, anh có tức, anh cảm thấy cay đắng. Nhưng rồi lòng vị tha, bao dung đã thắng. Anh bỏ qua. Với nữa, những kỷ niệm êm đẹp sống với Đào hồi mới cưới khắc đậm trong anh, không quên được. Chuyện cũng đã qua, bới ra chỉ thêm xấu.
           Lần thứ hai anh về, người vợ rất chịu ơn, khóc lóc và tỏ ra ân hận, hứa hẹn nhiều điều trước ngày trả phép lần thứ nhất, đã bất chấp dư luận, bất chấp luật pháp, công nhiên đến sống chung với lão thợ may lớn hơn cô nàng mười lăm tuổi ở đầu phố chợ, như vợ, như chồng.
           Lượng những tưởng sự độ lượng của mình lần trước khiến con người tội lỗi ấy ăn năn, biết điều và tu tỉnh lại, ai ngờ cô ấy trơ trẽn, không còn biết xấu hổ là gì nữa.
           Nỗi đau ngoài sự suy nghĩ trung thực, đôn hậu của anh khiến Lượng choáng váng. Con người trầm tính, kín đáo ít bộc lộ tình cảm ra ngoài ấy không tự chủ được, rũ xuống như một tàu lá héo. Đêm đêm anh đi vẩn vơ ngoài cánh đồng như một kẻ tâm thần. Chẳng phải anh nuối tiếc người đàn bà ấy, mà anh ngẫm nghĩ về sự đời.
           Nhưng người đàn bà đó đâu đã tha anh.
           Vào một đêm tối trời mưa gió đùng đùng, chị chàng lách tới nhà. Chị ta vật vã khóc lóc, tự nhận hết mọi lỗi lầm, van vỉ anh tha thứ và đưa cả cái chết ra thề thốt. Người đàn bà bảo rằng chị ta sống không thể thiếu anh, rằng tội lỗi đã rõ ấy, anh muốn trừng phạt thế nào cũng cam, nhưng xin đừng bỏ rơi chị ta.
           Lượng biết tình cảm của người đàn bà lúc này rất thật song không rõ sao anh lại dửng dưng, nguội lạnh như thế. Anh trơ ra. Đào cứ gục vào vai anh khóc sướt mướt và một điều không ngờ xảy đến: đôi mắt long lanh của người đàn bà bỗng ngước lên nhìn Lượng, hai cánh tay trần, trắng nần nẫn bất ngờ quàng lên cổ anh và chị ta run run cầu khẩn xin được ở lại đây với anh đêm nay. Chị ta bảo rằng chị không đủ sức nhìn anh đêm đêm như một bóng ma tiều tụy thơ thẩn ngoài ruộng. Chị thương anh và...
           Lượng bàng hoàng. Anh vụt đứng dậy. Đôi mắt người đàn bà rực lên khiến anh bối rối. Trong một lúc, anh đờ đẫn như người mất hồn. Anh lờ mờ nhận ra hương sả, hương nhu, mùi lá thơm từ mái tóc đang xoã trên ngực mình. Anh lịm đi. Nhưng ý thức về cuộc sống, về những gì trong lành; ý thức về sự phũ phàng của những ngày tháng qua và một cái gì như thể lòng tự ái thôi thúc anh. Anh dứt ra khỏi đôi cánh tay mềm mát, trắng tròn, thơm tho và như một ngươi đang trong cơn mê, anh hoảng hốt vùng chạy ra sân. Trời vẫn mưa xối xả.
           Mờ sáng hôm sau. Lượng khoác ba lô, âm thầm trốn khỏi làng.
           Từ bấy đến nay anh chôn chặt chuyện riêng tư. Nếu có nhu cầu tâm sự, anh cũng chỉ dừng lại ở câu chuyện phụ tình mà thôi.
           Sự mất mát lặng lẽ, ê chề khiến Lượng trở nên bẳn tính và hay nóng nảy mỗi khi gặp điều gì quá căng thẳng.
           Tuy vậy mỗi lần buộc phải nhớ lại chuyện cũ, chưa bao giờ Lượng nghĩ xấu về hành động của người đàn bà nọ trong cái đêm mưa gió đó. Trong thâm tâm, anh vẫnnghĩ ràng cô ta không có ý định thủ đoạn, lợi dụng tìm kiếm cho mình điều gì cả. Chỉ thương anh thực lòng và trước lúc biết rằng phải xa hẳn anh, chị muốn bù đắp bằng cái mà người phụ nữ có thể có được.
           Chuyện đã khá lâu, nhưng vết thương không lên da non để thành sẹo, mỗi lần có cái gì phạm tới, dù khẽ, anh lại đau, lại suy nghĩ và buộc phải nhớ đến... "Ừ, có lẽ tại cái số của mình nó vậy. Trong làng trong xã, bao nhiêu người đi bộ đội, vợ ở nhà vẫn chung thủy, đảm đang. ông Lung đầu làng, cưới vợ được ba hôm thì đi, năm sau có tin mất tích, bà vợ vẫn chớ vẫn đợi. Bà Tính vò võ bảy năm vừa nuôi con, vừa nuôi bố mẹ chồng, không một điều tiếng...vậy mà mình !!! .... " .
           Lượng thở dài. Đôi mắt mở to nhìn ra mảng đen qua khung cửa sổ vài ngôi sao li ti, mờ nhạt.
           Bên buồng thủy thủ đã yên lặng. Từ phía đó phát ra  tiếng thở đều đều. Chắc mọi người đã ngủ ngon.
           Phía ngoài, gió lùa vào những hốc núi ù ù nghe mơ hồ như tiếng xay thóc. Đâu đó, chắc trên đỉnh núi, có tiếng tác của con thú đi ăn đêm. Và hình như có tiếng vỗ cánh của con chim nào đó bay qua. Sóng vẫn vỗ vào mạn đều đều. Về khuya nghe càng rõ.

          ... Mấy ngày sau, vào một buổi chiều, chính ủy Bùi Kim trực tiếp xuống trao nhiệm vụ cho tàu T.67. Ông không nhắc lại chuyện cũ. Ông chỉ dặn một số điểm cụ thể để ứng xử trong những trường hợp khó khăn. Trước khi về, ông siết chặt tay chính trị viên Lượng và thuyền trướng Lê:
          - Thủ trưởng và Đảng ủy đoàn rất tin ở các bạn. Bọn mình chờ tin thắng lợi.
          Và ngay trong đêm ấy, con tàu được lệnh nhổ neo, lặng lẽ trườn qua mặt vịnh, ra biển.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:11:30 pm

20


           Đêm cuối năm, sương mù xuống nhanh và trời se se lạnh. Thị trấn Thương Long nhập nhoà dưới ánh sáng của hàng chục ngọn đèn măng sông treo trước các cửa hiệu, hàng quán. Những ngôi nhà hai tầng, một tầng đủ dạng kiểu, cái nhô ra, cái thụt vào, cái cao, cái thấp ken sát vào nhau. Nhìn qua cũng có thể biết nơi đây phồn thịnh lên chưa lâu. Tiếng nhạc nhoà nhợt tràn ra phố. Các quán nhậu đã vãn người. Thỉnh thoảng vài ba tên lính bá vai nhau, từ trong quán xiêu vẹo bước ra, ngất ngưởng đi về phía đồn Vạn Hải, bên mép biển. Trong chợ, mấy cô gái son phấn loè loẹt, áo thun ngắn mặc hở bụng, quần loe quét sát đất lởn vởn lượn qua lượn lại đón khách.
           Sắp tới giờ giới nghiêm.
           Một người vận đồ quân cảnh cưỡi hon đa 90, mở hết tốc độ tắt qua mé chợ đi ra con đường dẫn xuống mép biển. Ngồi sau người ấy có cô gái trạc hai hai, hai ba, mảnh dẻ khuôn mặt xinh xẻo, bận áo bà ba đen. Đó là Ba Huỳnh, người phụ trách việc đón hàng đêm nay và Sáu Thùy, chiến sĩ trong đội công tác của ông.
           Chiếc hon đa rú ga ầm ào, nhảy chồm chồm trên con đường gồ ghề. Sáu Thùy bám chặt vào Ba Huỳnh, cả hai đều im lặng.
           Ba Huỳnh chừng năm mươi tuổi, dáng cao, to, da mặt sạm đen. Người thô, khuôn mặt vuông, miệng rộng. Vậy mà trông ông hiền khô. Ông hoạt động ở vùng này đã khá lâu, lúc hợp pháp, lúc giấu mặt. Mọi người trong đội công tác thường trìu mến gọi ông là bố, bởi Ba Huỳnh có cậu con trai năm nay khoảng hai lăm, hai sáu tuổi, ông gửi theo người bạn đi tập kết ra Bắc từ năm 1954 và nghe nói hiện nay cũng làm cán bộ chỉ huy tàu. Đã bao lần nghe tiếng còi tàu từ biển dội tới, ông nôn nao. Lần này được cấp trên giao cho việc tổ chức bến chuẩn bị đón tàu từ Bắc chở vũ khí vào, ông vừa lo, vừa mừng lại vừa thấp thỏm. Cuộc đời có thể có những sự ngẫu nhiên bất ngờ: biết đâu thằng Xuyên, con trai ông chẳng đưa tàu vô? Chỉ nghĩ đến thế, ông đã thao thức không ngủ. Ông chỉ có mình nó, sau kháng chiến chín năm, đã ngờ rằng mình sẽ cùng vợ con tập kết ra ngoài đó. Mọi sự chuẩn bị đã xong, ai ngờ trên đường đi, bà vợ kẹt lại. Ông đành phải lộn về tìm. Mà cái cớ khiến bà kẹt lại mới vớ vẩn chớ? Chỉ vì nhảy xuống mua quà cho bố con ông, nên nhỡ xe. Khi lộn lại đưa được vợ tới Quy Nhơn thì thằng con ông đã xuống tàu cùng Năm Hớn,  người bạn hoạt động với ông trên huyện, đi ra Bắc. Và ai lường đó lại là chuyến tàu cuối cùng chở những người tập kết. Ông an ủi, dỗ dành vợ và đưa bà về quê. Ít lâu sau ông lên cứ, tiếp tục hoạt động. Cuộc đời hoạt động cách mạng thật nhiều điều lý thú. Ông có ngờ đâu mình lại trôi giạt tới mạn này và được tổ chức phân công nắm tình hình vùng Hòn Hàng...
           Cả vùng Hòn Hàng biết tiếng Ba Huỳnh và thêu dệt nhiều giai thoại về ông. Người ta đồn rằng ông là một tay xuất quỷ nhập thần, có tài biến hóa như Tôn Ngộ Không. Lại có thể bắn bách phát bách trúng, và ra vô đồn địch giữa ban ngày như đi chợ. Việc đồn đại ấy có cớ. Quả ông đã làm bọn địch đóng trong vùng phải kiềng mặt. Năm ngoái, đúng lúc giao thừa, trong bộ quần áo sĩ quan ngụy, ông đột nhập tiệm nhảy Hoa Long, nơi bọn tướng tá Mỹ, ngụy và bọn công chức vai vế trong vùng tập trung ăn nhậu, đàn đúm đón tết. Khi tên thị trưởng đang ba hoa, trộ dọa trước bọn đàn em và trước mấy ả ăn mặc nửa kín nửa hở thì Ba Huỳnh nhảy lên đứng ngay trên bàn tiệc. Bọn này chưa kịp ngạc nhiên thì ông giáng mạnh chai rượu vào giữa mặt tên thị trưởng rồi vọt ra cửa, tung tiếp mấy quả lựu đạn. Tiệm Hoa Long thất đảm. Bọn sĩ quan và đám gái Thiên Nga đạp lên nhau, la hét om sòm. Thị trấn Thương Long náo động. Lính đổ ra kín đặc vây suốt đêm giao thừa và cả ngày mồng Một tết. Hôm đó thật may, Ba Huỳnh chỉ bị một viên đạn xuyên qua bắp vế. Từ đó ông đi hơi lệch người.
           ... Chiếc hon đa vẫn lùi lũi lao đi. Tới ngã ba, xe giảm tốc độ, rẽ sang trái. Lộ nhỏ, nhưng mịn, toàn cát xe đi êm. Mặt biển mù sương hiện ra. Gió phả vào mặt Ba Huỳnh ẩm mặn, tanh tanh. Hương vị quen thuộc khiến ông nôn nao.
           Tới bên ngọn đồi nhô ra biển, xe dừng lại.
           - Chú Ba hả? - Có tiếng người đội phó hỏi - Sương mù xuống dày quá mà. Nhìn ra không thấy chi hết.
           - Chuẩn bị xong cả rồi chớ, Quế?
           - Tất cả đã sẵn sàng. Hai tiểu đoàn của quân khu ém sẵn bên kia ngọn đồi, chờ tàu vô là nhận vũ khí luôn. Tổ công tác đã triển khai theo đúng ké hoạch.
           Ba Huỳnh nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đeo ở tay:
           - Ta ra mép nước! - Ông bảo.
           Mặt biển đầy sương, mịt mù. Sương cồn lên, lấn vào trảng cát, phủ kín mọi người. Cách vài ba mét đã không nhìn rõ nhau. Trên những chiếc xuồng gối đầu lên bãi, tốp du kích lo lắng xì xầm bàn tán. Chốc chốc, ánh đèn pin lại rọi ra phía biển, chớp lên ba lần.
           - Sương mù quá trời mà, chú ba - Một người lên tiếng khi Ba Huỳnh lại gần - làm sao tàu nhận ra tín hiệu mà vô?
           Ba Huỳnh không trả lời, ông ngồi xuống cát, châm thuốc hút, mắt đảo về phía đồn Vạn Hải cách đó không xa. Đồn Vạn Hải cũng bị chìm trong sương mù, nếu không có ánh đèn pha cách vài ba phút lại lóe lên rà đi quét lại thì thật khó nhận .
          - Việc cảnh giới sao rồi, Quế? - Ba Huỳnh hỏi.
          - An tâm mà chú Ba. Động là biết liền.
           Ba Huỳnh quay sang Sáu Thùy:
          - Đo mức nước thử coi, Sáu!
           Cô gái đẩy chiếc xuồng xuống nước, nhảy lẹ lên. Cô đưa cây sào đã khắc vạch làm thước, cắm xuống.
          - Không mét bảy!
          Mọi người im lặng chờ đợi. ánh đèn pin không ngừng phát tín hiệu.
          - Không mét chín! - Tiếng Sáu Thùy đọc to.
          Ba Huỳnh bập từng hơi thuốc, khuôn mặt bất động. Ông đã thật sự lo lắng. Sương mù này làm sao tàu lách qua núi Một, qua eo Lồng Cú? Làm sao nhận ra "bến" mà vô? Đến người rành luồng lạch trong vùng, trời trong, vô còn khó.
          - Một mét chẵn!
          Chẳng lẽ lần này lại đón hụt như lần trước? Hai tiểu đoàn của quân khu đang háo hức chờ vũ khí, ém sau đồi. Nếu sương mù cứ dày đặc mãi thế này thì tính sao? Hồi chiều, khi liên lạc của quân khu xuống cho biết tàu bắt đầu chuyển hướng vô bờ, Ba Huỳnh đã khấp khởi mừng. Thế là mọi việc coi ra suôn sẻ. Tình hình bến cũng êm.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:20:19 pm

           Cơ sở cho biết có hai mươi bảy xe tăng địch về hồi sáng nhưng trên cân nhắc và cho rằng đó là hành động thường xuyên của chúng, không có gì đáng ngại, cứ điện báo lên để tàu vô.
          - Một mét ba! Nước đang cường mạnh.
           Vậy mà ông trời dở chứng dăng mù kín biển, thiệt tai ác!
          - Sắp tới giờ thủy triều đứng đó chú Ba, quá giờ hẹn gần hai tiếng rồi. - Có tiếng ai đấy nói phía sau.
           Ba Huỳnh đốt điếu thuốc nữa, bước ra mép nước.
           Ông đứng lặng ngó vào sương mù hồi lâu. Xa xa, tiếng đi bác ầm ĩ vọng lại, nghe khá rõ. Và trên lộ Một, vẫn tiếng động cơ ôtô nhà binh.
           Một cô gái từ trên bãi cát hớt hải chạy xuống mé biển.
           - Chú Ba đâu, các anh? - Cô hỏi vội vã.
           Ba Huỳnh quay lại:
           - Chi đó, Mười?
           - Dạ, báo cáo chú - Cô gái thở hổn hển - anh Hiến từ trong đồn ra báo cho biết mọi việc đều êm. Không có triệu chứng chi chứng tỏ bọn địch biết tàu vô và bộ đội mình về lấy hàng. Còn xe tăng chúng về là để mai mốt càn trên Chà Lá.
           - Biểu thằng Hiến cứ tiếp tục nghe ngóng, có chuyện chi phải tìm cách ra báo liền, hí?
           - Dạ!
           Cô gái biến vào sương.
           Sóng đã lặng. Nhưng dường như sương mù càng dày đặc thêm.
           - Một mét tư năm phân. Nước bất đầu đứng! - Tiếng Sáu Thùy thất vọng cất lên.
           Ba Huỳnh cảm thấy choáng váng. Ông căng mất nhìn ra, vẫn mịt mùng, vẫn không có tín hiệu nào chứng tỏ tàu vào. Trước mặt là một khối hơi nước khổng lồ trắng đục. Vài tiếng nữa nước xuống và kế hoạch bị phá vỡ hoàn toàn.
           Mọi người cùng đứng nhìn ra biển. Im lặng.
           - Anh Quế! - Chợt Ba Huỳnh gọi - Cho thực hiện phương án hai.
           - Toàn đội thực hiện phương án hai! - Đội phó Quế nhắc lại, cố ghìm để tiếng nói của mình đừng quá to - Tổ một đi về hướng bắc, tổ hai toả ra hướng nam. Còn lại hướng về phía núi Một. Đã nhớ ám hiệu, mật hiệu cả chưa?
           Những chiếc xuồng được đẩy nhanh xuống nước. Một lúc sau, tất cả đều tan biến trong sương mù.
Chiếc xuồng đi về hướng núi Một có hai người. Sáu Thùy ngồi phía trước, đội phó Quế ngồi chèo phía sau.
Cả hai đều cố giỏng tai nghe ngóng.
           Chợt Sáu Thùy khẽ reo lên:
           - Anh Quế, hình như có tiếng máy tàu!
           - Hả? Hướng mô?
           - Tay mặt! Phía bên tay mặt!
           Quế lái mũi xuồng chếch sang phái, buông mạnh mái chèo. Trước mặt vẫn mịt mùng.
           - Đúng có tiếng máy nổ, nghe rõ không anh Quế?
           - Rồi!
           - Em bấm đèn nghe?
           - Đừng vội! Trúng tàu địch là đi đứt đó.
           Chiếc xuồng lướt nhanh về phía có tiếng máy tàu.
           - Đúng tàu anh em mình mà! Tàu địch thì nó trưng đèn, bật pha chớ đâu chịu mò mẫm ri?
           - Bấm tín hiệu coi!
           Chiếc đèn pin trong tay Thùy loé sáng ba lần. Từ phía trước, cũng có ba vệt sáng đùng đục đáp lại.
           - Đúng ám hiệu rồi! Đúng ám hiệu rồi!
           Sáu Thùy cuống quít nhấp nhô trên xuồng. Rồi cố cúi rạp xuống, lấy tay khỏa nước.
           Lát sau, trước mũi xuồng lờ mờ hiện ra một khối đen lẫn trong sương.
           Sáu Thùy đứng dậy chụm tay làm loa gọi với:
           - Trên tàu có mực tươi, cá khô đổi dừa không?
           - Bao nhiêu một ký dừa? - Tiếng Tám Thạnh đáp lại - Đổi cá chứ?
           - Cá gì?
           - Chim, thu, nhu, đé, đổi bằng tiền.
           - Trời ơi, anh em mình thiệt rồi! - Sáu Thùy mừng run cả người. Cô luống cuống vục tay xuống nước, đẩy xuồng đi, miệng giục - Xáp vô, xáp vô, lẹ lên anh Quế.
           Chiếc xuồng trườn tới, áp sát mạn tàu. Sáu Thùy kêu to :
           - Các anh ơi! Các đồng chí ơi, mạnh cả chứ? Trời ơi thiệt là tàu mình, mong các anh đỏ con mắt. Anh Quế ơi, thiệt rồi nè! - Và cô cười, hai giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má. Một lát, Sáu Thùy ngước lên boong tàu, giọng run run:
           - Các anh, có ai đó nói lên một tiếng coi. Sao vô chậm rứa?
           - Trời mù quá mà, cô. Bến yên chứ? - Trên tàu có tiếng hỏi.
           - Bây giờ các anh cho tàu rẽ tay phải nghe. Nước bắt đầu xuống đó.
           - Có vào được không?
           - Vô được! Chu cha, tàu của mình to quá, đẹp quá ha. Vô được đây các anh giỏi thiệt. Có ai tên Xuyên không đó?
           - Người yêu đồng chí à? Không có đâu. Bây giờ đồng chí chèo xuồng đi trước, bấm đèn rọi về phía sau, chúng tôi sẽ theo.
           - Dạ ! - Cô đưa tay gạt nước mắt, quay lại bảo Quế - Ta vô thôi, anh!
           
            Đội phó Quế như người chợt tỉnh, cho xuồng quay mũi, chèo mạnh. Sáu Thùy cũng vục nước cho thêm nhanh. Con tàu lì rì bám phía sau. Trên tàu, mọi người như trút được gánh nặng. Gặp "bến" ra đón, mừng hết chỗ nói. ông Tám Thạnh và tốp thủy thu đứng trên boong nhìn theo chiếc xuồng. Trong buồng lái chỉ còn Lượng, Lê và Xuân.
           Lúc này Lê mới thấy thư thái. Từ lúc mù dăng khắp biển, anh đã sợ hãi nghĩ đến chuyện phải neo tàu lại.  Nhưng ông Tám Thạnh không nghe. Ông quả quyết:
           - Tới vùng này, mày để tao! Tao nói vô được là vô được!
           Và ông thực là một hoa tiêu tài giỏi. Hình như ngoài giác quan của con người bình thường, ông còn có thêm một giác quan nào khác nữa. Sương chắn tầm nhìn mà ông vẫn bình tĩnh đưa tàu lách luồn qua những mỏm núi an toàn.
           - Sang phải, vậy, phải nữa. Trước mắt là bãi cạn đó, quẹo hết lái sang phải.
           Nhìn ông điều khiển cho tàu vào, Lê có cảm giác như ông nhìn thấu xung quanh.
           Bây giờ thì mọi việc xem ra đã ổn. Từ đây tới vị trí thả hàng chắc không còn xa.
           Chừng nửa tiếng sau, con tàu đang đi chợt rùng lên, chững lại.
           - Mắc cạn!
           Lê hốt hoảng hô, rồi nhoài ra khỏi buồng lái. Mọi người lo lắng đứng ngóng xuống mạn tàu. Nhưng phía dưới chỉ thấy sương và sương.
           Con tàu loay hoay, tiến, lùi, xoay ngang, xoay dọc nhưng không sao ra khỏi cái bãi cái đã bồi, lên phục ở đấy
           Chiếc xuồng của Quế và Sáu Thùy quay lại.
           - Từ đây vào bờ còn xa không? - Lê hỏi.
           - Chừng cây số rưỡi! - Quế đáp.
           - Cho tôi vào gặp ban chỉ huy bến!
           - Anh cứ xuống xuồng!
           Hội ý nhanh với Xuân và Lượng, Lê vội vã theo xuồng của Quế và Sáu Thùy vào bờ.
           Quế và Sáu Thùy đưa Lê tới gặp Ba Huỳnh. Ban đầu Lê sững lại, chột dạ: trước mắt anh là một quân cảnh ngụy. Nhưng anh nhanh chóng hiểu ra và trấn tĩnh lại. Quế giới thiệu Lê, Ba Huỳnh liền nhào tới, dang đôi cánh tay to khỏe của mình ôm lấy anh:
           - Trời đất, thiệt sung sướng. Như thể trong mơ, hí. Ngóng các anh vô hết nước hết cái... Vậy là có vũ khí thiệt rồi! Có vũ khí thiệt rồi! Các anh trên tàu mạnh cảchớ, chú? Mà chú tên chi?
          - Dạ, Lê !
          - Thằng con trai tui cũng trạc tuổi chú. Chà, thuyền trưởng mà trẻ quá ha !
           Hai người ngồi bệt xuống cát.
          - Trời sắp sáng, nước thủy triều xuống thấp, tàu bị cạn không thể vào tới nơi quy định được, phải neo cách bờ một hải lý - Lê lo lắng bảo - Ta lấy hàng sao đây?
          - Sẽ chuyển hàng bằng thuyền, bằng xuồng. Bọn tui đã tính tới trường hợp đó. Vô tới bờ có lực lượng nhận, không lo. Bốc xong hàng ta sẽ hủy tàu, hí. Chà, sương mù làm lỡ cả kế hoạch.
          - Hủy tàu à? - Lê ngần ngừ - Chuyện hủy tàu tính sau. Cần phải có đủ thuyền, đủ xuồng để nhận hàng thật nhanh. Thời gian không còn mấy. Việc đưa hàng xuống thuyền, anh em thủy thủ sẽ đảm nhận.
          - Ta cho làm ngay chớ, thuyền trưởng!
           Ba Huỳnh quay sang nói với Sáu Thùy:
          - Anh em ngoài Bắc vô, đang mệt. Mi gọi thêm mấy đứa rồi nấu nồi cháo thiệt bự, có bao nhiêu thịt thà, gà qué của đội cho vô hết, rồi chở ra tàu. Còn Quế cho người tới báo với hai tiểu đoàn của quân khu ra nhận vũ khí gấp.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:29:13 pm

           Công việc được triển khai nhanh chóng. Tất cả xuồng, thuyền đều tỏa xuống mặt nước. Lúc này sương mù lại trở thành đồng minh của những người vận chuyển. Thuyền, xuồng - xuồng, thuyền hối hả ra tàu, hối hả vào bờ. Mái chèo thi nhau khua động mặt nước.
          Trên bờ, anh em bộ đội giải phóng thuyền, xuồng khẩn trương. Thuyền vừa cập bãi, súng đạn dược bốc lên ngay rồi chuyền nhau, đưa về sau ngọn đồi. Một người luống tuổi, vừa nhận hòm đạn từ tay Quế, chợt sững lại một lúc, rồi nghẹn ngào bật khóc:
          - Vũ khí! Anh em ơi, chúng ta có súng. Có đạn thiệt rồi!
           Và ông quỳ xuống, ôm hòm đạn vào lòng.
           Ở ngoài tàu, không khí lấy hàng sôi nổi. Thủy thủ bỏ từng hòm đạn xuống. Du kích đứng trên thuyền đỡ lấy xếp vào thuyền. Thuyền nào đầy vội chèo đi liền. Người trên tàu không nhìn rõ người dưới thuyền, người dưới thuyền không rõ người trên tàu. Họ chỉ nghe tiếng nói của nhau. Vừa làm, mọi người vừa chuyện trò rôm rả.
           Cô Mười ngước lên đỡ hòm đạn từ tay một thủy thủ, cất tiếng hỏi:
          - Nè, anh thứ mấy?
          - Tôi con một!
          - Ủa, má đẻ ít vậy sao anh Hai? Em thứ chín trong nhà đó. Anh tên chi?
          - Tôi tên là Cang. Tên xấu phải không? Còn cô tên gì?
          - Đã biểu em thứ chín mà? Cang à? Bộ anh còn ít tuổi ha?
          - Ít tuổi? Sao cô biết?
          - Nghe giọng còn con nít mà!
          - Con nít lại biết làm thủy thủ? Cái cô này...
          - Dễ chừng em hơn tuổi anh đó nghe. Tàu ra, anh cho em theo với.
          - Làm sao đi?
          - Bộ anh không thích gái khu Năm sao?
          - Thích! Nhưng phải chờ thống nhất.
            Có tiếng giục:
          - Đi thôi Mười, thuyền đầy rồi!
           Cô gái và con thuyền nhòa trong sương. Tiếng cô vọng lại:
          - Chuyến sau anh lại vô nghe, anh Cang.
            Ở mạn bên, nhiều tiếng trò chuyện lao xao:
          - Chớ chú quê đâu ta?
          - Cháu ở Bắc Ninh, nơi hay hát Quan họ đấy.
          - Nè cháu, chợ Thương Long còn không?
          - Dạ còn, chú biết chợ Thương Long?
          - Dịp này vẫn sẵn cá chớ?
          - Dạ, cũng không sẵn lắm. Có bao nhiêu, ôtô nhà binh vét đưa lên tỉnh ráo trọi.
          - Cháu con nhà ai đó?
          - Ủa, chú cũng quê Hòn Hàng sao, chú?
          - Mấy cây dừa ở mé biển sát chợ còn chớ? Có một cây...
          - Hồi trước trúng đạn chết hết rồi chú ơi!
          - Cháu có biết bà Ba bán cá ở chợ. Con gái bà ấy... cái cô ...mà bà chớ, bà Hai ...
          - Bà Ba à? Ở chợ có mấy bà Ba bán cá lận.
          - Bà Ba cá hồng mà!
          - Dạ , cháu không rõ ...
          - Ủa, sao ùn lại thế? Trời sắp sáng rồi, lẹ lên! Lẹ lên!
          - Bao giờ các anh lại vô, anh Tư? Chốc nữa cho em cái gì để làm kỷ niệm miền Bắc nghe. Ở ngoài đó chúng ném bom dữ lắm hả?
          - Tôi tên Hải, cô tên gì?
          - Cha mẹ ơi, lần này toàn đạn B.40 đó. Tha hồ đánh xe tăng. Chu cha, các anh vô được đây giỏi thiệt, giỏi thiệt!
          - Bà con mình ngoài đó sống ra sao, chú? No đủ chớ? Nghe nói vô hợp tác làm chung, hưởng chung, có không?
           Ba Huỳnh nhắc:
          - Anh chị em mình vừa nói chuyện vừa gắng lấy hàng thiệt nhanh. Mù tan, trời sáng là kẹt đó.
           Ông đỡ một hòm đạn, chuyển cho người đằng mũi xếp vào thuyền, rồi cởi chiếc áo sĩ quan quân cảnh vất vào góc, cúi xuống cầm lấy mái chèo, đẩy thuyền đi. Tấm lưng trần to bè của Ba Huỳnh cúi rạp sát thuyền. Hai người chèo vội vã. Xung quanh, tuy không nhìn rõ, Ba Huỳnh cũng biết nhiều con thuyền đang hối hả ra, vô. Bỏ hết hàng, Ba Huỳnh và người du kích cho thuyền quay ra. Đi được một đoạn thì nghe tiếng nổ bạch bạch của chiếc thuyền gắn máy gần đó.
          - Chú Ba, hình như tiếng lốp chà 1! - Người du kích ngồi phía sau kêu khẽ.
          - Trời mù, chúng đi có việc chi hè!
          - Tiếng máy nghe mỗi lúc mỗi rõ.
          - Châm đèn đất lên và mang điều câu 2 ra? - Ba Huỳnh nói, rồi xoay người, đưa mái chèo đỡ nước cho thuyền dừng lại.
          Hiểu ý, người du kích quẹt diêm châm đèn. Ánh sáng ngọn đèn đất bừng lên, xuyên qua sương mù, tỏa một vùng sáng đùng đục trên biển.
          - Sáng nữa lên!
           Ba Huỳnh nhắc và quăng điều câu xuống nước.
           Tiếng máy nổ to dần. Có lẽ bọn địch tên lốp chà đã nhìn rõ ngọn đèn.
          - Gần bờ, không được nổ súng nghe? - Ba Huỳnh dặn - Cứ ngồi câu, hí.
           Chiếc thuyền máy giảm tốc độ, nhoài vào tầm sáng ngọn đèn.
          - Ê, thuyền đi mô? - Từ trên thuyền máy có tiếng xấc xược vọng xuống.
          - Mấy ông đi tuần khuya vậy nè! Tụi tui lựa trời mù, ra câu kiếm ít mực xài mà.
           Vừa nói, Ba Huỳnh vừa kín đáo ngó sang: chúng có hai tên
           Mũi chiếc thuyền máy đụng vào con thuyền. Một thằng lính cầm AR15 xấn xổ nhảy sang:
          - Giấy tờ? Đưa coi - Nó hoạnh.
           Ba Huỳnh đưa mắt ra hiệu cho người du kích. Người này hiểu ý, cố đẩy chiếc thuyền sát vào chiếc lốp chà.
           Ba Huỳnh lần túi quần và khi thấy chiếc thuyền cập sát chiếc lốp chà, ông đưa tờ căn cước cho tên lính. Tên này cúi xuống soi vào ngọn đèn.
           Lúc đó có tiếng mái chèo cắt nước óc ách đưa tới. Ba Huỳnh nghiêng tai nghe. Nguy rồi! Những chiếc thuyền hở vũ khí đang đi vào. Tại sao họ không nhìn thấy đèn hiệu? Trời mù quá chăng? Tiếng động nước to dần. Và tiếng mái chèo chém xuống nước đã có thể nhận ra.
           Tên lính bỗng ngẩng lên, quay lại. Khuôn mặt hắn thuỗn ra và đôi mắt ánh lên vẻ ngờ vực.
           Phải hành động thôi! Ba Huỳnh hất hàm về phía người du kích rồi bất thần vung tay thụi mạnh vào bụng tên lính. Tên này "hự" một tiếng, lảo đảo. Ba Huỳnh bồi tiếp quả nữa và khi . Nó ôm bụng cúi xuống, ông chém mạnh sống tay vào gáy. Phía sau, người du kích đã kịp phang mạnh chiếc bơi chèo vào đầu tên lính thứ hai. Không để nó kịp trấn tĩnh, anh nhảy sang lốp chà, thúc mạnh đầu gối vào chỗ hiểm, tên này lập tức ngã nhào xuống nước, chìm nghỉm.
            Ba Huỳnh giụi ngọn đèn, nhảy sang chiếc lốp chà, tắt máy, nắm lấy một đầu xích của nó, nhảy sang thuyền mình.
            Những chiếc thuyền tiếp tục đưa hàng vào bờ.
           - Có chi mà đỏ đèn vậy, chú Ba? - Người du kích ngồi trên chiếc thuyền đi sát thuyền Ba Huỳnh hỏi.
           - Không có chi hết, biểu anh em cố lên. Trời sắp sáng rồi đó.
            Mặt biển râm ran, sôi động.
            Mấy tiếng sau, hàng chuyển hết lên bờ an toàn.
            Chiếc thuyền cuối cùng chở Lê và Lượng vào tới nơi, trời đã gần sáng. Sương mù mỏng dần.
            Đám du kích đang tất tả í ới phân công nhau cất thuyền, cất xuồng và chuẩn bị rút khỏi "bến".
            Lê và Lượng bước theo Ba Huỳnh đi về phía chân ngọn đồi. Họ ngồi xuống dưới gốc cây cụt ngọn.
            - Chừ ta tính chuyện hủy tàu, hí? - Ba Huỳnh vào chuyện, giọng ông toát ra một cái gì đấy rất vui - Việc đó hai anh có kinh nghiệm, mời hai anh nói trước. Ta bàn nhanh, làm nhanh, còn rút vô cứ cho kịp.
           - Có nhất thiết phải hủy tàu không, đồng chí Ba? - Lê nói - Đành rằng trên cho phép và hoàn cảnh cũng cho phép .
           - Ủa! - Ba Huỳnh ngạc nhiên - Chớ không hay sao? Còn tính mạng anh em mình? Với lại địch nó kéo vô Nha Trang triển lãm, bôi xấu mình đó. Đưa được vũ khí vào trót lọt như ri, thắng lợi quá trời rồi.
           - Chúng ta chưa bị lộ - Lê nói tiếp - Điều căn bản là chỗ đó. Với nữa, nếu hủy tàu lúc này, ở tại đây, là ta đã đánh động cho địch rõ mọi chuyện, chúng sẽ tung quân lùng quét và số vũ khí vừa rồi có chuyển khỏi đây an toàn không? Bến lộ, ta cũng không thể đưa tàu vào lần thứ hai.



--------------------------------
Chú thích:
1. Lốp chà: loại thuyền con đã cải tiến, gắn máy, bọn địch thường đi tuần ven biển, dân trong vùng gọi là đi chà.
2. Điều câu: gồm dây, chì, phao, lưỡi câu dùng để câu cá, câu mực.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:35:28 pm

           - Tôi nhất trí với ý kiến đồng chí Lê - Lượng lên tiếng - Không hẳn trường hợp nào cũng phải hủy tàu. Mất một con tàu, Đảng và Nhà nước mất hàng triệu bạc.
           - Có lý! Vậy các anh có cách chi? - Ba Huỳnh hỏi. Vùng này nhiều tàu đánh cá của dân không, đồng chí Ba? - Lê hỏi.
           - Nhiều. Phần đông là của gia đình bọn ngụy.
           - Chúng có hay vào đỗ ở vùng này?
           - San sát! Chúng cụm dưới đồn Vạn Hải kia nữa.
           - Vậy là được rồi ! Tôi đề nghị một phương án - Giọng Lê sôi nổi - Anh em thủy thủ sẽ rút cả lên bờ, chỉ để hai người dưới tàu. Coi như tàu ta là tàu đánh cá mắc cạn. Nếu lộ, người ở lại sẽ có trách nhiệm hủy tàu. Như vậy địch sẽ không lấy được tàu ta ...
           - Tính mạng anh em mình...
           - Đành vậy thôi, đồng chí Ba!
           - Tôi sẽ ở lại! - Lượng hưởng ứng.
           - Chà, mạo hiểm quá ha! Đêm qua tôi đã tiêu của chúng chiếc lốp chà.
           - Lúc nào, đồng chí Ba? - Lượng ngạc nhiên hỏi.
           - Đụng nó khi đang chuyển vũ khí. Thỉnh thoảng tụi tôi vẫn phải xử trí như vậy.
           - Tức là không phải biến cố đột xuất - Lê nói, vậy vẫn còn hy vọng. Thêm nữa, tàu của ta cũng là tàu đánh cá mà! Và nếu có phải hủy tàu, lúc đó anh em bộ đội mình đã đưa vũ khí đi xa, chúng biết, cũng bó tay...
            Ba Huỳnh ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:
           - Mấy anh làm tôi khó nghĩ quá! Thôi, các anh đã quyết thì ta thực hiện phương án đó.
            Lê quay sang Lượng:
           - Đề nghị anh cho tôi và chú Tám ở lại tàu. Hy vọng rằng đêm nay, anh em mình lại gặp nhau.
           - Để mình ở lại, Lê ...
           - Tôi ở lại hợp lý hơn anh. Lúc thủy triều lên, tôi có thể đưa tàu ra khỏi chỗ cạn.
            Lượng không nói gì thêm, chăm chắm nhìn bạn.
            Ba Huỳnh đưa Lê và Lượng ra mép nước. Ông ôm lấy Lê hồi lâu, hôn lên má anh. Lê nhận ra những giọt nước mắt ấm nóng của người đội trưởng lan trên má mình.
           Sau đó Sáu Thùy chèo thuyền đưa Lê trở lại tàu và đón anh em thủy thủ vào bờ. Lúc này, sương đã loãng dần.
           - Anh Lê quê ở đâu? - Sáu Thùy bắt chuyện.
           - Tôi ở Hải Phòng. Cô Sáu có nghe nói đến Hải Phòng bao giờ không? Ở đó có nhiều tàu nước ngoài vào ăn hàng, trả hàng. Ở đó có nhà máy xi măng, nhà máy đóng tàu.
           - Con tàu này cũng đóng ở đó sao, anh Lê? Miền Bắc mình giỏi thiệt. Khi nào em được ra đó hè?
            Con thuyền cặp mạn. Lê quay lại phía Sáu Thùy:
           - Cô Sáu ở lại mạnh khỏe, đánh giặc giỏi nhé. Cho tôi chào hết thảy anh em trên bến.
           - Anh Lê, đừng quên em nghe. Chuyến sau anh lại vô đó. Anh đi mạnh...
           Hai người tần ngần trên thuyền một lát rồi Lê đu người lên boong. Anh vẫn còn nghe tiếng Sáu Thùy phía dưới :
           - Đừng quên em nghe, anh Lê?



21


            Hai người hồi hộp, căng thẳng như thế đã lâu.
            Ông Tám Thạnh ngồi trên đống dây mồi đầu mũi tàu hút hết điếu thuốc này, lại châm điếu thuốc khác. Ông lặng lẽ ngóng vào bến, nét mặt tư lự. Dưới chân, đầu mẩu thuốc lá như kén sâu, vương vãi.
Lê ngồi trong buồng lái nhìn ra, chốc chốc, ngó lên cái núm nhựa màu đỏ bằng chiếc nút chai gắn trước mặt. Chỉ cần chạm ngón tay vào đó, năm tạ thuốc nổ cài dưới đáy tàu, ở ca bin, ở khoang máy tức khắc nổ tung và con tàu sẽ tan ra từng mảnh như xác pháo. Lê và ông Tám đã kiểm tra kỹ mấy cái kíp nổ, anh vẫn thấy lo. Trời sáng dần. Sương mù đã tan, nhưng trên mặt biển hơi nước còn lởn vởn mờ mờ. Mặt trời giống quả khinh khí cầu nhô ra từ sau dãy núi chắn trước mặt, tròn vạnh, hồng tươi, lơ lửng bay lên. Nước cạn, đứng trên tàu nhìn vào có thể trông rõ bãi cát trơ ra khô cằn, đầy ngấn sóng. Và mặt biển trải ra mới lạ, khỏe khoắn như vừa tỉnh lại sau giấc ngủ dài mê mệt.
           Lúc này Lê mới nhìn rõ vùng Hòn Hàng. Nó khác nhiều với sự tưởng tượng của anh. Ngọn núi Một chắn trên biển khiến con đường vào bãi tẽ ra như hai cửa sông. Trên bến, chếch về phía bên phải, bãi cát kéo dài sát lộ Một, những ngọn núi lô nhô như bát úp, choài ra tận mi nước. Phía bên trái là làng chài, có tên Vạn Hải. Mấy ngôi nhà gạch chắc mới cất sáng màu ve chen giữa những ngôi nhà lá lụp xụp thấp thoáng sau rặng dừa. Lưới dăng dầy trảng cát ven làng. Trên ngọn đồi khá cao kề đó, chiếc lô cốt đen trũi in hình lên nền trời. Đứng trên ấy nhìn xuống chắc tróng rõ cả vùng biển này. Bao quanh chiếc lô cốt, dăm ba ngôi nhà lợp tôn thấp tè mà từ trên tàu nhìn tới, Lê có cảm giác như những mụn vá đắp lên quả đồi. Quây lấy những mụn vá đó mấy lớp hàng rào dây thép gai kéo sát lưng chừng đồi. Dưới chân đồi, trên mặt nước, những chiếc tàu, những chiếc thuyền đánh cá nằm rải rác, im lìm. Cạnh đó, mấy chiếc lốp chà của lính cụm sát vào nhau.
           Thị trấn Thương Long mà chú Tám thường nhắc tới ở chỗ nào? Có phải sát lộ Một, nơi mấy ngôi nhà gạch lờ mờ?
           Mặt trời cao dần. Sương tan hẳn. Nắng hắt xuống khiến vùng biển sáng lên. Sóng lăn tăn nối nhau vỗ nhẹ vào mạn tàu. Cách con tàu vài ba chục mét, dăm bảy chiếc thuyền con hớt hải đi ra biển. Những người trên thuyền gò lưng xuống sát mái chèo, dáng vội vã, chẳng ai chú ý đến chiếc tàu mắc cạn. Xa xa, quá ngoài núi Một, loáng thoáng bóng mấy chiếc tàu đánh cá đi về hướng đông và một vài chiếc vơ-đét của hải quân ngụy chạy dọc bờ.
           Con tàu hoàn toàn trơ ra giữa vịnh.
           Lê ngước nhìn chiếc lô cốt cạnh làng Vạn Hải, có cảm giác như từ trên đó, bọn địch nhìn rất rõ con tàu, thậm chí thấy cả ông Tám đang lo lắng ngồi đốt thuốc triền miên đằng mũi và anh đang phấp phỏng trong buồng lái. Con tàu đã lọt vào tầm nhìn, tầm đạn của chiếc lô cốt. Chắc bọn địch đang hí hửng: "À, tàu Bắc Việt giả dạng tàu đánh cá, mắc cạn..." và đang thú vị vì con mồi mắc bẫy.
           - Chú Tám! - Lê gọi nhỏ - Cho cháu hỏi điều này!
            Ông Tám Thạnh đứng dậy, chân mập, lưng bè, điếu thuốc cháy trên môi, bước thong thả tới buồng lái. Đôi mắt ông bạc nhợt vẻ lo âu và nét mặt căng thẳng:
           - Liệu trên đồn nó có nhận ra mình không, chú? - Lê hỏi - Cái biển số mình gắn lúc đêm đúng số đăng ký của tàu đánh cá vùng này chớ?
           - Đừng lo. Bọn du kích biểu đúng - Ông Tám đủng đỉnh trả lời và đưa mắt nhìn Lê - Lúc này mày phải bình tĩnh hơn tao...
           - Cháu đâu sợ! Cái biển số mình gắn chặt rồi hả chú?
           - Chặt? Tao soát lại lần chót. Mày ra boong ngồi cho thoáng, đỡ căng thẳng. Đứng chi đây cho ngạt. Mình đã xác định chết cùng với con tàu con ngán chi.
           - Cháu đâu ngán, nhưng đứng đây, nếu có sự gì, mình hủy tàu cho kịp.
           - Chưa! - Ông Tárn ngó xuống biển - Nước cạn, chẳng có tàu lớn nào xáp vô nổi để soát tàu mình. Cứ ra boong ngồi cho đầu óc nó đỡ rối.
           Hai người lững thững bước ra boong và ngồi xuống mũi tàu. Lê nhìn xung quanh, thấy con tàu hôm nay sao to cao, cứ bè bè, chênh ềnh giữa vịnh trông thật chướng.
          - Lúc nào thủy triều lên, chú? - Lê hỏi, đôi mắt nhìn xuống mấy con thuyền đang lướt lại gần.
          - Hôm ni mồng chín, chừng quá ngọ.
          - Hơn năm tiếng nữa!
           Hai người ngồi im. Lê đốt điếu thuốc, rít từng hơi mà chẳng có cảm giác gì. Chỉ thấy miệng đăng đắng. Mấy chiếc thuyền đánh cá từ đồn Vạn Hải đi tới, chạy sát chiếc tàu. Có tiếng bâng quơ đưa lên:
          - Tàu lớn, vô chi đây cho cạn, hè?
          - Đêm qua mù mà? Các cha tham, cho chết.
           Lê đưa mắt nhìn những người trên thuyền, nhưng anh vội quay : "Sao họ cứ nhìn mình lâu vậy? Thật ngốc, nhỡ họ nhận ra mình không phải là người vùng này..."
           Bất giác, Lê đưa tay sờ lên mặt.
          - Chú Tám, tàu ta sơn màu sáng quá phải không? Ở đây tàu đánh cá họ có sơn màu này?
          - Tàu đánh cá thì sơn tùm lum, kể chi màu sáng, màu tối.
          - Cháu lo cái cột treo lưới của mình cao quá đó!
          - Tao biểu mày không được nghĩ nhiều. Cái chi cũng sợ địch nó nghi! Bình tĩnh chớ!



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:37:19 pm
         
          - Nếu có sự gì, chú cháu mình sẽ đâm tàu vào chiếc tàu nào lớn nhất của nó, mạng đổi mạng chú nhé!
          - Chớ sao? Để nó lấy tàu dong vô Sài Gòn thì ngồi đây chi .
          - Anh em trên bờ chắc đang lo cho chú cháu mình lắm đấy!
          - Tội nghiệp! Mình lo một, bọn hắn lo đến mười. Đứng dưới gốc lo hơn người trèo lên ngọn. Mong sao cho trời chóng tối, hí!
         
           Lê lại nhìn lên đồn Vạn Hải, nghĩ miên man. Thời gian chậm chạp trôi. Mỗi phút đi qua ví bằng một ngày. Lê nghĩ rằng chắc gì mình đã chịu nổi cảnh chờ đợi này thêm mấy tiếng nữa! Thần kinh căng lên tưởng không có thể đứt phựt cả màng não. Giá bọn địch cứ cho tàu xáp vào và Lê cùng với ông Tám hoặc dùng B.40 hoặc dùng ĐKZ đánh trả, hoặc sẽ ấn vào nút điện cho tàu nổ tung lên thì đỡ hơn bao nhiêu. Trò ú tim này đến vỡ lồng ngực mất.
          Ngó vẩn vơ lên nóc tàu. Lê chợt hỏi:
          - Cái cờ ba que mình treo trên dó mới quá hả chú Tám? Giá nó cũ đi một chút.
          - Mày nhìn mấy chiếc thuyền vừa đi qua đó, độc treo cờ ba que mới. Chớ ngại. Bọn chủ tàu thích treo cờ mới cả. Nè, mình phải ăn uống chút gì chớ? Từ chiều qua tới giờ chưa có chi vào bụng lận.
          - Chú đói à?
          - Không đói, nhưng tao nghĩ mình phải ăn mà giữ sức. Mấy giờ rồi?
          - Mười giờ! Cháu vào lấy ít đồ ăn nhé!
          - Vô đi!
           Lê mang ra mấy gói lương khô, hai hộp thịt, hai hộp dứa. Nhưng khi mở ra không ai đụng tới, chỉ nhấm chút nước dứa rồi lại ngồi đốt thuốc. Nuốt không trôi. Ông Tám ngó chừng xuống mạn tàu rồi quay lại, bảo Lê:
          - Có triệu chứng nước lên rồi đó. Lạy Trời Phật, biết đâu mình thoát hả Lê ...
           Từ dưới đồn Vạn Hải, một chiếc lốp chà lách qua  đám thuyền bè, đâm mũi hướng về phía chiếc tàu. Mặt ông Tám biến sắc:
          -Thuyền máy tụi nó đó nghe! Bình tĩnh, mày! - Ông nói, mắt không rời chiếc lốp chà đang mỗi lúc mỗi gần - Có chi để tao ứng phó. Nghe tiếng mày, nó nhận ra người khác vùng, nó bắn liền đó.
          Lê kín đáo lên đạn khẩu súng ngắn, lận vào người rồi giả bộ đứng dậy ngó ra biển, mặt tỉnh khô.
          Chiếc thuyền máy rạch nước lướt qua con tàu. Được một đoạn, chợt nó giảrn máy, lộn lại.
          - Mặc tao nghe, không được nóng vội đó! - Ông Tám nhắc.
          Chiếc lốp chà áp sát mạn tàu.
          - Ê, chủ tàu? - Tên lính đứng dạng chân trên thuyền, gọi lên.
          - Dạ, chú cho gọi! - Ông Tám bước tới mép tàu, khuôn mặt cố tươi tỉnh, dáng nhanh nhẹn như không có điều gì xảy ra.
         - Bị cạn hí? - Tên lính ngửa mặt lên hỏi - Mù mà, đêm qua thằng Năm rỗ lái chiếc lốp chà đi ăn mảnh, lạc vô chỗ nào chưa thấy về. Coi chừng lại biếu mấy tay du kích. Nè, có con cá con mực nào ngon ngon quẳng xuống một ít tụi này lai rai chơi.
         Ông Tám thấy an lòng, cố nén tiếng thở mạnh.
         - Dạ, đêm qua tưởng kẹt ngoài khơi chớ. Kiếm được ít cá bọn chợ ra nài, bán hết trơn rồi. Dạ, nhưng có cái ni biếu các chú uống cho đỡ sầu - ông Tám quay lại phía Lê - Út, vô lấy chai rượu Pháp để biếu mấy chú, nghe.
         - Rượu Tây hả chú Ba? Chà chà... - Khuôn mặt tên lính giãn ra, vẻ thích thú.
          Hiểu ý, Lê lấy chai rượu còn nguyên nhãn đưa ông Tám. Ông Tám cúi xuống đưa cho tên lính. Nó rướn người, với tay đón lấy.
         - Ủa, chú Hai kiếm đâu ra của quý này ta? - Mắt tên  lính sáng lên khi nhận ra chai rượu ngoại.
         - Hôm qua gặp tàu nước ngoài, xáp vô. Họ đổi tôm.
         - Chà, chú Ba không uống sao đưa tụi tui?
         - Tui quen đế, uống thứ ni nhạt.
         - Ông già quê quá ha. Rượu loại nhứt đó!
          Tên lính cho chai rượu vào túi, toan quay vào, chợt nó ngẩng lên hỏi:
         - Thằng nào trắng như con gái vậy chú Hai? Bộ không phải dân vùng biển.
         - Dạ, quên trình mấy chú - Giọng ông Tám suôn sẻ - út đằng vợ ba tui đó. Kêu hắn là Chín.
          Tên lính nhe răng cười:
         - Chu cha, già mà lắm "đĩ" vậy, cha nội?
          Ông Tám cũng cười:
         - Cũng chỉ có ba. Thằng này là cháu ngoại bà Mỹ Thạnh, hiệu vàng lớn nhứt Sài Gòn. Chắc chú biết hiệu kim hoàn Mỹ Thạnh.
         - Biết! Biết! Tôi rành Sài Gòn lắm.
         - Từ nhỏ nó sống ở đó. Nhưng tui không muốn nó cớm nắng. Tui đưa nó ra đây cho nó tập làm quen với biển. Nó vừa ở Sài Gòn ra mấy hôm ni. Má nó la tui dữ quá...
         - Cậu ấm đi biển hả chú Năm? Đầy chi nó cho khổ.
         - Dạ, cũng thử cho nối nghiệp coi sao.
         - Tụi tui đi nghe. Lần sau có loại rượu Mác-ten này, chú cứ đổi về thiệt nhiều, bọn này chuộc lại, đừng sợ thiệt. Tụi tui sòng phẳng mà. Bai nghe! Còn phải đi tìm thằng Năm rỗ.
         - Dạ, mấy chú đi!
           Chiếc thuyền vừa tách khỏi mạn tàu, Lê loạng choạng ngồi xuống. Da mặt tái nhợt, mồ hôi túa đầm người. Sự căng thẳng khiến anh như người bị choáng. Ông Tám ái ngại nhìn Lê: mới từ đêm qua tới giờ mà trông hắn khác quá! Hắn lo cho con tàu, lo cho công việc dữ!
          - Nước đang cường đó Lê. Vài tiếng nữa ta ra khỏi chỗ cạn, tàu cơ động được là đỡ lo...
          - Vừa rồi cháu hãi quá? Chú đóng kịch giỏi thật!
           Gió bắt đầu nổi lên. Sóng vỗ vào mạn nghe đã rõ lắm. Ông Tám lắng tai và có phần an tâm.
           Hai người nhìn ra bốn phía. Vùng Hòn Hàng giờ này tấp nập thuyền bè. Thuyền đánh cá, thuyền chở hàng qua lại hối hả.
           Thời gian trôi nặng nề, chậm chạp.
           Khi mặt trời rọi nắng thẳng góc xuống boong tàu, thì có tiếng máy bay sà thấp, rẹt qua rồi mất hút ngoài biển.
           - Kệ nó, đừng hốt!
           - Cháu đâu có hốt. Nó chụp ảnh mình chăng?
           Hai người ngóng theo và cùng lắng nghe, chiếc máy bay không quay lại.
           - Nó bay thẳng, không lo? - Lê nói - Vụ Vũng Rô ngày trước cũng do máy bay phát hiện ra tàu ta rồi gọi tàu chiến và quân lính tới bao vây đấy!
           - Tao nhớ! Nhưng lần này mình công khai. Tàu cá có treo cờ quốc gia, có biển số đăng ký, lại đậu ngay chân đồn... Bắc Việt nào dám thế?
           Khoảng quá trưa, một chiếc thuyền con treo cờ ba que, có lưới, có chài từ phía Bắc đi lại. Tới ngang con tàu người đàn ông chèo phía sau cho thuyền dừng hẳn, áp sát mạn.
           Lê và ông Tám hoảng hốt kín đáo nhìn xuống.
           Nhưng Lê nhận ra người con gái ngồi trước mũi thuyền gở lưỡi là Sáu Thùy. Anh chạy lại mép boong.
           - Kìa, cô Sáu, có tin gì đó? - Lê cúi xuống, lo ngại.
            Sáu Thùy đưa mắt ngó quanh, rồi đứng dậy:
          - Ban chỉ huy bến và mấy anh trên đó biểu em ra nói với anh: đặt giờ cho tàu nổ, còn anh và chú Tám theo thuyền vô bờ luôn - Sáu Thùy nói, mắt vẫn liếc ra bốn phía - Các chú và mấy anh nhận định máy bay dã chụp hình tàu mình, chắc lộ. Hủy tàu càng sớm càng hay. Trên bến đã chuẩn bị êm mọi việc.
          - Sao lại hủy tàu? - Lê ngạc nhiên nói, đôi mày nhíu lại - Sáu Thùy về bảo với các anh trên đó rằng tàu chưa lộ đâu. Nếu nghi, máy bay nó đã đảo lại. Đồn Vạn Hải cũng chưa động tĩnh gì mà .
          - Vô thôi anh Lê! - Tiếng Sáu Thùy khẩn thiết - Ở lại nguy hiểm lắm đó. Trên đã có lệnh... Em lo cho anh quá!
          - Sáu Thùy cứ an tâm. Đêm nay tàu sẽ ra được. Nước đang lên rồi. Nhắn với anh Lượng là tôi sẽ chờ anh em ở chỗ ngọn núi nhô ra biển nhé.
          - Anh Lê, đừng...Vô đi ! Cơ sở trong đồn báo ra là bọn hải thuyền mới về đang muốn lập chiến tích đó...
          - Sáu Thùy đi đi kẻo chúng nghi?
           Đôi mắt đen ngước nhìn Lê hồi lâu.
           " Người đâu mà gan! - Cô cho chiếc thuyền rời khỏi tàu - Thuyền trưởng. Anh ấy trẻ quá, dễ thương quá. Trời ơi, nếu có điều chi...".
          - Sao đó Lê? - Ông Tám hỏi khi Lê bước tới gần.
          - Các anh bảo hủy tàu, nhưng cháu không nghe.
          - Hủy tàu? Nước lên mạnh rồi, hủy tàu chi? Các cha chỉ lo không đâu... Ta nổ máy được rồi đó.
          - Chờ nước lên lúc nữa cho ăn chắc, chú!
          Hai người thấp thỏm chờ. Biết tàu đang dềnh lên, Lê mừng lắm. Nếu lúc này cũng còn cơ động được, ít cũng đổi một mạng tàu của chúng, đã dễ gì bắt sống nhau lúc này! Anh đi đi lại lại trên boong, vẻ mặt tươi tỉnh hơn.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:51:40 pm
         
            Lúc sau, Lê và ông Tám quay tời kéo neo.
           - Bây giờ chú chạy máy, cháu lái, ta vòng ra ngoài núi Một, gặp tàu địch, chú theo lệnh cháu nhé.
           - Nổ máy, hí! - Ông Tám lật bật chạy xuống khoang.
            Con tàu rùng lên, quay mũi và chạy chậm ra phía biển. Lúc đó, khoảng ba giờ chiều.
            Qua núi Một, Lê lái tàu đi về hướng bắc rồi chạy vòng vo như thể tàu đang thả lưới. Và cũng là để giết thời gian.
            Khi mặt trời xuống thấp, nhiều tàu cá hối hả đi vào vịnh, anh đưa tàu lẫn vào.
            Đang nghĩ chưa biết đưa tàu vào đâu để tối nay đón anh em mình thì ông Tám từ dưới khoang chạy lên:
           - Cho tàu nép dưới chân đồn Vạn Hải như mọi tàu khác nghe, Lê.
            Nói rồi ông vội vã xuống khoang.
            Đám tàu cá của dân cụm cả dưới chân đồn. Hiểu ý ông Tám, Lê đưa tàu tới đó, đậu phía ngoài cùng. Tính tới chuyện chốc nữa con tàu phải vòng ra.
           Ông Tám tắt máy, lên buồng lái.
          - Ổn đó! - Ông bảo.
            Hai người đứng trong buồng lái nhìn ra và mong sao cho bóng tối chóng sập xuống.
            Ráng chiều đỏ như một đám cháy hắt lên sau lộ Một. Sóng biển lấp lóa trong màu hồng nhạt.
Ba chiếc lốp chà đi tuần quanh vịnh, xua tàu thuyền vào bến, đang vội vã trở về. Chúng dàn hàng một lướt qua con tàu của Lê rồi luồn lách giữa đám tàu thuyền đỗ rải rác, tới đậu sát bờ.
           Mặt biển trở nên tĩnh lặng.
         
           Lê đứng trong buồng lái, cạnh ông Tám. Nghĩ rằng vài tiếng nữa, lại đầy đủ mọi người, Lê hồi hộp đến lạnh cả người. Tất cả diễn ra cứ như một giấc mơ. Nó nằm ngoài sự mong muốn. Bọn địch cũng không thể nghĩ tới ...
          Chiều mùa đông, trời tối nhanh. Ngọn núi Một chìm lỉm trong bóng tối. Đứng trên tàu nhìn lên đã không nom rõ bờ. Đèn pha ở đồn Vạn Hải bắt đầu rà quét.
           Thời gian trôi qua...
           Khi mặt biển đen sẫm, ông Tám Thạnh xuống khoang nổ máy. Con tàu lầm lũi ngược lên hướng cũ. Tới ngang ngọn núi toài ra mép nước, nó đừng lại. Trời tối bưng.
           Ba chiếc thuyền chờ sẵn quanh đó vội vã trườn tới. Cuộc chia tay diễn ra bên mạn tàu. Tiếng chào hỏi ríu rít.
          - Bọn tôi đi nhé cô Mười. Anh Quế và các đồng chí! Cám ơn các đồng chí nhiều lắm.
          - Chúng tôi và đồng bào miền Nam phải cám ơn các anh chớ.
          - Anh về nói với chú Ba là nhất định lần sau chúng tôi sẽ vào
          - Đi nghe chú. Mạnh giỏi hí! Nhớ các chú lắm!
          - Tụi tui hứa đánh giặc thiệt giỏi kẻo phụ lòng các anh.
          - Anh Cang, đừng quên em nghe. Anh hứa lại vô. Nhớ không?
          - Nhớ chứ. Chiếc khăn Mười đưa tôi sẽ giữ mãi để làm kỷ niệm... Tôi không quên đâu.
          - Thiệt nghe!
          - Thiệt mà! Ơ kìa, sao lại khóc, Mười... Nín đi, Anh... Anh hứa là sẽ vào mà...
          - Em nhớ các anh...
          - Mười nói lại với Sáu Thùy bọn anh cũng nhớ.
          - Bộ chỉ nhớ chị Sáu thôi sao?
          - Mười!
          - Anh Lê, chú Tám đi mạnh nghe! Hẹn dịp hội ngộ - Có tiếng ai đó nói với lên - Sáu Thùy không ra được, nó nhắn tui gửi lời chào thuyền trưởng Lê.
          Lê cúi xuống, mới nói được mấy tiếng: "Cho tôi chào tất cả ..."  thì thủy thủ nhanh chóng ào lên boong.
          Lê và Tám Thạnh ôm lấy từng người, mừng quá! Có thủy thủ lau nước mắt.
          Boong tàu rộn ràng.
          - Thôi, ta tranh thủ đi!
          Con tàu rê mũi. Hầu hết thủy thủ đều ra sát mép boong toài người xuống, nói với những lời cuối cùng.
          - Mười!
          - Anh Cang!
          - Các anh đi mạnh giỏi!
          - Mong bình an!
           Khi con tàu chạy đã khá xa, thủy thủ vẫn tần ngần ngóng về phía bờ, lưu luyến...
           Lê cho tăng tốc độ. Con tàu lướt êm trong đêm.
          - Các đồng chí, tất cả về vị trí của mình, sẵn sàng chiến đấu. Từ đây ra tới biên quốc tế vẫn có khả năng gặp tàu địch. Trước mắt chúng ta vẫn là khó khăn - Chính trị viên Lượng nhắc nhở.
           Và mọi người tản về vị trí.
           Lê quay sang ông Tám Thạnh:
          - Thế là chú Tám chưa thỏa nguyện vọng đặt chân lên Hòn Hàng.
          - Như vậy tao cũng đã lắm rồi đó, Lê. Quê hương khác nhiều quá!
           Ông Tám nói, khuôn mặt vân ngóng về phía bờ.


22


           Mùa hè năm 1967.
           Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ ngày càng ác liệt, lan rộng. Nhà trắng và Lầu năm góc rêu rao rằng chỉ đánh phá các đầu mối giao thông, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Rồi lại tuyên bố chỉ đánh phá các mục tiêu quân sự, tới bây giờ đã leo đến nấc thang cuối cùng: ném bom xuống các khu kinh tế và các vùng dân cư nhằm thực hiện cái mà chúng gọi là "gây sức ép tối ta đối với Hà Nội".
           Hầu hết các tỉnh, thành trên miền Bắc đều bị đánh phá. Ngày nào máy bay Mỹ cũng vào ném bom. Và ngày nào máy bay Mỹ cũng bị bắn rơi; con số đó trên các bản tin ngày mỗi tăng. Bọn Mỹ như kẻ khát nước trong canh bạc, càng thua đau, càng cay cú, liều lĩnh, chúng ném bom dữ dội hơn, hên tục hơn.
          Nhiệm vụ chi viện cho chiến trường không vì thế mà ngưng nghỉ. Song song với con đường chiến lược xuyên Trường Sơn, con đường vận tải trên biển càng hoạt động mạnh, với những phương thức mới. Phía Bắc, nhiều con tàu hạ thủy. Phía Nam, mở nhiều luồng, nhiều bến mới. Kẻ địch ráo riết tìm mọi cách ngăn chặn, song những con tàu của đoàn 25 vẫn vào bến.
           Sau chuyến đưa vũ khí vào Hòn Hàng thắng lợi, Lê và thủy thủ tàu T.67 đi tiếp hai chuyến nữa vào Nam Bộ. Chuyến thứ hai, khi quay ra gần vùng biển quốc tế thì đụng địch. Lê vừa chỉ huy anh em chiến dấu vừa lái tàu thoát. Chuyến ấy người an toàn, nhưng tàu T.67 hỏng khá nặng, phải vào đốc sửa chữa.
           
           Thời gian chờ đợi trôi qua. Hôm nay được đoàn trưởng trao nhiệm vụ lên Bộ tư lệnh kết hợp với đoàn cán bộ quân chủng đi nhận số tàu của nhà máy đóng tàu Hải Phòng vừa hạ thuỷ. Cùng đi với Lê, có Tòng, thuyền trưởng tàu T.37.
           Đoàn trường Tư để Lê và Tòng đi trước một ngày; ông muốn Lê có điều kiện rẽ qua Hải Phòng.
Lúc ngồi trên xe, bộ mặt của Tòng đã lúc vui, lúc thộn ra. Cho đến khi hai người đã đứng trên phà, Tòng mới bảo:
          - Này, cậu định đưa cả tớ về thăm cô Thúy đấy à?
          - Thế cậu tưởng mình bỏ đói cậu ở đất Hải Phòng chăng?
          - Nhưng tớ cũng muốn về thăm "người nhà".
          - Hả? Cậu chưa trở thành kẻ tâm thần chứ?
           Tòng vẫn tỉnh bơ:
          - Lính thời chiến chẳng hẳn lúc nào cũng có dịp rỗi rãi một ngày thế này đâu! Không biết tận dụng là ngốc.
          - Đây về Vĩnh Yên, hai trăm cây số... Phương tiện đâu? Đầu giờ chiều mai đã có mặt ở Bộ tư lệnh rồi!
          - Cậu tối dạ lắm! - Tòng buông một câu rồi đứng im nhìn xuống mặt sông.
          - Này! - Tòng xoay vai Lê để khuôn mặt bạn hướng thẳng vào mặt mình - Tớ có bà cô ở Hải Dương...
          - Bà cô nào ở Hải Dương? Có bao giờ cậu nói với mình chuyện ấy!
          - Có nhất thiết chuyện gì cũng phải phô ra không! Báo cáo tổ trưởng, tớ muốn bàn với cô tớ mấy việc gia đình. Đây đến Hải Dương, xin thưa: 40 cây số thôi. Hứa là đúng 12 giờ trưa ngày mai có mặt ở Bộ tư lệnh. Sai hẹn thì cứ pheng đầu thằng Tòng. Ưng chưa.
          - Cậu chỉ rắc rối!
          - Chẳng có gì rắc rối. Mọi việc đều đơn giản. Rắc rối bởi tự ta cứ nghĩ thế.
          - Mà cậu định đi bằng cách nào? - Lê hỏi.
          - Cậu già người vì thế. Đi bằng cái đầu của tớ!  Đã quyết thì thiếu gì cách!
          - Đảm bảo đúng hẹn nhé!
          - Đừng dặn những câu thừa! Tớ đâu phải gã gà sống mải theo mái để quên đường về.
           Phà vừa cập bến. Tòng thốc vội lên bờ, hét to:
          - Tao đi nỡm nhé. Gửi lời thăm Thúy!
           Rồi biến nhanh vào đám đông. Lê ngẩn ra, không kịp nói thêm câu nào.
          Tòng phóng ra đường 5, vẫy một chiếc xe tải. Và không biết nói thế nào khiến anh lái gật đầu rối rít, mở cửa, mời lên, đưa thẳng tới Hà  Nội.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 02:57:03 pm

          Lê bước thong thả trên đường phố. Lâu rồi mới về Hải Phòng. Có cái gì đó vừa quen vừa lạ khiến Lê bồi hồi. Thành phố sơ tán vắng, nhiều ngôi nhà, cửa cài chặt. Dưới lòng đường, thưa người qua lại. Thỉnh thoảng, vài tốp công nhân, chắc vừa làm ca về, đi ngược chiều với anh. Họ bước hối hả. Chiến tranh đã tạo cho mọi người thói quen ấy. Ngoài công việc ở nhà máy, ở xí nghiệp, ở cơ quan, còn bao sự níu kéo, lo tính ở mỗi người. Cái chết lại luôn rình rập...
          Tới ngã ba, Lê theo đường Hoàng Văn Thụ, đi xuống An Dương. Anh muốn đảo qua nhà mình, mặc dù rõ rằng bố mẹ và các em đã sơ tán. Một tốp nữ công nhân từ phía cảng đi lại. Họ đội mũ sắt vai khoác súng, trông cô nào cũng tươi tỉnh như đi hội, nói cười vang vang. Ngang Lê, họ bấm nhau và tò mò nhìn. Có gì để họ phải chú ý? Bộ quân phục mới phẳng phiu và có phần đỏm dáng của anh không hợp với không khí chiến tranh chăng? Hay họ ngạc nhiên vì giữa thời buổi bom đạn này vẫn có một chàng lính nhởn nhơ đi dạo phố. Lê quay lại, bắt gặp những cái nhìn trộm tinh quái. Rồi họ đấm nhau, rúc rích cười. Lê nghe loáng thoáng: "Bốn cộng mày ạ", "Bọ nước mà cũng kẻng trai đáo để", "Anh chàng trông quen quá, cùng phố không chừng! "... Lê thấy vui. Anh bước nhanh hơn.

          Về tới An Dương, Lê không khỏi ngạc nhiên trước cảnh đổ nát, hoang tàn. Anh thấp thỏm bước vội về phía nhà của mình. Ngôi nhà đã sập chỉ trơ lại bức tường nham nhở, đứng chỏng chơ, đầy vết đạn. Cạnh đó, một hố bom như miệng phễu xỉn đen. Lê bần thần. Anh đứng lặng trước đống gạch vụn, tê dại. Nhìn hố bom lấp xấp nước, anh biết dãy phố bị phá hủy đã khá lâu. Lê bước lại bên bức tường ám khói, ngước lên. Nơi lỗ chỗ mảnh bom kia là chỗ bố thường treo giá sách, những cuốn sách gáy dày, được bọc bằng bìa cứng. Bố rất quý những cuốn sách đó , ít cho ai đụng tới bởi nó hiếm đã đành, nhưng bố sợ rằng đám con mình nhận thức chưa đến đầu đến đũa, rất có thể hiểu sai những tư tưởng trong đó, sẽ bất lợi. Những cuốn sách bố chắt chiu từng đồng, từng hào để mua, liệu có kịp chở về nơi sơ tán? Lê đưa tay xoa xoa lên bức tường, cố tìm chút hơi ấm gia đình. Rồi anh ngồi xuống, nạy từng viên gạch, tìm kiếm. Tìm gì , Lê cũng không ý thức. Nhặt  lên một mảnh bìa, anh ngắm nghía hồi lâu rồi để lại ngay ngắn bên bức  tường. Những kỷ niệm trong ngôi nhà chợt hiện về ... Lê thấy đau nhói. Một cái gì như thể sự nuối tiếc trào lên.
          - Anh có phải con trai ông giáo không đấy nhỉ?
           Có tiếng người phía sau. Lê giật mình ngẩng lên.
          - Dạ, đúng! - Và anh kêu to - Ơ, bác Hạp!
          - Vẫn nhận ra tôi à?
           Người đàn ông hỏi. Trông ông tiều tụy. Quần áo chắp vá, bẩn thỉu. Hai má sạm đen hóp vào. Đôi tay khẳng khiu như que củi. Tròng mắt trắng đục, cái nhìn hoang dại.
          - Những lần cháu ôn thi, mẹ vẫn cho tiền đi ăn phở và dặn chỉ được ăn ở hàng của bác. "Phở Hạp" nổi tiếng Hải Phòng.
           Lê trả lời và nhìn ông. Ngày xưa ông béo, khỏe, lại vui tính. Hàng ông đắt khách không chỉ vì ông pha chế giỏi mà còn biết chiều hết thảy ý thích từng người.
          - Phải? - Ông Hạp buông một câu - Nhất Hải Phòng!
          - Bác không đi sơ tán ạ?
           Đôi lông mày rậm đen của ông rướn lên:
          - Đi đâu? Đi đâu? Bỏ thằng con lại mà đi à? - Ông trừng trừng nhìn Lê - Thằng con tôi, anh biết không, năm nay nó mười ba tuổi, thông minh, ngoan ngoãn, đẹp như tượng. Bây giờ nó nằm kia. Tôi đưa anh lại với nó nhé !
           Lê chưa kịp phản ứng, ông Hạp đã nắm lấy tay lôi xềnh xệch. Tới đống gạch vụn, Lê nhận ra là nền một ngôi nhà cũ, ông buông Lê, ngồi sụp xuống và dùng đôi bàn tay khô gầy của mình cào bới. Miệng lẩm bẩm:
          - Dậy con, Trang! Dậy! Dậy. Bố đến với con đây!
          Ông bới cho tới lúc mười đầu ngón tay rớm máu.
          - Bác Hạp!
           Lê cúi xuống đỡ, nhưng ông lừ mắt:
          - Các người tưởng con tôi "đi" rồi phỏng? Đêm đêm tôi vẫn nghe tiếng nó kêu: "Bố ơi, nặng quá! Bới gạch cho con lên!". Tôi không đi đâu hết. Tôi ở lại với nó, hiểu không?
           Cái nhìn của ông Hạp khiến Lê phát sợ.
           Ông lại cúi xuống, dùng tay tiếp tục cào, bới.
          - Anh có nghe tiếng thằng Trang không? Nó gọi tôi đấy! - Bỗng dưng ông gào lên - Bố đây! Bố không bỏ con đâu! Và ông hớt hải đi như chạy...
           Lê thẫn thờ nhìn theo bóng ông tròng trành trên đường phố.
          Anh ngồi đó hồi lâu, không rõ mình đang nghĩ gì. Từ trong khu nhà đổ trước mặt một con chó đen gầy giơ xương, xiêu vẹo bước ra. Trông thấy Lê, nó dừng lại, giương mắt nhìn, rồi "ẳng" một tiếng, bỏ đi.


