|
Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 09:36:52 pm Tên sách: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9:
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia Năm xuất bản: 2000 Số hoá: Ptlinh, UyenNhi05. Ban chủ nhiệm. Đại tá PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG Trung tướng, PGS. NGUYÊN ĐÌNH ƯỚC Đại tá TS. LÊ ĐÌNH SĨ Tác giả: GS. VĂN TẠO (Chủ biên) Thượng tá LÊ VĂN THÁI (http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQST91.jpg) Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. HỒ CHÍ MINH Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 09:42:44 pm LỜI GIỚI THIỆU Tập 1, bộ Lịch sử quân sự Việt Nam (14 tập) do GS. Hà Văn Tấn chủ biên đã ra mắt bạn đọc từ cuối năm 1999, vinh dự được Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu viết Lời tựa và GS. Trần Văn Giàu viết Lời giới thiệu. Hiện nay, bản thảo các tập tiếp theo đang được hoàn thành, lần lượt sẽ ra mắt bạn đọc. Đó là kết quả của sự hợp tác khoa học giữa Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia với nhiều nhà khoa học và các cơ quan chức năng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Khoa học lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng do Trung tướng, TS. Nguyễn Huy Hiệu, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Chủ tịch. Năm nay, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về việc tổ chức kỷ mềm trọng thể những ngày lễ lớn trong năm 2000, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam hoàn thành việc biên soạn và xuất bản tập 9 của bộ sử lớn này với tiêu đề: Hoạt động quân sự từ 1897 đến Cách mạng Tháng Tám 1945. Đối với lịch sử Việt Nam, đây là giai đoạn hết sức bi tráng, vô cùng đau thương, anh dũng, và rất vinh quang, một bước ngoặt lịch sử của dân tộc. Các hoạt động quân sự chống xâm lược trình bày trong tập sách kéo dài trong gần 50 năm, bắt đầu từ năm 1897, chia làm hai giai đoạn khác nhau. Giai đoạn thứ nhất 1897-1930: Năm 1897, bốn mươi năm sau kể từ ngày nổ súng ở vùng biển Sơn Trà - Đà Nẵng (1-9-1858) xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp xem là đã hoàn tất công việc bình định, thiết lập xong bộ máy cai trị trên đất nước ta và tiến hành cuộc khai thác thuộc địa. Trên thực tế những hoạt động quân sự chống xâm lược của nhân dân ta chưa bao giờ bị dập tắt, vẫn tiếp tục diễn ra với những hình thức, quy mô và xu hướng khác nhau ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam, từ miền núi đến miền xuôi từ thành thị đến các vùng nông thôn rộng lớn. Bản thân việc cai trị hà khắc và cuộc khai thác thuộc địa tàn bạo làm bần cùng dân tộc, buộc nhân dân cả nước liên tục vùng lên chống quân xâm lược. Giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và trí thức ra đời cùng với quá trình khai thác thuộc địa đã làm biến đổi nhanh chóng cơ cấu xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ. Các giai tầng xã hội tuy có xu hướng chính trị khác nhau nhơng do lòng yêu nước và căm thù giặc đã quyết không khuất phục, đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp. Tình hình quốc tế và khu vực ở giai đoạn này có tác động quan trọng đến những xu hướng cứu nước của những chí sĩ yêu nước vốn xuất thân là những nhà nho mà Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là những người tiêu biểu. Sau khi phong trào Cần Vương thất bại, những hoạt động yêu nước của Đông Kinh nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội, phong trào Đông Du... mang màu sắc dân chủ tư sản. Đặc biệt hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu với cuộc khởi nghĩa Yên Bái là nỗ lực cuối cùng của các phong trào yêu nước, các xu hướng đấu tranh cứu nước trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự thất bại của các bậc tiền nhân là một tất yếu lịch sử, do chính lịch sử quy định. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 09:51:42 pm Giai đoạn 1930-1945:
Chứng kiến sự thất bại về con đường cứu nước của các bậc cha anh, năm 1911 Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) với mẫn cảm chính trị vượt thời đại đã sang phương Tây để tìm con đường cứu nước mới. Một bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc diễn ra vào năm 1920, khi Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đặc biệt khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng cho dân tộc, con đường cách mạng vô sản. Từ đấy, Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt cả dân tộc đi theo con đường Người lựa chọn, đưa cách mạng Việt Nam nhịp bước vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Xác định rõ con đường cứu nước hợp quy luật, hợp lòng người là con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc lập tức bắt tay vào việt truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam nhằm tiến tới mục tiêu đánh đổ chủ nghĩa thực dân Pháp, thiết lập nhà nước kiểu mới - nhà nước công nông ở Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, xuất bản báo Thanh niên, mở các lớp huấn luyện cán bộ tung về nước hoạt động. Sau này, năm 1927, những bài giảng của Người được xuất bản thành sách với tiêu đề Đường Kách mệnh - một tác phẩm vạch đường cho cách mạng Việt Nam, tổ chức những thắng lợi sau này của cách mạng. Đầu năm 1930, trên cương vị là đại diện của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do chính Người soạn thảo. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và lãnh đạo là một bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam được dẫn dắt bởi đội tiền phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tơ tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Nhờ có đường lối chính trì đúng, vừa ra đời Đảng đã lãnh đạo cao trào cách mạng rộng lớn trong cả nước - cao trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ -Tĩnh. Đấu tranh chính trị của quần chúng được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của lực lượng vũ trang, đặc biệt là các đội xích vệ đỏ đã làm cho kẻ thù run sợ. Các đội xích vệ đỏ ra đời một cách tất yếu trong tiến trình cách mạng là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng sau này. Bị thực dân Pháp khủng bố và đàn áp dữ dội, cách mạng bước vào giai đoạn thoái trào, để rồi lại bùng lên mạnh mẽ thành cao trào dân chủ rộng lớn 1936-1939. Những cao trào cách mạng này là những cuộc tổng diễn tập cho Cách mạng Tháng Tám 1945. Năm 1940 đã diễn ra ba cuộc khởi nghĩa quy mô lớn ở Nam Kỳ, Bắc Sơn và Đô Lương do Đảng lãnh đạo hoặc chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng. Các cuộc khởi nghĩa này lần lượt bị dìm trong biển máu, bị kẻ thù đàn áp khốc liệt đã thất bại vì điều kiện khách quan và chủ quan chưa cho phép. Song các đội du kích, các lực lượng vũ trang của Đảng tiếp tục được duy trì để hậu thuẫn cho đấu tranh chính trị, đấu tranh giành chính quyền sau này. Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, tháng 2-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng. Tháng 5- 1941, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng được triệu tập tại Pắc Bó - Cao Bằng do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Nghị quyết của hội nghị quan trọng này đánh dấu bước “thay đổi chiên lược” của cách mạng Việt Nam. Xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân là chuẩn bị khởi nghĩa, lập Mặt trận Việt Minh, huấn luyện cán bộ, xây dựng lực lượng vũ trang, lập các chiến khu để tạo ra những bàn đạp cho cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 09:52:47 pm Ngày 25-10-1941, Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh ra đời với một chương trình cứu nước 44 điểm. Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng và ra chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ đã họp ở Hiệp Hoà - Bắc Giang quyết nghị triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân để thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng, tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam.
Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Uỷ ban dân tộc giải phóng từ cơ sở đến Trung ương. Khu giải phóng Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên và một số vùng lân cận Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái ra đời. Tân Trào là thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Từ sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hoạt động vũ trang và lực lượng vũ trang được đặc biệt chú trọng. Việt ra đời các đội du kích vũ trang, sự xuất hiện của Trung đội cứu quốc quân 1 và Trung đội cứu quốc quân 2, đặc biệt sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22-12-1944) phản ánh tầm nhìn xa rộng của Bác Hồ và Đảng ta. Vừa ra đời, lực lượng vũ trang cách mạng đã mang bản chất giai cấp công nhân và truyền thống quật cường của dân tộc, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, có tổ chức chặt chẽ, cơ cấu hợp lý, kỷ luật nghiêm minh, lý tưởng, mục tiêu chiến đấu rõ ràng: từ nhân dân mà ra, vì nhân dân chiến đấu, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa. Ngay sau đấy Uỷ ban khởi nghĩa đã hạ lệnh khởi nghĩa và ra quân lệnh số 1. Ngày 16-8-1945, tại Tân Trào, Đại hội đại biểu quốc dân khai mạc, quyết định lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Thực hiện quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng, của Quốc dân Đại hội, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập tự do, toàn dân tộc đã nhất tề nổi dậy, nhanh chóng giành chính quyền trong cả nước mà tiêu biểu là Hà Nội (19-8), Huế (23-8), Sài Gòn (25-8). Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 là thành tựu tuyệt vời của ý chí, tinh thần và trí tuệ Việt Nam, của văn hoá cứu nước và giữ nước Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là sự phát triển đến đỉnh cao của lịch sử dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản. Nó kết tinh truyền thống quân sự của dân tộc qua hàng ngàn năm chống xâm lược và 87 năm đấu tranh bất khuất chống ách thống trị của thực dân đế quốc và phát xít lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Những nội dung lịch sử nói trên được phản ánh một cách cụ thể, sinh động và trung thực trong tập sách này nhơ một bức tranh toàn cảnh về một giai đoạn lịch sử đau thương và hùng vĩ của dân tộc. Nhân dịp tập sách ra mắt bạn đọc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin cảm ơn Thường vụ Đảng uỷ quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng tham mưu và các cơ quan chức năng đã chỉ đạo, tạo điều kiện và động viên để chúng tôi hoàn thành việc biên soạn và xuất bản tập sách. Xin cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài quân đội, đặc biệt là GS, nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm, PGS. Bùi Đình Thanh, PGS. Cao Văn Lượng, PGS. Lê Mậu Hãn và PGS, TS. Trịnh Nhu... đã nhiệt tình cộng tác và góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình biên soạn và xuất bản tập sách này. Mặc dầu các tác giả đã có rất nhiều cố gắng song chắc chắn công trình không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc. Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, 56 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam quang vinh, tiến tới chào mừng Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 9 năm 2000 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 10:15:07 pm MỞ ĐẦU Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn 1897-1945 là bước kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của ông cha trong thời đại mới, là lịch sử xây dựng lực lượng chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là một trong những giai đoạn hào hùng của lịch sử quân sự Việt Nam, trong đó, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đã xuất hiện, phát triển từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từ những thất bại tạm thời đến thành công cơ bản và vững chắc, đưa dân tộc thoát ách nô lệ, giành được độc lập tự do. Đây cũng là lịch sử của một giai đoạn đầy biên động trong nước và trên thế giới. Những biến động đó tác động lẫn nhau, tạo nên những nét đặc sắc trong cuộc chiến đấu và chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Ở Việt Nam, lúc này thực dân Pháp tự xem là đã hoàn thành việc bình định, bắt tay vào khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng mở rộng. Cuộc khai thác với thủ đoạn cướp đất, đuổi dân, lập đồn điền trồng lúa và cây công nghiệp dẫn tới bần cùng hoá, vô sản hoá hàng loạt nông dân. Mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với thực dân cướp nước và phong kiến bán nước đã sâu sắc nay càng sâu sắc hơn. Quá trình vơ vét khoáng sản, khai thác nông, lâm, thổ sản, sơ chế một số sản phẩm công nghiệp cũng như xây dựng một số ngành công nghiệp (điện, nước, diêm, giấy, in ấn...) phục vụ bộ máy thống trị, khách quan đã tạo nên tầng lớp công nhân ngày càng đông đảo. Trí thức, tiểu tư sản thành thị ra đời phục vụ chế độ thuộc địa ngày một tăng và cũng chịu sự chèn ép, khinh miệt, áp bức, khiến tinh thần kháng Pháp tiếp tục nảy sinh và phát triển. Theo quy luật có áp bức là có đấu tranh, mà đấu tranh chống cường quyền thì phải dùng bạo lực mới có thể thắng được kẻ thù. Đấu tranh quân sự vì thế, là yêu cầu tất yếu của các phong trào yêu nước Việt Nam. Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản phát triển tới giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các cường quốc tư bản trên con đường cạnh tranh sinh tồn đã gây chiến với nhau để chia lại thị trường thế giới, giành giật thuộc địa. Hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918 và 1939-1945 đã gây bao thảm hoạ cho nhân loại. Việt Nam cũng bị kéo vào vòng chiến. Nhưng nhờ trí thông minh và tài sáng tạo, nhân dân Việt Nam đã “biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng”, lợi dụng thời cơ đứng lên giành độc lập. Cuộc nổi dậy của vua Duy Tân, cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên trong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chưa đạt mục tiêu thì cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai đã đi đến thành công. Lịch sử quân sự Việt Nam trong giai đoạn này cho thấy: Đối tượng tác chiến của lực lượng quân sự Việt Nam không còn là một quốc gia phong kiến phương Đông như xưa mà là một cường quốc tư bản đế quốc chủ nghĩa phương Tây lớn mạnh - kẻ đã thống trị Việt Nam hơn 80 năm với một bộ máy cai trị hà khắc và một hệ thống quân sự thuộc địa tinh vi mạnh mẽ. Tư tưởng quân sự của đối phương không còn tư tưởng quân sự phong kiến nhằm xâm chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ và bảo vệ vương triều của chỉ một quốc gia phong kiến mà đã là của một nhà nước tư sản phát triển tới thời đại đế quốc chủ nghĩa. Các đế quốc liên kết với nhau bảo vệ hệ thống thuộc địa (như Pháp, Nhật đã bắt tay nhau đàn áp phong trào Đông Du ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ), lấy binh lính thuộc địa làm bia đỡ đạn cho chúng trong các cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, tương tàn. Chúng chinh phục thuộc địa bằng vũ lực, tạo tiền đề cho sự nô dịch về chính trị, bóc lột và vơ vét về kinh tế. Vũ khí, kỹ thuật quân sự của đối phương cũng không còn chỉ là bạch khí hay hoả khí tầm gần mà đã có hoả khí mạnh mẽ gồm cả liên thanh, đại bác. . . vv bước đầu đã áp dụng điện tử, vật lý, hoá học trong thuỷ quân, lục quân và không quân. Nghệ thuật quân sự của đối phương cũng không còn là nghệ thuật quân sự phong kiến lấy bộ binh và kỵ binh làm chủ lực, lấy số đông làm áp đảo, mà là nghệ thuật quân sự tư sản, có khoa học kỹ thuật của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tác động vào, đã cơ động, linh hoạt, phát triển hơn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 10:17:36 pm Tổ chức quân sự của đối phương cũng mang tính chính quy, hiện đại với phiên chế chặt chẽ, đa dạng (khố xanh, khố đỏ, lê dương, lính dõng. . .) có đội hình cơ động, tổ chức linh hoạt với các “đạo quan binh” ở những nơi xung yếu để kịp thời đàn áp các cuộc nổi dậy ở bất cứ hang cùng, ngõ hẻm nào. Từ năm 1940 trở đi, phát xít Nhật vào Đông Dương, các đặc điểm kể trên còn được bổ sung bằng tính thâm độc, tàn bạo và độc tài của chủ nghĩa quân phiệt phát xít.
Những vấn đề đó đã thể hiện sự gian nan ác liệt của cuộc đấu tranh và cũng đặt ra những đòi hỏi mới cho cả dân tộc nói chung, cho nền quân sự Việt Nam nói riêng, phải vươn lên tầm cao mới để giành thắng lợi. Nói một cách khác, trước những kẻ thù đế quốc, phát xít có tiềm năng quân sự lớn, dân tộc Việt Nam phải tạo ra được thế mạnh – thế đứng trên đầu thù và tạo được lực mạnh - cái lực có khả năng áp đảo kẻ thù, để chiến đấu và chiến thắng. Thực tế lịch sử đã diễn ra như vậy. Trước hết là đổi mới tư duy quân sự. Tư tưởng quân sự phong kiến của phong trào văn thân, Cần Vương đã nhường chỗ cho tư tưởng quân sự có xu hướng dân chủ tư sản của phong trào Đông Du (với Duy Tân hội, Việt Nam Quang phục hội), của phong trào Duy Tân ở Nam Trung Bộ với cuộc xin xâu chống thuế dẫn tới bạo động vũ trang và của các cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, Yên Bái... Các phong trào kể trên đều đã thất bại, lịch sử tất yếu dẫn đến sự ra đời của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - tinh hoa của thời đại. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là nền tảng tạo nên sức mạnh trong cuộc đối đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc, phát xít xâm lược. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã trở thành hạt nhân của tư tưởng và đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuyển biến về tư tưởng dẫn đến sự thay đổi về tổ chức. Nhờ vậy, tổ chức quân sự có tính truyền thống của ông cha xưa, được lý luận cách mạng soi đường, đã được nâng lên một tầm cao mới. Đó là một tổ chức quân sự dựa vào dân, xây dựng lực lượng vũ trang từ nhân dân, nhằm thực hiện chiên tranh nhận dân và nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc... Nghệ thuật quân sự và kỹ thuật quân sự cũng từ sự đổi mới tư tưởng, đổi mới tổ chức mà được nâng cao. Từ hoạt động du kích tiến tới khởi nghĩa địa phương, rồi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa. Vũ khí cũng từ bạch khí tự tạo đến hoả khí thô sơ, kết hợp giữa thô sơ và hiện đại và nhờ kết hợp giữa tự tạo với lấy vũ khí của địch mà giải quyết thành công vấn đề vũ khí trang bị. Thắng lợi trên lĩnh vực đấu tranh quân sự của Việt Nam thời kỳ này không chỉ có ý nghĩa dân tộc mà còn mang ý nghĩa quốc tế và thời đại. Chúng ta chiến đấu giải phóng dân tộc đồng thời cũng góp phần vào phong trào dân chủ quốc tế chống phát xít, giải phóng cả loài người tiến bộ. Thắng lợi đó là kết tinh của lòng yêu nước, trí thông minh, tài thao lược của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi đó cũng là thắng lợi của văn hoá Việt Nam - văn hoá của dân tộc yêu độc lập tự do chống lại văn hoá đế quốc độc hại, nô dịch và tàn bạo. Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng chống lại đường lối quân sự tư sản, thực dân xâm lược đang bị cả loài người tiến bộ lên án. Những trang lịch sử dưới đây cố gắng thể hiện thực tiễn chân thực và sinh động của cuộc chiến đấu và chiến thắng nói trên - một cuộc chiến đấu phát triển từ nhỏ đền lớn, từ yếu thành mạnh, từ thất bại tạm thời đến thắng lợi vẻ vang, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ đền độc lập tự do, góp phần vào sự nghiệp cao cả của nhân loại tiến bộ. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 10:32:33 pm Chương I ĐẤU TRANH QUÂN SỰ GIAI ĐOẠN 1897 - 1930 Các phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân Việt Nam diễn ra cuối thế kỷ XIX, tuy rất sôi nổi, mạnh mẽ, nhưng do một loạt các nhân tố khách quan và chủ quan, nên đã tạm thời bị thất bại. Sau khi phong trào Cần Vương lắng xuống và nghĩa quân Yên Thế đình chiến tạm thời, thực dân Pháp tự coi đã hoàn thành công cuộc bình định, có thể bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam một cách quy mô (được gọi là “cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất”). Cuộc khai thác này được tiến hành trong một tình thế không thuận lợi cho thực dân Pháp. Bởi vì, vào lúc đó, trên thế giới, những cường quốc tư bản mới đang tích cực chuẩn bị gây chiến để chia lại thị trường, giành giật các thuộc địa. ở Việt Nam, phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo vẫn tồn tại. Sự ra đời của phong trào Đông Du năm 1904 với xu hướng vũ trang bạo động, khiến thực dân Pháp rất lo sợ. Trong những điều kiện đó, vừa đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp vừa phải tập trung lực lượng đồi phó với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám) và tìm mọi cách ngăn chặn các phong trào yêu nước khác trên toàn cõi Việt Nam. Chương trình hành động của thực dân Pháp thời kỳ này thể hiện rõ dã tâm thâm độc của chúng là “Dùng người Việt trị người Việt”. Đây là biện pháp vừa nhằm đỡ tốn xương máu cho chúng, vừa che giấu được những tổn thất đối với nhân dân và chính giới Pháp, lại hữu hiệu trong cuộc nô dịch nhân dân Việt Nam. Thực hiện dã tâm này, thực dân Pháp xúc tiến mạnh mẽ việc lập ra một bộ máy quan lại người Việt. Dưới quyền chỉ huy tối cao của toàn quyền Đông Dương, từ cấp tỉnh trở xuống như ở Bắc Kỳ, bên cạnh viên công sứ người Pháp có tổng đốc ở các tỉnh lớn, tuần phủ ở các tỉnh nhỏ cùng bố chính, án sát, lãnh binh. Ở các vùng dân tộc thiểu số ngang cấp tỉnh có các chánh quan lang, hay quan lang. Dưới tỉnh có tri phủ, tri huyện ở miền xuôi; tri châu ở miền núi, bên cạnh tri phủ, tri huyện, tri châu còn có bang tá phủ uý, huyện uý, quản đạo... chuyên coi về việc binh...1. Những quan lại cấp tỉnh như tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, chịu trách nhiệm cả về chính trị lẫn quân sự. Riêng ở Bắc Kỳ, bên cạnh bộ máy chính quyền cấp tỉnh, thực dân Pháp còn tổ chức các đạo quan binh. Chúng kỳ vọng nhiều vào tác dụng của các đạo quan binh. Năm 1888, thực dân Pháp lập ra 14 quân khu từ Thanh Hoá trở ra. Đến 6-8-1891, Toàn quyền Đờ Lanétsăng (De Lanessan) ra nghị định bãi bỏ các quân khu vì tổ chức này, trên thực tế đã không có hiệu lực và thay vào đó bằng các đạo quan bịnh do một sĩ quan cao cấp người Pháp đứng đầu với đầy đủ quyền lực quân sự và dân sự. Về quyền quân sự, tư lệnh đạo quan binh, dưới sự chỉ huy tối cao của Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, được độc lập chỉ huy và tổ chức mọi cuộc hành quân đánh chiếm trong phạm vi của đạo. Về quyền dân sự, tư lệnh đạo quan binh có quyền ngang với thống sứ Bắc Kỳ và chịu sự chỉ đạo tối cao của toàn quyền Đông Dương. Mỗi đạo quan binh chia ra nhiều tiểu quân khu (cereles mihtaires), đứng đầu là một sĩ quan có quyền hành tương đương với công sứ (người đứng đầu một tỉnh). Theo nghị định ngày 24-8-1891 của toàn quyền Đông Dương, viên sĩ quan này chịu trách nhiệm trước tư lệnh đạo quan binh về mọi mặt trong địa bàn mình cai quản, cũng như chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tư lệnh đạo quan binh. ______________________________ 1. Dương Kinh Quốc : Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988, tr.142. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 10:36:28 pm Về địa bàn quản lý của đạo quan binh, ngày 2 0-8- 1891, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập ở Bắc Kỳ 4 đạo quan binh:
- Đạo quan binh 1 (Phả Lại), đạo lỵ là Phả Lại. Địa bàn gồm 3 tiểu quân khu : Phả Lại, Thái Nguyên, Móng Cái. - Đạo quan binh 2 (Lạng Sơn), đạo lỵ là Lạng Sơn với 3 tiểu quân khu: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang 1. - Đạo quan binh 3 (Yên Bái), đạo lỵ đặt ở Yên Bái với 3 tiểu quân khu: Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang 2. - Đạo quan binh 4 (Sơn La), đạo lỵ đặt ở Sơn La, địa bàn gồm địa hạt Sơn La và một số tổng tách từ Hưng Hoá sang. Tiếp đó, ngày 16-4-1908, toàn quyền Đông Dương ra nghị định quy định mỗi đạo quan binh được lập một số trung tâm gọi là đại lý, không chia thành các tiểu quân khu như trước. Tư lệnh đạo quan binh là sĩ quan cấp tá, còn chỉ huy các đại lý là cấp sĩ, uý 3. Về tổ chức hành chính, mỗi đạo quan binh được coi như ngang với cấp tỉnh, được phân chia thành các đơn vị hành chính tới cấp tổng, xã, có hội đồng tương đương hội đồng tỉnh và có ngân sách riêng. Căn cứ vào tình hình chiến sự và yêu cầu quản lý điều hành, các đạo quan binh luôn có sự thay đổi, nhưng về cơ bản vẫn là những tổ chức đặc trách quân sự nhằm dàn áp các phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân Việt Nam. Nơi nào phong trào đấu tranh của nhân dân ta lên cao, lập tức chúng sáp nhập vùng đó vào các đạo quan binh. Nơi nào phong trào tạm thời lắng xuống, nhũng lại chuyển trả về vùng quản lý của giới dân sự. Chẳng hạn, ngày 20-6-1905, Đạo quan binh 1 đã đặt Lạng Sơn dưới chế độ cai trị dân sự, đưa Móng Cái trả lại cho tỉnh Quảng Yên; ngày 12-7-1907, Đạo quan binh 4 đặt Lào Cai dưới chế độ dân sự. Trái lại, ngày 16-1-1915, chúng lại chuyển tỉnh Lai Châu (được thành lập năm 1909) từ chế độ dân sự sang chế độ quân sự để lập lại Đạo quan binh 4 (Lai Châu) . . . Với cách thức thay đổi tổ chức đạo quan binh, thực dân Pháp hy vọng tạo ra tính chủ động, cơ động, linh hoạt eho sự chỉ huy quân sự, đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Bên cạnh việc tăng cường bộ máy hành chính - quân sự, thực dân Pháp đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng quân sự. Ngày 7-7-1900, Chính phủ Pháp thông qua đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa gồm binh lính người Pháp và binh lính người thuộc địa. ở Việt Nam, lính cơ là lực lượng bổ sung cho quân đội thuộc địa. Ngày 1-11-1904, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh quy định thanh niên Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ 22 - 28 tuổi phải đi lính với thời hạn tại ngũ 5 năm, tối đa là 20 năm; đồng thời ra sắc lệnh tổ chức lực lượng quân dự bị người bản xứ ở Việt Nam. Hằng năm, lực lượng này phải tập trung luyện tập 15 ngày, khi cần có thể động viên từng khoá, hay toàn bộ vào quân ngũ. Ngày 22-3-1910, Tổng thống Pháp lại ra sắc lệnh quy định tất cả binh lính người Việt Nam khi mãn hạn tại ngũ phải chuyển sang lực lượng quân dự bị tới khi đủ 15 năm (kể cả thời gian tại ngũ) mới được giải ngũ. Họ cũng phải tập trung luyện tập 15 ngày trong năm và bị động viên như quân dự bị khi cần thiết. Ngoài quân đội chính quy, thực dân Pháp còn tổ chức những đội lính khố xanh. Đây là lực lượng chuyên đàn áp các cuộc khởi nghĩa, phục vụ ở các đạo quan binh, canh gác nhà tù ở phủ, huyện, châu, có hnh cơ, lính lệ, hnh dõng. Đây là lực lượng phải đi trước để mở đường cho lính lê dương và lính khố đỏ theo sau khi đàn áp nhân dân. Các làng, xã có tuần phủ, lực lượng bán vũ trang do tổng đoàn, xã đoàn điều khiển, chủ yếu sử dụng vào việc dò la tin tức, đón lõng phục kích nghĩa quân khi di chuyển, cũng như đàn áp, đốt phá các gia đình, làng xóm khi họ đi theo nghĩa quân. _________________________ 1. Ngày 5-8-1896 Lạng Sơn chuyển thuộc đạo quan binh 1. 2. Ngày 5-8-1896 Lào Cai chuyển thuộc đạo quan binh 4. 3. Dương Kinh Quốc : Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Sđd, tr. 150 - 151 . Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:09:41 pm Mặc dù đã có lực lượng cảnh sát, nhưng trước tình hình nhân dân Việt Nam nổi dậy ngày càng nhiều, ngày 30-6-1915, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh xây dựng lực lượng cảnh sát đặc biệt ở Việt Nam. Sắc lệnh quy định tất cả những binh lính bản xứ tại ngũ không nằm trong lực lượng chính quy đều thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt, gọi là địa phương quân. Lực lượng này có nhiệm vụ canh giữ các công sở, trại giam, các tuyến giao thông. Trong trường hợp cần thiết, lực lượng này sẽ được điều đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa.
Như vậy, thực dân Pháp xây dựng quân đội ở Việt Nam gồm hai bộ phận: quân chính quy và quân địa phương. Với bộ máy hành chính - quân sự thiết lập trên cơ sở cấu kết nhặt ehẽ giữa chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến phản động cùng lực lượng quân sự to lớn làm công cụ đàn áp dân tộc Việt Nam, thực dân Pháp hy vọng sẽ ổn định được tình hình để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa vô cùng tàn bạo của chúng. Nhưng trong thực tế, chiến tranh du kích của Việt Nam với sự biến hoá thiên hình vạn trạng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất lớn cho thực dân Pháp cũng như công cuộc khai thác thuộc địa của chúng. Nhìn tổng quát, lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn 1897 - 1930 tiếp tục diễn ra oanh liệt. Đây là giai đoạn chuyển từ phong trào đấu tranh vũ trang do sĩ phu phong kiến yêu nước (văn thân, Cần Vương) lãnh đạo, sang phong trào do sĩ phu phong kiến và tiểu tư sản trí thức yêu nước, có xu hướng dân chủ tư sản lãnh đạo. Trong vòng hơn 30 năm, các phong trào kế tiếp nhau nổi dậy không bao giờ ngớt. Song song với các phong trào đấu tranh vũ trang mà điển hình là phong trào Yên Thế (còn gọi là khởi nghĩa Yên Thê) tồn tại đến năm 1913, là phong trào Đông Du, với sự thành lập Duy Tân hội có xu hướng vũ trang năm 1904. Tiếp đó là các phong trào “Xin xâu chống thuế” ở Nam Trung Bộ dẫn tới bạo động vũ trang năm 1908; vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội năm 1908, khởi nghĩa của người Mường ở Hoà Binh (1909 - 1910), khởi nghĩa của người H’mông ở Hà Giang (1911 - 1912), khởi nghĩa của đồng bào Thượng ở Tây Nguyên và các cuộc nổi dậy của người Dao, kéo dài từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; mưu phá khám lớn Sài Gòn của Thiên địa hội năm 1911; cuộc nổi dậy của Phan Xích Long ở Nam Bộ năm 1913. Những hoạt động vũ trang của Việt Nam Quang phục hội như đánh bom giết tuần phủ Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình năm 1913, đánh đồn Phú Thọ (7-1-1915), đánh đồn Tà Lùng ở Cao Bằng (13-3-1915), phá ngục Lao Bảo ở Quảng Trị (28-9-1915) cuộc nổi dậy của vua Duy Tân, có sự hỗ trợ của Việt Nam Quang phục hội Nam Trung Bộ năm 1916; khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917; binh biến ở Bình Liêu, Móng Cái tháng 11-1918; tập kích đồn Sầm Nưa (Lào) và vận động chiến ở Sơn La năm 1918; cuộc nổi dậy ‘ của người H’ Mông ở Hà Giang những năm 1918-1921; vụ đánh bom của Phạm Hồng Thái mưu sát toàn quyền Méclanh ở Sa Điện, Trung Quốc năm 1924; khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng ở Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Bảo tháng 2-1930... đã là những ví dụ tiêu biểu cho khí phách quật cường và sức trỗi dậy của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Mặc dù, sau mỗi cuộc chiến đấu thất bại, là sự đàn áp, khủng bố dã man và hàng loạt chiến sĩ yêu nước bị chém giết, tù đày, nhưng phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta không hề bị dập tắt mà ngược lại, vẫn tiếp tục phát triển. Trong số các phong trào đó, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế - dấu nối giữa hai thế kỷ đấu tranh của dân tộc Việt Nam. I- KHỞI NGHĨA YÊN THẾ (1884-1913) Cuộc khởi nghĩa Yên Thế tồn tại gần 30 năm (1884 - 1913) chuyển tiếp qua hai thế kỷ là một biểu hiện của sức tranh đấu mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Nét đặc thù của khởi nghĩa Yên Thế so với các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đương thời là: Bên cạnh hoạt động quân sự, nghĩa quân đã coi trọng việc tiếp xúc với kẻ thù, và xem đó là một sách lược ngoại giao, một trận tuyến tạo thêm điều kiện thuận lợi cho phong trào. Do vậy, ngày 17-9-1894, trong một trận phục kích, nghĩa quân bắt tên Sét nay (Chesnay) địa chủ Pháp, kiêm chủ nhiệm báo Tương lai Bắc Kỳ (L’avemr du Tonkin) và một tên Pháp đi cùng là Lôgiu (Logiou) mà không giết, dành để đàm phán. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:10:12 pm Lúc này, sau những năm chiến đấu ác liệt (1892-1894), nghĩa quân tuy giành được một số thắnglợi nhưng tổn thất cũng nhiều, cần tạm ngưng chiến để củng cố và phát triển lực lượng. Việc bắt tên Sét nay có thế lực ở vùng này là nhằm phục vụ cho ý định đó.
Và quả nhiên, việc Sét nay bị bắt đã lập tức làm xôn xao chính giới Pháp. Trên báo chí, giới tư sản, địa chủ Pháp la ó đòi bọn thống trị Pháp phải cứu cho được Sét nay. Còn Sét nay cũng gửi ra hàng tập thư thúc giục người cầm đầu chế độ thực dân phải sớm cứu thoát. Trong lúc các cuộc khởi nghĩa khác của nhân dân ta hầu như bị dập tắt, việc Hoàng Hoa Thám đề ra hoà đàm để hưu chiến là có lợi thế cho nghĩa quân. Thực dân Pháp cũng bị hao tổn binh lực. Trước sức mạnh của nghĩa quân Yên Thế, chúng thấy không thể một lúc mà tiêu diệt được nên đã nhận “hoà đàm”. Pháp phải nhờ tới giám mục Vêlátcô (Vélasco) làm môi giới điều đình với Hoàng Hoa Thám. Cuộc mặc cả kéo dài 15 ngày tại chùa Thông (Đồng Lạc, Yên Thế, Bắc Giang). Cuối cùng, ngày 23-10-1894, các điều kiện giảng hoà được hai bên thoả thuận: Nghĩa quân thả Sét nay và Lôgiu. Phía Pháp phải chịu món tiền chuộc là l5.000 đồng bạc Đông Dương, rút quân khỏi các đồn trong khu vực Yên Thế, để bốn tổng: Nhã Nam, Mụe Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng cho nghĩa quân cai quản và thu thuế trong ba năm. Ngày 24-10, Pháp dùng xe chở 15 hòm bạc trắng đến đình Dĩnh Thép (Yên Thế, Bắc Giang). Ngày 25, Sét nay và Lôgiu được trả tự do. Cuộc hoà hoãn lần thứ nhất bắt đầu. Tranh thủ hoà hoãn, Hoàng Hoa Thám chỉ đạo nghĩa quân xây dựng hệ thống đồn luỹ ở Am Động, Trại Co, Bãi Mét. Đầu năm 1895, các đội nghĩa quân của Thống Ngô, Thống Luận trở lại Yên Thế hoạt động, đưa tổng số nghĩa quân lên 300 người, được trang bị vũ khí khá đầy đủ. Về phía thực dân Pháp, nhằm chia cắt và cô lập phong trào Yên Thế, ngày 10-10-1895, chúng dùng sông Cầu làm ranh giới, tách Bắc Ninh làm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, lập tỉnh lỵ mới ở Phủ Lạng Thương. Các tổng còn lại của Yên Thế sáp nhập vào Đạo quan binh 2. Cuối tháng 10-1895, thực dân Pháp điều Galiêni lên Yên Thế, lập tổng hành dinh ở Nhã Nam. Tiếp đó, chúng tiến hành xây dựng bãi pháo, đào công sự, mắc dây điện thoại, vẽ bản đồ Phồn Xương (Đại bản doanh của nghĩa quân). Ngày 21 - 11, Galiêni viết thư cho Hoàng Hoa Thám đòi lại bốn tổng và buộc nghĩa quân hạ vũ khí. Không nhận được trả lời, ngày 29-11-1895, thực dân Pháp tập trung lực lượng mở cuộc tiến công vào căn cứ Yên Thế. Dựa vào căn cứ được củng cố, xây dựng trong thời gian hoà hoãn (23-10-1894 đến 29-11-1895), nghĩa quân chiến đấu quyết liệt đẩy lùi các đợt tiến công của địch, gây cho chúng một số thiệt hại, sau đó chuyển sang các vùng Vĩnh Yên, Thái Nguyên hoạt động. Đến tháng 6 - 1897, nghĩa quân trở lại Yên Thế củng cố lực lượng, xây dựng căn cứ khởi nghĩa. Để tăng cường đàn áp nghĩa quân, toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) điều động 200 lính thuỷ đánh bộ, 800 lính khố đỏ, do trung tá Pê rô (Péroz) chỉ huy và đặt giải thưởng 30.000 Frăng để giết Hoàng Hoa Thám. Tháng 9-1897, thống sứ Bắc kỳ huy động thêm 400 lính khố xanh lên Yên Thế để hỗ trợ. Thế nhưng liên tục trong nhiều tháng, Pê rô tung quân truy kích nghĩa quân không đem lại kết quả. Trước tình hình đó, sau chuyến thị sát vùng Yên Thế (10-1897), toàn quyền Đume phải uỷ quyền cho Pê rô giải quyết bằng thương lượng với Hoàng Hoa Thám. Ngày 18-11-1897, Pê rô đến Phồn Xương gặp Hoàng Hoa Thám bàn bạc thương lượng và khế ước ngừng chiến đã được ký kết giữa hai bên vào ngày 26-11-1897. Lần này, nghĩa quân không được Pháp nhượng bộ nhiều như lần trước. Chúng đòi nghĩa quân phải nộp khí giới và chỉ được giữ lại 25 người, trang bị như các đồn điền khác. Nhưng nghĩa quân chỉ nộp lấy lệ một số vũ khí xấu, giữ lại số còn tốt cất giấu để chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Nghĩa quân được phép khai hoang, lập làng ở Phồn Xương và sau ba hoặc năm năm phải đóng thuế cho Pháp. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:10:55 pm Tranh thủ đình chiến, nghĩa quân bổ sung lực lượng, liên kết nhân tài, phát triển và củng cố tổ chức, chờ thời cơ đánh giặc Pháp. Trong thời kỳ hưu chiến lần thứ hai này, Hoàng Hoa Thám đã làm được nhiều việc hơn thời kỳ hưu chiến thứ nhất; trong đó đã gặp gỡ tại bản doanh của mình và hội đàm với các nhà yêu nước tiêu biểu lúc bấy giờ là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, đặc biệt là đã hỗ trợ cho vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội.
Thực tế, sau các cuộc hội kiến với các nhà yêu nước, Hoàng Hoa Thám không tuyên bố theo con đường tư sản dân chủ, cũng như chẳng bao giờ chính thức tuyên bố tôn phò một quan vương nào. Đó là nét đặc biệt của phong trào nông dân Yên Thế: Vũ trang yêu nước không có một xu hướng chính trị rõ rệt dẫn đường trong khi việc chiến thắng một kẻ thù dân tộc là chủ nghĩa đế quốc lại rất cần có một xu hướng chính trị mới chỉ đạo cho phong trào - một phong trào “tự mình không lãnh đạo được giai cấp mình đi tới thắng lợi” là phong trào nông dân. Chiến thuật “đàm rồi lại đánh” này của nghĩa quân Yên Thế kéo dài được hơn một chục năm (26-11-1897 - 29-1-1909). Trong hưu chiến, nghĩa quân vừa bồi dlưỡng lực lượng quân sự, vừa mở rộng giao tiếp về chính trị, đã đem lại kết quả cụ thể. Hoàng Hoa Thám tham gia Hội Duy Tân, dung nạp nghĩa sĩ Trung kỳ và ứng viện khi Trung Kỳ bạo động vũ trang. . . Bước đầu, đồn Tú Nghệ được xây dựng ở Yên Thế và đón Tùng Nham, Hoàng Hành - những nghĩa sĩ Trung Kỳ đầu tiên đến để hợp tác với nghĩa quân Yên Thế. Trong những năm 1907 - 1908, nghĩa quân không bó hẹp hoạt động trong vùng Yên Thế, mà chủ động mở rộng địa bàn về vùng đồng bằng và đô thị, vũ trang tiêu diệt địch ở nhiều nơi, trong đó nổi bật là tham gia vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội. Nghĩa quân Yên Thêm tham gia vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908). Cuộc đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội,tháng 6-1908 là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, quân sự. Đây là cuộc bạo động nổ ra ở Hà Nội - đầu não của cả thuộc địa Đông Dương, đánh ngay vào lực lượng vũ trang chủ chốt của thực dân Pháp là sĩ quan, binh lính trung đoàn pháo binh 4 và trung đoàn bộ binh 9 quân thuộc địa Pháp. Tham gia cuộc bạo động gồm đại diện của nhiều tổ chức chính trị, quân sự: một số yếu nhân của phong trào Đông Du, Duy Tân như Nguyễn Quyền, Phan Tuấn Phong..., một số nhà quân sự thuộc nghĩa quân Đề Thám; những binh lính người Việt trong quân đội Pháp được giác ngộ; một số trí thức, tiểu tư sản, tiểu thương, kế cả phụ nữ ở thủ đô Hà Nội. Còn hành động quân sự, thì mới trong kế hoạch và chỉ thực hiện được việc đầu độc chưa giết được kẻ địch nào, cuộc bạo động đã bị dập tắt. Vì vậy, trong lịch sử quân sự, đây là cuộc chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang đánh chiếm các công sở, đồn binh, đầu mồi giao thông, bưu điện, tạo thành một cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, trong đó nghĩa quân Yên Thế đóng một vai trò quan trọng. Tinh thần yêu nước của một số sĩ quan và binh lính người Việt trong quân đội Pháp đã được sự tham gia về quân sự và hưởng ứng viện binh của nghĩa quân Đề Thám khi bạo động nổ ra. Một số thủ lĩnh dưới quyền Đề Thám là Đội Hổ, Chánh Tĩnh (tức Chánh Song) đã tham gia vào việc tổ chức, cùng với các binh sĩ yêu nước trong quân đội Pháp. Hội kín được thành lập gồm phần đông là quân nhân như Đội Bình, Đội Bộ, Đội Nhân, Cai Ngà, Bốp Hiền, Bếp Xuân, Nguyễn Tác A thuộc cơ binh pháo thủ số 9 và các nhà yêu nước ngoài quân đội Pháp thuộc các nhóm chính trị - quân sự khác nhau như Đồ Chánh, Đội Hổ, Cai Tôn, Cai Xe, Lái Kinh, Lang Seo, Chánh Song, Đồ Đảm (tức Đồ Hà Nam hay Đỗ Hải). Thời gian khởi sự bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần, trước định ngày 15-11-1907, nhưng do chưa thống nhất kế hoạch tác chiến, nên phải hoãn đến 16-5-1908, cuối cùng quyết định là ngày 27-6-1908. Kế hoạch nổi dậy với chiến thuật “nội công, ngoại kích” được vạch ra cụ thể, gồm cả sự viện binh của nghĩa quân Đề Thám, nhưng mới là trên giao ước. Mấu chốt của cuộc bạo động là phải đầu độc cho được bộ phận quân đội Pháp kể trên, nhân có tiệc chiêu đãi các sĩ quan và binh lính Pháp vào hồi 8 giờ tối ngày 27-6-1908. Việc bỏ thuốc độc vào thức ăn làm một số lính Pháp bị hôn mê đã thực hiện được, nhưng tác dụng lại quá ít ỏi. Vì thuốc độc làm bằng cà độc dược nên chỉ đủ gây mê rất nhẹ. Thế cho nên, mặc dù đã có 125 lính Pháp thuộc hai cơ lính kể trên bị trúng độc nhưng thực dân Pháp đã cấp tốc cứu chửa một cách dễ dàng. Liền lúc đó, chúng tước khí giới binh linh người Việt, khám xét, tra hỏi và ra lệnh giới nghiêm, vây bắt những người bị tình nghi. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:12:40 pm Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (còn gọi là vụ Hà Thành đầu độc) hoàn toàn thất bại. Hàng trăm người tham gia bạo động bị Pháp bắt. Ngày 30-6-1908, thực dân Pháp thành lập hội đồng đề hình xử tử 13 người và 4 người khổ sai chung thân.
Lịch sử dân tộc ta ghi nhận tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của các nhà yêu nước tham gia bạo động. Đồng thời cũng rút ra những bài học lịch sử bổ ích, trong đó binh vận, hên kết các lực lượng yêu nước, chính trị kết hợp chặt chẽ với quân sự, chống phiêu lưu bạo động, nhất là vấn đề binh vận, tập hợp lực lượng và vấn đề thời cơ, điều kiện cho một cuộc bạo động vũ trang thắng lợi. Đối với nghĩa quân Yên Thế, sau hai lần hoà đàm và hưu chiến với thực dân Pháp, chỉ là tạm thời, tình thế đã dẫn đến chỗ: phải tiếp tục chiến đấu quyết liệt với quân thù. Đợt quyết chiến của nghĩa quân Yên Thế (1-1-1909 đến 2-1913) Sau khi đàn áp xong nghĩa quân ở Tam Đảo và phát hiện nghĩa quân Hoàng Hoa Thám tham gia vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (l908), toàn quyền Đông Dương Klôbuycốpski (Klobukowski) quyết định tập trung một lực lượng lớn quân đội, mở cuộc càn quét quy mô lớn vào Yên Thế hòng tiêu diệt nghĩa quân. Chiến trận diên ra ác liệt trong khoảng hai năm 1909 - 1910, trong đó nghĩa quân đã tỏ rõ tinh thần quyết chiến biểu lộ ở các hoạt động: - Vừa phát triển lực lượng vũ trang bằng cách chiêu mộ nghĩa sĩ ở nhiều nơi đến Phồn Xương, vừa cày ruộng vừa luyện tập. - Củng cố công sự phòng thủ đồn Phồn Xương bằng một chiến luỹ đá ong, dày 1m trên phủ đất và cỏ, có gai găng chằng chịt leo trên và chông nhọn cắm dày đặc mặt đất... - Bí mật triển khai một kế hoạch đánh toả đi các vùng Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phúc Yên..., phân công người phụ trách để đề phòng khi buộc phải rời cứ điểm Phồn Xương đã có các địa bàn khác hoạt động hỗ trợ. - Khẳng định một ý chí quyết chiến. Khi Pháp đưa ra yêu sách phải nộp vũ khí và biết chúng chuẩn bị tiến công, lãnh tụ nghĩa quân là Hoàng Hoa Thám còn phân vân “nên hàng hay nên đánh”, thì các thủ lĩnh dưới quyền như Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Cai Sơn, Ba Biểu, Lý Thu, bà Ba Cẩn... đều ủng hộ ý chí cuối cùng của chủ tướng là “quyết đánh, không hàng”. Cuộc chiến đã được cả hai phía dự định bắt đầu vào sau Tết âm lịch (tháng 2-1909), nhưng thực dân Pháp đã tiến công bất ngờ vào ngày 29-1-1909 nhằm giành thế chủ động. Có thể chia cuộc chiến này ra hai thời kỳ, trong đó mỗi bên đều ít nhiều thay đổi chiến thuật trong từng đợt: Lực lượng ta và địch Phía nghĩa quân, theo báo cáo của Pháp, có khoảng 200 người gồm toàn những người can đảm, trung thành với thủ lĩnh, quen biết địa hình, địa thế và giỏi chiến thuật du kích. Vũ khí gồm phần nhiều là súng kiểu 1874, nhưng dùng đạn 1886 kết hợp với vũ khí thô sơ. Cấp chỉ huy là một đội ngũ thủ lĩnh đầy tài năng và mưu lược, còn nghĩa quân có tinh thần quyết chiến với quân thù. Phía địch, có 4 trung đội rưỡi bộ binh thuộc địa với 1 đại liên; 5 trung đội khố đỏ; 1 đội lê dương với 1 đại bác 75 ly; 1 moócchiê 80 ly; 1 trung đội công binh và 1 đội kỵ binh để tiếp tế do Đại tá Ba tay (Bataille) chỉ huy với bộ phận tham mưu đứng đầu là Đại uý Tétsiê (Tessier). Ngoài ra còn các đội lính khố xanh và lính dõng tại các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên, tổng số ước khoảng 15.000 quân. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:13:47 pm Diễn biến cuộc chiến đấu
Đợt giao chiến thứ nhất (từ 29-1 đến 25-2-1909) Địch dùng chiến thuật bí mật, bất ngờ công đồn Phồn Xương, bằng cách bố trí hai cánh quân cơ động tiến công vào Phồn Xương và Am Động. Cánh quản thứ nhất, gồm trung đội thứ 8 của đạo quân thuộc địa thứ 10 có một đại liên (ngoài súng trường) và trung đội thứ sáu thuộc đạo quân Bắc Kỳ thứ ba, có một moócchiê 80 ly, cùng nửa trung đội công binh và 100 lính dõng hỗ trợ. Tất cả từ Đáp Cầu tiến lên Nhã Nam. Cánh quân thứ hai gồm trung đội thứ chín của đạo quân thứ 10 và trung đội thứ nhất của đạo quân Bắc Kỳ thứ hai có một moócchiê, cùng nửa trung đội công binh, 100 lính dõng phối hợp, từ phủ Lạng Thương và Kép tập trung lên Bố Hạ. Ngoài ra, địch còn năm toán quân khác vây quanh Yên Thế từ các phía, hy vọng chặn đường tiếp tế và rút lui của nghĩa quân. Mỗi cánh quân đều tập trung đúng hạn ngày 29-1 với dự định dùng chiến thuật “tốc chiến tốc quyết”, phá đồn vào ngày 30-1. Nhưng ý đồ đó của chúng đã bị lộ, do sáng sớm ngày 29-1, viên đại uý Nhã Nam muốn lập công đầu đem quân khố xanh đến đánh trước, bị nghĩa quân đánh cho tan tác. Sau đó, nghĩa quân chủ động rút lui theo kế hoạch đã định. Ngày 30-1 các đạo quân của Ba tay bắt đầu tiến công thì đã muộn. Chúng lập đại bản doanh ở chợ Gồ và cho quân truy kích. Nhiều trận “tao ngộ chiến” đã diễn ra. Phía địch càn quét phía ta chống càn với các trận rừng Phe (1-2), Đồng Đăng, Sơn Quả (11-2), Đồn Đến (21-2-1909). Về chiến thuật, do nắm vững địa hình, lại được nhân dân giúp đỡ che chở, nên đến đâu nghĩa quân cũng bố trí trận địa phòng ngự, như đắp công sự, đào hầm hào, dựa vào tường hào và các luỹ tre làng sẵn có nhằm vừa phòng ngự, vừa có thể tiến công khi có điều kiện. Địch bao vây càn quét, đẩy thân binh, lính khố xanh, lính dõng đi trước đỡ đạn và dùng hoả lực mạnh như moócchiê, liên thanh tiến công. . . Nghĩa quân chiến đấu rất gan dạ, mưu trì, diệt được nhiều địch. Trong trận Đồng Đăng, nghĩa quân diệt 5 tên Pháp (trong đó có 2 hạ sĩ quan người Âu), làm bị thương 11 tên có 3 sĩ quan Pháp); trận Đồn Đến, quân Pháp bị diệt 5 tên, bị thương 13 tên khác, trong đó có đại uý Tétxiê và trung uý Benâytong (Beneyton) . . . . Phía nghĩa quân ít bị tổn thất, đáng kể nhất là trận Đồng Đăng, có 10 nghĩa quân bị hy sinh. Đợt giao chiến thứ hai (từ 26-2 đến đầu tháng 5-1909) Lần này địch áp dụng chiến thuật “lập đồn bốt liên hoàn, kết hợp với tiến công truy quét”, theo mệnh lệnh của toàn quyền Pháp là tiến công đến đâu, chiếm đóng đến đó, bằng cách lập một hệ thống đồn bốt lẻ, có từ 25 đến 7t5 quân đồn trú; đồng thời ra sức tuần tiễu, sục sạo, truy tìm nghĩa quân, chặn đường tiếp tế, cô lập nghĩa quân với nhân dân. Đối phó với âm mưu thủ đoạn hiểm độc của địch, nghĩa quân đã áp dụng chiến thuật cơ động linh hoạt, phân tán ra nhiều cứ điểm, xây dựng hệ thống công sự chiến đấu, tiếp tục tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Điển hình là các trận Hàm Lợn (15-3-1909), Thanh Thuỷ (19-3-1909), Naituchâu (29-3-1909), Mỏ Thổ (16-4-1909), Đồng Mai (27-4-1909). Trong trận Hàm Lợn, 60 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Cả Tuyển, Cả Huỳnh, Ba Biểu, Lãnh Thái, Lãnh Thuận đóng ở núi Hàm Lợn (nằm ở độ cao 642m) sườn đông nam Tam Đảo đã chiến đấu dũng cảm. Tên giám binh Poalơvay (Poilevey) huy động binh lính, có một đại bác hỗ trợ tiến công. Trước hoả lực mạnh của địch, nghĩa quân cầm cự một thời gian rồi rút lui về Thanh Thuỷ. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:15:04 pm Trận này, nghĩa quân bị tổn thất lớn, Cả Tuyển (con trai cụ Tán Thuật bị bắt, sau bị chúng đem về xử tử ở quê, làng Xuân Dục, Hưng Yên), Cả Huỳnh bị thương nặng, Lãnh Thái, Lãnh Thuận và bảy nghĩa quân hy sinh... Nhưng đến trận Thanh Thuỷ (19-3-1909) quân Pháp lại bị thiệt hại: năm tên chết, ba tên bị thương. Đêm 25 rạng 26-3, nghĩa quân bị phục kích ở gần Giản Ngoại. Cả Trọng bị thương nặng, được Đề Thám và nghĩa quân dìu chạy thoát nhưng rồi cũng qua đời.
Trong các trận Naituchâu, Mỏ Thổ, Đồng Mai. . . , nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, gây cho địch một số thiệt hại, nhưng trước hoả lực mạnh của địch, nghĩa quân phải rút lui. Trước tình hình địch bao vây chặt, và luôn truy kích, một số ít trong cấp chỉ huy nghĩa quân như Lý Thu, Cả Can - anh rể Đề Thẩm và Hai Xuân cũng như Lang Côn, thầy thuốc riêng của Đề Thám không chịu nổi gian khổ đã ra hàng giặt. Các thủ lĩnh và nghĩa quân trưởng thành với Đề Thám vẫn quyết chiến với địch. Kết cục trong thời kỳ giao chiến từ ngày 26-2 đến 1-5-1909, theo báo cáo của Pháp, nghĩa quân chết 44, bị bắt 15, ra hàng 20. Quân Pháp chết 29 (trong đó có 7 Pháp); bị thương 74 (có 5 sĩ quan và 24 lính Pháp). Thời kỳ thứ hai (từ tháng 5-1909 đến tháng 2-1910). Nghĩa quân rời Yên Thế mở rộng địa bàn hoạt động ra Vĩnh Yên, Phúc Yên, Thái Nguyên, xuống nam Bắc Giang và một phần Bắc Ninh nhằm chống càn, diệt địch. Trong thời kỳ này, nghĩa quân tuy gặp nhiều khó khăn, do một số hy sinh, một số ra hàng. nhưng tinh thần quyết chiến ở các thủ lĩnh chỉ huy và nghĩa quân vẫn giữ vừng. Số trận giao chiến nhiều hơn. Số địch bị diệt (trong đó kể cả quân Pháp bị diệt) cũng nhiều hơn. Thực hiện âm mưu tiêu diệt nghĩa quân, thực dân Pháp phải huy động thêm nhiều lực lượng, trong đó động viên lực lượng Nam triều gồm một đội quân (400 lính dõng), do Lê Hoan - tổng đốc Hải Dương được phong Khâm sai đại thần chỉ huy, phối hợp với quân Pháp và các đơn vị khố xanh đánh nghĩa quân. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra quyết liệt trên địa bàn các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Thái Nguyên. Ngoài trận địa chiến (nghĩa quân chiến đấu trong chiến hào, công sự khi địch tiến công, bao vây...) còn diễn ra những trận tao ngộ chiến giữa địch và nghĩa quân khi hai bên hành quân. Không chỉ chờ địch đến mới tiêu diệt, có lúc nghĩa quân chủ động tiến công địch. Đầu tháng 7-1909, khi đóng quân ở vùng núi Sáng Sơn (Phúc Yên), lợi dụng lúc quân Pháp đang ăn cơm, nghĩa quân bất ngờ xông vào đánh giáp lá cà, cướp được nhiều khí giới, lương thực rồi rút lên núi. Tiếp đó, nghĩa quân đánh các trận: Làng Lầy (13 - 14-7), Lập Chi (20-7), Xuân Lai (22-7), Hiền Lương (25-7), Bạch Đa (13-8), Thượng Yên (16-8), Yên Lỗ (6-9), Núi Sáng (5-10). Trong các trận đánh này, có hai trận Làng Lầy và Xuân Lai liên quan đến chiến thuật kết hợp “đánh và đàm” mà Đề Thám đã vận dụng năm 1894 khi bắt tên Sét nay, địa chủ Pháp, kiêm chủ nhiệm báo Trùng lai Bắc Kỳ. Ngày 5-7-1909 nghĩa quân tổ chức bắt tên Voadanh (Voi sin) - giám thị công trường thầu khoán Lơ roa (Leroy) ở ngôi chùa Mã Chợ (Phúc Yên). Lo sợ trước tình hình nghĩa quân đẩy mạnh hoạt động, toàn quyền kiêm Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương phải họp cùng thống sứ Bắc Kỳ ra quyết định tổ chức một đạo quân gồm 4 đại đội (một nửa là âu-phi) có pháo binh, kỵ binh và lính khố xanh các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên hỗ trợ tiến đánh nghĩa quân. Ngày 10-7, thống sứ Bắc Kỳ gửi thư dụ Đề Thám đầu hàng nhưng nghĩa quân đã đưa Voadanh về cứ điểm Làng Lầy, trên sườn phía đông dãy Tam Đảo và bắn tin yêu cầu Pháp không được nổ súng tiến công, nếu không Voadanh sẽ bị xử tử. Mục đích của động thái này là để nghĩa quân tranh thủ thời gian, chuẩn bị phòng thủ cứ điểm. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:15:51 pm Chiến thuật bắt Voadanh làm con tin để hoà đàm của nghĩa quân lần này không đắc sách như lần trước, vì vị trí của Voadanh thấp hơn nhiều so với Sét nay; mặt khác, giờ đây thanh thế của nghĩa quân cũng không còn mạnh như trước nữa. Vì vậy, Pháp không phút nhượng bộ và bố trí tiến công nghĩa quân từ nhiều ngả.
Đêm 13-7, nhân mưa bão, nghĩa quân rút khỏi Làng Lầy, đem theo cả Voadanh. Một toán về Lập Chi gần thị xã Phúc Yên lập công sự chiến đấu; một toán do Đề Thám và Ba Biểu chỉ huy chuyển về đóng ở Xuân Lai, bên bờ sông Cà Lồ. Ngày 22-7, địch nhận được thư của nghĩa quân, do Voadanh viết dưới ký tên Đề Thám. Chúng lại đưa thư dụ hàng và hẹn sau 20 phút phải trả lời. Đề Thám không trả lời và ra lệnh cho nghĩa quân nổ súng khi Sốpphơlê huy động lực lượng đến bao vây gây cho chúng một số thiệt hại. Tới 18 giờ 30 khi điểm quân thấy hao hụt, Sốpphơlê hạ lệnh ngừng chiến. Đêm đó, nghĩa quân lại rút an toàn, sang đóng ở Hiền Lương. Sau một thời gian bắt giữ, vì nhân đạo và chính nghĩa, nghĩa quân không giết Voadanh và đã thả ông ta ở Kim Anh (25-7-1909). Sau hai trận có liên quan đến “đánh và đàm” kể trên, nghĩa quân còn đánh một số trận trong đó có trận Núi Sáng (5-l0-1909) thắng lợi lớn về diệt địch. Sau một số trận bao vây truy kích nghĩa quân, nhất là sau trận Thượng Yên (16-9-1909), địch rút kinh nghiệm, nghiên cứu chế tạo được chất nổ để phá các tường, luỹ và dùng các chất cháy để chiếu sáng trong đêm tối, hòng ngăn cản sự rút lui của nghĩa quân. Về phía nghĩa quân, sau các trận Hiền Lương, Bạch Đa, Thượng Yên, Yên Lỗ tuy có diệt được nhiều địch, nhưng lực lượng cũng bị tổn thất. Trận Hiền Lương, hai tướng thân cận của Đề Thám là Lãnh Sơn và Đội Hổ chỉ huy nghĩa quân chiến đấu đã anh dũng hy sinh. Trận Thượng Yên, Ba Biếu - một chỉ huy xuất sắc và trung thành của nghĩa quân bị thương chẳng may sa vào tay giặc đã bị chúng giết, bêu đầu ở Phù Lỗ và thị xã Phúc Yên. Mặc dầu vậy, tinh thần chiến đấu của nghĩa quân vẫn sáng ngời ở trận Núi Sáng (Lập Thạch, Vĩnh Phúc). Từ sau trận Hiền Lương (25-7), đại bộ phận nghĩa quân rút về phía bắc Vĩnh Yên, lập căn cứ ở Núi Sáng. Còn một bộ phận nhỏ ở lại Phúc Yên hoạt động nghi binh địch. Trong các trận Bạch Đa (13-8), Thượng Yên (16-8), Yên Lỗ (6-9-1909), nghĩa quân chỉ phòng ngự, chống càn. Đến khi địch phát hiện được đại bộ phận nghĩa quân đóng ở Núi Sáng, thì đây trở thành một trận quyết chiến. Sau một thời gian truy lùng, phát hiện nghĩa quân ở Núi Sáng, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, do thiếu tá Bôniphaxi tiến từ Phúc Yên lên bằng hai đường: đường thuỷ ngược sông Lô lên Phan Lương tiến vào Lập Thạch, đường bộ qua Quảng Cơ tiến vào Núi Sáng. Chúng rải quân ra bao vây, ngăn chặn không cho nghĩa quân có thể rút lên Tam Đảo hay sang Phú Thọ. Đội thân binh do Lê Hoan chỉ huy phối hợp đóng ở Quảng Cơ và Liên Sơn, cùng lính khố xanh và lính dõng từ Tuyên Quang đến hỗ trợ. Phía nghĩa quân, ngay sau khi chuyển đến Núi Sáng đã nhanh chóng củng cố lực lượng và đào được nhiều công sự phòng thủ khá kiên cố trong thung lũng giữa hai mỏm 305 và 616. Đường dẫn tới chỉ là hẻm nhỏ, chỗ quang chỗ rậm, cỏ lút đầu người, xung quanh là một khu rừng, có suối chặn ngang, có chỗ dốc ngược rất trơn, địch khó tới được. Địch đánh theo chiến thuật ‘tằm ăn lá”, cho thân binh chiếm dần các làng người Dao ở chung quanh Núi Sáng; tiếp đó thắt chặt vòng vây, chặn đường tiếp tế và rút lui của nghĩa quân. Còn đại quân thì tiến dần từng đoạn theo nhiều ngả. Nghĩa quân phòng ngự trong các chiến hào, chờ địch tới gần, bất ngờ từ trong các chiến hào được nhiều lùm cây che kín, bắn ra diệt một số tên đi đầu. Bị đánh bất ngờ, dịch rối loạn, lại gặp địa hình khó khăn, nên tiến rất chậm. Từ 14 giờ đến 17 giờ, mới tiến được khoảng 70 thước. Chúng dùng pháo binh bắn phá, nhưng càng tiến, pháo không có chỗ đặt vững nên bắn khó trúng mục tiêu. Đến 18 giờ, địch chỉ còn cách phòng tuyến của nghĩa quân khoảng l0m, nhưng không sao tiến lên được. Tiểu đội liên thanh của địch chết đến quá nửa. Địch tập trung lực lượng mở đợt xung phong quyết chiếm bằng được Núi Sáng, nhưng nghĩa quân cũng chỉ chịu rút khỏi phòng tuyến thứ nhất. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:17:24 pm Đêm đến, nhân lúc trời mưa to, nghĩa quân bí mật rút khỏi Núi Sáng tiến về phía Tam Đảo. Một số nghĩa quân hy sinh, trong đó có Đỗ Huỳnh, thư ký riêng của Đề Thám và viên chỉ huy Cát, rất anh dũng trong chiến thuật phòng ngự công sự. Trong trận này, nghĩa quân diệt 52 tên địch, còn nghĩa quân 7 người hy sinh.
Sau trận Núi Sáng nghĩa quân còn đánh một số trận ở vùng Tam Đảo, Thái Nguyên. Đến giữa tháng 11-1909, nghĩa quân rút về vùng Yên Thế hoạt động. Sau một thời gian chiến đấu, nhưng người thân tín và thiện chiến phần lớn bị bắt hoặc hy sinh, như Cả Trọng, Cả Tuyển, Lý Thu, Cả Huỳnh, Ba Biếu, Hai Nôm.... Cả đến người quyết chiến và thân cận nhất là bà Ba Cẩn cũng bị bắt ngày 1-12-1909; một số ra hàng như Cả Dinh, Cai Sơn.... Khi rút về Yên Thế, lực lượng nghĩa quàn còn lại rất mỏng. Thực dân Pháp coi như là đã dẹp xong cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Chúng chỉ để dành lại một lực lượng nhỏ tiếp tục truy lùng nghĩa quân. Còn đại bộ phận lực lượng rút về đồng bằng Bắc Bộ. Sau 10 tháng tập trung càn quét, truy lùng nghĩa quân, thực dân Pháp đã phải thay tướng chỉ huy ba lần và hai lần thay đổi lực lượng. Chúng thừa nhận bị chết 65 tên (27 âu), bị thương 130 tên (70 âu, 60 Việt). Phía nghĩa quân, ngoài số hy sinh, thì số bị bắt là 78 người. Ngày 24-12-1909 tất cả bị chúng đưa về giam ở Hoả Lò (Hà Nội) chờ xử án. Trở về cái nôi của nghĩa quân là vùng đất Yên Thế, Hoàng Hoa Thám, mưu trí duy trì lực lượng nhỏ, sống trong dân, được nhân dân che chở, tiếp tục hoạt động thêm ba năm (l910-1913). Đến đêm 9 rạng ngày 10-2-1913 Hoàng Hoa Thám bị hai kẻ phán bội tay chân của Lương Tam Kỳ “đưa đến giúp đỡ” sát hại. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế đến đây chấm dứt. Toàn bộ tiến trình cuộc khởi nghĩa Yên Thế cho thấy: Về thời gian khởi nghĩa, đó là lúc phong trào Cần Vương đang vùng lên đợt cuối cùng rồi lắng xuống, thất bại; cuộc khai thác thuộc địa thứ nhất của thực dân Pháp bắt đầu, việc cướp đất diễn ra tàn bạo, khiến mâu thuẫn giữa đế quốc Pháp và nông dân Việt Nam càng sâu sắc. Trong tình hình ấy ngọn lửa đấu tranh vũ trang của dân tộc không bao giờ bị gián đoạn. Về điều kiện khởi nghĩa, đã kế thừa trực tiếp được địa bàn cũng như lực lượng và kinh nghiệm chiến đấu của các đội nghĩa quân như Cai Kinh, Đề Nắm..., có được căn cứ địa, vừa thủ hiểm, vừa khai thông; tiến có thể công, thoái có thể thủ, lại vừa có thể tiếp xúc được rộng rãi với nông dân miền Bắc, nghĩa sĩ ba kỳ. Về tinh thần chiến đấu, gan dạ, anh hùng, mưu trí, thao lược kể từ buổi đầu “quyết chiến” cho đến khi bị thất thế quyên sinh. “ý chí bất khuất của cụ (tức Hoàng Hoa Thám) đã làm cho cụ có thể chiến đấu dẻo dai được với quân thù. . . Vừa chỉ huy, vừa xung phong đi đầu trong những trận đánh... Cái can đảm ấy đã được chứng thực trong nhiều trận chiến đấu khốc liệt, cùng những ngày gian khổ ghê gớm” 1. Nhìn tổng quát toàn bộ quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Yên Thế đã thực hiện đánh lâu dài, vừa đánh vừa đàm, đàm rồi lại đánh. Mặt hạn chế của nghĩa quân là nặng về phòng ngự, nhẹ về tiến công. Trong khởi nghĩa vũ trang, nguyên tắc hàng đầu phải liên tục tiến công, bởi vì, chỉ có liên tục tiến công cuộc khởi nghĩa mới mong mở rộng địa bàn, mở rộng lực lượng duy trì và tăng cường được sức mạnh để vươn lên giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn, vững chắc hơn. . . Tuy vậy, cũng phải thấy đây chỉ là một cuộc khởi nghĩa cục bộ, gần như lẻ loi trong một tương quan lực lượng quá chênh lệch, cho nên cái chính vẫn là phải thủ hiểm, chống càn. Nếu có tiến công mở rộng được địa bàn thì cũng không giữ được đất ngoài vùng thủ hiểm. Với những nét chủ yếu như trên, có thể thấy rằng, cuộc khởi nghĩa Yên Thế cho dù cuối cùng đã bị thất bại, nhưng tinh thần chiến đấu của nghĩa quân đã tô thêm truyền thống vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc, để lại những bài học quý cho đời sau. _____________________ 1. Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo: Tài liệu tham khảo cách mạng cận đại Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958, t.2, tr.60. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 28 Tháng Năm, 2009, 10:23:37 pm II- ĐẤU TRANH VŨ TRANG CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NÚI TRƯỚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT Từ những năm 80 thế kỷ XIX, với lòng yêu quê hương, đất nước nồng nàn và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm anh hùng bất khuất của dân tộc, đồng bào các dân tộc miền núi đã tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp, góp phần cùng đồng bào miền xuôi viết lên những trang sử vẻ vang trong lịch sử dân tộc. Sang đầu thế kỷ XX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp mà ở đó chúng đẩy mạnh việc cướp đất đai, lập đồn điền, khai thác hầm mỏ, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, bắt phu, bắt lính, tăng cường thuế khoá, đặc biệt là chính sách độc quyền muối, rượu, thuốc phiện đã làm cho đời sống đồng bào vùng cao đã cơ cực ngày càng điêu đứng hơn. Những chính sách thâm độc và thủ đoạn đàn áp quân sự tàn bạo, chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp, đã thúc đẩy nhân dân các dân tộc miền núi cũng như miền xuôi không còn con đường nào khác là phải cầm vũ khí diệt quân thù. Nhiều nơi “dân chúng bỏ bản mường, không chịu hàng Tây” 1. Họ “tiến hành du kích chiến hàng ngày, tiến công các đoàn xe và binh lính Pháp” 2 làm cho quân Pháp “không phải chỉ đối phó với một đoàn nghĩa quân từ 80 đến 100 tay súng, mà phải đói phó với toàn thể dân chúng nổi dậy” 3. Cũng như ở miền xuôi, hoạt động chống Pháp của đồng bào các dân tộc miền núi rất phong phú: rào bản làng, đặt chông, gài cạm bẫy, dựa vào thế hiểm trở của núi rừng, sông suối làm căn cứ khởi nghĩa ở nhiều nơi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình (1909 - 1910), người H’Mông Hà Giang (1911 - 1912) và đồng bào Thượng ở Tây Nguyên (1900 - 1914) . 1. Khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình (từ tháng 8-1909 đến tháng 1-1910) Kế tục cuộc nổi dậy của nghĩa quân Đốc Ngữ vùng sông Đà (1886 - 1892), tiếp thu kinh nghiệm của nghĩa quân Yên Thế, vào những năm 1909 - 1910, đồng bào Mường ở Hoà Bình do Nguyễn Văn Kiêm (tức Tổng Kiêm) và Nguyễn Đình Nguyên (tức Đốc Bang) lãnh đạo đã đứng lên khởi nghĩa, mở đầu là trận tiến công đánh chiếm tỉnh lỵ Hoà Bình (tháng 8-1909). Đây là trận đánh chiếm tỉnh lỵ đầu tiên (trước cả khởi nghĩa Thái Nguyên) và cũng là duy nhất trong các cuộc khởi nghĩa của các dân tộc miền núi. Nghĩa quân đã đánh chiếm được trung tâm hành chính của một tỉnh, cách Hà Nội 76 km về phía tây nam. Nguyên nhân chính là do mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với bọn thực dân cướp nước. Nhưng cũng có nguyên nhân trực tiếp là mâu thuẫn giữa bọn tay sai giặc Pháp với bà con dân tộc Mường trong việc cướp đất và uy hiếp những người chống đối. Năm 1904, Đinh Công Nhung đã ỷ thế giặc Pháp nhảy ra tranh chức quan lang xã Mông Hoá của con cháu Đinh Công Uy, nguyên là quan lang Mông Hoá (từng lãnh đạo 300 người Mường khởi nghĩa từ năm 1889 đến 1903) nên đã bị kết án 20 năm tội đồ và tước quyền thế tập. Đinh Công Nhung được Pháp đưa lên làm chánh quan lang ở Hoà Bình (tương đương với tuần phủ ở miền xuôi). Năm 1908, Nhung lại cướp không 8 mẫu ruộng của nông dân Mông Hoá. Những người lãnh đạo nông dân là Nguyễn Đình Nguyên (tức Đốc Bang) và Nguyễn Văn Kiêm (tức Tổng Kiêm) đưa đơn kiện, bị chúng đàn áp phải trốn vào rừng. Đinh Công Nhung liền bắt bố Đốc Bang đóng cũi thả trôi sông hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân. Căm thù giặc và tay sai, lại nhân lúc bọn cầm đầu vắng mặt ở tỉnh lỵ (công sứ Rênhiê (Régnier) đi dưỡng bệnh, phó sứ Patơrích (Patrich) đi thanh tra các đồn điền, chánh quan lang Đinh Công Nhung (đóng ở bên hữu ngạn sông Đà), nghĩa quân đã nổi lên đánh chiếm tỉnh lỵ Hoà Bình. _______________________ 1. Dẫn theo : Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, t.2, tr.79. 2, 3. Lịch sử quân sự xứ Đông Dương từ 1664 đến ngày nay (Histoire militaire de Indochine de 1664 à nos jours), Hà Nội, 1922, tr.350. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 28 Tháng Năm, 2009, 10:25:12 pm Tháng 4-1909, ba mươi nghĩa quân tổ chức lễ tế cờ tại núi Viên Nam, xã Mông Hoá (huyện Kỳ Sơn). Tổng Kiêm được nghĩa quân suy tôn làm chánh thống tướng, Đốc Bang làm phó thống tướng. Nghĩa quân mang tên là Quân đội Bình Tây. Quân kỳ màu đỏ có hai chữ Bình Tây.
Sau khi tế cờ, lực lượng nghĩa quân được tăng cường thêm. Đến tháng 8-1909, quân số nghĩa quân đã tăng lên 41 người. Lúc bấy giờ về chỉ huy, ngoài Đốc Bang, Tổng Kiêm còn thêm Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Văn Tích, Nguyễn Văn Bành.... Vũ khí của nghĩa quân chỉ có một súng hoả mai và tám mã tấu. Về phía địch, bọn cai trì chủ chốt gồm công sứ Rênhiê, phó sứ Patơrích, chánh quan lang Đinh Công Nhung đi vắng. Ở tỉnh lỵ chỉ còn lại hai viên án sát và đề đốc trong đó viên đề đốc là con cháu Đinh Công Uy có thể ngả theo nghĩa quân. Lực lượng vũ trang có 1 trại lính khố xanh, do tên giám binh Senhô (Chaigneau) chỉ huy. Ngay trong số lính khố xanh cũng có người (Đinh Công Nghiêm) có cảm tình với nghĩa quân, sẵn sàng làm nội ứng. Trận đánh chiếm tỉnh lỵ Hoà Bình diễn ra vào đêm mồng 2 rạng ngày 3-8-1909. Nghĩa quân do Tổng Kiêm và Đốc Bang chỉ huy, phân tán thành từng toán nhỏ. Một số đột nhập tỉnh lỵ vào buổi chiều. Một số vượt sông Đà bằng thuyền vào sẩm tối. 1 giờ sáng ngày 3-8, nghĩa quân bất ngờ tiến đánh trại lính khố xanh. Sau khi diệt tên lính gác, nghĩa quân tiến thẳng vào trại, binh lính đang ngủ chưa kịp trở tay, nghĩa quân đã xông tới, diệt tên giám binh Senhô nổi tiếng tàn ác cùng năm tên lính khố xanh, làm bị thương 16 tên lính khác. Một số tên chạy thoát, số còn lại ra hàng. Nghĩa quân phá kho súng, thu 150 súng trường kiểu 1874 và súng mútcơtông kiểu 1892 cùng 35.000 viên đạn. Tiếp đó, nghĩa quân chiếm kho bạc, nhà đoan, phá nhà tù, giải phóng 40 tù nhân. 10 giờ 30 sáng, nghĩa quân hoàn toàn làm chủ tỉnh lỵ. Đinh Công Nhung đóng ở bên kia sông, có 10 lính hộ vệ không dám sang ứng cứu. Chiến thắng Hoà Bình cổ vũ tinh thần, tạo niềm tin cho nghĩa quân củng cố, xây dựng lực lượng tiếp tục đánh địch. Sau khi chiếm tỉnh lỵ và được trang bị vũ khí do thu được của địch (khá đầy đủ) , nhưng nhận rõ thời cơ và tương quan lực lượng không lợi cho việc cố thủ và phòng ngự cứ điểm, nghĩa quân rút về tả ngạn sông Đà, sang Mông Hoá (nơi xuất phát của nghĩa quân). Trên đường hành quân, nghĩa quân tiến công hạ đồn Đồng Bến. 3 giờ chiều, một toán nghĩa quân đi tuần gặp tên phó sứ Patơrích đi thanh tra cáe đồn điền về. Cuộc xung đột giữa hai bên nổ ra. Patơrích bị thương ở cằm thoát chết chạy về tỉnh lỵ. Thắng lợi trong hai trận đánh trên tuy nhỏ, nhưng thể hiện tính liên tục tiến công, liên tục giành thắng lợi - một trong những nguyên tắc của khởi nghĩa vũ trang mà nghĩa quân đã thực hiện được. Để đối phó với cuộc khởi nghĩa, ngày 9-8-1908, thống sứ Bắc Kỳ đích thân lên thị sát Hoà Bình quyết định tập hợp bọn quan lại và binh lính đàn áp nghĩa quân. Địch điều động một đại đội lính lê dương gồm 80 tên, do viên đại uý Matiơ (Mathieu) chỉ huy từ Việt Trì lên Hoà Bình, đồng thời huy động 50 lính khố đỏ, do trung uý Lêôna phụ trách đóng dọc đường số 6, hòng ngăn cản nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động về phía Hà Đông. Nghĩa quân tổ chức phục kích đánh chặn ở Đồng Mỏ, khiến trung đội của Lêôna bị thiệt hại nặng không tiến lên được. Ngày 10-8, địch dụ hàng, nhưng Tổng Kiêm trả lời chỉ hạ khí giới khi nào lấy được đầu Đinh Công Nhung. Ngày 14-8, thực dân Pháp huy động 115 lính lê dương và 100 lính khố xanh, lính dõng, do đại uý Matiơ chỉ huy, mở cuộc càn quét vào xã Mông Hoá, nhưng nghĩa quân đã phân tán hoạt động ở các vùng Hoà Bình, Sơn Tây và lan sang cả Phú Thọ. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 04:48:43 pm Ngày 24-8, nghĩa quân chống địch càn ở xóm Giũ, gây cho chúng một số thiệt hại. Trong trận này, năm nghĩa quân đã anh dũng hy sinh. Đêm 26-8 nghĩa quân tiến công đồn Hoà Lạc (nay thuộc Thạch Thất, Sơn Tây), diệt một số binh lính địch. Thực dân Pháp huy động lực lượng từ Đồng Mông, Cổ Rùa, Yên Lễ kéo tới ứng cứu. Sau hai ngày chiến đấu, nghĩa quân đã gây cho địch một số thiệt hại, buộc chúng phải rút quân.
Đề phòng nghĩa quân bắt liên lạc được với Đề Thám đang hoạt động ở vùng Tam Đảo, địch tập trung 3.000 quân đến Mông Hoá, vây đánh nghĩa quân ở núi Viên Nam. Nhận thấy không thể rút theo đường bộ Sơn Tây, nghĩa quân phải dùng thuyền vượt sông Đà sang đóng ở Bản Thôn (thuộc huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ), với ý định vượt sông Hồng, sông Lô sang Tam Đảo hội quân với Đề Thám nhưng không thành. Ngày 30-10-1909 địch huy động ba tiểu đoàn truy kích và chặn đánh nghĩa quân ở Tu Vũ. Trước tình hình đó, nghĩa quân phải vượt sông trở lại. Lực lượng bị chia cắt làm đôi. Tổng Kiêm bị dồn về chân núi Ba Vì, Đốc Bang bị bao vây ở Mông Hoá. Để bảo toàn lực lượng, nghĩa quân phân tán ra từng nhóm, tổ chức đánh những trận phục kích nhỏ. Địch khủng bố dữ dội, khiến dân chúng khó tiếp tế. Lương thực nghĩa quân cạn dần, quân số hao tổn. Tính tới ngày 20-l-1910 nghĩa quân hy sinh 8 người, bị bắt 17 người, ra hàng 84 người. Tổng Kiêm và Đốc Bang thế cùng lực kiệt phải ra hàng. Pháp kết án Tổng Kiêm 25 năm tù, đày đi Côn Đảo, Đốc Bang 20 năm tù, đày đi Lạng Sơn. Nghĩa quân còn lại, người ra hàng, người bị bắt, đều bị địch kết án. Xét về mặt quân sự: đây là cuộc khởi nghĩa của một dân tộc miền núi ở nơi không xa Hà Nội, đã biết lợi dụng thời cơ thuận lợi, khi mà quần chúng địa phương căm thù thực dân và bọn tay sai đến cao độ và kẻ địch eo những sơ hở, lại có nội ứng, nghĩa quân đã nhanh chóng đánh chiếm tỉnh ly, giành thắng lợi lớn. Ngay sau đó, nghĩa quân chuyển từ cầm cự cứ điểm sang du kích vận động chiến chống càn, diệt địch, bằng công đồn nhỏ, phục kích lưu động chống địch càn, phù hợp với nghệ thuật du kích chiến trong tình thế lực lượng quá chênh lệch (địch đông, có vũ khí hiện đại; nghĩa quân quá ít, vũ khí thô sơ). Mặc dù thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình là mốc đánh dấu sự nối tiếp phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc miền núi đầu thế kỷ XX. 2. Khởi nghĩa của người H’mông Hà Giang (từ tháng 2-1911 đến tháng 4-1912) Vào đầu thế kỷ XX, người H’ Mông có khoảng 10 vạn, tập trung ở vùng núi cao thuộc Yên Bái, Lai Châu và lẻ tẻ ở các tỉnh Sơn La, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang và miền thượng du hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An. Thực dân Pháp giữ độc quyền cây thuốc phiện và hạn chế chuyên chở muối lên miền núi, làm cho mâu thuẫn giữa người H’Mông với thực dân Pháp ngày càng lên cao. Từ cuối thế kỷ XIX nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như cuộc nổi dậy ở Sầm ten tháng 9-1894, cuộc nổi dậy do Hà Quốc Thương cầm đầu nổ ra ở Hà Giang, Tuyên Quang năm 1896. Sang đầu thế kỷ XX, cuộc nổi dậy ở Lam Điền, Đại Bảo phối hợp với người Dao hoạt động ở vùng Cao Bằng.... Điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Đồng Quang (Hà Giang) tháng 2 – 1911. Ngày 11-2-1911, 400 người H’mông tập trung ở Ngai Ban Sui, dưới sự chỉ huy của vua H’mông Giang Quay Bảo (Chiếng - Núi- Chăng) kéo tới đại lý Pháp ở Đồng Văn đưa yêu sách: Tự do trồng cây thuốc phiện và tự do tải muối. Viên đại lý Pháp là Lêôna (Léonard) dùng thủ đoạn lừa gạt, nhưng không ngăn được cuộc đấu tranh của đồng bào. Cuộc chiến đấu đã nổ ra. Lực lượng nghĩa quân từ 400 người đi biểu tình tăng lên hàng nghìn người, chia làm nhiều toán : - Toán nghĩa quân ở Đường Thượng gồm khoảng 800-900 người. Toán nghĩa quân ở Mai lô 1 khoảng 800 người. - Toán Xin cai có 70 người. - Toán Mỏ xoi có 70 người. - Toán Miêu vạc do vua H’mông Giang Quay Bảo, trực tiếp chỉ huy, lực lượng đông nhất khoảng một nghìn người. Ban đầu, chiến thuật của nghĩa quân là “liên tục công đồn”. __________________________ 1. Theo Trần Văn Giàu trong cuốn: Lịch sử cận đại Việt Nam, Sđd, tr. 114 thì : toán Luông phin và toán Mai lô mỗi toán có khoảng 100 người. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 04:49:29 pm Ngày 27-2-1911 nghĩa quân tiến công đánh chiếm các đồn Pháp đóng ở bên kia biên giới là đồn Ma lin và đồn Hen tông, cách Đồng Văn khoảng 14 km về phía đông bắc. Tiếp đó, ngày 3-3-1911 nghĩa quân đánh chiếm đồn Tiên Phong cũng ở bên kia biên giới, đối diện với đồn Chongpoong.
Về phía địch, chúng tăng cường lực lượng, do thiếu tá Moóctưrơi (Mortreuil) chỉ huy, mở cuộc tiến công đàn áp nghĩa quân. Ngày 27-2 chúng cử đại uý Rôganh (Roguin) dẫn hai trung đội lính khố đỏ, phối hợp với toán quân do đại uý Môpanh (Mau pin) chỉ huy, mở cuộc tiến công vào Đường Thượng bằng hai cánh: một cánh do Rôganh chỉ huy tiến công ở phía bắc, một cánh do đại uý Cốt (Cost) chỉ huy, gồm một trung đội lê dương, một trung đội khố đỏ và một trung đội khố xanh tiến công từ phía nam. Trong tình thế quân địch đông, đánh không có lợi, để bảo toàn lực lượng, ngày 9-3, nghĩa quân tạm thời rút khỏi Đường Thượng tản vào rừng. Đầu tháng 4, nghĩa quân hoạt động chiếm núi Nậm La, tây bắc Đường Thượng và các ngọn núi giữa Đường Thượng và Mường Cha làm căn cứ. Trận giao chiến có tính chống càn diệt địch đã diễn ra ở Đường Thượng. Sau một thời gian chiến đấu gây cho địch một số thiệt hại, nghĩa quân rút lên núi. Tại Miêu Vạc, trung tâm của cuộc khởi nghĩa, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương là trung tướng Pennơcanh (Pennequin) đã từ Hà Nội lên quan sát tình hình, tìm cách thương lượng và dụ hàng nghĩa quân nhưng không hiệu quả. Ngày 13-3, một đội quân địch, do đại uý Cốt chỉ huy tới Đồng Văn, mở cuộc tiến công vào Miêu Vạc. Vua H’mông Giang Quay Bảo trốn thoát lên Luongco phía bắc. Còn cha mẹ và chị của vua H’mông bị địch bắt. Ngày 26-4, nghĩa quân lại xuất hiện ở gần Taping. Một cuộc giao chiến chống càn đã diễn ra, nghĩa quân diệt 15 tên địch. Địch tăng cường càn quét Xin cai, Mỏ xoi, Luông phin, Mai lô, nghĩa quân tạm rút lên núi hoặc sang bên kia biên giới, sau đó phân tán thành những nhóm nhỏ, tiếp tục hoạt động duy trì cuộc chiến đấu đến đầu năm 1912, gây cho địch một số thiệt hại. Ngày 29-1-1912 trong một trận chiến đấu diễn ra ở Ma la, con nhỏ cùng hai vợ của vua H’mông Giang Quay Bảo bị bắt. Cuộc khởi nghĩa của người H’Mông Hà Giang tạm thời lắng xuống. Nhìn chung, cuộc khởi nghĩa diễn ra dẻo dai, vừa công đồn, vừa thực hiện du kích vận động chiến, chống càn diệt địch, khi tập trung, khi phân tán, dầu khó khăn, gian khổ, quyết liệt đến mấy vẫn “quyết chiến không hàng”. Tinh thần chiến đấu và kinh nghiệm vũ trang của cuộc khởi nghĩa đã được lớp người sau kế tiếp. Điển hình là cuộc khởi nghĩa của người H’mông Lai Chảu, Sơn La, do Giàng Tả Chay lãnh đạo nổ ra năm 1918 kéo dài tới năm 1921 gây cho thực dân Pháp khó khăn, lúng túng đối phó và chịu nhiều thiệt hại. 3. Khởi nghĩa của đồng bào Thượng ở Tây Nguyên Hồi đầu thế kỷ XX, đồng bào Thượng có hơn 90 vạn người, sống tập trung trên vùng đất Tây Nguyên và lẻ tẻ ở vùng núi các tỉnh miền Trung, tiếp giáp với Tây Nguyên. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp với chủ trương phát triển mạnh các đồn điền cao su, cà phê khiến việc cướp đất, dồn dân, bắt phu, thu thuế ngày càng tăng đã đẩy cuộc sống của đồng bào Thượng vào con đường điêu đứng, cực khổ. Vì thế, nhiều cuộc đấu tranh chống Pháp và tay sai đã nổ ra ở Tây Nguyên từ cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX càng phát triển mãnh liệt hơn. Vốn sẵn tinh thần thượng võ, lại có những loại vũ khí và kỹ thuật chiến đấu như cung, nỏ, hầm chông, cạm bẫy, tên tẩm thuốc độc . . . , đồng bào đã lập được nhiều chiến công, góp phần đáng kể vào phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của cả nước. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 04:57:04 pm Hình thái tác chiến chung mà đồng bào các dân tộc nơi đây sử dụng là du kích chiến bảo vệ buôn làng và khu vực cư trú của từng bộ tộc chứ không thực hiện du kích vận động chiến trong toàn miền như của nghĩa quân Yên Thế hay nghĩa quân sông Đà.
Các hoạt động đó, nhìn chung, tương đối phong phú, linh hoạt, với những vũ khí và cách đánh như: chặn quân địch lấn chiếm đất đai, phục kích lúc địch hành quân, tập kích khi chúng trú quân hay lập đồn bốt, dụ địch vào nơi hiểm yếu để phát huy thế mạnh của vũ khí truyền thống như giáo, mác, hầm chông, cạm bẫy, tên tẩm thuốc độc. . . . Mục tiêu tác chiến phát triển theo tiến trình chống địch lấn chiếm và khai thác. Từ chống các cuộc càn quét, bình định lấn chiếm đất đai theo kiểu tằm ăn lá của địch, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã chủ động mở các cuộc tiến đánh căn cứ, đồn bốt địch mới xây dựng, tiến tới cao hơn là tìm diệt những tên thực dân, quân sự lẫn dân sự tàn ác... Về phía địch, sau khi đàn áp xong phong trào văn thân ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Phan Rang. . . , chúng bắt đầu tiến lên lấn chiếm bình định vùng Tây Nguyên. Chúng vừa mua chuộc, dụ dỗ các tù trưởng, vừa cho quân xâm lấn, chiếm tới đâu xây dựng đồn bốt tới đó, bắt dân phu làm đường, xây bốt, tăng cường thu thuế, bắt xâu. Trong việc chiếm đất, bình định vùng Tây Nguyên, giạc Pháp đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của đồng bào các dân tộc. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra khắp vùng Tây Nguyên. Sau đây là những nét tiêu biểu về tinh thần chiến đấu của đồng bào Thượng và các bộ tộc ở vùng Tây Nguyên và các tỉnh lân cận : Ở Quảng Nam, từ năm 1900 người Xơ Đăng, do Thăng Mậu lãnh đạo, đã nổi dậy ở Phương Xá. Đầu tháng 3-1904, khoảng 100 nghĩa quân người Thượng phục kích toán lính khố xanh ở bến đò sông Trình, cách đồn Mang ta vài kilômét, diệt một lính và một tên cai, thu vũ khí của chúng. Cuối tháng 6-1905 người Kà Tu ở các làng A Sơ, A Yeung, A Bác nối dậy, mở đầu là trận tiến công đồn Đại Lộc. Địch huy động 50 tên lính khố xanh, lính Thượng và dân phu, do tên đội Phêrê (Férez) chỉ huy, kéo tới đánh ba làng kể trên. Cuộc chiến đấu chống càn diễn ra ác liệt ở A Sơ. Dựa vào công sự và với giáo mác, tên nỏ, nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, bẻ gãy các đợt tiến công của địch, buộc chúng phải rút lui. Địch tập trung lực lượng đánh sang A Yeung và A Bác. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau một thời gian chiến đấu, nghĩa quân rút sang nơi khác để bao toàn lực lượng. Sau khi chiếm A Yeung, A Bác, địch tiếp tục đánh vào A Sơ. Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt, làm bị thương tên đội Phêrê và một số lính. Ở Quảng Ngãi, từ tháng 2 - 1901, nghĩa quân người Hrê đã nổi dậy chống Pháp ở huyện Mộ Đức . Đầu tháng 11 - 1901, nghĩa quân phục kích giết một phó quản khố xanh ở ngay cổng đồn. Tháng 9-1903, người Hrê do Tia Cao lãnh đạo, đứng lên khởi nghĩa, mở rộng địa bàn hoạt động ở vùng Huấn Phong, giáp giới Bình Định. Giám binh Haghê (Haguet) và tên đội Phung (Founé) tập trung quân đến đàn áp. Nghĩa quân đánh chặn địch, lập chiến công oanh liệt ở Mang Gia, Lang Mút, Mu Lang, Nước Vo.... Tháng 2-1904, phong trào nổi lên mạnh mẽ ở đèo Đá Chạc và Đá Đen. Nhiều cuộc giao chiến giữa nghĩa quân với địch diễn ra ở thung lũng sông Nước Dinh (nhánh của sông An Lão). Ở Bình Định, từ cuồl thế kỷ XIX, trong cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ, Đề Nam và Chu Sử ở Vân Canh, Đồng Xuân đã có sự phối hợp chiến đấu giữa người Kinh và người Thượng Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 04:57:56 pm Tháng 5-1900, sau khi Võ Trứ bị địch bắt, nghĩa quân người Kinh và người Thượng vẫn phối hợp chiến đấu. Đầu năm 1904, nông dân ở Châu Vào (Đak Giơpan) nổi dậy chống các tên chủ đồn điền Đơlinhông (Delignon) và Pa ri (Paris) cướp không 500 mẫu đất để lập đồn điền trồng dâu nuôi tằm. Khâm sứ Trung Kỳ phải huy động năm tên đội và một đơn vị lính khố xanh do một giám binh chỉ huy, lên An Khê trấn áp, dụ dỗ, mua chuộc nghĩa quân nhưng không thành.
