|
Tiêu đề: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 09 Tháng Tư, 2009, 07:00:30 pm Mùa lúa trổ đòng Tiểu thuyết Tác giả: Đỗ Thị Hiền Hoà Số hoá: hoacuc Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân Năm xuất bản: 2004 Chương 1 Một sáng mùa đông năm 1946 Thường còn đang nằm co ro cùng cậu em trai trong ổ rơm ở góc nhà, bỗng nghe thấy tiềng rì rầm to nhỏ. Người đàn ông mà Thường vẫn gọi là " chú Tảo", còn mẹ Thường gọi là " Ông chủ tịch Việt minh", đang trò chuyện với bố Thường ở gian ngoài. Chú Tảo nói: - Giặc Pháp rất hung hăng. Chúng chuẩn bị kéo vào Hà Nội. Hải Phòng chúng đã chiếm hết rồi. - Chiếm hết rồi ư? Vậy ở ta thì sao? - Chúng kéo quân lên Hà Nội qua đường Năm, nhất định chúng sẽ chiếm đóng quê mình đấy. Theo chủ trương của trên, bà con mình phải tiêu thổ kháng chiến, triệt để tản cư... Lần đầu tiên hai chữ kháng chiến lọt vào tai Thường, một thanh niên mười sáu tuổi, đang nằm trong ổ rơm nồng ấm. Theo qui luật tự nhiên, với tuổi mới lớn, một hừng đông tươi sáng đang chờ đón cậu. Với sức trẻ chuẩn bị bẻ gẫy sừng trâu và sự bồng bột vừa qua khỏi tuổi thơ, nghe thấy hai chữ kháng chiến, Thường vùng dậy, ào đến bên bố và chú Tảo, khiến họ giật mình. Cậu hỏi vẻ ngây ngô, nhưng đầy háo hức. - Kháng chiến là đánh nhau hả chú? Nếu có đánh nhau thì cho cháu đi với! Chú Tảo vỗ vào vai Thường: - ái chà, thanh niên này khoẻ đây. Đánh nhau với bọnTây cháu có sợ không? - Tây là mắt xanh, mũi lõ chứ gì? Cháu chả sợ. Nếu chúng đến đây cháu sẽ phang cho mỗi thằng mấy gậy. Sau này nhớ lại, Thường cũng không hiểu sao lúc ấy mình tỏ ra hăng hái trong việc đánh Tây thế. Chỉ còn nhớ cái cảm giác rõ nhất là sợ Tây sẽ cướp mất ngôi nhà thân thuộc, cùng cái ổ rơm ấm nóng của mình. Hai ngày sau, chú Tảo lại đến nhà Thường. Chú cho biết tình hình mới về bọn Tây. Rồi chú bảo: - Bọn giặc đã gây sự nhiều nơi, chúng sẽ đưa lực lượng lớn từ Pháp sang Hải Phòng rồi tiến lên chiếm thành Hà Nội, chúng ta phải cản chân giặc, không cho chúng hành quân nhanh chóng, để bà con kịp tản cư. Vì thế chúng ta phải phá đường sắt, phải gây nhiều trở ngại trên đường Năm. Bố Thường với chú Tảo trò chuyện một lúc lâu. Ngay tối hôm ấy Thường theo bố và các anh, các chị thanh niên mang cuốc, thuổng, ra đào phá đường Năm. Rồi mọi người chặt cây, chặt tre, khênh bàn ghế của nhà vứt ngổn ngang trên đường. Làng bên, nhiều người mang cả sập gụ, tủ đứng, tủ chè vất ra đường. Khi vác xong mấy cây tre góp với dân làng làm chướng ngại vật trên đường, quay về, Thường gặp một cô gái, một cô bé thì đúng hơn, gầy còm, một mình khom lưng cõng trên vai chiếc tràng kỷ tre đã cũ. Tuy bằng tre nhưng nó nặng quá sức, nên cô bé bước đi một cách ì ạch. Thường ngơ ngác hỏi: - Cái này cũng chống Tây phải không? Cái đầu nhỏ xinh của cô khẽ gật. Thế là Thường xông vào đỡ lấy một đầu và hồn nhiên như nói với đứa em gái của mình: - Để anh. Em ngồi nghỉ đi! Cô bé gần như gào lên: - Không! Cái này là của nhà em góp với dân làng chống giặc. Tự em phải mang ra đường. Anh mặc em. - Thì anh đỡ em vậy! Vừa nói, Thường vừa nhấc bổng chiếc tràng kỷ từ phía sau. Thế là cô bé đành chịu để Thường góp công chung với mình. Thường hỏi: - Sao người lớn kông làm. Em còn bé thế này, nhỡ gặp Tây thì chạy làm sao kịp? - Em không sợ. Với lại nhà em chỉ có mỗi mẹ em nữa thôi. Mẹ em bị đau khớp, còn yếu hơn em ấy chứ. - Thế bố em và các anh, các chị em đâu? - Bố em bị giặc bắt rồi đưa đi đâu biệt tích từ trước cách mạng cơ. Vì thế mẹ em cứ buồn và ốm yếu luôn. Còn anh trai em, anh ấy tòng quân từ năm ngoái rồi. - Thế em tên là gì nhỉ? - Em tên là Nguyễn Thị Bẹ, nhưng mẹ em thường gọi em là cái Chuột Nhỡ. Mẹ bảo ngày xưa mẹ đẻ rơi em ở ruộng bẹ, nên đặt tên em là Bẹ. Sau anh Ninh em, mẹ đẻ mấy bận nữa, nhưng các anh, các chị ấy đều bỏ đi, đến em là đứa thứ năm rồi mới nuôi được. Bà em bảo tên Bẹ chỉ để khai sinh thôi, lớn lên mới dùng, còn từ bé đến giờ cả nhà đều gọi em là cái Chuột Nhỡ. Sau em còn có cái Chuột Con, nhưng nó cũng bỏ đi rồi. Cô bé Bẹ hồn nhiên kể một mạch như vậy. Còn cậu Thường lắng nghe có vẻ chăm chú, nhưng cậu càng tỏ ra không hiểu: - Thế Chuột Con và mấy anh chị bỏ đi đâu? - Anh lớn rồi mà đần thế. Bỏ đi là chết ấy. Mẹ em bảo các anh các chị ấy chê nhà em nghèo nên không ở lại!. - Mẹ em hay nhỉ, nếu vậy thì cứ nói là chết có dễ hơn không. Thế Chuột Nhỡ bao nhiêu tuổi rồi? - Cả tuổi mụ em hơn mười lăm tuổi rồi đấy! Khi hai cô cậu trên đường trở về làng, đi trên bờ ruộng lúa, hai bên bờ ruộng, những cụm cỏ cúc nở hoa trắng xoá. Những mụn hoa nhỏ hơn chiếc cúc áo, màu trắng ngà, chẳng có cánh, chẳng có nhuỵ, chẳng mùi thơm, nhưng chúng xổ ra từng chùm, cái màu trắng ngà kéo thành một vệt, nổi bật giữa một vùng xanh thắm thiết của mênh mông lúa và thăm thẳm cỏ, những bông cúc nhỏ, trắng ngà giống như những cô tiên kiều diễm của đám thực vật xanh này. Chuột Nhỡ vừa đi vừa cúi xuống bứt những bông cúc nhỏ chụm lại thành một nắm to trong tay.Vài năm trước có người đến làng đưa những đồng tiền xu cho bọn trẻ trâu, bảo đi bứt hoa cúc ngoài bờ ruộng. Nghe đâu họ mua về làm thuốc. Bẹ cũng đã bán được vài hào, đủ cho mẹ đong được dăm bơ gạo. Lâu rồi chẳng thấy ai mua, nhưng cô vẫn thích bứt những bông cúc này. Bỗng nhiên Thường bảo: - Bẹ ơi, em đổi tên là Cúc đi, tên của những nụ hoa em đang cầm ấy. - Đổi tên á! Mẹ em không đồng ý đâu. Mẹ bảo con gái đặt tên hoa rồi nó vận vào người. Vì hoa nào rồi cũng chóng tàn. Đã đến lối rẽ về mỗi làng, Thường hỏi: - Em về làng Vân hay làng Chắm? - Em về Vân. Anh trên làng Minh chứ gì? Hễ Tây nó đến đây anh có đi tản cư không? - Anh sẽ đi tòng quân như anh trai của Bẹ ấy chứ. Về nhá! Vào những ngày ấy giặc Pháp đã chiếm hoàn toàn thị xã Hải Dương, một tỉnh lỵ nhỏ xinh nằm giữa vùng châu thổ sông Hồng. Con đường sắt nối liền Hà Nội - Hải Phòng và tuyến đường Năm, chạy qua những cánh đồng xanh tươi, màu mỡ đã phải ngày đêm rên xiết dưới gót sắt của kẻ thù. Để góp phần ngăn cản những đoàn xe, đoàn tầu của giặc chở vũ khí chiến tranh và quân lính xâm lược về thủ đô Hà Nội, nhân dân làng Minh, làng Vân, làng Chắm cùng hàng trăm làng xã khác ven đường 5 đã làm chướng ngại vật trên đường. Suốt chiều dài ba mươi cây số từ Phú Thái đến Quán Gỏi ngổn ngang những đồ đạc như bàn, ghế, tủ, giường, cây cối vv... và mấy trăm mét đường bị đào, cuốc, nham nhở. Giặc Pháp phải cho hàng tiểu đoàn lính thu dọn suốt mấy ngày, xe mới có thể chạy qua. Khi chiếm xong thành phố Hà Nội và thị xã Hải Dương, giặc Pháp liên tục mở nhiều cuộc càn quét và chiếm đóng làng mạc hai bên đường. Chúng muốn nhanh chóng bình định nơi này để bảo vệ cảng Hải Phòng, và đặc biệt bảo vệ con đường quốc lộ số Năm và đường sắt, tuyến đường quan trọng đến mức tên Đờ Lát Đờ- tát-xi-nhi coi là " cái then cửa của vùng Đông Nam á " Để đối phó với âm mưu của thực dân Pháp và tránh bớt tổn thất cho nhân dân, uỷ ban bảo vệ tỉnh Hải Dương vận động nhân dân ở những nơi kề đường sắt, đường 5 phải tản cư xa đường, hoặc tạm lánh sang tỉnh bạn. Dân làng Minh, làng Vân, làng Chắm phần lớn tản cư sang Thái Bình. Cô Bẹ tuy mới mười bốn tuổi nhưng đã gánh được toàn bộ tài sản của gia đình trong hai chiếc dó, cùng mẹ tản cư lên vùng núi Đồng Trâu, Hố Sếu thuộc huyện Chí Linh. Gia tài của nhà cô cũng chỉ có hai cối gạo, mấy cái bát đĩa, nồi niêu với cái liềm, cái hái. Mỗi mẹ con có hai bộ quần áo thì đựng trong tay nải, mẹ cô khoác trên vai. Thóc lúa, lợn gà mẹ cô đã bán hết, được ba đồng bạc Đông Dương, mẹ cô đút trong ruột tượng, thắt chặt vào người. Hôm mẹ con cô đi, cánh đồng làng xanh ngát một mầu, những cây lúa đang làm đòng, cây nào cũng thẳng đứng, lá nhọn hoắt. Còn dưới bờ ruộng thì những cụm cúc vẫn thi nhau nở dầy hoa trắng, trông như những đường đăng ten viền trên tấm thảm xanh. Cô bỗng nhớ đến chàng trai làng bên muốn đổi tên Bẹ của cô thành tên Cúc. Bây giờ cô mới nghĩ ra, mình chưa hỏi tên anh ta. Chỉ biết rằng anh không đi tản cư mà đi tòng quân để đánh Tây. Ngày hôm ấy chàng trai Nguyễn Văn Thường đứng ở bờ ao nhà mình thơ thẩn nhìn ra cánh đồng phía xa, nơi đoàn người tản cư đang rồng rắn nối nhau đi. Anh thoáng nhớ đến cô Chuột Nhỡ, chắc hẳn giờ này cô cũng đang trong đoàn người tản cư rồi. Theo sự hướng dẫn của chú Tảo thì nhân dân các huyện ven đường 5 phải tản cư triệt để. Cụ già, phụ nữ, em nhỏ đều phải đi tản cư, chỉ những thanh niên trai tráng mới được ở lại và phải vào tự vệ, sẵn sàng chiến đấu. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 09 Tháng Tư, 2009, 07:04:44 pm Mẹ và các em Thường cũng gồng gánh ra đi. Cu Tình mới sáu tuổi, mẹ cho ngồi một bên quang thúng, ôm chiếc tay nải đựng quần áo của cả nhà. Bên thúng kia là gạo và mắm muối, mỗi thứ một ít để đến chỗ tản cư có cái dùng ngay. Cún Nghĩa mới chín tháng tuổi, mẹ địu trên lưng, cổ ngặt nghẹo theo bước đi của mẹ. Cùng với dân xóm Ngói, mẹ và các em Thường tản cư về bên kia sông Luộc. Hai bố con Thường ở lại, ngay sáng hôm sau đã thành tự vệ thôn, rồi sau đó là du kích, được học nhanh cách sử dụng súng trường và lựu đạn. Tuy vậy, Thường chẳng có lựu đạn, cũng chẳng có súng trường. Bố cậu cho cậu cây mác sử dụng từ hồi đi tham gia cướp chính quyền. Còn ông thì dùng cây gậy tre và cái thuổng vẫn để ở góc bếp làm vũ khí.
Thường nhanh nhẹn và khoẻ mạnh, dường như cậu lớn lên từng ngày. Từ ngày mọi người đi tản cư, làng xóm vắng ngơ, vắng ngắt. Nhà Thường, mọi khi cu Tình chạy nhẩy, nói cười líu lô. Cún Nghĩa thỉnh thoảng thèm sữa lại khóc choa choả, bây giờ lặng ngắt. Hàng ngày Thường tập trung luyện tập với đội tự vệ xong, cậu ra đồng bắt cua, bắt cá rồi về thổi cơm, nấu nước, làm những phần việc ngày xưa mẹ vẫn làm. Nhà vắng lặng quá, đôi lúc cậu vừa làm vừa lẩm nhẩm hát lại những bài mà hồi cách mạng tháng Tám, đội thiếu nhi của cậu vẫn hát: Việt Nam bao năm ròng rên siết lầm than Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang Loài phát xít cướp thóc lúa, cướp đời sống nhân dân Nào nhà tù, nào trại giam biết bao nhục hình. Đồng bào hãy tuốt gươm vùng lên Đã đến ngày trả mối thù chung (1) Rồi lại hát: Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng kiếm nguồn tươi sáng Ta nguyện đồng lòng, điểm tô non sông, từ nay ra sức anh tài (2) Tuy vất vả hơn ngày mẹ ở nhà, nhưng thường khoẻ ra và có vẻ khôn lớn hơn nhiều. Vài tháng sau Thường được tuyển vào bộ đội huyện. Thế là từ đấy cậu rời khỏi làng Minh. Ngày ấy bộ đội, cùng dân quân, du kích có nhiệm vụ chống lại những trận càn quét của giặc. Thường trở thành bộ đội huyện khi anh vừa tròn 17 tuổi. Sau hai năm chiến đấu, anh trở thành một chàng trai vạm vỡ, một người lính dầy dạn. Vào mùa xuân năm 1948, Thường cùng một tiểu đội bộ đội huyện về làng Vân phối hợp với du kích chống càn. Bộ đội số lượng ít, phải chia nhỏ ra để dìu dắt, giúp đỡ du kích địa phương. Tổ của Thường gồm 3 người, anh Tăng tiểu đội trưởng, anh Dụ và Thường về đóng ở xóm Chùa, được mẹ Thu nhận về nuôi. Ngày ấy bộ đội thường sống nhờ dân, đi đến đâu dân nuôi đến đấy, khi không có giặc thì cùng sản xuất tăng gia với nhân dân. Nhà mẹ Thu là một gia đình nghèo. Cả nhà chỉ có một chiếc giường tre. Khi bộ đội đến, bà chặt mấy tầu lá chuối khô xếp vào gian trong làm "giường" để hai mẹ con bà ngủ, nhường chiếc giường duy nhất cho bộ đội. Hôm đơn vị đến, người con gái không có nhà. Bà mẹ nói rằng " em nó đi thăm người bà con ở xa". Ba anh bộ đội bắt đầu đào công sự, khoảng nửa đêm mới làm xong chiếc tăng sê chống đại bác và một đoạn hào nối với nhà bên. Xong việc các anh chìm vào giấc ngủ. Bỗng bên tai Thường có tiếng gọi khẩn cấp: - Các anh bộ đội ơi, dậy nhanh, Tây nó càn đến nơi rồi. Đó là tiếng một cô gái còn rất trẻ. Các chiến sĩ vùng dậy sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Lúc ấy khoảng 5 giờ sáng. Anh Tăng tiểu đội trưởng có phần lúng túng vì rất ít khi gặp tình huống giặc đi càn sớm thế này. Tăng và Dụ trao đổi nhanh phương án tác chiến rồi lệnh cho Thường chạy đi nắm tình hình ở các tổ khác. Dường như địch có chỉ điểm nên chúng biết rõ bộ đội đã về làng. Chúng bắn như vãi đạn vào xóm trước khi bộ binh quân tiến vào. đại bác yểm trợ nữa. Còn phía ta chỉ có một tiểu đội bộ đội huyện, với một trung đội du kích mà phần đông là phụ nữ. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra chưa đầy 30 phút, giặc đã tràn vào làng, lục soát, bắn giết, cướp bóc thoả sức. Hàng chục du kích và dân lành bị bắt. Thóc gạo, lợn gà, trâu bò bị chúng lấy đi vô số. Nhưng các chiến sĩ bộ đội hầu như đều thoát nạn. Anh Tăng chỉ huy được hai mươi phút thì bị thương, ngất lịm, được du kích dấu kín dưới bờ ao. Anh Dụ được hai du kích khác lợi dụng địa hình bờ tre, búi dứa, đưa thoát khỏi vòng vây, ra cánh đồng. Còn Thường chạy liên lạc giữa tổ này sang tổ khác, đạn cứ chiu chíu bên tai. Có lúc anh nằm rạp xuống bò theo dõng khoai, có lúc lợi dụng được những tường nhà án ngữ, anh chạy thật nhanh, và cũng còn do may mắn, anh chưa bị trúng viên đạn nào. _________________ (1) Lời trong bài hát" Diệt phát xít " của Nguyễn Đình Thi ( sáng tác 1945) (2) Lời trong bài hát " Lên đàng ", nhạc Lưu Hữu Phước, lời Huyùnh Văn Tiểng ( sáng tác 1943) Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 09 Tháng Tư, 2009, 07:07:33 pm Khi anh quay về đến chỗ chỉ huy tiểu đội thì bọn giặc đã phá bung cổng làng. Chúng đang hò nhau kéo vào để bắt sống bộ đôi Việt Minh. Không tìm thấy chỉ huy đâu, anh thực sự hoảng sợ. Chưa biết định liệu ra sao thì bất thình lình, không biết từ đâu một cô gái nhảy ra vồ lấy tay anh, lôi tuột ra bờ ao. Cô nói rất nhỏ, nhưng cương quyết:
- Anh phải trốn mau, không thể rơi vào tay địch. Cô đẩy anh xuống ao bèo. Trong tích tắc cả hai cùng chìm nghỉm dưới lớp bèo xanh. Không kịp nghĩ ngợi nhiều, anh bịt mũi lặn theo cô gái. Loáng một cái đã tới bờ bên kia. Nhưng anh chưa kịp nhận ra bờ thì cô gái lại kéo anh vào một cái hang kín mít. Nước nông dần, rồi hết nước. Thì ra hai người đã chui được vào căn hầm bí mật, nóc hầm là bụi tre rậm, miệng hầm thông với đáy ao. Quân giặc tài mấy cũng không thể tìm ra một căn hầm như thế. Hầm rất an toàn, nhưng khổ nỗi quá chật chội. Càng chật hơn nữa khi hai người khác giới phải ngồi cạnh nhau. Anh phải co mình lại, cố nhích xa cô gái. Nhưng cố mấy thì hai người vẫn phải sát vào nhau. Quần áo, đầu tóc đều ướt hết. Chiếc áo gụ mỏng manh của cô bây giờ cứ dính chặt vào người, dường như muốn khoe hết da thịt của chủ nhân. Nhưng trong hầm rất tối, chỉ có một lỗ thông hơi nhỏ xíu, không thể nhìn rõ quần áo với da thịt, cũng không nhìn rõ mặt nhau, chỉ có hai làn da ẩn trong lớp áo ướt là cảm nhận rõ nhất nỗi ngượng ngùng. ở bên trên giặc đang lục soát. Ngay cả tiếng thở họ cũng phải rất nhẹ nhàng. Nỗi nguy nan cất giúp họ cái cảm giác thẹn thùng khi da thịt cọ sát vào nhau. Cô gái dẫn đường chạy trước nên cô ngồi phía trong, sát đáy hầm. Còn Thường bò theo sau nên gần như anh phải ôm trùm lấy cô mới đủ chỗ. Cô định khoanh tay ôm lấy ngực, nhưng vừa vươn tay ra, mấy viên đất rơi rào rào, khiến cô vội xuôi tay xuống, đành mặc cho tấm thân hộ pháp của Thường choàng lên trên. Biết làm thế nào đây. Còn gì qúi hơn tính mạng lúc này. Thường cố gượng, không dám để người mình đè lên cô gái, nhưng dường như một sức hút nào đó cứ kéo anh xuống. Anh cố gượng, nhưng chẳng có chỗ nào bấu víu, đành để vồng ngực nóng rẫy của anh tì hẳn vào ngực cô. Chưa bao giờ anh gần gũi đàn bà. Bây giờ lại ở gần trong một tình huống oái oăm thế này. Đôi tay Thường cũng buông xuôi, không dám động đậy. Chỉ có vồng ngực anh tưng tức bởi đôi bầu vú nhỏ,rắn đanh, nóng hổi của cô. Mặc dù còn ướt đẫm, nhưng cả hai cùng thấy da thịt mình như bỏng rát. Bọn giặc lục soát khá lâu. Tiếng người khóc, tiếng lợn gà kêu, tiếng chửi tục của bọn lính làm thành thứ âm thanh hỗn độn vọng xuống hầm. Hai trái tim nóng bỏng ấy chỉ biết đập mạnh và chờ đợi. Chờ đến khi tiếng giặc đã xa, xóm làng im ắng trở lại, cô gái mới nói: - Anh làm tôi sắp chết ngạt rồi. ở ngách bên phải có cửa hầm thông lên bụi tre đấy, nhưng mà anh phải chui lại ngách dưới ao, để tôi mở cửa cho. Thường bò lại phía ao để đủ chỗ cho cô gái xoay người tìm ngách hầm bên phải. Vài phút sau cửa hầm được bật lên. ánh sáng tràn vào làm khuôn mặt cô đỏ bừng. Trước khi nhô đầu lên cô quay về phía anh, nói như ra lệnh: - Anh nằm im đấy, khi nào tôi gọi hẵng lên. Thường đành ngoan ngoãn nghe lời. Chừng mười lăm phút sau anh mới được lên khỏi hầm. Trong khi cô gái chạy đi đâu chẳng biết, Thường hít không khí đầy lồng ngực rồi nằm vật xuống cạnh gốc tre. Anh nằm sấp, giang rộng hai tay, víu chặt bất cứ vật gì chạm phải. Dường như chàng trai mười tám tuổi này quá căng thẳng, quá nhọc mệt sau gần một giờ thử thách khủng khiếp, giống như người vận động viên dồn hết sức để về đích, giờ đang thả lỏng cơ thể để tìm lại sự cân bằng. Khoảng 3 phút sau anh vùng dậy quan sát chiến địa, nơi các anh vừa thua trận. Nhìn cảnh nhà cháy, cây đổ và những tiếng khóc thảm thiết, suýt nữa anh cũng bật khóc. Bỗng nhiên anh hoảng sợ. giờ biết tìm anh Tămg, anh Dụ ở đâu. Cả cô gái trẻ nữa. Cô ấy đã cứu sống anh, đã làm anh mệt mỏi trong ngây ngất, giờ cũng biến đâu mất rồi. Theo kế hoặch trước trận đánh, nếu đẩy lui trận càn thì dân quân, du kích và bộ đội sẽ tập trung ở nhà mẹ Thu, nơi tiểu đội trưởng đặt chỉ huy sở. Nếu giặc quá mạnh, không chống được thì ta phải bảo toàn lực lượng, không đựơc hy sinh vô ích, càng không được để rơi vào tay giặc. Chúng rút đi, người nào còn sống thì có trách nhiệm liên hệ với cấp trên ở xã bên. Thường nghĩ, mình phải liên hệ với cấp trên. Anh vừa ra khỏi bụi tre, đang tìm đường trở về xóm thì cô gái trẻ lại thình lình xuất hiện. Bây giờ cô đã thay bộ quần áo khô. Chiếc áo gụ bó sát tấm lưng tròn. Mặt cô dường như còn đỏ lựng. Cô quay vội xuống ao nói vọng lại phía anh: - Có một anh bộ đội bị thương nặng, bà con dấu dưới bờ ao. Anh ấy yếu lắm rồi. Anh về mau! Thường nháo nhào chạy theo cô gái. Anh Tăng bị thương vào đùi. Người vàng như nghệ. Dường như máu trong người đã ra gần hết. Anh mê man không biết gì cả. Thường ôm lấy người tiểu đội trưởng, lay gọi mãi. Bỗng hai cô du kích ở đâu ào đến, đẩy Thường ra. Họ đặt người bị thương lên cáng rồi vội vã khênh chạy đi. Thường chạy theo, giằng lấy một đầu đòn khênh. Một cô gái đành nhường anh và chạy bộ theo sau. Cô nói trong tiếng thở gấp: - Trận càn này ta bị bất ngờ, chưa chuẩn bị kỹ nên thiệt hại quá. Có đến năm du kích đã hy sinh. Còn bộ đội thì bị thương ba anh rồi. Anh này bị nặng quá, không biết có qua khỏi không. Thường hỏi gần như quát: - Cứu thương sao không đến mà cáng đi xa thế này? - Đến làm sao được. Còn bao nhiêu người bị thương đều phải dồn sang bên đình làng Chương. Ta đi mau, may ra cứu được anh ấy. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 09 Tháng Tư, 2009, 07:10:08 pm Chương 2 Khi Thường trở lại đơn vị mới biết rằng trận càn ấy là do một tên phản động trong làng báo với Tây. Lẽ ra chúng chưa càn vào làng Vân, bởi chúng đang càn quét và bình định phía cuối huyện. Càn xong làng nào chúng bình định luôn làng ấy. Lúc này lực lượng vũ trang của ta còn mỏng, không thể chống lại những trận càn qui mô lớn của chúng. Hơn nữa chúng luôn tìm diệt bộ đội và du kích của ta. Bởi vậy khi có tin báo bộ đội về làng Vân, lập tức chúng cho lực lượng đến vây càn. Bộ đội của ta chỉ có một tiểu đội, vừa mới về làng lúc mười giờ đêm, lẽ ra sáng hôm sau sẽ cùng với du kích thực hiện kế hoặch phá càn. Theo phán đoán phải ba bốn ngày nữa chúng mới có thể càn đến làng Vân, ta còn đủ thời gian chuẩn bị. Một mặt dấu hết thóc lúa, tài sản quí, không để lọt vào tay giặc. Một mặt động viên các cụ già, em nhỏ và phụ nữ tránh đi, lực lượng du kích cùng bộ đội sẽ triển khai thêm nhiều công sự, hầm hào, rào chốt cổng làng thật chắc chắn. Nếu ta chống càn không thắng lợi thì cũng ít tổn thất hơn. Đó là kế hoăch của bộ đội và lãnh đạo cấp trên. Nhưng kế hoặch ấy không thành bởi ở làng Vân có một thanh niên tên là Cao Bá Thân. Khi cách mạng thành công, cả nhà Thân gồm bố, mẹ, anh chị và vợ hắn bỏ đi biệt tích. Thân ở lại với người chú ruột. Thân không đi cùng gia đình vì cậu thầm mê cô hàng xóm nhà cậu. Cô bé hàng xóm lúc ấy còn nhỏ lắm, nhưng trông cô ta cứ xinh tươi mơn mởn. Nhà cô rất nghèo, còn nhà cậu lại rất giầu. Hàng ngày cô bé phải đi bắt cua, bắt ốc để nuôi sống gia đình thì cậu được coi là cậu ấm, có người hầu kẻ hạ. Cậu mới mười lăm tuổi đã được cha mẹ cưới cho cô vợ mười tám tuổi, nết na, chăm làm. Cậu đã yên bề gia thất, nhưng không hiểu sao cậu cứ muốn gần gũi cô bé bắt ốc mò cua ở cạnh nhà. Nhiều hôm chẳng có việc gì cậu cũng cứ lang thang ra đồng, theo chân cô bé bắt cua. Khi dân làng ào ào đến nhà cậu xúc thóc chia nhau, bố mẹ cậu trốn biệt, cậu cứ dửng dưng ngồi nhìn, rồi cũng xông vào xúc mấy bưng thóc bê sang nhà cho cô hàng xóm. Cô bé rất ngỡ ngàng, nhưng rồi cũng lẳng lặng gật đầu nhận thóc của cậu, ít ra thì nhà cô cũng đỡ được hàng tháng trời không phải ăn khoai với rau má. Cô cũng bớt phải mò cua, bắt ốc ít ngày. Trong thâm tâm còn non nớt của cô, cô thầm cảm ơn cậu ấm nhà bên. Cô cũng không biết rằng cậu ta còn theo đuổi cô dai dẳng nhiều năm sau. Hôm ấy mong mãi chẳng thấy cô hàng xóm về nhà. Cô đi đâu, cậu không biết. Thân cứ ngồi trong cổng nhà mình đau đáu nhìn sang nhà bên, từ chiều cho đến tối. Đêm càng khuya thì Thân càng sốt ruột. Hắn chẳng buồn ăn cơm, mặc dù thím hắn ra gọi mấy lần. Hắn cứ ngồi trầm mặc bên cái cổng vòm nhà hắn. Cô bé hàng xóm này nào đã chuyện trò gì với hắn, ngoài một lần cô nhìn hắn và gật đầu ra vẻ cảm ơn khi nhận của hắn hai bưng thóc. Từ hồi ấy đến nay đã ba năm rồi. Từ cô bé mười bốn tuổi ngây thơ, cô đã thành thiếu nữ mười bảy tuổi, tóc đã dài đủ để vấn vành khăn có chiếc đuôi gà nhỏ xinh. Hai má luôn ửng hồng như hai cánh hoa sen. Cô càng lớn càng xinh và càng làm hắn mê đắm. Chưa bao giờ cô nói với hắn câu gì, vậy mà hắn thấy cô xiết bao gần gũi. Hắn dường như quên biến cô vợ được bố mẹ cưới cho mình. Hàng ngày hắn chỉ mong được nhìn thấy cô thấp thoáng qua hàng rào thưa, thế là đủ. Hôm ấy hắn mong mãi, mong mãi mà cái tấm lưng áo gụ thon thả ấy vẫn chưa về. Vô cớ, vô duyên, lòng hắn cứ nóng như lửa đốt, dường như người thân thiết nhất của hắn trên đời, vừa mất tích rồi chăng? Bỗng hắn thấy những bóng đàn ông hối hả đi vào nhà cô. Hắn đứng thẳng dậy và nhìn thật kỹ. Tuy trời rất tối, nhưng hắn đếm được có đến ba người. Một chút tò mò, một chút ghen tuông làm hắn mung lung và không rời mắt khỏi những người đàn ông lạ. Rồi hắn thấy họ đào hào, cuốc hố. Hắn biết chắc là bộ đội Việt minh. Vì gần đây dân làng hay nói đến bộ đội Việt Minh, họ đã về làng này, làng khác đào hầm, đào hố. Mấy người này ở trong nhà cô hàng xóm ư? Sao vô lý thế được. Rồi họ sẽ chiếm mất tấm lưng thon óng ả, rồi họ sẽ chiếm mất đôi má đỏ hồng như cánh hoa sen. Ôi! nếu vậy, hắn sống làm sao được. Bộ đội Việt Minh ư? Chính họ hồi tháng Tám năm bốn nhăm đã hô hào dân làng đến phá gian nhà mười gian, chứa đầy thóc của gia đình hắn. Từ ngày ấy đến giờ hầu như hắn chẳng tiếc nuối căn nhà đầy thóc ấy, cũng chẳng bận lòng vì những người xúc thóc kia. Bây giờ tự nhiên hắn thấy căm giận họ. Thế là hắn nghĩ cách trả thù. Trong lúc bộ đội đang hì hục đào tăng sê thì Thân chân nam đá chân chiêu chạy bộ lên đồn Tây. Đồn Tây cách làng Vân đến năm cây số. Hắn đi đến trống canh ba mới tới nơi. Hắn đến giữa lúc nửa đêm như vậy, lính gác không thể cho hắn vào đồn. Hắn vừa thở, vừa lắp bắp nói: - Bộ đội nó vừa về làng Vân, các ông về đánh nó ngay. Tên lính gác vừa ngáp ngủ vừa trả lời: - Sáng mai tao sẽ trình quan. Mày về đi. Mà liệu hồn đấy. Nếu không bắt được bộ đội thì mày mất đầu. Thằng Thân bình thường ai cũng tưởng nó ù ù cạc cạc. Lúc nó còn nhỏ bố mẹ nó đã cho nó đi học chữ Tây, nó phớt phát, học chữ được, chữ không. Bố mẹ nó cũng tưởng nó là thằng đần. Bây giờ nó bỗng tỏ ra sáng dạ. Nó dõng dạc nói với tên gác cổng: -Tôi cứ tưởng các ông muốn giết bộ đội Việt Minh thì tôi báo thế. Nếu không muốn thì thôi, làm sao phải lấy đầu tôi. Ông tưởng tôi đi mấy thôi đường trong đêm là để mất đầu à. Tôi về đây! Rồi nó xổ ra một tràng tiếng Tây, mà có lẽ chính bản thân nó cũng chẳng hiểu gì. Tên lính gác dường như sợ hãi, vội gọi giật: - Anh kia, thế bộ đội chúng có đông không? - Chắc là đông. Nhưng tôi chỉ nhìn thấy ba tên đang đào hầm ở nhà hàng xóm. Nếu các ông cho lính về ngay mới bắt đựơc chúng, không thì ngày mai, ngày kia chúng sẽ đánh vào đồn các ông đấy. Rồi mặc cho tên lính gác vặn hỏi quanh queo, hắn co chân chạy một mạch. Đã đến ngã ba rẽ về làng Vân, trời tang tảng sáng. Bỗng hắn thấy đằng trước nhấp nhô một tấm lưng thon. Như có luồng điện mạnh chạm vào hắn, hút hắn theo cái bóng phía trước. Hắn co chân chạy nhanh, được một đoạn thì đuổi sát cô gái kia. Trực giác của hắn không nhầm. Người đi phía trước đúng là cô hàng xóm của hắn. Ôi! thật là kỳ ngộ. Dường như ông trời thương tình, nên đã mang cô đặt trước mặt hắn. Nhưng dù đúng là cô thì hắn cũng không thể làm gì, ngoài việc hít thở thật đầy luồng không khí trong lành buổi sớm và khoan thai nhìn tấm lưng ong tròn lẳn của cô mà thôi. Hắn không đủ can đảm để đến gần cô gái. Từ trước tới nay hắn ao ước được chạm nhẹ vào tay cô cho thoả, nhưng chưa bao giờ. Chỉ nhìn thấy cô, mọi vật quanh mình hắn dường như sáng trưng, lung linh, huyền diệu. Hắn không thể làm gì khác là lặng lẽ chìm đắm trong tiên cảnh của riêng mình. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 09 Tháng Tư, 2009, 07:12:56 pm Chỉ được nhìn thấy cô đã là quá đủ, là tràn trề hạnh phúc với hắn rồi. Bây giờ nhìn thấy cô sau bao giờ phút thấp thỏm, mong chờ, lại trên một đoạn đường vắng thế này, hắn cảm thấy được sống trong cảnh tiên. Hắn muốn kéo dài giờ phút này mãi mãi. Chợt nhớ đến ba tay bộ đội đang hì hục đào tăng sê ở nhà cô hàng xóm, rồi nhớ lại việc mình vừa lên bốt giặc về, hắn vội rảo bước đuổi kịp tấm lưng ong. Đến ngang cô gái, hắn nói gọn lỏn một câu:
- Việt Minh đang ở nhà cô. Tây nó sắp xuống càn đấy. Cô gái hoảng hốt. Hoảng hốt trước tiên vì sự hiện diện của hắn. Sao hắn lại ở đây?. Hoảng hốt nữa vì cái tin hắn vừa nói. Sao hắn biết Việt Minh ở nhà cô? Sao hắn biết Tây sắp xuống càn? Cô hỏi trong bối rối: - Sao lại biết Tây càn? - Vừa ở trên đồn về đây! Cô gái chẳng hỏi gì thêm, chỉ lặng lẽ rảo bước. Hắn cũng chẳng nói gì thêm, cứ âm thầm rảo bước theo. Cô về đến nhà chỉ kịp đánh thức mấy anh bộ đội dậy, thì giặc đã ập đến. Còn hắn, khi bóng cô gái mất hút sau luỹ tre làng thì hắn vội vã quay đi. Dường như tự hắn biết sợ hãi chính việc làm của hắn. Cũng có phần hắn sợ mấy anh bộ đội Việt Minh đang ẩn nấp ở đâu đó trong ngôi nhà kia, bất chợt nhô ra bắt hắn. Hắn quay ra, nhưng chẳng biết đi đâu, bèn ngồi xuống cạnh bụi dứa dại bên đường. Chợt nghe tiếng bước chân rậm rịch và tiếng lào xào phía trước, biết là Tây đến, hắn vừa mừng, vừa lo. Mừng vì mấy tay bộ đội kia sẽ bị Tây dẹp đi. Lo vì nhỡ cô hàng xóm mà rơi vào tay bọn lính Tây thì sẽ tồi tệ đến chừng nào. Thực tình hắn lo sợ và bối rối, nhưng cũng chẳng biết làm thế nào, đành liều chui vào trong lòng bụi dứa dại gai góc để tránh bọn lính Tây. Khi lính Tây rút đi, hắn lóp ngóp chui ra, việc đầu tiên là hắn chạy về nhà cũ, đứng nhìn sang nhà cô hàng xóm thật lâu, thấy cô chạy ra, chạy vào, biết cô được bình yên, vô sự, hắn trút một hơi thở nhẹ rồi đủng đỉnh về nhà người chú, chui vào giường đánh một giấc dài, chẳng hề bận tâm khi làng xón nhốn nháo, người khóc chồng, người chửi bọn Tây, người lo cứu thương, cứu hoả. Thông tin về trận chống càn thất bại, Thường đã nắm được đầy đủ, nhưng người con gái đã cứu sống mình thì anh vẫn chẳng biết tên tuổi là gì. Có phải là con bà chủ hay không, tự anh cũng không dám khẳng định. Trong cuộc kháng chiến gian khổ này còn bao vất vả, gian nguy ở phía trước, không biết rõ về một cô gái chẳng phải là chuyện đáng bận tâm. Xác định tư tưởng như thế, nhưng cái cảm giác ngột ngạt, ẩm ướt dưới hầm, nhất là hơi thở nóng bỏng và hai vồng ngực mới nhú của cô như vẫn đang cọ sát vào ngực anh, day qua, day lại khiến anh không thoát khỏi một cảm giác ngất ngây, nuối tiếc. Ban ngày cứ rỗi việc là anh nhớ về cảm giác ấy. Đêm đêm, cứ nhắm mắt lại là anh nghĩ đến giờ phút ấy. Khuôn mặt cô anh không nhớ được, nhưng cảm giác lạ lùng đó thì không thể nào quên. Cảm giác lạ lùng đó cứ bám theo anh suốt tháng năm dài. Anh mong mỏi được trở lại làng Vân, nhưng chưa có dịp. * * * Sau trận chống càn thất bại, bộ đội huyện Kim Linh được bổ sung một cán bộ chỉ huy. Anh Đỗ Ninh, nguyên là đại đội trưởng một đơn vị bộ đội tỉnh, quê anh cũng ở vùng này. Ngay hôm đầu tiên về đơn vị, anh Ninh cho tập trung cả đại đội, phổ biến tình hình chung và xác định nhiệm vụ cho anh em. Anh Ninh hơn Thường chừng độ năm, sáu tuổi. Vóc người cao, to, giọng nói trong và vang, có sức thu hút người nghe lạ lùng. Anh nói về những việc rất bình thường, nhưng mọi người nghe cứ ngồi im phắc, tưởng như muốn nuốt lấy từng lời. Hôm ấy ngồi trong căn nhà chát chẫy ở vùng căn cứ của ta, bộ đội quây quần nghe anh nói về các nơi đánh giặc. Anh vừa đi, vừa nói, đi từ đầu gian đến cuối gian nhà, tay vung lên, hạ xuống, vẻ đầy phấn khích: - Giờ đây quê hương ta đã bị dầy xéo dưới gót sắt của quân thù. Giặc Pháp đã chiếm hoàn toàn các huyện Cẩm Giàng, Kim Thành và thị xã Hải Dương. Riêng ở Hải Dương chúng đóng tới mười sáu vị trí trong nội thị. Chúng còn dở trò bầu Hội đồng hương chính, thay Hội đồng an dân trước đây, rồi lại dở trò bầu Hội đồng hương biểu, thành lập ra chính quyền bù nhìn, dùng toàn bọn phản động để đè đầu, cưỡi cổ nhân dân ta. Bà con đi tản cư hồi đầu kháng chiến, nhiều người đã về làng, đành sống trong cảnh kìm kẹp của chúng. Cùng với việc lập ra chính quyền bù nhìn, chúng còn tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng nhiều đồn bốt và đưa bọn lính Lê Dương hung hãn về dầy xéo quê hương ta. Chúng thành lập Sou-Sectur Hải Dương, tức là Chi khu quân sự Hải Dương, do tên quan tư oóc-xi-ni (orsini) chỉ huy, lại lập thêm một lực lượng cơ động gồm tiểu đoàn 1, thuộc trung đoàn xạ kích Marốc số 3 và các đại đội 4, đại đội 5 thuộc trung đoàn pháo binh Marốc số hai. Quân địch đông như thế, mạnh như thế, nên chúng đã chiếm băng của ta mấy huyện cùng tỉnh lỵ, chẳng lẽ chúng ta chịu sao? Anh dừng lại để mọi người suy nghĩ một lát. Nhưng các chiến sĩ trẻ chẳng cần suy nghĩ nhiều, họ tranh nhau nêu ý kiến đề nghị cấp trên cho anh em phục kích đánh bọn chúng. Anh Ninh nói dõng dạc: - Được, hoan nghênh tinh thần của anh em. Nhưng mà chúng đông như thế, lại có tầu bay, đại bác, xe cơ giới. Chúng ta chỉ có mã tấu, lưỡi lê với vài khẩu súng trường. Vậy đánh thế nào đây? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 09 Tháng Tư, 2009, 07:15:24 pm Người chỉ huy nêu câu hỏi để các chiến sĩ suy nghĩ. Nguyễn Văn Thường mọi khi nhút nhát lắm, lúc ấy trở nên hăng hái lạ lùng. Có lẽ do cái giọng nói vang vang, truyền cảm hiếm thấy ở người đại đội trưởng mới này, đã thúc giục bầu nhiệt huyết trong anh sôi sục. Cũng có phần vì anh nghĩ đến trận chống càn thất bại vừa qua, nhớ đến cô gái lạ, nhớ đến anh Tăng bị thương... mà bầu máu nóng trong người trào dâng. Thường mạnh dạn đứng lên xin được nói. Đại đội trưởng nhìn thẳng vào anh, khích lệ:
- ừ, nói xem! - Em nghĩ rằng chúng ta phải tìm nhiều cách đánh địch, không cho chúng nghênh ngang trên quê hương mình, gây tội ác với đồng bào. Vũ khí chúng ta thô sơ thì chúng ta phải nghĩ cách tạo ra vũ khí. Chúng ta có thể cướp của giặc, hoặc tự tạo ra mìn, lựu đạn... Em nghe nói anh Đặng Quốc Trinh trên thị xã Hải Dương, trong trận đánh vào Trường Con Gái đã tự tạo ra quả bộc phá, rồi xông vào tận lô cốt của giặc tiêu diệt chúng. Anh Đặng Quốc Trinh hy sinh dũng cảm. Bọn giặc ngoan cố đã bị bắt và đầu hàng. Chúng em cũng có thể làm như anh Đặng Quốc Trinh, khi cần, cũng dám hy sinh thân mình không tiếc. Vậy đề nghị cấp trên cho anh em chặn đánh xe, hoặc đánh bọn đi tuần trên đường Năm để cứớp lấy vũ khí của chúng, trang bị cho mình. Khi có vũ khí rồi, chúng ta sẽ đánh những trận lớn hơn. - Khá lắm! Anh Ninh khen như vậy. Rồi giọng anh bỗng hứng khởi hơn: - Chắc là toàn thể anh em cũng nghĩ thế phải không? Tiếng vỗ tay nổi lên rào rào. Anh nói tiếp: - Nghĩ thế là đúng. Chúng ta chẳng còn cách nào khác. Giặc cướp đến nhà ta, đè đầu cưỡi cổ người thân của ta, nhất thiết chúng ta phải dùng gậy gộc, dao, liềm đánh lại chúng và phải giật lấy súng trong tay chúng mà tiêu diệt chúng. Điều này hoàn toàn đúng với tinh thần Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946. Bác nói rằng: Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm... Hôm nay tôi rất vui thông báo với anh em rằng du kích của chúng ta ở khắp nơi đang thi đua đánh giặc. Sau trận đánh mìn trên đường sắt chỗ xã Kim Lương của du kích huyện Kim Thành, làm hai mươi nhăm toa tầu đổ, bốn mươi tên Tây trắng bị chết, bao nhiêu súng đạn phục vụ chiến tranh bị phá huỷ, bọn Tây sợ xanh mắt. Còn bà con mình, cùng anh em du kích, bộ đội thì mừng vui tin tưởng hơn ở khả năng của chính mình. Tiếp đó du kích xã Mao Điền, Cẩm Giàng đã đánh trận địa lôi đầu tiên trên đường Năm thắng lợi. Chỉ có mấy quả đạn 81 ly của giặc không nổ, anh em cải tạo thành địa lôi mà đã diệt ba xe cam nhông, làm chết và bị thương ba mươi tám tên vừa Tây vừa nguỵ. Bộ đội và du kích huyện Thanh Hà còn có sáng kiến độc đáo, buộc chặt mìn trong vải nilông, đặt dưới lòng sông. Một chiếc ca nô lớn của địch vè vè trôi đến, liền bị quả "thuỷ lôi" của ta làm cho vẹo đầu, quay ngang trên sông rồi từ từ chìm xuống. - Nói đến đây anh tự vỗ vào đùi đánh "đét" một cái rồi khen - Giỏi, anh em mình thế mà giỏi! Tiếng vỗ tay lại nổi lên rào rào. Anh Ninh cao giọng hơn: - Còn chúng ta, những người ngồi đây có đồng lòng, quyết tâm thi đua với anh em các nơi đó không? Căn nhà liền rào rào tiếng vỗ tay, lẫn với những tiếng hô " đồng ý!", " thống nhất!", " quyết tâm!". Từ nãy đến giờ anh Ninh vẫn đi từ đầu này đến đầu kia, lúc này chợt dừng lại ở giữa nhà, giọng nghiêm trang: - Bây giờ tôi thông báo với anh em về kế hoặch đánh địch mà huyện uỷ vừa chỉ thị. Chúng ta sẽ đồng loạt tấn công địch bằng cách băm nát đoạn đường sắt chạy qua huyện này. Không cho chúng chở lính tráng và vũ khí lên Việt Bắc. Làm bằng cách nào? Chúng ta sẽ rải đều lực lượng từ đầu đến cuối huyện, thống nhất theo lệnh chỉ huy, đúng giờ G tất cả đồng loạt tiến công. - Thưa chỉ huy, thế vũ khí của chúng ta là cái gì? hay chúng ta lại đi cuốc đường như hồi năm bốn sáu? - Không lo về vũ khí. Tỉnh ta đã thành lập công binh xưởng từ tháng chín năm bốn sáu rồi. Vũ khí lớn thì chưa có, nhưng mìn và lựu đạn thì trên chuẩn bị cho ta đủ đánh trận này. Chúng ta sẽ sử dụng một loại mìn mới chế tạo, gọi là mìn gôm. Loại này nhẹ nhàng, mỗi trái chỉ có 40 gam thuốc nổ dẻo, sức công phá lớn, dễ sử dụng. Mìn có một cái cán, hại nụ xoè và hai đầu dây ngắn để khi khi sử dụng lôi ra, buộc vào dây thừng mà giật. Chỉ cần buộc mìn vào thanh đường ray, hoặc để bên dưới thanh ray, chứ không cần chôn xuống đất. Trận đánh sẽ do đích thân đồng chí Vũ Văn Thưởng, huyện đội trưởng và đồng chí Lê Đình Vũ, chính trị viên, chỉ huy. Các đồng chí sẽ ra lệnh phát hoả bằng cách cho nổ ba quả bộc phá đặt ở đoạn Quỳnh Khê, mỗi quả nặng năm cân. Sau cuộc họp này, đại đội ta chia nhau về mỗi xã mấy người để phối hợp và giúp đỡ dân quân, du kích địa phương. Hai ngày sau cuộc họp đó, Thường cùng một anh em nữa được cử về một xã ở cuối huyện, cũng là nơi cuối cùng của trận địa. Mấy cô du kích thấy bộ đội còn quá trẻ, liền thi nhau trêu chọc. Một cô tên là Mơ có chiếc răng khểnh duyên dáng, nhưng lại nghịch ngợm như con trai. Một cô tên là Bột, nhưng da lại ngăm ngăm màu bánh mật. Một cô tên là Khoai, người cao như chiếc sào, chẳng giống vóc dáng nữ nhi. Đội du kích còn nhiều cô lắm, nhưng ba cô này cứ ríu rít quanh bộ đội nên Thường nhớ nhất. Tối ấy, phát lựu đạn cho các cô xong, Thường nhắc lại yêu cầu, nhiệm vụ: - Các chị nhớ nhé. Số mìn này các chị phát cho anh chị em trong tiểu đội, mỗi người hai quả, còn giây giật thì mọi người tự chuẩn bị. Chín giờ chúng ta xuất phát, ba người một tổ, luôn bám sát nhau, đề phòng thương vong, hoặc sự cố gì xảy ra còn báo cáo. Buộc mìn, rải dây xong mọi người ngồi ở vị trí chờ. Khi có ba tiếng bộc phá hiệu lệnh thì tất cả cùng giật dây. Mìn sẽ cùng nổ. Cô Mơ nói giọng kim the thé: - Anh bộ đội ơi! phát mìn cho chúng em rồi, vậy anh còn mấy quả? - Thì mỗi người cũng chỉ có hai quả, chứ có hơn gì các chị đâu - Thường thật thà trả lời. Mơ lại the thé nói: - Thế hai quả ấy không để dành à? - Để dành làm gì. Chúng tôi cũng phải hoàn thành như các chị chứ. Sau trận đánh chúng tôi cũng phải nộp đủ hai nụ xoè cho chỉ huy để chứng tỏ mình đã hoàn thành nhiệm vụ. Thường nói hồn nhiên và hoàn toàn đúng theo tinh thần chỉ đạo của trên, không hiểu sao các cô cứ đấm thùm thụp vào lưng nhau, rũ rượi cười. Thấy hai anh bộ đội trẻ ngơ ngác, các cô càng cười to hơn, rồi bảo nhau quẩy gánh lựu đạn ra về. Mỗi cô một quẩy như người đi chợ. Đi một đoạn xa rồi, cô Khoai bảo cô Mơ: - Mày bạo mồm thật đấy, dám trêu bộ đội, dám ví cái ấy của người ta như quả mìn. Trong gánh này nếu quả nào không nổ là tại cái mồm xui xẻo của mày đấy nhé. Mơ lại ngặt nghẽo cười, vẻ khoái trá: - Không nổ thì tao bắt đền anh ấy. Mà sao hai anh bộ đội ấy lành quá nhỉ. Chúng mình nói thế mà các tay ấy chả biết gì đâu, lại cứ tưởng nói về mìn thật. Các cô lại rinh rích cười với nhau, tưởng như họ vừa đi chợ về sắm được nhiều hàng hoá ưng ý lắm, chứ không phải là họ đang chuẩn bị cho trận chiến đấu lớn. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:36:02 am Về đến xóm Chùa, cái cô Mơ giọng the thé chua như pha dấm, luôn bông phèng, bỡn cợt ấy, bỗng trở nên săm sắn, rắn rỏi. Cô phân công công việc cho hai cô bạn, rồi rành giọt nhắc lại những nhiệm vụ mà hai anh bộ đội đã giao: - Đồng chí Khoai mang mìn về xóm Giữa. Đồng chí Bột mang mìn về xóm Ngoài. Tôi ở xóm Chùa này. Phân phát mìn cho từng người, yêu cầu mọi người tự chuẩn bị dây giật. Mỗi đoạn dây phải dài ít nhất là năm mét, phải là dây thừng chắc chắn. Giật xong, mỗi người phải mang đủ hai nụ xoè về nộp cho chỉ huy. Các đồng chí đã rõ cả chưa? Hai cô kia đáp lại rằng đã rõ. Mơ lại luyến thoắng: -Thôi chúng mày đi làm đi, nhớ nhắc mọi người đúng chín giờ thì xuất phát. Buộc mìn xong nhất thiết phải ngồi chờ, không được giật sớm nhá. Phải đợi khi nào có hiệu lệnh của chỉ huy huyện đội thì tất cả cùng giật nhá. Những quả mìn nhỏ nằm trong thúng được các nữ du kích nhanh chóng phân phát đến tận tay từng du kích. ở chốt chỉ huy xã đội, Thường và Quang cùng xã đội trưởng đã phát hết lượng nổ cho du kích các thôn. Đồng chí xã đội trưởng bảo với Thường: - Thế là xã Kim Thanh được tổng số một trăm năm mươi quả, anh nhỉ. Chúng tôi phải đảm nhiệm phá 5 km đường. Lượng nổ này có lẽ cũng chưa thoả mãn. Nếu trường hợp mìn xịt không nổ thì trận đánh không đạt hiệu quả cao. Giá mà có dư một ít quả nổ nữa thì hơn. - Nhưng số lượng nổ trên giao có hạn. Đêm nay 5 xã cùng tham gia trận đánh,tổng cộng có hơn một ngàn trái mìn. Mỗi người chỉ được giật hai trái thôi. Xã mình chúng tôi đã phát đủ số lượng. Đồng chí động viên anh em cứ bình tĩnh làm đúng động tác, nhất định mìn sẽ nổ hết. Lát nữa tôi và đồng chí Quang sẽ đi kiểm tra kỹ thuật đặt mìn hết một lượt. Đồng chí cứ yên tâm và nhắc mấy chị du kích ban nãy hộ. Chúng tôi đã phát hết mìn rồi, không để lại dư trái nào đâu. Đồng chí xã đội trưởng bỗng bật cười, rồi anh vỗ vào đùi Thường: - Đồng chí bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Trông còn trẻ quá, có lẽ chưa đến hai mươi phải không? Chắc là chưa có vợ. Thảo nào. Ban nãy là các cô ấy trêu anh đấy, không phải họ nói thật đâu. -Trêu tôi á? Trêu gì nhỉ. Chắc trông tôi thộn lắm à? -Trông anh rất đẹp trai. Các cô ấy muốn trêu ghẹo cho vui ấy mà. Các cô ấy bảo anh không để dành hai quả mìn, ý là hai quả mà chúng mình vẫn mang trên người từ khi bác mẹ sinh ra, cho đến hết đời ấy! Bây giờ Thường mới hiểu. Hai má anh nóng hổi. May mà trong bóng tối, nếu không hai ông bạn kia sẽ trông thấy mặt anh đỏ bừng. Ôi, các cô ấy sao lại bạo dạn thế. Bỗng nhiên anh lại nhớ đến cái hôm chống càn thất bại ở làng Vân. ở đó có một người con gái anh chưa tường mặt, cũng chẳng biết tên, chỉ nhớ hơi thở và đôi bầu ngực đồng trinh như hai trái bưởi non, nóng hổi của cô. Cái cảm giác lạ kỳ vẫn bám riết anh đêm đêm, lúc này cũng bất thần quay trở lại. Thật trớ trêu. Nhưng rồi anh kịp nhớ nhiệm vụ chiến đấu của mình đang chờ đợi. Mười giờ đêm hôm ấy, Thường và Quang chia nhau mỗi người đi một ngả, kiểm tra những vị trí đặt mìn của gần một trăm du kích trong xã. Các đồng đội của anh về các xã khác, giờ này cũng đang làm nhiệm vụ tương tự. Trận địa của các anh trải dài trên tuyến đường sắt Hải Phòng- Hà Nội, dài đến 22 cây số.Thường nghĩ đến anh Đỗ Ninh, người thủ trưởng mới đầy oai phong của mình. Giờ này anh ở khu trung tâm huyện, chắc anh ấy cũng như Thường, đang nóng lòng mong trận đánh thắng lợi. Thường đi hơn hai cây số để kiểm tra, hướng dẫn du kích đặt mìn. đến đâu các cô du kích cũng vây quang anh, hỏi bao nhiêu chuyện xung quanh trái mìn sắp nổ. Nhiều cô gái trẻ, ngang tuổi anh. Nhiều chị lớn tuổi hơn, có lẽ đã hai tám, ba mươi tuổi. Chị nào cũng khăn mỏ quạ, lưng thắt một sợi dây, quần đen bó chặt hai ống vào cổ chân. Các du kích nam phần đông là trạc tuổi ba mươi đến bốn mươi. Thanh niên hầu như không có. Các anh tuy lớn tuổi, nhưng trong trận đánh này có nhiều nữ du kích như thế, họ lại sôi nổi, trẻ trung, nên các anh cũng trẻ lây. Họ sôi nổi hướng dẫn nhau cách giật mìn. Thường bị lẫn vào cái vui tươi, hào hứng của họ. Anh có cảm giác như đang dự một ngày hội. Mọi nỗi mệt nhọc và nhớ nhung đều tan biến. Ngày hội này không ồn ào, nhưng rất náo nhiệt, có nhiều nguy hiểm, nhưng cũng nhiều hấp dẫn. Vì mọi người cùng chung một mục đích là giết giặc bảo vệ quê hương. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:40:41 am Chương 3 Sau khi chiếm đóng hoàn toàn xã Kim Minh, gặc Pháp cho xây bốt ở đầu làng. Chúng cho một tên quan tư người Pháp và một tên quan hai người Việt về đóng xếp, chỉ huy. Tên quan hai dẫn lính về các làng lân cận bắt thanh niên vào lính, bổ sung vào đội quân của hắn. Chúng đã lùng sục đến mấy lần nhưng chưa bắt được người. Trong làng toàn những ông già, bà cả và phụ nữ mới đi tản cư trở về. Đoàn người đi tản cư từ cuối năm 1946 đến giữa năm 1947, nghe theo lời kêu gọi của Việt Minh, họ lại về bám lấy quê hương. Thanh niên làng nhiều người vào bộ đội Việt Minh lên mãi chiến khu việt Bắc. Có ngừơi sợ súng đạn thì theo gia đình tản cư ra vùng tự do rồi ở hẳn lại đó. Có người đành đi lính cho Tây ngay từ đầu cuộc kháng chiến để đảm bảo cuộc sống gia đình. ở làng Vân chỉ còn có một thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi nhưng không theo bộ đội Việt Minh, cũng chẳng tản cư, chẳng đi lính cho Pháp. Hắn chỉ ở nhà quanh quẩn bên cái bóng của cô hàng xóm, chẳng cần để ý đến mọi việc xung quanh. Sau lần chạy lên bốt báo cho giặc biết bộ đội về làng, hắn cũng chẳng tham gia một hoạt động nào chống ta, hoặc chống Tây. Người làng cho rằng hắn ẫm ờ, có người cho rằng hắn dở người, nên cũng không ai buồn để ý đến hắn. Cô gái hàng xóm là người duy nhất biết rằng hắn lên đồn báo Tây, nhưng không hiểu sao cô cũng chẳng nói với ai. Hắn cứ sống trong lặng lẽ, vất vưởng. Có lẽ hắn chẳng muốn gì hơn là ngày ngày được nhìn thấy cô từ nhà đi ra cổng và từ cổng đi vào nhà. Thỉnh thoảng được nhìn rõ hai má như hai cánh sen dưới vành khăn mỏ quạ của cô. Hôm ấy hắn đang ngồi thừ thẫn bên trong chiếc cổng vòm của ngôi nhà đã bỏ không của cha mẹ hắn thì Đội Hai ập đến. Tưởng như mọi lần, hắn vẫn ngồi yên, không hề nhúc nhích. Lần này Đội Hai không cần hỏi han nhiều, lập tức cho lính dắt tay hắn về đồn, vì suốt từ sáng đến lúc đứng bóng mặt trời mà Đội Hai chưa tìm được một mống thanh niên nào. Đầu tiên hắn dẫy dụa và chửi tục theo kiểu trẻ con đánh nhau ngày bé. Tên đội liền quất cho hắn một roi mây thật đau, thế là hắn phải đi theo tên lính, vừa đi hắn vừa khóc ông ổng. Khi đã đưa được hắn ra khỏi cổng, tên Đội bỗng dỗ dành: - Đừng khóc nữa. Mày ngoan ngoãn lên chỗ tao làm việc, sẽ được ăn ngon, sẽ có nhiều tiền, sẽ có nhiều gái đẹp. Số mày đỏ lắm con ạ. Làm sao mà phải khóc cơ chứ. Hắn vẫn khóc và vẫn cứ phải đi theo thày trò tên đội. Thế là hắn trở thành tên lính địa phương duy nhất ở bốt này. Tên quan hai không quen thung quen thổ, nên rất cần có những tên lính địa phương như Thân. Không bắt được những trai tráng khoẻ mạnh, chúng đành bắt thêm hai ông già chừng năm mươi tuổi để phục vụ chúng. Hai ông ngày đêm thay nhau đi chợ, thổi cơm và hầu hạ bọn quan quân trong đồn. Còn Thân, sau mấy ngày khóc lóc, y cũng ngoan ngoãn nghe lời. Chúng cho Thân tập cầm giáo, mác và tập bắn súng. Sau đó Thân thường xuyên phải dẫn bọn lính đi càn nhỏ, vào từng xóm để cướp gà lợn, thóc gạo nuôi lính tráng hoặc chỉ đường cho các quan tìm đến những nơi nhiều của ngon vật lạ. Nếu bắt được cán bộ Việt Minh thì chúng cho Thân nhận mặt và tra tấn. Đồn trưởng của bốt này là tên quan ba người Pháp. Hắn còn rất trẻ, có lẽ không quá ba mươi tuổi. Trông mặt luôn nghiêm nghị. Đặc biệt hắn còn có một cô vợ trẻ đi cùng. Cô vợ chắc cũng tương đương tuổi hắn, nước da trắng như bột lọc, đôi mắt nhỏ, xanh màu da trời. Mái tóc màu bạch kim chấm đến vai. Cô ta cao gần bằng chồng. Đôi dóng chân dài luôn luôn dậm trên đôi săng đan cao gót. Có vẻ cô quá yêu chồng nên không ngại gian khổ theo chồng sang tận cái xứ sở bụi bặm này. Có vẻ cô cũng rất lo cho sự an toàn của chồng nên mỗi khi tên quan hai người Việt lập kế hoặch để đồn trưởng chỉ huy đi càn thì cô đều tìm cách hoãn lại hoặc từ chối. Cô cũng bập bẹ nói được mấy câu tiếng Việt. Câu mà cô hay nói nhất với tên người Việt là:" mệt lắm" hoặc "Anh ấy mệt. Ông chỉ huy một mình vậy". Những câu khác thì cô nói ngọng, nhưng riêng câu ấy cô nói rất sõi. Chồng cô thực sự là một sĩ quan Pháp rất hăng hái trong việc cầm súng đi đánh chiếm, bình định. Nhưng có lẽ trước người vợ đẹp và hết lòng vì hắn thì hắn cũng không muốn rời xa. Nhiều cuộc càn chỉ là tên sĩ quan người Việt cùng lũ lính thực hiện. Trong số hơn hai mươi tên lính trong đồn chỉ có ba tên lính Pháp, trong đó có một lính da đen. Ngày ngày tốp lính thay nhau ra canh gác ở đầu chiếc cầu sắt bắc qua sông. Một tốp khác đi tìm mìn dọc hai bên đường sắt. Chúng dùng các móc sắt và bắt thêm phu trong làng mang liềm, hái, cào cỏ ra cào hai bên đường. Mục đích là để phát hiện dây mìn. Ngày ấy bộ đội Việt Minh chưa có loại mìn tự động nổ mà phải dùng loại mìn giật dây. Bởi vậy chúng cào hai bên đường, nếu bộ đội, hoặc du kích dấu dây không kỹ là chúng phát hiện được ngay. Đã hai ba lần chúng tìm thấy dây mìn. Tìm được dây rồi thì cứ lần theo dây sẽ tìm ra quả mìn. Nhưng hàng tháng nay rồi, bọn lính và phu phen không tìm thấy dây mìn. Một mặt do bộ đội, du kích rút kinh nghiệm, dấu dây mìn kỹ hơn, một mặt những người dân quanh vùng được giác ngộ, khi bị bắt đi tìm dây mìn họ chỉ tìm qua loa, có khi thấy dây mìn họ còn dấu hộ. Không phát hiện ra mìn, thày trò trong đồn yên trí cho rằng bọn du kích ở vùng này đã hoàn toàn sợ hãi, không dám hoạt động nữa. Tên đội Hai huyênh hoang nói với đàn em: - Bọn du kích với bộ đội Việt Minh phen này xẹp như gián ngày, cho kẹo cũng không dám ra phá đường nữa. Rồi việc phòng ngừa của chúng cũng sao nhãng hơn. Ngày ngày hàng trăm xe vận chuyển vũ khí, đạn dược vẫn nhộn nhịp trên đường, bốn chuyến tầu quân sự vẫn ung dung nhả khói lượn lờ, như con cuốn chiếu khổng lồ bò đi tìm mồi trên đồng lúa mênh mông. Sáng hôm ấy, vào khoảng chín giờ, có một đoàn tầu hai mươi toa chở hàng quân sự, kèm một toa chở lính. Những tên lính viễn chinh vừa được đưa từ cảng Mác Xây đến cảng Hải Phòng, rồi từ Hải Phòng lên tầu hoả tiến về Hà Nội. Dạo ấy là tháng hai âm lịch, lúa đang thì con gái, cánh đồng như được trải một tấm thảm xanh bằng xa tanh, mềm mượt và bóng nhẫy. Gió xuân nhè nhẹ, mơn mam. Từng cây lúa reo vui trong gió, cánh đồng hoà âm như một bản nhạc xôn xao. Đoàn tầu chuẩn bị qua cầu, như thường lệ, nó kéo một hồi còi dài. Tiếng còi xé gió làm cho bản hoà âm của lúa dường như tắt lụi. Đoàn tầu ngạo nghễ lao đi, đến chỗ đường cong, chuẩn bị lên dốc đầu cầu thì bỗng "ùm!", một tiếng nổ nghe nặng chịch và chát chúa. Một cột khói đen ngòm, dựng đứng. Phút chốc khói toả lan che kín cả một khoảng không gian. Đầu máy vỡ toác, những cục than đang cháy đỏ cũng văng ra tứ phía. Hai mươi toa dồn vào nhau và cùng một lúc lật bánh đổ kềnh xuống ruộng lúa. Toa chở lính đi sau cùng dường như nhẹ hơn những toa khác nên nó văng ra xa, lật ngửa lên trời, năm mươi tên lính trong toa không còn một tên nào sống sót. Lúc ấy ở chốt gác đầu cầu gần với bốt Tiền, bọn lính gác hốt hoảng, không hiểu chuyện gì đã xẩy ra. Chúng không dám tin vào mắt của mình nữa. Đoàn tầu như con cuốn chiếu khổng lồ kia vừa bị chặt ra từng khúc. Khói đen còn nghi ngút, lan toả khắp cánh đồng. Phải đến vài phút sau chúng mới đủ can đảm để chấp nhận một sự thật là đoàn tầu đã bị mìn đánh đổ. Toán lính gác mặt xanh, nanh vàng, run như cầy sấy. Tên trưởng nhóm liều mạng lia mấy băng tiểu liên ra xung quanh. Đạn nổ vu vơ trên ruộng lúa. Rồi dường như hắn chợt tỉnh táo. Hắn hô quân chạy xuống cánh đồng tìm bắt kẻ giật mìn. Giọng hắn hét gần như lạc đi: - Bọn bay, chạy nhanh, chặn phía bờ sông, chặn cả lối vào làng. Gặp đứa nào chạy, bắn hết. Hơn chục tên lính ào ào như vịt nhảy xuống đồng lúa. Lúc ấy ở cạnh một bờ lúa có hai chiến sĩ bộ đội địa phương đang ẩn nấp. Gần đó một bà nông dân, quần xắn đến gối, cầm chiếc cào cỏ đang bước vội về làng. Bà là nông dân đích thị ở làng này. Bà đi làm cỏ lúa. Giờ nghe tiếng nổ, bà khiếp sợ phải chạy về. Thực tình bà không dám chạy, vì nếu chạy bọn địch nghi ngờ sẽ bắn chết ngay. Bà đi vừa khuất vào trong bụi tre thì hai anh bộ đội ngồi dưới ruộng lúa, thấy địch đuổi đến nơi cũng liều bỏ chạy. Kế hoặch của các anh sau khi mìn nổ, lợi dụng lúc nhốn nháo, rút chạy ra con sông gần đó rồi bơi sang bờ bên kia, nhưng không kịp. Bọn địch hò hét đuổi. Các anh cố sức chạy ra bờ sông. Một người ngã gục, Một mgười bị bắt khi vừa chạm mép nước. Cùng lúc khi bọn địch đuổi bắt ở cánh đồng thì bọn địch trong bốt đầu làng cũng xông ra sục sạo. Chúng vừa chạy ra thì gặp bà già cầm cào cỏ hớt hải đi về. Một thằng quát: - Bà kia, đứng lại! Người đàn bà giật thót, tim đập loạn xạ, muốn chạy nhanh về nhà, nhưng mấy tên lính chĩa súng chặn đường, bà đành dừng lại. Một tên nhìn chằm chằm vào mặt bà rồi nhếch mép cười khẩy: - Bà già này lạ quá nhỉ! Bà ra đồng làm gì? Người đàn bà vừa nói vừa run: - Tôi đi làm cỏ lúa...Thấy mìn nổ, súng bắn, tôi sợ lắm...Tôi về nhà đây! Một tên quát: - Không được. Bà phải vào đồn trình diện để quan Tây tìm được bọn Việt Minh đã - Hắn nói thêm - mà sao tiếng bà già lại trong vắt như tiếng con gái ấy nhỉ? Đến đây thì người đàn bà run thật sự, không dám thốt ra lời nào nữa. Bà sợ cái giọng nói trong trẻo của mình càng làm chúng nghi ngờ. Thực tình bà già này chỉ là một cô gái vừa tròn mười tám tuổi. Không căn vặn nhiều nữa, chúng cứ túm lấy bà lôi vào đồn, nhốt lại. Lúc đó trừ tên lính gác ngoài cổng bốt, còn tất cả lính tráng trong đồn đổ cả ra chỗ đoàn tầu bị nạn. Người thanh niên bị bắt ở bờ sông cũng bị đưa về nhốt ở đây. ở cái bốt nhỏ này chúng chưa xây riêng nhà giam, mà chỉ có một gian đựng đồ đạc, gọi là nhà kho. Hai tù nhân được nhốt chặt trong đó. Người thanh niên này còn rất trẻ. Trước khi tống vào đây, bọn chúng đã đánh anh thâm tím mặt mày. Quần áo anh ướt sũng, bùn đất khắp người. Anh có vẻ rất buồn vì đã bị sa vào tay giặc. Cô gái có vẻ rất sợ hãi, ngồi nép một góc, lẫn vào với những thùng gỗ lỏng chỏng. Một lúc lâu người thanh niên mới hỏi: - Tôi tưởng chị chạy thoát rồi, hoá ra cũng rơi vào tay chúng. Có lẽ chúng phục kích sẵn hay sao ấy. Giọng chị vẫn còn run: -Tôi dại quá, đáng lẽ cứ ngồi yên ở bờ ruộng ấy, có khi chúng lại không bắt được. Không phải chúng phục kích mà bọn lính trong đồn chạy ra, gặp tôi nên chúng bắt. - Chị người làng này, nếu chúng có tra hỏi thì chị cứ nói là đi làm cỏ lúa, chúng chẳng có chứng cớ gì mà buộc tội chị. Còn tôi, từ nãy đến giờ tôi chỉ nhận là người bên sông đi bắt rắn đến đây. Chúng lại hỏi, đi bắt rắn thì dụng cụ với giỏ đâu. Tôi bảo, nghe thấy mìn nổ sợ quá, vứt hết đi rồi. Dĩ nhiên là chúng nó không tin, nhưng tôi phải nói như thế và chỉ nhận có thế. Còn anh Nam, không biết có chạy thoát không. Thấy súng nổ và bọn lính hò nhau sục sạo, hai anh em bảo nhau mỗi người chạy một ngả, cố gắng nhảy được xuống sông thì may ra thoát. Chắc là anh ấy chạy thoát được rồi. Chị có trông rõ đoàn tầu của nó đổ hết không? - Tôi nhìn rõ lắm. Toa nào cũng nghiêng xuống ruộng. Mìn của các anh đã nổ trúng đầu máy. - Đấy là nhờ công của chị. Khi nghe tiếng đoàn tầu ầm ầm chạy đến, tôi hồi hộp lắm. Rồi tôi cứ chằm chằm nhìn phía trước, không rời khỏi tấm lưng chị. Lúc thấy cán chiếc cào cỏ trong tay chị giơ cao khỏi đầu, thế là tôi hô to cho anh Nam dí ngòi điện. Nghe tiếng "ầm" một cái, tôi biết là thế nào tầu cũng đổ. Thì tôi làm theo đúng kế hoạch của các anh đấy. Lúc giơ cái cán cào lên cao tôi cũng run lắm. Chỉ sợ các anh không nhìn thấy, rồi lại sợ bọn lính trên chốt phát hiện ra hành động của mình, rồi lại sợ mình nhìn không rõ vị trí đặt mìn. Đêm hôm qua, lúc chôn mìn xong, tôi phải nhớ đinh ninh bụi dứa dại cạnh bờ lúa. Cứ chiếu thẳng bụi dứa ấy đến chỗ quả mìn. Các anh bảo lấy vòng cua đường làm chuẩn, khi nào cả đoàn tầu chạy hết vào đường vòng cua thì làm ám hiệu, nhưng tôi thì tôi cứ lấy bụi dứa dại làm mốc. Khi chiếc đầu tầu vừa bò đến chỗ bụi dứa là tôi giơ cao cán cào lên, bụng bảo dạ: quả mìn này làm tầu đổ thì du kích xã Kim Minh không thua kém du kích xã ái Quốc nữa. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:42:18 am Bên ngoài vẫn ắng lặng. Trong gian nhà kho tối mờ mờ, một anh bộ đội trẻ và một cô du kích trẻ đột nhiên thấy ngượng ngùng. Sao họ lại ở vào hoàn cảnh trớ trêu này. Mới chiều qua từ căn cứ của huyện đội về Kim Minh nhận nhiệm vụ, anh gặp cô gái trẻ này trong dáng vẻ dịu dàng, thanh khiết như bông hoa đồng nội trước bình minh. Đồng chí xã đội trưởng giới thiệu với hai anh bộ đội:
- Đây là nữ du kích trẻ nhất xã tôi. ở trong vùng tề này, những cô gái mới lớn thường tìm cách chạy ra vùng tự do, vì ở lại làng nguy hiểm lắm. Bọn lính dõng, bọn tề nguỵ có thể bắt lên bốt phục vụ bất cứ lúc nào. Mà đã lên bốt thì con gái không còn là con gái nữa. Cô này hồi mới kháng chiến cũng đi tản cư rồi, nhưng được mấy tháng cô lại cùng mẹ về làng cày cấy. Cô thường mặc quần áo của mẹ đi làm lẫn với mấy bà già, thậm chí đã làm phu trên bốt, gánh nước tưới rau, nhưng bọn lính chưa bao giờ biết cô là cô gái trẻ. Váy áo cô mặc luôn vá chằng vá đụp. Mặt mũi nhom nhem vì một lớp nhọ nồi, có khi là nhựa lá khoai, bước đi còng còng, luôn cúi gằm mặt xuống, trông như một bà già héo hắt. Chả thằng lính nào thèm để ý đến cô. Ngày mai đi phối hợp với các anh, không ai thích hợp hơn cô gái này. Trong vai bà già làm cỏ một mình, chúng chẳng nghi ngờ gì đâu. Cả hai chàng trai cùng phì cười. Một người nói: - Trông như bông hồng hàm tiếu thế này mà lại bảo là bà già ư?. Cô gái nhanh nhảu trả lời: - Được đánh giặc với các anh bộ đội trẻ thế này thì bà già trăm tuổi cũng muốn trẻ lại đấy! Nói vậy rồi cô cười. Sao cái miệng cười xinh tươi đến thế. Lòng anh bộ đội trẻ bỗng xốn xang. Đồng chí xã đội trưởng giới thiệu với cô, hai anh bộ đội huyện một người tên là Nam, một người tên là Dũng, thực ra cũng không phải tên thật của hai anh. Đi chiến đấu trong lòng địch thế này càng bí mật được đến đâu, càng hay đến đó. Buổi tối, tổ chiến đấu gồm hai bộ đội huyện và một nữ du kích địa phương bắt đầu làm nhiệm vụ. Họ mang thuổng, răng bừa, vải bạt và tay nải đi đào hố chôn mìn. Trước khi đào, họ phải nhặt gọn những viên đá trên đường ray đặt vào góc tấm vải bạt. Đó là những viên đá đã được địch quét vôi trắng để đánh dấu đường. Hai thanh niên dùng răng bừa, thuổng, đào sâu một hố bằng cái thúng, được tí đất nào đều dồn vào bao tải cho cô gái mang đổ ra xa. Sau khi đặt mìn vào hố, lấp đất xong, phải xếp lại những hòn đá có dấu vôi vào đúng chỗ cũ. Xong đâu đấy mời tiếp tục chôn dấu dây mìn. Nam cầm thuổng xắn sâu xuống đất chừng một thép mai, Dũng đặt dây xuống rồi nguỵ trang lại, còn cô gái thì cầm các dụng cụ đi theo, có nhiệm vụ canh chừng bốn xung quanh. Thỉnh thoảng gặp một luồng đèn pha từ chốt gác đầu cầu quét ra thì ai trong tư thế nào giữ nguyên tư thế đó, giống như bụi cỏ, gốc cây có sẵn ở đó từ lâu. Khi vệt đèn chiếu đi chỗ khác lại tiếp tục làm việc. Mò mẫm trong đêm như vậy, họ rải được một trăm năm mươi mét dây men theo bờ lúa. Đến cự ly an toàn, họ đào một cái hố sâu làm chỗ ẩn nấp, chuẩn bị giật mìn. Làm xong chừng ấy việc đã mười hai giờ đêm. Mảnh trăng cuối tháng bắt đầu ló ra ở góc trời. Cô gái mảnh dẻ đi phía trước. Tiếng kèng kẹc ran ran, nhưng dường như Dũng vẫn nghe rõ tiếng thở nhẹ nhàng lẫn trong hương lúa non của cô. Hơi thở dường như có vị ngọt của đòng đòng, có mùi thơm của cốm mới. Không hiểu sao Dũng chỉ muốn vượt lên sánh ngang bước cùng cô, nhìn vào khuôn mặt trăng non của cô. Nhưng bờ lúa nhỏ quá không đủ cho hai người đi song đôi. Hơn nữa còn anh chàng Nam đi sau, hình như hắn cũng đang muốn vượt lên. Đi một đoạn khá xa bốt giặc, cô gái bỗng gọi khẽ: - Anh Nam, anh Dũng ơi! Các anh kể chuyện chị Lự ở ái Quốc cho em nghe với! Dũng nhanh nhảu nói: -Chị bảo cái gì cơ. Chuyện chị Lự á? Chị âý phối hợp với bộ đội đánh mìn làm đổ một đoàn tầu giặc, chẳng may bị bắt, chị đã dũng cảm đấu tranh với bọn chúng, vì không có chứng cớ gì nên chúng phải tha chị về. -Thế có phải chị ấy giả làm người đi đánh dậm, khi thấy đoàn tầu đến thì giơ cao cái mõ dậm lên làm ám hiệu cho bộ đội không ạ? - Đúng rồi. Ngày mai thì chị giơ cao cái cán cào cỏ lên. Nhớ là phải giơ cao quá đầu đấy nhé. Mà chị tên là gì nhỉ, suốt từ chiều đến giờ chưa kịp hỏi tên. -Tên em xấu lắm, các anh cứ gọi em là cô du kích, hoặc "bà du kích già" cũng được. Cả ba người cùng bật cười. Nam lý sự: -Gọi như thế, nhỡ đang chiến đấu có việc gì cần trao đổi lại gọi cô du kích ơi, có mà chết với địch. Chị phải cho biết tên để sau này còn nhiều dịp gặp nhau mà gọi chứ. - Nếu vậy thì các anh cứ gọi em là Lúa nhớ. Ngày mai cần ra lệnh gì, các anh cứ gọi Lúa ơi, thế là em khắc thưa. Dũng mạnh bạo: - Thế chị Lúa đã có gia đình chưa, anh ấy đi đâu? - Em có rồi. Nhà em cũng là bộ đội như các anh ấy. Nam bảo: - Chị Lúa lừa dối bộ đội rồi. Đồng chí xã đội trưởng bảo chị chưa đầy mười tám tuổi, chưa có gì hết. Nói dối bộ đội thì không tốt đâu. Nói thật nhé, chị có ưng bộ đội không để chúng tôi giới thiệu cho. Cậu Dũng này quê bên Gia Lộc, chưa có bạn trăm năm, đang muốn tìm một cô du kích để kết bạn đấy. Dũng lại bảo: - Anh Nam quê Thanh Hà, cũng đang muốn tìm một cô du kích để xây dựng gia đình. Chị Lúa có ưng thì cứ cho một nhời, tôi sẽ báo cáo với đơn vị giúp. Cô gái thẹn lắm, nhưng có một mình là phụ nữ nên phải cứng rắn. Cô cười, nói như giao hẹn: - Sau trận đánh ngày mai, anh nào ở lại với em thì em sẽ chọn. Một câu nói chơi như vậy chẳng làm ai mếch lòng. Ngày mai, sau trận đánh hai người sẽ trở về đơn vị, tiếp tục những trận đánh khác. Ai dám tự ý ở lại đây. Nào ngờ chỉ một mình Dũng gặp lại Lúa, mà lại gặp nhau trong hoàn cảnh oái oăm thế này. Rồi số phận của mỗi người sẽ ra sao? Không thể biết trước được. Dũng dự đoán, bản thân anh có thể bị chúng tiếp tục đánh đập, khảo tra, nhưng nhất định anh không nhận mình là người đánh mìn, chỉ nhận là người bắt rắn. Cùng lắm thì chúng đánh chán tay rồi bắt anh làm lính, làm phu cho chúng. Còn cô Lúa, nhất định chúng sẽ thả cô, vì cô là người làng này, một làng tề do chúng kiểm soát. Cô đi làm cỏ lúa chẳng dính gì đến quả mìn kia. Hơn nữa sẽ có Hội đồng dân biểu với gia đình cô kêu xin, chắc chắn chúng sẽ thả cô ra sớm. Dự đoán như vậy và Dũng cũng nhớ một điều là nếu hai người tỏ ra quen nhau thì chúng không thả cô. Cũng may, từ sáng đến giờ chúng còn bận thu dọn chiến trường. Nào tìm cách kích, trục những toa tầu đổ, nào băng bó rồi khâm liệm những tên đã chết, cho lên ô tô chở quay lại Hải Phòng. Chúng chưa có thời gian tra khảo tiếp. Lợi dụng cơ hội này, Dũng nói với cô gái: - Chắc chắn chị sẽ được tha, còn tôi thì khó thoát lắm. Cũng chưa biết thế nào, nhưng tôi cứ dặn chị trước, nếu sau ngày có điều kiện thì nhờ chị tìm đến làng Rồng huyện Thanh Miện, gặp bu tôi. Tên bà là Di. Hiện nay bu tôi đang sống một mình. Thầy tôi mất từ trước cách mạng tháng Tám cơ. Bu tôi mới ngoài bốn mươi tuổi, nhưng sức yếu, chỉ loanh quanh với ruộng vườn. Hôm đi tòng quân, tôi trốn đấy chứ, có dám nói thật với bu tôi đâu. Tôi sợ bu tôi không cho đi, với lại sợ bà buồn, khóc ngắn, khóc dài làm tôi không đi được. Tôi chỉ nhắn với bà thím ở làng bên nói lại với bu tôi rằng tôi đi tòng quân. Hơn hai năm rồi tôi chưa có dịp về nhà. Chắc bà mong nhớ tôi lắm đấy. Nếu số phận tôi có sao thì chị cứ nói với bu tôi rằng, tôi cũng thương bu tôi lắm, nhưng làm trai khi đất nước có giặc thì không thể quanh quẩn ở nhà. Chị Lúa ạ, bây giờ chúng sắp về rồi đấy. Chắc chắn chúng sẽ đánh tôi và tra hỏi chị. Chúng ta phải coi như không biết nhau thì chúng mới thả chị ra. Nhớ nhé! - Vâng, tôi nhớ rồi! Từ lúc đó hai người nằm co mỗi người một góc trong cái nhà kho tối và ẩm. Một ngày dài dặc trôi qua, dường như chúng bỏ quên hai người. Họ chẳng được chút gì vào bụng. Họ vẫn nằm im chuẩn bị tinh thần đối phó với quân thù. Những điều Dũng dự đoán chỉ đúng có một nửa. Khoảng bốn giờ chiều chúng bắt đầu lôi Dũng ra tra khảo. Thằng đánh, thằng chửi, thằng hỏi dồn dập, làm anh tối tăm mặt mày. Chúng dùng nắm tay, gậy gỗ, dầy săng đá, nhằm vào mặt, vào đầu, vào mạng sườn Dũng mà nện, mà phang, mà đá. Chúng hành hạ anh thoả thuê, cho đến lúc anh nôn ra máu, cứt đái be bét quanh người, miệng anh vẫn chỉ lẩm bẩm mỗi một câu:" Tôi là người bắt rắn", rồi anh ngất đi. Ngồi trong gian nhà kho ẩm, tối, nghe những tiếng đấm đá, với những tiếng kêu đau đớn của Dũng, cô Lúa run như giẽ. Cô thầm cầu trời, khấn phật cho anh sức khoẻ để chịu đựng đòn roi của giặc, vượt qua vận hạn này. Lúa không biết rằng số phận của cô còn bi thảm hơn nhiều. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:43:45 am Khoảng bẩy giờ tối hôm đó, khi bon lính đã cơm rượu xong xuôi, chúng xồng xộc chạy về phía gian nhà kho. Cô Lúa thấy tiếng khoá mở và tiếng cánh cửa quay gấp gáp. Cô đang định kêu xin rằng tôi bị bắt oan, tôi chỉ là người đi làm cỏ lúa. Nhưng cô chưa kịp kêu thì gian nhà kho ẩm, tối bỗng oà sáng sau một tiếng tách của công tắc điện. Ba tên lính nguỵ nhìn cô như gấu đói thấy mồi. Một thằng văng tục:
- Đ. mẹ! Chúng mày thấy chưa? Tao nom rõ ràng nó là con gái chứ đâu phải bà già. Thật là giời thương chúng mình, bỗng dưng lại đưa đến một con mái tơ thế này. Tao nhìn thấy trước, tao phải dùng trước. Chẳng cần hai thằng kia tỏ thái độ gì, hắn vồ lấy cô gái, giật phăng hàng cúc áo. Chiếc yếm tơ tằm mỏng bó sát lấy ngực cô, hắn cũng giật phăng. Bây giờ thì cô gái đã hiểu sự tình. Cô kêu khóc và van lậy, rôì chửi bới. Nhưng dường như tai chúng điếc cả, còn những cặp mắt thì hau háu nhìn vào hai bầu vú mịn màng, trắng ngẫn, non tơ, lồ lộ của cô. Chúng khoái trá bảo nhau: - Ôi, có mất tiền nghìn cũng không mua được con vịt ngon thế này trong nhà chứa. Chúng mày đóng chặt cửa, bịt mồm nó lại, kẻo sếp nghe tiếng thì chúng mình uổng công. Rồi chính hắn giật nốt mấy mảnh quần của cô, vơ một bên ống, vo viên nhét vào mồm cô. Hắn bảo hai thằng bạn: - Chúng mày chịu khó đợi một chốc nhá. Muốn nhanh đến lượt thì giúp tao đi. Dang hai chân nó ra hộ tao. Và thế là trong gian nhà kho ẩm, mốc, dưới ánh điện một trăm oát, thân thể nõn nà của cô trinh nữ bị ba thằng lính đói gái thay nhau hành hạ. Một thằng hiếp, hai thằng vừa giữ chân tay, vừa ngồi xem, đứa suýt xoa, đứa nuốt nước bọt. Thằng đầu tiên vừa hồng hộc thở vừa kêu rên: -Đ. mẹ, nó vẫn còn trinh chúng mày ạ. Tao đau quá! Tao sướng quá! Tao chết mất! Khi cả ba con thú người này thoả mãn dục vọng thì tấm thân ngọc ngà của cô gái đã nhầu nhĩ, mềm oặt như tầu dọc khoai héo, chân tay không nhúc nhích, mắt nhắm nghiền, tóc tai rũ rượi, chỉ còn vồng ngực phập phồng, hơi thở thoi thóp. Ba thằng lính hả hê bỏ ra ngoài. Căn phòng lại chìm trong bóng tối và hơi ẩm. Khi tên quan hai ( tên hắn là Thìn, nhưng bọn lính tráng ở đây gọi là " sếp hai", còn nhân dân quanh vùng thì gọi là " đội hai") từ Sur Sectors Hải Dương ( Chi khu quân sự Hải Dương ) trở về thì trời đã nhá nhem tối. Hắn vội vàng tắm rửa, vội vàng ăn cơm. Hôm nay tâm trạng hắn thật nặng nề. Cái tầu đổ trên đoạn đường cong gần cầu Tiền, nơi hắn chốt giữ này như một quả tạ giáng xuống tương lai của hắn. Thật là điên rồ. Bao nhiêu ngày tháng giữ nghiêm ngặt. Kế hoặch bảo vệ đường của hắn chặt chẽ đến nỗi tưởng chừng không một con chuột nào chạy ngoài bờ ruộng, không một con chim nào bay qua trên trời, mà hắn không biết. Cấp trên luôn khen ngợi hắn, biểu dương hắn và cả hứa hẹn tăng một bông mai cho hắn sớm trước thời hạn. Vậy mà sấm, chớp, bão giông lại đổ lên đầu hắn trong một buổi sáng dịu dàng, ấm áp. Quả là trời hại hắn. Đoàn tầu hai mươi mốt toa lật nhào, đầu máy hoàn toàn bị phá huỷ, gần năm mươi tên lính vừa mới tuyển mộ từ An-giê-ri, Ăng-gô-la, Ma-rốc, cấp tốc huấn luyện, chuyển sang bổ sung cho chiến trường Việt Nam đã bỏ mạng. Tổn thất nặng nề ấy chắc chắn một phần lớn sẽ giáng xuống đầu hắn. Cái cổ tuy cứng cỏi của hắn không hiểu có giữ nổi cái đầu không. Mấy bông mai trên ve áo liệu có rơi rụng không. Chừng ấy nỗi lo làm cho hắn đứng, ngồi không sao yên được. Thật không may cho hắn, tai nạn xẩy ra vào đúng ngày vợ chồng ngài đồn trưởng người Pháp đi vắng. Một sĩ quan cao cấp chỉ huy thành Hà Nội là bạn thân của ngài, tổ chức bữa tiệc lớn mừng sinh nhật phu nhân của ông ta. Hai vợ chồng đồn trưởng lên xe zép đi Hà Nội từ tối hôm qua. Trước khi đi đồn trưởng Solny đã giao toàn quyền chỉ huy cho hắn. Người thông ngôn nói rằng: Xong việc, sếp còn đưa phu nhân đến thăm, chơi vài chỗ quen thân khác. Từ nước Pháp xa xôi đến đây, các quí bà nhớ nhau lắm. Sớm cũng phải sau hai ngày sếp mới có mặt tại đồn. Lúc ấy Đội Hai mừng khấp khởi, vì hắn có những hai ngày nắm toàn quyền. Hắn sẽ huy động lính càn sâu vào vùng chợ Cháy, Thanh Hà, nơi vẫn được coi là trù phú của xứ Đông để vơ vét của cải. Còn bây giờ thì hắn trách trời, oán đất, sao lại để vợ chồng ngài Sôlny vắng mặt vào đúng những ngày này. Sáng nay hắn bắt Thân dẫn đường cùng hai tên lính khố xanh sục sạo xuống vùng chợ Cháy. Chúng vừa vào đến làng Cập Nhất thì nghe một tiếng nổ lớn, nhìn lại phía đồn thấy khói đen bốc mù trời. Thế là cả bọn nháo nhác quay về. May mà hắn về kịp khi quan Tây ở Séc tơ Hải Dương chưa kịp xuống. Chỉ chậm mấy phút nữa hắn không có mặt tại hiện trường thì đời hắn ra ma. Tên trung uý được hắn giao công việc ở nhà, mặt xanh như tầu lá, lập cập báo cáo: -Thưa đại uý, đã bắt được một tên bộ đội Việt Minh và một mụ nông dân làng này, hiện đang nhốt ở đồn. - Được. Tao sẽ trực tiếp tra hỏi chúng. Nuốt vội vàng cho xong bữa, hắn vừa quăng đôi đũa xuống bàn, vừa vẫy tên lính lệ: - Gọi thằng Thân lên đây! Thân có mặt sau vài phút. Đội Hai vừa xúc miệng ồng ộc vừa nói: - Tao sẽ đi tra hỏi con đàn bà bắt được sáng nay. Mày theo tao xuống nhận mặt xem là đứa nào. Mày bảo nó khôn hồn thì khai ra. Nếu ngoan cố thì sẽ bị đánh đập như thằng bộ đội kia. Thằng ấy sắp chết rồi. Ngoan cố sẽ cho chết ráo. Thân ngoan ngoãn chạy theo hắn. Từ khi làm lính ở đồn Tây, Thân cũng nhanh nhẹn lên đôi chút. Đã nhiều lần hắn theo tên Đội Hai đi lùng sục, càn quét mấy làng lân cận. Tên Đội Hai thì bảo là hắn dẫn đường, còn hắn, hắn chỉ nghĩ rằng hắn đi theo sếp. Dẫn đường với cướp bóc là hai việc khác hẳn nhau. Hắn chả cướp bóc cái gì, cũng chả dám đánh giết ai. Tuy bên người hắn vẫn kè kè khẩu súng, nhưng chưa bao giờ hắn nổ một phát, trong khi bọn Đội Hai cùng tay chân vơ vét từ nồi đồng, tráp bạc, đến vòng xuyến, dây chuyền. Mạnh đứa nào, đứa nấy mang về làm của riêng. Còn gà, heo, ngan ngỗng, thậm chí cả trâu bò thì bắt về làm đồ nhậu nhẹt. Thân đi theo bọn hắn, lúc đi thì chỉ lối, lúc về thì vác đồ. Đủ các thứ bà rằn mà Đội Hai vơ cướp được đều giao cho hắn khuân vác. Có khi là cả một gánh nặng. Chỉ tiền, vàng cướp được là hắn nhét vào túi, không đưa cho Thân. Lúc về bao nhiêu thứ cướp được đều còn nguyên, Thân không tơ hào chút gì. Có khi sếp cho, Thân cũng không nhận. Điều này làm cho tên Đội Hai đặc biệt quí Thân. Thân không ham muốn gì hết, duy có một điều Thân muốn thì Đội Hai không có để cho hắn. Hắn muốn được có cô hàng xóm ở đây. Hắn muốn được nhìn thấy tấm lưng ong của cô, được ngắm hai má như hai cánh hoa sen của cô, muốn được lẳng lặng ngồi hàng giờ nhìn cô thấp thoáng. Từ ngày hắn vào lính ở hẳn trên đồn, hắn không được nhìn thấy cô gái nữa. Thỉnh thoảng hắn vẫn về làng, ngồi lại trong chiếc cổng vòm của nhà hắn nhìn sang nhà cô, nhưng chẳng thấy tấm lưng ong thon thả của cô đâu. Hắn đoán già, đoán non: Hay cô đi tản cư rồi, hay cô theo bộ đội, hay cô đã lặng lẽ lấy chồng? Hắn không tiện hỏi ai. Mà có hỏi chắc cũng chả ai thèm nói. Từ ngày hắn mặc áo lính nguỵ, dân làng dường như xa lánh hắn. Người ta đổi cách xưng hô, gọi hắn là " ông đội". Mọi người có gặp hắn chỉ chào hỏi qua loa rồi đi, không muốn chuyện trò, nhiều người cũng chả cần phải chào hỏi hắn, mà đi lối khác tránh mặt. Hắn còn một tia hy vọng là người mẹ già của cô còn ở lại đó. Chắc hẳn một ngày kia cô gái sẽ về thăm mẹ, thể nào hắn cũng có dịp gặp được cô. Trong những lần đi càn quét, duy có một lần nhìn thấy tấm khăn vuông bằng nhiễu còn mới phơi trên dây, hắn chạy đến rút xuống, gấp cẩn thận bỏ vào túi, với ý nghĩ sẽ tặng cho cô hàng xóm khi gặp lại. Nếu gọi là cướp của thì đấy là của cải duy nhất mà hắn cướp được trong một trận càn. Chiếc khăn nhiễu ấy lúc nào cũng nằm trong túi áo hắn. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:45:36 am Cánh cửa mở ra, Thân với tay bật công tắc điện. Đèn vừa sáng, một cảnh tượng ghê rợn, chưa từng thấy đập vào mắt hắn. Hắn hét lên, vội lấy hai tay bưng mặt, không dám nhìn. Dưới sàn, người đàn bà trần truồng nằm dạng chân như con nhái chết, cùng với mùi tanh tưởi xông lên nồng nặc, khiến người ta muốn lộn mửa. Tên Đội Hai từng chai sạn với mọi trò thú vật, nhìn thấy cảnh này bỗng nổi khùng. Hắn quát tháo ầm ĩ:
- Thằng nào? thằng khốn nạn nào dám tự tiện qua mặt tao vậy? Bố chúng bay! Đến cái đầu cũng chưa chắc đã giữ được, làm sao chúng bay dám động đực vào lúc này. Và ngay lập tức, hắn thổi còi tập trung lính, tra hỏi. Bọn lính nháo nhác tập trung. Ba thằng vừa cưỡng hiếp xong đang nằm ngáy như sấm. Nghe tiếng còi thổi, chúng tưởng như mơ, mắt nhắm, mắt mở, quáng quàng chạy ra sân. Biết sếp đang truy hỏi chuyện ấy, chúng bảo nhau im như thóc, mặc cho tên Đội Hai lồng lộn mắng chửi: - Bố chúng bay! Nó mà chết, không tra hỏi được chỗ Việt Minh thì ông cho chúng bay đi tù hết. Ngày mai phạt cơm cả lũ chúng bay. Cho chúng bay đi dò mìn. Cho chúng bay đi hứng đạn! Hắn cứ thao thao trút cơn tức giận. Dường như nỗi tức bực của hắn được cái cớ này khơi chảy. Trong khi hắn nói, hắn cứ đi đi, lại lại, nện dầy cồm cộp xuống nền xi măng. Tên lính nào ngo nghoe, hắn giơ tay tát liền. Đội quân ấy cứ đứng như trời trồng, cho đến khi từ trong nhà kho, tên Thân chạy ra như một thằng khùng. Mồm hắn hét, tay hắn huơ huơ trên không: - Thằng nào? Sếp ơi! thằng chó chết nào? Cho nó một băng đạn! Và đột nhiên hắn giật khẩu súng ngắn của tên Đội Hai, chỏ vào hàng lính. Có lẽ hắn đủ gan bắn bỏ năm, bẩy thằng một lúc, nếu hắn biết chính những thằng đó đã hành hạ cô gái ở trong kho. Đội Hai sững sờ trước hành động điên cuồng của Thân. Từ lúc Thân vào đồn, chưa bao giờ hắn nổi nóng, thậm chí chưa bao giờ hắn nói to. Vậy mà hôm nay, cái gì làm cho hắn cuồng lên như vậy. Chưa hiểu được nguyên nhân gì, nhưng với bản lĩnh và kinh nghiệm binh đao, Đội Hai quát to một tiếng: - Đứng im! Bỏ súng xuống! Tên Thân như bị rút hết phép thuật của tà ma. Hắn thả khẩu súng rơi bộp xuống đất, bưng mặt khóc hu hu rồi từ từ chạy về phía nhà kho. Thì ra cô gái ấy chính là cô hàng xóm thân thương, là thần tượng thánh thiện, tôn nghiêm của hắn. Sau tiếng thét bản năng, vô cảm và lấy tay che mặt để khỏi nhìn thấy thân thể loã lồ kia, hắn bình tĩnh dần lại. Hắn phải làm nhiệm vụ mà Đội Hai giao cho: nhận mặt xem người đó là ai.Tay run run, hắn kéo cái ống quần bị vo tròn trong miệng người đàn bà ra. Hắn hộc lên mấy tiếng như con trâu bị giáng búa tạ vào đầu. Hắn choáng váng suýt đổ sập xuống người cô gái. Hắn cố căng mắt để nhìn rõ hơn, mong rằng mắt nhìn nhầm, mong rằng tìm ra dấu vết lạ để chứng tỏ là người khác chứ không phải là người hắn tôn thờ. Càng nhìn, đôi mắt hắn càng muốn bật ra khỏi tròng, trong lồng ngực hắn đau nhói và dường như nghẹt thở. Đáng tiếc là hắn không nhìn nhầm. Tuy đã mấy tháng không gặp cô, nhưng khuôn mặt cô đã in sâu trong tâm trí hắn. Với lại hắn và cô lớn lên ở xóm này từ nhỏ. Trên mặt cô có dấu tích nào hắn cũng nhớ như in. Mấy năm gần đây dù chỉ đứng ở xa nhìn lại, nhưng đôi mắt ở trong tim thì lại đau đáu không lúc nào xa. Trời ơi, đúng là cô, đúng là thần tượng của hắn. Vì vậy hắn điên khùng lao ra sân khi bọn lính đang lặng thinh đứng trong hàng nghe tên đồn phó chửi bới và đe doạ. May mà án mạng không xẩy ra. Hắn vừa khóc, vừa rũ rượi đi vào gian nhà kho. Như có trời xui, đất khiến, biến hắn thành ngừơi từng trải. Việc đầu tiên là hắn đi tìm một chậu nước sạch, rồi hắn chốt chặt cửa gian nhà kho. Bấy giờ giá có ông giời gọi cửa hắn cũng không mở. Hắn lấy chiếc khăn nhiễu ở trong túi ra, dúng ướt, vắt khô, rồi nhẹ nhàng, cẩn thận, lau rửa từ mặt cho đến chân cho cô gái. Hắn làm việc này trong một trạng thái thật khốn khổ, mà cũng thật dễ chịu. Từ khi biết xấu hổ với người khác giới, chưa bao giờ hắn dám động chạm vào một người đàn bà nào. Mang tiếng đã có vợ mấy năm, nhưng hắn cũng chưa biết thế nào là khoái cảm thân xác. Ngày cưới vợ, hắn mới là cậu bé mười lăm tuổi. Tối ấy, bố mẹ hắn khoá trái cửa cho vợ chồng hắn an tâm "động phòng", nhưng hắn nằm xuống là ngủ, chẳng để ý đến người vợ đang độ nồng nàn, béo mũm như con muỗm nằm bên cạnh. Rồi sau đó khi hắn đã phải lòng cô hàng xóm thì người vợ mười tám tuổi ấy hoàn toàn giống như khúc gỗ. Dù đêm đêm nằm cạnh nhau, hắn vẫn chẳng mảy may súc cảm. Mấy năm nay, vợ hắn ở đâu, hắn cũng chẳng biết. Hắn vẫn chỉ theo đuổi cái bóng thắt đáy lưng ong của cô gái này. Biết bao lần hắn thầm ao ước, được chạm nhẹ vào bàn tay cô, được vuốt nhẹ lên má cô. Vậy mà... Bọn chó đểu đã phá tan ước mơ của hắn. Bây giờ hắn được tự do vuốt ve, sờ nắn khắp người cô, nhưng có cảm giác như đang vuốt ve, sờ nắn miếng thịt ôi do hổ ăn thừa bỏ lại. Tuy vậy, mỗi lần nghe tiếng rên khe khẽ của cô, hắn lại thấy ruột xót như muối. Tấm khăn nhiễu trong tay hắn dịu dàng hơn, âu yếm hơn. Hắn cố gắng giặt đi, giặt lại tấm khăn để lau thật sạch những nhầy nhụa, tanh tưởi trên hai đùi cô. Hắn mặc lại quần áo cho cô, rồi tìm một mảnh hòm ván cũ, trải xuống nền nhà, đặt cô nằm trên đó, tránh xa cái bãi đất bẩn thỉu kia. Khi mọi việc xong xuôi, hắn đến giật cửa nhà bếp, nhóm lửa, đặt một nồi cháo nhỏ. Tên Đội Hai thấy hắn làm vậy, hất hàm hỏi: - Người nhà mày ư? Hắn lắc đầu, mắt vằn đỏ. - Mày chăm sóc cho nó tỉnh lại, mai tao sẽ xét hỏi nó. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:51:10 am Gần sáng hôm sau thì cô gái tỉnh lại. Thân ngồi ngủ gà ngủ gật bên cạnh. Đêm qua nó đã đổ cho cô được lưng bát nước cháo, giờ cô tỉnh lại, nó rất mừng. Vừa mở mắt ra, trông thấy hắn, cô gái co người lại, lấy hết sức bình sinh đạp một nhát thật mạnh vào bụng hắn. Thân ngã lăn trên nền đất. Tiện tay cô cầm luôn bát cháo bên cạnh đáp vào mặt hắn. Tuy vậy, dù có căm giận đến đâu, cô cũng đành ôm mặt khóc, chẳng làm được gì hơn, vì cô chẳng còn đủ sức nhấc nổi thân mình, và cũng chẳng có cách nào thoát ra khỏi căn phòng này. Rồi việc gì phải đến đã đến. Tên Đội Hai nghe thấy tiếng khóc, biết là cô đã tỉnh, hắn xồng xộc bước vào, mang theo hai thằng lính, sẵn sàng ghi chép và sẵn sàng tra khảo. Hắn quát tên Thân:
- Mày cút ra. Dù là mẹ mày thì chúng tao cũng phải tra hỏi đã. Tên Thân lập cập bước ra. Trông hắn thật thảm thương Người con gái bây giờ mới thực sự nếm đòn thù. Tên đội Hai chỉ hỏi có vài câu: - Bộ đội Việt Minh đóng ở đâu? Chúng mày chôn mìn thế nào? Giọng rất yếu ớt, nhưng cô gái đã trả lời dứt khoát: - Tôi chỉ là người dân đi làm cỏ lúa. Tôi làm sao biết được bộ đội với mìn. - Thế hai thằng bộ đội đi với mày tên gì? - Tôi không đi với họ. Tôi không quen họ. - Bướng hả?. Có muốn tao cho lính diễn lại trò hôm qua không? Không có tao với thằng Thân cứu thì mày đã chết rồi đấy con đĩ ạ. Nếu mày muốn sống để trở về nhà thì hãy khai ra. Cuộc tra hỏi của tên đội Hai từ sáng đến gần trưa vẫn không moi được tin gì từ cô Lúa. Còn người thanh niên bị tra khảo từ hôm qua, đã chết đi, sống lại nhiều lần, vẫn chỉ một mực nhận là người đi bắt rắn. Không moi được tin gì, đội Hai càng lồng lộn, điên cuồng. Giữa lúc ấy thì tên đồn trưởng ngươì Pháp cùng vợ trở về. Chiếc xe zép đỗ trước cửa đồn. Hai vợ chồng Sôlny khoác vai nhau đi thẳng vào phòng riêng. Trông mặt Sôlny vẻ không vui. Đội Hai đã bực dọc lại thêm lo sợ. Hắn thấp thỏm chầu chực ở cửa. Bổn phận hắn phải báo cáo ngay những việc đã xẩy ra ở bốt. Tên thông ngôn vẻ ngại ngần bảo vơí hắn: - Để ngài đồn trưởng nghỉ đến chiều. Ông cứ tiếp tục mọi việc đi. - Ngài ấy đã biết sự việc hôm qua chưa? - Biết rồi, Ngài định về ngay chiều qua, nhưng phu nhân không nghe, đành ở lại. Chắc hẳn cấp trên có khiển trách ngài, nên ngài không vui. Vừa lúc ấy quan bà mở cửa đi ra phòng tắm. Đội Hai vội vã cúi đầu. Bà đáp lại bằng tiếng Việt: - Anh ấy mệt. Rồi bà xua tay ra hiệu cho Đội Hai về nghỉ. Bà nói với viên thông ngôn một tràng tiếng Pháp. Viên thông ngôn nói lại với đội Hai: - Bà Sôlny bảo, hôm nay có những cái mùi lạ, nghe ghê ghê, bảo ông cho lính dọn vệ sinh các nơi đi. Buổi chiều hôm ấy, Đội Hai không kìm nén được trước sự lỳ lợm của hai tên tù binh. Hắn quyết định dùng cực hình, mong tìm được bí mật từ cô gái. Hắn sai lính mang hòm điện xuống nhà kho. Cô gái tù binh từ hôm qua đến nay đã trải bao nhiêu khủng khiếp. Bây giờ người cô như tầu dưa ủng, nhưng dường như cô can đảm hơn, sẵn sàng chịu đựng mọi cực hình. Chúng xích hai chân cô vào cột, treo hai tay lên xà nhà. Chúng dùng kẹp, nối dây điện, kẹp vào các đầu ngón chân rồi đóng mạch điện. Mỗi lần như vậy cô lại thét lên, rú lên vì đau đớn. Bọn chúng hỏi: - Bộ đội ở đâu? - cô vẫn lắc đầu. - Mày chôn mìn phải không? - Cô lắc đầu. Chúng lại kẹp vào những ngón chân khác, lại chập điện. Cô lại rú lên, vẫn lắc đầu. Chúng lại kẹp vào những chỗ nhậy cảm khác. Cô lại rú lên, rồi lịm đi. Những tiếng rú của cô đã lọt vào phòng tên đồn trưởng. Sôlny đã biết việc này, vì được Đội Hai báo cáo. Bản thân hắn cũng rất muốn tìm ra chỗ ở của bộ đội Việt Minh để còn lập công. Hắn đồng ý cho tên Đội Hai dùng biện pháp mạnh để tra tấn. Còn vợ hắn thì không biết tại sao lại có tiếng rú rít ở trong đồn, rồi lại nghe rõ tiếng đàn bà. Không nén được nữa, cô hỏi: - Mình ơi! sao lại có tiếng phụ nữ kêu thét ở đâu đây? Sôlny không dám dấu vợ, nhưng chỉ nói qua loa, rằng có một nữ du kích đánh tầu của chúng ta, bị bắt vào đây. Cô ta sợ hãi nên kêu khóc. Sôlny phu nhân nói với chồng, có thể cho nàng gặp người nữ du kích đó được không. Sôlny gạt đi, còn doạ: - Người Việt Nam ghét người Pháp lắm. Em gặp cô ta thì không hay đâu. Vợ Sôlny cảm thấy không yên ổn. Cô ta càng tò mò muốn biết mặt một nữ du kích Việt Nam. Cô lừa cho chồng ngủ rồi lẳng lặng đi xuống gian nhà kho, nơi hơn một giờ trước đây phát ra tiếng rú ghê rợn. Bây giờ không còn nghe thấy tiếng gì. Cô người Pháp đưa tay gõ nhẹ vào cánh cửa. Từ bên trong tiếng Đội Hai quát vọng ra: - Ai đấy? Thằng Thân phải không? Mẹ mày chưa chết đâu con ạ. Nó mới ngất thôi, lát nữa tỉnh lại, chúng ông lại cho điện giật tiếp. Nó bướng, cho nó chết cũng đáng đời. Khôn hồn thì cứ ở ngoài ấy, con ạ. Sôlny phu nhân không nói gì, tiếp tục gõ to hơn. Tên Đội Hai vừa văng tục, vừa mở bung cánh cửa. Hắn sững sờ khi nhìn thấy đồn trưởng phu nhân. Còn vợ Sôlny bất thần hét lên một tiếng" lạy chua" đến lạc cả giọng rồi bỏ chạy. Người thiếu phụ phương Tây này không dám tin ở mắt mình. Trước mắt bà ta, một thân hình phụ nữ, quần áo rách bươm, thâm tím nhiều chỗ, đầu tóc xoã sượi. Chân tay cô đều bị trói, trong tư thế gần giống tư thế chúa GieSu chịu nạn. Ghê rợn nhất là hai chiếc kẹp điện đang kẹp trên hai đầu vú của nàng. Bà vừa chạy vừa xổ ra một tràng tiếng Pháp líu ríu, người thông ngôn nghe cũng đành chịu. Bà chạy vào phòng, vồ lấy chồng và tiếp tục xổ ra tràng giang đại hải những từ ngữ hẳn là khó chịu. Viên đồn trưởng hốt hoảng, toan nổi khùng, nhưng trông thấy vẻ mặt thất thần của vợ, hắn đành bảo viên thông ngôn, yêu cầu Đội Hai ngừng tra tấn. Đội Hai răm rắp tuân lệnh. Với lại cô du kích này gần như đã chết rồi. Có giật hết cả bình điện cô ta cũng chẳng nói được gì thêm. Sôlny phu nhân không chịu dừng lại ở đó. Ngay buổi tối, cô đòi chồng phải cho cô nói chuyện trực tiếp với viên thông ngôn. Nàng yêu cầu ai biết việc cô gái bị bắt vào đồn, đến thuật lại cho nàng nghe. Tên thông ngôn tóm được tên Thân, người mà hắn cho rằng thật thà, ngoan nết nhất trong đồn. Tên Thân từ sáng đến giờ cứ ngơ ngẩn như ma làm. Cơm chẳng ăn, nước chẳng uống. Hắn cứ chạy quanh gian nhà kho như phát cuồng. Khi tên thông ngôn cầm tay hắn kéo lên phòng làm việc, ngồi đối diện với vợ đồn trưởng, Thân bỗng oà lên khóc. Nỗi khổ trong lòng hắn không thể nói với ai, giờ đây cứ ùa chảy theo nước mắt. Cả Sôlny phu nhân và tên thông ngôn đều lấy làm ngạc nhiên, gạn hỏi: - Vì sao mà khóc? Hắn lắc đầu, rồi ôm mặt, nức nở to hơn. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:54:07 am Tên thông ngôn chờ cho hắn nguôi cơn xúc động, rồi dịch từng câu hỏi của đồn trưởng phu nhân:
- Cô gái du kích bị bắt thế nào? - Cô ấy không phải là du kích. Cô ấy là dân thường, đi làm ngoài đồng, thấy tầu đổ, sợ quá chạy về,thế là bị bắt. Thực tình lúc cô bị bắt Thân không có nhà và cô cũng chưa nói với Thân một câu nào, nhưng theo mấy thằng lính bắt giữ cô nói lại, Thân tự suy ra như thế. - Cô ấy là người ở đâu, tên là gì? - Cô ấy tên là Bẹ, Nguyễn Thị Bẹ, người làng Vân này. -Anh quen cô ta từ khi nào? - Từ lúc lên năm tuổi. Cô ấy ở cạnh nhà tôi, hiền lành lắm. - Sao không nói với đồn phó như thế để khỏi bị tra tấn? - Ông ấy không tin tôi, chỉ muốn tìm bộ đội Việt Minh. - Ngoài bị đánh, bị dí điện, cô ấy có bị cưỡng hiếp không? - Có. Chúng nó, chắc là nhiều thằng, nhưng không phải đồn phó, đã hiếp cô ấy đến ngất đi. - Cô ấy có chồng chưa? - Chưa! Sôlny phu nhân buông một tiếng thở dài. Bà không muốn hỏi tiếp nữa. Dường như chừng ấy câu trả lời của Thân đã quá đủ. Điều đó chứng tỏ chẳng có chứng cứ gì để kết luận cô ta là du kích đánh tầu. Cái chính là bà không thể chịu được sự tra tấn dã man, hơn nữa nhân danh một phụ nữ Pháp, bà không cho phép dùng cực hình như thế với một người phụ nữ. Thật quá tàn nhẫn. Bà hỏi Thân mấy câu cuối cùng: - Nhà cô ta còn ai ở làng không? - Còn mẹ cô ta. - Nếu chồng tôi thả cô ta, anh có vui lòng đưa cô ta về với mẹ không? Thân gật đầu lia lịa. - Tốt lắm. Anh về nghỉ đi. Sớm mai đưa cô ta về. Thân cúi đầu chào và đột nhiên thốt ra mấy câu tiếng Pháp, rằng cảm ơn quí bà rất nhiều, làm cho Sôlny phu nhân và viên thông ngôn cùng sửng sốt: - Anh biết tiếng Pháp ư? - Một chút thôi. Người phụ nữ Pháp bỗng thấy quí Thân và cảm thấy anh thân thiết lạ lùng. Có thể do mối đồng cảm sâu sắc của bà với những đau khổ của Thân. Sôlny phu nhân đã làm một việc ngoài sự tưởng tượng của Đội Hai. Chính chồng bà đang muốn nhanh chóng tìm ra kẻ chủ mưu đánh mìn. Vậy mà bà lại yêu cầu thả tội phạm, nếu không là tội phạm thì ít ra cô ta cũng là một nhân chứng quan trọng. Thả là sao? Sôlny ban đầu không đồng tình với vợ. Hai vợ chồng hắn tranh luận một giờ đồng hồ. Vợ hắn nói: - Tra tấn người bằng nhục hình là hành động dã man, tàn bạo mà nhà nước Pháp không cho phép, nhất là lại tra tấn một phụ nữ vóc dáng mảnh mai như vậy thì đấy chỉ là hành động của loài cầm thú, hoặc hành động của bọn đao phủ thời trung cổ. Cứ cho rằng người ấy là Việt Minh, chống lại nhà nước pháp thì đem chị ta giao cho toà án, xử theo pháp luật. Trong khi chúng bắt người chẳng có chứng cớ gì... Sôlny có vẻ đuối lý. Hắn nổi khùng lên: - Thế hậu quả đoàn tầu đổ, bao nhiêu thiệt hại thì ai chịu? - Thế chẳng lẽ mình bắt một phụ nữ yếu đuối gánh trách nhiệm ư? Bao nhiêu súng ống ở đây, bao nhiêu lính tráng ở đây, sao mình không mang ra mà khảo tra, đánh đập? Sôlny hạ giọng: - Thực tình tôi chả muốn đánh đập ai, nhưng không răn đe như vậy thì dân chúng ở đây sẽ nổi lên phá tan cả cái đồn này. - Thế người Pháp mình không làm cho dân An Nam cảm mến được à? Nếu mình không đi càn quét, không bắn giết họ. Nếu mình đừng chuyên chở sang đây nhiều vũ khí giết người và nhiều binh lính thì... Sôlny lại nổi sung lên: - Mình nói theo giọng Việt Minh rồi đấy. Nếu không có chiến tranh thì tôi và mình sang đây làm gì. Trách nhiệm của chúng ta là phải bình định bằng được mảnh đất này. Mình cũng biết đấy, tướng XaLăng rất lo ngại về tình hình đồng bằng bắc Việt Nam, ngài hạ lệnh cho chúng ta phải bình định kỳ được vùng này. Vợ Sôlny bật khóc, cứ nhắc đi nhắc lại hai từ "ghê tởm" và đòi về nước một mình. Bà còn doạ sẽ tường trình việc này với Liên hiệp phụ nữ và Quốc hội Pháp. Không thể để vợ quá căng thẳng nữa, Sôlny sau một đêm suy nghĩ đành hạ lệnh cho Đội Hai thả cô gái. Còn người thanh niên, theo hắn chắc chắn là Việt Minh, hắn làm tờ trình với cấp trên cho đầy ra Côn Đảo. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:57:43 am Chương 4 Sau cái ngày hàng ngàn quả mìn đồng loạt nổ trên đường Năm ấy chừng một tháng, Thường lại được về dự họp Đại đội ở căn cứ tự do thuộc huyện Thanh Hà. Hôm ấy đại đội họp dưới vườn vải thiều. Mùa này cây vải đang lấm tấm những quả non. Nhìn vườn cây um tùm, thoảng hương thơm dìu dịu, Thường bỗng nhớ nhà, nhớ mẹ và các em. Nhà Thường có một cây nhãn cổ thụ ở góc sân. Mùa hè đến, mẹ hay dọn cơm dưới gốc nhãn, cả nhà ngồi quây quần, vừa ăn vừa ngẩng nhìn mấy chú chim sâu lách tách. Bây giờ gia đình Thường mỗi người một nơi. Bố Thường ở lại làng quê, lãnh đạo đội du kích xã. Lâu lâu Thường gặp chú Tảo, chú vẫn cho biết tình hình ở quê nhà. Còn mẹ Thường, từ ngày gánh cu Tình, cún Nghĩa đi tản cư sang Thái Bình, đến nay đã hơn ba năm rồi, Thường chẳng biết tin tức gì. Chỉ biết trước khi mẹ đi, bố dặn rằng:" đến đâu thì bà cũng cố tìm trường cho thằng cu Tình đi học". Thường bỗng thấy vui vui, vì tin rằng cậu em trai được đến trường, học được nhiều chữ nghĩa, hẳn là tương lai sẽ mở rộng với nó. Mình cứ xông pha đánh thật nhiều giặc để các em mình được sống yên vui. Thường đang miên man trong suy nghĩ thì anh Đỗ Ninh đến. Anh đi một vòng, bắt tay hết lượt mọi người, vẻ mặt rạng rỡ, giọng nói vang, trong. Khi bắt tay đến Thường, anh Ninh xoè cả hai tay, nắm lấy vai người lính trẻ, rung rung: - A! Chú em! Vẫn khoẻ chứ? Cuộc họp trước chú em phát biểu hay lắm, tốt lắm. Kỳ này chú phát huy nhá. Chúng ta là những chiến sĩ tự nguyện chiến đấu bảo vệ quê hương, chúng ta phải nghĩ ra nhiều cách tiêu diệt quân thù. Chẳng ai bảo ai, những người đứng xung quanh đồng loạt vỗ tay đồm độp. Thường không hiểu họ khích lệ mình, hay tán thưởng câu nói của anh Ninh, nhưng tự nhiên cậu đỏ mặt lên. Khi anh em đã ngồi im dưới tán lá xanh um của vườn vải thiều, anh Ninh cho bắt đầu buổi họp. Hôm nay anh đứng ngay ngắn một chỗ chứ không đi đi lại lại như hôm trước. Trong tay anh còn có một cuốn sổ nhỏ. Thỉnh thoảng anh lại mở ra liếc nhìn. Anh bắt đầu nói: - Tôi xin thông báo với anh em về tình hình chung trước nhá. Cuối năm ngoái ( 1947), giặc Pháp mở cuộc tiến quân qui mô lớn lên Việt Bắc, hòng chụp bắt cơ quan đầu não của ta, nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh và chiếm đóng toàn bộ nước ta. Tên tướng Xa-Lăng, chỉ huy cuộc tiến quân đã ngạo mạn cho rằng: " Chỉ ba tuần lễ, sẽ đập tan đầu não của Việt Minh". Nhưng cuộc hành quân với hai mươi ngàn tên, có cả hải, lục, không quân của chúng đã bị thất bại thảm hại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Cụ Hồ, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, bộ đội ta đã đánh cho chúng nhiều trận thua đau. Chúng phải nhục nhã rút lui. Bị thất bại trong kế hoặch tấn công lên Việt Bắc, nên chúng chuyển hướng chiến lược mới, từ tấn công ồ ạt sang đánh kéo dài, chuyển trọng tâm sang bình định các vùng đồng bằng, hòng vơ vét sức người, sức của ở nhân dân ta. Chúng đã và đang xây dựng hệ thống đồn bốt dầy đặc ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Vì thế anh em ta sẽ phải đối đầu với một lực lượng địch mạnh hơn. Quân giặc đã điều tên tướng Săng-Xông rất nhiều kinh nghiệm bình định các vùng Nam bộ ra chỉ huy việc bình định Bắc bộ. Tên này đã điều cả một binh đoàn dù từ Pháp sang để càn quét, bình định dọc đường Năm, chống lại những trận đánh tầu, phá đường của chúng ta. Vì vậy hôm nay anh em ta họp nhau ở đây để tìm cách chặn đánh bọn này, không cho phép chúng chiếm đóng quê hương mình. Về phía ta, tuy lực lượng vũ trang địa phương còn mỏng, nhưng chúng ta đã đánh một số trận ra trò, khiến bọm địch hoang mang, lo sợ. Chiến dịch phá đường sắt hôm mùng 4 tháng 2 của chúng ta đã làm nức lòng đồng bào trong và ngoài tỉnh. Hơn một ngàn quả mìn cùng nổ rung trời. Hai mươi hai ki lô mét đường sắt bị phá huỷ. Xe lửa của chúng bị ngừng trệ đến ba tuần lễ. Thật tuyệt vời. Du kích và nhân dân các nơi gọi đó là " tiếng sấm đường Năm". Anh em vỗ tay rào rào. Có người nói: - Chúng ta sẽ còn cho chúng nhiều trận sấm sét hơn thế nữa. Đợi cho anh em trật tự, anh Ninh nói tiếp: - Các đồng chí vui mừng là đúng. Đáng mừng lắm. Phấn khởi lắm. Nhưng bây giờ tôi trân trọng mời các đồng chí đứng dậy đón nghe một tin vui mừng hơn, vinh dự hơn - Giọng anh bỗng cao vồng lên - Thưa toàn thể anh em, Hồ Chủ Tịch đã gửi thư động viên anh em du kích huyện Kim Thành! Mọi người đồng thanh reo hò. Tiếng reo vui lẫn với tiếng vỗ tay rào rào. Anh Ninh mở sổ, lấy ra một tấm giấy màu vàng, có những dòng chữ đánh máy. Anh thong thả đọc từng lời: Thân ái gửi đội du kích Kim Thành Cảm ơn các chú đã gửi biếu tôi một cái áo mưa lấy của giặc. Quý hơn nữa là các chú hứa: luôn luôn cố gắng lấy vũ khí của địch để diệt địch. Nay là dịp tốt để cho quân du kích, cũng như cho vệ quốc quân thi đua nhau giết cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng để giật giải thưởng trong cuộc vận động luyện quân lập công. Các chú phải cố gắng lên. Một điều nữa các chú phải luôn luôn nhớ: du kích là như cá, nhân dân là như nước. Muốn giết địch thắng lợi thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp, thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi. Chúc các chú ra sức tranh đấu và nhiều thắng lợi. Chào thân ái và quyết thắng Hồ Chí Minh [/i] Khi anh Ninh đọc xong thư Bác. Tất cả mọi người cùng đồng thanh hô: -Bác Hồ muôn năm! Bác Hồ muôn năm! Những tiếng vỗ tay lại rào rào vang lên. Có tiếng sụt sịt lẫn trong tiếng reo vui: - Ôi! vinh dự quá! Anh Ninh giọng đầy xúc động, dõng dạc hỏi: - Anh em mình có quyết tâm làm theo lời Bác không? Mọi người cùng đồng thanh hô to: - Quyết tâm! Quyết tâm! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 08:59:40 am Chương 5 Mờ sáng hôm ấy Thân được tên Đội Hai gọi dậy. Đêm qua dường như Thân không ngủ. Cả cái ngày hôm qua là cái ngày quá nặng nề, quá căng thẳng, quá đau đớn với Thân. Thiên thần của hắn bỗng nhiên biến thành giẻ rách. Mà ngay cả khi biến thành giẻ rách rồi, cái mớ giẻ rách ấy cũng không đoái hoài đến hắn, không thuộc về hắn. Sau khi gặp Solny phu nhân về, tưởng chừng lòng sẽ nhẹ nhõm hơn. Nhưng nằm nghĩ ngợi một lát, hắn lại thấy lòng trĩu nặng. Cô ấy được thả về thì tốt lắm, nhưng rồi Thân có được gặp cô ấy nữa đâu. Ai sẽ là người chăm sóc cô ấy? Mẹ cô hay bọn Việt Minh? Mà sao cô ấy lại đi theo cái bọn Việt Minh. Người mảnh mai như vậy làm sao mà theo kịp cái bọn du kích cơ chứ. Bực nhất là cô ta chẳng nói với Thân một lời nào, mà Thân cũng chưa kịp nói đã bị cô ta đạp cho ngã dúi rồi, lại thêm một bát cháo vào mặt nữa. Chắc cô ta uất ức vì tưởng rằng Thân cùng đồng loã với bọn kia. Làm sao để cô ta hiểu đúng bây giờ. Trằn trọc mãi đến gần sáng Thân mới thiếp đi. Hắn còn đang trong cơn mê mệt thì Đội Hai dựng dậy. Giọng Đội Hai dữ dằn: - Mày dậy nhanh rồi xuống nhà kho mà cõng mẹ mày về. Bà đồn trưởng giao nhiệm vụ cho mày đấy. Thân không dám hỏi han gì, cung cúc làm theo. Sôlny phu nhân đứng ở cổng đồn. Dường như đêm qua bà cũng không ngủ. Đôi mắt màu xanh nước biển của bà có vẻ mờ đục hơn. Tuy nhiên nét mặt bà lộ rõ vẻ vui mừng sau cuộc " đấu tranh thắng lợi" với chồng. Chồng bà đã nhượng bộ. Niềm vui ấy cũng đồng nghĩa với việc cứu được một con người thoát khỏi sự đau đớn về thể xác và tâm hồn. Cô gái vẫn mê man, thiêm thiếp nằm oặt ẹo trên lưng Thân. Quần áo rách bươm, phía nào cũng nhìn thấy da thịt. Thấy vậy, Sôlny phu nhân chợt nói bằng tiếng Việt: - Chờ đã! Bà co đôi cẳng dài ngoẵng dậm trên đôi săng đan trắng, chạy nhanh về phòng riêng. Ba phút sau bà trở ra, vẫn vừa đi vừa chạy, tay cầm chiếc khăn bông to. Bà lẳng lặng phủ tấm khăn lên người cô gái. Tấm khăn còn mới tinh, sực mùi nước hoa, dường như vừa được lấy ra khỏi va ly. Sau khi dúi vào tay Thân một hộp sữa nước, bà ra hiệu cho Thân đi nhanh, rồi nói một tràng tiếng Pháp: - Nói giúp với gia đình, vợ chồng tôi xin lỗi. Cố chăm sóc cho cô gái chóng khoẻ. Có dịp tốt tôi sẽ đến thăm. Thân không thể hiểu nổi những ngôn từ ngoại quốc dài ngoẵng ấy, viên thông ngôn lại không có đây. Nhưng nhìn vẻ mặt bà Sôlny, Thân cũng lờ mờ hiểu được nội dung câu nói của bà. Rồi Sôlny phu nhân lại giục: "Đi nhanh lên!". Dường như bà sợ chồng bà và tên Đội Hai lại đổi ý. Câu tiếng Pháp ngắn gọn này thì Thân hiểu. Hắn co cẳng chạy lạch bạch ra khỏi đồn. Tên Đội Hai đứng mãi phía sân trong, mặt cau có. Hắn lẩm bẩm một mình: - Sẽ có ngày ông cho chúng bay vào tù ráo. Lúc đó tên đồn trưởng Sôlny ngồi trong phòng riêng, vừa uống cà phê vưa xem báo, theo dõi tình hình chiến sự ở mọi nơi. Hắn cố làm ngơ trước những hành động quá đà cuả vợ và ngầm nghĩ cách để khống chế cô ta. Thân cõng cô gái ra khỏi cổng đồn được một đoạn thì gặp một đoàn người đang hùng hổ kéo đến. Đi đầu là vị hương lý đại diện Hội đồng an dân, áo lương, khăn xếp chỉnh tề. Đi sau ông ta khoảng hai chục ông già, bà cả. Họ kéo nhau lên đồn để đòi người. Hôm trước, khi trông thấy đoàn tầu đổ vật ngoài đồng, dân làng Vân mừng lắm. Họ thì thầm với nhau: - Du kích mình giỏi thật. Đoàn tầu dài như thế, chạy nhanh vun vút, thế mà họ làm nổ tan đầu máy, tài thật. Nghe nói bọn Tây chết nhiều lắm, lại thêm bao nhiêu súng đạn nổ tan theo. - Cho chúng nó chết. Nếu chúng không chết thì chúng sẽ giết hại bao nhiêu người mình. Nghe nói chúng đang thua đậm ở Tây Bắc nên đưa bọn này sang tiếp viện. Dân làng cứ bàn luận, cứ phán đoán. Riêng người xã đội trưởng thì lo đứng, lo ngồi. Chiều ấy, giao nhiệm vụ cho cô Bẹ xong, anh đã rất yên tâm chờ tin chiến thắng. Sáng hôm sau tin đầu tiên anh nhận được là: một đồng chí bộ đội bị hy sinh ngay sát bờ sông, đồng chí còn lại đã bị bắt. Mấy giờ sau lại có tin cô Bẹ cũng rơi vào tay giặc, anh choáng váng. Ngay lập tức anh lập phương án đối phó. Trước hết những nơi cất dấu tài liệu, những nơi họp hành mà Bẹ biết đều phải chuyển đi chỗ khác. Bản thân anh và một số đồng chí thường làm việc với Bẹ tạm thời phải lánh mặt sang làng bên, khi cần thiết phải xuống hầm bí mật. Các đội viên du kích phải sẵn sàng chiến đấu. Nghe ngóng từ lúc tầu đổ đến tối, tình hình có vẻ yên ắng, xã đội trưởng cử mấy du kích bí mật mang xác đồng chí bộ đội bị bắn ở bờ sông đi chôn. Chôn cất cho anh cẩn thận trong nghĩa địa của thôn, nhưng chẳng biết tên anh là gì. Hôm qua chỉ mình xã đội trưởng biết mặt hai người, một người tên là Nam, một người tên là Dũng. Người hy sinh này chẳng biết là Dũng hay Nam. Giặc đang tra xét dữ, đêm tối thế này, chôn cất được cẩn thận cho anh đã là may lắm rồi, tên tuổi thật sự chẳng quan trọng gì lúc ấy. Việc thật sự quan trọng lúc này là phải tìm cách đòi cô Bẹ về. Một cuộc họp cấp tốc được triệu tập. Sau đó họ hàng nhà cô Bẹ được mời đến chỗ ông hương lý. Ông này cũng biết cô Bẹ là du kích, nhưng ông không tố cáo. Tuy làm việc cho Tây nhưng ông vẫn lừng chừng ở giữa, chưa hẳn ủng hộ, nhưng cũng không dám phản đối hành động của du kích xã. Thấy tầu Pháp đổ, ông cũng rất mừng. Khi họ hàng nhà cô Bẹ kéo đến bắt ông phải cùng lên đồn Tây đòi người, ông ngại lắm. Tốt nhất là mình cứ yên phận làm ăn, đừng có đụng độ gì với cái đồn bốt ấy. Súng ống chúng nó lăm lăm trong tay, nó chỉ "đòm" một nhát là mình toi đời. Chả lý sự nào cãi được với súng đạn. Nghĩ vậy, ông toan thoái thác, không đi. Một người xưmg là anh họ của cô Bẹ nói dõng dạc: - Ông không đi hả? Không đi thì tự chúng tôi kéo lên đồn. Chúng tôi cứ chửi ầm lên, làm náo loạn lên, liệu ông có trốn được trách nhiệm " an dân" với quan Tây không? Con em chúng tôi bị bắt giữ, chúng tôi phải lo lắng. Ông được cử đứng đầu làng nước, ông lên thưa gửi đầu đuôi với người ta, lại không hơn à? Con Bẹ nó chỉ đi cào cỏ mà bị bắt, thế là oan chứ. Làng mình đã lập tề, đã chịu sự kiểm soát của các ông ấy. Chả nhẽ nhà nước bảo hộ văn minh lại bắt người tùy tiện như thế à?. Ông hương lý biết ngay người vừa nói chắc chắn là cán bộ Việt Minh rồi. Trong số những người này, chắc là có nhiều du kích, có khi cả bà cụ sinh ra cô Bẹ. Mình mà không nghe họ thì cũng khó sống yên. Nghĩ vậy, ông đành dịu dọng: - Thôi được, bây giờ quá khuya rồi. Sáng mai tôi cùng các vị sẽ lên đồn sớm. Thật tình nếu hết đêm nay cô ấy vẫn không về, ta mới có cớ lên đòi người. Các vị thông cảm, tôi hứa sáng mai sẽ đi sớm. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:01:04 am Sáng sớm hôm sau đoàn người ấy sắp vào đến cổng đồn thì gặp Thân cõng Bẹ ra. Mọi người ngơ ngác không hiểu chuyện gì. Họ xúm xít quanh Thân. Thấy đầu tóc Bẹ rối bù, ngặt nghẹo, họ đoán già, đoán non. Một bà bảo:
-Chết rồi, bị đánh rồi! Người khác bảo: - Chết rồi, bị hiếp rồi. Con gái hơ hớ ra thế, rơi vào đồn giặc thì làm sao mà thoát được. Nhưng họ trông thấy tấm khăn bông mới tinh, to gần bằng chiếc chăn chiên phủ trên người Bẹ, lại thoang thoảng mùi nước hoa, thì họ không biết lý giải thế nào. Có người lên tiếng gọi: - Bẹ ơi! Không có tiếng đáp lại. Bà mẹ bật khóc. Vừa khóc vừa gọi: - ới con ơi, con làm sao thế, con ơi. Một người đàn ông quát lên: - Có chuyện gì thế, anh Thân? Cô Bẹ làm sao? Thân lúc này bỗng tỉnh táo và tỏ ra khôn ngoan. Hắn trả lời lấp lửng: -Chẳng có chuyện gì. Cô Bẹ ốm. Ngài đồn trưởng bảo tôi cõng cô ấy về. Nói thế và hắn càng ghì chặt cô bé trên lưng mình, như sợ rằng bọn người kia sẽ cướp mất cô. Tay hắn vòng ra phía sau lưng, vẫn còn cầm nguyên hộp sữa của Tây. Khi cô Bẹ được đặt xuống cái chõng tre ở nhà cô thì mọi người mới biết cô bị hành hạ dã man đến chừng nào. Khắp người cô thâm tím, nhiều chỗ còn ri rỉ máu, quần áo rách bươm. Mẹ cô rú lên: - ới con ơi, sao con khổ thế này? sao chúng nó độc ác thế này? ới các ông, các bà ơi, cứu con tôi với. Có người vớ được chiếc chày giã cua ở đầu hè, định nện vào đầu Thân: - Chúng bay là đồ cầm thú, làm tình, làm tội một cô gái thế này ư? Thân vội vàng né tránh, miệng ấp úng: - Tôi...tôi chả làm gì. Không có tôi thì cô ấy đã chết rồi ấy chứ!... Thân không thể nói gì nhiều, không dám thanh minh cho mình trước những vẻ mặt hằm hằm, những con mắt vằn đỏ của bao người. May mà có ông hương lý can ngăn, nếu không, chắc Thân cũng sẽ no đòn. -Thôi nào, các ông, các bà tìm cách chữa chạy cho cô Bẹ đi. Dù sao anh Thân cũng là người làng mình. Anh ấy đã có công đem cô Bẹ về đây. Bà con đừng trút giận vào anh ấy. Anh về đồn đi. Ông đuổi quầy quậy và du Thân ra cổng. Thân vứt hộp sữa xuống chõng rồi lụi cụi đi về chiếc cổng vòm trống rỗng của nhà mình, nơi trước kia hắn vẫn ngồi hàng giờ, có khi hàng ngày chờ đợi cái bóng cô hàng xóm. Hắn từ từ ngồi xuống và lặng lẽ khóc. Hắn khóc vì thương Bẹ và thương xót chính bản thân mình. Những giọt nước mắt nóng bỏng của hắn lã chã rơi xuống nền đất lạnh. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:02:36 am Chương 6 Nguyễn Văn Thường được biên chế vào đội " giao thông chiến", thuộc bộ đội tỉnh. Đội giao thông chiến có nhiệm vụ chuyên đi sâu tìm cách đánh những đoàn tầu, đoàn xe cơ giới của địch, vừa dìu dắt dân quân du kích đánh mìn trên các đường giao thông trong tỉnh. Nhiệm vụ này hết sức mới mẻ và nặng nề với một chiến sĩ xuất thân từ nông dân chân đất như Thường. Việc chặn đánh các đoàn xe, đoàn tầu không những cần tinh thần dũng cảm mà còn rất cần trí thông minh, mưu mẹo, cùng với một trình độ khoa học kỹ thuật nhất định. Chẳng hạn một quả mìn có cấu tạo như thế nào, cách bố trí ngòi và kíp nổ ra sao. Quan trọng nhất là làm thế nào để nó nổ đúng vào những mục tiêu mình muốn. Mục tiêu lúc ấy là những đoàn tầu quân sự, những chiếc tăng, xe cam nhông của địch. Tại sao anh Ninh lại chọn Thường. Cậu mới học hết sơ học yếu lược chứ nào có gì cao siêu đâu. Phải chăng anh đã nhận thấy khả năng sáng tạo của chàng trai thông minh này. Những ngày đầu đội giao thông chiến tập hợp lại, họ chủ yếu làm quen và học kinh nghiệm lẫn nhau. Đội có hơn hai mươi người được chọn từ các huyện Kim Thành, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Ninh Giang. Trong đó các chiến sĩ Kim Thành là nòng cốt. Thường có lẽ là một trong số ít chiến sĩ có tuổi đời trẻ nhất, mới vừa tròn hai mươi. Trong những ngày đầu làm quen đó, cậu Thường cứ ngồi tròn mắt nghe bậc đàn anh kể lại kinh nghiệm đánh giặc của mình. Mọi người nói nhiều đến anh Sáu Đậu. Anh nổi tiếng dũng cảm và được gắn cái danh hiệu "vua mìn" từ những ngày đầu kháng chiến. Anh thích uống rượu và thường nhắm với đậu phụ. Khi ra trận anh thường mang theo một nậm rượu và mấy cái đậu rán. Hôm ấy chôn mìn xong anh tìm một chỗ kín ngồi đợi giặc, tranh thủ bỏ rượu ra uống, Trước khi đi anh đã chuyển bị sẵn sáu tấm đậu xuyên vào dây treo lủng lẳng ở cổ. Nào ngờ vừa bỏ rượu ra thì giặc ập đến. Thế là mìn chả kịp giật, anh co cẳng chạy một mạch. Đến chỗ an toàn, anh ngồi thừ ra thở và cứ xuýt xoa: -Tiếc quá, sáu cái đậu rơi đâu mất rồi! Anh em trêu: - Cái đầu bố còn suýt mất nữa là mấy cái đậu. - Nhưng mà tao vẫn tiếc sáu cái đậu, đang định nhắm thì... Thế là từ đó anh được mang cái tên Sáu Đậu. Tuy xuất sứ từ câu chuyện hài hước như vậy, nhưng cái tên Sáu Đậu đã sống lâu dài cùng các chiến sĩ bộ đội và dân quân du kích địa phương. Cái tên ấy cũng đã làm cho địch khiếp sợ. Nếu ở đâu có Sáu Đậu là bọn chúng phải dè chừng, không dám hống hách, kẻo bị giật mìn. Một lần anh bị mắc khuyết điểm, đội trưởng phạt và giao hẹn, nếu anh treo được lá cờ của Việt Minh vào bốt giặc thì coi như đã sửa được khuyết điểm. Anh nhận lời. Suốt từ sáng đến tối, mọi người thấy anh nằm ì ở nhà, chả lo lắng gì việc treo cờ. Mờ sáng hôm sau, bọn địch trong bốt hốt hoảng kêu lên: -Ôi, sao lại có lá cờ đỏ sao vàng kia. Việt Minh đánh đồn rồi! Anh em mình nhìn quanh quẩn, chẳng thấy Sáu Đậu đâu. Lát sau thấy anh lững thững đi từ đồn giặc ra, trong bộ quần đùi, áo may ô. Hoá ra anh đợi bọn lính sáng dậy tập thể dục, hoặc đi vệ sinh, ra ngoài, anh trà trộn vào đó. Lúc ấy trời tranh tối, tranh sáng, chúng không chú ý. Anh đàng hoàng hạ lá cờ của chúng xuống, treo lá cờ của Việt Minh lên rồi thong thả đi ra. Chuyện ấy là thật hay giai thoại không biết nữa, nhưng bộ đội ở vùng này cứ thích kể với nhau như vậy. Ngày ấy ven đường Năm xuất hiện mấy ông "vua mìn". ở Bình Giang có Sáu Đậu, ở Kim Thành có Nguyễn Văn Thoà. Chuyện của anh Thoà do chính anh kể lại, nghe vừa buồn cười, vừa kinh kinh. Hồi đầu năm 1948 được trên cho biết giặc Pháp sắp chở một tiểu đoàn lính Âu Phi lên tiếp viện cho chiến trường đang bị sa lầy của chúng ở Việt Bắc. Trên chủ trương phải chặn đánh đoàn tầu tiếp viện này. Huyện đội Kim Thành giao trách nhiệm cho anh Thoà. Anh nhanh chóng tìm một vị trí thuận lợi, chôn một trái mìn 40 ki lô gam thuốc nổ, đón đánh đoàn tầu đi cướp nước nói trên. Quân báo của ta chỉ biết là có đoàn tầu ấy, nhưng không biết nó sẽ chạy vào ngày giờ nào, thành ra anh Thoà cùng một đồng chí nữa cứ phải mai phục chờ đợi. Họ chọn một gò đất cao, cách chỗ chôn mìn khoảng hơn trăm mét, đào một hố sâu, ẩn dưới đó đợi tầu. Ngày ngày năm, sáu chuyến tầu đi qua nhưng không được đánh, phải đánh đúng đoàn tầu chở tiểu đoàn lính Lê Dương. Hai người ôm cái bình điện ngồi dưới hầm gần một tháng trời. Mỗi đoàn tầu đi qua lại căng mắt nhìn qua kẽ lá để xác định mục tiêu. Gặp hôm trời mưa nước tràn vào lưng một hầm, phải chịu ướt vậy. Mấy ngày sau nước cũng vẫn không cạn. Ngồi mãi dưới căn hầm ẩm ướt ấy, người đồng đội của anh Thoà yếu sức không chịu nổi. Một hôm cậu nhăn nhó kêu đau bụng. Anh Thoà bảo: Cố chịu. Bây giờ lên là lộ đấy. Đêm nay cậu về nhà mà nghỉ, bảo đội trưởng thay người khác. Lúc sau người ấy nhăn nhúm mặt mày, ú ớ: Anh Thoà! Em không sao chịu được nữa. Em cho nó ra đây. Rồi vừa nghe tiếng "ụp" dưới mông anh ta, đã thấy ngập ngụa một thứ hơi chua, khắm, thối và lềnh bềnh những chất nhầy nhụa không được tiêu hoá đúng quy trình. Anh Thoà bịt chặt mũi, cố gắng gượng, nhưng rồi không thể gượng nổi, anh đã nôn thốc, nôn tháo, nôn đến cả mật xanh, mật vàng, nôn ráo vào áo anh kia. Hai người nhìn nhau, dở khóc, dở mếu. Đành phải chịu vậy. Bây giờ mà bò lên là toi mạng. Bọn lính lúc nào chả lảng vảng ở quanh đường. Thật may, chiều hôm đó đoàn tầu mà các anh chờ đợi đã lừ lừ chạy đến. Trên các toa, mỗi cửa sổ đều buông những tấm rèm xanh. Tuy vậy, nhiều toa bọn lính kéo rèm sang bên, thò cổ ra lố nhố. Chắc chúng rất muốn ngắm nhìn phong cảnh Việt Nam. Người đồng đội của anh Thoà mặt xanh như tàu lá, chợt sáng bừng lên. Anh ta nói như reo: - Anh Thoà ơi, nó đây rồi. Nó đang lao vào trận địa của ta. Anh sẵn sàng nhá. Một! hai!ba!...dí!...dí đi! Lập tức anh Thoà chập hai dây điện vào nhau. Một tiếng nổ đến long trời, lở đất. Một cột khói bốc cao ngùn ngụt. Đoàn tầu khựng lại, toa nọ lao vào toa kia, cùng nhau lật nhào xuống vệ đường. Nhanh như chớp, hai người nhảy ra khỏi hầm, chạy một đoạn rồi lăn ùm xuống mé sông đầy năn, lác. Lúc ấy bọn lính có tài thánh cũng không nhìn thấy họ, vì cái tiếng nổ long trời kia còn làm chúng hồn bay, phách lạc. Hai người vừa lặn, vừa trườn, lúc thì đội một cụm bèo, lúc thì quàng một cụm cỏ. Họ về đến đơn vị an toàn khi trời vừa xẩm tối. Cả một tiểu đoàn lính Lê Dương phải bỏ mạng. Chiến công của anh Thoà cùng đồng đội đã làm vang động cả một vùng. Quân, dân ven đường Năm nức lòng, hồ hởi. Quân tướng giặc thì hoảng hốt, âu lo. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:03:55 am Tuy bộ đội và du kích ven đường 5 đã giành được một số thắng lợi lớn, nhưng chiến thuật đánh mìn bằng cách ngồi dưới hầm giật dây, hoặc châm ngòi điện ấy không thể áp dụng được mãi. Thứ nhất là rất nguy hiểm cho người đánh mìn. Một lần máy dò mìn của địch đã phát huy tác dụng, chúng reo hò, toả ra xung quanh tìm người giật mìn. Trong trường hợp bị lộ này, các chiến sĩ ta được phép giật dây hoặc chập ngòi cho mìn nổ, mặc dù chưa có tầu, để thừa cơ tháo chạy. Nhưng không may cho tổ mìn ấy, bọn giặc đã cắt mất dây dí điện mà mìn không nổ. Lúc ấy anh em mới vội vàng tháo chạy. Giặc đã bắn chết mất hai người. Đó là cái nguy hiểm thứ nhất. Nguy hiểm thứ hai là, dù mìn có nổ rồi, đánh được tầu giặc rồi, nhưng chúng ta thường bị trả thù, mà chủ yếu là nhân dân phải chịu hậu quả. Mìn nổ ở đoạn nào thì dân hai bên đường đoạn đó bị hành hạ. Có khi chúng cứ bắn moóc chê bừa vào làng, có khi chúng cho lính lùng sục, bắt bớ. Chúng đã từng đốt sạch cả làng Phạm Xá. Đành rằng nhân dân sẵn sàng hy sinh cho kháng chiến, nhưng đó là sự hy sinh không đáng có. Thực tế ấy đòi hỏi bộ đội ta phải tìm cách nào vẫn đánh được giặc mà không ảnh hưởng nhiều đến dân. Cũng vì vậy mà trên thành lập đội "giao thông chiến". Hơn nữa, bọn giặc cũng ráo riết chống lại cách đánh mìn táo bạo của ta. Chúng lập vành đai trắng hai bên đường, mỗi bên cách 5 cây số không cho dân ở, bờ bụi, năn, lác đều được phát quang. Người đánh mìn khó lòng ẩn nấp. Vì vậy, việc tìm ra cách đánh mới là đòi hỏi bắt buộc của bộ đội Việt Minh.
Đội "giao thông chiến " của Thường bắt đầu ra trận. Trận đầu tiên không phải đánh tầu trên đường sắt, mà là đánh xe cơ giới trên đường bộ. Con đường Hai Mươi, từ Kẻ Sặt đi Phủ Vạc, bọn giặc thường dùng nhiều xe cơ giới qua lại. Nhất là bọn sĩ quan, thường tụ tập nhau ở nhà thờ Sặt bàn cách cướp bóc, bắt lính mấy huyện quanh vùng. Sau một tháng quan sát, đơn vị quyết định chọn đoạn đường gần chợ Phủ Bình. Đây cũng là trận đánh mở đầu của chiến thuật "nổ mìn không dây". Ngay sau khi thành lập đơn vị, người đội trưởng đề nghị anh em hiến kế để làm ra quả mìn không cần dây dẫn, không cần người dí điện, mà tự nó phải nổ khi có xe qua. Bài toán này thật sự hóc búa với các chiến sĩ vốn chỉ quen với cuốc, cày. Tuy vậy nhưng các cụ bảo " cái khó ló cái khôn". Hồi đầu kháng chiến du kích đường Năm đánh mìn bằng cách giật dây, nghĩa là phải dùng sức người để kéo căng dây cho kíp mìn và ngòi nổ chạm vào nhau, mà dây thì dài hàng hơn trăm mét, phải bí mật chôn sâu dưới lòng đất đến nửa mét. Vì vậy việc giật mìn rất nặng nhọc, thường phải có ít nhất hai người. Đầu dây buộc vào một đoạn tre, hai người cùng gánh lên vai, gò lưng kéo thật lực, mìn mới nổ. ấy là trường hợp dây chắc, không bị đứt. Nếu dây bị đứt, phải lần tìm dưới lòng đất để nối lại, thì công việc phức tạp hơn nhiều, không lộ bí mât thì cũng phải chờ ngày hôm sau, đoàn tầu khác đi qua mới đánh tiếp được. Nếu bị địch phát hiện thì trận đánh phải huỷ bỏ hoàn toàn. Khó khăn và cách rách như vậy nên các chiến sĩ đã nghĩ ra cách dùng "hòm điên". Chỉ cần mấy chục quả pin, làm thành hòm điện, chờ tầu địch chạy đến, người giữ hòm điện chập hai đầu dây vào nhau ( lúc đó các chiến sĩ thích dùng từ "dí điện" ), thế là mìn nổ. Thao tác đã nhẹ đi nhiều, có vẻ hiện đại hơn. Bây giờ chiến thuật "dí điện" không phù hợp nữa, nhất thiết phải tìm cách đánh khác. Hôm ấy đồng chí đội trưởng cho họp cả đơn vị để anh em thảo luận, tìm ra cách đánh mới. Anh nói: - Mục đích của chúng ta bây giờ là làm cho ngòi điện tự chập lại khi có xe chạy qua, không cần bàn tay người phải dí điện nữa. Một chiến sĩ nói: - Em nghĩ nên làm cái ngòi điện như cái nạng gẩy rơm ấy. Cùng một cây tre, tách một nửa làm đôi, còn nửa kia để nguyên, ở giữa có cái ngõng làm ngòi nổ. Cái nửa tách ra ấy buộc hai đầu dây điện, chỉ ấn nhẹ là nó chập với nhau. Mọi người vỗ tay: - Ừ, được đấy, sáng kiến đấy! Cả đội bàn luận một hồi lâu, hầu như đồng ý với sáng kiến trên. Đội trưởng cho làm thử. Thử đi, thử lại, thấy rằng hiệu quả không cao. Mười nhát thì đến bẩy nhát trượt, ngòi điện không chập nhau. Đội trưởng băn khoăn: - Kiểu này chưa nhạy lắm!... Cậu em út Thường mạnh dạn nói: - Theo em, vẫn làm giống như cái nạng, nhưng làm bề mặt to hơn, như cái nhíp nhổ râu ấy. Cái mỏ cặp phải to, cặp lại, chẳng trúng cái râu nọ cũng trúng cái râu kia. Anh em cười ré lên: - Chú em út này má còn búng ra sữa mà đã nhổ râu rồi cơ à. Không nhổ râu sao biết được. Thường thật thà phân bua: - Em biết. Hồi ở nhà, thầy em vẫn nhổ râu bằng cái nhíp to. Ông cứ lim dim mắt mà cặp, chả cần nhìn, râu vẫn bị nhổ hết. Còn bu em ấy à, có cái nhíp nhỏ xíu, mỗi lần nhổ lông mày đều phải soi gương mới nhổ được. - Cái thằng này ngốc thế. Nhổ lông mày mà không soi gương để tỉa tót, có mà hỏng à. Có phải nhổ trụi như nhổ râu đâu. Thường xấu hổ đỏ mặt. Nhưng ngay lúc đó người đội trưởng khen: - Chú em sáng ý đấy. Nếu ta làm to bản thì nó không bị trượt. Như vậy ta phải làm bằng gỗ chứ không làm bằng tre được. Anh hí húi vẽ lên giấy rồi cho làm thử ngay. Cái chập điện bằng gỗ hình chữ u ra đời. Thử nghiệm mười nhát, chập cả mười. Anh em mừng khôn xiết. Thường vừa được khen, lại vừa bị trêu: - Cái nhíp của thầy bu cậu thế mà được việc đấy. Mà sao thầy bu cậu làm đỏm thế? Cậu lớn bằng từng đây rồi mà bu cậu vẫn soi gương, nhổ lông mày, tớ chả tin. Hay là cậu nhìn trộm cô gái nào chứ gì? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:06:28 am Thường không cãi, lặng im nghĩ thầm: mấy anh này tinh thật đấy. Mẹ Thường ngoài bốn mươi tuổi rồi, răng đen nhưng nhức, lông mày lá liễu, chưa bao giờ bà tỉa tót. Cái nhíp nhỏ nhổ lông mày ấy là của mấy cô gái ở xã Kim Thanh. Hình ảnh các cô ấy đùa cợt, ngắm vuốt vẫn còn in đậm trong trí nhớ của Thường.Anh em đặt tên cho cái dụng cụ gây nổ hình chữ u ấy là cái "cạm điện".