*


           ... Tan tầm buổi chiều, Lê hồi hộp đặt nhẹ bước chân lên chiếc cầu thang cũ kỹ.
           Ngày xưa, mỗi lần lên căn phòng này, anh cũng bước nhẹ như thế, vừa lần từng bậc, vừa cố đoán Thúy có nhà không. Lúc này nỗi thấp thỏm càng nhân lên. Đã lâu rồi, anh không gặp cô.
           Lê bước nhẹ, bước nhẹ. Anh muốn đưa lại cho Thúy điều bất ngờ. Nhưng anh bị hẫng. Một ổ khoá to ngậm chặt hai chiếc khuy sắt. Anh đứng sững. Hay dịp này Thúy ở hẳn trong nhà máy? Quay lại dò tìm Thúy? Nhỡ Thúy đang trên đường về hoặc rẽ đâu đó thì sao? Biết em ở đâu?
           Lê tần ngần đứng tựa lan can nhìn xuống. Cạnh cây bàng già sùi vỏ, cành phượng vĩ đang nở chùm hoa đầu mùa. Xa xa, lẫn trong màu xanh của lá, thấp thoáng những chấm đỏ.
          Từ phía cảng, có tiếng còi tàu vẳng lại.
          Lê bắt đầu sốt ruột. Anh bước tới cánh cửa, ghé mắt nhìn vào. Chú mèo mướp thấy động, từ trên giường phốp xuống, nhưng hình như nhận ra người lạ, con vật lùi lại, cong mình lên, cặp mắt xanh biếc. Rồi nó chạy vòng quanh phòng kêu meo meo. Không rõ là cu cậu đề phòng hay muốn báo với khách rằng cô chủ sắp về.
         "Thúy vẫn ở đây?" - Lê thấy yên tâm.
          Một lúc, có tiếng động ở cầu thang và tiếng guốc gõ lên từng bậc gỗ sẽ sàng: Tiếng guốc của Thúy! Lê thở nhẹ, phấp phỏng đứng nép vào bên tường.
          Một! Hai! Ba!... Tiếng guốc đều đều, gần hơn và Thúy hiện ra, ngay cạnh anh. Thúy sửng sốt đến ngẩn người. Cô hơi chững lại, rồi đổ vào Lê. Mái tóc cô gái phủ kín ngực chàng trai. Lê vuốt nhẹ làn tóc của người yêu lòng tràn hạnh phúc. Thúy ngước lên, cặp mắt long lanh. Họ cứ đứng lặng như thế. Rất lâu. Rất lâu.
          Rồi bất giác, cả hai cùng quay về phía cửa căn phòng bên cạnh. Nhưng ở đó chỉ có hàng phấn viết vội. "Em cho con xuống Kiến Thụy".
          Đôi má Thúy nóng bừng.
         - Cả xóm sơ tán. Chỉ mình em ở lại.
          Thúy nói khẽ, rồi lúng túng tra chìa vào ổ khoá.
          Đã bao lần cô nghĩ rằng nếu anh về, nhất định sẽ  nhào tới, ôm choàng lấy, hôn anh. Rồi giựt tóc, bẹo tai  làm như vậy cho bõ những ngày ngóng trông, mong đợi.  Vậy mà lúc này cô đứng thần ra, hai má đỏ ửng.
          Lê đặt nhẹ tay lên vai Thúy. Cô ngước lên, cặp môi run run.
          "Đồng bào và các lực lượng vũ trang chú ý: phía đông nam thành phố đang có máy bay địch hoạt động!" -  Từ ngoài phố, tiếng loa vọng vào.
          Thúy buông tay:
         - Chúng nó vào đấy anh ạ. Bao giờ có còi báo động, chúng mình ra hầm cũng kịp - Cô âu yếm nhìn Lê - Lâu nay anh đi những đâu thế?
         - Anh vẫn đi biển.
         - Em có cảnh giác như anh đang giấu em điều gì, phải không?
         - Sao em nói thế?
         - Em biết, nhìn vào mắt anh, em đọc được tất cả. Anh không phải là người dễ dàng giấu được những tình cảm trong mình.
         - Việc quân sự em đừng hỏi, anh khó trả lời.
          Họ im lặng đứng nép bên nhau một lúc nữa.
         - Em nấu cơm nhé!
         - Anh giúp với.
         - Em làm được. Có gì phải giúp đâu. Một nồi cơm và một nồi canh. Đi biển thiếu rau phải không anh? Hôm nay em đãi đồng chí một bữa rau no nhé. Anh ngồi xuống! Em nấu ngay trong nhà. Thổi bằng bếp dầu, nhanh lắm.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 03:04:09 pm
         
           Thúy ngồi cạnh Lê, cô vừa nhặt rau vừa ríu rít kể chuyện. Có bao điều cô dành để chờ anh! Cô có cảm giác như thời gian trôi nhanh quá! Anh về, rồi lại đi! Đã bao ngày ở một mình trong ngôi nhà không sợ bằng lúc này nơm nớp lo anh đi khỏi đây. Lạ thế? Mấy lần Thúy định hỏi, nhưng cô sợ câu trả lời. Có khi nào anh về với cô lâu; bao giờ cũng vội vội...
          - Em ở lại một mình. Có sợ không? - Lê hỏi.
          - Ban đầu cũng sợ, bây giờ em đã quen quen. Với nữa có mèo mướp, đỡ hơn - Thúy quay nhìn Lê và cười - Em cho nó cào anh nhé!
          - Nó quen anh rồi! Em xem, cu cậu ngồi thin thít.
          - Anh còn nhớ cái Hương phòng em không, tuần trước đang rục rịch bàn chuyện cưới, tuần này bọn em đã đắp mộ nó. Tội quá!
          Sau một chút im lặng, Lê hỏi:
          - Nhà máy của em thế nào?
          - Vừa hạ thủy xong mấy con tàu cho các anh. Bọn em vẫn sản xuất đều. Máy bay đánh phá mấy lần, nhưng tự vệ bọn em đánh trả rát, chúng sợ nên thả bom không đúng. Phân xưởng nào cũng hoạt động! Tối nay... Thúy định khoe "tối nay em trình bày sáng kiến cải tiến cách hàn ghép khung tàu trước Hội đồng kỹ thuật nhà máy". Nhưng kìm được. Cô lo anh buồn khi nghĩ rằng tối nay cô vắng nhà.
          Thúy lại nói chuyện. Chuyện "các cụ đằng ấy", chuyện "các cụ đằng này",  chuyện nhà máy, chuyện bạn bè... Lê nhìn Thúy, thấy vui, và anh hiểu Thúy rất thích được anh chú ý như thế.
          Và chuyện cứ nối nhau, kéo dài suốt bữa ăn. Khi Thúy nhớ đến công việc, trời đã tối. Đèn đường đã bật sáng.
          - Tối nay em phải có mặt ở nhà máy...- Thúy nói và nhìn Lê. Cô sợ anh mất vui.
           Anh trách:
          - Sao không báo trước, chúng mình ăn cơm sớm hơn. Em sửa soạn đi kẻo muộn.
          - Đừng giận em nhé! Đi một lát rồi em về. Đừng buồn, anh...
          - Anh chơi với mèo mướp mà. Em cứ đi!
           Tới lưng chừng cầu thang, cô quay lại, dặn với:
          - Máy bay vào, anh nhớ xuống hầm nhé !
           Rồi tiếng guốc mỏng dần.

           Lê đứng bên cửa sổ, nhìn theo. Bóng Thúy nhỏ nhắn, mờ mờ trên đường, thương quá. Ở lại một mình trong ngôi nhà này, Thúy buồn biết chừng nào! Lại phải lo bao công việc của nhà máy...
          "Anh chưa thể nói hết công việc của anh với em" -  Lê bước lại bên bàn. Bức ảnh anh chụp ngày nào treo  ngay ngắn trên tường. Hồi đó trẻ quá ! Cái nhìn trong veo, vô tư...
           Anh ngồi xuống và tò mò lục ngăn bàn. Một hộp bằng giấy, chiếc kéo con, mấy cuộn chỉ, một ít cúc và dăm ba mảnh vải vụn đủ màu; mấy tấm bưu ảnh và những lá thư. Những lá thư của anh, Thúy xếp cẩn thận bên cạnh lọ nước hoa và một chiếc khăn mùi xoa xinh xinh. Anh thú vị ngắm những đồ vật linh tinh ấy, thấy lâng lâng. Có một cái gì đó rạo rực, vui vui xâm chiếm tâm hồn. Anh mỉm cười và như thể đang nghe một giai điệu mùa xuân nào đấy.
           Bỗng đèn thành phố vụt tắt. Còi bào động rú lên.
           Tiếng súng phòng không nổ ran. Những đường đạn đỏ ực tới tấp vọt lên không trung. Rồi tiếng máy bay rú rít ầm ào. Nhiều chớp lửa loé sáng và tiếng bom từ mạn Thượng Lý ầm ầm dội lại.
            Lê vọt ra đường: chúng ném bom phía nhà máy đóng tàu!
            Anh lo lắng nhìn những vầng lửa ngày càng bốc cao trong đêm. Thúy dặn anh xuống hầm, còn em?

          ... Ở nhà máy Thúy không xuống hầm. Cô vừa trình bày xong sáng kiến cải tiến cách hàn ghép khung tàu trước Hội đồng kỹ thuật. Sáng kiến được hoan nghênh và đánh giá cao. Giám đốc An siết chặt tay cô cảm ơn và bảo rằng: Với sáng kiến đó, với chất lượng đó, Thúy đã làm lợi cho Nhà nước hàng vạn đồng, tăng nhanh giá trị của tiến độ thi công và chắc chắn những con tàu sẽ dược hạ thủy sớm hơn... Ông hứa tuần tới, sẽ bắt đầu cho áp dụng vào sản xuất.
           Chưa ai kịp chúc mừng thì đèn tắt, nhà máy chìm trong tiếng còi báo động.
           Thúy chạy tới khẩu 12ly7. Bình, Sơn và nhiều người đã có mặt ở đó.
           Bầu trời tối đen, chỉ có những đường đạn vọt lên như hoa lửa. Tiếng máy bay sà thấp. Tiểu đội tự vệ phòng kỹ thuật nổ súng đầu tiên, bắn chéo theo đường đạn của trận địa bộ đội bên kia sông.
           Bình đứng chếch bên phải khẩu súng, vừa phất cờ vừa hô "Bắn! Bắn!". Bóng Bình nhoà trong chớp bom.
           Bom rải phía đường 5. Những cột lửa bùng lên, bén ra, cháy ngun ngút.
           Máy bay bắn tên lửa ngoài mé sông. Một vài quả nổ kề phân xưởng cơ khí. Ai cũng lo cho số phận những con tàu đang nằm trên ụ đà. Chớp bom, chớp đạn đan nhau, nhì nhằng. Âm thanh hỗn loạn.
           Một lúc, tiếng máy bay ngớt.
           Đèn thành phố vừa bật sáng, mọi người ùa xuống ụ đà. Thúy cố lách đám đông chạy lên trước.
          - Ôi, chị Huệ, hôm nay chị làm ca đêm? - Thúy hỏi  người phụ nữ đứng bên cạnh.
          - Tưởng em về từ chiều? - Huệ hỏi lại.
          - Vâng! Tàu ta có làm sao không hả chị?
          - An toàn cả!
          - Anh Cựu đứng ở bến phà lại lo đây. - Thúy đùa.
          - Cái ông Thiên Lôi ấy có mà lo.
          - Chốc nữa thế nào chẳng thập thò ở cổng nhà máy nghển vào xem chừng.
          - Mày! Thôi, chị làm đây....
          Ánh đèn hàn lại đua nhau loé sáng. Thúy thấy lâng lâng. Cô đứng bên ụ đà một lúc rồi chạy về phòng, miệng khe khẽ hát một bài không rõ lời, giai điệu rất nhộn.

          Cởi đôi giày "ba ta" xanh, xỏ chân vào đôi guốc, Thúy lại nghĩ đến Lê. Anh vẫn thích em đi guốc cao gót mà! Con gái đi guốc cao gót có duyên, dáng đẹp. Bọn cái Bình vẫn đùa em: Số cái Thúy sướng, sau này tha hồ được chiều! Đúng không anh? Em mà được chiều.
          - Thúy, xin chúc mừng em! - Lâm Khanh bước vào phòng, giọng vui vẻ.
          - Sáng kiến của phòng ta chứ, anh!- Thúy đứng dậy, gỡ chiếc dây lưng bỏ vào ngăn bàn - Em chỉ là người thực hiện.
          - Không nhất thiết khiêm tốn hình thức như vậy. Công của em thì em nhận. Điều đó có gì ngại. Hôm nay trông Thúy... vui quá! - Khanh nhìn Thúy và cũng thấy trong lòng nao nao một mềm vui. Em chuẩn bị về phải không, muộn rồi, để anh đưa về!
          - Anh đưa em về à? - Khuôn mặt Thúy chợt bối rối, cô nói nhanh - Vâng? Cũng được. Hôm nay em có khách, anh lên chơi nhé ...
          - Anh nghĩ là nhà máy chúng ta... Hả, ai vậy?
          - Anh Lê về!
          - À!...
          Đang sôi nổi, như thể bị hẫng. Khang nín bặt. Tự dưng  anh thấy lúng túng. Có một cái gì đó mơ hồ như thể nỗi buồn, sự trống trải mênh mang xen vào... Khanh gõ gõ những ngón tay xuống bàn, cố giấu tình cảm mình.
          - Khuya rồi, để khi khác lên chơi. Nhưng anh sẽ đưa Thúy về - Khanh nói khó khăn.
          - Nếu anh không lên chơi, em về một mình cũng được. Đường phố vẫn còn người qua lại...
          - Tùy Thúy!
           Khanh nói rất khẽ. Hai tiếng đó bật ra hoàn toàn ngoài ý muốn. Anh thấy vô duyên và điều ấy khiến anh ngượng. Anh ngẩn người bên cửa phòng nhìn theo Thúy ất tả bước vội ra cổng, cố nén tiếng thở mạnh. Có một cái gì đó nhói lên trong tim.
          "Tình yêu chỉ là sự khổ hạnh!' - Khanh bật thành tiếng và đứng thần ra. Một lúc, nhìn vào đồng hồ, anh giật mình: gần một giờ sáng!
          Thật cố chấp. Nhỡ Thúy gặp điều gì không may trên đường!... - Khanh chạy vội ra cổng. Anh lặng lẽ bước sau Thúy, cách cô chừng hai trăm mét. Anh đi nép vào hè để nếu vô tình Thúy quay lại, không nhận ra.
           "Con người ấy thật tốt, nhưng biết làm thế nào?" - Thúy thở dài - Mình yêu Lê! Chẳng ai thay thế được anh ấy! Anh vẫn thức chờ em chứ? Khi nào anh đi? Em vừa bắn máy bay đấy! Vậy là cái sáng kiến của em đã thành công. Những con tàu cho các anh sẽ hạ thủy nhanh hơn. Con tàu làm nhiệm vụ gì vậy anh? Chẳng bao giờ anh nói với em về chuyện đó.
           Thúy bước nhanh. Đường phố thưa người, sáng ánh đèn. Những ngọn đèn đứng bên vỉa hè như đùa với cô: bóng Thúy đổ dài phía trước, ngắn dần, rồi lại đổ về phía sau. Thành phố yên tĩnh quá. Một chiếc xe đạp lướt qua. Thúy nghe loáng thoáng tiếng con gái.
          - Sao đạp nhanh thế? Hay còn định đón ai?
          - Đón cô nhà máy! Muộn giờ vào ca của anh rồi. Con gái là chúa nhõng nhẽo.
           Tiếng cô gái cười rúc rích.
           Thúy nhìn theo, cười một mình, cô bước nhanh hơn. Về tới cổng, Thúy ngước nhìn lên cửa sổ và chạy vụt vào sân.
           Phía sau. Lâm Khanh sững lại, rồi anh quay nhanh, lững thững đi về nhà máy.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 03:09:35 pm
     
           Lê ra đón Thúy ở cửa.
          - Em khoe với anh diều này nhé! - Giọng Thúy trong trẻo.
          - Nghe tiếng bom nổ phía nhà máy, anh lo quá! - Lê cắt ngang.
          - Ngày nào cũng vậy đấy đồng chí hải quân ạ... Anh nóng ruột lắm phải không? Dịp này bọn em bận lắm, công việc túi bụi. Muốn tắm cũng chẳng có thời gian ấy chứ!
          - Tắm ư ? Vậy bây giờ anh gác máy bay để em tắm nhé.
           Lê nhìn vào mắt Thúy. Thúy ngượng: "Vô duyên! Sao lại phô với anh chuyện ấy".
          - Thì đã sao?
           Thúy nhìn Lê, tin cậy:
          - Vâng. Thế cũng được. Em tắm nhé?
           Hai người chạy vội xuống cầu thang. Mèo mướp chạy theo sau. Thấy cô chủ vui, mèo cũng vui.
Lê giằng được chiếc thùng trên tay Thúy. Anh múc nước đổ đầy hai chậu tôn trong nhà tắm, lại múc thùng nữa.
          - Em cứ tắm thoải mái, hết nước thì gọi.
           Rồi Lê ôm mèo mướp ra sân. Cả hai ngồi xuống bậc đá cạnh đó. Lê cà nhẹ cằm lên mình mèo. Cu cậu có vẻ thích, nằm im, mắt lim dim.
           Thúy giội nước lên người. Mát quá! Yên tâm quá! Đã lâu rồi cô mới có một lần tắm đã thế này. Anh vẫn đứng ngoài sân trông chừng máy bay cho em ư? Ôi, con gái như em, bạo quá, phải không anh?
           Thúy tắm xong, hai người đi lên nhà. Thúy cảm thấy tỉnh táo, nhẹ nhõm và khỏe khoắn hẳn.
           Lê lặng lẽ đứng bên cửa sổ đốt thuốc, nhìn Thúy hong tóc, tủm tỉm cười. Thúy quay lại, đôi mắt như có lửa: "Sao lại cười em?"
           Lê bối rối trước ánh mắt ấy. Anh đốt điếu thuốc nữa rồi quay nhìn xuống phố.
           Thúy ngồi bên mép giường, nhìn anh. Khuôn mặt anh gầy, sạm xanh; khác xưa nhiều quá.
           Những gian khổ trong mấy năm qua khiến gương mặt ấy khắc khổ hơn, dài ra, Thúy thấy thương quá! Sao anh cứ im lặng thế? Đừng tự làm khổ mình nữa! Hãy nói với em một lời đi. Anh không rõ là em yêu anh sao? Con người anh, em biết, bao giờ cũng hướng về sự tốt đẹp.
          Thúy đứng dậy, nhè nhẹ bước lại cạnh Lê, cô nghe rõ hơi thở của mình.
          - Anh! - Tiếng Thúy mềm như một sợi gió, thoảng qua.
           Lê quay lại. Thúy run bắn lên: Em van anh, đừng nói gì cả. Đừng nói!
           Lê cảm được hơi thở gấp gáp của Thúy và tiếng tim đập rất mạnh của cô. Anh choàng tay, siết chặt Thúy vào lòng ...
           Đêm tháng năm, trời mát dịu. Ngoài kia, sao rải kín bầu trời. Mùi dạ hương từ ngõ nhà ai thoang thoảng. Gió đưa những cành phượng cọ vào nhau, lạt xạt. Có tiếng tí tách như thể tiếng vỏ cây nứt rạn. Một chiếc lá bàng rời cành, tròng trành bay bay ngoài cửa sổ. Và ở một nơi nào đó rất xa, nghe mơ hồ tiếng sóng lao xao vỗ vào bờ. Thành phố vẫn bình yên. Đêm đã khuya lắm.

          ...Sáng sớm, Thúy tiễn Lê ra tận bến phà. Gió từ bờ sông thổi vào rười rượi. Hai người đứng lặng bên nhau. Có bao điều cần dặn dò, nhưng cả hai đều im lặng.
          - Anh đừng lo gì cho em cả - Thúy nói nho nhỏ.
           Lê gật đầu. Anh thấy nao nao, chứa chan một niềm hạnh phúc. Và một tình cảm như thể là sự biết ơn khiến anh xúc động: Thúy của anh đáng quý biết bao nhiêu! Anh lần bàn tay Thúy, bóp chặt.
          - Anh hiểu em!
          Lê quay nhanh, bước xuống phà.
          Chờ cho Lê sang hẳn bên kia bờ, Thúy mới thẫn thờ quay về. Nhìn con đường quang bóng người, dài hun hút, Thúy thấy trơ trọi, buồn nao cả người.
          Tới cổng, cô chạy ào lên nhà, ngồi bên giường, úp mặt xuống gối. Đâu đây vẫn phảng phất một hơi ấm. Cho tới lúc này, nỗi nhớ anh mới choáng ngập trái tim cô. Thúy nhận biết có một cái gì đó thật thiêng liêng và mới lạ vừa đến với mình. Và điều ấy khiến cô nôn nao, vừa vui, vừa buồn, vừa lo và như vừa nuối tiếc.
          "Em đã thực sự bước vào cuộc đời anh... Chẳng lẽ như vậy là có lỗi? - Thúy thổn thức - Em yêu anh! Chỉ anh mới hiểu em, phải không anh?"
          Thúy ngẩng lên, bây giờ cô mới nhận ra chiếc gối ướt nước mắt.
          Cô lặng lẽ lại bên bàn và sửa soạn đến nhà máy.


*


           Chiếc ôtô tải dừng lại. Tòng cảm ơn người lái xe rồi nhảy xuống ca bin. Bác tài, một trung niên chừng bốn lăm tuổi, to khỏe, vui tính, đã đánh xe đưa thẳng anh tới ga Hà Nội.
          - Ơn huệ gì! - Người lái xe nói với xuống - Đi nhanh, may ra kịp tàu. Gửi lời thăm cô ấy nhé. Thú thật, tôi thích những người như anh đấy.
          Tòng chưa kịp nói thêm, chiếc ôtô đã rú ga, chạy biến.
          "Vẫn có những người thật tất. Số mình vậy mà may". Tòng thấp thỏm bước vào sân ga.
          - Mấy giờ có tàu Việt Trì, bác? - Anh hỏi người soát vé.
          - Tàu Việt Trì à? Đang lắp đầu máy, khẩn trương lên!
          - Cám ơn!
           Tòng lách qua cửa. Người kiểm soát viên giữ lại:
          - Vé ?
          - À, à... lên tàu mua. Lính thời chiến mà, ít thời gian lắm.
          Người soát vé nhìn bộ quân phục hải quân không mấy gọn gàng trên người Tòng, rồi đẩy anh vào:
          - Nhanh, kẻo nhỡ!
          "Lại gặp may!" - Tòng nghĩ khi đã ngồi trong toa. Hành khách khá đông. Con tàu rúc hồi còi dài rồi lăn bánh trên đường ray.
          Qua khỏi ga Gia Lâm, tàu chạy nhanh hơn. Mọi người bắt dầu ngủ gà ngủ gật. Tòng ngồi bên cửa sổ, đầu óc tỉnh băng.
          Phía ngoài, lúa đồng đang vào đòng thoang thoảng hương thơm. Chốc chốc lại thấy một trận địa pháo phòng không. Khuôn mặt den sạm của những người lính trực chiến loáng thoáng lướt qua.
          Gió lùa vào thổi tung mái tóc cứng như rễ tre của Tòng. Anh nheo mắt, chiềng mặt ra hóng gió và cảm thấy rất thú vị .
          "Lụa không có nhà thì sao nhỉ? - Tòng nghĩ - Cô ấy đi làm thủy lợi xa, hoặc đi trực chiến đâu đó? Chẳng lẽ lại xúi như vậy? Hôm nay toàn gặp may...".
          Con tàu lăn bánh đều đều. Tòng thấy sốt ruột và cảm giác như nó chạy quá chậm.
          Bỗng con tàu giật mạnh, rồi đỗ hẳn.
          - Ga nào vậy? - Có tiếng hỏi bâng quơ.
          - Ga nào! Máy bay đấy!
          Mọi người chen nhau thò đầu ra cửa. Ngơ ngác nhìn hai bên.
          - Sao tàu dừng giữa đường thế này, đồng chí?
          - Máy bay vừa ném bom ga Phúc Yên, chưa vào được! - Anh nhân viên nhà tàu giải thích.
          - Lại thế! Ngày nào cũng bom, bom! Nằm đây tới đêm chưa chừng.
          - Đến đêm đã khá, giam tới sáng mai ấy chứ. Cho tôi ra nhờ một chút bà con.
           Toa tàu lao xao, lộn xộn. Nhiều tiếng chửi, nhiều tiếng phàn nàn.
           Tòng lách ra cửa, nhảy xuống.
          - Mấy giờ rồi chị? - Tòng hỏi người phụ nữ đứng gần đó.
          - Hơn năm giờ chiều anh ạ - Người phụ nữ trả lời - Không rõ bao giờ mới đi dược? Anh xuống ga nào?
          - Tôi định xuống Việt Trì!
          - Sao lại định?
          - Bởi có thể tôi sẽ xuống một ga nào đó thấy tiện hơn, rồi băng đồng về làng.
          - Anh về đâu?
          - Tôi về làng Ao Gỗ.
          - À, đầu làng anh có ngọn Tháp Bình Sơn...
          - Chị cũng biết làng tôi?
          - Thời kháng chiến chống Pháp tôi có ở vùng ấy. Rất muốn quay lại đó một chuyến mà đường xa, tàu xe thời chiến khó khăn quá.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 07 Tháng Bảy, 2009, 03:38:22 pm
       
           Tòng đi đi lại lại trên cỏ: " 15 giờ chiều! Từ đây về Việt Trì hơn ba mươi cây số nữa, đi bộ thêm chục cây qua một con sông...".
           Tòng nhìn ra con đường nhựa cách đó chừng hai trăm mét và trong anh thoáng nhanh một ý nghĩ.
           - Tạm biệt chị nhé! Tôi ra ngoài kia vẫy xe đi nhờ. Ngày mai tôi có mặt ở đơn vị.
           - Ngày mai? Thế đấy! - Người phụ nữ kêu lên - Chúc anh gặp may.
           Tòng bước lại phía quốc lộ. Anh đứng chờ. Chiếc xe thứ nhất vút qua như không để ý đến sự khẩn nài của anh. Bụi cuốn tung mù mịt. Tòng quay mặt, chửi độc một tiếng, rồi lại ngóng ra. Chiếc xe tải cài kín lá ngụy trang từ phía Hà Nội phóng tới. Tòng đứng ngay giữa đường, làm hiệu cho xe dừng lại. Tiếng phanh rít lên:
          - Muốn chết hả? - Một anh lính trẻ thò đầu qua cửa ca bin, cáu kỉnh quát.
          - Đằng ấy cho đi nhờ. Lính với nhau mà!
          - Về đâu? Nhanh!
           Tòng bám cửa xe, vọt lên. Chiếc xe rú ga, chạy tiếp.
          - Cho xuống Việt Trì nhé!
          - Lính Hải quân à?
          - Hải quân!
          - Trốn?
           Tòng ngần ngừ:
          - Cứ coi như vậy! Mà cũng chẳng thật là trốn. Có xin phép hẳn hoi. Hắn làm đoàn trưởng, tớ đoàn viên. Có điều không nói với nó là về làng. Hắn về với người yêu, mình lẵng nhẵng bám theo quấy rầy làm gì.
          - Mấy hôm?
          - Mai phải có mặt.
          - Ít thời gian thế, về làm quái gì cho khổ?
           Tòng im lặng. Một lúc, anh hỏi:
          - Đằng ấy chưa có người yêu hử?
          - Sao biết?
          - Chỉ những người chưa yêu mới bảo "về làm quái gì cho khổ".
           Chàng lính lái xe tủm tỉm cười, đôi mắt vẫn đăm đăm nhìn xuống đường.
          - Thế đấy! - Tòng nói tiếp - Đằng ấy cứ thử yêu rồi biết. Sao lại nói là khổ nhỉ? Nếu không gặp xe, tôi định cuốc bộ ấy chứ. Bốn mươi cây số nữa, chẳng lẽ không đi nổi về tới làng.
          - Tới Việt Trì, đi còn xa không?
          - Mười cây đường bộ và qua một con sông.
          - Mai làm sao về kịp đơn vị?
          - Việc đó lo sau. Điều đáng lo là liệu đêm nay có gặp cô ấy. Chỉ cần nhìn một chút thôi, rồi đi.
          - Yêu mà vất vả thế?
          - Ờ...Lại một câu ngốc nữa.
           Người lái xe nhấn thêm ga. Chiếc xe nhảy chồm chồm trên đường. Trời tối nhanh. Hai bên, cánh đồng mịt mờ, đã không nhận ra ranh giới của từng thửa ruộng. Đến ngã ba Việt Trì, đã khuya khuya. Chiếc xe dừng lại.
           - Tiếc là đường đê cấm xe nên không đưa anh tới thẳng bến đò - Người lái xe phân bua - Thông cảm nhé.
           - Ồ, thế này là quý lắm rồi. Tôi về tới làng chừng mười một giờ. Đằng ấy di khỏe nhé. Rất cám ơn.
Chiếc xe rồ máy, mất hút.
           Mặt đê sáng mờ mờ. Tòng vừa đi, vừa chạy. Hương hoa ngô quyện phù sa đất bãi thoang thoảng trong gió. Anh cảm giác có một cái gì đó gần gũi, thân thuộc ở ngay cạnh mình. Anh bước gấp hơn. Đêm tháng năm, trời nhiều sao. Sông Lô hiện ra lờ nhờ. Những nương ngô san sát nối từ chân đê ra tận mép nước. Dưới đó, gió lao xao...
           Tới chỗ rẽ, Tòng lao xuống bến đò. Bến vắng teo. Con sông trải rộng trước mặt, lặng lờ. Sóng uể oải vỗ vào bờ và gió từ thượng nguồn thổi về hối hả lướt trên mặt nước. Thoảng trong không khí là mùi lợ của bùn, mùi cỏ ẩm.
           Tòng đứng sững. Bên kia bờ, một vệt đen nhợt nhạt chạy dọc mép sông.
           - Có ai bên đó cho tôi sang vơ... ới! - Tòng đưa tay làm loa, gọi. Tiếng anh loãng tan trên mặt nước. Đêm tĩnh mịch, vắng lặng.
           - Ớ... ơ ... đò!
           Mặt sông mờ nhoà trong đêm. Sóng lăn tăn. Vẫn không biểu hiện gì có đò sang.
           "Đành bơi qua vậy!". Tòng cởi quần áo, vo tròn lại và lội xuống. Hai bàn chân anh ngập trong bùn, thứ bùn thật mịn. Tòng lội ra xa. Nước dâng dần lên. Một tay cầm quần áo, Tòng thả mình xuống sông. Nước sông mát lạnh. Đã lâu rồi anh mới lại có dịp bơi trên con sông này - Con sông ấp ủ bao kỷ niệm.
           "Thế là ổn, bây giờ chỉ còn việc đi tìm cô ấy! " - Tòng thở phào khi đã sang tới bờ. Anh mặc vội quần áo rồi phấp phỏng đi vào làng.
           Tòng run run khi nhận ra mình đã đứng ngay bên ngôi nhà ấy. Anh hít một hơi thật sâu rồi chúm môi bắt chước tiếng chim hót. Đã bao lần anh đứng đây gọi Lụa như thế. Tòng chờ. Một dáng phụ nữ từ cửa ngôi nhà len lén bước ra, ngơ ngác nhìn. Lụa! Tim Tòng đập rộn. Anh nín thở và như không tin rằng đây là sự thật.
           Người phụ nữ chững lại, rồi chỉ kịp kêu một tiếng: "Trời!" và xô tới, dang tay ôm ghì lấy đầu Tòng, áp chặt vào ngực mình. Bất ngờ, Lụa cắn thật mạnh vào bả vai anh. Tòng lịm đi trong hơi ấm từ lồng ngực Lụa. Tiếng Lụa thoảng bên tai.
          - Thực hay mơ đây?
           Tòng không nói, anh luồn những ngón tay to, thô đan vào mái tóc Lụa. Và đứng như vậy hồi lâu.
          - Ta ra ngoài kia, anh?
           Hai người chạy thẳng ra bờ sông.
           Đến một nương ngô, họ dừng lại. Cả hai đều thở gấp phả hơi nóng vào mặt nhau. Lụa bíu chặt cổ Tòng, hôn lên khắp khuôn mặt anh.
          - Sao thế này? Tóc ướt hết rồi! - Lụa hổn hển.
          - Vừa bơi qua sông!
           Họ lách qua ruộng ngô. Phấn ngô rắc đầy hai mái tóc. Rồi chui vào một chiếc lều canh ngô cạnh đấy. Mùi ẩm mốc tỏa ra hắc nồng. Hai người ngồi xuống lớp bẹ ngô. Những năm trước, họ vẫn ngồi với nhau trong túp lều này.
          - Nói đi, làm sao anh về được? - Lụa hỏi, hai tay sờ sờ lên khuôn mặt Tòng.
          - Nhớ quá!
          - Ở với em được mấy ngày.
          - Mai phải đi rồi.
          - Không! Em không cho anh đi, - Tiếng Lụa hấp tấp và cô ôm chặt lấy anh.
          - Ở nhà sống ra sao?
          - Đừng hỏi nữa, cho em rúc vào ngực anh chút đã. Mấy lần mơ anh chết, hãi quá! Có phải anh vẫn đứng trên tàu đánh nhau với máy bay Mỹ không? Em mơ thấy.
          - Không đánh nhau với chúng nó, đi lính làm gì?
          - Đừng "làm sao" nhé ! Anh mà làm sao, em chết mất, thương em nhé. Chúng mình sắp tự do.
          - Đến đâu rồi?
          - Toà án gọi hai lần, nhưng cứ ậm ờ, chưa đồng ý. Nói với mọi người rằng không lấy nữa, nhưng dám thế cho mà biết.
          - Đồ tồi!
          - Đừng làm khổ em như vậy! Bơi qua sông và gọi em ra đây để thế sao? Chuyện đã rồi ... Chẳng lẽ ... Em chỉ được ở bên anh mấy tiếng thôi. Anh, anh nói anh nhớ em phải không? Vậy nhớ đi!
           Lụa cầm tay Tòng đưa lên ngực, rồi lại ghì chặt anh vào mình.
           Đêm đã khuya. Không khí ẩm lạnh. Đôi bên bờ sông tối nhờ. Những lá ngô ưỡn cong, đẫm sương rung nhẹ trước gió. Tiếng con nước cạp bờ, nghe đã rõ hơn. Sao rải kín mặt sông. Hương ngô mềm dịu... loãng tan.
           Đêm lặng lẽ trôi. Xa lắm, mơ hồ nghe như có tiếng gà gáy.
           Chợt có bước chân đi trong ruộng ngô, lại gần:
           - Ai trong lều đấy? - Có tiếng hỏi.
            Lụa co người, run lên.
           - Bác Thực, đừng sợ. - Tòng thì thào vào tai, rồi bước ra - Cháu đây mà, bác!
           - Ai thế nhỉ? Thằng Tòng hử?
           - Dạ!
           - Về bao giờ thế? Lại dẫn cái Lụa ra đây? Chúng mày coi trời bằng vung! - Bác Thực nói, rồi nhìn chằm chằm vào mặt Tòng.
           - Cháu vừa về xong! Làm thế nào được... Bọn cháu đang mất tự do nên mới nhờ đến cái lều của bác. Mai cháu đã phải đi rồi.
           - Mai đi! Mày trốn đấy à? Đẹp mặt nhỉ!




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:21:50 pm

          - Cháu có xin phép hẳn hoi... Thế bác nghĩ rằng cháu tự ý bỏ tàu, bỏ đơn vị mà về? Cháu không xấu như vậy đâu! Bác cho cháu mấy bắp ngô cháu ăn sống nhé. Từ sáng qua tới giờ cháu chưa ăn gì. Vội quá!
          - Mày cũng biết hỏi xin?
          - Không vậy hóa ra thằng ăn trộm?
          - Tao hỏi, chứ cái việc mày dắt cái Lụa ra đây không phải là ăn trộm hử? Hượm, để tao nói - Bác Thực hạ giọng - Trộm vợ người ta, rõ không?
          - Cháu chẳng ăn trộm của ai cả. Chúng cháu yêu nhau. Lụa đã nói thẳng với chồng cô ta điều ấy. Đã đưa đơn ra toà, bác cũng biết đấy!
          Tòng cứ ngang ngang như thế. Anh còn lạ gì tính bác Thực. Trong làng, chỉ bác là người thông cảm, thương Lụa, thương Tòng. Hồi Tòng chưa đi bộ đội, thấy hai đứa cứ thậm thụt đi với nhau, bác ái ngại, nhưng không gàn. Bác bảo rằng cái tình cảm con người ta, muốn ép vào không được, mà muốn tãi ra không xong. Bác kể rằng hồi còn trẻ, bác cũng vậy, trốn nhà theo bác gái xuống hội Lim hàng tháng, như ăn phải bùa, ngày nào không gặp nhau một lần là ngẩn ngẩn ngơ ngơ như kẻ mất hồn. Khi đã phải lòng càng bị ngăn cấm, càng hay tìm đến nhau, càng thương nhau và dễ liều. Hai người có con rồi mà ông cụ, bà cụ chẳng chịu nhận dâu. Nhưng đâu cũng vào đấy; không bế cháu mình, dễ chừng ẵm trẻ hàng xứ?
          - Này, tao báo cho mà biết - bác Thực dọa - chồng cái Lụa đang vác dao đi tìm đấy, liệu hồn.
          - Đi tìm cháu để chém hả bác?
           Từ trong chòi, Lụa sấn ra. Trông cô lúc này chẳng còn vẻ sợ hãi ban nãy nữa, giọng rất hăng như thể Tòng và cô đưa nhau ra đây không phải là điều thách đố, mà là điều đương nhiên, phải lẽ.
          - Nếu cháu mà có cái phúc lớn như vậy thì đã sướng một đời! - Giọng Lụa mỗi lúc mỗi to - Anh ta mà dám bước chân ra sân trong đêm! Ma nó lại không úp nồi rang lên đầu ấy! Đàn ông đàn ang gì chỉ biết quẩn quanh bên bếp chờ vợ sai vặt. Sợ đi làm thủy lợi, sợ đi đắp đê, sợ đi bộ đội. Chưa nghe tiếng máy bay đã lủi xuống hầm. Sợ người ta nói to, cuốc vườn sợ giun, đong thóc sợ chuột nhắt. Anh ta chỉ biết mỗi một việc là ngày ngày đếm số bắp ngô cháu hái về, và của đáng tội, tối tối cũng biết đóng cửa chuồng gà trước khi phủi phủi hai  bàn chân để trèo lên giường... Chà, cháu mà được anh ta  vác dao đi tìm thì cháu đã yêu anh ta biết mấy.
          - Mặc xác chúng mày! - Ông Thực gắt - Lớn rồi, có thân thì tự nghĩ, tự lo lấy, sao cho phải lẽ. Thằng Tòng đi ngay hả?
          - Dạ, ngày mai cháu phải có mặt ở đơn vị. Ông Thực buông một tiếng thở dài, đứng ngẩn ra hồi lâu. Rồi ông bảo:
          - Ôi dào, cuộc đời nó vậy đấy! Thôi mày đi cho mạnh, cho khỏe, hử. Ngô đấy, cả nương, bẻ mà ăn. Tao về!
           Ông cụ bước đi. Tòng chạy theo:
          - Bác đừng nói với ai là cháu về bác nhé. Bố mẹ cháu biết, lại giận. Bác cũng rõ đấy, bố mẹ cháu không cho cháu yêu cô ấy. Hồi trước, chỉ suốt ngày la mắng, đe nẹt. Coi cháu như kẻ bỏ đi. Bố mẹ cháu biết, cháu đi rồi, chỉ khổ cho Lụa...
          - Anh lại phải dặn tôi? - Bác Thực cao giọng gắt. Nhưng liền ngay đó, bác chép mắng, lắc đầu - Mà con Lụa cũng bảo nó đi cho sớm, lằng nhằng lại nhỡ tàu xe, vất vả ra. Thân nó đến là khổ!
          Bác Thực đi khuất, Lụa tần ngần, bảo Tòng:
          - Bác ấy nói đúng đấy. Em đã khổ, anh còn khổ hơn em nhiều!... Thôi, đi đi thôi, anh ạ!
          - Sao lúc nãy bảo không cho người ta đi?
           Lụa âu yếm cà cà khuôn mặt mình lên mái tóc cứng như rễ tre của Tòng:
          - Em muốn thế lắm! Nhưng phải đi thôi "chú mình" ạ. Đến đơn vị, anh cứ bảo rằng vì nhớ em mà trốn về nhá.
          - Sẽ bị kỷ luật ngay.
          - Không ai kỷ luật người trung thực. Lại càng không ai kỷ luật người quá yêu. Rồi Lụa ôm lấy đầu Tòng, hôn vào mắt - Sớm muộn gì, trong năm nay chúng mình cũng được tự do. Em chỉ lo khi ấy anh lại...
          - Dại miệng! - Tòng ghì Lụa, hôn tới tấp.
           Lụa đưa Tòng ra bến. Mặt sông mờ mờ sương, phẳng lặng như người ngái ngủ. Mới có vài người ngồi lặng lẽ trên con đò. Còn quá sớm, chưa mấy ai qua lại.
           Tòng xắn quần, bước ra.
           Khi con đò khua sóng rời bến, trên bờ bật tiếng khóc.
           - Anh Tòng!... - Giọng Lụa se thắt.
           Tòng nhìn lên, cháy ruột.
           Con đò xa dần. Lụa cũng quay nhanh vào chỗ khuất. Lụa không muốn Tòng mềm lòng khi thấy trên bờ, bóng Lụa mờ trong sương sớm, ngóng theo.
           Đò vừa cập bãi, Tòng nhảy vội lên. Anh nhìn lại bờ bên kia: ở đó, bãi ngô nhoà trong sương. Tòng quay đi, cắm đầu bước...

          Trưa hôm ấy, Tòng có mặt ở nhà khách Bộ tư lệnh.
          - Mình ngỡ cậu lại lỉnh về với cô Lụa, đến muộn thì chết cả lũ ! - Lê bảo.
          - Nỡm ơi là nỡm, thế mày nghĩ tao đi đâu? Không về với Lụa thì về với ai!
          - Hả? - Lê tròn mắt, nhìn Tòng.
          - Hả cái con khỉ. Thế mày tưởng tao đến bà cô ở Hải Dương hả? Ngốc ơi là ngốc. Hơi ấm của Lụa còn tỏa ra khắp người đây.
          Lê ngẩn ra:
          - Thế đấy! - Anh định nói thêm "Cậu là kẻ trí trá, là kẻ vô kỷ luật", nhưng anh đứng yên. Tòng vừa đáng yêu, lại vừa đáng trách. Lạ vậy, đoàn trưởng có thể cho anh chàng về hẳn một tuần thì từ chối... Dẫu sao hắn cũng đã đến đúng hẹn.
          Thấy khuôn mặt Lê ngẩn ra, Tòng hỏi:
          - Sao thuỗn ra thế, vẫn giận đấy à?
          - Giận cậu thì giận cả đời!
          Tòng vòng tay, ôm chặt Lê, riết mạnh:
          - Mấy giờ chúng mình đi nhận tàu?



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:22:57 pm

23


          Tàu T.37 nép trong hốc núi trên một nhánh sông. Nước sông trong vắt, tưởng có thể nhìn thấy đáy. Con sông ngoằn ngoèo lượn giữa đôi bờ đá. Đứng trên tàu nhận rõ những ngọn núi đủ hình thù nhấp nhô hai bên bờ. Địa hình nơi đây từa tựa vịnh Hạ Long.
          Mấy hôm nay T.37 náo nức chờ ngày lên đường: tàu đã xếp vũ khí. Dầu, nước, thực phẩm đã lĩnh đủ.
          Trong buồng lái, Đạm dang đánh bài với thủy thủ.
          - Cẩn thận nhé, chính trị viên - Khang kều ngồi cạnh gà cho Đạm - Thua ván này là vẽ năm râu đấy. Chúng nó đã chuẩn bị nhọ nồi trộn với dầu luyn, thứ ấy mà bôi lên thì phải mất hàng ký xà phòng với một két nước mới rửa sạch.
          - Yên tâm mà, ván này biết tay nhau!
          - Đề phòng họ ăn gian!
          Tiếng quân bài đập xuống sàn đen đét, tiếng quát tháo, tiếng cười ồn ào.
          Tòng bước ra boong. Thấy anh, đám thủy thủ xán lại.
          - Kể chuyện gì đó cho đỡ buồn, thuyền trưởng ơi - Một thủy thủ gạ .
          - Các cậu thiếu quái gì chuyện - Tòng nói - Ở đây cậu nào đi được nhiều chuyến nhất nhỉ?
          - Ngoài chính trị viên Đạm đã đi ba chuyến, phần lớn chúng tôi là đi hai chuyến - Thủy thủ đứng cạnh trả lời.
          - Như vậy hóa ra tớ là tân binh.
          - Lần này vào, ta sẽ chở dừa nước ra, thuyền trưởng nhé. Trong đó món ấy bạt ngàn.
          - Nghe nói Cà Mau nhiều tôm cá lắm hả?
          - Nếu tàu ở lại đó, tôi sẽ thết thuyền trưởng một chầu tôm tươi quấn lá hành nhúng qua nước sôi, gấp ra chấm tương ớt, ăn chết bỏ.
          - Nhưng bao giờ mới có lệnh nhổ neo, thuyền trưởng? Hay chưa được ngày lành tháng tốt, các "cụ" chưa cho xuất hành?
          - Có tiếng máy bay đấy Xuyên ạ! - Tòng nói to.
          - Anh cứ yên trí! Ngụy trang đến thế này, nó có rà sát mặt sông cũng mù tịt - Xuyên đứng đằng mũi tàu trả lời.
           Tòng bước lại phía ấy, nghênh tai nghe. Tiếng động cơ vút qua rồi tan dần sau dãy núi.
           "Chúng đi trinh sát!" - Tòng quay lại dặn:
          - Anh Đạm có hỏi, báo cáo rằng mình ra cửa sông nhé!
          - Thuyền trưởng ra chỗ phá bom?
          - Ừ!
          Tòng nhảy xuống chiếc xuồng con, bơi xuôi dòng.
         
          Đáng ra tàu T.37 đã nhổ neo. Mọi sự chuẩn bị và hợp đồng với bến đã xong, nhưng tắc luồng. Mấy quả bom từ trường địch thả gần cửa sông vẫn còn nguyên. Ai dám liều cho con tàu chứa hàng trăm tấn vũ khí đi qua? Công việc phá bom quá ì ạch. Người ta viện ra đủ lý do để biện bạch cho sự trì trệ. Nào là phải thận trọng, nào là phải cân nhắc tính mạng bao nhiêu con người, nào thiếu phương tiện, khí tài, vân... vân... Những lý do ấy, xét ở phương diện nào đấy, cũng có lý.
         Tòng thường chèo xuồng ra cửa sông xem chừng. Đám chiến sĩ làm nhiệm vụ phá bom ở đấy đã quá quen với người thuyền trưởng này. Họ biết anh nóng lòng, tàu của anh đang cần đi biển!
         - Thế nào, hôm nay lại chờ thợ lặn tới chứ? - Tòng cho xuồng áp sát vào bờ hỏi một cậu quen, có tên là Nam, đứng cạnh đó.
         - Thợ lặn tới rồi, nhưng ông Tường thay đổi kế hoạch! - Nam trả lời - Muốn phá bom bằng cách khác. Trên thúc nhiều, ông cũng cuống.
         - Phá bằng cách nào?
          Nam chỉ tay về phía trước:
         - Đấy mọi người đang chuẩn bị. Dùng ca nô kéo một mảng bè sắt cho chạy lướt qua để bom nổ.
         - Cách đó trong khu Bốn người ta đã làm từ lâu.
         - Vậy mà ông Tường còn cân nhắc, đắn đo. Lo hỏng ca nô mà !
         Tòng đi lại phía chiếc ca nô nép bên hõm nước, được ngụy trang khéo léo. Dăm bảy anh lính túm tụm quanh đó bàn việc.
         - Bao giờ cho tiến hành đấy, mấy ông?  Tòng hỏi to, thay lời chào.
         - A, đồng chí thuyền trưởng thân mến của cánh phá bom!
         - Sắp rồi - Một anh trả lời - Hôm nay mời tàu anh ra khơi.
         - Chắc chưa?
         - Điều ấy lại còn tùy vua Thủy Tề và đức Hà Bá ở sông này. Nếu họ sơ tán cung điện chậm chạp thì cũng chẳng biết đâu được. Bọn này đang hy vọng vớt bữa cá đây. Anh ở lại ăn cơm với chúng tôi nhé.
          Chếch về bên phải, trong chiếc lều bạt thấp tè, cạnh mấy sĩ quan đang vây quanh tấm hải đồ, trung úy Các, trưởng nhóm phá lôi đang nói chuyện qua điện thoại. Một chân ghếch lên ghế, người hơi cúi, trán nhíu, anh gào to:
         - Vâng, tôi rõ rồi, việc cảnh giới. Tất cả đã tổ chức chu đáo. Vâng, cảnh giới tàu thuyền qua lại và cảnh giới máy bay. An toàn! Vâng, phải bảo đảm an toàn tuyệt đối người và trang bị. Tôi sẽ chú ý. Vâng vâng, tổ cảnh giới không được rời vị trí. Báo cáo, mười phút nữa chúng tôi tiến hành... Rõ !
         Các quay lại phía sau:
         - Chuẩn bị rà lần thứ nhất?
         Mọi người ra khỏi lều, bước tới phía chiếc ca nô.
         - Chào anh! - Các bắt tay Tòng. Nóng ruột lắm hả? Làm thế nào được! Anh ở đây quan sát luôn. Hôm nay hy vọng thông luồng.
         - Hy vọng thôi à? Tòng hỏi.
         - Cứ khiêm tốn thế đã.
          Mọi người đứng dưới đoạn hào gần mép nước, nhìn ra.
          Chiếc ca nô nổ máy. Nó chạy lên hướng thượng nguồn, phía sau kéo theo một mảng bè, ghép bằng những ống sắt tròn. Từ phía đó, chiếc ca nô vòng lại, mở tốc độ, phóng ra cửa sông, nơi có những quả bom từ trường đang rình phục phía dưới. Các đưa ống nhòm lên, dõi theo. Tòng đứng bên cạnh, nheo mắt nhìn. Mọi người im lặng chờ đợi. Chiếc ca nô chạy ven bờ phía bắc, rồi lượn trở lại.
         - Đi trệch vị trí - Các thốt lên, khuôn mặt nhúm lại, vẻ không hài lòng.
         - Có nhiều bom không? - Tòng hỏi.
         - Đài quan sát cho biết có ba quả chưa nổ.
         - Nó nằm chỗ nào?
         - Cạnh mỏm đá giống hình con cá sấu. Cách bờ chừng một trăm mét. Anh nhìn rõ mỏm đá ấy không?
         - Chỗ đó nước sâu đấy.
         - Cho nên không dễ phá đâu.
          Chiếc ca nô về tới chỗ xuất phát ban đầu, tiếp tục rà lại lần thứ hai. Mũi ca nô xé nước. Sóng đánh mạnh vào bờ. Nhưng vô hiệu: không một tiếng nổ, không một cột nước dựng lên.
          Các phẩy tay:
         - Cho dừng lại! - Anh nói một cách cáu kỉnh - Chờn vờn kiểu ấy bom nổ thế quái nào được.
          Mọi người nhảy lên khỏi hào. Nét mặt buồn xỉu, họ thất thểu vào lều.
          " Cua như thế làm sao đưa bè trúng vào vị trí có bom - Tòng xoắn hai bàn tay vào nhau, lẩm nhẩm - Chẳng lẽ lại không biết căn cho chính xác".
          Chiếc ca nô cập bờ. Người điều khiển ca nô nhảy xuống, đi nhanh vào lều bạt. Anh ta nhỏ thó, đôi mắt to, khuôn mặt choắt, dáng vất vả.
         - Chẳng lẽ anh không rõ vị trí ba quả bom ở chỗ nào? - Trung úy Các giễu.
         - Sao tôi lại không biết! - Anh ta đáp.
         - Vậy mà ca nô đi trệch hàng chục mét?
         - Tôi nghĩ là những quả bom chết tiệt kia đã mất tác dụng.
          Các gắt:
         - Không phải bom mất tác dụng, mà lối lái ca nô của anh mất tác dụng.
          Đôi mắt người điều khiển ca nô mở to:
         - Giỏi, anh xuống mà lái? Đứng trên bờ ai chăng hò hét được.
          Các tái mặt, cặp môi run run. Dường như anh định nói câu gì, nhưng chỉ đưa mắt nhìn người đứng trước mặt, rồi ngồi phịch xuống tấm phản kê sát mặt đất.
          Mọi người im lặng. Các cắn môi nhìn ra dòng sông.
          Tiếng chuông điện thoại réo gắt. Anh vồ lấy ống nói, khuôn mặt lo lắng.
         - Vâng, chúng tôi vẫn đang tiếp tục cho tiến hành.
         - Vâng, có kết quả sẽ báo cáo ngay.
          Các đứng dậy, mặt tái sạm:
         - Rà lại lần thứ hai - Anh nói như ra lệnh - Lần này tôi yêu cầu ca nô đi gần hơn và cố gắng đưa cho được máng bè phía sau vào đúng chỗ có bom. Ta bắt đầu.
         - Tôi không muốn lái nữa, vô ích - Người diều khiển ca nô nói. Anh ta cúi gằm, lảng tránh cái nhìn của trung úy Các.
         - Tại sao? Cứ chấp hành đi.
         - Tôi bảo rằng những quả bom kia đã mất tác dụng, rà nữa cũng phí công - Khuôn mặt trắng bệch, anh ta thừ người đứng nhìn ra ngoài - Nếu các anh cứ ra lệnh, tôi sẽ tiếp tục công việc, nhưng tôi biết chắc là không kết quả đâu.
         - Thế đấy? - Các xoay người, nhìn thẳng vào mặt anh ta, giọng bực bõ - Khi anh đã biết chắc rằng việc làm sẽ không kết quả thì tôi sẽ điện về xin người lái ca nô khác, không cần tới cái loại anh nữa.
         - Ai muốn đùa giỡn với cái chết, xin cứ tự nhiên - Anh ta nói và lủi thủi chui ra khỏi lều.
         - Vậy mà cũng làm thủy thủ - Người nhóm trưởng buông một câu.
         - Tôi có ý kiến được không, anh Các?
          Các quay lại. Tòng cúi người, bước vào lều.
         - Nếu các anh đồng ý, tôi xin phép lái ca nô ra thử
          Mọi người đưa mắt nhìn nhau.
         - Các anh đừng ngại - Tòng nói tiếp - Tôi là thuyền trưởng, việc điều khiển ca nô đối với tôi không khó. Khi các anh thiếu người lái, tôi biết lại dửng dưng đứng nhìn sao? Thông luồng là việc chung của cả quân chủng.
          Các chống tay lên má, khuôn mặt đăm chiêu. Không khí lắng đi một lúc.
         - Anh làm bọn tôi xấu hổ đấy, anh Tòng ạ - Các nhìn con người cao lêu đêu như cây sào, ăn mặc xộc xệch đang đứng trước mặt mình - Vâng, nếu anh giúp được...
         - Tôi cho ca nô rời bến nhé!
          Tòng khom người, vụt đi.
          Các chỉ kịp hô:
         - Chuẩn bị rà tiếp! Tất cả vào vị trí. Bộ phận cảnh giới và đài quan sát chú ý theo dõi.
          Mọi người ra khỏi lều, khẩn trương vào việc. Tòng đưa ca nô hướng lên phía trên, rồi vòng lại, mở hết tốc độ và đâm xuôi xuống. Gần tới chỗ có bom, anh đánh mắt về phía sau, dõi theo mảng bè. Chiếc ca nô nghiêng sang phải, lượn nửa vòng. Nhưng mảng bè sắt không lượn theo ý định của anh.
          "Mình lái xa quá! " - Tòng cho ca nô trở lại điểm xuất phát ban đầu.
          Lần này, anh điều khiển ca nô đi sát vào luồng. Vừa qua khỏi mỏm đá giống hình con cá sấu, Tòng đánh mạnh tay lái sang phải, mảng bè quặt theo.
          Một tiếng nổ tưng tức, kế đó, một tiếng nữa dội lên. Hai cột nước dựng cao, rồi đổ ụp xuống. Chiếc ca nô lắc lư Tòng lảo đảo ngã đè lên vô lăng. Anh gượng dậy, nhìn ra: Quả bom thứ ba tại sao không nổ?
          Tòng ôm ngực, đưa ca nô lộn lại. Mặt anh đầm mồ hôi, xám ngoét. Tòng cắn chặt vành môi, giữ chắc vô lăng để ca nô đâm thẳng vào vị trí có quả bom thứ ba. Anh nín thở. Một cột nước bung ra hất mạnh chiếc ca nô vào bờ. Mũi ca nô đập vào đá, bẹp dúm. Tòng không hay biết gì nữa, anh va vào cửa buồng lái.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:23:41 pm

           Ở vị trí quan sát, mọi người trông rõ tất cả. Hết thảy đều vui mừng nhảy lên reo hò.
           Khi quả bom thứ ba nổ, trung úy Các lập tức cho hai chiếc xuồng bơi sang chỗ ca nô bị nạn, rồi anh hớn hở bước vào lều, quay điện thoại. Báo cáo xong, khuôn mặt Các chợt thần ra, chưng hửng. Anh quẳng ống nói sang bên và chui ra khỏi lều, miệng lẩm bẩm: "Thế nào là trách nhiệm? Nói thế mà cũng đòi nói!...".
          Chiếc xuồng vội vã áp vào bờ. Hai chiến sĩ đỡ Tòng lên. Người anh ướt sũng. Khuôn mặt nhợt nhạt. Môi thâm tím. Máu chảy dòng dòng hai lỗ mũi. Mọi người cuống quít đưa anh vào lều, cấp cứu.
          Tòng tỉnh lại khá nhanh. Anh nằm trên phản, chân tay dài nghêu, hai mắt nhắm, hơi thở khó khăn.
          - Thông luồng rồi anh Tòng ạ! - Các cúi xuống bên anh hớn hở thông báo.
          Tòng gật đầu. Anh thấy tức ngực, toàn thân đau ê ẩm. Cảm giác châng lâng như đang bay...
          Chừng nửa tiếng sau, chiếc xe con chở trung tá Tường đỗ xịch ngoài đường cái. Ông và mấy cán bộ đi theo bước nhanh về phía chiếc lều.
          - Ai cho phép các anh hành động cẩu thả và vô trách nhiệm như vậy? - Trung tá Tường nói, ông bước vào lều và đưa mắt soi nhìn mọi người. Khuôn mặt ông cau lại đỏ rực. Thân hình nặng nề bước đi bước lại với vẻ khó chịu.
          - Bây giờ lại có cái lối làm rồi mới báo cáo cấp trên hử?  Để người ngoài đơn vị vào phá phách như vậy đấy!
          - Ai chịu trách nhiệm về chiếc ca nô hỏng? Ai? Thế nào, trả lời đi chứ? Sao im thin thít vậy! Anh Các, anh phụ trách nhóm phá lôi, nói xem.
           Mọi người im lặng, ngơ ngác nhìn nhau. Thái độ không hài lòng của cấp trên khiến họ ngạc nhiên. Các bước lên, đứng nghiêm:
           - Báo cáo, tôi vẫn quan niệm việc thông luồng là nhiệm vụ cấp bách, cho nên...
           - Nên sao? Nên tùy tiện muốn làm sao thì làm và cho ai làm cũng được, phải không? - Trung tá Tường đứng lại trước mặt Các - Tôi đã nhắc các anh bao lần rằng phải thận trọng, thận trọng. Và làm bất cứ điều gì dù lớn, dù nhỏ đều phải xin ý kiến cấp trên. Thật là vô trách nhiệm!
           - Trước hết, đây không phải là hành động vô trách  nhiệm - Tòng gượng đứng dậy, anh xiêu vẹo bước lại  phía trung tá Tường, đôi mắt mệt mỏi nhìn thẳng vào khuôn mặt sề sệ của người phụ trách công việc rà phá bom mìn, anh tiếp - Còn ai cho phép hành động phải không ạ? Báo cáo, sự bức thiết của công việc thông luồng đòi hỏi và cho phép hành động như thế.
           Trung tá Tường mở to mắt nhìn người đang nói rồi thốt lên:
           - A, chính anh phá chiếc ca nô đấy à? - Ông chằm chằm nhìn Tòng, giễu cợt - Lại vẫn là anh, thú vị nhỉ?
           - Vâng, vẫn là tôi - Tòng nói một cách khó khăn và anh cố đứng cho thật vững - Con người cách đây mấy năm đã không tuân lệnh đồng chí...
           - Tôi không nhiều thời gian. Rồi các anh sẽ biết thế nào là kỷ luật quân đội - Trung tá Tường lừ mắt - Các anh sẽ biết!
           - Kỷ luật! Thưa đồng chí trung tá, tôi ý thức được hành động của mình...
           - Anh Các, hãy tường trình lại tất cả sự việc đã xảy ra và về đoàn báo cáo ngay. Viết vào giấy, tôi không có thói quen nghe báo cáo bằng miệng, rõ chưa?
            Trung tá Tường hậm hực bước ra khỏi lều bạt, đi về vị trí ôtô đỗ.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:24:15 pm

           Việc Tòng tự động đi phá bom từ trường gây dư luận xôn xao trong cơ quan đoàn bộ. Người khen, kẻ chê, người nói dại, kẻ bảo dũng cảm...
           Đoàn trưởng Tư được người trung tá phụ trách công việc rà phá bom mìn của quân chủng gọi điện tới, phản ánh sự việc và yêu cầu đoàn xử lý nghiêm khắc đối với kẻ mà ông cho là manh động và vô tổ chức, vô kỷ luật có hệ thống. Đoàn trưởng bèn triệu Tòng về. Và nhân có phiên họp, đảng ủy bàn luôn việc đó...
           Buổi tối, Lê đi tìm Tòng.
          - Này, sao cậu cứ thích mua dây trói mình thế - Lê mắng bạn - Tàu đã xếp vũ khí, ngày lên đường đến rồi, còn làm những trò như vậy đấy!
          - Ai bảo mày đó là việc mua dây trói mình? - Tòng cáu, anh bực dọc nhìn Lê - Đó là việc gỡ trói cho mình, rõ chưa? Bọn nó rắc bom ngoài cửa sông bịt không cho tàu thuyền mình ra vào thì phải phá bom mà đi chứ?
          - Đơn giản nhỉ! - Lê giễu - Không có cậu dễ chừng công việc này gay go!
          - Nhưng lúc ấy tao có mặt ở đấy. Chỉ những thằng tồi mới làm lơ, bỏ qua khi biết mình dư khả năng làm việc đó có gì là không đơn giản?
          - Vâng! Nhưng cậu rõ hậu quả sẽ thế nào chứ?
          - Biết! Đảng ủy đã quyết định giáng tao xuống thuyền phó. Làm lính mà luồng thông còn hơn làm thuyền trưởng mà tàu phải xếp xó. Ông Tường ở gần Bộ tư lệnh, tiếng nói của ông ấy trọng lượng lắm. Đã từ lâu tao rõ ông ấy chẳng thích gì mình.
          - Nếu việc thông luồng mà chỉ trả với cái giá hỏng chiếc ca nô và cậu bị giáng xuống làm thuyền phó, đâu có đắt.
          - Thế mày còn cự nỗi gì? Tao sai chỗ nào?
           Lê nhìn Tòng.
          - Sai chỗ nào à? Ở chỗ chuyến đi này của tàu T.37 vắng mặt cậu, thế đấy!
          - Hả? - Tòng nhổm dậy, túm lấy cổ áo Lê - Tao không đi chuyến này? Ai bảo? Mày biết? - Đôi mắt Tòng nhìn xoáy vào Lê.
          - Hậu quả ở chỗ ấy! - Lê nói đủng đỉnh.
          - Chẳng lẽ!...
           Tòng thừ người. Anh cắn chặt vành môi, khuôn mặt nhiu nhíu. Rồi anh bật dậy, tuông đi. Lê giữ lại.
          - Cậu định đi đâu?
          - Còn đi đâu nữa. Lên gặp ông Tư, ông Kim.
          - Gượm? Để mình... Hiểu không?
          - Mày gặp à?
           Tòng đứng trơ ra.

           Lê đi về phía ngôi nhà lợp tôn nép dưới bóng tối ngọn núi. Anh bước hớt hải.
           Đoàn trưởng Tư đang cặm cụi viết. Trên bàn, ngọn  đèn che kín ba phía, hắt ra luồng sáng yếu ớt.
           - Tôi vào được chứ ạ? - Lê cất tiếng hỏi.
           - Lê hả? - Đoàn trưởng Tư bỏ bút, ngẩng lên.
            Ông kéo ghế cho Lê.
           - Thế nào, máy tàu tốt chứ? - Đoàn trưởng hỏi.
           - Chạy khoẻ lắm ạ. Đến khó tính như chú Tám Thạnh cũng phải gật gù bằng lòng. Đợt này nhà máy xuất xưởng cho ta toàn loại tàu khá cả.
           - Dễ hiểu thôi, có tay trong mà - Đoàn trưởng đùa, rồi ông hỏi - Việc chiếc tàu mới vẫn mang tên là T.67, anh em thủy thủ có ý kiến gì không?
           - Rất phấn khởi ạ. Vẫn mang tên cũ để giữ truyền thống. Với nữa, anh em cũng đã gắn bó với cái tên ấy từ lâu.
           - Mọi việc chuẩn bị xong cả rồi chứ?
           - Dạ, chỉ chờ lệnh là nhổ neo. Dầu đủ rồi, nước lấy rồi, vũ khí đã xếp đầy khoang hầm...
           - Đợt này các cậu vào Hòn Hàng lần thứ hai. Có thuận lợi là luồng lạch, địa hình đã quen nhưng trên cho biết vùng đó đang gay go. Trên bộ, địch càn liên miên; dưới nước, tàu bè của chúng sục sạo nhiều. Đưa hàng tới vị trí, thả được xuống nước là thành công. Việc vớt vũ khí lên và vớt khi nào, là công việc cụ thể của bến. Nhiệm vụ của ta là phải thả đúng nơi quy định
           - Trên yêu cầu thả ở độ sâu 7 mét, tôi lo tàu mình vào gần rất khó. Sóng yên đã đành, còn sóng gió lớn?
           - Việc cụ thể, tuỳ hoàn cảnh lúc đó mà xử lý. Phương châm là thả hàng càng sát bờ càng tốt.
            Đoàn trưởng với tay vặn nhỏ nhọn đèn, trầm ngâm một lát, ông tiếp:
           - Mình muốn lộ với cậu điều này. Mà cũng cần phải biết! - Giọng ông nhỏ hẳn - Công việc vận chuyển vũ khí của đoàn ta nói chung và chuyến đi sắp tới của tàu T.67 sẽ gặp nhiều khó khăn... Đã có kẻ phản bội, khai báo với địch nhiều điều.
           - Có kẻ phản bội? - Lê chồm người về phía trước, đôi mắt mở to ngạc nhiên nhìn đoàn trưởng. "Phản bội" hai tiếng ấy xa lạ và không nằm trong tư duy vốn trong sáng và giản dị của anh, do vậy khi nghe hai tiếng đó khiến anh sửng sốt.
           - Bình tĩnh nghe đã! - Đoàn trưởng đặt tay lên vai Lê, xoay ghế và ngồi sát anh hơn. Ông nói thong thả - Chuyến trước tàu 137 mắc cạn, chẳng rõ nguyên cơ gì, không hủy được, bị địch kéo về cảng. Chúng hí hửng toan họp báo, triển lãm nhằm làm rùm beng và tuyên truyền ầm ĩ về việc bắt sống được tàu vận tải Bắc Việt; đồng thời phô trương cái gọi là "kế hoạch tận diệt sự thâm nhập của Bắc Việt vào miền Nam". Hay tin, Bộ tư lệnh đã cho một phân đội đặc công xuống cảng, bằng mọi giá hủy cho được chiếc tàu trước khi chúng giở trò tuyên truyền. Sau mấy ngày nghiên cứu, phân đội đặc công ấy đã mang bộc phá vào, áp mạn phá hủy thành công chiếc tàu. Bọn địch tưng hửng. Song chúng cũng đã thu được một số tài liệu, vũ khí. Điều đáng tiếc là trong số anh em thủy thủ bị địch bắt, đã có kẻ chịu không nổi sự hăm dọa, tra tấn, khai báo khá nhiều điều. - Đoàn trưởng ngừng lại rồi nói tiếp - Các đồng chí bên phòng quân báo cho hay rằng hiện nay bọn địch biết khá kỹ về công việc của chúng ta...



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:29:12 pm

           Lê ngồi lặng, cố nén xúc động. Nỗi sửng sốt vẫn còn choán ngập tâm trí anh. Thì ra cũng không phải thiếu kẻ hèn nhát tham sống, sợ chết, sẵn sàng bán rẻ tất cả, kể cả đánh đổi những bí mật, mà những điều ấy nếu quân thù nắm được, hậu quả sẽ không thể lường.
           Từ trước tới nay Lê vẫn đinh ninh một điều rằng hết thảy những ai dã tự nguyện ra đi để đưa vũ khí vào chiến trường là những thủy thủ tuyệt vời, ra đi là họ đã xác định không quay trở về, họ đã sẵn sàng hy sinh. Và thực tế đã khẳng định như vậy. Đâu có ngờ... Nỗi ngạc nhiên và sửng sốt khiến khuôn mặt Lê tái nhợt.
           "Con người trong sáng - đoàn trưởng Tư nhìn Lê ngồi lặng thinh trên ghế - nhưng chưa từng trải, dễ "sốc". Dẫu sao điều đó cũng đáng quý".
           Đoàn trưởng đứng lên, bóng ông gầy, nhỏ. Ông đi đi lại lại trong căn phòng.
           - Mọi điều, kể cả sự phản bội, đều có thể xảy ra - Ông nói - Cái đó không có gì quá khó hiểu. Và cần xác định như vậy để khi nó ập tới không ngạc nhiên, không rối trí và không chùn quyết tâm. Người có bản lĩnh phải như thế. Ông bước lại cạnh Lê và ngồi xuống:
           - Làm người, ai cũng muốn vươn tới sự tốt đẹp, điều ấy làm cho xã hội hoàn thiện thêm lên, nhưng không hẳn ai cũng dễ dàng thắng hoàn cảnh để vươn tới sự tốt đẹp.
           - Vâng, không hẳn ai cũng dễ dàng thắng hoàn cảnh để vươn tới sự tốt đẹp song, quả tôi không ngờ - Lê nói. Tôi tin là những kẻ phản bội đã nhầm. Rồi cuộc sống của họ chẳng hay ho gì, sung sướng gì đâu.
           - Điều ấy ta không bàn ở đây. Mình muốn nói về chuyến đi sắp tới của tàu T.67 vào Hòn Hàng nay mai.
           - Báo cáo, tôi ý thức được tất cả ạ: chúng ta phải trả giá vì sự phản bội ấy.
           - Đó, đó! Vấn đề là ở chỗ đó. Khi đã lường được mọi khó khăn, ta sẽ đỡ hoang mang, đỡ sợ hãi và điều ấy khiến ta sáng suốt, vững vàng, phải không Lê? Tục ngữ có câu: "Vỏ quít dày, có móng tay nhọn". Đã đến lúc thực sự ta chơi bài ngửa với chúng. Ăn nhau là ở cái trí. Ngày lên đường các cậu tới rồi đó.
           Chợt Lê hỏi:
           - Còn tàu T.37 ạ ? Ai thay Tòng làm thuyền trưởng ?
           - Ban chỉ huy đoàn quyết định điều cậu Hoà, thuyền trưởng tàu T.25 tạm thời sang để đi chuyến này.
           - Tôi nghĩ rằng hành động của Tòng bị giáng xuống làm thuyền phó là đủ, còn chuyến đi này của T.37, Tòng có nguyện vọng từ lâu.
           Đoàn trưởng gõ gõ những ngón tay gầy guộc xuống mặt bàn, thoáng một nét nghĩ ngợi.
           - Mình rất hiểu cậu ấy - Ông nói - Nhưng làm thế nào được! Đảng ủy không phải chỉ có một mình mình. Với nữa. Tòng bị kỷ luật là đúng.
           - Tức là mọi đề đạt đều quá muộn phải không ạ?
           - Tòng không buồn vì bị hạ xuống làm thuyền phó. Nhưng cậu ấy sẽ khổ tâm vì không được đi chuyến này.
           - Mình biết! Trong cuộc họp, mình có đưa ý kiến đề nghị để Tòng tiếp tục làm nhiệm vụ, song không hẳn ai cũng đã hiểu đúng con người ấy.
           - Đoàn trưởng đánh giá thế nào về hành động của Tòng ạ? - Lê hỏi.
           - Mình biết thế nào rồi các cậu cũng sẽ hỏi mình câu đó - Đoàn trường vẫn gõ gõ tay xuống bàn, chậm rãi - Mình và anh Bùi Kim đã bàn nát trường hợp này. Và ý kiến chúng mình thống nhất là: Xét trên phương diện tổ chức quân đội, chúng mình đồng ý kỷ luật cậu ấy. Không thể tự tiện bỏ tàu đi làm cái việc không thuộc nhiệm vụ của mình mà không một lời báo cáo. Hơn nữa, Tòng phải ý thức được nhiệm vụ sắp tới mà Tòng là thuyền trưởng chứ! Người lính nhiều khi phải biết kìm sự bột phát vì một lợi ích lớn hơn. Nhưng đứng về tình, chúng mình thích con người ấy. Trước hết, anh ta có tấm lòng, con người hành động, biết làm những việc tự nhận là việc đó đúng và dám chịu trách nhiệm về hành động của mình. Đáng tiếc là Tòng thiếu sự chín chắn trong mọi việc... - Ngừng một lát, ông nói tiếp - Ừ, cũng có một số người không bao giờ bị kỷ luật... Họ không bị kỷ luật vì họ không chịu nghĩ, không chịu làm việc gì khác, ngoài phần việc họ được giao. Họ thờ ơ và lãnh đạm trước mọi sự. Có gì để họ lo nghĩ trăn trở, băn khoăn? Không có gì cả; họ luôn tự bằng lòng với những gì đã có. Đầu óc họ nhẵn thín, trơ lỳ, nên chẳng bao giờ họ phạm sai lầm, khuyết điểm. Song, sống như vậy nhợt  nhạt và đơn điệu. Thậm chí có tội. Có tội vì không chịu  nghĩ, bàng quan với mọi sự. Mình hãi sợ, nếu không muốn nói là kinh tởm những kẻ như vậy, họ cứ trơn  tuồn tuột. Bọn mình kỷ luật Tòng, nhưng bọn mình yêu  hơn, quý hơn và sẽ cố gắng giúp cậu ấy khắc phục những cái gì còn yếu.
           Bên ngoài, trời mờ mờ. Ngọn núi đứng lặng, một mảng tối choáng lên nền trời. Tiếng gió thổi qua những hốc đá, phát ra cái âm thanh quen thuộc.
           - Đã từ lâu Tòng khát khao một chuyến đi - Lê nói - mấy tuần nay Tòng phấp phỏng chờ ngày lên đường...
           - Mình rõ những điều ấy - Đoàn trưởng nhìn vào ngọn đèn trước mặt - Đúng như chính ủy nói, đây cũng là một thử thách đối với Tòng. Nếu là con người có bản lĩnh, thì Tòng sẽ đứng vững. Những chuyến đi vẫn chờ đợi Tòng. Nhiệm vụ của đoàn còn dài mà, Lê!
           Lê xin phép về. Đoàn trưởng tiễn anh một đoạn. Lúc chia tay, ông bảo:
          - Nếu gặp Tòng, cậu đừng nói gì về tình cảm riêng của bọn mình đối với cậu ấy nhé.
          - Tôi hiểu ạ!
           