Ở Phú Yên, hai bộ tộc Gia Rai và Xơ Đăng đã chiến đấu chống Pháp ngay từ cuối thế kỷ XIX. Năm 1893, nghĩa quân phục kích nhằm bắt sống tên công sứ Ôđăngđan (Odendhal) đi kinh lý nhưng không thành. Sang đầu thế kỷ XX, khi địch lập được đồn điền để khai thác, nghĩa quân đã bày mưu dụ địch vào để tiêu diệt chúng. Tháng 4-1904, Ôđăngđan giả danh đi kinh lý Plâyku và y đã ngỏ ý xin vào yết kiến tù trưởng Nước và tù trưởng Lửa. Tù trưởng Lửa Ôiát trá hàng mời địch vào dự lễ quy thuận. Tại bữa tiệc, khi công sứ Ôđăngđan và hai bồi bếp đến, nghĩa quân bất ngờ giết bằng chày giã gạo. Địch huy động 200 lính khố xanh, do giám binh Vanhxiliôni (Vincilioni) chỉ huy, càn quét làng Pa Tau Pui, căn cứ của nghĩa quân. Dựa vào công sự nghĩa quân chiến đấu dũng cảm bảo vệ Pa Tau Pui. Sau một thời gian đánh địch, các tù trưởng tạm rút nghĩa quân sang nơi khác tiếp tục hoạt động. Cuối năm 1902, nghĩa quân vùng Trê Lương Pê (Phan Rang) lập căn cứ, dùng chông, bẫy đánh giặc. Ngày 6-12-1902, giám binh Canivây (Canivey) và thiếu uý Bácbuy (Barbu) chỉ huy 20 lính Pháp, 15 nguỵ binh, có tri huyện Đinh Văn đem một con voi tải lương theo giặc tiến đánh Trê Lương Pê. Nghĩa quân đã dùng mưu dụ địch sa vào nơi bố trí sẵn rồi bất ngờ đánh chúng. Kết quả, tên giám binh Canivay, tri huyện Đinh Văn và bốn lính khố xanh bị thương vì tên nỏ, một lính khố xanh bị bắn chết. Năm 1905, sau khi đánh chiếm thị xã Plâyku, địch cố khuất phục các tộc người để ổn định việc khai thác. Nhưng tháng 1-1905, người Ba Na đã nổi dậy ở Kon Chơ Rắk. Địch phải huy động 150 lính khố xanh đến đàn áp. Chúng dụ dỗ và dùng vũ lực uy hiếp được tù trưởng Khuôn của 8 làng xung quanh Plâyku. Riêng tù trưởng Tai, người Gia Rai thủ lĩnh của 21 làng ở Lây Bring nhất định không chịu theo địch. Người Gia Rai bất hợp tác với địch, không bán lương thực eho chúng. Do không có chỗ dựa và gặp khó khăn, địch buộc phải rút quân. Nghĩa quân phục kích diệt một số binh lính địch. Đầu năm 1907 nghĩa quân đẩy mạnh hoạt động ở Đa Kri và Kon Klot. Nghĩa quân vận dụng chiến thuật phòng thủ bảo vệ cứ điểm Kon Klot. Ngày 26-1-1907, cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ diễn ra ác liệt. Dầu chỉ có tên nỏ, nghĩa quân đã mưu trí đánh lui đượm nhiều đợt xung phong của địch, diệt và làm bị thương hàng chụt tên, trong đó có tên chủ đồn điền Pa ri bị tên xuyên ngực, phải rút súng tự tử. Ở Kon Tum và Đắc Lắc, phong trào phúng Pháp diễn ra muộn (từ 1914) nhưng quyết liệt hơn. Nổi bật là trận diệt đồn Ban Pou Sra. Tên giám binh Hăng ri Mét (Henri Mai tre) chỉ huy quân Pháp càn quét vùng Kon Tum, rồi huy động người Thượng làm phu đến xây đồn Pa Pou Sra. Không chịu nổi khổ cực, một đêm nghĩa quân kéo đến vây đồn và giết toàn bộ lính Pháp. Trong khi đó, tên giám binh Hăng ri Mét huy động quân lính và dân phu xây đồn Bù Đốp (Đắc Lắc) đã bị nghĩa quân người Mơnông chống lại kịch liệt. Nghĩa quân do tù trưởng Nơ Trang Lững lãnh đạo đã đốt hết nhà cửa tạm rời buôn làng vào rừng lập chiến khu chống giặc. Pháp đem quân đánh phá mấy lần, đều bị nghĩa quân phục kích và làm thiệt hại nặng. Tháng 8-1914, địch dùng thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc. Nghĩa quân giả cách đình chiến, tổ chức buổi “lễ giao hảo”. Nhân lúc địch sơ hở, nghĩa quân bất ngờ xông vào giết chết tên giám binh Hăng ri Mét và 50 lính, thu toàn bộ vũ khí của chung. Cay cú trước tổn thất, địch dùng mảy bay đánh phá khu căn cứ. Nghĩa quân vẫn tồn tại và hoạt động một thời gian nữa. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 04:58:49 pm 4. Khởi nghĩa của người Dao ở Tây Bắc
Cùng với những cuộc khởi nghĩa của người Mường, người H’ Mông, người Thượng như đã nói ở trên, các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng... cũng đứng lên chống Pháp, trong đó nổi bật là các cuộc nổi dậy của người Dao. Ngày 19-10-1904, khoảng 100 đồng bào Dao ở các vùng Lục Yên, Bảo Hà, Đông Cuộng, do thầy mo Lý Văn Minh chỉhuy, tiến công đồn Pháp ở Trái Hút; tiếp đó đánh vào Yên Bái. Địch đàn áp và bắt đi 67 người. Ngày 20-10-1904 một đội nghĩa quân người Dao do Trương Nhị chỉ huy, tiến công đồn Lục Nam (Bắc Giang). Ngày 21-10, đồng bào Dao cơ trú dọc Phố Ràng, Nghĩa Lộ kéo đến vây đánh đồn Bảo Hà, phá nhà ga Bảo Hà (Yên Bái). Trong khi đó, một đội nghĩa quân do Triệu Tất Tiến lãnh đạo (xưng là vua Dao) làm lễ tế cờ rồi kéo xuống hoạt động ở vùng Lục Yên châu, phối hợp với người Dao đánh địch ở làng Quang Đô vùng núi Con Voi. Nhìn chung, các cuộc nổi dậy của người Dao nổ ra lẻ tẻ ở các địa phương, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, nên địch dễ dàng bao vây, đàn áp. Mặc dù vậy, hoạt động của đồng bào Dao cũng như các dân tộc thiểu số khác, đã nói lên tính toàn dân của phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của nhân dân ta đầu thế kỷ XX. Trong cuộc đấu tranh này, sự phối hợp chiến đấu giữa các dân tộc ở vùng biên giới Việt - Lào ngày càng chặt chẽ hơn. Từ năm 1901, ở Lào đã có các cuộc khởi nghĩa của Phò Cà Đuột và Ong Kẹo (tức Phumibun), khởi nghĩa ở Bôlôven (Hạ Lào). Cùng thời gian này, tại Kon Tum có cuộc nổi dậy của người Xơ Đăng, do tù trưởng Ê Đê lãnh đạo. Nghĩa quân hai nước Việt - Lào đã phối hợp tập kích đồn Si trên sông Psi, diệt tên đội Rô be (Robert). Phong trào chống Pháp lan rộng về phía tây và phía bắc biên giới Việt - Lào. Tháng 8-1901 nghĩa quân hai nước tiến công đồn Nongpôi. Đồn bị phá và tên đội Hăng ri (Hen ri) bị giết. Tiếp đó nghĩa quân phục kích địch ở Kapeu, diệt tên đội Sicơrơ (Sicre). Cuộc chiến đấu của nghĩa quân kéo dài tới năm 1902 thì bị dập tắt. Các cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, nhưng đã thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc hai nước Việt - Lào trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhìn chung, phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc miền núi đầu thế kỷ XX đã có những nét nổi bật sau đây: - Nhiều cuộc nổi dậy tuy có phối hợp với các thành phần dân tộc khác, nhưng dân tộc miền núi ở địa phương đó chiếm địa vị chủ đạo như người H’Mông ở Tây Bắc, người Mường ở Hoà Bình, người Thượng ở Tây Nguyên. . . Các cuộc nổi dậy của đồng bào ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của các trào lưu chính trị mới, nhất là của Việt Nam Quang phục hội. - Những cuộc nổi dậy đã phát triển trước, trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với những nét mới như: kết hợp binh biến với khởi nghĩa, chú ý tới ngoại giao và ngoại viện (nhờ ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội...), biết lợi dụng lúc lực lượng vũ trang của địch bị phân tán hoặc giảm bớt do phải điều đi các chiến trường Tây âu, Bắc á, mà nổi dậy ở nhiều nơi, gây cho chúng nhiều tổn thất và khó khăn, lúng túng trong việc chống đỡ. . . . Các cuộc nổi dậy đó làm đậm thêm, phong phú thêm trang sử đấu tranh vũ trang chống ách nô dịch của đế quốc thực dân của dân tộc Việt Nam trong những tháng năm vận nước gặp nhiều thử thách.... Cùng với các phong trào yêu nước khác thời kỳ này, nó vừa có tác dụng kích khởi sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức dân tộc, vừa chứng thực trong thực tế yêu cầu cấp bách phải có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn đặng dẫn dắt phong trào yêu nước của nhân dân ta, đảm bảo cho nó phát triển mạnh mẽ, đúng hướng nhằm mục tiêu giành lại độc lập tự do cho non sông đất nước Việt Nam. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 04:59:55 pm III. CÁC PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÓ XU HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN: VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI VÀ PHONG TRÀO DUY TÂN Các cuộc vận động cứu nước có xu hướng dân chủ tư sản sâu rộng nhất, có tác dụng lớn nhất trong hơn thập kỷ đầu thế kỷ XX là phong trào Đông Du (1904-1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907) và phong trào Duy Tân (1906-1908). Cả ba phong trào này đều hướng tới bạo động vũ trang, nhưng trực tiếp dẫn tới vũ trang tranh đấu phải kể đến Duy Tân hội và Việt Nam Quang phục hội của phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân với cuộc “xin xâu, chống thuế’ ở nam Trung Bộ. A. VŨ TRANG TRANH ĐẤU CỦA DUY TÂN HỘI VÀ VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 1. Thời kỳ trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất a) Chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang của phong trào Đông Du. Nhà yêu nước Phan Bội Châu, từ khi tiếp thu tư tưởng tư sản dân chủ qua Tân thơ, Tân văn từ Trung Quốc, Nhật Bản truyền về, đã coi trọng tuyên truyền, cổ động cho tư tưởng mới, tán thành các chủ trương duy tân, cải cách của Phan Châu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục (của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền...), nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là đấu tranh vũ trang. Từ thực tiễn của phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX, Phan Bội Châu cho rằng, phải xây dựng phong trào toàn quốc, phải có tổ chức mới và biện pháp đấu tranh mới là “bạo động” mới mong có thể đánh đuổi được giặc Pháp. Năm 1904 một tổ chức cách mạng mang tên Duy Tân hội, do Phan Bội Châu khởi xướng, được thành lập ở Quảng Nam. Mục đích của Hội là: chuẩn bị một kế hoạch bạo động và tổ chức lực lượng xuất dương sang Nhật Bản cầu viện. Thực hiện chủ trương trên, Phan Bội Châu tìm cách liên hệ với các văn thân sĩ phu yêu nước trong các phong trào đấu tranh chống Pháp lúc bấy giờ. Từ năm 1901, Phan Bội Châu đã liên hệ với các tướng lĩnh của phong trào Cần Vương còn sót lại như Nguyễn Hàm, tướng cũ của Nguyễn Duy Hiệu (khởi nghĩa ở Quảng Nam năm 1886); phó lãnh binh Ngô Quảng và tán tương Nguyễn Quýnh - các tướng cũ còn sót lại trong khởi nghĩa Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh); Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước (Thanh Hoá); liên lạc với Đảng Bạch Sỉ tuyên truyền và tổ chức các thổ hào, đầu mục của các dân tộc miền núi theo xu hướng vũ trang. . . Năm 1902, Phan Bội Châu ra Yên Thế nhưng bấy giờ, vì Hoàng Hoa Thám bị ốm nên chỉ gặp Cả Trọng. Dù vậy, cuộc gặp giữa Phan Bội Châu và Cả Trọng đã đi đến thống nhất: nếu Trung Kỳ khởi nghĩa, Yên Thế sẽ hưởng ứng. Năm 1903, ông đến Huế định liên kết những người có thế lực trong triều đình ủng hộ chủ trương bạo động nhưng không thành. Tiếp đó ông vào Nam Kỳ vận động nhân dân lụe tỉnh và ra miền Trung liên hệ với những nhà yêu nước thuộc giáo dân các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An giúp đỡ phối hợp bạo động. Nhưng lúc này, các lực lượng trong phong trào đấu tranh vũ trang đã bị suy yếu dần sau các cuộc đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp, còn các lực lượng mới thì chưa xuất hiện và khó tổ chức xây dựng làm nòng cốt cho bạo động ở trong nước. Vì thế, Phan Bội Châu nhận thấy cần gấp rút đưa người ra nước ngoài học tập quân sự. Theo chủ trương đó, trong tháng 8-1905 có ba học sinh được đưa sang Nhật, đến đầu năm 1907, đã hơn 100 người (40 từ Nam Kỳ, 60 từ Trung và Bắc Kỳ) và năm 1908 tăng lên gần 200 người (hơn 100 người Nam Kỳ, 50 người Trung Kỳ và hơn 40 người Bắc Kỳ). Sau khi sang Nhật, học sinh Việt Nam vào học trường Chấn, quân sự học hiệu và Đông Á Đồng Văn thư viện cùng một số trường khác. Một trong những nội dung được chú trọng trong chương trình học tập là học về quân sự. Hằng ngày, việc luyện tập quân sự được duy trì vào buổi chiều. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 05:01:48 pm Trước những ảnh hưởng và uy tín của phong trào Đông Du, thực dân Pháp một mặt tăng cường khủng bố, mặt khác thoả hiệp với Nhật trục xuất những người yêu nước Việt Nam khỏi đất Nhật. Chấp nhận với Pháp, tháng 9-1908, chính quyền Nhật trục xuất tất cả các học sinh Việt Nam khỏi Nhật Bản.
Một số ít nhờ mượn được quốc tịch Trung Quốc, nên ở lại tiếp tục học tập. Một số chuyển về Trung Quốc tìm cách vào học quân sự ở một số trường của Trung Quốc. Nhờ vậy, việc xuất dương du học về quân sự cũng đưa lại một số kết quả, tuy chưa cao nhưng cũng gây được số vốn quân sự. Một số trong số đó sau này đã thực hiện bạo động vũ trang như: Lương Lập Nham (tức Lương Ngọc Quyến), học sinh tốt nghiệp Chấn võ quân sự học hiệu ở Nhật Bản, bị trục xuất khỏi Nhật đã chuyển vào học ở trường Quân nhu học hiệu Quảng Đông, tiếp đó là trường Sỹ quan học hiệu ở Bắc Kinh. Khi về Hương Cảng ông bị mật thám Pháp bắt giải về Hà Nội, sau đưa lên giam ở nhà tù Thái Nguyên. Năm 1917, ông trở thành linh hồn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, được Phan Bội Châu đánh giá “Thật là tướng tiên phong cho quân cách mạng” 1. Đặng Tử Mẫn, sau khi bị trục xuất khỏi Nhật Bản đã về Trung Quốc kết giao với cách mạng Trung Hoa; đến Hương Cảng lập xưởng chế thuốc súng không khói và lựu đạn, rồi trở về biên giới Xiêm - Lào, dự định khởi sự chống Pháp ở Trung Kỳ, vận động cho cách mạng Việt Nam trong giới Việt kiều ở Xiêm. Hoàng Trọng Mậu vào Học viện quân sự ở Nhật Bản, chủ tâm nghiên cứu khoa học và luyện tập quân sự. Khi về Trung Quốc được chuyển vào Binh dình của Đường Chấn Hồng ở Quảng Tây. Ở đây, ông đã “thực tập việc binh, học phép xạ kích, phép trận ngũ, thao luyện quân sự”. Tiếp đó, khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông trở thành một yếu nhân, tham gia soạn thảo Quang Phục quân phương lược, đồng thời tổ chức một đội quân vài nghìn người hoạt động ở Lạng Sơn. Trần Hữu Lực, học tập quân sự ở Nhật Bản, sau học tiếp ở Trường Lục quân cán bộ học đường Quảng Tây. Tốt nghiệp, ông được phong thiếu uý và được điều về chỉ huy một đội quân ở Quảng Đông. Khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông tự nguyện sang Xiêm tổ chức toán quân Việt kiều quang phục, vận động Việt kiều sắm sửa vũ khí, chuẩn bị vũ trang bạo động ở vùng biên giới phía tây của Tổ quốc. Nguyễn Quỳnh Lâm lưu lại làm “khổ công học sinh” ở Nhật thêm một năm rưỡi. Khi về Trung Quốc chuyển vào Binh dinh Quảng Đông nghiên cứu chế tạo thuốc súng và lựu đạn; tham gia quân đội Trung Hoa, giữ chức trung đội trưởng. Khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông liên hệ với Trung Hoa quốc dân đảng mong cầu ngoại viện. Trên đây là năm trong số hàng chục du học sinh của phong trào Đông Du sang Nhật, Trung Quốc học tập về quân sự để chuẩn bị cho bạo động vũ trang trong những năm đầu thế kỷ XX. b) Chủ trương bạo động, xây dựng Việt Nam Quang phục quân. Nói đến phong trào đấu tranh vũ trang ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ thứ XX, trước hết phải kể đến các cuộc bạo động và khởi nghĩa. Hình thái đấu tranh của Việt Nam Quang phục hội là sử dụng bạo động vũ trang. Đó là sự thể hiện đúng mục tiêu và thủ đoạn mà nhà lãnh đạo Phan Bội Châu đề ra: “Đánh giặc phục thù, mà thủ đoạn là bạo động”. Đánh giặc phục thù có thể “thành công cũng có thể chỉ là “thành nhân”, nhưng thủ đoạn nói chung phải là bạo động. Năm 1912, Việt Nam Quang phục hội ra đời 2 ở Trung Quốc trong một hoàn cảnh đặc biệt: Về chủ quan, năm 1912 không phải là thời cơ đã chín muồi cho tổ chức chính trị này ra đời, mà việc ra đời là để cứu vãn tình thế thất bại do những du học sinh bị trục xuất khỏi đất Nhật, nay cần phục hồi và phát triển tổ chức để tạo nên một phong trào mới. ________________________ 1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1990, t.6, tr. 170. 2. Về ngày tháng và năm thành lập Việt Nam Quang phục hội, Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t.3, của Trần Huy Liệu - Văn Tạo nói là năm 1911, là không chính xác, đúng ra, đó phải là năm 1912. Còn ngày tháng thì phần chú thích (2) trang 211, Phan Bội Châu: Toàn tập, tập 6 ghi là 5 tháng 5 Nhâm Tý tức ngày 19-6-1912. Ngày, tháng, năm thành lập Việt Nam Quang Phục hội được xác định như thế là phù hợp với cuốn Cuộc đời cách mạng của Cường Để, có lẽ là đúng hơn cả. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 05:04:47 pm Việc chuyển từ Duy Tân hội với xu hướng tôn quân sang Việt Nam Quang phục hội với xu hướng dân chủ tư sản, phù hợp với tiến triển lịch sử, nhân lúc lực lượng còn lại của phong trào Đông Du tụ hội ở đây gần 100 người.
Lực lượng trong nước và từ Xiêm ra cũng nhân cơ hội Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công mà có những điều kiện mới. Mai Lão Bang từ Xiêm, Nguyễn Trọng Thường từ trong nước sang đã đem tới cho Phan Bội Châu một niềm lạc quan như cụ đã nói về Đại hội thành lập Việt Nam Quang phục hội: “Thượng tuần tháng 2, mượn Lưu Thị từ đường ở Sa Hà làm sở tập hội, nhóm toàn thể đảng nhân mới Đại hội nghị, người ba Kỳ thấy đủ mặt cả...” 1 Về khách quan, trong giới lãnh đạo cuộc Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (nổ ra năm 191l) có những nhà lãnh đạo có cảm tình với cách mạng Việt Nam. Thực tế đó đã được Phan Bội Châu ghi lại: “Năm Canh Tý (1912), mùa Xuân, tháng Giêng, Tôn Trung Sơn được cử làm Trung Hoa lâm thời Đại tổng thống. Bạn cũ của tôi là Hồ Hán Dân làm Quảng Đông đô đốc. Đô đốc Thượng Hải là Trần Kỳ Mỹ lại là người tương đắc với tôi lắm” 2. Cần phải khẳng định rằng, đấy đã là một điều kiện khách quan thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Nhưng Trung Hoa dân quốc lúc đó cũng đang ở thời kỳ khó khăn trong việc chuyển giao quyền lực từ Tôn Trung Sơn sang Viên Thế Khải, do vậy, sự trợ giúp nặng về danh nghĩa hơn là thực tế. Tôn chỉ của Việt Nam Quang phục hội là: “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hoà dân quốc”. Nhiệm vụ hàng đầu là bạo động vũ trang . Người chỉ huy tối cao của Hội là Phan Bội Châu, tuy giữ chức Phó Bộ trưởng (Cường Để làm Bộ trưởng) nhưng kiêm Tổng lý của Hội. Đại đa số những người nắm cương vị chủ chốt của Hội là thuộc phong trào Đông Du, được đào tạo về quân sự tại Nhật Bản, Trung Quốc, như: - Quân vụ uỷ viên là Hoàng Trọng Mậu và Lương Lập Nham (tức Lương Ngọc Quyến), hai học viên quân sự xuất sắc của phong trào Đông Du. - Kinh tế bộ uỷ viên: Mai Lão Bang, Đặng Tử Mẫn. - Giao tế uỷ viên : Lâm Đức Mậu, Đặng Bỉnh Thành... Ngoài uỷ viên bộ chấp hành, có ba uỷ viên vận động trong nước: Lâm Quảng Trung (Trung Kỳ), Đặng Xung Hồng (Bắc Kỳ), Đặng Bỉnh Thành nam Kỳ). Việt Nam Quang phục hội thành lập một đội quân gồm phần lớn đồng bào miền núi vùng biên giới Việt -Trung. Cán bộ là những người từng học ở các trường quân sự như Trường sĩ quan Bắc Kinh, Trường quân nhu Bắc Kinh, Trường lục quân cán bộ Quảng Tây. Hội tổ chức biên soạn Việt Nam Quang phục phương lược quân, gồm năm chương trong đó Phan Bội Châu viết hai chương đầu, Hoàng Trọng Mậu viết ba chương sau. Trong lịch sử quân sự Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam Quang phục phương lược quân là một trong những bản quy định đầu tiên về cách tổ chức quân đội. Nội dung tài liệu này gồm: 1. Chủ nghĩa và tôn chỉ Quang phục quân. 2. Kỷ luật. 3. Cách biên chế. 4. Chức viên và lương bổng. 5. Những kế hoạch tiến hành đã được dự tính trước. __________________________ 1, 2. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.167, tr. 211- 212. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 05:06:19 pm Về vũ khí, ngoài một số súng mua sắm, Hội lập xưởng chế bom.
Hội phát hành Việt Nam Quang phục quân dụng phiếu, được Việt kiều và những nhà cách mạng Trung Quốc hưởng ứng tiêu thụ. Số tiền thu được là khá lớn dùng để mua vũ khí cũng như chi tiêu cho các công việc chuẩn bị tiến hành bạo động vũ trang. Hội định ra Quốc kỳ nền vàng sao đỏ và Quân kỳ nền đỏ sao vàng. Để tranh thủ ngoại viện, tháng 7-1912, Hội thành lập Hội Chấn Hoa Hưng á thu hút nhiều nhà cách mạng Trung Quốc thám gia. Hội trưởng là Đặng Cảnh A, người Quảng Đông và Phan Bội Châu làm Phó hội trưởng. Ngoài ra, Hội còn lợi dụng mâu thuẫn đế quốc với đế quốc chủ yếu là mâu thuẫn giữa Đức và Pháp khi chiến tranh Pháp - Đức bùng nổ để tranh thủ viện trợ. Lãnh sự Đức ở Xiêm hứa sẽ giúp cách mạng Việt Nam số tiền thu được từ các cuộc ủng hộ và bán Quân dụng phiếu. Với số tiền thu được, Hội sử dụng mua sắm một số vũ khí trang bị cho Quang phục quân. Sau một thời gian củng cố về tổ chức và sắm sửa vũ khí, Hội quyết định tổ chức các cuộc bạo động ở trong nước: “Nếu ở ngoài có cái gì làm tiên thanh (lên tiếng trước), thì khí thế ở trong nước khắc sống lại” 1 (Lời thỉnh cầu trong nước do Nguyễn Trọng Thường chuyển ra). Theo chủ trương đó, các cuộc bạo động do Việt Nam Quang phục hội tổ chức đã nổ ra dưới nhiều hình thức như ám sát cá nhân, trù tính kế hoạch tổng bạo động trong toàn quốc trước tiên là đánh chiếm Hà Nội, tập kích một số đồn ở Phú Thọ, Nho Quan (Ninh Bình), Móng Cái, Lạng Sơn, phá ngục Lao Bảo (Quảng Trị) . . . c) Ám sát tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn Trong đấu tranh vũ trang, ám sát cá nhân là một hình thức thấp, mà vạn bất đắc dĩ các nhà cách mạng mới phải dùng đến. Với Việt Nam Quang phục hội, do yêu cầu cần gây được tiếng vang nhằm cổ vũ nhân dân trong nước, nên ám sát trở thành biện pháp chủ yếu nhằm giết những tên đầu sỏ thực dân ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Cuối năm 1912, Hội tổ chức ba nhóm theo ba đường: một nhóm từ Lạng Sơn về Bắc Kỳ, hai nhóm từ Xiêm về Trung Kỳ và Nam Kỳ. Do khó khăn dọc đường, hai nhóm về Trung Kỳ và Nam Kỳ không hoàn thành nhiệm vụ. Đối với nhóm về Bắc Kỳ, mục tiêu lúc đầu là ám sát toàn quyền An be Sa rô trong dịp phát mũ áo cho thí sinh khoa thi Hương ở Nam Định tháng 11 - 1912 nhưng không thành. Ngày 13-4- 1914, một tổ gồm Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Khắc Cần do Phạm Văn Tráng phụ trách đã tổ chức giết tuần phủ Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình. Ngày 26-4, Nguyễn Khắc Cần ném lựu đạn vào khách sạn Hà Nội, giết hai tên trung tá Pháp là Mônggrăng (Montgrand) và Sapuy (Chapuis), làm một số khác bị thương. Những vụ ám sát này đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân. Nhưng hành động ám sát cá nhân đó do không có cơ sở quần chúng làm hậu thuẫn, cho nên dù có gây được vài vụ nổ, diệt được một vài tên đầu sỏ, cũng không bù lại được những tổn thất do địch gây ra. Thực dân Pháp khủng bố nhân dân, bắt 254 người, kết án tử hình 7 người, trong đó có Nguyễn Khắc Cần trong vụ ném bom ở Hà Nội; Phạm Văn Tráng, Phạm Đệ Quý, Vũ Ngọc Thuỵ trong vụ ném bom ở Thái Bình. . . Tháng 1-1914, Phan Bội Châu cũng bị bắt và giam đến tháng 4-1916. Hoạt động của Việt Nam Quang phục hội tạm lắng xuống, đến Chiến tranh thế giới lần thứ nhất lại được khôi phục, tiếp tục hoạt động . ________________________ 1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.212. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 05:36:06 pm d) Kế hoạch đánh chiêm Hà Nội (tháng 9-1914)
Tháng 8-1914, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Thực dân Pháp tăng cường vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam phục vụ chiến tranh, đồng thời thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố nhằm duy trì thuộc địa của chúng. Đây là thời cơ dân tộc Việt Nam có thể “phục thù, cứu nước” như Phan Bội Châu hy vọng. Nhân cơ hội này, Việt Nam Quang phục hội đẩy mạnh hoạt động. Hội gây dựng được cơ sở ở Vân Nam, tiến hành vận động, tổ chức các cuộc nổi dậy ở nhiều nơi trên miền Bắc, trong đó mục tiêu đầu tiên là Hà Nội. Tháng 9-1914, một hội viên của Hội là Đỗ Chân Thiết, từng theo học Trường quân sự Nam Kinh được cử phụ trách xây dựng cơ sở tuyên truyền, tổ chức thu hút khoảng 50 Việt kiều, thành lập Chi bộ Quang phục hội ở Vân Nam (Trung Quốc). Kế hoạch của chi bộ này là sử dụng tuyến giao thông đường sắt Vân Nam - Hà Nội - Hải Phòng để bí mật liên kết với binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp đánh chiếm Hà Nội. Họ lập cơ sở chế bom ở Hà Nội và vận động binh lính, chuẩn bị bạo động. . . Theo Phan Bội Châu, người thực hiện kế hoạch này là Đậu Cơ Quang (tức Đỗ Chân Thiết) . “. . . Đường Quảng Đông, Quảng Tây đã nghẹt. Đậu Cơ Quang xin lãnh một ít lữ phí đi theo đường xe lửa Vân Nam về Bắc Kỳ. Tôi nhân đó mới đem việt vận động lính tập mà cậy ông. . . Đồng bào nước ta cả thảy đến Vân Nam, nào là lính giữ đường, nào là thông, ký, bồi, bếp gồm hơn 50 người thảy đều gia nhập Quang phục hội. . . . Ông còn được lãnh sự Đức ở Mông Tự giúp giùm cho, vận động càng có thế lực. ông tới nhờ lính tập đường xe lửa che chở cho, lén về Hà Nội ngầm kết với hai ông đội lính tập, ăn thề kín với nhau. Việc đang toan bùng ra mà đột nhiên ông bị bắt. Người can liên vào vụ án của ông là một người đội lính tập và một số người ta theo Tây ở Vân Nam, từ ông Ký Lan sắp xuống hơn 50 người đồng một ngày bị chém chết ở Hà Khẩu" 1. Kế hoạch đánh chiếm Hà Nội không thực hiện được. Chi bộ Quang phục hội ở Vân Nam và một số cơ sở gây dựng được ở Hà Nội bị tan vỡ. Kế hoạch đánh Hà Nội bị lộ là do tên Hắc Sơn phản bội gây ra. Ngày 3-9-1914, lãnh sự Pháp ở Vân Nam thông báo cho phủ thống sứ Bắc Kỳ biết Đỗ Chân Thiết (tức Đậu Cơ Quang) bị bắt ở Hà Nội. Ngày 13-9, cơ sở Quang Phục hội ở phố Sinh Từ, Hà Nội, do Nguyễn Quang Lâm đứng đầu bị khám phá. Ngày 23- 10-1914, địch bắt tám người trong một ngôi chùa gần Hà Nội với nhiều vật liệu chế bom. Nhiều người từng tham gia bạo động với Đỗ Chân Thiết, trong đó có 12 người từ Vân Nam về nước, bị bắt ở Lào Cai, Yên Bái, Hải Dương. Tổng số bị bắt là 58 người, Pháp đưa ra tòa án binh Yên Bái xét xử, tuyên án 18 người tử hình (4 người vắng mặt), số người khác bị giam cầm tù đày. Sự kiện lịch sử này để lại cho các phong trào yêu nước sau đấy những bài học lịch sử sâu sắc mà một trong số đó là bài học về hậu quả của hành động “phiêu lưu, manh động, thiếu cảnh giác”. 2. Thời kỳ trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất a) Tập kích trại lính khố xanh Phú Thọ (6 - 7-1-1915) Sau thất bại ở Vân Nam, Việt Nam Quang phục hội cử một đại biểu với bí danh là Lý Văn Thao về hoạt động ở Hà Nội, Sơn Tây, Phú Thọ nhằm bước đầu chuẩn bị cho kế hoạch nổi dậy ở Sơn Tây, Phú Thọ, Hoà Bình, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Hà Đông vào tháng 6-1915. Trở về địa phương, Lý Văn Thao cùng với Khuất Văn Bục (Tổng Chê), Nguyễn Văn Dậu, Nguyễn Văn Nguyên xây dựng cơ sở, chuẩn bị vũ khí. Tại làng Hạnh Đàn (Hà Đông) một xưởng chế tạo bom đã ra đời. Sau một thời gian làm việc khẩn trương, những người thợ ở xưởng này chế được 800 quả bom. Lý Văn Thao chủ trương chuẩn bị, sẵn sàng chờ quân của Trần Hữu Lực và Hoàng Trọng Mậu từ biên giới về tiếp ứng mới nổi dậy. ______________________ 1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr . 238. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 05:37:22 pm Nhưng do Lý văn Quyên, người từng chủ trương đánh chiếm Hà Nội từ 3 năm trước, bị bắt giam ở Thái Nguyên thúc giục phải hành động sớm để ông mau thoát ngục về chỉ huy chiến đấu. Vì thế, thời gian khởi nghĩa quyết định là đêm mồng 6 rạng ngày 7-1- 1915 (sớm hơn kế hoạch đã định năm tháng) .
Cuộc tập kích đồn địch ở Phú Thọ đã diễn ra theo kế hoạch. 150 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Hoàng Văn Khoa, tuỳ tướng của Tổng Chế và Nguyễn Văn Lộc (tức Bang Hạnh), tuỳ tướng của Nguyễn Văn Dậu, đã đánh vào sở chỉ huy và trại lính khố xanh ở tỉnh ly Phú Thọ. Nghĩa quân vượt hàng rào, dùng súng, mã tấu, gậy, đánh chiếm nhà ở của tên thanh tra Lăm be (Lambert). Sau một thời gian chiến đấu nghĩa quân diệt một tên lính, làm hai tên bị thương và vợ tên giám binh bị thương nhẹ, sau đó rút lui. Giặc Pháp tập trung lực lượng đàn áp dã man. Tổng Chế, Bang Hạnh cùng 45 nghĩa quân bị bắt. Ngày 28-4-1915 chúng tuyên án xử tử 28 người, khổ sai chung thân 10 người, 6 người khổ sai có hạn. Cùng ngày 7-1, một nhóm nghĩa quân dưới danh nghĩa Quang phục quân, do Tạ Quang Hổ và Quách Chanh chỉ huy tiến công đồn Nho Quan (Ninh Bình), gây cho địch một số thiệt hại. b) Tập kích đồn Tà Lùng (13-3-1915) Nếu kế hoạch đánh chiếm Hà Nội hay tập kích đồn khố xanh Phú Thọ đã có sự chủ động chỉ đạo của Phan Bội Châu, thì việc đánh đồn Tà Lùng ở Cao Bằng, sát biên giới Việt - Trung lại được xúc tiến trong tình thế bị động. Sau khi Phan Bội Châu bị bắt, Việt Nam Quang phục hội do Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Tử Kính phụ trách. Năm 1915, hai ông thay mặt Việt Nam Quang phục hội sang Xiêm liên hệ và nhận được khoản viện trợ 10.000 đồng tiền Xiêm của công sứ Đức Áo ở Xiêm (1 đồng Xiêm tương đương với 2,2 Frăng, tức 0,5 đồng bạc Đông Dương bấy giờ). Theo Phan Bội Châu: “Cụ Mai Sơn tức Nguyễn Thượng Hiền) đến Xiêm bắt đầu do Thân vương giới thiệu đến hai công sứ Đức, Áo. Ngày hội kiến, công sứ Đức lấy một vạn đồng bạc Xiêm trao cho Nguyễn Thượng Hiền và Đặng Tử Kính. Họ nói: “Nếu ở trong nước, quý ngài làm sao cho phát sinh ra một ảnh hưởng, miễn cho nghe thấu được đến chính phủ hai nước chúng tôi. Tất nhiên sẽ được hai chính phủ chúng tôi giúp đỡ...”. “Nhận được số bạc ấy đem về Quảng Đông, anh em đồng chí ta chia ra làm ba phần: Một phần thì con cụ Tán Nguyễn (tức Nguyễn Mạnh Hiếu, còn gọi là Hai Thạc, con cả Nguyễn Thiện Thuật) nhận về Đông Hưng, toan đánh lên Móng Cái. Một phần do cụ Mai Sơn (tức Nguyễn Thượng Hiền) nhận lấy về Long Châu, toan đánh lén vào Lạng Sơn. Một phần thì cấp cho Hoàng Trọng Mậu, toan đánh lén vào Hà Khẩu” 1. Thực hiện kế hoạch tiến về phía Lạng Sơn, các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội có hai chủ kiến: Hoàng Trọng Mậu được cử làm chỉ huy chung chủ trương đánh Đông Khê để cắt đứt liên hệ giữa Lạng Sơn với Cao Bằng. Còn Nguyễn Hải Thần chủ trương đánh Tà Lùng và nhận làm Tổng chỉ huy. Hoàng Trọng Mậu từ chối chức chỉ huy, nhưng vẫn bố trí lực lượng ứng cứu khi cần thiết. 4 giờ 30 ngày 13-3-1915, khoảng 100 nghĩa quân đeo phù hiệu Việt Nam Quang phục quân trang bị bằng bom, mã tấu, dao găm, súng lục, súng trường từ Long Châu vượt biên giới - Việt - Trung, chia làm hai mũi tập kích đồn Tà Lùng. Mũi tiên phong khoảng 30 người liệng bom vào phá nhà bọn sĩ quan. Mũi thứ hai đánh phá các cửa đồn. Mặc dù đã bắt mối liên lạc với một số lính tập làm nội ứng, nhưng Nguyễn Hải Thần đem quân tới đánh không làm đúng mật hiệu, nên không được bên trong hưởng ứng. Khoảng 5,6 quả bom ném vào chỉ làm mấy lính khố đỏ bị thương và mái nhà của bọn sĩ quan bị sập. Nghĩa quân dùng thang định vượt tường vào, nhưng bị binh linh trong đồn bắn ra dữ dội ngăn chặn. Sau 45 phút chiến đấu, một số nghĩa quân bị chết và bị thương. Nguyễn Hải Thần phải rút lực lượng ra. ________________________ 1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.251. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 05:40:10 pm Trận tập kích đồn Tà Lùng thất bại. Thực dân Pháp vừa mua chuộc bọn quân phiệt Trung Quốc hỗ trợ phá hoại phong trào cách mạng Việt Nam,vừa ra sức truy quét, bắt bớ khiến hàng chục người thuộc Việt Nam Quang phục hội sa vào tay giặt. Hoàng Trọng Mậu cùng sáu người bị Pháp xử bắn ở Ninh Bình.
c) Phá ngục Lao Bảo (tháng 9-1915) Tuy cách xa biên giới Việt - Trung, nhưng cuộc bạo động ở Lao Bảo (Quảng Trị) vẫn chịu ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội. Liêu Thanh, từng hoạt động trong phong trào Đông Du, là hội viên của Việt Nam Quang phục hội và Hồ Bá Kiên, yếu nhân của Duy Tân hội trước kia nay là những người chỉ huy cuộc nổi dậy. Khoảng 200 tù nhân ở Lao Bảo đã hưởng ứng cuộc nổi dậy. Ngày 22-9-1915, một tên cai và ba tên lính dẫn một số tù nhân, trong đó có Liêu Thanh ra làm tạp dịch. Theo kế hoạch đã vạch ra từ trước, Liêu Thanh đã ra lệnh cho phạm nhân xông vào giết tên cai và ba tên lính gác. Các tù nhân nổi dậy, phá xiềng gông, giết lính gác, cướp súng trong đồn đánh lại số lính còn kháng cự. Kết quả ba tên lính bị giết, bảy tên khác bị thương. Nghĩa quân thu 29 súng, 16 lưỡi lê và 5.000 viên đạn. Ngay sau đó, những người nổi dậy đã đốt hết bốt gác, cắt đứt dây điện thoại rồi rút lui lên vùng núi phía tây bắc. Ngày 29-9, Khâm sứ Trung Kỳ lệnh cho giám binh Pê rê (Perez) huy động 80 lính khố xanh, do thiếu uý Pagini (Pagini) chỉ huy truy kích nghĩa quân. Liêu Thanh chỉ huy nghĩa quân tiến theo đường Làng Cơn - Lao Bảo sang lập căn cứ ở vùng Bantacha. Căn cứ nằm trên địa bàn có suối bao quanh thuộc tỉnh Savanakhẹt (Lào). Nghĩa quân dựa vào địa thế hiểm trở, đào công sự chiến đấu. Địch bao vây lùng sục khắp nơi. Do bị giam giữ lâu ngày, sức khoẻ suy kiệt, lại không được tiếp tế, nên lực lượng nghĩa quân bị hao mòn chỉ còn 36 người. Mặc dù vậy, họ vẫn quyết tâm chiến đấu. Ngày 8-10, địch mở cuộc tiến công vào Bantacha. Dựa vào căn cứ, nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, diệt một tên Pháp, làm bị thương hai tên khác. Nghĩa quân hy sinh năm người. Sáng hôm sau, lợi dụng nước mưa ở suối cạn, địch xông vào làng thì nghĩa quân đã rút sang nơi khác. Ngày 15-10, nghĩa quân đánh úp một đoàn xe vận tải lương thực của địch tiếp tế cho Bantacha ở Bataloi, thu một số lương thực rồi rút về vùng A Xồi. Cuối tháng 10- 1915, trong một trận chiến đấu với địch, Liêu Thanh và Hồ Bá Kiền cùng một số nghĩa quân hy sinh, một số bị bắt, số còn lại sau đó dần tan rã. Cuộc phá ngục Lao Bảo của các tù nhân cuối cùng thất bại, nhưng nó đã một lần nữa chứng tỏ tinh thần bất khuất của các chiến sĩ từng đứng trong tổ chức Việt Nam Quang phục hội, ghi thêm vào trang sử đấu tranh vũ trang của nhân dân ta những năm đầu thế kỷ XX. B. TỪ “XIN XÂU, CHỐNG THUẾ” ĐẾN BẠO ĐỘNG VŨ TRANG CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN Ở NAM TRUNG BỘ (1908) Sang đầu thế kỷ XX, trong khi các phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của nghĩa quân Yên Thế và các dân tộc thiểu số còn mang nặng tính nông dân hay phong kiến, thì những phong trào mới xuất hiện lại có xu hướng cải cách dân chủ tư sản. Đó là phong trào Đông Du, do Phan Bội Châu đề xướng dẫn tới những hoạt động vũ trang hồi đầu thế kỷ và phong trào Duy Tân, do Phan Châu Trinh đề xướng dẫn tới cuộc đấu tranh “xin xâu, chống thuế’ mà phạm vi lan toả và ảnh hưởng của nó khá rộng lớn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 06:43:09 pm Nhà yêu nước Phan Châu Trinh chủ trương “khai thông dân trí, mở rộng dân quyền”, động viên lòng yêu nước, căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị ngoại xâm. Ông không tán thành bạo động vũ trang, coi bạo động là chết “Bất bạo động, bạo động tắc tử”, và không tán thành cầu viện ở ngoài, cho đó là điều ngu xuẩn “Bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”.
Chủ trương này của Phan Châu Trinh và phái cải cách, trên nhiều mặt, khác với chủ trương của Phan Bội Châu và phái bạo động. Tuy nhiên, đa số các sĩ phu và nhân dân nam Trung Bộ lúc bấy giờ với lòng yêu nước, căm thù giặc đã không chú tâm phân biệt giữa bạo động và cải cách mà vượt lên trên, họ tán thành và hưởng ứng bất cử một phong trào yêu nước nào có lợi cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Trên thực tế, trong quần chúng và tầng lớp sĩ phu, cải cách và bạo động đã hoà hợp với nhau, gây thành một phong trào duy tân sôi nổi. Nó vượt qua chủ trương và ý muốn ban đầu của Phan Châu Trinh. Và khi phong trào đã thâm nhập vào quần chúng đang căm phẫn vì sưu cao thuế nặng thì những lời hô hào cải cách Duy Tân của Phan Châu Trinh và các đồng chí của ông lập tức trở thành những khẩu hiệu thiết thực dẫn đến một phong trào đấu tranh mạnh mẽ: phong trào chống xâu thuế. Phong trào bắt đầu bùng nổ ở Quảng Nam - trung tâm của cuộc vận động Duy Tân. Ngày 10-3-1908, hơn 200 nông dân huyện Đại Lộc biểu tình kéo lên huyện, đấu tranh xin định lại số ngày đi “xâu’, nhưng yêu sách đó không được giải quyết, lập tức, những người biểu tình đó đã kéo thẳng lên dinh công sứ Hội An “xin xâu, chống thuế’. Tên công sứ Sáclơ (Charles) huy động binh lính xua đuổi dân chúng, chỉ cho đại biểu vào gặp. Chúng bắt giam ngay sáu đại biểu của. nông dân. Lập tức, hàng ngũ đoàn biểu tình ngày càng đông, từ 7, 8.000 người ngày 12-3-1908 tăng lên tới hơn một vạn người ngày 13-3. Họ mang theo lương thực, thay phiên nhau bao vây dinh tổng đốc Quảng Nam. Cuộc bao vây kéo dài gần một tháng, địch không giải quyết những yêu sách của nhân dân. Chúng tiến hành khủng bố và kết án khổ sai chung thân sáu đại biểu bị bắt giữ. Quần chúng biểu tình không đủ sức chống lại binh lính địch, họ chuyển sang trừng trị những tên tay sai thực dân tàn ác. Ngày 20-3, đoàn biểu tình bao vây nhà tên tổng đốc Hồ Đắc Trung. Tiếp đó, nhiều đoàn biểu tình vây các phủ Điện Bàn (22-3), Thăng Bình (26-3), Tam Kỳ (30-3). Ngày 7- 4, quần chúng biểu tình giết tên tay sai tàn ác Trần Quát ở Duy Xuyên; phá nhà giam, đốt các hình cụ, giải phóng những người bị giam cầm. Ở Quảng Ngãi, ngày 31-3-1908, hàng vạn người biểu tình nằm chật cả bốn mặt thành “xin xâu, chống thuế’. Hơn 1.500 người biểu tình kéo đến trước dinh công sứ đưa yêu sách. Họ bị lừa dối, mắc mưu, gần chục nhà lãnh đạo phong trào bị chúng bắt giam. Thực dân Pháp điều động quân từ Huế, Đà Nẵng vào đàn áp. Không đủ lực chống lại địch, nhân dân phải phân tán thành từng đoàn đi lùng bắt, trừng trị bọn tay sai của Pháp. Sáng ngày 17-7-1908, họ bắt tên Thất Tân (một lính tập được phong hàm thất phẩm), đồng thời bắt bốn lính khố xanh, hai lính dõng và một lý trưởng bảo vệ gia đình tuần vũ Nguyễn Thân; bắt vợ con tên lãnh binh Phạm Kế Năng và bốn lính khố xanh về giam tại Ba Lá; giết tên Đinh Văn Kỷ, con nuôi công sứ Đô đê . . . Ở Bình Định, ngày 12-4-1908, hàng mấy vạn người biểu tình chia thành từng lớp, lớp trong gọi là “dân cảm tử”, lớp ngoài là “dân tự cường” bao vây các phủ, huyện. Bọn tri phủ, tri huyện hoảng sợ tràn về tỉnh lỵ. Các lý dịch làm việc cho Pháp đều bị trừng trị. Phong trào đấu tranh lan ra các tỉnh Phú Yên, Thừa Thiên, thậm chí cả các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Mục tiêu đấu tranh là không đi phu, không nộp thuế cho Pháp, trừng trị bọn tay sai phản động. Thực chất, đây là cuộc bạo động của nông dân mà ở đó, việc kết hợp giữa đấu tranh chính trị và bạo động vũ trang đã vượt ra ngoài ý muốn của những người lãnh đạo phong trào. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 06:51:06 pm Thực dân Pháp huy động quân đội từ Bắc Kỳ vào hợp sức với quân ở Trung Kỳ đàn áp, bắt bớ những người lãnh đạo và hàng nghìn người tham gia biểu tình, triệt phá các cơ sở quần chúng. Phong trào “xin xâu, chống thuế”, bạo động vũ trang trong phong trào Duy Tân tạm thời lắng xuống.
Dù cuối cùng bị thất bại vì một loạt nguyên nhân và bản thân còn nhiều hạn chế nhưng dù sao, cũng như các phong trào yêu nước khác, phong trào chống thuế và sau đó dẫn đến bạo động vũ trang, thêm một lần nữa, biểu hiện khí thế mãnh liệt và lực lượng to lớn của nông dân. ở một mức độ đáng kể, nó đã làm rung chuyển chính quyền thống trị của địch ở miền Trung, hun đúc thêm chí khí đấu tranh của quần chúng, làm cho quần chúng nhận thức rõ hơn lực lượng và sức mạnh của chính mình . . . C. CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI Ở NAM TRUNG KỲ VÀ HUẾ ỦNG HỘ VUA DUY TÂN (5-1916) 1. Hoàn cảnh dẫn đến cuộc khởi nghĩa Thực dân Pháp vơ vét sức người, sức của của nhân dân Việt Nam phục vụ cho âm mưu của chúng trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã gây ra sự căm phẫn trong nhân dân, kích động mạnh mẽ tinh thần phản chiến của binh lính Việt Nam bị điều sang Tây Âu làm bia đỡ đạn, thậm chí tác động tới cả lòng yêu nước của vị vua Duy Tân trẻ tuổi và thông minh. Việt Nam Quang phục hội ở nam Trung Bộ khác với Việt Nam Quang phục hội ở các nơi khác là đã tổ chức được một “Kỳ bộ” do các nhà yêu nước giàu tâm huyết đứng đầu. Đó là Trần Cao Vân, một nhà nho tham gia chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 mới thoát khỏi nhà tù Côn Đảo về; là Thái Phiên đã hơn 20 năm hoạt động cứu nước và là cộng sự thân tín của Phan Bội Châu; là Đỗ Tuyển, Lê Nhung, Phạm Thành ‘ Chương, Phan Thanh Tài, Đỗ Tự, Lê Đình Dương, Cử Suý. Tất thảy họ đều có chung quyết tâm nổi dậy. Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở đây luôn liên lạc với bên ngoài qua đường biên giới Lào - Xiêm, đã nhận được những tín hiệu của lãnh sự Đức ở Xiêm qua cha xứ Bầu Gốc về việc Đức sẽ viện trợ cho Việt Nam chống Pháp nếu Việt Nam đạt được một số thắng lợi đầu tiên. Đồng thời, Kỳ bộ Trung Kỳ còn liên hệ được với một thiếu tá người Đức trong quân đội lê dương của Pháp ở Huế và viên thiếu tá này hứa hẹn sẽ làm nội ứng khi khởi nghĩa nổ ra. Ngoài ra, Việt Nam Quang phục hội ở Trung Quốc và Xiêm cũng đưa tin cổ vũ, thậm chí có lúc hứa sẽ có ngoại viện nếu bên trong nổi dậy. Việt Nam Quang phục hội ở nam Trung Bộ sau khi được biết phong trào của Hội ở Trung Quốc suy yếu đã không trông chờ, mà chủ động đứng lên tổ chức khởi nghĩa. Nhiều cuộc hội nghị được triệu tập bàn về việc xây dựng lực lượng, phân công các nhà lãnh đạo phụ trách từng địa phương, vận động nhân dân tham gia, xây dựng căn cứ địa, nắm tình hình địch. Sau một thời gian, Hội đã vận động được nhân dân giúp đỡ lương thực, thực phẩm, lập được một tổ chức hậu cần, sắm sửa quân trang, vũ khí (phụ nữ dệt lụa vải, thợ rèn rèn vũ khí, công nhân các mỏ vàng, mỏ than, đồn điền bỏ việc về quê ứng nghĩa...), xây dựng được căn cứ ở các nơi hiểm yếu (kiểu căn cứ địa cách mạng sau này). Tại cuộc họp tháng 9-1915, Lê Nhung báo cáo: ở Quảng Ngãi có 580 lính khố xanh, thì có tới 450 người đã ngả theo cách mạng. Ở Quảng Nam cũng vậy, khoảng 80% lính khố xanh và lính tập ngả theo ta. Về vũ khí, ngoài 580 khẩu súng do lính khố xanh sử dụng, còn 350 khẩu đang trong kho và rất nhiều đạn dược. Đồng thời qua các nguồn tin, Kỳ bộ còn biết được tình hình là lúc bấy giờ, đang diễn ra sự thuyên chuyển lực lượng của địch do chúng phải điều động lực lượng cho chiến tranh. Ở Quảng Nam, trước có 150 lính lê dương nay chỉ còn 35 tên. Ở Huế cũng vậy, riêng ở Mang Cá, trước có một sư đoàn, trong đó nhiều lính Tây, nay chỉ còn 50 tên. Trong số 2.500 lính mộ, mà Pháp chuẩn bị cho xuống tàu, ta đã vận động được khá đông làm nội ứng. . . Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 06:52:45 pm Hội nghị còn bàn việc chuẩn bị xây dựng đất nước sau thắng lợi, như định rõ chính thể theo dân chủ tư sản đại nghị, định Quốc kỳ, Quân kỳ, Quốc hiệu, Thủ đô và thảo Hịch khởi nghĩa.
Việt Nam Quang phục hội cử Cường Để làm Hội trưởng. Coi trọng thực lực bên trong, tổ chức này còn vận động vua Duy Tân đứng đầu và được nhà vua ưng thuận 1. Qua các cuộc hội nghị ở Đà Nẵng, Huế, các nhà lãnh đạo đã đi đến nhất trí tiến hành khởi nghĩa dưới danh nghĩa vua Duy Tân, lấy Huế làm địa bàn nổi dậy đầu tiên. Lực lượng khởi nghĩa là những binh lính người Việt, phần lớn là lính sắp bị đưa sang chiến trường châu Âu. 2. Diễn biến và kết quả cuộc bạo động Sau khi hoãn đi, hoãn lại nhiều lần, cuối cùng, thời điểm tiến hành cuộc khởi nghĩa được quyết định vào ngày 3-5-1916 . Theo kế hoạch vào đêm mồng 2 rạng ngày 3-5, khi vua Duy Tân cùng 4 thị vệ ra khỏi Hoàng thành xuống thuyền ra sông Phú Cam sẽ phát động khởi nghĩa. Nhưng, ngày khởi nghĩa đã bị lộ do việc bảo mật quá sơ hở. Vợ con lính tấp nập dồn về quê, khiến địch sinh nghi. Việc liên hệ giữa Thái Phiên và Trần Cao Vân với Huế đã bị địch phát hiện. Kế hoạch chuẩn bị đánh đồn Tam Kỳ và đồn Quảng Nam cũng bị lộ. Trần Quang Trữ phụ trách việc điều động 2.500 lính mộ đã phản bội đi báo tin cho khâm sứ Huế. Ở Quảng Ngãi, Huỳnh Quang Trí phụ trách tài chính của Hội bị địch bắt, tri phủ hưu trí là Nguyễn Đĩnh đem giấy tờ sổ sách của Hội nộp cho toà sứ Hội An. . . Trên cơ sở những nguồn tin nắm được, địch đã chủ động đề phòng và chuẩn bị kế hoạch đàn áp. Ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Pháp đóng chặt cửa trại lính, thu hết vũ khí của binh lính người Việt và ra lệnh giới nghiêm. Về phía nghĩa quân, theo kế hoạch, đêm 3-5, dân binh ở nhiều địa phương kéo về các tỉnh lỵ Quảng Nam, Quảng Ngãi. Chờ mãi không có lửa hiệu đốt lên, không có binh lính nội ứng nổi dậy, lực lượng này đã buộc phải tự giải tán trước sự truy bắt khám xét gắt gao của địch. Riêng ở Quảng Nam, dân quân ngoại thành do Trần Chương chỉ huy đã dùng thang trèo vào thành, đốt một nhà nhỏ bỏ trống, làm hiệu, nhưng bên trong binh lính không nổi dậy, nên cũng phải tự giải tán. Ở Tam Kỳ, quân khởi nghĩa nổi dậy diệt ba lính, chiếm huyện lỵ. Ngay sau đó, quân Pháp kéo tới đàn áp, nghĩa quân tan rã. Ở Huế không có một hành động vũ trang nào, kể cả viên thiếu tá người Đức nhận làm nội ứng cũng không hưởng ứng. Toàn bộ kế hoạch khởi nghĩa được chuẩn bị không thực hiện được. Địch thẳng tay đàn áp, lùng bắt những người yêu nước. Vua Duy Tân bị bắt ở núi Thiên Mụ (6-5-1916) và bị đưa đi đày ở đảo Rêuyniông. Lê Nhung tự vẫn. Các thủ lĩnh nghĩa quân như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phạm Thành Chương và nhiều yếu nhân khác bị Pháp bắt và xử tử ở cửa An Hoà. Cuộc khởi nghĩa ở nam Trung Kỳ và Huế đã bị thất bại. Cùng với các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa bạo động khác nổ ra trong khoảng thời gian đầu thế kỷ, sự thất bại của cuộc khởi nghĩa ở nam Trung Kỳ và Huế thêm một lần nữa chứng tỏ rằng: đường lối và tổ chức cách mạng của các sĩ phu yêu nước thông qua ảnh hưởng của tư tưởng tư sản càng ngày càng tỏ ra bất cập với thời đại. Song, mặc dù thất bại, nhưng cuộc vận động này là sự tiếp nối của phong trào yêu nước có xu hướng dân chủ tư sản, thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất của các nhà lãnh đạo, ý chí diệt thù cứu nước cao cả của nhân dân và những sáng kiến về chủ động xây dựng lực lượng, vận động vua Duy Tân, vận động binh lính tham gia. ________________________ 1. Về việc vận động vua Duy Tân có một vài tư liệu khác nhau: Theo Tài liệu tham khảo cách mạng cận đại Việt Nam, t. 3, Sđd, tr. 129 thì Trần Cao Vân nhờ một thị vệ là cháu nội Phan Thúc Duyên xin vào làm phu quét dọn trong cung để vận động vua. Qua trao đổi thơ văn, dần dần vận động có kết quả. Theo Lịch sử cận đại Việt Nam, t.3, Sđd, tr. 307 thì cuộc vận động còn có cả Phạm Hữu Khánh, lái xe của vua, người cùng Phạm Thành Chương và Đoàn Bổng chịu trách nhiệm bố trí các công việc ở Huế. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:13:15 pm IV- HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG CỦA PHONG TRÀO HỘI KÍN Ở NAM KỲ (1913-1916) Trong lúc ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ diễn ra các cuộc khởi nghĩavà binh biến, thì ở Nam Kỳ, một phong trào đấu tranh vũ trang mang tính chất quần chúng rộng rãi - phong trào hội kín hình thành và phát triển. Bề ngoài, phong trào mang màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, nhưng thực chất bên trong là phong trào yêu nước của nông dân, lấy danh nghĩa tôn giáo để tập hợp lực lượng, tổ chức và hoạt động bằng những mật danh, mật hiệu, mật tín kiểu tôn giáo. Vào những năm trước và trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cũng như trên toàn quốc, ở Nam Kỳ, phong trào yêu nước chống Pháp thiếu hẳn vai trò lãnh đạo của một giai cấp, một tầng lớp khả dĩ vạch hướng và dẫn dắt một cách đúng đắn. Giai cấp phong kiến cũng như tầng lớp sĩ phu đã dần tàn lụi sau khi Pháp hoàn thành xâm chiếm Nam Kỳ. Giai cấp tư sản dân tộc cũng như giai cấp vô sản chưa phát triển và do vậy, cũng chưa đủ khả năng lãnh đạo cách mạng. Những người nông dân Nam Bộ vốn yêu nước lại có tinh thần thượng võ, bất khuất không thể chờ đợi, đã tự mình nổi lên theo người xướng nghĩa để dẫn dắt họ tranh đấu. Trong những điều kiện đó, phong trào hội kín hình thành và phát triển mạnh mẽ ở hầu khắp lục tỉnh thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Phong trào gồm nhiều tổ chức như : Nghĩa Hoà hội, Duy Tân hội, Thị Bình hội, Phục Hưng hội, Ái quốc hội... Mỗi hội có một phương thức tổ chức và phương pháp hành động ít nhiều khác nhau, nhưng giữa các hội lại có sự đoàn kết, yêu thương, tin cậy lẫn nhau, chung lòng chung sức đánh giặc ngoại xâm vì nghĩa lớn. Trong những năm 1913-1916, hoạt động của các hội về cơ bản là tập hợp lực lượng, rèn luyện hội viên và đấu tranh có tính chất chính trị hơn là quân sự. Hình thức đấu tranh là chống việc thực dân Pháp và tay sai bắt thanh niên làm bia đỡ đạn cho chúng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa. Người nông dân Việt Nam coi việc bắt lính, bắt phu phục vụ cho chiến tranh đế quốc như một thứ “thuế’, mà sau này đồng chí Nguyễn ái Quốc gọi là “thuế máu”. 1. Cuộc bạo động với danh nghĩa Phan Xích Long (1913) 1 Tới năm 1913, trước thủ đoạn thực dân Pháp vơ vét sức người, sức của của nhân dân Việt Nam phục vụ cho cuộc chiến tranh của chúng, Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp lấy danh nghĩa Phan Xích Long (tức Phan Phát Sanh) - người được loan truyền là dòng dõi nhà trời xuống làm vua nước Nam, lập căn cứ ở núi Thất Sơn thuộc Châu Đốc để chuẩn bị bạo động. Đêm 23, rạng ngày 24-3-1913, cuộc bạo động nổ ra ở Sài Gòn. Những tín đồ nối nhau đi thành từng đoàn, mặc áo trắng không cổ, quàng khăn trắng, mang theo búa và gậy cùng các loại vũ khí thô sơ cùng một số bom và tạc đạn tự tạo. Khi đi qua một số vị trí của Pháp ở Sài Gòn, Chợ Lớn, họ định ném những quả bom và tạc đạn này vào, nhưng bom và lựu đạn không nổ. Kế hoạch đánh chiếm các công sở, rồi suy tôn Phan Phát Sanh làm vua của các tín đồ đã không thành. Những người bạo động chỉ có một số vũ khí thô sơ, chủ yếu dựa vào bùa chú, nên khi thực dân đàn áp, đã mau chóng tan rã. Phan Xích Long bị bắt và kết án tù chung thân giam ở khám lớn Sài Gòn. Tuy bị thất bại, nhưng cuộc bạo động với danh nghĩa Phan Xích Long đã là sự khởi đầu báo hiệu một phong trào hội kín mang tính quần chúng rộng rãi lan tràn ra khắp lục tỉnh. ______________________ 1. Nói “với danh nghĩa” Phan Xích Long, bởi trên thực tế, Phan Xích Long không đứng ra tổ chức, mà người tổ chức đầu tiên là hai nhà yêu nước Nguyễn Hữu Trì (tức Hai Thê) và Nguyễn Văn Hiệp. Hai ông đã dùng phương thuật mang tính thần bí tôn giáo để lôi cuốn tập hợp quần chúng đi theo, lập ra “Hội kín” từ năm 1911. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:15:07 pm 2. Hoạt động vũ trang của quần chúng chống thực dân Pháp bắt lính và cuộc phá khám lớn Sài Gòn (15-2-1916)
Hoạt động vũ trang của phong trào hội kín ở Nam Kỳ không chỉ là hai cuộc bạo động ở Sài Gòn, mà rộng hơn đấy là cả một phong trào quần chúng rộng lớn chống thực dân Pháp mộ lính ở lục tỉnh trong những năm 1915- 1916. Trong phong trào này, nghĩa quân với hàng trăm người được vũ trang. bằng gậy gộc, giáo mác, đã đánh phá các trụ sở mộ linh, phá nhà giam, giết bọn quan lại tay sai, hội tề gian ác, chống bọn cảnh sát đi lùng sục bắt thanh niên vào lính, khủng bố nhân dân. Từ tháng 1-1916, hội kín ở Mỹ Tho hoạt động Táo riết, bí mật chế bom ở Long Hưng, Dương Diễn, Thời Sơn. Ngày 20-1-1916, ở Trà Vinh đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh vũ trang chống lại việc mộ lính của giặt. Cũng trong thời gian này, ở Tây Ninh, tại các làng An Hoà, Gia Bình, Gia Lộc (huyện Trảng Bàng), nhiều hội kín đã nổi dậy cướp chính quyền, đánh phá các trụ sở xã, đột sổ sách giấy tờ văn khế, đánh bắt bọn hội tề chức dịch và bọn phú hộ gian ác đầu sỏ. Ở Bến Tre, tín đồ các hội kín tập trung theo từng làng kéo tới bao vây trụ sở mộ binh lưu động, bắt giết số cường hào tay sai đắc lực của địch, phá các nhà hội tề. Ở Biên Hoà, ngày 23-1-1916, trong khi các tín đồ hội kín kéo tới đánh phá các trụ sở mộ binh làm một số lính khố xanh canh gác bị thương và giải thoát được một số thanh niên bị bắt đi lính, thì ở tỉnh lỵ Biên Hoà đã nổ ra một cuộc bạo động của tù nhân, phá đề lao, tước vũ khí của lính gác, bắn vào toà sứ. Tại Bà Rịa, một nhóm hội kín mang theo vũ khí, đeo bùa ghi bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” đã tiến công địch ở Ô Cấp. Trong khi đó, tại các tỉnh Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ, các nhóm hội kín tiến công vào các toán lính đi bảo vệ nơi mộ lính. Đến tháng 2 - 1916, phong trào hội kín đã phát triển mạnh mẽ ở hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ mà đỉnh cao là cuộc phá khám lớn Sài Gòn. Trong cuộc phá khám này, lực lượng vũ trang bạo động là nghĩa quân hội kín các tỉnh lân cận Sài Gòn. Từ ngày 14-1-1916, nhiều toán nghĩa quân hội kín từ Gia Định, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Chợ Lớn được huy động đã kéo về Sài Gòn, tập kết ở các địa điểm theo quy định. Vũ khí thô sơ được chuyển bằng ghe thuyền tới các bến trên kênh rạch Sài Gòn. Theo kế hoạch, 3 giờ sáng ngày 15-1-1916, khoảng 300 hội viên các hội kín, mặc áo cộc đen, quần trắng, cổ quàng khăn bông hay mùi xoa, cánh tay áo đính bùa hộ mệnh, mang theo giáo mác và mã tấu, tập trung ở bến Ben gích (Belgique) rồi chia làm ba đoàn tiến theo ba đường: Mác Mahông (Mar Mahon), Nêmêdít (Némésis) và Mácsedơ (Marchaise). Đoàn theo đường Mác Mahông có khoảng 80 người tiến đến dãy nhà 36 gặp một Ô tô hỏng lốp đang chạy chậm đã chặn đánh, khiến tên Bay (Bailly), nhân viên một hãng buôn bị thương nặng. Đoàn tiếp tục tiến đến ngã tư Quảng Đông và tại đây, đã gặp một đội cảnh sát do tên Amơi (Ameil) chỉ huy. Cuộc xung đột nổ ra, Am ơi bị một nhát dao chém vào tay. Cảnh sát Nguyễn Văn Nghiêm bị trọng thương và bị nghĩa quân tước súng. Nghĩa quân hy sinh hai người. Đoàn biểu tình tiếp tục tiến đến đường Bông (Bonard) thì gặp hai đoàn trên. Ca ba đoàn kéo tới Khám lớn. Đến đại lộ étpanhư (Espagne), một toán 56 người tách khỏi đoàn tiến tới phá toà thống đốc Nam Kỳ. Do cổng sắt kiên cố, việc phá cổng không thành, họ phải quay lại. Đại bộ phận nghĩa quân kéo vào phá Khám lớn. Họ vừa đi vừa hô khẩu hiệu giết Tây. Khi đoàn biểu tình tiến đến gần Khám lớn, địch huy động một đội quân tuần tiễu, do viên quản gác phụ trách chặn lại. Cuộc xung đột nổ ra làm một lính địch bị thương. Trước khí thế đấu tranh của đoàn biểu tình, bọn địch phải rút hết vào nhà lao. Nguyễn Hữu Trì, một trong những người lãnh đạo đoàn biểu tình bị thương. Địch bố trí quân nấp sau tường và trên các chòi canh bắn ra dữ dội. Giáo mác, bùa chú đã không chống lại nổi được đạn đồng của địch. Cuộc đấu tranh vì vậy đã nhanh chóng tan rã. Một số phải chống lại binh lính địch truy kích để mọi người chạy thoát. Một số nghĩa quân bị chết, bị thương và nhiều người bị bắt. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:37:26 pm Trong khi bạo động nổ ra ở Sài Gòn, thì ở nhiều nơi trong lục tỉnh, các hội kín cũng nổi dậy. ở Tây Ninh, 49 tù nhân đã phá nhà lao, thu 31 khẩu súng của địch. ở Long Xuyên, Châu Đốc, nghĩa quân nổi dậy đánh phá một số nơi trong tỉnh. gây cho địch một số thiệt hại.
Sau sự kiện gây chấn động trên đây, thực dân Pháp thẳng tay khủng bố, đàn áp. Hàng nghìn người đã bị bắt và kết án. Tòa đề hình Sài Gòn đã xử 60 án tử hình và gần 100 án đày, tù chung thân và tù có hạn trong khoảng thời gian này. Nhìn chung lại, phong trào hội kín ở Nam Kỳ là một trong những phong trào nông dân rộng lớn nhất ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nó đã thu hút được rộng rãi các tầng lớp nhân dân lục tỉnh tham gia nhằm chĩa mũi nhọn vào bọn cướp nước đang vơ vét sức người, sức của của Việt Nam phục vụ cho cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất của chúng. Phong trào nổ ra ở ngay tại Sài Gòn, thủ phủ của miền Nam, trung tâm của lục tỉnh. Trong các cuộc vũ trang tranh đấu thời kỳ này, vụ Hà thành đầu độc và vụ phá Khám lớn Sài Gòn là hai cuộc nổ ra ngay ở trung tâm đô thị lớn nhất của cả nước. Cùng với các phong trào đấu tranh yêu nước khác trên cả nước, phong trào hội kín thêm một lần nứa chứng tỏ rằng, đấu tranh quân sự đã và vẫn luôn là hình thức đấu tranh không thể thiếu được của mọi phong trào yêu nước Việt Nam, khi Việt Nam còn dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, phát xít. V. KHỞI NGHĨA CỦA BINH LÍNH VÀ TÙ CHÍNH TRỊ Ở THÁI NGUYÊN (30-8-1917) Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhân thời cơ đế quốc chiến tranh đã có gần một chục cuộc bạo động, binh biến, khởi nghĩa nổ ra và điểm chung thường thấy ở các cuộc bạo động này là: lực 1ượng nòng cốt chủ yếu là binh lính người Việt trong quân đội đế quốc - những người nặng lòng với quê hương, đất nước. Còn về đường lối, các cuộc khởi nghĩa, bạo động hoặc ít hoặc nhiều đều chịu ảnh hưởng đường lối dân chủ tư sản của Việt Nam Quang phục hội. Nếu cuộc vận động nổi dậy ở Huế và nam Trung Kỳ (1916) có sự chuẩn bị lâu dài, nhưng khi nổ ra lại non yếu, thì cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên (1917-1918) được chuẩn bị không lâu nhưng kết quả lại có phần nổi trội. Có thể nói được rằng, đấy là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, kéo dài nhất và có tiếng vang nhất trong những năm 1914 - 1918 . Hoàn cảnh nổ ra cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên là một tỉnh có vị trí quan trọng cả về chính trị lẫn quân sự đối với miền rừng núi, trung du Bắc Kỳ. Đây là nơi đã từng nổ ra các cuộc đấu tranh chống Pháp kể từ khi thực dân Pháp chiếm đóng. Do tầm quan trọng đó cũng như trước sức đấu tranh của nhân dân nơi đây nên thực dân Pháp đã bố trí ở Thái Nguyên một lực ‘lượng quân sự khá mạnh. Lực lượng quân sự này, cho đến năm 1917, gồm có một trại lính tây gần 50 tên. Chúng còn xây dựng hệ thống nhà tù, trại giam ở thị xã Thái Nguyên, ở Bá Vân, Chợ Chu... để giam giữ tù nhân mà phần lớn là các chiến sĩ trong phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, khởi nghĩa Yên Bái sau này. . . ở một chừng mực đáng kể, quả thực, những tấm gương chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt của nghĩa quân Yên Thế đã có sức cảm hoá mạnh mẽ tinh thần dân tộc trong hàng nghỉ binh lính người Việt đóng quân ở đây. Thêm vào đó, chính sách cai trị và những thủ đoạn rất tàn bạo mà thực dân Pháp thực hiện đối với nhân dân các dân tộc, đối với tù nhân, kể cả với binh lính người Việt dưới quyền, đã khiến lòng căm thù ngày càng dâng cao trong nhân dân, tù nhân và một bộ phận lớn binh lính Việt; sự liên hệ, nối kết giữa tù chính trị với binh lính yêu nước canh giữ nhà tù, trại giam dần dần được thiết lập và cùng với quá trình đó, một kế hoạch bạo động được bí mật hình thành. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:40:07 pm Lãnh đạo cuộc bạo động là đội trưởng lính khố xanh Trình Văn Cấn (tức Đội Cấn) 1 đang đóng ở Thái Nguyên. Xuất thân từ một gia đình nông dân vào cuối giai đoạn Cần Vương, nên từ thủa ấu thơ, ông đã sống giữa cảnh chém giết, cướp bóc của thực dân Pháp khi chúng tiến hành bình định quân sự.
Bởi thế, dư âm của phong trào Cần Vương và cảnh sống cơ cực, bị đoạ đày của người dân mất nước đã sớm gieo vào lòng người thanh niên nông dân ấy ý định giết giặc cứu nước. Tiếp đó, ông vào lính khố xanh với hy vọng chờ thời cơ khả dĩ để thực hiện ý định của mình. Chính những tháng năm ấy, ông đã tận mắt chứng kiến bao cảnh đối xừ khinh miệt của sĩ quan Pháp đối với binh lính người Việt. Trong thời gian bị buộc phải đi đàn áp khởi nghĩa Yên Thế, ông rất khâm phục tinh thần yêu nước của Đề Thám và các nghĩa quân. Năm 1917, khi đóng quân ở Thái Nguyên, tiếp xúc với tù chính trị, trong đó có Lương Ngọc Quyến 2 - một yếu nhân Việt Nam Quang phục hội. Đội Cấn biết tới đường lối đấu tranh của tổ chức này và tự nguyện đứng vào hàng ngũ Việt Nam Quang phục hội. Cùng với Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến là linh hồn của cuộc bạo động. Hai ông và các đồng chí của mình như Đội Giá, Đội Xuyên, Đội Nam... đã bàn bạc và quyết định tổ chức cuộc nổi dậy chiếm tỉnh Thái Nguyên làm căn cứ. Lực lượng nổi dậy là số binh lính người Việt đóng ở tỉnh lỵ Thái Nguyên và ở một số đồn nhỏ xung quanh mà Đội Cấn cùng các đồng chí của mình đã vận động được. Ngoài ra, tham gia cuộc nổi dậy còn có các tù nhân do Lương Ngọc Quyến tuyên truyền, giác ngộ . . . Mặc dù kế hoạch khởi nghĩa và ngày giờ khởi sự được những người lãnh đạo và nghĩa quân hết sức giữ bí mật nhưng rồi địch vẫn lờ mờ nhận biết được ý định của nghĩa quân. Để chống lại các cuộc nổi dậy của binh lính người Việt trong quân đội Pháp, chúng luôn thuyên chuyển họ hòng làm đảo lộn hàng ngũ, phá vỡ các tổ chức “nổi loạn” mà chúng đang ráo riết đề phòng. Vì thế, khởi nghĩa đã phải hoãn đi hoãn lại nhiều lần. Tới tháng 8-1917, được tin sắp có cuộc thuyên chuyển, kể cả một số cai đội khố xanh, Đội Cấn quyết định khởi nghĩa vào đêm 30 rạng ngày 31 - 8- 1917. Diễn biến cuộc khởi nghĩa Đêm 30-8-1917, ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa 3 hạ lệnh hành động. Theo kế hoạch và nhiệm vụ được phân công, khoảng 10 giờ đêm ngày 30-8, đội Trường đi hạ thủ viên giám binh Nhen và Ba Chén giết tên phó quản Lạp. Đáng lẽ phải dùng mưu hạ sát bằng dao, nhưng bị Nhen chống cự, đội Trường buộc phải nổ súng khiến không giữ được bí mật như kế hoạch đã định. Trong khi bộ phận nghĩa quân đang trừng trị hai tên chỉ huy đầu sỏ, thì đội Giá (tức Dương Văn Giá) đã cùng một bộ phận nghĩa quân khác sang phá đề lao, hai vợ chồng tên giám ngục Loét (Loe) chống cự đều bi giết, hơn 200 tù nhân được giải phóng. Quân khởi nghĩa đã giành thắng lợi bước đầu, nhưng phát súng giết tên Nhen làm địch cảnh giác thổi kèn báo động, tập hợp quân lính, khiến kế hoạch khởi nghĩa phải thay đổi. Đội Cấn hạ lệnh thổi kèn tập hợp nghĩa quân, gồm hơn 300 người tuyên bố khởi nghĩa. Nghĩa quân toả ra chiếm dinh công sứ, toà án, kho vũ khí, nhà đoan, sở rượu . . . . Riêng nhà bưu điện và kho bạc, nghĩa quân tiến đến quá muộn (1 giờ 30 phút đêm 30 rạng 31-8-1917) tên Bơ xét (Besait) và tên cai Rô xét (Rochette) đã điện báo về Hà Nội cầu cứu. Tại kho bạc, tên chủ sự chạy trốn sang trại lính Tây. Nghĩa quân thu được 71.000 đồng bạc Đông Dương. _________________________ 1. Tên thực Của ông là Trịnh Văn Đạt, quê làng Yên Nhiên, tổng Thượng Chung, phủ lĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc Vĩnh Phúc) . 2. Tức Lương Lập Nham, con trai của Lương Văn Can - người đứng đầu Đông Kinh nghĩa thục. Ông là Uỷ viên quân sự của Việt Nam Quang phục hội, bị thực dân Pháp bắt và giam giữ ở nhà tù Thái Nguyên. 3. Gồm Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến, Đội Giá, Đội Xuyên, Đội Nam, Đội 935... Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:41:18 pm Quân kỳ năm sao với bốn chữ: Nam binh phục quốc được treo cao ở cổng thành Thái Nguyên. Quốc hiệu Đại hùng được công bố. Tất cả 311 nghĩa quân, gồm 131 lính khố xanh và 180 tù phạm tự nguyện chiến đấu dưới cờ nghĩa.
Tuyên ngôn Thái Nguyên độc lập do Lương Ngọc Quyến khởi thảo và được ban lãnh đạo khởi nghĩa phê duyệt, mở đầu: Đại hùng Đế quốc năm thứ nhất, vừa thiết tha, vừa hùng tráng đã được công bố trước nhân dân thị xã Thái Nguyên. Tuyên ngôn nhấn mạnh: “... Kẻ thù của chúng ta hiện đang bị đánh chiếm ở Âu châu. Chúng bắt dân ta sang làm bức thành đỡ đạn, vơ vét tài sản xứ ta để tiếp tế cho quân đội chúng. Đồng bào ta bị bắt sang đó từ mấy năm nay, người sống thì phải nai lưng kiệt sức làm lụng, người chết cũng chẳng được chôn cất tử tế. Con côi, vợ goá ngồi nhà kêu van, ông già bà lão khóc lóc ngoài đường. Tình cảnh nước nhà đau khổ không thể tưởng tượng được. Những nỗi đau đớn của dân ta kể sao cho xiết, kiếp sống của dân ta điêu đứng đến nông nỗi này thật không tài nào cam chịu được nửa. Nước ta đã thành ra nghèo nàn, kiệt quệ khác nào sợi chỉ mành sắp đứt, đồng bào ta như kẻ ốm liệt giường đang hấp hối. . . Vậy chúng tôi kêu gọi những người có tinh thần tự do, độc lập tập hợp thành đội ngũ Quang phục quân để khôi phục lại giang sơn, mở đầu từ tỉnh lỵ Thái Nguyên này. Lá cờ năm ngôi sao đã phấp phới trên kỳ đài, chúng tôi đã tuyên bố Thái Nguyên độc lập” 1. Kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, sau cuộc khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình, do Tổng Kiêm lãnh đạo chiếm được tỉnh lỵ Hoà Bình trong một đêm, đến khởi nghĩa Thái Nguyên mới là cuộc nổi dậy chiếm được tỉnh lỵ lâu dài hơn cả. Nhưng tiếp tục phát huy thắng lợi như thế nào thì tất cả đều gặp khó khăn như nhau. Với khởi nghĩa Thái Nguyên, rạng sáng 31-8-1917, ban lãnh đạo khởi nghĩa đã họp hội nghị quân sự bàn kế hoạch đối phó với địch. Tại hội nghị có những chủ trương khác nhau được nêu ra bàn luận. Ba Quốc, Ba Lâm (từng chiến đấu dưới cờ nghĩa quân Đề Thám), Nguyễn Gia Cầu (tức Tú Hồi Xuân bị bắt trong cuộc bạo động ở Huế và nam Trung Bộ năm 1916) nêu ra chủ trương, theo đó, nên nhân cơ hội này mở rộng địa bàn hoạt động ra các tỉnh Phúc Yên, Bắc Giang, Bắc Cạn nhằm gây thanh thế, tăng cường lực lượng, hỗ trợ Thái Nguyên không bị địch tập trung tiêu diệt. Còn Trịnh Văn Cấn và một số khác lại đã cho rằng, nên cố thủ Thái Nguyên làm gốc, tranh thủ luyện tập quân sĩ, củng cố công sự chống giặc đồng thời liên hệ với Lương Tam Kỳ ở Chợ Chu, Quách Cự ở Hoà Bình và Việt Nam Quang phục hội từ Trung Quốc hỗ trợ chiến đấu. Riêng Lương Ngọc Quyến đề nghị nên rút toàn bộ lực lượng về phía biên giới Quảng Tây lập căn cứ, sắm sửa vũ khí, mộ binh lính, chiêu tập nhân tài ở hải ngoại để phát triển phong trào. Cuối cùng, Đội Cấn quyết định hành động theo chủ trương thứ hai do ông đề xướng và kêu gọi nhân dân tham gia khởi nghĩa. Ngày 31-8, nhiều thanh niên ngoại thị, công nhân mỏ than Phấn Mễ và một số công chức xin gia nhập nghĩa quân, đưa quân số lên tới 300 người tình nguyện tham gia quân khởi nghĩa, trong đó có hơn 50 người là công nhân mỏ than Phấn Mễ, mỏ thiếc Lang Hít. 625 nghĩa quân (kể cả 215 tù nhân được giải phóng tham gia) với số vũ khí thu được ở trại lính khố xanh và số thu thêm 167 súng trường, một súng lục, 16 thanh kiếm, 62.175 viên đạn và vũ khí tự mình trang bị quyết tâm khởi nghĩa. Trưa ngày 31-8, nghĩa quân làm lễ tế cờ mừng thắng lợi, sau đó theo lệnh tổng chỉ huy, lực lượng nghĩa quân được phân chia đi trấn giữ ở tám phòng tuyến. Năm phòng tuyến ngoài tỉnh lỵ, do Lương Ngọc Quyến làm chỉ huy trưởng, ba phòng tuyến trong tỉnh lỵ do “chủ tướng” Trịnh Văn Cấn làm chỉ huy trưởng. Về phía địch, ngay sau khi nhận được điện cấp báo, quyền thống sứ Bắc Kỳ Lơ Galăng (Le Gallan) lập tức ra lệnh báo động khẩn cấp cho các đồn bốt xung quanh tỉnh lỵ Thái Nguyên. Đồng thời, chúng điện gọi công sứ Đác từ Đồ Sơn về để cùng với tướng Misác (Michard), Tư lệnh tối cao quân đội Bắc Kỳ lên Thái Nguyên. Sau khi bàn bạc, chúng quyết định triển khai kế hoạch bao vây tiêu diệt nghĩa quân: _______________________ 1. Dẫn theo Lịch sử cận đại Việt Nam, Sđd, t.3, tr. 319. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:41:54 pm - Công sứ Đác chốt tại Thái Nguyên. Lực lượng địch tại đây gồm 40 lính khố xanh mới được huy động từ Hà Nội và Bắc Giang lên. Chúng đóng tại nhà tên chủ đồn điền Gia Sàng, cách hầm hào nghĩa quân khoảng 500m trên đoạn đường Hà Nội đi Thái Nguyên.
- Lực lượng tiếp viện gồm 15 xe cơ giới được huy động khẩn cấp từ Bắc Ninh lên. Tiếp đó, địch chuyển phân đội súng máy tới Gia Sàng cùng một trung đội lính Âu và phân đội sơn pháo 80 xuất phát từ Đáp Cầu. 6 giờ sáng ngày 2-9-1917, một trung đội bộ binh địch do đại uý Pâyru (Payroux) chỉ huy, có pháo binh yểm trợ tiến công vào quả đồi bên trái cửa ngõ Thái Nguyên, trên đường Thái Nguyên - Hà Nội. Nghĩa quân do Cai Mánh chỉ huy chiến đấu quyết liệt, đẩy lùi các cuộc tiến công của địch, buộc chúng phải rút lui chờ viện binh. Rõ ràng, hoả lực mạnh của địch đã không áp đảo được nghĩa quân ngay trong trận giao chiến đầu tiên này. Ngày 2 và 3-9, địch huy động quân tăng viện gồm 120 lính Pháp, một phân đội sơn pháo, súng cối 80 ly, 15 lính công binh, 150 lính khố đỏ tập kết ở Gia Sàng, dưới sự chỉ huy của quan tư Bécgiê (Berger). 23 giờ đêm 3 rạng ngày 4-9, nghĩa quân bất ngờ mở đợt tiến công vào khu chỉ huy của địch ở Gia Sàng. Tại đây, trận chiến đấu diễn ra ác liệt và kéo dài đến 3 giờ sáng. Nghĩa quân diệt tên giám binh Máctini rồi rút lui về cố thủ chờ ngoại viện . 6 giờ sáng 4-9, địch tập trung một lực lượng lớn gồm 300 lính Pháp và lê dương, bốn khẩu đại bác và moócchiê mở cuộc tiến công vào tỉnh lỵ, từ ba hướng đông, tây, nam. Đến trưa, địch điều thêm 80 lính lê dương từ Yên Bái sang tiếp ứng. Nghĩa quân chờ địch đến gần mới bắn, gây cho chúng một số thiệt hại. Đến tối, địch chiếm phía đông tỉnh ly. Ngày 5-9, địch tập trung toàn bộ lực lượng mở cuộc tiến công thị xã. Nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng. Đội nghĩa quân do Cai Mánh chỉ huy, có 36 chiến sĩ, chiến đấu tới khi hy sinh gần hết. Tại dinh công sứ, đội nghĩa quân do Đồ Ba, danh tướng dưới quyền Đề Thám trước đây chỉ huy. đã chiến đấu đến người cuối cùng. Nghĩa quân diệt 107 tên địch, làm bị thương 17 tên khác. Trong trận này, nghĩa quân bị tổn thất nặng: hy sinh và bị thương 56 người, bị bắt 85 người. Tổn thất lớn nhất là Lương Ngọc Quyến, chỉ huy trưởng năm phòng tuyến phía ngoài tỉnh lỵ Thái Nguyên đã anh dũng hy sinh. Trưa ngày 5-9, địch chiếm tỉnh lỵ. Do lực lượng địch mạnh, không thể tiến công giành thắng lợi nghĩa quân quyết định rút khỏi tỉnh ly sang nơi khác để duy trì lực lượng, tiếp tục tiến hành các hoạt động du kích tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Ngày 5-9, đại bộ phận nghĩa quân do Đội Cấn chỉ huy rút khỏi tỉnh lỵ theo đường Quán Triều lên Giang Tiên. Tiếp đó, đội nghĩa quân do Đội Giá chỉ huy rút lên Quán Chu, đội nghĩa quân của Ba Chín và đội nghĩa quân của Quyền Yên cũng rút khỏi Thái Nguyên. Trên đường tiến ra Giang Tiên để lên Đại Từ, nghĩa quân đánh chặn một đội lính dõng từ đồn Đu (huyện Phú Lương) ra cầu Giang Tiên, gây cho chúng một số thiệt hại, buộc phải rút quân. Tiếp đó, nghĩa quân đánh đồn Hùng Sơn (huyện lỵ Đại Từ) nhưng không thành. Từ đây, nghĩa quân chuyển sang chống càn, chống địch truy kích, phục kích và có lúc tổ chức một số cuộc bao vây tập kích chúng, hy vọng xây dựng được căn cứ mới để chờ viện binh. Nhưng do địch truy lùng quá gắt gao nghĩa quân buộc phải phân tán lực lượng. Ngày 11-9, một toán nghĩa quân do một tuỳ tướng cũ của Đề Thám (tên là Gạch) bị bao vây khi tiến sang Vĩnh Yên, đã phải tách khỏi đội hình của nghĩa quân, mang theo 16 súng và 1.000 viên đạn, tiến về Phúc Yên, Bắc Ninh và xuống Hưng Yên, định vận động lính khố xanh đánh úp tỉnh lỵ Hưng Yên nhưng không thành phải chuyển sang Hà Nam rồi lên Hương Tích (Hà Đông), Bích Động (Ninh Bình). Bị địch truy kích, lực lượng nghĩa quân bị hao tổn do hy sinh và bị thương. Đến ngày 10-10, toán nghĩa quân này tan rã. Đại bộ phận nghĩa quân do Đội Cấn chỉ huy tiến từ Tam Đảo sang Vĩnh Yên cũng bị địch truy kích. Ngày 22-9, nghĩa quân bị địch bao vây ở Trung Hà. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 07:42:32 pm Ngày 24-9, sau khi thoát vòng vây của địch, nghĩa quân chia thành hai toán. Một toán về Hiệp Hoà (Bắc Giang), có lúc đã tiến tới gần Gia Lâm, nhưng cuối cùng cũng bị hao tổn lực lượng rồi tan rã. Còn đại bộ phận nghĩa quân trở về địa bàn Thái Nguyên vào tháng 10-1917. Lúc này, nghĩa quân chỉ còn 70 người. Sau trận đánh địch ở gần làng Lầy nơi trước đây Đề Thám đã từng cố thủ, nghĩa quân rút lên Đèo Nứa, đào chiến hào cố thủ.
Ngày 6-10, địch tiến công, nghĩa quân chiến đấu quyết liệt, gây cho địch thiệt hại nặng. Nhưng địch tiếp tục tăng viện và khép nhặt vòng vây tiến công, nghĩa quân phải rút về phía tây bắc, lên mạn Hoàng Đàm rồi tiến về Yên Thế mong dựa vào địa thế hiểm trở để xây dựng căn cứ. Dù vậy, do bị địch truy kích gắt gao, lương thực cạn dần, lực lượng nghĩa quân ngày một hao mòn, tới cuối tháng 11- 1917. toàn bộ quân số của nghĩa quân chỉ còn 40 tay súng và sang tháng 12 sụt xuống còn 25 người. Đội Cấn, Đội Giá, Đội Trường, Cai Sơn quyết định quay về Thái Nguyên. Trong trận bị địch vây hãm ở vùng Phấn Mễ, Cù Vân, Đội Trường ra hàng. Với Đội Cấn, địch dùng thủ đoạn hèn hạ đưa cha mẹ, vợ con đến yêu cầu Đội Cấn ra hàng, nhưng chủ tướng vẫn “quyết chiến không hàng”. Ngày 24-12, địch tiến công vào vị trí nghĩa quân ở Pháp Sơn. Đội Cấn bị thương ở đùi nhưng vẫn hy vọng cùng Đội Giá, Đội Xuyên tìm nơi ẩn náu lập căn cứ mới chống giặc. Tới đầu tháng 1 - 1918 , nghĩa quân chỉ còn 10 người và dẫu chỉ với 10 người còn lại đó, họ vẫn kiên cường đánh địch bảo vệ căn cứ Pháp Sơn. Sáng ngày 11-1-1918, trong thế cùng lực kiệt giữa vòng vây quân thù, Đội Cấn đã tự sát để khỏi sa vào tay giặc. Đội Giá, Đội Xuyên chỉ huy số nghĩa quân còn lại bị địch truy lùng ráo riết cũng ra hàng. Ngày 4-3-1918, thực dân Pháp giải tán đội quân do tên giám binh Rây ne (Rreinert) chỉ huy, coi như kết thúc chiến dịch tiêu diệt khởi nghĩa Thái Nguyên. Chúng lập hội đồng đề hình do tên công sứ Tuýtso làm chủ tịch để xét xử các chiến sĩ khởi nghĩa Thái Nguyên. Hầu hết những người bị chúng bắt đều xử tù khổ sai chung thân đưa đi nhà tù Côn Đảo. Kể từ đêm 30-8- 1917 - khi hiệu lệnh được phát đi cho đến khi linh hồn của cuộc binh biến là Đội Cấn anh dũng hy sinh và những người còn sống sót buộc phải ra hàng, cuộc khởi nghĩa của binh lính và tù chính trị Thái Nguyên tồn tại gần 6 tháng. Đây là cuộc vũ trang bạo động duy nhất trong những năm chiến tranh đã lật đổ chính quyền thực dân ở một địa phương. Tham gia cuộc khởi nghĩa là lực lượng tù chính trị phạm (một trong những lực lượng yêu nước, lại được rèn luyện về quân sự hoặc qua trường đào tạo như Lương Ngọc Quyến, hoặc qua trường chiến đấu như hàng chục chiến sĩ tù nhân khác), liên minh với lực lượng yêu nước trong hàng ngũ binh lính người Việt. Điều này nhiều cuộc bạo động, binh biến, khởi nghĩa trước đã thực hiện nhưng chưa thành công bằng khởi nghĩa Thái Nguyên. Ngoài ra, tham gia ủng hộ cuộc khởi nghĩa còn có đông đảo các tầng lớp nhân dân địa phương. Tất cả điều đó chứng tỏ rằng: tinh thần dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước là bất diệt trong sâu thẳm tâm hồn người Việt Nam cho dù họ đứng ở vị trí nào trong xã hội. Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên thất bại do nhiều nguyên nhân, nhưng xét về phương diện thuần tuý quân sự, việc nghĩa quân cố thủ Thái Nguyên chờ quân tiếp viện quả thực đã là một sai lầm, một nguyên nhân dẫn tới thất bại của cuộc khởi nghĩa. Bởi vì, tỉnh lỵ Thái Nguyên, nơi trấn ngự cả phía tây bắc nên kẻ thù không thể nào để cho nghĩa quân tồn tại dẫu chỉ một thời gian như kiểu Yên Thế của Hoàng Hoa Thám. Trong điều kiện chênh lệch lớn về lực lượng ta địch, cố thủ ở Thái Nguyên, nghĩa quân bị cô lập, gặp khó khăn và thất bại. Hơn nữa, việc trông chờ ngoại viện của Lương Tam Kỳ, Quách Cự và Việt Nam Quang phục hội từ ngoài về biểu lộ nhãn quan chính trị hạn hẹp của chỉ huy nghĩa quân, đứng đầu là Trịnh Văn Cấn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 08:05:02 pm Ngoài ra, khởi nghĩa Thái Nguyên không tạo được thế liên tục tiến công, dầu chỉ là giành từng thắng lợi nhỏ, mà chuyển vào phòng ngự công sự ở một địa bàn không thật hiểm yếu, thì khó tránh khỏi thất bại bởi phòng ngự là con đường chết của khởi nghĩa vũ trang. .
Về chiến thuật, nghĩa quân không chiếm cứ và quản lý ngay nhà bưu điện khi khởi nghĩa nổ ra, để địch dùng cơ quan thông tin lợi hại đó báo tin về cấp chỉ huy tối cao. Chúng sớm bố phòng nghiêm ngặt khiến nghĩa quân bị bao vây và tiến công, khi chưa có thời gian củng cố, xây dựng lực lượng. Những thiếu sót kể trên mà nghĩa quân phạm phải, suy cho cùng, là do hạn chế lịch sử, hạn chế giai cấp. Dù không thành công, nhưng bằng máu của mình, những người khởi nghĩa đã góp phần tô thắm thêm trang sử truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ. VI- VŨ TRANG TRANH ĐẤU Ở ĐÔNG BẮC BẮC BỘ - BINH BIẾN BÌNH LIÊU (1918-1919) Đông bắc Việt Nam kể từ Hải Phòng ra đến Quảng Yên, Móng Cái là cửa ngõ để các chiến sĩ cách mạng Việt Nam qua lại Trung Quốc. Nơi đây, Việt Nam Quang phục hội đã có chủ trương đẩy mạnh hoạt động vũ trang trong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và cũng là nơi thực dân Pháp tăng cường, củng cố các đồn binh để đề phòng sự trỗi dậy của nhân dân địa phương. Binh lính người Việt ở đây gồm cả con em các dân tộc địa phương như Dao, Hán, Nùng, từng tham gia hoặc chứng kiến hoạt động vũ trang của Việt Nam Quang phục hội. Những điều kiện khách quan và chủ quan trên đã hun đúc nên trong những người Việt Nam yêu nước do hoàn cảnh buộc phải mặc áo lính một tinh thần quả cảm quyết đứng lên diệt thù cứu nước khi có thời cơ. Các cuộc binh biến ở đây đã nổ ra trong hoàn cảnh như vậy, mà khởi đầu là binh biến của binh lính đồn Bình Liêu. Đồn Bình Liêu là một đồn binh nằm sát biên giới Việt-Trung thuộc tỉnh Móng Cái. Đồn được xây dựng trên bờ sông Tiên Yên, có đường hàng tỉnh nối liền với Móng Cái cũng như với các thị trấn Hoành Mô, bắc Phòng Sình. . . . Đồn Bình Liêu thuộc Tiểu quân khu Móng Cái, thuộc đạo quan binh thứ nhất - Đạo quan binh Phả Lại. Đồn do một trung uý Pháp Bayuốctư (Bayourte) chỉ huy cùng một tên đội người Âu và 35 lính đóng giữ. Tên Bayuốctờ khét tiếng về những thủ đoạn tham tàn, bạo ngược đối với binh lính và nhân dân địa phương, khiến binh lính khắp các đồn trại, từ Tiên Yên, đến Hoành Mô, Hà Cối căm giận. Những hoạt động của Việt Nam Quang phục hội ở vùng này những năm trước đây đã ảnh hưởng tới binh lính. Người khởi xướng cuộc binh biến ở Bình Liêu là một Hoa kiều có tên Thàm Cam Say (Đàm Giám Tây) trú ở Đông Hưng (Quảng Đông, Trung Quốc) - đối diện với thị xã Móng Cái - người đã liên hệ với Việt Nam Quang phục hội ở Lưỡng Quảng và đã từng dự định tiến công các mục tiêu trên địa bàn Móng Cái tháng 12-1914 nhưng bị lộ. Đàm Giám Tây bị thực dân Pháp xử tử vắng mặt. Trước thời cơ thuận lợi Đàm Giám Tây đứng ra vận động binh lính Bình Liêu nổi dậy chống Pháp. Đàm Giám Tây bắt liên lạc với một Hoa kiều là Phong Lai Bảo đóng cai ở đồn Bình Liêu và trao cho Phong Lai Bảo nhiệm vụ vận động binh lính làm nội ứng. Nhưng cuộc vận động bị lộ 1. Phong Lai Bảo bị tống giam và bọn chỉ huy Pháp bố trí đề phòng. Cuộc binh biến bị động buộc phải nổ ra dù chuẩn bị chưa xong và do đó, ngay từ giờ phút đầu, đã rơi vào thế bị động. Dẫu vậy, đêm 16-11-1918, mấy hôm sau khi Phong Lai Bảo bị bắt, binh lính trong đồn được Lò Thập Nhất (Lò Sáp Giáp) và Sam Sót Giang chỉ huy, đã nổi dậy chiếm đồn, giết tên đội Pháp Lănggie (Langeais), bắn bị thương tên trung uý chỉ huy đồn Bayuốctư, thu toàn bộ vũ khí đạn dược của địch. Sau khi làm chủ đồn Bình Liêu, nghĩa quân ban hành Bố cáo kêu gọi nhân dân và binh lính ủng hộ cuộc khởi nghĩa. ___________________________ 1. Phong Lai Bảo gửi thư cho chú là Phong On Heng ở Đình Lập đề nghị hưởng ứng, nhưng tên này đã phản bội, báo cho Pháp ở Đình Lập. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 08:06:05 pm Bố cáo nêu rõ:
“Thừa lệnh đức vua Thành Thái, chúng tôi thành lập bộ đội để trừ giặc cứu nước . . . “Nhờ sự giúp đỡ của Đức quốc, chúng tôi lập được 6 đội quân. . . Chúng tôi làm bản Tuyên ngôn này để kêu gọi quan lại binh lính và nhân dân hãy cùng nhau lập lại non sông đất nước. Kẻ nào biết lẽ phải và biết chọn thời cơ hành động sẽ trở nên dũng cảm, khôn ngoan và sự nghiệp cứu nước sẽ hoàn thành mau chóng. . . . Kẻ nào không nghe lời trong bản Tuyên ngôn này sẽ bị giết ngay khi quân cách mạng tới” 1. Nội dung Bố cáo thể hiện sự ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội về việc tranh thủ sự viện trợ của Đức chống Pháp, mà Hội chủ trương; đồng thời, nó cũng cho thấy rõ những nghĩa quân Bình Liêu, ngay từ đầu, đã chủ trương: sẽ từ binh biến chuyển lên khởi nghĩa nhằm đánh chiếm các nơi khác trong vùng. Phát huy thắng lợi ở Bình Liêu, nghĩa quân do Lò Sáp Giáp, Sam Sót Giang và Phong Lai Bảo chỉ huy chia làm hai đoàn kéo tới Hoành Mô. Binh lính Hoành Mô do hai viên cai chỉ huy đã nổi lên hưởng ứng, giết tên đồn trưởng Soaden (Choisel) rồi gia nhập nghĩa quân. Cả hai toán từ Bình Liêu tới hội quân với lực lượng làm binh biến Hoành Mô. Được nhân dân tham gia nên quân số nghĩa quân đã tăng lên gần 100 người, được trang bị vũ khí lấy được từ hai đồn. Nghĩa quân tạm rút sang bên kia biên giới Việt - Trung. Đội quân của Đàm Giám Tây còn tập hợp được khoảng 20 người sót lại của Việt Nam Quang phục hội bấy giờ đang sống lưu vong ở Lưỡng Quảng chờ đón nghĩa quân từ trong nước sang. Ngày 19 - 11 - 1918, khi nghĩa quân trở về Việt Nam được bổ sung thêm một số người Trung Hoa. Khi tới đồn Chúc Bài Sơn, nơi do một viên đội khố xanh người Dao là Tang Moi chỉ huy, nghĩa quân thuyết phục được phần lớn binh lính nộp súng đạn rồi gia nhập nghĩa quân. Thừa thắng, nghĩa quân kéo về vây đồn Đầm Hà. Đến 1 giờ 30 sáng, Lò Sáp Giáp ra lệnh tiến công đồn Đầm Hà, diệt năm tên địch . Nghĩa quân hy sinh hai người. Tên đồn trưởng Pháp trốn thoát. Sau trận này, nghĩa quân rút về Ping Hô hội quân với đoàn nghĩa quân thứ hai vừa tới phối hợp đánh chiếm Ping Hô. Sáng hôm sau, toàn thể nghĩa quân tiến đánh trại khố xanh Đầm Hà, buộc binh lính trong trại rút về Vạn Hoa và sau đó tới Tiên Yên. Bấy giờ, nghĩa quân làm chủ được vùng rộng lớn từ Bình Liêu đến Chúc Bài Sơn, Đầm Hà, từ sông Tiên Yên ra đến biển. Trước thắng lợi của nghĩa quân, địch đã huy động toàn bộ lực lượng Quân khu I gồm ba đại đội lê dương thuộc Trung đoàn thuộc địa số 9, 4 đại đội khố đỏ thuộc trung đoàn Bắc Kỳ số 1, số 2, một đại đội khố đỏ của Trung đoàn Bắc Kỳ số 3 ở Hải Phòng lên hỗ trợ, do Avéclăng (Averland) chỉ huy trưởng Quân khu I chỉ huy tiến công nghĩa quân. Tổng số quân địch hơn 1.000 tên và toàn bộ lực lượng này chiếm đóng hai đồn Bình Liêu, Chúc Bài Sơn, thay thế cho số binh lính người thiểu số và Hoa kiều. Được tin Pháp tiến công, nghĩa quân định tiến về chiếm đồn Chúc Bài Sơn, nhưng trên đường bị địch đánh chặn phải đóng lại ở đồn Phai Lau, một đồn binh mà địch đã bỏ rút về Chúc Bài Sơn từ trước đó. Từ đây, nghĩa quân chuyển sang chống càn diệt địch. Ngày 1-12, địch tập trung lực lượng bao vây, tiến công Phai Lau. Nghĩa quân đã chiến đấu dũng cảm, phá vỡ cuộc bao vây của địch. Tiếp đó, nghĩa quân đánh địch ở Pai Nam Sơn, gây cho chúng một số thiệt hại. Sau trận này, nghĩa quân rút toàn bộ lực lượng sang Trung Quốc. Trong suốt tháng 12-1918, nghĩa quân đánh một số trận, điển hình là trận Bản Bạc ở giữa Bình Liêu và Hoành Mô (16-12) và trận Ping Hô (22-12) gây cho địch nhiều thiệt hại. Sang năm 1919, địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc quyết tiêu diệt nghĩa quân. Trước hết, chúng dàn lực lượng dọc biên giới để chặn đường tiếp xúc giữa nghĩa quân với nhân dân các bản làng dọc theo biên giới, đồng thời tăng cường khủng bố, mua chuộc nhân dân mà trước tiên là những gia đình nghĩa quân. Kế hoạch này sau khi triển khai thực hiện đã ít đem lại hiệu quả, chúng liền chuyển sang truy quét tuần tiễu và thực hiện chính sách “lấy người Việt trị người Việt”, đưa binh lính người Dao lên đánh nghĩa quân mà thành phần đa số là người Hán và người Kinh ____________________________ 1. Dẫn theo Lịch sử cận đại Việt Nam, Sđd, t.3, tr. 337. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 08:06:45 pm Trước sức tiến công và các thủ đoạn thâm độc trên đây của địch, nghĩa quân chuyển đại bộ phận lực lượng ra các hải đảo vùng Móng Cái, Hạ Long và di chuyển một bộ phận xuống vùng Ba Chẽ, Quảng Yên, tổ chức nhiều trận tập kích, phục kích đánh địch.