Cái cạm điện do sáng kiến của những người lính nông dân ấy bắt đầu được áp dụng vào trận đánh xe cơ giới hôm nay. Cạm điện có rồi, mìn cũng có rồi. (Anh em tự làm ra mìn từ những quả đạn đại bác không nổ của địch). Nhưng làm thế nào để chôn được mìn và cạm điện vào mặt đường, nơi mà xe địch sẽ đi qua. Đây lại là câu hỏi đau đầu cho cả đội. Nếu chôn mìn từ đêm như mọi khi thì sáng ra nhất định bọn lính dò mìn sẽ lấy mất. Gần đây chúng được trang bị nhiều máy dò mìn hiện đại. Sáng sáng chúng rà đi soát lại mấy lần. Cho dù chúng không phát hiện ra thì mìn cũng chỉ nổ trúng những chiếc xe đi sớm, đa phần là xe đi chợ, chở thực phẩm cho những đồn lân cận. Đánh những xe ấy thì phí cả mìn. Cần đánh trúng những xe chở sĩ quan, hoặc vũ khí, đạn dược. Các chiến sĩ căng óc suy nghĩ. Cuối cùng họ đã tìm ra cách đánh táo bạo, hiệu quả cao. Cách đánh ấy chỉ các chiến sĩ "giao thông chiến" mới có thể nghĩ ra Đêm ấy mấy chiến sĩ bí mật ra đào mấy cái hố trên mặt đường, sâu xuống chừng năm mươi phân rồi đào xiên ngang về một bên. Chỗ xiên ngang ấy ta cứ gọi là cái hườm cho dễ hiểu. Họ đặt vào đó một tấm gỗ có kích thước đúng bằng trái mìn, rồi lấp đất lại. Miệng cái hố chính thì để nguyên không lấp. Xong đâu đấy họ tìm cách nhử cho bọn lính canh bắn loạn xạ rồi bỏ chạy. Sáng hôm sau đội quân dò mìn rà đi, soát lại những cái hố nham nhở ấy, chẳng thấy gì. Chúng lấy thuổng chọc sâu xuống cũng chẳng thấy gì, liền hí hửng nói với nhau: - Đêm qua bọn Việt Minh định chôn mìn đây. May mà lính canh kịp phát hiện, nếu không thì bọn mình vất vả đấy. Rồi chúng chỉ gạt sơ qua ít đất vương vãi xung quanh xuống hố, tiếp tục rà soát hết đoạn đường. Dò mìn xong, các xe cơ giới rầm rập chạy qua. An toàn tuyệt đối, chẳng còn lo lắng gì. Ban đêm chả chôn được mìn, ban ngày có mà tài thánh cũng chả làm nổi trước bao nhiêu con mắt có vọ của bọn lính từ các tháp canh. Chúng nghĩ như thế. Ấy vậy mà các chiến sĩ bộ đội Việt Minh còn tài hơn thánh. Trưa hôm ấy, khi mà bọn sĩ quan và lính tráng ở đồn Phủ chuẩn bị về phố Sặt để nhậu nhẹt, phè phỡn, họ mới ra tay. Hai chiến sĩ mặc quần áo giả làm đàn bà, vờ làm người đi chợ về, mỗi người gánh một gánh cám, đến đoạn đường đó họ giả vờ vấp phải hố va vào nhau rồi một người ngã, đánh đổ cám, vác đòn gánh định đuổi người kia. Người kia chạy được một đoạn rồi cũng vấp ngã. Thế là họ cùng ngồi xuống mải miết hót phần cám của mình. Nhìn từ xa thì tưởng vậy, thực tình lúc đó họ nhanh chóng rút dao găm dấu trong người, cậy miếng gỗ ra, đặt quả mìn thật cùng cạm điện vào đó, lấp qua loa rồi nhanh chóng rút. Mọi thao tác chưa đến ba phút. Thế là hai quả nìm đã nằm gọn trong lòng đường, chếch nhau chừng ba mươi mét. Nửa tiếng sau một chiếc xe Zép chở ba tên sĩ quan chạy trước bị dính ngay quả mìn thứ nhất. Xe lật nghiêng. Hai tên chết, một tên bị thương. Chiếc xe cam nhông chở lính đi ngay sát sau đó, thấy các sếp bị nạn, chúng hoảng hốt lắm. Chúng lên đạn bắn bừa phứa ra xung quanh. Tên lái xe sợ phía trứơc vẫn còn mìn, toan cho xe quay lại. Hắn lùi xe vào mé đường định quay đầu thì lốp sau dính ngay quả mìn thứ hai. Sau tiếng nổ đinh tai, chiếc xe bốc cháy ngùn ngụt. Bọn lính la ó, nhưng chẳng mấy tên sống sót. ở chỗ ẩn nấp, các chiến sĩ đội giao thông chiến ôm nhau vui mừng. Mừng vì hai xe giặc đã đền tội, mừng hơn nữa vì chiến thuật "cạm điên", hay còn gọi là "mìn tự động" và chiến thuật "hố không mìn" của họ đã thành công. Sau chiến thắng vang dội đó, tỉnh đội quyết định đặt phiên hiệu cho đội giao thông chiến là S20. Chữ S là ký hiệu con đường, còn số 20 là để ghi nhớ trận đánh thắng đầu tiên trên đường Hai Mươi. Thường rất thích thú với cái tên S20 đó. Vì năm ấy anh vừa tròn hai mươi tuổi. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:07:13 am Chương 7 Những năm 1949 - 1950, vùng châu thổ sông Hồng dường như chìm trong biển lửa. Giặc Pháp mở nhiều trận càn vào vùng đồng bằng trù phú này để vơ vét sức người, sức của. Hết trận càn Meduse (con sứa) lại đến trận càn Reptile ( con rắn), rồi lại trận càn Citron ( Trái chanh). Sau mỗi trận càn là hàng ngàn thanh niên bị bắt lính, hàng ngàn ngôi nhà bị đốt, hàng trăm người bị giết, trong đó chủ yếu là dân thường. Mỗi lần giặc càn tới, bà con làng Rồng lại kéo nhau chạy táo tác. Hồi mới kháng chiến mọi người bỏ làng đi tản cư, nhưng rồi nghĩ đến ruộng vườn, nhà cửa bỏ trống, chừng nửa năm sau họ lại lục tục kéo về. Phải bám lấy ruộng vườn để sống. Nếu Tây đến thì chạy. Nó cũng chẳng ở làng mình mãi được. Qua mấy năm kháng chiến, bà con có kinh nghiệm về việc chống càn. Trước đây làm được hạt thóc nào chúng cướp hết cả. Trâu bò, lợn gà cũng bị cướp mất. Không cướp được đi thì chúng đốt cháy hoặc đổ xuống sông, với mục đích cho dân kiệt quệ, đói khổ, không còn thóc để tiếp tế cho bộ đội Việt Minh. Bây giờ hầu như nhà nào cũng có hầm dấu thóc, có nhà đào hầm dấu cả trâu bò. Những nhà neo đơn không đào hầm thì gửi sang nhà khác. Buồng khe nhà nào cũng trống rỗng. Sáng nào bà Di cũng dậy sớm. Nhà chỉ có một mình với hai con chó già cùng một nái lợn sề,vậy mà ngày nào bà cũng dậy sớm để nấu cháo cho "cả nhà" ăn. Ông Di mất đi từ hồi còn Pháp thuộc, lúc bà mới ba mươi tuổi. Cậu con trai duy nhất, hai năm trước đã trốn bà đi bộ đội Việt Minh, từ đó đến nay chẳng thấy tin tức gì. Bà chỉ buồn mỗi một điều, giá mà biết nó đi tòng quân thì bà đã bán thóc may cho nó bộ quần áo mới, để được bằng anh, bằng em. Tháng trước, nghe chị em dưới làng Quát kháo nhau đã gửi được cho con là bộ đội ở mãi Ninh Bình, Thanh Hoá bộ quần áo gụ với đôi dầy vải, bà càng sốt ruột ngóng tin con trai mình. Sao chả thấy nó nhắn tin về xem ở đâu, mẹ biết mà gửi quần áo với dép cho. Sáng ấy, bà đang hí húi cho đàn lợn sề ăn thì nghe tiếng mấy bà háng xóm gọi: - Bác Di ơi, Tây nó càn đấy, bác thả hết lợn ra rồi chạy đi!... Tây càn ư? sao mà nó hay càn thế. Tháng trước đã phải chạy mấy ngày rồi. Hôm nay người bà mỏi mệt, cái đầu gối phải sao nhức buốt thế này, chẳng muốn bước nữa. Bà nghĩ bụng: Chẳng qua là chúng muốn bắt lính và vơ vét của cải chứ gì. Nhà mình chẳng có trai tráng, cũng chẳng có của nả. Nái lợn sề vừa mới cắn ổ này chắc chúng chả thèm bắt. Ngoài đường người ta nháo nhác giục nhau: - Chạy nhanh đi, chúng nó sắp đến nơi rồi đấy! Có tiếng ông Tư vọng vào: - Bà con chạy nhanh lên nhé! Tạm sang làng Gùa, không kịp thì ra cánh đồng Chằm ẩn nấp vào bờ bụi. Ai ốm đau không chạy được thì nhất thiết phải xuống hầm, đừng để chúng bắt được. Bà Di không biết rõ ông Tư làm gì cho làng mà cuộc càn nào ông ấy cũng giục giã dân làng như vậy. Ông lại gọi vọng vào nhà bà: - Bà Di ơi, đã đi chưa?! Bà đáp vọng ra: -Ầu, tôi đi đây, các ông, các bà cứ đi đi! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:09:47 am Nói vậy nhưng bà lại nghĩ " mình yếu đau thế này, nó chả bắt mình mà sợ, với lại chân đau quá, chạy làm sao được". Bà đặt ấm nước lên bếp, lẳng lặng ngồi đun. Ngoài đường tiếng chân bước rầm rập, rồi lại có tiếng kêu khóc nữa. Bà Di bắt đầu run. ấm nước vừa kêu o o chưa kịp sôi, bà đã dập lửa để ngồi im, nghe ngóng. Căn bếp thật nhỏ, chỉ có ba ông đầu rau với một đống tro tàn. Cạnh tường có một mô rạ mục. Tiếng chân chạy rậm rịch đã rất gần. Bà không đủ can đảm chạy lên nhà nữa. Mà có lên cũng chỉ vậy thôi, nhà trống tuyềnh,trống toàng, biết ẩn nấp vào đâu. Bà run sợ thật sự. Có tiếng chân bước cồm cộp ngoài sân. Rồi một khuôn mặt đen như than ngó vào. Nhìn thấy bộ mặt ấy, bà xuýt ngất xỉu, muốn hét lên mà chẳng ra hơi. Đó là thằng Tây đen cao, to lừng lững. Nhìn thấy bà, đôi mắt trắng dã của nó sáng lên, hàm răng trắng ởn nhe ra. Dường như hắn cười vơí bà. Hắn quay lại phẩy tay, ra hiệu cho bọn đằng sau đi lùng sục chỗ khác, rồi khom lưng bước hẳn vào gian bếp. Lúc này bà nông dân khốn khổ run lập cập, chắp hai tay lậy như tế sao:
- Con lậy ông, ông tha cho con. Con già yếu, ốm đau...lậy ông tha cho!... Bà khiếp đảm, mụ mị, chẳng biết gì, cứ nói theo phản xạ. Nhìn thấy cái báng súng và đôi dầy đen cồm cộp của hắn, bà cứ nghĩ rằng mình sẽ chết. Vậy mà tên da đen dường như đang khoái chí mỉn cười. Và ngay lập tức hắn vật bà xuống nền bếp. Váy áo của bà, hắn lôi roạt một cái, lẳng bừa ra cửa. Hắn chỉ bật mấy cái khuy quần lính của hắn, rồi kéo roãng đôi chân bà để thực hiện hành động của một con đực đang thèm khát. Hắn cứ ngồi trên bụng bà, nhong nhong như cưỡi ngựa. Một tay hắn vẫn nắm chặt khẩu súng. Tay kia hắn túm chặt cả hai tay bà ấn quặt lên phía đầu. Hắn cứ mắm môi, mắm lợi hưởng sự khoái lạc. Còn người đàn bà tội nghiệp thì mê man, oằn oại trong đau đớn và khiếp hãi. Chẳng biết là bao lâu, khi đã thoả mãn, hắn từ từ đứng dậy, ngó trước, nhìn sau. Xem chừng im ắng, không có gì đáng ngại, hắn tụt thốc quần áo ra, rồi cồm cộp bước đến chum nước mưa dưới gốc cau, vục nước dội ào ào vào cái thân thể đen bóng như cột nhà cháy của hắn. Rồi hắn đóng bộ lại nghiêm chỉnh, vác súng, lộp cộp chạy đi. Bà Di nằm thở thoi thóp như thở hắt ra. Lâu sau bà từ từ mở mắt. Bây giờ bà mới nhận biết điều gì vừa xẩy ra. Bây giờ bà cũng mới biết chắc mình còn sống. Toàn thân bà đau đớn không sao nhúc nhắc nổi. Bà muốn gào khóc để trút bớt nỗi uất ức, nhục nhã mà không khóc nổi. Bốn mươi hai tuổi, goá chồng đã hơn mười năm, cung cúc lam làm, giữ gìn phẩm hạnh, bà luôn nghĩ mình đã về già, không một người đàn ông nào nhòm ngó. Bản thân bà cũng không bao giờ tơ tưởng. Chỉ cần nghĩ đến chuyện đàn ông, đàn bà, tự nhiên bà thấy xấu hổ. Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái ba mươi tuổi đã toan về già, các cụ nói như vậy. Bà đã bốn mươi hai tuổi thì quá già rồi, chỉ sống cho con, thế mà hôm nay bà lại bị cái thằng Tây đen phải gió ấy nó hãm hiếp. Giời ơi, dân làng người ta biết thì để đâu hết nhục... Nghĩ đến đây, bà chợt nhớ rằng mình đang trần truồng, nằm chềnh ềnh trên nền bếp. Cắn răng lại, cố quên đau, bà ngỏm dậy tìm đống quần áo của mình. Nhưng bà vừa ngỏm dậy được, đã nghe tiếng dầy đinh lộp cộp chạy vào. Bà rú lên một tiếng, vơ vội đám rơm mục phủ lên người. Thằng Tây đen này chưa hết cơn thèm khát. Hắn lại nhe hàm răng trắng nhởn giữa hai vành môi đỏ lòm. Chắc là hắn cười. Người đàn bà hồn bay, phách lạc, đổ ụp xuống như một xác chết. Lần này hắn dựng súng cạnh bờ tường, đàng hoàng cửi cả quần ngoài, quần trong, rồi cúi xuống lôi người đàn bà ngẩng đầu dậy. Hắn dùng tay kéo hai môi bà chành sang hai bên rồi dí cái của nợ của hắn vào đó. Tay hắn giữ chặt mặt bà, lắc qua, lắc lại. Bà không biết hắn định làm gì, chỉ thấy ngạt thở. Bà cắn chặt hai hàm răng, nhưng bàn tay hộ pháp của hắn xoay xoả, bóp lặn thế nào mà rồi cái của nợ đen thui của hắn chui tọt được vào trong mồm bà. Theo phản xạ tự nhiên, bà oẹ ra. Bà oẹ thốc, oẹ tháo nhưng vẫn không đẩy được cái của nợ ấy ra. Tên da đen dường như rất thích thú khi bà oẹ. Bà càng oẹ, nó càng đẩy vào, day dí. Đến lúc chán trò ấy, nó lại lật ngửa bà xuống nền bếp, dùng hai mũi giầy, hất nhẹ hai chân bà lúc ấy đang mềm như sợi bún sang hai bên. Lần này thì nó đè cả tấm thân hộ pháp lên người bà, hưởng trọn khoái lạc. Bà đã ngất lịm đi từ lâu, nó vẫn không thôi. Nó nghĩ đây là cơ hội hiếm hoi giời cho nó. Từ mấy năm nay nó đâu được động đến đàn bà. May mà nó nhanh ý, đuổi được bọn đàn em, không thì chúng lại phải tranh nhau. Nó cứ hì hục nhấm nháp sự sung sướng, chả cần biết con cái ở dưới mình sống hay chết, chết cũng chẳng sao, miễn là thân nó sung sướng. Có lúc nó cũng mệt. Nó nghỉ lấy hơi mấy phút rồi lại tiếp tục hành lạc. Chỉ đến khi nó nghe thấy tiếng còi thu quân của sếp nó, nó mới chịu nhả con mồi ra một cách tiếc rẻ. Lúc ấy có lẽ đã ba giờ chiều. Như vậy nó đã xả láng đến mấy tiếng đồng hồ. Bây giờ vác khẩu súng lên vai, nó cũng thấy thấm mệt. Nó vừa đi, vừa nhìn lại căn bếp tồi tàn, chật hẹp. Người đàn bà nằm dí trên nền bếp, tưởng như đã chết rồi. Thằng Tây nó đi lúc nào bà cũng chả biết. Bà cứ nằm thoi thóp thở trong mê man. Mãi đến khi làng xóm lên đèn lâu rồi mà bà chưa tỉnh lại. Thấy căn nhà tối om om, hai người hàng xóm đốt đèn chạy sang. Họ không dám chắc bà còn sống, vì từ sáng đến chiều cả một trung đội lính da đen lùng sục ở xóm này. Không chết vì súng gươm thì cũng chết vì sự động đực của bọn chúng. Họ tìm hết ngoài sân, trong nhà rồi mới tìm đến bếp. - Ôi giời, bà ấy đây rồi, không biết còn sống hay chết! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:12:48 am Mấy người đàn bà đứng tuổi trong xóm được gọi đến. Họ xúm vào cứu người lâm nạn. Ôi sao mà nhầy nhụa thế, sao mà lắm đờm dãi thế. Họ xoa bóp bằng rượu, bằng nước gừng cho người bà ấm lại, rồi giục nhau đi nấu cháo. Nồi cháo chưa kịp sôi thì bà tỉnh lại. Vừa hé được mắt ra, bà đã nôn thốc, nôn tháo, nôn đến thắt ruột. Trong bụng bà nào có gì ngoài mấy hạt cháo loãng ăn từ sáng sớm, nó đã tiêu thành nước từ lâu. Bà cứ nôn, cứ oẹ, oẹ đến rách họng. Người ta đổ một thìa nước gừng, mong cái sự nôn oẹ kia cầm lại. Nhưng nước gừng cũng theo cơn nôn oẹ thốc ra. Chỉ đến khi mệt quá thiếp đi, cơn nôn oẹ mới ngừng. Không ai hiểu vì sao. Đêm ấy hai bà dòng dòng ngủ lại đó.
Hôm ấy là một ngày thê thảm của làng Rồng. Biết Tây càn đến, người nọ giục người kia chạy hoặc xuống hầm, thế mà vẫn có mấy người bị chết oan uổng. Đầu tiên là ông Trần Văn Năng. Ông là một nông dân chất phác, phải đi ở từ nhỏ, trước cách mạng vẫn là một người đi làm thuê cuốc mướn. Khi cách mạnh tháng Tám thành công, gia đình ông được chia một con trâu. Ông quí trâu như một báu vật. Bản thân ông có thể nhịn đói chứ ông không để trâu nhịn đói. Với một người nông dân thuần phác thì việc quí trọng con trâu là đương nhiên, vì con trâu là đầu cơ nghiệp của họ. Con trâu đực nhà ông Năng được chủ chăm sóc tận tuỵ nên nó ngày càng béo mộng, cày khoẻ, ngoan nết. Ông không sợ lao động vất vả, bởi từ nhỏ ông đã vất vả rồi, nhưng ông lại nhát gan, sợ chết. Nghe nói Tây đến, vội vàng ông chui tọt xuống cái hầm nhỏ ở bờ ao. Mấy thằng vừa Tây, vừa nguỵ xục vào, không tìm được gì, thấy con trâu béo mũm, chúng dắt luôn. Chúng bảo nhau: - Con này vừa luộc, vừa hầm, vừa sốt vang, bọn mình phải chén được hai ngày. Ông già đã ẩn kỹ rồi, nghe chúng nói vậy mới nhớ ra rằng mình vội quá chưa kịp lùa trâu xuống ao. Mọi khi thấy giặc đến, ông cứ lừa đại con trâu xuống cái ao bèo trước cửa nhà. Con trâu cũng rất khôn, cứ dìm mình ngập thủm, chỉ còn hở hai mỏm sừng với một cái mũi. Bọn chúng chả biết đâu mà lần, nên trâu và người đã thoát càn nhiều trận. Còn hôm nay không biết lú lẫn thế nào, ông không kịp thả trâu. Ông vội vàng nhào ra khỏi chỗ nấp. Mặc cho lưỡi lê, súng ống tua tủa chiã vào mình, ông nhào đến giữ lấy thừng trâu và lậy van: - Lậy các quan, tha cho con trâu này. Con trâu là tài sản duy nhất của nhà con! Mất nó, con sống làm sao được. - Lão già này, dám tiếc các quan Tây một con trâu hả? muốn ăn kẹo đồng à? Ông già vẫn khư khư giữ lấy thừng trâu, kéo trở lại, mặc dù biết rõ sự níu kéo của mình là rất mong manh. Chẳng để ý đến sự van xin của ông, một phát đạn từ họng súng nào đó nổ đòm, trúng vào ngực ông già. Ông lăn quay đơ ra đất. Bọn chúng thản nhiên dắt trâu đi. Người thứ hai chết thảm là ông Lê Văn Cao. Ông vốn hom hem, gầy ốm, quanh năm ở trong nhà. Lần nào có giặc đến cũng phải có người dìu mới chạy được. Lần này bà lão dìu, ông cũng không chạy. Ông bảo: - Bu mày cứ chạy đi, tao gầy ốm thế này, chẳng làm gì chúng mà sợ. Tao cứ nằm trên giường, vừa nằm tao vừa rên như người ốm nặng, chắc chúng nó hãi. Tao nghe nói chúng hãi người ốm lắm, vì người ốm dễ lây bệnh dịch. Ông làm thế thật. Ngày thường do sức yếu, hay sợ gió nên ông thường chít chiếc khăn đen. Hôm ấy ông cũng chít khăn đen, trùm chăn đến cổ, nằm rên hừ hừ. Hai thằng Tây đen đá tung cánh cửa liếp khép hờ, xông vào nhà. Chúng xì xà, xì xồ với nhau, rồi cùng bổ nhào về phía giường có người nằm. Thấy người đội khăn đen, chúng chắc mẩm đấy là đàn bà, nên dù nghe rõ tiếng rên của người ốm, hai tên này cũng cởi quần, tranh nhau nhẩy lên giường. Khi hất chiếc chăn cũ và lôi tuột chiếc quần nâu của ông ra, chúng mới biết đây là đàn ông, một con đực teo tóp, trơ xương xảu. Một thằng định xọc lưỡi lê vào bụng ông, nhưng thằng kia ngăn lại. Chính hắn dùng bàn tay hộ pháp lật úp ông xuống rồi vành hậu môn ông, cho cái dương vật cứng như sắt của hắn vào. Thằng kia cười khanh khách, nhưng rồi hắn cũng bắt trước làm thế, sau khi bạn hắn bỏ ra. Dường như chúng cũng tạm thời thoả mãn. Tiêu khiển xong, không ngần ngại, một thằng dùng lưỡi lê xiên luôn vào hậu môn người đàn ông xấu số. Ông Cao chết ngay sau mấy cái ngáp yếu ớt. Người thứ ba của làng Rồng chết một cách đau thương hơn. Đó là em Muỗm. Chẳng biết tên chính của em là gì, cả xóm vẫn gọi em là Muỗm, có lẽ vì em béo mũm mĩm như con muỗm. Em mới mười hai tuổi. Sáng ấy bố mẹ đi chợ vắng, Muỗm ở nhà với bà nội. Bà đã già, tai điếc, mắt loà. Khi người ta goi "tây càn đấy" bà cụ đang ở ngoài ao bèo, chẳng biết gì. Muỗm đang ngủ trên giường, nghe tiếng gọi mới giật mình tỉnh dậy, mắt trước, mắt sau tìm bà. Em lúng túng mãi không chạy kịp. Ba thằng tây đã vồ được em. Mặc dù em còn nhỏ, chỉ nhỉnh hơn con búp bê ở Pháp của chúng một chút, vậy mà chúng xấn xổ dằn em ngay giữa sân. Mặc cho em khóc, em kêu, không tên nào từ bỏ thú tính. Bộ phận sinh dục của em chưa phát triển, còn nhỏ xíu, làm thế nào để tiếp nhận sự cuồng loạn của những con sư tử đực này. Một thằng sáng kiến, dùng mũi lê rạch một nhát từ cái "giống" xinh xắn của em về phía sau. Máu chảy túa ra. Bọn chúng cười rú lên như cuồng. Rồi từng thằng, từng thằng thọc ngay cái vật truyền giống vào cái chỗ máu đang phun trào ấy. Muỗm thét lên khi mũi lê cứa đứt da thịt, rồi cứ thế lịm đi, không biết gì nữa. Khi cả ba thằng ngừng lại thì cô bé đã là cái xác nhầy nhụa máu. Làng Rồng nhao nhác trong tang tóc. Sau những tiếng khóc xé ruột, xé gan, xóm làng lặng phắc như vẫn đang mặc niệm. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:15:13 am Chương 8 Trận càn Trái quýt của giặc không chỉ bó hẹp trong phạm vi huyện Gia Lộc mà chúng còn mở rộng sang Thanh Miện, Bình Giang. Cả một vùng nháo nhác, người làng nọ chạy sang làng kia. Nếu giặc rút thì quay về, giặc đuổi lại chạy tiếp. Cũng có khi chúng dàn quân thành một vòng tròn rộng đến mấy xã rồi dần dần thắt chặt lại. Chúng gọi cách càn quét đó là cất vó. Cũng có những mẻ vó chúng bắt được cán bộ Việt Minh, còn đa số là lùa dân từ vùng nọ chạy sang vùng kia. Trong một cuộc chạy càn luẩn quẩn như thế, có một bà mẹ yếu ớt, địu trên lưng một đứa con nhỏ, gánh trên vai một gánh đồ nghề mà có lẽ là cả gia tài của chị. Đó lài cái cối xay bột và mấy cái khuôn ép đậu. Đến một ngã ba nọ, chị đang ngơ ngác tìm lối thì một viên đạn từ phía trước bắn tới. Chị khuỵ ngã rồi tắt thở. Đứa bé gái trên lưng nghêu ngao khóc, chốc chốc lại gọi "mẹ ơi". Không thấy mẹ thưa, nó cứ đập vào lưng mẹ. Nó khóc mỗi lúc một to. Chốc chốc nó lại gọi" mẹ ơi, đói", "mẹ ơi, ăn đậu cơ". Nhưng mẹ nó đã chết cứng từ lâu. Trời sắp tối, bọn lính đi càn ào ào chạy về doanh trại. Sanđa ì ạch chạy sau cùng. Xem ra ông lớn tuổi hơn đám lính nhiều, có lẽ đã gần năm mươi. Ông là người lính hậu cần, phục vụ trong quân đội Pháp đã hơn mười năm. Sức vóc ông phải chạy theo những cuộc càn cơ động như thế này quả là mệt mỏi. Chỉ còn nửa năm nữa là ông đến hạn giải ngũ, nên dù mệt mấy ông cũng cố theo càn để hoàn thành nhiệm vụ. Nghe tiếng khóc của trẻ con, ông dừng lại. Rồi ông đi đến tận nơi, nhìn rõ cảnh đứa bé đang ngu ngơ quẫy đạp trên lưng mẹ, Sanđa cúi xuống nâng người đàn bà dậy. Chị đã cứng đờ. Tần ngần nhìn đứa trẻ một lát rồi Sanđa dùng mũi lê cắt đứt những dây địu quấn quanh người bé, miễn cưỡng bế nó lên. Cô bé dường như khóc nhiều quá và đói quá nên chỉ một lát sau đã ngủ lịm trên tay Sanđa. Người lính da đen cao tuổi này bước đi chậm chạp sau đám lính một đoạn dài. Ông đang nghĩ cách đưa cô bé về doanh trại. Ông là một người lính được coi như lão làng trong cái đội quân viên chinh của Pháp. Tuy không có hàm cấp cao, nhưng ông được các chiến binh quí trọng. Những người có quân hàm và chức vụ cao hơn cũng nể nang nhiều. Chưa bao giờ ông làm gì mếch lòng họ, cũng chưa bao giờ vi phạm kỷ luật chiến trường. Việc mang một đứa bé người bản xứ vào doanh trại tất nhiên là vi phạm điều lệnh, nhưng ông sẽ nói khó với cấp trên và thương lượng với anh em cấp dưới, hy vọng họ sẽ thông cảm cho ông. Dù sao nó cũng là một con người cần được cứu sống, một linh hồn cần được chăm sóc. Về đến chỗ trú quân, Sanđa rón rén đi vào vị trí của mình, nhẹ nhàng đặt đứa bé xuống và ra hiệu cho bọn đàn em im lặng. Những tên lính trẻ tròn mắt nhìn Sanđa. Chúng hỏi ông: - Bố già cướp được ở đâu thế? Ông trừng mắt: - Láo toét. Tao nhặt được ở ngoài đường. Mẹ nó chết rồi. Có thằng nhẩy cẫng lên, biểu lộ sự khoái trá: - Bố già hăng thế. Bố làm bao nhiêu "tăng" mà mẹ nó chết vậy. Bọn trai tráng chúng con phải ba bốn thằng chung nhau thì may ra con đàn bà nằm dưới mới nghẻo. Bố khoẻ thật đấy, bái phục bố. Sanđa tức sôi máu, định giơ tay cho thằng đàn em hỗn láo một cái bạt tai, thì một thằng khác đã nói tiếp: - Mà bố lỉnh đi lúc nào nhanh thế không biết. Bọn con chạy rạc cẳng mà chẳng sơ múi gì. Đến đâu cũng chỉ gặp mấy thằng đàn ông già lụ khụ, có thằng râu dài quá ngực, chẳng nước non gì. Bực mình, con đòm cho mấy lão về chầu trời tất. Số bố thế mà đỏ, lại gặp được người đàn bà, con còn nhỏ thế này chắc còn trẻ lắm, thảo nào mà bố làm cho đến chết. Ha! ha! Chắc là bố khoái lắm rồi và cũng mệt lắm rồi. Còn đứa nhỏ này để phần chúng con, bố nhá! Một cái tát như trời giáng vào mặt tên vừa nói trong khi hắn đang há miệng sằng sặc cười. Hắn ôm mặt bổ nhào ra cửa. Sanđa quát lên với những thằng còn đang đứng ngồi lố nhố xung quanh: - Chúng bay câm mõm lại! Đây là con gái tao. Đứa nào động đến tao giết! Bọn lính nhanh chóng tản ra, rồi chúng ào ào chạy xuống bến sông vục nước tắm. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:16:11 am Sanđa vẫn chưa hết bực dọc với bọn lính trẻ ham ăn, háu gái như ngựa đực này. Chúng tưởng ông cũng càn rỡ như chúng chăng? Láo! láo quá. Chúng không biết rằng ngày ông còn trẻ, sức trai cường tráng, lúc nào cũng có hàng tá tiểu thư ríu rít bên mình, nhưng ông chẳng để mắt đến cô nào, cũng chẳng thèm bỡn cợt ong bướm. Lúc đó ông chỉ mê cô Mari, hoa hậu của tỉnh ông. Một thằng da đen, con nhà nghèo, làm phận tôi đòi, đi ở làm đầy tớ cho một công tước giầu có. Suốt ngày Sanđa phải gánh nước tưới nho, rồi rửa chuồng ngựa, rồi ô tô cho ông chủ, thế mà dám yêu cô chủ đến mê mệt. Mari đã quí phái, lại xinh đẹp. Biết bao chàng công tử rập rìu, vậy mà đúng năm 18 tuổi, sau khi đăng quang hoa hậu tỉnh Cans, cô nhận lời yêu cậu người ở, Sanđa. Một sự cố có thể nói là trời long, đất nở với ông bà chủ, nhưng do Mari tự nguyện và yêu Sanđa hết lòng, nên cậu đầy tớ được làm con rể. Mối tình say đắm và cao quí của Mari làm ông cảm động và tận tuỵ suốt đời với nàng. Hai người đã sống với nhau hơn mười năm trong hạnh phúc. Sanđa đã lao động hết sức mình để tạo dựng được một cơ ngơi riêng, không phải dựa vào gia đình vợ cùng số hồi môn của Mari. Những đắm say trong khoái cảm của họ dường như bất tận. Cuộc tình nào Sanđa cũng cố gắng hết sức, làm cho người đẹp sung sướng tột cùng. Mari luôn thoả thuê và mãn nguyện. Nàng muốn giành trọn tấm thân đẹp thư thiên thần của nàng cho Sanđa suốt đời để anh cũng luôn được thoả thuê như nàng, nên Mari quyết định không sinh con. Nàng không muốn vướng bận vì phải sinh đẻ và nuôi con. Ngày còn trẻ có lẽ Sanđa cũng muốn như vậy, nên rất đồng tình với vợ. Sau mỗi ngày làm việc, vợ chồng lại quấn lấy nhau trong chiếc giường tình ái của mình, chẳng muốn nghĩ đến việc gì khác. Từ ngày lấy Sanđa, Mari càng đẹp rực rỡ hơn lên. Bọn đàn ông không vì nàng đã có chồng mà xa lánh, ngược lại có những thằng dường như ăn phải thuốc lú, bùa mê, cứ xán đến bên nàng. Vì quá yêu Mari, có lúc ông mất tỉnh táo. Cách đây mười lăm năm, do một chuyện ghen tuông, Sanđa đã nện gẫy cẳng một tên công tử bột. Thế là Sanđa bị sung vào lính, đi khắp miền nam nước Pháp, rồi được đưa sang Việt Nam. Nàng Mari xinh đẹp rất đau khổ vì phải xa chồng, nhưng càng yêu chồng hơn, vì anh đã quá yêu nàng mà phạm lỗi. Sanđa rất ân hận vì phải để vợ sống một mình chừng ấy năm. Hôm chia tay, chàng nói với nàng trong nghẹn ngào:
- Em cứ việc hưởng trọn hạnh phúc mà cuộc sống giành cho con người. Từ hôm nay anh xin trả lại tự do cho em. Anh xin lỗi vì không thể gần em và hầu hạ em suốt đời. Mari nói trong nước mắt: - Anh đừng bỏ em. Không gì xoá bỏ được tình yêu em dành cho anh đâu. Em sẽ đợi anh đến khi mãn hạn. Nhất định anh phải sống và trở về với em. Trong chừng ấy năm, Sanđa vẫn nhận được tình cảm của Mari nồng hậu như hôm ấy. Nàng vẫn ở lại ngôi nhà của mình và ngong ngóng đợi chồng về. Sanđa tuyệt đối tin điều đó, cũng như ông tin vào tình cảm thật nàng đã dành cho ông thời thiếu nữ của nàng. Vào lính, ông bôn ba khắp bốn phương trời, gặp bao nhiêu đàn bà, con gái, nhưng chưa bao giờ ông thấy ham muốn. Nhiều nơi, thấy bọn lính da đen đến là họ khiếp sợ, bỏ chạy toán loạn, cả đàn bà lẫn đàn ông. Bởi vì bọn lính háu ăn như ngựa đực kia luôn làm càn, thấy người là hãm hiếp, từ bà già đến em nhỏ, thậm chí cả đàn ông, nên ông luôn bị vạ lây. Chẳng những dân bản xứ hiểu lầm ông mà ngay cả bọn lính tráng đồng nghiệp cũng hiểu lầm, tưởng rằng ông cũng sống bản năng như chúng nó. Nổi cáu một lúc rồi Sanđa dịu xuống. Thôi, mặc cha chúng nó nghĩ về mình thế nào cũng được, nhưng nhất định không để đứa nào động đến bé gái kia. Ban nãy cáu tiết lên ông đã nói với chúng là " con gái tao đấy". Thực tình từ lúc bế bé gái về đây ông vẫn chưa nghĩ đến điều ấy, ông chỉ nghĩ con bé tội nghiệp, cần cứu sống nó. Trẻ thơ nào có tội tình gì. Bây giờ thì ông biết phải nhận nó là con và phải chăm sóc nó như con gái thật, nếu không cái bọn lính phàm tục này nó sẽ nuốt sống cô bé mất. Trong lúc bọn lính ở bờ sông trở về, lục đục kéo nhau đi ăn bữa tối, Sanđa ngồi lại, lau rửa mặt mũi cho cô bé. Bé vẫn thiêm thiếp trong giấc ngủ, khuôn mặt hồng hào, giống hệt một búp bê. Sanđa chợt mỉm cười: mình sẽ tặng Mari món quà độc đáo này. Chắc là nàng cũng vui thích chứ? liệu nàng có nghi ngờ mình không? Không thể, vì đứa bé này hoàn toàn thuần chủng da vàng. Ôi, thật là thượng đế đoái thương đến mình, nên đã tặng vợ chồng mình một món quà quí. Sao chúng nó dám nghĩ mình "cướp" cô bé được chứ. Đúng là bọn quỉ sa tăng. Cướp tiền, cướp vàng, còn có thể, ai lại cướp đứa bé còn thò lò mũi làm gì. Trong cuộc chiến trinh này, giữ gìn lấy cái thân xác mình cho nguyên vẹn đã khó lắm rồi, lại phục dịch một đứa bé nữa chẳng quá vất vả sao, việc gì ông phải đi cướp kia chứ. Đây đúng là quà của thượng đế giành cho Sanđa và người vợ yêu quí của ông. Nhưng ngày mai bé thức dậy, liệu nó có vui lòng sống với ông không? biết làm cách nào để dỗ dành nó? Biết nói với ngài thượng cấp thế nào để giữ được con bé lại? Một loạt vấn đề đặt ra với Sanđa, làm cho ông lo lắng. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:18:42 am Chương 9 Những giọt nước mắt nóng bỏng của Thân lã chã rơi xuống nền đất lạnh. Hắn ngồi đấy rất lâu, dường như muốn hoá thành một tảng đá ở đó. Mãi đến khi bà thím của hắn vác cái bụng chửa to kềnh, nghềnh ngàng từ đâu đi qua, trông thấy hắn ngồi gục đầu, ôm gối, bà gọi toáng lên:" cháu Thân, cháu Thân! ốm hay sao đấy, về đồn mà nghỉ, sao lại ngồi đây?", Thân mới choàng dậy. Hắn đâu có ngủ mà chỉ ngồi nghĩ ngợi chiền miên. Giờ trở lại thực tế, hắn ngơ ngác như người vừa lạc vào thế giới lạ. Mọi thứ thật độc ác và đắng cay. Như người mộng du, hắn lẳng lặng đi về đồn. Không thể tưởng tượng nổi là Sôlny phu nhân vẫn đang đợi hắn ở cổng đồn. Hắn tròn mắt nhìn bà. Với hắn giờ đây ai cũng thành xa lạ. Bà hỏi nhiều câu bằng tiếng Pháp, thỉnh thoảng xen một câu tiếng Việt, nhưng Thân dường như không nghe và không hiểu gì. Hắn cứ gật đầu lia lịa cho bà phu nhân yên lòng và lừ đừ đi về chỗ của hắn. Đội Hai ở đâu đó chợt chặn ngang trước mặt hắn, hỏi: - Con nhỏ đó còn sống chứ? Bọn du kích có đến không? Theo quán tính hắn lại gật đầu lia lịa. Đội Hai hốt hoảng: - Thế mà chúng nó không gô cổ mày lại à? Hay mày đã làm phản? Mà sao bây giờ mày mới về? Thân lại gật đầu lia lịa. Tên Đội Hai giơ tay tát bốp vào mặt Thân: - Mày còn vác xác về đây làm gì, định dẫn bọn du kích vào đồn à? Cái tát của Đội Hai làm cho Thân choàng tỉnh. Hắn ú ớ nói: - Sao ông lại đánh tôi? - Mày làm phản, tao sẽ bắn bỏ, chứ chỉ tát thôi à? Thân đứng khựng lại với một thái độ bình thản, dửng dưng: - Ông bắn đi, bây giờ tôi cũng chỉ muốn chết thôi. Đội Hai có vẻ dỗ dành: - Thế du kích nó có đánh mày không, mày nói những gì với chúng? - Du kích nào? Tôi mà gặp du kích, tôi đã bắn vỡ sọ chúng nó rồi. - Hả? Sao vừa rồi...Thế làm sao mày lại muốn chết. Bọn Việt minh nó doạ hả, hay nó dụ dỗ? - Dân làng tưởng tôi làm cho cô Bẹ thế. Họ muốn đánh tôi. Rồi mặc cho tên Đội Hai vừa hoạnh hoẹ, vừa dụ dỗ, hắn lửng thửng đi về cái giường lính của hắn, vất cái thân nặng chịch xuống đấy. Solny phu nhân ngơ ngác trước những cái gật đầu lia lịa của Thân. Bà hỏi, cô gái có khoẻ không, anh có chuyển lời của tôi không, có bác sĩ đến khám không, Thân gật đầu thì bà hiểu cả. Nhưng bà hỏi rằng: anh làm sao mà mặt mày phờ phạc thế, từ đây đi đến nhà cô gái mất bao xa, cũng nhận được những cái gật đầu thì thật sự bà không hiểu nổi. Thực tình bà đang mong Thân về để chia sẻ với anh đôi điều. Không phải bà đứng đây từ sáng như Thân tưởng, mà ngay sau khi Thân cõng cô gái ra khỏi đồn, bà đã vội chạy về phòng. Hôm nay bà muốn thưởng cho chồng, vì Sôlny đã chiều theo lời đề nghị của bà. Bà lăng xăng rửa cốc chén, lấy nước sôi, chuẩn bị pha cho chồng cốc cà phê thật ngon. Solny thản nhiên đọc báo, nhưng vẫn để mắt quan sát từng động tác của vợ. Hắn biết nàng đang lấy lòng hắn. Thấy nàng rửa chén, hắn nhẹ nhàng dấu nhẹm ly cà phê đang uống dở xuống gầm bàn. Trong lúc nàng lo cho cô gái người Việt thì tên lính hầu da đen đã pha cà phê cho đồn trưởng rồi. Đó là bổn phận của những tên lính cận vệ, nhưng từ khi mang vợ đi cùng, chỉ khi nào nàng yếu mệt, hoặc vắng mặt thì người lính mới phải làm. Sôlny phu nhân vừa làm vừa khe khẽ hát. Nàng nhẹ nhàng đặt cốc cà phê trước mặt chồng và cúi xuống hôn nhẹ lên mái tóc bạch kim bồng bềnh của gã. Sôlny mỉm cười, vuốt nhẹ đôi tay nuột nà của vợ. Chợt nàng kêu lên: - Anh dùng cà phê rồi à? - Đâu có. Đấy là cốc anh uống từ đêm qua. Thấy vợ tròn mắt vẻ ngạc nhiên, Sôlny nhẹ nhàng giải thích: - Đêm qua, lúc em ngủ say rồi, anh trở dậy làm việc, có dùng một cốc cà phê. Sôlny phu nhân tin là thật, nàng âu yếm trách chồng: - Anh làm việc như vậy sẽ hại sức khoẻ lắm. Hôm qua chắc anh phải suy nghĩ nhiều. Hôm nay em muốn đền cho anh. Anh uống đi rồi...lên giường với em. Chúng mình sẽ dành cho nhau cả buổi sáng nay. đừng nghĩ đến điều gì nữa, anh nhé. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:21:07 am Sôlny lại mỉm cười. Gã vui lòng làm theo lời vợ. Việc ân ái với nàng có lẽ lúc nào cũng là ham muốn của Sôlny. Bởi vậy nên gã mới đưa vợ theo sang cái vùng đất nóng bỏng chiến sự này. Từ lúc ở Hà Nội về nàng luôn cáu kỉnh và lý sự với gã, đêm qua nàng giận dỗi, mặc dù gã đã hứa sáng mai sẽ thả tù binh, mà nàng vẫn không cho gã động vào người. Bây giờ nàng mời gọi, tất nhiên hắn sẵn sàng. Ôi chà, vẫn là thân hình ấy, da thịt ấy, mới "xa cách" có một đêm mà sao như mới lạ, hấp dẫn khác thường. Thực tình có một sự khác thường là hôm nay vợ hắn tự nguyện hiến dâng để tỏ lòng đền đáp sự nhượng bộ của gã. Nàng nồng nhiệt hơn, say mê hơn. Cửa phòng đồn trưởng đóng chặt từ sớm cho đến mười giờ trưa, khi cả hai đã thoả thuê, mãn nguyện. Mọi việc nếu dừng lại ở đó thì thế giới cứ mãi hoà bình. Khi niềm vui thân xác đã bão hoà, vợ chồng Sôlny bắt đầu trò chuyện. Mà ở giữa lòng cuộc chiến tranh, chiến sự đang nóng bỏng thì có câu chuyện nào gần gũi hơn là câu chuyện giữ lấy sự an toàn cho tính mạng. Vợ Sôlny bảo:
- Mình có thể xin về trước thời hạn không anh? - Nếu anh bị thương, hoặc bệnh nặng thì có thể. Nhưng sao em lại hỏi thế. Một sĩ quan như anh chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện xin rời quân ngũ. - Không phải rời quân ngũ mà mình xin về phục vụ ở nước nhà. Anh sẽ huấn luyện cho những người lính trẻ... - Em không thích nơi này sao? một vùng nhiệt đới ôn hoà, cây trái xum xuê. Nếu bình định xong Việt Nam, anh sẽ mua một đồn điền tại đây. Thỉnh thoảng chúng mình sẽ bay sang để trông nom cây trái. - Nhưng anh có tin rằng sẽ bình định được không? Em nghe nói nước Pháp đã phải tốn nhiều tiền của lắm rồi. Quốc hội cũng còn nhiều tranh cãi. Bây giờ đã phải dựa vào Mỹ rồi. - Chính vì có người Mỹ hậu thuẫn, nên anh tin rằng cuộc chiến tranh sẽ sớm kết thúc và chúng ta sẽ giành thắng lợi. Anh sẽ thực hiện được mong muốn của mình. - Hy vọng là như thế. Nhưng muốn có đồn điền ở đây anh phải đối sử tốt với người dân bản xứ. Sự việc như hôm qua đừng để diễn ra... Nói đến sự việc hôm qua, Sôlny bỗng thấy khó chịu. Dù sao hắn cũng phải chịu trách nhiệm về đoàn tầu bị đánh đổ trên địa phận hắn đóng đồn. Có nhiều việc không thể nói hết với vợ được, dù đó là người vợ hắn không thể rời xa. Thực tình hắn không muốn tha cho cô gái đó, nhưng vì vợ hắn gần như bị xốc, nên hắn muốn xoa dịu thôi. Nhắc đến cô gái ấy, Sôlny nói mát vợ: - Chắc là cô gái ấy cảm ơn em chứ?! - Em cần chi việc cảm ơn. Đó là lương tâm của em. - Hừ, thế nếu bọn Việt minh kéo đến đây đánh đồn, chúng nó trừ em ra chắc? Và em sẽ kêu xin chúng nó, hãy tha cho cả chồng tôi?! - Không. Em muốn rằng chúng ta không phải kêu xin, mà tự họ sẽ hiểu thiện chí của chúng ta. - Ôi, em yêu, em khờ quá đi mất. Nếu mà họ tự hiểu được chúng ta thì tướng Xa Lăng chẳng phải vất vả đưa bao nhiêu binh đoàn tinh nhuệ sang đây. Nếu tự họ hiểu được thiện chí của chúng ta thì cô gái hôm qua không nên bướng, không cần phải chịu đòn đau như vậy. - Nghĩa là bắt được bất cứ người dân Việt Nam nào anh cũng đòi hỏi họ phải nói rõ chỗ ở của Việt Minh ư. Giả sử bây giờ họ bắt được bất cứ người dân Pháp nào cũng yêu cầu phải cho biết bộ chỉ huy quân đội Pháp ở đâu, không nói được thì họ có quyền đánh, hoặc giết à? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:21:50 am Sôlny có vẻ bí, gã cáu:
- Sao em cứ bênh bọn người bản xứ này thế nhỉ. Em không đứng về phía người Pháp được sao? - Hãy khoan nói đến chuyện em đứng về phía nào. Anh hãy trả lời câu hỏi của em đi đã. Bây giờ thì Sôlny cáu thật sự. Hắn là một sĩ quan quân sự, không phải nhà chính trị, càng không phải là nhà ngoại giao. Hắn cao giọng nói bừa: - Câu trả lời của anh là: người Việt Nam là loại người lạc hậu, họ không có quyền bắt bất cứ một người Pháp nào như em giả sử đâu. Hơn nữa, họ là dân thuộc địa cứng đầu, cần phải dùng vũ lực để giáo dục. Em đã hiểu chưa? Vợ Sôlny cũng bắt đầu cao giọng: - Nhưng chúng ta là những người văn minh, sống ở một đất nước dân chủ, có pháp luật bảo vệ quyền lợi của mỗi người, chúng ta không thể hành động như những người trung cổ, không thể đối xử với con người man rợ như loài cầm thú được. Anh dám bảo em không đứng về phía nước Pháp ư, vậy mà em phải từ bỏ cánh đồng nho thơm ngát, từ bỏ lâu đài cổ kính đầy tiện nghi để đến đây sống trong cái lô cốt tồi tàn, nóng bức với anh, đấy là vì cái gì? Anh nghĩ như vậy, em sẽ điện về Pháp cho ba em ngay bây giờ và cũng vĩnh biệt anh luôn. Sôlny vội ôm choàng lấy vợ. Gã sợ cơn nóng giận đi quá đà, vợ hắn về thật thì dầy dà cho hắn. ở cái xứ xở vừa bụi, vừa nóng này, lại bao nhiêu nguy hiểm đang rình rập, có gì vui thú đâu. Chỉ cần tưởng tượng vài ngày không có vợ bên mình, hắn đã thấy hoảng sợ rồi. Hắn vừa ôm vợ thật chặt vừa dịu giọng: - Anh xin lỗi, đoá hoa cẩm chướng của anh! Hãy tha lỗi cho anh. Mấy ngày qua chiến sự nhiều vấn đề nan giải, anh hơi căng thẳng nên không kiềm chế được. Em nói đúng, dù sao chúng ta cũng không nên đối sử dã man với con người. Rồi hắn vục đầu vào ngực vợ, nũng nịu như con nghé con khi bú mẹ. Sôlny phu nhân ban nãy đã rơm rớm nước mắt, nhưng câu nói vừa rồi và hành động làm lành đáng yêu của chồng, bà vui lòng tha thứ. Tuy sóng gió đã qua, tình cảm vợ chồng đã trở lại bình thường, nhưng trong lòng bà đồn trưởng vẫn còn đọng lại những nỗi niềm khó tả. Bà muốn giải toả lòng mình, muốn chia sẻ với ai đó. Bà nghĩ đến anh lính đưa cô gái Việt về sáng nay, muốn trò chuyện với anh và cũng muốn biết rõ tình hình ở trong làng để tìm cơ hội giúp chồng bà nhanh chóng bình định được nơi đây. Nhưng tên Thân đã không trả lời bà mà chỉ gật đầu như cái máy làm bà thêm ngơ ngác và rối trí. Nhìn thấy tên Đội Hai trò chuyện với Thân, bằng cả một cái tát nặng tay, tự nhiên bà ớn lạnh trong người. Bà không thích tên Đội Hai từ lâu, bây giờ quan sát cư xử với đồng loại như vậy, bà ghê sợ và muốn tránh xa con người đó. Sáng hôm sau Sôlny phu nhân cho viên thông ngôn mời Thân lên để bà trò chuyện. Nhưng rất lạ lùng, không thể tìm thấy Thân ở trong đồn. Chẳng một ai biết Thân đi đâu và đi từ lúc nào. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:23:57 am Chương 10 Cô Bẹ nằm mê mệt, suốt một ngày không mở mắt. Ông thầy lang ở xóm bên được mời đến. Ông bắt mạch, kê đơn và lau rửa những vết thương cho cô. Xã đội trưởng cho người mang thuốc bổ và đường sữa đến. Anh vẫn bồn chồn vừa lo lắng, vừa cảnh giác. Bẹ còn sống là may rồi. Nhưng sao chúng nó lại tha cho cô. Liệu có phải vì quá đau đớn, không chịu nổi đòn roi nữa nên Bẹ đã đầu hàng? Hay chúng thả cô về để thăm dò Việt Minh. Có thể chúng nhử mồi để giăng lưới chăng? Nhiều câu hỏi đặt ra trong đầu người chỉ huy du kích xã, thành ra anh không dám ra mặt đến thăm mà đành phaỉ cử người khác thay mình. Đợi cô Bẹ tỉnh lại xem binh tình thế nào đã. Sáng hôm sau thì Bẹ tỉnh lại. Tỉnh lại nhưng cô cũng chưa thể nhúc nhắc nổi chân tay. Hơn một ngày, một đêm rồi, cô chưa được hạt gì vào bụng. Lại phải chịu sự hành hạ quá tàn bạo của quân thù, cô còn đâu sức lực. Ngoài nỗi đau đớn về thể xác, còn nỗi đau về tinh thần, về danh dự lại lớn hơn nhiều. Vừa he hé mở được mắt ra, cô cất tiếng gọi " mẹ ơi", bà mẹ ngồi bên vừa cất tiếng thưa thì hai dòng nước mắt Bẹ đã chảy ra chan chứa. Rồi cô lại nhắm nghiền mắt lại, mặc cho nước mắt cứ chảy không ngừng. Bà mẹ ngồi bên vừa sụt sùi, vừa lau nước mắt cho con. Bà gượng gạo nói cứng, như muốn xoa dịu nỗi đau của Bẹ, nỗi đau mà chỉ người mẹ mới cảm nhận hết: - Thôi, con hãy nén lòng. Sa vào tay giặc mà còn sống được là may lắm rồi con ạ. Dân làng ai cũng thương con. Câu nói để động viên, an ủi của mẹ, chẳng ngờ càng làm cho Bẹ đau lòng hơn. Cô nấc lên như muốn tống hết những tủi hận ra ngoài. Vài ngày sau thì Bẹ tỉnh hẳn và có thể ngồi dậy được. Vẻ mặt cô đã tươi tỉnh nhiều. Anh em, bà con lần lượt đến thăm. Ai cũng thông cảm với cô và nguyền rủa quân giặc độc ác. Người mà Bẹ mong nhất là đồng chí xã đội trưởng, sao anh không đến để Bẹ báo cáo tình hình, hay anh cũng bị bắt rồi? Không nén được nữa, cô hỏi mẹ: - Mẹ ơi, từ lúc con về, có thấy anh Sang đến chơi không ạ. - Không đâu con ạ. Mà từ hôm ấy đến nay mẹ cũng chẳng gặp anh ấy ở đâu. à, có gói quà anh ấy gửi cho con đây. Gói quà được mở ra. Bẹ tìm thấy một mảnh giấy ghi vài chữ: Cô Bẹ cố gắng bồi dưỡng cho chóng khoẻ. Chúng tôi sẽ đến thăm cô sau. Bẹ gấp tờ giấy lại, càng thấy phân vân, khó hiểu. Thực tình lúc ấy Bẹ không nghĩ được nhiều, không biết rằng các anh cẩn thận để tránh hy sinh không cần thiết. Đây là vùng tề, đa số bà con ngoài mặt thì nhún nhường chịu sự cai quản của địch, nhưng thực tâm vẫn một lòng ủng hộ kháng chiến. Tuy vậy, còn một số người ham sống, sợ chết, cam tâm làm mật thám, làm tay sai cho giặc, nên việc cẩn thận chẳng bao giờ thừa. Hơn nữa thời gian này bọn chúng đang ráo riết lùng sục cán bộ Việt Minh. Vậy đồng chí xã đội trưởng phải tạm thời lánh mặt là hoàn toàn phù hợp với tình hình. Có điều đồng chí không hiểu được tâm trạng một du kích trẻ vừa rơi vào tay giặc, phải chịu sự hy sinh quá lớn về phẩm hạnh, lúc này cần sự động viên an ủi đến thế nào. Bẹ không thể chia sẻ với ai về việc đánh đoàn tầu giặc của mình. Việc ấy chỉ có một mình xã đội trưởng biết. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:26:41 am Mấy hôm sau nữa Bẹ mạnh dạn hỏi mẹ:
- Mẹ có nghe người ta nói về đoàn tầu bị đánh mìn thế nào không? Chắc là bọn Tây nó chết nhiều lắm, mẹ nhỉ. - Ừ, nghe nói chúng nó chết hết cả, năm, sáu chục tên cơ đấy. Đáng đời chúng nó. Con cũng bạo thật. Lần sau đi đâu phải bảo cho mẹ biết nhé. - Thế mẹ cũng biết là con làm việc ấy à? - Biết chứ. Cả làng người ta cùng biết. Vì thế nên ai cũng thương con. - Ôi, thế mà con cứ tưởng chỉ mình con biết thôi. Con chỉ là vai phụ, chỉ làm ám hiệu. Còn vai chính trong trận đánh là hai anh bộ đôi. Một anh bị chúng bắn đuổi, không biết có thoát không. Một anh bộ đội cũng bị bắt, bị đánh đau lắm, mẹ ạ. Không biết bây giờ anh ấy ở đâu, còn sống hay đã bị chúng đánh chết rồi. - Đánh nhau với giặc thì tránh sao khỏi hy sinh. Cái anh bị bắn ấy không chạy thoát đâu. Nghe nói du kích đã chôn cất cho anh ấy tử tế. Chỉ khổ nỗi, các anh ấy chết đi chẳng có người thân thích nào bên cạnh. Con có biết tên các anh ấy là gì không, để mẹ kiếm bát cơm, quả trứng, thắp cho các anh ấy nén hương. - Một anh tên là Dũng, một anh tên là Nam. Mẹ cứ khấn cho cả hai anh, mẹ ạ. Bà Thu thắp hương, xì xụp khấn vái, căn nhà vấn vít khói thơm. Rồi bà Thu chợt hỏi con: - Hôm ấy cậu Thân cõng con về, trên người con có phủ một tấm khăn bông to, đẹp lắm con ạ. Mùi nước hoa còn thơm nguyên. Nhiều người cứ hỏi tấm khăn ấy là của ai, mẹ chẳng biết trả lời thế nào. Thằng Thân mấy hôm nay cũng không thấy bén mảng về đây mà hỏi. Con có biết cái khăn ấy là thế nào không? - Con chết ngất, có biết gì đâu. Mà mẹ đừng nhắc đến cái tên Thân ây nữa. Còn cái khăn, mẹ cứ vứt xuống ao kia là xong, để chẳng ai phải hỏi han đến nữa. - Đừng con ạ. Dù cái khăn ấy là của thằng Thân hay của ai, thì đó cũng là điều tốt. Con thử nghĩ mà xem, nếu không có cái khăn ấy phủ kín người con, cả làng này sẽ nhìn thấy con trong bộ dạng hở hang, dơ dáy. Mẹ nghĩ chưa chắc thằng Thân đã có chiếc khăn đẹp như thế đâu. Mình cứ giữ lại, sau này của ai sẽ cảm ơn người ta. Với lại có vất đi thì dân làng cũng biết rồi. Cái khăn in toàn chữ Tây. Mấy ông già còn đọc được đấy. Họ bảo cái khăn này có chữ du lịch Mác Xây. Họ cứ xì xào, mẹ cũng khó chịu lắm. Cứ như mẹ nghĩ thì người Tây cũng có người tốt. Cái bọn hung hăng đi bắn giết ấy thì chẳng nói làm gì, nhưng mà cũng có những người dân thường chứ. Trên đồn có người dân Tây nào không, mẹ cứ mong thằng Thân về để hỏi cho rõ. Còn hộp sữa thì mẹ vất đi rồi, kẻo sau này có kẻ lại bảo mình ăn sữa của Tây. Cô Bẹ còn rất trẻ. Cô rất hồn nhiên và hăng hái trong cuộc đánh Tây này, nên không thể hiểu rằng rồi đây chính cái khăn bông của Pháp kia đã làm phiền cô đến mức nào. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:27:41 am Chương 11 Sau khi Thường đi rồi, Đỗ Ninh cũng được điều lên bổ sung cho bộ đội tỉnh. Sau mấy năm kháng chiến, bộ đội tỉnh đã lớn mạnh lên về mặt tinh thần chiến đấu và chiến thuật đánh địch. Tuy nhiên do một số trận đánh được tàu giặc trên đường sắt, đánh được xe địch trên đường bộ, bẻ gẫy một số trận càn của địch ở vùng nông thôn, lãnh đạo từ tỉnh đến huyện đã sinh ra chủ quan, khinh địch và nôn nóng muốn đánh thắng nhanh. Đó là một sai lầm đáng tiếc. Địch đã tập trung lực lượng bình định bằng được vùng đồng bằng. Chúng ra sức mua chuộc những phần tử cơ hội, những phần tử bất mãn với Việt minh, cả những phần tử cầu an để bảo toàn tính mạng. Chỉ trong hơn một năm, chúng đã lập tề được hầu hết các thôn làng trong toàn tỉnh. Cơ quan đầu não của tỉnh phải bỏ địa bàn, di chuyển lên Đông Triều, thuộc tỉnh Quảng yên. Lực lượng bộ đội tỉnh có lúc cũng bật khỏi địa bàn, hầu hết là án binh bất động. Giặc đến chủ yêu là rút xuống hầm và dấu kín vũ khí để bảo toàn lực lượng. Đỗ Ninh đã chấp hành lệnh trên, cho bộ đội rút xuống hầm nhiều lần, lòng anh buồn bực và đau xót. Đã vậy chúng cứ đánh hơi thấy bộ đội ta ẩn nấp ở đâu là chúng quây càn nơi đó. Trong trận càn mang tên Con rắn, chúng đã moi hầm, bắt được nhiều cán bộ, bộ đội đang ẩn nấp. Hôm ấy Đỗ Ninh cùng đơn vị đang ở xã Cổ Bì, huyện Bình Giang. Anh đang cùng ba chiến sĩ khác đi trồng khoai với bà con ở ngoài đồng, bỗng có tin báo giặc càn tới. Anh định chạy về dấu tư trang, nhưng thấy chúng nhấp nhô ở đầu làng đông quá, mà trong tay anh lại chẳng có vũ khí gì, với lại có cũng không được đánh, nên anh không về nữa. Anh bảo ba chiến sĩ mỗi người tản ra một ruộng rồi nằm xuống dõng khoai. Có cái gì phủ tạm được lên người để nguỵ trang thì cứ phủ, chẳng hạn như quang sảo, dây khoai, hoặc cây cỏ ở xung quanh. Địch vây ở trong làng, chúng không chú ý đến ngoài ruộng. Chẳng hiểu sao chúng lại moi được cả hầm bí mật của ta. Mấy cán bộ chủ chốt của huyện bị bắt. Lại có cả một đồng chí nguyên là tỉnh đội trưởng tỉnh đội Hưng Yên trên đường về khu Ba nhận công tác cũng bị chúng bắt được. Có lẽ mẻ vó của chúng quá nặng rồi nên chúng không lùng sục thêm nữa. Do vậy mà Đỗ Ninh cùng mấy anh em thoát nạn. Nhưng thoát chết mà anh lại buồn như sắp phải xa lìa cuộc sống. Đơn vị tập trung lại còn có mấy người. Một số dân quân du kích, lực lượng nòng cốt của địa phương cũng bị bắt cả. Dân thường nhiều người bị vạ lây. Nhà ai có hầm bị đào lên, chủ nhà liền bị bắt, chống cự là chúng bắn liền. Xóm làng xơ xác, tiêu điều, lạnh lẽo như một bãi tha ma. Từ lúc giặc rút đi đến tối sẫm, hầu như chẳng ai nói với ai, dường như bị cấm khẩu tất cả. Đến bữa, chẳng ai nghĩ đến ăn. Từ ruộng khoai về nơi trú quân, nhìn căn nhà bị lục soát tiêu điều, Đỗ Ninh ứa nước mắt. Anh ngồi gục bên hè, hàng tiếng đồng hồ không nhúc nhích. Bà chủ nhà của anh thoát nạn, nhưng bà cũng buồn rười rượi, vì bao anh em, người thân bị giặc bắt đi cả rồi. Bữa tối, bà nấu cơm rồi gọi các chiến sĩ: - Anh em phải ăn vào mà lấy sức. Hôm nay nó bắt, nó giết mình, thì ngày mai mình phải đánh lại nó chứ. Chả nhẽ cứ chịu thế này mãi được ư? Đỗ Ninh như bị cứa vào tim. Thà chết giữa chiến trường, còn hơn sống mà uất hận thế này. Nhưng biết làm sao, lệnh của trên là án binh bất động. Kỷ luật chiến trường, không phải chuyện chơi. Tối ấy, trước khi nhận được lệnh cho đơn vị rút sang địa bàn khác, Ninh ra bờ sông ngồi nhìn dòng nước chảy xuôi mà lòng như xát muối. Dòng sông quê hương đã nhuộm máu bao chiến sĩ, đồng bào... Đang chìm trong đau khổ, giằng xé thì đột nhiên có một giọng phụ nữ trong trẻo, như làn gió thoảng giữa không gian: - Anh gì ơi, sao mà buồn đến thế. Em gọi anh ba lần rồi. - Gọi tôi à? có việc gì mà gọi tôi. - Có đấy ạ. Em muốn được ngồi với anh cho có nam, có nữ ấy mà. Dào ôi, không biết ở đâu mọc ra cái cô này. Đùa pha không đúng lúc. Người ta đang đau thương, tang tóc thì cô ta lại bỡn cợt gió trăng. Ninh gắt gỏng: - Cô là con cái nhà ai? Đêm tối thế này, đi ve trai à? Đi chỗ khác nhá. ở đây không có con trai đâu. chỉ có con hổ đực thôi. Tưởng là cô ta sẽ tự ái mà bỏ đi, ai ngờ cô lại cười ré lên, vẻ thích chí và càng xán đến gần hơn: - Ôi giời, may quá, em đang muốn ngồi gần con hổ đực, bởi vì em là hổ cái mà. Mấy khi có một đôi hổ ngồi ngắm cảnh trên bờ sông nhỉ! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:30:29 am Đỗ Ninh chồm dậy, định cho cô gái một cái tát thật đau, vì cô ta dám bỡn cợt anh vào cái lúc ruột gan bầm dập này. Nhưng vừa quay lại, cô gái đã đứng sát bên cạnh, nở nụ cười tươi như hoa, lại một mùi thơm dịu mát phảng phất toả ra từ đầu tóc, hay quần áo không biết nữa. Chỉ biết rằng cánh tay cứng như thép của Đỗ Ninh vừa định giơ lên thì bỗng mềm oặt. Dù trời đã nhá nhem tối nhưng vẫn đủ để anh nhìn rõ gương mặt đẹp lộng lẫy của cô. Anh thở dài đánh thượt rồi lê những bước chân nặng chịch về nhà. Vừa đi anh vừa ném lại một câu đầy vẻ liều lĩnh:
- Ma ở đâu lại hiện ra vào lúc này! Cô gái không buông tha anh mà bám theo ngay sát gót. Giọng cô càng có vẻ trêu trọc: - Có anh là ma ấy. Chắc hôm nay bị các quan Tây săn đuổi dữ, nên hoảng hốt chứ gì, gặp tiên lại cứ nghĩ là ma. - Tiên á, chắc cô là tiên vừa hiện từ âm phủ lên ám tôi?. Không ngán đâu nhá! Đây là chấp hành quân lệnh, nếu không thì các quan Tây nhà cô thành ma hết. Đừng tưởng thằng này nhát gan. Ô, mà cô theo tôi làm gì thế. Cô là gián điệp của Tây à, muốn bắt nữa phải không? Đừng tưởng bở thế nhá. Chúng tôi còn cả một đại đoàn ở đây. Bây giờ cô về nhanh may chăng còn kịp, kẻo tôi hô anh em ra bây giờ, lại không có đường về. Đỗ Ninh cứ vừa đi vừa nói, chẳng biết để doạ cô ta hay để an ủi chính mình. Mùi thơm mát dịu từ đầu tóc, từ quần áo cô gái lạ cứ vấn vít theo anh. Giữa thời buổi loạn lạc đầy chết chóc này, tệ hơn nữa là ngay giữa bãi chiến trường chưa tan khói súng này, lại có một cô gái diện dàng, xa xỉ như vậy, nếu không phải là người của địch thì chắc là ma thật. Còn dân thường ở đây tất thảy đều áo nâu, chân đất, làm gì có loại người tóc buông xoã sau lưng, lại sức nước hoa thơm phức ấy, ăn nói thì bạo dạn, trả miếng đôm đốp, nhất là lại bám trai dai như đỉa này, hẳn là loại gái làng chơi. Ôi giời, ăn phải thuốc lú hay sao mà lại đi chim giai ở cái nơi đang tang tóc thế này. Ngữ ấy có cho không " tao" cũng chả thiết, huống lại còn... Bụng bảo dạ như thế, nhưng rồi lại nghĩ, từ thuở bé đến giờ, mình chưa trông thấy cô nào xinh như thế, cũng chưa thấy cô nào có cái mùi thơm như thế. Hay cô ta là tiên thật!? Đỗ Ninh cứ bộn rộn với những suy nghĩ ấy, chân đã bước quá cái cổng về nhà trọ mà anh không hay. Thình lình cô gái lại lên tiếng: - Anh đi lạc lối rồi. Nhà anh ở phía sau cơ mà! Chưa chi đã nhầm lẫn, còn đánh giặc làm sao. Cô ta lại khích mình, tức thật. ừ thì mình nhầm cổng, nhưng liên quan gì đến chuyện đánh giặc. Muốn trêu tức, cho tức một thể. Anh quay lại, bất thần, chộp lấy tay cô gái, bóp mạnh. Giọng anh rít qua kẽ răng: - Sao cô biết tôi không đánh giặc được, hả? Cô có muốn tôi tống giam ngay bây giờ không. Cô đang làm gì cho giặc, hả? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:32:02 am Cô gái bị Ninh giật cánh tay một cách bất ngờ, vừa mất đà, vừa sợ hãi, cô đổ gục ngay vào người anh. Cái mùi thơm mát dịu, cùng tấm thân mềm mại áp sát ngay bên mình làm cho Đỗ Ninh gần như ngạt thở. Anh không hiểu nổi tâm trạng mình lúc đó, vừa như muốn nổi giận, lại vừa như muốn làm lành. Anh nhẹ nhàng đỡ cô gái đứng ngay ngắn lại. Cô gái lùi ra xa, giọng như hờn giận:
- Ôi dào, thế mà vẫn bảo bộ đội Việt Minh yêu quí nhân dân lắm. Những điều tôi nói không đúng hay sao mà anh cáu? Rồi đột nhiên cô thay đổi thái độ, giọng cô đanh gọn: - Nói cho anh biết, bây giờ tôi chính là chỉ huy của anh đây. Ninh giật mình, nghĩ bụng: chỉ huy cái con khỉ. Cái ngữ đàn bà như cô mà chỉ huy, thảo nào cứ thua mãi. Rồi anh cũng bình tâm hỏi lại: - Cô nói thật à? - Anh đúng là một anh chàng võ biền. Các cụ đã dậy: thua keo này, ta bày keo khác. Chưa chi đã mất hết tinh thần như vậy, chỉ tổ hao tổn sức lực mà thôi. Tôi nhận là người chỉ huy anh thì cũng hơi quá, nhưng mà tôi là người truyền lệnh cho anh. Lệnh đây. Anh về nhà mà đọc, có báo cáo gì với cấp trên thì mang ra cho tôi. Tôi chờ anh ở chỗ bờ sông ban nãy. - Hả, thế ra cô là... - Tôi là tôi. Anh tưởng rằng tình hình căng thẳng thế này, các đồng chí du kích của anh, dù là nữ du kích, lại có thể qua được sự kiểm soát của chúng à? Cô quay người, thoăn thoắt đi xuống bờ sông. Đỗ Ninh ngây người nhìn theo. Bản mật lệnh trong tay anh vẫn còn run bần bật. Ôi chao! đúng là thánh chứ chẳng phải ma, mà cũng chẳng phải tiên. Đang lúc mất liên lạc vì bộ chỉ huy vừa bị tóm gọn, định rằng đợi trời tối hẳn, anh sẽ cho bộ đội rút sang bên kia sông theo kế hoạch cũ. May mà cô ta đến kịp. Theo mật lệnh, anh phải cho anh em quay trở lại nơi xuất phát, sẽ hội quân với đại đội 5, nếu qua sông như kế hoạch cũ, sẽ bị địch phục kích bắt hết. Anh báo cáo vắn tắt tình hình rồi dán chặt bì thư, trở ra bờ sông tìm cô gái. Cô đang ngồi vuốt mớ tóc dài, giống như một cô nữ sinh đang đợi người bạn trai đầu đời vậy. Đỗ Ninh rụt rè: - Báo cáo đồng chí cấp trên, tôi... đã chấp hành xong mệnh lệnh... Đây là báo cáo của tôi! - Lúc nãy anh là con hổ đực. Bây giờ trở thành con thỏ rồi à? - Xin lỗi đồng chí cấp trên, hôm nay tâm trạng tôi đang bất ổn, đồng chí thông cảm, bỏ qua cho thái độ vừa rồi. Mạn phép tò mò, dám hỏi đồng chí quê ở đâu ta? - Lại vi phạm nguyên tắc bí mật rồi. Cứ theo như anh nghĩ ban nãy thì tôi ở âm phủ lên chứ ở đâu. Cô gái đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra trước mặt Đỗ Ninh, dịu dàng nói: - Tạm biệt nhé. Chúc anh may mắn! Đỗ Ninh nắm chặt bàn tay ấy không muốn buông ra. Anh muốn phút giây này kéo dài mãi. Hoá ra mình là một thằng ngu. Lúc nãy nàng dịu dàng, ỏn hót: Em muốn ngồi với anh một lúc... Thế mà mình lại cáu. Chắc cô ta phải là gái Hà Nội hay Hải Phòng, hoặc là đang hoạt động bí mật ngoài thành phố nên mới thơm tho thế. Có lẽ tình hình căng thẳng lắm, cấp trên mới phải dùng một liên lạc sang trọng thế này. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 15 Tháng Tư, 2009, 09:33:41 am Trận càn Con rắn của chúng kéo dài đến một tuần. Đây là chiến thuật mới của địch. Trươc kia chúng thường chỉ càn quét trong ngày, tối là rút quân về, kết thúc trận càn. Nay chúng lùng sục suốt một tuần liền, cứ rà đi, soát lại, làm cho ta hoàn toàn mất khả năng đối phó. May mà bộ đội ta vẫn án binh bất động và tìm cách tránh đụng độ với chúng nên thiệt hại chưa ở mức cao. Thực tình, nếu xuất đầu lộ diện lúc này có thể hả được nỗi uất ức, nhưng tổn thất sẽ là rất lớn, có thể sẽ bị xoá sổ hoàn toàn. Chúng đang ráo riết đi tìm để diệt mấy tiểu đoàn chủ lực quân của ta ở vùng châu thổ Sông Hồng. Bởi vậy cấp trên chỉ đạo, nếu có đụng độ với cuộc càn này thì chỉ là du kích. Bộ đội tuyệt đối không được tham gia, mục đích vẫn là để bảo toàn lực lượng. Được quán triệt như vậy, nhưng Đỗ Ninh cảm thấy mình đã sống những ngày vô nghĩa. Anh sốt ruột muốn mang quân ra trận, dù có hy sinh cũng thoả lòng.