           Lê vội vã đi tìm bạn. Trong lòng xốn xang bao ý nghĩ. Mỗi lần gặp đoàn trưởng, anh lại biết thêm bao cái mới. Và qua đó cũng hiểu nhiều đức tính dáng quý ở ông. Điều ấy khiến Lê thêm kính trọng, yêu thích và có một cái gì đấy cảm thấy gần gũi, gắn bó với ông hơn.
           Lê bước ra bờ sông. Anh gặp Tòng ở đó.
          - Tao nghĩ lại rồi, Lê ạ - Tòng nói khi hai người đi sát bên nhau. Anh nói không vội vã - Tại sao mình lại lên thủ trưởng đoàn để xin xỏ như một đứa trẻ nhỉ. Nghĩ rằng mình không làm điều sai thì sao phải ân hận?
           Lê quàng tay lên vai Tòng, siết mạnh. Hai người bước lững thững trên con đường mòn kề mép sông. Họ im lặng. Mỗi người đuổi theo ý nghĩ của mình. Trước mặt họ, con sông trải ra mênh mông.
           - Và may mắn là tao đã không lên gặp các "cụ" - Tòng nói tiếp - Mày đã gàn tao thật đúng lúc và nhờ đó mà tao tránh được một điều đáng xấu hổ. Đã làm thì phải chịu chứ, phải không? Có điều buồn là, tao phải xa con tàu T.37 và anh em. Họ đã gắn bó với tao bao tháng ngày qua... Mày hiểu tao không, Lê?
           - Hiểu!
           Tòng quay mặt sang Lê:
           - Nhưng tao chưa hết hy vọng! Chưa bao giờ!
            Hai người dừng lại, cùng đứng nhìn ra phía trước.
            Bóng họ lẫn vào nhau, nhòa vào con sông.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:30:28 pm

24


           Hai ngày sau khi rời bến, Lê nhận được điện của sở chỉ huy: " Địch đã thông báo với nhau: tàu Bắc Việt chở chiến cụ vào miền Nam, số tàu 67, thuyền trưởng Trần Vũ Lê đã khởi hành lúc 0 giờ ngày... tháng... năm 1967"
           "Tình báo của chúng không phải là tồi!" - Lê nghĩ và vẫn cho tàu đi theo kế hoạch. Nếu cho tàu quay lại có nghĩa là thua, kẻ địch ngày càng ranh ma hơn. Đã tới lúc chơi bài ngửa.
           Mấy hôm nay sóng lặng, tàu đi êm. Sức khỏe thủy thủ tốt.
           Con tàu sơn màu trắng, treo cờ nước ngoài, boong chất đầy lưới, dềnh dàng trên vùng biển quốc tế.
           Ngày thứ ba, Lê vừa chợp mắt thì có tiếng gọi gấp:
           - Anh Lê, máy bay địch vờn trên tàu mình đó.
           Lê choàng dậy, lên buồng lái.
           - Tàu đang ở vị trí nào, Xuân? - Lê hỏi.
           - Ngang Đà Nẵng, cách bờ 80 hải lý!
           Tiếng động cơ máy bay rà trên tàu. Lê nhoài nửa người ra cửa, ngước lên: chiếc máy bay trinh sát màu trắng, bên thân sơn cờ ba que, từ phía đuôi tàu lướt qua.
           Chừng mười phút nó lộn lại, bay là là đỉnh tàu.
           - Giữ nguyên hướng đi! - Lê nhắc. Rồi anh quay mặt ra boong.
           - Tất cả bình tĩnh! Đồng chí Hải cho bơm nước lên rửa lưới. - Lượng ra lệnh.
           - Hiểu ý chính trị viên, mấy thủy thủ, người cởi trần, người đánh mỗi chiếc quần sóc, người khác áo kẻ ca-rô... râu tóc đều rậm rịt, liền bơm nước biển lên, phun vào lưới. Anh chàng nào cũng tỏ ra ngổ ngáo và đầy chất phong trần.
            Con tàu không giảm tốc độ, đi thẳng.
            Chiếc máy bay hạ thấp độ cao, lượn vòng.
           - Bình tĩnh nhé ! - đứng trong buồng lái Lượng nhắc - Không ai làm điều gì tỏ ra...
           - Chính trị viên cứ an tâm!
            Từ máy bay, giọng nữ lè rè bật ra:
           " Cùng thủy thủ đoàn trên tàu Bắc Việt! Các bạn nên hiểu rằng lộ trình và ý đồ của các bạn, chúng tôi đã phát giác từ lâu. Tàu các bạn mang tên T.67, thuyền trưởng là Trần Vũ Lê, chính trị viên là Đoàn Văn Lượng, thuyền phó là Ngô Ngọc Xuân, thuyền viên gồm có: Tám Thạnh, Mừng, Hải, Cang, Linh, Nha, Liễu... Nếu các bạn còn nuôi hoài bão chuyển tải chiến cụ vào lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, chắc chắn các bạn sẽ bị thảm bại. Nếu các bạn đi vào hải phận Việt Nam Cộng hoà, các bạn khó lòng chạy thoát. Các bạn chỉ có một con đường... ".
           " Những cái lưỡi đê hèn khai ra cặn kẽ lắm! - Lê lắng tai nghe, nhưng cũng chỉ là trò bắt bóng thôi!".
           Trên boong, thủy thủ vừa làm, vừa ngước lên nhìn chiếc máy bay, có cậu còn đưa tay vẫy vẫy. Khuôn mặt mọi người tỉnh khô như không hề hiểu gì cái thứ tiếng đang rè rè lải nhải phát ra.
           - Nó gọi đúng tên từng người anh Hải ạ! - Mừng quay sang phía Hải thì thầm - Lộ hết rồi, cơ này lại đến phải quay về. Mà làm sao chúng biết rõ thế nhỉ?
           - Nó bắt nọn đấy! - Hải bảo - Chắc có thằng mất mả nào phản bội, phun ra danh sách thủy thủ từng tàu - Hải cáu kỉnh văng một cậu - Bắn bỏ mấy thằng chó chết ấy đi !
           Cang đứng giữa boong, giang chân, ngửa mặt lên và xổ ra một tràng những tiếng Tây, tiếng Tàu. Mọi người nhìn Cang, cười ngặt nghẽo.
           " Cùng thuỷ thủ đoàn trên tàu Bắc Việt! Các bạn nên hiểu rằng..."
           - Rằng cái con khỉ! Chúng mày nắm chắc thế, sao không xỉa đạn xuống lại chịu gọi loa? Có điều là cũng hãi đánh nhầm vào tàu nước ngoài trong vùng biển quốc tế. Trò bắt nọn trẻ con? - Hải nói, tay cầm ống cao su phun nước vào lưới.
            Linh giơ nắm đấm dư dứ về phía chiếc máy bay:
           - Cái trò này không dọa được ai đâu, lũ ngốc!
            "Sắm vai khá lắm!" - Đứng trong buồng lái nhìn ra. Lượng hài lòng. Anh em bình tĩnh và thông minh.
            Chiếc máy bay lượn hai vòng nữa rồi đi về hướng bờ.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:30:55 pm
         
           Lượng và Lê nhìn theo cho đến khi nó mất hút. Cả hai đều ý thức được, tình hình bọn địch đã biết có một chiếc tàu T.67 sẽ vào hải phận miền Nam nay mai. Dẫu chưa chắc rằng con tàu đang đi này là chiếc T.67, chúng không dễ gì bỏ mồi. Chúng sẽ bám đến cùng. Việc chuyển hướng vào bờ sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Làm thế nào vào hải phận miền Nam mà không bị lộ? Họ hiểu rằng lúc này chỉ cần phát hiện ra một biểu hiện gì chứng tỏ con tàu có ý định vào bờ, lập tức hàng chục chiếc tàu chiến của cả Mỹ lẫn ngụy sẽ tới bao vây. Và lúc ấy khó mà lường được những gì xảy ra. Nổ súng chiến đấu hoặc cho tàu lao vào tàu địch? Đó đâu phải là giải pháp mong muốn! Hai mươi thủy thủ trên tàu sẵn sàng trả giá, nhưng cái giá ấy là để đạt được mục đích cuối cùng: đưa vũ khí vào thả đúng nơi quy định.
          - Báo cáo thuyền trưởng, phía sau tàu ta, có tàu lạ bám theo! - Có tiếng một thủy thủ.
           Lê nhìn ra: xa xa, một chiếc khu trục Mỹ dập dềnh.
           "Trò theo dõi, bám đuôi"! Lê lệnh cho đồng chí hàng hải lái sang trái 15 độ để tàu đi chếch về phía biển Phi-líp-pin, rồi anh ra boong.
           Trời đã về chiều. Biển xanh màu ngọc bích, trải ra ngút tầm nhìn. Trên mặt nước, sóng đánh vào nhau phát ra những vệt trắng, trông thấp thoáng tựa như có một đàn cò chấp chới sà xuống. Phía sau duỗi tàu, chiếc  khu trục Mỹ cũng ngoặt sang phía đông.
           Lê bước về phòng mình.
           Lượng và ông Tám Thạnh tới gặp anh.
           - Chừ tính răng đây, Lê? - Tám Thạnh và Lượng cùng ngồi xuống giường.
           - Sắp tới vị trí quẹo vô bờ rồi! - Ông Tám nói tiếp.
           - Tình hình xấu đó, ta bàn cho kịp kẻo xoay trở không kịp, mất cả chì lẫn chài... Giá trời đổ mù xuống như hồi nào thì hay biết mấy!
           - Tình hình thế nào, anh Lượng và chú cũng rõ rồi - Lê chậm rãi - Tôi dám chắc là đêm nay chúng chăng lưới đón mình. Chúng đang nghi nghi hoặc hoặc, ta vào khác gì bảo rằng: chính tao là T.67 đây.
           Ông Tám gật gù:
           - Chớ sao! Nó đang bám mình đó.
           - Tôi đề nghị thế này - Lượng nhìn ông Tám, rồi nhìn sang Lê - Trước hết, phải đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, bằng cách cứ cho tàu đi miết ra hướng đông nam. Đêm, ta neo lại đảo vắng ngoài dó, sơn lại tàu, thay biển số, cải dạng mặt boong, rồi vòng lên phía bắc, tính toán sao để tối mai đã ở vị trí chuyển hướng. Nếu tình hình êm, ta vào.
           - Nếu không êm? - Lê hỏi.
           - Lúc đó tùy theo tình hình mà xử trí.
           - Được đó! - Ông Tám nói - Mình đi ngược lên, nó ít chú ý. Tao tin là lúc này chúng đang săm soi vào những bức ảnh chụp tàu mình lúc nãy.
           Chập tối, Lê nhận được điện:
           "Địch tung lực lượng tìm T.67. Chiều nay địch gặp một tàu lạ trên biển, chúng chưa quả quyết đó là tàu nào. Bình tĩnh xử trí. Chưa lộ".
           Lê thấy an tâm và nghĩ rằng biện pháp của Lượng là phù hợp. Anh họp toàn tàu, phổ biến tình hình và nhắc mọi người chuẩn bị công việc đêm nay.
           Con tàu thẳng hướng đông đi tới. Bóng tối phủ lên biển mờ ảo. Bầu trời trong trẻo, chi chít sao.
           Thủy thủ ngồi trên boong, chờ đợi.
           - Anh Hải này, việc gì anh làm cũng có kế hoạch, sao cái việc sinh con đẻ cái lại kém thế? - Mừng hỏi, đầu gối lên đùi Hải, mắt ngước nhìn trời.
           - Đếch phải tại tớ, tớ cũng định đẻ hai đứa thôi.
           - Chắc chị Thơm muốn có mụn con trai nên mới cố.
           - Vợ mình? Hừ, đàn bà người ta rõ cái khổ của sự đẻ nhiều hơn cánh ta.
           - Thế tại ai?
           - Tại ai à? Suy cho cùng là tại cái... cái tàu hỏa.
           - Tại cái tàu hỏa???
           - Tại đầu máy hay tại cái toa, anh Hải? - Cang ngồi cạnh đó, xen vào và cậu chàng cười khoái chí.
           - Há? chứ không phải tại cái tàu hỏa chắc? - Hải cựa mình, đặt đầu Mừng xuống đống lưới rồi ngồi thảng lên - Lần ấy tớ về, hễ tối đến Thơm lại dặn: "Cơ này phải kế hoạch, anh đi suốt, đẻ nhiều em vất vả lắm!". Nghe cô chàng lải bải bực quá, tớ quát: "Thì kế hoạch" chứ sao? Dễ chừng tôi không... không biết cách phỏng?". Và chúng mình "kế hoạch" được thật. Cô nàng phởn lắm. Hôm trả phép, định đi chuyến tàu 12 giờ trưa, nhưng ra tới ga, được thông báo: vì lý do kỹ thuật, 3 giờ chiều mới có tàu xuôi! Thế là lẵng nhẵng đeo ba lô trở về. Những hơn ba tiếng nữa cơ mà. Nhà gần, tội gì! Ai ngờ mấy tiếng đồng hồ chết tiệt ấy, tí toáy thế quái nào lại không giữ được! Chà, bố khỉ! Tàu với xe, chẳng có giờ giấc chó gì sất. Giá nó cứ đúng giờ chạy, làm sao có ả thị tẹt thứ ba? Được cái cháu nó ngoan và khôn đáo để!
           - Đời lính tội thế đấy! Cứ gọi là tranh thủ triệt để, phải không anh Hải?   
           - Ối dào, còn các bố đấy! - Hải vận vê bộ ria mép - Các tay hỏa xa dịp này vin vào cớ chiến tranh làm ăn lơ tơ mơ lắm!
           Boong tàu rúc rích nhiều tiếng cười.
           - Này, còn chú mày thì định bao giờ cưới vợ, hử? Hải cúi xuống hỏi Mừng, cái kế hoạch hồi nọ ta bàn thực hiện đến đâu rồi?
           - Đi chuyến này về là em cưới đấy! - Mừng có vẻ ăn chuyện, anh chàng ngồi dịch lại, tựa người vào Hải, và nói nhỏ cốt chỉ để Hải nghe. - Cụ em mừng lắm! Sắp có con dâu mà! Đỡ phải sống vò võ một mình. Thuyền trưởng Lê và chính trị viên Lượng hứa là xong chuyến này sẽ đề nghị với đoàn cho em tranh thủ chục hôm, chà chà, cũng có vợ như ai đấy nhé!
           - Cô nào thế? Vẫn là cái cô làm cùng cơ quan với chị Vui đấy à? - Vâng, vẫn cô ấy. Đúng như anh nói, phụ nữ họ thông cảm với lính lắm. Chị Vui viết thư bảo: cậu không về được thì ít ra cũng gửi tấm hình về cho cô ta rõ người mà mình định yêu mồm ngang, mũi dọc ra làm sao chứ? Tưởng gì chứ một tấm ảnh, có ngay. Và em gửi. Tháng sau, nhận được thư chị Vui, chị thông báo là mọi điều đều suôn sẻ. "Người ta" đồng ý rồi, chỉ chờ em về là có thể "tổ chức". Đấy, cứ như trong mơ ấy. Chị Vui còn gửi kèm theo ảnh cô ta nữa. Người thật thế nào không biết, nhưng người trong ảnh cũng dễ coi. Và từ đó, chúng em viết thư cho nhau đều đều. Lá thư gần đây, cô ta còn làm thơ nữa chứ.
           - Làm thơ? Ghê nhỉ, các cậu yêu nhau còn thơ phú nữa cơ đấy! Đọc nghe nào!
           - Anh đừng nói lại với bọn thằng Linh, thằng Cang nhé, chúng biết, ti toe ầm lên - Mừng hắng giọng, đưa mắt nhìn sang hai phía và khi biết rằng mọi người đã tản ra xa, mới đọc:
Ở nhà em đã têm trầu
Chờ anh về để hái cau, mẹ mừng
.
           Hải vỗ đùi đánh đét:
           - Được! Nghe được! Cũng ra người có học. Này, năm sau nhất thiết các cậu phải đẻ cho bà cụ một thằng cu, rõ chưa? Lúc đó thì cậu muốn đi đâu, cậu đi. Mình biết rồi, những người hiếm hoi như mẹ cậu là chúa thích có cháu trai đầu. Để cho chắc chắn cái dòng giống mà? Dại miệng, chẳng may cậu chết thì sao? Tiệt nòi à?
           - Cháu chắt chưa tính, nhưng cứ có con dâu là cụ sướng rồi. Bao năm nay mẹ em cứ tròi trọi một mình trong ngôi nhà dột nát ấy, không người chăm sóc, nghĩ thương lắm.
           - Cậu lấy vợ là phải! Được về, dứt khoát mình sẽ đến và làm trưởng ban tổ chức. Gì chứ cái chân rao vặt đám cưới, mình lo ngon ơ. Hồi ở nhà, mình tổ chức cho mấy đám, sau đó họ đều đẻ con trai cả. Mình được cánh trai gái trong làng tín nhiệm lắm.
           - Thật chứ? Chuyến này về, nhất quyết là em "tổ chức" đấy anh Hải ạ!
           Mừng ngả đầu, gối lên người Hải, hai mắt mơ màng nhìn lên những ngôi sao xa tít trên bầu trời. Hai chân ngoắc chéo khoeo, rung rung. Cái miệng thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười.

           ...Con tàu giảm tốc độ, dừng hẳn và neo lại trong một vùng đảo san hô.
            - Đây là đâu rồi, anh Hải? - Mừng đứng lên, nhìn ra xung quanh và hỏi.
            - Trường Sa chứ đâu!
            - Theo kế hoạch đã phân công, các bộ phận tiến hành triển khai công việc. Khẩn trương! - Tiếng Lượng trong buồng lái vang ra.
            Lúc đó là hai giờ sáng.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:32:18 pm
           
           "Địch đang tung lực lượng ngang Đà Nẵng đón lõng T.67 từ phía Bắc xuống. Đề phòng máy bay. Bến yên".
            Đọc xong, Lê đưa cho Lượng.
            - Chúng bị lừa rồi!
             Lượng gật gù :
            - Chắc chúng nghĩ bọn mình chưa vào tới đây.
             Hai người cùng nhìn ra biển, thấy đỡ lo hơn.
             Con tàu sơn màu ghi, từ vùng biển cận Phi-líp-pin đi chếch về hướng tây bắc.
             Chừng ba giờ chiều. Lê đang ngồi trong buồng lái, nghĩ rằng chắc chắn đêm nay có thể vào bến, thì đồng chí chiến sĩ thông tin đưa cho anh bức điện. Lê đọc:
            "Trước mặt hướng đang đi, nhiều tàu địch".
            Lê nhíu mày. Anh hội ý với Lượng, rồi lệnh cho tàu vòng ra phía đông. Sau đó về phòng thuyền trưởng, mở hải đồ xem xét. Đường vào bến đã bị bịt? Bến yên, nhưng làm thế nào để vào? Lảng vảng ngoài này đợi thời cơ chăng? Thời cơ là bao giờ? Và ai mà biết được ngày mai, ngày kia "bến" có yên? Lê đứng thần người bên tấm hải đồ, đăm đăm suy nghĩ.
            - Phải vòng ra nữa hả, Lê?
            Ông Tám Thạnh bước vào, nhìn Lê ông hiểu đang có điều không hay xảy ra.
            - Chúng chăng lưới đón mình khắp nơi rồi, chú! - Lê quay lại, bảo - Tình hình này khó vào đêm nay. Mạn Hòn Hàng yên chớ? - Ông Tám hỏi và ngồi xuống giường.
            - Dạ! Trên báo "bến" yên!
            - Chúng chăng lưới đón mình khắp nơi à? - Ông Tám Thạnh trầm ngâm - Nhưng cũng có chỗ hở chớ, tàu bè đâu mà dăng kín biển? Nè, chúng nghi ngờ gì chiếc tàu hôm qua sơn màu trắng đi về phía Phi không?
            - Trên cho biết chúng chưa lần ra tung tích của ta. Theo cháu thì chúng không ngờ rằng ta đã lọt vào tới đây.
            Ông Tám nghe, hai bên má giật giật. Ông có tật lúc nào cần suy tính điều gì, má lại rung giật như thế. Ông vấn một điếu thuốc lá to, vê vê trên môi.
            - Tao có ý kiến ri, được không?
            - Chú định sao? Cứ cho tàu vào?
            - Bến yên, cứ vào! - Ông Tám quẹt diêm châm thuốc rít một hơi dài, nuốt hết khói, cho hai chân lên giường, tay ôm gối. Khuôn mặt tư lự.
            - Cứ vào! - Ông nhắc lại và rít một hơi thuốc nữa - Nhưng không vào theo lối cũ như dự kiến, ta đi hướng khác.
            - Chú cứ nói tiếp, hướng khác là hướng nào? - Lê sốt ruột hỏi.
            - Theo tao, phía bắc, chắc từ Quảng Ngãi trở ra chúng tập trung tàu bè ngóng mình vô đặng cất vó, vậy hướng nam chúng phải hở chớ, ta cho tàu vòng xuống quẹo vô mạn Phan Rang, Phan Thiết, lẫn vào tàu đánh cá cửa dân, đi ven bờ, ngược lên. Chúng quây vòng ngoài, ta đi cận bờ, chúng không ngờ. Đó! Được chớ?
            - Không kịp chú ơi - Lê lắc đầu - Đi vòng thúng như vậy sao đủ thời gian thả hàng rồi ra trong đêm.
            - Cái thằng! Tao cũng rõ là nếu đi vậy, phải gần sáng mới tới Hòn Hàng chớ.
            - Rồi sao?
            - Thả xong hàng, mình cho tàu chạy ngược lên thật xa bến mà hủy chớ sao!
            - Hủy tàu? - Lê sửng sốt kêu lên.
            - Chớ mày không nghe ông Kim với ông Tư bảo rằng nếu thả được hàng, đưa được tàu về là thắng lợi, nhưng kẹt, thả xong hàng, hủy được tàu cũng thắng lợi sao. Cái chính là đưa được vũ khí vô.
            - Hủy tàu! - Lê khẽ nhắc lại và khuôn mặt anh chợt đờ đẫn:
            - Hủy tàu! - Như có một cái gì thúc vào ngực đau nhói, Lê nhắc lại một cách khó khăn.
            - Cầu toàn quá, có lúc hỏng việc đó Lê - Ông Tám nhìn Lê, ái ngại - Tình hình này, đổi một con tàu để đưa được mấy trăm tấn súng đạn vô chiến trường, đâu có đắt. Là tao nói tới chuyện xấu nhất chớ, không lộ, mình hủy chi cho uổng!
            - Chú để cháu nghĩ thêm.
            - Quyết chậm, tao e cận thời gian đó.
             Ông Tám xoay người, ngồi bập từng hơi thuốc.
             Lê im lặng. Đưa mấy trăm tấn vũ khí vào được chiến trường, đánh đổi một con tàu, không đắt. Đoàn trưởng Tư thường nói: " Chỉ cần năm mươi phần trăm vũ khí vào được chiến trường là thắng lợi". Còn biện pháp nào đỡ thiệt hại hơn không?
             Phía ngoài, có tiếng động cơ. Lê và ông Tám nhòm qua cửa sổ: chiếc máy bay từ hướng bắc xuống, lướt qua tàu. Không có tiếng động cơ quay lại.
            - Chớ mày tính sao? Vô lối cho tàu trở về
            - Trở về ! Từ nay sẽ chẳng bao giờ có thời cơ thuận lợi hơn đâu chú. Bọn địch rõ về chúng ta lắm rồi.
            - Đó! Ông Tám vất cái mẩu thuốc qua cửa sổ - Nè, để tao kêu thằng Lượng vô ta bàn thêm hí.
             Lát sau, Lượng vào. Ba người bàn tính mãi và cuối cùng thống nhất phương án của ông Tám. Bến đang yên, cần tranh thủ vào.
            Khi bóng tối phủ đầy trên mặt biển, Lê điện về "nhà" hỏi tình hình, được trả lời:
            "Địch không thay đổi. Bến yên. Lựa thời cơ vào".
            Bức diện của sở chỉ huy khiến anh thêm an tâm, Lê đọc lại bức điện lần nữa, hội ý với Lượng về việc chuyển hướng đi, rồi lệnh cho đồng chí hàng hải ngoặt tàu sang phải, đâm thẳng về bờ.
            Sau đó Lê và Lượng đi tới từng vị trí nhắc nhở mọi người chuẩn bị vũ khí, sẵn sàng đánh địch khi cần thiết.
            - Chúng ta bắt đầu đi vào hải phận miền Nam!
            Mọi người ý thức được câu nhắc nhở ấy.
            Những khẩu B.40, B.41, ĐKZ được đưa lên boong. Các hòm đạn mở sẵn nắp. Thủy thủ về vị trí phân công.
Con tàu treo cờ "ba que",  mở hết tốc độ.
            Mặt biển tối nhòa. Gió ngày càng to. Con tàu lắc mạnh.
            Hầu hết thủy thủ đều có mặt trên boong, lặng lẽ, căng thẳng.
            Lê đứng trong buồng lái, hai mắt mở to đăm đắm nhìn vào mảng tối trước mặt. Xuân và Lượng đứng hai bên cửa ngóng ra hai phía.
           Thời gian trôi chậm chạp.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:32:59 pm

            - Mạn phải, hình như có tàu, anh Lê ! - Xuân bảo.
             Lê nhoài ra cửa: Xa xa, trên biển, vài ba vệt sáng toả mờ mờ, cũng đang di động vào bờ.
            - Cứ giữ nguyên hướng, có thể đó là tàu cá - Lê nhắc.
             Và con tàu chạy song song với những vệt sáng mờ mờ đó.
            - Liệu có nguy hiểm không, anh Lê? - Xuân hỏi.
            - Coi như chúng ta cùng đi một tốp với tụi này - Lê bảo - Bọn địch trong bờ có ngó ra, cũng đỡ nghi.
             Con tàu tiến theo những chấm sáng xa xa bên phải.
             Từ ngoài boong, ông Tám thốc vào buồng lái.
            - Tới đảo Lý rồi, quẹo ngược lên thôi. Mình vô nữa, e gần bờ quá, dễ cạn.
            - Nhưng còn bọn kia, chú? Mình đổi hướng là nó nghi.
            - Để nó vượt trước - Lượng đứng cạnh đó, nêu ý kiến.
             Lê thấy hợp lý, liền cho tàu giảm tốc độ. Những vệt sáng bên phải vượt lên, mất hút. Con tàu lập tức quặt sang phải lao tới.
            - Gần bờ, chủ yếu là tàu cá, không lo - Ông Tám bảo.
             Con tàu lùi lũi rẽ nước hướng lên phía bắc.
             Mấy giờ sau đó, có điện từ sở chỉ huy: " Lúc 18 giờ 30, ra-đa địch phát hiện một tàu lạ ở vĩ độ... kinh độ... đi vào vùng biển miền Nam. Địch báo động. Có thể địch đã biết ý đồ của tàu".
             Lê trao bức điện cho Lượng rồi hỏi ông Tám:
             - Đây là Vũng Máng phải không chú?
             - Phải, chạy cố lên vài ba tiếng nữa ta vô Hòn Hàng. Tới Hòn Hàng là ăn tiền rồi. Mấy giờ, Lê?
             - Gần một giờ sáng. Chỗ này dễ cạn không chú?
             - Vũng sâu, mày cho tăng tốc độ được đó.
              Con tàu rùng mạnh, lướt nhanh trên biển.
              Chợt Lê nhìn thấy mấy chiếc tàu chếch bên phải đang hướng về phía tàu T.67. Chiếc đi đầu hình như
giảm tốc độ, rọi đèn pha, đánh tín hiệu.
             - Nó cần gì? - Lê hỏi người chiến sĩ thông tin.
             - Nó "nói": yêu cầu dừng máy, xưng danh hiệu từ đâu tới - Người lính thông tin trả lời.
             - Tàu cá đó, mặc cha nó, dấn lên - Ông Tám thúc.
             - Không phải tàu cá đâu, chú ơi! Tàu cá làm gì biết hỏi mình câu ấy. Đụng bọn nó rồi ! Đồng chí Xuân nhắc anh em sẵn sàng. Nhưng chưa có lệnh, chưa được nổ súng.
             Và Lê cho tàu giữ nguyên tốc độ lướt qua mặt chúng.
             Hai tàu địch lập tức bật đèn pha, quay mũi, đuổi theo.
             Máy tàu T.67 còn mới, nên chạy một lúc đã bỏ xa tàu địch.
             - Trước mắt là núi. Bây giờ cho tàu chạy lách phía trong núi nghe Lê - Ông Tám bàn - Chạy thẳng là đụng tụi nó mạn trên xuống.
            - Luồng cạn không chú?
            - Đừng lo, theo tao. Quẹo trái, nữa, đó... sang trái!
             Con tàu lặng lẽ luồn lách giữa các mỏm núi ven bờ.
             Một lúc sau, Lê nhìn ra và nhận rõ hai tàu địch chạy phía ngoài, vượt lên.
             "Mất mồi, chúng sẽ huy động lực lượng quây vùng này!" Lê nghĩ nhanh tới những phương án ứng phó.
            - Sang phải, gần tới núi Một rồi - Giọng ông Tám phấn khởi - Qua núi Một là ổn! Chúng khó bề vào được luồng này. Thằng thuyền trưởng nào không ngán đá ngầm Hòn Hàng.
             Chính trị viên Lượng ra boong, anh nhắc:
            - Các bộ phận chuẩn bị thả hàng! Tháo nắp hầm, cởi dây chằng, khẩn trương.
             Lê nghe phía ngoài boong những bước chân hối hả và tiếng nắp hầm rít lên ken két. Anh thấy bồn chồn, nôn nao. Chẳng lẽ lại may mắn đến vậy? Ơn chú nhiều lắm, chú Tám ơi!
             Con tàu giảm tốc độ, đi sát chân núi.
             Phía bên phải, chốc chốc có hai ánh lửa.
            - Tín hiệu an toàn của bến. - Xuân nói như reo.
              Tàu chạy chầm chậm về hướng đó.
              Một chiếc xuồng con từ bờ, bơi tới. Hai chớp đèn lóe lên.
              Con tàu dừng máy. Lê tuông ra boong, nói với xuống:
            - Tình hình thế nào, đồng chí?
            - Địch đang báo động - Có tiếng nói từ mặt nước đưa lên nghe quen quen - Chú Ba và ban chỉ huy bến quyết định các đồng chí cứ thả hàng. Mong quá, ngỡ tàu không vô được. Ai như thuyền trưởng Lê phải không?
            - Thả chỗ nào?
            - Chếch bên phải năm trăm mét nữa.
            - Vào được chưa?
            - Nước đang cường.
            Lê quay vào buồng lái, thận trọng đưa tàu nhích dần sang phải. Anh ý thức được mọi sự bất trắc xảy ra lúc này sẽ dẫn đến hậu quả thế nào.
            - Thả đây hả, đồng chí? - Tiếng Xuân hỏi.
            - Vào gần nữa càng hay.
            - Bảo rằng không vào được nữa - Lê nói vọng ra - Tàu còn phải cơ động.
            - Tránh mọi sự phát ra ánh sáng nhé!
             Người du kích dặn, rồi cả người lẫn xuồng mất hút về phía bờ.
             Thuỷ thủ bắt tay vào công việc. Những thùng đạn, những hòm súng rơi ùm xuống nước.
             Cứ năm hòm, được giằng với nhau bằng một dây ni-lông khá to. Công việc thả hàng, thủy thủ đã tập nhiều nên thuần thục, ăn ý. Không khí khẩn trương. Mọi người hối hả đưa từng hòm đạn lên mặt boong, vần xuống. Mặt boong rậm rịch. Chỉ có tiếng hòm gỗ va vào thành tàu và tiếng nước khua mạnh dội lên.
             Hầm hàng vơi dần; lúc này đã gần bốn giờ sáng.
             Công việc thả hàng do Lượng và Xuân phụ trách. Lê đứng đằng mũi quan sát, xem chừng.
             Chợt có tiếng máy tàu từ phía núi Một vọng lại. Lê nghểnh tai nghe: "Tàu địch! Bọn này đã đánh hơi ra tàu ta trong vùng Hòn Hàng". Anh chạy lại giữa boong, bảo Lượng:
             - Cho dừng lại, chuẩn bị rời bến, anh Lượng ạ.
             - Còn hàng mà, Lê? - Lượng ngẩng lên, nhìn về phía núi Một, bảo - Chúng còn xa.
             - Hàng còn, nhưng lừng khừng ở đây lộ "bến".
              Lê nhảy vào buồng lái, giật dây chằng cho tàu tiến một, rồi đánh nhanh vô lăng sang phải. Con tàu ra xa bờ.
             - Tất cả chuẩn bị chiến đấu! - Lượng đứng giữa boong, hô to.
             Thủy thủ lập tức chạy tới những khẩu B.40, B.41 và ĐKZ. Lúc này việc nổ súng vào tàu địch không còn là điều băn khoăn: Hàng đã xuống đúng vị trí.
             Lê lái tàu chếch mũi về hướng đông, đi lên phía bắc. Anh nhìn ra sau: hai tàu địch đang đuổi theo.
             Lê cho chạy hết máy. Anh muốn rằng nếu xảy ra chiến đấu hoặc bắt buộc hủy tàu, vị trí hủy tàu càng xa "bến" càng lợi.
            "Nếu chỉ hai chiếc kia thì không lo, mình đưa tàu thoát khôi khu vực này là ổn". Chợt Lê bặm môi đánh mạnh vô lăng sang trái, con tàu mất đà nghiêng hẳn.
            Trước mặt chiếc T.67, ba khối đen dập dềnh. Lê đưa tàu chạy sát bờ: Từ phía bắc, hai chiếc "vơ đét" đi thẳng trước mũi tàu.
            "Bị vây rồi!". Trong thâm tâm, Lê không muốn hủy tàu. Anh có ý định đưa tàu thoát ra phía ngoài, hy vọng vào sự khôn khéo của mình và của mọi người. Kinh nghiệm dạy anh rằng, nếu đưa được tàu ra ngoài khơi, việc xử trí với tàu địch dễ dàng hơn. Nhưng lúc này đã muộn? Lê giật chuông cho dừng máy. Anh nhìn ra: phía sau, hai chiếc; phía bên phải, ba chiếc; hai chiếc nữa chặn đầu.
            "Đành hủy tàu!". Lê chua xót nghĩ. Trời gần sáng, cần khẩn trương. "Được, chúng mày chờ đấy mà bắt sống! ".
             Lê hội ý nhanh với Lượng và Xuân rồi gửi bức điện cuối cùng về sở chỉ huy.
             Kế hoạch hủy tàu và rút lên bờ được triển khai.
             Tất cả đều phải tiến hành gấp.
             "Cùng thủy thủ đoàn trên tàu Bắc Việt! Các bạn nên hiểu rằng lộ trình của các bạn đã bị chúng tôi phát giác từ lâu..." , có tiếng loa từ tàu địch vọng tới.
             - Theo sự phân công của ban chỉ huy, tôi, chú Tám và ba thuỷ thủ: Cang, Hải, Mừng ở lại cài kíp vào bộc phá hủy tàu - Lê nói to, rồi quay sang phía chính trị viên - Chúng ta chờ nhau trên bờ nhé anh Lượng!
              Những chiếc phao được nhanh chóng ném xuống nước. Xuồng cao su bơm căng hơi. Theo sự sắp xếp cửa Lượng, thủy thủ lần lượt rời tàu.
            - Nhanh lên, còn quyến luyến gì nữa thế?
            - Lấy thêm băng đạn.
            - Tổ 2 có B.41 chưa? Xuống!
             Xuân nài:
            - Anh Lê, tôi đề nghị được ở lại phá tàu.
             Lê trừng mắt:
            - Ai phụ trách anh em lên bờ?
            "Trên bờ, đã có lực lượng quân lực Việt Nam Cộng hoà đang triển khai kiểm tra. Các bạn không thể nào chạy thoát. Các bạn chỉ còn một con đường để cứu sống được sinh mạng mình, vừa giúp ích cho đất nước là hãy trở về chính nghĩa quốc gia... ".



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:34:02 pm
         
           - Chú Tám và Cang đánh khoang máy. Hải và Mừng đánh đuôi tàu. Tôi, phụ trách ca-bin - Lê ra lệnh - Đánh ba loại kíp: Hẹn giờ, hóa học, dây cháy chậm. Đặt ba mươi phút. Rõ chưa?
           - Rõ!
           - Bắt đầu! Tính từ lúc đặt kíp.
           "Các bạn sẽ được đón tiếp nồng hậu, các bạn sẽ được tặng thưởng xứng đáng, các bạn... ".
            Lê nhanh chóng mở ngăn kéo, lôi hết tài liệu bỏ vào ống " tự huỷ ". Sau đó thận trọng vặn đồng hồ rồi bật lửa đốt dây cháy chậm. Ngọn lửa bén thuốc, cháy lép bép.
           - Báo cáo, đã đặt kíp nổ xong! - Cang từ khoang máy chạy lên ca-bin, nói to.
            Lê đang soát lại ngăn bàn, không quay lại, hỏi:
           - Chắc chưa?
           - Chắc! Tôi và chú Tám đều nghe kíp hoá học nổ đánh "bép" một tiếng.
           - Chú Tám đâu?
           - Ông già lẩn thẩn rồi.
           - Sao? - Lê quay lại, khuôn mặt lấm tấm mồ hôi.
           - Thời gian khẩn cấp mà chú còn ngồi lại vuốt ve cái máy, miệng lẩm bẩm xin lỗi nó như nói với người. Tôi nhắc, chú còn quát: Mày lên trước, mặc tao!
            Hải và Mừng cùng xộc vào phòng.
           - Báo cáo, xong! Bảo đảm một trăm phần trăm bộc phá nổ.
           - Đặt giờ bao nhiêu?
           - Như thuyền trưởng quy định.
           - Là bao nhiêu?
           - Báo cáo, ba mươi phút kể từ lúc đặt.
           - Được. Mời chú Tám lên, ta rời tàu.
            Mọi người ra boong.
            "Cùng thuỷ thủ đoàn trên tàu Bắc Việt! Trên bờ, lực lượng của quân lực cộng hoà đã vây toả, các bạn đừng nuôi ảo tưởng chạy thoát. Chúng tôi lấy danh dự của quân lực Việt Nam Cộng hoà và danh dự quân đội Hoa Kỳ và đồng minh đảm bảo với các bạn rằng... ".
            Ông Tám từ dưới khoang đi lên, người giắt đầy lựu đạn. Khẩu AK vắt chéo qua vai.
            - Cái máy còn mới quá mà, Lê.
            - Chú Tám và Cang ngồi xuồng cao su. Tôi, Hải, Mừng bơi phía sau đẩy. Tất cả xuống nước.
            - Cái máy thiệt tốt! - Ông Tám lẩm bẩm khi đã ngồi trong xuồng. Đôi mắt ông đăm đăm ngóng về phía con tàu Chợt ông nói to - Thiệt tội cho nó!
            Trời sáng dần, đã mờ mờ nhận ra dãy núi trước mặt. Chiếc xuồng bơi nhanh vào bờ.
            Phía sau những ngọn đồi, tiếng động cơ máy bay trực thăng phành phạch dội lại. Trên trời, máy bay cánh quạt vè vè lượn đảo.
            "Chúng đổ quân - Lê lo lắng - tình hình này làm sao bắt liên lạc được với bến".
            Chiếc xuồng vừa chạm bờ, Lượng và mọi người đứng dưới chân núi lập tức ùa cả lại.
            Lê vội vã bước lên bãi cát. Đám thủy thủ quây quanh anh và Lượng, chờ đợi. Lượng xốc lại khẩu AK rồi đưa mắt lướt nhanh từng người. Anh em đều được trang bị đầy đủ vũ khí: AK, lựu dạn, dăm ba người có ca B.41 và B.40.
            - Các đồng chí! - Lượng nói, đôi mắt sáng lên và khuôn mặt nghiêm nghị - Tình hình bắt buộc và đòi hỏi chúng ta phải hủy tàu. Chỉ mươi phút nữa, những người lính thủy sẽ vĩnh biệt con tàu thân yêu của mình. Ai chẳng đau lòng trước cảnh này... Các đồng chí đều nghe tiếng máy bay cả chứ? Bọn địch đổ quân hòng tiêu diệt và bắt sống chúng ta. Song bằng mọi giá chúng ta phải bắt liên lạc với du kích, bảo toàn lực lượng là chính, bức bách lắm mới nổ súng. Chúng ta chia ra từng nhóm lẻ, như vậy việc rút lui sẽ thuận tiện hơn. Tôi phụ trách thê đội một, anh Xuân phụ trách thê đội hai. Tổ hủy tàu do thuyền trưởng Lê chỉ huy, chờ tàu nổ, rút sau. Trời gần sáng rồi, các đồng chí, lên đường. Tạm chia tay nhau ở đây.
            Lượng ôm ngang người Lê rất lâu. Cả hai cùng im lặng. Đám thủy thủ lặng lẽ nhìn Lê, nhìn ông Tám và những người rút sau rồi hướng ra con tàu, nét mặt lộ rõ vẻ xúc động. Từng nhóm đi phía núi.
           - Khoan đã, xin các đồng chí một phút! - Lê bước tới. Mọi người quay lại, im lặng. Lê ngước lên lắng nghe tiếng máy bay đang lượn trên đồi, anh nói nhanh - Tất  cả mọi điều đều có thể xảy ra. Do vậy tôi yêu cầu trong số chúng ta, không một ai được phép để mình rơi vào tay quân địch. Các đồng chí rõ cả chứ? Thà chết...
            Lúc nói câu đó, bên tai Lê văng vẳng tiếng đoàn trưởng Tư: "Làm người, ai cũng muốn vươn tới sự tốt đẹp. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng thắng hoàn cảnh..."
            Anh nhìn theo đồng đội đi vào bóng núi, lòng se thắt. Liệu rồi còn được gặp lại hết thảy anh em? Phía trước, địch đang túa quân vây từng ngọn núi, số phận họ ra sao?
            Lê nhìn mãi, nhìn mãi cho tới lúc người thủy thủ cuối cùng khuất hẳn.
            Ngoài biển, những chiếc tàu địch chạy qua, chạy tới. Chúng thừa khôn ngoan để hiểu rằng áp vào gần con tàu sẽ nguy hiểm thế nào. Con tàu sẵn sàng đổi mạng. Chúng dư kinh nghiệm về việc đó.
            Tiếng loa vẫn dai dẳng vọng vào. Biển đã hiện ra đủ hình thù, đường nét. Con tàu T.67 vẫn dềnh trên sóng.
            Ngồi bên Lê là ông Tám Thạnh, kế đó là Cang, Hải và Mừng. Mọi người hồi hộp, nóng lòng nhìn ra. Tại sao tàu chưa nổ? Trục trặc gì? Dây cháy chậm bị đứt? Đồng hồ hỏng? Hay kíp hoá học mất tác dụng? Chẳng lẽ cùng một lúc, cả ba loại ở ba vị trí đều không còn khả năng gây nổ? Tại sao? Tại sao? Bao câu hỏi đặt ra. Mọi người ngồi lặng, năm khuôn mặt hướng về phía con tàu. Có cảm giác như nghe rõ tiếng tim đập trong lồng ngực người ngồi bên cạnh.
            Khuôn mặt Lê đanh lại. Cổ dài ra. Những đường gân bên thái dương giật mạnh. Và mồ hôi ở trán cứ nhỏ xuống từng giọt, từng giọt. Đầu óc Lê rối lên: Bao điều không hay sẽ kéo theo, nếu con tàu không nổ? Liệu dưới tàu còn tài liệu?
            Năm phút nữa nặng nề trôi qua.
            - Chú Tám, cháu trở lại tàu. Có gì, chú cứ dẫn anh em rút - Lê nói.
            - Chờ chút xíu nữa Lê, nguy hiểm lắm!
            - Tàu không nổ còn nguy hiểm hơn... Trường hợp cấp bách, cháu sẽ ấn kíp nổ ngay... khi đó...
            - Lê, để tao!
             Ông Tám bật dậy, chạy xuống bãi cát.
            - Chú Tám! - Lê vội vàng đuổi theo níu ông lại.
             Hai người vừa chạm mép nước, một cột lửa bùng lên.
             Kế đó là tiếng nổ xé tai. Mảnh sắt vụn bay lả tả. Khói trùm đen đặc cả một vùng. Không khí như bị nén lại . Sóng biển và sức ép hất ông Tám và Lê văng lên trảng cát
             Hải, Mừng và Cang xô tới. Da mặt hai người sạm khói.
             Ông Tám ôm ngực lảo đảo đứng lên, ngó ra biển:
            - Nó "chết" thật rồi!
             Lê bá vào vai Hải, cố đứng thẳng người. Anh nói một cách khó khăn:
            - Ta rút! - Và anh gắng gượng bước.
             Phía bên kia đồi, tiếng súng AR.15 rộ lên loạn xạ.
             Máy bay bắt đầu sà thấp quét đạn trung liên và xả rốc két xuống mép biển.
             Đằng đông, một góc trời ửng đỏ.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:37:04 pm

25


            Tổ hủy tàu của Lê ở vào tình thế gay go.
            Khi năm người vượt qua ngọn đồi nằm kề sát biển, trời đã sáng rõ. Trước mắt họ: núi chắn; phía bên phải, trên một bãi đất khá phẳng phiu, ba chiếc xe tăng cụm vào nhau và ở đó thấp thoáng những bóng lính. Phía bên trái, cũng là núi. Họ hoàn toàn lọt vào giữa "lòng chảo". Lê biết rằng luẩn quẩn ở đây hết sức nguy hiểm. Nếu bọn địch từ phía những chiếc xe tăng càn tới, tốp người kẹt giữa "lòng chảo" khó lòng thoát. Anh quyết định phải nhanh chóng vượt qua ngọn núi trước mặt. Năm người lặng lẽ bò lên dốc. Ông Tám Thạnh hăng hái đi trước. Tuy bị sức ép của bộc phá, ông còn khỏe. Khẩu AK đeo trước ngực, ông bám từng gốc cây, kéo mình lên dáng nhanh nhẹn. Lê đi sau cùng, chốc chốc đảo mắt nhìn xuống cụm xe tăng, ở đấy bọn địch đang dựng lều bạt. "Chúng sẽ còn càn lâu". Cang đi giữa đoàn  người, khẩu tiểu hên lủng lẳng trước ngực; sau lưng, vắt chéo khẩu B.40, Hải và Mừng bám phía sau ông Tám.
            Mặt trời tỏa nắng xuống ngọn đồi nóng hừng hực. Mới nửa buổi sáng mà nắng đã gắt. Ngọn đồi trơ ra những đá và đất. Cây cối rất ít, chỉ lưa thưa mấy gốc cỏ tranh và những bụi cây lúp xúp, càn cỗi. Những bụi sim, bụi mua chơ hơ mọc rải rác. Điều khiến mọi người lo ngại là, ở phía dưới, đưa ống nhòm lên, bọn địch dễ dàng phát hiện ra.
            Gần trưa, năm người lên đến đỉnh núi. Ở đây nhìn rất rõ biển. Họ nhận ra trảng cát sáng nay và vùng biển, nơi con tàu nổ.
            Biển trải ra lặng lẽ, xanh ngát; lấp loá nắng. Mấy chiếc tàu địch vẫn lởn vởn quanh vị trí đêm qua.
            Lê bảo mọi người dừng lại, rồi thận trọng bước lên phía trước, nép vào một gốc cây, đưa mắt quan sát dưới chân núi, lố nhố những lính và lính.
            - Thế nào, Lê? - Ông Tám hỏi.
            - Địch vây chặt bốn phía!
            - Định sao?
            - Ta trụ trên này. Nếu chúng lên ta đánh trả. Còn không đêm ta tìm cách rút.
             Năm người tìm được một cái rãnh và ẩn tạm ở đó. Phân công nhau quan sát bốn phía.
             Ngọn đồi bên cạnh, súng AR.15 chốc chốc lại nổ.
             Cang mang lương khô ra; nhưng không ai ăn. Đã hai đêm đối phó với địch trên biển nên người nào cũng hốc hác, da mạt xám ngắt.
             Buổi trưa, nắng đổ xuống nóng như có lửa. Cây cỏ héo quắt. Không khí như loãng ra, bốc khói. Năm người ngồi lặng, chăm chú dõi xuống chân đồi. Nắng đã vắt kiệt nước trong cơ thể, môi khô nẻ, mắt lờ đờ. Cái khát hành hạ. Song dường như ai cũng hiểu rằng không nên nói điều ấy ra. Họ lặng lẽ chờ trời tối. Xung quanh, đám cỏ tranh bị nắng hun, bật lên những tiếng tách tách như có đám cháy. Thỉnh thoảng, một chiếc máy bay hai thân lượn vè vè trên đỉnh núi, đảo cánh nghiêng ngó.
            Chờ bóng tối phủ kín ngọn đồi, năm người dò từng bước, xuống núi. Nhưng tới lưng chừng dốc, dễ dàng nhận ra phía trước, bọn địch đang túm tụm quanh những chiếc lều bạt, xì xụp ăn uống. Một vài bếp vẫn còn lửa. Họ quyết định ngoặt hướng trái, vượt đèo yên ngựa, sang ngọn đồi bên cạnh. Nhưng dưới chân ngọn đồi này cũng có địch. Lê cho cả nhóm dừng lại, bàn cách rút. Năm người ngồi nép vào một lùm cây gần đỉnh đồi.
            - Chờ nhau ở đây nghe! Cẩn thận đó -  Ông Tám dặn.
             Lê và Cang men sườn đồi, đi xuống. Thỉnh thoảng họ dừng lại nghe ngóng rồi dò dẫm lần từng bước. Ở dưới chân núi, cây cối um tùm, hai người dễ dàng lẫn vào bóng tối.
            Tới một bụi rậm sát chân đồi, họ ngồi xuống, nhìn ra. Trên bãi trống trước mặt có ba lều vải. Đèn trong đó vẫn sáng. Chốc chốc, một vài bóng đen không rõ hình thù, lòa nhòa đi đi lại lại.
            "Hướng này không ổn" - Lê thì thầm. Hai người lẹ làng rút ra phía sau, đi chếch về bên phải.
            - Anh Lê, suối! - Chợt Cang dừng lại, nói khẽ.
            - Hả?
            - Tiếng nước chảy!
             Cả hai cùng lắng nghe: phía trước có tiếng róc rách rất mảnh. Mắt Cang sáng lên:
            - Anh gác để tôi lấy nước.
             Lê kéo Cang nép vào gốc cây.
            - Cẩn thận.
             Cang khẽ gật đầu, rồi hướng về phía con suối, lần bước. Bóng Cang nhòa vào bóng những thân cây mọc ven chân núi.
            " Cu cậu hết sợ ma rồi chăng?"- Lê nấp sau bụi rậm, căng mắt rõi theo, nghĩ thầm. Chợt, như có linh tính báo trước. Lê đảo mắt sang phải: mấy bóng đen đang rập rình tiến lại phía Cang, gần lắm. Không thể khác được, Lê giương súng, xả một băng. Cang như chiếc lò xo bật tới chỗ Lê. Hai người lộn lên ngọn đồi.
           Vùng núi như con thú đang ngủ lừ đừ, bỗng giật mình choàng dậy: Súng AR. 15 tới tấp vãi đạn. Đạn chiu chíu đuổi theo Lê và Cang. Từng chùm pháo hiệu hớt hải vọt lên, treo lơ lửng. Kế đó, tiếng động cơ máy bay rì rì.
            - Rút sang ngọn đồi bên trái, nhanh!
             Lê hô khi chạy tới gần ông Tám. Năm người hối hả lao xuống dốc. Đạn đan nhau rít xung quanh. Chiếc máy bay hai thân nhấp nháy đèn, ầm ào bay trên ngọn núi.  Một chùm pháo sáng bung ra: ngọn đồi trơ khấc dưới ánh đèn dù.
             Lê chỉ kịp hô: "Nằm xuống!", đạn AR.15 đã xỉa tới, cày tung mặt đất phía trước.
             Pháo sáng vừa tắt. Lê chồm dậy, thúc:
            - Vượt!
            Năm người vừa chạy giáp khu yên ngựa thì từ bên phải, đạn AR.15 chéo cánh sẻ bắn tới. Phía đó, thấp thoáng những bóng đen. Lê chững lại, lia một băng AK rồi vọt nhanh qua khu đất trống. Tới lưng chừng dốc bên kia, anh quỳ xuống, nổ tiếp một băng nữa. Ông Tám và Cang lựa lúc bọn địch đang rụt lại vì loạt đạn của Lê, băng sang ngọn đồi trước mặt. Hải định lao theo, chợt nghe tiếng "huỵch" phía sau. Anh quay lại:  Mừng nằm sóng soài trên mặt đất.
           - Sao? - Hải gắt.
           - Đạn sượt qua bắp chân, nhưng nhẹ thôi, đi được. Mừng cố gượng đứng dậy, toan nhoài lên. Nhưng Hải đã kịp cầm tay Mừng, giật mạnh:
           - Quay lại! - Hải quát.
           Trên khu đất phẳng, lố nhố lính địch. Hai người thả mình, lăn xuống sườn đồi phía đông. Tới lưng chừng dốc, họ dừng lại, lo lắng ngước lên. Phía ngọn đồi họ định sang, tiếng súng AR.15 nổ loạn xạ.
           Bên đó, cả ba lựa thế địa hình, găm từng loạt tiểu liên xuống khu yên ngựa khiến bọn địch không cách nào lên được.
           Cang nép sau mô đá, hướng nòng B.40 vào tốp lính đang vón lại chỗ giáp giới giữa hai ngọn đồi. Lê vội nắm lấy nòng súng:
           - Chưa cần thiết. Tiết kiệm đạn.
           - Bắn yểm hộ cho anh Hải và Mừng sang - Cang bảo.
           - Không, cứ để họ bên quả đồi ấy lợi hơn.
           - Sợ bị lạc!
           - Rồi họ khắc tìm cách thoát. Ban đầu Lê có ý định chờ Hải và Mừng, nhưng khi thấy bọn dịch tập trung sự chú ý vào ngọn đồi bên này, anh bảo ông Tám và Cang rút lên cao. Ba người chạy miết về phía nam. Tới dốc lên kia, họ dừng bước. Lê nhìn bốn phía: quả đồi rộng mênh mông, có thể trụ lại được. Anh chợt nghĩ đến Hải và Mừng. Không rõ họ có thoát khỏi khu yên ngựa không?
           Tiếng súng AR. 15 lắng dần.

           Lát sau có tiếng động cơ và một chiếc trực thăng bay tới, là rà quanh ngọn dồi. Tiếng loa chõ xuống, vẫn một giọng cũ rích:
           "Hỡi anh em thủy thủ đoàn! Các bạn nên hiểu rằng các bạn đã bị quân lực Việt Nam Cộng hoà và các lực lượng quân đội đồng minh bao vây. Không lương thực, không vũ khí, chỉ một nhóm người, các bạn đừng nuôi hy vọng chạy thoát, các bạn chỉ còn một con đường hữu hiệu để cứu được sinh mạng các bạn và giúp ích cho nước nhà là mau mau quay về với chánh nghĩa quốc gia. Chúng tôi mở rộng vòng tay đón các bạn. Hiện nay chúng tôi tạm ngừng truy diệt để các bạn thêm thời gian suy tính, đặng có những quyết định hợp với hoàn cảnh. Hỡi anh em... ".
           - Chúng không đánh lên vì ban đêm, cũng sợ - Lê bảo - Nhưng ngày mai, trời sáng, nhất định sẽ tấn công ta.
           - Còn nhiều đạn không Cang? - Ông Tám hỏi.
           - Cháu bắn dè lắm!
           - Mình có ba AK, một B.40 và chục trái lựu đạn, dư sức chọi, hí.
             Ba người tìm một hõm núi, ngồi xuống.
           - Để cháu đi dò tình hình, chú Tám - Lê bảo và anh lần về phía chân núi.             
           - Chớ lúc nãy mày không lấy được nước? - Ông Tám hỏi Cang khi chỉ còn hai người.
           - Có một con suối... chà, nó chảy nghe mới thèm chứ! Cháu vừa men lại bờ thì chúng tới.
            Cang lắc lắc cái bình tông rỗng:
           - Giá chi cháu nhanh hơn chút... Không rõ anh Hải và thằng Mừng...
           - Chắc kẹt bên kia!
             Gần sáng, Lê tới chỗ hõm núi.
           - Phía nào cũng có địch.- Lê ngồi xuống cạnh ông Tám, thì thào - Cháu tìm khắp mà không thấy Hải và Mừng đâu.
            Ba người ngồi im.
            Mặt trời vừa nhô khỏi biển, chừng một trung đội địch từ đèo yên ngựa kéo lên. Chúng lò dò từng bước, thận trọng.
            - Đừng để nó tới đỉnh nghe, Lê - Ông Tám bảo - Mình ráng chiếm độ cao.
            "Phải đánh một đòn phủ đầu, hất bọn này xuống chân núi" - Lê vẫy Cang đưa khẩu B.40 tới. Ba người nằm sau mô đá, chĩa súng xuống.
           - Chờ gần đã - Lê dặn.
            Bọn địch khom người, chầm chạp lần lên.
            Khẩu B.40 trong tay Cang giật mạnh. Một tia lửa phụt tới, trùm xuống giữa đội hình địch. Lê và ông Tám bắn thêm mấy loạt AK sau khi đã tung hai quả lựu đạn.
            - Rút!
            Lê hô. Ba người chạy về phía sau.
            Đạn các cỡ dưới chân đồi lập tức bắn lên.
            Và chiếc máy bay hai thân lại rì rì nghiêng đảo.
           
            Suốt ngày hôm ấy, ba người quẩn quanh trên ngọn đồi vừa tránh, vừa đánh. Đêm đến, khi xung quanh yên ắng, họ cảm thấy mệt lử. Đã hai ba ngày không ăn uống, cái đói, cái khát lúc này trỗi dậy hành hạ. Lửa  mặt trời ban ngày hun nóng đang ngấm vào đốt cháy cơ thể từng người. Khát đến rát họng. Khát như có cái gì bào trong ruột.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:40:30 pm

            "Phải nhanh chóng thoát ra khỏi ngọn đồi này" - Lê chống súng đứng dậy, nhìn xung quanh. Bóng tối đè nặng lên ngọn núi. Phía sau lưng, biển thẫm đen. Phía trước, lô nhô những đồi là đồi.
            Ông Tám cũng đứng lên.
            - Ta xuống thôi! - Ông liếm đôi môi khô nẻ, rộp da và bước tới cạnh Lê.
             Ba người cắt chéo sườn núi lần xuống phía nam.
             Chừng nửa tiếng sau họ tạt xuống dốc.
            - Quay lại! Hướng này có địch! - Lê kêu khẽ.
             Họ ngoặt sang trái, dò theo rìa núi, lách giữa các bụi cây Lê đi trước, ông Tám đi sau, Cang đi giữa. Bóng ba người lẫn trong các bụi rậm.
             Tới bãi đất trống, ba người ngó xuống: dưới đó lù lù hai xe tăng. Họ bò giật lùi.
             Ông Tám kéo Lê, chỉ xuống:
             - Nhìn thấy con đường mòn không? Vượt qua đó là tới một cánh rừng. Từ đấy về được Hòn Hàng.
              Hai người hướng về phía Tám Thạnh chỉ.
             - Làm sao qua tụi xe tăng? - Cang hỏi.
             - Phải có người nhử chúng! - Tám Thạnh vẫn nhìn ra phía trước, nói.
             Lê quay lại. Nhưng hình như ông không để ý đến cái nhìn lo lắng, sợ hãi của anh. Ông nói tiếp:
             - Việc ấy tao làm được!
             - Đừng chú! - Lê thảng thốt và anh xoay hẳn người về phía ông.
             - Êm, tao rút sau... đây về Hòn Hàng có bao xa!
             - Cháu không để chú ...
             - Đất này tao thuộc như bàn tay...
             - Chú định bỏ bọn cháu?
             - Cần bắt liên lạc sớm với bến để cứu anh em mình. Loay hoay ở đây là chết ráo...
             - Nếu phải chết, chú cháu mình cùng chết.
             - Thuyền trưởng mà nói dễ nghe quá ha! - Ông Tám giễu - mày không tính về Bắc và lĩnh một con tàu mới?... Lẹ lên kẻo nhỡ.
             - Vậy cháu ở lại... chú thuộc địa hình.
             - Mày nghĩ tao chịu chết dễ vậy sao? Đây là quê tao - Ông quay sang nắm vai Cang: - Đi hí, cố mà trở về.           
             - Chú Tám, chú đừng... làm sao nhé! - Cang kêu khẽ và ôm choàng ngang người ông. Đầu Cang áp chặt vào khuôn ngực nở nang, rắn chắc và đang nóng như lửa của người lính già. Ông Tám đưa tay vuốt vuốt mái tóc rin rít bụi đất của người lính trẻ mà ông vẫn thầm quý mến. Và hình như ông muốn nói thêm một điều gì, nhưng ông im lặng. Cang cũng bíu chặt, không chịu buông. Rồi ông lần túi áo, móc vội một nắm tiền Nam  dúi vào tay Cang:
             - Phòng khi cần. Thằng Lượng phát đó!
             Cang mếu máo:
             - Trời ơi lúc chia tay, sao chú làm vậy? - Và Cang ôm chặt ông Tám hơn - Cháu sợ lắm...
             Ông Tám gỡ tay Cang, lẳng lặng xách khẩu AK đi vòng lên ngọn đồi, thậm chí không quay lại. Dáng ông lừng lững.
Ít phút sau, cách chỗ Lê và Cang không xa một loạt AK nổ giòn.
             Lê giật tay Cang. Cang mếu máo: "Chú Tám", rồi vừa hớt hải bước theo Lê, vừa quay lại nhìn. Bọn giặc lập tức túa cả về phía ông Tám. Khu đồi náo động. Pháo hiệu, pháo sáng vọt lên.
             Liền mấy ngày sau đó, ông Tám một mình loay hoay trên ngọn đồi. Ông gầy rộc, tướp tơ. Da mặt xỉn đen. Đôi mắt như hai cái hốc sâu. Đôi môi rộp nẻ...
             Rồi vào một buổi chiều, khi bắn đến viên đạn cuối cùng, ông lần thắt lưng, gỡ quả lựu đạn, và khi bóng đêm trùm xuống, ông kéo khẩu AK lê tới ruột bụi rậm. Ông đổ xuống đó, một tay cầm quả lựu đạn, tay còn lại xoè ra bám chặt xuống ngọn đồi. Những ngón tay sần chai, đen đúa giống như những mũi dùi, ẩn sâu xuống đất, nắm chặt, nắm chặt. Ông như muốn neo chắc vào đó...


*


            Mấy hôm nay Hải và Mừng quẩn quanh nơi ngọn đồi không sao thoát ra được. Sức lực hai người cạn dần. Họ ẩn trong hốc đá trông như một hàm ếch.
            Mừng nằm ngửa, mắt nhắm, thở khò khè. Khuôn mặt khô, gầy; hai má sạm đen. Bụng hóp, xương sườn phơi ra từng chiếc. Cái chân bị thương sưng như bắp chuối.
            Hải xé áo lót, kéo quần Mừng, thấm mủ nơi vết thương.
            Bên ngoài hàm ếch, trời ong ong. Những cây cỏ tranh rũ xuống. Ngọn đồi khô rang như vừa có trận bão lửa tràn qua.
           - Tôi hỏi nhé - Mừng mệt mỏi nói - mùi hôi ở chân tôi có làm anh khó chịu không?
           - Nhảm!
           - Thịt chỗ đó thối rồi. Tôi biết!
           - Đừng ngốc nữa! Nằm im!
            Mừng lại ngoan ngoãn để Hải lau mủ ở vết thương.
            Một lát, Mừng liếm môi, ước ao:
           - Giá có một giọt nước!
           - Đêm nay tới suối, tha hồ uống!
           - Suối à?
           - Nước trong và lạnh tê nhé.
           - Xa không?
           - Gần rừng mơ. Chao ôi, cả một rừng mơ mọng quả, chua ơi là chua.
             Mừng nuốt nước bọt, cục yết hầu chạy lên, chạy xuống.
           - Giá được lúc này, nhỉ?
           - Hôm qua tới giờ cậu không tè đấy!
           - Không buồn!
           - Cố chứ, không tè lấy đâu uống. Của mình chắc còn, nhấp một tí nhé.
           - Để anh!
            Hải tới một gốc cây, bẻ chiếc lá, cuốn lại như cái phễu và đứng thuỗn mặt ra một lúc, rồi chui vào.
           - Chẳng được mấy!
            Mừng gượng nhổm dậy run run đỡ cái lá trên tay Hải, nhắm mắt, uống đánh ực.
           - Mặn! - Mừng thả người nằm xuống. Dẫu sao mấy giọt nước cũng khiến đôi môi cậu ta đỡ khô nẻ.
           - Anh Hải bảo chúng nó có nói dối không? - Chợt Mừng hỏi.
           - Ai?
           - Cái loa trên máy bay ấy?
           - À, láo toét, đêm qua tớ đã định lia cho một băng.
           - Nó nói là lấy danh dự quân lực bảo đảm.
           - Tớ sẽ cho nó ăn đạn.
           - Em có được gặp cụ nữa không nhỉ? - Một lát, Mừng lại hỏi.
           - Mẹ em í. Em chết, mẹ không sống nổi. Mẹ chiều em lắm.
           - Ừ, con một mà!
           - Mẹ không đi bước nữa, cũng vì em đấy.
           - Đã đành. Chuyến này thoát, dứt khoát cưới vợ đấy!
           - Anh vẫn làm chủ hôn?
           - Một tay tổ chức đám cưới có hạng!
            Hai người im lặng.
            Bên ngoài trời vẫn nắng gắt.
           - Cậu cứ nằm đây!- Một lúc, Hải đứng dậy.
           - Anh đi đâu?
           - Kiếm cái độn bụng. Ba hôm không lót ruột rồi! Coi chừng bị phục!
            Mừng nằm một mình, mê man nửa mơ nửa tỉnh.
            Mừng thấy mình trong ngày cưới. Chú rể mặc quân phục lính thủy. Cô dâu mặc áo trắng, quần ka-ki. Xung quanh lọ đầy hoa. Mọi người bắt tay cô dâu chú rể. Bà mẹ vui sướng đứng ở chái nhà, cười, nhận sự chúc mừng của họ làng. Rồi cô dâu chú rể cùng bay lên cao, lên cao. Bà  mẹ đứng ở sân, nhìn theo gọi với:
           - Mừng ơi! Mừng ơi!
            Mừng giật mình. Hải đang ngồi ngay cạnh.
           - Tuyệt!
            Mừng hơi ngóc dậy:
           - Món gì thế?
           - Số bọn mình may nhé, vẫn còn một cây ổi xanh lá. Tớ vặt sạch.
            Hải lôi từ túi quần ra nắm lá ổi. Mắt Mừng sáng lên.
           - Cậu ăn búp với lá non ấy!
           - Phải chia đều chứ!
           - Tớ chén trước một nắm rồi.
           - Nói dối.
           - Ngửi miệng xem!



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:41:06 pm
         
           Cả hai nhìn nhau, cười xót xa.
           Đêm ấy, Hải cõng Mừng lần về phía Hòn Hàng.
           Mừng nhăn nhó, nghẹo đầu lên vai Hải. Hải lần từng bước, trật trưỡng, khó khăn.
           Gần sáng, họ bị phục. Đạn AR. 15 đột nhiên bắn tới. Hải đặt Mừng nằm xuống. Bò thụt lùi. Nhiều bóng đen chạy tới. Hải lia một băng AK rồi lại cõng Mừng chạy lộn lên ngọn đồi.
           Tiếng súng lan ra bốn phía. Một trực thăng bay tới.
           Nó lượn vòng đúng chỗ Hải và Mừng nấp. Hai người lại tụt xuống đồi.
           " ...Các bạn chỉ còn một con đường hữu hiệu là nhanh chóng quay về với chính nghĩa quốc gia. Các bạn chớ dại dột bỏ lại  mẹ già con thơ, chết một nơi không ai biết đến. Mẹ già các bạn ai nuôi. Chúng tôi lấy danh dự quân lực cộng hoà mà bảo đảm với các bạn rằng các bạn sẽ an toàn. Chúng tôi đã thòng thang dây xuống. Mong các bạn suy nghĩ kỹ. Chỉ cần các bạn cầm vào thang dây, mười phút sau là đã ở trong căn phòng thơm tho, đủ tìện nghi... "
           Cái thang dây lê lệt phệt trên mặt đất. Hải nhìn theo chiếc máy bay, xóc nách Mừng, bước đi. Họ thụt xuống một cái hố. Hai người cùng thở dốc.
           - Khó thoát rồi! - Mừng ôm chiếc chân đau, thất vọng rên rỉ.
           - Đồ chó đẻ - Hải chửi theo chiếc máy bay.
           - Mọi  người đâu cả, anh Hải?
           - Người nào?
           - Chú Tám, anh Lượng, anh Lê, thằng Cang...
           - Đang đợi mình dưới chân núi...
           - Họ không lên đón à?
           - Nào, quặp chặt vào cổ. Ta lại đi nhé...
           - Có lẽ em không đi nổi ... cái chân ...
           - Buốt hả? Chịu khó đêm nay nữa...
             Hải cúi xuống bên Mừng. Mừng gắng gượng trèo lên  người Hải, bám chặt. Hải tì hai tay vào dầu gối, run run đứng lên. Anh xiêu vẹo bước. Mồ hôi đầm khuôn mặt. Hai người lần mò, chệnh choạng bước vô vọng trên ngọn đồi.
           - Có nước! - Hải- chợt reo khẽ, rồi nhẹ nhàng hạ Mừng xuống một bãi cỏ.
           - Nước à? - Mừng khấp khởi hỏi.
           - Nào, cùng uống...
            Hải quỳ xuống, thè lưỡi, háo hức và vội vã liếm những giọt sương li ti đọng trên những ngọn cỏ. Mừng cố gắng làm theo. Sau đó hai người cùng nằm xoài ra mệt mỏi, căng thẳng khiến họ thiếp đi.