Ngày 12-3, nghĩa quân phục kích đánh chặn một đoàn thuyền chở lương thực của địch ở ven biển; tiếp đó nghĩa quân tiến đánh một toán lính khố xanh ở đồn Ba Chẽ. Đến tháng 3-1919, tức sau bốn tháng kể từ cuộc binh biến Bình Liêu khởi phát, mặc dù địch tập trung mọi lực lượng tiến công và đàn áp khốc liệt, nhưng vẫn không tiêu diệt được nghĩa quân. Nghĩa quân vẫn tồn tại và mở rộng địa bàn hoạt động ra cả một vùng Đông Bắc, kéo dài từ Móng Cái tới Cám Phả, Hòn Gai, Quảng Yên... Quy mô cuộc khởi nghĩa và ảnh hưởng của nó ngày càng lan rộng. Tình hình đó buộc thực dân Pháp phải cử tướng Nôghét chỉ huy một lữ đoàn mới đưa từ chiến trường Pháp sang Đông Dương, đến Quảng Yên để tăng thêm lực lượng mở cuộc càn quét tiêu diệt nghĩa quân. Toàn bộ lực lượng đó, giờ đây đã tăng tới 1.850 tên, trong đó có tới 300 lính Pháp, 1.300 lính khố đỏ, khố xanh và 250 lính dõng. Chúng tiến hành sục sạo, truy quét, khủng bố các địa phương có nghĩa quân hoạt động và gia đình nghĩa quân, dụ dỗ nghĩa quân ra hàng. Lúc này, nghĩa quân đã chuyển về vùng Đông Triều (bắc Hải Đường) hoạt động uy hiếp Hải Phòng. Ngày 16-4, nghĩa quân tiến công đồn điền Pi vê (Pivet), bắt cả vợ và anh vợ tên chủ đồn điền Pháp Pi vê. Lúc này, tên thanh tra mật thám Ác nu (Arnoux) đến gặp nghĩa quân đàm phán xin chuộc lại tên Pi vê. Tham dự cuộc đàm phán còn có giáo sĩ Ba rô (Bao), bốn quan lại ở Hoành Bồ và Sam Sót Giang đại diện nghĩa quân. Lợi dụng thời gian đình chiến và hội đàm, địch dùng mưu chia rẽ nội bộ các lãnh đạo nghĩa quân, đồng thời đẩy mạnh hoạt động quân sự tiến công bất ngờ, khiến nghĩa quân phải phân tán lực lượng làm ba bộ phận rút khỏi núi Nam Mẫu. Bộ phận thứ nhất gồm toàn người Hán, Hoa kiều rút trước sang Trung Quốc. Bộ phận thứ hai rút về Đầm Hà, Ba Chẽ, Hòn Gai bị địch tiêu diệt, tự tan rã. Bộ phận thứ ba rút sau cùng về phía vùng biên giới Việt - Trung, sau đó cũng sang Trung Quốc. Cuối tháng 6-1919, nghĩa quân tan rã. Địch truy nã, bắt giết 4 người đều là chức dịch ở địa phương và giam 85 lính dõng, lính khố xanh. Cuộc binh biến Bình Liêu và khởi nghĩa của các dân tộc vùng Đông Bắc đã phát huy tinh thần yêu nước, nêu cao dũng khí diệt địch. Những hoạt động vũ trang kể trên của cuộc binh biến Bình Liêu cho thấy: khác với khởi nghĩa Thái Nguyên, trong cuộc nổi dậy ở Bình Liêu, nghĩa quân đã làm binh biến thắng lợi từ Bình Liêu đến Chúc Bài Sơn, chủ động mở rộng địa bàn hoạt động diệt địch, phát triển lực lượng, nhanh chóng chuyển cuộc binh biến thành cuộc khởi nghĩa. Trong chiến đấu, nghĩa quân đã cố gắng giành thế chủ động bằng cách mở các cuộc tập kích, phục kích và ít khi dựa vào cứ điểm hoặc phòng ngự như nghĩa quân Yên Thế. Bên cạnh đó nghĩa quân cũng đã triệt dể lợi dụng địa hình vùng biển giới vùng núi, vùng biển, hải đảo..., tạo thế thuận lợi để bảo toàn lực lượng mở rộng hoạt động đánh tiêu hao sinh lực địch, gây một số thiệt hại và khó khăn cho chúng. Cũng như những cuộc binh biến và khởi nghĩa trước đây, cuộc binh biến Bình Liêu về cơ bản đã không có được một đường lối rõ ràng và một bộ máy chỉ huy thững nhất. Hạn chế đó là một nguyên nhân cốt tử khiến cho binh biến và khởi nghĩa Bình Liêu, sau những thắng lợi bước đầu, đã dần đi vào thếbị cô lập, suy yếu dần và cuối cùng tan rã... Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 08:33:22 pm VII. ĐẤU TRANH VŨ TRANG CỦA CÁC DÂN TỘC TÂY BẮC BẮC BỘ TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT Như đã nói ở trên, ách áp bức, chính sách cai trị cũng như sự vơ vét sức người, sức của của thực dân Pháp rất tàn bạo, thâm độc đã gây bao đau khổ không chỉ cho nhân dân ta ở miền xuôi mà cả ở miền núi. Vì thế, cũng như mọi miền đất nước Việt Nam, các dân tộc thiểu số vùng miền núi Tây Bắc rất căm thù giặc Pháp. Được cổ vũ bởi các hoạt động vũ trang yêu nước của Việt Nam Quang phục hội, họ đã không ngừng nổi lên chống Pháp. Các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc diễn ra trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất phát triển rộng lớn hơn, so với phong trào hồi đầu thế kỷ XX đến trước năm 1914 . Cuộc nổi dậy của người Thái ở Tây Bắc: chiều ngày 10-11 - 1914, một đội nghĩa quân người Thái do Lương Bảo Định, Bạch Cầm Châu, Lương Văn No, Cầm Văn Tứ chỉ huy đã bất ngờ mở cuộc tập kích đồn Sầm Nưa (Lào) . Do chủ động nắm thời cơ và giữ thế bất ngờ tiến công đồn nên cuộc tập kích đã nhanh chóng giành thắng lợi. Nghĩa quân đã giết được tên đại uý Lăm be (Lambert), đốt phá công sở của Pháp. Việc tìm giết tên thực dân coi Sở Thuế quan và coi Sở Kiểm lâm tuy không thành, nhưng là hành động cảnh cáo đôi với những tên trực tiếp vơ vét của cải, gây đau khổ cho nhân dân địa phương. Trong trận này, nghĩa quân thu 120 súng trường và 10 vạn bạc Đông Dương, góp phần trang bị vũ khí và thêm tài chính cho nghĩa quân hoạt động. Ngày 23-11-1914, địch huy động hai tiểu đội khố xanh đến ứng cứu Sầm Nưa, bị nghĩa quân phục kích, diệt một số tên, trong đó có tên giám binh Tuy (Tuyaa). Sau khi diệt đồn Sầm Nưa, nghĩa quân rút vào rừng và chuyển về hoạt động ở vùng sông Đà. Ngày 11-12, nghĩa quân tiến công tỉnh lỵ Sơn La, bao vây Toà sứ Sơn La - nơi bọn quan lại Pháp và tay sai chạy tới ẩn nấp khi nghĩa quân đánh, khiến bọn thống trị hoảng sợ. Ngày 22-12-1914, chúng điều quân từ Yên Bái tới giải vây. Sau một thời gian đánh chặn địch, nghĩa quân chuyển về Điện Biên Phủ để duy trì lực lượng, tiếp tục chiến đấu. Ngày 28-8-1915, Toàn quyền Rum (Rum) quyết định thành lập một binh đoàn, do đại tá Fricơnhông (Friquegnon) chỉ huy một lực lượng lớn quân đội đi đàn áp nghĩa quân. Binh đoàn địch gồm tám trung đội của Đạo quan binh Bắc Kỳ thứ nhất, hai trung đội khố đỏ, ba trung đội khố xanh, một đại đội moócchiê, một đội công binh, một đội vệ binh, tài xế, vô tuyến điện, tổng cộng 42 sĩ quan, 106 hạ sĩ quan, 210 cai và lính Pháp, 2.544 nguy binh, liên tục truy lùng nghĩa quân. Chúng tiến từ Lai Châu lên Điện Biên Phủ, sang biên giới Việt-Lào. Nghĩa quân rút sang Lào tiếp tục hoạt động. Nhiều cuộc đụng độ diễn ra trên đất Lào từ biên giới Việt Lào đến Luông Prabăng. Ngày 7-12-1915 dựa vào làng Mộc Pha, nghĩa quân chiến đấu quyết liệt, gây cho địch một số thiệt hại, sau đó rút về làng Bountai. Trong khi đó, một bộ phận nghĩa quân đánh địch ở Banlangsai, diệt 9 tên, làm bị thương 23 tên khác, buộc địch phải điều quân từ Mộc Pha đến ứng cứu. Ngày 24-12, sau trận đánh địch ở Phong Sa Lý, nghĩa quân rút về hoạt động ở vùng phía bắc Lai Châu. Cuộc chiến đấu Của nghĩa quân kéo dài đến tháng 3-1916 mới tạm kết thúc. Tiếp sau cuộc nổi dậy này là cuộc nổi dậy của đồng bào H’mông ở Lai Châu, Sơn La do Giàng Tả Chay lãnh đạo đã đứng lên chống Pháp. Cuộc khởi nghĩa diễn ra theo ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất (tháng 7 đến tháng 12 - 1918). Nghĩa quân nổi dậy ở Ta Phin tháng 7-1918, liền bị địch đàn áp. Lập tức, một bộ phận nghĩa quân do Giàng Tả Chay lãnh đạo đã nổi dậy ở Điện Biên Phủ. Địch phải huy động quân của Đạo quan binh thứ 4, do trung tá Đê (Dậy) và một số binh lính từ Yên Bái sang, gồm 70 tên thuộc Đạo quan binh thứ nhất, 29 công binh, 48 lính khố xanh và 58 lính dõng hỗ trợ, mở cuộc càn quét hòng tiêu diệt nghĩa quân. Chiến thuật của nghĩa quân là tập kích, phục kích khi địch sơ hở. Nghĩa quân đã tập kích đoàn xe tải, rồi phục kích đánh úp toán quân Pháp ở bản Nậm (4 - 12 - 1918) gây cho chúng một số thiệt hại. Ngày 21-12, dựa vào căn cứ trên núi Long Hé, nghĩa quân chiến đấu quyết liệt, diệt bảy tên địch, làm bị thương tám tên khác, trong đó có thiếu uý Gôchiê. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:34:26 pm Giai đoạn thứ hai (từ tháng 3-1919 đến tháng 4-1920).
Nhiều trận chiến của nghĩa quân đã diễn ra trên đất Lào trải dài từ Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Trấn Ninh đến Luông Prabăng. Các hoạt động quân sự này của nghĩa quân đã gây cho địch một số thiệt hại. Theo một số tài liệu của phía Pháp, từ tháng 9-1919 đến tháng 4-1920, tám tên Pháp đã bị giết, trong đó có thiếu uý Đistăngti và năm tên Pháp bị thương (có một sĩ quan) cùng với 30 nguỵ binh bị giết và 86 bị thương. Trước tình hình đó, địch phải cho quân chốt giữ ở một số địa điểm hiểm yếu, trong đó có Điện Biên Phủ để ngăn chặn các hoạt động của nghĩa quân. Giai đoạn thứ ba (từ tháng 5-1920 đến tháng 2-1921). Trải qua một thời gian hoạt động, mặc dù lực lượng nghĩa quân bị tổn thất, nhưng lãnh tụ Giàng Tả Chay vẫn kiên trì cuộc chiến đấu. Phong trào sau một thời gian tạm lắng xuống, đến tháng 9-1920 lại hồi phục, phát triển. Địch huy động một lực lượng lớn, do tên đại tá Ănggiơli (Angeli), người được đại tướng Puypêru (Puypéroux) Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương chỉ định, chỉ huy, mở cuộc càn quét bao gồm toàn bộ vùng Thượng Lào. Nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng với nhiều trận tập kích, phục kích, chống càn, gây cho địch một số thiệt hại. Đầu tháng 2-1920, một lãnh tụ của nghĩa quân là Suanlaovăn bị địch bắt ở phía bắc Điện Biên Phủ. Năm 1921, cuộc khởi nghĩa tan rã, địch giải tán binh đoàn Fricơnhông, chỉ để lại một bộ phận nhỏ ở lại Tây Bắc, còn đại bộ phận rút về xuôi. Cuối năm 1922, lãnh tụ Giàng Tả Chay bị kẻ thù sát hại. Với một lực lượng lúc ban đầu ít ỏi, nhưng được nhân dân che chở, giúp đỡ, nên cuộc khởi nghĩa của đồng bào H’mông trên vùng núi rừng Tây Bắc do Giàng Tả Chay lãnh đạo đã phát triển khá mạnh, tồn tại ba năm (1918 - 1921), trên một địa bàn rộng chừng 40.000 km2. Cuộc khởi nghĩa đó tiêu biểu cho tinh thần yêu nước của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng đã thất bại mà nguyên nhân quan trọng là bởi bản thân nó mới chỉ là cuộc nổi dậy mang tính chất địa phương; hơn nữa, trong những năm 1919, 1920, 1921, ở đồng bằng hầu như phong trào đấu tranh của nhân dân ta tạm lắng nên kẻ địch đã rảnh tay để điều động lực lượng trấn áp . . . nhưng nó đã khiến cho địch buộc lòng phải nới rộng hơn ách cai trị đối với đồng bào Tây Bắc, đã để lại một số bài học kinh nghiệm quý báu mà trước hết là bài học về tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước Việt - Lào, cho phong trào yêu nước cũng nhứ phong trào cách mạng sau này. . . VIII KHỞI NGHĨA YÊN BÁI VÀ NỖ LỰC CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG Thực dân Pháp hy vọng sau khi dập tắt được các cuộc khởi nghĩa, binh biến trong thời kỳ chiến tranh vừa qua có thể trừ bỏ được đấu tranh vũ trang chống lại chúng. Nhưng trái lại, không gì dập tắt được ý chí diệt thù cứu nước của nhân dân Việt Nam. Tiếng bom Phạm Hồng Thái nổ ra ở Sa Điện (Trung Quốc) năm 1924 không có ý nghĩa manh động, ám sát cá nhân mà là “tiếng súng báo hiệu” cho những cuộc đấu tranh vũ trang, bạo động, khởi nghĩa mới sẽ nổ ra. Việt Nam Quốc dân Đảng đã nối tiếp ý chí diệt thù, cứu nước bằng cuộc khởi nghĩa diễn ra đầu năm 1930. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:36:49 pm 1. Hoàn cảnh nổ ra khởi nghĩa
Ngày 25-12-1927, Việt Nam Quốc dân Đảng, tổ chức tiêu biểu nhất của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam ra đời, đề ra chương trình hành động mà theo đó, Đảng phải trải qua “thời kỳ phôi thai” - xây dựng tổ chức và tập hợp lực lượng; “thời kỳ dự bị” - chuẩn bị các đơn vị tác chiến, sắm sửa vũ khí, trang bị, rồi tiến tới “thời kỳ hoạt động công khai” - tổng bãi công và khởi nghĩa giành chính quyền. Bản Điều lệ được thông qua tại Hội nghị thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng ghi rõ mục đích của tổ chức này là: “Trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới” 1. Đến bản Điều lệ soạn thảo tháng 7-1928, Việt Nam Quốc dân Đảng lại xác định tôn chỉ của Đảng là “Chủ nghĩa xã hội dân chủ” 2. Tiếp đó, trong Điều lệ sửa đổi công bố tháng 2-1929, mục đích của Việt Nam Quốc dân Đảng lại một lần nữa được xác định: tiến hành “cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị và cách mạng xã hội” 3. Cho tới thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, nghĩa là “đêm trước” của cuộc bạo động Yên Bái, Việt Nam Quốc dân Đảng lại mô phỏng theo chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, song những nguyên tắc và chính sách có tính cách mạng của chủ nghĩa Tam dân lại bị loại bỏ - bao gồm trong đó khẩu hiệu “bình quân địa quyền” và chính sách “liên Nga, liên Cộng, phù trợ công nông”... Rõ ràng, do bị chi phối bởi những điều kiện giai cấp và xã hội, Việt Nam Quốc dân Đảng đã không đưa ra được một đường lối chính trị độc lập, rõ ràng. Nhận xét về mục đích và lập trường. chính trị của Việt Nam Quốc dân Đảng, tác giả Trần Dân Tiên viết: “Nó muốn một nước cộng hoà, nhưng thứ cộng hoà nào? Sẽ cai trị quốc gia như thế nào? Với phương pháp gì người ta sẽ xây dựng lại kinh tế quốc gia? Làm thế nào để nâng cao mức sống của những tầng lớp lao động, thợ thuyền, nông dân và trí thức? Về những điều này, Việt Nam Quốc dân Đảng chưa có chương trình gì rõ rệt” 4. Thành phần xã hội của Việt Nam Quốc dân Đảng chủ yếu gồm trí thức, học sinh, giáo viên, công chức, những người làm nghề tự do, một số thân hào, thân sĩ ở nông thôn. Một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng là binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân Đảng được phân thành bốn cấp theo thứ tự tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ. Lãnh đạo tổng bộ là một số nhân vật uy tín như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thế Nghiệp, Nhượng Tống, Tưởng Dân Bảo, Nguyễn Hữu Đạt. Cơ quan tổng bộ gồm có các ban Tuyên huấn, Ngoại giao, Trinh sát, Kinh tài, Tổ chức, ám sát . Trong mấy năm tồn tại, Việt Nam Quốc dân Đảng đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và phát triển cơ sở mà địa bàn chính là ở Bắc Kỳ. Do không có lý luận cách mạng làm cơ sở cho đường lối và phương pháp đấu tranh nên Việt Nam Quốc dân Đảng thiên về các hoạt động ám sát, khủng bố cá nhân. . . và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Đầu năm 1929, sau vụ đảng viên của Đảng ám sát tên chủ mộ phu Badanh (Bazin), thực dân Pháp đã ra sức khủng bố, bắt hầu hết các đảng viên, từ trung ương đến các địa phương. Hàng loạt cơ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng bị vỡ. Nhiều cán bộ quan trọng của Đảng bị địch bắt. Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và một số cán bộ khác do đi công tác vắng nên thoát nạn. Trước tình thế nguy cấp, tuy biết thời cơ nổi dậy chưa tới, nhưng Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu cho rằng, nếu cứ ngồi yên để cho quân địch bắt được rồi lên máy chém hay vào nhà tù kết liễu một đời hoạt động, chi bằng lúc còn được tự do dồn hết lực lượng còn lại để đánh một trận cuối cùng, dẫu không thành công cũng thành nhân. Ngày 17-9-1929 những cán bộ còn lại của Việt Nam Quốc dân Đảng họp hội nghị ở một làng gần ga Lạc Đạo đã quyết định bỏ qua “thời kỳ dự bị”, bước gấp vào một cuộc bạo động. Phái chủ trương bạo động gồm Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính đã thông qua kế hoạch bạo động. Phái cải tổ gồm Lê Hữu Cảnh, Trần Văn Huân không phản đối. ___________________________ 1, 2, 3. Xem : Trần Huy Liệu, Văn Tạo: Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t5. tr.18, 81, 105. 4. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.73. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:38:32 pm Sau hội nghị, phái chủ trương bạo động vạch một bản Tổng công kích kế hoạch trong đó nêu rõ: Đảng chỉ huy một cuộc tổng bạo động, cùng một lúe đánh vào những đô thị lớn và những vị trí quân sự xung yếu của Pháp. Lực lượng chính trong cllộc bạo động là những binh lính trong quân đội Pháp, lực lượng phụ là những đảng viên ngoài nhà binh. Vũ khí gồm bom, dao tự chế tạo và chủ yếu dựa vào súng đạn cướp được của địch để diệt địch.
Cuối tháng 9-1929, những uỷ viên quân sự của Việt Nam Quốc dân Đảng họp ở Võng La (Phú Thọ). Tại hội nghị, phái cải tổ chủ trương bảo toàn lực lượng, nối lại đường dây liên lạc tiến hành cải tổ Đảng. Phái bạo động chủ trương bạo động ngay để cứu vãn tình thế. Hội nghị đang họp thì một tên tay sai của Pháp chui vào nội bộ Đảng dẫn mật thám Pháp đến vây bắt. Được nhân dân che chở, các đại biểu đều chạy thoát. Sau hội nghị này, giặc Pháp truy lùng phát hiện nhiều cơ sở chế bom của Việt Nam Quốc dân Đảng ở Phao Tân, Nội Viên (Bắc Giang), Vĩnh Hồ, Bạch Mai, Thái Hà ấp (Hà Nội) . . . . Hàng trăm cai, đội, quân và binh lính là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng bị Pháp bắt giam. Trong tình thế đó bạo động nổ ra chỉ có thể thất bại. Nhưng các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn chủ trương bạo động, coi đó là lối thoát hơn là tin vào thành công. Lực lượng địch ở Yên Bái, ngoài một số lính khố xanh, Pháp có hai cơ lính khố đỏ thứ 5 và thứ 6 đóng ở đồn Dưới và hai cơ thứ 6 thứ 8 đóng ở đồn Cao (trên đồi cao mé sông Thao). Tổng số có gần 600 lính và một số sĩ quan Pháp, do trung tá Pháp Lơ Tacông (Le Tacon) chỉ huy. Lực lượng nghĩa quân chủ yếu là binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phối hợp với những đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng gồm nông dân, trí thức nông thôn) từ Xuân Lũng (Phú Thọ) kéo về. Lực lượng nội ứng là những binh lính vừa được giác ngộ. Ngày khởi nghĩa dự định đầu tháng 2 - 1930 (dịp tết Canh Ngọ). Theo phân công, Nguyễn Thái Học chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, Thái Bình, Kiến An, Hải Dương; Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy cuộc nổi dậy ở Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây. Do chuẩn bị không thống nhất, nên ngày khởi nghĩa phải hoãn đi hoãn lại mấy lần. Sau tết Canh Ngọ, ngày khởi nghĩa định vào 9-2, cuối cùng là hoãn đến 15-2-1930. Do truyền đạt mật lệnh không thông suốt, khởi nghĩa diễn ra ở các địa phương rời rạc. Cuộc khởi nghĩa nổ ra trước tiên và có tiếng vang hơn cả là ở thị xã Yên Bái. Việt Nam Quốc dân Đảng cử Nguyễn Thị Bắc thâm nhập vào trại lính khố đỏ, lập được một chi bộ Việt Nam Quốc dân Đảng, do Quản Cầm làm đại biểu và một số sỹ quan yêu nước khác như Đội Trịnh, Cai Hoàng, Cai Thuyết.... Tuy vậy, số binh lính ứng nghĩa giác ngộ không được nhiều. Ở trại lính khố xanh chưa có nhân mối cụ thể, chỉ hẹn bao giờ bên khố đỏ nổi dậy thì bên khố xanh sẽ hưởng ứng. Như vậy, lực lượng nội ứng cũng rất mỏng và chưa được tổ chức chặt chẽ. Nhân hội đền Tuấn Quán, nghĩa quân giả làm người đi trẩy hội mang theo vũ khí thô sơ kéo đến Yên Bái, nhưng địch đã cảnh giác chuẩn bị đối phó. Tuy Yên Bái được chọn làm trọng tâm của cuộc nổi dậy ở phía tây bắc, nhưng người chỉ huy cao nhất được phân công là Nguyễn Khắc Nhu lại chỉ đạo ở Phú Thọ. Người được chỉ định thay ông là Quán Cầm bị thổ huyết phải đưa về Hà Nội điều trị, nên Nguyễn Khắc Nhu phải cử Trần Văn Liên và Nguyễn Văn Khôi thay thế 1. ______________________ 1. Theo cuốn Khởi nghĩa Yên Bái, tháng 2-1930 - Một số vấn đề lịch sử do sở văn hoá - Thông tin Yên Bái và Viện Sử học xuất bản tháng 6-1977, tr.17, 58, cho rằng : “Người thay Quán Cầm chỉ huy chính là Ngô Hải Hoàng, một hạ sĩ trong đội lính khố đỏ Pháp đóng tại Yên Bái chứ không phải là Liên và Khôi. Còn Quán Cầm đi Hà Nội chữa bệnh, cũng có người nói đó là ông giả ốm để trốn tránh trách nhiệm...”. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:39:32 pm Vào khoảng 1 giờ đêm ngày 10-2-1930, nghĩa quân chia làm ba bộ phận, trong ngoài phối hợp vời mục tiêu là “diệt địch hạ đồn”. Bộ phận thứ nhất phối hợp với lính khố đỏ chiếm trại lính lớn ở đồn Dưới có hai cơ thứ năm và thứ sáu đóng, đã diệt hai sĩ quan Đa mua (Damour) và Buhiê (Bouhier), làm bị thương nặng hai tên Rơnôđê (Renaudet) và Rôlăng (Rolland), diệt sáu lính khố đỏ.
Bộ phận thứ hai phối hợp giữa nghĩa quân và nội ứng đánh đồn Cao có hai cơ thứ bảy và thứ tám đóng giữ, diệt tên quản Quynêô (Cunéo) và tên đội Sơvaliê (Chevalier). Bộ phận thứ ba đánh thẳng vào nhà bọn sĩ quan ở giữa hai trại lính đã diệt tên quan ba Duốcđăng (Jourdan), tên quan một Rô be (Rober), làm bị thương nặng tên quan ba Ganh da (Gainza) và tên quan một Rơn (Reul). Mục tiêu chính của cuộc khởi nghĩa là chiếm đồn Cao, nhưng họ không chiếm được đồn và cũng không lôi kéo được lính khố xanh theo nghĩa quân. Nghĩa quân làm chủ một số khu vực trong thị xã và tổ chức diễn thuyết kêu gọi nhân dân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Lá cờ nửa đỏ, nửa vàng được treo cao trên một vài dinh thự ở thị xã Yên Bái. Trong khi nghĩa quân chiếm đồn Dưới, một số lính khố đỏ không theo nghĩa quân chạy lên hỗ trợ số lính khố đỏ ở đồn Cao, do Lơ Tông chỉ huy giữ đồn. Địch tổ chức lực lượng đánh xuống đồn Dưới bị nghĩa quán đánh bật lại. Nghĩa quân đánh lên đồn Cao, số lính khố xanh trước hưởng ứng khởi nghĩa nay quay súng bắn lại nghĩa quân. 7 giờ sáng ngày 10-2, địch huy động một lực lượng chia làm ba đội quân, dưới sự chỉ huy của Lơ Taeông mở cuộc tiến công nghĩa quân. Một đội do quan ba Rốc cát (Roccas) chỉ huy, một đội do quan một Varen (Varen) chỉ huy và một đội do đội trưởng Ôliviê (Ollivier) chỉ huy, tiến công bao vây đồn Dưới. Trước sức tiến công của địch, nghĩa quân tan rã, chúng chiếm lại đồn Dưới. Trong trận này, nghĩa quân diệt hai sĩ quan, ba hạ sĩ quan người Pháp, sáu cai và lính khố đỏ, làm bị thương hai sĩ quan, bốn hạ sĩ quan, bốn cai và lính khố đỏ, thu 2 súng liên thanh, 12 súng trường, bắt 8 lính khố đỏ. Địch bắt 4 cai và 22 lính khố đỏ bị tình nghi cùng nghĩa quân nổi dậy và bắt 25 dân thường hầu hết là bị thương. Theo kế hoạch chung, khi Yên Bái nối dậy, Tổng chỉ huy khu vực là Nguyễn Khắc Nhu phải đánh vào Hưng Hoá và Lâm Thao (Phú Thọ), sau đó nghĩa quân Yên Bái, Hưng Hoá, Lâm Thao hội quân ở Hưng Hoá rồi tiến lên Trung Hà phối hợp với toán quân của Phó Đức Chính đang hoạt động ở đây đánh đồn Thông (Sơn Tây) . Cuộc tiến công đồn Thông do Nguyễn Khắc Nhu trực tiếp chỉ huy. Tên đồn trưởng Pháp cùng lính khố xanh kéo vào pháo đài cố thủ. Nghĩa quân đọc bài Hịch khởi nghĩa để chiêu dụ lính khố xanh trong đồn hạ vũ khí. Địch cố thủ, buộc nghĩa quân phải tiến công đồn, nhưng vũ khí duy nhất của nghĩa quân chỉ là bom tự tạo, sức công phá không đáng kể. Trước sự. phan công dữ đội của địch, nghĩa quân phải rút. Cùng thời gian này, một đội nghĩa quân khác do Phạm Nhận chỉ huy đánh phủ Lâm Thao. Tri phủ Lâm Thao đã bỏ trốn trước khi quân khởi nghĩa tới. Chỉ còn một cai cơ và bảy lính cố thủ ở lô cốt không dám chống cự. Nghĩa quân chiếm công đường, đốt hết hồ sơ, tài liệu của bọn thống trị. Khi đội quân của Nguyễn Khắc Nhu từ Hưng Hoá kéo tới, bọn lính cơ trên lô cốt nghe tin Yên Bái và Hưng Hoá đã thất thủ, hoảng sợ nộp súng xin hàng. Nghĩa quân vừa chiếm được huyện ly, thì một toán quân địch do tên Sô vê (Chauvet), phó sứ Yên Bái chỉ huy tới giải vây. Trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra. Một nghĩa quân hy sinh, Phạm Nhận và bốn chiến sĩ bị bắt, Nguyễn Khắc Nhu bị thương sau đó cũng bị bắt và tự sát. Tại Sơn Tây, lực lượng của Việt Nam Quốc dân Đảng quá yếu. Ba toán nghĩa quân ở Yên Bái, Hưng Hoá, Lâm Thao đều đã thất bại, không đến chi viện được. Vì thế, trận đánh đồn Thông, một căn cứ quân sự lớn của giặc do Phó Đức Chính chỉ huy tuy có một số nội ứng nhưng lực lượng quá yếu đã không thực hiện được. Phó Đức Chính và một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở Sơn Tây bị bắt. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:39:59 pm Ở Hà Nội, kế hoạch lúc đầu là đốt phá trường bay Bạch Mai. Sau khi Nguyễn Thành Dương phản bội, nghĩa quân dự định ném bom tại thành phố để gây thanh thế, uy hiếp tinh thần địch. Đêm 10-2, số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng phần nhiều là học sinh trường kỹ nghệ Hà Nội được huy động, mang bom ném vào sở mật thám, sở sen đầm, bốt cảnh sát Hàng Trống. . . Những cuộc ném bom này không gây thiệt hại gì nhiều cho địch vì sức công phá yếu. Mặc dù vậy, những hoạt động đó đã gây được nhiều tiếng vang mạnh mẽ trong nhân dân thủ đô nhằm cảnh cáo bọn thực dân.
Tại Hải Dương và Thái Bình, khởi nghĩa do Nguyễn Thái Học chỉ huy, lấy Hải Phòng làm trung tâm khởi nghĩa. Mục tiêu là đánh chiếm từ Phả Lại, Hải Dương về Ninh Giang, Phụ Dực, Vĩnh Bảo, Kiến An, Hải Phòng. Nhưng ngày khởi nghĩa đã hoãn lại từ 9 đến 15-2 mà người mang thư của Nguyễn Thái Học gửi Nguyễn Khắc Nhu lại bị địch bắt, nên kế hoạch bị lộ, địch ráo riết đề phòng. Cuối cùng, các nơi quan trọng như Phả Lại, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An không nổ ra được, chỉ có Vĩnh Bảo và Phụ Dực là nổi dậy theo kế hoạch. Tại Hải Dương, Việt Nam Quốc dân Đảng xây dựng được một chi bộ khá mạnh ở làng Cổ Am, do Trần Quang Diệu đứng đầu. Nhân dân ở đây sôi sục căm thù vì bị thực dân và tay sai chiếm đất lập đồn điền. Bộ máy cai trị lại do Hoàng Gia Mô, tên tri huyện nổi tiếng nhận hối lộ và cướp ruộng đất của dân cầm đầu. Do vậy, nhân dân hưởng ứng khởi nghĩa khá đông. Do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, tri huyện Hoàng Gia Mô đã cảnh giác đề phòng và lên đồn Tây ở Ninh Giang. Nghĩa quân tìm cách dụ Hoàng Gia Mô ra ngoài để diệt. Sáng 15-2, một toán nghĩa quân xuất phát từ làng Cổ Am đánh chiếm huyện lỵ Vĩnh Bảo, giết tên tri huyện Hoàng Gia Mô và đốt giấy tờ, sổ sách của bọn thống trị. Đông đảo nhân dân kéo đến mừng thắng lợi. Giặc Pháp đưa máy bay ném bom khủng bố, tàn phá làng Cổ Am và một số làng lân cận, nghĩa quân phải rút lui. Địch bắt nhiều chiến sĩ cách mạng. Trần Quang Diệu và bốn chiến sĩ bị chúng kết án tử hình. Cùng ngày 15-2, một toán nghĩa quân, do Đào Văn Thê (giáo Thê) chỉ huy, kéo đến chiếm huyện lỵ Phụ Dực (Thái Bình) không gặp sự kháng cự gì. Nghĩa quân chiếm công đường, đốt hết giấy tờ, sổ sách; tiếp đó, kéo ra chợ định phối hợp với nghĩa quân Vĩnh Bảo chiếm phủ lỵ Ninh Giang, nơi có đồn binh Pháp đóng, nhưng được tin Vĩnh Bảo bị đàn áp, nghĩa quân tự động giải tán. Cuối tháng 2-1930, lực lượng của Việt Nam Quốc dân Đảng ở các tỉnh dự định đánh úp Phả Lại, Hải Dương, nhưng đều không thực hiện được. Cuộc nổi dậy của một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng trong cơ pháo thủ của Pháp cũng bị đàn áp . Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng thất bại. Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính đều bị địch bắt và kết án tử hình. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng do điều kiện lịch sử mới ít nhiều đã có những nét mới so với các phong trào cùng xu hướng chính trị trước đó: Có một chính đảng tổ chức cao hơn Duy Tân hội, Việt Nam Quang phục hội. . . là Việt Nam Quốc dân Đảng với chính cương, điều lệ và tổ chức quy củ hơn. - Chú trọng động viên lực lượng trong nước (mặc dầu vẫn chú ý đến ngoại viện, nhưng không trông chờ như Việt Nam Quang phục hội) - điều mà ngày nay chúng ta nói là coi trọng yếu tố “nội lực”, “nội sinh”... - Đề ra kế hoạch khởi nghĩa phần nào có tính liên hoàn trên địa bàn Bắc Bộ từ Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình qua Hà Nội lên Sơn Tây, Phú Thọ. Yên Bái. Xét về thời cơ, cuộc khởi nghĩa nổ ra khi điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi, dầu là ở một khu vực hay một địa phương. Tất cả đều là bị động. Duy có Vĩnh Bảo, Phụ Dực là chủ động nhưng cũng chỉ là sự chủ động cục bộ địa phương trong thế bị động chung của toàn cục, nên tuy giành thắng lợi nhưng thắng lợi đó đã không duy trì và phát triển được. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:41:05 pm Hơn nữa, khởi nghĩa nổ ra khá phân tán, khởi nghĩa không có mục tiêu chiến lược trước mắt và lâu dài. Còn về chiến thuật, các hoạt động của nghĩa quân hầu như chỉ bó gọn trong việc công đồn, hoặc “nội công ngoại kích” chứ không vận dụng các chiến thuật du kích vốn là sức mạnh truyền thống trong đấu tranh vũ trang của nhân dân ta.
Tóm lại, tiến hành trong thế bị động, tổ chức của Đảng đang tan rã, lực lượng khởi nghĩa đã mỏng lại rải ra nhiều địa phương, kế hoạch và ngày khởi nghĩa không nhất quán, địch biết và đề phòng. Vì vậy, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng đã bị dập tắt nhanh chóng. Thất bại đó đã chứng tỏ sự bồng bột, hăng hái nhất thời của tầng lớp tiểu tư sản dân tộc trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, biểu lộ “tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản” 1. Từ sau thất bại này của Việt Nam Quốc dân Đảng khuynh hướng cách mạng dân tộc hoàn toàn thất bại, hệ tư tưởng tư sản cũng hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ lịch sử của cách mạng giải phóng dân tộc. Mặc dầu thất bại, khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng đã có tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc của nhân dân ta. Những tấm gương hy sinh quả cảm của ác chiến sĩ Việt Nam Quốc dân Đảng đã góp phần nối dài thêm truyền thống anh hùng, bất khuất chống ngoại xâm của con người và dân tộc Việt Nam. Bước sang thế kỷ XX, trên cơ sở những biến đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam, phong trào đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta tiếp tục được nhen nhóm, rồi ngày càng phát triển và lan rộng với những hình thức đấu tranh phong phú, bất chấp các thủ đoạn đàn áp tàn bạo của quân thù. Các phong trào đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc như đã đề cập ở các phần trên, từ phong trào Yên Thế đến khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng, tổng số có tới gần 20 cuộc khởi nghĩa, binh biến, bạo động vũ trang... đã thể hiện lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần đấu tranh bất khuất, hy sinh quả cảm của các anh hùng nghĩa sĩ khả năng cách mạng của nhân dán, góp phần tiếp nối truyền thống quân sự của dân tộc. Từ khi phong trào văn thân cần vương bị thực dân Pháp dập tắt, quyền lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam chuyển sang tay những nhà yêu nước có xu hướng dân chủ tư sản, mà tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trình. Các nhà yêu nước này đã tuyên truyền giáo dục, đào tạo nên một lớp thanh niên Việt Nam yêu nước đông đảo. Kể từ Việt Nam Quang phục hội đến Việt Nam Quốc dân Đảng, các chiến sĩ yêu nước Việt Nam đã đưa đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam tiến lên một bước mới so với các phong trào trước đó (phong trào Yên Thê) đấu tranh vũ trang của các dân tộc miền núi, phong trào hội kín ở Nam Kỳ, nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Một trong những nguyên nhân sâu xa và căn bản mà các phong trào đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX thất bại chính là tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thực chất là cuộc khủng hoảng về vai trò lãnh đạo vì chưa có sự lãnh đạo của giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội. Yêu cầu lịch sử đặt ra cho những người yêu nước tiên tiến lúc đó là phải tìm ra con đường yêu nước đúng đắn, tiêu biểu cho chí hướng, nguyện vọng và tinh thần đấu tranh vũ trang, vận dụng và phát huy sáng tạo truyền thống quân sự của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới. Giai cấp phong kiến, trong những thế kỷ trước, đã từng đóng vai trò tích cực đối với tiến trình lịch sử Việt Nam, nhưng, từ thế kỷ XVI trở đi, nó bắt đầu quá trình đi xuống. Đặc biệt, từ khi đầu hàng thực dân Pháp, nó trở thành lực lượng phản động trên phương diện là một giai cấp. Thất bại của phong trào Cần Vương đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ tranh đấu chống Pháp giành độc lập dân tộc dưới khẩu hiệu “phò vua cứu nước”. _________________________ 1. Lê Duẩn: Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nxb. Sự thật Hà Nội, 1967, tr.53. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:42:19 pm Đoạn tuyệt với con đường cứu nước phong kiến, những sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài, tìm những con đường mới mong giải phóng đất nước. Tuy đầy nhiệt huyết cứu nước, nhưng những người yêu nước như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can. . . đã không thể vượt qua được các hạn chế của lịch sử, không tìm thấy ánh sáng soi đường dể khả dĩ đưa công cuộc giải phóng non sông, phát triển lên một tầm cao mới đặng giành lại độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc Việt Nam.
Không có con đường cứu nước đúng đắn soi đường các phong trào yêu nước nói chung và hoạt động vũ trang nói riêng của nhân dân ta đầu thế Kỷ XX tuy diễn ra khắp nơi trong cả nước từ Nam tới Bắc, từ miền ngược tới miền xuôi . . . với một tinh thần quả cảm vô bờ bến, với những hình thức đấu tranh phong phú chống lại các thủ đoạn tàn bạo, thâm độc của kẻ thù và đã gây ra cho chúng những thiệt hại đáng kể về binh lực... nhưng rốt cuộc, đều thất bại. Các phong trào đó cuối cùng đã không đánh đổ được nền thống trị của đế quốc thực dân. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng kéo dài hai phần ba thế kỷ, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Chính trong quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tiếp đó là sự ra đời của Đảng, tư tưởng quân sự của Đảng - tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã hình thành trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, vận dụng sáng tạo lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời đại mới. Từ đây, lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. CHƯƠNG II SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH, ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG ĐẦU TIÊN (1930-1939) Sau thất bại của phong trào Cần Vương, nhiều sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cụ Phan Bội Châu sang Nhật tìm con đường Duy Tân. Cụ Phan Châu Trinh theo con đường nghị viện tư sản. Những con đường đó tuy biểu hiện dưới các màu sắc khác nhau, nhưng đều là chủ nghĩa dân chủ tư sản đã lỗi thời, nên đều không thành công. Dưới ách nô lệ, xã hội Việt Nam “dường như bị chìm trong đêm tối, không có đường ra”, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua nhiều năm đi qua các nơi, hoà mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của nhân dân nhiều nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Âu; hoạt động sôi nổi trong phong trào công nhân quốc tế, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-lênin cùng học thuyết quân sự vô sản. Kể từ đó, kết hợp truyền thống văn hoá Việt Nam với tinh hoa văn hoá nhân loại, trí tuệ thời đại và những kinh nghiệm phong phú trong hoạt động thực tiễn, tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự của Người từng bước hình thành trở thành cơ sở lý luận của đường lối cách mạng, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập. Tư tưởng của Người tác động sâu sắc tới tiến trình lịch sử hiện đại Việt Nam. I- SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH (1919-1939) Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận trọng yếu trong tư tưởng cách mạng của Người. Vì vậy, để hiểu quá trình hình thành, phát triển và bản chất tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, cần tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo kết quả của nhiều nhà nghiên cứu, thì quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cứu nước bao gồm 5 thời kỳ: lúc thơ ấu đến trước lúc ra đi tìm đường cứu nước (1890-1911); khảo sát tìm tòi, đến với chủ nghĩa Lêmn (1911-1920); hoạt động với tư cách là cán bộ Quốc tế Cộng sản và chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1921-1930); gặp thử thách gay go và kiên trì quan điểm, tư tưởng của mình (1931-1940); về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1941-1969). Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:44:13 pm Phân tích nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh, nhiều ý kiến nêu ba nguồn gốc chủ yếu: truyền thống văn hoá Việt Nam; tinh hoa văn hoá nhân loại; chủ nghĩa Mác-lênin, trong đó, chủ nghĩa Mác-lê nin là nguồn gốc chủ yếu nhất; truyền thống văn hoá Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái và cố kết dân tộc là nguồn gốc đặc biệt quan trọng. Ngoài ra , tư tưởng Hồ Chí Minh còn có nguồn gốc từ tổng kết thực tiễn, trí tuệ và nhân cách của Người.
Do tư tưởng quân sự bắt nguồn từ tư tưởng cách mạng và là một bộ phận trọng yếu, gắn liền hữu cơ với tư tưởng cách mạng, nên tư tưởng quân sự mang các yếu tố của tư tưởng cách mạng. Tuy nhiên, khi phân tích nguồn gốc tư tưởng quân sự của Người, để cụ thể hơn, cần đề cập đến nguồn gốc học thuyết quân sự Mác-lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp Làm việc biện chứng” 1. Người đã nắm thìa khoá vàng đó, tức là phép biện chứng triết học Mác-lênin để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực quân sự. Những nguyên lý và phép biện chứng trong triết học quân sự của học thuyết quân sự Mác- Lênin là cơ sở tư tưởng, lý luận của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, là “cẩm nang” giúp Người giải quyết vấn đề trung tâm là chuyển hoá tương quan lực lượng ta - địch trong khởi nghĩa và chiến tranh, thực hiện thành công trong thực tiễn lời chỉ dẫn của Ăng ghen về một dân tộc nhỏ để thắng một dân tộc to, một quân đội yếu đương đầu thắng lợi với một quân đội mạnh để giành độc lập dân tộc thì nhất thiết không được giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường mà phải khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích mọc lên ở khắp nơi 2. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ truyền thống quân sự đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó hình thành và hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trong đó quá nửa thời gian con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã phải cầm vũ khí chiến đấu chống lại những kẻ thù xâm lược thường lớn hơn nhiều lần về kinh tế và quân sự . Điều kiện lịch sử phải lấy yếu chống mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc đã tạo nên trường phái quân sự Việt Nam với hệ tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự đặc sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh hoa, tinh thần thượng võ trong di sản quân sự độc đáo của dân tộc. Ngoài hai nguồn gốc cơ bản đó, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn có các nguồn gốc khác, trong đó có nguồn gốc thực tiễn. Thực tiễn phong phú của thời đại, dân tộc, của bản thân cuộc sống và hoạt động của Người cũng là cơ sở quan trọng làm cho tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành, hoàn thiện và phát triển. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một hệ thống tri thức, quan điểm về quân sự, bao gồm tư tưởng về cách mạng giải phóng thuộc địa, về khởi nghĩa vũ trang; về chiến tranh nhân dân; về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng; về khoa học và nghệ thuật quân sự; về xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến tranh; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc v.v.. Hệ thống các quan điểm trong những nội dung chủ yếu đó có quá trình ra đời, hoàn chỉnh, phát triển và phát triển đến đỉnh cao vừa tròn nửa thế kỷ (1919 - 1969). Trong giai đoạn 1919-1939, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã từng bước hình thành, bao gồm những quan điểm quân sự rất cơ bản, đóng vai trò định hướng, bao trùm và xuyên suốt các giai đoạn về sau. Các quan điểm quân sự cơ bản trong thời kỳ này, gắn liền (có khi lồng vào) quan điểm chính trị. Đó cũng là đặc điểm của nền quân sự hiện đại Việt Nam, không bao giờ là quân sự thuần tuý mà luôn gắn liền với chính trị, phục tùng chính trị do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định. ______________________ 1. Dẫn theo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trì quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.51. 2. Xem Ăng ghen - Lênin - Xtalin: Bàn về chiến tranh nhân dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.27. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:47:48 pm 1. Giữ vững tính chủ động trong công cuộc đấu tranh giải phóng.
Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, nguồn gốc nông dân, lúc còn nhỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tên gọi Nguyễn Sinh Cung đã được giáo dục ý thức lao động, đạo lý làm người, tình yêu quê hương, Tổ quốc và đã “rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào”, sớm có chí hướng “đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào” 1. Thực hiện hoài bão đó, ngày 5-6-1911, Người rời Tổ quốc sang các nước phương Tây tìm đường cứu nước. Lúc đầu, Người đến Pháp và nhiều nước khác, sau đó sang Mỹ (1912-1913), rồi tới Anh (1913-1917). Tại thủ đô nước Anh, Người đã có “những hoạt động chính trị đầu tiên” 2. Tháng 12 - 1917, Người rời Luân Đôn trở lại Pa ri để có điều kiện hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Đầu năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp . Sau nhiều năm đi qua các nước, Người tận mắt chứng kiến tội ác không thể tưởng tượng được của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân lao động ở các nước thuộc địa, đồng thời Người cũng thấy rõ tội ác của chủ nghĩa tư bản đối với giai cấp công nhân và quần chúng lao động ở các nước phương Tây. Từ thực tiễn đó, Người rút ra kết luận quan trọng: “... dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” 3. Từ lòng yêu nước, thương dân, đến sự phân biệt trong xã hội có “hai giống người”, ở Nguyễn Ái Quốc đã có sự chuyển biến ý thức giai cấp rõ rệt, đưa Người đến với chủ nghĩa Mác-lênin một cách tự nhiên như một tất yếu lịch sử. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ III) được thành lập tại Mátxcơva. Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập đã kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Tháng 7-1920, báo Nhân đạo đăng toàn văn các văn kiện Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản, trong đó có “Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Đọc Sơ thảo Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt lưu ý cách đặt vấn đề của Sơ thảo Luận cương: Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ các dân tộc bị áp bức; nếu trước kia phong trào giải phóng dân tộc kết thúc với việc giai cấp tư sản lên cầm quyền, thì nay, trong thời đại mới mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, khi điều kiện thuận lợi có thể thiết lập chính quyền cách mạng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Lênin, Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ II còn thông qua 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản, trong đó có điều thứ 8 ghi rõ: “Mỗi đảng cam đoan tiến hành một công tác cổ động có hệ thống trong quân đội nước mình nhằm chống mọi ách áp bức dân chúng thuộc địa; và mỗi đảng phải ủng hộ, không những bằng lời nói mà cả bằng hành động, phong trào giải phóng của các thuộc địa” 4. Những quan điểm chủ yếu do Lênin trình bày trong Sơ thảo Luận cương và những điều kiện các đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản, nhất là điều thứ 8, thu hút sự quan tâm đặc biệt của Người. Từ đó, Người tin theo Lênin. Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (tháng 12-1920), cùng với phái đa số do Macxen Casanh lãnh đạo, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành người cộng sản đầu tiên của cách mạng Việt Nam và đồng thời là một trong những sáng lập viên Đảng Cộng sản Pháp. Đây là sự kiện chói sáng trong lịch sử quan hệ văn hoá Đông - Tây trên bình diện tư tưởng, học thuyết. Cũng từ đó, Nguyễn Ái Quốc hướng cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Con đường cách mạng vô sản do Người lựa chọn tất yếu đưa Người đến với học thuyết quân sự vô sản ngay từ khi hệ tư tưởng quân sự phong kiến đang tồn tại trong nước và hệ tư tưởng quân sự tư sản đang thịnh hành trên thế giới. _________________________ 1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.12. 2. Lanh Rutxiô: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chân dung một người bônsêvích vàng (1917-1923). In trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 năm 2000. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.1, tr.266. 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.196. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 09:50:47 pm Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc công bố hai luận văn nổi tiếng nhan đề “Đông Dương” và “Phong trào cộng sản quốc tế - Đông Dương” trên tạp chí Cộng sản - . Cơ quan lý luận - chính trị của Đảng Cộng sản Pháp số tháng 4 và tháng 5 năm 1921.
Nguyễn Ái Quốc đã nêu vấn đề quan trọng: “Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không?” . Để trả lời câu hỏi đó, Nguyễn Ái Quốc một mặt phân tích tình hình chính trị và phong trào đấu tranh yêu nước hiện thời của các nước điển hình châu á như Nhật Bản, Trung Quốc, ấn Độ, Triều Tiên, các nước ở Đông Dương, mặt khác Người phân tích sâu cơ sở kinh tế, xã hội và truyền thống lịch sử văn hoá phương Đông để khẳng định cho nhận định của Người: Chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á. Người chỉ ra rằng, gần 5.000 năm nay ở phương Đông đã có “chế độ tỉnh điền”, mà đặc trưng của chế độ đó là “chia đất đai trồng trọt theo hai đường dọc và hai đường ngang... có chín phần bằng nhau. Người cày ruộng được lĩnh mỗi người một phần trong 8 miếng, miếng ở giữa tạt cả đều cùng làm và sản phẩm được sử dụng vào việc công ích” 1. Ngoài ra, ở phương Đông là nơi “khởi xướng thuyết đại đồng” 2 từ trước công nguyên, là nơi đề cao tư tưởng “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” 3. Còn ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc mô tả về chế độ ruộng đất: “Về của cải tư hữu, luật pháp An Nam cấm mua bán toàn bộ đất đai. Hơn nữa, một phần tư đất trồng trọt bắt buộc phải để làm của chung. Cứ ba năm người ta chia lại ruộng đất đó. Mỗi người dân trong xã thôn được nhận một phần” 4. Với một truyền thống lịch sử văn hoá như vậy, nó thật sự có sức mạnh kết cấu cộng đồng, đặc biệt trong những thời điểm đất nước có ngoại xâm; là điều kiện thuận lợi để chủ nghĩa cộng sản dễ dàng thâm nhập vào châu Á. Hơn nữa, ở Đông Dương, nơi bị thực dân Pháp xâm lược, thống trị dã man, thì “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” 5 . Sau khi đã làm sáng tỏ vấn đề then chốt đó, hai luận văn ‘Đông Dương”, “Phong trào cộng sản quốc tế - Đông Dương xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam và cách mạng các nước thuộc địa và phụ thuộc trong thời đại mới. Phương hướng ấy giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Nguyễn ái Quốc tin tưởng cách mạng Đông Dương nhất định sẽ bùng nổ. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Người phê phán hai quan điểm sai lầm: quan điểm cho rằng Dông Dương đã “chín muồi” cho một cuộc cách mạng và quan điểm cho rằng người Đông Dương không muốn làm cách mạng, đã bằng lòng với chế độ đương thời. Người nhận định: khi được giác ngộ, được tổ chức, người Đông Dương sẽ tiến bộ một cách màu nhiệm, ý chí giải phóng đang tiềm ẩn rồi “sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến” 6. Từ sự phân tích đó, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên luận điểm nối tiếng về tính chủ động của cách mạng thuộc địa, dự kiến về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước khi ‘giai cấp vô sản ở “chính quốc lên nắm chính quyền và tác động tích cực đối với cách mạng ở “chính quốc”. Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” 7. Như vậy dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-lênin, đến năm 1921, luận điểm của Nguyễn ái Quốc về tính chủ động của cách mạng giải phóng thuộc địa, về tiềm năng, sức mạnh của quần chúng bước đầu đã được nêu ra. ________________________ 1, 2, 3, 4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.35, 36, 28. 6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 28, 36. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:31:27 pm Sau khi công bố hai luận văn nổi tiếng đó, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy cần phải xúc tiến công tác tuyên truyền và công tác tổ chức mới có thể thúc đẩy phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa chủ động trong công cuộc đấu tranh tự giải phóng.
Do vậy, tháng 7-1921, cùng với một số nhà cách mạng của các thuộc địa đang hoạt động ở nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội liên hiệp thuộc đia và được bầu vào Ban lãnh đạo Hội; sáng lập ra tờ báo Người cùng khổ do Người làm chủ bút kiêm quản lý. Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo nêu rõ mục đích thành lập Hội là lãnh đạo nhân dân các nước thuộc địa đoàn kết đấu tranh đánh đổ ách áp bức dân tộc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Tuyên ngôn khẳng định: “Vận dụng công thức của Các Mác * , chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” 1. Tiếp đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Pháp lần thứ nhất (tháng 12-1921) và lần thứ hai (tháng 10-1922), Nguyễn Ái Quốc đã nêu kiến nghị Đảng cần nghiên cứu xây dựng chính sách đổi với các nước thuộc địa, đồng thời thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa. Những kiến nghị đó được cả hai Đại hội Đảng nhất trí. Trong khi Nguyễn Ái Quốc hiểu sâu sắc và hoạt động tích cực nhằm thực hiện tư tưởng Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa thì trong phong trào cộng sản quốc tế xuất hiện khuynh hướng sai lầm có hại đối với cách mạng thuộc địa. Khuynh hướng này có mầm mống nảy sinh do các Đảng Cộng sản ở châu Âu ra đời từ cánh tả của các Đảng Xã hội Dân chủ nên vẫn còn vương vấn tàn dư tư tưởng của Quốc tế II trong nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề dân tộc và thuộc địa. Thêm vào đó một số nhân vật trọng yếu trong cơ quan lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, do căn cứ vào thực tiễn phong trào cách mạng thế giới lúc đó, đã đưa ra nhận định về triển vọng cách mạng quá lạc quan, cho rằng sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và Quốc tế Cộng sản được thành lập, chỉ một thời gian rất ngắn nữa, cách mạng vô sản sẽ thành công trong một số nước tư bản phát triển và đến lúc đó các thuộc địa sẽ được giải phóng. Từ đó, nhiều Đảng Cộng sản lớn ở châu Âu không thực hiện điều thứ 8 trong 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản, trên thực tế không thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Điều đó làm cho Nguyễn Ái Quốc rất bận tâm. Người kiên quyết đấu tranh chống khuynh hướng “khinh thường thuộc địa” 2. Mang nỗi trăn trở đó, khi đã rời nước Pháp năm 1923, Người còn viết thư gửi Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, trình bày những suy nghĩ của mình. Trong thơ, Người nhắc lại ý nghĩa quan trọng các văn kiện Đại hội II Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đối chiếu với thực tế hoạt động của các đảng lớn ở châu âu về vấn đề đó và nêu nhận xét: Phân bộ Pháp, Phân bộ Anh và những phân bộ ở các nước thực dân khác đã làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? . . . Sau khi phân tích những thiếu sót trong công tác thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, Người cho rằng tốt nhất là biết sử dụng tốt thì giờ trong tương lai bằng cách: mở mục viết về thuộc địa trong báo Nhân đạo; khuyến khích các phân bộ Đảng ở các thuộc địa tăng cường công tác tuyên truyền và tuyển thêm người bản xứ v.v…vừa chủ động viết thư gửi Đảng Cộng sản Pháp nêu những đề nghị cụ thể, thiết thực, nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng các hình thức khác nhằm làm sáng tỏ quan điểm của mình trước những vấn đề quan trọng của cách mạng thuộc địa, trước hết là chuẩn bị cho quần chúng tư tưởng chủ động, kiên trì đấu tranh, có niềm tin sắt đá vào thắng lợi. Người công bố bài báo nhan đề “Con người biết mùi hun khói” trên báo Nhân đạo, mô tả lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng hoà liên hiệp Phi**. Bài viết có đoạn: “Haútxa, tháng 1 năm 1998. Thành phố Haútxa cờ xí tưng bừng... Đây là lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng hoà liên hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này... Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh . . . ____________________ *. Công thức này Các Mác nêu trong Điều lệ của Hội liên hiệp lao động quốc tế “Sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”. 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2.2, tr.128. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 274. **. Bài báo công bố ngày 20-7-1922. Lễ kỷ niệm lần thứ 50 vào năm 1998, nghĩa là cách mạng Phi phải trải qua hàng chục năm đấu tranh mới thành công vào năm 1948. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:37:43 pm Cụ Kimengô, tuổi đã chín mươi, là một cựu chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hoà da đen...” 1.
Với một câu chuyện tưởng tượng, với một mốc thời gian tượng trơng, bài viết chứa đựng một hàm ý sâu sắc, nêu một nhận định khác với quan điểm phổ biến ở Quốc tế Cộng sản thời đó là: Cách mạng thuộc địa nhất định thành công, nhưng không phải nhờ cách mạng “chính quốc” thành công mà các nước thuộc địa được giải phóng. Sự thành công của cách mạng thuộc đỉa phải trải qua đấu tranh vũ trang, không phải diễn ra suôn sẻ, dễ dàng, chóng vánh mà trái lại, đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ và hy sinh. Thực tiễn lịch sử cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa diễn ra đúng như nhận định sáng suốt đó. Giữa năm 1923, Nguyễn ái Quốc sang Mátxcơva. Tháng 6-1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản. Tại diễn đàn Đại hội của Bộ Tham mưu cách mạng thế giới, Nguyễn ái Quốc đã ba lần đọc tham luận về vấn đề dân tộc thuộc địa vào các phiên họp thứ 8 (23-6-1924), thứ 22 (1-7-1924), thứ 25 (3-7-1924). Người đặt vấn đề là “sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa” 2. Nói cách khác, Người đấu tranh để nhiều đồng chí trong Quốc tế Cộng sản nhận thức lại, hiểu đúng tinh thần của Lênin về tầm quan trọng của cách mạng thuộc địa. Mở đầu bài phát biểu tại phiên họp thứ 8, Người nói: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa” 3. Đây là một luận điểm quan trọng mà Nguyễn Ái Quốc khái quát trình bày tại Đại hội sau khi đã viết hàng loạt bài báo về vấn đề này. Người khẳng định rằng: Cách mạng thuộc địa có một lực lượng quần chúng khổng lồ, và sẽ là vô địch khi họ được thức tỉnh, được tổ chức. Với lực lượng đó, họ có khả năng tự giải phóng mình và giúp đỡ cách mạng phương Tây trong công cuộc giải phóng hoàn toàn. Về nguy cơ thuộc địa là một vấn đề mới mẻ với nhiều nhà cách mạng phương Tây. Ngay trong bản tham luận, Người đã viết: “Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc... Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa” 4 . Do hiểu rõ bản chất ăn cướp, bóc lột dã man sức người, sức của của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa, nên dù đồng ý với nhận định của nhiều đại biểu tham dự Đại hội lần thứ V về nguy cơ tiềm tàng của chủ nghĩa phát xít, nhưng Người lưu ý Quốc tế Cộng sản là chủ nghĩa phát xít có khả năng xuất hiện ở những nước ít thuộc địa, chứ không phải ra đời ở những nước nhiều thuộc địa như nhận định của một số đại biểu. Người phân tích: “Tôi cho rằng, bọn phản động ở Italia, ở Đức và các nước khác cần đến chủ nghĩa phát xít để bảo vệ mình; trong khi đó, bọn phản động Pháp lại không cần đến nó. Chúng có những người bảo vệ khác, những người bảo vệ mạnh hơn nhiều, có tổ chức hơn và kỷ luật hơn là “bọn áo đen”. Họ có những người lính da đen và da vàng 5. Nhận định đó của Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn chính xác, thể hiện trí tuệ và tầm nhìn chiến lược trong quân sự của Người. Tiếp đó, Người nêu lên một chân lý giản đơn là, muốn đập vỡ một quả trứng hay một hòn đá, thì phải tìm kiếm một công cụ mà sức bền của nó tương xứng với sự vững chắc của đối tượng định đập tan. Cuối cùng, Người lưu ý khi “Bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng, đề ra kế hoạch của cuộc chiến đấu sắp tới, các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng eo tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý” 6 . __________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 87-88. 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.273. 4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 273-274, 275. 6, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 275. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:40:47 pm Trong bài phát biểu tại phiên họp thứ 22, Nguyễn Ái Quốc đã nêu một bản thống kê, bao gồm diện tích và dân số của 9 nước chính quốc so sánh với diện tích và dân số các nước thuộc địa. Bản thống kê cho thấy: toàn bộ lãnh thổ của các nước thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của các nước chính quốc, còn số dân của các nước chính quốc chưa bằng 3/5 (ba phần năm) số dân của các nước thuộc địa.
Từ số liệu hùng hồn qua bản thống kê, Người phê bình Đảng Cộng sản Anh, Hà Lan, Bỉ và các Đảng Cộng sản các nước khác, kể từ khi chấp nhận bản Luận cương của Lênin, hầu như chưa làm gì về vấn đề thuộc địa. Tại phiên họp thứ 25, trong bài phát biểu của mình, Người đề cập đến các thuộc địa của nước Pháp. Đó là các thuộc địa rộng lớn, chiếm một diện tích 10.211.510 km2, với số dân 55.571.000 người. Theo Nguyễn Ái Quốc, trong tất cả các thuộc địa của Pháp, quần chúng nhân dân lao động bị bóc lột vô cùng thậm tệ, nạn nghèo đói ngày càng tăng. Vì vậy, nhân dân các thuộc địa của Pháp vô cùng phẫn uất, căm ghét chế độ thuộc địa. Trong nhiều nước thuộc địa, quần chúng đã nhiều lần nổi dậy chống chính quyền thực dân, xoá bỏ ách áp bức dân tộc nhưng lần nào cũng bị bộ máy thống trị của chính quyền thực dân đàn áp tàn khốc, lần nào cũng bị dìm trong máu. Từ thực tiễn cuộc sống và đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ nguyên nhân bất thành của các cuộc nổi dậy đó là do thiếu tổ chức và thiếu người lãnh đạo. Nhằm khắc phục tình trạng đó, Người đề nghị Quốc tế Cộng sản cần phải “giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng 1. Sau Đại hội, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục củng cố và phát triển thêm về luận điểm tính chủ động của cách mạng thuộc địa mà Người đã nêu ra từ năm 1921, và trình bày tại Đại hồi V Quốc tế Cộng sản (1924) đưa luận điểm đó vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp mà Người đang gấp rút hoàn thành. Phát triển sáng tạo tư tưởng Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định cách mạng thuộc địa có vị trí ngang hàng và có quan hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Mặt khác, Người đã phát triển thêm luận điểm nổi tiếng về cách mạng thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc, khẳng định cách mạng thuộc địa phải biết phát huy tính chủ động, tự mình làm cách mạng, không phụ thuộc vào cách mạng “chính quốc”. Trong thời đại mới, cách mạng thuộc địa nếu biệt phát huy tính chủ động cách mạng thì có thể thành công trước và do đó, có thể giúp đỡ cách mạng vô sản ở “chính quốc trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn. Đây còn là “bài học lịch sử lớn, có ý nghĩa nguyên tắc nói lên nguyên lý: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, cách mạng là sáng tạo, giáo điều dập khuôn sẽ dẫn tới thất bại” 2. Luận điểm về tính chủ động trong công cuộc đấu tranh giải phóng, tự chủ, tự mình làm cách mạng là luận điểm đầu tiên trong tư tưởng quân ri sự Hồ Chí Minh. “Điểm xuất phát trong tư tưởng quân sự của Hồ Chủ tịch là phải làm cách mạng. Có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì sẽ chết dần, chết mòn” 3. Luận điểm đó có giá trị vô cùng to lớn đối với cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa nói chung và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam nói riêng. Thấm nhuần luận điểm đó, cách mạng Việt Nam đã chủ động chuẩn bị lực lượng, đón thời cơ thuận lợi, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám. Tiếp đó, chủ động chuẩn bi đất nước với tinh thần “bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước” 4 để đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược. ____________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 289. 2. Lê Khả Phiêu: Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường Đảng ta và nhân dân ta tiên vào thiên kỷ XXI. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 12. 3. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, t.2, tr.170. 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.317. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:45:31 pm Vì vậy, ta đã giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh cách mạng. Chính kẻ thù cũng phải thừa nhận: “ưu thế hơn hẳn của chiến lược chiến tranh cách mạng Việt Nam là nằm trong thế chiến lược chủ động. Mỹ như phải nhảy theo điệu nhạc chiến lược của Bắc Việt Nam. Chiến lược chủ động của Bắc Việt có một giá trị đặc biệt. . . Chúng ta thừa nhận chiến lược chủ động của Việt Cộng” 1.
2. Phá bỏ nền móng của chủ nghĩa đế quốc bằng bạo lực cách mạng Đầu năm 1919, các nước đế quốc thắng trận trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất họp Hội nghị ở Vécxay (Pháp) để chia lại thị trường và khu vực ảnh hưởng, chủ yếu là cho Mỹ, Anh, Pháp. Tổng thống Mỹ Uynxơn đến Hội nghị với “kế hoạch 14 điểm”, rêu rao quyền dân tộc tự quyết, nhằm lôi kéo nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, tranh giành ảnh hưởng với các nước đế quốc khác. Với sự nhạy cảm của nhà yêu nước nhiệt tình, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Vécxay bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam gồm 8 điểm, yêu cầu các cường quốc và Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách đó còn được gửi đến các nghị sĩ Quốc hội Pháp, đồng thời đăng tải rộng rãi trên nhiều tờ báo lớn ở Pháp, in thành truyền đơn phân phát trong các cuộc mít tinh của nhân dân Pháp, phát cho Việt kiều và gửi về nước. Giải thích về việc gửi yêu sách, Người nói rõ: “... Các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi... không ai có thể phủ nhận rằng nếu không có các quyền tự do ấy, thiết yếu cho việc truyền bá những tư tưởng và kiến thức mà đời sống hiện đại đòi hỏi, thì không thể trông mong tiến hành bất cứ một công cuộc giáo hoá nghiêm chỉnh nào cả” 2. Ý tưởng đó được thể hiện trong bản yêu sách “Rất ôn hoà cả về nội dung lẫn về hình thức”,. Nhưng do bản chất của chủ nghĩa đế quốc, bản yêu sách của Nguyễn Ái Quốc cũng như yêu sách của các đoàn đại biểu ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên tại Hội nghị Vécxay đều “không có kết quả gì hết” 3. Qua thực tế, Người hiểu rằng những lời tuyên bố về tự do dân chủ của các nhà chính trì tư bản đế quốc chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc, “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là “một trò bịp bợm lớn” . Sau Hội nghị Vécxay, các nước thắng trận trong chiến tranh đế quốc không chỉ tước đoạt các vùng ảnh hưởng của Đức mà còn xâu xé cả miền Ruya là khu vực công nghiệp than và luyện kim quan trọng của nước Đức. Tiếp đó, tháng 1-1923, đế quốc Pháp ấp ủ mưu đồ nắm ưu thế ở châu Âu, nên đã cùng Bỉ chiếm đóng miền Ruya, làm cho tình hình trở nên nghiêm trọng. Theo dõi những diễn biến đó, ngày 1-2-1923, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Bộ sưu tập động vật”, vạch trần những âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và nguy cơ tiềm ẩn của sự xung đột quân sự mới giữa các nước đế quốc với nhau. Người viết: “Cái con chó ngắn mõm (ám chỉ nước Anh lúc đó) chẳng đã chạy đến nhe bộ răng khả ố của nó ra mà xé toạc cả cơ cấu của Hội nghị Pa ri đó sao? Thành thử con khỉ Phlamăng và con gà sống Gô loa (ám chỉ Bỉ và Pháp) phải một mình đương đầu với con phượng hoàng Giécmanh ở miền Ruya” 4 Trước những hoạt động ráo riết của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc quan tâm theo dõi những hội nghị lớn của các cường quốc đế quốc và những động thái quân sự của các nước đó ở khu vực chiến lược châu Á - Thái Bình Dương. Từ ngày 12-11-1921 đến ngày 6-2-1922, các nước đế quốc lớn họp hội nghị ở Oasinhtơn (Mỹ). Hội nghị nhằm cụ thể thêm một bước việc phân chia lại thuộc địa và khu vực ảnh hưởng, buộc nước Anh từ bỏ quyền thống trị mặt biển, thủ tiêu liên ngành Anh - Nhật, buộc Nhật từ bỏ ý đồ độc quyền kiểm soát Trung Quốc, dọn đường cho đế quốc Mỹ nô dịch các nước và giành quyền làm bá chủ Thái Bình Dương, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ ý đồ của mỗi nước đế quốc, cũng như bản chất gây chiến của chúng và những hậu hoạ sau cuộc hội nghị đó. _______________________ 1. Đavítsơn: Những bí mật của chiến tranh Việt Nam - Dẫn theo Đại thắng Mùa xuân 1975 - nguyên nhân và bài học, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1995, tr. 230. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1.1, tr. 10. 3. Trần Dân Tiên: Nhưng mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr. 33. 4. Hồ Chí Minh : Toàn tập, Sđd, t.1 , tr. 141 . Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:49:09 pm Vì vậy, Người lưu ý giai cấp vô sản thế giới phải nâng cao cảnh giác ngăn chặn chiến tranh đế quốc, nếu lơ là “cuộc chiến tranh khác sẽ có thể sẽ nổ ra vì vấn đề Thái Bình Dương” 1. Cũng trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc còn quan tâm đến kế hoạch của các nước đế quốc lớn nhằm làm sống lại ngành công nghiệp quân sự của Đức bại trận trong chiến tranh, hướng nước Đức vào con đường chống Liên Xô và các nước khác.
Năm 1924, hội nghị đại biểu các nước thắng trận họp ở Luân Đôn, thủ đô nước Anh đã thông qua kế hoạch Đao xơ nhằm thực hiện mưu đồ ấy. Vạch rõ nguy cơ của kế hoạch đó đồi với giai cấp vô sản thế giới, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích luỹ. Kế hoạch của các nhà chuyên môn đang tổ chức việc nô dịch công nhân nước Đức. . . Việc nô dịch hoàn toàn giai cấp vô sản Đức chắc chắn sẽ dẫn tới việc nô dịch giai cấp vô sản châu Mỹ và châu Âu. Kế hoạch Đao xơ là một sự tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân” 2. Người đặc biệt quan tâm đến chiến lược quân sự của các nước đế quốc lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sau khi phân tích những động thái quân sự của Nhật Bản ở đảo Yap, Mỹ tăng cường tàu chiến ở Thái Bình Dương, Pháp thấy sự cần thiết thiết lập và củng cố hệ thống thuộc địa vành đai Thái Bình Dương, Nguyễn ái Quốc vạch trần những âm mưu nguy hiểm của các cường quốc đế quốc cảnh báo nhân loại tiến bộ về nguy cơ Thái Bình Dương đã trở thành “một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào dòm ngó” 3, rằng khu vực này “tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới” 4. Tiêu điểm mà chủ nghĩa đế quốc đang “dòm ngó”, theo Nguyễn Ái Quốc, chính là nước Trung Quốc rộng lớn, dân số đông, có nguồn nguyên liệu dồi dào và một thị trường rộng lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc là “miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một cái được 5 , thế là chúng “cắt vụn Trung Quốc ra: cách này chậm hơn nhưng khôn hơn” 6. Mỗi nước đế quốc can thiệp vào Trung Quốc đều vì lợi ích riêng, muốn “giành thêm những nhượng bộ mới” 7. Phân tích tình hình Trung Quốc lúc đó, Nguyễn Ái Quốc viết: “Nhìn vào bản đồ Trung Quốc, ta thấy rằng hầu hết các hải cảng quan trọng, hầu hết các vị trí chiến lược, hầu hết các trung tâm sản xuất hiện đại đều bị nước ngoài chiếm đóng. Song bản đồ vẫn chưa nói được hết. . . chưa chỉ rõ được tầm đại bác của bọn đánh thuê nước ngoài có thể bắn tới tận đâu” 8. Như vậy, tiếp theo sự phân tích của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-lênin về bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục bổ sung và chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất không hề thay đổi. Trái lại, bản chất gây chiến, xâm lược đàn áp cách mạng, ngày càng điên cuồng hơn. Kết luận Người rút ra là: giai cấp vô sản thế giới phải luôn luôn cảnh giác, ngăn ngừa chiến tranh đế quốc; phải dùng bạo lực cách mạng chông lại bạo lực phá.ri cách mạng. “Trong thời gian ngắn nhất phải tạo ra một phong trào đối kháng mang tinh thần cộng sản, thống chủ nghĩa tư bản và hai hình thức đặc biệt của nó là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa pháo thuyền ở các thuộc địa” 9. . Cùng với việc nghiên cứu, vạch trần bản chất gây chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, Nguyễn ái Quốc đã đi sâu nghiên cứu bản chất ăn bám, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, vạch trần những luận điệu giả dối về “khai hoá văn minh” của chúng. Sau khi bản yêu sách của nhân dân Việt Nam được gửi tới Hội nghị Vécxay, đến Tổng thống Mỹ, các nghị sĩ Quốc hội Pháp và đăng tải rộng rãi trên các tờ báo lớn của nước Pháp, bọn thực dân lồng lộn công kích Nguyễn Ái Quốc và bản yêu sách. Chúng cho rằng, cứ theo cái đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ ngang hàng với người Pháp; không được, phải kìm chúng mãi trong vòng nô lệ. Để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên tờ Courrier Colonial (ngày 27-6-1919) và phát biểu của ông Utơrây tại cuộc thảo luận của Nghị viện Pháp (18-9-1919), Nguyễn Ái Quốc viết ba bài báo nhan đề “Tâm địa thực dân”, “Vấn đề dân bản xứ”, “Thư gửi ông Utơrây”, tố cáo trước dư luận sự giả dối của bọn bồi bút thực dân và chính sách thống trị thuộc địa tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. ______________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 247, 320. 3, 4, 5, 6, 7, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 243, 244, 318, 319. 9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 445. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:51:56 pm Tiếp đó, Người viết một loạt bài báo phân tích sự tương phản trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ở các nước thuộc địa. Một bên là những người bản xứ bị dìm trong cảnh dốt nát. phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt trong những lao tác nặng nhọc nhất và bạc bẽo nhất để kiếm sống một cách chật vật, để nuôi ngân quỹ của chính quyền và một bên là những người Pháp đi lại tự do, tự dành cho mình tất cả tài nguyên, chiếm đoạt toàn bộ xuất nhập khẩu, các ngành nghề béo bở nhất, bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt nát và nghèo khốn của nhân dân.
Để làm rõ bản chất, thủ đoạn thống trị của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, làm cơ sở khẳng định? trước chế độ bạo lực thực dân, muốn giải phóng khỏi ách áp bức dân tộc, không còn con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng loạt bài báo nổi tiếng đăng trên nhiều tờ báo của nước Pháp và tờ báo Người cùng khổ do Người sáng lập. Trên cơ sở những bài báo đó, trong thời gian ở Liên Xô dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Người đã dành thời gian hoàn chỉnh tác phẩm Bản án Chế độ thực dân Pháp. Tác phẩm đó được Thư quán lao động xuất bản ở Pa ri năm 1925. Bằng những chứng cứ cụ thể, xác thực, sắc bén, Nguyễn Ái Quốc đã chọc thủng sự bưng bít có hệ thống của chủ nghĩa thực dân ở các thuộc địa, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ tội ác không thể tưởng tượng được của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương và các nước thuộc địa khác của chúng. Người vạch ra rằng, để đảm bảo thu được lợi nhuận tối đa, chính quyền thực dân Pháp thi hành thủ đoạn độc quyền kinh tế. Chúng độc quyền kinh doanh, độc quyền nắm phương tiện giao thông vận tải, khai thác quặng, chiếm đất đai lập đồn điền; độc quyền xuất, nhập khẩu, v.v.. Chính quyền thực dân đặc biệt ưa thích áp dụng lối bóc lột thời trung cổ. Đó là chế độ thuế khoá vô cùng nặng nề và hết sức vô lý như thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thuế nộp cho ngân sách Đông Dương, ngân sách xứ, tỉnh; thuế phần trăm nộp cho bọn quan lại, kỳ hào trong thôn, xã và hàng trăm thứ thuế khác. Nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế thực dân, thu được lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế về chính trị. Chúng dùng lối cai trị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho người dân thuộc địa được hưởng quyền ngôn luận, tự do dân chủ. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Người dành hẳn một chương vạch trần “tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị” thuộc địa. Bằng số liệu cụ thể lấy từ kho lưu trữ Pháp, Người mô tả các viên chức thuộc địa là những tên ăn bám. Chính cái “bọn cặn bã” đó là những tên đục khoét ngân sách một cách bỉ ổi nhất. Để bù vào chỗ thâm hụt ngân sách, chính quyền thuộc địa dùng thủ đoạn lừa đảo, áp đặt vô nhân đạo. Trước hết, họ phát các khoản lợi tức công trái, bắt các xã bán công sản để mua. Sau đó, họ đòi những người có “máu mặt” đến, ấn cho mỗi người một biên lai đã ghi sẵn số tiền và hạn kỳ nộp, nhưng vì “ruột két của chính phủ thì rộng thênh thang, mà số những nhà công thương bản xứ thì không nhiều, cho nên số công trái ấn vào cho họ không đủ để nhét đầy cái ruột két không đáy kia” 1, thế là nhà nước bảo hộ gõ vào đám đông dân nghèo, bắt hai, ba người chung nhau mua một cổ phiếu. Về văn hoá, thực dân Pháp ra sức thực hiện chính sách văn hoá nô lệ. “Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất” 2. Điều mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm nghiên cứu là thủ đoạn thống trị bằng quân sự của chính quyền thuộc địa. Chúng đánh vào nhân dân thuộc địa một thứ thuế mà Người gọi là “thuế máu”. “Thuế máu” chính là đầu đề của chương đầu tiên trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Bằng những số liệu cụ thể. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp trong việc bắt người bản xứ làm công cụ đánh thuê cho chúng. Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, “Tổng cộng có 700.000 người bản xứ đã” đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, 80.000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa” 3. Sau chiến tranh, tình trạng săn bắt dân bản xứ để bổ sung cho quân đội Pháp vẫn tiếp tục. Trước tình trạng đó Nguyễn Ái Quốc công bố bài báo nhan đề “Đội quân chống cách mạng”, đưa ra số liệu hùng hồn, chứng minh cho nhận định (non một nửa quân đội Pháp là người bản xứ) rằng: __________________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.76, 99. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.24. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Năm, 2009, 11:55:56 pm “Trong số 150 trung đoàn của quân đội Pháp, có 10 trung đoàn người da trắng ở các thuộc địa, nghĩa là những người nửa bản xứ; 30 trung đoàn người châu Phi và 39 trung đoàn người bản xứ các thuộc địa khác” 1. Điều lưu ý là, bài báo không chỉ đề cập đến cơ cấu của quân đội Pháp, mà quan trọng hơn là đã đề cập đến vấn đề mà lúc đó các chiến sĩ cách mạng quốc tế ít biệt đến, đó là tính chất “nguy hiểm” của việc sử dụng lính thuộc địa đàn áp cách mạng ở thuộc địa lẫn cách mạng ở “chính quốc” một cách mù quáng, điều “mà người lính Pháp, giác ngộ hơn, có thể từ chối không chịu bước” 2.
Kết quả nghiên cứu đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Người còn phát triển thêm về các thủ đoạn săn bắt “thứ vật liệu biết nói” đó và tình cảnh của người lính bản xứ khi giải ngũ. Người viết: “Thế là những “cựu binh” - đúng hơn là cái xác còn lại - sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lý, nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lý cả” 3. Còn thương binh Pháp và vợ tử sĩ Pháp thì “đều được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện”. Thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm tới hai tội ác đối với nhân loại. Một mặt, họ vẫn chưa thoả khi tự tay làm cái việc bỉ ổi của kẻ đầu độc, mà còn muốn lôi kéo vào đây cả những nạn nhân đáng thương hại của cuộc huynh đệ tương tàn nữa. Mặt khác, họ coi rẻ tính mạng và xương máu của những kẻ đã bị họ lừa bịp, đến nỗi tưởng rằng chỉ cần quẳng cho những người này “khúc xương thối ấy” là đủ đền bù được một phần của cánh tay bị mất hoặc mạng của một người chồng. Sau khi phân tích, kết án chính quyền thuộc địa về kinh tế chính trị, quân sự v.v., nêu rõ đặc trưng thống trị trực tiếp bằng bạo lực của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Bởi thế nó chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa” 4. Quan điểm sử dụng bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng còn được Người diễn đạt súc tích, sinh động trong một đoạn vàn nổi tiếng chứa đựng một “lý thuyết” tổng hợp bao gồm luận điểm về chủ nghĩa thực dân và luận điểm cơ bản về mòi quan hệ giữa cách mạng vô sần ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Người viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” 5. Với hình tượng độc đáo: muốn giết chết con đỉa phải đồng thời cắt cả hai vòi của nó, Nguyễn Ái Quốc đã đúc kết cô đọng lý luận về chủ nghĩa đế quốc thực dân và mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần phát triển lý luận của Các Mác và Lênin về chiến lược đoàn kết giai cấp vô sản quốc tế và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới cùng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thực dân. Nghiên cứu cống hiến của Người trong thời kỳ này, Tạp chí Plamêta đã nhận định: “Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả những gì mà những nhà lý luận mác xít đề cập tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên một tổng hợp những lý thuyết về sự giải phóng khỏi ách áp bức thực dân, có một sức mạnh không thể chối cãi được” 6. Như vậy, từ năm 1919 đến năm 1925, với việc phân tích một cách khoa học bản chất gây chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp vào việc nâng cao nhận thức cho các chiến sĩ cách mạng, không mơ hồ về âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời góp phần làm phong phú thêm những luận điểm của Lênin về chủ nghĩa đế quốc. ______________________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.l, tr.201 - 202, 102. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 29. 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 126. 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.120. 6. Tạp chí Plamêta - Ácxiông, Pa ri, tháng 3-1970. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:00:27 am Với việc phân tích âm mưu, thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa một cách hệ thống, có căn cứ xác thực, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp thấy rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, từ đó cảm thông, bênh vực, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Đó là một biện pháp tố cáo chính trị sắc bén.
Theo Lênin, tố cáo “kinh tế” là lời tuyên chiến đói với chủ xưởng thì tố cáo chính trị là lời tuyên chiến đối với chính phủ. Tố cáo chính trị là một trong những phương sách làm tan rã chế độ thù địch, tách kẻ địch ra khỏi những đồng minh ngẫu nhiên và tạm thời của nó. Hệ quả của sự kết án là: do chủ nghĩa thực dân tự bản thân nó đã là “bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, nên muốn thoát khỏi ách áp bức thực dân, không có con đường nào khác là phải dùng “bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Tư tưởng cách mạng bạo lực theo quan điểm Mác-lênin là một nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Tư tưởng bạo lực cách mạng của Người thống nhất biện chứng với chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, không hề đối lập với tinh thần yêu chuộng hoà bình, xa lạ với các xu hướng phiêu lưu, manh động, khủng bố cá nhân. Việc Nguyễn ái Quốc khẳng đình: cách mạng giải phóng thuộc địa phải giữ vững tính chủ động; muốn giết con đỉa phải đồng thời cắt cả hai vòi của nó bằng bạo lực cách mạng nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không những cổ vũ nhân dân Việt Nam đứng lên chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù, mà còn là một trong những cơ sở tư tưởng lý luận cho đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. 3. Tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân, làm cho “dân khí mạnh” để cách mạng thành công. Sau khi khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản, thì vấn đề tiếp theo là xác định phương pháp cách mạng. Đây là một vấn đề cũng cực kỳ quan trọng, như sau này đồng chí Lê Duẩn trình bày có những trường hợp trong lịch sử, có khi đường lối đúng nhưng phương pháp sai, cách mạng không thể phát triển đi đến thắng lợi. Để xác định chính xác phương pháp cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đọc nhiều tác phẩm lý luận. Điều mà Nguyễn ái Quốc đặc biệt lưu ý là kết luận của C.Mác, Ph.ăng ghen, V.I.Lênin về bạo lực là quy luật phổ biến của cách mạng và nó có thể diễn ra bằng khởi nghĩa vũ trang, bằng chiến tranh cách mạng hoặc kết hợp giữa các hình thức đó; lưu ý đến những quy tắc và nghệ thuật khởi nghĩa được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng khái quát sâu sắc. Người còn quan tâm đến nhiều bài học về khởi nghĩa ở nước Nga năm 1917 do Lêmn trực tiếp tổ chức và lãnh đạo. Nhưng, Người cũng nhận thấy rằng điều kiện đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước thuộc địa chưa eo lực lượng giai cấp công nhân đông đảo để có thể giác ngộ, tổ chức thành lực lượng hùng hậu cho khởi nghĩa nổ ra ở thành phố như cách mạng Nga. Bởi vậy, Người theo dõi sát sao các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới các màu sắc khác nhau đang diễn ra lúc đó ở các nước thuộc địa. Trong khoảng thời gian từ năm 1917 đến năm 1923, nhiều cuộc khởi nghĩa đã liên tiếp nổ ra ở nhiều nước thuộc địa, nhất là các thuộc địa của Pháp và Anh. Từ thực tiễn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, các cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào Nam Bộ (Việt Nam) đến các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đahômây, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, ấn Độ..., Nguyễn Ái Quốc đã viết một loạt bài báo phân tích nguyên nhân nổ ra và sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa đó. Qua khảo sát thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc rút ra hai kết luận quan trọng. Thứ nhất, theo quy luật, có áp bức có đấu tranh. Nhưng các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa có những nét riêng biệt so với các cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước “chính quốc”. Họ bị kẻ thù đàn áp khốc liệt. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:14:39 am Người viết: “Dân bản xứ, không nhịn nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành. Người ta dùng những biện pháp cương quyết. Người ta đưa quân đội súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến; người ta hạ lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt” 1.
Bởi vậy muốn tổ chức bạo động, phải có kế hoạch chu đáo, có quyết tâm cao, có tổ chức chặt chẽ. Thứ hai, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện một lực lượng mới tham gia. Đó là giai cấp công nhân. Nguyễn Ái Quốc coi đó là “dấu hiệu mới của thời đại”. Vấn đề đặt ra là phải tăng cường tình đoàn kết giai cấp cùng chống kẻ thù chung. Người cho rằng: “Chúng ta phải rút ra những kết luận nghiêm túc từ những sự kiện này 2, cụ thể là : trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng: kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây” 3. Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn đó, năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng chính phương pháp cách mạng ở các nước thuộc địa thông qua việc khẳng định vị trí vai trò của khởi nghĩa vũ trang trong tiến trình cách mạng. Theo Người, công cuộc giải phóng Việt Nam bằng khởi nghĩa vũ trang; khởi nghĩa vũ trang là một phương thức cơ bản để giành chính quyền thông qua việc lật đổ hệ thống chính quyền thực dân thuộc địa, chứ không phải bằng con đường cải cách dần, một cuộc đảo chính giản đơn, hay một cuộc cách mạng từ trên dội xuống như một số người thời đó quan niệm. Từ việc khẳng định vị trí, vai trò của khởi nghĩa vũ trang, Nguyễn Ái Quốc đã mường tượng, hình dung cuộc khởi nghĩa ở Việt Nam trong tương lai khi Người nói chuyện với một hoạ sĩ Thuỵ Điển tại Mátxcơva ngày 19 tháng 9 năm 1924. Sau này Trích Giôhanxơ kể lại: “Được hỏi về suy nghĩ của Người đối với việc giải phóng Việt Nam, Người trả lời: bằng cách khởi nghĩa vũ trang trong cả nước... Người nói chuyện rất say sưa về tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của những người nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những “tế bào” có thể hợp thành nạn nhân của cuộc khởi nghĩa mà Người tin chắc chắn sẽ nổ ra” 4. Tuy mới chỉ là nét phác hoạ đầu tiên, nhưng nó đã phản ánh sâu sắc về ý tưởng khởi nghĩa vũ trang của Người. Đó là việc coi trọng vai trò của một lực lượng mới nảy sinh từ chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân tham gia khởi nghĩa và vai trò của lực lượng quân sự trong tiến trình khởi nghĩa. Nhận thức đó ghi dấu son đầu tiên trong tư tưởng khởi nghĩa vũ trang và tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Người. Cũng trong năm 1924, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về cơ sở kinh tế, xã hội và tư tưởng phương Đông, Nguyễn Ái Quốc viết “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”, đề cập đến một vấn đề mới lạ so với quan mềm của thời đó trong Quốc tế Cộng sản, đó là sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc. Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu ly biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917” 5. Cũng trong báo cáo đó, vấn đề khởi nghĩa vũ trang lại được nêu ra . Người nhận xét rằng: cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương muốn thắng lợi “Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng. . .” 6. ____________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 173. 2. Những sự kiện từ cuộc khởi nghĩa ở Đahômây. Hai bài viết ngày 18 và 30-3-1923. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 170. 4. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hồ Chí Minh - Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 19. 5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.466, 468-469. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:25:54 pm Quan điểm đó là cơ sở lý luận của đường lối khởi nghĩa toàn dân trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám. Sau khi đã bước đầu nêu lên những quan điểm cơ bản thuộc về phương hướng chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, vấn đề đặt ra là phải có một đảng tiền phong để lãnh đạo cuộc khởi’ nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước, tiến lên giành những thắng lợi mới trong các giai đoạn tiếp theo.