Sự sốt ruột của Đỗ Ninh đã được giải toả. Giữa năm 1950, cơ quan đầu não của tỉnh đã trở về nội địa bám dân. Nghe nói tỉnh uỷ đã có cuộc họp rút kinh nghiệm và tự phê bình sâu sắc. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh đội đi dự hội nghị tổng kết Chiến dịch biên giới về, đã đem lại một luồng gió mới cho bộ đội, du kích địa phương. Một hôm Đỗ Ninh được triệu tập về tỉnh họp gấp. Cuộc họp được tổ chức ở Thanh Hà, nơi còn một xã duy nhất không có đồn bốt địch. Đồng chí tỉnh đội trưởng phổ biến chủ trương mới của tỉnh là phải tập trung phá hệ thống tháp canh, hương đồn của giặc để "mở đất", giải phóng các làng mạc mà chúng đã chiếm của ta. Đỗ Ninh thở phào: có thế chứ. Mình là chủ mảnh đất này từ lâu cơ mà. Trận đầu ra quân, đơn vị anh đánh một đồn nhỏ ở Tứ Kỳ. Khí thế của anh em hăng lắm. Sau bao ngày nằm im, nay mới được trút giận lên đầu giặc. Hăng thì hăng vậy, nhưng vũ khí mình ít, lại rất thô sơ. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có tiểu liên và súng trường. Hôm ấy bọn địch đang ngủ thì bị quân ta tấn công, chúng bị động nên sợ hãi, chẳng dám chống cự gì. Tưởng là chắc thắng, cứ đua nhau reo hò "xung phong", nhưng lợi dụng đêm tối, chúng rút hết quân lên bốt bong ke cố thủ. Súng trường của ta thật sự chẳng còn tác dụng gì. Rồi chúng lại dùng điện đài gọi quân tiếp viện từ các đồn xung quanh đến. Thế là bộ đội đành phải rút lui. ức muốn chết được. Mà lại còn xấu hổ với nhân dân nữa chứ. Nhưng đau xót hơn nữa là địch vin vào đó để tàn sát nhân dân. Mấy làng quanh đồn lại bị chúng đốt phá và bắn giết. Về đến đơn vị rồi, Đỗ Ninh cứ ôm đầu, vật vã. Anh muốn tự tra tấn chính mình. Thật tình anh không có lỗi khi nôn nóng muốn đánh giặc, muốn đuổi chúng khỏi quê hương. Nhưng anh không có vũ khí đủ mạnh, và cũng chưa nhiều kinh nghiệm. Đang tự dằn vặt mình thì đồng chí liên lạc báo cáo đồng chí tỉnh đội phó sắp đến, Đỗ Ninh vội đứng lên vuốt lại quần áo cho chỉnh tề. Tỉnh đội phó sầm sập bước vào: - Anh Ninh đâu? Trận đánh của anh kết quả thế nào, có nhổ được cái gai đi không. Anh biết đó là câu hỏi mỉa mai và có ý phê bình của cấp trên. Chẳng là vì trước đây nhiều lần Đỗ Ninh đề nghị cho đánh cái bốt ấy, trông nó như cái gai trước mặt. Anh đứng nghiêm chỉnh, nói dõng dạc: - Báo cáo đồng chí, cái gai này nó cắm sâu quá. Anh em chúng tôi chưa nhổ được, xin nhận khuyết điểm. Đề nghị tỉnh đội cho chúng tôi được làm lại. - Ý đồng chí là muốn đánh lại lần nữa phải không?. Bây giờ chúng nó cảnh giác cao rồi. Hơn nữa dân tình xung quanh đang khốn đốn. Bây giờ cậu đưa quân đến đấy chắc là dân họ đuổi ra. - Chính vì thế mà tôi càng phải đánh tan cái đồn ấy để tạ lỗi với dân. - Cậu làm đến đại đội trưởng rồi mà thiếu chín chắn thế. Thảo nào cô Thắm cô ấy bảo cậu là một tay võ biền. Thôi, dẹp cái ý đồ làm lại của cậu đi. Bây giờ cậu hãy suy nghĩ cho thật kỹ, thật nghiêm túc, tìm ra ưu, khuyết điểm của trận đánh rồi viết báo cáo gửi lên trên, để tỉnh đội tổng kết, rút kinh nghiêm chung. Tớ đợi báo cáo của cậu trong ngày hôm nay. - Xin chấp hành mệnh lệnh, nhưng thưa đồng chí, đồng chí vừa nói đến cô Thắm nào thế? Sao cô ấy lại biết tôi? - Cậu quên cô ấy rồi hả? Cái cô vừa là tiên, vừa là ma ấy! Trận đánh đêm qua của cậu, cô ấy cũng biết rồi đấy. Đồng chí tỉnh đội phó đi rồi, Đỗ Ninh buông phịch người xuống ghế. Anh cảm thấy choáng váng hơn cả lúc thua trận đêm qua. Cô ấy ở đâu mà vẫn cứ theo dõi mình thế nhỉ? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:07:16 am Chương 12 Theo chỉ đạo của tỉnh đội, Đỗ Ninh ngồi viết lại những nhận xét về trận đánh. Về ưu điểm, quân ta hăng hái, dũng cảm, quan hệ với nhân dân rất tốt, được nhân dân giúp đỡ nhiệt tình. Về khuyết điểm, ta chưa nắm rõ tình hình địch, đặc biệt ta chưa có vũ khí lớn để có thể làm sập lô cốt của chúng, hơn nữa, ta chưa đề phòng lực lượng quân tiếp viện của chúng. Mới phác thảo ra mấy nét cơ bản về ưu, khuyết điểm, Đỗ Ninh đã nhận ra mình thua trận là điều tất yếu. Giả sử anh có vào được trong đồn, mà chúng gọi quân tiếp viện ở ba hướng đến thì anh vẫn bị tóm gọn. Bởi vậy tự anh đã tìm ra hai yếu tố cơ bản, quyết định sự thắng lợi cho trận đánh, báo cáo gấp lên trên. Một là cần bổ sung cho đơn vị một loại vũ khí có sức công phá lớn, để có thể đánh sập những bức tường dầy của lô cốt. Hai là trong lúc mũi chính tấn công vào đồn, thì cần tổ chức mấy mũi phụ cũng tấn công vào các đồn lân cận, mục đích là ngăn đi tiếp viện. Bản báo cáo của Đỗ Ninh được ban chỉ huy tỉnh đội thảo luận kỹ và bổ sung thêm nhiều chi tiết. Cuối cùng đồng chí tỉnh đội trưởng kết luận: - Tôi quyết định giao cho đại đội của đồng chí Đỗ Ninh đánh thí điểm một trận nữa. Vũ khí mạnh chúng ta còn ít lắm. Nghe nói ở chiến khu Việt Bắc giáo sư Trần Đại Nghĩa mới chế tạo được loại súng có tên là ĐKZ, đây là súng đại bác không giật, có sức công phá lớn. Nhưng mới sản xuất được ít lắm, chỉ để phục vụ chiến trường chính thôi. Mới đây tôi được các đồng chí quân giới của quân khu gửi cho mấy quả mìn lõm, loại này cũng có sức công phá lớn, có thể đánh sập lô cốt. Tôi đã cho xưởng quân giới của tỉnh nhà theo mẫu đó mà chế tạo ra hàng loạt.Đồng chí Đỗ Ninh dùng thử xem kết quả thế nào. Mong rằng lần ra quân này đồng chí không làm chúng tôi thất vọng, không làm mất lòng tin của nhân dân. Đỗ Ninh vui sướng vô cùng. Như vậy là cấp trên vẫn tin tưởng anh. Tỉnh đội có đến năm đại đội cơ động, vậy mà sau trận thất bại của anh, tỉnh đội trưởng vẫn muốn dành cho anh một thời cơ lập công. Vui hơn nữa là kế hoạch của anh đã được bàn luận kỹ và đi đến thống nhất, lại được cấp mìn có sức công phá lớn. Gần như anh chẳng còn vướng mắc gì trong việc giành thắng lợi. Từ cuộc họp về, Đỗ Ninh bắt tay ngay vào chuẩn bị. Lần này đơn vị anh không đánh ở Tứ Kỳ mà chuyển sang Gia Lộc. Anh lấy hai trung đội mạnh tập trung đánh đồn chính, hai trung đội khác chia nhỏ, kìm hãm các ngả đường, bắn doạ các đồn xung quanh, nhằm ngăn chặn quân tiếp viện. Bố trí lực lượng xong, dường như Đỗ Ninh tin chắc chắn mình sẽ thắng, anh đang thong thả lau lại khẩu súng, chuẩn bị tối đó ra trận thì cậu liên lạc ở đâu chạy về, cầm theo một đôi giầy vải. Cậu sốt sắng nói: - Có người gửi cho anh đôi giầy! - Người nào? ở đâu? - Em không biết ạ. Em được cậu liên lạc của tỉnh đội chuyển cho. - Tỉnh đội à? Để anh xem nào! Ai lại biết mình đang buồn... mà hạ võng thế này! Mở cái gói ra, thấy ở giữa đôi giầy vải màu xanh mới tinh có một mảnh giấy, trên đó ngả nghiêng mấy chữ " Tôi ở âm phủ hiện lên biếu anh đôi giầy. Chúc anh thắng trận", anh bàng hoàng, gai hết cả người. Giời ạ! Cái cô này là ai mà gớm thế, biết cả những cái quá "riêng tư" của mình. Hôm đánh đồn lần trước, do hăng máu, anh đã ém sát vào chân hàng rào cạnh đồn giặc. Chúng cố thủ trong lô cốt không chịu ra, anh tức đến đổ máu mắt. Gần sáng, nghe tin quân tiếp viện của chúng kéo đến đông, anh đành cho bộ đội rút lui. Một mình ở lại khống chế bọn trong đồn cho anh em chạy xa rồi anh mới đuổi theo. Gấp quá nên anh bị tuột mất một chiếc dép xuống ao. Thế là phải chạy một chân không về. Từ hôm ấy đành phải đi cọc cạch, một chiếc dép, một chiếc giầy cũ của anh em nào đó thải ra. Bộ đội ngày ấy phải tự túc quần áo và giầy dép, đa phần là mang từ nhà đi, hoặc gia đình gửi cho. Một số anh em chỉ đi chân đất, chẳng có dép, cũng chẳng có giầy. Có anh sáng kiến lấy bẹ chuối khô làm dép, hoặc nhặt những mảnh giẻ rách quấn vào hai bàn chân. Vậy Đỗ Ninh đi một chân giầy, một chân dép cũng là tốt quá rồi, có gì mà phải bận tâm. Vậy mà làm sao cô ta cũng biết. Có thể là anh em kháo chuyện. Nhưng biết thì biết việc gì cô ta phải mua giầy gửi cho mình. Phiền phức quá đi. Mình nhận thì đâm mắc nợ cô ta, mà không nhận thì... cô ta lại nghĩ ngợi. Ngẫm nghĩ một lúc, Đỗ Ninh thoáng mỉm cười: Hoá ra nàng để ý đến mình rồi đây. Được người đẹp chú ý kể cũng khoái, nhưng mà...cũng phiền. Đánh giặc bị thua, chạy mất dép mà cô ta cũng biết mới chết chứ. Cô ta lại còn chúc mình thắng trận. Ôi dào, lần này mà thua nữa thì có mà mặt mo. Anh ngồi nghĩ ngợi và ngắm nghía đôi giầy vải rất lâu. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:09:03 am Lần này đơn vị chuẩn bị chu đáo hơn. Đúng mười giờ đêm, khi bọn giặc đang giấc ngủ say thì các anh nổ súng. Bọn địch lúng túng một lúc, rồi cũng bắn trả quyết liệt. Nhưng nghe tiếng hò reo và tiếng hô xung phong mạnh mẽ của bộ đội ta, chúng cũng rút vào trong bốt boong ke cố thủ. Chắc chúng rút kinh nghiệm cái đồn ở Tứ Kỳ bị tấn công cách đây nửa tháng. Đỗ Ninh hạ lệnh quăng trái mìn lõm vào trong bốt. Quả nhiên một mảng tưởng dầy bị sập. Giặc hốt hoảng gào thét ầm lên. Thừa cơ, anh vừa cho lính bắn tỉa, vừa bắc loa gọi hàng. Anh nói trong loa rằng, chủ lực quân của Việt Minh đã có mặt trên địa bàn Hải Dương, đang đồng loạt tấn công các đồn. Mau chóng ra hàng thì sẽ được khoan hồng, ngoan cố sẽ bị tiêu diệt hết. Bọn giặc nghe được những lời này, bán tín, bán nghi. Nhưng chúng gọi cứu viện đến ba đồn xung quanh thì đồn nào cũng trả lời đang bị Việt Minh tấn công. Thế là chúng tưởng thật, vội lốc nhốc kéo nhau ra hàng để bảo toàn mạng sống. Bắt trói hết bọn chúng rồi, anh mới thấy lúng túng. Bây giờ làm thế nào với cái bọn lính nguỵ này? Người mình đã ít, lương thực phải nhờ dân, thế mà lại phải nuôi chúng, phải cử người canh giữ chúng. Chi bằng thả quách chúng ra cho rồi. Nghĩ vậy, anh bảo đồng chí liên lạc chạy về báo cáo, xin ý kiến tỉnh đội. Lãnh đạo tỉnh đội đồng ý cho thả tù binh, nhưng yêu cầu phải giáo dục nhanh cho chúng hiểu chính sách khoan hồng của Việt Minh. Được! Gì chứ giáo dục, tuyên truyền thì anh làm tốt. Vốn có cái giọng vang như chuông, lại rất giàu vốn từ ngữ, Đỗ Ninh có thể diễn thuyết hàng ngày, không cạn vốn. Người ta bảo nghe anh nói đến con kiến ở trong lỗ cũng phải chui ra, huống gì những thằng lính nguỵ ham sống, sợ chết này. Sau khi được nghe giáo dục một buổi sáng, mấy chục tên lính nguỵ được thả ra hết. Thằng nào muốn đi đâu tuỳ ý, có thể về quê, có thể trở về những đồn bốt lân cận, hoặc muốn theo bộ đội đánh giặc càng tốt. Đa số lính nguỵ trở về quê. Một vài tên quay lại đồn bốt giặc. Bọn này tự nhiên trở thành cái loa sống tuyên truyền cho Việt Minh. Chúng nói với đồng nghiệp, nào là Việt Minh có đại pháo, bắn sập đồn, nào là quân của họ đông như kiến, có hàng đại đoàn ở đây. Họ bắt được lính nguỵ chẳng bắn, giết thằng nào, tha hết. Lính tráng ở những đồn lân cận bắt đầu giao động. Chúng bảo nhau: phen này Việt Minh đánh đồn, bọn mình nhanh chóng ra hàng để sớm được về với vợ con.
Tin chiến thắng ở Gia Lộc, tuy chỉ là lấy được một cái đồn nhỏ, nhưng cũng làm nức lòng nhân dân quanh vùng. Bao lâu nay họ tưởng bộ đội không đủ sức đánh giặc, nên ngán ngẩm. Bây giờ không những đã đánh được đồn, bắt gọn lũ giặc, mà bộ đội còn trụ lại với dân, không bỏ đi như trước. Cả một vùng mấy xã được giải phóng, được tự do đi lại, còn gì phấn khởi bằng. Đỗ Ninh sau một đêm chiến đấu và một ngày lao động cật lực, tối hôm sau anh mới được nghỉ.Tháo đôi giầy bê bết bùn đất, anh bỗng nhớ đến người con gái xa lạ mà thân thương kia. Bây giờ nàng ở đâu? ta đã thắng trận rồi đấy, nàng biết chưa. Cảm ơn đôi giầy của nàng. Đôi chân ta dường như khoẻ hơn, chạy nhanh hơn vì nó đấy. Nàng ở đâu? Giá mà nàng gặp ta một tý vào lúc này?! Rồi anh chìm dần vào giấc ngủ với một bóng thiếu nữ chập chờn. Sớm hôm sau, Đỗ Ninh lại được triệu tập đi họp. Thành tích của đơn vị anh nhất đinh được tuyên dương rồi. Nhưng cuộc họp này không phải để tuyên dương công trạng, mà để giải quyết mấy vấn đề cấp bách. Một là xử lý hội tề ở địa phương như thế nào. Hai là rút kinh nghiệm trận đánh để ta mở đợt tấn công các đồn bốt khác. Về vấn đề thứ nhất, đồng chí tỉnh đội trưởng phổ biến tinh thần nghị quyết của tỉnh uỷ để các đơn vị nắm được mà thực hiện. Mấy năm qua, giặc bình định vùng này, làng xã nào cũng có ban tề, hội tề, có nơi chúng còn thành lập ban tề vũ trang. Trên nhận định là trừ một số tên việt gian, phản động, còn đa số nhân dân vẫn âm thầm hướng về kháng chiến. Những người đứng ra làm ban tề cho giặc, chẳng qua cũng chỉ vì giữ yên cuộc sống cho dân làng thôi. Bây giờ mình đánh đồn bốt, giải phóng cho họ, nhưng chưa khảng định mình trụ vững được bao lâu, nên tỉnh uỷ chọn cách ứng xử là cứ để nguyên các ban tề. Nhân dân cứ tiếp tục dùng thẻ mà bọn giặc đã cấp để đi lại. Nếu ta mở rộng vùng giải phóng, bọn giặc không liên hệ được với ban tề ở những nơi này, thì tự nhiên ban tề sẽ vô hiệu hoá, chẳng phải xoá cũng tan. Như vậy vừa không làm xáo trộn đời sống nhân dân, vừa lôi kéo được những phần tử chưa giác ngộ, không gây thù oán cho ai. Những người dự họp đều thấy rõ trên ứng xử như vậy là rất sáng suốt. Đến vấn đề thứ hai, tỉnh đội trưởng yêu cầu Đỗ Ninh báo cáo và đề xuất những gì cần thiết cho trận đánh mới. Đỗ Ninh chẳng có sổ sách giấy tờ gì, anh đứng lên nói vo một mạch, đến nửa tiếng đồng hồ. Hội nghị im phắc. Anh tổng kết thành ba vấn đề: Một: Phải có vũ khí mạnh. Hai: Phải chuẩn bị lực lượng rung doạ các đồn xung quanh, không cho chúng tiếp viện Ba: Phải khuyếch chương chiến thắng, làm cho binh lính địch giao động, sẵn sàng rời hàng ngũ. Anh nói xong, đồng chí tỉnh đội trưởng nhận xét: - Đồng chí Ninh đúc kết ra những bài học quý rồi. Tôi nhận thấy đồng chí đã nêu hai vấn đề mới so với cuộc họp trước là phải rung doạ địch và khuyếch trương chiến thắng. Hay lắm, chiến thuật dung roạ của đồng chí làm cho địch run lập cập trước khi vào trận. Hội nghị cười ngả nghiêng. Về sau anh em gặp Đỗ Ninh cứ gọi vui là anh rung doạ Sau trận đánh thí điểm bằng mìn lõm của đơn vị Đỗ Ninh, tỉnh đội mở chiến dịch phá đồn bốt, tháp canh của địch trong phạm vi toàn tỉnh. Chiến thuật rung doạ không ngờ có hiệu quả lớn. Nhiều đồn bốt, khi ta đến chúng không dám bắn trả một viên đạn nào. Một là chúng tháo chạy hết, hai là chúng ngoan ngoãn ra hàng. Có một số tên đồn trưởng ngầm liên hệ với ta, tự mở cửa cho bộ đội ta vào, để được Việt Minh bắt cho yên thân. Chỉ sau mấy tháng, chúng ta đã giải phóng được một vùng rộng lớn. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:13:17 am Chương 13 Không tìm được Thân ở trong đồn, Đội Hai cho lính sục vào nhà Thân. Bà thím của Thân ban đầu tru tréo: - Ối giời ơi, các ông giết cháu tôi ở đâu rồi. Nó có về nhà đâu cơ chứ. Gia đình tôi sẽ kiện các ông. Một tên lính giơ cao báng súng lên doạ: - Bà muốn đi tù thì cứ kiện đi. Các quan đồn chưa hỏi tội nhà bà đấy. Cháu bà quan hệ với Việt Minh. Cứ là tù mọt gông. Nghe vậy, bà thím của Thân liền thay đổi thái độ: - Lâu lắm rồi nó không về nhà. Vợ chồng tôi chẳng liên quan gì đến nó đâu. Từ khi bố mẹ nó bỏ làng đi, nó chỉ sống vất vưởng, ăn vạ ở nhà tôi, chứ nó có chuyện trò gì đâu. Mà hôm qua tôi thấy nó ngồi gục đầu ở cổng kia kìa, trông rũ rượi như con gà rù ấy. Hay là các ông đe nẹt, nó hãi quá, nghĩ quẩn, nhảy xuống ao chuôm nào rồi. Thằng ấy nó dám làm thế lắm. Nó cứ lẩn thẩn như ma làm ấy mà. Bọn lính doạ thêm mấy câu nữa rồi kéo nhau đi. Ông chú Thân vẫn nằm ở trong giường nói vọng ra: - Bà chống chế khéo nhỉ. Sao mọi ngày bà hay nhắc đến nó thế. Cái này bà bảo của cháu Thân, cái kia bà cũng bảo của cháu Thân, có phải cả đứa con trong bụng bà cũng của cháu Thân không? - Vả vào cái mồm ông cơ! Nói năng thế mà cũng nói được. Cháu ruột ông đấy. Nó giống ông như đúc. Cả cái nòi nhà ông có ai biết truyền giống lại đâu. Con vợ nó hơ hớ ra thế, nó còn chả biết làm gì nữa là. Gớm quí hoá lắm đấy. Im cái mồm đi thì có đứa con mà nuôi, rồi sau này chầu giời, có người chống gậy. Còn cứ ghen tuông như thế, vừa mất vợ, vừa mất cả con, biết chưa hả cái đồ chồng ăn hại kia? Người chồng rên lên ư ử, ra điều tức giận lắm. Đang độ thanh xuân thì ông ngã bệnh, cho đến nay gần chục năm rồi, đành chịu nằm liệt giường, liệt chiếu. Người vợ ban đầu về làm dâu đầy hy vọng, bởi nhà chồng giầu nứt đố, đổ vách, ai ngờ mấy tháng sau, anh ta liệt giường. Chuyện chăn gối vừa mới bén đã chấm dứt, chị chưa có cơ may được thụ thai với chồng. Có chồng mà như không chừng ấy năm giời, chị như cây xanh chết đứng. Mỗi ngày chị một béo phì. Dân làng bảo chị là con trâu cái sổi. Thế rồi những người khôn ngoan ở nhà chồng đều bỏ đi hết, để lại năm gian nhà ngói với một thằng cháu nửa dại, nửa khôn. Một mình chị gồng gánh bao nhiêu công việc để nuôi hai thằng báo cô, chả khốn khổ hay sao. Thế mà cái lão chồng chị nó có biết điều đâu, hễ chị đi đâu lâu về là nó chửi, cầm được cái gì trong tay là nó quăng, túm được người chị là nó véo, dù vào bất cứ chỗ nào. Ban đầu chị bực tức, nhưng rồi cũng thương hắn bệnh tật nên không thèm chấp. Rồi chị cũng tìm ra lối thoát cho cuộc đời mình. Vào đúng cái hôm Đội Hai về làng bắt lính, chị lại dở ra tắm, rửa, gội đầu ở cầu ao. Đội Hai xông vào cổng lôi Thân đi, chị trông thấy, nhưng không nói năng gì. Khi chúng ra khỏi cổng rồi, chị để nguyên người trong bộ váy áo ướt, đi ra cổng nhìn theo. Đội Hai quay lại nom thấy một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi, béo mũm đang nhìn hắn. Hắn gai hết cả người và mặc dầu đang đi làm công vụ mà cơn khát tình của hắn chợt bùng lên. Giá mà không có hai thằng lính, với cái thằng Thân ông ổng khóc đi bên cạnh thì có lẽ hắn đã quay lại ôm chầm lấy chị ta rồi. Hắn cố nén nỗi thèm muốn để về đồn. Ngay tối hôm đó, hắn một mình mò xuống ngôi nhà ấy ẫm ờ nói về chuỵên của Thân. Người chồng thì nằm bẹp dí một chỗ rồi. Năm gian nhà kho thì trống vắng. Đội Hai như con sư tử đói mồi, đã ba năm, hắn chưa được về thăm vợ. Dăm bữa, nửa tháng có lên các nhà chứa ở Hải Dương, nhưng ở đó tốn tiền mà lại tạp nham, hắn không thích lắm. Người đàn bà này như món quà giời cho, trông cứ ngon như quả táo chín, chỉ muốn chộp lấy, gặm liền. Bà thím của Thân đang như ruộng hạn đã khô nẻ lâu ngày, gặp Đội Hai, ngay cái nhìn đầu tiên chị đã hiểu ý và cũng ngay lập tức ưng thuận. Thế là Đội Hai đã vồ vập gặm ngay "quả táo mọng" ấy trong ngôi nhà ngói năm gian bỏ không. Con sư tử đói đã no mồi. Mảnh ruộng khô nẻ đã được tưới đẫm. Từ đó thành lệ, cách vài tối Đội Hai lại mò xuống một lần. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:17:52 am Đã hai năm nay rồi, chẳng ai hay biết. Ban đầu khi đón nhận những cuộc mây mưa cuồng nhiệt của Đội Hai, thím của Thân cũng chỉ làm theo bản năng. Chị chấp nhận chuyện ấy để cuộc đời mình bình thường như bao người phụ nữ khác. Hàng năm trôi đi như thế, chị vẫn dấu chồng. Nhưng rồi chị nghĩ mình phải kiếm lấy đứa con, nên chị càng chiều chuộng người tình hơn. Rồi chị có thai thật. Đội Hai không muốn, hắn bảo chị:
- Em hãy uống thuốc cho ra thai đi. - Làm gì có thuốc. Làm thế phải tội nòi mắt ra đấy. - Anh có thuốc của Tây đây. Em mà chửa đẻ ra đấy thì chết anh à. Mấy tháng giời, anh ngủ với ai? - Gớm, dâm thế. Ngủ với người ta hàng năm rồi, chưa chán à? - Có đến chết anh cũng chả chán. Khi nhìn thấy bụng vợ lùm lùm, người chồng hỏi: - Nhà làm sao thế. Tôi trông như là bụng càng ngày càng to. Mình phải lòng giai à? Chị vợ tủm tỉm cười: - Làng nước này làm gì còn giai mà phải lòng với phải mề. Mình chỉ hay đa nghi. Con mình đấy! Anh chồng ốm đau đã bẳn gắt từ lâu, bây giờ thêm chuyện này nữa, anh như người phát rồ. Nhưng dù rồ hay ngộ thì anh cũng đành chịu chứ biết làm sao. Cho đến bây giờ chị vẫn soen soét nói đấy là con anh và doạ nếu anh không câm mồm thì mất cả vợ lẫn con. Nghĩ đến cảnh ấy thì anh sợ lắm. Nó mà bỏ đi thật thì mình nằm chết khô ở đây mất, nên mỗi lúc có cơ hội anh lại nói xiên, nói móc vài câu cho bõ tức, rồi đâu lại vào đây. Không tìm được Thân về, Đội Hai cũng chả bận tâm. Trong đồn còn biết bao nhiêu việc cần giải quyết. Ngài đồn trưởng mấy hôm nay không ỏ ê đến công việc. Cửa phòng thường đóng suốt ngày. Đội Hai nghĩ bụng: " Cái giống người Tây này cũng kỳ lạ thật. Đã là vợ, là chồng rồi mà cứ kè kè ôm nhau suốt cả ngày. Vợ mà giận dỗi là chồng bỏ bễ công việc để dỗ dành. Ôi dào, vợ mình ấy à, " giải quyết" xong là bắt nó phải ra đồng, hoặc xuống bếp, hơi đâu mà ôm với ấp. Ngay cả người tình, mình cũng chỉ để " giải toả" là chính, làm gì mà phải dỗ dành. Cái giống đàn bà, càng chiều chuộng, nó càng sinh hư. Ngài Sôlny này mà còn để cái mụ mắt xanh, chân dài ngoẵng ấy ở đây thì còn phải ve vuốt. Mọi việc đổ hết lên đầu mình thôi. Mong sao cho cái bà mắt xanh, cẳng dài ấy sớm bay về Pháp cho rồi. Tuy nghĩ vậy, nhưng không phải hắn muốn ngài đồn trưởng chỉ huy mọi việc, vì như vậy thì hắn chả còn quyền hành gì. Hắn chỉ muốn Sôlny nhanh chóng báo cáo với cấp trên về thái độ tích cực của hắn sau cái vụ tầu đổ vừa rồi. Không tìm ra bộ đội Việt Minh, không phải do lỗi của hắn. Cấp trên biết hắn đã tận tình tìm kiếm, đã thẳng tay với bọn khả nghi, thì công danh của hắn sẽ không ảnh hưởng xấu. Vậy mà suốt từ hôm ấy đến nay ngài Sôlny đã ra khỏi đồn đâu. Hắn đang nóng lòng mong Sôlny mở cửa để được tiếp kiến thì viên thông ngôn đến tìm hắn: - Ngài đồn trưởng mời ông lên phòng làm việc của ngài. Đội Hai mừng thầm, vội vã đi lên. Sôlny ngước đôi mắt xanh da trời về phía hắn, hơi mỉm cười, nói bằng tiếng Việt ngòng ngọng: - Anh ngồi đi. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:19:51 am Đội Hai ngồi chưa nóng chỗ thì hắn đã bật dậy vì tên thông ngôn dịch lời của ngài đồn trưởng rằng:
- Ông có giấy mời của phòng Nhì! Sao lại phòng Nhì? Hắn là một sĩ quan quân đội, đang phục vụ hết lòng, có phải là gián điệp đâu mà phòng Nhì gọi đến. Biết là hắn thắc mắc, Solny nói một thôi bằng tiếng mẹ đẻ của hắn, rồi tên thông ngôn dịch lại: - Anh vui lòng chấp hành đi. Họ muốn làm rõ một số vấn đề thôi. Giải thích rõ xong, anh lại về làm việc bình thường. Tôi chờ anh. Mọi việc ở đây đang do anh lo liệu cả mà. Đội Hai có cảm giác Sôlny vừa như giục dã, vừa như động viên hắn ra đi. Đâu cần phải như vậy. Đã có giấy gọi thì bổn phận hắn phải chấp hành chứ. Hơn nữa, hắn có làm gì tổn hại cho chính phủ đâu mà hắn sợ. Đội Hai lên phòng nhì vào lúc bốn giờ chiều. Họ vẫn đang đợi hắn. Cái phòng này ghê lắm. Hình như họ làm việc suốt cả ngày đêm. Hai nhân viên phòng Nhì có vẻ niềm nở: - Mời đại uý ngồi. Ông ngạc nhiên phải không. Chúng tôi cũng ngại quá, chỉ có vài việc nhỏ mà phải phiền ông, mong ông thứ lỗi nhé. Bây giờ mời ông nhận mặt cho một người Một tấm ảnh được đặt trước mặt Đội Hai. Hắn ngạc nhiên thốt lên: - Đây là em trai tôi. Sao ông lại có tấm ảnh này? - Khoan hãy hỏi điều ấy. Bây giờ em trai ông ở đâu? - Nó ở nhà với thầy tôi. - Ông nhầm rồi. Người thanh niên này đang là tiểu đội trưởng một tiểu đội xung kích của bộ đội Việt Minh. Ông không biết thật hay giả vờ? Trươc câu hỏi độc địa ấy, Đội Hai suýt nổi cáu. Song có lẽ cũng hình dung ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề, nên hắn kìm được. Hắn đấu lý: - Các ông định buộc tội à. Việc gì tôi phải giả vờ. Hàng ngày súng đạn nổ bên tai tôi còn chả sợ, sợ gì một thằng em đi theo Việt Minh mà tôi phải giả vờ. Đã ba năm rồi tôi có được về nhà đâu. Cũng chẳng ai báo tin thì làm sao tôi biết nó đi đâu. Nó đi theo Việt Minh không dính gì đến tôi cả. Các ngài có hỏi gì nữa không? Hắn toan đứng lên định ra về, thì hai nhân viên kia thay đổi thái độ: - Ông đừng vội. Là như thế này, gần đây khu vực đồn ông phụ trách luôn xảy ra sự cố.Vụ con tầu đổ chưa tìm ra thủ phạm. Thằng Thân, lính thân cận của ông tự nhiên nó biến đâu mất, cậu em trai này lại là bộ đội Việt Minh. Xâu chuỗi các tình tiết lại thì hình như nó cũng có vấn đề gì đó khó hiểu. Nghề nghiệp buộc chúng tôi phải làm rõ. Còn ông phải có bổn phận thể hiện rõ là ông trung thành tuyệt đối với quốc gia, không phải là điệp viên của Việt Minh. Con đường thăng tiến của ông sẽ còn rộng mở, nếu ông chứng minh được điều này. Chúng tôi chỉ thông báo vậy. Bây giờ ông có thể về được. Lúc này bọn phòng Nhì giục về, mà Đội Hai chưa muốn đứng lên. Hắn phân trần một cách dè dặt: - Các ông hiểu cho, việc tầu bị đánh đổ, tôi đã điều tra kỹ, đã bắn chết một tên bộ đội Việt Minh, bắt một tên đưa đi Côn Đảo. Cô gái bắt được ở đầu làng ấy, tôi đã đích thân tra tấn bằng cực hình, mà cô ta không khai báo, không nhận tội. Chính ngài đồn trưởng baỏ tôi thả cô ta ra mà. Còn thằng Thân, chúng tôi đang cho tìm kiếm. Thằng này nó cãi nhau với chú nó ở nhà, e rằng nó tự vẫn ở đâu đó ( hắn bịa ra như thế). Còn những việc khác, chẳng liên quan gì đến tôi, các ông muốn tôi phải chứng minh lòng trung thành bằng cách nào? Một tên nhân viên phòng Nhì nhún vai: - Đây không phải là chúng tôi muốn, mà là quốc gia muốn ông thể hiện lòng trung thành - Rồi hắn có vẻ gợi ý - Nếu bây giờ bắt được thằng em trai ông, theo ông sẽ xử lý thế nào? - Thì các ông cứ bỏ tù nó, hoặc cứ việc xử nó theo luật của quốc gia. - Nhưng người bắt được nó là chính ông cơ! - Thì tôi cũng làm như thế! - Tốt lắm. Ngài đại uý ạ! Chúng tôi cũng chỉ muốn tốt cho ngài thôi. Quanh vùng này có mấy sĩ quan mẫn cán và tận tuỵ như ngài đâu. Cấp trên rất chú ý đến ngài. Nếu vì một lý do nào đấy, nhất là dính dáng đến Việt Minh mà không thăng tiến lên được thì rất tiếc cho ngài đấy. Xin lưu ý ngài về cậu em trai bộ đội Việt Minh nhé! Cẩn thận kẻo nó lấy đồn của ngài lúc nào không biết đấy. Vừa rồi chúng nó đã lấy mấy đồn ở khu vực Gia Lộc, quê ngài rồi đó. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:21:34 am Đội Hai ra về, lòng vừa như bay bổng, vừa như trĩu nặng. Hoá ra cấp trên rất quan tâm đến hắn, con đường đi lên của hắn đang rộng mở. Nhưng làm sao cái thằng út khốn kiếp nó lại đi theo bộ đội Việt Minh cơ chứ. Phải giáo dục thằng này mới được. Và hắn ngày đêm nung nấu kế hoặch giáo dục thằng em. Mấy ngày sau Đội Hai thảo một bức thư gửi về nhà. Hắn nói rằng lâu rồi không được về, nên nhớ nhà, nhớ các em lắm, nhất là cậu út. Nghe tin quê hương được giải phóng nó rất mừng, muốn được về gặp mặt gia đình.Thế nào bố cũng phải tìm cậu út về để anh em được hàn huyên. Nhận được thư của hắn, bố hắn mừmg lắm, vội báo tin cho mấy đứa con ở gần. Còn thằng út đang theo bộ đội đi đánh giặc, làm thế nào mà về được. Nhưng trong thư nó lại nói muốn gặp nhất là cậu em út. Thế là ông cụ cầm lá thư lận lội đi tìm thằng út. Thực tình cụ tìm cũng chẳng khó, vì hồi ấy quê nhà vừa được tự do, bộ đội đi lại công khai, chỉ cần hỏi thăm vài người là cụ tìm được con. Cậu út cầm nguyên cả bức thư của thằng anh lên báo cáo đại đội trưởng Đỗ Ninh. Xem thư, Đỗ Ninh hơi băn khoăn: người anh cả này phục vụ trong quân đội quốc gia từ khi bọn Pháp mới quay lại nước ta. Từ ấy đến nay không ỏ ê đến các em, bây giờ tự nhiên lại muốn gặp mặt? Nhưng Đỗ Ninh lại yên tâm rằng đây là vùng tự do, dân làng là cơ sở của ta, lo gì. Với lại hồi ấy đang rộ lên chính sách binh vận. Càng lôi kéo được những sĩ quan giặc càng tốt. Anh chàng này, chắc thấy bộ đội ta đánh đồn bốt nhiều nên cũng trợn rồi đây. Có thể anh ta muốn thông qua cậu em út trong cuộc gặp này mà chạy về với chúng ta. Được như vậy thì rất tốt. Ta đang cần thêm bạn, bớt thù mà. Nghĩ vậy, Đỗ Ninh động viên cậu tiểu đội trưởng trẻ tuổi của mình:
- Chú mày đi rồi về đúng hẹn nhá. Cố gắng nói cho ông anh hiểu rõ chính sách khoan hồng của Việt Minh. Em biết là chúng ta đã thả bao nhiêu lính tráng của chúng còn gì - Rồi như tâm tình thêm, anh nói nhỏ - Nếu anh em muốn theo về với chúng ta ngay, thì em cứ dẫn đến chỗ anh, anh sẽ trực tiếp đưa lên báo cáo tỉnh đội, để ta bố trí cho anh ấy được an toàn nhá. Cậu út phấn khởi lắm. Dù chỉ về có hai ngày thôi, nhưng cậu đã bàn giao đầy đủ quân trang và vũ khí lại cho tiểu đội phó. Cậu tung tăng ra về như một đứa học trò sau buổi tan trường. Người anh cả thân thương của cậu, đã lâu lắm rồi cậu chưa được gặp, giờ anh ấy thế nào, chắc là bảnh trai lắm, chắc là oai vệ lắm. Hồi ở nhà thỉnh thoảng anh ấy có đánh cậu mấy roi, vì cậu không nghe lời, bây giờ những roi đòn ấy càng làm cậu nhớ anh hơn. Cậu về đến nhà lúc 5 giờ chiều. Ông bố về trước và mấy anh khác ở gần đã xúm lại mổ một con chó làm bữa ăn thịnh soạn, mấy khi cả nhà được quây quần đông đủ thế này. Đội Hai về sau. Mặc dù cả nhà đang mong đợi, nhưng hắn vào đến cổng không khí trong nhà bỗng đổi khác. Vẻ mặt hắn khó đăm đắm, lại đeo kè kè bên mình khẩu súng nữa. Vợ hắn đã mấy năm không nhìn thấy mặt chồng, từ trong bếp khoắn khoả chạy ra chào, hắn cũng cứ rửng rưng như gặp người lạ. Thấy vẻ mặt người con cả như vậy, ông bố chủ động làm dịu bầu không khí có vẻ bức sốt này. Ông nói: - Chị cả pha nước nóng đem ra sân giếng cho anh ấy rửa chân. Anh ấy đi đường xa chắc mệt. Còn các cậu, làm nhanh tay lên, ta ăn cơm sớm để anh cả còn nghỉ. Mọi người răm rắp làm theo, nhưng vẻ mặt hằm hằm của Đội Hai vẫn không thay đổi.Thái độ của hắn khác hẳn với những lời lẽ viết trong thư. Dường như cả nhà này đang có lỗi với hắn, dường như hắn là chủ thể, có quyền quyết định mọi vấn đề chứ không phải là bố hắn. Cậu út nhìn anh, vừa thất vọng, vừa khó hiểu. Khi ngồi vào mâm rượu rồi, sau vài tợp đầu tiên, hắn bắt đầu nói: - Hôm nay tôi về đây để báo với cả nhà là tôi sẽ bắt thằng út. Mọi người ồ lên, kinh ngạc. Ông bố vẫn bình tĩnh bảo: - Anh say rượu à? Sao chưa uống đã say thế? - Say đâu mà say. Tôi nói thật đấy. Sao thầy lại để nó đi theo bộ đội Việt Minh. Hôm nay tôi sẽ bắt nó đi theo tôi. Đến đây thì chẳng ai còn ngạc nhiên nữa. Đúng là hắn không say, hắn đang nói thật. Cậu út buông đũa, vặc lại: - Anh có quyền gì nào? Thày bu nuôi tôi lớn chứ có phải anh đâu. Mà sao anh lại đi theo bọn Pháp, anh làm tay sai cho chúng. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:23:49 am Ông bố quát:
- Út im đi để thầy nói chuyện với anh. Anh cả này, vậy là không phải anh về để gặp tôi với các em cho bõ nhớ như trong thư anh nói à? -Nhớ thì nhớ mà bắt thì vẫn bắt. Không nói như vậy thì thầy có gọi nó về đây không - Rồi hắn hạ giọng xuống - Cả nhà nghe đây, nếu thằng út ngoan ngoãn đi theo tôi, xung vào lính phục vụ quốc gia thì nhà mình được sung sướng. Nếu nó không nghe, là tôi phải bắt thật đấy. Không thể cho nó đi theo Việt Minh được. Thôi cả nhà cứ ăn đi, thịt chó nguội hết rồi Dứt lời, hắn thản nhiên gắp miếng dồi chó, cùng rau thơm đút vào miệng. Hắn tưởng như đó là mệnh lệnh của hắn, mọi người phải răm rắp nghe theo. Những bát thức ăn trên mâm đang bốc khói ngùn ngụt. Nào là nhựa mận, nào xương hầm, rồi thịt luộc, thịt nướng. Mấy thằng em nông dân, ở nhà dở đủ bẩy món thịt cầy truyền thống để mừng cuộc hội ngộ gia đình. Nhưng nghe ông anh cả nói thế, không ai còn muốn gắp thức ăn nữa. Họ tròn mắt, ngây mặt nhìn anh ta. Cậu út chưa hề động đũa, nghe anh nói vậy, cậu vùng vằng đứng lên. Ông bố kéo cậu ngồi xuống, để dàn hoà: - Con cứ ngồi yên để bố nói chuyện với anh. Anh cả này, những chuyện hệ trọng ấy nói sau, bây giờ anh em chỉ nói chuyện tình cảm thôi cho nó vui, để các em nó ăn uống đã. Hắn lại vừa húp soàm soạp, vừa nói: -Thì đã bảo cứ ăn đi mà. Cũng chả còn chuyện gì phải nói. Thằng út ăn xong, ngủ một giấc rồi theo tao đi. Còn mọi người cứ yên trí mà làm ăn như cũ. Bây giờ thì cậu út không nhịn nữa, cậu đốp lại: - Anh tưởng anh có quyền thật à. Tôi là bộ đội Việt Minh, đang đi cứu nước, còn anh là lính nguỵ, là đồ bán nước, nghe chưa. Tôi tha không bắt anh là may lắm rồi. Tưởng anh về để hối cải, theo Việt Minh, tôi mới về đây, không thì tôi cũng chẳng thèm gặp anh đâu. Nói rồi cậu út bỏ mâm cơm, chào bố và anh chị, định đi luôn. Đội Hai vất tạch bát cơm xuống đất. Hắn quát: -Mày đi được à? Đứng lại không tao bắn. Cả nhà ồn ĩ lên. Cậu út đứng sững giữa nhà, quay lại gườm gườm nhìn ông anh bằng ánh mắt đã nhìn rõ bản chất của một kẻ phản bội. Cậu nói trong uất ức: - Đấy, cả nhà xem. Tôi không làm gì anh ấy nhá. Đúng là bọn Tây nó dậy dỗ anh ấy chỉ biết nói chuyện bằng súng thôi. Tôi không đấu súng với anh ở trong nhà, ra chiến trường hãy hay. Cậu chưa kịp quay đi thì một tiếng nổ đoàng vang lên. Viên đạn trúng ngực cậu. Cậu đổ gục ngay xuống giữa nhà, cạnh mâm cơm với những bát thức ăn đang bốc khói. Tiếng kêu thét hốt hoảng. Tiếng gào khóc thảm thiết.Tiếng bát đũa loảng xoảng. Xem chừng trong nhà không có người ủng hộ hắn, nên Đội Hai đi ngay trong đêm. Dù sao thì hắn cũng yên lòng vì đã dứt được chiếc dây duy nhất có thể kéo thấp con đường công danh của hắn. Gần sáng hắn mới mò về đến cái đồn bên đầu cầu Tiền của hắn. Buông mình xuống giường, hắn kéo một giấc đến gần tối mới tỉnh dậy. Ngài đồn trưởng lại cho mời hắn. Trông mặt ngài rất tươi. Đôi mắt màu xanh da trời nheo nheo, nhìn sâu vào mặt hắn. Ngài nói: -Thượng cấp vừa gọi điện khen ngợi ông. Chúc mừng ông nhé. Ông đã trừ khử được một tên bộ đội Việt Minh. Một tên bộ đội Việt Minh oắt con chẳng đáng kể gì, nhưng ông anh hùng ở chỗ dám bắn bỏ đứa em ruột thịt, đứa em út ít yêu thương của mình. Ông thật đáng khen. Viên thông ngôn dịch xong câu ấy, chính anh ta cũng tái mặt, nghĩ thầm: Ngài đồn phó này sao mà ác thế nhỉ. Em ruột mình mà dám bắn chết cơ à. Sôlny phu nhân lúc ấy đi qua cửa, vô tình nghe được, bà nhún vai, lậy chúa. Đôi mắt bà bạc hẳn màu đi. Tối ấy bà nói với chồng: - Tên đồn phó của anh, không giống một con người. Vậy mà anh còn khen nó nữa. Sôlny âu yến hôn vợ, rồi thản nhiên nói: - Nếu nó thật sự là một con người, thì chúng ta cai trị làm sao được đất nước này. Anh sẽ đề nghi thượng cấp tăng cho nó một bông mai trong những ngày tới. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:26:19 am Chương 14 Đỗ Ninh giặt sạch đôi giầy vải, phơi lên hàng rào. Hơn một tháng nay anh liên tiếp thắng trận, vậy mà chẳng thấy " nàng tiên" của anh hiện ra. Không hiểu làm sao chỉ có một chốc gặp gỡ, với một đôi giầy vải mà sao anh nhớ cô đến thế. Giá mà được gặp cô ta một lát vào lúc thư thái này. Anh tự bực với chính mình là cho đến giờ anh vẫn chưa biết cô ở đâu. Khỉ thật, mình mơ mộng thật không đúng lúc. Chiến tranh đang ác liệt, tính mạng còn khó giữ, sao mình lại mơ ước được gặp tiên. Thôi, không nghĩ đến nàng nữa. Khi nào giải phóng hoàn toàn quê hương, mình sẽ tìm gặp nàng bằng được. Đúng lúc ấy thì cậu liên lạc hốt hoảng báo tin: - Anh ơi, đồng chí tiểu đội trưởng hôm qua anh cho về thăm nhà ấy, bị bắn chết rồi. - Bị phục kích à? Đây là vùng tự do cơ mà?! - Cậu ấy bị chính anh trai, là tên nguỵ binh ấy bắn chết anh ạ. Người nhà cậu ấy vừa đến báo tin. Cả đồng chí xã đội trưởng cũng đến. Họ đã nhận lỗi với đơn vị. - Lỗi, lỗi cái con khỉ. Về đến làng, đến nhà rồi mà cũng không giữ được tính mạng cho cậu ta còn nhận lỗi làm gì. Thế cái thằng dã thú ấy nó đâu? - Họ bảo nó đi ngay mất rồi. Họ bảo nó thông thạo đường ngang, ngõ tắt, nên trốn qua những chốt gác của ta. Đỗ Ninh giơ tay đấm ngực thình thịch, miệng rên rỉ: -Ôi giời ơi, thế là thằng bé chết oan. Đáng lẽ anh không cho nó về thì đâu đến nỗi. Hình ảnh cậu tiểu đội trưởng trẻ tuổi, nhanh nhẹn bỗng hiện về trước mắt anh. Bao nhiêu trận đánh nhau với giặc, cậu chẳng làm sao. Ai ngờ, về gặp cái thằng anh ruột mà lại chết. Biết cái thằng anh khốn kiếp của nó trở mặt thì anh cho mấy tay súng về bắn cho nó nát óc ra rồi. Được rồi, chú em, anh hứa sẽ trả thù cho em. Đỗ Ninh ngồi thần người, nghĩ ngợi. Anh thầm hứa với người chiến sĩ trẻ vừa tử nạn như thế. Nếu không có lệnh họp khẩn cấp, chưa biết anh còn ngồi đến bao lâu. Đỗ Ninh tỉnh táo trở lại khi đồng chí tỉnh đội trưởng bắt đầu thông báo tình hình chiến sự: - Cấp trên vừa thông báo, giặc sẽ mở cuộc càn lớn vào vùng đồng bằng, trong đó có tỉnh Hải Dương ta. Chúng vừa thất bại thảm hại trong chiến dịch Hoà Bình, nên đưa quân về quây càn ở đồng bằng, không ngoài mục đích là chiếm lấy kho người, kho của của ta. Chúng tập trung về đây đến bốn binh đoàn quân cơ động thiện chiến, gọi tắt là quân GM, có cả xe tăng, máy bay yển hộ. Vì vậy, trận chiến đấu sắp tới của chúng ta sẽ vô cùng ác liệt. Lực lưỡng địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Hôm nay tỉnh đội mời các đồng chí về đây để bàn phương án đối phó với quân GM của địch. Bây giờ tôi nêu một câu hỏi nhá: - Chúng ta có dám đối chọi với đội quân GM của địch không? Im lặng một lát, rồi Đỗ Ninh giơ thẳng tay xin phát biểu: - Theo tôi, chúng ta không việc gì phải sợ cái bọn giê em này. Chúng là đội quân cơ động chứ là quái gì. Mà đã là cơ động thì nay đây mai đó, chúng vừa ở maĩ trên trung du kéo về, làm sao bằng chúng ta ở tại chỗ được. - Có lý đấy. Nhưng bọn chúng có tới bốn binh đoàn, lại có máy bay, xe tăng và phi pháo mạnh. Còn ta, chỉ có mỗi trung đoàn 64 của quân khu được coi là chủ lực, còn lại chỉ là mấy đại đội bộ đội địa phương, vũ khí lại thô sơ, chúng ta đánh làm sao? - Nhưng chúng ta có nhiều làng xóm quen thuộc, lại có nhân dân che trở.Với hệ thống ao hồ, sông ngòi chằng chịt, chúng ta có thể ẩn nấp và di chuyển dễ dàng. Ta đào công sự và phát động nhân dân đào công sự, hầm tránh pháo ở mỗi làng. Chắc chắn chúng chỉ phí đạn mà thôi. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:28:39 am Cuộc họp bàn luận rất lâu. Đồng chí tỉnh đội trưởng dẫn dắt chủ đề bằng cách cứ liên tục đặt ra những câu hỏi cho anh em suy nghĩ, trả lời. Sau những câu hỏi và trả lời ấy thì một phương án chống lại quân GM đã hiện rõ. Tỉnh đội trưởng tổng kết lại:
-Như vậy hội nghị chúng ta đã thống nhất chủ trương sau: Một, chúng ta không sợ đội quân GM Hai, chúng ta phải dấu quân thật kỹ, địch không phát hiện được chúng ta ở đâu, quân số là bao nhiêu Phải phát động toàn dân đào hào, rào làng chiến đấu. Chúng ta phải củng cố công sự thật vững để tránh phi pháo, lợi dụng triệt để địa hình ao hồ và sông ngòi, để di chuyển liên tục. Từ nay không đơn vị nào được đóng quân tại một địa điểm tới quá ba ngày. Ba, phải kiên quyết bám trụ và chiến đấu giáp lá cà với địch. Không được bỏ chạy khi chúng tiến vào làng. Dù địch có phi pháo, nhưng phi pháo mất tác dụng vì hầu hết khi bắn vào làng, nó chỉ nổ trên ngang bụi tre, không mấy quả nổ dưới đất, nên không sợ. Xe tăng chỉ đi ngoài đường lớn, không thể vào làng. Nếu bộ binh chúng tràn vào thì chúng là bên bị động, không thuộc đường xá. Ta làm chủ địa bàn, nấp kín dưới công sự bắn ra, nhất định chúng thương vong lớn Bốn, ta chỉ đánh khi địch đã tràn vào làng. Còn chúng ở ngoài xa, mặc chúng, vì ta phải tiết kiệm đạn và không được để lộ mục tiêu. Nếu địch quá mạnh thì nhất thiết phải cầm cự đợi đêm tối rút ra ngoài, vòng về bên sườn, hoặc sau lưng địch, nhất thiết không được lùi lại phía sau, tránh địch dồn đuổi. Các đồng chí còn ý kiến gì nữa không? Cuộc họp gồm nhiều thành phần: các đồng chí đại đội trưởng bộ đội tỉnh, đại đội trưởng của đơn vị thuộc trung đoàn 64, bộ đội chủ lực, các đồng chí huyện đội trưởng và cán bộ tham mưu tỉnh đội. Đã thảo luận kỹ rồi, nên không ai còn ý kiến gì khác. Mọi người ra về, khẩn trương chuẩn bị cho cuộc đối phó với đội quân thiện chiến của địch. Đỗ Ninh trở về đơn vị nhanh chóng cho anh em chuẩn bị trận địa. Mấy hôm sau, địch hùng hổ kéo tới. Đi đầu là bọn pháo binh. Chúng tới tấp bắn pháo vào những làng chúng cho là có bộ đội ta đang đóng chốt. Theo phương án tác chiến, mặc cho chúng bắn, bộ đội và nhân dân ẩn nấp hết dưới hầm. Quả là đạn pháo nổ hết trên các ngọn tre. Những bụi tre của các làng quê thật là tiện lợi. Dù bao nhiêu phi pháo thì các hầm trú ẩn dưới gốc những bụi tre vẫn rất an toàn. Chỉ hơi phiền là phải chịu những tiếng nổ chói tai của chúng. Bắn pháo chán, không thấy dấu hiệu chống cự, xe tăng của chúng bắt đầu tiến về phía mục tiêu, nhưng chúng đều phải dừng lại ở ngoài xa để bộ binh kéo vào. Chúng đông thật, đa số là Tây đen, đi đầu bao giờ cũng là một số nguỵ binh. Một tốp tiến về phía cổng làng. Không thấy động tĩnh gì, chúng đi sâu tiếp. Đỗ Ninh vẫn cho anh em án binh bất động. Quả nhiên mấy thằng quay trở ra vẫy tay ra hiệu an toàn cho đội quân đi sau tiến vào. Chúng đi theo tư thế hành quân, súng vác trên vai. Chờ cho đội quân chính cách mình chứng mười lăm mét, Đỗ Ninh mới phát hiệu lệnh tấn công. Tiếng hô xung phong vang lên. Bộ đội từ hầm hào xung quanh nhẩy lên đánh giáp lá cà, dùng lê, dao, đâm, chém tới tấp vào đội hình giăc. Bị bất ngờ, chúng hoàn toàn không kịp chống cự. Ngoài những thằng xấu số, bị chém ngay từ phút đầu, còn lại chúng đồng loạt giơ tay hàng. Vài thằng đi sau, cố sống cố chết chạy thoát ra ngoài. Quân ta không cần đuổi theo, mặc cho chúng chạy. Ngày đầu tiên ra quân, bọn địch không ngờ chúng bị thất bại nặng nề đến thế. Tưởng rằng chỉ có bộ đội chủ lực trên rừng núi mới dám đối chọi với chúng. Ai ngờ chúng lại thua cả mấy đơn vị địa phương quân. Được quán triệt phương án tác chiến thống nhất, bộ đội các huyện đều thực hiện giấu quân và bí mật tấn công bất ngờ như vậy, nên ta đã đẩy lui hoàn toàn những đợt tiến quân của địch. Tổng kết lại, chỉ trong ba ngày, chúng ta đã bắt sống hơn một ngàn tên địch, trong đó quá nửa là lính âu phi. Đội quân này có sức khoẻ, nhưng tinh thần bải hoải. Chúng quá ngán ngẩm khi phải lội bì bõm phơi mình trên những cánh đồng trống vắng để rồi bất chợt hấng một viên đạn súng trường từ trong những lùm tre dầy đặc xung quanh bắn ra. Ngày hôm sau đích thân tên tướng XaLăng, tổng chi huy quân đội Pháp lúc đó phải đáp trực thăng về Sou sectour Ninh Giang để kiểm tra lại kế hoặch Trái chanh. Hắn cau mày trách bọn tham mưu " các ông chưa biết gì về bọn Việt Minh hết. Thôi, cho dẹp ngay kế hoạch này. Lập một kế hoạch khác." Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:34:20 am Chương 15 Trận càn Trái chanh bị thất bại, bọn địch cố đấm ăn xôi, chúng tổ chức ngay một cuộc càn khác mang tên trái quýt. Cuộc càn này chúng kéo một vệt từ Thái Bình qua Hưng Yên đến Hải Dương. Đại đội 25 của Đỗ Ninh được giao nhiệm vụ chặn đánh một lực lượng mạnh của địch hành quân từ thủ phủ Ninh Giang toả lên phía bắc. Lần này không phải cứ mai phục trong làng đợi đánh quân cơ động thông thường, mà là phải đối chọi với một đơn vị mạnh, có cả xe tăng, pháo binh yểm trợ. Đỗ Ninh lo lắm. Bộ binh của ta lần đầu dám chặn đánh xe tăng và pháo binh. Mọi khi mình cứ dấu quân trong làng, chúng bắn chán rồi đi, lần này, yêu cầu của trên là phải bẻ gẫy cuộc hành quân của chúng, không để chúng hội quân thành hoả lực lớn. Về tính chất trận đánh là khác hẳn nhau. Vấn đề đặt ra là làm sao ta phải đánh gục ngay cánh quân đi đầu để uy hiếp chúng, mà cụ thể là phải đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu. Biết rõ khó khăn này, tỉnh đội điều động một bộ phận S20 phối hợp với Đỗ Ninh. Hay lắm, S20 gần đây đã nổi tiếng trong tỉnh với những trận đánh xuất sắc của họ. Mấy cậu chiến sĩ cũ của anh đang là nòng cốt ở đó, không biết lần này có cậu nào về đây giúp anh không. Đỗ Ninh chợt nhớ lại cái hồi anh còn là bộ đội huyện, mấy chiến sĩ trẻ của anh đã sáng tạo ra cái "cạm điện" từ nguyên lý hoạt động của cái nạng gẩy rơm, rồi đến cái nhíp nhổ râu. Nghe nói từ cái cạm điện này, S20 còn phát minh thêm nhiều loại mìn khác nữa, đánh trận nào cũng thắng. Thú vị thật. Trận đánh sắp tới, cậu nào sẽ chỉ huy phối hợp với mình đây? Một giọng nói quen quen cắt ngang dòng suy nghĩ của anh: - Báo cáo đồng chí chỉ huy, anh em S20 đã có mặt. - S20 hả, vào đây. Ôi chà, cậu em Thường! Cao lớn gớm nhỉ! Có nhớ anh đây không? Vừa hỏi, anh vừa ôm chầm lấy người đồng đội trẻ, ghì sát vào người mình, như thể đôi bạn học sinh lâu ngày mới gặp nhau. -Anh Đỗ Ninh, em quên sao được. Chúng em vẫn theo dõi những trận phá càn và đánh đồn Hương Dũng của anh. Đến bọn giặc còn khiếp tiếng anh nữa đấy. Trận này anh em mình phối hợp thật ngon, anh nhé. -Anh đang trông chờ ở chú mày đấy. Choảng nhau với cái bọn xe tăng, pháo binh này, bọn anh cũng hơi ngán. Mình làm gì có vũ khí mạnh. - Anh yên tâm. Mìn của bọn em chẳng ngán xe nào, càng xe tăng, càng dễ đổ. Anh em gặp nhau hồ hởi như vậy, nhưng khi vào cuộc họp vạch kế hoặch tác chiến, Đỗ Ninh vẫn không hết lo âu. Anh giới thiệu Thường với ban chỉ huy và đề nghị Thường trình bày phương án của S20. Vấn đề mấu chốt mà cả đơn vị quan tâm là làm thế nào đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu. Phải đánh gục chiếc xe này thì quân ta mới có cơ hội vượt lên mặt đường, tiêu diệt bọn bộ binh. Thường bình tĩnh chỉ vào sa bàn, nói một mạch: - Đặc điểm của đoạn đường này là nền đường bằng đá lèn đất, nên rất khó khăn cho việc nguỵ trang mìn. Nhưng anh em chúng tôi sẽ cố gắng hết sức. Muốn đánh trúng ngay chiếc xe tăng đi đầu, chúng ta phải bố trí một trận địa mìn có tính chất liên hoàn. Cụm mìn thứ nhất tôi gọi là cụm mìn phát hoả, gồm ba quả mìn. Quả thứ nhất dùng loại mìn điện có người điều khiển. Hai quả tiếp theo là mìn điện tự động đặt chếch nhau và cách nhau chừng ba mươi mét. Nếu quả mìn thứ nhất có người điều khiển mà không nổ trúng, chiếc xe tăng tiến lên, sẽ không thoát khỏi hai quả mìn tự động này. Cụm thứ hai, chúng ta bố trí ba quả mìn đấu nói tiếp, có người điều khiển, dành cho những xe đi sau. Khi thấy chiếc xe đi đầu bị nạn, chúng quay lại, ta sẽ cho giật ba quả mìn này, mà chúng tiến lên thì sẽ chạm hai quả mìn ở cụm thứ nhất. Như vậy là tiến cũng chết, mà lùi cũng chết. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:40:02 am Anh em vỗ tay rào rào. Đỗ Ninh phát vào đùi mình đánh đét, khen:
- Hay! Cái thằng bé này thế mà giỏi đáo để. Phen này, bọn Tây sẽ được nếm mùi nước ruộng của Việt Nam. Thường nói tiếp: - Để thực hiện được kế hoạch này, yêu cầu ban chỉ huy trận đánh phải chuẩn bị đủ lượng thuốc nổ. Mỗi quả mìn ít nhất là mười lăm cân, riêng quả mìn điểm hoả nhằm chiếc xe tăng đi đầu phải là hai mươi cân. Ngoài ra, đề nghị địa phương cử cho một nữ du kích gan dạ, phối hợp với chúng tôi. Mọi người cười ồ lên, mặc dù chưa ai hiểu đồng chí nữ du kích sẽ làm nhiệm vụ gì. Thường hơi đỏ mặt, nhưng rồi anh điềm tĩnh nói: - Đây là điều kiện quan trọng, nếu không sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí xã đội trưởng lên tiếng: - Báo cáo các đồng chí, nữ du kích thì chúng tôi chẳng thiếu gì, mà cô nào cũng gan dạ. Đồng chí Thường cứ yên tâm. Một ai đó nói xen vào: - Gan dạ thì tốt rồi, nhưng còn phải xinh xắn và duyên dáng nữa, đồng chí Thường nhỉ? Đỗ Ninh cười khơ khớ, anh đỡ lời Thường: - Nhất định rồi. ở đây tôi thấy cô nào cũng xinh. Tối nay Thường đi với đồng chí xã đội trưởng, chọn lấy một cô em ạ. Thường đỏ bừng mặt, nhưng anh vẫn nói cứng: - Thôi, xin tuỳ xã đội trưởng. Khi nào chọn người để xây dựng gia đình thì em xin tự chọn. Mọi người cười ran. Đỗ Ninh hỏi: - Này, nhiều mìn như thế mình chôn vào lúc nào, liệu có giữ được bí mật không? - Em sẽ cho anh em chôn dần từ đêm nay. - Còn ba ngày nữa mới đánh cơ mà, chôn mìn ngay nhỡ chúng phát hiện ra thì làm thế nào? - Xin các đồng chí cứ yên tâm, nếu lộ bí mật tôi xin chịu trách nhiệm. Đây là chuyên môn của S20, hơn nữa, ta không còn cách nào khác. Nếu để đến đêm cuối cùng mới đặt mìn thì không sao kịp được - Nhưng đồng chí chôn mìn từ đêm nay, sáng mai bao nhiêu xe của nó chạy qua, thế mìn sẽ nổ trước trận đánh à? Anh em bộ binh không hiểu đặc điểm của mìn, nên nhiều người nêu những thắc mắc như vậy. Thường bình tĩnh giải thích để anh em hiểu: - Mỗi quả mìn đều có hai bộ phận, một bộ phận chứa thuốc nổ và một bộ phận gây nổ. Chúng tôi chỉ đặt trước khối thuốc nổ vào vị trí, còn bộ phận gây nổ, gọi là cạm điện chúng tôi sẽ đặt vào đêm cuối cùng. À thì ra là như vậy. Ban chỉ huy trận đánh và Đỗ Ninh hoàn toàn yên tâm, tin tưởng vào khả năng và trình độ kỹ thuật của đơn vị phối hợp với mình. Chỉ còn một ngày nữa trận đánh sẽ bắt đầu thì Đỗ Ninh nhận được điện của tỉnh đội, yêu cầu anh phải có kế hoặch chặn đoàn quân tiếp viện rất hùng hậu của địch. Sau khi cánh quân thứ nhất kéo đi, nếu bị quân ta chặn đánh thì cánh quân thứ hai sẽ từ thủ phủ Ninh Giang kéo lên tiếp ứng. Quân báo ta cho biết, chúng còn cả xe bọc thép và xe tăng để lại phía sau. Nếu ta không có kế hoăch đánh bọn này thì nhất định ta bị chúng áp đảo. Đỗ Ninh nhận điện xong, liền triệu tập ngay ban chỉ huy trận đánh. Và tất nhiên nhiệm vụ chặn viện này lại dành cho S20. Thường suy nghĩ một lúc lâu mới nói: - Trường hợp này tốt nhất là dùng mìn có người điểu khiển. Nhưng thời gian gấp quá rồi, ta không thể chuẩn bị kịp. Vì mìn có người điều khiển là phải có dây dẫn bí mật chôn dưới đất, phải có người ngồi gần đó để giật dây. ở đây đồng không mông quạnh, chúng tôi bố trí mấy quả mìn ở trận địa chính đều phải đào hố bí mật ở giữa ruộng lúa để anh em ngồi chờ địch. Bây giờ chỉ còn có một đêm, không nguỵ trang kịp, mà người cũng không đủ... Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:43:19 am -Thế chả lẽ chịu ư?