           ...Mừng nhìn thấy mình đeo ba-lô về nhà. Mẹ Mừng và người yêu chạy ra đón. Rồi mẹ ra vại nước mưa đầy oặp sau nhà, múc một gầu đầy, đưa cho Mừng. Mừng uống hết gầu nước rồi như chợt nhớ đến Hải. Mừng tự múc một gầu, chạy đi...
            Động cơ máy bay khiến Mừng tỉnh dậy.
            - Anh Hải! Địch lên...
            - Hả? - Hải hốt hoảng ngồi dậy. Trời đã gần sáng.
            - Bám vào, nào?
             Họ chạy về phía cái khe cạn. Hai người trườn xuống đáy khe, phía trên, có những ngọn lá khô héo lưa thưa.
             Gần trưa, chiếc trực thăng sà tới đến chỗ khe cạn, nó "đứng" lại, cánh quạt xiết vù vù. Hải phát hoảng.  Anh cảm thấy thằng phi công đã nhìn rõ mình. Một loạt trung liên xỉa tới, vậy là hết. Khuôn mặt Hải co rúm. Song anh còn đủ tỉnh táo để đưa nòng khẩu AK lên. Chiếc máy bay loa loá nắng. Thằng phi công lại thò đầu qua cửa nhìn. Hải nín thở, ngón tay lần vòng cò. Song, chiếc máy bay đột nhiên lên cao, vòng ra xa. Khẩu súng rời khỏi tay Hải và anh đổ người vào vách núi, lịm đi. Cạnh đó, Mừng nằm bất động, rên khe khẽ. Vết thương sưng tấy, mủ vàng ứa ra, chảy ướt bắp chân.
            Chiều, khu đồi trở lại yên tĩnh, cái đói, cái khát và sự rã rời của cơ thể khiến Hải không muốn mở mắt. Cái chết có lẽ ở đâu đó bên cạnh. Chỉ cần một chút buông xuôi lúc này là quỵ hẳn và không bao giờ dậy được nữa. Có lẽ ý thức được như vậy nên Hải gượng ngồi lên. Anh đưa đôi mắt mệt mỏi, ngơ ngác nhìn. Chợt đôi mắt ấy có cái gì như lanh lợi hơn, tỉnh táo hơn. Đôi mắt ấy biểu lộ một sự mừng rỡ. Và cả khuôn mặt anh như giãn ra: Phía trên đỉnh đầu, có một tổ kiến. Anh hớn hở cúi xuống Mừng. Mừng teo tóp, khuôn mặt quắt lại, đôi môi nứt nẻ và da mặt đã biến thành mầu rỉ sắt.
           - Mừng! - Hải lay bạn...
           - Đừng làm khổ em và khổ anh nữa... - Mừng nói phều phào - cứ để em... chết.
           - Bậy nào... mở mắt ra ... có nhìn thấy gì không?
            Tổ kiến lờ mờ, lu lu rồi rõ dần trong mắt Mừng.
           - Có cái ăn, chén rồi đi ...
           - Anh Hải cứ đi ... Em có lỗi ... Em không thể...
           - Đừng ngốc thế...
            Hải đỡ Mừng ngồi lên, rồi vít tổ kiến xuống. Đầu tiên Mừng còn uể oải, nhưng sau đó thì cậu chàng bốc kiến ăn một cách vội vàng, hấp tấp; khuôn mặt tỉnh dần.
           - Nhặt trứng mà chén! - Hải đưa cho Mừng mấy trứng kiến như hạt gạo.
           - Anh?
           - Ưu tiên thương binh.
            Hai người tỉnh hơn. Trời đã tối.
           - Bây giờ thì bám vào! - Hải cúi xuống.
           - Để em lê ...
           - Bám vào! - Hải quát.
           - Em cũng không chịu nổi cái mùi ở chân, huống hồ...
            Hải chống súng đứng lên. Anh lại loạng choạng bước. Rồi Hải ngã, Mừng ngã theo. Cả hai nhăn nhó, không kêu, không rên.
            Hải làm động tác để Mừng bíu vào vai và lại gượng đứng dậy.
           - Em là gánh nặng của anh! - Mừng rên rỉ.
            Hải không nói, cứ chậm chạp lê chân. Được một đoạn, bỗng từ phía sau ngọn đồi, chiếc trực thăng bay tới Pháo sáng bung ra. Hải vội đặt Mừng xuống.
           Tiếng loa bâng quơ:
           " Hỡi anh em thuỷ thủ đoàn, mong anh em lựa chọn quyết định hợp với hoàn cảnh, mau chóng trớ về với chính nghĩa quốc gia... ".
           Pháo sáng lại vọt lên, hai người nằm úp mặt xuống ngọn đồi. Chiếc trực thăng lượn vòng và chiếc thang dây thõng xuống rà rà trên mặt đất, trông uốn éo như con ma.
           Chợt Mừng rùng người. Chiếc thang dây vừa lướt qua lưng. Anh vội rụt tay. Hải mắt nhắm chặt, Mừng thở nhẹ.
           "Các bạn đừng bỏ mẹ già, con thơ... các bạn đừng chọn cái chết vô ích... "
            Chiếc thang dây vặn vẹo rê qua rê lại. Mừng nằm im. Rồi anh tò mò, dè dặt ngóc đầu lên, ti hí mắt, nhìn vào chiếc thang dây...chiếc thang như đứng lại, chỉ đưa tay ra là chạm.
            Rồi chiếc máy bay lượn. Mừng thở phào.
            Mấy phút sau, nó quay lại.
          "...Quân lực Việt Nam Cộng hoà lấy danh dự bảo đảm rằng các bạn sẽ hoàn toàn an toàn về mọi điều..."       
            Chợt phía sau, có tiếng AR. 15 bật lên.
           - Để mình xem chừng!
            Hải nói khẽ, và trườn lùi lại cách Mừng một đoạn khá xa, anh xoay người, nhìn về phía tiếng súng vừa bắn tới.
            Mừng đánh nhẹ mắt dõi theo.
            Tiếng loa vẫn ra rả vọng xuống.
           - Anh Hải ơi! - Mừng khẽ gọi.
            Nhưng đáp lời Mừng, chỉ có tiếng loa và tiếng động cơ máy bay. Đôi mắt Mừng có điều gì khác lạ...
            Và chiếc thang dây lại ở ngay cạnh Mừng. Mừng quờ tay, và run run cầm vào cái que buộc ngang. Lập tức, như có phép lạ, chiếc thang được kéo lên.
          - Anh Hải! ... Ơ! - Mừng ú ớ, nhưng không buông tay. Mừng bị treo lơ lửng giữa không trung.
          - Mừng...! - Hải quay lại, nhìn theo chiếc thang dây gào đến vỡ lồng ngực. Và anh bật dậy, đứng sững giữa ngọn đồi. Rất nhanh, hoàn toàn bản năng và vô thức, cái bản năng và vô thức được kết tụ từ lâu về ý thức người lính, về sự trung thành, phản bội; ý thức về cuộc chiến đấu về chiến tranh,... Hải đưa khẩu AK lên, xiết cò.
           Nhưng rồi anh rú một tiếng não nùng như con thú thấy con mình bị giết, khi Mừng tuột khỏi thang dây, nặng nề rơi xuống. Anh chồm tới, quỳ xuống, ôm ghì lấy bạn. Mừng mềm nhũn, nóng hôi hổi. Máu từ Mừng trào ra, thấm đẫm người Hải. Anh đỡ đầu Mừng lên, rồi cúi sát mặt:
           - Mừng, ai bắn mày? Ai?
           Hải hét to. Cả ngọn đồi như nghe rõ tiếng hét ấy. Tiếng hét toá ra, chấp chới trong đêm; chấp chới truyền khắp không gian, khắp vũ trụ.
           Hải buông bạn, nhặt khẩu AK, đứng dạng chân, hướng khẩu súng theo chiếc máy bay nghiến răng bóp cò.
           Viên đạn cuối cùng ra khỏi nòng, Hải quẳng súng, rồi đổ ụp bên xác Mừng...



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:41:38 pm

26

           Ba Huỳnh là người quyết đoán, vậy mà hôm nay, lần đầu, ông tỏ ra lúng túng. Tàu đã thả vũ khí đúng vị trí, anh chị em du kích đang ngóng chờ lệnh lấy hàng, nhưng ông chưa quyết.
           Ba Huỳnh ngồi trong hốc núi cách mép biển không xa, khuôn mặt thần ra, suy tính. Nếu không cân nhắc kỹ, số vũ khí mà anh em mình tốn bao sức lực mới đưa tới đây sẽ lọt vào tay địch. Tại sao vùng Hòn Hàng tối nay báo động? Mò hàng ngay lúc này có vội vã quá không? Trời gần sáng, nếu địch phát hiện thì sao? Nhưng để qua ngày mai, ngày kia, liệu có an toàn? Sáng hôm sau địch biết, chúng cho lính tới hớt tay trên thì uổng. Bao câu hỏi đặt ra, câu nào cũng có lý và không có lý.
           Ba Huỳnh bước khỏi hốc núi. Trời tối mờ. Gió từ biển đưa lên man mát. Anh chị em du kích đang túm tụm dưới chân đồi, im lặng chờ đợi.
           Địch có biết tàu thả vũ khí xuống "bến"? Biết! Biết sao chúng không quây khu vực đó? Không biết! Không biết, tại sao xe pháo tất tả bủa đi vây ráp? Ba Huỳnh bước lặng lẽ trên đám đất phẳng. Xung quanh yên ắng. Chỉ có tiếng sóng lao xao từ mép biển dưa lên và tiếng gió thổi trên ngọn cây.
           Bóng một cô gái từ sau chân núi hớt hải đi tới. Ba Huỳnh vội vã chạy lại đón.
          - Sao Mười? Chi trễ vậy?
          - Báo cáo chú - Cô Mười thở hổn hển - Anh Hiến cho biết địch báo động vì chúng phát hiện ra tàu Bắt Việt vô.
          - Chúng có biết tàu thả hàng mạn nào không?
          - Dạ, anh Hiến bảo không.
          - "Bến" chưa lộ, hí?
          - Dạ chưa!
          - Được! - Ba Huỳnh thở phào - Mi cứ bám thằng Hiến để nắm tình hình nghe.
          - Dạ!
           Ba Huỳnh quay về phía đám du kích:
          - Anh Quế!
           Người đội phó chạy tới.
          - Cho người canh gác, bám vũ khí ở "bến" Nếu có tình hình chi, báo cáo ngay, còn lại rút về cứ, đêm mai xuống lấy hàng.
           Chợt hai người sửng sốt quay mặt về hướng bắc: sau những ngọn núi chắn phía trước, dồi lên một tiếng nổ lớn và một quầng lửa thốc cao, tỏa đỏ.
           Đám du kích bật cả dậy, cùng nhìn về hướng có tiếng nổ. Mãi một lúc sau, mới có tiếng ai đó thốt lên:
          - Trời! Các anh ấy phải hủy tàu.
           Nhiều tiếng bàn tán lao xao.
          - Hèn chi tàu bè chúng nháo nhào suốt từ tối tới chừ.
          - Mấy anh có lên được bờ không hè?
          - Tính sao đây, chú Ba?
           Ba Huỳnh quay lại phía mọi người:
          - Chừ ri. Tất cả phải bình tĩnh. Anh Quế vẫn cho người bám sát "bến"; còn lại anh cử năm tổ, mỗi tổ vài ba người chuẩn bị đầy đủ mọi thứ tỏa ra hướng có tiếng nổ, đi đón anh em mình. Đón được ai, đưa về cứ. Chưa đón đủ, chưa rút. Phải kiên trì dó.
          - Còn đêm mai? - Quế hỏi.
          - Nếu tình hình êm, ta vẫn mò hàng. Ai đón anh em mình, cứ đi. Ai lấy hàng, cứ lấy hí. Cô Ngân đâu ta?
          - Cháu đây! - Một cô gái thanh mảnh chạy tới.
          - Nè, cháu về trang điểm thiệt đẹp, sớm mai đón chú tại chợ Thương Long nghe.
          - Đi đâu chú?
          - Đi nghe ngóng anh em mình chớ đi đâu.
          - Dạ !
          - Nhớ mang căn cước với mọi giấy tờ đó.
          - Dạ, cháu nhớ!
           
            Sáng hôm sau, Ba Huỳnh trong bộ quần áo đại úy dù cưỡi hon đa 90, mở hết tốc độ hướng theo quốc lộ Một, đi lên phía bắc. Cô Ngân phấn son bự mặt, áo thun hở tay, quần bó sát đùi, ngồi phía sau.
            Chiếc xe chạy êm trên đường. Gió buổi sáng phả vào mặt khiến Ba Huỳnh tỉnh táo, đã hai đêm nay ông không chợp mắt. Nghe tin tàu vào, ông và đội công tác thấp thỏm chờ. Đêm thứ nhất, chờ tới gần sáng, toàn đội mới rút khỏi "bến". Hôm qua, trên quân khu báo cho hay tàu sẽ vào, ông và đội công tác lại xuống núi, lần ra biển. Mãi tới ba giờ sáng, tàu vô. Tưởng mọi chuyện êm, ai ngờ địch báo động. Chưa kịp hỏi han, chưa kịp nấu cho anh em thủy thủ bát cháo, tàu đã rời "bến". Khi người du kích đi đón tàu luống cuống bổ về hét to: "Chú Ba, tàu của thuyền trường Lê lại vô". Ông tuông ra. Tới nơi, con tàu đã mất hút. Và ai ngờ nửa tiếng sau nó phải hủy.
           Từ sáng sớm, nghe tiếng máy bay quần riết mạn bắc Hòn Hàng, Ba Huỳnh rối lên. Chắc các anh ấy kẹt ở khu đó. Làm sao bắt liên lạc với họ? Mặc dù đã cử người đi đón, Ba Huỳnh không khỏi lo lắng. Ông ái ngại cho số phận của anh em thủy thủ quá chừng. Địch đổ quân đông, làm sao thoát? Kẹt trên núi lâu, lấy gì ăn? Nghĩ thiệt tội, lặn lội mãi ngoài Bắc vô, vô tới đây lại phải phá tàu bò lên núi. Dân đi biển lạc vô núi khác chi cá mắc cạn, bơi chèo ra sao. Chuyến trước, Ba Huỳnh được gặp đông đủ hết thảy anh em. Người nào cũng trẻ, cũng  vui tính. Thuyền trưởng sàn sàn tuổi thủy thủ. Xấp xỉ tuổi thằng Xuyên con ông. Ờ, mà biết đâu chuyến này  chả có thằng Xuyên vô? Năm ngoái ông được Năm Hớn, qua đường giao liên tỉnh, nhắn cho hay thằng Xuyên tốt nghiệp trường sĩ quan rồi, đã trở thành cán bộ chỉ huy tàu ông mừng muốn khóc. Chà, thằng con ông đã trở thành sĩ quan chỉ huy tàu! Nhanh thiệt! Mới ngày nào, khi ông dỗ nó ở với chú Năm để ông quay lại tìm má, thằng Xuyên khóc thút thít, đòi về theo. Chà, hay tin nó làm cán bộ, bà ấy sẽ mừng hung.
           Phía ngọn núi trước mặt, nhiều tiếng súng nổ.
           - Chú Ba, bên phải có lính đó! - Tiếng Ngân nhắc phía sau.
           - Bình tĩnh nghe. Ta vô chỗ đó.
            Ba Huỳnh giảm tốc độ. Chiếc hon đa rẽ vào con đường mòn lượn sát chân núi. Ông đảo mắt quan sát rồi cho xe dừng lại bên chiếc lều bạt.
           - Chỉ huy đâu? - Ba Huỳnh hỏi một tên lính vừa ngơ ngác chạy ra.
           - Dạ, thưa đại úy, ổng trên đồi - Tên lính luống cuống đáp, đôi mắt lấm lét nhìn Ba Huỳnh, lại nhìn cô gái ngồi phía sau.
           - Đơn vị nào?
           - Dạ, thưa, tiểu đoàn biệt động quân 37.
           - Có mấy đơn vị bao ở đây?
           - Dạ, hai, tiểu đoàn 37 và tiểu đoàn 19.
             Ba Huỳnh đưa mắt nhìn lên dãy núi. Trên đó, bên sườn những quả đồi, lố nhố lính.
           - Tiểu đoàn 37 bao vây hướng nào?
           - Dạ, thưa đại úy, tiểu đoàn được lệnh đón lõng ở những sườn đồi phía tây.
           - Đã phát hiện ra thằng Việt Cộng nào chưa?
           - Dạ, không phải Việt Cộng, thủy thủ trên tàu Cộng sản Bắc Việt - Tên lính cải chính.
           - Tao hỏi phát hiện ra thằng nào chưa?
           - Dạ, chưa!
           - Tại sao vừa rồi nổ súng?
           - Dạ, đại đội 3 nghe có tiếng tiểu liên ở chân đồi bên kia, liền sổ súng bắn sang.
           - Chân đồi nào?
           - Dạ, kia - Tên lính quay lại, chỉ vào ngọn đồi sát biển.
           - Không hạ thủ được thằng nào?
           - Dạ, chúng lẩn nhanh như cuốc. Vừa nghe tiếng tiểu liên ở mỏm đồi này, binh sĩ tràn lên, đã lại nghe tiếng súng ở đồi khác.
           Ba Huỳnh nghiêng ngó nhìn kỹ địa hình rồi rồ ga, cho xe chạy ra quốc lộ Một, ngoặt về hướng Hòn Hàng.
           - Đúng anh em mình bị kẹt trên đó rồi chú ơi! - Ngân ngồi phía sau, nói với lên - Chừ mần răng?
           - Hướng này địch đông, anh em mình chẳng dại gì xuống - Ba Huỳnh bảo - nhất định họ phải lần về phía nam. Mình tổ chức đón ở những chân núi sát biển.
            Chiếc hon đa tăng tốc độ, vọt đi.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:42:23 pm

            Tiếng súng AK của ông Tám Thạnh đã thu hút sự chú ý của địch về hướng ấy. Bọn lính túa ra, sục lên.
            Lê đưa mắt nhìn lên ngọn đồi, lẩm nhẩm:
            - Chú Tám ơi, cầu mong chú đừng mệnh hệ gì.
            Rồi anh bấm Cang, hai người lách theo lối mòn, bươn xuống bãi cỏ tranh, chạy miết. Gần sáng, họ nhìn thấy biển. Hai người dừng lại nghe ngóng và quyết định men theo mép nước xuôi xuống Hòn Hàng. Ngày hôm đó, họ không gặp địch.
           Tối đến, hai người mò xuống biển, kiếm ốc ăn. Nửa đêm, Lê và Cang ngồi nghỉ trên một mỏm đá. Chợt Cang cầm tay Lê, giật mạnh:
           - Địch!
            Hai người tụt vội xuống, nằm sau tảng đá, nhìn lên. Hai bóng đen từ mép biển đi tới. Họ bước thận trọng, dường như vừa đi, vừa có ý quan sát.
           - Người mình anh Lê ạ! - Cang bảo.
           - Sao biết?
           - Hình như có một phụ nữ. Nếu địch thì nó đi đông và làm gì phải dò dẫm thế.
           - Đúng là người mình không không?
           - Tôi bảo du kích đó.
           - Bây giờ cậu nằm đây, mình thử bò tới hỏi ám hiệu nhé. Nhưng nếu là địch, mình xử trí không kịp, cậu phải bắn xuống.
           - Nhỡ bắn vào anh?
           - Không sao, phải thế, rõ chưa?
           - Nhưng...
           - Là đề phòng thế. Lúc đó cậu phải thoát mà tìm bắt liên lạc với du kích. Có thể phía sau, chúng còn đông đấy. Nào, nhắc lại.
           - Nếu không may anh bị địch bắt thì cứ bắn vào địch và bắn cả vào anh.
           - Cậu để mình bị bắt sống là có tội đấy, nghe chưa? Làm được chứ?
           - Làm được!
           - Tốt! Tháo lựu đạn ra và đưa AK lên chuẩn bị.
           - Rõ!
            Lê bò lùi xa tảng ssá rồi mới đi vòng lên, cố ý không để lộ vị trí Cang ẩn.
            Hai bóng đen chợt nằm xuống. Lê cũng nằm xuống. Nòng AK hướng lên phía trước. Đôi bên thăm dò nhau hồi lâu. Rồi hai bóng đen tách ra, một người trườn lùi về sau, chắc để yểm hộ khi bất trắc, một người trườn lại phía Lê. Cách Lê chừng hai chục mét, người đó dừng lại.
           - Có phải kỳ nhông đó không? - Một giọng phụ nữ quen quen hỏi - Tôi bán cá đẻ đây.
           - Tôi có tiền, bán gì nữa? - Lê hỏi, phấp phỏng mừng.
           - Hôm nay trời mù không có tôm.
           - Tôi có tôm, đổi cá thu, cá nhụ.
            Người nằm trước mặt Lê bật dậy:
           - Ai như anh Lê?
           - Sáu Thùy phải không? - Lê cũng đứng lên.
             Cô gái nhoài tới, toan ôm lấy Lê, nhưng kìm được, cô đứng lặng, bật khóc.
             Phía sau tảng đá, mũi súng AK của Cang vẫn rê theo họ.
           - Trời ơi! - Sáu Thùy chỉ kêu thế, rồi ngước lên; trong bóng tối, cặp mắt đẫm nước của cô long lanh. Rồi cô nắm cánh tay Lê, càng khóc to hơn.
           - Nín đi Sáu Thùy, gặp được Sáu là mừng quá rồi! Còn ai đằng kia nữa?
           - Anh Quế, đội phó đó mà.
            Lê gọi anh Quế và Cang tới.
            Quế từ mép biển vọt lên. Anh dang tay ôm choàng lấy Lê. Lê lảo đảo khuỵu xuống.
           - Trời, làm chi mà hung vậy anh Quế? - Sáu Thùy trách - Không biết anh Lê mấy ngày nay không ăn uống chi, cạn sức sao?
           - Mình vô tâm quá, hí! - Quế thanh minh - Gặp được anh em, mừng quá mà - Và anh cười hì hì.
            Bốn người ngồi xuống cát. Cang tựta vào Quế, lúc này anh chàng hoàn toàn kiệt sức. Sáu Thùy ngồi cạnh Lê, không rời mắt khỏi khuôn mặt anh.
           - Nếu không nghe giọng nói, em không nhận ra nữa đó Sáu Thùy bảo - Khác quá! Má lũm, mắt sọm hết cả rồi đó...
           - Bọn này đang đói hai người có gì cho ăn với.
           - Chu cha, quên mất.
            Quế lôi trong túi ra hai củ khoai.
           - Các anh ăn tạm!
            Sáu Thùy giằng lấy củ khoai trên tay Lê:
           - Để em bóc!
           - Cô Mười cũng muốn đi đón anh em, nhưng chú Ba không nghe - Quế bẻ khoai đưa cho Cang, báo tin. Cang bẽn lẽn cười.
            Hai người ăn ngon lành. Ăn xong, thấy người đỡ mệt hơn.
           - Chừ ri - Quế nói - Sáu Thùy đưa hai anh về cứ để báo cáo tình hình với chú Ba. Tôi đi tiếp để đón anh em.
           - Không, tôi cùng đi với anh. Tôi rõ chỗ các đồng chí... - Lê nói, rồi gượng đứng lên. Nhưng chợt anh hoa mắt lảo đảo.
           Sáu Thùy vội đỡ:
           - Đứng còn không nổi, đi mầm răng! - Sáu Thùy trách - Về cứ nghỉ cho lại sức, mai em dẫn đi. Ưng chưa?


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:42:47 pm

            Ba ngày sau, địch thôi càn. Hai tiểu đoàn quần nát ngọn núi gần một tuần, cuối cùng phải thu quân. Hy vọng bắt sống thủy thủ tàu Bắc Việt tan biến.
            Ở bến, dưới sự chỉ huy của Ba Huỳnh đội công tác đã lấy xong hàng đưa về cứ an toàn. Theo lệnh của ông, "bến" tăng cường thêm người toả ra các ngả tìm đón những thủy thủ còn lạc.
           Tốp của Lê gồm có Cang, Sáu Thùy và ba du kích nữa. Họ xăm xăm đi về phía mấy ngọn núi sát biển. Lê đi trước. Anh bước vội vã, ruột gan như sóc lộn vào nhau. Nhận ra ngọn đồi hôm chia tay với ông Tám Thạnh, Lê và Cang nhoài lên. Sáu Thùy cùng mọi người hối hả chạy theo đến đỉnh đồi họ dừng lại.
            - Chú Tám! - Lê đưa tay làm loa, gọi to.
            Ngọn đồi vẫn im ắng. Nắng đổ xuống nóng hừng hực. Và gió cứ ào ào như bầy ngựa hoang thốc qua đỉnh đồi. Lê nhào tới từng bụi rậm, nhào tới các khe, rãnh, đảo mắt khắp lượt. Cang hớt hải chạy phía sau.
            - Chú Ta... ám!
            Vẫn bằn bặt. Họ sục kỹ ngọn đồi. Rồi hai người chạy tới khu yên ngựa.
            Chợt Lê sững lại rú lạc giọng:
            - Trời!
            Đôi mắt đờ dại, anh sụp xuống bên bụi cây. Cạnh đó một thi hài còn nguyên phơi dưới nắng, khô quắt, sạm đen; bàn tay phải vẫn nắm chặt quả lựu đạn.
            - Chú Tám - Lê quỳ bên, nấc lên - Cháu đây! Lê đây! Lê đi tìm chú đây mà. Chú có nghe rõ tiếng cháu nữa không, chú Tám! - Và anh gào to - Trời ơi, sao thế này, sao vô lý thế này?
            Rồi gục xuống, úp mặt lên ngực ông Tám, đôi vai rung rung. Cang khóc oà, ôm lấy chân ông lay gọi. Đôi chân ông đã nỏ, teo tóp lại. Mọi người ngồi quây xung quanh, lặng lẽ. Nắng vẫn đổ xuống ngọn đồi. Và gió vẫn hối hả phóng qua.
            Sau đó, tốp người đào một cái huyệt trên đỉnh đồi.
            Cang vẫn ôm mặt nức nở khóc, miệng không ngớt gọi ông Tám.
            Lê ngồi thừ bên ngôi mộ, trái tim anh đau thắt. Cách đây mấy bữa thôi, ông còn móc túi đưa cho Lê những đồng tiền miền Nam và dặn dò bao điều. Có phải đó là cái điềm biết mình sắp đi xa không, chú Tám? Con có lỗi với chú, chưa đưa chú trở về Hòn Hàng trọn vẹn. Ước ao một lần cuối được đặt chân lên chợ cá Thương Long, đặt chân lên bãi cát mịn tanh sặc mùi bọt biển, mùi cá của chú, vậy là không thực hiện được. Chợ cá Thương Long vẫn còn đây. Hòn Hàng vẫn còn đây, mà chú không còn nữa. Những chuyến đi sắp tới chúng con vắng mặt chú. Những lúc khó khăn, đâu còn chú cho con  hỏi han, chú ơi. Những ngày lênh dênh trên biển, đâu còn ai để báo cho con biết biển sắp bão, trời sắp mù? Chú và con tàu T.67 không còn nữa, nhưng hình ảnh của chú và con tàu mãi mãi khắc sâu trong tâm trí toàn thể anh em thủy thủ chúng con. Chúng con hứa sẽ sống sao cho khỏi hổ thẹn với chú... Chú Tám ơi, anh em du kích có ý định đưa chú về Hòn Hàng, nơi chú đã sinh ra và lớn lên, nhưng con muốn được chôn cất chú ở đây, trên ngọn đồi này, nơi chú trút hơi thở cuối cùng. Ở đây lộng gió, ngày đêm chú được nghe tiếng sóng biển dưới kia vọng lên. Chú nằm trên cao này để mỗi lần tàu chúng con ngang qua, ngước lên, vẫn được thấy chú. Vĩnh biệt chú, chú Tám ơi...
            Lê thẫn thờ đứng dậy. Anh còn cắn vành môi, cố ghìm những giọt nước mắt chực trào ra. Anh kéo tay Cang:
            - Thôi, chào chú rồi đi!
            Cang lấy ống tay áo quệt ngang mắt, xiêu vẹo bước theo Lê. Chốc chốc quay mặt lại nhìn nấm mộ.
            Tốp người đi sang ngọn đồi bên cạnh. Họ kiên nhẫn vạch từng bụi rậm, ngó xuống từng rãnh sâu. Cang chạy tới chạy lui từ gốc cây này đến bụi cây khác, miệng không ngớt gọi bạn.
            Quá trưa, Cang nhìn thấy Hải và Mừng. Hai người ôm nhau nằm trên một bãi đất phảng bên sườn núi.
            - Anh Lê, họ ở đây!
            Cang gọi và lao xuống dốc. Chợt khuôn mặt Cang thất sắc: máu thẫm đen trên áo Hải và Mừng. Cang và mọi người ngồi thụp xuống: một thi thể đã cứng khô, một còn mềm và nóng.
            Cang quàng tay ôm lấy hai người rít lên:
           - Anh Hải ơi, Mừng ơi! Cang và anh Lê đây, nghe không?
            Tiếng Sáu Thùy run run:
           - Anh Hải vẫn còn sống! Anh Cang, khẽ tay chứ!
            Lê cúi xuống, áp tai lên ngực Hải: tim vẫn đập thoithóp.
           - Đưa anh Hải lên gốc cây kia và cho uống nước. Nhẹ tay thôi - Lê nói.
            Lê đỡ thi thể Mừng. Anh kêu to một tiếng và như không tin vào mắt mình nữa: Một viên đạn xuyên chếch lên, qua ngực Mừng, toác ra một lỗ như miệng phễu, máu viền quanh, nỏ cong.
            Lê lặng người, đôi tay run run nâng Mừng, đứng dậy. Anh loạng choạng bước lại gốc cây, nơi mọi người đang vây quanh Hải.
            Và tốp người lại lặng lẽ đào một cái huyệt.
            Mấy ngày sau, người thủy thủ cuối cùng được đón về cứ. Tổ của Lượng hy sinh ba người. Tổ của Xuân hy sinh một và một nữa, đưa được về cứ thì tắt thở. Hai mươi thủy thủ của tàu T.67 còn lại mười ba người. Anh em gặp nhau, mừng mừng, tủi tủi. Và không khỏi chạnh lòng thương tiếc các đồng chí đã phải nằm lại trên những ngọn đồi sát biển...



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 12 Tháng Bảy, 2009, 09:33:33 pm

27


           - Kìa, mày làm sao vậy, Thúy?
           - Bình hoảng hốt gọi và rời bàn bước lại chỗ bạn.
            Da mặt Thúy xanh xao, cô đẩy ghế bước nhanh ra khỏi phòng, ngồi thụp xuống hành lang.
           - Buồn nôn à? - Bình hỏi.
            Thúy gật đầu, nét mặt mệt mỏi.
           - Cảm rồi em ơi, về nghỉ thôi!
            Lâm Khanh trong phòng vội đi đến:
           - Liệu có sao không, Bình? - Anh lo lắng hỏi. Bình ngước lên:
           - Nó làm nũng chút thôi. Con gái mà anh.
            " Dạo này Thúy sút quá, cổ cứ dài ngoẵng ra", Lâm Khanh nghĩ và anh bước lại bàn làm việc.
            Chiều đó, về tới nhà, Thúy nằm vật ra giường. Cô cảm thấy mệt rã rời, chân tay như muốn rụng. Mặc dù mèo mướp cà cà đầu vào chân nhiều lần, cô vẫn không dậy. Đã hơn một tháng nay, cô thấy người khang khác. Có cái gì đó đã biến đổi, nhưng cụ thể là cái gì thì cô không gọi được tên. Cô vật và vật vờ, lúc nào cũng mệt. Lại chán cơm, chỉ thích ăn vặt. Ngày nào đi làm về, cũng mua khế. Cô thấy háo của chua, những quả khế vàng mọng có sức quyến rũ lạ lùng. Cứ trông thấy hàng khế là mắt sáng lên, sà ngay xuống.
           Cô cũng nghi nghi về điều gì đó hình như đã đến, nhưng không dám khẳng định. Cô đâu có kinh nghiệm chuyện này. Với nữa... chẳng lẽ. Ừ, mà nếu thế thì sao nhỉ? Thúy sẽ có một đứa con! Một đứa con! Mặt Thúy  nóng bừng, cô úp vội xuống gối, thổn thức. Chiếc gối này vẫn giữ nguyên hơi con người ấy. Thứ hơi không gọi được tên nhưng đối với Thúy hết sức gần gũi, thân thuộc. Cái mùi khiến Thúy nhớ đến liêu xiêu. Cô không muốn giặt chiếc vô gối vì thế. Cô muốn chiều chiều đi làm về, cúi xuống chiếu gối là bắt gặp một cái gì thân quen, đầy kỷ niệm và diều ấy làm cô không cảm thấy trống lạnh, cô đơn trong căn phòng.
           Mình sẽ có một đứa con! Ôi, thật ư? Vậy thì sung sướng biết chừng nào! Mình sẽ dành cho anh điều bất ngờ thú vị. Nhưng ... có con? Tại sao có con? Và ...? Tự nhiên Thúy lại thấy lo ngại và hãi sợ. Có con, Thúy chưa hề nghĩ đến chuyện đó. Chẳng lẽ ... nhanh như vậy? Mọi người sẽ nhìn mình thế nào? Mọi người sẽ bĩu môi, sẽ nhổ bọt. Họ sẽ nghi ngờ và hỏi có con với ai? Và mẹ, mẹ sẽ buồn đau. Thúy là đứa con không biết nghe  lời mẹ. Điều lo lắng của mẹ khi rời nhà đi sơ tán đã thành sự thật. Sự quở trách sẽ trút lên đầu... Nhưng chắc gì là mình sắp có con!
           Thúy choàng dậy, cô bước tới bên bàn, ngồi thừ trước gương. Khuôn mặt Thúy trong gương trắng xanh, những đường gân hai bên thái dương nổi rõ, giật mạnh. Đôi mắt mệt mỏi.
           Thúy sửa lại quần áo rồi bước vội xuống cầu thang, đến nhà máy. Cô đi về phía bờ sông.
           - Chị Huệ! - Thúy gọi.
            Chị Huệ bỏ tấm kính hàn, ngước lên:
           - Mày chưa về à, Thúy? Tối rồi !
           - Em muốn hỏi chị một chuyện.
           Chị Huệ bước lại. Hai người ngồi xuống chiếc tàu đang lắp dở.
           - Dịp này em gầy Thúy à! Chị Huệ ái ngại bảo - Có ăn được không? Tội! Sống một mình người ta dễ buông xuôi lắm. Bảo rằng lại đằng chị ở cho vui thì chẳng nghe.
           " Em không thể bỏ căn phòng ấy mà đi được, bao nhiêu kỷ niệm ở đó. Hơn nữa em ở đấy và hy vọng thỉnh thoảng anh Lê về".
           - ...Cái ông Cựu nhà này đứng suốt ngày, suốt đêm ngoài bến phà, có lúc nào ở nhà mà ngại. Này, chiều mai lại đằng nhà, hai chị em mình kiếm cái gì bồi dưỡng nhé .
           - Chị ơi, khi có mang cháu Hồng, chị thấy trong người thế nào?
           - Hả? - Chị Huệ ngạc nhiên nhìn Thúy - Cái con này dở hơi, hỏi gì chuyện đó?
            Thúy im lặng. Cô dứt một cây cỏ, cấu vụn ra từng đoạn, đôi mắt dõi nhìn ra xa. Khuôn mặt thẫn thờ.
            Chị Huệ xoay người về phía Thúy. Và dường như cảm được điều gì.
           - Chị hỏi thật, em đang "làm sao" phải không?
           - Em muốn hỏi chị chuyện đó - Thúy nói, đôi mắt vẫn thẫn thờ nhìn ra xa, mấy ngón tay cấu từng đoạn cỏ - Chị có nhớ hôm em khoe rằng tối nay em báo cáo sáng kiến cải tiến kỹ thuật trước Hội đồng khoa học không?
           - Sao? - Chị Huệ chăm chú nhìn Thúy. Hôm ấy anh Lê về nhận tàu và ở lại với em đến sáng.
            Chị Huệ im lặng. Chị hiểu ra. Lúc này chị mới chú ý đến những thay đổi của Thúy.
           - Em có thai rồi Thúy ạ.
           - Đúng không chị?
           - Đừng lo, để rồi ta bàn xem...
           - Em chỉ muốn biết có chắc là em đã...
           - Còn không chắc gì nữa? Ừ, mà mày làm gì đã biết được chuyện ấy. Chúng mày dễ có con thật. Chị lấy anh Cựu hơn mười lăm năm, chạy đủ thầy, đủ thuốc mới có được cu Hồng. Bây giờ mày định sao, Thúy?
          - Em chẳng định sao cả. Em sẽ nuôi con chị ạ. Chúng em yêu nhau.
           Chị Huệ thở dài:
          - Có được đứa con, khó lắm em ơi, suy từ chị đây, chị biết. Cứ đẻ, cứ nuôi. Nhưng rồi mày khổ đấy... ôi dào, có phải ai cũng nghĩ như mình. Đành là mày với thằng Lê yêu nhau ... Khổ !
          - Nhưng đúng là em đã... hả chị? - Thúy hỏi lại:
          - Thôi, đừng lo, đừng nghĩ nữa...
          - Em không lo!
           Thúy cảm ơn chị Huệ, rồi đứng dậy, thơ thẩn ra về.
           Vừa đi, cô vừa nghĩ mung lung; buồn, vui lẫn lộn. Nói rằng không lo, không đúng. Rồi đây Thúy sẽ sống ra sao? Chưa nói đến dư luận, chỉ gắng gượng vừa đi làm,  vừa giữ cái thai, đã khó. Thân con gái, lại trơ trọi một mình. Thúy cảm thấy hoang mang. Giá như có mẹ bên cạnh trong những ngày này. Nhưng có mẹ ư? Mẹ mà biết thì khổ tâm lắm. Thúy thấy tủi thân. "Anh Lê ơi, anh đi những đâu mà bằn bặt hai tháng nay không có thư về? Em chỉ cần anh nói với em một câu thôi là em vượt qua được tất cả. Em chỉ cần anh biết cho em, hãy nói đi, em phải làm gì bây giờ?... ".
           Thúy bước đi trong tâm trạng lo lắng, bồn chồn. Cô về tới nhà lúc nào không hay.
            Lâm Khanh đứng chờ Thúy ngay cổng. Tay xách một túi cam.
           - Em mệt, còn đi đâu vậy, Thúy? - Khanh hỏi.
           - Em tới nhà máy có chút việc mà. Vào nhà, anh.
            Hai người bước lên cầu thang. Mèo mướp chắc đói,  nhảy ra quấn lấy chân cô chủ, kêu meo meo, đòi ăn. Khanh đặt túi cam lên bàn:    
           - Em chưa ăn gì phải không? - Anh hỏi.
           - Em không đói.
           - Phải cố! Nếu bỏ cơm, sức khỏe đuối dần, làm việc thế nào được nữa? Em cũng biết đấy, sắp tới công việc phòng mình rất nhiều. Mà em lại là người có kinh nghiệm. Nếu ốm, anh không giao việc cho nữa đâu.
           "Giá mình tâm sự hết được với anh Khanh!" - Thúy ngẩng lên, và chưa bao giờ cô thấy có nhu cầu thổ lộ tâm trạng như lúc này. " Giá anh Khanh là bạn gái thì hôm nay mình sẽ nói chuyện hết đêm..."



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 23 Tháng Bảy, 2009, 09:39:21 pm

          - Em nấu cơm, cho anh ăn với được không?
          - Anh cũng chưa ăn?
            Khanh nói dối :
          - Chưa!
          - Vâng, thế thì em nấu.
           Và khác với mọi bận, lần này Khanh không câu nệ. Anh xuống nhà xách nước, rồi nhặt rau, rửa rau.
           Từ hôm đó, Khanh đến thăm Thúy thường xuyên. Mỗi lần đến, việc đầu tiên là xách đầy hai thùng nước lên nhà. Thúy ngại, đã có lúc muốn nói một điều gì để Lâm Khanh hiểu tình cảm cô, nhưng không dám, với nữa, cô cũng cảm nhận được rằng Lâm Khanh giúp đỡ, quan tâm đến cô xuất phát từ sự trong sáng, do vậy, cô an tâm.
          - Anh chỉ xách nước cho tới lúc Thúy khỏe thì thôi -Lâm Khanh bảo.
          - Nhưng dịp này em mệt lâu đấy! - Thúy nói và hai người cùng cười.
           Trong nhà máy đã có tiếng ra tiếng vào xung quanh quan hệ giữa Thúy và anh trưởng phòng. Họ bảo rằng anh ta thậm thà thậm thụt đến nhà cô nhân viên ăn ở đó, ngủ ở đó cứ như là vợ chồng...
          - Đến công khai, đâu phải thậm thụt! - Có lần Khanh nói đùa, chẳng lẽ bạn bè giúp đỡ nhau không được?
           Và anh vẫn đến thăm Thúy đều. Vẫn cứ xách nước lên nhà.
           Rồi những tiếng đồn lan nhanh: "Con bé xinh mà dại, chửa hoang".  "Còn ai vào đấy nữa, chính lão trưởng phòng của hắn. Anh chàng đẹp trai, hào hoa lại có địa vị cô nào chẳng mê. Mà nó ngu, tại sao không bắt cưới nhỉ? Đeo cái bụng chềnh ềnh thế không biết chướng". "Nhưng nghe đâu cô ả lại đã có người yêu, là lính hải quân". "Có chồng còn chẳng ăn ai nữa là người yêu". Lâm Khanh là người vô tâm, nhưng rồi những tiếng xì xèo ấy cũng đến tai anh. Ban đầu, anh cười: "Giá được cưới phắt cô ấy thì còn hạnh phúc nào hơn!". Song dư luận ngày càng rộ lên buộc anh phải chú ý, anh chú ý không phải vì câu chuyện có liên quan đến anh, vì mọi người nói bóng nói gió rằng anh là bố đứa trẻ, rằng anh là tên Sở Khanh, lừa dối những cô gái nhẹ dạ. Anh chú ý vì đó là danh dự của Thúy. Cô ấy đang có uy tín, đang được giám đốc quan tâm. Tại sao người ta cứ đặt điều, đơm chuyện thế? Anh biết trong nhà máy khối người không thích Thúy. Cô ấy thẳng, không nể nang, nhất là với những ai làm sai quy trình kỹ thuật. Tuy vậy, không thể gán cho người ta tội chửa hoang được. Dạo này Thúy gầy xanh vì làm việc quá sức lo lắng công việc, thế thôi. Đã có người hỏi anh:
          - Cô nhân viên của ông trót đa mang... phải không?
          - Nghĩ xấu và đặt điều cho người khác là không tốt! - Khanh gắt.
          - Ông lại không biết!
          - Tôi không thích các người hỏi tôi những chuyện vớ vẩn ấy.
           Quả là Khanh không biết thật. Một thanh niên sống thẳng thắn, nhân hậu, không soi mói chuyện người khác, lại chưa vợ, chưa người yêu, làm gì rõ những chuyện đó. Tuy nhiên dư luận ồn lên nhiều khiến Khanh có phần nghi nghi, hoặc hoặc. Một lần, sau giờ làm việc, khi tiễn Thúy về, anh đắn đo mãi mới hỏi:
          - Thúy ạ, hình như em đang có điều gì phải không?
          - Em lạ lắm hả? Thay đổi nhiều chứ?
          - Người ta đồn rằng... Nhưng anh không tin.
          - Đồn thế nào? Đồn rằng em chửa hoang? Em không nghĩ về mình như thế.
          - Nhiều người ác cảm với em... Miệng thế gian!
          - Nhưng điều này thì đúng: em đang mang thai.
           Khanh đứng sững. Khuôn mặt anh tái bợt, rồi lại chợt ửng đỏ. Như không tin ở tai mình nữa, anh nhìn Thúy và cảm thấy có cái gì đổ sụp dưới chân. Người anh run lên.
          - Em chưa bao giờ có ý định chối bỏ điều ấy. Em sẽ có con. Em không có lỗi. Em yêu anh ấy.

          ...Từ hôm đó Khanh mới tin những đồn đại là có cớ.  Tuy vậy, anh không bận tâm tới điều có liên quan đến  mình. Một vài người bạn nửa đùa, nửa thật hỏi anh: "Đứa trẻ trong bụng Thúy là con ông phải không?Anh cười một cách buồn bã: "Mình không có cái may mắn  đó", và chẳng giải thích gì thêm. Ai muốn hiểu thế nào,  tùy. Anh chỉ ái ngại và lo cho Thúy. Bao tiếng xấu đang đổ lên đầu cô ấy. Nào "không chồng mà đẻ mới  ngoan...", nào: "ăn nói thì cũng ra vẻ lắm, ai sơ ý chấm một mối hàn không đúng tiêu chuẩn, em ấy hét ra trò nhé v.v... Thúy làm sao có sức lực làm việc? Và không thể để hậu quả ấy kéo dài. Sẽ ra sao nếu đưa trẻ ra đời? Phải tìm cách giúp Thúy. Giúp như thế nào? Và liệu có tiện không?
           Một buổi tối, Lâm Khanh lặng lẽ tìm tới nhà ông bác sĩ già mà lâu nay anh láng máng nghe người ta nhắc tôi. Anh xin lỗi về sự đường đột của mình và sau đó hỏi cặn kẽ cái công việc mà không một chàng trai chưa vợ nào dám hỏi đến. Cuối cùng, anh muốn biết rằng bác sĩ có thể giúp được gì trong chuyệnnày.       
           Người bác sĩ già nhìn vẻ đau khổ hiện trên gương mạt chàng trai, tỏ ra thông cảm.
           - Tuổi trẻ, bồng bột và liều lĩnh. Điều đó không có gì dáng ngạc nhiên, nhưng thiếu kinh nghiệm - Ông bác sĩ nói - Anh chị yêu nhau, sao không để mà nuôi?
           - Thưa bác sĩ...
           - Giúp anh cũng được, nhưng đó là việc làm tôi không muốn. Anh hiểu không?
           - Dạ hiểu! Nhưng...
           - Tôi không muốn - người bác sĩ nhắc lại.
           - Dạ, thưa...
           - Nhưng anh chị đã quyết và hoàn cảnh chiến tranh, anh cứ đưa chị ấy lại đây vậy.
           - Thưa bác sĩ liệu có ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ không ạ? - Khanh ấp úng hỏi.
           - Nên tiến hành sớm, có lợi hơn.
           - Dạ, còn điều này nữa ạ - giọng Khanh rụt rè - thưa bác sĩ, về việc chi phí, liệu...
           - Anh đừng ngại. Tôi giúp anh. Nói chung đơn giản thôi. An tâm. Có điều, đó là việc làm, tôi nhắc lại là việc làm tôi không muốn.
           Khanh cảm ơn, ra về. Nhưng mấy ngày sau, anh em băn khoăn rằng có nên nói với Thúy không? Và nói trong quan hệ nào? Đã đành là bạn bè, nhưng tại sao lại can thiệp vào việc rất riêng? Anh bối rối, đắn đo, cân nhắc. "Nên tiến hành sớm có lợi hơn", câu nói của người bác sĩ già khiến anh lo ngại. Và cuối cùng, cũng tìm được một giải pháp. Anh viết vào tờ giấy: "Bình ơi, cuối giờ ở lại cho anh gặp nhé, có việc cần", rồi đặt trước mặt người nhân viên.
          - Bình này, em biết chuyện không may của Thúy chứ? - Lâm Khanh vào dề khi trong phòng còn hai người.
          - Em biết, nhưng sao anh gọi đó là chuyện không may? Có thể anh dùng từ chưa chuẩn.
          - Người ta đang ồn lên rằng anh quan hệ với Thúy.
          - Không quan trọng!
          - Không quan trọng! Cứ để mọi người hiểu sai về mình thế à? Còn uy tín nữa chứ? Cái Thúy áy náy lắm. Nó cứ than phiền rằng tội nghiệp anh, rằng con người tốt đến vậy mà mang tai, mang tiếng vì nó. Nhưng biết làm thế nào? Chẳng lẽ lại đi giải thích với từng người rằng...
          - Ồ, điều anh muốn bàn với Bình ở khía khác. Mặc  dư luận, chưa hiểu rồi khắc họ hiểu. Bình này, ở phố Cát Dài có một ông bác sĩ nghe đâu giỏi lắm. Bình bàn với Thuý nên đến đó....
          - Sao? Anh khuyên nó nạo thai? Ích kỷ!
           Khanh tái mặt. Sao lại ích kỷ? Anh tìm kiếm gì trong chuyện này? Người ta cứ nghĩ nhiều điều không hay về anh thế?
          - Anh không rõ rằng cái Thúy đã giữ cái thai như thế nào? - Bình nói tiếp - Nó cũng phải đấu tranh ghê lắm. Tại sao lại phải phá đi cái kết quả của một tình yêu?
          - Không đơn giản vậy đâu, Bình... Còn bao mối quan hệ...
          - Em hỏi nhé: Anh vẫn yêu Thúy và vẫn hy vọng tình cảm ấy sẽ dẫn tới...
           Khanh ngồi im. Có cái gì đó chua chát khiến anh buồn lặng, thẫn thờ.
          - Anh yêu Thúy, đúng! - Khanh nói khó khăn - Anh không phủ nhận. Đã bao lần anh dằn vặt tự hỏi, yêu cô ấy anh có sai phạm gì? Và câu hỏi ấy vẫn treo lửng đó, không có lời giải. Tuy thế, trong quan hệ với Thúy, anh  luôn giữ một giới hạn cho phép để lòng mình dù đau khổ, vẫn thanh thản. Có lẽ Bình sẽ hỏi: Biết vậy anh còn yêu để hành hạ mình làm gì? Phải, anh yêu làm gì?  Anh cũng đã tự nhủ như vậy. Song tình cảm con người không giống như một sợi dây, muốn đứt thì cắt. Cái bi kịch của tình yêu trong anh là chỗ đó. Nhưng không phải vì thế muốn khuyên Thúy phá đi cái gọi là kết quả của một tình yêu như Bình nói để hy vọng sẽ dẫn tới điều gì đối với Thúy. Không! Anh không ích kỷ thế. Chỉ đơn giản nghĩ, trong hoàn cảnh này, như vậy có lợi cho Thúy hơn. Anh muốn em hiểu đúng anh trong chuyện này, Bình ạ. Còn tình yêu của Thúy và Lê, anh hoàn toàn tôn trọng.
           - Anh đánh giá thế nào về chuyện của Thúy?





Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 23 Tháng Bảy, 2009, 09:45:51 pm

           - Về mặt nào đó, anh không phản đối. Nhưng anh lo dư luận... Chúng ta đang sống trong một cộng đồng mà cộng đồng ấy có những niêm luật bắt buộc ta phải theo.
           - Không hẳn niêm luật nào cũng vĩnh cửu - Bình nói - Anh không phản đối, em không phản đối và em tin nhiều người không phản đối. Còn dư luận ư? Dư luận thì vô cùng. Có cái cần suy nghĩ. Nhưng cũng có cái đừng quá lệ thuộc. Điều ấy em cũng mới sáng ra sau cái chết của người yêu em!
           - Nếu Thúy cũng nghĩ vậy và đủ nghị lực để chịu được mọi điều thì anh an tâm. Tất cả những gì anh muốn khuyên giải, xuất phát từ sự lo lắng thực tình cho cô ấy.
           - Vậy thì anh nên yên tâm. Cái Thúy nghĩ vậy. Em tin nó vượt qua được.

            Chia tay Lâm Khanh, Bình đi về phía đường Trần Phú. Đêm ấy cô ngủ lại với Thúy. Hai người nói chuyện tới khuya. Khi nghe Bình kể rằng Lâm Khanh muốn khuyên Thúy đến chỗ bác sĩ, Thúy khóc. Cô thấy buồn. Thực ra Thúy đã nhiều lần nghĩ đến chuyện ấy. Dư luận khiến cô hoang mang. Ngày nào đi làm cũng nghe những tiếng eo sèo, bóng gió; ngày nào cũng bắt gặp những cặp mắt tò mò, những cái nhìn thương hại, hoặc khinh bỉ. Và một điều sợ hãi luôn ám ảnh cô: Bố mẹ sẽ nghĩ thế nào? Không rõ, nghe phong thanh ở đâu mẹ cô đã hay tin. Tuần trước, bất chấp máy bay, bà cụ bổ về thành phố. Và chỉ mới thoáng nhìn con bà biết ngay. Tối ấy, nằm cạnh con, bà hỏi:
          - Mày định thế nào, Thúy?
            Thúy không trả lời, chỉ khóc.
            Bà Nhậm xoay người, ôm con:
           - Thôi, đừng khóc nữa, mai xin phép nhà máy nghỉ một tuần rồi mẹ lo cho; chuyện lỡ rồi. Đời con gái còn dài con ạ. Cũng biết như vậy là thất đức, nhưng...
           - Mẹ, mẹ đừng bắt con làm thế! - Thúy khóc tức tưởi - Con có lỗi với bố mẹ, nhưng xin bố mẹ thương con. Con không muốn.
           - Bố mẹ thương chị! Nhưng chị cũng phải biết thương vợ chồng già chứ? Bà con, họ hàng người ta sẽ nói thế nào? " Đẹp mặt nhà ông bà Nhậm nhỉ, được mỗi cô con gái lại đô đốn, sinh hư. Có năm có mười thì tốt, có một lại vô duyên". Họ sẽ nói thế đấy con ạ. Mấy lại mày cũng phải nghĩ đến hạnh phúc lâu dài về sau chứ.
           "Hạnh phúc của con là được giữ lại giọt máu của anh ấy ". Thúy định nói thế, nhưng cô im lặng.
Bà Nhậm vẫn dỗ dành:
          - Mình giữ kín, không ai biết chuyện đâu, con ạ. Con hãy nghe mẹ. Làm mẹ, sao lại không thương con, có thương mới khuyên bảo con thế, mới lo cho con thế. Mày tưởng tao không khổ tâm khi con mình làm những việc ấy à? Cũng đừng để bố mày hay. Bố mày biết thì tan cửa nát nhà. Chính bố giục mẹ: "Bà về xem cái Thúy thế nào, tôi nghe người ta nói rác tai, tôi không chịu được. Nếu nó là đứa con gái hư thì chém làm ba khúc vất xuống sông cho cá rỉa, không con thì đừng... " .
          Thúy rùng mình.
          - Mẹ ơi, xin mẹ đừng nghĩ rằng con là đứa con hư hỏng - Thúy nói nghẹn ngào - Bố mẹ xét xử như vậy tội con lắm! Con nghĩ con không có lỗi. Chúng con yêu nhau, chúng con tự nguyện. Chúng con chỉ không giống các trường hợp khác ở chỗ chưa ra ủy ban để cầm về một tờ giấy, còn về tình cảm, chúng con có khác gì...
          - Chị nghĩ đơn giản nhỉ! Đừng bôi gio trát trấu vào mặt bố mẹ chị nữa.
          - Con đã làm gì nên tội.
          - Như vậy là chị nhất định không nghe lời tôi phải không? Thế thì tùy, tôi coi như không có chị. Coi như không có con gái nữa. Tôi lo lắng, tằn tiện cho con ăn học, bây giờ chị báo hiếu thế đấy.
          - Mẹ!
          - Thôi, hãy nghe mẹ, nếu ngại mẹ giúp thì tự con lo liệu lấy. Mẹ cũng muốn con... nhưng khổ lắm...
          - Vâng, mẹ để con nghĩ thêm.
           Sáng hôm sau, bà Nhậm xuống nơi sơ tán. Trước khi đi bà dặn:
          - Gắng làm sớm đi con ạ.
     
           Thúy nằm khóc. Cô thấy mình trơ trọi, lẻ loi quá. Không một chỗ nương tựa, bấu víu. Cô khôngđủ sức chịu đựng nữa rồi. Thôi, đành thua cuộc, đành nghe lời để bố mẹ đỡ khổ và để dẹp yên dư luận. Lúc ấy cô lại nghĩ đến Lê: "Thôi, em đành có lỗi với anh, em chưa đủ sức thắng được mình và thắng những ràng buộc của dư luận. Đừng giận em". Nhưng liền sau đó Thúy thấy mình hèn. Tại sao phải lẩn tránh điều ấy? Hành động như vậy, thật chua xót, nhẫn tâm và độc ác. Thúy phải vượt qua!. Nếu chẳng may anh Lê hy sinh như anh Nam,  người yêu của Bình thì sao? Chiến tranh, ai mà lường hết được! Lúc ấy Thúy sẽ ân hận biết chừng nào. Thúy đã không giữ được... Lâu nay cái cảm giác rằng Lê sẽ  ngã xuống trong một cuộc chiến đấu nào đó luôn ám ảnh cô. Điều ấy khiến Thúy đau khổ và thấy mình có tội với anh. Và Thúy ân hận vì cái ý nghĩ định tháo lui của mình. Hình ảnh Lê đang chiến đấu ở một nơi xa xôi nào  đó đã động viên Thúy. Tình yêu anh dành cho cô (điều ấy cô rõ lắm) đã an ủi cô. Thúy thấy cần vượt qua tất cả để sống xứng đáng với mối tình của hai người.
           Cô đã chịu đựng, và quen dần với sự chịu đựng. Trong thâm tâm, Thúy thấy ánh lên niềm kiêu hãnh.
           Vậy mà Lâm Khanh, con người Thúy ngỡ đã hiểu cô, thông cảm với cô hơn ai hết lại khuyên như thế. Thúy đã khóc, không phải ân hận về quyết định của mình, mà khóc vì buồn, vì thấy có cái gì chua chát, và vì giận anh.
          - Nhưng mày đừng hiểu sai anh Khanh, Thúy ạ - Bình nói - Anh ấy là người tốt. Anh ấy lo cho mày.
          - Anh ấy là người tốt, rất tốt, vì vậy tao càng buồn. Buồn vì chính cái tốt kiểu như thế.
          - Thôi đừng nghĩ vơ vẩn nữa, Thúy. Mày nên vui. Còn tao, mày biết không, hôm tạm biệt để đi phá lôi, anh Nam cầm tay, kéo lại gần: "Cho mình thơm trước lúc đi xa nhé !". Tao đã giẫy lên, mắng anh ấy: "Đừng có mà tí tởn", mặc dù trong lòng, tao cũng rất yêu. Tại sao tao cứ cố tình cao đạo, cưỡng lại mình một cách hình thức giả tạo như vậy? Chiến tranh, cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi chỉ, thế mà tao cứ tự lừa dối mình, ân hận lắm! Nếu anh Lê chẳng may... Mày nuôi con và  vì thế anh ấy cứ sống mãi bên mày, trong đứa con. Còn tao, có chăng chỉ đọng lại những kỷ niệm, mà... rồi những kỷ niệm, theo thời gian, sẽ phôi phai dần, đó là sự thật. Trời ơi, tao tồi tệ quá phải không Thúy?
           Thúy xoay người ôm lấy bạn. Cô cảm thấy ấm lòng. "Đúng, anh sẽ chẳng bao giờ chết, anh mãi mãi sống bên em. Anh đã hóa thân vào đứa con của chúng mình".
           Sáng hôm sau, Thúy và Bình đến nhà máy sớm. Vừa thấy Thúy, Lâm Khanh bảo ngay:
           - Sáng nay em lên gặp giám đốc nhé!
            Thúy chột dạ:
           - Có việc gì thế anh?
           - Sao em run vậy? - Khanh nhìn Thúy, lo lắng. - Giám đốc muốn giao cho em việc kiểm tra và nghiệm thu sườn tàu. Em mệt, liệu có làm được không?
            Thúy cố nén tiếng thở mạnh. Đôi má ửng đỏ.
           - Không! Em không mệt, em làm được mà.
            Cô cảm thấy xấu hổ. "Ôi, mình thật là hèn. Có gì phải sợ nhỉ? Nếu bác An hỏi chuyện ấy thì đã sao? Mình cứ nói như những gì đã có. Với bác An, mình có thể kể ra tất cả. Mình tin bác hiểu".
            Giao nhiệm vụ cho Thúy xong, giám đốc An hỏi:
           - Dịp này sức khỏe của cháu ra sao? Đừng làm quá sức nhé . Nếu cảm thấy công việc không phù hợp thì bảo với Lâm Khanh để sắp xếp những việc khác, phù hợp hơn.
           " Vậy là bác An đã rõ mọi chuyện".
           - Vâng, cảm ơn bác! - Thúy trả lời và trong thâm tâm nhen lên một tình cảm như thể là sự biết ơn.
Ra khỏi phòng giám đốc, cô thấy vui: "Mình phải sống, làm việc thật tốt để khỏi phụ lòng mọi người". Và cô bước vào phòng kế hoạch.
           - Báo cáo anh Hành, tôi được giao kiểm tra và nghiệm thu sườn tàu - Thúy nói - Đề nghị anh cho biết thời gian.
            Trưởng phòng kế hoạch lé mắt nhìn lên:
           - Cô kiểm tra và nghiệm thu sườn tàu à? - Hành giằn từng tiếng - Ai giao?
           - Giám đốc!
           - Thế ai kiểm tra cô? - Hành bĩu môi, giọng khiêu khích và đôi mắt ánh lên vẻ thỏa mãn.
           Sau cái vụ phải gỡ những tấm thép lá để hàn lại sườn tàu, trưởng phòng Hành bị giám đốc khiển trách, anh ta hận lắm. Tưởng phen này, với tiến độ ấy, kế hoạch thông suốt, tàu xuất xưởng nhanh, cái chân phó giám đốc nằm trong tầm tay, ai ngờ bị phá. Vì vậy, anh ta căm Thúy ra mặt. Chỉ chờ dịp là đả kích. Nghe người ta đồn về chuyện Thúy với Lâm Khanh, anh ta đắc chí lắm.
           "Được phen này để xem các người có tháo ra mà hàn lại không?" - Anh ta thú vị nghĩ một cách xỏ xiên.
           - Tôi không cho phép anh xúc phạm tôi - Thúy nói và niềm vui vừa được nhóm lên ở phòng giám đốc, bị dập tắt - Việc riêng của tôi không liên quan gì đến anh.
           -  Sao lại không liên quan, cô Thúy? - Giọng Hành ề à một cách cố ý - Ít ra tôi cũng hiểu được người sắp làm cái việc kiểm tra và nghiệm thu sườn tàu có đủ tư cách không chứ.
           - Điều ấy tôi tự rõ. Đề nghị anh cho biết kế hoạch để tôi bố trí thời gian.
           - Dịp này cô bận - Giọng Hành khinh khỉnh - Sắp tới còn bận nữa cơ, cô ạ! Nhưng cô cứ chờ, tôi sẽ cho người tới gọi.
            "Cũng đòi kiểm tra với nghiệm thu. Biết chuyện, giám đốc lại không đuổi ra khỏi nhà máy sớm". Hành nghĩ, rồi hí hửng đi lên phòng ông An.
           - Báo cáo thủ trưởng - Hành e dè ngồi xuống trước mặt giám đốc cười lợt lạt - Mấy hôm nay bận việc, trông thủ trưởng sút đi nhiều đấy ạ.
           - Có việc gì không, anh Hành? - Ông An hỏi.
           - Dạ, báo cáo thủ trưởng, cái việc kiểm tra và nghiệm thu sườn tàu ạ.
           - Hôm qua anh lên kế hoạch hôm nay cho tiến hành cơ mà .
           - Vâng! Còn người kiểm tra, có phải thủ trưởng giao cho cái nhà cô Thúy không ạ?
           - Sao? Cô ấy có kinh nghiệm!
           - Nhưng báo cáo thủ trưởng, cô ấy không đủ tư cách ạ.
           - Sao thế?
           - Dạ, thủ trưởng chưa biết gì ạ? Cả nhà máy đang ồn lên.
           - Việc gì nhỉ?
            Hành kéo ghế ngồi gần ông An hơn, vẻ mặt tỏ ra bằng lòng lắm.
           - Thủ trưởng nhiều việc quá, chắc không để ý, dạ, cô ấy chửa hoang ạ. Nghe đâu với anh chàng trưởng phòng.
           - À, cô ấy đang có thai. Mình biết! Nhưng không phải với Lâm Khanh. Các cậu nghĩ bậy bạ thế là oan cho người ta đấy.
           - Thủ trưởng cũng biết ạ? - Hành ngạc nhiên - Đấy  con người không chín chắn ấy làm sao đủ tư cách...
           - Về mặt sinh hoạt của cô ấy, có điều cần nói sẽ nói sau. Còn công việc nhà máy, cô ấy là kỹ sư giỏi, có trách nhiệm, có kinh nghiệm, đừng thiên kiến chỉ soi vào sinh hoạt mà quên đi cái lõi cơ bản. Cô ấy có sáng kiến tiết kiệm cho Nhà nước hàng vạn đồng. Cô ấy đấu tranh nhằm bảo đảm cho con tàu xuất xường đúng kỹ thuật. Con người ấy có đủ tư cách để kiểm tra và nghiệm thu sườn tàu chứ? Chúng ta nên thận trọng để có cái nhìn chuẩn xác hơn, nhân hậu hơn anh Hành ạ ! Thôi nhé, anh cứ cho tiến hành công việc theo chương trình.
          "Ông này quan liêu hết sức" - Hành hậm hực bước ra khỏi phòng.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 23 Tháng Bảy, 2009, 09:50:35 pm

28


           Chỉ huy đoàn quyết định điều Tòng trở lại tàu T.37 làm thuyền phó I, nhằm tăng cường cán bộ cho chuyến đi sắp tới. Tin ấy khiến Tòng vui đến ngẩn người. Đã mấy tháng nay bị buộc chặt trên cơ quan, tạm thời làm trợ lý ban tham mưu, Tòng thấy chồn chân. Chẳng phải Tòng không ý thức được vai trò cơ quan và nhiệm vụ  nặng nề của cánh trợ lý. Nhưng anh biết mình làm việc đó không hợp.
          - Này, về tàu làm thuyền phó, cậu có gì thắc mắc không đấy - Chính ủy Bùi Kim hỏi khì ông đã giao nhiệm vụ cho Tòng.
          - Báo cáo chính ủy là không ạ. Thú thật, tôi rất vui - Tòng sôi nổi.
          - Vui vì lẽ gì?
          - Báo cáo, vì vẫn được đi biển, vẫn được về với anh em tàu T.37.
          - Cậu nghĩ thế nào về kỷ luật đối với mình trong vụ vừa rồi ?
          - Chính ủy định hỏi rằng kỷ luật nặng quá hay nhẹ quá phải không ạ?
          - Không, nhận thức chung cơ.
          - Báo cáo, đáng ra tôi cần phải ý thức được nhiệm vụ đưa vũ khí vào chiến trường của mình quan trọng hơn và lấy đó làm mục tiêu chính. Quả là trong suy nghĩ, tôi có đơn giản.
          - Bọn mình rất quý cậu, nhưng kỷ cương quân đội là kỷ cương quân đội, tình cảm là tình cảm...
          - Báo cáo, tôi hiểu ạ.
          - Từ nay, làm việc gì cũng cần cân nhắc. Còn việc riêng với cô Lụa đến đâu rồi?
          - Báo cáo, tôi đang cố " im lặng " để Lụa giải quyết xong với phía kia đã ạ.
          - Phải cố đấy! - Ngừng một lúc, chính ủy nói tiếp - Mình cũng hiểu rằng tình cảm riêng tư của mỗi người không giản đơn và mọi việc không phải sẽ được giải quyết sau một lời khuyên. Nhưng cậu nên rõ là dù biện bạch thế nào, về phương diện pháp lý, cứ quan hệ với cô Lụa lúc này là sai. Xã hội không chấp nhận điều ấy. Bọn mình cũng vậy.
          - Rõ ạ ! Và tôi cũng rất hiểu tình cảm, cùng sự quan tâm của các thủ trưởng đối với tôi trong chuyện này. Tôi gắng không làm phiền đến tổ chức.
          - Phải dũng cảm mới được!
           Chính ủy bắt tay Tòng và tiễn anh một đoạn.
           Ra khỏi phòng chính ủy, Tòng về phòng vơ vội quần áo và đồ dùng cá nhân nhét đầy ba-lô cóc, rồi đeo lủng lẳng một bên vai bước thấp bước cao đi chào bạn bè. Xong, anh rảo cẳng đi xuống cảng.

           Tin Tòng trở lại tàu T.37 đến với anh em thủy thủ rất sớm. Họ háo hức chờ. Vừa thấy cái dáng cao cao, ngất nghểu của Tòng, họ đã ùa xuống cầu tàu. Mọi người vây quanh, hỏi han rối rít.
Chiều hôm đó, theo nguyện vọng của cánh thủy thủ, thuyền trưởng Hòa đồng ý dành một tiếng cuối giờ để anh em có thời gian chuẩn bị "bữa ăn tươi" đón Tòng. Ngoài những món ăn hàng ngày, có thêm rổ rau sống, một đĩa ốc biển và nồi canh cá khá "đậm đặc" được nhiều người ưa chuộng. Bữa ăn kéo dài lâu lâu. Ai cũng ép Tòng ăn thật nhiều và hỏi han đủ chuyện. Tòng cứ ngồi lặng trước không khí đầm ấm và thân thuộc của anh em thủy thủ.
         
           Buổi tối, thuyền trưởng Hòa, chính trị viên Đạm và  thuyền phó Xuyên kể cho anh nghe về chuyến đi vừa  rồi. Những điều gian khổ, những điều thú vị. Tòng nghe mà tiếc.
           Đêm ấy, anh không sao chợp mắt. Niềm vui được trở lại tàu tình cảm cánh thủy thủ khiến anh xúc động.
           Những ngày kế đó, Tòng cùng anh em lao vào công việc chuẩn bị cho chuyến đi mới. Chưa bao giờ Tòng thấy vui như những ngày này. Anh làm việc luôn tay, không biết mệt.
           Hai tuần sau, tàu đi nhận hàng. Và họ được lệnh nhổ neo.