Thực hiện kế hoạch đó, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô sang Trung Quốc hoạt động. Ngày 11-11-1924, Người đến Quảng Châu. Trách nhiệm của Người trong đợt công tác này là thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao phó: xây dựng phong trào công nhân và cộng sản ở Đông Nam á; thực hiện nhiệm vụ trước Quốc tế Nông dân là xây dựng phong trào nông dân châu á, nơi có nông dân chiếm phần lớn trong cơ dân. Ngoài hai nhiệm vụ đó, Người đặt ra nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện tiến tới xây dựng chính đảng vô sản ở Việt Nam; trước mắt là mở những lớp huấn luyện cho những thanh niên yêu nước Việt Nam đang có mặt ở Quảng Châu về con đường giải phóng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đến Quảng Châu hoạt động, tuy không trực tiếp gặp cụ Phan Bội Châu, nhưng qua trao đổi thư từ do Hồ Tùng Mậu chuyển, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu ý kiến về đường lối hoạt động của Cụ, hướng các hoạt động đó vào con đường cách mạng vô sản. Cụ Phan Bội Châu rất khâm phục và tin tưởng Nguyễn ái Quốc, đã giao cho Người “một bản danh sách 10 người An Nam đã cùng ông hoạt động bấy lâu”1. Mười người đó chính là những thanh niên đầu tiên trong Tâm Tâm xã, trong đó có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, v.v.. Nguyễn Ái Quốc nghĩ rằng cần phải triển khai công tác tổ chức, hình thành một nhóm trung kiên để hoạt động. Thực hiện ý định đó, Người đã thành lập một nhóm thanh niên cách mạng đầu tiên gồm 9 người. Trong nhóm đó, Người kết nạp được 5 đảng viên dự bị. Người phái hai người về nước hoạt động, ba người ra tiền tuyến hoạt động trong quân đội của Chính phủ Tôn Dật Tiên, một người đi công cán quân sự. Tháng 6-1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên đó, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một đoàn thể cách mạng có xu hướng Mác xít lêninnít, hạt nhân lãnh đạo Hội là những người cộng sản. Nhiệm vụ trước mắt của những người cộng sản trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là phải tiến hành đấu tranh tư tưởng nhằm loại trừ chủ nghĩa cải lương, đồng thời phê phán khuynh hướng cách mạng nửa vời của giai cấp tiểu tư sản; giải thích cho quần chúng hiểu và phân biệt được tư tưởng cách mạng và tư tưởng cải lương. Công việc tiếp theo là phải tổ chức được hệ thống đường dây liên lạc với trong nước để đưa đón thanh niên trong nước đến Quảng Châu dự các khoá huấn luyện chính trị và quân sự. Về việc này, Nguyễn Ái Quốc dựa vào đường dây của Tâm Tâm xã Người chủ trương khai thác và sử dụng các trạm giao thông đưa người xuất dương đã hình thành từ thời các phong trào Cần Vương, Đông Du 2. Hoạt động ở Quảng Châu trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc còn tranh thủ các điều kiện thuận lợi khác nhằm chuẩn bị trước đội ngũ cán bộ quân sự để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng sau này. Trước đó, tháng 1-1924, Đại hội Quốc dân Đảng Trung Quốc thông qua Nghị quyết mời cố vấn quân sự xô viết và chủ trương xây dựng lực lượng vĩl trang theo mẫu hình quân đội Liên Xô do Lênin sáng lập. Kế đó, Chính phủ Tôn Dật Tiên quyết định xây dựng Trường Quân sự Hoàng Phố để đào tạo đội ngũ sĩ quan khung và giúp đỡ các nước láng giềng trong việc đào tạo, huấn luyện cán bộ. Nguyễn Ái Quốc cử nhiều cán bộ đi học ở Trường Quân sự Hoàng Phố. Trường Quân sự Hoàng Phố tồn tại ba năm và đã đào tạo được 5 khoá. Từ khoá ba đến khóa năm, khoá nào cũng có học sinh Việt Nam theo học. Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng hơn 20 học viên 3 theo học ở trường này. Tại đây, các học viên được học những kiến thức quân sự cơ bản theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm những quan điểm mác xít về chiến tranh hiện đại, về nghệ thuật quân sự, về những nguyên lý xây dựng quân đội cách mạng, những kinh nghiệm tác chiến trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau của quá trình đấu tranh quân sự. ______________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 8. 2. Xem: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924-1927), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 53. 3. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 114 . Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:29:26 pm Nhiều người học ở Trường Quân sự Hoàng Phố sau này đã trở thành những nhà quân sự xuất sắc của cách mạng Việt Nam như Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng), Lý Đức Lan (Nguyễn Sơn), Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên) v.v..
Bên cạnh cử cán bộ đi học quân sự ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Nguyễn Ái Quốc còn tổ chức Trường huấn luyện chính trị của cách mạng Việt Nam. Trường đặt tại ngôi nhà 13-13B đường Văn Minh nay là nhà 248 và 250): Nguyễn Ái Quốc là giảng viên chính, đồng thời là người lãnh đạo các khoá huấn luyện. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Người đã mời nhiều cố vấn quân sự Xô viết bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên, trong số đó có Ga lin, sau này là nguyên soái Liên Xô, đến giảng dạy trong nhiều khoá. Từ đầu năm 1926 đến tháng 4-1927, Người đã trực tiếp mở ba khoá huấn luyện gồm 75 học viên. Nếu tính cả các khoá khác của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên mở mà Nguyễn Ái Quốc không trực tiếp giảng dạy (Người đã sang Liên Xô) thì có khoảng 200 người 1. Số cán bộ được đào tạo tại Trường huấn luyện chính trị được trang bị kiến thức cơ bản về chính trị và quân sự. Đây là vốn quý của cách mạng Việt Nam, là vốn ban dầu để xây dựng quân đội cách mạng sau này. Năm 1927, các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại Trường huấn luyện chính trị đã được Bộ tuyên truyền Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông tập hợp lại, in thành sách với nhan đề Đường Kách mệnh năm 1927. Trong tác phẩm đó, Người đã tổng kết kinh nghiệm nhiều cuộc cách mạng điển hình trên thế giới như cách mạng tư sản Mỹ, Anh, Pháp... và Cách mạng Tháng Mười Nga. Cách mạng tư sản Pháp và Mỹ là những cuộc cách mạng “không đến nơi, vì chưa giải phóng quần chúng lao động, chưa mang lại hạnh phúc cho số đông nhân dân. Cách mạng Nga là một cuộc cách mạng “đã thành công và thành công đến nơi”, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật” 2. Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đó có quan hệ mật thiết với cách mạng giải phóng giai cấp đánh đuổi tư bản, địa chủ, giải phóng giai cấp công, nông và các tầng lớp lao động khác. Bởi vậy: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” 3. Tư tưởng đó là nền tảng cho đường lối chiến lược giải phóng dân tộc tiến lên xã hội chủ nghĩa. Trong tác phẩm Đường lách mệnh, Người khái quát sâu sắc những vấn đề then chốt nhất để thực hiện cuộc “cách mệnh đến nơi”. Đó là phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin, phải có đảng “vững bền”, phải lấy “dân chúng (công nông) làm gốc” 4. Thực hiện chiến lược đoàn kết quốc tế, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Người đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đứng nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: Trước hết phải có đảng cách mệnh. Đảng có vững cách mệnh mới thành công. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” 5. Khẳng định phương pháp cách mạng Việt Nam, Người nêu rõ: "Biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắn làm được" 6. Trong cuộc đấu tranh đó, quần chúng nhân dân có vai trò to lớn “cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người” 7. (dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại” 8. ____________________________ 1. Theo: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924-1927), Sđd, tr 57. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280. 3, 4, 5, 6, 7, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 270, 280, 268, 267, 262, 274. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:33:31 pm Người phê phán mọi hành động cực đoan, làm liều, ám sát cá nhân và cho rằng ám sát là làm liều, kết quả ít. Xác định chính xác động lực cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ: “Cách mạng thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được” 1; công nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn của cách mạng công nông.
Ngoài ra, Người còn giới thiệu những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, bãi công đến tổng bãi công chính trị, tiến lên khởi nghĩa vũ trang và nghệ thuật chọn thời cơ khởi nghĩa. Người còn cổ vũ các chiến sĩ cách mạng và quần chúng tấm gương của nhân dân Pháp trong cuộc cách mạng tư sản “Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu, nhưng chỉ nhờ gan cách mệnh mà trong dẹp nổi loạn, ngoài phá cường quyền. Hồi ấy lính cách mệnh gọi là “lính không quần” *, người không có nón, kẻ không có giày, áo rách quần tua, mặt gầy, bụng đói. Thế mà lính ấy đến đâu, thì lính ngoại quốc thua đấy, vì họ gan liều hy sinh quá không ai chống nổi” 2 . Trong tác phẩm Đường Kách mệnh Người còn đề cao tinh thần độc lập, chủ động, sáng tạo trong cách mạng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” 3. Như vậy, tác phẩm Đường Kách mệnh đề cập đến nhiều vấn đề then chốt của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng chính trị bao trùm là thực hiện ở Việt Nam cuộc cách mạng “đến nơi” với mục tiêu cách mạng là độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó cũng là mục tiêu của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, gắn cứu nước với cứu dân, giải phóng Tổ quốc và xây dựng chế độ mới tốt đẹp 1. Quan điểm quân sự là xây dựng, phát huy sức mạnh toàn dân Việt Nam, làm cho “dân khí mạnh ‘ để giải phóng dân tộc. Quan điểm quân sự đó chi phối mọi hoạt động quân sự sau này; có dân thì có tất cả, “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Giữa năm 1927, tình hình Trung Quốc có nhiều biến động. Tập đoàn quân phiệt Tưởng Giới Thạch gây phản biến. Trước tình hình đó, Nguyễn ái Quốc rời Quảng Châu sang Mátxcơva, rồi từ đó, Người sang Đức, bí mật trở lại nước Pháp, lại qua Đức, Bỉ, Italia, rồi từ Italia đáp tàu biển của Nhật Bản tới Thái Lan vào năm 1928. Trong thời gian ngắn ở Mátxcơva, Người viết tập sách nhan đề “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” 4. Trong tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra luận điểm quan trọng: cách mạng vô sản ở những nước nông nghiệp không thể thắng lợi nếu như giai cấp vô sản không được quần chúng nông dân tích cực ủng hộ. Do đó, giai cấp vô sản không được quên rằng cần phải có một chính sách đúng đắn để tập hợp phong trào nông dân, làm cho phong trào đó thoát khỏi tình trạng rời rạc, biệt lập, không có cương lĩnh chung. Người khẳng định rằng: “Một phong trào cách mạng quan trọng trong nông dân, nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang chống lại chính quyền của bọn thống trị”, “phải hình thành các đội du kích nông dân” 5. Trường quân sự của những người cộng sản Đức tại Mátxcơva dùng tác phẩm đó làm tài liệu giảng dạy. Đối với cách mạng Việt Nam, đây là những tri thức quý báu, về sau được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng. Trong thời gian này, phong trào yêu nước và dân chủ ở trong nước có những chuyển biến mới. Thông qua cuộc vận động “vô sản hoá” của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên , phong trào công nhân trong cả nước ngày càng phát triển. Tuy nhiên, từ trong phong trào cách mạng, ở cả ba miền đã xuất hiện ba tổ chức cộng sản “cùng một mục đích nhưng chia rẽ về tổ chức và hành động” 6. _______________________ * Quân đội cách mạng Pháp thành lập năm 1793, gồm phần lớn là nông dân và thợ thủ công nghèo. Họ không được trang bị quần ngắn như quân đội của bọn quý tộc. 1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 276, 272, 293. 4. Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình hình thành và chiến thắng của quân đội ta. Tạp chí Cộng sản, số 24 tháng 12 năm 1999. 5. Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại trường Đại học Da xao năm 1990 ở Cộng hoà dân chủ Đức. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. 6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh - Quá trình hình thành và phát triển, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1993, tr. 23. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:41:41 pm Nhận được những tin tức về tình hình phân tán, cạnh tranh lẫn nhau của các nhóm cộng sản ở trong nước, với sự nhạy cảm chính trị và với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết, định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc khẩn trương chuẩn bị văn kiện và triệu tập Hội nghị hợp nhất các nhóm cộng sản, thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 3-2-1930, Hội nghị hợp nhất các nhóm cộng sản khai mạc tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Sau những ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, các đại biểu dù Hội nghị “đều tán thành ý kiến của đại biểu quốc tế” 1, nhất trí thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt Sách luộc vắn tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Chánh cương vắn tắt “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” 2. Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đuổi đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập nhân dân được tự do, lấy ruộng đất của thực dân Pháp và phong kiến chia cho nông dân nghèo. Thành lập chính phủ công nông binh. Tổ chức ra quân đội công nông. Các nhiệm vụ đó bao hàm hai nội dung dân tộc và dân chủ, trong đó nổi lên mục tiêu trước mắt là giành lấy độc lập tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Sách lược vắn tắt chủ trương Đảng phải hết sức thu phục, tập hợp được đông đảo quần chúng công nông, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông v.v. để kéo họ tham gia cách mạng. Còn với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ . Khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, nhất thiết không được nhân nhượng, thoả hiệp, có hại cho lợi ích của công nông, không được hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác. Lời kêu gọi báo cho toàn thể nhân dân Việt Nam biết rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Từ nay, Đảng sẽ lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh “nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta” 3. Phân tích âm mưu, thủ đoạn quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời chỉ rõ nguy cơ tiềm tàng của một cuộc đại chiến thế giới mới. Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra chiến tranh thế giới 1914-1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc, “tổng hành dinh là Hội Quốc liên” 4. Lời kêu gọi viết tiếp: “Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác” 5. Đối với đế quốc Pháp, chúng ngày càng tăng cường quân đội để giết hại cách mạng Việt Nam, chuẩn bị cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa. Sau cùng, Người khẳng định: sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy, phong trào cách mạng ngày càng mạnh, nhân dân cả nước vùng dậy chống bọn đế quốc . Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt Lời kêu gọi là những văn kiện thuộc Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Với Cương lĩnh đầu tiên đó, cách mạng Việt Nam đã có một đường lối mang bản chất cách mạng và khoa học mà nội dung cốt lõi và bao trùm là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đường lối đó giải quyết nhiệm vụ dân tộc dân chủ trên lập trường giai cấp công nhân, nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc với quan điểm giai cấp quan điểm quốc gia với quan điểm quốc tế, nhấn mạnh việc quy tụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, của nhân dân cả nước “vùng dậy chống bọn đế quốc” 6. ___________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr 10. 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 216. 4, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 14, 15. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 30 Tháng Năm, 2009, 12:59:57 pm Trong khi Nguyễn Ái Quốc xác định chính xác đường lối, mục tiêu, động lực cách mạng Việt Nam, xác định đúng đối tượng của cách mạng thì, Quốc tế Cộng sản do thiếu thông tin, thiếu thực tế về phương Đông và tình hình các nước thuộc địa ở Đông Nam Á, hơn nữa trong thời điểm sau Đại hội VI (1928) khuynh hướng “tả” giữ vai trò chủ đạo nên chưa thấy đúng khả năng và lực lượng các giai cấp và tầng lớp khác ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân, chủ trương không liên minh với tư sản dân tộc và phú nông.
Tiếp đó, Người lại bị đế quốc Anh bắt giam trái phép ở Hồng Công (6-1931). Sau khi thoát ra khỏi nhà tù (1-1933), Người trở lại Liên Xô, nhưng trong “tình trạng” 1 không được giao nhiệm vụ. Mặc dù đây là thời kỳ Người gặp thử thách gay go và kiên trì quan điểm tư tưởng của mình (1931-1940), nhưng Người vẫn rất quan tâm đến tình hình trong nước nêu nhiều ý kiến với Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam trong nước phát triển. Trong những năm 1930-1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, nhưng từ phong trào cũng bộc lộ thiếu sót và bị kẻ thù sử dụng vũ lực đàn áp khốc liệt. Cuối năm 1930, trong một báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc trình bày rõ quan điểm của mình là hoan nghênh chính quyền xô viết và coi đó là sáng kiến to lớn của quần chúng cách mạng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng Người không tán thành chủ trương bạo động vì chưa có đủ điều kiện thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa. Người cho rằng đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong nhưng năm 1930- 1931 là “Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân, chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa ở địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền)”. Theo Người, tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc dấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia . “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân” 2. Người phê bình việc giải tán các đội tự vệ ở một số địa phương, coi đó là điều sai lầm. Để các đội tự vệ hoạt động đúng, phải làm cho các đội viên và quần chúng nhận rõ “mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình” 3. Sau khi phát biểu quan điểm không tán thành chủ trương bạo động do chưa có đủ điều kiện thắng lợi trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh và nêu quan điểm về tổ chức và hoạt dộng của lực lượng tự vệ, Nguyễn Ái Quốc khẩn thiết đề nghị Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản trên thế giới quan tâm hơn nữa đồi với phong trào cách mạng Việt Nam bằng cách viết thư động viên, cổ vũ phong trào, góp ý kiến trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ tinh thần và vật chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho phong trào cách mạng Việt Nam. Người còn yêu cầu Quốc tế Cộng sản ra lời hiệu triệu các Đảng Cộng sản, nhất là với Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động then thế giới mở một chiến dịch lên án thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp dã man các cuộc biểu tình: khủng bố và đốt phá làng mạc ở Việt Nam. Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và sự chỉ đạo sát hợp với tình hình của Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng trong cả nước tập trung đấu tranh chống khủng bố trắng, bảo vệ Xô viết Nghệ - Tĩnh, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống mọi thủ đoạn lừa bịp của địch. Năm 1934, sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc, sang Liên xô, Người gặp lại Đ. Manuinxki, P.Míp, V.Valaxihêva... và sau đó gặp Đimitơrốp và nhiều thành viên khác của Quốc tế Cộng sản. Nhận thấy sự non yếu trong nhận thức lý luận cách mạng của phần đông đảng viên cộng sản ở các nước thuộc địa, ngày 16-1-1935, Người viết thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản đề xuất một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ Việt Nam và các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự mà mỗi chiến sĩ cách mạng cần phải có. ________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 90. 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.567. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 09:37:15 pm Trong khi Nguyễn Ái Quốc xác định chính xác đường lối, mục tiêu, động lực cách mạng Việt Nam, xác định đúng đối tượng của cách mạng thì, Quốc tế Cộng sản do thiếu thông tin, thiếu thực tế về phương Đông và tình hình các nước thuộc địa ở Đông Nam Á, hơn nữa trong thời điểm sau Đại hội VI (1928) khuynh hướng “tả” giữ vai trò chủ đạo nên chưa thấy đúng khả năng và lực lượng các giai cấp và tầng lớp khác ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân, chủ trương không liên minh với tư sản dân tộc và phú nông.
Tiếp đó, Người lại bị đế quốc Anh bắt giam trái phép ở Hồng Công (6-1931). Sau khi thoát ra khỏi nhà tù (1-1933), Người trở lại Liên Xô, nhưng trong “tình trạng” 1 không được giao nhiệm vụ. Mặc dù đây là thời kỳ Người gặp thử thách gay go và kiên trì quan điểm tư tưởng của mình (1931-1940), nhưng Người vẫn rất quan tâm đến tình hình trong nước nêu nhiều ý kiến với Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam trong nước phát triển. Trong những năm 1930-1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, nhưng từ phong trào cũng bộc lộ thiếu sót và bị kẻ thù sử dụng vũ lực đàn áp khốc liệt. Cuối năm 1930, trong một báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc trình bày rõ quan điểm của mình là hoan nghênh chính quyền xô viết và coi đó là sáng kiến to lớn của quần chúng cách mạng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng Người không tán thành chủ trương bạo động vì chưa có đủ điều kiện thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa. Người cho rằng đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong nhưng năm 1930- 1931 là “Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân, chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa ở địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền)”. Theo Người, tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc dấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia . “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân” 2. Người phê bình việc giải tán các đội tự vệ ở một số địa phương, coi đó là điều sai lầm. Để các đội tự vệ hoạt động đúng, phải làm cho các đội viên và quần chúng nhận rõ “mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình” 3. Sau khi phát biểu quan điểm không tán thành chủ trương bạo động do chưa có đủ điều kiện thắng lợi trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh và nêu quan điểm về tổ chức và hoạt dộng của lực lượng tự vệ, Nguyễn Ái Quốc khẩn thiết đề nghị Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản trên thế giới quan tâm hơn nữa đồi với phong trào cách mạng Việt Nam bằng cách viết thư động viên, cổ vũ phong trào, góp ý kiến trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ tinh thần và vật chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho phong trào cách mạng Việt Nam. Người còn yêu cầu Quốc tế Cộng sản ra lời hiệu triệu các Đảng Cộng sản, nhất là với Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động then thế giới mở một chiến dịch lên án thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp dã man các cuộc biểu tình: khủng bố và đốt phá làng mạc ở Việt Nam. Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và sự chỉ đạo sát hợp với tình hình của Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng trong cả nước tập trung đấu tranh chống khủng bố trắng, bảo vệ Xô viết Nghệ - Tĩnh, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống mọi thủ đoạn lừa bịp của địch. Năm 1934, sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc, sang Liên xô, Người gặp lại Đ. Manuinxki, P.Míp, V.Valaxihêva... và sau đó gặp Đimitơrốp và nhiều thành viên khác của Quốc tế Cộng sản 4. Nhận thấy sự non yếu trong nhận thức lý luận cách mạng của phần đông đảng viên cộng sản ở các nước thuộc địa, ngày 16-1-1935, Người viết thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản đề xuất một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ Việt Nam và các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự mà mỗi chiến sĩ cách mạng cần phải có. ______________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 90. 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.567. 4. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1993, t.2, tr 45. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 09:41:17 pm Người đề nghị Ban phương Đông xuất bản những cuốn sách nhỏ viết về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề khởi nghĩa vũ trang. Do tư tưởng đúng đắn và hoạt động có hiệu quả, nên uy tín và ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc trong Đảng rất lớn. Đại hội I của Đảng ở Ma Cao (1935) đã cử Nguyễn Ái Quốc là đại biểu chính thức của Đảng cùng với Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản.
Đến những năm 1937, 1938, tình hình thế giới ngày càng biến đổi sâu sắc. Loài người đứng trước ngưỡng của của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Diên An (Trung Quốc) rồi từ đó đi cùng một đơn vị Hồng quân công nông vượt lục địa xuống Hoa Nam công tác. Trong thời gian ở Hoa Nam, lấy bí danh là Hồ Quang, Người cùng với Diệp Kiếm Anh tham gia huấn luyện “lớp đào tạo cán bộ du kích Nam Nhạc” 1 khoá II từ ngày 20-6 đến ngày 20-9-1939. Vừa hoạt động trong Tập đoàn quân thứ 18 Bát lộ quân Trung Quốc, Người vừa tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước. Trong nửa đầu năm 1939, với bút danh P.C.Linh, Người viết nhiều bài gửi về nước đăng trên tuần báo Tiếng nói của chúng ta (Notre voix), tờ tuần báo công khai của Đảng viết bằng tiếng Pháp xuất bản tại Hà Nội. Nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa Trốtxki để tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong đấu tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc viết ba bài đề cập đến vấn đề trốtkít. Người tập trung phân tích nguồn gốc, biểu hiện những thủ đoạn hoạt động hèn hạ của chúng và giới thiệu kinh nghiệm thành công chống chủ nghĩa Trốtxki ở nhiều nước. Người truyền đạt về nước chỉ thị của Quốc tế Cộng sản mà Người nhớ (do hoạt động bí mật): “Đối với bọn trốtkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị” 2. Sở dĩ vấn đề được lưu ý như vậy, vì Người nắm chắc tình hình trong nước. Thực tế trong nước lúc đó bọn trốtkít do Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh. . . cầm đầu đang ráo riết hoạt động, gây nhiều tiêu cực, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân. Trong bối cảnh đó, những bài viết của Người về vấn đề trên đã cung cấp cho Đảng ta nhiều kinh nghiệm quý của quốc tế, có giá trị lớn trong việc củng cố, tăng cường lực lượng cách mạng. Bên cạnh ba bài viết đề cập đến vấn đề trốtkít, phần lớn các bài viết khác, Nguyễn Ái Quốc bàn về vấn đề quân sự. Trong các bài “Người Nhật Bản muốn khai hoá Trung Quốc như thế nào”, “Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật”, “Những khó khăn của quân đội Nhật”, “Tổng kết sau hai năm đấu tranh” v.v.. Người đã tập trung phân tích những âm mưu, thủ đoạn quân sự của chủ nghĩa phát xít Nhật, đồng thời nêu rõ những vấn đề cơ bản đảm bảo cho cuộc kháng chiến chống phát xít giành được thắng lợi. Về nhiệm vụ cơ bản của cơ quan lãnh đạo kháng chiến, Người cho rằng, trước hoạ xâm lăng, sứ mạng lịch sử của cơ quan lãnh đạo kháng chiến là “đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đôi với việc động viên và tổ chức nhân dân” 3. Nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là kiên quyết tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, khắc phục mọi khó khăn, tăng cường lực lượng kháng chiến. Sự đoàn kết, nhất trí giữa cơ quan lãnh đạo kháng chiến với nhân dân là điều cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy. Muốn kháng chiến thắng lợi, nhân dân phải toàn tâm đóng góp sức mạnh vật chất và tinh thần, tăng cường đoàn kết, tích cực xây dựng đất nước. Phải đấu tranh chống lại mọi khuynh hướng thoả hiệp, đầu hàng. __________________________ 1. Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Quân giải phóng, Bắc minh, 1990, bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.138. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 101 Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 09:43:48 pm Về chiến lược kháng chiến là “kháng chiến lâu dài”. Chiến lược đó làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” và “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của quân xâm lược. Với chiến lược kháng chiến đó, quân thù không thể khai thác được ở một nước mà “hậu phương đang mọc lên tua tủa những giáo mác và súng trường của du kích, còn ở tiền phương thì bị súng trường và súng liên thanh của bộ đội... chặn lại” 1 .
Về vị trí chiến lược của chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch, Người nêu rõ: việc quân Nhật kiểm soát được một vùng rộng lớn là một tổn thất đối với nhân dân Trung Quốc, nhưng về phía phát xít Nhật thì đó cũng không phải là một thẳng lợi. Người phân tích: trong số 1838 huyện ở 12 tỉnh bị chiếm, chỉ có 65 huyện hoàn toàn bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhật, trên 900 huyện đang là căn cứ du kích và hoàn toàn do nhân dân làm chủ, còn những huyện khác, quân Nhật chỉ kiểm soát được từng phần. Sau đó, Người khái quát du kích đánh giặc chủ yếu bằng mưu mẹo và sự bất ngờ, chưa chắc thắng thì chưa đánh. Du kích tổ chức khắp nơi, ở cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và ở cả thành thị. Du kích bao gồm công nhân, nông dân; đàn ông, đàn bà và trẻ em. Đánh giá chỗ yếu của quân đội Nhật, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, chiến tranh càng kéo dài, Nhật Bản càng gặp nhiều khó khăn ở trong nước và trên chiến trường. Lúc đó, lòng cuồng tín của quân xâm lược không còn nữa, những vụ binh biến trong đội quân xâm lược sẽ nổ ra. Người phân tích các nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Trung Quốc và kết luận: thiên thời, địa lợi, nhân hoà là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng. Những bức thư đó còn phản ánh tầm nhìn của Nguyễn Ái Quốc trong việc nhận dạng và chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam đối phó với kẻ thù mới - tức phát xít Nhật. Sau này, qua nhiều nguồn tài liệu, ta biết được kế hoạch của giới quân sự chóp bu Nhật trong ý đồ đánh chiếm Đông Nam á và thực tế ở Đông Dương lúc đó, mạng lưới tình báo quân sự Nhật do Machơxita cầm đầu, sau 10 năm ráo riết hoạt động đã nắm được lực lượng phòng thủ của Pháp ở Đông Dương. Đến năm 1940, giới quân sự Nhật quyết định hành động xâm lược Đông Dương. Gửi nhiều bài đăng trên tuần báo Notre Voix, Nguyễn Ái Quốc đã phổ biến về nước kinh nghiệm của cách mạng nhiều nước về việc chống chủ nghĩa Trốtxki nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân; kinh nghiệm về tổ chức cơ quan lành đạo kháng chiến, cách thức động viên, tổ chức nhân dân chống xâm lược và những vấn đề cơ bản của chiến lược và chiến thuật quân sự. Những nội dung đó đánh dấu bước phát triển trong tư duy quân sự của Người, phản ánh tầm nhìn chiến lược và quan điểm quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân thông qua việc nâng cao tri thức quân sự cho cán bộ và nhân dân, chuẩn bị đối phó hiệu quả với chiến tranh xâm lược của phát xít Nhật. Tin tưởng vô bờ bến vào khả năng và sức mạnh vô địch của nhân dân, quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân bằng cách: đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập là quan điểm quân sự cơ bản xuyên suốt tư tưởng quân sự của Người. Như vậy, trong hai thập kỷ đầu tiên (1919-1939), tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh từng bước hình thành, bao gồm những quan điểm quân sự chủ yếu: 1. Giữ vững tính chủ động trong đấu tranh cách mạng, trông cậy trước hết vào lực lượng bản thân mình. Đây là quan điểm quân sự đầu tiên trong tư tưởng quân sự của Người. “Điểm xuất phát trong tư tưởng quân sự của Người là phải làm cách mạng”. Nhờ nắm vững quan điểm quyết tâm làm cách mạng với tính chủ động “nắm vững tính chủ động, thấy trước, chuẩn bị trước”, nên cách mạng Việt Nam vững vàng trước mọi thử thách, giành thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 2. Phải sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Quan điểm bạo lực cách mạng theo quan điểm chủ nghĩa Mác-lênin là một nội dung cơ bản trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Quan điểm đó bao gồm việc chú trọng xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trì và đấu tranh quân sự nhằm thực hiện mục tiêu cách mạng; thống nhất biện chứng với chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, không đối lập với tinh thần yêu chuộng hoà bình, xa lạ với các khuynh hướng phiêu lưu, ám sát cá nhân. _____________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 131. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 10:08:37 pm 3. Tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cả nước để giải phóng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa được chuẩn bị trong quần chúng. “Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng, chứ không phải một cuộc nổi loạn”. Đây là quan điểm cơ bản, soi sáng cho thực tiễn khởi nghĩa vũ trang toàn dân trong Cách mạng Tháng Tám.
4. Tin tưởng vô bờ bến vào sức mạnh nhân dân, coi đấu tranh cách mạng nói chung và đấu tranh vũ trang nói riêng là sự nghiệp của quần chúng. Đoàn kết, huấn luyện để “dân khí mạnh”; phát huy sức mạnh toàn dân trong đấu tranh cách mạng là quan điểm quân sự cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong tư tưởng quân sự của Người, là cơ sở tư tưởng của các quan điểm khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân hình thành ở giai đoạn Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 5. Xây dựng quân đội công nông. Huấn luyện, đào tạo cán bộ là việc gốc, nên từ rất sớm, Người đã chăm lo đến việt đào tạo cán bộ quân sự, chuẩn bị cho việc xây dựng lực lượng vũ trang về sau. Sự ra đời những quan điểm quân sự cơ bản trên đây trong tư tưởng quân sự của Người là “cơ sở lý luận của sự hình thành đường lối quân sự của Đảng ta trong thời kỳ Đảng mới thành lập” 1. II - SỰ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG VÀ HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG ĐẦU TIÊN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG(1930 - 1939) Đường lối quân sự là một bộ phận trong đường lối cách mạng của Đảng. Đường lối quân sự phản ánh những vấn đề có tính quy luật trong xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang ở một nước thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kết hợp sáng tạo truyền thống quân sự, tư chất quân sự độc đáo của dân tộc với học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-lênin và tinh hoa quân sự cổ, kim của nhân loại, đường lól quân sự của Đảng mang bản chất cách mạng, khoa học sâu sắc, đậm đà tính nhân dân, dân tộc, soi đường cho “một nước nhỏ” đánh thắng “hai đế quốc to”. Nội dung cơ bản của đường lối quân sự của Đảng là khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân; toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, lấy nhỏ thắng lớn, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hạt nhân của đường lối quân sự của Đảng là tư tưởng quân sự, học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đường lối quân sự của Đảng hình thành, hoàn chỉnh và phát triển đến đỉnh cao là một quá trình. Trong thời kỳ 1930-1939, đường lối quân sự của Đảng đã từng bước hình thành vời nhiều quan điểm quân sự phản ánh trong các văn kiện chính trị, quân sự của Đảng. Từ trong cao trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xuất hiện những hoạt động vũ trang đầu tiên có tính chất quần chúng. 1. Cao trào cách mạng 1930-1931 và những quan điểm quân sự đầu tiên của Đảng . Việt Nam là một quốc gia ra đời rất sớm trong lịch sử. Cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam hàng ngàn năm qua đã phải đương đầu chống thiên nhiên khắc nghiệt, chống kẻ thù ngoại xâm mạnh hơn mình, vì vậy đã tạo ra một nền văn hoá Việt Nam mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. ___________________ 1. Trường Chinh: Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983, tr. 161. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 10:12:12 pm Yêu nước, yêu lao động, nhân ái, sáng tạo là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam có từ thời xa xưa, về sau, ngày càng được phát triển. Truyền thống yêu nước của nhân dân được đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam phát triển lên một trình độ mới, đặc biệt, với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ra đời. Do cương lĩnh đó đúng đắn, phù hợp với trào lưu cách mạng của thời đại, đáp ứng được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của công nông, của cả dân tộc đang bị áp bức, nên đã được sự hưởng ứng sâu rộng của toàn Đảng, chinh phục được trái tim và khói óc của đông đảo quần chúng.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, các tổ chức cơ sở đảng phát triển nhanh trong nhiều nhà máy, hầm mỏ và ở nông thôn. Nhiều tổ chức đoàn thể cách mạng như công hội, nông hội, đoàn thanh niên cộng sản, hội phụ nữ, hội cứu tế đỏ lần lượt ra đời, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất trong cả nước, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân dâng cao mạnh mẽ. Mở đầu cho phong trào cách mạng của quần chúng là cuộc bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2-1930), của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định (3-1930), của 400 công nhân nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ (4-1930). Những cuộc đấu tranh đó của công nhân chứng tỏ rằng, người dẫn đầu phong trào cách mạng sau khi Đảng ra đời chính là giai cấp công nhân tiên phong và quả cảm. Từ nhà máy, xí nghiệp, các cuộc đấu tranh lan dần về nông thôn. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, thị uy, chống thu thuế, chống bắt phu, bãi chợ. . . nổ ra ở nhiều địa phương, ngày càng quyết liệt Phong trào lan rộng khắp cả nước. Trên cơ sở phong trào cách mạng của công nhân, nông dân đã phát triển, Đảng chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn trong cả nước nhân ngày Quốc tế lao động (1-5). Hưởng ứng chủ trương của Đảng, ngày 1-5-1930, quần chúng từ thành thị đến nông thôn trong cả nước đã vùng lên đấu tranh sôi nổi. ở miền Nam có hai cuộc bãi công của công nhân nhà máy điện Chợ Quán, nhà máy xe lửa Dĩ An. Nông dân huyện Đức Hoà (Chợ Lớn), huyện Cao Lãnh (Sa Đéc), huyện Chợ Mới (Long Xuyên) biểu tình đòi hoãn sưu, hoãn thuế. Tại miền Bắc, hàng ngàn nông dân hai huyện Duyên Hà và Tiên Hưng biểu tình kéo lên thị xã Thái Bình đòi bỏ sưu giảm thuế, cấp thóc gạo cho dân đang đói, trả tự do cho những người bị bắt, triệt hồi quân tuần tiễu, bồi thường thiệt hại cho nhân dân các làng bị tàn phá, tự do đi lại và hội họp. Hoà nhịp với phong trào toàn quốc, ngày 1-5, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, ở Nghệ An đã nổ ra các cuộc đấu tranh lớn của hàng vạn công nhân và nông dân. Trong các cuộc đấu tranh đó, công nhân và nông dân sát cánh bên nhau, làm cho sự liên kết giữa phong trào công nhân và nông dân càng thêm mật thiết. Hoảng sợ trước phong trào cách mạng mạnh mẽ của quần chúng, đế quốc Pháp đàn áp tàn bạo các cuộc biểu tình, làm nhiều người chết và bị thương. Tuy vậy, quần chúng cách mạng vẫn không hề nao núng. Một người ngã xuống, nhiều người xông lên. Phong trào cuồn cuộn dâng cao, lan khắp cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Tiêu biểu là cuộc biểu tình của 20.000 nông dân Thanh Chương bao vây huyện lỵ, đốt phá nhà tên tri huyện; của 8.000 nông dân Hưng Nguyên; của 3.000 nông dân Can Lộc kéo vào huyện đường đốt giấy tờ, sổ sách, phá nhà lao.... Phối hợp với nông dân, công nhân các nhà máy cũng liên tiếp đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm, ủng hộ các cuộc biểu tình của nông dân. Đến tháng 9-1930, phong trào đấu tranh của quần chúng lên đến đỉnh cao. Quần chúng đã dùng bạo lực cách mạng phá huyện đường, phá nhà lao, vây đồn lính, trừng trị bọn cường hào, địa chủ. Sức mạnh của phong trào đã làm tan rã bộ máy thông trị của thực dân Pháp và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Chính quyền xô viết được thành lập ở nhiều thôn xã. Ngay khi ra đời, chính quyền xô viết thôn, xã ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Hoảng sợ trước phong trào cách mạng của quần chúng, đế quốc Pháp điên cuồng đàn áp rất dã man. Chúng sử dụng bạo lực phản cách mạng, điều động quân lính đến, dùng những đơn vị lính lê dương, phái nhiều đơn vị lính cơ động đàn áp các cuộc biểu tình, dựng lại chính quyền của chúng ở những nơi bị tan rã. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 10:13:51 pm Chúng dùng cả máy bay, ném bom cuộc biểu tình của nông dân Hưng Nguyên, bắn giết hàng ngàn người không cần tra hỏi, bắt giam hàng vạn người. Sự tàn sát đẫm máu của kẻ thù làm cho nhân dân càng căm thù giặc và quyết tâm hành động, dũng cảm xông lên. “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh. . . đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ - Tĩnh” 1.
Trung ương Đảng đã phê bình cuộc bạo động nổ ra không đúng thời cơ vì chưa có tình thế trực tiếp cách mạng. Tuy vậy trước tình hình đã diễn ra, Trung ương Đảng kịp thời phát động phong trào cả nước phối hợp đấu tranh ủng hộ Nghệ - Tĩnh Đỏ, chống khủng bố trắng. Nhằm vạch ra những nhiệm vụ cấp thiết trước mắt để lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, Trung ương Đảng chủ trương chấn chỉnh các xứ uỷ, chỉ thị các cấp bộ Đảng cơ sở cần đi sâu vào các xí nghiệp, đồn điền lớn để xây dựng các tổ chức cơ sở đảng và quần chúng. Đối với các ý kiến hữu khuynh, “tả” khuynh cho rằng chỉ lo tổ chức trước đã rồi mời đấu tranh hoặc khi đã đấu tranh thì đấu tranh liên miên không có lối ra, Trung ương Đảng kiên quyết chống các quan điểm sai lầm đó và phê phán rằng đó là các tư tưởng dao động, sợ đấu tranh, không tin tưởng quần chúng, kìm hãm phong trào đấu tranh của nhân dân hoặc không hiểu sách lược của Đảng. Đảng chỉ rõ: có nhiều đảng viên (như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ...) không biết rằng Đảng Cộng sản chỉ là đảng của giai cấp vô sản mà thôi. . . Tuy Đảng chỉ huy cho nông dân, cho hết thảy quần chúng lao khổ làm cách mạng tư sản dân quyền, nhưng Đảng vẫn là đảng của vô sản giai cấp, nghĩa là đứng về lợi ích cách mạng vô sản mà chỉ huy, lấy chính sách vô sản mà chỉ huy, chứ không phải là vì Đảng đại biểu lợi ích cho tiểu tư sản quần chúng, đại biểu cho xu hướng tư hữu chế độ. Chính là vì nhận định sai lầm đó mà dần dần quên mất điều căn bản trung tâm của mình là tuy phải hết sức vận động nông dân nhưng phải đặc biệt chuyên cần về việc vận động công nhân để lấy đó làm cơ sở lãnh đạo cho cách mạng dân cày” 2. Sau khi phân tích, uốn nắn những lệch lạc để củng cố tư tưởng vô sản, Trung ương Đảng nêu rõ: trong những cuộc đấu tranh, đã có nhiều nơi đảng viên cản trở quần chúng, không để cho quần chúng hộ vệ nữa. Khi quần chúng xung đột với lính thì Đảng bộ lại phê bình vô lý, lại đem câu “bạo động non”, “manh động mà cản trở xung đột. Để làm rõ điều này, Trung ương Đảng giải thích: bạo động non, manh động là chủ trương cướp chính quyền quá sớm, đem số ít người giác ngộ mà xông pha cướp chính quyền. Xu hướng bạo động non nghĩa là chỉ trù tỉnh chủ trương vận động quần chúng “đi đánh địch nhân”, đi vây đồn, bọc ải. Làm như vậy thì Đảng phải chống, vì việc cướp chính quyền không phải làm khi nào cũng được. Còn ra tranh đấu biểu tình hằng ngày vì những mục đích, quyền lợi rõ rệt mà xung đột với lính thì là một sự tự vệ rất cần kíp. Không thể lẫn lộn sự hành động tự vệ kịch liệt, sự hành động bạo động với xu hướng bạo động non, manh động được. Sau khi phân tích sự khác nhau căn bản giữa “sự tự vệ rất cần kíp” trong phong trào đấu tranh của quần chúng với xu hướng bạo động non và manh động, Trung ương Đảng nhận định, sở dĩ trong một phần đảng viên lẫn lộn như vậy là vì họ sợ đấu tranh kịch liệt. Họ không hiểu rằng ngăn cản tự vệ, phản đối tự vệ tức là muốn xoay về chủ nghĩa bất bạo động”, “hoà bình tranh đấu đó rồi”. Nhờ sự uốn nắn kịp thời của Trung ương Đảng, những biểu hiện lệch lạc trong một số cấp uỷ Đảng được khắc phục. Phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng tiếp tục phát triển. Nhưng do cả nước chưa có tình thế cách mạng trực tiếp, lực lượng so sánh giữa ta và địch quá chênh lệch, nên cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh phải lùi dần và chấm dứt vào cuối năm 1931 . Cao trào cách mạng 1930- 1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, tuy chưa giành được thắng lợi cuối cùng, nhưng có nhiều ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn phong trào chứng tỏ rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam với lực lượng chủ yếu là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, có khả năng lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong kiến, xây dựng cuộc sống mới. ______________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.71-72. 2. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr. 68. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 10:15:37 pm Cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh là cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Với cuộc diễn tập đó, thực tiễn “đã vươn lên thành lý luận”, gợi ra nhiều vấn đề, nhiều bài học từ thực tiễn có ý nghĩa đối với việc hình thành tư tưởng, đường lối quân sự của Đảng.
Cao trào cách mạng 1930-1931 khẳng định tư tưởng quân sự mà Nguyễn ái Quốc đã nêu trước đó rằng: công cuộc giải phóng dân tộc không thể thực hiện được bằng phương pháp hoà bình, mà phải dùng bạo lực cách mạng đểphá bỏ nền móng của chủ nghĩa đế quốc, bởi vì chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân thống trị bằng quân sự rất độc ác đối với các dân tộc thuộc địa. Thực tiễn cao trào cách mạng đã gợi ra rằng: bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng, bao gồm hai lực lượng: lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, với hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, có sự kết hợp giữa hai hình thức đó. Khi phong trào cách mạng phát triển, trên cơ sở lực lượng cách mạng của quần chúng mạnh mẽ, lực lượng vũ trang xuất hiện dưới hình thức tự vệ, đội tự vệ; đồng thời cũng xuất hiện hình thức đấu tranh nửa vũ trang hoặc vũ trang. Đến lúc đó, vấn đề kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự sao cho phù hợp với diễn biến và đặc điểm phong trào là một vấn đề nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, nếu giải quyết đúng đắn sẽ đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ. Thực tiễn cao trào cách mạng 1930-1931 chứng minh rằng: giai cấp công nhân có vai trò rất to lớn trong cách mạng, đó là giai cấp đã khởi đầu phong trào cách mạng, đồng thời tham gia cách mạng kiên quyết, hăng hái. Giai cấp nông dân khi được tổ chức, là một lực lượng cách mạng to lớn. Bởi vậy, muốn hoàn thành nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, giải phóng dân tộc nhất thiết phải xây dựng khói liên minh công nông vững chắc, làm nòng cốt cho lực lượng toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cao trào cách mạng 1930-1931 là một trong những căn cứ thực tiễn của đường lối quân sự của Đảng để giải quyết một loạt vấn đề về xây dựng lực lượng, kết hợp các hình thức đấu tranh, vấn đề chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần v.v. ở giai đoạn sau. Giữa lúc phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, nhân ngày Quốc tế Đỏ (1-8-1930), Ban cổ động và tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành một tác phẩm quan trọng. Cuốn sách nhan đề: “Ngày Quốc tế Đỏ - Mồng một tháng Tám”. Đây là một tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề quân sự, giải thích rõ thêm quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn gốc chiến tranh, nguy cơ chiến tranh đế quốc; âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với Liên bang Xô viết, với phong trào giải phóng thuộc địa và phụ thuộc; nhiệm vụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đồi với chiến tranh đế quốc. Tác phẩm khẳng định: “Tư bản chủ nghĩa là cái nguồn gốc của sự chiến tranh” và phân tích nguồn gốc chiến tranh nằm ngay trong xã hội có giai cấp bóc lột và bên kia, giai cấp bị bóc lột. Chiến tranh là “cái kết quả trực tiếp của chế độ của riêng, cái nền nếp cạnh tranh và bóc lột” 1. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, tức là thời kỳ độc quyền, thì những sự tương phản trong xã hội càng thêm sâu sắc. Sự hoà bình là một lúc “nghỉ ngơi rất ngắn ngủi đặng chờ cuộc chiến tranh khác mà thôi” 2. Sự phát triển về kinh tế, chính trị của các nước tư bản lại không đều nhau. Cho nên, “vấn đề chia lại trái đất cho hiệp với sự phát triển” 3 của các nước tư bản lúc nào cũng cần cấp. Mà muốn chia lại thuộc địa, vùng ảnh hưởng, thì các nước tư bản chỉ còn một cách là chiến tranh. Từ sự phân tích trên, tác phẩm kết luận: “Tư bổn chủ nghĩa còn, thì sự chiến tranh còn. Muốn thủ tiêu chiến tranh thì phải đánh đổ tư bổn chủ nghĩa” 4. ______________________ 1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 40, 41. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 03 Tháng Sáu, 2009, 10:18:40 pm Về nguy cơ chiến tranh đế quốc, tác phẩm nêu rõ rằng, mặc dù cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) làm cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa suy thoái, nhưng sau đó lại tạm thời ổn định và có những phát triển nhất định, nên rất cần nguyên liệu và thị trường. Trong lúc đó, thị trường của chủ nghĩa đế quốc lại bị hẹp lại do cách mạng Nga thành công, còn “gốc nguyên liệu thì kẻ có, người không. Bởi vậy, chiến tranh đế quốc để giành thị trường và vùng cung cấp nguyên liệu là điều không thể tránh khỏi. Nguy cơ chiến tranh “đã bày ra trước mặt” 1.
Tác phẩm dự báo: “Cuộc chiến tranh sau này sánh với cuộc chiến tranh lần trước (1914-l918) thì sẽ gớm ghê độc ác hơn muôn vạn lần; vô số nhân dân sẽ bị xô đẩy ra chiến trường. Cả thế giới sẽ cuốn vào hang lửa chiến tranh” 2. Thực tiễn cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai sau này đã chứng minh dự báo của tác phẩm là hoàn toàn đúng. Phân tích về âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với nước Nga Xô viết và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, tác phẩm vạch ra rằng: công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên bang Xô viết càng phát triển chẳng nào thì cuộc chiến tranh đế quốc chống Liên bang Xô viết lại càng khó khăn chừng ấy. Liên bang Xô viết là một nước chống chủ nghĩa đế quốc..., là nước giùm giúp cho giai cấp vô sản toàn cầu và quần chúng bị áp bức trên thế giới đấu tranh cách mạng, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, cho nên bọn đế quốc không thể đội trời chung với Liên bang Xô viết. Bởi vậy, trong khi tấn công Liên bang XÔ viết chủ nghĩa đế quốc đồng thời đàn áp cách mạng thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc dùng binh lực đè nén, trấn áp các dân tộc đứng dậy đấu tranh giải phóng là chúng muốn “giữ lấy quyền bóc lột” 3. Muốn đánh đổ chủ nghĩa tư bản thì giai cấp vô sản quốc tế và các dân tộc bị áp bức “phải chiến tranh chống giai cấp tư bổn, chỉ có một đường ấy thôi” 4 . Khi xem xét chiến tranh “phải xem xét từng thứ, chớ không phải cuộc chiến tranh nào cũng như nhau cả”. Trong thời kỳ này có ba thứ chiến tranh: đó là chiến tranh giữa các nước đế quốc, chiến tranh đế quốc chống Liên Xô, chiến tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc. Đối với chiến tranh đế quốc, thái độ của giai cấp vô sản là phải làm cho “quân đội của bọn đế quốc tan tành”, biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng. Còn các dân tộc bị áp bức nổi lên, biến “chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng chống đế quốc chủ nghĩa” thì ủng hộ tích cực. Nếu các nước đế quốc đánh Liên bang XÔ viết thì giai cấp vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức phải hết sức ủng hộ Liên bang Xô viết. Khi chủ nghĩa đế quốc tiến công phong trào giải phóng ở thuộc địa thì giai cấp vô sản và quần chúng lao khổ ở thuộc địa phải hợp sức với quân đội cách mạng đấu tranh chống đế quốc chủ nghĩa, phải đánh đổ bọn tư bản không quả quyết tranh đấu, bọn đề huề và bọn phản cách mạng. Sau cùng, tác phẩm kết luận: “Muốn cho khỏi hoá ra tro súng của đế quốc chủ nghĩa, thì toàn thể vô sản giai cấp và quần chúng bị áp bức ở Đông Dương phải hợp sức cùng thợ thuyền và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới mà tranh đấu chống đế quốc chủ nghĩa” 5 . Lý luận về chiến tranh hiện đại và thái độ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đối với từng loại chiến tranh được trình bày trong tác phẩm: “Ngày Quốc tế Đỏ - Mồng một tháng Tám”, góp phần làm giàu tri thức quân sự của Đảng, của cách mạng Việt Nam. Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Hương Cảng (Trung Quốc) bàn nhiều vấn đề quan trọng. Hội nghị thảo luận và thông qua Luận cương thịnh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, ra Nghị quyết về những nhiệm vụ cần kíp, bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thơ Đảng. Luận cương chánh trị tháng 10- 1930 do đồng chí Trần Phú khởi thảo theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. __________________________ 1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 2, tr. 41, 41, 42, 50, 51. 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.53. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Sáu, 2009, 11:53:52 pm Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tuy có một số nhược điểm như quá nhấn mạnh đến đấu tranh giai cấp, chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề dân tộc và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự chủ và tinh thần tự lực, tự cường vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam; sách lược cách mạng, phương pháp đấu tranh chừng nào đó còn thiếu linh hoạt, mềm dẻo, nhưng tư tưởng lớn, bao trùm Luận cương chính trị vẫn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Về quân sự, nhiều quan điểm trong Luận cương và các văn kiện khác tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 nêu ra phù hợp với việc “dự bị” cho cuộc đấu tranh vũ trang về sau. Về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ: Đảng phải thường xuyên đưa quần chúng ra đấu tranh giành quyền lợi thiết thực hằng ngày, qua đó mà giác ngộ cách mạng cho quần chúng. Khi có tình thế cách mạng thì Đảng phải nâng cao khẩu hiệu đấu tranh lên như: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ” 1. “Lập chánh phủ công nông” 2, “lập quân đội công nông” 3. Đồng thời, Đảng phải mở rộng tất cả các hình thức tranh đấu của quần chúng như: bãi công, biểu tình thí oai, tổng bãi công bạo động và khởi nghĩa vũ trang đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Trước lúc tổ chức “tranh đấu’, Đảng phải xét kỹ tình hình trong nước và thế giới, sức mạnh của địch, sức mạnh của quần chúng, thái độ từng hạng người đối với cách mạng. Đảng căn cứ vào “những điều kiện ấy mà định ra chiến lược để lãnh đạo cho quần chúng tranh đảo” 4. Luận cương nhấn mạnh : “Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh, cho nên cần phải chú ý. Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm mà cốt là để huy động đại quần chứng ra thị oai, biểu tình bãi công v.v., để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này” 5. Luận cương nêu rõ thái độ của Đảng và nhân dân Việt Nam là “phản đối đế quốc chiến tranh”, chuẩn bị lực lượng để khi chiến tranh đế quốc nổ ra thì biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Trước nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng rõ Đảng phải mở rộng công tác phản đối chạy đua vũ trang của các nước đế quốc, chủ động phát triển tổ chức cách mạng trong quân đội của địch, đồng thời thành lập các đội tự vệ công nông, làm cho khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc phát triển sâu rộng trong quần chúng. Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra Nghị quyết “về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng”. Nghị quyết khẳng định quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng là “lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động” 6, nhưng cũng lưu ý rằng lúc đó chưa có đủ điều kiện để khởi nghĩa vũ trang. Bởi vậy, nhiệm vụ trước mắt trong công tác hằng ngày của Đảng là phải thâu phục được quảng đại quần chúng để làm cho cuộc bạo động tương lai được thắng lợi. Muốn thế, phải ra sức vận động công nhân, nông dân, chỉnh đốn các tổ chức đoàn thể, làm cho lực lượng chính trị phát triển rộng khắp. Nghị quyết nhấn mạnh: “ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức bộ quân sự của Đảng để: Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện; giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ; Vận động trong quân đội của bọn địch nhơn” 7. Hội nghị Trung ương Đảng (10-1930) còn ra “Án Nghị quyết về vấn đề phản để’ và “Án Nghị quyết Quân đội vận động”. Án Nghị quyết về vấn đề phản đế xác định: “Việc tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp của Đảng” 8. Trong công tác hằng ngày, tổ chức phản đế phải chú ý về hoạt động công khai trong quần chúng, cổ động và vận động tranh đấu nhằm: chống khủng bố trắng, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn “đề huề” với chủ nghĩa đế quốc, chống ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Án Nghị quyết về Quân đội vận động chủ trương: “công tác của Đảng trong quân đội cần phải làm cho thiệt náo nhiệt và chuyên cần mời được 9 . Bởi vì, nếu “Đảng không vận động quân đội binh bị tư bản” chống đế quốc chiến tranh thì tới lúc cần kíp không thể hoá chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. ____________________ 1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 95. 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 2, tr. 101, 102. 6, 7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 116, 195, 205. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Sáu, 2009, 11:54:59 pm Án Nghị quyết còn vạch cách thức cụ thể để tiến hành công tác địch vận có kết quả. Như vậy, ngay sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh tạo thành cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh.
Với cuộc diễn tập đầu tiên đó, thực tiễn cách mạng đã gợi ra nhiều bài học sâu sắc để Đảng khái quát, bổ sung cho lý luận. Cùng với tác phẩm “Ngày Quốc tế Đỏ - Mồng một tháng Tám” và các văn kiện Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, những quan điểm quân sự đầu tiên của đường lối quân sự của Đảng đã xuất hiện. 1. Thông qua việc phân tích nguồn gốc chiến tranh, khẳng định lại một lần nữa quan điểm cách mạng bạo lực mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra. “Tư bản chủ nghĩa còn, thì sự chiến tranh còn. Muốn thủ tiêu chiến tranh thì phải đánh đổ tư bản chủ nghĩa”. 2. Đảng “lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động”. Phát động khởi nghĩa vũ trang phải căn cứ vào “tình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh”, nghĩa là phải có kế hoạch chu đáo, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, thời gian chuẩn xác trong việc phối hợp hành động. 3. Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, khẳng định tiếp: Nhiệm vụ chính trị quyết định nhiệm vụ quân sự. Chủ trương tổ chức quân đội công nông và tổ chức ngay “bộ quân sự của Đảng” chính là để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng. Đây là quan điểm quan trọng nhất trong đường lối quân sự của Đảng. 4. “Vấn đề phản để’ và “Quân đội vận động’, tức vấn đề phản đối chiến tranh đế quốc và công tác địch vận bước đầu được nêu ra và được coi là công tác quan trọng của cách mạng. 2. Đội tự vệ Đỏ. Nghị quyết về quân sự của Đại hội Đảng lần thứ nhất. Từ cao trào cách mạng năm 1930-1931, Đội tự vệ công nông đã xuất hiện. Trong cuộc biểu tình, bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2-1930), đội tự vệ của công nhân đã ra đời. Đội gồm một số đảng viên và quần chúng trung kiên . Trong phong trào XÔ viết Nghệ - Tĩnh, ở những nhà máy, thôn xã có Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên cộng sản, thì các tổ chức quần chúng đó đã chọn những người có tinh thần hăng hái, can đảm, có sức khoẻ để lập ra các đội tự vệ của công nhân và nông dân. Các đội tự vệ đó có trang bị thô sơ, chỉ bằng giáo mác, liềm hái, gậy gộc . Các đội tự vệ ngay khi được tổ chức đã thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng. Cuộc biểu tình ngày 1-9-1930 của trên 20.000 quần chúng ở Thanh Chương (Nghệ An), các đội tự vệ đã phá Rào Gang, triệt đường hàng tỉnh số 4, bắt giữ bọn hào lý không cho chúng liên lạc với nhau nhằm đề phòng quân địch đưa lính đến khủng bố. Khi biểu tình, tuần hành, tự vệ xếp thành hai hàng ngang đi đầu và hai hàng dọc đi hai bên. Khi binh lính đến đàn áp, đội viên tự vệ xông lên giằng súng với lính, tạo điều kiện để đoàn biểu tình tiếp tục tiến lên. Ngày 18-9-1930, một cuộc mít tinh của 22.000 người được tổ chức ở Thanh Chương. Cuộc mít tinh đó có 1.000 đội viên tự vệ bảo vệ. Những người dũng cảm nhất xung phong vào Đội cảm tử. Các đội ấy gọi là Tự vệ Đỏ. Ở những nơi gần đồn địch, mỗi khi binh lính đi tuần, tự vệ đánh trống uy hiếp tinh thần chúng. Một số xã ở huyện Thanh Chương, Anh Sơn, nhân dân và tự vệ còn rào làng chống địch. Tự vệ Đỏ thường theo dõi, đón đường lính đi tuần, đón đường lính giải người, giành lại người bị bắt. Ở Lương Điền (Thanh Chương), Tự vệ Đỏ còn đốt phá điếm canh, cắt đường dây liên lạc và tổ chức phục kích địch có kết quả. Đội tự vệ không những làm nhiệm vụ bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng trong các cuộc biểu tình, mít tinh; trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền xô viết ở các thôn, xã mà còn thực hiện chức năng vận động quần chúng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Sáu, 2009, 11:58:27 pm Tự vệ Đỏ ở nhiều nơi còn đến các làng, xã khác phong trào chưa mạnh để trấn áp trừng trị bọn cường hào gian ác, tổ chức cứu đói cho dân. Trong các đợt lấy thóc của địa chủ chia cho dân nghèo, các đội tự vệ canh giữ các ngả đường, đề phòng quân giặc đến ứng cứu bảo vệ nhân dân chuyển thóc.
Lúc phong trào tạm lắng xuống, khi cán bộ rút vào rừng núi, Tự vệ Đỏ vẫn bám địa bàn, bảo vệ cơ quan, rải truyền đơn, cảnh cáo, trấn áp bọn hào lý. Tháng 9 năm 1931, Tự vệ Đỏ còn tổ chức phá đồn Lương Điền, đánh lính tuần tiễu ở Ngọc Sơn (Anh Sơn cũ), giải thoát cho cán bộ bị bắt. Ở các địa phương khác, đội tự vệ cũng phát huy chức năng của mình. Cuối tháng 10-1930, các cuộc đấu tranh của thợ thuyền khu vực Sài Gòn đã có các đội tự vệ công nhân bảo vệ. Ở xí nghiệp dầu Sôcôny (Nhà Bè), đội tự vệ đã đánh nhau với cảnh sát, buộc chúng thả người diễn thuyết, bảo vệ cuộc nói chuyện có kết quả. Trong quá trình tổ chức các đội tự vệ, đã xuất hiện những tư tưởng và quan điểm sai lầm đối với việc tổ chức các đội tự vệ. Có ý kiến cho rằng, không nên tổ chức các đội tự vệ vì nếu tổ chức các đội tự vệ sẽ dẫn đến xung đột với binh lính. Có ý kiến lại cho rằng, không tổ chức được đội tự vệ vì không có vũ khí. Nếu tình thế buộc phải tổ chức, thì chỉ tổ chức tự vệ tạm thời trong từng cuộc đấu tranh rồi giải tán đi. Lại có ý kiến cho rằng không nên tổ chức tự vệ thường trực, hoặc nếu đã tổ chức đội tự vệ thường trực rồi thì không nên chú trọng huấn luyện quân sự và vận động quần chúng tham gia. Bên cạnh các quan điểm hữu khuynh đó, lại xuất hiện quan điểm “tả” khuynh cho rằng, cần phải quyên tiền để mua vũ khí trang bị cho đội tự vệ, từ đó chuyển lên đấu tranh vũ trang, trong khi chưa có đủ điều kiện. Đảng đã kiên quyết chống các quan điểm sai lầm đó và cho rằng ngăn cản tự vệ, phản đối tự vệ tức là muốn xoay về chủ nghĩa bất bạo động. Do tầm quan trọng của việc tổ chức đội tự vệ để bảo vệ quần chúng trong đấu tranh cách mạng, nên trong một bức thơ gửi Xứ uỷ Bắc Kỳ ngày 26- 1 - 1931, Thường vụ Trung ương khẳng định: “Để lãnh đạo cuộc đấu tranh, trước hết hãy tổ chức một đội bảo vệ thợ thuyền và dân cày. . . tự vệ là một vấn đề quan trọng hàng đầu, cần phải tổ chúc và tuyên truyền ủng hộ việc này để cổ vũ quần chúng tranh đấu” 1. Cũng trong tháng 1-1931, Thường vụ Trung ương Đảng còn ra “Thông cáo cho các xứ”, phân tích một cách tương đối hệ thống về vai trò, chức năng, phương hướng xây dựng đội tự vệ của cách mạng Việt Nam. Khẳng định vai trò của Đội tự vệ Thường vụ Trung ương nêu rõ: “Một vấn đề rất quan trọng cho sự tranh đấu quần chúng công nông bây giờ là vấn đề tổ chức đội tự vệ của công nông. Các đảng bộ phải góp sức với Công, Nông hội mà hết sức hô hào cổ động thiệt rộng trong quần chúng ý nghĩa và sự lợi ích của đội tự vệ . . . Phải làm sao cho mỗi nhà máy, mỗi làng đều có một đội tự vệ, các Đảng bộ phải đặc biệt lưu tâm mà làm ngay đi, không nên để chậm trễ một ngày nào nữa” 2. Khi tổ chức và chỉ huy đội tự vệ phải chú ý làm cho họ hiểu rõ phận sự của họ thì mới khỏi sự hành động sai lầm. Khi có tranh đấu thì đội tự vệ phải đi đầu, đi kèm quần chúng mà bảo vệ, còn lúc thường thì phải luyện tập riêng, “phải bàn định những cách hộ vệ và bênh vực tranh đấu” 3. Xác định nguyên tắc tổ chức đội tự vệ, Thường vụ Trung ương Đảng đã nêu rõ quan điểm đúng đắn của Đảng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang là phải có con người trước, “không cần phải có đủ võ trang cũng có đội tự vệ được, mà cũng không phải đã là đội tự vệ thì không thể có đôi chút võ . trang. . .” 4. Sau cùng, Thường vụ Trung ương Đảng lưu ý các xứ uỷ rằng, tự vệ là lực lượng vũ trang cơ sở của cách mạng, chứ không phải là hồng quân. Đội tự vệ thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình, bảo vệ thành quả cách mạng đạt được ở cơ sở, chứ không phải “xông pha cùng binh lực địch nhân mà cướp chính quyền” 5. ___________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.43-44. 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.7-9, 8, 8- 9, 8. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:00:31 am Tiếp tục quan điểm coi trọng vai trò lực lượng vũ trang cơ sở trong đấu tranh cách mạng của quần chúng và xác dính chức năng, phương hướng xây dựng lực lượng đó, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Sài Gòn tháng 3-1981 đã nêu tiếp về vấn đề tổ chức đội tự vệ. Lần đầu tiên, Hội nghị Trung ương Đảng đề cập đến vai trò của chi bộ Đảng trong việc tổ chức đội tự vệ và xác định nhân tố để đội tự vệ đảm bảo chất lượng chính trị.
Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chi bộ phải đặc biệt chú ý việc tổ chức đội tự vệ. Đội tự vệ là một lợi ích tranh đấu rất cần thiết để hộ vệ sự tranh đấu. Chi bộ phải cùng với Công hội mà chuyên cần lo lắng, kéo đảng viên vào đội, đẩy người ra chỉ huy” 1. Chuyên cần tổ chức đội tự vệ công nông để chống lại khủng bố trong lúc tranh đấu. Như vậy, trong cao trào cách mạng 1930- 1931, để bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được ở nhiều thôn, xã, Đảng đã ra chỉ thị thành lập các đội tự vệ. Tiếp đó, Đảng kịp thời uốn nắn những quan điểm lệch lạc của một số cấp uỷ trong quá trình thực hiện chỉ thị của Đảng, đồng thời nêu lên những quan điểm đúng đắn về xây dựng tự vệ, lực lượng nửa vũ trang. Từ chủ trương đúng đắn của Đảng, qua thực tiễn phong trào, đội tự vệ đã xuất hiện. Đây chính là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Hoảng hốt trước cao trào cách mạng 1930-1931, đế quốc Pháp khủng bố hết sức dã man. Từ 1930 đến 1933, chúng đã bắt giam 246.532 người. Chúng giết hại rất tàn bạo nhiều chiến sĩ cộng sản. Hầu hết các đồng chí Uỷ viên Trung ương, các đồng chí trong Xứ uỷ Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ đều bị địch bắt. Mặc dù bị đế quốc Pháp đàn áp dã man, nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng bị bắt, nhưng nhờ nắm vững đường lối, chủ trương và mục tiêu cụ thể trước mắt của Đảng, các cơ sở đảng tránh được khủng bố vẫn tiếp tục hoạt động, giữ gìn lực lượng, củng cố phong trào. Để khôi phục lại phong trào cách mạng Đông Dương, ngày 27-2-1932, Quốc tế Cộng sản gửi thơ cho Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Ấn Độ nêu nhiệm vụ của những đảng đó “phải huy động thợ thuyền, dân cày và lao khổ xứ mình đấu tranh ủng hộ phong trào cộng sản Đông Dương bằng mọi phương diện, trước hết là chống cuộc tàn sát, giam cầm những người cộng sản và những người lao động xứ Đông Dương, vạch trần bản chất tàn bạo của đế quốc Pháp, đồng thời cổ vũ tinh thần anh dũng đấu tranh của dân chúng và thợ thuyền Đông Dương. Trong năm 1932, Quốc tế Cộng sản chỉ thị đồng chí Lê Hồng Phong và một số đồng chí còn lại ở trong nước và nước ngoài tổ chức Ban lãnh đạo Trung ương của Đảng. Tháng 6-1932, Ban lãnh đạo Trung ương thảo ra Chương trình hành động của Đảng. Chương trình hành động nhấn mạnh: “Phải xây dựng một đoàn thể bí mật có kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng, tức Đảng Cộng sản, để hướng quần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu 2. Đảng chủ trương cần phải lập ra Công nông tự vệ để bảo hộ anh em lao động lúc đình công, hội họp, thị uy tuần hành và “sắp đặt hàng ngũ cho chỉnh tề, lo dự bị võ trang bạo động kỳ đánh đổ được quân áp bức” 2. Từ ngày 14 đến ngày 26-6-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài và các đại biểu của các Đảng bộ trong nước họp hội nghị đề ra những công tác cụ thể cho các tổ chức quần chúng và quyết định lấy các Nghị quyết của các Hội nghị Đảng trước đó và Chương trình hành động làm tài liệu chính thảo luận trong các chi bộ, chuẩn bị cho Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13 đại biểu thay mặt cho 600 đảng viên thuộc các đảng bộ ở trong nước và các tổ chức của Đảng đang hoạt động ở nước ngoài. Đại hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết chính trị Nghị quyết về Đội tự vệ; Nghị quyết về vận động binh lính, v.v. . _________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr. 112. 2, 3. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr. 87. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:04:06 am Phân tích tình hình lúc đó, Nghị quyết về Đội tự vệ chỉ ra rằng: hễ cuộc cách mạng vận động ngày càng cao, thì kẻ thù lại khủng bố tiếng dữ dội. Để đương đầu với khủng bố trắng của địch, Đảng phải ra sức vận động, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng cho quần chúng, lấy lực lượng của mình mà đấu tranh, lấy sức mạnh đoàn kết của nhân dân mà chống khủng bố.
Trong quá trình đấu tranh, Đảng không tán thành ám sát cá nhân. Đảng phản đối chủ trương của các “đảng phái quốc gia” thực hành ám sát cá nhân kẻ thù để hộ vệ mình và cho rằng phương sách tiểu tư sản này đã không có kết quả tốt lại có hại cho đoàn thể cách mạng, cho quần chúng. Nghị quyết nêu rõ rằng, trong lúc “đối đầu với khủng bố trắng thì việc hậu vệ cho quần chúng hàng ngày cũng như trong các cuộc tranh đấu nổ ra là vấn đề cần thiết quan trọng. Bởi vậy, Đảng chủ trương tổ chức tự vệ của công nông. Do làn sóng cách mạng mới đã tràn khắp Đông Dương, nên vấn đề tự vệ đội là “một vấn đề hiện tại cần phải giải quyết ngay” 1, hướng theo ánh sáng của kinh nghiệm cách mạng vận động trong toàn xứ và toàn thế giới. Từ việc phân tích tình hình thực tiễn thời kỳ đó, Nghị quyết về Đội tự vệ xác định mục đích tổ chức Công Nông cách mạng tự vệ đội nhằm: ủng hộ quần chúng hàng ngày, ủng hộ quần chúng trong các cuộc tranh đấu, ủng hộ các cơ quan cách mạng và chiến sĩ cách mạng của công nông. huấn luyện quân sự cho quần chúng cách mạng. chống quân thù giai cấp tấn công và làm/ cho vận động cách mạng phát triển thắng lợi” 2 . Nghị quyết giải thích công nông tự vệ đội là lực lượng vũ trang quần chúng cơ sở, khác với Đội du kích và Hồng quân. Hồng quân tức là quân chủ lực. Du kích đội không phải bao giờ muốn tổ chức thì tổ chức được ngay, còn Đội tự vệ thì trái lại, hễ có vận động cách mạng, thì dù yếu mấy cũng có thể tổ chức được. Tự vệ đội càng mạnh thì càng có điều kiện thuận lợi để sau này tổ chức du kích chiến tranh, võ trang bạo động, Hồng quân. Nghị quyết còn giải thích mối quan hệ giữa con người và vũ khí; nêu rõ nhân tố con người là quyết định, trang bị vũ khí cũng rất quan trọng. Nếu nói rằng “tuyệt nhiên không cần binh khí” thì sai, phải có binh khí ít nhiều, càng nhiều càng tốt để thao luyện, để lúc cần thiết xung đột với quân thù có điều kiện thuận lợi bảo tồn tính mạng của quần chúng, giừ gìn cơ quan cách mạng, hộ vệ cuộc đấu tranh của nhân dân. Nghị quyết về Đội tự vệ đề ra những nguyên tắc cơ bản xây dựng Đội tự vệ. Về chính trị, Nghị quyết xác định bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của Đội tự vệ. Đây là một tổ chức có “tính chất bán quân sự” 3 của quần chúng lao động, chủ yếu là công nông, do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo. Thành phần Đội tự vệ là những phần tử nhiệt thành, cương quyết, bao gồm gái và trai, không phân biệt dân tộc nào, từ 18 tuổi trở lên đều có thể được tham gia Đội Nghị quyết nhấn mạnh: Công nông cách mạng tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương, quân uỷ của Đảng Cộng sản. Phải giũ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong Tự vệ thường trực. Phải giữ vững tính chất cách mạng của Đội tự vệ. Nghị quyết nêu rõ: “Từ Trung ương tới mỗi thành uỷ, tỉnh uỷ phải tổ chức ngay quân uỷ. Quân uỷ này một bộ phận thì lo quân đội vận động (địch vận), một bộ phận thì lo tổ chức và chỉ huy Đội tự vệ” 4. Nghị quyết lưu ý rằng, các đảng bộ phải đem đảng viên và đoàn viên cương quyết nhất vào Tự vệ và các cấp bộ chỉ huy của Tự vệ, “nhưng như thế không phải là không cho những hội viên thường hăng hái dự cuộc chỉ huy Tự vệ”. Nghị quyết xác định cơ chế lãnh đạo, chỉ huy: “Các đội trưởng và Đảng đại biểu phải hợp tác mà chỉ huy. Sự hành động hàng ngày thì phục tùng Đảng bộ tương đương. Sự hành động quân sự chung thì phục tùng thượng cấp Tự vệ và quân uỷ tương đương của Đảng. Đội trưởng và đại biểu Đảng có bất đồng ý kiến thì do Đảng uỷ tương đương hay do thượng cấp quân ủy giải quyết” 5. Nghị quyết đề ra nguyên tắc xây dựng kỷ luật và dân chủ nội bộ trong Đội tự vệ dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Về kỷ luật của Đội tự vệ, tuy “không phải là kỷ luật nhà binh, nhưng cũng nghiêm khắc”. Không thoả hiệp với tính lười biếng và bất tuân mệnh lệnh cấp trên. Thực hiện dân chủ quân sự. Đội viên “có quyền và cần phải thảo luận rộng rãi những vấn đề thuộc về phương diện ủng hộ cách mạng vận động 6, nhưng lúc đã có quyết định hành động thì phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, giữ bí mật. ____________________ 1. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Sđd, tr.90. 2, 3. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Sđd, tr.115, 119. 4, 5, 6. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Sđd, tr.118. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:06:32 am Nghị quyết lưu ý việc giữ mối quan hệ giữa Đội tự vệ và quần chúng nhân dân. Đội tự vệ tổ chức và phát triển mật thiết liên lạc với quần chúng hằng ngày, phải chăm lo tranh đấu, ngăn cản kẻ thù nhũng nhiễu công nhân, nông dân, phải hết sức ủng hộ quân chúng lao động trong các cuộc bãi công. mít tinh, kháng sưu, kháng thuế, bãi thị v.v., nâng cao tinh thần tranh đấu với quần chúng.
Gắn liền với việc xác định những nguyên tắc xây dựng Đội tự vệ về mặt chính trị, Nghị quyết cũng đã xác định những vấn đề cơ bản về tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện cho Đội tự vệ. Về tổ chức, Nghị quyết chủ trương lấy xí nghiệp hoặc làng, xã làm cơ sở tổ chức Đội. Về biến chế: từ 5 người đến 9 người tổ chức thành một tiểu đội. Mỗi tiểu đội có một người đội trưởng chỉ huy, tiểu đội lớn thì có một chánh, một phó đội trưởng. Ba tiểu đội tổ chức thành một trung đội. Trung đội có một người chánh, một người phó trung đội trưởng và một người đại biểu của Đảng Cộng sản chỉ huy. Ba trung đội tổ chức thành một đại đội. Đại đội có một chánh, một phó đại đội trưởng và một người của Đảng Cộng sản chỉ huy. Cứ theo phép tam tam chế mà tổ chức lên. Đi đôi với việc tổ chức tự vệ thường trực, Nghị quyết còn vạch rõ phải huấn luyện quân sự cho đồng chí, cho các Đội tự vệ công nông biết dùng các thứ bính khí thông thường như súng lục, súng trận, liên thanh, tạc đạn; biết chiến thuật đánh nhau trong thành phố, chiến thuật du kích chiến tranh. Huấn luyện cho các Đội tự vệ biết chức trách chính trị của mình. Đối với quần chúng, nếu có hoàn cảnh thuận lợi thì huấn luyện cho họ tập đi đứng cho có hàng ngũ, tập cách thức tránh máy bay, tránh tạc đạn, liên thanh... Nghị quyết kiên quyết phê phán xu hướng manh động, xu hướng chỉ lo làm súng, lựu đạn mà quên công tác hằng ngày trong quần chúng lao động. Nghị quyết lưu ý rằng, nhiệm vụ huấn luyện quân sự là quan trọng, “nhưng phải chú trọng hơn hết là thâu phục quần chúng theo ảnh hưởng cộng sản” 1. Nghị quyết về Đội tự vệ của Đảng tại Đại hội lần thứ nhất (3-1935) có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành đường lối quân sự của Đảng. Lần đầu tiên, những nguyên tắc xây dựng lực lượng nửa vũ trang về mặt chính trị cứng như quân sự được đề ra cơ bản và hệ thống. Những nguyên tắc đó thể hiện rõ quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng và quan điểm thực tiễn của Đảng trong việc xây dựng lực lượng nửa vũ trang. Đó là những cơ sở tư tưởng, lý luận đầu tiên của quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng về sau của Đảng. Bên cạnh Nghị quyết về Đội tự vệ, Đại hội lần thứ nhất của Đảng còn ra Nghị quyết về vận động binh lính. Đây cũng là một nội dung quan trọng, soi sáng cho thực tiễn hoạt động quân sự. Nghị quyết về vận động binh lính, nêu rõ ở Đông Dương cũng như các xứ thuộc địa và nửa thuộc địa khác, quân đội là công cụ của giai cấp thống trị để đàn áp công nông và các tầng lớp lao động khác. Quân đội của giai cấp thống trị có nhiều hình thức tổ chức. “Hiện thời có lúc quân đội thuộc địa bao gồm binh lính người Pháp, người da đen, người các thuộc địa khác và người các dân tộc bản xứ. . . Ngoài lục quân ra đế quốc Pháp lại đóng không quân và hải quân ở xứ Đông Dương” 2. Tình cảnh của binh lính trăm bề khổ sở. Ngoài công tác quân sự, binh lính còn phải’ làm việc ở nhà riêng của bọn quan, cai, đội. Binh lính là tôi tớ của quan binh, chúng có quyền đánh đập, bắt giam họ lúc nào cũng được Sau khi mô tả tình cảnh của binh lính, Nghị quyết điểm qua vai trò của binh lính năm 1916 ở Trung Kỳ, 1917 ở Thái Nguyện, tháng 2-1930 ở Yên Bái, v.v. và nhận định: “Binh lính. . . chỉ là con em của công nông mang cốt lính, binh lính là một hạng người rất khổ sở” 3 nên phải ra sức tuyên truyền, lôi kéo họ sang phe cách mạng. _____________________ 1, 2. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1940), Sđd, tr. 118. 3. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945) Sđd, tr. 107 Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:38:11 am Về thái độ của Đảng đối với quân đội của đế quốc ở Đông Dương, Nghị quyết nêu rõ: “Đảng Đại hội công nhận rằng các thứ quân đội của đế quốc Pháp ở Đông Dương là khí cụ bị lợi dụng để đàn áp công nông, nên nhiệm vụ của Đảng là phá hoại quân đội ấy, làm cho nó bị tan rã từ trong hàng ngũ ra” 1.
Từ đó, Nghị quyết nêu nhiệm vụ cần kíp để thực hiện chủ trương của Đảng là ở những nơi quân đội đóng “thì các Đảng bộ ở đấy phải lập ra một ban quân uỷ chuyên môn công tác quân đồi” 2. phải liên lạc công tác vận động quân sự với công tác chống chiến tranh đế quốc; liên lạc các cuộc đấu tranh của binh lính với cuộc vận động cách mạng của công nông. Công nông phải ủng hộ các cuộc đấu tranh của binh lính. Mặt khác, Đảng cần xuất bản các tài liệu tuyên truyền hướng về vận động binh lính trong hàng ngũ địch, các quân uỷ phải xuất bản báo nói tới tình hình sinh hoạt cũng như kinh nghiệm đấu tranh của binh lính. Nghị quyết còn nêu rõ: Đảng phải chống những xu hướng hoà bình chủ nghĩa, lý thuyết bênh vực “tổ quốc” tư sản, vì đấy chỉ là những mưu mô giai cấp thoả hiệp, làm cho quần chúng quên lãng con đường đấu tranh cách mạng. Đảng cho rằng “phương pháp độc nhất chống đế quốc chiến tranh chỉ là hành động cách mạng của quảng đại quần chúng lao động, là sự liên ái binh lính với công nông” 3. Sau đó, Nghị quyết khẳng định phương pháp đấu tranh cách mạng trong tình hình mới và cho rằng tổng bãi công là một hình thức có hiệu quả trong cuộc chống chiến tranh đế quốc. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng lưu ý rằng không phải muốn tổ chức tổng bãi công là thực hiện được ngay và đủ ngăn trở được chiến tranh đế quốc. Vấn đề tổ chức tổng bãi công phải căn cứ vào trình độ cách mạng đấu tranh của quần chúng toàn quốc; bởi vì “đã tổ chức được tổng bãi công thì phải dự bị làm võ trang bạo động để biến cuộc đế quốc chiến tranh thành cuộc chiến tranh cách mạng dân tộc giải phóng” 4. Nghị quyết về Đội tự vệ và Nghị quyết về vận động binh lính của Đại hội Đảng lần thứ nhất đã nêu rõ quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng nửa vũ trang cách mạng và vận động binh lính đối phương. Những quan điểm đó là cơ sở lý luận cho hoạt động thực tiễn trong thời kỳ vận động cách mạng dân tộc, dân chủ và cho công tác tuyên truyền, đặc biệt trong các thời kỳ chiến tranh cách mạng sau này. 3. Những quan điểm quân sự của Đảng trong thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936-1939 Sau Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3-1935), tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp. Loài người đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới do bọn phát xít gây ra ngày càng rõ. Trước tình hình đó, tháng 7-1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản được triệu tập. Đại hội họp ở Mátxcơva, 65 đoàn đại biểu các Đảng Cộng sản tham dự, trong đó có Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu. Đại hội xác định kẻ thù của nhân dân thế giới lúc này không phải là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc nói chung, mà là chủ nghĩa phát xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh phản cách mạng, giành dân chủ và hoà bình. Tại Đại hội, thay mặt Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Lê Hồng Phong đọc tham luận về phong trào cách mạng Đông Dương từ năm 1930 đến năm 1935, nêu rõ triển vọng của cách mạng Đông Dương: “Có nhiều khả năng rộng lớn hơn để thực hiện Mặt trận nhân dân phản đế, Mặt trận thống nhất của tất cả các dân tộc Đông Dương chống kẻ thù chung là đế quốc Pháp” 5. ____________________ 1, 2. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945)) Sđd, tr. 110, 111. 3, 4. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945) Sđd, tr. 112. 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977, t.II, tr.17. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:40:51 am Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản, các Đảng Cộng sản ra sức phấn đấu thực hiện Mặt trận nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít. Trong bối cảnh đó, Mặt trận nhân dân Pháp được thành lập. Cương lĩnh của Mặt trận nhân dân Pháp nêu lên việc tổ chức các phái đoàn của Quốc hội Pháp điều tra tình hình các nước thuộc địa, nhất là Bắc Phi và Đông Dương, toàn xá các tù chính trị, ban hành các quyền tự do, dân chủ, tự do nghiệp đoàn, cải thiện điều kiện làm việc cho nhân dân lao động.
Những chủ trương đó của Mặt trận nhân dân Pháp cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa của Pháp. Các nước Đông Dương đứng trước tình hình khá thuận lợi, song chưa phải đã nằm trong tình thế cách mạng. Bởi vì, kẻ nắm quyền thống trị Đông Dương vẫn là thực dân Pháp. Chúng là những kẻ đại diện cho giới tư bản tài chính, là bọn phát xít ở thuộc địa. Trên thực tế, chúng vẫn dùng mọi thủ đoạn vu cáo cách mạng Đông Dương, khuyến khích các thế lực phản động gây sức ép đòi Chính phủ Pháp kìm hãm phong trào đấu tranh của nhân dân các nước ở Đông Dương và sẵn sàng đàn áp cách mạng khi tình hình chính trị thay đổi. Vì vậy, triển vọng cách mạng ở Đông Dương chính là do ý chí và khả năng đấu tranh của nhân dân Đông Dương quyết định. Cách mạng ở Đông Dương cần triệt để khai thác những điều kiện thuận lợi từ tình hình chính trị đang diễn ra ở nước Pháp, phát động nhân dân đứng lên đấu tranh đẩy lùi những thủ đoạn thâm độc và chính sách phản động của chính quyền thực dân ở thuộc địa, tiến lên một cao trào cách mạng mới. Trong bối cảnh đó, tháng 7-1936, đồng chí Lê Hồng Phong triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị được trình bày cụ thể trong tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới, xuất bản ngày 30-10-1936. Tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới nêu rõ rằng, theo đúng chiến lược của Quốc tế Cộng sản thì chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương là phải làm cách mạng tư sản dân quyền, tức là phản đế và điền địa, lập chính quyền công nông bằng hình thức xô viết, dự bị các điều kiện để đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng để đạt mục tiêu đó, phải có chính sách đúng. Do tình hình Đông Dương cũng như tình hình thế giới thay đổi, nên “Đảng Cộng sản Đông Dương sửa đổi chiến sách của mình theo đúng điều kiện xứ Đông Dương như vấn đề lập Mặt trận nhân dân phản đế, vấn đề đối với Chính phủ tả ở Pháp, vấn đề sửa đổi cách tổ chức quần chúng” 1. Tài liệu khẳng định: “Cần nhắc lại rằng, chiến lược của Đảng không thay đổi, còn chiến sách là một thứ mưu kế để hoạt động cần phải sửa đổi luôn” 2. . Sau khi phân tích bạn, thù của cách mạng, tài liệu nêu rõ: “Đảng cũng không tuyên chiến kịch liệt với các hạng địch nhân trong một lúc nhất định. Chiến sách của Đảng là nhận rõ ai là kẻ địch nhân nguy hiểm nhất trong lúc hiện thời nhất định để tập trung ngọn lửa vào đó mà đánh” 3. Kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. Để thực hiện mục tiêu chủ yếu trước mắt thành công, tài liệu nêu khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp và nêu chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương. Mặt trận nhân dân phản đế “là cuộc liên hợp hết các giai cấp trong toàn dân tộc bị áp bức đang tranh đấu đòi những quyền lợi hàng ngày cho toàn dân, chông chế độ thuộc địa vô nhân đạo, để dự bị điều kiện cho cuộc vận động dân tộc giai phóng được phát triển Đồng thời Mặt trận nhân dân có thể là cuộc vũ trang tranh đấu dân tộc giải phóng” 4. Chủ trương của Đảng là chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm tập hợp và tổ chức đông đảo quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao, thông qua đó phát triển đội ngũ cách mạng. “Nói tóm lại... chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng” 5. ____________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 6, tr.139, 140. 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6: tr. 141, 151, 152. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:42:16 am Hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936 đánh dấu sự chuyển biến của Đảng trong việc đánh giá khả năng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; chủ trương “liên hiệp hết các giai cấp trong toàn dân tộc” nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt, “dự bị” cho cuộc vận động giải phóng dân tộc. Đó là sự trở về với tư tưởng Nguyễn Ái Quốc đã trình bày trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930.
Nghị quyết Hội nghị được cụ thể trong tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới đã xác định đúng phương hướng, mục tiêu, động lực và đối tượng của cách mạng. Đó là những vấn đề chung của chiến lược sách lược cách mạng, dông thời đó cũng là nội dung quan trọng trong lĩnh vực quân sự. Được Nghị quyết của Đảng soi sáng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Đông Dương bùng lên. Mở đầu là phong trào Đông Dương Đại hội. Tháng 8-1936, trong một bức thơ ngỏ, Đảng đã nêu rõ lập trường về Đông Dương Đại hội, kêu gọi các đảng phái, các tổ chức chính trị và toàn thể nhân dân Đông Dương vì lợi ích chung, đoàn kết thành lập mặt trận đấu tranh bảo vệ hoà bình, đòi các quyền tự do, dân chủ. Đảng kêu gọi thành lập ngay các uỷ.ban hành động để tập hợp quần chúng. Đáp lời kêu gọi của Đảng, chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào nhân dân hưởng ứng Đông Dương Đại hội lan nhanh từ Nam ra Bắc. Trước phong trào nhân dân lên mạnh và ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Đông Dương lan rộng, được Chính phủ Pháp dung túng, bọn phản động thuộc địa chuyển sang công khai đàn áp, kết hợp với chia rẽ và xoa dịu. Ngày 1-9-1936, chúng ra lệnh cấm tất cả các cuộc họp của nhân dân, bắt giam và xét xử những người đứng đầu các uỷ ban hành động, tịch thu báo chí cổ động cho Đông Dương Đại hội. Đông Dương Đại hội bị cấm, nhưng không vì thế mà phong trào dân chủ giảm sút; trái lại, phong trào càng lên cao, đi sâu vào quần chúng nhân dân. Chỉ tính trong sáu tháng cuối năm 1936, đã có 361 cuộc đấu tranh, trong đó có 236 cuộc đấu tranh của công nhân. Trong năm 1937 có gần 400 cuộc đấu tranh của công nhân. Nhiều cuộc đấu tranh có hàng ngàn công nhân tham gia, có cuộc 20.000 người tham gia như cuộc đấu tranh của công nhân mỏ than Uông Bí trong tháng 7-1937. Bên cạnh đó còn có hơn 150 cuộc đấu tranh của nông dân chống cướp ruộng đất, đòi chia lại đất công, đòi giảm tô, giảm tức và nhiều cuộc đấu tranh của các tiểu thương ở các thành phố, thị xã, v.v.. Từ tháng 1 đến tháng 11-1938 có 135 cuộc bãi công của công nhân; 125 cuộc đấu tranh của nông dân. Các cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân đều được tổ chức và lãnh đạo vững vàng, các khẩu hiệu đấu tranh được nêu ra chính xác và sát hợp. Những cuộc đấu tranh sôi nổi của các tầng lớp nhân dân, từ thành thị, hầm mỏ, xí nghiệp đến nông thôn trong thời kỳ này là bước tập dượt lần thử hai, tạo tiền đề để sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khởi nghĩa toàn dân nổ ra ở thành thị và nông thôn, khắp nước Việt Nam. Giữa lúc phong trào đấu tranh của nhân dân Đông Dương đang diễn ra sôi nổi thì tình hình thế giới có chuyển biến phức tạp. Năm 1937, Đức, ý, Nhật ký hiệp ước liên minh quân sự. ở châu Á, phát xít Nhật, không tuyên chiến, đánh chiếm lục địa Trung Quốc và toan tính xâm lược Đông Nam á. Trước tình hình đó, cuối tháng 3-1938, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị ra một Nghị quyết riêng về phòng thủ Đông Dương và vận động binh lính. Trước hết, Nghị quyết về phòng thủ Đông Dương và vận động binh lính khẳng định quan điểm của Đảng: “Đứng trước nạn phát xít và chiến tranh hăm doạ, người cộng sản chủ trương bênh vực chính thể dân chủ, chĩa hết mũi nhọn vào bọn phát xít, chống sự xâm lược của tụi phát xít. . . Nhật sẽ tấn đánh Đông Dương. . . Đảng ta chủ trương chống quân phát xít Nhật” 1. Tiếp đó, Đảng nêu rõ, muốn đủ sức đói phó với phát xít Nhật, phải thực hiện để dân chúng Đông Dương được các quyền tự do, dân chủ, cải thiện sinh hoạt thì dân chúng mới hăng hái chống bọn xâm lược, “đồng thời phải vũ trang cho họ khi có cuộc xâm lược...” 2. ____________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, i.6, tr.366, 367. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 06 Tháng Sáu, 2009, 12:45:33 am Việc phòng thủ Đông Dương chống phát xít Nhật xâm lược là nhiêm vụ của cách mạng Đông Dương. Nhưng lúc đó Đông Dương đang là thuộc địa của Pháp, nên việc phòng thủ Đông Dương có các ý kiến khác nhau. Có ý kiến nêu ra: nếu phía Pháp không thực hiện các yêu cầu về dân sinh dân chủ, thì nhân dân Đông Dương không cùng với Pháp phòng thủ Đông Dương, vì sự phòng thủ ấy chỉ có lợi cho chủ nghĩa đế quốc. Có ý kiến cho rằng, nếu phát xít Nhật xâm lược Đông Dương thì nhân dân Đông Dương nhất định sẽ chống lại mà không cần đặt ra điều kiện nào. Đảng đã kịp thời phê phán ý kiến tiêu cực, thụ động và cho. rằng: “Ta không nên đặt câu hỏi: “Nếu không được cải cách thì có đánh Nhật không?”, vì như thế là ta tự làm yếu phong trào đòi cải cách tự do đi” 1.
Quan điểm của Đảng là phòng thủ Đông Dương một cách chủ động, nghĩa là Đảng lãnh đạo nhân dân chủ động đấu tranh buộc Pháp phải cùng nhân dân ta phòng thủ Đông Dương, phải thực hiện quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân. Nhân dân ta phải chủ động phòng thủ để bảo vệ quyền lợi dân tộc và tài sản, tính mạng của mình. Ta chủ trương tranh thủ những người Pháp dân chủ cùng nhân dân Đông Dương chống phát xít Nhật và phản động thuộc địa Pháp. Dù họ có tán thành hay không, nhân dân Đông Dương vẫn chủ động phòng thủ Đông Dương một cách tích cực . Do tầm quan trọng của vấn đề, ngày 29-10-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương ra Tuyên ngôn của Đông Cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc. Tuyên ngôn phân tích tình hình thế giới và nhận định rằng đây là “thời kỳ đặc biệt nghiêm trọng” 2 do ngọn lửa chiến tranh mà bọn phát xít gây ra đã cháy rải rác khắp thế giới. Tiếp đó, Tuyên ngôn đề cập đến vấn đề “Sự phòng thủ Đông Dương”. Tuyên ngôn kêu gọi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái dân chủ của người Việt Nam và của người nước ngoài ở Đông Dương đoàn kết chặt chẽ xung quanh Mặt trận dân chủ Đông Dương, vì hoà bình, vì tự do mà tranh đấu phòng thủ Đông Dương. Giữa lúc này, không nên “lửng lơ với vấn đề phòng thủ”, cần phải đồng lòng hành động “để đòi thực hiện các quyền tự do dân chủ, để phòng thủ Đông Dương, để chống phát xít, chống thế lực phản động, chống chiến tranh một cách tích cực hơn” 3. Như vậy, từ năm 1930 đến năm 1939, tuy chưa phải là thời kỳ trực tiếp đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc, nhưng để “dự bị điều kiện” cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi cả nước “chắc chắn sẽ nổ ra” như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định từ năm 1924, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đấu tranh cách mạng sôi nổi. Từ trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, những hoạt động vũ trang đầu tiên có tính chất quần chúng đã xuất hiện. Đội tự vệ Đỏ - mầm mống của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam ra đời. Những nguyên tắc xây dựng Đội tự vệ về chính trị cũng như về quân sự đã được Đảng đề ra rất cơ bản, toàn diện; phản ánh sâu sắc quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng, quan điểm thực tiễn, phù hợp với hoàn canh đấu tranh chính trị hồi đó. Đồng thời, Đảng ta đã ra nhiều Nghị quyết về quân sự. Trong thời kỳ 1930-1939, đường lối quân sự của Đảng từng bước hình thành, bao gồm những quan điểm chủ yếu: 1. Đảng khẳng định: khởi nghĩa vũ trang là phương thức cơ bản để giành chính quyền về tay nhân dân. Đảng “lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động’. Khi phát động khởi nghĩa vũ trang, nhất thiết phải căn cứ vào “tình thế trực tiếp cách mạng ‘, phải theo “khuôn phép nhà binh”; có kế hoạch chu đáo, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, thời gian chuẩn xác trong việc phót hợp hành dộng khi khởi nghĩa nổ ra. 2. Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang là sự nghiệp của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quan điểm này được nêu chính xác, rõ ràng trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2-1930). Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 nhấn mạnh đến giai cấp công nông, chưa thấy hết khả năng cách mạng của các tầng lớp khác, nhưng đến tháng 7-1936, Đảng ta đã điều chỉnh lại, chủ trương “liên hiệp hết các giai cấp trong toàn dân tộc bị áp bức tranh đấu theo tư tưởng Cương lĩnh đầu tiên của Đảng". Quan điểm này là cơ sở tư tưởng của đường lối khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân, quốc phòng toàn dân sau này. ____________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.366, 367. 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.431, 434. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:32:52 pm 3. Nhiệm vụ chính trị quyết định nhiệm vụ quân sự. Chủ trương xây dựng quân đội công nông theo tư tưởng Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2-1930) và tổ chức “bộ quân sự của Đảng’ chính là để thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định. Đây là quan điểm quan trọng hàng đầu trong đường lối quân sự của Đảng.
4. Đảng nêu rõ quan điểm về xây dựng Đội tự vệ. Đảng khẳng định: các lực lượng vũ trang cách mạng khi được thành lập đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Đây là vấn đề bản chất giai cấp công nhân, là nội dung cơ bản nhất của quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng. 5. Khẳng định còn chủ nghĩa tư bản, đế quốc thì còn chiến tranh. Phản đối chiến tranh đế quốc, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, coi trọng công tác vận động binh lính trong hàng ngũ đối phương, ra sức tuyên truyền, lôi kéo họ sang phe cách mạng. 6. Trước hoạ xâm lăng của phát xít Nhật, Đảng nêu rõ quan điểm phòng thủ Đông Dương một cách tích cực, chủ động, chuẩn bị lực lượng đối phó thắng lợi với kẻ thù mới là phát xít Nhật. Đến tháng 10-1939, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng đã hình thành. Đó là cơ sở tư tưởng lý luận soi sáng cho cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới trực tiếp đấu tranh vũ trang, đồng thời là nền móng vững chắc để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh trong giai đoạn trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang; bổ sung phát triển trong thời kỳ chiến tranh nhân dân đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn. CHƯƠNG III CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC 1 CỦA ĐẢNG - PHÁT TRIỂN ĐẤU TRANH QUÂN SỰ - TÍCH CỰC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (8-11-1939 đến 9-3-1945) Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bước đầu hình thành vào những năm cuối của thập kỷ 30, tiếp tục được hoàn chỉnh trong quá trình phát triển của cuộc “vận động Cách mạng tháng Tám 1939-1945”. Tư tưởng đó tác động vào thực tiễn và được biểu hiện rõ trong quá trình “Chuyển hướng chiến lược của Đảng từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI (11-1939) đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII (11-1940) và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5-1941). Chuyển hướng chiến lược đưa đến bước phát triển mới trong đấu tranh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự. Riêng về quân sự, nhiều nhân tố mới đã xuất hiện trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng cũng như trong thực tiễn đấu tranh. I- HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LẦN THỨ VI VÀ LẦN THỨ VII VỚI SỰ CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC, ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG Chiến lược chung của cách mạng Việt Nam như Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2-1930) và Luận cương chính trị (l0-1930) vạch ra bao gồm hai nhiệm vụ phản đế, phản phong. Hai nhiệm vụ chiến lược đó, đến cuối thập kỷ 30, vẫn không thay đổi. Nhưng tình hình trong nước và trên thế giới tiếp đó lại có nhiều biến chuyển mới đòi hỏi cách mạng phải có những đổi mới để giành thắng lợi. Trên thế giới, ngày 1-9-1939, phát xít Đức tiến công xâm lược Ba Lan. Ngày 3-9, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Pháp, Chính phủ phản động Pháp thi hành chính sách phát xít, giải tán Đảng Cộng sản Pháp, đàn áp các phong trào dân chủ và tiến bộ. Ở Việt Nam, chính quyền phản động Pháp ra sức đàn áp Đảng Cộng sản và các phong trào dân chủ, tiến bộ, thủ tiêu các quyền tự do dân chủ tối thiểu mà nhân dân đã giành được trong cuộc vận động cách mạng 1936-1939. __________________________ 1. Trước đây, khi viết về sự lãnh đạo của Đảng ở giai đoạn này thường dùng khái niệm: chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:35:42 pm Chúng bắt bớ, giam cầm các chiến sĩ cách mạng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Đồng chí Lê Hồng Phong bị bắt ngày 29-9-1939. Đồng chí Tô Hiệu bị bắt tháng 12-1939... Ngoài những nhà tù đã có, chúng lập thêm nhưng trại tập trung mới như căng Bá Vân, Bắc Mê, Nghĩa Lộ ở miền Bắc; Đắc Lắc, Đắc Tô, Lao Bảo, Trà Kê. . . Ở miền Trung; Tà Lài, Bà Rá. . . Ở miền Nam để giam cầm các chiến sĩ cách mạng.
