Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: UyenNhi05 trong 08 Tháng Năm, 2009, 11:20:37 pm



Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Năm, 2009, 11:20:37 pm
Tên sách: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ XIII - XIV)
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Năm xuất bản: 2003
Số hoá: ptlinh, UyenNhi05

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVNT4bia.jpg?t=1241795374)

Ban chủ nhiệm.

Thiếu tướng, PGS , TS . TRỊNH VƯƠNG HỒNG .
Đại tá, TS. LÊ ĐÌNH SỸ
Đại tá TRẦN BÍCH

Tác giả:

Trung tướng, GS, TS. ĐỖ TRÌNH (chủ biên)
Đại tá TS. LÊ ĐÌNH SỸ
Đại tá NGUYỄN VĂN NHÃ


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Năm, 2009, 11:22:40 pm
                                                   Đoạt sáo Chương Dương độ,
                                                   Cầm Hồ Hàm Tử quan.
                                                   Thái bình tu trí lực
                                                   Vạn cổ thử giang san.


                                                                                  Trần Quang Khải

                                                                   Dịch:

                                                    Chương Dương cướp giáo giặc,
                                                    Hàm Tử bắt quân thù.
                                                    Thái bình rèn trí lực,
                                                    Non nước ấy muôn thu.



LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Trong 200 năm tồn tại của mình, vương triều Lý đã có công lao to lớn đưa Đại Việt bước vào thời kỳ phục hưng vĩ đại. Nhưng do những mâu thuẫn trong nội bộ vương triều và trước yêu cầu của lịch sử, nhà Lý đã chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước cho nhà Trần một cách hoà bình bằng cuộc hôn nhân giữa hai dòng họ.

Vốn xuất thân bình dân từ gia tộc làm nghề đánh cá ở vùng hạ bạn cuối sông Hồng, nhà Trần hưng nghiệp đại diện xứng đáng cho dân tộc, tiếp tục đưa đất nước phát triển mạnh mẽ với hào khí Đông A huy hoàng trong lịch sử. 

Từ kinh nghiệm đau thương trong suốt 15 thế kỷ trước đó và xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, nhà Trần không ngừng phát triển mọi mặt tiềm lực đất nước, chăm lo xây dựng quân đội, sẵn sàng binh bị, củng cố quốc phòng, đối phó thắng lợi với các cuộc xâm lăng từ hai đầu đất nước, nhất là kẻ thù đến từ phương Bắc.

Đế quốc Mông Cổ là một hiện tượng đột xuất trong lịch sử nhân loại. Sau khi thống nhất quốc gia bằng các cuộc đấu tranh bộ lạc đẫm máu, trở thành Đại hãn Mông Cổ - Thành Cát Tư Hãn đã dốc toàn bộ binh lực và sức mạnh của đất nước vào cuộc chiến tranh xâm lược và nô dịch các dân tộc khác với một khát vọng điên cuồng, kéo thế giới vào cuộc chiến tranh khủng khiếp. Kết quả là một đế quốc rộng lớn từ Hắc Hải đến Thái Bình Dương ra đời và phát triển cường thỉnh đến tột bậc.

Sau khi thôn tính gần hết đất nước Trung Hoa, người Mông Cổ âm mưu tiêu diệt nhà Nam Tống và lần lượt chinh phục các quốc gia Đông á và Đông Nam á, cả các quốc gia xa xôi ngoài biển cả như Nhật Bản.

Để tiêu diệt nhà Nam Tống, Đại hãn Mông Kha cho quân đánh chiếm Đại Việt, vừa tạo bàn đạp bao vây vu hồi Nam Tống từ phía nam, vừa thực hiện kế ở lâu dài, phát triển tiến công xuống Đông Nam á.  Đội quân xâm lược đông chừng bốn vạn tên lần đầu tiên xâm lăng Đại Việt đã bị quân và dân nhà Trần đánh bại chỉ trong vòng một tháng - tháng Giêng năm 1258.

Kế đó Đại hãn Mông Kha tiêu diệt nhà Nam Tống, trực tiếp cai quản Trung Hoa rộng lớn bằng một triều đại mới - triều Nguyên. Nhà Nguyên là sự kết hợp giữa khát vọng phiêu hếu điên cuồng của người Mông Cổ và sự thâm hiểm của tư tưởng bành trướng Đại Hán - trở thành mối đe doạ thường trực đối với các dân tộc trong vùng.

Năm 1285, đội quân hỗn hợp Mông - Hán chừng 50-60 vạn tên đánh chiếm Đại Việt lần thứ hai với quy mô và cường độ ác liệt gấp nhiều lần cuộc xâm lược lần thứ nhất, bằng hai mũi trực diện từ hướng bắc, một mũi vu hồi từ Chăm pa đánh ngược lên nhằm nhanh chóng tiêu diệt nhà Trần.

Ý định chặn giặc từ biên giới không thành, Bộ Thống soái nhà Trần tổ chức rút lui chiến lược, làm thanh dã, tiến hành chiến tranh nhân dân rộng lớn, củng cố lực lượng và thực hành phản công chiến lược đuổi địch ra khỏi bờ cõi. Đây là cuộc kháng chiến khó khăn, ác liệt và dài nhất trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên.

Năm 1288, nhà Nguyên lại tổ chức xâm lược Đại Việt lần thứ ba với cách đánh thâm độc mới - đánh chắc, tiến chắc và chú trọng thủy binh. Bằng trận Bạch Đằng lịch sử, quân và dân Đại Việt thời Trần đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến, trong vòng 30 năm, đánh thắng liên tiếp ba cuộc xâm lược quy mô lớn của kẻ thù hung bạo nhất thời đại. 

Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần không chỉ đối phó với nguy cơ xâm lược đến từ phương Bắc mà còn phải lo phòng bị đối phó với các cuộc xâm lấn từ hai quốc gia phía nam và phía tây đất nước.

Ở giai đoạn hưng thịnh, nhà Trần đã xử lý khôn khéo các mối quan hệ với Chăm pa và Ai Lao, có lúc thì phối hợp giúp đỡ lẫn nhau, lúc quan hệ mềm dẻo để ràng buộc nhằm giữ yên biên giới và mở mang bờ cõi. 

Theo phân công biên soạn, tác giả tập sách gồm các nhà sử học quân sự, do Trung tướng, GS, TS. Đỗ Trình làm chủ biên. Sự thật lịch sử đã được các tác giả trình bày khái quát và sáng tỏ với nhãn quan quân sự ở tầm chiến lược. Vừa chú trọng trình bày diễn trình lịch sử, các tác giả vừa tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, binh chế quốc gia, các cuộc kháng chiến chống xâm lược, quan hệ quân sự ngoại giao với các lân quốc, khởi nghĩa nông dân, từ đó đúc kết tư tưởng, nghệ thuật quân sự, một số bài học lịch sử có giá trị lâu bền - cả thành công lẫn không thành công của vương triều Trần (thế kỷ XIII-XIV). 

Trong quá trình biên soạn, biên tập và xuất bản tập sách này, chúng tôi đã nhận được sự đóng góp rất tâm huyết của GS, TS. Trương Hữu Quýnh, PGS, TS. Nguyễn Danh Phiệt, PGS, TS. Nguyễn Quang Ngọc. Thay mặt Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và các tác giả, Nhà xuất bản xin được trân trọng cảm ơn sự cộng tác quý báu đó. 

Nhân dịp kỷ niệm 59 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 12 năm 2003
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA



Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 08 Tháng Năm, 2009, 11:33:28 pm
MỞ ĐẦU

Thế kỷ XIII, trong vòng 30 năm (1258 - 1288), quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần đã ba lần chiến thắng vẻ vang quân xâm lược Mông - Nguyên.  Đây là một một trong những giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt nhất của quá trình đấu tranh giữ nước và cứu nước của dân tộc ta.

Đế quốc Mông - Nguyên là thế lực xâm lược lớn mạnh nhất thời đó. Quân đội Mông Cổ đã giày xéo, khuất phục nhiều quốc gia ở châu Âu và châu Á, lập nên một đế quốc mênh mông từ bờ đông Hắc Hải đến bờ tây Thái Bình Dương.

Sau khi chúng thôn tính được Trung Hoa thì sức mạnh của đế quốc Mông Cổ được kết hợp với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, tạo thành một thế lực xâm lược cực kỳ to lớn và hung bạo, đe doạ độc lập, chủ quyền nước ta và nhiều nước phía Đông và Đông Nam châu Á. 

Những đạo kỵ binh Mông - Nguyên có khả năng cơ động rất cao, có sức đột kích mạnh mẽ, quen tung hoành ào ạt trên những chiến trường trống trải, bằng phẳng, nhanh chóng đè bẹp quân đội đối phương trong những trận giao chiến trực diện, là mối uy hiếp rất lốn đối với sự tồn tại của nhiều quốc gia.

Từ kinh nghiệm của dân tộc trong hơn một ngàn năm đấu tranh giữ nước trước đó, những nhà lãnh đạo đất nước ta thời Trần đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, kiên cường bất khuất, ý chí cố kết cộng đồng và trí thông minh sáng tạo trong cách đánh giặc, biết đánh giá đúng địch, ta, có những quyết sách đúng đắn bảo toàn được lực lượng, hãm kẻ địch vào thế bất lợi, tuyệt vọng và thua trận.

Qua thực tế ba lần kháng chiến thắng lợi, dân tộc ta đã từng bước xây dựng được một hệ thống những luận điểm quân sự tiên tiến vượt thời đại, mà đến nay có nhiều điểm vẫn còn giữ nguyên giá trị. Đó là luận điểm “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chúng chí thành thành”, “cử quốc nghênh địch”, “dĩ đoản binh chế  trường trận", “ngụ binh ư nông”, xây dựng quân đội “phụ tử chi binh”, “bạt dụng lương tướng”, “quân cốt tinh không cốt nhiều", v.v..

Từ những luận điểm đó, thời Trần đã hình thành một nền tư tưởng và nghệ thuật quân sự ưu việt, biết phát huy sức mạnh cả quân và dân, vận dụng thế thời, đề cao mưu lược, biết lui, biết tiến, tuỳ theo tình thế, biết căng kéo kẻ địch trong một thế trận cả nước đánh giặc, biết tập trung lực lượng đánh những đòn quyết định đúng hướng, đúng thời cơ để giành thắng lợi. 

Tổ chức lực lượng vũ trang thời bấy giờ mang những nét độc đáo của dân tộc, vừa có quân của các lộ, hương binh, thổ binh các làng xã, động bản, đánh địch tại chỗ ở các địa phương, tiêu hao và giam chân một lực lượng lớn quân địch, lại vừa có quân chủ lực tinh nhuệ của triều đình cơ động trong cả nước, phối hợp với quân địa phương đánh những đòn quyết định, từng bước chuyển hoá lực lượng và thế trận, giành thắng lợi cho cuộc kháng chiến.

Tư tưởng quân sự và tài thao lược, nghệ thuật dụng binh đó bắt nguồn từ nền văn hoá của dân tộc, một nền văn hoá lâu đời và tốt đẹp đã hun đúc cho dân tộc ta những giá trì tinh thần quý báu mà nội dung chủ yếu là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cố kết cộng đồng và trí thông minh sáng tạo của toàn quân, toàn dân ta.

Những nhà lãnh đạo vương triều Trần đã huy động được sức mạnh kháng chiến to lớn của cả dân tộc, đã biết cách sử dụng sức mạnh đó có hiệu quả nhất. Cho nên, chiến thắng của dân tộc ta thời đó là một điều tất yếu. Nó có ý nghĩa rất quan trọng không những đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ta mà đồng thời có ý nghĩa quốc tế quan trọng, tránh cho nhiều quốc gia trong vùng những cuộc xâm lăng đẫm máu của quân Mông - Nguyên.

Trong tập sách này, chúng tôi cố gắng thể hiện thực tiễn sinh động của cuộc đấu tranh giữ nước hào hùng của dân tộc ta thời Trần, một trong những giai đoạn lịch sử vẻ vang nhất trong bản anh hùng ca mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

*

*       *


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 12:53:35 am
CHƯƠNG I

NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN, ĐẾ QUỐC MÔNG - NGUYÊN VÀ NHỮNG CUỘC  CHINH PHỤC CỦA NGƯỜI MÔNG CỔ THẾ KỶ THỨ XIII

I. NƯỚC ĐẠI VIỆT NHỮNG CƠ SỞ GIỮ NƯỚC THỜI TRẦN


Đầu thế kỷ XIII, Vương triều Lý suy yếu, đất nước lâm vào cảnh loạn lạc bởi những cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các phe phái phong kiến. Kinh thành Thăng Long nhiều lần chìm trong biển lửa nội chiến và bị tàn phá nặng nề. Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.

Trong số các phe phái phong kiến lúc bấy giờ, thế lực họ Trần ở Hải ấp dần dần phát triển và trở thành lực lượng mạnh nhất mà người đại diện là Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ và Thái uý Trần Tự Khánh đã khống chế được chính quyền trung ương và chiến thắng các tập đoàn phong kiến cát cứ khác, thống nhất đất nước.

Đầu năm 1226, với sự kiện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Lý rời khỏi vũ đài chính trị; một vương triều mới thay thế - triều Trần (1226 - 1400).

Với sự thiết lập triều Trần, nước Đại Việt trải qua một giai đoạn phát triển mới. Về khách quan, điều đó phù hợp với nguyện vọng hoà bình, thống nhất của nhân dân và yêu cầu phát triển của lịch sử. Triều Trần trẻ trung thay thế triều Lý - một triều đại già cỗi đã mất hết sinh khí để lãnh đạo đất nước trong một bối cảnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Đó là lúc ở phương Bắc, đế quốc Mông Cổ đang phát triển như vũ bão, vó ngựa của những đạo quân viễn chinh người Mông Cổ đã chinh phục nhiều nước và đang đe doạ nghiêm trọng vận mệnh nhiều quốc gia, dân tộc. Đất nước ta vì thế, đang sắp bước vào một thử thách hiểm nguy trước hoạ xâm lăng. 

Vương triều mới đã cùng nhân dân Đại Việt khẩn trương bước vào công cuộc xây dựng đất nước, củng cố quốc phòng, chuẩn bị mọi lực lượng để sẵn sàng đánh giặc.

Thế kỷ XIII, nước Đạị Việt đang vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu đáng tự hào trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và trên cả lĩnh vực quân sự.

Sự phát triển về mọi mặt của đất nước là nền tảng của nền quốc phòng, có quan hệ lớn đối với các hoạt động quân sự cũng như thành quả của sự nghiệp giữ nước lúc đó.

1. Lãnh thổ quốc gia, vị trí địa lý quân sự

Nước Đại Việt thời Trần là một quốc gia độc lập, tự chủ. So với thời Lý, lãnh thổ Đại Việt thời Trần không mấy đổi thay. Về đại thể, Đại Việt bao gồm vùng lãnh thổ Bắc Bộ và một phần Trung Bộ ngày nay với trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá là Kinh thành Thăng Long vốn đã nổi tiếng từ hai thế kỷ trước.

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVNT4-DaiVietthoiTran.jpg?t=1241795471)

Phía bắc giáp với Trung Quốc ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) bấy giờ thuộc nhà Tống và nhà Nguyên đồng thời giáp với vương quốc Đại Lý (tức Nam Chiếu ) ở vùng Vân Nam 1. Phía đông là biển rộng bao la và các hải đảo. Phía tây giáp lãnh thổ cán bộ tộc Lão Qua (Lào). Phía nam giáp vương quốc Chăm pa (Chiêm Thành). 

________________________________
1. Nước Đại Lý (tức Nam Chiếu cũ) thành lập vào nửa đầu thế kỷ VIII Phía tây giáp ấn Độ, bắc giáp Thổ Phồn (Tây Tạng). Thế kỷ IX, Nam Chiếu từng đánh Tống Bình -  lỵ sở An Nam đô hộ phủ. Đại Lý bị người Mông Cổ đánh chiếm năm 1253 và mất năm 1257.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 12:58:07 am
Như vậy, Đại Việt như một bao lơn nhìn ra biển Đông, có vị trí địa lý quan trọng, nằm trên đường giao lưu từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, từ đất liền ra biển cả...  Sau hơn 1.000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, qua nhiều lần chia cắt, tách nhập, từ Nam Việt của Triệu Đà đến Giao Chỉ bộ thời Hán, An Nam đô hộ phủ thời Đường, một phần lãnh thổ phía bắc nước ta bị phong kiến Trung Hoa, bấy giờ là nhà Nam Hán chiếm giữ.

Từ khi Khúc Thừa Dụ nổi dậy (905), quyền tự chủ của dân tộc được lập lại trên phạm vi hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Các triều đại Ngô, Đinh,Tiền Lê và Lý kế tiếp nhau củng cố nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Biên giới phía đông bắc đất nước từng bước ổn định và đã khá rõ ràng, vùng biên giới giữa Vĩnh An (Móng Cái) với Khâm Châu và giữa Quan Lang (Ôn Châu) với Ung Châu đã được hai bên Tống, Việt kiểm soát 1.

Nhà Trần cũng như các triều đại trước, rất quan tâm bảo vệ non sông gấm vóc, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập, tự chủ của dân tộc. Vì thế, cương vực lãnh thổ phía bắc dưới thời Trần thường được ổn định. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh vì chủ quyền đất nước diễn ra thường xuyên và kiên trì của ông cha ta.

Phần lãnh thổ phía nam đất nước từ thời Lý là các châu Tân Bình và Minh Linh (Quảng Trị). Năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân (con vua Nhân Tông) cho vua Chiêm là Chế Mân. Chế Mân đem hai châu Ô và Lý dâng Đại Việt để làm sính lễ.

Hành khiển Đoàn Nhữ Hài được nhà vua cử vào Ô, Lý để hiểu dụ dân chúng, đặt quan cai trị, cấp ruộng đất cho dân, đồng thời đổi tên hai châu đó thành Thuận Châu và Hoá Châu (thuộc Thừa Thiên).

Sự phát triển đó đã củng cố thêm thế nước.  Lãnh thổ Đại Việt thời Trần đã trải dài từ Móng Cái đến miền Trung Trung Bộ, trong đó gồm cả đồng bằng, rừng núi và sông biển.

Sự cấu tạo lãnh thổ với rừng núi, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ và biển khơi cùng với sự phân bố cư dân khắp các miền đất nước có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc hành chính, quân sự cũng như các hoạt động quân sự thời đó. 

Bấy giờ xu hướng khai phá đất hoang để tăng thêm diện tích cư trú và canh tác ra vùng biển được tiến hành thường xuyên và trở thành quốc sách. Vua Trần cho phép các vương hầu, công chúa được quyền chiêu tập dân nghèo và những người lưu tán làm nô tì, đắp đê ngăn nước mặn để khai hoang vùng ven biển, lập các đại điền trang. Chính vì thế, vùng phù sa sông Hồng, sông Mã và các sông khác dần dần trở thành đồng bằng và xóm làng của người Việt.

Sách An Nam chí nguyên chép: “Xứ Giao Chỉ dân cư trù mật, đất không đủ cày, cho nên người trước đắp đê cao ở hai bên sông đề phòng nước lụt. Đất ở ven biển bị nước mặn ngập lấn vào, bọn quý tộc thế gia muốn chiếm riêng đất đó đều tự ý đắp đê để ngăn nước mặn rồi gieo trồng cày cấy bên trong, như thế là để yên dân và khai thác hết mối lợi của đất đai. . . Đê cao 3 thước rộng 5 trượng; đặt hà đê chánh và phó sứ để trông coi. . .  Từ đó thuỷ tai không còn nữa mà đời sống dân được sung sướng, đất không bỏ sót nguồn lợi nào” 2.

_________________________
1. Theo sử cũ, năm 1405, dưới triều Hồ, Hành khiển Hoàng Hối Khanh làm “cát địa sứ”, đã cắt 59 thôn cho nhà Minh. Đến giữa thế kỷ XVI, Mạc Đăng Dung đem các động Tự Lẫm, Cổ Sum, Liễu Cát, La Phù, Kim Lặc thuộc hai đô Như Tích và Chiêm Lãng hiến vua Minh.  Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “năm 1542, Mạc Đăng Dung cùng cháu là Văn Minh đem nộp các động Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm, Liễu Cát An Dương, La Phù của châu Vĩnh Yên trấn Yên Bang, xin nội thuộc vào Khám Châu” (T.IV, tr.31). Sách Khâm Châu chí chép: “Mấy châu ấy là đất của họ Hoàng người Việt Đời Minh Tuyên Đức, đất đó thuộc triều Lê, về sau Mạc Đăng Dung hiến vua Minh để cầu phong”.
2. Cao Hùng Trưng: An Nam chí nguyên, tài liệu dịch của Viện Lịch sử quân sự, tr.75.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 01:03:45 am
Nhờ phương thức đó mà lưu vực các sông lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã trở thành địa bàn cư trú chủ yếu của dân cư, là những vùng đất phì nhiêu, sản xuất nhiều lúa nhất thuở ấy.  Nước Đại Việt đã sớm quy tụ một cộng đồng dân tộc nhiều thành phần, trong đó đa số là người Kinh. Ở trung du và rừng núi là địa bàn sinh sống của các tộc người khác như Mường, Tày, Thái, Mèo, Nùng, Dao, v.v.. Họ cư trú thành các động bản do các thổ tù, châu mục hay các tộc trưởng có uy tín đứng đầu. Quan hệ giữa các dân tộc sống trên lãnh thổ Đại Việt là mối quan hệ đoàn kết, thân ái và bình đẳng. Khối thống nhất ấy được quy tụ vào chính quyền trung ương, với triều đình nhờ những chính sách “kimi” (ràng buộc lỏng lẻo) tiến bộ của nhà nước.

Sách Đảo di chí lược của Trung Quốc thời Nguyên có ghi: “Nước Đại Việt. . . đất rộng người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phần lớn phì nhiêu” 1. Sách An Nam chí lược cũng phản ánh: Nước Đại Việt có “dân cư đông đúc”. Và Dư đia chí của Nguyễn Trãi cho biết, thời Trần chia nước thành 12 xứ, viện quan dâng “sổ vàng”, hạng đại nam và trung nam có  4.900.000 đinh, hạng hoàng nam có 2.104.300 đinh 2.

Như vậy theo Nguyễn Trái, thời Trần, Đại Việt đã có trên 7 triệu đinh nam (?). Bấy giờ, do nhu cầu cần nắm vững nhân đinh để tuyển quân, bắt phu và thu thuế, triều đình nhà Trần đã quản lý chặt chẽ số dân bằng phương pháp lập sổ hộ tịch.  Tuy rằng sử sách xưa không ghi chép cụ thể dân số Đại Việt là bao nhiêu, nhưng có thể đoán rằng dân số nước ta thời Trần có khoảng 6 - 7 triệu.

Theo sử cũ, Đại Việt là một xứ sở phồn thịnh. Đó là một nước mà từ sớm đã thu hút thương gia ngoại quốc, như sách Tiền Hán thư chép: “Đất Việt ở gần biển, có nhiều tê, voi, đồi mồi, ngọc châu, ngọc ky, vàng, đồng, hoa quả, vải. Người Trung Quốc đi lại buôn bán phần nhiều trở nên giàu có” 3. 

Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng viết: “ở đó ruộng màu mỡ, cấy lúa trồng dâu và chăn nuôi đều thích nghi cả . . . Muối thì trắng như tuyết, cánh chim trả thì đỏ tía, đẹp mắt. Vàng thì có sẵn ở châu Phú Lương và Quảng Uyên.  Hạt trai sáng thì sẵn ở các xứ Vĩnh An và Vân Đồn. Còn san hô và đồi mồi thì sẵn ở trong biển” 4.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: “Nước Đại Việt là nơi đô hội ở phương nam; ruộng cấy lúa tốt, đất trồng dâu tốt, núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc, người ở đâu đến làm ăn buôn bán cũng làm giàu được cả” 4.
 
Một đất nước giàu đẹp lại nằm ở vị trí địa lý quan trọng thì không thể tránh khỏi con mắt nhòm ngó đầy tham vọng của những thế lực bành trướng xâm lược ở sát nách qua thế kỷ này đến thế kỷ khác.

Kinh nghiệm lịch sử hơn một nghìn năm trước đã được Phan Huy Chú khái quát như sau: “Cái tiếng phong phú ấy đồn đi xa nên Trung Quốc lúc nào cũng nghĩ cách chiếm lấy nước mình, đặt ra làm quận huyện để cai trị từ lâu rồi. Lúc chưa lấy được thì nghĩ cách để lấy, lúc đã lấy được thì không chịu bỏ ra nữa” 6.

Tham vọng xâm lược Đại Việt của các thế lực phong kiến phương Bắc không bao giờ dứt. Triều đại này, thế kỷ này chúng bị đánh bại thì triều đại sau trong các thế kỷ sau lại nuôi tham vọng xâm lược lớn.

Nhà Tống đã hai lần tiến hành chiến tranh để thôn tính nước ta (thế kỷ X và XI). Thế kỷ XIII, quân Mông - Nguyên ba lần xâm lăng Đại Việt. Chúng đã gây những cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc hao binh, tổn tướng, hy vọng mở đường tiến xuống phương nam, nhưng đều bị thất bại, để rồi như vua Nguyên Hốt Tất Liệt nói rằng: “Việc Nam chinh như đang ngứa ngáy trong tim ta”. 

Điều kiện về lãnh thổ, hoàn cảnh địa lý - lịch sử trên đây có những thuận lợi cư bản đối với công cuộc xây dựng đất nước, nhưng cũng đặt ra những thách thức và trách nhiệm nặng nề trong sự nghiệp giữ nước. Một đất nước luôn bị kẻ thù lăm le xâm lược, quấy phá thì hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn phải gắn liền với nhau. Điều đó đòi hỏi dân tộc ta, nhân dân ta càng phải thường xuyên cảnh giác, quan tâm xây dựng tiềm lực đất nước trên các phương diện để có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

____________________________
1. Xem Uổng Đại Uyên: Đảo di chí lược, trị phục trai toàn thư, T.3.
2. Nguyễn Trái: Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tr. 189.
3. Tiền Hán thư, q.28 hạ, tr.36.
4. Cao Hùng Trưng: An Nam chí nguyên, Sđd, tr.81. 
5. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, T.IV, tr.35.
6. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.35.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 01:05:56 am
2. Cấu trúc xã hội, chế dộ chính trị

Sau khi đánh thắng quân Tống (l075 - 1077), Đại Việt khẩn trương trong công cuộc xây dựng đất nước. Nhà Lý dưới các triều vua từ Lý Thái Tổ (1009 - 1028) đến Lý Anh Tông (1137 - 1175) đã đưa đất nước phát triển trên nhiều lĩnh vực, quốc gia thống nhất và chính quyền trung ương tập quyền được củng cố. Địa vị nước Đại Việt đối với các quốc gia láng giềng được nâng cao. Ở phía bắc nhà Tống phải kiêng nể. Các nước phía nam và phía tây thần phục, có quan hệ giao hiếu tốt.

Trên nền tảng vững vàng đã được xây dựng từ thời Lý, triều Trần tiếp tục công việc dựng nước, trước hết là củng cố quốc gia thống nhất, tăng cường lực lượng quốc phòng và phát triển kinh tế để lo đối phó với nạn ngoại xâm. 

Vào đầu thời Trần, chế độ trung ương tập quyền không những đã được khôi phục mà còn được tăng cường về mọi mặt. Nhà nước phong kiến Đại Việt là một hệ thững chính quyền bốn cấp bao gồm: triều đình trung ương, các lộ trấn, các phủ huyện, châu, các hương, giáp hoặc xã.

Triều đình trung ương là cư quan tập trung quyền lực cao nhất trên mọi hoạt động của đất nước, kiểm soát các địa phương thông qua hệ thống chính quyền các cấp và pháp luật của nhà nước phong kiến. Về nhà nước tập quyền, triều Trần cùng một tính chất với triều Lý, biểu thị một bước phát triển mới cao hơn và ở một trình độ cao hơn.

Trong bộ máy chính quyền nhà Trần, đội ngũ quan lại ngày đông đảo, gồm có quan trong (ở trung ương) và quan ngoài (ở địa phương), chia thành hai ban văn và võ, với đủ các chức vụ, tước hiệu và phẩm hàm khác nhau. Về hình thức, cơ cấu chính quyền Đại Việt có phần mô phỏng theo mô hình Đường - Tống, nghĩa là theo mô hình bộ máy quan liêu đông đảo từ triều đình đến địa phương.

Tuy nhiên, sự mô phỏng đó cũng chỉ theo một chừng mực nhất định, chẳng hạn, chỉ ở tên gọi các tước hiệu, phẩm hàm hay phẩm phục quan chức là giống, còn việc tổ chức, tuyển mộ, sắp đặt và sử dụng quan lại của Đại Việt có nhiều điểm khác biệt.

Tính độc lập, tự chủ ở lĩnh vực này thể hiện trên quan điểm của triều đình cũng như trên thực tế tổ chức. Sử gia Ngô Sỹ Liên viết rằng: “Triều thần (Trần) Minh Tông là Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh có ý muốn thay đổi chế độ quan lại. Vua nói: Nhà nước đã có phép tắc nhất định, Nam - Bắc khác nhau; nếu nghe theo kế của kẻ học trò mặt trắng trên đường tiến thân thì sinh loạn ngay” 1. Hoặc như vua Trần Nghệ Tông nói:“Triều trước dựng nước đã có pháp độ, không nên theo chế độ nhà Tống và Nam, Bắc đều là chủ của nước mình, không phải noi nhau” 2.

Bộ máy triều đình trung ương được tổ chức khá hoàn chỉnh. Dưới vua có tể tướng với chức thống quốc thái sư (như trường hợp Trần Thủ Độ) hay thống chính thái sư (đức việp) và sau được quy định thống nhất là bình chương sự, đồng bình chương sự, nhập nội hành khiển. Thân vương khi làm tể tướng được xưng là quốc công thượng hầu. Bên dưới là hàng quan văn quan võ, đứng đầu là một số trọng chức gồm tam thái và tam thiếu. Những cư quan chuyên trách mang tên các quán, các, sảnh, viện, cục, đài, ty.

Nhà nước trung ương tập quyền thời Trần được khôi phục và phát triển trên mọi phương diện. Sử gia Phan Huy Chú nhận xét rằng, bộ máy quan liêu thời Trần gồm “các chức quan trong và quan ngoài, lớn nhỏ đều có hệ thống” 3. Đó là hệ thống chính quyền gồm có các cơ quan hành chính và chuyên môn, đội ngũ quan lại được tổ chức, quản lý ngày một quy củ và chặt chẽ hơn.

Đó cũng là một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền phương Đông, đứng đầu là hoàng đế (vua), tiếp dưới là hệ thống quan lại chia thành hai ban “văn giai” và “võ giai” quản lý các cư quan hành chính, quân sự.  Hoàng đế (vua) đứng đầu triều đình, có quyền lực tối cao trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đất nước. Trong đó đáng chú ý là chức năng quân sự của hoàng đế.

Trong lĩnh vực này, hoàng đế Đại Việt thường ở cương vị như một thủ lĩnh quân sự của cộng đồng dân tộc, là người có quyền quyết định trong việc tổ chức, động viên và chỉ huy quân đội, điều hành các hoạt động quân sự của quân đội quốc gia. Khi có chiến tranh, nhiều khi hoàng đế hoặc hoàng tử đã trực tiếp “tự làm tướng” cầm quân đánh giặc.

_________________________
1. 2. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1967, t.2, tr. 145, tr. 158.
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, T.II, tr.8.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 01:06:53 am
Nhiều vị vua Trần đã thân chinh chỉ huy các đạo quân chinh phạt Chiêm Thành quấy phá biên giới, hoặc thực hiện các cuộc hành quân lớn đánh dẹp các thế lực chống đối. Thậm chí có những vị vua đã bỏ mình nơi trận mạc, như Trần Duệ Tông đã hy sinh trên đất Chiêm Thành năm 1377. Vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông là những vị vua anh hùng của các cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, đã từng xông pha trận mạc, từng đồng cam cộng khổ với dân và với binh sĩ.

Những vị đó vừa có học vấn uyên bác lại rất quan tâm xây dựng sự đồng tâm trong triều đình và cả nước. Vua Trần Anh Tông không ngại tuổi già đã thân cầm quân đi dẹp “giặc Ngưu Hống”.

Thông qua cương vị thủ lĩnh quân sự, vua muốn thể hiện chức năng và quyền uy của mình, đồng thời cũng để làm gương trước các quần thần, tướng sĩ. Ngay trong thời bình, các vua Trần thường xuống chiếu nhắc nhở các tướng sĩ không được lơ là việc phòng thủ quốc gia, phải chăm lo luyện rèn binh sĩ, đóng chiến thuyền và rèn đúc khí giới. Nhà vua thường đi kinh lý bốn phương để tỏ ý gần dân, tìm hiểu địa hình và chuẩn bị phương lược giữ nước.

Vua Trần Anh Tông biết Trần Quốc Tuấn ốm không thể qua khỏi đã đến thăm và lo lắng hỏi: “Nếu có điều gì chẳng may mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?” . . . Bảo vệ đất nước, chuẩn bị lực lượng và kế sách đánh phòng là một nhu cầu thường xuyên được những người đứng đầu triều đình hết sức quan tâm.

Tất nhiên, vua Trần cũng như các vua khác ở nước ta hay ở nhiều nước phương Đông khác đều coi mình là ‘thiên tử” (con trời), là người “thế thiên hành đạo” (thay trời trị nước). Trên danh nghĩa, vua là đại diện của thượng đế trước nhân dân, đồng thời cũng là người đại diện nhân dân trước thượng đế. Vua có uy quyền tuyệt đối trên các hoạt động xã hội, có quyền phong thần cho những người có công với nước, nhất là đối với những người anh hùng giữ nước được nhân dân thờ phụng. Đó chính là một đặc điểm phương Đông, là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền, giữa chính trị và tôn giáo.

Một nét nổi bật của vương triều Trần là các vua thường sớm nhường ngôi cho con rồi lên làm thái thượng hoàng, nhưng vẫn trực tiếp trông nom việc nước. Đây là một cách tập dượt cho vua con làm quen dần với việc điều hành đất nước khi vua cha còn sống, nhưng chủ yếu là để ngăn ngừa cướp ngôi, bảo vệ vương quyền. 

Sau vua là giới quý tộc, thân vương và công chúa có nhiều đặc ân, được phong nhiều chức tước cao và được giao những trọng trách, nhất là trong lĩnh vực quân sự, như các chức tiết chế quân sự, phiêu kỵ tướng quân, thượng tướng, đại tướng, v.v. chỉ huy các đạo quân lớn, phịu trách nhiệm một mũi tiến công, chỉ huy cấm binh bảo vệ kinh thành hay được quyền trấn trị ở các vùng quan trọng. Các vương hầu được phái đi trấn trị, kiểm soát các châu lộ chủ yếu, bảo đảm sự trung thành về mặt chính trị của địa phương đối với triều đình.

So với các triều đại trước, tầng lớp quý tộc, tôn thất triều Trần phát triển hơn và thể hiện vai trò của mình trong sự nghiệp giúp vua giữ nước. Rất nhiều trong số họ là những người tài đức nổi tiếng, những nhà quân sự lỗi lạc, những vị tướng tài ba, tiêu biểu như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn,Trần Quang Khải, Trần Nhật Quật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toàn. . .

Do thiên hướng thượng võ, quý tộc nhà Trần gần như nắm độc quyền chỉ huy quân đội. Các võ quan cao cấp hầu hết thuộc về quý tộc nhà Trần, nhất là trong giai đoạn đầu. Ngoài việc nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong triều chính, các vương hầu còn có quyền lực lớn ở những vùng mình trấn trị. Họ được phân phong thái ấp, có phủ đệ và được tổ chức đội quân riêng. Lúc thường họ sống ở phủ đệ, lúc hữu sự họ về Kinh đô.

Sử thần Ngô Sĩ Liên chép: “Chế độ nhà Trần, vương hầu đều ở phủ đệ riêng tại các hương, khi có triều yết thì về kinh, xong việc lại trở về phủ đệ. Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Hải Dương), Thủ Độ ở Quắc Hương (Hà Nam), Quốc Chấn ở Chí Linh (Hải Dương) . . . Đến lúc vào triều làm tể tướng mới thống lĩnh tất cả việc thiên hạ...” 1. 

Các vương hầu quý tộc được quyền trấn trị các vùng, có thái ấp, điền trang, phủ đệ và đội quân riêng chứng tỏ yếu tố phân tán vẫn còn tồn tại trong xã hội phong kiến thời Trần.  Tuy nhiên, yếu tố phân tán này luôn bị hạn chế bởi tính chất xã hội cùng với những chính sách ràng buộc của nhà nước tập quyền.Vương hầu có quyền thừa ấm, tức kế nghiệp được phong tước, nhưng không được tập chức. Họ không được thừa kế thái ấp.

___________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T.2, tr.32.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 01:09:07 am
Về nguyên tắc, ruộng đất ở thái ấp là quốc hữu, do nhà nước mà đại diện là vua quản lý. Trong nước, đại bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, giao cho làng xã quản lý, sử dụng, có nhiệm vụ nộp tô thuế. Như vậy, xu hướng tập quyền là xu hướng chủ đạo, mạnh mẽ trong xã hội thời Trần.

Chế độ phong kiến thời Trần mang đậm tính dân tộc, chịu ảnh hưởng của lễ nghi phong kiến phương Bắc, nhưng tính chuyên chế chưa cao, khoảng cách giữa vua và tôi, giữa quý tộc và bình dân chưa thật lớn. Lối sống sinh hoạt trong chốn cung đình còn thể hiện tính dân chủ của cộng đồng. 

Trần Thánh Tông cho phép các vương hầu, tôn thất xong buổi chầu vào trong cung điện và lan đình, cùng nhau ăn uống, hoặc khi tối trời không về thì đặt gối dài, chăn rộng cùng nghỉ liền giường với nhau, để tỏ tình thân ái, khi tổ chức lễ lớn, tân khách hay yến tiệc, mới phân biệt ngôi thứ... 

Trần Quốc Tuấn đã từng nói với các tướng sĩ: “Lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười” 1.  Điều đó chứng tỏ sự đồng tâm hoà thuận trong nội bộ chính quyền, làm tăng thêm sức mạnh của vương triều, tạo điều kiện cố kết nhân tâm trong cả nước, nhất là khi cần huy động nhân lực và đánh giặc.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Nguyên Phong (đời Trần Thái Tông - TG), giặc Nguyên sang cướp, vương hầu đem gia đồng và hương binh, thổ hào sung vào đội quân cần vương; việc biến năm Đại Đình 2, vương hầu lại đem dân thôn trang sắm sửa nghi trượng để đón vua mới. Như thế, chế độ nhà Trần cũng làm tăng thêm sức mạnh cái thế duy thành, bảo vệ đất nước” 3.
 
Tính chất quý tộc huyết thống hay quý tộc đồng tộc họ Trần là một nét nổi bật của vương triều Trần. Để bảo vệ vương quyền cũng như địa vị thống trị độc tôn của dòng họ, nhà Trần còn quy định những người trong hoàng tộc phải kết hôn với nhau.

Sự cố kết quan hệ họ hàng, tông tộc bằng những lợi ích chính trị và kinh tế có tác dụng thắt chặt tinh thần đoàn kết trong giai cấp thống trị. Điều đó cũng thể hiện trong lời nói của Trần Thái Tông với các tôn thất: Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông nên với anh em trong họ cùng hưởng phú quý. Tuy bên ngoài thì cả thiên hạ tôn thờ một người, nhưng bên trong thì ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. 

Tất nhiên, tính chất quý tộc huyết thống nói trên không phải hoàn toàn, bên cạnh đội ngũ quý tộc dòng họ, còn xuất hiện ngày càng đông và có vị trí ngày càng quan trọng tầng lớp quan liêu xuất thân từ nhiều thành phần xã hội khác nhau. 

Nhìn chung, tầng lớp quý tộc thời Trần là một đẳng cấp xã hội trẻ, đang độ phát triển. Xu hướng cát cứ của quý tộc chưa phải là hiện tượng phổ biến. Điều này khác hẳn với sự phát triển của các nhà nước phong kiến Tây âu cùng thời. Sự đối lập trong nội bộ chính quyền hoặc sự đối kháng giai cấp lúc đó chưa cao. Đặc điểm này tạo nên một không khí chính trị lành mạnh trong giới cầm quyền và trong cả nước nói không, tạo thế mạnh cho chính quyền, cho cả nước trong mối quan hệ nội bộ cũng như trước những thử thách ngặt nghèo cua ngoại xâm.

Bên cạnh tầng lớp quý tộc là bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương. Họ được cấp lương bổng. Năm 1236, nhà Trần quy định lương bổng cho các quan văn võ ở triều đình và địa phương. Tiền lương lấy vào thuế. Năm 1244, nhà nước lại quy định lương bổng một lần nữa, đó là một điều khác với triều Lý. Chế độ tuyển dụng vừa bằng khoa cử vừa tiến cử. Thể lệ thi cử thời Trần từ năm 1232 dần dần đi vào nền nếp chính quy. Tổ chức bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương của thời Trần chặt chẽ và tập trung hơn thời Lý.

Bộ máy chính quyền địa phương cũng được sắp xếp lại có quy củ và hệ thống chặt chẽ hơn, thống nhất hơn. Cả nước chia làm 12 lộ, đứng dầu là chức An phủ sứ. Riêng vùng Kinh thành Thăng Long được coi như một phủ đặc biệt. Năm 1265, chức quan đứng đầu Kinh thành được đổi làm kinh sư an phủ sứ, rồi kinh sư đại doãn.

Dưới các lộ có phủ, châu, rồi đến huyện hay hương và cuối cùng là xã. Mỗi đơn vị hành chính đều có cấp chính quyền tương ứng: phủ có chức trấn phủ sứ; châu có chức thông phán, thiên phán; huyện có lệnh uý, chủ bạ; xã có đại tư xã tiểu tư xã.

_________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T.2, tr.82.
1. Năm 1369, Dương Nhật Lễ cướp ngôi vua Trần, tôn thất nhà Trần đem quân đón Trần Phủ ở Đà Giang về giết Nhật Lễ, lập vua mới (tức Trần Nghệ Tông).
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T. 2, tr. 156.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 4: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ X
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 01:09:42 am
Trong cấu trúc xã hội thời Trần, hệ thống cộng đồng làng xã hương thôn đã đóng một vai trò khá quan trọng. Có thể coi đây là nền tảng, là cơ sở của cả cấu trúc, trong đó bao gồm đông đảo những người nông dân và các thợ thủ công, tức thành phần chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho công cuộc xây dựng sức mạnh phòng vệ đất nước.

Làng xã là những pháo đài xanh bất khả xâm phạm trong kháng chiến chống xâm lược.  Mỗi làng xã Đại Việt là một tế bào xã hội. Ở đó những hộ nông dân sống quần tụ, gắn bó trong mối quan hệ vừa thân tộc vừa láng giềng. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá chưa phát triển mạnh, các làng xã nông nghiệp còn tương đối khép kín, tự cung tự cấp.

Ở đây bên cạnh một hệ thống chính quyền cấp xã mang tính chất nhà nước gồm các xã trưởng, xã giám, các đại tư xã hoặc tiểu tư xã - những người đại diện của chính quyền nhà nước giữ việc làm hộ tịch, còn tồn tại song song một hệ thống quyền lực mang tính chất công xã cổ truyền dân cử, gồm các bô lão, những già làng, những tộc trưởng có uy tín cùng tham gia quản lý làng xã và có vai trò lớn trong việc động viên dân xã tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.

Dĩ nhiên, triều đình nhà Trần ngày càng muốn nắm lấy bộ máy quản lý các làng xã.  Khi đất nước thanh bình, khi nhà nước phong kiến còn thế hiện vai trò tích cực thì những người nông dân vẫn sống thuần hậu, chất phác và cần mẫn với công việc đồng áng, họ tham gia các nghĩa vụ đối với chính quyền như đóng tô thuế, lao dịch và binh dịch. Một bộ phận tham gia đội tuần đinh, dân binh làng xã. Họ là lực lượng vũ trang cư sở, tồn tại dưới hình thức “tĩnh vi nông động vi binh” (lúc yên là nông dân, lúc động là binh lính). Khi đất nước có chiến tranh, nông dân là lực lượng đông đảo nhất tham gia quân đội hoặc các đội dân binh đánh giặc tại chỗ, với ý thức “quốc gia hữu sự thất phu hữu trách” (khi đất nước có giặc thì người dân thường cũng có trách nhiệm), cùng đánh giặc giữ làng, giữ nước. 

Tầng lớp dưới cùng của bậc thang xã hội Đại Việt là nông nô, nô tỳ. Đây là di sản của xã hội cổ xưa. Đến thời Trần nông nô, nô tỳ phát triển tương đối mạnh. Lúc đó, tầng lớp quý tộc, địa chủ đang là lực lượng quan trọng ủng hộ chính quyền và đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, họ được nhà nước cho phép nuôi người phục dịch, chiêu mộ dân nghèo, người lưu tán khai phá đất hoang, lập các trang trại.

Hình thức kinh doanh nông nghiệp đó đã tạo ra tầng lớp lao động có địa vị thấp kém, bị phụ thuộc hoàn toàn về thân phận đối với chủ mình. Nông nô, nô tỳ là lực lượng sản xuất và phục dịch trong các trang trại, phủ đệ, nhưng khi cần họ trở thành lực lượng quân sự của các vương hầu, quý tộc, họ tham gia bảo vệ trị an và đánh giặc giữ nước.

Trong kháng chiến chống Mông - Nguyên, lực lượng gia nô, nông nô đã có những đóng góp đáng kể, nhiều chiến công của họ đã được lịch sử ghi nhận.

Trong xã hội thời Trần, mâu thuẫn cơ bản giữa nông dân và phong kiến, giữa quý tộc và bình dân, giữa nông nô và gia nô với chủ của họ luôn tồn tại. Song, trong buổi đầu khi vương triều Trần đang phát triển và nhất là khi cả dân tộc đang đứng trước sự đe doạ của ngoại xâm, những mâu thuẫn trên cùng với mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị có lắng xuống và về khách quan, điều đó có lợi cho nhà nước phong kiến thời Trần trong việc đoàn kết lực lượng, thực hiện “vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, nước nhà góp sức” đánh giặc.

Cùng với sự phát triển của chính quyền về mặt hành chính ỉa quá trình kiện toàn chức năng lập pháp và hành pháp của nó. Dưới thời Trần, các hoạt động lập pháp đã phát triển. Bên cạnh bộ Quốc triều thông chế gồm 20 quyển, xác định quy chế tổ chức chính quyền, nhà nước còn tổ chức biên soạn và nhiều lần sửa đổi bổ sung Hình luật - bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta.

Các bộ luật này đã thất truyền.  Tuy vậy, căn cứ vào các lệnh dụ của nhà vua hoặc các việc làm cụ thể được sử sách ghi chép, có thể nói rằng, luật pháp thời Trần đã đề cập đến nhiều lĩnh vực, trong đó có những chế định về quyền hạn và trách nhiệm của mỗi thành viên đối với xã hội, về nghĩa vụ binh dịch của các đinh tráng, về nghĩa vụ đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước, về chức năng của các loại quân trong việc bảo vệ chính quyền và biên giới Tổ quốc... Các hoạt động lập pháp càng ngày càng quy củ chứng tỏ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền thời Trần ngày một ổn định và hoàn bị để thực hiện tốt các chức năng của nó.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 03:21:11 pm
Công cuộc xây dựng đất nước thời Trần tiến hành trong hoàn cảnh nạn ngoại xâm luôn luôn là một nguy cơ trực tiếp.  Chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ, Đại Việt phải tiến hành liên tục ba cuộc chiến tranh giữ nước mà kẻ thù là thế lực bành trướng xâm lược lớn và hung bạo. Đó là chưa kể những lần nổi loạn hay những cuộc xâm phạm biên giới của thù trong giặc ngoài.

Do đó, để củng cố nền thống trị của nhà nước phong kiến độc lập, tự chủ và đồng thời để tăng cường lực lượng quốc phòng, sẵn sàng ứng phó với nguy cư xâm lược của nước ngoài, chính quyền nhà Trần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng lực lượng vũ trang của mình. Lực lượng vũ trang đó gồm có quân triều đình, quân địa phương các lộ, phủ, gia binh của các vương hầu và dân binh, hương binh các làng xã.

Lực lượng vũ trang thời Trần đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vương quyền và đã lập nhiều chiến công rực rỡ trong công cuộc đánh giặc, giữ nước. 

3. Những thành tựu trên lĩnh vực phát triển kinh tế

Sau khi thiết lập vương quyền, nhà Trần chăm lo xây dựng và phát triển kinh tế. Công cuộc xây dựng đất nước ngày một quy mô, có nhiều thành tựu, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển quốc gia phong kiến dân tộc.

Nước Đại Việt thời Trần đã trở thành một quốc gia văn minh, thịnh vượng nổi tiếng trong vùng Đông Nam Á.  Chính quyền phong kiến coi trọng nghề nông và đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp. Sức sản xuất vì thế được phục hồi nhanh chóng và tiếp tục phát triển.  Sức lao động và sức kéo trong nông nghiệp được nhà nước bảo vệ. Nông dân có ruộng công, xóm làng yên vui. Quân lính được thay phiên về tham gia sản xuất theo chính sách “ngụ binh ư nông” .

Đồng ruộng và thôn xóm mở rộng thêm bởi những công trình khẩn hoang của tơ nhân và của nhà nước. Quy mô của công trình khẩn hoang và thuỷ lợi ngày một lớn.

Năm 1248, triều Trần ra lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu nguồn đến bờ biển gọi là đê quai vạc. Hệ thống đê điều dọc sông lớn được tiến hành từ thời Lý, nhưng đến thời Trần đê sông Hồng và các sông lớn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ khá hoàn chỉnh. Chức hà đê chánh và phó sứ được đặt để quản lý và trông coi đê điều. Nhiều kênh ngòi được đào mới và khơi sâu thêm.

Sách An Nam chí nguyên cho biết: “Mỗi năm vào tháng Giêng, quan coi đê đốc thúc nhân dân phụ cận, không phân sang hèn già trẻ đều đi đắp đê. Chỗ nào thấp trũng thì đắp cao thêm, chỗ nào lở thì bồi đắp vào. Đến đầu mùa Hạ thì xong việc ấy là lệ thường hàng năm. Vào khoảng tháng Sáu, tháng Bảy, nước sông dâng to, đê sứ phải tự mình ra sức tuần hành, xem xét; gặp chỗ bị lở thì sửa chữa ngay, nếu lười biếng thì mất chức. Nếu để dân cư trôi đắm, lúa má chìm hại thì lường theo nặng nhẹ mà trách phạt. Từ đó, thủy tai không còn nữa, mà đời sống của dân được sung sướng, đất không bỏ sót nguồn lợi nào” 1.

Những thành tựu đó đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp. Sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu đã ghi lại rằng: “ở Giao Chỉ lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy vào giữa mùa Đông mà mạ vẫn mướn mượt” 2.
 
Hệ quả tất nhiên dẫn đến cuộc sống no đủ, một đòn bẩy không nhỏ tạo nên thế mạnh “thực túc binh cường” thời Trần.

Nhà nước khuyến khích khai phá đất hoang lập các trang trại lớn, vì thế các khu định cư và các vùng đất canh tác mới xuất hiện. Ở các lộ, chức đồn điền chánh và phó sứ được đặt để quản lý đôn đốc việc khẩn hoang.

Năm 1266, nhà vua xuống chiếu cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu tập dân nghèo không có đất làm nô tỳ, đi khai hoang ven biển, lập các điền trang. Sử cũng chép: “Trước đây các nhà vương hầu, công chúa lập điền trang ở ven sông thì đất phù sa mới bồi đều thuộc về người chủ” 3 hoặc “trước đây các nhà tông thất thường sai nô tỳ của mình đắp đê bối ở bờ biển để ngăn nước mặn, sau hai ba năm khai khẩn thành ruộng, cho họ lấy lẫn nhau và ở ngay đấy, lập ra nhiều ruộng đất tư trang” 4.

_________________________
1. Cao Hùng Trưng: An Nam chí nguyên, Sđd, tr.145. 
2. Trần Phu: An Nam tức sự, Cương trung thi tập, q.2.
3. 4. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.193. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 03:23:29 pm
Sự xuất hiện loại kinh tế điền trang này là điều đáng lưu ý, nó vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa quân sự. Các vương hầu quý tộc Trần được phép lập điền trang, xây dựng phủ đệ, các lực lượng vũ trang riêng trên những địa bàn quan trọng. Trong điều kiện bấy giờ, chính quyền có thêm lực lượng vật chất để giữ vững vương quyền và phòng vệ đất nước.

Buổi đầu thời Trần, bên cạnh ruộng đất làng xã và ruộng đất phong cấp của quý tộc thuộc sở hữu nhà nước, bộ phận ruộng đất tơ hữu đã phát triển mạnh mẽ. Năm 1237, Trần Thái Tông đã quy định thể lệ chúc thư, văn khế ruộng đất và cho vay tiền. Năm 1254, Thái Tông cho phép bán quan điền, tức ruộng công, cho dân mua làm ruộng tư, cứ mỗi “diện” (mẫu) giá 5 quan.

Chế độ thuế khoá quy định trên cư sở chế độ sở hữu ruộng đất. Năm 1242, Trần Thái Tông quy định thuế nhân đinh nộp bằng tiền và đánh luỹ tiến theo ruộng đất. Ai có ruộng tư 1 đến 2 mẫu phải nộp 1 quan, có từ 3 đến 4 mẫu nộp 2 quan, từ 5 mẫu trở lên nộp 3 quan. Ruộng bãi dâu và ruộng muối cũng nộp thuế bằng tiền.

Dưới thời Trần các nghề thủ công trong nước có điều kiện phát triển. Đó là những nghề truyền thống như dệt vải, lụa, làm gốm sứ, luyện kim, mỹ nghệ, chạm khắc, đúc đồng, nghề rèn sắt, v.v..

Trong nông thôn Đại Việt xuất hiện những làng thủ công chuyên sản xuất những sản phẩm truyền thống của mình. Kinh thành Thăng Long có 61 phường, mỗi phường làm một nghề thủ công như phường Tàng Kiếm nổi tiếng làm áo giáp binh khí, kiệu và các đồ nghi trượng; phố xá buôn bán các sản phẩm ngày một sầm uất.

Nghệ thuật gốm sứ thời Lý - Trần mang đậm sắc thái dân tộc, có trình độ thẩm mỹ cao và đạt đến đỉnh cao trong lịch sử phát triển của nó.  Nghề khai mỏ và luyện kim, chủ yếu là đồng và sắt, đã cung cấp thoả mãn nguyên liệu cho nhà nước đúc tiền, đúc chuông, tượng, các nông cụ cũng như các loại vũ khí, chiến cụ trang bị cho quân đội.

Nội thương, ngoại thương và giao thông thuỷ, bộ ở Đại Việt từng bước mở mang và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quân sự, góp phần hạn chế yếu tố phân tán trong xã hội và mở rộng mối giao lưu với nước ngoài.  Nhiều trung tâm thương nghiệp xuất hiện, chợ búa mọc lên khắp các làng quê.

Quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với các nước khác như Trung Quốc, Chiêm Thành, Java (Inđônêxia), Chân Lạp, Xiêm, Hồi Hột (vùng Tân Cương), v.v. được thực hiện chủ yếu qua thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) và một số cửa biển lớn ở miền Trung.

Sứ giả Nguyên, Trần Phu chép: “Phủ Thanh Hoá... cách thành Giao Chỉ hơn 200 dặm, các phiên thuyền ở hải ngoại tụ tập ở đây, họp chợ ngay trên thuyền rất đông. . . Thật là một thị trấn lớn” 1.

Sách Đảo di chí lược của Uổng Đại Uyên cho biết: Đất Giao Chỉ nhiều vàng bạc, đồng, chì, thiếc, ngà voi, lông chim sả, nhục quế, cau.  Hàng trao đổi thì dùng các thứ như the, lĩnh các màu, lụa, vải thanh bố, lược ngà, giấy, đồng, sắt... Lưu thông sử dụng tiền đồng.

Nhà Trần không hạn chế ngoại thương, nhưng luôn luôn có những biện pháp quản lý rất chặt chẽ để đề phòng âm mưu do thám của người nước ngoài, nhằm bảo vệ an ninh và chủ quyền đất nước.

Những chính sách tiến bộ cùng với những thành quả xây dựng kinh tế ở Đại Việt tạo ra một cư sở vật chất vững vàng cho sự tồn tại của quốc gia độc lập, nâng cao đời sống nhân dân và tăng cường sức mạnh phòng thủ của đất nước.

4. Văn hoá, tư tưởng

Sự thịnh vượng của đất nước cùng với những chiến công oai hùng trong các cuộc chiến tranh giữ nước thời Lý - Trần có rất nhiều ý nghĩa, ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm dân tộc và đời sống tinh thần của nhân dân, nó thúc đẩy các yếu tố văn hoá, tơ tưởng phát triển.

Nhà Trần mở rộng Nho học, mở mang việc học và thi cử để đào tạo và tuyển lựa quan lại có năng lực cho bộ máy hành chính và chuyên môn. Tại Kinh thành Thăng Long có Quốc học viện giành riêng cho con em quý tộc, quan lại và sau mở rộng cho các nho sĩ vào học. Chức học quan dần dần đặt đến các cấp lộ, phủ, châu. Trong nông thôn còn có những lớp học riêng do các “nhà Nho”, các “thầy đồ” tổ chức. Thể lệ thi cử và học vị được quy định ngày càng quy củ.

_____________________
1 Trần Phu: An Nam tức sự, Sđd, q.2.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 09 Tháng Năm, 2009, 03:24:54 pm
Trong xã hội, tầng lớp nho sĩ càng đông đảo và từng bước đẩy lùi thế lực tăng lữ trên lĩnh vực chính trị cũng như tư tưởng. Quan lại xuất thân từ Nho học ngày càng chiếm ưu thế trong bộ máy chính quyền và nắm vững những chức vụ quan trọng.  Trong tầng lớp này đã xuất hiện những nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn và những học giả xuất sắc như Lê Văn Hưu, Chu Văn An, Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu. . .

Giai cấp thống trị muốn dựa vào Nho giáo để khống chế tư tưởng và tinh thần nhân dân, nhưng họ cũng phải phục tùng sức mạnh của tinh thần dân tộc, ý thức tự cường quốc gia, bởi vì tinh thần đó đã thấm rất sâu trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong giai đoạn đang bừng bừng khí thế chống ngoại xâm dưới triều Trần.

Điều quan trọng là Nhà nước Đại Việt đã xác lập được một nền giáo dục quân sự, nhằm đào tạo nhân tài quân sự, những tướng soái chỉ huy quân đội. Tại Thăng Long có Giảng Võ đường và các bãi tập quân sự. Trường võ bị cao cấp đó là nơi giáo dục và học tập binh thơ, binh pháp cho tầng lớp vương hầu, quý tộc, tướng lĩnh.

Dưới thời Trần, một nền khoa học quân sự đã phát triển, thể hiện tính ưu việt của nó trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược. Các sách Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp công bí truyền thư của nhà chiến lược thiên tài Trần Quốc Tuấn là những tác phẩm lý luận quân sự nổi tiếng.

Yêu cầu của công cuộc giữ nước cũng như bản thân các cuộc kháng chiến vĩ đại đã thúc đẩy nền văn hoá, văn học mang đậm màu sắc và ý thức dân tộc. Ra đời trong không khí hào hùng của dân tộc, nền văn học thời Trần chứa đựng một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, một ý thức tự hào dân tộc sâu sắc.

Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải là những tác phẩm văn học, những áng thơ văn tiêu biểu nhất thể hiện sinh động chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng thời Trần. Niềm kiêu hãnh với chiến công thắng giặc Mông - Nguyên cũng in đậm trong thơ văn của Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn. . . Bấy giờ chữ Nôm bắt đầu được phổ biến và vận dụng trong sáng tác văn học. Đó cũng là một thành tựu văn hoá tiêu biểu.

Dưới thời Trần, công việc biên soạn lịch sử dân tộc bắt đầu phát triển. Quốc sử viện được thành lập phụ trách ghi chép lịch sử các triều đại. Nhiều nhà sử học nổi tiếng mà tiêu biểu là sử gia Lê Văn Hưu với bộ Đại Việt sử ký gồm 30 quyển, đã đặt nền móng cho sử học nước nhà.

Yếu tố văn hoá này có tác động rất lớn đối với các tướng lĩnh, quân sĩ, cũng như tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân. Những chiến công lẫy lừng, những lời nói đanh thép của Trần Thủ Độ Trần Quốc Tuấn, Trần Bình Trọng, Đỗ Khắc Chung...  được phản ánh trong sử sách là biểu hiện chủ nghĩa yêu nước, khí phách dân tộc, nó có ý nghĩa khích lệ lớn lao tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp xã hội.

Bên cạnh nền văn hoá cung đình, trong xã hội còn có một nền văn hoá dân gian đa dạng và phong phú. Trong nông thôn Đại Việt, người nông dân công xã vẫn bảo lưu những phong tục tập quán cổ truyền, vẫn duy trì quan hệ cộng đồng chặt chẽ, sớm kết hợp tình làng nghĩa xóm với ý thức quốc gia dân tộc, gắn nước với làng. Các lễ hội truyền thống rất thịnh hành, đượm tinh thần thượng võ như bơi thuyền, đánh gậy, đánh phết, đánh đu, cướp cù, v.v. .

Các lễ hội thường gắn liền với việc đề cao tinh thần yêu nước, truyền thống đánh giặc giữ nước và suy tôn các anh hùng dân tộc. Điều đó tạo nên những yếu tố thuận lợi để nhà nước huy động nhân lực, vật lực cho quân đội, cho chiến tranh; đồng thời yếu tố văn hoá truyền thống ởó cũng làm tăng thêm sức mạnh tinh thần cho những người lính vốn xuất thân từ các cộng đồng làng xã.

Cũng như trên lĩnh vực kinh tế, trên phương diện văn hoá, tư tưởng, Đại Việt đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhân dân ta đã phát huy những tinh hoa và giá trị của nền văn hoá cổ truyền, tiếp thu có lựa chọn những yếu tố tích cực từ bên ngoài để xây dựng nên một nền văn hoá tiến bộ, có bản sắc riêng, có ý thức dân tộc cao; đó là nền văn hoá Đại Việt rực rỡ, là cốt cách, là tinh thần dân tộc, có ảnh hưởng tích cực đến công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. 

Nước Đại Việt thời Trần là một quốc gia dân tộc thững nhất, có thể chế chính trị ổn định, có nền kinh tế, văn hoá phát triển mang đậm bản sắc dân tộc. Sự phát triển đó khẳng định và củng cố những thành tựu dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực đã tăng cường sức mạnh cho nền quốc phòng , tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quân sự của dân tộc, nhất là trong những giai đoạn đất nước có chiến tranh.

*

*       *


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:47:05 am
II- SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẾ QUỐC MÔNG – NGUYÊN


1. Sự hình thành đế chế Mông Cổ thế kỷ XIII.

Trong lúc nhân dân Đại Việt đang ra sức khắc phục những hậu quả của những năm nội chiến cuối triều Lý và đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, thì ở phương Bắc xuất hiện một thế lực xâm lược hùng mạnh và tàn bạo nhất thời đại, đó là đế quốc Mông Cổ.

Người Mông Cổ ngày xưa sống thành từng bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc trên vùng thảo nguyên bao la ở châu Á; phía bắc đến hồ Bai can, thượng lưu sông Lênixêi và sông Lếctưsơ, phía nam qua sa mạc Gô bi đến gần Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc).

Từ sớm, tộc người Thát Đát 1 đã trở nên hùng mạnh nhất, đứng đầu liên minh bộ lạc, có sách gọi họ là người Thát Đát (phiên âm Hán - Việt), bao gồm cả Thát Đát đen và Thát Đát trắng. Những bộ lạc đó đại bộ phận sống du mục nơi hoang địa, nay đây mai đó và trước thế kỷ XII ít ai biết đến họ. Sống chủ yếu bằng chăn nuôi nên họ cần có những bãi cỏ tốt với những đàn súc vật đông. Họ quen sống nơi thảo nguyên hoang dã, ở trong các lều bạt cố định hoặc di chuyển bằng xe kéo bốn bánh, hay trên mình ngựa. Tài sản của họ chủ yếu là những đàn bò, đàn cừu và đàn ngựa. Ngựa đóng vai trò rất lớn trong cuộc sống du mục của người Mông Cổ.

Tác giả sách Mông Thiết bị lục tiên chứng đời Tống viết: “Người Thát Đát lớn lên trên mình ngựa, tự luyện tập chiến đấu, từ mùa Xuân đến mùa đông, ngày ngày săn bắn, đó là sinh kế của họ” 2.  Văn minh của các bộ lạc ở đây là văn minh du mục từ xưa truyền lại. Đứng đầu các bộ lạc là khan, còn đọc là hãn và mỗi bộ lạc có một thủ lĩnh quân sự; các thủ lĩnh quân sự đó thường giành quyền làm hãn. Người Thát sớm có tinh thần thượng võ. Đàn ông thích đua ngựa khi là người lính, tay cầm ngọn giáo, lơng đeo cung tên, họ dễ dàng phóng lên lơng ngựa và phi như bay trên sa mạc mênh mông.

Hằng ngày, người trong bộ lạc phải chăn dắt, bảo vệ những đàn gia súc lớn và phải săn bắn thú rừng, đặc biệt giữa các bộ lạc luôn xảy ra chém giết để tranh chiếm bãi cỏ và còn thôn tính lẫn nhau. Chính vì thế họ rất cuồng chiến, hung bạo và rất thành thạo việc cưỡi ngựa và sử dụng cung kiếm. Họ dã man đến nỗi coi mạng con người như cỏ rác. Khi nào chiếm được một xứ văn minh hơn thì họ có thể giết hết dân chúng, chỉ để lại đất đai trở thành hoang địa dùng làm đồng cỏ nuôi súc vật. Bởi vậy, chiến tranh do họ gây ra thường tàn khốc chưa từng thấy trong xã hội loài người”.
 
Cùng với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, các gia đình cá thể giàu có mở rộng uy lực, xuất hiện tôi tớ nô lệ.  Phương thức công xã vì thế, dần dần được thay thế bằng phương thức du mục của gia đình. Nô lệ gia đình có tác cụng lớn trong quá trình hình thành cư cấu giai cấp trong xã hội Mông Cổ thời xưa, nhưng nó không tiến tới hình thát kinh tế chiếm hữu nô lệ. Sự ảnh hưởng của các cư dân định cư phong kiến và sự phát triển của quan hệ “tông pháp” trong các bộ lạc đã đưa xã hội Mông Cổ tiến thẳng từ công xã nguyên thuỷ sang xã hội phong kiến không phải qua hình thát chiếm hữu nô lệ.

Khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã, các đàn gia súc từ chỗ là tài sản chung của tập thể biến thành tài sản của gia đình cá thể, còn bãi chăn nuôi của các thị tộc, bộ lạc vẫn là tài sản chung. Tuy nhiên, dần dần quý tộc Mông Cổ thiếu đất đai, chiếm các đồng cỏ của công xã và biến các thành viên ở đó thành nông nô, tầng lớp lao động lệ thuộc, bị cưỡng bức. Các hãn trở thành những lãnh chúa lớn và một giai cấp thống trị cũng đã xuất hiện.

Những cuộc chiến tranh giành giật các đồng cỏ, vùng săn bắn và quyền lực giữa các thủ lĩnh bộ lạc liên tụe diễn ra, đó cũng là quá trình đấu tranh vì một quốc gia Mông Cổ thống nhất.


___________________________
1.  Thát Đát vốn là tên một bộ lạc Mông Cổ, nhưng người ta thường dùng để gọi chung người Mông Cổ. Thát Đát là tên dân tộc, còn Mông Cổ là tên nước. Binh sĩ nhà Trần thích vào cánh hay chữ “Sát Thát” (giết giặc Mông). Trong Hịch tướng sĩ, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn gọi là “Mông Thát”. Trần Quang Khải gọi họ là người Hồ (Cầm Hồ Hàm Tử quan), đó cũng là tên gọi chung các dân tộc du mục ở phía bắc Trung Quốc.
2. Mông Thát bị lục tiên chứng, trong Mông Cổ sử liệu tư chủng hiệu chú của Vương Quốc Duy. Dẫn theo Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiên chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, tr.38.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:48:23 am
Nổi bật trong số các hãn là Thiết Mộc Chân, còn gọi là Tumuchin. Trong lịch sử Mông Cổ, Thiết Mộc Chân nổi lên như một nhân vật vĩ đại vừa có thật lại vừa như huyền thoại với những tài năng và chiến tích của ông. Thiết Mộc Chân sinh ra trên bờ sông môn, trong bộ lạc Taytriút của người cha giàu có, chủ một lãnh địa lớn. Là thủ lĩnh quân sự của một bộ lạc Thát đen lớn, Thiết Mộc Chân trưởng thành trong chiến đấu, một người can đảm và mưu trí, nhưng xảo trá, tàn bạo, hiếu chiến và tham vọng điên cuồng.

Từ năm 1200 đến năm 1205, Thiết Mộc Chân tiến hành cuộc chiến tranh chinh phục các bộ lạc và lần lượt các bộ lạc chủ yếu trên lãnh địa Mông Cổ phải hàng phục trước vó ngựa của ông và cuối cùng Thiết Mộc Chân được tôn làm “hãn”, đứng đầu các bộ lạc. 

Sau khi tiêu diệt và chiến thắng được đối thủ chính - người Thát trắng, thế lực Thiết Mộc Chân càng lớn mạnh và bắt đầu mở rộng chiến tranh chinh phục ra ngoài vùng thảo nguyên, tiến đến các miền đất mới.

Năm 1204, Thiết Mộc Chân đánh Nai Man, một liên minh bộ lạc lớn, có trình độ phát triển khá cao ở phía tây. Bộ lạc Nai Man đại bại, thủ lĩnh bị bắt, toàn bộ đất đai bị chiếm đóng. Thiết Mộc Chân vốn rất tàn bạo, nhưng lại khôn ngoan biết thu dùng những kẻ đầu hàng, nhất là tầng lớp trên, nên nhiều quý tộc, trí thức, nhà buôn cùng tướng lĩnh của đối phương đã quy phục và trở thành những kẻ phục vụ trung thành với lợi ích và mưu đồ xâm lược của thế lực thống trị Thát Đát.

Năm 1205, Thiết Mộc Chân tiến công Tây Hạ ở phía đông nam cao nguyên Mông Cổ. Nước Tây Hạ có từ thế kỷ X, ở phía tây bắc Trung Quốc, gồm vùng đất phía bắc tỉnh Cam Túc và phía tây bắc tỉnh Thiểm Tây, nay là khu tự trị người Hồi ở Ninh Hạ. Tây Hạ có thời kỳ cường thịnh, uy hiếp nước Tống (thế kỷ XI), khiến vua Tống Thần Tông nảy sinh ý tưởng đánh chiếm Đại Việt để lấy đó làm thắng khí răn đe với Tây Hạ. Tuy không chiếm được Tây Hạ, nhưng Thiết Mộc Chân cũng đã thu được rất nhiều chiến lợi phẩm.

Năm 1206, Thiết Mộc Chân triệu tập đại hội quý tộc, tức đại hội các lãnh chúa, các thủ lĩnh bộ lạc, để tổ chức chính quyền và quân đội trên toàn lãnh thổ đã chiếm đóng. Thiết Mộc Chân (44 tuổi) được suy tôn làm đại hãn, nghĩa là hãn lớn mạnh nhất, gọi là Thành Cát Tư Hãn (Tringhítkhan - tức chúa cầm quyền tuyệt đối). Từ đây, một nhà nước phong kiến quân sự độc tài tập quyền ra đời, đặt tên là nước Mông Cổ. 

Ngay từ đầu Nhà nước Mông Cổ đã là một nhà nước đế quốc, lấy quân đội mạnh làm chỗ dựa và dùng xâm lược vũ trang làm cư sở tồn tại và phát triển. Quân đội của họ là quân đội phong kiến, trong đó gồm các quý tộc cao cấp, các thủ lĩnh quân sự và các tướng lĩnh chỉ huy trung thành với đại hãn.  Quân đội Mông Cổ rất thiện chiến. Thêm vào đó, thiên tài quân sự của Thành Cát Tư Hãn đã sáng tạo ra cách dụng binh thích hợp với điều kiện bản thân và hoàn cảnh khách quan trên chiến trường. Những tướng lĩnh Mông Cổ cũng rất tài giỏi chỉ huy. Quân Mông Cổ đặc biệt biết lợi dụng điều kiện hành động nhanh chóng mẫn tiệp của kỵ binh.

Bành Đại Nhã người Tống, viết trong sách Hắc Thát sự lược rằng: “Về đánh trận, họ lợi ở dã chiến, không thắng lợi họ không tiến quân. . . Trăm quân kỵ quay vòng, có thể bọc được vạn người; nghìn quân kỵ tản ra có thể dài đến trăm dặm... Địch phân tất phân, địch hợp tất hợp, cho nên kỵ đội là ưu thế của họ; hoặc xa hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tụ hoàn tán, hoặc hiện hoặc ẩn, đến như mưa rơi trên trời xuống, đi như chớp giật...”.

Kỷ luật quân đội Mông Cổ rất chặt chẽ, ai vi phạm quân kỷ bị trừng phạt rất nặng.

Quan hệ phong kiến nảy sinh ở Mông Cổ từ cuối thế kỷ XI, đến đây đã phát triển mạnh mẽ, các yếu tố phân tán trước đã được khắc phục. Kinh tế và văn hoá có điều kiện phát triển. Vì thế, việc thống nhất quốc gia Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn có một ý nghĩa tiến bộ đối với xã hội Mông Cổ lúc đó.

Thế lực xâm lược cuồng chiến này hình thành với sự tập hợp các lãnh chúa, các thủ lĩnh, tù trưởng các bộ lạc người Thát, đứng đầu là tập đoàn Thiết Mộc Chân. Đó là kết quả của quá trình chém giết, chinh phục, thôn tính lẫn nhau giữa các bộ lạc. Sự thống nhất đó không phải đã kết thúc chiến tranh, không phải đã chấm dứt các tham vọng cuồng điên của Thiết Mộc Chân và giới quý tộc người Thát, mà trái lại, đó là sự mở đầu, báo hiệu một tai hoạ lớn đối với nhân dân các dân tộc khác.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:50:34 am
2. Các cuộc viễn chinh của người Mông Cổ

Sau khi lên ngôi đại hãn, Thiết Mộc Chân với tên gọi mới là Thành Cát Tư Hãn đã dốc toàn bộ binh lực và sức mạnh của bộ tộc Mông Cổ vào cuộc chiến tranh xâm lược và nô dịch các dân tộc. Những đoàn kỵ binh thiện chiến Mông Cổ tiến như vũ bão sang phương Đông và phương Tây. Chiến tranh ngày càng lớn. Hàng chục triệu người bị giết cùng với bao nhiêu thành thị, làng quê bị đốt trụi, gây nên một cảnh điêu tàn, hoang phế và chết chóe khủng khiếp từ Á sang Âu. 

Năm 1207, Thành Cát Tư Hãn cử con trai là Truật Xích (Giô tri) dẫn quân đánh chiếm khu vực của người Buriút và người Kiếcghigiơ từ phía hồ Bai can tới thượng lưu sông Iênixêi, là xứ sở có nền thủ công luyện thép phát đạt, rất cần để rèn đúc vũ khí phục vụ cho việc mở rộng chiến tranh.  Sau đó, Thành Cát Tư Hãn tiến công Tây Hạ lần thứ hai, buộc vua nước này phải cầu hoà xin cống nộp.

Một năm sau, Tây Hạ lại bị tiến công. Quân Thát mau chóng đã chiếm được nhiều vùng quan trọng, cướp được nhiều của cải và tiến tới bao vây Trung Hưng phủ, Thủ đô của Tây Hạ. Người Tây Hạ chiến đấu rất dũng cảm, cuối cùng buộc phải phá đê sông Hoàng Hà để nước đổ tràn về phía quân Mông Thát, quân đội của Thành Cát Tư Hãn phải rút lui. Tuy nhiên, Tây Hạ vẫn phải xin hoà cống nộp.

Bấy giờ, một thủ lĩnh trẻ của người Hồi Hột ở Cao Xương thuộc vùng Tân Cương ngày nay tự đem của cải đến xin quy phụ. Vì thế, một vùng đất rộng lớn ở Tân Cương trở thành lãnh thổ của đế quốc Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn gả con gái cho thủ lĩnh Hồi Hột, ưu đãi tầng lớp trên của Hồi Hột và biến họ thành một bộ phận quan trọng, có uy thế trong giai cấp thống trị của đế quốc Mông Cổ cũng như của đế chế Nguyên sau này.

Thành Cát Tư Hãn muốn chinh phục cả vùng đất rộng lớn phía đông, tức là lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm cả Tây Hạ, Kim và Tống. Lúc đó, phía bắc Trung Quốc là nước Kim của bộ tộc Nữ Chân. Kim là một nước mạnh. Tuy vậy, nước Kim vẫn là đôi tượng xâm lược của người Mông Thát, vì ở đó có đầy nhân lực, vật lực và nhất là kỹ thuật quân sự của Kim lại rất cần thiết cho nhu cầu bành trướng của Thành Cát Tư Hãn.

Để chuẩn bị đánh Kim, Thành Cát Tư Hãn cho các lái buôn người Hồi Hột sang Kim do thám. Nhờ đó người Mông Cổ nắm vững được cách bố phòng và tình hình quân sự của nước Kim.

Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn cùng bốn con trai 1 và những tướng giỏi nhất như Mộc Hoa Lê (Muhuli), Triết Biệt (Giêbê) . . . đem đại binh đánh miền bắc Trung Quốc. Tướng Kim giữ Vạn Lý Trường Thành đầu hàng. Quân Mông Cổ vượt Trường Thành, tiến đánh Tây Kinh (Đại Đồng) và nhiều nơi khác. Họ tiến về Liêu Đông và Trung Đô (Bắc Kinh) - thủ đô của nước Kim.

Cuộc tiến công dũng mãnh của kỵ binh Mông Cổ đã khiến các tướng lĩnh và quân đội Kim chống không nổi, thậm chí còn khiếp sợ. Người Mông Cổ thu phục kẻ đầu hàng, tổ chức thành những đơn vị người Kim do tướng Thát chỉ huy, thực hiện sách lược “dùng người Kim đánh Kim”.
 
Năm 1214, quân Mông Cổ vây thành Trung Đô. Biết chưa thể tiêu diệt được Kim, Thành Cát Tư Hãn cử sứ giả sang bắt ép vua Kim phải ký một “hoà ước” hết sức nặng nề, là nhường toàn bộ phần đất đai phía bắc sông Hoàng Hà cho Mông Cổ. Hoàng đế Kim còn phải nộp công chúa, một nghìn trẻ em, ba nghìn tuấn mã và nhiều vàng, lụa, mỹ nữ. Vua Kim buộc phải chấp thuận, vì thế Thành Cát Cứ Tư Hãn tạm rút về Cư Dung quan để sau đó sai sứ sang liên kết với Tống đánh Kim.

Biết ý đồ vua Kim ngăn cản sứ giả Mông Cổ nên Thành Cát Tư Hãn không bỏ lỡ cư hội tiếp tục tiến công Kim.  Triều đình Kim buộc phải bỏ Trung Đô (Bắc Kinh), chạy về Nam Kinh (Khai Phong) . Năm 1215, Mông Cổ chiếm được Trung Đô, vơ vét kho tàng, báu vật, đốt phá kinh thành rồi đổi tên là Yên Kinh.

Khi quân Mông Cổ tiến cách Nam Kinh 20 dặm thì bị chủ lực quân của Kim chặn đánh quyết liệt. Bị thiệt hại, Thành Cát Tư Hãn cho quân lui về phía bắc sông Hoàng Hà và sau đó rút quân về, chỉ để một bộ phận quân đội cùng tướng Mộc Hoa Lê ở lại đóng giữ những vùng đã chiếm được. 


________________________
1. Thành Cát Tư Hãn có bốn con trai: thứ nhất là Truật Xích, thứ hai là Sát Hợp, thứ ba là Oa Khoát Đài, thứ tư là Đà Lôi.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:52:10 am
Trong quá trình đánh Kim, quân Mông Cổ chiếm được rất nhiều vũ khí trong đó có nhiều trọng pháo, những cỗ pháo bắn ra những viên đạn đựng chất cháy, những trọng pháo phá thành và máy bắn đá. Từ đây trong đoàn kỵ binh và bộ binh Mông Cổ, người ta thấy những vũ khí đánh thành lợi hại thu được của người Trung Quốc trong đợt viễn chinh từ năm 1211 đến năm 1215. Thành Cát Tư Hãn biết rằng, những vũ khí đó sẽ giúp ích cho các cuộc hành quân về sau, nên khi rút lui, y ra lệnh bắt về rất nhiều thợ có khả năng chế tạo hoả pháo và hoả tiễn.

Từ năm 1218, quân Mông Cổ bắt đầu chuyển hướng tiến công sang phía tây, mở đường tiến về Trung Á, Nam Á và Đông Âu. Tướng Triết Biệt đem hai vạn quân đánh nước Liêu của người Khiết Đan, gồm miền bắc Trung Á và miền tây Tân Cương. Nước Liêu rơi vào tay người Mông Cổ không mấy khó khăn.

Năm 1219, 20 vạn quân dưới sự thống lĩnh của Thành Cát Tư Hãn và nhiều tướng, trong đó có bốn con trai, chia làm bốn mũi tiến đánh vương quốc Khôrexmơ. Bấy giờ, Khôrexmơ cũng là một đế quốc Hồi giáo ở Trung Á, do Môhamét đứng đầu. Quân đội của Môhamét trước đó đã tung hoành trên vùng Trung Á, chinh phục Ba Tư và Ápganixtan. 

Tuy có một đội quân đông tới 40 vạn nhưng Khôrexmơ là một đế quốc bao gồm nhiều dân tộc bị chinh phục, nên suy yếu về chính trị - tinh thần và kém cỏi về chiến lược. Mặt khác, Môhamét khinh thường quân Mông Cổ, cho Mông Thát là dân du mục lạc hậu, chỉ biết cướp bóc chứ không biết công thành. Không ngờ quân Mông Cổ đã được trang bị những vũ khí phá thành tiên tiến và học được lối công thành của người Trung Quốc, quân đội của Khôrexmơ vì thế đã không sao chững đỡ nổi, phải đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. 

Mùa Thu năm 1219, quân Mông Cổ tiến tới phía bắc Tasken (thuộc Udơbêkixtan), hạ thành Ôtara. Mùa Xuân năm 1220, thành Bukhara, một trung tâm nổi tiếng ở Trung Á bị đốt trụi. Nhà sử học Ipanaxia đã viết về sự kiện này như sau: “Đó là một ngày vô cùng bất hạnh, chỉ nghe tiếng khóc bi ai vĩnh việt của già trẻ trai gái. Bọn dã man đã làm nhục phụ nữ trước mặt những người bất hạnh... Có những người thà chết không muốn chứng kiến thảm cảnh ấy” 1.
 
Từ Bukhara, Thành Cát Tư Hãn tiến đánh Xamáckhan, một kinh thành cổ kính và giàu có với một nền văn minh danh tiếng vùng Trung Á và chỉ trong năm ngày thành này bị hạ.  Toà thành lộng lẫy với những cung điện nguy nga, tráng lệ của Hồi giáo từ nay trở thành hoang phế, ba phần tư dân cư bị giết, vua Môhamét bỏ chạy sang Ba Tư (Iran), rồi trốn trên một hòn đảo hẻo lánh ở Caxpiên (Lý Hải) .

Mác đã viết về hậu quả cuộc xâm lược Trung Á của người Mông Cổ rằng: Nghệ thuật, những thư viện phong phú, nền nông nghiệp ưu việt cung điện và giáo đường - tất cả đều sạch không.

Thành Cát Tư Hãn cho hai tướng Triết Biệt (Giê bê) và Tốc Bất Đài (Xubutai) đem hai vạn kỵ binh đuổi theo Môhamét và cho ba con là Truật Xích, Sát Hợp Đài và Oa Khát Đài đánh phá đô thành của Khôrexmơ là Uốcghentrơ. Quân dân địa phương đã kiên quyết và dũng cảm chống giặc trong sáu tháng, nhưng quân Mông Cổ đã tập trung toàn lực, bắn hoả khí vào thành và thành Uốckhara cũng bị thất thủ.  Quân giặc đã man rợ phá đê sông Anue Đa ria để nước ngập thành, hầu hết nhân dân trong thành bị chết. 

Trong khi một cánh quân đánh Uốcghentrơ, Thành Cát Tư Hãn tiến quân xuống phía nam đuổi tàn quân Khôrexmơ do con trai Môhamét chỉ huy. Đầu năm 1221, Thành Cát Tư Hãn cử con trai mình là Đà Lôi (Tô Lui) tiến công thành Mácvơ (thuộc Tuốcmêni), còn bản thân dẫn quân tiến xuống Ápganixtan. Cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ở Mácvơ cũng không ngăn cản được cơn cuồng phong Mông Thát. Chỉ trừ 400 thợ thủ công và một số trẻ nhỏ bị bắt làm nô lệ còn lại 70 vạn người đã bị giết.

Người ta đếm 13 ngày liền mới hết xác chết. Quân giặc còn phá vỡ con đê lớn nhất của sông Muốcgáp để nước sông huỷ hoại thành Mécvơ.  Như vậy, Khôrexmơ, một quốc gia phồn vinh với nền văn hoá rực rỡ trước đây, đã trở thành vùng hoang vắng. Vua Môhamét chạy trốn rồi chết trên đảo Lý Hải. 

Mùa Xuân năm 1221, Thành Cát Tư Hãn dẫn quân tiến sâu vào lãnh thổ Ápganixtan và Pakixtan để chiếm đất và truy đuổi tàn quân Khôrexmơ do con vua Môhamét và Đơgiêlamét Métđin chỉ huy. Mặc dù, Đơgiêlamét Métđin cùng quân đội chiến đấu rất kiên cường trong nhiều trận, nhưng do không dựa vào dân, không phối hợp chiến đấu với nhân dân, nên cuối cùng bị thất bại.


____________________
1 . Dẫn theo Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chông xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.42.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:52:49 am
Sử chép rằng, trên bước đường cùng, Đơgiêlamét Métđin buộc phải giết mẹ, giết vợ để khỏi bị quân Mông Cổ bắt, còn mình phóng ngựa lên đỉnh núi cao rồi lao cả ngựa xuống sông, vượt sông tháo chạy. Thành Cát Tư Hãn đã cướp phá, tàn sát rất khủng khiếp nhiều thành thị ở ápganixtan và Pakixtan.

Hai viên tướng Tốc Bất Đài và Triết Biệt tiến vào Ba Tư truy tìm vua Môhamét nhưng không thấy. Chúng vòng theo phía tây biển Lý Hải, tiến vào Adécbaidan, ácmênia và Grudia. Vó ngựa của quân Mông Cổ đã không dừng lại ở đây, năm 1222, các đạo quân viễn chinh đã vượt Cápcadư tiến lên phía bắc, tràn xuống Crưm và chiếm thành Xudắc.

Năm 1223, Tốc Bất Đài và Triết Biệt đánh tan liên quân Nga gồm tám vạn do các đại công tước Kiép, Galisơ, Trécnigốp và Xmôlen chỉ huy trên bờ sông Canca. Trong trận Canca, quân Mông Cổ bị thương vong rất lớn, nhưng do các công quốc Nga bất đồng với nhau, cuối cùng chúng vẫn chiến thắng. Thuyền chiến bị đốt cháy trụi, số quân Nga thoát được không quá một phần mười. Bọn tướng Mông Thát đã bắt trói các công vương Nga, bắc ván lên đầu họ và ngồi lên đó uống rượu ăn mừng thắng lợi.

Quân Mông Cổ tiến về phía đông, nhằm hướng về hội quân với Thành Cát Tư Hãn. Tới khu vực sông Vonga, chúng gặp phải sức chiến đấu mãnh liệt của người Hung. Bị thiệt hại nặng trong những trận phục kích, quân Mông Cổ hoảng sợ tìm đường xuyên qua vùng thảo nguyên Cadắcxtan để về nước. Bấy giờ, Thành Cát Tư Hãn cũng từ Xamáckhan rút về.  Mùa Thu năm 1225, toàn bộ đạo quân viễn chinh Mông Thát đã về tới Mông Cổ.

Một trong những mục đích của quân đội Mông Cổ là tiến về phía đông, chinh phục toàn lãnh địa Trung Quốc. Từ năm 1215, khi Thành Cát Tư Hãn rút về, một bộ phận quân đội Mông Cổ do tướng Mộc Hoa Lê chỉ huy ở lại chiếm đóng trên đất Kim và tiếp tục đánh Kim. Nhiều vùng đất của Kim, như Liêu Đông, Liêu Tây, Hà Bắc, Sơn Tây và Thiểm Tây bị chiếm. Vua Kim chỉ còn giữ được vùng Hà Nam trong tình thế khốn đốn. Bấy giờ đất thực dân của người Mông Cổ đã giáp liền với biên giới nước Tống.

Những cuộc hành quân của Mộc Hoa Lê và con trai Bột Lỗ đã uy hiếp cả Kim lẫn Tống.  Nửa năm sau khi tây chinh trở về, năm 1226, Thành Cát Tư Hãn lại lên đường tiến về phía đông. Mục tiêu đầu tiên là đánh Tây Hạ. Các trung tâm lớn như Cam Châu, Túc Châu bị chiếm. Mùa Đông năm đó, quân Mông Cổ vượt Hoàng Hà giao chiến rất ác liệt với quân Tây Hạ. 30 vạn quân Tây Hạ bên bờ sông Hoàng Hà bị tiêu diệt.

Quân giặc chiếm trọng trấn Linh Châu. Nhưng đây cũng là trận cuối cùng của Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư Hãn bị thương và sau đó tháng 8-1227, chết trên đường viễn chinh, ở huyện Thanh Thuỷ (Cam Túc). Lúc đó, vua Mông Cổ 72 tuổi và Tây Hạ cũng đã hoàn toàn lọt vào tay quân thù. Quân xâm lược bí mật đưa xác Thành Cát Tư Hãn về nước mới phát tang.  Những cuộc hành binh tạm ngừng. Thiết Mộc Chân ở ngôi Đại Hãn được 21 năm (1206-1227), trong thời gian này ông ta đã thân chinh cầm quân đi xâm lăng hàng chục lần trên các lục địa Âu-Á.

Đế quốc Mông Cổ sau bao năm tiến hành chiến tranh chinh phục, đến đây đã vô cùng rộng lớn, bao gồm cả lãnh thổ Mông Cổ, vùng Trung á, miền ngoại Cápcadư, phần lãnh thổ nam Xibia, toàn bộ nước Hạ và phần lớn nước Kim, tức cả vùng phía bắc Trung Quốc.

Giai cấp thống trị ở các quốc gia bị chinh phục, gồm đại địa chủ, các cao tăng và cát thương nhân đã đầu hàng và phục vụ bọn xâm lược, mong duy trì đặc quyền và tài sản của mình. Nhân dân khắp mọi nơi bị bóc lột thậm tệ, bị ngược đãi, binh dịch, lao dịch nặng, thuế khoá nhiều. Do sự thống trị tàn bạo của bọn phong kiến ngoại tộc và tay sai, nhân dân nhiều vùng đã nổi dậy khởi nghĩa, đấu tranh chống xâm lược và bóc lột. 

Ngay từ khi Thành Cát Tư Hãn còn sống, lãnh thổ rộng lớn của đế quốc Mông Cổ đã được chia cho bốn con trai, mỗi người cai trị một vùng. Trong số đó, Oa Khoát Đài (ôgôđây), con trai thứ ba được Thành Cát Tư Hãn chỉ định kế thừa ngôi hãn (vua). Đại hội quý tộc họp năm 1229 đã cử Oa Khoát Đài làm đại hãn. Yến tiệc mừng vua mới tưng bừng bên sông Kêrulen.

Sau khi Thành Cát Tư Hãn chết, tham vọng đánh chiếm toàn cầu của đế chế Mông Cổ được các con của ông ta kế tục một cách điên cuồng và tàn bạo không kém trước. Kế hoạch đánh chiếm nước Kim đã được vạch ra từ trước. Mưu đồ của chúng là đánh Kim, diệt Tống, mở đường thôn tính Cao Ly (Triều Tiên) , Nhật Bản, các nước Đông Nam á và tiếp tục đánh sang phía tây.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:53:59 am
Để mở màn cho cuộc hành quân xâm lược mới, năm 1231, Oa Khoát Đài cho quân tiến công Biện Kinh của Kim, nhưng không có kết quả. Vì thế, quân Mông Cổ quay sang đánh Cao Ly (Triều Tiên). Cao Ly tuy đã chịu thần phục và nộp cống từ năm 1219, nhưng mượn cớ là sứ Mông Cổ bị người Cao Ly giết nên Oa Khoát Đài tiến công.

Trước sức mạnh của quân Mông Thát, vua Cao Ly xin hàng. Nước Cao Ly bị nhập vào bản đồ Mông Cổ. Hơn 70 quan lại người Mông Cổ sang cai trị trên đất Cao Ly. Tuy nhiên, nhân dân Cao Ly đã liên tục đứng lên chống xâm lược. Trong cuộc chiến đấu của họ có sự tham gia đóng góp lớn lao của Hoàng tử Đại Việt Lý Long Tường. 

Năm 1231, Oa Khoát Đài cùng em là Đà Lôi (Tôlui) tiến quân vào đất Hà Nam của Kim. Lúc đó vua Kim là Ai Tông rời Biện Kinh (Khai Phong), lui về Quy Đức tổ chức kháng chiến. Các tướng Kim ở Biện Kinh dâng thành cho giặc.  Cũng như ở Biện Kinh, tướng lĩnh Kim bất hoà, hãm hại lẫn nhau nên quân Mông Cổ đã chiếm Quy Đức không mấy khó khăn. Kim Ai Tông chạy về Thát Châu (Hà Nam). 

Thực hiện lời dặn của Thành Cát Tư Hãn trước khi chết là liên kết với Tống để đánh Kim, Oa Khoát Đài cử sứ giả sang ước hẹn với Tống sau khi liên minh tiêu diệt Kim, Tống sẽ được trả lại ba thành: Biện Kinh, Lạc Dương và Nam Kinh trước bị Kim chiếm. Tống Thần Tông tham lợi đã cử Mạnh Hồng đem hai vạn quân và 30 vạn thạch lương giúp quân Mông Cổ vây Thát Châu. Năm 1234, thành Thát Châu bị hạ, Kim Ai Tông tự sát, nước Kim mất.

Tất nhiên, sau đó người Mông Cổ đã phản bội lời ước. Khi vua Tống cho các tướng lên thu phục các thành Lạc Dương và Biện Kinh, thì quân Mông Cổ đã chặn đánh. Quân Tống phải bỏ Lạc Dương chạy. Tạ’ Biện Kinh, quân Mông Cổ đã tháo nước sông Hoàng Hà làm ngập quân Tống. Cuộc liên minh Mông - Tống nhanh chóng tan như bọt nước và đến lượt Tống trở thành mục tiêu của quân xâm lược Mông Thát.

Sau khi chiến thắng một cách dễ dàng trên đất Kim, Oa Khoát Đài đem đại quân trở về Mông Cổ triệu tập đại hội quý tộc mừng chiến thắng và quyết định kế hoạch xâm lược mới, tức là tiến công cả hai hướng đông và tây. 

Năm 1236, Oa Khoát Đài sai quân đánh Tống. Quân Mông Cổ chia thành ba đạo, theo ba hướng tiến công xâm lược Tống. Đạo thứ nhất qua Tứ Xuyên đánh vào Thành Đô do con trai thứ hai của vua Mông Cổ chỉ huy; đạo thứ hai đánh Tương Dương (Hồ Bắc) cũng do một người con Oa Khoát Đài chỉ huy; đạo thứ ba tiến vào Hán Khẩu. Như vậy là quân Mông Thát đang tiến sâu vào đất Tống và bắt đầu đe doạ Đại Việt.

Cùng lúc quân Mông Cổ tiến sang phía đông thì một đạo quân khác của họ tiến sang phía tây. Bạt Đô (Ba tu), con trưởng của Truật Xích (Giô tri) tức cháu đích tôn của Thành Cát Tư Hãn và lão tướng Tốc Bất Đài (Xubutai) dẫn 15 vạn quân rầm rộ tiến đánh các nước châu Âu.

Mùa Đông năm 1236, tướng tiên phong Tốc Bất Đài đã đến gần vùng Vằng. Tháng 12-1237, quân Mông Cổ tiến đánh công quốc Ria dan. Đầu năm 1238, quân xâm lược chiếm Mátxcơva. Tháng 2-1238, công quốc Vơlađimia bị chiếm. Một loạt 14 thị trấn lớn như Rôxtốp, Iarôxláp, Iuriép, Đơmitưrốp, v.v. bị tàn phá. Tháng 3-1238, Bạt Đô tiến đánh Nốpgôrốt, nhưng nhân dân Nga ở đây chiến đấu rất kiên cường, gây cho giặc nhiều tổn thất, buộc quân Mông Cổ phải rút lui.

Năm 1239, Bạt Đô tiến hành giai đoạn hai cuộc chinh phục nước Nga. Các thành Pêrêiaxláp và Trécnigốp bị tàn phá. Năm 1240, Bạt Đô tiến công Kiép. Thân vương Mikhaiin trốn sang Hunggari, viên tướng quý tộc Đơmitơri bảo vệ thành. Quân Mông Cổ bủa vây dày đặc.

Biên niên sử Nga chép: “Tiếng ầm ầm vô số chiếc xe Mông Cổ, tiếng bò rống, tiếng lạc đà kêu, tiếng ngựa hí và tiếng gào đánh của người dã man làm thành một thứ huyên náo mà ngay trong thành cũng không thể nghe thấy được” 1. Người Ucraina chiến đấu rất anh dũng, nhưng cuối cùng thành Kiép cổ kính cũng bị chiếm và bị tàn phá nặng nề (6-12-1240).


___________________________ 
1. Trong sách Mediaeval Researches From Eastem A.siatie Souvces. Dẫn theo Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chông xâm lược Nguyên-mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.47-48. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:55:47 am
Mùa Đông năm 1240, quân đội Mông Cổ tiến công Ba Lan, chiếm Xanđômia, đốt cháy thành Cưracốp. Sau đó tiến đến Xilêdi đánh tan ba vạn liên quân Ba Lan - Đức do công tước Xilêdi Hen rích III chỉ huy ở Vanstát ngày 9-4-1241.

Đại quân của Bạt Đô từ ba đường tiến đánh Hunggari, vây khốn và tiêu diệt sáu vạn quân của vua Hung Benla IV. Lão tướng Mông Cổ Tốc Bất Đài đánh thắng quân Hung ở gần hợp lưu sông Xay và sông Tít xa. Đô thành Pextơ bị chiếm, hàng chục vạn người bị giết, vua Hung là Benla chạy trốn ta bờ biển Adơriatíc.

Tháng 7-1241, kỵ binh Mông Cổ tiến gần đến Viên (thủ đô áo) Tháng 12-1241, Bạt Đô vượt sông Đanuýt chiếm Garan, cố đô của Hunggari. Nhân dân ở đây thực hiện vườn không nhà trống, không để cho giặc cướp phá. Quân xâm lược tức tối tàn sát rất dã man, đốt người, chặt đầu phụ nữ trong thành. Quân tiên phong của Tốc Bất Đài truy đuổi vua Hung đến gần thành Vơnidơ của nước Ý.

Bấy giờ cả châu Âu chấn động về cuộc chinh phục tàn bạo của bọn Mông Thát. Khắp nơi chìm đắm trong đau thương, tràn ngập sự khiếp đảm, run sợ trước những cuộc hành quân xâm lược hung hãn, man rợ của quân Mông Thát, coi chúng như một sức mạnh ma quỷ huỷ diệt loài người.