           Đêm tàu lên đường, Tòng nao nao, anh lên boong ngồi, nghĩ miên man. Lâu lắm rồi anh mới được ra khơi, lại đi một chuyến dài ngày thế này. Đã bao giờ anh được vào miền Nam? Những bến, những bãi anh chỉ mường tượng ra qua câu chuyện của mọi người. Lần này, nỗi ao ước háo hức mới được thực hiện. Tất cả cứ như trong mơ...
           Lan man rồi anh nghĩ tới quê hương. Nỗi nhớ trào lên...
          - Sao thần ra thế? - Thuyền trưởng Hòa tới ngồi cạnh Tòng - Nhớ "ai" phải không?
          - Anh Hòa đã có dịp lên mạn trung du chưa nhỉ? - Tòng quay lại.
          - Mình thấy ít người yêu quê hương như cậu!
          - Thế nào anh cũng phải lên quê tôi một lần cho biết. Vào dịp này sông Lô đẹp lắm, tôi sẽ đưa anh đi dọc bờ sông để anh ngửi mùi đồi núi hoà quyện trong phù sa. Chúng mình sẽ ăn những bắp ngô non đang làm sữa của đất bãi anh Hòa nhé. Ăn sống. Mùa này ngô bãi bạt ngàn.
          - Mình có nghe nói nhiều đến trung du. Phong cảnh đẹp lắm hả?
          - Vâng, rất đẹp. Đầu làng tôi có ngọn tháp, gọi là tháp Bình Sơn, xây từ đời nhà Trần, cao mười một tầng. Niềm tự hào của quê tôi đấy. Mỗi viên gạch ốp ngoài được chạm một hoa văn, mỗi hoa văn một vẻ và hoa văn nào cũng đẹp. Hồi chưa vào bộ đội, tôi vẫn hẹn Lụa dưới chân tháp.
          - Mình có nghe anh em kể nhiều về mối tình của cậu và người phụ nữ ấy.
          - Anh cho rằng tình yêu của chúng tôi có cái gì đó không hợp lẽ chăng?
          - Không hẳn thế!
          - Lâu rồi, chúng tôi chưa có dịp gặp nhau. Những ngày lênh đênh trên biển thế này, nhớ cô ấy đến phát cuồng. Nhớ đến bứt rứt, thật đấy anh ạ!
          - Mình hiểu, chỉ khi yêu nhau thực sự, mới có nỗi nhớ như thế.
          - Từ ngày có cô ấy, tôi thấy mình yêu quê hương, yêu cuộc sống hơn lên. Cuộc đời thật tuyệt! Mỗi lần ra khơi, tôi thường nghĩ về miền quê ấy. Nhớ sông Lô, nhớ vị ngọt như sữa của những bắp ngô non, nhớ cơn gió hây hây từ mặt sông đưa lên, nhớ vị hăng nồng của những thân ngô già dãi nắng, nhớ mùi bùn đất bãi gặp sương... Anh không thể tưởng tượng được đâu, anh Hòa ạ.
           Hòa choàng tay qua vai người thuyền phó. Cả hai cùng lặng nhìn xuống biển. Và đêm ấy họ đã trò chuyện với nhau tới gần sáng.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 09:35:10 am

          Tàu đến ngang vĩ tuyến 17, thuyền trưởng Hòa điện về sở chỉ huy: "Thời tiết tốt".
          Sở chỉ huy chỉ thị tiếp tục hành trình theo phương án. Lập tức tàu T.37 hướng 180 độ, đi về phía quần đảo Boóc-nê-ô. Cả ngày hôm đó và những ngày sau không có máy bay, tàu chiến địch bám đuôi như những chuyến đi trước. Hòa và mọi người trên tàu đều mừng. 14 giờ ngày 11, anh điện về :
          "Tình hình yên. Còn bốn mươi hai lý nữa đến Z (vị trí chuyển hướng vào bờ). Xin vào bến đúng kế hoạch". Nhưng Hòa không khỏi ngạc nhiên khi được trả lời:
          "Địch đã biết hành động của tàu. Giảm tốc độ. Chờ thời cơ".
          Thì ra tình hình mà Hòa ngỡ là "yên" lại không yên chút nào. Mấy ngày qua không khí làm việc ở "nhà" hết sức căng thẳng. Chính ủy Bùi Kim và đoàn trưởng Tư hầu như không lúc nào rời sở chỉ huy.
Lúc 15 giờ 25 phút ngày mồng 8, tức là sau 7 giờ tàu T.37 chuyển hướng đi về phía quần đảo Boóc-nê-ô, phòng quân báo điện xuống:
          "Hải quân địch báo động. Chúng thông báo cho nhau chuẩn bị "đón khách ". Các đài ra-đa được lệnh mớ máy liên tục".
          Sau khi hội ý với chính ủy, đoàn trưởng Tư chỉ thị cho T.37 theo hướng cũ, đi hơi chếch ra phía đông. Và ông đề nghị phòng quân báo cung cấp tin tức thường xuyên hơn.
          Tin phòng quân báo: .
          "15 giờ 30 phút ngày mồng 10, địch chỉ thị cho các tàu trong vùng Hòn Chuối, Hòn Bông, Bãi Bùng chú ý  tuần tiễu thật kỹ và trực máy lên tục. Tàu nào không liên lạc được, báo cho ra-đa Hòn Khoai biết. Đài ra-đa Hòn Khoai mở máy hai bốn giờ trên hai bốn giờ".
          Hồi 16 giờ 30 phút, bến báo ra: "yên!".
          Đoàn trưởng Tư ngả người ra ghế. Tình hình trong ngày như vậy là rõ: địch đã biết có tàu ta đang đi vào,  chúng báo động, nhưng cụ thể ta vào vùng nào, thì  chúng vẫn chưa biết. "Bến yên" có nghĩa là thời cơ vào bến vẫn còn.
          Hai ngày sau, địch tiếp tục báo động. Ngày 11, lúc tàu T.37 điện về xin vào "bến" đúng kế hoạch, sở chỉ huy nhận được tin từ phòng quân báo:
          "Lúc 13 giờ ngày 11, địch phát hiện mục tiêu lạ đang đi về phía quần đảo Boóc-nê-ô. Tất cả các tàu trong vùng Hòn Khoai, Côn Đảo, cứa sông Bồ Đề... sẵn sàng chờ lệnh ".
           Cùng lúc đó, "bến" báo ra:
           "Chú ý! Có hai tàu tuần dương của Mỹ từ cứa sông Bồ Đề ra khơi. Một máy bay hộ tống lên ngang Hang Hố. Gần "bến" có nhiều tàu đánh cá lởn vởn. Bến yên ".
           Sau khi cho tàu T.37 giảm tốc độ, đoàn trưởng Tư đi đi lại lại trong phòng. Rồi ông dừng trước tấm hải đồ đầy ký hiệu tàu địch, tàu ta. Những tin tức nhận được qua phân tích cho một kết luận: Kẻ địch bắt đầu thay đổi phương thức hoạt động. Chúng không dùng tàu chiến "bám đuôi" dai dẳng, cũng không dùng máy bay quan sát liên tục như trước. Chúng bí mật theo dõi tàu ta từ xa bằng hệ thống ra-đa trên bờ, trên đảo, trên tàu, và không loại trừ khả năng cả những tàu đánh cá của một số nước láng giềng cung cấp tin tức cho chúng. Chúng lặng lẽ giăng lưới đón lõng, chờ tàu Bắt Việt khờ khạo, nghĩ rằng tình hình yên, sẽ cho tàu vào bờ, lập tức chúng khép vòng vây, cất vó. Tình hình đã trở nên khó khăn. Cho tàu quay về hay cho tàu vào bến.
           Đoàn trưởng Tư lặng lẽ đi lại trong phòng, đầu hơi cúi vẻ mặt trầm tư. Bao câu hỏi đang cần ông trả lời. Tính mạng con tàu và hai mươi thủy thủ đòi hỏi ông cân nhắc, nhưng sự bức thiết phái có vũ khí cho chiến trường cũng khiến ông suy tính. Đây là lúc đấu trí với địch. Bản lĩnh người chỉ huy cần được phát huy chuẩn xác trong giờ phút này. Thận trọng nhưng phải táo bạo và quyết đoán. Ông rõ rằng kẻ địch đã thay đổi phương thức hoạt động. "Vỏ quít dày sẽ có móng tay nhọn", lúc này là cái gì đây? Con tính ấy khiến ông suy nghĩ, cân nhắc.
           Bên dãy bàn kê cạnh tường, những sĩ quan tác chiến cũng vùi đầu vào công việc xử lý tin tức. Các chiến sĩ thông tin không rời máy, họ ngồi lặng, đón chờ những tín hiệu. Tất cả đều ý thức được rằng những quyết định của người chỉ huy phụ thuộc vào tin tức họ cung cấp và những phân tích, đề đạt họ nêu ra.
           Chiều hôm ấy trôi đi chậm chạp.
           17 giờ, có điện báo ra: "Bến yên".
           "Bến yên!" - Đoàn trưởng lẩm nhẩm nhắc lại. Bến yên tức thời cơ vào "bến" chưa mất. Có nghĩa bọn địch vẫn chưa rõ ta vào mạn nào. Đó là thuận lợi có thể khai thác. Vấn đề bây giờ là làm thế nào đánh lạc hướng sự chú ý của địch để đưa tàu vào. Bến yên! Bến yên!
           Tin từ phòng quân báo:
           "18 giờ 30 phút, địch phát hiện một tàu lạ lảng vảng ngoài khơi. Các tàu địch vẫn tăng cường theo dõi".
           18 giờ 45 phút, bến báo tiếp:
           "Một máy bay L19 đang quần dưới Hang Hố, xa bờ 8 ki-lô-mét".
           Năm phút sau, bến lại báo:
           "Hiện có một tàu lớn, chắc pháo hạm của Mỹ đang tuần tiễu, cách Hang Hố 2 ki-lô-mét, xa bờ 15 ki-lô-mét. Và có bốn tàu nhỏ lởn vởn quanh khu vực đó".
           Tin phòng quân báo:
           "19 giờ 55 phút, địch chỉ thị các loại tàu HQ, SG, TM, BN phải sẵn sàng. Tàu lạ có thể sẽ vào từ phía Côn Lôn ".
           Tin từ bến:
           "19 giờ, "bến" yên. Phía đông "bến " có nhiều tàu cá".
           Tin phòng quân báo:
           "20 giờ, địch chỉ thị cho các tàu ra chắn phía trong Côn Đảo. Toàn bộ tàu thuyền khu vực Hòn Khoai, Côn Đảo được lệnh báo động khẩn cấp ".
           "20 giờ 05 Hòn Khoai chỉ thị cho tàu HQ.25 và HQ. 127 tiếp tục đi lên mạn Côn Đảo, chờ ở đó. Tăng cường quan sát giữ liên lạc với Hòn Khoai".
           20 giờ, bến vẫn báo "yên". Có nhiều tàu cá quanh khu vực "bến", cách chừng 20 đến 30 ki-lô-mét về phía đông.
           Đoàn trưởng ngồi lặng, tay ôm hai bên thái dương. Địch đón lõng ở mạn trong Côn Đảo. Chúng muốn tàu ta vào thật gần bờ, để chắc ăn. Phải tương kế, tựu kế. Ông ngẩng lên, hướng mặt về phía chính ủy và tham mưu trưởng Đặng, nói:
          - Bọn địch đoán rằng tàu ta sẽ chuyển hướng vào bờ ở phía Côn Đảo để đi tới đông Cà Mau. Chúng đã tưởng thế, ta hãy tạo điều kiện để chúng đoán đúng như thế.
          - Có nghĩa rằng tàu ta vẫn đi vào mạn Côn Đảo, có phải ý anh là vậy? - Chính ủy hỏi lại.
          - Vâng! Và bọn địch hí hửng rằng con mồi đang vào bẫy.
          - Sau đó ta cho tàu ngoặt hướng xuống phía Nam lẫn vào đám tàu đánh cá! - Chính ủy nhìn đoàn trưởng và  thấy mừng khi hai người bắt được ý nhau.
         - Đúng thế, anh Kim ạ. Các đồng chí trên tàu dư thông minh và kinh nghiệm để hiểu rằng mình phải hành động như vậy. Tôi đọc lại bức điện của bến lúc 20 giờ: "Bến vẫn yên. Có nhiều tàu cá ở khu vực bến...". Tàu ta cũng là tàu cá đấy chứ? Lọt được vào cụm tàu cá là ổn. Các anh thấy thế nào?
         - Tôi hiểu ý anh! - Chính ủy đồng ý.
          Tham mưu trưởng thảo ngay điện gửi T.37:
         " Chuyển hướng 270 độ, đi vào phía đông Cà Mau, Bến yên. Sáng suốt xử trí. Gần khu vực bến, có nhiều tàu cá".
          Lúc đó là 20 giờ 30 phút.
          Một giờ sau, sở chỉ huy nhận được tin từ phòng quân báo:
          "Lúc 21 giờ, toàn bộ hải quân Mỹ - ngụy quanh khu vực Côn Đảo được lệnh báo động khẩn cấp. Hòn Khoai thông báo cho các tàu: khách đang vào".
          Tin của bến:
          "21 giờ 05 phút địch tăng cường máy bay và tàu chiến ra khơi, hướng lên phía bắc. Chú ý đề phòng hai  khu trục Mỹ đang đi về hướng Côn Đảo. Bến. vẫn yên. Có nhiều thuận lợi".
          Đoàn trưởng Tư quay sang tham mưu trưởng.
          - Lúc này vào được bến hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào cách xử trí của anh em trên tàu T.37.
          Cả ba ông ngả người trên ghế, lặng lẽ chờ đợi.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 09:40:30 am

           Nhận được điện của sở chỉ huy, Hòa và cán bộ tàu không khỏi áy náy. Tại sao lại phải đi vào vùng phía đông Cà Mau? Đi vào phía đông, phải qua Côn Đảo là khu vực hết sức nguy hiểm. Kinh nghiệm cho hay rằng địch thường đón ở mạn đó.
          Hòa, Đạm, Tòng và Xuyên chụm đầu bên bức điện dò từng chữ để cố hiểu đúng tinh thần của mệnh lệnh. Mọi người ngồi lặng lúc lâu.
          " ... Sáng suốt xử trí. Gần khu vực bến có nhiều tàu cá" - Tòng nhắc lại bức điện, rồi nhìn Đạm, nhìn Hòa, anh nói tiếp - Tôi hiểu là sở chỉ huy muốn ta lợi dụng yếu tố: gần bờ có nhiều tàu cá.
          - Tôi cũng nghĩ như vậy - Đạm nêu ý kiến - ngoài việc trà trộn vào đá in tàu em để vào bờ, chúng ta không còn cách nào khác.
          - Nhưng tại sao lại phải chạy thẳng vào vùng Côn Đảo lạ nhỉ?
          - "Sáng suốt xử trí! Sáng suốt xử trí" - Hòa lẩm nhẩm - Chắc sở chỉ huy có ý đồ gì đây. Ta cho tàu chạy chậm và tăng cường quan sát, thế được không các anh?
          - Cứ chấp hành lệnh. Sở chỉ huy nắm chắc tình hình hơn ta - Đạm đồng ý.
           Con tàu chuyển hướng tây, đi vào bờ.
           Hòa giao công việc điều khiển tàu cho Tòng, rồi ra mặt boong quan sát. Trời tối, tầm nhìn bị hạn chế. Con tàu thấp thỏm, dè dặt đi trong đêm. Mọi người căng thẳng chờ đợi.
           Bằng mắt thường, Hòa nhìn thấy xa xa, chốc chốc lại loé lên hai chớp đèn. Anh biết, đó là chớp đèn của Côn Đảo.
Báo cáo thuyền trưởng có điện.
           Hòa quay vào buồng lái. Bức điện viết:
           "Trước mặt các anh, mạn trong Côn Đảo rất nhiều tàu địch. Bến  yên. Phía bến có nhiều tàu cá ".- Thế là rõ ! - Hòa thở phào, buông một câu. Anh đưa bức điện cho Tòng:
          - Chuyển xuống phía Nam, được chứ Tòng?
          - Theo tôi, ta đi giáp đảo chút nữa để trong màn huỳnh quang ra-đa của chúng, mục tiêu bị nhoà vào đảo, ta mới chuyển hướng, lợi hơn.
          - Nhất trí!
           Con tàu như không hay biết gì về sự giăng lưới của địch, vẫn đâm thảng vào bẫy của chúng.
           Chừng nửa tiếng sau, Tòng đánh mạnh vô lăng sang trái và cho chạy hết máy, xuôi xuống phía Nam.
           Con tàu xé nước, lao nhanh trong đêm.
          - Treo cờ ba que lên - Hòa ra lệnh.
           Khoảng một giờ, mọi người đều nhìn thấy phía trước rất nhiều tàu cá đang đỏ đèn thả lưới. Tòng cho tàu giám tốc độ, chạy lẫn vào. Từ đó tàu ngoặt sang phải đi chếch vào bờ.
           Từ phía trong, một chiếc xuồng máy chạy ra, trên đó có hai ánh đèn loé tắt, loé tắt ba lần. Hòa cho phát tín hiệu trả lời. Đôi bên nhận ra nhau. Chiếc xuồng máy chạy trước, con tàu theo sau. Họ lách sâu vào một con lạch khá rộng, cây cối um tùm. Những cành lá giằng vào nhau vươn ra, trùm lấy con lạch, che kín cả bầu trời.


*


           Ngày 8 tháng 9, hồi 13 giờ 07 phút, máy bay tuần tiễu của hải quân Mỹ, thuộc lực lượng đặc nhiệm 115, bằng phương tiện quan sát tối tân nhứt, từ xa đã phát hiện một tàu cộng sản Bắc Việt cách đông nam cù lao Thu 100 hải lý. Ra-đa trên tàu, trên bờ được lệnh theo sát Các đơn vị hải quân. Việt - Mỹ được lệnh báo động để đối phó. Sau ba ngày di chuyển xuống hướng đảo Boóc-nê-ô, hồi 16 giờ, tàu lảng vảng ở khu vực ngangCông Đảo 120 hải lý về phía đông và có ý định chuyển hướng vào bờ. Các đơn vị hải quân Việt - Mỹ đã được lệnh chuẩn bị bao vây và tiến công nếu tàu này thâm nhập vào lãnh hải Việt Nam Cộng hòa. Chiều 11, các tàu của hải quân Mỹ đã triển khai ém sẵn quanh khu vực Côn Lôn.             
          Tham gia có:
          Tuần dương hạm: MORGENTHAU
          Tuần dương hạm: RUSH
          Pháo hạm: ANTLOPE
          Hải quân Việt Nam có các tàu HQ. 07, HQ.21 7, HQ. 115, HQ.619, HQ.603, HQ. 712, HQ. 715, HQ. 704, HQ. 725.
          Hồi 15 giờ ngày 11, Bộ  tư lệnh Hái quân đã yêu cầu quân khu 4 báo cho các tiểu khu An xuyên, Ba Xuyên, Vĩnh Bình, Kiến Hòa sẵn sàng quân để đổ bộ vào vùng mà tàu cộng sản Bắc Việt có thể thâm nhập.
          Hồi 18 giờ hải quân Việt - Mỹ cũng đã xin Bộ tư lệnh không quân sẵn sàng cho máy bay yểm trợ và soi sáng.
          Hồi 19 giờ 30, tàu Bắc Việt vẫn cách Côn Lôn chừng 70 đến 80 hải lý về phía đông
          Hồi 20 giờ 30, tàu Bắc Việt bắt đầu chuyển hướng vào bờ, chúng đi vào hướng Côn Lôn đúng dự kiến mà hải quân phán đoán. Lực lượng hải quân Việt - Mỹ đã ém sẵn trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh.
          Đến 23 giờ, tàu cách đảo 12 hải lý. Con cá lớn đang đi vào lưới!
          Nhưng vừa lúc đó, ra-đa Hòn Khoai và các đài quan sát báo cáo: mất mục tiêu. Các tàu hải quân Việt - Mỹ được lệnh xả máy, tiến ra ngoài khơi Côn Lôn. Nhưng quần  nát vùn.g biển khu vực đó vẫn không thấy tăm hơi tàu cộng sân Bắc Việt. Ngày hôm sau, các tàu chiến rà tìm, vẫn bặt vô âm tín. Phán đoán:
          1. Có thể thấy động, tàu Bắc Việt đã chạy ra khơi và vì sự cố kỹ thuật, tàu chìm xuống đại dương.
          2. Nhờ một phép thần thông màu nhiệm, tàu cộng sản Bắc Việt đã vào được nơi mà họ muốn. Sở dĩ thuyền trưởng Bắc Việt làm được vì họ rất máu me. Và phải thừa nhận thuyền trướng Bắc Việt lão luyện hơn những thuyền trưởng của quân lực Việt Nam Cộng hòa hai mươi năm
. (1)



-------------------------------
Chú thích:
1. Trích tài liệu địch, ta thu được - TG.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 10:02:21 am

          Tàu T.37 đang tiến vào lạch thì khựng lại.
          - Mắc cạn - Tòng lo lắng bảo.
          Mọi người cùng nhạy ra boong.
          - Các anh đừng lo - người du kích dẫn đường bảo - Đã vô tới đây là an toàn rồi. Tàu bay địch trên trời nhìn xuống, không thấy. Còn tàu thủy thì cá vàng chúng cũng không dám vô. Mời các anh lên bến nghỉ rồi ta liệu. Chà? Mấy anh vất vả quá ha!?
          Đạm và Tòng xuống xuồng đi gặp ban chỉ huy bến.
          Ban chỉ huy bến và anh em du kích ở trên nhà sàn. Phía dưới là nước. Từ nhà này muốn sang nhà kia phải đi xuồng, hoặc lần theo những chiếc cầu bắc bằng những thân cây lắt lẻo.
          Đêm hôm ấy, và cả ngày hôm sau, du kích dùng xuồng máy lấy hàng đưa về kho.
          Chờ nước lên cao, Hòa cho tàu rẽ vào mép rạch, núp dưới những thân đước mọc chằng chịt. Tòng lặn xuống kiểm tra đáy tàu. Lúc sau, anh trèo lên boong, hoảng hốt bảo:
         - Cong chân vịt rồi anh Hòa ạ!
         - Cong chân vịt? - Khuôn mặt Hòa thoắt đớ ra. Cong chân vịt có nghĩa là con tàu và toàn bộ thủy thủ sẽ kẹt lại. Kẹt lại bao lâu? Điều đó ai dễ trả lời. Có thể một tháng, hai tháng, một năm, hai năm. Hòa thần người, đi vào phòng thuyền trưởng và buồn bã nằm vật ra giường, chán ngán.
          Một tháng chờ đợi trôi qua.
          Tòng rất hậm hực, cho rằng "cái số" của mình chẳng có gì suôn sẻ! Lâu lắm mới đưa một chuyến hàng vào Nam, lại kẹt trong vùng kênh rạch dưới rừng đước bịt bùng này. Mặc dù các đồng chí ở bến lo cho chu đáo, anh vẫn thấy buồn. Mấy ngày đầu, lạ lẫm phong cảnh, anh chèo xuồng đi ngắm chỗ này, chỗ kia, hoặc đi câu cá bắt tôm. Cá, tôm mới sẵn làm sao! Mắc con tôm vàođoạn dây cước, buộc vào cái que dài bằng sải tay, cắm xuống bờ, sáng hôm sau chèo xuồng tới, nhắc lên là có cái ăn. Những con cá ngát to bằng bắp chân, béo ú, mỗi bữa một người ăn không hết một con. Ở đây bắt tôm cũng thật đơn giản. Xọc bàn chân xuống bùn, nhấc lên cho nước vào. Sau đó chỉ việc hốt. Tôm búng lật bật trong lòng bàn tay. Tôm mỏng vỏ, mềm, toàn thịt là  thịt. Nhúng tôm vào nước sôi, đưa lên miệng khi còn nóng, cắn ngập rang, ngọt xớt. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ được mấy hôm là chán. Một câu hỏi luôn ám ảnh Tòng: Làm thế nào để đưa tàu ra khơi? Điều ấy lởn vởn trong đầu anh lúc ăn, lúc ngủ, lúc rỗi rãi. Mà càng rỗi rãi, càng nghĩ tới. Làm lính thủy chịu để tàu kẹt trong con rạch này vì một lý do hết sức đơn giản: cong chân vịt hỏi còn ra cái thá gì nữa. Nhất quyết phải sửa! Nhưng sửa bằng cách nào? Một tấc sắt trong tay không có, không ụ đà, không đốc... không tiệt mọi thứ!

           Một hôm, Tòng ngồi trên boong lơ đãng nhìn bốn phía: xung quanh, đước bạt ngàn. Rồi đột nhiên anh nhảy phóc xuống xuồng, hối hả chèo đi. Đến một bãi phẳng, buộc xuồng vào gốc đước, Tòng tuông lên. Bùn ngập đến bắp chân. Anh bì bõm lội một vòng, dừng lại ngó nghiêng như thể tính toán điều gì rồi vọt lên xuồng, về tàu. Cởi quần áo vứt ngang mái chèo, Tòng nhảy ùm xuống nước. Anh lần mò hồi lâu dưới đáy tàu.
          Không mặc quần áo, không lau người, Tòng bám dây neo, đu người lên boong. Anh xộc đến phòng thuyền trưởng:
         - Anh Hòa, anh Hòa, có cách rồi! - Tòng đẩy cửa, hét toáng lên
          Hòa đưa mắt nhìn lên thân hình cao lêu nghêu như con vượn, tóc ướt sũng, tay dài chấm đầu gối của Tòng, không khỏi ngạc nhiên.
         - Ta sẽ đưa tàu ra khỏi đây. Chà, một cái đốc thật tuyệt. Thủy thủ đếch gì lại cứ rúc trong rừng đước suốt ngày đi câu cá, bắt con tôm về nhậu.
         - Thế nào nhỉ? - Hòa nhìn Tòng, ngơ ngác - Mình chẳng rõ cậu định nói gì?
         - Nói gì à? Tôi nói là chúng ta phải sửa cái chân vịt mà đưa tàu ra. Chết dí ở đây hơn một tháng rồi. Chơi thế là đủ.
         - Đương nhiên mình cũng đang nghĩ cách - Hòa giật cái khăn mặt đầu giường đưa cho Tòng - Có lẽ cậu đã  nghĩ ra kế gì đó, mà phải nói từ từ cho rõ đầu cua, tai nheo chứ. Chẳng lẽ cậu lại ngỡ mình thông minh tới mức đọc được hết suy nghĩ của cậu sao. Nào, ngồi xuống đã.
          Tòng cười nhăn nhở. Lấy khăn lau qua quít khuôn mặt.
          - Tôi vừa đi khảo sát địa hình - Ở đằng kia có cái vũng khá sâu, những lúc nước xuống lại trơ ra toàn bùn. Chờ nước lên, ta kéo tàu vào đó, rồi dùng những cây gỗ luồn xuống đáy tàu, gỗ ở đây thiếu quái gì, vô thiên lủng, chỉ huy động anh em chặt một ngày là xong...
          - Nước rút, con tàu hoàn toàn nằm trên cái nệm gỗ đó - Hòa nói như reo và đôi mắt sáng lên nhìn Tòng - Và ta có một cái "đốc" phải không? Hay lắm, rồi ta nắn lại chân vịt. Mà này, nắn lại chân vịt bằng cách nào?
          - Ờ... ờ!
          Cho tới lúc này Tòng mới ngớ người. Anh mãi nghĩ đến cái đốc mà chưa tính đến việc thứ hai. Anh ngồi đực ra, cắn môi.
          - Khó đấy! - Hòa buông một câu.
          - Thì tôi đâu bảo dễ - Tòng gắt - Cái chân vịt bằng sắt chứ chẳng phải được nặn bằng bột mì. Khỉ nhỉ. Lính thủy như chúng mình khác quái gì con chim nhốt trong lồng.
          Tòng bực bõ bỏ ra ngoài. Anh cũng không rõ bực với ai và bực vì cớ gì .

          Những ngày tiếp đó, Tòng sống lặng lẽ. Anh ít chuyện trò, chơi bời và rất ít ngủ. Hễ nằm xuống là cái chân vịt cong lại hiện lên ám ảnh. Làm thế nào cho nó mềm ra? Giá có cách gì tháo được mà đưa lên núi, đốt than, nung. Sẽ nằm dài ở đây đến bao giờ? Hết chiến tranh chăng? Lúc đó nói với mọi người thế nào nhỉ? Nói rằng trong những tháng ngày ác liệt, chúng tôi núp trong rừng đước, ở đây tôm cá nhiều vô kể? Tòng trằn trọc trên giường, nghĩ miên man. Rồi chợt anh bật dậy: trong ký ức mơ hồ, hình như anh đã một lần trông thấy mấy người lính thông tin dùng một chiếc đèn xì không lớn lắm đốt cháy chì và thiếc để hàn dây cáp. Ờ, phải  rồi, chiếc đèn khò (1)
          - Đèn khò! - Tòng bật thành tiếng và lao ra boong nhảy xuống xuồng, chèo đi. Trời tối bưng.     
          Vài ba ngôi sao thấp thoáng trêu vòm lá rừng đước.
          Có tiếng người du kích ngồi gác trên ngôi nhà sàn hỏi vọng xuống.
          - Người nhà ! Tòng đây.
          - A, thuyền phó, đi câu cá sớm vậy cha?
          - Này, người anh em, muốn hỏi một chuyện.
          - Thuyền phó không ngủ sao?
          Tòng trèo lên sàn nhà, ngồi bệt xuống cạnh người du kích:
          - Ở đây có cách đi lên tỉnh không?
          - Được! Nhưng anh ra khỏi đây bị bắt liền đó.
          - Vậy ai đi được?
          - Tụi tui có anh em hoạt động hợp pháp chớ.
          - Ờ! Này, đằng ấy biết trên tỉnh có loại đèn xì con con vẫn gọi là đèn khò không?
          - Trên đó không thiếu một thứ gì hết trọi. Mà anh cần chi ba cái đồ yêu lăng nhăng đó.
          - Có nghĩa rằng ta có thể kiếm về vài ba chiếc chứ?
          - Được! Biểu với mấy ông trong ban chỉ huy bến cử người đi, khó chi. Mà cần gì gấp vậy cha?
           Tòng không trả lời, lại nhảy xuống xuồng, phèo về tàu.
          - Anh Hòa? - Tòng vào phòng thuyền trưởng dựng Hòa dậy.
          - Xong rồi - Tòng nói to.
          - Cái gì? - Hòa hốt hoảng hỏi.
          - Xong rồi, có cách nung cái chân vịt rồi.
          - Đốt nóng chân vịt? - Hòa vẫn ngơ ngác.
          - Ta nhờ anh em ở bến kiếm cho mấy cái đèn khò, đèn khò, anh rõ không?
          - Hả? Đèn khò ! - Hòa ôm lấy ngang người Tòng, reo lên - Hiểu rồi? Có vậy mà không nghĩ ra. Nào, ta ra chỗ cái vũng đốc của cậu.
          Hai người xuống xuồng, bơi trong đêm
          Sáng hôm sau, Tòng và Hòa lên gặp ban chỉ huy bến, ý kiến được ủng hộ. Họ cử ngay người lên phố mua về bốn chiếc đèn khò. Thủy thủ đẵn cây. Du kích nạo vét bùn. Tòng được giao làm " tổng chỉ huy công trường".
           Năm ngày sau, vào một buổi chiều, khi nước rút, con tàu nằm trơ ra trên lớp gỗ đước.
          Tòng đấm vào vai Hòa, khoái chí:
          - Cái đốc này thua kém gì cái đốc của nhà máy đóng tàu hả?
          - Chứ sao? Một thứ đốc tân kỳ có hạng là đằng khác.
           Hòa đáp.
          Và cả hai người cùng cười hết cỡ.

          Công việc tiếp đó là đắp một cái bờ phía ngoài để ngăn không cho nước vào.
          Rồi bốn chiếc đèn khò thi nhau phun lửa xanh vào chỗ cong của chân vịt. Hòa và Tòng thay nhau dùng búa gõ cho thẳng lại. Tuy thế công việc không đơn giản. Ban đầu khối đồng trơ ra. Mọi người phải hết sức kiên nhẫn. Chừng một trung đội du kích và thủy thủ túc trực làm nhiệm vụ tát nước, không cho nước rò rỉ qua bờ vào "đốc" .
          Bốn ngày sau công việc hoàn thành. Chờ con nước cường, những cây gỗ được rút ra và con tàu dềnh lên mặt rạch.
          Thủy thủ ôm nhau la hét vang dậy một vùng.


-----------------------------
Chú thích:
1. Đèn khò: loại đèn đốt bằng xăng. Dùng hơi bơm tay đề đẩy ngọn lửa ra, thường dùng để làm nóng chảy kim loại mềm.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 10:14:04 am

29


           Hải từ từ mở mắt. Điều đầu tiên nhận biết là một giọng con gái reo khe khẽ: "tỉnh rồi!"
           Hải ngơ ngác, không rõ mình mơ hay tỉnh. Cố hình dung nhưng không thể nào nhớ được những gì đã xảy ra. Anh gắng gượng mở to mắt và nhận ra khuôn mặt gầy rộc, sạm đen của thuyền trưởng Lê đang cúi xuống. Hình như có cả chính trị viên Lượng bên cạnh, và cô Sáu Thùy đứng phía sau Lê. Những người ấy như một nơi nào xa lạ hiện lên, hư hư, thực thực. Hải muốn trở mình ngồi dậy, nhưng không sao nhấc nổi đầu. Chợt anh quơ tay sang cạnh, đôi môi khô rộp mấp máy:
          - Mừng đâu?
          Lê cầm lấy tay Hải, ra hiệu cho anh nằm im. Đôi mắt Hải lơ láo nhìn bốn phía. Anh đã nhận biết mình đang nằm trên tấm phản trong một cái hang. Phía cửa hang có ánh sáng và ngoài kia, trời vẫn nắng.
         - "Đây là đâu, sao có sự lạ thế này? " - Hải tự hỏi. Anh đưa mắt nhìn lướt khắp vòm hang. Trí nhớ chưa ổn định khiến anh không thể phân biệt mọi điều. Anh thấy ngỡ ngàng và khó hiểu.
         - Anh Hải, chúng ta đang ở trong căn cứ của du kích -  Lê cúi xuống sát khuôn mặt Hải, nói khẽ.
          Hải đã nhận ra giọng nói quen thuộc. Anh cảm thấy có cái gì gần gũi, an tâm.
         - Mừng đâu? - Hải hỏi một cách khó nhọc.
         - Anh uống chút nước cháo nhé?
          Hải không trả lời. Đôi mắt trân trân nhìn lên nóc hang. Hình ảnh những ngày qua chập chờn, chắp nối.
          Tất cả đều mơ hồ, xa xăm. Anh cố gắng xoay khuôn mặt héo khô nhìn về phía cửa hang. Ngoài kia, nơi cánh  rừng, nắng đổ tràn lên cây. Anh nhớ là mình nằm cạnh Mừng, trong một cái hang, nhưng không phải là cái hang này, đó chỉ là một vòm đá lưng chừng núi. Mừng  đang kể cho anh nghe về mẹ. Sau đấy hai người ăn hết một tổ kiến; Hải đã nhường cho Mừng những trứng kiến trắng, mẩy như hạt gạo. Phải rồi và hai người đã uống nước, uống nước suối! Không, không phải nước suối hình như có ai rót nước từ bình tông vào miệng. Sao kỳ lạ thế? Hải uống những giọt sương li ti đọng trên cỏ chứ nhỉ... Máy bay à? Hải ngơ ngác lắng nghe. Tiếng động cơ rõ dần... Tiếng động ấy khiến Hải hoảng sợ. Nó đánh thức trong anh hình ảnh về một chiếc trực thăng.
          - Máy bay à? - Hải hốt hoảng hỏi to.
          - Máy bay - Lê trả lời và làm một cử chỉ như bảo rằng cứ an tâm.
           Đôi mắt Hải chợt ánh lên vẻ hoảng loạn và anh hét to:
          - Đừng để nó thả thang dây xuống!
           Rồi anh nằm đờ dại, lo sợ. Hai tay quờ quờ lần kiếm vật gì miệng giục rối rít:
          - Súng đâu? Kìa, bắn! Bắn chết chiếc máy bay ấy đi!
           Lê và Lượng cố giữ cho Hải khỏi vật vã. Thân hình gầy xọp, Hải nằm im, mắt nhắm nghiền, hơi thở gấp gáp. Rồi anh ngất lịm.
           Sáu Thùy vội ghé tai lên ngực Hải.
          - Tim đập yếu lắm! - Cô lo lắng nói.
          - Còn thuốc trợ sức không? - Lê hỏi.
          - Còn ống cuối cùng.
           Sáu Thùy trả lời và vội vã lại bên chiếc hòm gỗ, lấy hộp sắt tây trong đó có ống tiêm và ống thuốc duy nhất.
           Trong hang yên lặng. Có mùi cồn và mùi long não.
           Phía ngoài, tiếng máy bay phản lực vân rú ầm ào và chốc chốc tiếng bom dội lên. Cánh rừng đang bén lửa.
           Hải tỉnh dần, hơi thở đều hơn. Anh hỏi bâng quơ:
          - Thằng Mừng chết rồi à?
           Lê đưa tay sờ lên trán Hải: đầu Hải nóng hầm hập.
           Giờ thì Hải nhớ ra tất cả. Duy có điều này Hải chưa hiểu: Ai đã đưa anh đến đây và đưa bằng cách nào. Hải muốn hỏi, nhưng cảm thấy không đủ sức nữa. Cuống họng anh rát khô, miệng đắng ngắt.
          - Nước! - Anh rên khẽ.
          - Anh ấy biết đòi uống rồi! - Sáu Thùy reo lên mừng rỡ, cô vội vã mang ca nước tới.
           Lê và Lượng đỡ đầu Hải cao lên. Hải uống từng ngụm , vẻ thỏa mãn.
          - Chúng ném bom à? - Hải hỏi, giọng đã tỉnh táo.
          - Chúng ném bom!
          - Ở đâu thế?
          - Chúng bỏ bừa ngoài rừng... Anh còn yếu lắm anh Hải ạ.
           Hải nằm im. Những gì xảy ra, lúc này mới trở về trong trí nhớ anh một cách đầy đủ. Anh và Mừng đã gặp địch... Một chiếc trực thăng bay tới... Mừng chơ vơ trên không và khẩu súng trong tay anh bật nẩy lên... Anh ngã xuống cạnh Mừng. Tại sao thế nhỉ? Tại sao mình lại bắn nó? Thằng Mừng chết thật rồi! Nó ở đâu? Ai chôn?
          - Nên để cho anh ấy nằm yên một mình tốt hơn - Sáu Thùy đề nghị.
           Vừa lúc ấy có người vào hang báo rằng Ba Huỳnh cho gọi Lê và Sáu Thùy gấp.
           Hai người vội rời hang. Lượng ngồi lại với Hải.
          - Địch đang càn lên! - Ba Huỳnh thông báo khi Lê và Sáu Thùy bước vào một vòm hang nhỏ, khuất phía sau núi - Tôi đã bố trí lực lượng các ngả.
           Phương châm của ta: tránh địch là chủ yếu, nhưng không để địch vào cứ.
           Lê cùng Sáu Thùy xách tiểu liên đi về phía chân núi. Lúc này tiếng súng đã rộ lên. Bọn địch sau những loạt bom, bắt đầu xua quân tràn vào khu rừng. Sức chống trả của du kích và dịa hình đã buộc chúng phải chùn lại.
           Gần trưa, tiếng súng thưa hơn. Nhưng đến chiều, địch lại cho quân lên.
           Sáu Thùy nép bên gốc cây, điểm từng loạt AK.
           Rồi hai người vọt sang ngọn đồi bên cạnh.
           Đang bước, chợt Sáu Thùy loạng choạng, cô gục xuống, bíu vào một thân cây. Lê nhào tới.
          - Sao vậy, Sáu?
           Khuôn mặt cô đẫm mồ hôi, tái nhợt.
          - Bị thương à?  Lê lo lắng hỏi.
           Sáu Thùy lắc đầu.
          Lê hiểu rằng Sáu Thùy đói quá, kiệt sức nên lả. Anh vội kéo tay cô quàng lên vai mình, dìu tới bên một con suối. Đã mấy hôm nay du kích và anh em thủy thủ chỉ ăn rau tàu bay, môn dốc. Sáng nay mỗi người có thêmbát cháo. Sáu Thùy kín đáo sẻ hết phần mình sang ăng-gô của Lê. Khi phát hiện ra, Lê bực.  Anh đã to tiếng, nhưng thấy Sáu Thùy khóc, anh ân hận.
          - Lần sau cô Sáu đừng làm thế nữa! - Lê nói nhỏ, tìm cách làm lành.
          - Em ăn rau và môn quen hơn.
          Lê định nói: có chục thủy thủ, cô Sáu chỉ nhường cho tôi không tiện. Nhưng anh im lặng. Không phải anh không nhận ra tình cảm của cô đối với anh, song anh nghĩ đó chỉ là sự quý mến đơn thuần trong quan hệ bạn bè. Mấy lần anh kể với Sáu rằng anh đã có người yêu. Sáu lườm: "Nói dóc!". Cô hỏi, con gái khu Năm khô khan phải không? " Những người như Sáu Thùy sao lại khô khan!". Sáu Thùy cười và Lê nhận ra sau câu trả lời của anh, cô rất vui. Có lần Lê nghe Ba Huỳnh hỏi cô: "Thằng Lê muốn làm rể khu Năm sao Sáu? Trông mày với hắn đẹp đôi lắm. Cứ như sam... ". "Chú ủng hộ hả, chú Ba?". "Chớ sao? Tao ủng hộ cả hai tay". Từ ngày ấy, Lê biết Sáu Thùy chăm sóc đến anh hơn. Cô thường nhường phần ăn ít ỏi của mình cho anh. Và thỉnh thoảng lại gọi riêng anh ra, lúc cho con cua luộc, lúc nắm quả lạc tiên...
           Nắng đã nhạt dần. Địch bắt đầu thu quân. Khu rừng trở lại yên tĩnh.
           Nghỉ một lát, Sáu Thùy đỡ chóng mặt. Cô ngồi tựa gốc cây, nhìn xuống dòng suối.
           - Sáu Thùy đói hả? - Lê hỏi.
           - Anh cũng đói, đúng không?
           - Ăn hai suất cháo, sao đói!
           Sáu Thùy cười. Đôi mắt sáng lên. Cô nhìn Lê và trên gương mặt nhợt nhạt, thoáng một niềm vui.
           Mặt trời khuất hẳn sau núi thì hai người lần về tới chỗ ở của đội. Bát cháo nấu với rau tàu bay khiến Sáu Thùy tỉnh táo. Cô lại nói, lại cười và lại đùa nghịch.
           
           Đội công tác của Ba Huỳnh ở trong khu rừng rậm. Những ngôi nhà, hay đúng hơn, những mái lán nép rải dưới chân mấy ngọn đồi. Ít khi cánh du kích ở trong lán. Họ mắc tăng, võng ngủ ngoài rừng. Ngủ ngoài rừng mát, thoáng đãng và họ quen với cuộc sống giản đơn như thế. Mái lán chỉ để trú lúc mưa. Mấy ngày nay đội công tác và nhóm thủy thủ, theo lệnh Ba Huỳnh phải ngủ trong hang. Nghi rằng xung quanh khu vực tàu nổ, có kho tàng Việt Cộng, địch rải bom xuống. Tiếng phản lực gầm rít suốt ngày. Bom xối khắp khu rừng, vào cả khu vực đóng quân của đội...

          Cắt đặt xong việc canh gác, Ba Huỳnh đi về chỗ ởcủa mình. Ông ngồi bên ngọn đèn dầu vặn nhỏ. Địch thôi càn, nhưng không có nghĩa đã hết khó khăn... Hai du kích bị thương. Mái lán cháy. Lương thực dự trữ cạn. Việc tiếp tế bị tắc. Khẩu phần ăn của mỗi người giảm xuống dưới mức tối thiểu. Gạo trong kho chỉ đủ nấu cháo một cách dè sẻn. Ba Huỳnh rất áy náy. Đội du kích của ông sa vào cảnh thiếu thốn, đói khát không có gì đáng ngạc nhiên, có thời mấy tháng liền chỉ ăn rau tàu bay và chỉ chuối. Còn anh em thủy thủ? Sức họ yếu quá.  Người nào cũng gầy nhom, xanh rớt. Những ngày chống chọi với địch vừa qua khiến anh em sút nhanh. Nhìn những gương mặt vàng võ mỗi ngày chỉ húp hai bát  cháo nấu lõng bõng với rau tàu bay, Ba Huỳnh không cầm lòng được. Nhưng làm thế nào? Cái đói vốn là bệnh kinh niên ở vùng này. Vài ba lần Ba Huỳnh cử người lên xin tiếp tế, đều được trả lời rang mấy tháng nay bộ đội cũng chỉ ăn rau tàu bay đánh giặc. Đang thời kỳ địch làm gắt, chúng tăng cường gom dân vào ấp chiến lược và ném bom, càn nống ra căn cứ, cắt mọi đường tiếp tế dồn ta vào thế bí. Vì thế mỗi một đơn vị phải khắc phục, tự lo lấy phần lương thực. Cái đói đang là mối de dọa của toàn mặt trận. Tình trạng này không phải chỉ ngày một, ngày hai. Đói còn kéo dài. Đừng có trông chờ và ỷ lại cấp trên. Ba Huỳnh biết không còn cách nào khác là phải xoay xở. Nhưng xoay thế nào? Có nên vào Hòn Hàng, móc nối với cơ sở để đưa gạo ra? Nhận được gạo không khó, nhưng đưa ra bằng lối nào? Bọn địch thừa khôn ngoan để hiểu rằng du kích đang đói đang cần gạo. Chúng ra lệnh chắn mọi nẻo vào rừng. Chỉ phát hiện một lon gạo mang trong người, chúng bắn liền. Nhưng chẳng lẽ bó tay chịu chết? Lại còn thuốc nữa. Phải có thuốc để chữa bệnh cho mấy thủy thủ và hai du kích bị thương. Đã hơn ba ngày nay Hải nóng li bì, lúc mơ, lúc tỉnh, nói lảm nhảm suốt. Không một viên thuốc, tình trạng này kéo dài tính mạng anh ấy sẽ ra sao? Ba Huỳnh lo lắng. Trong đầu ông lúc nào cũng chỉ nghĩ đến gạo và gạo!
           Hôm sau, địch ngừng ném bom. Ba Huỳnh triệu tập Quế, Sáu Thùy và các nhóm trưởng lên chỗ mình. Họ ngồi trước cửa hang, nơi có cây phủ um tùm. Ánh nắng soi rõ khuôn mặt Ba Huỳnh. Đôi mày nhíu dính vào nhau thành một vệt đen chạy ngang trên mắt. Cái cằm vuông bạnh ra. Da sạm cháy.
          - Chúng ta đã cạn lương thực - Ba Huỳnh bắt đầu nói, không riêng gì ta đói, nhiều nơi trong vùng bị đói. Bọn địch rõ điều ấy và đang âm mưu tập trung lực lượng hòng tiêu diệt chủ lực của ta trong vài tháng tới. Trên chỉ thị, bằng mọi giá chốt giữ ở đây để tiếp tục nhận vũ  khí từ miền Bắc đưa vào. Nhưng để đứng vững, chúng ta phải sống, phải có cái ăn. Điều ấy càng trở nên cấp bách vì chúng ta có thêm chục thủy thủ. Anh em không chỉ đói mà còn ốm yếu, lại có người tính mạng đang bị đe dọa. Vì vậy, phải tự kiếm ra lương thực. Đó là điều tôi muốn bàn với các đồng chí.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 10:22:46 am
          Mọi người ngồi lặng. Những điều ấy, mỗi du kích đã ý thức được. Có điều, kiếm lương thực bằng cách nào, còn bí tắc. Không thể ngày này qua tháng khác chỉ ăn  rau để sống. Mà rau cũng sẽ đến lúc sạch trụi. Thứ lương thực, dù chỉ để cầm hơi của thiên nhiên ban cho, chẳng phải vô hạn.
         - Tôi thấy cần đưa vào cơ sở trong đồn Vạn Hải - Quế nói - anh Hiến có thể giúp.
         - Đó là một ý kiến. Anh Quế có thể cho biết cụ thể hơn không?
         - Phương hướng là vậy, còn cụ thể, tôi cũng chưa nghĩ ra .
         - Sẽ có gạo? - Sáu Thùy nói giọng tự tin - Tổ của cháu sẽ đảm nhận việc đó. Nhưng làm sao ta đưa được ra cứ không lộ?
         - Vấn đề cốt tử!
          Cuộc họp kéo dài. Mọi phương án đều được nêu ra, bàn cãi. Cuối cùng Ba Huỳnh đành kết luận rằng, trước hết, phải cử người vào Hòn Hàng nắm tình hình để có những quyết định phù hợp. Nhiệm vụ ấy giao cho cô Ngân, người có gia đình buôn bán ở chợ Thương Long và cô Mười, lâu nay vẫn sắm vai cặp bồ với trung sĩ Hiến ở đồn Vạn Hải - Một ngụy binh giác ngộ, vẫn cung cấp tình hình địch cho ta - gài người có đầy đủ giấy tờ hợp pháp, riêng cô Mười thì quá quen với đám lính trong thị trấn.
         
          Sáng hôm sau, Quế cùng một du kích đưa Ngân và Mười tới bìa rừng rồi quay lại. Hai cô mượn hon đa, cưỡi về Hòn Hàng. Việc đầu tiên, Ngân tìm cách mua thuốc Tây, còn Mười, sau khi sắm ít trái cây, lấy hon đa đi xuống đồn Vạn Hải.
         - Ủa, cô Mười hôm nay diện quá há! - Tên lính gác nhăn nhở cười, hắn đến cạnh chiếc hon đa của cô gái dựng trước cửa đồn - Trung sĩ Hiến tuổi chó mà hên, nghe...
         - Anh cho em gặp bồ, ha ! - Mttời nở nụ cười thật tươi rồi bước tới vọng gác, đưa tên lính bao Cáp-tăng và mấy trái cây - Anh xài cho vui.
           Mắt tên lính sáng lên.
         - Chà, cô Mười vẽ chuyện, quà cáp chi... Cô chờ chút xíu.
           Một lát sau, Hiến ra. Anh còn khá trẻ, chừng hai lăm tuổi, bên má hằn một vết sẹo, dấu tích của trận càn năm ngoái. Anh đưa túi trái cây vào cho tụi lính, khoe là quà của bồ, rồi trở ra, cùng Mười đi về phía bãi biển.
         - Anh em mình ở cứ hết lương thực, mấy bữa nay chỉ ăn rau - Mười nói khi ra đến trảng cát.
         - Tui biết. Sắp tới chúng càn lên núi nữa đó - Hiến nói nhỏ - Chúng bảo ba thằng Việt Cộng ăn rau, ăn cỏ, đi trên cọng đu đủ không gãy, làm sao đánh chác, sắp hết hơi rồi.
         - Có cách chi tiếp tế cho đội không, anh Hiến?
         - Chúng làm riết lắm, ai ra khỏi thị trấn cũng bị khám xét.
         - Anh ra không bị khám chớ?
         - Chúng có từ ai. Với nữa một mình, mang được bao nhiêu... - Hiến nghĩ một lát, rồi bảo- Chỉ có cách này.
         - Cách chi?
         - Nhưng phải liều, phải táo bạo.
         - Anh cứ nói!
         - Thỉnh thoảng, có một đoàn xe chở lương thực xuống Nha Trang. Anh em mình tìm cách chi mà đón được...
         - Bao giờ lại có chuyến như thế?- Mười dừng lại, hỏi nhanh.
         - Chưa biết, nhưng không dễ đâu. Lính áp tải đông lắm. Mà xe lương thực lại nhiều, thường những hơn chục chiếc, mình kham sao nổi... Lộ ra, lần sau khó làm ăn.
         - Bây chừ ri, hí! Mười về báo cáo lại chú Ba, còn anh nắm thiệt chắc hồi nào có đoàn xe, chúng đi vào giờ nào... Thế hỉ?
         - Tin cho ai?
         - Cứ báo cô Tư bán bánh xèo ở chợ như mọi bữa.
         - Được! Cô Mười nè, còn cái nguyện vọng xin ra cứ của tui .
         - Chú Ba biểu anh cứ ở lại đồn có lợi cho du kích hơn. Nhiệm vụ nào cũng là cách mạng...
         - Chà, biết, nhung cứ bận bộ đồ này tới thị trấn, bà con nhìn vô khinh bỉ, tôi ớn thấy mồ. Cô về báo với chú Ba cho tui ra núi đi.
         - Bộ anh muốn đội du kích mù tịt về tình hình địch sao?
         - Khó quá ha...
          Hai người sánh vai đi về phía đồn. Cô Mười cầm tay Hiến, nói cười tíu tít.
          Hiến vào, Mười còn nán lại ăn chuyện với tên lính gác một lúc lâu. Rồi cô lên xe.
         - Bai nghe, cô Mười. Thỉnh thoảng nhớ ghé thăm tụi tui
         - Dạ! Bai! Bai!
          Mười đưa tay vẫy và cho xe rú ga.

          Ngân chờ Mười trong quán giải khát cạnh chợ. Cùng ngồi với cô, có hai tên lính. Chúng đang bám Ngân tán tỉnh. Thấy Mười buộc vào, ngồi xuống bàn, gật đầu chào, mắt hai tên lính rực lên.
         - Bạn em đó! - Ngân giới thiệu, rồi cô kêu - Cho li cà phê nữa nghe.
         - Trời ơi, sao kỳ lạ vậy? Bọn anh cũng hai đứa, tụi mình cặp bồ ngon ha, đang lo lẻ chớ...- Một tên lính bảo và đón cốc cà phê từ bà chủ quán, đặt trước mặt Mười - Mời người đẹp!
          Ngân đưa mắt liếc tên lính:
         - Cặp bồ, thiệt chớ? Mấy ảnh thiếu chi bồ.
         - Tụi anh cô đơn mà...
         - Dóc.
         - Đừng nói vậy, tội nghiệp.
         - Vậy tụi mình đi chơi nghe.
         - Đi đâu cô hai? Được đi với hai em cùng trời, tụi này có chết cũng không ngán lận.
         - Hai anh đưa tụi em ra ngoài thị trấn hưởng chút không khí trong lành...
         - Ra ngoài thị trấn! Tuyệt! Các em là tay chơi sành đó! Tiếc quá !
         - Răng?
         - Tụi này sắp phải về - Một tên bảo - Ngày mai được không?
         - Vậy chớ hai anh không chiều tụi em được sao? Vậy mà bảo cùng trời cũng đi. Chỉ cà trớn...
         - Lính mà, em!
         - Cặp bồ với mấy ông lính ớn thiệt - Ngân ngúng nguẩy, cô ngồi xoay lại, nhìn ra ngoài - Lúc nào cũng bận, cũng bận. Thôi dẹp, dẹp...
         - Tụi anh bận mà, sắp tới giờ gác rồi.
         - Mấy giờ có mặt?
         - Nửa tiếng nữa.
         - Nửa tiếng nữa, bọn anh dư sức tiễn bọn em một quãng. Hãy xứng đáng làm đàn ông một lần thử coi.
         - Đi với hai em một quãng thì được. Nào, mời hai em ra xe. Tụi anh hứa ngày mai đưa hai em đi thiệt xa... vô rừng nghe...
          Bốn người ra khỏi quán. Hai chiếc hon đa nổ máy, vòng qua chợ, ra đường cái. Hai cô gái ngồi phía sau, ôm eo hai tên lính ra chiều âu yếm.
          Đi tới chiếc ba-ri-e ở rìa thị trấn, tên lái chiếc hon đa nam đưa tay lên búng đánh tách một tiếng, lập tức cái cọc chắn sơn loang lổ nhấc lên. Hai chiếc xe vút qua.
         - Chia tay ở đây được chưa? - Tên lái hon đa nam quay lại nói với Ngân khi đã đi khỏi thị trấn chừng ba cây số.
         - Hẹn ngày mai nghe - Ngân la lớn Đi chơi chỉ hai đứa con gái, buồn muốn chết luôn.
           Tên lính cười ồ ồ rồi phanh xe dừng lại. Chiếc hon đa nam vòng về phía thị trấn. Chiếc hon đa nữ mở tốc độ, chạy miết.
         - Kiếm được thuốc chớ, Ngân? - Mười hỏi.
         - Rồi! Lại có mấy lon nếp để nấu cháo cho anh Hải nữa đó.
         - Mày giỏi thiệt. Gặp tụi này hồi nào?
         - Ở chợ. Biết hai cha bám, tao nghĩ: bọn này được việc đây. Bèn quay lại, nhoẻn cười. Hai cha lập tức gạ vô quán
         - Nhanh trí đó. Để tụi lính gác khám thấy gạo, thấy thuốc trong người nguy chớ.
          Tới chỗ ngoặt vào rừng, chiếc xe giảm tốc độ. Và khi biết trên đường không có người qua lại, Ngân cho xe quẹo vào, mở hết ga, chiếc xe vọt biến mất.
          Quế đón họ ngay cạnh bìa rừng.
         
          Sau khi nghe Mười báo cáo lại tình hình, Ba Huỳnh họp các nhóm trưởng để bàn bạc. Ông quyết định chiếm một phần lương thực trên đoàn xe mà Hiến sẽ báo cho biết. Ba Huỳnh nêu phương án. Lực mình ít, chỉ chặn chiếc xe sau cùng.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 10:39:15 am

          - Nhưng làm sao để chiếc xe đi trước không phát hiện ra là ta đã chọn chiếc xe cuối, chú Ba? - Có tiếng hỏi.
         - Đó! Các đồng chí bàn coi cách chi không?
         - Tui có ý kiến! - Quế lên tiếng - Ta phục ở chỗ đèo Mông Máng, nơi có đường cua vòng vèo, lại bị núi chắn, xe trước khó lòng nhìn thấy xe sau.
         - Rồi răng? - Người ngồi bên cạnh hỏi.
         - Còn răng nữa! Ném lương thực xuống, giấu tạm đâu đó đêm mình ra lấy.
         - Còn chiếc xe?
         - Anh không biết đẩy nó xuống vực à?
         - Hay!
         - Ai có ý kiến chi nữa hè? - Ba Huỳnh gặng.
Mọi người im lặng. Có lẽ đó là cách hợp lý nhất.
         - Rồi đó! - Ba Huỳnh nói - Có điều ri, tôi bổ sung thêm: chúng ta không đẩy chiếc xe xuống vực ở nơi nó dừng lại. Sau khi đã lấy xong lương thực, chiếc xe vẫn phải tiếp tục chạy theo đoàn xe. Các đồng chí rõ ý tôi chớ?
         - Rõ, rõ ! - Quế trả lời.
         - Anh Quế vẫn chưa quên nghề lái xe?
         - Chú Ba cứ an tâm...
         
          Một tuần sau, được cơ sở ở thị trấn báo cho biết chi tiết Ba Huỳnh lập tức triển khai công việc.

          Vào một buổi sáng, khi sương mù còn chưa tan trên đỉnh đèo Mông Máng, một đoàn xe quân sự, có lính ngồi trên thùng, nối nhau từ phía bắc, hướng theo quốc lộ Một, xuôi xuống phía nam.
          Chiếc xe thứ nhất rù rì bò lên dốc rồi thận trọng lượn sát chân núi, xuống dốc. Chiếc xe thứ hai tiếp phía sau. Rồi chiếc thứ ba... Tất cả hành động đó đều không lọt qua mắt anh em du kích.
          - Cảnh giới hai đầu tốt chớ, Quế? - Ba Huỳnh hỏi khẽ.
          - Tổ của Sáu Thùy đảm nhận việc đó.
          Chiếc xe cuối cùng vừa chạm đỉnh dốc thì phanh lại: Một tiểu đội quân cánh chặn ngay phía trước.
          - Chở chi? Đi mô? Cho coi giấy tờ? - Ba Huỳnh bước tới trước mũi xe hách dịch.
           Tên sĩ quan từ trên ca-bin nhảy xuống, chưa kịp trình bày thì Ba Huỳnh hất hàm ra hiệu:
          - Khám xe?
          Tiểu đội quân cảnh trèo nhanh lên thùng. Và rất nhanh, những tên lính áp tải bị những khẩu AR.15 gí vào ngực.
          - Bỏ súng! Xuống hết! - Một người ra lệnh.
           Tên sĩ quan không khỏi ngạc nhiên khi thấy Ba Huỳnh rê khẩu "côn" vào mình.
          - Trói tất cả lại - Ba Huỳnh lệnh.
           Mọi người hối hả vần những bao gạo xuống đường. Anh em du kích từ các bụi rậm chạy ra, nhanh chóng vác đi. Gạo được giấu vào những hốc núi cạnh đấy.
          Dưới hai chân dốc, xe đi trên đường đều bị "quân cảnh" ách lại để khám xét và kiểm tra giấy tờ.
          Việc xem xét, chất vấn làm một cách chậm chạp. Còn việc bốc gạo ở xe làm tiến hành hết sức nhanh.
          Khi trên xe hết hàng, Quế và một "quân cảnh" nhảy vào ca-bin và mở hết tốc độ, đuổi bám đoàn xe trước mặt. Nửa tiếng sau, đến vị trí mà Quế nghĩ là thuận lợi, anh đưa ôtô sát một bờ dốc, rồi hai người nhảy xuống ca-bin. Họ ghé vai phía sau, ẩy mạnh. Chiếc ôtô lỡ chớn, lao sầm xuống vực.
         "Bây giờ chúng mày có thể quay lại đây mà tìm đồng bọn". Quế và người du kích lẩn nhanh vào rừng.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 10:48:26 am

30


          Mấy hôm nay Hải tỉnh táo. Tuy vậy anh vẫn yêu cầu Lê hoặc Lượng phải thường xuyên có mặt bên cạnh. Hình như anh bị ám ảnh về một điều gì đó, giống như người bị bệnh tâm thần, luôn luôn cảm thấy có mối đe dọa vô hình.
          Một buổi chiều, Hải vẫy hai người lại, kể cho nghe về cái chết của Mừng. Kể xong, Hải quát:
          - Có phải thằng Hải đã bắn thằng Mừng không? Rồi anh nắm chặt tay Lê, nhìn trừng trừng, rít lên:
          - Nói đi! Phải thế không? - Đôi mắt anh dại đờ vẻ hoảng sợ. Anh lại vật vã trên giường.
          - Không! Không phải tôi bắn nó. Không phải! Thằng Mừng bảo sau chuyến này nó sẽ cưới vợ. Mẹ thằng Mừng không phải sống một mình nữa. Tôi là chủ hôn, tôi đã hứa... Không! Không phải tao bắn mày, Mừng ơi!
          Trán Hải lấm tấm mồ hôi. Anh thở một cách mệt nhọc. Hải không đủ sức giãy nữa, đành nằm im. Đôi môi khô nẻ vẫn mấp máy gọi tên Mừng.Sự chăm sóc của mọi người cộng với thuốc men và một chế độ ăn uống được ưu tiên khiến sức khỏe Hải hồi phục mau hơn trong mấy tuần qua. Thần kinh đã phần nào lấy lại được trạng thái thăng bằng. Hải không ú ở gọi tên Mừng trong mơ và thỉnh thoảng không hét lên kể lể về kỷ niệm của hai người nữa. Anh bắt đầu đi lại và đã thích chuyện trò với mọi người. Tuy vậy, khi ý thức ra được tất cả, anh không khỏi ngạc nhiên rằng mình còn sống. Anh cứ ngỡ đã chết khô trên ngọn đồi. Và hình ảnh Mừng tuột tay khỏi thang dây máy bay thỉnh thoảng còn ám ảnh anh. Những lúc ấy anh lại lẩm nhẩm nói một mình:
          - Mày ngu quá Mừng ạ, mày tin chúng nó à? Mày ngu quá !
           Hải bảo với Lê:
          - Mà tôi cũng ngu, thuyền trưởng ạ. Thằng Mừng còn một mẹ già. Nó khoe có cô người yêu xinh lắm... Sau chuyến đi này thuyền trưởng định cho nó về phép hả?
           Lê thần người. Biết nói gì và an ủi Hải thế nào ngoài mấy lời khuyên giữ gìn sức khỏe, cố hồi phục lại, bởi trước mắt còn những thử thách, những gian khổ của chặng đường vượt Trường Sơn trở về miền Bắc, lĩnh một con tàu mới, tiếp tục nhiệm vụ.
           Hải cũng hiểu như thế. Và điều ấy khiến anh khỏe lại khá nhanh. Anh không muốn đồng đội dành cho mình sự ưu đãi nữa. Anh bắt đầu tham gia công việc như mọi người.

*


           Du kích ngồi trên bãi cỏ, dưới những tán cây to, mé chân đồi. Lá cây vươn ra che kín bóng nắng. Khu rừng yên tĩnh. Sáng sớm nên không khí trong lành, thoáng đãng. Mọi người đang vui. Thắng lợi trong việc đánh chiếm chiếc xe lương thực tuần trước vượt ngoài dự kiến. Tuần qua không bị cái đói hành hạ nữa. Bao gạo cuối cùng, qua nhiều trạm chuyển tiếp, qua nhiều đêm vất vả đã được đưa về tinh mơ hôm nay. Lúc này mọi người ngồi nghỉ trong căn cứ.
         - Chu cha, vác được bao gạo về tới đây, tưởng gãy xương sống luôn chớ, mấy cha! Cái lưng mỏi muốn chết. Hai đầu gối tưởng rời ra.
          Một người nói, anh ta khoảng bốn mươi, da mặt xanh xao. Rồi anh vặn lưng, kêu răng rắc.
         - Có những việc đau lưng, mỏi gối vẫn cứ ham đó, anh Thiềng.
         - Hứ! Lão Quế này - Một phụ nữ đã có tuổi, lườm mắt về phía đội phó - Cũng biết nể chị em ngồi đây chớ.
         - Chuyện thiệt mà chị Tư, bộ tôi nói sai sao? - Quế nhe răng cười hì hì, khuôn mặt nhăn nhở.
         - Đàn ông đội mình chỉ hay nói bậy. Đệ nhất là lão Quế.
         - Trời ơi, chuyện văn minh mà kêu nói bậy có cực không chớ. Bậy mà đố ai không qua ha - Quế cười, đám đàn ông cười theo.
         - Phải nói tụi mình giỏi thiệt, đường rừng tối om om vẫn đưa được gạo về - Người đàn bà tên Tư nói tránh sang chuyện khác.
         - Có những việc tối om om, vẫn lần ra đó, phải vậy không chị Tư? Quế lại nhe răng ra, trêu già.
          Người đàn bà đỏ mặt. "Với lão này...đã vậy cho lão biết" chị Tư nghĩ và nói sấn sổ:
         - Nè, anh mà nói bậy rứa, khi mô chết, tôi cứ nhằm mộ anh tôi ...tôi đái lên đó .
          Đám con gái quay mặt, không dám nhìn đám con trai nữa.
         - Trời ơi, lúc ấy tui ngu chi lại không biết mở mắt ra mà nhìn hè ?
          Mấy cô gái xô vào nhau, hứ, hẩm; còn cánh đàn ông thì cười ngặt nghẽo, ra chiều khoái chí...
          Ba Huỳnh cũng cười. Ông kể:
          - Trong đời, có những lúc người ta ngu thiệt. Cái đận sau năm tư, mình kẹt, không ra tập kết được, lại tiếp tục hoạt động. Trên bố trí đi bắt liên lạc với cơ sở. Để che mắt địch, mình vờ làm người bán võng, đi rao khắp cả làng. Có người ra mua, hỏi rằng võng mấy tay. Lúc đó mới ớ ra, nào có buôn bán bao giờ mà biết nó mấy tay, mấy chân...
          - Đời người phải có giai đoạn ở truồng chớ, chú Ba...
           Quế bị đám phụ nữ la ó, nhưng vẫn nhơn nhơn:
          - Không đúng răng, chớ hồi con nít, mấy bà bận cái chi? Tui biết thừa bụng dạ các bà. Miệng hứ hé, bụng lại thích người ta nói ...
           Người đàn bà có tên là Tư liền vớ một thanh củi, đi về phía Quế. Quế hoảng, bỏ chạy. Hai người đuổi nhau xuống tới sát chân đồi.
           Mọi người ôm bụng, cười lăn.
         
           Ở bên trái bãi cỏ, Lê và Sáu Thùy ngồi sát nhau.
          Cô gái đang kể cho Lê nghe về cuộc đời mình, về vùng Hòn Hàng, về những cơn động biển.
          - Anh biết người đi biển họ nói về gió răng không? - Sáu Thùy hỏi, mắt liếc sang Lê.
          - Họ nói thế nào?
           Quê em có câu:

Tháng giêng động dài
Tháng hai động tố
Tháng ba nồm rộ
Tháng tư nam non

          Tháng ba đi biển là khỏe, biển lặng như tờ. "Tháng ba bà già đi chợ" mà .
          - Tháng hai động tố là sao?
          - Là gió cũng to, nhưng không dài, vài ngày rồi thôi.
          - Vậy mà gọi là "tố"?
          - Chớ ông bà kêu rứa, cự chi - Sáu Thùy lườm.
          - Lại giận rồi...
          - Ghét anh Lê lắm. Nè, mình xuống suối bắt cua nghe.
          - Sáu Thùy dạy tôi nhé.
           Hai người ào xuống chân núi, rồi lần ra sau ngọn đồi. Con suối nép mình dưới những thân cây to, lượn bên rìa núi. Nước trong vắt. Những hòn đá cuội dưới lòng, trắng như thạch cao, lóng lánh.
           Sáu Thùy xắn quấn cao quá gối. Đôi bắp chân trắng mịn lấp loá giữa dòng nước.
          - Anh Lê đi lẹ nghe - cô nhắc - Cua nằm dưới những tảng đá ven bờ đó.
            Lê bám phía sau Sáu Thùy. Hai người đi ngược lên mãi vào sâu trong lòng núi. Thỉnh thoảng, Sáu Thùy quay nhìn Lê. Đôi má hồng hào và hai con mắt đen như than. "Vậy mà bảo con gái khu Năm không đẹp!". Lê thoáng bối rối.
          - Anh Lê, em cho anh con cua này - Sáu Thùy đứng chờ. Trên tay cầm con cua màu nâu nhạt.
Lê chạy tới:
          - Sáu giỏi quá. Cẩn thận nó cắp đấy.
          - Đừng để chú Ba biết nghe.
          - Sao?
          - Biết, chú rầy. Chú cấm ăn những con cua có trứng. Cấm ăn môn đốc cả củ. Chú bảo ăn vậy, lấy đâu nó sinh sản ra mà ăn nữa. Đói đừng kêu.
          - Vậy Sáu thả ra.
          - Nhưng em muốn luộc cho anh. Ưng không?
           Sáu Thùy nhìn Lê, và anh đọc được trong đôi mắt ấy cái tình cảm đang bừng lên.
          - Em bỏ vào hốc đá, chốc nữa quay về lấy - Rồi ù chạy. - Đố anh Lê bắt được em.
           Lê đuổi theo. Nước suối trắng phau té lên hai người. Lê không quen, anh chạy trật trưỡng. Sáu Thùy vừa chạy vừa cười lanh lánh.
           Họ chạy mãi, chạy mãi.
           Đến một bờ dá, Sáu Thùy dừng lại. Chờ Lê tới gần, cô vục nước, hắt vào người.
          - Ơ kìa, Sáu Thùy, ướt hết quần áo rồi - Lê kêu.
          Sáu Thùy đứng cười.
          - Thì chờ khô, ta về...
          - Chà, cô Sáu nghịch quá.
          - Để rồi em đền...
           Sáu Thùy ngồi xuống tảng đá bên bờ suối, hất mái tóc ra sau, đôi mắt mơ màng nhìn lên tán lá thở hổn hển.
         - Anh Lê, tới đây!
          Lê e dè ngồi xuống cạnh, đôi bàn chân vẫn ngâm dưới suối.
          Xung quanh vắng lặng. Dưới chân hai người, nước chảy lơ thơ, gió lao xao trên ngọn cây và trước mặt họ, nắng vàng hoe.
          Sáu Thùy ngồi sát bên Lê, vuốt vuốt nước trên người anh.
          - Anh Lê nói giỡn em, anh làm chi đã có người yêu. Ôi có con rịn cắn sau lưng em nè. Bắt giùm đi - Sáu Thùy đưa cặp mắt long lanh nhìn anh, chờ đợi.
          - Ta về thôi, Sáu! - Tiếng Lê rất thoảng.
          - Còn sớm mà. Anh không thích ngồi vậy sao?
          - À, nghe nói chú Ba có một người con tập kết ra Bắc cũng làm lính hải quân hả cô Sáu? - Lê hỏi và cặp mắt anh nhìn tận đẩu đâu.
         - Hỏi chi chuyện đó. Chuyện đáng hỏi thì không hỏi. Chán anh lắm. Nè... - cô cầm lấy bàn tay Lê, nắm chặt - Nè ... mai địch càn, em chết, em thù đó.
         - Chúng mình về nhé, Sáu Thùy! Ở đây lâu, anh em ngỡ lạc, lại cử người đi tìm.
         - Bộ anh tưởng họ cho mình là con nít sao? Anh muốn thì về một mình... Quần áo ướt vậy mà về? Người đâu khô như gỗ đá vậy?
          Lê rụt nhẹ bàn tay ra khỏi bàn tay Thùy, chân vẫn thả dưới suối . Rồi anh khoả thật mạnh để nước bắn toé lên.
          Sáu Thùy lại giật bàn tay Lê và ghé sát vào mặt anh:
         - Chi mà anh kỳ cục vậy?
          Lê nhấc mình khỏi tảng đá.
         - Nào, ta về!
         - Anh ác lắm!
          Sáu Thùy nhảy ùm xuống nước, không nhìn Lê, loạng choạng chạy ngược lên.
         - Sáu Thùy! Sáu Thùy!
          Lê hớt hải đuổi theo
          Và cuối cùng anh đuổi kịp. Anh kéo cô lên một bãi cỏ và ấn ngồi xuống. Hai người cùng thở gấp.
         - Sáu Thùy giận à? - Lê khẽ lay vai cô gái.
          Cô gái úp mặt xuống đầu gối, hai tay ôm chặt lấy mái tóc sổ bung. Giọng cô run run thổn thức:
         - Anh... Anh làm khổ em.
          Lê choáng váng, nhắc tay khỏi vai cô, người lặng đi. Không hiểu sao anh chợt nghĩ đến Thúy. Ở một nơi nào đó rất xa, Thúy của anh kia. Mùi lá sả. Mùi hương nhu...Hơi ấm. Và bao kỷ niệm của những ngày tháng yêu nhau... Lê nhìn Sáu Thùy cố nén không để bật ra tiếng thở dài.
          Chờ cô gái dịu cơn xúc động, Lê nói như dỗ dành:
         - Ta về, Sáu Thùy. Anh em đang chờ đấy?
          Sáu Thùy ngước cặp mắt đẫm nước nhìn Lê. Rồi cô vùng dậy. Như một người trong cơn mê, cô chệnh choạng bước thấp, bước cao đi ra khỏi khu rừng. Đôi mắt mở to nhìn về phía trước. Những tán lá như xoay tròn trong mắt. Lê lẳng lặng bước theo sau.

           Cả ngày hôm ấy Lê nhở Thúy đến tức thở, đến ngẩn ngơ. Nhớ đến rụng rời. Như một nhu cầu thôi thúc không thể đừng, buổi chiều, anh mắc võng vào nơi kín đáo và ngồi viết thư. Anh viết kín đặc mấy trang sổ tay. Rồi ngả lưng xuống võng, ngủ thiếp.
           Còn Sáu Thùy, khi tỉnh lại và ý thức được sự bồng bột của mình, cô thấy cần gặp Lê. Gặp làm gì, cô không rõ nữa. Cô chỉ biết một điều rõ ràng và cụ thể: cô yêu anh. Và cần phải nói ra điều đó. Sáu Thùy đi khắp khu đóng quân, cuối cùng, cô rón rén lại bên chiếc võng. Cuốn sổ tay đặt cạnh Lê. Cô nhấc khẽ lên, ngồi xuống, tò mò lần dọc từng dòng:
          " Anh viết cho em những dòng này trong khu du kích ở miền Nam. Điều đó chắc em không tưởng tượng nổi.
           Bọn anh đành phải huỷ tàu và lên bờ. Tình hình bắt buộc như vậy. Khi cài kíp vào khối bộc phá, anh nghĩ nhiều đến em, đến những người công nhân đã thi gan với bom đạn để làm ra con tàu.
          ... Trong những ngày này anh nhớ em đến nôn nao. Những kỷ niệm đã qua, không sao quên được. Hình ảnh em, tình yêu của em cổ vũ anh. Anh khát khao được sống bên em. Không rõ sao anh cứ nghĩ rằng khi chiến tranh kết thúc và nhất định thế, hai đứa chúng mình sẽ có một căn phòng nho nhỏ trong thành phố. Sáng sáng, anh đưa em đến nhà máy; chiều chiều, hai đứa dăng dẩy lai nhau về. Dù anh chỉ là một công nhân, em là kỹ sư thì có sao? Điều đó không đáng băn khoăn, hạnh phúc không bắt đầu từ sự tương xứng đơn thuần về hình thức. Điều cần nhất là chúng mình yêu nhau và biết là không thể vắng thiếu nhau trong cuộc đời mỗi đứa. Tối tối chúng mình sẽ học thêm, đọc sách và cũng có những buổi đi xem, đi chơi nhà bạn bè. Và ... chúng mình sẽ có con. Ôi, cái mơ ước giản dị ấy, để có được, đang phải chịu nhiều mất mát, hy sinh.
          ... Xa em đã bốn tháng năm ngày. Chúng mình còn phải xa nhau. Nhiều lúc anh nhớ em đến ngẩn ngơ. Anh nhớ, nhưng anh không buồn vì anh biết em luôn nghĩ đến anh ..."


           Sáu Thùy gấp cuốn sổ, để vào chỗ cũ. Cô thần người, ngồi nhìn ra xa. Hai giọt nước mắt lăn trên gò má. Có cái gì như thể vừa xấu hổ, vừa buồn, vừa ân hận dấy lên. Cô đứng dậy, chạy ào xuống đồi.