Đi đôi với việc đàn áp, khủng bố. thực dân Pháp ra sức vơ vét sức người, sức của của nhân dân Việt Nam khiến nhân dân lao động bần cùng, đói khổ; tiểu tư sản thành thị sa sút; trí thức, công chức sụt lương, thất nghiệp; học sinh, sinh viên thất học. Trừ một số phần tử tư sản mại bản và địa chủ lớn lợi dụng cơ hội chiến tranh đầu cơ, tích trữ làm giàu, còn đại bộ phận tư sản dân tộc cũng gặp khó khăn vì sức mua của nhân dân sút kém; trung, tiểu địa chủ cũng sa sút vì sưu cao, thuế nặng. Do nhu cầu chiến tranh, bên cạnh việc vơ vét, bóc lột về kinh tế, chính quyền thuộc địa còn ra lệnh tổng động viên, bắt phu xây dựng đường sá và các công trình “phòng thủ Đông Dương”. Đặc biệt, chúng bắt thanh niên Việt Nam vào lính nhằm tăng cường quân đội thuộc địa, đưa sang Pháp phục vụ chiến tranh, đi làm bia đỡ đạn cho chúng trên chiến trường Tây Âu. Chỉ tính riêng ở miền Bắc Việt Nam, trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã có tới 80.000 lính bị bắt đưa sang Pháp. Ngoài số quân đội Pháp ở Đông Dương năm 1939-1940 lên tới 115.000 người (gồm 93.000 lính Pháp và 22.000 lính khố xanh) từ tháng 9-1940, trên đất Việt Nam có thêm quân phát xít Nhật. Trước sức ép ngày càng gia tăng, ngày 22-9-1939, Pháp ký Hiệp ước, thoả thuận cho Nhật có thể đưa vào Đông Dương tới 25.000 quân, trong đó 6.000 quân có quyền đóng ở bắc sông Hồng. Ngay lập tức, đội quân đầu tiên của phát xít Nhật đã tràn vào Lạng Sơn 10 giờ tối 22-9 và đội quân thứ hai đổ bộ vào Đồ Sơn ngày 25-9 rồi chiếm Hải Phòng ngày 26-9 không cần phải nổ súng 1. Tình hình trên đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có những sáng tạo mới nhằm vừa khắc phục những khó khăn cực kỳ to lớn do thực dân, phát xít gây ra, vừa khai thác được những thuận lợi do tình thế mới đem lại. Nhạy bén trước sự chuyển biến của tình hình trong nước và trên thế giới, Trung ương Đảng đã kịp thời chuyển hướng chiến lược nhằm tập trung mũi nhọn vào nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân tộc lúc bấy giờ là phản đế, giải quyết một phần cần thiết và có thể nhiệm vụ phản phong, chuyển hình thái đấu tranh từ đấu tranh giành các quyền dân sinh, dân chủ trước đây sang đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị cho việc khởi nghĩa giành chính quyền. Quá trình chuyển hướng chiến lược đó được biểu hiện tập trung ở nội dung các Hội nghị Trung ương lần thứ VI, VII, VIII. 1. Hội nghị Trung ương lần thứ VI- Bước khởi đầu của quá trình chuyển hướng chiến lược Hội nghị Trung ương lần thứ VI (từ 6 đến 8-11-1939) được tiến hành tại Nam Kỳ. Sau khi quân Nhật vào Việt Nam, thực dân Pháp đã đầu hàng và ở Đông Dương, chúng hợp tác với phát xít Nhật. Do vậy, giờ đây đối tượng của cách mạng Việt Nam không chỉ là thực dân Pháp mà còn là phát xít Nhật. Cả hai kẻ thù này cấu kết với nhau đàn áp, bóc lột toàn thể dân tộc Việt Nam. Hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, kể cả nhân sĩ, địa chủ yêu nước có chung kẻ thù, và vi thế có thể cùng đứng trong một mặt trận chống đế quốc - phát xít. _____________________ 1. Hiệp ước Pháp-nhật (22-9-1939) quy định: 1. Quân đội Nhật được quyền sử dụng ba sân bay lớn ở Bắc Kỳ (Gia Lâm, Hải Phòng, phủ Lạng Thương). 2. Bộ Tư lệnh quân đội Nhật có quyền đóng 6.000 quân ở bắc sông Hồng. 3. Quân đội Nhật được quyền đi qua Bắc Kỳ để lên đánh quân đội Tưởng ở Vân Nam. Tổng số quân đội Nhật đồn trú trên đất Đông Dương không lúc nào được quá 25.000 người. 4. Sư đoàn quân Nhật ở Quảng Tây được quyền đi qua đồng bằng Bắc Kỳ để ra biển... Hiệp ước ký chưa ráo mực thì 10 giờ tối cùng ngày, sư đoàn 5 Ngự lâm quân của Nhật do tướng Nakamura chỉ huy đã vượt biên giới Trung-Việt tấn công tiêu diệt các đơn vị Pháp đóng ở Đồng Đăng, Na Sầm, Điềm He, Lộc Bình. Ngày 24-9 Nhật tiến vào Lạng Sơn. Ngày 25-9, tướng Pháp chỉ huy ở Lạng Sơn kéo cờ trắng xin hàng. Cũng trong ngày 25-9, Quân đoàn viễn chinh Đông Dương của Nhật do tướng Nishimura Takuma chỉ huy đổ bộ vào Đồ Sơn. Bộ Tham mưu Pháp cho người cầm cờ trắng ra đón. Ngày 26-9 Nhật chiếm đóng Hải Phòng. (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Khắc Đạm “Xã hội Việt Nam thời Pháp-nhật 1939-1945”, Nxb. Văn; Sử Địa, Hà Nội, 1957, Q. 1, tr. 17-18). Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:37:50 pm Trong những điều kiện đó, Hội nghị cho rằng: “Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền. . . cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được, nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào đê thực hiện được nhiệm vụ chính cột của cách mệnh là đánh đổ đêl quốc. Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát xít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung, tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết” 1.
Vì thế, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (thay cho Mặt trận dân chủ thời kỳ trước) với nhiệm vụ mới gồm 14 điểm thể hiện rõ sự chuyển hướng chiến lược của Đảng. Về chính trị: 1. Đánh (đổ đế quốc Pháp, vua chúa bản xứ và tất cả bọn phản động tay sai cho đế quốc và phản bội dân tộc (chứ không ‘Đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến”); 2. Thực hiện quyền dân tộc tự quyết của ba dân tộc anh em Việt - Miên - Lào với chủ trương: Đông Dương hoàn toàn độc lập (thi hành quyền dân tộc tự quyết); v.v.. Về kinh tế, vấn đề ruộng đất là “tịch ký và quốc hữu hoá đất ruộng của đế quốc thực dân, cố đạo và bọn phản bội dân tộc. . . chia cho nông dân cày cấy” (tức mới thực hiện một phần của nhiệm vụ phản phong). Đặc biệt, nhiệm vụ quân sự được đặt lên hàng thứ 4. Nhiệm vụ quân sự đó bao gồm đánh đuổi hải, lục, không quân của đế quốc Pháp ra khỏi xứ, lập Quốc dân cách mạng quân v.v.. Đề cao nhiệm vụ quân sự nên việc kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng cứu nước của dân tộc cũng được Đảng ta đặc biệt coi trọng. Tuyên ngôn của Đảng ra cuối tháng 9- 1939, ngay sau Hội nghị Trung ương, đã nhấn mạnh: Dân tộc chúng ta đương ở vào một tình thế một còn một mất. Dòng dõi tinh anh của Trưng Vương, Triệu Ẩu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng... lại là dân tộc đông nhất; dân tộc Việt Nam hãy mau đoàn kết lại! Đi đôi với việc chuyển hướng về tư tưởng, đường lối, Đảng ta cũng đã đặt vấn đề chuyển hướng về tổ chức. Đảng ta cho rằng, trong hoạt động thực i;ễn, vừa phải xây dựng những tổ chức hợp pháp, đơn giản, rộng rãi; vừa phải xây dựng các đoàn thể với hướng chính là bí mật. Phải chuyển từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang. Các báo chí công khai bị đóng cửa được thay thế bằng các tờ Giải phóng ở Bắc Kỳ, Bẻ xiềng sắt ở Trung Kỳ và Tiên Zên ở Nam Kỳ. ra đời vào cuối năm 1939 đầu năm 1940: phát hành bí mật, nhằm cổ vũ đấu tranh vũ trang. Trên thực tế, lúc bấy giờ, khi phong trào thành thị bị địch khủng bố, Đảng chủ trương chuyển hoạt động về nông thôn nhưng không bỏ trống đô thị. Lực lượng vũ trang bí mật và các căn cứ địa cách mạng cũng lấy nông thôn, rừng núi làm nơi xuất phát. Sự chuyển hướng chiến lược với những nội dung mà Hội nghị Trung ương lần thứ VI đề ra là kịp thời và đúng hướng. Dù vậy, đấy cũng mới là sự chuyển hướng bước đầu nên vẫn còn có những điểm cần hoàn chỉnh thêm. Ví như, về đối tượng của cách mạng, Nghị quyết Hội nghị vẫn còn đề ra là “Đánh đổ đế quốc Pháp...” mà chưa chỉ rõ là cả đế quốc Pháp và phát xít Nhật. Do thời cơ khởi nghĩa vũ trang chưa đến, mới chỉ dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc nên các khẩu hiệu hành động mà Hội nghị VI nêu ra vẫn còn là “Chống đế quốc chiến tranh, Chống sưu cao, thuế nặng”, “Đòi hoà bình cơm áo” “Đòi giải phóng dân tộc”; các khẩu hiệu tranh đấu vũ trang chưa được đề cập . _______________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr. 538. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:40:41 pm 2. Hội nghị Trung ương lần thứ VII và các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương
a) Hội nghị Trung ương lần thử VII (11-1940) Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương VI, năm 1940, phong trào quần chúng bắt đầu phát triển mạnh. Số quần chúng có tổ chức dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ở Trung, Nam, Bắc Kỳ có hàng vạn người. Ngoài ra, còn có nhiều quần chúng trong hội tương tế, ái hữu công khai và các phường hội ở thôn quê chịu ít nhiều ảnh hưởng của Đảng. Tổ chức Đảng tuy có bị tổn thất do cuộc khủng bố tháng 9-1939, nhưng ngày càng có thêm những người gia nhập Đảng, trong đó, phần đông là nông dân và tiểu tư sản. Đặc biệt ở Đảng bộ Nam Kỳ, trong vòng ba tháng, từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 10 (1940), số đảng viên tăng 60%. Theo số liệu của Đảng bộ đã có đến 30 phần trăm quần chúng nhân dân có xu hướng cộng sản. Nhưng trước sự khủng bố, lùng sục gắt gao của kẻ thù, cơ quan lãnh đạo của Đảng bị tổn thất đã ảnh hưởng tới sự lãnh đạo, chỉ đạo. Hơn nữa, sự lãnh đạo, chỉ đạo đó lại không thống nhất, “xứ nào riêng xứ uỷ ấy, chỉ huy, và liên lạc giữa các cơ quan chấp hành các xứ cũng không được liên tiếp” 1. Vì vậy, yêu cầu khẩn cấp là Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải được kiện toàn để thống nhất lãnh đạo cách mạng trong cả nước. Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII đã họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh... Hội nghị khẳng định chủ trương chuyển hướng chiến lược của Hội nghị Trung ương Đảng năm 1939 là đúng và nêu rõ: “Mặc dầu lúc này khẩu hiệu cách mạng phản đế - cách mạng giải phóng dân tộc cao hơn và thiết dụng hơn song nếu không làm được cách mạng thổ địa thì cách mạng phản đế khó thành công” 2. Nghị quyết xác định kẻ thù chính của cách mạng lúc này là “Phát xít Pháp - Nhật”. Mặt trận dân tộc thống nhất tuy vẫn gọi là “phản đế” nhưng làm rõ thêm tính chất cứu quốc của các hội quần chúng trong mặt trận. Nghị quyết ghi rõ: “Đảng Cộng sản Đông Dương, các công hội, nông hội, Việt Nam phản đế cứu quốc hội, các hội phản đế cứu quốc”. Việc thay khái niệm cứu quốc vào khái niệm phản đế phải đến Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5-1941) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì mới chính thức thực hiện, đi đôi với sự thay đổi tên của Mặt trận từ Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế sang “Việt Nam độc lập đồng minh”, gọi tắt là Việt Minh. Hội nghị Trung ương lần VII khẳng định: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập” 3. Về tổ chức lực lượng võ trang: “. . . Phải lựa chọn người trong các đoàn thể mặt trận đặng mở rộng các đội tự vệ... Mặt trận phải trực tiếp võ trang cho dân chúng cùng Đảng tổ chức nhân dân cách mạng quân, trực tiếp tham gia điều khiển bạo động 4. Về chỉ đạo cụ thể, sau khi nghe báo cáo kết quả khởi nghĩa Bắc Sơn và chuẩn bị khởi nghĩa Nam Kỳ, Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, phát triển cơ sở cách mạng tiến tới thành lập căn cứ địa du kích, lấy Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo và giao cho đồng chí Hoàng Văn Thụ tổ chức thực hiện. Sau khi nghe báo cáo của đồng chí Phan Đăng Lưu về tình hình miền Nam và đề nghị khởi nghĩa, Hội nghị nhận định điều kiện thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở trong cả nước, cũng như ở Nam Ky đều chưa chín muồi. Vì vậy, Hội nghị quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa và chỉ rõ chỉ nên dùng những hình thức đấu tranh chính trị và kinh tế chống địch; phản đối chiến tranh Pháp - Thái Lan; chuẩn bị lực lượng, có thời cơ tốt sẽ khởi nghĩa vũ trang đánh đuổi Pháp - Nhật. Hội nghị cử đồng chí Phan Đăng Lưu về truyền đạt chủ trương của Đảng cho Đảng bộ Nam Kỳ. Cả hai chủ trương chỉ đạo cụ thể trên đều rất đúng đắn, sáng suốt. Riêng chủ trương hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa kịp truyền đạt tới nơi thì khởi nghĩa đã nổ ra. ___________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 7, tr. 61, 68. 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 58, 81. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:42:40 pm b. Các cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương.
Năm 1940, sau khi phát xít Nhật vào, quân Pháp ở Đông Dương đầu hàng và làm tay sai đắc lực cho Nhật. Chúng thẳng tay bóc lột, đàn áp nhân dân. Tình thế dẫn đến nhân dân Đông Dương không thể không đứng lên đấu tranh võ trang. Xét tương quan lực lượng địch ta lúc này thì: Về phía địch: những viên toàn quyền, đã từ “bọn dân sự” chuyển sang “bọn quân sự”. “Từ khi Pháp bại trận, phản tướng Pêtanh đóng vai quốc trưởng bù nhìn ở Pháp, những phần tử phát xít, những võ quan phản động, lần lần chiếm những địa vị trọng yếu trong ngạch cai trị Đông Dương” 1. Catưru thay cho toàn quyền “dân sự” trước đó. Rồi đến lượt Đô đốc Đờ Cu tay sai đắc lực hơn cho Nhật, đã thay thế toàn quyền Catưru. Lục lượng quân sự Đông Dương được tăng cường: Lục quân năm 1937 là 52.000; cuối năm 1939 lên 90.000, năm 1940 lên 93.000 quân. Nếu tính cả 22.000 lính khố xanh thì tổng số quân chiến đấu trên bộ của Pháp ở Đông Dương năm 1940 lên 115.000 quân. Về hải quân, năm 1940 Pháp có ở Đông Dương 5 chiến hạm với tổng số trọng tải là 12.000 tấn và 950 lính thuỷ. Về không quân, ở Đông Dương, Pháp có khoảng 100 máy bay các loại và 3 đại đội pháo cao xạ. Ngoài quân đội chính quy, đế quốc Pháp còn củng cố và gia tăng bộ máy đàn áp. Chúng tuyển thêm lính kín, đặt thêm bót cảnh sát, đồn canh; đặt cảnh sát hương thôn, đội bảo an ở thành thị... Các tổ chức ấy đều có xu hướng quân sự biến tướng hoặc bán quân sự. Những tổ chức phát xít sẵn có được mở rộng. Ngoài quân Pháp ra, quân Nhật triển khai đóng ở nhiều nơi như Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh, Đáp Cầu. Kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam lúc này không chỉ là phát xít Pháp mà đã gồm cả phát xít Nhật. Nhật còn chưa chiếm ưu thế, nên kẻ thù cụ thể của cách mạng lúc này là: phát xít Pháp - Nhật. Về phía ta: Trong hàng vạn hội viên Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế đã có một số là tự vệ vũ trang. Một số tiểu tổ du kích đã xuất hiện. Binh lính trong quân đội đế quốc cũng là một lực lượng hậu bị đáng kể. Thái độ phản đế của họ đã ít nhiều biểu lộ như: 4.000 lính Hải Phòng biểu tình, hàng nghìn lính ở Sài Gòn, Vĩnh Yên và Quảng Trị tuyệt thực, đòi cải thiện sinh hoạt. Trội hơn hết là cuộc đấu tranh của 5.000 lính ở Đà Nẵng và cuộc biểu tình của hàng ngàn lính ở Mỹ Tho. Ba cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương đã nổ ra trong một bối cảnh và tương quan lực lượng giữa ta và địch như vậy. Khởi nghĩa Bắc Sơn (23-9-1940) Theo tình hình chung và tương quan lực lượng ta địch thì thời cơ khởi nghĩa vũ trang trong toàn quốc chưa tới. Nhưng với điều kiện địa phương Lạng Sơn lúc đó, Đảng bộ và nhân dân Lạng Sơn đã không lỡ dịp đứng lên giết giặc xây dựng lực lượng cách mạng. Đêm 22-9-1940 Nhật đánh vào Lạng Sơn. Quân Pháp không dám chống cự. Chúng vứt bỏ cả súng đạn, cởi bỏ cả quân phục chạy trốn. Chính quyền tay sai Pháp ở địa phương hoang mang tan rã. Tri phủ Tràng Định, tri châu Điềm He vừa sợ Nhật, vừa sợ quần chúng cách mạng cũng vội vã bỏ trốn. Xét về địa phương thì đúng là lúc mà kẻ thù hoang mang đến cực độ. Lực lượng lãnh đạo khởi nghĩa là Đảng bộ Bắc Sơn đã mạnh (được đồng chí Hoàng Văn Thụ về gây cơ sở từ năm 1933, ở xã Vũ Lăng, chi bộ Đảng đã được thành lập từ năm 1937). Các đội tự vệ địa phương được tổ chức. Đảng bộ tổ chức sản xuất vũ khí ở xã Quyền Sơn - Bắc Sơn, nhưng nguồn vũ khí chủ yếu vẫn là “cướp súng giặc giết giặc”. _______________________ 1. Kể từ Pôn Đume, toàn quyền Đông Dương (1896 - 1902) mở đầu cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất là toàn quyền thứ 10 đến Bơrêviê (Brévié) (1936 - 1940) rồi Gơraphơi (Graffeuil) tạm thay Bơrêviê trong sáu ngày (23-8 đến 29-8-1939) là toàn quyền thứ 40, tất cả đều là thuộc ngạch dân sự. Nay phát xít Pháp thay bằng các toàn quyền thuộc ngạch quân sự. Đó là Thống tướng Catưru (Général d’Armée) (20-8-1939 đến 19-7-1940). Rồi Phó thuỷ sư Đô đốc Đờ Cu (Vice - Amiral d' Escadre) từ 25-6-1940 đến ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945). Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:44:23 pm Diễn biến khởi nghĩa
Nhận thấy thời cơ đã đến, số đảng viên cộng sản người địa phương thoát khỏi ngục Lạng Sơn đã cùng Đảng bộ Bắc Sơn lập Uỷ ban khởi nghĩa và phát động khởi nghĩa vũ trang. Ngày 27-9-1940, Uỷ ban khởi nghĩa huy động lực lượng tự vệ phục kích toán lính Pháp ở đèo Canh Tiêm, diệt một tên, thu súng. Đêm 27-9, tự vệ cùng hơn 300 quần chúng thuộc hai xã Tam Hoa và Hơng Vũ (có 30 linh dõng tham gia) vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác và 20 súng trường, 8 súng kíp, kéo quân về châu lỵ Bắc Sơn công đồn Mỏ Nhài. Lực lượng khởi nghĩa chia làm ba mũi tiến công vào đồn địch, vừa bắn vừa kêu gọi binh lính đầu hàng. Tri châu và một trung đội lính đầy đủ súng ống hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân chiếm đồn, thu 17 súng kíp, 1 máy chữ và toàn bộ sổ sách, bằng triện. Tự vệ cùng nhân dân tiến ra các ngả đường chặn đánh tàn binh Pháp, tước vũ khí và trấn áp bọn cường hào phản động. Tổ chức quân du kích, lập căn cứ vũ trang. Phát xít Nhật thoả hiệp với thực dân Pháp để chúng rảnh tay đàn áp cách mạng. Quân Pháp tập trung lực lượng tiến đánh Bắc Sơn từ Đình Cả - Vũ Nhai và từ Bình Gia xuống. Chúng chiếm lại châu lỵ, khủng bố nhân dân. Xứ uỷ Bắc Kỳ phái đồng chí Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn cùng Đảng bộ địa phương lãnh đạo đấu tranh giữ vững phong trào. Từ các chiến sĩ tự vệ và quần chúng tích cực, Đảng bộ Bắc Sơn đã tổ chức ra Quân du kích Bắc Sơn, làm nòng cất cho cuộc khởi nghĩa. Ngày 14-10-1940 Hội nghị cán bộ và đảng viên Bắc Sơn đượm triệu tập, họp ở Sa Khao, quyết định lập chiến khu Bắc Sơn, xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập chính quyền cách mạng; diệt trừ phản cách mạng, tịch thu tài sản của chúng chia cho dân nghèo và vạch kế hoạch chiến đấu chống địch khủng bố. Chống khủng bô, tiến công giành thắng lợi ở Vũ Lăng Quân du kích tiến hành vũ trang tuyên truyền, giải thích chủ trương của Đảng bộ và kế hoạch chống địch khủng bố, đồng thời tiến đánh Khuôn Ràng, lùng bắt bọn phản động đầu sỏ tịch thu tài sản của đế quốc, Việt gian chia cho nhân dân. Ngày 25-10-1940, quân du kích tiến đánh địch tại trường Vũ Lăng, nơi có tri châu cầm đầu bọn lính dõng với hơn 100 khẩu súng, chuẩn bị mở đường cho Pháp tiến công vào khu du kích. Nghĩa quân bao vây trường Vũ Lăng, kêu gọi lính dõng đi theo cách mạng. Địch hoảng sợ bỏ chạy. Tuy không diệt được địch, nhưng chiến thắng Vũ Lăng đã ảnh hưởng tốt trong nhân dân. Quần chúng phấn khởi thành lập chính quyền cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang. Lực lượng quân sự phát triển nhanh. Chỉ trong vài ngày, quân du kích đã lên tới gần 200 người, được biên chế thành từng tiểu đội mỗi tiểu đội 10 người. Vũ khí phần lớn là súng kíp và một số súng trường lấy được của địch. Hai chiến thắng ở Mỏ Nhài và Vũ Lăng là những thắng lợi đầu tiên của đấu tranh quân sự từ khi Đảng chuyển hướng chiến lược. Sau chiến thắng Vũ Lăng, ngày 28-10-1940, một cuộc tuần hành đã được tổ chức đi từ Nam Nhi đến Vũ Lăng dự mít tinh thành lập chính quyền cách mạng. Cuộc tuần hành đó bị bọn phản động địa phương dẫn quân Pháp đến đánh úp. Quân du kích nổ súng bảo vệ nhân dân. Giặc điên cuồng khủng bố, phong trào tạm thời lắng xuống. Đảng bộ địa phương quyết định kiện toàn lại lực lượng vũ trang, điều động thêm lực lượng ở Vũ Nhai lên bổ sung, tổ chức một Trung đội du kích Bắc Sơn làm nòng cốt cho phong trào. Đội du kích chuyển sang hoạt động phân tán, bám chắc dân, duy trì cơ sở cách mạng, tổ chức nhân dân đấu tranh chống khủng bố trong những điều kiện vô cùng ác liệt, khó khăn. Như vậy, khởi nghĩa Bắc Sơn tuy nổ ra trong điều kiện khởi nghĩa của cả nước chưa chín muồi, nhưng riêng với địa phương lúc này, chớp thời cơ đứng lên giết giặc, xây dựng lực lượng vũ trang là đúng. Khởi nghĩa Bắc Sơn là tiếng súng đầu tiên báo hiệu thời kỳ đấu tranh quân sự mới của dân tộc. Thành quả là đã cho ra đời Đội du kích Bắc Sơn, bước đầu tạo dựng nên một căn cứ địa vũ trang và để lại những bài học bổ ích cho các cuộc đấu tranh vũ trang sau đó. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:45:29 pm Khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940)
Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra sau khởi nghĩa Bắc Sơn hai tháng. Bối cảnh lịch sử chung cả nước vẫn là một, nhưng tình thế Nam, Bắc có ít nhiều khác nhau. Về phía kẻ thù, ngoài việc ráo riết đàn áp cách mạng, ra sức vơ vét sức người, sức của cho chiến tranh như đã xảy ra trong cả nước thì riêng ở Nam Kỳ việc bắt lính Việt Nam đi làm bia đỡ đạn cho chúng trên chiến trường Pháp - Thái là một trong những nguyên nhân trực tiếp nổ ra cuộc khởi nghĩa. Tháng 11-1940, được tin Pháp điều một số lính Việt Nam sang chiến trường Pháp - Thái, 15.000 lính người Việt ở Sài Gòn đã phản kháng, nhất là ở hai đại đội pháo binh. Số đông binh lính người Việt Nam trong quân đội Pháp ngả theo cách mạng. Về phía cách mạng, Nam Kỳ là nơi họp Hội nghị Trung ương lần thứ VI năm 1939 đề ra chủ trương chuyển hướng chiến lược chuẩn bị đấu tranh vũ trang, nên tinh thần Nghị quyết đã sớm đi vào đảng viên và quần chúng. Tháng 3-1940, Thường vụ Xứ uỷ Nam Kỳ do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thơ đã thảo ra Đề cương chuẩn bị bạo động. Phong trào phát triển mạnh, số đảng viên tăng nhanh. Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế được tổ chức rộng khắp từ làng đến huyện, tỉnh, đang thống nhất lên toàn xứ. Nông hội hoạt động mạnh. Mít tinh, biểu tình liên tiếp nổ ra, lúc đầu mới chỉ 50, 70 người họp vào ban đêm thì sau có hàng trăm, hàng nghìn người họp ban ngày. Địch đến đánh phá, nhân dân nổi trống mõ, uy hiếp địch, bảo vệ cán bộ. Phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Đến tháng 7-1940, ở nhiều xí nghiệp lớn như Ba Son, nhà máy đèn Chợ Quán, trường Bách nghệ... và nhiều đường phố đã có các đội tự vệ, các tiểu tổ du kích. Tổ chức du kích theo tam tam chế. ba người thành một tổ, ba tổ thành một tiểu đội, ba tiểu đội thành một trung đội, có đảng viên hay quần chúng tích cực chỉ huy và có đại biểu Đảng tham gia lãnh đạo. Vũ khí thì ngoài số đã có, còn có các cơ sở sản xuất vũ khí với các lò rèn làm việc suốt ngày đêm. Nhân dân quyên góp kim khí để đúc đạn, lựu đạn, bom, như Móp Xanh (Tân An) , Bà U (Mỹ Tho) , chùa Thượng Đồng Hoà (Rạch Giá) . . . Phong trào không chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu “không một đồng xu, không một người lính cho đế quốc chiến tranh” ngày càng lan rộng. CƠ sở binh vận đã được tổ chức trong nhiều đơn vị quân đội địch kể cả trong trường hạ sĩ quan, sĩ quan dự bị và cả trong một vài đơn vị lính Pháp. Tình hình đó đã thúc đẩy cuộc khởi nghĩa mau nổ ra. Tháng 7-1940, Hội nghị Xứ uỷ Nam Kỳ mở rộng, có đồng chí Phan Đăng Lưu, đại diện Trung ương tham dự. Hội nghị đã thông qua Đề cương chuẩn bị khởi nghĩa và cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc họp Hội nghị Trung ương lần thứ VII để bàn về khởi nghĩa. Hội nghị Trung ương lần thứ VII nhận định điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và ở trong eả nước đều chưa chín muồi, chưa nên khởi nghĩa. Ngày 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Nam Kỳ thì lệnh khởi nghĩa đã được phát đi, mọi nơi đã sẵn sàng nổi dậy, không thể hoãn lại được. Ở Sài Gòn, địch đã biết cuộc khởi nghĩa sắp nổ ra nên ráo riết đề phòng. Chúng lùng sục bắt bớ. Thành uỷ Sài Gòn bị vỡ trước ngày khởi nghĩa. Binh lính người Việt bị địch giữ lại ở trong trại. Chúng tước vũ khí của binh linh phản chiến. Theo kế hoạch thì lúc 24 giờ ngày 22-11-1940, tiếng súng đánh chiếm thủ phủ Sài Gòn sẽ nổ làm tiếng súng lệnh, nhưng đà không thực hiện được. Mặc dầu vậy, đêm 22-11-1940, khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn cứ nổ ra. Công đồn, diệt viện ớ Hóc Môn - Cầu Bông. Đúng 24 giờ ngày 22-11-1940, dưới sự chỉ huy của đồng chí Mười Đen, Xứ uỷ viên Xứ uỷ Nam Kỳ, quân du kích và hàng nghìn đồng bào ở Hóc Môn kéo đến công đồn Hóc Môn, một đồn lớn có tường gạch, nhà gác. Như kế hoạch đã được vạch ra, một nữ du kích chạy vào đồn kêu là bị kẻ cướp đánh. Khi lính vừa ra khỏi đồn, du kích xông vào giật súng, xung phong chiếm đồn. Tên chủ quận và binh linh trong đồn vội rút lên gác, đóng cửa cầu thang. Du kích cùng nhân dân vây đồn, hò reo gọi địch ra hàng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:46:16 pm Được tin cấp báo, Pháp điều quân từ Sài Gòn lên và quân từ Tây Ninh xuống cứu viện. Du kích đã chủ động chặn đánh địch ở Cầu Bông, diệt viện, giết chết tên chủ tỉnh Tây Ninh. Trong trận Hóc Môn và Cầu Bông du kích thu được 15 súng trường. Do viện quân địch kéo đến nhiều, du kích không chiếm được đồn, tạm rút lên Truông Mít, Tây Ninh.
Tại Chợ Lớn, du kích tập trung ở Đức Hoà, Trung Quận, Cần Giuộc, mỗi nơi khoảng 400 người đến 500 người. Các địa phương tuỳ cơ ứng biến, nhưng mục tiêu chung là diệt địch, trừ gian, cướp đồn, đoạt vũ khí, lập chính quyền cách mạng. Ở Đức Hoà, quân du kích đánh tan toán lính địch tại Giồng Đa, giết chết tên đầu sỏ phản động. Tại Trung Quận, du kích cùng nhân dân diệt tề, trừ gian, lập chính quyền cách mạng ở các xã dọc hai bên đường xe lửa. ở Bến Lức, quân du kích dùng mưu dụ lính ra khỏi đồn, xông vào chiếm đồn lấy súng. Tại Cần Giuộc, du kích do nữ đồng chí Nguyễn Thị Bẩy, tỉnh uỷ viên chỉ huy, đã cùng nhân dân đánh chiếm trụ sở hội tề, tịch thu sổ sách, bằng triện, lập chính quyền cách mạng ở các xã Phước Lai, Phước Vĩnh Đông, Tân Lập, Long Hậu, Long Đức Quân du kích còn nhiều lần đánh chặn quân tiếp viện của địch. Tại Vĩnh Long, quân du kích Vũng Liêm do nữ đồng chí Hồng, Bí thư Quận uỷ Vũng Liêm trực tiếp chỉ huy đánh chiếm quận lỵ. Du kích công đồn, 300 quần chúng có vũ trang hò reo hỗ trợ. Quân địch hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân lập uỷ ban cách mạng quận Vũng Liêm và giữ đồn được ba ngày. Tại Tân An và Mỹ Tho, các xã thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông và hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, chính quyền đều về tay nhân dân. Hàng nghìn du kích do Bí thơ Tỉnh uỷ Mỹ Tho chỉ huy đã tiến đánh và bức rút 11 đồn bốt, phá đường xe hơi, 14 cầu sắt, lật đổ hàng trăm cột điện, ngăn 6 con sông, bóc nhiều đoạn đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho. Ngoài các trận công đồn, phá giao thông, cắt đường tiếp viện của địch, du kích còn đánh 1 tàu địch trên kênh 12, đánh 5 tàu trên kênh Long Hưng; đánh địch trên cầu Thày Khánh (Thạnh Phú), cầu Thày Tùng, vịnh Ba Thu (Phú An), đánh nhà tên điền chủ người Pháp ở Tam Hiệp, đánh lính đến bảo vệ nhà tên địa chủ lớn ở Nhị Bình... Vùng giai phóng được mở rộng. Chỉ riêng hai quận Châu Thành và Cai Lây, ta đã giải phóng được 54/56 xã. Địch lo sợ trước phong trào nổi dậy ở Mỹ Tho. Ngày 14-12-1940 chúng mở cuộc tấn công lớn, có cả thuỷ, lục không quân đánh vào vùng giải phóng. Nhưng mãi đến ngày 14-1-1941, địch mới chiếm lại được các bốt, đồn đã bị quân ta chiếm và kiểm soát. Quân du kích tạm rút vào Đồng Tháp Mười. Mỹ Tho là nơi giữ được chính quyền lâu nhất. Nhìn chung, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra với khí thế mạnh, quy mô rộng lớn và có tính quần chúng rộng rãi. Trên địa bàn 18 tỉnh (Nam Bộ lúc đó có 20 tỉnh) từ Biên Hoà đến Cà Mau, chính quyền địch bị phá vỡ từng mảng lớn ở nông thôn và cả một số vùng ven đô. Chính quyền cách mạng được thiết lập ở nhiều xã và một vài quận. Cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm được kéo lên ở những nơi chính quyền mới ra đời. Thành quả về đấu tranh quân sự trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã có những đóng góp: Thứ nhất, đã kết hợp được cả hai mặt chính trị và quân sự của bạo lực cách mạng. Về chính trị, bước đầu kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh quân sự, nhất là trong hình thức địch vận dụ hàng, phá hoại, cản trở giao thông liên lạc, kể cả đường bộ lẫn đường thuỷ của địch. Nhờ vậy đã làm chậm trễ, cản trở viện binh của chúng, nên có nơi giữ được chính quyền cách mạng trong nhiều ngày. Về quân sự du kích Nam Kỳ trở thành lực lượng nòng cốt của khởi nghĩa vũ trang. Du kích đã phát huy được những hình thức tác chiến có hiệu quả như: công đồn, diệt viện; phục kích chặn đánh địch, trừ khử ác ôn, v.v.. Thứ hai, bước đầu đạt được mục tiêu chính trị của đấu tranh quân sự là phá được chính quyền của địch, xây dựng và bảo vệ được chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương trong một thời gian nhất định. Thứ ba, sau khởi nghĩa, du kích U Minh, Đồng Tháp Mười, Truông Mít (Tây Ninh)... đã trở thành Quân du kích Nam Kỳ, một trong những lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của nhân dân ta. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:47:40 pm Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị quân thù đàn áp nặng nề. Theo báo cáo của thống đốc Nam Kỳ gửi toàn quyền Đông Dương (tháng 12 - 1940) thì sau cuộc khởi nghĩa, chúng đã gây ra hàng vạn vụ bắt bớ (tổng cộng, từ ngày 22-11 đến ngày 31-12-1940 có tới 5.648 vụ).
Để đối phó với sự khủng bố. đàn áp dã man của kẻ thù, tháng 12-1940, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Nam Kỳ đã họp ở Bà Quẹo (Gia Định) bàn kế hoạch rút lui để tránh tổn thất và củng cố lại cơ sở (nhưng sau Hội nghị mấy ngày thì hầu hết các xứ uỷ viên mới bầu lại bị bắt). Đồng thời, ngày 21-12-1940, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Thông cáo khẩn cấp kêu gọi các cơ sở đảng trong toàn quốc bằng hành động thiết thực, lãnh đạo nhân dân đấu tranh hưởng ứng và ủng hộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Thông cáo mang nội dung một chỉ thị hành động, nêu rõ: “... Nơi nào có thể phát động du kích chiến tranh thì phải biến đội tự vệ thành đội du kích để tuỳ thời đánh úp các đồn trại, cướp khí giới, tiêu diệt bọn phản quốc. . . các đảng bộ địa phương. . . phải tổ chức ngay đội biệt động gồm những phần tử hăng hái, can đảm nhất trong đội tự vệ để thi hành những việc như phá đường sắt, cầu, cống, ngăn cản quân thù, đừng cho lính bắn quân cách mạng, cắt dây điện, cướp xe cộ chở lương thực, khí giới của đế quốc. . . Phải tổ chức Uỷ ban bạo động xứ... lại phải tổ chức uỷ ban bạo động thành, tỉnh, phủ, huyện quan trọng để chỉ huy bạo động cho được thống nhất” 1. Thông cáo đã vạch ra phương hướng hành động, đồng thời cổ vũ các cấp uỷ Đảng và quần chúng cách mạng hăng hái đấu tranh trong tình hình mới. Khởi nghĩa Đô Lương (13-1-1941) Ngày 13-1-1941, khởi nghĩa Đô Lương đã nổ ra. Cuộc khởi nghĩa này tuy quy mô nhỏ hơn hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và khởi nghĩa Nam Kỳ và không do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, nhưng chính nó lại là một nét đặc thù. Trước ngày khởi nghĩa, ở Nghệ An đã có truyền đơn của Đang Cộng sản Đông Dương nêu những khẩu hiệu: Đả đảo Bảo Đại! Đả đảo đế quốc Pháp! Binh lính người Việt trong hàng ngũ quân đội Pháp ở Đô Lương (Nghệ An) do ảnh hưởng của hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và sự tuyên truyền của Đảng đã giác ngộ, nổi lên lấy súng giặc diệt giặc. Ngày 8-1-1941, giám binh Pháp điều đội Cung từ Vinh lên đồn Chợ Rạng thay tên đồn trưởng người Pháp là Alônggôn (Allongol). Nhận nhiệm vụ mới được năm ngày, ngày 13-11-1941, Đội Cung đã cùng 11 lính khố xanh mặc quân phục thống nhất: áo dạ tím, quần vàng, với đầy đủ súng đạn lên một xe ô tô, giả trang đi tuần phòng, nhưng thực chất là đi đánh chiếm đồn Đô Lương. Tới Đô Lương, Đội Cung chỉ huy ba người giết tên chủ nhà đoan; xông vào nhà bưu điện cắt liên lạc bắt tên ký đi theo đến đồn Đô Lương. Tới nơi, đội Cung cùng nghĩa quân bắn chết tên đồn trưởng Bách rồi ra lệnh cho cai Á tập hợp lính, gồm 36 người; phân công 4 người về đồn Chợ Rạng đắp ụ đất canh giữ đồn, 32 người lên ba Ô tô cấp tốc chạy về Vinh. Tới trường Quốc học Vinh, đội Cung phân công nho cai Vỵ chỉ huy lính đóng ở trường, chờ khi có ba phát súng lệnh thì tấn công vào thành. Còn đội Cung cùng cai Á và người lái đi xe vào trại giám binh nhằm giết giám binh Đêjiru (Desjiroux), nhưng việc không thành. Tên giám binh thấy động, điện thoại ra lệnh cho binh lính các nơi đối phó. Cai Á và lái xe bị bắt. Cai Vỵ vào thành xin hàng. Một số nghĩa binh sa vào tay giặc. Riêng đội Cung được đội Bốn ở Vinh dẫn đường trốn thoát, về quê Thanh Hoá định tìm đường trốn sang Thái Lan, nhưng bị Tống Gia Liêm phản bội báo mật thám đến bắt. Cuối cùng, đội Cung và 10 người đã bị Pháp xử tử, số còn lại bị đưa đi phát vãng từ 10 đến 12 năm 2. Nhìn chung, khởi nghĩa nổ ra nhanh và bị kẻ thù đàn áp ngay, nhưng cuộc khởi nghĩa đã góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều đáng kể là nghĩa binh đã có tinh thần yêu nước, căm thù giặc, thực hiện khẩu hiệu phản đế phản chiến theo truyền đơn của Đảng kêu gọi. Tiếng súng Đô Lương là tiếng súng của một bộ phận binh lính người Việt yêu nước dám đứng lên diệt thù cứu nước, dẫu lực lượng còn đơn độc, lẻ loi, nó vẫn được Đảng ta coi trọng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5-1941) coi ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương “là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc” 3. ____________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 90 - 92. 2. Trần Huy Liệu- Văn Tạo: Phong trào chống phát xít, chống chiến tranh và các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội 1957, tr. 30-33. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 109. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:53:24 pm II- HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ VIII (5-1941) Hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược. Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xúc tiến chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Kể từ cuối năm 1939, phong trào cách mạng Việt Nam phát triển qua gần hai năm, đã chứng tỏ hiệu quả bước đầu chủ trương chuyển hướng chiến lược. Đảng phát triển, Mặt trận thống nhất dân tộc được mở rộng, đấu tranh vũ trang dẫn đến những cuộc khởi nghĩa. Năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Ngày 8-2-1941, Người về Pắc Pó (Hà Quảng, Cao Bằng) bắt tay ngay vào việc xây dựng căn cứ địa và tổ chức các đoàn thể cứu quốc - những yếu tố không thể thiếu được của đấu tranh vũ trang; đồng thời mở lớp huấn luyện cán bộ, chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ VIII. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ VIII họp do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu của Quốc tế Cộng sản chủ trì. Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Trung Kỳ, Bắc Kỳ và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài tham dự. Với tầm nhìn dân tộc, khu vực và quốc tế, Hội nghị đã sáng suất phân tích tình hình, nhận rõ kẻ thù và có đối sách linh hoạt, sắc bén. Hội nghì nhận định: “Tất cả bộ máy kinh tế đều chiến tranh hoá” 1 và “tất cả bộ máy cai trị đã bị phát xít hoá”. Kẻ thống trị về danh nghĩa vẫn còn là Pháp nhưng trên thực tế thì “Chiếm được Đông Dương, Nhật đã làm chủ hẳn về các mặt kinh tế, quân sự, làm thầy về mặt chính trị và dần dần muốn làm chủ cả về mặt tinh thần...” 2. Tuy vậy, kẻ thù chính lúc này vẫn là Pháp - Nhật. 1. Hoàn chỉnh quá trình chuyển hướng chiến lược. Chủ trương nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc được đề ra từ hài Hội nghị Trung ương trước, được Hội nghị Trung ương lần thứ VIII khẳng định rõ rằng: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” . . . “Nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì vận mạng của đần tộc phải chịu kiếp trâu ngựa muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được”... Khui Nậm - nơi họp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám và thành lập Mặt trận Việt Minh (năm 1941) “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi giải phóng của toàn thể dân tộc” 3. Vì vậy, Hội nghị đã khẳng định: “Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương, cho hợp với tình hình thay đổi, Đảng ta phải có một chính sách cách mạng thích hợp với tình trạng ấy, mới chỉ dẫn cuộc cách mạng đến thắng lợi chắc chắn được” 4. Để tập trung nỗ lực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, tổ chức cũng phải chuyển hướng mạnh mẽ. Khái niệm “phản đế” trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương được thay bằng khái niệm “Độc lập” trong Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh. Nghị quyết chỉ rõ: “mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay không thể gọi như trước là Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, mà phải đổi ra cái tên khác cho có tính dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại. . . là Việt Nam độc lập đồng minh” 5. Khái niệm “phản đế” trong tên các tổ chức quần chúng như “Thanh niên phản đế”, “Phụ nữ phản đế”... được thay bằng khái niệm “cứu quốc như “Thanh niên cứu quốc”, “Phụ nữ cứu quốc”, v.v.. Trong hành động, phải đoàn kết rộng rãi, thậm chí cả với những người nhất thời có liên quan quyền lợi với đế quốc như cai ký, đốc công trong các nhà máy do Pháp - Nhật điều hành. _______________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 103, 106. 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7. tr. 118, 119, 122. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 10:57:35 pm Nghị quyết Hội nghị Trung ương chỉ rõ: “Công hội từ nay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội . . . có thể thu nạp hết cả những hạng cai ký, đốc công trong xưởng mà những công hội trước kia không hề tổ chức” 1 . Còn “Nông hội từ nay gọi là Việt Nam nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp - Nhật” 2.
Thay khái niệm “phản đế” bằng khái mềm “cứu quốc” rõ ràng là nhằm mục tiêu “Giải phóng dân tộc, chống đế quốc phát xít Pháp-Nhật” chứ không chống chủ nghĩa đế quốc một cách chung chung. Do đó, không chỉ nhiệm vụ dân tộc được tập trung mà mặt trận đoàn kết quốc tế cũng rộng lớn hơn, thêm được bạn, bớt được thù. Quan niệm “cứu quốc” cũng thuận lợi cho việc khai thác, kế thừa và phát huy được truyền thống yêu nước của dân tộc. Hơn lúc nào hết, lúc này truyền thống “Anh hùng cứu nước” của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến. . . cũng như những gương anh dũng của khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, khởi nghĩa Đô Lương cũng được khơi dậy. Đồng thời, cũng từ sau sự chuyển hướng chiến lược, nêu cao ngọn cờ dân tộc mà khối đoàn kết giữa ba dân tộc Đông Dương là Việt, Miên, Lào được nhận thức và tổ chức theo một hướng mới. Hội nghị quán triệt sâu sắc lý luận Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết. Nghị quyết hội nghị nêu rõ: Nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc... Sau lúc đánh đuổi Pháp-Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc Đông Dương. Cho nên, lúc này Đảng Cộng sản Đông Dương xây dựng ngay cho ba dân tộc Việt, Miên, Lào ba tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất là Việt Nam độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Ba tổ chức này đoàn kết chiến đấu trong một Mặt trận chung là “Đông Dương độc lập đồng minh”. Đường lối chính trị và chủ trương xây dựng Mặt trận, các tổ chức quần chúng trên thực tế đã tạo nên nền móng chính trị vững chắc, sâu rộng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang phát triển. Vấn đề xây dựng Đảng được Hội nghị đặc biệt quan tâm. 2. Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xúc tiến mạnh mẽ công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị Trung ương lần thứ VIII dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh đã quán triệt tư tưởng quân sự của Người, Nghị quyết khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” 3. Hình thái của cuộc khởi nghĩa vũ trang là phải từ khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa địa phương đi tới khởi nghĩa toàn quốc hay Tổng khởi nghĩa. “Với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” 4. Để có được “một lực lượng vũ trang toàn quốc”, Hội nghị nhấn mạnh rằng: “a) Mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng gây cuộc khởi nghĩa. b) Mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền. c) Mở rộng sự tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu ớt và dân tộc thiểu số. d) Đào luyện cho các đảng viên cộng sản có một tinh thần cương quyết hy sinh. e) Đào luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế. f) Phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc” 5. ____________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tr. 125. 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 129, 131 - 132. 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 130, Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:00:15 pm Nghị quyết nêu rõ: “Trong các đoàn thể cứu quốc ta lại lựa chọn những phần tử hăng hái, trung thành hơn, tổ chức ra Việt Nam Tự vệ cứu quốc hội và tiểu tổ du kích. Tự vệ cứu quốc là tổ chức để bảo vệ các tổ chức quần chúng trong khi tranh đấu và bảo vệ cách mạng. Còn tiểu tổ du kích cứu quốc là một tổ chức cao hơn tự vệ đội mà thấp hơn đội du kích chính thức” 1. Đây chính là tiền đề dẫn đến tổ chức ba thứ quân của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
Về quy chế tổ chức, Hội nghị đưa ra “Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”. Lấy tiểu tổ du kích làm đơn vị cơ sở cho tổ chức du kích và chiến tranh du kích. Điều lệ ghi: Tên: Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc. Tiểu tổ là đơn vị cơ sở. Về tổ chức: Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc là một tổ chức quân sự cao hơn tự vệ đội và thấp hơn du kích chính thức. Mục đích hoạt động: a) Bảo vệ và giải vây cho các chiến sĩ cách mạng và giừ gìn cho các cơ quan cách mạng. b) Phụ lực và giúp đỡ cho đội du kích chính thức trong lúc hành quân và giao chiến với quân thù. c) Phá phách các cơ quan vận tải lương thực và khí giới của quân thù. d) Biến chuyển thành đội du kích chính thức để tranh đấu đánh đổ Pháp-nhật, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập 2. Điều lệ đã thể hiện tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra và bước đầu xác định cơ cấu tổ chức lực lượng cơ sở: a) Mỗi đoàn thể cứu quốc của Việt Minh tổ chức ra tiểu tổ du kích. Tiểu tổ du kích chịu dưới quyền chỉ huy của đoàn cứu quốc và Việt Minh. b) Có từ 3 đến 7 đội viên thì tổ chức thành một tiểu tổ du kích cứu quốc do một tiểu đội trưởng chỉ huy; có từ hai tiểu tổ du kích trở lên thì tổ chức thành liên tiểu tổ, có một liên tiểu tổ đội trưởng và phó liên đội và uỷ viên chính trị chỉ huy. c) Những đội viên của tiểu tổ du kích khi có việc thì họp nhau lại hành động. Xong việc lại giải tán ai về nhà nấy sinh hoạt như thường dân. Điều lệ cũng ghi rõ điều kiện kết nạp đội viên, trách nhiệm của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc, phương thức tập luyện, vũ khí và kỷ luật, trong đó việc giữ bí mật cho đội được coi trọng. Hội nghị Trung ương lần thứ VIII tán thành tên gọi: “Việt Nam nhân dân cách mạng quân”, thay “Quốc dân cách mạng quân” của Hội nghị Trung ương lần thử VI. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII có tầm quan trọng đặc biệt là hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược của Đảng và quán triệt tư tưởng quặm sự Hồ Chí Min.li, tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang trong cả nước giành chính quyền về tay nhân dân III- TƯ TƯỞNG CĂN CỨ ĐỊA HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA HAI KHU CĂN CỨ BẮC SƠN - VŨ NHAI VÀ CAO BẰNG Chiến tranh du kích và căn cứ địa là hai yếu tố cơ bản của đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng dân tộc. Hai yếu tố này luôn luôn gắn bó với nhau trong truyền thống quân sự của dân tộc. Nếu không kể căn cứ Mê Linh của Hai Bà Trung, căn cứ Núi Nưa của Triệu Ẩu, căn cứ Đầm Dạ Trạch của Triệu Quang Phục (khi mà quan niệm về căn cứ địa còn chưa rõ ràng) thì muộn nhất cũng là từ khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, hình thái căn cứ địa, bao gồm cả địa - chính trị, địa - kinh tế, địa - văn hoá, địa - quân sự... đã xuất hiện. Đến các phong trào kháng chiến chống Pháp, các căn cứ Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế... đều được lấy địa danh để gọi cho cả một phong trào khởi nghĩa. Trong cuộc chiến đấu kiên cường chống Pháp - Nhật truyền thống đó được kế thừa và phát huy cao độ. ____________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 126. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 160. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:02:42 pm 1. Tư tưởng căn cứ địa Hồ Chí Minh.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vừa trân trọng phát huy truyền thống dân tộc vừa tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, gắn chiến tranh du kích với căn cứ địa. Trong tác phẩm Cách đánh du kích viết năm 1941, mở đầu, Người khẳng định: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây-Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh. Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi” 1. Sau khi nêu rõ mục đích chính trị, hướng dẫn cách thức tổ chức, tác phẩm tập trung cả 10 chương trong tổng số 13 chương (từ chương III đến chương XII) vào việc chỉ đạo về nghệ thuật du kích chiến tranh, từ nguyên tắc xây dựng căn cứ địa đến “Cách tiến công”, bao gồm các cách: “tập kích”, “phục kích”, “phòng ngự”, “đánh đuổi giặc”, “rút lui”, “phá hoại”, “thông tin liên lạc” “hành quân”, “đóng quân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng căn cứ địa bao gồm những nguyên tắc cơ bản: 1. Với đường lối chính trị cứu nước đúng đắn, với phương châm “lấy yếu chống mạnh”, khi chưa có chú quyền lãnh thổ, đất đai thì trước hết, đội du kích “cần có một vài nơi dừng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy “đội du kích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi luyện tập”. 2. Xây dựng căn cứ địa phải gắn với việc lựa chọn địa hình, địa lợi, tức coi trọng yếu tố địa lý. Trong khi coi trọng yếu tố địa thế, địa hình cần đặc biệt quan tâm tới yếu tố địa-chính trị. “Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ”. 3. Phải tiến tới xây dựng chính quyền cho căn cứ địa. Bởi vì “chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được”. 4. Từ căn cứ địa, lực lượng du kích phát triển, phải tiến tới xây dựng đội quân chính quy: “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy”. Ngoài các nguyên tắc trên, Người còn nhấn mạnh, quan tâm đến việc bảo vệ căn cứ địa, phản công địch bằng chiến thuật chiến tranh du kích. Người chỉ rõ: “Lúc bảo vệ căn cứ địa cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự. Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công”. Nói chung là “phòng ngự thế công bằng du kích chiến”. Bên cạnh tác phẩm Cách đánh du kích, tư tưởng xây dựng căn cứ địa và chiến tranh du kích của Người còn được phổ biến trong thơ ca như Lịch sử nước ta, Ca đội tự vệ và Bài ca du kích... Tác phẩm Cách đánh du kích cùng với các tác phẩm viết về quân sự được phổ biến năm 1941, theo báo Độc lập ngày 21-10-1941 đã phân phát 700 cuốn. Khi phong trào đấu tranh vũ trang phát triển, tác phẩm Cách đánh du kích thật sự là “người dẫn đường” cho những du kích và hoạt động xây dựng căn cứ địa ở nhiều nơi trong toàn quốc. Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong một loạt văn kiện chỉ đạo công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng soạn thảo trong thời kỳ đó như: Chính sách mới của Đảng (24-9-1941), Chiến tranh. Thái Bình Dương và cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương (20-1-1942) v.v. vấn đề du kích chiến cũng được gắn chặt với căn cứ địa. Đồng chí Trường Chinh nêu rõ, trong nhiệm vụ quân sự, phải chuẩn bị lực lượng vũ trang, phát triển và củng cố các đội tự vệ, các đơn vị du kích; thành lập phát triển các căn cứ địa du kích. Tư tưởng căn cứ địa gắn với chiến tranh du kích từng bước được quán triệt trong Đảng đưa đến sự ra đời của hai khu căn cứ điển hình của cách mạng Việt Nam là Vũ Nhai - Bắc Sơn và Cao Bằng. ____________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 469. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:05:02 pm 2. Căn cứ du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai và sự ra đời của Cứu quốc quân.
Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI và thứ VII về việc duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang Bắc Sơn làm vốn quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này, cũng như xây dựng trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai làm chỗ dựa cho đấu tranh vũ trang, tháng 12-1940, Trung ương cử đồng chí Lương Văn Chi - Xứ uỷ viên Bắc Kỳ lên tăng cường cho căn cứ. Ban lãnh đạo đội du kích và khu căn cứ du kích được thành lập. Đồng chí Phùng Chí Kiên làm chỉ huy trưởng, phụ trách căn cứ địa, đồng chí Chu Văn Tấn làm chỉ huy phó, đồng chí Lương Văn Chi làm chính trị viên, dưới sự chỉ đạo chung của đồng chí Hoàng Văn Thụ. Để củng cố và phát triển đội du kích Bắc Sơn, tháng 1-1941, lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn ngày được tổ chức nhằm nâng cao trình độ chính trị, quân sự và ý thức tổ chức, kỷ luật. Mục đích là đào tạo cán bộ cho khu căn cứ và cung cấp cán bộ cho các cơ sở khác . Ngày 14-1-1941, đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập ở khu rừng Khui Noi thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn). Đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng công nhận, trao nhiệm vụ và lá Cờ đỏ sao vàng do Hội phụ nữ phản đế Hà Nội thêu tặng. Đội có 32 người, chia làm ba tiểu đội, do đồng chí Lương Văn Chi và Chu Văn Tấn chỉ huy. Vũ khí có năm súng trường, súng kíp và dao găm. Tinh thần cứu nước và ý thức kỷ luật được biểu hiện ở các lời thề danh dự: “Không phản Đảng Tuyệt đối trung thành với Đảng Kiên quyết chiến đấu và trả thù cho các đồng chí bị hy sinh Không hàng giặc. Không hại dân” 1. Đội du kích Bắc Sơn đẩy mạnh các hoạt động chính trị và huấn luyện quân sự, củng cố phong trào, duy trì sức đấu tranh của quần chúng sau đợt khủng bố của địch. Khu căn cứ được mở rộng ra các xã: Vũ lăng, Hữu Vĩnh, Hưng Vũ, Bắc Sơn, Vũ Lễ, Gia Hoà (Bắc Sơn - Lạng Sơn), Lâu Thượng, Phú Lương, Tràng Xá, Làng Mười, La Hiên (Vũ Nhai) và Cây Thị (Đồng Hỷ - Thái Nguyên). Các tổ chức phản đế và các đội tự vệ địa phương được phục hồi và phát triển. Những cơ sở du kích ở khe Khui Noi, rừng Phú Thượng, Lâu Thượng, Tràng Xá... đều biến thành những nơi huấn luyện quân sự, chính trị. Từ đội du kích Bắc Sơn chuyển lên thành Trung đội Cứu quốc quân. Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, tháng 5 - 1941, các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương là Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, khi về xuôi đã dừng chân tại cơ quan bí mật ở Lâu Tây (Hữu Vĩnh - Bắc Sơn) từ ngày 6-7 đến 21-7-1941, tranh thủ truyền đạt Nghị quyết Trung ương cho cán bộ địa phương. Đồng thời, Thường vụ Trung ương cũng quyết định chuyển đội du kích Bắc Sơn lên thành Trung đội Cứu quốc quân và cử đồng chí Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Chi làm chính trị viên. Đội được mang tên mới là trung đội I Cứu quốc quân. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đang đã trực tiếp phổ biến tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương. Đây là lần đầu tiên, đường lối, chính sách mới của Đảng, có sự quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được tổ chức học tập trong lực lượng vũ trang. Cuối tháng 6 -1941 địch mở cuộc càn quét với hai mục đích là tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng và tiêu diệt Cứu quốc quân, trấn áp bằng được phong trào cách mạng Bắc Sơn - Vũ Nhai *. ______________________ 1. Xem: Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 52-53. * Xin trích dẫn một đoạn sách nước ngoài để chứng minh thêm: “Trung tâm chính trị là Cao Bằng, nhưng sự chuẩn bị quân sự đầu tiên đã bắt đầu ở một địa điểm gọi là căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai... Những người chi huy căn cứ này được giao nhiệm vụ thành lập những đơn vị đầu tiên của quân giải phóng, đã hướng những hoạt động của mình để làm tan rã sự kiểm soát của người Pháp đối với các làng quê miền núi bằng cách biến đổi, đe doạ, hoặc thủ tiêu những lý dịch phản bội. Vào mùa thu năm 1941, Decoux quyết định không dung tha cho sự quấy rối lâu hơn nữa và đã phái những đạo quân người Pháp đi tấn công”. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:55:08 pm Thực hiện ý đồ đó, Pháp huy động một lực lượng lớn, 4.000 quân gồm cả lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh, cùng nhiều mật thám, cường hào phản động, lính dõng... tử ba mũi: Thái Nguyên lên, Lạng Sơn xuống, Bắc Giang sang, thọc sâu vào giữa hai triền núi đá của khu căn cứ, bịt chặt mọi lối giao thông.
Mục tiêu của địch là đánh phá căn cứ địa. Chiến thuật là khủng bố, cho nên đi đến đâu là chúng đốt sạch mọi làng bản, giết sạch mọi gia súc, phá sạch mọi thứ cây ăn quả. Các cơ sở bí mật của Đảng và của Cứu quốc quân luôn luôn bị uy hiếp, có nơi phải di chuyển địa điểm tới 5, 6 lần. Ban chỉ huy Cứu quốc quân dưa một bộ phận về Vũ Nhai bảo vệ và dẫn đường cho các Uỷ viên Trung ương Đảng đi dự Hội nghị Trung ương về xuôi được an toàn. Bộ phận khác vừa chống khủng bố vừa tiến lên biên giới để xây dựng căn cứ mới (12 tiểu dội). Một tiểu đội bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động. Một tổn thất nặng nề đã xảy ra vào tháng 7-1941. Bộ phận Cứu quốc quân rút lên Cao Bằng, khi đi tới làng Khan Pan, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã lọt vào ổ phục kích của địch. Chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên hy sinh tại trận. Chính trị viên Lương Văn Chi bị địch bắt và hy sinh tại nhà tù Cao Bằng. Tiểu đội ở lại Bắc Sơn cũng bị địch truy lùng. Địch vây hang bắt được 7 du kích đem tới chân đồn Mỏ Nhài bắn chết, chỉ còn 4 người chạy thoát về Vũ Nhai. Sự ra đời của Trung đội II Cứu quốc quân. Yêu cầu có tính nguyên tắc hàng đầu là căn cứ địa phải đi đôi với sự tồn tại của lực lượng vũ trang. Tháng 8-1941, địch mở tiếp cuộc càn quét ác liệt xuống Vũ Nhai, hòng giành được thắng lợi cuối cùng. Nhưng trái với ý muốn của chúng, một đơn vị vũ trang mới đã ra đời trong căn cứ địa. Ngay giữa vòng vây uy hiếp của hàng ngàn quân địch, ngày 15-9-1941, Trung đội II Cửu quắc quân được thành lập tại rừng Khuôn Mánh, thôn Ngọc Mỹ, xã Tràng Xá (Vũ Nhai). Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng thay mặt Trung ương công nhận. Trung đội có 47 đội viên, trong đó có 3 nữ, được chia làm 5 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo. Đồng chí Chu Văn Tấn, Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ làm Bí thư chi bộ và trực tiếp chỉ huy. Vũ khí có ba súng khai hậu, còn toàn là dao găm và một ít súng kíp. Hoạt động chủ yếu của Trung đội II Cứu quốc quân sau ngày thành lập chủ yếu vẫn là gây dựng cơ sở, phát triển phong trào, đồng thời học tập chính trị, rèn luyện quân sự. Chương trình học tập gồm: Chương trình Việt Minh, 10 điều kỷ luật *, chiến - thuật du kích và kỹ thuật chiến đấu. Đảng viên học tập thêm Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII và tài liệu Cộng sản sơ giải. Cứu quốc quân ra tờ báo Bắc Sơn gồm những bài viết bằng chữ Quốc ngữ, chữ Tày, chữ Nho để giáo dục nội bộ và tuyên truyền vận động quần chúng, góp phần xây dựng và củng cố căn cứ địa. Tháng 10-1941, trước sự tồn tại của Cứu quốc quân, thực dân Pháp lo sợ mở cuộc khủng bố ác liệt điên cuồng hơn, tàn bạo hơn. Đợt đấu tranh chống khủng bố của Cứu quốc quân II diễn ra trong thế trận “Phòng ngự căn cứ địa”. Trung ương Đảng đã tăng cường thêm cán bộ cho Cứu quốc quân và chỉ thị: “Phải giữ lực lượng vũ trang, bí mật gây dựng cơ sở, mở rộng căn cử ra ngoài vòng vây của địch, đồng thời duy trì cho được tiếng súng Bắc Sơn - Vũ Nhai để cổ vũ phong trào toàn quốc. Hoạt động phải thận trọng, quân sự phải phục tùng mục đích chính trị, coi trọng công tác binh vận trong nhiệm vụ chống khủng bố, bảo vệ quần chúng cách mạng” 1. Thực hiện phương châm “phòng ngự trong thế công”, tháng 11-1941 , nhiều tổ, đội công tác đã được phái đi xây dựng cơ sở, mở rộng phong trào quần chúng. Một đội gần 20 người trở về hồi phục và phát triển cơ sở ở Bắc Sơn. Một tổ được phái về gây cơ sở ở Yên Thế (Bắc Giang) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) nhằm giữ vững đường dây với Trung ương ở dưới xuôi. Một tồ vượt ra khỏi vòng vây, sang Đại Từ, Chợ Chu, Sơn Dương, bí mật mở rộng địa bàn. Đó là thực hiện “Cách phòng ngự ngoài khu căn cứ” của Bắc Sơn - Vũ Nhai. _____________________ * 10 điều kỷ luật có từ lớp quân sự đầu tiên của Đảng ở Đức Thắng, cuối năm 1940. 1. Võ Nguyên Giáp: Khu Giải phóng, Nxb. Cứu quốc, tháng 8-1946, tr. 13. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:56:42 pm Còn “phòng ngự trong khu căn cứ” là do một lực lượng gồm 40 người ở lại cùng nhân dân Tràng Xá - Đình Cả đấu tranh chống khủng bố trắng. Lực lượng vũ trang đó chia thành nhiều tổ nhỏ đi vận động quần chúng, tổ chức quần chung đứng lên đấu tranh giữ thế chủ động của ta, phá thế kìm kẹp của địch.
Tiếng súng trừ gian của Cứu quốc quân nhằm vào bọn mật thám, hào lý, lính dõng phản động, đã uy hiếp được kẻ địch, gây tin tưởng cho nhân dân, phát triển được phong trào đấu tranh của quần chúng. Nhân dân phân công nhau giám sát bọn mật thám, chỉ điểm không để chúng trà trộn vào hàng ngũ cách mạng. Từng đoàn người kéo đi đòi huỷ bỏ lệnh giới nghiêm, chống dồn làng, chống mở rộng diện tích trồng thầu dầu cho phát xít Nhật, phá các cuộc bắt dân ta làm đường của giặc. Công tác binh vận của Cứu quốc quân cũng được đẩy mạnh và cố kết quả, làm cho nhiều toán quân địch đấu tranh với bọn chỉ huy không chịu lên đường đi Thái Nguyên đánh phá cách mạng. Nhiều toán quân khác được lệnh càn quét đã cố tình đánh động để Cứu quốc quân tránh đi hoặc để Cứu quốc quân bắn chết tên dẫn đường, làm cho binh lính có cớ rút lui như trường hợp ở Khe Khuân. Khi Cứu quốc quân bị tiến công khó thoát, binh lính địch đã bắn lên trời khi có lệnh xung phong. Lấy công tác vận động quần chúng, gây dựng cơ sở là chính, nhưng khi cần phải đánh giặc, Cứu quốc quân đã chiến đấu rất dũng cảm. Trong trận Khuôn Lã ngày 5-10-1941, ba chiến sĩ Cứu quốc quân đã chiến đấu hàng giờ với hơn một trung đội địch khi chúng định sục vào cơ quan bí mật của ta. Với một khẩu súng Pạchoọc, một chiến sĩ Cứu quốc quân đã giết hơn 10 tên giặc, đánh lui nhiều đợt xung phong của định, buộc chúng phải rút lui. Trận Mỏ Mùng (Lâu Hạ) ngày 17-12-1941, một tiểu đội Cứu quốc quân đi công tác bị lọt vào vòng vây của một toán 60 tên lính lê dương. Cứu quốc quân vẫn nổ súng chống lại. Tiểu đội trưởng Hà Văn Loi đã dũng cảm yểm hộ cho toàn đội rút lui và anh dũng hy sinh sau khi bắn 28 phát súng trường, tiêu diệt và làm bị thương 20 tên giặc . Ngoài ra, Cứu quốc quân còn tiến hành những trận tập kích, phục kích ở Làng Tràng, Khuôn Xóm, Ngọc Mỹ. . . và các trận quấy rối định, trừ gian. Ngày 11-1-1942, theo yêu cầu của quần chúng, Cứu quốc quân đã phục kích ở Suối Ban, diệt tên “Đội béo” gian ác và một tên mật thám lợi hại, rải truyền đơn vạch tội ác của chúng, kêu gọi binh lính không được áp bức nhân dân. Nhằm tăng cường sự chỉ đạo phong trào Bắc Sơn - Vũ Nhai, tháng 10-1941, Trung ương Đảng đã cử thêm cán bộ lãnh đạo lên khu căn cứ và quyết định thành lập Uỷ ban quân sự chính trị ở đây. Cuối tháng 10-1941, lực lượng Cứu quốc quán có khoảng 60 người, biên chế thành 7 tiểu đội, tiến hành hoạt động trên các mặt trận chính trị, quân sự, binh vận, với phương châm: “Quân sự và chính trị đi đôi. Khu du kích hết sức mở rộng nhưng phải nhằm mục đích vận động chính trị, duy trì cơ sở quần chúng” 1. Thực hiện phương châm đó Cứu quốc quân đã mở rộng khu căn cứ du kích, tạo thế hỗ trợ cho Bắe Sơn - Vũ Nhai. Trước sự tồn tại và phát triển của quân du kích và căn cứ địa, Pháp - Nhật dốc sức hòng tiêu diệt Cứu quốc quân. Chúng khủng bố cả khu căn cứ và các vùng xung quanh, phong toả đường liên lạc giữa căn cứ với Trung ương. Cứu quốc quân phải rút khỏi vòng vây của địch để bảo toàn lực lượng. 42 chiến sĩ rút sang biên giới Việt Trung ngày 7-3-1942. Một bộ phận nhỏ phân tán vào dân, tiếp tục gây cơ sở quần chúng. Tám tháng chiến đấu của quân du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai (8-1941-4-1942) đã để lại những kinh nghiệm quý báu về tổ chức du kích, chiến tranh du kích và xây dựng căn cử địa: - Về tổ chúc du kích, từ các đội tự vệ cứu quốc đã xây dựng những tiểu tổ du kích không thoát ly. Từ các chiến sĩ ưu tú của các tiểu tổ du kích đó lựa chọn xây dựng đội du kích chính thức thoát ly, khi đủ điều kiện chuyển lên xây dựng các trung đội I và II Cứu quốc quân. Số lượng tuy chưa nhiều, nhưng chất lượng chính trị và tinh thần chiến đấu cao. ______________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Khu giải phóng, Sđd, tr. 13. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:58:48 pm - Về tiến hành chiến tranh du kích. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta tiến hành chiến tranh du kích như lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã chỉ ‘dẫn trong tác phẩm Cách đánh du kích: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đoàng hoàng, nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc . . .” du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng” 1.
- Về xây dựng căn cứ địa, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, vấn đề du kích chiến không tách rời với vấn đề căn cứ địa, mà căn cứ địa của ta là căn cứ địa được xây dựng trong lòng dân, trong phong trào quần chúng. Vì vậy, du kích có lúc phải tạm thời rút khỏi khu căn cứ cũng là thực hiện chiến thuật trong Cách đánh du kích là: “Đội du kích đã lập được căn cứ địa... Nhưng không phải chết sống gì cũng khư khư giữ lấy căn cứ địa... Nếu lực lượng ta yếu, thì ta phải tránh, quân giặc muốn đánh ta cũng không tìm thấy ta, đến lúc chúng không phòng bị, ta hãy đánh úp chúng. . .” 2. Suốt tám tháng phát động chiến tranh du kích và tác chiến trong những điều kiện rất khó khăn gian khổ, Cứu quốc quân vẫn giữ gìn, bồi dưỡng được lực lượng của mình, đồng thời tiêu hao được lực lượng địch. Điều đó chứng tỏ rằng, dưới ách thống trị của đế quốc Pháp, phát xít Nhật, nhân dân ta do Đảng lãnh đạo vẫn lập được căn cứ địa ở vùng nông thôn rừng núi và đánh du kích lâu dài để tiêu hao và tiêu diệt quân địch có ưu thế về số lượng và trang bị. Kết quả là căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai hình thành và được củng cố, để về sau hợp với căn cứ Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang trở thành khu Giải phóng rộng lớn của cách mạng. 3. Căn cứ địa Cao Bằng và sự ra đời của đội vũ trang Cao Bằng. Trong khi sự tồn tại và phát triển của đội du kích Bắc Sơn đã là tiền đề thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai thì ở Cao Bằng, tiền đề thuận lợi lại là sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nên tư tưởng căn cứ địa của Người được vận dụng ngay vào việc xây dựng khu căn cứ và xây dựng lực lượng vũ trang. Cao Bằng là nơi địa lợi, nhân hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tương đối tốt từ trước, lại sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Ở đây, chi bộ Đảng đầu tiên do đồng chí Hoàng Đình Giong vận động tổ chức đã ra đời ngay sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương mới thành lập. Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939), nhiều cuộc đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, bắt lính, đòi quyền dân sinh dân chủ cũng diễn ra. Trong đợt khủng bố của địch năm 1940, nhân dân Cao Bằng đã trải qua đấu tranh chống khủng bố, tinh thần cách mạng, tinh thần chiến đấu bước đầu được thử thách. Nhằm chuẩn bị cán bộ xây dựng khu căn cứ Cao Bằng, cuối năm 1940, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về Tĩnh Tây (Trung Quốc), nơi biên giới sát với Cao Bằng. Nhân có khoảng 40 thanh niên các dân tộc ở Cao Bằng, gồm cả đảng viên, cán bộ, quần chúng, chống địch khủng bố lánh sang Tĩnh Tây, Người quyết định: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước” 3. Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 12-1940, lớp huấn luyện được tổ chức. Huấn luyện viên là các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Chương trình huấn luyện gồm các phần: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Đề cương các bài giảng đều được đồng chí Nguyễn Ái Quốc thông qua. Cùng với chủ trương, đương lối cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Người bao gồm cả du kích chiến tranh, căn cứ địa, công tác vận động quần chúng đều được học viên tiếp thu. Các học viên, trong đó có cá đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang..., khi trở về Cao Bằng đã có tư tưởng và phương pháp mới đi vào xây dựng phong trào quần chúng, đẩy mạnh vận động chính trị kết hợp với hoạt động vũ trang. ______________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 469, 493. 3. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 34. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 15 Tháng Sáu, 2009, 11:59:57 pm Gây dựng cơ sở quần chúng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng ở Cao Bằng phục hồi nhanh chóng và phát triển đúng hướng. Mặt trận Việt Minh đã được tổ chức thí điểm. Các đoàn thể Cứu quốc của thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng, công nhân, nông dân. . . đã ra đời. Đó là những tổ chức cơ sở của Mặt trận Việt Minh. Các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao... đều tham gia tổ chức, có nơi cả làng bản, xã, tổng, châu, huyện, nhân dân đều vào Việt Minh.
Những nơi toàn dân tham gia Việt Minh như vậy gọi là những “xã hoàn toàn”, “châu, huyện hoàn toàn”... Tới năm 1942, đã có ba châu là Hoà An, Nguyên Bình và Hà Quảng (trong tổng số chín châu của Cao Bằng) trở thành “châu hoàn toàn”. Những nơi chính quyền hai mặt, trên danh nghĩa là của địch, nhưng thực chất là chịu sự chỉ đạo của ta đã ra đời. Trong lính dõng, có nhiều người giác ngộ, tự nguyện canh gác bảo vệ cho các hoạt động của Việt Minh. Xây dựng chính quyền cách mạng. Một trong ba nguyên tắc xây dựng căn cứ địa mà lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đề ra trong tác phẩm Cách đánh du kích là: Sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc phải thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Ở Cao Bằng, những nơi Việt Minh phát triển “hoàn toàn” thì Uỷ ban Việt Minh thực sự là người nắm chính quyền địa phương. Điều kiện thực tế đã cho phép tổ chức Uỷ ban Việt Minh các cấp xã, châu, huyện và tỉnh, theo thể thức tổ chức chính quyền. Tháng 2 - 1942, Đại hội đại biểu Việt Minh tỉnh Cao Bằng được triệu tập, bầu ra Uỷ ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Hệ thống tổ chức Việt Minh đã thông suốt từ xã lên tổng, châu, huyện, tỉnh mà cách thức là theo dân cử. Nhân dân bầu ra Uỷ ban Việt Minh xã, xã bầu lên tổng, châu, huyện... Tuy chưa thực hiện được theo phổ thông đầu phiếu, nhưng cũng là theo phương pháp dân cử nhằm xây dựng được một chính quyền của dân, do dân, vì dân để tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc sắp tới. Đội vũ trang Cao Bằng ra đời Ở Cao Bằng, lực lượng vũ trang ra đời trong quá trình vận động chính trị, xây dựng tổ chức quần chúng cơ sở. Để gây hạt nhân quân sự đầu tiên cho hoạt động vũ trang Cao Bằng, cuối năm 1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị tổ chức Đội vũ trang Cao Bằng gồm 12 người, trong đó có các đồng chí Hoàng Sâm, Bằng Giang, Lê Thiết Hùng, Đức Thanh, Thế An... Đội do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Nhiệm vụ của đội là bảo vệ cơ quan của Đảng; củng cố, giữ vững đường giao thông; làm công tác tuyên truyền và giúp việc huấn luyện các đội tự vệ ở các địa phương. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tham gia giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự cho đội. Mặt trận Việt Minh phát triển, tạo thuận lợi cho sự phát triển lực lượng vũ trang. Đầu năm 1942, Đảng bộ Cao Bằng tổ chức khoá học quân sự đầu tiên cho tự vệ tỉnh tại rừng Khui Nậm (Pắc Bó) có khoảng 40 học viên tham dự. Sau khi học xong, các học viên được phân công về các địa phương huấn luyện cho các đội tự vệ địa phương. Vì vậy, đến cuối năm đó, lực lượng tự vệ Cao Bằng phát triển nhanh, mỗi xã “hoàn toàn” có từ 1 đến 2 trung đội tự vệ chiến đấu. Về vũ khí, lúc đầu, còn rất khó khăn, cả đội vũ trang Cao Bằng chỉ có một khẩu Pạchoọc và một khẩu súng lục. Một phong trào “Sắm vũ khí, đuổi quân thù chung” sôi nổi diễn ra ở Cao Bằng. Mỗi tự vệ đều tự sắm lấy một thứ vũ khí thô sơ, như giáo, mác, súng kíp hoặc súng hoả mai. Nhiều nơi nhân dân tự nguyện bán lợn gà hay bán thóc lúa lấy tiền mua súng từ bên kia biên giới. Liên tỉnh uỷ quyết định lập một cơ sở rèn nhỏ, thí nghiệm đúc đạn, địa lôi. Nguyên liệu do nhân dân quyên góp. Lò rèn được đặt ở trong một thung lũng rất sâu, có một người chỉ huy và 5, 6 công nhân. Căn cứ địa Cao Bằng được xây dựng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã đưa lại kết quả là: Căn cứ đia được củng cố. Các đội tự vệ phát triển làm cơ sở cho việc ra đời các đội tự vệ chiến đấu, du kích thoát ly, tiến lên xây dựng đội quân chính quy sau này. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 12:00:36 am 4. Các phong trào tự vệ, du kích ở các địa phương trong toàn quốc, chuẩn bị cho sự ra đời các căn cứ địa và các An toàn khu.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng lần thứ VII, các đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ được duy trì và phát triển, gây được ảnh hưởng trong cả nước. Ở nhiều địa phương từ Nam ra Bắc, phong trào xây dựng các đội tự vệ phát triển mạnh, tạo điều kiện cho sự ra đời nhiều căn cứ địa và An toàn khu. Rừng U Minh trải dài từ Rạch Giá đến Cà Mau được chọn “làm căn cứ địa” quân du kích Nam Kỳ. Ngay sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, ba huyện là An Biên, Phước Long (Rạch Giá) và Cà Mau (Bạc Liêu) được xây dựng như trung tâm căn cứ U Minh. Tạị đây, một xưởng sản xuất vũ khí, chế tạo súng trường, mìn, lựu đạn đã được xây dựng. Nhiều cuộc tập đánh du kích của thanh niên đã được tổ chức. Từ nam Trung Bộ trở ra đến Quảng Bình, Quảng Trị, nhiều nơi phong trào cách mạng lên cao đã tổ chức được các đội tự vệ. ở Quảng Nam đã có một số đội du kích ra đời tuy vũ khí còn thô sơ. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, những nơi phong trào Việt Minh phát triển, sự ra đời của các đội tự vệ, đội du kích và sự manh nha của các căn cứ địa như là một hệ quả tất yếu ở Trung Kỳ, tổ chức tự vệ và du kích phát triển, mạnh nhất ở Thanh Hoá, dẫn tới sự ra đời của chiến khu Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành. Ở đây, từ những năm 1940- 1941, các tổ chức phản đế phát triển đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các đội tự vệ ở các huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hà Trung, Thọ Xuân, Thiệu Hoá nhiều làng đã có đội tự vệ. Làng Xá Lê và Kim Phúc huyện Yên Định, mỗi làng có một đội tự vệ đông tới 40 đội viên. Riêng làng Long Linh (Thọ Xuân) có 77 đội viên tự vệ. Việt Minh phát hành “Tín phiếu” để gây quỹ và xây dựng lực lượng vũ trang. Ở Long Linh (Thọ Xuân), Cẩm Bào (Vĩnh Lộc), tự vệ luyện tập cả ban ngày, có canh gác ở hai đầu làng để bảo vệ. Nhiều tổng có những cuộc tập dượt thị uy vào ban đêm. Phong trào lên cao nhất ở Thạch Thành. Đầu tháng 9- 1941, đội du kích tập trung đã lập nên Chiến khu Ngọc Trạo. Chiến khu do lực lượng vũ trang ở hai huyện Thạch Thành và Vĩnh Lộc tổ chức, vừa chống địch khủng bố sau các đợt đấu tranh chống thuế, vừa xây dựng căn cứ địa lâu dài. chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa theo chủ trương của Mặt trận Việt Minh. Từ các đội tự vệ, các đội viên ưu tú được tuyển chọn thành lập đội du kích Ngọc Trạo. Có tất cả 40 chiến sĩ, biên chế thành tiểu đội súng, đội thanh niên quyết tử đội trinh sát, ban y tế, tổ cấp dưỡng. Một lò rèn vũ khí thô sơ được dựng lên trong chiến khu. Các trạm canh gác của tự vệ được dựng lên ở các ngả đường vào chiến khu. Chiến khu có mối liên hệ mật thiết với nhân dân xung quanh, vừa nhận được sự tiếp tế, bảo vệ của quần chúng, vừa hỗ trợ cho quần chúng xây dựng lực lượng tự vệ địa phương để phát triển thêm quân số của đội du kích. Trong một thời gian ngắn, quân du kích từ 40 người đã tăng lên tới 84 người. Hoảng sợ trước sự phát triển của chiến khu Ngọc Trạo, ngày 9-10-1941, quân địch tập trung lực lượng, kéo thẳng lên Ngọc Trạo quyết tâm phá chiến khu. Một cuộc “Phòng ngự trong căn cứ địa” đã diễn ra. Quân du kích xông lên đánh tan cuộc tiến công của địch, bảo vệ được chiến khu. Tuy vậy theo phương châm “Phòng ngự trong tiến công” của cách đánh du kích, lãnh đạo chiến khu đã quyết định rút quân, phân tán về các địa phương để tiếp tục duy trì phong trào, đón thời cơ mới. Ở phía bắc, do tiếp giáp với căn cứ của Trung ương ở Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng, nên phong trào cách mạng của quần chúng lên khá mạnh. ở tất cả các tỉnh, phong trào Việt Minh phát triển, các đội tự vệ được thành lập. Nhiều nơi được quân du kích từ các chiến khu Việt Bắc về giúp đỡ. Nhiều cán bộ địa phương được cử lên chiến khu dự các khoá huấn luyện. Do đó, tư tưởng căn cứ địa và du kích chiến trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh sớm được tiếp thu để phát triển phong trào. Các nơi đều lấy việc phát triển Mặt trận Việt Minh và tuyên truyền giáo dục chính trị làm hàng đầu Trên cơ sở đó mới xây dựng các đội tự vệ và du kích. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 12:08:32 am Tại Thái Nguyên, nhân dân các huyện Đại Từ, Vũ Nhai đã hưởng ứng phong trào ủng hộ thóc, lúa, súng kíp, giáo mác, đồng thời lập các lò rèn vũ khí để “ủng hộ Bắc Sơn, xây dựng tự vệ, đón thời cơ giành chinh quyền”. ở Phổ Yên, Phú Bình, Đại Từ, số cán bộ được cử lên dự lớp huấn luyện ở bản ít đã về gây dựng phong trào, tổ chức luyện tập tự vệ khá sôi nổi.
Tại Bắc Giang, vùng Hiệp Hoà tiếp giáp với Đông Anh cùng các huyện thuộc An toàn khu của Xứ uỷ Bắc Kỳ và Trung ương thuộc ngoại thành Hà Nội, nơi hoạt động của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt . . . đã có phong trào vũ trang khá mạnh. Ngay từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ VII, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã chuyển bộ phận chỉ đạo quân sự từ Liễu Khê (Bắc Ninh) lên Hiệp Hoà. Trung ương mở hai lớp quân sự ở bãi Soi Thanh Vân và ở Cầu Hang (xã Quyết Tiến, huyện Hiệp Hoà) huấn luyện cho cán bộ quân sự tỉnh cùng các vùng lân cận. Một số tự vệ được cử lên dự huấn luyện ở căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai. Các huyện thuộc An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ tiếp giáp với Hà Nội phát triển các đội tự vệ luyện tập và hoạt động bí mật, vừa nhằm bảo vệ an toàn cho các hoạt động của lãnh đạo, vừa gây dựng cơ sở chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Tại Hải Dương, từ những năm 1940-1941 đã xuất hiện các đội tự vệ ở Tạ Xá, Tống Xá (Nam Sách), Hàm Ếch, Trại Chua (Chí Linh), Bàng Lai, Cổ Phục (Kim Thành)... Cả tỉnh có hơn 100 tự vệ. Hàm Ếch, nơi có rừng núi hiểm trở được chọn làm trung tâm của căn cứ quân sự. Nhiều lớp đào tạo cán bộ quân sự được tổ chức tại đây. Tại Hà Đông, phong trào xây dựng các đội tự vệ cũng phát triển, tiêu biểu là ở Vạn Phúc (Hà Đông). Tuy ở liền đô thi, nhưng phong trào lập đội tự vệ và huấn luyện quân sự vẫn được đẩy mạnh. Tại Thái Bình, nơi đồng bằng cư dân đông đúc không có núi rừng hiểm trở, nhưng lại có truyền thống hoạt động vũ trang và xây dựng căn cứ địa trong lòng dân. Do phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ nên phong trào vũ trang cũng rất sôi nổi. . . Nhiều đội tự vệ đã xuất hiện ở các huyện Kiến Xương, Tiền Hải, Thuỵ Anh,Vũ Tiên. Có làng như Trình Phố, Thư Điền (Kiến Xương) đã có tới một đại đội tự vệ. Ở các làng Đông Cao (Tiền Hải), Quang Huy (Thuỵ Anh), Kênh Sơn (Kiến Xương), Thuận An, Hồi Khê (Vũ Tiên) mỗi nơi có một trung đội tự vệ. Tỉnh uỷ Thái Bình đã hai lần cử cán bộ lên dự lớp huấn luyện quân sự do Trung ương mở ở Bắc Giang. Sau mùa gặt, dưới danh nghĩa trừ trộm cướp, bảo vệ trật tự, trị an, các đội tự vệ đã tổ chức luyện tập quân sự vào ban đêm, có sự canh gác, bảo vệ chu đáo. Tỉnh uỷ còn cho lập ra “Xung phong đội”, cho huấn luyện đặc biệt để đi lên chiến khu hay chiến đấu ở các địa phương khác. Có nơi còn lập “Võ trang dân chúng đội”, một hình thức tổ chức bán vũ trang, để từ đó chọn người vào các đội du kích hay tự vệ chiến đấu. Các tỉnh khác thuộc Bắc Kỳ, phong trào tự vệ cũng phát triển để sau đó có thể lập căn cứ địa hay chiến khu như ở Vần - Hiền Lương (Phú Thọ), ở Kim Sơn (Kiến An), Quỳnh Lưu (Ninh Bình), Đông Triều (Hải Dương) mà sau này là trung tâm của Đệ tứ chiến khu. Nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hai năm 1940, 1941 là hai năm khởi đầu oanh liệt của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích và xây dựng căn cứ địa, Trung ương Đảng đã từng bước hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng, đưa cách mạng tiến dần tới cao trào. Truyền thống vũ trang của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã phát huy và nâng cao lên trình độ mới về du kích chiến và căn cứ địa - hai nhân tố cơ bản cho việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong toàn quốc. Nhờ có lý luận mới soi đường nên cách mạng không ngừng phát triển, đưa nhân dân ta đến một thời cơ có thể biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng dân tộc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 12:09:25 am IV. TÍCH CỰC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG Nửa cuối năm 1941 sang đầu năm 1942, cục diện chiến tranh thế giới biến chuyển mau lẹ. Ngày 22-6-1941, phát xít Đức phản bội Hiệp ước Xô - Đức ký ngày 23-9-1939, tấn công xâm lược Liên Xô. Cuộc chiến tranh thế giới đã chuyển biến từ chiến tranh đế quốc sang chiến tranh giữa phát xít xâm lược và các lực lượng dân chủ chống phát xít xâm lược. Mặt trận phát xít xâm lược gồm Đức, Ý, Nhật và bọn tay sai ở các thuộc địa và nửa thuộc địa của chúng. Mặt trận dân chủ chống phát xít xâm lược gồm Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, các lực lượng chống phát xít, chống chiến tranh của công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Ở phương Đông, quyền lợi của Nhật và Anh - Mỹ đã xung đột đến cực điểm. Nhật dùng vũ lực chiếm đoạt thuộc địa của Anh, Mỹ, Hà Lan ở Thái Bình Dương và Viễn Đông nhằm tăng cường tiềm lực chiến tranh và xoa dịu mâu thuẫn nội bộ nước Nhật. Đồng thời cũng là nhằm cứu trợ, ủng hộ phát xít Đức - Ý đang bị thua đau ở Nga và Bắc Âu. Ngày 7-2-1941, phát xít Nhật tiến công căn cứ Mỹ ở Trân Châu Cảng, mở màn cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Riêng ở Đông Dương, mặc dầu bọn Đờ Cu đã tận tuỵ phục vụ phát xít Nhật, nhưng Nhật vẫn ngày càng lấn Pháp. Ngày 29-7-1941, Chính phủ Pêtanh buộc phải ký với Nhật tại Pa-ri Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, đồng ý cho Nhật đưa thuỷ quân, không quân vào nam Đông Dương, sử dụng căn cứ không quân Xiêm Riệt, Nông Pênh, Lông Ông Trạch, Đà Nẵng, Nha Trang, Biên Hoà, Sài Gòn, Sóc Trăng và hai căn cứ thuỷ quân Cam Ranh, Sài Gòn. Ngày 30-7-1941, Nhật đổ bộ 50.000 quân vào Ô Cấp. Vì Nhật lấy Đông Dương làm chỗ đứng để: “bắc đánh Hoa, đông đánh Philíppin, nam đánh Mã Lai, Indônêxia, Úc, tây đánh Miến Điện, Ấn Độ...” nên ngày 13-12-1941, bọn quân phiệt Nhật ở Đông Dương đã dùng vũ lực bắt bọn Đờ Cu phải ký thêm một hiệp ước nữa để Nhật được toàn quyền hành động ở Đông Dương. Ngoài việc Pháp phải cho Nhật toàn quyền hành động về mặt quân sự, kinh tế, Pháp còn phải thừa nhận quyền tối huệ quốc của Nhật ở Đông Dương và Nhật được tự do khai thác nguyên vật liệu. Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã sáng suốt phân tích tình hình thế giới và nhận định rằng, trục phát xít nhất định ngày càng suy yếu, đi tới thất bại. Pháp, Nhật ở Đông Dương ngày càng mâu thuẫn sâu sắc, thời cơ cho nhân dân Đông Dương tiến lên khởi nghĩa vũ trang giành quyền độc lập ngày càng tới gần, nên đã lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tích cực cho ‘ cuộc toàn dân nổi dậy. 1. Thông cáo khẩn cấp “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng”. Thông cáo khẩn cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương nhan đề “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng” ngày 21-12-1941 có tầm quan trọng đặc biệt đối với đấu tranh vũ trang trong thời kỳ đó Trên cơ sở nhận thức rõ tình hình, Đảng đã thay đổi vị trí của hai kẻ thù Nhật, Pháp trong đối tượng chính của cách mạng. Từ khi Nhật vào Đông Dương, Pháp quỳ gối làm tay sai cho Nhật. Nhật vẫn để cho Pháp hành động trong việc bóc lột, đàn áp nhân dân Đông Dương nên Đảng ta vẫn đặt đối tượng đấu tranh là Pháp - Nhật. Sau đó, Nhật đã lấn Pháp, ngày càng đóng vai trò chính trong việc thống trị nhân dân Đông Dương. Vì vậy, thông báo khẩn cấp của Đảng chỉ rõ: Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương nay là Nhật - Pháp. Phân tích rõ sự chuyển biến của chiến tranh thế giới với hai mặt trận: phát xít và dân chủ chống phát xít Đảng khẳng định vị trí của cuộc đấu tranh vũ trang của ta là nằm trong Mặt trận dân chủ chống phát xít quốc tế. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 12:14:28 am Thông cáo sáng suốt nhận rõ Anh, Mỹ, Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) trong mặt trận dân chủ chống phát xít, là đồng minh với ta, nhưng họ không thừa nhận quyền độc lập của ta, nên ta phải tích cực chuẩn bị cho các cuộc khởi nghĩa địa phương, mặc dầu lúc này cuộc Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc còn chưa chín muồi.