- Bắt buộc phải dùng chiến thuật hố không mìn. - Gì?! Hố không mìn? không mìn thì đào hố làm gì? đùa với chúng à? - Không. Hố không mìn là chúng tôi cứ đào sẵn hố, để một quả mìn giả vào đấy, khi cánh quân thứ nhất đi qua rồi, trong lúc chúng ta đang đánh nhau ở trận địa chính thì vài anh em sẽ tranh thủ lấy mìn giả ra, đặt quả mìn thật vào đó. Quân tiếp viện của chúng kéo đến thì mìn sẽ nổ. - Ừ, nghe hợp lý lắm, nhưng chỉ có ít thời gian như vậy, làm sao đặt mìn rồi nguỵ trang được? - Anh em làm quen rồi. Trận đánh đầu tiên của S20 là chiến thuật hố không mìn mà, các đồng chí cứ yên tâm. Trong khi chiến sự đang diễn ra phía trước, chúng không có thời gian kiểm tra đường kỹ đâu. Với lại đoàn xe trước vừa đi, không gặp mìn ở đoạn ấy, chúng sẽ không nghi ngờ gì. Đỗ Ninh kết luận: - Được, nhất trí với kế hoạch cuả đồng chí Thường. Các đồng chí nghỉ, về chuẩn bị chiến đấu. Đêm trước ngày diễn ra trận đánh, Thường được đồng chí xã đội trưởng đưa đến nhà một nữ du kích ở xóm Ao, gần nơi diễn ra trận đánh. Người nữ du kích này được giao nhiệm vụ phối hợp với Thường trong trận đánh ngày mai. Tuy nhiên cô chỉ được biết phải chuẩn bị chỗ ngủ và quần áo cho Thường hoá trang thành phụ nữ, sáng hôm sau đưa Thường ra đồng cùng gặt lúa. Ngoài ra cô không được biết gì thêm. Đêm hôm ấy gia đình cô gái đã nhường cho Thường riêng một chiếc giường ở gian đầu hồi, có cửa thông ra ngoài ao, thấy động có thể rút ra ngoài một cách dễ dàng. Nhưng hầu như Thường không ngủ, bởi vì anh quá lo cho trận đánh ngày mai. Ban tối, trước khi đến đây anh đã kiểm tra lại các nguồn điện một lần nữa, quả mìn nào cũng thông mạch hết. Mọi việc suôn sẻ theo đúng kế hoạch, vậy mà sao anh vẫn phấp phỏng không yên. Trận đánh này mà thất bại thì thật không còn mặt mũi nào để nhìn mọi người. Đây là trận phối hợp cả ba đơn vị huyện đội, đại đội 25 và đơn vị S20, mà cốt lõi lại là những quả mìn của S20. Nếu mìn của các anh không nổ hoặc bị lộ thì cả trận đánh coi như phải huỷ bỏ, bộ đội lại phải giấu quân thật kỹ, nhân dân khu vực này lại phải chịu càn quét dã man. Mình sẽ có tội lớn với nhân dân. Làm sao mà dẹp được nỗi lo lắng, bởi vì trên một đoạn đường ngắn mà có đến gần chục quả mìn, với một lượng thuốc nổ lớn đang nằm đợi, biết bao nhiêu sự cố có thể xẩy ra. Chỉ một sự cố nhỏ thôi là kế hoặch trận đánh lớn sẽ hỏng hết. Bồn chồn mãi, anh vừa chợp mắt thì đã nghe cô gái gọi se sẽ: - Anh Bình ơi, bốn giờ rồi anh ạ. Anh dậy ăn sáng rồi chuẩn bị ra đồng. Bà con ở đây đi làm từ tờ mờ đất anh ạ. Cô gái gọi anh là Bình, vì để đảm bảo bí mật, anh phải đổi tên như thế. Anh được biết cô tên là Bống. Thường vội vàng vùng dậy. Mình mà đi sau bà con thì dễ bị lộ lắm. Phải cùng đi với mọi người. Anh phải chuẩn bị để trở thành " chị Bình" đi gặt lúa cùng em Bống. Thường vừa từ phía chum nước rửa mặt trở vào, đã thấy Bống bê quần áo để vào giường quay ra, cô nói: - Quần áo của chị đây ạ, chị thay đi để còn đi gặt. - Được, tôi thay ngay đây. Cô chuẩn bị chu đáo lắm. Anh lúng túng cầm chiếc yếm quay ngược, quay xuôi. Bống rúc rích cười, hai mắt long lanh: - Anh để em mặc hộ. Cái này dây dợ nó cũng hơi lằng nhằng đấy. - Vừa gọi là chị bây giờ lại anh rồi. Cô phải tập gọi cho quen đi, kẻo chốc nữa gặp ai lại gọi là anh thì lộ hết. - Vâng, chị yên tâm. Em sẽ đưa chị đi gặt thật an toàn. Chị mặc cái bộ này hơi ngắn một chút, nhưng trông "xinh gái " ra trò. Mỗi tội... Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:45:41 am Thường cúi xuống nhìn tấm áo gụ ngay thuỗn bám chặt vào thân mình, chợt nhớ ra mình còn thiếu đặc điểm nổi bật của phụ nữ, nhưng ngại quá không dám nói với cô gái này. Nghĩ ngợi một lúc rồi anh hỏi:
- Cô Bống có khăn tay bông không, cho tôi mượn hai chiếc. Bống chợt hiểu ý anh, nhưng còn xấu hổ hơn. Cô không dám nhìn anh, nói nhỏ: - Anh đợi em một chút. Rồi cô cũng tìm được hai chiếc khăn tay đưa cho Thường, vẫn quay đi, cô nói: - Anh dùng tạm. - Lại anh rồi. Cô phải gọi cho đúng chứ. Tôi kiểm tra lại nhá, nếu gặp người làng thì cô nói thế nào? - Em sẽ nói là em có bà chị họ ở làng bên sang gặt giúp. - Được rồi, nhưng tốt nhất là không nên để ai hỏi chuyện gì, cô Bống nhá. Còn trận đánh này, tôi là người chỉ huy trực tiếp của cô. - Vâng! em biết rồi, em sẽ tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh. Anh bảo làm gì, em làm đó. Bây giờ mời chị Bình đi ăn sáng rồi chị em ta đi gặt. - Thường bật cười và khen: - Em ngoan lắm! Hai người cầm hái, quẩy quang ra đồng như mọi người đi gặt lúa. Vừa đi, Thường vừa dán mắt lên đoạn đường trước mặt. Những tên lính dò mìn đã khom lưng vác máy rà đi rà lại trên đoạn đường các anh đã chôn mìn. Chúng có vẻ cần mẫn làm việc, nhưng không phát hiện ra mìn. Máy dò mìn của chúng đã mất tác dụng từ lâu vì các chiến sĩ quân giới đã nghĩ ra cách dùng gỗ làm vỏ mìn, chốt toàn bằng đinh đồng. Đã vậy họ lại nguỵ trang một cách tài tình. Dạo trước chặn đánh xe địch trên đường quốc lộ số 5, đào đường nhựa lên chôn mìn, khi lấp đất nguỵ trang, họ đã nấu cả nhựa đường đổ lên, nhưng vẫn để lộ dấu vết. Một chiến sĩ nghĩ ra một cách: lấy một ít phân trâu đổ lên đó rồi dùng miếng lốp ô tô lăn lên trên, làm như xe vừa chạy qua một bãi phân trâu. Bọn địch không thể nghi ngờ dưới đó lại có mìn. Lần này Thường cũng nguỵ trang bằng cách đó. Cách này rất phù hợp với đoạn đường hàng ngày có nhiều trâu bò đi qua như ở đây. Hai chị em cô Bống đi đến gần đoạn đường đã chôn mìn thì rẽ xuống một ruộng lúa lúi húi gặt. Mặt trời đã nhô lên bằng nửa con sào, hừng đông rực rỡ, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Có tiếng ì ầm vọng tới, ngẩng lên họ đã thấy phía đầu đường đằng kia, mấy chiếc xe tăng đang nằm đợi, chốc chốc lại bấm còi, giục giã bọn lính dò mìn. Dường như chúng sốt ruột muốn đi nhanh. Những tên lính dò mìn làm hiệu an toàn cho đoàn xe tiến lên. Thường hồi hộp chờ đợi, mười mét, năm mét, ba mét... Anh hét to: - Đồng chí Tân, chuẩn bị! - Sẵn sàng! - tiếng Tân từ dưới hầm giữa ruộng lúa trả lời Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:47:29 am Bống ngỡ ngàng, không biết cái đồng chí Tân nào đó ra đây từ bao giờ và đang ngồi ở chỗ nào. Cô còn đang ngơ ngác thì lại nghe tiếng chị Bình:
- Chuẩn bị... Dí...dí...! Một tiêng nổ vang trời. Chiếc xe tăng to kềnh, bị hất nghiêng xuống vệ đường. Cô Bống quên cả sợ hãi, reo lên: - Xe tăng đổ rồi anh bộ đội ơi! - Mặc dù lúc ấy toán quân giặc ở phía sau nháo nhác, hỗn loạn, ở xa không thể nghe được tiếng reo của Bống, nhưng Thường đã xông lại phía cô, lấy tay che miệng cô lại: - Cô muốn chúng nã pháo vào đây à? Bộ đội đâu nào? - Em xin lỗi, nhưng em mừng quá, lần đầu tiên em được nhìn thấy chiếc xe to như thế kia bị đổ. Thường nghiêm mặt nói: - Bây giờ cô về đi. Nhiệm vụ của cô xong rồi đấy. Bống châng hẩng. Cô cảm thấy tiếng reo vừa rồi của mình đã làm anh bộ đội nổi giận, nên nhỏ nhẹ nói: - Chị Bình, em không dám reo to nữa đâu, cho em ở lại để tiếp tục gặt lúa với chị. - Nhưng mọi người chạy về cả rồi, cô ở đây nhỡ ra... Trận chiến sẽ còn ác liệt, cô tránh đi thì hơn. - Thế còn anh? Anh không sợ nguy hiểm sao? mìn giật xong rồi anh còn ở lại làm gì. Thường chưa kịp trả lời câu hỏi có vẻ ngang bướng của Bống thì một quả đạn pháo rít qua đầu, anh vội vàng kéo cô nằm xuống,ép vào bờ ruộng. Đây là lần thứ hai anh động vào da thịt phụ nữ. Lần này cũng trong một hoàn cảnh ngặt nghèo giống như lần trước, đều là sự nguy hiểm rình rập tính mạng. Nhưng lần này khác lần trước là anh hoàn toàn nhìn rõ khuôn mặt của Bống và không cần nín thở. Sau cái tiếng rít chói tai đó, anh có thể nghe rõ cả tiếng tim đập rộn ràng của Bống. khuôn mặt Bống đỏ nhừ, kề sát mặt anh. Mặc cho đạn giặc bắn loạn xạ trên đầu, Thường cứ nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ấy, đôi mắt ngây dại, như nhìn thấy một quả đào tiên tự nhiên rơi vào tay mình. Dưới bụng anh, Bống cựa quậy khiến cái cảm giác vừa như ngột ngạt, vừa như ngây ngất ngày nào dưới căn hầm bí mật ẩm và tối bùng dậy. Tự nhiên anh vòng tay xiết chặt tấm thân mềm oặt của Bống, khiến cô kêu lên khe khẽ: - Anh làm em ngạt...thở! Tiếng nói như gió thoảng của Bống đã đánh thức Thường. Anh vội vàng buông tay và vùng ngồi dây. Anh nói trong hơi thở dốc: - Cô cứ nằm im, chúng vẫn còn bắn đấy. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 09:49:00 am Lại một tiếng nổ vang trời. Từ phía cụm mìn thứ hai, ba cột khói đen kịt đang từ từ bốc cao. Một chiếc xe bọc thép của địch bị hất nghiêng xuống vệ đường. Toán lính bộ binh của giặc chụm lại, như muốn tìm một hướng tiến quân khác. Lúc ấy từ phía đông và phía tây của trận điạ, hai cánh quân bộ binh của Đỗ Ninh ào ào xông lên. Tiếng hô " xung phong" dậy đất. Cô Bống ngồi bật dậy mở to mắt vẻ kinh ngạc:
- Ôi sao mà nhiều bộ đội thế hả anh? Bộ đội về bao giờ mà chúng em không biết.Trận này thì quân giặc thua to rồi. - Quân của tướng Đỗ Ninh đấy. Ông anh khét tiếng của tôi, đã được mệnh danh là " Tư lệnh đồng bằng". Cô có nghe thấy cái danh hiệu ấy bao giờ không? - Có. Em nghe nói ông tướng này oai phong lắm. Bọn giặc ở trong đồn nghe nói ông ấy đưa quân về là răm rắp kéo ra hàng. - Đúng vậy! Thường cũng không hiểu tại sao anh lại khẳng định như thế. Thực ra Đỗ Ninh chỉ là đại đội trưởng, đâu đã có quân hàm, mà cũng chỉ có hơn một trăm quân, đánh đồn nào anh cũng rung doạ là chính, cứ nhận mình là quân chủ lực của đại đoàn. Vì thế bọn địch sợ hãi, có vài nơi chúng tự ra hàng, có nơi đội quân của anh mới đến đầu làng, bọn giặc trong đồn đã bỏ chạy hết, khi các anh vào, mâm cơm chúng bỏ lại vẫn còn ấm nóng. Tuy vậy nhưng nhiều nơi cũng phải choảng nhau ra trò. Bộ đội ta đã xung phong đánh giáp lá cà. Thường và các chiến sĩ S20 ở mấy gốc mìn cũng hô xung phong, góp thêm khí thế áp đảo kẻ thù.Trong lúc trận đánh diễn ra, hai chiến sĩ S20 đã nhanh chóng chạy lên mặt đường, dùng dao găm gạy hai quả mìn giả ra, đặt vào đó hai hai trái nổ, trọng lượng mỗi trái 15 ki lô gam, loại mìn điện tự động, rồi nhanh chóng rút lui. Lúc này đoàn quân tiếp viện từ sào huyệt của chúng rùng rùng kéo ra, đi đầu là hai chiếc xe tăng to kềnh, đằng sau là đội quân bộ cùng mấy chiếc xe cứu thương. Lần này chúng không cần dò mìn, bởi một đoàn xe đi trước vừa đi qua đoạn đường này mấy chục phút hoàn toàn vô sự. Chúng băng băng chạy về phía trước, nơi hai chiếc xe bị đổ và cánh quân bộ đang bị tấn công. Bỗng lại có tiếng nổ long trời, làm chiếc xe tăng tiếp viện đi đầu vỡ toác. Chiếc xe đi sau vội vàng dừng lại. Đám bộ binh hoảng loạn như ong vỡ tổ. Thế là chúng đành bỏ dở cuộc cứu viện để tự cứu mình. Bộ đội ta rảnh tay tiêu diệt đội quân chủ lực chính đang như gà mắc tóc giữa đoạn đường trống trải. Pháo binh của địch bắn yểm trợ một lúc rồi cũng im. Chúng buộc lòng phải bỏ dở cuộc hành quân. Các chiến sĩ đại đội 25 của Đỗ Ninh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Họ lặng lẽ rút xuống bờ sông, rồi bơi sang bờ bên kia. Trên trận địa lúc này chỉ còn lại xác những chiếc xe tăng đổ đang âm ỉ cháy, nhả ra những vệt khói đen quẩn theo chiều gió. Thường tập trung quan sát trận địa, hồi hộp theo dõi hai quả mìn đánh quân tiếp viện, đến khi một chiếc xe tăng bốc cháy anh mới thở phào. Như vậy là chiến sự diễn ra theo đúng kế hoặch của ta. Sự phối hợp giưã S20 với bộ binh thật hiệu quả. Quân ta đã giành chiến thắng nhanh hơn dự kiến. Mừng nhất là mấy trái mìn đều nổ đúng mục tiêu. Không còn chiếc xe nào dám vượt lên phía trước. Đây quả thật là một trận thắng hơn cả sự mong đợi. Thường vui đến nỗi quên khuấy cô bạn gặt vừa bị mình ôm chặt cứng. Bây giờ khi trận địa đã im tiếng súng, anh mới chợt nhớ đến cô. Nhìn quanh không thấy cô gái đâu nữa, anh hơi ngơ ngác, liền gọi: - Cô Bống ơi, cô ở đâu? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 02:40:25 pm Tân ôm hòm điện ở dưới hầm đã nhảy lên bờ từ lúc nào liền bảo:
- Cô ấy về lâu rồi, ngay từ lúc cậu cứ hét xung phong, xung phong ấy... - Thế càng tốt. Cô ấy đã hoàn thành nhiệm vụ rồi, ở đây nhỡ đạn nó văng phải cũng tội. - Nhưng cậu làm gì khiến cô ấy tự ái phải không? Tớ thấy cô ấy vừa đi vừa khóc hay sao ấy. - Khóc á? Tớ có làm gì đâu. Hay thấy mìn nổ, pháo địch bắn nhiều quá cô ấy hãi. - Bậy nào. Du kích vùng này dũng cảm có tiếng. Họ còn dám đánh giáp lá cà với bọn tây đấy, đừng nói là họ hãi pháo. - Thế thì làm sao cô ấy lại khóc. Thôi được, tối nay mình sẽ đến nhà để trả quần áo cho cô ấy, mình sẽ hỏi cho ra nhẽ. Theo kế hoạch, bộ đội phải rút hết về bên kia sông để đảm bảo an toàn, nhưng còn hai trái mìn nữa chưa nổ, nên Thường và Tân ở lại trận địa để theo dõi tiếp. Các anh ẩn nấp trong ruộng ngô gần bờ sông, vừa quan sát dễ dàng, vừa có thể rút lui nhanh chóng khi bị địch phát hiện. Mặt trời đã ở đỉnh đầu. Bụng Thường đã thấy kiến bò râm ran. Chắc đã trưa lắm rồi. Bên những chiếc xe vừa bị nạn, vẫn còn mấy tên lính canh chừng. Chắc chúng còn đang nghĩ cách và đợi đưa các xe này về sửa chữa. Chúng đưa về bằng cách nào? Thường tò mò muốn biết, hơn nữa anh còn muốn hai trái mìn đang nằm đó phát huy tác dụng, dù bụng đói nhưng anh động viên Tân cố ở lại. Dù sao các anh cũng phải đợi đến khi chúng thu dọn chiến trường, lỡ hai quả mìn còn lại không nổ thì tối nay các anh phải đào lên mang nó về chờ một trận đánh khác. Bỗng có tiếng ì ầm từ xa, rồi rõ dần. Một chiếc trực thăng vè vè ngay trên đầu, lượn mấy vòng rồi hạ cánh xuống ngay bãi ngô bên cạnh. Những cây ngô nơi hai người nằm ẩn rạp hết xuống đất. Gió mạnh đến nỗi chiếc áo cánh gụ trên người Thường muốn bung ra. Vậy mà anh cảm thấy vã hết mồ hôi. Bây giờ mà chúng phát hiện ra thì chỉ còn cách lao đầu vào máy bay để tự tử. Vì trong tay anh chẳng có thứ vũ khí gì ngoài một con dao díp nhỏ. Bỗng nhiên anh thèm có một khẩu tiểu liên hoặc súng trường trong tay, chỉ cần một phát đạn thôi, nhất định chiếc máy bay kia sẽ bốc cháy. Tiếc quá, thật là một cơ hội hiếm hoi. Nghe thấy tiếng chân chạy rầm rập ngày một nhiều. Thì ra chúng đang khênh những thằng bị thương lên máy bay. Thường hơi ngẩng đầu, hé mắt nhìn. Có đến chục thằng tây da trắng, máu me bê bết, thỉnh thoảng mới có một tên nguỵ lẫn vào. Chắc hẳn là sĩ quan. Thường đoán là bọn này sẽ được đưa về Hà Nội. Khi chiếc máy bay cất cánh bay lên, áo Thường lại như muốn bung ra. Thật là một phen hú vía. Bây giờ bọn lính đã rút bớt, nhưng hai đầu đoạn đường vẫn còn mấy tên canh gác. Thường đang nằm bẹp dí trong bãi ngô nhẩm tính kế hoặch lấy lại hai trái mìn thì nghe tiếng gọi xa xa: - Chị Bình ơi! Chị ở đâu? Nghe vài lần Thường nhận ra đúng tiếng cô Bống. Cô ấy gọi mình làm gì vậy. Bây gìơ mình thưa thì có sao không? bọn giặc đã đi hết nhưng còn mấy thằng lính gác kia, chúng có nghi ngờ không? Bống vẫn vừa đi vừa gọi: - Chị Bình ơi, chị ở đâu, em mang cơm cho chị đây. Bọn Việt Minh rút hết cả rồi, các quan Tây cũng về cả, chị đừng sợ, cứ nấp mãi thì đói lắm. Bống dám công khai gọi như vậy sao mình không dám ra chứ. Cô ta lại mang cơm ra tận đây, hay có lệnh gì của cấp trên. Băn khoăn như vậy, Thường hỏi Tân: - Theo cậu, tớ có nên ra gặp cô Bống không? - Cậu ra đi. Nếu có việc gì thì cứ về trước, để tớ ở lại canh chừng mấy quả mìn. - Thế cậu nằm yên đây, tớ luổn lên tít trên đầu bãi ngô kia rồi sẽ ra gặp Bống. Mọi việc yên ổn, tớ sẽ mang cơm lại cho cậu - Được, cậu đi đi! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 02:53:44 pm Lúc này Bống gần như đã tuyệt vọng. Cô gọi thật yếu ớt:
- Chị Bình ơi!... chị Bình... Thường giả giọng đàn bà: - Em Bống, chị ở đây này! Chị sợ lắm, đánh nhau khiếp quá. Bống mừng đến líu cả lưỡi: - Chị Bình, may quá, chị đây rồi. Em cứ lo chị lạc đi đâu. Khổ thân chị, chẳng mấy khi đến chơi đi gặt hộ nhà em, lại gặp hôm họ đánh nhau to như thế. Thường suýt phì cười vì câu nói của Bống. Cô ấy thật linh hoạt. Biết thương mình đói, rồi lại liều lĩnh mang cơm ra tận đây, nói dẻo như đi tìm chị thật ấy. Biết chắc không còn gì nguy hiểm. Thường kéo Bống mang theo liễn cơm đến tận đầu bãi ngô đằng kia, nơi Tân đang nằm ẩn nấp. Họ cùng ăn một bữa cơm thật ngon lành. Lúc ấy chừng hai giờ chiều. Bống kể: - Anh xã đội bảo em đi tìm các anh. Bên kia sông báo về là chưa thấy hai anh qua sông. Có người lo hay các anh bị thương. Em cũng sợ lắm. Nhưng nghĩ lại, các anh ở xa trận địa chính, mà pháo địch cũng ngừng bắn từ lúc em còn ngồi bên anh cơ. Vậy thì không phải bị thương. Mãi sau lại có tin nhắn sang là các anh còn ở lại theo dõi những quả mìn chưa nổ. Thế là em xin phép xã đội trưởng, nấu cơm mang ra đây. - Cô Bống bạo thật đấy. Nếu bọn địch đi tuần tra, bắt giữ thì làm thế nào, xung quanh khu này đều là khả nghi mà. - Em chả sợ. Thấy bà con đi chợ về nói rằng, bọn lính dưới Ninh Giang kháo nhau: Bộ đội Việt Minh có đến hai trung đoàn. Họ từ Thái Bình sang rồi lại rút về Thái Bình rồi. Dân ở đây làm gì nên tội mà chúng dám bắt. Với lại chúng đang hoảng loạn, chẳng còn lòng dạ nào mà đi tra xét ngay như vậy. Vùng này chúng vẫn coi là an toàn, chưa bao giờ chúng bị đánh đau như vậy, có đến ba chiếc xe tăng bị đổ, lính bộ binh chết như ngả rạ. Nghe nói bọn chỉ huy đang lục đục với nhau. - Khoái thật. Phen này bọn chúng sẽ phải co vòi lại, chớ ngông nghênh càn quét, bắt bớ như xưa. Sau khi ăn hết thìa cơm với con cá mắm cuối cùng, Tân hả hê nói vậy. Từ sáng đến bấy giờ chưa có hớp nước vào người, giờ lại ăn cơm với cá mắm nên càng khát đẫy. Tân bảo: -Hai người ngồi đây, tôi xuống sông múc ít nước uống tạm. Bống kêu lên: - Không được đâu anh ạ. Anh đi thì chúng nghi ngờ ngay. Vì anh không phải là đàn bà như em với chị Bình. Để em đi cho. Nhưng mà... uống nước sông sao được. - Được tất. Bọn chúng tôi uống nước sông, nước ruộng là chuyện bình thường. Cô cứ múc về đây. Bống mang cái liễn đựng cơm ban nãy đi múc nước. Lúc về cô hấp hổi nói: - Các anh ơi, không hiểu sao có một đàn trâu đông lắm đi về phía này. Thường và Tân vội vạch lá ngô nhìn ra. Có đến mười lăm, mười bẩy con trâu mộng đang chạy lồng trên đường. Bụi bay mù mịt. Nhìn đàn trâu lồng, biết rõ đằng sau có người đuổi mạnh. Thường hiểu ra ngay. Chúng không còn tin vào mấy cái máy dò mìn nên đã dùng đàn trâu của dân thay thế. Thật là sảo quyệt. Hai quả mìn ấy là để chặn đánh xe tăng địch, giờ mà nổ vào đàn trâu này thì thật có tội với nhân dân. Biết làm thế nào bây giờ? Thường nhìn Tân, hỏi một câu gần như vô nghĩa: - Mìn của mình đã nổ vào trâu bao giờ chưa nhỉ? - Chưa bao giờ. - Tân trả lời khẳng khái. Anh nói thêm - Đàn trâu đông như vậy nhưng chưa chắc đã dẵm vào mìn đâu. Mà có dẵm vào cũng chưa chắc đã nổ, cậu đừng căng thẳng quá. Trâu nó nhẹ hơn xe tăng nhiều. - Nếu vậy thì may, nhưng mà tớ lo lắm. Những năm vừa qua chúng đã giết bao nhiêu trâu bò cày kéo của dân rồi. Mình không muốn mìn của chúng ta lại góp thêm tổn thất cho dân. - Cứ đợi xem đã. Nếu chẳng may mìn nổ thì cũng là do bọn giặc chứ đâu phải tại chúng ta. Thôi nào, nhìn kìa, đàn trâu bắt đầu chạy vào bãi mìn rồi đấy. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 02:54:57 pm Họ nín thở nhìn đàn trâu đang bị lùa vào chỗ chết. Một con, hai con, rồi cả đàn vượt qua, không hề có tiếng nổ. Ôi, thật là may. Chúng tiếp tục lùa đàn trâu chạy trên đường, chạy qua mấy chiếc xe đổ đến ba cây số mới dừng lại. Dường như đã thật sự yên tâm, chúng thổi còi inh ỏi. Từ bến phà, một chiếc xe cần trục nặng nề chuyển bánh vế phía trận địa. Thường thở phào, à thì ra chúng muốn dùng cần cẩu để cứu mấy chiếc xe tăng kia. Xem chúng xoay sở thế nào. Chiếc xe cần trục đầy vẻ kiêu ngạo lừ lừ tiến lên. Đến mục tiêu của nó, nó soay sở, lùi xuống, tiến lên, tìm vị trí thích hợp để vươn cánh tay dài theo chức năng của mình. Khi nó tiến về phía chiếc xe đổ, cách chừng 30 mét thì bất thần hai tiếng nổ long trời, dậy đất vang lên. Chiếc cần trục giật bắn mình rồi cũng từ từ nghiêng sang bên phải, gục cái cánh tay cần cẩu xuống ruộng lúa đang óng vàng. Nghe tiếng nổ bất ngờ, Bống hét lên một tiếng "ối", rồi ôm chầm lấy Thường. Tân vui quá, suýt nhảy lên reo hò, rồi anh kịp nhớ ra mình đang ẩn nấp để theo dõi địch nên chỉ đập mạnh vào vai Thường để bày tỏ niềm vui. Bàn tay anh đập xuống rất mạnh, nhưng không trúng đôi vai lực lưỡng của Thường mà lại trúng vào đôi vai mềm mại của Bống. Anh vội vàng giật tay lại, quay sang nhìn hai người bạn. Thường ngồi ngay như trời trồng, tay buông thõng, nhưng hai mắt thì long lanh như đang nhảy múa. Niềm vui bất ngờ lúc này được nhân đôi. Thế là hai quả mìn còn lại đã định đoạt số phận cho chiếc xe cần trục. Nó được chia sẻ nỗi đắng cay cùng những chiếc tăng có gắn hai nòng pháo từng ngạo nghễ khạc lửa. Thường cũng muốn khua chân múa tay, nhưng cô Bống đang ôm chặt lấy anh, làm anh không dám động đậy. Lần này không phải anh ôm cô mà chính là cô ôm anh. Đó là niềm vui đột ngột mà bình thường có nằm mơ anh cũng không dám nghĩ tới.
Chương16 Được phục thuốc tốt, lại được mẹ chăm sóc ân cần nên chẳng bao lâu Bẹ khoẻ lại bình thường. Cô ngắm nghía chiếc khăn bông có hình chiếc tháp cao vút, điểm suyết mấy bông hoa lạ, cô chẳng biết là hoa gì, cũng chưa trông thấy bao giờ, rồi lại nhìn những hàng chữ Pháp, nhưng cô cũng không thể đọc được, trong lòng cô cũng rất băn khoăn. Cô đoán nó là chiếc khăn đắt tiền, vì trông màu sắc nó tươi roi rói, sợi bông mịn màng, sờ nuột tay. Mùi nước hoa thơm mát từ những sợi bông ấy đã một tuần rồi mà vẫn còn phảng phất thơm như hôm đầu. Ai có thể cho cô chiếc khăn này, có phải anh chàng Thân không? Anh ta đã nhìn thấy nỗi ê chề của mình, dù anh ta có cõng mình về đây, hay có cứu sống mình như anh ta nói thì Bẹ cũng không muốn gặp lại anh ta. Thật đáng ghét. Sao anh ta lại đi lính cho giặc? Rồi Bẹ lại nhớ cái hồi đầu kháng chiến, chính anh ta đã chạy lên đồn báo Tây để chúng về đốt làng, bắn giết bộ đội và du kích. Tên Thân này đã phản bội dân làng, phản bội Việt Minh. Dù hắn có tốt với mình thì cũng phải trừng trị hắn. Lần này nhất định mình sẽ báo cáo với xã đội trưởng việc ấy, không thể tha thứ cho cái tội phản nước, hại dân. Nghĩ vậy Bẹ càng mong đồng chí xã đội trưởng đến thăm mình. Mà lạ quá, từ hôm mình về, ngoài mấy dòng chữ với gói quà, mình chẳng nhận được tin tức gì của anh ấy. Liệu anh ấy có sao không? Mãi đến ngày thứ mười kể từ hôm Bẹ về nhà, anh Sang mới đến thăm vào một buổi tối. Cùng đi với anh còn có hai du kích lạ mặt, vai khoác súng kè kè. Gặp lại người đồng chí cấp trên trực tiếp của mình, tự nhiên nước mắt Bẹ tuôn trào. Cô vừa mừng vừa như tủi phận. Anh Sang động viên một cách ân cần: - Bẹ đừng xúc động quá. Cũng đừng trách bọn anh lâu không đến thăm em. Tuy không đến thăm, nhưng tình hình sức khoẻ của em bọn anh vẫn nắm chắc. Em khoẻ lại là mừng rồi. Giờ cứ yên tâm mà tĩnh dưỡng nhé. Khi nào có việc, tổ chức sẽ gặp em sau. Thăm hỏi một lúc nữa rồi anh Sang ra về. Bẹ cảm nhận rõ một sự lạnh lùng, một sự hờ hững của người cấp trên mà cô hằng tin cậy. Nhớ lại ba bốn tháng trước, Bẹ được tổ chức giác ngộ rồi kết nạp vào Đảng, lúc ấy cô vui khôn xiết. Dưới một mái nhà tranh ở xóm Chùa, cô đã rưng rưng cảm động và giơ cao cánh tay xin thề. Cô thề cống hiến trọn đời mình cho Đảng, cô thề với tất cả bầu nhiệt huyết nóng bỏng của mình. Trước đó Bẹ nào có biết Đảng là gì đâu. Cô là lớp người trưởng thành sau cách mạng tháng Tám. Khi giặc Pháp trở lại xâm chiếm quê hương cô mới mười bốn tuổi. Cô nghe lời mẹ khuân đồ đạc nhà mình vứt lên đường Năm làm chướng ngại vật ngăn cản giặc. Rồi cô theo mẹ đi tản cư. Hơn một năm sau cô trở về làng với vóc dáng một thiếu nữ. Sống dưới sự kìm kẹp của Tây, xóm làng như ngạt thở, mọi việc đều xáo trộn, muốn đi đâu phải bẩm báo. Nhiều người không dám đi chợ. Có việc từ làng này sang làng khác cũng rất ngại ngần. Bẹ mới mười lăm, mười sáu tuổi đã nghĩ ra nhiều cách để vượt qua mắt giặc một cách an toàn. Cô thường xắn quần tới gối, đeo chiếc giỏ ngang hông, cúi lom khom trên các bờ ruộng, đi từ làng này sang làng khác. Hôm là một giỏ cua mang về, hôm là một giỏ tép. Sau mỗi lần đi như thế, cô được mắt thấy tai nghe những chuyện diễn ra ở các làng bên, về kể lại vanh vách với mọi người. Thấy vậy có người ngại đi thường nhờ cô việc này, việc khác ở những làng lân cận. Cô vui vẻ nhận làm giúp và việc nào cũng suôn sẻ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 02:57:39 pm Một hôm anh Sang nhờ cô đưa mảnh giấy cho một người ở làng Chằm, Bẹ đưa đến nơi an toàn, trót lọt. Tờ giấy viết gì, cô không biết, vì từ nhỏ đến lớn Bẹ có được học chữ bao giờ. Bẹ không đọc được càng làm cho anh Sang yên tâm hơn. Từ đó thỉnh thoảng anh lại nhờ cô chuyển thư từ. Đến khi cô trở thành người lớn thực sự, nghĩa là không thể ăn mặc như trẻ con được nữa thì cô cũng đỏm dáng như bao phụ nữ khác trong làng. Ngoài cậu Thân chú ý, cô còn cảm nhận có cả những đôi mắt khác nữa, trong đó có cả những đôi mắt của các anh đã có vợ, có con, mặc dù họ hơn cô đến mười tuổi. Mỗi lần ra khỏi nhà cô chỉ mặc chiếc áo gụ cổ tim, bên trong là chiếc yếm mỡ gà với chiếc váy sồi đen, thế mà bao nhiêu con mắt hướng vào cô. Đàn bà thì bảo: Mày xinh quá, đắt chồng đấy. Đàn ông thì bảo: con bé này lớn bao giờ mà nhanh vậy. Mới hôm nào vẫn thấy cởi trần đày nắng đi bắt cua, mà bây giờ đã như một tiểu thư rồi. Giờ mày đừng sang làng khác nhá, họ sẽ bắt mày đấy. Mấy đứa bạn cùng lứa thì bảo: mày diện thế, bôi cái gì vào môi mà đỏ như son ấy hử. Thằng Thân chẳng bảo gì, nhưng đôi mắt nó cứ như dán vào người Bẹ, nhiều lúc cô cảm thấy ngượng phải tránh đi chỗ khác. Từ khi giặc về đóng bốt ở đầu làng, bà Thu bảo con:
- Giặc thì thời nào cũng độc ác con ạ. Con nên tránh xa những đôi mắt của bọn quan đồn. Chúng giống như diều hâu, mình giống như con gà con ấy. Diều hâu mà nhìn thấy gà con là nó sà xuống bắt ngay. Con cứ tránh đi là hơn con ạ. - Nhưng con biêt tránh đi đâu. Ngày xưa bu con mình đã đi tản cư để tránh giặc, rồi vẫn phải về để cày cấy đấy thôi. Bây giờ bu bảo con tránh đi đâu?... Hay bu hỏi thăm xem anh Ninh con ở đâu để con đi tòng quân theo anh ấy! Bà Thu chột dạ: - Con đừng nói đến anh Ninh. Làng mình là làng tề rồi, nếu ban tề và bọn giặc trên đồn biết anh con đi bộ đội Việt Minh thì chúng chẳng để mẹ con mình sống yên đâu. Bu vẫn nói với mọi người là anh con đi mộ phu vào Nam từ trước cách mạng đấy chứ. Con đừng nhắc đến chữ tòng quân nữa nhá. ý bu nói là con không nên lộ mặt ra chỗ bọn lính tráng ngoài đồn. Con ít ra đường thôi. Vài hôm sau Bẹ nói với mẹ: - Bu cho con mượn bộ váy áo cũ của bu. Con sẽ đóng làm bà già. Còn mặt thì con xát lá khoai vào cho nó thâm đen lại. Thế là với bộ váy đụp, áo cũ của mẹ, cô gái trẻ đã có thể yên tâm đi làm, chẳng sợ bọn lính tráng để ý. Dân làng cũng nhiều người không biết, cứ tưởng Bẹ lại ra vùng tự do như trước. Cái hôm ba anh bộ đội về làng đóng ở nhà, Bẹ cũng phải đi công việc cho anh Sang. Anh bảo cô sang mãi bên kia sông để gặp một người, mà cho đến giờ Bẹ cũng chẳng biết người đó là ai. Người ấy gửi về cho Sang một gói nhỏ, để trong một chiếc làn cói, Bẹ phải về sớm như người đi chợ huyện. Vì thế nên cô mới gặp Thân ngang đường, cũng vì thế mà cô cứu được mấy anh bộ đội. Hồi ấy Tây còn đóng bốt ở xa, mà cũng chưa càn vào làng lần nào, nên Bẹ chưa biết sợ. Gà gáy canh hai đã một mình đi từ bến sông về, đoạn đường dài đến 5 cây số toàn qua cánh đồng chẳng có làng xóm. Dần dần thấy Bẹ gan dạ lại tháo vát nên anh Sang vận động cô làm việc cho tổ chức. Anh giảng cho cô hiểu tổ chức Đảng là gì. Anh nói rất nhiều, nhưng Bẹ hiểu gọn lại, Đảng là người chỉ lối, đưa đường cho nhân dân đánh đuổi giặc Tây, giành lấy tự do độc lập. Người đứng đầu của Đảng là Cụ Hồ. Chỉ biết đến đấy thôi Bẹ đã vui lắm rồi và cô rất súc động khi được tổ chức Đảng chú ý tới. Rồi cô được anh Sang bố trí cho học chữ. Bẹ học rất nhanh, chỉ sau hai tháng cô đã đọc thông viết thạo. Hôm họp chi bộ phân công người phối hợp đánh mìn với bộ đội, Bẹ đã xung phong từ đầu vì muốn tỏ rõ mình là một đảng viên mới. Tổ chức không đắn đo nhiều mà vui lòng giao nhiệm vụ ấy cho cô. Vậy mà giờ đây cô đã hoàn thành nhiệm vụ, sao tổ chức lại có vẻ thờ ơ? Rồi lại còn có người đeo súng đi kèm anh Sang? Đó là ý gì? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 02:59:32 pm Tuy không lý giải được câu hỏi ấy, nhưng Bẹ gạt dần những băn khoăn để vui sống trở lại. Tuy vậy nhưng mỗi lần nghĩ đến nỗi nhục nhã trong đồn, cô lại uất lên,tinh thần suy sụp. Đời con gái của cô thế là bị chúng cướp mất. Rồi sau đây không biết có người đàn ông nào còn thương yêu cô, không biết rằng liệu cô còn có thể sinh con cái? Đây là nỗi đau mà người chịu đựng không thể nói ra, muốn chôn lấp chặt trong lòng. Hai tháng trời Bẹ không ra khỏi nhà, chỉ vì muốn nỗi buồn đau của cô chìm sâu vào dĩ vãng.
Dẫu là buồn khổ, dẫu là uất ức bao nhiêu thì con người cũng cần phải sống. Vậy mà hồi ấy Bẹ đã toan tìm đến cái chết. Đó là vào những ngày cô khoẻ trở lại, đang muốn đi làm đồng cùng bà con. Một hôm cô nhận được tin anh Sang bị giặc bắt lên đồn rồi đưa đi đâu biệt tích. Cô choáng váng như bị ai đánh mạnh vào đầu, làm cô khuỵ ngã. Anh Sang bị bắt, hoạt động du kích của làng này, của xã này sẽ ra sao? Tất nhiên tổ chức còn nhiều đồng chí khác, nhưng từ trước đến giờ Bẹ chỉ quen làm việc với anh Sang. Mà vì sao anh ấy lại bị bắt? Bẹ không sao hiểu nổi. Đang băn khoăn và suy sụp thì có người mang đến nhà đưa cho Bẹ một mảnh giấy nhỏ, trong đó viết:" Đồng chí Bẹ, tổ chức yêu cầu đồng chí trình bày rõ sự việc diễn ra với đồng chí khi ở trong đồn giặc, đặc biệt là thái độ của đồng chí với quan đồn Tây thế nào? Tại sao đồng chí lại được bọn Tây cho chiếc khăn đẹp như thế? Tổ chức yêu cầu đồng chí cần trung thực trình bày, viết rõ ra giấy và nhanh chóng nộp lại để tổ chức xem xét. Ba ngày nữa sẽ có người nhận bản khai của cô ".Ký tên: xã đội phó Trần Ve. Đọc xong tờ giấy này, mắt Bẹ hoa lên, sống mũi cay sè. Cô cố đọc lại lần thứ hai thì nỗi uất ức dâng nghẹn cổ. Những việc diễn ra trong đồn, chỉ nghĩ lại đã khiếp hãi rồi, đã dơ duốc quá rồi, làm sao cô dám viết ra? Lại hỏi quan hệ với đồn Tây thế nào? Sao lại có chiếc khăn đẹp? Trời ơi, sao tổ chức lại bắt cô trả lời những câu hỏi độc ác và vô lý đến thế? Người đưa tờ giấy để Bẹ đọc xong, ngẫm nghĩ kỹ nội dung rồi đòi tờ giấy lại mang về. Bẹ nằm khóc đẫy một đêm, sáng hôm sau cô tìm chiếc quạt mo và một mẩu than để làm giấy và bút. Cũng vì một lý do là lúc ấy nhà Bẹ chẳng có giấy bút gì. Tấm quạt mo rất to, nhưng cô chỉ viết có năm chữ " Đừng hỏi thế, uất lắm ". Khi tấm quạt mo chuyển đến tay Trần Ve, người xã đội phó chuẩn bị thay chân xã đội trưởng Sang, anh nhìn mấy chữ đen đen, cũng uất giận không kém. Anh nghĩ: Cô ta dám tỏ thái độ coi thường tổ chức, hay chính là cô ta coi thường anh. Quá lắm. Đã vậy phải xử lý cô ta. Cần gì phải cô ta tự nhận, từ thực tế cũng kết luận được rằng cô ta không chịu nổi đòn roi, đã khai báo với giặc, hoặc ít nhất cũng là đầu hàng giặc, nên chúng mới tha về, lại còn cho quà nữa. Có khi cô ta còn ngầm làm việc cho chúng cũng nên. Bởi vậy nên đồng chí xã đội trưởng mới bị bắt. Nhất định phải phải xử lý thật nghiêm. Nghĩ thế, nhưng xử lý bằng cách nào thì Trần Ve chưa biết. Việc này đúng ra không phải việc của anh, song do đồng chí Bí thư chi bộ quá bối rối vì đồng chí xã đội trưởng bị bắt, nên giao cho anh toàn quyền giải quyết. Tuy rằng anh Sang bị bắt mãi bên làng Minh, do bọn giặc đi lùng sục, phát hiện ra hầm bí mật. Bẹ không thể biết anh Sang trốn đi đâu và càng không sao biết căn hầm bí mật ấy. Nhưng nhân sự kiện này Trần Ve có cớ để kiểm điểm Bẹ. Anh báo cáo với chi bộ rằng cô Bẹ đã khoẻ và vì cô thuộc đội du kích làng Vân do anh phụ trách nên việc kiểm thảo cô ta cứ giao cho anh. Nhận làm việc này, Trần Ve có cơ hội thể hiện một chút tình cảm riêng tư. Hình như anh ghen tuông. Nỗi nghi ngờ cũng xuất phát từ đấy. Tiếp súc với Bẹ đã nhiều năm, từ khi cô ta còn mặc quần ngắn cũn cỡn mò cua khắp các đồng, đến khi cô dậy thì, hai má hây hây suốt ngày đỏ mọng. Lại thêm đôi mắt đen láy nhìn vào đâu như làm mát lạnh chỗ đó. Trần Ve luôn có cảm giác khát nước khi nói chuyện với cô. Vậy mà cô không hiểu. Cô luôn thân thiết với anh Sang, mà không giành cho anh một ánh nhìn thân thiện nào. Có hôm đi họp về cùng đường, cô ta cũng cứ cùn cụt đi trước, chẳng hề trò chuyện. Con gái trong làng mười bẩy, mười tám hầu như đã có chồng, có con, hoặc đi tản cư cả. Chỉ còn vài cô tầm tuổi Bẹ chưa xây dựng gia đình. Trần Ve rất muốn kết thân với Bẹ, rồi vài năm nữa cô ta hai mươi, hai mốt anh sẽ mạnh dạn hỏi cô làm vợ hai. Nhà cô mẹ goá, con côi, nghèo như thế, có thằng anh trai thì đi làm phu biệt tích trong Nam. Bẹ mà làm bạn với anh, nương tựa vào anh thì yên tâm mọi bề, bà mẹ chắc đồng ý ngay thôi, thời buổi loạn lạc, tìm đâu ra một người đàn ông khoẻ mạnh, chững chạc như anh. Trần Ve vẫn tự nhủ như thế và đợi thời cơ thực hiện ý định của mình. Vậy mà cô lại rơi vào tay giặc, lại được chúng chăm sóc. Cô còn gì để phần anh đâu, ngoài một tấm thân dơ dáy? Dường như không dầy vò được tấm thân non tơ ấy nên Trần Ve quyết dày vò tâm hồn cô. Anh còn đang nghĩ cách xử lý Bẹ thế nào thì có người báo tin: - Anh Ve, cô Bẹ tự tử rồi - Sao? tự tử à? Có sao không? - Suýt nữa thì chết hẳn, may mà có bà mẹ đi làm về kịp. Cô ta treo cổ ở trái nhà. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 03:01:05 pm Trần Ve thở phào:
- Cô ta to gan nhỉ. Sao lại đã chán sống rồi! Lời nói có vẻ lạnh lùng như vậy, nhưng trong bụng Ve cũng xót xa. Người đẹp như thế, chết đi uổng thật. Và anh cũng hiểu mình không thể xử lý cô ấy vào lúc này. Nhất là hôm qua, anh mới nhận được thư khen của huyện đội về việc du kích xã phối hợp với bộ đội đánh đổ đoàn tàu quan trọng của giặc. Bức thư ấy là phải đọc cho tất cả du kích cùng nghe, đặc biệt là cô Bẹ, người trực tiếp làm việc ấy. Nhưng anh đã dúi vào một só nào đó trong căn hầm bí mật của mình. Trần Ve cho rằng tại anh chưa báo cáo được tình hình cụ thể khi Bẹ bị bắt vào đồn giặc nên huyện đội mới viết thư khen. Bây giờ cô ta lại giở thêm trò tự tử, mình làm sao dám mạnh tay. Phải đợi một thời gian cho mọi việc lắng xuống, mới xử lý được. Bẹ chui đầu vào thòng lọng ở trái nhà, may, bà Thu về kịp, hô hoán ầm lên, mấy người hàng xóm đã đến tháo dây xuống, Bẹ chỉ nằm một lúc rồi tỉnh lại. Khi tỉnh lại cô khóc như mưa như gió vì mình không chết đi được. Dân làng biết tin, rủ nhau đến động viên, an ủi. Ai cũng nghĩ rằng vì Bẹ không quên được nỗi nhục trên đồn giăc nên quyên sinh. Người ta càng an ủi bao nhiêu, lòng cô càng tan nát bấy nhiêu. Bà mẹ thì mặt ủ mày chau, không dám rời con nửa bước. Mấy ngày sau cô bảo mẹ: - Bu ơi, bu đừng buồn nữa. Con không dại dột lần thứ hai đâu. Bu thương con bu nhé! Người mẹ đang dầu lòng, nghe con nói vậy bà dằn dỗi: - Sao lại nói thế. Tôi không thương chị thì tôi thương ai. Nhà có một mẹ một con mà chị đang tâm bỏ tôi mà đi trước à. Chị định để cái thân già này héo khô thành củi hay sao?... - Con xin nhận lỗi với bu. Lần này con xin bu giúp con một việc. - Giúp được con việc gì, bu có tiếc bao giờ.Con muốn làm gì? - Con muốn đi xa một thời gian để quên hết mọi chuyện. Bu đồng ý cho con đi nhá. ở nhà con không sống nổi bu ạ. - Nhưng con đi đâu? - Con nhớ ra anh bộ đội bị bắt cùng con hôm ấy, anh ấy nhờ con đến thăm mẹ anh ở bên Thanh Miện. Nhà anh ấy cũng chỉ có một mẹ một con thôi. Con sang đấy nếu thuận lợi thì con ở lại vài tháng rồi con lại về. Bu chịu khó ở nhà một mình đợi con. - Con nghĩ quẩn rồi. Nhà người ta có một mẹ, một con mà con sang đấy ở thì dân làng bên đó nghĩ thế nào? - Nghĩ thế nào cũng được bu ạ. Anh ấy đã bị giặc đầy đi Côn Đảo rồi. Con đã nhận lời sẽ đến thăm mẹ anh ấy khi được thả ra mà. Cuối cùng bà Thu đành phải để con gái ra đi. Bẹ đi vào một đêm tối trời. Dân làng không ai biết cô đi khỏi làng từ bao giờ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 03:02:45 pm Chương 17 Một mình đi trong đêm tối cũng là liều lĩnh, nhưng bây giờ, khi mà đã trải qua nỗi tủi nhục và từ cái chết trở về, Bẹ không còn sợ gì nữa. Cô đi theo những con đường làng, ngày càng xa đường số Năm. Bẹ biết rằng ven trục đường Năm, hệ thống đồn bốt, tháp canh của chúng dầy đặc. Còn đi qua những làng tề cũng nguy hiểm, nhưng vẫn có thể vượt qua. Hơn nữa ở các làng tề, giặc chỉ sợ du kích và bộ đội có vũ khí, còn dân thường như cô chúng chẳng thèm để ý làm gì. Bẹ cứ đi theo sự hình dung của mình, mệt lúc nào, nghỉ lúc ấy. Sáng ra, cô đi lẫn cùng những người đi chợ, lân la hỏi thăm, chiều hôm sau thì Bẹ đến được làng Rồng. Làng Rồng từ sau trận Trái Chanh của giặc, không phải chịu trận càn nào lớn hơn. Tuy nhiên dân làng vẫn nhao nhác như gà phải cáo. Những vết thương từ trận càn trước vẫn âm ỉ nhức buốt. Miệng các vết thương đã được băng lại, nhưng vẫn còn một vết thương đã thành cố tật, ngày đêm nhức nhối, không thể nào lành được. Đó là nỗi đau của bà Di, chẳng phải một mình bà mà là cả dòng họ của bà đang ngấm nỗi đau chung. Dân làng chăm sóc, rồi an ủi, bà Di khoẻ dần lại, nhưng miệng bà không lúc nào ngớt nôn oẹ. Đến ba bốn ngày bà không ăn được chút gì vào bụng. Chỉ cần đưa chiếc thìa hoặc cái bát vào đến miệng bà đã oẹ rồi. Những lúc không ăn uống, nước dãi, nước dớt trong miệng cũng cứ trào ra. Ông thày lang cao tay nhất vùng được mời đến thăm khám, nhưng cũng chịu không biết chính xác là bệnh gì. Ông cố gắng cho bà uống hết ba thang thuốc thì bà thôi nôn oẹ, nhưng cái bệnh chảy dớt dãi thì không sao chữa được. Bà đành mang bệnh đến già. Quanh năm nước dớt dãi trào ra ướt cằm, quanh năm bà phải buộc chiếc khăn bông ở cổ. Căn bệnh đeo bám suốt đời này đã khổ, nhưng khổ hơn nữa là mấy tháng sau bà thấy bụng mình cứ ngày một đầy lên. Đến thày lang bắt mạch, thày cho biết rằng bà đã có thai, và cái thai rất to. Bà rụng rời như người nhìn thấy thần chết. Sao mình lại có thai được chứ. Chả nhẽ cái sự việc hãi hùng ấy mà cũng làm có thai được sao. Lâu nay mình vẫn nghĩ mình già lắm rồi mà. Giời ơi! nỗi ô nhục tưởng sẽ bị chôn theo ngày tháng, nào ngờ nó lại gieo mầm mống trong bụng bà. Bà muốn đâm đầu xuống ao cho rảnh nợ. Nhưng nghĩ đến đứa con trai đi tòng quân, chưa một ngày được gặp lại nó, bà không thể ra đi. Bà hỏi ông thày lang liệu có cách gì bỏ được cái thai đi không? Ông thày lang trả lời: - Phá thai là giết người, tôi không bao giờ làm cái việc thất đức đó. Bà âm thầm nhờ người mua thuốc thôi thai ở khắp chợ gần, chợ xa, nhưng càng uống vào, bụng bà càng nhanh to hơn. Nghe người ta nói, uống nước rau ngót sống có thể làm ra thai, ngày nào bà cũng hì hục giã rau ngót, nhắm mắt uống hàng bát to. Nhưng uống có đến mười bát mà vẫn chẳng thấy dấu hiệu gì. Có hôm bà xếp hai thúng thóc chồng lên nhau, phải nặng đến sáu chục cân, gánh chạy vòng quanh sân đến mấy vòng, vừa chạy vừa dậm chân thật mạnh, mong cho cái đồ nghiệt chủng kia rơi ra, vậy mà nó chẳng hề gì. Uất quá, bà tự lấy tay mình phát vào bụng đến đỏ tấy. Khổ thân bà, đã yếu ớt, đã nghèo nàn, đã nhục nhã, lại thêm cái tội đẻ hoang nữa, bà còn muốn sống làm gì. Thế mà vẫn không làm sao chết được. Ngày xưa nghe các cụ nói, những người chốn chúa, lộn chồng, những người mang thai rồi vất bỏ, dẫu có chết đi cũng không thoát tội. Nhẹ thì phải ngồi bàn chông, mà nặng thì phải bỏ vào vạc dầu đun sôi. Bà hãi lắm. Thôi đành ôm cái cái bụng to kềnh cùng nỗi nhục nhã mà sống cho qua ngày để khỏi gánh tội mai sau. Dân làng nhìn cái bụng to kềnh ấy, nhiều người bàn tán. Có người ít thông cảm thì nói châm chọc: - Bị Tây hiếp mà cũng có chửa cơ đấy. Chắc là cũng dửng mỡ đồng tình với nó thì mới chửa được chứ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 03:05:16 pm Người thông cảm hơn thì bảo:
- Nhiều người bị Tây hiếp, cũng có chửa và đẻ con rồi chứ. Tính bà Di ai còn lạ. Bà ấy không có bụng dạ nào đâu. - Tội nghiệp bà ấy. Cầu trời cho cái bọn Tây đen ấy nó chết hết đi. Anh em, họ hàng nhà bà, cũng toàn người nghèo khó. Chẳng ai giúp cách gì được cho bà. Họ họp nhau lại, bàn cách xử lý thằng Tây con khi bà sinh ra. Ông chú họ bảo dứt khoát cứ bóp cổ chết ngay khi nó chào đời. Vì để nó sống thì cả họ không để đâu hết nhục. Có người bảo, đem ra đồn Tây mà giả chúng nó. Người khác bảo, nên bỏ ở một nhà thương nào đó cho nó an toàn. Riêng bà Di chỉ khóc ngấm, khóc ngầm, vừa là tủi hổ, vừa là căm giận. Sau bao nhiêu biện pháp tống khứ nó mà không được, bà nghĩ rằng giời bắt tội bà. Đành phải chịu tội, không thể dùn đẩy cho ai. Bà Di sinh con vào một buổi sáng đẹp trời. Bà đỡ mát tay nhất xã, phải chật vật lắm mới lôi được đứa bé ra. Nó là một thằng con giai, nặng đến 5 cân, da đen bóng như vừa tẩm mực tầu, mái tóc rậm rì, xoăn tít. Tiếng khóc của nó choang choảng như là đứa bé ba tháng. Dù ác cảm với bọn Tây đen đến mấy thì bà đỡ cũng phải thốt lên một câu: - Thằng bé xinh quá. Mong rằng mày đừng ác như bố mày. Chuyện bà Di đẻ ra một thằng Tây đen con được truyền khắp làng một cách nhanh chóng. Nhiều bà mượn cớ thăm nom để thoả chí tò mò. Ngay cả những người đàn ông không bao giờ được lui tới phòng bà đẻ cũng cứ nấp nom ngoài cửa. Những người họ hàng bàn nhau thực hiện ý đồ của họ. Bà Di chắp hai tay nhợt nhạt như tay người chết, van xin họ: - Xin các bác để cho cháu nó được sống với tôi. Nó có tội gì đâu. Bao nhiêu tội lỗi tôi đã gánh chịu hết rồi. Dù muốn vứt bỏ nó thì cũng phải để nó cứng cáp, biết ăn cơm ăn cháo đã chứ. Trước một sinh linh nhỏ, chẳng ai nỡ lòng nào. Lại thêm lời cầu xin thống thiết của mẹ nó, nên cậu bé Tây đen được ở lại làng Rồng với mẹ. Mấy ngày sau người ta bảo đặt tên cho nó. Bà Di muốn đặt cho nó một cái tên thật xấu cho bõ tức. Bà nghĩ mãi. Một người bảo: - Việc gì phải nghĩ nữa, cứ gọi nó là thằng Đen. - Đen thì đen rồi, việc gì phải gọi như thế, sau này nó lớn nó buồn. Hay cứ gọi nó là Tây. - Tây đâu mà Tây. Gọi như thế sau này mọi người ghét nó. Bà Di gượng gạo nói: - Tôi muốn đặt tên nó là thằng Nhục. Nó là nỗi nhục của tôi. - Ôi dà! Nhục! gọi như thế đau lắm. Thôi bớt đi một chữ, gọi là thằng Nhụ. - Được đấy. Từ Nhụ chẳng gợi cái gì, chỉ mình mẹ nó biết thôi. Bà Di cũng đồng ý như vậy. Thế là cậu bé ấy có tên là Nhụ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 03:06:52 pm Hôm Bẹ đến làng Rồng, cu Nhụ đã được ba tháng tuổi. Bà Di đã có thể địu nó lên vai để ra đồng. Nhà neo đơn, không thể kiêng cữ lâu hơn được.Trước khi vào nhà Bẹ đã được nghe kể hết mọi chuỵên. Hơn ai hết, Bẹ thông cảm với bà. Vào đến sân, trông thấy bà bế cậu da đen, không hiểu sao Bẹ bật khóc và buột lên tiếng gọi:
- Bu ơi! Bu có biết con không? Bà Di cuống lên, không biết nói sao. Bẹ nói với bà: - Con là bạn của anh Dũng đây! Bà Di càng ngạc nhiên, bối rối. Dũng nào? Cô ta vào nhầm nhà chăng?. Bà chủng chẳng hỏi lại: - Cô hỏi ai đấy? Thấy bà Di hững hờ ngơ ngác, Bẹ càng khóc dữ: - Bu không nhận con ư? Con là bạn thân của anh Dũng nhà ta mà, con cùng chiến đấu với anh ấy mà. - Cùng chiến đấu à, nhưng cô nói anh Dũng nào thế? - Anh Dũng con của bu! - Có phải cái thằng cao cao, nước da trắng, có cái mụn ruồi dưới cằm không? - Đúng ạ! - Ối giời! Nó là thằng Phương. Thế nó làm sao. Nó chết rồi ư? Bẹ lắc đầu: - Không, anh ấy có sao đâu. Anh ấy thương nhớ bu lắm, nhưng vì nhiệm vụ, không thể về được. Anh ấy nhờ con đến thăm bu! - Giời ơi, sao cô khóc nhiều thế, làm tôi tưởng... - Con khóc vì con thương bu quá! - Thế nhưng?. Con ơi, bu khổ lắm, bu nhục lắm, bu cũng có thiết sống đâu! Con vào đây với bu. Chắc thằng Phương nó biết chuyện rồi hay sao mà nó bảo con đến thăm bu. Con ở đây với bu, bu sẽ kể hết với con nỗi nhục nhằn này, rồi con nói lại với thằng Phương giúp bu. Bu cũng chẳng muốn gặp nó nữa đâu. Đợi thằng da đen này biết ăn cháo, bu sẽ bế lên chùa cho các nhà sư, rồi bu về với ông bà. - Không, không. Anh Phương chẳng biết gì đâu. Con vừa mới nghe người ta kể ở đầu làng. Thôi thì tai hoạ xảy đến với nhà nào thì nhà ấy phải chịu. Mình có cố tình làm gì sai đâu mà phải trốn chạy hả bu! Rồi Bẹ xoè tay đón thằng bé da đen từ tay bà Di, nựng nịu: - Cu cậu này trông hiền lắm. Hẳn sau này cũng tốt tính như anh Phương. - Con nói gì? thằng bé này giống tính thằng Phương á. Giống sao được. Mẹ không muốn như vậy. Nó là giống Tây, bì thế nào được với thằng Phương. - Vâng, là con nói cậu ấy cũng thương bu như anh Phương. Từ đó Bẹ ở lại nhà bà Di. Bà Di thấy được an ủi nhiều. Tự nhiên lại có một cô gái đến gọi mình là mẹ. Việc đồng, việc nhà cô ta làm hết, bà chẳng phải mó việc gì. Có lúc bà tưởng như ông trời đang nhận lỗi vì đã để thằng Tây hành hạ bà, nên cho một cô tiên xuống giúp việc. Dân làng Rồng trò chuyện với nhau: - Cái bà nhểu nước dãi quanh năm ấy, tự nhiên lại có con dâu đẹp như tiên sa. Thật là ông giời có mắt. - Thằng Tây con càng lớn càng xinh. Nghe nói không có chị dâu nó đến ở thì mẹ nó đem cho nhà chùa lâu rồi. Gia đình họ bây giờ đầm ấm lắm. Thôi, thế cũng mừng cho Bẹ. Cô đã tìm được một mái nhà ấm áp, có người chia sẻ nỗi buồn, dần nguôi nỗi uất ức oan nghiệt. Mừng cho bà Di có người san sẻ gánh nặng và mừng cho cả cậu bé da đen vô tình đến ở xứ này thoát khỏi sự đố kỵ của người ruột thịt. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 16 Tháng Tư, 2009, 03:13:54 pm Chương 18 Sanđa không dám rời cô bé con vừa nhặt được. Ông nhờ một tên lính nằm cạnh đi lấy giúp đồ ăn. Sau mỗi trận càn, cấp trên cho phép tăng khẩu phần ăn gấp rưỡi so với ngày thường. Sanđa cao tuổi rồi, không sao ăn hết tiêu chuẩn của mình. Ông cắt ra một lát bánh mì to cùng nửa bát súp khoai tây để phần cho cô bé. Vừa ăn ông vừa nghĩ cách sẽ giao tiếp với cô bé thế nào để bé nghe theo ông và không sợ ông như những đứa trẻ ông từng gặp. Trông vẻ mặt thơ ngây hiền dịu, không hiểu sao ông cứ tin rằng cô bé sẽ dễ dàng nghe lời ông. Khoảng 8 giờ tối thì cô bé tỉnh lại. Mở mắt ra, nhìn thấy Sanđa với bộ mặt đen nhẻm, cô bé liền khóc thét. Sanđa xoa nhè nhẹ lên trán bé và âu yếm vuốt mấy lọn tóc ngắn ngủn của cô. Quả nhiên cô bé nín dần. Không hiểu cái giọng thỏ thẻ của bé nói gì, nhưng ông đoán là bé đói. Đưa lát bánh mì, cô bé lắc đầu, ông lại đưa bát xúp, cô cũng lắc đầu tiếp. Cuối cùng ông liều pha cho bé một cốc sữa ấm. Cô bé giằng ngay cốc và uống ừng ực một hơi. à thì ra cô bé khát. Sau khi uống hết một cốc sữa, bé thôi khóc. Cô thao láo nhìn ông một cách sợ sệt. Biết vậy, Sanđa cố tỏ ra dịu dàng, lôi rất nhiều thứ từ trong đống đồ cá nhân của mình ra tung tẩy rồi để chúng nằm ngổn ngang quanh bé. Cô bé có thể hiểu rằng cô sẽ có tất cả những thứ đó để chơi đùa, không cần phải khóc, không cần sợ hãi. Khi bé bớt căng thẳng, đôi mắt đen không trừng trừng nhìn ông nữa, Sanđa lấy thìa xúc cho cô một ít xúp. Cô bé ăn ngon lành và bắt đầu thân thiện cùng ông. Thế là Sanđa đã dỗ dành được cô bé giống như người thân thích của cô. Đêm ấy Sanđa không sao chợp mắt được. Bao năm nay lần đầu tiên ông được ôm ấp, vuốt ve một bé thơ. Trong ông gợi lên nhiều cảm giác rất lạ. Có lẽ những người cao tuổi mà không có con chắc dễ hiểu cảm giác của ông. Có cảm tưởng cơ thể nhỏ nhoi kia như là một sợi dây nối tiếp cuộc sống của mình tới mai sau. Hơn bao giờ hết, ông nhớ Mari và thương nàng vô hạn. Tâm hồn cao quí của nàng, tấm thân ngà ngọc của nàng, sao lại phải chịu bất hạnh đến vậy, đã mười bốn năm xa chồng, lại vĩnh viễn không thể có con, không có một sợi dây nối dài những mơ ước của mình. Chao ôi, ông thật là có lỗi. Ông đã làm khổ một người đàn bà ngàn lần đáng được trân trọng, đáng được nâng niu. Sanđa chìm đắm trong thương cảm. Ông phải cho một ngón cái vào miệng cắn thật chặt để nén cơn xúc động đến phát khóc. Rồi ông đi đến quyết định phải nộp đơn xin về nước trước thời hạn, dù chỉ còn nửa năm, chẳng đáng là bao so với cái thời hạn đằng đẵng mười mấy năm trời ông đã trải qua. Nhận được đơn của Sanđa, ngài thiếu uý cấp trên của ông gạn hỏi nguyên do, ông thẳng thắn trả lời: - Tôi đã bốn mươi tám tuổi, vợ tôi cũng đã bốn lăm. Tôi có cảm giác tôi không thể sống nổi nếu không trở về gặp nàng, vì vậy tôi tha thiết mong thượng cấp chiếu cố. Tôi sẵn sàng nộp phạt nếu cấp trên yêu cầu. Tên thiếu úy suy nghĩ rồi phán: - Nếu tôi giải quyết cho ông thì một loạt người khác họ cũng sẽ làm đơn. Vậy làm sao chúng ta có thể sớm bình định được vùng này. Tôi cũng xa vợ ba năm rồi, muốn về quá mà không thể được. Ông vui lòng ở lại đây. Nếu quá mệt mỏi rồi thì tôi bố trí cho ông công việc nhẹ hơn, khỏi phải đi càn quét. Ông có thể trông coi một kho vũ khí được chứ! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:46:49 am Sanđa suy nghĩ: trông vũ khí cũng là gần kề với cái chết. Chỉ một trục trặc nhỏ đã có thể mất mạng. Bọn lính, ngay cả bọn sĩ quan ở chiến trường về chúng đều hung dữ lắm. Nếu được làm việc khác thì an toàn hơn. Nghĩ vậy, ông mạnh dạn đề nghị:
- Có thể cho tôi về Souseter Hải Dương được không. Tôi sẽ làm một chân quét dọn hoặc bồi bàn cho các sếp. Trước kia tôi rất thạo việc ấy. Tên thiếu uý đăm chiêu một lát rồi trả lời: - Việc ấy không nằm trong quyền hạn của tôi. Tôi chỉ có thể giúp ông đề đạt nguyện vọng ấy lên cấp trên. Thôi ông bạn đồng hương ạ, ông về đi, chuẩn bị sẵn sàng ngày mai lại ra trận tiếp đấy! - Ngày mai? - Sanđa hỏi một cách hoảng sợ - Ta sẽ đi càn quét vùng nào? - Sẽ đi về hướng nam. Cấp trên nhận định đó là vùng bọn quân chủ lực của Việt Minh đang ẩn nấp. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm kiếm và tiêu diệt bằng hết bọn này. Chà chà! Trận càn hôm trước chúng ta thiệt hại nhiều quá. Những thằng hăng hái xông pha thì đều mất tích cả. Chúng lọt thỏm vào bên trong những dãy tre xanh rồi không thấy trở ra nữa. Sanđa buồn rầu nói: - Chúng ta đã bỏ mạng ở đất này quá nhiều rồi. Tôi nghe nói đâu đã đến trên nghìn quân. Trong đó có gần một nửa là lính pháp. Có đúng thế không, thưa thiếu uý? - Tôi cũng không được biết rõ ràng về thương vong của chúng ta. Chỉ biết trong phạm vi tôi phụ trách thôi. Chỉ biết những thằng hăng hái nhất cứ mất tích dần. Nhưng dù sao chúng ta cũng phải bình định xong vùng này mới mong có thể rời Đông Dương. Thôi ông về đi. Sanđa vội trình bày: - Thưa ngài thiếu uý. Tôi ốm quá, ngày mai ngài cho phép tôi ở lại doanh trại được không? - Không được. Ông nên tự biết bổn phận của mình chứ. Nể tình đồng hương, tôi đã thoải mái với ông, nhưng không được vi phạm quân lệnh. Quân số chúng ta đang hụt dần, không ai được ốm đau trong những ngày tới. Ông nhớ nhé. Nếu ông cố tình trái lệnh thì dù ông đã có mười bốn năm sáu tháng phục vụ quân đội tôi vẫn đưa ông ra toà án binh, lúc đó hậu quả thế nào, ông biết rồi đấy. Có thể chẳng bao giờ ông còn cơ hội trở về với nàng Mari xinh đẹp của ông. Sanđa rời sở chỉ huy trong một tâm trạng bải hoải. Ông hiểu rõ tính nết viên trung uý đồng hương của mình. Ngày thường hắn nhũn nhặn, có thể chuyện phiếm hàng giờ nếu hắn rỗi rãi, nhưng khi vào trận thì hắn dữ dằn như con hổ. Hắn sẽ làm đúng như những gì hắn nói, không mảy may bận tậm. Bởi vậy Sanđa không còn cách nào khác là chuẩn bị thật kỹ để ngày mai ra trận. Mọi khi việc ấy rất bình thường, bởi ông đã có thâm niên hơn mười năm ra trận, nhưng lần này còn cô bé da vàng. Dấu bé ở đâu mà ra trận? hay cứ bỏ quách cô bé lại đây, sẽ có người thu dọn ngay. Không được. Nếu gặp bọn lính thuần tính nhất thì cô bé cũng được mấy cú đá văng mạng, hoặc sẽ được một mũi lê xuyên qua bụng. Rùng rợn quá. Ông không cho phép mình đối sử với con người như vậy. Hay cứ mang cô bé ra ngoài tìm một chỗ vắng rồi bỏ lại, may ra cô bé gặp được người tốt khác sẽ cưu mang. Làm như vậy thì ông đỡ áy náy hơn. Nếu chẳng may bé không gặp được người tốt mà chết đói ở đó thì cũng do mẹ bé chứ đâu phải tại ông. Nghĩ như vậy nên tối hôm đó chờ cho bé ngủ say, Sanđa lẳng lặng bế nó ra bờ sông, nơi ấy thật vắng vẻ, chẳng có bọn lính tráng nào đi tới. Vừa đi Sanđa vừa buồn. Cô bé này thật tội nghiệp. Từ sáng đến giờ bé đã quen ông rồi. Bé không khóc thét, cũng không mếu sệch mồm đi như hôm trước. Cô bé đã bắt đầu quen với món bánh mỳ và món xúp khoái tây. Thỉnh thoảng cô bé ngơ ngác hỏi: "Mẹ, mẹ đâu?". Tuy không hiểu tiếng Việt nhưng Sanđa biết chắc đó là cô bé gọi mẹ của mình. Thật tội nghiệp. Bao giờ cô mới hiểu được rằng mẹ cô đã về với chúa. Ngày xưa mẹ của ông ra đi khi ông đã mười bốn tuổi, ông đã biết đau khổ, khóc thương mẹ rất nhiều. Còn cô bé này thì chẳng bao giờ biết được thế nào là tình mẫu tử. Không biết người mẹ ấy đã đặt tên cho cô chưa, từ hôm qua đến nay mỗi khi mang món ăn đến cô lại kêu lên: " đậu! đậu!", Sanđa cứ gọi bé là Đậu, dù ông chẳng hiểu đấy là từ gì, ý nghĩa thế nào. Buồn quá Đậu ạ. Ta không thể cứu được con khỏi vận hạn này. Con vui lòng ở lại đây, trên bờ sông hoang vắng, để ngày mai khi trời sáng, may ra con gặp lại người thân. Ta chỉ có thể làm được thế thôi, vì ngày mai ta lại phải ra trận, đối mặt với đạn bom, làm thế nào mà cho con theo cùng được. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:48:35 am Sanđa vừa đi vừa thầm nói với cô bé và cũng là nói với chính mình như vậy. Rồi ông nhẹ nhàng đặt bé xuống bờ cỏ. Bỗng cô bé choàng tỉnh dậy. Cô oằn người bám chặt lấy vai ông. Cố gỡ tay bé ra, bé càng bám chặt, càng chúi mặt vào ngực ông. Hơi thở của bé mới thơm tho làm sao. Bàn tay của bé mới mền mại làm sao. Bé vẫn đang ngái ngủ, chắc cũng chẳng hiểu chuyện gì đang đến với mình, nhưng do một linh tính bản năng nào đó mà bé cứ bám chặt lấy ông, cọ cái đầu nhỏ xíu, phả hơi thở thơm mát vào ông. Sanđa chợt hiểu ra một điều, con người muốn từ bỏ một con người thật sự khó khăn. Ông cố gắng dứt bàn tay bé ra khỏi mình mà không được. Khi bé khóc ré lên thì ông hoàn toàn dẹp bỏ ý định vất bỏ em mà lại lầm lũi bế bé trở về. Rồi ngày mai ông ra trận sao đây? Thật đau đầu.
Trên đường trở về doanh trại, ông đi qua một đoạn phố vắng với những quán hàng lụp xụp, tất cả đều tắt đèn, dường như đã ngủ say. Dù mới đến đây ít ngày nhưng Sanđa cũng biết đây là một trong hai phố chính của thị xã Ninh Giang. Ban ngày các quán hàng này đều mở cửa, nhưng hàng hoá chẳng có gì nhiều, phần lớn là đồ dùng và đồ ăn dành cho cư dân nghèo. Sanđa chưa có dịp vào bất cứ một quán hàng nào ở đây, chỉ nghe được mấy thằng lính trẻ kháo nhau, ở đây cũng có quán cà phê ngon như ở Pari. Bây giờ ông chẳng có bụng dạ nào nghĩ đến cà phê, nhưng ông chợt loé lên một ý nghĩ: trong quán cà phê nhất định sẽ có người Việt biết tiếng Pháp, ông sẽ kể lại chuyện nhặt được em bé này và giao trả em cho người Việt, hẳn em sẽ được chăm sóc ân cần. Nghĩ vậy ông cảm thấy nhẹ lòng, nhưng con phố dài hun hút này đang im lìm, quạnh vắng, chẳng khác mấy với chỗ bờ sông. Biết tìm đâu ra cái quán cà phê ấy. Khi về gần đến doanh trại rồi, Sanđa quay nhìn lại đường phố vắng lần nữa như cầu cứu, may sao phía cuối phố, gần giáp với cánh đồng, có một vệt đèn vàng le lói. Không biết có phải quán cà phê mong ước hay không, nhưng nhìn thấy ánh đèn dường như nhìn thấy tia hy vọng, Sanđa ôm em bé chạy thật nhanh đến đó. Ông phải chạy thật nhanh vì sợ rằng ánh đèn vàng vọt ấy, tia hy vọng nhỏ nhoi ấy vụt tắt, thì ông biết làm sao với cô bé trên tay. Trong khi ông đang lo thắt lòng thì cô bé vẫn ngủ lịm và bám chặt vai ông như định mệnh. Dừng lại trước cửa quán, nén những tiếng thở dốc, Sanđa thu mình, lén nhìn vào chỗ ánh đèn. May sao trong đó chỉ có một người đàn ông gầy gò đang mải miết dọc những tàu lá chuối khô sếp vào quang thúng, dường như ông đang chuẩn bị cho phiên chợ ngày mai. Lúc này Sanđa bình tĩnh hơn vì biết rằng ánh đèn kia còn lâu mới tắt, bởi người đàn ông đang cặm cụi làm việc. Ông cần bình tĩnh nghĩ cách tiếp cận thế nào để người chủ nhà không sợ hãi. Dè dặt, Sanđa dùng mấy ngón tay gõ nhẹ vào cánh cửa liếp, dù cánh cửa đó vẫn mở. Trong nhà, người đàn ông ngừng tay, khẽ hỏi: Ai đấy?. Sanđa không hiểu tiếng hỏi ấy và cũng không nói được tiếng Việt, nên ông lặng lẽ gõ cửa mạnh hơn. Ngươì đàn ông cầm đèn bước ra, ông quá sửng sốt khi thấy một tên lính da đen đang ôm một em bé quỳ trước cửa nhà ông. Sanđa nghĩ, mình phải quỳ xuống thì người chủ nhà mới không sợ hãi và không cầm dao đánh đuổi mình. Quả đúng như vậy. Ngươì chủ nhà hoảng hốt vài giây rồi dường như cũng láng máng hiểu được điều gì, nên ông mở rộng cánh cửa liếp ra hiệu cho Sanđa vào nhà. Sanđa gật đầu lia lịa, ra điều cảm ơn, rồi dịu dàng đặt em bé vào tay chủ nhà. Người chủ nhà dường như đã hiểu hành động của Sanđa, ông xua tay, lắc đầu và ra hiệu bụng đói, không có gì ăn và đặt lại em bé vào tay Sanđa. Sanđa cũng ra hiệu lại ý nói súng bắn, đạn nổ và mình có thể chết, nên phải để em bé lại đây. Cuối cùng người chủ nhà đành miễn cưỡng ôm lấy đứa bé để Sanđa ra đi. Ông đi như chạy về nơi đóng quân, trong lòng nhẹ nhõm nhưng đầy nuối tiếc. Bàn tay nhỏ bé, những sợi tóc mềm mại và hơi thở thơm tho của cô bé đã đánh thức những cảm giác tươi non, ấm áp trong tâm hồn dường như đã già cỗi của ông. Dù vất bỏ được nỗi lo nặng trĩu, nhưng trái tim ông cứ thổn thức lạ lùng. Giá mà ông có thể mang được em bé đó về nhà... Giá mà lúc này chiến tranh bỗng dưng kết thúc thì ông lại chạy đến cổng nhà người đàn ông kia, quì xuống để xin lại cô bé, mang về Pháp. Nhưng đó chỉ là ước muốn, trước mắt ông là trận vây càn lớn vào ngày mai. Cấp trên phổ biến cuộc hành quân lần này thật sự quan trọng. Binh đoàn cơ động do tướng Ma Nhông chỉ huy phải vượt qua sông Luộc sang Thái Bình để phối hợp vơí binh đoàn 12 của tướng Ra Đô quây càn một vùng lớn, nhằm cất vó bộ đội chủ lực của Việt Minh. Mọi người phải chuẩn bị sẵn sàng để vượt sông. Vượt sông ư? Sanđa càng thêm lo lắng. Ôi chao! thật là trời chẳng thương tình, mình già thế này liệu còn đủ sức vật lộn với dòng nước siết không?. Đứng trong hàng quân, Sanđa cứ lầm rầm cầu nguyện. Cuộc hành quân bắt đầu. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:51:12 am Đoàn quân tiến thẳng theo con đường số Chín, nhằm hướng bến phà. Sanđa hơi yên tâm. Sẽ có phà. Chắc chúa trên trời đã nghe thấu lời cầu nguyện của mình rồi. Chừng mười lăm phút sau khi xuất phát, bỗng một tiếng nổ vang trời ở phía trước. Đoàn quân ùn tắc lại. Lát sau lại hai ba tiếng nổ dữ dội như thế và nhiều tiếng la hét lẫn tiếng quát tháo om sòm. Bọn lính bảo nhau: Việt Minh chặn đánh xe tăng. Đường chính bị tắc. Đợi xem chỉ huy ra lệnh hành quân theo ngả nào? Mười phút sau bọn họ được lệnh rẽ trái tắt cánh đồng ra hướng bến phà. Sanđa cố gắng theo kịp hàng quân. Bỗng những tiếng hô xung phong vang lên từ những ruộng lúa, những bãi năn nác bên đường. Việt Minh đột ngột xuất hiện như họ từ dưới đất chui lên vậy. Họ xông vào hàng quân của Sanđa đánh giáp lá cà.
Hàng quân của Sanđa lúc này như rắn bị đánh giữa khúc, đầu một nơi, đuôi một nẻo, mạnh tên nào tên nấy chạy. Nhiều thằng súng vẫn vác trên vai, chẳng kịp xoay sở vì bộ đội Việt Minh ở cự ly quá gần, những tiểu liên với trung liên của chúng thật khó nhả đan. Sanđa vốn chạy chậm, nhưng nhanh ý, ông lùi lại phía sau, rẽ xuống cánh đồng bên phải, đa số anh em cũng làm như vậy, nghĩa là họ vẫn tiến lên, nhưng theo một hướng khác chứ không phải là lùi bước. Lùi bước là tối kỵ, vì nó làm vướng chân và nhụt ý chí của đội quân phía sau. Rẽ sang cánh đồng bên phải chưa được chục mét thì lại đột ngột hiện ra một đội quân Việt Minh vơí những tiếng xung phong áp đảo. Họ xối xả xông lên với những mũi lê sáng loáng. Lúc nguy cấp này lại nghe có tiếng loa rất to. Tiếng trong loa vang vang, dõng dạc. Sanđa nhìn thấy bọn lính người Việt lác đác giơ tay xin hàng. Ông đoán rằng tiếng loa ấy đang gọi đối phương đầu hàng. Chạy đi đâu bây giờ? Đằng trước, đằng sau đều có Việt Minh. Bắn nhau với họ cũng không kịp nữa. Họ đã mai phục sẵn ở đây đón đánh đoàn quân của ông. Thật rủi ro. Mà ông cũng kiệt sức rồi, chạy làm sao được. Đắn đo giây lát, Sanđa từ từ giơ hai tay lên trời. Bên cạnh ông cũng có mấy lính da đen nữa làm như vậy. Bọn nguỵ binh đầu hàng rất đông. Trong tình thế đó, có lẽ chỉ còn cách ấy mới cứu được mạng sống mà thôi. Biết vậy nhưng từ lúc giơ hai tay lên đầu, người ông cứ mềm nhũn rồi vã hết mồ hôi. Không hiểu do quá sợ hãi hay quá tuyệt vọng. Có lẽ là cả hai. Khi một người lính Việt Minh đến tước súng và trói hai tay ông lại, tự nhiên nước mắt Sanđa ứa trào rồi tuôn chảy thành dòng. Dù sao ông cũng không muốn làm người lính thua trận. Rơi vào tay đối phương rồi, chẳng biết có còn ngày trở về nước Pháp nữa không, còn cơ hội gặp lại người vợ yêu quí của ông, hay mãi mãi chia lìa. Nước mắt Sanđa chảy mãi không ngừng. Rồi tất cả hàng binh và tù binh được áp giải về một làng cách nơi xẩy ra chiến sự chừng 5 ki lô mét. Trong khi chờ Việt Minh làm thủ tục gì đó, Sanđa hỏi một thằng lính da đen cũng đầu hàng như ông ngồi ở bên cạnh: - Mày có sợ không? Nó đáp: - Sợ lắm! Còn bố già, bố có sợ không? - Tao cũng rất sợ. Nếu bọn họ tra tấn thì chắc tao chết mất. Tao đuối sức quá rồi. Tên lính động viên: - Bố đừng lo. Sức bố còn dai lắm. Họ có đánh thì cố mà chịu, rồi ngoan ngoãn nghe lời, chắc họ không nỡ đánh bố già nhiều đâu. Sanđa ngồi im, trong bụng vẫn run. Buổi trưa những người nông dân gầy guộc mang cơm vào. Họ gườm gườm nhìn Sanđa và khắp lượt bọn lính da đen. Từ những ánh mắt gườm gườm ấy, Sanđa biết là trong lòng họ rất căm thù. Suất cơm họ mang vào không có thịt cá, mà chỉ có rau và đậu, để chung cả trong những cái thau đồng. Các tù binh được mở trói để dùng bữa. Sanđa không muốn ăn, phần vì sợ hãi, phần vì mệt mỏi. Bọn lính trẻ tranh nhau ăn lào nhào. Một thằng bốc một miếng đậu đưa cho ông và nói: - Bố già ăn đi để lấy sức mà chịu đòn! Nước mắt Sanđa lại chảy ròng ròng. Ông nói trong tuyệt vọng: - Tao già rồi, không biết có chịu nổi hình phạt của Việt Minh không. Mày còn trẻ, còn dai sức, nếu sau này Việt Minh tha cho, trở về Pháp mày cố gắng đến thăm nhà tao, nói với vợ tao rằng, cho đến hơi thở cuối cùng tao vẫn yêu nàng. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:52:23 am Một thằng có vẻ khủng bố tinh thần chung. Nó nói:
- Bố già này lãng mạn quá. Chúng ta đừng có nghĩ đến chuyện về nước Pháp, mà cứ chuẩn bị tinh thần sang thế giới bên kia. Có một người đi qua cửa nói vọng vào bằng một câu tiếng Pháp còn ngọng nghịu: - Ăn cơm đi! Nghe xong câu nói ấy Sanđa bỗng thấy nhẹ lòng, dường như đối phương cũng là những người tốt bụng. Nghĩ vậy, ông liền chùi nước mắt và cùng bọn lính Pháp nháo nhào bốc những món ăn của người bản địa. Buổi chiều, bọn Sanđa đang trong nỗi phấp phỏng thì mấy cán bộ Việt Minh đến. May sao có một người nói tiếng Pháp trôi chảy. Đầu tiên anh ta chào bọn hàng binh bằng một câu mà Sanđa cho là rất dễ chịu: - Chào các bạn. Chắc các bạn đang nóng lòng muốn biết số phận của mình được định đoạt thế nào phải không? Các bạn sẽ biết ngay bây giờ. Rồi người ấy chỉ vào một người có vóc dáng cao to hơn mình giới thiệu: - Đây là ngài Đỗ Ninh, chỉ huy trưởng ở đây. Ngài sẽ có vài lời với các bạn. Cái ông Đỗ Ninh này thật oai vệ. Mặc dù ông ta chẳng đeo gù vai, nhưng Sanđa đoán rằng ông ta phải có quân hàm cao lắm. Khi ông ta cất tiếng thì Sanđa nhận ra đúng cái tiếng đã nói trong loa sáng nay. Tiếng ông vang như chuông. Mấy câu đầu dịch ra tiếng Pháp nghe có vẻ đe doạ, nhưng Sanđa vẫn có cảm tình với giọng nói của ông. Đỗ Ninh nói: - Các anh là người ngoại quốc đến xâm lược đất nước chúng tôi. Hôm nay đáng lẽ tôi cho bộ đội bắn hết, khỏi phiền phức, khỏi nuôi nấng. Các anh có biết chúng tôi là ai không? Một thằng trong bọn đáp: - Các ông là Việt Minh, là đối phương của chúng tôi. - Láo! - Cái giọng như chuông ấy quát - rồi lại hạ xuống - à quên sai. Dường như ông kịp nhớ ra là mình đang nói với tù, hành binh chứ không phải nói với lính của mình, nên không thể nói suồng sã mà phải nói đúng mực để còn tuyên truyền, giác ngộ họ. Ông sửa lại từ láo thành sai. Người phiên dịch dường như hiểu ý nên chỉ dịch câu sau. Ông nói tiếp: - Chúng tôi là Việt Minh, nói như thế cũng đúng nhưng chưa đầy đủ. Tôi giới thiệu nhá, chúng tôi là bộ đội chủ lực của Việt Minh. Binh đoàn được lệnh của tướng Giáp, dàn quân khắp vùng đồng bằng này để tiêu diệt quân Pháp xâm lược. Quan trọng hơn, chúng tôi là con em của nhân dân Việt Nam, nên chúng tôi là chủ nhân của mảnh đất này. Còn các anh là người nơi khác đến chiếm đất này, các anh là những thằng ăn cướp. Vì vậy anh nói chúng tôi là đối phương của các anh là sai. Hoàn toàn sai, mà phải nói là, chúng tôi là chủ nhà, còn các anh là kẻ cướp. Các anh hiểu chưa? Người phiên dịch có giọng nói ấm áp dịu dàng, và anh đã hạ bớt ngữ điệu của Đỗ Ninh, nhưng đám hàng binh dường như rất sợ hãi nên dù ông hỏi vậy mà mọi người im phắc, không dám trả lời. Người phiên dịch nhắc lại câu hỏi lần nữa thì đám Sanđa mới nhè nhẹ gật đầu. Đỗ Ninh nói tiếp: - Các anh hiểu được là tốt, chưa hiểu được thì bảo nhau mà hiểu. Tôi giả dụ nhà của các anh ở bên Pháp tự nhiên có kẻ khác đến ở, chúng dùng vũ lực đuổi các anh ra đường, rồi cướp vợ con các anh, rồi vặt nho trong vườn, giết ngựa trong chuồng, các anh có tức không? Một thằng trả lời: - Tức chứ! Sẽ phải đấu súng ngay thôi. - Vậy các anh đến đây cướp bóc của cải, trâu bò của nhân dân tôi thì chúng tôi cũng phải dùng súng đuổi các anh. Vậy chúng tôi bắn chết các anh là hoàn toàn hợp lý phải không? Lại một lần nữa Sanđa toát mồ hôi. Cái ông này giọng thì hay mà nói toàn những lời đe doạ. Thật sự ông thấy hoang mang. May sao Đỗ Ninh nói tiếp: - Về lý là như vậy, nhưng theo chính sách khoan hồng cao cả của Đảng và Cụ Hồ, người lãnh tụ vĩ đại của chúng tôi, nên chúng tôi không bắn các anh, cũng không bắt các anh tù tội, mà sẽ tha cho các anh ngay tối hôm nay. Bởi vì chúng tôi hiểu các anh chỉ vì miếng cơm manh áo mà phải đi lính. ở nhà các anh cũng có cha mẹ, vợ con và bao người thân khác. Các anh chết ở đây thì họ đau khổ vô cùng. Hơn nữa các anh đã giơ tay xin hàng, nghĩa là các anh đã chịu thua chúng tôi, nên chúng tôi trả lại tự do cho các anh. Cuộc sống sau này tuỳ các anh lựa chọn, có thể quay về đồn bốt cũ, có thể tìm đến những đồn bốt khác, hoặc có thể ở lại với Việt Minh, góp thêm một tay súng chống lại bọn xâm lăng, thì chúng tôi cũng vui lòng. Dù chọn cách nào thì cũng mong rằng các anh đừng bắn giết đồng bào tôi và hiểu rõ chủ trương khoan hồng của Việt Minh. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:53:46 am Nghe dịch xong đoạn này, bọn tù, hàng binh lại một lần nữa sững sờ im lặng. Ban nãy thì họ chết lặng vì những lời đe doạ của ông, bây giờ lại lặng đi vì tự do đến quá bất ngờ với họ. Dường như không dám tin ở tai mình, có người run run hỏi lại:
- Thưa ngài chỉ huy, chúng tôi được tự do lựa chọn ư? Có thể tự do đi khỏi đây ư?. - Đúng thế! Sau cái gật đầu và câu trả lời ấy của Đỗ Ninh, bỗng nhiên bọn lính Pháp ôm chầm lấy nhau, hét lên, nhảy lên rồi bảo nhau cúi chào và cảm ơn ngài chỉ huy. Sanđa cũng vui mừng đến run người. Ông lại tự nhiên rơi nước mắt. Đây thật sự là những giọt nước mắt thiêng liêng. Tự do, hai tiếng ấy với Sanđa là nỗi mong mỏi dài dằng dặc mấy ngàn ngày. Cái án mười lăm năm làm lính, buộc Sanđa phải mất tự do đến hơn năm ngàn ngày. Bây giờ tự do bỗng đến, làm sao ông cầm được nước mắt. Người phiên dịch nói: - Có ai hỏi thêm gì nữa không? Nếu không thì các bạn cứ nghỉ ngơi tại đây, đợi bà con mang bữa tối đến, ăn tối xong thì các bạn có thể rời nơi đây hoặc đi đâu tuỳ ý. Nếu muốn ở lại đây đến sáng mai cũng được. San đa lên tiếng hỏi: - Chúng tôi muốn nhờ Việt Minh giúp thủ tục về nước có được không? Câu hỏi này thật bất ngờ. Đỗ Ninh nghĩ ngợi một lát rồi nói: - Điều này chắc chắn là được, nhưng anh vui lòng chờ đến khi chúng tôi tống cổ hết bọn xâm lược đã. Còn bây giờ cách tốt nhất là anh hãy trở thành dân thường, cởi bỏ áo lính tìm nơi nào đó mà sống tạm. Mấy thằng vừa rú vừa nhảy ban nãy, giờ dường như cũng hiểu ra cái tự do của mình chỉ là thoát chết chứ chưa thể làm theo ý mình, chúng xúm lại xin với Đỗ Ninh: - Ông cho chúng tôi đi theo các ông được không. Nếu trở về đơn vị cũ thì chúng tôi lại phải ra trận, lại phải bắn giết đối phương, không thể khác được. - Điều này... thì chúng tôi đã nói từ đầu rồi mà. Anh nào muốn đứng hẳn về phía chúng tôi, quay súng bắn trả quân xâm lược thì chúng tôi tiếp nhận hết. Có điều ở chỗ chúng tôi sẽ phải chịu kham khổ, không được ăn sung sướng như quân đội Pháp đâu. Mấy tên lính Pháp có vẻ buồn. Tuy vậy, chúng đành chấp nhận hoàn cảnh. Có đến năm, sáu thằng hàng binh xin ở lại. Những thằng còn nhiều quan hệ với bạn bè, hoặc còn hy vọng nào đó ở quân đội Pháp thì chúng trở về thị xã Ninh Giang, nơi chi khu quân sự của chúng đang đóng chốt. Trước khi chúng ra về, mấy thằng ở lại dặn với: - Chúng mày thưa với cấp trên là chúng tao tự sát hết rồi nhớ. Một cán bộ Việt Minh phải đưa chúng ra tận đường nhựa để chúng về. Riêng Sanđa không về chỗ cũ mà cũng không ở lại với Việt Minh. Sau câu nói có tính gợi ý của Đỗ Ninh, trong đầu Sanđa chợt loé lên tia hy vọng. Ông có người bà con buôn bán ở Hải Phòng. Nếu tìm được đường xuống Hải Phòng thì nhất định ông sẽ có cơ hội trở về nước sớm. Ông xin Đỗ Ninh một tờ giấy chứng nhận là một hàng binh, để ông được an toàn khi đi qua khu vực do Việt Minh kiểm soát. Ông hỏi qua người phiên dịch lối về Hải Phòng, hoá ra đường cũng không xa. Chỉ cần qua một con phà sang huyện Vĩnh Bảo, đi chừng mười cây số nữa là tới thành phố Hải Phòng. Không chần chừ, ông đi ngay. Ra khỏi cái làng vừa bị giam dữ ấy, ông được tự do đi một mình. Trước khi chia tay, người phiên dịch nói với ông: - Từ đây đi xuống thị xã Ninh Giang, nơi đóng quân của các ông chỉ hơn hai cây số. Ông nên về đó tìm chỗ quen nghỉ lại, sáng mai hãy sang phà đi Hải Phòng. Chúc ông lên đường may mắn. Sanđa bối rối hỏi lại: - Chỉ hơn hai cây số thôi ư? Sao sáng nay chúng ta đi lâu vậy? - Sáng nay là đi từ chỗ xẩy ra trận đánh đến làng này, chứ có phải đi từ thị xã đâu. Chỗ xẩy ra trận đánh là sát bến phà rồi đấy. Ông đi đi. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:54:33 am Sanđa vội vã cảm ơn rồi lầm lũi đi về phía những ánh điện lung linh, nơi đó là thị xã Ninh Giang của người Việt, cũng là chi khu quân sự của quân đội Pháp. Vừa đi, ông vừa bồn chồn lo lắng. Làm thế nào đi qua đó mà không chạm trán với bọn lính trong doanh trại, nhất là đừng gặp các ngài chỉ huy. Ông sẽ đi qua cánh đồng phía cuối phố. Đột nhiên ông nhớ đến bé Đậu. Cô bé đang ở ngôi nhà cuối phố ấy, hay đã được mang đi đâu rồi?. Không cưỡng được lòng mong mỏi gặp lại cô bé, Sanđa lần mò tìm lại ngôi nhà mà đêm qua ông đã để cô bé lại. Hôm nay rất nhiều quán hàng vẫn sáng đèn. Sanđa phải định thần mãi mới nhớ được ngôi nhà ấy. Người chủ nhà dường như rất mừng vì Sanđa quay lại và muốn bế cô bé đi. Ông ra hiệu cô bé khóc nhiều và bụng ông rất đói. Dường như Sanđa hiểu được cảnh tình của người chủ nhà này. Ông ta cũng đông con, thấp thoáng dưới ánh đèn dầu, Sanđa trông thấy ba bốn đứa trẻ nằm cạnh nhau. Cô bé Đậu thì đang thiếp ngủ trên tay người đàn bà có vẻ ốm yếu. Sanđa mừng lắm vì người chủ nhà trả lại cô bé một cách dễ dàng. Ông bỏ lại một số tư trang để cái ba lô vốn rộng thùng thình của ông càng rộng thêm, đủ chỗ dặt cô bé vào đó. Sáng nay khi ông bị bắt, những người Việt Minh đã khám xét chiếc ba lô này và toàn bộ người ông. Họ đã lấy đi đạn dược, dao kéo và những thứ có thể làm chết người, còn quần áo, giầy tất và lương khô thì họ trả lại nguyên vẹn. Người chủ nhà không hiểu rõ tình cảnh của Sanđa, nhưng ông tin đi với người lính da đen này thì cô bé sẽ đỡ khổ hơn ở với gia đình ông, bởi vậy ông cẩn thận đặt cô bé vào chiếc ba lô rộng của Sanđa giống như vẫn đặt đứa con nhỏ vào chiếc địu sau lưng người vợ hiền. Ông còn giúi thêm vào tay Sanđa một nắm cơm to bằng quả cà, đã lạnh ngắt, ra hiệu để cho cô bé ăn khi cô thức dậy. Sanđa cúi mình chào người chủ nhà tốt bụng rồi lầm lũi đi dọc bờ đê về phía bến phà.