           Sáng hôm sau, khi đi xách nước, Sáu Thùy gặp Lê bên bờ suối. Cô luống cuống, muốn tránh, nhưng Lê bước tới gần:
          - Sáu Thùy, để tôi xách dỡ - Anh bảo.
          - !!!
          - Sáu Thùy ốm đấy à?
           Cô gái quay lại. Hai ngón chân di di trên cỏ:
          - Anh Lê ! Anh có giận em không?
          - Sao lại giận?
          - Con gái khu Nărn vụng về, anh đừng chấp.
          - Con gái khu Năm tốt, thắng thắn, trong sáng, mạnh bạo và yêu rất nồng nhiệt. Đó đều là những đức tính đáng quý!
          - Thiệt?
          - Thật! Bao giờ hết chiến tranh, tôi sẽ đưa Thúy vào thăm Sáu Thùy, được không?
          - Nói dóc - Sáu Thùy hơi ngước lên.
          - Nói thật mà. Cô Sáu không tin à ?
            Hai người bước xuống suối. Nước suối buổi sớm trong, có thể nhìn rõ từng viên sỏi dưới đáy.
          - Yêu không xấu chớ, anh Lê? - Sáu Thùy hỏi.
          - Tình yêu làm cho người ta đẹp lên!
           Sáu Thùy khẽ thở dài. Cô vục chiếc thùng xuống suối. Mặt nước sóng sánh tạo những vòng tròn, lan toả.
Sáu Thùy bập bõm xách thùng nước lên dốc.
          - Mày yêu thuyền trưởng Lê hả, Sáu? Ba Huỳnh vui vẻ hỏi khi Sáu Thùy bước vào lán.
          - Người ta đâu có yêu cháu.
          - Ủa, sao vậy?
          - Anh Lê đã có chị ấy.
          - Mày biết?
          - Ảnh kể. Người ta là công nhân kỹ thuật, mình chỉ là du kích, chỉ biết ngoéo cò, ăn nhằm chi.
          - Tao thấy thuyền trưởng Lê cũng quý mày.
          - Quý! Ai chú cũng bảo quý. Quý đến lúc cháu ở già luôn đó.
          - Con ni, bi quan ha. Khi mô thằng Xuyên về, mày ưng làm con dâu tao không?
          - Ảnh ra Bắc, được ăn học, thiếu gì người mê, cần chi thứ cháu.
          - Ba láp, mày. Tao cứ nhận mày làm con dâu đó Sáu, ưng chưa?
           Sáu Thùy cười. Khuôn mặt đượm một nét buồn.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 31 Tháng Bảy, 2009, 10:49:47 am

31


           Linh cảm rằng Lê đã hy sinh, đầu tiên như một ý nghĩ thoáng qua trong Thúy. Dần dần in đậm, ám ảnh và cô tin điều ấy có thật. Những gì xảy ra có thể diềm định mệnh đưa tới báo trước  mọi lẽ chăng? Năm tháng qua, Thúy không nhận được tin tức của anh. Năm tháng, cô viết năm lá thư. Năm lá thư đi, mong mãi, vẫn không hồi âm. Có bao điều cần thông báo và bàn bạc. Vậy mà... Thúy rõ Lê, chưa bao giờ anh vô tâm đến thế; và nhất là sau cái đêm chia tay đầu mùa hè ấy. Thúy tin anh sẽ nhớ cô, yêu cô hơn. Anh sẽ nóng lòng, cứ suy từ Thúy ra thì rõ. Cô đã yêu anh biết chừng nào khi nghĩ rằng mình đã hòa vào trong anh. Thúy cũng viện ra đủ lý lẽ để bào chữa cho sự bặt tin. Rằng anh đi công tác xa! Rằng vì một nguyên cớ nào đó bắt buộc anh im lặng! Nhưng hình như càng cố tình đánh lừa mình,Thúy càng thấy tủi thân, đau buồn và sợ hãi. "Tại sao  anh cứ bỏ em mà đi, anh Lê? Chúng mình sắp có con đấy. Nó đạp khỏe lắm. Em tin là con trai và nhất địnhsẽ giống anh. Phải chăng có sự xui khiến của định mệnh,của số phận, nên trước lúc xa em mãi mãi, anh đã để lại  cho em kỷ vật vô cùng thiêng liêng này: Con của chúng ta. Không rõ sao em tin thế. Và đó là điều an ủi em, để em sống, để em vượt qua tất cả và để em làm được nhiều việc trong những ngày gian khổ, ác liệt này...".
          - Không nên mát hết hy vọng! Khi quá lo lắng, người ta thường nghĩ đến khả năng xấu nhất. Với Lê, không như Thúy nghĩ đâu. Rồi Lê sẽ trở về !
           Mỗi lần tới thăm Thúy, Lâm Khanh động viên cô như thế. Dịp này anh đến thường xuyên. Bất chấp dư luận, anh vẫn chăm sóc Thúy và không từ một điều gì để có thể giúp đỡ. Nhìn gương mặt xanh xao và dáng đi nặng nề, mệt nhọc của Thúy, anh ái ngại. An muốn làkhuyên cô một điều gì đó, nhưng cụ thể là gì, anh cũng không nghĩ ra. Anh lặng lẽ làm những việc mà cho rằng như thế có thể đỡ đần Thúy phần nào.
          Có hôm tới phòng làm việc, khi lôi bản thiết kế ra, Thúy ngạc nhiên thấy mọi tính toán đã hoàn tất. Ngước lên, bắt gặp đôi mắt thâm quầng của Lâm Khanh, Thúy hiểu tất cả: hôm qua anh đã thức để làm hộ cô. Thúy vừa cảm động, vừa buồn khổ. Thúy rõ tấm lòng cửa Lâm Khanh, anh không muốn Thúy mang tiếng là vì lẽ này,  lẽ khác, được giảm nhẹ công việc nhường lại muốn Thúy đỡ căng đầu vì những con số, đỡ phải làm việc nhiều.
           Đến lần thứ hai thì Thúy ngại:
          - Anh Khanh ạ, em vần đủ sức làm tròn phần việc của mình. Tới lúc nào cần em sẽ báo cáo xin giảm bớt khối lượng. Đừng giúp em như thế nữa, em áy náy lắm. Anh cũng cần giữ sức khỏe. Công việc còn dài...
           Lâm Khanh ngồi im. Rồi anh chống chế không được tự nhiên:
          - Buổi tối buồn anh mang ra làm cho khuây khoả.
          - Nhưng như vậy là anh tập cho em thói quen ỷ lại. Em vẫn cảm thấy mình có thể làm thêm được nữa. Thật thế, cũng không rõ tại sao.
          - Có gì khó hiểu khi người ta... yêu.
          - Vâng. Có lẽ thế. Anh Lê đi đã hơn năm tháng rồi và cho tới những ngày này thì em tin anh ấy đã hy sinh.
          - Anh nghĩa là Lê không chết.
          - Anh chẳng rõ dược linh cảm của tình yêu đâu? Em nằm mơ và giấc mơ đã mách bảo mọi điều.

           Khanh nhìn gương mặt thẫn thờ, đượm buồn của Thúy, thấy thương. Anh vẫn thầm ước, giá như có cách gì đó làm cho Thúy vui lên. Giá như anh làm được cái việc có thể giúp Thúy biết đích xác tin tức về Lê? Từ mấy tháng nay, nỗi buồn của Thúy ngấm dần sang anh. Khanh thấy trống trơ một điều gì đó: một nỗi buồn bâng quơ vô duyên cớ. Anh luôn tự nhắc: giữ sao để trong quan hệ với Thúy, chỉ là sự quý mến của tình bạn. Nhưng anh biết, khi đã buộc phải tụng niệm như vậy, có nghĩa là tình yêu của anh đối với Thúy chưa mất. Anh vẫn còn yêu Thúy lắm. Thực tình, đã có lúc anh hoang mang nhận ra rằng, ở một góc nào đó tận đáy lòng anh thầm nuôi một ý nghĩ, dù le lói, mong sao Lê đừng về. Nhưng điều ấy lập tức khiến anh sợ hãi.
          "Không, như vậy thì qủa ta là kẻ bất nhân và hèn hạ. Ta vẫn mong cho Lê trở về, đó là điều có thật!" - Anh hoảng hốt tự mắng như thế. Rồi anh lại tâm niệm: "Lê sẽ về với Thúy! Lê sẽ về với Thúy!", lấy đó làm vũ khí  để chống lại những tình cảm của mình. Những lúc Khanh an ủi Thúy rằng Lê không chết, cũng chính là lúc anh  muốn nói với mình. Anh đang cần có thêm sức mạnh để cưỡng lại chính anh. Khanh đau khổ chẳng kém gì Thúy.
          - Dù sao - Khanh nói - anh nghĩ giúp đỡ em, chẳng có lỗi. Dịp này em cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn.
          - Em lại muốn rằng anh và mọi người đừng nghĩ sai  về em. Em gắng làm việc như chuộc lại một điều gì.
          - Không phải thế. Làm việc là nhu cầu tự thân. Anh cũng rõ công việc là niềm vui và sự say mê của em. Nếu bị tước đi điều ấy em sẽ buồn biết chừng nào.
          - Tức là anh đã tước đi một phần mềm vui của em?
          - Ý em không hẳn thế. Em còn làm được... Anh nên hiểu em.
           Họ ngừng câu chuyện ở đó, và vẫn như mọi ngày, Khanh đứng bên một góc tường, bâng khuâng nhìn bóng Thúy đi ra cổng.
         
          Đã thành thói quen, về tới nhà là Thúy ngồi xuống bàn và nói chuyện với Lê trong tấm ảnh. Mèo mướp ngỡ cô chủ nói với nó, nên nhảy lên, ngồi khoanh tròn trên đùi, ngước mắt nghe.
          Thúy mắng:
          - Nghe lỏm chuyện hả? Dơ!
          Con vật không hiểu, dụi dụi đầu vào bụng Thúy. Cô thấy vui vui.
          - Em bé đấy! Rõ chưa? - Thúy âu yếm - Sau này không được bắt nạt em bé nhé. Không được cào em bé. Phải chơi với em bé ...
          Mèo không trả lời, đưa cái lưỡi dài, mỏng ra liếm mép.
          Đêm ấy, Thúy mơ thấy một viên đạn rất to xuyên vào ngực Lê . Anh gọi tên em rồi ngã xuống. Thúy ôm anh, vật vã khóc. Tỉnh lại, Thúy bàng hoàng, sờ lên má, thấy đẫm nước mắt. Thúy không ngủ lại nữa, cô dậy nấu cơm và chuẩn bị đi làm.

          Lâu nay Thúy đi làm sớm. Cô biết mình cần nhiều thời gian hơn trước để đến nhà máy. Cô không thể bước nhanh và vội vã được nữa. Mấy lần Lâm Khanh có ý sáng sáng tới nhà đón cô đi và chiều chiều đưa cô về, nhưng Thúy không nghe. Cô không sợ dư luận. Thời  gian qua, cả nhà máy đều rõ tình cảm trong sáng của anh. Cô không muốn lạm dụng lòng tốt nơi anh. Cứ mỗi  tuần đều đặn ba lần anh tới xách nước, đã khiến Thúy ngại rồi. Với nữa, suốt ngày ngồi bên bàn thì sự vận  động bằng cách đi bộ là cần thiết. Chị Huệ cũng khuyên Thúy nên như thế: " năng đi lại, đến ngày đến tháng, dễ dàng hơn em ạ".
          Thúy bước thong thả , vừa đi vừa nghĩ lan man.
          Tới cổng nhà máy, Thúy gặp vợ chồng chị Huệ đứng đó như có ý định chờ.
          - Ồ, hôm nay sao có sự lạ thế này, anh Cựu lại đưa chị Huệ đi làm? - Thúy vui vẻ bắt chuyện.
          - À, ông trưởng bến phà muốn gặp em - Chị Huệ đùa.
          - Gặp em?
          - Phải! Mấy lần chị phàn nàn là dạo này em gầy và xanh, anh vặc: "Sao không bảo cô ấy thỉnh thoảng qua đằng này kiến cái gì bồi dưỡng thêm?". Chị cũng vặc: "Anh đi mà bảo!. "Không phải thách!". Anh ấy nói, và hôm nay thân chinh tới để gọi em trưa đến ăn cơm đấy.
          - Thế ạ? Em sẽ đến - Thúy đáp. Nhưng anh không đi làm ư?
          - Có, ca chiều.
          - Nào, nói gì thì nói đi để chị em tôi vào nhà máy kẻo muộn - Chị Huệ đưa mắt lườm chồng - Ở nhà thì hùng hùng hổ hổ: "Tôi sẽ kéo cô ấy về đây cho mà xem" sao lúc này đứng đực ra thế?
         - À, có gì đâu. Anh Cựu cười cười - hôm nay anh nghỉ, anh chị tới bảo Thúy chốc nữa lại đằng nhà ăn cơm cho vui.
           Nhìn dáng vẻ lúng túng của anh, Thúy cũng vui, và cảm động.
         - Thế, thế... lại nhé. Tôi đi đây.
           Anh nhảy lên xe, đạp nhanh vào phố.
           Chị Huệ cầm tay Thúy, hai chị em vào nhà máy.
         - Cứ để lão ấy đi chợ, làm cơm; trưa về, chị em chỉ việc ngồi ăn. Chị dặn rồi, hễ không biết nấu thì đừng trách - Chị Huệ nói và Thúy nhận ra trong giọng chị ẩn chứa mềm vui, sự hài lòng của người hạnh phúc. Chị Huệ nói tiếp - Lần trước, ra cái điều thương vợ, xăng xái rửa hộ rổ rau sống. Em biết làm thế nào không? Cho nửa bát muối vào chậu nước và ngâm vào đấy còn hí hửng khoe: "Tôi sát trùng đàng hoàng nhé?". Khi chị nấu xong nồi riêu cá quay lại thì, ôi thôi, một rổ rau sống héo quắt, chẳng khác rau luộc vớt ra không đầy chiếc đĩa con. Đã vậy còn cười hì hì , bảo: "Ví như nhà mình hôm nay ăn rau xào. Tức chưa.
          "Vợ chồng chị thật hạnh phúc". Thúy nghĩ lúc hai người chia tay.

          Thúy bước vội vào phòng kỹ thuật. Trên bàn làm việc  một mảnh giấy gấp tư, găm đó. Thúy mở ra: “Hôm nay Thúy xuống ụ  đà hiểm tra  việc ghép khung tàu mới theo yêu cầu của phòng kế hoạch. Anh bận họp ở  phòng giám đốc - L.K". T húy cho mảnh giấy vào túi, đi ra bờ sông.
          Cuộc họp kéo dài gần hai tiếng. Ngoài cán bộ chủ chốt, còn có thiếu tá Tư, đại diện Bộ tư lệnh Hải quân. Cuộc họp chỉ bàn một vấn đề : Làm thế nào để tăng nhanh tốc độ thi công, hạ thủy tàu sớm hơn kế hoạch. Kết thúc cuộc họp, ông Tư vui vẻ cảm ơn giám đốc An, cảm ơn mọi người.
          - Chú cho cháu gặp mấy phút, việc riêng thôi. Lâm Khanh nói nhanh khi thiếu tá Tư đưa bàn tay về phía anh. Hai người ra khỏi ngôi nhà hai tầng.
          - Có việc gì quan trọng không, đồng chí trưởng phòng?- Đoàn trương Tư hỏi vui khi họ bước trong sân nhà máy.
          - Đáng lẽ không nên nói ra, song cháu nghĩ mình làm điều tốt thì có gì phải băn khoăn - Khanh nói, anh bước chậm lại - Chú sẽ ngạc nhiên khi cháu điều này:
          - Cô Thúy và anh Lê sắp có con.
          - Có con? Lê và Thúy? - Đoàn trường Tư dừng lại sửng sốt hỏi.
          - Vâng, nhưng đó không phải là điều cháu có ý định thông báo. Sức khỏe của Thúy rất sút. Gần nửa năm nay cô ấy không có tin tức gì của Lê. Thúy đinh ninh rằng  Lê không còn. Và Thúy sống trong nỗi buồn đau ấy. Chiến tranh, mọi sự đều có thể xảy ra. Sự phấp phỏng khiến người ta khổ hơn là được biết chắc về điều bất hạnh. Cháu nghĩ thế và cháu tin là chú có thể giúp cô  ấy biết rõ sự thật.
          - Tôi hiểu - Ông Tư trầm ngâm - Thúy có thai à? Chắc là đợt cậu Lê về nhận tàu. . . Ừ, ở trường hợp Thúy, sự chịu đựng như vậy là quá sức. Hiện cô ấy ở đâu?
          - Thúy vẫn đi làm. Cô ấy là người nghị lực và đáng quý.
          - Tôi có thề gặp Thúy được không?
          - Lê vẫn sống chứ ạ?
          - Vẫn sống.
           Thoáng một nét bối rối trên gương mặt Lâm Khanh. Có cái gì đó thật vui, lại như thể nỗi buồn xen vào anh.
          - Chú chờ cháu, cháu sẽ gọi cô ấy - giọng Lâm Khanh không được tự nhiên. Anh bước hấp tấp ra bờ sông.
           Lát sau, Thúy hớt hải chạy tới. Vừa nhìn thấy đoàn trưởng Tư, cô khóc oà và gục đầu vào vai ông.
          - Chú ơi, cháu có lỗi với chú nhiều lắm!
           Đoàn trưởng Tư vỗ nhẹ lên vai Thúy:
          - Nín đi! Chú đã rõ mọi điều. Chú cháu mình tìm chỗ nào ngồi nói chuyện nhé.
            Hai người bước lại chiếc hầm trú ẩn và ngồi xuống.
          - Nào, nói đi, cháu sống vất vả lắm phải không?
          - Không đến nỗi ạ. Cháu chỉ buồn là anh ấy chết nhanh quá. Trước lúc hy sinh, anh ấy không biết mình sắp có con.
          - Hy sinh à? Cháu nói nhảm gì thế?
          - Chú đừng giấu cháu nữa. Cháu rất buồn và khổ. Nhưng chẳng phải vì thế mà cháu ân hận.
          - Như vậy là cháu có thai đã năm tháng, phải không?
          - Anh ấy hy sinh trong trường hợp nào ạ?
          - Cháu hỏi thế ư? Cậu ấy vẫn sống.
          - Cháu sợ chú đánh giá sai về cháu. Cháu có thể chịu đựng được. Chú đừng ngại.
          - Chú hiểu cháu. Nhưng cháu đừng bắt chú phải nói rằng Lê đã chết. Năm tháng nay không có thư của Lê, ừ, ừ đã năm tháng rồi... Lê đang trên đường về.
          - Nghĩa là anh ấy vẫn còn sống ạ? - Thúy ngước lên, nhìn đăm đăm vào đoàn trưởng Tư.
          - Cô bé này! Lẽ dĩ nhiên, chú không dối cháu.
           Thúy lúng túng, cô muốn gục đầu vào đoàn trưởng Tư, nhưng cô chỉ ngồi yên, thấy xốn xang "Anh ấy vẫn còn sống. Còn sống!” - Thật thế hả chú?
           Đoàn trưởng Tư gật đầu. Đôi mắt nhìn, thông cảm.
          - Vậy ra... Trời ơi, tại sao anh ấy không viết cho cháu một dòng, chú?
          - Đừng trách Lê. Điều kiện và hoàn cảnh mà, cháu. Lê không có lỗi.
          - Chú ơi, chú có giận chúng cháu không? - Thúy ngồi sát vào đoàn trưởng, giấu mặt vào vai ông, hỏi nhỏ.
          - Các cháu hơi vội. Nhưng đó là lời bàn của người ngoài cuộc, các cháu yêu nhau, đấy là quyền của mỗi một người. Nhưng xã hội lại có những niêm luật, những ràng buộc mà chúng ta là những thành viên, không thể  không tuân theo. Phải vậy không cháu?  Ai cũng bào  chữa cho mình để phá vỡ những niêm luật đó, xã hội sẽ ra sao? Việc đã rồi, chú chỉ ái ngại cho cháu. Cháu sẽ gặp khó khăn đấy. Sắp tới, sống một mình, việc sinh nở sẽ thế nào đây? Lại đang chiến tranh... Có lẽ chú thương cháu nhiều hơn là giận. Ơ kìa, sao khóc? Thôi nín đi, nín đi cháu.
         - Chú cho cháu khóc một chút... Thúy gục đầu vào ngực đoàn trưởng Tư và càng khóc nấc lên - Cô khóc vì thấy cuộc đời nhân hậu quá ! Người nào cũng tốt, người nào cũng quan tâm, săn sóc cô và điều ấy khiến cô lo rằng mình sống không xứng đáng với tình thương yêu ấy...
         - Chú tin Lê cũng luôn luôn xứng đáng với tình yêu  của cháu.
         - Chú có thể cho cháu rõ hơn về anh ấy không ạ?
          Thúy thôi khóc, ngẩng lên.
         - Cháu cứ biết là Lê còn khỏe. Công tác tốt. Còn mọi điều đến một lúc nào đó, Lê sẽ kể cho cháu nghe. Cháu có hiểu ý chú không, Thúy?
         - Vâng.
         - Và cháu nên tự hào về điều đó.
         - Điều gì ạ?
         - Những điều cháu nghĩ rằng mình cần vượt qua ấy. Thúy ngước nhìn đoàn trưởng Tư với sự biết ơn. Hai người ngồi một lúc nữa, rồi cô tiễn ông ra cổng.
         Khi quay trở lại, Thúy đi nhanh về phía ngôi nhà hai tầng, lòng phơi phới: "Vậy là trưa nay có chuyện để khoe với chị Huệ rồi".




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 01 Tháng Tám, 2009, 09:25:40 am

          Chợt còi báo động rúc lên. Công nhân ngừng việc, người xách súng chạy ra hầm, người chạy tới những khẩu 12 ly 7. Nhà máy chuẩn bị chiến đấu.
          Thúy cho tài liệu vào hai cái cặp, rồi hối hả xách ra khỏi phòng. Hơn tháng nay, Lâm Khanh không để cô làm pháo thủ nữa, cô có nhiệm vụ thu cất tài liệu khi báo động. Thúy bước nhanh tới căn hầm lúc nãy cô và đoàn trưởng Tư ngồi. Trong hầm đã có dăm ba người. Họ đón cặp tài liệu và đỡ cô xuống.
          Tiếng súng nổ ran. Tiếng máy bay rà thấp. Tiếng bom ình ình. Căn hầm rung lên. Bom nổ nghe gần lắm. Phía cửa hầm, khói lùa vào, trùm kín. Mọi người ho sặc sụa. Thúy ngồi tựa vào vách. Cô cảm thấy tức ngực. Một tiếng nổ nữa. Căn hầm chao, lắc. Đất đá bắn trên miệng hầm rào rào.
          Chợt phía trên, có tiếng ai đó hô to:
          - Hầm sập! Hầm sập! Tổ cấp cứu làm nhiệm vụ Tiếng hô bị át trong nhiều âm thanh hỗn độn. Một vài người vọt ra. Thúy toài theo.
          - Bụng mang dạ chửa, định đi đâu? Ở yên đó! - Một bàn tay nắm lấy vai cô, giữ lại. Anh ta ấn Thúy xuống và nhảy vụt lên.
           Căn hầm rung bần bật. Thúy thấy ngạt thở và buồn nôn. Cô lần ra ngoài và nhô đầu lên. Nhà máy ngập trong khói và lửa. Đất đá ngổn ngang. Mặt đất bị cày xới nham nhở, Thúy nghe tiếng nhiều bước chân chạy hối hả về phía bờ sông.
           Ngớt tiếng máy bay, mọi người xúm quanh chiếc hầm sập. Tổ cấp cứu hối hả đào bới, Thúy lách vào. Cô tạng người, mặt biến sắc: Người phụ nữa sáng nay còn cười nói với cô ở cổng nhà máy, lúc này đã nằm sóng soài quần áo bê bết bùn đất. Khuôn mặt xanh lét. Mắt nhắm. Mái tóc bung xõa.
           Chị Huệ - Thúy bật gọi và cô quỵ xuống bên thi hài người xấu số. Xung quanh quay tròn. Chao đảo... Thúy lờ mờ nhận ra ai đó xóc nách cô, kéo dậy. Thúy lê bước theo người ấy, cảm giác như đang chấp chới trên không. Cô không khóc. Chỉ thấy một cái gì đau nhói trong lồng ngực, và lạnh buốt.
           Về tới phòng Thúy đổ xuống ghế, úp mặt lên bàn. Cô không dám nhìn ra cổng. Thúy sợ bắt gặp khuôn của anh Cựu mà cô biết chắc là lúc này đang ngấp nghển ngóng tin vợ. Trơi ơi! Mới sáng nay chị còn vui vẻ kể tội chồng, giọng tràn hạnh phúc... Trời ơi! Vậy là cháu Hồng không còn mẹ...
           Có cái gì đạp nhẹ trong bụng. Thúy nghẹn ngào và bỗng bật khóc nức nở. Xung quanh nén lặng lại. Không khí nặng nề bao trùm nhà máy.
           - Thúy! Anh Cựu... Có lẽ em... - Lâm Khanh từ ngoàibước vào. Anh định nói điều gì. Nhưng chợt đứng trơ ra và cả hai thấy bối rối .
           - Không! Em không đủ sức. Đừng bắt em làm việc đó - Thúy ngẩng lên, khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Cô nấc to - Tại sao những người như chị Huệ lại chết? Tại sao?


32


            Đêm đã khuya, khu rừng im lìm, chỉ có tiếng lá lao xao trong gió. Ba Huỳnh nằm trên võng, điếu thuốc loé đỏ nơi môi. "Thế là sáng mai anh em lên đường trở lại miền Bắc", ông vất cái mẩu tóp, hai bàn tay đan nhau, để xuống dưới đầu. ông ngước lên: Những ngôi sao thấp thoáng sau tán lá. Một tình cảm lưu luyến, nhớ nhung ngấm vào ông, khiến Ba Huỳnh thao thức. Những thủy thủ ấy đã sống trong đội du kích mấy tháng nay, cùng vui, cùng khổ với mọi người; ông đã coi họ như những thành viên của đội công tác. Họ tham gia chống càn, chống đói, tham gia xây dựng đội. Tuy vậy, ông biết trong thâm tâm, họ vẫn mong ngày hôm nay, ngày có quyết định trở về. Cuộc đời của họ là trên biển, là sông nước. Ba Huỳnh quý trọng và hoàn toàn thông cảm tình cảm ấy. Ông chỉ áy náy một điều: những tháng ngày qua, ông không có điều kiện để chăm sóc thêm. Họ ăn uống kham khổ quá! Rồi đây, vượt hàng ngàn cây số đường rừng để ra ngoài ấy liệu mọi người có đủ sức? Trông người nào cũng gầy xanh.
           
            Mấy hôm nay Ba Huỳnh đã chỉ thị cho đội phó Quế  gắng kiếm chút gì đó, làm thực phẩm để anh em đi đường, nhưng Quế không lần ra. Ba Huỳnh tự vào thị trấn Thương Long, song ông cũng đành quay về không. Vậy là anh em chỉ có gạo và muối mang theo.
           - Có gạo và muối là quý rồi, chú Ba! Thuyền trưởng Lê bảo - Chú đừng áy náy quá. Bốn ngày sau, tới đường dây 559 là ổn, sẽ có mọi thứ.
           Đành rằng có gạo và muối là quý nhưng hành quân đường rừng, chỉ có gạo với muối sức khoẻ dễ sút, dễ phải nằm lại. Ba Huỳnh nghĩ mãi mà không có cách. Giá chi ông có được con heo để liên hoan và làm chút thực phẩm dự trữ cho mọi người. Chiều nay, trong bữa ăn, gọi là để chia tay, ngoài cơm và dưa rau tàu bay, có thêm món  thịt hộp nấu măng. Ông biết Quế đã cho khui những hộp thịt cuối cùng. Bữa ăn thật vui và cảm động...
           Ba Huỳnh trở mình trên võng, ông lại nhớ con.
           Thuyền trưởng Lê và chính trị viên Lượng đã kể tỉ mỉ về Xuyên với ông. Ai dè con ông cùng ở một đơn vị với những thủy thủ này. Con ông cũng đã mấy lần đưa vũ khí vào Nam. Nó làm thuyền phó cơ đấy. Biết đâu chẳng có ngày Xuyên chở súng đạn vào Hòn Hàng.  Nhanh thật, mới ngày nào còn bé tí...
           Hôm sau, Ba Huỳnh dậy rất sớm, nhưng Sáu Thuỳ và Mười còn dậy sớm hơn. Họ đang lúi húi nấu cơm. Đêm qua, hai cô không ngủ. Sáu Thùy mắc võng nằm cạnh Mười, chị em rỉ rả tâm sự. Mười thú với Sáu Thùy rằng cô yêu Cang. Mười và Cang đã hò hẹn là chờ ngày thống nhất. Sáng nay, câu chuyện vẫn chưa dứt.
          - Ảnh là con một, được má cưng lắm - Mười thì thầm - Ảnh khoe rằng trốn má để đi bộ đội đó.
          - Số Mười vậy mà sướng - Sáu Thùy chạnh lòng.
          - Chớ sướng chi? Sắp xa nhau, nhớ thấy mồ. Không yêu lại khoẻ.
          - Xin chú Ba theo luôn ra Bắc. Ảnh bảo chuyến sau lại vào mà.
           Sáu Thùy khẽ thở dài. Cô cúi xuống thổi cho lửa cháy to. Sáu Thùy cũng thấy nhớ. Một nỗi nhớ bâng quơ không rõ ràng. Và xen trong nỗi nhớ là nỗi buồn. Có cái gì đó trống trải luyến tiếc rất khó nói ra lời. Tối qua Sáu Thùy đắn đo mãi, có nên tặng anh chiếc khăn không, chiếc khăn cô bỏ bao thời gian để khâu, thêu. Ngoài Bắc chắc chẳng thiếu, cô mặc cảm nghĩ, liệu anh có đánh giá sai, hoặc chê? Song cô tự nhủ: đây là tình cảm chân thực của một đứa em gái tặng để kỷ niệm những ngày quen biết. Thế nhưng cô đã chần chừ. Ngồi  nói chuyện với anh mãi tận khuya, cuối cùng chẳng dám trao. Chiếc khăn vẫn nằm trong túi áo.
           Khi mặt trời rải nắng vàng xuống khu rừng, tốp thủy thủ lên đường. Ba Huỳnh và đội du kích tiễn họ tới  ngọn đồi trước mặt. Chia tay thực sự diễn ra ở đó. Ba Huỳnh ôm lấy từng thúy thủ, đôi mắt đỏ hoe. Ông chỉ  nói: "Đi mạnh!" và lặng người nắm lấy bàn tay họ. Những gì cần nói, mấy ngày qua đã nói cả!
            Mười bịn rịn bên Cang. Cô cắn vành môi, chỉ sợ khóc.
           - Em chờ đó nghe!
            Cô nói nhanh, rồi cúi vội xuống. Cang bối rối, cho mãi tới lúc này Cang mới thực sự thấm nỗi buồn xa cách. Anh luống cuống cầm bàn tay Mười:
           - Anh sẽ vào! Có tàu mới, anh sẽ vào...
            Họ đứng lặng bên nhau. Tim cùng đập rộn lên. Mười Sửa lại quai ba lô trên vai Cang, không nói câu gì, đột nhiên cô bóp mạnh bàn tay anh.
            Lê và Lượng bắt tay từng du kích. Đến bên Sáu Thùy, Lê dừng lại lâu lơn.
           - Không bao giờ anh quên Sáu Thùy và những tình cảm Sáu dành cho anh - Lê bảo.
            Sáu Thùy không nói. Cô không nhìn anh, chỉ gật gật  đầu và cúi xuống.
           - Sáu Thùy ở lại mạnh khỏe nhé.
           - Dạ ...! - Tiếng Sáu Thùy rất khẽ, cô quay nhanh,   tránh ánh mắt Lê. Nhưng khi anh bước đi, cô bật kêu:
           - Anh Lê !
            Cô chạy tới, dúi vào tay anh chiếc khăn. Rồi lẩn  nhanh bên gốc cây, ngóng ra.
            Tốp thủy thủ do Quế dẫn đường, đi về hướng tây. Được một đoạn, quay lại nhìn, Lê thấy Ba Huỳnh,  Sáu Thùy và anh chị em du kích vẫn đứng ngóng theo.
            Anh đưa tay làm loa, gọi lớn:
           - Chú Ba ơi, không bao giờ chúng cháu quên những ngày vừa qua. Xin hứa xứng đáng với chú và toàn đội...
            Rồi anh chạy theo tốp người.
            Quế đi đầu, mười ba thủy thủ hàng một, bước phía sau. Họ lầm lũi cắt rừng, đi tìm trạm giao liên.

            Đêm thứ tư, họ dừng lại trong cánh rừng già. Mọi người mắc võng nghỉ dưới những gốc cây to. Theo Quế cho biết, khoảng trưa ngày mai sẽ tới đường dây 559.
            Lê mừng. Tới được dường dây 559 là ổn. Theo đường dây, thủy thủ sẽ trở ra Bắc dễ dàng. Những thủ tục giấy tờ quân khu đã chuẩn bị cho đầy đủ.
            Mọi người phân công lấy nước, kiếm củi, gạo chỉ đủ ăn tối nay và ngày mai. Còn phải dành một ít để Quế trở lại khu du kích.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 01 Tháng Tám, 2009, 09:32:48 am
           
            Hôm sau, toán người lên đường sớm. Quá trưa thì họ tới khu rừng mà Quế bảo là trạm giao liên của 559. Khu rừng vắng vẻ. Đến bãi khách. Bãi khách vắng teo. "Quái, không thể lẫn được - Quế lo lắng - Rõ ràng ngày trước đã có lần mình mắc võng nằm nghỉ ở đây, ở chính bãi khách này".
           Quế đề nghị nghỉ tạm để anh đi tìm người của trạm.
           Mọi người mắc võng ở bãi khách. Lê, Lượng và Quế đeo AK, lần theo lối mòn đi sâu vào rừng.
           - Kia rồi! - Quế reo lên. Trước mặt họ, một căn lán xiêu vẹo nép dưới mấy gốc cây. Trên lối đi ẩm ướt, dấu dép cao su còn mới.
           Họ thận trọng bước tới, nấp bên vách nhìn vào. Một người tóc lút tai, cởi trần, chiếc mũ tai bèo nhàu nát, bạc phếch úp trên đầu, đang lúi húi nướng gì bên bếp. Cạnh đó, hai người nữa, mặc quần đùi, áo xanh lá cây phủ kín mông, ria che mép, nhồm nhoàm nhai gì đó.
           - Các đồng chí ơi! - Quế cất tiếng.
            Ba khuôn mặt ngẩng lên. Ba đôi mắt nhìn trừng trừng.
           - Cần gì?
           - Các đồng chí chỉ giùm chỗ đồng chí trạm trưởng - Quế nói. Lượng và Lê bước vào.
           - Các anh là ai? - Người cởi trần hỏi, mắt vẫn gườm gườm nhìn ba người lạ mặt.
           - Chúng tôi là khách, tới đây đi nhờ đường dây ra Bắc - Lê đáp - Có đủ giấy tờ hợp lệ.
           - Đường dây?- Người cởi trần cười gằn - Cuốn rồi.
           - Cuốn rồi? Cuốn đi đâu?
           - Cuốn lên biên giới. Ở đây để chết đói à?
           - Xa không?
           - Giỏi thì cứ việc dắt nhau lên đó mất mười ngày đường thôi. Này, các đằng ấy có gạo hả? Cấp cho tụi này một ít nhé. Cũng đang meo đây.
           - Các anh là ai? - Lượng khó chịu hỏi.
           - Cũng "Bê quay" cả, thích nhập bọn thì nộp lệ phí. Vài lon thôi.
           - Chúng tôi bị lạc... - Lê nói.
           - Thằng chó nào trốn đơn vị chẳng bảo là bị lạc. Cùng cánh đào ngũ với nhau, muốn nhập bọn thì ở luôn - Anh ta nói tiếp và bước tới trước mặt Lượng, chống tay vào hông, hai chân dạng ra như chiếc com-pa, đôi mắt ánh lên vẻ phớt dời - Như vậy chúng ta sẽ có sáu người. Kiếm đủ cái ăn cho sáu cái miệng cũng gay đấy, nhưng rồi sẽ tính. Cùng cảnh, đừng ngại. Thế nào, hay muốn đi khỏi đây để bỏ xác ngoài rừng cho thú nó ăn? Nếu vậy thì hãy đặt gạo xuống.
           - Các anh...? - Lượng bực, đôi mắt giận dữ nhìn người cởi trần.
           - Bình tĩnh! Đừng nóng thế, bọn này cũng ngán chiến tranh lắm rồi. Chúng ta thương lượng hòa bình vậy. Nào, suy nghĩ đi. Đã tới đây là không có lối ra đâu đồng chí cán bộ ạ. Ha ha, bỏ ba-lô xuống!
            Anh ta đưa mắt cho hai người mặt quần đùi. Hai người này lập tức xấn lại, giằng lấy ba-lô trên vai Lượng.
            Lượng lủi một bước, kéo cần cơ bẩm khẩu AK.
           - Xê ra không ta bắn.
           - Nào, giỏi thì bắn đi. - Người cởi trần xăm xăm tiến tới trước mũi súng của Lượng, rít lên - Đây cũng đang muốn chết. Bắn đi! Bắn.
           Lê gạt mũi súng AK nơi tay Lượng:
           - Các anh ở đơn vị nào? Nếu muốn về thì theo chúng  tôi. Chúng ta sẽ rời khỏi đây. Chúng tôi còn đông người. Chúng tôi không để các anh chết đâu.
           - Tìm đơn vị - Người cởi trần bật lên cười - Đừng ảo tưởng, đằng nào cũng chết, đừng chọn cái chết ngu xuẩn như thế. Trở lại đơn vị! Ra khỏi đây, không kiếm nổi củ sắn ăn đâu!
           - Sao bi quan thế? Hay đi theo chúng tôi.
           - Để đói rã họng ra phải không?
           - Vậy thì tạm biệt.
           - Không dễ thế đâu? Gạo?
           - Chúng tôi không có gạo.
           - Không có? Báo trước, các anh sẽ chẳng ra khỏi khu  rừng nếu không nộp lệ phí. Đó là luật rồi, rõ chưa?
           Lê không trả lời. Anh vẫy Lượng và Quế, bước đi.
           Anh chàng cởi trần và hai người mặc quần đùi nhìn theo và ré lên cười:
           - Quay lại tụi này nhường cho ít thịt nướng!
            "Họ đã trở thành người rừng" - Lê chua chát nghĩ - Họ đã không đủ sức thắng hoàn cảnh để vươn lên sống tốt đẹp hơn - anh cảm thấy có cái gì tê dại, xót ruột.
            Ba người trở lại bãi khách. Anh em đang chờ ở đấy.
            Lê gọi thêm thuyền phó Xuân và bốn người hội ý.
            - Tình hình trở nên phức tạp. Phương án đi tìm đường dây 559 không đặt ra. Từ đây lên đó rất xa, lại không thuộc đường. Quế đề nghị quay lại Hòn Hàng báo cáo và chờ thời cơ.
           - Quay lại à? - Lượng nhìn Quế bảo - Không được! Chúng ta phải tìm mọi cách trở về miền Bắc. Anh Quế hiểu cho, chúng tôi còn duyên nợ với những chuyến đi.
           - Tui rõ chớ - Quế nói - Chúng tôi rõ sự cần thiết phải có vũ khí. Nhưng hoàn cảnh không cho phép thì răng.
           - Hình như vẫn có đường dây liên tỉnh 1 mà, anh Quế - Lê bảo.
           - Đây tới trạm của tỉnh phải đi ba ngày đường.
           - Chúng ta có thể đi nhờ đường dây đó không?
           - Có thể. Nhưng đó là đường dây bên dân sự. Nếu đi, ta phải tự túc lương thực...
           - Tự túc lương thực à? - Lượng nói - Chẳng lẽ họ bỏ mình chết đói. Tôi đề nghị anh Quế cứ dẫn chúng tôi tới. Ta sẽ đi theo đuờng dây ấy. Đó là cách hợp lý nhất.
           Mọi người nhất trí phương án của Lượng.
           Họ bước lại phía anh em thủy thủ. Lượng nhìn khắp lượt mọi người. Họ đang nóng lòng mong được biết tình hình và cũng đã linh cảm thấy có điều trắc trở.
           Lượng nói:
           - Các đồng chí. Chúng ta không gặp may, đường dây 559 đã rút lên biên giới. Chỉ còn một cách là đi nhờ đường dây dân sự liên tỉnh. Lương thực đã cạn. Thực tình không ai lường tới tình huống này. Khó khăn, gian khổ đấy, nhưng không còn cách nào khác. Vừa đi, chúng ta sẽ cùng nghĩ ra hướng khắc phục. Tôi hy vọng, trách nhiệm đối với những chuyến đi mới, giúp ta vượt qua. Anh Quế tiếp tục là người dẫn đường. Các đồng chí, thu võng. Cần tranh thủ hành quân khi còn sức khỏe.
           Đoàn người nhanh chóng rời khỏi khu rừng. Quế xăm xăm đi trước. Xuân và Lê sau cùng.
           Đêm ấy, họ nghỉ lại cạnh ngọn núi đá. Gạo dự trữ  không còn mấy. Lê đề nghị để dành cho những hôm sau.
           Anh em thủy thủ toả ra đi kiếm rau tàu bay, môn đốc. Xuân và Cang lần ra bờ suối. Họ mò mẫm chừng nửa giờ, bắt được hơn chục con cua và ốc. Cang hí hửng cho vào chiếc túi con, rồi hai người vội vã trở lại chỗ nghỉ. Đang bước, Cang nghe thuyền phó Xuân kêu lên một tiếng. Anh quay lại: Xuân giãy giụa trên một cái hố,khuôn mặt nhăn nhúm, đau đớn.
           Cang ngồi xuống, mặt tái xanh hốt hoảng: một mũi chông to như ngón tay cái, dài vài gang xuyên qua bàn chân thuyền phó.
          - Ôi sao lại thế này? - Cang luống cuống kêu lên - Tôi rút ... rút ra nhé .
          - Rút ra à? - Xuân nhăn nhó - Ừ, đành thế ... rút thật nhanh đấy...
          - Nào, anh nằm xuống và... nhắm mắt lại.
           Cang đỡ Xuân nằm úp trên cỏ, Xuân gắng gượng duỗi thẳng chân.
           Nhìn mũi chông cắm ngập bàn chân Xuân, Cang gai cả người, mồ hôi đầm trán, anh thấy sợ. Nỗi đau của Xuân buốt tận óc Cang. Anh ngập ngừng, không dám chạm vào mũi chông.
          - Rút ra! - Xuân giục, anh úp mặt xuống cỏ, mắt nhắm, hai hàm răng nghiến ken két. Cang lúng túng, quệt mồ hôi rồi quỳ xuống.
          - Nhanh lên! - Xuân rên rỉ.
          - Tôi... Tôi rút ngay đây.
           Cang run run nắm lấy mũi chông, bặm môi và giật mạnh. Xuân nảy lên, hét to một tiếng rồi vật xuống đất, Máu từ bàn chân túa ra. Cang vội vàng xé áo lót  băng lại. Rồi anh xốc Xuân lên vai, chạy một mạch về chỗ trú quân.
           Đêm ấy, Xuân không sao ngủ được. Vết thương nhức tận óc. Anh nằm trên võng, lặng lẽ chịu đựng nỗi đau.
           "Mình sẽ đi thế nào đây - Xuân lo lắng - đâu phải ngày một, ngày hai mà phải hành quân liên miên trong vài ba tháng. Chẳng lẽ bắt anh em cõng. Họ lê thân họ còn  khó, làm sao đeo thêm mình?". Xuân thở dài, thấy buồn.
           Rừng đêm tĩnh mịch. Hơi núi đá phả ra lành lạnh. Đã là mùa đông. Ngoài Bắc, dịp này chắc đang rét.
           Xuân trở mình trên võng. Anh cố nén tiếng rên.
           Gần sáng, Xuân vừa chợp mắt thì có người lay dậy.
           - Bọn mình đã kiếm cho Xuân chiếc nạng bằng cành cây này - Lê cúi sát võng và nói - Cố gắng đi nhé, anh em sẽ thay nhau dìu.
            Lê đỡ Xuân dậy. Xuân co chân phải lên, hai tay víu vai Lê .
           - Cố bước thử xem nào? - Lê đưa Xuân chiếc gậy, phần trên có hai nhánh toè ra, như hình chữ "Y".
           Xuân chống nạng, tập tễnh bước một vòng quanh gốc cây.
           - Thế nào? - Lê hỏi.
           - Tôi sẽ cố. - Xuân ngước nhìn Lê. Cái nhìn như muốn bảo: "Anh đừng ái ngại. Tôi sẽ theo kịp mọi người".
           Cang mang tới bát canh rau tàu bay. Xuân ngồi xuống võng ăn ngon.
          - Nhạt, Cang ạ.
          - Vâng, gần hết muối.
           Nửa tiếng sau, đoàn người cuốn võng, lên đường. Cả ngày hôm đó, họ chỉ ăn rau tàu bay và lá tai trâu.


--------------------------------
Chú thích:
1. Đường dây liên tỉnh: Đường đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, do từng tỉnh đảm nhận ở địa phận mình.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 01 Tháng Tám, 2009, 09:42:40 am

33


           Máy bay Mỹ ném bom thành phố liên tục. Còi báo động chốc chốc rúc lên. Nhà máy nhiều việc. Vài ba ngày tới cần hạ thủy gấp hai con tàu theo đề nghị của Bộ tư lệnh Hải quân.
           Thúy thường về muộn. Cô bước vào nhà lúc thành phố lên đèn. Tuy thế dạo này thấy khỏe hơn. Những trắc trở nhất đã qua. Dư luận không xì xầm cái họ gọi là "hiện tượng ở phòng kỹ thuật" nữa. Công việc đóng tàu cuốn hút, có bao điều khác đáng quan tâm.
           Thúy sống bằng mềm vui của người làm được nhiều việc trong sự  nhẫn chịu và tự hào.
           Đêm, lại có báo động. Còi rúc lần thứ hai Thúy mới giật mình choàng dậy. Quờ tay sang bên, không thấy mèo mướp, cô gọi to, rồi đẩy cửa chạy xuống cầu thang. Thành phố tối bưng. Tiếng máy bay rì rì phía đông nam.
           Thúy ngẩn ngơ đứng trong bóng tối, ngó ra xung quanh. Mọi lần mèo mướp vẫn ở cạnh cô, có nó, đỡ sợ, đỡ cô đơn hơn. Hôm nay mèo đi đâu? Chẳng lẽ nó không biết báo động mà về?
           Tiếng bom nổ rất gần. Thúy xuống hầm. Chớp đạn lia ngang, lia dọc. Rốc két bắn vào ngôi nhà bên cạnh. Thúy thấy lo: ừ, giá mình chết ở đây chắc chẳng ai biết. Một chớp lửa loé sáng. Căn hầm như thể bật khỏi mặt đất Tiếng nổ dội tới, hai tai Thúy ù đặc. Cô vòng tay vào thành hầm với ý thức bảo vệ cái bụng. Tiếng máy bay đảo qua. Đạn vẫn không ngớt nổ. Thúy ngồi lặng,  trán đầm mồ hôi. Cô sợ. Cô thấy lẻ loi, cô đơn và điều đó khiến Thúy tủi thân. Căn hầm tối om. Mảng sáng tròn tròn trên nóc chốc chốc lập loè.
           Thúy tựa lưng vào thành hầm, hai tay ôm ngang bụng, nước mắt ứa ra. Cô khóc tấm tức. Xung quanh bom đạn ầm ào mà sao vẫn thấy vắng lặng. Thèm được  nghe tiếng người quá! Ước gì căn hầm bên cạnh cũng có người núp và đttợc hỏi với sang một câu. Mèo mướp, này thật tệ, bỏ người ta lại một mình thế này à?
           Thúy ngồi bệt xuống đáy hầm, phó mặc cho số phận. Nước mắt lăn dài trên má.
            ... Đèn thành phố bật sáng một lúc, Thúy mới uể oải chui ra. Mệt mỏi và buồn tủi, Thúy đặt nhẹ từng bước lên cầu thang. Cô vật xuống giường, với tay bật công tắc điện và có cảm giác như mình không đủ sức chịu đựng nữa. Căn phòng trống lặng quá! Chắc đã khuya lắm.
           Thành phố yên ắng, hầu như không một tiếng động mạnh. Chỉ có tiếng gió lay cành bàng ngoài cửa sổ, và xa xa, ngoài bến sông, vẳng lại tiếng còi tàu nghe buồn bã, xa vời.

            Có tiếng động khẽ ở cầu thang Thúy bật dậy, lắng tai nghe. Hình như ai lần trên bậc gỗ. Rồi có tiếng thúc  yếu ớt vào cửa. Thúy rón rén bước tới. Cô mở cửa. Chợt Thúy kêu to, sợ hải: Mèo mướp bê bết máu, nằm sóng soài, miệng vẫn cắn chặt con chuột bằng nắm tay. Thúy ngồi vội xuống. Vết thương ở lưng mèo khá lớn, đang rịn máu; chắc mảnh bom đã phạt qua. Mèo nằm bất động, đôi mắt xanh đờ dại mơ to nhìn cô chủ như biết lỗi. Bụng thoi thóp thở. Thúy luống cuống, chưa rõ phải làm gì chợt mèo gắng gượng quờ quờ chân trước về phía Thúy hai mắt mở trừng trừng. Con vật giẫy mạnh, "meo" lên một tiếng ròi tắt thở. Con chuột tuột khỏi hàm răng. Thúy bật khóc, nghẹn ngào. Cô lặng lẽ vuốt mắt cho mèo. Nỗi buồn chán trùm lấy cô. Sao chúng độc ác thế, giết cả mày hả mèo? Từ nay, Thúy thực sự sống một mình trong ngôi nhà này. Chiều chiều đi làm về, sẽ không có mèo chạy ra đón nữa. Tối tối, biết trò chuyện  cùng ai? Và chẳng còn nó để thỉnh thoảng được mắng mỏ, giận hờn. Niềm vui cuối cùng khiến ngôi nhà đỡ trống trải, vắng lặng, đã ra đi.
            Thúy đờ đẫn ngồi bên xác con vật, không muốn đứng lên nữa. Có tiếng bước chân vội vã nơi cầu thang.Thúy quay nhìn: Lâm Khanh. "Anh ấy bao giờ cũng đến đúng lúc!".
            - Thúy! Làm sao thế này?
             Thuý  khóc to hơn.
             Lâm Khanh ngạc nhiên ngồi xuống sờ tay lên xác con vật.
            - Tội nó quá!... - Thì ra linh tính của anh đúng. Nghe bom nổ mạn này, anh nóng cả ruột. Hết báo động là bổ đến ngay. Đứng ngoài nhìn lên, thấy căn phòng vẫn sáng ánh đèn, lo quá!
            - Chúng mình chôn nó, anh nhé! - Thúy mếu náo.
            - Cứ mặc anh... Kiếm cái gì liệm cho mèo chứ!
             Thúy lúng túng mở tủ, lục lọi, cuối cùng lôi ra mảnh vải còn mới, đưa cho Khanh. Lát sau, hai người lặng lẽ xuống cầu thang. Khanh đào một cái hố bên gốc bàng.
            - Anh đừng về vội nhé! - Thúy nói khi họ ngồi trong căn phòng.
            - Trời sắp sáng rồi... Em sợ phải không?
            - Vâng! Em chẳng rõ rồi đây mình sẽ sống ra sao.
            - Thật khó mà tưởng tượng năm qua em đã sống một mình như thế. Anh nghĩ trong mỗi chúng ta đều có một điều kỳ diệu mà ta không nhận ra.
            - Em lo sắp tới, mình không chịu đựng nổi. Em vào nhà máy sống tạm một thời gian chăng?
            - Phải xa căn phòng này? Dễ gì em đã đủ sức. Anh không hiểu nổi đâu. Ừ, mà làm sao anh hiểu.
            - Anh hiểu. Em không thể xa nó. Nếu ở lại đây là cần thiết, em cứ ở, anh và Bình sẽ tới thăm nhiều hơn. Không sợ cô đơn đâu.
            Thúy ngồi lặng: Anh ấy tốt quá! Không có sự giúp đỡ của anh Khanh. Thúy sống khó khăn biết chừng nào!Lâu nay Thúy đã quen với sự giúp đỡ đó và chấp nhận như một hiển nhiên. Anh là chỗ dựa tinh thần. Những lúc khó khăn, biết có anh bên cạnh, Thúy vững tâm. Lắm lúc cô xấu hổ, nghĩ rằng mình lạm dụng anh quá nhiều. Nhưng làm thế nào được, hoàn cảnh không cho phép Thuý tránh chạy tấm lòng anh. Thỉnh thoảng, Thúy thường vơ vẩn nghĩ: Giá mình có chị gái, hoặc em gái nhất định sẽ giới thiệu cho con người này. Ai lấy được anh thật hạnh phúc! Nhưng chỉ nghĩ thế, đã đỏ mặt, cô tự mắng mình lẩm cẩm. Anh ấy cần gì ai giới thiệu, anh đủ sức, nói như mọi người là, quờ tay chỗ nào chẳng lấy được vợ. Trẻ đẹp, có tài lại biết chiều phụ nữ. Có lần Thúy đùa: "Anh Khanh khó tính chết đi ấy. Già  kén kẹn hom đấy". Anh ngước nhìn Thúy rất nhanh, khuôn mặt buồn xỉu. Thật tình Thúy ít nói chuyện đó,  cô quá rõ tình cảm của anh và đấy cũng là điều khổ tâm. Đối với anh, Thúy luôn giữ thái độ tự nhiên không câu nệ, không lảng tránh và quý trọng...
            Sáng hôm sau, hai người đến nhà máy.
            Theo lệnh giám đốc, công tác chuẩn bị hạ thủy con tàu thứ nhất phải xong trước 18 giờ ngày mai. Nhân viên phòng kỹ thuật xuống cả dưới ụ đà. Nhà máy tập trung vào nhiệm vụ hạ thủy.
            ... Thúy ra khỏi cổng nhà máy khá muộn. Mệt, nhưng thấy vui.
            Thúy bước thong thả. Trời tháng mười mát dịu. Gió thổi nhẹ khiến Thúy nao nao. Đến một ngã tư, Thúy  sững lại. Cô nhận ra cây phượng vĩ quen thuộc trở nên trần trụi. Mấy cành tướp xơ chìa ra như những cánh tay cụt. Thúy thấy tiếc. Cây phượng này mùa hè trổ những chùm hoa đỏ chói chang, mỗi lần đi qua, Thúy không thể không ngước lên. Thân cây giờ lỗ chỗ vết đạn. Ngọn đèn đường treo cạnh đó vẫn sáng...
           - Chào cô! - Có tiếng đàn ông.
            Thúy quay nhìn: một thanh niên tầm thước, khuôn mặt cháy nắng, đôi mắt sâu, cặp này hơi xếch, đứng ngay phía trước.
           - Cô quên tôi rồi - Người thanh niên hóm hỉnh - Còn tôi thì chưa. Dễ gì tìm trong thành phố một người... như cô. Cô còn nhớ năm ngoái, một đêm nào đấy máy bay vào đánh phá có người đã kéo cô xuống hầm trú ẩn công cộng cạnh vườn hoa và cô đã cào anh ta?
           - À, Thúy kêu to - Anh làm ở Cảng!
           - Hồi đó cô... khác hơn. Tôi vẫn nhớ cô khoe có con mèo mướp rất khôn, biết gọi cô dậy khi báo động.
          - Con mèo chết rồi - Thúy bùi ngùi báo tin.
          - Sao thế?
          - Trận bom đêm qua... Nếu đừng bỏ nhà đi bắt chuột thì mảnh bom ấy đâu có xuyên qua lưng nó. Tiếc quá!
          - Tội nghiệp! Thế tức là lần này cô thực sự sống một mình?
          - Không hẳn!
          - Không hẳn? Nhìn chung, con gái có những bí ẩn mà tụi đàn ông như tôi lúc nào cũng ngây ngô.
           Thúy cười to. Hai người bước nhanh hơn. Tới cổng nhà mình. Cô dừng lại:
          - Mời anh lên phòng tôi chơi!
          - Cám ơn! Tôi còn phải đi vòng khắp thành phố.
          - Anh lang thang suốt đêm à?
          - Ngày mai tôi xa nơi đây.
          - Anh đi đâu?
          - Có lệnh nhập ngũ. Người ta bảo đợt này tuyển bộ đội đi chiến đấu trong Nam. Tôi hy vọng mình ở trong số đó. Tôi không duy tâm, nhưng chiến tranh, ai dám nói rằng còn trở về ? Vì thế tôi muốn tạm biệt thành  phố. Thành phố với tôi... đã mấy chục năm qua... Nhưng cô đừng cho tôi là một gã bi quan.
          - Không! Tôi không nghĩ thế. Chẳng rõ sao tôi cứ tin rằng những người như anh không thể chết. 
          - Thế thì cám ơn. Chào nhé! Hòa bình, nếu còn sống, tôi sẽ trở lại ngôi nhà này. Ngôi nhà đẹp quá! Lúc đó chỉ ngại cô quên tôi.
          - Tôi tên Thúy. Hy vọng thế lắm. Tôi không quên đâu.
           "Lại thêm một người lính ra trận?" - Thúy đứng ở cổng nhìn theo người thanh niên xa dần.

*

           Phân xưởng trưởng phân xưởng ụ đà và trưởng phòng kỹ thuật Lâm Khanh bước vòng quanh con tàu. Chốc chốc họ dừng lại, quan sát và nói với nhau điều gì đó. Con tàu thơm mùi sơn, nghếch trên triền1.  Mặt sông phía trước đen thẫm. Từ dưới đó, đưa lên mùi ngai ngái lúc con nước đang cường. Sóng vỗ lao xao, nghe như tiếng gió thổi trên ngọn phi lao.
           Hai người chui xuống đáy tàu, ngước nhìn lên. Con tàu như một tảng đá khổng lồ, nặng nề chắn trên đầu họ. Khanh lần tới từng vị trí, kiểm tra lại lần cuối hệ thống tời, con trượt...
          - Tất cả đều bảo đảm! - Khanh trở về phòng giám đốc báo cáo - Mọi công tác chuẩn bị hạ thủy đã xong, đề  nghị đồng chí cho ý kiến cuối cùng.
          - Ta tiến hành theo đúng kế hoạch - Giám đốc An bảo, ông hỏi thêm - Mấy giờ nữa nước đứng?
          - Một tiếng nữa!
          - Cậu nên tranh thủ chợp mắt ít phút, một giờ sau ta có mặt ở ụ đà, mấy đêm nay cậu thức rồi.
          - Hạ thủy xong ngủ một thể ạ. Giám đốc An đặt tay lên vai người trưởng phòng.
           "Cậu ấy xứng đáng được đề bạt làm phó giám đốc. Một người có năng lực, có trách nhiệm" - Ông thầm nghĩ.
           Đúng 22 giờ 21 phút, giám đốc An phát lệnh cho tàu hạ.
           Bốn ngọn đèn pha bật sáng, hắt xuống triền đà. Phân xưởng trưởng phân xưởng ụ đà bật nút điện, tiếng động cơ ro ro lập tức phát ra, nhả tời. Con tàu nằm trên triền, rùng nhẹ, từ từ trượt xuống.
           Mọi người đứng vây quanh, hồi hộp. Thúy đứng bên cạnh Lâm Khanh, chếch trước mũi tàu, đôi mắt không rời triền đà: "Cầu mong đừng có máy bay vào giờ này". - Xung quanh yên lặng. Chỉ có tiếng động cơ nhả tời đều đều. Thúy nghe bên cạnh mình, hơi thở của Lâm Khanh. Không khí nhà máy như bị nén lại. Phấp phỏng. Lo âu. Theo lệnh giám đốc, tự vệ nhà máy phải có mặt ở các ụ súng, sẵn sàng bảo vệ công việc hạ thủy. Bên những khẩu 12 ly 7, họ ngồi lặng như những pho tượng, nghển nhìn ra bờ sông.
           - Ro...o, Ro...oooo...
           Tiếng động cơ chạy đều. Những sợi cáp dài dần, dài dần. Con tàu chậm chạp nhích từng đoạn, từng đoạn. Rồi nó chạm mí nước.
           Bỗng bốn ngọn đèn pha vụt tắt. Khu ụ đà tối bưng. Tiếng động cơ ngừng bặt. Phút chốc, tất cả chìm trong im lặng.
          - Còi báo động rúc lên.
          - Tiếp tục công việc! Thả tời bằng tay!
           Tiếng giám đốc An vang lên trong bóng tối, Lâm Khanh và người phân xưởng trưởng điều khiển việc thả tời.
          - Bên trái, xuống!
          - Chú ý mạn phải!
           Tiếng Lâm Khanh đều đều, tự tin. Anh đứng ngay đầu triền. Bóng anh nhoà lẫn, nhập vào con tàu. Khu ụ đà tối mờ. Con tàu lại rì rì nhích xuống, nhích xuống.
           Không có tiếng máy bay. Nhiều đường đạn đan trên bầu trời thành phố. Lâm Khanh chạy xuống mép sông, đôi mắt mở to:
          - Dừng lại!
           Cả chiếc triền và con tàu đã nằm trong lòng sông.
           Khanh thở phào. Anh lội xuống lần từng mối dây rồi ra lệnh:
          - Kéo tời!
           Chiếc triền đà rít lên ken két, nhả tàu.
           ... Khi đèn bật sáng, con tàu đã dềnh trên mặt nước nhè nhẹ lắc lư.
           Công nhân, tự vệ ùa xuống bờ sông, reo hò vang dội. Chỉ ngày một ngày hai nữa con tàu của họ sẽ ra cửa sông, ra biển và đến với đại dương. Cả nhà máy hân hoan. Khu bờ sông ầm vang tiếng nói, tiếng cười.
           Thúy thấy vui. Cô muốn nói một câu thật to. Cô cầm  bàn tay Lâm Khanh lúc nào không rõ. Khi nhận ra, cô hơi ngượng, vội buông ra, mặt nóng bừng.
           - Bao giờ chạy thử, anh Khanh? - Thúy hỏi.
           - Đêm mai! Phòng kỹ thuật phải cử hai người theo dõi trong thời gian tàu chạy thử.
           - Anh cho em đi nhé!
           - Lần này thì không được!
           - Sao vậy?
           - Còn sao nữa? - Khanh ý nhị nhìn Thúy.
            Thúy cười:
           - Ôi tiếc quá!
           - Anh và Sơn sẽ đảm nhận việc đó.
           - Xin chúc mừng phòng kỹ thuật - Người phân xưởng trưởng phân xưởng ụ đà hớn hở đứng trước mặt Lâm Khanh và chìa bàn tay to, thô về phía anh.
           - Sao lại chúc mừng phòng kỹ thuật? - Lâm Khanh bóp chặt bàn tay người phân xưởng trường - Phải chúc mừng toàn nhà máy chứ.
           - Nhưng trước hết, hãy cho bắt tay những người đã thiết kế ra nó - anh ta quay sang Thúy - Xin chúc mừng nữ đồng chí kỹ sư đã có sáng kiến, giúp cho nhà máy hạ thủy nhanh những con tàu.
            Thuý đặt bàn tay nhỏ bé của mình trong lòng bàn tay thô ráp của người phân xường trưởng:
           - Cảm ơn phân xưởng ụ đà đã góp phần hạ thủy con tàu an toàn, nhanh chóng...
           - Xin thêm: vì có sự giúp đỡ của phòng kỹ thuật, đặc biệt là đồng chí Lâm Khanh.
           - Tôi cải chính hai chữ "giúp đỡ bằng hai chữ "tham gia" - Khanh nói và cả ba người cùng cười.
            Người phân xưởng trưởng bước đi. Xung quanh, tiếng nói cười huyên náo. Ai cũng vui, ai cũng hỉ hả tự hào. Mọi người chúc tụng, bắt tay và cả đấm vào vai, vào lưng nhau.
            Chợt có tiếng phản lực rét qua, rất thấp. Công nhân nhanh chóng tản ra. Còi báo động chưa kịp rúc, tiếng súng, tiếng bom đã nổ loạn xạ.
           - Về vị trí! - Tiếng người nào đó hô to.
            Đèn tắt. Một quả rốc két nổ ngay cạnh ngôi nhà hai tầng. Khanh vội kéo tay Thúy, chạy lại chiếc hầm trú ẩn.
           - Anh Khanh! Tài liệu.
            Thúy giằng ra. Cô hớt hải nhào về phía phòng làm
           - Thúy! Thúy!
            Khanh đuổi theo. Anh nắm được tay cô và kéo ngồi xuống. Một lớp đất đá từ đâu phả vào người. Khanh xoay lại, che cho Thúy. Chớp lửa loé sáng, kế đó là một tiếng nổ. Đạn 12 ly 7 vọt lên.
           - Chúng đánh vào nhà máy... Em chạy ra hầm - Khanh nói hổn hển - Nhanh lên!
           - Tài liệu...
           - Anh hiểu rồi. Ra hầm, Thúy!
            Khanh khom người, bật đi.
           - Rốc két đấy, cẩn thận, anh Khanh! - Thúy hét với theo. Nhưng bóng Khanh đã nhoà trong khói.
            Khanh nhảy vào phòng làm việc. Cả phòng mịt mù. Mảnh bom văng vào kính choang choang. Hơi nóng hầm hập. Lửa đã bén đến cửa sổ. Khanh lần lại phía tủ. Anh giật mạnh cánh cửa, vơ nhanh hai chiếc cặp, vọt ra.
           Xung quanh, lửa cháy rần rật. Bom vẫn chớp lên và khói đen phủ trùm nhà máy.
           Đến giữa sân, Khanh khựng lại. Anh "ớ!' lên một tiếng. Hai mắt mờ nhoà. Có vật gì xuyên ngọt qua người. Hẫng, hụt. Khanh lảo đảo. Cặp tài liêu tuột khỏi tay. Trên ngực anh, máu ộc ra. Bầu trời quay tròn. Nhà máy xoay tròn. Đất sụt lở dưới chân. Dù thức về cái chết đến rất nhanh. Khuôn mặt mẹ chập chờn hiện ra. Và... khuôn mặt Thúy. Khanh muốn kêu to một tiếng, nhưng tất cả chìm vào hư vô ...



---------------------------------
Chú thích:
1. Triền: dụng cụ đặt con tàu lên đó để hạ thủy.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 01 Tháng Tám, 2009, 09:52:59 am

34

           Họ vẫn đi như thế, đã sang ngày thứ ba. Đói. Mệt, và đôi chân phồng rộp, mỏi rụng rời Quế vẫn bước trước đoàn người.
           Lê và Cang dìu Xuân đi giữa. Nhóm sau cùng gồm Hải, Lượng và Linh. Mọi người im lặng, thất thểu, mệt nhoè.
           Hai ngày nay, chỉ ăn rau tàu bay nấu lẫn môn đốc, ăn mãi một thứ ấy, chán ngắt. Những làm thế nào khi bắt buộc phải đi giữa rừng núi điệp trùng này?
           Sáng nay, Lê quyết định bỏ ra một số gạo còn lại trong cái ruột tượng nhẹ tênh, đeo toòng teng trước ngực  Cang, nấu cơm và sau đó chia cho mỗi người một nắm. Nhận suất cơm bằng quả trứng vịt, mắt người nào cũng sáng lên. Nhưng không ai ăn họ biết đó là khẩu phần trong ngày, phải dành làm bảo bối vượt đồi.
           Gần trưa, Lê tuyên bố:
          - Cố vượt qua quả đồi này, sang bên kia chân dốc, ta nghỉ ăn cơm.
           Nhắc tới cơm, mọi người thèm quặn ruột. Họ cố bước và tự an ủi: vượt qua dốc, sẽ có cơm. Nỗi háo hức sắp được ăn khiến mọi người bước mau hơn.
           Tới chân dốc, Lê bảo:
          - Gắng lên chút nữa nhé, các đồng chí. Đi hết cánh rừng, ta nghỉ một thể.
           Mọi người lại bước.
           Đi hết cánh rừng, Lê muốn nghỉ, nhưng anh sợ. Hết cơm, tức là hết cái đánh lừa mình để vượt những ngọn đồi khác. Lê lờ di coi như không có lời tuyên bố. Anh  dìu Xuân, không nhìn mọi người lầm lũi lần đi. Không  tiếng đòi hỏi, nhắc nhở, nhưng trong thâm tâm, ai cũng hiểu cần phải thế. Họ nhẫn nại bước, tự nhắc thầm: cơm còn đó, hết ngọn đồi kia sẽ ăn.
           Quá trưa, họ nghỉ bên bờ một con suối. Anh em tản ra kiếm môn dốc. Môn dốc ở đây không sẵn. Họ phải len lỏi, lần vào mãi rừng sâu. Kiếm được nắm rau, phải đi hàng tiếng. Những cây môn khẳng khiu như những ngón tay gầy. Lê dìu Xuân tới mép nước, tháo băng ở chân và rửavết thương. Bàn chân Xuân sưng húp, tấy đỏ. Vết chông xuyên qua chưa kịp kín miệng, những vụn thịt lầy nhầy, trắng nhợt đã lên mùi.
Xuân nằm ngửa, cái chân đau ghếch trên tảng đá.
          - Chịu khó nhé - Lê động viên - Mình rửa khẽ thôi. Biết cậu đau mà.
           Rửa xong, Lê xé áo lót băng lại. Vết thương đỡ đau, Xuân lắc nhắc chống gậy đi về võng.
          - Anh Lê - Cang từ đâu bổ về, gọi.
          - Ở đằng kia có người mình...
          - Người mình?
          - Bộ đội! Đang ngủ trên võng...
          - Hả?
           Hai người chạy xuống chân đồi. Lê đã nhìn rõ năm cánh võng, mắc cạnh nhau, lặng lẽ. Hai người ào xuống.
           Nhưng Lê sững lại. Trên mỗi chiếc võng là một bộ xương. Cạnh đó, chiếc mũ tai bèo dã mục và khẩu AK đã han nhoèn. Lê đứng lặng, đờ ra.
           - Họ bị đói, thuyền trưởng ạ. Cang thở dài - Chim rỉa hết thịt rồi. Khổ!
Lê không đáp, anh bước tới, lẳng lặng cuốn từng cánh võng. Hai người gắng đào năm cái hố...
           - Có việc gì đằng ấy thế, thuyền trưởng. - Hải hỏi khi Lê trở lại.
           - Không có gì cả - Lê đáp - Tôi và Cang đi tìm đào ít củ mài, nhưng chả có.
           - Trước đây khu rừng này nhiều củ mài lắm - Quế tham gia - Nhưng những năm gần đây hết rồi. Anh em mình đói mà ... Tôi e tới lúc rau tàu bay và môn dốc cũng không còn mà ăn!
       
           Ngày và đêm hôm đó, Lê bị ám ảnh bởi hình ảnh năm người chết lả trên võng. Họ chết như không có cái chết của họ ở cuộc đời này. Lê trằn trọc rồi anh nghĩ đến  số phận đoàn thủy thủ, nghĩ đến dăm ba lon gạo cuối cùng mà đoàn có được. "Từ ngày mai, số gạo đó sẽ không xâm phạm - Lê quyết định phải tận dụng rau rừng".
           Bên cạnh, Xuân trở nhẹ.
           - Cậu không ngủ được à? - Lê hỏi khẽ.
           - Cái chân, anh Lê ạ.
           - Buốt lắm phải không
           - Tôi đang nghĩ là nó cứ cụt hẳn đi lại hơn, đỡ vướng. Tôi có làm phiền anh em nhiều không, anh Lê?
           - Nghĩ quẩn rồi. Ngủ đi.
            Xuân im lặng. Rừng đêm tĩnh mịch. Tiếng giò xào xạc trên cành cây. Lê kéo võng Xuân sát lại võng mình:
           - Đói hả?
           - Này, nắm cơm của mình còn.
           - Anh không ăn à?
           - Cậu cầm lấy.
           - Tôi... Anh ăn đi!
           - Bảo là cầm lấy!
            Xuân với sang võng Lê. Nắm cơm nguội ngắt, khô cứng, Xuân bẻ đôi.
           - Anh ăn một nửa, tôi mới dám... Anh cũng đói chứ. Nhiều lúc tôi muốn chết quách đi cho rảnh. Sống chỉ làm khổ mọi người. Không có tôi anh em cũng đã vất vả lắm rồi.
           - Nhảm. Mai tới trạm, xin ít thuốc tím, mình rửa lại. Rửa vài ba bận là đỡ và sau đó sẽ khỏi hẳn.
           - Không khỏi được đâu, anh Lê ạ!
           - Sao không khỏi?
           - Thịt chỗ đó thối rồi. Tôi biết.
           - Cứ mặc mình. Bây giờ thì ngủ một chút, mai có sức mà đi.
           - Từ đêm mai, anh cho tôi mắc võng nằm xa xa ra nhé. Nghĩ ra điều nhảm nhí gì nữa thế?
           - Tôi hỏi thật, mùi hôi ở chân tôi có khiến anh em khó chịu không?
           - Đừng nghĩ bậy! Vết thương của cậu là vết thương của mọi người. Chúng ta là một cơ thể. Con ngựa không  ăn, cả tàu bỏ cỏ. Anh em thương và thông cảm với cậu lắm.
           Xuân khẽ thở dài. Miếng cơm trong miệng bã ra.
           Sáng hôm sau, Lượng đến bên võng Lê:
           - Hôm nay tìm ít củ chuối cho chắc dạ, ăn rau, đi một lúc là ngót bụng.
           - Hết muối rồi, củ chuối vừa đắng vừa chát, có nuốt nổi không!
           - Anh em họ đề nghị vậy!
           - Dễ gì kiếm ra.
           - Anh chàng Cang bảo chiều qua nhìn thấy mấy cây ở góc rừng đằng kia.
           - Cái thằng, tinh ra phết.
            Lê và Lượng lại chỗ Cang. Một lúc, ba người vác về hai cây chuối, có cả củ.
            Hôm đó tốp thủy thủ ăn món mới: củ chuối nấu với rau tàu bay.
            Ăn xong, lại lên đường.
            Khuya khuya, họ lần tới trạm giao liên của tỉnh.