Thông cáo nêu rõ: “Nếu họ (Anh, Mỹ, Tưởng) chịu giúp cách mạng Đông Dương, thì ta có thể nhận cho họ hưởng một phần quyền lợi ở Đông Dương. Nhưng nếu họ giúp cho bọn Đờ Gôn, Catưru khôi phục lại quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương, chúng ta phải cương quyết cự tuyệt và tiếp tục chiến đấu giành quyền độc lập. Bổn phận của chúng ta là phải lợi dụng khi quân Tàu hay quân Anh - Mỹ vào Đông Dương ở địa phương nào mà nổi dậy khởi nghĩa ở địa phương ấy, thành lập chính phủ cách mạng rồi nhân danh chính phủ cách mạng của nhân dân mà giao thiệp với họ” 1. Trong phần “trách nhiệm cần kíp của Đảng trước thời cuộc”, thông cáo đã dành một phần quan trọng đề cập vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, từ các đội tự vệ mang tên “Đội bảo an”, “Hội tự cứu’; các tiểu tổ du kích không thoát ly tiến lên xây dựng các đội du kích chính thức thoát ly, coi trọng việc tổ chức giao thông, liên lạc, đồng thời vận dụng linh hoạt sáng tạo Cách đánh du kích như lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã chỉ dẫn. Thông cáo nhấn mạnh: “lúc này Đảng phải theo đúng thuật du kích, phải duy trì các bộ đội du kích, phải duy trì và kiện toàn các lực lượng cách mạng mỗi khi cơ hội và tình thế thuận tiện hơn có thể phát động phong trào khởi nghĩa rộng lớn hơn” 2. Nhờ có chủ trương đúng đắn của Đảng, nên từ cuối năm 1941 đến đầu năm 1943, phong trào đấu tranh chống Nhật - Pháp của quần chúng nhân dân phát triển từ Nam chí Bắc, ở cả thành thị và nông thôn. Công nhân bến tàu Sài Gòn đình công chống Nhật đánh đập (11-1941). Công nhân mỏ Hòn Gai đình công đòi phát lương (2-1942). Thợ máy trường bay Gia Lâm kéo lên bàn giấy của võ quan Nhật phản đối lính Nhật đánh đập (7-1942). Nông dân Tiền Hải (Thái Bình) đấu tranh đòi chia công điền (6-1942). Chị em các chợ Hà Nội bãi thị phản đối tăng thuế (1-1943), v.v.. Phong trào đấu tranh của quần chúng gắn liền với sự ra đời của các đội tự vệ. Tất cả đã tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang phát triển. Phong trào đấu tranh trong nước phát triển trong khi tình hình quốc tế cũng có những biến chuyển thuận lợi. Sau chiến thắng Xtalingrát, Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công chiến lược trên khắp các mặt trận. Thắng lợi đó cổ vũ nhân dân ta và cũng là một đòn đánh nặng nề vào phe phát xít nói không và phát xít Nhật - Pháp ở Đông Dương nói riêng.Trong bối cảnh lịch sử đó, Đảng đề ra chủ trương mới để lãnh đạo cách mạng tiếp tục tiến lên. 2. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (25.28-2-1943) với việc “Thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít Nhật ở Đông Dương” và “Tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang”. Hội nghị nhận định rằng, lúc này chúng ta đang ở vào “tình thế khẩn cấp” (chiến tranh và cách mạng), không còn là “tình thế thái bình” nữa. Tình hình trong nước và quốc tế biến chuyển mau lẹ, phải kịp thời có chủ trương mới. Do đó, Ban Thường vụ Trung ương đã quyết định: “Thành lập Mặt trận Dân chủ chống Nhật ở Đông Dương, lấy Mặt trận Việt Minh làm nòng cốt. Mặt trận có nhiệm vụ thu hút hết thảy các lực lượng chống phát xít Nhật ở Đông Dương, kể cả Pháp kiều, Ấn kiều, Hoa kiều chống Nhật (lúc đó Hoa kiều ở Đông Dương đông tới trên 50 vạn người). Đây là một sách lược “Lập mặt trận kép”, tựa như sau này lấy Mặt trận Việt Minh làm nòng cốt cho Mặt trận Liên Việt, thời kỳ 1946-1954. Sách lược này nhằm tạo thế vững chắc cho cuộc khởi nghĩa vũ trang đang được chuẩn bị và tính hợp pháp của một chính quyền giành được từ tay Nhật, đã cùng đứng trong hàng ngũ của Đồng minh dân chủ quốc tế chống phát xít. Đó là tiền đề thuận lợi tạo nên mối liên hệ giữa Việt Minh với cơ quan đại diện Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc) cũng như sự giúp đỡ lẫn nhau trong một mức độ nhất định trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945. _____________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 243 - 244, 252. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 12:19:52 am Hội nghị nhấn mạnh tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5-1941) : “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và dân ta trong giai đoạn hiện tại”. Với tính năng động eao, Hội nghị vừa rút những kinh nghiệm thành công và vấp váp đã qua, vừa vạch ra phương hướng chuẩn bị cụ thể. Ghi nhận hiệu quả và những kinh nghiệm quý báu của tám tháng chiến đấu của du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai, Hội nghị nêu rõ rằng: “Cuộc chiến đấu anh dũng này chứng tỏ rằng:
1. Nhân dân Đông Dương có thể đánh du kích chống nhau với Nhật - Pháp mặc dầu chúng có máy bay, trái phá. 2. Mặt trận dân tộc chống phát xít Nhật Pháp đã thực hiện ngay trên trường tranh đấu võ trang. 3. Cầm khí giới chống nhau với phát xít, đội quân du kích Bắc Sơn - Đình Cả đã thực tế ủng hộ Liên Xô kháng chiến”. Cuộc chiến đấu đã “để lại cho ta một bài học quý báu. Nó dạy ta, muốn thắng: a) Phải làm chiến tranh du kích sinh sôi nảy nở thành cuộc khởi nghĩa của nhân dân toàn xứ. b) Phải luôn luôn tiến công quân địch và giữ địa vị chủ động. c) Phải phối hợp với dân chúng quấy rối sau lưng quân địch, không để cho chúng bao vây về kinh tế cũng như về quân sự” 1. Đồng thời, Hội nghị cũng chỉ ra một số sai lầm, khuyết điểm từ ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương để chỉ đạo cuộc khởi nghĩa tới. Đặc biệt, phải khắc phục những sai lầm, thiếu sót như: không làm cho quần chúng đông đảo hưởng ứng quân khởi nghĩa; không làm cho bộ phận quần chúng tiên tiến nhất quần chúng thợ - tham gia khởi nghĩa; không có một đội quân cách mạng cơ bản. Từ đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra những nhiệm vụ cụ thể: Về tuyên truyền, phải làm cho nhân dân tin tưởng chắc chắn vào cách mạng. Phải phổ biến trong dân chúng những tài liệu nghiên cứu chiến thuật du kích và kinh nghiệm khởi nghĩa. Về tổ chức - phải tổ chức và củng cố các đội tự vệ và tiểu đội du kích, đồng thời phải “huấn luyện quân sự cho những tổ chức ấy ‘. Về vận động quần chúng, phải quan tâm vận động công nhân. Bởi vì, không làm cho thợ thuyền tích cực tham gia khởi nghĩa thì cuộc khởi nghĩa khó nổ ra ở những nơi huyết mạch của quân thù (thành phố, vùng mỏ, đồn điền, đường vận tải cốt yếu v v ) và do đó, quân thù không bị tê liệt. Hội nghị nhấn mạnh: phải chú ý vận động dân cày ở những nơi địa hình có lợi cho cách đánh du kích và có truyền thống cách mạng. Về binh vận - phải chú trọng công tác binh vận, vì nó “mang vũ khí và nhân viên quân sự cho quần chúng khởi nghĩa”. Phải quan tâm phát triển các đội “Quân nhân cứu quốc”. Về xây dựng Đảng - Hội nghị coi trọng phát triển Đảng với nhận định rất sáng suốt là “vì chính sách lập mặt trận của Đảng càng rộng rãi thì vai trò lãnh đạo của Đảng càng phải vừng chắc” 2. Nghị quyết Hội nghị đề ra nhiều biện pháp củng cố và phát triển Đảng, coi trọng phát triển Đảng trong công nhân, củng cố các chi bộ, tăng cường tự phê bình, đề cao kỷ luật. Điều này có tác động tích cực tới việc xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang. Nghị quyết còn đề cập đến việc vận động thanh niên, phụ nữ; vận động đồng bào dân tộc thiểu số, vận động Hoa kiều v.v.. Nói chung là phải làm sao vận động được toàn dân tham gia khởi nghĩa. _____________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 288. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 307. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 05:43:00 pm 3. Phát triển giao thông, liên lạc, tạo thế liên hoàn chiến đấu giữa Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai. Đội quân Nam tiến.
Trong đấu tranh cách mạng, giao thông liên lạc để tạo thế liên hoàn chiến đấu là vô cùng quan trọng. Ngay từ khi mới về nước lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã nhắc nhở: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi” 1. Với căn cứ địa Cao Bằng, Người chỉ rõ: “Ngoài lối liên lạc thường dùng bằng giao thông bí mật phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao Bằng về xuôi. Có thế, khi địch khủng bố mới giữ được liên lạc, những hoạt động vũ trang của các đội du kích mới có thể tiến hành thuận lợi và nhất là mới tranh thủ kịp khi thời cơ biến chuyển tốt, cách mạng có thể tiến lên Tổng khởi nghĩa”. Thực hiện lời dạy của Người, cán bộ hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai đã họp bàn việc mở rộng phong trào, quyết tâm mở thông liên lạc giữa hai khu căn cứ và mở đường về xuôi, liên lạc với Trung ương Đảng. Đồng chí Chu Văn Tấn trở lại Bắc Sơn - Vũ Nhai củng cố phong trào, mở đường liên lạc với Cao Bằng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thực hiện nhiệm vụ Nam tiến nhằm “Thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng, đảm bảo thắng lợi” như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị. Trong lịch sử quân sự của dân tộc ta có nhiều cuộc Nam tiến. Thời cận đại có cuộc Nam tiến của nghĩa quân do Phạm Văn Nghị dẫn đầu, chuẩn bị vào cứu nguy cho Đà Nẵng chống Pháp xâm lược. Thời hiện đại, có cuộc Nam tiến trong khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, lại có các cuộc Nam tiến sau này chống Pháp, rồi chống Mỹ xâm lược. Mỗi cuộc Nam tiến của quân, dân ta đều có những ý nghĩa đặc biệt. Đội quân Nam tiến lần này không phải tiến vào miền Nam mà là tiến về xuôi, xây dựng phong trào cách mạng, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên theo đường lối quân sự của Đảng. Đó là kết hợp chính trị với quân sự, xây dựng “con đường quần chúng” cho lực lượng vũ trang. Dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cách mạng Việt Nam đã có căn cứ địa vững chắc ở Cao Bằng. Tháng 7 - 1942, với tên gọi Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc nhằm tập hợp thêm lực lượng, tranh thủ viện trợ quốc tế chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới ở Việt Nam. Vừa ra khỏi biên giới, Người bị nhà cầm quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giữ. Trong thời gian bị giam cầm, Người viết tập thơ Nhật ký trong tù. Bài Học đánh cờ đã thể hiện tư duy nghệ thuật quân sự sâu sắc của Người: “Tấn công, thoái thủ nên thần tốc, Chân lẹ, tài cao ắt thắng người. Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, Kiên quyết, không ngừng thế tấn công; Lạc nước, hai xe đành bỏ phí, Gặp thời, một tốt cũng thành công. Vốn trước hai bên ngang thế lực, Mà sau thắng lợi một bên giành; Tấn công phòng thủ không sơ hở, Đại tướng anh hùng mới xứng danh” 2. Sau hơn một trăm bài thơ viết trong tù, những trang cuối là những ghi chép bằng chữ Hán với nhan đề “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”, đề cập đến tổ chức biên chế, chỉ huy, kỷ luật, sinh hoạt, huấn luyện quân sự, giáo dục tư tưởng v.v của quân đội chính quy. Những tri thức quân sự đó vô cùng quý báu, về sau được thể hiện trong nhiều văn kiện quân sự của cách mạng Việt Nam. Trong thời gian đó, ở trong nước, những cơ sở quần chúng và các lớp huấn luyện chính trị, quân sự do các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng. . . tổ chức đều có mục tiêu chuyển dần liên hệ về xuôi bằng “con đường quần chúng”, kết hợp chính trị với vũ trang. Đến năm 1943, nhiệm vụ liên lạc về xuôi trở nên bức thiết. __________________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 89. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 287. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 05:43:50 pm Thực hiện tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và quyết định của Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng, công tác Nam tiến được đặt ra một cách khẩn trương. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng có nhiệm vụ chỉ huy đánh thông con đường từ Đông Khê về Đình Cả, tổ chức đội quân Nam tiến về xuôi.
Hàng trăm cán bộ, thanh niên nam nữ tình nguyện thoát ly gia đình vào các đội Nam tiến. 19 đội xung phong Nam tiến được tổ chức. Hoạt động của các đội rất sôi nổi. Mỗi đội xung phong được phân công đi một địa phương. Các tổ xung phong phát triển đi trước hoạt động theo lối vũ trang tuyên truyền, bắt mối điều tra tuyên truyền gây cơ sở. Các tổ xung phong củng cố đến sau, chọn cốt cán, mở lớp huấn luyện ngắn ngày rồi dựa vào cán bộ địa phương mới được đào tạo mà phát triển phong trào. Cùng một lúc, nhiều con đường tiến về Nam được mở thông. Có những tổ xung phong được phái bí mật vượt qua những chặng đường dài, đến một địa phương có quần chúng tốt gây cơ sở rồi dần dần nối các cơ sở khác nhau lại. Hình thức vũ trang tuyên truyền này là một hoạt động đặc biệt của đội quân cách mạng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Phương châm chung là “Phải lấy người là chính, người trước, súng sau’. Sau 7, 8 tháng hoạt động, con đường Nam tiến trải qua nhiều gian lao, nguy hiểm đã kéo dài trên nhiều triền núi, cánh đồng, qua các làng bản của đồng bào Tày, Nùng, Dao. Tháng 8-1943, con đường Nam tiến và con đường liên lạc của Cứu quốc quân về Cao Bằng cũng được đánh thông, ôm vòng Cao-Bắc-Lạng, xuống Thái Nguyên về xuôi. Hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai thông với nhau, dựa vào nhau tạo thành một thế liên hoàn chiến đấu, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Hai khu căn cứ nối liền nhau đã mở ra một triển vọng lớn, góp phần tạo điều kiện cho sự ra đời của Khu giải phóng sau này. Ngoài thành quả nối liền hai khu căn cứ, hoạt động vũ trang tuyên truyền của các đội xung phong Nam tiến, của Cứu quốc quân đã góp phần quan trọng vào việc phát triển lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang. Cụ thể, ở Cao Bằng, toàn tỉnh có một trung đội vũ trang tập trung. Mỗi huyện có một trung đội vũ trang, hàng chục đội tự vệ chiến đấu và rất nhiều đại đội tự vệ cứu quốc ở các xã. Riêng ở huyện Hà Quảng đã có một đội vũ trang tập trung, bốn trung đội vũ trang eửa bốn tổng, gần 100 tự vệ cứu quốc ở các xã. Bắc Cạn có một đội vũ trang tuyên truyền hoạt động ở Ngân Sơn. Nhiều tiểu tổ bí mật của Cứu quốc quân hoạt động ở Chợ Đồn. Lạng Sơn có một trung đội vũ trang tập trung 37 người được thành lập ở Bình Gia. Nhiều đội tự vệ mạnh, gần như làm chủ nông thôn hai huyện Vũ Nhai, Định Hoá và nhiều xã ở các huyện Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ. Tại Tuyên Quang, phong trào vũ trang phát triển góp phần vào việc ra đời của Trung đội III Cứu quốc quân. Mạnh mẽ nhất là ở Cao Bằng, tháng 7-1943 đã có cuộc tập trận của hơn 1.000 tự vệ Hoà An. Cuối năm 1943 đã có cuộc duyệt binh ban ngày giữa cánh đồng và những cuộc tập trận giả huy động từ 400 đến 500 tự vệ trong phạm vi mấy tổng tham gia. 4. Chống khủng bố trắng ở Cao Bằng - Vận dụng loại hình chiến đấu “Phòng ngự căn cứ địa” Loại hình chiến đấu “Phòng ngự căn cứ địa”, đã diễn ra trong cuộc chống khủng bố của du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai. Tháng 12-1943, tiếp theo sự khủng bố khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai, địch tiến hành khủng bố trắng khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng. Cao Bằng qua sự tôi luyện chống khủng bố năm 1940, lại rút kinh nghiệm của Bắc Sơn - Vũ Nhai, đã vận dụng các hình thức mới chống địch rất sáng tạo. Đó là tổ chức các đội xung phong chống khủng bố tại các làng bản. Mỗi lần quân địch đến bắn phá, thanh niên trai gái trong Ban xung phong chống khủng bố lại chia nhau đi giải thích, tuyên truyền giữ vững tinh thần nhân dân. Trước đó, chống phá cách mạng ở Bắc Sơn - Vũ Nhai, địch đã áp dụng cách “dồn làng, tập trung dân”. Sự chống trả của ta cũng đã có hiệu quả nhất định nhờ tinh thần yêu nước và chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta. Nhưng nay kẻ thù đàn áp gắt gao hơn, dồn làng, tập trung dân chặt chẽ hơn, lùng sục cán bộ ráo riết hơn. Chính lúc đó, sáng kiến đã nảy nở trong điều kiện mới - điều kiện quân và dân đã được tổ chức và huấn luyện chính trị quân sự tốt hơn các thời kỳ trước. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 05:46:16 pm Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng ra chỉ thị “Tổ chức các tiểu tổ bí mật”. Các tiểu tổ bí mật này gồm các đảng viên và đội viên trung kiên đã thoát ly gia đình, có tổ Đảng lãnh đạo. Các tiểu tổ bí mật đều lánh vào rừng núi, triệt để “quân sự hoá”, vừa tiếp tục tiến hành công tác quần chúng vừa tiếp tục học tập quân sự, chính trị. Đây là một hình thái tổ chức mà trong cuộc chống khủng bố ở Cao Bằng năm 1940 và ở tám tháng chiến đấu của du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai chưa có được. Hình thức tổ chức này chỉ có thể ra đời sau cuộc vận động quần chúng, tổ chức và huấn luyện quân sự trong hai năm 1942-1943 của Cứu quốc quân, du kích quân Cao Bằng và đặc biệt là của các đội quân Nam tiến. Lúc này “Quân sự hoá” và “Du kích hoá” đã trở thành phong trào sống và hoạt động của thanh niên trong khu căn cứ Cao- Bắc - Lạng. Các tiểu tổ bí mật phát triển nhanh, trở thành những mạng lưới vây quanh các làng bản. Từ các tiểu tổ bí mật, các tổng, châu đã tổ chức ra những đội tự vệ thoát ly, từ tiểu đội đến trung đội cao hơn hình thức tự vệ và tự vệ chiến đấu. Kiên quyết duy trì và phát triển các hạt nhân vũ trang làm chỗ dựa tin cậy của phong trào quần chúng, lực lượng tự vệ và tự vệ chiến đấu được tổ chức tại Cao Bằng từ cuối năm 1941 phát triển rất nhanh chóng trong hai năm 1942-1943, lúc này trải qua những thử thách, càng được tôi luyện. Số lượng hội viên và tự vệ tuy có thu hẹp nhưng vẫn còn rất đông đảo và trở nên vững chắc hơn nhiều. Nhiệm vụ Nam tiến vẫn được tiến hành. Giao thông liên lạc không bị gián đoạn. Các cơ sở cách mạng qua đấu tranh lại vững mạnh hơn. Những lớp huấn luyện lại được mở tiếp trong rừng. Số người học rất đông, họ ít nhiều đã được tôi luyện qua cuộc đấu tranh gian khổ với kẻ địch. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vẫn được xúc tiến. Nhân dịp kỷ mềm Cách mạng Tháng Mười Nga (11-1942), các châu huyện ở vùng giáp giới Cao Bằng - Bắc Cạn đã tổ chức một Đại hội chuẩn bị võ trang khởi nghĩa tại khu rừng Phan Thanh thuộc tổng Trần Hưng Đạo. Hàng trăm đại biểu của các dân tộc nô nức kéo về dự. Tại Đại hội, 10 đội tự vệ chiến đấu đã tham gia biểu diễn quân sự. Kẻ địch đã không ngăn được quân dân Cao- Bắc - Lạng đẩy mạnh đấu tranh đón thời cơ mới. 5. Củng cố và mở rộng căn cứ địa. Trung đội III Cứu quốc quân ra đời Trong khi Cao Bắc Lạng đấu tranh chống khủng bố trắng có hiệu quả thì Cứu quốc quân ở Thái Nguyên, Tuyên Quang lại đẩy mạnh hoạt động để hỗ trợ, đồng thời mở rộng khu căn cứ Địa bàn hoạt động đã phát triển xuống Vũ Nhai, Đồng Hỷ, qua Phú Lương, Đại Từ, Định Hoá thái Nguyên), sang Sơn Dương (Tuyên Quang)... thu hút được cả những chiến sĩ từ trung du lên. Do sự tăng tiến của phong trào, ngày 25 - 2 - 1944, Trung đội III Cứu quốc quân ra đời (ở Khui Kịch, châu Sơn Dương tuyên Quang). Đội gồm những chiến sĩ hoạt động ở nam Đại Từ, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Vĩnh Yên. Về hướng Lạng Sơn, cũng trong tháng 2-1944, Trung ương Đảng cử đồng chí Hoàng Quốc Việt lên kiểm tra tình hình. Thay mặt Trung ương, đồng chí Hoàng Quốc Việt quyết định chia khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai mở rộng (tức chiến khu Hoàng Hoa Thám lúc đó) thành hai phân khu: Phân khu A - phân khu Quang Trung ở tả ngạn sông Cầu, phân khu B - phân khu Nguyễn Huệ, ở hữu ngạn sông Cầu. Trước nhu cầu bức xúc về cán bộ và khả năng của khu căn cứ, Trung ương Đảng đã giao cho Cứu quốc quân liên hệ với chi bộ nhà tù Chợ Chu tổ chức một cuộc vượt ngục cho các chiến sĩ cách mạng đang bị kẻ thù giam giữ. Tháng 10-1944, 12 đồng chí, trong đó có các đồng chí Song Hào, Lê Hiến Mai, Tạ Xuân Thu. . . vượt ngục thành công. Nhờ đó, cán bộ lãnh đạo của khu căn cứ được tăng cường, hoạt động của Cứu quốc quân được đẩy mạnh, hai phân khu đều phát triển. Phân khu A phát triển về phía nam Thái Nguyên, Bắc Giang. Phân khu B phát triển mạnh từ Sơn Dương (Tân Trào - Kim Long), Thanh La lên tới Ao Bục, Khởi Phát kim Quan Thượng) qua Đèo Khế (Văn Lãng) sang Định Hoá, Chợ Chu. . . Tất cả đã tạo thế cho căn cứ rộng lớn Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên sắp ra đời. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 05:51:07 pm 6. Chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh về “Sửa soạn khởi nghĩa” và phong trào cách mạng của quần chúng.
Chỉ thị về “Sửa soạn khởi nghĩa” ngày 7-5-1944 của Tổng bộ Việt Minh có tầm quan trọng đặc biệt đôi với khởi nghĩa vũ trang. Chỉ thị đã phát động phong trào cách mạng trong toàn quốc khi mà cơ sở Việt Minh đã phát triển ở khắp ba kỳ; đấu tranh quân sự từ các căn cứ địa mở rộng ra toàn quốc. Chỉ thị không đơn thuần như một mệnh lệnh mà là một văn kiện eô đúc lý luận và kinh nghiệm về chiến tranh du kích và khởi nghĩa vũ trang mà Đảng đã phổ biến qua nhiều sách báo, lời kêu gọi, lớp huấn luyện. Chỉ thị gắn đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị của toàn dân, toàn quốc, thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân, cả thành thị lẫn nông thôn, mọi người Việt Nam yêu nước, đều có thể tham gia vào cuộc đấu tranh vũ trang, đều hăng hái “Sắm võ khí, đuổi quân thù chung”. Chỉ thị phân tích, làm sáng rõ 5 câu hỏi : 1) Ai ra đánh quân thù? 2) Lấy gì mà đánh? 3) Đánh bằng cái gì? 4) Đánh lúc nào sẽ thắng? 5) Làm thế nào đẩy mạnh phong trào tiến tới khởi nghĩa? Chỉ thị nêu vấn đề thời cơ một cách khoa học và sáng tạo. Để tránh sai lầm hiểu khái niệm thời cơ cách mạng chỉ dựa vào yếu tố khách quan. Chỉ thị nhấn mạnh đến nhân tố chủ quan: “thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó”. “Sửa soạn nó” thì ngoài mặt quân sự “phải làm những việc chính trì trong quần chúng” 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động chính trị, vận động quần chúng làm cơ sở, từ đó xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang với quy mô thích hợp với phong trào được quán triệt trong Chỉ thị. Chỉ thị cổ vũ: “Chúng ta phải biết nắm lấy cơ hội ngàn năm có một đặng giành quyền độc lập đuổi kịp năm châu”. Nhờ vậy, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển nhanh. Tính từ tháng 2 - 1943 đến tháng 2-1945 đã có gần 40 cuộc đấu tranh của công nhân từ Nam chí Bắc, dưới nhiều hình thức, chĩa mũi nhọn vào phát xít Nhật - Pháp và tay sai. Từ tháng 3 đến tháng 6-1943 công nhân Hà Nội, Việt Trì... đưa đơn đòi chủ không được bán gạo giá cao. Ngày 15-4-1944, 79 thợ may ở hãng may quần áo cho Nhật (đường Chaigneau, Sài Gòn) bỏ việc, đòi tăng lương và bồi thường cho những anh em có gia đình bị chết bom ở Hà Nội. Cuối tháng 8-1944, công nhân xưởng Săng cô của Nhật đòi chủ bán gạo. Hai ngày sau, hơn 400 công nhân bãi công đòi tăng lương. Ngày 7, 8, 9 tháng 8-1944, trên 500 công nhân thợ hồ ở các trại lính Nhật ở Chí Hoà (Chợ Lớn) lần lượt bãi công phản đối giặc Nhật vô cớ giảm tiền lương từ 2,9 đồng xuống 2 đồng. Có hàng trăm cuộc đấu tranh của nông dân nhằm chống thu thóc, thu thuế, chống bắt phu bắt lính, chống phá lúa, trồng đay, thầu dầu. Đặc điểm của phong trào là đã kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, có tự vệ làm nòng cốt Nhiều nơi đã diễn ra xô xát với địch, có tự vệ chiến đấu tham gia, nhất là những nơi đang manh nha căn cứ địa như ở Ninh Bình, Phú Thọ, Hải Dương, Hơng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Kiến An, Hải Phòng, Thanh Hoá v.v.. Không khí “Sửa soạn khởi nghĩa” đã tràn ngập thành thị, nông thôn, thúc đẩy phong trào đấu tranh vũ trang phát triển. _______________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 498. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 06:01:14 pm V. TÍCH CỰC CHUẨN BỊ VŨ TRANG KHỞI NGHĨA TẠI CHIẾN KHU CAO – BẮC – LẠNG, THÁI - HÀ - TUYÊN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN Cuối năm 1944, hai khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng và Thái - Hà - Tuyên đều phát triển. Phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước hướng về đây. Địch hết sức lo ngại. Chúng mở cuộc khủng bố trắng lần thứ ba vào căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai. Đấu tranh chống khủng bố lại diễn ra ác liệt. Tại phân khu B, ban lãnh đạo do đồng chí Song Hào làm bí thư đã nắm chắc công tác trung tâm là củng cố, mở rộng tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng vũ trang, tổ chức nhân dân đứng lên đấu tranh chính trị với địch dưới các hình thức từ thấp đến cao, nhằm chống thu thóc, thu thuế, chống bắt phu, bắt lính, chống khung bố. Các tổ chức tự vệ, du kích làm nòng cốt bảo vệ, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng cùng phát triển với phong trào Việt Minh đấu tranh mặc dầu địch khủng bố, khu căn cứ vẫn ngày càng mở rộng, phong trào ngày càng lên cao. Tại phân khu A, đấu tranh chống khủng bố diễn ra với hình thức kết hợp chính trị với quân sự. Ngày 7-11-1944 chi bộ Vũ Nhai đã huy động hàng trăm quần chúng tổ chức mít tinh thị uy ở Lân Cùng chống địch bắt cán bộ, đàn áp cơ sở cách mạng. Địch đàn áp ngày càng dữ dội. Ngày 10-11-1944 ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định phát động đấu tranh vũ trang chống khủng bố, dùng chiến tranh du kích đánh lùi các cuộc càn quét của địch làm chủ các vùng rừng núi. 1. Chiến tranh du kích chống khủng bố ở Vũ Nhai. Về phía địch, quân số hơn 1.000 tên, có súng cối, đại liên, sơn pháo 75 ly và cả máy bay yểm hộ. Tướng Sabattier chỉ huy chiến dịch khủng bố đã đưa đến vùng đông bắc Thái Nguyên một tiểu đoàn binh lính người âu với ý định đàn áp một cách quy mô như với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Về phía ta, Cứu quốc quân lúc đầu có hai trung đội, qua gần ba tháng chiến đấu, quân số tăng lên tới khoảng 500 người, được trang bị 56 súng và các loại vũ khí thô sơ. Để động viên tinh thần đấu tranh của quần chúng, ngày 13-11-1944, ban lãnh đạo phân khu tổ chức diễn thuyết, biểu tình tuần hành, thị uy khuấy động phong trào. Được sự hỗ trợ của Cứu quốc quân, nhân dân vùng Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá thực hiện “Vườn không, nhà trống” vào rừng theo Cứu quốc quân, xung phong vận chuyển, cất giấu lương thực vào hang. Có gia đình dũng cảm tự tay đốt nhà mình, kéo nhau lên núi, quyết sống mái với quân thù. Thanh mến tự vệ nô nức tình nguyện gia nhập Cứu quốc quân. Mở đầu cuộc chiến tranh du kích chống địch khủng bố, Cứu quốc quân đã chủ động tiến công quân thù ở nhiều nơi. Ngày 11-11-1944, phá cầu ở cây số 25, cắt đứt liên lạc của địch trên đường Thái Nguyên - Đình Cả. Ngày 12-11, tiễu trừ bọn phản động ở Lâu Thượng và Phú Thượng, tiến công đồn Đình Cả, uy hiếp đồn binh gần phố Bình Gia. Ngày 13-11, một tiểu đội Cứu quốc quân phục kích 500 lính địch khi chúng từ Thái Nguyên tiến lên Đình Cả, giết chết 10 tên, làm bị thương nhiều tên khác. Chỉ trong vòng 20 ngày, tử 11 - 11 đến 30-11, Cứu quốc quân đã 7 lần tiến công các đồn địch, 20 lần phục kích trên các ngả đường. ở Đất Đỏ, hang Mỏ Gà, hang Phượng Hoàng, Nà Khao, Nà Phai, gốc đa La Hoá, hang Đèo Đá (Tràng Xá) đã liên tiếp diễn ra nhiều trận đánh, diệt địch. Được nhân dân giúp sức, Cứu quốc quân đã sáng tạo ra nhiều cách đánh khôn khéo, vừa đánh, vừa làm công tác binh vận. Kẻ địch, dù đông quân, lại có pháo binh trợ lực nhưng rất hoang mang. Tên đồn trưởng Đình Cả phải bỏ đồn chạy trốn. Trong gần ba tháng chiến đấu, Cứu quốc quân không những không bị tiêu hao mà còn phát triển cả về số quân và vũ khí. Chiến tranh du kích lại một lần nữa phát huy hiệu quả của nó. Tuy vậy, vì cả nước chưa có tình thế trực tiếp cách mạng nên cuộc chiến đấu ở Vũ Nhai còn lẻ loi. Nhân dân triệt để làm vườn không nhà trống chạy vào rừng, bị ốm đau bệnh tật làm khó khăn thêm cho các chiến sĩ. Địch khủng bố dữ dội. Chúng mở nhiều cuộc càn quét, bắt bớ. Tính đến ngày 21-12 chúng bắt đi tập trung tới 200 người. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 06:02:32 pm Tình hình đang cho thấy: cuộc chiến đấu ở Vũ Nhai có tính chất một cuộc khởi nghĩa là chưa thích hợp. Đáng lẽ vẫn nên theo phương châm phòng ngự căn cứ địa” của chiến tranh du kích, vừa diệt địch, trừ gian, tiến hành binh vận, vừa tổ chức nhân dân đấu tranh chính trị, chống địch dồn làng, bắt người, phát triển khu căn cứ, bảo toàn và phát triển lực lượng.
Được tin cuộc khởi nghĩa Vũ Nhai nổ ra ngoài kế hoạch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã khẳng định những ưu điểm, phê phán những khuyết điểm, sai lầm, rút ra những bài học bổ ích. Đồng thời, Trung ương quyết định chuyển cuộc đấu tranh vũ trang thành cuộc chống khủng bố theo những hình thức thông thường để phá cuộc càn quét của địch và bảo toàn lực lượng. Nhân dân trở lại làng bản và tiếp tục đấu tranh với địch. Một bộ phận nhỏ Cứu quốc quân được phân tán, bí mật bám sát cơ sở, duy trì tinh thần đấu tranh của quần chúng. Còn phần lớn rút sang Yên Thế (Bắc Giang) để đón thời cơ mới. Mặc dầu có những thiếu sót, cuộc chiến đấu ở Vũ Nhai đã gây một tiếng vang lớn trong cả nước, cổ vũ phong trào “Sắm vũ khí đuổi quân thù chung” mà Tổng bộ Việt Minh phát động. Nó chứng tỏ khả năng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng là rất lớn và khẩu hiệu “Sửa soạn khởi nghĩa” của Đảng là phù hợp với tình hình cách mạng và nguyện vọng quần chúng. Giữa lúc nhân dân Vũ Nhai đang chiến đấu thì ở chiến khu Cao - Bắc - Lạng, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra cũng sôi động. Tháng 7- 1944, Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng đã triệu tập Hội nghị cán bộ để thảo luận về vấn đề khởi nghĩa - một cuộc hội nghị dông đủ nhất từ ngày địch tiến hành khủng bố. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh và các đồng chí trong Liên tỉnh uỷ đều có mặt. Báo cáo chính trị nhận định: “Các điều kiện đã chín muồi để phát động chiến tranh du kích trong liên tỉnh”. Cuộc thảo luận sôi nổi và mặc dầu còn những vấn đề công tác cụ thể chưa có cách giải quyết, Hội nghị cũng nhanh chóng đi đến quyết nghị khởi nghĩa. Một không khí chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra sôi nổi trong toàn khu căn cứ. Các lớp huấn luyện được tổ chức. Phong trào mua sắm, chế tạo vũ khí, tích trữ lương thực được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Đồng bào góp thóc cho du kích vượt quá mức dự định. Có bà cụ bán phần lớn gia sản để mua súng cho con trai, con gái. ở nhiều châu, huyện, các cụ cao tuổi họp biểu quyết toàn thể thanh niên nam nữ phải tòng quân khi đoàn thể kêu gọi. Phụ nữ, người già ở lại sẽ đảm nhiệm tăng gia sản xuất, củng cố hậu phương. Vào tháng 9-1944, kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa đã thực hiện được một phần. Tiếng súng vũ trang hành động đã nổ ở nhiều nơi. Liên tỉnh uỷ đang trù tính một cuộc hội nghị cuối cùng để quyết định ngày giờ phát động cuộc khởi nghĩa. Giữa lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh về đến vùng căn cứ Cao Bằng. Sau khi nghe báo cáo và kiểm tra tình hình, Người chỉ thị cho Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng hoãn cuộc khởi nghĩa vì “Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong toàn quốc, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục”. Người kết luận: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hoà bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị coi trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản cơ cả vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao cứ hoạt động vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng không để địch bắt, hại những người hoạt động...” 1. Người chỉ ra hướng giải quyết là tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tất nhiên phải gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, từ đó mà mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Người quyết định thành lập đội quân chính quy đầu tiên của cách mạng Việt Nam. ________________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 139. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 06:41:01 pm 2. Sự ra đời và hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Để thành lập đội quân chính quy đầu tiên, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã vạch ra những nét chính về Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, từ nguyên tắc tổ chức đến phương châm hành động và vấn đề giải quyết trang bị, vũ khí, lương thực. Người duyệt danh sách chỉ huy Đội và các đội viên được chọn lọc từ các đội tự vệ chiến đấu và các đội du kích địa phương lên để thành lập đội chủ lực đầu tiên hoạt động trên địa bàn rộng. Về nguyên tắc tổ chức đội quân chính quy đầu tiên, Người nhấn mạnh đến tính giai cấp, tính nhân dân, cơ cấu tổ chức ba thứ quân, địa bàn đứng chân hoạt dộng trong cả nước, từ Nam chí Bắc. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ phương châm hành động là chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến. Trên cơ sở tư duy chín muồi về tổ chức đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam, tháng 12 - 1944, Người đã viết Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Toàn văn chỉ thị như sau: “1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực. Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong cán địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. 2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa cán cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến. 3. Về chiến thuật, vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân. Nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta” 1. Toàn văn bản Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nêu lên những quan điểm cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng ta. Đó là tư tưởng về kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân; tư tưởng về lực lượng vũ trang có ba thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng tự vệ du kích rộng khắp); tư tưởng về phương châm hoạt động phối hợp hành động giữa các thứ quân đó; kết hợp quân sự với chính trị, thực hiện lối đánh tài giỏi, bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, mưu trí, linh hoạt 2. Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là văn kiện lịch sử, được coi như cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng ta. Chỉ thị đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ khởi nghĩa ở Việt Nam. Thực hiện chỉ thị của Người, lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được tổ chức hồi 5 giờ chiều ngày 22-12-1944 tại khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, có đại diện Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng cùng đông đảo đại biểu tham dự. Quân số gồm 34 đội viên. Tất cả đều đã trải qua thử thách chiến đấu. _________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 507-508. 2. Xem: Võ Nguyên Giáp: Cao Bằng - Mảnh đất anh hùng, nơi ra đời của đội quân chủ lực đầu tiên. In trong sách: 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Miền đất khai sinh và quá trình phát triển, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 30. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 06:43:55 pm Cơ cấu lãnh đạo, chỉ huy gồm có: Đội trưởng: Hoàng Sâm, Chính trị viên: Xích Thắng. Chi bộ Đảng: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Sâm, Xích Thắng, Hoàng Văn Thái.
Vũ khí gồm: 2 khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường, 14 khẩu súng kíp. Ngoài ra còn một số vũ khí được Việt kiều ở Côn Minh gửi tặng, gồm: 1 khẩu súng tiểu liên Mỹ Sub Machine-gun, 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp bom nổ chậm, 5.000 đồng Đông Dương để chi về quân nhu. Sau khi công bố chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Mình, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và hạ lệnh cho đội tiến lên con đường vũ trang tranh đấu. Trước cờ Tổ quốc, toàn đội đồng thanh đọc 10 lời thề danh dự: “Chúng tôi, đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, xin lấy danh dự của một người chiến sĩ cứu quốc mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh. Xin thề: 1. Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật - Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới. 2. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp chỉ huy, khi nhận được mệnh lệnh gì, sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác. 3. Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước. 4. Lúc nào cũng khẩn trương, hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sĩ tiên phong giết giặc cứu nước. 5. Tuyệt đối giữ bí mật cho bộ đội về nội dung tổ chức,về các cấp chỉ huy, tuyệt đối giữ bí mật cho tất cả các đoàn thể cứu quốc 6. Khi ra trận nếu bị quân địch bắt được, thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội. 7. Hết sức ái hộ bạn chiến đấu cũng như bản thân,hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận. 8. Hết sức giữ gìn vũ khí, không bao giờ để vũ khí hư hỏng hay rơi vào tay quân thù. 9. Khi tiếp xúc với dân sẽ làm đúng ba điều răn: không lấy của dân - không doạ nạt dân, không quấy nhiễu dân và ba điều nên: Kính trọng dân- giúp đỡ dân - bảo vệ dân, để gây lòng tin ái cậy đối với dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí, giết giặc cứu nước. 10. Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình, giữ tư cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh Giải phóng quân và quốc thể của Việt Nam” 1. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Ra quân trận đầu nhất định phải thắng”. Các chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân coi việc thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh là một nghĩa vụ thiêng liêng. Do vậy, phải lựa chọn được địa bàn hoạt động và phương thức tác chiến sao cho hợp với khả năng, sát với tình thế mới thành công. Lực lượng ta còn chưa mạnh, vũ khí, đạn dược ít. Mỗi khẩu súng trường chỉ có trung bình 20 viên đạn. Đối tượng tiến công ở khu căn cứ lúc này chỉ có thể là phục kích khi địch hành quân hay tập kích các đồn địch. Phục kích các đội quân địch thì tương đối dễ đạt thắng lợi, đỡ bị tổn thất, nhưng thu được ít đạn dược, lại còn phải chọn địa bàn, chờ đợi thời cơ. Tập kích vào đồn trại giặc có thể thực hiện được nhưng hình thức tác chiến khó khăn hơn, phải thật bí mật, bất ngờ... Cuối cùng qua trinh sát 2 và thẩm định kỹ càng, ban chỉ huy đã quyết định chọn hai địa điểm để tập kích là: đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần. ____________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 152- 153. 2. Trinh sát viên đồn Phai Khắt là thiếu niên Hồng 12 tuổi, được phân công mang bánh và rượu cho tên đồn trưởng, đã nắm sát địch tình ra báo cáo với ban chỉ huy. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 06:49:03 pm Tập kích đồn Phai Khắt (ngày 24-12-1944)
Đồn Phai Khắt thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đồn nằm trong xã Phai Khắt, nơi đã thành một xã “hoàn toàn” và là quê hương của một số chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đồn có 17 lính và 1 cai do 1 đồn trưởng Pháp chỉ huy. Kế hoạch tác chiến là cải trang lừa địch, tạo thế bất ngờ để đột nhập đồn, diệt địch, thu vũ khí. Toàn đội chia làm ba toán nhập đồn với giấy tờ giả 1 trót lọt. Cuộc chiến diễn ra nhanh chóng và thành công 3 . 17 lính và 1 tên cai đã đầu hàng. Giữa lúc đó, tên đồn trưởng Pháp đang trên đường Nguyên Bình - Phai Khắt về đồn, một chiến sĩ ta nổ súng tiêu diệt. Sau khi thu chiến lợi phẩm và động viên nhân dân, đặt kế hoạch đề phòng địch khủng bố, quân ta rút lui an toàn. Trận Nà Ngần (ngày 25-12-1944). Đồn Nà Ngần cách đồn Phai Khắt khoảng 25 cây số, có 22 lính và 2 sĩ quan (1 sĩ quan người Pháp) chỉ huy. Phương thức tác chiến vẫn là cải trang thành lính địch đi tuần, tập kích bất ngờ, binh vận, dụ hàng, chỉ diệt địch khi cần. Cuộc tập kích diễn ra hồi 7 giờ sáng. Nếu ở Phai Khắt chỉ nổ súng diệt tên đồn trưởng Pháp một cách bất ngờ, thì ở Nà Ngần, tình thế đã buộc ta phải nổ súng diệt một tên sĩ quan và bốn lính kháng cự lại 3. Trận đánh kết thúc thắng lợi trong vòng dăm phút. Toàn đội rút lui an toàn. Hàng binh xin trở về quê quán làm ăn được trợ cấp lộ phí 4. Hai chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã biểu hiện tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, trí thông minh, sáng tạo của chỉ huy, lòng yêu nước và dũng khí chiến đấu của toàn thể đội viên Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tính nhân dân của một đội quân cách mạng biểu hiện trong khi thu dọn chiến trường, đặt kế hoạch chống địch khủng bố, bảo vệ dân. Hai trận đánh đồn Phai Khắt và Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta. Hai chiến thắng đã góp phần thực hiện được phương châm “Lấy chiến thắng để tuyên truyền vũ trang. Lấy tuyên truyền vũ trang để giành chiến thắng mới” như lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị. Trận Đồng Mu (ngày 5-2-1945) Sau hai chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần. Đội bắt tay ngay vào luyện tập quân sự. Chương trình luyện tập gồm có: cảnh giới, trinh sát, tập bắn súng, lợi dụng địa hình, địa vật, cách hành quân, trú quân, cách đánh tập kích, phục kích. Đợt luyện tập ngắn ngày kết thúc. Đội tiến quân tập kích đồn Đồng Mu, một đồn địch kiên cố, được bố phòng nghiêm mật 5, việc trinh sát của ta gặp khó khăn hơn. Cách cải trang lừa địch không còn thích hợp nữa, ta buộc phải bí mật nhập đồn trong đêm tối để tiêu diệt địch 6. __________________ 1. Toàn đội cải trang thành lính dõng và một số lính tập. Giấy đi tuần giả để nhập đồn do đồng chí Võ Nguyên Giáp đánh máy, nhờ bên toà soạn báo Việt Nam Độc lập có dấu giả, chữ ký khéo bắt chước chữ ký của địch. 2. Tiểu đội trưởng Thu Sơn mặc bộ ka ki lính tập, xách tiểu liên đi đầu đưa “giấy đi tuần”. Một tiểu đội đi theo tiến thẳng vào kho súng. Tiểu đội khác bao vây đồn. Đồng chí Sơn hô tiếng Pháp “Rátsămmăng” (Tập hợp). 17 lính và 1 cai tập hợp lại. Các chiến sĩ cách mạng chĩa súng buộc địch đầu hàng. 3. Hình thức cải trang có đổi khác: ba du kích quân đóng giả người Dao bị quân du kích bắt được, trói giải lên đồn. Khi quân du kích bằng giấy giả vào được đồn thì tên quản khố đỏ đã dậy sớm ngồi vào bàn làm việc. Du kích chĩa súng bắt hàng, nhưng y đã dùng súng ngắn kháng cự lại và bị đội trưởng Thu Sơn dùng tiểu liên tiêu diệt, bốn tên lính kháng cự lại cũng bị tiêu diệt bằng sáu phát đạn súng trường của quân du kích. 4. Đội đã vay được mấy trăm đồng của một hội viên Việt Minh để cấp lộ phí cho hàng binh. 5. Đồn nằm trên một ngọn đồi cao chơ vơ giữa cánh đồng, vì phải tuôn đối phó với thổ phỉ nên đồn có công sự khá vững chắc, có nhiều lô cốt, có tường rất dày với nhiều lỗ châu mai, có giao thông hào và dây thép gai bao bọc. 6. Đêm 22 tháng Chạp âm lịch (từ 5-2-1945) ta chia làm hai mũi tiến về đồn. . . Kế hoạch là phải bí mật nhập đồn, nhưng địch lại nhận được tín đêm đó có thổ phỉ tấn công nên đã đề phòng. Nội ứng của ta tê liệt. Các tổ xung phong nhập được đồn nhưng do bị lộ, địch chống trả quyết liệt. Cuộc chiến đấu diễn ra từ 1 đến 2 giờ sáng. Toàn đội chiến đấu dũng cảm. Tiêu biểu như đồng chí Quang Trung dùng súng và dao giết năm tên địch. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Sáu, 2009, 06:57:01 pm Trong chiến đấu, ta tiêu diệt được khoảng hai chục tên địch. Số còn lại vẫn dai dẳng chống cự. Thấy kéo dài cuộc chiến không lợi, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn trước khi trời sáng. Ta thu được 5 khẩu súng, một số đạn dược, bắt 3 tù binh. Tổn thất của ta là đội trưởng Xuân Trường bị hy sinh. “Trận tập kích đêm vào Đồng Mu tuy không thắng lợi theo như kế hoạch đã định, nhưng đã rèn luyện cho đội ta rất nhiều, và đã xây dựng cho đội một truyền thống anh dũng chiến đấu” 1.
Trận tiếp theo là phục kích địch trên đường Nà Ngần đi Benle. Trận này diễn ra toàn thắng, bắt sống được gần 1 trung đội địch, thu 16 súng và nhiều đạn dược, lương thực. Tù binh được tuyên truyền giải thích. Một số được thả về đồn Nà Ngần để gây hoang mang cho địch, chuẩn bị cho cuộc công đồn tiếp của ta. Trận công đồn Nà Ngần lần thứ hai diễn ra ngay đêm hôm đó thắng lợi. Ta thu được gần 30 súng và nhiều đạn dược, quân trang quân dụng. Các chiến thắng trên đạt được đúng vào lúc mà tin Nhật sắp sửa lật đổ Pháp vừa bí mật truyền tới. Toàn đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân phải sớm tiến xuống phía Nam để nhanh chóng mở đường liên lạc về xuôi. Như vậy, quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang cũng là quá trình hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng. Tại hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng, tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có ảnh hưởng quyết định đối với việc hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược đó. Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân thông qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, đồng thời giải quyết thành công một loạt vấn đề then chốt trong tư tưởng lý luận về khởi nghĩa vũ trang, về căn cứ địa, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và hình thức hoạt động của đội quân chính quy đầu tiên trong bước quá độ từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng trong cả nước ngày càng sôi nổi, đấu tranh vũ trang từng bước phát triển đưa đến một thời kỳ mới - thời kỳ cao trào cách mạng, tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Chương IV ĐẤU TRANH VŨ TRANG TRONG CAO TRÀO TIỀN KHỞI NGHĨA (9.3-13.8-1945) Sự kiện Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương ngày 9-3-1945, xét trên nhiều nhiều cạnh là mốc quan trọng. Từ đây cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn mà Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã dự liệu hình dung và chờ đợi từ trước. Đọc lại các văn kiện của Đảng từ sau Hội nghị Trung ương VI, càng thấy rõ rằng, sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945 chỉ là “cái ngẫu nhiên” nhưng là “cái ngẫu nhiên” biểu hiện “cái tất yếu của lịch sử” . Đó là Đồng minh nhất định thắng, trục phát xít nhất định bại, ở Đông Dương, Nhật nhất định phải quật ngã Pháp để trừ hậu hoạ. Nhận rõ tất yếu lịch sử này, tháng 10-1944, Hồ Chí Minh trong Thư gửi đồng bào toàn quốc đã viết: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp ta phải làm nhanh!” 2. Còn trước đó, ngày 28-9-1944, trong bài “Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ’ đăng trên báo Cờ giải phóng, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Sự hoà hoãn này (hoà hoãn giữa Nhật và Pháp ở Đông Dương O.V.T) có khác chi một cái nhọt bọc, chứa chất bên trong biết bao nhiêu vi trùng và máu mủ, chỉ chờ dịp chín mõm là vỡ tung ra” 3. _____________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 178. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.505-506. 3. Ngọn cờ giải phóng (lời tựa), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1955, tr. 45. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:32:50 pm Rõ ràng, ngày Nhật đảo chính Pháp chỉ là cái ngẫu nhiên biểu hiện cái tất yếu lịch sử mà Đảng ta đã dự lường từ trước. Nhưng điều quan trọng hơn lại là ở chỗ: khi đã nhìn thấy xu thế phát triển của tình hình, những người cộng sản Việt Nam không chỉ chờ thời cơ tới mà đã chủ động tạo ra thời cơ cũng như chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng hành động chớp lấy thời cơ cách mạng.
Công việc chuẩn bị đó được khẩn trương xúc tiến từ sau Hội nghị Trung ương VI, cụ thể là từ năm 1940 đến đầu năm 1945. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta đã: - Xây dựng và phát triển được Mặt trận dân tộc thững nhất - Mặt trận Việt Minh, trên khắp toàn quốc từ Bắc chí Nam. - Xây dựng và phát triển được lực lượng vũ trang cách mạng với phương châm “Từ nhân dân mà ra...”, lấy Mặt trận Việt Minh làm nền tảng, lấy tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh làm ngọn đuốc soi đường. I- NHẬT ĐẢO CHÍNH PHÁP Âm mưu hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương đã được phát xít Nhật toan tính từ lâu. Sự tăng cường về mặt quân sự của Nhật qua từng năm (từ 1940 đến tháng 3-1945) tại Việt Nam đã lộ rõ mưu đồ đó. Đến ngày 9-3-1945 đảo chính đã nổ ra. Diễn biến của cuộc đảo chính Đảo chính diễn ra vào 8 giờ 30 tối ngày 9-3-1945. Theo giờ Tôkyô là 10 giờ 30. Chiều 9-3, đại sứ Nhật Shunichi Matsumoto và tổng lãnh sự Kono đã triệu toàn quyền Đờ Cu vào Sài Gòn để bàn bạc. (Cũng có ý kiến cho rằng, về chiến thuật, Nhật điều Đờ Cu vào đây vì lực lượng Pháp ở Bắc mạnh nhất Đông Dương. Vào đây Nhật dễ tóm bắt Đờ Cu hơn). Trong cuộc hội đàm, Nhật đòi Pháp phải gia tăng đóng góp vào “Quỹ chiến tranh” của Nhật, giảm bớt các biện pháp hạn chế việc thu mua thóc gạo của Nhật và đảm bảo sẽ không huỷ bỏ thoả hiệp Liên minh phòng thủ Pháp - Nhật ở Đông Dương. Đờ Cu lảng tránh, nói là phải có thời gian trao đổi với Chính phủ Pháp. 6 giờ tối 9-3, Nhật gửi tối hậu thư yêu cầu: Pháp phải cùng Nhật phòng thủ Đông Dương trong trường hợp có cuộc xâm lược của Anh, Mỹ; tất cả các lực lượng quân sự, cảnh sát của Pháp phải đặt dưới quyền chỉ huy và kiểm soát của quân đội Nhật; Pháp phải giao cho Nhật tất cả các hệ thống giao thông, liên lạc, vận tải, hệ thống ngân hàng và các cơ quan hành chính. Tối hậu thư phải được trả lời trong vòng 2 giờ. Đúng 8 giờ 30 tối, phía Nhật nhận được công hàm của Đờ Cu cho biết là còn cần nhiều thời gian nữa để “trao đổi ý kiến”. Lập tức Matsumoto ra lệnh cho quân đội nắm quyền, đặt Đờ Cu dưới sự “canh giữ bảo trợ” của Nhật. Cương vị toàn quyền bị truất và tướng Yuitsu Tsuchihashi lên thay. Sài Gòn rơi vào tay quân đội Nhật. Ở Hà Nội, tướng Ay mé biết Nhật tấn công, đã ban bố tình trạng báo động và ra lệnh cho quân lính tự vệ. Y rời khỏi Hà Nội để đến hành dinh dã chiến. Nhưng y đã bị bắt làm tù binh ngay từ giai đoạn đầu của cuộc tấn công. Nhật buộc Ay mé phải ra lệnh cho quân lính thôi kháng cự. Y đã từ chối điều này cho đến quá nửa đêm 9- 3, nhưng cuối cùng cũng chịu đầu hàng. Còn tướng Moradant, trải qua một đêm trăn trở cuối cùng cũng phải đầu hàng. Cho tới chiều 10- 3, hầu hết quân đội Pháp tập trung ở Hà Nội đều đã đầu hàng. Riêng tướng Gabriel Sabattier, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ và là thủ lĩnh của phong trào kháng chiến của Pháp ở miền Bắc, sớm nhận được tin tình báo về việc Nhật đảo chính đã thoát ra khỏi Hà Nội. Hành động này của Sabattier làm cho tướng Marcel Alessandri cảnh giác, đem khoảng 2.000 quân vượt sông Đà, sông Hồng trốn lên Tây Bắc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:34:54 pm Riêng ở Lạng Sơn, Nhật đã đánh lừa, mời các sĩ quan cao cấp Pháp tham dự buổi chiêu đãi rồi bắt làm tù binh. Mặc dù các sĩ quan cao cấp bị mắc lừa và bị bắt nhưng các đồn binh Pháp vẫn chống cự, sau 24 tiếng đồn mới bị thất thủ. Tướng Lemonnier, một số viên chỉ huy cùng quân đội sống sót đều bị chặt đầu. Theo A.Patti thì: ở đồn Lạng Sơn khi ấy có khoảng 12.000 quân Pháp đã quyết chiến suốt hai ngày. Nhưng do bị áp đảo về số lượng, thiếu nước, thiếu đạn dược, chỉ vài trăm người được sống sót đã đầu hàng Sư đoàn 37 của Nhật còn tất cả đều bị tàn sát 1.
Ở Huế, quân Pháp thuộc trung đoàn 10 RIC đóng ở Hoàng thành cầm cự được đến nửa đêm 10-3, rồi buộc phải đầu hàng. Suốt miền Trung Kỳ và toàn bộ Nam Kỳ phía Pháp chỉ có vài vụ chống cự nhỏ hoặc chạy thoát, còn toàn bộ bị bắt làm tù binh. Sabattier (kẻ chủ mưu đàn áp, khủng bố căn cứ địa Việt Bắc của ta tháng 1-1945, kẻ đã ra lệnh cho một tiểu đoàn lính Âu Phi từ Lạng Sơn về đánh Thái Nguyên ngày 12-3 nhưng chưa kịp) đã rời khỏi Hà Nội ngày 8-3, bỏ lại cả quân lính, rút chạy bằng đường bộ theo dọc sông Đà lên Lai Châu chỉ mang theo ba sĩ quan, một phiên dịch, một lái xe và hai lính Thái dẫn đường. Đến Lai Châu ngày 23-3, y điện báo được cho Chính phủ Pháp là còn sống, thì đến ngày 29-3, khi đến được Điện Biên Phủ hội quân cùng Alecssandri, y đã gặp hai đại diện của Chinh phủ Pháp do máy bay Anh thả dù xuống là Francois de Langlade và đại tá Dewavrin (còn gọi là Passy) - người chỉ huy hành quân của cơ quan tình báo của Đờ Gôn DGER. Hai phái viên này đã báo cho Sabattier biết là y được Pháp bổ nhiệm làm tổng đại diện và tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương thay thế cho cả Mordant và Ay mé. Gần một tuần lễ sau đó Sabattier đã đưa quân sang Lào, thiết lập Đại bản doanh ở Phong Sa Lý. Rồi vào đầu tháng 5, mặc dầu nhận được chỉ thị nghiêm ngặt của Đờ Gôn là phải ở lại Đông Dương, nhưng cả Sabattier và Alecssandri đều rút chạy sang Trung Quốc. Ở Cao Bằng, vì trong vùng căn cứ địa của Việt Minh, Nhật không bắt được ngay bọn Pháp. Sau ngày 9-3, quân Pháp ở Cao Bằng tập hợp lại dưới quyền chỉ huy của đại tá Reul, tư lệnh đạo quan binh thứ hai. Số này phải nhờ Việt Minh giúp đỡ mới thoát được sang Trung Quốc. Kết cục cuộc đảo chính từ phía Pháp, chỉ riêng lính người âu, Pháp bị mất 2.110 tên, trong đó, 1.260 bị giết. Riêng ở Hà Nội 87 người âu và khoảng 100 người Đông Dương bị giết ở Lạng Sơn tướng Lemonnier và một số sĩ quan bị giết. Còn ở các nơi khác, vì không diễn ra sự chống cự của Pháp nên số bị giết không đáng kể. Nhưng thảm hại nhất cho phía Pháp là trong số 10 viên tướng, chỉ có 3 thoát khỏi tay Nhật, không bị bắt. Đó là Sabattier, Alecssandri và Turquin (người đứng đầu ngành y). Còn lại 7 tướng bị bắt là: Decoux, Berenger, Mordant, Aymé, Delsuc, Massimi và Froissartk - Broissia. Cuộc đảo chính diễn ra nhanh gọn. Pháp hoàn toàn thất bại. Cách mạng Việt Nam thì hết sức chủ động, nhanh chóng nắm bắt thời cơ để hành động. Một trong những nguyên nhân mà Nhật - Pháp dùng dằng chưa “cắn xé” lẫn nhau là chúng đều “gờm cách mạng Đông Dương” như đồng chí Trường Chinh từ cuối 1944 đã phân tích. Nhưng các lực lượng vũ trang Việt Nam, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng đã không chủ quan, vội vã, không manh động tiến công ngay Nhật hay Pháp mà là “Phải lợi dụng đến cùng cuộc khủng hoảng chính trị đang tiếp diễn đặng phát động một cao trào” 2. Với Nhật, ta chủ trương không manh động tiến công chúng lúc này, mà phải diệt chúng bằng cả một cao trào cách mạng. Với Pháp, phải phân hoá, tranh thủ binh vận, thu nhận tàn binh Pháp bại trận khi chúng đầu hàng, thu vũ khí (nhất là với bọn lính khố đỏ khố xanh). Mặt khác, ta phải nhân danh Việt Minh đứng trong hàng ngũ Đồng minh quốc tế chống phát xít mà giúp chúng khi cần thiết như lời hướng dẫn của báo Độc lập số 208 ngày 13- 3- 1945 đã nêu rõ: ________________________ 1. Archimedes L.A.Patti: Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 79. 1. Ngọn cờ giải phóng, Sđd, tr. 71. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:37:16 pm “Đối với những người Pháp đã chiến đấu chống Nhật và bị Nhật đàn áp, thì chúng ta sẽ bày tỏ thiện chí, cảm tình và bắt tay họ, nếu họ muốn đánh Nhật”.
Thực tế đã diễn ra như sau: Ở Cao Bằng: Như trên đã nói, đại tá Reul mặc dầu trước kia y đã cùng viên giám binh Pierre De Pontiche tiến hành nhiều chiến dịch đàn áp Việt Minh nhưng nay vẫn được Việt Minh cứu giúp. Khi chạy trốn vào vùng Sóc Giang - căn cứ địa Việt Minh để tránh cuộc tiến công của Nhật, Reul đã gặp đại diện Việt Minh. Hai bên đã trao đổi về kế hoạch hợp tác chống Nhật: Việt Minh cam kết cung cấp cho Reul những tin tức tình báo, cho người hướng dẫn và những nhu yếu phẩm cần thiết; Reul hứa chuyển giao cho Việt Minh những vũ khí của mình càng nhanh càng tốt, nhất là khi nhận được vũ khí của Mỹ thả dù xuống cho quân lính của họ, và thông báo cho nhà cầm quyền Pháp những chiến công của Việt Minh trong cuộc chiến đấu chống Nhật. . . Ở Bắc Cạn: Giải phóng quân chủ động mở đường cho tàn binh Pháp tránh được Nhật và hợp tác với Việt Minh chống Nhật nếu họ muốn. Cụ thể như ở Ngân Sơn, được tin tên chỉ huy Pháp nấn ná không chịu rút quân khỏi đồn, muốn đợi Nhật đến, Giải phóng quân đã chủ động viết thư kêu gọi: “Nếu muốn cùng hợp tác với Việt Minh để đánh Nhật thì phải kéo quân vào ngay khu du kích, sẽ được giúp đỡ. Trái lại, nếu ở lại để nộp khí giới cho Nhật thì Việt Minh sẽ đánh lấy đồn” 1. Cuối cùng, tên chỉ huy đồn đưa theo toàn bộ binh sĩ tới nơi giải phóng quân quy định. Binh lính nộp vũ khí xin về quê quán. Vợ chồng tên đồn trưởng Pháp ngỏ ý muốn sang Trung Quốc. Giải phóng quân đã cấp giấy cho đi về phía biên giới. Ở Chợ Rã, Giải phóng quân gửi thông tri như trên cho đồn trưởng Pháp và tên tri châu đang lẩn trốn. Viên đồn trưởng xin nộp lại bốn trung đội lính khố xanh cùng toàn bộ vũ khí. Tên tri châu phản động định chạy trốn báo tin cho Nhật, đã bị quân cách mạng đuổi bắt, tuyên án xử bắn trước nhân dân. Quân đội Pháp ở Bắc Cạn lúc đó còn khoảng trên dưới năm trung đội, do sĩ quan Pháp, trong đó có một tên quan năm chỉ huy. Giải phóng quân đã viết thư cho bọn chỉ huy khuyên họ hợp tác với Việt Minh đánh Nhật với các điều kiện: - Phải tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. - Binh lính của họ không được quấy nhiễu dân. - Cho họ được mua lương thực của nhân dân. Nói tới hình ảnh bọn tàn quân Pháp sau cuộc đảo chính này, trong hồi ký Tù nhân dân mà ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi lại: “Bọn Pháp, mặc dầu có hàng vạn quân trong tay, nhưng khi bị Nhật lật, chỉ làm có hai công việc: chạy trốn và đầu hàng. Đại bộ phận quân Pháp ở Cao Bằng rút chạy sang Trung Hoa, một bộ phận dồn về Bắc Cạn. Bọn tàn quân ở Lạng Sơn kéo về Bắc Cạn, hợp nhất với bọn ở đây rồi chạy cả về Pắc Nậm, qua Nậm Quét sang Trung Hoa. Binh lính của chúng ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn Tây đều rút lên Tuyên Quang, men theo đường rừng dọc sông Gậm, đến Nậm Quét hay tới Hà Giang để vượt biên giới. Chúng đi hốt hoảng, vội vã quên cả dặn dò những tên tay chân tổng đốc, tuần phủ đón chúng ở dọc đường. Nhưng chúng cũng không quên dùng hơi ngạt giết chết những người cách mạng bị giam giữ ở Cao Bằng, Yên Bái... Hầu hết binh lính người Việt bị dồn đi theo đều bỏ rơi chúng, đem vũ khí nộp cho bộ đội cách mạng rồi trở về làng. Một số xin gia nhập hàng ngũ quân giải phóng để kháng Nhật” 2. Riêng với các hàng binh Pháp sau cuộc đảo chính ngày 9-3-1945, chúng ta đã có chính sách nhân đạo giúp đỡ họ bằng mọi cách. Điều đó khiến cho chính A.Patti sau này cũng phải ghi nhận: “Người Việt đã giúp đỡ cho “các ông chủ cũ” của họ trốn tránh trước sự truy lùng của kẻ thù, chỉ dẫn cho họ vượt rừng rậm để sang Trung Quốc và có khi còn cho họ ẩn nấp ngay trong nhà mình một thời gian. Rõ ràng đây không phải do “lòng trung thành” hay vì sợ sệt mà chính là trên cơ sở nhận thức được rằng họ đang bước vào một thời đại mới... Họ là công dân một nước Việt Nam tự do, độc lập . . .” 3. _____________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr.192. 2. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 194. 3. L.A.Patti: Tại sao Việt Nam, Sđd, tr.81. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:42:20 pm Về sự sa sút nghiêm trọng của binh lính Pháp xin tham khảo thêm nhận định của chính người Pháp Lon Pignon, cố vấn hàng đầu của Bộ Thuộc Pháp về Đông Dương, người được bổ nhiệm đứng đầu bộ máy cai trị dân sự của tướng Sabattier, khi Sabattier vẫn còn nắm giữ một vùng lãnh thổ ở Việt Nam.
Giữa tháng 5- 1945, trong chuyến đi công cán ở Vân Nam, Pignon đã có cơ hội để phỏng vấn nhiều người trong số 2.500 người châu Âu và 3.200 binh lính bản xứ đã chạy sang Trung Quốc. Sau đó, Pignon viết một bản báo cáo về Calcutta và Paris trong đó có phần “luận tội” như sau: Tôi được phái đến đây với lòng tin rằng tất cả những cố gắng của chúng ta, phù hợp với ý chí của chính phủ, đều nhằm mang lại khả năng chiến đấu của những đơn vị của chúng ta tại chiến trường Trung Quốc. Nay tôi gần như tin điều ngược lại. Quân đội của chúng ta là một con số thụ động chứ không phải là con số chủ động. Những đạo quân này đã làm hại chúng ta chứ không phải phục vụ cho chúng ta. Sự mất tín nhiệm đã bao trùm lên đạo quân này, chỉ có một khẩu lệnh là đã kích thích chúng: “Chạy trốn thật nhanh sang Trung Quốc’t, bỏ lại vũ khí và đạn dược, dâng nộp thành trì mà không kháng cự trước con mắt của người Trung Quốc và những người cách mạng An Nam... II. CHỈ THỊ LỊCH SỬ “NHẬT PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA” Tin Nhật đảo chính Pháp nhanh chóng được Trung ương Đảng nắm bắt như nắm bắt một thời cơ cách mạng bấy lâu luôn trông đợi vì biết rằng trước sau tất sẽ phải nổ ra. Vì vậy, ngay trong đêm 9-3 giữa lúc Nhật nổ súng đánh Pháp, tại làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đồng chí Trường Chinh đã chủ trì Hội nghị mở rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng để thảo luận Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị này chính thức được ban hành ngày 12-3-1945. Trước hết, Chỉ thị xác định rõ: “Mặc dầu tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương hiện nay chưa thực sự chín muồi”. ‘triêng bọn thống trị Nhật, ta thấy chúng chưa chia rẽ , hoang mang, do dự đến cực điểm” 1. Về kẻ thù chính của cách mạng, bản Chỉ thị cho rằng: “Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương” 2. Thứ hai, Chỉ thị nêu rõ những khẩu hiệu hành động sau ngày 9-3. Do thực dân Pháp đã bị lật đổ, nên khẩu hiệu đấu tranh từ nay sẽ là: “Đem khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật" thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật, Pháp!”, ...”chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn Nhật” . Nhằm vạch rõ luận điệu tuyên truyền của Nhật và bọn tay sai của chúng “Quân Nhật vào Đông Dương để giải phóng các dân tộc Đông Dương” 3. Chỉ thị chủ trương: “Chuyển trung tâm tuyên truyền vào hai vấn đề: 1- Giặc Nhật không giải phóng cho ta; trái lại, tăng gia áp bức bóc lột ta. 2- Giặc Nhật không thể củng cố chính quyền ở Đông Dương và nhất định chúng sẽ chết” 4. Còn về hành động, phải: “Phát động cao trào “Kháng Nhật cứu nước” mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy có thể bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị, phá phách, cho đến những hình thức cao, như biểu tình thị uy vũ trang, du kích. Sẵn sàng chuyển qua hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện (ví dụ khi quân Đồng minh bám chắc và tiến mạnh trên đất ta). _____________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 365, 366. 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 367. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:48:39 pm Thứ ba, Chỉ thị nêu phương hướng tổ chức và hành động của cách mạng Đông Dương mà riêng về quân sự thì:
- Tổ chức thêm nhiều bộ đội du kích và tiểu tổ du kích. - Thành lập những căn cứ địa mới. - Thống nhất các chiến khu và thành lập “Việt Nam giải phóng quân”. - Tổ chức Uỷ ban quân sự cách mạng (tức Uỷ ban khởi nghĩa) để thống nhất chỉ huy du kích các chiến khu. - Huấn luyện quân sự cho cán bộ các cấp và đội trưởng các đội tự vệ Về hoạt động quân sự, Chỉ thị nêu rõ: phải “Chuyển qua những hình thức tranh đấu cao hơn: tổng biểu tình tuần hành, bãi công chính trị, mít tinh công khai, bãi khoá, bãi thị, bất hợp tác với Nhật về mọi phương diện; chống thu thóc không nộp thuế. Huy động đội tự vệ tước võ khí của binh lính bại trận đào ngũ, dao động mất tinh thần. Phát động du kích ở những nơi có địa hình, địa thế” 1. Mặc dầu tiến lên cao trào, nhưng ‘du kích chiến” vẫn là hình thức đấu tranh chủ yếu: “ … ngay bây giờ phát động du kích, chiếm căn cứ địa, duy trì và mở rộng chiến tranh du kích, phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật Bản ra khỏi nước, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực” 2. Thứ tư: Nét đặc biệt sáng tạo trong chỉ đạo là nhấn mạnh đến vai trò tích cực chủ động, chông ỷ lại, chờ đợi. “Song dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho Tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. . . nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940, và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi” 3. Như vậy: Cách mạng Việt Nam khẳng định: Đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam từ sau ngày 9-3-1945 là phát xít quân phiệt Nhật và bè lũ tay sai”. III. ĐẤU TRANH VŨ TRANG CHỐNG PHÁT XÍT NHẬT VÀ TAY SAI Cuộc đấu tranh vũ trang chống phát xít Nhật và tay sai từ sau ngày 9-3 -1945 đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám chia làm hai giai đoạn: - Từ sau 9-3 đến giữa tháng 5-1945. Đây là thời kỳ Nhật còn đang củng cố bộ máy thống trị và chính quyền tay sai của chúng. Quân cách mạng đã tranh thủ tiến công chính quyền địch ở các địa phương, trong khi thủ Pháp mới bị đánh bại mà chủ Nhật lại chưa với tay tới kịp. - Từ giữa tháng 5-1945 đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Lúc này Nhật đã tương đối ổn định bộ máy quyền lực, tăng cường tấn công các căn cứ địa của Việt Minh, gây dựng uy thế cho chính quyền tay sai. Hoạt động quân sự cách mạng lúc này là chống Nhật càn quét, tiếp tục mở rộng các căn cứ địa, đánh mạnh vào chính quyền tay sai Nhật ở các địa phương, hỗ trợ cho một phong trào quần chúng mạnh mẽ chống thu thóc, thu thuế. . . đẩy mạnh phong trào đấu tranh toàn dân, toàn diện để tiến tới Tổng khởi nghĩa. Cách mạng là ngày hội của quần chúng. Chưa bao giờ câu nói ấy trở nên sinh động như những ngày cao trào Tổng khởi nghĩa từ 9-3-1945 đến những ngày nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Tám. Trong thời gian “một ngày bằng hai mươi năm” của cao trào tiền khởi nghĩa này, do đã chớp được thời cơ và nhìn thấy thắng lợi trước mắt, những người cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo cao trào sát sao từng bước về chính trị, quân sự, kinh tế để phục vụ cho Tổng khởi nghĩa nhanh chóng đi tới thắng lợi. ______________________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 370, 372. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 373. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:53:08 pm 1. Các văn kiện chỉ đạo kịp thời phong trào kháng chiến cứu nước của Đảng và Mặt trận Việt Minh
a) Hịch "Kháng Nhật cứu nước”. Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, “hịch” là một thể loại mà nhà nước ban bố mỗi khi cần hiệu triệu toàn dân, toàn quân đứng lên đấu tranh vì mục đích thiêng liêng đánh giặc cứu nước. Tiếp theo văn kiện sôi động “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ban hành ngày 12-3-1945, ngay sau đó, ngày 15-3-1945, hịch “Kháng Nhật cứu nước” đã được ban hành. Đây chăng những là văn kiện thổi thêm một luồng gió mới vào cao trào tiền khởi nghĩa mà còn là văn kiện một lần nữa chỉ ra cho toàn dân Việt Nam thấy rõ kẻ thù trước mắt và số một của nhân dân Việt Nam lúc ấy. Hịch “Kháng Nhật cứu nước” được in ra với một khối lượng rất lớn. Chỉ riêng ở Bắc Bộ, 150.000 tờ đã được chuyển nhanh tới từng cơ sở xã, thôn, đẩy cao trào tiền khởi nghĩa lên một khí thế mới, thể hiện trên mọi mặt của đời sống xã hội. Trước hết, hịch khẳng định đối tương của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật và bọn Việt gian thân Nhật. Hỡi quốc dân đồng bào! “Nhật, Pháp bắn nhau chí tử. Quyền thống trị của Pháp tan rã. Giặc Nhật cho bọn Việt gian thân Nhật “ Đại Việt quốc gia liên minh” và “ Việt Nam phục quốc đồng minh ‘ lập chính phủ bù nhìn để hại nước, lừa dân” 1. Vạch rõ chiêu bài “Độc lập giả hiệu’ mà phát xít Nhật trao cho bọn bù nhìn, hịch “Kháng Nhật cứu nước” nêu rõ. “Giặc Nhật truất quyền giặc Pháp để chiếm hẳn nước ta làm thuộc địa của chúng... Chúng không giải phóng cho dân tộc ta đâu . . . Giặc Nhật là kẻ thù số một của nhân dân châu á và của cả loài người... Cách mạng Nhật sẽ nổi dậy, hất xác bọn phát xít quân phiệt Nhật xuống hố. . .” 2. Bản “ hịch” kêu gọi hành động: đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, mà vũ trang phải được đẩy mạnh hơn: Hỡi các giới đồng bào! “Hãy biểu tình, thị oai, bãi công, bãi thị, bãi khoá, làm cho giặc Nhật bối rối thêm. Hãy phá các đường giao thông, vận tải, dây thép, kho tàng của Nhật. Hãy táo bạo đánh úp các đồn lẻ, dành chẹn các đội quân tuần tiễu của Nhật, đừng để cho chúng xông xáo hoành hành” 3. Tiến lên! Xông tới! . . . Đánh đuổi giặc Nhật!” 4. b) Lời kêu gọi “Chống nạn chết đói” “Lời kêu gọi” nêu khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” thể hiện nghệ thuật phát động quần chúng của Mặt trận Việt Minh nhằm chống âm mưu của kẻ thù muốn giết hại nhân dân Việt Nam - một âm mưu cực kỳ thâm độc và tàn bạo hòng hạn chế sức đấu tranh của nhân dân ta đang dâng cao khắp nơi. Như tài liệu mang tên “Bằng chứng và tư liệu Pháp có liên quan tới chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam” đã thú nhận, thực dân Pháp rồi phát xít Nhật đã không hề che đậy mục đích chính trị của chúng. Tài liệu này nói rõ: ________________________ 1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 532, 533-534, 234, 534. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 08:58:07 pm “Làm chết một bộ phận quan trọng trong dân chúng và nhấn chìm con số còn lại trong nạn đói: đó là cái dây phanh hữu hiệu để hãm bớt nhiệt tình yêu nước mà thống sứ Bắc Kỳ Sove Chauvet đã tìm thấy” 1.
Riêng đối với lực lượng vũ trang Việt Nam, bọn thống trị Nhật - Pháp thống nhất với nhau rằng, “muốn đánh thắng du kích Việt Minh thì phải đánh “ vào cái dạ dày” của chúng là hữu hiệu hơn cả”. Trước âm mưu của kẻ thù như thế, lời kêu gọi “ Chống nạn chết đói” của Việt Minh đã nêu rõ: “Giặc Nhật thu hết thóc gạo của dàn ta, làm cho hàng triệu đồng bào phải chết đói... Muốn khỏi đói, muốn khỏi chết, . . . phải rủ nhau kéo đến phủ, huyện, tỉnh đường, đốc lý đòi phát gạo, chẹn các xe lương và phá những kho thóc của giặc Nhật mà ăn” 2. Đồng thời kêu gọi thanh niên trai tráng gia nhập các lực lượng vũ trang cứu nước: “Muốn không còn nạn đói nữa, tất cả hãy tìm vào các hội cứu quốc của Việt Minh, sửa soạn gấp rút để... đuổi hẳn giặc Nhật ra khỏi bờ cõi” 3. Từ sau 9-3, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân do gắn liền được với nhiệm vụ “Phá kho thóc cứu đói” được phát triển rất mạnh mẽ. Hơn nữa nhân dân, nhất là thanh niên trai tráng được cứu đói lại hăng hái tham gia giết giặc cứu nước khiến phong trào đấu tranh vũ trang ngày càng lên cao. c) Lời kêu gọi “Đồng tiền cứu nước” 4 Tháng 8-1944, Mặt trận Việt Minh đã ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi quân thù chung”. Trước biến chuyển của tình hình, ngày 12-4-1945, Mặt trận Việt Minh lại ra lời kêu gọi: “gồng tiền cứu nước” nhằm có thêm điều kiện cho việc đẩy mạnh đấu tranh vũ trang: “làm thế nào để có thể nuôi sống được bao nhiêu chiến sĩ của dân ta đương tuốt gươm lắp đạn xông pha trên chiến địa, quyết sống thác với quân thù? Làm thế nào để có thể mua, sắm, chế tạo được những võ khí giết giặc bao nhiêu cũng thiếu và quyết định cuộc thắng bại của dân ta? “Đồng tiền cứu nước” sẽ quay lồng bộ máy cách mạng lên một nhịp mạnh mẽ tột bực để nghiến chết quân thù và mang lại độc lập, tự do có đất nước?”. Lời kêu gọi “Đồng tiền cứu nước” đánh dấu bước phát triển mới của đấu tranh vũ trang. Nó chứng tỏ rằng, đến thời điểm này, ngoài súng đạn ra, cao trào tiền khởi nghĩa đã nhận rõ nhu cầu về tiền bạc để lo trang bị mọi mặt như quân nhu, lương thực. . . cho các lực lượng vũ trang thoát ly như Giải phóng quân, Cứu quốc quân, bộ đội địa phương... sẵn sàng tiến tới tổng khởi nghĩa. 2. Các cuộc nổi dậy phá nhà tù, vượt trại giam... Tin Nhật đảo chính Pháp đã nhanh chóng lọt qua song sắt các nhà tù, đến với hàng nghìn chiến sĩ đang bị giam giữ tại đây thôi thúc họ tìm mọi cách phá gông xiềng, thoát ra ngoài đặng dấn thân vào cao trào đấu tranh cách mạng đang dâng cao. Nếu trước ngày 9-3 (theo báo Cứu quốc ngày 30-11-1944, số cán bộ thoát tù mới kể hàng chục. Các cuộc vượt ngục ở nhà tù Sơn La, nhà tù Chợ Chu năm 1943 được năm cán bộ cách mạng; nhà tù Hoà Bình, nhà tù Sơn La năm 1944 được tám cán bộ cách mạng, (trong đó có các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Song Hào, Tạ Xuân Thu...) thì từ sau 9-3-1945, số cán bộ thoát ra khỏi nhà tù đã lên tới hàng trăm. Đó là những cuộc tù nhân nổi dậy bở Ba Tư), vượt ngục sau khi khởi nghĩa không thành như ở Nghĩa Lộ, bí mật trốn khỏi nhà tù như ở Hoả Lò (Hà Nội), ở nhà tù Buôn Ma Thuộc, Hội An ... __________________________ 1. Temoignages ét documents ran Cai relatifs à la coloni sation francaise an Việt Nam (Bằng chứng và tư liệu Pháp có liên quan tới chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam), Hà Nội, 1949, tr. 1-15. 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 521-522, 522, 529. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 09:01:33 pm Các cuộc phá gông xiềng đó là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị công phu của các chiến sĩ cộng sản trong nhà lao đế quốc thực dân tổ chức các cuộc nổi dậy ở các nhà lao. Thế nhưng, kế hoạch đó bị bại lộ, kẻ địch thẳng tay đàn áp. Mặc dù vậy, đã có nhiều chiến sĩ mưu trí và dũng cảm thoát khỏi nhà tù. Nét điển hình ở đây là do binh vận tốt và do ảnh hưởng của thắng lợi bên ngoài, nhiều binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp đã giúp đỡ, che chở, (làm ngơ hoặc bắn chỉ thiên, bắn chệch) để các chiến sĩ vượt rào chạy trốn. Kết quả, nhiều chiến sĩ đã thoát hiểm, ra ngoài trở thành cán bộ cốt cán của phong trào như Trần Huy Liệu, Vương Thừa Vũ, Trần Đức Sắc . . . Riêng Vương Thừa Vũ trở thành cán bộ chỉ huy trong quân đội. . .
Tuy vậy trong những cuộc vượt ngục đó, ta cũng đã phải chịu những tổn thất nhiều khi rất lớn. ở Nghĩa Lộ cũng vậy, ngoài Phạm Quang Thẩm bị bắn chết khi chạy trốn, còn các chiến sĩ khác như Đinh Nhu (tác giả bài “Cùng nhau đi Hồng Binh...”), Nguyễn Văn Bảy, Vy, Phùng, Hương, Kim, Hiếu, v.v. đã bị Pháp bắt đem ra sân đóng cọc trói và bắn ngay tại chỗ 1. Ngoài việc các chiến sĩ trong nhà tù tổ chức vượt ngục, thời kỳ này còn có những cuộc diệt đồn, giải thoát tù nhân như trận đánh đồn Tam Đảo 16-7-1945, hay do áp lực của ta, Chính phủ Trần Trọng Kim đã phải vận động thống đốc Nhật phóng thích, như ở trại tập trung Bà Rá Nam Bộ. . . 3. Giải phóng quân, Cứu quốc quân đánh Nhật và tay sai, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc. Ngay trong ngày Nhật đảo chính Pháp 9-3, Liên tỉnh uỷ Cao - Bắn - Lạng đã ra Nghị quyết gồm các điểm: a. Đánh đổ chế độ thống trị của Pháp ở hương thôn rồi tuỳ nơi, sẽ thành lập chính quyền nhân dân từ cấp xã đến cấp châu, huyện, phủ, hoặc đến cấp tỉnh. b. Phân phối cán bộ của Đội tuyên truyền về cùng với đội vũ trang địa phương tổ chức thêm những đơn vị giải phóng quân mới, chuẩn bị trực tiếp đánh Nhật. c. Phá hoại đường sá, cầu cống, dân chúng tích cực làm vườn không, nhà trống khắp nơi. d. Đối với quân Pháp bị Nhật đánh đuổi, chủ trương không khiêu chiến với họ trong lúc họ rút lui, mà tích cực kêu gọi họ cùng nhau thành lập mặt trận chống Nhật. Giải phóng quân từ Cao Bằng được lệnh tiến về nhiều hướng: - Đồng chí Thiết Hùng chỉ huy một đờn vị tiến sang chiến đấu tại phía Bảo Lạc, sau đó tiến về mạn Thất Khê, Bình Gia, cùng các đồng chí Đàm Ninh Viễn, Hoàng Minh Thảo tổ chức tiến công địch. - Đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy một đơn vị tiến về phía biên giới Việt - Trung, phía Sóc Giang. Sau khi giao nhiệm vụ chiến đấu cho đồng chí Bằng Giang, đồng chí Lê Quảng Ba tiếp tục tiến sang phía Bắc Quang. Trong không khí sôi động sau ngày 9-3-1945 này, thành tích đánh Nhật và tay sai, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc của Giải phóng quân và Cứu quốc quân của Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng đã làm nức lòng quân dân ở khắp các vùng trong eả nước. Các lực lượng vũ trang tại Cao Bằng đã hạ một loạt đồn, trại, thu nhiều vũ khí, đạn dược của bọn lính dõng và các toán quân Pháp trên đường rút chạy trước sự truy lùng của quân Nhật, tiến về biên giới Việt - Trung. Tại vùng Cao - Bắc - Lạng này, đã nổi lên những sự kiện như sau: - Ở Trà Lĩnh, Mã Phục, một số sĩ quan Pháp chẳng những không hưởng ứng lời kêu gọi hợp tác chống Nhật của Việt Minh mà còn quay súng chống lại, buộc ta phải chặn đánh, thu vũ khí. - Ở Nguyên Bình, tên chỉ huy đồn là trung uý Bécniê từ Cao Bằng về, được tin Nhật chiếm mất đồn vội kéo quân chạy xuyên rừng về đồn Tắp Ná do chuẩn uý Pháp Đulơri chỉ huy. Hai tên đồn trưởng này tập trung được hơn 200 quân. Chúng thoả thuận cùng ta đánh Nhật, nhưng hơn 200 binh lính Việt Nam đã bỏ ngũ tình nguyện về với cách mạng. - ở Đồng Mu thuộc châu Bảo Lạc, tàn quân Pháp ở nhiều nơi chạy tới, hứa hợp tác với ta, nhờ ta giúp lương thực, nhưng vừa nghe tin phi cơ Nhật truy kích chúng đã vội vã chạy lên biên giới. Quân ta, một mặt phục kích giặc Nhật, một mặt chặn đánh tàn quân Pháp chạy trốn, thu 12 súng máy, 6 súng lục, trên 200 súng trường và 82 lừa, ngựa 2. ___________________________ 1. Xem: Trần Huy Liệu: Nghĩa Lộ vượt ngục (hồi ký), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 304-305. 2. Theo Hoàng Giang Khánh, Lê Hồng, Hoàng Ngọc La: Căn cứ địa Việt Bắc, Hà Nội, 1976, tr.100. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 11:53:04 pm Trong Hồi ký Từ nhân dân mà ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi lại đôi nét khái quát tình hình lúc đó:
“Phong trào cách mạng Cao Bằng như nước vỡ bờ, tràn lan nhanh chóng khắp nơi. Không đầy một tháng sau khi Nhật đảo chính, toàn bộ các châu Hoà An, Nguyên Bình, Hà Quảng, tại Thạch An và một phần các châu Bảo Lạc, Quảng Uyên, Trùng Khánh . . . chính quyền đã về tay nhân dân. . . Thanh niên, đặc biệt là những người ở trong các đội tự vệ chiến đấu đã nô nức tòng quân. Với những vũ khí đoạt được của địch, các châu tại Cao Bằng đã dần dần thành lập trên 10 đại đội giải phóng quân. Anh Vũ Anh cùng một đơn vị tiến xuống phía Bắc Sơn, Đình Cả. Những đại đội giải phóng quân mới được tổ chức di chuyển về phía Nam sẵn sàng đợi lệnh” 1. Như vậy là phần lớn các châu ở Cao Bằng đã được giải phóng. Lực lượng vũ trang địa phương cũng phát triển. Ngày 8 và 9 tháng 4-1945, hai đại đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nữa được thành lập ở Võ Nuông (Hoà An) và sau đó ít lâu ba đại đội nữa lại ra đời ở Bó Rón (Hoà An). Trường Quân chính kháng Nhật cũng được tổ chức ở Lũng Chung, mở ba khoá liền, mỗi khoá khoảng 100 học viên. - Ở Hà Giang, tại khu căn cứ Đường Thượng, đội du kích đầu tiên được thành lập ở Quản Bạ gồm 11 người thuộc các dân tộc H’mông, Dao, Nùng... Du kích làm nòng cốt cho cuộc nổi dậy của nhân dân phá kho thóc, ngô, quấy rối, tiêu hao địch trên đường Hà Giang - Yên Minh. - Ở Bắc Cạn, sau khi giải phóng quân giải phóng Ngân Sơn, Chợ Rã, một mũi Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến về phối hợp với quần chúng cách mạng giải phóng Na Rì (ngày 25-3) rồi tiến về Chợ Đồn. Một đơn vị khác tiến về Lục Yên Châu, còn phần lớn lực lượng tiến về phía Chợ Đồn. Dọc đường, dừng chân ở bản Chi Án tước vũ khí lính dõng, thành lập Uỷ ban nhân dân lâm thời, rồi tiến về Chợ Đồn. Đến Chợ Đồn, Giải phóng quân nhận được chỉ thị của Liên tỉnh uỷ và về đến Chợ Chu thì gặp Cứu quốc quân - một cuộc gặp mặt lịch sử đã diễn ra trong chiến thắng. Tại phân khu B (Nguyễn Huệ) của chiến khu Hoàng Hoa Thám. Ngày 27-3, tại Chợ Đồn đã tổ chức một đội vũ trang phần lớn là người Dao đi tước vũ khí của lính dõng ở xã Nghĩa Tá, giành chính quyền xã, tiến sang bao vây đồn Tổng Quản nhưng địch đã bỏ chạy, giải phóng tiếp đồn Yên Thịnh. Ngày 30-3, Cứu quốc quân đã cùng Giải phóng quân chiếm châu lỵ Chợ Đồn. Như vậy, chỉ trong vòng 10 ngày từ 20 đến 30 tháng 3 - 1945, trừ huyện Bạch Thông và thị xã Bắc Cạn, toàn tỉnh Bắc Cạn đã về tay nhân dân. Ta thu được hơn 800 súng. - Ở Tuyên Quang, được tin Pháp chạy trốn từ Thái Nguyên lên, ngày 10-3, Cứu quốc quân đã phục kích ở Đèo Khế (giáp giới hai tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang). Quân Pháp tan rã, Cứu quốc quân thu được nhiều vũ khí 2. Ngay tối 10-3 Cứu quốc quân tước súng của lính dõng giành chính quyền ở xã Thanh La (Sơn Dương). Ngày 11-3 biểu tình tuần hành từ Thanh La đi tịch thu bằng sắc của hào lý, thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời xã, trừng trị Việt gian, thu vũ khí của tàn quân Pháp... Chiến đấu giải phóng Sơn Dương, Yên Bình. Ngày 13-3, Cứu quốc quân cùng tự vệ bao vây đồn Đăng Châu (châu lỵ Sơn Dương), tri châu Hoàng Thế Tâm chạy trốn. Ta thu gần 100 súng. Ngày 15-3 Tâm dẫn tri phủ Yên Sơn, Đèo Văn Phú và tên Chung, sĩ quan Việt gian của Nhật về đánh chiếm lại đồn Đăng Châu. Chúng bày trò “thương lượng” để chờ Nhật viện binh. Ta kêu gọi binh lính đầu hàng và chiến đấu tiêu diệt Đèo Văn Phú, tên Chung và bắt sống Hoàng Thế Tâm, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng châu Sơn Dương, nơi có Tân Trào, sau này là “thủ đô của cách mạng”. Giải phóng tiếp Đại Từ, Định Hoá (Thái Nguyên), Chiêm Hoá (Tuyên Quang) Ngày 26-3, hai trung đội Cứu quốc quân, có trung đội du kích địa phương phối hợp bao vây phủ Định Hoá, tri phủ chạy trốn, vài ngày sau ra hàng. Ta thu khoảng 40 súng, phá nhà tù Chợ Chu, giải thoát 30 cán bộ đang bị giam giữ, phá 3 kho thóc chia cho dân, bắt và trừng trị tên Phạm Bá An giữ súng cho thực dân Pháp, thu toàn bộ vũ khí. ______________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 201. 2. Theo báo Cứu quốc ngày 13-9-1945: Hai ngày sau, quân Nhật lên Đèo Khế “tiễu trừ Việt Minh”, nhân có sương mù dày đặc, ta phục kích, giết 50 tên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 11:54:13 pm Ngày 28-3, giải phóng Chiêm Hoá, thành lập Uỷ ban cách mạng châu đặt tên là châu Khánh Thiện, phá hàng loạt kho thóc chia cho dân như kho thóc đồn điền Ra phanh (Yên Sơn), kho thóc đồn điền Roa Đề ba (Kim Xuyên), kho thóc Đãi (xã Cấp Tiến), Đồng Dài (xã Thượng ấm), Phan Lương (xã Trường Sinh) thuộc châu Sơn Dương và kho thóc Dầu Nước (huyện Yên Bình).
Ngày 29-3, Cứu quốc quân cùng nhân dân giải phóng huyện lỵ Đại Từ (Thái Nguyên). Tri huyện và tay sai bỏ trốn. Ta thu gần 200 súng, phá kho thóc ở Hùng Sơn và kho thóc ở đồn điền Yên Thuận chia cho dân. Riêng ở Yên Sơn, thắng lợi ở Chiêm Hoá đã đẩy nhanh phong trào ở đây. Tại vùng giáp ranh giữa Yên Sơn và Chiêm Hoá, Cứu quốc quân và tự vệ đã tước súng đạn của lính dõng, lập chính quyền cách mạng ở các xã Trung Ninh, Hùng Lập, Trung Sơn, Kim Quan, Đạo Viên, Đa Công, Phú Thịnh... lập ra châu Hồng Thái, ngày 1-4-1945, mặc dầu phủ ly Yên Sơn chưa được giải phóng. Còn huyện Nà Hang cũng thuộc Tuyên Quang, do một bộ phận Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng xuống hoạt động từ tháng 4-1945, phá kho thóc chia cho dân, đến tháng 6 thì thành lập được chính quyền cách mạng. Trong khi đó, Cứu quốc quân lại tiến xuống phía nam, giải phóng đồn Thiện Kế (châu lỵ Sơn Dương cũ), rồi sang giải phóng khu vực phía bắc Lập Thạch thuộc Vĩnh Yên, thành lập châu Kháng địch vào trung tuần tháng 5-1945. Như vậy, tuy Nhật còn chiếm được tỉnh lỵ nhưng hầu hết toàn tỉnh Tuyên Quang đã được giải phóng. Việc liên lạc với các nơi đã trở nên thông suốt, bằng các đường giao thông lớn. Về phía Thái Nguyên, sau khi giải phóng Định Hoá, Đại Từ, chỉ còn Phú Lương tiếp giáp thị xã thì sau đảo chính, tri châu Bùi Mạnh Khuê chạy trốn về tỉnh để huyện cho cai đội trông coi. Ngày 2-4 Cứu quốc quân cùng tự vệ địa phương bắt tên cai khố xanh, chiếm đóng châu lỵ. Quân địch ra hàng nộp toàn bộ vũ khí. Phú Lương hoàn toàn giải phóng, trừ mỏ than Phấn Mễ, và đồn điền Na là còn một tiểu đội Nhật chiếm đóng cho tới Tổng khởi nghĩa. Tại phân khu A (Quang Trung) Cứu quốc quân rút xuống Bắc Giang 11-1944 nay được tin Nhật đảo chính Pháp đã trở về Võ Nhai hoạt động. Ngày 12-3-1945, Cứu quốc quân đã cùng cán bộ địa phương hỗ trợ cho gần 2.000 người dân bị Pháp bắt tập trung ở Đình Cả sau cuộc khủng bố tháng 11-1944, phá trại trở về làng. Cứu quốc quân tiến đánh một tiểu đội khố xanh ở phố Đình Cả. Ngày 14, phá kho thóc Đình Cả, ngày 15 phá kho thóc ở đồn điền Boócđiê chia cho dân. Ngày 17-3, Cứu quốc quân chia làm hai cánh, một trung đội đánh chiếm La Hiên, một trung đội bao vây đồn Đình Cả. Nhân dân xuống đường biểu tình hỗ trợ. Ngày 20-3, Cứu quốc quân đã giải phóng La Hiên, châu lỵ Võ Nhai. Tên tri châu ra hàng, trao toàn bộ vũ khí. Ngày 21 Tràng Xá được giải phóng. Hạ đồn Đình Cả Thực tế không phải ở đâu kẻ địch cũng dễ dàng nộp súng. Tại đồn Đình Cả, mặc dầu La Hiên, Tràng Xá đã được giải phóng, nhưng ở đây địch vẫn ngoan cố. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt và kéo dài. Ta vừa chiến đấu vừa kêu gọi binh lính địch đầu hàng. Nhưng bọn chỉ huy đã trá hàng hòng chờ viện binh đến. Hai chiến sĩ Cứu quốc quân phải hy sinh. Tới 3 giờ sáng ngày 10-3, vì không có viện binh, chúng phải mở đường máu chạy về Thái Nguyên. Ta truy kích đến Đèo Khế (Đồng Hỷ) diệt 10 tên, bắn bị thương nhiều tên khác, thu 19 súng trường, 2 súng máy và nhiều đồ dùng quân sự. Sau khi hạ đồn Đình Cả, giải phóng hoàn toàn Vũ Nhai, Cứu quốc quân chia ba mũi tiến về ba hướng. Một bộ phận 60 người tiến về phía Lạng Sơn, ngày 15-4 đánh bốt Tam Thái, ngày 16-4 đánh bốt Vũ Lễ, ngày 17-4 đánh bốt Nam Nhi, phá kho thóc Nam Nhi thuộc Bắc Sơn. Ngày 18-4 giải phóng châu lỵ Bắc Sơn. Tri châu Bắc Sơn hoảng sợ chạy sang Băng Mạc, ta thu 15 súng trường, 30 súng kíp, 13 hòm đạn, phá kho thóc, kho muối chia cho dân. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 11:55:47 pm Từ Bắc Sơn, ngày 19-4 Cứu quốc quân tiến sang chiếm châu lỵ Bình Gia. Tri châu và tên đại lý Bình Gia đã bỏ chạy sang Đồng Mỏ giao quyền cai quản cho tên Công (tri phủ về hưu). Tên Công không dám chống cự lại, trao toàn bộ vũ khí gồm 20 súng trường cho ta. Cũng thuộc châu Bình Gia, Cứu quốc quân đã cùng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp, đã tịch thu súng của lính dõng và thành lập chính quyền cách mạng xã, tổ chức một trung đội vũ trang, thuyết phục bang tá Văn Mịch giao đồn, vũ khí và kho thóc cho cách mạng.