May sao cô bé Đậu cứ ngủ im thít trên vai. Suốt chặng đường đi Sanđa không gặp Việt Minh, chỉ gặp vài chốt gác. Bọn lính gác toàn là lính nguỵ, nhìn thấy ông, chúng cũng chả buồn hỏi, cứ mặc nhiên để cho ông đi, làm như chính ông mới là chủ của vùng đất này. Sau nhiều ngày hành quân, rồi chiến đấu ở miền trung du nhấp nhô đồi núi, rồi lại về đồng bằng với những đồng ruộng và bờ tre đầy bí ẩn, đêm nay về đến Hải Phòng, Sanđa tưởng như đã về đến Pari. Những ánh đèn đường rực rỡ, những đường phố vắng vẻ với những quán hàng giản dị, làm ông thấy như gặp lại quê hương mình. Cho dù chưa gặp được một người quen nào ở đây, nhưng ông vẫn nhận thấy một cảm giác an toàn và le lói nhiều tia hy vọng. Sanđa tìm được chiếc ghế đá ở một vườn hoa, đặt bé Đậu xuống đấy, ông cũng định ngả lưng một lát. Cả một ngày căng thẳng, cả một đêm mệt nhọc, giờ đây ông muốn vùi mình vào giấc ngủ quá chừng, nhưng chợt nghe đâu đó tiếng chổi loẹt xoẹt của phu quét đường, nhìn lên bốn vùng quanh trời, thấy phía xa có những dải mây hồng đỏ, ông hiểu là trời đã rạng đông. Thế là chẳng kịp ngả lưng, ông ngồi thở khoan thai một lúc thì đường phố bắt đầu thức dậy, tiếng xe chạy, tiếng rao hàng, và cả tiếng bọn lính chạy thể dục oong, đơ ( một, hai ) ồn ã. Đợi trời sáng hẳn Sanđa tìm đến một hiệu ăn có nhiều người Pháp ra vào. Chẳng khó khăn gì, ông nhanh chóng tìm được địa chỉ người bà con của mình đang kinh doanh tại đây. Ngày ấy người Pháp đến Hà Nội, Hải Phòng buôn bán rất nhiều, nhưng không đến nỗi khó tìm. Thế là từ đó, người lính già Sanđa và cô bé Đậu thoát khỏi cảnh lửa đạn chiến trường. Ông được gửi về nước ngay chuyến tầu hàng đầu tiên cập bến, trong vai người giúp việc cho ông chủ. Khi chiếc tầu rời cảng Hải Phòng, Sanđa ngồi lặng trên ghế, ôm bé Đậu trong lòng vẻ mặt trầm tư, nhưng thực ra trong lòng ông niềm vui đang cuộn sóng. Ông muốn nhảy tung tăng như trẻ nhỏ, muốn hát vang bài hát tình yêu mà thời trẻ Mari vẫn hát. Vài ngày nữa thôi ông sẽ được ôm chầm lấy Mari mà xiết chặt, mà quay cuồng, mà đắm đuối. Nghĩ đến đây ông như ngạt thở vì sung sướng. Đến bây giờ ông mới hiểu hết giá trị của cái phút giơ hai tay lên đầu để xin hàng bộ đội Việt Minh. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:56:23 am Chương 19 Sau khi giải quyết xong đám tù, hàng binh, Đỗ Ninh cho bộ đội chuẩn bị về lại Thanh Hà, nơi đơn vị đứng chân. Mấy bác nông dân ban chiều phục vụ đám tù nhân đến hỏi: - Đồng chí chỉ huy ơi! Sao mình lại thả chúng đi thế. Phải giam chúng lại để sau này còn trao đổi tù bình chứ? Đỗ Ninh ngây người. Mấy bác nông dân này quả thật nghĩ xa xôi hơn anh. Bao nhiêu cán bộ, bộ đội của ta chúng bắt được đều bị đánh đập dã man, người thì vào tù, người thì bị sung lính và nhiều người bị giết. Chúng có thả ai không, Đỗ Ninh không biết. Kể ra giữ chúng lại để mà trao đổi, kể cũng có lý đấy. Nhưng giữ chúng ở đâu, lấy gì mà nuôi chúng? Đây là một thực tế khách quan. Bộ đội mình còn phải thay đổi chỗ ở liên tục, còn phải ăn khoai sắn cùng với nhân dân, giữ hàng trăm tù binh lại là một vấn đề lớn. Chỉ những thằng tự nguyện nhập vào hàng ngũ của mình, sẽ chiến đấu với mình, thì mình có trách nhiệm đến cùng. Còn những thằng đã ngán bom đạn, không muốn cầm súng thì phải để chúng lo lấy cuộc sống của chúng. Thực tế là như vậy, nhưng những lời ông già nói không phải là không có lý. Chủ trương đối sử với tù hàng binh lúc này chưa được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Mình phải có trách nhiệm giải thích cho bà con rõ. Anh nói từ tốn: - Bà con nêu ý kiến rất đúng, nhưng trong thời điểm khó khăn này, cấp trên chủ trương khoan hồng rộng rãi với tù binh và hàng binh. Trong số hơn một trăm tên giặc chúng ta vừa bắt được, đa số là nguỵ binh, chỉ có gần hai chục tên là người nước ngoài, mà đa số chúng cũng là lính đánh thuê cho Pháp. Đa số lính nguỵ cũng chỉ vì bắt buộc phải cầm súng, nay chúng ta tha cho chúng về sinh sống với gia đình, yên tâm cày cấy là chúng ta có thêm một lực lượng lao động. Còn nếu giữ chúng lại thì ai phục vụ chúng bây giờ. Thằng nào vẫn muốn quay lại đồn bốt cũ thì chúng cũng hiểu rõ sự khoan hồng của Việt Minh, chính chúng sẽ trở thành người tuyên truyền tốt cho ta. Những anh em binh lính khác được biết chúng ta không bắn giết mà tha bổng họ thì những trận sau sẽ có nhiều người tự nguyện rời bỏ hàng ngũ giặc về với chúng ta hơn. Còn mấy thằng Tây, nếu ta giữ chúng lại cũng nhiều phiền phức. Cho chúng về, chúng sẽ hiểu người Việt Nam mình hơn. Thưa với bà con là chúng tôi làm đúng tinh thần chỉ đạo của tỉnh đội. Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm. - Nếu cấp trên đã tính toán kỹ như vậy thì chắc không phải là sai, nhưng chúng tôi rất tiếc vì không được trút giận lên đầu chúng. Cái làng bé nhỏ này chúng đã càn tới năm sáu lần. May mà bộ đội mới đánh tan cái bốt hồi đầu năm, dân làng mới yên ổn làm ăn. Nhà cửa của chúng tôi bị đốt, cây cối bị chặt phá. Thế mà bây giờ bắt được chúng lại thả ra, lại còn phải nấu cơm cho chúng ăn nữa. Theo ý chúng tôi cứ trói từng thằng lại, nện cho nhừ đòn rồi mới tha. Cũng không cần phải cho chúng ăn, để chúng biết thế nào là đi làm giặc. Đỗ Ninh cười lớn: - Bà con ơi, mình làm vậy hoá ra mình cũng ác như chúng ư. Nếu đánh nhau ở ngoài chiến trường thì tôi quyết không tha. Đã bắt được chúng rồi, mình phải tỏ rõ tư thế của người chiến thắng. Trên đường hành quân trở về, Đỗ Ninh nói nhỏ với người liên lạc: - Cậu thấy tớ giải thích với bà con như thế có đúng không? - Em tưởng đó là chủ trương của trên, anh đã nói là thực hiện theo sự chỉ đạo của tỉnh đội rồi còn gì, sao phải băn khoăn đúng hay sai. - Cậu thật thà bỏ mẹ. Đúng là chủ trương của trên, nhưng trên chỉ nói là phải khoan hồng với tù, hàng binh. Chả ai nói rõ là thả chúng ra ngay như thế. Tớ liều giải thích với bà con, chỉ sợ sai chỗ nào thì gay. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 10:59:10 am Cậu liên lạc vẻ rất ngạc nhiên:
- Thế cấp trên không cho thả bọn ấy hả anh? - Cậu chán bỏ mẹ! Cấp trên khái quát chung, còn mình thì phải làm cụ thể. Nếu cấp trên nói rõ thả hay không thả thì tớ băn khoăn làm gì. Trong hoàn cảnh cụ thể này, cậu nghĩ thử xem, mình chỉ có hơn trăm thằng, lại phải trông coi hơn một trăm tù binh nữa, có bàn giao được chúng về tỉnh đội thì cũng phải mất dăm bẩy ngày, vậy lấy gì mà nuôi chúng? Thả là đúng quá đi chứ. Chỉ có điều bà con thắc mắc, tớ giải thích thế có ổn không? Tớ muốn tham khảo ý kiến cậu, thì cậu lại cứ chất vấn tớ, chán bỏ mẹ! Cậu liên lạc cười: - Tưởng gì, chứ cái khoản diễn thuyết của anh thì không chê vào đâu được. Anh yên tâm. Bà con thông cả rồi! - Nhưng mà bản thân cậu có thông không? - Em thông chứ! Ôi chao, bây giờ mà giong hàng trăm thằng ấy cùng về thì vất vả lắm. Rồi em lại phải đi liên hệ nhà dân tìm chỗ ở. Nói là cho bộ đội ở thì họ đồng ý ngay, nhưng nói cho bọn giặc ở, dù đó là tù binh, cũng khó khăn lắm. Ai muốn cho giặc vào nhà. Anh giải quyết như thế là thượng sách rồi. Còn năm thằng Tây với mấy chục tên nguỵ đi theo mình, tuy đã giao cho anh Năm phụ trách rồi, nhưng cậu cũng để ý chúng giúp anh nhá. Riêng một thằng lính dò mìn, nó không muốn đi theo mình mà muốn về nhà, nhưng anh chưa thả. Anh để làm quà tặng cho cậu Thường. - Quà tặng á? Anh Thường cần thằng tù này làm gì? - Cậu ấy cần để khai thác nó thêm về máy dò mìn. - Vâng! Anh cứ yên tâm. Họ hành quân trong đêm. Qua những cánh đồng vắng, Đỗ Ninh vẫn trò chuyện với người liên lạc thân thiết của mình như vậy. Rồi họ đi ngang qua cái đồn mà lần đầu tiên đơn vị anh ra quân bị thua, Đỗ Ninh chạy thục mạng, đánh rơi cả dép. Cậu liên lạc bỗng hỏi: - Lâu nay anh có nhận được tin gì của cái chị đã cho anh đôi giầy ấy không? - Hả, chị nào? à cái chị ấy giống như...ma ấy! Hình như chị ấy biến mất hẳn rồi. Anh cũng chẳng nhớ đến nữa. Nói vậy thôi chứ thực tình sau mỗi trận đánh anh đều nhớ về cô gái đó, tha thiết được gặp cô. Lạ thật, từ ngày đó ngặt không thấy cô ta tin tức gì cho anh. Anh vẫn thầm oán trách ông trời sao chẳng công bằng. Khi mà anh thua trận thì để cô ta biết, còn khi anh thắng trận lại chẳng cho cô ta hay. Cô ta là ai, ở đâu thì đến nay anh vẫn không thể biết. Có lúc anh bực dọc cả với mình và tự sỉ vả mình: "biết cô ta để làm gì chứ. Cô ta cũng chẳng khác gì bao người khác trên đời". Thế rồi không hiểu sao sau những trận đánh thế này, anh cứ cồn cào mong nhớ. Thấy anh im lặng lâu lâu, cậu liên lạc lại nói: - Anh ơi, hay là hôm nào em với anh về thăm lại cái vùng Bình Giang ấy xem. Đến hẳn cái làng mà cô ta lần đầu đến tìm anh ấy. Mình hỏi thăm quanh vùng, nhất định có người biết, anh ạ. - Chú mày làm sao thế, cũng nhớ cô ấy à? Còn anh thì anh quên rồi, việc gì phải đi tìm chứ. Nói vậy nhưng anh lại nghĩ: cái cậu liên lạc này thế mà sáng kiến. Nếu mình chịu khó hỏi thăm thì thế nào chẳng có người biết về cô ta. Rồi chợt anh nhớ ra người tỉnh đội phó, chính anh ta nói với anh rằng, cô ta bảo cậu chỉ là võ biền thôi. Chắc chắn anh ta biết cô gái đó ở đâu. Tự nhiên Đỗ Ninh vỗ vào đùi đánh "đét", rồi thốt lên: - Đúng rồi! Cậu liên lạc đi bên giật mình: - Sao ạ? đúng là anh em mình sẽ tìm về Bình Giang phải không? - Không, ấy là anh đang nghĩ việc khác cơ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 11:00:45 am Chương 20 Trước khi về đơn vị, Thường ghé qua nhà Bống để thay lại áo quần. Anh nói với cô Bống hai ngày nữa sẽ trả lại bộ quần áo cho cô. Lúc ấy cô Bống cũng vui lắm, cô hỏi: - Anh còn đánh trận nào nữa? Vẫn phải hoá trang thành đàn bà ư? - Không. Hai ngày nữa thì tôi mới kịp giặt giũ, phơi khô để trả cô. - Sao anh cẩn thận thế, anh cứ thay ra, em giặt cho. - Như vậy không tiện lắm. Tôi lăn lê suốt một ngày, bẩn hết rồi. - Bẩn thì em cũng giặt được, anh đừng ngại - Rồi cô bạo dạn hơn - Em rất vui khi được giặt bộ quần áo này, vì nó đã cùng anh chiến thắng kẻ thù mà. Chợt nhớ ra lời Tân nói ban trưa, Thường hỏi: - Lúc trưa, khi chiếc xe tăng đổ, cô ngồi bên tôi rồi về khi nào mà tôi không biết. Nghe nói cô vừa đi vừa khóc, thế là làm sao nhỉ? - Em...em có khóc đâu! - Cậu Tân bảo thế mà, cô đừng chối nữa. Hay cô giận vì lúc pháo địch bắn tôi đã... - Không phải em giận anh vì chuyện ấy, mà vì... - Vì chuyện gì, cô cứ nói, để tôi còn rút kinh nghiệm bản thân mình. - Nhưng chuyện ấy qua rồi, em có giận gì anh nữa đâu. - Biết là cô không giận nữa nên tôi mới hỏi vậy, chứ cô mà còn giận thì tôi chả dám hỏi đâu. Hoá ra cô giận tôi mà tôi không biết vì chuyện gì? - Lúc mấy tiếng nổ về sau, em gọi anh mấy câu mà chả thấy anh đáp lại. Em nghĩ rằng anh giận em, vì trước đó em trót kêu to, gọi anh là bộ đội. Vì thế em rất tủi thân. Thường bật cười: - Phụ nữ các cô hơi một tý là tự ái. Cô gọi, tôi có nghe tiếng đâu. Lúc ấy chỉ chú ý vào mấy quả mìn thôi. - Về đến nhà nghĩ lại, em cũng hiểu như thế, em bỗng thấy có lỗi với anh. Đó là vì em đã hiểu lầm anh. Thôi bỏ qua chuyện ấy anh nhá. Thường mỉm cười gật đầu rồi đi thay lại bộ quân phục của mình. Bống đợi sẵn và nhất định giằng lại bộ quần áo để mình giặt. Mắt cô nhìn anh đã đầy vẻ đắm đuối. Cô hẹn: - Khi nào rảnh, anh nhớ về thăm làng em nhé! - Thăm làng á, anh có quen ai trong làng đâu mà thăm, chỉ có mỗi mình em! - Vâng, thì anh về thăm em. - Nhưng chẳng biết lúc ấy em còn nhớ anh không? - Nếu không nhớ thì sao em lại muốn anh về... Thường vui lắm, nhưng anh vẫn ẫm ờ: - Bây giờ thì nói vậy nhưng mai sau đi lấy chồng rồi làm sao em còn nhớ đến anh bộ đội cục mịch này. Bống đỏ mặt, nhưng cô vẫn mạnh dạn nói: - Em chưa lấy chồng đâu. Có lấy cũng phải đợi anh về chơi đã rồi mới lấy. Lời nói của Bống thật sự đã là một lời hứa hẹn. Thường chớp chớp mắt, rồi liều lĩnh nắm chặt tay Bống, nói nhỏ gần như thì thào: - Thế thì anh cảm ơn em. Nhất định anh sẽ về thăm! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 11:02:02 am Thường trở về đơn vị trong lòng tràn ngập niềm vui. Cuộc nói chuyện tưởng như bâng quơ ấy, nhưng cả hai cùng hiểu rằng họ đã thầm hẹn ước với nhau. Qua mấy năm lăn lộn trên chiến trường, giờ đây Thường đã chững chạc và già dặn lên nhiều so với cái hồi gặp một cô thôn nữ dưới hầm bí mật. Cái cô thôn nữ ấy vẫn gây cho anh nhiều cảm súc lạ, nhưng không có điều kiện gặp lại, chắc giời cũng chẳng xe duyên. Giờ đây gặp Bống, anh cảm thấy thoả lòng. Khi đuổi hết quân giặc, nhất định anh sẽ thưa với bố mẹ mang cơi trầu đến hỏi Bống về làm vợ.
Thường đang định đi tìm anh Đỗ Ninh để báo cáo tiếp về kết quả của mấy trái mìn, thì cậu liên lạc của Đỗ Ninh đến : - Chào anh Thường. Chúc mừng anh đã thắng lớn! - Cậu khách sáo thế. Cả đơn vị thắng lớn, trong đó có cả cậu chứ mình tớ đâu mà cậu chúc. - Nhưng mà anh là người thắng đậm nhất. Trước hết là mấy quả mìn đã nổ trúng mục tiêu, thứ hai là chiến thuật hố không mìn đã lừa được bọn giặc, thứ ba là công tác dân vận rất thành công. - Cái cậu này, bẻm mép vừa chứ. Thôi nào, có việc gì thì nói đi. - Anh Ninh giữ lại cho anh một tên lính dò mìn. Nghe nói anh cần khai thác nó. Em đã mang nó đến đây, để ở ngoài kia. Anh ra nhận tù binh đi. - Bắt được lính dò mìn à. May quá. Cảm ơn chú em. Cho anh cảm ơn anh Ninh nữa. Anh ấy thật chu đáo. Nghe nói anh ấy thả hết tù binh rồi phải không, kể cả mấy thằng Tây? - Vâng, thả hết rồi, riêng thằng lính dò mìn thì gửi tặng anh. - Chả là hôm trước mình có tâm sự với anh ấy là, thỉnh thoảng cũng bị bọn lính dò mìn phát hiện, đào lấy mất mìn. Giá bắt được một thằng tù binh để khai thác nghề nghiệp của chúng thì mình sẽ đối phó được, thế là ông anh hiểu ý mình, đã ủng hộ ngay. Thôi được rồi chú về đi, anh sẽ nhận tên tù binh này. Thường vội vã đến nơi tạm giữ tên tù binh. Tên này cũng chỉ chạc tuổi Thường. Bị bắt về đây, hắn run lập cập. Hắn lễ phép trả lời rành mạch những câu hỏi của Thường. Rồi hắn thở than: - Tối qua ngài Đỗ Ninh đã thả hết bọn tù binh ra rồi. Chúng nó là những tên lính chuyên đi càn quét, bắn giết thì được thả, còn tôi, tôi chưa từng bắn một viên đạn nào về phía Việt Minh, vậy sao lại giữ tôi? Thường bảo nó: - Anh tưởng không bắn viên đạn nào là không có tội sao? Anh đã dò mìn của chúng tôi, đã giúp cho bao nhiêu thằng giặc thoát chết để chúng nã pháo vào làng xóm mình. Mỗi trận càn, hàng trăm, hàng ngàn người dân vô tội bị chết vì bom và đạn pháo của các anh. Tội anh như vậy có nhẹ không? Thằng lính dò mìn chợt bật khóc. Nó gọi Thường bằng ông, xưng con. Nó lậy van, xin Thường cho nó được sống, nó sẽ về quê quán làm ăn, không bao giờ thèm đi dò mìn cho Tây nữa. Thường suýt bật cười. Lính tráng gì mà nhát gan đến thế. Anh nói ngay để nó yên tâm: - Chúng tôi cũng sẽ thả anh, nếu anh ngoan ngoãn trả lời những câu hỏi của tôi. - Vâng ông hỏi đi ạ, con sẽ trả lời hết. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 11:03:31 am Thường đã khai thác được tỷ mỷ về tâm trạng, về kỹ thuật, về ý thức và quy tắc làm việc của bọn lính dò mìn nhà nghề. Qua cuộc khai thác này, Thường nghĩ đến một loại mìn mà chỉ dành để tiêu diệt bọn lính dò mìn này. Bởi vì người chuyên đi đánh mìn như anh lại bị bọn dò mìn lấy mất vũ khí thì tức lắm. Đêm ấy dù có chút vấn vương với cô Bống của mình, Thường vẫn dành nhiều thời gian nghĩ về một quả mìn như thế. Rồi những phác thảo đầu tiên hình thành trong đầu. Chắc chắn phải dùng mìn điện tự động rồi, nhưng làm cách nào để mìn sẽ nổ ngay khi bọn chúng vừa đụng đến. Thường nghĩ mãi về cái cạm điện đã dùng trong việc đánh tầu, đánh xe. Tầu xe chạy qua cạm điện, bị lực nén đè xuống thì mìn nổ. Bọn dò mìn này khi tìm thấy mìn lại bới bớt đất đi để moi mìn lên. Vậy muốn cho mìn nổ thì phải đặt cạm điện ở phía dưới để lực nén đẩy ngược trở lên. Chỉ cần bọn địch bới đi một lớp đất nhẹ, để lực nén khác ban đầu là lập tức lò so chuyển động, đẩy ngòi điện chập vào kíp nổ, mìn sẽ nổ ngay. Đúng rồi, mình sẽ làm thử ngay sáng ngày mai. Niềm vui cộng với sự hồi hộp làm Thường khó ngủ. Mặc dù mấy đêm trước gần như anh thức trắng, đêm nay đáng nữa sẽ ngủ ngon lành, vậy mà anh vẫn bồi hồi thao thức.
Sáng hông sau Thường trở về nơi đứng chân của S20. Anh đề nghị với đội trưởng phương án chế tạo quả mìn để tiêu diệt bọn lính dò mìn. Nghe anh trình bày, đội trưởng S20 phấn khởi lắm. Anh đồng ý cho làm thử nghiệm ngay và còn trêu Thường: - Tớ cứ tưởng cậu đề xuất phương án cưới vợ chứ. Nghe nói cậu đã gần gũi được một cô du kích xinh đẹp lắm. Đêm qua cậu ở lại đó, tớ cứ tưởng... vui vẻ một chút. Hoá ra ở gần mỹ nhân mà vẫn nghĩ đến mìn à? - Mìn còn hấp dẫn hơn mỹ nhân ấy, anh ạ. Quả mìn đặt lực nén ngược từ dưới lên, thử nghiện trên mô hình thì rất thành công. Bộ phận gây nổ bố trí theo cách mới này rất nhạy và chính xác. Theo sự phân tích của Thường, anh em đặt tên cho loại mìn này là "mìn sờ", nghĩa là bọn lính dò mìn vừa sờ vào mặt đất là mìn nổ ngay. Đội trưởng S20 quyết định mang loại mìn này đánh thử. Quả "mìn sờ" đầu tiên được chế tạo từ quả đạn 81 ly bị câm của địch. Mìn được đặt tại một điểm gần quán Phấn, trên đường 17, đoạn mà tốp lính dò mìn thường rà soát từ nhà thờ Hui đến đồn Phương Điếm. Quá trình đặt một ổ mìn này phức tạp hơn bình thường, vì cả hệ thống gồm mìn, cạm điều khiển, ống pin đều nằm chung một hố. Nếu xẩy ra nhầm lẫn, dù chỉ là một chi tiết nhỏ thì lập tức mìn sẽ nổ, người đặt mìn sẽ chết. Thường là người nghĩ ra quả mìn đó, nên anh trực tiếp chôn mìn một cách hết sức thận trọng và tỷ mỷ. Sớm hôm sau bọn lính vác máy ra dò mìn như thường lệ. Chúng nhanh chóng phát hiện thấy dấu nghi ngờ mà người chôn mìn cố tình để lộ. Chúng nổ súng báo động, hò la, hí hửng, tưởng sắp lập công to. Năm, sáu thằng lính xúm xít quanh chỗ có mìn. Chỉ sau giây lát, mấy tên lính vừa chạm vào mặt đất, một cột khói đen bốc lên dựng đứng. Quả đạn 81 phát ra một tiếng kinh sợ. Bọn lính tan xác không còn một mống. Thàng công rồi! Mìn sờ đã nổ đúng mục tiêu. Kết quả hơn cả mong đợi! Cả đơn vị cùng mừng. Họ xúm lại công kênh Thường trên vai: - Chú mày giỏi! Hôm nào sẽ thưởng vài ngày nghỉ cho về Ninh Giang - đội trưởng khen. - Không, chúng ta đón cô Bống lên đây, làm đám cưới cho hai người! Nhân dịp sáng kiến thành công cái loại mìn sờ này, cậu nên cưới luôn đi! - Anh em trêu Thường như vậy. Thường như nghẹt thở trong niềm vui mới. Anh nói như giao hẹn: - Hứa với đội trưởng và anh em, nếu loại mìn sờ của chúng ta tiêu diệt được hết bọn lính dò mìn thì tôi nhất định sẽ cưới vợ. - Cưới cô Bống chứ? - Chưa biết cô nào, nhưng nhất định là một cô con gái. - Cậu nói như đùa, chả cưới con gái dễ thường con trai nó thèm lấy cậu chắc! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 11:05:13 am Tân ở đâu chợt chạy đến tố cáo:
- Mắt tớ đã trông thấy hai người ôm nhau rồi! Cậu Thường trông hiền lành thế mà cũng táo tợn ra phết! Thường cãi: - Cậu nói bậy nào. Tớ ôm cô ấy bao giờ! - Cậu hỏi cái bờ lúa ấy, và cả bụi ngô nữa. Mà không phải một lần, những hai lần cơ. Mấy người xúm vào căn vặn: - Thế cơ à? Đánh nhau ác liệt như thế mà còn ôm nhau cơ à? Ôi dà! Thế là cậu hên nhất đội rồi. Thảo nào mà đầu óc cậu minh nẫn thế, nghĩ ngay ra cái quả mìn sờ... Thường không cãi nữa, mặc cho anh em tếu táo một chút cho vui. Sau quả mìn thí điểm thành công, các anh tiếp tục đánh trận thứ hai. Lần này họ chọn một đoạn đường gần bốt địch, kết hợp mìn sờ với mìn đánh xe cơ giới. Hai quả mìn điện tự động đặt cách nhau chừng hai trăm mét, đằng trước đó là một ổ mìn sờ. Sáng hôm ấy ba tên lính dò mìn đưa đẩy máy quét trên đường. Tên vác máy đi đầu vừa đến chỗ quả mìn sờ đầu tiên đã hốt hoảng hét to: - Mìn, có mìn! Hai tên lính đi sau vội chạy lên rồi cùng xác nhận: -Ừ, đúng rồi, có mìn. Nghe báo có mìn, những tên lính đang sục sạo trên đường chạy nhốn nháo, có tên nằm rạp xuống đất, bắn vu vơ ra xung quanh. Tên chỉ huy đi sau hôi hể chạy lên, vừa chạy vừa hét: - Cứ để nguyên, tao coi! để nguyên! Tên chỉ huy vừa cúi xuống lấy tay rờ rờ trên mặt đất thì tất cả bọn chúng đều biến mất trong đám khói đen đặc và tiếng nổ long trời. Bọn giặc trong đồn phải bắn súng báo động rồi huy động lính tráng, phu phen ra thu dọn và san lại mặt đường. Chúng thật sự hốt hoảng, không hiểu tại sao những cái máy dò mìn mới tinh, nghe nói hiện đại vào loại nhất, cùng với tụi lính dò mìn chuyên nghiệp mà lại bị mìn nổ tan tành.. Hai quả mìn chính đón đánh xe cơ giới vẫn yên trí nằm chờ xe. Vì đội quân dò mìn chết hết rồi, bọn còn lại quá hoảng sợ, nên chúng chẳng còn hứng thú tìm mìn. Chúng chỉ san lấp qua loa chỗ quả mìn vừa nổ rồi bỏ đấy, chẳng thằng lính nào muốn ở lại gần cái nơi vừa làm tan xác năm thằng đồng nghiệp của chúng. Chiều hôm ấy một chiếc xe cam nhông chở đầy lính cùng một chiếc xe Zép chở hai sĩ quan Pháp từ Chi khu quân sự Ninh Giang chạy về hướng Hải Dương thản nhiên chạy qua đoạn đường này. Cả hai đều bị lật nhào, lính tráng bị thương la ó như chợ vỡ. Một tên sĩ quan Pháp chết ngay tại chỗ, một tên bị thương rất nặng, nằm rên như bò đến hai tiếng đồng hồ sau mới được đồng bọn từ tiểu khu Phương Điếm cho xe cấp cứu về Hải Dương. Đó là một ngày thật đen tối với bọn giặc ở vùng này. Từ đó về sau, mỗi khi phát hiện thấy mìn, bọn lính dò mìn không dám động chạm vào mặt đường nữa, mà chạy thật xa, rồi dùng lựu đạn đáp đến nát đoạn đường đó, hy vọng cho những trái mìn nằm dưới lòng đất nổ hết Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 02:57:04 pm Chương 21 Tỉnh đội triệu tập cuộc họp để tổng kết, rút kinh nghiệm mấy trận đánh trực diện với quân GM của giặc. Qua ba trận thử sức của ba đại đội thuộc bộ đội tỉnh, có sự phối hợp của mấy đại đội lẻ thuộc Trung đoàn 64, bộ đội chủ lực, kết quả thấy rõ quân ta đủ sức bẻ gãy những cuộc hành quân qui môt lớn của chúng. Đội quân này rất mạnh về trang bị và vũ khí hiện đại, nhưng lại có nhược điểm cơ bản là chỉ quen tác chiến với đối phương trên chiến trường lớn, không quen với cách đánh bất ngờ, luôn ẩn hiện trong đội hình nhỏ của bộ đội ta. Hơn nữa vì là quân cơ động nên chúng luôn bị động với địa hình, lúc nào chúng cũng là người lạ. Còn chúng ta, tuy luôn ẩn hiện, nhưng vẫn là địa bàn của địa phương nhà, các chiến sĩ đều thuộc từng bờ tre, bụi dứa. Bởi vậy nên bộ đội ta luôn chủ động trong mọi địa hình, đánh nhanh và rút nhanh, không mấy thương vong. Dường như các tướng lĩnh của Pháp đã nhận ra nhược điểm lớn này, nên họ đã nhanh chóng điều các binh đoàn cơ động lên phía bắc, giao lại vùng đồng bằng cho đội quân hành chính trông coi. Đây là đội quân tuyển dụng từ địa phương, do các đồn bốt địa phương quản lý. Bọn này tuy không thật nhà nghề lắm, nhưng lại rất nguy hiểm, vì chúng nhiều mưu mô sảo quyệt. Đa phần chúng cũng là người địa phương nên thông thạo đường ngang ngõ tắt. Chúng hơn hẳn bộ đội ta về trang, thiết bị và vũ khí tối tân. Sau khi bộ đội và du kích ta mở chiến dịch phá hương đồn, tháp canh, chúng hạn chế đóng đồn lẻ, mà tập trung co cụm trong những khu quân sự lớn. Cũng vẫn là đơn vị đồn bột, nhưng lực lượng đông hơn, được bảo vệ chắc chắn hơn. Từ những đồn bột lớn này, chúng kéo quân đi càn quét quanh vùng, những nơi nghi ngờ có bộ đội ta. Tuy chiến thuật rung doạ của Đỗ Ninh, có tác dụng làm hoang mang địch; tuy ở đâu anh cũng nói to: chúng ta là quân chủ lực của đại đoàn, nhưng quân địch vẫn điều tra được phía Việt Minh chỉ có vài đại đội. Trước tình hình đó, bộ đội ta buộc lòng phải tìm ra cách đánh mới, không thể bị động chống càn và luồn càn như ngày xưa. Trước khi bàn về cách đánh mới, tỉnh đội cho anh em đi quan sát thực địa một vị trí tập trung quân của địch. Thành phần của đoàn gồm: đồng chí tỉnh đội trưởng, đồng chí tỉnh đội phó, đồng chí phụ trách tác huấn của tỉnh đội, đại đội trưởng của các Đại đội 25, 72, 92 và đồng chí Trung đội trưởng Trung đội trinh sát. Từ thực địa về, đồng chí Tỉnh đội trưởng cùng các cán bộ mở sơ đồ ra thảo luận. Đồng chí nêu vấn đề: - Trước đây chúng ta đã tiêu diệt nhiều đồn bốt giặc, nhưng chủ yếu đánh vào các đồn nhỏ lẻ, quy mô một trung đội. Nay ta cần đánh một vị trí cỡ tiểu đoàn, lại không có nội ứng. Ta hoàn toàn phải tìm cách tự mở cửa lấy. Hội nghị này ta bàn bạc cho chủ trương tác chiến mới, cho nên các đồng chí cứ thoải mái bàn, bàn vào cũng được, mà bàn ra cũng được. Chỉ khi nào có chủ trương dứt khoát rồi thì chúng ta chỉ có bàn vào, không được bàn ra. Hội nghị đã bàn bạc sôi nổi, phân tích chỗ mạnh, yếu của địch, cuối cùng anh em thống nhất chủ trương đánh tập kích vị trí địch ở quy mô lớn. Không một ý kiến nào khác. Đồng chí tỉnh đội trưởng kết luận: - Đánh vào tận sào huyệt của chúng là mục tiêu của chúng ta. Hôm nay các đồng chí đã thống nhất chủ trương. Còn cụ thể đánh bằng cách nào, yêu cầu các đồng chí cùng suy nghĩ. Tỉnh đội giao cho đại đội đồng chí Đỗ Ninh đánh thí điểm trận đầu. Các đơn vị khác phải suy nghĩ cách đánh riêng của mình, sau khi rút kinh nghiệm của Đỗ Ninh. Đề nghị đồng chí Đỗ Ninh cho ý kiến. - Xin chấp hành mệnh lệnh! Tỉnh đội trưởng động viên: - Trận đánh chặn cuộc hành quân lớn của địch ở Ninh Giang có tiếng vang lớn lắm đấy. Tỉnh uỷ và khu uỷ Khu Ba đã có thư khen. Đồng chí cố gắng phát huy tinh thần ấy trong cách đánh mới nhé! - Chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 02:58:33 pm Hứa hẹn trước hội nghị, Đỗ Ninh thấy tinh thần phấn chấn lắm, nhưng trong bụng anh cũng rất lo. Ví trí địch mà anh được lệnh tấn công cách đường 5 chừng 1 cây số. Tại đó có một đội quân liên hiệp Pháp khoảng một đại đội và gần một đại đội bảo an quân trấn giữ. Lại còn một đại đội bộ binh phòng thủ, cùng với đội quân hậu cần như quân nhu, tài vụ, coi kho... tổng cộng có khoảng hơn ba trăm tên. Bên ngoài có ba hàng dây thép gai, xen giữa có gài các loại mìn, các ụ súng xây bằng gạch bố trí khắp xung quanh. So với việc chặn đánh quân cơ động thì việc này khó khăn hơn nhiều. Bởi vì quân cơ động thì mình trông thấy nó. Còn tấn công vào vị trí này thì chúng ở trong công sự, còn chính mình mới lộ mục tiêu. Quân số mình cũng ít hơn, vũ khí tuy được trang bị đầy đủ hơn trước, nhưng vẫn chưa có súng hiện đại như ĐKZ của bộ đội chủ lực. Làm thế nào để đánh chắc thắng, đánh là tiêu diệt địch chứ không chỉ là quấy rối chúng như ngày xưa.
Trước khi đến cuộc họp này Đỗ Ninh thầm nghĩ sẽ tìm gặp đồng chí tỉnh đội phó để hỏi thăm về nàng tiên của mình. Song cuộc họp nhiều nội dung quan trọng, lại phải đi thực địa nắm tình hình địch, rồi lại thảo luận chủ trương mới. Bây giờ tỉnh đội lại giao cho đơn vị anh đánh thí điểm trận đầu, anh phải tập trung suy nghĩ lên kế hoặch chiến đấu. Chẳng lẽ lại đi hỏi chuyện riêng vào lúc này, đồng chí ấy không thông cảm, lại cho rằng mình nghĩ nhiều đến chuyện phụ nữ thì không hay. Thôi chẳng hỏi nữa. Thời buổi loạn lạc, đến người ruột thịt cũng chẳng biết nhau ở đâu nữa là người dưng. Nghĩ vậy nên Đỗ Ninh không tìm gặp riêng tỉnh đội phó như ý định. Anh muốn đi nhanh về nơi trú quân để cùng anh em bàn chiến thuật tấn công giặc, hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Anh đang cúi đầu suy tư và bước rất nhanh ra ngoài, thì bất chợt chính người tỉnh đội phó ấy gọi lại: - Ninh ơi, dừng lại tí nào. Đừng vội vã, bình tĩnh mới giành thắng lợi. Tỉnh đội phó vừa nói, vừa cười rất tươi, làm Đỗ Ninh cũng vui lây. Anh dừng lại: - Tôi có vội đâu, ấy là cái tạng nó thế, hễ cứ đi là phải bước gấp. Có việc gì hả anh? - Có việc, nhưng không phải việc của tớ. Có người hỏi thăm đôi giầy vải lần trước đã rách chưa? Đỗ Ninh bỗng run bật. Ra cái cô này vẫn quan tâm đến mình, vẫn ẩn hiện ở đâu đó. Ơn trời từ ấy đến nay mình không bị thua trận lần nào, không phụ sự quan tâm của cô ấy. Trấn tĩnh lại, Đỗ Ninh nói với tỉnh đội phó, vừa như hỏi thăm vừa như dằn dỗi: - Cô gái tốt bụng ấy ở đâu mà cứ đùa tôi như vậy. Lần trước gửi cho tôi đôi giầy, cô ấy viết: tôi từ âm phủ hiện lên gửi tặng anh đôi giầy. Từ ấy đến nay biệt vô âm tín. Tôi đành chịu, chẳng biết cô ấy ở đâu mà cảm ơn. Nếu anh gặp cô ấy thì nói giúp là, đôi giầy cô ấy tặng tôi vẫn để dành, hãy còn mới nguyên. Dạo này bộ đội đã cấp phát quân trang cho anh em rồi. Tôi không phải đi chân giầy, chân dép nữa và dù có thua trận thì tôi vẫn luôn giữ cho đôi chân mình khoẻ mạnh để còn tiếp tục bày trận khác. Nói giúp tôi như thế anh nhé! Tỉnh đội phó bật cười: - Gớm sao cậu nói nhiều thế. Cái câu hỏi thăm về đôi giày là của tớ. Tớ nghe nói cậu chăm giặt đôi giày lắm, lại còn ngắm nghía nữa, đừng giả bộ là giầy còn mới để người ta lại thêm buồn. Cô ấy hỏi thăm sức khoẻ và chúc mừng cậu, thời gian qua cậu đã chiến thắng giòn giã. Cô ấy vui lắm! - Thế anh gặp cô ấy ở đâu? - Mới đây tớ gặp cô ấy ở Bộ tư lệnh quân khu! - Anh nói sao? Gặp ở đâu? Bộ tư lệnh quân khu á. Thế cô ấy là người của Quân khu à? - Cô ấy là cán bộ của quân khu, có thời gian biệt phái về tỉnh nhà. Cụ thể cô ấy làm gì, ở đâu, tớ cũng không biết. Thấy Đỗ Ninh đứng thần người, tỉnh đội phó lại trêu: - Cậu đang buồn đấy à? Hay là đang phổng mũi. Theo tớ biết thì nhiều người đang ghen với cậu, trong đó có cả tớ. Mang tiếng là tỉnh đội phó đây, tung hoành cũng khá, mà chẳng có cô gái nào thèm để ý, thế mà đại đội trưởng Đỗ Ninh lại được một hoa khôi của quân khu vấn vương. Cậu không biết đấy, tên cậu nổi khắp quân khu, khối "sếp" ghen đấy. - Anh cứ đùa tôi. Nếu mà được người đẹp vương vấn thì ai chẳng vui, nhưng đây là cô ấy trêu trọc thôi. Dù sao tôi cũng nhờ anh, nếu có dịp gặp lại cô ấy thì nói giúp là tôi cảm ơn nhiều, anh nhá. - Và đôi giày vẫn mới tinh, không thèm đi chứ?... Đỗ Ninh nháy mắt cười thật tươi: - Anh là cấp trên, anh nói thế nào để lính của anh đỡ thiệt thì nói. Cảm ơn anh. Tôi về chuẩn bị cho trận đánh đây. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 02:59:27 pm Đỗ Ninh trở về đơn vị trong một tâm trạng khó tả. Anh vừa như vui mừng, vừa như lo ngại. Cô gái tiên kia hoá ra là cấp trên thực sự của mình, luôn theo dõi mình. Mình có điều gì sơ xuất hoặc thất lễ, quả thật cũng khó duy trì được mối thiện cảm lâu bền. Hơn nữa với một người phóng khoáng như anh, anh không muốn gửi gắm tình cảm của mình vào một nơi quá uy nghiêm như cơ quan bộ tư lệnh quân khu. Anh muốn lùi lại và muốn quên hẳn cô gái này, dù cô ta có là tiên. Thực ra thì từ lúc ngẫu nhiên gặp nhau đến giờ anh đâu có tiến bước nào, dù chỉ là một lời hỏi thăm như lần này, anh cũng đã tự xoá bỏ mà. Hoàn toàn là cô ta hướng vào mình chứ đâu phải mình chú ý. Từ nay mình phải tránh xa. Nhưng ngoài cái lần gặp do cô ta tự đến, mình có được gặp lần nào nữa đâu mà phải tránh xa. Đỗ Ninh cứ tự lý sự với mình luẩn quẩn như thế. Cho dù mọi lý lẽ là để tránh và để xa, nhưng chính những suy nghĩ ấy càng chứng tỏ rằng anh đã nghĩ đến cô ấy nhiều hơn, day dứt hơn. Thật tình nếu không có trận đánh quan trọng đang chờ phía trước thì hẳn anh còn chìm sâu vào những suy nghĩ ấy. Tuy nhiên người ta có thể đọc rõ trên mặt anh một niềm vui rạng rỡ, một trạng thái phấn chấn lạ thường.
Đỗ Ninh cho mời cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên, tập trung trước sơ đồ căn cứ GM3 của địch. Để chuẩn bị cho cuộc họp này, anh đã mất ba ngày vắt óc suy nghĩ tìm chiến thuật tấn công. So sánh về lực lượng, mình chỉ có quân số bằng một phần ba phía giặc. Về vũ khí, mình cách chúng một khoảng rất xa về mức độ hiện đại. Ngay một khẩu Badôka đơn vị anh cũng chưa có, chủ yếu chỉ là súng trường, tiểu liên và lựu đạn. Muốn thắng được địch, chỉ còn mỗi cách phải bất ngờ áp sát chúng. Nghĩa là phải làm sao đưa bộ đội vào tận giường ngủ của chúng. Làm thế nào để vượt qua cổng gác, với những hàng rào thép gai, cùng với mìn chiếu sáng dầy đặc? Làm thế nào?... Bỗng anh nhớ đến một lần còn đóng quân ở Bình Giang, lúc ấy đơn vị anh hầu như còn phân tán nhỏ cùng với du kích chống càn, vũ khí rất thiếu thốn. Có một anh thanh niên, thỉnh thoảng lại mang đến cho anh mấy viên đạn và nói là để góp phần tiêu diệt bọn Tây. Anh hỏi người thanh niên ấy: - Đạn này anh lấy ở đâu? - Tôi trộm được trong đồn giặc. - Sao anh vào được đồn giặc? - Tôi để ý qui luật đi lại, ăn nghỉ của chúng nó. Đợi lúc và tìm nơi chúng không chú ý thì tôi lẻn vào. - Thế anh vào đó mấy lần rồi, lấy được những cái gì? Người thanh niên ấy nói thật là đã vào đồn giặc nhiều lần và cũng kiếm được nhiều thứ. Riêng mấy viên đạn, lần nào lấy được anh cũng mang biếu bộ đội để đánh tây. Bây giờ nhớ lại câu chuyện đó, Đỗ Ninh chợt thấy vui mừng. Anh đã manh nha tìm được lối vào đồn giặc. Ngay lập tức anh cho gọi ba người lính nhanh nhẹn, tháo vát, gan dạ đến giao nhiệm vụ, yêu cầu họ trong một tuần phải nắm chắc được qui luật đi lại, ăn, ngủ của binh lính trong đồn. Kết quả thật đáng mừng, chỉ sau ba đêm các chiến sĩ trinh sát đã báo cáo rõ đặc điểm đi lại của địch và còn đếm được bao nhiêu ụ súng xung quanh căn cứ. Trong cuộc họp này, anh em bàn biện pháp chiến đấu, đặt ra nhiều giả thuyết khó khăn, để tìm cách vượt qua. Khó khăn mấy cũng phải tìm cách vượt, chứ không được chùn bước. Cuộc họp đã thống nhất phương án: cho một tổ đi từ đêm trước, làm nhiệm vụ cắt dây thép gai và gỡ mìn. Mỗi tổ phải có ba người, hai người cầm hai đầu dây kéo căng ra, một người cầm kéo cắt từng sợi. Ngày ấy chưa có kéo chuyên dùng hoặc kìm cộng lực như sau này, mà phải dùng kéo thường để cắt, nên vất vả lắm mới cắt được một dây thép gai gồm ba bốn sợi nhỏ vặn vào nhau. Cắt xong lại kéo khít lại như cũ, tìm cách đánh dấu lại để đêm sau lực lượng chiến đấu xông vào. Để đảm bảo bí mật, tất cả những người tham gia chiến đấu đều phải bôi nhọ từ mặt đến chân. Quần áo phải gọn gàng, và phải chạy thử tại chỗ để kiểm tra tiếng động. Mỗi tổ chiến đấu được biên chế ba người. Người đầu tiên được trang bị một số thủ pháo, khi vượt qua hết ba hàng dây thép gai đã được cắt sẵn từ đêm trước, áp sát vào chân tường rồi thì dùng thủ pháo ném vào bên trong, uy hiếp địch bằng tiếng nổ. Người thứ hai được trang bị tiểu liên, nã một loạt đạn để dọn đường cho chiến sĩ thứ ba dùng súng trường có lưỡi lê xông lên áp sát lá cà, bắt sống hoặc đâm chết giặc. Bàn định kỹ rồi, Đỗ Ninh yêu cầu các trung đội trưởng phổ biến kỹ tới các chiến sĩ, sau đó cho anh em diễn tập như thật tại một vườn chuối gần chỗ đóng quân. Cũng bố trí ba hàng rào dây thép gai và mìn ống, để anh em tập cắt và tháo gỡ. Đội hình chiến đấu đứng cách xa một trăm mét đợi lệnh, xông lên. Ban chỉ huy đại đội đứng quan sát. Khi anh em hoá trang xong, tập hợp thành đội ngũ, mặt và chân tay ai nấy đều đen như vừa chui dưới hầm than lên. Một ai đó buột miệng: - Ôi trời, trông giống như Tây đen một lượt thế này, bọn giặc mà nhìn thấy có khi chúng lại tưởng quân của chúng! - Như vậy càng tốt. Ta đang cần gây mối nghi ngờ, hoang mang trong nội bộ nội bộ địch. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 03:00:33 pm Tập hợp đội ngũ xong, tám giờ các mũi xung kích mới xuất phát, mười giờ trận đánh mới diễn ra quyếtt liệt. Đứng ở vị trí quan sát, Đỗ Ninh nghe thấy những tiếng ho, anh cau mày, lẩm bẩm:
- Ho như thế thì quá bằng báo động cho giặc còn gì. Lập tức anh bổ sung vào kế hoạch tác chiến: Tất cả cán bộ, chiến sĩ phải ngậm gừng trước khi ra trận. Ai bị bệnh ho không kìm được thì dứt khoát phải ở nhà, không được tham gia trận đánh. Kết quả diễn tập đạt yêu cầu. Sau cuộc diễn tập, kế hoăch đánh địch được bổ sung hoàn chỉnh hơn. Một tuần sau họ ra quân tấn công vị trí GM3 của địch. Trận đánh diễn ra lúc 12 giờ đêm và nhanh chóng kết thúc. Chỉ trong vòng 30 phút, tiếng súng đã im hẳn. Bộ đội hoàn toàn áp đảo và làm chủ chiến trường. Quân địch hoàn toàn bất ngờ, không kịp triển khai chiến đấu. Chúng vốn cho đây là căn cứ an toàn, nằm sâu trong hậu phương của chúng nên lơ là cảnh giác. Thế mới hay, yếu tố bí mật bất ngờ luôn mang lại thắng lợi. Trận này Đỗ Ninh đã thắng một cách tuyệt đối, có thể nói là thắng lớn. Bộ đội của anh không hề thương vong, đã bắt sống được hơn một trăm tên địch, trong đó có nhiều sĩ quan. Đa số chúng đang ngủ ngon giấc, không kịp trở tay. Số bị tiêu diệt cũng khoảng hàng trăm. Những tên khôn ngoan và nhanh chân hơn thì chạy thoát thân, không hề chống cự. Bộ đội đã thu được nhiều vũ khí, gồm đủ loại: từ súng badoka, cối 81ly, 60 ly, trung đại liên, đến tiểu liên, súng trường. Có những loại chiến lợi phẩm rất đặc sắc, bộ đội địa phương chưa hề có và cũng chưa biết bao giờ. Đó là kéo cắt dây thép gai, một lại kéo đặc biệt, cắt dây thép rất nhẹ nhàng như cắt giây thừng ; rồi thủ pháo đúc thành bánh có lỗ sẵn để nhét kíp nổ, loại này thu được đến gần một tấn. Ta cũng có thủ pháo, nhưng không tiện dụng bằng loại này; đặc biệt hơn cả là thu được chục cái máy điện thoại và hơn mười ki lô mét dây dẫn. Đầu tiên Đỗ Ninh vồ lấy một chiếc điện thoại, lật ngược, lật xuôi hết a lô! lại hê lô, nhưng chỉ thấy tiếng ù ù trong máy, một lúc sau thì im hẳn. Trong lúc hào hứng vì chiến thắng anh rất muốn đầu dây bên kia có người nghe, mà chắc chắn người nghe phải là bọn sĩ quan. Anh sẽ khuếch chương chiến thắng và báo cho chúng biết sẽ có ngày anh đến hỏi thăm. Dù vẫn chưa nghe thấy tiếng người ở đầu máy bên kia, anh vẫn cất cao giọng: - Thưa quí ông, căn cứ GM3 của quí ông đã nằm trong tay chúng tôi. Chúng tôi là bộ đội Việt Minh, dăm ngày nữa sẽ tiến vào chỉ huy sở của quí ông đấy! Chuẩn bị mà giơ tay hàng nhá! Nhưng chiếc máy câm lặng, Đỗ Ninh cáu: - Sao thế này, máy giả à? Một chiến sĩ từ ngoài bước vào lễ phép thưa: - Báo cáo anh, theo lệnh của anh, các chiến sĩ đã cắt hết giây điện thoại nối vào căn cứ này, nên máy không còn tác dụng. Anh quên rằng đã lệnh cho các chiến sĩ cắt hết dây điện thoại để thu về. - Ồ, hoá ra là thế. Tưởng còn nói được, tao sẽ mắng cho bọn ở đầu dây đằng kia mấy mắng cho bõ tức. Thôi, đem tất cả các máy này về sở chỉ huy của ta, nối dây lại, chúng ta nói thử. Trận mở đầu cho cách đánh mới đã hoàn toàn thắng lợi. Các anh gọi đó là chiến thuật "mật tập" hay còn gọi là chiến thuật " sờ", nghĩa là trước khi tấn công, trinh sát của ta phải sờ được vào tận chân tường lô cốt giặc. Sau chiến thắng này, các đơn vị khác đã kịp thời rút kinh nghiệm và khẩn trương tiến đánh những vị trí khác của GM3. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 03:01:45 pm Chương 22 Sôlny được chuyển lên Sécteur Hải Dương. Đây cũng có thể coi là một bước đi lên của hắn. Vợ chồng hắn đều mừng vì được rời xa cái đồn nhỏ đầy nguy hiểm ấy. Sôlny phu nhân còn mừng hơn nữa vì chồng bà không phải làm việc cùng tên Đội Hai. Theo bà đó là con người gian ác và nham hiểm. Xa hắn, chồng bà đỡ bị lôi kéo vào những hành động ghê tởm như bà đã trông thấy ở Đội Hai. Về Hải Dương sẽ có nhiều sĩ quan là người Pháp, lại có nhiều phu nhân cũng từ Pháp sang đây như bà, bà luôn có bạn trò chuyện, lại thường xuyên được đến các câu lạc bộ vui chơi dành riêng cho người Pháp, cuộc sống sẽ vui vẻ hơn nhiều. Bà có vẻ bằng lòng với cuộc sống xa Tổ quốc của mình. Thế nhưng chỉ sau mấy tháng sống với chồng trong cái thành phố nhỏ xinh, cách xa bom đạn, tưởng sẽ tràn trề hạnh phúc, thì chính mắt bà lại chứng kiến những hành động ghê rợn của những người văn minh. Chính những người Pháp mắt xanh, mũi lọ, da trắng, tóc vàng lại vô tư cầm roi điện quất túi bụi vào những người dân phu bản xứ gầy gò, ốm yếu. Chính những sĩ quan Pháp văn minh chứ không phải những thằng vô học như Đội Hai đã dùng nước xà phòng đổ vào mồm, vào mũi những tù nhân để hòng moi được một mẩu tin. Sôlny phu nhân không dám tin ở mắt mình khi mà một ngừơi bạn làm việc trong nhà tù đã vô tình cho bà vào thăm cái khung cảnh rùng rợn ở đó. Những người đàn ông chỉ còn da bọc xương chân bị cùm chặt, tay bị treo ngược lên cao; những người đàn bà đầu bù tóc rối ngồi bệt trên nền đất, chân tay đều bị xích. Sôlny phu nhân ôm ngực, nén xúc động, hỏi người coi tù: - Sao nhiều tù thế? khi nào thì họ được tha? - Chả biết bao giờ. Mỗi ngày có hàng chục người chết. Chỉ những người ấy mới được tha. - Tại sao người Pháp mình lại làm việc này? - Đây là những tên tù chính trị, người Pháp mình phải trực tiếp tra tấn. Để người Việt họ tra khảo nhau liệu có tin cậy được không? Sôlny phu nhân nhún vai, thở dài. Bà không tưởng tượng nổi những sự thật ở đây. Từ hôm đó Sôlny phu nhân ăn kém ngon và giấc ngủ chập chờn, nhưng bà vẫn không dám nói gì với người chồng yêu quí của mình. Bà cảm thấy ngột ngạt và âm thầm một nỗi đau mơ hồ nào đó. Ngày đêm bà nghĩ cách thuyết phục chồng xin về nước, rời xa mảnh đất này. Một hôm bà hỏi chồng: - Mình chuyển từ đồn lẻ lên đây, công việc có thích hợp không? Sôlny nheo mắt, vẻ vui thích: - Anh cho rằng anh đã tìm đúng mảnh đất dụng võ của mình. Mới có mấy tháng ở đây, anh đã tham mưu đắc lực cho thượng cấp về chiến lược càn quét vùng đồng bằng Bắc bộ. - Mình tham mưu à? - Tất nhiên rồi! Sau mấy năm ở cái đồn lẻ ấy, anh đã quan sát và theo dõi hoạt động của Việt Minh. Họ không dám hoạt động ban ngày, mà chủ yếu ẩn nấp để ban đêm quấy rầy chúng ta. Vậy ban ngày họ đi đâu? Nhất định là họ xuống hầm bí mật hoặc nấp kín ở nơi nào đó. Biết vậy, anh đề xuất một phương án càn dài ngày hơn. Hôm nay càn không bắt được bộ đội Việt Minh thì ngày mai càn lại và phải tìm cách moi hầm bí mật của chúng. Kết quả thật bất ngờ. Trận càn Con rắn là sáng kiến đầu tiên của anh. Chúng ta đã bắt được hàng ngàn tù binh, trong đó có nhiều cán bộ cấp cao, đặc biệt có hai tên đứng đầu bộ máy quân sự cấp tỉnh của Việt Minh. - Hàng ngàn cơ à? sao nhiều tù binh thế? - Những người bản xứ cứng đầu là bắt hết! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 03:04:43 pm Ôi chao, Solny phu nhân rùng mình. Không ngờ chồng bà có một sáng kiến rùng rợn đến thế. Bà cảm thấy bối rối trước một hiện thực khác xa với những điều bà suy nghĩ, càng khác xa với những gì bà được giáo dục, được tiếp thu từ nhỏ đến giờ. Bà muốn thổ lộ, muốn chia sẻ để giải toả nỗi ưu tư trong lòng, nhưng không biết thổ lộ và chia sẻ cùng ai. Những người phụ nữ Pháp sang đây, đa phần là để phục vụ chồng con họ, suốt ngày họ đánh bài, rồi khiêu vũ, chẳng ai phải nặng lòng trước một hiện thực đẫm máu của cuộc chiến tranh, mà chủ sự là người Pháp, như bà.