            Trạm giao liên ở sâu trong cánh rừng, vài ba mái lán lúp xúp nằm rải rác.
            Lê cho anh em nghỉ trên bãi khách, ở đó lác đác đã dăm bảy chiếc võng của đoàn đến trước đung đưa. Anh và Quế đi về phía chiếc lán đầu cùng.
            Trước cái bàn ghép bằng thân vầu, dưới gốc cây to có tán lá xoè rộng, một người gầy gò, đã luống tuổi đang dí mắt sát vào tờ giấy. Cặp kính lão lúng liếng bên ngọn đèn dầu đã che kín ba mặt. Cạnh đó, mấy người khách đứng lặng, chờ đợi.
            Người trạm trưởng già lụng thụng trong bộ quần áo bà ba nâu, không có vẻ vội vàng, lần từng hàng chữ, đọc thong thả:
           - Đồng chí Nguyễn Hải Hùng!
           - Có! - Một người đứng sát đó lên tiếng.
           - Đoàn có bao nhiêu người?
           - Gần một tiểu đội.
           - Cụ thể?
           - Báo cáo, có sáu người tất cả.
           - Lên Tây Nguyên à?
           - Dạ.
           - Đủ lương thực chớ?
           - Báo cáo, tàm tạm.
           - Đồng chí cho anh em nghỉ ở bãi khách đằng kia, sáng mai đi sớm. Chú ý đèn lửa, nghe. Ở đây máy bay rà thường xuyên dó.
            Người trạm trưởng nhặt tờ giấy khác, ghé sát đèn:
           - Đồng chí... chữ nghĩa chi khó xem ri? Trà Văn Phong à?
           - Vâng, Trần Văn Phong ạ. Có!
            Lê lách lên và rút tờ giấy giới thiệu của quân khu vẫn để ở túi ngực, chìa ra trước ngọn đèn.
           - Chi đó, đồng chí? - Người trạm trưởng ngước lên hỏi.
           - Báo cáo, đề nghị đồng chí giải quyết cho luôn.
            Người trạm trưởng đón tờ giấy, soi gần đèn rồi ngước nhìn Lê:
           - Nhầm rồi, giấy này gửi năm-năm-chín (559).
           - Vâng, nhưng các binh trạm của đường dây năm- năm-chín rút lên biên giới. Chúng tôi muốn đi nhờ đường dây của tỉnh.
           - Đi ra à?
           - Đi ra!
           - Đi ra thì chờ. Tôi đang giải quyết người đi vào. Ông lại dí sát mắt vào tờ giấy lúc nãy:
           - Đoàn đồng chí Trần Văn Phong. Chỉ có hai người?
           - Dạ, hai. Chúng tôi đi họp.
           - Ba hôm nữa mới có người dẫn đường đó.
           - Báo cáo, nhưng chúng tôi...
           - Hoàng Mạnh Phong! Lại Phong nữa à?
           - Báo cáo đồng chí, chúng tôi cần vào cho kịp, đồng chí thông cảm - Người mang tên Trần Văn Phong sấn sát chiếc bàn, nhoài người trước ngọn đèn, cố phân trần - Nhỡ cuộc họp phổ biến tình hình này là gay lắm.
           - Đồng chí... - Người trạm trưởng ngẩng lên - Đã nói không còn người. Nào, đồng chí Hoàng Mạnh Phong.
           - Mười người, lại đi ra?
           - Vâng.
           - Cũng chờ!
           - Tức là ở lại trạm? Báo cáo trong đoàn có người bị thương.
           - Không có ngoại lệ. Đây đâu phải bệnh viện. Thông cảm.
            Lê và Quế đứng trong bóng tối. Lê hiểu rằng đi theo đường dây dân sự là đầy khó khăn. Ở đây người ta không có trách nhiệm đưa bộ đội đi ra, đi vào, họ chỉ làm nhiệm vụ đón cán bộ địa phương đi họp, đi công tác từ tỉnh này qua tỉnh nọ. Mỗi tỉnh đảm nhận vài ba trạm. Đi hết dịa phận coi như hết trách nhiệm. Nhưng biết làm sao, muốn trở về đơn vị, không còn cách nào khác.
           - Đồng chí Trần Vũ Lê.
           - Có! Lê bước vội tới.
           - Mười ba người?
           - Vâng, mười ba người.
           - "Đi ra miền Bắc có nhiệm vụ đặc biệt" - Người trạm trưởng lẩm nhẩm đọc rồi gỡ kính, ngồi xuống cây vầu bắc trên hai khúc gỗ, làm ghế.
           - Đồng chí cũng lại phải chờ.
           - Lâu không ạ?
           - Không rõ. Có thể dăm bữa nửa tháng. Có thể hơn Phía trước, địch đang càn. Lúc nào địch thôi càn mới đi được
           - Báo cáo thực với đồng chí trạm trưởng là đã bốn hôm nay anh em chúng tôi chỉ ăn rau tàu bay, cho nên...
           - Lương thực thì chúng tôi không giải quyết. Nhân viên trạm chúng tôi cũng ăn cháo mấy tháng nay. Một ngày có bao đoàn khách qua, chúng tôi giải quyết sao thấu, đã có quy định, khách đi trên đường dây, phải tự túc lấy lương thực, không rành sao?
          - Báo cáo, trong đoàn chúng tôi có đồng chí bị thương.
          - Bị thương à?
          - Tôi muốn xin ít thuốc tím.
          - Thuốc tím. Chờ nghe. Hoặc lát nữa tới!
          - Điều này nữa ạ, trạm cho chúng tôi chút muối...
          - Muối? Ngày mai nghiên cứu. Bây giờ khuya rồi.
         
           Lê cùng Quế quay lại bãi khách. Anh em ngồi cả dậy.
           - Tình hình thế nào? - Lượng sốt sắng hỏi
           - Ta phải nằm lại đây lâu đấy. Phía trước, trên đường đi địch đang càn. Điều đáng lo là phải tự túc lấy cái ăn.
           - Tự túc? Đào đâu ra?
           - Nói vậy nhưng chắc trạm không để mình chết đói. Nghỉ đã, mai bàn, anh Lượng ạ.
           
            Sáng hôm sau, mọi người chia tay với Quế. Lê ép Quế mang vài lon gạo, nhưng anh nhất quyết từ chối. Lấy cớ đi một mình, dễ dàng xoay được. Quế ứa nước mắt, ôm từng người, rồi vội vã ra khôi khu rừng. Lê và Cang tiễn anh khá xa.
           - Các anh quay lại, kẻo mệt - Quế giục.
           - Nhân thể chúng tôi đi kiếm rau mà.
            Đi hết ngọn đồi, Quế giục lần nữa. Cang và Lê đành dừng lại.
           - Anh cho bọn tôi gửi lời hỏi thăm chú Ba và anh chị em du kích. Riêng anh thì chúng tôi cảm ơn lắm.
           - Nhiệm vụ mà, anh Lê. Nếu nói ơn thì đồng bào miền Nam ơn các anh, ơn đồng bào miền Bắc nhiều chớ.
           - Các anh vất vả quá! Còn những hàng ngàn cây số lận...
           - Nhất định chúng tôi sẽ lại đưa vũ khí vào, anh Quế ạ !
           - Trong này tụi tui cũng sẽ cố gắng để khỏi phụ lòng mấy anh và đồng bào ngoài đó. Tôi đi nghe. Mong các anh mạnh giỏi.
           Quế bước xuống con đường mòn.

           Nhìn Quế khuất dần, Lê chợt nghĩ đến năm cánh võng tự dưng thấy sợ hãi. "Không một hạt gạo, Quế sẽ sống thế nào trong những ngày tới? Đường rừng, đi một mình, liệu có "ngủ quên" trên võng.
           
           Thủy thủ ngồi quây trên bãi cỏ, dưới những tán lá rậm rạp chờ Lê. Nhìn những khuôn mặt hốc hác, xanh rớt, Lê thấy nhói đau. Những gian khổ vừa qua chưa phải là những điều cuối cùng. Trước mắt mới là những  thử thách, mà mỗi người phải ý thức được để sẵn sàng đón nhận.
          - Các đồng chí! - Lê nói - Bây giờ hãy cùng nhau bàn cách sống, chờ ngày lên đường trở về đơn vị.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 07:54:45 pm

35


           Chiếc xe đỗ dưới chân ngọn núi đá. Đại tá tư lệnh quân chủng trong bộ quân phục màu ghi, đẩy cửa bước xuống. Ông dừng lại một lát, ngó toàn cảnh khu vực đoàn bộ đoàn 25 rồi bước lại ngôi nhà ban chỉ huy.
           Cùng đi với tư lệnh có đồng chí trung tá trường phòng tác chiến và đồng chí đại úy, trưởng phòng quân báo.
           Đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim cùng tham mưu trưởng Đặng, chủ nhiệm chính trị nhận được diện của Văn phòng Bộ tư lệnh, đã chờ sẵn, ra đón.
           Tư lệnh bắt tay từng người, rồi bước lại chiếc bàn dài, ngồi xuống. Mọi người cùng ngồi.
           - Nghe nói cháu đã ra khỏi trại cải tạo rồi, hả ông Tư? - Tư lệnh bỏ chiếc cặp lên bàn, vuốt mái tóc lưa  thưa và hỏi - Ông bà cũng chuyên chính gớm nhỉ?
           - Báo cáo, bất đắc dĩ thôi ạ. Nó hư lắm. Bà nhà tôi là người thương con, cuối cũng cũng phải dùng đến biện pháp ấy. Vào trại anh chàng tiến bộ hẳn. Vừa được ra hôm giữa tháng ạ .
           - Con hư, lỗi tại chúng mình một phần. Cứ đi biền biệt, lấy ai dạy dỗ, giáo dục? Tôi cũng có hai đứa con gái đầu lòng và một cậu ấm. Nhưng may là các cháu cũng "tương đối" cả, mình đỡ mệt... Ta làm việc được chưa?
           - Báo cáo được ạ.
             Tư lệnh đề nghị cán bộ đoàn báo cáo công tác chuẩn bị kế hoạch vận tải sắp tới theo chỉ thị của Bộ tư lệnh. Chính ủy Bùi Kim được đảng ủy phân công chuẩn bị, mở cặp tài liệu và trình bày. ông nói thong thá, mạch lạc, chốc chốc lại ngước nhìn vị đại tá và các cán bộ cùng đi. Chính ủy điểm lại một số nét chung về công việc chi viện cho chiến trường vừa qua của đoàn; những thuận lợi những khó khăn; tình trạng số tàu vừa nhận được  thêm của nhà máy đóng tàu Hải Phòng, tình hình địch, tình hình "bến"; tư tưởng cán bộ, chiến sĩ... Cuối cùng, ông trình bày phương án vận chuyển của đoàn. Theo phương án này, sắp tới sẽ tung ra một lúc bốn tàu, xuất  phát bốn ngày khác nhau, nhưng tính toán sao để cùng vào bốn bến trong một đêm. Kế hoạch đi biển, kế hoạch hợp đồng, kế hoạch lấy hàng đã vạch tỉ mỉ, chu đáo. Chỉ chờ ý kiến Bộ tư lệnh là tiến hành.
            Báo cáo xong, với vẻ tự tin, chính ủy bỏ kính, ngước nhìn mọi người chờ đợi.
            - Táo bạo đấy! - Tư lệnh buông bút - Nào, mời các anh.
            - Xin phép tư lệnh được hỏi đồng chí Bùi Kim - Đồng chí trung tá trưởng phòng tác chiến lên tiếng - Căn cứ yếu tố nào để đoàn có kế hoạch như vậy?
            - Báo cáo tư lệnh, và các đồng chí - Chính ủy Kim chậm rãi - Một là chúng tôi chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh: khẩn trương chi viện gấp cho toàn chiến trường chuẩn bị chiến dịch 1 . Hai là căn cứ vào tình hình địch trên biển, căn cứ vào kinh nghiệm đối phó với chúng trong những chuyến đi vừa qua. Ba là căn cứ vào tình hình các "bến", đã sẵn sàng nhận vũ khí. Bốn là căn cứ vào số tàu nhà máy đóng tàu Hải Phòng vừa cung cấp cho ta.
            - Nghe nói nhà máy bị thiệt hại lớn do trận oanh tạc tháng trước? - Tư lệnh chợt hỏi.
            - Cũng có một số công nhân hy sinh ạ. Nhưng nhà máy vẫn cố gắng sản xuất được. Song việc tiếp tục hạ thủy những con tàu gặp không ít khó khăn. Tôi xin báo cáo tiếp: Năm là, căn cứ vào khả năng hợp đồng của đoàn, khả năng đi biển của số thuyền trưởng và anh em thủy thủ. Với nữa lần trước đồng chí tư lệnh quân chủng  và đồng chí chính ủy có gợi ý: nên chăng cùng một lúc  triển khai tổ chức cho nhiều tàu đi. Chúng tôi thấy ý kiến đó lúc này đã chín muồi. Đảng ủy chúng tôi đã bàn kỹ và hạ quyết tâm lập kế hoạch như đã trình bày.
           - Và chuyến đi của tàu 54, tàu 56 hồi tháng 7 là một thử nghiệm thành công? - Đồng chí trưởng phòng tácchiến hỏi.
           - Vâng, đúng thế! Khi tàu 54 bị lộ, đã tìm cách đánh lạc hướng địch để tàu 56 vào bến. Điều đó cho ta kết luận: có thể đi nhiều tàu một lúc nhằm dàn mỏng lực lượng địch và hỗ trợ lẫn nhau. Phương thức này sẽ hiệu quả và an toàn hơn.
           - Chúng ta vội vã quá chăng?
           - Hành động của chúng ta phụ thuộc vào sự đòi hỏi của chiến trường. Chúng tôi nghĩ là không vội vã. Nôn nóng, chủ quan sẽ dẫn tới thất bại. Nhưng rụt rè, cầu toàn và thiếu quyết đoán là bỏ lỡ thời cơ. Chúng tôi đã có nhiều bài học xương máu về vấn đề này.
            Tư lệnh gật đầu đồng tình. Lâu nay ông đã nghĩ đến những vấn đề mà chính ủy Bùi Kim vừa trình bày. Giai đoạn đi lén lút, hoàn toàn bí mật đã qua rồi. Thụ động chờ đợi một tình hình như thế là ảo tưởng và thiếu thực tế.
            Tư lệnh ngả người, tựa vào thành ghế, hai tay vuốt trán. Mỗi lần có điều gì vui vẻ, ông thường có những cử chỉ như vậy.
            - Đoàn yêu cầu gì đối với Bộ tư lệnh không? - Tư lệnh hỏi.
            -  Báo cáo, có chứ ạ. Chúng tôi đề nghị phòng quân báo cung cấp tin tức địch thường xuyên hơn - Chính ủy Bùi Kim trả lời.
            - Gì nữa?
            - Và theo dõi, chỉ đạo chúng tôi sát hơn.
            - Cụ thể?
            - Chúng tôi đề nghị cơ quan tác chiến thường xuyên bám sát tình hình các bến và có thông báo kịp thời để chúng tôi xử lý. Việc hợp đồng với bến là một trong  những khâu có tính quyết định sự thành bại của chuyến đi. Kinh nghiệm vừa qua cho hay rằng năm mươi phần trăm thắng lợi thuộc sự chuẩn bị của bến.
            - Hợp đồng với bến, Bộ tư lệnh sẽ lo. Nếu không có gì nữa, xin đồng chí tư lệnh cho được báo cáo phương án cụ thể. Phần này anh Tư sẽ trình bày.
            Tư lệnh gật đầu.
             Đoàn trưởng Tư rời ghế và bước tới tấm hải đồ treo ở vách. Ông diễn giải:
            - Báo cáo tư lệnh, chuyến đi sắp tới chúng ta sẽ đưa tàu vào bốn hướng. Tàu T.37 do thuyền trưởng Hòa và chính trị viên Đạm phụ trách sẽ vào Quảng Ngãi. T.37 có một thuận  lợi là đồng chí Đạm và hầu hết anh em thủy thủ đã vào đây một lần, vào cuối năm 1966. Và đồng chí Hòa là  một thuyền trưởng vững, có nhiều thành tích, dũng cảm.
            - Xin lỗi, tôi ngắt lời một chút. Có phải vùng Đức Phổ, Sơn Tịnh? - Tư lệnh quân chủng chợt hỏi.
            - Báo cáo, đúng.
            - Xã Đức Bình?
            - Vâng, xã Đức Bình. Tàu T.230 của thuyền trưởng Ngát sẽ vào vùng Hòn Hèo, Nha Trang. Hai tàu mới nhận của nhà máy cũng sẽ lên đường vào dịp này. Tàu thứ nhất mạng tên T.178 do thuyền trưởng Ba chỉ huy sẽ vào Bình Định. Quê đồng chí này ở đó, nên rất thông thạo luồng lạch. Anh em gọi đồng chí ấy là "ông Tám Thạnh phẩy". Chiếc thứ hai mang tên T.63 đi Cà Mau do đồng chí Thắng làm thuyền trưởng và đồng  chí Tâm làm chính trị viên. Chúng tôi dự kiến vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 22 các tàu sẽ cùng ở vị trí Z 1. Muốn vậy chuyến đi Cà Mau sẽ xuất phát sớm hơn ba ngày. Và tàu đi Quảng Ngãi xuất phát muộn nhất.
           - Cụ thể T.63 sẽ nhổ neo ngày nào? - Tư lệnh hỏi lại.
            Đoàn trưởng dựng chiếc que cạnh tấm hải đồ, bước tới bên bàn, thong thả trả lời:
           - Báo cáo, dự kiến đêm 18 ạ!
           - Đêm 18? - Vị đại tá nhắc lại. Một lúc ông bảo:
           - Đồng ý! Tôi đồng ý.
            Sau khi bàn bạc và trao đôi với đồng chí trưởng phòng tác chiến, trưởng phòng quân báo một số vấn đề có liên quan đến chuyến đi, ban chỉ huy đoàn xin ý kiến cuối cùng của tư lệnh. Tư lệnh hài lòng thông qua kế hoạch. Khâu tổ chức thực hiện giao cho đoàn cùng hợp đồng với phòng tác chiến.
            Trưa ấy, tư lệnh và những cán bộ cùng đi, ở lại ăn cơm. Theo chương trình, buổi chiều ông sẽ xuống thăm, đồng thời kiểm tra công tác chuẩn bị của tàu T.37 và tàu T.63, chiếc tàu mới nhận của nhà máy.
            - Người ta đồn rằng thuyền phó tàu T.37 là một tay ngang tàng, liều lĩnh phải không? - Tư lệnh hỏi chính ủy Bùi Kim khi hai người ngồi ở phòng khách.
            - Lời đồn bao giờ cũng chỉ là lời đồn thôi ạ.
            - Vậy anh chàng là người thế nào?
            - Tôi đã sống với Tòng hơn năm nay. Trước hết, đó là con người thích hành động và dám hành động.
            - Điều ấy đáng quý!
            - Vâng. Anh ta tự tin và không từ nan trước công việc, không lười nhác trong suy nghĩ. Sống thẳng thắn, trung thực, sống hết mình. Song, thường vội vã và nôn nóng. Tôi thích anh thuyền phó ấy.
            - Vừa rồi có ý kiến nên phục hồi chức thuyền trưởng cho Tòng, song đảng ủy còn đắn đo phải không?
            - Đảng ủy muốn thử thách Tòng thêm. Công việc của đoàn cần những người dũng cảm, nhưng phải chín chắn và tỉnh táo. Thực ra Tòng làm thuyền trưởng đã khá lâu về chuyên môn không phải bàn. Anh ta là thuyền trưởng đi biển giỏi, có trách nhiệm. Song còn nóng vội trong công việc. Báo cáo tư lệnh, chuyến đi vào Cà Mau  của T.37 vừa qua nếu không có suy nghĩ sáng tạo của Tòng, con tàu sẽ kẹt lại trong đó.
            - Tôi có nghe báo cáo chuyện "đèn khò - chân vịt"  ấy
             Đầu giờ buổi chiều, có điện thoại từ văn phòng Bộ tư lệnh gọi xuống: Mời tư lệnh về gấp, có công việc khẩn trên Bộ gọi. Ông đành bỏ dở kế hoạch làm việc ở đoàn 25. Trước khi ra xe, tư lệnh hỏi đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim.
            - Anh em thủy thủ tàu T.67 đang ra sao?
            - Theo báo cáo từ "bến", anh em đã gặp trạm giao liên đầu tiên của tỉnh và đang tổ chức trở về - Đoàn trưởng Tư trả lời.
            - Hy vọng anh em sẽ an toàn. Bao giờ họ về, nhớ báo cho biết để xuống thăm.

             Thuyền trưởng Hoà đi công tác đột xuất, chưa về, thuyền phó Tòng cùng chính trị viên Đạm lên ban chỉ huy đoàn nhận chỉ thị, kế hoạch đi biển. Ngồi trong phòng họp lòng dạ Tòng lại để nơi con tàu. Mấy hôm  nay máy tàu T.37 không được tốt, theo đề nghị của Tòng, ban kỹ thuật đã cử người có chuyên môn giỏi xuống cùng anh em thủy thủ sửa chữa. Mọi người làm quên cả giờ, làm thâu đêm, tối qua thì sửa xong. Nhưng khi chạy thử, Tòng phát hiện ra ống làm lạnh bị rò. Hỏng hóc không lớn nhưng phải sửa kịp thời để chuẩn bị chuyến đi tới. Trước khi lên đoàn nhận lệnh, Tòng đã giao cho Khang, máy trưởng, lên ban kỹ thuật nhận vật tư để quấn bịt chỗ rò. Tuy vậy anh vẫn thiếu an tâm. 

             Ngồi nghe đoàn trưởng và chính ủy phổ biến nhiệm vụ, Tòng bứt rứt. Khi đoàn trường hỏi đến tình trạng máy, Tòng đứng dậy và trả lời dứt khoát:
             - Báo cáo, máy tốt. Đêm qua đã chạy thử ạ.
             Tuy thế, không khỏi áy náy, định nói thêm rằng ống làm lạnh bị rò, song nghĩ thế nào, lại thôi. Thêm nữa, anh tin là đến lúc này, Khang và anh em thủy thủ đã sửa xong. Vết rò cũng không lớn lắm.



----------------------------------
Chú thích:
1. Tức là chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy đầu xuân 1968. Nhưng lúc đó không ai rõ cụ thể như thế.
2.  Vị trí Z: Vị trí quy định chuyển hướng vào bờ.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:00:00 pm

            Tan họp, Tòng bổ về tàu. Chính trị viên Đạm vừa đi vừa chạy mới theo kịp.
            Tốp thủy thủ đang túm tụm đầu mũi câu mực, không ai chú ý tới thuyền phó và chính trị viên đang đứng phía sau.
            - Rỗi rãi nhỉ? - Tòng lên tiếng - Thuyền trưởng về chưa?
            - Chưa thấy ạ - Một thủy thủ trả lời.
            - Thuyền phó Xuyên cũng chưa về?
            - Vâng! Thuyền phó lên hậu cần làm kế hoạch lấy dầu, lấy thực phẩm từ sáng.
            - Bịt xong chỗ rò rồi chứ, Khang? - Tòng hỏi.
             Anh chàng máy trưởng đang say với chiến công giật được chú mực to bằng bàn tay, toét miệng cười:
            - Báo cáo thuyền phó, lỗ rò ấy bịt khi nào không được ạ.
            - Nghĩa là chưa làm?
             Khang hồn nhiên:
            - Vâng!
             Tòng cau mày. Khuôn mặt đỏ bừng. Đôi môi run run.
            - Đồ tồi! Chấp hành mệnh lệnh như thế à? Ngay bây giờ có lệnh rời bến thì sao? Hả? Hả?
             Tòng quát, đôi mắt long lên, giận dữ. Và không để  Khang kịp phản ứng, anh sấn tới ôm thốc chàng máy trưởng ném tùm xuống nước.
            - Này thì câu mực - Tòng riết róng.
              Đám lính hớt hải, vội tản ra.
            - Đừng ỷ vào chuyên môn giỏi mà chủ quan - Tòng nói tiếp rồi hầm hầm rời tàu, bước về phía ngôi nhà của ban kỹ thuật.
             "Vẫn không sửa được tính nóng". Đạm nhìn theo dáng đi tất tưởi, vội vã của Tòng, lắc đầu.
             Khang lóp ngóp từ dưới nước lần lên boong. Người ướt sũng, anh ta bước vội lại chỗ Đạm vừa vuốt nước vừa hỏi, giọng lo lắng:
            - Được lệnh rời bến hả, chính trị viên?
            - Tại sao không cho anh em sửa máy? - Đạm vặn.
            - Tôi cứ tưởng...
            - Tưởng cái gì? Tưởng ở bên Đài Loan. Công việc thời chiến mà bê trễ thế đấy. Tôi sẽ phạt anh, không cho đi chuyến này nữa.
            - Tôi có lỗi, báo cáo, nhưng... tôi sẽ sữa chữa khuyết điểm ngay bây giờ ạ. Tôi sẽ lên ban kỹ thuật, tôi sẽ...
            - Tôi xin hứa là...
            - Hãy vào thay quần áo. Chuyện đó xét sau.
             Khuôn mặt xỉu như chiếc bánh mì vừa nhúng nước. Khang uể oải bước vào khoang.

            Ở ban kỹ thuật, một thiếu úy chừng hai ba, hai bốn, có nước da trắng đang dông dài thuyết trình với Tòng những nguyên tắc trong công tác cấp phát vật tư. 
            - Nói ngắn chứ! - Tòng gắt.
            - Muốn lấy vật tư, các anh phải kê vào bảng dự trù, sau đó lên xin đoàn duyệt. Duyệt xong lại đưa xuống chúng tôi để làm kế hoạch. Một chiếc ê-cu cũng phải dự trù, phải nằm trong kế hoạch, đừng quên rằng quân đội chúng ta đang từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. chiến tranh hiện đại đòi hỏi...
            - Anh học thuộc như vẹt những điều ấy ở trường phải không?
            - Trường học là nơi...
            - Vất mẹ nó mớ lý luận dài dòng ấy vào sọt - Đang sẵn bực, Tòng xẵng - Ngày mai tàu đi biển mà hôm nay máy hỏng thì phải cấp vật tư cho người ta sửa máy, rõ  chưa? Đừng máy móc, thiếu thực tế, chỉ biết ngồi sau  bàn tụng những điều trong sách. Xuống tàu mà làm lính vài ba bữa.
            - Có những điều thuộc về nguyên tắc, chúng ta là những sĩ quan, phải tôn trọng. Ví như...
            - Tôi hỏi, anh có phát không?
            - Ví như trong việc...
            - Tôi hỏi anh có phát không?
              Tòng sấn lên, đôi mắt gườm gườm. Chàng thiếu úy hơi hoảng, lùi lại.
            - Ờ, đương nhiên tôi sẽ... sẽ phát, nhưng đứng về mặt thủ tục thì...
            - Tôi không có nhiều thời gian đâu. Tối nay tàu rời bến.
             Anh thiếu úy trẻ lấm lét nhìn Tòng rồi mất hút trong kho. Lát sau, anh ta mang ra một cuộn vải chống nhiệt để trước mặt Tòng.
            - Ký vào đây! - Anh ta cộc lốc.
            - Như vậy có phải tốt hơn không? - Tòng vui ra mặt, chộp lấy cổ tay anh chàng thiếu úy lắc lắc mấy cái rồi mặc cho anh ta đầu mày chân tóc ngứa ran vì xấu hổ.
             Tòng cắp cuộn vải chống nhiệt, rảo cẳng bước về tàu.
             
             Việc Tòng ném Khang xuống nước, không cánh mà bay tới cơ quan chính trị. Ngay chiều hôm đó, một trợ lý xuống tàu T.37 xem thực hư ra sao. Song, điều khiến người trợ lý ngạc nhiên là khi gặp thủy thủ trên tàu, họ đều nhất loạt trả lời rằng không có chuyện như thế.
            Anh ta gặp Khang.
            - Có lẽ người ta trông nhầm, lúc đó, quả thuyền phó Tòng bực, nhưng chuyện anh ấy ném tôi xuống nước là không có - Khang báo cáo trơn tru, đôi mắt nhìn người trợ lý với vẻ thành thật - Tôi đang câu mực, vì muốn gỡ cước nên đã nhảy xuống. Chuyện có thế.
            Anh ta ranh mãnh nhìn Khang, cái nhìn như muốn bảo: "Đừng sạo anh bạn, tôi rõ cả". Cuối cùng anh gặp Đạm.
            - Tôi ngỡ anh em thủy thủ họ đã trả lời đồng chí rồi chứ - Đạm thong thả đáp.
            - Anh nghĩ về những người trợ lý chúng tôi thế nào, anh Đạm - Người của ban chính trị ý nhị nhìn Đạm, tủm tỉm cười - Các anh tưởng tôi ngây thơ lắm à? Chả  lẽ tôi không rõ được điều gì đã xảy ra?
            Cuối giờ chiều, Đạm kể lại với Tòng. Anh cũng lưu ý Tòng về sự nóng nảy vừa rồi.
            - Tôi biết tật xấu của mình. Tôi đã thiếu tôn trọng anh em.

             Buổi tối, khi lên giường nghe bên phòng thủy thủ nhiều tiếng rì rầm, Tòng lắng tai. Một thủy thủ trách:
            - Ông dở ẹc. Đáng ra phải tổ chức làm cho xong cái công việc bịt vết rò nơi ống lạnh rồi mới câu mực chứ.
            - Chủ quan! Hôm nay mà tàu được lệnh nhổ neo thì ông vào tù.
              Tiếng Khang:
            - Thì người ta đã phải nói dối ông trợ lý chính trị rồi còn gì.
            - Phải dùng đến biện pháp ấy là xoàng. Phải không các bố?
            - Ai chẳng hiểu thế! Nhưng nếu không vậy, nhỡ anh Tòng lại lên bờ? Này, mà đừng tưởng ông trợ lý không biết gì nhé .
            - Lỗi là tại cái tên Khang này. Chỉ mải câu mực.
            - Đáng ra chiều nay cậu phải tới xin lỗi thuyền phó.
            - Cũng định thế, nhưng ngại.
            - Ngại? Cậu cầm tinh con cáy hả? Đã có lỗi mà biết lỗi thì phải dũng cảm lên.
             Tòng nằm im. Xin lỗi ư? Chính anh mới phải xin lỗi Khang. Anh đã nóng, anh đã quá giận mất khôn. Anh đã biểu hiện thái độ gia trưởng. Vậy mà mọi người đã tìm cách bao che, tha thứ, có một cái gì nao nao. Tòng thấy sống mũi cay cay. Tình cảm mọi người khiến Tòng  xúc động. Thì ra anh em không cố chấp, nếu mình luôn luôn vì công việc. Hai giọt nước mắt rịn ra, lăn trên gò má. Đã lâu lắm Tòng không khóc, vậy mà lần này...
             Tòng thấy mình gắn bó với anh em thủy thủ, gắn bó với con tàu T.37 hơn lúc nào hết. Anh bật dậy, định bước ra ngoài và nói to: "Các đồng chí, chính tôi là người có lỗi". Nhưng nghĩ sao, lại nằm xuống, lặng lẽ nhìn lên trần.

             Gió thổi qua cửa sổ se se lạnh. Thời tiết đang vào đông. Ngoài khơi, những đợt gió mùa đông bắc sắp tràn về và nhất định mặt biển lại cồn lên.
             Đêm đó, Tòng không ngủ được.




Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:04:57 pm

36


            Bình đưa Thúy về đến đường Trần Phú, trời tối đã một lúc. Thành phố sáng đèn. Hai người bước lên cầu thang, vào nhà. Thúy nằm ra giường, kêu mệt.
            - Ngồi sau xe cũng mệt - Bình bảo - Mệt thì cứ nằm nguyên đó, bao giờ tao nấu xong thì dậy.
            - Bình này - Thúy nói xuống - Chị Thu sinh chín đứa, đều đẻ rớt đấy. Đứa thứ nhất, đang gặt thì thấy lâm râm đau bưng, chị liền chạy vào gốc đa bên đường ngồi nghỉ, ai ngờ đẻ luôn đó. Đứa thứ hai còn dễ hơn, đặt gánh rạ xuống, vừa kịp lần vào giường là đẻ. Đứa thứ ba thì rơi trong ruộng mía. Mấy dứa sau đều tương tự thế. Đẻ dễ hơn gà. Vậy mà mình, đi một đoạn đường đã thở không ra hơi .
            - Ngày xưa, chửa đẻ là chuyện vặt.
             Hai người đi thăm mộ Lâm Khanh về. Nghĩa trang không xa thành phố, đường dễ đi, nhưng phải qua một chiếc cầu. Trong những ngày này, có việc đi qua cầu ai cũng ngại.
             Từ ngày Lâm Khanh hy sinh, Thúy buồn và trống trải. Đã mấy lần cô định xuống nghĩa trang thăm anh, nhưng công việc bận quá, lần lữa mãi hôm nay mới thực  hiện được. Cái chết của Lâm Khanh khiến phòng kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Khối lượng công việc anh làm, mà toàn việc chủ chốt, gấp hai, gấp ba người khác, bây giờ trút lên đầu Thúy và Bình. Hôm nay hai người  quyết định dành ít thời gian để thăm anh. Thăm anh chỉ có nén hương và dăm bông hoa trắng. Nhưng là tình cảm của Thúy. Hai người ngồi bên mộ, thầm kể vài ba điều ở nhà máy, đến khi nhang tàn, họ lặng lẽ ra về. 
             Lâm Khanh mất đã gần một tháng. Gần tháng qua Thúy mặc cảm rằng hình như cái chết của anh, phần nào đó lỗi ở mình. Vì thế, một tình cảm như thể sự ân  hận khiến Thúy day dứt. Cô biết anh yêu cô. Anh yêu cô không có lỗi, và cô đã có người yêu, cũng không có lỗi. Song cái chết cửa anh vẫn làm Thúy áy náy. Thúy thương anh, tiếc anh. Con người rất tốt, trong sáng và cao thượng. Kinh nghiệm chuyên môn đang ở thời kỳ làm được việc, đang ở giai đoạn mà năng lực sáng tạo đã tới độ chín.
             Vì thế, phần việc của Lâm Khanh còn dang dở, Thúy xin đảm nhận. Cô mang hết tâm trí cho công việc. Thúy cũng ngạc nhiên, không rõ sao mình có thể làm được  một khối lượng đáng kể như thế, hầu hết chi tiết của sườn tàu đều do cô vẽ và tính toán. Thúy làm cả trưa, cả tối cô mang bản vẽ về nhà, làm ban đêm. Mọi người bất ngờ trước khả năng chuyên môn ấy.
              Giám đốc An biết chuyện, khuyên nên giữ gìn sức khoẻ và nhiều lần tỏ ý rằng kỳ họp tới, sẽ đề nghị đề bạt cô lên phó trưởng phòng, quyền trưởng phòng.
              Quyết định chưa Thúy, trong nhà máy đã có tiếng to tiếng nhỏ nói vào, nói ra, rằng con người "không chồng mà chửa", con người "ăn cơm trước kẻng" lại được đề bạt? Nghe đâu Hành đang xúc tiến chuẩn bị dư luận để mở chiến dịch phản đối.
              Ăn cơm xong. Thúy đưa chuyện ra kể với Bình.
             - Nếu giám đốc giao việc, mày nghĩ sao? - Bình hỏi.
             - Mày thấy thế nào?
             - Còn thế nào! Phải nhận. Nhận cho những kẻ xấu bụng thấy mình không hèn, không sợ họ, cái gì thuộc về lẽ phải sẽ thắng.
             - Tao lại nghĩ khác!
             - Thối chí hả?
             - Không! Tao sẽ nhận...
             - Đúng.
             - Nhưng tao nhận chẳng phải để thách thức và khiêu khích mọi người. Không trẻ con như vậy. Tao nhận vì nghĩ rằng mình dám đương đầu với những thử thách, ác   liệt. Dám đương đầu với những công việc bộn bề trong  phòng. Nhận để gánh thêm trách nhiệm. Tại sao lại  không dám chịu trách nhiệm trước công việc mà tin mình làm được? Với nữa, Bình ạ, tao thấy cần phải tiếp tục cái hoài bão anh Khanh để lại. Chối bỏ có lỗi với anh ấy. Đề tài anh đang nghiên cứu "Cách thi công khi gá vỏ tàu" còn dở. Không rõ sao tao nghĩ mình phải hoàn thành. Mày hỗ trợ với tao đấy.
            - Nghĩ thế nào mặc. Nhưng từ chối chân phó phòng là đã phủ nhận mày, phủ nhận tao và những quan niệm về cách xem xét con người của giám đốc và những người ủng hộ mày.
             Đêm ấy Thúy và Bình làm việc với khuya. Họ chong đèn trên bản vẽ, đánh vật với những con số. Gần tháng nay Bình xin phép gia đình đến ở với Thúy. Bình thấy  cần đỡ đần Thuý trong những ngày khó khăn. Có Bình, Thúy đỡ cô đơn, đỡ vất vả. Bạn gái, lại dễ tâm sự.
             Một đêm, ôm ngang lưng Thúy, Bình hỏi:
             - Mày thích đẻ con trai hay con gái?
             - Con trai.
             - Sao thế nhỉ? Người phụ nữ nào cũng mong đẻ con trai. Nếu có chồng, tao sẽ đẻ con gái. Con gái dễ bảo và nhiều tình cảm.
             - Thích con trai, chẳng hẳn là ý muốn của người phụ nữ mà ý muốn của người chồng đã nhập vào họ nên thành ý muốn của họ. Người vợ yêu chồng nào chẳng muốn làm toại nguyện ý thích người chồng.
             - Mày cũng vậy?
             - Tao tin anh Lê thích con trai!
              Mỗi lần nói về đứa con tương ai, Thúy lại nghĩ đến Lê. Nỗi nhớ anh dâng lên. Và cô không giấu bạn tình cảm mình. Nói ra được, cô thấy đỡ khổ, đỡ nhớ hơn.
              Nghe Thúy kể, Bình thở dài.
             - Mày thật sướng!
              Lúc đó Thúy xoay người, ôm bạn, nao nao thương bạn, thương anh Nam.

              Sáng hôm sau giám đốc An cho gọi Thúy lên họp.
              Trưởng phòng Hành gặp cô ở cầu thang, mỉa:
             - Cô nhầm rồi. Trên này là chỗ họp cán bộ.
             - Có lẽ anh nhầm chứ không phải tôi.
             - Hả? Cô đừng nói kháy. Tôi đã làm chân trưởng phòng đến dăm bảy năm nay...
             - Đo năng lực con người lại không có thang giá trị thời gian.
              Hành đỏ mặt, nện chân lên bậc gỗ thinh thình.
              Khi ông An đọc quyết định đề bạt Thúy làm phó phòng và giữ chức quyền trưởng phòng, mọi người xôn xao. Nhiều ánh mắt đổ về phía cô. Lác đác có tiếng vỗ tay.
             - Tiêu chuẩn cán bộ là đạo đức chứ!
             - Đúng! Cô này làm phó phòng e không ổn.
             - Trẻ quá! Sợ thiếu chín chắn. Rồi phòng kỹ thuật sẽ ra sao.
              Đáng lý sau khi đọc quyết định, cuộc họp chuyển sang công việc khác, nhưng thoáng nghe có lời bàn tán, ông An dừng lại.
             - Xem ra trong chúng ta còn có người chưa nhất trí với quyết định của giám đốc, vậy ai có ý kiến về việc này, xin phát biểu công khai - Ông đưa mắt nhìn mọi người - Nào, nào xin mời phát biểu, cứ tự do.
             Im lặng.
             Rồi Hành đứng dậy. Anh ngó trước, ngó sau tìm những ánh mắt đồng tình, hắng giọng và nói:
            - Báo cáo giám đốc, thay mặt số lớn anh em làm việc lâu năm ở nhà máy, tôi xin phát biểu. Việc đề bạt cô Thúy lên làm phó phòng kỹ thuật là một quyết định hơi vội và sẽ bị anh em công nhân phản đối. Là kỹ sư nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng nên đã (e hèm) đã có thai. Điều này nằm trong phạm trù đạo đức của người cán bộ. Tôi lo quyết định của giám đốc sẽ gây nên hậu quả không tốt. Báo cáo, hết.
            - Nào, mời đồng chí khác!
            - Cô ấy trẻ quá ạ - Có tiếng ai đó nói bâng quơ.
            - Đúng đấy ạ! Vừa trẻ lại vừa thiếu ạ!
            - Ai nữa? - Giám đốc An gặng hỏi.
             Im lặng.
             Giám đốc đứng dậy, nhìn khắp lượt, ông nói:
            - Tôi tạm tóm tắt nhá. Việc đề bạt cô Thúy có hai ý kiến. Tôi xin nói từng điểm. Trẻ quá, trước hết, điều đó không có lỗi. Không ai đặt ra tiêu chuẩn làm lãnh đạo phải là những người già nua tuổi tác. Tiêu chuẩn trước hết là người đó đảm đương nổi công việc hay không? Còn đạo đức ư? Như thế nào là có đạo đức? Khái niệm này khá rộng. Đạo đức người công nhân chúng ta hiện nay là gì? Phải chăng trước hết phải tận tụy, để hết  tâm lực cống hiến thật nhiều cho nhà máy. Và sau đó phải có năng lực làm việc. Năng lực, vâng, năng lực làm.việc phải được xét là một tiêu chuẩn của đạo đức. Năng lực trước hết là năng suất chất lượng và hiệu quả... Chúng ta không chấp nhận một thứ năng lực chung chung, chỉ thiên về hô hào mà lại thiếu kiến thức, thiếu khả năng để cống hiến. Những tiêu chuẩn ấy, chúng tôi thấy cô Thúy đều có.
            Về việc riêng cô Thúy, tôi không bảo rằng đúng. Nhưng khi xem xét, chúng ta nên có tình và có cái nhìn nhân hậu, không nên thành kiến. Cô ấy và thuyền trưởng Lê yêu nhau. Chúng ta không chỉ ủng hộ mà còn ca ngợi. Khi xét một sự việc, hãy đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, điều kiện cụ thể, có như vậy, cách đánh giá mới chính xác. Thành kiến để làm gì? Thành kiến có giúp người ta tốt hơn không? Nâng đỡ cô ấy tạo điều kiện cho cô ấy tiếp tục công tác, tiếp tục cống hiến hết  khả năng chẳng là đạo đức ? Hay là ý kiến của tôi sai, các đồng chí? Nếu các đồng chí thấy cô Thúy không đủ tiêu chuẩn giữ cương vị mới, hãy tiến cử một người khác xứng đáng và có năng lực hơn để ban giám đốc chúng tôi xét. Nào, mời tất cả!
             Phòng họp im lặng. Có thể còn ý kiến chưa nhất trí, nhưng cái lý, cái tình để bảo vệ những ý kiến đó quá mỏng manh, nên không ai lên tiếng. Ông An chuyển hội nghị sang mục khác.
             Cuối buổi họp ông hỏi Thúy:
             - Công việc sắp tới nặng đấy, cháu thấy thế nào?
             - Cháu rõ và nghĩ mình làm được. Cho nên cháu dám nhận và dám chịu trách nhiệm trước tổ chức. Cháu tin cháu và tin vào mọi người trong phòng.
             Ông An gật gật đầu, hài lòng.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:12:06 pm

37


            Đoàn trưởng Tư đi lại trước tấm hải đồ khá lớn lồng sau lớp mi-ca, to trên vách, trong sở chỉ huy. Khuôn mặt đăm chiêu già hẳn. Hai má hóp, gồ lên những thớ thịt. Mái tóc đã bạc, càng bạc hơn. Lưng gầy, gù xuống, mệt mỏi. Đã theo dõi, chỉ huy nhiều chuyến đi, song chưa bao giờ ông lo lắng, hồi hộp và thấp thỏm như lần này. Bốn con tàu đã ra khơi ở bốn thời điểm, bốn vị trí khác nhau. Theo báo cáo sở chỉ huy, cho tới lúc này, những người thuyền trưởng của ông đang đưa tàu đi đúng kế hoạch, đúng phương án; chẳng còn mấy nữa, họ sẽ tới các vị trí chuyển hướng vào bờ. Bọn địch cũng  thừa rõ ràng những con tàu của đoàn đang chở vũ khí đi về phía Nam. Phòng quân báo cho hay, hải quân Mỹ và hải quân ngụy cùng các lực lượng ven bờ đã được lệnh báo động. Rút kinh nghiệm những lần thất bại trước, lần này chúng tung lực lượng đông hơn và việc kiểm soát mặt biển chặt chẽ hơn. Rõ ràng đôi bên đã quá hiểu nhau, nắm chắc nhau. Vấn đề lúc này là sự đấu trí trong một ván bài lật ngửa.
             Đoàn trưởng Tư nhắc đồng chí sĩ quan tác chiến chú ý bám sát tình hình địch từ phòng quân báo cung cấp, từ các bến điện tới, rồi để đỡ căng thẳng, ông ra khỏi sở chỉ huy. Hít một hơi thật sâu, ông bước thong thả trên lối mòn sát chân núi. Ông muốn có vài ba phút thảnh thơi trước khi bước vào cuộc đọ sức với hải quân Hoa Kỳ và hải quân ngụy. (Thực ra sự thử thách bắt đầu từ khi con tàu rời bến, nhưng giai đoạn quyết liệt là khi con tàu quay mũi, chuyển hướng vào bờ). Nhưng hình ảnh những con tàu lênh đênh ngoài khơi và gương mặt những người thuyền trưởng mà ông biết chắc là đang căng thẳng cứ bám riết lấy ông. Đêm nay, ở một nơi thật xa trên biển phía Nam, những người lính của ông bước vào giai đoạn thử thách cuối cùng đầy nguy hiểm, giai đoạn đòi hỏi lòng dũng cảm, sự thông minh sáng suốt và mưu trí. Chiếc tàu nào sẽ vào bến, thả hàng an toàn và quay về? Chiếc tàu nào đụng địch bắt buộc phải nổ súng chiến đấu? Và chiếc nào phải hủy? "Hủy tàu", hai tiếng ấy là điều hãi hùng ám ảnh ông, gây sự căng thẳng. Đành rằng mỗi lần ra khơi đưa vũ khí vào Nam, những thủy thủ của ông đều xác định không trở về, đều xác định hy sinh và quả thật công việc mạo hiểm đòi hỏi phải có sự quả cảm như vậy, song cứ mỗi lần nhận được mấy chữ "Xin hủy tàu", đoàn trưởng lại choáng váng, đau thắt, có một cái gì nhói lên nơi lồng ngực. Ông nghĩ rằng mình có lỗi, rằng mình đã bất lực... và điều đó giày vò ông đêm đêm.
             Công việc vận chuyển vũ khí vẫn không thể ngưng trệ, những con tàu lại nối tiếp nhau ra đi và nỗi thấp thỏm của đoàn trưởng dường như không bao giờ vơi. Ông chóng già, chóng bạc tóc vì thế.
             Trời mùa đông chóng tối. Chưa đầy sáu giờ chiều, ngọn núi đã nhoà mờ, không rõ hình nét. Gió xào xạc. Lưng chừng núi, một vài chiếc lá vàng bay bay như cánh bướm. Trời se se. Đâu đó, thoảng có tiếng động cơ máy bay. Phía Hải Phòng một vầng sáng hắt lên đùng đục.
             Đoàn trưởng nhìn chiếc đồng hồ đeo tay, ông biết đã tới lúc mình cần có mặt trong sở chỉ huy. Tuy thế, ông vẫn bước chậm. Ông muốn giảm thời gian chờ đợi. Một chiến sĩ nhỏ người từ phía ngôi nhà của ban chỉ huy đi tới.
             - Báo cáo thủ trưởng, quá giờ ăn cơm chiều hơn nửa tiếng rồi ạ - Cậu ta nói, có ý trách.
              Đoàn trưởng dừng lại:
             - Cậu cứ ăn trước nhé. Đừng chờ.
             - Mùa đông cơm chóng nguội lắm ạ.
             - Không sao!
              Đã thuộc tính người chỉ huy, cậu chiến sĩ không nài thêm. Chàng lẳng lặng bước lại ngôi nhà, vẻ mặt không hài lòng.
              Đoàn trưởng ngước nhìn theo: "Cậu không chỉ nhỉnh hơn thằng con út của mình vài ba tuổi. Có lẽ đợt tới sẽ xin cho nó vào bộ đội". Đoàn trưởng nhớ lại lá thư vợ, ông mới nhận gần đây và không khỏi thú vị. Bà khoe với ông là con ngoan hơn, biết thương mẹ, ân hận với những điều đã qua và đỡ đần được khối việc gia đình. Tuy thế, bà vẫn lấy làm xót xa rằng đáng ra không nên giao thằng bé cho công an. Bà thương nó ăn uống kham khổ. Nhưng ông biết thằng bé tiến bộ được là nhờ gửi vào trại. Ít ra cậu chàng qua đó mà khôn lên, vỡ vạc ra một số điều. Cuối thư, bà trách ông ít về, trách ông không ngó ngàng gì tới chuyện gia đình. Con hư cũng mặc, vợ ốm cũng mặc. Bà bảo ông vô tâm. Ừ, vô tâm, ông chịu tiếng ấy với vợ, nhưng về sao được khi công việc của đơn vị lút đầu lút cổ không còn kẽ hở thời gian. Giá bà rõ ông bận đến thế nào, chắc thông cảm hơn. Ông biết, lấy ông, bà chịu nhiều thiệt thòi. Thiệt thòi đủ thứ. Hơn hai mươi năm qua, ông cứ đi biền biệt, thỉnh thoảng đảo về, bà chưa kịp bàn định chuyện gia đình ông đã đi. Trong nhà bà sắm được cái gì, phải bán đi cái gì nào ông có hay. Tức lên, bà bảo: "Nơi này với ông khác gì cái quán trọ!". Ông cười. Bà cũng cười, nước mắt giàn giụa. Ông rõ là bà thương ông. Không thương mà mấy chục năm trời một mình vò võ nuôi con khôn lớn; học hành cũng bà, gả chồng cũng bà. Một tay bà thu vén mọi việc để ông rảnh bề công tác. Lắm lúc ngẫm nghĩ, ông thương nhiều, nhưng ông không nói ra.
            - Báo cáo đoàn trưởng, có điện! - Người sĩ quan tham mưu hớt hải đi tới.
             Ông Tư quay vào sở chỉ huy. Tham mưu trưởng Đặng đang ngóng lên hải đồ. Trên đó bốn con tàu đã nằm ở những vị trí quy định chuyển hướng.
             Nghe bước chân đoàn trưởng, tham mưu trưởng quay lại:
             - Cả bốn tàu đều đã tới Z... xin vào bờ anh ạ.
             - Bước đầu, thế là thắng - Đoàn trưởng quay sang người sĩ quan tham mưu - tình hình địch?
             - Báo cáo, phòng quân báo cho hay, bọn địch vẫn ở thế sẵn sàng chờ ta đi vào hải phận miền Nam.
             - Cụ thể?
             - Các tàu tuần tiễu của hải quân Mỹ thuộc biên đội 115 triển khai từ Đà Nẵng đến sông Bồ Đề (Cà Mau). Tất cả các tàu tuần tiễu ngoài khơi đều được gọi về chốt  giữ các cửa sông, luồng lạch. Phía Côn đảo, Hòn Khoai, ngụy có 17 tàu. Phía Nha Trang có 26. Phía Đà Nẵng có 19. Và...
             - Tình hình bến?
             - Cho tới giờ, các bến báo ra đều yên. Hiện địch chưa rõ ta vào hướng nào. Chúng đang phân vân: đây là nghi binh của Bắc Việt hay hành động thật, vì thế lúng túng trong đối phó, đành dàn mỏng lực lượng khắp tuyến.
             - Điện cho các tàu: "Bến yên, địch báo động. Tùy tình hình cụ thể, khôn khéo lựa thời cơ vào bờ. Liên lạc thường xuyên với sở chỉ huy".
             - Rõ!
              Đoàn trưởng ngồi xuống ghế, bàn tay phải ôm lấy khuôn mặt gầy nhỏ. Ông thấp thỏm chờ đợi.       
              Thời gian trôi đi. Trong phòng im ắng, chỉ có tiếng rè rè của chiếc máy thông tin đang túc trực đón tín hiệu.
             - Báo cáo các tàu điện về: bắt đầu chuyển hướng.
              Đoàn trưởng không trả lời. Ông khẽ trở mình trên ghế. Mạch máu hai bên thái dương giật mạnh. Những nếp nhăn trên trán hằn sâu. Ông ngồi lặng như một pho tượng.
             Nửa tiếng trôi qua.
             Một giờ trôi qua.
             - Báo cáo, T.37 điện về: trên hướng vào có nhiều tàu cá.
             - Nhắc T.37: ở đó có tàu địch. Được phép xử lý theo tình hình cụ thể.
             - Báo cáo, phòng quân báo cho biết: địch tập trung lực lượng khá đông phía cửa sông Bồ Đề. Tàu T.63 đang đi vào hướng đó.
             - T.63 không thuận rồi đó, anh - Tham mưu trưởng quay sang phía đoàn trưởng - Tôi đề nghị T.63 quay ra. Kinh nghiệm cho hay, địch đã bịt cửa sông, rất khó vào.
             - Nhắc T.63, phía trước có địch. Nếu không thuận thì quay ra. Còn hướng Bình Định, Nha Trang? - Đoàn trưởng hỏi người sĩ quan.
              - Chưa có tin tức ạ.
              Đoàn trưởng bước quanh phòng. Trời lạnh nhưng ông bức bối. Ông lại bên cửa phòng và có cảm giác như đầu sắp vỡ. Cạnh đó, tham mưu trưởng Đặng, hai tay chống vào hông, đôi mắt dán lên hải đồ, lẩm nhẩm tính toán.
              Đêm vắng lặng. Phía ngoài, nghe rõ từng đợt gió thổi lên vách núi, tiếng bước chân của người lính gác và tiếng hòn đá nào đó lăn lộc cộc xuống vực. Trời âm u, nặng nề.
             Thời gian trôi.
              Khoảng hơn mười giờ đêm, đồng chí sĩ quan tác chiến từ phòng bên bước sang.
             - Báo cáo "bến" Hòn Hèo (Nha Trang) điện ra: địch đổ quân bao vây khu vực "bến". Dưới biển, tàu chiến địch đã chặn hết mọi lối ra vào.
             - Cáo bến khác? - Đoàn trưởng quay nhanh lại.
             - Không thay đổi.
              "Địch càn vô cớ hay chúng đã rõ ý định của ta?". Đoàn trưởng Tư vừa bước, vừa nghĩ. Dù sao cũng không để tàu T.250 tiếp tục vào Hòn Hèo. Vào là nguy hiểm, là bị tiêu diệt.
             - Báo cáo, tàu T.178 điện: địch đã biết ý định của tàu vào Bình Định. Chúng cho máy bay rà thấp theo dõi và dồn lực lượng từ phía Nha Trang lên. T.178 muốn chuyển lên phía bắc để đánh lạc hướng địch. Xin ý kiến đoàn.
             Tham mưu trưởng Đặng rời tấm hải đồ, quay lại phía đoàn trưởng Tư:
             - Theo tôi, phía Hòn Hèo động, T.250 không thể vào được "bến" nên cần nhanh chóng di chuyển lên phía bắc nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của địch để T.178 lựa thời cơ vào bến. Phía Bình Định, "bến" vẫn yên. Từ Nha Trang lên Bình Định không xa.
             - Tôi đồng ý phương án đó, lưu ý thuyền trưởng Ngát, tránh địch không xảy ra nổ súng.
              11 giờ có điện của T.37 báo về.
             "Đã vượt qua đảo Lý Sơn, tàu địch, quây phía ngoài, cho biết tình hình bến!".
             Bằng cách nào Hòa và Tòng đưa được tàu vượt qua đảo Lý Sơn? - Đoàn trưởng nghĩ, ông lệnh:
             - Báo cho T.37 biết "bến yên" cố gắng vào - Ông hỏi thêm- T.63 đang ra sao?
             - Báo cáo, vẫn chưa thấy trả lời.
             - Vùng biển gần sông Bồ Đề vẫn yên?
             - Vâng, phòng quân báo chỉ chỏ biết, địch vẫn gọi nhau: Chim về tổ! Chim về tổ!
             - Điện cho T.63 quay ra.
              Song, ngay lúc đó, từ phòng bên, một sĩ quan hối hả bước sang, đưa cho đoàn trưởng bức điện mới. Ông đọc nhanh: "... Chúng tôi gặp địch...". Khuôn mặt đoàn trưởng biến sắc. Những giọt mồ hôi lấm tấm rịn trên trán. Ông đứng lặng. Cách đây gần hai năm ông cũng nhận được bức diện như thế của tàu T.165. Và đó là bức  điện cuối cùng, tin tức cuối cùng của con tàu. Chẳng lẽ có sự trùng lặp như thế đối với tàu T.63? Giọng run run, đoàn trưởng nhắc lại:
             - Điện cho T.63 tránh địch, quay ra vùng biển quốc tế gấp.
               Ông hiểu điều gì đã và đang xảy ra. Ông nói thêm:
             - Báo cho anh em trên tàu rõ, sở chỉ huy luôn theo sát các đồng chí, hãy vững vàng, hãy bình tĩnh...
              Lát sau, đồng chí sĩ quan ái ngại nhìn đoàn trưởng rồi lại nhìn chính ủy rồi rụt rè thông báo: đứt liên lạc với T.63.
             - Vẫn phải cố gắng bám sát T.63, bắt liên lạc với nó - Đoàn trưởng đưa mắt nhìn tấm hải đồ, giọng trầm hẳn xuống.
             - Báo cáo, T.37 điện về "gặp bến".
              Đoàn trưởng Tư đứng phắt dậy. Những nếp nhăn trên gương mặt thoáng giãn. Cố nén tiếng thở mạnh, đoàn trưởng rời bàn, đi lòng vòng quanh phòng. "Gặp bến! Làm thế nào mà T.37 lách vào đó tài tình, nhanh chóng như vậy? - Quả là một tập thể cán bộ thuyền  khôn ngoan, táo bạo ... "
              Thành công của tàu T.37 phần nào làm vơi trong ông nỗi lo lắng. Ông hỏi nhanh:
              - Tình hình T.250?
              - Thuyền trưởng Ngát điện về : Địch vẫn chú ý T.250 - T.250 đang cố thu hút lực lượng địch về phía mình, kéo chúng ra xa ngoài khơi.
              - Một trò ú tim! Điện cho T.178:. Lựa sơ hở địch, nhanh chóng vào bến.
              - Rõ!
              Lại chờ đợi. Trời đã khuya lắm. Căn phòng lành lạnh. Ngoài tiếng lẹt rẹt của chiếc máy vô tuyến, chỉ  còn lại tiếng bước chân nặng nề, chậm rãi của đoàn  trưởng. Không gian bên ngoài yên tĩnh. Ngọn núi đá đứng lặng trong đêm và khu đoàn bộ nghỉm trong bóng tối. Xa xa, có tiếng gà eo óc. Đoàn trưởng liếc nhanh chiếc đồng hồ: một giờ sáng!

             Ông vẫn bước thong thả, kiên trì và căng thẳng.
             Chốc chốc lại hỏi:
             - Bắt liên lạc được với T.63 chưa?
              Nhưng lần nào cũng gặp sự thất vọng trên gương mặt người sĩ quan tác chiến.
              Hai giờ sáng, sở chỉ huy như trút được một phần gánh nặng: "Tàu T.178 điện về: thả hàng an toàn. Đang ra khơi ".
              Đoàn trưởng lập tức ra lệnh:
             - Điện cho T.250 mở hết tốc độ, ra vùng biển quốc tế trong đêm và quay trở về.
              Số phận bốn con tàu như vậy là rõ. Lúc này chỉ mong ngóng tin cuối cùng của T.37.
              Mấy phút sau, lúc 2 giờ 47 phút, sở chỉ huy nhận được điện của thuyền phó Tòng: "Đã thả xong hàng".
              Mọi người đang mừng thì chừng nửa tiếng sau, T.37 điện về: "Chúng tôi bị bao vây. Bắt buộc phải nổ súng chiến đấu. Nhất định chiến thắng!"
              "Phải nổ súng chiến đấu! Phải nổ súng chiến đấu!". Đoàn trưởng Tư lặng lẽ ngả người ra ghế, khuôn mặt đanh lại.
Và đó là bức điện cuối cùng của tàu T.37.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:17:58 pm
       
            - Báo cáo, mạn phải có máy bay địch!
            - Anh Hòa, đề nghị cho dừng máy, tránh ánh lân tinh - Tòng nói nhanh.
            - Máy bay địch có thể đã phát hiện ra ta, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. - Nói rồi Hòa bước ra boong.
            Trong buồng lái chỉ còn Đạm và Tòng. Đêm cuối tháng, tối đen. Mặt biển như một khối mực khổng lồ. Mây sà thấp. Trời không sao.
            Chiếc máy bay lướt qua con tàu rất nhanh.
            Tòng tăng tốc độ, con tàu đã hết hàng, dềnh trên mặt biển lướt nhanh về phía đông.
            - Trước mặt là đảo Lý Sơn - Đạm nói - Chúng ta cố gắng vượt qua đó trước ba rưỡi.
             Tòng dõi ra: trên mặt biển thấp thoáng những bóng đèn màu.
            - Đèn ở sân bay trên đảo. Cứ nhằm hướng đó mà ra khơi - Vẫn tiếng Đạm.
             Lẫn trong tiếng sóng, có tiếng máy bay vọng tới. Rồi một chùm mười hai quả pháo sáng bung trên đỉnh tàu.  Mặt biển sáng trắng, lấp loá. Con tàu trơ ra chơi vơi dưới những ngọn đèn dù.
            - Thẳng lái! Giữ nguyên tốc độ - Tòng hô, rồi anh bám thành cửa, nhìn ra bốn phía: vẫn không thấy tàu địch.
            Con tàu đi nhanh về hướng đảo Lý Sơn.
            Chừng mười lăm phút sau, chếch về bên phải, phía trước mũi tàu một ánh đèn pha đột ngột bật sáng, chiếu thẳng vào buồng lái.
            Tòng cho tàu quặt bên trái. Con tàu nghiêng hẳn, lượn nửa vòng, hướng lên phía bắc. Nhưng, đã thấy ba tàu địch lù lù chắn trước mặt. Chúng đánh tín hiệu hỏi  sang: Tàu nào? Quốc tịch?
            Tòng đá mắt nhằm bên phải: có đến hơn sáu khối đen đang tiến tới.
            - Bị bao vây rồi anh Đạm ạ - Hòa từ boong xộc vào nói nhanh.
            Tòng giảm tốc độ. Bốn phía là tàu địch. Chúng đang rọi đèn pha về phía T.37.
            - Tôi đề nghị nên đưa tàu gần sát bờ. Nếu phải hủy, anh em rời tàu dễ dàng hơn - Đạm tham gia.
             Hòa và Tòng đồng ý. Tòng trực tiếp cầm vô lăng, xoay nửa vòng, con tàu quay mũi. Anh tăng tốc độ.
            Tàu địch lập tức đuổi theo. Máy bay rà thấp, bắn pháo sáng. Trước mũi, nhiều cột nước dựng lên. Địch bắt đầu bắn chặn. Đạm chạy ra mặt boong chỉ huy chiến đấu.
            - Hủy tài liệu - Hòa quay lại nói với thuyền phó Xuyên vừa bước vào - Điện về: "Chúng tôi bị bao vây. Bắt buộc phải nổ súng. Nhất định chiến thắng!".
            Ngoài boong, đạn ĐKZ, đạn B.40 và đạn 12 ly 7 nổ ran. Tiếng Đạm:
            - Không để chúng vào gần. Nhằm luồng đạn chỗ nòng súng địch làm vật chuẩn, bắn.
             Địch không dám lại gần. Chúng lảng vảng từ xa đổ đạn về phía con tàu.
             Máy bay nhào xuống bắn rốc két. Cả một vùng biển nhập nhoà, lửa đạn loang loáng.
             Tòng điều khiên tàu lách tránh đạn. Hòa đứng cạnh, nhô hẳn nửa người ra khỏi buồng lái. Đạn 20 ly không ngớt rải trên boong. Tiếng đạn va vào vỏ thép khô đanh.
             Chợt Tòng nhận ra có vật đó vừa xuyên qua buồng Lái. Tòng quay lại: người lính hàng hải ngã vật xuống sàn tàu, máu thấm ướt khung ngực.
            - Anh Hòa! Có đồng chí hy sinh - Tòng gọi. Anh cho tàu mở hết tốc độ, đâm thẳng vào giữa cụm tàu địch. Bọn địch giạt ra. Lựa thời cơ ấy, con tàu chạy nhanh vào bờ.
           
              Tiếng súng vẫn nổ. Phía sau Tòng, thuyền phó Xuyên và hai chiến sĩ nữa đang cho thi hài tử sĩ vào bao ni lông.
              Cột lửa bốc cháy phía đuôi tàu. Tiếng Đạm:
             - Thùng dầu phụ trúng rốc két. Dập lửa!
              Rồi khuôn mặt Đạm hiện ra ở buồng lái.
             - Sáu đồng chí bị thương - Anh nói hổn hển - thêm hai đồng chí hy sinh. Cần cho anh em rời tàu ngay anh Hoà ạ.
              Hòa nhìn lên phía trước: dải núi trên bờ mờ mờ hiện ra. Anh gọi :
             - Đồng chí Xuyên!
              Người thuyền phó chạy tới. Khuôn mặt ám khói. Một vệt máu dòng chảy qua má.
             - Bị thương à? - Hòa hỏi.
             - Tôi đã hủy xong tài liệu!
              Hòa với cuộn băng, quấn vết thương cho Xuyên.
             - Đồng chí phụ trách công việc cài kíp vào các khối thuốc nổ để anh Đạm đưa thương binh và tử sĩ vào bờ. Đặt giờ nổ ba mươi phút.
            - Báo cáo...
            - Không chần chừ nữa!
            - Báo cáo, đạn địch đã phá hủy hoàn toàn hòm đựng kíp.
            - Hả?
             Hòa chồm tới, hai tay bíu chặt vai người thuyền phó, tai ù đi. Chẳng lẽ anh nghe nhầm.
            - Vâng đúng thế. Tất cả số kíp bị phá hoàn toàn, tôi đã kiểm tra kỹ - Xuyên thất vọng nhắc lại.
             Bốn khuôn mặt đờ dại. Họ cùng lặng đi, và cùng hướng nhìn về phía những chiếc tàu địch. Đạn từ đó vẫn bắn như mưa vào tàu T.37.
            - Chúng ta vẫn còn phương án cuối cùng. Đề nghị các anh cho tôi ở lại nối mạch điện để tàu nổ - Tiếng Xuyên rành rọt.
            Hòa, Tòng và Đạm quay nhìn. Khuôn mặt Xuyên chờ đợi.
            - Với cương vị bí thư chi bộ, việc ấn kíp điện cho tàu nổ ngay là phần việc của tôi - Đạm nói thong thả, cố nhấn mạnh vào từng chữ. Tôi phân công...
            Một loạt đạn đã găm vào buồng lái. Đạm loạng choạng, đưa tay ôm ngang ngực. Từ đó, một dòng máu vọt ra.
           - Anh Đạm!
            Hòa và Xuyên vội đỡ lấy chính trị viên.
            Đạm tựa vào người Hòa:
           - Mình bị rồi... tiếc quá... - Giọng Đạm ngắt quãng, - Vĩnh biệt ... Bằng mọi giá, đừng để tàu và ... anh em rơi vào tay địch... Cho chào...
            Tòng buông vô lăng, lao tới:
           - Anh Đạm! Anh đừng chết!
            Đạm mềm trên tay Tòng. Tòng nấc lên, rồi đánh mặt ra phía ngoài, anh hét:
           - Bắn! Bắn!
            Lập tức các cỡ súng trên tàu đua nhau nhả đạn.
           - Bắn! Bắn!
           - Bắn! Bắn Bắn!
            Mấy chiếc tàu chiến lùi xa. Hòa cho tàu cơ động, nhích gần vào bờ.
           - Tôi sẽ thay anh Đạm ở lại - Quay về phía mọi người, Hòa nói to - Đồng chí Tòng và đồng chí Xuyên tổ chức cho anh em rời tàu.
           - Anh Hòa, tôi xin làm nhiệm vụ hủy tàu - Tòng nói vội vã.
           - Tất cả chấp hành mệnh lệnh!
            Tòng nhìn Hòa trân trân. Chẳng lẽ thế, chẳng lẽ đây là sự thật; chỉ ít phút nữa, anh Hòa cũng sẽ như anh Đạm? Cái chết đến với người ta lại nhanh chóng như vậy ư?
           - Anh Hòa, cho tôi ở lại - Tòng thấy mình quá nhỏ bé trước người thuyền trưởng, anh nài - Anh cho tôi ởlại tôi là thuyền phó, tôi có thể... Tòng, anh em đang nhìn chúng ta đấy.
            Tòng chạy vội ra boong. Thời gian gấp lắm, phía bờ đã nghe tiếng lạch phạch của máy bay trực thăng. Chúng đổ quân. Tòng cùng Xuyên sắp xếp để anh em thủy thủ rời tàu. Mọi người lặng lẽ thả mình xuống nước. Những khuôn mặt đanh lại, chỉ đôi mắt rực lên như có lửa ...
            Khi còn lại một mình, Tòng chạy vào buồng lái:
           - Anh Hòa! Sao lại thế được... Tôi...
           - Tòng có nhiệm vụ dẫn anh em trở về - Hòa cắt ngang, giọng tỉnh như băng - Cố  gắng gặp cho được người của mình. Trên bờ bọn Mỹ dang đổ quân đấy... có nhiều anh em bị thương...
           - Đồng chí Xuyên có thể làm việc ấy. Anh Hòa, đừng nhìn tôi thế... Tôi cũng có trách nhiệm hủy tàu chứ. Anh Hòa, chẳng lẽ ...Tôi không bỏ anh đâu. Tôi nhất định  không rời tàu. Chúng ta sẽ...
           - Cậu nói gì thế? Thương mình! Đằng nào cũng có một người ở lại... Tòng, xuống nước đi - Hòa hét: Hãy xuống nước! Hãy đi đi. Nghe mình. Đừng để anh em chờ... Hãy báo cáo với đảng ủy và thủ trưởng đoàn rằng chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ, vũ khí đã đưa tới bến an toàn, con tàu không lọt vào tay địch. Nó đã xứng đáng với cái tên T.37. Gửi lời chào anh em...
           - Anh Hòa!
           - Tòng đứng như tượng, mắt đăm đăm nhìn Hòa. Bỗng anh nhào tới, đôi tay dài lêu đêu nguềnh ngoằng vụng về ôm lấy Hòa, riết mạnh. Rồi anh lần hít mùi mồ hôi trên người thuyền trưởng, hít lên cổ và hôn tới tấp lên mặt. Hai giọt nước mắt lăn dài trên má. Hòa sợ mình cũng khóc, anh gỡ nhẹ tay Tòng. Hai người đứng nhìnnhau rất lâu, không nói. Rồi Tòng quay nhanh. Hoà chỉ thoáng thấy đôi vai người thuyền phó rùng rung nơi  mạn tàu. Và sau đó, anh bắt gặp đôi mắt Tòng đỏ hoe, quay nhìn lần nữa... Tòng mất hút.
            Lúc ấy xung quanh chợt lặng tanh. Cái lặng đến hãi sợ. Con tàu to bè. Buồng lái nơi Hòa đứng dường như cũng rộng hơn. Bên ngoài, trời tối lờ nhờ. Mặt nước đen thẫm đặc quánh. Xa xa rừng đêm lặng lẽ viền một đường gấp khúc nơi nền trời. Phía biển, những chiếc tàu địch đen trũi dập dềnh nhích lại, nhích lại. Chốc chốc, một vệt pháo sáng vọt lên, hắt vào người Hòa, nhập nhòe. Không gian yên vắng. Chỉ có tiếng sóng vỗ vào mạn và tiếng tích tắc đều đều của chiếc đồng hồ.
           Anh em chắc đã lên bờ và đang dõi theo! - Hòa nghĩ và nghe nhìn cái núm nhựa màu đỏ, chỗ anh sẽ nối mạch điện cho năm tạ thuốc nổ, tự nhiên thấy cô đơn lạ lùng. Tòng đâu? Mọi lần, trong những phút hiểm nguy, anh vẫn có Tòng bên cạnh. Và Xuyên đâu? Mọi người đâu hết cả rồi, anh thèm được nhìn anh em thủy thủ một lần nữa quá ! Anh rung chuông. Anh đấm thình thình lên cửa. Vẫn chỉ một mình với con tàu. Cho tàu nổ ngay bây giờ. Chờ một phút nữa đã... Hòa bối rối và có cảm giác hoảng sợ như người bị lạc vào chốn hoang vu xa lạ không lần dược lối ra. Năm tạ thuốc nổ. Một tia chớp. Tất cả sẽ vụn tơi. Chẳng lẽ, chao ôi, chẳng lẽ...
           Tàu địch lại nháy đèn pha, phát tít hiệu hỏi sang.
           Thần kinh căng quá. Mọi bận gặp địch, mình tỉnh táo bình tĩnh kia mà. Mình đâu phải kẻ hèn nhát. Đã bao lần sẵn sàng hy sinh... "Bằng giá nào cũng phải hủy tàu".  Hòa nuốt nước bọt, rồi run run đưa tay về phía cái núm nhựa.             
           Bỗng "choang!" chiếc ống nói treo cạnh đó rơi mạnh xuống sàn. Hòa giật bắn người, vội rụt tay lại, toàn thân lạnh toát. Anh rùng mình và một nỗi sợ hãi không rõ từ đâu nhanh chóng choán ngợp, khiến anh run lên. Anh đưa tay quệt ngang mặt. Người ướt đầm mồ hôi. Lúng túng, anh cởi vội chiếc áo ngoài, ném lên vô lăng rồi lảo đảo đi giật lùi mấy bước. Đứng tựa vào  vách, hai tay thu phía sau, nhắm mắt. Hòa thở dốc.  Trông anh như người võ sĩ thoáng phút nghỉ ngơi để vào trận đấu. Năm tạ thuốc nổ! Thật khửỉlg khiếp... Thế là  hết, nhanh quá! Cuộc đời một con người chỉ đơn giản có thế? Anh thấy ngột ngạt, chân tay rã rời.
            Một luồng gió từ cửa lùa vào. Hòa khẽ rùng người. Anh từ từ mở mắt, nhìn lên bờ. Nơi mép nước, có ánh lân tinh thấp thoáng lóe sáng. Ở đó, sóng đang đua  nhau mài lên bãi. Sau trảng cát là rừng. Rồi đến bầu  trời và nhường ngôi sao sắp tàn. Chỉ ít phút nữa là trời sẽ bừng lên... ôi, cuộc sống sao lại ào ạt, sao lại có sức quyến rũ đến thế! Hòa thở hắt ra, thấy dễ chịu hơn. Và tự dưng anh thấy khát. Anh muốn được ra ngoài boong quá! Ra đó chắc dễ thở, nhưng anh lại sợ... Mình tự  nguyện kia mà ... mình đã hứa... Trách nhiệm ... Trách nhiệm!... Anh cố đứng thẳng, nhưng đôi chân ướt mèm từ bao giờ, mềm nhũn. Sao thế? Hòa tự hỏi cũng là tự kêu gọi mình - Hãy vững vàng như những lần tàu lọt vào vòng vây địch. Vững vàng lên!
            Có tiếng loa chiêu hồi vọng tới. Địch bắt đầu dùng chiến thuật "hoà bình". Tiếng loa khiến Hòa choàng tỉnh. Anh nhìn ra. Mấy chiếc tàu địch đã vây bốn phía. Chắc chúng muốn "bắt sống!". Và sau đó, sẽ kéo về triển lãm... Thời gian gấp lắm. Hòa vơ vội chiếc áo, khoác vào và bước lên mấy bước. Nào, miễn là đừng run tay, chỉ một nhoáng là xong. Lúc dó thì chăng còn hay biết gì nữa. Hình như sự mãn nguyện của những chiếc tàu địch đã đánh thức lòng tự ái trong anh. Anh mạnh bạo hẳn.
            Nhưng quái, cái núm nhựa màu đỏ vừa vặn bằng chiếc cúc áo kia sao lúc này lại giống con mắt thế? Nó cứ chòng chọc nhìn Hòa, giễu cợt, dọa nạt, thách đố. Hòa chùng gối lùi lại một bước. Tiếng loa chiêu hồi rang ráng vọng tới. Thần kinh không bình thường rồi! Nó làcái núm nhựa, hoàn toàn bằng nhựa. Hòa bước lên: Anh với tay ra, nhắm mắt, nín thở. Mồ hôi vã đầy mặt. Tất cả sẽ là cát bụi. Tích tắc! Tích tắc! Tất cả sẽ là... Chợt Hòa  chùng tay lại. Thật vô lý! Tại sao không thể khác được? Chiếc chìa khoá gỡ rối tức khắc hiện ra, và nó nhanh chóng trùm lên tất cá mọi suy tính: Có thể hủy tàu bằng  súng. Còn kịp! Vẫn còn kịp! Miễn là phải hành độngthật nhanh. Không nên hy sinh vô ích. Cái thoáng thông minh biết đánh lừa mình ấy làm cho Hoà tỉnh hẳn.
            Hoàn toàn bản năng, anh nhào ra khỏi buồng lái, chạy tới mạn tàu, bung mình xuống nước, sải tay cắt sóng...
             - Thế nào anh Hòa? Trời sáng mất rồi.
            Mọi người ùa ra mép nước, đỡ Hòa dậy. Tòng hỏi:
             - Sao thế, anh Hòa?
             - Ta có thể... dùng ĐKZ ... Tòng điều cho tôi - Tiếng Hòa hổn hển, ngắt quãng - Tòng điều cho tôi hai khẩu ĐKZ.
             - Không kịp đâu, anh Hòa - Tòng hốt hoảng nói - Cần nhanh chóng rời khỏi đây. Bộ binh Mỹ đã đổ quân bao vây phía sau núi... Cần hủy tàu tức khắc.
             Một loạt đạn AR.15 ở đâu đó bắn tới. Mọi người vội cúi thấp xuống.
            - Chần chừ là bị bắt sống cả người và không hủy được tàu. Đồng chí Xuyên. Cho anh em rời khỏi đây ngay...
            - Sao vậy Tòng? - Tiếng Hòa lo lắng.
            - Anh phụ trách anh em thoát vòng vây. Còn T.37, cứ mặc tôi. Tàu địch vào gần lắm rồi.
             Tòng vụt chạy. Bóng Tòng hoà lẫn vào biển, mất hút. Hòa luống cuống đuổi theo:
             - Không được liều, Tòng - Hòa hét to - Tòng! Tòng!
             Nhưng vừa lúc đó, một loạt đạn xỉa ngay xuống trảng cát, Hòa phải dừng lại.
             - Chúng ta rút thôi, anh Hòa - Xuyên giục.
             Đôi mắt Hòa vẫn không rời con tàu. Anh loạng choạng đứng dậy, song Xuyên đã kịp ấn anh xuống: Đạn AR. 15 vãi xung quanh.
             - Đồng chí dẫn anh em rút ngay - Hòa nói.
             - Còn anh?
             - Mặc mình!
              Hòa lảo đảo đứng lên. Xuyên gắt:
             - Anh Hòa, không được. Anh cũng phải rút. Mặc mình - Hòa nói như trong cơn mê và nhao ra phía mép nước.
             Lúc đó Hòa chợt thấy con tàu xoay mũi, hướng về phía những chiếc tàu địch. Hòa chưa kịp trấn tĩnh, chưa kịp hiểu thì một tia chớp lóe lên, kế đó là một cột lửa hình nấm khổng lồ sáng lòa vọt cao, lơ lửng trong không trung. Một tiếng sét dữ dội nổ vang, trùm khắp mặt biển. Cột nước khổng lồ dựng đứng, đổ ập xuống tràn lên bờ. Luồng gió mạnh phả vào trảng cát, nóng hừng hực.
             Hòa bàng hoàng, hai tay hoảng loạn dang ra, chới với. Anh cảm giác như mình vừa hẫng hụt vào chỗ chân không nào đó. Anh chỉ kịp gào lên một tiếng: "Tòng ơi!", rồi tuyệt nhiên không còn cảm giác, toàn thân cứng đờ, nặng nề đổ phịch xuống như cây chuối bị một nhát dao sắc bất ngờ phạt đứt gốc. Hòa nằm sấp trên cát, đôi bàn tay nhoài với ra biên. Anh không còn nghe gì nữa, không thấy gì nữa và không biết gì nữa.
            Mọi người vội vã xốc anh dậy, dìu đi...