Tri huyện Tràng Định, Cứu quốc quân phối hợp với trung đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ phía Thạch An, Cao Bằng tiến sang, đã tịch thu súng của lính dõng ở các xã, tổng, phát triển lực lượng. Đến 1-5, đánh chiếm kho muối của Nhật ở đầu cầu Bản Trại. Ngày 3-5 đánh chiếm đồn Pò Mã, tịch thu súng của lính dõng ở các xã, thành lập được hai đại đội vũ trang. Ngày 2-5 bao vây đồn Vạn Linh và châu lỵ Bằng Mạc. Tri châu đầu hàng. Ta thu gần 30 súng (trong đó có 24 súng trường, 1 súng ngắn), phá kho thóc chia cho dân. Ở châu Thoát Lãng, Cứu quốc quân tịch thu súng của lính dõng ở các xã vùng biên giới như Hội Hoan, Nà Hình, các tổng Kỳ La, Nà Chàng..., tới tháng 5 giải phóng châu lỵ Thoát Lãng. Như vậy, hầu hết các châu, huyện ở Lạng Sơn đã được giải phóng, trừ hai huyện Cao Lộc, Lộc Bình và thị xã Lạng Sơn. Hai đại đội Cứu quốc quân tiến sang phía Bắc Giang giải phóng vùng Thượng Yên Thế, Hữu Lũng. . . cụ thể: - Từ Vũ Nhai, vượt qua đèo ảnh, giải phóng: Mỏ Sắt, Cậy Thị, Nà Bì, Cầu Muỗi, Na Dương... Trưa ngày 15-4-1945, đánh vào phủ Yên Thế. Tri phủ hoảng sợ đã bỏ chạy, binh lính trong đồn nhanh chóng đầu hàng. Ta thu 14 súng trường, 2 máy chữ và nhiều đạn dược. Ngày 18-4 Cứu quốc quân cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh đồn Bố Hạ, bắt tên đồn trưởng, thu toàn bộ vũ khí. Ngày 19-4, đột nhập xí nghiệp mỏ sắt Trại Cau, tịch thu toàn bộ tài sản của chủ mỏ. Giữa tháng 5, đánh chiếm châu lỵ Hữu Lũng, dụ hàng được tri châu, thu 400 khẩu súng kíp, 100 khẩu súng khai hậu. Tiếp đó, Cứu quốc quân đánh đồn Mẹt, thu 5 súng trường, phá kho thóc sông Hoá, Phổng, chia cho nhân dân. Phát xít Nhật lại cho lính bảo an về đóng giữ đồn Mẹt, Cứu quốc quân lại tiến đánh lần thứ hai, dụ hàng toàn bộ lính bảo an, thu 100 súng. Hai đại đội đảm nhiệm hướng La Hiên - Đồng Hỷ: Sau trận bị ta phục kích địch ở Đèo Khế (Đồng Hỷ nói trên, ngày 29-5, Nhật tại dành lên Đình Cả, chiếm đóng lại La Hiên, châu lỵ Vũ Nhai. Cứu quốc quân tiếp tục phải phục kích, bao vây địch để đi tới giải phóng hoàn toàn khu vực này. 4. Các nơi khác trong toàn quốc nổi dậy a) Cuộc nổi dậy ở Ba Tơ Bối cảnh lịch sử của cuộc nổi dậy: Ba Tơ là một huyện miền núi phía tây tỉnh Quảng Ngãi, có ba làng người Kinh, sáu làng người Thượng, một đồn binh Pháp do một võ quan Pháp chỉ huy. Tuy có núi cao bao bọc, nhưng Ba Tơ vẫn có thuận lợi là có đường xe Ô tô chạy được từ đường số 1 thông lên Di Lăng, Sơn Hà, chia một ngã lên Tây Nguyên... Pháp lập ở đây một căng an trí để giam giữ những chiến sĩ cộng sản đã mãn hạn tù. Nhân dân có truyền thống đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp “cao như núi Cao Muôn” - một ngọn núi cao nhất địa bàn này. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII cùng với Chương trình, Điều lệ của Việt Minh đã về tới đây, Hồi ký của đồng chí Phạm Kiệt - một trong những nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Ba TƯ tháng 3-1945 đã ghi lại: “Một buổi sáng giữa năm 1943, tôi mãn hạn tù ở Buôn Ma Thuộc bị địch đưa đi an trí ở Ba Tơ . . . Trước khi bước vào “Công đường” của tên kiểm lý Ba Tơ Bùi Danh Nghĩa, điều tôi lo lắng hơn cả là làm sao mang lọt được tài liệu bí mật qua chặng đường kiểm soát cuối cùng này. Đó là những mảnh giấy ghi nội dung tóm tắt của Nghị quyết VIII của Trung ương do các đồng chí Xứ uỷ viên Trần Mạnh Quỳ, Bùi San, Lê Chưởng phổ biến trong tù năm 1941 . . . Tài liệu có phần nói về việc thành lập Mặt trận Việt Minh, đường lối võ trang khởi nghĩa và xây dựng lực lượng khởi nghĩa” 1. _______________________ 1. Phạm Kiệt: Từ núi rừng Ba Tơ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr. 5. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Sáu, 2009, 11:57:41 pm Một số chiến sĩ khác bị đưa vào an trí ở đây như Trương Quang Giao, Trần Quý Hai, Nguyễn Đôn: Trần Lương v.v. cũng trước sau đều được phổ biến và nắm được Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII cùng đường lối cứu nước của Việt Minh. Trong thời gian bị an trí, các đồng chí đã hoạt động theo đường lối đó, như mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ thực hiện công tắc xây dựng phong trào quần chúng và tiến hành binh vận có kết quả...
Cho đến đầu năm 1945, nhân dịp tết âm lịch, các chiến sĩ bị an trí ở đây đã bàn kế hoạch thoát khỏi căng an trí Ba Tơ để xây dựng căn cứ cách mạng và đẩy mạnh hoạt động du kích. Ngày thoát khỏi căng đã được ấn định rõ là 15-3-1945. Nhưng “ trưa ngày 10-3, cơ sở ở sông Vệ lên báo tin: Súng nổ nhiều lắm, Nhật đánh Pháp” 1. Mặc dầu chưa nhận được chỉ thị “ Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Thường vụ Trung ương Đảng, ngay tối ngày 10-3, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi đã họp ngay ở căng an trí Ba Tơ. Căn cứ vào tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII, Hội nghị của Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi đã nhất trí “Tiến hành khởi nghĩa ở Ba Tơ” 2. Diễn biến của khởi nghĩa Về phía địch: Lúc này quản lý căng Ba Tơ chỉ có tên kiểm lý và một số lính bảo an đóng ở trong đồn. Bọn lính trong đồn ban đêm thường về nhà riêng đến 7, 8 giờ sáng hôm sau mới lên đồn đông đủ. Buổi sáng, giờ điểm danh, khi anh em an trí phải trình diện chỉ có một hai tên lính gác. Về phía ta: Cán bộ bị an trí chỉ được trang bị bằng giáo mác, lực lượng khoảng vài chục người. Kế hoạch ban đầu là: kỳ tập cướp đồn, khoảng độ 14, 15 chiến sĩ an trí lợi dụng lúc lên trình diện buổi sáng sớm, diệt lính gác cướp súng, chiếm đồn. Nhưng kế hoạch kỳ tập không thành vì sáng ngày 11-3, do Nhật đảo chính nên lính bảo an không về nhà mà tập trung đầy đủ trong đồn, nai nịt gọn gàng, lưỡi lê cắm đầu súng. Thấy tương quan lực lượng chưa thể tiến công được, nếu kỳ tập sẽ bị đổ máu vô ích, ban lãnh đạo chuyển hướng: “Tiến hành biểu tình võ trang tiến về xuôi, bắt bọn sĩ quan Pháp đang chạy trốn, cưỡng bức chúng ký giấy giao đồn cho ta” . Kế hoạch được lập tức tiến hành. Nhưng khi đi đến Suối Loa, trưa ngày 11-3, gặp tên quan tư người Pháp đi xe kéo lên Ba Tơ, anh em ‘không bắt giữ hoặc kèm y cùng lên đồn, mà lại tin vào lời hứa hẹn ký giấy giao đồn của y mà để y về đồn. Nhưng nhận ra thiếu sót, ta đã kịp thời vạch ra một kế hoạch khởi nghĩa chiếm đồn do đồng chí Phạm Kiệt làm chỉ huy trưởng và đồng chí Nguyễn Đôn làm chính trị viên thực hiện. Ngay 2 giờ chiều ngày hôm đó, nhờ cuộc mít tinh của quần chúng hỗ trợ, nghĩa quân đã kéo đến trước đồn, cử người vào thương lượng. Tên quan tư Pháp đã lật lọng không giao đồn, giao súng như đã hứa. Cùng lúc đó, có tin quân Nhật từ Mộ Đức kéo lên. Nhưng quần chúng khắp nơi đã phá hoại giao thông chặn địch (phá chèo Đá Chát, vần đá lấp đường ở Tràng An). Từng đoàn người Kinh, người Thượng từ nhiều phía kéo đến biểu tình vũ trang. Nghĩa quân bí mật gặp Quyền L. . . , cơ sở binh vận trong đồn. Quyền L. . . đã hứa lấy súng của địch giao cho quân cách mạng. Khoảng 6 giờ tối Quyền L... đưa ra được bốn khẩu súng trường. Trước đó, trưa ngày 11-3 đồng chí Nguyễn Đôn đã tước được một khẩu của một lính khố xanh ở cầu Nước Năng. Với năm khẩu súng ban đầu vô cùng quý giá đó, đoàn biểu tình xông vào kiểm lý Bùi Danh Nghĩa. Y run sợ xin hàng, gọi lính lệ mang nộp hết vũ khí. Ta thu thêm được năm khẩu súng trường Rômanhtông, bắt giam bọn quan lại, cường hào, rồi trở lại bao vây đồn binh. Tên quan tư Pháp chỉ huy đồn đã chạy trốn. Nghĩa quân hạ đồn không mất một phát súng. Toàn bộ 28 tên lính khố xanh xin hàng, nộp vũ khí. Ta thu thêm được 17 khẩu súng trường. ___________________ 1, 2. Phạm Kiệt: Từ núi rừng Ba Tư, Sđd, tr.8, 39 - 40. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 18 Tháng Sáu, 2009, 12:00:10 am Khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, không bị một tổn thất nào. 28 nghĩa quân trở thành đội du kích Ba Tư, từ tay không nay đã có 27 khẩu súng các loại, lên đường xây dựng chiến khu. Toàn bộ tài sản tịch thu được của địch chia hết cho dân, không giữ lại cả một ít gạo để ăn. Bữa ăn trước khi lên đường cũng lại do nhân dân ủng hộ. Điều đó khiến nhân dân vô vùng cảm kích, quyết ủng hộ cách mạng tới thành công.
Nhận xét về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ - Tuy chưa nhận được chỉ thị ngày 12-3 của Trung ương, nhưng đây không phải là một cuộc khởi nghĩa tự phát của quần chúng ngoài sự lãnh đạo của Đảng. Tinh thần của Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII và ý chí quyết chiến, quyết thắng nhằm mục tiêu độc lập dân tộc của các chiến sĩ an trí ở Ba TƯ đã là nguyên nhân dẫn đến thắng lợi. Khi thời cơ đến, các đảng viên và cơ sở cách mạng của quần chúng do Đảng lãnh đạo đã chủ động đứng lên với một tinh thần tự giác. - Tuy không phải nổ một phát súng, diệt một tên thù nào, nhưng không ai phủ nhận đây là một cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi. Từ vũ khí thô sơ ban đầu là dao, gậy, giáo mác, nhờ mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, táo bạo, nghĩa quân đã giành được đồn, giải tán được chính quyền địch, thu được nhiều vũ khí để trang bị, khích động được lòng dân, gây được niềm tin của dân vào cách mạng. b) Nho Quan - Ninh Bình vũ trang giết giặc. Cũng như ở Quảng Ngãi, ở Ninh Bình, sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, đêm 13-7-1941, 34 đại biểu của Đảng bộ Ninh Bình đã nhóm họp để tiếp thu Nghị quyết, phát triển phong trào Việt Minh ở địa phương để liên tục phát triển trong cao trào tiền khởi nghĩa. Do quán triệt được các nghị quyết Trung ương, việc Nhật đảo chính Pháp đã không làm cho Đảng bộ Ninh Bình bỡ ngỡ mà ngược lại, việc phá kho thóc chia cho dân đã được chỉ đạo và diễn ra trước ngày 9-3. Đó là điều giải thích vì sao chỉ sau năm ngày kể từ khi Nhật hất cẳng Pháp, ngày 14-3-1945, cuộc đấu tranh vũ trang đã nổ ra tại Ninh Bình. Trong cuộc đấu tranh vũ trang này, khi nhân dân kéo đến nhà bọn phản động lấy thóc, tên tri phủ Nho Quan đã đem lính về đàn áp, bắn chết hai người. Ban xung phong của đội tự vệ hỗ trợ quần chúng ‘đi phá nho thóc khi đó đã chém chết tên lục sự và tên lính hộ vệ, phá một Ô tô, thu hai súng, hai xe đạp. Tri phủ Nho Quan bị thương, đã trốn thoát. Nhiều tên tay sai phải ra đầu thú trước nhân dân. Hàng chục kho thóc nữa lần lượt bị phá. Ngày 2-4, một toán lính Nhật đi sục sạo bắt gặp đồng chí Đàm (Trần Kiện) cùng hai tự vệ. Các đồng chí đã bắn chết một tên, làm bị thương một tên khác. Địch tháo chạy, ta thu hai súng trường. Vào cuối tháng 4, trong khi đi công tác, đồng chí Đàm lại gặp địch. Chúng bắn đuổi. Đến sông đồng thí Đàm đã hy sinh bởi toán lính dưới thuyền bắn. Tự vệ và nhân dân xung quanh báo động xông ra đuổi địch đến thôn Lý, giết hai lính, bắt sống một tên, thu hai súng và một thuyền quân trang quân dụng. Những trận chiến đấu đầu tiên này đã tôi rèn cho lực lượng vũ trang Ninh Bình. Sau Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, nơi đây đã trở thành trung tâm của một chiến khu mới thành lập - chiến khu Hoà - Ninh - Thanh. c) Vũ trang giết giặc sau ngày 9-3 ở nhiều nơi khác. Ở Bắc Giang, ngoài vùng Yên Thế, Hữu Lũng... đã được Cứu quốc quân giải phóng thì phía Hiệp Hoà, Yên Dũng gần An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ ở ngoại thành Hà Nội, đã nhanh chóng nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng. Ngày 13-3, nhân dân tự vệ các xã Xuân Biếu, Trung Định và các xá khác nổi dậy tịch thu ấn triện của hào lý, phá chính quyền địch, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng. Ngày 23-7, Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện Hiệp Hoà ra đời. Ngày 25-3, đội du kích tập trung thoát ly đầu tiên của tỉnh Bắc Giang được thành lạp ở làng Soi (Phú Bình, Thái Nguyên) gồm 13 chiến sĩ với 12 khẩu súng lấy tên là Giải phóng quân Bắc Giang. Ở Hưng Yên, sau ngày đảo chính Pháp, Nhật mới chiếm được thị xã Hơng Yên, chưa kịp về lấy đồn Bần. Tự vệ Bãi Sậy đã kéo tới đánh úp đồn. Viên Tây đồn và 20 lính khố xanh bỏ chạy. Tự vệ chiếm đồn thu được 24 khẩu súng và một hòm đạn. Ngày 19-3, đội danh dự trừ gian Hưng Yên đã kết liễu đời tên lý trưởng Bần Yên Nhân, Nguyễn Đình Phách - tay sai Nhật, bằng năm phát đạn. Hoạt động của lực lượng vũ trang đã hỗ trợ cho phong trào phá kho thóc diễn ra sôi nổi khắp nơi trong tỉnh. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Sáu, 2009, 12:06:52 am Ở Hoà Bình, từ 11-3 đến 14-3, gần 100 dân Mường tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn đã tự động mang súng đi chiếm kho thóc. Hai lần Nhật đưa hơn 10 xe cam nhông chở quân về đàn áp đều bị đánh lui. Lần thứ ba chúng bao vây ở ngoài và cho tay sai cùng quan lang phản quốc tìm cách ly gián quân dân ta. Sau ba ngày cầm cự, đến 14-3 nghĩa quân bị tan rã và bị địch đàn áp.
Tuy thất bại, cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc Mường châu Lương Sơn đã mở màn cho một cao trào tiền khởi nghĩa và đã được tiếp nối kể từ sau Cách mạng Tháng Tám cũng như suốt những năm kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược. Ở miền Nam, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, phong trào đấu tranh chống Nhật và tay sai cũng diễn ra ở nhiều nơi mà điển hình là cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Đồng Nai: “Sau ngày đảo chính Pháp, Nhật đưa hàng ngàn quân về chiếm đóng ở Suối Tre, An Lộc và thị trấn Xuân Lộc. Chúng bắt công nhân đi đào hầm, làm công sự, xây dựng đồn bốt, vận chuyển vũ khí, lương thực. . . Thừa lúc bộ máy thống trị của phát xít Nhật vừa được thiết lập, chưa kiểm soát được hay kiểm soát còn sơ sài, các cán bộ cách mạng đã truyền đạt cho công nhân chương trình cứu nước của Việt Minh, vận động công nhân lập ra các đội tự vệ... ở Long Thành... mỗi sở tổ chức được một ban công nhân và một ban chuẩn bị giành chính quyền, với lực lượng vũ trang có 12 cây súng mua và lấy được của Nhật. . . Riêng ở đồn điền ông Quế đội tự vệ đã được thành lập gồm 25 người, có hai cây súng săn cướp được của Pháp... ở Bình Ba, Xà Bang, đội tự vệ đã phục kích giết chết hai lính Nhật đi trên đường từ đồn điền Cuốctơnay về, thu hai súng, phá kho gạo, trại gia súc phân phát cho công nhân. Tháng 5-1945, tổ chức Thanh niên tiền phong do Đảng bộ bí mật lãnh đạo đã lan đến các đồn điền. Thanh niên tiền phong hăng hái luyện tập quân sự, canh gác các kho lúa gạo, bảo vệ tài sản cho nhân dân... Có lần ở Cuốctơnay công nhân tự vệ và Thanh niên tiền phong đã đánh chết tên lính Nhật hùng hổ xông vào bắt bò của dân” 1. Những cuốn lịch sử các địa phương, dồn điền, nhà máy, hầm mỏ, viết về thời kỳ Cách mạng Tháng Tám đã nêu lên những sự kiện cụ thể trong cuộc đấu tranh của nhân dân và các lực lượng vũ trang trong cao trào kháng Nhật cứu nước. Điều đó chẳng những chứng tỏ tinh thần chủ động, tự giác của nhân dân trong các cơ sở cách mạng mà còn biểu hiện ở tác dụng to lớn của sự chỉ đạo của Đảng trong những ngày tiền khởi nghĩa thông qua các văn bản cụ thể ở từng thời điểm lịch sử như Chương trình, Điều lệ của Việt Minh và các văn kiện, chỉ thị cụ thể sau ngày 9-3-1945 - các văn kiện, chỉ thị nóng bỏng, kịp thời của Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. IV. HỘI NGHỊ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG BẮC KỲ - THÀNH LẬP UỶ BAN GIẢI PHÓNG, VIỆT NAM GIẢI PHÓNG QUÂN VÀ KHU GIẢI PHÓNG 1. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ Hơn một tháng sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3), ngày 15-4, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ. Hội nghị họp từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945 ở Hiệp Hoà (Bắc Giang), do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng chủ trì. Trọng tâm của Hội nghị là nhằm giải quyết cự thể những vấn đề quân sự đã được Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng, tháng 3-1945 nêu ra. Đây là Hội nghị quân sự lần đầu tiên của Đảng. Điều đó thể hiện cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng giờ đây đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đã đến lúc phải tập trung cao độ vào việc đề ra và giải quyết một loạt vấn đề về quân sự để sẵn sàng chiến đấu khi Tổng khởi nghĩa nổ ra. Hội nghị quân sự Bắc Kỳ được triệu tập trong những ngày đầu của thời kỳ tiền khởi nghĩa - mà ở đó, qua thực tiễn chiến đấu sôi động từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nhiều ưu điểm của phong trào đã được thể hiện rõ, nhiều khuyết nhược điểm của phong trào cũng đã bộc lộ ra. ____________________________________ 1. Theo Những chặng đường đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Đồng Nai, Công ty Cao su Đồng Nai xuất bản, 1985, tí. 58, 61. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Sáu, 2009, 12:10:26 am Tuy nhiên, ý nghĩa của Hội nghị này không phải chỉ là ở chỗ rút kinh nghiệm chiến đấu cụ thể những ngày đã qua mà nó còn có tầm cỡ lịch sử to lớn hơn nhiều. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ thực chất là một cột mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cao trào về mặt quân sự. Hội nghị đó chứng tỏ rằng, đã đến lúc cách mạng Việt Nam cần kiện toàn bộ máy chỉ huy quân sự cả về mặt tổ chức, phiên chế, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, thống nhất của Đảng. Riêng về xây dựng căn cứ địa, Hội nghị cho rằng lúc này cần được triển khai mạnh mẽ hơn trong cả nước.
Sở dĩ Hội nghị đặt ra vấn đề đó là bởi hai lẽ. Trước hết, do thực tiễn phong trào đang đẻ ra nhiều chiến khu, nhiều căn cứ địa từ Bắc chí Nam. Thứ hai, yêu cầu quan trọng không kém là đề phòng khi quân Đồng minh đổ bộ vào thì chúng ta phải có chính quyền cách mạng đã giành được ở nhiều nơi, chứ không chỉ ở Việt Bắc. Đó là một trong những điều kiện để “mặc cả” với Đồng minh, trong đó có những kẻ lăm le lại một lần nữa muốn thủ tiêu nền độc lập của chúng ta (đó là Anh và Pháp). Hơn thế nữa, lúc này, căn cứ vào diễn biến của tình hình quốc tế, ta cũng đang cần gấp rút, chủ động hơn nữa để đón thời cơ. Với danh nghĩa “Hội nghị quân sự”, lại do Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập nên Hội nghị chỉ bao gồm các đại biểu quân sự của Đảng. Đó là đại biểu của chiến khu Việt Bắc gồm đại biểu của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, mà đại diện là đồng chí Võ Nguyên Giáp; đại biểu Cứu quốc quân - Chu Văn Tấn; đại biểu lực lượng vũ trang khu Hòa- Ninh- Thanh - đồng chí Văn Tiến Dũng; đại biểu du kích, tự vệ ở các địa phương khác và các cán bộ chủ chốt xây dựng kinh tế, hậu cần cho quân đội, như Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, v.v.. Sau khi nhận định sự phát triển của đấu tranh vũ trang từ sau ngày 9-3, Hội nghị chỉ ra ưu điểm của phong trào là: - Đã biết chuyển hướng kịp thời, tập trung lực lượng, chĩa mũi nhọn vào phát xít Nhật; - Phong trào có tính chất võ trang mạnh mẽ; Bên cạnh những ưu điểm, phong trào đấu tranh trong giai đoạn này còn một số khuyết điểm mà tựu trung, đó là sự phát triển quá chênh lệch (nơi quá cao, nơi quá thấp) của phong trào. Do đó, nhiệm vụ quân sự của phong trào là: - “Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. - Phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, để chuẩn bị cuộc Tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ. Về xây dựng căn cứ địa, Hội nghị đã quyết định thành lập bảy chiến khu: 1. Lê Lợi, 2. Hoàng Hoa Thám, 3. Quang Trung, 4. Trần Hưng Đạo (Bắc Kỳ), 5. Phan Đình Phùng, 6. Trưng Trắc (Trung Kỳ) và 7. Nguyễn Tri Phương (Nam Kỳ). . Mấy nguyên tắc về xây dựng và phát triển căn cứ địa trong tơ tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được Hội nghị quán triệt là: - Đánh thông liên lạc giữa các chiên khu - Các chiến khu ehỉ là những bộ phận của một nước Việt Nam độc lập ra đời trong tiền khởi nghĩa nên nó phải thống nhất với nhau bằng giao thông liên lạc (như đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thời kỳ thành lập chiến khu Cao-Bắc -Lạng). - Coi trọng việc gây dựng các hạt nhân nhỏ trong hạt nhân lớn (phân khu trong chiến khu). “Chiến khu nào rộng có thể chia ra nhiều phân khu... Trong mỗi căn cứ địa rộng lại cần phải củng cố những căn cứ địa bé hơn, vững chắc hơn, để phòng lúc địch tiến công, ta có thể tạm thời rút hẹp phạm vi lại Đường giao thông, liên lạc giữa các căn cứ địa phải ra sức giữ cho vững” . Bởi vì: “ Những căn cứ địa ấy là những bàn đạp cho cuộc Tổng khởi nghĩa và là cái mầm của nước Việt Nam độc lập tự do ngày mai” 1. _______________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 392. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Sáu, 2009, 12:14:31 am - Phương châm tác chiến, Nghị quyết quán triệt phương châm tác chiến căn cứ địa theo tư tưởng Hồ Chí Minh (tác chiến trong căn cứ địa và ngoài căn cứ địa). Theo đó, “ Nếu địch bao vây căn cứ địa thì phải dùng chiến thuật “ dĩ công vi thử’ mà đối phó. Đến lúc không có điều kiện giữ một căn cứ địa, ta không ngần ngại gì mà không dời quân đi nơi khác để giữ gìn thực lực.
- Nếu địch xông vào đóng trong căn cứ địa thì phải thi hành “ vườn không nhà trống” cho triệt dể. ở ngoài căn cứ địa, nếu Nhật dùng chính sách dồn làng, đốt nhà, v.v. thì ta nên lãnh đạo nhân dân, tuỳ trường hợp mà tổ chức cuộc tranh đấu...” 1. Các hình thức chính quyền phôi thai cần được xây dựng trong các căn cứ địa (chiến khu). Ở giai đoạn phát triển cao của căn cứ địa, tức khi đấu tranh quân sự và tổ chức chính trị đã đủ mạnh để xây dựng chính quyền căn cứ địa thì: “Trong căn cứ địa, tổ chức ra Uỷ ban nhân dân cách mạng do dân dùng phổ thông đầu phiếu bầu mà lên hay do đại biểu hội nghị các giới... bầu lên. “ Ngoài căn cứ địa ta chưa đánh đổ được chính quyền của địch thì tổ chức ra Uỷ ban dân tộc giải phóng” 2. Hội nghị cũng đã đề cập đến việc “ …Triệu tập một cuộc đại biểu Đại hội gồm các giới, các đảng phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam ... Thi hành chính sách của Việt Minh...” 3. Xây dựng căn cứ địa theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh kể trên gắn bó chặt chẽ với đường lối quân sự trong cao trào tiền khởi nghĩa là xây dựng quân đội và phát triển chiến tranh du kích: Về “Xây dựng quân đội”: Thành lập “Việt Nam giải phóng quân” chung cho cả nước, có “ Bản đồ biên chế’ và nguyên tắc chỉ huy thống nhất. Thành lập Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ có các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh... Nhiệm vụ là “chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về mặt chính trị và quân sự, đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự” 4. Về nhiệm vụ chiến đấu, Nghị quyết chỉ rõ: “ Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược “ phát động du kích” để chuẩn bị phát động Tổng khởi nghĩa. Vì vậy chiến thuật ta là chiến thuật đánh úp quân địch bằng những trận nhỏ mà nắm chắc phần thắng để giừ gìn và bồi dơỡng lực lượng của ta” 5. Hội nghị luôn gắn đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và không quên sách lược ngoại giao thêm bạn bớt thù. Hội nghị đã tăng thêm sức mạnh lý luận, chính trị, tổ chức cho lực lượng quân sự tiến lên hoàn thành các nhiệm vụ mới. Nhìn chung lại, với những nội dung đã được bàn định và quyết nghị, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đánh dấu bước phát triển mới về tơ tưởng quân sự của Đảng ta. Nó cụ thể hoá chỉ thị “ Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” về nhiệm vụ và công tác quân sụ cũng như chỉ ra những biện pháp cụ thể để thực hiện chỉ thị đó nhằm đẩy mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. 2. Sự ra đời của Uỷ ban giải phóng, Việt Nam giải phóng quân và Khu giải phóng a) Uỷ ban giải phóng Những ngày tiền khởi nghĩa là những ngày tiến công dồn dập trên các mặt trận: quân sự, chính trị, tổ chức, ngoại giao, v.v. . Trong đó, những “tổ chức cách mạng” mới xuất hiện và phát triển thực sự đã là những dấu hiệu rõ rệt biểu hiện sự tiến công đó. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ khai mạc ngày 15-4 thì ngày 16-4, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: Tổ chức các Uỷ ban giải phóng. Đó là “hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất ở các xí nghiệp, các làng v.v. là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng” 6. ____________________________________________ 1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 394, 395, 396. 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 399, 394. 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 535. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 20 Tháng Sáu, 2009, 12:16:50 am Về nhiệm vụ quân sự, Uỷ ban giải phóng có nhiệm vụ: “Đốc suất tự vệ và bảo an” để “gìn giữ sinh mệnh và tài sản của dân”.
Trong thực tế, “Các Uỷ ban giải phóng” ra đời là kết quả của đấu tranh vũ trang, vì nó ra đời ở những khu đã được lực lượng vũ trang giải phóng hay khống chế được kẻ địch. Đồng thời, đến lượt mình, các Uỷ ban giải phóng lại hỗ trợ về cả nhân lực, vật lực cho lực lượng vũ trang phát triển. b) Việt Nam giải phóng quân Trong lịch sử quân sự cách mạng Việt Nam, đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta, từ phân tán đến tập trung. Ngày 15-5-1945, đúng một tháng sau ngày khai mạc Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, lễ thành lập Bộ tư lệnh giải phóng quân được cử hành rất trọng thể tại trường Định Biên Thượng thuộc huyện Định Hoá, Thái Nguyên (cách Chợ Chu khoảng 10 km về phía tây nam). Các đơn vị Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân thống nhất thành chủ lực của Việt Nam giải phóng quân. Lực lượng lên tới 13 đại đội, biên chế theo hình thức “tam tam chế’. Mỗi tiểu đội 12 người, trung đội gồm ba tiểu đội đại đội gồm ba trung đội. Vũ khí có hàng ngàn khẩu súng có cả súng máy, súng cối 60mm và hàng chục tấn đạn dược thu được từ tay kẻ thù. Đã có xưởng sửa chữa vũ khí và chế tạo vũ khí thô sơ, ở một số tỉnh, huyện cũng tổ chức nhiều trung đội, đại đội giải phóng quân của địa phương. Ngày 4-6-1945, tại Hội nghị cán bộ do Tổng bộ Việt Minh triệu tập, đồng chí Hồ Chí Minh đã công nhận sự ra đời của Việt Nam giải phóng quân và việc thành lập Khu giải phóng. Đầu tháng 7-1945, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, trường Quân chính kháng Nhật ra đời. Trường do đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách, nhằm đào tạo các trung đội trưởng và chính trị viên trung đội cho Việt Nam giải phóng quân. Mỗi khoá có khoảng 100 học viên. Ngày 5-8-1945, tờ báo Quân giải phóng ra đời góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục lực lượng vũ trang. Từ đây tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được một lực lượng vũ trang thống nhất của cả dân tộc phát huy dẫn đến nhiều thắng lợi mới. c) Khu giải phóng Uỷ ban giải phóng, Quân giải phóng, Khu giải phóng là ba thực thể có quan hệ hữu cơ và biện chứng với nhau. Khu giải phóng ra đời từ thắng lợi quân sự, thủ tiêu được chính quyền địch, xây dựng chính quyền cách mạng (uỷ ban giải phóng). Khu giải phóng được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho Quân giải phóng phát triển, tiến lên. Sự ra đời của Khu giải phóng là một tất yếu lịch sử của quá trình phát triển của cách mạng. Đầu tháng 5-1945, các đồng chí Song Hào, Tạ Xuân Thu (mới vượt ngục Chợ Chu ra) đã về Tuyên Quang cùng các đồng chí Lê Dục Tông, Lê Trung Đình chuẩn bị căn cứ Tân Trào làm nơi chỉ đạo cách mạng cả nước. Việc chuẩn bị này được đồng chí Võ Nguyên Giáp nhất trí tán thành. Sau khi đồng chí Hồ Chí Minh đã về Tân Trào, các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt từ dưới xuôi lên đã cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Song Hào gặp đồng chí Hồ Chí Minh để báo cáo và xin ý kiến. Đồng chí Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến chỉ đạo: “Chia các tỉnh ra làm nhiều chiến khu như thế rườm rà quá không lợi cho việc chỉ huy chung. Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ trang lại là rất đúng, nên đặt tên là Quân giải phóng” 1. Ngày 4-6-1945, Hội nghị cán bộ Việt Minh được triệu tập Hội nghị ra Quyết định thành lập Khu giải phóng mà điểm ở đầu là: “Để chuẩn bị cuộc khởi nghĩa sắp đến, tất cả những khu vực quân Giải phóng đã chiếm được thống nhất lại thành một khởi, gọi là Khu giải phóng ‘. Về mặt quân sự: “Khu giải phóng thành: một căn cứ địa kháng Nhật vững chắc” 2. __________________________________________ 1. Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 210. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 542. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:36:01 pm Hội nghị chủ trương phải ra sức chỉnh đốn Việt Nam giải phóng quân và lực lượng tự vệ. Điều đáng chú ý là, trong việc thành lập Khu bơi ải phóng cũng như thành lập Việt Nam giải phóng quân, vai trò chính trị viên trong quân đội được đặc biệt coi trọng; như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã phân tích:
“Trong việc xây dựng bộ đội, công tác chính trị được coi là linh hồn của quân đội cách mạng bước đầu đi vào nền nếp. Từ cấp trung đội trở lên, bên cạnh người chỉ huy quân sự đều có một chính trị viên là người chăm nom về mặt tinh thần, tư tưởng của bộ đội . . .” 1 . Trong Ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng (do đồng chí Hồ Chí Minh đứng đầu) có Uỷ viên phụ trách quân sự. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Thường trực của Uỷ ban đồng thời chỉ huy quân sự. Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh được ban hành trong Khu giải phóng. Mọi sinh hoạt: chính trị, quân sự, văn hoá, kinh tế, xã hội... của nhân dân bước đầu đã được cải thiện. Trong 10 chính sách đó thì chính sách thứ tư: “Võ trang quần chúng, động viên quần chúng nhân dân ủng hộ du kích và tham gia giải phóng quân, kháng Nhật” được nhân dân và các lực lượng vũ trang tích cực thực hiện khiến ba thứ quân trong Khu giải phóng đều được tăng lên nhanh chóng. Sau khi Khu giải phóng thành lập, ngày 1-7-1945, Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ - Bộ Tư lệnh của Việt Nam giải phóng quân miền Bắc Đông Dương, đã ra Lời kêu gọi: “Hỡi quốc dân đồng bào! Hỡi các chiến sĩ cứu quốc! Hỡi các tướng sĩ “Việt Nam giải phóng quân”! “Tiếng súng du kích kháng Nhật đang nổ kịch hệt. Phong trào du kích đang lan tràn ra các tỉnh thượng du và trung du Bắc Kỳ. Quân du kích của ta đã làm chủ nhiều nơi... Chính quyền cách mạng địa phương đã thành lập... trong Khu giải phóng, của cải nhân dân được bảo đảm... Hơn một triệu đồng bào đã bắt đâu hưởng hạnh phúc cách mạng. Một nước Việt Nam đang nảy nở. Cơ hội có một không hai đã ở trong tay chúng ta rồi. Thống nhất, hy sinh, kiên quyết chiến đấu, nhất định chúng ta sẽ thắng!” 2. Hình ảnh “Nước Việt Nam mới” ra đời cùng với sự ra đời của cơ quan chỉ huy quân sự tối cao là Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ và trở thành lập Việt Nam Giải phóng quân là ba nhân tố quan trọng đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới của cao trào tiền khởi nghĩa. “Giai đoạn toàn dân chống Nhật, giành chính quyền trong khởi nghĩa từng phần để tiến lên Tổng khởi nghĩa”. V- KHỞI NGHĨA TỪNG PHẦN, CHUẦN BỊ TIẾN LÊN TỔNG KHỞI NGHĨA “Khởi nghĩa từng phần” là một hình thái mới nảy sinh từ thực tiễn cách mạng Việt Nam - một sự vận dụng sáng tạo lý luận về “khởi nghĩa vũ trang ‘ của chủ nghĩa Mác-lênin vào hoàn cảnh Việt Nam đưa đến thắng lợi. Lịch sử Việt Nam trong non một thế kỷ chống Pháp xâm lược đã từng chứng kiến sự ra đời của hàng loạt căn cứ địa, từ căn cứ Gò Công Tân An, 18 thôn Vườn Trầu... ở Nam Bộ, đến các căn cứ Ba Đình, Bãi Sậy, Hùng Lĩnh, Hương Khê, Yên Thế. . . để chống thực dân, nhưng vẫn chưa đem lại thắng lợi. Đến khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ đã bước đầu vận dụng được tư tưởng quân Sự Hồ Chí Minh về: “Chiến tranh du kích”, “Khởi nghĩa vũ trang” và “Căn cứ địa”. Nhưng chỉ từ Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII (1941), tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh mới được vận dụng sâu sắc hơn, đưa đến việc xây dựng căn cừ địa, phát triển du kích chiến, tiến lên khởi nghĩa từng phần, từng bước tiên tới Tổng khởi nghĩa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII ghi rõ: _______________________________________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 215. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tí. 551-553. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:38:08 pm “ Ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” 1.
Từ 9-3, tư tưởng chỉ đạo “khởi nghĩa từng phần” của Hội nghị Trung VIII đã trở thành hiện thực. Những cuộc nổi dậy từ căn cứ địa Việt Bắc đến căn cứ Quỳnh Lưu (Nho Quan - Ninh Bình), Đông Triều (Hải Dương), Vĩnh Sơn - Núi Lớn (Quảng Ngãi) đều là dạng khởi nghĩa từng phần với sự ra đời của các Khu giải phóng thành công nhất, tiêu biểu nhất. Chính vì vậy, kẻ thù là phát xít Nhật và tay sai, sau giai đoạn ổn định, củng cố được vị trí thống trị (từ 9-3 đến trung tuần tháng 5-1945) đã tập trung đánh phá căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, trước mắt là Sơn Dương, Tân Trào (Tuyên Quang), tức là phải mang toàn lực ra để phá hoại thành quả mà khởi nghĩa từng phần đã xác lập được. 1. Căn cứ địa Việt Bắc chống cuộc tiến công của Nhật, bảo vệ và củng cố Khu giải phóng góp phần đẩy mạnh cao trào “Khởi nghĩa từng phần” trong cả nước. Trung tuần tháng 5-1945, Nhật huy động tới 2.000 quân chia làm ba cánh, tiến sâu vào khu căn cứ ở giữa sông Lô và quốc lộ 3. Mũi chính nhằm đánh phá khu An toàn Sơn Dương, Tân Trào, Tuyên Quang; mũi thứ hai từ Bắc Cạn tiến lên Chợ Rã, Chợ Đồn theo hai hướng. Một từ Vĩnh Yên, Thiện Kế tiến lên Sơn Dương rồi từ Tuyên Quang tiến vào hướng Thanh La; mũi thứ ba từ Thái Nguyên, Phấn Mễ và Chợ Mới đánh vào Chợ Chu. Mũi thứ nhất: từ Bắc Cạn tiến lên Chợ Rã, Chợ Đồn, đã bị giải phóng quân bao vây ngay trong tỉnh ly Bắc Cạn. Tại đây mỗi khi ra khỏi tỉnh lỵ là địch bị du kích chặn đánh. Ngày 25-5, Nhật cho 12 xe và bộ binh tiến ra, bị giải phóng quân phục kích ở Nà Hoan, phải rút về thị xã. Chẳng những thế, du kích quân còn thường xuyên đột nhập vào thị xã quấy rối địch, làm cho mũi tiến công này không triển khai được. Mũi thứ hai: cuối tháng 5-1945, khoảng 300 quân Nhật kéo lên Sơn Dương theo đường 13A nhằm phá căn cứ Tân Trào. Nhưng nhân dân đã phá phà Bình Ca để chặn đường. Lực lượng vũ trang ta chặn đánh Nhật ở đồn điền Lê Giá, buộc chúng phải rút lui. Một cánh quân khác của Nhật tiến lên làng Sảo bị trung đội Giải phóng quân chặn đánh, bắn chết mấy tên, nhưng chúng vẫn cố tiến đến Đèo Chăn. Tại đây trung đội Giải phóng quân (do đồng chí Môn chỉ huy) đã chiến đấu hơn một giờ đồng hồ, giết được hơn 10 tên Nhật. Cuối cùng, bọn Nhật phải rút về thị xã Tuyên Quang, chấm dứt hoạt động của mũi tiến công này. Mũi thứ ba: Ngày 15-5, quân Nhật chia làm hai tốp. Một tốp từ Chợ Chu xuống phối hợp với mũi từ Tuyên Quang sang nhằm tấn công vào vùng Núi Hồng, căn cứ Tân Trào. Thế nhưng, mũi từ Tuyên Quang sang đã bị thất bại nặng ở Thanh La. Còn hai mũi từ Đại Từ và Chợ Chu tới cũng bị chặn đánh không tiến lên được. Kết quả, ý đồ tiến công lớn phá căn cứ cách mạng của chúng bị thất bại. Ngày 25-5, quân Nhật lại kéo lên định đánh úp Chợ Chu. Ta rút lui ra ngoài bao vây, phá hoại các đường giao thông eản bước tiến của chúng. Ngày 16, 17-5 ta đánh chúng ở Khuôn Cảm buộc chúng phải rút lui. Ngày 29-5, Nhật lại từ Đại Từ tiến lên đến Hoẵng Nông, cách Đại Từ khoảng 5, 6 km, bị ta chặn đánh diệt chín tên phải rút lui. Như vậy ba mũi tiên quân của Nhật nhằm phá khu căn cứ đã bi thất bại. Ngoài cuộc ra quân có quy mô lớn này nhằm đánh phá khu căn cứ Sơn Dương - Tân Trào ở các nơi khác, Nhật cũng cho nhiều toán quân về đánh chiếm lại các huyện, củng cố chính quyền tay sai thân Nhật hoặc đã bị tan rã sau khi Pháp thua, hoặc đang dao động chờ Nhật đến cứu viện. Tại Cao Bằng, Nhật đóng quân ở thị xã. Mỗi khi nống ra càn quét vùng nông thôn, chúng đều bị chặn đánh. Cho tới tháng 8-1945, trừ thị xã và một số nơi như Trùng Khánh, Đông Khê, Tĩnh Túc là những nơi Nhật cố thủ, hoặc ở Nước Hai và một vài xã biên giới là nơi có bọn phỉ chiếm, còn hầu hết tỉnh Cao Bằng đã về tay quân dân cách mạng. Tại đây, nhiều lính bảo an, nguỵ quân cùng nguỵ binh người Mã Lai cũng ngả theo cách mạng. _______________________________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 131 - 132. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:38:57 pm Ở Lạng Sơn, sau 20 ngày bao vây đồn Bằng Mạc, đến ngày 11-5, Cứu quốc quân đã hạ được đồn. Bọn lính trong đồn mà phần lớn là quân địa phương đã phải ra hàng, giao nộp vũ khí. Giữa tháng 5, Nhật lên chiếm lại huyện lỵ. Cứu quốc quân bao vây đồn, nhân dân làm vườn không nhà trống. Nhật ra càn quét bị ta chặn đánh. Ngày 18-5, ta tổ chức chặn đánh chúng ở Pắc Nùng trên đường hành quân từ Văn Mịch đi Bình Gia. Ngày 19-5, ta chặn đánh tiếp chúng trên đường Bình Gia đi Bắc Sơn. Sau hơn 10 ngày chiếm đóng, chúng phải bỏ Bắc Sơn, Bình Gia, Bằng Mạc chạy về thị xã. ở hai huyện Tràng Định và Thoát Lãng, Nhật cũng bị bao vây chặt ở huyện ly không dám ra ngoài đánh phá các khu căn cứ . Nhìn chung toàn tỉnh Lạng Sơn, cho đến tháng 7-1945, ta đã giải phóng thêm Điềm He, Bình Gia, thành lập chính quyền cách mạng. Đến đầu tháng 8 hầu hết nông thôn được giải phóng. Nhật chỉ còn cố thủ và bị bao vây ở mấy đồn quan trọng như Na Sầm, Thất Khê, Đồng Đăng, Lộc Bình . Đồng Mỏ. Tại Thái Nguyên, ngày 29-5, ở Vũ Nhai, ta phục kích một cánh quân Nhật trên đường hành quân từ thị xã lên Đình Cả diệt 10 tên. Bọn còn lại tới chiếm đồn Đình Cả bị ta tiến công đánh bật và truy kích khỏi La Hiên. Ngày 3-6 quân ta chiếm đồn lính ở đồn điền Chã (Phổ yên) giết tên đồn trưởng phản động, tịch thu 10 súng, hơn 100 trâu bò, 35 cừu của chủ đồn điền, phá kho thóc chia cho dân. Giữa tháng 7, ta đột nhập đốt cháy nơi đóng quân của Nhật ở Chợ Chu, cắt đường tiếp tế, quấy rối Nhật năm đêm liền, buộc chúng phải rút lui về thị xã. Ở Làng Cẩm (Phú Lương) đến tháng 7-1945, vẫn còn lính Nhật và mấy tên Pháp đốc công giữ đồn. Nhưng trên thực tế công nhân đã làm chủ. Đến đầu tháng 8-1945, ta bao vây đồn, chẹn đường tiếp tế của Nhật. Ngày 16-8 chúng phải bí mật rút về thị xã. Tại Tuyên Quang, ngày 15-5, Giải phóng quân tước khí giới Bảo an binh ở Yên Bình. Ngày 18-5 đánh chiếm huyện lỵ Yên Bình, phóng thích 30 lính khố xanh, thu 30 súng. Nhật cho quân từ Yên Bái lên chiếm lại huyện lỵ, ta chặn đánh tiêu diệt một số. Số còn lại lên chiếm huyện bị ta bao vây, không dám đi càn quét. Đến 15-7, Nhật rút, để lại tên bang tá và một số lính cơ quản lý. Nhân dân Yên Bình nổi dậy tước khí giới bọn lính cơ và tên bang tá. Cùng lúc này một đơn vị Giải phóng quân tiến về huyện lỵ Hàm Yên nhưng Nhật đã rút chạy từ trước. Chúng chỉ còn đóng lại ở thị xã. Tại Bắc Cạn, Nhật đóng ở thị xã. Chính quyền ở các địa phương hầu hết đã thuộc về quân cách mạng. ở một số nơi, bọn phỉ được Nhật và gián điệp Tưởng nuôi dơỡng để chống phá cách mạng đã nhân cơ hội Nhật đảo chính, tước vũ khí của tàn quân Pháp và bọn lính dõng. Đồng thời, chúng đánh chiếm những thị trấn biên giới như Hạ Long . . . tiến vào vùng nội địa như Hà Quảng, Nguyên Bình; đánh phá dữ ở các vùng Bảo Lạc, Trấn Biên, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Thạch An (Cao Bằng), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Bình Gia (Lạng Sơn)... Bọn phỉ này cướp phá, bắn giết, gây mất ổn định trong đời sống nhân dân. Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang ta đã tiến hành các trận tiễu phỉ mà tiêu biểu là các trận sau đây: Tháng 6-1945, 10 trung đội Giải phóng quân từ Hoà An lên phối hợp với lực lượng quân sự địa phương truy lùng, tiến đánh phỉ mấy ngày ở cả Hà Quảng, Bảo Lạc, tiêu diệt và bắt sống 500 tên ở Háng Tháng, thu 12 súng máy, 81 súng trường, 42 súng ngắn. Ở Tuyên Quang, châu Hàm Yên vào tháng 5 và 6-1945, Chánh quản Mãn (tên là Thuộc) tập hợp một số thổ phỉ nổi lên cướp phá. Chỉ trong 20 ngày chúng đốt 47 nóc nhà giết 14 người dân. Các lực lượng vũ trang đã phối hợp tiêu diệt chủng. Ở Chiêm Hoá, bọn buôn thuốc phiện lậu do những lưu manh Co óng Nhì, Co óng Sấm, Pay Tài cầm đầu gồm 60 tên, mạo nhận là quân đội Trung Hoa kháng Nhật đi cướp phá dọc bờ sông Gậm. Lực lượng vũ trang châu Khánh Thiện đã vây bắt bọn đầu sỏ, tước vũ khí bọn tay chân rồi giải tán chúng. Ở Thái Nguyên, huyện Phổ Yên có tên cai đội khố xanh biến thành lưu manh cầm đầu bọn phỉ trương cờ đỏ thêu hai chữ “Đồng minh” đi cướp phá và chặn đường liên lạc từ An toàn khu của Xứ uỷ lên căn cứ địa Việt Bắc. Thấy rõ đây là tay sai Nhật ta đã kiên quyết tiêu diệt. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:55:28 pm Tại Bắc Giang, ở Yên Thế, bọn phỉ Hứa Phụng Xương, Ma Lấy mạo nhận là Việt Minh đi cướp bóc và ép nhân dân đi theo chúng. Ơ Hữu Lũng, phía tây bị bọn phỉ Hoàng Văn Sinh khống chế, phía đông là bọn Vòng Tài hoạt động, Giải phóng quân phải chiến đấu tiêu diệt bọn đầu sỏ. Như vậy, trong cao trào tiền khởi nghĩa, ngoài đối tượng chủ yếu là phát xít Nhật - Pháp, ta còn phải đối phó với các thế lực thù địch khác. Nếu ở khu căn cứ Việt Bắc, lực lượng chống đối là phỉ, thì ở trung du, nhất là Vĩnh Yên, Phúc Yên, lực lượng đó lại là bọn Việt Nam Quốc dân Đảng. 2. Lực lượng vũ trang Phúc Yên, Vĩnh Yên phối hợp với Giải phóng quân chống Nhật, xây dựng căn cứ dịa, hạ đồn Tam Đảo giải phóng tù chính trị Việt, Pháp. Lực lượng vũ trang cách mạng ở các tỉnh Vĩnh Yên và Phú Thọ đã tiến hành khởi nghĩa từ các huyện, liên huyện, liên tỉnh, xây dựng được hai khu căn cứ của địa phương. ở đây có hai lực lượng vũ trang chủ lực: một là một đại đội Giải phóng quân từ Tuyên Quang xuống, đẩy mạnh hoạt động ở vùng núi Tam Đảo và núi Sáng (Lập Thạch), hai là Đại đội vũ trang tuyên truyền do Xứ uỷ Bắc Kỳ lập ra cùng hoạt động ở vùng bắc Lập Thạch. Các lực lượng vũ trang đã tước khí giới của binh lính địch khi chúng đi tuần tra ở Nam Lý (Đa Phúc), Đôn Nhận (Lập Thạch), vây bắt cả toán lính gác ở cầu Thịnh Kỷ (Phúc Yên), chặn đánh thuyền của Nhật chở thóc gạo ở bến Đại Từ trên sông Hồng (huyện Yên Lạc). Lực lượng vũ trang đã trừng trị những phản động đầu sỏ ngoan cố, cảnh cáo bọn tay chân. Chỉ trong ba huyện: Vĩnh Tường, Tam Dương, Yên Lạc ta đã bắt giam lỏng gần 100 tên cai tổng, lý trưởng; cắt đứt liên hệ của họ với chính quyền thân Nhật cấp tỉnh, huyện. Đồng thời, ta đã thành lập các Uỷ ban dân tộc giải phóng từ xã đến huyện, hình thành nên hai khu căn cứ là? Khu bắc Vĩnh Yên giáp với Tuyên Quang thành lập vùng Giải phóng mang tên là huyện kháng địch bao gồm cả đất Vĩnh Yên và một phần huyện Sơn Dương thuộc Tuyên Quang. Khu gần thủ đô gồm huyện Lập Thạch, bắc Kim Anh và bắc Tam Dương. Lực lượng vũ trang ở đây không chỉ chống Nhật mà còn kiềm chê/ hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng đang còn khá mạnh. Nét nổi trội của phong trào vũ trang Vĩnh Yên, Phúc Yên là công tác binh vận. Binh lính ở Đông Anh, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Bình Xuyên và thị xã Vĩnh Yên được tuyên truyền, giác ngộ đã gửi ra, hoặc bán cho ta vũ khí. Một số binh lính ở Bình Xuyên, Vĩnh Tường trở thành tự vệ của ta. Đặc biệt nhất là một trung đội Bảo an ở Tam Đảo đã phối hợp với Giải phóng quân hạ đồn binh Nhật ở Tam Đảo một cách thắng lợi. Lực lượng vũ trang Vĩnh Yên, Phúc Yên phối hợp với Giải phóng quân hạ đồn Tam Đảo. Trong Cách mạng Tháng Tám, số đồn bốt địch bị ta phá khá nhiều, nhưng cuộc hạ đồn Tam Đảo lại được nhiều nhà sử học nước ngoài, nhất là ở phương Tây chú ý đến. Đồn Tam Đảo, nơi Nhật đóng chốt và giam giữ tù binh Pháp cũng như Việt Nam, nằm trên một ngọn núi cách Hà Nội khoảng hơn 60km. Nhật coi đây là nơi an toàn lại khống chế được đường đi từ thủ đô lên chiến khu Việt Bắc . . . Tuy vậy lực lượng Nhật đóng ở đây cũng không nhiều, chỉ vẻn vẹn chín tên trong đó có một tên quan tư và một tên quan hai chỉ huy một trung đội Bảo an binh. Trung đội này đã được Giải phóng quân tuyên truyền giác ngộ, số đông ngả theo cách mạng. Về phía ta, Giải phóng quân kết hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ có sự chuẩn bị khá kỹ càng. Ngày 16-7-1945, khoảng 6 giờ sáng, khi trời còn sương mù, ta đã bắt đầu tấn công. Nhật lui vào cố thủ, ta phá trại giam tù nhân Việt Nam. Tù nhân được giải phóng hợp lực với quân Giải phóng đánh Nhật. Bảo an binh đã ngả về phía cách mạng. Nhật rút vào trong đồn, đóng chặt cửa, bắn tỉa và ném lựu đạn ra. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:56:49 pm Đợt chiến đấu kéo dài hai tiếng. Đến 8 giờ, ta dùng hoả pháo bắn đổ tường gạch của đồn. Nhật kéo ra hàng. Bảy tên Nhật bị tiêu diệt, chỉ còn tên quan tư và một lính Nhật sống sót. Ta thu được một súng liên thanh, bốn súng lục, năm súng trường, một hòm đạn và nhiều quân trang. Phía ta, hai giải phóng quân bị thương nhẹ, bốn tù chính trị vừa được phóng thích đã bị trúng đạn địch và hy sinh. Toàn bộ tù nhân người Pháp được giải phóng. Số thoát ra rừng khá đông. Chỉ còn 20 người, trong đó có giáo sư Bernard đi theo ta. Tất cả được ta giúp đỡ lên Tuyên Quang để sang Trung Quốc 1. 3. Phú Thọ, Yên Bái với chiến khu Vần - Hiền Lương Thực hiện chủ trương từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang Yên Bái, Phú Thọ đã có những đóng góp đáng kể của mình vào phong trào đấu tranh cách mạng chung của cả nước thời kỳ này. Yên Bái, Phú Thọ là hai tỉnh liền kề với nhau, lại tiếp giáp căn cứ địa Việt Bắc, nên các huyện giáp Tuyên Quang như Đoan Hùng, Thanh Ba, Phù Ninh, Hạc Trì (Phú Thọ), Lục An châu (Yên Bái)...đều có Giải phóng quân từ căn cứ địa Việt Bắc sang phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chống Nhật và tay sai, giành chính quyền. Nhưng nổi trội nhất là hoạt động vũ trang ở chiến khu Vần - Hiền Lương, nơi biểu hiện rõ chủ trương khởi nghĩa từng phần của Trung ương Đảng. Đây là nơi mà thời kỳ chống Pháp cuối thế kỷ thứ XIX đã có nghĩa quân của phong trào văn thân Cần Vương hoạt dộng (như nghĩa quân của Bố Giáp . . .) . Đến những năm 1929-1930, Phú Thọ, Yên Bái lại là địa bàn quan trọng nhất của khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng. Rồi từ Nghĩa Lộ, nơi thực dân Pháp giam các chiến sĩ cách mạng lại nổ ra cuộc “Vượt ngục Nghĩa Lộ” sau 9-3-1945, nhiều chính trị phạm được giải thoát đã tăng cường cho lực lượng vũ trang Yên Bái, Phú Thọ. . Về địa hình, địa thế và truyền thống vũ trang, Hiền Lương thuộc huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi có phong trào Việt Minh sớm (từ 194 1 - 1943) do đồng chí Hoàng Quốc Việt, rồi đồng chí Trần Quang Bình xây dựng. Các đồng chí đã dựa được cả vào tổng lý, kỳ hào có uy tín như Tổng Xen, Hai Phức tổ chức ra Hội kỳ hào cứu quốc. Tại đây, đã có một trung đội lấy tên là “Cứu quốc quân”. trang bị bằng súng trường, súng khai hậu, súng kíp, súng hoả mai. Hoạt động vũ trang phát triển tới Minh Đức, lập thêm đội du kích sau nhập làm một đặt tên là đội du kích Âu Cơ. Tiếp đó, trung tâm hoạt động của đội chuyển lên Đồng Yến và được nhân dân hết lòng giúp đỡ. Lực lượng vũ trang được luyện tập cách bắn súng, học cách đánh du kích, chuẩn bị pháo nổ và thùng sắt tây để nguỵ trang giả làm súng bắn... Sự có mặt của lực lượng vũ trang cách mạng ở Đồng Yến không qua được mắt bọn Nhật. Chúng phái một đội quân do một tên quan hai chỉ huy cùng với lính Nhật, lính dõng đi bằng năm thuyền đến càn quét. Du kích Âu Cơ đã mai phục ở Đèo Giang (bố trí ở gò cao) đợi địch tới. Cuộc chạm súng diễn ra chớp nhoáng. Quân ta đã giết một quan hai, hai lính Nhật, hai lính nguỵ. Nhật đổ bộ truy đuổi nhưng du kích rút lui an toàn. Sau trận này, ta thu được một số vũ khí. Ngoài ra, ta cũng đã vận động lý trưởng, phó lý Hạ Bằng La ủng hộ thêm 10 súng trường, 1 súng máy, và một số đạn dược. Lúc này đội du kích Âu Cơ phát triển tới 60, 70 người có cả phụ nữ. Trung tuần tháng 6-1945, đội du kích chuyển sang Vần, một địa bàn hiểm trở thuộc tổng Lương Ca, phủ Trấn Yên, Yên Bái. Vần là một thôn cách Đồng Yến 4 km, tiếp giáp với xã Âu Cơ, Hạ Hoà, Phú Thọ. Đây là một vị trí hiểm trở, có ba dãy núi lớn cao từ 200 đến 300m làm hàng rào che chở, rất lợi về quân sự. Nơi đây còn có tới sáu đường giao thông toả đi các nẻo Nghĩa Lộ, Phú Yên, đường số 13, Hạ Hoà (Phú Thọ) và đồn Vàng, thị xã Yên Bái, ra sông Hồng. Nhân dân ở đây có tinh thần cách mạng, tích cực ủng hộ lực lượng vũ trang. Khi thiếu gạo nuôi quân, nhân dân năm làng là Hiền Lương, Lang Xá, Bình Kiên, Tiểu Phạm, Linh Thông, trong một cuộc mít tinh lớn đã đồng thanh quyết nghị góp đủ gạo nuôi quân. ___________________________________________ 1. Tư liệu về cuộc hạ đồn Tam Đảo còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:57:49 pm Tại đây, khi thấy Việt Minh phá kho thóc Vân Hội, bọn Nhật thúc tuần phủ Đỗ Văn Bính trao nhiệm vụ cho tri phủ Trấn Yên là An Văn Tùng đi đánh phá Việt Minh. Ngày 5-6-1945, hơn 60 bảo an binh do An Văn Tùng chỉ huy, có phó quản Khoát hỗ trợ , tiến công vào chiến khu Vần. Cuộc tiến công này của địch còn có 30 lính dõng do hai tên ở tổng Lương Can đến phối hợp.
Để chặn đánh cuộc tiến công của địch bảo vệ vững chắc căn cứ địa, ta bố trí lực lượng phục kích ở Bãi Gia và dốc Quéo, bất ngờ nổ súng tiêu diệt một số tên, thu một số súng đạn. Tên tri phủ Tùng sợ hãi đã quy hàng. Căn cứ địa được giữ vững và ngày càng mở rộng. Dựa vào đó, lực lượng vũ trang trong căn cứ đã đẩy mạnh hoạt động. Mờ sáng ngày 6-7-1945, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Đức Sắc - người vừa được điều động về tăng cường cho lực lượng vũ trang căn cứ địa, 102 chiến sĩ thuộc đội du kích Âu Cơ tiến vào Nghĩa Lộ. Nhưng trước đó, do sự phát triển của cách mạng, cả một vùng rộng lớn từ Lương Tam đến Nghĩa Lộ đã được giải phóng, chính quyền bù nhìn ở đây đã bị cắt dứt liên lạc với chỉ huy ở tỉnh lỵ Yên Bái nên rất hoang mang. Vì vậy, khi quân cách mạng tới, họ đã ra cách phủ lỵ lkm để đón quân giải phóng. Ta chiếm đồn, thu được gần 50 khẩu súng. Đầu tháng 7-1945, một tên quan hai Nhật cầm đầu một toán quân tiến từ Âu Lâu vào Mị. Tới Mị, thấy Việt Minh đã phá kho thóc, chúng không dám tiến thêm mà theo đường rừng rút về Vần. Trên đường rút, chúng đã bị rơi vào trận địa phục kích của ta, ba tên Nhật bị giết. Sau chiến thắng, nhiều thanh niên địa phương, thậm chí cả bảo an, lính dõng xin gia nhập hàng ngũ quân du kích. rất đông khiến quân số lên tới 500 người. Lớp đào tạo cán bộ tiểu đội cho lực lượng vũ trang cơ sở được tổ chức trong 1 5 ngày, đào tạo được nhiều cán bộ cho địa phương. Sau khi chấn chỉnh đội ngũ, lực lượng vũ trang Vần - Hiền Lương chia làm hai đội: - Đội thứ nhất gồm hai toán: a) Toán do đồng chí Trần Quang Bình chỉ huy tiến xuống Phú Thọ liên lạc với khu Vạn Thắng chuẩn bị tham gia cướp chính quyền ở tỉnh lỵ Phú Thọ, trước hết là tiêu diệt đội Dương phản động giành chính quyền huyện Hạ Hoà. b) Toán thứ hai tiến xuống Sơn La, diệt đồn Vàng. Ngày 20-7-1945 đã hạ đồn Vàng đoạt 21 súng. Sau đó tiến chiếm châu lỵ Phù Yên (ngày 22-7-1945) thu 8 súng. Tri châu hoảng sợ bỏ chạy. Liền đó ta giải phóng Quang Huy (ngày 23-7-1945). - Đội quân thứ hai do đồng chí Trần Đức Sắc chỉ huy ra Bản Hẻo, tuyển thêm 100 quân, luyện tập để chuẩn bị phối hợp đánh Nhật trong Tổng khởi nghĩa. Tới tháng 8-1945, chiến khu Vần - Hiền Lương đã giải phóng được một phần đất đai rộng lớn thuộc ba tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La, chuẩn bị cùng cả nước bước vào Tổng khởi nghĩa. 4. Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Đông, Sơn Tây (những tỉnh tiếp giáp với An toàn khu cửa Trung ương và Xứ uỷ) võ trang chống Nhật. Tại Bắc Giang, cuối tháng 5-1945, du kích đã đột nhập kho súng Nhật ở Cầu Lồ lấy được mấy trăm súng. Ngày 3-6, ta giải phóng huyện lỵ Hiệp Hoà rồi tổ chức bao vây đồn binh Tri Cụ ba ngày. Tiếp đó, ta đánh chiếm đồn, bắt tù binh, thu súng. Hiệp Hoà thuộc An toàn khu dự bị của Thường vụ Trung ương được chọn làm nơi thí điểm xây dựng đội du kích tập trung của huyện. Ngoài ra còn lập đội vũ trang tuyên truyền và các đội trinh sát. Các đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Hà Thị Quế là những đồng chí tham gia chỉ huy quân sự ở đây thời kỳ này. Trong tháng 6-1945, du kích Bắc Giang phối hợp với Giải phóng quân đánh địch trên đường 13, Rừng Tiêm, Phố Giàng, Đại Giáp, Cầu Sen. Đặc biệt, du kích Yên Thế đã phối hợp với du kích Phú Bình (Thái Nguyên) phục kích một đoàn thuyền của Nhật qua kè Lữ Vân, thu được một số vũ khí, xăng, dầu nhờn... Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 01:58:21 pm Ngày 16-7, ta đánh huyện lỵ Yên Thế lần thứ hai. Sau khi hạ đồn lần thứ nhất, Nhật lại cho một tên tri huyện gian ác về nhậm chức. Tên này khét tiếng đàn áp cách mạng nên du kích đã phục kích giết chết. Tên đội Bảo an binh được ta tuyên truyền, đã tự động nộp súng. Ta thu được 20 súng trường và một số quân trang.
Từ đây, Nhật không dám đặt lại chính quyền bù nhìn ở Yên Thế nữa. Ngày 19-7, ta hạ đồn Bố Hạ. Đồn trưởng xin hàng, ta thu được một số súng, trong đó có cả súng kiểu Nga. Ngày 20-7-1945, tự vệ Song Khê đột nhập đồn Đức La (Yên Dũng) tước được bảy súng trường, phá kho thóc chia kho dân, tiếp đó phối hợp với tự vệ Cảnh Thuỵ đánh huyện lỵ Yên Dũng, hạ đồn rất nhanh, thu được 23 khẩu súng trường. Cũng trong tháng 7, quân ta chiếm huyện lỵ Việt Yên không phải đổ máu, tiến đánh Lục Nam (huyện lỵ Lục Ngạn), thu được 30 súng trường. Tiếp đó đánh Mẹt lần thứ hai thắng lợi. Tri châu Hữu Lũng tự nguyện xin gia nhập hàng ngũ cách mạng. Như vậy đến cuối tháng 7-1945, trừ thị xã Bắc Giang, phủ lỵ Lạng Giang gần thị xã và châu lỵ Sơn Động (giáp Quảng Ninh) ra thì toàn bộ Bắc Giang được giải phóng. Riêng Hiệp Hoà, nơi đã lập được Uỷ ban dân tộc giải phóng (ở Xuân Biểu, Trung Đình) sớm nhất tỉnh, nay lập Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện và trở thành căn cứ vững chắc của An toàn khu dự bị của Thường vụ Trung ương. Tại Bắc Ninh, Hưng Yên, lực lượng vũ trang hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của nông dân phá kho thóc, cứu đói, trừ gian, khống chế đi đến thủ tiêu chính quyền địch hoặc vô hiệu hoá chúng, lập chính quyền cách mạng thôn xã. Nhờ vậy đã bảo vệ được An toàn khu chính thức của Trung ương và đến ngày Tổng khởi nghĩa đã cùng các tỉnh ven đô hỗ trợ đắc lực cho Hà Nội. Hà Đông, Sơn Tây với Vạn Phúc, Phú Diễn nơi họp Hội nghị Xứ uỷ Bắc Kỳ tháng 5-1945... cùng một số căn cứ khác như chiến khu Đốc Ngữ (Sơn Tây), nhờ có phong trào du kích, tự vệ mạnh mới chống được Nhật đánh phá và khống chế được bọn tay sai ác ôn. Các cuộc chiếm huyện lỵ, phá kho thóc, biểu tình thị uy diễn ra ở nhiều nơi đều có vũ trang yểm hộ đã thành công. 5. Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh (chiến khu Quang Trung) Ba tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá có truyền thống thượng võ từ lâu. Nay ba nơi đều xây dựng căn cứ vũ trang. Thanh Hoá có chiến khu Ngọc Trạo (Thạch Thành) ra đời từ 1941. Hoà Bình có các căn cứ Cao Phong - Thạch Yên và Mường Khói. Ninh Bình thì căn cứ Quỳnh Lưu (Nho Quan) đã nổi lên dành Nhật ngay từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp. Từ sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, phong trào phát triển mạnh hơn nhờ có cán bộ do Trung ương cử về tăng cường. Lũ Phong - Quỳnh Lưu được chọn làm trung tâm của chiến khu Hoà – Ninh - Thanh. Xứ uỷ lấy đây làm điểm tựa để chỉ đạo phong trào hữu ngạn sông Hồng (gồm cả Nam Định, Hà Nam...). Cuối tháng 4-1945, chiến khu đã mở “Trường Sơn kháng Nhật học hiệu” tại thôn Bình Phú xã Phú Long (Nho Quan) do đồng chí Vương Thừa Vũ (vừa vượt ngục Nghĩa Lộ ra) chỉ đạo. Sau nữa tháng đã có 45 cán bộ quân sự của bốn tỉnh: Hoà Bình, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Nam ra trường. Ngày 20-5-1945, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đầu tiên của chiến khu được thành lập do đồng chí Lương Nhân phụ trách với 41 đội viên, được trang bị 21 khẩu súng trường tước được của địch và nhân dân quyên góp. Phong trào du kích lên cao đòi hỏi có nhiều cán bộ chỉ huy. Các học viên “Trường Sơn kháng Nhật học hiệu” khoá I đã toả đi mở các lớp mới ở Lỗi Sơn. Quỳnh Lương, Cúc Phương, Kỹ Lão... Một phong trào luyện võ kháng Nhật nổi lên ở khắp nơi. Lực lượng vũ trang đã hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển. Như ngày 14- 6 hai làng Thanh Khê, Ngô Khê thu thuế xong không chịu nộp cho địch mà đem ủng hộ Việt Minh. Những cuộc biểu tình thị uy có vũ trang đã trấn áp được sự phản kháng của kẻ địch, Nhật lo ngại, đã đưa quân về càn quét. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 02:03:51 pm Ngày 4-6-1945, một số lính Nhật đi ba Ô tô tải, có đủ súng ống kéo về Quỳnh Lưu càn quét. Cả quân chủ lực, quân du kích, và tự vệ của ta đều ra chiến đấu. Cuộc chiến kéo dài gần nửa ngày. Ta bắn giết tên chỉ huy và bốn lính, thu hai súng. Địch không vào được làng, phải lên xe rút lui về tỉnh lỵ. Tin chiến thắng truyền đi, phong trào vũ trang càng phát triển. Nhiều đội tự vệ mới được thành lập. Đặc biệt có Trung đội nữ binh thoát ly do nữ đồng chí Quế chỉ huy và một trung đội Giải phóng quân thứ hai gồm 40 đội viên (do đồng chí Kinh và đồng chí Sơn chỉ huy). Phong trào vũ trang ở các tỉnh trong chiến khu cũng phát triển mạnh, hỗ trợ cho đấu tranh kinh tế, chính trị, chuẩn bị tiến lên Tổng khởi nghĩa.
6. Chiến khu Đông Triều còn gọi là Đệ tứ chiến khu hay chiến khu Trần Hưng Đạo 1 . Chiến khu này nằm trên một vùng dân cơ đông đúc của vùng “vàng đen” của Tổ quốc. Nhưng đây còn là địa bàn có núi rừng hiểm trở, như núi Yên Tử, rừng Thanh Mai... Các mỏ than nối liền nhau từ Mạo Khê, Tràng Bạch đến Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả, lại đan xen với những đồn điền lớn hàng vạn mẫu cùng với hàng ngàn công nhân, như Hậu Quan, Bắc Nổi, Yên Sinh, Mạo Khê, Bí Chợ, Yên Lập... Dọn đường 18 nối Hà Nội với vùng Đông Bắc có hàng chục đồn bốt, có lúc địch đóng tới hàng ngàn lính, rải rác từ Phả Lại tới Đông Triều, Bãi Cháy đến Cửa ông, Tiên Yên. Binh lính ở đây được giác ngộ cũng là một lực lượng đáng kể của cách mạng. Ngoài ra, đây là nơi mà phỉ cũng nhiều như ở Cao - Bắc - Lạng. Có điều, chúng lại giả danh là “Đảng Việt Cách” hay “Trung Việt du kích quân”, do những tên đặc vụ Tưởng Giới Thạch làm “trùm”. Công nhân các khu mỏ và trí thức các thành phố, thị xã Hải Phòng, Hải Dương, Kiến An, Quảng Yên, Hòn Gai, Cẩm Phả. . . sớm có phong trào cách mạng, do các lãnh tụ Đảng về đây “Công nhân hoá” từ những năm 1930 xây dựng. Những cán bộ địa phương được giác ngộ đi hoạt động bị tù đày sau 9-3 vượt ngục, trốn tù ra được khá nhiều, lại trở về đây hoạt động, như Trần Cung, Hải Thanh, Nguyễn Bình 2, Dương Chính, Hoàng Sỹ Yết, Bùi Tổng Thuý, Nguyễn Văn Đài, Sư Lương, Quý (Quý Đen)... Những cán bộ trẻ, xuất thân từ công nhân ở đây như Đặng Tính 3, Trần Quang. Những cán bộ trẻ tuổi yêu nước đã bỏ hàng ngũ địch làm nội ứng cho ta như Nguyễn Hiền; hay đem cả một trung đội lính khố xanh về với cách mạng như Phạm Thanh Hà. Những sư sãi giác ngộ đã hoạt động tích cực cho cách mạng như Sư Nguyệt, người đảm bảo hậu cần cả cho hàng trăm quân; Sư Tuệ, người đã mượn việc tụng kinh mềm Phật để tuyên truyền cách mạng, gây dựng cơ sở… Sau cán bộ là vũ khí. Vũ khí ở đây được tăng cường bằng nhiều biện pháp: a. Quyên góp, như Chánh Huấn đã gửi súng ra cho nghĩa quân đi chiếm đồn. ___________________________________________ 1. Theo Hồi ký Một trang đáng nhớ của Trần Cung (Nxb. Văn học, Hà Nội, l980): Khoảng tháng 4-1945, Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Hải Dương được thành lập (có đồng chí Trần Đức Thịnh Xứ uỷ viên Bắc Kỳ tham dự chứng kiến). Gồm 5 đồng chí là: Nguyễn Kha (Bí thư), Vũ Duy Hiệu, Nguyễn Cộng Hoà, Trần Cung, Hải Thanh. Hội nghị quyết định thành lập chiến khu ở vùng Đông Bắc, bao gồm: Các huyện phía bắc Hải Dương (Chí Linh, Đông Triều) Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả, thành phố Hải Phòng, tỉnh Kiến An; lấy Chí Linh, Đông Triều làm trung tâm. Tỉnh uỷ giao cho hai đồng chí Trần Cung và Hải Thanh phụ trách việc thành lập chiến khu. Hội nghị lấy tên là “Đệ tứ chiến khu” vì ra đời sau hai chiến khu ở Việt Bắc và chiến khu III: Hoà - Ninh - Thanh. Nhưng sau lại căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc Kỳ đổi là “chiến khu Trần Hưng Đạo”. Còn nhân dân địa phương thì quen gọi nôm na là “chiến khu Đông Triều”. 2. Nguyễn Bình, quê ở Yên Phú (cùng làng với đồng chí Nguyễn Văn Linh) Mỹ Văn, Hưng Yên, vốn là công nhân tàu biển của Pháp. Năm 1927-1928 được kết nạp vào Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhóm với đồng chí Trần Huy Liệu. Bị địch bắt ra tù Côn Đảo, Nguyễn Bình cùng một số đảng viên tiến bộ của Việt Nam Quốc dân Đảng đã gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, sau Cách mạng Tháng Tám, được điều vào Nam Bộ chiến đấu, được phong hàm trung tướng. 3. Đặng Tính, quê ở Khúc Thuỷ, Thanh Oai, Hà Đông, là công nhân ở Phả Lại thường ra vào khâu vá thuê cho bọn Nhật ở đồn, đã cùng bang làm quen được với tên đội Nhật là Nôhara. Khi tên này chuyển lên Sơn Tây, Tính và Đang được giao nhiệm vụ đi lấy súng. Hai người đã tới Sơn Tây. Đang vào thăm Nôhara được y mời cơm, nhân lúc y sơ hở. Đang đã rút trộm được khẩu súng lục của Nôhara rồi trao cho Tính, cùng nhau đưa được về chiến khu. Sau này Đặng Tính trở thành cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Quân chủng Phòng không không quân Việt Nam. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 02:05:40 pm b. Lấy trộm súng của địch, từ súng lục đến đại liên 1.
c. Làm tốt công tác binh vận thu súng, như trung đội lính do Phạm Thanh Hà dẫn đầu đã về với cách mạng gồm 16 người, kèm theo là 16 khẩu súng... Nhiệm vụ trung tâm của chiến khu trước hết là phải diệt được các đồn địch án ngữ ở đường 18 trong một thế liên hoàn: Chí Linh, Đông Triều, Mạo Khê - Tràng Bạch. Ba khu vực có thể tiếp ứng với nhau một cách nhanh chóng nhờ có đường quốc lộ 18 và đóng cách nhau không xa. Do đó, khó khăn đặt ra là không thể đánh tỉa từng đồn mà phải đồng loạt công đồn, diệt viện ở cả ba nơi. Một khó khăn lớn ở vùng này là bọn phỉ cũng muốn công đồn, nhất là ở Chí Linh, để cướp gạo, cướp súng. Hoặc là ta phải diệt phỉ trước, hoặc là phải liên kết tạm thời với chúng, không để chúng đánh tập hậu khi ta công đồn. Ngoài ra còn bọn ác ôn địa phương cũng gây nhiều trở ngại. Bọn này có kẻ làm tay sai cho Nhật, có kẻ làm tay sai cho phỉ - Tưởng. Vì vậy nhiệm vụ đầu tiên là phải Diệt ác, phân hoá phỉ. Các đội diệt ác đã hoàn thành tốt nhiệm vụ như diệt được Hồ Xì ở Kiến An, Lý Thuỳ ở Kinh Môn, rồi sau là Ngô Quế Lâm ở Yên Mô, Đông Triều, giải phóng cho một số cơ dân đang bị phỉ kiềm chế, đồng thời đàm phán với phỉ, giao ước với chúng cùng hạ đồn Chí Linh. . . Vì thế, kế hoạch vạch ra là quân cách mạng chia làm ba toán công đồn cùng vào một ngày: 8-6-1945. Hạ đồn Đông Triều Đồn Đông Triều nằm trên đồi cao bên quốc lộ 18 nối Hà Nội với Quảng Ninh. Đồn lớn có thể đóng được hàng ngàn binh lính. Trước kia có Nhật và lính khố đỏ đóng, nay chỉ còn lính cơ do tri huyện Đỗ Văn Càng cai quản. Tại đây, ta đã bắt rễ được với người chỉ huy lính cơ là Nguyễn Hiền và đã mời Nguyễn Hiền họp với ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Nguyễn Hiền vận động được tri huyện đưa toàn bộ lính cơ lên ngủ ở đồn Bảo an từ đêm 6-6. Ngày 7-6, Hiền lại cấp giấy phép cho hai người cai về thăm nhà và phái mấy lính lừng khừng đi tuần thật xa. Rạng sáng 8-6, ngày chính thức khởi nghĩa, Hiền ra lệnh cho toàn thể lính cơ còn lại nộp súng và dồn họ lên tầng thượng lô cốt giam lỏng. Đúng giờ hẹn, đồng chí Nguyễn Bình dẫn gần 100 nghĩa quân mang cờ đỏ sao vàng tiến tới đồn. Cả đoàn chỉ có một súng trường, còn toàn giáo mác gậy gộc, gươm đao, có băng đỏ đính sao vàng đeo tay. Đúng 6 giờ sáng, quân cách mạng tiến vào đồn. Cổng đồn đã mở sẵn để đón, không phải nổ một phát súng nào. Các mũi tiến công theo kế hoạch đã vạch, đi chiếm đóng khắp nơi. Nguyễn Hiền tuyên bố với binh lính là cách mạng đã đến giải phóng đồn, ai theo Việt Minh đứng sang một bên, ai muốn trở về quê quán được quân cách mạng bảo đảm an toàn. Chỉ có 8 người xin về quê. Còn tất cả 40 binh sĩ mang theo 40 khẩu súng đã về với quân cách mạng. Huyện Cáng và Nghị Tuệ được dẫn ra trước quần chúng để định tội. Nhân dân xin tha cho họ vì so với bọn tay sai đế quốc khác họ chưa gây nhiều tội ác. Các kho thóc được phá chia cho dân. Chính quyền cách mạng huyện Đông Triều được thành lập. ____________________________________________ 1. Lê Phú - một lính thuỷ được giác ngộ làm ở tàu Commăngđăng Buốcđê do Nhật quản, cùng Vinh (một lính được ta giác ngộ) lừa lúc bọn Nhật đi ngủ, tầm 10 giờ 40 tối, đã tháo trộm hai khẩu đại liên trên tàu, đưa được về chùa Bạc Mã một khẩu cùng hai hòm đạn, còn một khẩu không chuyển về kịp... Ở Kiến An, nhờ có linh khố đỏ làm nội ứng, nghĩa quân đã hai lần lấy được súng: Lần thứ nhất bốn súng trường và hai túi đạn nặng; lần thứ hai, hai súng trường và ba súng lục đưa được về căn cứ Bạc Mã... Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 02:06:45 pm Giải phóng Chí Linh
Đây là nơi mà ta đã thoả thuận cùng bọn chỉ huy phỉ là Lương Đại Bân, Lương Sâm . . trong việc cùng đánh đồn, chiếm huyện lỵ. Hai đồng chí Hải Thanh và Lê Hai đến đại bản doanh phỉ từ tối 7-6 để thoả thuận kế hoạch công đồn. Giờ xuất phát công đồn là vào nửa đêm 7-6. Phía phỉ do Lương Đại Bân dẫn đầu, cùng bốn đô trưởng đi ngựa dẫn theo hơn 200 quân. Trong khi đó, ta đã bố trí hai đoàn quân, một ở đò Bình, cầu Thiêm và một ở ngã ba Quán Ninh Chấp để chặn địch tiếp viện từ Phả Lại. Tự vệ Phả Lại cũng có tới ba bốn chục người tới phục kích chặn viện binh địch. Khi mũi tấn công chính của quân ta tiến vào huyện lỵ, đặt trung liên dưới chân đồi sau huyện thì địch phát hiện thấy. Chúng xả súng bắn như mưa để chống cự. Ta dùng loa địch vận kêu gọi binh lính trong đồn đi theo Việt Minh đánh Nhật và cử một viên thừa phái già mang theo bức thư viết sau bản Cáo thị gửi lên đồn kêu gọi địch đầu hàng. Trước khí thế của quần chúng và do binh vận tốt, lính đồn đã mở cổng mời chỉ huy của ta lên đồn gặp gỡ. Hai đồng chí Hải Thanh, Lê Hai lên đồn thuyết phục. Tất cả cai đội, binh sĩ đều vui vẻ đi theo cách mạng. Riêng tên tri huyện Nguyễn Ngọc Hà đã trốn từ sớm. Bọn phỉ không mất một phát súng, khâm phục ta đã khôn khéo hạ được đồn, cũng rút về. Đến khoảng 10 giờ sáng, hơn 20 lính bảo an tình nguyện đi theo cách mạng. Ta tuyên bố giải tán chính quyền bù nhìn lập chính quyền cách mạng Chí Linh, phá kho thóc chiếm thêm mấy thuyền thóc của Nhật đang ở bến Vạn phát cho dân, cứu đói. Giải phóng Tràng Bạch, Mạo Khê Mũi tiến công này do đồng chí Trần Cung phối hợp với đồng chí Nguyễn Văn Đài, cán bộ lãnh đạo tổ chức ở mỏ Mạo Khê chỉ huy. Hai đồn binh này chỉ cách nhau có 5km nên lính đóng ở Tràng Bạch là chính. Ở Mạo Khê chỉ có 20 lính canh gác. Ngày 8-6, vào lúc 4 giờ sáng, nghĩa quân tiến đánh hạ đồn Tràng Bạch. Lực lượng được bố trí thành ba mũi. Một là, tự vệ chiến đấu của thợ ở Hạ Chiều, do Trần Quang chỉ huy mai phục xung quanh đồn; hai là, đội lính ở Cửa ông đi theo cách mạng do Phạm Mạnh Hà chỉ huy, vận nguyên quần áo lỉnh khố xanh như cũ, với 12 súng trường; ba là, tổ súng máy năm người với khẩu đại liên Hốt kít và một phóng lựu đạn, do đồng chí Sinh chỉ huy. Đúng 5 giờ sáng, đội quân cải trang làm lính khố xanh do Lê Phú đóng giả sĩ quan Nhật chỉ huy xông thẳng vào đồn, bắt được cai Huynh, chỉ huy đồn. Địch trong đồn rối loạn. Nghĩa quân kêu gọi họ hạ súng, đồng thời chiếm các kho vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, sổ sách, tuyên bố xoá bỏ quyền lực địch. Đồn lính thuộc về quân cách mạng. Nghĩa quân bắn năm phát súng báo hiệu thu quân rồi kéo sang chiếm mỏ Mạo Khê thu thêm được 20 súng trường và nhiều đạn dược. Đến 8 giờ sáng thì việc giải phóng Tràng Bạch, Mạo Khê đã hoàn thành. Hôm sau, thuỷ thủ tàu Địa măng chở 600 bao gạo đi Hòn Gai ghé qua bến Mạo Khê đã được ta giác ngộ, hiến cả thuyền gạo cho cách mạng. Ba cán bộ được phái xuống tàu tiếp thu chiến lợi phẩm và tiếp thu luôn số công nhân, thuỷ thủ trên con tàu này, thành lập ngay tiểu đội thuỷ quân đầu tiên. Chiếc tàu được lấy tên là Bạch Đằng. Có thể nói rằng, đây là sự kiện lịch sử đánh dấu bước khởi đầu của thuỷ quân cách mạng Việt Nam. Như vậy nhờ chuẩn bị chu đáo, có chiến lược chiến thuật sát với tình thế và địa hình nên cả ba mũi tiến công đều giành được thắng lợi trong ngày 8-6-1945 vừa đỡ tốn xương máu lại thu được nhiều chiến lợi phẩm, phá được chính quyền địch, thành lập được chính quyền cách mạng. Hơn một tuần lễ sau khi quân Nhật vào đánh phá chiến khu, ngày 17-6, ta bố trí ba cánh quân chặn đánh Nhật và kêu gọi bọn phỉ cùng hành động chống Nhật. Nhật sử dụng xe cam nhông chở lính từ Phả Lại đánh vào đồn điền Bắc Nồi, nơi chúng tưởng quân du kích đóng trụ ở đó. Thế nhưng, ta kịp thời tổ chức phục kích, tiêu diệt tên quan hai và làm bị thương năm tên khác. Địch phải quay về Phả Lại, bỏ dở cuộc tiến công. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 02:08:21 pm Từ đó, du kích quân tăng cường phòng ngự, phá giao thông, cầu phà để chặn địch tiến công, đồng thời mở rộng địa bàn hoạt động sang các huyện lân cận, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang giành chính quyền như ở Kim Môn, Thanh Hà (Hải Dương), Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), Uông Bí, Bí Chợ (Quảng Yên) . . . Giải phóng Kinh Môn 8 giờ sáng ngày 13-6-1945, hơn 40 chiến sĩ tự vệ với hai khẩu súng trường và lựu đạn, dao găm, mã tấu tiến về giải phóng phủ lỵ Kinh Môn, tri phủ Đỗ Quang Giai không dám làm việc ở công sở. Hằng ngày, hắn vào lô cốt ăn ở với binh lính. Đồng chí Lê Tâm cùng với một số cán bộ lấy tư cách là đại biểu Việt Minh vào đồn gặp tri phủ. Dưới chân đồn, tự vệ được nhân dân có vũ trang hỗ trợ đã bắt con trai tri phủ làm con tin. Khi Đỗ Quang Giai ra đón đại biểu Việt Minh để thương lượng thì y biết con trai đã bị bắt giữ. Ta yêu cầu y nộp hết vũ khí, tiền thuế đã thu được, phá kho thóc cứu đói, không được thu thóc, thu thuế nữa. Y cho lính trao súng đạn cho quân cách mạng, nộp tiền thuế đã thu được cho nghĩa quân. Nghĩa quân tiêu huỷ hết giấy tờ, sổ sách. Uỷ ban nhân dân cách mạng Kinh Môn được thành lập. Đỗ Quang Giai được tha. Nhưng đến ngày 21-6, y đã dẫn quân Nhật về Kính Chủ, nơi đóng quân của du kích, bắn chết một tự vệ gác cổng và bắt số du kích còn ở trong động Kính Chủ đưa về Hải Phòng. Bài học về sự mất cảnh giác này đã được rút kinh nghiệm trong chiến khu. Giải phóng huyện Thuỷ Nguyên, thu nhiều vũ khí Ngày 25-6-1945, quân khởi nghĩa do Sơ Lương và Sơ Tuệ chỉ huy, đã dùng kế đột nhập huyện lỵ Thuỷ Nguyên. Đồng chí Lương đội mũ Nhật, lơng đeo kiếm, đàng hoàng đi thẳng vào huyện lỵ. Người đóng giả phiên dịch giới thiệu có quan Nhật về kiểm soát vũ khí. Tri huyện Nguyễn Quang Tạo, người có cảm tình với cách mạng hôm đó lại sang Kiến An họp. Bọn cai, đội sợ cho quân lính (mà số đông là hội viên cứu quốc) nộp hết vũ khí cho quân cách mạng. Uỷ ban nhân dân cách mạng huyện được thành lập do Sư Lương làm Chủ tịch. Một trung đội du kích địa phương ra đời. Bắt sống năm lính Nhật ở ga Lai Khê - Kim Thành. Chiến công tuy nhỏ, nhưng ngày nay người Nhật rất quan tâm đến sự kiện nhân đạo này của lực lượng vũ trang Việt Minh.Để canh giữ Lai Vu, tháng 8- 1945, Nhật có tới 20 lính đóng ở ga Lai Khê . Du kích đã đưa hai nữ tự vệ cứu quốc (cô Chi) dùng “mỹ nhân kể’ bắt sống tên Khán Trù, viên đội nhất của Nhật. Trong khi đó, năm tự vệ khác phá cửa sau trại, lấy được 1 súng lục, 4 súng trường, 40 lựu đạn, vũ khí và bí mật phục sẵn các ngả bắt được 4 lính. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, năm tù binh này được ta trao trả ở Hải Dương. Họ tỏ lòng biết ơn. Giải phóng huyện lỵ Thành Hà (Hải Dương) Ngày 22-8-1945, đồng chí Lê Tâm được chiến khu phân công đưa hơn 40 tự vệ có vũ trang về giải phóng quê hương. Tuy chỉ cách tỉnh lỵ Hải Dương 12 km, nhưng phong trào cách mạng ở đây đã lên cao khiến tri huyện rất lo sợ. Khi cách mạng tới, với danh nghĩa Việt Minh về lấy huyện, tri huyện đã sẵn sàng ra lệnh cho quân lính nộp hết súng đạn (12 súng trường) nhiều đạn dược. Quân cách mạng tịch thu tiền thuế mà tri huyện đã thu được của dân, đốt hết giấy tờ sổ sách. Ban cán sự Việt Minh huyện từ đây được đổi thành Uỷ ban quân chính. Uy ban đã thành lập một trung đội du hích địa phương, với 12 súng trường và 1 trung liên do một người dân ủng hộ. Ít ngày sau, Nhật cho hai xe cam nhông chở đầy lính về đàn áp, nhưng trước công đường rỗng tuếch và trước khí thế cách mạng của nhân dân, chúng im lặng rút lui. Ta cướp thêm được bảy thuyền gạo của địch ở đò Gùa đang trên đường đưa ra Hải Phòng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 04:19:48 pm Chiến công Uông Bí và Bí Chợ
Ngày 26-6-1945, Uỷ ban quân sự cách mạng chiến khu họp tại Ba Xã, phân công cho đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy hạ đồn Uông Bí và chiếm trại Thanh mến Đại Việt ở Bí Chợ. Đồn Uông Bí có 6 tên Nhật cùng 60 lính bảo an và 13 lính khố đỏ Vũ khí có 1 đại liên, 4 trung liên và hơn 70 súng trường. Một số cai đội và binh lính ở đây đã giác ngộ cách mạng, cùng ta bàn kế hoạch tác chiến. 6 giờ sáng ngày 1-7, lợi dụng khi hai tên Nhật đi thuyền ra sông Bạnh Đằng kiếm cá để một tên ở lại sân đồn, du kích đã hạ sát ngay tên này bằng súng trường, rồi cùng lính bảo an lấy trung liên và đại liên bắn bọn đi đánh cá. Một tên chết, một tên chạy thoát vào bờ. Hai kỹ sư Nhật trong nhà máy điện Uông Bí bị công nhân bắt gọn. Toàn bộ vũ khí được chuyển ra một Ô tô tải đưa về căn cứ. Như vậy là hai tên Nhật bị giết, hai kỹ sư Nhật bị bắt sống. Việc giải quyết trại Thanh niên Đại Việt ở Bí Chợ khó khăn hơn vì trại này là ngôi nhà hai tầng đồ sộ của chủ mỏ, nay có khoảng 200 Thanh niên Đại Việt với nhiều vũ khí do một tên quan hai Nhật huấn luyện. Trong trại, quân du kích đã gây được nhân mối là Bùi Văn Sinh. Kế hoạch được vạch ra là dùng mưu, tạo điều kiện cho tên quan hai Nhật đi Hòn Gai. Nhân đó, đêm 30-6 rạng 1-7-1945 du kích gồm khoảng 15 người, đột nhập trại khống chế bọn lính gác, chiếm trại rồi tập hợp Thanh niên Đại Việt giải thích chủ trương, chính sách Việt Minh và giải tán họ, thu toàn bộ vũ khí đưa ra tàu Bạch Đằng (tức chiếc tàu thuỷ Địa măng đã lấy được của địch) và một số thuyền, chở về chiến khu. Sau các trận thắng ở Kinh Môn, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, Bí Chợ, vũ khí của chiến khu Trần Hưng Đạo tăng lên gấp ba lần, gồm 500 khẩu các loại: đại liên, trung liên, tiểu liên, súng trường... Quân số cũng tăng lên, phiên chế thành: Đại đội Hoàng Văn Thụ do Bùi Tống chỉ huy; các trung đội Ký Con, Đề Thám, Phạm Hồng Thái do các đồng chí Lê Phú, Phạm Minh Hà và Vũ Quang Thiện chỉ huy. Công đồn, giành chính quyền ở tỉnh ly Quảng Yên ngày 20-7-1945 Sau các trận đánh vào Uông Bí, Bí Chợ, binh lính và quan lại bù nhìn ở Quảng Yên hoang mang, lo sợ. Phong trào Việt Minh ở thị xã đã bắt liên lạc được với chiến khu Đông Triều nên sớm quyết định cướp chính quyền. Đêm ngày 20-7-1945, bốn trung đội: Đề Thám, Phạm Hồng Thái, Hoàng Văn Thụ, Ký Con do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy đã xuôi dòng sông Kinh Thầy tiến về thị xã. Biết được bọn Đại Việt đã từ Hải Phòng sang ép tỉnh trưởng phải giao chính quyền cho chúng, ngay đêm 20-7 ta kịp thời nổ súng hạ đồn. Những binh lính yêu nước đã mở cửa đồn ra theo cách mạng. Mặc dầu có tới gần 500 bảo an binh nhưng bọn chỉ huy cũng không dám chống cự, đã đầu hàng nộp vũ khí. Sau khi hạ đồn, quân cách mạng chia nhau đi chiếm dinh tỉnh trưởng, phá kho bạc, bưu điện, phá nhà tù giải phóng tù nhân, bắt giữ những tên Việt gian phản động khét tiếng, thu được gần 500 súng các loại và 1 kho đạn cùng nhiều đồ dùng quân sự. Chiến thắng Quảng Yên có tiếng vang lớn, vì đây là “Tỉnh lỵ đầu tiên mà quân cách mạng giành được trong cao trào tiền khởi nghĩa”. Sau chiến thắng này, cùng với hơn 500 du kích quân tập trung, nếu kể cả du kích địa phương Mạo Khê, Phả Lại, Thanh Hà, Kim Môn của chiến khu thì lực lượng quân sự tại đây đã lên tới gần 900 người với 900 súng các loại. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 04:20:40 pm 7. Các chiến khu Vĩnh Sơn, Núi Lớn (Quảng Ngãi).