Ở Đức xuất hiện câu cầu nguyện: “Chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tácta” và giáo hoàng La Mã Gơrêgoa đã viết: “Nhiều việc khiến ta lo lắng như những việc đáng buồn ở đất thánh, những mối lo âu của Giáo hội, tình hình đáng thương của đế quốc La Mã. Nhưng ta nguyện quên hết những lo âu đó mà chú tâm đến cái tai hoạ Tácta, sợ rằng hiện nay uy danh của đạo Cơ đốc sẽ bị bọn Tácta tiêu diệt mất. Nghĩ đến đó là ta xương nát tuỷ khô, thây gầy sức kiệt, đau xót vô cùng, khiến ta không biết làm gì đây” 1.

Giáo hoàng phải cử một phái đoàn sang tìm gặp vua Thát Đát đưa thơ cầu xin cho Tây Âu được yên ổn và cho Giáo hội được lập quan hệ ngoại giao thân thiện với đế quốc Mông Cổ, nhưng không được đại hãn chấp thuận.

Những người kế vị Thành Cát Tư Hãn đã chinh phục miền nam nước Nga, đã xâm chiếm miền đông châu Âu và đánh bại các quốc gia chia rẽ ở bắc Nga. Từ đó nước Nga nằm dưới ách thống trị của người Mông Cổ trong suốt hơn hai thế kỷ.

Năm 1241, đại hãn Oa Khoát Đài (Ôđôđây) chết. Nội bộ đế quốc Mông Cổ không ổn định trong một thời gian dài. Các hãn mâu thuẫn, không phục và thậm chí đem quân đánh nhau. Cuối cùng thế lực của gia tộc Đà Lôi (Tôlui) nổi lên và con trai Đà Lôi là Mông Kha (Mông ke) được cử làm đại hãn (1251). Tuy nhiên, trên thực tế, đế quốc Mông Cổ lúc này chia làm hai: lãnh địa của Mông Kha và lãnh địa của Bạt Đô. 

Giành được ngôi đại hãn, Mông Kha đã ra sức củng cố chính quyền trung ương và tăng cường khống chế các vùng đã chinh phục. Chính quyền Mông Cổ dựa vào bọn địa phủ, các lái buôn giàu có và tăng lữ cao cấp ở các nước bị chinh phục. Mông Kha tiếp tục các cuộc hành quân xâm lược, trước hết là chinh phục toàn bộ Ba Tư.

Ngày 15-2-1258, quân Mông Cổ do em Mông Kha là Húc Liệt Ngột (Hulêgu) chỉ huy vượt sông Ame Đa ria tiến vào đô thành nổi tiếng Bagơđát, cướp phá của cải, thiêu huỷ cung điện và tàn sát dân chúng.  Sau khi chiếm được Bagơđát, quân giặc chiếm Lưỡng Hà và xâm nhập Xy ri. Húc Liệt Ngột trở về Ba Tư, thiết lập một hãn mới và sáp nhập các vùng Adécbaidan, Ácmêni, Grudia vào bản đồ quốc gia Ba Tư. Từ năm 1260, một hãn mới được hình thành thoát ly khỏi chính quyền trung ương của đại hãn Mông Cổ.

Mông Kha rất lưu tâm đến vùng đất phía Đông Á và Đông Nam Á, do đó đã cùng em là Hốt Tất Liệt tiếp tục cuộc chiến tranh chinh phục miền nam Trung Quốc (Nam Tống), Nhật Bản, Đại Lý, Đại Việt và các nước Đông Nam Á khác. 

Như vậy, trải qua nửa thế kỷ náo loạn chinh phục, đế chế Mông Cổ đã kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Một đế quốc rộng lớn được thành lập từ bờ Hắc Hải đến bờ Thát Bình Dương. Ở giai đoạn này, đế quốc Mông Cổ đã phát triển và cường thịnh đến tột bậc.

Trong quá trình chiến tranh để mở rộng đế quốc, bọn thống trị người Thát, đại diện là Thành Cát Tư Hãn và những người kế nghiệp đã không dấu diềm những tham vọng điên cuồng của mình là thống trị thế giới. Để thực hiện mưu đồ đó, chúng đã sử dụng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và tàn bạo, lợi dụng tất cả tinh lực, những tài năng, trì tuệ của người Mông Cổ.


_______________________
1.  Sđd, tr.48.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:56:38 am
Nghệ thuật xây dựng lực lượng vũ trang cũng như nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến tranh chinh phục của người Mông Cổ đã đạt đến đỉnh cao của thời đại, trong đó tài năng quân sự của Thành Cát Tư Hãn là tiêu biểu nhất. Thành Cát Tư Hãn ngay từ khi thống nhất các bộ lạc đã phát triển đội cận vệ thành Cấm vệ quân, còn gọi là quân Thiết Bích có số lượng đông đến hàng chục vạn. Đội quân cấm vệ đó ngày càng phát triển, thời bình canh giữ kinh thành, thời chiến trở thành Đại trung quân theo Đại Hãn ra trận.

Bọn thống trị Mông Cổ đã lợi dụng thể chất cường tráng, tinh thần chiến đấu, tài năng cưỡi ngựa bắn cung của nhân dân Mông Cổ và tổ chức quân sự đặc biệt của các bộ lạc du mục để xây dựng một quân đội hùng mạnh, thiện chiến, tiến hành các cuộc viễn chinh xâm lược. Quân đội của các bộ lạc được tổ chức thành các thiên hộ, bách hộ.  Đó là chỗ dựa của giai cấp cầm quyền, là công cụ cưỡng bức quân sự, chính trị, kinh tế của bọn thống trị.

Quân đội của đại hãn được tổ chức từ những đội thường trực vũ trang của các thủ lĩnh quân sự, của các tù trưởng bộ lạc và các lãnh chúa. Lúc đó đàn ông đến tuổi phải đăng lính, ngựa tốt phải ra trận, ngựa xấu được chăn nuôi để dự bị. Tổ chức quân sự và tổ chức xã hội thống nhất. Đối với họ “khi lên ngựa thì sẵn sàng chiến đấu, khi xuống ngựa thì tụ tập chăn nuôi” .

Nhà nước quy định chế độ binh dịch đối với tất cả các trai tráng và huy động tối đa cho chiến tranh. Ngoài ra, các hãn còn có quân hộ vệ rất đông của mình. Qua những cuộc chiến tranh chinh phục, do tiếp xúc với nhiều nền văn minh - văn hoá khác, bọn phong kiến Mông Cổ không tàn sát, cướp giật nhiều như buổi đầu, mà đã biết lợi dụng nhân lực, vật lực và tổ chức vũ trang của các nước bị chinh phục nhằm tăng thêm sức mạnh của họ trong chiến tranh, đồng thời để bảo vệ các vùng lãnh thổ mới chiếm được.

Vừa chinh phục, Thành Cát Tư Hãn vừa lo tổ chức chính quyền, quân đội và đặt quan cai trị Thiên tài quân sự của Thành Cát Tư Hãn, tài năng của các tướng lĩnh cùng với quân đội thiện chiến của họ là những nhân tố rất quan trọng đưa đến thắng lợi trong các cuộc chiến tranh xâm lược của đế chế Mông Cổ thế kỷ XIII.

3. Sự hình thành và phát triển của để chế Nguyên ở Trung Quốc.

Nếu tính từ năm 1207, khi Thành Cát Tư Hãn bắt đầu tiến công vào tây bắc Trung Quốc lúc đó là lãnh thổ nước Tây Hạ đến năm 1279, khi triều đình nhà Tống hoàn toàn bị Hốt Tất Liệt tiêu diệt, thì sau 72 năm đế quốc Mông Cổ mới thống trị được trên toàn lãnh thổ Trung Quốc.

Quá trình thôn tính Trung Quốc của người Mông Cổ diễn ra nhiều giai đoạn. Sau khi lên ngôi đại hãn, Thành Cát Tư Hãn nghĩ ngay đến việc tiến sang phía đông. Đầu tiên chúng tiến công Tây Hạ gồm các tỉnh Cam Túc, Thiểm Tây (các năm 1207-1209); chiếm phần lớn vùng Tân Cương lúc đó do thủ lĩnh Hồi Hột thống trị.

Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn tiến quân vào miên bắc Trung Quốc, bấy giờ là lãnh thổ nước Kim của bộ tộc Nữ Chân, cả một vùng rộng lớn dài hơn nghìn dặm dọc hai bên bờ Hoàng Hà bị đánh phá, cướp bóc và tàn sát. Năm 1215, quân Mông Cổ chiếm được Bắc Kinh (Trung Đô) tức Kinh đô nước Kim lúc đó. Năm 1218, quân xâm lược đánh nước Liêu của người Khiết Đan tại vùng bắc Trung Á và tây Tân Cương ngày nay.

Năm 1226, sau đợt tây chinh (tức sau đợt xâm lược Khôrexmơ, Ápganixtan, Pakistan, Ácmênia, Adécbaidan, Grudia và phía nam nước Nga), Thành Cát Tư Hãn tiến hành một lần nữa đánh Kim, diệt Tây Hạ và bắt đầu đánh Tống. Năm 1234, đại hãn mới là Oa Khoát Đài thống lĩnh quân đội đánh Kim. Nước Kim bị diệt, toàn bộ lãnh thổ Kim từ biên giới giáp Mông Cổ đến Thái Châu (Nhữ Nam, Hà Nam) đã bị chinh phục.

Diệt Tây Hạ, chiếm đất Liêu và thống thống trị đất “Kim” là những bước tiến quan trọng của đế quốc Mông Cổ trên lãnh thổ Trung Quốc. Một vùng đất rộng lớn với đông đảo nhân lực, vật lực đã lọt vào tay người Mông Cổ. Đến đây cuộc chiến tranh 40 năm xâm lược Nam Tống đã mở màn.

Năm 1236, quân Mông Thát đánh xuống Thành Đô, Hán Khẩu của Tống. Đó là sự mở đầu cuộc trường chinh xuống phương nam của đế chế Mông Cổ. Lúc đó, vua Tống vội cử sứ giả sang Đại Việt phong Trần Thái Tông làm An Nam quốc vương, mục đích chính là để liên minh với Đại Việt chống Mông Cổ. Điều này báo hiệu việc không bình thường và tất nhiên tổ tiên ta thời Trần đã theo sát thời cuộc, vì những động tĩnh ở phía Bắc đều có liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia Đại Việt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:57:17 am
Từ khi Oa Khoát Đài chết (1241) đến khi Mông Kha lên ngôi đại hãn (1251), là mười năm đấu tranh trong nội bộ đế chế Mông Cổ. Sau khi ổn định quyền lực, Mông Kha đồng thời chia quân đánh cả mặt tây và mặt đông. Các đại hãn Mông Thát đều coi việc đánh chiếm phía đông là mục tiêu quan trọng nhất, cho nên Mông Kha cũng như Oa Khoát Đài trước đó đều đích thân thống lĩnh đại quân trên hướng tiến công này. Mông Kha cử em mình là Hốt Tất Liệt (Khubilai) trực tiếp phụ trách hướng đông, đánh Đại Lý, Đại Việt, Nam Tống và các nước khác.

Mục tiêu lớn nhất của Mông Kha cũng như Hốt Tất Liệt là chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, mà phần còn lại chủ yếu là của Nam Trung. Bấy giờ, triều đình Nam Tống đang suy yếu. Trước đây, khi Nam Tống bị nước Kim uy hiếp mặt bắc, đã phải cắt nhượng cho Kim những vùng đất quan trọng; nay Nam Tống càng lung lay, suy yếu bởi phong trào khởi nghĩa nông dân liên tục nổ ra. Trong khi Nam Tống ngày càng kiệt quệ thì Mông Cổ lại lớn mạnh và không ngừng bành trướng xâm lược. Đó là một nguy cơ lớn đối với nhân dân các dân tộc Trung Quốc.

Để uy hiếp mặt tây nam của Nam Tống, từ năm 1252, Hốt Tất Liệt được lệnh đánh chiếm vùng Vân Nam Trung Quốc, lúc bấy giờ là nước Đại Lý, dưới triều vua Đoàn Hưng Trí.

Mùa Thu năm 1253, đoàn ky binh thiện chiến Mông Cổ do Hốt Tất Liệt làm Tổng binh và tướng Ngột Lương Hợp Thai (Unangkhađai) làm Tổng đốc quân sự tiến tới Vân Nam. Ngột Lương Hợp Thai đánh chiếm lãnh địa người Sát Hãn Chương, tức người Bạch Man, chiếm thành Long Thủ.  Hốt Tất Liệt đánh nước Đại Lý (tức Nam Chiếu) . Vua Đoàn Hưng Trí bỏ kinh thành chạy.

Sau đó, khi Hốt Tất Liệt được lệnh trở về bắc, Ngột Lương Hợp Thai vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, tiến công thành Thiện Xiên, một căn cứ quan trọng của Đại Lý. Đoàn Hưng Trí bị bắt và đầu hàng quân Mông Cổ. Quân xâm lược tiến đánh khu vực người Hợp Lạt Chương, tức người Ô Man. Năm 1256, Ngột Lương Hợp Thai chiếm các tiểu quốc Bạch Man, Ba Ly và chinh phục các dân tộc thiểu số còn lại. Năm 1257, toàn bộ Vân Nam bị chia thành phủ huyện, người Mông Cổ đặt quan cai trị. Nước Đại Lý mất từ đó. Như thế, quân Mông Thát đã tiến sát biên giới phía tây bắc Đại Việt.

Sau khi chiếm được Vân Nam, đại hãn Mông Kha lập tức quyết định kế hoạch chinh phục nước Tống, bằng cách dốc toàn bộ lực lượng, bất ngờ đánh theo nhiều mũi, nhiều hướng, với mục đích nhanh chóng tiêu diệt triều Tống. Năm 1257, Mông Kha tổ chức lễ tế cờ trên sông Kê ru len trước khi xuất quân đánh Tống.

Theo kế hoạch của Mông Kha, quân Mông Cổ sẽ tiến công vào Tống từ bốn phía. Mông Kha thân dẫn đại quân tiến vào Tứ Xuyên. Cánh quân do Hốt Tất Liệt chỉ huy vượt Trường Giang đánh chiếm Ngạc Châu (Hồ Bắc). Cánh quân do Tháp Sát Nhi (Tôgatra) chỉ huy tiến công miền hạ lưu Trường Giang, vào vùng Kinh Sơn. Cánh quân của Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy sẽ bất ngờ đánh chiếm Đại Việt, rồi từ đó, vu hồi đánh lên Ung Châu (Quảng Tây) và Quế Châu (Quế Lâm) để hợp quân với Hốt Tất Liệt ở Ngạc Châu đánh Tống.

Bấy giờ, ở Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai có khoảng trên ba vạn kỵ binh và khoảng vài vạn quân đầu hàng của Đại Lý.  Sau khi dùng sứ giả chiêu hàng Đại Việt không thành, cuối năm 1257, đầu năm 1258, Ngột Lương Hợp Thai thống suất toàn bộ quân đội của mình tiến công xâm lược Đại Việt để mở đường đánh vu hồi Nam Tống.

Tuy nhiên, đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai đã bị quân dân Đại Việt đánh tan tành, phải chạy về Vân Nam. Đây là thất bại nặng nề đầu tiên của Mông Cổ trong quá trình viễn chinh của chúng.

Năm 1259, Mông Kha tiến quân vào vùng Hợp Châu (Tứ Xuyên). Tướng Tống là Vương Kiên đã tập hợp quân dân, giữ vững thành Điếu Ngư, anh dũng chống cự với hàng chục vạn quân Mông cổ trong suốt năm tháng ròng. Quân Tống trong thành dùng phi thạch (máy bắn đá) đẩy lùi nhiều đợt tiến công, khiến quân Mông Cổ thiệt hại nặng nề.

Tháng 8- 1259, chúa Mông Cổ là Mông Kha tập trung toàn quân để công thành và y đích thân chỉ huy trận quyết chiến. Nhưng phi thạch bắn ra như mưa, Mông Kha bị trúng đạn chết, quân giặc biết tin, hoảng sợ tháo chạy tán loạn. Cuộc tổng tiến công trên đất Tống đến đây coi như thất bại và đợt xâm lược tạm dừng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 12:58:14 am
Được tin Mông Kha chết, Hốt Tất Liệt cùng Ngột Lương Hợp Thai từ Ngạc Châu vội vã lui quân, lo tính trở về Mông Cổ để giành ngôi đại hãn. Nhưng khi chưa về tới Kinh đô Mông Cổ là Hoà Lâm thì nghe tin các quý tộc đã tôn em mình là A Lý Bất Kha (Aric Bu ke) làm hãn, do đó tại thành Khai Bình (thuộc khu tự trị Nội Mông), Hốt Tất Liệt tự xưng là đại hãn, đặt niên hiệu theo chế độ hoàng đế Trung Quốc, lấy năm Canh Thìn (1260) làm năm Trung Thống thứ nhất.  Hốt Tất Liệt công khai tuyên bố tiến hành cuộc chiến tranh chống lại A Lý Bất Kha.

Thấy Hốt Tất Liệt vội vã phá bỏ truyền thống cũ của chế độ tuyển cử Mông Cổ, nhiều quý tộc Mông Thát không chấp nhận ngôi đại hãn của Hốt Tất Liệt, cùng nhau triệu tập đại hội quý tộc tại Hoà Lâm và cử A Lý Bất Kha làm đại hãn. Từ đó, đế quốc Mông Cổ rối loạn và chia rẽ sâu sắc. Hai đại hãn đánh phá lẫn nhau rất ác liệt. Các hãn ở các nước phía tây cũng không chấp nhận quyền đại hãn của Hốt Tất Liệt, đều tự ý tách thành nhưng quốc gia độc lập, riêng biệt. Do vậy.  quyền hạn và sức mạnh của đại hãn Hốt Tất Liệt kém sút nhiều so với các đại hãn Mông Cổ trước đó. 

Cuộc nội chiến giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Kha kéo dài. Trong tình đó Hốt Tất Liệt không mở rộng chiến tranh xâm lược trên đất Tống và các nước khác nữa. Tuy nhiên, để tỏ rõ danh nghĩa là đại hãn của mình, Hốt Tất Liệt đã cử sứ giả đến giao tiếp với nhiều nước, trong đó có Đại Việt. Từ năm 1270, thế lực của Hốt Tất Liệt mạnh dần. Đại hãn Mông Cổ bắt đầu nhòm ngó đến các lân bang, tiếp tục thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống và các nước như Nhật Bản, Cao Ly, Đại Việt và gây ảnh hưởng đến cả Ấn Độ, quần đảo Nam Dương, Chiêm Thành, Chà Và (Java) , v.v. .

Năm 1271, Hốt Tất Liệt thiên đô từ Khai Bình tới Kinh thành mới xây dựng là Đại ĐÔ (tức Trung Đô - Bắc Kinh) và xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nguyên. Như vậy, người Mông Cổ đã tiến thêm một bước trong cuộc củng cố địa vị thống trị của mình ở Trung Quốc.

Uy lực của đế chế Mông Cổ ở trên đất Trung Quốc đã rất lớn. Hốt Tất Liệt quyết định dốc toàn lực vào cuộc chiến tranh tiêu diệt chính quyền Nam Tống. Năm 1273, thành Tương Dương của Tống bị thất thủ. Năm 1274, Hốt Tất Liệt sai các tướng dẫn quân vượt Trường Giang đánh Nam Tống.  Năm 1276, Kinh đô Lâm An (Hoàng Châu) của Tống bị hạ.  Vua Tống Cung Tôn cùng Thái hậu và đông đảo hoàng tộc, quan, tướng nhà Tống bị bắt về Đại Đô (Bắc Kinh).

Triều đình Nam Tống đầu hàng giặc, nhưng một số quan lại yêu nước đã lập một người dòng dõi nhà Tống là Tống Triệu Bính lên làm vua, đóng ở Phúc Châu (Phúc Kiến), tiếp tục kháng chiến. Lúc đó, họ chỉ còn giữ được mấy nơi ở vùng biên giới tây nam như Điếu Ngư, Trùng Khánh và vùng ven biển Quảng Đông.

Trong quá trình quân Mông Cổ xâm lược Trung Quốc, mặc dù triều đình Nam Tống hết sức nhu nhược và hèn yếu không dám kháng cự, nhưng nhân dân Trung Quốc vẫn không ngừng đứng dậy chiến đấu chống lại kẻ thù. Nhà yêu nước nổi tiếng Văn Thiên Tường, lúc đó là Hữu thừa tướng của Nam Tống, đã lãnh đạo nghĩa quân anh dũng bền bỉ chiến đấu ở vùng Giang Tây, Phúc Kiến và Quảng Đông, nhưng vì thế giặc quá mạnh, ông bị quân Mông - Nguyên tập kích và bắt sống. Ông bị cầm tù và từ chối mọi sự dụ hàng của địch, nên bị chúng giết.

Sau khi Văn Thiên Tường bị bắt, Nhai Sơn - căn cứ cuối cùng của Nam Tống bị tiến công.  Quân Tống bị thất bại. Tả thừa tướng Lục Tú Phu ôm vua Triệu Bính nhảy xuống biển tự tử. Dương Thái hậu nhà Tống cùng nhiều người trong hoàng tộc cũng nhảy xuống biển chết theo. Nhà Tống hoàn toàn bị tiêu diệt.

Như vậy, sau khi tiêu diệt Hạ, Liêu, Kim, Đại Lý và Nam Tống, người Mông Cổ đã thiết lập được nền thống trị của họ trên tất cả đất nước Trung Quốc thống nhất. Trung Quốc từ đó chịu sự cai trị của triều đại mới: triều Nguyên. 

Nhà Nguyên, một mặt áp dụng chế độ bóc lột theo kiểu phong kiến Trung Hoa, nhưng mặt khác lại thi hành một chính sách áp bức dân tộc rất lộ liễu, trắng trợn. Để giành đặc quyền cho người Mông Cổ, để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc ở Trung Quốc, bọn thống trị Nguyên chia dân cư thành bốn hạng: hạng nhất là người Mông Cổ; hạng nhì là người Sắc Mục, gồm người Tây Hạ, Ngô Duy Nhĩ và các bộ tộc Trung Á, Ba Tư...; hạng ba là “người Hán”, gồm người Khiết Đan, Nữ Chân, Hán, Cao Ly. . . và hạng thứ tư là người Nam, tức người của Nam Tống.

Các quan chức cao cấp cùng với nhưng chức vụ cao trọng trước hết giành cho người Mông Cổ và sau đó là người Sắc Mục, còn quyền chỉ huy quân đội hoàn toàn thuộc về người Mông Cổ. Chính quyền ra lệnh cấm người Hán và người Nam cất dấu, sản xuất vũ khí, cấm nuôi ngựa, cấm săn bắn và luyện tập võ nghệ. Người Hán chỉ được giữ những địa vị phụ thuộc và luôn luôn bị đề phòng. Do đó, toàn thể dân tộc Hán từ quý tộc đến nông dân đều không bằng lòng với chế độ thống trị của nhà Nguyên và họ chờ cơ hội để nổi dậy.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:21:42 pm
Như thế, triều Nguyên là triều đại thống trị của kẻ chinh phục ngoại tộc trên đất Trung Quốc. Vua Nguyên Hất Tất Liệt bắt chước cách thống trị của phong kiến Trung Quốc, tổ chức chính quyền, hệ thống quan lại và chế độ quân sự gần giống như ở các triều đại phong kiến Trung Quốc trước đó.

Dẫu giai cấp thống trị người Mông Cổ có cố tình thực hiện chính sách áp bức dân tộc lộ liễu đến đâu thì họ cũng không thể cưỡng lại một quy luật tất yếu của lịch sử xã hội Trung Quốc là dân tộc nào thắng họ cũng phải theo nền văn minh của họ, cũng phải chịu ảnh hưởng của sự đồng hoá phi thường của dân tộc Hán.

Và, trên thực tế, triều Nguyên đã bị Hán hoá, trở thành một triều đại lớn trong lịch sử Trung Quốc, tồn tại gần một thế kỷ (1271-1368).  Trong quá trình thống trị đó, vua Nguyên đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh viễn chinh xâm lược để mở rộng lãnh thổ, như đánh Nhật Bản (năm 1274), đánh Miến Điện (1277), đánh Chiêm Thành (1278) và hai lần xâm lược Đại Việt (1285 và 1288).

Đế chế Nguyên thành lập ở Trung Quốc là kết quả của cuộc chinh phục của người Mông Cổ về hướng đông vào vùng Đông Bắc Á. Sự hợp nhất giữa thế lực người Thát Mông Cổ với thế lực Đại Hán ở Trung Hoa đã biến triều Nguyên do người Mông Cổ lập ra thành một triều đại chính thống ở Trung Quốc.

Tình hình đó càng làm tăng thêm sức mạnh của đế chế Nguyên: kết hợp hai tính cách tiêu biểu của hai thế lực, giữa tư tưởng cuồng chiến xâm lược hết sức tàn bạo của người Mông Cổ với tư tưởng Đại Hán bình thiên hạ ở Trung Hoa.

Đó thực sự là một nguy cơ lớn đối với các dân tộc láng giềng. Chính vì thế mà tổ tiên ta thời Trần (thế kỷ XIII) đã luôn đề cao cảnh giác, ra sức xây dựng tiềm lực đất nước, tiềm lực quốc phòng, sẵn sàng đối phó với ngoại xâm.

*


*         *


CHƯƠNG II

BINH CHẾ ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN

Triều Trần, là một triều đại lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thời Trần được xem là một giai đoạn lịch sử oanh liệt nhất thời trung đại, giai đoạn mà dân tộc ta đã vươn lên mạnh mẽ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

Thắng lợi vĩ đại của ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII chứng tỏ tổ tiên ta thời bấy giờ đã xây dựng được một tiềm lực quân sự mạnh dựa trên một binh chế tiến bộ. Với binh chế đó, vương triều Trần đã có quân đội tinh nhuệ và có khả năng huy động được sức mạnh cả nước trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược. 

I- TỔ CHỨC QUÂN SỰ - CÁC NGẠCH QUÂN THỜI TRẦN


Trên nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ đời Lý, triều Trần tiếp tục công cuộc dựng nước, trước hết là củng cố vương quyền, củng cố quốc gia thống nhất, xây dựng tiềm lực quân sự để đối phó với các thế lực xâm lược đang phát triển hùng mạnh ở phía Bắc. Nhà Trần đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức quân sự, tức là ngạch quân của mình, trong đó có quân triều đình, quân địa phương (các lộ, trấn), quân vương hầu và dân binh, hương binh các làng xã, hương bản.

1. Quân triều đình.

Chính quyền nhà Trần thực chất là một nhà nước quân chủ tập quyền phong kiến, là một hệ thống triều chính dựa trên một tổ chức quân sự mạnh mà quân đội triều đình là lực lượng nòng cốt. Để bảo vệ vương quyền, triều Trần rất quan tâm xây dựng quân đột. Quân triều đình, tức lực lượng quân đội do nhà nước trực tiếp tổ chức và chỉ huy gồm hai bộ phận: cấm quân và sương quân. 



Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:24:43 pm
a. Cấm quân.

Cấm quân là lực lượng nòng cốt của quân triều đình, trực tiếp bảo vệ Kinh đô trong đó có hoàng đế (vua) và hoàng tộc.  Cấm quân Đại Việt thời Trần có cơ sở từ thời Đinh, Tiền Lê và Lý.

Ngày 12 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức 10-1-1226), với sự kiện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Trần thay thế triều Lý. Nhà Trần kế thừa các tổ chức hành chính và chuyên môn, các ngạch quan văn và võ trong tổ chức chính quyền nhà Lý. Nhiều đại thần của triều đại mới vốn đã giữ những trọng chức, trong đó có những chức vụ cao thuộc ngạch võ quan dưới vương triều Lý. Chính vì thế, triều đình nhà Trần đã kế thừa toàn bộ cơ cấu tổ chức quân sự của vương triều cũ, kể cả tổ chức cấm quân. 

Đầu thế kỷ XI, cùng với việc chuyển Kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, Lý Thái Tổ cho mở rộng lực lượng cấm vệ quân, làm cơ sở cho các đời vua Lý kế tiếp kiện toàn tổ chức cấm quân. Lực lượng cấm quân thời Lý ngày càng phát triển, trở thành công cụ bạo lực chủ yếu và đắc lực trong việc bảo vệ vương triều.

Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý suy yếu, phải nương tựa vào các thế lực phong kiến khác mà lúc đó mạnh nhất là thế lực họ Trần. Họ Trần dần dần khống chế được chính quyền trung ương, thâu tóm nhiều quyền lực, trong đó quan trọng là quân đột.

Bấy giờ bố Trần Cảnh (Trần Thái Tông) là Trần Thừa giữ chức Thái uý, Trần Thủ Độ đã từng là Điện tiền chỉ huy sứ, đó là những chức vụ quan trọng nắm quyền chỉ huy cấm quân cuối triều Lý. Vì thế, khi giành được vương quyền, lực lượng cấm quân đó trở thành một bộ phận quân đội trung thành với vương triều mới.

Cũng như các triều đại trước, cấm quân thời Trần được tổ chức theo nguyên tắc “Thân quân”, tức quân của vua. Vua với tư cách là một cá nhân đại diện cho cả bộ máy nhà nước,vua đồng nghĩa với nước và quân đội lúc đó cũng là quân của vua và vua đã trở thành thủ lĩnh quân sự tối cao.  Chính vì thế, cấm quân luôn luôn là lực lượng quân đội được coi trọng và được ưu tiên phát triển.

Khác với triều Lý, dưới triều Trần, ngoài Kinh đô Thăng Long cần được bảo vệ cẩn mật, còn có phủ Thiên Trường, nơi quê hương của họ Trần, chỗ ở của các thượng hoàng được coi như kinh đô thứ hai cũng cần được bảo vệ. Do vậy, cấm quân nhà Trần có trọng trách lớn hơn, được mở rộng hơn so với trước để đảm nhận thêm cả nhiệm vụ bảo vệ thượng hoàng và phủ Thiên Trường (Nam Định).

Năm 1246, Trần Thái Tông định hiệu quân, chọn trai tráng sung làm quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Người ở các lộ Thiên Trường và Long Hưng cho làm quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Người các lộ Hồng và Khoái sung làm quân Tả Thánh Dực và Hữu Thánh Dực. Người các lộ Trường Yên, Kiến Xương sung làm quân Thánh Dực và Thần Sách. Đinh tráng tuyển từ các lộ khác sung vào các vệ cấm quân hoặc làm trạo nhi (lính chèo thuyền, khiêng kiệu) và các phong đội (quân địa phương) 1.  Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần là quân túc vệ, gồm 12 vệ quân. Nhà Trần có quê hương từ lộ Thiên Trường, cho nên lấy người bản lộ và những lộ phụ cận làm lính túc vệ để bảo vệ vua và thượng hoàng.
 
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVNT4-QuantucvethoiTranThanhTong.jpg?t=1241796794)

__________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.19


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:28:03 pm
Năm Long Hưng thứ 16 (1298), Trần Anh Tông đặt các quân hiệu Chân Thượng đô, Thuỷ Dạ Soa đô và Chân Kim đô; thích chữ “ Chân Kim” ở trán. Năm 1311, nhà vua đặt thêm quân hiệu mới gọi là Toàn Kim Cương và theo lệ trước đây, đều thích tên quân hiệu lên trán, đồng thời chia quân Thiên Thuộc ra làm hai đô: Thượng Phù đô và Hạ Phù đô.  Hai năm sau, trong một đợt duyệt định các quân hiệu, vua đổi quân Vũ Tiệp làm Thiết Ngạch và cử tướng Trần Thanh Ly làm Vũ vệ đại tướng quân để quản lãnh.

Đời Trần Minh Tông, năm 1315, đặt Phù Liễu đô gọi là Long vệ tướng và năm 1320 lại đổi làm Khấu Mã quân. Năm 1374, ngoài quân Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần, vua Trần Duệ Tông còn dặt thêm quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp, Long Dực, Trần Dực, Diện Hậu và Long Tiệp; trên trán mỗi người lính túc vệ đều xăm hoa và thích tên quân hiệu của mình.

Lính thị vệ bấy giờ được chia thành các đơn vị mang tên: Tạc Ngạch và Hoa Ngạch, gồm Tả ban và Hữu ban. Cuối thời Trần, năm 1378, cấm quân có các quân hiệu như: Thần Dực, Thiên Uy, Thánh Dực, Hoa Ngạch, Thị Vệ, Thiên Trường, Thần Vũ... đặt các chức giám quân cai quản. Sau đó, triều đình tổ chức thêm quân Thiết Thương, Thiết Giáp, Thiết Lâm, Thiết Hổ, Ô Đồ...; chọn các võ tướng giỏi võ nghệ giữ chức quản quân.

Những sử liệu trên tuy rất tản mạn và ít ỏi, song nó cũng cho chúng ta biết tên một số quân hiệu thuộc ngạch cấm quân thời Trần, trước hết bắt đầu từ đời vua Trần Thái Tông, năm 1246. Từ đó, trải qua các đời vua Trần kế tiếp, cấm quân từng bước được mở rộng, hoặc thay đổi tên gọi, hoặc được tổ chức thêm với những quân hiệu mớt.

Về mặt biên chế, từ thời Trần Thánh Tông, năm 1267, điều trình ban bố lệnh tổ chức các đơn vị “quân” và “đô”. Quân đội được chia thành nhiều “quân”, dưới “quân” là “đô” hoặc “ngũ”. Mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 ngườt. Theo sách An Nam chí lược, quân nhà Trần “cứ 5 người một ngũ, 10 ngũ một đô” 1. Như vậy, đơn vị chiến thuật lúc bấy giờ lớn nhất có thể là “quân”, gồm 2.400 người; nhỏ nhất là “ngũ”, từ 5 đến 8 người.
 
Tuy nhiên, khi cần tổ chức những hội chiến lớn đòi hỏi phải điều động một lực lượng đông đến vài vạn hoặc hơn nữa, thì số quân đó được đặt dưới sự chỉ huy của một tướng cao cấp và nhiều phó tướng khác; hoặc có thể huy động nhiều đạo quân lớn do các tướng chỉ huy dưới sự thống lĩnh của một đại tướng.

Theo biên chế trên, đời Trần Tháí Tông chỉ riêng 12 vệ quân Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần đã có 28.800 ngườt.  Các đời vua sau mở rộng quân cấm vệ và do đó quân số cũng tăng lên, nhưng không có số liệu chính xác.  Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: “Số quân buổi đầu nhà Trần mỗi quân là 2.400 ngườt. Các quân cấm vệ và quân các lộ đại ước không đầy 10 vạn” và “quy chế về cấm quân đời Trần Thái Tông đã định, về sau lại đặt thêm mãi số quân không xét rõ được. Đại ước là đặt thêm danh hiệu, chứ thực số vị tất đã nhiều hơn trước” 2. Nói “số quân không nhiều hơn trước” có thể đúng trong thời bình chứ không đúng vào những giai đoạn, những đời vua Trần phải chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước.

Cũng như thời Lý, trong số cấm quân, bộ phận quân lính đóng trong cấm thành rất được coi trọng. Số đinh tráng hạng nhất được tuyển từ các lộ Thiên Trường, Long Hưng và các lộ bản bộ của nhà Trần đều được sung vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Đó là lính túc vệ túc trực và canh gác bên trong cung cấm, nơi vua ở và làm việc. Một số khác, trong đó có đội quân Thiên Thuộc trông nom hành cung Thiên Trường nơi thượng hoàng ở.

Bấy giờ, nhà Trần đem Tức Mặc là quê hương của mình đổi làm Thiên Thuộc, nên quân lính tuyển từ hương ấy cũng gọi là quân Thiên Thuộc. Phạm Ngũ Lão là một vị tướng nổi tiếng trung thành, lại có công lớn được vua Trần Anh Tông tin yêu và  giao cho quản quân Thiên Thuộc. Năm 1314, nhà vua còn cho tuyển các con của những lính và võ quan thuộc cấm quân, đồng thời lấy những người trong quân Thiết Ngạch có thích chữ “Kim Cương” để sung vào đô Phù Liễn, gọi là Long Vệ tướng, sau đổi làm Khấu Mã quân.

Bấy giờ ở sân rồng có quân Long Dực do tướng Trịnh Trọng Tử chỉ huy.  Nhu cầu bảo vệ chính quyền trung ương và bảo vệ đất nước đã thúc đẩy triều đình không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức, biên chế quân đột. Mốc đầu tiên đánh dấu bước phát triển trên lĩnh vực tổ chức, biên chế quân đội nhà Trần là năm 1246, khi vua Trần Thái Tông ban bố lệnh tuyển quân và xét định biên chế.


______________________________
1. Lê Trắc: An Nam chí lược, Sđd, tr.75.
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.57.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:30:58 pm
Lúc đó nhà nước quy định về phương thức tuyển lính và biên chế tổ chức các ngạch quân, chú trọng xây dựng cấm quân. Đời vua Trần Nhân Tông (1278-1293) là giai đoạn nhà Trần có quân đội được tổ chức quy củ và số lượng quân đông nhất. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), quân đội triều đình đã trải qua nhiều lần chỉnh đốn tổ chức, sửa định quân ngũ và cấm quân lúc đó đã được hoàn thiện.

Như vậy, cấm quân thời Trần đã từng bước phát triển cả về quy mô tổ chức và trình độ chính quy. Cũng như thời Lý, cấm quân thời Trần gồm hai bộ phận đảm nhận những chức năng khác nhau.

Một bộ phận là quân túc vệ gồm những người lính tin cẩn tuyển từ các lộ Thiên Trường và Long Hưng đóng ở vòng trong cấm thành, chuyên việc bảo vệ hoàng đế và hoàng tộc, hoặc đóng và bảo vệ hành cung Thiên Trường, nơi có thượng hoàng ở.

Một bộ phận nữa đóng quanh thành hay các vùng phụ cận xung yếu, bảo vệ vòng ngoài; bao gồm các trai tráng tuyển từ các lộ Hồng, Khoái, Trường Yên và Kiến Xương, tức những lộ đông dân, trù phú, ở quanh bản lộ (quê hương) họ Trần. Đó là các quân Thánh Dực và Thần Sách 1.

Trai tráng hạng nhất tuyển từ các lộ khác cũng được sung làm cấm quân “vòng ngoài”. Khi nghiên cứu về binh chế thời Lý - Trần, sử gia Phan Huy Chú có nhận xét: “Đến đời nhà Lý và nhà Trần, đặt quân hiệu có phần kỹ càng hơn. . . trong thành vua có quân túc vệ đội ngũ đông nghiêm” 2.

Điều đáng chú ý là cấm quân dưới thời Lý - Trần là lực lượng quân đội thường trực chuyên nghiệp. Họ được coi trọng và tổ chức theo nguyên tắc “thân quân”, quân của vua, của dòng họ thống trì, được triều đình ưu đãi, được tuyển lựa kỹ, được tổ chức, trang bị và huấn luyện chu đáo. Cấm quân trở thành lực lượng nòng cốt của quân triều đình, là công cụ chủ yếu để bảo vệ bộ máy nhà nước thời Lý - Trần.

Là lính chuyên nghiệp được cấp lương ăn, áo mặc, thậm chí còn được hưởng bổng lộc vào dịp lễ, Tết, cấm quân giai đoạn Lý - Trần không nằm trong diện thay phiên tại ngũ hay trở về sản xuất theo quy định của chính sách “Ngụ binh ư nông”. Để phân biệt với các loại quân khác, lính túc vệ hay cấm quân nói chung đều khắc chữ lên trán hoặc xăm lên mình, lên đùi các hình rồng phượng.

Cấm quân thời Tiền Lê và thời Lý được thích ba chữ “Thiên Tử quân” lên trán. Người lính cấm quân thời Lý được xăm hoa vào ngực, vào chân. Cấm quân thời Trần được thích hình rồng ở bụng, ở lưng và ở hai đùi, gọi là ve rồng, được ghi tên quân hiệu hay được xăm hình hoa lên trán. Bấy giờ, các vua Trần cũng vẽ hình rồng vào đùt. Có  tục lệ này, bởi theo quan niệm là nhà Trần khởi nghiệp từ vùng biển, quen với nghề sông nước và trọng võ nghệ. 

Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã nói: “Nhà ta vốn là người vùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích rồng vào đùi; nếp nhà theo nghề võ nên thích hình rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc” 3. Tuy nhiên, đây cũng là một phong tục của người Việt cổ xưa truyền lạt. Từ thời Hùng Vương, người Việt sống ở ven rừng khi xuống nước đánh cá thường bị giao long làm hại, vì thế vua sai lấy mực xăm lên mình hình Long quân; từ đó dân không bị hoạ giao long nữa. Tục xăm mình của người Việt cổ bắt đầu từ đấy.

Người lính cấm quân thời Trần lấy việc xăm mình hay thích tên quân hiệu lên trán làm điều hãnh diện. Bởi thế, bấy giờ có hiện tượng trai tráng trong Kinh thành học theo mốt cấm quân, thường tự xăm lên mình, buộc nhà nước phải có lệnh cấm. Vua Trần ra lệnh cấm những người khác thích chữ và xăm lên mình để giả dạng cấm quân.


_______________________
1. Quân Thần Sách còn gọi là quân Khoái Hộ, xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.138.
2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.20
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.78.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:34:16 pm
Tục xăm hình rồng lên lưng, bên vế của nhà vua và quân sĩ tồn tại đến đời vua Trần Anh Tông thì bỏ hẳn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Về sau vua nối ngôi không phải thích hình rồng lên đùi nữa, là bắt đầu từ Anh Tông” 1. Năm 1322, nhà vua ra lệnh tuyển quân túc vệ cốt ở khoẻ mạnh, béo trắng, tuấn tú là hơn; cho nên từ đây quân sĩ không xăm hình rồng như trước nữa. Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), quân nhà Trần đã thích vào cánh tay hai chữ “Sát Thát” để tỏ rõ quyết tâm tiêu diệt giặc.

Cấm quân thời Trần luôn luôn thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong nhiệm vụ bảo vệ Kinh thành và đánh giặc  giữ nước. Suốt thời kỳ tồn tại vương quyền, về cơ bản cấm quân đã thể hiện tốt chức năng bảo vệ Kinh đô Thăng Long và phủ Thiên Trường.

Thế kỷ XIII, nhân dân Đại Việt đã tiến hành liên tục ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên (1258, 1285 và 1288). Cả ba lần nhà vua và triều đình nhà Trần đều phải rời khỏi Kinh đô Thăng Long về Trường Yên, Thiên Trường hoặc Châu Ái (Thanh Hoá) .

Tuy nhiên, trong các giai đoạn binh lửa hiểm nghèo đó, cấm quân đã làm tốt nhiệm vụ của mình là bảo vệ vua và triều dình.  Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của các vua Trần, của Trần Quốc Tuấn và các tướng, cấm quân còn thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong các đạo quân chủ lực đánh giặc giữ nước.

Sử xưa không ghi cụ thể công lao riêng của một loại quân nào trong kháng chiến, song chắc chắn với cuộc kháng chiến toàn dân lúc đó, cấm quân đã giữ vai trò chủ lực trong các trận đánh quyết định như Bình Lệ Nguyên, Đông Bộ Đầu (1258), Tây Kết - Hàm Tử, Chương Dương - Thăng Long, Vạn Kiếp (1285) và Bạch Đằng (1288).

Vào cuối thời Trần, cấm quân là lực lượng chủ yếu đi đánh dẹp các thế lực chống đối và các cuộc khởi nghĩa địa phương. Năm 1360, vua Trần Dụ Tông ra lệnh cho cấm quân đi tuần, bắt “giặc cướp” ở các lộ. “Giặc” lúc đó là những gia nô, những nông dân hay các nhà sư nổi dậy chống lại chính quyền.

Triều Trần suy yếu thì cấm quân cũng suy yếu và không còn đủ sức để làm tròn bổn phận bảo vệ Kinh thành trước hoạ xâm lăng của người Chiêm Thành. Điều đó thể hiện ở các năm 1371, 1377 và 1378, lúc quân đội của vua Chiêm là Chế Bồng Nga tiến công cướp phá Thăng Long.  Thuỷ quân Chiêm từ cửa biển Đại An (huyện Nghĩa Hưng) tiến thẳng đến kinh sư cướp bóc, đốt phá, vua Trần phải đi thuyền trốn sang Đông Ngàn (1371) lánh giặc.

Sử chép: “Bấy giờ thái bình đã lâu ngày, thành quách biên cương không có phòng bị, giặc đến không có quân nào ngăn được. Chúng đốt trụi cung điện, nhà cửa. Thư tịch, sổ sách do vậy sạch không” 2. Sử thần Ngô Sĩ Liên than rằng: “Chỉ vì pháp độ xếp bỏ, việc canh giữ bờ cõi mất đi, cho nên như thế. Đến nỗi giặc vào biên thành mà không giữ được, giặc đến kinh đô mà cấm binh không chống lại được, còn gọi là nước thế nào được.” 3.
 
Như vậy, cấm quân là bộ phận nòng cốt của quân triều đình, là quân thường trực tại ngũ, là lực lượng quân sự tinh nhuệ nhất trong quân đội triều Trần. Thời bình, cấm quân bảo vệ kinh đô, bảo vệ vua và triều đình, thời chiến là lực lượng chủ lực xuất chinh đánh giặc.

Đó là công cụ bạo lực chủ yếu, là trụ cột của lực lượng an ninh, quốc phòng của chính quyền quân chủ và cũng là chủ lực quân của nước Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII. 

b. Sương quân.

Trong cơ cấu tổ chức quân thường trực của Nhà nước Đại Việt thời Trần có một bộ phận gọi là sương quân hay tứ sương quân.

Sương quân là lực lượng quân sự canh giữ và bảo vệ vòng ngoài, là binh lính phục dịch, phục vụ chiến đấu trong quân đội nhà Trần được tổ chức theo quy chế của phép “Ngụ binh ư nông” .


___________________________
1.  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.78.
1, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 1, tr. 162.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:38:37 pm
Như đã nói ở phần trên, cấm quân thời Lý - Trần là bộ phận quân triều đình thường xuyên túc trực tại ngũ, được cấp lương ăn và các quân nhu khác. Đó là lực lượng quân sự quan trọng nhất của chính quyền phong kiến. Tuy vậy, trong giai đoạn lịch sử này, ngoài cấm quân là lính chuyên nghiệp phải thường xuyên túc trực ở Kinh đô, triều đình còn có một lực lượng đáng kể quân thường trực thực hiện chế độ binh dịch và luân phiên tại ngũ hay về sản xuất.

Chính sách “Ngụ binh ư nông” là một chính sách quân sự tiến bộ của Nhà nước Đại Việt dưới các thời Lý, Trần và Lê Sơ.  Đó là một quốc sách nhằm “gửi binh trong nông”, gắn liền giữa việc binh và việc nông, giữa kinh tế và quân sự, để bảo đảm cân đối nhân lực canh phòng và sản xuất.

Thời Lý - Trần, chính sách “Ngụ binh ư nông” quy định rằng, trong thành phần quân đội của nhà nước, trừ cấm quân phải thường xuyên túc trực tại ngũ, còn các quân khác (gồm cả quân triều đình và địa phương) được chia thành nhiều phiên, thời bình theo định kỳ một phiên ở lại canh phòng và luyện tập, các phiên khác chỉ có tên trong sổ được về nhà sản xuất tự túc lương ăn, thời hạn mau chóng tuỳ theo từng nơi, từng lúc. 

Tổ chức sương quân dưới các thời Lý và Trần gần giống nhau. Đó là những đơn vị quân đội tương đối “cơ động”, bao gồm những binh lính không chuyên, là số lính canh cổng, bảo vệ kho tàng, những người phục dịch việc nuôi quân, cắt cỏ nuôi voi, ngựa hoặc làm công nghệ, phải tự cấp lương ăn.

Sử gia Ngô Thì Sỹ viết rằng: “Binh chế buổi đầu nhà Lý... lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân có 200 người đều có tả hữu, phải túc trực thường xuyên. Lại có 9 quân như sương quân để sai khiến mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh lại cho về cày cấy hoặc làm công nghệ, tự cấp chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ, xong việc lại cho về làm ruộng” 1.

Binh chế triều Trần cũng coi cấm quân là lính chuyên nghiệp, thường trực tại ngũ bảo vệ Kinh thành, bảo vệ triều đình và được cấp lương, còn các quân khác như sương quân và quân các lộ đều phải thực hiện “ngụ binh ư nông”.

Như thế, nếu cấm quân bao gồm những người lính lấy việc binh làm nghiệp suốt đời thì sương quân chỉ là thứ nghĩa vụ binh dịch của những trai tráng đối với nhà nước. Về nguyên tắc, nó như là một nghĩa vụ bắt buộc của mọi nam công dân từ 18 đến 60 tuổi đã được ghi tên trong “Sổ quân”.  Họ có thể được gọi ra tòng quân, làm lính của triều đình hoặc của các địa phương tuỳ theo yêu cầu của nhà nước hoặc theo tình trạng sức khoẻ của các nhân đinh.

Sương quân không có số nhất định. Những đinh nam đến tuổi phải đăng ký binh dịch, theo kỳ nhập ngũ gọi là đi phen (phiên), với phương thức “tại gia vi nông tại quân vi binh” (ở nhà làm ruộng ở quân đội làm lính) hoặc “tĩnh vi nông động vi binh” (khi hoà bình là nông dân, khi có chiến tranh là lính) . Có thể coi sương quân là lính bảo vệ vòng ngoài Kinh thành. 

Về loại quân này, tác giả của các sử sách cũ gọi là “sương quân”, “tương quân” hoặc “thương quân”, với những ý nghĩa khác nhau như số binh lính canh gác ban đêm hoặc quân canh giữ các kho tàng (quân lương, quân nhu, khí giới). Số quân canh giữ ở các cửa thành Thăng Long cũng gọi là sương quân. Điều này được biết qua sách Việt sử thông giám cương mục.

Trên cơ sở nền cũ do nhà Lý xây dựng, thành Thăng Long được nhà Trần xây đắp kiên cố, “phía đông và tây có  hành lang Giải Vũ, bên tả có cung Thánh Từ, bên hữu là cung Quan Triều, phía ngoài gồm bốn cửa đều có bốn đội lính sương quân thay nhau canh giữ” 2.

Có thời kỳ người ta gọi sương quân là “lao thành binh” vì họ là những người lính làm lao dịch như đắp thành, xây dựng các cổng thành thì thích bốn chữ vào trán, làm việc phát cỏ rậm và cho lệ thuộc vào bốn đội sương quân” 3. Họ cũng là những người dọn cỏ ở Phượng Thành.

_________________________
1. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T. IV, tr.5.
2, 3. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, bản dịch, Nxb.  Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1958, T.V, tr.9-10.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:41:27 pm
Sử sách ghi chép về sương quân quá ít ỏt. Chúng ta chỉ biết được rằng, thời Trần cũng như thời Lý, trừ cấm quân là lính chuyên nghiệp, còn sương quân và ngoại binh (quân địa phương) đều phải thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, thay nhau tại ngũ và về sản xuất. Khi tuyển chọn, cấm quân là lính hạng nhất, sương quân thuộc hạng hai.

Lê Trắc ghi chép về việc điều động sương quân thời Trần như sau: “Việc lấy quân không có số nhất định, chỉ chọn đinh nam nào khoẻ mạnh thì lấy. Cứ 5 người một ngũ, 10 ngũ làm một đô, lại chọn hai người nhanh giỏi luyện tập võ nghệ. Khi có việc điều động thì gọi ra, không có việc thì trở về làm ruộng” 1. Tuy nhiên, số lượng cụ thể của sương quân thời Trần như thế nào vẫn chưa khảo sát được.

Tóm lại, sương quân thời Trần là một bộ phận quân thường trực khá đông đảo trực thuộc quản lý của triều đình, bao gồm những trai tráng tham gia nghĩa vụ binh dịch, nhập ngũ theo yêu cầu trong từng thời kỳ. Sương quân thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, chia phiên thay nhau tại ngũ canh phòng luyện tập, phục dịch hoặc trở về nhà sản xuất tự túc lương ăn.

Lực lượng bán chuyên nghiệp này đã đóng một vai trò quan trọng trong chức năng canh phòng, bảo vệ và lao động lúc hoà bình cũng như chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu lúc đất nước có chiến tranh.

2. Quân các lộ (quân địa phương)

Trong các lộ, trấn hoặc châu của nước Đại Việt thời Trần đều có tổ chức quân sự do quan lại địa phương quản lý và chỉ huy. Lực lượng quân sự này gọi là quân các lộ, trấn hay ngoại binh (quân địa phương).

Triều Trần thay thế triều Lý, củng cố chính quyền trên cơ sở nền tảng đã được xây dựng từ triều đại trước. Bộ máy hành chính được thiết lập, ngày một hoàn thiện từ trung ương đến cơ sở.

Đầu thế kỷ XI, Lý Công Uẩn chia nước thành 24 lộ và hai trạt. Tầng lớp quý tộc, bao gồm những người thân thuộc của nhà vua và một số công thần, nắm giữ các trọng trách ở trung ương và các địa phương, cai quản cả việc quân và việc dân, cả việc hành chính lẫn quân sự.

Sang thời Trần, ở giai đoạn đầu, sự phân chia khu vực hành chính vẫn giống thời Lý, nghĩa là trong nước vẫn có 24 lộ. Đến đời Trần Thái Tông, năm 1242, Đại Việt thực hiện cuộc cải cách hành chính. Cả nước chia thành 12 lộ, hai trại; đặt các chức an phủ, trấn phủ, có hai viên chánh và phó để cai quản.

Theo sách Việt sử thông giám cương mục, 12 lộ thời Trần bao gồm: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Tây, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng, Khoái, Thanh Hoá, và Diễn Châu; ngoài các lộ còn có một số phủ, châu như: Tân Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, Lạng Giang, Thiên Hưng, Thiên Quang, v.v.. 2.

Nhà Trần cho phép quan các lộ tuyển đinh tráng trong địa phương để tổ chức thành “lộ quân”. Số quân trong các lộ không giống nhau, nhiều ít tuỳ lộ lớn, nhỏ và tuỳ nhu cầu phòng giữ trong địa hạt. Đây là lực lượng vũ trang do các lộ cai quản, canh phòng và tác chiến chủ yếu trên địa phương, nhưng khi có chiến tranh lớn, có thể được nhà nước điều động đặt dưới sự chỉ huy chung.

Sử sách xưa của nước ta thường gọi quân các lộ là “ngoại binh”, là “các đội tuyển phong” hay “các đô phong đoàn”.  Năm 1261, nhà Trần tổ chức “phong quân” ở địa phương.  Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Tháng Hai (1261), chọn đinh các lộ, người nào khoẻ mạnh sung làm binh (quân triều đình-tg), còn thì sung vào làm sắc dịch ở các cục, viện và đội tuyển phong ở các lộ, phủ, huyện” 3.


________________________
1.  Lê Trắc: An Nam chí lược, Sđd, tr 75.
2. Việt sử thông giám cương mục, chính biên, bản dịch, Sđd, T. V, tr 20.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.32. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:44:32 pm
Tháng 8- 1344, vua Trần Dụ Tông cho đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để trừ “giặc cướp”.  Sử gia Phan Huy Chú cũng chép lại sự kiện trên từ sách Đại Việt sử ký toàn thơ rằng, “mỗi lộ đặt 20 đô phong đoàn để bắt trộm cướp”. Tháng 2-1363, nhà vua lại xuống chiếu chọn dân đinh sung vào quân các lộ.

“Giặc cướp” ở đây là các lực lượng chống ởồl triều đình, trong đó có nghĩa quân của nông dân, nhà sư hay nô tỳ nổi dậy chống áp bức. Vào giai đoạn cuối Trần, chính quyền phong kiến suy thoái, lực lượng quân triều đình cũng suy yếu không đủ sức “dẹp loạn” và chống ngoại xâm; vì thế nhà vua ra lệnh tăng cường lực lượng quân sự ở các lộ để trấn áp các cuộc nổi dậy.

Theo cơ cấu tổ chức hành chính 12 lộ nói trên thì thời Trần mà cụ thể là đời vua Trần Dụ Tông có lực lượng quân sự địa phương khá đông đảo. Tác giả sách Lịch triều hiến chương loại chí - Binh chế chí nhận xét: “Binh các lộ buổi đầu đời Trần chỉ đặt ở mấy đạo đông, nam, bắc; từ Hoan Ái (Nghệ An và Thanh Hoá) trở vào còn xem là đất xa, có việc mới gọi, ngày thường chưa đặt thành vệ. Từ đời Long Hưng Đại Khánh (1293- 1323) về sau, bờ cõi phía nam khai thác rộng thêm, bấy giờ binh ở Thanh Nghệ và Thuận Hoá mới liệt vào quân hiệu. Cách đặt bày phải dần dần như thế là tuỳ theo nơi gần đặt trước, nơi xa đặt sau” 1.

Như vậy, sự kiện toàn và phát triển của quân các lộ cũng là một quá trình tuỳ theo yêu cầu của nhà nước và vị trí địa lý quân sự từng địa phương.  Cũng như thời Lý trước kia, thời Trần thực hiện chính sách “nhu viễn”, dùng nhiều hình thức để ràng buộc các quan lang, thủ lĩnh các vùng xa, coi họ là quan lại trong hệ thống chính quyền do triều đình quản lý.

Trường hợp năm 1228, Trần Thủ Độ sai sứ đưa sắc thư gia phong Nguyễn Nộn, một thủ lĩnh địa phương làm Hoài đạo hiếu vũ vương và đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho để ràng buộc Nguyễn Nộn là một thí dụ. Chính sách “ki mi” (ràng buộc lỏng lẻo) đối với các dân tộc thiểu số của Nhà nước Đại Việt có từ thời Lý, còn duy trì đến đời Trần, nhưng với một hình thức khác.

Nhà nước thời Trần ít dùng đến quan hệ hôn nhân nói trên so với triều Lý, nhưng tiến hơn một bước đã cắt đặt các đơn vị hành chính cấp trấn, lộ bao khắp vùng lãnh thổ thượng du, biên  viễn. Đó là lộ Lạng Giang, lộ Tam Giang, trấn Thiên Quan, trấn Thiên Hưng, trấn Thát Nguyên, trấn Lạng Sơn, trấn Tuyên Quang, do các an phủ, trấn phủ đứng đầu như ở các lộ khác. Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình và dân cư, đối với các vùng này, nhà nước cũng chỉ nắm giữ đến cấp trấn lộ, còn người đứng đầu các châu, phủ vẫn tuyển chọn từ những thổ tù, tù trưởng, những quan lang người thiểu số.

Với cách quản lý mềm dẻo nói trên, vương triều Trần chẳng những đã xây dựng được một hệ thống chính quyền đến vùng xa, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mà còn quản lý và sử dụng triệt để các lực lượng quân sự địa phương, tạo thêm sức mạnh phòng giữ đất nước.

Nhìn chung trong cả ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), ở khắp các vùng đất nước đều có giặc, quân dân các địa phương đều tích cực tham gia chiến đấu trong đó có phần đóng góp đáng kể của quân dân các vùng rừng núi, các dân tộc thiểu số. 

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 2-1266, thuỷ quân lộ Đông Hải đi tuần ở biên giới, đến núi Ô Lô do biết quân Nguyên đang chuẩn bị tiến công xâm lược, đã báo về kinh thành để phòng bị 2. Điều này chứng tỏ quân của lộ nào thì đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ vùng lãnh thổ trên đất liền hay vùng biển của lộ mình, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với triều đình. Những lúc nhà nước cần thiết điều động thì quân địa phương có thể đặt dưới sự chỉ huy của các vương hầu, quý tộc và chịu sự điều hành của Quốc công tiết chế.
 
Chẳng hạn, tháng 2-1284, khi hơn nửa triệu quân Nguyên chuẩn bị tiến công xâm lược Đại Việt, Trần Quốc Tuấn được lệnh điều động quân các lộ và quân các vương hầu đến để bổ sung lực lượng. Sử chép: “Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn những người dũng cảm làm tiên phong” 3.


___________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.5.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.34.
3. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:47:57 pm
Theo lệnh đó, quân các lộ đã nhanh chóng tập trung. Chỉ riêng Hưng Vũ vương Nghiền, Minh Hiến vương Uất, Hưng Nhượng vương Tảng và Hưng Trí vương Hiện đã chỉ huy 20 vạn quân các xứ Bàng Hà và Trà Hương (thuộc Hải Dương, Hải Phòng), Na Sầm và Long Nhãn (thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang), Yên Sinh thuộc Quảng Ninh) đến cùng hội quân với Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp. 

Vào những thời điểm có chiến tranh lớn, vua Trần thường xuyên xuống chiếu cho phép các vương hầu, quý tộc thống lĩnh quân các lộ giúp vua đánh giặc. Sự kiện nói trên là một ví dụ.

Sách Lịch triều hiên chương loại chí nói rằng:

“Khi ấy quân lính do các thân vương đốc suất mới chỉ ở mấy lộ Đông Nam thôi, còn từ Thanh Hoá trở vào vẫn chưa gọi đến. Cho nên, vua (Trần Nhân Tông) có câu thơ: “Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” (chuyện cũ Cối Kê ngươi còn nhớ, Hoan Diễn hãy còn 10 vạn quân). Đủ biết, binh thế bấy giờ rất thịnh” 1.

Cuộc Chiến tranh nhân dân chống xâm lược Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII khẳng định vai trò to lớn của quân các lộ, phủ trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Quân các phủ, châu phía nam và phía tây còn đảm nhận nhiệm vụ chống lại sự xâm phạm, sách nhiễu, cướp bóc của người Chiêm Thành, Ai Lao và Chân Lạp. Có khi họ độc lập chiến đấu, có khi họ được điều động hợp sức với quân triều đình hay với quân của các vương hầu quý tộc.

Năm 1335, thượng hoàng Trần Minh Tông đã cử Đoàn Nhữ Hài làm đốc tướng chỉ huy đạo quân Thần Vũ và quân Nghệ An đánh quân của Ai Lao sang cướp phá khu vực miền tây Nghệ An. Thời cuối Trần, triều chính suy vi, cấm quân bất lực trước sự tiến công của thù trong giặc ngoài, vì thế nhà nước phải huy động lực lượng “phong quân” các lộ đi đánh dẹp.  Tháng 8- 1358, vua Dụ Tông xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ chỉ huy các đội “phong đoàn” đàn áp các cuộc nổi dậy chống chính quyền.

Trên đây là cơ chế tổ chức và vị trí, vai trò quan trọng của quân các lộ thời Trần. Bình thường quân lộ, phủ do quan lại địa phương trực tiếp quản lý, song tổ chức và hoạt động của nó luôn phải theo khuôn phép của nhà nước, nghĩa là Nhà nước Đại Việt gián tiếp quản lý quân địa phương - thông qua các An phủ sứ, các Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ. . . ở các lộ, phủ.

Việc tổ chức và hoạt động của quân các lộ cũng tuân thủ theo chính sách chung của triều đình, như chính sách “ngụ binh ư nông”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại câu hát trong một trò múa rối đời Trần Thái Tông rằng: “Chóng cho đến ngày mồng một để thay phiên” 2, rất có thể điều này nói đến chế độ luân phiên trong quân đội thời ấy. Sách Binh chế chí chép: “Nhà Trần theo phép nhà Lý, binh túc vệ được cấp bổng hàng năm. . . ; còn binh các đạo thì được chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn lương” 3.
 
Như vậy, cũng giống triều Lý, triều Trần thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” đối với quân các lộ, tức là quân địa phương chia thành nhiều phiên, một bộ phận ở lại canh phòng luyện tập và chịu sai phái việc công trong địa hạt; số còn lại về nhà sản xuất tự túc, “khi có việc gọi ra, không có việc trở về sản xuất”. Quân các lộ thời Trần có bao nhiêu người, họ được chia thành mấy phiên và thời gian ở phiên bao lâu, điều đó không thấy phản ánh trong sử cũ.

Như vậy, quân các lộ, phủ thời Trần là tổ chức quân sự đia phương nằm trong hệ thông lực lượng vũ trang của nhà nước. Đó là quân đội dưới sự tổ chức, quản lý và chỉ huy của quan lại đia phương, là lực lượng quân sự chủ yếu chiến đấu tại chỗ, ngay tại địa phương, khi cần thiết nhà nước có thể huy động như những lực lượng cơ động của triều đình. Đây là tổ chức quân sự có số lượng đông đảo nhất trong hệ thông các thứ quân. Họ vừa tham gia sản xuất vừa canh phòng và luyện tập theo chính sách “ngụ binh ư nông” của nhà nước.  Tổ chức quân sự này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh địa phương cũng nhu trong các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mông-Nguyên hồi thế kỷ XIII.


_______________________
1.  Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.20.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.44.
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T. IV, tr.10.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:48:44 pm
3. Quân vương hầu

Trong cơ cấu tổ chức các thứ quân của Nhà nước Đại Việt thời Trần có một bộ phận quân đội quan trọng, đó là quân vương hầu, là lực lượng quân sự của các vương hầu, quý tộc nhà Trần.

Vương hầu là tầng lớp đại quý tộc, tôn thất (chủ yếu thuộc họ vua) được phong tước vương và tước hầu. Khi mới giành được vương quyền, công việc đầu tiên của nhà vua là kiến tạo quanh mình một tầng lớp quý tộc thân cận, nghĩa là phong tước cho những người có quan hệ họ hàng thân thích gần xa, nội ngoạt. Đó là tầng lớp quý tộc quan liêu, được coi như một đẳng cấp thượng lưu, thống trị trong xã hột.

Dưới triều Trần, tầng lớp quý tộc tôn thất này phát triển mạnh mẽ. Việc phong tước cho quý tộc trong triều được điển chế hoá, chẳng hạn, năm 1267, Trần Thánh Tông đã đặt ra cả một hệ thống tôn thất “kim chi ngọc diệp” (cành vàng lá ngọc), dựa theo tiêu chuẩn “ngũ phục” (năm bậc trang phục) để quy định các tước hiệu. Tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần, vì vậy, được hưởng nhiều đặc ân, được trao giữ các chức vụ cao cấp văn, võ.

Tác giả sách An Nam chí lược có thống kê một loạt các chức đại quan trong triều, với ghi chú rõ ràng là: “Chỉ người trong tông tộc được làm chức ấy”. Trong số đó có những chức quan trọng nhất như tể tướng, phiêu kỵ tướng quân chỉ giành riêng cho các hoàng tử. Chế độ hôn nhân đặc biệt của nhà Trần cũng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của hoàng tộc.

Có thể nói rằng, dưới triều Trần, vương hầu, quý tộc đã đóng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, với một phương thức cai trị điển hình: nền chuyên chế dòng họ. Ở đây, ta có thể tìm thấy bóng dáng xa xưa của những mối quan hệ tông tộc cổ truyền được thích ứng trong một cơ chế nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền mới được thiết lập.

Trên thực tế, khi dựa chắc vào tầng lớp quý tộc tôn thất để tạo nên cái thế “tông tử duy thành”, các vua Trần đã xây dựng quanh mình một hệ thống quan lại trung thành đáng tin cậy vừa gắn bó bằng quan hệ huyết thống, vừa ràng buộc bởi quan hệ vua tôi với một hệ thống quan tước trong bộ máy chính quyền.

Điều đáng quan tâm là việc nhà nước thừa nhận quyền trấn trị và quyền được tổ chức những đội quân riêng của các vương hầu quý tộc. Các vương hầu tôn thất nhà Trần đều được cấp thái ấp và có phủ đệ riêng ở một số vùng như:

- Yên Sinh vương Trần Liễu ở Đông Triều, Yên Hưng (Quảng Ninh).

- Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương).

- Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (Bình Lục, Hà Nam).

- Trần Quốc Chân ở Chí Linh (Hải Dương).

- Trần Nhật Hạo ở Dương Xá (Hưng Hà, Thát Bình).

- Trần Quang Khải ở Cao Đài (Mỹ Lộc, Hà Nam).

- Trần Quốc Tảng ở Tỉnh Bang (Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

- Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hoà (Duy Tiên, Hà Nam),

- Trần Quốc Khang ở Diễn Châu (Nghệ An),

- Trần Nhật Duật ở Văn Trinh (Quảng Xương, Thanh Hoá),

- Trần Khát Chân ở Mai Động (Thanh Trì, Hà Nội).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:55:59 pm
Hiện tượng trên là sản phẩm của chế độ kinh tế - chính trị đương thời, là kết quả của hình thức ban cấp thái ấp thuở ấy. Tuy thái ấp và phủ đệ của các vương hầu tôn thất không lớn lắm, chỉ độ một vài hương, nhưng ở đó cũng khá đông dân, khoảng 100-200 hộ, có nhiều ruộng đất công và nằm ở các vị trí khá quan trọng.

Sự phân bố các thái ấp trên đây là ở một số vùng có địa bàn chiến lược trọng yếu như vùng biên cương phía bắc (Chí Linh, Đông Triều); vùng cửa ngõ phía đông bắc (Tĩnh Bang, Dương Xá - Hải Phòng, Thái Bình); vùng phên dậu phía nam (Diễn Châu, Văn Trinh - Nghệ An, Thanh Hoá); vùng bản bộ và phụ cận của quê hương bản quán nhà Trần (Nam Định); vùng nam Thăng Long (Mai Động - Hà Nội).

Một điểm cần lưu ý nữa là các thái ấp, phủ đệ của các vương hầu quý tộc phần lớn trấn giữ trên các mạch đường giao thông thuỷ, bộ quan trọng, trong đó có cả những ngã ba sông - những điểm chốt trên đường thuỷ có quan hệ với các cuộc cơ động quân đội trong chiến tranh.

Năm 1266, vua Trần Thánh Tông xuống chiếu cho phép các vương hầu. phò mã, công chúa được chiêu mộ dân nghèo lưu tán khai khẩn đất hoang lập điền trang riêng. Vì thế, thời Trần đã xuất hiện nhiều điền trang lớn của quý tộc, tôn thất trong một số vùng.

Tại các địa phương mình trấn trị, tại các điền trang và thái ấp, vương hầu, quý tộc thực sự làm chủ, họ được phép khai khẩn đất hoang, mở mang trang trại, bắt dân lao dịch, thu thuế và đặc biệt họ được quyền tổ chức lực lượng vũ trang riêng. Các vương hầu, quý tộc vừa có quyền lợi kinh tế ở điền trang vừa có quyền lợi chính trị trong triều. Phan Huy Chú viết rằng: “Những vương hầu triều Trần được mở phủ đệ, đều có trại ở hương, khi có lễ chầu thì tới Kinh, xong việc lại về phủ đệ” 1. 
 
Trong thời kỳ có chiến tranh, ở Đại Việt thường xuất hiện những đạo quân của các vương hầu, quý tộc nhà Trần. Sử xưa gọi đó là các đạo quân gia nô hay vương hầu gia đồng.  Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, trước cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn tuy còn ít tuổi cũng đã tổ chức được một đạo quân gia nô và thân thuộc đông đến hơn nghìn người và dựng cờ đề sáu chữ: “Phá cường địch báo hoàng ân”. Đó là một đội quân trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết, háo hức chờ thời cơ đánh giặc, lập công.

Sách An Nam chí lược chép: Thời Trần có ba đô “Vương hầu gia đồng” là Sơn Lao đô, Dược Đồng đô và Toàn Hầu đô. Các học giả Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú, Ngô Thì Sỹ đều chép việc triều đình nhà Trần thường hạ lệnh cho các vương hầu, tôn thất mộ binh và thống lĩnh binh của mình giúp vua đánh giặc.

Những dấu tích xưa còn lại ở những vùng có thái ấp, điền trang của vương hầu quý tộc Trần cho biết phần nào về quy mô các phủ đệ và một số hình thức tổ chức quân sự ở đó. Tại vùng Quốc Hương, tức làng Thành Thị (Bình Lục, Hà Nam) hiện còn dấu vết của khu Cột Cờ, gò Dẻ Quạt, chân thành nội, chân thành ngoạt...

Khu Cột Cờ là một khu đất cao và rộng khoảng 3 sào. Ở đây, ngày trước còn tồn tại tục kéo cờ: hằng năm vào ngày 12 tháng Tám âm lịch, các thôn đem cờ của mình đến treo rồi tổ chức trò đấu vật, đánh gậy, biểu dương lực lượng, các trai tráng đua tài võ nghệ.

Tương truyền khi Trần Thủ Độ về lập phủ đệ ở Quốc Hương, ông cho quân lính khiêng một con rùa đá lên gò đất nơi ông thường dùng để làm bãi tập binh, đặt rùa quay về hướng bắc.  Từ đó, nơi đây gọi là gò Con Quy. Khu Dẻ Quạt gồm năm gò tỏa ra theo hình dẻ quạt. Dân địa phương cho đây là các địa điểm đóng quân. Tại làng Thành Thị còn có di tích nền nhà Cương, đó là khu nhà nuôi ngựa và để yên cương của quân lính của Trần Thủ Độ. Những di tích cùng những địa danh ở làng Thành Thị mà ngày xưa là Quốc Hương chứng tỏ nơi phủ đệ của Trần Thủ Độ đã có một lực lượng quân sự đáng kể.

Ở Dưỡng Hoà (Duy Tiên, Hà Nam) tương truyền là thái ấp của Trần Khánh Dư, có một hệ thống hào lớn bao quanh một vùng rộng khoảng 400 mẫu. Bên trong thát ấp còn có nhiều dấu vết của Dinh Phố, Dinh Tú, Trại Ngựa, Chợ Ngọc, Trại Gang, Trại Lính, Trại Vot... Khu thái ấp này có vị trí quan trọng, nằm gần trục đường thiên lý, phía nam Thăng Long.


______________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.II, tr.76.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 09:57:22 pm
Như vậy, trong sử cũ không nói rõ quy chế của tổ chức quân sự của vương hầu, quý tộc, nhưng qua một số sử liệu và các dấu tích lịch sử còn lại, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, dưới triều Trần ở một chừng mực nhất định, các vương hầu quý tộc được phép tổ chức lực lượng quân sự riêng. Lúc bình thường, quý tộc vương hầu coi gia đồng như một lực lượng thân binh, lúc có chiến tranh họ có quyền tổ chức quân đột. 

Việc mộ quân, luyện quân và điều động quân vương hầu xuất phát từ nhu cầu giữ gìn an ninh trong khu vực, từ yêu cầu chống ngoại xâm, bảo vệ quyền thống trị của dòng họ và theo lệnh điều động của nhà nước mà người đại diện là vua Trần.  Thời bình lực lượng quân sự này tồn tại không đáng kể, chủ yếu họ là một số gia nô, nô tỳ của các quý tộc, vừa sản xuất vừa phục dịch, vừa luyện tập quân sự và được vũ trang ở mức độ nhất định để canh phòng trong trang trại, thái ấp và phủ đệ của chủ mình.

Khi đất nước có chiến tranh các vương hầu quý tộc Trần được quyền “mộ binh và thông lĩnh binh của mình”. Lúc này, quân vương hầu không chỉ có gia nô, thân thuộc mà còn có cả những trai tráng ở các làng, xã lân cận, được tổ chức thành các đạo quân cứu nước, đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của triều đình.

Các đạo quân cứu nước này có thể đông đến vài chục vạn người, như cuối năm 1284, các vương con của Trần Quốc Tuấn đã điều động được 20 vạn quân, trong đó có một phần đáng kể các lực lượng nông nô, nô tỳ trong các điền trang thái ấp.

Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) việc biên giới khó khăn, nhà vua truyền cho các tôn thất, vương hầu mộ thêm dũng sĩ, đinh tráng làm quân gia thuộc. Vào thời điểm đó, quân triều trình, quân các lộ và quân vương hầu được tăng cường nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Nhiều cuộc diễn tập được tổ chức để luyện rèn binh tướng, lựa chọn nhân tài, để cho các quân quen với hình thức chiến đấu hiệp đồng, thành thạo chỉ huy và tác chiến.

Quý tộc Trần có thái ấp, có điền trang, có phủ đệ và đội quân riêng. Điều đó chứng tỏ sự tồn tại ở mức độ nhất định yếu tố phân tán trong xã hội thời Trần. Tuy nhiên, yếu tố này luôn bị hạn chế bởi tính chất xã hội cùng với những chính sách ràng buộc của nhà nước tập quyền.

Về mặt tổ chức cũng như chức năng, quân vương hầu triều Trần không có biểu hiện đối lập đối với trung ương, nhà nước cho phép tổ chức, nhưng quy mô của quân vương hầu rất hạn chế và nhà vua lại có quyền điều động khi cần thiết. Triều đình không cho phép tồn tại những biểu hiện có khuynh hướng mở rộng quyền lực hoặc quy mô phủ đệ của các quý tộc.

Ví dụ, Tĩnh quốc đại vương Trần Quốc Khang (anh em cùng mẹ khác cha của Trần Thánh Tông) được cử trấn trị ở Diễn Châu. Tại đây, Quốc Khang xây dựng phủ đệ có phần lộng lẫy quá mức bình thường. Tin đến triều đình, lập tức vua Trần Thánh Tông cho người đến dò xét khiến Quốc Khang phải biến nó thành nhà chùa thờ Phật.

Đối với các phủ đệ của người khác họ thì triều đình còn nghiêm khắc hơn. Những hiện tượng có ý nghĩa ly tâm nhanh chóng bị xoá bỏ. Năm 1253, nhà nước phải ra sắc lệnh hạn chế người theo hầu của tôn thất và các quan văn võ nhiều thì 1.000 người, ít thì 100 ngườt. Những điều trên chứng tỏ yếu tố phân tán vẫn còn tồn tại, nhưng nhà nước phong kiến thời Trần là một nhà nước tập quyền mạnh. Mối quan hệ tốt giữa vương hầu, quý tộc và nhà vua càng làm tăng thêm sức mạnh của vương triều. Chính sách điền trang, thát ấp của nhà Trần bao hàm cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa quốc phòng là nhờ vậy.

Khi nghiên cứu về mối quan hệ đó, học giả Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) đã thốt lên rằng: “ôi, quốc gia ở trong trời đất phải có đồng minh, việc phân phong cho các người tông thân có lẽ là kế sách hay để giữ nước chăng!”. Và ông lấy làm tiếc các vua Lê không cho con cháu “cai trị ở phủ, lộ để có thể giao tiếp thân mật với dân... cho nên cái thế che chắn của vương hầu làm sao có được nữa” 1.


_____________________________
1. Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, bản dịch, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.144


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:00:33 pm
Tuy nhiên, ở đây Lê Quý Đôn đã quên rằng kinh tế điền trang thái ấp với chế độ phân phong cho vương hầu, quý tộc nói trên không còn phù hợp với xã hội thời Lê nữa.

Sự xuất hiện kinh tế điền trang thái ấp và các đội quân vương hầu quý tộc ở Đại Việt vào thời điểm chuẩn bị chiến tranh hoặc lúc có chiến tranh hồi thế kỷ XIII là điều khác hẳn với thực tế ở các nước phương Tây đương thờt.

Trong khi ở nước ta, dân tộc đã hình thành sớm, chính quyền trung ương đã thống nhất các lực lượng, quản lý tốt các địa phương, thì ở Tây Âu phong kiến thời trung đại chưa có một “quốc gia dân tộc” ổn định, càng chưa có một chính thể trung ương tập quyền vững mạnh.

Tính cát cứ lãnh chúa tồn tại phổ biến, nhiều lãnh chúa phong kiến Tây Âu chiếm hữu hàng chục thái ấp hoặc cả một vùng rộng lớn. Đặc biệt ở Trung Âu đến thế kỷ XIII bóng tối phong kiến còn dày đặc, các nông nô còn quằn quại dưới ách thống trị của các lãnh chúa. Chiến tranh tranh giành lãnh địa diễn ra liên tục, vì vậy đã dẫn đến việc thiết lập các đạo quân riêng rẽ của các lãnh chúa. Chính quyền trung ương không khống chế được họ và cũng không đủ sức ngăn cản các cuộc chiến tranh giữa các lãnh chúa. 

Trong khi đó ở Đại Việt, vương hầu, quý tộc là một bộ phận trong chính quyền. Về cơ bản quyền lợi của quý tộc tôn thất thông nhất với quyền lợi của nhà vua. Chính sách phong cấp thái ấp, khuyến khích thành lập điền trang ở thời Trần là một tất yếu lịch sử trước yêu cầu củng cố và tăng cường quyền lực thông trị của dòng họ và trước yêu cầu giữ nước. Quân vương hầu là một bộ phận trong tổ chức quân sự của quốc gia Đại Việt.

Sự khác biệt nói trên do nhiều nguyên nhân, có thể vì quá trình hình thành chế độ phong kiến Việt Nam diễn ra theo một quy luật riêng, khác với con đường phát triển kinh tế lãnh địa với quan hệ lãnh chúa - nông nô, hay nói chung là khác quá trình nông nô hoá như ở phương Tây.

Các sử sách của nước ta đều ghi chép sự kiện năm 1282: “Vua sai các vương hầu, tôn thất mộ binh và thống lĩnh binh của mình” 1; hoặc giữa năm 1286 “sai Hưng Đạo vương thống đốc các vương hầu tôn thất điều quân và làm đồ binh khí, thuyền ghe” 2. Cũng năm đó, vua Nhân Tông hạ lệnh cho các vương hầu tôn thất chiêu mộ binh lính, sắm sửa vũ khí đề phòng lúc chiến đấu hoặc khi phòng thủ.

Khi được tin quân Nguyên sắp mở cuộc tiến công xâm lược, các vua Trần đều thân chỉ huy các vương hầu điều động quân thuỷ bộ thao diễn chiến trận. Trần Quốc Tuấn điều khiển các sắc quân của vương hầu, mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu 3.
 
Và, trong các lần chiến tranh, quân vương hầu đã thể hiện được vai trò “giúp vua đánh giặc” của họ. Sử chép: “Năm Nguyên Phong (đời Trần Thái Tông) giặc Nguyên sang cướp, vương hầu đem gia hầu và hương binh, thổ hào sung vào đội quân cần vương; việc biến năm Đại Định (1369), vương hầu đem quân thôn trang sắm sửa nghi trượng để đón vua mới” 4. . . Đó cũng là những biểu hiện về vai trò, tác dụng của quân vương hầu.

Các sử gia phong kiến nước ta đều đánh giá cao vai trò của quân vương hầu mà trong đó có những chiến binh vốn là gia nô, nô tì hoặc những nông nô ở các điền trang, phủ đệ. 

Ngô Thì Sỹ chép: “Lúc nhà Trần đương thịnh, đánh nhau với giặc Hồ (tức giặc Mông - Nguyên), nhờ sức các gia nô của vương hầu nhiều lắm” 5.


______________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.5. 
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.58.
3. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t. 5, tr.60.
4. Năm 1369, Dương Nhật Lễ cướp ngôi vua Trần, tôn thất nhà Trần đem quân đón Trần Húc ở Đà Giang về giết Nhật Lễ, lập vua Trần Nghệ Tông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.32. 
5. Ngô Thì Sỹ : Việt sử tiêu án, Sđd, tr.244.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:03:37 pm
Đạo quân gia nô và thân thuộc của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đã chiến đấu anh dũng trong các trận đại phá quân Nguyên ở Tây Kết, Chương Dương - Thăng Long, ở Như Nguyệt.

Các gia nô như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô nổi tiếng về tinh thần kỷ luật, về trung thành và trí dũng trong chiến đấu. Dưới trướng Trần Quốc Tuấn, Yết Kiêu và Dã Tượng rất mực trung thành và chăm lo luyện rèn võ nghệ, trở thành những chiến binh dũng cảm, vừa giỏi liến đấu trên bộ lại tài bơi lội khi đánh thuyền giặc.

Lòng trung của Yết Kiêu được sử cũ chép trong sự kiện ở Bãi Tân (Nội Bàng) vào đầu năm 1285. Lúc đó, quân Nguyên mở cuộc tiến công xâm lược quy mô lớn, giặc tiến như gió thổi như lửa cháy, Trần Quốc Tuấn chỉ huy cánh quân trấn giữ phía đông bắc gặp nhiều thất lợi, buộc phải lui quân. Dã Tượng nói rằng: “Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương, tất không chịu dời thuyền”. Quốc Tuấn đến Bãi Tân, quả nhiên một mình Yết Kiêu còn ở đó. Thuyền vừa xuôi thì kỵ binh Nguyên đuổi tới, chúng trông thấy thuyền Yết Kiêu lặng lẽ trôi mà đành chịu. Trần Quốc Tuấn thoát được nhờ lòng quả cảm và tính kỷ luật không rời bỏ vị trí chiến đấu của Yết Kiêu. Cảm kích trước lòng trung dũng đó, Quốc Tuấn đã nói: “ôi, chim hồng hộc có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh, nếu không có chiếc lông cánh thì cũng như chim thường thôi” 1.

Lòng trung của Yết Kiêu và Dã Tượng còn làm Trần Quốc Tuấn cảm động rơi nước mắt khi ông đem câu chuyện của Trần Liễu hỏi ý kiến họ. Nguyễn Địa Lô cũng là một gia nô của Trần Quốc Tuấn, thường ngày rất tích cực tập luyện cung kiếm và trở thành một tay thiện xạ nổi tiếng. Chính Nguyễn Địa Lô trong trận Ma Lục vùng Chi Lăng (năm 1285) đã bắn chết tên Việt gian Trần Kiện ngay trên mình ngựa khi y cùng với bọn Trần Tú Hoãn, Lê Trắc đang chạy sang đất giặc.

Trong đội ngũ “gia thần, gia nô, gia đồng” thời đó có những người vì tài năng quân sự và có nhiều cống hiến lớn trong chiến tranh đã trở thành những võ quan cao cấp, như trường hợp Phạm Ngũ Lão. Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Ngũ Lão là gia thần của Quốc Tuấn. Quốc Tuấn thấy tài năng khí độ vượt hơn mọi người, gả con gái cho, nhân đó tiến cử lên triều đình. Ngũ Lão theo Quốc Tuấn đánh giặc có công to” 2. Năm 1300, Ngũ Lão được trao chức Thân vệ đại tướng, quản quân Thiên Thuộc.

Sử sách còn nhắc đến sự kiện năm 1292, những khi vua Trần Nhân Tông ngự chơi ngoài hành cung, gặp gia đồng của các vương hầu thường gọi tên và hỏi: “chủ mày ở đâu?” và răn dạy các vệ sĩ không được thét đuổi họ. Vua lại nói với các quan hầu cận rằng: “Ngày thường có thị vệ hai bên, đến khi nhà nước có hoạn nạn thì chỉ thấy có bọn ấy đi theo mà thôi” 3. Điều đó cũng chứng tỏ ngay vua Trần cũng cảm mến và đánh giá rất cao sự đóng góp của những người lính vương hầu.
 
Đến nửa sau thế kỷ XIV, xu hướng quan liêu, tha hoá, xa dân trong đội ngũ vương hầu quý tộc phát triển. Đó cũng là một nguyên nhân làm chính quyền nhà Trần suy yếu.  Ngày trước, nếu thế lực của điền trang, thái ấp của vương hầu góp phần quan trọng củng cố quyền lực chính quyền trung ương, giữ vững địa vị thống trị của vương triều, thì đến nay, gia nô, nô tỳ ở các điền trang bị bóc lột và đối xử thậm tệ nên đã nổi dậy hay bỏ trốn, đâu còn cho phép điền trang trở thành những pháo đài địa phương phục vụ cho chính quyền trung ương nữa.

Khi kinh tế điền trang thái ấp đã lỗi thời thì nó không còn vị trí trong xã hội như trước; nhà nước phong kiến Đại Việt cũng không cho phép các chủ điền trang tổ chức lực lượng quân sự riêng nữa. Phép “hạn điền” “hạn nô” của Hồ Quý Ly ban hành đã đánh mạnh vào loại hình kinh tế này. Tuy vào cuối thời Trần, lãnh địa của các đại vương và trưởng công chúa vẫn còn, nhưng tổ chức quân vương hầu về cơ bản không còn tồn tại nữa.

Như vậy, dưới triều Trần, lực lượng nông nô, nô tỳ đã gia nhập quân đội, tham gia chiến đấu. Phần lớn họ được tổ chức thành các đạo quân dưới sự chỉ huy của các vương hầu, quý tộc Lực lượng quân vương hầu được nhà nước huy động và đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt trong ba lần kháng chiến; khi hoà bình họ lại trở về với công việc sản xuất hay phục dịch của mình trong các thái ấp, phủ đệ của quý tộc Trần.

Sự xuất hiện quân vương hầu là một hiện tượng xã hội, là một nét đặc thù trong hệ thông tổ chức quân sự thời Trần.  Loại quân này sinh ra và mất đi cùng với sự xuất hiện và tiêu vong của chê’độ kinh tế điền trang thát ấp thời đó.


____________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr 51.
2. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.5, tr.86. 
3. Đại Việt sử ký toàn thơ, Sđd, t.2, tr.68.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:06:10 pm
4. Dân binh làng, xã

Dân binh (hương binh hay thổ binh) là một bộ phận trong tổ chức lực lượng vũ trang thời Trần; đó là tổ chức quân sự cơ sở ở các địa phương có nhiệm vụ chủ yếu là canh phòng, bảo vệ trị an và đánh giặc bảo vệ làng, xã quê hương mình. 

Nếu như quân triều đình nhà Trần được tổ chức chính quy tinh nhuệ, số lượng không đông nhưng đóng vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nói chung và nếu như quân địa phương thời Trần là lực lượng quân thường trực ở các châu, lộ có số lượng vừa phải, chiến đấu chủ yếu bảo vệ địa phương. . . thì dân binh là lực lượng vũ trang địa phương đông đảo nhất, là tổ chức quân sự cơ sở gắn liền với sản xuất, dưới sự chỉ huy của các xã quan, của những thủ lĩnh quân sự địa phương hoặc những người có uy tín, giỏi võ nghệ trong các vùng.

Tổ chức dân binh bao gồm những đinh nam trong làng bản, những trai tráng đã được ghi tên trong “Sổ quân” mà chưa nhập ngũ, những nông dân đã làm nghĩa vụ binh dịch trở về địa phương. Đối với họ “tĩnh vi nông, động vi binh” tức là lúc “vô sự” là dân, lúc có giặc là binh.

Trong thời bình, dân binh vừa là tuần đinh, vừa là người dân thường, vừa sản xuất vừa bảo vệ trị an trong vùng; khi có chiến tranh họ nhanh chóng được tổ chức và trở thành một lực lượng quân sự quan trọng đánh giặc giữ làng, giữ nước. 

Trên cơ sở tình yêu quê hương, đất nước, với ý thức Làng-Nước, Nước-Nhà, Nước gắn liền với Làng và với những mối quan hệ truyền thống trong gia đình, tông tộc, láng giềng, thôn xã..., dân binh thực sự là một tổ chức để trăm họ, muôn dân có thể trực tiếp đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung là đánh giặc để bảo vệ quê hương, đất nước.

Tầm quan trọng của dân binh không chỉ vì nó có số lượng lớn chiến đấu tại chỗ, có mặt ở khắp mọi nẻo miền Tổ quốc, dân binh còn là nguồn bổ sung dồi dào, vô tận cho lực lượng vũ trang thường trực theo tinh thần “có việc điều động thì gọi ra” . 

Khác với tên gọi “giặc cỏ”, “giặc cướp” mà bọn xâm lược và phản động thường gán cho, dân binh đúng như tên gọi của nó, trước hết là những người dân bình thường ở các hương xã, được tổ chức, được trang bị và huấn luyện ở mức độ nhất định, vừa canh phòng, chiến đấu vừa sản xuất và khi có chiến tranh họ là lực lượng nòng cốt của làng, xã chiến đấu. 

Trong các địa phương thời Trần, đã hình thành những đội dân binh tuân theo phép nước. Tuy số lượng nhiều hay ít không do triều đình quy định, nhưng mỗi làng, bản đều căn cứ vào sổ hộ tịch và theo nhu cầu để quy định số lượng dân binh - tuần đinh đảm đương việc làng. Bình thường họ chỉ là những đội tuần đinh có số lượng nhỏ; gặp khi giặc giã, biến loạn thì ai có tên trong danh tịch hương binh đều phải ra phục dịch, chiến đấu; xong việc họ lại về nhà làm ăn. 

Dưới thời Trần, trước khi bước vào các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, không chỉ ở Kinh đô Thăng Long mà ngay cả ở các phủ đệ vương hầu và đặc biệt là từ các hương ấp, bản làng đã diễn ra không khí náo nức chuẩn bị kháng chiến. Nhiều làng xã mở lò luyện võ, “toàn dân sắm sửa vũ khí, đóng thuyền ghe”, tự vũ trang và tổ chức những đội dân binh sẵn sàng đánh giặc, đáp lời kêu gọi của triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến đều phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh, không được đầu hàng giặc” 1.

Thế kỷ XIII, dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, cuộc chiến tranh nhân dân đã phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Sự phát triển của lực lượng dân binh cũng như sự tham gia chiến đấu của họ thật phong phú và đa dạng.

Trần Phu, sứ giả nhà Nguyên đã viết về hoạt động của dân binh Đại Việt như sau: “Mỗi khi có biến động là trai tráng khắp mọi nơi kéo ra ngay, khí giới đều tự họ trang bị lấy, có người còn vác cả cây gậy trơn” (Sử Giao Châu cảo).

Thực hiện mệnh lệnh của vua, nhân dân các làng xã trong nước với nhiều hình thức đều tham gia chiến đấu. Phan Huy Chú đã tổng kết: “Lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì hết sức chống cự, thế là đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh” 2.


___________________________
1. Nguyên sử, q.209, t.7b.
2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.6.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:10:03 pm
Tổ chức dân binh với cấu trúc đặc biệt của làng xã chiến đấu ở nước ta từ xưa, đã tạo nên một nguồn sức mạnh quân sự, đã trở thành những pháo đài xanh kiên cố, những chướng ngại tai hại trên bước đường hành quân chinh phục của bọn xâm lược.

Trong chiến tranh giữ nước, lực lượng dân binh đã có mặt ở khắp nơi, dưới sự chỉ huy của các xã quan, hào trưởng hay thổ tù họ đã anh dũng chống lại quân giặc. Tổng kết lần kháng chiến thứ ba (1288) chống giặc Mông - Nguyên, cả nước Đại Việt chỉ có hai hương Bàng Hà và Ba Điểm là không đánh giặc, còn hầu hết các hương xã nơi có giặc đến đều anh dũng chiến đấu, ngăn chặn bước tiến của chúng. 

Vua Trần Nhân Tông ra lệnh xử tội đồ quân dân hai hương đó, cho làm thang mộc binh (lính hầu trong các vùng đất phong của vương hầu), cấm họ đời đời không được làm quan và ban cho tể thần làm “sai sử hoành” (tức nô tỳ); những hương xã có công đánh giặc thì được ban thưởng và ghi vào chính sử. Tiêu biểu về tinh thần chiến đấu lúc bấy giờ là dân binh làng Cổ Sở (Yên Sở) đã đánh thắng hai cuộc hành quân cướp phá của giặc vào các năm 1258 và 1288.

Năm 1258, sau khi chiếm được Thăng Long, vì thiếu lương ăn, kỵ binh Mông Cổ tiến hành các cuộc hành quân cướp phá quanh thành, nhưng ở đâu chúng cũng bị nhân dân chống trả mãnh liệt.  Khi chúng tiến đến làng Cổ Sở, hương binh và dân chúng ở đây đã đánh cho chúng tan tác bỏ chạy.

Cũng năm đó, dân binh ở trại Quy Hoá do chủ trại Hà Bổng và Hà Khuất chỉ huy đã chặn đánh kỵ binh Mông Cổ trên đường tháo chạy. Sử chép “Quân Mông Cổ chạy trốn về, đến trại Quy Hoá, chủ trại là Hà Bổng chiêu tập người Man ra tập kích, cả phá bọn chúng” 1.

Trong kháng chiến lần thứ hai (1285), dân binh làng Yên Duyên (Quảng Xương, Thanh Hoá) dưới sự lãnh đạo của viên đại toát (xã quan) Lê Mạnh, chặn đánh quân Toa Đô buộc chúng phải tháo chạy khi vừa xâm phạm vào địa phận của làng. Bi ký chùa Hưng Phúc khắc năm 1324) chép: “Đại toát đại liêu ban Lê Mạnh đã đốc suất dân chúng trong hương ra phòng ngự ở bến Cổ Bút, đánh nhau với quân giặc, giặc hầu như không còn đường tháo lui được nữa. Nhưng hiềm vì trong hương có kẻ gian giảo hàng giặc, đã dẫn đường cho chúng, nên nhà cửa đều bị giặc đốt phá” 2.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết rằng: “Giặc Nguyên vào cướp, các vương hầu đem hương binh và thổ hào sung vào đội quân cần vương” 3. Như vậy lực lượng dân binh, hương binh thời Trần cũng đã chịu sự điều động và chỉ huy của các vương hầu quý tộc Trong các giai đoạn phản công chiến lược, dân binh đã tập hợp thành những lực lượng lớn, phối hợp với quân chủ lực tiến công, tiêu diệt địch.

Tháng 2- 1285, thổ binh người Tày mà thủ lĩnh là Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đã cùng với quân địa phương và quân triều đình đánh trận Ma Lục nổi tiếng, tiêu diệt bọn phản động Trần Kiện và đoàn quân Nguyên hộ tống trên đường tháo chạy sang Trung Quốc. Ba tháng sau, các đội dân binh do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền hợp cùng với quân của Thượng tướng Trần Quang Khải và quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đánh tan giặc ở Chương Dương - Thăng Long.

Lịch sử ghi nhận chiến công của dân binh các làng xã ở huyện Phù Ninh (Vĩnh Phú) do hai anh em Hà Đặc và Hà Chương chỉ huy; bằng trí thông minh và lòng dũng cảm, đã đánh tan giặc Nguyên khi chúng rút chạy qua địa phương mình. . .

Dân binh chiến đấu độc lập giữ làng bản, họ chiến đấu trong các đạo quân do các thủ lĩnh địa phương hay các vương hầu, quý tộc thống linh, họ còn hợp sức đánh giặc cùng với các đạo quân chủ lực của triều đình. Quả là, nếu không có sự phối hợp của dân binh thì không thể nhân thêm sức mạnh chiến đấu lên được.


__________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.28.
2. Theo Phùng Văn Cường và Phạm Văn Kính: Một tấm bia thời Trần mới phát hiện, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 156, tr.69.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.32.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:12:30 pm
Chính vì thế, sự kết hợp giữa dân binh với quân các lộ và quân triều đình đánh giặc là một đặc điểm trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược thời Trần. Dân binh Đại Việt đánh giặc mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi vũ khí với nhiều hình thức. Đó cũng là một điểm nổi bật của dân chúng vũ trang đánh giặc đã được Ăng ghen tổng kết khi nghiên cứu về nhân dân tự nguyện chiến đấu cho nền độc lập của mình, rằng: Một dân tộc muốn giành được độc lập cho mình thì không tự giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường. Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp mọi nơi - đó là phương thức duy nhất, nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể thắng được một dân tộc lớn, mà một quân đội ít mạnh hơn có thể đương đầu được với một đội quân mạnh hơn và có tổ chức tốt hơn 1.
 
Hoạt động chiến đấu của dân binh khắp nơi đã làm quân giặc khiếp sợ. Những đội dân binh đó đã thực sự “liều chết mà đánh khi có giặc ngoài đến”, đồng thời cũng hoạt động trong lòng địch, ở những vùng quân địch đã tiến qua hay chiếm đóng; họ đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên.

Vai trò của dân binh quan trọng như vậy, song tổ chức quân sự này chỉ được phát huy khi nhà nước phong kiến đang trong giai đoạn tiến bộ, khi những người cầm quyền nhận thức đúng nó, thi hành những chính sách tiến bộ, biết tổ chức họ và có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, biết dựa vào dân tiến hành các cuộc chiến tranh giữ nước hay để bảo vệ một vương triều tiến bộ.

Từ giữa thế kỷ XIV, Nhà nước phong kiến Đại Việt suy yếu, vua quan nhà Trần lo sống xa hoa hưởng lạc, bóc lột, xa rời dân chúng. Vì thế nhân dân các địa phương đã bất bình và nổi dậy chống áp bức. Chính dân binh lúc đó đã trở thành lực lượng đối kháng giai cấp, chống lại chính quyền phong kiến.

Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội phát triển dẫn đến những cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần, như các cuộc khởi nghĩa Ngô Bệ, của nông dân ở Lạng Giang và Nam Sách, ở Nghệ An và Thanh Hoá. Đó là những lúc “dân nổi can qua” chống lại triều đình, buộc các vua Trần phải huy động cấm binh hay quân các lộ đi đánh dẹp những cuộc nổi dậy mà chính quyền gọi là “giặc cỏ” hay “giặc cướp” “làm loạn” ở địa phương.