Một hôm, nhân lúc chồng ngủ say, Sôlny phu nhân nhẹ nhàng mở cái cặp của gã. Cũng chỉ vì bà tò mò muốn biết những sáng kiến mới của chồng. Bà đoán chắc trong cặp sẽ có những bản kế hoặch chi tiết do Sôlny viết. Đúng như vậy, nhiều kế hoạch hành quân, bình định Sôlny đang phác thảo. Bà chú ý đến một bản báo cáo của cấp dưới, có chữ phê duyệt của Sôlny ở góc. Chữ của Sôlny khá đẹp. Hồi còn học với nhau ở Pari, bà để ý đến Solny cũng bắt đầu từ nét chữ của gã. Bà cho rằng nét chữ đẹp thế này thì tâm hồn chàng phải long lanh, hiền dịu lắm. Bà tò mò đọc bản báo cáo: Xử lý dân làng Tân Hưng, huyện Thanh Hà: Đã bắt được bẩy chục người, cả đàn ông lẫn đàn bà, 5 người đang có thai, bọn chúng không khai sự thật. Biện pháp xử lý là đào hố chôn đến cổ rồi bắt trâu bừa như dân An Nam bừa ruộng cấy. Sau đó nếu cái đầu nào chưa rụng hẳn thì cho lính dùng cuốc bổ cho rụng. Làm như vậy bọn dân đen ở đây mới sợ hãi, không dám động đến người Pháp chúng ta. Bên cạnh cái chữ ký dài ngoằng, Sôlny còn phê thêm: Tốt. Cần phải uy hiếp bọn Việt Minh ngay từ trong trứng. Thi hành ngay lập tức. Sôlny phu nhân vã mồ hôi ướt đầm hết áo. Nàng cảm thấy tức ngực, khó thở. Tuy nhiên nàng còn đủ tỉnh táo, xếp lại đống giấy tờ như cũ, dùng dằng định dấu tờ giấy ghê tởm đó đi. Nhìn kỹ lại, nàng biết đây chỉ là bản phôtô, bản chính hẳn người ta đã gửi đi rồi. Xem lại ngày tháng, nàng mới biết rằng bản án đó đã được thực hiện từ hai tháng trước. Ôi, thật là ghê sợ, thật là khủng khiếp. Nàng đổ gục xuống giường, nằm bất động như một xác chết bên cạnh người chồng đang thanh thản ngáy. Từ hôm đó Sôlny phu nhân cảm thấy tắt hết mọi niềm vui. Nàng sống âm thầm trong băng giá. Vẫn là người chồng thân thương ấy mà giờ đây nàng có cảm giác như mình đang chung sống với quỉ dữ. Tại sao anh ta lại có thể đồng ý với cách giết người man dợ như vậy được. Hơn nữa, anh ta lại còn khen tốt. Nàng chưa bao giờ hình dung ra một kiểu giết người tàn bạo đến thế. Nguyên do chỉ là vì một người Pháp bị mất mạng ở đó. Một người Pháp mất mạng mà phải đổi bằng bẩy mươi mấy mạng người khác, cả những thai nhi trong bụng mẹ, theo một cách hành hạ dã man như vậy sao? Thật đáng ghê sợ. Nhưng nàng biết làm gì? nàng biết nói sao với người chồng đang say sưa với trò giết chóc? Dù sao nàng cũng chỉ là người xem trộm, chứ đâu được bàn góp vào việc ấy. Giá như tận mắt nàng nhìn thấy, thì nàng sẽ can ngăn. Đằng này... mình đã tò mò, đã vi phạm đến bí mật quân sự của anh ta. Thôi, đành im lặng. Đêm đêm nằm bên chồng nàng tự biến mình thành pho tượng, trước sự cuồng nhiệt của chồng, Nhiều đêm Sôlny nổi cáu. Hắn không hiểu được người vợ đang độ nồng nàn của hắn tại sao lại trở nên lãnh cảm như vậy. Ban đầu hắn còn âu yếm, dỗ dành, mong tìm được những cảm giác ngất ngây như trước. Về sau hắn chẳng cần phải nhọc lòng, mỗi tối lên giường, hắn gần như ra lệnh cho nàng. Nào cửi áo, nào cửi váy, nào ôm lấy anh. Nàng thản nhiên nằm thẳng tuột như người không nghe tiếng. Hắn ra lệnh rồi hắn lại tự thực hiện. Nàng còn thương hắn, và phần nào sợ hắn bí quá làm càn nên nàng chưa cự tuyệt, cứ mặc hắn làm theo ý muốn. Sau mỗi lần gần gũi ấy, nàng thường ôm mặt khóc thầm. Thật là một nỗi buồn khó tả. Ngày đêm nàng nghĩ cách kéo chồng về nước, cứu anh ta ra khỏi địa ngục này. Nhưng chưa nghĩ ra được cách gì để có thể làm Sôlny chấp thuận. Dạo này gã lại hay đi công vụ. Xem ra gã rất thích thú với những chuyến đi. Sáng ấy Sôlny bảo nàng: - Anh đi thực địa phía nam thành phố vài hôm để lên kế hoặch cho cuộc hành quân bình định mới. -Sao hành quân bình đinh nhiều thế? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 03:05:54 pm Nàng hỏi một cách mỉa mai, nhưng Sôlny hoàn toàn không để ý. Gã hý hửng khoe:
- Lần trước anh lên phương án hành quân, bình định mang tên Con rắn, kết quả rất tốt. Lần này sẽ là kế hoạch mang tên Con rắn độc, chắc chắn sẽ còn tốt hơn. Sẽ tóm gọn được cơ quan đầu não của Việt Minh ở vùng này. Em vui lên đi. Chồng em nhất định sẽ lập công lớn. Rồi hắn ra đi trong niềm lạc quan cuồng nhiệt. Vợ hắn không chúc một lời, không hôn tạm biệt như mấy tháng trước mỗi lần hắn ra đi. Buổi chiều, Sôlny phu nhân đang ngồi mơ màng nghĩ về cánh đồng nho mênh mông của gia đình nàng bên Pháp. Nàng ước mong ngày trở về, ước mong thời gian quay trở lại thời sinh viên của nàng, ngày mà nàng mới làm quen với Sôlny. Ngày ấy sao mà gã hào hoa phong nhã, đáng yêu từ cái nheo mắt, đến mỗi nụ cười. Ngày ấy... Bỗng một cô nhân viên văn phòng gõ cửa phòng nàng một cách hấp tấp. Cánh cửa mở ra, nàng nhìn thấy một khuôn mặt trắng bợt, cái mũi dài của cô ta dường như đung đưa, đôi môi đẫm son lắp bắp: - Thưa phu nhân!...bà chuẩn bị đi ngay... Sôlny phu nhân hỏi cắt ngang: - Có việc gì vậy? Việt Minh tấn công à? Cô gái gật đầu, không dám nói tiếp. - Vậy chúng ta chạy đi đâu? - Thưa bà không phải là chúng ta mà ông nhà, à không! Ngài trung tá mời bà đến văn phòng! - Chồng tôi sao vậy? Cô nhân viên không trả lời mà vội vã quay đi. Dường như Solny phu nhân lờ mờ đoán ra điều hệ trọng, nàng run rẩy bước theo. Ngài trung tá, phó chỉ huy trưởng gặp phu nhân trong vòng 5 phút. Ông ta ca ngợi công lao của Sôlny với sự nghiệp bình định vùng châu thổ sông Hồng, biểu dương sự có mặt của bà tại Việt Nam mấy năm qua, rồi cho xe nhanh chóng chở bà tới bệnh viên. Sôlny đang nằm tại phòng cấp cứu đặc biệt. Các thày thuốc đã lau rửa vết thương và băng bó cẩn thận, nhưng bộ quần áo sĩ quan của hắn còn đẫm máu. Hắn bị mảnh gang găm vào người nhiều chỗ, nhưng nặng nhất là vềt thương đứt động mạch cổ. Do không được cấp cứu kịp thời nên máu chảy ra gần hết. Giờ đây hắn nằm nghẹo cổ về một bên, ì ạch thở những hơi thở cuối cùng. Các thày thuốc đã cố hết sức nhưng đành bó tay. Người ta thông báo vắn tắt với phu nhân rằng, chiếc xe Zép chở ngài không may dính mìn của Việt Minh, thiếu ta Smít chết ngay tại chỗ, ngài Sôlny còn kêu được mấy câu, mãi ngài mới ngất đi. Sôlny phu nhân đổ gập người xuống chiếc ghế cạnh đó. Nàng chẳng nói được câu gì, chỉ có hai dòng nước mắt rơi thánh thót. Nàng muốn gào thật to cái tên Sôlny mà cổ cứ nghẹn tác lại. Ba ngày sau Sôlny phu nhân được về nước cùng với chiếc quan tài kẽm đựng xác chồng. Trong tột cùng đau xót, bà thầm nguyền rủa cuộc chiến tranh vô nghĩa này. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Tư, 2009, 03:07:27 pm Chương 23 Từ ngày Bẹ đến và ở lại nhà, tự nguyện nhận làm con, bà Di trẻ hẳn ra. Tuy nhiên mỗi lần nhớ đến đứa con trai cả của mình, bà Di lại dàn nước mắt. Bà vừa thương con, vừa tủi phận mình. Bà vừa mong chóng gặp lại con, vừa sợ hãi ngày đó. Không hiểu nhìn thấy thằng em da đen kia, con trai bà sẽ thế nào? Nó có thông cảm với nỗi khổ của bà không? nó có chấp nhận đứa em trai khác màu da không? Bẹ rất tinh ý, mỗi lần thấy bà Di ngồi bần thần, mắt đỏ hoe, cô lại lựa lời an ủi, san bớt nỗi buồn sâu thẳm trong lòng bà. Còn nỗi buồn riêng của mình thì cô dấu kín. Không hé răng một lời về hoàn cảnh của mình. Trước sau cô chỉ nói là bạn thân của anh Phương, đên đây chăm sóc mẹ thay anh. Bẹ tự nhiên trở thành một thành viên của làng Rồng. Sau trận càn Con rắn gây bao thảm hoạ, giặc cắm một bốt nhỏ ngay cạnh làng. Tuy là bốt nhỏ, nhưng lại có mấy thằng nguỵ binh gian ác khét tiếng. Chúng mới đến đóng bốt vài tháng, dân làng đã trở nên nheo nhóc. Vụ mùa ấy bà con đang gặt, phơi thóc trên sân, chúng xua lính ào vào, bắt mọi người xúc thóc gánh đổ ra những chỗ đường bị bom phá hỏng để thay đất vá đường. Có những đoạn đường phải đổ đến 5 tấn thóc mới đầy. Dân làng Rồng vừa gánh thóc đi vừa khóc. Bẹ gánh thóc thay bà Di. Cô không khóc mà vừa đi vừa bặm môi, mặt đỏ rực. Từ lúc chúng bắt phải gánh thóc ra vá đường, Bẹ đã cố tình dùng dằng, rê xẩy nhanh, lọc ra mấy thùng thóc mẩy, còn thóc lép, lẫn trấu và rơm thì cô xúc gánh đi, vậy mà nỗi uất ức ở trong lòng vẫn trào dâng cuồn cuộn. Lúc trời nhá nhem tối, mọi người vẫn kìn kìn gánh thóc đổ ra đường, Bẹ nói với bà Di: - Bu cho con mượn cái chiếu cũ bu nhá! - Con làm gì? Cô ghé vào tai bà Di nói nhỏ. Bà có vẻ sợ sệt, nhưng vẫn khích lệ: - ừ, con thử làm xem. Cẩn thận kẻo chúng nó biết thì lại khổ con ạ! Bẹ cuộn tròn chiếc chiếu cũ, đặt lên một bên quang gánh, gánh thẳng ra gò đất gần chỗ đoạn đường bị vỡ. Lúc ấy trời đã tối hẳn, chẳng ai nhìn thấy cô. Bọn lính đứng rải rác trên đường, vẫn đốc thúc mọi người gánh thóc nhanh, để sáng mai xe của chúng có thể chạy qua. Bẹ nhẹ nhàng trải chiếu trên gò đất rồi đổ gánh thóc xuống. Chuyến thứ hai cô mang theo một bó rào tre còn nguyên cả gai. Đặt bó rào vào giữa đống thóc rồi cứ thế cô đổ thóc trùm lên bó rao gai. Từ đấy cho đến nửa đêm cô gánh được đến mười chuyến thóc, đổ thành một đống lùm lùm như đống rơm nhỏ. Chuyến cuối cùng cô đem theo hai tấm vải nhựa rách, phủ lên trên rồi nháo nhào nhảy xuống ruộng bốc bùn trát kín bên trên. Không ai nghĩ đó là đống thóc. Sáng mai bùn khô đi, mọi người sẽ nghĩ rằng nhà ai đó ủ phân trâu cho mục để mùa sau bón ruộng. Cả làng không ai ngờ rằng Bẹ đã giấu được gần năm tạ thóc ngay ở giữa đồng. Với một bó rào gai ở giữa, bọn giặc có muốn cướp, hoặc ai đó muốn xúc trộm cũng rất khó. Còn lớp bùn trát bên ngoài chỉ cần hai ngày sau đã khô cong như như vôi vữa, ngăn không cho nước mưa làm ướt thóc. Khi bọn giặc bớt lùng sục, Bẹ tiết lộ bí mật ấy với bà con hàng xóm, ai cũng khen cô tháo vát và bảo nhau mùa sau sẽ cùng giấu thóc bằng cách ấy. Nhưng vụ sau, ngoài đồng lúa bắt đầu hoe hoe đỏ, bọn lính trên đồn đã lừa trâu xuống quần cho rụng hết, mục đích phá hoại để dân làng đói kém và hết khả năng tiếp tế cho Việt Minh. Nhìn những ruộng lúa bị quần nát ai nấy ruột xót như xát muối. Vụ trước đã mất hàng chục tấn thóc vá đường, cả làng nheo nhóc, vụ này bị phá hoại thì làng Rồng lại có nguy cơ chết đói hàng loạt như năm bốn lăm. Ông Tư mời bà con tụ họp lại tìm cách cứu lúa, cứu đói. Nhiều người nêu ý kiến phải đi gặt ban đêm, còn ruộng lúa nào phải tập trung gặt ruộng đó, dù là lúa của nhà ai thì cũng phải gặt về. Muốn gặt được ban đêm thì phải cử người canh gác, kẻo chúng phục kích lại không chạy kịp. Ban đầu ông Tư cử Bẹ vào tổ canh gác, vì cô nhanh nhẹn, khoẻ mạnh. Sau có người cho rằng cô Bẹ từ đâu đến chưa ai biết rõ, để cô ta ở trong làng là liều lĩnh rồi. Thôi thì nể bà Di nên để cô ta vào nhóm gặt, chứ cho cô ta đi canh gác thì quá mạo hiểm. Thế là Bẹ được đi gặt mà không phải đi canh gác. Tuy rằng chẳng ngại việc gì, nhưng trong lòng cô lại trào lên nỗi chua sót mà bấy lâu cô muốn vùi lấp. Mọi người không tin cô. Trước đây cô đã định lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Nhưng đó là nỗi uất ức với Trần Ve, còn ở đây bà con chưa tin cô cũng là lẽ thường thôi, không nên oán trách họ, ngược lại cô phải làm gì đó để khẳng định sự ngay thẳng của mình. Nghĩ vậy, Bẹ đã nuốt nỗi ngậm ngùi vào bụng để thản nhiên sống vui vẻ với những người xa lạ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 19 Tháng Tư, 2009, 07:03:42 pm Đêm đầu tiên đi gặt, mọi người còn lúng túng lắm, nên chưa gặt được nhiều, chỉ được mỗi người hai quẩy lúa, gánh về xếp đống cả ở nhà ông Tư ngay đầu làng. Sáng hôm sau, một tốp lính đi tuần hùng hổ xông vào bắt mọi người gánh hết lên đồn. Chẳng biết chúng sẽ làm gì với đống lúa còn ướt đẫm sương đêm ấy. Còn dân làng thì vừa uất ức, vừa xót sa, nhưng chẳng biết làm gì, nếu không nghe theo chúng thì nhà lại bị đốt, người lại bị giết. Chiều hôm ấy ông Tư lại tụ họp bà con và lại hạ quyết tâm đi gặt đêm. Rút kinh nghiệm đêm qua, ông nói:
-Đêm nay chúng ta gặt ít thôi, gặt được đến đâu ta vò luôn đến đó, vò xong ta rang khô luôn rồi giấu kín. Chẳng lẽ mình chịu chết đói ư? Thế là từ đêm đó lúa gặt về đến đâu người ta vò ngay và rang khô ngay, rồi cất giấu cẩn thận. Những ruộng có thể gặt được bà con đã gặt hết, còn mấy sào quá gần bốt địch, không ai dám đến gặt, dù là gặt đêm, bởi chỉ cần nghe tiếng bước chân hoặc tiếng liềm hái, chúng sẽ bắn ngay. Chỉ có mấy sào ruộng mà phải hy sinh mạng sống của ai đó thì chẳng đáng chút nào. Nhưng bỏ hàng tấn thóc chín rũ xuống ruộng thì xót quá, trong khi nhà nào cũng thiếu ăn, rồi lại cần thóc ủng hộ cho bộ đội. Mọi người đang loay hoay tính toán thì Bẹ xin với ông Tư cho cô đi gặt những thửa ruộng ấy. Ông Tư nghiêm mặt bảo: - Nguy hiểm lắm cô ạ. Nếu cần hy sinh thì phải là chúng tôi chứ không phải cô, vì cô là người nơi khác đến, cô mà làm sao, lại mang tiếng làng chúng tôi. Bẹ muốn làm cho mọi người tin ở mình nên cô cố nài nỉ ông Tư: - Xin bác hãy tin cháu. Đêm nay bác cứ để cháu đi, nhất định cháu sẽ mang được thóc về, không nhiều thì ít. Bọn giặc không thể phát hiện ra đâu. Còn nếu bác nghĩ cháu làm thiệt hại dân làng thì xin bác cứ cho người theo dõi cháu. - Chúng tôi không dám nghĩ xấu về cô, chỉ lo cho sự an toàn của cô thôi. Thế này nhé, cô cứ về hỏi ý kiến bà Di, nếu bà ấy đồng ý thì chúng tôi không dám ngăn cô nữa. Bà Di nghe Bẹ trình bày thì rẫy giời rẫy đất: - Con thương bu, thương thằng Phương thì con đừng đi. Vào đấy con gặt được vài hạt thóc, nhỡ ra bỏ mạng thì bu biết nói sao với bu con ở quê nhà, bu biết nói sao với thằng Phương? Thôi con ạ. Thà ăn cháo cũng xong, chẳng nên liều lĩnh làm gì. Bẹ nài nỉ: - Bu ơi, nếu bu muốn con được ở đây lâu với bu, với em Nhụ thì bu cho con đi gặt. Bu cũng biết là dân làng có người nghi ngờ con, chưa tin con là bạn cuả anh Phương, nên con muốn làm được việc gì đó để dân làng hiểu đúng về con. Làng mình năm nay đã mất nhiều thóc lắm rồi, dân mình có thể chịu đói, nhưng còn các anh bộ đội ngoài chiến trường, nếu phải chịu đói thì đánh giặc sao được. Bởi vậy bu cứ để con đi gặt thử đêm nay, nếu được thì ngày mai con sẽ bày cách cho mọi người cùng gặt. Bu đừng lo. Con có cách làm cho bọn địch không phát hiện được đâu. Bà Di cũng chẳng còn cách nào ngăn được Bẹ. Đêm ấy bà cứ phấp phỏng mong trời sáng, mong Bẹ chóng trở về. Ông Tư không để Bẹ đi một mình, ông cử thêm ba cô du kích cùng đi với Bẹ. Ông căn dặn: - Nếu thấy địch bắn thì cứ nằm sát xuống ruộng. Chúng bắn hú hoạ, chưa chắc đã trúng, đừng chạy để chúng đuổi là cầm chắc cái chết đấy. Mấy chị kia mang liềm, mang hái và quang gánh đứng chờ ở đầu đường. Bẹ không mang liềm hái, chỉ mang đôi quang thừng với hai chiếc dó. Một chị hỏi: - Bẹ ơi, em gặt bằng liềm hay bằng hái, sao chẳng thấy cầm gì? - Các chị đừng mang liềm hái, mình phải gặt bí mật mà. Nếu cắt lúa bằng liềm hoặc hái thì thế nào trong bốt chúng cũng nghe tiếng, lộ ngay. Mọi người ngạc nhiên: - Vậy mình gặt bằng cách nào? Bẹ giơ lên một chiếc lược bằng gỗ. Mọi người càng ngạc nhiên hơn, không hiểu Bẹ dùng chiếc lược để làm gì. Bẹ nhẩn nha giải thích: - Em nghĩ là mình phải suốt lúa bằng răng lược thì mới đảm bảo an toàn. Mình phải nằm bò xuống, chải từng bông lúa, giống như chải đầu ấy. Có thế chúng mới không phát hiện được. Mấy chị nghĩ ngần một lát rồi cũng về cất liềm, hái, thay quang trành bằng đôi quang thừng mềm mại. Đêm ấy các chị đã dùng những chiếc lược gỗ chải từng bông lúa cho thóc rụng ngay vào dó. Đến tầm bốn giờ sáng thì mỗi người được một gánh thóc tươi gánh về. Tuy làm vậy rất lâu công, nhưng về nhà không phải vò đập nữa. Mà nếu không làm vậy thì cũng chỉ còn cách bỏ cho thóc rụng, bởi vì bọn giặc không thể chấp nhận cho nhân dân đến gần đồn của chúng. Ngày bà con mình cấy những ruộng này thì chúng chưa cắm bốt. Từ ngày có cái bốt này, chẳng ai còn dám ra ruộng bón phân, làm cỏ. Tuy vậy lúa vẫn tốt, hạt vẫn mẩy. Trong lúc đói kém này, thêm được hạt nào thật quí hạt đó. Theo sáng kiến của Bẹ, đêm hôm sau mấy chục người lẳng lặng cúi rạp trên ruộng lúa, dùng lược chải từng bông, từng bông. Nghe Bẹ kể lại việc gặt lúa bằng lược, bà Di ứa nước mắt. Bà nói: - Con thật tốt bụng, lại sáng dạ. Con đi như thế này thì ở quê nhà, mẹ con với dân làng nhớ con lắm đấy. Nghe ngóng binh tình, nếu thấy yên yên, con nên về thăm quê ít ngày con nhé. Nếu mẹ con cho phép thì con lại lên đây ở với bu. Bẹ "vâng" một cách ngoan ngoãn mà hai hàng nước mắt cứ chẩy ròng ròng. Cô nhớ mẹ biết chừng nào, nhưng cô chưa muốn về thăm. Chỉ nghĩ đến cái làng ấy và cái đồn ấy là cô lại thấy nhức nhối trong lòng. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 19 Tháng Tư, 2009, 07:08:19 pm Bà Di đang khoẻ mạnh tự nhiên đổ bệnh. Chẳng ai biết bệnh gì, chỉ thấy bà run rẩy bước đi không vững. Người bà lúc nóng vã mồ hôi, lúc lạnh sởn da gà. Mỗi bữa bà chỉ ăn lưng bát cơm rồi buông bát. Cái bệnh nhểu nước dớt, nước dãi của bà càng nặng thêm. Từ sáng đến trưa phải thay một chiếc khăn bông, vì nó đã ướt đẫm. Thằng cu Nhụ da đen thì lớn nhanh như thổi, mới chừng chín, mười tháng tuổi mà nó to như đứa trẻ lên ba, da đen bóng nhẫy, tóc soăn tít. Bà Di không bế nổi con vì nó rất nặng và quẫy đạp luôn chân tay. Nó ăn ngày càng khoẻ, bà Di không đủ sữa cho nó bú, nó càng quấy khóc, dẫy đạp, khiến bà vật vã. Bẹ không dám đi làm đồng nữa, đành ở nhà nấu cháo và "ẵm em" đỡ cho người mẹ già khốn khổ. Bà Di vừa rên vừa khóc. Có lúc bà muốn mang thằng bé bỏ ra ngoài đường, ai muốn nuôi thì nhặt. Giá không có Bẹ thì chắc họ hàng nhà bà đã đem nó đi từ lâu, chứ chẳng đợi đến khi bà ốm đau thế này. Thấy bà nhìn thằng bé đăm đăm, Bẹ hiểu ý, cô lựa lời can ngăn:
- Bu ơi, con còn ở đây với bu đến khi nào em Nhụ nhớn con mới về quê. Bu cứ yên tâm mà tĩnh dưỡng, mai kia bu khoẻ lại, nhà mình lại vui vẻ như trước bu ạ. Em Nhụ cũng ngoan lắm, nếu được ăn no, em nó cứ ngủ khì khì ấy, có quấy khóc gì đâu. Bà Di chẳng biết nói sao, lại sụt sùi khóc. Dù sao thì cậu bé ấy cũng do bà đẻ ra mà. Nó chẳng có ai thân thích ngoài người mẹ. Vậy bà mà ruồng rẫy nó thì tội nghiệp biết chừng nào. Thôi thì nhờ giời thương đã dun dủi cô Bẹ tốt bụng đến đây, mẹ con bà đành chịu ơn cô ấy. Bà sẽ cố sống đợi ngày thằng Phương nó về, nói được với nó vài câu về Bẹ thì có chết mới yên lòng. Một buổi tối Bẹ đang cho cu Nhụ ăn bột thì có người đàn ông chạy đâm bổ vào nhà. Giọng anh ta hổn hển: - Cô ơi, nhà có hầm không, cho tôi trú nhờ, bọn địch đuổi ghê quá. Chúng sắp đến đây rồi! Cô làm ơn đi! Bẹ sợ quá, người cô run bần bật. Nhưng trông bộ dạng anh chàng chạy giặc đang bối rối, vẻ cầu khẩn, cô bình tĩnh lại, hỏi khẽ: - Anh là bộ đội phải không? Người kia khẽ gật đầu, giọng khẩn thiết: - Tôi đang chôn mìn ở trên đường thì bị chúng phát hiện, chúng bắn, tôi chạy được, nhưng chúng vẫn đuổi theo. Chỉ với câu nói ngắn gọn ấy, Bẹ đã hoàn toàn tin anh ta đúng là bộ đội. Có lẽ trong cô có một trực giác nào đó mách bảo nên cô dám tin tưởng và sẵn lòng giúp đỡ. Bẹ nói nhanh: - Anh cửi ngay bộ quần áo ngoài ra, vứt xuống ao, rửa qua chân tay rồi vào giường tôi mà nằm. Chẳng kịp nghĩ ngợi, anh bộ đội làm theo tắp lự. Bẹ quẳng bát bột đấy rồi cũng cởi áo ngoài, chỉ mặc mỗi chiếc yếm, nằm xuống bên cạnh anh ta. Cô gọi với sang giường bà Di: - Bu ơi bu, con cứu anh bộ đội này, bu cứ nằm đấy, có gì nói đỡ cho con mấy câu bu nhé. Rồi cô đặt cậu bé da đen vào giữa hai người. Cậu bé đang ăn dở, không thấy bột nữa nên cậu khóc ngằn ngặt. Thấy bọn chúng đã rậm rịch vào đến ngõ, Bẹ vừa dỗ dành cậu bé, vừa bù lu, bù loa, giống như người vợ đang trách chồng: -Đã bảo là con nó chưa ngủ, đợi một chốc nữa không được ư, người đâu mà đa dâm thế không biết. Anh chàng kia hiểu ý, liền túm lấy vai cô, kéo ghì vào mình, thản nhiên nói: - Thôi nào, đừng nói nữa, nó khóc mặc kệ nó. Anh không đợi được nữa đâu. Bọn chúng nhìn thấy hai người đang giằng co nhau trên giường, trong tư thế cởi trần, một thằng quát: - Bố khỉ. Chưa tối đã dở trò à? Có thấy tên lạ mặt nào chạy vào đây không? Bẹ nhanh nhảu nói: - Bẩm các ông, nhà tôi trống trải thế này, làm sao có người lạ nào chạy vào đây. Xin các ông thông cảm cho, vợ chồng tôi định tranh thủ một tý lúc cháu nó ngủ, nào ngờ làm nó thức giấc thành ra... - Thành ra chưa kip...làm chứ gì. Thôi đừng nói nữa. Ai nằm giường bên kia? - Thưa ông, mẹ tôi đang ốm đấy ạ! - ốm à? xem ốm thế nào? Nói rồi một thằng hất tung chiếc chăn mỏng bà Di đang đắp ra. Chúng trông rõ người đàn bà ốm yếu đang nằm co cắp thì mới bỏ đi. Thật là hú vía. Chúng đi rồi, anh bộ đội vội vùng đứng dậy, chắp hai tay cảm ơn mẹ con bà chủ rồi xin phép đi ngay. Bẹ hỏi: - Vậy bây giờ anh cởi trần mà về đơn vị ư, hay xuống ao mò lại bộ quần áo giặt sạch đi rồi mặc tạm. - Thôi chị ạ. Thoát được là may lắm rồi. Tôi phải về đơn vị sớm, kẻo anh em lo lắng. Bà Di ngẩng cổ lên nói với Bẹ: - Con ơi, trên vắt kia còn một bộ quần áo cũ của thằng Phương đấy, con lấy cho anh ấy mặc tạm. Thằng Phương có về, chắc nó cũng chả mặc bộ ấy nữa đâu. Thế là anh bộ đội có bộ quần áo ra về. Bẹ thở phào nhẹ nhõm. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 19 Tháng Tư, 2009, 07:09:21 pm Bà Di ốm ngày thêm nặng. Đã một tháng nay bà nằm li bì không dậy nổi. Bây giờ bà hoàn toàn không bế nổi thằng con da đen nữa, cũng chẳng còn giọt sữa nào cho nó bú, mọi việc phó mặc cho Bẹ lo toan. Bẹ đến đây đã gần một năm rồi, cô định lánh tạm một thời gian để nguôi đi nỗi uất ức rồi lại trở về quê chăm sóc mẹ, hoặc là đón mẹ đi ở với mình. Nhưng hoàn cảnh bây giờ Bẹ tự biết mình chưa thể về quê được. Thế là Bẹ ở lại, trở thành người lo toan chính trong gia đình. Cậu bé da đen đã lớn lên dưới bàn tay chăm sóc của Bẹ. Câu không đòi bú nữa, mà làm quen với những bát cháo thập cẩm, vừa gạo, vừa ngô, khoai. Da cậu bớt đen hơn lúc nhỏ. Cậu bắt đầu tập đi, rồi tập nói. Bẹ dậy cậu từng âm, từng chữ. Chẳng bao lâu cậu đã biết gọi bà Di bằng mẹ, gọi Bẹ bằng chị một cách rõ rành. Gọi thì gọi vậy nhưng cậu quí Bẹ hơn quí bà Di. Cậu quấn quýt bên Bẹ suốt ngày. Bẹ đi đâu lâu về thì cậu khóc, cậu vòi, lăn lê khắp trong sân ngoài ngõ. Bà Di nằm ở trong nhà tha hồ gọi, tha hồ dỗ dành, cậu gào lên đòi chị về với cậu. Bẹ phải ôm ấp và nuôi dưỡng cậu một cách bất đắc dĩ, vậy mà lâu dần cô thấy quí mến cậu bé ấy như em, như con. Nhiều lúc cô cũng nhớ nhà, nhớ mẹ lắm, muốn về thăm lại cái làng Vân của mình, nhưng rồi nghĩ đến cái cảnh người ta nhìn mình bằng con mắt nghi ngờ, cô lại không dám nữa. Đêm đêm nằm ôm cậu bé da đen xa lạ, lòng Bẹ xót xa muốn đứt ra từng khúc. Cô nhớ đến người bộ đội đã giả dạng vợ chồng với mình, càng thấy lòng buồn hơn. Tấm thân thiếu nữ trinh trắng của cô đã bị bọn lính tráng trên đồn phá hoại, thanh danh của cô lại bị tổ chức nghi ngờ, còn những anh bộ đội mà cô quí mến thì chẳng ai để lại một chút tin tức nào. Cái anh nằm dưới hầm bí mật với cô ngày ấy, chẳng biết còn sống hay đã chết, chưa bao giờ cô được nghe một mẩu tin gì về anh. Cô cũng biết tại thời loạn lạc, không thể dễ dàng biết tin, như anh trai cô cũng vậy, anh ấy đi biệt tích gần mười năm rồi, từ ngày Bẹ còn rất nhỏ, chưa một lần anh ấy ghé thăm nhà. Mẹ vẫn bảo rằng anh ấy đi tòng quân ở xa lắm, mãi tận rừng xanh núi đỏ, vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, phải khi nào hết giặc anh ấy mới trở về. Anh Phương con mẹ Di đây cũng vậy, từ ngày ấy đến nay, không biết anh ấy có thoát khỏi lũ giặc không? Mai kia anh ấy về, liệu anh ấy có chấp nhận cô không? Bấy lâu nay bà Di coi cô như con dâu trong nhà, còn anh ấy, anh ấy có rộng lòng cho cô tá túc ở đây không? Nếu anh ấy mà cũng coi thường cô, thì có lẽ cô lại liều mình lần nữa.
* * * Từ ngày Bẹ ra đi, mẹ cô sống đơn độc và khổ hạnh. Những người nghi ngờ cô đầu hàng giặc, càng có cớ để tin thêm. Không nói ra, nhưng có người nghi ngờ cô lại trở vào sống trong đồn giặc. Họ xa lánh bà. Trần Ve không đến nhà lần nào nữa nhưng cho người đến bắn tin: Tổ chức vẫn đợi cô Bẹ báo cáo rõ thực hư ở trên đồn, nếu cô về thì phải báo ngay cho tổ chức biết. Bà Thu muốn thanh minh cho con, nhưng chẳng biết nói sao. Bà đành âm thầm chịu đựng. Đêm đêm bà trằn trọc khó ngủ, càng thương đứa con gái trong trắng của mình. Nó mới mười tám tuổi, đang độ xuân xanh mà đã phải chụi nhiều cực khổ. Giờ nó đã phải bỏ làng ra đi mà vẫn còn người nghi ngờ lòng dạ ngay thẳng của nó với kháng chiến. Bây giờ những người trong đội du kích ngày trước thường lui tới nhà bà thì nay họ không đến nữa. Chẳng biết tìm ai mà thanh minh, để mà chia sẻ bớt nỗi buồn bã trong lòng. Nỗi cô đơn buồn thảm đã làm bà Thu lặng lẽ. Đã vậy, bọn giặc trên đồn lại luôn nhòm ngó. Đội Hai không tra tấn được Bẹ để tìm ra tung tích của bộ đội Việt Minh, hắn có vẻ cay cú lắm. Rồi tên Thân sau khi đưa cô Bẹ về làng cũng lại mất tăm, cứ như là Việt Minh đã cho hắn phép màu vậy. Vì những nguyên do đó mà Đội Hai càng phải lùng sục gắt gao các làng xung quanh đồn. Từ hôm biết tin cô Bẹ cũng mất tăm thì hắn không còn nghi ngờ gì nữa. Hắn khẳng định đúng cô ta là Việt Minh, là du kích. Trong khi hầu như không có người ở đội du kích đến thăm bà Thu, thì ngược lại Đội Hai ngày đêm cho lính đến thăm nom, khi thì dỗ dành, mua chuộc, khi thi đe doạ, Cuối cùng chúng gần như bao vây hẳn ngôi nhà. Ngày đêm có lính rình mò, ai ra, ai vào đều bị chúng kiểm soát. Bà con trong họ thương bà Thu lắm, có ngừơi muốn đến ngủ với bà cho vui, nhưng Đội Hai đe doạ và luôn cho người theo dõi chặt, nên chẳng ai dám đến chơi lâu với bà, có thăm thì cũng chỉ đảo qua chốc lát. Công việc đồng áng thì từ lâu rồi bà chẳng làm nổi, đành cho các cháu bên ngoại nó cấy giẽ, mỗi vụ nó trả bà vài bưng thóc. Đời sống của bà thường trông vào mấy khóm chuối với ruộng khoai trong vườn. Bà già yếu, một mình ăn đáng là bao. Hơn ai hết, bà biết tự gìn giữ sức khoẻ để chờ các con về. Thế mà đêm ấy bà không gượng nổi một cơn cảm đột ngột, đã ra đi lặng lẽ. Làng xóm chẳng ai biết, mãi đến hôm sau người ta mới biết thì xác bà đã cứng và bốc mùi khó chịu. Dân làng làm ma cho bà. Nhân đó Trần Ve mới đến ngôi nhà của Bẹ mà trước kia anh thường qua lại. Để ý thấy trên vắt quần áo ở góc nhà vẫn còn chiếc khăn bông ngoại quốc to tướng, trong lúc mọi người không chú ý, Trần Ve lẳng lặng cầm về. Không phải vì anh tham lam, mà vì anh biết có ngày Bẹ, hoặc ông anh của Bẹ sẽ về làng. Để làm sáng tỏ trắng đen của Bẹ, cần phải có vật này làm tang chứng. Thế là chiếc khăn bông của phu nhân Solny được người xã đội phó cất giữ cẩn thận. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 19 Tháng Tư, 2009, 07:14:26 pm Chương 24 Đơn vị Đỗ Ninh tạm được nghỉ ngơi tại một vùng do du kích ta kiểm soát. Anh em vừa tham gia sản xuất với nhân dân, vừa tranh thủ chỉnh trang lại vũ khí, quân dụng. Vào một buổi trưa im tiếng súng, Đỗ Ninh đang nằm lim dim trên chiếc võng đay dười gốc tre, nghĩ về trận chiến thắng mới của quân ta. Anh mới được hay tin bộ đội chủ lực từ miền trung du về đã tiến sâu vào hậu phương của địch là vùng Hải Dương và Hưng Yên. Trung đoàn 174 đã phối hợp với bộ đội huyện Gia Lộc, nhổ phăng vị trí Vân Độ, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống quân sự của địch ở vùng này. Ví trí Vân Độ nằm án ngữ trên đường 17, tập trung nhiều hoả lực mạnh, với 1 đại đội lính Âu Phi và nhiều nguỵ quân. Sau trận mật tập đánh vào căn cứ GM3 của địch do đơn vị Đỗ Ninh mở đầu, tỉnh đội đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tấn công liên tiếp vào các vị trí khác. Riêng tiểu khu quân sự Phương Điếm với vị trí tiền tiêu là Vân Độ thì chưa đơn vị nào dám động tơí. May sao bộ đội chủ lực đã về, chỉ trong một đêm họ đã san phẳng bốt Vân Độ. Đỗ Ninh khấp khởi mừng thầm. Có lẽ bọn địch sắp phải cuốn gói khỏi mảnh đất này đến nơi. Bọn giặc cút đi, anh mới có thời gian tính đến chuyện gia đình. Anh đã ba mươi tuổi tròn rồi, cũng phải nghĩ đến chuyện lấy vợ là vừa. Anh xa nhà đã rất lâu, chỉ biết mẹ và em gái đã đi tản cư từ hồi đầu kháng chiến. Từ ấy đến nay chẳng nhận được tin tức gì. Chính anh cũng chẳng nhắn nhủ được điều gì cho mẹ. Sau gần mười năm chinh chiến, giờ nghĩ đến chuyện xây dựng gia đình, anh tự thấy ngỡ ngàng. Trong đầu anh chẳng có một bóng hình phụ nữ nào ngoài cái cô vừa như tiên, vừa như ma, luôn ẩn hiện ấy. Hình ảnh cô ta hiện rõ cũng phải thôi, vì đã có lúc cô ta ôm chầm lấy anh, toả ra một mùi thơm đầy quyến rũ. Cho đến lúc ấy, và cho đến cả lúc này, anh đã được gần gũi cô gái nào đâu. Nhưng cô ta là cấp trên cơ mà, giả sử mình mà lấy cô ta làm vợ thì sao nhỉ? Không. Chẳng bao giờ. Gớm, lấy làm sao được cái cô vừa là cấp trên, vừa là thần thánh ấy. Đỗ Ninh cứ lim dim trên võng, tự lý sự với mình như vậy. Đỗ Ninh đang nằm lịm trên chiếc võng đay, cậu liên lạc rón rén đến gần, khẽ gọi: - Anh ơi! Đỗ Ninh mở mắt: - Có việc gì hả em? - Đồng chí xã đội trưởng muốn gặp anh! - Mời anh ấy ra đây! Người xã độ trưởng xã này lớn tuổi hơn Đỗ Ninh, anh có vẻ từng trải và nhiều kinh nghiêm. Sau những câu chào hỏi thông thường, xã đội trưởng cất giọng trầm trầm, vẻ bí ẩn: - Tôi mới biết tin này, muốn nói chuyện với anh mà ngại quá! - Đồng chí cứ nói, ngại gì! - Đây là việc riêng thôi, không phải trách nhiệm của tôi, nhưng mà về tình cảm, tôi rất quí anh nên muốn nói để anh biết, mà anh đừng buồn nhé! Đỗ Ninh vùng dậy: - Chuyện buồn à? Anh nói ngay đi. Chuyện gì vậy? - Là thế này, tháng trước tôi có việc lên Hải Dương, vô tình gặp một người bạn ở vùng tề quê anh. Anh em trò chuyện, biết quê tôi đây là vùng tự do có bộ đội trụ đóng lại, người bạn ấy hỏi thăm, có biết anh bộ đội nào tên là Ninh không. Tôi bảo có biết một anh đại đội trưởng tên là Đỗ Ninh, người cao lớn, da trắng, tiếng vang như chuông. Anh bạn ấy bảo vóc người và tiếng nói như thế thì đúng rồi, nhưng họ thì không phải. Anh Ninh ở quê anh ấy là họ Nguyễn chứ không phải họ Đỗ. Vậy anh có phải là anh Ninh ấy không? - Nếu phải thì sao nào? - Người bạn tôi nói rằng, nếu có gặp anh Ninh ấy thì nói hộ là anh tranh thủ về nhà một hôm. Nhà anh có chuyện buồn. Cô em gái anh bị địch bắt được, bị cưỡng bức, rồi tự nhiên bỏ làng đi đâu mất. Người mẹ ở nhà một mình, chẳng may bị cảm đột ngột, đã qua đời. Họ hàng lo ma chay chu đáo rồi, nhưng không ai biết anh em anh ở đâu mà tìm. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 08:08:03 am Đỗ Ninh buông người phịch xuống gốc tre, mặt tái mét. Anh nói gần như quát:
- Mẹ tôi mất rồi à? Sao anh biết từ tháng trước mà bây giờ mới nói với tôi? - Anh bình tâm lại. Đằng nào thì cụ cũng mất rồi. Tháng trước anh chuẩn bị cho trận đánh lớn như thế tôi làm sao dám nói. Với lại tôi cũng không chắc có phải là anh không. Đỗ Ninh ôm lấy đầu, than thở: - Ôi trời ơi, sao lại cay đắng thế này. Tôi vẫn cứ đinh ninh là mẹ và em gái tôi đang tản cư mãi vùng Đồng Trâu, Hố Sếu, nơi ấy rất an toàn, làm gì có bom đạn như vùng đồng bằng ta. - Nghe nói mẹ anh chỉ đi tản cư có một năm rồi về lại quê nhà. Vùng ấy đã lập tề lâu rồi. Chúng còn đóng đồn ngay ở đầu làng anh nữa. - Thế em gái tôi làm sao lại bị giặc bắt cơ chứ. Anh có biết không? - Cái ấy thì không thấy anh bạn tôi nói chuyện. Chỉ biết cô ấy bị bắt lên đồn Tây một ngày, một đêm, thế rồi khi được tha về, cô ấy bỏ đi. Đỗ Ninh thở dài thườn thượt: - Khổ thân con bé. Ngày tôi đi nó mới mười tuổi đầu. Bây giờ anh em có gặp nhau cũng chẳng nhận ra. Số nó thế mà khổ. Tôi chẳng làm được gì giúp mẹ và em tôi. Cảm ơn anh đã cho tôi biết tin này. Quả là một tin rất buồn. Bây giờ xin phép anh cho tôi được yên tĩnh một chút. Đỗ Ninh lại ngồi lên chiếc võng đay, nhưng không đung đưa nữa mà ôm chặt lấy đầu, lặng phắc. Xã đội trưởng đứng lên, cảm thấy như mình có lỗi: - Tôi thật không phải khi báo với anh tin này. Nhưng dù sao đó cũng là sự thật, tôi muốn anh biết rõ để ứng xử đúng hơn. Anh nên về thắp cho cụ nén hương, rồi trên đường chiến đấu thử để ý xem, biết đâu lại tìm được em gái anh. Thôi, tôi về. Anh cũng đừng nghĩ ngợi nhiều quá mà ảnh hưởng đến sức khoẻ. - Cảm ơn ý tốt của anh. Có lẽ tôi phải về quê một chuyến thật. Hai ngày sau Đỗ Ninh lên gặp ban chỉ huy tỉnh đội, trình bày hoàn cảnh của mình và xin phép được về thăm quê. Đồng chí tỉnh đội trưởng trầm ngâm một lát rồi nói: - Tôi xin chia buồn với đồng chí và gia đình. Sau nữa tôi đề nghị đồng chí suy nghĩ lại. Mẹ đã mất rồi, em gái đã ra đi, đồng chí về lúc này thì giải quyết được gì? Giá em gái đồng chí còn ở nhà thì có thể về đưa cô ấy ra vùng tự do, nhưng cô ấy đi rồi thì đồng chí về cũng đến thế thôi. Hơn nữa, tình hình bây giờ rất căng thẳng. Quê đồng chí bọn địch kiểm soát rất chặt. Ban tề ở đấy ta chưa nắm chắc được. Ngay đầu làng đồng chí có một đồn giặc, do tên Đội Hai khét tiếng gian ác cai quản. Đồng chí mà về, nó đánh hơi thấy, nó sẽ không tha đâu. Thôi, hãy nghe tôi, cứ yên tâm chiến đấu, đợi khi nào ta nhổ được cái đồn ấy, giải phóng quê hương rồi đồng chí về một thể. Suy nghĩ kỹ, Đỗ Ninh thấy lời khuyên ấy cũng là hợp lẽ. Anh đành nén nỗi buồn, ở lại tiếp tục những trận chiến đấu mới. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 08:10:18 am Những ngày này các đơn vị bộ đội địa phương và du kích được lệnh đồng loạt tấn công giặc trên tuyến đường Năm để ngăn chặn sự tiếp viện của chúng ồ ạt lên Điện Biên Phủ. Tuy vậy đại đội của Đỗ Ninh lại được tỉnh phân công làm nhiệm vụ khác, nhiệm vụ mà đồng chí tỉnh đội trưởng giải thích rằng nó không kém phần quan trọng. Anh phải đưa bộ đội đi tiếp nhận một đại đội hàng binh của địch. Đó là cả một đơn vị vừa học xong lớp bịnh bị 6 tháng của Séctour Kẻ Sặt, chuẩn bị bổ sung lên chiến trường Tây Bắc. Đỗ Ninh có vẻ chưa thông, anh đề xuất vơí cấp trên:
- Nó đã hàng thì ta giải nghệ cho nó về quê luôn, việc gì phải đón với rước cho nó mất thì giờ. Cấp trên giải thích: - Không đơn giản như đồng chí nghĩ đâu. Lực lượng này toàn những thanh niên trẻ, họ rất hăng hái, nhưng còn bồng bột. Tiếng là đã ra hàng rồi, nhưng nếu ta không quản lý, giáo dục đến nơi đến chốn thì họ lại sẵn sàng cầm súng cho Tây. Họ hàng đây là do ta có nội ứng vận động, đặc biệt ta vận động được người đứng đầu lớp binh bị này. Cá nhân từng người, mình chưa nắm được. Nhiệm vụ của đơn vị đồng chí là phải tiếp nhận, giáo dục và kèm cặp họ. Vừa nghiêm khắc, vừa mềm dẻo, không được để họ mất miền tin ở bộ đội mình. Đỗ Ninh nhận nhiệm vụ, đưa hai trung đội về thôn Lý Đỏ để tiếp nhận hàng binh. Trên đường đi, anh căn dặn các chiến sĩ: - Mình phải tỏ rõ khí thế của người chiến thắng. Mọi khi các đồng chí đi chiến đấu, có thể còn nhiều thiếu sót, nhưng lần này tất cả đều phải tập nói năng cho đĩnh đạc, đường hoàng. Không ai được tỏ ra lúng túng và cũng không được nói năng bừa bãi. Anh em hoàn toàn thông suốt. Khi đến nơi, họ phải chờ một lúc lâu đội hàng binh mới xuất hiện. Họ đông lắn, đông gấp hai số bộ đội của Đỗ Ninh. Người đứng đầu lập tức giao hết súng cho bộ đội. Xong việc anh ta nói: - Thưa ngài chỉ huy, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ là đưa anh em đến đây giao lại cho ngài. Bây giờ xin phép ngài cho tôi được tự do. Đỗ Ninh hỏi: - Anh không đi theo chúng tôi à? Tôi không được phép để anh đi. Tôi phải báo cáo cấp trên đã. - Vâng thì anh cứ báo cáo. Còn tôi, tôi đã nói với cô Thắm từ đầu rồi. Tôi không muốn làm việc cho Pháp nữa, nhưng tôi cũng chưa thể đi theo các ông, vì hoàn cảnh, tôi cần phải đi theo tiếng gọi của trái tim mình. Đỗ Ninh đang lúng túng, không hiểu cô Thắm anh ta nói đến là Thắm nào. Anh đang định hỏi thêm thì cô Thắm xuất hiện. Trời ơi, lại đúng cái cô ẩn hiện như ma này. Cô ta chào trước: - Chào đồng chí đại đội trưởng! Hôm nay trông anh mới đúng là vị chỉ huy. Tôi xin đảm bảo đây là người bạn của tôi. Anh ấy muốn về quê mãi thành phố Hải Phòng để làm ăn, buôn bán. Tôi đã báo cáo với cấp trên như vậy rồi. Trước khi về, anh ấy đã đưa đến cho chúng ta cả một đại đội quân, với bao nhiêu vũ khí. Chúng ta cần giữ đúng lời hứa, cho anh ấy được tự do. Đỗ Ninh bắt đầu lúng túng: - Thế lần này cô cũng là...chỉ huy của tôi à? - Không dám, nhưng tôi có trách nhiệm phối hợp với anh. Người hàng binh nói xen vào: - Thưa với ngài chỉ huy, nếu không nhờ cô Thắm đây khuyên nhủ, thì tôi cũng không dám quay lưng lại với quân Pháp đâu. Tôi cứ nghĩ họ là nước lớn, quân đông, tướng nhiều, nên tôi hãi. Đỗ Ninh bỗng hỏi một câu rất ngớ ngẩn: - À, thế ra cô giác ngộ anh này à? Bằng cách nào mà cô gặp gỡ được anh ta? Thắm cau mày: - Anh ấy là bạn của tôi từ nhỏ cơ. Và cô dắt tay người hàng binh bước đi, không cần đợi Đỗ Ninh đồng ý. Tuy vậy, nhưng Đỗ Ninh không dám giữ, vì anh cũng biết cô ta là người của quân khu. Từ lúc ấy, Đỗ Ninh chẳng còn tập trung vào công việc được nữa. Anh vừa buồn, vừa bán tín, bán nghi. Anh ta là ai chứ? Họ là bạn từ thuở bé thật không? Bây giờ họ đi với nhau đến tận đâu, rồi họ... Anh bỗng thấy rối trí, không muốn nghĩ thêm gì nữa. Gần như anh nổi nóng với mấy người cấp dưới, mặc dù họ chưa làm gì sai với những điều anh nhắc nhở ban đầu. Rồi anh cũng tự biết mình đã không làm chủ nổi bản thân vì một điều gì đó rất mơ hồ. Các đồng chí huyện đội Bình giang đã đến kịp thời, cùng anh tiếp nhận gần một trăm hàng binh, sắp sếp vào đơn vị chiến đấu. Đỗ Ninh nói ngay với đồng chí huyện đội trưởng: - Có một thằng chỉ huy thì cô Thắm cô ấy thả ra mất rồi. Chẳng biết việc này tôi có phải chịu trách nhiệm không đây? - Anh cứ yên tâm. Tại chúng tôi lỡ hẹn với cô Thắm. Đáng lẽ chúng tôi phải đến sớm hơn, nhưng gặp một đám lính đi tuần, chúng cứ ngồi mãi ở quãng đường chúng tôi phải đi qua, nên chúng tôi đành phải lánh tạm. Việc anh Bảng xin về quê là cô Thắm có báo cáo với chúng tôi rồi. Xét ra công cô Thắm rất lớn, không những anh chàng ấy đã thông mà còn kéo theo cả một đại đội về với chúng ta, chưa bao giờ ta vận động được nhiều hàng binh như thế. Đỗ Ninh hỏi như thăm dò: - Cô ấy bảo hai người họ là bạn từ thuở nhỏ, có đúng vậy không? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 08:11:19 am Người huyện đội trưởng suy nghĩ một lát rồi trả lời:
- Theo tôi thì không phải. Vì hồi đầu đến đây cô Thắm còn phải hỏi thăm tên tuổi và quê quán anh ta. Rồi cô ấy phải mở hàng bán cà phê ở phố sặt đến vài tháng mới quen anh này. - Mở hàng cà phê à? Cô ấy cũng biết bán hàng cà phê sao? - Tôi nghĩ đấy cũng là nhiệm vụ phải làm thôi. Anh chàng này quê ở Hải Phòng thật đấy. Dẫu sao thì cô Thắm đã làm anh ta sáng tỏ về kháng chiến, nên không muốn cầm súng cho Pháp nữa. Hôm nay theo kế hoạch của ta, anh ta phải báo cáo với cấp trên mang cả cái đại đội vừa mới huấn luyện xong đi càn quét mấy xã lân cận. Những thằng lính chưa giác ngộ hẳn, được phân công ở lại trông doanh trại, như vậy cấp trên của chúng mới không nghi ngờ. Bây giờ tôi và anh phải tạo ra trận đánh càn, coi như chúng ta thắng lợi, đã bắt gọn số quân này, nếu không, anh ta và gia đình sẽ khó sống với chúng. Đỗ Ninh tỏ ra hăng hái: - Được, tôi với ông không những thắng càn ở đây mà phải tấn công vào mấy đồn bốt lân cận nữa. Họ hội ý nhanh chóng rồi hạ lệnh trói tạm những hàng binh lại để che mắt địch, rồi lên kế hoặch tấn công vào các đồn Hồng My, Hùng Thắng, ngay sát nách Sectour Kẻ Sặt. Đây là trận mà Đỗ Ninh không chủ định trước, vậy mà anh đã giành thắng lợi lớn. Lính tráng ở trong các đồn bốt này đều bị bất ngờ nên chúng hoảng loạn và chống cự yếu ớt. Thế là bộ đội bắt sống hoặc gọi hàng, không tốn nhiều công sức. Một vùng tự do gồm mấy xã được nối liền. Cấp trên khen Đỗ Ninh, nhưng đồng thời cũng phê bình anh đã tự động làm những việc lẽ ra phải tính toán kỹ từ trước. May mà anh đã thắng lợi, nếu không, hậu quả chưa biết sẽ thế nào. Lần này Đỗ Ninh không có ý kiến gì với cấp trên. Nếu là mọi khi thì anh sẽ cao giọng, viện bao lý do để bảo vệ việc làm của mình. Thật tình lần này anh chẳng mấy bận tâm vì sự khen chê của cấp trên, mà những nỗ lực trong trận vừa rồi dường như chỉ để nói với cô Thắm rằng, anh đang là người góp công sức lớn lao cho cuộc kháng chiến, anh là một chàng trai có ích thực sự cho nước, cho dân. Cô có thể đi với một chàng trai khác ư? có thể coi thường tôi ư? điều ấy sẽ là một điều đáng tiếc cho cô, sẽ là một thiệt thòi lớn cho cô! Giao lại đội hàng binh cho tỉnh đội, Đỗ Ninh về đơn vị với một nỗi lòng nặng trĩu ưu tư. Anh cũng chẳng biết mình buồn hay vui, chỉ muốn có những trận đánh lớn để xông vào kẻ địch. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 08:14:15 am Chương 25 Sau chiến công oanh liệt, trừ khử được một tên Việt Minh là em ruột mình, Đội Hai được các quan thày quan tâm hơn trước. Hắn được tăng lên một cấp và được giao toàn quyền chỉ huy đồn. Bây giờ hắn là Thiếu tá, đồn trưởng. Hắn có vẻ hài lòng và càng ra sức lập công. Cái bốt Tiền này tuy không lớn, nhưng lại là vị trí quan trọng, luôn được cấp trên chú ý. Hắn sẽ còn nhiều dịp để vươn cao. Muốn lập nhiều công trạng, hắn ra sức đàn áp nhân dân quanh vùng. Nghe manh nha ở làng nào có du kích là hắn kéo quân về bắt bớ, tra khảo. Hắn bắt được xã đội trưởng Sang, tra khảo cho đến chết. Hắn cho lính rình rập nhà cô Bẹ nhiều ngày tháng. Ngày xưa đồn trưởng Sôlny tha cô, nhưng hắn còn ấm ức. Giờ toàn quyền trong tay hắn, hắn muốn tra khảo cô lần nữa để tìm ra tung tích bọn Việt Minh. Không thấy Bẹ ở nhà, hắn đã quát tháo ầm ĩ, đe doạ mẹ cô, đồng thời cách chức người hương lý không làm tròn bổn phận. Hắn cho lính rình rập quanh nhà cô Bẹ, ai lạ mặt lảng vảng đến sẽ bị bắt liền. Thóc gạo nhà cô, hắn bắt đổ ra đong đếm, bà cụ ăn bao nhiêu, bán bao nhiêu phải trình báo rõ ràng. Dăm bữa, nửa tháng hắn lại cho quân lính vào làng kiểm soát khắp mọi chỗ. Dân quanh vùng thật sự thấy ngột ngạt bởi sự đa nghi và độc ác của tên đồn trưởng này. Từ ngày được thăng chức đồn trưởng, hắn không về với cái quả táo mọng của hắn ở trong làng lần nào. Hắn có nhiều lý do để quên cái mùi vị mà ngày xưa tưởng chừng như hắn nghiện. Một là hắn bận rộn hơn, hai là nàng ta đã sinh nở, chuyện ấy chẳng thuận lợi gì, điều thứ ba quan trọng hơn là hắn đã làm quen được với một nàng trên thành phố Hải Dương. Nàng còn trẻ, da trắng, tóc dài, lúc nào cũng diện quần áo tân thời bảnh choẹ. Nàng là con một viên quan nhỏ trên thành phố. Điều ấy rất quan trọng với hắn, nhưng quan trọng hơn là nàng tỏ ra say mê hắn, dù kém hắn đến 15 tuổi mà nàng vẫn anh anh, em em với hắn ngọt như mía nướng. Quả là anh hùng khó qua khỏi ải mỹ nhân. Nhìn đôi mắt long lanh và làn môi hấp dẫn của nàng, tự nhiên hắn thấy quả táo mọng của mình trở nên đắng chát. Hắn không muốn vào thăm người thím của Thân. Tuy nhiên, biết chị ta sinh con trai, hắn cũng mừng lắm. Hắn cho lính mang xuống nhiều quà và yêu cầu đặt tên con hắn là Đặng Văn. Mẹ đứa trẻ không đồng ý, vì chị ta vẫn nói với chồng và dân làng, đó là con của anh chồng, do vậy phải lấy họ Cao của nhà chồng. Đội Hai nhắn xuống: Nếu không nghe thì cứ tự nuôi con, hắn không hoài của đi nuôi một đứa trẻ họ Cao. Từ nay sẽ không còn gì hết. Người mẹ tham lam ấy liền tính toán: Bố nó là đồn trưởng cơ mà, không nghe ông ta chắc sẽ nhiều phiền phức, ông ta không đến với mình, lại không chu cấp cho con, thế là mình thiệt đơn, thiệt kép. Thôi thì cứ nghe ông ấy, lấy họ Đặng cho nó. Còn cái họ Cao của chồng, trước mắt chẳng có tác dụng gì, khi nào các ông anh bà chị nhà chồng quay về thì sẽ tính sau. Nghĩ vậy, chị tìm cách nhắn lên đồn, đồng ý lấy họ Đặng cho con. Đội Hai chẳng hạch sách gì thêm. Từ đấy mỗi tháng hắn gửi xuống cho cậu con trai chưa biết mặt mấy hộp sữa bột của Tây. Đội Hai dốc hết tâm trí để chăm lo cho bậc thang danh vọng phía trước. Để tăng thêm sức mạnh, hắn đã cho quân càn quét sâu vào vùng dân cư Thanh Hà, Nam Sách bắt thêm lính và phu. Trong đồn của hắn bây giờ có đến năm chục tên lính dõng. Không thể gọi đây là một đồn nhỏ được nữa. Hắn đang lên kế hoăch xây dựng cái đồn nhỏ của hắn thành tiểu khu quân sự, do hắn đứng đầu. Để tăng cường uy thế với ngay cả bọn lính trong đồn, hắn đề nghị với cấp trên bổ sung cho hắn một trung đội lính Tây và một viên đồn phó người Tây. Dù vị trí đóng đồn của hắn cách Sou Sectour Hải Dương ( Khu quân sự Hải Dương ) không xa là mấy, nhưng lại có một cây cầu quan trọng, trên con đường chiến lược, nên cấp trên của hắn đã chấp nhận kế hoặch nâng cấp của hắn, điều về một trung đội lính Lê Dương và một viên đồn phó người Ănggôla. Thế là bây giờ Đội Hai chỉ huy cả Tây. Hắn tự thấy mình oai hùng hơn bao nhiêu thằng đồn trưởng khác. Cây cầu mà Đội Hai có trách nhiệm bảo về, ngày đêm có hàng tá lính canh gác hai đầu. Tuy vậy gần đây cấp trên của hắn vẫn nhắc nhở, phải bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cây cầu này vì quân đội Pháp đang thực hiện kế hoạch Na Va, quân đội và vũ khí ùn ùn từ Pháp kéo sang để tăng cường cho mặt trận Điện Biên Phủ. Đội hai không dám chủ quan. Hắn cắt cử vừa lính Tây, vừa lính ta ngày đêm canh gác và thay nhau đi lùng sục, uy hiếp các làng xung quanh. Bản thân hắn mỗi ngày đi bộ qua cây cầu hai lần để tự mình kiểm tra và nhắc nhở bọn lính gác. Trông thấy những đoàn xe quân sự chở lính Tây và súng đạn chạy rầm rập qua cầu, hắn vui lắm. Hắn mường tượng đến ngày quân Pháp giành thắng lợi, chắc họ sẽ rút vợi về nước, nhường lại vùng đất này cho bọn tướng lĩnh và sĩ quan người Việt như hắn. Lúc ấy hắn sẽ làm gì nhỉ? Nhất định hắn vẫn tiếp tục chỉ huy quân đội. Chí ít thì hắn cũng sẽ thống lĩnh toàn bộ quân sĩ trong khu vực Hải Dương này. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 08:18:54 am Trong đầu Đội Hai luôn phừng phừng khát vọng trở thành cấp tướng. Cùng với khát vọng ấy hắn luôn nghĩ đến cô nàng da trắng, tóc dài, con gái một viên quan trong phủ tỉnh trưởng Hải Dương. Hắn muốn gặp nàng lắm, nhưng chỉ gặp được khi có việc lên Sectour Hải Dương. Nàng thường đứng đợi hắn ở cổng khu quân sự, rồi cùng hắn dạo một vòng ra vườn hoa Bảo Đại. Qua phố Đông Thị, nơi buôn bán sầm uất của thành phố Hải Dương, thế nào hắn cũng mua tặng nàng một thứ quà gì đó. Nàng tỏ ra thích thú và đưa đôi mắt long lanh, liếc nhìn hắn thật tình tứ. Nhìn trước, nhìn sau, nếu thấy vắng người, nàng còn bạo dạn khoác tay lên cổ hắn. Chao ôi, người nàng mới thơm tho làm sao! Hắn hít hà một hơi, cảm thấy mùi thơm này còn ngọt ngào và quí phái hơn cả mùi thơm từ Sôlny phu nhân, mỗi khi bà đi qua gần hắn. Hắn muốn ôm choàng lấy nàng ghì chặt vào mình, nhưng mà nàng không dễ dãi như cái quả táo mọng của hắn ở làng Vân. Nàng chỉ liếc mắt, đưa tình rồi lại đẩy hắn ra, nũng nịu:
- Đã cho em cái gì đáng giá đâu. Em là tiểu thư, con quan hàng tỉnh đấy, liệu mà cư sử. - Thế tiểu thư có thích anh không? - Có, thích lắm! nhưng mà phải quên hết bọn đàn bà của anh đi, em mới cho! - Quên hết rồi! Từ khi gặp em, bọn đàn bà ấy biến thành đất đá hết. Anh chỉ thích mỗi em thôi! - Thế anh có chịu cưới em không, hay là chỉ thích thôi?! - Cưới á, nếu em đồng ý thì anh sẽ cưới ngay, cưới thật là to, mời cả các quan Tây đến dự! - Nhớ nhá. Nếu nói sai thì cứ chết với em! Nói thế rồi nàng véo vào đùi hắn một cái thật đau. Đau thì đau, hắn vẫn cảm thấy sướng run lên bởi cái véo ấy. Dường như nó là tín hiệu giăng hoa, là lời hẹn ước của nàng. Những cuộc gặp nhau như thế có đến dăm lần. Hắn cứ như người khát nước đang ngóng chờ một trận mưa toàn nước thánh để hắn uống thoả thuê. Một chiều nọ hắn lại gặp nàng đứng chờ ở cổng một nhà binh ở Hải Dương, nơi hắn thường ra vào vì công vụ. Nàng tươi roi rói, cái lườm yêu rõ thật dài. Chiếc váy hồng đong đưa như mời gọi. Nàng trách yêu: - Sao lâu thế anh không lên? Em chờ ở đây đã hai hôm rồi! Hắn cảm động: - Em mong anh lắm à? Anh cũng vậy, lúc nào cũng muốn gặp em. Nhưng mà dạo này chiến sự căng thẳng, anh không dám lơ là nhiệm vụ. - Đấy, chưa chi đã thoái thác rồi phải không? Vậy em chả cần anh nữa. Nàng nguây nguẩy bỏ đi, ra chiều giận dỗi. Hắn vội chạy theo kéo nàng trở lại, làm lành: - Thôi mà, cho anh xin nào, anh xin! Bây giờ mình lại ra vườn hoa nhé! Dường như chỉ chờ có thế, nàng quay lại, nhìn thẳng vào mặt hắn, mắt long lanh như muốn trao ngay cả thân thể mình cho hắn: - Em bảo này, hôm nay ba mẹ em đi vắng, vài hôm nữa mới về. Em muốn mời anh đến nhà em... Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:09:17 am Mắt Đội Hai sáng lên:
- Hả, đến nhà á? Thế có ai ở nhà không? - Không. Thế em mới mong anh chứ! - Thật ư? Em...không sợ sao? - Sợ gì. Gần anh sao em lại sợ, hay là anh không thích gần em? - Không phải vậy. ý anh nói là... em không sợ cái con sư tử đói ở trong anh nó vồ em sao? Nàng lại lườm yêu: - Người ta đang mong chết đi được, mới đợi ở đây chứ. Nếu anh ngại...thì thôi vậy! - Ai ngại? Ai sợ? Thôi đi nào? Em làm anh bất ngờ quá, sướng run người đây này. Nàng đưa Đội Hai đi quanh mấy phố, đến một ngôi nhà nằm khuất trong ngõ nhỏ, nhưng là căn nhà gác hai tầng, sàn lát bằng gỗ, nhiều tiện nghi sang trọng. Đội Hai quan sát căn nhà và đoán rằng chủ nhà phải là một viên quan cỡ bự. Vậy mà con gái ngài lại đi đưa giai về nhà, liệu có đúng cách cư sử của các tiểu thư không? Nhưng rồi hắn lại lý sự: Các tiểu thư con quan thường được chiều chuộng, thích chơi bời kiểu cách và đa số là rất lẳng lơ, hơn nữa, chắc bản thân hắn là một đồn trưởng có nhiều công trạng, có khi chính bố nàng đã chủ động sắp xếp cuộc gặp gỡ này. Mà thôi, chẳng lý sự nhiều, mỡ đã đến miệng mèo rồi, nhất định phải chén no say cái đã. Lúc ấy cô nàng xinh đẹp mà hắn vừa ví như miếng mỡ, còn hắn là chú mèo đói, đã thay một chiếc váy ngủ ngắn cũn, chỉ vừa chấm đùi non, để hở cả một khoảng ngực trần trắng muốt, từ trong buồng bước ra. Hắn vội đứng lên, sấn lại, định choàng tay ôm ghì lấy nàng. Nhưng nàng vội ngăn lại, nở một nụ cười đến mê hồn: - Anh đừng vội. Bố mẹ em còn đi vắng những hai ngày nữa. Chúng mình phải đàng hoàng, long trọng cho buổi gặp gỡ đầu tiên này. Trước tiên anh phải hứa là sau này anh sẽ cưới em. Sau nữa anh phải uống với em ba chén rượu, để chứng tỏ anh sẽ hết lòng với em trong cuộc ân ái này. - Được, anh sẽ cưới em ngay khi nào em muốn. Em mang rượu ra đây! Nàng rót đầy chén rồi cụng ly với hắn, vẻ rất trịnh trọng. Hắn ngửa cổ ực một cái hết luôn. Nàng rót chén thứ hai, hắn lại ực như vậy và khen, rượu ngon quá. Thực ra lúc này nàng đưa chén gì hắn cũng uống, và uống gì hắn cũng khen ngon, vì hắn chỉ muốn nhanh chóng được ôm lấy nàng quẳng lên giường. Nhưng vừa ực hết chén thứ hai thì hắn thấy hai mắt nặng trĩu, cảm giác buồn ngủ không thể cưỡng nổi. Uống xong chén thứ ba thì hắn hoàn toàn mê mệt, gục ngay xuống bàn, không biết gì nữa. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:11:21 am Mãi đến nửa buổi sáng hôm sau Đội Hai mới tỉnh lại. Đầu hắn vẫn nặng trĩu như vừa bị một trận cảm gió. Hắn ngơ ngác nhìn căn nhà, chưa kịp nhớ ra việc gì thì có tiếng gõ cửa gấp gấp. Hắn muốn đứng dậy nhưng người đau ê ẩm không đứng nổi, vì suốt từ trưa hôm qua đến giờ, hắn vẫn ngủ gục trên cái bàn tròn ở giữa nhà, đành nói vọng ra:
- Ai đấy, có việc gì đấy? - Ngài mở cửa ra, nhanh lên! - Tôi có đóng cửa đâu, ai đóng chẳng biết. Tôi mệt quá. - Ngài ra mở cửa, kẻo chúng tôi phá cửa ra là ngài phải đền tiền đấy. - Đền á. Chết cha rồi. Đây là nơi nào? Hắn bắt đầu láng máng nhớ ra. Vừa kéo lê đôi chân tê dại ra mở cửa, hắn vừa lẩm bẩm: - Nhớ rồi, nhớ rồi! Mình vào đây với cô em xinh đẹp cơ mà, cô ta đâu rồi?! Cánh cửa mở ra. Hai tên lính oai vệ bước vào. Một tên nói như quát: - Ngài thiếu tá, đồn trưởng! Ngài đã vi phạm quân lệnh, để sẩy ra hậu quả nghiêm trọng. - Hậu quả gì đâu. Tôi chỉ vào đây nghỉ ngơi, do uống quá chén nên say đến tận bây giờ. Tôi có làm gì ai đâu. - Có người tố cáo ngài đã dắt gái vào đây chơi bời, bỏ bê công việc. Trong khi chiến sự đang nóng bỏng mà ngài có thể ngồi đây uống rượu và chơi gái ư? - Đâu nào, đừng có nói bậy. Tôi vẫn đang trong tư thế của người sĩ quan làm công vụ. Ai bảo tôi chơi gái nào. Người con gái đi vào đây với tôi hôm qua là một tiểu thư, là phu nhân tương lai của tôi đấy. Đây là nhà của cô ấy mà. Hai tên lính bụm miệng cười, giọng mỉa mai: - Thế à? Nếu đúng thế thì chúng tôi xin lỗi ngài.Vậy mà có người dám tố cáo bừa. Chắc cô chủ sợ quá, tạm lánh đâu rồi. Bây giờ mời ngài về đồn, chắc trung tá đang xuống hỏi thăm ngài đấy. - Hả, trung tá xuống đồn à? Ngài có biết tôi ở đây không? Hắn cuống quý hỏi vậy và tỏ ra run sợ. - Không. Rất may là chúng tôi nhận được tin báo đã cẩn thận đến đây kiểm tra, rồi mới báo cáo cấp trên. Mặc dù chẳng biết rõ hai tên lính này ở bộ phận nào, nhưng Đội Hai linh cảm có việc chẳng lành đang chờ đợi hắn, nên hắn nói như van lơn: - Xin các anh đừng báo cáo với cấp trên. Tôi sẽ về đồn ngay bây giờ. Dịp sau gặp lại tôi sẽ đền ơn anh em. - Được. Nể tình ông là một đồn trưởng có nhiều công trạng, chúng tôi chấp nhận lời cầu xin của ông. Thôi ông về đi. Đội Hai đứng dậy, lảo đảo bước ra đường. Hai người lính chờ hắn đi khuất rồi, cùng cất tiếng cười ha hả. Một người nói khôi hài: - Rõ là anh hùng rơm, cho một mồi gái, hết cơn anh hùng. Chốc nữa về đến nơi, biết đầu cầu bị đánh sập rồi, không hiểu hắn sẽ thế nào. - Chiến thắng này phải ghi cho cô Thắm công đầu. Cô ấy phải hạ mình chài hắn đến mấy tháng, lại nghĩ ra kế điệu hổ ly sơn để anh em du kích rảnh tay đánh cầu. Hai tên lính giả này chính là du kích của thành đội Hải Dương. Họ được phân công thực hiện cảnh cuối của màn kịch do cô Thắm sáng tạo. Nếu không thả hắn ra bằng cách ấy thì khi tỉnh dậy, hắn biết ngay là bị lừa, sẽ nghi ngờ và có thể báo mật thám, Thắm sẽ bị phát hiện ngay. Còn nếu như giết hắn, hay bắt hắn, sự việc sẽ nghiêm trọng hơn. Bọn địch sẽ mượn cớ để tàn sát những người dân lành ở vùng này, sẽ truy lùng bộ đội, du kích ta dáo diết hơn. Tự nhiên ta phải trả cái giá bằng xương máu qúa đắt. Thả hắn về, hắn có thể tự biết mình đã bị lừa, nhưng không dám làm ầm ĩ, vì chính hắn do ham mê nên đã mắc lừa. Còn sự việc cái cầu bị đánh bom thì cấp trên của hắn sẽ hỏi tội hắn. Việt Minh chưa cần phải ra tay. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:14:09 am Đội Hai ra khỏi căn nhà ấy, đi vòng vèo mãi mới tìm được lối ra đường lớn. Lúc ấy hắn mới tỉnh hẳn. Hắn nghĩ đến cuộc hẹn hò say đắm hôm qua. Cô ta có thực bụng với hắn không, mà lại biến đi đâu như vậy. Hắn chưa hề được chạm vào tay cô ta, nói gì đến chuyện vui thú. Mà sao hắn vẫn cứ nằm gục trên ghế suốt từ trưa, qua chiều, đến sáng nay. Rượu gì mà nặng đến thế, mà say đến thế? Thôi đúng là rượu có thuốc mê rồi. Cô ta lừa mình? lừa để làm gì nhỉ? Trong cái đầu tham lam, nhưng thiếu sáng suốt của hắn, chưa bao giờ hắn có thể tưởng tượng đấy là một cán bộ Việt Minh. Với hắn, Việt Minh nếu là phụ nữ thì chỉ có thể là những người chân đất, quần thâm, hoặc có cải trang thì cũng chỉ như cô Bẹ ở làng Vân, không thể có một cô gái trẻ trung, sang trọng, lại đàng hoàng sống ở thành phố như vậy. Nếu nàng lừa hắn thì chỉ có thể là do nàng quá lẳng lơ, lại vướng vào một mối tình khác mà thôi. Bây giờ, hắn thấy bụng đói cồn cào và mệt mỏi khác thường. Hắn nhớ ra mình chưa ăn gì từ sáng hôm qua. Thôi thì dù ngài trung tá có đợi chờ thì hắn cũng đành cáo lỗi, phải vào tiệm ăn chút gì đã, lát nữa sẽ vẫy một chiếc xe nhà binh nào đó mà về. Bụng bảo dạ như vậy và hắn đĩnh đặc bước vào tiệm cơm. Lúc ấy khoảng chín giờ sáng. Thực khách chưa đông, mới có khoảng gần chục người, họ vừa uống, vừa ăn vừa trò chuyện. Trong lúc đợi nhà hàng mang thức ăn ra, hắn nghe thấy một người trầm trồ:
- Bọn Việt Minh quả là táo tợn. Chúng dám dùng xe vận tải chuyên chở gạo, chở một quả bom 500 cân vào đánh cầu. May mà có đoàn tầu đi qua, nếu không cây cầu ấy đã sập rồi. Đội Hai chột dạ hỏi với sang: - Các ông đang nói Việt Minh đánh bom cầu nào đấy? - Cầu Lai chứ cầu nào, ông không biết à? Mặt Đội Hai chợt tái mét, hắn lắp bắp hỏi tiếp: -Cầu...cầu Lai à? Bao giờ mà tôi không biết nhỉ? - Chắc ông ở xa tới phải không? ở đây ai cũng biết. Chiều hôm qua, tiếng nổ lớn đến nỗi dân thành phố cũng nhốn nháo. Ghê lắm ông ạ. Nghe nói cầu không đổ, nhưng đầu cầu bị khoét sâu đến nửa mét. Cái lô cốt ở bên đường sụp đổ. Lính tráng có lẽ là chết hết ông ạ. Xe cấp cứu toe toe réo còi, chạy suốt cả đêm qua.Bây giờ tắc nghẽn giao thông. Bao nhiêu xe tải chở hàng từ Hải Phòng lên đều phải dừng lại, chưa biết bao giờ mới thông đường. Đội Hai rụng rời chân tay, không dám hỏi gì thêm nữa. Người phục phụ đặt các món ăn hắn gọi xuống bàn, nhưng hắn đã quên hẳn cái bụng đang rất đói. Hắn toan đứng lên chạy nhanh về xem sự thể ra sao, thì một giọng nói có vẻ am tường sự việc, vô tư bày tỏ với mọi người: - Nghe nói tên đồn trưởng ở đó tự nhiên mất tích. Các quan Tây cho rằng hắn đã thông đồng với Việt Minh. Nếu không, sao hắn lại đi vắng đúng vào lúc Việt Minh đánh cầu. Hai mươi tên lính da đen, kể cả tên đồn phó và một số lính nguỵ chết mất xác. Chỉ còn sót vài thằng lính gác ở đầu cầu bên này. Chúng kể lại rằng tự nhiên có một chiếc xe tải chết máy trên cầu, người lái xe xách xô xuống bờ sông múc nước rồi không thấy trở lại nữa. Khi ấy có đoàn tầu chuẩn bị qua cầu, tên đồn phó đã huy động hai chục tên lính xúm vào đẩy chiếc xe ngược trở lại, vừa đến đầu cầu thì bom phát nổ, tất cả bay sạch Nghe vậy, Đội Hai đã đứng lên toan về, lại từ từ ngồi xuống. Hắn hình dung ra thảm cảnh của mình. Nếu hắn có mặt ở nhà mà để xẩy ra tai hoạ ấy thì cũng đủ kỷ luật nặng rồi, huống gì hắn lại vắng mặt không lý do, họ lại nghi hắn thông đồng với Việt Minh, hắn khó mà thoát chết. Chẳng ai có thể làm chứng cho hắn trong việc này. Thà rằng cứ cao chạy xa bay trước đi là hơn. Nghĩ vậy, hắn vội vàng ăn hết suất cơm vừa gọi, rồi vào nhà vệ sinh cởi chiếc áo sĩ quan treo lên đó như vô tình bỏ quên, rồi chuồn nhanh ra khỏi nhà hàng. Hắn đi ra khỏi thành phố Hải Dương. Chẳng ai biết hắn đi đâu. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:15:38 am Chương 26 Từ ngày chế tạo thành công quả "mìn sờ", các chiến sĩ S20 không còn lo địch lấy mất mìn nữa. "Mìn sờ" được áp dụng rộng rãi trong toàn tỉnh để đối phó với bọn lính dò mìn. Các tuyến đường 17 từ thành phố Hải Dương đi Ninh Giang và đường 20 từ Sặt đi Phủ- Vạc, bọn giặc liên tiếp gặp món mìn sờ. Nhiều lính giặc đã mất mạng. Bây giờ mỗi khi phát hiện ra mìn, bọn địch không dám lại gần nữa mà đứng đằng xa, dùng lựu đạn hoặc súng nã vào đến nát đoạn đường, không thấy có tiếng nổ chúng mới dám đến gần khám xét. Có lẽ chúng muốn tìm ra những trái mìn kỳ quái ấy nên chúng đã tăng cường phục kích, hòng bắt sống được những người đánh mìn. Lần ấy do mất cảnh giác nên Thường rơi vào tay giặc. Anh và ba chiến sĩ khác vừa đặt trái mìn xuống, chưa kịp lấp đất lên thì bất thình lình từ hai đầu đường đèn pha bật sáng quắc, ngay lập tức chúng nhả đạn sối sả. Mấy anh em vội lăn ào xuống ruộng, rồi mỗi người chạy một nơi. Thường kịp cầm theo những bộ phận của trái mìn, vứt mỗi nơi một thứ rồi chạy thục mạng vào làng. Chúng đuổi theo sát sau lưng. May mà có cô gái tốt bụng đã cho anh chui vào giường giả làm chồng vợ, nếu không, thì chắc anh cũng khó lòng mà thoát được. Thường về đến thôn Cẩm Đới, huyện Gia Lộc, nơi đơn vị đóng quân, vào tầm ba giờ sáng. Mấy người trong tổ chiến đấu cũng vừa về đến nơi. Thấy Thường mặc bộ quần áo lạ, mọi người xúm vào hỏi thăm. Thường kể lại câu chuyện may mắn của mình, anh em bảo: - Số cậu sao mà hên thế. Đi đến đâu cũng được phụ nữ cứu sống. Chác là cậu được bà mụ gài cho cái vía đặc biệt luôn dính với phụ nữ rồi. Thường cũng thừa nhận điều đó. Quả là mình may thật. Nếu không có cô gái ấy nhanh chí thì chính anh cũng chưa biết sẽ thế nào, chắc là phải chịu chết trong tay giặc. Anh nói với anh em, mà cũng như hứa với chính mình: - Sau này đánh giặc xong rồi, nhất định mình sẽ tìm về những nơi đó để tạ ơn các cô ấy. Anh cứ băn khoăn mãi là sao cái cô gái giả đò làm vợ anh lại có thằng con da đen như thế. Bọn giặc chắc không nhìn rõ vì cậu được nằm giữa, lại được phủ chăn. Còn anh thì anh nhìn rõ lắm, nhưng không tiện hỏi. Cậu bé là da đen thì có nghĩa là bố nó phải là người da đen. Vậy cô ta lấy Tây sao? Hay là bị bọn Tây ép buộc...Dù sao cô ta cũng đã cứu mình, dù cô ta là vợ của Tây thì cũng vẫn là ân nhân của mình. Khi thắng giặc, nhất định mình sẽ tìm lại ngôi nhà nhỏ trong cái làng Rồng đó. Tinh mơ sáng hôm sau đội trưởng đã triệu tập họp gấp. Thật bất ngờ, cuộc họp này có cả tỉnh đội trưởng về dự và trực tiếp giao nhiệm vụ. Tỉnh đội trưởng còn rất trẻ, có lẽ cũng chỉ hơn Thường chừng dăm tuổi. Anh có nước da trắng, mặt vuông, cằm bạnh và vóc dáng phương phi. Lần đầu tiên một chiến sĩ như Thường được tiếp súc với người tỉnh đội trưởng oai phong này. Thường thấy anh có dáng dấp và tác phong gần giống anh Đỗ Ninh, tuổi tác cũng chừng ấy, chỉ khác là da anh trắng và giọng nói trầm ấm hơn. Bằng trực giác của mìn, tự nhiên Thường có cảm tình sâu sắc với người chỉ huy quân sự cấp cao của tỉnh này. Tỉnh đội trưởng nói: - Trong thời gian qua ét sờ hai mươi của các đồng chí đã lập nhiều công lớn. Mìn của các đồng chí đã nổ trên nhiều tuyến đường, làm cho bọn giặc kinh hoàng, khiếp đảm. Nhân dân cho biết, trên đường hai mươi, đoạn cống Sộp, mấy thằng lính lái xe người Pháp đã ngồi khóc ti tỉ, vì chúng sắp phải đi vào chỗ chết. Vì đã đi vào đường hai mươi, chắc chắn sẽ gặp mìn, chẳng có cách nào tránh được, nên chúng khóc với nhau. Thời gian vừa qua các đồng chí đã đánh tan xác mấy chục xe các loại, chúng sợ hãi là đúng thôi. Còn loại mìn sờ của các đồng chí thật độc đáo. Bọn lính giặc được phân công dò mìn, nhiều thằng cáo bệnh, không đi. Có thằng lạy cấp trên như tế sao để được làm việc khác. Đi dò mìn đã chết là mất xác. Bọn địch trên các tuyến đường đều hoang mang lắm. Tỉnh đội nhiệt liệt hoan nghênh sự sáng tạo và chiến công to lớn của các đồng chí. Lần này tỉnh đội giao cho các đồng chí nhiệm vụ quan trọng hơn, yêu cầu ét sờ hai mươi phải đánh sập chiếc cầu Bía trên đường mười bẩy. Trước đây các đồng chí đã chặn đánh nhiều xe trên tuyến đường này, tôi cũng biết, ngay tối qua các đồng chí vừa bị phục kích, vì vậy chúng ta phải đánh táo bạo hơn. Đánh sập chiếc cầu này là chúng ta cắt đứt con đường giao thông quan trọng của giặc. Nhiều hoạt động giữa hai khu quân sự của chúng phải ngừng trệ. Việc này sẽ tạo thuận lợi lớn cho hoạt động của ta. Hạ được cầu Bía lần này, được coi như đã tiêu diệt cả một tiểu đoàn địch. Cấp trên cho các đồng chí thời gian trong một tuần. Yêu cầu các dồng chí cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:18:38 am Đơn vị phấn chấn lắm, vì họ được nghe trực tiếp tỉnh đội trưởng động viên. Mọi người cùng hứa sẽ hoàn hành nhiệm vụ. Tuy nhiên việc đánh mìn dưới nước là hoàn toàn mới, thời gian lại rất gấp. Thông thường một trận đánh như thế, anh em phải có những bước chuẩn bị cần thiết. Đầu tiên là phải trinh sát, điều tra, rồi lập kế hoặch tác chiến, sau đó là chuẩn bị vật chất, tinh thần rồi mới triển khai chiến đấu. Mọi khi chỉ trinh sát điều tra trên đường bộ, đơn giản hơn nhiều và anh em đều thông thạo. Lần này ngoài những yếu tố thông thường, còn phải tìm hiểu cấu trúc của cầu, đo dòng chảy của nứơc, độ sâu của sông... Rất may, ban tham mưu tỉnh đội đã quyết định tăng cường cho S20 một cán bộ quân báo có nhiều kinh nghiệm sông nước.