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:26:00 pm
     

           Từ ngày 18 đến ngày 22, bốn chiếc tàu vận tải Bắc Việt giả dạng tàu đánh cá lần lượt rời bến, tìm cách thâm nhập vào miền Nam để tiếp tế đạn dược, khí cụ và không loại trừ khả năng cả  binh sĩ cho Việt Cộng. Đây là một cố gắng thâm nhập liều lĩnh và can đảm nhằm cung cấp vũ khí cho Việt Cộng trên toàn miền Nam..
            Song, lộ trình và ý đồ của các tàu trên đã bị hải quân Hoa Kỳ phát giác. Các tàu tuần tiễu ven biển của hải quân Hoa Kỳ thuộc biên đội 115, do đại tá Hen-rik chỉ huy được lệnh cùng các lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa theo dõi và ngăn chặn.
            Chiếc tàu thứ nhất bị phát giác vào đêm 19 do những chiếc máy bay tuần tiễu trên biển kiểu SP.24 thuộc hai đại đột tuần tiễu VP-2 và VP-17 trong hoạt động gọi là "hành quân phiên chợ". Các máy bay tiếp tục theo dõi, bám sát tàu này từ xa bằng những máy móc hiện đại và tối tân nhất. Và những ngày sau đó thì phát hiện ra ba tàu kia.
            Đợi khi đối phương vào hải phận miền Nam, các chiến hạm Hoa Kỳ và các chiến hạm của hải quân Việt Nam Cộng hòa được lệnh ngăn chặn.
            Chiếc tàu vận tải thứ nhất chạy vào vùng biển phía bắc Nha Trang thì ngoặt hướng đi lên. Năm tàu tuần tiễu của Hoa Kỳ kiểu Xuyp-bốt ( Swift-boat ) là Pef.42, Pef.43, Pef.46,Pef.47, Pef.48 cùng hải thuyền Ya-bu-ta của hải quân Việt Nam Cộng hòa và hai chiến đỉnh USCG Cutter, Point Grey từ phía bắc xuống được lệnh theo sát. Tàu này hoảng sợ xả máy chạy ra khơi và gần sáng thì ra tới vùng biển quốc tế, đành bỏ dở hoài bão thâm nhập, quay trở về.
            Chiếc thứ hai đi vào vùng biển Bình Định. Hải quân Hoa Kỳ và các lực lượng Việt Nam Cộng hòa được lệnh theo dõi. Nhưng theo báo cáo của đại úy Char Lesb Mosher, đến hai giờ sáng thì tàu này mất tích. Theo nhận định của đại úy Char Lesb Mosher, có thể chiếc tàu này và chiếc tàu đi vào vùng biển Nha Trang là một. Chắc rằng có sự nhầm lẫn nào đó của máy bay thám không.
            Vào lúc 2 giờ 30 phút ngày 23, chiếc tàu thứ ba đang di chuyển ra khơi thì đụng độ với các lực lượng Việt - Mỹ ở gần đảo Lý Sơn. Phi cơ Hoa Kỳ, cùng hải quân  Hoa Kỳ, hải quân Việt Nam Cộng hòa bắn hỏa châu soi sáng và sau đó được lệnh tác xạ. Tàu đối phương hoảng loạn bắn trả và cố chạy về phía đất liền.
            Tham gia bao vây gồm các tàu tuần tiễu Hoa Kỳ kiểu Cốt-gác, cùng các tàu Point Welcome (Phăng Oen-cơm), Point Grey (Phăng go-ri), tàu quét lôi Pensistant (Pơ-xit-tơn) tàu PC.18, PCF.20, PCF.25, PCF.26 ... và  phi đội máy bay 13, với hai trực thăng và sau đó là các đơn vị bộ binh thuộc sư đoàn "A-mê-ri-ca" của Hoa Kỳ.
            Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng hòa có phi cơ yểm trợ đánh phá ác liệt vào một tàu vận tải Bắc Việt gan góc và thiện chiến.
            4 giờ sáng thì tàu này cách bờ chừng 200 mét đến 300 mét. Thủy thủ hạ xuồng cao su và phao chạy thoát vào bờ. Nhưng kỳ lạ thay, sau đó con tàu này xả máy thẳng hướng các tàu chiến Hoa Kỳ lao tới. Thật là liều  lĩnh và can đảm. Kế đó, một tiếng nổ dậy trời, tàu Bắc Việt nát bấy, tan ra từng mảnh không để lại một vết tích gì trên biển... Chiến hạm Point Welcome bị hư hại nặng. Hai thủy thủ tiền vệ chết và hàng chục thủy thủ khác bị thương.
            Chiếc tàu thứ tư đang trên đường tiến vào cửa sông Bồ Đề cách Sài Gòn 116 hải lý về phía tây nam thì bị tàu  tuần tiễu Hoa Kỳ chặn hỏi. Tàu này từ chối trả lời và cứ nhằm hướng cửa sông lao tới. Tàu Hoa Kỳ Uynona nổ súng. Các tàu quét lôi Mos Confhet, tàu Point Hud-sen, tàu Point Grey, tàu Point Marone và hai tàu SWift-bot cùng sáu chiếc nữa tiếp cận đến. Các thuỷ thủ trên tàu Bắc Việt đã nổ súng bắn lại. Họ chiến đấu đến người cuối cùng, viên đạn cuối cùng và cùng hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng chục tấn bộc phá do bàn tay họ tự hủy sau một ngọn lửa bốc cao và hai tiếng nổ lớn...
            ... Bắc Việt có một lực lượng hải quân vô địch. Tàu thuyền của đoàn Bắc Việt có thể đi biển trong bất kỳ tình huống nào. Khi sóng to, bão lớn nó mới xuất phát. Thủy thủ của đoàn được rèn luyện dày dạn. Kinh nghiệm, thành thạo luồng lạch và địa hình. Những chỗ đó hải quân Sài Gòn chưa thành thạo bằng ...
1


--------------------------------
Chú thích:
1. Trích tài liệu của phòng nhì hải quân ngụy Sài Gòn - TQ


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:58:05 pm

38


           - Các đồng chí! - Lê nói - Bây giờ chúng ta hãy bàn cách sống chờ ngày lên đường trở về đơn vị.
            Tình thế đặt đoàn người trước một lựa chọn khe khắt: hoặc vượt qua hoàn cảnh để sống, hoặc bất lực đón nhận cái chết. Mười ba thủy thủ đứng trước thử thách ghê gớm: hai bàn tay trắng, làm thế nào để đừng chết đói giữa rừng sâu? Con người vốn có bản năng sinh tồn. Và lúc này, bản năng ấy được bộc lộ rõ rệt. Không còn con đường nào khác là bắt buộc phải sẵn sàng thích ứng hoàn cảnh để sống.
           Tuy nhiên, đoàn người hành động không phải chỉ bằng bản năng sinh tồn, mà cao hơn, bằng ý thức rằng mình cần phải sống, rằng mình cần phải trở về đơn vị để tiếp tục cuộc chiến đấu, dù lúc này, vật lộn với hoàn cảnh để sống cũng là cuộc chiến đấu gay go.
            Và ý chí đã thắng.
            Những ngày nằm ở trạm giao liên, mặc dù được những người làm công tác ở đây giúp đỡ, vẫn không sao giải quyết được vấn đề lương thực. Đường dây giao liên trong giai đoạn này cũng hết sức khó khăn. Anh em thủy thủ phân công nhau vào sâu trong núi kiếm chuối rừng, củ mài và các loại rau khác.
            Ngày hôm đó, không rõ anh chàng Cang lần mò ở đâu kiếm về được một củ sắn nhỉnh hơn quả chuối hột.  
            Cang vội vã nhen lửa hì hụi nướng rồi hớn hở đưa cho Xuân. Thấy củ sắn, mắt Xuân sáng lên, đã hơn một tuần nay không hề có chất bột vào ruột. Song Xuân đã từ chối.
            - Anh ăn đi, anh cần bồi dưỡng mà - Cang nài.
            Xuân lắc đầu, quay mặt, không dám nhìn vào, lặng lẽ nuốt nước bọt.
             Người ép, người từ, và củ sắn vẫn còn nguyên vẹn cho tới ngày hôm sau. Cuối cùng chính trị viên Lượng phải bẻ nhỏ thành mười ba phần.
            Sáng sớm, anh em chia nhau tản vào rừng. Nằm một mình trên võng nơi bãi khách, Xuân thấy buồn. Vết thương ở chân không cho anh tham gia kiếm rau, chặt chuối. Anh em nói đùa: thuyền phó ở lại trông "nhà". Trông "nhà"! Mọi người thường an ủi thế, có gì mà phải trông? Lâu nay Xuân có mặc cảm rằng mình chẳng khác một cây tầm gửi, một kẻ ăn bám. Đã vậy, cái gì cũng ưu tiên. Kiếm được thứ rau ngon, quả lạ, mọi người đều dành cho anh. Mà quái ác thay, vết thương ở chân  không những không đỡ, lại ngày càng tấy lên. Thuyền trưởng Lê chiều nào cũng cõng anh ra suối, tháo băng, rửa, nhưng tất cả những cố gắng ấy chẳng đưa lại kết quả gì. Chỗ mũi chông xuyên qua, thịt thối dần, lan rộng. Đêm nằm, chân buốt không ngủ được, Xuân nghĩ lan man. Anh độc địa ví: cái bàn chân phải này là món nợ, là sự vướng víu cũng giống như mình là món nợ, là sự vướng víu cho cả đoàn.
            Đêm nằm, hai tay ôm bàn chân, đau ứa nước mắt.
            Nhưng Xuân không kêu, không rên. Anh âm thầm chịu đựng, cố không để mọi người biết: anh rất khổ tâm vì đã làm phiền anh em. Nửa tháng nay anh ngồi một chỗ để mọi người thay nhau phục dịch. Anh có quyền gì như thế. Đã vậy, vết thương ngày càng nặng mùi. Nhiều lúc anh nghĩ, có lẽ chết đi, đỡ khổ hơn. Đỡ khổ cho mình, và cất được gánh nặng cho mọi người. Không nên kéo dài nỗi đau, nỗi phiền hà mãi...
            Một đêm, Xuân lặng lẽ tháo võng rồi nhúc nhắc tới bên thân cây, thật xa, cố tình nằm cách biệt mọi người.
            Lê biết, anh mắng:
            - Sao cậu nằm đây?
            - Anh em thương tôi, nhưng tôi cũng biết nể anh em chứ, anh Lê. Tôi cũng không chịu nổi mùi hôi ở chân mình, huống hồ ...
            - Sao cậu lại coi thường đồng đội như vậy, hả?
             Lê bắt Xuân đứng dậy, anh tháo võng, mắc vào chỗ cũ cạnh mình và cõng Xuân về.
            - Đêm hôm, nằm một mình ngoài ấy, nếu cậu có làm bậy, ai hay? Từ nay làm việc gì cũng phải hỏi mình.
            - Tôi khác gì vật thừa, anh Lê. Tôi hỏi nhé, người ta hơn nhau ở chỗ biết mình phải sống, phải chết đúng lúc hả?
            - Chỉ nghĩ vớ vẩn!
            - Người nào chẳng một lần chết!

             Chín hôm sau, trạm giao liên báo cho biết địch đã rút, đoàn ra Bắc chuẩn bị lên đường. Ai cũng mừng. Tối hôm đó, ông trạm trưởng mang đến cho đoàn nửa bao tượng gạo. Ông áy náy mãi rằng không thể giúp đỡ được hơn. Đêm đó không ai nghỉ, mỗi người chuẩn bị một chiếc gậy để hôm sau hành quân.
             Khi rời trạm, theo đồng chí giao liên xuyên rừng, mọi người không khỏi ngạc nhiên nghĩ rằng nửa tháng qua mình đã không có hạt cơm vào bụng. Tuy thế người nào cũng hăm hở. Biết hành quân sẽ gian khổ, nhưng nhanh được trở về đơn vị, ai cũng phấn chấn. Lê dìu Xuân đi giữa. Đồng đội lặng lẽ chống gậy bước phía trước, bước đằng sau. Họ đi thành hàng dọc.
             Ngày đi, đêm nghỉ: Nghỉ ở đâu tìm cây rừng, rau rừng để ăn. Đoàn người đi ròng rã như vậy đã được hơn một tháng. Người nào cũng vàng bủng, xanh xao. Khuôn mặt ai cũng lạ hẳn: xương quai hàm nhô ra, má sạm, mắt to, tóc rụng... chân tay khẳng khiu, người còm nhom. Vậy mà họ còn phải đi nữa, đi nữa...
            Một hôm nằm ở bãi khách trên đỉnh núi thì gặp mưa. Nước thấm xuống tăng, nước ngấm qua võng, nước thấm vào cơ thể. Người nào cũng rét run. Đang mùa đông, lại ở trên núi cao, càng rét. Mười ba con người chụm nào nhau bên gốc cây, chịu đừng. Đêm ấy họ thức  trắng. Sáng, chân tay tê cứng, người bải hoải, và hầm hập như lên cơn sốt. Ai cũng ngỡ rằng sẽ quỵ, ngỡ rằng không thể lê mình đi được nữa, vậy mà lúc đồng chí giao liên phát lệnh, họ lại đứng thẳng, gắng gượng bước... Không tưởng tượng được rằng ngay đêm ấy đoàn người lại có mặt ở một trạm giao liên khác.
          
           Trận mưa để lại cho Xuân hậu quả tai hại. Vì ngấm nước, phải hành quân ngay, bàn chân phải sưng to, nhức buốt. Mặc dù đến trạm, Lê đã nhờ đồng chí y tá rửa vết thương, băng lại. Đêm ấy Xuân vẫn không chợp mắt. Nằm trên võng, co người, đặt bàn chân trong đôi bàn tay, Xuân cắn chặt hai hàm răng. Vết thương nhức đến tận óc, buốt tới tận tủy. Ngày mai làm thế nào để tiếp tục đi? Xuân có cảm giác như trong bàn chân mình có vô số những con vật li ti chen chúc nhau gậm rỉa khoảng thịt đã thối. Thỉnh thoảng, hình như chúng giành nhau khiến Xuân đau nhói. Anh túm lấy tóc bứt căng lên để nén chịu. Anh giật mình: khi nhấc tay, một mảng tóc bở ra khỏi đầu. Xuân vuốt lại: tay anh chặt một nắm tóc khác. Chỉ cần anh vuốt thêm vài ba lần nữa, tóc trên đầu sẽ rụng, không còn một sợi. Xuân chán nản thả mình xuống võng, nhưng cái chân không cho anh nằm im. Anh lại ngồi dậy ôm lấy nó. Còn phải chịu cảnh nhức buốt này đến bao giờ? Đến bao giờ? Liệu có cách gì tháo gỡ sự đau đớn ra khỏi cơ thể không? Chỉ một viên đạn là được giải thoát. Bất giác, Xuân lần tìm khẩu AK treo đầu võng.
            - Không chợp được chút nào, Xuân?
             Tiếng Lê hỏi khiến Xuân giật mình. Anh vội vàng rụt tay.
            - Anh cũng không ngủ được?
            - Mình nghĩ là có lẽ ngày mai cậu nên nằm võng, anh em sẽ thay nhau... Cái chân ít phải đi, đỡ đau hơn. Cậu đau, chẳng ai đành lòng.
            - Tôi vẫn cố được.
            - Nhưng đêm đêm, không nghỉ, hao sức lắm... Đã không có gì ăn. Chúng ta còn đi dài ngày Xuân ạ... Mình xoa bàn chân một lúc để cậu ngủ nhé.
            - Không chịu được đau mà phải chết, là hèn, phải không anh Lê?
            - Ừ! Nhưng sao hỏi như vậy? Dịp này cậu lẩn thẩn lắm.
            - Tôi cho rằng cũng chẳng hèn. Phản bội mới hèn, không chịu được nhục hình tra tấn mới hèn.
            - Nào, tranh thủ chợp mắt một chút đi.
            - Anh nghĩ ra cái kế cho tôi nằm võng đấy à?
            - Anh em họ đề nghị như vậy.
            - Tôi lấy gì mà đền đáp tấm lòng mọi người đây, anh Lê? Tôi còn bước được mà. Đừng bắt anh em khiêng tôi, đi một mình, họ còn liêu xiêu, huống chi...
            Hôm sau đoàn người lên đường muộn. Xuân dứt khoát từ chối cái việc để mọi người khiêng. Anh bá lấy vai Cang và lần đi ...
             Đến trạm giao liên kế đó, vì chưa có người dẫn đường nên đoàn người dừng lại.
            


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 08:58:37 pm
         
             Một buổi trưa, Hải từ đâu về, chìa ra trước mặt Xuân một nắm lá:
             - Mình sẽ vò nát ra và đắp vào vết thương ở chân Xuân. Ông trạm tnrởng mách đấy.
             Nắm lá quả có tác dụng. Vết thương dịu hơn. Đêm ấy anh ngủ một giấc khá sâu.
             Sáng hôm sau. Trước khi đi vào rừng, Linh dúi vào tay Xuân mấy quả ổi non:
             - Phần anh đấy!
             - Cậu không ăn à?
             - Anh ăn đi mà! Chiều qua vớ được trong núi...
              Cạnh võng Xuân có mấy người lính, mới tới tối qua, không rõ ra hay vào.
              Xuân nằm im, lắng nghe chuyện của họ. Một người nói:
             - Năm ngoái, ông biết thằng Huy và thằng Tặng tìm kế gì để kiếm ăn không? Các cha tinh khôn hết chỗ, dám lừa cả giao liên. Khi đến trạm này, Tặng vờ làm thủ trưởng, còn Huy đóng giả cần vụ, cứ một điều báo cáo thủ trưởng, hai điều báo cáo thủ trường, đến nỗi nhân viên ở trạm ngỡ rằng đây chắc là ông cán bộ cao cấp đi công tác qua, nên đón tiếp chu tất lắm. Gì chứ cơm, sắn thì được ăn no. Đến trạm khác, họ lại đổi vai. Ma lanh thế đấy!
            - Mình còn nghe kể là có chàng vớ được chiếc máy ảnh hỏng, vờ làm nhà báo, đi đâu đeo lủng lẳng bên người. Các ông lạ gì mấy cô làm ở những trạm giao liên nữa, nàng nào chẳng thích có tấm ảnh kỷ niệm Trường Sơn. Vậy là anh "nhà báo" vớ bẫm. Cứ giơ máy bấm tách một cái là có cơm ăn, chí ít cũng được vài củ sắn. Khỉ thế, cái đói khiến người ta mất tư cách.
            - Mất tư cách không sợ bằng mất tính người. Thằng Tươi kể, năm ngoái gần trạm của nó, có hai gã đào ngũ. Gã nọ nẫng của gã kia nắm cơm. Nếu không mạnh người can thì đã xảy ra ẩu đả. Nghĩ cám cảnh quá. Chỉ vì miếng ăn, hai gã kia đã mấp mé bước sang loài thú.
            Xuân rùng mình. Anh nhắm nghiền mắt, không nghe nữa. Quả ổi non Linh đưa, vẫn nóng trong lòng bàn tay.
         
            ... Đoàn người tiếp tục đi.
            Dẫn đường hôm nay là anh giao liên luống tuổi, khoảng bốn mươi, khó tính và hay gắt. Ai đi chậm là mắng xơi xơi. Lê và Xuân mấy lần muối mặt, nhưng đành nhịn.
            - Tôi phục vụ số đông chứ không chiều một ai cả. Đề nghị bước nhanh lên - Mỗi lần phải đứng chờ, anh ta cằn nhằn - Ai không đi được thì ở lại. Đã "đi ra", phải biết điều chớ!
            Lê cho là người giao liên này không có thiện cảm với những ai đi ra miền Bắc. Không nói, nhưng có lẽ anh ta cho rằng những người đi ra thường là những kẻ thối chí, những kẻ bỏ nhiệm vụ, những kẻ sợ chết, đập bệnh để trốn chiến đấu... và bao điều tiếng khác. Cũng có một số ít người như vậy, do đó, đã đi ra là gánh chịu sự không được trân trọng, thậm chí bị coi thường. Mà đâu phải việc gì cũng giải thích cho số người như anh  giao liên này hiểu rành rọt. Với nữa, cũng không nhất thiết cứ giải thích, quan trọng việc mình lên, chỉ làm bé mình đi.
            Lượng quay lại hỗ trợ Lê, cùng dìu Xuân. Ba người gắng gượng bước. Xuân cố nén đau để đi nhanh hơn. Lắm lúc hai mắt hoa, phía trước tối sầm, nhưng đôi chân như một thói quen, vẫn lê lết trên mặt đất.
            Quá trưa, đoàn người nghỉ ở một cánh rừng. Người giao liên phổ biến:
            - Bãi trống trước mặt là túi bom. Do vậy yêu cầu mọi người, khi có lệnh, phải nhanh chóng vượt qua. Chậm, máy bay tới là ăn bom đó. Đề nghị kiểm tra hành lý. Ai chưa gọn, buộc lại để vượt.
            - Gắng một chút nhé, Xuân - Lê cúi xuống, nhìn vết thương của người thuyền phó, động viên - Mình sẽ cõng cậu, vượt qua nhanh thôi.
            - Để tôi đi.
            - Cái chân của cậu... không kịp đâu. Chần chừ là hết cả nút.
             Đến bìa rừng, người dẫn đường ra hiệu dừng lại. Anh thận trọng bước xuống chân núi, đứng nép vào một thân cây ngửa mắt lên trời, nghe ngóng. Lượng và Lê dìu Xuân vượt trước mọi người, chờ đợi. Hơn chục con người thấp thỏm dóng mắt về phía người giao liên. Một lúc, dường như biết được quy luật hoạt động của địch, anh ta quay lại, vẫy tay:
            - Vượt!
            Đoàn người ào xuống dốc. Lượng đỡ Xuân lên lưng Lê. Ba người cùng chạy. Họ tụt sau cả đoạn. Đến giữa bãi trống, Lê lảo đảo và khuỵu xuống. Mắt toá đom đóm, rồi tất cả tối sầm.
            - Bỏ tôi lại... đi đi - Xuân rít lên - Mặc tôi!
            - Nói bậy... - Bám vào - Lê gượng xốc Xuân lên lưng.
             Nhưng chỉ được mấy bước, anh loạng choạng, ngã ngửa, đè lên Xuân. Khuôn mặt Xuân tái nhợt. Anh nài nỉ:
            - Anh Lê, anh đi đi... Trời ơi, sao tôi không chết cho rảnh!...
             Lượng đỡ hai người dậy. Lúc bấy giờ đã nghe tiếng động cơ máy bay rì rì phía sau cánh rừng.
            - Các anh định để máy bay tới quăng bom xuống phải không? - Tiếng người giao liên gào phía trước.
             Cang vội lộn lại. Anh cùng Lượng dìu Xuân và Lê. Qua khỏi bãi trống, Lượng đặt Xuân xuống, thở. Khuôn mặt Xuân xanh bợt. Máu ở vết thương ứa ra, thấm ướt cả lớp vải băng.
             Nơi đoàn người vừa vượt qua, một chùm rốc két phóng xuống. Kế đó là tiếng bom. Mọi người tản xa chỗ nguy hiểm. Xuân nhất quyết không chịu đi. Anh khăng khăng đòi cho anh chết ở đây, đừng vì anh mà ảnh hưởng cả đoàn.
            - Không đi thì ở lại - Người dẫn đường, buông một câu rồi anh ta cảm ràm - Tôi phục vụ số đông chứ không chiều một ai cả. Không nhanh nhanh, bom nó ném loang ra thì toi mạng hết.
             Lượng quắc mắt:
            - Tôi mà nghe anh nói như thế một lần nữa là không để yên đâu!
             Người giao liên lấm lét nhìn, rồi lảng sang phía khác.
            - Sẽ thay nhau cõng đồng chí Xuân. Nào, đi - Lượng nói, rồi anh xốc Xuân lên lưng. Đoàn người lại bước.
         
            ...Đêm hôm ấy vết thương của Xuân tấy rực. Người  nóng hầm hập, anh vật vã trên võng. Nằm co đau, nằm thẳng đau, nằm nghiêng cũng đau. Anh có cảm giác như những con vi trùng li ti từ bàn chân đã ăn tràn ra khắp cơ thể. Chạm vào chỗ nào cũng nhức buốt. Lượng và Lê ngồi nhìn Xuân quằn quại, chảy nước mắt, bất lực. Giá là gánh nặng, họ trút đỡ một phần!
            - Các anh thương tôi thì hãy chặt đứt cái bàn chân này đi - Xuân rên rỉ - Tôi không chịu được nữa rồi! Không chịu được nữa!
            - Cố ngủ sẽ quên đau, Xuân ạ - Lê an ủi.
            - Ngủ sao được!
            Lê sờ vào chân phải Xuân. Cái chân sưng nần nẫn, nóng rực. Vết thương đang lan rộng ra. Làm thế nào cho Xuân dịu cơn đau bây giờ? Thật tai quái! Giá như vết thương ở vai, ở tay thì đỡ biết bao...
            Lê xoa nhè nhẹ lên bắp chân Xuân. Xuân nằm im.
            - Ngày mai ta kiếm đòn và sẽ thay nhau khênh Xuân, anh Lượng ạ.
            - Mình cũng nghĩ thế. Ít hoạt động, nhất định đỡ đau hơn.
             Lát sau, ngỡ Xuân đã ngủ, hai người lặng lẽ về võng. Đêm đã khuya lắm. Mệt quá, đặt mình xuống, Lê thiếp đi.

            Xuân không ngủ. Anh cắn răng ráng chịu cơn đau mỗi lúc một dữ dội. Tại sao lại không chết quách cho rảnh, đỡ khổ mình lại đỡ nặng anh em. Cái chân ngày càng tồi tệ, mình và anh em còn phải chịu bao lâu nữa? Nỗi đau và sự thất vọng choán trùm lấy Xuân. Ý nghĩ về cái chết, mấy ngày vừa qua lảng vảng trong đầu, lúc này ập đến rất nhanh. Anh nghĩ chỉ có cái chết là hợp lý nhất, là giải pháp duy nhất giải thoát khỏi nỗi khổ ải triền miên của mình và của đồng đội. Đằng nào cũng chết, chết sớm là hơn. Xuân đưa tay với khẩu AK. Khi đã chạm vào khẩu súng, ý nghĩ về cái chết càng bám níu chặt hơn. Xuân kéo khẩu súng lại gần, nghe ngóng. Khu rừng lặng lẽ, chỉ có tiếng thở mệt nhọc của mọi người. Võng bên, Lê đã ngủ say.
             Xuân ngồi dậy. Vết thương nhói lên. Anh chống súng, thả mình xuống võng. Hàm răng cắn chặt, anh lết mình trên đám cỏ ướt. Anh toài ra thật xa rồi chọn một gốc cây, tựa lưng vào đó. - "Các đồng chí ơi!... - Xuân nấc lên, hai hàng nước mắt lăn ướt gò má - Các đồng chí ơi " Xuân kéo nhẹ khóa cò...
            Đang ngủ, như có linh tính, Lê choàng tỉnh. Anh quờ vội sang võng Xuân; cánh võng nhẹ tênh. Anh bật dậy, hớt hải kêu :
            - Xuân!
             Đáp lại một tiếng AK khô khốc nổ vang. Lê hốt loạn nhào về phía tiếng nổ. Mọi người ngơ ngác thức giấc chạy ùa theo. Bên gốc cây, Xuân nằm đó, người đẫm máu, một viên đạn từ hàm dưới xuyên qua đỉnh đầu.
            Hải sợ hãi rú to:
            - Vết đạn? Trời ơi, vết đạn. Ai bắn? Ai bắn thuyền phó Xuân?
            Và anh run rẩy, đổ sụp xuống, miệng ú ớ. Mọi người bàng hoàng, đứng lặng. Đêm ấy, đoàn thủy thủ âm thầm chôn người đồng đội lưng chừng đồi.
         
           ... Sáng hôm sau, trước khi lên đường, Lượng tập hợp mười hai thủy thủ trên một bãi cỏ rộng. Anh bước lên:
            - Thưa các đồng chí thủy thủ tàu T.67 - Lượng nhìn khắp lượt những khuôn mặt thân quen và nói. Giọng anh nghiêm trang - Tất cả những gì xảy ra, các đồng chí đã rõ. Chúng ta đi chưa được nửa chặng đường, những ngày tới, còn phải tiếp tục đi nữa. Chỉ có hai con đường: hoặc tiếp tục khắc phục mọi trở ngại để trở về, hoặc chịu thua hoàn cảnh. Chúng ta chọn con đường thứ nhất. Ai có ý định lùi bước, chạy trốn gian khổ, khó khăn, có ý định chạy trốn chính bản thân mình đều không xứng đáng là thủy thủ tàu T.67. Chúng ta không có quyền chết. Các đồng chí ạ. Không ai có quyền chết! Nếu cái chết dễ dàng hơn cái sống thì chúng ta quyết chọn cho mình cái sống. Đồng chí Xuân không hẳn là đã chạy trốn. Đồng chí có hành động như vậy là muốn cho chúng ta thuận lợi trên đường về Bắc. Xin ghi nhận điều đó. Nhưng chúng ta cũng có thể nói với đồng chí Xuân rằng: Đồng chí đã không thấu hết tấm lòng của chúng tôi.
            Lượng ngừng lại trân trân nhìn tiếng người cố nén không bật ra tiếng khóc. Một lúc lâu, anh đưa tay lên vuốt ngực:
             - Mời đồng chí thuyền trưởng phát biểu.
             - Thưa các đồng chí! - Lê nói - đường còn dài, sức của mỗi người đã kiệt, nhưng mười hai thủy thủ của tàu T.67 nhất định trở về tới đoàn đủ mười hai. Chúng ta sẽ tự hào báo cáo với cấp trên rằng: chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Hãy giao cho chúng tôi con tàu mới...
             Thủy thủ xúc động nhìn thuyền trưởng. Rồi họ lặng lẽ lên đường. Đoàn người đã vắng thiếu một thành viên.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 09:04:57 pm

PHẦN KẾT


1


            Đoàn thủy thủ tàu T.67 dắt dìu nhau về đến đơn vị, trời đã chớm thu.
           
            Những ngày nằrn an dưỡng, Lê nhớ Thúy đến nôn nao. Chưa bao giờ anh nhớ người yêu như những ngày này. Xa Thúy, kể từ cái đêm tháng Năm ấy tới nay đã hơn một năm. Một năm dài đằng đẵng. Một năm có bao điều đã xảy đến. Thúy của anh sống ra sao? Ôi, ước gì có  đôi cánh bay về gặp Thúy một lúc, phải, chỉ cần một lúc để được nhìn mặt em, để được nghe em nói và để được nói với em...Một năm xa Thúy, Lê có cảm giác như mười năm, hai mươi năm. Những kỷ niệm khắc đậm trong anh. Càng xa nhau, càng ý thức được đầy đủ, rõ ràng và cụ thể về tình yêu. Đã có cái gì thiêng liêng gắn chặt hai con người. Và nỗi nhớ ở anh không còn là sự xốc nổi, bồng bột; nó lắng sâu.
            Những ngày vượt Trường Sơn, hầu như lúc nào Lê cũng nghĩ đến Thúy, nghĩ đến kỷ niệm, nghĩ đến hạnh phúc trong tương lai. Điều đó khiến Lê thêm sinh lực vượt qua gian khó, thử thách để trở về. Những ngày ác liệt ấy Lê không chết, không bỏ xác dọc đường vì nhiều nguyên cớ, trong đó có cái lý anh phải sống cho Thúy, anh không chỉ là của mình, anh là một phần của người anh đang yêu - Giữ mình là giữ cái gì cho người ấy.
            Đã hơn ba tháng, bọn anh không được đi quá ranh giới khu an dưỡng. Những người có nhiệm vụ chăm sóc ở đây khe khắt, nguyên tắc đến máy móc. Họ nhất quyết không nể nang và mềm lòng. Đều đặn ngày nào cũng như ngày nào chỉ có một thời gian biểu: sáng, khám bệnh, uống thuốc, ăn cơm, rồi nghỉ - Chiều: uống thuốc, nằm nghỉ, lại ăn cơm, lại ngủ. Ngày này qua ngày khác, đơn điệu và tẻ nhạt. Không được tiếp xúc với người ngoài. Không được viết thư. Thời gian rỗi chỉ đọc sách. Cầm cuốn sách trên tay, Lê nghĩ đâu đâu. Hình ảnh Thúy chập chờn. Nó len vào trong giấc ngủ, trong bữa  ăn. Lê chỉ mong ra khỏi đây.
            Ba tháng nằm an dưỡng, dài hơn ba năm. Đã bao lần Lê và mọi người đề nghị cho nhận công tác, hoặc ít ra cũng trả về đơn vị, song người bác sĩ điều trị lắc đầu:
            - Chưa hồi phục sức khoẻ !
            Lại tiếp tục ăn, chơi, uống thuốc. Quả chưa ai khỏe. Da mặt người nào cũng xanh. Bệnh sốt rét quái ác thỉnh thoảng lại hành hạ. Lê không bị sốt rét. Bác sĩ bảo anh bị sa lá lách. Lê hỏi:
            - Sa lá lách có đi biển được không, đồng chí?
            - Gắng chữa khỏi thì vẫn đi được - Người bác sĩ trả lời - Nhưng phải kiên trì.
            Vâng, kiên trì, nhưng kiên trì đến bao giờ? Mấy lần đoàn trưởng Tư và chính ủy Kim đến thăm, Lê yêu cầu hai ông can thiệp.
            - Bọn mình cũng phải chấp hành ý kiến chuyên môn. Quyền hành đối với các cậu bây giờ ở trong tay mấy cha bác sĩ. Bao giờ họ gật, bọn mình mới dám phân công công tác.
             Một lần khác, đoàn trưởng Tư hỏi Lê :
            - Cậu nôn nóng vì muốn nhận việc hay nóng lòng về thăm cô Thúy?
            - Cả hai ạ.
            - Cậu không gặp Thúy đã hơn năm nhỉ. Cứ an tâm, cô ấy khỏe, và ...
             Đoàn trưởng định nói điều gì, nhưng ông chỉ cười.
             Chừng hai tuần sau, Lê nghe anh em kháo nhau rằng tàu T.37 cũng phải hủy, thủy thủ vượt Trường Sơn đã về an toàn. Lập tức Lê bổ đi tìm Tòng. Khi hay Tòng hy sinh, anh choáng người. Chưa bao giờ anh nghĩ điều đó xảy ra. Chưa bao giờ anh nghĩ những người như Tòng lại chết. Anh nặng trĩu. Những ngày tiếp đó, sống lặng lẽ. Cái chết của Tòng khiến anh đau buồn, nhớ tiếc.
             Cảm thấy đã mất đi một cái gì lớn lắm, không thể bù đắp. Hình ảnh Tòng mỗi lần gặp Lê, lại nhào tới, nguềnh ngoằng đôi tay vượn ôm ghì lấy anh, phả hơi nóng vào mặt anh, không sao quên được. Anh ân hận vì không giữ được vật gì của bạn. Lục lọi trong số tư trang ít ỏi Tòng để lại, Lê thấy một cuốn sổ nhỏ, chữ xiêu xọ. Trang đầu, Tòng vẽ con chim đang bay, phía dưới là câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: "Ngàn dâu gió cuốn chim bay mỏi". Lê xin đoàn trưởng được giữ lại cuốn sổ.
            Đoàn trưởng lật xem những điều Tòng ghi, rồi ông gấp lại, ngồi lặng, đôi mắt hướng ra xa. Lát sau, ông đưa Lê, và bảo:
            - Chúng ta vẫn chưa hiểu hết về cậu ấy.
             Ngày hôm đó, hai người chỉ nói chuyện về Tòng.
             Sang tháng thứ tư, sức khỏe thủy thủ tàu T.67 khá hơn. Một hôm đoàn trưởng Tư và chính ủy cho gọi Lê lên:
            - Thế nào, anh em nhận nhiệm vụ được chưa?
            - Báo cáo, đã sẵn sàng ạ.
            - Theo cậu, có ai không đi biển được nữa?
            - Về mặt tinh thần hay về mặt sức khỏe ạ?
            - Cả hai!
            - Về tinh thần thì không. Còn sức khỏe... Tôi ái ngại trường hợp anh Hải.
            - Thế đấy! Bọn mình sẽ rút Hải lên bờ làm trợ lý.
            - Cậu ấy sẽ phản đối. Ai muốn xa đồng đội, những con người đã vào sống ra chết, nằm gai nếm mật có nhau.
            - Nhưng mình sẽ gặp Hải để thuyết phục. Lê này, thủ trường đoàn có ý định để Cang đi học lớp đào tạo sĩ quan tới, cậu nghĩ sao?
            - Nếu được phép, tôi nhất trí ạ. Một chàng trai thông minh, dũng cảm, tháo vát và sống có tình. Xa một người như vậy, rất tiếc, nhưng nếu vì lợi ích lâu dài của đoàn...
            - Anh chàng sợ ma hả?
            - Vâng! Ngày xưa...
            - Đã hứa hẹn với cô du kích trong kia phải không?
            - Cô Mười năm nay hai mươi. Tôi tin họ sẽ chờ nhau. Ngày nào Cang cũng nhắc đến cô ấy và những kỷ niệm của họ.
            - Lớp trẻ bây giờ yêu nhau khác tụi mình ngày xưa, anh ạ. - Chính ủy quay sang nói với đoàn trưởng và hai ông cười - Ngày xưa cô bán trầu cau của anh có hẹn hò gì đâu.
            - Cho tới lúc cưới, cũng chỉ nói với nhau chừng mười câu.
            - Công việc của cậu sắp tới - Chính ủy nói - Anh Tư sẽ phổ biến, tóm lại là cậu sẽ cùng với Lượng củng cố ổn định tổ chức, biên chế đủ thủy thủ cho một tàu. Sau đó nhận tàu mới. Tàu này lại mang tên T.67. Xong công việc cậu về Hải Phòng ít ngày. Bọn mình đã báo cho Hạng, trợ lý tổ chức, chuẩn bị giấy tờ.
            - Giấy tờ gì ạ? - Lê ngạc nhiên hỏi.
            - Về đến Hải Phòng, khắc cần - Đoàn trưởng ý nhị nhìn chính ủy, cười: Giấy chứng nhận cậu chưa vợ để ra ủy ban đăng ký.
            - Có nghĩa rằng... Tôi sẽ cưới vợ ạ?
            - Ơ kìa, cũng phải thế chứ? Hay cậu còn chờ?
            - Tôi chưa có ý định. Với lại cũng chưa bàn với Thúy.
            - Chưa bàn, đợt này bàn. Chưa cưới thì đăng ký, bao giờ có điều kiện, sẽ cưới - Chính ủy nói thêm.
            - Vâng! Các thủ trưởng làm tôi đột ngột quá... Để tôi nghĩa thêm.
             "Cưới vợ! Sao dịp này cụ Tư và cụ Kim lại sốt sắng đến chuyện này thế?" - Ra khỏi phòng làm việc, Lê vừa đi vừa tủm tỉm cười.
             Hơn tuần sau, anh báo cáo những công việc được giao: Việc nhận tàu, việc ôn định tổ chức, biên chế...
            - Chúng ta lại có một T.67, phải không? - Ông Tư nói.
              Hôm ấy đoàn trưởng giữ anh nán lại ăn cơm. Ông muốn nghe kỹ những chuyện liên quan đến chuyến đi của T.67 ông đã được báo cáo. Rồi ông kể rõ hơn chuyến đi của tàu T.37 và cái chết của Tòng. Hai người chuyện tới khuya. Trước khi Lê về, đoàn trưởng báo:
            - Đảng ủy quyết định tuần tới, cậu sẽ lên Bộ tư lệnh nhận chỉ thị về phương thức vận chuyển mới trong tình hình mới. Mình và chính ủy Bùi Kim sẽ cùng đi. Ban chỉ huy nhất trí ngày mai cậu về Hải Phòng thăm gia đình và thăm Thúy, giải quyết mọi việc mà cậu tự biết cần giải quyết. Đúng sáng mười sáu có mặt ở nhà khách cơ quan Bộ tư lệnh, bọn mình chờ ở đó. Thế nào, nghỉ mười ngày ít quá chăng?
            - Không ít đâu ạ!
             Đoàn trưởng kéo ngăn bàn, lấy ra một tờ giấy, nhìn Lê và nói vui:
            - Còn tờ giấy này, cứ cầm lấy, nếu thấy cần thiết thì sử dụng. Sự chu đáo của chính ủy không thừa đâu. Hãy nói với cô Thúy rằng chú Tư gửi lời hỏi thăm.
             Liếc qua tờ giấy, Lê thoáng đỏ mặt.
             Lê đâu biết, mấy ngày qua, chính ủy Bùi Kim, đoàn trưởng Tư đã bỏ hẳn một buổi đê bàn việc riêng của anh và cuối cùng cả hai đều đồng ý để Lê rẽ qua Hải Phòng tự thu xếp việc gia đình và sau đó sẽ báo cáo với tổ chức những điều cần thiết.
             Đêm ấy Lê tràn trọc, nhớ Thúy, nhớ bố mẹ và các em không nghỉ được.
           
             Sáng hôm sau anh đi sớm. Chiếc xe con của đoàn - đưa đến phà Bính.
             Lê thấy vui. Xung quanh, bến phà người xuống người lên tấp nập. Không khí hoà bình, không khí yên ổn hiện lên trên mỗi gương mặt. Lê nhập vào đoàn người, xếp hàng xuống bến. Chợt Lê chạy vội lại phía người trưởng bến, reo to:
            - Anh không nhận ra tôi ư?
            - Xin lỗi, đồng chí là... quả thực, người qua lại rất đông, cho nên... - Người trưởng bến lúng túng.
            - Năm kia, anh đã ách xe chúng tôi lại và bắt chúng tôi đi bộ vào thành phố. Tôi nhớ là anh có người vợ làm ở nhà máy đóng tàu. Thợ hàn.
            - À, vâng. Nhưng... nhưng nhà tôi hy sinh rồi.
            - Hy sinh rồi?
            - Đã hơn nửa năm nay. Anh có phải là... hình như người yêu cô Thúy?
            - Anh biết?
            - Tôi đoán vậy. Cô ấy nhắc tới anh luôn. Tuần trước mẹ con Thúy có lại đằng nhà tôi chơi. Cháu kháu lắm.
            - Xin lỗi nhé.- Chiếc xe tải lùi lại! Lùi lại! - Người trưởng bến nhìn ra và hô to - Không đi chuyến này thì sang chuyến sau. Đề nghị các đồng chí chấp hành nội quy bến. Chúng tôi phục vụ hai phà.
            Người trưởng bến chào Lê rồi chạy vội lại phía ba-ri-e.
           
            "Mẹ con cô ấy..." Lê thoáng nhớ đến thái độ của đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim.
            Khá đông người xuống phà. Lê đứng cuối. Nhìn sang bên kia sông, anh có cảm giác vừa quen vừa lạ. Đợt hoa phượng cuối mùa giống như một tấm vải hoa choàng lên thành phố. Chỉ ít phút nữa thôi, Lê sẽ được gặp Thúy. Anh thấy bâng lâng. Niềm vui lan ngập khiến anh xốn xang.



Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 09:10:48 pm

2


            Bấy giờ đã là giữa năm 1972.
           ... Vào một buổi chiều, trên đường đê hữu ngạn sông Lô có một người hối hả đạp xe. Vừa đi, người ấy như có ý quan sát xung quanh. Tới đoạn đường vòng, anh dừng lại hỏi thăm rồi tất tưởi dắt xe xuống bến đò. Trời đã tắt nắng. Đó là trung úy Hòa, thuyền trưởng cũ của tàu T.37. Trông anh già hơn trước. Tóc đã điểm bạc. Khuôn mặt âu sầu, thoáng những nét buồn của người nhiều lo nghĩ. Người gầy, dáng khắc khổ.
            Bà cụ lái đò giục anh xuống, đưa mái chèo cắt nước rồi thong thả bắt chuyện:
            - Coi ra bác mới đến vùng này lần đầu? Chắc qua bãi thăm bà con?
            - Dạ, vâng! - Hòa trả lời chiếu lệ. Đang nghĩ nên anh không mặn chuyện lắm.
            - Số bác may, mọi bận thì tôi đã cho đò nghỉ lâu rồi. Sông vắng, vào giờ này chẳng mấy ai qua lại.
            - Từ đây tới làng Ao Gỗ còn xa không cụ?
            - Làng Ao Gỗ à? Bác cứ đạp thẳng đường đê, khi nào gặp ngọn Tháp, gọi là Tháp Bình Sơn, bác rẽ sang trái. Chúng tôi đi bộ non non ba tiếng. Nhưng hôm nay mồng chín ta. Có trăng, chẳng ngại.
            Sông Lô tím xanh hệt một vệt mực. Phía mút dòng, sau những rặng núi tím thẫm, ráng chiều hắt lên như một đám cháy, đang nhạt dần. Trời tối nhanh.
             Hòa nhìn bên kia sông: chân đê mờ mờ sương chiều.
             Nhợt nhoè trên mặt đê, một vài bóng người gầy nhỏ, quây nặng những bó thân ngô cồng kềnh, tất tưởi đi vào xóm.
             
             Khi ở Hà Nội, Hòa đã tính là có thể đến làng Ao Gỗ trước lúc trời tối, ai ngờ chuyến tàu ngược Việt Trì chậm những ba tiếng. Lúc này đã sáu giờ chiều. Đành phải đạp xe thật nhanh vậy. Đến nhà người lạ đêm hôm khuya khoắt, rất bất tiện. Và chuyện thế nào đây? Tự giới thiệu tôi là bạn của Tòng, hồi Tòng chưa hy sinh, chúng tôi cùng tàu... Đành rằng mào đầu như vậy nhưng sau đó sẽ nói những gì? Và liệu có lần tìm ra Lụa không? Số phận người phụ nữ khát khao tình yêu và đã yêu, yêu hết mình ấy giờ ra sao?... Hòa ngồi xoay người lại cố nén tiếng thở mạnh. Đầu anh rối lên.
             Con đò chạm bờ. Hòa chào bà cụ rồi xắn quần, vác xe xuống bến. Hai bàn chân ngập trong bùn đất bãi. Anh dắt xe lên đê. Trăng đầu tháng sáng nhạt. Hòa ngồi lên, hối hả đạp.
             Làng xóm xa chân đê mờ mờ trong trăng. Gió từ bờ sông đưa lên quyện theo hởi nước lẫn mùi cỏ mục, man mát. Mặt đê nhiều ổ gà, xóc nảy người. Hòa xuống xe, lại lên xe. Lần cuối cùng, đạp được mấy vòng, đã phải  nhảy xuống: lốp trước hết hơi. Thật tai hại. Làm thế nào bây giờ? Hòa ngó ngược, ngó xuôi: xung quanh yên vắng, chỉ tiếng gió đuổi nhau trên bãi, và lá ngô cọ vào nhau xào xạc.
             Ngồi đây chờ sáng hay dắt xe đi? Nghỉ đã rồi tính,
             Hòa ngả xe bên vệ cỏ, ngồi xuống mép đê, châm thuốc hút.
             Con sông lặng lờ sải ra ôm những bãi. ngô. Lần đầu tiên lên trung du, những con sông này, những bãi ngô này, anh đã được nghe nhiều lần. Sau khi Tòng mất, những câu chuyện lảng vảng trong Hòa mãi.

            ...Lâu rồi, chúng tôi chưa có dịp gặp lại nhau, anh Hòa ạ Những ngày lênh dênh trên biển thế này nhớ cô ấy phát cuồng. Nhớ đến bứt rứt. Đêm đêm nghĩ về sông Lô, nhớ vị ngọt như sữa của những bắp ngô non, nhớ cơn gió hây hây từ mặt sông đưa lên những đêm trăng, nhớ vị hăng nồng của những thân ngô già dãi nắng,nhớ mùi đất bãi gặp sương... Ôi, dòng sông trung du ấy sao đậm đà kỷ niệm đến vậy! Thế nào anh cũng phải lên với con sông ấy một lần, anh Hòa ạ. Tôi sẽ đưa anh đi dọc bờ để ngửi mùi đồi núi tan loãng trong phù sa con sông. Chúng mình sẽ ăn những bắp ngô non đang làm sữa. Ăn sống. Tôi và Lụa đã ăn như thế. Ngô non ăn sống, mát, ngọt, dư vị hăng hăng, tanh tanh cứ đọng mãi nơi đầu lưỡi. Đã ăn một lần là không thể quên. Hai bên bờ đê, ngô bạt ngàn...     
            Hòa khẽ rùng mình. Không khí đặc quánh sương đêm. Trời lành lạnh. Vạt cỏ nơi Hòa ngồi, ẩm hơi nước. Không gian vắng lặng tĩnh mịch, chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả gọi kêu nhau 
            Hòa đốt điếu thuốc nữa. Anh rít một hơi dài, nuốt hết khói, có một cái gì đó đăng đắng nơi đầu lưỡi. Giá hồi đó mình cũng được năm tạ thuốc nổ dồi lên, để rồi tan vụn ra thì đỡ khổ biết chừng nào - Một tiếng thở dài, bật ra. Hòa khẽ buột thành lời: "Sao cậu lại chết hả, Tòng ơi".
            Hòa đăm đắm nhìn xuống bãi ngô, người lặng đờ như một khối đá.
            Trăng đã tàn. Bầu trời chi chít sao. Xa xa những ngọn đồi, những ngọn núi như hoà tan vào bóng đêm. Dòng sông chỉ còn lại một vệt mờ mờ lẫn với bờ.
            Đốm sáng nơi đầu điếu thuốc lại lóa đỏ.
         
            Nghĩ tới chuyến đi ấy, Hòa tự hỏi: Hay là mình không có lỗi? Rằng với cương vị thuyền trưởng, anh đã nhận trách nhiệm hủy tàu, anh chỉ muốn tìm một giải pháp có lợi nhất, đỡ thiệt hại nhất mà hoàn cảnh lúc đó có thể cho phép. Rằng Tòng hy sinh là vì quá nôn nóng, quá vội vàng, và mọi người hình như nhìn nhận vấn đề cũng như vậy. Thế nhưng hễ nhớ tới rạng sáng hôm đó, anh lại nhức nhối, lại đau thắt, lại mặc cảm rằng mình đã giằng phần sống của người khác... Nhưng phút ấy, trời ơi, cái phút khủng khiếp, năm tạ thuốc nổ sẽ tức khắc bùng lên, quả có thế, quả anh đã run tay. Anh đắn đo. Anh ngần ngại. Nỗi tủi nhục, đau đớn và ân hận giày vò không dứt, chính chỗ ấy. Cuộc sống rất khắt khe, chỉ vì một phút sợ hãi, do dự toan tính là có thể phải mang cả cuộc đời ra trả. Có những sai lầm đáng ra không bao giờ được phạm phải. Thế mà anh... Đã ngỡ là người gan dạ, nhiều đức hy sinh, sẵn sàng chết cho một cái gì cao cả. Nhưng đến cái phút ấy, cái phút anh đưa  tay lần tìm chiếc núm nhựa để đóng mạch châm ngòi cho năm tạ thuốc nổ, bản tính thực trong anh mới bộc lộ. Ai hiểu anh hơn anh lúc ấy nữa? Chỉ khi tiếp cận với sợi dây rất mảnh, ranh giới giữa cái sống và cái chết, người ta mới bộc lộ rõ mình.
             Chuyến đi ấy ám ảnh Hòa, nó như một giấc mộng  luôn luôn hiện về. Tất cả dường như mới xảy ra...
           
            Hơn bốn tháng sau, anh và gần hai chục thủy thủ dắt díu nhau, lần đường trở về đơn vị. Hòa hốc hác, gầy rộc, tóc rụng quá nửa. Thiếu thốn vật chất và nỗi đau tinh thần âm ỉ giày vò anh. Anh chưa quỵ, anh không bỏ xác dọc đường có lẽ vì còn có một chỗ bấu víu: trách nhiệm với đoàn người. Riêng anh, cuộc đời có nghĩa gì. Đã cướp phần sống của người khác thì tồn tại như một sinh vật thừa. Dù nghĩ ấy đeo đẳng, bám níu Hòa suốt những ngày hành quân.
            Anh mong chóng trở về đơn vị. Về tới đó để anh được nói hết tất cả, được trình bày tất cả, được lĩnh án kỷ luật. Và khi ấy may ra thanh thản ít nhiều. Nhưng có điều lạ là đoàn và Bộ tư lệnh đã đón anh và đồng đội của anh như những người vừa làm nên kỳ tích có tính thần thoại. Thần thoại ư? Đồng đội của anh đã chấp nhận một hoàn cảnh khó khăn ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của con người để vượt Trường Sơn trở về đơn vị. Còn anh? Kẻ ham sống sợ chết cũng đứng ngang hàng với họ? Chả lẽ cuộc đời lại giễu cợt và không còn gì mỉa mai hơn.
            Anh đã báo cáo tất cả. Báo cáo lại những gì như nó vốn có. Song, không ai kỷ luật anh. Điều ấy càng khiến Hòa khổ tâm. Anh chỉ nghỉ một chuyến đi, sau đó lại được tiếp tục đi. Nhưng không yên ổn. Anh tự kết án mình. Anh luôn ở trong tâm trạng dằn vặt. Đêm, anh vẫn lẻn trốn lên boong, tìm chỗ ít người chú ý, ngồi đốt thuốc, lặng lẽ nhìn ra biển và thầm gọi Tòng. Hình ảnh Tòng chạy trên trảng cát ra với con tàu hiện về ... Anh cảm thấy mắc nợ. Đã bao lần Hòa có ý về làng Ao Gỗ để nói hết sự thật, nhưng bom đạn, sự bận bịu của công việc không cho anh thực hiện. Chẳng rõ sao anh cứ nghĩ rằng nhất quyết anh phải nói với Lụa về cái chết của Tòng. Và anh tin, ngoài Tòng, còn một người nữa hiểu anh, sẵn sàng tha thứ cho anh, đó là Lụa. Chưa nói hết với Lựa, anh còn mắc nợ...
            Tuần trước, vô tình có trong tay lá thư Lụa gửi cho Tòng, vì tò mò, vì bao duyên cớ khác không cắt nghĩa được anh đã đọc: "... Anh Tòng ơi, cuối cùng thì chúng mình đã thắng. Em đã tự do! Anh nghe rõ không, anh Tòng? Em đã tự do! Đoàn thanh niên ủng hộ em. Hội phụ nữ ủng hộ em. Và thế là pháp luật đã cởi trói. Trời ơi chưa bao giờ em mong anh về đến thế! Về đi anh, tranh thủ về với em vài ba ngày, hết bom đạn rồi! Anh hiểu em không?... Vậy mà đã lâu lắm, em chưa nhận được dòng nào của anh. Sao vậy, anh! Anh bận ư? Ôi! Đừng để em phải sống một mình nhé, "chú bé " của em".
             Cuộc sống, chao ơi, khắc nghiệt và trớ trêu!
           
             ... Trên bờ đê, đốm sáng nơi đầu điếu thuốc lại loé đỏ Hòa vẫn ngồi đó, im lìm. Đôi mắt đăm đăm nhìn ra. Hai bờ vai đẫm sương. Hình ảnh những ngày qua đan chéo dội về khiến anh buốt lạnh. Anh cũng đã cố tìm cho mình sự lý giải, câu trả lời về những gì đã xảy ra, nhưng hình như càng giải thích, càng khổ tâm, day dứt...
             Trời sáng lúc nào không hay. Ngôi sao cuối cùng đã lặn. Chân trời đằng đông ửng đỏ. Bầu trời cao, xanh, sáng dần. Sông Lô nhuộm một màu hồng hạt, lượn giữa đôi bờ cát. Dưới chân đê, bãi ngô trải một vệt dài, ngăn ngắt. Những chiếc lá đẫm sương đang vươn ra đón nắng.
             Hòa dắt xe, đi về làng Ao Gỗ. Gió rất nhẹ. Không khí ban mai thoảng hương cỏ mật khiến Hòa tỉnh táo. Anh bước thấp thỏm.
            Đầu làng tôi có Tháp Bình Sơn xây từ đời nhà Trần, cao mười một tầng. Niềm tự hào của quê tôi đấy. Mỗi viên gạch ốp ngoài được chạm một hoa văn. Mỗi hoa văn một vẻ và cái nào cũng dẹp. Hồi chưa vào bộ đội tôi vẫn hẹn Lụa dưới chân tháp. Muốn tìm làng tôi thật dễ: Cách vài cây số đã nhìn thấy đỉnh Tháp.
             Nắng trời vàng lên mặt đê. Vạt cỏ bên đường óng ánh mấy giọt sương. Có tiếng mái chèo cắt nước từ mặt sông vọng lại. Trong những rặng tre, thấp thoáng bóng người. Hình như dưới bãi ngô có tiếng nói chuyện lao xao...
            Hòa bước nhanh hơn. Anh đưa anh em rút khỏi vòng vây ngay, còn con tàu, mặc tôi... Từ ngày có Lụa, tôi thấy lúc nào cũng phơi phới... thèm được sống hơn bao nhiêu! Cuộc đời thật là tuyệt!... Không có tình yêu cuộc đời sẽ hoang vắng biết chừng nào!
            Hòa vấp mô đất, chúi về phía trước, nhưng rồi lấy lại thăng bằng, anh dắt xe đi.
            Bóng Hòa gầy, nhỏ, nhoè trong nắng.


Tiêu đề: Re: Người của biển
Gửi bởi: phonglan trong 04 Tháng Tám, 2009, 09:16:05 pm

3

           Chiếc xe ngựa lăn vào xóm nhỏ một làng quê nọ.
           Người xà ích chừng 35 tuổi, mặc chiết áo "tô châu" bạc màu, nơi cằm lún phún râu. Đó là Hải, một trong những người sống sót của tàu T.67.
           Vẫn ngồi trên xe, anh hỏi một trung niên xách mấy gói thuốc bắc đi tới:
           - Bác làm ơn chỉ dùm nhà ông lang thôn Đoài.
           - Đó ngôi nhà trước mặt, nơi có dàn thiên lý.
            Hải dừng xe, nhẩy xuống, buộc ngựa và bước vào sân. Một ngôi nhà ba gian, nhỏ, nhưng có cái gì đó ấm cúng, mát mẻ...
           - Đây có phải nhà ông lang thôn Đoài không ạ - Hải dừng lại ở sân, hỏi to. Một người - gầy nhỏ, nhanh nhẹn bước ra.
           - Ơ kìa... - Chủ nhà chững lại ngạc nhiên - Hải, Hải hả?
           - Trời, anh Lượng...
            Họ ôm choàng lấy nhau...
           - Sao anh lại ở đây...
           - Nhà mình mà. Mình làm thuốc.
           - Thì ai biết được! Anh làm thuốc ư?

*

           Trên mặt đê lồi lõm, một chiếc xe ngựa cũ nát lóc cóc hướng về phía thượng nguồn. Con vật rướn bộ xương còm nhom thả những bước nặng nhọc. Chiếc xe vật vã lăn đi. Trong xe có hai người. Hải đánh xe. Đôi mắt luôn nhìn về phía trước, thỉnh thoảng lại gắt một tiếng, và những ngón tay to như quả chuối giật mạnh dây cương. Rõ là Hải rất vội.
           Người ngồi sau dỏng cao, khuôn mặt gầy, da mịn, tóc bạc chải hất về sau. Đó là Lượng. Anh ôm bên mình chiếc túi lớn, có ngăn và luôn nhìn ra ngoài, dẫu rằng lúc đó cảnh vật chỉ còn là những mảng đen.
           Đến khúc đường vòng, chiếc xe rời bờ đê, ngoặt sang phải. Đoạn này dốc, ngựa chạy nhanh hơn.
           - Lối này à, ông Hải? - Lượng chợt hỏi, giọng suồng sã - mình nhớ làng cậu phải qua ngọn đồi Ngũ mới rẽ kia mà.
           - Trí nhớ của anh chưa cùn mòn tí nào! - Hải không quay lại, trả lời và thúc ngựa đi nhanh hơn.
           - Tiêu chuẩn hàng đầu của người bốc thuốc đấy!
           - Nghe người ta đồn về tài chữa bệnh của ông lang làng Đoài, không ngờ là anh.
           - Cũng lạ đấy, nhỉ? - Người ngồi phía sau dịch lên, đáp - Mình cũng không ngờ... Thực ra thì trước đây nội mình làm nghề này. Cụ là một danh y, cả tổng biết. Đến đời bố mình việc đó đứt đoạn. Mình đâu nghĩ sẽ theo nghề thuốc. Vậy mà sau khi xuất ngũ, có một cái gì như định mệnh: thấy cần quay lại cái nghề của ông nội. Đầu tiên tìm sách của các cụ đọc, rồi có lẽ một sự tiềm ẩn trời phú nào đó tới lúc phát, mình nhận ra khả năng làm thuốc, chữa bệnh, lạ thế... Chà, giá cái thời chúng ta lềnh phềnh ngoài biển, hoặc tháng ngày vượt Trường Sơn mình có được khả năng này, nhỉ!
           - Đã bao năm rồi đó, anh Lượng - Hải chợt nói. Thời gian trôi nhanh quá, phải không?
           - Hòa bình đã trở lại, chúng ta chẳng mấy nữa sang thế giới bên kia mà cuộc chiến tranh chưa bứt khỏi mình.
           - Cả một thời trai trẻ... Nhưng dù sao mọi sự cũng đã qua rồi, Hải ạ - Lượng nói một cách khó khăn, giọng anh trở nên lạnh lùng như thể nói với chính mình - Bây giờ là hiện tại, là phía trước. Những gì đã qua, thật khó lấy lại.
           Hải quất roi vào mông ngựa, chiếc xe chồm lên. Trời nhập nhoạng, con đường chỉ còn là một vệt sáng mờ, mỏng manh vắt qua cánh đồng trống trải. Gió lùa vào hai bên thành xe khiến tấm liếp che rung lên. Không khí lạnh hơn. Hải châm đèn dầu, ngoắc vào càng xe và vẫn tư lự nhìn thẳng.
           - Anh bảo là những gì đã qua rồi không lấy lại được? - Một lát, Hải lên tiếng, giọng làn khàn.
           - Hả? - Lượng quay lại nhưng có lẽ không để ý đến cái giọng làn khàn bật ra một cách khó khăn của bạn, anh hỏi: Đường còn xa phải không? Bà cụ nhà cậu năm nay bao nhiêu nhỉ?
           - Cụ tuổi gà, năm nay bảy ba. Tôi đã chạy đủ thầy, đủ thuốc nhưng bệnh không thuyên giảm. Cuối cùng người ta mách sang làng Đoài. Chiều nay đánh xe đi... ai ngờ lại là anh, thật mừng.
           - Hình như cụ không sống với cậu, hả?
           - Vâng, cụ ở với con gái. Nhưng lần này đang định đón cụ về chăm nom. May quá gặp được anh, muốn hỏi ý kiến.
           - Thế nào, hỏi ý kiến mình?
           - Anh là chính trị viên của chúng tôi...
           - Chà? - Người ngồi phía sau chợt cười. Chính trị viên. Thời ấy qua rồi...
           - Chưa cái gì qua cả. Anh là cấp trên, là đồng đội của chúng tôi. Bà cụ không phải là mẹ tôi.
           - Cái gì?
           - Anh còn nhớ cậu Mừng không?
           - Sao không nhớ?
           - Bà cụ là mẹ cậu ấy.
           - Cậu bảo sao? Là mẹ cậu Mừng?
           - Tôi có lỗi là hồi chiều không nói thật với anh. Nhưng chẳng sao. Đã bao năm tôi gắng nuôi nấng, chăm lo cho cụ và tự bảo với mình rằng phải coi cụ như mẹ đẻ. Đó không hẳn là nghĩa vụ, anh Lượng ạ. Có một cái gì nặng lắm mạnh hơn tiếng đó dằn vặt tôi. Chắc anh nghĩ rằng tôi lẩm câm. Vâng, có thể. Mọi sự qua đi, không hẳn rằng đều đã lãng quên.
           - Sao mình không hiểu - Giọng Lượng buồn bã... - Mình là thằng đã qua trọn cuộc chiến tranh...
           - Tôi rõ - Hải thong thả đáp. Giọng anh chìm xuống - Tôi nghĩ rằng những gì không đáng xảy ra, đừng xảy ra vẫn hơn. Thằng Mừng kém tôi đúng một giáp. Vì thế mà chúng tôi quý nhau chăng? Hắn như một cái bóng, lúc nào cũng bám lẵng nhẵng bên tôi. Và tôi cũng vậy, hễ hắn vắng mặt ở tàu một ngày là cảm thấy thiếu thiếu cái gì. Lạ thế! Những đêm tàu của chúng ta lang thang trên biển chờ cơ đưa vũ khí vào bến, hắn thường lên boong, nằm gối đầu lên đùi tôi và hỏi, và kể đủ chuyện. Phải nhận rằng hắn thông minh biết nhiều, nói có duyên. Khi biết mình không có tên trong danh sách những người đi chuyến đó, một chuyến ai cũng hiểu là khó có dịp trở về, cu cậu đã khóc, rồi lên gặp chỉ huy ...
           - Chuyện ấy mình nhớ, - Lượng ngồi lên và đáp - Mình nhớ Mừng là con một, lý ra không càn nhập ngũ...
           - Chà, nhưng mà thôi Hải à. Chẳng lẽ cứ day dứt lại quá khứ mãi để vấn mình, vấn người?
           - Cái đêm trước lúc chúng ta bị lộ và đành phải tự hủy tàu, hắn đột nhiên khoe với tôi rằng cu cậu đã có người yêu, đi chuyến này về, nhất quyết báo cáo tổ chức và cưới. Tôi đồ rằng hắn bịa. Nhưng hắn khăng khăng rằng chị gái hắn, chị Vui, mối lái móc nối cho đã hơn năm nay. "Nhưng em chưa biết mặt cô ta, chỉ nom thấy trong ảnh, cũng xinh", hắn nói. Tôi động viên rằng cảnh lính thời chiến lấy vợ như vậy không hiếm. Hắn hào hứng. "Em cũng nghĩ thế. Và cô ấy chấp nhận như vậy. Em lấy vợ, người mừng nhất là mẹ. Từ ngày chị Vui lấy chồng, mẹ tròi trọi một mình, tội lắm. Cụ bảo lấy vợ, đẻ thằng cu rồi muốn đi đâu, mẹ không cản". Hắn còn bắt tôi hứa rằng ngày cưới, nhất quyết tôi phải nghỉ phép về làm chủ hôn, tôi bảo: "Vậy ra cậu không chờ con gái mình?". Cu cậu cười. Hắn có cái miệng xinh xinh, khi cười thật dễ coi. "Anh mà làm bố vợ em thì nhộn nhỉ. Nhưng cháu nó mới lên tám, lâu quá ! ". Rồi cũng như mọi lần, ôm lấy tôi, hắn ngủ lúc nào không hay... Vậy mà ... vậy mà chính tôi đã ... vô lý quá ?
            - Những ngày đó thật khủng khiếp, chẳng ai nghĩ rằng sẽ còn sống. Chúng vờn bọn mình như lùa vịt, nhỉ. Ý đồ của chúng là tóm cho được vài ba người... Cậu và Mừng là trường hợp... ôi, chiến tranh, có bao sự kỳ quái không sao lý giải được. Nhưng dẫu sao mọi sự đã lùi vào quá khứ, chúng mình không còn trẻ nữa, nếu có thể, gắng quên đi những gì có thể quên... Bỏ bộ quân phục để làm một ông lang, mình chiêm nghiệm ra nhiều điều lắm... Chỉ một an ủi duy nhất là: ta đã chẳng làm điều gì tệ hại, ta vẫn là một con người. Vậy thôi.
            - Con người ư?... - Hải nói, rồi anh im lặng, bỏ lửng ý nghĩ mình, lại giật dây cương. Tiếng chân ngựa gõ trên đường mỗi lúc một rõ. Đâu đó có tiếng chim ăn đêm gọi nhau vẳng lại. Hải hơi gù xuống, trông anh lúc này giống một tảng đá to bè. Anh ngồi lặng, lắng nghe tiếng gió từ đồng lúa phả vào thành xe.
            Con ngựa dường như thấm mệt, tiếng vó gõ xuống đường không còn đều nữa. Hải thôi quất roi, giật cương. Anh để con vật tự do đi nước kiệu. Mới chớm tối mà xung quanh đã yên vắng. Thỉnh thoảng mới thấy một ánh đèn le lói sau rặng cây.
            Cánh đồng co vào, và trước mặt đã hiện lên những mảng đen che một góc bầu trời.
            - Kinh tế gia đình cậu thế nào? - Lượng nhìn ra mảng tối mỗi lúc một gần và hỏi.
            - Tôi vẫn là anh nông dân, Hải đáp - nông dân chỉ biết bám vào đất mà sống thôi. Nếu biết yêu quý đất thì đất không phụ. Mấy năm nay các cháu đã trưởng thành, nên nhàn... lần này dù vội mấy anh cũng ở chơi vài ngày đấy. Lâu quá rồi! Tôi rất thèm gặp lại bạn bè cũ. Chỉ ai đã qua chiến tranh mới hiểu nhau. Bây giờ người ta sống lạ lắm.
            - Ừ, mỗi thời một khác...
            - Bà cụ đỡ, tôi sẽ dẫn anh đến nhà mấy anh em cùng tàu còn sống sót.
            - Mình hỏi nhé, nếu cậu đưa cụ về thăm nom, con cháu cụ không ý kiến sao?
            - Từ lâu tôi đã là người nhà.
            - Ờ...!
             Lượng gật gù. Hình như anh hiểu ra điều gì. Một lát, vẫn nhìn vào mảng tới trước mặt mà anh đã nhận ra là lũy tre viền quanh làng, anh nói:
           - Người ta đi mãi, đi mãi vẫn không sao hết được mình, nhỉ?
            Hải không đáp, anh gò dây cương để con ngựa rẽ vào làng.



                                                                                                           Bãi Cháy, Xuân 1984.