Tóm lại, trong khi chú ý xây dựng lực lượng vũ trang thường trực, chuyên nghiệp để làm công cụ chủ yếu bảo vệ chính quyền hoặc để giành được những thắng lợi quyết định trong chiến tranh chống lại những kẻ thù đông và mạnh, thì Nhà nước Đại Việt vẫn luôn lưu tâm đặc biệt đến tính rộng khắp của lực lượng vũ trang nhằm tạo ra một lực lượng quân sự không chuyên nghiệp có thể canh phòng và chiến đấu tại chỗ và việc xây dựng tổ chức dân binh địa phương cũng để nhằm mục đích đó.

Tổ chức dân binh cũng như vai trò chiến lược của họ chính là một nét độc đáo cửa lực lượng vũ trang thời Trần. Đó là một tổ chức quân sự cơ sở, rộng khắp trong các làng bản, thôn ấp có nguồn gốc từ xa xưa, vừa mang tính tự nguyện vừa được nhà nước thể chế hoá, để mọi người dân đều có thể tham gia đóng góp vào sự nghiệp đánh giặc giữ làng, giữ nước.

Ở thế kỷ XIII, Nhà nước phong kiến thời Trần đã biết tổ chức và động viên dân binh các làng xã, tạo nên thế mạnh của cuộc chiến tranh toàn dân, cả nước đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương xứ sở của mình.

II. CHẾ ĐỘ TUYỂN MỘ VÀ ĐỘNG VIÊN QUÂN ĐỘI

1 Quản lý nhân đinh - một cơ sở để tuyển mộ và động viên quân đội.

Cũng như lệ cũ của triều Lý, vấn đề định quân hạng, tuyển mộ và động viên quân đội dưới triều Trần căn cứ vào số lượng đinh tráng đã được phân hạng và quản lý từ các cơ sở làng xã.

Ở Đại Việt, vấn đề dân tịch và quân tịch luôn luôn gắn liền với nhau. Để tuyển mộ binh sĩ, xây dựng quân đội quốc gia và lực lượng vũ trang nói chung được hùng mạnh, điều trước tiên nhà nước phải nắm vững và quản lý nhân đinh trong nước.

Vì thế, việc lập hộ tịch và khai báo dân đinh được tiến hành đều đặn với định kỳ một năm một lần vào mùa Xuân ở các địa phương và do các xã quan đảm nhận dưới sự giám sát của quan lại trung ương. Sách Đại Việt sử ký toàn thơ chép: “Theo lệ cũ, hàng năm đầu mùa Xuân, các xã quan lại khai báo hộ khầu, gọi là đơn số, rồi sau đó theo sổ mà kê ra các hạng: Tôn thất, quan văn giai, quan theo hầu, quân nhân, tăng đạo, hoàng nam, già yếu, bất cụ, phụ tịch, phiêu tán, v.v..” 2.


____________________________
1. Ph. Ăng ghen: Sự thật bại của người Piêmông, trong Ăng ghen - Lênin - Xtalin: Bàn về chiến tranh nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.72.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.9.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:15:34 pm
Năm 1242, Trần Thái Tông thực hiện cải cách hành chính, củng cố hệ thống quan lại địa phương, đặt các chức đại tiểu tư xã cùng các xã chính, xã sử, xã giám, gọi chung là xã quan. Vua ra lệnh làm sổ hộ khầu, phân hạng đinh nam, dưới 18 tuổi gọi là hoàng nam, từ 18 tuổi trở lên gọi là đại hoàng nam; tất cả các hoàng nam và đại hoàng nam đều được ghi tên trong quyển sổ bìa vàng (Sổ quân), trở thành nguồn binh của nhà nước.

Như vậy, công tác quản lý nhân đinh dưới triều Trần về hình thức cũng giống như triều Lý, được tiến hành rất cẩn thận. Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: “Buổi đầu nhà Trần sổ hộ tịch cứ hàng năm làm kế tiếp, phép làm rất rõ và kỹ, vì noi theo phép cũ của nhà Lý nên được như vậy. Về sau số ngạch đã định, lấy làm thành lệ, các đời vẫn có tra xét thêm, nhưng không tường tận bằng trước” 1. 

Tuy dựa vào con số khai báo hàng năm của các xã, nhưng qua vài năm triều đình lại sai quan các lộ đứng ra tổ chức làm sổ hộ tịch của lộ mình để tâu trình lên trên. Có mẽ vì thế, sách Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn có nói: “Lối cũ nhà Trần, cứ ba năm lại một lần làm lại sổ hộ tịch” 2.

Ở các vùng đất xa, nhà nước thường phái các quan đại thần về trực tiếp chỉ đạo các quan lộ, trấn và xã làm sổ hộ tịch. Chẳng hạn, năm 1233, Trần Thái Tông sai Phụ quốc thái uý Phùng Tá Chu đi duyệt các sắc mục ở Nghệ An. Năm 1238, nhà vua sai Thống quốc Thát sơ Trần Thủ Độ đi duyệt định số đinh ở phủ Thanh Hoá. Năm 1316, Trần Minh Tông sai Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đi Diễn Châu để lập sổ binh và dân. Năm 1366, vua Trần Dụ Tông cử Tả bộc xạ Tăng Khoan và Hữu bộc xạ Lê Quát đi xét định sổ đinh ở Thanh Hoá.

Phùng Tá Chu, Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Tăng Khoan và Lê Quát đều là những bậc đại thần trong triều, vì thế chúng ta có thể hình dung được công tác lập sổ đinh dưới triều Trần quan trọng đến nhường nào.

Vấn đề quản lý nhân khầu mang nhiều ý nghĩa, như việc phân hạng đinh nam để tuyển lính, ổn định cư dân, bảo đảm điều động nhân lực xây dựng đất nước. Chính vì thế, tháng 10 năm Ất Dậu (1285), ngay sau cuộc kháng chiến chống Nguyên vừa kết thúc, vua Trần Nhân Tông đã xuống chiếu định hộ khầu trong cả nước. Lúc đó, triều thần nhiều người can vua là dân đang lao khổ, còn nhiều việc cần làm trước, nhưng nhà vua nói: “Chỉ có lúc này mới nên sửa định hộ khầu, đừng để cho kẻ địch dòm thấy dân ta tiêu hao” 3. Chính vì thế nhà vua biết rõ được số nhân đinh còn, mất bao nhiêu và lấy đó làm cơ sở quan trọng để đề ra các chính sách nhằm ổn định xã hội và phát triển kinh tế sau chiến tranh.

Công việc kiểm kê, quản lý nhân khầu rất nghiêm và chặt chẽ. Triều Trần trừng phạt nghiêm minh những ai vô tình hay cố ý làm sai trái những quy định về hộ tịch với mục đích ẩn lậu dân đinh hay trốn tránh sai dịch và binh dịch.

Sử cũ đã ghi lại câu chuyện giữa Trần Thủ Độ và một người bà con của Linh từ quốc mẫu (vợ ông) khi ông đi xét duyệt hộ khầu ở Thanh Hoá (1238). Trần Thủ Độ nhận lệnh của vua đi Thanh Hoá, quốc mẫu xin cho riêng một người làm câu đương, tức là chức sắc dịch trong làng thuộc hạng quan chứ không thuộc hạng dân để không phải gọi lính. Trần Thủ Độ  gật đầu và biên lấy tên họ, quê quán người ấy. Khi xét duyệt đến xã đó, Thủ Độ hỏi rằng người ấy ở đâu. Kẻ đó vui mừng chạy đến. Thủ Độ nói: “Người vì công chúa xin cho được làm câu đương, không ví như người câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác”. Người ấy kêu van mãi mới được tha. Thủ Độ rất nghiêm khắc với những ai có ý định ẩn lậu hộ tịch để trốn lính, bởi vì pháp luật nhà Trần đã có quy định: “Người nào trốn lính thì bị chặt một ngón chân...” 4.
 
Thời Trần Anh Tông, quan kiểm pháp Trần Thì Kiến đã phạm tội chứa dấu nhân đinh, tuy không cố ý vẫn bị bãi chức. Những điều đó chứng tỏ sự nghiêm ngặt của triều đình trong việc lập hộ tịch và phân hạng quản lý nhân khầu thời Trần.

Tóm lại, công việc quản lý nhân đinh, lập sổ hộ, sổ quân, phân hạng nhân đinh là cần thiết cho nhu cầu tuyển quân và điều động nhân lực cho cả thời bình và thời chiến. Các đời vua Trần đều coi trọng vấn đề này, đã thực hiện có nền nếp và nghiêm túc.


_______________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, Sđd, t.III, tr.49.
2. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, Nxb. Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1958, t.2, tr.50.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.57.
4. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.57.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:18:53 pm
2. Tuyển đinh tráng vào quân ngũ, thay lính già yếu bảo đảm đủ quân số trong thời bình, chuẩn bị cho chiến tranh.

Trên cơ sở kiểm kê nhân đinh và phân loại đinh tráng trong cả nước, Nhà nước Đại Việt thời Trần đã tiến hành tuyển đinh tráng sung vào quân ngũ để canh phòng và luyện tập trong thời bình, chuẩn bị cho chiến tranh.

Nhà nước quy định chế độ binh dịch đối với tất cả các đinh tráng. Mọi đinh nam đến tuổi trưởng thành đều có nghĩa vụ binh dịch, hoặc tham gia quân thường trực, hoặc là lính dự bị, hoặc đã được ghi tên trong sổ quân lúc cần nhà nước có thể “chiếu sổ gọi ra làm lính”.

Nhà Trần kế thừa quy chế tuyển quân hàng năm của nhà Lý, nghĩa là hàng năm triều đình cho tuyển những đinh nam khoẻ mạnh sung quân, thải bớt người già yếu. Số lượng tuỳ yêu cầu canh phòng và luyện tập. Số đinh tráng còn lại được ghi tên trong sổ bìa vàng, tức sổ quân, lúc cần gọi ra tòng ngũ. Đó là lệ thường năm của Nhà nước phong kiến Đại Việt.

Phan Huy Chú viết: “Đại ước người trúng tuyển thì sung vào quân ngũ, người hạng kém thì biên vào sổ, có việc mới gọi ra, mến hạn mau chóng có lẽ không nhất định” 1.

Quan điểm chung về tuyển quân của triều Trần là: “Người có quan tước, con cháu được thừa ấm mới được vào làm quan; người khoẻ mạnh kể cả nhà giàu có mà không có quan tước thì sung quân, đời đời làm lính” 2.

Quy chế này thể hiện tính giai cấp rất rõ nét, nó nhằm bảo vệ quyền lợi của giới quý tộc quan lại nhà Trần. Các cấp chính quyền khi tuyển lính và động viên quân đội đều phải thực hiện theo nguyên tắc đó.

Tuy tư liệu lịch sử không cho biết cụ thể về quy chế tuyển quân, nhưng chúng ta thấy, trải qua các đời vua, nhà Trần đều chủ trương chọn những đinh tráng hạng nhất sung làm cấm quân, thứ đến là sương quân, quân phục dịch ở các sảnh, viện và quân các lộ, phủ. Những trai tráng ở Thiên Trường, Long Hưng, Kiến Xương, Trường Yên . . . tức những lộ là quê hương bản quán hoặc những vùng phụ cận nguyên quán nhà Trần đều được tuyển làm cấm vệ quân, đóng ở Thăng Long hay ở phủ Thiên Trường. Đó là hạng lính tin cậy, canh giữ cấm thành, bảo vệ nơi vua và hoàng tộc ở. 

Về chế độ tuyển binh thời Trần, sách An Nam chí lược viết: “Việc tuyển quân không có số nhất định, chỉ chọn dân đinh nào khỏe mạnh thì lấy” 3. Sách Đại Việt sử ký toàn thư phản ánh các đợt tuyển quân như sau:

- Tháng Ba, niên hiệu Thiên ứng chính bình năm thứ 8 (1239) đời vua Trần Thái Tông, chọn dân đinh khoẻ mạnh sung làm binh.

- Mùa Xuân, tháng Hai năm 1241, chọn người khoẻ mạnh am hiểu võ nghệ sung làm quân túc vệ thượng đô.

- Tháng Hai năm Bính Ngọ (1246), định các quân. Chọn người khoẻ mạnh sung làm quân Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần. Người các lộ Thiên Trường, Long Hưng sung làm quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần ; người hai lộ Hồng và Khoái sung làm quân tả, hữu Thánh Dực; người các lộ Trường Yên, Kiến Xương sung làm quân Thánh Dực, Thần Sách; còn ở các lộ khác thì sung làm cấm quân của cấm vệ; loại ba thì sung làm trạo nhi (quân chèo thuyền, khiêng võng và các đoàn đội quân các lộ).


___________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.16.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.9.
3. Lê Trắc: An Nam chí lược, Sđd, tr.89.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:20:29 pm
- Tháng 8-1281, Trần Thánh Tông cho chọn dân đinh các lộ, người nào khoẻ mạnh thì sung làm binh, còn thì sung làm các sắc dịch ở các sảnh, viện, cục và đội tuyển phong ở các phủ, lộ.

- Năm 1323, vua Trần Minh Tông cho tuyển những đinh nam béo trắng cho làm binh hạng nhất, vì thế quân sĩ từ đây không được vẽ rồng lên mình nữa.

- Năm 1342, Trần Dụ Tông sai Hành khiển Khu mật viện Nguyễn Trung Ngạn lập sổ quân và dân, chọn đinh tráng ở các lộ sung vào ngạch thiếu của cấm quân.

- Tháng 2-1363, vua lại xuống chiếu chọn dân đinh sung vào quân các lộ.

- Tháng 8-1374, vua Trần Duệ Tông hạ lệnh chọn dân đinh chia làm ba hạng để sung quân ngũ. Hạng nhất làm quân Lan Đô; người thuộc hạng nhì, hạng ba tuy thấp bé nhưng khoẻ mạnh cũng sung làm quân đó. Bấy giờ, quân lính ai cũng phải xăm trán để ghi dấu, như quân túc vệ Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần thì trán xăm hoa; quân mới đặt như Ung Tiệp, Bảo Tiệp, Long Dực, Thần Dực và Điện Hậu thì xăm ba chữ lên trán.

- Năm 1375, Khu mật đại sứ Hồ Quý Ly được cử làm Tham mưu quân sự. ông chủ trương định lại quân số, thải bớt lính già yếu lấy người khoẻ mạnh sung vào. Người Thanh Hoá và Nghệ An đi làm thuê đều phải nhập ngũ, v.v.. 

Những thông tin trên của chính sử ngày xưa tuy tản mạn, nhưng phần nào cho chúng ta biết được phương thức tuyển đinh tráng sung quân dưới triều Trần. Đại thể, khi tuyển chọn cũng căn cứ vào sự phân hạng tráng đinh; hạng nhất được tuyển sung vào ngạch cấm quân, các hạng dưới sung làm sương quân và quân các lộ; thường năm thải bớt binh sĩ già yếu, tuyển người khoẻ trẻ thay thế; số quân mới tuyển thường không có hạn định. . .

Pháp luật nhà Trần có những quy định rất nghiêm ngặt trong việc quân lính đào ngũ, trốn tránh. Sử chép rằng: “pháp chế đời Trần quy định người trốn lính bị chặt một ngón chân, sau đó làm gì thì làm, thậm chí còn cho voi dày chết” 1.

Tư liệu lịch sử chỉ phản ánh một phần về biên chế, tổ chức và quy chế tuyển lính. Số quân trong các đời vua Trần tuyển được bao nhiêu ta không biết rõ. Phan Huy Chú nhận xét: “Quy chế cấm binh đời Trần Thát Tông đã định, về sau đặt thêm nữa, số quân không xét rõ được. Đại yếu chỉ đặt thêm danh hiệu, chứ thực số vị tất đã nhiều hơn trước” 2. 

Nhận xét đó có lẽ đúng trong hoàn cảnh nước Đại Việt không có chiến tranh. Theo ông, “số quân buổi đầu nhà Trần đại ước không đầy 10 vạn” 3. Đó là con số biên chế quân thường trực thời bình, không kể đến số người được chia về làm ruộng tự túc lương ăn.

3. “Ngụ binh ư nông” - chế độ luân phiên trong quân đội thời bình.

“Ngụ binh ư nông” - “gửi binh ở nông”, là chính sách gắn liền giữa nông và binh, giữa chiến đấu và sản xuất, giữa kinh tế và quân sự. “Binh” có nghĩa là binh lính, là quân sự, là chiến tranh. “Nông” có nghĩa là nông dân, nông thôn, là nông nghiệp. Đây là một chính sách lớn, một quốc sách về xây dựng lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước. Chính sách “ngụ binh ư nông” gồm những quy định về quân biên sổ và quân chia phiên.

Như trên đã nêu, chế độ lập sổ hộ tịch đã dẫn đến việc phân hạng nhân đinh. Những đinh nam khoẻ mạnh đến tuổi trưởng thành đều có nghĩa vụ binh dịch và được ghi tên vào “Sổ quân”. Hàng năm “tuyển người khoẻ mạnh sung vào quân ngũ” theo yêu cầu, số còn lại ở nhà sản xuất, tham gia dân binh, sẵn sàng nhập ngũ khi cần thiết.


______________________________
1, 2, 3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T. IV tr.27.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:23:14 pm
Đối với quân thường trực, nhà nước quy định chế độ “chia phiên”, dựa trên cơ sở biên chế các tổ chức quân sự trong nước. Về cơ bản, tổ chức quân sự giữa thời Lý và thời Trần giống nhau. Dưới thời Trần, ngoài ba bộ phận cấm quân, sương quân và quân các lộ, còn có quân vương hầu - lực lượng vũ trang riêng của các vương hầu quý tộc Trần. 

Bấy giờ, cấm quân thường xuyên phải túc trực canh giữ Kinh thành, bảo vệ, luyện tập và được cấp lương. Các loại quân khác như sương quân và quân các lộ đều được chia phiên: một bộ phận tại ngũ canh phòng, luyện tập hoặc chịu sai phái tạp dịch; còn các bộ phận khác được về nhà cày cấy hoặc làm công nghệ tự túc lương ăn. Quân lính cứ thế cắt lượt thay phiên, khiến ai cũng được thay nhau ở lại túc trực, luyện tập hoặc được trở về với gia đình, đồng áng. 

Theo dự đoán của Phan Huy Chú, thời Trần quân số có khoảng 10 vạn. Số đó tuy nhiên không phải tất cả đều tại ngũ, mà một phần trong số họ đã được thay phiên về làm ruộng.  Vấn đề tổ chức chia phiên cho quân lính ở lại hay về sản xuất ở thời kỳ này được phản ánh trong các sử sách như sau:

Sách Lịch triều hiên chương loại chí chép: “Nhà Trần theo phép nhà Lý, binh túc vệ đều được cấp bổng hàng năm. Còn binh các đạo đều chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn lương” 1 .
 
Sách Đại Việt sử ký toàn thơ, khi chép về một hình thức múa rối trong quân đội đời Trần Thái Tông có câu hát: “chóng đến ngày mồng Một để thay phiên”2 .

Như vậy, vào thời Trần chỉ có quân túc vệ (tức cấm quân) là thường xuyên tại ngũ, là lính chuyên nghiệp được nhà nước nuôi dưỡng và cấp quân trang, quân nhu. Còn các quân khác, như sương quân và quân các lộ thì thực hiện phép chia phiên và thay phiên, có thể thời gian thay phiên bắt đầu từ ngày mồng Một. . . Mỗi lộ quân được chia thành nhiều bộ phận, theo định kỳ thay nhau ở lại túc trực, phục dịch và huấn luyện hay về nhà sản xuất tự túc. Cứ vậy, cắt lượt phiên, khiến ai nấy đều được luân chuyển hằng năm, hằng tháng tại ngũ canh phòng luyện tập một thời gian, còn được về với gia đình, ruộng đồng hay làm nghề thủ công trong các cơ sở. Mỗi chu kỳ mấy tháng, mấy ngày có lẽ tuỳ theo từng giai đoạn, từng địa phương, điều này không thấy ghi chép trong sử sách.

Chính sách “ngụ binh ư nông” với chế độ chia phiên và luân phiên tại ngũ hay trở về nhà sản xuất là một quốc sách lớn của Nhà nước Đại Việt phù hợp với hoàn cảnh đất nước, với yêu cầu dựng nước và giữ nước. Với chính sách này, trong nước có số quân thường trực cần thiết, đồng thời lại có sẵn số quân dự bị đông đảo trong các làng xã, sẵn sàng được động viên khi có chiến tranh.

Đó thực sự là một quốc sách nhằm giải quyết nhiệm vụ xây dựng đất nước và củng cố lực lượng quân sự, kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, đã đưa lại một hiệu lực quốc phòng mạnh mẽ. Chính sách trên có một số ưu điểm nổi bật như:

- Quản lý tốt nhân đinh: tất cả các đinh nam từ 18 tuổi trở lên, khoẻ mạnh, đều được phân loại và ghi tên vào sổ quân, đều phải thi hành nghĩa vụ binh dịch.

 - Các đinh tráng đều được huấn luyện quân sự, hiểu biết những kiến thức tối thiểu về võ nghệ, phát huy truyền thống thượng võ của người Việt.

- Thời bình, một bộ phận nhất định thường trực tại ngũ, còn phần lớn đinh tráng là quân dự bị, khi cần có thể huy động ngay và ai nấy đều biết rõ tổ chức quân ngũ của mình. 

-Thay phiên về làm ruộng, thực hiện bình đẳng về nghĩa vụ quân dịch, lại giảm bớt được chi phí quốc phòng, thực hiện cân đối giữa lực lượng sản xuất và lực lượng quân sự. Sản xuất nông nghiệp và công nghệ được bảo đảm, sức lao động không bị thiếu, lại tạo điều kiện bình thường hoá sinh hoạt của những gia đình tiểu nông - tế bào của xã hội. 


_____________________________
1.  Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, T.IV, tr.20.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.44.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:27:35 pm
Như vậy, chính sách “ngụ binh ư nông”, chế độ quân biên sổ và quân chính phiên dưới triều Trần thực sự là một chính sách tiến bô, hợp với điều kiện Đại Việt lúc bấy giờ vừa phải xây dựng đất nước, vừa phải chiến đấu chống ngoại xâm. Đó là một đặc điểm của binh chế thời Trần, nhờ đó mà Nhà nước Đại Việt đã có điều kiện lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước cường thịnh, có đủ sức mạnh quân sự để đánh giặc giữ nước.

Sử sách của các học giả xưa đánh giá cao chính sách “ngụ binh ư nông” và hiệu quả lớn lao của nó. Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Ngô Thì Sỹ đều nhận xét: “Binh chế Đại Việt rất thịnh”, “lúc nông nhàn thì luyện tập, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra”; cho nên “binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống giặc”, “thế nước càng thêm vững là nhờ vậy” 1; hoặc như Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết: “Như vậy thì lúc bấy giờ thế quân đã cường thịnh cũng có thể biết được đại khái. Đại thể khi trong nước không có việc thì cho quân lính về làm ruộng, khi có việc chinh chiến thì hết thảy mọi người dân đều là quân lính” 2. Đó cũng là ý nghĩa của “ngụ binh ư nông” dưới triều Trần.
 
4. Động viên quân đội khi có chiến tranh

Do chuẩn bị tốt trong thời bình nên khi có ngoại xâm, tổ tiên ta thời Trần đã có thể huy động lực lượng vũ trang một cách nhanh chóng, đông đảo và rộng khắp, tạo nên một binh lực mạnh để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù hung bạo.  Khi đất nước sắp có chiến tranh, triều đình nhà Trần trong đó đứng đầu là vua thường có lệnh: “tuyển đinh tráng sung vào quân ngũ”, “ thải người già yếu, tuyển người khoẻ trẻ nhanh nhẹn thay thế”, ra lệnh cả nước sắm sửa vũ khí, đóng thuyền chiến, luyện tập võ nghệ, sẵn sàng đánh giặc.  Đó là lúc chuẩn bị bước vào chiến tranh.

 Khi chiến tranh xảy ra, nhà vua ra lệnh động viên quân đội. Đối với quân thường trực đã có tên trong sổ thì nhà nước “chiếu sổ gọi ra” cho lệ thuộc vào các tướng, tức vào đội ngũ đã được tổ chức, huấn luyện; đó là trường hợp đối với những người lính sương quân hay quân địa phương nằm trong diện thực hiện chính sách ‘ngụ binh ư nông”.

Đối với quân vương hầu, triều đình cũng cho phép điều động đến mức tối đa. Lúc đó các qúý tộc Trần là vương hầu tôn thất đều được lệnh mộ binh và thống lĩnh binh của mình giúp vua đánh giặc. Nhà vua sai Hưng Đạo vương đốc suất các vương hầu điều quân và nhiều vương hầu quý tộc Trần đã trở thành những vị tướng chỉ huy quân đội. 

Đối với dân binh, hương binh các làng xã, động bản thì theo lệnh nhà vua, nơi có giặc ngoài đến thì phải hếu chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh, không được đầu hàng giặc. Điều đó có nghĩa là các dân binh cũng được huy động đến mức tối đa để đánh giặc tại các dịa phương của mình.

Trong vòng 30 năm của thế kỷ XIII, từ năm 1258 đến năm 1288, nước Đại Việt đã liên tục ba lần chống xâm lược Mông - Nguyên, thế lực phong kiến xâm lược hùng mạnh nhất thời đạt.

Thắng lợi trong ba lần kháng chiến này vừa biểu hiện sức mạnh giữ nước của dân tộc ta, vừa chứng tỏ khả năng huy động lực lượng cho chiến tranh của Nhà nước phong kiến Đại Việt thời đó. Bình thường binh số nhà Trần có khoảng 10 vạn. Nhưng trong chiến tranh, số quân huy động được có thể lên gấp bội, đó là chưa kể lực lượng dân binh - dân chúng vũ trang ở các làng xã.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1285, nhà Nguyên huy động trên nửa triệu quân. Lúc đó, vua Trần Nhân Tông giao cho Hưng Đạo vương quyền tiết chế, điều động và chỉ huy quân đột. Hưởng ứng lời kêu gọi động viên của Quốc công tiết chế, các vương hầu quý tộc Trần đã huy động quân của mình và quân của các hương nơi mình trấn trị để giúp triều đình đánh giặc.

Bấy giờ như sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thế quân phấn chấn lên” chư quân nghe thấy thế, không ai là không đến tập họp” 3 . Số quân điều động được ở mấy lộ phía đông bắc do các vương - con của Trần Quốc Tuấn chỉ huy đã lên tới 20 vạn. Trước khí thế đó, vua Trần Nhân Tông đã làm thơ nói rằng, lúc ấy còn có hàng chục vạn quân dự bị ở các châu Hoan và Diễn (Nghệ An và Diễn Châu) chưa điều động đến. Đó là chưa nói đến lực lượng quân sự ở nhiều vùng khoe và dân binh các làng xã, động bản đứng lên đánh giặc ở khắp mọi nơi.

Tóm lại, chế độ tuyển mộ và động viên quân đội đã được vương triều Trần coi trọng và đặt thành những quy chế, chính sách rạch ròi. Tổ tiên ta thời Trần luôn luôn coi “việc quân là việc thiết yếu của quốc gia” và “quân đội là một thiết bị giữ nước không thể thiếu được”, nên đã chăm lo xây dựng quân đội có số lượng hợp lý, có lực lượng dự bị hùng hậu. Đó là một trong những nhân tố tạo nên chiến thắng trong ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII.


________________________
1. Theo các sách Đại Việt thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí và Việt sử tiêu án.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.5, tr.26.
3. Đại việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.51.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:29:48 pm
III. QUẢN LÝ, CHỈ HUY QUÂN ĐỘI

1. Quản lý cấm quân.

Trong cơ cấu binh chế Đại Việt, cấm quân là lực lượng quân sự quan trọng nhất. Vậy cơ quan nào quản lý cấm quân?  Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Theo lệ cũ, cấm quân thuộc thượng thư sảnh, đến nay (1342) đặt Khu mật viện để quản lãnh” 1.

Cũng với ý nghĩa đó, trong Quan chức chí, Phan Huy Chú viết: “Dụ Tông, năm Thiệu Phong thứ 2 (1342), sai Khu mật viện quản lĩnh cấm quân. Phép cũ cấm quân thuộc về thượng thư sảnh. Đến đây đặt Khu mật viện  để coi cấm quân” 2. Vậy thượng thư sảnh và khu mật viện được tổ chức như thế nào?

Theo sử cũ, tổ chức chính quyền và quan chế nhà Tiền Lê có phần mô phỏng theo chế độ nhà Tống, nhưng không thấy nói đến thượng thư sảnh. Sang triều Lý, đời vua Lý Nhân Tông, năm Thiệu Thiên thứ nhất (1128), triều đình đặt chức thượng thơ sảnh ngoại lang. Bấy giờ, quan coi việc quân, dân trong cả nước là tể tướng dưới các danh nghĩa như tổng quản trì quân dân (thời Tiền Lê) và phụ quốc thái uý thời Lý).  Thượng thư sảnh ngoại lang là một chức quan lớn, nhưng lại thuộc về ban văn.

Thượng thư sảnh cũng được thành lập trong thời Trần.  Lúc đó, quan đứng đầu sảnh là hành khiển thượng thư tức chức á tướng. Chức á tướng, thời Lý và thời Trần đều là tả hữu tham tri chính sự, đứng sau tể tướng và tướng quốc. 

Thượng thư sảnh có nhiệm vụ giúp tể tướng điều khiển bách quan, tham mưu giúp vua những ý kiến, nhữrlg lời khuyến dụ về các việc trung đại của triều chính, trong đó có cả quân sự. Chức tể tướng là chức tổng quản coi việc quân, giữ việc nước. Đầu thời Trần, vua Thái Tông đặt các quan chức, đứng đầu là tả hữu tướng quốc kiêm kiểm hiệu đặc tiến khai phủ nghi đồng tam ty bình chương sự, tức là chức phụ quốc thái uý thời Lý (tể tướng).

Từ niên hiệu Kiến Trung (1225 - 1232) về sau, trong triều dùng thân vương thuộc hàng tôn thất coi giữ chức ấy, gia phong tước quốc công. Vì thế, những người hiền tài khác họ, dẫu có tài cán được tuyển chọn làm quan triều đình cũng không được bổ chức bình chương, vì theo  quan niệm lấy sự “thân với người thân” làm trọng.

Đó là quy chế đặt chức tể tướng dưới triều Trần, mục đích chính là để tránh tình trạng chức quyền lớn lấn át vua và có thể dẫn đến cướp ngôi. Hiện tượng Hồ Quý Ly cuối thời Trần là một người thuộc họ ngoại cầm quyền, được tiến phong Tư không đồng bình chương, gia đến Phụ chính Thát sư, quốc tổ bình chương, nắm cả quyền quân sự và dân sự rồi “cướp ngôi vua” đã chứng tỏ điều đó.

Khu mật viện còn gọi là Nội mật viện được thành lập từ thời Lý. Dưới triều Trần, Khu mật viện do quan Khu mật viện tham nghị triều sự điều khiển, có nhiệm vụ xem xét những việc cơ mật trong triều, kể cả việc quân cơ.

Dưới đời vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhứ Hài vốn là một văn quan đã được giữ chức Tri khu mật viện sự. Năm 1267, Trần Thái Tông đặt Hành khiển ty ở hai cung: Hành khiển tả hữu ty ở cung Thánh Từ (tại phủ Thiên Trường, nơi thượng hoàng ở) và Hành khiển ty ở cung Quan Triều (tại Thăng Long, nơi vua ở) gọi chung là Nội mật viện.

Năm 1325, vua Trần Minh Tông đổi Hành khiển ty làm Môn hạ sảnh, Nội thư hoả cục vẫn là Nội mật viện. Đến đời Trần Dụ Tông, năm 1342, vua hạ lệnh Khu mật viện trực tiếp quản cấm quân và cho Nguyễn Trung Ngạn giữ chức Hành khiển tri khu mật viện sự. Chính vì thế, vừa nắm quyền, Nguyễn Trung Ngạn đã ra lệnh chọn đinh tráng ở các lộ để sung vào ngạch thiếu của cấm quân và lập sổ cấm quân để quản lý.

Năm 1372, đời vua Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly từng giữ chức Khu mật viện đại sứ, nắm giữ toàn bộ cấm quân trong triều, vì thế quyền hành của Hồ Quý Ly rất lớn.


____________________________
1.  Đại việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.134.
2[/color]. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.II, tr.8.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:30:39 pm
Sử cũ của ta ghi chép quá sơ sài về những hoạt động của Khu mật viện. ở Trung Quốc, dưới triều Nguyên (1271 - 1368), Khu mật viện cũng là cơ quan giúp việc của vua trên lĩnh vực quân chính, quản lý quân đội theo lệnh của hoàng đế.

Chẳng hạn, tháng 4-1279, Khu mật viện nhà Nguyên tâu xin Hốt Tất Liệt cho đem quân đánh Đại Việt ngay, nhưng vua Nguyên còn cân nhắc lợi hại, chưa đồng ý; hoặc năm 1289, sau lần thất bại thứ ba ở Đại Việt, việc Nam chinh như ngứa ngáy trong tim Hốt Tất Liệt, biết thế Khu mật viện lại đề nghị lập soái phủ, lấy Lưu Đức Lộc làm đô nguyên soái, chuẩn bị một lần nữa đánh Đại Việt và đã được vua Nguyên chấp thuận, nhưng lệnh đó lại hoãn vì Hốt Tất Liệt xét thấy không còn đủ sức đánh Đại Việt nữa... Ở các địa phương, có khi nhà Nguyên còn lập hành khu mật viện mang tên địa phương để chỉ huy các hoạt động quân sự trong vùng. 

Như vậy, ở Đại Việt thời Trần cũng như ở Trung Quốc thời Nguyên, trong triều đình có cơ quan Khu mật viện, một tổ chức trực thuộc nhà vua, bao gồm những cận thần của vua, thường ngày cùng vua bàn bạc việc cơ mật, trong đó có những hoạt động của nhà nước trên lĩnh vực quân sự mà trực tiếp là hoạt động của cấm quân. Việc quản lý cấm quân do Khu mật viện, song quyết định điều động cấm quân hoàn toàn là quyền của hoàng đế, của nhà vua.

2. Hệ thống võ quan, tướng lĩnh thời Trần

Tổ chức chính quyền Nhà nước phong kiến Đại Việt thời Trần chia thành hai ban văn và võ. Riêng ban võ bao gồm các quý tộc, tôn thất am hiểu võ nghệ, các tướng lĩnh trực tiếp cầm quân chỉ huy các đơn vị. Tất cả đều nằm trong hệ thống võ quan, tướng lĩnh từ trung ương đến địa phương và hình thành hai cấp: quan trong (tức quan trong Kinh, chỉ huy quân triều đình) và quan ngoài (quan ở các địa phương, lộ, trấn hoặc châu) .

Trong hệ thống quan chức thời Trần, ba chức thái (thái sư, thái phó, thái bảo) và thái uý, ba chức thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo) và thiếu uý cùng các chức tư đồ, tư mã, tư không là những trọng chức của các đại thần văn, võ.

Bấy giờ, văn giai có các chức thượng thư, tả hữu bộc xạ, tả hữu ty lang trung, tả hữu gián nghị đại phu, tri khu mật viện sự, khu mật viện tham chính, thiêm tri mật viện sự, trung thơ thị lang, ngự sử đài, các đại học sĩ, hàn lâm viện học sĩ, v.v.  làm việc trong các cơ quan hành chính và chuyên môn.

Về võ giai, có các chức phiêu kỵ thượng tướng quân, cấm vệ thượng tướng quân, kim ngô đại tướng quân, vũ vệ đại tướng quân, phủ quân phó đô tướng quân, thân vệ tướng quân, điện soái đô áp nha, quản quân tiết độ sứ, đô thống chế, v.v.. Đó là hệ thống quan chức triều Trần.

Năm 1225, vua Trần Thái Tông đã trao phẩm cấp cho các quan văn võ theo thứ bậc khác nhau. Năm 1337, vua Trần Hiến Tông xét định các quan văn võ. Năm 1342, Trần Dụ tông lại định phẩm trật các quan văn võ.

Trong các triều đại quân chủ ở nước ta, vua luôn là thủ lĩnh quân sự tối cao. Dưới triều Trần cũng vậy, các vua Trần đứng đầu triều đình và thường xuyên là thủ lĩnh quân sự cao nhất, bình thường vua giai) quyền trực tiếp điều khiển bách quan cho tể tướng hoặc phụ quốc thát uý hay tướng quốc.

Đặc biệt, trong các lần chiến tranh chống xâm lược, nhiệm vụ quân sự trở nên cần kíp nên vua Trần đã trao quyền chỉ huy quân đội cho một quý tộc có tài năng quân sự; đó là trường hợp Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được trao quyền tiết chế, thống lĩnh chơ quân (tổng chỉ huy) vào năm 1283. 

Để có một đội ngũ võ quan, tướng lĩnh, nhà Trần rất lưu tâm đến việc tuyển chọn và đào luyện các tướng. Nhà vua cũng như những nhà lãnh đạo khác thường xuyên coi trọng vai trò của người tướng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:32:23 pm
Binh thư yếu lược viết: “ Nước lấy dân làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ”, “cái đạo mạnh binh để chiến thắng cốt yếu có 5 điều:

1.  Sửa sang binh khí,

2. Có đủ quân lính và xe cộ,

3. Súc tích nhiều,

4. Rèn luyện sĩ tốt,

5. Kén được tướng giỏi” 1.

Trong Di chúc năm 1300 của Trần Quốc Tuấn có câu; “Nếu chỉ thấy quân nó (quân địch) kéo đến như lửa, như gió thì dễ chế ngự.  Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không ham của dân, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến như đánh cờ, tuỳ thời tạo thế. . .” 2. Như vậy, Trần Quốc Tuấn đánh giá rất cao vai trò của người làm tướng cầm quân.

Tuy trong điều kiện thời bấy giờ, quan điểm về người tướng bị hạn chế bởi ý thức hệ, song vẫn chứa đựng những nội dung tiến bộ. Chẳng hạn như quan niệm về tiêu chuẩn chọn tướng thời đó vẫn là đức và tài. Đức là lòng nhân nghĩa, là sự trung thành, là lòng yêu nước. Tài là mưu lược, quyền biến, giỏi võ nghệ. Người tướng giỏi phải trí dũng song toàn. 

Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh người tướng phải xứng đáng là một “trung thần nghĩa sĩ”, “dĩ thân tuẫn quốc” (quên mình vì nước). Theo ông, người tướng ngoài lòng trung còn phải công minh chính trực, phải có lòng “phụ tử” với binh sĩ. Quan điểm “bạt dụng lương tướng” của Trần Quốc Tuấn đã được vương triều Trần vận dụng trong quá trình xây dựng quân đội đánh giặc giữ nước.

Năm 1267, vua Trần Nhân Tông xuống chiếu, chọn trong tôn thất những người giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp để chỉ huy các đô quân, vệ quân. Năm 1283, nhà vua còn ra lệnh chọn trong quân hiệu những người có tài để chia giữ các đội ngũ.  Việc tuyển chọn võ quan cũng như văn quan, thời Trần luôn theo một quan điểm nghiêm ngặt rằng, có người quan tước con cháu thừa ấm mới được vào làm quan.

Vì vậy, đối tượng tuyển chọn võ quan lúc đó trước hết là những người thuộc tầng lớp quý tộc tôn thất, từ lớp người có quyền lợi gắn liền với hoàng tộc. Các vương hầu, quý tộc Trần có phủ đệ và lực lượng vũ trang riêng, khi có chiến tranh được lệnh làm tướng, chỉ huy quân của mình và quân các lộ nơi mình trấn trị giúp vua đánh giặc, để tăng thêm thế mạnh giữ nước.

 Cùng với chế độ phong vương hầu và cấp phủ đệ, nhà vua còn chú trọng tuyển những người trong hoàng tộc để coi giữ binh quyền. Chức tể tướng chỉ tuyển những người có uy tín trong dòng tôn thất thông hiểu thi thư và binh pháp. Chức phiêu kỵ tướng quân chỉ phong cho các hoàng tử hoặc thiên tử nghĩa nam.

Trường hợp Trần Khánh Dư, con nuôi vua Trần Thánh Tông là trường hợp đặc biệt, được phong làm phiêu kỵ đại tướng quân và làm phó tướng cho Trần Quốc Tuấn.  Nhiều thân vương, tôn thất được làm thái uý, như Trần Liễu, Trần Nhật Hạo; trong số đó, Thái uý Trần Quang Khải từng giữ chức thượng tướng thái sư và tướng quốc trông coi việc lớn trong triều.

Ngoài đối tượng chính yếu nói trên, Nhà nước Đại Việt thời Trần còn chú ý tuyển sung vào hàng ngũ võ quan, tướng lĩnh những tài năng thuộc dòng họ khác. Vua Trần ra lệnh: “Chọn trong các quan viên, người nào có tài năng luyện tập nghề võ, tinh thông thao lược thì không kể tôn thất đều cho làm tướng coi quân”.

Đó là những tài năng như Lê Tần, Nguyễn Khoái, Đỗ Khắc Chung, v.v. . Đặc biệt trường hợp Phạm Ngũ Lão, tuy chỉ là gia thần của Trần Quốc Tuấn, nhưng Quốc Tuấn thấy Ngũ Lão có tài năng khí độ vượt hơn người, gả con gái cho và nhân đó tiến cử lên triều đình. Phạm Ngũ Lão theo Hưng Đạo vương đánh giặc lập được nhiều chiến công lớn nên được triều đình trọng dụng.


_______________________
1. Binh thư yếu lược (Phụ Hổ tướng khu cơ), bản dịch, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.31, 50.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.79.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:35:31 pm
Về phương thức tuyển dụng võ quan, tướng lĩnh thời Trần, ngoài biện pháp nhiệm tử hay tập ấm, tức triều đình đứng đầu là vua bổ nhiệm những nhân tài thuộc hàng ngũ quý tộc tôn thất, nhà Trần còn áp dụng phương thức tiến cử những người không thuộc dòng tôn thất.

Tiến cử tức là hình thức giới thiệu người có tài, có đức nổi tiếng để quan xem xét vua bổ dụng. Đó cũng là một hình thức tốt để tuyển dụng quan lại thời Trần. Yết Kiêu, Dã Tượng và đặc biệt là Phạm Ngũ Lão được Trần Quốc Tuấn phát hiện và bồi dưỡng thành tài, rồi tiến cử với triều đình là những trường hợp cụ thể, tiêu biểu.

Chế độ khoa cử đã xuất hiện từ thời Lý (1075) và phát triển dưới triều Trần, nhưng đó là thi Nho học, tuyển chọn văn quan; còn các sử liệu không phản ánh hình thức thi chọn võ quan lúe đó như thế nào. Tư liệu chỉ cho biết rằng, năm 1246, vua Trần Thái Tông quy định việc khảo xét các quan văn võ: 10 năm gia tước một một cấp, 15 năm gia chức một bậc, còn việc tổ chức thi tuyển võ quan ra sao chúng ta chưa tra xét rõ được.

Do hạn chế về quan điểm giai cấp nên dưới triều Trần cũng như những triều đại phong kiến khác, phương thức tuyển dụng, bổ nhiệm những người thuộc dòng họ quý tộc tôn thất có những hạn chế nhất định. Có khi nhà vua quá chú ý đến tiêu chuẩn hoàng tộc tôn thất mà bỏ qua hoặc xem nhẹ tiêu chuẩn đức tài. Ví như trường hợp vua Trần Thái Tông có ý định phong cho anh ruột của Trần Thủ Độ là An Quốc làm tướng mặc dù biết An Quốc không có tài.

Do yêu cầu chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc, triều Trần trong giai đoạn tiến bộ đã tuyển chọn được nhiều nhân tài quân sự và rất chú ý đào luyện tướng sĩ. Giảng Võ đường thời Trần là trường học quân sự cao cấp và chính quy. Ở đó, vua cùng với các vương hầu, tướng lĩnh được học binh thư, binh pháp, học cách bày trận và phá trận.

Do có phương pháp đúng về tuyển chọn và đào luyện tướng sĩ cho nên trong giới quý tộc Trần đã xuất hiện nhiều tướng lĩnh lỗi lạc, mà đại diện tiêu biểu là Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật.., những tướng trẻ có khí phách như Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, v.v. .

Phạm Ngũ Lão không thuộc giới quý tộc tôn thất nhưng đã được Trần Quốc Tuấn đào tạo đã trở thành một vị tướng nổi tiếng văn võ toàn tài. Ông chỉ huy một đạo quân “phủ tử”, đi đến đâu là giặc ở đấy không địch nổi. Các sử thần triều Lê đã không ngớt lời ca ngợi các tướng lĩnh nhà Trần: “Giao cầm quân thì cùng nhau sống chết”, “dụng binh tinh diệu, chiến tất phải thắng, đánh tất phải được” và “khi đối địch với giặc thì tự mình xông pha lên phía trước quân sĩ, giặc trông thấy phải tránh lui, không kẻ nào địch nổi” 1 . 
 

IV- CHẾ ĐỘ TRANG BỊ VÀ HUẤN LUYỆN QUÂN ĐỘI


1. Vũ khí trang bị

Vũ khí trang bị là cơ sở vật chất - kỹ thuật của sức mạnh chiến đấu trong quân đội và các lực lượng vũ trang. Để xây dựng quân đội theo phương châm “cốt tinh không cốt đông”, nhà Trần đã chăm lo rèn đúc và trang bị vũ khí cho quân đội, nhất là trước một kẻ thù hùng mạnh nổi tiếng như quân đội Mông - Nguyên, thì vấn đề trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang trong nước là hết sức cần thiết.

Thế kỷ XIII, trước nguy cơ xâm lược của quân Mông Cổ đến gần, triều dình nhà Trần đã tỏ rõ quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự chủ. Năm 1286, vua Trần Nhân Tông đã xuống chiếu cho các tôn thất chiêu mộ binh và lệnh cho Trần Quốc Tuấn đốc suất các vương hầu, quý tộc cùng dân chúng sắm sửa khí giới, đóng thêm chiến thuyền.

Cuối năm 1287, vua Trần Thái Tông xuống chiếu điều quân thuỷ bộ lên bố phòng ở biên giới phía bắc, lệnh cho cả nước sắm sửa vũ khí, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, vì thế quân dân nhà Trần đã sẵn sàng và có đủ vũ khí để đánh thắng đạo ky binh tinh nhuệ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy.


_________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 2 , tr. 111 .


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:36:14 pm
Cứ mỗi lần giặc Nguyên sắp sang xâm lược là vua Trần ra lệnh cho quân dân sắm sửa vũ khí đóng thuyền chiến. Năm 1364, vua Trần Dụ Tông hạ lệnh chế tạo chiến cụ và thuyền ghe nhằm đề phòng giặc từ biên giới phía nam. Bấy giờ, quân Chiêm Thành quấy phá, nhà vua ra lệnh chỉnh đốn quân đội, sửa soạn binh nhung và có ý muốn tự mình cầm quân đánh giặc...

Những điều trên chứng tỏ vấn đề trang bị vũ khí, phương tiện chiến đấu cho quân đội luôn luôn được các vua Trần quan tâm.  Dưới thời Trần, vũ khí, trang bị cho quân đội chủ yếu là bạch khí. Bạch khí (vũ khí lạnh) là thứ vũ khí chủ yếu dùng sức mạnh cơ bắp, không dùng chất nổ, chất cháy.

Các loại bạch khí phổ biến thời bấy giờ gồm có: giáo, mác, dao (đao), kiếm, mã tấu, búa, dao găm, cung nỏ, máy bắn đá, máy phóng dao, chông, v.v.. Bên cạnh các vũ khí đó, người chiến binh còn được trang bị kèm theo các phương tiện hộ thân như áo giáp, khiên, mộc, hộ tâm phiến...

Thương, trượng và nhất là gậy là những vũ khí thông thường, phổ biến trong quân đội và dân binh Đại Việt.

Sứ giả Nguyên là Trần Phu từng nói rằng, ở Đại Việt mỗi khi có biến là trai tráng kéo ra ngay, khí giới đều do họ tự trang bị, có người còn vác cả cây gậy trơn. Trong một cuộc hành quân dẹp “giặc Ngưu Hống” ở tây bắc, tướng quân Phạm Ngũ Lão sai binh sĩ dùng gậy tre ngắn để phang vào chân voi, voi bị đau quay đầu chạy, vì thế đã hạn chế được thế mạnh tượng binh của đối phương. Sách Đại Việt sử ký toàn thơ có nói đến một đội đấu gậy trong cấm quân...

Tre, gỗ chắc vót nhọn (có thể bịt sắt) trở thành cây lao, cũng là thứ vũ khí phổ biến, dễ chế tạo. Phóng lao (ném thủ tiễn) là một sở trường của quân sĩ nhà Trần. Đó là những vũ khí truyền thống, đơn giản và dễ trang bị cho quân đội và dân binh.

Giáo, mác và kiếm (gươm) và dao găm là những vũ khí đột kích bằng sắt, sắc và nhọn rất thông dụng trong quân đội nước ta thời xưa nói chung và trong quân đội thời Trần nói riêng. Một bài thơ của sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu trong Sứ Giao Châu tập có câu: “Kim qua ảnh lý tâm đau khổ” (trông thấy bóng giáo mác sáng loè mà lòng đắng cay), với ngụ ý mỗi lần đi sứ sang Đại Việt trông thấy gươm giáo mà não nùng vì những trận chiến quân Nguyên đã thất bại trên chiến trường nước ta. Cũng giống như câu: “Nghe tiếng trống đồng tóc đốm hoa” . . , đó là hiện tượng “hội chứng” chiến tranh của người Nguyên thời ấy.

Trong bài thơ Thuật hoài của tướng quân Phạm Ngũ Lão có câu: “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu” (Cầm ngang ngọn giáo vì núi sông đã mấy mùa Thu).  Sử thần thời Lê cũng ca ngợi Phạm Ngũ Lão là “người có tài múa giáo, làm thơ”, lập nhiều công lớn. Trên một chiếc thạp bằng sứ tráng men hoa văn thời Lý - Trần, ta thấy hình các chiến binh tay trái cầm giáo, tay phải cầm khiên tròn.  Những di vật giáo sắt mà khảo cổ học tìm thấy ở chùa Bút Tháp, ở phủ đệ Trần Quốc Tuấn... cho ta hình dung được phần nào trang bị của quân đội Đại Việt.

Năm 1285, tại bến Đông, Ô Mã Nhi hăm doạ Sứ giả Đại Việt Đỗ Khắc chung rằng: “Đại quân ta ở xa đến đây, nước ngươi sao không trở giáo đến ra mắt mà lại chống cự mệnh lệnh”.

Trương Hán Siêu mô tả quân nhà Trần trong trận Bạch Đằng như sau: “Bấy giờ muôn dặm thuyền bè tinh kỳ phất phới, Sáu quân oai hùng gươm giáo sáng chói”...  (Phú sông Bạch Đằng)

Như vậy, quân đội thời Trần phần lớn được trang bị và sử dụng đao, kiếm, giáo mác... Đó cũng là những thứ vũ khí bạch binh thông dụng trong quân đội nhiều nước thời bấy giờ. Ngay quân Nguyên, khi đánh Đại Việt cũng trang bị giáo và trên chiến trận, quân ta đã tiêu diệt nhiều giặc và thu nhiều vũ khí, nhất là giáo, vì thế, Thượng tướng Trần Quang Khải sau khi đánh thắng trận Chương Dương - Thăng Long đã làm thơ ca ngợi chiến công, trong đó có câu “Đoạt sáo Chương Dương độ” ( Bến Chương Dương cướp giáo giặc). 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:37:31 pm
Bấy giờ, vũ khí đánh xa chủ yếu là cung nỏ, loại binh cụ truyền thống của quân đội nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước. Quân và dân thời Trần đã kế thừa truyền thống chế tạo và sử dụng cung nỏ trong sự nghiệp giữ nước.  Bấy giờ, tập cưỡi ngựa và sử dụng cung kiếm là việc bắt buộc đối với mọi vương hầu, tướng lĩnh.

Cùng với Giảng Võ đường tức là nơi học tập lý luận binh pháp ở Thăng Long còn có trường bắn, bãi tập hay trường đua. Ngoài đua ngựa, các tướng còn luyện tập và đọ tài cung kiếm ở đó. Quan Thái uý Trần Tự Khánh vốn nổi tiếng tài bắn cung. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn khuyên các tướng phải “huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”. Trần Cụ là người nổi tiếng giỏi bắn nỏ nên được vua Trần Anh Tông cho vào cung để dạy thát tử.

Cung, nỏ với mũi tên tẩm thuốc độc là vũ khí lợi hại của quân đội Đại Việt. Sử chép về chiến công của các đội quân cung nỏ thời Trần năm 1285 như sau: “Lý Hằng đem quân hộ tống Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta lấy tên độc bắn trúng vào gối bên tả của Hằng, Hằng chết. Tuỳ tướng là Lý Quán thu nhặt 5 vạn quân còn lại lấy đồ đồng dấu Thoát Hoan vào trong để trốn về Bắc. Đến Tư Minh, Hưng Vũ vương đuổi theo dùng tên thuốc độc bắn trúng, Lý Quán chết, quân Nguyên tan vỡ” 1. Tên Việt gian Trần Kiện không thể thoát khỏi mũi tên độc của gia nô của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô ở Ma Lục (Lạng Sơn). Nguyên sử nói rằng, trong trận Bạch Đằng (1288), quân Trần “bắn tên như mưa”, gây nhiều tổn thất cho chúng.

Cung, nỏ là thứ vũ khí đánh xa quan trọng nhất trong thời bạch khí. Ngoài cung nỏ, quân đội nhà Trần còn sử dụng  máy bắn đá, bẫy đá, nhưng có lẽ không thông dụng lắm, nên không thấy phản ánh nhiều trong sử sách.

Quân đội Đại Việt cũng được trang bị câu liêm, móc câu chùm, chông sắt và những phương tiện đánh thành. Câu liêm vừa là vũ khí vừa là đồ quân dụng của thuỷ quân, có thể dùng để cắt dây leo hoặc để móc thuyền.

Trong trận Bạch Đằng (1288), tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị thương nhảy xuống nước, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt sống. Trong cuộc kháng chiến năm 1285, trên đường tháo chạy của quân Nguyên, có hàng trăm dặm liền, từ Nội Bàng đến Nữ Nhi - Khâu Cấp, quân ta đã đào hố đặt chông để bẫy giặc. Binh thư yếu lược có nói về cách sử dụng chông sắt. Phương pháp nối thang đánh thành cũng được mô tả trong sách ấy.

Mũ che đầu, khiên mộc, áo giáp... là các phương tiện hộ thân. Hình ảnh hai người chiến binh thời Lý - Trần được khắc hoạ trên đồ gốm, đều cầm giáo và khiên. Sứ Nguyên là Trần Phu cho biết: “Mỗi lần đến trước cửa điện, xuống xe, thì Thái sư Trần Quang Khải và Thái uý Trần Đức Việt, mỗi người cầm một miếng ván tròn như gương màu xanh rộng 6 xích, trên vẽ mặt trời, mặt trăng, sao Bắc Đẩu và 28 vị tinh tú, có ý dùng để tự che chở cho mình” (An Nam tức sự). áo giáp có thể bằng da trâu, bằng mây hay đồng, sắt. Năm 1214, tướng Nguyễn Nộn bị đối thủ dùng gươm đâm thủng áo giáp sắt, bị thương.

Vì sử liệu quá hạn chế, nên chúng ta không thể khảo xét tường tận về chế độ trang bị của quân đội nhà Trần.  Từ thế kỷ XIII và nhất là từ thế ỷ XIV, hoả khí đã xuất hiện và sử dụng khá phổ biến ở một số nước trên thế giới.  Phát minh thuốc súng và sử dụng nó trong quân sự sớm nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ. Người Trập và người châu Âu đã học cách chế chất nổ và pháo từ các nước đó.

Ở Việt Nam, yêu cầu của cuộc chiến tranh giữ nước ngày một cao, tổ tiên ta đã không ngừng nghiên cứu, sáng tạo các loại vũ khí và phương tiện chiến đấu. Theo truyền thuyết và dã sử thì ở nước ta thuốc súng đã xuất hiện khá sớm, được sử dụng trong hội hè, đình đám và cả trong quân sự. Thời Lý - Trần, trong dân gian đã có tục đốt pháo mừng Xuân.

Nguyên sử, phần An Nam truyện có chép việc sử dụng pháo của quân nhà Trần. Sự kiện đó diễn ra vào tháng 2-1285, khi quân Nguyên tiến đến gần Đông Bộ Đầu, đóng ở bên kia sông Nhị, chuẩn bị tiến công vào Kinh thành Thăng Long, thì quân ta do vua Trần chỉ huy từ bên này sông đã “bắn pháo hô to, thách đánh” (nguyên văn của Nguyên sử là: Phát pháo đại hô cầu chiến). Tuy nhiên, đó mới chỉ là sử liệu duy nhất phản ánh về hoả khí của quân đội Đại Việt thế kỷ XIII. 


_________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.92.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:39:29 pm
Đến giai đoạn cuối Trần (thế kỷ XIV), việc sử dụng hoả khí trong quân đội Đại Việt đã phổ biến và có hiệu quả. Năm 1382, tại cửa biển Thần Dầu, trong một trận thuỷ chiến với quân xâm lược Chiêm Thành, viên tướng dưới quyền chỉ huy của Hồ Quý Ly là Nguyễn Đa Phương đã mở hàng cọc, cho quân xông thẳng vào thuỷ quân Chiêm, ném đồ hoả khí thiêu cháy gần hết đoàn thuyền chiến của giặc.

Đặc biệt là sự kiện xảy ra trên sông Hải Triều (sông Luộc) vào tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), khi vua Chiêm là Chế Bồng Nga với hàng tướng là Trần Nguyên Diệu chỉ huy hơn 100 chiến thuyền đi dò xét trận thế, chuẩn bị đánh quân ta. Lúc đó, Đô tướng Trần Khát Chân chỉ huy quân Trần đã dàn thế trận mai phục, bố trí các khầu pháo hai bên bờ sông và trên thuyền chiến. Khi thuyền giặc chưa kịp tập hợp thì một tiểu thần bị Bồng Nga trách phạt đã sang đầu hàng quân ta và chỉ chiến thuyền sơn màu lục là thuyền có vua Chiêm đang đứng thị sát. Tướng Trần Khát Chân sai hoả pháo cùng bắn một loạt.  Đạn bay trúng giữa thân Chế Bồng Nga xuyên xuống tận ván thuyền. Bồng Nga chết ngay, quân địch tan vỡ 1.

Như vậy, có thể nói rằng từ thế kỷ XIII, ở Đại Việt đã biết chế tạo và sử dụng thuốc súng trong mục đích quân sự và sang cuối thế kỷ XIV thì quân đội Đại Việt đã được trang bị và sử dụng hoả pháo phổ biến trong chiến đấu và hoả khí đã xuất hiện ở nước ta vào thời kỳ này. Một trong những người có công sáng chế và cải tiến hoả pháo thời đó là Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng của Hồ Quý Ly. Lúc đó Hồ Quý Ly là một trọng thần trong vương triều Trần.

Sử liệu không cho biết phương thức chế tạo vũ khí thời Trần ra sao. Tất nhiên là nhà nước thời Trần đã lập các quan xưởng để chế tạo các đồ binh khí. Ngoài ra, chúng ta biết rằng, trước và sau mỗi lần kháng chiến, vua Trần thường hạ chiếu “truyền cho cả nước sắm sửa vũ khí”.

Năm 1282, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đã lập một đội quân hơn nghìn gia nô và thân thuộc, tự sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, chờ ngày giết giặc, cứu nước.

Mùa Xuân năm Bính Tuất (1286), vua Trần hạ lệnh cho các vương hầu, tôn thất mộ thêm binh và sửa soạn đồ binh khí, thuyền ghe, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ ba.

Trong chiến tranh chống xâm lược thời Trần, vũ khí phần lớn do nhân dân tự trang bị lấy. Hơn nữa, với phương thức tổ chức quân đội theo quốc sách “ngụ binh ư nông”, “thời bình làm nông, thời chiến làm binh”, thì các vũ khí thông thường như giáo, mác, gậy, cung nỏ, v.v. do quân vương hầu, quân địa phương và dân binh tự trang bị là chuyện dễ hiểu. Và, có lẽ cũng do vậy mà sử sách đã phản ánh sự kiện Linh từ quốc mẫu (vợ Thát sơ Trần Thủ Độ) đã quyên góp được nhiều đồ binh khí của các nhà để có thêm vũ khí cho quân đột. Hình thức tự “sắm sửa vũ khí” theo lệnh của triều đình nói trên là phổ biến dưới triều Trần.

Về quân trang - quân phục đời Trần, sử sách phản ánh hết sức tản mạn, ít ỏt. Có thể biết cách ăn mặc của quân lính, võ quan thời Trần qua những quy định của nhà nước. Năm 1293, sứ nhà Nguyên sang ta không thấy y phục của quân dân Đại Việt có màu xanh, đỏ, vàng tía, bởi vì đó là những màu sắc bị cấm, chỉ dành riêng cho vua và những người quyền quý.

Năm 1300, định thể lệ áo mũ mới cho các quan văn, võ. Về áo mặc, kích thước tay áo của các quan từ 1 thước 2 tấc đến 9 tấc, không được mặc thứ “áo phủ phía trước”, tụng quan không được mặc áo “xiêm”. Quan văn võ đều đội mũ “chữ đinh”, thêm miếng lụa bọc màu tím xen màu biếc.  Năm 1396, quy định cho các quan văn võ, tước từ cửu phẩm trở lên đội mũ Giác Đinh, từ thất phẩm trở xuống đội mũ Thái Cổ. Năm 1374, có lệnh cấm quân dân không được mặc áo kiểu của người phương Bắc . . .

Bấy giờ, quân sĩ Vân Đồn đội nón Ma Lôi. Lúc đó, Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, ông thấy quân dân đều ăn mặc, trang phục kiểu Trung Quốc. Khánh Dư ra lệnh: “Quân đóng ở Vân Đồn là để giữ giặc Hồ (giặc Bắc), không nên đội nón phương Bắc, trong chiến tranh khi vội vàng khó phân biệt; phải đội nón Ma Lôt. Ai trái lệnh thì phạt” 2.


_____________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.67.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.60.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:41:23 pm
Ma Lôi là một hương ở Hồng Lộ (Hải Dương) khéo nghề đan cật tre làm nón. Bấy giờ có loại khăn và mũ giành riêng cho nhà vua hoặc các tướng khi duyệt binh. Vua Trần Anh Tông có hai chiếc “ mũ võ” để đội khi kiểm duyệt quân đội hay khi đến Giảng Võ đường, đặt tên là mũ Vũ Uy và Vũ Đức.

Năm 1351 , khi duyệt cấm quân ở điện Thiên An, Nguyễn Trung Ngạn mặc áo chiến bào, đội khăn quan võ, đeo “đăng kim nghiền” bằng gỗ vuông sơn son thiếp vàng bốn cạnh, trông rất oai nghiêm.

Nhìn chung, trang phục của võ quan, tướng lĩnh và binh lính nhà Trần đã khá tươm tất, thống nhất; về triều phục các quan văn võ, càng về sau càng được quy định phân biệt theo phẩm hàm, chức tước của họ.

Quân đội thời Trần là một quân đội chính quy, có tổ chức quy củ và được trang bị khá tốt. Tất nhiên, thời bấy giờ, về trang bị giữa quân ta và quân Nguyên không thua kém nhau nhiều. Điều chủ yếu đưa đến thắng lợi của quân dân ta là vấn đề huấn luyện con người để phát huy hiệu quả của các binh khí kỹ thuật đó.

2. Chế độ luyện quân

Nhà Trần đặc biệt coi trọng đào luyện các võ quan, tướng lĩnh trên cả hai mặt đức và tài. Hình thức bồi dưỡng, rèn luyện đức độ có thể bằng ban chiếu dụ, truyền hịch, hoặc tổ chức cho các tướng học tập, họp bàn, tuyên thệ, v.v..

Nội dung rèn luyện trước tiên là bồi dưỡng tình cảm của võ quan, tướng lĩnh đối với quê hương, đất nước, đối với quân sĩ, đề cao lòng nhân nghĩa, “trung quân ái quốc”, tinh thần trách nhiệm của người cầm quân.

Trước khi bước vào cuộc đọ sức quyết liệt với giặc Nguyên (1285), ở cương vị là Quốc công tiết chế (tổng chỉ huy quân đội), Trần Quốc Tuấn đã ra Hịch tướng sĩ, kêu gọi, khơi dậy lòng trung nghĩa, tinh thần chiến đấu hy sinh “vì nước quên mình” của các tướng. ý chí quyết chiến, quyết thắng được bài hịch khích lệ đã từ các tướng sĩ truyền đến toàn quân, tạo nên một sức mạnh chính trị tinh thần hết sức to lớn.

Tháng 11- 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập các vương hầu bách quan đến Bình Than bàn kế đánh giặc. Qua hội nghị đó, triều đình đã chung đúc trí tuệ, mưu lược của các tôn thất, tướng sĩ để đạt tới một phương lược giữ nước tối ưu, để mọi người cùng thống nhất ý chí và hành động. Qua hội nghị đó, triều đình nhà Trần đã động viên tinh thần đánh giặc của các tướng sĩ, làm cho mọi người dù được tham gia hội nghị hay không, đều nhận thấy bổn phận của người tướng trước nguy cơ giặc ngoại xâm.

Hai sự kiện đối với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn mà sử sách đã ghi đều thể hiện tinh thần đó. Trước khi bước vào cuộc sống mái với giặc, triều đình và tướng sĩ đã đồng lòng, đồng sức, đồng chí hướng, hết mực quyết tâm xả thân cứu nước. Nhân tố tinh thần - chính trị đó là hết sức cần thiết, giữ vai trò quyết định chiến thắng.

Cũng như thời Lý, triều Trần tổ chức hội thề hằng năm ở Long Trì hay tại đền Đồng Cổ, gọi là lễ Hội thề quốc nhân hay Lễ Minh thệ. Sách Lịch triều hiến chương loại chí miêu tả một buổi hội thề như sau:

“Hàng năm, ngày mồng 4 tháng 4, tể tướng và trăm quan, hồi gà gáy đến trực ngoài cửa thành, mờ sáng tiến vào triều. Vua ngự ở cửa hữu lang điện Đại Minh; trăm quan mặc nhung phục làm lễ hai lậy rồi lui ra; đều đủ đội ngũ nghi trượng theo hầu cửa tây Kinh thành đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, họp nhau như thế rồi uống máu. Quan Trung thư kiểm chính đọc lời thề rằng: “Làm tôi hết lòng, làm quan thanh bạch, không giữ lời thề thần minh tru diệt” . Đọc xong, quan tể tướng sai đóng cửa đại để kiểm điểm. Người nào thiếu mặt thì phạt 5 quan tiền. Ngày hôm ấy con trai, con gái bốn phương đứng ở cạnh đường để xem chật ních, cho là hội lớn” 1.


_________________________
1.  Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.II, tr.206.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:44:34 pm
Hình thức hội thề đó đã góp phần gắn bó các triều thần văn võ với vua và hoàng tộc.  Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng quân đội, yếu tố tài năng quân sự, tức là thông thạo binh pháp, giỏi võ nghệ của đội ngũ võ quan, tướng lĩnh không thể thiếu được. Các vua Trần nói chung đều trọng võ. Lúc đó, xu hướng coi trọng võ nghệ trở thành phương châm sống của vua quan, của quý tộc Trần.

Sử chép: Bấy giờ các vương hầu phần nhiều lấy sự đánh nhau tay không và một mình đi “ăn cướp” là dũng cảm.  Vũ Uy vương (con Trần Thái Tông) cũng thường trốn thành ra đấu võ ở bến Đông. Tại kinh thành vua thường tổ chức cho quân sĩ đánh nhau với hổ (tất nhiên con vật đã được bẻ móng, rọ mõm) 1.

Thượng hoàng Trần Nhân Tông cũng nói: “Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng dũng.., nếp nhà theo nghề võ...” 2.
 
Do truyền thống thượng võ mà con cái các nhả quyền quý hoặc nhiều người khác cũng đã sớm quan tâm đến việc học tập và rèn luyện võ nghệ. Khi trở thành các võ quan, họ lại tiếp tục học tập quân sự một cách thường xuyên, có hệ thống theo quy chế của triều đình.  Năm 1253, triều Trần lập Giảng Võ đường và xây dựng trường đua làm nơi để dạy võ và huấn luyện quân sự. Trần Quốc Tuấn viết sách Binh thơ yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Theo lời Trần Khánh Dư, bấy giờ “đã lấy sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết”. Bí thuật của Trần Quốc Tuấn có thể là phương pháp bày binh bố trận theo cách riêng, thích hợp với hoàn cảnh đất nước, dựa trên cơ sở tư tưởng quân sự “dĩ đoản chế trường” mà ông đã tổng kết.

Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư là những bộ binh thư, binh pháp đầu tiên của nước ta, đã được nhà quân sự Trần Quốc Tuấn dày công nghiên cứu, biên soạn. Việc học tập và giảng dạy quân sự có lúc đã theo phương pháp mới mà có thể gọi là khoa học, như lời dặn của Trần Quốc Tuấn: “Con cháu và bồi thần của ta có theo bí thuật này thì hãy lấy lòng sáng suốt mà thi hành bày xếp, không nên lấy ngu tối mà dạy truyền, trái thế thì không chỉ phải chịu tai ương mà còn vạ lây đến con cháu đời sau” 3. 

Hoặc như lời Trần Khánh Dư viết trong lời tựa sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư rằng: “Cho nên Quốc công ta mới hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực” 4.

Như vậy, theo Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư, học binh pháp của ta hay của nước ngoài đều phải sáng tạo, linh hoạt, chứ không rập khuôn máy móc.

Việc học binh thơ, binh pháp là điều bắt buộc đối với vua, thát tử, với các vương hầu và tướng lĩnh. Bởi vì, bấy giờ vua là chỉ huy tối cao của quân đội, vua thường “tự làm tướng” đi đánh giặc, thát tử là người kế vị, còn các vương hầu và tướng lĩnh đều là những người trực tiếp chỉ huy các đạo quân.

Trần Quốc Tuấn đòi hỏi các tướng phải dày công nghiên cứu binh pháp, nhất là bộ Binh thư yêú lược.  Ông nói: “Các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo thì trọn đời là tôi chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù”. 5. 
 
Quan điểm xây dựng quân đội của Trần Quốc Tuấn cũng như của vương triều là “quân cốt tinh nhuệ”, trong đó cái “tinh” trước hết là ở đội ngũ chỉ huy, những người trực tiếp cầm quân đánh giặc, vì theo như ông khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ” (Binh thư yếu lược).

Việc đào luyện tướng sĩ tuy ở các đời vua có chỗ khác nhau, nhưng nhìn chung nhà Trần đều chú ý trên cả hai phương diện đức và tài, vừa phát huy phẩm chất vừa nâng cao năng lực của các tướng lĩnh, nhằm tạo ra một đội ngũ tướng lĩnh chỉ huy quân đội tài cán và trung thành với vương triều.


_______________________________
1, 2 .  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 2 , tr. 24 , tr. 78.
3,4,5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.84-85.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:45:58 pm
Cùng với việc chú trọng đào luyện phẩm chất và tài năng quân sự cho các võ quan, tướng lĩnh, triều Trần còn rất quan tâm đến vấn đề tổ chức tập trận và luyện rèn sĩ tốt.  Dưới thời Trần, vào các giai đoạn chuẩn bị kháng chiến chống Mông - Nguyên, không khí luyện tập võ nghệ thật sôi nổt. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn nhắc nhở các tướng: phải chăm lo “luyện rèn quân sĩ, tập dượt cung tên” khiến cho ai ai cũng giỏi cung kiếm. Trong quân đội, binh lính được tập cưỡi ngựa, học bắn cung nỏ, múa kiếm, phóng lao, sử dụng giáo, mác v.v..

Nhà nước khuyến khích mở lò luyện võ và cho phép các vương hầu, quý tộc đôn đốc rèn tập và trang bị cho quân lính dưới quyền. Việc rèn luyện kỹ, chiến thuật thường thông qua các buổi tập trận. Chính sử ghi chép nhiều về hình thức tập trận lớn, các đợt thao diễn quân đội do chính nhà vua hoặc quốc công tiết chế chỉ huy. 

Năm 1263, Trần Nhân Tông hạ lệnh cho các đạo quân sắm sửa khí giới, đóng thuyền chiến và tổ chức tập trận ở bãi phù sa sông Bạch Hạc (Phú Thọ) . Sau Hội nghị Bình Than, các cuộc duyệt binh và diễn tập đã được tổ chức quy mô ở Thăng Long và trên những địa bàn chiến lược như Bạch Hạc, Vạn Kiếp... Năm 1283, vua Nhân Tông đích thân chỉ huy các vương hầu điều động quân thuỷ, bộ thao diễn tập trận. Năm 1284, Trần Quốc Tuấn được lệnh điều khiển các vương hầu, tướng lĩnh mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, rồi sau đó chia quân đi đóng giữ ở những nơi xung yếu ở phía bắc và đông bắc Tổ quốc. Tháng Chạp năm ấy, vua ngự giá ra Hải Đông (Hải Dương), sai Hưng Đạo vương “tiết chế đại hội thuỷ bộ chư quân” ở Vạn Kiếp. Bấy giờ, trại quân đóng liên tiếp một dải ở Vạn Kiếp, thuyền chiến san sát trên sông Lục Đầu, cờ xí trang nghiêm, qua mâu (gươm giáo) rực sáng, ba quân thực là sung sức.

Cuộc kháng chiến chống Nguyên vừa kết thúc, năm 1286, vua Trần đã lệnh cho Hưng Đạo vương cùng các vương hầu và các võ quan “kiểm duyệt quân đội làm đồ binh khí, đóng thuyền chiến và mở cuộc tập trận” 1. Năm sau, triều đình lại triệu tập toàn quân, tổ chức diễn tập và triển khai lực lượng phòng vệ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288). Những sự kiện trên chứng tỏ vua Trần và Trần Quốc Tuấn rất chăm lo rèn luyện quân sĩ. 

Thông qua các kỳ tập trận và thao diễn, các tướng sĩ và quân lính quen với chiến trận và địa hình, biết hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị, các loại quân, đồng thời nâng cao thêm sĩ khí trước khi bước vào cuộc đọ sức quyết định với quân giặc. Chính nhờ thế mà chất lượng quân đội thời Trần ngày một tinh, sự đối phó với quân giặc cũng được chủ động và có hiệu quả. Câu nói của Trần Quốc Tuấn: “Năm nay đánh giặc nhàn”, một phần cũng do sự chuẩn bị đó.

Binh lực thời bấy giờ tổ chức tốt, luyện tập có quy chế và bài bản, kỷ luật nghiêm minh; tuy số lượng ít nhưng dũng mãnh lạ thường; vì thế, triều Trần dám đương đầu và đã nhiều lần đánh thắng quân Mông - Nguyên đông và thiện chiến nổi tiếng đương thời.

Trên đây là một số nội dung chủ yếu của binh chế Đại Việt thời Trần. Binh chế thời bấy giờ do nhà nước phong kiến mà đại diện là vua và triều đình nhà Trần thiết lập, trước hết nó bảo vệ quyền lợi cho giai cấp phong kiến thống trị, trong đó chủ yếu là vua và hoàng tộc. Điều đó thể hiện trong quan điểm về tổ chức xây dựng và nhất là trong quá trình tuyển chọn, đào luyện, sử dụng...

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, binh chế của nhà Trần trong giai đoạn phát triển của vương triều là một binh chế tiến bộ, với những quy định khá chặt chẽ trên nhiều phương diện. Binh chế đó mang tính nhân dân, theo quan điểm chiến tranh toàn dân, “bách tính giai binh” (toàn dân là lính), “cử quốc nghênh địch” (cả nước đánh giặc). Chính vì thế, khi giai cấp phong kiến thời Trần còn đại diện cho lợi ích dân tộc, thì binh chế đó đã phát huy hiệu lực to lớn của nó. Trên thực tế, từ binh chế đó mà nhà Trần đã ba lần đánh thắng quân xâm lược Mông - Nguyên và nhiều lần đẩy lùi quân giặc xâm phạm biên giới, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Sử gia Phan Huy Chú khi nghiên cứu về binh chế đời Trần có nhận xét khá sắc sảo như sau: Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện; khi có nạn thì đều hết sức chống cự. Thế là đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh , đó là chính sách tốt, là chế độ hay của người cận cổ.


___________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.58.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 10:59:21 pm
CHƯƠNG III

BA LẦN ĐÁNH THẮNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN XÂM LƯỢC


I- CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ NHẤT (1258)

Năm 1251, ngay sau khi lên ngôi đại hãn Mông Cổ, Mông Kha đã khẩn trương chuẩn bị cho việc chinh phục các nước phía đông và Đông Nam châu Á.

Năm 1253, em Mông Kha là Hất Tất Liệt cùng tướng Ngột Lương Hợp Thai được lệnh đem quân đánh chiếm Kinh đô nước Đại Lý (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc). Đến 1256, nước Đại Lý bị diệt vong.

Năm 1257, Mông Kha (chủ trương xuất quân đánh Nam Tống từ bốn mặt. Mông Kha thân dẫn đại quân tiến theo con đường Tứ Xuyên. Một cánh quân do Hốt Tất Liệt chỉ huy vượt sông Trường Giang đánh chiếm Ngạc Châu (Vũ Xương, Hồ Bắc, Trung Quốc). Một cánh quân khác tiến đánh vùng Kinh Sơn ở hạ lưu sông Trường Giang. Ngột Lương Hợp Thai được lệnh kéo quân từ Đại Lý đánh vào Đại Việt, rồi từ đó phát triển tiến công vào Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây), Quế Châu (Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc), tiến thẳng lên phía bắc gặp cánh quân của Hốt Tất Liệt ở Ngạc Châu. 

Như vậy, mục tiêu của cánh quân Ngột Lương Hợp Thai là đánh chiếm Đại Việt, tạo một bàn đạp để vừa bao vây vu hồi quản Nam Tống từ phía nam, vừa thực hiện “kế ở lâu dài”, phát triển tiến công xuống Đông Nam châu Á.  Lực lượng quân xâm lược khoảng 4 vạn (gồm 2 vạn quân Mông Cổ và 2 vạn quân người địa phương). Đến A Mân (Khai Viễn), chúng dừng lại và cho sứ đưa thư đến Đại Việt, dụ vua Trần Thát Tông ra hàng.

Tháng 9-1257, sứ thần Mông Cổ đầu tiên đến Quy Hoá, Phú Thọ. Sau đó, Ngột Lương Hợp Thai lại lần lượt phái tiếp hai sứ nữa sang. Theo lệnh triều đình nhà Trần, cả nước khẩn trương chuẩn bị chống giặc. Tháng 10, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cử Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thững lĩnh quân thuỷ bộ lên chặn giặc ở biên giới. Đến tháng 12, toàn dân được lệnh sắm sửa vũ khí.

Vua Trần ra lệnh tống giam cả ba sứ thần Mông Cổ lần lượt đến, biểu lộ ý chí kiên quyết bảo vệ đất nước. Ngột Lương Hợp Thai chờ mãi không thấy sứ về bèn quyết định tiến quân. Y sai hai viên tướng, mỗi người chỉ huy một cánh quân theo đường tả ngạn và hữu ngạn sông Thao tiến trước. Đại quân tiến theo sau.

Tháng 1-1258, hai cánh quân đi trước gặp nhau ở Bạch Hạc, tiếp tục tiến về Thăng Long theo đường bộ. Để cản giặc, vua Trần Thái Tông đã cho lập phòng tuyến chống giặc ở Bình Lệ Nguyên, nơi sông Cà Lồ chắn ngang đường giặc tiến quân. Quân lính, voi, ngựa dàn ra san sát trên bờ nam. Thuyền chiến của ta triển khai phía hạ lưu sông Cà Lồ.

Quân địch tổ chức lực lượng làm ba đột. Đội tiên phong do Triệt Triệt Đô vượt sông trước ở phía hạ lưu có nhiệm vụ cướp cho được thuyền của ta. Bản đội do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy sẽ đánh vào chính diện quân ta. Còn đội của Hoài Đô sẽ đánh vòng vào phía sau quân ta. 

Ngột Lương Hợp Thai vạch kế hoạch tiến công cho Triệt Triệt Đô như sau: “Quân ngươi khi đã qua sông, đừng đánh chúng vội, chúng tất đến chống lại ta. Phò mã (Hoài Đô - TG) theo sau cắt hậu quân của chúng. Ngươi rình cướp lấy thuyền. Quân Man nếu tan vỡ chạy ra sông, không có thuyền tất bị ta bắt” 1.

Vừa sang sông, quân Mông Cổ tiến công ào ạt. Quân ta dũng cảm chiến đấu, bám giữ trận địa. Vua Trần Thái Tông xông lên phía trước, tự mình đốc thúc tướng sĩ đánh giặc. Ở đây địa hình đồng trống và đồi thấp, kỵ binh địch phát huy được sức mạnh tiến công. Địch lấn dần trận địa ta. Lê Tần (tức Lê Phụ Trần) thấy quân ta chưa thể đương nổi, đã khuyên vua hãy tạm rút lut. Vua Trần lên thuyền, xuôi theo sông Cà Lồ về đến Phù Lỗ. Quân Mông Cổ đuổi theo trên bờ, bắn tên xuống thuyền nhưng ta vẫn rút lui an toàn.


______________________________
1. Dẫn theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.72.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:02:37 pm
Ngày 18-1-1258, vua Trần cho phá cầu Phù Lỗ, bày trận bên sông. Quân Mông Cổ tìm chỗ nước nông, vượt sông tiếp tục tiến công. Quân ta không đương nổi, phải tiếp tục rút về hướng Thăng Long, quân Mông Cổ tiếp tục đuổi theo.  Trước thế tiến công mạnh mẽ của địch, triều đình quyết định tạm thời rút khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng.

Cuộc rút lui của triều đình và dân chúng được tổ chức chu đáo. Bà Linh Từ quốc mẫu, vợ Trần Thủ Độ đứng ra sắp xếp việc lánh nạn cho các cung phi và vợ con các tướng về vùng sông Hoàng Giang (khúc sông Hồng vùng Lý Nhân), sau đó lại thu  thập những quân khí cất trong thuyền các gia đình đi lánh nạn gửi cho quân đội.

Quân chủ lực Đại Việt theo sông Hồng về đóng giữ ở vùng Thiên Mạc (nay thuộc Duy Tiên, Hà Nam).  Quân Mông Cổ tiến vào Thăng Long bỏ trống. Sáu mươi mốt phố phường vắng lặng, không còn dân, không còn lương thực. Bọn giặc chỉ tìm thấy trong nhà ngục những tên sứ mà Ngột Lương Hợp Thai đã phái vào Đại Việt trước đây. Bọn xâm lược điên cuồng tàn phá Kinh thành Thăng Long.

Trong quá trình rút lui theo sông Hồng, vua tôi nhà Trần cùng nhau bàn tính phương lược đánh giặc. Trong triều đình đã có người hoang mang, dao động. Một hôm, nhà vua đi thuyền đến gặp Thát uý Trần Nhật Hạo, em ruột của vua bàn về kế đánh giặc. Nhật Hạo lấy ngón tay, nhúng nước viết vào mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”. Tức là Nhật Hao muốn khuyên vua bỏ nước, bỏ dân sang nương nhờ nhà Tống. Lúc đó chính nhà Tống đang bị quân Mông Cổ vây hãm. Nhưng quyết tâm kháng chiến của triều đình và quân dân ta vẫn vững vàng.

Khi Trần Thái Tông quay thuyền đi hỏi Trần Thủ Độ vị thái sư này đã trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”. Câu nói đanh thép đó phù hợp với quyết tâm kháng chiến của quân, dân ta, càng củng cố thêm ý chí đánh giặc giữ nước của triều đình và của cả dân tộc. 

Ở Thăng Long, quân Mông Cổ bắt đẩu gặp khó khăn.  Trong thành không tìm ra lương thảo cho mấy vạn người, ngựa ăn. Đánh nống ra vùng quanh Thăng Long thì nhân dân các hương ấp đã cất giấu lương thực và chống trả quyết liệt Trong tình hình đó, quân giặc mới đóng ở Thăng Long được 9 ngày đã vô cùng hoảng hốt, lo sợ. Sức chiến đấu giảm sút nặng nề.

Đánh giá thời cơ chuyển sang phản công đã đến, vua Trần ra lệnh cho các tướng sĩ ráo riết chuẩn bị cuộc phản công chiến lược. Cuối tháng 1 - 1258, Trần Thái Tông đem quân đi thuyền ngược sông Hồng tiến về Thăng Long. Quân ta đã được bảo toàn, củng cố, sung sức, mở cuộc tiến công mạnh mẽ vào Đông Bộ Đầu là nơi lực lượng chủ yếu của quân giặc cụm lại, trong đó có cơ quan đầu não.  Quân Trần tiến quân theo hai cánh. Cánh quân thuỷ (do vua Trần Thái Tông và Thát tử Hoảng trực tiếp chỉ huy) từ sông Hồng đổ bộ lên Đông Bộ Đầu từ phía đông. Cánh quân bộ chia làm hai mũi từ phía nam và phía tây thọc thẳng vào khu địch đóng quân.

Nửa đêm ngày 28-1-1258, tướng tiên phong Trần Khánh Dư hạ lệnh đánh úp. Quân ta bất ngờ tiến công trong lúc địch đang ngủ, người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp thắt yên. Quân Mông Cổ lâm vào cảnh hỗn loạn. Cuộc phản công diễn ra quyết liệt cho đến sáng 29-1. Bị đánh bất ngờ trong lúc sức chiến đấu đang suy sụp, quân địch bị thiệt hại nặng. Chúng hoảng hốt theo đường cũ dọc bờ phải sông Hồng, tháo chạy về hướng Vân Nam. Chạy đến bến Cổ Sở, nay thuộc xã Yên Sở ngoại thành Hà Nội, giặc định cướp phá xóm làng, nhưng bị nhân dân Cổ Sở vũ trang đánh trả quyết liệt.

Sử cũ ghi : “Khoảng đời Nguyên Phong nhà Trần, người Thát Đát vào cướp, đi đến cõi châu ấy, ngựa khuỵu chân không đi được, người thôn ấy đem quân chống đánh, chém được đầu giặc, bọn giặc chạy tan” 1.

Giặc chạy lên ngã ba Bạch Hạc. Theo truyền thuyết thì Phùng Lộc Hộ, người đã đánh giặc ở vùng này khi chúng mới kéo sang, lại đem quân địa phương đánh đuổt. Chạy đến trại Quy Hoá, quân Mông Cổ lại bị nhân dân miền núi do chủ trại Hà Bổng chỉ huy đổ ra đánh. Chúng hoảng sợ cắm đầu chạy thoát thân, không còn dám cướp bóc, đốt phá như khi tiến vào Đại Việt. Cuộc xâm lược Đại Việt của quân Mông Cổ đã hoàn toàn bị đánh bại.


________________________________
1. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr.80. Có thể nhân dân Cổ Sở lúc đó đào hố bẫy ngựa của giặc.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:04:51 pm
Có thể có mấy nhận xét về cuộc kháng chiến chống xâm lược năm 1258.

Về địch: Xâm lược Đại Việt, quân Mông Cổ nhằm ba mục đích lớn: Một là khuất phục, thôn tính Đại Việt, hai là tạo một mũi vu hồi chiến lược đánh vào quân Nam Tống ở Hoa Nam và ba là về lâu dài, biến Đại Việt thành một bàn đạp để phát triển xuống phía nam, đánh chiếm các nước khác, mở rộng đế quốc Mông Cổ.
Đây là một thất bại lớn đầu tiên trên đường chinh chiến luôn luôn thắng lợi từ châu âu sang châu Á trong suốt hơn 40 năm trước đó của quân Mông Cổ, nhất là khi thành phần chỉ huy gồm hàng chục tướng lĩnh, quý tộc có tên tuổt.

Về ta: Triều đình nhà Trần đã kịp thời phát hiện không thể dùng quân đội đương đầu trực diện bằng cách đánh dàn trận với quân Mông Cổ thiện chiến. Vì quân Mông Cổ đã quen chinh chiến, còn quân ta thì trải qua nhiều năm chưa chiến đấu với giặc ngoài, nên khó tránh khỏi lúng túng và tổn thất.  Do đó, quân ta phải chặn đánh địch từng bước, rồi rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng, làm suy yếu địch bằng cách buộc chúng rải quân ra đương đầu với cuộc chiến đấu của cả quân và dân Đại Việt. Đồng thời còn cất giấu lương thực, triệt đường tiếp tế, làm cho chúng suy yếu dẩn. Sau đó tiến hành phản công chiến lược bằng lực lượng của ta đã được bảo toàn, củng cố, đánh địch bằng cả quân của triều đình và quân của địa phương. Đó là bài học kinh nghiệm lớn cho các cuộc kháng chiến về sau.

Trong điều kiện đó, hạ được quyết tâm rút lui chiến lược, rút bỏ Kinh đô là một điều sáng suất, bình tĩnh và táo bạo.  Điều quan trọng là triều đình, tướng lĩnh, quân đội và dân chúng đều vững vàng, không hoang mang, hỗn loạn trước những diễn biến to lớn chưa từng thấy. Đó cũng là nhờ sự gắn bó giữa triều đình và trăm họ, lúc thường cũng như lúc đất nước nguy biến. Nhờ đó, quân dân ta đã tạo được thời cơ để thực hành cuộc phản công chiến lược, quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi.

Thắng lợi trong cuộc kháng chiến lần này, tuy quy mô về sử dụng lực lượng địch - ta, về phạm vi không gian và thời gian, về tính ác liệt, về lực lượng địch bị tiêu diệt chưa lớn nhưng có ý nghĩa rất trọng đại. Vì đây là thắng lợi của trận đầu qua đó triều Trần rút được nhiều kinh nghiệm để lãnh đạo chiến tranh giừ nước, tạo được lòng tin của triều đình và trăm họ về khả năng của quân dân ta đánh thắng được quân xâm lược lớn mạnh trong những tình huống sẽ còn khó khăn phức tạp hơn.

Nhớ lại tác dụng và ý nghĩa của thắng lợi năm Nguyên Phong thứ 7 (1258), Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng của hai cuộc kháng chiến thắng lợi năm 1285 và 1288, trong một bài thơ của mình, đã có câu:

“Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
”
(Những người lính đầu bạc
Vẫn thường thường kể lại chuyện đời Nguyên Phong
). 

Thắng lợi năm 1258 được đời đời ghi vào những trang sử rực rỡ của dân tộc Việt Nam anh hùng.


II. ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO GIỮA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN (1258-1284)

Sau thất bại năm 1258, đế quốc Mông Cổ vẫn không hề từ bỏ ý đồ xâm chiếm Đại Việt. Vì còn phải tập trung lực lượng và cố gắng giải quyết vấn đề tranh chấp nội bộ, rồi thanh toán quân Nam Tống cho nên chúng chưa thể động binh đánh Đại Việt.

Tuy nhiên, đó là thời gian đấu tranh ngoại giao rất căng thẳng. Nhà Trần phải đối phó với nhiều thủ đoạn đe doạ, yêu sách, gây sức ép về chính trị, kể cả âm mưu khuynh đảo nội bộ vương triều. Triều đình nhà Trần đã đối phó với các thủ đoạn đó một cách vừa khôn khéo, vừa kiên quyết làm cho các thủ đoạn đó thất bại hoàn toàn. Phải khôn khéo để có thể trì hoãn được chiến tranh trong phạm vi khả năng, có thì giờ để chuẩn bị lực lượng. Mặt khác, phải kiên quyết giữ vững nguyên tắc, không để tổn hại đến quốc thể và chủ quyền dân tộc.

Có thể nghiên cứu cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài đó theo ba giai đoạn:


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:05:39 pm
1. Giai đoạn thứ nhất từ năm 1258 đến năm 1266.

Đó là thời kỳ mà đế quốc Mông Cổ phải tập trung giải quyết những vấn đề nội bộ trong nước, chưa thể tổ chức xâm lược Đại Việt.  Năm 1258, ngay sau khi bị đánh đuổi, chạy dài về Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai đã sai ngay hai sứ sang dụ vua Thái Tông tới chầu. Căm phẫn vì thấy Kinh thành Thăng Long bị tàn phá, Trần Thái Tông đã sai trói hai sứ, đuổi về.  Đồng thời vua Trần vẫn cho sứ sang Nam Tống cống voi và nói ý định truyền ngôi cho con.

Ngày 30-3-1258, Thát tử Hoảng lên ngôi, tức Trần Thánh Tông. Lúc này, một phần vì sứ Mông Cổ nhiều lần sách nhiễu, một phẫn vì nhà Trần đã suy xét về thực lực của Mông Cổ và của Nam Tống nên vua Trần đã quyết định thông hiếu với Mông Cổ. Lê Phụ Trần được cử cầm đầu sứ bộ, Chu Bác Lãm làm phó, tiến vào đất địch. Ngột Lương Hợp Thai đã dẫn họ đến gặp chúa Mông Cổ Mông Kha bấy giờ ở vùng Thiểm Tây. Sứ bộ này đã đi đến thoả thuận là định lệ ba năm cống một lần.

Sau đó, Mông Kha lại sai Nậu Lạt Đinh, một tín đồ hồi giáo đưa thư sang Đại Việt với nội dung: Trước ta sai sứ thông hiếu, các người giữ lại không cho về, vì thế mới có việc xuất quân năm ngoái, làm cho chúa nước ngươi phải chạy ra nơi thảo dã. Ta lại sai hai sứ đến chiêu an, các ngươi lại trói đuổi sứ của ta. Nay đặc sai sứ sang dụ rõ ràng, nếu các ngươi thực lòng nội phụ thì quốc chủ phải thân đến, nhược bằng còn không sửa lỗi thì nói rõ cho ta biết.

Bất chấp những lời đe doạ đó, vua Trần vẫn không sang chầu, chỉ trả lời một cách khôn khéo: “Nước nhỏ thành tâm thờ bề trên, thì nước lớn đối đãi lại như thế nào ?”.  Nậu Lạt Đinh phải trở về không. Sau đó, tên cầm đầu bộ máy thống trị của quân Mông Cổ ở Vân Nam lại sai Nậu Lạt Đinh sang ta lần nữa, tiếp tục thúc ép vua Trần sang chầu vua Nguyên. Vua Trần đã lựa lời lảng tránh: Đợi khi có ân đức tới sẽ cho con em sang làm con tin. Ý muốn nói rõ, dứt khoát rằng vua Đại Việt không sang chầu. Nậu Lạt Đinh một lần nữa phải trở về không.

Năm 1259, Đại hãn Mông Kha đánh quân Nam Tống ở Hợp Châu. Tướng Tống là Vương Kiên đã kiên trì cố thủ trong thành nhỏ trên núi Điếu Ngư suốt 5 tháng trời. Trần Hưng Đạo đã ca tụng cuộc chiến dấu anh dũng này trong Hịch tướng sĩ. Ngày 11-8- 1259, Mông Kha trúng đạn chết. Hàng chục vạn quân Mông Cổ đã phải rút lut.  Được tin Mông Kha chết, em Hốt Tất Liệt là A Lý Bất Kha chiếm quốc đô Mông Cổ là Caracôrum, mưu toan giành ngôi đại hãn. Trong tình hình đó, Hốt Tất Liệt dừng ngay cuộc tiến công, giảng hoà với Nam Tống, rút quân về phương bắc. Năm 1260, Hốt Tất Liệt tự xơng là đại hãn ở Khai Bình, tiến hành cuộc chiến tranh chống A Lý Bất Kha. Ngột Lương Hợp Thai cũng phải rút quân từ Vân Nam về phương bắc, tham gia cuộc chiến tranh đó.

Trong tình hình đó, Hốt Tất Liệt vẫn không quên hướng chiến lược Đại Việt. Năm 1261, hắn gửi đến vua Trần một chiếu thư với lời lẽ giả nhân giả nghĩa nhưng sặc mùi ban ơn láo xược của thượng quốc: Mới đây, thú thần ở nước Đại Lý là An phủ Nhiếp Chi Mạch Đinh chạy trạm dâng biểu nói nước khanh có thành ý hướng phong mở nghĩa. Nghĩ khanh trước kia, thời tiên triều đã từng thần phục, từ xa cống phương vật, nên ban chiếu chỉ dụ các quan liêu, sĩ thứ nước khanh phàm áo mũ, điển lễ, phong tục vẫn y theo cựu chế của nước mình, không phải thay đổi... Ngoài ra ta đã cấm các biên tướng ở Vân Nam không được thiện tiện đưa binh lấn cướp biên giới, quấy nhiễu nhân dân nước khanh. Các quan liêu, sĩ thứ nước khanh cứ yên ổn làm ăn như trước.

Trước những thủ đoạn mới đó của kẻ thù, triều đình nhà Trần vẫn đề cao cảnh giác, tích cực chuẩn bị đối phó với một cuộc chiến tranh xâm lược mới. Tháng 3- 1261, đinh tráng ở khắp các lộ được tuyển chọn để bổ sung cho quân triều đình. Ở các phủ, lộ cũng lập các đội tuyển phong, sẵn sàng chiến đấu ở địa phương. Năm 1262, các lộ được lệnh chế tạo vũ khí và thuyền chiến. Tháng 4 năm đó, vua Trần ra lệnh tập trận thuỷ lục ở chín bãi phù sa sông Bạch Hạc. Năm 1263, Trần Thủ Độ đi tuần ở vùng Lạng Sơn.

Mặt khác, về ngoại giao, nhà Trần vẫn lợi dụng những điều trong chiếu thư của Hốt Tất Liệt năm 1261 để đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quốc thể và vạch mặt các luận điệu giả dối của kẻ thù. Tuy có nhượng bộ trên một số việc như là ba năm nộp cống một lần, chịu cho Hốt Tất Liệt đặt chức Đạt Lỗ Hoa Xích (darugatri) tức quan giám sát ở Đại Việt nhưng nhà Trần vẫn tìm cách biểu lộ ý chí độc lập, tự chủ của mình.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:11:35 pm
Ví dụ: trong việc nộp cống, không phải bao giờ vua Trần cũng giữ đúng hạn ba năm, kiên quyết chống lại việc nộp người (như nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công...). Đặc biệt nhà Trần chú trọng tìm cách ngăn trở hoạt động của những viên Đạt Lỗ Hoa Xích, ra lệnh cho dân không dược giao thiệp với người Hồi Hột thường được dùng làm gián điệp cho Mông Cổ, mua chuộc các viên Đạt Lỗ Hoa Xích, v.v..

2. Giai đoạn thứ hai của cuộc đấu tranh ngoại giao bắt đầu từ năm 1267, kéo dài đến năm 1279.

Năm 1264, A Lý Bất Kha đầu hàng Hốt Tất Liệt. Cuộc nội chiến chấm dứt.  Hốt Tất Liệt tiếp tục trở lại cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống đồng thời tăng cường sức ép đối với Đại Việt để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược tiếp theo. Cuộc đấu tranh ngoại giao trở nên quyết liệt hơn. Tháng 10-1267, Hốt Tất Liệt gửi chiếu thư cho nhà Trần đòi phải thực hiện sáu việc:

1. Quân trưởng phải vào chầu,

2. Con em quân trưởng phải sang làm con tin,

3. Kê biên số dân,

4. Đưa quân ứng dịch,

5. Nộp phú thuế,

6. Vẫn đặt chức Đạt Lỗ Hoa Xích như cũ.

Cũng năm 1267, Hốt Tất Liệt phong cho con trai là Hốt Kha Xích làm Vân Nam vương, đóng quân ở Vân Nam (Trung Quốc) chuẩn bị các cuộc tiến công xuống phía nam.  Nếu Đại Việt chấp nhận sáu việc nói trên, tức là bước đầu chịu khuất phục trước sự uy hiếp của đế quốc Mông Cổ.  Vì vậy, vương triều Trần kiên quyết chống lại tất cả sáu khoản đó. Đó là nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn này.