Một nhóm chiến sĩ, trong đó có Thường được phân công vào trận. Ba đêm liền các anh lặn lội trong bờ bụi ven sông và đã nắm được những điều cần thiết: Cầu Bía bắc qua sông Quảng Bí, còn gọi là sông Gôm, có chiều dài trên một trăm mét, chia làm bốn nhịp. Mặt cầu lát bằng sắt, rộng bốn mét, đặt trên những dầm sắt cỡ lớn. Cột cầu là những cây gỗ lim to, mỗi cột gồm mười hai cây gỗ, đóng thành một khối vững chắc. Mố cầu ở hai bên sông đặt trên hai boong ke, kiểu lô cốt, có lỗ châu mai quan sát xung quanh và có thể bắn thẳng xuống gầm cầu. Mỗi bên đầu cầu thường xuyên có một trung đội lính da đen và lính nguỵ thay nhau canh gác. Các cột cầu đều có lưới thép bảo vệ từ đỉnh cột xuống sâu dưới nước chừng hai, ba mét. Trên mặt sông ở hai bên cầu, mỗi bên có rải ba hàng rào thép gai, có gắn phao nổi, nối liền với hai vị trí trên bờ. Tóm lại, chiếc cầu và đoạn sông này đã được địch bảo vệ bằng nhiều biện pháp phòng thủ chắc chắn. Thường được chỉ định chỉ huy trận đánh, anh phải lên kế hoặch tác chiến trình ra để cả đội thảo luận. Người đội trưởng đề nghị phải trinh sát lại một đêm nữa, chính anh cũng đích thân lặn xuống sông, chui qua ba hàng rào thép gai, vén tấm lưới thép bảo vệ chân cầu lên, chui vào trong các cột gỗ để xác định vị trí đặt mìn. Bản kế hoặch của Thường được bổ sung thêm nhiều chi tiết rồi trình lên tỉnh đội. Lần này tỉnh đội trưởng lại đích thân chủ trì cuộc họp bàn kế hoặc tác chiến cụ thể. Trong kế hoặch có một chi tiết đã nêu rõ: giả sử tình huống đang thao tác mà bị địch phát hiện thì anh em làm nhiệm vụ phải chấp nhận sự hy sinh cần thiết, cứ cho mìn nổ. Nghe xong, tỉnh đội trưởng trầm ngâm mãi mới nói: - Tôi thay mặt ban chỉ huy tỉnh đội biểu dương tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ ét sờ hai mươi. Các đồng chí đã có tinh thần hy sinh rất cao cả. Nhưng trách nhiệm của những ngừơi chỉ huy trận đánh là nhất thiết không để tình huống đó xảy ra. Vì vậy tôi quyết định chỉ sử dụng một lực lượng nhỏ tham gia trận đánh, để giữ được bí mật và cũng để giảm thương vong đến mức thấp nhất. Quyết định của tỉnh đội trưởng cũng chính là mệnh lệnh chiến đấu. Các chiến sĩ S20 bừng bừng khí thế lập công. Ai cũng muốn tham gia vào trận đánh, nhưng để đảm bảo an toàn và thương vong ít nhất, tỉnh đội trưởng chỉ cho phép 4 chiến sĩ trực tiếp bơi vào trận địa. Anh em công binh xưởng đã chế tạo cho riêng trận đánh này bốn quả bộc phá. Mỗi quả chứa hai mươi cân thuốc nổ, lắp kíp điện chế tạo kiểu đúc rắn, có vỏ sắt, không ngấm nước. Mỗi quả được buộc vào một chiếc phao giữ chúng ở giới hạn không nổi, không chìm, chỉ lập lờ dưới mặt nước để các chiến sĩ dùng dây kéo vào chân cầu. Được hỗ trợ chu đáo như vậy nhưng Thường vẫn lo. Anh phải cho tổ chiến đấu diễn tập một lượt trong cái ao nơi đóng quân. Anh em phải bơi ngửa, chỉ để hở mũi, thật nhẹ nhàng, sao cho người ngồi trên ngọn cây giả định là trên mặt cầu không phát hiện ra. Vào đêm thứ sáu, đêm cuối cùng mà tỉnh đội trưởng giao hẹn, tổ chiến đấu của Thường bắt đầu ra trận. Đêm ấy trời mưa rả rích, nước lên to. Trên trời sấm nổi ì ầm. Phía bắc, phía nam thỉnh thoảng lại rộ lên những tràng súng pháo ùng ùng như như đe doạ những người vào trận. Song, kế hoặch đã vạch chi tiết, mọi thứ chuẩn bị kỹ càng, tinh thần được nâng cao, không một ai nao núng. Biết là phải ngâm mình dưới nước nhiều giờ, nên Thường đã mang theo một chai nước mắm, rót cho mỗi người một chén, giục họ uống trước khi xuống nước. Suốt từ mười giờ đến mười hai giờ đêm, bốn người mới mang được hai trái bộc phá chui qua hết ba hàng rào thép gai phía ngoài chân cầu. Đoạn còn lại mới thật sự nguy hiểm, bởi vì đoạn ấy ở ngay dưới chân cầu, mặt nước phẳng lặng, không một vật gì có thể trôi qua. Đoạn này rộng chừng năm mươi mươi mét. Bây giờ mới là lúc các anh phải bơi ngửa, hở mũi và kéo trái bộc phá lập lờ trên mặt nước vào gầm cầu. Tiếng giầy đinh đi lại trên mặt cầu cồm cộp. Mấy chú chó lăng xăng chạy theo bọn lính, chốc chốc lại tru tréo sủa vang một hồi, khiến các chién sĩ thót tim. Nhưng đó là chúng sủa vu vơ, chứ cả chủ tớ nhà chúng chẳng tên nào phát hiện dưới gầm cầu đang có những con người đã lặn sâu xuống nước chui qua ba hàng thép gai, rồi lại bơi chìm không hề phát ra một tiếng động, giờ họ lại lặn sâu xuống nước chui qua những tấm lưới thép bảo vệ chân cầu, chuẩn bị gắn những trái nổ vào đúng nhịp cầu ở giữa. Bọn lính vừa đi vừa nói chuyện bằng thứ tiếng mà Thường và đồng đội không sao hiểu được. Mặc chúng. Việc của anh bây giờ là cột chặt những trái nổ vào hai cột giữa thân cầu. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:20:17 am Qua mấy đêm trinh sát, Thường đã thuộc từng thanh dầm cầu. Những chiến sĩ làm nhiệm vụ lần này đều đã được thực tập từ một đến hai đêm. Họ thao tác thật nhanh nhẹn và an toàn tuyệt đối. ở trên mặt cầu có lẽ chúng đổi gác. Bọn mới đến chắc là người Việt, tiếng giầy nghe nhẹ hơn. Bỗng có tiếng quát:
- Ai kia? đi đâu đấy? Không có tiếng đáp lại và bọn chó cũng chả thèm sủa. Thường bấm nhẹ vào tay anh em, ra hiệu tụt xuống nước. Anh ngồi lại một mình trong hốc cột cầu nghe ngóng. Nếu bây giờ chúng phát hiện ra thì mìn cũng gắn xong, điện đã đấu rồi, theo kế hoặch, anh chỉ việc hô " xung phong" là phía ngoài chập điện. Mìn sẽ nổ ngay tức khắc, tất nhiên các anh sẽ chấp nhận hy sinh. Nhưng rất may xung quanh vẫn hoàn toàn yên tĩnh. Thì ra chúng chỉ nói vu vơ, một thủ đoạn chúng thường dùng để doạ những người yếu bóng vía. Nếu ai nhát gan bỏ chạy thì hỏng việc ngay, một là bị bắt, hai là bị bắn chết. Chừng nửa tiếng chôi qua không thấy động tĩnh gì, Thường kiểm tra lại lần nữa rồi cho anh em rút ra ngoài. Thành công rồi, anh nhẹ nhõm bơi về phía anh em giữ ngòi điện đang đợi. Khoảng hai giờ sáng hôm đó, một ánh chớp xanh lẹt xé rách màn đêm, kèm theo một tiếng nổ vang trời. Chiếc cầu bị cắt phăng đoạn giữa, các nhịp còn lại đều gục xuống sông. Bọn địch ở hai đầu cầu lộng óc, dần xương, chúng la hét om sòm, mãi sau mới bắn bừa phứa ra xung quanh. Tổ đánh mìn của Thường đã rút khỏi trận địa lâu rồi. ****** Chiến công của S20 gây chấn động một vùng. Bộ đội và du kích ta hả lòng hả dạ. ở đâu cũng nói về những chiến sĩ dũng cảm và mưu trí của S20. Khi tiếng súng mở màn chiến dịch Điện Biên phủ vừa mở thì quân và dân Hải Dương tập trung tấn công vào đường số 5. Một khẩu hiệu được truyền khắp các đơn vị: Không ngừng tiếng súng, không ngừng tiếng mìn trên đường Năm để phối hợp với Điện Biên Phủ. S20 được gọi từ vùng Gia Lộc, Ninh Giang về Cẩm Giàng để bám sát đường số Năm. Đêm 13 tháng 3 năm 1954, bộ đội và du kích đồng loạt tấn công, san bằng hàng chục đồn bốt của địch trên địa phận hai huyện Kim Thành, Cẩm Giàng. Đêm ấy S20 được phân công chặn quân tiếp viện của địch ở cổng Chông, phía bắc thành phố Hải Dương. Đêm ấy ra trận mà vui như chảy hội, mặc dù ở ngay trong lòng địch, nhưng mọi người vẫn hồ hởi kể với nhau về những chiến thắng của bộ đội ta. Kế hoặch của NaVa đang bị bộ đội Việt Minh làm cho thất bại từng ngày. Trong tỉnh, liên tiếp có những tin thắng trận. Anh em truyền nhau tin đồng chí Thoà huỵện đội phó Kim Thành đã đánh đổ đoàn tầu ở ga Phạm Xá, tiêu diệt hơn một ngàn tên lính Âu- Phi. Bọn này đang được chở gấp lên bổ sung cho chiến trường Điện Biên, nhưng chỉ trong tích tắc đã biến thành ma đói. Rồi tin đồng chí Tân là tự vệ của một nhà máy thuộc thành phố Hải Dương đã gan dạ lái chiếc xe tải chở năm trăm cân thuốc nổ lẫn với những bao gạo, toan đánh sập cầu Lai Vu. Rồi du kích huyện Cẩm Giàng đánh đổ tầu địch ở đoạn đường gần chùa Dê... Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:22:24 am Lần này là S20, đơn vị chuyên đánh giao thông, sẽ chiến đấu với chúng trên đường sắt. Tỉnh đội giao cho S20 phải chặn kỳ được những đoàn tầu quân sự trên đường sắt Hải Phòng - Hà Nội, không cho chúng vận chuyển vũ khí, đạn dược và binh lính lên phía bắc. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, các anh quyết định mai phục địch trên đoạn đường Đồng Niên - Cao Xá. Đoạn đường sắt này có một con đường phụ cận dành cho xe tải từ Hải Dương xuống thị trấn Cẩm Giàng. Thường nghiên cứu đìa hình rồi nêu ý kiến:
-Theo tôi, để trận đánh có hiệu quả cao, chúng ta cần phải bố trí một cụm mìn liên hoàn, dùng cả mìn chống tăng, mìn điện tự động và mìn sờ. Đoạn đường sắt này có đường phụ cận thì khi tầu hoả đổ, nhất đinh xe tăng hoặc xe tải sẽ chạy đến cứu viện, và bọn dò mìn cũng sẽ đi theo. Bởi vậy phải bố trí mìn đủ cho các đối tượng này. Đội trưởng bổ sung thêm: -Bây giờ trình độ đánh mìn của S20 chúng ta có thể nói đã đạt đến mức điêu luyện. Chúng ta có đủ các loại mìn giành cho các loại tầu, xe. Có điều cùng một lúc đánh nhiều loại mìn như thế các đồng chí phải hết sức cẩn thận, tránh nhầm lẫn, kẻo gây hậu quả ngược lại. Tôi phân công đồng chí Thường thiết kế trận địa mìn này. Thiết kế xong đồng chí lên sơ đồ để cả đội thảo luận. Thường nhớ lại ngày còn ở huyện, anh đã từng được phân công đi đo độ lún của tầu, từ đó mới làm ra cái cạm điện tự động. Hồi ấy sự hiểu biết về mìn và điện của các anh còn nông cạn, chỉ biết cái hòm điện có hai đầu dây, một đầu lạnh, một đầu nóng gọi là hai ngòi điện, cứ chập hai ngòi nóng lạnh ấy vào với nhau là mìn nổ. Muốn đo độ lún của tầu, các anh phải dùng củ chuối, cắm vào dó một chiếc đinh rồi bí mật đặt dưới thanh tà vẹt, sau mấy đêm làm như vậy mới tìm ra độ lún trung bình của đoàn tầu để định ra kích cỡ cho cái cạm điện một cách thích hợp. Bây giờ, sau mấy năm vừa thực hành chiến đấu, vừa mầy mò nghiên cứu, Thường đã hiểu kỹ về nguyên tác gây nổ, cùng anh em sáng tạo ra nhiều cách gây nổ, làm cho giặc dù có đào được mìn cũng không biết đằng nào mà đối phó. Hôm nay được giao thiết kế trận địa mìn để chặn những đoàn tầu tiếp viện của giặc lên chiến trường Điện Biên Phủ, nhất định anh phải bố trí một trận địa làm cho cả tầu và xe đều tan xác để S20 lập công phố hợp với các chiến sĩ Điện Biên. Sau một đêm tính toán, Thường trình sơ đồ phương án tác chiến lên đội trưởng. Phương án là: Trên đường sắt bố trí hai quả mìn, mỗi quả bốn mươi cân thuốc nổ, đặt cách nhau hai trăm mét nhằm đón đánh hai đoàn tầu trong ngày. Tại hai hố đặt cạm điện của hai quả mìn này, đặt hai ổ mìn sờ, nhằm tiêu diệt bọn lính dò mìn khi chúng đến đào lấy hòm điện. Thông thường sau khi mìn nổ, cạm điện vẫn còn đó, chúng thường lấy mang về để nghiên cứu, nên hai quả mìn sờ sẽ xử lý bọn này. Hai quả mìn chống tăng được đặt trên đường phụ cận, giáp với đường tầu, cách nhau 100 mét chéo góc 35 độ. Nếu xe tăng đến trước thì nhất định sẽ dính quả mìn đầu tiên, nếu xe tải hoặc xe zíp đến trước thì có thể chúng vượt qua trái mìn đầu, nhưng nhất định sẽ vấp trái mìn thứ hai, vì đoạn đường đặt trái mìn thứ hai nhỏ hơn, không có chỗ tránh. Cả đội được mời thảo luận, bổ sung, cuối cùng đều nhất trí cho rằng đây là phương án tốt nhất, bọn giặc khó mà thoát chết. Đúng như dự kiến của Thường, đoàn tàu đầu tiên từ Hải Phòng lên vào lúc chín giờ sáng, chở đầy súng đạn, vấp ngay quả mìn thứ nhất, lật nhào xuống bên đường. Nhiều viên đạn bị va đập, tự nổ ran, khói bốc mù mịt từ đó đến quá trưa. Bọn địch ở Hải Dương hốt hoảng đến xem xét tình hình. Một xe zíp và một xe tăng. Chiếc xe zíp bon bon đi đầu, dường như chúng nghĩ rằng đã có mìn nổ trên đường sắt thì không có mìn trên đường bộ nữa nên chúng có vẻ hung hăng lao tới. Xe zíp chạy qua quả mìn thứ nhất trên đường bộ, không thấy mìn nổ, nó vừa đến đoạn cua hẹp sát đường tầu, thì thình lình tung lên rồi lật úp. Hai tên sĩ quan, một người Việt, một người Pháp chết ngay tại chỗ. Tên lái xe ngấp ngoải nằm chờ chết. Chiếc xe tăng đi sau chưa kịp hiểu chuyện gì, đang bò chậm lại thì chạm quả mìn thứ nhất. Sau tiếng nổ chói tai, nó bốc cháy ngùn ngụt. Các chiến sĩ S20 trú ẩn cách đó chừng ba trăm mét nhìn rõ thảm cảnh của giặc, họ ôm lấy nhau vui mừng, nhưng không dám hò hét. Ba giờ chiều hôm ấy, một đoàn tầu khác cũng từ Hải Phòng lên, chở ba toa lính và nhiều toa hàng hoá quân sự. Lâu nay chúng đã khôn ngoan, bao giờ tầu chở lính cũng cho chạy vào buổi chiều để đảm bảo an toàn Tầu chở hàng chạy vào buổi sáng, nếu có gặp mìn thì cũng không tổn thất về người. Nhưng lần này thì chúng đã nhầm. Mìn đã nổ buổi sáng rồi, chắc rất an toàn. Chúng chỉ thu dọn qua những toa tầu còn vướng trên đường sắt rồi cho thông đường. Con tầu chở lính này vừa ung dung chạy qua chiếc đầu tầu đổ ban sáng được một đoạn thì bất thần rung lên rồi vặn cong như vỏ đỗ. Đầu máy vỡ toác. Lính tráng kêu khóc như bò rống. Bọn địch huy động hết lính tráng trong các đồn từ Hải Dương đến Kẻ Sặt phải tập trung cứu nạn. Những thằng lính dò mìn xem chừng am hiểu, chúng lần theo dây điện tìm được nơi đặt hòm điện, liền tìm cách bới lên. Hai trái mìn sờ vẫn nằm yên đợi chúng. Mìn sờ không nổ vì lực trên nén xuống, mà chỉ nổ khi phía trên được bới nhẹ đất đi. Hơn chục tên lính bỏ mạng. Hai chi khu quân sự Hải Dương và Kẻ Sặt tập trung mọi phương tiện và người, rối tinh rối mù suốt ba ngày trời mới thu dọn xong cái bãi chiến trường ngổn ngang ấy. Đường sắt bị tê liệt. Hàng tuần sau những đoàn tầu chở đất đá mới lóp ngóp chạy qua để dò đường. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:28:58 am Các chiến sĩ S20 hân hoan mừmg chiến thắng. Vào những ngày ấy quân ta đang bao vây lòng chảo Điện Biên. Hơn bao giờ hết giặc cần tiếp viện cho bọn bị bao vây. Từ đạn dược, thuốc men đến quân lính. Các chiến sĩ ta được lệnh tiếp tục chặn đứng con đường tiếp viện của chúng. Nhưng sau thất bại nặng nề vừa rồi, giặc phản ứng lại gay gắt. Chúng rải quân tuần tiễu suốt ngày đêm và cũng cho chôn mìn ở các ngả đường tiếp giáp với đường tầu. Đoạn nào không có điều kiện rải quân thì chúng cho pháo bắn cầm canh suốt đêm. Lên được mặt đường trong thời gian này thật sự là khó. Đội trưởng S20 cho thành lập một tổ trinh sát chuyên theo dõi và tìm cách phá mìn của giặc để các chiến sĩ ta có thể lên mặt đường. Những người còn lại đêm nào cũng phải bám sát đường tầu, bọn lính tuần đường đi qua là tìm cách lên mặt đường ngay. Có hôm chỉ kịp nhảy lên đường rồi lại vội lăn xuống ruộng, vì bọn lính đi làm mấy tốp, hết tốp này đến tốp khác. Chúng canh gác gắt gao như vậy chừng nửa tháng rồi việc tuần tiễu thưa dần. Mỗi đêm chúng dạo qua mặt đường vài lượt.
Tranh thủ khoảng thời gian này, các chiến sĩ S20 lập tức làm nhiệm vụ. Vào một đêm tối trời, tổ của Thường đang nhanh chóng đào hố chôn mìn, thì bỗng có hàng loạt súng trung liên xối xả bắn về phía các anh. Một người bị thương. Thường đang lúng túng chưa biết sử trí ra sao thì anh em phát hiện thấy chúng bắn ra từ những toa tầu đổ hôm trước, đồng chí Đính đội phó liền sáng kiến, rúc lên một hồi còi chói tai rồi hô to, làm như cả đại đội đang mai phục đâu đây: "Các đồng chí, đuổi bắt sống lấy chúng nó". Được thể, thường cũng hô tiếp: "Trung đội một, trung đội hai theo tôi, đuổi bắt sống bọn này!". Thấy tiếng hô mạnh mẽ và còi rúc liên hồi, bọn giặc vội vàng bỏ chạy. Thực ra lúc đó các anh chỉ có mấy khẩu súng trường, còn lại toàn là xà beng, dây điện, thúng và vải bạt dùng để đựng đất đá khi đào hố chôn mìn. Không mạnh mồm như vậy chắc là khó thoát với chúng. Từ bốt Đồng Niên chúng bắn ra ào ạt. Nhưng sau hai giờ đồng hồ không thấy đông tĩnh gì, bọn giặc thôi không bắn nữa. Tổ chôn mìn của Thường lại tiếp tục lên mặt đường. Ban nãy vội rút lui, các hố đào dở chưa kịp thu dọn, đất đá vương vãi tung toé. Thường nghĩ một lát rồi quyết định đào tiếp vào những hố này, sâu hơn chừng bốn mươi phân nữa rồi khoét ngang sang một bên, đặt quả mìn vào đó, lấp đất đá đến lưng chừng rồi bỏ trống, không cần nguỵ trang. Đây chính là chiến thuật hố không mìn cải tiến. Trứơc đây hố không mìn thường đặt quả mìn giả, sau đó mới thay mìn thật, lần này không còn thời gian để tráo mìn nữa, nên họ đặt luôn trái mìn bốn mươi cân thuốc nổ vào đó. Cách chỗ Thường ba trăm mét, tổ của Đính cũng làm như vậy. Qua nhiều ngày quan sát các chiến sĩ S20 nhận thấy dạo này địch chở lính đi cả vào buổi sáng, nhưng chúng thường bố trí những toa cuối, bởi vậy tổ của Thường đặt cạm điện cách trái mìn áng chừng bằng khoảng cách của năm toa tầu về phía trước, theo hướng tầu chạy. Còn tổ của Đính thì đặt cạm điện và mìn chỉ cách nhau chừng dăm mét. Sáng hôm sau bọn lính tuần đường nhìn thấy những hố đào dở còn nham nhở, chúng chửi tục, cho rằng Việt Minh bị chúng bắn nên sợ hãi không dám chôn mìn tiếp. Thế rồi chúng tự lấy đất, đá lấp kín các hố đó. Hai trái mìn an toàn nằm đợi tầu. Gần trưa hôm ấy một đoàn tầu từ Hải Phòng chạy lên. Ba toa cuối bỗng nhiên lật nhào sau một tiếng nổ lớn. Đúng là ba toa chở lính. Các cỡ súng ở những đồn Đồng Niên, Cao Xá, Cẩm Giàng bắn như vãi đạn trước khi đến cứu đoàn tầu. Hàng chục xe tải được huy động đến để chở xác chết. Đầu máy và những toa phía trước hầu như còn nguyên vẹn. Cuối buổi chiều, thu dọn đã tạm ổn, chúng cắt lại ba toa bị hỏng rồi tiép tục chạy về hướng Hà Nội. Vừa mới chuyển bánh được chừng ba phút thì lại một tiếng nổ rung chuyển mặt đất. Lần này thì chiếc đầu máy máy vỡ tan. Các toa còn lại lật hết xuống ruộng. Cả một vùng, tiếng súng lại nổ ran. Những luồng khói đen vấn vít mãi quanh những đồn bốt giặc. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:30:45 am Chương 27 Vào đầu năm 1954, bộ đội và du kích ta mở nhiều đợt tổng công kích giặc để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Nhiều đồn bốt ta đã san bằng, riêng cái đồn Kỳ Lâm, nằm ở gần một nhà thờ thiên chúa giáo, ta đã nhiều lần định tiêu diệt mà không làm nổi. Ngoài hệ thống rào thép gai và boong ke, chúng còn làm một con đường ngầm thông với nhà thờ. Bộ đội ta đánh đồn thì chỉ bọn lính trụ lại boong ke chống giữ, còn bọn chỉ huy rút hết vào nhà thờ. Tại đó chúng tổ chức nhiều mũi phản công, rồi cùng các cha cố huy động giáo dân kéo đến ngăn cản bộ đội. Các chiến sĩ dù hăng hái đến đâu cũng không dám bắn vào nhà thờ, càng không dám bắn vào dân. Thế là đành phải rút lui. Đây thật sự là một căn cứ không thể tiêu diệt bằng súng đạn. Từ nhiều tháng nay đơn vị của Đỗ Ninh luôn cơ động ở phía tây nam Gia Lộc, bắc Thanh Miện. Lúc ấy là cuối mùa xuân, vào đúng mùa sen nở. Mỗi buổi sớm, đứng trước đầm sen, Đỗ Ninh thấy lòng thư thái và rộng mở. Hương sen thoang thoảng bay trong gió sớm giống như liều thuốc an thần làm cho tâm hồn thanh thoát lạ. Lâu lắm rồi, đây là lần đầu tiên Đỗ Ninh mới sống lại những phút giây thư thái. Anh bình tĩnh suy xét mọi việc đến với mình trong những tháng ngày qua. Cái tin mẹ mất và em gái bỏ làng ra đi, làm anh choáng váng và buồn đau, hàng tháng trời ngủ không ngon giấc. Mẹ đã mất rồi, anh đành phải chịu làm đứa con bất hiếu. ở dưới suối vàng chắc mẹ cũng hiểu và đại xá cho đứa con xa. Còn cô em gái côi cút của anh, giờ lưu lạc nơi đâu, luôn là điều day dứt anh từng ngày. Đánh giặc xong, dù phải đi cùng trời cuối đất, nhất định anh cũng đi để tìm em gái mình về. Anh em sẽ đoàn tụ trong ngôi nhà đơn sơ của cha mẹ xưa kia. Chuyện nhà, nghĩ đi nghĩ lại rồi cũng chỉ đến thế. Còn một chuyện khác luôn làm anh khổ sở, nhưng anh chẳng muốn thừa nhận với mình. Đó là chuyện cô Thắm dẫn một sĩ quan nguỵ ra đi, dù hắn là hàng binh thì hắn vẫn là giặc. Thắm đưa hắn đi đâu, anh không sao biết được. Từ hồm ấy đến nay, anh vẫn tự hỏi, Thắm có liên quan gì đến mình không? Chính anh chưa bao giờ trả lời rõ ràng được câu hỏi này. Thế rồi không hiểu sao anh cứ bận tâm về cô ấy. Những điều người tỉnh đội phó nói với anh, rằng cô Thắm chỉ quan tâm đến anh thôi, rằng nhiều sếp trên quân khu ghen với anh, liệu có phải không? hay chỉ là câu chuyện làm quà, ngay cả đôi giầy vải nữa, liệu có đúng là cô ấy gửi cho mình không, hay cũng chỉ là một trò đùa của ai đó? Có những lúc Đỗ Ninh cảm thấy chìm nghỉm trong nỗi buồn vô hình, vô cớ. Sáng nay đứng trước đầm sen xanh thắm này, anh thấy lòng mình được yên tĩnh lại. Những búp sen hồng như những ngọn lửa thắp lên trong anh niềm tin yêu lạ lùng vào tương lai phía trước, cho dù cuộc kháng chiến đang diễn ra quyết liệt. Anh đang lấy lại sự thanh thản trong lòng thì nhận được lệnh Tỉnh đội gọi anh về khu căn cứ gấp. Theo công văn, anh phải có mặt ở chỉ huy sở của Tỉnh đội lúc 7 giờ sáng ngày mai. Anh có vẻ không thoải mái, hỏi lại người chuyển công văn: - Đồng chí có biết chỉ huy có việc gì mà gọi tôi về gấp như vậy không? Người giao thông viên lắc đầu: - Anh thừa hiểu, làm sao chúng tôi lại biết được công việc của cấp trên. Chỉ có thể biết rằng việc gì trong lúc này thì cũng là chiến đấu, nhanh chóng tiêu diệt kẻ thù, giải phóng quê hương. Đỗ Ninh bỗng nhiên nổi cáu: - Anh dám nói với tôi như thế à? Chúng tôi đánh trận bao nhiêu năm, không để tiêu diệt kẻ thù, giải phóng quê hương thì để làm cái gì? Nói như thế mà cũng nói à? Tôi muốn biết nhiệm vụ cụ thể kia. - Anh làm sao thế? Chẳng nhẽ anh không biết rằng nhiệm vụ quân sự thì phải bí mật, chỉ cấp chỉ huy mới được biết sao? Anh trách mắng tôi là có ý gì? - Tôi trách anh là vì anh ở gần cấp trên mà sao chả biết tý thông tin gì để báo cho anh em cấp dưới. - Lần đầu tiên trên đời tôi thấy người chỉ huy cấp đại đội như anh lại ấm ớ như thế. Dù là nhiệm vụ gì thì anh cũng phải về chỉ huy sở chứ, dễ anh muốn trốn hay sao mà phải hỏi cặn kẽ như vậy. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:31:53 am Tuy biết rằng mình hỏi rất vô lý, nhưng dường như Đỗ Ninh không kìm được mình, nên anh cứ nói bừa như vậy. Rồi anh lại hỏi người giao thông viên:
- Anh thấy tỉnh đội phó có nhà không? Sẵn bực dọc, người giao thông viên trả lời: - Anh cứ về mà hỏi các ông ấy. Tôi chả biết ai hết! Đỗ Ninh cũng nhận ra sự vô lý của mình. Anh không hỏi gì thêm nữa và lẳng lặng thu xếp đi ngay trong đêm, để kịp giờ hẹn với tỉnh đội trưởng. Khác với mọi lần về sở chỉ huy tỉnh đội, lần này bộ dạng của Đỗ Ninh thật khó coi, vẻ mặt lạnh lùng, nặng chình chịch, đôi mắt gườm gườm, dường như muốn nuốt chửng ai đó. Khác với thái độ của anh, tỉnh đội trưởng lại tươi cười, vui vẻ hơn bất cứ bao giờ. Ông mời anh ngồi rồi bắt đầu câu chuyện một cách ân cần: - Đồng chí Đỗ Ninh ạ, bây giờ tỉnh đội muốn giao cho đồng chi một nhiệm vụ đặc biệt, có ý nghĩa quyết định cho trận đánh sắp tới, đồng chí có vui lòng nhận nhiệm vụ không? - Báo cáo đồng chí, có bao giờ tôi dám thoái thác nhiệm vụ đâu! - Đành rằng như thế, nhưng hôm nay nhìn vẻ mặt đồng chí không được vui vẻ như mọi khi, tôi e có chuyện gì! - Chỉ là tôi hơi mệt một chút. Tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ, xin đồng chí cứ yên tâm! - Nếu vậy thì rất tốt. Chắc đồng chí cũng biết chúng ta đang gặp khó khăn ở bốt Kỳ Lâm chứ? - Vâng, tôi cũng có biết. Bọn giặc ở đấy đã cấu kết với các cha cố trong nhà thờ, ta không sao đánh vào đó được. - Đúng như thế! - Vậy bây giờ cấp trên muốn tôi đánh vào đồn Kỳ Lâm chăng? - Cấp trên muốn đồng chí dùng tình cảm của mình để... thuyết phục một người! - Sao ạ? tôi lại có tình cảm với ai trong đồn giặc sao? Không có đâu ạ! - Đồng chí cứ bình tĩnh nghe tôi nói đã. Nếu không có thì sao cấp trên phải gọi đồng chí về đây. Chắc đồng chí chưa quên cô Thắm phải không? Đỗ Ninh như bị bắn trúng tim, vội chồm dậy, rồi anh lại ngồi phịch xuống, như đã cạn hết sức lực, thú nhận một cách tuyết vọng: - Cô Thắm ấy ạ? Vâng, tôi làm sao mà quên được cô ấy, nhưng cô ấy đã dẫn một tên hàng binh đi mất rồi. Cô ấy chẳng có tình cảm gì với tôi đâu. Tỉnh đội trưởng càng tỏ ra ân cần hơn, anh ngồi sát lại phía Đỗ Ninh, giọng nhỏ nhẹ: - Ninh này, cậu phải bình tĩnh chứ. Xem ra cậu chẳng hiểu gì cô Thắm cả. Cô ấy phải làm như vậy, chắc trong lòng cũng nhiều đau khổ, nhưng tổ chức giao nhiệm vụ thì vẫn phải hoàn thành. Cậu không nghĩ rằng cô ấy còn khổ hơn cậu sao? Đỗ Ninh nói giọng tỉnh queo: - Anh đừng nói vậy, tôi có khổ gì đâu. Còn cô ấy ra sao có liên quan gì đến tôi đâu mà phải so sánh cơ chứ. Mà anh bảo tôi thuyết phục ai ở trong đồn? Chả lẽ cô Thắm lại đang ở trong đồn giặc nữa ư? - Không. Vấn đề ở chỗ lần này cô Thắm không chịu vào đồn giặc nữa, chúng tôi mới cần cậu thuyết phục cô ấy. - Tôi chịu thôi. Cô ấy là người của quân khu chứ có phải người của tôi đâu mà bảo tôi thuyết phục. Tôi không thể hoàn thành nhiệm vụ này. - Đừng vội vã như vậy. Hãy nghe tôi nói đã. Cậu cũng thừa biết cái đồn này chúng ta không thể dùng súng đạn mà hạ được nên phải dùng tình cảm. Mà làm việc này không ai làm tốt hơn cô Thắm. Cô ấy đã đánh lừa tên Đội Hai vào tròng, cậu biết chứ? - Không, tôi không biết! - Thế thì sau này cậu sẽ biết. Cô ấy đã vận động được anh Bang đưa cả đại đội huấn luyện bổ sung ra hàng thì cậu biết rồi chứ. Mà cậu đừng bực tức vì cô ấy dẫn anh Bang đi. Hôm ấy suýt cậu làm hỏng việc đấy, cậu biết chưa? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:32:59 am Đỗ Ninh ngồi im không trả lời. Tỉnh đội trưởng nói tiếp:
- Ban nãy cậu bảo rằng cô ấy là người của quân khu, ừ, đúng như vậy, nhưng về mặt tình cảm cô ấy lại là người của cậu đấy! - Đâu có. Tôi và cô ấy đã gặp nhau bao giờ, ngoài cái hôm cô ấy truyền mật lệnh. Nếu mà cô ấy thuộc về tôi sao cô ấy chẳng nói gì... - Cậu mang tiếng thông minh, dũng lược, mà trong chuyện này thì cậu dốt quá đấy. Cô ta là phụ nữ, quan tâm đến cậu như thế vẫn chưa đủ sao. Còn cậu, cậu đã nói gì với cô ta nào? Thế mà cứ tức bực đầy vơi ở trong lòng, thật chẳng đáng mặt đàn ông một tý nào. Đỗ Ninh vẫn cứ ngồi im. Tỉnh đội trưởng bắt đầu nghiêm giọng: - Lần này tỉnh đội mời đồng chí về đây tất nhiên không phải để bàn chuyện tình cảm riêng tư, mà để bàn nhiệm vụ chiến đấu. Qua quan sát và heo dõi, chúng tôi thấy đồng chí Thắm có tình cảm sâu sắc với đồng chí. Còn về phía đồng chí thế nào thì đồng chí tự rõ. Tuy nhiên trong cuộc kháng chiến này chúng ta phải hy sinh nhiều thứ quý giá, mà cái quí giá nhất là tính mạng con người thì bao đồng chí, đồng bào của chúng ta đã phải hy sinh rồi. Còn chuyện tình cảm riêng, nếu hy sinh cho kháng chiến mau thắng lợi, tôi tin rằng đồng chí cũng vui lòng chứ? Đỗ Ninh đáp cứng cỏi: - Tôi đi kháng chiến từng ấy năm trời, chả dám tính toán chuỵện thiệt hơn, có hy sinh tính mạng tôi cũng không tiếc, nói gì đến tình cảm. Nhưng tôi thật sự không hiểu đồng chí giao nhiệm vụ gì. - Là thế này. Cấp trên muốn cô Thắm bằng cách nào đó phải mồi chài được tên đồn trưởng Kỳ Lâm. Hai tháng qua cô ấy đã làm được việc này rồi. Bây giờ nó cứ muốn lấy cô ấy làm vợ. Cấp trên chỉ thị cho cô ấy phải chấp nhận. Mục đích là để chúng ta đánh được cái đồn đó, giải phóng vùng này. Nhưng cô ấy chưa thông. Mặt Đỗ Ninh tái nhợt đi. Anh nói lắp bắp: - Cái ấy thì... thì cấp trên cứ nói với cô ấy, sao lại nói với tôi. - Tất nhiên rồi. Cấp trên đã giao nhiệm vụ cho cô ấy, nhưng cô ấy chưa thông, mà cứ khóc hoài. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, không phải cứ ra lệnh là làm được. Chúng tôi cho rằng cô Thắm có tình cảm sâu sắc với đồng chí nên cô ấy muốn giữ mình trong sạch. Nếu được đồng chí động viên và thông cảm thì chắc cô ấy nhận nhiệm vụ thôi. - Tôi biết nói thế nào để cô ấy hiểu cơ chứ. Có khi cô ấy lại hiểu lầm tôi. Thôi, đồng chí cử người khác đi. - Người khác mà nói được thì chúng tôi gọi đồng chí về đây làm gì. Việc này là trên khu chỉ thị đấy, đồng chí nên cân nhắc kỹ xem. - Nhưng tôi phải nói với cô ấy thế nào? - Thì cứ nói rằng đây là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải hy sinh. Cái cần nhất là đồng chí phải tỏ ra trân trọng cô ấy, và sẵn sàng chờ đón cô ấy khi hoàn thành nhiệm vụ trở về. Đỗ Ninh thấy đầu óc mụ mẫm hết. Anh biết mở miệng thế nào? Đáng lẽ phải bày tỏ tình cảm của mình thì lại đi khuyên cô ấy vào với giặc, lấy giặc làm chồng. Thật là không sao chịu nổi. Anh không muốn gặp mặt Thắm, mà muốn trở về đơn vị ngay lập tức. Nhưng suy đi nghĩ lại, anh tự biết mình sẽ có lỗi lớn với kháng chiến, nếu không làm việc này. Bởi vì nếu Thắm chịu bán mình cho giặc thì bao nhiêu đồng chí mình không phải hy sinh. Thế là Đỗ Ninh dằn lòng ở lại gặp mặt Thắm trong một căn nhà tranh tồi tàn ở khu căn cứ. Nhìn thấy anh, Thắm vội quay mặt đi, chẳng chào cũng chẳng hỏi. Dù đã chủ động sắp sẵn bao nhiêu câu nói trong đầu, nhưng bây giờ nhìn thấy Thắm như vậy, tự nhiên Đỗ Ninh quên sạch. Anh cứ đứng trơ như phỗng. Giá như cô ấy cứ mạnh bạo như cái hồi gặp anh lần đầu bên bờ sông Sặt ấy, ăn miếng, trả miếng thì anh cũng không thiếu ngôn từ. Đằng này cô ta chỉ khóc, làm anh bối rối quá chừng. Phải đến 5 phút biến thành ông phỗng Đỗ Ninh mới lấy lại được tự chủ. Anh nói nhẹ nhàng: - Gặp tôi sao cô lại khóc? Tôi đã làm gì phật ý cô sao? Vậy tôi đi về nhá! Thắm càng khóc to hơn. Đỗ Ninh bỗng thấy lòng nhẹ nhõm, anh bước lại phía cô, nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh, giọng nói chan chứa ân tình: - Thôi, cô đừng khóc nữa. Nếu tôi có thể chia sẻ điều gì với cô, tôi xin sẵn lòng. Cô cứ khóc mãi như vậy, ruột gan tôi cũng nẫu hết cả rồi. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:33:59 am Thắm ngẩng lên, với đôi mắt sưng mọng, nhìn anh vừa như yêu thương, vừa như giận dữ. Cô nói trong tiếng nấc:
- Anh...cũng...khuyên em lấy hắn phải không? Đỗ Ninh lúng túng thật sự: - Lấy...lấy ai? Rồi kịp nhớ ra nhiệm vụ của mình, anh trút một hơi thở dài buồn thảm: - Thôi thì... nhiệm vụ trên giao em ạ. Anh không dám khuyên em lấy ai, chỉ khuyên em nên hoàn thành nhiệm vụ. Bọn anh đánh nhau với giặc, chẳng may phải hy sinh tính mạng thì cũng chẳng nề hà...Em cứ nghĩ xem. - Nếu là chết thì em không ngại đâu, đằng này... anh chẳng hiểu gì cả!... Và Thắm lại ôm mặt nức nở khóc. Đỗ Ninh muốn ôm chặt Thắm vào lòng mà nói rằng: Anh hiểu chứ, anh hiểu em không muốn hiến dâng thân thể mình cho kẻ thù, cho người em không yêu, nhưng đó là nhiệm vụ. Nhưng Đỗ Ninh không dám động vào người Thắm, anh cứ ngồi ngây nhìn cô. Rồi anh muốn đứng lên chạy nhanh ra cửa để thoát khỏi cái cảnh trớ trêu này, nhưng không hiểu sao anh lại cất giọng tha thiết: - Cô Thắm ơi, tôi về nhá! Thắm ngẩng lên, gặng hỏi như tiếc nuối: - Anh không nói gì với em ư? Lúc này Đỗ Ninh mạnh dạn hơn. Anh nắm lấy tay Thắm, bóp chặt: - Thì anh đã nói ban nãy rồi thôi! Em cứ nên hoàn thành nhiệm vụ! Một bàn tay nhỏ của mình, nằm trong bàn tay to bè, cứng như thép của Đỗ Ninh, Thắm cảm thấy như trút được gánh nặng vô hình. Trong lòng cô chợt như có tiếng nhạc vui leng keng, réo rắt. Cô để yên bàn tay đó, âu yếm nhìn chàng trai lý tưởng của mình, nói dụt dè như ước hẹn: - Sau này em... có được gặp lại anh nữa không? - Mọi người sẽ vui mừng chào đón em hoàn thành nhiệm vụ trở về. - Em biết là mọi người sẽ chào đón em, nhưng còn anh thì sao? - Tất nhiên anh cũng sẽ vui mừng được gặp lại em. Thắm nhè nhẹ rút bàn tay mình ra khỏi tay Đỗ Ninh, hỏi lại bằng một giọng lạnh lùng: - Anh vui phải không? Đỗ Ninh không hiểu được sự chuyển đổi thái độ đột ngột của Thắm. Anh lại rơi vào trạng thái lúng túng, liều trách móc: - Sao Thắm lại hỏi anh như vậy nhỉ? Em hoàn thành nhiệm vụ trở về, anh không vui thì sao? Thôi, em tha cho anh, đừng hỏi những câu hỏi như thế. Anh vụng về lắm, không làm em vui đâu! Thắm vẫn lạnh lùng như vậy: - Em hiểu anh mà. Thôi, coi như anh đã hoàn thành nhiệm vụ, anh về đi. - Thế em giận anh hay sao? - Không. Em hiểu anh rồi. Anh cứ về đi, ngày mai em sẽ đi làm nhiệm vụ. - Anh muốn nói với em là, sau này nếu em bằng lòng, chúng mình sẽ ở cùng nhau. - Được rồi, anh cứ về đi. Em cũng mong có cái ngày ấy! Đỗ Ninh ra về, cũng không hiểu mình có làm tròn nhiệm vụ hay không. Ngay từ đầu anh đã không muốn có cuộc gặp này. Bây giờ anh càng không muốn. Cuộc gặp này chỉ để lại trong lòng anh một nỗi buồn. Chẳng biết Thắm có hiểu đúng lòng mình không? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:34:47 am Thắm trở thành vợ của tên đồn trưởng Kỳ Lâm một cách nhanh chóng. Tên này say mê Thắm từ mấy tháng trước rồi. Lúc ấy Thắm nhận nhiệm vụ giác ngộ và lôi kéo hắn. Nhưng hắn là một tên quá tỉnh táo và cũng quá khôn ngoan. Hắn không ngả về kháng chiến và nhất định muốn lấy Thắm làm vợ. Vì muốn cài được một nội ứng trong đồn, nên cấp trên quyết định để Thắm nhận lời làm vợ hắn. Tên này đã có vợ ở quê mãi trong Ninh Bình, còn ở đây, hắn gây nhiều nợ máu với dân, nên Thắm được giao nhiệm vụ, sau khi thành vợ hắn thì phải tìm cách giết hắn, rồi mở cổng đồn cho quân ta tiến vào. Sau cuộc gặp gỡ với Đỗ Ninh để chấm dứt mối tình thầm kín và lãng mạn, Thắm đã vui vẻ nhận lời làm vợ tên đồn trưởng khét tiếng gian ác này.
Suốt ba tháng trời dầm mình trong khoái lạc và đau khổ, Thắm đã có thai, cô không quên nhiệm vụ nhưng lựa mãi mà chưa có dịp. Tên đồn trưởng này không phải người mềm yếu, nếu để hắn phát hiện ra Thắm là người của Việt Minh thì chắc chắn mạng sống của Thắm cũng khó giữ, và dân vùng này sẽ chịu oan gia, bởi vậy cô phải cẩn thận giấu mình và chọn thời cơ thích hợp. Bên ngoài giục giã quá nhiều. Hôm nào cô ra chợ cũng có người đến nhắc nhở. Tên đồn trưởng này tỏ ra yêu quí Thắm một cách nồng nhiệt, dù đi đâu, dù chỉ huy chiến trận, hay làm việc với các quan Tây mãi Hải Dương, Hải Phòng, đêm nào hắn cũng trở về hoan lạc cùng Thắm. Ra tay giết hắn kể chẳng khó gì, chỉ cần một mũi dao nhỏ sau lúc truy hoan là hắn đi đời. Nhưng mà ngay từ đêm đầu tiên, Thắm đã biết mình không thể làm được việc ấy. Dù là giặc, nhưng hắn vẫn là một con người, danh chính là chồng Thắm, hắn đã vuốt ve, ôm ấp, hôn hít thân thể Thắm. Thắm đã tự nguyện lấy hắn, chứ đâu phải hắn cưỡng ép gì, làm sao Thắm có thể ra tay. Hôm ấy, nhận được lệnh từ bên ngoài, phải xoá sổ cái đồn này, vì chúng án ngữ giữa đường Năm với khu căn cứ du kích của ta, cản trở nhiều hoạt đọng của bộ đội ta phối hợp với chiến trường chính. Mặt khác, chúng lại mua chuộc, lôi kéo được nhiều giáo dân ủng hộ quân Pháp, làm cho cuộc kháng chiến thêm phức tạp. Thắm nhất định phải khẩn trương hành động. Hơn nữa, Thắm nhận ra mình đã có thai hai tháng rồi, nếu không hành động bây giờ thì sau này khó khăn hơn. Sáng ấy đi chợ Thắm nhắn ra ngoài: đúng 12 giờ đêm, tôi sẽ mở cổng đồn, mọi người phải xông vào ngay, chậm hơn hoặc sớm hơn là không được. Tối ấy Thắm bảo với chồng: - Đêm nay anh vào trong nhà thờ mà ngủ. Em đi chợ thấy người ta kháo nhau, Việt Minh về vùng này đông lắm. ở trong đồn chẳng an toàn đâu. Tên đồn trưởng rất tự tin, hắn nói cứng: - Em đừng lo. Chúng chẳng làm gì được anh đâu. Em cũng biết trong đồn có lối riêng thông sang nhà thờ còn gì. - Biết rồi. Nhưng bây giờ bộ đội Việt Minh họ mạnh lắm, không như ngày xưa đâu. Nghe nói họ có loại mìn gì đó, ném một cái là sập lô cốt ngay. Nhỡ họ ném vào, liệu anh có chạy kịp không? - Ôi dào, chuyện vặt. Bọn Việt Minh doạ được em chứ sao doạ được anh. Thôi, đừng nghĩ gì nữa, đi ngủ nào. Thắm miễn cưỡng lên giường. Trong lúc ôm chặt lấy hắn, Thắm thẽ thọt: - Em có thai rồi đấy! - Thật hả? Thế thì tốt quá! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:35:50 am Và hắn tiếp tục hành lạc một cách cuồng nhiệt hơn, mạnh mẽ hơn. Thắm cố chịu đựng, chờ đến lúc hắn mệt rũ, lăn xuống ngủ, cô nhẹ nhàng ngồi dậy. Cô cũng mệt rã rời, nhưng xem đồng hồ thì đã gần mươi hai giờ nên Thắm phải cố gượng gạo đi ra cổng. Người lính gác đang ngủ gà ngủ gật, thấy bà đồn trưởng đi ra, hắn sợ hãi đừng nghiêm. Thắm nói với hắn:
- Ngài đồn trưởng đang mệt, cần một ít nước nóng. Anh để cổng tôi trông cho, đi đun hộ tôi ấm nước. Tên lính gác vâng lời, đi ngay. Thắm vội mở cổng, ngay lập tức, những bóng đen lố nhố tiến vào. Thắm thở phào nhẹ nhõm vì đã làm xong nhiệm vụ trên giao. Nhưng rồi cô lo lắng cho tính mạng của chồng. Họ mà bắt được thì hắn không còn đường sống. Cô chạy vội về phòng đánh thức chồng dậy. Tên đồn trưởng vừa hành lạc xong, đang trong cơn mê mệt, hắn nói: - Để yên cho anh ngủ mà, mọi việc hãy đợi đến mai. - Việt Minh vào chiếm đồn rồi, anh không chạy mau thì sẽ mất mạng đấy! Hắn chồm dậy vơ vội đống quần áo nhàu nát trùm lên người, giọng hốt hoảng: - Cái gì? Việt Minh vào đồn à? lính gác đâu? - Em không biết. Anh chạy nhanh kẻo không kịp. Nghe những tiếng bước chân rậm rịch bên ngoài, tên dồn trưởng hiểu ngay ra sự nguy hiểm đang chờ hắn. Hắn vội vã lao ra con đường dẫn đến nhà thờ. Thắm chạy theo: - Đợi em với chứ. Anh đi một mình sao được! Nói như vậy vì Thắm biết rằng bộ đội sẽ chặn con đường ấy đầu tiên. Quả nhiên hai chiến sĩ đã chốt ở đó. Họ giơ mũi lê nhọn hoắt chặn ngang trước mặt, quát: - Chạy đi đâu? Giơ tay hàng thì sống, chống cự là tao đâm chết! Trên đồn trưởng ngơ ngác, không kịp hiểu tại sao lại có người dám chặn trước mặt hắn ở con đường riêng này, lại còn doạ giết hắn nữa. Thắm vội vượt lên trước, nói như kêu cứu: - Các ông ơi, tôi là Thắm đây. Tên đồn trưởng nó chui xuống chiếc hầm bí mật ở đằng kia rồi. Cái hầm ấy lại có lối thông ra bên ngoài. Các ông theo tôi lại đó bắt hắn nhanh, kéo hắn chạy mất. Còn đây là tên lính gác cổng, hắn đã xin hàng từ đầu rồi, để hắn chặn giúp cái cổng này một lúc. Các ông đi theo tôi nào, nhanh lên! Nói vậy rồi Thắm quay người lại, đẩy chồng lên phía trước, nói nhỏ vào tai anh: - Chờ họ đi khuất rồi, anh hãy chạy nhanh đi nhé Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:36:44 am Hai chiến sĩ bộ đội vội đi theo Thắm để bắt tên đồn trưởng gian gác. Tưởng cô biết căn hầm bí mật, nào ngờ cô cứ đi loanh quanh trong mấy căn phòng của chỉ huy đồn. Rồi cô dừng lại ở căn phòng ngủ của mình và khóc nức nở. Khi các chiến sĩ Việt Minh hiểu được sự việc thì tên đồn trưởng đã thoát thân từ lâu. Họ nhìn Thắm vẻ oán trách, rồi họ đi tìm người chỉ huy đến. Chỉ huy trận này chẳng phải ai khác mà chính là Đỗ Ninh. Anh đề nghị tỉnh đội cho anh đánh đồn này, cũng là để trực tiếp cứu Thắm ra khỏi vòng tay của tên đồn trưởng gian ác, đồng thời anh cũng muốn tự tay mình trừng trị hắn, ít ra thì cũng phải cho hắn vài cái bạt tai cho bõ tức. Nhưng khi vào đồn, anh lại đổi ý. Anh chỉ huy cánh quân tạt sườn, giao cho đồng chí đại đội phó đánh chiếm hướng chính diện.
Khi Đỗ Ninh đến thì Thắm thôi không khóc nữa. Trước sau cô chỉ nói với anh mỗi một câu: - Tôi đã tự ý thả cho tên đồn trưởng thoát, xin chịu trách nhiệm với cấp trên. Bây giờ chiếm được đồn rồi, anh cứ coi tôi như một tù binh ở đây, muốn xử trí thế nào thì cứ việc. Đỗ Ninh những muốn mắng cho Thắm mấy câu, đồng thời lại muốn an ủi cô. Nhìn căn phòng ngủ của tên đồn trưởng, mọi đồ dùng đều sang trọng, nhất là đống chăn gối còn nguyên dấu người nằm, Đỗ Ninh cảm thấy bực dọc một cách khó tả. Anh không muốn dẫn quân vào hướng chính, cũng là vì không muốn nhìn thấy cảnh này, vậy mà... Mãi sau anh mới nói được mấy câu, chẳng ra mắng, cũng chẳng ra an ủi: - Cô đã tự ý thả hắn ra. Hắn đã thoát rồi, chắc chắn sẽ gây ra nhiều tội ác ở nơi khác. Điều ấy cô biết quá còn gì. Nhưng thôi. Dù sao cái đồn này bộ đội cũng đã làm chủ. Bây giờ cô muốn tự coi mình là gì, tuỳ ý. Mà thực ra cô vẫn là cấp trên, chúng tôi chỉ biết làm nhiệm vụ của mình. Nói xong anh cho mọi người phân tán, thu dọn chiến trường, bỏ mặc Thắm ngồi lại một mình trong căn phòng ngủ sang trọng, trên cái giường tân hôn còn bộn bề chăn gối. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:39:20 am Chương 28 Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơnevơ được ký kết, khu vực Hải Dương giặc còn đóng lại một trăm ngày. Nhưng tiếng súng thì hoàn toàn im hẳn. Đơn vị S20 còn một quả mìn cuối cùng chưa nổ trên đường Năm, Thường cùng anh em đào lên, mang về tháo hết thuốc nổ, chỉ giữ lại vỏ làm kỷ niệm. Các chiến sĩ được phân tán về nhiều đơn vị để nhận tiếp quản thành phố. Hoàn thành nhiệm vụ, Thường bắt đầu thực hiện lời hứa của mình. Đầu tiên, anh giặt lại bộ quần áo cũ rồi tìm về làng Rồng. Anh muốn hoàn lại và cảm ơn mẹ con, bà cháu người đã cứu anh. Đến nơi anh thấy một cảnh tượng lạ mắt. Một người đàn ông bị què chân vừa từ Côn Đảo trở về. Ông bảo ông được về theo chế độ trao đổi tù binh giữa ta và Pháp, nhưng trên người ông chẳng có một thứ giấy tờ gì, nên dân làng cũng chỉ biết có thế. Ông bảo ông ba mươi tuổi, nhưng trông ông thì phải ngang tuổi năm nhăm, râu tóc dài như thổ phỉ. Ông bảo cái chân què của mình là do bọn giặc ở bốt Tiền đánh gẫy, suýt nữa ông đã bỏ mạng rồi, nhưng may nhà còn phúc. Cái cô đóng giả làm vợ với Thường thì đang ngồi đầu hè rấm rứt khóc. Bà mẹ già thì vẫn nằm rên hừ hừ trên giường, không dậy được. Chỉ có cậu bé da đen chừng ba tuổi thì chạy nhảy tung tăng và bi bô chuyện một mình. Nhận lại bộ quần áo cũ, cái ông cụ non ấy mắt sáng long lanh. Anh ta hỏi thăm những anh A, anh B ở đại đội bẩy bẩy, nhưng Thường chịu, không biết ai cả. Anh ta mời Thường ở lại uống rượu, nhưng Thường không thể. Trước khi về Thường mạnh dạn hỏi: - Sao chị ấy lại khóc vậy? Có phải anh đã có vợ khác ngoài Côn Đảo rồi không? Anh ta cười, giải thích: - Không phải đâu. Cô ấy là đồng đội của tôi chứ có phải vợ con gì đâu? - Đồng đội à? Tôi thấy cô ấy ở đây lâu lắm rồi mà. - Ở thì ở chứ đâu phải người nhà. Chả là khi bị giặc bắt, tôi có nhờ cô ấy đến đây chăm sóc mẹ tôi. Cô ấy đã đến. Nếu không có cô ấy chắc mẹ tôi không sống được đến bây giờ. Quê cô ấy mãi dưới làng Vân, cạnh đường Năm cơ. Hôm qua tôi với cô ấy về quê, mới hay bà cụ sinh ra cô ấy đã mất được hai năm rồi. Cô ấy ở đây chăm sóc mẹ tôi thì ở nhà mẹ cô ấy mất. Thật là tội. À ra vậy. Thường cứ thấy ngờ ngợ về cái tên làng Vân. Làng Vân chính là cái nơi anh chiến đấu trận đầu tiên và là trận thất bại nặng nề. ở đó cũng có một cô gái đã cứu anh thoát chết. Rồi Thường trở lại làng Vân trước khi về nhà mình. Anh cũng chẳng hiểu làm sao. Có lẽ cái cảm giác lạ lùng trong anh gần đây lại bùng cháy. Anh muốn gặp lại cô gái kia trước khi gặp Bống. Anh hỏi thăm mãi mới vào đến căn nhà của bà Thu. Đúng rồi, bà Thu, còn người con gái tên là gì nào anh đâu biết. Thường hối hả đi vào và vẫn nhận ra cái bờ ao cũ, nơi có căn hầm đã che chở anh. Từ cổng vào sân cỏ dại đã gần như mọc kín. Chắc lâu lắm rồi chẳng có ai qua lại đây. Cánh cửa liếp mở rộng, Thường vừa đánh tiếng, vừa mạnh dạn bước vào thì đột ngột chạm trán Đỗ Ninh. Anh em họ ôm choàng lấy nhau, mừng mừng, tủi tủi. Rồi Thường hỏi trước: - Sao anh laị ở đây? - Nhà mình mà! thế còn cậu, sao cậu lại đến đây? Thường không dám trả lời ngay, anh ấp úng: -Em... ngày xưa... đơn vị em đóng quân ở đây! - Thế cậu ở nhà anh à? Thường gật đầu, hỏi khẽ: - Bà đâu hả anh? Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:40:29 am Đỗ Ninh bùi ngùi:
- Bà mất lâu rồi em ạ. Ngày còn quần nhau với giặc ở Thanh Miện, anh đã nhận được tin, nhưng không về được. Buồn hơn nữa là đứa em gái của anh đã bỏ nhà ra đi từ khi mẹ anh còn sống mà bây giờ chẳng biết ở đâu. - Em gái anh ư? Có phải cô ta... rất xinh? - Cậu biết nó ư?, gặp nó ở đâu? Từ lúc nó mười tuổi anh đã đi xa rồi, nào biết nó xinh hay không. Thường rụt rè: - Khoảng nửa tháng trước em có gặp một cô gái có hoàn cảnh giống như em anh. Không biết có phải cô ấy không. Nếu phải thì cô ấy đã cứu em thoát chết hai lần. - Cứu cậu à? Thế mà tớ chẳng biết gì cả. Tớ vẫn có ý tìm nó từ lâu. - Làm sao em biết đấy là em anh mà nói chuyện. Bây giờ anh chỉ cần đến làng Rồng, là gặp em anh ngay thôi. Thường đi rồi, Đỗ Ninh ra xã hỏi về tình hình gia đình anh lúc ở làng. Trần Ve lúc này đã là xã đội trưởng, không ngần ngaị nói thẳng với Đỗ Ninh: - Em gái anh trước đây có tham gia du kích và đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Nhưng khi bị đich bắt, không chịu được đòn tra tấn, nên đã ngả theo giặc, đã bán mình cho chúng và được chúng tha về. Cô ấy xấu hổ, trốn đi, nếu ở nhà thì tổ chức cũng xem xét, kỷ luật. Cô ấy đi rồi thì tổ chức xoá tên, không nhắc đến chuyện ấy đã là nhân nhượng với gia đình lắm rồi. Hôm trước cô ấy có về đây, tôi bảo, bây giờ làng xã giải phóng rồi. Chính quyền do chúng tôi nắm giữ. Cô còn nợ tổ chức một bản kiểm điểm để làm rõ. Thế là cô ấy lại bỏ đi. Và Trần Ve lấy trong túi dết ra một chiếc khăn bông của Pháp, vẻ đắc thắng: - Đây là bằng chứng chúng tôi có được. Cô Bẹ không thoả hiệp với chúng, không khai báo với chúng, sao chúng cho cô ấy đường, sữa và chiếc khăn đắt tiền thế này. Chiếc khăn này phủ trên người cô ấy khi anh Thân cõng cô ấy về nhà. Cả dân làng đều biết chứ đâu phải mình tôi. Không tin anh cứ hỏi mọi người xem. Sự thực chỉ có mỗi hộp sữa vợ Solny dúi vào tay Thân, rồi anh ta vất lại đó, rồi bà Thu đã vất xuống ao, Bẹ có hay biết gì, nhưng Trần Ve cứ nói vanh vách như thế để Đỗ Ninh tin rằng Bẹ đã đầu hàng giặc. Đỗ Ninh buồn nản ra về. Anh ngậm ngùi thương cô em bé nhỏ phải chịu nhiều tủi cực. Bây giờ không biết em sống thế nào. Anh muốn đến ngay làng Rồng tìm em, nhưng còn phải về đơn vị gấp để lên khu nhận tiếp quản thành phố Hải Phòng. Thời hạn ba trăm ngày Pháp lưu lại đã sắp hết. Đỗ Ninh còn buồn hơn nữa vì anh không gặp lại được Thắm. Sau khi ta chiếm được bốt Kỳ Lâm, Thắm về khu ba và xin thôi công tác. Nghe nói cô chính là con một viên quan tuần phủ hồi trước cách mạng tháng Tám. Gia đình cô giầu có, nhưng một lòng yêu nước, gặp cách mạng là không làm quan cho Pháp nữa. Hồi kháng chiến bùng nổ, cô đang là sinh viên năm thứ nhất trường Bưởi, nói tiếng Pháp rất thạo. Cô nghe theo lời cha, đã bỏ học về quê tham gia kháng chiến. Cô đã xinh đẹp, trẻ trung, lại có học vấn, nên đã sử dụng làm nhiều việc quan trọng, có việc thuộc lĩnh vực ngoại giao, tình báo, giao thông liên lạc. Vì bất đắc dĩ phải làm vợ tên đồn trưởng Kỳ Lâm và có thai với hắn, nên Thắm muốn về quê sống yên tĩnh để sinh con. Cái tên đồn trưởng kia lần ấy thoát chết, hắn trú ngụ mãi trong nhà thờ, không dám ra ngoài. Mãi đến khi ngừng bắn, hắn đã tìm được Thắm và định đưa Thắm vào Nam, nhưng nàng từ chối. Thắm ở lại một mình ở đâu đó mà Đỗ Ninh không biết được. Anh định bụng xong việc quân sẽ đi tìm cô. Chưa biết Thắm có chịu gặp anh không. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:41:43 am Còn tên Đội Hai thì số phận bi thảm hơn. Hắn lang thang lên mạn ngược mấy tháng trời, cuộc sống chui lủi quá vất vả, hắn bỗng nghĩ đến quả táo mọng cùng đứa con trai của hắn ở làng Vân. Hắn cho rằng không còn nơi đâu trú ngụ tốt hơn ở đó. Thế là đang đêm hắn lẻn về cái nhà ngói năn gian bỏ không đó, rồi mò vào giường của thím thằng Thân. Lâu quá không được gặp hắn, không được hưởng cái sự sung sướng của đàn bà, thím thằng Thân mừng quýnh và chấp nhận giấu hắn luôn ở đấy. Người chồng tàn tật lúc này như cái xác không hồn, chẳng làm gì được đôi gian phu dâm phụ ấy. Hoà bình, hắn mò về quê, lì mặt bước vào ngôi nhà hắn đã bắn thằng em trai của hắn, rồi ở lại với người vợ đã lấy hắn từ hơn mười năm trước. Sống yên ổn được mấy năm thì bỗng nhiên hắn phát rồ. Suốt ngày đi lang thang ngoài đường, gặp con cóc, con ngoé hoặc bất cứ con gì bắt được là hắn bắt và cứ thế ăn sống ngon lành. Có lúc một mình hắn đứng giữa đường hô " tiến lên! tiến lên " rồi lăn kềnh xuống ruộng, trông rất tội nghiệp. Vợ con hắn có mời thày thuốc, nhưng thày thuốc bảo rằng bệnh của hắn ở sâu trong tâm can, không thuốc nào chữa được. Hắn sống lang thang, vất vưởng như vậy đến chục năm sau mới thoát được số kiếp.
Sau ngày tiếp quản Hải Phòng, Đỗ Ninh nằm trong danh sách được gửi đi đào tạo ở nước ngoài, nhưng tổ chức về địa phương xem xét lý lịch gia đình thấy có vấn đề nghi ngại. Em gái anh có biểu hiện đầu hàng giặc, hiện lại đang nuôi một thằng da đen, dòng giống của Tây, người thì bảo là em, người thì bảo là con, không rõ ràng. Tuy không phải những việc Đỗ Ninh trực tiếp làm, nhưng cho anh ra nước ngoài thì cũng ngại. Vì vậy anh được trở về tỉnh đội Hải Dương, mấy năm sau thì xuất ngũ. Trở về làm một người dân bình thường, Đỗ Ninh đã bỏ ra hàng tháng trời đi thăm lại những nơi anh từng giao tranh với kẻ thù, vừa để thăm lại bà con đã che chở cho anh, vừa có ý tìm tung tích Thắm. Mấy năm ở tỉnh đội anh đã nhiều lần lên khu Tả ngạn, rồi xuống các cơ sở dò tìm nhưng chẳng một ai biết gì về Thắm, có lúc anh nghĩ, hay Thắm theo tên đồn trưởng ấy vào Nam rồi. Sau một thời gian ổn đinh, dọn lại căn nhà tàng và mảnh vườn hoang dại, Đỗ Ninh kết hôn với một nữ du kích xã. Cô này kém anh đến gần mười tuổi, thuộc lớp du kích trẻ, gần hoà bình mới tham gia hoạt động, cô không biết gì về những chuyện trước kia. Và những chuyện trước kia cũng dần được chìm vào im lặng, nhường chỗ cho cuộc sống mới thanh bình và nhộn nhịp mỗi ngày. Đỗ Ninh tự bằng lòng với cuộc sống hiện tại với người vợ thảo hiền, một đứa con trai kháu khỉnh, một mái nhà tranh không dột nát như xưa, mặc dù trong lòng vẫn còn cánh cánh những nỗi niềm: Thắm biệt tích và người em gái nhất định không chịu về sống ở quê. Một hôm vợ chồng anh đang lên luống trồng mía trong vườn, bỗng nghe có tiếng ồn ào ngoài ngõ, nghe rõ những tiếng nói: - Ông Thân về quê! - Bác Thân về quê! Rồi cả những tiếng láo pháo: - Thân là lính lệ ở trên đồn mà bây giờ lại đội mũ đeo sao, hoá ra bộ đội à? Tò mò, Đỗ Ninh định chạy ra xem, nhưng anh vừa ra đến cổng thì người đội mũ đeo sao đó đã sừng sững đứng trước mặt anh. Đỗ Ninh nhìn rõ quân hàm trung uý trên ve áo người ấy. Sau vài phút ngỡ ngàng, hai người làm quen nhau nhanh chóng, bởi thuở nhỏ họ từng là hàng xóm. Đỗ Ninh gọi vợ đun ấm nước vối mang lên nhà để anh em họ hàn huyên. Thân nhìn trước, nhìn sau rồi ngập ngừng hỏi: - Cô Bẹ... còn ở nhà không, anh? Có lẽ đã lấy chồng rồi?! - Cậu biết nó à? - Sao anh lại hỏi thế, chúng em chơi với nhau từ thuở nhỏ mà! - Ừ phải. Nhưng là anh muốn hỏi giai đoạn sau này cơ. - Sau này em cũng biết. Chỉ từ năm năm mốt đễn nay, em đi khỏi làng nên không biết cô ấy giờ đây thế nào. - Cậu đi khỏi làng từ năm năm mốt ư? Vậy Bẹ cũng đi khỏi làng từ năm ấy đấy! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:42:56 am Rồi Đỗ Ninh chậm rãi kể cho Thân nghe về nỗi bất hạnh của em gái mình. Nghe xong, Thân buột kêu trời:
- Trời ơi là trời, nhầm lẫn hết rồi. Cô ấy có khuất phục ai đâu, còn đá ngã bổ chẩng ra ấy. Sếp của em lúc ấy là thằng Đội Hai, hung hăng như con trâu điên, dùng nhiều cực hình để khảo tra, mà cuối cùng cũng đành chịu. Sao lại để cô ấy chịu oan uổng như thế hả anh? - Tôi biết làm gì, trong khi cán bộ địa phương họ có chứng cứ, còn mình nào có biết đầu đuôi ra sao. Có lần tôi cũng gạn hỏi cô ấy, mong hiểu được tường tận, nhưng cô ấy không nói rõ mà chỉ ngậm ngùi bảo:" Số em khổ, em đành chịu vậy ". Thân có vẻ sửng sốt: - Anh bảo địa phương họ có chứng cớ ư? Chứng cớ gì vậy?! Đỗ Ninh thuật lại việc Trần Ve còn giữ chiếc khăn bông của Pháp, yêu cầu Bẹ giải thích nhưng cô không giải thích nổi. Nghe đến đây thì Thân vặt đầu vặt tai mình. Anh tự thấy mình có lỗi trong việc bỏ đi từ bấy đến nay. Anh bỗng thấy thương Bẹ khôn cùng. Chừng ấy năm qua Thân âm thầm đau khổ, dù vẫn nhớ, vẫn yêu thương, nhưng nỗi trách giận vẫn canh cánh một bên lòng. Sao Bẹ lại rơi vào tay bọn quỉ? Sao Bẹ không hỏi lấy một lời, mà đã co cẳng đạp anh ngã nhoài trên cái nền nhà nhơ nhớp ấy? Sao bát cháo anh thổi nấu, rồi nâng niu suốt một đêm để rồi Bẹ đáp vào mặt anh?...Bây giờ biết Bẹ phaỉ chịu tiếng oan, Thân mới hiểu những giây oan luôn giăng mắc trong đời. Nếu con người không chịu tìm đến ngọn nguồn thì nỗi oan uổng sẽ thắt chặt suốt đời. Thân kể vắn tắt với Đỗ Ninh rằng khi bỏ cái bốt ấy ra đi, anh cứ nhằm hướng bắc, cứ nơi nào có rừng rậm thì đến. Mục đích chỉ là để lánh xa cái vùng quê đầy đau khổ của anh. Rồi một đêm mệt quá, lại lạ đường, anh ngã xuống một bờ suối vắng, tưởng chết tại đó. May sao gặp một đơn vị bộ đội hành quân qua, họ cứu sống anh và cho anh đi theo. Rồi anh được cầm súng cùng đơn vị đánh nhau với giặc. Trước đây anh hãi súng đạn lắm. Bây giờ anh chả sợ gì, chỗ nào nguy hiểm anh xung phong vào trước, nhiều lần anh lập công xuất sắc, được đơn vị phong quân hàm và bổ nhiệm chức vụ đại đội phó. Hoà bình, anh cưới một cô vợ xinh đẹp ở Thái Nguyên, nên không về quê ngay được. Nghe Thân kể lại chuyện Bẹ bị bắt, bị hành hạ ở trong đồn và cái khăn bông của đồn trưởng phu nhân, Đỗ Ninh chảy nước mắt ròng ròng, nhưng anh lại bật cười khùng khục. Tiếng cười nghe cay đắng và oán hận. Vài hôm sau Trần Ve đến tận nhà Đỗ Ninh xin nhận lỗi. Đỗ Ninh chỉ nói: - Mọi việc qua rồi, nhận lỗi mà làm gì! Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:44:04 am Thường ở lại tiếp tục xây dựng quân đội. Lúc ấy là năm 1960, anh chưa cưới Bống mà cứ giục Đỗ Ninh đi đón Bẹ về, cũng chưa ai biết anh có ý định gì. Còn Bẹ, dù đã nhận được giấy xác nhận thành tích đánh tầu do huyện đội ký và giấy phục hồi đảng tịch của Đảng uỷ xã nhưng cô vẫn không trở lại làng Vân. Cô viết thư cho Đỗ Ninh: " Anh ạ, em không thể về làng sinh sống nữa đâu, vì ở đây bà Di đã mất, người đồng đội của em bị giặc đánh què nay cũng đang phát bệnh, cậu em lai Tây còn rất nhỏ, chưa tự lập được cuộc sống của mình." Nghĩ ngần mãi rồi Bẹ lại viết thêm: " Nếu còn gặp anh Thân, anh nói là cho em xin lỗi về những chuyện đã qua, anh nhé. Em đã hiểu nhầm anh ấy." Viết thêm được những dòng ấy lòng Bẹ nhẹ nhõm hẳn đi. Hôm người chị dâu trẻ tuổi được chồng uỷ thác đến làng Rồng tìm Bẹ, kể lại đầu đuôi câu chuyện và đưa những giấy từ minh oan cho cô, Bẹ đã nằm khóc như mưa như gió mấy tiếng đồng hồ. Khóc vì uất ức và khóc vì thương cảm. Hoá ra người cứu cô lại là một phụ nữ Pháp xa lạ. Hoá ra người giúp mình thoát khỏi nanh vuốt của bọn quỉ dữ chính là Thân. Thì ra người Pháp cũng có những người tốt như mẹ cô nói. Ngày ấy mẹ bảo giữ lấy chiếc khăn bông đẹp để khi nào có dịp còn trả lại người ta, nhưng không ngờ mẹ lại ra đi sớm. Còn anh chàng Thân, anh ta luôn quí yêu Bẹ thì Bẹ biết rồi, nhưng hôm ấy Bẹ không biết là anh lại giúp cô, nên anh ta làm ơn mà lại mắc oán từ bấy đến nay.
Tính ra Bẹ đã ở nhà bà Di được mười năm. Mười năm cô âm thầm chịu đau khổ, ấm ức một mình. Phương ở Côn Đảo về đã hơn năm năm nhưng anh cũng không hề biết câu chuyện buồn đau của Bẹ. Anh vẫn nghĩ rằng Bẹ được chúng tha về, cô đã làm theo lời nhờ cậy của anh, đến làng Rồng chăm sóc người mẹ đau yếu của anh. Về nhà thấy mẹ anh gặp cảnh bi thương, anh càng cảm ơn Bẹ vô vàn, nếu không có cô thì chẳng biết mẹ anh ra sao. Anh nghĩ rằng công lao và tình cảm của Bẹ không gì bù đắp được, nhưng anh một mực cảm ơn Bẹ và giục cô nên về nhà để lấy chồng, bởi vì bản thân anh không còn khả năng để làm chồng nữa. Nhiều lần giục giã và nói dỗi dằn, mong Bẹ tự ái mà về quê tìm hạnh phúc riêng, nhưng cô không đổi ý. Có lần cô cũng nói dỗi: Nếu em ở đây làm vướng bận anh thì em sang hàng xóm trọ vậy. Em đến đây làm bạn anh chứ có định làm vợ đâu mà anh lo không thể làm chồng". Đến giờ được biết những chuyện oan khuất của Bẹ, Phương mới hiểu rằng mình vô tâm một cách phũ phàng. Từ đó anh không bao giờ muốn Bẹ về quê nữa. Những giấy tờ từ địa phương gửi đến, Bẹ cất kỹ dưới đáy chiếc hòm gỗ, chẳng mấy khi bỏ ra xem. Bẹ nghĩ rằng giấy tờ cũng chẳng làm gì, giờ đây mình chỉ mong ăn ở làm sao để anh Phương không buồn, cậu em Tây không tủi, còn mình thì luôn khoẻ mạnh, làm được nhiều công điểm cho hợp tác là mừng nhất. Một hôm ông Tư đến chơi nhà, vẻ thận trọng ông nói: - Nghe nói cô Bẹ trước kia đã từng là đảng viên, là du kích phải không? Bẹ muốn chối phắt, nhưng rồi cô lại nghĩ nếu không nói rõ ra thì người ta nghĩ rằng mình quá yêu anh Phương mà lăn xả vào nhà anh, hoá ra mình đi theo giai. Hoà bình đã lâu rồi, thừa nhận mình là du kích cũng chẳng sao. Nghĩ vậy, cô nói với ông Tư: - Đã có lúc cháu đứng trong tổ chức, nhưng tổ chức đã ngờ oan cho cháu, nên cháu phải bỏ quê đến đây. Bây giờ cháu chỉ muốn làm nông dân thôi. Cháu sẽ ở lại đây cùng sống với em Nhụ và anh Phương. Cháu là em gái anh ấy. Ông Tư có vẻ sởi lởi: - Ôi dào, sao lại là em gái. Trai chưa vợ, gái chưa chồng, ở trong một nhà thì cưới hay không cưới vẫn cứ là phu thê. Chúng tôi hiểu như thế đấy. Nhưng mà thôi, đấy là chuyện riêng của cô. Tôi nói chuyện khác cơ. Chúng tôi biết cô là một người giỏi giang, tháo vát lắm. Làng nào sinh ra cô mà lại để cô đi là đáng tiếc đấy. Với làng Rồng chúng tôi, cô đã góp nhiều công lao. Được biết cô đã đứng trong tổ chức, chúng tôi rất mừng. Có tham gia sinh hoạt với tổ chức nữa không là tuỳ cô, nhưng có điều này thì tôi phải góp ý. Nếu cô không lấy tư cách là đảng viên, là du kích chứng nhận cho cậu Phương đã từng là bộ đội, tham gia chiến đấu và bị giặc bắt tù đầy, thì không ai có thể chứng nhận cho cậu ta. Những người cùng đơn vị với cậu ấy giờ ở đâu cũng chẳng ai biết, hoặc hy sinh cả rồi, giấy tờ cậu ấy chẳng có thứ gì, vậy suốt đời cậu ấy chịu thiệt thòi, dù đã bị địch đánh cho tàn phế mà chẳng được thừa nhận công lao, thế có vô lý không? Bẹ như bừng tỉnh. Theo hướng dẫn của ông Tư, Bẹ làm đơn đề nghị lên, mong một ngày kia Phương được công nhận là người có công với nước. Tiêu đề: Re: Mùa lúa trổ đòng Gửi bởi: hoacuc trong 20 Tháng Tư, 2009, 09:45:34 am Từ ngày hoà bình lập lại, làng Rồng hàn gắn đau thương và nhộn nhịp xây dựng cuộc sống mới. Kiểm lại chín năm chống Pháp, làng có tám liệt sĩ, mười thương binh, còn dân làng vừa chết, vừa mất tích có đến ba mươi người. Mọi nhà dần ổn định, chỉ còn nhà anh Bẩy và nhà anh Phương xem ra nỗi đau vẫn thầm rỉ máu. Anh Bẩy một mình đơn côi, cha mẹ mất sớm, vợ con chạy tản cư rồi không thấy trở lại. Hoà bình đã lâu rồi, anh vẫn lầm lũi sống một mình có ý ngóng trông. Phương và Bẹ, không phải anh em, cũng chưa phải vợ chồng, lại thêm cậu bé Nhụ da đen mà lại là anh em ruột thịt. Tuy không có bố và mẹ mất sớm nhưng được anh chị chăm sóc tận tình nên Nhụ lớn nhanh và khoẻ mạnh khác thường. Mới mười một tuổi mà cậu cao bằng đứa trẻ khác mười lăm, mười sáu. Khi cậu mười lăm tuổi thì mọi việc nặng trong nhà hầu như cậu làm hết thay anh. Từ việc cày bừa, đến gánh phân, gánh lúa, cậu cứ làm băng băng. Thấy cậu em lao động chăm chỉ, Phương bớt buồn rầu. Có lúc anh nghĩ, cái hoạ đến nhà anh hoá lại thành may. May mà có Nhụ đỡ đần, nếu không việc đồng lại dồn hết lên vai Bẹ. ở trường luôn luôn Nhụ đứng đầu môn thể dục, chạy xa, nhẩy cao khó học sinh nào vượt cậu. Rồi cậu được tuyển vào đội bóng chuyền của xã, được đi thi đấu và giật giải nhiều lần. Xóm làng hãnh diện vì có một tuyển thủ xuất sắc. Những năm giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, thanh niên cùng lứa tuổi Nhụ hầu như ra chiến trường hết. Nhụ không được cái vinh dự ấy, mà chỉ biết chăm chỉ việc đồng. Dù khác màu da, nhưng cậu ngoan nết và chăm chỉ nên không ai thù ghét. Ngược lại, lứa tuổi thiếu niên hầu như bạn nào cũng yêu mến câu.
***** Sau ngày giải phóng miền Nam chừng một năm, một hôm làng Rồng ồn ã lên vì có tin một bà Việt kiều ở Pháp sắp về thăm quê. Người nọ hỏi người kia: - Bà nào thế nhỉ, con cháu nhà ai? Chi nhánh họ nào? Hỏi để mà hỏi thôi, nào có ai biết. Trưa hôm ấy có một chiếc ô tô màu kem chạy vào làng Rồng, rồi dừng lại trước cổng nhà ông Bẩy. Người nọ kháo người kia, chẳng mấy chốc mà cổng nhà ông Bẩy đã đông kín. Bà Việt kiều ở Pháp về còn trẻ lắm, cơ chừng chưa đến ba mươi tuổi, da rất trắng, nhưng tóc vẫn là tóc đen. Bà có vẻ ngơ ngác trước cảnh lạ, người lạ và sửng sốt khi người ta mời bà bước vào căn nhà tranh ọp ẹp của ông Bẩy. Ông Bẩy còn ngơ ngác và sửng sốt hơn. Gần ba mươi năm nay ông đợi chờ người vợ óng ả trong bộ áo tứ thân, chiếc khăn vuông mỏ quạ, cùng cô con gái nhỏ nằm trong chiếc địu màu nâu. Sao bây giờ người ta lại đưa đến đây người phụ nữ quí phái thế kia. Họ hàng của mình ư?Không có lẽ. Ông Bẩy đứng như trời trồng ở góc nhà, mặc cho mọi người ngoài cửa xôn xao. Người ta gọi bà Việt Kiều quí phái kia là Mari Đậu. Đang ngơ ngác nhìn đám đông, bỗng mắt Mari Đậu sáng lên khi nhìn thấy người thanh niên da đen. Cô ta có vẻ rất vui mừng xổ ra một tràng tiếng Pháp như bắn súng liên thanh. Anh chàng da đen chẳng hiểu gì, cũng nhe răng cười theo dân làng. Mari Đậu thất vọng, nói với người phiên dịch hỏi hộ rằng sao anh da đen này không biết nói tiếng Pháp. Nghe dịch xong, thanh niên Nhụ trả lời rất thản nhiên: " Vì tôi là người Việt Nam ". Mari Đậu là ai? thì ra cô chính là cô bé được người lính da đen già cứu thoát chết và đưa về Pháp ngày nào. Về Pháp, cô nghiễm nhiên trở thành con nuôi của ông bà SanĐa. Cô được nuôi dưỡng và học hành đến nơi đến chốn, đã trở thành tiến sĩ dân tộc học. Cô biết mình không phải là người Pháp, nên luôn có ý thức tìm lại nguồn gốc quê hương. Khi người cha nuôi sắp qua đời ông kể lại chuỵên đã nhặt được cô trong một trận càn ở vùng châu thổ sông Hồng. Ông có ghi lại ngày tháng và vẽ sơ đồ khu vực đi càn, cả câu chuyện cô chỉ thích ăn đậu nên ông gọi cô là Đậu, tên Pháp là Mari Đậu. Khi Việt Nam hết chiến tranh, cô đã đề nghị chính phủ hai nước tạo điều kiện để cô về quê hương tìm lại người thân. So sánh bản đồ và ngày tháng trận càn, cán bộ ngành thương binh xã hội xác định được quê hương của Mari Đậu chính là làng Rồng. Tìm danh sách làng Rồng chỉ có ông Bẩy là mất vợ, mất con nên người ta đưa cô về đây. Ông Bẩy vẫn không nói câu gì, nhưng khi cô Đậu đưa ra chiếc khăn vuông đen mà người bố da đen của cô trao lại thì ông Bẩy bỗng oà khóc. Mếu máo, ông nói " Đúng của cô Xoan vợ tôi rồi. Cô ấy đâu?". Biết rằng vợ mình đã chết nhưng ông Bẩy vẫn hỏi như thế. Cô Đậu không thể tin được người đàn ông gầy guộc đen đủi này lại là cha đẻ của mình, nhưng cô biết đó là sự thật. Ngần ngừ một lát, cô ôm choàng lấy ông. Từ đó ông Bảy như trẻ ra. Ông cảm ơn trời đất đã thương tình dun dủi để ông tìm được đứa con ruột thịt của mình, cùng với cả dân làng hôm đó hân hoan trong niềm vui tột độ. HẾT |