Đặc biệt, vua Trần vẫn khéo léo và kiên quyết từ chối việc quân trưởng phải vào chầu, phái sứ bộ sang Nguyên đem phương vật và biểu xin miễn việc vào chầu, vì lý do sức khoẻ.  Nhà Trần cũng cự tuyệt nhiều yêu sách khác của chúa Mông Cổ.

Trong những năm 1267 và 1268, Hốt Tất Liệt đòi nhà Trần phải nộp các lái buôn Hồi Hột hiện sống ở Đại Việt.  Ý muốn qua những người lái buôn này, dò xét tình hình Đại Việt lấy cớ là muốn biết tình hình Tây Vực 9trung Á và Tây Á). Vua Trần biết rõ âm mưu đó nên đã trả lời rằng các thương nhân Hồi Hột đã chết hết, không còn ai nữa. Vua Trần cũng từ chối việc nộp voi cho Hốt Tất Liệt. Trong thư năm 1269, vua Trần viết: “Loài thú ấy thân thể to lớn, bước đi chậm chạp, không như ngựa của thượng quốc”. “Xin tuân sắc chỉ đợi đến năm tiến cống sau sẽ đem dâng”. Trong thư năm 1272, vua Trần lại viết: “Vì quản tượng không chịu rời nhà, nên khó sai họ đi” 1.

Về mặt nghi thức ngoại giao, vua Trần cũng đấu tranh rất khôn khéo để giữ quốc thể, không bao giờ chịu lạy chiếu chỉ của Hất Tất Liệt. Khi chúa Mông Cổ hạch sách về việc này thì vua Trần đã trả lời rằng không lạy chiếu thư là phong tục riêng của Đại Việt, mà chính Hết Tất Liệt đã có chiếu thư chấp nhận các phong tục đó từ năm 1261. Nhìn chung, triều Trần vẫn kiên nhẫn tiếp đãi tử tế các sử giả Mông Cổ, nhưng đối với các tên sứ quá hống hách và láo xược cũng có khi đã cảnh cáo như sai vệ binh tuốt gươm trần thị uy, hay giam lỏng một thời gian.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt tiến thêm một bước trong việc củng cố địa vị thống trị của Mông Cổ ở Trung Quốc, đặt quốc hiệu là Nguyên. Nhân dịp đó, để thị uy, vua Nguyên đã cho sứ sang đòi vua Trần vào chầu. Thánh Tông từ chối là có bệnh không đi. Ngày 17-1-1279, vua Trần lại tiếp nhận chiếu thư của Hốt Tất Liệt.


_________________________
1. Dẫn theo Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược Sđd, tr.367 (trích Nguyên sử).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:15:15 pm
Nội dung chiếu thơ trách vua Trần: “Nội phụ đã hơn 20 năm mà vẫn không chịu làm theo sáu điều”. Hốt Tất Liệt đòi vua Trấn phải sang chầu và doạ: “Nếu trái ý thì hãy sửa thành, chỉnh quân mà đợi đại quân của ta”.  Trong biểu trả lời, vua Trần đã viết: “Vì thần sinh trưởng ở đất Việt Thường, sức người yếu đuối, không quen thuỷ thổ, không dạn nắng mưa, tuy được xem biết văn hoá của thượng quốc, được dự làm tân khách ở vương đình, nhưng e đi đường có sự không may xảy ra, chỉ dãi phơi xương trắng để động lòng nhân của bệ hạ thương xót mà thôi, không ích chút nào cho thiên triều vậy . . .” 1 .

Tháng 2-1279, quân xâm lược Mông Cổ hoàn thành việc tiêu diệt quân đội và triều đình Nam Tống.  Tháng 4 năm đó, Khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị Hốt Tất Liệt cất quân đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt ra lệnh khẩn trương triển khai các công việc chuẩn bị xâm lược Đại Việt.  Tuy nhiên, hắn còn hy vọng nhà Tống bị tiêu diệt sẽ làm cho Đại Việt run sợ và có thể tiếp tục khuất phục nước ta bằng các biện pháp đe doạ và gây sức ép về ngoại giao.

Triều đình Trần khẩn trương triển khai các biện pháp chuẩn bị chống xâm lược. Mặt khác, để tranh thủ thêm thời gian hoàn chỉnh việc chuẩn bị kháng chiến, năm 1281, Trần Nhân Tông phái chú họ là Trần Di Ái dẫn đầu phái bộ Đại Việt sang Nguyên.  Hốt Tất Liệt vốn rất tức giận về thát độ vua Trần, đã nhiều lẩn sai sứ mang thư sang, đe doạ : “Nếu ngươi không yên, cố ý chống cự mệnh trẫm, thì ngươi cứ sửa đắp thành luỹ sắm sửa giáp binh, sẵn sàng mà đợi” 2.

3. Giai đoạn thứ ba của cuộc đấu tranh ngoại giao bắt đầu tư năm 1279.

Nay gặp cơ hội chú họ vua Trần sang, hắn đã nhanh chóng nắm lấy để thực hiện dã tâm chinh phục Đại Việt. Vua Nguyên bèn phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, hai nhân vật khác của phái bộ: Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, và Lê Tuân làm thượng thư, hình thành một triều đình bù nhìn. Đồng thời Hốt Tất Liệt thành lập bên cạnh triều đình bù nhìn đó một bộ máy thống trị của đế quốc Nguyên gọi là An Nam Tuyên uý ty, cử Bột Nhan Thiết Mộc Nhi (Buyantêmua) làm An Nam Tuyên uý đô nguyên soái, Sài Thung và Hốt Kha Nhi (khuke) làm phó. Tháng 1-1282, phái một nghìn quân hộ tống bọn này vào Đại Việt.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi mang theo chiếu thư ngày 19-12-1281  của Hốt Tất Liệt bắt vua Trần thôi làm vua. Chiếu thư viết: Ngươi cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ để thuốc thang điều dưỡng. Ta lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm Quốc vương An Nam, coi quản dân chúng...”.  Thật là một hành động ngạo mạn, hống hách và chủ quan.  Được tin đó, triều đình Trần đã cử quân đánh tan đội quân hộ tống của nhà Nguyên, bắt sống bọn bù nhìn phản bội đưa về Kinh trị tội, đồng thời xuống chiếu cho cả nước chuẩn bị kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược. 
 

III. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI (1285)

Ngay sau khi tiêu diệt Nam Tống, vào đầu năm 1279, quân Nguyên khẩn trương chuẩn bị đánh Đại Việt và các nước phương nam. Tuy nhiên, cân nhắc về chiến lược, Hốt Tất Liệt thấy trước mắt cần tạm gác việc này, tập trung cố gắng đánh chiếm Nhật Bản. Lấy xong Nhật Bản là nước láng giềng ở đông bắc, sẽ tiến đánh nhiều nước láng giềng khác ở phía nam.

Năm 1274, quân Nguyên đã xâm lược Nhật Bản, nhưng bị thất bạI. Từ đây Hốt Tất Liệt vẫn nung nấu tham vọng đánh chiếm Nhật Bản. Đánh Nhật Bản có thể lôi kéo được quân của Triều Tiên lúc đó là một thuộc quốc của nhà Nguyên tham gia. Nay lại huy động được tướng Tống và quân Tống đầu hàng thì lực lượng sẽ mạnh hơn, khả năng thắng lợi sẽ nhiều hơn lần xâm lược trước.

Giữa năm 1281, Hốt Tất Liệt phái 15 vạn quân và hơn một nghìn thuyền chiến chia làm hai hạm đội tiến đánh Nhật Bản. Một hạm đội xuất phát từ Triều Tiên. Hạm đội thứ hai xuất phát từ bờ biển miền nam Trung Quốc là hạm đội chủ yếu gồm 10 vạn quân, phần lớn là quân cũ của nhà Tống. Hai hạm đội hẹn nhau hội quân tại bờ biển Cự Châu để cùng tiến vào nước Nhật. Nhưng hạm đội phía nam tới chậm lỡ kỳ hạn. Hạm đội xuất phát từ Triều Tiên tới trước, bị quân Nhật Bản đánh cho tan tành, phải chạy trở về. Khi 10 vạn quân từ bờ biển phía nam Trung Quốc đổ bộ lên đất Nhật tiến tới Ngũ Long Sơn thì gặp bão lớn, hầu hết thuyền chiến bị bão phá vỡ. Bọn tướng Nguyên vội thu thập những thuyền tốt còn lại chạy trốn về nước, bỏ mặc 10 vạn quân trên đất Nhật Số quân này đều bị quân Nhật tiêu diệt hết, chỉ còn sót ba tên chạy thoát về Nguyên. Bấy giờ là tháng 8- 1281.  Sau thất bại này, Hốt Tất Liệt càng điên cuồng xúc tiến cuộc xâm lược các nước phía nam.


_____________________
1. An Nam chí lược q.6. Biểu năm Chi Nguyên 15 (1278). Nguyên Sử An Nam truyện có chép tóm tắt.
2. Thư Hốt Tất Liệt gửi vua Trần, do Sài Thung, sứ thần Mông Cổ mang sang Đại Việt năm 1279.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:20:06 pm
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVNT4-CuockhangchienchongMongNgu.jpg?t=1241795495)

Ngày 29-11-1281, Hốt Tất Liệt lập Hành trung thư tỉnh chuyên trách tổ chức việc xâm lược Chăm pa chiêm Thành), lấy Toa Đô làm hữu thừa, Lưu Thâm làm tả thừa và Diệt Hắc Mê Thất làm tham tri chính sự cùng đôn đốc công việc của Hành trung thư tỉnh Chiêm Thành.

Ngày 30- 11, Hốt Tất Liệt hạ lệnh lấy 100 hải thuyền, một vạn quân tân phụ và thuỷ thủ “để tháng Giêng năm sau đánh các nước Phiên ở hải ngoại”. Cùng ngày đưa chiếu dụ vua Chăm pa cấp quân lương. Ngày 19- 12- 1281, gửi chiếu đòi vua Trần phải cấp quân lương cho “Hành tỉnh Chiêm Thành”.

Từ tháng 1- 1282, Hốt Tất Liệt ban tiền sao, tức tiền giấy cho những quân tân phụ trong đoàn quân đi đánh Đại Việt. Tháng 7-1282, Hốt Tất Liệt điều khoảng 10 vạn quân các tỉnh Hoài Triết, Phúc Kiến, Hồ Quảng, 100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô đi đánh Chiêm Thành.

Triều đình nhà Trần theo dõi sát sao các hoạt động chuẩn bị xâm lược của nhà Nguyên. Tháng 9-1282, trấn thủ Lạng Châu là Lương Uất báo tin về triều: “Hữu thừa nước Nguyên là Toa Đô đem 50 vạn quân tinh nhuệ, phao tin là mượn đường đi dành Chiêm Thành, nhưng thực là đến xâm lược nước ta” 1 .


__________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, q.5, t.41b, 42a.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:20:50 pm
Cuối năm 1282, Hốt Tất Liệt cử Toa oô đem quân theo đường biển đánh Chăm pa. Mục đích trước mắt là chinh phục Chăm pa, từ Chăm pa tiến quân lên phía bắc đánh Đại Việt, phối hợp với cánh quân chủ yếu sẽ đánh Đại Việt từ phía bắc. Mục đích lâu dài là biến nước này thành căn cứ để phát triển xâm lược xuống phía nam.

Cuộc kháng chiến anh dũng và bền bỉ của quân, dân Chăm pa đã làm cho cuộc xâm lược bị thất bại thảm hại. Cùng chiến đấu với quân, dân Chăm pa có một đạo quân Đại Việt gồm hai vạn người và 500 chiến thuyền do triều đình Trần phái vào giúp Chăm pa chống kẻ thù chung. Lực lượng đó tương đương với số quân chủ lực của Chăm pa.  Viện binh của Hốt Tất Liệt phái đến cho Toa Đô bị bão đánh tan. Toa Đô đành rút quân ra phía bắc nước Chăm pa trong vùng Ô Lý -Việt Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên), đóng quân tại đó, chờ ngày tiến công vào Đại Việt. 

Lúc đó, Hốt Tất Liệt chuẩn bị ráo riết cho cuộc xâm lược Đại Việt: điều động tướng lĩnh, chuẩn bị quân đội, tăng cường binh thuyền.

Về phía Đại Việt, thấy rõ chiến tranh xâm lược sẽ sớm xảy ra, triều đình Trần đã khẩn trương tiến hành chuẩn bị kháng chiến trên các mặt.

Tháng 11- 1282, vua Trần ra Bình Than, mở hội nghị vương hầu, bách quan bàn kế sách đánh giặc. Hội nghị này cũng có tác dụng làm cho vương hầu, bách quan quán triệt được quyết tâm và chủ trương kháng chiến của triều đình, động viên được lực lượng của toàn bộ tầng lớp quý tộc hăng hái tham gia kháng chiến. Hội nghị họp ở Bình Than mà không họp ở Thăng Long, chắc là để tránh sự theo dõi của sứ bộ Mông Cổ, mặt khác là để tiện bàn bạc trên thực địa về các phương án công phòng trên một địa bàn sẽ có thể là chiến trường quan trọng.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là một vị tướng giỏi trước đây bị nhà vua cách chức vì phạm tội, ra bán than ở Chí Linh. Vào dịp này, vua Trần đã tha tội cho ông, mời về họp. Khánh Dư đã có nhiều ý kiến phù hợp với ý vua.  Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn, một thiếu mền quý tộc yêu nước cũng đã đến Bình Than với hy vọng bày tỏ ý nguyện giết giặc của mình, nhưng không được dự họp vì còn ít tuổi.  Quốc Toàn vô cùng uất ức, đã bóp nát quả cam cầm trong tay mà không biết.

Khi trở về, Quốc Toàn bèn lập một đội quân gồm hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền ngày đêm luyện tập, chờ ngày giết giặc lập công. Lá cờ của đội quân do Trần Quốc Toàn chỉ huy mang sáu chữ lớn: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua).

Hoạt động sôi nổi của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn cũng cho ta hình dung được không khí náo nức chuẩn bị kháng chiến trong các vương hầu, quý tộc cũng như quân, dân các địa phương trong nước.

Sau hội nghị Bình Than, các tướng lĩnh được lệnh đem quân trấn giữ các nơi hiểm yếu. Các chức vụ quan trọng để lãnh đạo cuộc kháng chiến được xác định: Chiêu Minh vương Trần Quang Khải giữ chức thát sư, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được chỉ định làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội cả nước.

Quân triều đình, quân địa phương và quân vương hầu được tăng cường nhanh chóng về số lượng và chất lượng.  Nhiều cuộc diễn tập, duyệt binh lớn được tổ chức để rèn luyện quân đội và biểu dương lực lượng, gây lòng tin trong dân chúng. Tháng 11-1283, Trần Nhân Tông đã tự mình chỉ huy các vương hầu điều quân thuỷ bộ tập trận.

Năm sau, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại điều động các vương hầu đem quân đến Đông Bộ Đầu, tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở Thăng Long. Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương công bố bài Hịch tướng sĩ. Đó là một văn kiện có tác dụng to lớn đối với việc phát huy khí thế chiến đấu của quân đội. Với lời lẽ có sức thuyết phục cao, bài hịch đã động viên lòng yêu nước, tinh thần tự tôn của dân tộc, chí căm thù, ý thức cảnh giác tinh thần khẩn trương học tập binh pháp và chuẩn bị kháng chiến về mọi mặt, đồng thời lại phê phán những khuynh hướng vun vén lợi ích cá nhân, ăn chơi, cờ bạc... lơ là việc nước, việc binh. Hịch văn có tác dụng động viên, cổ vũ to lớn không những đối với tướng sĩ mà còn đối với dân chúng cả nước.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:22:44 pm
Các chiến sỹ xăm vào tay mình hai chữ “Sát Thát” để tỏ quyết tâm diệt địch.

Tháng 1-1285, Thượng hoàng Thánh Tông đã mời các phụ lão trong cả nước về Kinh đô hội họp ở điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời câu hỏi của vua là nên đánh hay không, các phụ lão đã đồng thanh hô lớn “Đánh!”. Sử chép rằng, bấy giờ “muôn người cùng nói, như từ một miệng” 1 .
 
Đó là quyết tâm của toàn dân mà các phụ lão là đại diện đã biểu thị với triều đình. Triều đình thông báo cho nhân dân cả nước: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng!” 2  .
 
Thông báo mang tính mệnh lệnh này được viết lên bảng lớn, treo khắp các nẻo đường đất nước. Nhân dân các xóm, làng, bản đã lập các đội dân binh, tự vũ trang để phối hợp với quân đội bảo vệ quê hương và sẵn sàng thực hiện “thanh dã” (vườn không nhà trống) cất dấu lương thực, không để lọt vào tay quân xâm lược.

Các biện pháp nói trên đã nâng cao trình độ sẵn sàng kháng chiến của quân, dân, khơi dậy được lòng yêu nước truyền thống của dân tộc, từng bước biến quyết tâm kháng chiến của triều đình, của vương hầu quý tộc thành quyết tâm kháng chiến của các bô lão, của muôn dân trăm họ trong cả nước.

Các đơn vị chủ lực của triều đình và các đội quân địa phương đã triển khải đóng giữ các khu vực quy định. Phạm Ngũ Lão và một số tướng đóng giữ các cửa ải quan trọng từ biên giới đến Chi Lăng. Quản quân Nguyễn Lộc đóng quân ở châu Thất Nguyên (nay là huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Chiêu Văn vương Trần Nhật Quật tiến giữ lộ Tuyên Quang gồm đất tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang). Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng giữ vùng Tam Đái (gồm nhiều địa phương thuộc tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc).

Bản doanh của Hưng Đạo vương đóng ở ải Nội Bàng. Đây là chiến ải lớn nằm ở khu vực giữa thung lũng sông Lục Nam, địa thế bằng phẳng, rộng rãi, có thể chứa được hàng vạn quân. Hai bên ải là dãy núi Bảo Đài và Huyền Đinh - Yên Tử bao bọc. Sông Lục Nam chảy giữa thung lũng tạo nên một trực giao thông thuỷ bộ nối liền vùng đồng bằng với miền nút. Chặn ngang thung lũng là ngọn núi ải đồ sộ, tạo nên hai cửa ra vào thung lũng, cửa phía tây giáp núi Bảo Đài, cửa phía đông giáp sông Lục Nam.Dựa vào địa thế hiểm trở, Trần Hưng Đạo cho xây dựng phòng tuyến và đặt đại bản doanh ở đây (tại khu vực xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

Về phía nhà Nguyên, tháng 7- 1284, Hốt Tất Liệt đã phong cho con trai là Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, thống lĩnh toàn bộ các lực lượng viễn chinh. Cử A Lý Hải Nha làm phụ tá cho Thoát Hoan.

A Lý Hải Nha là viên tướng người Hồi Hột (Uigua) khét tiếng gian hùng và tàn bạo, được sử nhà Nguyên xếp vào hàng công thần khai quốc. Y đã tham gia chỉ huy cuộc chinh phục Nam Tống, dìm trong máu lửa nhiều vùng miền nam Trung Quốc, kể cả đảo Hải Nam. Sau khi chiếm được toàn bộ đất đai Trung Quốc, Hốt Tất Liệt đã cử A Lý Hải Nha cầm đầu Hành tỉnh Kinh Hồ (còn gọi là Hành tỉnh Hồ Quảng), là cơ quan chuyên trách việc xâm lược các nước phương nam. 

Dưới trướng của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, còn có nhiều viên tướng đã quen chiến trận ở vùng nam Trung Quốc. Trong đó có nhiều tên người Hán. Tên tướng người Hán có chức vụ cao nhất là viên Trung thư tả thừa Lý Hằng.  Hằng đã tham gia tiêu diệt căn cứ cuối cùng của vương triều Tống ở Nhai Sơn (Quảng Đông).

Tháng 8- 1284, đại quân của Thoát Hoan lên đường, và cuối tháng 1-1285, các mũi tiến công của quân Nguyên bắt đẩu vượt qua biên giới.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai này, nhà Nguyên huy động một lực lượng rất lớn, từ ba mật tiến đánh nước ta. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì riêng hai đạo quân tiến công từ phía bắc qua (từ Quảng Tây và từ Vân Nam) đã gồm đến 50 vạn quân. Đạo quân Toa Đô đóng ó miền bắc Chăm pa, tiến công nước ta từ phía nam cũng tính đến gần 10 vạn.


_____________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t. 1, t.44b.
2. Nguyên sử, q.209, t.7b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:24:04 pm
Để bảo đảm hậu cẩn cho đạo quân xâm lược, Hốt Tất Liệt đã chuẩn bị một số lương thực rất lớn. Y ra lệnh cho các tỉnh miền nam Trung Quốc phải nộp và vận chuyển thóc gạo xuống phía nam cho quân đội. Theo lời một viên quan ở Hành tỉnh Kinh Hồ thì “A Lý Hải Nha xuất chinh, thu ba vạn thạch lương. Dân rất khốn đốn” 1.
 
Tuy nhiên, việc cung ứng lương thực vẫn là một khó khăn rất lớn của quân xâm lược. Việc thu và vận chuyển lương thực đều không dễ dàng.  Hốt Tất Liệt hạ lệnh cho các tỉnh miền nam Trung Quốc phải nộp thóc gạo và chịu phu dịch chuyển vận lương thực. Trên đường hành quân của Thoát Hoan, dân các địa phương phía bắc phải nộp gạo và chở xuống phía nam gần biên giới Việt Trung. ở Sầm Châu (Hồ Nam), dân phải nộp một nghìn thạch gạo và phải chở đến Quế Châu (Quế Lâm, Quảng Tây). 

Viên vạn hộ Sầm Châu là Đề Trạch đã nói: Từ đây vào đất Quế, đường bộ đến nghìn dặm, dân phải gồng gánh, mỗi người chỉ mang được năm đấu mà thôi, thế là phải có hai nghìn người làm phu gánh, lại còn mang theo quần áo, lương thực cho họ đến một nửa. Như thế thì đi chưa đến nửa đường, ắt vứt tất cả mà bỏ trốn.

Có thể biết trước được như vậy, nhiều nơi ở Quảng Đông, nông dân đang nổi dậy. Tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng bọn đầu sỏ xâm lược cũng phải tìm mọi cách để giải quyết, vì việc tìm lương thực tại chỗ trong dân ở chiến trường Đại Việt là không thể thực hiện được. Cuộc chiến tranh xâm lược thất bại năm 1258 đã dạy cho chúng bài học đó.

Về phía ta, vua Trần đã hạ quyết tâm chặn đánh địch trên tất cả các hướng tiến công của chúng và đã phân công các tướng chỉ huy các mặt trận.

Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy đánh định hướng Quảng Tây sang, bố trí các tuyến phòng ngự ở những nơi xung yếu. Trần Nhật Duật đảm nhiệm việc chặn địch ở hướng Vân Nam sang.

Triều đình Trần phái Thiện trung đại phu Nguyễn Đức Dư và Triều thỉnh lang Nguyễn Văn Hàn đưa thư cho Thoát Hoan. Trong thư vua Trần đòi chúng rút quân, phải làm theo đúng chiếu văn của Hốt Tất Liệt năm 1261 là “đã cấm biên tướng không được đem quân xâm phạm bờ cõi nước khanh”.  Phái bộ Nguyễn Đức Dư gặp bọn Thoát Hoan khi chúng đã kéo quân tới Lộc Châu. Chúng phái Tổng bả A Lý đi theo sứ ta cầm thư của A Lý Hải Nha sang nói: “Sở dĩ tiến quân thật vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam” để yêu cầu ta lui quân, mở đường cho chúng tiến vào.

Đạo quân Nguyên từ Quảng Tây sang tiến quân theo hai đường. Một đường theo hướng tây qua huyện Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn), một đường theo hướng phía đông, qua ải Khâu Cấp, tức là theo con đường từ Lộc Bình đi Sơn Động.  Đại quân của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến theo sau cánh quân phía đông.

Ở các ải, các tuyến phòng ngự vùng biên giới, quân Trần đã dựa vào các điểm cao và rừng núi hiểm trở kiên cường chiến đấu chặn đánh địch ở Ải Khâu Cấp và ải Khả Ly, nhưng quân địch quá mạnh đã vượt qua được.  Sau đó, quân Nguyên tiến dành ải Động Bản tức Biển Động (thuộc huyện Sơn Động). Điểm xung yếu này chặn con đường tiến xuống lưu vực sông Lục Nam (bấy giờ gọi là Bình Giang). Quân Trần đã kiên cường đánh trả giặc, nhưng đã bị tổn thất lớn. Người chỉ huy là Trần Sầm bị thương nặng và hy sinh. Quân ta phải rút.

Biết Hưng Đạo vương đóng bản doanh ở Nội Bàng, A Lý Hải Nha sai người đưa thư đòi ông mở đường đón Trấn Nam vương. Việc đó dĩ nhiên vô hiệu. Quân Nguyên lại tiến sát Nội Bàng. Thoát Hoan lại sai người “chiêu dụ” Hưng Đạo vương. Tất nhiên âm mưu này cũng thất bại.  Ngày 2-2- 1285, quân Nguyên chia làm sáu mũi đánh vào Nội Bàng.

Tổ chức phòng ngự ở đây với một lực lượng lớn, Hưng Đạo Vương vốn có ý định chặn đứng quân địch. Nhưng trước thế giặc mạnh, quân số đông, tiến công ồ ạt từ nhiều mặt, quân Trần bị nhiều tổn thất. Trong khi đó cánh quân Nguyên tiến công theo đường phía tây cũng đã vượt qua ải Khâu ôn, chiếm được cửa quan Lão Thử (gần ga xe lửa Chi Lăng ngày nay) . Trong tình hình đó, Trần Quốc Tuấn đã quyết định lui quân về Vạn Kiếp, tổ chức một tuyến phòng ngự mạnh ở đó.


__________________________
1. Nguyên sử, q.209, t.8b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:26:29 pm
Trần Quốc Tuấn đi thuyền theo sông Lục Nam, xuống sông Thương rồi về Vạn Kiếp. Nghe tin quân ta không ngăn được giặc, phải lui quân, Trần Nhân Tông vội vã đi thuyền ra Hải Đông gặp Hưng Đạo vương. Gặp Quốc Tuấn, vua Trần hỏi: “Thế giặc như thế, ta nên hàng chúng chăng?” Câu hỏi của vua Trần một mặt có ý ướm thử sự đánh giá và ý định của vị tiết chế, nhưng mặt khác cũng bộc lộ sự lo ngại của nhà vua trong tình hình chiến sự rất nguy hiểm. Trần Quốc Tuấn trả lời: “Trước hết hãy chém đầu thần, rồi sau hãy hàng” 1.

Trần Quốc Tuấn đã bình tĩnh cùng vua Trần bàn bạc các phương sách đối phó với kẻ thù. Ở Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã tập trung một binh lực lớn. Riêng các lực lượng của các con Trần Quốc Tuấn - Hưng Vũ vương Hiến, Minh Hiến vương Uy, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Nghiến rút từ mấy địa phương gần đó thì đã có tới hai mươi vạn.

Dựa vào địa thế vùng này, có núi tiện cho phòng ngự, có sông tiện cho cơ động bằng thuyền, có rừng rậm tiện che dấu quân, cơ động lực lượng kín đáo và bất ngờ tiến công địch, Trần Quốc Tuấn đã bố trí một phòng tuyến lớn. Quân Trần đã chiếm lĩnh và tổ chức phòng ngự trên một số điểm hiểm yếu ở vùng Vạn Kiếp, ở tả ngạn và hữu ngạn sông Bình Than (tức sông Lục Đầu). Có hơn nghìn thuyền chiến đóng cách Vạn Kiếp mươi dặm, trên sông Bình Than, gần cửa sông Đống, sẵn sàng chi viện cho quân bộ.

Có thể hiểu rằng Trần Quốc Tuấn quyết tâm thực hiện một số trận đánh lớn ở đây để chặn bước tiến của giặc. Đồng thời Trần Quốc Tuấn còn dùng một bộ phận lực lượng đóng giữ một số nơi phía sau phòng tuyến Vạn Kiếp - Bình Than trên đường về Thăng Long. Cách bố trí này nhằm tăng cường chiều sâu phòng ngự. Mặt khác, qua đó có thể hiểu rằng Trần Quốc Tuấn cũng đã tính đến khả năng còn có thể lui quân. 

Thấy khí thế của quân ta phấn chấn, lực lượng còn hùng hậu, số quân lớn tập trung ở Vạn Kiếp mới chỉ điều từ các lộ đồng bằng phía bắc, Trần Nhân Tông đã cảm xúc viết vào đuôi thuyền hai câu thơ:

“Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh
”
(Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân
) 2.
 
Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến đến gần Vạn Kiếp thì dừng lại, chuẩn bị cho cuộc tiến công vào phòng tuyến quân ta. Theo các tin tức nhận được, chúng biết Trần Quốc Tuấn có nhiều binh thuyền. Điều đó làm cho chúng lo ngạt. Thoát Hoan cho quân đì lùng cướp thuyền ở ven sông và tìm cướp ván, gỗ, đinh, lập công trường tại chỗ để đóng thuyền chiến.  Lại ra lệnh tuyển thủy quân trong các cánh quân bộ, giao cho viên tướng Ô Mã Nhi chỉ huy. Cánh quân do Bôn Kha Đa chỉ huy đi theo con đường phía tây qua Lạng Sơn có lẽ cũng đã theo thung lũng sông Thương xuống hội quân với Thoát Hoan trước khi đánh Vạn Kiếp.

Trong thời gian này, bọn Thoát Hoan, A Lý Hải Nha gửi thư sang ta dụ dỗ và đe doạ. Chúng cho một sứ của ta bị chúng giữ lại từ trước là Nguyễn Văn Hàn cầm thư sang đại bản doanh ta. Trong thư, bọn Thoát Hoan trách vua Trần: “Triều đình điều binh đánh Chiêm Thành, nhiều lần gửi thư cho thế tử chỉ vua Trần (TG) bảo mở đường, chuẩn bị lương thực.  Không ngờ cố ý trái mệnh triều đình, để cho Hưng Đạo vương đem binh nghênh chiến, bắn bị thương quân ta”. Rồi chúng lại dụ dỗ theo những nội dung cũ là lui quân, mở đường, đón tiếp chúng. Và cuối thư chúng doạ: “Nếu không, đại quân sẽ đóng lại ở An Nam, mở Phủ”.

Ta không trả lời. Tại gần nơi đóng quân của địch, ta cho rải giấy phản đối hành động xâm lược của giặc. Quân Nguyên nhặt được hai tờ giấy này ở trên bờ sông. Theo Nguyên sử, nội dung những tờ giấy của ta là: “Chiếu trước (1261 - TG) nói là “lệnh riêng cho quân ta không được vào nước người”, thế mà nay lấy cớ nước Chiêm Thành đã thần phục lại phản đem đại quân qua nước tôi, tàn hại trăm họ, đó là việc làm của Thát tử sai lầm, chứ không phải nước tôi sai lầm, xin đừng làm khác với chiếu trước, rút lui đại quân...” 3.


___________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.6, t.11a.
2. Toàn thư, q5, t.44b - 45a. “Việc cũ Côi Kê” là chuyện Câu Tiễn nước Việt (thời Chiến quốc) chỉ còn một nghìn quân ở Cối Kê mà sau đánh thắng Ngô Phù Sai. Hoan Diễn là vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.
3. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện, t.6b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:28:24 pm
Ngày 11-2- 1285, cuộc tiến công của quân Nguyên vào phòng tuyến Vạn Kiếp - Bình Than bắt đầu. Hơn 30 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy từ nhiều hướng tiến công Vạn Kiếp. Quân bộ của địch đánh vào các khu vực phòng ngự của quân ta ở hai bờ sông như Vạn Kiếp và núi Phả Lạt. Quân ta chống cự mãnh liệt. Binh thuyền của giặc cũng giao chiến ác liệt với binh thuyền của ta do vua Trần chỉ huy trên sông Bình Than. Cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài bốn ngày.

Tuy cuộc kháng cự mãnh liệt của quân ta có gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng thế giặc còn mạnh. Vua Trần và Trần Quốc Tuấn nhận định là chưa thể chặn đứng được cuộc tiến công của địch. Vì thế sau trận đánh trên sông Bình Than, Trần Quốc Tuấn đem binh thuyền theo sông Đường về Thăng Long. Cuộc chiến đấu ở Vạn Kiếp dã làm chậm bước tiến của Thoát Hoan, tạo điều kiện cho triều đình và nhân dân ở Kinh thành Thăng Long thực hiện “thanh dã” để chống giặc. 

Chiếm được Vạn Kiếp và Phả Lại, Thoát Hoan tiếp tục tiến công đánh chiếm Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), phát triển xuống Đông Ngàn (nay thuộc đất Tiên Sơn, Bắc Ninh và Đông Anh, Hà Nội). Ở sông Đống, một bộ phận binh thuyền của ta đã chặn dành quân địch. Quân giặc bắt được một số quân ta. Thấy chữ “Sát Thát” trên cánh tay những binh sĩ này, chúng liền đem giết hết. Sau trận chiến đấu, quân ta lại rút. Quân địch kết bè làm cẩu phao, vượt sông Đống, tiến đánh Gia Lâm.

Sau khi rút từ các nơi về, quân ta đã tổ chức một phòng tuyến trên bờ nam sông Hồng, trước Kinh thành Thăng Long. Thuyền chiến bố trí ở dọc sông. Trên bờ chiến luỹ được dựng lên bằng rào gỗ. Sau chiến lũy các cỗ pháo đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 17- 2-1285, quân Nguyên tiến đến bờ bắc sông Hồng, tìm cách vượt sông. Trên trận địa bờ nam, quân ta bắn pháo và hò reo, hô to thách đánh 1. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhưng địch không chọc thủng được phòng tuyến của ta.  Cuộc chiến đấu kiên cường và có tổ chức trên một phòng tuyến mới tổ chức được vài ngày sau trận Bình Than, cũng như tinh thần chiến đấu dũng mãnh của quân Trần chứng tỏ sức chiến đấu của quân Trần vẫn được giữ vững. 
 
Chiều 17-2, vua Trần phái Trần Khắc Chung đến gặp viên tướng Ô Mã Nhi để trinh sát tình hình. Trong trại giặc, trước sự uy hiếp của Ô Mã Nhi, Khắc Chung vẫn bình tĩnh, ứng đối linh hoạt, khiến tướng giặc phải khâm phục. 

Về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thơ chép như sau: “Vua muốn sai người đi xem hư thực mà chưa tìm được ngườt. Chi hậu cục thư là Đỗ Khắc Chung tiến lên nói: “Thần tuy hèn mọn bất tài nhưng xin được đi”. Vua mừng lắm nói: “Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký”, rồi sai mang thư nói xin hoà. Ô Mã Nhi hỏi: “Chúa ngươi vô lễ sai người thích chữ “Sát Thát”, khinh nhờn thiên binh, tội thật là lớn”. Khắc Chung đáp: “Chó nhà cắn người, không phải tại chủ nó, vì lòng trung phẫn mà họ tự thích vào, quốc vương không biết việc đó. Tôi là cận thần tại sao lại không có . Nói rồi đưa cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân từ xa đến, nước ngươi tại sao không quay giáo đến tương kiến, lại còn chống mệnh. Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ ra thế nào?”. Khắc Chung nói: “Hiền tướng không thi hành cái chính sách của Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới trước hết đưa thư, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi.  Nay lại bức bách nước tôi. Người ta nói: thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người”. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân mượn đường để đánh Chiêm Thành, quốc vương nếu đến hội kiến thì trong nước vẫn được yên ổn, một chút gì cũng không phạm đến. Nếu cứ mê muội thì chỉ trong chốc lát núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát”... 

Sáng 18-2, Khắc Chung trở về sau khi đã nắm được một số tình hình địch. Ô Mã Nhi hối tiếc vì đã thả Khắc Chung, cho quân đuổi theo, nhưng không kịp. Ô Mã Nhi bảo chư tướng: “Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ là Chích, không mình ta là Nghiêu, giỏi ứng đối có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước này có những người như thế, chưa dễ đã chiếm được” 2 .


____________________________
1. Nguyên sử, q.200, An nam truyện, t.7a.
2. Toàn thư, q.5.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:31:44 pm
Trong quá trình chiến đấu, đã hình thành quyết tâm của triều đình rút khỏi Thăng Long. Lực lượng ta tuy vẫn được bảo toàn, còn sung sức, ý chí chiến đấu còn cao, nhưng thế tiến công của địch còn rất mạnh. Địa hình vùng nam sông Hồng không tiện lợi cho việc tổ chức phòng ngự như ở Vạn Kiếp. Quân ta đã đánh thiệt hại và làm chậm đà tiến công của địch, nhưng chưa có khả năng chặn đứng chúng trước Kinh đô.

Rút kinh nghiệm cuộc kháng chiến năm 1258, triều đình Trần đã quyết định rút khỏi Thăng Long, sau khi đã ngăn chặn, tiêu hao địch trên một số phòng tuyến nhằm bảo toàn lực lượng, làm suy yếu quân địch, tạo thời cơ phản công chiến lược, thu phục bờ cõt.

Có thể nghĩ rằng ý định rút khỏi Thăng Long được hình thành từ khi quyết tâm ban đầu chặn đứng địch ở Vạn Kiếp không thực hiện được, quân Trần phải rút bỏ Vạn Kiếp. Và theo tinh thần đó, thì mục đích của tuyến phòng ngự sông Hồng không giống mục đích của tuyến phòng ngự Vạn Kiếp - Bình Than. Cuộc rút lui này được thực hiện một cách chủ công và có tổ chức. Một bộ phận gia đình của vương hầu, quý tộc đã lên thuyền rời khỏi Kinh thành từ trước Tết âm lịch, trong tháng 1-1285.

Ngày 18-2-1285, khi những lực lượng cuối cùng đã rút khỏi Kinh thành, binh thuyền của ta trên sông Hồng cũng rút về xuôi. Bấy giờ Thoát Hoan và A Lý Hải Nha mới cho quân vượt sông, tiến vào Thăng Long và mãi đến hôm sau, ngày 19-2, Thoát Hoan mới dám vào khu thành nội. Cả Kinh thành vắng lặng, cung điện, lầu gác không một bóng người. 

Sử nhà Nguyên chép: “Cung thất đều trống không, chỉ còn những tờ chiếu sắc mấy lần gửi sang và điệp văn của trung thư 1 đều đã bị xé bỏ. Ngoài ra còn một số giấy tờ đều là cửa các biên tướng nam bắc báo cáo tin tức và tình hình chống địch”’.

Quân giặc lại thấy khắp nơi đều treo bảng kêu gọi nhân dân liều chết đánh địch. Đối với đại quân của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, việc triều đình Trần cũng như quân đội và nhân dân rút hết khỏi Kinh đô là một hiện tượng lạ hiếm thấy trong quá trình chinh chiến xâm lược các nước khác. Thường quốc đô là nơi các nước bị xâm lược ra sức cố thủ.

Tuy nhiên, quân Nguyên cũng đã có kinh nghiệm của đạo quân xâm lược dưới quyền Ngột Lương Hợp Thai 28 năm về trước: chiếm đóng thành Thăng Long trống rỗng, sau 9 ngày bị chặn đánh và triệt lương thảo đã mất sức chiến đấu và bị đánh bật khỏi Kinh đô, tháo chạy về nước sau một trận phản công bất ngờ. Thoát Hoan và A Lý Hải Nha không yên tâm đóng quân trong thành, sợ bị quân ta vây hãm và tiến công. Quân giặc lại rút hết ra khỏi Kinh thành Thăng Long, không phải để đóng quân ở ngoại thành mà vượt sông Hồng sang đóng bên bờ bắc như khi mới kéo quân từ sông Đuống đến 2.
 
Cánh quân Mông Cổ do tướng giặc là Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy từ Vân Nam kéo sang, quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cũng chiến đấu kiên cường ngăn giặc. Lúc đó Trần Nhật Duật chặn đánh địch ở trại Thu Vật (vùng huyện Yên Bình, Yên Bái). Quân Nguyên tiến công từ nhiều phía. Sau vài trận giao chiến, Nhật Duật cho quân rút lui theo đường sông. Địch đuổi đánh theo đường sông, đồng thời cho một mũi vu hồi chặn dành theo đường bộ.

Phán đoán được âm mưu của địch, Nhật Quật quyết định bỏ thuyền lên bộ, đi tắt đường khác, thoát khỏi thế bao vây của địch. Khi quân của Trần Nhật Duật về đản Bạch Hạc (20-2-1285) thì triều đình đã rút khỏi Thăng Long mấy ngày. Nhật Duật dừng quân, làm lễ tuyên thệ nguyện dốc lòng trung, báo ơn vua nợ nước. Rồi theo đường tắt qua vùng dân tộc thiểu số về hội quân với triều đình ở hạ lưu sông Hồng. 

Sau khi chiếm được Thăng Long, Thoát Hoan phái nhiều cánh quân lớn đuổi theo quân Trần. Hữu thừa Khoan Triệt cùng với Vạn hộ Bôn Kha Đa và Vạn hộ Mang Cổ Đại đuổi theo bằng đường bộ. Tả thừa Lý Hằng cùng Ô Mã Nhi đuổi theo bằng đường thuỷ.


______________________________
1. Tức cơ quan Trung ương của triều Nguyên.
2. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng.  sđd, tr.182 (Dẫn Nguyên sử q. 13, Thế tổ bản kỷ, t.13a).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 10 Tháng Năm, 2009, 11:34:11 pm
Ngày 24-2-1285, tức năm ngày sau khi quân của Thoát Hoan tới Thăng Long, ở Thiên Mạc (nay thuộc Duy Tiên, Hà Nam), Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã dũng cảm chiến đấu chặn địch để yểm hộ đại quân ta rút lui. Chiến đấu trong điều kiện địch đông và mạnh, quân ta ít, Trần Bình Trọng đã bị giặc bắt. Mọi thủ đoạn đe doạ và dụ dỗ của giặc không thể khuất phục được Bình Trọng. Ông tuyệt thực, không trả lời những câu dò hỏi của giặc. Khi chúng mang tước vương để mua chuộc, ông đã hiên ngang thét lớn: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thêm làm vương đất Bắc!” 1. Ngày 26-2-1285, quân giặc đã giết ông. Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã tiêu biểu cho tinh thần của cả dân tộc ta lúc đó. 

Ở cửa Hải Thị (vùng sông Luộc gặp sông Hồng), quân ta cũng đóng cọc, chắn sông để ngăn chặn địch. Khoan Triệt và Lý Hằng phải phối hợp quân bộ và quân thuỷ mới vượt qua được.

Sau những trận đánh cản giặc trên sông Hồng, triều  đình Trần lui về vùng Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình). Ở đây Trần Quốc Tuấn chăm lo củng cố và bổ sung lực lượng về cơ bản đã bảo toàn được. Trong một thời gian ngắn, thế quân lại mạnh. Sử Nguyên cũng thừa nhận rằng, sau khi rút lui, số quân của nhà Trần còn rất đông và khi về đến Thiên Trường và Trường Yên “binh lực lại tập hợp” 2. 

Đến đây, hai cánh quân thủy - bộ của quân Nguyên đều thấy vùng Thiên Trường được tổ chức phòng ngự vững chắc.  Tự lượng sức mình, chúng không dám tiếp tục tiến xuống Thiên Trường mà phải quay lại Thăng Long. Quân giặc chiếm được Thăng Long và một số địa bàn nhưng chúng không thể kiểm soát được các khu vực đã chiếm.

Những đội quân của triều đình có nhiệm vụ ở lại sau lưng địch, quân của các lộ, các huyện, dân binh các làng, bản tiếp tục chiến đấu, tiến công vào các mục tiêu trong lòng địch, tiêu hao sình lực, ngăn trỏ việc cơ động lực lượng và vận chuyển tiếp tế của dịch, chặn đánh bọn giặc đi cướp lương thảo, giúp dân chúng thực hiện thanh dã theo lệnh của triều đình.

Những hoạt động tích cực tiến công của các lực lượng tại chỗ sau lưng địch làm cho vùng địch chiếm đóng trở nên không an toàn ổn định. Đường liên lạc, vận chuyển giữa tiền tuyến và hậu phương của dịch bị uy hiếp thường xuyên và bị đánh phá mạnh mẽ. Những hoạt động đó có tác dụng kìm hãm tốc độ tiến công xuống phía nam của quân xâm lược và yểm trợ cho cuộc rút lui của đại quân ta.

A Lý Hải Nha phải sai lập các đồn trại trên con đường từ biên giới Lạng Sơn đến Thăng Long. Cứ 30 dặm chúng lập một trại, 60 dặm dựng  một trạm ngựa. Mỗi trại, trạm có 300 quân đóng giữ. Chúng còn phải lập thêm nhiều đồn để đốc thúc công việc của trại, trạm và đối phó với các trận tiến công của dân chúng và các lực lượng vũ trang địa phương. Chính các đồn này cũng thường xuyên bị quân dân ta đánh phá, làm cho quân địch rất hoảng sợ.

Đặc biệt, làm cho kẻ địch lo sợ là các lực lượng tại chỗ vùng Lạng Sơn. Các lực lượng ở lại sau lơng địch của Nguyễn Lộc, một hào trưởng dân tộc Tày, vốn có nhiệm vụ chặn địch ở vùng châu Thất Nguyên (huyện Tràng Định, Lạng Sơn). Khi quân xâm lược đi qua Lạng Sơn, thì các lực lượng dưới quyền Nguyễn Lộc đã mở rộng hoạt động ra cả một vùng rộng lớn từ trại Vĩnh Bình (Văn Lãng, Cao Lộc, Lạng Sơn) cho đến ải Chi Lăng. Lực lượng của quân đội địch phân tán ngày càng nhiều để đóng giữ và tự bảo vệ. Lực lượng cơ động để tiếp tục tiến công ngày càng giảm sút. Cánh quân từ Vân Nam do Naxirútđin chỉ huy kéo đến hội quân với Thoát Hoan chỉ còn 1.000 ngườt.

Trong tình hình.dó, để làm chậm đà tiến công, truy kích của quân Nguyên, tạo điều kiện cho quân ta ở trước mặt và sau lưng địch có thêm thì giờ củng cố và bố trí lại lực lượng, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đã đem hơn một nghìn thuyền chiến từ Long Hưng (Thái Bình) ngược sông Thái Bình kéo lên đóng ở Vạn Kiếp. Lực lượng quan trọng này uy hiếp cạnh sườn toàn bộ thế trận chiến lược của Thoát Hoan và có tác dụng chi viện mạnh mẽ cho các lực lượng tại chỗ hoạt động bên trong hậu phương chiến lược của địch.

Việc hơn 1000 chiến thuyền của quân Trần có thể tiến lên Vạn Kiếp chứng tỏ quân Nguyên không kiểm soát được các phủ, lộ phía đông như Long Hưng (Thát Bình), Hồng (nam Hải Dương) Nam Sách (bắc Hải Dương). Đây là một mối đe doạ lớn đối với Thoát Hoan. Chúng hoảng sợ, viết thư cầu cứu triều đình Nguyên. A Lý Hải Nha đã báo cáo với Hất Tất Liệt: “Ở hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, binh lực 3 lại tập hợp. Hưng Đạo vương đã tập trung hơn một nghìn chiến thuyền ở Vạn Kiếp. Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình. Còn quan quân 4 thì đi xa, đánh lâu, bị treo lơ lửng ở quãng giữa.  Quân của Toa Đô và Đường Ngột Đãi lại không đến kịp thời”.


_______________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q. 13, t.8b.
2. Nguyên sử, q. 13, t. 8b.
3. Chỉ quân Trần.
4.  Chỉ quân Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 11 Tháng Năm, 2009, 12:52:03 am
Than vãn “bị treo lơ lửng ở quãng giữa”, bộ thống soái quân xâm lược đã nói lên tình trạng bị bao vây tiến công trước mặt cũng như sau lưng, chúng bị sa lầy trong thế trận cả nước đánh giặc của ta. Và qua đó cũng nói lên hiệu lực của việc Hưng Đạo vương kéo lực lượng lớn binh thuyền về Vạn Kiếp, cũng như của việc các lực lượng vũ trang ta đánh địch rộng rãi sau lưng chúng.

Để cải thiện thế bố trí chiến lược, Thoát Hoan và A Lý Hải Nha đành đem quân rời bờ bắc sông Hồng, trở lại thành Thăng Long cố thủ, chờ đạo quân của Toa Đô 1. 

Có thể là trong những ngày khó khăn đầu tháng 3- 1285, Thoát Hoan đã cho người về nước xin viện binh. Ngày 16-3-1285, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho quân đi tiếp viện 2. có lẽ Thoát Hoan xin thêm nhiều thuỷ binh nhưng Hốt Tất Liệt không đáp ứng được, chỉ có bộ binh đi tiếp viện, nên mới có lệnh của Hốt Tất Liệt: “Thấy đường thuỷ nguy hiểm, lệnh theo đường bộ mà đi” 3. Hữu thừa A Bát Xích được giao nhiệm vụ chỉ huy quân tiếp viện 4.

Trong lúc xin viện binh, Thoát Hoan vẫn cố gắng tiến công xuống Thiên Trường hòng bắt được triều đình Trần, tiêu diệt lực lượng và phá vỡ các căn cứ của quân ta, đánh thông con đường liên lạc với Toa Đô, hòng thoát khỏi cái thế đang “bị treo lơ lửng ở quãng giữa”.

Vào lúc đó vua Trần cũng đã chuẩn bị lực lượng, ngược sông Hồng, tiến đánh Thoát Hoan. Ngày 10-3-1285, quân ta gặp địch do Thoát Hoan chỉ huy ở sông Đại Hoàng (khúc sông Hồng chảy qua huyện Lý Nhân). Thế địch còn mạnh, quân ta lại phải rút lui.

Trong lúc chủ trương rút lui chiến lược ở phía bắc, vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định chặn đứng địch ở mặt trận phía nam, không cho Toa Đô tiến ra bắc. Trước đây, Trần Quốc Tuấn đã để một lực lượng quan trọng trấn giữ Nghệ An và Diễn Châu. Nay lại tăng cường hơn nữa cho mặt trận này. Trần Nhật Duật vừa từ lộ Tuyên Quang về đã phải vội vã vào tăng cừơng cho Nghệ An. Chương Hiến hầu Trần Kiện cũng được lệnh đem quân vào giữ Thanh Hoá. Theo đề nghị của Hưng Đạo vương, ngày 5-3-1285, vua Trần lại cử Thượng tướng Thát sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải vào chỉ huy mặt trận phía nam.

Khi đại quân của A Lý Hải Nha đang tiến xuống Thiên Trường thì quân của Toa Đô từ Chăm pa đánh ra phía bắc đã tiến đến Nghệ An. Quân ta không cản nổi, phải rút lut. Quân của Trần Quang Khải cũng chưa vào kịp. Quân Nguyên tiến ra Thanh Hoá. Tên quý tộc Trần Kiện trong tay còn nắm một vạn quân đã cùng với bọn Lê Trắc hàng giặc. Sau đó lại dẫn đường cho kẻ thù tiến đánh quân ta.

Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở Thanh Hoá vô cùng anh dũng. Ngày 9-3, tướng Nguyên là Giảo Kỳ cho quân lội qua cửa Vệ Bố (thuộc Quảng Xương, Thanh Hoá). Cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra. Tướng Trần là Đinh Xa và Nguyễn Tất Thông đã hy sinh. Dân chúng trong các xóm làng ở vùng này cũng đã tự vũ trang chống giặc. Khi quân Nguyên tiến qua hương Yên Duyên thì đại toát (tức đại tư xã, xã trưởng) Lê Mạnh đã “đốc xuất dân trong hương ra chặn địch ở bến Cổ Bút, đánh nhau với quân giặc. Giặc hầu như không còn đường tháo lui được nữa. Nhưng hiềm vì có kẻ gian hàng giặc đã dẫn đường cho giặc, nên nhà cửa đều bị giặc đốt phá” 5.


______________________________
1.  Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr. 188. 
2, 3. Nguyên sử q.13, Thế tổ bản kỷ, t.16a.
4. Có thể sau sự kiện này, Thoát Hoan thua nhanh cho nên số quân viện này không đến kịp gặp hắn.
5. Theo tấm bia ở chùa Hưng Phúc, xã Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hoá, khắc năm 1324. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 11 Tháng Năm, 2009, 12:55:16 am
Tuy nhiên, thế giặc còn mạnh, quân dân ta vẫn không chặn được chúng. Trần Quang Khải bèn cho lui quân.  Tình hình kháng chiến lúc đó trở nên vô cùng khó khăn. Từ Thăng Long, Thoát Hoan huy động đại quân đánh xuống Thiên Trường. Quân Toa Đô từ Thanh Hoá tiến gấp ra Trường Yên. ý đồ của chúng là giáp công hai mặt tiêu diệt căn cứ của triều đình và quân chủ lực của ta. 

Để tranh thủ thêm thời gian, vua Trần tìm kế hoãn binh, sai Trung Hiếu hầu Trần Dương đến gặp Thoát Hoan xin cầu hoà và sai Cận thị Đào Kiên đem Công chúa An Tư, em út của Thánh Tông, cho Thoát Hoan. Riêng việc này cũng nói lên mức độ khó khăn của vua Trần lúc đó.

Thoát Hoan đã giam giữ Trần Dương và sai Thiên hộ họ Ngải đòi vua Trần phải thân đến gặp hắn. Vua Trần tất nhiên không chịu.

Sau khi đã đạt được yêu cầu uy hiếp thế trận chiến lược của địch, làm chậm đà tiến công của chúng xuống Thiên Trường, mặt khác, tăng cường cho lực lượng quân ta đã được chấn chỉnh ở đây, sẵn sàng ứng phó với các tình huống, Trần Quốc Tuấn đã rút quân từ Vạn Kiếp về Thiên Trường. Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng đã ra bắc gặp vua Trần.  Một kế hoạch chiến lược mới đang hình thành. 

Để thoát khỏi tình thế hai đầu đều bị đánh, vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã rất mưu trí tổ chức một cuộc cơ động lực lượng chiến lược. Quân ta đã rút về các lộ phía đông giáp biển là vùng rộng lớn mà quân Nguyên không kiểm soát được Chờ khi quân Toa Đô tiến ra miền bắc thì vượt biển vào Thanh Hoá.

Vua Trần từ Thiên Trường ra cửa Giao Hải (cửa sông Hồng ở huyện Giao Thuỷ, Nam Định), đi ra biển, ngược lên phía bắc rồi rẽ vào nguồn Tam Trĩ (sông Ba Chẽ, Quảng Ninh), trong lúc đó thuyền ngự đi không ra cửa Ngọc Sơn (Móng Cái) để đánh lừa quân địch. Ngày 7-4- 1285, vua Trấn đã đi bộ từ Tam Trĩ về Thuỷ Chú, rồi dùng thuyền đi ra cửa Nam Triệu, qua biển Đại Bàng (vùng biển trước cửa Văn Úc) rồi vào Thanh Hóa.

Thoát Hoan sai Lý Hằng, Ô Mã Nhi cùng Giảo Kỳ và Đường Ngột Đãi đuổi theo vua Trần ở ngoài biển. Ngày 15-4-1285, thuỷ quân của Giảo Kỳ, Đường Ngột Đãi đến vây ở Tam Trĩ. Quân của Lý Hằng cũng không gặp quân Trần.  Quân Nguyên bắt được một số thuyền bỏ lại, biết là vua Trần đã lên bộ, chúng liền đuổi ba ngày ba đêm trên đường bộ. Lúc đó vua Trần và quân ta đã đến Thanh Hoá từ lâu. 

Triều đình và đại quân rút khỏi Thiên Trường, một số quý tộc quan lại hèn nhát hoảng sợ đã đầu hàng giặc, như Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn, Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng.

Nhưng quân, dân cả nước vẫn giữ vừng ý chí chiến đấu.  Ở những vùng giặc chiếm, quân dân ta từ các làng xóm vẫn hên tục tiến công vào quân xâm lược, gây cho chúng nhiều thương vong, làm thanh dã (vườn không nhà trống), cất dấu lương thực. Sử cũ chép: “Vượt biển vào nam, thế quân lại nổi” 1.

Tình hình quân Nguyên ngày càng khó khăn. Tuy quân ta rút khỏi Thiên Trường nhưng Thoát Hoan vẫn không dám chiếm đóng. Quân Nguyên chiếm được Thiên Trường, tên Tả thừa Lý Hằng thấy được vị trí quan trọng của vùng này đề nghị với Thoát Hoan đóng thành ở đây, tích trữ lương thực, chờ ngày giao chiến với quân Trần, ngăn chặn cuộc phản công của quân Trần từ Thanh Hoá ra. Nhưng các tên tướng khác phản đối vì sợ binh lực rải ra quá mỏng, tạo thêm nhiều mục tiêu cho quân dân ta tiến công, tổn thất càng nhiều, khó khăn về bảo đảm lương thảo càng lớn. Cuối cùng, chúng bỏ Thiên Trường, rút quân về đóng ở Thăng Long và một số điểm dọc sông Hồng.

Lúc đó quân của Toa ĐÔ đã kéo ra đến Trường Yên. Đạo quân này đóng quân lâu ngày ở Chăm pa, vốn đã thiếu lương, nay lại phải hành quân đường dài ra bắc càng thêm đói mệt. Toa Đô đã cử tên tướng Đường Ngột Đãi cùng với Giảo Kỳ đem một bộ phận quản lính ra gặp Thoát Hoan, báo với chủ tướng về tình hình khốn quẫn của đạo quân Toa Đô. Nhưng Thoát Hoan không muốn cho hội quân, sợ không giải quyết nổi vấn đề cung cấp lương thảo cho một khối lớn quân đội, bên bắt Toa ĐÔ dừng lại ở Trường Yên để kiếm lương” - nghĩa là để cướp bóc ở đây. Như vậy, Toa Đô phải “đóng cách đại bản doanh hơn hai trăm dặm” 2.

Thương vong và đói là những tai vạ ngày càng tăng thêm đối với quân Nguyên. Thời tiết chuyển sang nóng bức và mưa nhiều (bấy giờ là cuối tháng 4- 1285), số đau ốm ngày càng tăng, khí thế ban đầu giảm mạnh. Sức chiến đấu của quân Nguyên ngày càng sa sút.


___________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.44b.
2. Nguyên sử. q.120, t.8.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 11 Tháng Năm, 2009, 12:56:02 am
Khi nghe tin vua Trần đã rút vào Thanh Hoá, Thoát Hoan lại ra lệnh cho Toa Đô từ Trường Yên quay vào Thanh Hoá để đuổi theo quân ta. Đó chỉ là một hành động tuyệt vọng, vì đạo quân đã sứt mẻ lại ốm đói kéo từ Chăm pa ra, chưa được nghỉ ngơi, nay lại quay lại, rõ ràng là không thể thực hiện được nhiệm vụ đó. Thậm chí có một bộ phận quân Toa Đô đóng lý tại Trường Yên mà không chiu đi. 

Tháng 5-1285, Thoát Hoan sai viên tướng Lý Tích Ban đưa bọn đầu hàng phản bội về Trung Quốc. Khi bọn chúng đi qua Lạng Sơn, đội dân binh người Tày do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy, phối hợp với một bộ phán quân triều đình hoạt động ở địa phương đã chặn đánh chúng ở trại Ma Lục vùng Chi Lăng. Bọn phản bội cùng với toán quân Nguyên đi hộ tống bị vây đánh cả ngày lẫn đêm. Chúng thoát khỏi trận phục kích này lại rơi vào chỗ phục kích khác.  Nguyễn Địa L ô là gia nô của Hưng Đạo vương đã bắn chết Trần Kiện ngay trên mình ngựa. Các xe lương thực, hành lý của chúng đều lọt vào tay quân, dân ta. Bọn tuỳ tùng cũng bị giết chết gần một nửa.

Từ Thanh Hoá, vua Trần và Hưng Đạo vương thấy rằng quân ta đã được củng cố mà quân địch đang bị suy yếu nhiều về lực lượng và thế trận, thời cơ phản công đã đến. Trong tháng 5- 1285, Trần Quốc Tuấn cùng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và các tướng linh khác đem binh thuyền tiến ra bắc trong điều kiện hai tập đoàn quân lớn của địch (Thoát Hoan và Toa Đô) không thể chi viện được cho nhau, phối hợp được với nhau và sức chiến đấu của quân xâm lược đã sa sút nặng nề.

Mục tiêu đầu tiên của cuộc phản công là một số đồn trại đóng dọc khúc sông Hồng chạy qua vùng Khoái Châu ngày nay. Đánh chiếm được những đồn trại này, có thể uy hiếp Thăng Long và càng chia cắt mạnh hơn hai tập đoàn quân lớn của giặc.

Bộ phận quân Nguyên đóng ở các đồn trại này vốn thuộc đạo quân Toa Đô, do Đường Ngột Đãi và Giảo Kỳ chỉ huy tiến ra bắc trước đây để liên hệ với Thoát Hoan. Bọn này sau khi vượt qua vùng Thanh - Nghệ, đã tham gia cuộc đuổi theo vua Trần, nay đã vô cùng mỏi mệt.

Ý đồ chiến lược của bộ thống soái nhà Trần là từ trận đầu tiên, tạo nên thế trận mới và khí thế mới, sẽ tiến lên giải phóng Thăng Long và tiếp theo đó là đập tan quân địch bại trận tháo chạy về nước. Theo ý đồ trên, khi Trần Quang Khải cùng các tướng ngược sông Hồng tiến về Thăng Long, thì Trần Quốc Tuấn đã cùng một số tướng đi vòng qua các lộ phía đông, tiến về Vạn Kiếp.

Trên đường tiến về Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã tiến công đồn A Lỗ ở mạn sông Luộc, tiêu diệt đồn này. Tướng Nguyên giữ đồn là Vạn Hộ Lưu Thế Anh bỏ chạy theo hướng Thăng Long.

Đến Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã sai Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão đem ba vạn quân tổ chức một thế trận mai phục ở khu vực này để chờ đón địch, bố trí ở một số nơi dự kiến địch phải rút qua. Đồng thời hạ lệnh cho Hưng Vũ vương Nghiến và Hưng Hiến vương Uy dẫn ba vạn quân bịt kín các cửa ải biên giới, chặn đường địch chạy về Tư Minh. 

Vào tháng 5-1285, đạo quân của Trần Quang Khải đã chia ra nhiều mũi, tiến công đồng thời vào hai cứ đểm của địch đóng gần nhau bên sông Hồng là Tây Kết và Hàm Tử.  Chiêu Thành vương, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đánh bến Tây Kết. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đánh cửa Hàm Tử. Cả hai cứ điểm đều bị tiêu diệt trong thời gian ngắn. Do rung động của hai trận đó, một loạt đồn trại giặc bên sông Hồng nhanh chóng tan vỡ.

Cũng như trong những ngày chiến đấu ở mặt trận Tuyên Quang, trong quân của Trần Nhật Duật bấy giờ vẫn có nhiều binh sĩ Tống. Họ là những người Trung Quốc không chịu sống dưới sự thống trị của bọn xâm lược Mông Cổ, đã sang Đại Việt cùng với quân, dân ta chống kẻ thù chung. Một người trong số họ là Triệu Trung đã trở thành gia tướng của Nhật Duật. Trong trận Hàm Tử, Triệu Trung cùng với những người Trung Quốc khác đã mặc áo Tống, cầm cung tên chiến đấu cùng Nhật Duật và đã đóng góp một phần vào chiến thắng này.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 11 Tháng Năm, 2009, 12:58:28 am
Ngay sau hai trận Tây Kết và Hàm Tử, Trần Quang Khải cùng Trần Quốc Toản và các tướng đem quân đánh vào đồn giặc ở Chương Dương (ở hữu ngạn sông Hồng, thuộc Thường Tín). Đây là căn cứ quan trọng của quân Nguyên, cùng với Hàm Tử, tạo thành hai lá chắn phía nam bảo vệ Thăng Long. Với khí thế áp đảo, quân Trần cùng dân binh các lộ phối hợp đã chiến đấu anh dũng, hạ đồn Chương Dương. Đồn Chương Dương bị hạ, quân viện từ Thăng Long kéo ra bị phục binh ta tiêu diệt. Giặc co lại ở Thăng Long. 

Từ các mặt thuỷ bộ, quân ta tiến vào vây chặt Thăng Long, tiến công mãnh liệt. Phối hợp với quân của triều đình để chiếm lại Thăng Long còn có các đạo dân binh của các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và em là Nguyễn Truyền chỉ huy.

Tài liệu thời Nguyên chép rằng: “... Thuỷ lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng đông, quan quân (chỉ quân Nguyên - TG) sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới hết...” 1.  Thoát Hoan và A Lý Hải Nha họp bọn tướng lĩnh để bàn cách đối phó. Bọn chúng phải nhận rằng: “Người Giao (chỉ quân Trần - TG) chống đánh quan quân, tuy mấy lần thua tan  nhưng quân tăng càng đông, quan quân mỏi mệt, tử thương cũng nhiều, quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố được tài năng. . .” 2.

Trong tình thế đó bọn địch không có cách nào khác là liều chết phá vây, tháo chạy khỏi Thăng Long. Chúng vượt sông Hồng rồi tạm đóng lại ở Gia Lâm. Ở đây, quân ta tiếp tục tiến công. Thoát Hoan liền ra lệnh rút quân. 

Như vậy là sau một thời gian phản công mạnh mẽ, vào khoảng cuối tháng Tư âm lịch - nói như tài liệu của nhà Nguyên: “tháng Tư, quân Giao nổi lên rất lớn” 3 - quân ta đã giải phóng được Kinh đô Thăng Long.
 
Đường rút lui của giặc cũng là đường lúc tiến vào. Quân của Thoát Hoan đi qua vùng các huyện Tiên Sơn và Quế Võ (Bắc Ninh). Toán quân Vân Nam do Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy cũng rút theo đường cũ, qua lộ Tuyên Quang.  Trần Quang Khải cùng các tướng đem quân vào thành Thăng Long mở tiệc khao quân. Trần Quang Khải sai người về Thanh Hoá dâng biểu báo tin thắng trận. Hai vua Trần thấy thế quân đã mạnh, bèn kéo quân từ Thanh Hoá ra, tiến công tập đoàn Toa Đô.

Đối với cánh quân này, vua Trần nhận xét: “Quân giặc đi xa lâu năm, đem lương muôn dặm, ắt phải mệt nhọc. Lấy nhàn đợi mệt, trước làm nhụt khí thế của chúng, tất phá tan được” 4.  Ngày 7-6, vua Trần đánh tan bộ phận của tập đoàn Toa Đô còn đóng lại ở Trường Yên, rồi đem quân tiến thẳng ra Thiên Trường. Ngày 11-6, vua Trần được tin Toa Đô kéo quân từ Thanh Hoá ra. Ngày 19-6, hai vua ghé về Long Hưng (Thái Bình) bái yết lăng mộ tổ tiên.

Vì không biết Thoát Hoan đã rút quân, ngày 21 -6, Toa Đô và Ô Mã Nhi đã cho thuyền theo đường biển vào cửa sông Hồng rồi tiến lên sông Thiên Mạc (khúc sông Hồng ở vùng Khoái Châu, Hưng Yên). Ngày 24-6, vua Trần đã chỉ huy quân ta tiến công mạnh mẽ vào đoàn thuyền Toa Đô trên khúc sông này. Ở bến Đại Mang, tướng Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Ở bến Tây Kết, quân Trần phá tan giặc, giết và đánh bị thương rất nhiều. Toa Đô bị chém đầu ngay tại trận. Ô Mã Nhi và Lưu Khuê trốn thoát ra biển bằng thuyền nhẹ.

Cánh quân của Thoát Hoan rút về hướng bắc, bị Hưng Ninh vương Trần Tung đem hơn hai vạn quân đón đánh, kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thế Anh. Quân Nguyên thua chạy đến sông Như Nguyệt (sông Cầu) bị quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản chặn lại. Quân địch bị đánh tan tác nhưng Trần Quốc Toản đã anh dũng hy sinh.

Không vượt được sông Như Nguyệt, quân địch hoảng hốt tháo chạy về hướng sông Sách tức sông Thương chảy qua vùng Vạn Kiếp).  Ở đây quân địch bắc cầu phao sang sông. Theo kế hoạch của Trần Quốc Tuấn: quân ta đã mai phục ở đây từ trước. Quân của viên Tả thừa Đường Ngột Đãi đang qua sông thì phục binh của ta đã từ trong rừng đổ ra đánh mạnh vào sườn chúng. Bị tiến công bất ngờ, bọn chúng hoảng loạn xô đẩy nhau, giẫm dứt cả cầu phao, ngã xuống sông chết đuối rất nhiều.


__________________________
1, 3. Kinh thế đại điển tự lục, tr.564.
2. Nguyên sử, q. 209, An Nam truyện, t.8a.
4. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.48a.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 11 Tháng Năm, 2009, 01:01:35 am
Trận Vạn Kiếp đã làm cho đạo quân Thoát Hoan về cơ bản bị tan rã. Tàn quân giặc tìm cách mở dường máu chạy về Lạng Sơn. Nhưng trên các cửa ải biên giới, quân ta đã bố trí sẵn chờ đợi chúng. Đến Vĩnh Bình, phục binh của Hưng Vũ vương Hiến đổ ra đánh, tên độc bắn như mưa. Bọn tướng giặc hoảng sợ phải dấu Thoát Hoan vào trong ống đồng rồi khiêng chạy. Lý Hằng đi sau để bảo vệ Thoát Hoan bị trúng tên độc, chạy về đến Tư Minh thì chết.

Tàn quân của Thoát Hoan cố mở đường tháo chạy. Về gần đến châu Tư Minh lại bị quân của Hưng Vũ vương Nghiền và Hưng Hiến vương Uy đuổi đánh một trận nữa. Lý Quán trúng tên chết. Thoát Hoan, A Bát Xích, Phàn Tiếp thoát chết về đến Tư Minh. Đạo quân của Thoát Hoan hoàn toàn tan rã. Chiến thắng Như Nguyệt - Vạn Kiếp - Vĩnh Bình góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Cánh quân của Nạp Tốc Lạt Đinh rút theo hướng Vân Nam theo con đường cũ. Các lực lượng vũ trang dịa phương và nhân dân các dân tộc thiểu số trên hướng lộ Tuyên Quang dưới sự chỉ huy của Phụ đạo Hà Đặc cũng đã bám đánh một cách dũng cảm và mưu trí cánh quân này.

Hà Đặc dã lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo, đợi chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Lại cho đục lỗ ở trên thân cây, cắm vào đó những mũi tên lớn. Trong lúc quân giặc chưa dám tiến lên núi vì sợ đội quân người khổng lồ đó thì đội quân của Hà Đặc đã bất ngờ xông ra, đánh vào nơi giặc đóng. Chúng phải bỏ chạy. Em Hà Đặc là Hà Chương đã tìm cách lấy trộm được y phục và cờ xí của quân Nguyên. Hà Chương cùng với dân quân của mình cải trang thành quân Nguyên, tiến vào doanh trại giặc. Quân giặc lầm nên đã bị tập kích bất ngờ, thua chạy tan tác.

Thế là sau hai tháng phản công với những chiến công liên tục: A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Tây Kết (lần hai), Như Nguyệt, Vạn Kiếp, Vĩnh Bình...  quân, dân Đại Việt đã đập tan đạo quân xâm lược vốn rất mạnh, quét sạch chúng ra khỏi bờ cõt. Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai đã kết thúc thắng lợi. 

Ngày 9-7-1285, hai vua Trần cùng nhiều đạo quân đã chiến thắng trên các mặt trận trở về Thăng Long. Cả nước tưng bừng mềm vui chiến thắng. Trong không khí đó, Thái sư Trần Quang Khải đã làm bài thơ:

Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực.
Vạn cổ thử giang san



(Chương Dương cướp giáo giặc,
Cửa Hàm Tử bắt thù.
Thái bình rèn trí lực,
Non nước ấy muôn Thu
.)

Bài thơ ngắn gọn có nhiều ý nghĩa. Vừa ca ngợi những chiến công của quân Trần, vừa nhắc nhở quân, dân phải rên luyện trí và lực, sẵn sàng chiến đấu trong hoàn cảnh xây dựng hoà bình sau thắng lợi để giữ cho giang sơn đất nước của ông cha để lại vững bền muôn thuở.

Từ diễn biến của cuộc kháng chiến này, có thể rút ra mấy nhận xét như sau:

Về địch:

Với một số quân đông gấp đến 15 lần so với cuộc xâm lược năm 1258, tiến đánh Đại Việt từ cả hai đầu đất nước, chúng cậy mạnh, nóng lòng muốn tiếp xúc với quân chủ lực của ta, hy vọng sẽ tiêu diệt đối phương dễ dàng bằng các trận đánh chính quy giữa hai đạo quân chủ lực, trong đó chúng chiếm ưu thế hơn hẳn, qua đó sớm kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược.

Chúng ra sức phát triển thuỷ binh để tang thêm khả năng cơ động trên chiến trường nhiều sông ngòi của nước ta. Chúng cũng đã cố gắng lớn để giải quyết việc bảo đảm lương thảo, thuốc men cho đạo quân xâm lược đông người.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 12:50:27 pm
- Nhưng đối sách của triều đình Trần đã làm cho chúng hụt hẫng, vội vàng chia quân tìm bắt triều đình và chủ lực của ta. Quân Nguyên từng bước sa lẩy vào thế trận cả nước đánh giặc của ta. Càng cố gắng, chúng càng phân tán lực lượng, càng mất sức chiến đấu. Chúng có sức mạnh mà không dùng được, có cách đánh sở trường đã giúp ky binh của chúng chiến thắng ở nhiều nước, nhưng không thi thố được ở nước ta. Thuỷ binh mới vội vàng thành lập của chúng không địch nổi với thuỷ binh có truyền thống chiến đấu lâu đời của ta. Chúng luôn phải bị động đối phó với cách đánh của quân và dân ta. Luôn mất quyền chủ động chiến lược. Thương vong chồng chất, lương thực bị triệt. Từng bước, chúng chuyển mạnh thành yếu và bị tiêu diệt nhanh chóng khi ta phản công chiến lược.

-Địa hình rừng núi và nhiều sông ngòi của nước ta không tiện cho việc dùng ky binh dành ào ạt. Thời tiết nước ta tác dộng nhiều dện sức khoẻ và sức chiến đấu của quân xâm lược dện lừ phương bắc nhất là khi mùa Xuân chuyển sang mùa Hè.

Về ta :

- Triều đình cùng quân, dân Đại Việt chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến rất chu đáo. Đặc biệt trong thời gian 25 năm giữa hai cuộc chiến tranh xâm lược của dịch, nhà Trần đã thực hiện nhiều chính sách, nhiều biện pháp bồi dưỡng sức dân, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho dân, tạo nên sự gắn bó giữa triều dình và trăm họ. Khi giặc tiến vào xâm lược, đã chú trọng động viên tinh thần cho tướng sĩ và toàn dân hăng hái đánh giặc, làm cho cuộc kháng chiến mang tính chất nhân dân khá rộng rãi.

- Trên cơ sở quyết tâm kháng chiến rất cao, lúc đẩu ta đã có ý định quyết chiến với địch ở biên giới. Nhưng vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã tỉnh táo đánh giá tình hình, khai thác được kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, kịp thời thay đổi ý định chiến lược, tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không có lợi, rút khỏi Kinh đô để bảo toàn triều đình và quân đội.

- Theo mưu kế đó và dựa vào sức mạnh kháng chiến của toàn dân, Bộ thống soái đã biết kéo dài thời gian cuộc kháng chiến làm cho địch mỏi mệt, ngày càng suy yếu cả về lực lượng và thế trận. Trong khi đó, quân, dân ta lại có thời gian củng cố lực lượng và xây dựng thế trận ngày càng mạnh hơn. 

- Ta đã kết hợp chặt chẽ hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang tại chỗ, đứng vững trên các địa phương, đánh nhỏ rộng khắp, thường xuyên, buộc địch phải rải mỏng lực lượng dối phó, với tác chiến của đại quân triều đình đánh những trận nhỏ và vừa như Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết (lần thứ nhất), những trận lớn như Thăng Long, Tây Kết )lần thứ hai và Vạn Kiếp), trong những thời cơ có lợi, đánh địch cả trước mặt và sau lưng, kết hợp tiêu diệt, tiêu hao quân dịch với triệt tiếp tế lương thảo của chúng. 

- Đã xử lý các tình huống lớn trong chiến tranh linh hoạt và mạnh bạo. Tổ chức cơ động lực lượng dại quân một cách kịp thời, chặt chẽ trong những điều kiện rất khó khăn, gian khổ. Trong những tình huống rất hiểm nghèo vẫn luôn giữ vững quyền chủ động hành động.

- Đã phản công đúng thời cơ, từ nhỏ đến lớn, kiên quyết và liên tục danh địch cho đến thắng lợi hoàn toàn.


IV. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA (1287 - 1288)


Ngay sau thất bại thảm hại của cuộc xâm lược lần thứ hai năm 1285, Hốt Tất Liệt lập tức xúc tiến chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới để trả thù. Hắn ra lệnh đình chỉ việc chuẩn bị đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng vào việc đánh Giao Chỉ, khẩn trương điều thêm tướng, tăng thêm quân.

Ngày 9- 7- 1285, vua Trấn trở về Thăng Long thì ngày 21 – 8- 1285, Khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị cử Thoát Hoan và A Lý Hải Nha đem quân đánh Đại Việt, với lời xin tập trung quân ở Đàm Châu (Hồ Nam) vào tháng Mười âm lịch (29- 10 đến 27- 1l-1285). Mặt khác, Đường Ngột Đãi, vừa mới được Hốt Tất Liệt cử làm Tả thừa Hành tỉnh Kinh Hồ, đánh giá quân lính đánh Đại Việt trở về còn quá mỏi mệt, nên đề nghị cho chúng được nghỉ ngơi. Sau khi cân nhắc, Hốt Tất Liệt bất đắc dĩ phải chấp nhận đề nghị này, nhưng vẫn tích cực xúc tiến việc chuẩn bị xâm lược nước ta, nhất là từ đầu năm 1286.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 12:54:39 pm
Ngày 18-2- 1286, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho bọn A Lý Hải Nha bàn kế hoạch đánh Đại Việt. Ngày 3-3- 1286, Hốt Tất Liệt duyệt danh sách các tướng đi đánh Đại Việt và điều động thêm quân. A Lý Hải Nha vẫn được cử làm An Nam Hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng. Hốt Tất Liệt sai sứ đến Vân Nam, ra lệnh cho Vân Nam vương điều cho A Lý Hải Nha một hoặc hai ba nghìn quân người dân tộc Ô Man.

Ngày 21-2-1286, Hốt Tất Liệt lại ra lệnh điều động 6 vạn quân của ba tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây. Tất cả số quân chuẩn bị đánh Đại Việt này được lệnh tập trung ở Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây) vào tháng Bảy âm lịch (23-7 đến 20-8-1286). Việc điều động và tập trung quân gấp rút như vậy, lại lấy mỗi nơi một ít, khó có thể bảo đảm chất lượng của đạo quân xâm lược.

Theo kinh nghiệm bại trận của cuộc chiến tranh xâm lược lần trước, lần này Hốt Tất Liệt rất chú trọng xây dựng thuỷ quân. Từ ngày 16-3-1286, hắn đã ra lệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền biển để dùng vào việc đánh Đại Việt hẹn đến tháng Tám âm lịch (21-8 đến 19-9-1286) tập trung ở châu Khâm và châu Liêm (Quảng Đông).

Thời gian này tên tướng A Lý Hải Nha ốm nặng và đến 18-6-1286 thì chết. Viên Bình chương chính sự áo Lỗ Xích được giao nhiệm vụ tổ chức đạo quân đánh Đại Việt thay A Lý Hải Nha, phụ tá cho Thoát Hoan trong cuộc xâm lược Đại Việt sắp tớt. Hốt Tất Liệt đã khuyến khích áo Lỗ Xích: Ngày trước bọn Mukhali 1 tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay vẫn bất hủ. Khanh cố gắng lên, há lại không vẻ vang như người xưa hay sao?

Để có công cụ thực hiện những âm mưu chính trị, chúng thành lập một triều đình bù nhìn gồm những tên đã đầu hàng trong cuộc chiến tranh vừa qua. Trần Ich Tắc được phong làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn được phong làm Phụ Nghĩa công. Những tên khác đều nhận những chức tước khác nhau như con Trần ích Tắc là Bá Ý được phong làm An phủ sứ lộ Đà Giang, em họ Tú Hoàn là Lại Ích Khuy được phong làm An phủ sứ lộ Nam Sách Giang, Trần Văn Lộng làm Tuyên phủ sứ lộ Quy Hoá Giang.

Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược và đưa cái triều đình bù nhìn ấy về nước, Hốt Tất Liệt đã cho thảo một tờ “chiếu- cho nhân dân Đại Việt, “kể tội” Trần Thánh Tông đã giết Trần Di Ái, không nhận Bột Nhan Thiết Mộc Nhi. Hắn vin vào đó để đem Trần Ích Tắc thay thế 2 .

Nội dung tờ chiếu như sau:

Trước kia, vua nước các ngươi đã xơng thần, quy phục, hàng năm dâng cống, nhưng không thân vào chầu, nên khi chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta uỷ cho trông coi việc nước An Nam thay y. Di Ái về nước thì bị giết 3. Đạt Lỗ Hoa Xích là Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi sang thì không chịu nhận. Còn như quân ta đi đánh Chiêm Thành, lệnh phải giúp lương thì lại không chịu giúp. Vì thế, Trấn Nam vương Thoát Hoan, Hành tỉnh bình chương sự A Lý Hải Nha phải đem quân sang đánh. Trong khi giao chiến, hai bên đều giết hại lẫn nhau.  Nay, cận thần của nước các ngươi là bọn Trần Ich Tắc, Trần Tú Hoãn lo sợ nước bị sụp đổ, tuyệt diệt, tai hoạ đến kẻ vô tội nên thường xuyên bảo vua các ngươi vào chầu, nhưng rốt cuộc vẫn không được nghe theo. Bọn ấy đã tự đến quy phục.  Ta thương bọn này có lòng trung hiếu, đã đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công, để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, Bình chương sự áo Lỗ Xích đem quân sang bình định nước các người. Những tội lỗi trước đây chỉ thuộc một mình y, quan và dân không liên quan. Khi chiếu thư tới, các ngươi nên trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu để hiểu dụ.

___________________________
1. Viên tướng thân tín của Thành Cát Tư Hãn đã đánh chiếm vùng đông bắc Trung Quốc.
2. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.253.
3. Tháng 1-1282, đoàn quân Nguyên hộ tống Trần Di Ái về nước bị quân Trần đánh tan ở biên giới. Tên Đarugatri Bột Nhan Thiết Mộc Nhi bỏ chạy về Nguyên, Trần Di Ái bị đem về kinh trị tội. Hốt Tất Liệt tưởng là Trần Di Ái đã bị giết chết. .


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 12:57:45 pm
Trong khi Hốt Tất Liệt ra sức xúc tiến việc chuẩn bị xâm lược nước ta thì tình hình chính trị và kinh tế của Trung Quốc có những khó khăn lớn. Dưới ách áp bức bóc lột của bọn thống trị Mông Cổ, nhân dân Trung Quốc, nhất là ở các tỉnh miền nam đã lâm vào tình trạng kiệt quệ vì phải cung ứng cho những cuộc chiến tranh xâm lược liên miên do bọn thống trị Mông Cổ gây ra. Cảnh nghèo đói xác xơ diễn ra khắp vùng nông thôn phía nam sông Trường Giang. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở đồng bằng cũng như ở miền núi.

Tình hình đó làm cho bọn quan lại vùng này rất lo lắng.  A Lý Hải Nha là tên tướng hiếu chiến đã ra sức thúc giục Hốt Tất Liệt hối hả ra quân để trả thù cho thất bại thảm hại của quân Nguyên trong cuộc xâm lược Đại Việt vừa qua. Việc hắn chết là dịp để các quan lại Nguyên đòi xét lại việc gây chiến với Đại Việt. A Lý Hải Nha chết cuối tháng Năm âm lịch thì tháng Sáu âm lịch đã có một loạt kiến nghị đòi huỷ bỏ hoặc hoãn lại việc ra quân xâm lược mà bọn Hốt Tất Liệt, Áo Lỗ Xích đang gấp rút chuẩn bị.

Tháng Sáu âm lịch ngày 23-6 đến ngày 22-7-1286, Tuyên uý ty Hồ Nam đã đề nghị hoãn binh: “Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ phục dịch vận chuyển rất vất vả cực nhọc, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng.  Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người, tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương sĩ dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một.  Lại thêm nữa, Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần. Nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời địa lợi tất hơn chút nữa hãy cất quân cũng chưa muộn” 1. 

Viên quan ở Hành tỉnh Hồ Quảng là Xen Ghê đồng ý với lời đề nghị đó, đã sai người về Kinh đô tâu với Hốt Tất Liệt.  Y còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh chiến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài. Kẻ còn ở lại đều già yếu mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái, Bình chương A Lý Hải Nha xuất chinh, thu ba vạn thạch lương, dân còn kêu khổ, nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên uý ty, xin hoãn quân đánh  phương Nam 2”.

 
 Rõ ràng Xen Ghê lo lắng nếu cất quân đánh Đại Việt dân chúng quá cùng khổ - mà hắn gọi là kẻ gian - sẽ nổi dậy, lực lượng quân đội già yếu còn lại ở địa phương sẽ không đủ sức đối phó.

Ngay ở triều đình Nguyên cũng có những người phản đối việc xuất chinh đánh Đại Việt. Viên Lễ bộ thượng thơ Lưu Tuyên cũng lo ngại về điều mà Xen Ghê đã nói và tỏ ra không tin tưởng ở kết quả của cuộc xuất chinh đó. Lưu Tuyên đã tâu với Hốt Tất Liệt:

“Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ oán hờn, quan phủ nhiễu nhương. Mùa Xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn.  Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân tất phải theo thiên thời. Ở vùng Trung Nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa Hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng Bảy họp các đạo quân ở Tĩnh Giang, đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó.


____________________________
1. Nguyên sử. q.209, An Nam truyện, t.8b.
2. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện, t.8b, Nguyên sử q.14, Bản kỷ, t 4a chép: “Ngày quý sửu (10-7-1285), Xen Ghê Hành tỉnh Hồ Quảng nói: “Nay dùng binh ở Giao Chỉ chia quân của bản tỉnh 28.700 người, hẹn tháng Bảy đều hội ở Tĩnh Giang, nay đã phát quân tinh nhuệ ra đi còn lại hơn 17.800 người đều là quân ốm yếu, đồn điền không thể dùng được”.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:00:16 pm
Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thuỷ khó đi, không có xe ngựa, trâu, bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể được lương cho quân 1-2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 50, 60 vạn người. Quảng Tây - Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được.  Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến 1. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia mà bàn bạc phương lược an toàn. Nếu không làm thế thì sẽ dẫm vào vết xe cũ” 2.

Trước những khó khăn thực tế của việc chuẩn bị xâm lược Hốt Tất Liệt bất đắc dĩ phải hoãn cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Khi nghe Khu mật viện tâu lên những lời của Hành tỉnh Hồ Quảng, tháng 7- 1286, hắn ra lệnh ngừng việc tập trung quân và cho quân sĩ trở về các doanh. Bọn Việt gian Trần Ích Tắc lại lủi thủi trở về Ngạc Châu (Hồ Bắc). 

Tuy nhiên, Hốt Tất Liệt không hề lãng quên mưu đồ xâm lược Đại Việt Tháng 11-1286, hắn ra lệnh cấp hơn nghìn ngựa cho Thoát Hoan. Ngày 23- 11- 1286, Hốt Tất Liệt lại cử A Ba Tri làm Hữu thừa của Chinh Giao Chỉ Hành thượng tỉnh, cơ quan lo việc chuẩn bị đánh Đại Việt. 

Sang năm 1287, Hốt Tất Liệt xúc tiến mạnh mẽ hơn việc chuẩn bị, gấp rút điều động lực lượng cho cuộc xâm lược. Cơ quan phụ trách việc xâm lược Đại Việt được gọi là Chinh Giao Chỉ Hành thượng tỉnh. Áo Lỗ Xích vẫn được cử làm Bình chương chính sự. Ngoài viên hữu thừa A Ba Tri đã cử từ trước, Hốt Tất Liệt còn lấy Trịnh Bằng Phi làm hữu thừa và A Li làm tả thừa, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm tham tri chính sự. Phần lớn các tướng là những tên đã sang xâm lược Đại Việt năm 1284 - 1285. Tất cả đều đặt dưới quyền của Thoát Hoan.

Số quân được điều động lần này có khoảng 30 vạn người 3.  Trong số đó có 1000 quân tân phụ (quân miền nam của Nam Tống cũ) do A Ba Tri chỉ huy. 70.000 quân Mông Cổ và quân Hán (người Trung Quốc miền bắc) của ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, 6000 quân Vân Nam do Ái Lỗ chỉ huy.  Ngoài ra còn có 15.000 quân người Lê ở đảo Hải Nam và một số nữa là quân lấy ở Quảng Tây.

Việc tiếp tế cho một đạo quân đông người rất nặng nề.  Không thể huy động mấy chục vạn phu gánh gạo theo quân, nên quân Nguyên lần này phải vận lương bằng đường biển. Trương Văn Hổ, con một tên cướp biển đã đầu hàng Hốt Tất Liệt được giữ chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, chỉ huy 70 thuyền vận tải chở 17 vạn thạch lương 4.

Để hộ tống đoàn thuyền lương, đồng thời cũng là mở một mũi tiến công bằng đường thuỷ vào một hướng của quân ta, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Trương Ngọc, Lưu Khuê được lệnh đem 500 thuyền chiến từ Khâm Châu tiến vào Đại Việt. Huy động 500 thuyền chiến đánh Đại Việt là một biện pháp tổ chức lực lượng chiến lược mới đáng chú ý trong cuộc xâm lược lần này.

Rút kinh nghiệm cuộc xâm lược thất bại lần trước, Hốt Tất Liệt thấy được rằng tiến công vào một xứ sông ngòi chằng chịt mà không có thuyền thì rất khó bảo đảm cơ động cho quân kỵ, bộ. Hơn nữa, qua thực tiễn, quân Nguyên cũng nhận thấy thuỷ binh của Đại Việt khá mạnh và thiện chiến.

Yêu cầu có thuỷ binh lớn mạnh càng trở nên cấp bách. Vì vậy Hốt Tất Liệt đã tăng 200 thuyền thêm vào số 300 chiếc đã chuẩn bị từ trước. Có thể Hốt Tất Liệt chưa bằng lòng với số chiến thuyền đã quy định. Đến tháng Chín âm lịch (9-10) đến 6-11- 1287) An phủ sứ Quỳnh Châu (Hải Nam) là Trần Trọng Đạt Tổng quản Nam Ninh là Tạ Hữu Khuê, Tổng quản Diên Lan là Hồ Tý Thành đem số thuyền riêng là 120 chiếc và hơn 1700 quân người Lê giúp đạo quân đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt liền ban hổ phù cho Trọng Đạt, kim phù cho Hữu Khuê và Tý Thành.


___________________________
1. Ý nói, Y lo sợ về các cuộc khởi nghĩa của nhân dân.
2. Nguyên sử, q.168, Lưu Tuyên truyện, t.8a.
3. Toàn thư. q.5, t.25a chép là vua Nguyên điều 50 Vạn quân để đánh ta. Lại chép năm 1287 khi quân Nguyên tiến vào, hội quân ở Vạn Kiếp thì quân số là 30 vạn. Tổng các loại quân chép ở Nguyên sử An Nam truyện là 92.000, chưa kể động binh (quân miền núi Quảng Tây).
4. An Nam chí lược, q.4 chép là 70 thuyền vận tải. Nguyên sử, q 209 An Nam truyện, t. 9a và q. 14 Bản Kỷ t. 7a chép là 17 vạn thạch lương. Toàn thư q.5 t.51b chép là 17 vạn thạch lương


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:03:31 pm
Hốt Tất Liệt dã chuẩn bị khá chu đáo cho cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng hắn vẫn e ngại sức mạnh của Đại Việt Hắn vẫn chưa quên thất bại thảm hại vừa qua của 60 vạn quân Nguyên, vẫn nhớ lời của Lưu Tuyên: “Nước nhỏ bé thế mà sai thân vương đem quân tiến sâu vào chưa từng thấy báo công. Toa Đô lại bị địch giết, tự lưu lại điều xấu hổ, nhục nhã” 1. Chính vì thế, trước khi đạo quân xâm lược xuất phát, ngày 19-9- 1287, Hốt Tất Liệt đã chỉ thị cho Thoát Hoan và bọn áo Lỗ Xích “không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường” 2.

Trong khi triều đình Nguyên đang ráo nết chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược, thì triều dình nhà Trần và quân, dân nước ta cũng đang nhộn nhịp chuẩn bị kháng chiến.  Sau chiến thắng oanh liệt năm 1285, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, nhà Trần vẫn giữ quan hệ ngoại giao mềm dẻo như trước. Vua Trần cử các sứ bộ mang cống vật sang triều đình Nguyên. Tháng Giêng năm Bính Tuất (26-1 đến 24-2-1286), vua Trần tha năm vạn tù binh về nước 3.

Triều đình Trần muốn tỏ thát độ nhân nhượng, để cho nhà Nguyên đỡ mất thể diện, mong tránh được cuộc chiến tranh báo thù. Nhưng bản chất xâm lược, thái độ nước lớn của nhà Nguyên không thay đổi. Các sứ thần của ta đều bị Hốt Tất Liệt bắt giữ. Trước thát độ khiêu khích của kẻ thù, triều đình Trần cũng như quân đội và nhân dân cả nước hết sức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu. Khi được tin vua Nguyên lại chuẩn bị xâm lược thì cả nước chuyển sang trạng thái sẵn sàng đánh địch.

Việc chuẩn bị kháng chiến rất khẩn trương. Nhưng với truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và tình đoàn kết nhất trí đã được thử thách trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, với kinh nghiệm phong phú của hai cuộc kháng chiến thắng lợi, triều đình và quân dân ta bước vào cuộc kháng chiến thứ ba này với một tư thế chủ động, đàng hoàng và lòng tự tin cao độ.

Tháng Sáu năm Trùng Hưng thứ hai (23-6 - 22-7-1286) Trần Nhân Tông ra lệnh cho tất cả vương hầu, tôn thất mộ thêm binh lính, chấn chỉnh lực lượng. Quân dân gấp rút chế tạo tu sửa khí giới, chiến thuyền. Hưng Đạo vương Trần  Quốc Tuấn lại được cử làm Quốc công tiết chế, đôn đốc việc chuẩn bị kháng chiến của triều đình, vương hầu và chư tướng. Các tướng được phân công trấn giữ các hướng địch có thể tiến công.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được phong làm phó tướng đóng quân ở Vân Đồn, trấn giữ vùng biển đông bắc. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được điều lên vùng Bạch Hạc, chuẩn bị chặn đánh quân địch từ Vân Nam xuống. Nhiều tướng khác được giao nhiệm vụ đem quân chặn đánh địch và bám trụ hoạt động ở các vùng hiểm yếu trên các nẻo đường tiến quân của địch từ Lạng Sơn về Thăng Long. 

Biết quân Nguyên tăng cường thuỷ binh, nhà Trần đã chú trọng tăng cường phòng thủ mặt biển.Tháng Mười âm lịch năm đó (19-10 - 16-1l-1286) một cuộc diễn tập lớn được tiến hành. Tất cả các nơi hiểm yếu đều dã có quân đóng giữ, sẵn sàng đánh địch.

Được tin quân Nguyên lại sang xâm lược, Trần Nhân Tông hỏi Trần Hưng Đạo : “Thế giặc năm nay thế nào?” Vị tướng thiên tài đó trả lời: “Nếu quân giặc lại sang thì quân ta đã quen đánh trận mà chúng thì sợ đi xa, lại bị thất bại của Hằng, Quán đe doạ, không có chí chiến đấu. Cứ như thần xem thì tất thế nào ta cũng phá được chúng” 4. Khi quân Nguyên kéo vào biên giới. Trần Hưng Đạo lại nhận định: “Năm nay đánh giặc nhàn” 5.

Với tinh thần “Sát Thát”, có quyết tâm cao tiêu diệt địch, quân sĩ ta đã ra sức luyện tập để có khả năng chiến đấu cao. Đầu năm 1287, khi quan chấp chính xin tuyển thêm quân, Hưng Đạo vương đã nói: “Quân quý ở chỗ tinh, không quý ở chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng chẳng làm gì được” 6.


______________________________
1 . Nguyên sử, q. 1 68, Lưu Tuyên truyện, t.8a-8b.
2. Nguyên sử, q. 14 Bản kỷ t. 10a.
3. Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.13b, An Nam chí lược q.2.
4, 5.  Đại Việt sử ký toàn thư q.5, t.51a -b, 52a.
6. Toàn thư q.52a. Trần Quốc Tuấn nhắc đến trận sông Phì trong lịch sử Trung Quốc. Năm 383, Bồ Kiên vua Tiền Tần (một nước ở bắc Trung Quốc), đã kéo gần 100 vạn quân đánh Đông Tấn.  Tướng Tấn là Tạ Thạch, Tạ Huyền đã đánh tan quân Tiền Tần ồ sông Phì. Bồ Kiên phải bỏ trốn về Lạc Dương, thu thập tàn quân, chỉ còn hơn mười vạn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:04:13 pm
Phản ánh những nét mới trong đánh giá âm mưu của địch, lực và thế của địch và của ta, trong ý định và quyết tâm tác chiến chiến lược đối với toàn bộ cuộc chiến tranh, trong dự báo từng bước phát triển của cục diện chiến lược, thế trận bố trí chiến lược của quân và dân ta lần này có những điểm rất khác so với hai cuộc kháng chiến trước:

- Thứ nhất, đại bản doanh và các tập đoàn chủ yếu của đại quân triều đình không bố trí ở các khu vực gần hoặc sát biên giới trên đường tiến quân chủ yếu của đại quân địch từ biên giới về Thăng Long.

- Thứ hai, một khối quan trọng của quân chủ lực của triều đình gồm có quân bộ và thuỷ binh bố trí trong khu vực từ Thiên Trường đến Tháp Sơn (Đồ Sơn) sẵn sàng cơ động đánh địch trên hướng Hải Đông. Một khối quan trọng khác của quân chủ lực bố trí giữa Thăng Long và Vạn Kiếp, sẵn sàng cơ động đánh địch trên hướng Thăng Long - Lạng Sơn. 

- Thứ ba, trên các nẻo đường dự kiến giặc sẽ tiến quân, Trần Quốc Tuấn bố trí những đội quân không lớn của triều đình trấn giữ các nơi hiểm yếu, phối hợp với quân các lộ và hương binh, thổ binh. Những lực lượng này có nhiệm vụ ngăn chặn, làm chậm bước tiến của giặc và sát thương một phần nào sinh lực của chúng; khi quân xâm lược đã đi qua thì lực lượng đã bảo toàn được không rút lui về phía sau, mà quay lại hoạt động ở khu vực cũ, trừ những lực lượng cơ động đã được giao nhiệm vụ từ trước.

Ngày 11- 10- 1287, từ Ngạc Châu (Hồ Bắc), quân Nguyên bắt đầu cuộc hành quân xâm lược nước ta. Toàn bộ quân xâm lược đặt dưới quyền chỉ huy của Trấn Nam vương Thoát Hoan, có bình chương Áo Lỗ Xích làm phụ tá. Đại quân giặc đến huyện Lai Tân (Quảng Tây) ngày 4-12-1287. Từ đây, Thoát Hoan cho tách quân thuỷ bộ. Thoát Hoan đi với quân bộ. Trấn Ích Tắc cũng được Thoát Hoan đem về theo. A Bát Xích đem một ngàn quân tiếp tục dẫn đường đưa Thoát Hoan đến châu Tư Minh. Ngày 18- 12 đến Tư Minh, Thoát Hoan dừng lại chấn chỉnh đội ngũ.

Cuối tháng 12-1287, quân Nguyên chia làm ba cánh từ ba mặt tiến công nước ta. Cánh chủ yếu do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào vùng Lạng Sơn. Cánh từ Vân Nam kéo sang theo đường sông Hồng do viên Hữu thừa Ái Lỗ chỉ huy. Cánh thuỷ binh do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy cùng với đoàn thuyền tải lương chở 17 vạn thạch lương do Trương Văn Hổ phụ trách từ Khâm Châu vượt biển tiến vào theo cửa sông Bạch Đằng.

Trên mặt trận Lạng Sơn, ngày 25- 12- 1287, quân Nguyên vượt qua biên giới đã bị quân ta chặn đánh. Sau một trận giao chiến với đội tiên phong của giặc, quân ta rút. Ngày 29- 12, đạo quân của Thoát Hoan tiến đến Lộc Châu (Lộc Bình).  Thoát Hoan chia quân làm hai cánh tiếp tục tiến công, theo con đường phía đông và phía tây qua đất Lạng Sơn như trong cuộc chiến tranh trước.

Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi chỉ huy một vạn quân Hán tiến theo con đường phía tây từ Vĩnh Bình đến Chi Lăng. Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích dẫn đại quân theo con đường qua các ải Nữ Nhi, Khả Ly (tức là từ Lộc Bình đi Sơn Động ngày nay). Lần trước, Thoát Hoan cũng tiến theo con đường này, nhưng lần này y hành động thận trọng hơn, không phải giao cho mấy tên vạn hộ đem quân mở đường như lần trước, mà đã sai tên Hữu thừa A Bát Xích làm tướng tiên phong chỉ huy một vạn quân tiến quân ở phía trước.

Cánh quân của Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi tiến qua các ải Lão Thử chi Lăng), Hãm Sa, Tư Trúc. Trên con đường này, chúng bị các lực lượng tại chỗ của ta chặn đánh 17 lần. Ngày 20-12-1287, cánh quân này đến cửa Lãnh Kinh trên sông Cầu (khoảng Đáp Cầu). Quân của Hoàng Đức hầu Quán phòng thủ ở đây đã bắn tên độc như mưa, diệt nhiều giặc. Quân Nguyên buộc phải rút về đóng ở cửa Vũ Cao (gần Bắc Giang).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:04:58 pm
Sơ đồ cuộc kháng chiến chống quân nguyên lần thứ 3

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVN-CuockhangchienchongquanNguye.jpg?t=1241795606)
Cánh quân của Thoát Hoan và Áo Lố Xích, sau khi tiến qua các cửa quan trên con đường phía đông như Nữ Nhi, Khả Ly, ngày 2-1-1288 đã đến Vạn Kiếp. Cánh quân này đã tiến khá nhanh, đi bốn ngày từ Lộc Châu đến Vạn Kiếp. Có thể là các tướng Trần đã biết đây là con đường tiến quân của đạo quân mạnh nhất của địch nên đã tránh những trận giao chiến lớn, mà chỉ đánh kìm chân giặc ở một số cửa ải rồi rút lui để bảo toàn lực lượng, bám giữ địa bàn. 

Cánh quân Vân Nam do viên Hữu thừa Ái Lỗ chỉ huy xuất phát từ trước ngày đại quân Thoát Hoan đến Tư Minh, từ Trùng Khánh (Côn Minh) đã đi đến biên giới Đại Việt.  Ngày 11-12-1287, Ái Lỗ đã cùng với các tướng A Thái và Mang Cổ Đại tiến đến Bạch Hạc, đánh nhau với bốn vạn quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở cửa Mộc Ngột (Việt Trì).

Theo sử nhà Nguyên thì trong trận này, quân ta mất một số thuyền và các tướng Trần là Lê Thạch và Hà Anh bị giặc bắt. Trần Nhật Duật lui quân. Quân Nguyên theo đường bộ, men sông Hồng tiến đánh cửa quan Phù Lương.  Trong khi các cánh quân bộ binh, kỵ binh của Thoát Hoan và Ái Lỗ ào ạt tiến vào Đại Việt thì thuỷ binh của địch cũng đã lên đường.

Sau khi tách khỏi đạo quân Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 4-12-1287, Ô Mã Nhi và phàn Tiếp đi Khâm Châu. Từ đây đoàn thuỷ binh của chúng xuất phát.  Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp trực tiếp chỉ huy gần hai vạn quân. Vài vạn quân khác do các Vạn hộ thuỷ quân Trương Ngọc, Lưu Khuê, Ô Vy chỉ huy. Đoàn thuyền lương đặt dưới quyền Trương Văn Hổ. Ngày 17- 12- 1287, chiến thuyền của bọn Ô Mã Nhi tiến trước.

Ngày 20-12-1287, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào vùng biển Vạn Ninh (Móng Cái). Khi chúng qua Ngọc Sơn (mũi Ngọc), binh thuyền của tướng Trần là Nhân Đức hầu Trần Toàn đã chặn đánh ở Đa Mỗ, diệt một số tên, thu được một số thuyền, nhưng vẫn không ngăn được mũi tiến công của Ô Mã Nhi. Đoàn thuyền của giặc tiếp tục tiến vào vùng biển An Bang.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:09:05 pm
Ở đây Trần Khánh Dư chỉ huy một lực lượng lớn thuỷ quân chặn đánh chúng nhưng ta bị tổn thất phải rút lui. Ô Mã Nhi chủ quan, chỉ huy đội chiến thuyền vượt lên trước theo sông Bạch Đằng tiến nhanh về Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan, bỏ đoàn thuyền lương chậm chạp tiến theo sau.

Nghe tin này, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã cho gọi Trần Khánh Dư về triều hỏi tội. Khánh Dư xin hoãn ít ngày, chờ lập công chuộc tội. Vì ông cho rằng đoàn thuyền chiến đã đi qua, đoàn thuyền lương sẽ vào theo. Ta có thể dễ dàng chặn đánh, tiêu diệt chúng. Trần Khánh Dư liền bố trí quân mai phục.

Tháng 1-1288, đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ không có chiến thuyền bảo vệ đã tiến vào vùng biển Hạ Long, lọt vào thế trận phục kích của Trần Khánh Dư. Quân ta từ nhiều phía tiến công mạnh mẽ đoàn thuyền lương ở Vân Đồn. Trương Văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến Lục Thuỷ (Cửa Lục) thì binh thuyền ta tiến ra đánh càng đông. Trương Văn Hổ đổ lương thực xuống biển rồi trốn chạy về Quỳnh Châu (Hải Nam) trên một chiếc thuyền nhỏ. Đoàn thuyền chở 17 vạn thạch lương đã bị tiêu diệt toàn bộ. Quân ta “bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất đông” 1.

Chiến thắng Vân Đồn có ý nghĩa rất to lớn, là một đòn mạnh đánh vào kế hoạch xâm lược của địch. Một nguồn hậu cần, trong lúc không thể cướp bóc lương thực trong dân, quân đội viễn chinh chắc chắn sẽ nhanh chóng mất sức chiến đấu. 

Vào đầu tháng 1-1288 khi cánh quân phía đông của Thoát Hoan tiến quân đến Vạn Kiếp thì cánh quân phía tây của Trình Bằng Phi và cánh thuỷ quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp cũng đến hội ở đây.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, Hưng Đạo vương đã tập trung một binh lực rất lớn để giữ Vạn Kiếp. Nhưng lấn này, lực lượng phòng thủ ở đây không nhiều và đã rút lui an toàn trước sức tiến công của địch. Về phía quân xâm lược, Thoát Hoan lại muốn củng cố vùng Vạn Kiếp thành một căn cứ vững chắc rồi mới tiến quân về Thăng Long.

Có thể là hắn đã rút kinh nghiệm từ cuộc xâm lược trước, khi hắn hối hả thúc đại quân tiến về Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại đem 1000 chiến thuyền trở lại đóng ở Vạn Kiếp. Lần đó, bị uy hiếp, hắn đã hoảng sợ phải xin Hốt Tất Liệt tăng viện. Lần này, khi tiến đến Vạn Kiếp hắn đã sai Lưu Tuyên đem hai vạn quân thuỷ bộ đánh chiếm sông Vạn Kiếp (sông Lục Đầu) và thành Linh Sơn (ở núi Chí Linh). Tích Đô Nhi được lệnh của A Bát Xích đem quân đánh chiếm thành chữ nhất 2.  Thoát Hoan sai Trình Bằng Phi, A Li, Lưu Giang chỉ huy 3 vạn quân giữ Vạn Kiếp và làm thành trại bằng gỗ ở núi Phả Lại, núi Chí Linh để chứa lương.
 
Vì chưa thấy thuyền lương của Trương Văn Hổ đến, Thoát Hoan phải sai Ô Mã Nhi đem quân cướp lương thực của dân. Tất cả các hoạt động của đạo quân Thoát Hoan nhằm dựa vào địa thế thuận lợi của sông Lục Đầu để xây dựng cát cứ điểm trên các ngọn núi dọc hai bên sông, lại tích trữ lương thảo nhằm củng cố Vạn Kiếp thành một căn cứ quan trọng và chắc chắn cho cả quân bộ và quân thuỷ kéo dài gần một tháng.

Trong khi đó, lực lượng chủ yếu của quân Trần có trách nhiệm chặn địch ở vùng này đã lui về giữ vùng sông Đống để chặn địch tiến về Thăng Long. Một bộ phận đã ở lại vùng địch chiếm đóng tiếp tục đánh chúng. Ngày 20-1-1288, vua Trần sai tướng Nguyễn Thức đem quân dũng nghĩa Thánh Dực đến giữ cửa Đại Than, tăng thêm lực lượng cho quân phòng thủ tại chỗ.

Ngày 21-1, Thoát Hoan đánh cửa Mao La, sau đó lại đánh trại Phú Sơn nhằm mở rộng khu căn cứ Vạn Kiếp.  Trong thời gian này, cánh quân Vân Nam của Ái Lỗ cũng tiến về phía Thăng Long để phối hợp với Thoát Hoan tiến đánh Kinh đô.

Ngày 27-1-1288, Thoát Hoan bắt đầu chia quân tiến về phía Thăng Long. A Bát Xích chỉ huy quân ky, bộ tiến lên trước. Ô Mã Nhi chỉ huy thuỷ binh. Phàn Tiếp đem chiến thuyền hộ vệ Thoát Hoan tiến theo dọc sông Đống. Ngày 30- 1, tướng Nguyễn Thức chặn cửa sông Đống, chiến đấu với giặc. Quân giặc bị thua, nhưng sau đó chúng lại tiến được về Gia Lâm. Ở đây, chúng lại gặp phục binh của ta, nhưng rồi quân ta lại rút lui và thuyền giặc tiến ra sông Hồng.


_________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.53a
2. Theo Nguyên sử q.133, Tích Đô Nhi truyện, t.qb. Thành chữ nhất (nhất tự thành) có lẽ là thành dọc theo sông Lục Đầu vì Nguyên sử chép Tích Đô Nhi bắt được 7 thuyền của ta trong trận này.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:09:45 pm
Bấy giờ Thoát Hoan đang ở bên bờ sông Hồng. Vua Trần phái người chú đến chỗ Thoát Hoan đóng quân giả cầu hoà để dò xét tình hình địch. Thoát Hoan sai viên Lý vấn quan Tra Gan kể tội vua Trần. Tháng 2- 1288, quân Nguyên vượt sông Hồng tiến công thành Thăng Long. Triều đình và quân ta tạm thời rút khỏi Kinh thành, lui dần xuống hạ lưu sông Hồng. Thoát Hoan huy động quân thuỷ bộ đuổi theo ráo riết.

Ô Mã Nhi bắn tin đe doạ vua Trần: Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời. Ngươi chạy xuống đất, ta theo xuống đất. Ngươi trốn lên núi, ta theo lên nút. Ngươi lặn xuống nước, ta theo xuống nước.  Nhưng chúng không làm sao bắt được vua Trần và bộ thống soái Đại Việt cũng không giao chiến được với quân chủ lực của ta. chúng điên cuồng quật lăng mộ vua Trần Thái Tông, đốt phá làng mạc, tàn sát nhân dân. Những tội ác của địch đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù của quân dân ta và càng thúc đẩy mạnh việc đánh trả của toàn dân ở bất cứ nơi nào chúng đến.

Không đạt được các mục đích đề ra, lại bị tổn thất đáng kể, Thoát Hoan phải trở về Thăng Long, củng cố vùng chiếm đóng.  Khi thấy các cánh quân của Thoát Hoan đã tiến về phía Thăng Long, bọn quân Nguyên còn lại ở Tư Minh cùng với bọn Lê Trắc cũng tiến vào Lạng Sơn. Lực lượng quân Nguyên gồm năm nghìn dư binh của các cánh do bọn Tỉnh đô sự hầu sư Vạn hộ Đạt, Thiên hộ Tiên chỉ huy.

Bọn Việt gian gồm Lê Trắc, Thiêm sự Nguyễn Lĩnh, Phủ phán Lê Án và con trai của Trần ích Tắc là Dục mới lên chín tuổi. Chúng tiến theo con đường mà Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích đã đi qua. Bọn xâm lược và bán nước này tưởng rằng quân Nguyên đã tiến sâu về phía Thăng Long thì chúng có thể yên thân tiến vào những khu vực bị chiếm đóng.

Ngày 1-2-1288, bọn phản bội và quân hộ tống tiến đến ải Nội Bàng bị quân ta chặn đánh. Vừa đến nơi, chúng đã sa vào thế trận bày sẵn của ta. Dân binh của Vũ Thành, Trần Tuấn Sơn phối hợp với quân đội đã gây cho địch thiệt hại nặng nề. Bọn giặc điên cuồng đốt phá nhà cửa của dân, bày trận quay lưng ra sông Bình Giang (sông Lục Nam) để chống lại. Cuộn chiến đấu kéo dài suốt một ngày đêm. Đến gần sáng quân địch tan vỡ, bỏ chạy bị lực lượng của ta chiến đấu ở địa phương tiêu diệt gần hết.

Trong số năm nghìn quân tiến từ biên giới vào, chỉ còn sống sót 60 ky binh. Bọn Việt gian thạo đường đã tháo chạy bán sống bán chết về phía biên giới. Nỗi kinh hoàng của giặc được toát ra trong những dòng hồi ký của Lê Trắc: “Chật vật hiểm nghèo, muôn phần chắc chết, ngày chạy mấy trăm dặm, từ nửa đêm đến tảng sáng đến châu, vọng bái cửa khuyết, mừng Tết năm Mậu Tý”. Mồng một Tết (3-2- 1288), những tên sống sót ra khỏi biên giới, đặt tiệc rượu mừng thoát chết rồi về Tư Minh.

Lực lượng nào mà có sức mạnh tiêu diệt 5000 quân xâm lược trong một ngày đêm ngay trong vùng chúng đã chiếm đóng? Đó là những lực lượng vũ trang vốn có nhiệm vụ phòng thủ vùng này gồm quân của triều dình, quân địa phương và dân binh, thổ binh các làng bản.

Họ đã từng chặn đánh địch khi chúng tiến từ biên giới xuống. Sau khi quân địch đã vượt qua, trừ một bộ phận quân triều đình có nhiệm vụ rút lui để bảo toàn lực lượng, tiếp tục chiến đấu ở tuyến sau, thì lực lượng còn lại gồm quân chủ lực làm nòng cốt và quân địa phương đã quay lại đứng vững và hoạt động sau lưng địch.

Họ có điều kiện thuận lợi là rất thông thạo địa hình, lại bất ngờ đánh địch từ trong lòng chúng, phối hợp với các lực lượng tiếp tục chặn địch đang tiến công trong một thế trận xen kẽ giữa ta và địch. Thế trận cài xen này xuất hiện rộng rãi trong cuộc kháng chiến lần thứ hai đã làm cho quân Nguyên rất hoảng sợ.

Chính vì vậy, nên Thoát Hoan đã ra sức củng cố khu vực Vạn Kiếp mong xây dựng được một vùng hậu phương an toàn. Và cũng chính vì thế mà trong cuộc xâm lược lần này, khác với cách tiến quân ào ạt lần trước, quân địch đã tiến quân thận trọng, đánh đến đâu, củng cố đến đấy.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:12:30 pm
Không bao lâu, nạn thiếu lương thực lại trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với hàng chục vạn quân xâm lược.  Thoát Hoan phải sai bọn áo Lỗ Xích và A Bát Xích cho quân đi cướp thóc gạo của dân để có lương ăn. Nhưng việc này nguy hiểm mà không có kết quả. Nguyên sử chép: “Người Giao (tức dân Đại Việt - TG) đều giấu thóc gạo rồi trốn đi” 1. 

Không những không tìm thấy thóc gạo mà nhiều nơi chúng còn bí các lực lượng vũ trang tại chỗ và dân chúng chống trả kịch liệt. Ví dụ, trong một chuyến di cướp lương của A Bát Xích, tên tuỳ tướng của hắn là Tích Đô Nhi đã bị quân ta chặn đánh ở Tháp Sơn (Đồ Sơn). Đoàn thuyền lương của   Trương Văn Hổ mãi không thấy đến. Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem một đội chiến thuyền ra biển đón thuyền lương.

Đến cửa biển An Bang (Hải Ninh), Ô Mã Nhi mới biết đoàn thuyền lương đã bị tiêu diệt. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi bị quân Trần chặn đánh nhiều lần. Ngày 10-2- 1288, chúng bị chặn đánh ở cửa Đại Bàng (cửa Văn Úc). Địch bị thiệt hại nhưng vẫn cố tiến đến vùng biển Tháp Sơn (Đồ Sơn). Đến đây chúng lại bị chặn đánh lần nửa. Tình hình đó chứng tỏ lực lượng quân Trần khá hùng hậu và sẵn sàng chiến đấu ở vùng sông biển phía đông.

Tình hình quân xâm lược rất nguy ngập. Vừa thiếu lương thực, đau ốm nhiều, vừa bị các lực lượng vũ trang và dân chúng tiến công khắp mọi nơi. Khi nghe tin đoàn thuyền lương bị tiêu diệt thì toàn bộ tướng sĩ từ trên xuống dưới lâm vào một tâm trạng tuyệt vọng. Sức chiến đấu của quân đội suy sụp nhanh.

Trong lúc đó, đại quân của ta vẫn còn nguyên vẹn, sẵn sàng chờ thời cơ phản công. A Bát Xích bàn với Thoát Hoan: “Giặc bỏ sào huyệt trốn vào núi, biển là có ý đợi chúng ta mệt mỏi rồi thừa cơ đánh lại. Tướng sĩ phần nhiều là người phương bắc, lúc Xuân Hè giao nhau, chướng khí lại hoành hành, nếu chưa bắt được giặc thì ta không thể giữ lâu được. Nay chia quân bình định các nơi, chiêu hàng những người quy phục, ngăn cấm quân lính không được cướp bóc, kịp bắt ngay Nhật Huyên (tức Trần Thánh Tông - TG), đó là thượng sách” 2.
 
Mưu kế này không thể thực hiện được vì ngược lại những điều mà quân địch và quân, dân ta đang làm. Qua đó có thể thấy rõ chúng đã thú nhận sự phá sản của âm mưu đánh bại ta bằng hành động quân sự.  Trong tình hình đó và rút kinh nghiệm thất bại lần trước, Thoát Hoan thấy đại bản doanh để ở Thăng Long không an toàn. Tháng 3-1288, hắn ra lệnh đốt phá Kinh thành rồi rút quân về Vạn Kiếp.

Con đường từ Thăng Long về Vạn Kiếp đã bị quân ta kiểm soát. Tuy đây là hậu phương của chúng, nhưng quân Nguyên phải chiến đấu để mở đường mới đi được. Nguyên sử chép rằng: “Trấn Nam vương trở về Vạn Kiếp, A Bát Xích đem quân tiên phong cướp cửa ải, bắc cầu phao, phá cửa Ba Sông (Tam Giang khẩu)” 3. Tân Nguyên sử chép rằng, chính ở trận cửa Ba Sông này, Vạn hộ Đường Tông bỏ mạng 4. 

Sau khi trỏ về Vạn Kiếp, Thoát Hoan lại sai A Bát Xích đem quân đánh vào căn cứ của ta ở Trúc Động (Thuỷ Nguyên) và vùng cửa An Bang (Quảng Ninh). Hoạt động này chứng tỏ Thoát Hoan lo lắng cho sự an toàn trên con đường ra vào của thuỷ quân của chúng. Đồng thời cũng chứng tỏ y muốn nới lỏng phần nào thế bao vây của quân Trần quanh Vạn Kiếp. Nguyên sử cũng phải thú nhận: Những nơi xung yếu đã chiếm được, nay đều thất thủ.

Khu căn cứ Vạn Kiếp mà hắn đã tốn bao công sức để xây dựng nay cũng không còn là nơi an toàn. Tình cảnh lương thực thiếu, quân số hao hụt, quân tướng ốm đau vì thời tiết, lại bị quân ta tiến công liên tục vẫn tiếp diễn nặng nề hơn.  Không còn con đường thoát nào khác, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước.

_______________________
1. Nguyên sử, q.166 - Phàn Tiếp truyện, tr.10b.
2. Nguyên Sử, q.166, Phàn Tiếp truyện, tr.10b.
3. Nguyên sử, quyển 209, t .9b. Đây là nơi sông Bình Than (Lục Đầu) sông Cầu, sông Thương giao nhau.
4. Tân Nguyên sử, q. 180, Đường Tông truyện, t . 14b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:17:33 pm
Bọn tướng đã nói với Thoát Hoan: “ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ. Không có lương thực để ăn, mà thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khí trời đã nóng nực. Sợ lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình. Nên toàn quân mà về thì hơn” 1.

Thoát Hoan cũng phải thừa nhận: “ở đây nóng nực, ẩm thấp, lương hết, quân mệt” 2.  Điều lo lắng lớn của giặc là rút quân theo đường nào?  Bọn tướng thuỷ binh đề nghị: “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm, chi bằng huỷ thuyền đi dường bộ là thượng sách” 3. Nhưng phần lớn bọn tướng khác đã trải qua nỗi kinh hoàng của cuộc rút lui theo đường bộ trong cuộc chiến tranh trước không tán thành đề nghị đó. Họ cho rằng rút lui theo hai đường thuỷ, bộ sẽ chia sẻ được lực lượng ta, hy vọng có bộ phận thoát được cũng nhiều hơn. Cuối cùng Thoát Hoan quyết định chia quân làm hai đạo, theo hai đường thuỷ bộ lui quân. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy đạo thuỷ binh rút lui trước theo đường sông Bạch Đằng. Thoát Hoan tự chỉ huy đạo quân bộ rút theo đường Lạng Sơn về nước. 

Toàn bộ tình cảnh và ý đồ chiến lược của Thoát Hoan từ đầu cuộc chiến tranh nằm trong dự báo chiến lược của Bộ Thống soái Đại Việt và Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn dự báo thế nào địch cũng phải rút lui chiến lược và cuộc rút lui phải được thực hiện theo hai đường thuỷ, bộ. Trên khắp các ngả đường quân địch có thể rút quân, quân ta đã được bố trí và chuẩn bị chờ sớm diệt địch.

Từ đầu cuộc chiến tranh, Trần Que Tuấn đã dự báo cuộc  rút lui của thuỷ binh Nguyên qua sông Bạch Đằng, chọn sông Bạch Đằng làm chiến trường của một trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt thuỷ binh là lực lượng chủ lực tinh nhuệ mới xây dựng của địch - lực lượng chúng gửi gắm nhiều hy vọng trong các cuộc chiến tranh xâm lược sau này.

 Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào. Dòng sông rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng Kênh bám sát bờ, bên trái là rừng cây um tùm. Sông Bạch Đằng đổ thẳng ra biển theo cửa Nam Triệu và theo mấy nhánh sông phía tả ngạn như sông Chanh, sông Kênh, sông Rút.

Trên dòng sông chảy ra cửa Nam Triệu, ghềnh Cốc là một bãi đá ngầm chạy ngang qua sông Bạch Đằng phía dưới cửa sông Chanh. Khi nước triều xuống, đây là một bãi chướng ngại rất nguy hiểm đối với các loại thuyền. Cho nên các thuyền đi ra biển, nhất là các thuyền lên Khâm Châu thường đi đường sông Chanh là đường ngắn nhất và thuận tiện nhất. Từ hữu ngạn sông Đá Bạc còn có một nhánh sông (sông Giá), chảy theo phía tây dãy núi Trành Kênh, đổ ra sông Bạch Đằng phía trên cửa sông Chanh một đoạn. 

Ý định tác chiến của Trần Quốc Tuấn là buộc thuỷ quân rút lui của địch phải đi vào sông Bạch Đằng, rẽ vào sông Chanh, tiêu diệt chúng trong một trận quyết chiến lớn ở khu vực sông Bạch Đằng và sông nhánh. Trần Quốc Tuấn đã cho quân, dân ta đẵn gỗ lim, gỗ táu trên rừng về, đẽo nhọn, cắm xuống sông thành nhiều bãi chướng ngại vật ở những nơi hiểm yếu ta định đánh địch, chủ yếu là trên sông Chanh, một phần trên sông Kênh, sông Rút. Các bãi cọc chắn ngang sông, cách ngã ba sông, nơi nước sông Bạch Đằng đổ vào sông Chanh, sông Kênh, sông Rút khoảng 400 mét 4.

Cách đánh của Ngô Quyền từ thuở phá quân Nam Hán lại một lần nữa được vận dụng sáng tạo với đặc điểm là Ngô Quyền đánh địch từ biển vào còn Trần Quốc Tuấn đánh chúng từ trong sông đi ra biển.  Trong ý định này, mức nước thuỷ triều lên xuống ở khu vực các bãi cọc trong các thời gian khác nhau trong ngày, trong tháng đã được Trần Quốc Tuấn trực tiếp tìm hiểu. 


_______________________________
1. Nguyên sử, q. 209, t . 9b.
2, 3. An Nam chí lược, q.4.
4. Theo Nguyên Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr.301, tại cánh đồng xã Yên Giang, bên bờ trái sông Chanh, từ năm 1953 trở đi, nhân dân địa phương đã đào tìm được khoảng vài trăm cọc gỗ. Cánh đồng này xưa vốn là dòng sông Chanh, nhưng cát bồi dần bên bờ trái nên lòng sông Chanh chuyển dần xuống phía dưới như vị trí ngày nay. Từ năm 1958, các nhà khảo cổ đã tiến hành bốn đợt khảo sát, khai quật tại khu vực cánh đồng Yên Giang này (thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) vào các năm 1958, 1964, 1965, 1976. Các cọc được phát hiện đều làm bằng gỗ lim, hoặc gỗ táu còn nguyên vỏ, cọc dài nhất khoảng 2 m98, cọc ngắn nhất là lm40, đường kính từ 0m18 đến 0m33, phần cọc được đẽo nhọn để cắm xuống bùn đất dài khoảng từ 0m50 tới 1m. Cọc cắm thành hàng, cọc nọ cách cọc kia khoảng trên dưới 1m. Giữa các hàng cọc, có những khúc gỗ đặt ngang.
Tại sông Bạch Đằng, nước triều lên xuống mạnh nhất là ở kỳ nước cường: mực nước triều khi dâng cao và khi xuống thấp chênh lệch nhau tới hơn năm thước (hai mét). Trái lại, khi không phải kỳ nước cường thì mực nước triều cao thấp chỉ chênh nhau khoảng hơn một thước (khoảng nửa mét).[/color]


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Năm, 2009, 01:22:54 pm
Nhiều hoạt động chuẩn bị và thực hành tác chiến phụ thuộc vào con nước. Muốn đóng các cọc gỗ, phải chọn lúc nước triều đang lên cao, nhưng muốn cho bãi cọc phát huy tác dụng phá thuyền giặc phải chọn lúc nước triều đang xuống, vừa để bộc lộ hàng cọc khỏi mặt nước, vừa để cho dòng nước đang rút chảy mạnh từ sông Bạch Đằng vào sông Chanh, sông Kênh, sông Rút, xô thuyền giặc vào bãi cọc.

Trần Quốc Tuấn hẳn cũng tính rằng thuyền của giặc phần nhiều là thuyền lớn, đi biển. Nay đi trong sông, chúng phải chọn thời kỳ nước triều cường. Vấn đề đặt ra phải là kiềm chế địch từ khi chúng xuất phát, suốt trong thời gian nước triều cường, dẫn dắt chúng đến đầu bãi cọc vào lúc nước triều bắt đầu xuống thấp.

Một bà bán hàng nước ở một bến đò ngang trên sông Bạch Đằng đã giúp Trần Quốc Tuấn xác định các kỳ con nước và tình hình thuỷ triều lên xuống trên sông Bạch Đằng 1.  Kiến thức của quần chúng cộng với trí tuệ của lãnh đạo đã đưa đến mưu lược lớn và thắng lợi vang dội. 
 
Trong dãy núi Tràng Kênh ở hữu ngạn cũng như trong các khu rừng rậm rạp ở tả ngạn, quân bộ của ta đã chiếm lĩnh các địa hình có lợi, sẵn sàng đánh địch từ phía sông tiến lên. Và trong các khe ngách hai bên sông Bạch Đằng các đội thuỷ binh của ta đã mai phục, sẵn sàng xuất kích.  Phía ghềnh Cốc, một lực lượng thuỷ binh của ta cũng đã được bố trí sẵn, kết hợp với thế hiểm trở của ghềnh, không cho thuỷ binh địch lợi dụng khe hở tiến xuống cửa Nam Triệu. 

Thế trận bao vây, tiến công địch, sẵn sàng dồn chúng vào cái bẫy lớn của quân ta đã được hình thành, hiểm và chắc.  Theo truyền tụng dân gian và gia phả các dòng họ ở địa phương, thì nhân dân dọc hai bên bờ sông Bạch Đằng, sông Giá, sông Chanh và nói chung cả vùng ven biển đều tích cực tham gia công việc chuẩn bị trận đánh trên sông Bạch Đằng, như xác định các kỳ con nước của sông Bạch Đàng, định vị trí cắm cọc trong lòng sông, làm cọc, đóng cọc, làm bè hoả công, giúp lương thực và tổ chức những đội dân binh để phối hợp chiến đấu với quân đội của triều đình.

Ngày 30-3- 1288, đạo quân thuỷ của địch do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy bắt đầu rút, trên bờ có kỵ binh do Trình Bằng Phi và Tháp Xuất chỉ huy đi hộ tống. Quân dân ta đã phá cầu đường, chặn đánh liên tục, buộc đội kỵ binh phải quay trở lại Vạn Kiếp. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi không được bảo vệ trên bờ nối đuôi nhau theo sông Đá Bạc tiến ra sông Bạch Đằng.

Ngày 8-4- 1288, một đội thuyền đi trước dò đường do Vạn hộ Lưu Khuê chỉ huy tiến vào sông Giá với ý định đưa thuỷ binh lớn gồm hàng trăm chiến thuyền nặng rút theo nhiều đường để bảo đảm an toàn và tăng thêm tốc độ lui quân. Đến Trúc Động (Thuỷ Nguyên) đội thuyền này bị quân ta chặn đánh kịch liệt. Bị tổn thất, đoàn thuyền địch phải quay trở lại sông Đá Bạc. Đường sông Giá bị bịt, toàn bộ đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi buộc phải theo sông Đá Bạc xuôi về sông Bạch Đằng, nơi ta đã chuẩn bị xong chiến trường để tiêu diệt chúng.

Cuộc chiến đấu ngăn chặn quân địch rút lui được thực hiện quyết liệt từ ngày 30-3-1288 đến hết ngày 8-4, suốt cả thời gian nước thuỷ triều đang cường. Quân Nguyên phải thú nhận rằng suốt dọc đường từ Vạn Kiếp ra đi, quân Trần “đã nghênh chiến, đại chiến liên tục ngày này sang ngày khác” 2.
 
Bị đánh mạnh và liên tục nên mặc dù nước chảy xuôi dòng, tốc độ lui quân của địch rất chậm. Từ Vạn Kiếp tới chỗ rẽ vào sông Giá, đường thuỷ chỉ dài không đến 50 km, mà giặc phải đi mất 10 ngày.

Theo tin tức về các kỳ con nước thuỷ triều lên xuống có tính quy luật mà bà hàng nước mách bảo, Hưng Đạo vương đã tính toán và nắm chắc được thời gian nước thuỷ triều rút nhanh và mạnh nhất là vào sáng ngày 8-3 âm lịch (tức là sáng ngày 9-4- 1288) và quyết định kìm giữ, dẫn dắt đoàn thuyền đến trước các hàng cọc gỗ ta đã đóng sẵn đúng vào lúc đó.


____________________________
1. Theo Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr.303. Khi bà mất, nhân dân địa phương lập đền thờ tại xã Yên Giang thuộc huyện Yên Hưng (bên bờ trái sông Chanh), dựng bia ghi công và tôn xưng là Vua Bà. 
2. Nguyên sử, q. 166, Trương Vĩnh Thục truyện, t.16a. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:36:14 pm
Sáng ngày 9-4, đoàn thuyền địch bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng. Lúc bấy giờ nước triều còn cao, che khuất các bãi cọc. Thuỷ binh ta vẫn tiếp tục chiến đấu ngăn chặn địch. Chờ lúc nước triều bắt đầu xuống, một đội thuyền của ta được lệnh tiến lên khiêu chiến rồi giả thua vừa đánh vừa rút, dẫn đoàn thuyền địch đi vào hướng các bãi cọc 1. Ô Mã Nhi liền ra lệnh đuổi theo.

Nước triều xuống thấp dần. Khi đoàn thuyền địch vừa lọt vào trận địa mai phục, từ các ngách sông, những đội thuyền nhẹ của ta lao ra bất ngờ tiến công, đánh tạt sườn vào đội hình của địch, dồn chúng về phía các bãi cọc. Phàn Tiếp vội cho một số thuyền áp sát bờ sông phía Tràng Kênh, thúc quân đổ bộ lên bờ, toan chiếm núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút. Nhưng lực lượng quân ta phục sẵn trong núi, do Trần Quốc Bảo chỉ huy đã đánh hắt chúng xuống. 

Quân thuỷ bộ của ta đổ ra mỗi lúc một đông. Trước hết là quân Thánh Dực do tướng Nguyễn Khoái chỉ huy. Tiếp đó,  hai vua Trần cũng dẫn đại quân đến. Trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Quân ta bám sát địch, bắn tên nhơ mưa. Giặc chết rất nhiều, máu chảy đỏ cả khúc sông.

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVNT4-Cocgo.jpg?t=1241795528)

Nước triều xuống gấp. Chiến thuyền của địch vừa to vừa nặng lại lao nhanh theo dòng nước đang chảy xiết nên vấp phải cọc gỗ, một số bị tan vỡ và bị đắm. Đội hình của địch bị dồn lại, rối loạn. Quân ta lao những bè lửa đã chuẩn bị sẵn trôi xuống, thuyền giặc nhiều chiếc bén lửa bốc cháy ngùn ngụt. Nhân dân địa phương đã tả lại khí thế mãnh liệt của trận đánh hoả công trong câu thơ:

Bạch Đằng nhất trận hoả công,
Tặc binh đại phá huyết hồng mãn giang.

(Bạch Đằng một trận hoả công,
Đại phá binh giặc máu hồng tràn sông
).

Đại Việt sử ký toàn thư thì ghi: “Quân Nguyên chết đuối không kể xiết, nước sông đỏ ngầu”. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt từ mờ sáng đến chiều tối.  Phản ánh tính quyết liệt và hùng tráng của cuộc chiến, Trương Hán Siêu, một môn khách của Hưng Đạo vương đã viết trong bài Phú sông Bạch Đằng:

Bấy giờ.
Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới,
Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói,
Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối,
Trời đất rung rinh chừ sắp tan
Nhật nguyệt u ám chừ mờ tối. . .


Với khí thế tiến công dũng mãnh, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo quân thuỷ của địch. Tên tướng Ô Mã Nhi bị bắt sống.  Tên phó tướng Phàn Tiếp bị thương nhảy xuống sông, quân ta dùng câu liêm móc lên. Nhiều tên tướng khác cũng bị bắt như viên đại quý tộc Tích Lệ Cơ và viên quan giữ văn thơ đi theo Ô Mã Nhi là Lý Thiên Hựu. Quân giặc bị giết, chết đuối và bị bắt rất nhiều. Quân ta thu được hơn bốn trăm thuyền chiến.

Trận Bạch Đằng (1288) đã đập tan ý chí xâm lược của nhà Nguyên và là đỉnh cao tuyệt vời của sức mạnh và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đó.


__________________________
1. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr. 305.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:39:11 pm
Ngày 8-4-1288, Thoát Hoan bắt đầu rút quân từ Vạn Kiếp theo hướng Lạng Sơn. A Bát Xích đi trước mở đường với một lực lượng được lựa chọn. Tích Đô Nhi chỉ huy cánh quân rút theo đường phía tây. Thoát Hoan cùng bản đội rút theo đường phía đông. Cánh quân của Tích Đô Nhi tiến đến cửa Hãm Nê thì bị quân ta chặn đánh kịch liệt. Tích Đô Nhi không qua được phải quay về con đường phía đông, làm cho mật độ quân rút lui ở hướng này càng thêm dày đặc.

Trên các nẻo đường lui quân của giặc, lực lượng chủ lực và địa phương của ta đã chiếm lĩnh trước các địa hình lợi hại chặn đánh và truy kích địch liên tục. Biết bao kỵ binh địch đã sa xuống hố bẫy ngựa mà quân dân ta đã đào trên đường. Biết bao quân tướng bị tên tẩm thuốc độc bắn trúng từ trong rừng rậm, từ trên núi cao. Biết bao hành động yêu nước và cách đánh sáng tạo của quân và dân ta với chí căm thù giặc cao độ đã gây cho địch những tổn thất hết sức nặng nề.

Ngày 11-4-1288, Thoát Hoan dẫn quân chạy đến cửa quan Nội Bàng, lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Quân Nguyên phải “hết sức đánh”.  Lưu Thế Anh và Vạn hộ Đáp Lạt Xích phải liều chết mở đường máu mới thoát ra được. Nhưng quân ta vẫn tiếp tục truy kích. Thoát Hoan phải cho Vạn hộ Trương Quân chỉ huy ba nghìn quân tinh nhuệ đi sau hộ vệ.

Vừa qua khỏi cửa Nội Bàng, quân Nguyên lại được tin quân ta đã đóng ở cửa Nữ Nhi và núi Khâu Cấp, “ba mươi vạn quân Trần rải ra suốt hơn một trăm dặm” 1 để chặn đường về của chúng. Thoát Hoan hoảng sợ vội quay theo đường tắt qua huyện Đơn Uỷ về Lộc Châu để ra khỏi biên giới. Tình cảnh quân Nguyên lúc đó thật là khốn khổ.

Nguyên sử chép: “Lúc đó quân ta đã thiếu ăn, lại mệt vì chiến đấu, các tướng nhìn nhau thất sắc” 2, chúng phải “cố xông vào mà đánh” 3, “buộc vết thương lại mà đánh” 4. A Bát Xích chết vì trúng ba mũi tên độc.  Xác giặc nằm rải ra trên đoạn đường dài gần trăm dặm. Mãi đến ngày 19-4-1288, Thoát Hoan và tàn quân của hắn mới về đến Tư Minh.

Cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Nguyên đã bị đập tan. Ngày 18-4-1288, hai vua Trần về phủ Long Hưng đem theo bọn tù binh Ô Mã Nhi và các tướng Nguyên khác làm lễ hiến tiệp ở lăng Trần Thái Tông. Trần Nhân Tông đã biểu lộ cảm xúc trong hai câu thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng
). 

Ngày 28-4-1288, các vua Trần và triều đình trở về Kinh đô Trước cảnh cung điện và phố xá bị thiêu huỷ, tàn phá,  vua Trần ban lệnh đại xá thiên hạ, miễn tô dịch toàn phần cho những nơi bị giặc cướp phá.

*

*       *

Có thể rút ra mấy nhận xét về cuộc kháng chiến lần này về địch và ta:

Về địch:

- Quân thù tiến quân thận trọng, củng cố từng bước, không ồ ạt như lần trước.

- Lực lượng thuỷ quân được sử dụng trên một hướng tiến công chiến lược.

- Vấn đề chuẩn bị lương thực đã được coi trọng hơn.

- Mục tiêu chiến lược của quân Nguyên vẫn là bắt được vua Trần và tiêu diệt quân đội của ta bằng cách giao chiến trực tiếp. Tơ tưởng chỉ đạo chiến lược cơ bản vẫn là đánh nhanh thắng nhanh.

Nhưng thế trận cả nước đánh giặc của ta được triển khai có tổ chức, chặt chẽ hơn cuộc kháng chiến trước đã sớm làm mất sức chiến đấu của quân Nguyên, không cho chúng thực hiện các mục tiêu chiến lược đó.


___________________
1. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện, t.10a. 
2, 3. Nguyên sử, q.133, Tích Đô Nhi truyện.
4. Nguyên sử, q.129, Lai A Bát Xích truyện, t.2a.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:39:54 pm
Về phía ta:

- Triều đình và Bộ Thống soái nhà Trần đã rút được nhiều kinh nghiệm quan trọng từ hai cuộc kháng chiến trước, nắm chắc quy luật hành động của địch và đánh giá đúng âm mưu và khả năng của địch cũng như tinh thần và khả năng chiến đấu của quân, dân ta. Quân và đần ta đã có kinh nghiệm đánh địch và đã được chuẩn bị sẵn sàng về các mặt.

Cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Mông Cổ diễn ra trong điều kiện quân, dân ta từ khi thành lập triều Trần chưa hề trải qua trận mạc. Cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nguyên diễn ra khi quân dân ta đã trải qua gần 30 năm không có chiến tranh, tuy đã có một số kinh nghiệm của cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Cuộc xâm lược lần thứ ba của kẻ thù diễn ra chỉ sau ba năm, quân, dân ta được rèn luyện trong cuộc kháng chiến thắng lợi lần thứ hai. Trên, dưới đều có kinh nghiệm chiến đấu, khí thế chiến thắng còn nóng hổi.  Đó là một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến lần này. 

- Dự kiến chiến lược về quá trình diễn biến cuộc chiến tranh được xác định sắc sảo và chính xác. Việc bố trí thế trận chiến lược biểu lộ một tinh thần tự tin lớn: Các khối chủ lực được bố trí một cách táo bạo mà đúng đắn. Không đưa lên gần biên giới mà đặt gần chỗ sẽ diễn ra trận quyết chiến chiến lược. Hai khối quân phụ trách đánh trận Bạch Đằng và trận đánh quân địch rút lui đường bộ đã được bố trí sẵn từ trước khi địch kéo vào nước ta. Vai trò và tác dụng của lực lượng tại chỗ trên các hướng được nâng cao hơn trước.

- Chỉ đạo chiến lược qua từng bước của cuộc kháng chiến được thực hiện bình tĩnh, đàng hoàng, chủ động. Chỉ đạo tác chiến đã tỏ ra rất sắc bén, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự trong trận Bạch Đằng. Không những đã điều động buộc quân giặc phải rút quân theo ý định của mình về hướng đi và thời gian đến, mà còn tổ chức hiệp đồng các lực lượng chặt chẽ, đưa đoàn thuyền địch vào các bãi cọc vừa đúng lúc thuỷ triều rút mạnh, khiến giặc bị đẩy vào đất chết mà không thể nào cưỡng lại được.

Qua thực tế diễn biến cuộc kháng chiến, có thể thấy Trần Quốc Tuấn đã dự kiến trước từ đầu cuộc chiến tranh:

- Mặc dù thay đổi thủ đoạn xâm lược, thế nào quân Nguyên cũng phải thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh và bị sa lầy vào thế trận cả nước đánh giặc đã được bố trí sẵn.

- Trong thế bị sa lầy, mất nguồn tiếp tế, thế nào quân Nguyên cũng phải rút lui chiến lược.

- Cuộc rút lui chiến lược thế nào cũng phải theo hai đường thuỷ, bộ.

- Quân thuỷ của địch thế nào cũng phải rút theo sông Bạch Đằng. Và trận quyết chiến chiến lược nhất định sẽ diễn ra ở khu vực quân Trần đã chuẩn bị, vào sáng ngày 8 tháng Ba âm lịch (tức 9-4-1288), lúc nước thuỷ triều xuống nhanh và mạnh nhất.

Trong cuộc kháng chiến lần này, phương hướng và mục tiêu đánh đòn quyết định cũng được xác định một cách đúng đắn và sáng tạo. Đi đôi với việc nhằm tiêu diệt sinh lực địch thì đã thực hiện những đòn rất hiểm, rất đau vào đoàn thuyền lương của địch, vào thuỷ binh của chúng.

Trong điều kiện cả nước đánh giặc trên đất ta, địch không thể thực hiện âm mưu quen thuộc của chúng lấy lương thực tại chỗ để nuôi quân, thì việc tiêu diệt đoàn thuyền lương là một đòn chí tử đánh vào sức chiến đấu của quân xâm lược.

Việc tiêu diệt thuỷ binh địch càng có tác dụng quan trọng hơn. Nếu kỵ binh Mông Cổ là con chủ bài để chiến thắng trên những chiến trường lục địa rộng lớn ở châu Âu và Trung Quốc thì thuỷ binh là con chủ bài để hy vọng chiến thắng trên các vùng sông biển ở châu Á. Việc tiêu diệt trong một trận một lực lượng thuỷ binh lớn gồm 500 - 600 thuyền chiến là một đòn quyết định đánh vào ý chí xâm lược của quân Mông - Nguyên đối với nước Đại Việt và cũng là đòn cảnh cáo rất mạnh đối với mưu đồ xâm lược các nước khác ở đông Nam Á. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:41:14 pm
V. CUỘC ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG HOÀ BÌNH SAU CHIẾN THẮNG

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến lần thứ ba, vua Trần rất cảnh giác với tham vọng điên cuồng của triều Nguyên - tên đế quốc xâm lược to lớn xấu hổ vì đã bị đánh bại, cố gắng giữ vững hoà bình, tránh cho đất nước những cuộc chiến tranh xâm lược mới.

Triều đình Trần đã giữ quan hệ ngoại giao bình thường với triều Nguyên. Sau khi Thoát Hoan thua trận chạy khỏi biên giới, vua Trần đã sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng và Tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông đi sứ Nguyên.

Trong bài biểu gửi Hốt Tất Liệt viết tháng 5 - 1288, vua Trần đã dùng lời lẽ mềm mỏng, nhưng đồng thời cũng vạch rõ tội ác của quân giặc: Năm Chí Nguyên thứ 22 (1285) Bình chương A Lý Hải Nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chiếu 1, vì thế mà sinh linh một nước nhỏ chúng tôi phải chịu lầm than. Mùa đông năm Chí Nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thuỷ bộ tiến đánh, cướp giết dân chúng già trẻ, phá phách sản nghiệp trăm họ, không sót điều tàn ác gì không làm . . . Đến khi nhờ được thái tử thương xót (?) nghe theo lời kêu xin của nước chúng tôi rút đại quân về, tham chính Ô Mã Nhi lại đem quân thuyền đi riêng ra ngoài biển, bắt hết nhân dân ven biển, lớn thì giết, bé thì cướp đi, cho đến cả treo, trói, mổ, cắt, vứt mình một nơi, đầu một ngả.  Trăm họ bị bức đến chỗ chết, mới nổi lên cái hoạ chim cùng thú quẫn”.

Trong tờ biểu, vua Trần đã nhắc đến việc trả tù binh, với những lời lẽ trân trọng, cốt xoa dịu lòng căm tức của vua Nguyên: Thấy bách tính đưa đến một người là Đại vương Tích Lệ Cơ, nói là bậc quý thích của đại quốc. Thần từ hôm đó đã lấy lễ đối đãi rất mực tôn trọng, kính hay không kính thì đại vương tất rõ, còn những hành vi tàn bạo của Ô Mã Nhi, đại vương trông thấy tận mắt, vi thần không dám nói dối. Tiểu quốc thuỷ thổ độc, viêm chướng nhiều, thần lo ở lại lâu ngày sinh ra bệnh tật, tuy vi thần đã cố hết sức phụng dưỡng cũng không khỏi bị những bọn tham công ngoài biên cương vu tấu đặt điều cho nên tội. Vi thần kính xin sắm đủ lễ vật đi đường sai người đến biên giới đưa đại vương về nước.  Ngoài ra, đại quân rơi rớt lại còn hơn nghìn người thần đã ra lệnh cho trở về hết, sau này nếu còn tìm được người nào, thần cũng sẽ cho về. . .

Về phía vua Nguyên, Hốt Tất Liệt rất giận dữ về thất bại của cuộc xâm lược lần thứ ba. Khi Thoát Hoan lần thứ hai bại trận trở về, chúa Mông Cổ Hốt Tất Liệt nổi giận đuổi con trai của hắn ra Dương Châu và hạ lệnh suất đời không cho gặp mặt. Tên tướng phụ tá cho Thoát Hoan là Áo Lỗ Xích cũng bị đuổi đi Giang Tây.

Hốt Tất Liệt cay cú, rắp tâm chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới đối với Đại Việt. Trong hoàn cảnh lúc đó, việc làm này không dễ dàng. Trong lúc chờ đợi, hắn lại trở lại dùng phương pháp cũ là cử sứ sang Đại Việt, vừa nhằm giải quyết vấn đề cấp bách là yêu cầu ta thả tù binh, vừa dùng lời lẽ đe doạ vua Trần, bắt vua Trần phải khuất phục, sang chầu vua Nguyên.

Trong chiếu thư do sứ giả mang sang, Hốt Tất Liệt dùng lời lẽ trịch thượng, láo xược, đồng thời rất gian xảo, đổi trắng thay đen hòng che dấu thất bại thảm hại vừa qua của quân xâm lược và thắng lợi to lớn của quân, dân ta.

Ngày 12- 12-1288, Hốt Tất Liệt cử Lưu Bình Trực, Đề hình án sát sứ đạo Sơn Bắc Liêu Đông cầm đầu một sứ bộ sang ta, mang theo hai yêu sách:

Thứ nhất là đòi vua Trần vào chầu. Trong tờ chiếu có đoạn viết: Nếu quả do lòng thành thì sao không tự mình đến mà bày tỏ? Sao lại hễ nghe sai tướng sang đánh thì lo trốn tránh, hễ thấy quân rút về thì lại đánh tiếng vào cống. . .  Ngươi thử nghĩ nếu cứ sống lén lút trên non dưới biển, ngày nào cũng lo quan quân kéo đến thì sao bằng vào khuyết đình chịu mệnh để hưởng sung sướng. Trong hai chước đó, chước nào hay chước nào dở? . . . Nếu ngươi sửa soạn đồ đạc sang ngay, đủ rõ nghĩa bề tôi, thì trẫm sẽ tha hết tất cả các tội lỗi trước kia, phục hồi các tước phong cũ. Nếu còn chần chừ không quyết thì hãy nên tu sửa thành quách, rèn luyện giáp binh tự ý ngươi muốn làm gì thì làm để chờ trẫm cất quân đi . . . .

Thứ hai là đòi vua Trần trả hết tù binh, đặc biệt phải giao trả Ô Mã Nhi. Chiếu thư viết: Tích Lệ Cơ là người tộc thuộc của ta, ngươi đã lấy lễ cho về. . . Nếu ngươi lấy chuyện đó tô vẽ thêm thì hãy đem bọn quân quan Ô Mã Nhi Bạt Đô trả về, như thế mới tỏ được lòng trung thuận . . . Bọn ấy nếu phải xử lý thế nào, trẫm sẽ khu xử hoàn bị. Ngươi phải cho đưa họ về tất cả.


_____________________
1. Vua Trần nhắc đến tờ chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1261, quy tội cho A Lý Hải Nha, nhưng thực ra muốn nói đến sự bội ước của Hốt Tất Liệt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:44:16 pm
Vua Trần tiếp đãi tử tế sứ bộ. Nhưng tất cả các yêu sách của Hốt Tất Liệt đều không được giải quyết. Sứ bộ Lưu Đình Trực phải trở về không. Trong thư gửi Hốt Tất Liệt, Trần Nhân Tông đã biện bạch về việc không sang chầu và về cái chết của Ô Mã Nhi một cách mềm mỏng và dứt khoát:

“Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, ốm đau lâu ngày, đường sá xa xôi, thuỷ thổ gian nan, tuy số mệnh do trời định nhưng cái chết vẫn là điều sợ nhất đối với con người. . .

Năm ngoái, nhân dân tiểu quốc đưa đến những quan quân còn sót lại. Vì thần tự xét hỏi, chỉ được ba người là Đại vương Tích Lệ Cơ, Tham chính Ô Mã Nhi và Tham chính Phàn (chỉ Phàn Tiếp -TG). Trăm họ đều căm giận vì vợ con bị giết chóc, nhà cửa bị đốt phá, nhiều người muốn làm điều trái nghĩa, nhưng vi thần hết lòng che chở, cấp dưỡng rất hậu, thê thiếp họ đều được ăn mặc đầy đủ. Trước khi về đã sắm đủ hành lý, đặc sai sứ thần là Tòng nghĩa lang Nguyễn Thinh đi theo Đại vương Tích Lệ Cơ cùng Đường Ngột Đãi vào cửa khuyết. Trong khi đó hai quan tham chính còn chậm lại sau vì đại quân vừa lui ý sợ tham chính chưa nguôi lòng giận ắt sinh ra tai vạ nên để chậm lại rồi mới sai đưa ra bến thuyền để lên đường.

Ngờ đâu kẻ vi thần vô phúc, việc xảy ra trái với ý muốn. Phàn tham chính bỗng phát cơn sốt, vi thần đã dốc hết thuốc thang, thuê bộ hạ tìm thày chạy chữa, nhưng cũng không khỏi, đến phải bỏ mạng. Vi thần đã hoả táng, làm ma chay rồi cấp ngựa cho thê thiếp ông ta để chở xương cốt, các Thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính đi hộ tống cùng trở về nhà. Ngày Lưu thiên sứ (chỉ Lưu Đình Trực - TG) đến đều nói họ đã qua Ung Châu rồi. . . Hằng ngày đồi đãi kính trọng hay không, hỏi thê thiếp cũng có thể biết được.

Tham chính Ô Mã Nhi định ngày sẽ tiếp tục về sau. Vì đường về ngang qua Vạn Kiếp nên ông ta xin tới gặp Hưng Đạo để sắm sửa hành trang. Dọc đường đang đêm thuyền bị vấp để nước dội vào, tham chính mình to vóc lớn khó bề cứu vớt thành ra chết đuối. Những người phu của tiểu quốc cũng đều chết hết. Thê thiếp, tiểu đồng của ông ta cũng suýt nữa chết, nhờ người nhỏ nhẹ mà cứu thoát được. Vi thần đã chôn cất ma chay ở bờ biển, thiên sứ lang trung đã thấy tận mắt. Nếu có sự gì bất kính thì thê thiếp (tham chính) ở đó khó mà che dấu được. Vi thần đã sắm đủ lễ vật để đưa thê thiếp cùng với xá nhân, lang trung tiếp tục về nước . . .” 1 .

Tất nhiên Hốt Tất Liệt không thể thoả mãn với những lời giải thích của vua Trần. Do tình hình khó khăn của nước Nguyên và quân Nguyên lúc đó, hắn đã hai lần ra lệnh cho quân lính đã đi đánh Đại Việt được về nghỉ một năm và tháng 2 năm Kỷ Sửu (22-1 - 22-3-1289), bọn quan lại ở Trung thư tỉnh đã đề nghị thu hồi phù ấn của chinh Giao Chỉ hành tỉnh 2.

Mặt khác Hốt Tất Liệt vẫn nung nấu ý đồ xâm lược Đại Việt. Ngày 11-7- 1288, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho người Mông Cổ chỉ huy quân Hán tập dượt thuỷ chiến 3. Điều đó chứng tỏ hắn còn nghĩ đến việc chinh chiến ở phương nam.

Ngày 10-3-1289, viên Quản quân Vạn hộ Thành Đô là Lưu Đức Lộc xin đem 5.000 quân chiêu hàng các bộ lạc ở tây nam Trung Quốc rồi từ đó tiến quân đánh chiếm Đại Việt. Khu mật viện đề nghị lập nguyên soái phủ, lấy Lưu Đức Lộc làm đô nguyên soái và chia cho một vạn quân Tứ Xuyên. Hốt Tất Liệt đã nghe theo ý kiến đó 4. Như vậy là hắn đã nghĩ đến một mũi tiến công vào tây bắc của Đại Việt.

Tuy nhiên, tình hình nội bộ tiếp tục có những khó khăn ngày càng lớn. Trong suốt hai năm 1288, 1289, Hốt Tất Liệt vẫn chưa tổ chức được đạo quân xâm lược Đại Việt. Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc nổ ra liên tiếp ở miền nam. Năm 1288, Đổng Hiền Cử ở Quảng đông, Dương Trấn Long, Liễu Thế Anh ở Chiết Giang, Chung Minh Lượng ở Tuần Châu đã kế tiếp nhau nổi dậy, quân khởi nghĩa lên đến hơn vạn người. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất là của Chung Minh Lượng.


__________________________
1. Về cái chết của Ô Mã Nhi, Đại Việt sử ký toàn thư (q.5, t.56a) chép: Năm Kỷ Sửu (Niên hiệu Trùng Hưng) thứ 5, mùa Xuân tháng Hai (22-2 (22-3-1289), nhà vua sai Nội thư gia Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước. Dùng kế của Hưng Đạo vương, lấy người giỏi ở nước chở thuyền, đang đêm đục thuyền cho ngập nước, bọn Ô Mã Nhi chết đuối.
2. Nguyên sử, q.209, An Nam truyện t.10a.
3. Nguyên sử q.15, Bản Kỷ, t.4b.
4. Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông , Sđd, tr . 313 .


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:47:22 pm
Tình trạng đó đã làm cho bọn thống trị hoảng sợ. Viên án sát sứ Phúc Kiến là Vương Hồn đã tâu với Hốt Tất Liệt: Phúc Kiến quận huyện hơn 50 chỗ, liền núi tiếp biển, thực là khu trọng yếu ở biên cương, từ khi bình Tống đến nay, quan lại tàn bạo, cho nên dân ngu thường tụ nhau nổi dậy, triều đình đem quân đi đánh lại giày xéo tan nát... Huống dân quy phụ ở Phúc Kiến đến mấy trăm vạn hộ, trong vụ biến Hoàng Hoa đi theo đến 4-5 phần mười, nay thanh thế của Minh Lượng lại rầm rộ hơn Hoa, sao có thể coi là bọn giặc cỏ tầm thường. Nên tuyển tinh binh, nghiêm hiệu lệnh, dùng kế mà đánh, nếu không thì không dứt được mối hoạ.

Hốt Tất Liệt đã phải sai bọn Mang Ngột Đãi, Nguyệt Đích Mê Thất điều động hàng vạn quân các tỉnh Giang Tây, Giang Hoài, Phúc Kiến đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa.  Nhưng tình hình vẫn không thay đổi. Các cuộc khởi nghĩa vẫn liên tục nổ ra trong suốt năm 1289. Dương Trấn Long chiếm Minh Hải xưng là nước Đại Hưng; Chung Minh Lượng  vờ đầu hàng rồi nổi dậy, chiếm Mai Châu; Giang La nổi dậy ở Chương Châu; Diệp Văn Ngũ với hơn vạn người khởi nghĩa ở Vu Châu; Trần Cơ Sát, Khâu Đại Lão khởi nghĩa ở Long Nham, v.v..

Viên Ngự sử đại phu Ua Lúc đã tâu với Hốt Tất Liệt: “Giặc cướp nổi lên ở Giang Nam hơn 400 chỗ, nên chọn tướng để đi đánh . . . “ Hốt Tất Liệt đã hạ lệnh cấm nhân dân Giang Nam không được dùng vũ khí cung tên. Viên Tả thừa hành tỉnh Kinh Hồ -Chiêm Thành Đường Ngột Đãi được lệnh đem quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Nhưng ngọn lửa khởi nghĩa vẫn tiếp tục cháy ở Giang Nam 1. Trong khi đó, tập đoàn các tôn vương thuộc dòng họ Ô Gô Đây và dòng họ Tra Ga Tai do Khai Đu và Đu Oa cầm đầu chống lại Hốt Tất Liệt vẫn tiếp tục đánh phá ở phía bắc. Sau khi liên kết với tập đoàn tôn vương Na Y An, thế lực của Khai Đu càng mạnh.
Tháng

Năm 1287, Hốt Tất Liệt tự cầm quân đánh Na Y An, Na Y An bị bắt. Nhưng các tôn vương khác vẫn tiếp tục tiến công vào vùng đất Hốt Tất Liệt kiểm soát trong suốt hai năm 1288 và 1289. Ngày 19-7-1289, trước tình hình khẩn cấp của biên giới phía bắc, Hốt Tất Liệt phải tự đem quân chống cự với Khai Đu.

Trong tình hình phải tập trung cố gắng trấn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc và đối phó với tập đoàn các chư vương ở phía bắc, Hốt Tất Liệt chưa thể phát động ngay cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Hắn đành sai bọn Lưu Đình Trực đi sứ, nhưng cuối cùng vẫn không thu được kết quả gì.

Ngày 3-7-1290, thượng hoàng Thánh Tông chết. Tám năm đó (5-9 - 4- 10- 1290), Trần Nhân Tông cử Ngô Đình Giới sang Nguyên báo tang. Đến tháng Chín năm sau (21-9 - 23-10- 1291), vua Trần lại sai các đại phu Nghiêm Trọng Duy, Trần Cử Trường đi cống.

Hốt Tất Liệt muốn nhân cơ hội Thánh Tông chết đem quân đánh Đại Việt. Nhưng viên Thừa tướng Hoàn Trạch và viên Bình chương Bất Hốt Mộc đã can ngăn. Bất Hốt Mộc khuyên trước hết hãy sai sứ đến Đại Việt. Tên vua Nguyên không tin gì vào kết quả của việc sai sứ, vì đã làm nhiều lần mà không có kết quả. Nhưng trong tình hình khó khăn các mặt lúc đó, vua Nguyên đành cử một sứ giả khác sang Đại Việt - Trương Lập Đạo, người đã đến Đại Việt năm 1267 và năm 1271, nay được cử làm Lễ bộ thượng thư. Mục đích là đòi vua Trần vào chầu, không đề cập lại vấn đề đòi trả tù binh.

Trong tờ chiếu, Hốt Tất Liệt vẫn tiếp tục luận điệu đe doạ, trịch thượng nhơng cũng phải thừa nhận thất bại của hắn: “... Cha ngươi giết chú, đuổi sứ của ta, để đến phải đem quân hỏi tội, sinh linh của ngươi chết chóc thực nhiều, mà quân lính của ta cũng tổn hại. Vì Trấn Nam vương Thoát Hoan ít tuổi, nghe nhầm tiến quân đường thuỷ, nên Toa Đô, Ô Mã Nhi rơi vào tay ngươi. Nhân thế ngươi được tạm yên đến nay. . .” Hắn đe doạ: “Nước nào chống cự, không phục thì nước ấy không khỏi bị diệt vong”. Và hắn dụ dỗ: “Nếu ngươi thân đến khuyết đình thì phù ấn tước vương ta cũng không tiếc” . . . 2

Khi đến Đại Việt, Trương Lập Đạo tìm cách biện minh cho thất bại của Thoát Hoan bằng một luận điệu xảo quyệt nhưng vụng về, tuỳ tiện đổ thất bại cho khách quan, lấy những nhân tố thứ yếu, tình cờ thay cho những nhân tố cơ bản, luận điệu nói liều của nước lớn đi xâm lược đã bị đánh bại nhưng vẫn muốn giữ thể diện.

Hắn nói: “Trước kia Trấn Nam vương phụng mệnh đi đánh, không phải là ngài không có thể thắng được. Đó là do không dùng người hướng đạo, đem quân vào sâu, không thấy một người nào, sinh nghi rồi trở về, nhưng chưa ra khỏi nơi hiểm trở thì bị mưa to gió lớn, cung tên đều huỷ hoại, binh sĩ không đánh mà tự tan” 3.


___________________________
1. Theo Hà Văn Tân - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.315.
2. An Nam chí lược q.2, Đại Nguyên chiếu chế.
3. Nguyên sử q.167, Trương Lập Đạo truyện. t.2b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Năm, 2009, 12:49:26 pm
Hắn tiếp tục đe doạ: “Ngài chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi. Nhưng người Vân Nam và người Lĩnh Nam thì tập tục giống nhau và tài nghệ sức lực ngang nhau. Nay đem quân ở đấy ra dùng, lại lấy thêm quân tinh nhuệ ở miền bắc, thì ngài chống được chăng? Ngài đánh thua chẳng qua lại trốn ra biển. Dân man di ở hải đảo tất thừa cơ đến cướp bóc. Ngài thiếu ăn, chống không nổi tất phải khuất phục chúng. Làm bề tôi của chúng sao bằng làm bề tôi của thiên tử?” 1.

Trong thư Trương Lập Đạo gửi vua Trần, y đã viết:

“Phía bắc đến cõi Am Sơn, vốn là nơi thánh triều dựng nghiệp, phía nam ra quá Viêm Hải, hết thảy vua các nước xưng thần. Tù trưởng các vùng Hồi Hột, Tây Vực qua bãi Lơu Sa mà đến cống, quốc chúa các nước Cao Ly, Đông Di vượt biển Doanh Hải để vào chầu. Vua các rợ Khiết Đan, Tây Hạ, Nữ Chân, vì trái trời mà nước bị diệt, chúa các nước Côn Ngô, Thổ Phồn, Bạch Thất bởi theo mệnh nên được kết hôn. Các vua Vân Nam, Kim Xỉ, Bồ Chân gửi con trai làm chí tử, các miền Đại Hạ, Trung Nguyên, Vong Tống hết toàn bộ làm thần dân. Duy nước An Nam là nước bé nhỏ, ngoài mặt thì tùng phục, trong lòng chưa đổi thay. . .” 2.
 
Như vậy, chính Trương Lập Đạo đã nói lên ý chí kiên cường bất khuất của dân tộc ta dám đương đầu với kẻ xâm lược to lớn.

Tất cả các luận điệu đe doạ và dụ đỗ của Hốt Tất Liệt và Trương Lập Đạo đều vô hiệu. Vua Trần không chấp nhận việc vào chầu. Trương Lập Đạo phải trở về không.

Ba tháng sau, tháng Chín năm Nhâm Thìn (12-10 - 12-11-1292), Hốt Tất Liệt lại sai viên Lại bộ thượng thơ Lương Tằng và Lễ bộ lang trung Trần Phu đi sứ Đại Việt. Tháng 2-1293, sứ bộ đến Thăng Long. Trần Nhân Tông lấy cớ đang có tang, không chịu ra ngoài thành đón chiếu thư của Hốt Tất Liệt. Trần Nhân Tông tiếp sứ bộ nhưng vẫn cự tuyệt việc vua thân sang chầu và từ chối việc để thái tử sang chầu. Lương Tằng và Trần Phu ngoài mặt vẫn hống hách nhưng trong lòng rất sợ hãi trước những điều mắt thấy tai nghe ở Đại Việt Trần Phu, sau khi đi sứ trở về đã bộc lộ tâm trạng đó trong bài thơ:

Kim qua ảnh lý đan tâm khổ,
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh.
Di hạnh quy lại thân kiện tại
Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.


(Trông bóng giáo mác, tấm lòng đau khổ,
Nghe tiếng trống đồng mà bạc cả tóc,
May được trở về, thân mạnh khoẻ,
Mỗi khi mộng đến chuyện cũ còn thấy hồn kinh sợ
). 

Tháng Ba năm Quý Ty (8-4 - 7-5-1293) Lương Tằng và Trần Phu về nước. Trần Nhân Tông sai Đào Tử Kỳ và Lương Văn Tảo sang Nguyên.

Năm đó, Hốt Tất Liệt xâm lược Java bị thất bại. Tháng 8- 1293, tướng Nguyên là Diệc Hắc Mê Thất cùng bọn Cao Hưng, Sử Bật kéo binh thuyền trở về. Tên vua Nguyên càng muốn cấp tốc đánh chiếm Đại Việt. Tân Nguyên sử chép:

Năm Chí Nguyên 30 (1293)... Thế Tổ (chỉ Hốt Tất Liệt - TG), triệu Lưu Quốc Kiệt vào bệ kiến và nói rằng: “Java (Qua Oa) đã được lại mất, khanh hãy vì trẫm mà đi một chuyến”.  Quốc Kiệt trả lời: “Java là vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật nằm trong bàn tay, thần xin vì bệ hạ mà chiếm lấy”.

Vua nói: “Việc đó như ngứa trong tim, không phải gãi mà đến được.  Lời khanh nói thật hợp ý ta”. Vua bàn cất quân 10 vạn, Quốc Kiệt tâu rằng một vạn người cũng đủ dùng. Vua nói rằng một vạn người thì ít quá, đã lấy năm vạn phiên binh giao cho Hồ Quảng An Nam hành tỉnh được thiết lập lại để phụ trách việc xâm lược. Lưu Quốc Kiệt được giữ chức Bình chương chính sự ở hành tỉnh này để chỉ huy đạo quân xâm lược.


______________________
1. Nguyên sử q.167, Trương Lập Đạo truyện. t.2b.
2. An Nam chí lược, q.5, thư của Trương Lập Đạo gửi vua Trần.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 12:56:55 am
Con bài Trần ích Tắc lại được dùng đến. Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Quốc Kiệt đến Ngạc Châu bàn với Ích Tắc và đến tháng Tám, Ích Tắc sẽ cùng đi theo đoàn quân xâm lược. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược, Hốt Tất Liệt đã cho tập trung đến 1000 chiếc thuyền, mỗi chiếc chứa được 100 hộc, 56.570 quân, 35 vạn thạch lương thực, hai vạn thạch thức ăn cho ngựa, 21 vạn cân muối, 70 vạn khí giới. Ngoài ra còn dự cấp bổng phụ cho quân quan và cấp cho quân lính thuỷ thủ mỗi người hai đỉnh tiền.

Hốt Tất Liệt còn sai Khu Túc Tê Mua đến Quảng Đông đôn đốc việc đóng 500 chiến thuyền để dùng vào việc đánh Đại Việt...  Sứ Đại việt là Đào Tử Kỳ bị giữ lại ở Giang Lăng. Quân Nguyên đóng ở Vĩnh Giang, đợi đến mùa Thu năm sau thì xuất phát. Mãi đến tháng 12 năm Quý Tị (29-12-1293 - 27-1-1294) bọn Quốc Kiệt vẫn còn tập trung quân: ngày Ất Tị tháng 12 (11 - 1- 1294) sai sứ đốc suất các châu Tư, Bá và Trấn Viền, Hoàng Bình phát 8000 quân Tống cũ theo đi đánh An Nam. 

Nhưng đến ngày Quý Dậu tháng Giêng năm Giáp Ngọ (18-2-1294) thì Hốt Tất Liệt chết. Tê Mua lên ngôi, tức Nguyên Thành Tông, hạ lệnh bãi binh đánh Đại Việt. Từ đó cho đến đầu thế kỷ XIV, bọn thống trị Nguyên bị chìm ngập giữa cao trào khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc, phải đành từ bỏ âm mưu xâm lược Đại Việt 1.

*

*     *

Thế kỷ XIII, đế quốc Mông - Nguyên rất mạnh và hiếu chiến. Với lòng tự tin của kẻ chưa bao giờ bị đánh bại, chúng có tham vọng đánh chiếm bằng được Đại Việt để làm căn cứ phát triển xâm lược xuống các nước phương nam.  Triều đình nhà Trần và quân, dân Đại Việt có quyết tâm kháng chiến ngày càng vững chắc qua từng cuộc kháng chiến thắng lợi.

Ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên đã thể hiện tài thao lược ngày càng cao, càng vững chắc, càng sắc sảo trong việc điều hành kháng chiến của triều đình nhà Trần, mà tiêu biểu là nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn. 

Sức sáng tạo của quân, dân trong kháng chiến ngày càng mở rộng và nâng cao. Trí tuệ giữ nước và sức mạnh giữ nước của cả dân tộc ta đã chiến thắng mọi mưu ma chước quỷ của quân giặc. Tinh thần kiên trì quyết chiến của dân tộc ta đã đập tan tính ngoan cố của quân xâm lược.

Các cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên đã đạt đến trình độ ngày càng cao hơn của cuộc chiến tranh mang tính nhân dân sâu sắc. Tinh thần cả nước đánh giặc, trăm họ là binh đã được biểu hiện ngày càng đậm nét và có hiệu quả.  Cả dân tộc ta dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của nhà Trần, đã phát huy cao độ sức mạnh to lớn của mình, kiên quyết đương đẩu và đánh thắng quân xâm lược đông đảo và thiện chiến.

Những chiến công oanh liệt như đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạnh Đằng đã khiến kẻ thù ngày càng khiếp sợ việt xâm lược Đại Việt.  Thắng lợi liên tiếp của ba cuộc kháng chiến trong 30 năm đã đánh thắng hoàn toàn ý chí xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên, bảo đảm cho dân tộc ta được sống trong hoà bình hơn 100 năm sau chiến tranh, cho đến khi đế quốc Mông - Nguyên sụp đổ.

Chiến công to lớn trong sự nghiệp chống ngoại xâm đã khích lệ mạnh mẽ cả dân tộc ta bước vào giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng đất nước trong thời bình. Việc bồi dưỡng sức dân sau chiến tranh đã được triều đình Trần chú trọng thực hiện một cách thiết thực và kịp thời.

Các biện pháp ngoại giao sau mỗi lần chiến thắng thể hiện rõ cách ứng xử của một nước nhỏ đã chiến thắng đối với nước láng giềng lớn đến xâm lược đã thua trận. Dân tộc ta đã chăm lo giữ vững quan hệ bình thường, không mất tư thế của người thắng trận, nhưng không phạm tự ái của nước láng giềng lớn bị đánh bại trong cuộc chiến tranh xâm lược, bảo đảm hoà bình lâu dài giữa hai nước, hai dân tộc.


___________________________
1. Theo Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thê kỷ XIII, Sđd, tí.321,327.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 01:00:21 am
CHƯƠNG IV

QUAN HỆ QUÂN SỰ GIỮA ĐẠI VIỆT VỚI CÁC VƯƠNG QUỐC PHÍA NAM VÀ PHÍA TÂY – KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN GIAI ĐOẠN CUỐI THỜI TRẦN


I. QUAN HỆ QUÂN SỰ GIỮA ĐẠI VIỆT VỚI CHĂMPA VÀ AI LAO

1. Quan hệ quân sự giữa Đại Việt và Chăm pa thế kỷ XIII-XIV

Vương quốc Chăm pa (Chiêm Thành) nằm ở phía nam và đã từng có quan hệ tốt với Đại Việt. Đầu thế kỷ XIII, Chăm pa vẫn giữ mối quan hệ hữu hảo với Đại Việt. Năm 1203, Chăm pa bị đặt dưới quyền Đô hộ của Chân Lạp trong 17 năm (1203-1220). Sau đó quân đội Chân Lạp tự rút khỏi lãnh thổ Chăm pa vì bị Xiêm uy hiếp từ phía tây nam. Nhân thời cơ đó, một hoàng thân Chăm pa giành được chính quyền và tiếp tục quan hệ thân hữu với Đại Việt hơn. 

Năm 1225, ở Đại Việt, nhà Trần lên thay thế nhà Lý.  Trước âm mưu xâm lược miền đất phương nam của đế quốc Mông Cổ, nhân dân Chăm pa và nhân dân Đại Việt càng gần nhau hơn trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. Thời Trần, Chăm pa tiếp tục thực hiện “ nghĩa vụ phiên thần” với Đại Việt dưới dạng cống nạp, tuy không định kỳ nhưng khá đều đặn. Tính đến cuối thế kỷ XIII, sử chép nhiều lần Chăm pa cống nạp Đại Việt.

Năm Nhâm Ngọ 1282, cũng là năm Hốt Tất Liệt điều khoảng 10 vạn quân các tỉnh Hoài Triết, Phúc Kiến, Hồ Quảng cùng 100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô đi đánh Chăm pa. Trong âm mưu xâm lược các nước phương nam, chủ trương của vua Nguyên Hốt Tất Liệt là đánh chiếm Chăm pa trước, tạo thành một mũi tiến công Đại Việt từ phía nam.

Bấy giờ, vua Nguyên nhiều lần sai sứ đến Đại Việt đòi vua Trần cho mượn đường, giúp quân, cấp lương thực cho đội quân đánh Chăm pa. Vua Trần khảng khái cự tuyệt những yêu sách đó. Về mượn đường, vua Trần từ chối với lý do: “từ nước tôi đến Cham pa, đường thủy, đường bộ đều không tiện”.

Về giúp quân, thơ vua Trần viết: “Đại Việt quy thuận thiên triều đã 30 năm, gươm giáo không dùng đến, quân sĩ đã cho về làm dân binh”. Về cấp lương, vua Trần bảo A Lý Hải Nha: “Nước tôi địa thế gần biển, ngũ cốc trồng không được nhiều. Từ sau khi đại quân rút đi chỉ cuộc xâm lăng của Ngột Lương Hợp Thai trăm họ lưu vong, lại thêm lụt hạn luôn, sớm no chiều đói, ăn không đủ” 1. Thái độ kiên quyết đó của vua Trần đã gây khó khăn lớn cho quân xâm lược Nguyên trong việc tiến quân và tiếp viện cho Toa Đô đánh Chăm pa.   

Tháng 11 năm Nhâm Ngọ (khoảng từ ngày 2- 12 đến ngày 31-12-1282), Toa Đô cho quân đem 1.000 chiến thuyền xuất phát từ Quảng Châu đổ bộ vào cửa biển Chăm pa (Quy Nhơn ngày nay). Bấy giờ Kinh đô Chăm pa là Vijaya (tức thành Trà Bàn ở Bình Định) 1. Từ trong vịnh Quy Nhơn, có thể theo cáe nhánh sông để tiến về phía Vijaya. Phía tây vịnh là đất liền, quân Chăm pa đã xây dựng thành gỗ để ngăn chặn quân Nguyên tiến về Kinh đô. Bốn mặt thành gỗ dài khoảng 20 dặm, trên dựng những giàn ghe (lâu bằng), đặt hơn 100 cỗ pháo 2. phía tây cách thành gỗ 10 dặm là hành cung của vua Chăm pa, sẵn sàng ứng viện cho đội quân Chăm pa ở thành gỗ.

Trước tình thế đó, Toa Đô liền dàn trận và báo cho quân lính giờ tiến công là nửa đêm ngày rằm tháng Giêng năm Quý Mùi (tức 13-2-1283). Quân Nguyên chia làm ba mũi tiến về phía thành gỗ của Chăm pa. Mũi chủ yếu do Toa Đô chỉ huy gồm 3.000 quân, tiến công vào mặt nam thành gỗ. Cánh quân Toa Đô vừa tới, quân Chăm pa liền ra nghênh chiến. Cờ trương, trống thúc, mấy chục voi và hơn vạn người hùng dũng xuất trận.

Tên qua, đạn lại, trận chiến đấu ngày càng ác liệt. Suốt buổi sáng, thế giằng co vẫn duy trì, nhưng đến trưa, quân Chăm pa không giữ vững được trận địa. Cửa nam bị vỡ, cánh quân Toa Đô tràn vào thành. Từ bên trong, cánh quân này đánh ra phối hợp với hai cánh quân phía bắc và phía đông. Chẳng mấy chốc quân Nguyên hoàn toàn thắng thế. Mấy nghìn người Chăm pa bị hy sinh. Quân giữ thành và tiếp lương đến mấy vạn người đều rút lui. Thành gỗ lọt vào tay quân Nguyên.


_____________________________
1.  Theo Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr. 134.
2. Trà Bàn, còn gọi là Đồ Bàn, thành cổ ở xã Nhân Hậu và Đập Đá huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, tây bắc Quy Nhơn 26 km; xây dựng năm 806, hình chữ nhật (1.100m x 1.000 m). Tường thành đắp bằng đất, ốp đá ong, có ba cửa. Các vua Chăm pa đóng đô ở đây từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV.
3. Chữ “pháo" thời Nguyên là chỉ máy bắn đá, đến giữa thời Minh mới dùng chữ pháo với nghĩa là hỏa khí.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 01:06:49 am
Sau lần đọ sức đầu tiên này, biết không thể trực diện ứng chiến ngay với quân Nguyên, vua Chăm pa sai giết hai viên sứ Nguyên là Lưu Vĩnh Hiền và Y Lan, đốt kho tàng, bỏ lại lâu đài dinh thự rồi cùng quân đội rút lên núi, tìm mọi cách làm cho Toa Đô tin rằng quân Chăm pa đã bị tan rã không còn sức chiến đấu và tranh thủ thời gian củng cố lực lượng. 

Ngày 17 tháng Giêng năm Quý Mùi (15-2-1283), Toa Đô chấn chỉnh đội ngũ tiến đánh Kinh Đô Vijaya. Ngày 19 tháng Giêng (17-2-1283), vua Chăm pa sai sứ đến gặp Toa Đô “xin đầu hàng”. Hôm sau, Toa Đô cho quân đến địa giới đông nam thành Vijaya, đuổi sứ về nói với vua Chăm pa phải đích thân đến ra mắt thì sẽ được miễn tội. Ngày 21 tháng Giêng (19-2 1283), quân Nguyên tiến vào Kinh Đô Vijaya đã bỏ trống, vì thế Toa Đô dễ dàng chiếm đóng kinh thành này.  Để kéo dài thêm thời gian hòa hoãn, vua Chăm pa sai cậu là Bảo Thác Thốc Hoa cùng với hơn 30 người đem theo rất nhiều cống phẩm đến doanh trại của Toa Đô hẹn ba ngày nữa vua Chăm pa sẽ xin đến ra mắt.

Trong khi đó, vua Indravarman V và Thái tử Harijit đã tranh thủ thời gian củng cố và xây dựng căn cứ trên núi Nha Hầu ở phía bắc thành Vijaya. Đó là một tòa thành gỗ được dựng trong khu rừng sâu núi hiểm với một lực lượng tập trung đến hơn hai vạn người. Đồng thời, vua Chăm pa còn cho sứ giả sang Đại Việt xin thêm viện binh. Có thể Đại Việt đã phái quân sang giúp Chăm pa. Vì thế sau này, năm 1284, nhà Nguyên có trách cứ vua Trần đã giúp Chăm pa hai vạn quân và 500 chiến thuyền 1.
 
Sau một tháng tìm cách hoãn binh, lực lượng của Chăm pa đã được củng cố và sẵn sàng ứng phó với những cuộc tiến công mới của quân Nguyên. Khi biết là mình đã bị lừa, Toa Đô tức tối tổ chức một cuộc tiến công vào căn cứ địa của Chăm pa. 

Ngày 16 tháng Hai (16-3-1283), Toa Đô sai Vạn hộ Trường Nang dẫn quân tiến vào đại bản doanh của vua Chăm pa.  Nhưng chúng đã lọt vào thế trận đã bố trí sẵn của quân đội Chăm pa. Từ hai phía, quân Chăm pa đổ ra đánh vào sau lơng giặc, không cho chúng kịp rút lui. Quân Nguyên bị hãm vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Cuối cùng, chúng phải “liều chết cố đánh” mới sống sót “thoát được về đến doanh trại” 2.

Sau thất bại, Toa Đô ra lệnh rút quân về vùng bờ biển Quy Nhơn ngày nay chấn chỉnh đội ngũ, dựng thành gỗ, tích trữ lương thực, tính kế đóng quân lâu dài chờ viện binh. Vài ngày sau, 20 tháng Hai năm Quý Mùi (20-3-1283), Hốt Tất Liệt sai Hành tỉnh Long Hưng (Nam Xương và Giang Tây) đưa quân đi hộ tống đoàn thuyền lương đến Chăm pa.

Giữa năm đó, vua Nguyên điều động thêm ba vạn quân và cung cấp thêm vũ khí, cung, tên, giáp, trượng bổ sung cho Toa Đô. Hốt Tất Liệt đã nhiều lần sai sứ sang đòi Đại Việt phải cung cấp quân lương và cho chúng mượn đường sang Chăm pa. Nhưng vua tôi nước Đại Việt vẫn một mực từ chối. Chúng lại phải dùng đường thủy để tiếp viện cho Toa Đô.

Suốt một năm trời chờ đợi không có quân tăng viện, thiếu lương thực, quân Nguyên đói khát và hoảng sợ trước những cuộc tập kích của quân, dân Chăm pa. Trước tình thế đó, Toa Đô buộc phải rút khỏi Cri Vinaya (cửa Thị Nại, Quy Nhơn) tiến ra phía bắc gần biên giới phía nam Đại Việt. . 

Mãi đến ngày 28 tháng Hai năm Giáp Thân (16-3-1284) Hốt Tất Liệt mới cử được đạo quân một vạn rưỡi người và 200 chiến thuyền do Vạn hộ Khu Tu Khu (Qutuqu), Ô Mã Nhi (Ômar) và Lưu Quân Khánh chỉ huy đi tăng viện cho Toa Đô. Nhưng khi chúng cập cảng Cri Vinaya (Quy Nhơn) thì thấy những doanh trại của quân Nguyên đã bị đốt cháy. 

Khi quân của Vạn hộ Lưu Quân Khánh tiến vào đến Tân Châu (Bình Định) bắt được một số tù binh người Chăm thì chúng mới biết quân Toa Đô đã rút. Chúng đành phải quay thuyền trở ra tìm gặp quân Toa Đô, nhưng chưa kịp gặp thì binh thuyền của chúng đã bị bão đánh tan nát hết.  Toa Đô đành phải đem quân đánh chiếm vùng hồ Đại Lãng (khoảng vùng phá cầu Hai ở Thừa Thiên- Huế ngày nay).

Không có lương tiếp viện, chúng đẵn gỗ dựng thành lũy vỡ ruộng cày cấy để tự cấp lương ăn. Từ căn cứ này, Toa Đô một mặt đem. quân đánh tỏa ra vùng Ô Lý và Việt Lý của Chăm pa (tức vùng Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay) để cướp bóc tích trữ lương thực theo âm mưu đóng chốt lâu dài; mặt khác, vẫn tiếp tục sai người về triều xin thêm quân. Nhưng khi đó quân Nguyên không dễ gì gửi được viện binh tới nữa. Toa Đô phải đóng quân trong tình trạng nguy khốn và thiếu lương thảo trầm trọng. âm mưu xâm lược Chăm pa cửa nhà Nguyên đã thất bại.

Cuộc kháng chiến anh dũng của quân dân Chăm pa không chỉ bảo vệ được độc lập cho nước mình mà còn góp phần ngăn chặn bước tiến của quân Nguyên xuống phương nam và cũng do cuộc kháng chiến đó mà vua Nguyên Hốt Tất Liệt đã không thể thực hiện ý đồ lấy Chăm pa làm căn cứ vững mạnh để tiến công từ phía sau lưng Đại Việt.


__________________________
1. Nguyên sử. q. 209, An Nam truyện.
2. Nguyên sử, q.210, Chiêm Thành truyện, t.5b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 08:14:59 am
Đến đầu năm 1285, mặc dù Toa Đô kéo quân từ miền Ô Lý, việt Lý ra phía bắc tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt nhưng một bộ phận quân do Tham chính Y Gơ Mỹ (Ygơmisơ) chỉ huy vẫn đóng ở vùng hồ Đại Lãng của Chăm pa. Phải đến khi đại quân Nguyên bị thất bại hoàn toàn trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai thì bộ phận quân Nguyên này mới rút hoàn toàn khỏi đất Chăm pa.

Thế là cuộc kháng chiến của nhân dân Chăm pa đã góp phần trì hoãn cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nguyên đối với Đại Việt và sau đó, là chính cuộc kháng chiến của vua tôi và quân, dân nhà Trần ở Đại Việt đã chặn đứng bước tiến của đế chế Nguyên xuống phía nam, góp phần vào việc giải phóng hoàn toàn đất đai Chăm pa.

Như vậy là máu người Chăm và người Việt đã đổ xuống vì quê hương của mình và thực sự đã góp phần ngăn chặn sự bành trướng của đế quốc Nguyên xuống đông Nam á. Nhân dân Chăm pa và nhân dân Đại Việt đã đoàn kết chiến đấu và chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung. 

Đến đầu thế kỷ XIV, Trần Nhân Tông lúc ấy đã nhường ngôi cho con và lên làm thượng hoàng. Trong dịp đi du ngoạn vùng biên giới phía nam, Trần Nhân Tông đã sang chơi Chăm pa từ tháng 5-1301 đến tháng 1-1302 1.

Nhân dịp này Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã kết mối giao hảo hứa gả con gái cho vua Chăm pa. Năm 1306, Chế Mân sai bề tôi mang phẩm vật và đem hai châu Ô, Lý làm sính lễ xin cưới công chúa Huyền Trân. Bang giao Việt-Chăm pa trải qua những tháng năm êm đẹp. Biên cương phía .  nam Đại Việt ổn định, có thêm hai châu Ô, Lý, đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu (1307), đất Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay 2.

Năm 1307, Chế Mân chết. Vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chăm pa lập mưu đưa công chúa Huyền Trân và Thế tử Chế Đa Da về nước, thoát khỏi tục lệ khắc nghiệt của vương quốc Chăm pa, không bị lên giàn thiêu chết theo chồng. Từ đấy mối quan hệ Đại Việt - Chăm pa trở nên căng thẳng, miền đất ô, Lý trở thành vùng tranh chấp. 

Năm 1311, chúa Chăm pa kế vị là Chế Chí có hành động chống Đại Việt. Năm 1312, Trần Anh Tông xuất binh tiến vào đất Chăm pa. Trước đó, Chế Chí sai người sang cống.  Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài bí mật ước hẹn với ông. Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình (Quảng Bình ngày nay) chia quân làm ba đường: Huệ Vũ vương Quốc Chẩn theo đường núi, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ, thủy - bộ cùng tiến. Lấy Đoàn Nhữ Hài làm thiên tử chiêu dụ sứ đi trước.

Vua đến Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển ra hàng. Nhưng người Chăm tụ tập đánh vào ngự doanh.

Tiếng voi đã gần, quân sĩ có vẻ lo sợ. Khi ấy, quân của Huệ Vũ vương vừa tới, quân Chăm pa phải rút lui. Trận này không mất một mũi tên mà Chăm pa bị dẹp, đó là công sức của Nhữ Hài. Vua Trần rút quân về, mang theo cả Chế Chí, phong cho em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm á hầu để giữ đất ấy. Ít lâu sau Chế Chí chết ở Gia Lâm. 

Năm 1313, Chăm pa bị quân Xiêm xâm lược. Nhằm khôi phục ảnh hưởng của mình đối với Chăm pa, vua Trần sai Đỗ Thiên Hựu đi kinh lược Nghệ An, Lâm Bình để đem quân sang cứu. Đỗ Thiên Hựu hoàn thành tốt nhiệm vụ, tỏ ra là một tướng lĩnh xuất sắc và có tài ngoại giao, vì thế sau này việc giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến chính sách của Đại Việt ở vùng biên giới phía nam đều được giao cho ông.


________________________-
1. Toàn thư, t.2, Sđd, tr.84-85.
2.  Thuận Hóa trở thành một bộ phận của Đại Việt từ năm 1306...  Huế là sự đọc chệch từ Hóa mà ra và xứ Huế có cả một bản Nam Bình tiêu biểu cho ca Huế, xót thương cho số phận công chúa Huyền Trân: Núi non ngàn dặm ra đi, môi tình chi mượn màu son phấn, đền nợ Ô Lý.  Đắng cay vì đương độ xuân thì, số lao đao hay nợ duyên gì. Má hồng da tuyết quyết liều như hoa tàn trăng khuyết, vàng lộn với chì. Lòng lai láng hướng dương hoa quỳ, nhắn một lời Mân quân... Tình đem lại mà cân, đắng cay muôn phần ! Xứ Huế được tích hợp vào quốc gia Đại Việt kể từ thời công chúa Huyền Trân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 08:17:47 am
Năm 1318, Trần Minh Tông sai Quốc Trẩn đem quân đánh Chăm pa. Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến đánh nhau với quân Chăm pa bị thất bại và tử trận. Phạm Ngũ Lão quản lĩnh quân Thiên Thuộc, đem quân đánh tập hậu. Quân Chăm pa thất bại, vua Chăm pa là Chế Năng phải sang Giava cầu viện. Quốc Trẩn lập tù trưởng người Chăm là A Nan làm Hiệu Thành á vương rồi rút quân về.

Năm 1326, Huệ Túc vương đem quân đánh Chăm pa, không thắng trở về, vua nói: “Tiên đế tắm mưa gội gió mới bắt được chúa nước đó. Quốc phụ là một trọng thẩn phụng mệnh đi đánh 1 khiến chúa nước giặc là Chế Năng phải chạy sang nước khác (Chế Năng chạy sang Giava cầu cứu), lập tù trưởng A Nan làm Hiệu Thành á vương. Nay Huệ Túc chỉ là một vương thôi, uy vong không thể sánh với quốc phụ, thế mà ta cứ ở yên trong cung, trao cho chuyên việc đánh dẹp, muốn bắt sống chúa nó thì làm nổi chăng” 2.

Thời kỳ này nhà Trần càng ngày càng suy nhược. Quý tộc đã sa đọa, những người có khả năng như Quốc Trẩn đều bị giết, Phạm Ngũ Lão thì đã chết.

Tháng 5-1346, chúa Chăm pa Chế A Nan chết, con rể là Trà Hòa Bố Để tự lập làm vua, sai sứ sang Đại Việt báo tin buồn. Từ đó Chăm pa không sang cống Đại Việt nữa. Tháng 3-1352, Chế Mỗ người Chăm pa chạy sang Đại Việt dâng voi trắng, ngựa trắng mỗi thứ một con và các cống vật xin đánh Chà Hòa Bố Để, lập y làm quốc vương. Vì trước đây khi chúa Chăm pa là Chế A Nan còn sống thì con là Chế Mỗ làm bố điền (tức đại vương), con rể là Chà Hòa Bố Để làm bố đề (tức là tể tướng), nói câu gì, làm kế gì cũng được chúa Chăm pa nghe theo, nhân thế, ông lập bẻ đảng với Chế Mỗ.  Chế Mỗ khi nào bị quở trách, Bố Để thường cứu gở cho.  Người trong nước do vậy mà có lòng khác, không chuyên tâm theo về Chế Mỗ nữa. Đến khi A Nan chết, Bố Để liền đuổi Chế Mỗ mà tự lập làm vua. Thế mới biết kẻ làm tôi mà lập bè đảng thì hẳn là có mưu đồ khác mà Chế Mỗ vẫn không biết là mình bị sa vào thuật của nó.

Tháng 6-1353, vua Trần cử đại binh đi đánh Chăm pa và đưa Chế Mỗ về nước. Nhưng bộ binh vừa đến Cổ Lũy (Quảng Ngãi thủy quân tải lương không tới kịp, do đó đại binh phải rút về, không được bao lâu thì Chế Mỗ chết ở Đại Việt. Tháng Chín năm đó (1353) Chăm pa đem quân vào cướp phá vùng Hóa Châu. Quan quân Hóa Châu chống cự không nổi. Vua gọi Trương Hán Siêu mưu tính việc đó. Hán Siêu trả lời: “không nghe lời thần nên đến nỗi thế”. Vua sai Trương Hán Siêu đem các quân Thần Sách đi trấn giữ Hoá Châu. Sự thất bại của nhà Trần lần này càng bộc lộ sự yếu kém của chế độ phong kiến Đại Việt.

Năm 1360, Chế Bồng Nga trở thành quốc vương của Chăm pa 3. Ông là một tài năng quân sự kiệt xuất, là một vị tướng phiêu lưu đầy mưu mô, chí dũng. Dưới triều vua Chế Bồng Nga, vương quốc Chăm pa lên đến “mức độ tột bực”. Chế Bồng Nga nhân cơ hội nhà Minh lên cầm quyền ở Trung Quốc, bắt đầu tiến công đất Việt.

Năm 1361, quân Chăm pa đã vượt biển đánh vào cửa Di Lý, phủ Lâm Bình (hiện nay là Lý Hòa, Bố Trạch, Quảng Bình). Triều đình nhà Trần phải sai Phạm A Song làm Tri phủ Lâm Bình để trấn giữ vùng đất này. Người Chăm pa thường phục kích cướp của bắt dân Hóa Châu trong những ngày hội đầu xuân.

Tháng 3-1362, Chăm pa cho quân cướp Hóa Châu. Tháng 4, Đỗ Tử Bình duyệt bổ quân ở Lâm Bình, Thuận Hóa và đắp thành Hóa Châu. Đầu năm 1365, người Chăm pa cướp dân Hóa Châu đi chơi xuân. Trước đây, theo tục Hóa Châu, tháng Giêng hằng năm, trai gái họp nhau ở Bà Dương chơi trò đánh đu. Người Chăm pa đã nấp sẵn ở đầu nguồn Hóa Châu trước, đến khi ấy ập tới cướp bắt lấy người và của đem về nước.


_________________________
1. Toàn thư chép năm Mậu Ngọ (1318), vua sai Huệ Vũ Đại vương Quốc Trần đi đánh Chăm pa. Toàn thư cũng chép năm Giáp Tý (1424) lấy Huệ Vũ Đại vương Quốc Trần làm Nhập nội quốc phụ thượng tể.  Như vậy quốc phụ ở đây là Quốc Trần và lần đi đánh Chăm pa này diễn ra vào năm 1318.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.112.
3. Chế Bồng Nga là vua và là danh tướng Chăm pa (1360-1390).  Từ năm 1361 đến năm 1390, khi nhà Trần suy yếu, Chế Bồng Nga nhiều lần đem quân đánh Đại Việt (vùng Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hà Tây); ba lần đánh vào Kinh Đô Thăng Long (1371, 1377, 1878). Chế Bồng Nga đánh bại một số tướng nhà Trần: Trần Thế Hưng (1368), Đỗ Tử Bình (1378), Lê Mật Ôn (1383), Hồ Quý Ly (1889), đặc biệt năm 1377 đánh bại 120.000 quân Trần do vua Trần Duệ Tông chỉ huy đánh thành Trà Bàn (Kinh Đô Chăm pa).  Chế Bồng Nga bị tướng nhà Trần là Nguyễn Đa Phương đánh bại ở cửa Thần Đầu, Tam Điệp (Ninh Bình) năm 1382. Chế Bồng Nga chết trong trận chiến đấu với quân của Trần Khát Chân ở Hải Triều, sông Luộc (đoạn giữa Hưng Yên và Thái Bình).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 08:21:44 am
Tháng 3-1366, quân Chăm pa lại đánh Lâm Bình. Quan phủ Phạm A Song chỉ huy quân ở Lâm Bình đánh thắng quân Chăm pa. Năm 1367, Trần Thế Hưng làm thống quân, Đỗ Tử Bình làm phó, đem quân đánh Chăm pa. Tháng 2-1368, Chăm pa sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất biên giới Hóa Châu. Tháng 4- 1368, quân Trần kéo đến Chiêm Động 1, bị quân Chăm pa phục kích. Quân Trần thất bại nặng nề, Trần Thế Hưng bị quân Chăm pa bắt, Đỗ Tử Bình rút quân về. 

Trong khi nhà Trần đang ngày càng sa sút thì hiểm họa ngoại xâm lại trở thành mối đe dọa lớn. Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ nhà nước quân chủ phải đương đầu với những nguy cơ xâm lược như tình hình vào nửa sau thế kỷ XIV.  Lúc này, lợi dụng lúc Đại Việt suy đốn và nhân việc người mẹ Dương Nhật Lễ trốn sang Chăm pa cầu cứu sau vụ biến Dương Nhật Lễ 2, đầu năm 1371, vua Chăm pa đã đem thủy quân qua cửa Đại An tiến ngược lên Thăng Long, đổ bộ vào Kinh thành đốt phá cung điện, sách vở, cướp người và ngọc lụa. Vua và triều đình phải đi thuyền sang sông để lánh nạn ở vùng đông Ngàn (đông Anh, Bắc Ninh) 3.
 
Khi Nghệ Tông đã nhường ngôi cho em là Trần Kính, tức Duệ Tông, lui vào làm Thái thượng hoàng thì Duệ Tông lại không nghe theo các lời các can gián đúng. Giữa lúc nhân dân trong nước đang đói khổ vì chiến tranh tàn phá, nhà vua đã nghe theo lời của Hành khiển Đỗ Tử Bình đang trấn giữ ở đất Hóa Châu lúc gấy giờ, quyết chí đem quân đi đánh Chăm pa.

Vào tháng 12-1376, 12 vạn quân Trần được điều động từ Kinh Đô tiến đánh Chăm pa. Trước đó vua Chăm pa là Chế Bồng Nga thường đem quân quấy rối biên giới. Hành khiển Đỗ Tử Bình được lệnh đem quân đến trấn giữ Hóa Châu, Bồng Nga đem 10 mâm vàng để dâng tiến, Đỗ Tử Bình đã tư túi số vàng đó, lại nói dối là Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên Duệ Tông càng quyết chí đem quân đi đánh.

Hồ Quý Ly được lệnh đốc thúc dân các châu Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa chở lương thực cho quân viễn chinh.  Duệ Tông chỉ huy bộ binh đi ngựa men theo bờ biển cùng thủy quân tiến đến cửa Nhật Lệ, quan quân thì tiến đến cửa Dy Luân (cửa Ròn) . Vua cho đóng quân và luyện tập một tháng ở cửa Nhật Lệ. Đến ngày 23 tháng Giêng năm Đinh Ty (1377), quan quân nhà Trần đi đến cửa Thị Nại, đóng lại ở động A Mang.

Chế Bồng Nga lúc ấy đang dựng trại ở ngoài thành Trà Bàn, cho Mục Bà Ma đến trá hàng vua Trần, nói dối là Chế Bồng Nga đã trốn chỉ còn thành không. Ngày 24, Duệ Tông và Ngự Câu vương Húc truyền lệnh đem quân tiến vào thành. Tướng Đỗ Lễ can ngăn nhưng vua không nghe cứ tiến quân, bị quân Chăm pa phụt kích, quân Trần bị thua tan tác, Duệ Tông và một số tướng lĩnh như Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều bị chết tại trận 4.  Ngự Câu vương Húc bị bắt. Đỗ Tử Bình chỉ huy hậu quân, không đến cứu, trốn thoát, về đến Kinh sơ bị trị tội. Hồ Quý Ly chỉ huy quân lương nghe tin vua bị chết cũng bỏ trốn về trước.

Thất bại của cuộc viễn chinh lần này càng làm cho tình hình Đại Việt thêm rối ren và càng tạo điều kiện cho Chăm pa lấn tới. Tháng 6- 1377, quân Chăm pa tiến công Đại Việt Thượng hoàng Nghệ Tông sai Cung Chính vương sư Hiền giữ cửa biển Đại An. Quân Chăm pa biết ở Đại An có phòng ngự nên đã tiến từ cửa Thần Phù vào Thăng Long cướp bóc. Sau một ngày, quân Chăm pa mới rút lui. Khi về đến cửa Đại An, thuyền của quân Chăm pa bị bão đánh đắm, người và phương tiện, khí giới bị thiệt hại nhiều.

Tháng 5-1378, Chăm pa lại tiến công ra Nghệ An. Đi theo quân Chăm pa có Ngự Câu vương Húc, tự xưng là vua để chiêu dụ dân chúng. Tháng 6 quân Chăm pa tiến đánh sông Đại Hoàng. Đỗ Tử Bình chống cự không nổi, quan quân tan vỡ.  Quân Chăm pa tiến thẳng đến Kinh Đô, tàn phá Thăng Long một lần nữa, bắt người cướp của rồi rút về.


_____________________________
1.  Đất Chiêm Động của Chăm pa bấy giờ là đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Duy Xuyên, Quế Sơn tỉnh Quảng Nam ngày nay. 
2. Ngày 15-6-1369, Hiến Từ Hoàng thái hậu sai người đón con thứ của cố Cung Túc Đại vương Dục là Nhật Lễ lên ngôi. Nhật Lễ là con người làm trò tên là Dương Thương. Mẹ Nhật Lễ đương có thai, Dục thích nàng xinh đẹp lấy làm vợ. Đến khi đẻ, Dục nhận làm con của mình. Nhật Lễ ở ngôi hàng ngày chỉ rong chơi, thích hát xướng muốn đổi là họ Dương. Ngày 13-11-1370, Nhật Lễ bị phế làm Hôn Đức công, đến ngày 21, Nhật Lễ bị giam ở phường Giang Khẩu (phố Hàng Buồm, Hà Nội ngày nay) rồi bị đánh chết. 
3. Toàn thư. Sđd, t.2, tr.154.
4. Toàn thư, Sđd, t.2, tr. 161.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 08:24:34 am
Để phòng ngừa quân Chăm pa cướp bóc và tàn phá, năm 1319, triều đình nhà Trần đã cho quân, dân mang tiền đồng cho giấu vào trong núi (Thiên Kiện-Thanh Liêm và Khám Khả Lăng- Lạng Sơn), đến năm 1381 lại cho di chuyển thần tượng ở các lăng Quốc Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương (Thái Bình) đem về An Sinh (thuộc vùng núi Quảng Ninh) để lánh nạn.

Năm 1381, quân Chăm pa vào đánh Thanh Hóa. Hồ Quý Ly đem quân ra chống giữ, đóng đồn ở núi Long Đại (Hàm Rồng) . Nguyễn Đa Phương chỉ huy quân đóng cọc giữ ở cửa biển Thần Đầu. Bộ binh của quân Chăm pa chiếm Linh trên núi ném đá xuống, thuyền của quân Trần thiệt hại lớn, Đa Phương không đợi lệnh Hồ Quy Ly đã cho nhổ hàng cọc đánh vào thủy quân Chăm pa, quân Trần thắng đốt hết thuyền của quân Chăm pa, tàn quân Chăm pa chạy trốn, quân Trần truy kích đến tận Nghệ An.

Sang năm 1383, quân Chăm pa lại tiến quân ra bắc, lần này Chế Bồng Nga cùng với tướng La Ngai không dùng thủy quân mà đã đem quân bộ đi theo chân núi ra trấn Quảng Oai, dò đường đến đóng trại ở Khổng Mục. Thượng hoàng sai tướng coi quân Hoa Ngạch là Lê Mật Ôn đem quân chống giữ mới đến bãi Tam Kỳ (Quảng Oai) chưa kịp dàn trận đã bị quân Chăm pa phục kích, quân Trần thua, tướng Lê Mật ôn bị bắt. Cả Thăng Long bị náo động. Sau hơn nửa năm chiếm đóng ở đất Đại Việt, đến cuối năm đó, quân Chăm pa mới rút về nước.

Đợt tiến công cuối cùng của quân Chăm pa vào Đại Việt xảy ra từ cuối năm 1389 đến đầu năm 1390. Tháng 11-1389, Chế Bồng Nga đem quân tiến vào đất Thanh Hóa.  Hồ Quý Ly được lệnh đem quân chống giữ, quân Chăm pa đắp đập ở thượng lưu. Quân Trần đóng cọc để chống giữ.  Quân Chăm pa mai phục giả vờ bỏ trại về. Hồ Quý Ly cho nhọn quân tinh nhuệ và quân cảm tử đuổi theo, thủy quân cũng mở cọc ra đánh.

Quân Chăm pa phá đập chắn nước, quân thủy của nhà Trần không thể ngược dòng tiến lên được nên bị thua, tướng chỉ huy là Hữu thánh dực Nguyễn Trí bị bắt cùng các tướng tá và quân lính hơn 70 người bị thiệt mạng. Hồ Quý Ly chạy trốn về Kinh thành Thăng Long. Quân Chăm pa tiến ra vùng châu thổ sông Hồng.

Tháng 12 năm đó, Thượng hoàng Nghệ Tông sai tướng Trần Khát Chân 1 đem quân Long Tiệp đi đánh. Trần Khát Chân vâng mệnh, lúc tiễn đưa cả hai người đều khóc. Quân của Trần Khát Chân theo sông Hồng tiến đến Hoàng Giang thì gặp địch. Trần Khát Chân lui về chống giữ ở sông Hải Triều (giữa Hưng Yên và Thái Bình). Lúc này em Linh Đức vương Hiện là Trần Nguyên Diệu đầu hàng giặc 2. 

Đầu năm 1390, Chế Bồng Nga cùng Trần Nguyên Diệu đem hơn 100 chiến thuyền đến xem thế trận của quân Trần. Tiểu thần của Chế Bồng Nga là Ba Lậu Kê bị Bồng Nga trách phạt sợ bị giết, chạy trốn sang phía quân Trần, chỉ cho biết chiếc thuyền sơn lục là thuyền của Chế Bồng Nga. Trần Khát Chân sai bắn vào, Chế Bồng Nga bị trúng tên xuyên suốt ván thuyền tử trận, quân Chăm pa tan vỡ.  Tướng Chăm pa là La Ngai thu thập tàn quân rút về nước đi bộ men theo đường núi không dám rút bằng đường thủy.   

Về đến Chăm pa, La Ngai tự lập làm vua. Con của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và em là Chế Sơn Nô sợ bị giết, chạy trốn sang Đại Việt. Từ khi Chế Bồng Nga bị chết trên chiến trường Đại Việt, quân Chăm pa không dám xâm phạm Đại Việt nữa. Tuy nhiên, qua chiến tranh liên miên, nhà Trần đã bị kiệt quệ nhiều cả về sức người và tài chính khiến tình hình càng trở nên nguy ngập. Quân đội nhà Trần lúc này không còn đủ sức bảo vệ sự an toàn cho đất nước và nhân dân nữa.


________________________
1. Trần Khát Chân (1370-1399), danh tướng cuối thời Trần, quê Hà Lãng, huyện Vĩnh Ninh (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), xuất thân dòng dõi Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Năm 1389, quân Chăm pa vào đánh phá Thanh Hóa, Hồ Quý Ly không đánh dẹp được, Thượng hoàng Nghệ Tông cử Trần Khát Chân chỉ huy quân Long Tiệp đánh tan quân Chăm pa, giết Chế Bồng Nga, từ đó quân Chăm pa không dám quấy phá nữa. Trần Khát Chân được phong Nội vệ thượng tướng quân, tước Vũ Tiết quan nội hầu. Năm 1399, nhân hội thề ở Đốc Sơn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) cùng một số vương hầu và tướng nhà Trần mưu giết Hồ Quý Ly, nhằm khôi phục nhà Trần. Việc không thành, Trần Khát Chân cùng 370 chiến hữu bị Hồ Quý Ly giết hại. Nhân dân vùng Kẻ Mơ (Thăng Long) và nhiều nơi khác đã lập đền thờ Trần Khát Chân.
2. Khi vua Duệ Tông chết trận, Đế Hiện là con Duệ Tông, cháu Nghệ Tông lên nôi ngôi, sau Nghệ Tông lập con mình là Nhung làm vua và giáng Đế Hiện xuống làm Linh Đức vương rồi đem xuống phủ Thái Dương thắt cổ cho chết.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 08:27:58 am
2. Quan hệ quân sự giữa Đại Việt với Ai Lao thế kỷ XIII-XIV.

Thơ tịch Việt Nam đã dùng từ Ai Lao để gọi tên những cơ dân láng giềng phía tây. Họ đã gây ra những vụ lấn chiếm đất đai của Đại Việt vào cuối thế kỷ XIII cho đến giữa thế kỷ XIV. Nhưng đây chỉ là những vụ “xâm nhiễu biên giới” một cách tự phát của những nhóm người riêng lẻ. 

Vào những năm cuối thế kỷ XIII, ở biên giới phía tây, Ai Lao thường xâm phạm quấy rối, chiếm giữ sông Chàng Long.  Năm 1297, Ai Lao lại sang cướp phá ở Đà Giang, triều đình đã sai Phạm Ngũ Lão đánh dẹp, lấy lại được đất cũ 1 . 

Tháng 10-1298, Đại Việt đem quân đi đánh Ai Lao, không mang lại kết quả. “Tướng là Trương Hiển chết tại trận được tặng tước Minh Tự, cho thờ ở Thái Thường” 2.  Tháng 3-1301, quân Ai Lao lại sang cướp phá vùng Đà Giang. Phạm Ngũ Lão đưa quân đi đánh, gặp quân giặc ở Mường Mai (nay thuộc đất huyện Mai châu’ tỉnh Hòa Bình), giao chiến thắng lợi. Phạm Ngũ Lão được phong làm “ Thân vệ Đại tướng quân, ban cho Quy phù” 3.

Năm 1329, Minh Tông (bấy giờ là thượng hoàng) đi tuần thú đạo Đà Giang, đích thân đi đánh Ai Lao, sai Thiên tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục. Thượng hoàng đến Mường Việt (nay là đất huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) đóng quân lại. Khi đó trại chủ Chiêm Chiêu (một nhóm của người Ai Lao) đến dâng thư xin đem cả trại ra hàng. Đến khi thượng hoàng thân chinh sai Chiêu Nghĩa hầu Phụ Minh chia quân từ đường Thanh Hóa tiến sang để tiếp ứng quân nhà vua cùng tiến đánh Chiêm Chiêu. Nhưng Chiêu Nghĩa hầu muốn tâng công nên đã đánh Chiêm Chiêu trước và bị thua trận. Tuyên úy tướng quân Vũ Tư Hoằng liều sức chiến đấu, chết tại trận. “Trận chiến này, thượng hoàng đích thân chỉ huy, hiệu lệnh nghiêm minh, uy thanh vang dội, Ai Lao nghe tiếng chạy tan” 4.

Năm 1334, thượng hoàng đi tuần thú Nghệ An, tự kéo quân đánh Ai Lao. Lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Phát vận xứ Thanh Hóa, vận tải lương đi trước. Xa giá tới Châu Kiềm (tức đất Mật Châu, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An).  Quân Ai Lao nghe tin chạy trốn. Nguyễn Trung Ngạn mài vách núi khắc chữ ghi công rồi về. Lần xuất quân này không có kết quả.

Năm 1335, Ai Lao xâm lấn đất Nam Nhung (thuộc Tương Dương, Nghệ An) . Minh Tông lấy Đoàn Nhữ Hài làm đốc tướng, các quân đều chịu sự chỉ huy của ông, đem quân Thần Vũ và quân Nghệ An tiến đánh, đoán chừng Ai Lao giữ đất Nam Nhung, quân ít và yếu, đánh nhất định thắng. Vả lại, trại đó sát ngay sông lớn Tiết La (một khúc của sông Lam ở gần vùng Cửa Rào), sau khi thắng trận bắt được tù binh theo dòng xuôi suông, đi qua vùng nào cũng đều có diễu võ dương oai, nhân đó dụ bảo con em các vùng ấy vào chầu, ý muốn lập kỳ công để lấn lướt người cùng hàng. Đến ngày giao chiến, mây mù che lối, quân Ai Lao đã phục sẵn voi ngựa, hai mặt giáp công, quan quân nhà Trần thua to sa xuống nước chết đuối đến quá nửa, Nhữ Hài cũng ở trong số người chết đuối đó.

Thượng hoàng được tin đó bảo rằng: “Nhữ Hài dùng mưu tất thắng, thừa kế tất thắng, công đã gần thành, cuối cùng bị giặc nhử mồi mà chết. Nhữ Hài không phải không biết tình thế của giặc, chỉ vì muốn làm to quá mới đến nỗi vậy. Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được” 5.

Bấy giờ nhà Trần đang suy yếu, quân Ai Lao cũng nhân cơ hội đó thường vào cướp phá vùng biên giới. Những cuộc thân chinh của Minh Tông đều thất bại, nhất là từ khi Dụ Tông lên ngôi (1341), tình hình biên giới phía tây không phải là êm đẹp và đã có những vụ xâm lấn từ Ai Lao vào biên giới Đại Việt dẫn đến những cuộc đụng độ vũ trang.

Vào năm 1346, quân Ai Lao lại cướp phá biên giới. Dụ Tông “sai BảoUy vương Hiến đánh tan bọn chúng” 6. Tuy nhiên, việc Ai Lao quấy nhiễu ở biên giới phía tây không phải là một nguy cơ trầm trọng, vì thế lực của Ai Lao không mạnh lắm. Sau thất bại của quân Ai Lao (năm 1346), xung đột quân sự giữa Đại Việt và Ai Lao có giảm đi.

Trong nửa đầu thế kỷ XIV, các địa điểm sinh tụ của người Ai Lao ở thượng lưu sông Mê Công đã trở thành những địa bàn quần cư lớn. Những tiểu quốc mới phôi thai từ cuối thế kỷ XIII như Mường Xoa (nay là Luông Prabăng), Mương Thuôn (nay là Xiêng Khoảng), Viên Chăn (nay là thủ Đô Viêng Chăn), đều đang phát triển mạnh... Mường Xoa là một địa bàn lâu đời nhất và phát triển nhất, giữ vai trò như một trung tâm của các vùng tụ cơ của người Ai Lao ở thượng lưu sông Mê Công, nơi mà họ Pha Ngậm kế nhau làm vua. 


__________________________
1. Cương mục, Sđd, t.I, tr.552.
2, 3, 4. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.75, 86, 116.
5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.123, 180.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 09:35:39 pm
Đến giữa thế kỷ XIV, các tiểu quốc có nhu cầu liên kết với nhau để tiếp tục phát triển và giữ quyền tự chủ hoàn toàn của mình vào năm 1353. Đó là niên biểu chính thức thành lập vương quốc Lan Xang 1, một quốc gia Lào thống nhất và đã căn bản hình thành những yếu tố nền tảng của nước Lào ngày nay: lãnh thổ, tộc người, văn hóa.

Trên bước đường xây dựng vương quốc, vua Pha Ngậm đã tăng cường mối quan hệ mật thiết sẵn có với vương quốc Campuchia và đặc biệt đã lập quan hệ thân hữu với Đại Việt. 

Xu hướng liên kết phía đông trở thành xu hướng lịch sử tất yếu để bảo vệ nền tự chủ, trước xu hướng Đại Thái đã có tiền đề từ Ra Ma Kam Heng (Xu Khô Thay) 2. Từ đây, Lan Xang và Đại Việt bắt đầu một thời kỳ lịch sử mới trong quan hệ giữa hai nước, tình hình biên giới phía tây của Đại Việt ổn định. 

Quan hệ quân sự của Đại Việt với các vương quốc phía nam và phía tây, từ sau khi Đại Việt chiến thắng quân Nguyên, đến cuối thế kỷ XIV là những cuộc xung đột liên miên với Chăm pa và Ai Lao đã làm cho vương triều Trần thêm suy yếu, sức sản xuất bị phá hoại, nhân dân thêm đói khổ. Chiến tranh và đói kém đã đưa chế độ phong kiến nhà Trần vào thời kỳ khủng hoảng.


II. KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN CUỐI THỜI TRẦN


1. Nhà Trần suy vong.

Ngay từ tháng 10-1285, quân Nguyên vừa rút lui, Trần Nhân Tông đã xuống chiếu định hộ khẩu trong nước. Triều thần can là dân vừa lao khổ, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp. Vua nói: “Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, thẳng nên qua đó mà xem xét tình trạng hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao” 3.

Trước câu nói đó của vua, quần thần đều khâm phục, nhưng nhà sử học Ngô Thì Sỹ lại bàn rằng: “Quân địch vừa lui, kẻ có vết thương chưa dậy được, kẻ lưu tán chưa trở về, thôn xóm như gò đống, đồng nội tiêu điều, chiêu dụ vỗ về còn không kịp, mà lại vội vàng làm sổ hộ khẩu, quan trên tra xét, dân nhỏ hội họp, một con gà, nửa con lợn, không phải không tổn phí, sổ mới sánh cũ không phải là không sai nhau vì sau cuộc loạn ly, có người bỏ nghiệp riêng mà tham gia việc công. Làm như vậy thì nhiễu dân chúng quá lắm ư ?” 4.
 
Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên, triều Trần lúc đầu còn quan tâm đến việc phục hồi kinh tế và xây dựng đất nước. Nhưng lại nhân thắng lợi, nhà Trần lo củng cố địa vị thống trị và thâu tóm những thành quả đấu tranh của nhân dân.

Mặt khác, triều đình đã lấy hàng loạt ruộng đất của xã dân để phong cấp cho các vương hầu và những công thần làm thái ấp. Các quý tộc lại lợi dụng quyền thế để chiếm đoạt thêm ruộng đất của nông dân, làm cho chế độ điền trang thái ấp mở rộng, xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân.

Cùng với tình trạng bán ruộng của nông dân, nạn cướp đoạt ruộng đất cũng phát triển. Cung phi của Trần Anh Tông là Trần Thị Chuyên xâm đoạt ruộng đất của dân, nhiều người kêu lên nhà vua, nhưng mãi đến khi Trần Thị Chuyên chết, việc mới được giải quyết.

Các vua Trần còn lấy ruộng đất công phong cấp cho tướng lĩnh có công trong cuộc chiến tranh, làm giảm diện tích ruộng làng xã. Năm 1289, Nguyễn Khoái được phong hầu, “ban cho một quận thang mộc” 5, gọi là Khoái Lộ (đất Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay) 6. Phạm Ngộ làm Tham tán nhung vụ cho Trần Quốc Tuấn cũng được cấp 80 mẫu ruộng. Minh Tông cho Đặng Bảo 20 mẫu ruộng. . .

Từ đó về sau, việc cấp ruộng để phong cho quan lại thường diễn ra và đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân làng xã. Vào lúc này, điền trang đã phát triển ở các địa phương. Ở Tô Xuyên, An Mỹ, Quỳnh Phụ (Thái Bình), có điền trang lớn của Hưng Nghĩa hầu Vũ Trung Khái - phò mã nhà Trần 7.


_________________________
1.  Lan Xang là một triệu voi.
2. Cuối thế kỷ XIII, Xu Khô Thay (Thái) dưới triều vua Ra Ma Kam Heng đã chinh phục những vùng rộng lớn, trong đó có cả lãnh thổ của người Lào.
3. Đại việt Sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr. 58.
4.  Theo Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, t.1, tr.441.
5.  Tức đất phong của vương hầu.
6. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.65.
7. Hoàng Giáp: Mấy suy nghĩ về đất Quỳnh Phụ đời Trần trong Thái Bình với sự nghiệp nhà Trần, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình, 1986, tr. 111.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 09:41:45 pm
Vùng Hương Khê (Hà Tĩnh), có điền trang của Hoàng hậu Bạch Ngọc, vợ của vua Trần Duệ Tông (1371-1377), rộng đến 3.985 mẫu 1. Cho đến cuối thời Trần, nhiều quý tộc đã có những điền trang tư hữu rất lớn. Các quý tộc chủ điền trang không chú ý đến việc phát triển kinh tế mà lại nghiêng về cuộc sống hưởng lạc. Đã thế, họ còn dùng đất vào những việc phi sản xuất như cúng ruộng vào nhà chùa.

Năm 1324, Văn Huệ vương Trần Quang Triều đã đem 300 mẫu ruộng ở Gia Lâm và ruộng ở Động Gia Trang, An Lưu Trang cúng cho chùa Quỳnh Lâm, tất cả hơn nghìn mẫu. Con công chúa Nhật Trình là Di Loan cư sĩ cũng đem ruộng ở phủ Thanh Hoa cúng cho chùa 300 mẫu 2. Ruộng đem cúng vào chùa nhiều như thế chứng tỏ số lượng ruộng đất tư hữu của quý tộc ở thời kỳ này rất lớn.

Quý tộc quan lại còn bày đủ cách để bóc lột nhân dân. Trần Khánh Dư cho người nhà buôn nón “ma lôi” bắt quân lính phải mua, thu lợi hàng nghìn tấm vải. Khi vua Trần Anh Tông gọi về triều hỏi tội, Trần Khánh Dư nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ” 3.

Quan lại cấp dưới cũng ra sức vơ vét của dân. Hồ Tông Thốc làm An phủ sứ, ăn lễ của dân, bị phát giác, Nghệ Tông triệu vào hỏi việc ấy, Thốc đáp: một  người được ơn vua thì cả nhà hưởng lộc nước.

Sự mở rộng điền trang, thái ấp tất nhiên xâm phạm đến ruộng đất công của công xã và quyền lợi của nhân dân. Đó là một đòn mạnh đánh vào cơ sở hạ tầng của chế độ phong kiến.  Sự áp bức bóc lột cũng ngày càng đè nặng lên đầu nhân dân.  Người nông dân không những bị cướp đoạt ruộng đất, mà còn phải nộp tô thuế, chịu lao dịch, quân dịch nặng nề. Trong khi sức sản xuất chưa được phục hồi thì việc tăng cường áp bức bóc lột, tất nhiên sẽ dẫn đến hậu quả làm cho nền kinh tế bị kìm hãm và mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt.


Những mâu thuẫn chứa đựng trong chế độ nhà Trần đã bộc lộ sâu sắc. Mâu thuẫn trước hết diễn ra trong nội bộ quý tộc quan lại cầm quyền không còn giữ được sự thống nhất đoàn kết như trong những năm đánh giặc. Các cuộc tranh giành địa vị, quyền lợi dẫn tới chia bè kéo cánh, giết hại lẫn nhau. Huệ Vũ vương Trần Quốc Trẩn bị Văn Hiến hầu và Trần Khắc Trung tìm cách vu cho tội mưu phản để bị sát hại (năm 1328).

Càng về sau, với sự chuyên quyền của Hồ Quý Ly, cuộc đấu tranh giành quyền bính trong nội bộ giai cấp thống trị càng khốc liệt, dẫn đến chia rẽ sâu sắc.  Trong các làng xã, số địa chủ tơ hữu ruộng đất cũng ngày càng đòng và dần dần đã trở thành một lực lượng lớn của xã hội. Sự mở mang ruộng đất của giai cấp quý tộc, địa chủ đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất của nhân dân và đẩy một số nông dân ra khỏi quê hương, ra khỏi sản xuất. Những người nông dân nghèo khổ này chính là lực lượng chủ yếu trong các cuộc khởi nghĩa đương thời.

Cuối thời Trần, quý tộc càng mở rộng điền trang, thái ấp, số lượng nô tỳ càng tăng lên. Hàng loạt nông dân bị phá sản phải bán mình làm nô tỳ cho quý tộc. Nhưng trong điền trang thái ấp, quý tộc chỉ tìm cách tăng cường bóc lột sức lao động của nô tì mà không chăm lo phát triển sản xuất và không bảo đảm được đời sống tối thiểu cho họ.

Tình hình đó tăng thêm sức phản kháng của nô tỳ. Nhiều nô tỳ đã bỏ trốn khỏi điền trang thái ấp và họ đã cùng với những người nông dân nghèo khổ tự vũ trang thành các đội quân khởi nghĩa.  Nhân tình trạng dân bị đói rét lưu vong, quý tộc lại chiêu tập thêm để mở mang đất đai tăng thêm lợi lộc không những không giải quyết được mâu thuẫn xã hội, trái lại càng làm cho nguy cơ trở nên trầm trọng. Cuối cùng, cuộc đấu tranh giai cấp nổ ra quyết liệt, đó là những cuộc khởi nghĩa của dân nghèo và nô tỳ.

2. Những cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần.

Bước vào những năm 40 của thế kỷ XIV, tình hình chính trị - xã hội Đại Việt có những xáo động lớn. Năm 1341, Hiến Tông mất, thượng hoàng Minh Tông cử Hoàng tử Hạo mới sáu tuổi lên làm vua - tức Trần Dụ Tông. Trần Dụ Tông vừa lên ngôi, trong mấy năm liên tiếp thiên tai xảy ra dồn dập, nạn hạn hán, lụt lội gây ra mất mùa đói kém. Năm 1343, cả hai vụ đều mất, nạn đói rất nghiêm trọng, làm cho dân nghèo cùng gia nô các vương hầu nổi dậy khắp nơi. Sử cũ ghi lại rằng: “Năm ấy mất mùa đói kém, dân nhiều kẻ trộm cướp, nhất là gia nô các vương hầu” 4.


___________________________
1. Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thê kỷ XI-XV, t .1 tr.179-180.
2. Theo Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, t.1, tr.441.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.74.
4. Toàn thư. Sđd, t.2, tr.128.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 09:48:07 pm
Trong những cuộc nổi dậy của dân nghèo, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ 1 ở Hải Dương là nơi có nhiều đại điền trang của quý tộc. Ngô Bệ, người Trà Hương, mùa Xuân năm 1344, đã lãnh đạo dân nghèo tụ tập nhau ở núi Yên Phụ (Hải Dương) để cướp phá các nhà phú hào quyền quý. Triều đình nhà Trần đã phải tăng cường lực lượng để đàn áp, cho đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để đuổi bắt giặc cướp 2.

Cũng năm 1344, sử ghi thêm: “Năm này mất mùa đói kém dân nhiều kẻ phải làm sư và làm nô cho các thế gia” 3. Năm 1345, trời lại hạn hán, các cuộc khởi nghĩa chống triều đình vẫn tiếp tục nổi lên. Vua Trần một mặt dùng chính sách xoa dịu như xét lại tội ác tù phạm, giảm nhẹ tội cho những can phạm tội thường, một mặt sai quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Ngô Bệ bị quân triều đình tiến công ở núi Yên Phụ, vì lực lượng còn yếu, quân của Ngô Bệ thua phải lẩn tránh. Nhưng khắp nơi nhân dân vẫn nổi dậy. Hơn 10 năm sau, đến 1358, nhân một năm đói lớn, lực lượng quân khởi nghĩa của Ngô Bệ lại tập hợp ở núi Yên Phụ dựng cờ yết bảng, tuyên bố khẩu hiệu đấu tranh là “chẩn cấp dân nghèo” 4.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quần chúng nhân dân Đại Việt có một khẩu hiệu đấu tranh mang tính giai cấp. Khẩu hiệu đó ít nhiều phù hợp với nguyện vọng dân nghèo. Vì thế họ hăng hái đi theo cờ nghĩa của Ngô Bệ, chiếm được cả một vùng rộng lớn từ “xã Thiên Liêu đến huyện Chí Linh” 5.

Những lúc quân đội của triều đình tập trung lực lượng về đàn áp quyết liệt, Ngô Bệ và nghĩa quân phải phân tán đi nơi khác, nhưng sau đó lại trở về Yên Phụ để mở rộng hoạt động ra các vùng xung quanh.

Cùng với cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ, nhân dân các lộ cũng nổi dậy. Vì thế, cuối năm 1358, vua đã hạ chiếu cho An phủ sứ các lộ phải đem quân phong đoàn đi trấn áp quân khởi nghĩa. Tháng 8-13(59, mưa to, nước dâng cao, nhà của nhân dân trôi nhiều, lúa ngập lụt hết. Dân càng hoạn nạn, các cuộc nổi dậy của nông dân càng tiếp diễn mạnh mẽ. Nhưng đến tháng 3-1360 thì Ngô Bệ bị các quan bản bộ bắt ở núi Yên Phụ cùng với 30 người. Tất cả bị nhốt vào cũi giải về Thăng Long xử chém. Cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ kéo dài trong 16 năm (1344-1360), thì chấm dứt.

Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ, do tình hình đời sống khốn khổ, thiên tai hoành hành hên miên, nhiều cuộc khởi nghĩa khác của dân nghèo, đặc biệt là của các nô tỳ ở các đại điền trang đã nổi dậy mạnh mẽ. Lợi hại nhất vẫn là các cuộc khởi nghĩa ở vùng Hải Dương, nơi có nhiều đại điền trang của quý tộc, khởi nghĩa liên tiếp nổi dậy kéo dài hai chục năm.

Cuộc khởi nghĩa có thanh thế lớn nhất lúc bấy giờ là cuộc khởi nghĩa do một người đứng đầu tên là Tề, nổ ra vào năm 1354. Tề tự xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, tụ tập những gia nô vì đói bỏ trốn khỏi các điền trang, nổi dậy bạo động trong một vùng rộng lớn từ trung du đến đồng bằng (thuộc các xứ Lạng Giang lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh) và Nam Sách (Hải Dương)  6.

Từ đây, phong trào nông dân khởi nghĩa lại lan rộng hơn các năm trước. Năm 1360, triều đình phải xuống chiếu cho cấm quân đi đàn áp mà không dẹp nổi phải ra lệnh bắt gia nô của các vương hầu công chúa đều phải thích chữ vào trán và khai rõ sổ hộ tịch. Người nào không thích chữ và không có tên trong sổ bị coi là giặc cướp và bị trị tội 7. Hai năm sau (1362), trong nước đại hạn suốt từ tháng Năm tới tháng Bảy, nạn đói xảy ra trầm trọng, triều đình xuống chiếu miễn cho cả nước một nửa tô thuế và cho các nhà giàu đem thóc phát chẩn cho dân nghèo rồi trao quan tước cho họ 8.

Năm 1363, nhà Trần lại cho chọn tuyển dân binh sung bổ vào quân các lộ để tăng cường lực lượng đàn áp nhân dân.  Năm 1366, triều đình xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ đem quân đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa.

Năm 1378 là năm có lụt lớn, kho tàng cạn kiệt, triều đình phải ra lệnh tăng thuế đinh mỗi người nộp ba quan bất kể có ruộng hay không. Năm 1379, vẫn đại hạn và đói lớn.  Nguyễn Bổ, người Bắc Giang nổi dậy bạo loạn, tự xưng là Đường lang tử y, dùng pháp thuật để chiêu tập quần chúng, đặt hiệu xưng vương. Nhưng cuộc khởi nghĩa đã bị quân triều đình đánh dẹp ngay và Nguyễn Bổ bị giết. 

Trong thời gian này, quân Chăm pa lại kéo vào cướp phá vùng đất Nghệ An làm cho đời sống nhân dân thêm cùng cực mâu thuẫn càng thêm gay gắt. Năm 1381, nhân có quân Chăm pa kéo vào cướp phá, Hồ Thuật, người Diễn Châu nổi dậy bạo loạn bị xử chém. Mùa Thu năm 1382, bị lụt to nhưng quân dân Nghệ An, Diễn Châu vẫn phải đi vét các cảng, đào các kênh ở Hải Tây để chuẩn bị đánh Chăm pa.


__________________________
1. Ngô Bệ, lãnh tụ khởi nghĩa nông dân lớn nhất thời Trần, quê Trà Hương (nay thuộc Kinh Môn, tỉnh Hải Dương).
2, 3, 4, 5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.128-129, tr.138-139.
6. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.134.
7. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.140 - 141.
8. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.140 - 141


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 14 Tháng Năm, 2009, 09:49:38 pm
Năm 1389, phong trào nông dân khởi nghĩa lại càng lên mạnh. Đế Nghiền (tức Trần Phế Đế) sau khi bị giáng làm Linh Đức vương, đã bị Hồ Quý Ly bức tử và chôn ở núi An Bài, nhưng lại có một người ở Thanh Hóa là Nguyễn Thanh đã phao tin và giả làm Linh Đức vương còn sống, đi lánh nạn ở vùng sông Lương (sông Chu), tập hợp quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, được nhiều người hưởng ứng. Cùng lúc, ở Nông Cống có Nguyễn Ky đã tập hợp nông dân tự xưng là Lỗ vương Điền Kỵ (tướng nước Tề thời Chiến Quốc) nổi dậy bạo loạn.

Nhưng cuộc khởi nghĩa làm rung động cả chính quyền nhà Trần năm 1389 là cuộc khởi nghĩa do Phạm Như Ôn 1, một nhà sư ở phủ Quốc Oai( Sơn Tây) cầm đầu, được nông dân hưởng ứng rất đông, tạo nên một thế lực quân sự lớn.  Nông dân được tổ chức thành các quân hiệu: Thần Kỳ, Dũng Đấu, Vô Hạn. Phạm Như Ôn đã dùng Nguyễn Tông Mại, người ở Cổ Sở, và Nguyễn Khả Hành, người La Xã, làm hành khiển. Nghĩa quân từ Quốc Oai tiến công thẳng về Thăng Long. Quân của triều đình không chống cự nổi.

Thuận Tông và Thượng hoàng Nghệ Tông phải bỏ kinh thành chạy sang Bắc Giang. Nghĩa quân chiếm kinh thành ba ngày rồi rút quân ra đóng ở Nộn Châu (Quốc Oai). Giai cấp phong kiến thống trị vô cùng hoảng sợ trước khí thế của nghĩa quân. Vua Trần phải điều quân Thánh Dực do tướng Hoàng Phụng Thế chỉ huy, đang cầm cự với quân Chăm pa ở Hoàng Giang về để đánh quân khởi nghĩa. Hoàng Phụng Thế từ Miệt Giang  (phân lưu sông Hát, thông với sông Đáy), tiến công theo đường thủy. Quân khởi nghĩa tan vỡ, Phạm Như Ôn bị bắt và bị giết cùng với Nguyễn Tông Mại và Nguyễn Khả Hành. 

Vào lúc này, Hồ Quý Ly, một người ngoại thích của nhà Trần đã nắm quyền bính trong triều. Năm 1392, Hồ Quý Ly đã cho đặt quân tuần tiễu và cho canh giữ các sông, ải ở các lộ để đàn áp phong trào nổi dậy. Nhưng các cuộc khởi nghĩa vẫn liên tiếp nổ ra, tình hình sản xuất thấp kém, hạn hán, bão lụt, sâu cắn lúa hoành hành.

Năm 1397, người Hồng Y nổi dậy ở Tuyên Quang. Phạm Cự Luận được lệnh của Hồ Quý Ly đem quân Thần Sách đi đàn áp, bị thua, Phạm Cự Luận tử trận.

Năm 1399, tình hình triều Trần hết sức rồi ren. Hồ Quý Ly lập mưu giết Trần Thuận Tông và phe chống đối của Trần Khát Chân, tổng cộng hơn 370 người. Nguyễn Nhừ Cái vốn là người trước kia trốn vào núi Thiết Sơn làm tiền giấy giả, nhân tình hình đó đã chiêu tập nhân dân hơn một vạn người, nổi dậy trên một địa bàn rộng lớn ở các vùng Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Đáy Giang (Sơn Tây), Đà Giang (Hòa Bình), Lịch Sơn (Tuyên Quang) , Tản Viên sơn Tây) . . . Quan quân chịu nhiều vất vả mà vẫn không chế ngự được.

Cuối năm đó, Hồ Quý Ly phải sai An phủ sứ Động Lộ là Nguyễn Bằng Cử cầm quân tiến đánh Nguyễn Nhữ Cái mới dẹp yên được.  Những cuộc khởi nghĩa của nông nô và dân nghèo ở cuối thời Trần cuối cùng đều thất bại, nhưng những cuộc đấu tranh ấy đã giáng một đòn chí mạng vào chế độ điền trang thái ấp và là tiếng chuông báo hiệu tình hình nguy biến của nhà nước quân chủ phong kiến nhà Trần.

Quan hệ quân sự giữa Đại Việt với các vương quốc phía nam và phía tây đã có từ lâu và là một yêu cầu trong quá trình dựng nước và giữ nước của các dân tộc. Sự liên minh giữa các quốc gia trong đấu tranh chống kẻ thù chung có ý nghĩa lớn, làm tăng thêm sức mạnh đánh thắng quân xâm lược phương Bắc lúc đó. Song, trong thực tế lịch sử lại có sự xâm lấn lãnh thổ giữa các vương quốc là kết quả của sự phát triển của các nhà nước quân chủ phong kiến, nó tùy thuộc vào sức mạnh chính trị, quân sự của mỗi vương triều ở từng giai đoạn.

Khi nhà Trần vững mạnh, có quân đội tinh nhuệ thì các vương quốc lân bang thần phục, vị nể. Nhưng bước sang thế kỷ XIV, khi vương triều Trần suy yếu, xa rời dân, lòng dân ly tán dẫn đến lực lượng vũ trang cũng phân tán, thì các vương quốc như Chăm pa và Ai Lao đã đưa quân cướp phá đất nước, kể cả Kinh thành Thăng Long cũng nhiều phen điêu đứng. Quân đội nhà Trần lúc đó không đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ đất nước và bảo vệ nhân dân nữa.

Mặt khác, giai đoạn cuối thời Trần, chính sách “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” mà Trần Hưng Đạo căn dặn, không được thực hiện. Vì thế, triều đình nhà Trần ngày càng thoái hóa. Phong trào quần chúng bạo động nổi lên mạnh mẽ. Nông dân chống áp bức bóc lột, nô tỳ đứng lên đòi được giải phóng khỏi “thân phận trâu ngựa” của mình. 

Khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần kéo dài ngót nửa thế kỷ XIV, thể hiện tinh thần chiến đấu bền bỉ, sức mạnh vùng lên của các tầng lớp bị áp bức chống chế độ nhà Trần. Đó là những sự kiện lịch sử quân sự phủ đầy những trang sử cuối thời Trần. Các cuộc khởi nghĩa tuy đều bị thất bại nhưng nó đã báo hiệu tình hình nguy biến của nhà nước quân chủ phong kiến nhà Trần. Nhận rõ thời cơ đó, Hồ Quý Ly đã từng bước nắm được các quyền lực quân sự, tạo được những uy đầu tiên để nắm lấy chính quyền vào năm 1400.


_________________________
1.  Phạm Như Ôn, nhà sư, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân cuối thời Trần. Năm 1389, khi nhà Trần suy đồi đổ nát, Phạm Như Ôn tập hợp nông dân nghèo nổi dậy ở Quốc Oai Thượng (Hà Tây) chống lại triều đình và địa chủ. Phạm Như Ôn lấy Nguyễn Tông Mại và Nguyễn Khả Hành làm hành khiển, lập ba đạo quân: Thần Kỳ, Dũng Đấu, Vô Hạn, đánh chiếm Kinh sư (Thăng Long) trong ba ngày, khiến triều đình hoảng sợ, phải điều tướng Hoàng Phụng Thế đem quân Tả Thánh Dực đến mới đánh bại được nghĩa quân. Phạm Như Ôn bị bắt và bị giết cùng Nguyễn Tông Mại, Nguyễn Khả Hành năm 1390.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:05:20 pm
CHƯƠNG V

TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ VIỆT NAM THỜI TRẦN THẾ KỶ XIII


Đến thế kỷ XIII, lịch sử quân sự Việt Nam có bước phát triển lớn. Đại Việt thời Trần cùng với những chiến công oanh liệt trong ba cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên xâm lược, đã xuất hiện nhiều tác phẩm lý luận và những tư tưởng quân sự rất tiến bộ.

So với những quan điểm, tư tưởng quân sự cùng thời gian đó ở các nước châu Á, châu Âu, có thể nói đây là những quan điểm, tư tưởng vượt thời đại. Sự phát triển của quan điểm tư tưởng quân sự là một nội dung quan trọng của lịch sử quân sự lúc đó.

Qua thực tiễn chỉ đạo chuẩn bị và thực hành chiến tranh, qua những tác phẩm quân sự nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn (như Hịch tướng sĩ, Di chúc Canh Tý [năm 1300], một số nội dung quan trọng của Binh thư yếu lược), qua những áng văn thơ của các vua Trần và các nhà chính trị - quân sự thời Trần, đã xuất hiện một hệ thống lý luận, tư tưởng về chiến tranh giữ nước với những luận điểm rất tiến bộ. Những luận điểm, tư tưởng đó đã có tác dụng to lớn đối với sự chỉ đạo thực tiễn chiến tranh giữ nước thời Trần, đặt nền tảng cho sự phát triển tư tưởng, lý luận quân sự các đời sau.

Trong lý luận, tư tưởng quân sự Việt Nam thời Trần thế kỷ XIII, nổi bật lên các quan điểm, tư tưởng sau đây:

I. KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT, QUYẾT ĐÁNH QUYẾT THẮNG QUÂN XÂM LƯỢC LỚN MẠNH.

 Thế kỷ XIII, quân Mông Cổ gồm những đạo quân thiện chiến đã từng chiến thắng khắp nơi trên thế giới, chinh phục nhiều nước ở châu Âu và châu Á. Sau khi Mông Cổ chinh phục Trung Quốc, lập ra triều đại Nguyên thì tư tưởng đại Mông Cổ nhập làm một với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, sức mạnh của kẻ uy hiếp và xâm lược nước ta được tăng lên gấp bội. Trước kẻ thù lớn mạnh đã từng đánh trăm trận trăm thắng đó, nền độc lập của dân tộc nhơ ngàn cân treo sợi tóc.  Nguy cơ mất nước là điều có thể thấy rõ.

Trong tình hình đó, phản ứng đầu tiên và rất mạnh mẽ của triều đình Trần là không sợ quân xâm lược lớn mạnh, kiên quyết tổ chức đánh trả, xem giặc Mông Thát là “kẻ thù không đội trời chung”. Từng bước, bằng những biện pháp kịp thời và có hiệu lực, đã biến quyết tâm kháng chiến rất cao của triều đình thành quyết tâm hy sinh chiến đấu, giết giặc lập công của cả nước.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (12-1257 - 2-1258), khi quân giặc mới kéo sang, vua Trần Thái Tông đã xuống chiếu cho các tướng đem quân thuỷ bộ lên chặn địch ở biên giới Mặt khác ra lệnh tống giam tất cả các tên sứ thần Mông Cổ. Triều đình, các tướng sĩ, toàn quân, toàn dân đều có quyết tâm cao chống giặc, gìn giữ và bảo vệ đất nước. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (năm 1285) quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta với một lực lượng mạnh gấp mười lăm lần so với cuộc chiến tranh lần thứ nhất. Quyết tâm kháng chiến của triều đình, vì vậy, càng to lớn. Triều đình đã thực hiện một loạt biện pháp chiến lược quan trọng nhằm biến quyết tâm lớn lao đó thành quyết tâm của toàn thể muôn dân trăm họ, của cộng đồng các dân tộc trên đất nước.

Tháng 11-1282, vua Trần đã mở hội nghị các vương hầu, bách quan ở Bình Than. Mục đích cuộc họp này là “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu” 1. Hội nghị Bình Than có tác dụng rất quan trọng là thống nhất quyết tâm trên dưới, biến quyết tâm kháng chiến chống giặc của triều đình thành quyết tâm của toàn bộ vương hầu, quý tộc, từ đó huy động được rộng rãi lực lượng của tầng lớp quý tộc quan liêu tham gia kháng chiến.

Quyết tâm của triều đình và Bộ Thống soái nhà Trần cũng được chuyển thành quyết tâm của các tướng sĩ thông qua Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn - vị Quốc công tiết chế.


________________________
1. Toàn thư, q.5, t.41b.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:11:48 pm
“Ta thường nghe: Kỷ Tín 1 đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu 2 chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu vương; Dự Nhượng 3  nuốt than báo thù cho chủ; Thân Khoái 4 chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức 5, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây của Thế Sung; Cảo Khanh 6, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.

Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được?  Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ.

Thôi việc đời trước, hẵng tạm không bàn, nay ta lấy chuyện Tống Nguyên mà nói: Vương Công Kiên 7 là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? mà lấy thành Điếu Ngưu nhỏ như cái đấu, chống quân Mông Kha đông hàng trăm vạn, khiến cho sinh linh bên Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cát Đãi Ngột Lang 8 là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Cân Tu Tư lại là người thế nào? mà xông vào lam chướng trên đường muôn dặm,đánh quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời rối ren, lớn lên gặp buổi khó nhọc, ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình,

đem tấm thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. Thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào ném thịt cho hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau.

Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa, ruột đau nhơ cắt, chỉ giận không được ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu quân thù, dù trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm. 

Các ngươi ở lâu môn hạ, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười, so với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì? 

Nay các người ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc lo làm giàu mà quên việc nước; hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà chọi không thể đâm thủng áo giáp của giặc mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà bình, vườn ruộng nhiều không chuộc được tấm thân ngàn vàng, vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc; tiền của dẫu nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai.


_______________________
1. Hán Cao Tổ bị Hạng Vũ vây, Kỷ Tín giả làm Cao Tổ ra hàng. Cao Tổ trốn thoát còn Kỷ Tín bị thiêu chết.
2. Theo Tả truyện: Sở Chiêu vương đời Xuân Thu lúc lánh nạn bị kẻ cướp đâm. Do Vu đã chìa lưng ra che cho Chiêu vương.
3. Trí Bá (đời Chiến Quốc) bị Triệu Tương Tử giết, gia thần Trí Bá là Dự Nhượng đã nuốt than cho khác giọng, giả làm hành khất mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.
4. Thân Khoái là viên quan giữ ao cá của Tề Trang Công, khi Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái đã chết theo.
5. Kính Đức tức Uất Trì Cung đời Đường, đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Đường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương) thoát khỏi vòng vây của Vương Thế Sung.
6.  Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Đường Huyền Tông, Nhan Cảo Khanh đã chửi mắng Lộc Sơn bị Lộc Sơn cắt lưỡi.
7. Vương Công Kiên, tức Vương Kiên, tướng Tống giữ Hợp Châu (Tứ Xuyên), đã huy động quân dân anh dũng chiến đấu ở núi Điếu Ngư, cầm cự với đạo quân Mông Cổ trong bốn tháng trời, cho đến khi Mông Kha chết, quân Mông Cổ phải rút lui.
8. Tức Ngột Lương Hợp Thai.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:25:42 pm
Lúc bấy giờ, chúa tôi nhà ta cùng bị bắt, đau xót biết chừng nào? Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng bị bắt đi; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi phỏng có được không?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” 1 làm nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” 2 làm răn sợ, huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người đều giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ 3; có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai 4.

Như vậy chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến ta được yên ấm gối chăn,mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những thuỵ hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng được sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi phỏng có được không?

Nay ta chọn binh pháp các nhà soạn thành một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này,  theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là tôi chủ , nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo, thì trọn đời là cừu thù 5. Vì sao vậy?


_______________________
1. Câu ở trong Hán thư. "ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên".
2. Câu ở Sở từ. "Kẻ sợ canh nóng thường thổi cả rau nguội".
3. Bàng Mông và Hậu Nghệ là hai nhân vật bắn cung giỏi trong thần thoại Trung Quốc.
4. Nơi trú ngụ của các vua "man di" khi vào chầu vua Hán ở Trường An.
5. Binh pháp các nhà nói ở đây, là binh pháp của các danh nhân quân sự thời cổ của Trung Quốc. Đời Tống, trong kho tàng rất phong phú của sách quân sự Trung Quốc, bảy quyển được chọn ra, tập hợp trong một bộ gọi là Võ kinh thất thư. Võ kinh thất thơ gồm Binh pháp Tôn Tử của Tôn Vũ, Binh pháp Ngô Tử của Ngô Khởi, Binh pháp Tư Mã cửa Tư Mã Tương Như, sách Uất Liêu Tử (bốn tác giả trên sống đời đông Chu), sách Lục thao của Khương Tử Nha (đời Tây Chu), sách Tam Lược của Hoàng Thạch Công (đời Hán), sách Đường Thái Tông  Lý - Vệ Công vấn đổi của Lý Tĩnh (đời Đường).
Trong Võ Kinh thất thư, Binh pháp Tôn Tử là quyển quan trọng nhất, có tác dụng chủ đạo đối với nội dung nhiều quyển khác. Từ đời Lý Võ kinh thất thư được đưa vào nghiên cứu và học tập ở Đại Việt. Nhiều nội dung của Võ kinh thất thơ được chọn đưa vào Binh thư yếu lược.
Quyển Binh thư yếu lược ta dùng hiện nay, do Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, ấn hành năm 1977, ngoài các nội dung trích từ Võ kinh thất thư và nhiều nội dung phù hợp với các luận điểm nêu trong Di chúc Canh Tý (1300), trong Hịch tướng sĩ... của Trần Hưng Đạo, còn gồm một số sự việc quân sự diễn ra sau thời Trần: thời Minh, Thanh, thời Tây Sơn, chắc là do một nhà nghiên cứu quân sự nào đó của nước ta thời kỳ cận đại ghi thêm vào. Lược bỏ những đoạn này, chọn lọc những nội dung trích từ binh pháp “các nhà” mà soạn giả Trần Quốc Tuấn tâm đắc, đưa vào sách để rèn dạy tướng sĩ, những nội dung phù hợp với Di chúc Canh Tý, với Hịch Tướng Sĩ và với hoạt động thực tiễn của quân dân ta thời Trần thì sách Binh thư yếu lược hiện dùng có chất lượng tốt, vừa phản ánh những kinh nghiệm, những luận điểm chung trong phép dùng binh của các nhà, vừa phản ánh những tơ tưởng, luận điểm và nghệ thuật quân sự có nét riêng của dân tộc Việt Nam thời Trần. Trong đó có nhiều luận điểm đến nay còn giữ nguyên giá trị. Lý luận và tư tưởng quân sự là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định, của một quá trình chiến đấu bền bỉ và suy nghĩ sâu sắc. Tư tưởng quân sự thời Nguyễn, khi mà triều đình thì đầu hàng, thoả hiệp với quân xâm lược, quân đội triều đình thì không có tinh thần, trình độ thấp kém, thường đánh đâu thua đấy, mặc dù lúc đó có những phong trào kháng chiến chống Pháp kiên cường nhưng không thành công. Tư tưởng đó không thể sánh với tư tưởng quân sự thời Trần khi mà triều đình phong kiến cùng trăm họ kháng chiến rất kiên cường, bền bỉ trong nhiều năm, suy tính, bàn bạc rất sâu sắc, sáng tạo, ba lần đánh thắng kẻ thù xâm lược hung hãn nhất của loài người và của dân tộc ta lúc đó, lập nên những chiến tích oanh liệt và lưu lại những luận điểm quân sự vượt thời đại.  


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:27:51 pm
Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quảy mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc 1, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở nữa? Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi biết rõ bụng ta” 2.
 
Hịch tướng sĩ nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn có tác dụng động viên rất mạnh mẽ tinh thần của tướng sĩ. Bằng những lời lẽ, những lập luận vừa sắc bén, hùng hồn, vừa thiết tha, đi sâu vào tình cảm của tướng sĩ, bài hịch đã động viên lòng yêu nước, chí căm thù quân xâm lược, ý thức trách nhiệm với đất nước, với lịch sử, phê phán những xu hướng ăn chơi, hưởng lạc, buông lỏng trách nhiệm, không thấy nguy cơ nước mất nhà tan, cũng không thấy hạnh phúc của đất nước, của nhà mình khi kháng chiến thắng lợi. Từ đó mà đề ra trách nhiệm phải chăm lo học tập, rèn luyện, nâng cao khả năng chiến đấu, quyết tâm giết giặc lập công và lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Thấm nhuần tinh thần kiên cường bất khuất của hịch văn, ý chí quyết “ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu quân thù”., “dù trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây bọc trong da ngựa”, quyết “bêu đầu Hốt Tất Liệt”, “làm rữa thịt Vân Nam vương”, các tướng sĩ đã có những hành động đẹp đẽ trong những tình huống nguy hiểm khó khăn.

Trần Bình Trọng bị địch bắt trong chiến đấu, bị mua chuộc và uy hiếp, đã hiên ngang mắng vào mặt giặc: “Ta thà làm ma nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc”.

Đỗ Khắc Chung được nhà vua phái đi gặp Ô Mã Nhi để dò xét tình hình, đã vững vàng bẻ lại các luận điệu láo xược của giặc với một khí phách làm cho tên tướng giặc phải khâm phục.

Người thiếu niên quý tộc Trần Quốc Toàn đã tự lập một đội quân gồm hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng thuyền chiến, nóng lòng chờ ngày giết giặc cứu nước. Lá cờ của đội quân đó mang sáu chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Người thiếu niên đó đã anh dũng hy sinh khi chặn đứng quân địch không cho chúng vượt sông Cầu để về nước trong cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Để biểu thị quyết tâm cao giết giặc cứu nước, các tướng sĩ đều khắc vào tay hai chữ Sát Thát (giết quân Thát, tức quân Mông Cổ). 

Để biến quyết tâm kháng chiến của triều đình và của quân đội thành quyết tâm đánh giặc của toàn dân, tháng 1-1285, vua Trần Thánh Tông đã mời đại biểu phụ lão trong cả nước về Kinh Đô Thăng Long, đặt tiệc ở điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời câu hỏi của nhà vua là nên đánh hay không, các phụ lão đều đồng thanh hô to: Đánh!

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng bấy giờ “muôn người cùng nói, như từ một miệng”. Các bô lão trở về địa phương mình đã truyền đạt ý chí và quyết tâm đó cho toàn dân.

Tiếng vang của Hội nghị Bình Than, của bài Hịch tướng sĩ của Hội nghị Diên Hồng dội vào lòng yêu đất nước, chí căm thù giặc vốn có trong tâm tư, tình cảm của từng người dân từng gắn bó với triều đình qua cát chính sách tiến bộ có tác dụng khoan thư sức dân đã được ban hành thời đó.

Triều đình lại ra lời hiệu triệu viết lên bảng lớn, treo khắp các nẻo đường đất nước được trăm họ khắp nơi hưởng ứng: Tất cả các quận, huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng.


__________________________
1. Nguyên văn là “bình lỗ chi hậu”, nhiều bản dịch là “sau trận Bình Lỗ”. Trần Quốc Tuấn có nói rằng thời Đinh Lê đắp thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống (Toàn thư, q.6, t.8a). Ngô Tất Tố dịch là “sau khi dẹp yên quân giặc”. Chúng tôi không rõ là Quốc Tuấn nói theo ý nào và nếu là trận Bình Lỗ, thì là chỉ trận nào...
2. Dựa vào bản dịch của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm trong Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.374-375.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:29:04 pm
Với một trạng thái tinh thần như vậy, nhân dân cả nước đều đứng lên quyết tâm chiến đấu khi giặc đến: trực tiếp đương đầu, gây tổn thất, đẩy lùi quân xâm lược khi chúng kéo đến làng như ở Cổ Sở (gần Thăng Long) và ở Yên Duyên (Thanh Hoá) , làm thanh dã (vườn không nhà trống), cất dấu lương thực không để lọt vào tay quân giặc đang khốn quẫn về tiếp tế lương thảo, kiên trì bám trụ sau lưng địch, tiến công liên tục vào các đồn, trại địch ở bất cứ nơi nào chúng đóng quân, cắt các đường giao thông vận chuyển của chúng, đánh địch ban ngày, chú trọng tiến công chúng ban đêm.

Cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang thời đó thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động cả nước đánh giặc nói trên. Khắp nơi, một bộ phận quân triều đình làm nòng cốt cho quân các lộ,phủ. Quân các lộ phủ làm nòng cốt cho hương binh thổ binh. Hương binh thổ binh phối hợp với các lực lượng trên làm nòng cốt cho nhân dân đứng vững, bám trụ địa bàn để thường xuyên tiến công địch khắp mọi nơi, mọi lúc.

Chính các hoạt động này của toàn quân, toàn dân kiên trì đánh giặc là nỗi lo sợ thường xuyên và là tai hoạ lớn cho quân xâm lược. Trong quá trình kháng chiến, sức mạnh của quân địch nhiều lúc đã gây nên những tình huống lao đao đối với triều đình và quân, dân ta, nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Có kẻ đã hoảng sợ như Trần Nhật Hạo, một số kẻ hèn nhát đã đầu hàng địch như Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Trần Tú Hoãn, Trần Văn Lộng, Lê Trắc, v.v.. Nhưng tinh thần quật cường, bất khuất của triều đình và bách quan, của quân và dân đã được giữ vững và phát triển mạnh hơn lên qua những bước thử thách hiểm nghèo. Và với tinh thần đó, quân và dân ta đã kiên trì kháng chiến chống quân xâm lược lớn mạnh, giành được thắng lợi vẻ vang trong cả ba cuộc kháng chiến.

Trong những thời điểm cam go của các cuộc kháng chiến, ý chí kiên định của những nhân vật chủ chốt trong lãnh đạo kháng chiến đã có tác dụng to lớn giữ vững quyết tâm kháng chiến của triều đình.

Đó là trường hợp của Trần Thủ Độ khi ông bàn bạc với vua Trần trên sông Hồng trong cuộc rút lui chiến lược đầu tiên của triều đình đầu năm 1258. Ông đã có một câu trả lời đầy khí phách: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo!”.

Đó cũng là trường hợp của Trần Hưng Đạo trong những ngày hết sức gian nan, nguy hiểm của cuộc kháng chiến lần thứ hai, đầu năm 1285. Trả lời câu hỏi vừa có tính chất thăm dò, nhưng cũng vừa phản ánh sự lo lắng của vua Trần , ông đã tâu: “(Bệ hạ) trước hết hãy chém đầu tôi rồi sau hãy hàng”.


II. TẠO NGUỒN SỨC MẠNH GIỮ NƯỚC Ở TRONG DÂN - CHÚNG CHÍ THÀNH THÀNH

1. Triều đình nhà Trần đã biết tìm nguồn sức mạnh để giữ nước ở trong dân

Sau chiến tranh thắng lợi, vua Trần Anh Tông hỏi Trần Quốc Tuấn về kế sách giữ nước về sau, Trần Quốc Tuấn đã có nhiều ý trả lời rất quan trọng, sau này ghi lại thành Di chúc Canh Tý (1300) của Trần Quốc Tuấn.

Di chúc đã nêu một kết luận tổng quát: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc (triều đình sâu rễ bền gốc trong dân - T.G). Đó là thượng sách để giữ nước” (Thả, khoan dân lực, dĩ vi thâm căn cố đế chi kế, thử thủ quốc chi thượng sách dã).

Ở nhiều nước trên thế giới, khi nói về lực lượng tiến hành chiến tranh, kể cả chiến tranh chính nghĩa, người ta thường đề cập đến xây dựng và sử dụng quân đội. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở quân đội. Ở phương Đông, ngoài quân đội, thường có đề cập đến dân. Nhưng tranh thủ dân là để dân đồng tình, ủng hộ và phục vụ triều đình, phục dịch quân đội khi chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. Dân không được xem như lực lượng chiến đấu trực tiếp.

Thời Trần, nếu triều đình chỉ dựa vào quân đội, thì quân đội nhỏ bé của mình không thể đủ sức chống lại đội quân xâm lược đông hơn gấp nhiều lần và quen chinh chiến hơn. Cho nên phải dựa vào dân, động viên dân chúng cùng quân đội đánh giặc, xem dân cũng là một lực lượng chiến đấu bên cạnh quân đội.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:31:21 pm
Chủ trương, quan điểm đó vừa thể hiện một yêu cầu chiến lược cấp bách thời Trần, lại vừa thể hiện sự kế thừa và phát triển truyền thống của dân tộc Việt Nam - cả nước đánh giặc, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Từ cuối thế kỷ thứ III TCN, nhân dân Âu Lạc đã kiên trì kháng chiến đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của gần 50 vạn quân Tần. Sau đó, trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta đã liên tục nổi dậy giành lại chủ quyền dân tộc dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng (năm 40), của Lý Bí (năm 542), của Mai Thúc Loan (năm 722), của Phùng Hưng năm 766)... Thời Lý, nhân dân các dân tộc đã phối hợp với quân đội đánh thắng hai cuộc xâm lược của nhà Tống.

Đến thời Trần, kẻ thù xâm lược lớn mạnh và hung hãn gấp nhiều lần so với các thời kỳ trước. Tình hình đó đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa khả năng kháng chiến giữ nước của cả nước, phải tăng cường hơn nữa mức độ gắn bó giữa triều đình và muôn dân trăm họ.

Triều đình nhà Trần cũng hiểu sâu sắc rằng, muốn cho dân chúng trở thành nguồn sức mạnh giữ nước, thực sự cùng triều đình tham gia chiến đấu, không phải chờ đến khi có chiến tranh mới kêu gọi dân chúng đánh giặc, mà ngay trong thời bình đã phải có biện pháp gắn bó quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị với quyền lợi của nhân dân lao động, nới lỏng sự bóc lột phong kiến, bồi dưỡng sức dân, động viên lòng yêu nước của tướng sĩ và trăm họ.

Có như vậy mới phát huy được sức mạnh to lớn của cả nước, bảo vệ được lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, đồng thời bảo vệ được lợi ích của chính triều đình và giai cấp phong kiến.

Những tư tưởng, quan điểm tiến bộ đó được thể hiện trong thực tế cuộc sống bằng một loạt các chủ trương và chính sách, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm bồi dưỡng sức dân. Vấn đề rất quan trọng là chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của dân.

Nhà Trần, nối tiếp nền nếp đã có từ thời Lý, đã quan tâm đến việc phát triển nghề nông, như ra chiếu khuyến nông, nhà vua thân cày ruộng tịch điền,đi xem gặt hay tổ chức lễ tế thần nông, xác định chế độ thuế khoá nói chung là không nặng nề.

Năm 1261, Thượng hoàng Trần Thái Tông đã ngự về Tức Mạc thăm dân. Các lộ, phủ được lệnh lập kho chứa thóc, dự trữ lương thực để phòng khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém. Nguồn lương thực đó dùng để chẩn cấp cho dân nghèo và những người gặp nạn. Gặp năm thiên tai mất mùa, đói kém, triều đình đều có chính sách cứu giúp cho dân nghèo.

Năm 1288, sau khi chiến thắng quân Mông - Nguyên lần thứ ba, Trần Nhân Tông ra lệnh đại xá thiên hạ, những nơi bị binh hoả, giặc cướp phá nhiều thì miễn toàn bộ tô, dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau.

Năm 1290, đời Trần Anh Tông, dân gặp đói to, nhiều người bán ruộng đất, bán con trai làm nô tỳ. Nhà vua xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo, miễn thuế nhân đinh.

Năm 1343, hạn hán, Vua Trần Dụ Tông tiếp tục thực hiện quan điểm đó, đã xuống chiếu giảm một nửa thuế nhân đinh. Năm 1354 sâu cắn lúa, nhà vua lại giảm một nửa tô ruộng. Năm 1358, hạn hán, sâu cắn lúa, năm 1362 đói to, nhà vua lại xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra khẩn cấp cho dân nghèo, có khen thưởng theo thứ bậc khác nhau. 

Về mặt xã hội, năm 1291, đời Trần Nhân Tông, trước nạn đói nghiêm trọng vào các năm 1290, 1291, dân nghèo phải bán mình làm nô tỳ, nhà vua xuống chiếu những người dân lương thiện bán mình làm nô tỳ phải được chuộc lại.  Sách thời Trần còn ghi lại những tập tục thấm đượm tình người như: “Đêm trừ tịch (30 tháng Chạp), con gái, con trai nhà nghèo trong năm không có đủ tiền sắm đồ sính lễ, cứ việc lấy nhau”. 1 .

Năm 1266, triều đình cho phép các quý tộc “chiêu mộ dân phiêu tán . . . làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang ‘ và các tôn  thất “sai nô tì đắp đê bối ở bãi biển... Khẩn thành ruộng, cho họ lấy lẫn nhau và ở ngay đấy” 2.

Để hạn chế sự bóc lột, lạm quyền của các vương hầu quý tộc triều đình quy định: Vương hầu có quyền thừa ấm, tức là được phong tước tuỳ theo phẩm tước của cha, nhưng không được tập chức, nghĩa là không tiếp tục giữ chức vụ của cha. Con cũng không nhất thiết được quyền thừa kế thái ấp của cha 3.


_________________________
1. Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược Sđd, tr.328.
2. Theo Đại tá, TS. Lê Đình Sỹ (chủ biên): Trần Hưng Đạo, nhà quân sự thiên tài, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.106.
3. Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chông phong kiên Trung Quốc xâm lược, Sđd, tr. 324. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:34:01 pm
Những việc làm, những chính sách đó đã trở thành ý thức của nhiều đời vua, của những nhân vật trọng yếu trong giới quý tộc thời nhà Trần thời kỳ còn hưng thịnh. Vua Trần Nhân Tông đã từng nói: “Trẫm là cha mẹ dân. Nếu thấy dân lầm than thì phải cứu giúp ngay, há nên so đo khó dễ, lợi hại”.

Sau khi chiến thắng quân Mông - Nguyên xâm lược, vua Trần Nhân Tông định xây lại thành Thăng Long bị địch tàn phá cho nguy nga lộng lẫy. Trần Quốc Tuấn đã can vua và nói rằng:

“Việc sửa chữa thành không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều đình phải làm ngay không chậm trễ được là uý lạo nhân dân. Hơn bốn năm qua, giặc sang đánh phá, từ nơi rừng núi đến ruộng đồng đâu cũng bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực đi lính, đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc.

Nay nhà vua trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là phải chú ý ngay đến những nơi bị tàn phá. Tuỳ tình hình nặng nhẹ mà cứu tế, những nơi bị tàn  phá nặng có thể miễn thuế trong mấy năm. Có như thế nhân dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa nói: “Chúng chí thành thành”, ý chí của dân chúng là bức thành kiên cố, đó mới là cái cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ” 1.

Vua Trần Nhân Tông cho là phải, đã tạm đình chi xây thành Thăng Long và ra lệnh miễn tô thuế cho dân trong ba năm. Những cố gắng nói trên của triều đình Trần không chỉ là những biện pháp tình thế nhằm tranh thủ sự ủng hộ nhất thời của dân khi sắp có chiến tranh. Những cố gắng đó xuất phát từ nhận thức của giới lãnh đạo về vai trò của dân, về mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và trăm họ.

“Khi Trần Thái Tông 18 tuổi tức năm 1236, nhà sư ở hùa Yên Tử là Quốc sư Trúc Lâm đại sa môn nói lời khuyên ua: “Phàm người làm vua, nên lấy điều muốn của thiên hạ lm điều muốn của mình, lấy lòng của thiên hạ làm lòng của mình”. Làm vua đã mười năm, Trần Thái Tông vẫn lắng nghe ý kiến nhà sư, vui vẻ tiếp nhận và khi về già, nhà vua đã ghi lại lời khuyên đó để truyền lời sau” 2.

2. Tạo thế mạnh “cử quốc nghênh địch”

Chính nhờ triều đình nhà Trần trong thời kỳ hưng thịnh đã nhận thức được nguồn sức mạnh là ở trong dân, cậy vào nhân dân là lực lượng chiến đấu giữ nước, không phải chỉ cậy vào quân đội, đã có các chính sách phù hợp với nhận thức đó, nên đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của giai cấp phong kiến với lợi ích của dân tộc.

Trên thực tế, triều đình nhà Trần thời kỳ đó đã gắn chặt lợi ích dân tộc với lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị, đặt lợi ích dân tộc lên một vị trí rất cao. Vì lợi ích của dân tộc vì chủ quyền của đất nước phải đoàn kết toàn dân, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho dân, làm cho dân gắn bó với triều đình, tạo nên sức mạnh kháng chiến to lớn. Có bảo vệ được chủ quyền của đất nước mới bảo vệ được lợi ích của thính giai cấp phong kiến. Nếu thua trận, mất nước thì lợi ích của dân tộc bị chà đạp, mà lợi ích của giai cấp phong kiến cũng không còn.

Mặt khác, nhờ nhận thức và những biện pháp chiến lược đúng đắn của triều đình mà người dân cảm thấy đời sống vật chất và tinh thần ổn định, nên từ trong thời bình đã tạo ra được quan hệ gắn bó giữa triều đình và nhân dân.

Với lòng yêu làng, yêu nước truyền thống của người dân Việt, khi quân xâm lược kéo đến, dân chúng đã cùng triều đình và quân đội đánh giặc bằng mọi cách thích hợp.  Dân chúng vùng sông Thương vẫn truyền tụng gương chiến đấu dũng cảm và mưu trí của hai cô gái và các trai tráng vùng đó.


_____________________________
1.  Long Thành dật sử, dẫn theo Phạm Ngọc Phụng: Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. Quân giải phóng, Sài Gòn, 1975, tr.195.
2. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr.47.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:36:38 pm
Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi quân xâm lược từ biên giới đã vượt được Khâu Ôn, Chi Lăng tiến xuống vùng sông Thương thì chúng vấp phải sự đánh trả của dân chúng địa phương. Một đội tiên phong của giặc tiến tới bờ bắc sông dừng lại trú quân để tìm thuyền mảng chuẩn bị đưa quân qua sông. Nhân dân ta bên bờ nam bàn cách chống giặc.

Có hai chị em gái là nàng Bảo và nàng Ngọc, người xinh đẹp mở quán bán hàng bên bờ nam sông Thương đã cùng trai tráng trong làng lập mưu kế lừa giết giặc. Hai cô nhận lời giặc sang bên bờ bắc với hai tên tướng giặc. Khi giặc đem thuyền sang đón, hai cô cùng dân làng Đa Mỗi gần đấy làm tiệc rượu khoản đãi. Trong lúc giặc mải vui chè chén ở trong làng thì ngoài bến sông, các trai tráng trong làng Đa Mỗi lặn xuống nước đục thủng thuyền giặc rồi nút kín lại. Đến tối, hai cô cùng hai tên tướng giặc xuống thuyền dự tiệc rượu mừng, làm lễ hợp cẩn trên sông. Trai tráng làng Đa Mỗi lội ngầm theo dưới nước. Khi thuyền giặc ra giữa lòng sông, những trai tráng ở dưới nước rút nút bịt lỗ thủng cho nước vào thuyền. Hai tên tướng giặc và bọn lính trong thuyền bị chết chìm dưới nước. Nàng Bảo và nàng Ngọc được bố trí đưa lên bờ. Tướng giặc bị giết chết, đội quân tiên phong của giặc cũng bị quân và dân địa phương tập kích, tiêu diệt gọn 1. 
 
Gương chiến đấu anh dũng và thông minh của dân làng Đa Mỗi và của hai cô thật tiêu biểu cho truyền thống yêu nước lâu đời “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của nhân dân và phụ nữ Đại Việt.

Ở những nơi giặc đã chiếm, những bộ phận nhỏ của quân đội triều đình, của quân các lộ, phủ, châu đã phối hợp với hương binh, thổ binh ở lại bám trụ địa bàn sau khi đại quân triều đình đã rút về phía nam, tiến công liên tục ngày đêm vào các mục tiêu sau lưng địch.

Địch rất sợ các cuộc tiến công ban đêm, thường chỉ đối phó cầm cự, chịu thương vong, chờ ban ngày mới kéo quân ra đánh trả. Có những lực lượng quân, dân vùng địch hậu lập thành tích quan trọng, như quân dân ải Nội Bàng tiêu diệt 5.000 quân Mông - Nguyên hộ tống bọn phản bội Lê Trắc về nước, trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.

Có nơi các cuộc tiến công của quân, dân địa phương ngày càng mở rộng khi quân Mông - Nguyên phát triển tiến công đuổi theo triều đình và đại quân nhà Trần.  Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, Nguyễn Lộc, hào trưởng dân tộc Tày đã mở rộng phạm vi đánh địch từ châu Thất Nguyên (Tràng Định, Lạng Sơn) ra cả một vùng rộng lớn từ trại Vĩnh Bình (Cao Lộc, Lạng Sơn) cho đến ải Chi Lăng.  Hoạt động của cánh quân này làm cho bọn đầu sỏ xâm lược rất lo ngại và điều này đã được nêu lên trong báo cáo của A Lý Hải Nha gửi Hốt Tất Liệt.

Các cuộc tiến công rộng khắp đó đã buộc quân giặc phải rải quân để đóng giữ các khu vực, các điểm quan trọng, lập các trạm, trại để bảo đảm tiếp tế từ hậu phương, bảo đảm giao thông liên lạc giữa các khu vực, các điểm đóng quân. Lực lượng tiến công của chúng do đó, ngày càng giảm sút.

Ở khắp nơi giặc đến, thực hiện lời kêu gọi của triều đình, dân các địa phương làm thanh dã, cất dấu lương thực. âm mưu của quân xâm lược lấy lương thảo tại chỗ để nuôi sống binh mã không thực hiện được. Người ngựa đói, sức chiến đấu và tinh thần giảm sút. Các cuộc chiến đấu và hoạt động triệt tiếp tế của địch tại chỗ đã góp phần to lớn vào thắng lợi của kháng chiến.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, chỉ chín ngày sau khi quân Mông Cổ chiếm được Thăng Long, kỵ binh của chúng đã lâm vào tình trạng bị chặn đánh khắp nơi, chịu thương vong thường xuyên, lại thiếu lương thảo, ngày càng thế suy, lực kiệt.

Tình trạng đó đã tạo thời cơ cho quân ta thực hiện trận phản công mạnh mẽ ở đông Bộ Đầu, đánh cho quân xâm lược tan rã, tháo chạy hỗn loạn. Quân xâm lược theo con đường cũ tháo chạy về hướng Vân Nam. Nhưng đến trại Quy Hoá, quân Mông Cổ lại bị nhân dân miền núi do chủ  trại Hà Bổng chỉ huy đổ ra chặn đánh. Quân địch bị đánh bất ngờ, bị tổn thất nặng, hoảng sợ cắm đầu chạy thoát thân không còn dám cướp bóc, đốt phá như khi mới tiến vào Đại Việt.

Trong giai đoạn đầu của hai cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba, các hoạt động tác chiến và triệt tiếp tế của những lực lượng tại chỗ ở khắp nơi địch kéo đến đã góp phần quan trọng làm suy yếu và kìm hãm quân địch, yểm trợ cho đại quân , bảo đảm cho cuộc rút lui chiến lược của triều đình và đại quân thực hiện thắng lợt. Trong giai đoạn sau của hai cuộc kháng chiến này, quân, dân các địa phương đã góp phần to lớn cùng đại quân thực hiện cuộc phản công chiến lược, chặn đánh, đuổi đánh địch trên tất cả các nẻo đường tháo chạy hỗn loạn của chúng, góp phần to lớn đánh tan đạo quân xâm lược của địch.


________________________
1. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Sđd, tr. 173. Theo thần tích làng Đa Mỗi (Bắc Giang), nàng Bảo và nàng Ngọc khi chết được nhân dân địa phương lập đền thờ, tôn là công chúa Bảo Nương và công chúa Ngọc Nương.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:38:53 pm
Triều đình Trần đánh giá rất cao khả năng và vai trò trong kháng chiến của quân đội triều đình, đồng thời cũng đánh giá rất cao khả năng và vai trò của quân và dân các địa phương. Điều đó thể hiện trong việc khen thưởng sau khi kháng chiến thắng lợi.

Ví dụ, sau cuộc kháng chiến lẩn thứ nhất, các tướng chỉ huy quân chủ lực cũng như quân địa phương có công lao đều được trọng thưởng. Lê Phụ Trần được phong tước Bảo Văn hầu và thăng lên chức Ngự sử đại phu.  Còn Hà Bổng cũng được phong tước hầu. Riêng Phùng Lộc Hộ hy sinh trong chiến đấu được nhà vua đặc biệt gia phong tước Lân hổ Đô thống đại vương và khen tặng tám chữ: “Nam thiên tráng khí, Bắc khấu hàn tâm” (Trời Nam khí mạnh, giặc Bắc lòng run).

Cuộc chiến đấu của các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng toàn dân diễn ra ở khắp mọi nơi. Theo sử cũ chép lại, rất hiếm nơi dân không đánh trả địch. Sau cuộc kháng chiến lần thứ ba thắng lợi, nhà vua cho kiểm điểm công, tội để thưởng phạt. Triều đình chỉ xác nhận có hai hương Ba Điểm và Băng Hà (ở phía đông Vạn Kiếp) là đã không đánh khi quân Ô Mã Nhi kéo đến, bèn xử tội đồ quân, dân hai hương đó, đời đời không được làm quan.

Khái quát thực tiễn đó,Việt sử thông giám cương mục đã viết về các cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thời Trần: “Khi có việc chinh chiến, toàn dân đều là lính” 1.
 
Có thể nói rằng các cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên đời Trần, nhất là cuộc thứ hai và thứ ba mang tính chất chiến tranh nhân dân thực sự. Phản ánh sự đánh giá của nhà Nguyên về thực tiễn cuộc chiến tranh, Lê Trắc trong An Nam chí lược đã phải viết: “Thế tử cử quốc nghênh địch “, tức là nhà vua đương đầu với giặc bằng sức mạnh của cả nước. 


III. VUA TÔI ĐỒNG LÒNG, ANH EM HOÀ THUẬN, NƯỚC NHÀ GÓP SỨC


Phát huy tinh thần kiên cường, bất khuất, quyết đánh, quyết thắng quân xâm lược, tìm nguồn sức mạnh giữ nước to lớn ở trong dân, đó là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo có tính sáng tạo và tính hiệu quả cao của nhà Trần trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước chống quân Mông - Nguyên xâm lược.

Muốn phát huy hơn nữa sức mạnh của toàn dân cần phải đoàn kết tất cả các lực lượng của nhân dân lại thành một khối. Triều đình nhà Trần nhận thức rất rõ tầm quan trọng của nhân tố đoàn kết: đoàn kết trong triều đình làm nòng cốt làm gương mẫu để đoàn kết trong cả nước, đoàn kết triều đình với nhân dân, đoàn kết nước với nhà là mối quan tâm lớn của những nhân vật lãnh dạo chủ yếu thời Trần. Và vua quan thời Trần đã có nhiều cố gắng để xây dựng tinh thần đoàn kết đó.

Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: “Vua (Trần Thánh Tông - TG) từng bảo người tôn thất rằng: “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quý; tuy bên ngoài thì là cả thiên hạ phụng một người tôn quý, nhưng bên trong thì ta cùng với các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui, các khanh nên lấy câu nói ấy mà truyền cho con cháu để nhớ lâu đừng quên, thế là phúc muôn năm của tôn miếu xã tắc vậy. Đến đây xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, xong buổi chầu thì vào trong điện và lan đình, cùng nhau ăn uống. Hoặc có khi trời tối không về thì đặt gối dài chăn rộng cùng ngủ liền giường với nhau, để tỏ hết lòng yêu mến nhau. Còn như khi có lễ lớn, tân khách, yến tiệc, thì phân biệt ngôi thứ cao thấp. Vì thế nên các vương hầu bấy giờ không ai là không hoà thuận kính sợ, mà không có lỗi lệch vì sự nhờn mặt kiêu căng” 2.

Nhiều nhân vật quan trọng trong triều đình đã dẹp các mối bất hoà hoặc liềm khích cá nhân để cùng nhau đồng tâm hiệp lực lo việc nước. Có thể dẫn vài ví dụ: An Sinh vương Trần Liễu, thân sinh của Trần Quốc Tuấn, vợ có thai trong lúc Trần Thái Tông chưa có con kế nghiệp. Trấn Thủ Độ đã ép Trần Liễu nhường người vợ đó cho Trần Thái Tông để bảo đảm có người nối ngôi nhà Trần.

Trần Liễu căm thù việc đó, khi sắp chết đã dặn Trần Quốc Tuấn: “Con không vì thù của cha mà cướp lấy ngôi vàng thì cha chết cũng không nhắm mắt được”. Trần Quốc Tuấn đặt nghĩa lớn lên trên đã không thực hiện lời trối trăng của cha và một lòng phò tá các vua Trần kế tiếp nhau trong sự nghiệp đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc. 


_________________________
1. Việt sử thông giám cương mục, q.6, t.27b.
2. Toàn thư, Sđd, tr.37.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:41:07 pm
Việc gia đình của Trần Quốc Tuấn, nhà vua và triều đình đều biết. Nhưng nhà vua, trọng đức tài của Trần Quốc Tuấn, đặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc lên trên, vẫn tin cậy và phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, nắm trong tay vận mệnh của đất nước.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép vài chuyện cụ thể chứng minh tinh thẩn đó trong triều đình. “... Thánh Tôn thân đi đánh giặc. Quang Khải theo hầu, ghế thái sơ bỏ không. Vừa gặp sứ phương Bắc sang. Thái Tôn gọi Hưng Đạo vương Quốc Tuấn bảo rằng: “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm muốn cho khanh làm tư đồ để ứng tiếp sứ thần phương Bắc. Quốc Tuấn trả lời: “Việc ứng tiếp sứ thần phương Bắc thần không dám từ chối, còn việc cho thần làm tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu, mà bệ hạ tự phong cho thần làm chức ấy thì tình nghĩa trên dưới sợ có chỗ chưa ổn, không được thoả lòng quan gia và Quang Khải. Đợi khi quan gia về sẽ xin nhận chức cũng chưa muộn gì” 1.

Lại chép: “Hai người (Quang Khải và Quốc Tuấn) vốn không ưa nhau. Có một hôm Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp đến, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới về. Lại tính Quang Khải lười tắm gội, Quốc Tuấn thì thích xông tắm; có lần nói đùa với Quang Khải rằng: “Thân cáu bẩn, xin tắm  dùm”. Quốc Tuấn mới cởi áo của Quang Khải ra, lấy nước thơm để tắm và nói: “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”.  Quang Khải cũng nói: “Hôm nay được Quốc công tắm cho”. Từ đấy hai người vui chơi với nhau, tình thân càng mặn” 2.

Trên cơ sở tăng cường đoàn kết trong nội bộ triều đình, trong hàng ngũ vương hầu quý tộc, nhà Trần rất chú trọng thắt chặt mối quan hệ giữa trong và ngoài hoàng tộc, giữa triều đình với các địa phương. Từ năm 1282 chế độ thi cử thời Trần được đưa vào nền nếp. Do đó, người ngoài hoàng tộc tham gia vào việc nước ngày càng nhiều, giữ nhiều chức vụ quan trọng thuộc nhiều lĩnh vực trong triều đình cũng như ngoài các lộ, phủ, châu. Mối quan hệ đồng tâm, nhất trí của vua tôi, trong bộ máy chính quyền nhà nước nhờ đó được tăng cường.

Các vua Trần rất chú ý tăng cường sự gắn bó giữa triều đình với các thủ lĩnh miền núi. Mối quan hệ vua tôi được tăng cường bằng quan hệ hôn nhân. Với những chính sách, biện pháp mềm dẻo, nhà Trần đã tranh thủ được các tù trưởng, thổ ty, tộc trưởng vùng rừng núi biên giới, biến họ thành những bề tôi trung thành của triều đình. Trong cả ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, họ là những thủ lĩnh lãnh đạo cuộc chiến đấu kiên cường và có hiệu quả của nhân dân các dân tộc trên những địa bàn rất quan trọng về chiến lược.

Sức mạnh kháng chiến to lớn và bền bỉ của cả nước thời Trần rõ ràng là kết quả của các cố gắng đoàn kết dân tộc, đoàn kết nước và nhà, của các chính sách tiến bộ được kiên trì thực hiện từ thời bình, trong nhiều năm, nhằm mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đánh giá cao sức mạnh đoàn kết trong tập đoàn lãnh đạo kháng chiến vương hầu, tôn thất), sức mạnh đoàn kết nước và nhà, Trần Quốc Tuấn đã nói rõ trong Di chúc Canh Tý:“Vừa đây Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt vây đánh. Vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước cả nhà góp sức, bọn giặc tất phải chịu bị bắt. Đó là do trời xui nên tất nhiên phải như vậy”.

Trong đoạn ngắn này của Di chúc, chúng ta có thể thấy mấy ý rất quan trọng.

Nguyên nhân thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, nhân tố đoàn kết, cả nước, cả nhà góp sức (quốc gia tính lực) được đặt lên hàng đầu, mặc dù nguyên nhân bao trùm nêu trong Di chúc, nói ở cuối, có tính chất kết luận, là: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giừ nước”. Thực ra, khoan thư sức dân cũng tức là đoàn kết với dân.

Nói về cả nước, cả nhà góp sức, Trần Quốc Tuấn dùng chữ tính lực (quốc gia tính lực), chứ không phải hợp lực như thường nót. Như vậy là có ý nói sức nước và sức nhà phải gắn chặt làm một, tạo nên một sức mạnh tổng hợp.  Tính quy luật tất yếu của quan điểm: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước cả nhà góp sức, thì địch tất phải bị bắt” được làm rõ với câu nói: “Đó là trời xui nên tất nhiên phải như vậy .

Trong Di chúc, nói đến chuyện lịch sử của mấy triều đại trước đó, Trần Quốc Tuấn cũng nói về nhân tố đoàn kết: “Đời Đinh, Lê, dùng được người hiền tài, phương Nam đương mạnh, phương Bắc đương suy, trên dưới đồng tâm, lòng dân không ly tán (thượng hạ đồng dục, dân tâm bất ly) đắp thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống.


__________________________
1. Toàn thư, Sđd, tr.72.
2. Toàn thư, Sđd, tr.72


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:44:41 pm
Phản ánh tác dụng to lớn của nhân tố đoàn kết trong kháng chiến, Binh thư yếu lược cũng nêu rõ: “Hoà mục có công hiệu rất lớn cho cuộc trị an. Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh. Hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động. Bất đắc dĩ mới phạt kẻ làm xằng, càng quý hoà mục. Vua tôi hoà mục thì dùng được người tài. Tướng văn tướng võ hoà mục thì làm nên công nghiệp. Tướng sĩ hoà mục, trong lúc thường sẽ nhường nhịn nhau, gặp nguy nan sẽ cứu giúp nhau. Đó, hoà mục là đạo rất hay cho việc trị nước hành binh, không thay đổi được” 1.
 

IV. NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐỘC ĐÁO VỀ XÂY DỰNG
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC

Kế thừa truyền thống đã được thử thách trong chiến tranh của các triều đại trước, nhà Trần phát triển có hệ thống các quan điểm và chính sách rất độc đáo của dân tộc Việt Nam trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cẩu làm nòng cốt cho cả nước đánh giặc. ở đây chỉ nêu lên những vấn đề về quan điểm.

1. Tổ chức ba thứ quân.

Quân của triều đình trung ương, của các vương hầu quý tộc của các địa phương (lộ, phủ, châu), của các làng, bản, xã.  Khác với nhiều nước vào thời kỳ đó và ngay cả ngày nay, để sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc người ta thường chăm lo tổ chức quân đội hùng mạnh của nhà nước trung ương. 

Để phù hợp với yêu cầu dựa vào sức mạnh của dân để giữ nước, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt dành giặc, lực lượng vũ trang thời Trần được tổ chức thành các thành phần sau đây:

- Quân chủ lực của triều đình.

- Quân của quý tộc (Vương hầu, tôn thất).

- Quân của các lộ, phủ, châu.

- Lực lượng dân binh (hương binh, thổ binh) trong các làng xã, bản, động.

  a. Quân của triều đình gồm cấm quân và sương quân. Cấm quân trong thời bình đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. Khi có chiến tranh, là quân chủ lực, quân cơ động để đánh giặc. Sương quân là lính hạng nhì sau cấm quân, dùng để canh gác và làm các việc tạp dịch. Được biên chế trong sổ sách, nhưng sương quân không phải là quân thường trực như cấm quân. Khi nào có việc thì gọi ra hoạt động hoặc huấn luyện, hết việc thì trở về nhà làm ruộng.

b. Các vương hầu, tôn thất thời Trần được phân cấp thái ấp để cai quản và hưởng lộc, được tổ chức lực lượng vũ trang riêng để tự bảo vệ. Việc mộ quân, tuyển quân thực hiện theo lệnh của triều đình,tuỳ theo sự cần thiết về phòng thủ của từng thái ấp. Trong thời bình, lực lượng này số lượng không nhiều. Khi có chiến tranh các vương hầu được quyền phát triển lực lượng đó, nhưng điều đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của triều đình.

Quân của vương hầu, tôn thất ngày thường mang tính chất quân của địa phương, là lực lượng bảo vệ các thái ấp.  Khi triều đình điều động thì trở thành thành phần quan trọng của quân triều đình.
Như vậy, cả hai loại quân trên được tổ chức theo kế hoạch thống nhất của triều đình và đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của triều đình trong chiến tranh.

c. Các lộ phủ, châu, được quyền tổ chức quân của mình, có lúc gọi là phong quân, phong đoàn. Quân địa phương của các lộ phủ , châu có nhiệm vụ canh phòng và đánh giặc ở địa phương mình. Khi có chiến tranh, triều đình có thể điều động quân các lộ di đánh giặc ở những vùng khác. 

Quân các lộ được thay phiên nhau ở tại ngũ hay về sản xuất tự túc Khi cần thiết, số này được gọi nhập ngũ.  Quân các lộ là lực lượng đông đảo, làm nòng cốt cho dân binh đánh giặc.


________________________
1. Binh thư yêú lược, Sđd, tr.39.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:49:04 pm
d. Ở các làng, xã, bản, động có tổ chức dân binh. Quan điểm và chính sách này của nhà Trần phù hợp với yêu cầu tận dân vi binh, cả nước đánh giặc, đồng thời phù hợp với truyền thống cố kết trong cộng đồng làng, xã để sản xuất và chiến đấu bảo vệ sản xuất.

Trải qua ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, dân tộc ta đã hình thành ở cơ sở làng, xã nếp sống “tĩnh vi nông, động vi binh”, ngày thường làm dân, lúc có giặc là binh.

Bốn thành phần nói trên thực chất là phân làm ba loại: quân chủ lực của triều đình, quân địa phương của các lộ, châu, phủ và dân binh các làng xã, bản, động (quân của vương hầu, tôn thất, khi thì làm chức năng quân địa phương, khi thì làm chức năng quân chủ lực của triều đình, tuỳ theo tình hình và nhiệm vụ).

Ở đây đã hình thành rõ nét mô hình tổ chức lực lượng vũ trang truyền thống ở nước Đại Việt. Ba loại lực lượng này kết hợp chặt chẽ với nhau: quân chủ lực làm nòng cốt cho quân địa phương đứng vững trước quân giặc mạnh; ngược lại quân địa phương kiềm chế, phân tán, tiêu hao lực lượng quân địch dể quân chủ lực đánh đòn quyết định; quân địa phương làm nòng cốt cho dân binh đánh giặc, dân binh làm nòng cốt cho toàn dân chiến đấu và đấu tranh. 

Ngược lại, cuộc chiến đấu của toàn dân và dân binh dựa vào lực lượng địa phương làm nòng cốt đã tạo nên thế trận “làng-nước”, thế trận thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân, làm cho những đạo quân mạnh và thiện chiến của Mông- Nguyên bị sa lầy, bất lực, bị hao và thất bại.

2. Ngụ binh ư nông - xây dựng lực lượng vũ trang nằm trong dân, gắn liền sản xuất với sẵn sàng chiến đấu

Kế thừa quan điểm và chính sách xây dựng lực lượng vu trang đã có từ thời Tiền Lê và thời Lý, nhà Trần tiếp tục thực hiện chủ trương ngụ binh ư nông.

Ngụ binh ơ nông, hiểu vắn tắt là gửi binh ở nông. Binh có nghĩa là binh lính, cũng có nghĩa là việc binh, việc quân sự việc giữ nước. Nông có nghĩa là nông dân, cũng có thể hiểu là nông thôn, nông nghiệp. Đây là chính sách lớn, một quốc sách về xây dựng lực lượng vũ trang thời bình, chuẩn bị cho thời chiến.

Theo chính sách này, khi đất nước vô sự, thì trừ cấm quân phải thường xuyên túc trực để làm nhiệm vụ bảo vệ triều đình, còn các loại quân khác như sương quân và quân các vương hầu, các lộ được chia thành nhiều phiên, theo định kỳ, một bộ phận thường trực tại ngũ luyện tập và canh phòng, một bộ phận trở về sản xuất. Thời hạn dài ngắn được tính tuỳ theo tình hình đất nước. Khi có chiến tranh, tất cả trở lại quân ngũ theo đơn vị đã định và lệ thuộc vào các tướng. Theo chính sách này, các xã hằng năm phải lập sổ hộ, chia số dân ra làm nhiều hạng, chọn những người khoẻ mạnh sung vào quân ngũ.

Chính sách ngụ binh ư nông có nhiều ưu điểm:

- Quản lý tất nhân đinh. Tất cả đinh nam từ 18 tuổi trở lên, khoẻ mạnh, đều được ghi tên trong sổ, đều phải thi hành nghĩa vụ binh dịch.

- Các tráng đinh đều được huấn luyện quân sự, luyện tập võ nghệ.

- Thời bình, chỉ cần giữ một bộ phận nhất định tại ngũ, còn phần lớn tráng đinh là quân dự bị, khi cần có thể huy động ngay và ai nấy đều đã biết rõ quân ngũ của mình. 

- Cân đối giữa lực lượng sản xuất và lực lượng quân sự, giảm bớt chi phí quốc phòng, bảo đảm nhân lực cho nông nghiệp, lại bình thường hoá sinh hoạt gia đình ở nông thôn. 

Nhờ vậy, quân số của nhà Trần thời bình thường chưa đầy 10 vạn 1 nhưng trong kháng chiến chống Mông - Nguyên có lúc triều đình đã huy động được 20-30 vạn quân đánh giặc.  Trong khi đó thì khắp nước ở đâu có giặc đến là có dân chúng đánh trả. “Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận lợi khi có nạn thì đều hết sức chống cự. Thế là thời Trần nhân dân ai cũng là binh nên mới phá được giặc, làm cho thế nước được mạnh” 2.


_____________________
1, 2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, tr.5-6.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:53:34 pm
3. Phụ tử chi binh, xây dựng khối đoàn kết trong quân đội.

Trong Di chúc, Trần Quốc Tuấn viết: “Phải đạt được quân đội đồng lòng như cha con một nhà mới có thể dùng được (Thủ đắc phụ tử chi binh, thuỷ khả dụng dã). Đây là cách vận dụng quan điểm về sức mạnh đoàn kết và truyền  thống cố kết dân tộc vào trong quân đội.

Quan diềm này xuất phát từ tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, từ quyết tâm tạo nên sức mạnh lớn nhất của một nước nhỏ dể đánh thắng kẻ địch xâm lược lớn mạnh. Thực hiện được phụ tử chi binh trong quân đội mà phần lớn người chỉ huy cấp dưới và quân lính thuộc thành phần nông dân tự do hay nô tỳ, gia nô, điều đó tuỳ thuộc rất nhiều vào phẩm chất và bản lĩnh của người tướng.

4. Quân cốt tinh, không cất nhiều (chú trọng chất lượng của quân đội)

Đầu năm 1287, quân Mông - Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ ba. Đứng trước cuộc đọ sức chắn chắn là rất quyết liệt sắp diễn ra, có một số đại thần trong triều đình nhà Trần xin tăng quân số để đủ sức chống giặc. Trần Quốc Tuấn lúc đó là Quốc công tiết chế (Tổng tư lệnh) đã bác bỏ đề nghị trên và nói rằng: “Quân cốt tinh không cốt nhiều, dù đến như Bồ Kiên có một trăm vạn quân, có làm được gì đâu?” 1. Nhà vua và cả triều đình đã chấp thuận ý kiến của ông.  Quan điểm chiến lược quân cốt tinh, không cất nhiều có những căn cứ khách quan của nó.
 
a. Nước địch lớn, nước ta nhỏ. Quân địch đông, ta cần có số quân cần thiết để cùng toàn dân đánh thắng chúng, nhưng ta không thể đua với chúng về số lượng được. Yêu cầu rất lớn đối với quân đội trong điều kiện đó là phải tinh nhuệ, có chất lượng cao.

b. Binh chế thời Trần, ngoài quân triều đình còn có quân các vương hầu, quân các lộ, phủ, châu, có dân binh các làng xã động bản, làm nòng cốt cho trăm họ đánh giặc. Ta có đủ sức để đánh địch khắp nơi, buộc quân đội đông của chúng phải phân tán lực lượng đối phó bị động, bị sa lầy trong thế trận làng - nước của ta, tạo điều kiện cho quân chủ lực của triều đình với số lượng không nhiều nhưng tinh nhuệ có thể từng bước tập trung lực lượng ưu thế hơn địch, đánh thắng chúng ở những nơi trọng điểm.

Việc thực hiện chính sách ngụ binh ư nông tạo cơ sở về tổ chức để thực hiện việc đó. Mặt khác, lại cho phép mở rộng số quân triều đình khi cần thiết.  Như vậy, xét về quân đội tập trung thì quân ta thường ít hơn địch. Nhưng xét về số người cầm vũ khí đánh giặc thì ta lại đông hơn địch. Và trong các trận đánh quyết định, ta bao giờ cũng đủ sức áp đảo, tiêu diệt địch. 

c. Nước ta nhỏ, tiềm lực các mặt hạn chế so với nước đến xâm lược từ phương Bắc. Việc duy trì một đạo quân tinh nhuệ, vừa đủ, không nhiều làm đỡ bớt gánh nặng cho nền kinh tế bảo đảm giữ nước, lợi cho việc bồi dưỡng sức dân.  Như vậy vừa có kinh tế mạnh, vừa có quốc phòng mạnh, đủ sức đương đầu thắng lợi trước quân xâm lược. 

Quan điểm quân cốt tinh bao gồm nhiều mặt. Trước hết là về chính trị phải có ý chí “Sát Thát”, sẵn sàng “bỏ mình vì nước”. Phải đạt được “phụ tử chi binh” (quân đội một lòng như cha con). Phải sâu rễ bền gốc trong dân, gắn bó với dân với chính quyền dân tộc như Di chúc và Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn.

Điều quan trọng là phải tinh thông võ nghệ “tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông - nhà nhà đều là Hậu Nghệ”. Lại phải nắm vững binh pháp. Phải tổ chức huấn luyện tốt ở giảng võ đường và ở quân doanh khi lính còn tại ngũ. Việc huấn luyện quân đội cần đạt được trên dưới hiểu nhau, hành động ăn khớp. Binh thư yếu lược đề ra yêu cầu: “Khiến quân biết ý tướng, tướng biết tính quân, theo đó mà đi, như cánh tay sai khiến ngón tay, quân tướng cùng quen, người đều tự đánh. . .” 2 .

Và tất nhiên là quân đội phải được trang bị tốt, bảo đảm các mặt tốt và chuẩn bị chiến trường tốt (như trận Bạch Đằng).  Trên thực tế, nhà Trần chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang theo tinh thần quân cốt tinh. Chất lượng và sức chiến đấu cao của quân nhà Trần đã được thể hiện trong các trận đông Bộ Đầu, Chương Dương, Tây Kết, trận giải phóng Thăng Long, trận Vạn Kiếp, v.v.. Đó là nói về bộ binh. Trận Bạch Đằng lịch sử và trận Vân Đồn đã tỏ rõ chất lượng cao của thuỷ binh thời Trần. Và kẻ địch cũng rất sợ hãi những bộ phận nhỏ của bộ binh, thuỷ binh tinh nhuệ của ta lặn xuống nước đục thuyền theo kiểu Yết Kiêu, Dã Tượng. . .


________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.59.
2.  Binh thư yếu lược, Sđd, tr.228.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:59:43 pm
V. BẠT DỤNG LƯƠNG TƯỚNG
(CHỌN DÙNG TƯỚNG GIỎI)


Để đánh thắng một kẻ địch lớn mạnh, thiện chiến và xảo quyệt như giặc Mông - Nguyên, nhà Trần rất chú trọng xây dựng đội ngũ các tướng. Trong các sách cổ của ta, tướng có nghĩa là người chỉ huy, người cầm quân.

Di chúc Canh Tý của Trần Hưng Đạo nêu yêu cầu phải cất nhắc tướng giỏi (bạt dụng lương tướng), nhất là trong hoàn cảnh kẻ thù xảo quyệt thay đổi cách đánh.  Binh thư yếu lược chép: “binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chu” 1.

Theo tinh thần đó, nhà Trần đã xây dựng được một đội ngũ các tướng có phẩm chất, có tài năng, đã lập nhiều công lao xuất sắc, làm tròn vai trò nòng cốt cho ba quân và cho cả nước đánh giặc. Nhiều tướng xuất thân từ tầng lớp quý tộc, một số xuất thân từ dân thường như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoát...

Các tướng đều giỏi đánh giặc, nuôi quân. Có tướng còn biết làm thơ động viên quân đội và ca tụng công lao của quân dân, như Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, có tướng thông thạo tiếng nói và phong tục các dân tộc thiểu số miền núi như Trần Nhật Duật, có tướng còn làm được chức trách sứ thần hay phái viên của nhà vua đi giao thiệp với giặc, như Lê Phụ Trần, Đỗ Khắc Chung. Nhiều tướng thạo đánh địch ở rừng núi, ở sông, biển, nhiều tướng có tài chỉ huy các lực lượng vũ trang tại chỗ đánh địch rộng khắp như Hà Chương, Hà Bổng, Trần Thông, Nguyễn Lộc, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền. Có tướng có tài chỉ huy thuỷ binh như Trần Khánh Dư. Có người thạo cách đánh bí mật lặn dưới nước, đục thủng đánh chìm thuyền địch như Yết Kiêu, Dã Tượng...

Hàng vạn tướng đã được đào tạo, cất nhắc thời Trần, từ người tướng chỉ huy mười người, trăm người, nghìn người, đến hàng vạn, mười vạn người, cho đến tướng chỉ huy được cả thiên hạ.

Đặc biệt, thời Trần đã nổi lên vai trò của vị danh tướng hàng đầu Trần Hưng Đạo. “Trần Hưng Đạo là vị anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân sự kiệt xuất, có công lao to lớn trong công cuộc chuẩn bị và thực hành ba cuộc kháng chiến của quân dân ta, đánh thắng mọi cố gắng xâm lược điên cuồng của đế chế Mông - Nguyên, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc, truyền giại cho chúng ta nhiều quan điểm, tư tưởng chính trị - quân sự tiến bộ vượt thời đại” 2.   

Xây dựng đội ngũ tướng lĩnh là một quá trình lâu dài, không dễ dàng. “Người giỏi dùng tướng thì trước hết phải giỏi chọn tướng. Người giỏi chọn tướng thì trước hết phải giỏi biết tướng” 3. Và tất nhiên, trên cơ sở biết tướng, cần có kế hoạch bồi dưỡng người tướng theo những tiêu chí cơ bản về phẩm chất của người cẩm quân đánh giặc. 

Binh thư yếu lược đề ra tướng có năm tài,cũng tức là năm phẩm chất của người tướng, năm yêu cầu đối với người tướng. Năm tài là dũng - trí - nhân - tín - trung. Và giải thích: “dũng thì không ai phạm được, trí thì không cái gì làm rối được, nhân thì yêu dân, tín thì không lừa dối, trung thì không hai lòng” 4.

1. Phẩm chất “dũng” được đặt ở hàng đầu. Có thể hiểu rằng, đương đầu với quân xâm lược mạnh như quân Mông - Nguyên, trước hết người tướng phải có tinh thần dũng cảm dám đánh, không sợ địch. Đó là cơ sở để tìm ra cách đánh hiệu quả.

2. Đáng chú ý là trong Di chúc của Trận Quốc Tuấn cũng như trong nhiều trang của Binh thư yếu lược, phẩm chất “trí” được nhấn mạnh và phân tích trên nhiều mặt. Mục chọn tướng, quyển I chỉ rõ: “Có tướng dũng và tướng trí... Tướng dũng có thể giúp được việc đánh thành hãm trận, nhưng liệu tính việc địch, chia đặt quân kỳ, lâm cơ ứng biến, nếu không có tướng trí thì không được. Mà kẻ dũng thì thường kém kẻ mưu”... 5.

Trong mục Đạo làm tướng của Binh thư yếu lược, có nhắc chuyện Ngô Khởi, một danh tướng thời Chiến quốc: “Ngô Khởi khi ra trận, người tả hữu dâng gươm. Khởi nói: “Tướng   chỉ chuyên cầm cờ trống mà thôt. Lâm nạn quyết đánh-, vẫy gươm chỉ giáo là việc của tướng. Dùng một thanh gươm không phải là việc của tướng” 6.


______________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.228.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Thư gửi cuộc hội thảo nhân dịp Kỷ niệm 700 năm ngày mất Trần Hưng Đạo.
3, 4, 5. Binh thư yêú lược, Sđd, tr.37, tr.55, tr.35.
6. Binh thư yêú lược, Sđd, tr.52, tr.35-37.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:30:04 pm
Binh thư yếu lược khi đề cập đến phạm vi hiểu biết của người tướng đã viết: “Hình gia và danh gia không cần kiêm làm binh gia, mà binh gia thì phải kiêm hình gia và danh gia; âm dương gia thì không cần kiêm làm binh gia, mà binh gia thì phải kiêm âm dương gia” 1.

Như vậy, người phụ trách việc binh, người chỉ huy, người làm tướng phải có kiến thức rộng, toàn diện. Ngoài kiến thức nhà binh, người làm tướng phải hiểu biết về chính trị và pháp luật (hình gia), về tư duy triết học (danh gia) và về những mối quan hệ trong thiên nhiên và trong xã hội (âm dương gia).

“Người làm tướng không nên lấy giỏi cung đao cưỡi bắn làm tài, mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi” 2. Muốn trở thành “tướng trí”, phải không ngừng học tập và suy nghĩ.  Chăm lo học tập để nâng cao trình độ tri thức của tướng sĩ là điều quan tâm lớn của Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh. 

Trước sự uy hiếp xâm lược của kẻ địch thì yêu cầu học tập càng trở nên cấp bách. Khi cuộc kháng chiến lần thứ hai sắp nổ ra, Trần Hưng Đạo ban bố Hịch tướng sĩ, trong đó có đoạn: “Nay ta chọn binh pháp các nhà, soạn thành một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo thì trọn đời là tôi chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là cừu thù. 

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa  nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc...” 3.

Người học phải suy nghĩ, nắm được thực chất của nội dung học tập mà vận dụng vào thực tiễn tác chiến. Đề tựa cho sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Trần Khánh Dư nêu yêu cầu: . Người dùng nên bỏ bớt chỗ rờm, lược lấy chất thực... Nên lấy lòng sáng suốt mà thi hành bày xếp, không nên lấy ngu tối mà dạy truyền, trái thế thì mình phải chịu tai ương mà vạ lây đến cả con cháu.

Trong Di chúc của Trần Quốc Tuấn, có đoạn: Nếu thấy quân nó kéo đến như lửa như gió thì dễ chế ngự thế của chúng. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không ham của dân, không cầu thắng chóng thì phải chọn dùng tướng giỏi (bạt dụng lương tướng) xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tuỳ thời mà đối phó thích hợp.

Trần Quốc Tuấn đã nắm được quy luật hành động của quân xâm lược. Chúng thường dùng sức mạnh quân sự ưu thế, đánh ào ạt, hòng nhanh chóng đè bẹp quân ta. Nhưng khi cách hành binh đó bị thất bại, kẻ địch xảo quyệt tất phải dùng cách khác, nguy hiểm hơn.

Chiến lược của chúng là đánh nhanh, nhưng nay chúng lại tiến chậm. Yêu cầu chiến lược của chúng là cướp của dân để giải quyết vấn đề tiếp tế khó khăn, nhưng nay chúng lại làm như không ham của dân.  Vì vậy khi thủ đoạn của địch đã thay đổi thì ta không nên dùng cách đánh trả như trước, mà phải tuỳ cơ ứng biến, xử lý tình huống một cách linh hoạt, thích hợp để đánh bại các thủ đoạn mới của địch, chiến thắng chúng.

Tất nhiên, ta cũng hiểu rằng khì địch đánh ào ạt theo lối cũ, ta cũng phải dùng tướng giỏi. Nhưng khi địch đã thay đổi thủ đoạn thì phải chọn tướng giỏi hơn. Điều đó có nghĩa là nếu cứ hăng hái đánh địch, dũng cảm nhiều, mưu trí ít thì không thắng được địch trong hoàn cảnh địch thay đổi âm mưu, thủ đoạn xâm lược. Phải chọn dùng tướng giỏi, tức là vừa có tinh thần dũng cảm, lại vừa có kiến thức, mưu trí, linh hoạt, nhạy bén nắm bắt được diễn biến mới trong âm mưu địch, nghĩ ra cách có hiệu lực để phá chúng. 

Kiến thức sâu rộng là rất quan trọng nhưng kiến thức đó phải được thể hiện ở tài tổ chức và chỉ huy ba quân, phát huy được lòng dũng cảm và trí sáng tạo của ba quân một cách có tổ chức, tạo nên sức mạnh đánh giặc có hiệu quả nhất. 

Mục Đạo làm tướng cũng chỉ rõ: “Quân được hay thua do ở người tướng. Có phải bởi tướng làm nên đâu, chỉ là do sự dùng của tướng mà thôi. Trí địch muôn người, không dùng được muôn người thì cũng như người ngu vậy; dũng nhất ba quân, nếu không dùng được ba quân thì cũng như người nhát vậy. Người tướng giỏi vững vàng mà hay biến hoá, cứng cáp mà hay thương người, nhân từ mà hay quyết đoán, dũng cảm mà hay tường tất, lấy chính sách mà chế ngự quan và quân.  Chưa thấy ai như thế mà không dựng được công nghiệp để dẹp yên hoạ loạn bao giờ 4.


______________________________
1, 2.  Binh thư yếu lược, Sđd, tr.52, tr.35-37.
3. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.35-37.
4. Binh thư yêú lược, Sđd, tr.60.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:36:12 pm
3. Trên cơ sở trí dũng song toàn, người tướng phải có phẩm chất “nhân”, tức là phải thương yêu quân lính, nhân dân, cùng với quân lính kết thành một khối, phải tranh thủ được sự ủng hộ của dân mới có sức mạnh để thắng địch.  Như trên đây đã trích dẫn, trong Di chúc của mình, Trần  Quốc Tuấn đã nói: “Phải đạt được quân đội đồng lòng như cha con một nhà, mới có thể dùng được (Thủ đắc phụ tử chi binh, thuỷ khả dụng dã)”. Binh thư yếu lược, tham khảo “binh pháp các nhà” đã trình bày quan điểm đó trên nhiều góc cạnh.

Tướng phải yêu thương quân lính, gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với họ. “Người tướng quên mình để báo ơn vua mà không làm cho lòng sĩ tốt cũng như mình, thì tướng ấy chưa phải là tướng lập công giỏi. Cùng sĩ tốt ăn uống, thì sau sĩ tốt quên được nỗi đói khát ở trên cật ngựa; cùng sĩ tốt lên đài đi giày thì sau sĩ tốt quên được nạn chông gai ở ngoài quan ải, cùng sĩ tốt cùng dậy cùng nghỉ thì sau sĩ tốt quên được nỗi lao khổ của chiến chinh; lo cái lo của quân lính, đau cái đau của quân lính, thì sau quân lính quên được vết thương vì gươm tên. Việc đã quen mà tình lại chu đáo, nên lấy đánh giặc làm thiết yếu, lấy đau chết làm phận sự, lấy xông pha tên đạn làm việc gốc mà không biết mình ở vào chỗ gian nguy” 1.

Tướng phải gương mẫu trong sinh hoạt, “mùa đông không mặc áo da, mùa hè không dùng quạt, trời mưa không che lọng, gọi là lễ tướng. Không tự mình theo lễ thì không biết quân lính rét nóng thế nào. Ra cửa ải gặp chỗ bùn lầy, tướng nên xuống đi bộ. Không tự mình ra sức thì không biết quân lính vất vả thế nào. Phàm khi hành quân, quân đã định được nơi đóng thì tướng mới đến nhà ở. Cơm quân nấu chín rồi thì tướng mới đi ăn; quân không đỏ lửa thì tướng cũng không đỏ lửa. Thế gọi là ngăn lòng muốn. Tướng không ngăn lòng muốn thì không thể biết quân lính no đói thế nào” 2.   

Tướng phải đem mình làm trước. Khi nắng thì không trương dù, khi rét thì không mặc áo kép, gặp chỗ hiểm trở thì đi bộ. Giếng quân đào xong rồi mới uống sau. Cơm quân nấu chín rồi mới ăn sau. Lũy quân đắp xong rồi sau mới làm nhà ở. Nhọc hay nghỉ, mình phải cùng với quân lính. Như thế thì quân dù ở lâu cũng không đến nỗi già mỏi” 3. 

“Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị. Quân có người chết, tướng phải khóc thương.  Quân đi thú xa thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi. Phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân. Khi có hành động thì phải họp các tướng để bàn, mưu đã định rồi sau mới đánh. Cho nên tướng với binh có cái ơn hoà rượu và hút máu.  Cho nên quân sĩ có những cuộc vui thui trâu bày rượu và cái khí ném đá vượt rào. Họ yêu mến tướng như con em yêu mến cha anh, như chân tay giữ gìn đầu mắt, không ai có thể ngăn được Nếu hà khắc làm cho họ đau đớn, bắt làm lụng nặng nề,thì những tiếng thù oán nghe không xiết. Tướng coi quân sĩ như cỏ rác thì quân sĩ coi tướng như cừu thù, mong cho họ làm bộ hạ cũng là khó, còn mong gì họ gắng sức liều chết để đánh địch nữa. Đó là đại lược về phép tướng suý vỗ về quân sĩ vậy  4.

Phạm Ngũ Lão là một vị tướng đã nêu gương tốt về yêu cầu này. “ông coi quân có kỷ luật, đối đãi với tướng hiệu như người nhà, cùng quân lính chia ngọt sẻ đắng cho nên đánh đâu không ai địch nổi. Phàm đánh dẹp lấy được gì đều bỏ vào việc chi dùng cho quân lính, coi của cải như không, là danh tướng trong một thời” 5.

4. Người tướng còn phải rèn luyện phẩm chất “tín” - tức là xây dựng lòng tin với ba quân, phải thanh liêm, sống vô tư khiêm tốn, công bằng với cấp dưới.

Trần Thủ Độ có công lớn trong việc xây dựng triều Trần từ buổi đầu đã có những biểu hiện rõ nét về phẩm chất công bằng, ngay thẳng, tôn trọng sự thật, động viên cấp dưới làm điều phải và thi hành đúng chức trách.

Đại Việt sử ký toàn thư kể chuyện như sau: “Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua. Bấy giờ có người hặc và ra mắt Thái Tôn, khóc nói rằng: “Bệ hạ trẻ thơ mà Thủ Độ quyền hơn cả vua, đối với xã tắc sẽ ra sao?”. Vua lập tức hạ lệnh xa giá đến nhà Thủ Độ và đem cả người hặc ấy đi theo. Vua đem lời của người hặc ấy nói tất cả cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời: “Đúng như lời người ấy nói”, rồi lấy tiền lụa thưởng cho người ấy.

Linh từ quốc mẫu có khi ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm, người quân hiệu ngăn lại không cho đi. Về nhà, khóc bảo Thủ Độ rằng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu khinh nhờn như thế”. Thủ Độ giận sai đi bắt. Người quân hiệu ấy chắc là phải chết. Khi đến nơi Thủ Độ vặn hỏi trước mặt. Người quân hiệu ấy đem sự thực trả lời Thủ Độ không những không trách phạt mà còn ban thưởng.


___________________________
1, 2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.43-44, tr.69.
3, 4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.49- 50, tr.13.
5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 2, tr. 110.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:44:18 pm
Tướng phải công bằng và nghiêm minh trong thưởng phạt. Giết, cốt ở giết người có tội lớn. Thưởng, cất ở thưởng người có công nhỏ. Đáng giết, thì dẫu người quý trọng cũng giết, đó là hình thì xét ngược cả lên trên. Thưởng thì thưởng cho cả những người chăn trâu, giữ ngựa, đó là thưởng thì trôi xuống cả dưới vậy 1.

Giết người quý trọng đương có quyền là hình gia lên trên hết. Thưởng đến những kẻ chăn trâu, nuôi ngựa, nấu bếp là thưởng đến dưới cùng. Do đó mà uy tín của tướng có thể lập được 2.

5. Phẩm chất cơ bản của người tướng là lòng trung. “Tướng giỏi thì không cậy mạnh, không cậy thế, được yêu cũng không mừng, bị nhục cũng không sợ, thấy lợi không tham, rượu ngon không đắm, đem mình hy sinh cho nước, chỉ có một lòng mà thôi” 3.

Tướng phải “tinh thần cho ngay thẳng -, “bỏ tư theo công” nên “giữ được nước” 4.

(Người tướng ngày chịu mệnh quên cả nhà, ra bày quân nằm ở đồng thì quên cả cha mẹ, vén áo bào mà đánh trống thì quên cả mình” 5.

“Người tướng phải “thanh liêm về của cải, tiết kiệm về tiêu dùng, lơ là về rượu, giữ mình theo lễ, thờ bề trên lấy trung, có việc thì lo chung với quân chúng, lấy của địch mà không tích trữ, bắt phụ nữ địch mà không giữ riêng..., gần người mưu trí, xa người dèm pha” 6... . Không nên “người được yêu thì mưu kế dù kém cũng phù hội, mà người bị ghét thì mưu kế dù hay cũng cố tìm cách để ngăn trở” 7. 

Đi đôi với việc xây dựng năm phẩm chất nói trên, tướng phải tránh các xu hướng tiêu cực.

Người tướng không được kiêu ngạo. “Tướng không nên kiêu, kiêu thì thất lễ. Thất lễ thì người ta lìa bỏ...”. “Khổng Tử nói: Nếu có tài giỏi như Chu Công mà có tính kiêu và lận, thì cái khác cũng không đủ để kể nữa” 8. “Tướng kiêu có thể bị đánh bại. Làm tướng không nên cậy trí dũng mà kiêu với người” 9.

“Đạo làm tướng có tám điều tệ là:

- Lòng tham không chán,

- Ghen người hiền, ghét người tài,

- Tin lời dèm, ưa lời nịnh,

- Xét người không xét mình,

- Do dự không quả quyết,

- Say đắm rượu và sắc đẹp,

- Thích xảo trá mà lòng nhút nhát,

- Nói dối mà không theo lễ” 10.

Nhờ có những luận điểm đúng về phẩm chất của người tướng, trong thực tiễn biết bồi dưỡng, rèn luyện, lựa chọn, sử dụng người tướng, chú trọng cất nhắc tướng giỏi, nên nhà Trần, trong thời kỳ hưng thịnh đã xây dựng được một đội ngũ tướng lĩnh, người chỉ huy có phẩm chất và tài năng, văn võ kiêm toàn, hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử trọng đại của mình là làm nòng cốt cho toàn quân, toàn dân chiến thắng quân xâm lược lớn mạnh và hung bạo.


_______________________
1, 2, 3, 4, 5, 6 , 7, 8, 9, 10 Binh thư yếu lược, Sđd, tr.12, tr.62, tr.56-57, tr.65.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:49:56 pm
Không phải chỉ chúng ta ngày nay, mà các sử gia ngày xưa cũng đã đánh giá cao phẩm chất và tài năng các tướng lĩnh nhà Trần.

Ngô Sĩ Liên khâm phục năng lực toàn diện và trình độ học vấn của họ:

“Tôi thường thấy các danh tướng đời Trần, như Hưng Đạo vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch. Phạm Điện Quý (tức Phạm Ngũ Lão - TG) thì học vấn hiện ra ở câu thơ, không những chuyên về võ mà thôi, mà dùng binh tinh diệu, chiến tất phải thắng, đánh tất lấy dược, người xưa không ai hơn. Lê Phụ Trần thì về võ cũng vượt cả ba quân , một mình một ngựa ra vào trận giặc, tuỳ cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa lúc gian nguy, mà về văn thì đủ để dạy bảo thát tử. Đủ biết nhà Trần dùng người vốn tuỳ theo tài mà uỷ nhiệm” 1.

Lê Quý Đôn cũng đánh giá rất cao các tướng thời Trần:

“Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hoà nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt qua thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất. ôi như thế, người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được” 2. 
 

VI. COI TRỌNG CÁC NHÂN TỐ THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HOÀ


Trước quân xâm lược rất mạnh, các nhà quân sự thời Trần đã chăm lo phát huy cao nhất tác dụng của mọi lực lượng và tiềm năng của đất nước: con người, địa hình và thời tiết tạo nên sức mạnh phối hợp lớn nhất để đánh thắng quân địch lớn mạnh. . . .

Trên đây đã trình bày về việc phát huy nhân tố con người, phát động mọi người đứng lên vì vận mệnh của đất nước, hiểu biết và đoàn kết mọi người trong một tổ chức chặt chẽ: triều đình và trăm họ, quân đội và dân chúng, cấp trên và cấp dưới, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp cả nước đoàn kết đánh giặc, nguồn gốc của sức mạnh giữ nước. Đó là nội dung chủ yếu của nhân tố “thế người” còn gọi là “nhân hoà”. 

Trên cơ sở đó, lý luận và tư tưởng quân sự Đại Việt thời Trần rất xem trọng phát huy vai trò của địa lợi. Địa hình  thuận lợi bao giờ cũng là nhân tố quan trọng mà người chỉ huy phải khai thác. Chiếm lĩnh địa hình có lợi trên bờ sông đối diện với địch để tổ chức tuyến phòng ngự như ở sông Cà Lồ, sông Phù Lỗ trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, ở sông Hồng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai là sở trường của quân Trần.

Đặc biệt, trên chiến trường nước ta, địa hình rừng núi và sông ngòi chằng chịt càng phát huy vai trò quan trọng. Địa hình rừng núi nước ta nằm trên con đường hành binh truyền thống của quân xâm lược, tiến công ta từ phía bắc xuống.

Địa hình đó rất không tiện cho hoạt động chiến đấu của quân Mông - Nguyên: kỵ binh không cơ động được để bảo vây vu hồi đối phương trên những vùng rộng, không quan sát được rộng và rất khó dùng cung nỏ mạnh sát thương đối phương từ xa. Kết quả là không phát huy được sức mạnh chiến đấu và cách đánh sở trường của chúng.

Ngược lại, quân dân ta chiến đấu tại chỗ trên quê hương mình, thông thạo địa hình, có nhiều địa vật để ẩn nấp và tiến đánh địch ở cự ly gần, phát huy hiệu lực của cung nỏ và tên tẩm thuốc độc của giáo mác tự tạo.

Hiệu lực đó được ghi nhận rõ ràng qua rất nhiều sự việc: chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho lính khiêng chạy trốn, tướng giặc là Lý Hằng bị trúng tên độc, Lý Quán bị bắn chết tại trận, tên phản quốc Trần Kiện bị bắn chết trên mình ngựa... trong cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Nguyên sử chép về việc quân ta từ trên núi cao bắn tên độc xuống, An Nam chí lược viết về quân ta đào hố bẫy ngựa của giặc. Thoát Hoan hoảng hốt khi nhận được báo cáo ba mươi vạn quân Trần rải ra suốt hơn một trăm dặm từ cửa Nội Bàng đến biên giới trong quá trình tháo chạy cuối cuộc kháng chiến lần thứ ba...


________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.6, tr.38.
2. Lê Quý Đôn: Toàn tập, Kiên văn tiểu lục, t.2, tr 258-259.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:54:53 pm
Địa hình đồng bằng miền Bắc nước ta với nhiều sông ngòi chia cắt, nhiều làng mạc có luỹ tre bao bọc cũng không tiện cho việc cơ động và đột phá trong chiến đấu của kỵ binh Mông Cổ. Ta còn có thể cải tạo địa hình và lợi dụng chế độ thuỷ triều lên xuống để tạo nên chiến trường hiểm hóc diệt địch như trong trận Bạch Đằng năm 1288.

Một nhà thơ thời Trận là Nguyễn Sưởng, ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng, đã viết:

Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp
Bán tại quan hà bán tại nhân.

(Có ai biết rằng sự nghiệp thời Trùng Hưng 1 lưu danh muôn thuở
Một nửa là do sông núi, một nửa là do người). 
 
Chính nhờ bám chắc vào thế lợi của địa hình mà quân và dân ta thời Trần đã đánh thắng địch. Ngay cả những lực lượng nhỏ bé ở cơ sở như quân dân Cổ Sở (Thăng Long) và Yên Duyên (Thanh Hoá) đã chặn đánh thắng lợi những mũi tiến công của đại quân Mông - Nguyên. Rõ ràng lòng yêu nước, trí thông minh của quân dân ta cộng với hình thế hiểm trở của núi sông đã tạo nên sức mạnh vô địch đánh thắng quân xâm lược.

Theo nhận thức ngày xưa, khai thác thiên thời bao gồm việc vận dụng những kiến thức về thiên văn và về thời tiết.  Nếu lược bỏ những quan niệm không khoa học về việc xem sao để đoán biết số mệnh thì khái niệm thiên thời bao gồm việc xem thiên văn để định phương hướng và đoán thời tiết và chủ yếu là việc phát huy tác dụng của thời tiết trong hoạt động quân sự.

Thời tiết nước ta cũng góp phần quan trọng tăng thêm sức mạnh kháng chiến. Ba lần xâm lược nước ta, quân Mông- Nguyên đều khởi binh vào đầu mùa đông. Với mưu đồ đánh nhanh thắng nhanh, chúng hy vọng sẽ kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược vào mùa Xuân. Như vậy, chúng sẽ hoạt động ở nước ta trong khoảng thời gian lạnh, mát, thời tiết mà người phương Bắc có thể chịu đựng được.

Các cuộc kháng chiến kéo dài của quân, dân ta lần thứ hai (kết thúc vào tháng 7-1285) và thứ ba (kết thúc vào cuối tháng 4-1288) buộc quân xâm lược phải chịu đựng gánh nặng thời tiết mùa Hạ nhiệt đới của nước ta trong những điều kiện khốn đốn: thương vong nhiều, bị triệt lương thảo, quân đội bị sa lầy, chia cắt trong thế trận “làng - nước”. Số đau ốm vì lam sơn chướng khí ngày càng tăng, tinh thần quân đội suy sụp. 

Quân xâm lược đã đánh giá: “... Khí độc hại người còn hơn là binh đao” 2. Còn Trương Lập Đạo, sứ giả vua Mông Cổ phái đến Đại Việt năm 1291, đã nói với vua Trần: “Ngài chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi”. Lời biện minh vụng về nhằm che dấu nguyên nhân cơ bản của ba lần xâm lược thất bại của quân Mông - Nguyên cũng đã nói lên nỗi sợ hãi của địch đối với địa hình và thời tiết nước ta.
 
Phát huy sức mạnh nhân hoà, khai thác thế lợi của địa hình và thời tiết đất nước, quân dân ta thời Trần đã tạo nên sức mạnh đánh địch to lớn, thực hiện lấy ít đánh nhiều, quán triệt được tư tưởng chỉ đạo của Trần Hưng Đạo “lấy đoản binh chống trường trận”.

Binh thư yếu lược chép: “Đồng cỏ rậm rạp để làm nơi đỗ quân; ải tái núi rừng để lấy ít đánh nhiều” 3.  Nhìn chung, các nhà quân sự thời Trần nắm vững quan điểm chiến lược lấy nhỏ thắng lớn, đã ra sức huy động mọi tiềm năng của đất nước vào cuộc kháng chiến . . . Phát huy các nhân tố thiên, địa, nhân (trời, đất, người), ông cha ta đã đặt lên hàng đầu nhân tố “nhân hoà”, sau đó đến nhân tố “địa lợi” rồi mới đến nhân tố “thiên thời”.

Binh thư yếu lược chép: “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hoà.  Thánh nhân đời xưa, cẩn thận việc người mà thôi” 4.  xác định như Binh thơ yếu lược là hợp lý. Nhân tố thiên thời rất quan trọng. Nó có thể phát huy tác dụng về chiến lược khi toàn bộ đạo quân xâm lược buộc phải chiến đấu với ta trong mùa Hạ nhiệt đới. Trong phạm vi một trận đánh, như trận Bạch Đằng diễn ra ngày 9-4-1288, ngay khi thời tiết chưa chuyển hẳn sang mùa Hạ, ta vẫn có thể nghiên cứu quy luật của con nước thuỷ triều, tạo ra hoàn cảnh để điều khiển thuỷ binh địch vào nơi và lúc bị tiêu diệt.


_________________________
1. Trùng Hưng nghiệp là sự nghiệp đánh Mông - Nguyên xâm lược thời vua Trần Nhân Tôn, niên hiệu Trùng Hưng.
2. Lời Thượng thư Bộ Lễ triều Nguyên là Lưu Tuyên tâu với Hốt Tất Liệt năm 1286, khi quân Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ ba. Theo Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiên Trung Quốc xâm lược, Sđd, tr.410.
1, 2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 240, 52. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:56:48 pm
Tuy nhiên, nhân tố thời tiết chỉ phát huy tác dụng trong một thời gian hạn chế trong một năm. Nếu kẻ địch có cách thực hiện đánh nhanh thắng nhanh, cuộc chiến tranh sẽ có thể kết thúc vào mùa Xuân. Và như vậy thì nhân tố thời tiết khó phát huy tác dụng làm suy yếu địch.

Đáng chú ý là trong cuộc kháng chiến lấn thứ nhất, ta đã đánh thắng địch khi còn đang ở thời tiết mùa Xuân. Trận đông Bộ Đầu diễn ra ngày 29- 1- 1258. Trong khi đó, nhân tố địa lợi phát huy tác dụng thường xuyên, ngay từ khi chúng bắt đầu tiến vào đất ta cho đến khi chúng bị quét sạch ra khỏi bở cõi.

Dựa vào địa hình hiểm trở của nước ta để đánh thắng địch trở thành nhân tố tác động thường xuyên đến thắng lợi của kháng chiến trong mọi tình huống. Và cuối cùng, nhân tố nhân hoà, phát huy tinh thần dũng cảm và trí sáng tạo của quân, dân ta là nhân tố cơ bản quyết định sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta.



VII. THÁI BÌNH TU TRÍ LỰC

Từ đầu thời Trần, hiểm hoạ xâm lược của quân Mông Cổ, sau đó là của quân bành trướng Mông - Nguyên luôn treo lơ lửng trên đầu dân tộc ta. Triều đình nhà Trần thấy rõ tình hình đó, vì vậy ngay trong thời bình, nhất là giữa hai cuộc chiến tranh, đã thường xuyên chuẩn bị đất nước sẵn sàng đối phó với quân xâm lược.

Với tư tưởng chỉ đạo tìm nguồn sức mạnh giữ nước ở trong dân, tăng cường mức độ sâu rễ bền gốc của triều đình trong đời sống trăm họ, các vua Trần đều chăm lo xây dựng tiềm lực giữ nước, nâng cao đời sống của dân, trước hết là chăm lo phát triển nghề nông, chú trọng trị thuỷ, đồng thời mở mang thủ công nghiệp và thương nghiệp, mở mang mạng lưới giao thông, vừa nâng cao đời sống của dân, vừa xây dựng ngày càng hoàn chỉnh thế trận phòng thủ của đất nước.

1. Tiếp thu chính sách có từ thời Lý, nhà Trần đã có phương thức mới giải quyết vấn đề sở hữu ruộng đất. Ruộng đất trên danh nghĩa là của nhà vua, trên thực tế được giao cho các công xã nông thôn quản lý. Các thành viên công xã chia nhau cày cấy và làm nghĩa vụ tô thuế. Đồng thời triều đình Trần xác định quyền sở hữu ruộng đất của tư nhân và tạo điều kiện để sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển bằng nhiều cách, cho phép mua, bán, chuộc theo luật lệ, có quy định về việc giải quyết tranh chấp. Chủ trương này làm cho một bộ phận quan trọng nông dân làm chủ phần ruộng đất của mình, đã có tác dụng kích thích sản xuất nông nghiệp. 

Nhà Trần chủ trương cho phép các vương hầu, quý tộc, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán, không sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang, lập thành điền trang, tuy có dẫn đến sự phân hoá xã hội, biến một bộ phận nông dân tự do thành nô tỳ, nhưng cũng có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp, làm cho diện tích canh tác được mở rộng và dân cơ được phân bố rộng ra trên nhiều vùng quan trọng, lợi cho việc phòng thủ đất nước: vùng bờ biển, vùng ven sông,vùng rừng núi các lộ phía bắc và phía nam.

Hai chủ trương trên cũng có mặt trái là thu hẹp diện tích ruộng công do làng xã quản lý, mà làng xã Việt Nam, với những đặc điểm xã hội của nó là chỗ dựa về kinh tế và chính trị của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, là tế bào của chiến tranh nhân dân ở cơ sở. Nhất là chủ trương lập điền trang, phát triển quá đáng ở cuối thời Trần đã làm tê liệt tinh thần kháng chiến chống ngoại xâm của dân chúng ở xóm làng. Nhưng trong thời kỳ đầu của triều Trần, nó đã thúc đẩy sự gia tăng của sản lượng nông nghiệp, đern lại cho xã hội đời sống no đủ hơn, một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh “thực túc binh cường” ở thời kỳ đó.

Đi đôi với điền trang là sở hữu riêng của vương hầu, quý tộc triều đình Trần còn có chế độ ban cấp thát ấp cho họ.  Người được ban cấp được quyền hưởng tô, thuế và huy động nhân lực trong phạm vi thát ấp. Vương hầu, tôn thất được tổ chức gia binh để làm nhiệm vụ sản xuất và phục dịch thời bình theo chủ trương “ngụ binh ư nông”. Khi quốc gia hữu sự có xâm lược, loạn lạc, vương hầu, quý tộc được quyền tập hợp và điều khiển gia binh, hương binh trong thái ấp của mình, tổ chức thành những đội quân “ứng nghĩa” để bảo vệ đất nước và nhà vua. Xong việc, lực lượng này lại được giải tán trở về làm công việc sản xuất hay phục dịch của mình.

2. Đi đôi với việc xác lập quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất và tổ chức khai hoang mở rộng diện tích canh tác, nhà Trần còn chú trọng việc tổ chức trị thuỷ. Việc đắp đê phòng chống lụt đã trở thành một chủ trương lớn của Nhà nước phong kiến. Đời Trần Thát Tông, triều đình lệnh cho các lộ đắp đê phòng lụt, đắp các đê quai vạc từ đầu nguồn đến bờ biển để ngăn nước lũ tràn ngập. Đặt chức hà đê chánh, phó sứ để quản đốc. Khi việc đồng áng nhàn rỗi thì đốc thúc quân lính đắp đê đập, đào mương ngòi đề phòng lụt hạn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:59:55 pm
3. Thương nghiệp cũng có bước phát triển. Ở Thăng Long cũng như ở các địa phương đều có chợ, có phố phường. Riêng Thăng Long, đẩu thời Trần năm 1230) đã có tới 61 phố phường hoạt động công thương khá sầm uất.  Quan hệ buôn bán với nước ngoài cũng được mở mang. Các bạc dịch trường (chợ biên giới phía bắc) là nơi trao đổi hàng hoá với Trung Hoa. ở phía Lạng Sơn có Vĩnh Bình, Cổ Vạn, ở Cao Bằng có Hoành Sơn và phía Quảng Ninh ngày nay có Vĩnh An, là những chỗ giao lưu hàng hoá. Vân Đồn là nơi buôn bán chủ yếu với Trung Hoa và nhiều nước ở đông Nam Á. Ở vùng Thanh Hoá, Nghệ An còn có Cửa Chào (Lạch Trường), Cửa Tha (cửa Thoi), Cửa Viên là những nơi giao tiếp với thuyền buôn nước ngoài.

4. Để đáp ứng yêu cấu của phát triển kinh tế và phòng thủ đất nước, nhà Trần chú trọng mở mang mạng giao thông đường bộ và đường thuỷ.

Hệ thống đường bộ đi từ Thăng Long lên biên giới phía bắc, chạy dọc các dòng sông thuộc phạm vi châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Lam, nôi liền châu thổ sông Hồng với Hoan Ái (Thanh,- Nghệ, Tĩnh) đã có từ trước, được dần dần phát triển.

Hệ thống giao thông đường thuỷ được chú trọng mở mang để có đường vận tải hàng hoá và cơ động lực lượng trong nội địa, từ Thăng Long vào Hoan Ái là hậu phương chiến lược của triều đình, bổ sung cho đường vận chuyển theo đường biển, đường này có lúc không dùng được do bão hoặc do hoạt động của quân xâm lược.

Triều đình Trần đã có những cố gắng quan trọng: Năm 1231, đào vét kênh Trầm, kênh Hào nối Tĩnh Gia (Thanh Hoá) với sông Hoàng Mai.  Năm 1256, đào vét sông Tô Lịch. Năm 1374, quân dân Thanh Hoá, Nghệ An đào kênh đến cửa biển Hà Hoa (Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Năm 1382, quân dân Nghệ An đào kênh Hải Tây. Năm 1399, dùng người tội đày khơi các kênh Vị, kênh Trầm, kênh Hào đến Hà Hoa.

Đi đôi với việc phát triển giao thông đường thuỷ, nhà Trần chú trọng khuyến khích việc đóng thuyền: thuyền vận tải, du thuyền, thuyền chiến. Điều đó phục vụ đắc lực cho hoạt động dân sinh thời bình, mặt khác cùng với thói quen sinh sống và sản xuất ở nhiều vùng sông nước, đã làm cho thuỷ quân của đại Việt mạnh hơn hẳn thuỷ quân của quân Nguyên, không những làm cho các tướng lĩnh Nguyên lo sợ, mà còn đưa chúng đến thảm hoạ trên sông Bạch Đằng năm 1288. 

Đồng thời với các biện pháp và chính sách về kinh tế, nhà Trần đã chú trọng thực hiện có hệ thống các biện pháp và chính sách về chính trị, văn hoá, xã hội và quân sự nhằm xây dựng lực lượng và tiềm lực mọi mặt của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân, thắt chặt thêm mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và trăm họ.

Nhờ đó, khi quân xâm lược kéo đến, dân chúng sẵn sàng đánh trả khắp nơi, hăng hái đóng góp sức người, sức của cho triều đình kháng chiến, còn quân đội thì có đủ lực lượng và phương tiện, vừa cùng dân chúng đánh giặc tại chỗ, vừa có khả năng cơ động rộng rãi trên các chiến trường của đất nước để thực hiện những đòn quyết định đập tan quân xâm lược. 


VIII. DĨ ĐOẢN BINH CHẾ TRƯỜNG TRẬN –
CÁCH ỨNG XỬ VỀ CHIẾN LƯỢC

Trong Di chúc Canh Tý, Trần Quốc Tuấn viết: “Nó cậy trường trận, ta cậy đoản binh. Lấy đoản chống trường, đó là việc thường trong binh pháp” (Bỉ thị trường trận, ngã thị đoản binh, dĩ đoản chế trường, binh pháp chi thường dã).  Đây trước hết là quan điểm về chỉ đạo tác chiến. Đồng thời, xét về hoàn cảnh lịch sử trong ba cuộc kháng chiến thời Trần chống quân Mông - Nguyên lớn mạnh, thì đây cũng là quan điểm chỉ đạo cách ứng xử với địch, cách đánh về chiến lược.

Nước ta nhỏ, nước địch xâm lược lớn, quân ta ít, quân xâm lược đông. Trong chiến tranh giữ nước, một mặt ta phải tuân theo những quy luật chung của chiến tranh, nhưng mặt khác, ta cũng phải có luận điểm riêng, về cách ứng xử, cách đánh phù hợp với điều kiện của ta để đánh thắng kẻ xâm lược lớn mạnh. Vì vậy, quan điểm “dĩ đoản binh chế trường trận”, thực chất là quan điểm lấy yếu đánh mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, phát huy cao nhất toàn bộ tiềm lực có hạn của một nước nhỏ nhằm tạo nên sức mạnh lớn nhất, đủ để chiến thắng kẻ thù xâm lược có tiềm lực và thực lực quân sự, kinh tế lớn hơn ta gấp rất nhiều lần.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 01:04:43 am
Triều đình Trần nhận thức rất rõ hoàn cảnh và yêu cầu chiến lược đó. Vua Trần đã nhiều lẩn đề cập đến vấn đề này trong khi tiếp xúc với các sứ thần Mông Cổ. Năm 1258, vua Trần Thát Tôn đã nói với sứ giả Mông Cổ là Nậu Lạt Đinh: “Nước nhỏ thành tâm thờ nước lớn thì nước lớn đãi như thế nào?”. Năm 1268, vua Trần lại chất vấn Trương Đình Trân (Phó Đarugatri lúc đó): “Đã xưng là nước lớn, tại sao còn đòi tê tượng”. Tháng 2-1275, trong thư gửi vua Nguyên, Trần Thánh Tông đã tố giác: “Những kẻ sai đến (chỉ bọn Đarugatri - TG) động tí gì là cậy thế chân ép nước nhỏ".

Quan điểm lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh, cũng được quán triệt trong các sứ thẩn của triều Trần. Đào Tử Kỳ đượm phái đi sứ sang Nguyên năm 1293, đã bác bỏ những lời đe doạ của tên thượng thư Trương Lập Đạo triều Nguyên bằng lập luận sắc bén: “Các ông là nước lớn, chúng tôi là nước nhỏ. Chúng tôi chỉ muốn yên ổn, bao giờ chúng tôi lại muốn sinh sự. Chỉ các ông cậy có người đông, sức mạnh đến chực đè đầu đè cổ chúng tôi. Vì lẽ phải giữ mình, chúng tôi phải chống lại.  Người xưa có nói: “Trực vi tráng, khúc vi lão - nghĩa là: “Việc chiến tranh, vì lý thẳng thì thắng, lý cong thì thua. Chúng tôi vì tự vệ nên chúng tôi thắng, các ông vì ăn cướp nên các ông thua, đó là lẽ tất nhiên không thể lấy thế mạnh yếu, nước to nhỏ mà bàn được”.

Có thể thấy chính quan điểm lấy nhỏ thắng lớn đã chỉ đạo toàn bộ các hoạt động kháng chiến của cấp lãnh đạo kháng chiến cũng như của quân dân ta thời Trần. Vì phải lấy nhỏ thắng lớn, nên phải tìm nguồn sức mạnh giữ nước ở trong dân, làm kế sâu rễ bền gốc: phải nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, phải phát huy tinh thần kiên cường bất khuất, động viên quân dân cả nước quyết đánh, quyết thắng, phải đoàn kết cả nước thành một khối, phải có những quan điểm và chính sách hiệu quả về xây dựng lực lượng đánh giặc, phải có quan điểm cất nhắc tướng giỏi phải phát huy cả các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà, phải thực hiện thời bình chuẩn bị đất nước cho thời chiến.  Với tinh thẩn lấy nhỏ chống lớn, trong quan hệ đối ngoại giữa hai triều đình, giữa hai nhà vua, ta đã biết gói những nội dung rất kiên quyết trong những ngôn từ rất khiêm nhường. . .

Cũng chính theo tinh thần đó mà Trần Hưng Đạo khi đề ra quan điểm lấy đoản binh chống trường trận, đã xem đó là điều thường của binh pháp Đại Việt. Quan điểm đó đã chỉ đạo nghệ thuật quân sự thời Trần.

Muốn đánh thắng, ta phải tích cực tiêu diệt địch, nhưng cần chú trọng bảo toàn lực lượng ta . Quy luật chung đó của mọi cuộc chiến tranh lại càng quan trọng trong điều kiện dân tộc ta phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh. Có bảo toàn được lực lượng ta, nhất là trong thời gian đầu của mỗi cuộc kháng chiến, mới có vốn, có sức để tiếp tục tiêu diệt địch, đánh cho đến thắng lợi cuối cùng.

Với lòng yêu nước nồng nàn, với quyết tâm diệt địch rất cao, ta đã biết “tuỳ thời chế nghi”, không đưa quân chủ lực của ta quyết chiến với quân địch quá mạnh từ đầu chiến tranh, mà đã biết lui quân để rồi lại tiến đánh những đòn quyết định. Ta đã biết tạo nên thế trận làng - nước, trong đó quân địch mạnh phải bị sa lầy và suy yếu từng bước. Ta đã chọn đúng phương hướng, đúng thời cơ khi cần đánh những đòn quyết định, đánh đau, đánh hiểm, đánh với hiệu suất chiến đấu rất cao. 

Nhìn chung, ta luôn giữ quyền chủ động, buộc địch đánh theo mưu kế của mình mà không bị động hành động theo ý muốn của địch. Ta lại biết giành thắng lợi từng bước, từng bước đánh thắng ý chí xâm lược của địch. Ta đã biết kết hợp tác chiến trên chiến trường với đấu tranh ngoại giao khôn khéo, hoặc để trì hoãn thời gian địch xâm lơữc~hoặc để cho địch chấp nhận thất bại mà không mất thể diện .sau khi ta đã chiến thắng hoàn toàn, bảo đảm hoà bình lâu dài cho nhân dân hai nước.

Trên đây là những quan điểm, tư tưởng quân sự thời Trần, trong thế kỷ XIII. Bước sang thế kỷ XIV, nhất là từ giữa thế kỷ XIV, vua quan nhà Trần đi vào một quá trình thoái hoá, suy nghĩ và hành động ngược lại với các quan điểm nêu trong Di chúc của Trần Hưng Đạo.

Chế độ điền trang thái ấp được mở rộng quá đáng. Ruộng đất của công xã và của nông dân bị cướp. Nạn cho vay nặng lãi và sự đục khoét của bọn quan lại làm cho đời sống của nhân dân ngày càng khốn khó. Ngày càng nhiều nông dân bị đẩy vào hàng ngũ nô tì.Vua và quý tộc quan lại ngày càng sống xa hoa, triều Trần ngày càng suy đồi, mục nát.

Nhà Trần thế kỷ XIV lại chủ trương phát động chiến tranh với Ai Lao và Chăm pa để củng cố nền thống trị trong nước. Chiến tranh liên miên làm cho nhân dân quanh năm phải đi phu, đi lính phục dịch. Những cuộc xâm phạm của Chăm pa trong thời gian này làm cho đất nước và Kinh thành Thăng Long nhiều lần bị tàn phá.

Sự bất bình và phẫn nộ của nhân dân đối với triều đình ngày càng dâng cao. Mâu thuẫn giai cấp trong nước phát triển gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô tì và các cuộc đàn áp của triều đình ngày càng mô rộng.  Tất cả đều đi ngược lại quan điểm của lãnh đạo nhà Trần thế kỷ XIII, thời các vua đầu.

Tinh thần kiên cường bất khuất bảo vệ Tổ quốc được thay thế bằng tư tưởng bạc nhược.  Quan điểm chúng chí thành thành, đoàn kết gắn bó với dân để tìm nguồn sức mạnh giữ nước ở trong dân được thay thế bằng quan điểm và chính sách bóc lột và đàn áp nhân dân, trước hết là nông dân và nô tì.

Trong tư tưởng của hàng tướng lĩnh trước đây đã từng lập công cũng có biểu hiện suy thoát. Trần Khánh Dư cho rằng: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt. Dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”.

Nếu các tư tưởng, quan điểm của đầu thời Trần đã đưa lại phồn vinh của xã hội và sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù xâm lược, thì sự thoái hoá nặng nề trong tư tưởng, quan điểm quân sự của nhà Trần thế kỷ XIV đã đưa đến sự bần cùng và rối loạn trong xã hội, đi đến sự sụp đổ của nhà Trần vào cuối thế kỷ XIV.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 07:46:33 pm
CHƯƠNG VI

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
TRONG CHIẾN TRANH GIỮ NƯỚC THỜI TRẦN


Ba lần kháng chiến thắng lợi chống Mông - Nguyên xâm lược đã làm nổi rõ tài năng vận dụng nghệ thuật quân sự của Bộ Thống soái đời Trần, của bản thân vị Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo và của các tướng lĩnh.

I. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO KIÊN TRÌ KHÁNG CHIẾN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH CỦA QUÂN XÂM LƯỢC

1. Tránh quyết chiến trong điều kiện bất lời, thực hành quyết chiến trong điều kiện có lợt. Rút lui chiến lược và phản công chiến lược

a. Nghệ thuật chỉ đạo rút lui chiến lược


Xâm lược nước ta, quân Mông Cổ và quân Mông - Nguyên dùng chiến lược đánh nhanh thắng nhanh quen thuộc của chúng. Chúng tập trung lực lượng có ưu thế áp đảo phát huy cách đánh sở trường của các binh đoàn kỵ binh thiện chiến, hy vọng tiêu diệt lực lượng quân sự của ta trong thời gian ngắn, trong một số trận quyết định như chúng đã thực hiện thành công ở nhiều nước. Với quyết tâm rất cao trong cả hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, quân ta đã chặn địch ở biên giới, lập nhiều phòng tuyến để ngăn chặn chúng.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, với khí thế quyết chiến chống quân xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, vua Trần và Trần Hưng Đạo đã đem quân lên biên giới phía bắc đánh giặc. Cuộc chiến đấu ngăn chặn giặc diễn ra lần đầu tiên ở Bình Lệ Nguyên và ngay sau đó ở sông Phù Lỗ, nhưng đều không thành công. Quân Mông Cổ phá vỡ các tuyến phòng ngự của ta và tiến mạnh về Thăng Long. Trong tình hình đó, vua Trần đã hạ một quyết tâm lớn, táo bạo và đúng đắn là tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi, thực hành cuộc rút lui chiến lược, chặn địch từng bước, rời khỏi chiến trường, rời khỏi kinh Đô để bảo toàn Bộ Thống soái và quân chủ lực.

Rút lui lúc đó là một quyết tâm đúng đắn, được tính toán kỹ. Trong khi quân ta đang giao chiến rất khó khăn với địch ở Bình Lệ Nguyên, không chặn đứng được chúng, “có người khuyên vua đóng lại để trông coi chiến đấu” 1 . Nhưng Lê Phụ Trần, vị tướng xông pha trên trận địa đã sớm phát hiện được sở trường và chỗ mạnh tạm thời của địch, đã đánh giá đúng thế ta, thế địch. Ông tâu với vua: “Như thế này chỉ là bệ hạ dốc túi đánh nước cuối cùng thôi. Nên lánh đi, chớ nên nhẹ dạ tin lời người” 2.  Trần Thái Tông nghe theo, bắt đầu lui quân khỏi Bình Lệ Nguyên, khỏi Phù Lỗ, rời khỏi Kinh thành Thăng đong.

Quân địch không giao chiến được với quân chủ lực của ta, phải rải quân để chiếm đóng thành Thăng Long trống rỗng và để cướp lương thực. Bị quân địa phương và dân binh luôn luôn chặn đánh, làm thanh dã, địch bị thương vong và điều không kém phần quan trọng với chúng là lâm vào cảnh thiếu lương thực ngày càng trầm trọng. Từ mạnh, chúng chuyển thành yếu. Chỉ sau chín ngày chiếm đóng Thăng Long, chúng đã hoàn toàn mất sức chiến đấu.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285, Hưng Đạo vương, lúc đó được phong là Quốc công tiết chế (Tổng tư lệnh) đã đem quân triển khai ở biên giới Lạng Sơn và đóng đại bản doanh ở Nội Bàng. Đồng thời các cánh quân quan trọng khác kéo lên trấn giữ Tuyên Quang và Tam Đái 3.
 
Qua đó có thể thấy ý định của Bộ Thống soái là ngăn chặn địch ở vùng biên giới. Nhưng trước sức tiến công mạnh mê của giặc, ta bị tổn thất, không thực hiện được ý định nên Trần Hưng Đạo phải quyết định lui về Vạn Kiếp, tăng cường lực lượng, tổ chức phòng ngự, chặn địch. Địch tiếp tục tiến công mạnh.  Ta vẫn không chặn được quân giặc.


________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, q.5, t.22a.
2. Theo Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng Sđd, 1981 .
3. Tam Đái: vùng Phú Thọ, Việt Trì.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 07:48:17 pm
Thấy tình hình còn bất lợi sau một số trận đánh, Trần Hưng Đạo chủ động cho quân từ Vạn Kiếp, Phả Lại, Binh Than rút về Thăng Long. Ở Thăng Long, quân Trần đã tổ chức một tuyến phòng ngự dọc theo sông Hồng để chặn địch. Trước thế mạnh của quân xâm lược một lấn nữa triều đình và đại quân ta lại rút khỏi Thăng Long nhằm bảo toàn lực lượng. Trong lúc đó, lực lượng vũ trang các lộ, hương binh, thổ binh và nhân dân ở vùng sau lưng địch tiếp tục hoạt động, tiếp tục tiến công địch và làm thanh dã theo hiệu triệu của triều đình.

Các hoạt động này có tác dụng kìm hãm quân xâm lược, yểm hộ cho cuộc rút lui của quân chủ lực. Địch buộc phải rải nhiều quân ra đóng các trạm, trại, đồn luỹ để đối phó và bảo đảm tiếp tế từ hậu phương. Đáng chú ý là trong lúc chủ trương rút lui chiến lược ở mặt trận phía bắc, thì Bộ Thống soái lại chủ trương chặn đứng quân Toa Đô từ phía nam đánh ra, cố gắng giữ vững khu Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình) làm căn cứ củng cố lực lượng, chuẩn bị phản công chiến lược.  Nhưng chủ trương này cũng không thực hiện được. Trước thế tiến công mạnh mẽ của địch, Trận Quang Khải buộc phải lui quân từng bước .

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1287-1288, đại bản doanh và đại quân của triều đình không triển khai ở biên giới phía bắc nữa. Đại quân tập trung ở gần vùng sông Bạch Đằng và ở khu vực giữa Vạn Kiếp và Thăng Long. Lần này quân Nguyên tiến thận trọng, chắc chắn, củng cố khu vực Vạn Kiếp thành căn cứ đứng chân lớn rồi mới tiến về Thăng Long.

Sau mấy lần ngăn chặn địch không có kết quả, trước sức ép mạnh mẽ của địch, bộ phận quân chủ lực được bố tít chặn địch trên hướng từ biên giới Lạng Sơn về Thăng Long cùng triều đình rút khỏi Thăng Long về phía nam.  Nhưng lực lượng vũ trang địa phương của ta, có quân chủ lực làm nòng cốt, vẫn kiên cường tiêu hao quân địch và khi địch đã đi qua thì quay lại hoạt động sau lưng chúng.

Các lực lượng này đánh nhưng trận tiêu hao, tiêu diệt nhỏ, trong đó có trận tiêu diệt cả đoàn quân 5.000 tên hộ tống bọn tay sai Lê Trắc về nước trận Nội Bàng), cắt tiếp tế của địch, yểm trợ đắc lực cho cuộc rút lui của đại quân và kìm hãm, giam chân một lực lượng cơ động quan trọng của địch. 

Ở đây cũng cần chú ý là trong lúc tránh đưa chủ lực ta ra giao chiến lớn với chủ lực địch ngay từ đầu, quân Trần vẫn tổ chức trận tiến công quan trọng ở Vân Đồn ngay vào thời gian đầu cuộc kháng chiến lần thứ ba, tiêu diệt đoàn thuyền của Trương Văn Hổ chở 17 vạn thạch lương, triệt niềm hy vọng của đại quân Mông - Nguyên đang thiếu lương thực. 

Như vậy qua ba cuộc kháng chiến đã hình thành rõ nét quyết tâm chiến lược của nhà Trần. Trước kẻ thù lớn mạnh đang muốn phát huy ưu thế, tìm quân chủ lực của ta để tiêu diệt, bắt sống Bộ Thống soái nhằm nhanh chóng kết thúc thắng lợi cuộc xâm lược, ta chủ trương tránh những trận quyết chiến trong điều kiện không có lợi trong thời gian đầu, rút lui chiến lược, rời bỏ kinh Đô nhằm bảo toàn quân chủ lực và triều đình. Địch buộc địch rải quân chiếm đóng trong điều kiện bị các lực lượng tại chỗ của ta liên tiếp tiến công, cất dấu lương thực và thời tiết chuyển từ Xuân sang Hè ngày càng bất lợi cho sức chiến đấu của quân xâm lược đến từ phương Bắc.

Trong những điều kiện đó, quân xâm lược không phát huy được sức mạnh và cách đánh sở trường của chúng. Lực lượng phân tán và hao mòn ngày càng nhiều, khí thế hăng hái “lúc ban mai” tàn lụi dần. Chúng từ mạnh trở thành yếu.

Triều đình và Bộ Thống soái thời Trần khi quyết định rút lui chiến lược phải giải quyết một bài toán rất khó. Chặn đứng quân địch trên con đường từ biên giới về Thăng Long thì không đủ sức. Nhưng trong điều kiện đất ta không rộng, nếu quân chủ lực rút sâu vào nội địa, để địch tiến quá sâu vào đất ta thì không thể giữ được căn cứ chiến lược ổn định nhằm bảo đảm sức người sức của cho cuộc kháng chiến và để củng cố quân đội, chuẩn bị cho cuộc phản công. 

Bài toán được đặt ra là đất nước ta tuy đất không rộng, nhưng nhân dân và quân đội có lòng yêu nước, ý chí chiến đấu cao, lại gắn bó với triều đình trong sự nghiệp chống xâm lược. Thêm vào đó địa hình nước ta phức tạp, tiện cho ta phòng thủ, không lợi cho quân địch muốn phát huy sức mạnh của các ky đội thiện chiến. Trong điều kiện đó ta buộc phải để cho địch tạm chiếm một khu vực chiến lược đủ sâu buộc địch phải phân tán lực lượng, từ thế mạnh chuyển thành thế yếu. Tuy nhiên cũng không cho địch vào quá sâu, bảo đảm bên ta có căn cứ đứng chân để chuẩn bị và thực hành cuộc phản công chiến lược.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 07:49:16 pm
Khi quân xâm lược không quá mạnh như trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất thì chúng cũng chỉ chiếm khu vực Kinh Đô là hết sức. Mà ta thì rút đến sông Thiên Mạc là có thể quay lại phản công. Nhưng khi quân xâm lược quá mạnh, như trong cuộc kháng chiến lần hai (chúng đông gấp 15 lần so với cuộc kháng chiến thứ nhất), lại đánh ta từ cả hai đầu nam, bắc lại phải có cách khác.

Một mặt, triều đình Trần đã chặn quân địch từng bước trên các hướng. Mặt khác, đẩy mạnh cuộc tiến công rộng rãi và quyết liệt của quân dân địa phương bám trụ sau lưng địch khi chúng đã vượt qua, nhất là trên hướng bắc, buộc chúng phải vừa tiến công vừa rải lực lượng ngày càng nhiều để ổn định và củng cố hậu phương tại chỗ. Sức tiến công bị giảm dần, bị chặn đánh đằng trước, co kéo đằng sau, rút cuộc địch phải dừng cuộc tiến công chiến lược.

Trong cả quá trình tiến công, quân xâm lược bị mâu thuẫn giữa tập trung ùa phân tán chi phốt. Tập trung lực lượng để tiến công và phân tán lực lượng để chiếm đóng, củng cố địa bàn đứng chân. Đến đây, mâu thuẫn đó không cho phép chúng tiếp tục cuộc tiến công chiến lược. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng thất bạt. Nhưng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, cách này cũng mới đủ làm cho tập đoàn Thoát Hoan và tập đoàn Toa Đô không gặp được nhau để hội quân đánh quân Trần theo một sự chỉ huy thống nhất, chưa đạt được yêu cầu giữ một vùng căn cứ địa để chuẩn bị phản công.

Vua Trần phải tổ chức một cuộc hành quân nghi binh gian khổ và tài giỏi về các lộ phía đông, sau đó lại trở vào lập căn cứ ở Thanh Hoá. Từ Thanh Hoá mà tiến quân ra bắc khi lực lượng đã được củng cố xong, thực hành cuộc phản công chiến lược từ A Lỗ , Tây Kết đến Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long.

Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba thì cách làm đó đã được thực hiện thuần thục. Điều này đi đôi với thực tế là quân Mông - Nguyên cũng rút kinh nghiệm từ cuộc xâm lược lần trước, tiến quân từng bước vững chắc hơn. Trong điều kiện đó, vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã có một quyết định táo bạo mà đúng đắn, sáng tạo: ngay trong giai đoạn rút lui chiến lược đã lập sẵn căn cứ hậu phương, chuẩn bị chiến trường cho cuộc phản công ở vùng đông bắc nhằm thực hiện trận phản công chiến lược đầu tiên trên hướng sông Bạch Đằng.

Cho nên tư tưởng chỉ đạo của triều đình Trần không phải là rút lui chiến lược, nhử địch vào sâu, đem không gian đổi lấy thời gian như cách quân dân Nga chống xâm lược của Napôlêông đầu thế kỷ XIX. Thống soái Nga Cutudốp đã thực sự rút lui chiến lược dử địch vào sâu, ngăn chặn địch có mức độ tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi, buộc 60 vạn quân Pháp phải tự rải mỏng trên hàng nghìn cây số đồng bằng phủ băng tuyết để giữ đường giao thông với hậu phương và đối phó với dân quân Nga tiến công thường xuyên sau lưng chúng. Sau khi quân Pháp đã chiếm Mátxcơva và Mátxcơva bị đốt cháy thì đại quân chiếm đóng đói và rét của Napôlêông phải rút chạy về nước.

Tóm lại, ở đây có vấn đề chiến lược quan trọng là xác định thời cơ chấm dứt cuộc rút lui chiến lược và bắt đầu cuộc phản công. Đó là đoạn thời gian của cuộc kháng chiến, khi quân dân ta đạt được hai yêu cầu dã phân tích ở trên:

Một là, khi quân địch bị buộc phải rải quân đến mức tối đa, khi quân xâm lược đã bị tổn thất, suy yếu đến mức đáng kể, khi khó khăn về hậu cần, tiếp tế và những tác động của thời tiết từ Xuân sang Hè ở vùng nhiệt đới đã trở thành nhân tố buộc địch phải dừng tiến công.

Hai là, khi ta đã có một căn cứ hậu phương để củng cố lực lượng, làm bàn đạp cho cuộc phản công chiến lược và khi quân ta đã được củng cố.

Điều đáng chú ý là trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lấn hai, ý định rút lui chiến lược hình thành trong quá trình ngăn chặn địch từ biên giới không thành công. Đến cuộc chiến tranh thứ ba thì ý định tránh trận quyết chiến chiến lược ban đẩu, rút lui chiến lược một cách chủ động đã hình thành ngay từ đẩu chiến tranh và ngay từ đầu chiến tranh đã chuẩn bị cho đòn phản công chiến lược. Chính vì vậy Trần Hưng Đạo đã có câu trả lời vua Trần rất nổi tiếng: “Năm nay đánh giặc nhàn”.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 07:50:06 pm
b. Nghệ thuật chỉ đạo phản công chiến lược

Phản công chiến lược cũng được tiến hành rất kiên quyết và linh hoạt tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng cuộc chiến tranh.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258) quân địch không đông (khoảng bốn vạn) và đã rất mỏi mệt, lực lượng của ta được bảo toàn củng cố khá mạnh. Địch cụm lại ở đông Bộ Đầu. Ta đã dùng toàn lực tiến công, đánh cả vào cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của chúng. Quân ta đã phá tan giặc và đuổi chúng ra khỏi Thăng Long. Đây là một trận quyết chiến chiến lược. Sau trận này quân xâm lược chạy một mạch cho đến biên giới Vân Nam. Dọc đường tháo lui, bị các lực lượng địa phương tiếp tục đánh chặn và truy kích, quân Mông Cổ không dám cướp bóc như lúc mới kéo quân vào.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi quân địch đã bị suy yếu và chia cắt thì quân ta do cả quá trình cơ động lực lượng khẩn trương cũng chậm được củng cố hoàn chỉnh. Do đó cuộc phản công chiến lược bắt đẩu bằng một số trận, lúc đầu thì nhỏ trận (A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử), sau đó lớn dần theo đà thắng lợi (trận Chương Dương, Tây Kết (lần thứ hai), giải phóng Thăng Long) và kết thúc bằng những trận tiến công toàn diện trên mọi đường rút chạy của địch.

Đáng chú ý là hướng phản công ban đầu nhằm vào chỗ hiểm yếu và chỗ yếu của địch. Hiểm yếu là vì các trận A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử ta tăng cường thế chia cắt tập đoàn Thoát Hoan và tập đoàn Toa Đô, làm cho tập đoàn này càng thêm cô lập. Tình hình đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến giải phóng Kinh thành Thăng Long và trận phản công tiếp theo ở Tây Kết, tiêu diệt tập đoàn Toa Đô đã bị cô lập. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, ý định và kế hoạch phản công đã được hình thành ngay từ đầu cuộc chiến tranh. Vua Trần và Trận Quốc Tuấn đã dự kiến quân địch sẽ rút về nước theo hai đường thuỷ bộ, đã bố trí quân và chuẩn bị tác chiến trên các nẻo đường địch có thể hành quân.

Đòn phản công quyết định đầu tiên là ở sông Bạch Đằng đánh vào thuỷ binh, một lực lượng chiến lược quan trọng mà nhà Nguyên quan tâm xây dựng thành một công cụ lợi hại để vượt biển đánh vào các nước đông Á và đông Nam Á. Mọi công tác chuẩn bị đều nhằm vào yêu cầu làm cho địch lâm vào thế có lực lượng mạnh mà không dùng được, không phát huy được, còn lực lượng ta thì có lợi thế để phát huy sức mạnh tiêu diệt quân địch.

Việc bố trí thế trận và chỉ đạo tác chiến được tiến hành một cách rất sáng tạo, độc đáo và chủ động. Toàn bộ quân địch dã bị tiêu diệt trong ngày 9-4-1288. Đây là một đòn phản công chiến lược, một trận quyết chiến chiến lược đánh vào một tập đoàn rắn của địch mà ta có đủ lực lượng mạnh và thế trận hiểm để dập tan chúng.

Cuộc phản công vào quân địch rút lui trên đường bộ được thực hiện bằng một loạt trận đánh phục kích, truy kích của các lực lượng chủ lực và địa phương của ta suất trong hơn mười ngày (từ 8-4-1288 đến gần cuối trung tuần tháng đó).

Tóm lại, việc hạ quyết tâm và thực hành rút lui chiến lược và phản công chiến lược từ cuộc kháng chiến thứ nhất, qua cuộc kháng chiến thứ hai, đến cuộc kháng chiến thứ ba được hình thành ngày càng tự giác và chủ động hơn. Quân và dân ta đã tránh những trận quyết chiến ban đầu trong điều kiện bất lợi cho ta, bảo toàn được chủ lực và triều đình, rèn luyện được quân dân ta qua thử thách, làm cho địch bị thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh nhằm sớm tiêu diệt quân đội của ta và bắt sống vua Trận, buộc địch lâm vào thế ngày càng bất lợi, ngày càng suy yếu. 

Không gặp được chủ lực của ta, quân địch phải rải quân ra tìm kiếm để giao chiến và để cướp lương thảo. Nhân dân và các lực lượng vũ trang ở các địa phương đánh lại địch khắp nơi gây cho chúng thương vong thường xuyên, làm kế thanh dã, cất dấu lương thực. Thời gian kéo dài, thời tiết nhiệt đới gây bệnh tật cho quân xâm lược từ phương Bắc đến.... quy luật mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán ngày càng tác động mạnh.

Tất cả những điều đó làm cho địch phân tán lực lượng, quân đội vốn tập trung bị rải mỏng với tỷ lệ ngày càng cao, quân lính thương vong, đói, ốm, mỏi mệt, tinh thần ngày càng suy sút, sức chiến đấu ngày càng giảm...  Trong thế đó, địch từ mạnh chuyển thành yếu buộc phải ngưng cuộc tiến công chiến lược, chuyển vào phòng ngự và rút lui.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 07:54:18 pm
Tránh được cái “thế hăng hái lúc ban mai” của địch, quân dân ta đã quay lại thực hành phản công chiến lược, thực hiện những trận quyết chiến chiến lược đánh địch trong “khí tàn lụi lúc buổi chiều” 1.

Cuộc phản công chiến lược được thực hiện rất kiên quyết và linh hoạt tuỳ theo so sánh lực lượng cụ thể lúc đó, khi thì đánh trận nhỏ trước, trận lớn hơn sau, khi thì đánh đòn quyết định ngay từ đẩu, cho đến khi đạo quân xâm lược bị tiêu diệt lớn, hoàn toàn tan rã và bị quét sạch khỏi nước ta.

2. Trong quá trình kiên trì kháng chiến, ra sức tạo và tranh thủ thời cơ, nhanh chóng giành thắng lợi cuối cùng.

Thời gian tiến hành thắng lợi ba cuộc kháng chiến không dài. Cuộc thứ nhất - nửa tháng, cuộc thứ hai - năm tháng, cuộc thứ ba - ba tháng rưỡi. Trong thời gian đó, tuy buộc phải đánh kéo dài nhằm đánh thắng chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch, Bộ Thống soái nhà Trần đã có ý thức tạo ra thời cơ tranh thủ thời cơ, thực hiện những bước phát triển  nhảy vọt trong cuộc kháng chiến, nhất là trong giai đoạn phản công chiến lược nhằm giành thắng lợi càng sớm càng tốt. 

Lý luận quân sự thời Trận rất chú trọng vấn đề thời cơ.  Binh thư yếu lược viết: “Phàm đạo dùng binh, không gì thần bằng được cơ. Ly Chu 2 chưa soi đuốc, Manh Bông 3 đương ngủ say, đó là thời để dùng cơ vậy... Cơ một ngày không trở lại, một tháng không trở lại, một năm không trở lại, mười năm không trở lại, trăm năm không trở lại, thế nên người trí giả tiếc lắm” 4. 

Có thể hiểu rằng, thời cơ là tình huống thuận lợi cho ta đánh địch.Tình huống đó chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn. Có sự phân biệt thời và cơ, thời là khoảng thời gian có tình huống thuận lợi, cơ là khoảnh khắc ngắn rất thuận lợi của thời gian đó. Thời cơ là do chuyển biến của cục diện tác chiến, của thế trận mà có.

Trong thời gian mỗi cuộc kháng chiến thời Trần, nhất là trong giai đoạn phản công, có hai thời cơ chiến lược. Một là thời cơ bắt đầu phản công chiến lược. Hai là thời cơ xuất hiện sau trận quyết chiến chiến lược như đông Bộ Đầu, Thăng Long, Vạn Kiếp, Bạch Đằng. Những trận này gây nên rung động lớn trong hàng ngũ địch, từ Bộ Thống soái đến quân lính. Quân địch tan vỡ về tổ chức, lực lượng, sụp đổ về thế trận, tinh thần.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, sau đông Bộ Đầu quân địch tháo chạy không dám cướp bóc dân.  Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, sau khi ta giải phóng  Thăng Long, và sau trận Vạn Kiếp, trên đường tháo chạy, bị đánh bồi liên tiếp, chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho quân khiêng chạy.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, sau trận Bạch Đằng, trên đường rút chạy về biên giới phía bắc, quân Nguyên truyền nhau rằng ba mươi vạn quân Trận rải ra suốt hơn một trăm dặm để chặn đường về của chúng, nên cả tướng, cả quân càng hoảng hốt, tháo chạy rối loạn. 

Nắm được thời cơ này, quân ta đã mạnh bạo tiến công, lấy ít dành nhiều, đánh cho địch nhanh chóng tan rã hoàn toàn.  Bộ Thống soái cũng như các tướng thời Trần đã nhận biết, tạo ra và tranh thủ các thời cơ đó để đánh địch, giành thắng lợi to lớn cho mỗi cuộc kháng chiến với một trình độ nghệ thuật quân sự ngày càng cao.


_________________________________
1. Câu của Trương Phổ, học giả đời Minh, viết khi bình luận sách Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm.
2. Ly Chu, tức Ly Lân, người thời Hoàng Đế, mắt rất sáng, trông xa ngoài trăm bước.
3. Manh Bôn, lực sĩ đời Chiến Quốc, người nước Vệ. Ý nói lúc kẻ địch mạnh không có điều kiện phát huy sở trường của nó để đánh ta.
4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.243.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 07:56:39 pm
3. Kiên quyết và kiên trì kháng chiến, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, đập tan ý chí xâm lược của địch.

Trước một kẻ địch xâm lược rất mạnh, triều đình nhà Trận đã chủ trương tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không có lợi, rút lui chiến lược từng bước, bảo toàn triều đình và quân chủ lực của ta, đồng thời hãm địch vào một tình thế ngày càng bất lợi bằng sức mạnh kháng chiến của cả nước.

Sau đó chuyển sang phản công chiến lược, lần lượt đánh các đòn quyết định, tiêu diệt lực lượng địch trên quy mô lớn, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõt. Sau khi khôi phục được toàn bộ lãnh thổ của đất nước, quân ta dừng lại ở biên giới, không truy kích quân địch đã thua trận sang đất chúng như một số nước lớn thường làm. Sau đó bằng các biện pháp ngoại giao, kết thúc chiến tranh, khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước.

Tuy nhiên, kẻ xâm lược ngoan cố và hung hãn không dễ dàng chấp nhận thất bạt. Thua ở Việt Nam, thiên triều thấy uy danh của mình bị tổn hại trước con mắt các nước khác, chúng lại phải đối phó với phong trào nổi dậy ngày càng mạnh của nông dân trong nước, cho nên, thua keo này chúng bày keo khác, hết phép này chúng dùng phép khác.

Cuộc xâm lược lần thứ nhất năm 1258, chúng nghĩ là thua ta vì lực lượng ít, vì đánh nước ta chỉ từ hướng bắc. Cuộc xâm lược lần thứ hai năm 1285 chúng huy động lực lượng đông hơn gấp 15 lần, đánh ta từ cả hai đầu nam - bắc. Trước sức mạnh kháng chiến của cả dân tộc ta, trước mưu lược của Bộ Thống soái ta, chúng lại bị thất bại.

Cuộc xâm lược lần thứ ba năm 1288, chúng cho là các lần trước bị thua vì hành động nóng vội vì thiếu thuỷ binh mạnh, vì không bảo đảm đủ lương thực. Cho nên chúng huy động lực lượng thuỷ binh mạnh mẽ phối hợp với ky binh, đã tổ chức đoàn thuyền chở 17 vạn thạch lương, đã hành động thận trọng, chặt chẽ, đánh đến đâu củng cố đến đấy. Rút cuộc lại thất bại thảm hại. 

Sau lần thất bại này, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt vẫn chưa chịu thua, lại ra lệnh điều động lực lượng chuẩn bị đánh chiếm Đại Việt. Tuy nhiên, qua thực tiễn ba lần thua trận, triều Nguyên cũng thấy rằng mọi lực lượng đều đã được điều động, mọi biện pháp chiến lược đều đã được thi thố, mọi tài nguyên đều đã được sử dụng nhưng đều liên tiếp bị đánh bại.

Trên thực tế, khả năng của triều đình Nguyên cũng có hạn. Thành lập những đạo quân xâm lược to lớn và tinh nhuệ không phải là điều dễ làm. Vua Nguyên lại nghĩ ra phương sách mới, sai sứ đến buộc vua Trần phải sang chầu.  Cố gắng này cũng bị vua Trần khéo léo và cương quyết cự tuyệt.

Trong lúc đó, phong trào khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc ngày càng dâng cao. Cuộc xung đột, tranh chấp giữa các tập đoàn tôn vương Mông Cổ cũng còn gay gắt. Đầu năm 1294 Hốt Tất Liệt chết. Vua Nguyên Thành Tông nối ngôi ra lệnh bãi binh đánh Đại Việt. Từ đó cho đến khi triều Nguyên sụp đổ (vào cuối thế kỷ XIV), quân Nguyên không còn dám xâm lược nước ta lần nữa.

Thắng lợi trên dây là do triều đình nhà Trần đã kiên trì kháng chiến, quyết tâm giành thắng lợi trong cả ba lần chiến tranh, lần sau giành thắng lợi lớn hơn, triệt để hơn lần trước, từng bước đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược của địch, làm thất bại từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của kẻ thù.


II. NGHỆ THUẬT XÂY DỤNG THẾ TRẬN CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC

1. Nhận thức về “thế” và “thế trận” trong nghệ thuật quân sự thời Trần

Thế là một vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng trong nghệ thuật quân sự thời Trần nói riêng cũng như trong truyền thống quân sự của dân tộc ta nói chung. Thế trận là thế trong tác chiến, cũng có khi gọi là thế đánh nhau (chiến thế) .

Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép về thế như sau: “Người đánh giỏi thường tìm ở thế, không trách ở người, cho nên mới chọn người mà dùng thế - thiện chiến giả cầu chi vu thế, bất trách vu nhân. Cố năng trạch nhân nhi nhiêm thế) 1 .


________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.253.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 08:06:34 pm
Thế đánh nhau (chiến thế) chẳng qua chính với kỳ” (Chiến thế bất quá kỳ chính) 1. “Quân chính thì bộ khúc rõ ràng, đúng theo pháp độ. Quân kỳ thì không cần pháp độ bó buộc, nghìn biến muôn hoá”... “Quân gấp mười thì vây, quân gấp năm thì đánh, đó là quân chính vậy. Lấy ít mà đánh nhiều, đó là quân kỳ vậy” 2. có thể hiểu quân chính (chính binh) là lực lượng đánh tập trung, chính quy trên một hướng, quân kỳ (kỳ binh) là lực lượng đánh phân tán, linh hoạt trên hướng phối hợp khác. Kỳ, chính bao hàm khái niệm cả về lực lượng, cả về cách đánh.

Về tác dụng của chính, kỳ, Binh thư yếu lược dẫn tiếp Binh pháp Tôn Tử. “Phàm chiến đấu, lấy chính để hợp lấy ký để thắng” (phàm chiến giả, dĩ chính hợp dĩ kỳ thắng). Tức là dùng lực lượng đánh chính quy trực tiếp đương đầu với địch, dùng lực lượng khác, linh hoạt bất ngờ tiến công địch để giành thắng lợi.

Phối hợp khéo léo kỳ và chính là một vấn đề lớn của nghệ thuật quân sự. “Tiếng chẳng qua năm cung, năm cung biến hoá thì không thể nghe xiết được. Sắc chẳng qua năm màu, năm màu biến hoá thì không thể xem xiết được. Mùi chẳng qua năm vị, năm vị biến hoá thì không thể nếm xiết được: Thế đánh nhau chẳng qua chính với kỳ, chính kỳ biến hoá không thể cùng vậy. Chính kỳ sinh ra nhau như vòng xoay tròn không có đầu mối, ai biết thế nào là cùng” 3.

Lại chép: “Cá lớn lội ở chỗ nước nông, bắt sống được chẳng cần chài lưới; thú mạnh đã vào đồng nội, bắt tay được chẳng cần bẫy hầm” 4.
 
(nước chảy xiết chảy nhanh đến trôi cả đá là thế vậy. . .  Người đánh giỏi thì thế hiểm . . . Thế như là nỏ dương. . . Cũng như chuyển gỗ đá vậy. Tính gỗ đá, để yên thì tĩnh, gặp nguy thì động; hình vuông thì đứng, hình tròn thì lăn. Cho nên cái thế giỏi đánh người cũng như lăn đá tròn từ trên núi cao nghìn nhận vậy. Đó là thế vậy” 5.

Như vậy, theo kiến thức của các binh gia Việt Nam thời Trần, thế là sự bố trí, triển khai lực lượng của mỗi bên tham chiến trên địa hình (chiến trường) thích hợp để phát huy uy lực của lực lượng đó; là hoàn cảnh, là tình thế trong đó các lực lượng hoạt động; là xu thế vận động của trận chiến đấu hay cuộc chiến tranh.

2. Trên cơ sở nhận thức đó, Binh thư yếu lược xác định “Thế mà nên có năm điều: Thừa thế - Khí thế - Giả thế - Tuỳ thế - Địa thế”

“Phàm khi mới đánh vỡ được quân địch lớn, tướng sĩ hăng đánh, uy danh lừng lẫy, nghe đều khiếp sợ, quay cái thế đó mà đánh người, đó gọi là thừa thế. Tướng có uy đức, bộ ngũ chỉnh tề, quân cổ dư sức, tiếng tăm đều biết, mạnh như sấm sét, đó gọi là khí thế. Quân lính ít ỏi, trống cờ rộn rịp, trương làm nghi binh, khiến quân địch sợ hãi, đó gọi là giả thế. Nhân địch mỏi mệt, trễ nải mà đánh úp, đó gọi là tuỳ thế. Tiện cho can qua, lợi cho bộ kỵ, tả hữu trước sau, không có chỗ hãm ẩn, đó gọi là địa thế. Người dùng binh mà nhận được năm thế ấy, chưa có ai là không có thể theo kẻ trốn, đuổi kẻ thua mà dựng nên công to” 6.

Thế mà thua có ba điều: Toả thế - Chi thế - Khinh thế.

Thua nhiều trận, quan và quân sợ đánh giặc, đó gọi là toả thế. Tướng không có uy đức, mưu kế, thưởng phạt không đáng, lòng quan và quân phần nhiều tan rã, đó gọi là chi thế.  Quan và quân ồn ào, không theo lệnh cấm, bộ ngũ không nghiêm, đó gọi là khinh thế. Phàm dùng binh có ba điều ấy, chưa thấy có ai không tan quân chết tướng bao giờ” 7.  “Phàm được quân địch toả thế thì có thể tự ngoài đánh được; địch bị chi thế thì có thể tự trong mà đánh; địch bị khinh thế thì có thể xông đánh. Đó là tuỳ ba thế bại mà dành vậy” 8.

Binh thư yếu lược cũng xác định, đánh địch được hay không, không nên câu nệ về quân nhiều hay quân ít. Mà phải xét hoàn cảnh, tình thế trong đó quân đội đánh giặc.


________________________
1, 2, 3, 4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.253, 236.
5. 6. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.236.
7, 8. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.236, tr.65.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 08:10:21 pm
Binh thư yếu lược cũng xác định, đánh địch được hay không, không nên câu nệ về quân nhiều hay quân ít. Mà phải xét hoàn cảnh, tình thế trong đó quân đội đánh giặc.

Hoàn cảnh, tình thế nói ở đây bao gồm cả tính chất của cuộc chiến đấu, chính nghĩa hay không. “Tướng giỏi cầm quân không vì quân ta nhiều mà kiêu, không vì quân ta ít mà nản chí. Kể ra mạnh không gì bằng hổ dữ, nhưng bắt lợn ở chuồng bị nhân dân đuổi thì cũng phải quắp đuôi mà chạy, không dám nhìn lại. Như thế mới biết lấy nghĩa thì có thể sai khiến người ta” 1.

3. Có thể vận dụng những lập luận về thế nói trên để nghiên cứu tình hình mạnh yếu, thắng bại trong các cuộc chiến tranh ác liệt giữa quân dội Mông - Nguyên với dân tộc ta thời Trần .

Trong chiến tranh, mỗi lực lượng có sức mạnh riêng và cách đánh sở trường riêng. Thế lợi tức là thế phù hợp với việc phát huy sức mạnh và cách đánh sở trường của mỗi lực lượng.  Lực lượng của Mông Cổ là những kỵ đội thiện chiến.  Trưởng thành từ dân du mục, kỵ binh Mông Cổ giỏi về phi ngựa bắn cung. Khả năng cơ động cao và sức đột kích mạnh là một ưu thế quan trọng của quân Mông Cổ.

Bành Đại Nhã đời Tống, tác giả của sách Hắc Thát sử lược đã chép: “Về đánh trận, họ lợi ở dã chiến. Không thấy lợi, không tiến quân... Trăm quân kỵ quay vòng, có thể bọc được vạn người, nghìn quân ky tản ra, có thể dài đến trăm dặm... địch phân tất phân, địch hợp tất hợp, cho nên kỵ đội là ưu thế của họ, hoặc xa, hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tụ hoặc tán, hoặc hiện hoặc ẩn, đến như trên trời rơi xuống, đi như chớp giật” 2.

Về cách tiến công của kỵ đội Mông Cổ, Bành Đại Nhã chép: “Theo phép phá địch của họ, trước hết là lên chỗ cao nhìn ra xa, xem địa thế, xét địch tình. Vì chuyên thừa cơ địch rối loạn, nên lúc bắt đầu giao phong, thường dùng kỵ dội xông thẳng vào trận địch, mới xông vào mà địch đã núng thì không kể đông hay ít, ồ ạt tiến lên, địch tuy chục vạn, cũng không thể đương được. Nếu địch không núng, thì đội phía trước tản ngang ra, đội tiếp theo xông lên, nếu không vào được thì đội sau nữa lại tiến lên như vậy. Nếu trận địch vững chắc, cho súc vật đâm nhào vào trận địch, ít khi địch không bại... Họ mà thắng thì đuổi theo địch chém giết, không để trốn thoát, họ mà thua thì chạy rất nhanh, đuổi theo không kịp” 3.

Muốn thực hiện cách đánh đó, cần có các điều kiện:

- Đối phương nhận giao chiến công khai, đem các binh đoàn quân đội ra dàn trận đương đẩu với quân Mông Cổ. 

- Chiến trường phải là nơi rộng và trống trải.

- Bảo đảm lương thảo phải đầy đủ và kịp thời. 

Thế trận mà quân Mông - Nguyên muốn có là thế trận quân chủ lực đôi bên dàn ra trong một không gian (trên một chiến trường) thuận lợi cho họ để đánh nhanh. Trong thế đó, kỵ binh ưu thế của Mông Cổ tha hồ đột phá phía trước, nhanh chóng cơ động vu hồi vào bên sườn và phía sau, bao vây chia cắt, áp đảo đối phương để tiêu diệt. Thế trận đó đã giúp cho quân đội Mông Cổ đánh tan quân chủ lực của nhiều quốc gia, nhanh chóng chinh phục họ.

Bộ Thống soái nhà Trần không chấp nhận thế trận đó. Ý định ban đầu là dựa vào núi sông hiểm trở để ngăn chặn địch, nhưng không thành công, nhà Trần đã kịp thời hạ quyết tâm rút lui chiến lược, không cho quân chủ lực của dịch tiếp xúc, giao chiến trên thế có lợi với quân chủ lực của ta, buộc địch phải chia nhiều cánh rải quân khắp nơi để tìm kiếm hòng tiêu diệt quân chủ lực của nhà Trần.

Càng vào sâu đất ta, quân càng rải mỏng, tiếp tế ngày càng khó khăn.  Nhân dân theo lệnh của triều đình làm thanh dã khắp nơi, cất dấu lương thực. Các lực lượng vũ trang tại chỗ của các lộ, các phủ, các châu, các làng, xã, bản, động bám địch tiến công ngay trong vùng chúng chiếm đóng. Mùa Hè đến, thời tiết nhiệt đới gây tổn hại cho quân xâm lược không kém binh đao. 


_________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.236, tr.65.
2, 3. Theo Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Sđd, tr.345.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 08:12:04 pm
Thế trận của địch ngày càng suy sút, mỏng yếu.  Thế trận của hai bên địch - ta trong các cuộc kháng chiến thời Trận có những đặc điểm:

a. Quân chủ lực của địch về cơ bản không tiếp xúc, không giao chiến được với quân chủ lực của ta trong thời kỳ đầu của chiến tranh, mặc dù đã tập trung cố gắng truy tìm để tiêu diệt. Ta chặn địch từng bước rồi lui quân, bảo toàn được lực lượng.

b. Quân đội tinh nhuệ của địch phải .rải mỏng ra trong quá trình truy tìm quân chủ lực và triều đình của ta, dần dần buộc phải đương đầu với quân các lộ, các phủ, châu và hương binh các làng, bản, thường có một bộ phận quân triều đình làm nòng cốt. Thế xen kẽ hình thành, trong đó quân chủ lực của địch bị đánh phá nhỏ lẻ ngày đêm trong quá trình chúng trú quân, đóng đồn cũng như càn quét và cướp bóc lương thảo, bị eắt tiếp tế, bị cất dấu lương thực. Không những chúng không tìm được đối tượng để thi thố sức mạnh và cách đánh sở trường mà còn bị sa lầy, suy yếu trong thế trận làng - nước của chiến tranh nhân dân Đại Việt. 

c. Chính vì vậy mà không những chúng không tiêu diệt được quân chủ lực của ta, mà cũng không đủ sức chiếm hết các địa bàn quan trọng về chiến lược. Việc Hưng Đạo vương trong cuộc chiến tranh lần thứ hai đem 1.000 chiến thuyền trở lại Vạn Kiếp, một địa bàn hiểm yếu, hỗ trợ cho quân, dân địa phương, uy hiếp mạnh mẽ quân địch từ cạnh sườn và sau lưng, kìm hãm đà tiến công của quân Nguyên xuống phía nam Thăng Long mà Thoát Hoan không làm gì được, phải cầu cứu triều đình Nguyên và than vãn chúng bị “treo lơ lửng ở quãng giữa”, chứng tỏ Bộ Thống soái thời Trần đã thành công trong việc lập thế trận của ta, phá thế trận của địch.

Ta đã hãm địch vào thế trận cả nước đánh giặc, trong đó sức mạnh và cách đánh sở trường của quân Mông - Nguyên không phát huy được. Lực lượng để cơ động tiến công không những không phát huy được tác dụng mà còn dần dần suy yếu.

Trên đây là thế trận địch, ta trong giai đoạn rút lui chiến lược. Sang giai đoạn phản công chiến lược, khi lực lượng địch đã rải ra và suy yếu, mà lực lượng ta được bảo toàn , ta tập trung lực lượng nhằm từng mục tiêu, từng đơn vị địch mà tiến công, cho đến khi ta đánh những trận quyết chiến như Thăng Long - Vạn Kiếp, hoặc ngay từ đầu cuộc phản công đã đánh trận lớn như ở đông Bộ Đầu, Bạch Đằng. Sau những trận này, lực lượng địch bị tiêu diệt lớn, thế trận của chúng tan vỡ. Quân, dân ta phát triển tiến công cho đến khi đánh cho địch tan rã hoàn toàn và bị quét sạch ra khỏi bờ cõi.

Như vậy, nhìn chung cả ba cuộc kháng chiến thời Trần, có thể thấy:

a. Về bố trí lực lượng, lúc đầu địch tập trung lực lượng thành quả đấm chiến lược mạnh, sau đó ta buộc chúng phải rải mỏng lực lượng trên mọi địa bàn đất nước ta mà chúng tiến đánh. Còn quân ta thì vẫn được sử dụng tập trung trong cuộc rút lui chiến lược cũng như trong cuộc phản công chiến lược. Trong lúc đó, vẫn có các lực lượng vũ trang tại chỗ chặn địch và đánh chúng ở khắp mọi nơi chúng đến.

b. Về hoàn cảnh, tình thế hoạt động của quân địch và quân ta, ta tạo nên thế trận làng - nước của chiến tranh nhân dân, trong đó quân ta tự do hành động, còn địch thì ngày càng bị sa lầy và suy yếu.

c. Về xu thế vận động của cuộc chiến tranh, ta làm cho thế trận của địch ngày càng xấu đi, thế trận của ta ngày càng tốt lên, từng bước chuẩn bị các điều kiện về lực lượng và thế trận để chuyển từ giai đoạn rút lui chiến lược sang giai đoạn phản công chiến lược. Trong quá trình chuyển hoá thế trận đó, Bộ Thống soái thời Trần đã tạo nên những bước nhảy vọt trong cuộc kháng chiến, dẫn đến sự tan vỡ trong lực lượng của địch và sự sụp đổ trong thế trận của chúng, đi đến kết thúc thắng lợi từng cuộc kháng chiến.

Nhìn chung, không chấp nhận thế trận của địch, buộc địch phải chấp nhận và bị động đối phó uới thế trận của ta, lập thế  trận của ta, phá thế trận của địch, đó là một trong những đỉnh cao của tài thao lược của Bộ Thống soái nhà Trần. Nghệ thuật lập thế ta , phá thế địch có bước phát triển ngày càng vững vàng, sắc sảo từ cuộc kháng chiến thứ nhất đến cuộc kháng chiến thứ ba.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 08:14:23 pm
Trong việc xây dựng thế trận của chiến tranh nhân dân, việc bố trí các tập đoàn quân chủ lực nhằm đánh trận quyết định đóng một vai trò rất quan trọng. Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, các tập đoàn chủ lực đều được đưa lên bố trí gần biên giới. Sau đó, tuỳ tình hình mà rút lui chiến lược từng bước, cơ động từ vùng có địch đến vùng không có địch để bảo toàn lực lượng. Nhưng trong cuộc chiến tranh thứ ba, quyết tâm của Bộ Thống soái có khác: Không có tập đoàn lớn nào bố trí chặn địch trên đường quân Mông - Nguyên tiến vào nước ta. 

Việc đánh địch trên những con đường quan trọng đó được giao cho quân địa phương, có một bộ phận quân chủ lực làm nòng cốt. Còn đại quân của triều đình thì từ đầu đã được bố trí làm hai tập đoàn: Một tập đoàn ở Hải đông gần khu vực sông Bạch Đằng và một tập đoàn ở giữa Vạn Kiếp và Thăng Long. Tập đoàn khu vực sông Bạch Đằng do vua Trần và Trận Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy là tập đoàn chủ yếu. 

Rõ ràng là từ đầu chiến tranh, Bộ Thống soái đã có sẵn ý định đánh hai trận quyết định, một trận quyết định ở Bạch Đằng và một trận quyết định gồm nhiều trận nhỏ, từ Vạn Kiếp đến biên giới phía bắc, đập tan và truy kích đại quy mô quân địch rút lui theo đường bộ. Cách bố trí thế - trận này biểu hiện một khả năng dự báo chiến lược cao của Bộ Thống soái và một trình độ cao nắm vững quy luật hành động của địch.

4. Xét về quan điểm kỳ chính và các lập luận khác về thế trong Binh thư yếu lược, thì Bộ Thống soái và các tướng lĩnh thời Trần dã tỏ rõ có tài năng sáng tạo xuất sắc trong nghệ thuật tạo thế dể thắng địch.

Về cách vận dụng kỳ chính trong phạm vi một trận đánh, có thể dẫn trận diệt địch ở Vạn Kiếp mùa Hè năm 1285. Quân Mông - Nguyên bị đánh bật khỏi Thăng Long đang tìm cách vượt sông Như Nguyệt để rút về hướng Lạng Sơn. Quân của Trần Quốc Toản đã chặn đứng địch ở đó buộc quân địch phải đi xuống Phả Lại. Hưng Đạo vương đã bí mật bố trí mai phục sẵn một lực lượng lớn ở Vạn Kiếp. Khi địch qua sông nửa chừng thì quân ta bất ngờ tiến công, tiêu diệt.

Như vậy quân của Trần Quốc Toản giừ vai trò chính binh, công khai đương đầu trực tiếp với địch. Đó là ta đã “lấy chính để hợp”. Lực lượng lớn phục kích ở Vạn Kiếp, bí mật, bất ngờ tiến công giành thắng lợi cho trận đánh. Đó là ta đã “lấy kỳ để thắng”. 

Về cách vận dụng kỳ hình trong phạm vi cả cuộc chiến tranh của Bộ Thống soái, chúng ta có thể thấy qua diễn biến thực tiễn của các cuộc kháng chiến thời Trần: Chính binh là quân chủ lực triều đình, kỳ binh là các lực lượng cả nước đánh giặc ở các địa phương.

Trong thời kỳ đầu của các cuộc kháng chiến, triều đình Trần đã dùng đại quân để chặn địch từng bước. Đó là dùng chính binh để “hợp”, đồng thời dùng kỳ binh là các lực lượng kháng chiến tại chỗ để đánh vào mọi mục tiêu sau lưng địch, buộc chúng phải rải quân đối phó.

Cho đến khi đại quân xâm lược do rải quân chiếm đóng địa bàn mà mất sức chiến đấu, chiến lược đánh nhanh thắng nhanh phá sản, tạo cho đại quân ta điều kiện để thực hành phản công chiến lược. Như vậy là trong thời kỳ này, quân ta đã dùng kỳ binh để thắng.  Ta đã dùng thế trận cả nước đánh giặc để đưa đại quân xâm lược của địch vào tình thế “cá lớn lội ở chỗ nước nông", “thú mạnh đã vào đồng nội”.

Trong giai đoạn phản công chiến lược, các trận đánh lớn ở đông Bộ Đầu trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, ở Thăng Long và Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, ở Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba đã tạo nên chấn động lớn trong hàng ngũ quân địch. làm cho chúng tan vỡ tháo chạy và đã bị quân dân ta liên tục đuổi đánh và tiêu diệt. Quân ta đã tạo nên cái thế “lăn hòn đá tròn từ trên núi cao nghìn nhận”.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 08:18:06 pm
III. XÁC ĐỊNH HƯỚNG TIẾN CÔNG CHỦ YẾU


Khái quát các yêu cầu về xác định hướng tiến công chủ yếu Binh thư yếu lược dẫn Binh pháp Tôn Tử đã vạch rõ:

“Kể ra hình của binh thì như nước. Hình của nước thì lánh chỗ cao mà rảo xuống thấp; hình của binh thì lánh chỗ thực mà đánh chỗ hư 1. Chỗ thực là chỗ quân địch mạnh, tổ chức phòng ngự chắc chắn, chỗ hơ là chỗ không có địch, địch sơ hở hoặc chỗ địch yếu. “Ra quân ở chỗ họ không tới; tới cái chỗ họ không ngờ (xuất kỳ sở bất xu, xu ký sở bất ý). Đi nghìn dặm mà không nhọc, ấy là đi trong chỗ không người”  (thanh thiên lý nhi bất lao giả, hành vô nhân chi địa dã) 2.

Quan điểm đó được đề xuất trên nhiều góc cạnh: Việc binh nên đánh vào chỗ dễ mà không đánh vào chỗ khó” 3.   

“Biết được tình hình hư thực của người rồi thì đánh chỗ mềm mà không đánh chỗ cứng. . . Đánh chỗ cứng thì chỗ mềm phải cứng, đánh chỗ mềm thì chỗ cứng phải mềm” 4.  “Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi trên không, dựng nên cuộc đời vô sự” 5. 

Những quan điểm trên được các tướng thời Trần vận dụng rất linh hoạt vào những hoàn cảnh tác chiến khác nhau. Có thể hiểu rằng không phải bất cứ chỗ dễ, chỗ yếu, chỗ mềm nào cũng nên đánh. Mà phải chọn chỗ nào, khi ta đánh thắng, sẽ làm cho chỗ khó hơn, chỗ mạnh hơn, chỗ cứng hơn có liên quan trở thành dễ, thành yếu, thành mềm cho ta tiêu diệt tiếp.

Nếu không lượng sức, chọn chỗ quá cứng, đánh không thắng thì những chỗ dễ, chỗ yếu, chỗ mềm khác có liên quan cũng sẽ trở thành khó đánh, thành mạnh, thành cứng.  Tốt nhất là nhằm những nơi địch sơ hở, không đề phòng mà đánh, nơi ta có thể đánh cho địch nhũng đòn bất ngờ. Điều đặc biệt quan trọng là những chỗ hư, chỗ yếu, chỗ dễ, chỗ mềm, mà các tướng thời Trần chọn để hướng đòn tiến công chủ yếu vào đó đều là những chỗ hiểm yếu.

Đánh vào những chỗ này vừa dễ tiêu diệt địch, lại vừa gây nên sự rung động trong thế trận của địch, tạo thuận lợi cho những trận đánh tiếp theo, do đó mà đạt được: “Đánh một nơi mà chín nơi tự vỡ đánh bên đông thì bên tây tự vỡ, đánh phía nam thì phía bắc tự vỡ 6.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, hướng đánh đòn phản công đầu tiên là A Lỗ rồi đến Tây Kết, Hàm Tử. Đó là những điểm yếu, vì lực lượng địch ít, quân mới đóng trên bãi  cát. Nhưng nó lại là nơi hiểm yếu vì cắt đôi hai tập đoàn Thoát Hoan và Toa Đô, cô lập Toa Đô. Đòn phản công tiếp theo là Chương Dương. Đó cũng là điểm yếu vì là căn cứ mới đóng ở bờ sông. Lại là nơi hiểm yếu vì nó rung động trực tiếp đến Thăng Long. Mất Chương Dương, Thoát Hoan phải cho quân cứu viện. Quân viện bị diệt, Thăng Long bị rung chuyển, Thoát Hoan phải bỏ chạy về phía bắc khi bị quân ta bao vây, tiến công. Ta giải phóng được Thăng Long thì tập đoàn gần mười vạn quân của Toa Đô càng bị cô lập. Tập đoàn này vốn là chỗ cứng, nay đã trở thành mềm vì bị tách khỏi tập đoàn của Thoát Hoan ngày càng xa và không giải quyết được việc tiếp tế lương thảo. Chúng lâm vào cảnh rối loạn và bị tiêu diệt tiếp (trận Tây Kết lần thứ hai).

Thời Trần việc chọn hướng tiến công có điểm độc đáo là nhằm vào các cơ sở hậu cần, triệt nguồn tiếp tế lương thảo của địch. Trong cuộc chiến tranh xâm lược, việc bảo đảm lương thảo là vấn đề chiến lược rất lớn. Việc cướp lương thảo trên đất địch để nuôi quân có tầm quan trọng cực kỳ to lớn.  Các tướng lĩnh nhà Nguyên rất coi trọng quan điểm đã được ghi rõ trong Binh pháp Tôn Tử. “Người khéo dùng binh...  không tải lương ba lần. Vũ khí trang bị do trong nước cung cấp còn lương thảo thì lấy ở nước địch . . . Vận chuyển đi xa sẽ làm cho trăm họ bần cùng. Những địa phương nơi quân đội tập trung, giá cả sẽ tăng cao, giá cả tăng cao sẽ làm nguồn tài chính của dân cạn kiệt, nhà nước sẽ phải tăng nhanh thuế má và lao dịch. Quân lực ngày càng tiêu hao, tài lực ngày càng kiệt quệ: kinh tế trong nước sẽ đi tới phá sản. Của cải của dân tiêu hao mất bảy phần mười, của cải của nhà nước . . . cũng mất đi sáu phần mười” 7.


____________________________________
1, 2, 3. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.239, tr.218, tr.190.
4, 5, 6. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.36, tr.45, tr.243.
7. Đây là nói nơi quân đội tập trung ở trên đất của kẻ xâm lược.  


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:41:31 pm
Chính với nhận thức đó mà Trần Hưng Đạo đã nhằm tiêu diệt đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ trong cuộc kháng chiến lần thứ ba. Đó là mục tiêu yếu, nhưng cực kỳ hiểm yếu, vì nó quyết định khả năng tiếp tục chiến đấu của quân Nguyên. Nghe tin đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị tiêu diệt, Thoát Hoan đã phải hạ quyết tâm rút quân về nước, bỏ dở cuộc xâm lược. Điều đáng chú ý là ở khắp các địa phương, quân dân ta liên tục tiến công vào bọn địch đi cướp lương thảo, đánh vào đường vận chuyển tiếp tế của địch, đồng thời thường xuyên làm thanh dã cất dấu lương thực của ta.

Quân Nguyên cũng rất sợ những cuộc tiên công nhỏ ban đêm của quân các địa phương vùng địch chiếm đóng. Có thể xem đó cũng là một hướng tiến công nhằm vào những chỗ sơ hở trong thế bố phòng của địch, nhằm vào tinh thần căng thẳng của quân xâm lược.

Trong một số tình huống chiến lược đặc biệt quan trọng, các tướng nhà Trần cũng đã hạ quyết tâm rất đúng đánh vào chỗ thực, chỗ cứng, chỗ khó, chỗ mạnh của địch mà ta có điều kiện tập trung lực lượng tiêu diệt sau khi đã tạo ra những điều kiện làm cho nó mềm, yếu đi. Đó thường là những mục tiêu đặc biệt quan trọng, tiêu diệt nó sẽ tạo nên bước ngoặt quyết định trong kháng chiến với mức độ khác nhau. Những nơi mạnh mà ta đủ sức tiêu diệt đó đều là những mục tiêu đặc biệt hiểm yếu.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, đông Bộ Đầu là chỗ mạnh của địch. Nhưng sau chín ngày chiếm đóng bị tiêu hao và đói ăn chúng đã suy yếu nhiều. So với lực lượng quân Trần đã được củng cố thì quân ta đủ sức tiêu diệt chúng. Chiến thắng đông Bộ Đầu đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất của quân Mông Cổ.

Trong cuộc kháng chiến lần ba, hướng chủ yếu của đòn phản công chiến lược đầu tiên là lực lượng thuỷ binh hùng mạnh của địch trên sông Bạch Đằng. -Đó là nơi địch mạnh, nhưng ta đã chuẩn bị các điều kiện để làm cho nó suy yếu.  Quân ta đã chặn đạo quân hộ tống của Trình Bằng Phi đi đường bộ ven sông để yểm hộ cho đoàn thuyền của Ô Mã Nhi, lại chặn đoàn thuyền địch ở Trúc Động trên sông Giá, buộc địch phả quay về sông Đá Bạc để xuôi xuống Bạch Đằng và đi vào trận địa đã bày sẵn của ta. Đó lại là mục tiêu cực kỳ hiểm yếu, vì thuỷ binh là lực lượng mới mà quân Nguyên ra sức xây dựng, chỗ cậy quan trọng của chúng trong các cuộc phiêu lưu quân sự mới.

Trong các cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực hiếu chiến, chúng thường cậy vào các hình thức tổ chức lực lượng mạnh để thực hiện các biện pháp tác chiến chiến lược lợi hại nhằm tạo nên sức mạnh mới đè bẹp đối phương. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt trước đây, quân Mông-Nguyên đã dùng hình thức tổ chức lực lượng cơ bản là các binh đoàn kỵ binh thiện chiến có sức cơ động rất cao, biện pháp tác chiến chiến lược sở trường là cách đột phá mãnh liệt và sâu bao vây vu hồi rộng, nhanh chóng áp đảo, chia cắt lực lượng , phá vỡ thế trận của đối phương.

Những bảo bối này đã đưa đến cho chúng chiến thắng huy hoàng trên khắp chiến trường châu Âu, châu Á. Sau khi hình thức tổ chức lực lượng và biện pháp tác chiến này bị mất hiệu lực và thất bại trong thế trận làng - nước và trên địa hình rừng núi, làng mạc, sông ngòi Đại Việt qua hai cuộc xâm lược thứ nhất và thứ hai, quân Mông - Nguyên đã chuyển sang xây dựng lực lượng thuỷ binh hùng hậu, có khả năng chở các binh đoàn tinh nhuệ vượt biển khơi, luồn lách vào các sông ngòi, đổ quân tiến công vào cả phía trước, phía sau của đất nước đối phương. Đây là một mối uy hiếp lớn đối với sự an toàn không những của Đại Việt mà còn đối với các nước khác ở đông Nam châu Á.

Với ý nghĩa này, chiến thắng Bạch Đằng là một đòn quyết định đánh vào ý chí xâm lược nước ta của đế chế Nguyên. Qua đó có thể thấy rõ tác dụng to lớn của việc chọn hướng tiến công chủ yếu trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến.


IV. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN


Vận dụng tư tưởng chỉ đạo tác chiến là một nội dung rất cơ bản của nghệ thuật quân sự. Qua sự điều hành của Bộ Thống soái và hoạt động tác chiến của quân, dân thời Trần thấy nổi bật lên các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến quan trọng sau đây:


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:45:39 pm
1. Trước hết là tư tưởng tiến công, tích cực tiến công, toàn quân, toàn dân tiến công.

Cơ sở chính trị tinh thần và vật chất của tư tưởng tiến công của quân dân ta thời Trần là một loạt các nhân tố, các sự kiện quan t.rong tồn tại và diễn ra trước và trong cuộc kháng chiến. Đó là lòng yêu nước và tinh thần quật cường, bất khuất truyền thống của dân tộc Việt Nam, lời kêu gọi của triều đình giặc đến phải liều chết đánh và cất dấu lương thực, một loạt chính sách về chính trị, xã hội và kinh tế, gắn - bó triều đình và dân chúng, Hịch tướng sĩ, Hội nghị Diên Hồng, cách tổ chức lực lượng vũ trang hợp lý của nhà Trần, sự tàn bạo dã man của quân xâm lược và tình thế bị sa lầy của chúng trong thế trận chiến tranh nhân dân, địa hình hiểm trở và thời tiết nhiệt đới của đất nước ta . . . 

Khắp miền xuôi, miền ngược quân giặc đều bị tiến công.  Quân triều đình, quân các lộ, phủ, châu , hương binh các xã, làng, bản, đều tiến công. Cả dân chúng cũng tham gia tích cực vào chặn đánh giặc. Những trường hợp như dân làng Cổ Sở Yên Duyên, Đa Mỗi, dân trại Quy Hoá, huyện Phù Ninh, v.v. tự động đánh lại địch là hiện tượng phổ biến. 

Trong giai đoạn quân ta rút lui chiến lược, các lực lượng chủ lực và địa phương ở lại sau lưng địch đều tiến công từ trong ruột chúng, có trận quan trọng như trận Nội Bàng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.

Trong giai đoạn phản công chiến lược thì tư tưởng và hành động tiến công càng mạnh mẽ và ngày càng tăng cường.  Vô luận phản công từ nhỏ đến lớn như trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, hoặc phản công lớn ngay từ đẩu như trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất và thứ ba, thì đều kết thúc bằng một cuộc tiến công chiến lược ồ ạt của toàn bộ quân dân ta trên tất cả các địa bàn có địch. Chính từ thực tiễn đó mà Binh thơ yếu lược đã nêu yêu cầu: “Đánh như sông vỡ, đánh như sấm vang”1. “Sự đánh của kẻ thắng cũng như tháo vỡ nước chứa ở trên cao nghìn nhẫn” 2. Yêu cầu này cũng phản ánh khí thế tiến công như vũ bão của quân ta trong trận Bạch Đằng năm 1288.

Tuy tư tưởng tiến công bao trùm và quán triệt rất sâu  sắc mạnh mẽ nhưng Trần Hưng Đạo cũng như các tướng lĩnh đã biết thực hành rút lui chiến lược khi cần thiết và thực hành phòng ngự với mức độ cẩn thiết để yểm trợ cho cuộc rút lui chiến lược như ở Bình Lệ Nguyên và ở Phù Lỗ trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, ở Vạn Kiếp, ở bờ sông Hồng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Về quan điểm này, Binh thư yếu lược đã viết: Nên lui thì lui, đừng lui vì nhút nhát. Đem quân tới trận, khi tiến khi lui, lường theo thế mà thôt... biết khó mà lui, lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến mà để mất vậy. Có thể tiến mà lại lui đó mới là lỗi” 3.

Trên đà phản công chiến lược, quân ta tiến công diệt địch mãnh liệt trên đất ta, nhưng đến biên giới phía bắc thì quân ta dừng lại, không truy kích sang đất địch. Đó là một chủ trương rất sáng suốt, biểu thị một nhãn quan chiến lược xa rộng và một nhận thức chính trị đúng đắn, nhằm bảo đảm hoà bình lâu dài cho hai dân tộc. Đó là nghệ thuật biết dừng trên đà tiến công mạnh. Binh thư yếu lược.. dẫn Binh pháp Ngô Khởi, đã viết: “Cho nên người biết đạo trước hết phải dự tính đến sự thất bại vì không biết chỗ dừng. Có phải là chỉ tiến thì mới nên công đâu!” 4.
 
2. Tư tưởng chủ động đánh địch, hành động theo ý định của ta mà không theo ý định của địch, điều động địch mà không để địch diều động ta.

Mở đầu mỗi cuộc chiến tranh xâm lược, địch muốn giao chiến ngay với chủ lực của ta để thực hiện ý đồ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh. Ta tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi, ngăn địch từng bước, rút lui chiến lược, bảo toàn chủ lực, trừ một bộ phận chủ lực cần thiết để ngăn địch lúc đầu không dùng chủ lực ta đương đầu với chủ lực của địch.

Trong thời kỳ này, địch muốn giao chiến với ta thành trận tuyến, trận địa công khai để phát huy được thế mạnh của chúng, ta dùng thế trận chiến tranh không chiến tuyến, đánh nhỏ lẻ, rộng khắp cả trước mặt và sau lưng chúng để phân tán và tiêu hao, làm suy yếu lực lượng địch.

Làm được như vậy, ta đã không cho địch phát huy được sức mạnh và cách đánh sở trường của chúng, buộc chúng phải chấp nhận cách đánh sở trường của ta và phải đối phó trong thế yếu và bất lợi với sức mạnh của ta. Đó là cách ta giành quyền chủ dộng về chiến lược ngay trong điều kiện kẻ thù đang chủ động khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. 


______________________________
1, 2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.235-237.
3, 4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.385, tr.52.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:48:12 pm
Trong cuộc kháng chiến thứ hai, sau khi quân ta giải phóng Thăng Long, đại quân địch muốn rút về nước theo hướng Thăng Long - Lạng Sơn, đường ngắn hơn và an toàn hơn. Nhưng quân ta đã chặn đứng chúng ở Đáp Cầu buộc chúng phải xuống Phả Lại, qua sông ở đó. Và khi quân địch qua sông nửa chừng thì quân ta đã mai phục sẵn, đổ ra tiến công tiêu diệt chúng .

Đặc biệt, việc điều động địch trong trận Bạch Đằng thì thật là tài giỏi. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thuỷ quân rút lui theo dường sông ra biển, trên bờ có quân của Trình Bằng Phi hộ tống. Quân ta chặn đánh và phá cầu buộc quân của Trình Bằng Phi phải quay trở lạt. Thuỷ quân địch đi vào sông Giá. Quân ta chặn địch ở Trúc Động không cho chiến thuyền của chúng vào sông Giá mà buộc phải quay trở lại theo sông Tràng Kênh xuôi xuống Bạch Đằng.

Ở dưới sông Chanh, quân ta đã lợi dụng địa hình đặc biệt của sông Bạch Đằng ở ghềnh Cốc, ngăn chặn địch, buộc chúng đi vào sông Chanh. ở đó các hàng cọc của ta đã cắm sẵn . Nắm vững quy luật thuỷ triều, ngăn chặn thuỷ binh địch từ Vạn Kiếp, buộc chúng phải vừa đi vừa đánh, suốt trong 10 ngày nước triều cường chúng chỉ đi được khoảng 50 km. Nhờ đó mà đã dẫn dắt địch đến trên hàng cọc vừa lúc thuỷ triều xuống nhanh, làm cho chiến thuyền của địch bị nước triều đang rút nhanh xô mạnh vào bãi cọc và bị gác lên hàng cọc để quân ta tiêu diệt.

Đó là một nghệ thuật điều động địch đặc biệt sáng tạo, vừa kiên quyết, vừa có tính toán chính xác về không gian và thời gian. Khái quát các hiện tượng đó, Binh thư yếu lược dẫn Binh pháp Tôn Tử, đã viết: “Người thiện chiến khiến người đến mà không bị người đến khiến” 1 (Cố thiện chiến giả, chí nhân nhi bất chí vu nhân). 

Thực hiện được những hoạt động chủ động điều địch như vậy là đã đạt được đỉnh cao của tư tưởng tiến công.  Các nhà chỉ đạo, chỉ huy quân sự của ta thời Trần luôn nắm vững quyền chủ động, quyền tự do hành động. Không những chủ động tiến công, chủ động điều động địch mà trong những tình huống cần thiết, còn chủ động ngăn chặn kìm hãm chúng, nhấn cho chúng sa lầy ngày càng sâu vào thế trận bất lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho ta thắng địch sau đó.

Binh thư yếu lược viết về bản lĩnh này như sau: “... Địch đem quân đến, thế không thể ở lâu được thì ta cầm. Thế bách, kíp muốn thắng ngay thì ta cầm. Địch đánh có lợi, ta đánh không có lợi, thì ta cầm. Thời nên giữ yên, động trước thì nguy thì ta cầm... Nó ở thế hiểm ta ở thế yên thì ta cầm.  Nó đói mà ta no thì ta cầm. Nó nhọc mà ta rỗi thì ra cầm”. Thiên thời sắp hại, địa nạn sắp hãm, nhuệ khí sắp nhụt, thì ta cầm. Cầm cho nó đã mệt, bấy giở ta nổi dậy mà đánh, thì sức vẹn mà công nhiều” 2.
 
3. Tư tưởng đánh địch linh hoạt. quyền biến, tuỳ cơ ứng biến

Đi đôi với tư tưởng chủ động, buộc địch hành động theo ý chí của mình mà tiêu diệt chúng, các nhà quân sự thời Trần cũng quán triệt tư tưởng đánh địch linh hoạt, tuỳ theo tình thế thay đổi mà xác định cách đánh thích hợp: Khi âm mưu chiến lược và hoạt động tác chiến của đích đã thay đổi, khi khả năng của ta chưa đáp ứng với nhiệm vụ tác chiến đã được xác định trước, khi phát hiện hoặc dự kiến xu thế phát triển của cục diện chiến lược.

Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất và lần thứ hai, quân Mông - Nguyên chủ trương đánh nhanh thắng nhanh, hành động ào ạt, dùng sức mạnh quân sự hòng áp đảo đánh bại quân ta. Sau khi các chủ trương này bị đánh bại, đến cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba, địch thay đổi kế sách: hành động thận trọng từng bước, đánh đến đâu củng cố thế trận đến đó, kết hợp hoạt động quân sự với sự lừa bịp, lôi kéo về chính trị bằng con bài Trần Ích Tắc, tăng cường vận chuyển lương thực từ chính quốc mà giảm bớt việc cướp bóc lương thực trên đất ta, tăng cường lực lượng thuỷ binh, v v .

Trần Hưng Đạo cho rằng cách hoạt động này của quân Mông - Nguyên gây cho ta nhiều khó khăn mới. Ta phải có cách đối phó thích hợp. Người chỉ huy phải vững vàng, tỉnh táo và linh hoạt thì mới phá được kế sách mới của địch.  Phản ánh thực tiễn này, Di chúc của Trần Hưng Đạo có đoạn viết: Nếu thấy quân giặc lướt đến như lửa như gió thì dễ chống lại thế của chúng. Nếu chúng dùng cách chiếm dần như tằm ăn dâu, không ham của dân, không cầu thắng chóng, thì mình phải dùng tướng giỏi, xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tuỳ theo tình thế mà quyết định cách xử trí (Để kiến bỉ quân phiên chí như hoả như phong, kỳ thế dị chế. Nhược dụng tàm thực hoãn hành, bất vụ dân tài bất cầu tốc thắng, tắc bạt dụng lương tướng, quan kỳ quyền biến, như vi kỳ nhiên, tuỳ thời chế nghi). Ý nói nếu người tướng chỉ có tinh thần dũng cảm tiến công mà không nhạy bén với sự thay đổi trong âm mưu thủ đoạn của địch để có cách đối phó thích, hợp thì sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ.


_______________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 201 .
3. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.190.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:49:27 pm
Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, vua Trần và Trần Hưng Đạo đã đem quân lên biên giới phía bắc với khí thế đánh địch rất cao. Nhưng qua thực tiễn một số trận chiến đấu, thấy quân ta không chặn nổi đà tiến công của địch, Bộ Thống soái đã hạ quyết tâm rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị thế và lực để đánh thắng địch trong các bước tiếp theo. Đó cũng là cách xử lý rất linh hoạt, dũng cảm và đúng đắn khi khả năng của ta chưa đáp ứng với yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến đã định.

Việc rút lui chiến lược cũng phù hợp với xu thế phát triển của cuộc chiến tranh. Qua thực tiễn của cuộc kháng chiến lần thứ nhất, rồi cuộc kháng chiến lần thứ hai, Bộ Thống soái Đại Việt thấy đà tiến công ào ạt của quân Mông - Nguyên không bền khi chúng bị hãm vào thế trận cả nước đánh giặc của ta. Cho nên ta tạm lùi một bước để tạo thế phản công địch vào bước sau.

Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép: “Ba quân có thể đoạt được khí, tướng quân có thể đoạt được lòng, ấy cho nên buổi sáng thì khí hăng hái, ban trưa thì khí uể oải, buổi chiều thì khí suy kiệt. Người giỏi dùng binh tránh lúc khí hăng hái, đánh lúc khí uể oải và suy kiệt” 1. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quyết tâm để cho các lực lượng địa phương là chính có một bộ phận quân triều đinh làm nòng cốt, đương đầu với địch trên đường tiến quân của chúng về kinh thành, trong lúc đó đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho trận Bạch Đằng cũng là một quyết tâm hnh hoạt và dũng cảm, phù hợp với tình hình lúc đó, tỏ rõ trình độ dự báo chiến lược rất cao của Bộ Thống soát.

Trong trận chiến đấu cụ thể, các tướng Trần cũng đã biết tuỳ cơ ứng biến, phán đoán sắc sảo âm mưu của địch, tuỳ theo tình huống thay đổi mà điều chỉnh quyết tâm chiến đấu của mình. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, Trần Nhật Duật phụ trách chặn địch ở hướng Tuyên Quang. Sau khi giao chiến với giặc ở vùng Yên Bái, thế giặc quá mạnh, Nhật Duật cho quân rút lui theo đường sông về phía dưới để bảo toàn lực lượng. Quân giặc đuổi theo dọc hai bờ sông. Bỗng Nhật Duật ngoảnh lại thấy quân giặc tiến từ từ, liền bảo với quân sĩ: “Phàm đuổi thì cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, sợ có tiền quân chắn ngang phía trước”. Quân trinh sát phái đi đều trở về báo là giặc đã cắt ngang phía hạ lưu, đúng như phán đoán của Nhật Duật. ông liền cho quân bỏ thuyền, lên bộ. Nhờ đó thoát khỏi kế của địch và quân của ông đã rút lui an toàn.

Tư tưởng đánh địch linh hoạt gắn liền với tư tưởng đánh địch chủ động. Vì linh hoạt tức là tuỳ theo tình thế thay đổi mà quyết định cách đánh thích hợp. Linh hoạt cũng tức là chủ động trong từng tình huống tác chiến cụ thể. 

4. Tư tưởng tác chiến mưu trí, sáng tạo.

Quân, dân ta thời Trần đánh giặc, đi đôi với tinh thần dũng cảm đã có trình độ mưu trí cao. Đánh đích mưu trí, sáng tạo, tư tưởng đó được quán triệt trong các hoạt động tác chiến tầm chiến lược, cũng như trong phạm vi chiến thuật.  ở tầm chiến lược, Bộ Thống soái nhà Trần đã dùng mưu làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch. 

Địch muốn quân chủ lực của ta phải đương đầu với kỵ binh thiện chiến để chúng phát huy sức mạnh và cách đánh sở trường nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta. Đại quân ta tuy tinh thần đánh giặc cứu nước rất cao, nhưng đã khôn khéo tránh quyết chiến với địch trong điều kiện bất lợi lúc đầu, đã thực hành rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Trong lúc đó các lực lượng tại chỗ chiến đấu ngăn chặn, kìm hãm từng bước đà tiến công của chúng, làm cho “quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố được tài năng”.

Trong các trận đánh cụ thể, việc phát huy mưu trí, sáng tạo cũng rất nổi bật.

Trong điều kiện cả nước đánh giặc thời gian đầu cuộc kháng chiến, khi quân địch còn tập trung lực lượng tiến công, cũng như khi chúng đã dần dấn rải mỏng lực lượng, bị suy yếu mà quân dân ta thì hăng hái giết giặc, thông thuộc địa hình, trong chiến đấu đã diễn ra nhiều cách đánh sáng tạo về chiến thuật.

Quân Trần đã dùng chiến thuật tập kích như đánh đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương; dùng chiến thuật phục kích khi quân địch từ Thăng Long ra ứng cứu cho cứ điểm Chương Dương, khi đánh quân địch hành quân, nhất là khi chúng rút quân về biên giới ở giai đoạn cuối các cuộc kháng chiến; dùng chiến thuật truy kích khi đánh đuổi quân địch thua trận chạy về nước; dùng chiến thuật phòng ngự khi chặn địch ở bờ nam sông Cầu trong cuộc kháng chiến lần thứ hai; dùng chiến thuật vận động tiên công khi tiêu diệt tập đoàn Toa Đô ở Tây Kết.


__________________________________-
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.228.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:53:05 pm
Một số lực lượng tinh nhuệ được huấn luyện công phu dùng cách đánh hiểm bằng lực lượng nhỏ, lặn xuống nước đục thuyền địch, như cách đánh của Yết Kiêu, Dã Tượng.

Trận Bạch Đằng biểu hiện một cách đánh sáng tạo, độc đáo chưa thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới. Việc nghiên cứu kỹ thuật để đóng được một hệ thống cọc dài mà lớn, việc xác định những nơi đóng cọc, việc nghiên cứu để kết hợp sát sao mức thuỷ triều với thời gian dẫn dắt, kiềm chế địch, đưa chiến thuyền nặng của chúng gác lên bãi cọc đúng lúc thuỷ triều xuống nhanh là cả một công trình nghệ thuật dàn dựng phương án, hiệp đồng tác chiến hết sức tài tình. Đây cũng là vận dụng sáng tạo cách đánh độc đáo của Ngô Quyền năm 938 trong điều kiện mới. Ngô Quyền đánh quân địch đi từ biển vào sông, Trần Quốc Tuấn đánh quân địch đi từ sông ra biển.

Mưu trí sáng tạo là một nội dung quan trọng trong tư tướng quân sự của nhiều nước. Trong điều kiện dân tộc ta phải lấy nhỏ thắng lớn, phát huy cao độ mọi khả năng của mình để chiến thắng kẻ thù xâm lược lớn -mạnh thì mưu trí sáng tạo đã trở thành một đòi hỏi bắt buộc,rất cấp bách của lịch sử. Hồ Chủ tịch dã nói về đòi hỏi lịch sử này như sau: “Khôn ngôn hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ” 1 . 

Thời Trần, trước sự xâm lược của quân đội Mông - Nguyên rất hùng mạnh, sự cliênh lệch trong so sánh lực lượng địch - ta rất to lớn. Tình hình đó bắt buộc triều đình, các tướng lĩnh, quân dân ta phải phát huy đến mức cao nhất mọi khả năng trí tuệ của mình mới tránh khỏi bị tiêu diệt, mới thắng được địch, giữ vững được chủ quyền dân tộc.

Điều đó được phản ánh trong các chủ trương, các quyết định khi xử lý các tình huống khó khăn trong kháng chiến, đồng thời cũng được phản ánh sâu sắc trong lý luận quân sự thời này.  Để đánh địch được mưu trí sáng tạo, trong việc bồi dưỡng người làm tướng binh pháp thời Trần rất chú trọng nhấn mạnh yêu cầu phải lo nghĩ, suy ngẫm, tính toán kỹ trước khi đánh.

Binh thư yếu lược chép: “Tính được nhiều thì thắng, tính được ít thì không thắng, huống chi là không tính ư?” 2.  Nếu sự suy tính của ta mà không hơn người thì dù quân có nhiều, cũng không ích gì cho sự thắng vây” 3.  Quá trình chiến đấu là một quá trình đấu trí phức tạp giữa ta và địch, không nên suy nghĩ giản đơn. Binh thư yếu lược viết: “Mưu lạ có thể làm một lần mà không thể làm hai được. Ta có trí mà địch không phải là không khôn, chỉ là cái trí của ta tính được trước, mà địch thì chưa tính kịp, nên địch sa vào trí của ta. Nếu lại cứ đem mưu trước mà làm thì ít khi không bị địch đem kế để phá kế vậy” 4.
 
Binh thư yếu lược cũng nhấn mạnh: Muốn thấu hiểu tình hình địch và đưa địch vào kế của ta, phải biết vận dụng phép thực hư. Thực là chỗ có quân,chỗ phòng giữ mạnh, vững, hư là chỗ không có quân, chỗ phòng giữ yếu, mỏng. “Chỉ có hư mà không có thể thực thì lừa dối không thể thành công; chỉ có thực mà không có thể hư thì đến việc không biết biến hoá. Vận hành ở khoảng giữa không và có;... mịt mịt mờ mờ, địch vốn có trí mà không thể nghĩ vào đâu, địch vốn có mưu mà không thể tính vào đâu; thực là biến hoá thần kỳ ở trong chỗ hư không vậy . . .” 5 .

Trong việc vận dụng mưu kế, các tướng giỏi của ta rất chú ý lừa địch. Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép: “Binh là đạo dối trá, cho nên giỏi mà tỏ là không giỏi, dùng mà tỏ là không dùng, gần mà tỏ là xa, xa mà tỏ là gần, đem lợi để nhử, gây loạn để đánh người;... trêu cho nó tức, nhún cho nó kiêu; nó nhàn thì khiến cho nhọc; nó thân thì khiến cho lìa; đánh ở chỗ không phòng, ra ở chỗ không ngờ.  Đó là chỗ giỏi của nhà binh mà không thể truyền trước vậy” 6. 

Binh thư yếu lược lại vạch rõ: “Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa... Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì .  biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa” 7.

Quân dân ta thời Trần đã tích cực vận dụng cách lừa địch để đánh chúng. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, trong lúc quân ta đang chuẩn bị trận phản công chiến lược trên sông Bạch Đằng, vua Trần Thánh -Tông đã phái Hưng Ninh vương Trần Trung mấy lần đến thành giặc giả vờ hẹn ngày ra hàng để làm cho địch mất cảnh giác.


_____________________________
1.  Hồ Chí Minh: Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.12.
2, 3, 4. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.197, tr.238, tr.248.
5, 6, 7. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.43, tr.197, tr. 183.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:54:28 pm
Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khi cánh quân tây bắc của địch thua rút chạy về Vân Nam, quân dân địa phương đã đổ ra đánh chúng. Phụ đạo tử huyện Phù Ninh là Hà Đặc cho lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo, đợi chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Hà Đặc lại cho đục lỗ trên các thân cây to rồi cắm vào đấy những mũi tên lớn. Bọn giặc tinh thần đã sút kém trong lúc bại trận lui quân, nay rất khiếp sợ trước đội quân người khổng lồ có sức khoẻ bắn được mũi tên xuyên cây đó. Chúng không dám tiến đánh Hà Đặc. Trong tình hình đó, Hà Đặc cùng với dân địa phương đã mạnh mẽ tiến công, đánh tan quân giặc. Em Hà Đặc là Hà Chương đã tìm cách lấy trộm được quân phục và cờ xí của địch, cùng với dân quân của mình cải trang thành quân giặc, tiến vào doanh trại của giặc, bất ngờ tập kích. Quân địch trở tay không kịp, thua chạy tan tác.

Cũng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, khì triều đình cùng đại quân từ Thiên Trường đã đi thuyền ra biển rồi rẽ vào vùng Tam Trĩ (Ba Chẽ), thì thuyền rồng của vua thẳng đường đi thông ra cửa Ngọc Sơn (Móng Cái) để lừa địch.

5. Tư tưởng kết hợp hoạt động tác chiến của mọi lực lượng, quân chủ lực của triều đình, quân địa phương của các lộ, các phủ, châu và hương binh, dân binh các xã, làng, bản.

Xuất phát từ chủ trương dựa vào dân dể chống giặc, do thực hiện chính sách ngụ binh ơ nông, có cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang thích hợp, nhà Trần đã thực hiện được cả nước đánh giặc, trăm họ là binh. Khi quân xâm lược kéo đến, triều đình đã có một lực lượng vũ trang hùng hậu bao gồm đại quân của triều đình, quân của các vương hầu, tôn thất là lực lượng chủ lực của quân đội, chiến đấu cơ động trong phạm vi cả nước, quân của các lộ, phủ, châu là lực lượng quân đội chiến đấu ở từng địa phương và hương binh, dân binh bảo vệ các xã, làng, bản.

Phối hợp khéo léo, chặt chẽ các lực lượng đông đảo đó, làm sao tạo nên sức mạnh đánh định lớn nhất, có hiệu lực nhất là một vấn đề lớn trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến. Qua thực tiễn các cuộc kháng chiến, có thể thấy nhà Trần đã giải quyết tốt vấn đề đó với một trình độ nghệ thuật ngày càng cao. Việc phối hợp đã diễn ra trong các trạng thát như sau:

a. Phối hợp về mặt chiến lược chung trong phạm vi từng cuộc kháng chiến.

Trong cuộc rút lui chiến lược, đại quân của triều đình ngăn chặn địch từng bước ở trước mặt địch, còn lực lượng vũ trang địa phương bám trụ tại chỗ sau khi địch đã tiến qua, nhiều nơi có một bộ phận đại quân làm nòng cốt, tiến công liên tục vào sau lưng địch tạo nên một sức mạnh kìm giữ địch từ phía sau. Địch càng vào sâu thì vai trò của các lực lượng vũ trang địa phương càng quan trọng: tiến công tiêu hao địch, phá hoại giao thông liên lạc với phía sau của địch, đánh trả bọn địch đi cướp lương thực và cất dấu lương thực. 

Cho đến khi địch sắp hết sức tiến công thì đại quân của triều đình chuẩn bị phản công chiến lược, còn các lực lượng địa phương thì tăng cường đánh phá sau lưng địch, giữ không cho chúng tiếp tục phát triển tiến công. Sự phối hợp hành động của quân chủ lực và quân địa phương, nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba đã tạo nên sức mạnh ngăn chặn từng bước, tiến tới chặn đứng cuộc tiến công chiến lược của địch.

Hiệu lực hoạt động của các lực lượng địa phương càng được nâng cao từ cuộc kháng chiến lần thứ nhất sang cuộc kháng chiến lần thứ ba. Lần này, đại quân chỉ để một bộ phận làm nòng cốt cho các lực lượng địa phương chặn địch phía trước và kìm địch phía sau trên đường tiến quân của chúng, còn đại bộ phận đại quân thì tập kết ở những khu vực khác, chuẩn bị cho các đòn phản công chiến lược. Qua chiến đấu, lực lượng địa phương cũng phát triển mạnh. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quân địa phương ở vùng địch hậu Nội Bàng đã đánh tan 5.000 quân Mông - Nguyên hộ tống tên phản bội Lê Trắc tiến theo sau bọn xâm lược.  Bước sang giai đoạn phản công chiến lược, đại quân của triều đình tập trung đánh đòn quyết định vào những mục tiêu quan trọng như đông Bộ Đầu, Thăng Long, Bạch Đằng. 

Trong lúc đó và tiếp theo đó, phát huy thắng lợi của đòn phản công chiến lược, các lực lượng địa phương có một bộ phận đại quân làm nòng cốt đánh chặn, đánh đuổi địch đang tan vỡ tháo chạy trên suốt cả đường rút lui của chúng, tiêu diệt và đập tan hoàn toàn lực lượng quân xâm lược.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:56:03 pm
b. Phối hợp trong một trận đánh quan trọng, trên cùng một hướng tiến công.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, sau chiến thắng Hàm Tử, Trần Quang Khải và Trần Que Toàn đem quân đánh Chương Dương và Thăng Long. Phối hợp với quân chủ lực của triều đình còn có các đội dân binh các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền chỉ huy.

c. Phối hợp trên hai hướng khác nhau, lực lượng vũ trang địa phương khuếch trương thắng lợi của đòn chủ lực.

Đó là trường hợp lực lượng vũ trang dân tộc vùng núi ở trại Quy Hoá (Phú Thọ) dưới sự chỉ huy của trại chủ Hà Bổng đổ ra đánh, khi quân Mông Cổ rút chạy về Vân Nam sau thất bại lớn ở đông Bộ Đầu trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Các lực lượng vũ trang huyện Phù Ninh (Tây bắc) do Hà Đặc, Hà Chương chỉ huy chặn đánh quân địch khi chúng rút chạy sau trận quân ta giải phóng Thăng Long trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Các lực lượng tại chỗ suốt từ Vạn Kiếp đến biên giới Lạng Sơn đã đánh chặn, đuổi đánh quân địch tháo chạy sau chiến thắng Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.

6. Tất cả những tư tưởng tác chiến trên đều xoay quanh một tư trưởng tác chiến chủ đạo: lấy đoản binh chống trường trận, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng.

Như đã đề cập ở chương trên, trong Di chúc Canh Tý, Trần Quốc Tuấn viết: “Nó (quân địch - tg) cậy trường trận, ta cậy đoản binh; lấy đoản chống trường, đó là điều thường trong binh pháp”.

Đoản binh là quân đánh tại chỗ, hoạt động ở cự ly ngắn, quân yếu. Trường trận là quân có thể triển khai thành thế tiến công đối phương từ xa, cơ động xa và sâu để bao vây vu hồi đối phương. Đoản binh, trước hết là quân các lộ, các phủ, châu và hương binh, thổ binh ở các, xã, làng, bản chiến đấu tại chỗ.

Trường trận là kỵ binh của quân Mông Cổ, với khả năng cơ động cao. Bành Đại Nhã đời Tống, tác giả của Hắc Thát sự lược đã chép: “Về đánh trận, họ lợi ở dã chiến, không thấy lợi, không tiến quân... Trăm quân kỵ quay vòng, có thề bọc được vạn người, nghìn quân ky tản ra, cq thể dài đến trăm dặm... địch phân tức phân, địch hợp tức hợp, cho nên kỵ đội là ưu thế của họ. Hoặc xa, hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tụ hoặc tán, hoặc hiện hoặc ẩn, đến như rơi trên trời xuống, đi như chớp giật...” 1. So sánh với kỵ binh Mông Cổ thì đại quân của triều đình Trần cơ động bằng đôi chân, cũng là đoản binh.
 
Khi đại quân của địch đang tập trung thì khả năng chiến đấu của các lực lượng đánh tại chỗ của ta không đáng kể.  Nhưng khi địch đã phân tán thành từng cánh, từng mũi, từng tốp nhỏ để chiếm đóng địa bàn, khi chúng đã đói vì tiếp tế không kịp và cướp bóc lương thực không được, khi chúng đã bị đau ốm vì khí hậu nhiệt đới thì các lực lượng này thông thạo địa bàn và có nhiều cách đánh rất linh hoạt, bám đánh địch liên tục ngày đêm đã phát huy tác dụng hết sức to lớn. 

Đại quân của ta so với quân địch cũng yếu và ít hơn, không cơ động nhanh, đánh xa được như chúng. Nhưng trong quá trình rút lui chiến lược, khi địch đã vào khá sâu trong đất ta, lại gặp phải tình thế như vừa nói ở trên thì quân chủ lực của triều đình trở thành những quả đấm mạnh, có thể đánh những đòn tiêu diệt lớn như đông Bộ Đầu, Bạch Đằng. 

Lấy đoản binh chông trường trận cũng có thể hiểu như lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh . Trong điều kiện cả nước đánh giặc, trăm họ là binh thì số người cầm vũ khí của ta tất nhiên là đông hơn quân địch. Nhưng xét về số lượng quân đội hai bên thì thường là địch đông hơn ta.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, quân Nguyên có dện 60 vạn, quân Trần lúc đầu chỉ có khoảng 20 vạn. Vấn đề dặt ra trên tầm chiến lược cũng như chiến thuật là phải làm sao để một lực lượng nhất định của quân đội ta, dựa chắc vào dân, có sự phối hợp của dân, có thể đánh thắng một lực lượng đông hơn, lớn hơn, mạnh hơn của địch.


___________________________
1. Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ đang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược Sđd, tr.345.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 09:59:59 pm
Nghệ thuật quân sự thời Trần vận dụng khéo léo không gian và thời gian, thế trận và thời cơ đã làm cho lực lượng thực tế chiến đấu của quân Mông - Nguyên đông mà hoá ít, làm cho quân đội xâm lược mạnh lúc đầu trở thành yếu về sau.

Về vấn đề này, Binh thư yếu lược đã viết: “ít có thể thắng nhiều, yếu có thể thắng mạnh”, Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến” 1.

Binh thư yếu lược cũng nêu các điều kiện để có thể lấy ít đánh nhiều: Phải dựa vào địa hình hiểm trở, khai thác trạng thái tinh thần, tình hình kỷ luật và sức khoẻ của địch, biết vận dụng chiến thuật và phải hết sức cố gắng: “Ai tái núi rừng là để lấy ít đánh nhiều..., nhân họ sợ hãi là để lấy một dành mười; nhân họ mệt mỏi không phòng là để lấy mười đánh trăm” 2. “quân địch đi đến, nhởn như không lo, cờ xí rối loạn, người ngựa ngơ ngác thì một người có thể đánh được mười người, hẳn khiến họ không thể kịp trở tay” 3. “Ta nhân nó nhọc có thể thu được cái công lấy ít phá nhiều” 4. “Lấy quân ít mà thắng quân nhiều, không khó nhọc thì không được” 5.

Tuy quân Trần lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh một cách phổ biến, nhưng khi cần thiết thì các tướng thời Trần cũng biệt tập trung lực lượng lấy nhiều đánh ít, lấy mạnh đánh yếu. “Địch yếu nên dùng lối xông vào giày xéo, ngựa bọc giáp, quân bộ mạnh dạn, xông vào đi lại đánh giết, khiến cho địch tan tành. Thế gọi là phép nhân địch yếu, lấy mạnh của ta chống kẻ yếu” 6.

Thực hiện “đánh như sông vỡ, đánh như sấm vang” 7. Trận đông Bộ Đẩu năm 1258, các trận phản công trong cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285 ở Thăng Long, Vạn Kiếp, trận Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288, đều thực hiện theo tinh thần đó. 

Quan điểm cơ bản của Trận Quốc Tuấn là lấy đoản binh chống trường trận. Phân tích tình hình thực tiễn của ba cuộc kháng chiến thì thấy đó chủ yếu là phương châm hành động trong thời kỳ đẩu cuộc kháng chiến, trong giai đoạn rút lui chiến lược.

Nhưng khi địch đã suy yếu, trường trận của địch đã biến thành đoản binh, lực lượng ta được bảo toàn và củng cố đoản binh của ta đã biên thành trường trận, ta thực hành phản công chiến lược mãnh liệt, thì chính lúc đó ta đã dùng trường trận đáp đảo, đánh bại đoản binh của địch. 

Đi đôi với quan điểm lấy đoản binh chống trường trận, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh được vận dụng trong thực tiễn ba cuộc kháng chiến, Binh thư yếu lược đã đề xuất quan điểm lấy mềm để chế cứng, với lập luận như sau:

“Người tướng giỏi, cứng không thể bẻ được, mềm không thể uốn được. Cho nên lấy yếu để chế mạnh, lấy mềm để chế cứng. Mềm cả, yếu cả thì thế phải kém; cứng cả mạnh cả thì thế phải mất. Không cứng không mềm, đó là đạo thường” 8.

Lại viết: “Mấu chốt của việc hành binh, cốt phải nắm được lòng  người anh hùng, nghiêm sự thưởng phạt, tóm được đạo văn võ, gồm được thuật cứng mềm...” 9.

Có thể hiểu rằng, đối với người tướng chỉ huy tác chiến không nên bao giờ cũng mềm, cũng như không nên bao giờ cũng cứng, phải biết lúc nào nên mềm và lúc nào nên cứng, phải biết lúc nào thì lấy mềm để chế cứng, lại phải biết lúc nào thì lấy cứng để chế mềm. 

Đối chiếu với thực tiễn ba cuộc kháng chiến, thì thấy rõ các vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã chỉ đạo kháng chiến theo tinh thần đó. Vào đầu cuộc chiến tranh, địch đang mạnh, ta đang yếu. Lúc đó nếu ta cứng, trực tiếp đương đầu với địch, thì lực lượng ta sẽ tan vỡ, ta sẽ mất nước. Lúc đó ta lấy mềm chế cứng, rút lui chiến lược, kìm chế quân địch, dần dần làm cho chúng suy yếu, đó là chủ trương đúng đắn.  Nhưng sau khi địch đã từ mạnh trở thành yếu, mà ta đã củng cố được lực lượng lại nhằm vào chỗ yếu, sơ hở của địch kịp thời đánh đòn phản công chiến lược, thì ta đã lấy cứng chống mềm.


_____________________________
1, 2, 3, 4, 5. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.236, tr.240, tr.220, tr.252, tr.225.
6, 7. 8. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.244, 56.
9. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.57.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 10:01:14 pm
Nghiên cứu cách chỉ đạo chiến tranh của triều đình Trần, có thể nói rằng ta mềm nhưng không để bị uốn cong, ta cứng nhưng không để bị bẻ gãy. Trước kẻ địch xâm lược lúc đầu quá mạnh, ta phải lấy mềm chế cứng, rút lui chiến lược.  Không thể liều lĩnh, phiêu lưu lấy cứng chọi cứng, quyết chiến ngay từ đầu chiến tranh.

Ta rút lui chiến lược, nhưng không phải để địch muốn vào đến đâu thì vào, mà kiên quyết kiềm chế chúng từng bước theo ý định chiến lược của ta. Khi phản công, ta rất cứng, đánh tan đạo quân xâm lược vốn lớn mạnh, nhưng ta cũng biết tỏ ra mềm, dừng quân ở biên giới  và xúc tiến các biện pháp ngoại giao để giữ thể diện cho nước lớn đã thua trận, ngăn ngừa một cuộc chiến tranh tiếp theo, bảo đảm hoà bình lâu dài cho hai dân tộc.

Xem đây có thể thấy triều đình Trần dã nắm vững và vận dụng khéo léo thuật cứng mềm, kết hợp cứng mềm, trong mềm có cứng, trong cứng có mềm. Nếu xét cả mối quan hệ giữa hoạt động quân sự với hoạt dộng ngoại giao trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời gian đó thì lại càng thấy rõ.

Vận dụng tư tưởng lấy đoản chế trường, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng, quân, dân ta thời Trần vẫn thực hiện một quy luật chung của chiến tranh là quy luật mạnh được yếu thua.

Ta chủ trương lấy yếu đánh mạnh là xuất phát từ so sánh lực lượng giữa nước ta và nước địch, quân ta và quân địch khi chúng gây chiến tranh xâm lược. Nhưng đã ba lần, quân, dân nhà Trần đã thắng trong kháng chiến, đã đập tan toàn bộ đạo quân xâm lược của địch.

Nhìn chung trên phạm vi cả ba cuộc kháng chiến, địch thua trận là chúng yếu, ta thắng trận là ta mạnh. Quy luật mạnh được, yếu thua không hề mâu thuẫn, đối lập với tư tưởng lấy yếu đánh mạnh.  Đó là do ta có nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự ưu việt. Ta nhỏ, yếu, ít, mềm so với địch, nhưng ta đã biết huy động lực lượng lớn nhất của dân tộc.  Lại biết bố trí lực lượng đó theo một thế trận thích hợp nhằm phát huy uy lực lớn nhất của nó.Ta đã biết tạo ra thời cơ, nhằm đúng thời cơ mà đánh, biết tuỳ thời mà dùng mưu kế thích hợp để đánh địch.

Điều rất quan trọng là nhờ đó, ta đã biết làm cho địch từ mạnh dần dần trở thành yếu, bồi dưỡng sức ta, làm cho ta từ yếu dần dần chuyển thành mạnh. Trên cơ sở đó ta đã có nghệ thuật giành thắng lợi từng bước. Khi quân dân ta thực hành phản công chiến lược, trong mỗi trận đánh cụ thể ta đã biết tập trung lực lượng ưu thế  cần thiết, phát huy mọi điều kiện thuận lợi về thiên thời, địa lợi, nhân hoà, đánh dịch trên thế mạnh, tạo nên sức mạnh áp đảo, tiêu diệt và đập tan quân địch. Đó là cách “đánh như sông vỡ, đánh như sấm vang”, đánh như “tháo vỡ nước chứa ở trên cao nghìn nhẫn” đã nêu trong Binh thư yếu lược.

Trong tác chiến trên chiến trường, với chí căm thù quân địch sâu, với mức độ tinh nhuệ cao, tướng và quân nhà Trần đều sẵn sàng lấy một đánh mười, lấy mười đánh trăm. Nhưng khi mũi tên tẩm thuốc độc, mũi tên thường, hoặc mũi giáo nhọn của quân ta xuyên vào người địch, khi ngựa chiến của quân xâm lược sụt xuống hầm bẫy ngựa của ta, khi quân ta nhổ từng cứ điểm đóng quân của địch hoặc khi quân ta bao vây tiêu diệt từng cánh quân lớn của chúng, quân dân ta đều đã thực hiện mạnh được yếu thua. Các trận đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Thăng Long, Vạn Kiếp, Bạch Đằng đều diễn ra theo cách đó.

Như vậy, vận dụng khéo léo tư tưởng tác chiến lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng, ta đã tạo nên sức mạnh kháng chiến cần thiết lớn hơn địch, tiêu d;ệt chúng trong từng trận, ba lần đập tan đạo quân xâm lược lúc đầu hùng mạnh của Mông - Nguyên, thực hiện đúng quy luật mạnh được yếu thua của mọi cuộc chiến tranh.

Thực ra, yêu cầu lấy đoản chế trường, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mềm chế cứng không phải là một ý muốn chủ quan của Trần Hưng Đạo và các tướng thời Trần. Nó là một yêu cầu khách quan do hoàn cảnh chiến lược đề ra.

Đó là những tư tưởng chỉ đạo tác chiến cần thiết để thực hiện quan điểm chiến lược “lấy nhỏ thắng lớn”. Địch lớn ta nhỏ, muốn chiến thắng và tồn tại, dân tộc ta phải làm như vậy. Ông cha ta thời Trần đã giải đúng một bài toán do lịch sử khách quan đề ra và đã điều hành ba cuộc kháng chiến giữ nước theo đúng quy luật khách quan là mạnh được yếu thua.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 10:03:38 pm
7. Tư tưởng đánh giá đúng địch, ta.

Đánh giá đúng địch ta là căn cứ để thực hiện tốt các tư tưởng chỉ đạo tác chiến khác, vì nó là cơ sở khách quan để hạ quyết tâm đúng đắn của người lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến.  Dẫn Binh pháp Tôn Tử, Binh thư yếu lược chép; “Biết người biết mình, trăm trận không nguy. Không biết người mà biết mình thì một được một thua. Không biết người, không biết mình thì hễ đánh là thua” 1 (tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại...). 

Ở đây yêu cầu trước tiên là phải biết người, tức là biết địch. các nhà lãnh đạo kháng chiến và các tướng lĩnh thời Trần qua thực tiễn ba cuộc kháng chiến, đã tỏ ra biết địch sâu sắc.

Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất và lần thứ hai, sau những trận giao chiến ban đầu ta thấy rõ là địch quá mạnh. Có ý chí “bêu đầu Hốt Tất Liệt trước cửa khuyết, làm rửa thây Vân Nam vương ở Cảo Nhai”, nhưng Bộ Thống soái đành phải lui quân để bảo toàn lực lượng. Lại biết quân  địch “buổi sáng thì khí hăng hái, ban trưa thì khí uể oải, buổi chiều thì khí suy kiệt”. Từ đó mà đi đến kết luận. “Người giỏi dùng binh tránh lúc khí hăng hái, đánh lúc khí uể oải và suy kiệt” 2.

Do đó, ngay trong quá trình rút lui chiến lược, quân dân ta đã kịp thời chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược. Bộ Thống soái nhà Trần lại biết quân Mông - Nguyên chỉ mạnh khi chúng phát huy được “trường trận” của chúng. Nghĩa là khi chúng có thể dùng lực lượng kỵ binh cơ động rất nhanh, tung hoành trên chiến trường rộng, bằng phẳng, đột phá mạnh mẽ vào một đối thủ công khai dàn trận đương đầu với chúng, như tình hình đã diễn ra trên chiến trường nhiều nước trước đó.

Còn nếu ta biết dùng “đoản binh”, phát huy khả năng đánh gần của cả quân và dân, dựa vào địa thế hiểm trở của đất nước, bí mật bất ngờ đánh địch nhỏ, lẻ ở khắp nơi,thì có thể khắc phục được trường trận của giặc.  Sự đánh giá đó, rõ dần qua hai cuộc kháng chiến đầu, đến cuộc kháng chiến thứ ba thì trở thành rành mạch, chắc chắn, qua câu trả lời của Trần Hưng Đạo với vua Trần “Năm nay đánh giặc nhàn”.

Các vua Trần cũng thấy thế lực xâm lược Mông - Nguyên không những mạnh về quân sự, mà còn có sĩ diện rất lớn của nước lớn đã từng thắng trận, khuất phục nhiều nước từ châu Âu sang châu Á. Cho nên sau khi quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, đều noi gương triều đại trước, cho quân dừng lại ở biên giới, phái sứ thần sang triều cống, lập lại quan hệ bình thường giữa hai nước.

Bộ Thống soái lãnh đạo kháng chiến thời Trận cũng hiểu  rõ bản chất cực kỳ ngoan cố của triều Mông - Nguyên nên sau mỗi lần kháng chiến thắng lợi lại củng cố thực trận phòng thủ đất nước, thực hiện nhiều chính sách và giải pháp toàn diện để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân, tăng cường sức mạnh đoàn kết giữa các tầng lớp dân chúng, các dân tộc, không hề thoả mãn, mất cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược tiếp theo nếu kẻ thù lại tiếp tục gây ra. Cho đến khi đập tan những lực lượng chiến lược cuối cùng, những biện pháp chiến lược cuối cùng, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược cuối cùng mới có điều kiện bảo đảm hoà bình lâu dài cho đất nước.

Mặt khác, triều Trần lại nhận thấy khả năng của triều Nguyên cũng có hạn. Nội bộ nhà Nguyên không phải không có vấn đề. Sự uy hiếp từ bên ngoài ở biên giới phía bắc, phía tây, cuộc xung đột liên miên giữa các tập đoàn vương tôn Mông Cổ, đấu tranh của nông dân Trung Quốc phát triển ngày càng cao với đà thua trận liên tiếp của quân xâm lược Mông - Nguyên ở Đại Việt làm cho khả năng động viên lực lượng đánh Đại Việt không phải vô tận. Qua đó mà nhận thức thấy là có thể đánh thắng được ý chí xâm lược của triều Mông - Nguyên.

Về yêu cầu biết mình, nhà Trần thấy muốn có sức mạnh không được quân xâm lược, giữ được nước, triều đình phải gắn bó với dân theo tinh thần mà Trần Hưng Đạo đã nêu trong Di chúc Canh Tý: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, là thượng sách để giữ nước”. Thời bình phải chăm lo bồi dưỡng sức dân. Làm cho dân luôn hướng về triều đình.  Phải đoàn kết mọi lực lượng trong nước. Quân đội phải gắn bó trên dưới theo tinh thần “phụ tử chi binh”. Những quan điểm, tư tưởng đó, đi vào cuộc sống đã làm cho ba quân có ý chí và khí thế “nuốt sao Ngưu”, đã tạo nên thế trận làng - nước lợi hại, làm phân tán, sa lầy, tê liệt quân đội xâm lược, tạo điều kiện tiêu diệt chúng với quy mô ngày càng lớn, để cuối cùng quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi.

Trên đây là nói về thực tiễn biết người, biết mình của triều đình Trần trên tầm vĩ mô của các cuộc kháng chiến.  Cũng theo yêu cầu biết người, biết mình, trong các trận đánh, trên từng chiến trường cụ thể, người chỉ huy các cấp thời Trần đã quán triệt những tư tưởng chỉ đạo tác chiến về chiến lược, đánh giá đúng địch, ta trong các trận đánh cụ thể và đã giành được thắng lợi. Quân dân các địa phương bị địch đến cướp phá, chiếm đóng cũng đã phát huy lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, mưu trí, qua thực tiễn cũng đã đánh giá đúng địch, ta, dám đánh và biết cách đánh và đã giành thắng lợi khắp nơi. .


___________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.198.
2. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.228.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 10:05:41 pm
Trên đây là nội dung của nghệ thuật quân sự trong chiến tranh giữ nước trong thời kỳ các triều vua đầu của nhà Trần, trong thế kỷ XIIT. Bước sang thế kỷ XIV, triều Trần đi vào thời kỳ suy thoát. Sự suy thoái về chính trị kéo theo sự suy thoái về tư tưởng quân sự. Và từ đó, đã dẫn đến sự suy thoái trong nghệ thuật quân sự.

Một thành công lớn của các triều đầu của nhà Trần là xây dựng được thế trận cả nước đánh giặc. Thế trận này đã làm cho những dạo quân xâm lược lớn mạnh của quân Mông-Nguyên sa lầy và bị tiêu diệt. Nhưng sang thế kỷ XIV thì không thể thực hiện được thế trận đó. Bao lần giặc ngoài vào cướp phá kinh thành và các địa phương trong nước, nhưng dân chúng thờ ơ, giặc mặc sức hoành hành. Phẩm chất thông minh, sáng suốt biết người, biết mình của Bộ Thống soái được thay bằng lối suy luận và chủ trương chủ quan, giản đơn, mất cảnh giác, dẫn đến cái chết của vua Duệ Tông tháng Giêng năm 1377.


KẾT LUẬN


1. Thế kỷ thứ XIII dân tộc ta đã lập nên chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử cổ, trung đại của mình, liên tiếp đánh thắng ba cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Mông - Nguyên, bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ của nước nhà. 

Vào đầu thế kỷ XIII, quân đội Mông Cổ đã tung hoành khắp các lục địa, chinh phục nhiều nước, lập nên một đế quốc rộng lớn từ châu Âu sang châu Á. từ bờ Hắc Hải đến tận bờ Thái Bình Dương. Đó là đội quân xâm lược mạnh nhất, thiện chiến nhất và tàn bạo nhất thời bấy giờ.

Từ khi thôn tính được Trung Quốc, lập nên triều Nguyên, tư tưởng đế quốc Mông Cổ kết hợp với chủ nghĩa bành trướng đại Hán trở thành mối nguy cho nhiều nước. Từ nước Trung Hoa phong kiến xuất phát các cuộc viễn chinh xâm lược nhằm chinh phục các nước châu Á, từ Nhật Bản đến Java. 

Trong mưu đồ điên cuồng đó, nước ta có vị trí quan trọng đặc biệt. Theo Hốt Tất Liệt và tướng lĩnh của ông ta: “Java là - vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật trong lòng bàn tay” 1. Đại Việt trở thành bàn đạp cần phải đánh chiếm để tiện đường tiến xuống đánh chiếm các nước khác ở đông Nam á. Vì vậy, trong vòng 30 năm, từ năm 1258 đến năm 1288 chúng đã ba lần xâm lược nước ta. Nhưng cả ba lần chúng đều bị đánh cho thất bại thảm hạt. Đây là những thất bại nặng nề đầu tiên trên bước đường tung hoành chinh chiến của quân đội Mông Cổ.

Đánh thắng ba lần xâm lược, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên, nhân dân ta không những đã bảo vệ được độc lập chủ quyền của Đại Việt mà còn tránh cho các nước đông á và đông Nam á khỏi sự xâm lược của đội quân viễn chinh tàn bạo này. Chiến thắng đó đã bảo đảm cuộc sống hoà bình lâu dài không những cho dân tộc ta mà còn cho cả các dân tộc trong khu vực và cho chính nhân dân Trung Quốc.

2. Dân tộc ta thời đó tìm đâu ra đủ sức mạnh và trí tuệ để đạt được những chiến thắng oanh liệt như vậy? Đó trước hết là vì quân xâm lược lớn mạnh không phải chỉ đương đầu với quân đội Đại Việt mà chúng có khả năng đánh bại trong những trận giao chiến chính quy, cổ điển, mà chúng phải đương đầu với cả một dân tộc dám kiên cường đánh lại chúng và biết phát huy sức mạnh của toàn dân tộc theo kiểu cách của mình để đánh thắng chúng.

a. Sức mạnh giữ nước vô địch của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sông mãnh liệt của nền văn hoá Văn Lang cổxưa.

Từ hơn 3.000 năm trước đó, người Việt cổ đã chung lưng đấu cật hợp sức khai phá miền châu thồ sông Hồng xây dựng đồng ruộng và làng mạc, tạo dựng nên một nền văn hoá xóm làng. Quá trình lâu dài đấu tranh thắng lợi đã hun đúc cho cộng đồng người Việt những giá trị tinh thần rất quý báu.

Đó là lòng yêu làng, yêu nước Việt Nam, tinh thần kiên cường bất khuất, tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết gắn bó trong cộng đồng, tinh thần nhân ái, khoan dung, tinh thần lao động cần cù, bền bỉ, đặc biệt là tư chất thông minh, sáng tạo trong sản xuất và nhất là trong chiến đấu tự vệ, biết ứng xử một cách khôn ngoan, vững vàng mà tinh tế trong mọi tình huống.


_______________________
1. Theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.324.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 11:27:37 pm
Yêu làng, yêu nước nồng nàn là phẩm chất cơ bản nhất và tư chất thông minh sáng tạo là đặc điểm nổi bật nhất của cộng đồng người Việt. Những giá trị tinh thần đó là động lực mạnh mẽ bảo đảm thắng lợi trong cuộc đấu tranh lâu dài chống thiên tai, địch họa của dân tộc ta. 

Những giá trị tinh thần được tôi luyện, duy trì và phát triển trong hơn 10 thế kỷ chiến đấu chống ách Đô hộ của phong kiến phương Bắc. Trong hơn 1.000 năm đen tối này, kẻ đô hộ dù đã dùng mọi thủ đoạn tàn bạo và xảo quyệt mà vẫn không đồng hoá được nước ta, không biến được nước ta thành quận huyện của chúng.

Dân tộc ta mất nước nhưng không mất làng. Giữ được làng, giữ được bản sắc văn hoá ở cơ sở dân tộc ta đã tiến lên giành lại được nước. Do nhu cầu chống ngoại xâm, quốc gia tập quyền ở nước ta hình thành rất sớm từ thời vua Hùng, thời Âu Lạc và trong những thời gian khác nhau của thời kỳ Bắc thuộc (Trưng Nữ Vương, Lý Nam Đế...) và được xây dựng ổn định từ khi bước sang kỷ nguyền độc lập tự chủ bắt đầu từ Tiền Ngô vương.

Trước mối đe doạ ngoại xâm uy hiếp thường xuyên, tình yêu làng xóm phát triển thành lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cố kết ở làng, xã phát triển thành tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, trong nội bộ triều đình phong kiến, giữa trăm họ và triều đình.

b. Những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước thời Trần, trên cơ sở những thành tích đạt được từ đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ là cơ sở vật chất và tinh thần vững chắc cho sức mạnh quốc phòng và sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XIII.

Quốc gia tập quyền ở nước ta vốn đã hình thành sớm, được thử thách qua cuộc kháng chiến lâu dài thắng lợi chống mấy mươi vạn quân Tần xâm lược cuối thế kỷ thứ ba TCN, lại được củng cố từ đẩu kỷ nguyên độc lập tự chủ, nhất là từ thời Lý sau gần 300 năm xây dựng (939-1225).

Và sang thời Trần thì đã ở vào thời kỳ phát triển hưng thịnh. Nhà nước phong kiến đã thi hành nhiều chính sách tiến bộ về kinh tế, văn hoá, xã hội hợp lòng dân.  Ưu điểm rất lớn của triều đình Trần đấu thế kỷ XIII là đã giải quyết phù hợp quan hệ giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc đặt lợi ích dân tộc lên vị trí rất cao. Đã chăm lo bồi dưỡng sức dân, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho dân. Nhờ đó mà phát huy được tinh thần yêu nước truyền thống của cả dân tộc gắn bó triều đình phong kiến với trăm họ muôn dân, tạo nên một sức mạnh kháng chiến cực kỳ to lớn. 

c. Những nhà lãnh đạo thời Trần đã kế thừa được truyền thông của những kinh nghiệm đánh giặc giữ nước phong phú mà tiền ta đã tích luỹ được từ hơn 1.500 năm trước đó, học tập được tinh hoa quân sự nước ngoài, xây dựng nên hệ thông tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự rất có hiệu quả. 

Tổ tiên ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thành công và thất bại rất phong phú trong hơn 1.500 năm giữ nước, từ cuộc kháng chiến chống Tần thời Âu Lạc (214 Tr.CN - 209 Tr. CN). Cho đến cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý (1075- 1077). Đó là những kinh nghiệm tham khảo rất tốt cho các nhà quân sự thời Trần để hoạch định các kế sách giữ nước và xây dựng lý luận quân sự.

Điều rất quan trọng là hệ thống lý luận quân sự, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIII đã hình thành rõ nét và phát triển ngày càng hoàn chỉnh, có hệ thống.

Đó là quan điểm phát huy tinh thần kiên cường bất khuất, liều chết đánh giặc, bỏ mình vì nước; quan điểm tìm nguồn sức mạnh ở trong dân, khoan thơ sức dân; làm kế sâu rễ bền gốc, xem đó là thượng sách để giữ nước; quan điểm cả nước đánh giặc; quan điểm vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước cả nhà góp sức; quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang lợi cho cả nước, trăm họ đánh giặc; quan điểm ngụ binh ư nông; quan điểm quân cốt tinh không cất nhiều; quan điểm phụ tử chi binh; quan điểm bạt dụng lương tướng, xây dựng phẩm chất của người tướng; quan điểm thái bình tu trí lực, dựng nước đi đôi với giữ nước, thời bình chuẩn bị đất nước cho thời chiến; quan điểm biết lấy nhỏ thắng lớn. . .

Đó là nghệ thuật quân sự biết chỉ đạo chiến tranh về mặt thời gian và không gian, giỏi vận dụng mưu kế, thế, thời, nghệ thuật vận dụng tư tưởng chỉ đạo tác chiến, biết đánh giá đúng địch, ta, biết lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu địch mạnh, lấy mềm chống cứng, phát huy sức mạnh cả quân và dân chống quân đội xâm lược, luôn phát huy mưu kế, giữ quyền chủ động điều địch và lừa địch, đánh hiểm, đánh đau...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 11:31:15 pm
Các quan điểm tư tưởng này ngày càng sáng tỏ qua thực tiễn của từng cuộc chiến tranh, nhất là cuộc kháng chiến lần thứ hai và thứ ba.  Cái tài giỏi của lãnh đạo thời Trần là đã kết hợp được kinh nghiệm thực tiễn và lý luận riêng của quân, dân ta với quan điểm, lý luận chung, tinh hoa quân sự của nước ngoài. 

Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã nói rõ: “Nay ta chọn binh pháp các nhà, hợp làm một quyển gọi là Binh thư yếu lược . Các nhà đó là Tôn Tử mà binh pháp có giá trị cao được quân đội nhiều nước lớn nghiên cứu, học tập cho đến ngày nay, là Ngô Khởi và năm nhà quân sự có tiếng khác của Trung Quốc cổ đại. Các binh thư của họ được tập hợp lại và in thành một tập gọi là Võ kinh thất thư từ đời nhà Tống 1.

Võ kinh thất thư được đưa vào nghiên cứu và học tập ở Đại Việt từ đời Lý. Binh thư yếu lược cũng tham khảo luận điểm của một số sách lý luận quân sự khác của Trung Quốc. Những luận điểm và những kinh nghiệm nêu trong Binh pháp Tôn Tử và trong các sách khác của Võ kinh thất thư đã làm cho các nhà quân sự thời Trần sáng tỏ nhiều vấn đề thuộc quy luật chung của chiến tranh. 

Hiểu rõ binh pháp Tôn Tử, Bộ Thống soái thời Trần đã nắm được những nhược điểm của đạo quân xâm lược, nhất là về vấn đề bảo đảm lương thảo trên đất đối phương. Binh pháp Tôn Tử viết: “Cho nên những tướng soái thông minh bao giờ cũng nhằm lấy lương từ nước địch, vì dùng một chung lương thực của địch tương đương với vận chuyển 20 chung từ nước nhà tới, dùng một thạch cỏ ở nước địch tương đương với vận chuyển 20 thạch từ nước nhà”.

Khoét sâu nhược điểm đó của quân xâm lược, Bộ Thống soái dã chỉ đạo toàn quân toàn dân ra sức làm thanh đã cất dấu lương thực, tiến công vào các đoàn tiếp tế của địch. Trên thực tế đã tạo cho địch tai hoạ lớn trong cả ba cuộc chiến tranh xâm lược.

Hơn thế nữa, trong lúc rất nghiêm chỉnh học tập các luận điểm của Tôn Tử và các nhà quân sự khác của Trung Quốc, Trần Hưng Đạo đã xuất phát từ thực tiễn truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta, từ đặc điểm đất nước ta, từ thực tiễn so sánh lực lượng địch - ta thời đó để đề xuất những luận điểm riêng của tư tưởng quân sự Đại Việt, nhiều khi ngược lại với các luận điểm của Tôn Tử. 

Luận điểm rất quan trọng của Tôn Tử là đánh nhanh, thắng nhanh: “Cho nên việc dùng binh tác chiến chỉ nghe nói đánh ào ạt để thắng nhanh chứ chưa từng nghe nói đến việc khéo léo kéo dài để giành thắng lợi. Chiến tranh lâu dài mà có lợi cho quốc gia là việc chưa từng có” 2. (Cố, binh văn thuyết tốc, vị đổ xảo chi cửu dã. Phù binh cửu nhi quốc lợi giả vị chi hữu dã”. Còn chủ trương của các vua Trần và Trần Hưng Đạo là kiên trì kháng chiến, theo tinh thần tránh cái thế hăng hái lúc ban mai để đánh cái khí tàn lụi lúc buổi chiều.

Luận điểm rất cơ bản của Tôn Tử là lấy nhiều đánh ít. “Phương pháp dùng binh, có binh lực gấp mười lần địch thì bao vây nó, gấp năm lần địch thì tiến công, gấp hai lần địch thì chia cắt (để đánh từng bộ phận địch), có binh lực ngang địch thì có thể chống cự. Binh lực ít hơn địch thì nên tránh xa nó, điều kiện không bằng địch phải tránh giao chiến. Bởi vì một quân đội nhỏ mà liều lĩnh cố đánh sẽ bị kẻ địch lớn mạnh bắt làm tù binh” 3 (dụng binh chi pháp, thập tắc vi chi, ngũ tắc công chi, bội tắc phân chi, địch tắc năng chiến chi, thiểu tắc năng đào chi, bất nhược tắc năng tị chi. Cố, tiểu địch chi kiên, đại địch chi cầm dã). Còn Trần Hưng Đạo thì chủ trương lấy đoản binh chế trường trận, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu địch mạnh.


___________________________
1. Võ kinh thất thư gồm bảy quyển:
- Binh pháp Tôn Tử của Tôn Vũ ra đời khoảng 496- 453 TRCN (đời Tây Chu).
- Binh pháp Ngô Tử Của Ngô Khởi, ra đời khoảng 440- 381 TRCN (đời đông Chu).
- Binh pháp Tư Mã của Tư Mã Tương Như, ra đời khoảng đồng thời với binh pháp Tôn Tử.
- Sách Uất Liêu Tử ra đởi khoảng trên 300 năm Tr. CN (đời đông Chu).
- Sách Lục thao của Khương Tử Nha, ra đời khoảng 1.100 TRCN (đời Tây Chu)
- Sách Tam lược của Hoàng Thạch Công, ra đời khoảng thế kỷ III TRCN (đời Hán)
- Sách Đường Thái Tông - Lý Vệ Công vấn đôi của Lý Tĩnh ra đời khoảng 618-907 (đời Đường).
2. Tôn Tử, Ngô Khởi: Tôn Ngô binh pháp (Trần Ngọc Thuận dịch), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.75.
3. Tôn Tử - Ngô Khởi: Tôn Ngô binh pháp, Sđd, tr.81. 


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 11:34:05 pm
Một điểm khác nhau khá cơ bản giữa lý luận của Tôn Tử và của Trần Hưng Đạo là nhiều lập luận của Tôn Tử chỉ đạo hoạt động và tác chiến của quân đội trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa nhằm tranh bá đồ vương của thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc. Còn các lập luận của Trần Hưng Đạo chỉ đạo hoạt động và tác chiến của quân và dân ta trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc trong kỷ nguyên độc lập tự chủ.

Về vấn đề này, Binh thư yếu lược viết: “Người giỏi dùng tướng thì trước hết phải giỏi chọn tướng. Người giỏi chọn tướng thì trước hết phải giỏi biết tướng. Ba điều giỏi ấy, cái tinh vi của người dùng tướng, dùng quân đều ở cả đó.  Tuy thế Tôn Võ và Ngô Khởi thì đã giỏi trong lãnh vực ấy rồi, nhưng theo lời của Mạnh Tử, Tuân Tử thì cho là chưa được Vì sao mà nói thế? Vì bảo rằng kế căn bản chưa có.  Vậy thì Tôn Võ, Ngô Khởi chỉ là cái rìu búa đẽo nước mà thôi, bệnh ở ngoài mà hại ở trong, mất nước có thể kiễng chân mà chờ đến” 1.
 
Như vậy là trong lúc hết lòng học tập binh pháp của Tôn Vũ Ngô Khởi, các tướng nhà Trần đã phát hiện và phê phán tính chất thiếu chính nghĩa của các cuộc chiến tranh do Tôn Vũ và Ngô Khởi tham gia điều hành thời Xuân Thu - Chiến Quốc và đã rất chú trọng động viên tinh thần của toàn quân, toàn dân vì sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ quê cha đất tổ, chống xâm lược tàn bạo của nước ngoài.

Nắm vững quan điểm và kinh nghiệm thực tiễn của dân tộc Việt Nam, học tập có chọn lọc tinh hoa quân sự của nước ngoài, nhà Trần đã sáng tạo ra một hệ thống lý luận quân sự tư tưởng quân sự vừa phản ánh những quy luật của chiến tranh chung cho các nước, vừa mang tính độc đáo của dân tộc ta nhất là trong thời Đại Việt.

Có thể nói, với Trần Hưng Đạo với công cuộc ba lần kháng chiến thắng lợi vẻ vang của quân, dân ta đã hình thành rõ nét, có hệ thông một cách đánh giặc giữ nước độc đáo của dân tộc Việt Nam, biệt phát huy sức mạnh của cả nước, cả dân tộc, để đánh thắng kẻ xâm lược có lực lượng và tiềm lực quân sự lớn hơn mình gấp nhiều lần.

Cách đánh giặc độc đáo đó vừa bao gồm cả một hệ thống tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự, lại bao gồm cả một hệ thống kinh nghiệm thực tiễn được thử thách qua chiến thắng về chỉ đạo và thực hành cuộc chiến tranh giữ nước. Nó biểu hiện trình độ phát triển cao của lý luận quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam thời Trần, đồng thời là kết tinh trí tuệ của dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh cứu nước và giữ nước suốt 1.500 năm trước đó.

Được trang bị bằng hệ thống lý luận quân sự đó, quân, dân ta thời Trần đã có đủ sức mạnh vật chất, tinh thần và trì tuệ để qua ba cuộc kháng chiến liên tục trong 30 năm, đánh thắng bao tướng lĩnh có tài của Mông - Nguyên rất thông thạo Võ kinh thất thư, đến nước ta từ đất của Tôn Vũ, Ngô Khởi và dạn dày kinh nghiệm chiến thắng từ phương Tây sang phương đông. 

Hệ thống tư tưởng quân sự đó ngày càng được nâng cao dần từ Hịch tướng sĩ cho đến Di chúc của Trần Quốc Tuấn.  Nếu Hịch tướng sĩ là một áng văn chương cổ vũ cao độ quyết tâm gạt bỏ lợi ích riêng tư, chuyên lo việc giết giặc lập công của tướng sĩ, nhưng còn hạn chế trong phạm vi phát huy trách nhiệm của các vương hầu quý tộc, của tầng lớp có nhiều quyền lợi trong xã hội phong kiến, thì Di chúc Canh Tý của Trần Quốc Tuấn với quan điểm về khoan thư dân lực, làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách để giữ nước, về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, về xây dựng quân đội phụ tử chi binh, v.v., là một hệ thống quan điểm vượt thời đại không những rất tiến bộ vào thời gian đó mà còn có giá trị cho đến ngày nay. 

Tóm lại, thời Trần, khi chế độ phong kiến còn hưng thịnh, khi các truyền thống tất đẹp của dân tộc đang được đề cao và vun xới, các nhà lãnh đạo kháng chiến tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nên một hệ thống lý luận về tìm nguồn sức mạnh, quy tụ sức mạnh và sử dụng sức mạnh trong quá trình đánh thắng ba lần xâm lược của quân Mông - Nguyên.


________________________
1. Binh thư yếu lược, Sđd, tr.37.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 11:35:59 pm
Tài thao lược của Bộ Thống soái là nhân tố rất quan trọng của thắng lợi. Sự chỉ đạo diễn biến của các cuộc kháng chiến thời Trần đã tỏ rõ Bộ Thống soái có bản lĩnh quân sự cao cường, có tài thao lược kiệt xuất, biết lùi, biết tiến, luôn luôn chủ động, không cho địch phát huy chỗ mạnh và cách đánh sở trường của chúng, buộc chúng phải sa lầy vào thế trận rộng khắp của quân và dân ta, làm cho địch ngày càng bất lực, suy yếu, mất sức chiến đấu, còn ta thì bảo toàn được lực lượng, giữ vững được thế trận, biết phát hiện thời cơ phản công , chuẩn bị chu đáo và thực hành phản công kiên quyết, liên tục tuỳ theo điều kiện của mỗi cuộc chiến tranh, cho đến khi đập tan hoàn toàn quân đội xâm lược.

Sau mỗi lần thắng giặc, nhà Trần lại lo giữ mối quan hệ với nước láng giềng to lớn phương Bắc theo tinh thần nước nhỏ đối đãi với nước lớn và với tư thế của người thắng trận, nhằm bảo đảm quan hệ hoà bình lâu dài giữa hai nước. 

Điều đáng chú ý là cách điều hành chiến tranh của triều đình và Trần Quốc Tuấn ngày càng hoàn thiện. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, quân dân ta đã chiến thắng một dạo quân không mạnh lắm trong điều kiện, tình huống diễn biến tương dối giản đơn. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, ta đã giành thắng lợi, đánh thắng một đạo quân địch rất mạnh và hung hãn, trải qua những diễn biến rất nguy cấp, gian khổ và khó khăn. Nếu trong hai cuộc kháng chiến đấu, ta giành thắng lợi trong điều kiện phải đối phó với từng bước tiến công xâm lược của địch một cách gian nan, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ và tương đối lớn của địch, đánh vỡ thế trận của chúng, thì trong cuộc kháng chiến lần thứ ba ta đã thắng địch một cách đàng hoàng, bình tĩnh, vững chắc, thực hiện tiêu diệt lớn quân địch, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự.

d. Tác động của địa hình và thời tiết nước ta đối với quân xâm lược.

Rừng rậm và đồng bằng nhiều sông ngòi không phải là nơi phát huy được cách đánh ào ạt trên thảo nguyên của quân Mông Cổ, nhưng lại thuận lợi cho các cuộc phục kích, tập kích nhỏ, dựa vào rừng núi và luỹ tre làng để ngăn chặn quân xâm lược. Tướng giặc cũng phải thừa nhận khí hậu nhiệt đới làm thiệt hại cho quân đội chúng còn hơn binh đao.  Đến khi quân địch xây dựng thuỷ binh hùng hậu để khắc phục tính kém cơ động của kỵ binh thì trí tuệ Đại Việt và địa hình sông nước vùng ven biển lại dẫn chúng đến thất bại to lớn trên sông Bạch Đằng.

Cho nên ở Đại Việt không những có “nhân kiệt” mà còn có “địa linh”. Đất nước linh thiêng cũng đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân dân ta.  Chính nhờ các nhân tố trên đây mà khi quân địch sắp sang xâm lược, cả nước đã sẵn sàng ngliênh chiến. Nhất là trước cuộc kháng chiến thứ hai và thứ ba thì khí thế càng cao, lòng tự tin càng lớn.

Khi Hịch tướng sĩ và lời kêu gọi của triều đình được truyền ra, thì tinh thần quyết chiến đã bùng lên mạnh mẽ. Quyết tâm giết giặc cứu nước không những ăn sâu vào tim óc của mỗi người dân, mà còn khắc vào da thịt của mỗi tướng sĩ. Sự thống nhất về ý chí giết giặc và sự bàn bạc về mưu lược kháng chiến ở Hội nghị Bình Than, tiếng hô quyết đánh vang lên ở Hội nghị Diên Hồng đã nói lên khí thế của cả dân tộc thề không đội trời chung với quân xâm lược tàn bạo.

3. Có thể nói đến thời Trần, tư duy giữ nước và sức mạnh giữ nước của dân tộc ta đã có một bước phát triển nhảy vọt.

Trong lịch sử khoảng 1.500 năm đấu tranh giữ nước và cứu nước, qua những cuộc chiến tranh và khởi nghĩa thành công và thất bại, như cuộc kháng chiến của dân Âu Lạc chống quân Tần xâm lược, cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống nhà Hán của Hai Bà Trưng, chống nhà Lương của Lý Bí và Triệu Quang Phục, cuộc đấu tranh chống nhà Đường của Khúc Thừa Dụ, cuộc kháng chiến chống Nam Hán của Ngô Quyền, cho đến các cuộc kháng chiến chống nhà Tống thời Tiền Lê và thời Lý, trước mắt các nhà lãnh đạo kháng chiến của dân tộc ngày càng bộc lộ một hiện tượng diễn ra có tính quy luật: ai biết dựa vào dân mà chống xâm lược, chống đô hộ, không chỉ cậy vào quân đội, ai biết thực hiện chiến lược lấy nhỏ thắng lớn thì người đó lãnh đạo cuộc chiến đấu giữ nước ùa cứu nước thắng lợt. Ngược lại thì thất bạt. Cho đến thời Lý, nhận thức đó ngày càng rõ nét qua các chủ trương và hoạt động kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Năm, 2009, 11:39:19 pm
Tuy nhiên các nhận thức đó chưa được diễn đạt thành văn một cách có hệ thống. Chỉ đến thời Trần mới làm được việc đó. Và cũng do đó, sức mạnh kháng chiến của dân tộc ta cũng như ý nghĩa của thắng lợi thời Trận cũng có bước phát triển nhảy vọt, ta đủ sức đánh thắng được ba lần xâm lược của một kẻ thù mạnh nhất trong lịch sử nước ta cho đến lúc đó, mạnh nhất trên thế giới vào thời kỳ đó.

Bước phát triển nhảy vọt đó có được là do đầu thời Trần yêu cầu giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc ta được đặt trước những điều kiện thuận lợi và những yêu cầu hết sức cấp bách:

a. Việc xây dựng quốc gia tập quyền ngày càng vững mạnh trên cơ sở những thành tích đạt được trong hơn 200 năm xây dựng dưới triều Lý đòi hỏi sự phát triển toàn diện của đất nước, nhất là của sức mạnh giữ nước.

b. Với trình độ tri thức được nâng cao, ta có điều kiện tổng kết thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm rất phong phú của dân tộc qua hơn 15 thế  kỷ. Mặt khác cũng có điều kiện tiếp thu có hệ thông tinh hoa quân sự của nước ngoàt. Từ đó đã nâng cao được kiến thức quân sự phục vụ cho việc xác định có hệ thống, có cơ sở lý luận và thực tiễn các kế sách giữ nước và cho việc biên soạn các binh thơ của nước ta.

c. Sự uy hiếp xâm lược và thực hành xâm lược của đế chế Mông Cổ, đế chế Mông - Nguyên rất lớn mạnh và hung bạo đã đặt dân tộc ta trước yêu cầu cấp bách là muốn tránh khỏi hoạ diệt vong, phải bằng mọi cách, nâng cao sức đề kháng của dân tộc, nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự một cách có hệ thông để phát huy sức mạnh kháng chiến của cả dân tộc theo một sự chỉ đạo sắc bén, đúng đắn nhằm tạo nên một sự trưởng thành vượt bậc, sẵn sàng đánh thắng một kẻ xâm lược lớn mạnh và hung bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đó chính là điều kiện để tồn tại của dân tộc ta.

4. Thời Trần, lực lượng trăm họ đánh giặc có quân đội của triều đình, của các lộ làm nòng cốt là lực lượng to lớn quyết định thắng lợi. Đồng thời, vai trò của nhà vua, của các vương hầu, tướng lĩnh cũng to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi.

Các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông cũng trực tiếp cầm quân ra trận. Thát sư Trần Thủ Độ là chỗ dựa của nhà vua trong lúc khó khăn.  Các tướng lĩnh như Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật, Lê Phụ Trần... dặc biệt là vị Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn đều là những người xuất chúng. Họ là linh hồn của cuộc kháng chiến: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. “Bệ hạ hãy chém đầu tôi trước đã, rồi hãy hàng”.

Nắm vững quy luật chiến tranh, hiểu rõ về địch, về ta, họ là người có những quyết định quan trọng trong những bước ngoặt của chiến tranh. Họ điều khiển quân và dân biết lui, biết tiến, biết cứng biết mềm, biết kiên trì tạo thời cơ và nhanh chóng nắm bắt thời cơ. Họ có mưu lược cho toàn bộ cuộc kháng chiến, lại biết xử lý thắng lợi những tình huống trước mắt, biết dự báo và chuẩn bị cho những đòn chiến lược quyết định cuộc chiến tranh. Họ biết giữ tư thế của người nắm vững chủ quyền đất nước, của người thắng trận, đồng thời biết cách cư xử khôn khéo với kẻ thù là nước láng giềng lớn mạnh đã thua trận.

5. Những triều vua đầu của nhà Trần đã có đóng góp to lớn vào truyền thống quân sự của dân tộc, đã lưu lại cho đời sau những bài học kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh, những quan điểm quân sự, quan điểm quốc phòng sâu sắc. 

Tuy nhiên, theo quy luật diễn biến thông thường của các triều đại phong kiến, những triều vua cuối thời Trần không kế tục được truyền thống tốt đẹp trong quan hệ nội bộ, quan hệ với dân, với địch, không chăm lo xây dựng tiềm lực giữ nước trong thời bình. Họ ăn chơi xa hoa, thẳng tay bóc lột nông dân, nội bộ chia rẽ. Khả năng giữ nước do đó mà suy yếu. Quân đội không đánh thắng được những đội quân cướp bóc dù nhỏ bé hơn ta. Dân chúng đứng ngoài cuộc khi cần chống giặc bảo vệ đất nước. Mấy lần Thăng Long bị cướp phá mà triều đình đành chịu bó tay.

Bài học phản diện đó của triều Trần đã làm cho những bài học chính diện của dân tộc ta thời các triều vua đầu càng thêm thấm thía và quý báu. Và chúng ta ngày nay cũng cần suy nghĩ sâu sắc về bài học này, cảnh giác và kiên quyết khắc phục mọi sự suy thoái trong thời bình sau khi kháng chiến thắng lợi, bảo đảm một nền an ninh và quốc phòng ngày càng vững chắc cho dân tộc ta, đất nước ta ngày nay và mãi mãi về sau.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Năm, 2009, 12:04:28 am
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1 Anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn tức Trần Hưng Đạo và di tích lịch sử Kiếp Bạc, Ty Văn hoá - Thông tin Hải Hưng xuất bản, 1978.

2. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đền thế  kỷ XIX), quyển thượng, Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1 955.

3. Đào Duy Anh: Những cọc lim đào được với sự đổi dòng của sông Bạch Đằng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 128, tháng 12-1969.

4. Đào Duy Anh: Tìm các đèo Khâu Cấp và Nội Bàng trên đường dụng binh của Trần Hưng Đạo, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 66-1964.

5. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Trần Hưng Đạo - Nhà quân sự thiên tài, Nxb. chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

6. Biên niên lịch sử trung đại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987.

7. Binh thư yếu lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

8. Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ (in lần thứ hai), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

9. Nguyễn Lương Bích: Một điểm nổi bật trong đường lối chỉ đạo chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta thời Lý - Trần: Vấn đề tổ chức hậu phương, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 115, tháng 10-1968.

10. Nguyễn Lương Bích; Tài điều giặc và đại phá tuyệt giỏi của quân dân ta trong trận Bạch Đằng 128S nhân dịp kỷ mềm 692 năm chiến thắng Bạch Đằng 9-1288), Tạp chí Nghiên cứu lịch sứ, số 2- 1980.

11. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981.

12. Nguyễn Xuân Cầu: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông trên đất Hà Bắc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 180, tháng 1 và 2-1980.

13. Nguyễn Đổng Chi: Vài nhận xét về quan niệm chủ nghĩa anh hùng thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 114- 1968.

14. Chiến tranh của nhà Trần chống lại sự xâm lược của nhà Nguyên (bản dịch), tư liệu lưu tại Khoa Lịch sử - Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

15. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí - Binh chế chí, Nxb Sử học, Hà Nội 1961.

16. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, t.1, t 2, t.3, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.

17. Cuộc kháng chiến chống Nguyên (bản dịch), tư liệu lưu tại Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 1963.

18. Phan Đại Doãn: Đại thắng Bạch Đằng 12SS, Nxb. Quảng Ninh, 1979.

19. Nguyễn Anh Dũng. Chính sách ngụ binh ơ nông các thời Lý - Trần - Lê Sơ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.

20. Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968.

21. Nguyễn Văn Dị - Văn Long: Nghiên cứu về trận Bạch Đằng năm 1288, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 43, tháng 10- 1962.

22. Nguyễn Khắc Đạm: Về chế độ chiêm hữu nô lệ thời Lý-trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1-1979.

23. Hoàng Điền (chủ biên): Tìm hiểu công tác hậu cần thời xưa, Ban Tham mưu Tổng cục Hậu cần xuất bản, Hà Nội, 1977.

24. Lê Quý Đôn: Toàn tập, t.1, t.2, t.3, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

25. Trịnh Minh Hiểu: Về khu di tích lịch sử và danh thắng Tràng Kênh - Bạch Đằng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử , số 3,4- 1988.

26. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII (in lấn thứ hai) , Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

27. Trịnh Quang Khanh: Hưng Đạo Đại vương Trần Quắc Tuấn, Sở Văn hoá - Thông tin Nam Định, 1999.

28. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt - Sài Gòn (in lần thứ sáu).

29. Bùi Phan Kỳ: “Chúng chí thành thành” - một quan điểm giữ nước của dân tộc Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 115, tháng 10- 1968.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Năm, 2009, 12:05:35 am
30. Phan Huy Lê - Bùi Đăng Dũng - Phan Đại Doãn - Phạm Thị Tâm - Trần Bá Chí: Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976. 

31 . Hoàng Lê: Đánh bại giặc Nguyên, Nxb. Thanh niên, Hà Nội 1979.

32. Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, t.2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962.

33. Phan Huy Lê: Nhận xét về tổ chức và tính chất Nhà nước thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4-1987.

34. Ngô Sỹ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, t.3, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973.

35. Ngô Đăng Lợi: Người Hải Phòng tham gia chống giặc Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Tạp chí Nghiên. cứu lịch sử, số 3, 4-1988.

36. Trần Huy Liệu: Vai trò lịch sử của Trần Quốc Tuấn, Tạp chí Văn Sử Địa, số 10- 1955.

37. Lịch sử Việt Nam thời kỳ chế độ phong kiến dân tộc, tổ Cổ sử Việt Nam, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, 1967.

38. Lịch sử Việt Nam, t.l, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội , 1971 .

39. Lịch sử Việt Nam, t.l, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976.

40. Hồ Chí Minh: Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990. 

41 . Hoàng Minh: Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc (in lần thứ ba), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977. 

42. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, t.1, II.

43. Hồng Nam - Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiên Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.

44. G.T.Naruseva: Quan hệ Việt - Trung thế kỷ XII - XIX (bản dịch), lưu tại Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

45. Trần Nghĩa: Một bức ký hoạ về xã hội nước ta thời Trần: Bài thơ An Nam tức sự của Trần Phu, Tạp chí Văn học, số 1- 1972.

46. Nguyên sử, q. 2: Thế  tổ bản kỷ, t 6b .

47. Nguyên sử, q.209: An Nam truyện, t9a.

48. Nguyên sử, q.210: Chiêm Thành truyện, t5b.

49. Nguyễn Đình Như: Võ Binh thất thư, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 1998.

50. Những sự kiện có liên quan đền Việt Nam trong lịch sử Trung Quốc (trích dịch Nguyên sử), tư liệu lưu tại Khoa Lịch sử - Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. 

51 . Những trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử chống ngoại xâm, thông báo của Khoa Lịch sử - Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, t.4.

52. Quách Hoá Nhược: Binh pháp Tôn Tử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964.

53. Đỗ Văn Ninh: Thành cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.

54. Nguyễn Danh Phiệt - Phạm Văn Kính: Thời Trần sau ba lần thắng giặc Nguyên - Mông, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3, 4-1988.

55. Nguyễn Danh Phiệt: Vài nét về giáo dục khoa cử thời Lý-trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sứ, số 2- 1977.

56. Nguyễn Danh Phiệt: Về thăm một làng chiến đấu chống giặc Nguyên ở Thiệu Trường xưa, Tạp chí Tố quốc, số 6-1985.

57. Nguyễn Hồng Phong: Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963.

58. Nguyễn Hồng Phong: Về chế độ quân chủ quý tộc thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4- 1986.

59. Hoàng Đình Phu (chủ biên): Mấy nét về sự phát triển kỹ thuật quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Năm, 2009, 12:06:41 am
60. Phạm Ngọc Phụng: Tìm hiểu chiến lược, chiến thuật thời Trần - Lê, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1963.

61. Phạm Ngọc Phụng: Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. Quân giải phóng, Sài Gòn, 1975.

62. Nguyễn Tường Phượng: Binh chế Việt Nam qua các thời đại, Nxb. Nguyễn Du văn học hội, Hà Nội, 1946.

63. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thông chí, t.1 t.2, t.3, t.4, t.5, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1992.

64. Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1960.

65. Trương Hữu Quýnh: Thêm một sô-ý kiên về chế độ ruộng đất thời Lý - Trần (của thế kỷ XI- XII), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số6-1979.

66. Trương Hữu Quýnh: Từ Hịch tướng sĩ đến Đại cáo bình Ngô, một bước trưởng thành cơ bản của dân tộc Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4-1980.

67. Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, Nxb Khoa họe xả hội, Hà Nội, 1982.

68.Trương Hữu Quýnh: Mấy vấn đề về ruộng đất thời Trần trước chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số3,4-1988.

69. Phạm Văn Sơn: Việt sử tân biên, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1964.

70. Lê Đình Sỹ: Thời Trần xây dựng quân đội, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 3- 1982.

71. Lê Đình Sỹ: Dân binh Đại Việt trong chiến tranh chông ngoại xâm, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 3-1982.

72. Lê Đình Sỹ: Toàn dân là lính, cả nước chung sức đá nh giặc, Tạ p chí Học tập , số 12 - 1982 .

73. Lê Đình Sỹ: Đại phá quân Nguyên trên châu thổ sông Hồng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5- 1983.

74. Lê Đình Sỹ: Về tổ chức lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước thời Trần, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 17- 1989.  7õ. Lê Đình Sỹ: Xây dụng quân đội cột tinh không cột nhiều , Tạp chí Quốc phòng toàn dân , số 5- 1991 .

76. Lê Đình Sỹ: Hoả khí xuất hiện ở Việt Nam từ bao giờ? Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3- 1992.

77. Lê Đình Sỹ: Thuỷ quân Đại Việt trong chiến tranh giữ nước, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 2- 1993.

78. Lê Đình Sỹ: Binh chế Trung Quốc thời Nguyên, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6- 1993.

79. Lê Đình Sỹ - Nguyễn Danh Phiệt: Kế sách giữ nước thời Lý - Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.

80. Ngô Thì Sỹ: Đại Việt sử ký (bản dịch), lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

81. Ngô Thì Sỹ: Việt sử tiêu án, Văn hoá Á châu xuất bản, Sài Gòn, 1960.

82. Văn Tân: Sự khác biệt về chất giữa xã hội thời Trần và xã hội thời Lê Sơ, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 45- 1962.

83. Văn Tân: Vài ý kiến về bộ Binh thư yếu lược, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 62-1964.

84. Văn Tân: Dựng nước đi đôi với giữ nước, một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 9- 1976.

85. Văn Tân: Vai trò của thuỷ quân Việt Nam trong lịch sử dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5- 1977.

86. Văn Tân: Những nhân tố đưa đến chiến thắng quân Nguyên hồi thế kỷ XIII, Tạp chí Nghiên cứu lịch sứ, số 3- 1978.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Năm, 2009, 12:07:54 am
87. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Bài minh trên chuông Thông thánh quán và một số vấn đề lịch sử thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 83, tháng 7- 1966.

88. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế  kỷ XIII, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968.

89. Thăng Long: Nước Đại Việt xây dựng kinh tê, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 11- 1975.

90. Thăng Long: Xây dựng quân đội thường trực, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 2- 1976.

91. Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.

92. Lưu Trần Tiêu - Trịnh Căn: Cọc Bạch Đằng trong đợt khai quật 1976, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, tháng 1 và 2-1977.

93. Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Nam Định-viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Anh hùng dân tộc thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.

94. Chu Thiên: Chống quân Nguyên, lịch sử kháng chiến thời Trần (1257-1288), Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1957.

95. Nguyễn Khắc Thuần (chủ biên): Trần Hưng Đạo - tiểu sử sự nghiệp, tác phẩm, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
96. Hoàng Đạo Thuý: Sát Thát - Truyện đời Trần chống quân Nguyên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968.

97. Nguyễn Ngọc Thuỵ: Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 63, tháng 6 – 1964 .

98. Minh Tranh: Sơ thảo lịch sử Việt Nam, t.1, t.2, t.3, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1954 - 1955.

99. Minh Tranh: Tìm hiểu lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb. Văn, Sử, Địa, Hà Nội, 1957. 

100 Nguyễn Trãi: Toàn tập (in lần thứ hai), Nxb. Khoa học xà hội, Hà Nội, 1976.

101.   Hoàng Thúc Trâm: Trần Hưng Đạo (1300), Nxb. Vĩnh Bảo, Sài Gòn.

102.   Lê Trắc: An Nam chí lược (bản dịch), lưu tại Viện Lịch sử quân. Sự việt Nam.

103. Đỗ Trình - Lê Đình Sỹ - Hoàng Thị Thảo: 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội - những hoạt động tiêu biểu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội , 2000.

104.   Cao Hùng Trưng: An Nam chí nguyên (Bản dịch), lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

105. Tôn Tử - Ngô Khởi: Tôn Ngô binh pháp (Trần Ngọc Thuận dịch), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994.

106. Nguyễn Khánh Vân: Ba lần đánh thắng quân Nguyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1967.

107.   Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, t. 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1963.

108.   Trần Quốc Vượng: Tìm hiểu về những truyền thống thượng võ của dân tộc, Nxb. Y học và Thể dục thể thao, Hà Nội: 1969.

109.   Trần Quốc Vượng: Chính sách ngụ binh ư nông và vân đề kinh tế kết hợp với quốc phòng, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 3- 1977.

110. Trần Quốc Vượng: Theo dòng thời cuộc, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1996.

111. Trần Thị Vinh: Tìm hiểu thiệt chế và tổ chức nhà nước thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sứ, số 3,4- 1988. 

112. Viện Khảo cổ học: Những phát hiện khảo cổ học năm 1980, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980. 

113. Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, t.1, t.2, t.3.

114. Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang - Nguyễn Mạnh Hùng: Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983.

115. Việt sử lược, bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nxb.Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960.

116. Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960.


- HẾT -