Sau thắng lợi của khởi nghĩa Ba Tơ (10-3-1945), nhận rõ thời cơ Tổng khởi nghĩa chưa tới, các chiến sĩ du kích Ba Tơ đã quyết định chuyển lên vùng núi thượng du Quảng Ngãi, xây dựng căn cứ địa. Ngày 14-3-1945, trung đội du kích Ba Tơ được thành lập ở Hang én, gồm ba tiểu đội, được tổ chức gọn nhẹ nhưng đầy đủ các bộ phận: tuyên truyền, trinh sát. . . có điều lệnh, kỷ luật nghiêm minh. Sau gần hai tháng rèn luyện và vận động cách mạng từ 15-3 đến 5-5-1945, đội du kích Ba Tơ đã củng cố được đội ngũ, huấn luyện quân sự, thử thách trong gian khổ đấu tranh, tập dượt đội ngũ, tập dượt làm công tác vận động trong đồng bào Thượng để xây dựng căn cứ, đem lại nhiều kết quả. Tới đầu tháng 5, trước tình hình biến chuyển trên thế giới và trong cả nước, ban lãnh đạo du kích Ba Tơ đã thấy không cần trụ lại ở rừng núi nữa mà phải tiến về đồng bằng triển khai mọi hoạt động. Đúng lúc này thì Tỉnh uỷ Quảng Ngãi lâm thời cử đồng khí Nguyễn Chánh, Tỉnh uỷ viên lên truyền đạt nghị quyết: Điều động du kích Ba Tơ về trung châu. Sau khi điểm lại quân số, Tỉnh uỷ phân công một số chuyển về gây dựng cơ sở ở quê hương, còn lại 20 chiến sĩ trung kiên, chia làm hai bộ phận mang theo vũ khí đạn dược, về xây dựng hai căn cứ mới là căn cứ Vĩnh Sơn và căn cứ Núi Lớn. Trung tâm của căn cứ Vĩnh Sơn là vùng Vĩnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, phía bắc sông Trà Khúc, do đồng chí Phạm Kiệt chỉ huy; trung tâm của căn cứ Núi Lớn do đồng chí Nguyễn Đôn chỉ huy. Hai căn cứ này do đồng chí Nguyễn Chánh phụ trách chung, đã mở các lớp huấn luyện, phát triển lực lượng vũ trang. Sau khi hình thành, khu Vĩnh Sơn đã thành lập được một đại đội, lấy tên là đại đội Phan Đình Phùng. Chiến khu Núi Lớn cũng xây dựng một đại đội lấy tên là đại đội Hoàng Hoa Thám. Quân số mỗi khu có tới hàng ngàn người kể cả số bán chính thức. Trước đó, sau 9-3, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã ra tờ báo Chơn độc lập Giờ đây, lực lượng vũ trang cách mạng lại ra tờ Xung phong để rèn luyện quân đội và phát triển vũ trang nhân dân. Tuy Nhật và bọn tay sai thân Nhật đã đứng trước một phong trào quần chúng cách mạng mạnh mẽ, lực lượng vũ trang ở hai căn cứ chưa đụng đầu trực tiếp với chúng nhưng vẫn thực sự là chỗ dựa đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chung, là lực lượng rất quan trọng trong các hoạt động như chiếm đoạt các thuyền gạo của Nhật chở từ Nam ra hay việc rèn và sửa chữa vũ khí vũ trang cho quần chúng nhằm áp đảo chính quyền địch, mở rộng khu căn cứ. Tới cuối thừng 7, khi Tổng khởi nghĩa tới gần, lực lượng vũ trang Quảng Ngãi đã lên tới hàng nghìn người. Ngoài hai đại đội hình thức đã có tới hơn 2.000 du kích tự vệ, trong đó có hơn 1.000 đã biết sử dụng súng trường giết giặc . . . 8. Các căn cứ vũ trang trong toàn quốc Tìm hiểu khởi nghĩa từng phần ở Việt Nam thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, nếu chỉ thấy các chiến khu khu căn cứ lớn, mà chưa thấy các căn cứ nhỏ ở hầu khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam thì chưa rõ được thực chất của cao trào. a) An toàn khu cua Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ. Nói tới cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở thủ đô Hà Nội ít đổ máu, người ta không quên từ 1939 đến 1945 máu đã phải đổ nhiều ở các tỉnh ven đô và trong An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ sát nội thành, để chống lại mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng. Ngay từ 1942-1943, trong khi phát triển khu căn cứ địa Việt Bắc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng luôn bám sát Thủ đô Hà Nội, thị xã Hà Đông, đã xây dựng nên An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ trên địa bàn ven đô. Có An toàn khu chính thức và An toàn khu dự bị. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 04:22:00 pm An toàn khu chính thức nằm trên vùng đất ngoại thành Hà Nội cùng các huyện Từ Sơn (Bắc Ninh), Đông Anh (Phúc Yên), ven thị xã Hà Đông cùng Đan Phượng, Hoài Đức (Hà Đông). An toàn khu dự bị nằm trên đất ba huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang), Phổ yên, Phú Bình (Thái Nguyên) khi cần thì nối thêm với Kim Anh (Phúc Yên), Phú Bình (Thái Nguyên), Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào (Hưng Yên), Thạch Thất, Ba Vì (Sơn Tây...). Ban Thường vụ Trung ương, trừ khi đi họp ở chiến khu Việt Bắc, còn luôn đóng ở An toàn khu. Đấy chính là một điều kiện quan trọng để Đảng ta luôn bắt mạch được tình hình chung và đô thị. Hội nghị Thường vụ Trung ương họp ở Đình Bảng (Từ Sơn) ngày 9-3-1945 là một biểu hiện. Hội nghị vừa họp, vừa nhận được những tin tức nóng hổi về Nhật đảo chính Pháp từ thủ đô báo cáo ra hằng ngày, thậm chí hằng giờ. Để hoạt động được an toàn như vậy không thể không có đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang bảo vệ. b) Các tiểu chiến khu Kim Sơn (Kiên Thuỷ) và Câu Trung (An Lão) - Kiên An. Từ sau 9-3, nhận được chỉ thị của Trung ương, phong trào rèn sắm vũ khí, luyện tập quân sự của tự vệ ở đây đã phát triển. Đầu tháng 7-1945, lực lượng vũ trang ta đã phá kho thóc ở đồn điền Đoàn Xá của Hoàng Trọng Phu, chia 3.000 phương thóc cho nông dân... Ngày 11-7, tự vệ diệt đồn Bàng La, xoá bỏ chính quyền địch, thành lập Uỷ ban giải phóng Kim Sơn gồm 11 đại biểu thuộc các thành phần. Uỷ ban giải phóng đã thu hút được Thanh niên Đại Việt, áp đảo được bọn thủ lĩnh thân Nhật. Hồi 7 giờ sáng ngày 27-7-1945, gần một tiểu đội lính Nhật (khoảng sáu hoặc bảy tên) với 50 lính người Việt và một số tên Việt gian thân Nhật do tên Cáp ở Đức Phong dẫn đường đi trên hai xe Ô tô về đàn áp cách mạng. Chúng tấn công Kim Sơn bằng ba mũi: bắc, nam và tây bắc. Thế nhưng, do tinh thần cảnh giác, nhân dân đã rào làng, tổ chức canh gác ngày đêm và anh dũng chiến đấu thống địch nên cuộc chiến đấu đã kết thúc thắng lợi hồi 14 giờ cùng ngày. Bọn địch không chiếm được căn cứ phải rút lui. Tuy thắng lợi, nhưng ta cũng bị thiệt hại khá nặng: 7 tự vệ và 2 người dân hy sinh; 11 người bị thương; 42 gian nhà bị đốt cháy; 1 cụ già 75 tuổi đã bị chúng vứt vào đống lửa; 18 người bị bắt, sau đó, chỉ có 14 người trở về còn 4 người bị mất tích. Đồng thời với Kim Sơn, ở huyện An Lão (Kiến An) đã xuất hiện “Tiểu khu Câu Trung”. Lúc đầu “Tiểu khu” này hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Dân chủ có sự lãnh đạo của Việt Minh. Tháng 7-1945, tiểu khu đã tổ chức được một đội tự vệ khoảng 30 đội viên. Đội tự vệ đã tổ chức một số trận phục kích tước vũ khí của tên giám binh, thu một súng, hỗ trợ cho nhân dân chống nộp thóc. Kết quả, cả hai tiểu khu Kim Sơn và Câu Trung phát triển đã trở thành chỗ dựa cho phong trào tiến lên Tổng khởi nghĩa ở tỉnh Kiến An. c) Căn cứ Bãi Sậy (Hưng Yên) Sau cuộc hạ đồn Bần lấy súng đạn của giặc ngày 12-3, tự vệ và du kích Hưng Yên phát triển ở nhiều nơi như Đình Sơn, chùa Lai Khê (Kim Động) đã tổ chức được các lớp huấn luyện quân sự. Phong trào ở đây ngày càng lớn mạnh, đã trở thành áp lực với chính quyền địch, hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh chống thuế, phá kho thóc ở nhiều nơi. d) An toàn khu Phương Quả (Quỳnh Côi, Thái Bình) Tại Thái Bình phong trào vũ trang phát triển ở toàn tỉnh. Cơ sở mạnh nhất là Quỳnh Côi. Tỉnh uỷ đã chọn Phương Quả làm An toàn khu. Tháng 8-1945 đã xây dựng được Đội vũ trang của tỉnh gồm trên 40 đội viên có ba súng ngắn, sáu súng bắn chim, một súng Mútscơtông và dao găm, mã tấu. . . , tổ chức lớp huấn luyện quân sự đầu tiên ở An Ký, An Hiệp (Quỳnh Côi). Đội làm nhiệm vụ trừ gian, đã giết các tên lục sự Xần, mật thám Triện ở Quỳnh Côi, tổng Thâu ở Hưng Nhân, giết hai võ quan Nhật trên đường 39 thuộc địa phận Tiên Hưng, hỗ trợ cho nhân dân phá nhiều kho thóc và cướp các thuyền thóc của Nhật trên sông Luộc. . . Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 04:24:01 pm đ. Căn cứ Trung Thuần và Võ Xá (Quảng Bình) Tháng 5-1945, Hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh Quảng Bình có đồng chí Trần Hữu Dực - Xứ uỷ viên tham dự, đã thành lập Tỉnh uỷ lâm thời, và sau đó là Hội nghị Việt Minh toàn tỉnh chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Hội nghị quyết định thành lập hai căn cứ võ trang là Trung Thuần ở bắc và Võ Xá ở nam Quảng Bình. Hàng trăm thanh niên các nơi trong tỉnh được đưa về huấn luyện quân sự ở hai khu căn cứ. Lực lượng vũ trang mạnh đã áp đảo được chính quyền tay sai. Tỉnh trưởng Quảng Bình đã nộp lên chiến khu ba khẩu súng, hứa nghe theo Việt Minh và xin được che chở. Đồn trưởng Bảo an binh và nhiều binh lính đã ngả theo cách mạng, giao ruột số súng cho Việt Minh. Hai chiến khu đã tạo thành thế thuận lợi cho ngày Tổng khởi nghĩa. Ngoài ra, trong khoảng hai tháng 4 và tháng 5-1945, ở nhiều tỉnh khác đều có chủ trương lập căn cứ địa, hay có nơi gọi là chiến khu, để luyện tập quân sự, tích trữ vũ khí, chờ đón thời cơ... nbơ: Hà ĩ nh có căn cứ Đá Bạc (Cẩm Xuyên); Quảng Trị có chiến khu Phú Long và Của; Bình Định có An Độ An Sơn (Hoài Nhơn); Ninh Thuận có chiến khu Bầu Bèo (Bầu Bàn); Thủ Dầu Một có căn cứ Chánh Lưu - Bến Cát; Vùng cực nam Nam Bộ có căn cứ U Minh. . . Trong khi đó, cũng có tỉnh, thành phố, tuy không xây dựng căn cứ địa hay chiến khu, nhưng phong trào đấu tranh vũ trang vẫn phát triển mạnh: ở Bến Tre có Cứu quốc quân, gần ngày khởi nghĩa tổ chức thành Cảm tử quân. ở Sa Đéc, mỗi xã lập một đội xung phong vũ trang. Ở Mỹ Tho có phong trào du kích cách mạng, đã tổ chức được ba trung đội du kích với 32 khẩu súng và mở nhiều lớp huấn luyện quân sự. Ở Cần Thơ cũng như ở Sài Gòn, phong trào thanh niên Tiền phong mạnh, có các Xung phong đội của Thanh niên, Tự vệ xung phong của thành phố, Xung phong công đoàn của công đoàn. ở Huế có các đội tự vệ, các tổ tuyên truyền xung phong có vũ trang. Ở Hà Nội, do có An toàn khu của Xứ uỷ và Trung ương ở ven nội, tổ chức vũ trang được phát triển dưới nhiều hình thức: từ các đội tự vệ vũ trang, du kích quân, giải phóng quân ở An toàn khu đến các đội tự vệ vũ trang, các đội Cảm tử quân thành phố... Điều đáng lưu ý của cao trào tiền khởi nghĩa là: ngoài việc đưa số người tham gia vũ trang lên cao chưa từng có, việc thu, sắm vũ khí cũng rất được coi trọng. Đó không chỉ là sự chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám mà còn là sự chuẩn bị tích cực và có hiệu quả cho cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. ở miền Bắc, chiến khu Đông Triều là nơi phong trào thu, sắm vũ khí thu được hiệu quả cao. Tại đây, ta đã thu được hàng nghìn súng các loại từ đại liên đến súng trường, súng lục cùng nhiều đạn dược . . . Ở miền Nam, sau ngày 9-3, Nhật chiếm một số xưởng máy ở các đồn điền cao su như Phú Hưng, Hớn Quản, Kêruenla (vùng Chánh Lưu)... thuộc Thủ Dầu Một, biến các nơi này thành các xưởng chế tạo vũ khí như mìn, lựu đạn, đạn. . . Công nhân cách mạng đã lấy vũ khí từ chính các xưởng chế tạo này để tự vũ trang. Đội chủ lực ở Chánh Lưu, Bến Cát được trang bị đầy đủ các loại vũ khí, kể cả súng liên thanh. Lực lượng du kích đột nhập các kho vũ khí của Nhật để lấy súng đạn. Số vũ khí trên đây không chỉ đủ dùng mà còn tiếp tế cho Sài Gòn, Chợ Lớn. . . VI- THÀNH CÔNG CỦA CAO TRÀO TIỀN KHỞI NGHĨA Trong lịch sử cách mạng ở các nước trên thế giới, ít thấy ở đâu có hình thái cao trào tiền khởi nghĩa gần sáu tháng như ở Việt Nam. Những thắng lợi của cao trào tiền khởi nghĩa đã tạo điều kiện cho cuộc Cách mạng Tháng Tám diễn ra nhanh chóng, thuận lợi và ít đổ máu. Thời cơ mở đầu cho cao trào này là cuộc đảo chính của phát xít Nhật hất cẳng thực dân Pháp ngày 9-3. Sự kiện đó là khách quan. Nhưng nguồn gốc nảy sinh ra cao trào lại hoàn toàn là sự chủ động nắm và tạo thời cơ để kịp thời chớp lấy thời cơ của cách mạng Việt Nam: Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 05:28:35 pm 1. Chủ động ở việc Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã có chỉ thị kịp thời lãnh đạo phong trào toàn quốc ngay khi Nhật hất cẳng Pháp để độc chiếm Đông Dương. 2. Chủ động ở việc các cơ sở cách mạng đã quán triệt và vận dụng sáng tạo Nghì quyết Trung ương lần thứ VIII để kịp thời xây dựng và tăng cường lực lượng, xây dựng căn cứ địa, đẩy mạnh các hoạt động du kích, kịp thời chớp lấy thời cơ Tổng khởi nghĩa. Nhờ vậy, trong khi không để xảy ra phiêu lưu, manh động, khắp nơi trong cả nước, chúng ta đã hành động khẩn trương, đẩy mạnh hoạt động vũ trang tiêu diệt địch, giành chính quyền theo dạng khởi nghĩa từng phần; củng cố và mở rộng chiến khu Việt Bắc trở thành Khu giải phóng, xây dựng hàng loạt căn cứ, chiến khu lớn nhỏ từ Bắc chí Nam. 3. Dựa trên nguyên tắc khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác-lê nin và Tơ tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta vừa tiến hành và đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, vừa phát động các phong trào đấu tranh khác dưới những hình thức như: Công nhân bãi công, lập đội tự vệ; nông dân chống thuế, phá kho chóe cứu đói; tiểu thương tiểu chủ đấu tranh chống vơ vét thóc gạo, hàng hoá, tăng sưu thuế, trí thức đấu tranh đòi tự do ngôn luận, hội họp, hoạt động yêu nước... Các tầng lớp công, nông, thanh, phụ, dân tộc, đa số thiểu số đều tham gia đấu tranh, khiến cả nước dấy lên một cao trào cách mạng. 4. Đồng thời với việc chủ động, tích cực xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang chúng ta cũng đã đẩy mạnh phong trào sắm sửa vũ khí bằng cách vừa cướp súng giặc vừa tự rèn - gươm giáo, đúc súng đạn. Đây cũng là một trong số những nhân tố đảm bảo cho sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng ta đã có một lực lượng quân sự và vũ khí để bước đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. 5. Việc đập tan được uy thế của kẻ thù là phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn tay sai trong cao trào tiền khởi nghĩa đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giành chính quyền ở nhiều thôn xã, bản làng tới châu, huyện ở các địa phương; tiêu diệt được một số sinh lực của Nhật. Các cuộc đấu tranh đổ máu không nhiều và số lượng giặc Nhật bị giết không cao. Thực tế đó có những nguyên nhân khách quan và chủ quan của nó. Có điều, không thể vì thế mà có thể hạ thấp vai trò của đấu tranh vũ trang trong thời kỳ lịch sử này. Nhìn chung lại, với những nội dung trên đây, đã có thể khẳng định được rằng, cao trào tiền khởi nghĩa là sự dọn đường cho Tổng khởi nghĩa nổ ra mạnh mẽ, nhanh chóng, giành thắng lợi vang dội và ít đổ máu. CHƯƠNG V ĐẤU TRANH VŨ TRANG TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM Đến tháng 8-1945, cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám đã trải qua hơn 5 năm. Trong hơn 5 năm đó, ở trong nước, Khu giải phóng được thành lập, “Nước Việt Nam mới ra đời” 1 như đồng chí Trường Chinh đã nhận định. Các lực lượng vũ trang nhân dân (gồm tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu, du kích địa phương, du kích thoát ly, Cứu quốc quân, Giải phóng quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. . .) trong các chiến khu cách mạng đã đẩy mạnh các hoạt động “đánh Pháp, đuổi Nhật”, làm tan rã chính quyền tay sai của chúng. Mặt trận Việt Minh - một mặt trận dân tộc thống nhất cứu nước rộng rãi đang ngày càng phát triển. Tất cả những điều đó đã là nỗ lực chủ quan góp phần tạo nên thời cơ Tháng Tám năm 1945. ________________________________________________ 1. Trường Chinh: Cách mạng Tháng Tám, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.9. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 05:29:25 pm Trên trường quốc tế, cả nhân loại tiến bộ với lực lượng dẫn đầu là Đồng minh quốc tế chống phát xít do Liên Xô, Mỹ, Anh, làm nòng cốt, có Trung Quốc, Pháp (phái Đờ Gôn), Việt Nam... cùng nhiều dân tộc khác tham gia, đã đánh bại chủ nghĩa phát xít ở cả phương Tây lẫn phương Đông. Thắng lợi đó về khách quan, đã góp phần to lớn tạo nên thời cơ cho cách mạng các nước trong đó có Việt Nam, giành tháng lợi. Có điều với cách mạng Việt Nam, thời cơ đó hoàn toàn không phải là bất ngờ. Trước đó, nó đã nằm trong lường tính của những người cộng sản Việt Nam. Cuối tháng 4, đầu tháng 5-1945, những ngày tàn của phát xít Đức ở phương Tây đã điểm. Ngày 30-4-1945, Hồng quân Liên Xô cùng quân Đồng minh đánh chiếm Béclin. Hít le tự sát. Ngày 9-5-1945, phát xít Đức ký văn bản đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ngày 16-6-1945, trên tờ Cờ giải phóng với bài “phát xít Đức đã tắt thở”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Cái khâu chính của dây xiềng mà phe trục định dùng để trói buộc lo.ái người, vừa đứt phựt. Nay mai, toàn thể dây xiềng sẽ tan rã. Phát xít Nhật, bạn đồng minh của Đức Hít le bị trơ trọi hẳn và đang lo như cá nằm trên thớt. Chẳng bao lâu nữa chúng sẽ trở về thiên cổ theo gót bọn chúng bên trời âu”. Bài báo của đồng chí Trường Chinh ra mắt đúng vào những ngày cao trào tiền khởi nghĩa đang trên đà phát triển. Nó có tác dụng thúc đẩy phong trào, đồng thời chỉ ra cho hoạt động vũ trang phải sẵn sàng lao vào hành động khi thời cơ chín muồi: “Dù sao nhân dân Đông Dương không thể bị động trông chờ những ngày may mắn từ đâu đưa lại. . . Phải đứng dậy đánh đuổi giặc Nhật, góp sức với Đồng minh dìm chết con thú dữ Nhật Bản dưới đáy Thái Bình Dương. . . sẵn sàng phát động Tổng khởi nghĩa giành hẳn lại đất nước”. Do đó, từ tháng 5-1945, đấu tranh vũ trang chống Nhật và tay sai giành chính quyền trong khởi nghĩa từng phần đã phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tất cả đều hướng tới Tổng khởi nghĩa. Trung tuần tháng Tám năm 1945, những ngày mong đợi đó đã đền. Theo thoả thuận Pốtxđam, ngày 9-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Trong vòng một tuần lễ, Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt hoàn toàn đội quân Quan Đông của phát xít Nhật, giải phóng hoàn toàn vùng đông bắc Trung Quốc và bắc Triều Tiên. Ngày 9-8-1945, Mỹ đã ném tiếp quả bom nguyên tử thứ hai xuống hải cảng Nagasaki. Ngày 10-8, Nhật chấp nhận điều kiện đầu hàng mà các nước Đồng minh đưa ra tại Hội nghị Pốtxđam. Ngay hôm sau, ngày 11-8, tin tức về Nhật đầu hàng được phát đi trên toàn thế giới. Ngày 13-8 Nhật Hoàng chính thức công bố lệnh đầu hàng. Thế nhưng, quân đội Nhật ở Đông Dương chưa nhận được lệnh chính thức trao quyền quản lý Đông Dương cho Đồng minh nên chúng vẫn giữ quyền thống trị và có trách nhiệm trước Đồng minh về việc giữ gìn trật tự ở Đông Dương trước khi quân Đồng minh tới. Ngoài ra, phải bảo đảm an toàn cho các lực lượng thông tin, tình báo của Mỹ như của nhóm OSS do A.Patti dẫn đầu từ Vân Nam tới, hay nhóm Thông tin của Pháp do XanhTơni dẫn đầu tới hoạt động ở Đông Dương trước khi Đồng minh vào tiếp quản với danh nghĩa vào coi sóc những tù binh Pháp. Nhưng mặt khác, Nhật lại vẫn buộc phải làm ngơ trước những hoạt động của Việt Minh đang giành chính quyền ở một số địa phương. Tuy rằng, cho cả tới sau khi đầu hàng, chúng vẫn không dễ dàng nhượng bộ Việt Minh về mặt quân sự. Chúng cố thủ ở thị xã Thái Nguyên, gây đổ máu ở Hà Đông, Bắc Ninh. . . ; đỡ đầu chính quyền bù nhìn do chúng dựng lên khi bọn này cố gắng thay đổi tổ chức, chuyển hướng hành động mong cứu vãn tình thế của chúng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 05:30:38 pm Cho đến ngày 19 - 8, chúng vẫn còn gây khó khăn trở ngại cho việc giành chính quyền của nhân dân Hà Nội bằng cách ủng hộ việc Chính phủ Trần Trọng Kim thay đổi nội các, cử Nguyễn Văn Sâm làm khâm sai ở miền Nam và cử Nguyễn Xuân Chữ (Đại Việt) vừa được Nhật đưa từ Xinhgapo về vào ghế khâm sai ở miền Bắc thay cho Phan Kế Toại.
Đầu tháng 8, Chính phủ Trần Trọng Kim còn nhận lệnh của Tướng Tsuchihashi, toàn quyền Nhật ở Đông Dương, thông qua Phan Kế Toại tìm gặp Việt Minh để thương lượng nhằm “mời” đại diện Việt Minh tham gia nội các của họ. Thậm chí, cho tới ngày 16 - 17 tháng 8, họ còn hội họp bàn biện pháp cứu vãn quyền lực sau khi Nhật đầu hàng; cử đại diện đến mặc cả với Việt Minh để được chia một phần quyền lực và chỉ hoàn toàn chịu tự giải tán khi Việt Minh đã toàn thắng từ 19-8. Do đó, đối tượng của cách mạng Việt Nam trong những ngày tháng 8-1945 về mặt quân sự vẫn là quân đội Nhật Bản với hơn sáu vạn tên hiện diện ở Đông Dương và về mặt chính trị, vẫn là Chính phủ Trần Trọng Kim, do Nhật dựng lên. Trong khi đó, quy ước Pốtxđam đã tạm thời giải quyết mâu thuẫn giữa các cường quốc trong Đồng minh về quyền lợi ở phương Đông bằng cách quyết định cho quân đội Anh vào tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật và giải giáp quân dội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào; còn phía Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở ra, nhiệm vụ đó được trao cho quân đội Trung Hoa Tưởng Giới Thạch. Tình thế này khiến cho trong khi đối tượng của cách mạng Việt Nam là phát xít Nhật và bọn tay sai đã suy yếu và đang đến ngày tận số, thì đối tượng mới lại bắt đầu xuất hiện. Đó là lực lượng Pháp Đờ Gôn mà ngay từ tháng 4-1945, trong tuyên bố của mình, Đờ Gôn đã lộ rõ dã tâm trở lại thống trị Việt Nam. Âm mưu này lại được Anh, và trên chừng mực nào đó là cả Mỹ, ủng hộ. Trên thực tế, từ tháng 8-1945, nhóm XanhTơni theo chân đoàn đại diện OSS (cơ quan tình báo chiến lược Mỹ) do A.Patti dẫn đầu đã từ Trung Quốc vào Hà Nội, với danh nghĩa là coi sóc các tù binh Pháp còn kẹt lại ở Việt Nam. Nhưng thực nhất là để nắm tình hình chuẩn bị cho việc đưa quân đội Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. I. HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG (13 - 15-8-1945) VÀ ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA Trong những ngày cả nước sục sôi chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, tại Tân Trào, lãnh tụ Hồ Chí Minh khẩn trương chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội. Mặc dù đang ốm nặng, Người vẫn làm việc rất nhiều, viết nhiều chỉ thị và thơ hoả tốc gửi đi các hướng để triệu tập các đại biểu nhanh chóng về họp. Từ chiếc lán ở Nà Lừa, Người chỉ thị “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” 1. Theo Tư tưởng đó, ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đại diện cho 5.000 đảng viên trong cả nước khai mạc tại Tân Trào dưới sự chủ toạ của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trong tình hình vô cùng khẩn cấp, Hội nghị đã làm việc trong ba ngày, từ ngày 13 đến ngày 15-8. Phân tích toàn bộ diễn biến tình hình eo liên quan tới thời cơ lịch sử của cách mạng Việt Nam, Hội nghị nhận định rằng: “Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm, quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ”. “Nhân dân Đông Dương cực khổ căm tức, cách mạng hoá; đến cả một phần quan lại cũng ngả về phe cách mạng”. “Cao trào kháng Nhật cứu nước do Đảng lãnh đạo ngày một mạnh mẽ sâu rộng khắp Bắc, Trung, Nam... Khu giải phóng và Quân giải phóng Việt Nam thành lập”. “Quân Đồng Minh sáp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương”. ___________________________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà NộI, 1977, tr.203. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 05:34:59 pm “Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa, giành quyền độc lập” 1.
Trên cơ sở nhận định đó, Hội nghị chỉ ra rất rõ rằng: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới” 2. Chớp thời cơ lịch sử “ngàn năm có một” này, Hội nghị quyết định: Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa để giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng, trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam. Để bảo đảm lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, Hội nghị đề ra ba nguyên tắc chỉ đạo: “a. Tập trung - Tập trung lực lượng vào những việc chính. b. Thống nhất - Thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy. c. Kịp thời - Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội” 3. Hội nghị vạch rõ nhiệm vụ quân sự là: “đánh cho quân giặc những đòn chí tử, tiêu diệt lực lượng của chúng, chớp lấy những căn cứ chính (cả các đô thị) trước khi quân Đồng minh vào” 4. Trong tiến công quân sự, Hội nghị chỉ ra, phải: “Tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh”, “đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê”, “Làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh” 5. Hội nghị cũng chỉ rõ, trong tác chiến, phải tuân thủ nguyên tắc “quân sự và chính trị phải phối hợp” 6. Lường định những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình tiến công một số mục tiêu của địch, Hội nghị đề ra kế hoạch đồi phó với trường hợp quân ta buộc phải thoái lui, nhằm “giữ gìn đội ngũ, bảo toàn thực lực” 7. Coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ngay cả trong quá trình diễn ra Tổng khởi nghĩa, Hội nghị quyết định: “Chỉnh đốn và phát triển bộ đội”, “tổ chức thêm những bộ đội mới, chỉnh đốn bộ đội tự vệ chiến đấu và tiểu tổ du kích để thành lập quân Giải phóng ở ngoài khu giải phóng” 8. Hội nghị cho rằng, trong quá trình đó, phải thống nhất biên chế, thống nhất khẩu lệnh, cải thiện công tác chính trị, định rõ các chiến khu, đào tạo cán bộ quân sự, tìm kiếm sự trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang bằng việc “Tước võ khí của quân Nhật - tiếp tục chế thêm” 9 . Ngoài việc quyết định những nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là lãnh đạo toàn quân, toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, Hội nghị còn đề ra những chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại cần phải thực hiện sau khi Tổng khởi nghĩa thành công. Về đối nội, Hội nghị nhấn mạnh phải chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức quần chúng - mà trước hết là đối với các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh; thông qua và ban hành 10 chính sách lớn của Việt Minh, coi đó là chính sách cơ bản trước mắt của toàn Đảng, toàn dân; chú ý tới việc sản xuất nông nghiệp, trước hết là sản xuất lương thực. Về đối ngoại , phải triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp, Anh, Mỹ, Tưởng; hết sức tránh trường hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù; ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp và nhân dân Trung Quốc; đánh tan âm mưu của thực dân Pháp định trở lại xâm lược nước ta và âm mưu của Tưởng Giới Thạch định biến nước ta thành “một nước chư hầu”. Trong lúc Hội nghị đang họp thì tình hình diễn biến rất mau lẹ. Vì thế, ngay trong đêm 13-8, Uỷ ban khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh vừa thành lập đã ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh cho quốc dân đồng bào cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa: “Hỡi quân dân toàn quốc !... “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh ! “Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà ! "Hỡi các Tướng sĩ và đội viên Quân giải phóng Việt Nam! _________________________________________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr.424. 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd t.7, tr. 425, 429, 430. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 06:04:31 pm “Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch, đánh chẹn các đường rút lui của chúng, Tước hết võ khí của chúng! “Đạp qua muôn trùng trở lực, các bạn hãy kiên quyết tiến! “Hỡi nhân dân toàn quốc ! “Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo quân giải phóng, sung vào bộ đội xông ra mặt trận đánh đuổi quân thù. “Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! “Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn lao của các bạn ! “Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!” 1. Cũng ngay đêm 13-8 2, uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng lệnh cho lực lượng vũ trang, các Uỷ ban nhân dân cách mạng và toàn thể nhân dân trong khu đứng lên khởi nghĩa. Mệnh lệnh này gồm những nội dung chủ yếu sau đây: - Tập trung lực lượng đánh vào các đô thị nhưng phải chắc thắng, đánh chặn quân Nhật rút chạy; - Sau mỗi một cuộc chiến đấu, lập tức bổ sung và củng cố bộ đội, để lại một phần ba hoạt động trong địa phương, hai phần ba thì chuẩn bị sẵn sàng, đợi lệnh điều động đi tác chiến nơi khác; - Củng cố các căn cứ bí mật, lập các kho tàng quân lương, quân giới, trong đó chú trọng xây dựng cả các xưởng bí mật, chuẩn bị kháng chiến một khi quân Pháp trở lại. Mệnh lệnh khởi nghĩa ban ra, đáp ứng kịp thời mong mỏi và quyết tâm to lớn của quân dân cả nước nói chung, quân, dân Khu giải phóng nói riêng. Khí thế đó đã được đồng chí Võ Nguyên Giáp sau này ghi lại: “Nửa đêm nhận lệnh, bộ đội và nhân dân reo mừng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để thực hiện nhiệm vụ lớn”. Vì thế, ngay sau đó các đơn vị Giải phóng quân đóng tại Chợ Chu, Tuyên Quang được lệnh chuyển g~ về tập trung tại Tân Trào . . . II. QUỐC DÂN ĐẠI HỘI TÂN TRÀO VÀ LỄ XUẤT QUÂN CỦA GIẢI PHÓNG QUÂN VIỆT NAM Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 16-8, Quốc dân Đại hội khai mạc cũng tại Tân Trào. Tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu Bắc, Trung, Nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại biểu các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo. Đại hội nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Lệnh KHỞI nghĩa của Tổng bộ Việt Minh và 10 chính sách lớn của Việt Minh. 10 chính sách lớn đó là: “1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. “2. Võ trang nhân dân. Phát triển quân Giải phóng Việt Nam. “3. Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tùy từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo. ________________________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr.421-422. 2. Trong cuốn sách Từ nhân dân mà ra, tr.226, đồng chí Võ Nguyên Giáp ghi chú: Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa do Trần Huy Liệu khởi thảo. Thời điểm phát ra Mệnh lệnh khởi nghĩa của Khu giải phóng, các tài liệu đưa chênh nhau một ngày nhưng rất quan trọng. Theo đồng chí Võ Nguyên Giáp thì đó là 11 giờ đêm ngày 13-8, như vậy trùng với lúc đồng chí uỷ quyền cho đồng chí Trần Huy Liệu thảo Quân lệnh số 1. Còn văn kiện Đảng cũng như Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Sđd, tr.393) lại ghi là ngày 12-8, rồi nhiều sách khác cũng theo. Xét lôgíc của vấn đề thì ý của đồng chí Võ Nguyên Giáp là hợp lý hơn, tức 11 giờ đêm 13-8-1945. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 06:10:54 pm “4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
“5. Ban bố những quyền của dân cho dân: a) nhân quyền, b) tài quyền (quyền sở hữu), c) dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngơỡng, tự do Tơ tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền. “6. Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm địa tức, hoãn nợ, cứu tế nạn nhân. “7. Ban bố luật lao động: ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm. “8. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở quốc gia ngân hàng. “9. Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cơỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hoá mới. “10. Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủn g hộ của họ” 1 . Đại hội quy định Quốc kỳ là cờ đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh; Quốc thiều là bài Tiến quân ca. Đại hội cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam - tức Chính phủ lâm thời, do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Uỷ ban dân tộc giải phóng có một Ban thường trực gồm năm người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền. Đại hội quốc dân Tân Trào thể hiện ý chí và sự đoàn kết của toàn dân, toàn quân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm mục tiêu chung là nhanh chóng nắm lấy thời cơ lịch sử “ngàn năm có một”, giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của dân tộc lúc bấy giờ đã được Đại hội khẳng định là phải khẩn trương vũ trang toàn dân, phát triển Quân giải phóng Việt Nam. Vì rằng: “không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go trở ngại sẽ xảy ra. Chứng ta phải khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những sự không lợi cho ta. kiên quyết đê giành cho được nền hoàn toàn độc lập” 2 . Như vậy, bắt đầu từ thời điểm này, đồng chí Hồ Chí Minh chính thức trở thành người lãnh đạo tói cao của quân đội và của dân tộc với Tơ cách là Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời; Quân kỳ cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện từ Nam Kỳ khởi nghĩa cũng như trong ngày thành lập Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân 22-12-1944, nay chính thức trở thành Quốc kỳ và bài Tiến quân ca đã từng được quân Giải phóng ca vang, nay chính thức trở thành Quốc ca của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Quốc dân Đại hội Tân Trào khai mạc sáng ngày 16-8, thì chiều ngày 16-8 Giải phóng quân làm lễ xuất phát, nhận nhiệm vụ cấp tốc về xuôi, giải phóng Thái Nguyên tiến về thủ đô 3. Buổi lễ diễn ra trong một bầu không khí Tưng bừng, trang nghiêm , dạt dào tình cảm cách mạng. Sau này, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã ghi lại quang cảnh buổi xuất quân lịch sử đó: ______________________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr.559-560. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, i.7, tí. 561 3. Theo A.Patti, vào giữa tháng 7-1945, số người Mỹ ở Việt Bắc đã có: Thomas. Phelan, Dejourneaux, Hoaglund, Spuires và các nhân viên khác của toán “Con Nai”. Như vậy, có thể họ là những người có mặt ở đoàn quân cùng xuất phát từ Tân Trào ngày 16-8, trước sự hoan nghênh của các đại biểu dự Đại hội: “Họ đi theo cùng với bộ đội Việt Minh suốt trên đường về Hà Nội, nhưng chỉ với Tơ cách là những quan sát viên thôi chứ không tham gia chiến đấu; “Họ ở lại với du kích Việt Minh cho đến khi rời Hà Nội ngày 9-9-1945” (Archimedes L.A.Patti Tại sao Việt Nam Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr.146-149). Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 06:19:40 pm “Chiều 16-8, một đơn vị Giải phóng quân tập họp dưới cờ làm lễ xuất phát tiến về Nam. Các đại biểu về dự Quốc dân Đại hội đều có mặt dưới cây đa cổ thụ, cạnh ngôi nhà Hội đồng cứu quốc xã Tân Trào để tiễn đưa bộ đội lên đường chiến đấu. Chưa bao giờ Tân Trào lại đón tiếp một đoàn người nhiều màu sắc như vậy. Cùng với màu chàm rừng núi quen thuộc, còn có màu nâu dày dạn của đồng bằng, và những màu sắc tươi sáng của đô thị. Những chiến sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu, mang trên người dấu vết của những cuộc vật lộn ác liệt với quân thù trên nẻo đường rừng, trên các triền núi đá Việt Bắc, tề tựu nghiêm trang dưới cờ nghe đọc bản Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa... Đoàn quân Giải phóng, áo vải chân đất, rầm rập tiến về phía Nam, trước những bàn tay vẫy chào chúc mừng thắng lợi...” 1 .
Trong thư gửi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! “ Hiện nay quân đội Nhật đã tan rã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp nước . . . “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... “Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” 2. Tình hình bấy giờ vô cùng khẩn cấp. Một số đại biểu ở xa Trung ương đang trên đường tới Việt Bắc, được lệnh phải lập tức quay về lãnh đạo phong trào khởi nghĩa cướp chính quyền tại địa phương. Nhiều tỉnh tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương, nhưng các đảng bộ và cấp bộ Việt Minh ở đây do thấm nhuần tinh thần các nghì quyết mà Đảng đề ra từ trước, nhất là tinh thần của Chỉ thị Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta và căn cứ vào diễn biến tình hình trong hàng ngũ kẻ thù. . . đã chủ động, linh hoạt, sáng tạo phát động nhân dân đứng lên khởi nghĩa kịp thời, mau lẹ. Cách mạng đang trong bước nhảy vọt, từ những cuộc khởi nghĩa từng phần chuyển lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc. III- HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG Ở CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC VÀ VÙNG PHỤ CẬN TRONG NHỮNG NGÀY TỔNG KHỞI NGHĨA Tuyên Quang: Đây là nơi có thủ đô cách mạng Tân Trào. Trong ngày 16-8, khi đội quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã tiến về Thái Nguyên, thì đội quân do đồng chí Song Hào và Tạ Xuân Thu phụ trách cũng tiến về phía Tuyên Quang. 8 giờ tối ngày 16-8, các lực lượng vũ trang và bán vũ trang cách mạng đã tập trung ở ỷ La trên đường Hà Giang - Tuyên Quang để tiến về giải phóng thị xã, nơi có dinh tỉnh trưởng do bảo an binh canh giữ và có doanh trại quân Nhật ở Thổ Sơn. Lực lượng ta gồm có: ba trung đội Giải phóng quân, - lực lượng bán vũ trang của công nhân mỏ than và của các dân tộc ở thị xã Tuyên Quang và các xã lân cận. Khoảng 2 giờ sáng, sau khi nghe tuyên đọc Quân lệnh số 1, các lực lượng vũ trang tiến quân theo hai hướng: một trung đội tiến về phía trại bảo an binh và dinh tỉnh trưởng; một trung đội tiến về đánh doanh trại lính Nhật trên đồi Thổ Sơn. Do có binh lính được giác ngộ cách mạng hưởng ứng, nên ở mũi thứ nhất, quân ta nhanh chóng đột nhập được vào trại bảo an binh, chiếm các vị trí trọng yếu, bắt tên chỉ huy, kêu gọi binh lính đầu hàng. Cuộc tập kích kết thúc mau lẹ. Các đơn vị chia nhau đi chiếm các công sở. Công chức, nhân viên đã chuẩn bị sẵn sàng đón quân Giải phóng. Viên tỉnh trưởng bù nhìn đã đầu hàng. Mũi thứ hai tiến đánh đồn Nhật trên đồi Thổ Sơn. Tại đây cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Địch gồm hơn một tiểu đoàn, có cả súng cối và sơn pháo. Vị trí đóng quân của chúng có tường cao, hào sâu. Một cuộc tập kích anh dũng diễn ra. _________________________________________ 1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 225-227. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, T.7, tr.417- 418 Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 06:20:58 pm Quân khởi nghĩa bám từng bờ hào, nhảy lên mái nhà, công kênh nhau vượt tường, dùng dao, súng, mã tấu xung phong đánh quân Nhật. Bên ngoài nhân dân biểu tình hỗ trợ. Tiếng hô khẩu hiệu và tiếng hò reo lẫn với tiếng súng trận ầm vang thị xã. Quân Nhật phải xin đàm phán. Cuộc đàm phán diễn ra vào sáng 19-8. Đồng chí Tạ Xuân Thu, người chỉ huy cuộc chiến đấu dẫn đầu, vào tận trại lính Nhật. Kết quả là chúng chỉ đồng ý trao cho ta những vũ khí tịch thu được của Pháp, còn số vũ khí riêng của chúng thì xin đợi ý kiến của bộ chỉ huy ở Hà Nội.
Thế nhưng, khi được tin có cánh quân Nhật từ Hà Giang xuôi về Hà Nội sắp qua Ỷ La, bọn Nhật ở Thổ Sơn trở mặt. Khoảng 2 giờ chiều 19-8, chúng cho nổ súng vào quân ta nhằm tạo thế trong đánh ra, ngoài đánh tới. Quân ta, do đã chuẩn bị sẵn sàng nên đã lập tức chuyển sang tấn công mãnh liệt vừa đánh Thổ Sơn vừa đánh chặn quân ở Ỷ La, kết hợp với biểu tình của hàng vạn dân chúng uy hiếp cả hai toán quân địch. Cuộc bao vây và tiến công diễn ra suốt đêm 19 và ngày 20-8, quân Nhật ở Thổ Sơn buộc phải đồng ý trao lại hầu hết vũ khí, chỉ xin giữ lại một số làm tượng trưng mang về Hà Nội. Cánh quân Nhật ở Ỷ La ngoan cố chống cự, quân ta nổ súng diệt 30 tên. Số còn lại buộc phải nộp vũ khí. Hà Giang. Hà Giang tuy là một trong sáu tỉnh thuộc căn cứ địa Việt Bắc nhưng tổ chức Việt Minh cũng mới phát triển và quân Nhật cũng chỉ đóng ở thị xã Hà Giang. Chính quyền địa phương đều nằm trong tay các thổ ty, tiêu biểu nhất là Vương Chí Sình, người H’mông ở Đồng Văn. Một số cán bộ Việt Minh từ Tuyên Quang, Cao Bằng đã sang gây.cơ sở ở Yên Minh, Mậu Duệ, Đường Thượng, Cán Tỷ (Đồng Văn) và ở một số xã thuộc Bắc Quang, Vị Xuyên nhưng cơ sở Việt Minh ở những nơi này cũng chưa vững chắc. Về vũ trang, tại đây mới xây dựng được lực lượng tự vệ . thôn bản. Riêng ở Đường Thượng, đã có một đội du kích để bảo vệ cơ sở cách mạng. Ngày 29-8-1945, quân Nhật rút khỏi Hà Giang. Ngày 30-8, một bộ phận quân đoàn 52 của Tưởng đã tràn vào Hà Giang dưới danh nghĩa Đồng minh vào Tước khí giới quân đội Nhật. Thực hiện đường lối đoàn kết dân tộc, cách mạng đã lôi kéo được một số thổ ty mà tiêu biểu nhất là Vương Chí Sình đi theo cách mạng. Ông đã về Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người trao giữ chức Chủ tịch châu Đồng Văn và tặng thanh kiếm với dòng chữ “Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ”. Việc giành chính quyền ở Hà Giang đã diễn ra không phải đổ máu. Lực lượng tự vệ, du kích được duy trì và phát triển để bảo vệ các cơ sở cách mạng trong tình hình mới. Tại Cao Bằng: Thực hiện mệnh lệnh khởi nghĩa ngày 12-8-1945 của Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng: “Tập trung lực lượng đánh vào các đô thị một khi có điều kiện thắng lợi, đánh chặn những đội quân rút lui của Nhật”, Uỷ ban khởi nghĩa Cao Bằng đã nhanh chóng ra quân. ở đây, sau ngày nhận được lệnh đầu hàng, quân Nhật từ các đồn phía bắc và phía tây vội vã rút về thị xã. Quân ta phục kích đánh chúng trên các ngả đường. Ngày 19-8, một toán quân Nhật từ đồn Sóc Giang định kéo về Nguyên Bình đã bị quân ta chặn đánh, buộc phải rút về Nước Hai. Ngày 20-8 quân Nhật từ Nước Hai rút về thị xã lại bị chặn đánh kịch liệt. Chúng phải quay trở lại. Ở Nguyên Bình, trong hai ngày 20 và 21-8, các lực lượng vũ trang vừa bao vây, chặn đánh quân Nhật, vừa tiến công Tước khí giới của bọn bảo an binh. Ngày 22-8, ta tổ chức mít tinh, thành lập chính quyền huyện. ở Hoà An, trong hai ngày 2 1 và 22-8, quân ta tiến công quân Nhật và bảo an binh, giải phóng thị trấn. Ở tỉnh lỵ Cao Bằng, ngày 20-8, Giải phóng quân từ Quảng Uyên vào Tước khí giới bảo an binh rồi tổ chức mít tinh. Ngày 21-8 đánh chiếm dinh tuần phủ, tịch thu kho khí giới của Pháp do Nhật canh giữ. Quân Tưởng đã tiến vào Cao Bằng, ta phải rút ra, chỉ để lại một bộ phận cán bộ bí mật làm việc tại thị xã. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 06:21:28 pm Tại Lạng Sơn, ngày 19-8 một đơn vị Giải phóng quân cùng dân quân hai huyện Bằng Mạc, ôn Châu tiến đánh Đồng Mỏ. Nhật xin điều đình. Ta đồng ý cho chúng trú quân ở Đồng Mỏ với điều kiện phải giữ thái độ trung lập. Từ 21 đến 23-8, Nhật rút khỏi Na Sầm, Đồng Đăng, Lộc Bình về thị xã.
Ở thị xã Lạng Sơn, ngoài Nhật, còn khoảng 300 bảo an binh, việc điều đình của ta với Nhật và tên tuần phủ đã có kết quả. Họ đồng ý tạo mọi thuận lợi cho ta vào tiếp thu thị xã và trao cho ta một số vũ khí nên không xảy ra đụng độ. Ngày 25-8 quân cách mạng chiếm hoàn toàn thị xã, toàn tỉnh Lạng Sơn được giải phóng. Thế nhưng, ngày 26-8, quân Tưởng đã tiến vào thị xã. Bởi vậy, mãi tới tháng 10-1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Lạng Sơn mới được thành lập. Tại Bắc Cạn, quân cách mạng bao vây thị xã. Binh lính Nhật ở đây vẫn cố thủ chờ số quân ở Cao Bằng tới để cùng kéo về Thái Nguyên. Nhưng chính quyền bù nhìn thì hoang mang, đã cử người ra gặp Việt Minh xin giải vây thị xã và sẵn sàng trao lại chính quyền. Ngày 23-8, Tỉnh bộ Việt Minh cho một trung đội tự vệ, dưới quyền chỉ huy của chủ nhiệm Việt Minh tỉnh - đồng chí Nông Văn Lạc vào tiếp nhận chính quyền. Quân Nhật lo ngại về việc ta bao vây thị xã, phong toả kinh tế, đã phải xin được ta cung cấp lương thực cho đến ngày chúng rút về Thái Nguyên. Đáp lại, chúng đồng ý trao cho ta tất cả vũ khí, gồm số súng đủ trang bị cho một tiểu đoàn, 500 két đạn và mấy trăm hòm mìn thu được của Pháp. Tại Yên Bái, cho đến thời điểm Tổng khởi nghĩa, du kích chiến khu Vần - Hiền Lương lên tới 300 người và đã tiến về đóng từ Hiền Lương đến Âu Lâu - đối diện với Nhật bên Đồn cao, Yên Bái. Ngày 16-8, cuộc điều đình giữa ta và Nhật diễn ra ở nhà tri phủ Trấn Yên. Ta yêu cầu Nhật phải nộp hết vũ khí và trong 48 tiếng đồng hồ phải trả lời. Nhưng mới được 24 tiếng thì một đồng chí chỉ huy phía ta đã vội vã nổ súng tấn công quân Nhật. Sau một ngày kịch chiến, ta vẫn chưa giành được thắng lợi. Ngày 20-8, Nhật cử đại diện sang Âu Lâu, trụ sở của Ban chỉ huy quân sự, xin điều đình, chấp thuận nộp hết vũ khí. Sáng 22-8, Quân đội cách mạng tiến - vào Yên Bái. Ngày 23-8, Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời được thành lập. Tại Phú Thọ, trong cao trào tiền khởi nghĩa, tại chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà) phong trào đấu tranh vũ trang đã được đẩy mạnh. Ngoài ra, một số địa phương như Vạn Thắng (Cẩm Khê), Anh Dũng (Phù Ninh), Chí Tiến (Thanh Ba)... cũng đã xây dựng được các cơ sở vũ trang. Đặc biệt, đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, ở hai huyện Phù Ninh và Hạ Hoà, ta đã giành được chính quyền. Vào lúc đó, lực lượng vũ trang cách mạng đã phát triển khá mạnh. Tại thị xã Phú Thọ, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã vận động được bảo an binh, hầu hết những viên quản, đội, cai đã ngả theo cách mạng. Một số lính bảo an đã lập những tiểu tổ vũ trang ngay trong trại để hưởng ứng khởi nghĩa. Nhưng quân Nhật đóng ở thị xã còn là chỗ dựa cho bọn Việt gian hoạt động chống phá cách mạng. Ngày 21-8, đội danh dự trừ gian phải giết tên trùm Việt gian Chấn Tốn để cảnh cáo chúng. Lập tức, Nhật bắn súng thị uy, khủng bố dân chúng và sang Tước vũ khí của bảo an binh. Qua nhiều cuộc điều đình căng thẳng có tỉnh trưởng bù nhìn làm trung gian, ngày 22-8, quân Nhật và tay sai mới đồng ý trao chính quyền cho Việt Minh. Mấy tên phản động cũng nộp súng xin hàng. Cùng ngày 22-8, lực lượng cách mạng các địa phương có vũ trang yểm hộ tiến về thị xã biểu tình thị uy Quân Nhật buộc phải rút ở các nơi về đóng ở phố Trại nhưng không chịu trao lại vũ khí. Ngày 24-8, một cuộc mít tinh lớn lại được tổ chức, biến thành biểu tình tuần hành uy hiếp quân địch, làm áp lực cho cuộc đàm phán. Cuối cùng, Nhật chịu trao lại số vũ khí mà chúng thu được của Pháp và của bảo an binh. Ngày 25-8, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Phú Thọ được thành lập. Tại Vĩnh Yên và Phúc Yên, ngày 18-8, lực lượng tự vệ Đông Anh và đoàn biểu tình đã xông vào huyện lỵ giải tán chính quyền huyện. Ngày 21-8, Uỷ ban nhân dân cách mạng huyện được thành lập. Cùng ngày, tự vệ bao vây uy hiếp lính Nhật gồm bảy tên đóng ở gần huyện lỵ. Chúng chống cự lại, nên đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 06:24:37 pm Ngày 19-8, ở thị xã Phúc Yên, gần 500 tự vệ được vũ trang 50 súng kíp và súng trường, đã cùng đoàn biểu tình bao vây, giải tán chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng Phúc Yên.
Tại Bắc Giang, tới trước ngày 17-8, được tin ngày 18-8 quân Nhật sẽ trao chính quyền tỉnh Bắc Giang cho bọn Đại Việt nên ban lãnh đạo khởi nghĩa quyết định phải giành chính quyền vào trước ngày 18-8-1945. Ngày 17-8, từ 6 giờ sáng, ban lãnh đạo khởi nghĩa đã cùng hơn chục tự vệ đột nhập vào dinh, yêu cầu tên tỉnh trưởng giao chính quyền, nộp vũ khí. Tên tỉnh trưởng đầu hàng và cùng đại biểu Việt Minh sang trại Nhật đàm phán. Lực lượng vũ trang chiếm trại bảo an binh, thu gần 200 súng. Quân Nhật còn đóng ở Lục Nam cũng chấp nhận ngừng bắn, rút quân về tập trung ở cầu Lồ Và thị xã, trao cho ta 30 súng trường và 4 súng máy. Ngày 21-8, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Giang đã ra mắt nhân dân. Tại Thái Nguyên, chiều ngày 16-8, Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, rời Tân Trào tiến về vị trí chiến lược quan trọng này. Thái Nguyên bấy giờ gồm bảy huyện: bốn huyện miền núi là Định Hoá, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai và ba huyện trung du là Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, hai huyện Phú Bình và Phổ Yên được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Bắc Giang để cùng với Hiệp Hoà, Đông Anh... trở thành An toàn khu dự bị của Trung ương và Xứ uỷ ở ven đô Hà Nội. Năm huyện còn lại thuộc Phân khu B của Chiến khu Việt Bắc đã từng có nhiều trận chiến đấu chống Nhật ở La Hiên, Đình Cả, Chợ Chu, Đại Từ. Mặc dầu nằm trong vùng sôi động cách mạng của Việt Minh, nhưng quân Nhật ở đây vẫn cố thủ như cố thủ một tiền đồn án ngữ cho Hà Nội. Trước đây một trận công đồn đã diễn ra lâu dài nhưng quân ta chưa đạt được kết quả trọn vẹn bằng quân sự. Lần này, trước khi quân giải phóng tới, cơ sở cách mạng ở nội thị đã đẩy mạnh hoạt động. Các đội vũ trang các huyện lân cận đã kéo về thị xã, chuẩn bị phối hợp với Giải phóng quân. Chiều 18-8, đội tuyên truyền xung phong Vũ Nhai gồm 10 thanh niên đã đột nhập thị xã, tổ chức nhân dân tuần hành thị uy qua trại lính Nhật. Các đội vũ trang của Phú Bình, Phổ Yên cũng tiến vào thị xã, lùng bắt 30 tên tay chân Nhật đem giam ở Nhà Đèn. Quân Nhật thấy vậy cũng không dám hành động. Còn bảo an binh thì hết sức lo sợ. Sáng 19-9, hai đại biểu của đội tuyên truyền xung phong đã đến dinh tỉnh trưởng báo cho y biết phải chuẩn bị giao chinh quyền cho cách mạng, sau đó sang trại bảo an yêu cầu giữ gìn vũ khí để trao cho quân cách mạng, đồng thời lấy ngay 10 súng trường và mấy súng lục ra trang bị cho thanh niên thị xã. Xuất phát từ Tân Trào, tuy đã phải tranh thủ thời gian bằng cách bỏ qua những đồn trại lẻ tẻ của Nhật để sớm về Thái Nguyên nhưng Giải phóng quân cũng phải mất gần ba ngày (1 giờ chiều ngày 16 đến 1 giờ chiều ngày 19-8) mới tới được Thịnh Đán. So với trước, giờ đây, quân số và vũ khí của ta đã tăng đáng kể. Trưa ngày 19-8, khi tới Thịnh Đán, tổng số quân đã lên tới một chi đội khoảng 450 người, chia làm ba đại đội, được trang bị súng trường trung hên, tiểu liên, bazôca, súng cối. Đó là chưa nói tới lực lượng quần chúng có vũ trang với cả súng trường, súng kíp và các vũ khí thô sơ từ các nơi trong tỉnh kéo về hỗ trợ. Về phía địch, có hai lực lượng là quân Nhật và bảo an. Quân Nhật độ 120 tên, trong đó có từ 60 đến 70 lính chiến đấu đóng tại trại lính khố xanh cũ và dinh tỉnh trưởng cũ, giáp cầu Gia Bẩy. Bảo an binh đông hơn, gồm khoảng 400 tên, trang bị súng trường và một số súng máy, đóng tại trại lính Tây cũ, gần bến Thượng, cạnh dinh tỉnh trưởng. Với Tương quan lực lượng là như vậy, Quân giải phóng đã chuẩn bị chu đáo mọi mặt trước khi tấn công bằng cách ra lệnh cho nhân dân các xã ngoại vi thị xã đến trụ sở xã cung cấp tình hình, không cho người ở ngoài vào thị xã để phong toả tin tức. Tổ chức điều tra phỏng vấn hơn 20 thanh niên và công chức trong thị xã. Nhờ mấy công chức làm việc ở sở Công chính tình nguyện vẽ giúp địa đồ tỉ mỉ của thị xã. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:13:37 pm Sau khi chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt như thế, Bộ chỉ huy quyết định xuất quân vào hồi 12 giờ đêm. Chi đội Giải phóng quân đặt dưới quyền chỉ huy của chi đội trưởng Lâm Cẩm Như chia làm ba mũi tiến công. Một đại đội tiến về phía trại bảo an binh, chiếm trại bảo an và dinh tỉnh trưởng. Một đại đội được trang bị các vũ khí tốt, siết chặt vòng vây xung quanh trại Nhật, từ Đồi Thông đến cầu Gia Bẩy. Một đại đội làm nhiệm vụ “Đội dự bị” để tiếp ứng khi cần. Chỉ huy sở của Giải phóng quân đặt tại Toà thị chính thị xã Thái Nguyên. 5 giờ sáng, mũi thứ nhất đã tới dinh tỉnh trưởng. Ban chỉ huy cử đại diện vào gặp tỉnh trưởng và đưa tối hậu thư, đòi trao chính quyền cho Uỷ ban khởi nghĩa và thuyết phục binh sĩ bảo an nộp khí giới. Trong khi đó, ta đã bao vây trại bảo an binh, sẵn sàng nổ súng nếu họ chống cự lại. Tên tỉnh trưởng buộc phải chấp nhận các yêu cầu của Uỷ ban khởi nghĩa và bắt bảo an binh phục tùng mệnh lệnh, giao nộp hết súng ống, đạn dược. Phái viên của Bộ chỉ huy Quân giải phóng đưa thanh niên và tự vệ Thái Nguyên vào trại thu được gần 600 khẩu súng, chuyển về địa điểm thứ hai của Bộ chỉ huy đặt tại nhà máy điện, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách. Đây cũng là cơ sở tiếp tế cho các nơi đang chiến đấu và trang bị cho các đội tân binh mới được thành lập... Mũi thứ hai tiến công doanh trại Nhật cũng nổ súng vào rạng sáng 20-8. Loạt đạn đầu tiên, ta đã tiêu diệt được một số lính Nhật tụ tập trong sân trại. Lập tức, từ bốn phía, liên thanh, phóng lựu và bazôca của ta đồng loạt bắn vào. Sau mấy phút hoang mang, Nhật bắn trả lại dữ dội. 8 giờ sáng ngày 20-8, Giải phóng quân ngừng bắn và dùng loa kêu gọi thương lượng. Từ trong trại Nhật, mấy sĩ quan Nhật cầm cờ trắng ra đón đại biểu Giải phóng quân và nhận lá thư của Uỷ ban khởi nghĩa. Nội dung thư là: “Các bạn quan quân và binh sĩ Nhật Bản! “Chính phủ Nhật đã đầu hàng Đồng minh. Quân đội Nhật đã lần lượt bị Tước khí giới tại khắp các mặt trận. “Trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương, các bạn hãy trao khí giới lại cho Việt Minh, cho đội quân Giải phóng Việt Nam. “Giờ phút cuối cùng định đoạt số phận của các bạn đã đến các bạn chớ trù trừ. Trù trừ sẽ không có lợi cho các bạn. Chúng tôi đợi thư trả lời của các bạn trước 14 giờ ngày 20-8-1945!. “Quân Giải phóng Việt Nam “Việt Minh” Theo Thomas, người chỉ huy toán “Con Nai” đi theo quân Giải phóng từ Tân Trào về Hà Nội thì, lúc đó, Thomas cũng thảo một tối hậu thư bằng tiếng Anh định cùng gửi vào cho quân đội Nhật, nhưng phải để lại vì họ không thể đại diện được cho Đồng minh. Cuộc đàm phán giữa ta với các phái viên Nhật diễn ra tại một địa điểm gần bộ chỉ huy quân Giải phóng và kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ta đòi trao lại toàn bộ vũ khí. Nếu tới 14 giờ ngày 20-8 phía Nhật không trả lời ta sẽ tấn công. Hai phái viên Nhật trở về trại. Tại thị xã Thái Nguyên, ngoài doanh trại chính ra, Nhật còn có trại lẻ: một ở kho gạo; một ở trụ sở hiến binh và một ở phía nam trại khố xanh. Từ ba điểm này, địch thường bắn từ trên mái nhà hoặc cửa sổ ra để cản trở giao thông, ngăn chặn các hoạt động cách mạng của quần chúng. Trinh sát ta quyết định phải diệt ba điểm lẻ này. Tới 2 giờ chiều ngày 20-8, địch hoãn binh bằng cách hứa sẽ trả lời tói hậu thư hòng chờ quân tiếp viện từ Hà Nội lên. 3 giờ chiều, đại đội Quang Trung được lệnh sử dụng toàn bộ hoả lực gồm cả súng cối, bắn vào trại Nhật. Địch bắn trả ác liệt. Nhân dân dựng chiến luỹ khắp các đường phố, tiếp đạn dược, cơm nước cho bộ đội. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:14:42 pm Ngày 22-8, ta chiếm được vị trí ở nhà Gôchiê, nơi chiến sự diễn ra gay go nhất. Ngày 24, ta chiếm trại hiến binh. Mặc dầu chưa tiêu diệt được trại Nhật và chiến sự còn diễn biến, nhưng khi tên tỉnh trưởng và lực lượng bảo an binh đã đầu hàng, chính quyền địch đã bị lật đổ, thì ngay buổi chiều 20-8, Uỷ ban khởi nghĩa đã tổ chức mít tinh tuyên bố bãi bỏ chính quyền tay sai Nhật, thành lập chính quyền nhân dân, tuyên bố thi hành các chính sách của Chính phủ lâm thời trong thị xã và trong toàn tỉnh Thái Nguyên.
Cuộc chiến đấu tiếp diễn từ ngày 19 đến ngày 26-8. Giải phóng quân tiếp tục bao vây quân địch cho đến khi phái viên của Bộ Tham mưu ta và phái viên của Bộ Tư lệnh quân đội Nhật từ Hà Nội lên gặp nhau, quân Nhật ở Thái Nguyên mới buộc phải nhận những điều kiện do ta nêu ra, trao lại toàn bộ vũ khí cho quân giải phóng. Quân ta phụ trách việc đưa binh sĩ Nhật từ Thái Nguyên về Hà Nội. Cùng ngày, chi đội Giải phóng quân đã từ Thái Nguyên tiến về Thủ đô. IV. NHỮNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG NGÀY TỔNG KHỞI NGHĨA Ở HÀ NỘI VÀ MẤY TỈNH VEN ĐÔ Hà Nội khởi nghĩa Hà Nội là thủ đô của cả nước, có tầm quan trọng đặc biệt. Để đảm bảo khởi nghĩa thắng lợi, cần phải huy động nhiều tổ chức và lực lượng cách mạng, trong đó có những bộ phận quan trọng vốn không thuộc phạm vi lãnh đạo của Thành uỷ mà do Xứ uỷ (có phần do cả Trung ương Đảng) trực tiếp lãnh đạo (như binh vận, trí vận, Dân chủ Đảng, đội Danh dự Việt Minh...). Vì thế, ngay từ tối 14 và sáng ngày 15-8-1945, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) chủ trương thành lập Uỷ ban Quân sự Cách mạng Hà Nội để chỉ đạo khởi nghĩa ở Thủ đô. Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội gồm các đồng chí: Nguyễn Khang, Uỷ viên thường vụ Xứ uỷ; Nguyễn Huy lôi tức Trần Quang Huy) phụ trách Ban Công vận Xứ uỷ; Nguyễn Quyết, Bí thư Thành uỷ Hà Nội; Lê Trọng Nghĩa, cán bộ của Xứ uỷ và Nguyễn Duy Thân, thành uỷ viên, đồng chí Trần Đình Long là cố vấn. Chiều ngày 15-8, đồng chí Nguyễn Quyết, sau khi nhận được “Thông cáo khẩn cấp của kỳ bộ Việt Minh Bắc Kỳ” do đồng chí Trần Quang Huy chuyển tới, đã tổ chức gấp một cuộc họp của Thành uỷ Hà Nội tại chùa Hà (Dịch Vọng, ngoại thành Hà Nội). Cuộc họp gấp này có các đội trưởng công nhân xung phong, thanh niên xung phong, tự vệ chiến đấu để sơ bộ kiểm điểm lực lượng quân sự trong thành phố, ấn định những công việc cấp bách nhằm chuẩn bị khởi nghĩa. Sáng ngày 16-8, Uỷ ban quân sự Cách mạng Hà Nội họp tại 101 phố Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo) để nghe đồng chí Nguyễn Khang phổ biến chỉ thị và quyết định của Xứ uỷ Hội nghị nhất trí cử đồng chí Nguyễn Khang làm chủ tịch và đồng chí Trần Quang Huy làm Bí thư của Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội. Cuộc họp đã phân tích những hoạt động mới nhất của Chính phủ lâm thời Trần Trọng Kim, của khâm sai Phan Kế Toại và của các đảng phái thân Nhật và thấy rằng, tuy đã hoang mang, bối rối sau khi Nhật đầu hàng nhưng các lực lượng trên đây vẫn ngoan cố dựa vào Nhật chống lại cách mạng. Tại cuộc họp này, Uỷ ban quân sự cách mạng nghe báo cáo về cuộc gặp giữa khâm sai Phan Kế Toại với đoàn đại biểu Việt Minh do đồng chí Nguyễn Khang dẫn đầu, kiểm điểm lực lượng quân sự của ta, nhận định về tiềm năng quân sự của địch và khả năng phản ứng của chúng cùng bọn tay sai. Hội nghị thấy rõ phía địch lúc ấy còn hơn 10.000 quân đóng ở Hà Nội, trong đó, có một bộ phận quân tinh nhuệ của Tập đoàn quân Phương Nam của Nhật do Tướng Terauchari chỉ huy. Còn về phía chính phủ bù nhìn thân Nhật thì ngày 13-8, Trần Trọng Kim cho phép khâm sai Bắc Kỳ được “toàn quyền hành động” và yêu cầu khâm sai triệu tập gấp cái gọi là “Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ” để bàn việc đối phó với thời cuộc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:16:27 pm Ngày 14-8, chính phủ bù nhìn ra tuyên bố nói rõ: “Nhất quyết không chịu lùi bước trước một sự khó khăn nào để - làm trọn cái sứ mệnh củng cố nền độc lập của Tổ quốc”. Để đạt được mục đích ấy, họ khẳng định: “Vẫn hợp tác chặt chẽ với các nhà đương cục Nhật Bản”, và nói rõ, họ “không bao giờ quên rằng quân đội Nhật Bản giải phóng cho ta ra ngoài cái ách áp chế của người ngoại quốc”. Ngày 15-8, họ đã thành lập “Uỷ ban chỉ đạo chính trị” . . . Một số đã “chạy chọt xin Nhật phân phát cho vũ khí để chống lại Việt Minh” 1. Cũng tại cuộc gặp này, khâm sai Phan Kế Toại trân trọng mời “Việt Minh tham gia “Chính phủ lâm thời”, nhưng đã bị đồng chí Nguyễn Khang bác bỏ. Phạm Hữu Chương, phụ tá khâm sai giở giọng đe doạ, đại ý nói: “Tuy Nhật đã thua trận nhưng ở Đông Dương họ vẫn còn thừa sức đánh nhau với Việt Minh, chớ nên gây chuyện đánh nhau với Nhật. . . , nên để cho Chính phủ lâm thời Trần Trọng Kim thương lượng xin Nhật trao trả độc lập” 2 . Sau khi nhận định về tiềm năng quân sự của địch và khả năng phản ứng của chính phủ thân Nhật, Hội nghị kiểm lại tình hình tổ chức và lực lượng của ta và nhận thấy rằng: lúc ấy, lực lượng vũ trang chính thức của ta mới có 3 chi đội tự vệ chiến đấu, mỗi chi đội gồm 3 đại đội, tổng số khoảng hơn 700 người, được trang bị khoảng 70-80 khẩu súng trường và súng lục, còn phần lớn là vũ khí thô sơ. Lực lượng này đã qua một vài lớp huấn luyện cấp tốc. Ngoài ra còn vài ba nghìn tự vệ chiến đấu của các tổ chức quần chúng tại chỗ. Về lực lượng quần chúng này, một hồi ký còn ghi lại: “Lúc này, ở một số nhà máy, Uỷ ban công nhân đã ra mắt mọi người... Các đội tự vệ chiến đấu băng đỏ đeo tay, chia nhau canh gác mọi nơi. Bọn chủ, bọn cai ký, tay sai Nhật không dám ló mặt... Ngay tại các xưởng chế tạo vũ khí của Nhật. . . cách đây nửa tháng, một số công nhân cứu quốc đã rèn dao găm, mã tấu. Thép díp Ô tô sẵn đấy, chặt từng đoạn nhỏ 15 - 20 phân một, cứ thế rèn dao... Xưởng vũ khí của ta chỉ cách xưởng chính của nó hơn 1 00m. . . Bên cạnh đó, dưới bóng ổi là một lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. anh em đang tập đâm lê, múa đao, múa gậy. . .” 3 . Còn ở các xã ngoại thành như Nam Đồng, Mai Động, Hoàng Mai, Quỳnh Lôi, Tương Mai... tự vệ đã làm nòng cốt cho nhân dân đứng lên tước đồng triện của các tổng lý, giành chính quyền. Ngày 16-8, đoàn xung phong tuyên truyền Hoàng Diệu đã tổ chức đột nhập cùng một lúc vào ba rạp hát: Quảng Lạc, Hiệp Thành, Tố Như để diễn thuyết kêu gọi đồng bào sẵn sàng tham gia khởi nghĩa. Tại rạp Tố Như, đội xung phong tuyên truyền đã bắn chết một viên sĩ quan Nhật, bắn bị thương tên Võ Văn Cầm, là tên cầm đầu ác ôn của “Đoàn thanh niên ái quốc” thân Nhật. Cả ba cuộc diễn thuyết này đã làm chấn động Hà Nội, kích thích tinh thần cách mạng trong đông đảo các tầng lớp nhân dân. Lực lượng xung phong tuyên truyền là một loại hình đặc biệt của đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị. Khác với các chiến khu ở nông thôn, đồng bằng và rừng núi có các đội du kích và du kích thoát ly, ở Hà Nội không có tổ chức du kích mà chỉ có các đội tự vệ. Lực lượng tự vệ ở Hà Nội chia làm hai loại: tự vệ nói chung mà nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ cơ sở cách mạng và làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh quần chúng như phá kho thóc, tước đồng triện của tổng lý. . . và Tự vệ chiến đấu , được tổ chức chặt chẽ hơn, gần như quân đội chính quy, một số được phát vũ khí và sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh. Theo đồng chí Nguyễn Quyết, Bí thư Thành uỷ, người phụ trách quân sự của Thành uỷ thì tới ngày 16-8, tự vệ chiến đấu mới chỉ có chừng 7-800 người; vũ khí có khoảng 70 khẩu súng trường, gần 30 súng ngắn. Ngày 17-8, cuộc họp của Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được nhóm họp hòng cứu nguy cho chính quyền thân Nhật đang có nguy cơ sụp đổ. Tổng hội công chức cũng tổ chức mít tinh ở Quảng trường Nhà Hát lớn với mục đích tương tự. Vì thế, Uỷ ban quân sự Cách mạng Hà Nội đã chủ trương kiên quyết phá cuộc mít tinh ấy của bọn phản động để biến thành cuộc mít tinh của Việt Minh bằng cách bố trí trà trộn các lực lượng tự vệ chiến đấu, các đội viên của đội tuyên truyền và các quần chúng tích cực của ta vào cuộc mít tinh. Sau khi đại diện của Tổng hội công chức tuyên bố lý do, thì bất ngờ lá cờ đỏ sao vàng lớn xuất hiện, cùng với tiếng hô vang dậy “Hoan hô Việt Minh”! “ủng hộ Việt Minh” ! . . . Cùng lúc, anh em tự vệ chiến đấu chĩa súng dồn bọn tổ chức cuộc mít tinh vào một góc, chiếm diễn đàn, hạ cờ quẻ ly thay bằng cờ đỏ sao vàng lên. ___________________________________________________ 1, 2. Trần Quang Huy: Hà Nội trong rạng đông kỷ nguyên Hồ Chí Minh. Bài viết đăng trong 19-8 - Cách mạng là sáng tạo, Hội khoa học lịch sử, Hà Nội, 1995, tr.26, 27. 3. Hà Nội khởi nghĩa, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Hà Nội xuất bản, 1966, t.5, tr. 16-17. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:17:15 pm Ngọn cờ vừa kéo lên thì những người thuộc Đoàn Thanh niên xung phong Dân chủ Đảng ùa lên chiếm diễn đàn, diễn thuyết. Và khi bài diễn thuyết vừa xong, thì một thành viên Đội Danh dự Việt Minh vác lá cờ đỏ sao vàng dẫn đầu đoàn biểu tình đi diễu qua phố, cho tới tận 9, 10 giờ tối. Hàng vạn quần chúng xuống đường biểu tình với khí thế cách mạng chưa từng có, khiến bọn Nhật ở Hà Nội cũng buộc phải án binh bất động. Sau hai ngày 16 và 17-8, trước khí thế sục sôi cách mạng của nhân dân, bọn lính Nhật nói chung đã phải “án binh bất động”. Nhưng tại Hà Nội lúc đó, vẫn còn hơn 1.000 bảo an binh trong trại. Ta chưa nắm được bọn chỉ huy của bọn bảo an này. Đây là bọn được trang bị đầy đủ và vẫn trông chờ vào bọn Nhật. Theo kế hoạch khởi nghĩa đã định, các lực lượng vũ trang nòng cốt từ ehỗ là lực lượng xung kích trong biểu tình nay biến thành khối quần chúng đầy khí thế kéo đi chiếm các dinh thự, công sở của địch. Dưới sự chỉ đạo chung, lực lượng vũ trang đã dẫn đầu hai khối quần chúng đi chiếm lĩnh các cơ quan trọng yếu: - Khối thứ nhất, do đồng chí Nguyễn Khang, đồng chí Trần Quang Huy và một số thác trong Uỷ ban quân sự cách mạng chỉ huy, đi chiếm phủ khâm sai, toà Thị chính, Kho bạc, bưu điện và Sở cảnh sát Hàng Trống. Khi tiến đến phủ Khâm sai (nay ở 14 phố Ngô Quyền), bọn địch bên trong đã cho đóng chặt cổng lại, bố trí lực lượng bên trong hàng rào sắt chĩa những họng súng liên thanh ra phía quần chúng cách mạng. Nhưng do ở đây đã có một số binh lính được giác ngộ, có cảm tình với Việt Minh nên khi ta vừa kêu gọi bảo an binh quay súng, đứng về phía nhân dân cứu nước cứu nhà thì chỉ huy bảo an binh đã tỏ ra lúng túng. Liền lực đó, một số đội viên tự vệ chiến đấu và hội viên cứu quốc đã vượt rào sát nhảy vào bên khu nhà làm việc, nhà tiếp khách của khâm sai nay là 12 Ngô Quyền). Trước sức mạnh của cách mạng, lính bảo an xin hàng, xếp vũ khí thành đống và ra mở cổng. Quần chúng khởi nghĩa tràn vào sân, hạ cờ quẻ ly kéo cờ đỏ sao vàng, tịch thu toàn bộ súng đạn và tống giam bọn cầm đầu “Uỷ ban chính trị”. Sau khi chiếm được phủ khâm sai, ta liền dùng điện thoại gọi các tên tỉnh trưởng và thị trưởng Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nam; Nam Định, báo cho chúng rõ ở Hà Nội Việt Minh đã giành được chính quyền; đồng thời ra lệnh cho chúng phải nhanh chóng trao chính quyền cho Việt Minh. Sau đó, một bộ phận lực lượng do đồng chí Trần Quang Huy trực tiếp chỉ huy kéo sang chiếm toà Thị chính, Kho bạc, Bưu điện và Sở cảnh sát Hàng Trống. Thị trưởng Trần Văn Lai ra tận cổng đón quân cách mạng. Việc chiếm kho bạc, bưu điện, Sở cảnh sát Hàng Trống diễn ra Tương đói thuận lợi. - Khối thứ hai do đồng chí Nguyễn Quyệt dẫn đầu đoàn Thanh niên xung phong Hoàng Diệu đi chiếm trại bảo an binh. Tại đây, tuy ta chưa thuyết phục được bọn chỉ huy và chưa có nhiều lính bảo an ngả về phía cách mạng, nhưng khí thế của quần chúng đã tỏ ra áp đảo tinh thần quân địch. Thấy quân ta đến cổng trại, bọn lính đóng chặt cửa, chỉ để trơ lại hai lính bảo an. Một thanh niên trong đoàn Thanh niên xung phong Hoàng Diệu bất thần nhảy vào tước súng, phá cổng trại. Viên chỉ huy buộc phải mở cổng và xin gặp cấp chỉ huy Việt Minh. Ta lập tức chiếm các vị trí quan trọng trong trại, kể cả kho vũ khí rồi tập hợp bảo an binh giải thích chính sách của cách mạng. Số bảo an binh tình nguyện gia nhập hàng ngũ cách mạng được tiếp nhận. Số còn lại được ta cho phép tự do trở về quê quán. Giữa lúc đó, Nhật đem quân lính có xe tăng đi kèm bao vây trại bảo an binh đòi trả trại bảo an và tước vũ khí của ta. Uỷ ban quân sự cách mạng liền huy động hàng vạn quần chúng cách mạng kéo đến hợp lực với lực lượng vũ trang khép chặt vòng vây chung quanh các xe tăng và sĩ quan, binh lính Nhật, hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh. Đồng thời đồng chí Trần Đình Long dẫn đầu đoàn đại biểu đến Bộ Tổng tham mưu Nhật để thương lượng. Cuộc đấu tranh kéo dài. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:18:04 pm Đến 5 giờ chiều, Nhật mới nhượng bộ cho binh lính và xe tăng rút lui. Ta hoàn thành việc chiếm trại bảo an binh. Việc chiếm Ty liêm phóng cũng diễn ra thuận lợi. Bọn mật thám và các công chức cao cấp đều đã bỏ trốn, chỉ còn lại khoảng 60 nhân viên hành chính, căn cước, tuỳ phái... không một ai dám chống lại. Thái độ của bọn cầm đầu quân đội Nhật ở Hà Nội không dám chống lại cách mạng đã tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ta trong việc giải quyết cuộc chiến đấu đang diễn ra gay go giữa lực lượng vũ trang ta với quân đội Nhật ở một số nơi trên cả nước. Từ thực tiễn giành chính quyền ở Hà Nội mà nét nổi trội là việc kết hợp giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang để buộc Nhật phải khoanh tay, chấp nhận để ta giành chính quyền, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời chỉ thị cho các địa phương: nơi nào có thể giải quyết được theo hướng của Hà Nội thì cứ tiến hành; nơi nào quân đội Nhật không chịu hạ vũ khí, vẫn chống cự thì kiên quyết đánh lại, nhất định phải giành cho được chính quyền với bất cứ giá nào! Thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội có sức thôi động mạnh tới tình hình chung trên toàn cõi Việt Nam, cổ vũ và thúc đẩy các nơi khác trong cả nước đứng dậy cướp chính quyền với một khí thế “xung thiên” mà trước tiên là các tỉnh lân cận Hà Nội. Hà Đông, tiếp giáp với thủ đô, có căn cứ của Xứ uỷ (ở Vạn Phúc) từ sớm đã có phong trào vũ trang mạnh. Trước ngày giành chính quyền ở tỉnh lỵ, một số huyện đã vũ trang cướp đồn, chiếm huyện. ở ứng Hoà, lực lượng vũ trang đã đánh úp một toán bảo an binh thu 11 súng trường, 1 súng lục. ở Đan Phượng ta đã chiếm được đồn khố xanh bằng binh vận thu gần 40 súng trường, v.v.. Ở thị xã, ngày 18-8, đồng chí Trần Tử Bình - Xứ uỷ viên được đoàn biểu tình thị uy của quần chúng hỗ trợ, đã vào trại Nhật gặp viên quan năm Nhật cùng tỉnh trưởng và chỉ huy bảo an binh là quản Dưỡng điều đình. Nhật đồng ý không can thiệp vào công việc của Việt Minh. Chiều 19-8, nhân dân thị xã, có lực lượng tự vệ dẫn đầu vào chiếm trại bảo an binh. Quản Dưỡng chịu khuất phục, mở cửa trại cho dân quân, tự vệ vào tiếp nhận, nhưng ta lại vẫn để cho quản Dưỡng trông coi trại. Đêm 19-8, quản Dưỡng trở mặt, bắt hai cán bộ ta nằm trong bảo an binh và niêm yết ra ngoài: “Đây là hai Việt gian phản quân ngũ”. Đồng thời, Nhật cũng trở mặt, sáng 20-8 ra lệnh cấm không ai được mang khí giới ra đường và cấm mít tinh, biểu tình. . . Trước tình hình đó, Tỉnh bộ Việt Minh Hà Đông quyết định tổ chức biểu tình thị uy, sử dụng lực lượng chính trị kết hợp với lực lượng vũ trang giành chính quyền. Ngay sau đó, ngày 21-8, nhân dân các huyện kéo về thị xã với hơn 2.000 dân quân, tự vệ làm nòng cốt, biểu tình tuần hành thị uy. Một bộ phận vũ trang kéo vào chiếm trại bảo an binh. Quản Dưỡng chống lại, không mở cổng. Tự vệ, dân quân trèo tường vào. Thấy thế, địch từ trong lô cốt xả súng bắn vào đoàn biểu tình. Do thiếu súng đạn, phía ta chỉ bắn trả được mấy phát súng và đã bị tổn thất rất lớn: 47 người chết, 30 người bị thương, 40 người bị địch bắt. Nhưng chỉ hai ngày sau (23-8), do áp lực của khí thế cách mạng từ Hà Nội và khắp nơi dồn về, tên tỉnh trưởng và quản Dưỡng đã phải thương lượng với đại diện Việt Minh và tự nguyện trao lại chính quyền. Bắc Ninh, tỉnh tiếp giáp với Hà Nội ở phía bắc, có căn cứ của Xứ uỷ nằm trong An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ, phong trào đấu tranh vũ trang ở đây từ sau ngày 9-3 phát triển lên khá mạnh. Tại đây, đã có xưởng sản xuất vũ khí thô sơ ở Chém, dọc An toàn khu của tỉnh. Lực lượng tự vệ phát triển và được trang bị tốt nhờ lấy được súng của bảo an binh và gây được cơ sở binh vận trong linh khố xanh ở thị xã. Trước ngày khởi nghĩa, ta đã tổ chức phá được nhiều kho thóc, uy hiếp chính quyền địch, thành lập các Uỷ ban nhân dân cách mạng. Ngay từ ngày 16-8, du kích các nơi đã tập trung thành đội ngũ, chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 20-8, hàng vạn người có các đội bán vũ trang hỗ trợ đã từ các địa phương kéo về biểu tình thị uy tại thị xã. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:19:08 pm Dẫn đầu đoàn biểu tình là đội du kích khoảng 40 đến 50 người được vũ trang đầy đủ. Khi về tới thị xã, đoàn biểu tình chia làm hai bộ phận. Một bộ phận vào sân vận động dự mít’ tinh; một bộ phận có đội du kích vũ trang đi kèm đã tiến sát vào cửa thành Bắc Ninh áp đảo quân Nhật. Nhật thấy lực lượng ta đông nên chỉ dám cố thủ, bắn ra mấy phát súng thị uy.
Bất chấp hiểm nguy, nhiều người hăng hái xông lên hạ cờ Nhật, kéo cờ đỏ sao vàng lên. Lúc này, bọn Nhật mới ra mặt chống cự, liền bị du kích bắn trả và ném lựu đạn vào thành. Cuộc xô xát nhanh chóng kết thúc, ta bị chết và bị thương mấy người. Nhật phải mời đại biểu Việt Minh vào thành thương lượng. Cuối cùng, hai bên đồng ý kéo cả cờ ta lẫn cờ Nhật, treo chéo nhau ở cổng thành; đồng thời đại biểu ta và đại biểu Nhật cùng ra nói chuyện trước công chúng. Cuộc “công thành” kết thúc đúng vào lúc các đoàn quân khác cũng chiếm xong các công sở và trại bảo an binh. Ngày 21-8, chính quyền cách mạng tỉnh Bắc Ninh được thành lập và ra mát nhân dân. Hưng Yên, là một trong những tỉnh có phong trào vũ trang mạnh. Trong cao trào tiền khởi nghĩa, lực lượng vũ trang đã hạ đồn Bần Yên Nhân (12-3-1945), thu nhiều súng đạn, hỗ trợ quần chúng phá các kho thóc cứu đói, xây dựng lực lượng tự vệ ở các địa phương. Trước ngày Tổng khởi nghĩa, lực lượng vũ trang đã hỗ trợ cho phong trào quần chúng giành chính quyền ở các huyện: Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Văn Lâm. . . Đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, Uỷ ban khởi nghĩa Hưng Yên họp ở Thủ Cốc (Yên Mỹ) quyết định kế hoạch giành chính quyền ở tỉnh lỵ vào ngày 22-8-1945. Thực hiện kế hoạch đó, ngày 22-8, quần chúng cách mạng các địa phương có lực lượng vũ trang hỗ trợ đã kéo về thị xã, tổ chức biểu tình tuần hành áp đảo tinh thần địch. Tên tỉnh trưởng bù nhìn hoảng sợ bỏ chạy từ mấy hôm trước, chỉ còn số ít quân Nhật chiếm đóng trong thị xã. Do có điều đình trước, Nhật bằng lòng giao tất cả các kho vũ khí của Pháp cho ta và giữ thái độ trung lập. Cuộc giành chính quyền đã diễn ra thuận lợi. Các lực lượng vũ trang đã tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng mới được thành lập. Sơn Tây, là một tỉnh giáp Thủ đô, có căn cứ quân sự lớn của thực dân Pháp ở Tông bị Nhật chiếm đóng. Bọn Đại Việt tay sai Nhật hoạt động ở thị xã, ở Tông và một số huyện. Chúng ra sức chống phá, gây nhiều tổn thất cho cách mạng. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, một số cán bộ cách mạng đã vượt ngục, tiếp tục hoạt động trên địa bàn của tỉnh, đặc biệt ở thị xã. Trung ương cũng cử thêm cán bộ về tăng cường cho Sơn Tây, thành lập Ban cán sự tỉnh (sau là Tỉnh uỷ). Đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, phong trào Việt Minh phát triển mạnh ở nhiều nơi. Ở Tông và ở thị xã, công nhân Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà máy dẫn thuỷ nhập điền cùng với một số lái xe cho Nhật, một số viên chức trong chính quyền bù nhìn, một số sơ sãi được giác ngộ... đã tham gia các đoàn thể cứu quốc. Đầu tháng Tám năm 1945, các tổ chức cứu quốc bí mật bao vây các vì trí địch, bắt liên lạc được với chiến khu Hoà- Ninh- Thanh thông qua các căn cứ địa cách mạng ở miền núi Tùng Thiện, Bất Bạt. Lực lượng tự vệ và tự vệ chiến đấu phát triển. Có nơi phong trào mạnh đã giác ngộ được bảo an binh, biến họ thành các đội tự vệ. Các đoàn thể cứu quốc tích cực chế tạo, mua sắm vũ khí tự trang bị. Ở Bất Bạt, nhân dân đã thu được vũ khí của Pháp vứt lại dọc đường khi Nhật đảo chính Pháp. Các lớp huấn luyện quân sự được mở ở Cấn Xá, Sài Sơn, Hạ Bằng. . . Đảng bộ Sơn Tây cử được một số cán bộ đi học trường quân chính kháng Nhật của Trung ương. Trong cao trào tiền khởi nghĩa, nhiều cuộc tuyên truyền xung phong chống Nhật đã diễn ra, như ở chợ Nủa đầu tháng 7-1945 với trên 1.000 người tham dự, biến thành cuộc tuần hành thị uy mà bọn Nhật cũng phải làm ngơ. Một số thanh niên Phan Anh đã ngả theo cách mạng tham gia truyền bá quốc ngữ, cứu đói... Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:28:55 pm V. NHỮNG HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG Ở CHIẾN KHU TRẦN HƯNG ĐẠO (ĐÔNG TRIỀU) Và CÁC TỈNH PHỤ CẬN Ngày 10-8, được tin Nhật đầu hàng, lãnh đạo chiến khu Đông Triều đã xin chỉ thị của Xứ uỷ Bắc Kỳ cho phép tiến hành Tổng khởi nghĩa ở địa phương mà trước tiên là Hải Dương và Hải Phòng. Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Dương ngày 18-8-1945 Ở phía bắc Hải Dương, trừ huyện Kim Thành, còn các huyện khác đều đã được giải phóng. Ở phía nam, các huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Vĩnh Bảo và thị xã Hải Dương còn nằm trong vùng địch kiểm soát. Tại đây, số mật thám chỉ điểm, tay sai Nhật còn hoạt động mạnh. Chúng đã chỉ điểm bắt đồng chí Vũ Duy Hiệu. Lực lượng Thanh niên Đại Việt thân Nhật cũng chưa chịu khuất phục trước Việt Minh. Ở Thanh Miện, tri huyện Trần Văn Tuyên còn tổ chức Thanh niên Đại Việt và Bảo an đoàn tới khắp các xã. Để việc giành chính quyền ở các huyện này được thuận lợi, nhiệm vụ đặt ra là phải diệt các tên phản động tay sai đắc lực của Nhật và uy hiếp lực lượng Đại Việt đang có xu hướng chống đối Vì vậy các đội danh dự Việt Minh được lệnh đẩy mạnh công tác trừ gian. Trong khi đó, phong trào phá kho thóc của Nhật chia cho dân cũng đang lên nhanh. Các hoạt động trên đây tạo nên áp lực mạnh đối với chính quyền bù nhìn, buộc tri huyện Trần Văn Tuyên phải ngả theo cách mạng. Ở Ninh Giang, nơi tự vệ cứu quốc phát triển mạnh, sau khi tự vệ tiêu diệt được tên chỉ điểm Tống Văn Kim là kẻ đã chỉ điểm bắt 2 đồng chí tỉnh uỷ viên Hải Dương thì tri huyện Lê Văn Thành mới dao động, xin nộp súng cho cách mạng bằng cách cho một tiểu đội lính cơ đem 11 súng giả vờ đi tuần đến một nơi đã hẹn. Ở Thanh Hà, ngày 17-7, lực lượng vũ trang đã tiêu diệt tên phản động Hội Núi, chiếm huyện đường buộc tri huyện phải đầu hàng, nộp 18 súng. Tự vệ khu đông Thanh Hà tước súng của tổng lý, địa chủ được 19 khẩu trong đó có 1 trung liên Bờ ren, chặn bắt 5 thuyền quân nhu của Nhật loại trọng tải 200 tấn, thu được thuỷ lôi, xăng dầu, muối gạo, đậu tương... Ở Tứ Kỳ, ngày 15-8 tự vệ cùng nhân dân đã kéo lên chiếm huyện đường tịch thu súng đạn, cảnh cáo tri huyện, phá kho thóc chia cho dân. ở Vĩnh Bảo, tự vệ cùng nhân dân bao vây nã súng vào huyện đường buộc tri huyện phải đầu hàng. Ở Kim Thành, tự vệ tịch thu súng đạn của tổng lý, địa chủ được gần 10 khẩu, bao vây huyện đường, tri huyện ra hàng nộp súng cho ta. Ở Cẩm Giàng, ngày 17-8, lực lượng vũ trang cùng nhân dân chiếm huyện lỵ, tri huyện sợ hãi bỏ trốn xuống một thuyền đánh cá, bị ta bắt. Ở Bình Giang, ngày 19-8, lực lượng vũ trang đã cùng nhân dân chiếm huyện đường, thu vũ khí, lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời. Tại thành phố Hải Dương, sáng 17-8, nhân khi thấy bọn Tỉnh đoàn Thanh niên Đại Việt họp bàn việc tổ chức cuộc biểu tình ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim, ta đã tổ chức hàng ngàn quần chúng biểu tình trước dinh tỉnh trưởng. Tại cuộc biểu tình này, ta đã bắn mấy phát súng chỉ thiên đề uy hiếp, đồng thời hạ cờ quẻ ly thay bằng cờ đỏ sao vàng, công bố 10 chính sách của Việt Minh. Ngay chiều hôm đó (17-8-1945), Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời thị xã Hải Dương được thành lập. Trước khí thế của cách mạng, viên chỉ huy trại bảo an binh đem nộp toàn bộ vũ khí gồm khoảng 200 khẩu súng và xin cho cả trại đi theo quân cách mạng. Uỷ ban nhân dân lâm thời cử bốn đại biểu sang trại lính Nhật điều đình. Hai bên cùng trao trả những người bị bắt. Ta đã trao trả cho Nhật năm tên. Ngày 18-8, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời thị xã Hải Dương ra mắt trước cuộc mít tinh và tuần hành thị uy của đông đảo quần chúng thị xã và các huyện lân cận. Đến 22-8, Hội nghị cán bộ Việt Minh toàn tỉnh bầu ra Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh Hải Dương. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:29:56 pm Giành chính quyền ở Hải Phòng, Kiến An
Ở Hải Phòng, do các lực lượng cách mạng đã thâm nhập được vào các tổ chức thanh niên, bảo an... của chính quyền thân Nhật nên khi được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, thì các cơ sở cách mạng của ta đã sẵn sàng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Ngày 22-8, đại biểu Việt Minh đến thuyết phục chính quyền thân Nhật. Tên tỉnh trưởng ở đây ngoan ngoãn trao lại chính quyền. Ngày hôm sau, 23-8, các đội vũ trang từ các chiến khu kéo về cùng hàng vạn nhân dân biểu tình thị uy chào đón chính quyền cách mạng mới được thành lập do đồng chí Vũ Quốc Uy làm Chủ tịch. Bà Nguyễn Sơn Hà, đại biểu phụ nữ là thành phần tư sản dân tộc được mời tham gia chính quyền cách mạng. Ở Kiến An, sau khi cướp chính quyền ở Kiến Thuỵ và An Lão, hai tiểu chiến khụ Kim Sơn và Câu Trung đã phối hợp với lực lượng vũ trang Tiên Lãng giành chính quyền ở Tiên Lãng ngày 19-8. Tiếp đó, quân cách mạng tiến vào huyện lỵ An Dương thu ba súng trường, cướp hai thuyền Nhật trên sông Lạch Tray thu 90 thùng ét xăng. . . Các lực lượng vũ trang bốn huyện cùng kéo lên giải phóng thị xã Kiến An. Tại thị xã Kiến An, ngày 21-8, được các lực lượng vũ trang gây áp lực đại diện Việt Minh xông thẳng vào dinh tỉnh trưởng, buộc tỉnh trưởng đầu hàng, lệnh cho bảo an binh trao lại toàn bộ vũ khí gồm 70 súng trường. 50 bảo an binh tự nguyện đi theo cách mạng. Ngày 23-8, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Kiến An ra mắt nhân dân. Giành chính quyền ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Hải Ninh - đụng độ với Việt Cách có quân Tưởng yểm hộ Như trên đã nói, đối tượng của cách mạng Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám, không chỉ là Nhật và tay sai mà còn là các lực lượng phản động thân Tưởng, thân Pháp... ở vùng Đông Bắc bọn Đại Việt được Tưởng yểm hộ ngay trong những ngày tháng Tám đã tranh chấp chính quyền với Việt Minh. Ở Hòn Gai, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, một lực lượng vũ trang lớn của Việt Cách từ Ba Chẽ kéo về chiếm đóng nhiều điểm xung yếu như Hòn Gai, Cẩm Phả. Nhưng tại các nơi này, công nhân và nhân dân cách mạng vẫn tấp nập chuẩn bị đón Việt Minh. Đêm 25-8, đại đội Hoàng Hoa Thám đã từ chiến khu Đông Triều về Hòn Gai. Chiều 26-8, mít tinh quần chúng biểu dương lực lượng, thành lập chính quyền. Bọn Việt Cách định nổ súng phá mít tinh. Nhưng trước áp lực của đông đảo quần chúng, chúng đã bị cô lập. Ở Cẩm Phả, ngày 27-8, một trung đội quân cách mạng từ Hòn Gai tiến về giải phóng Cẩm Phả - Cửa ông. Việt Cách rút chạy về Ba Chẽ. Chính quyền cách mạng được thành lập. Ở các huyện Tiên Yên, Đình Lập, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Ninh, tình hình cũng Tương tự. Chỉ khi quân cách mạng từ chiến khu Đông Triều về thì bọn Đại Việt và bọn Việt Cách mới chịu nhượng bộ các lực lượng cách mạng địa phương. Những nơi do hoàn cảnh khách quan, chính quyền cách mạng ra đời tương đối chậm là: Tiên Yên - giữa tháng 9; Đình Lập - 18-11; Bình Liêu - cuối tháng 11-1945; Đầm Hà - 27-1-1946; Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh Hải Ninh - tháng 2-1946. Riêng chính quyền cách mạng huyện Hải - Ninh - cửa khẩu thông với Trung Quốc, nơi quân Tưởng và phỉ tràn sang từ trước Cách mạng Tháng Tám thì sau khi Chính phủ Việt Nam thương lượng với đại diện của Tưởng, bọn Việt Cách mất chỗ dựa, Uỷ ban nhân dân huyện mới được thành lập (7-1946). Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:55:59 pm Ở các huyện Tiên Yên, Đình Lập, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Ninh, tình hình cũng Tương tự. Chỉ khi quân cách mạng từ chiến khu Đông Triều về thì bọn Đại Việt và bọn Việt Cách mới chịu nhượng bộ các lực lượng cách mạng địa phương. Những nơi do hoàn cảnh khách quan, chính quyền cách mạng ra đời tương đối chậm là: Tiên Yên - giữa tháng 9; Đình Lập - 18-11; Bình Liêu - cuối tháng 11-1945; Đầm Hà - 27-1-1946; Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh Hải Ninh - tháng 2-1946. Riêng chính quyền cách mạng huyện Hải - Ninh - cửa khẩu thông với Trung Quốc, nơi quân Tưởng và phỉ tràn sang từ trước Cách mạng Tháng Tám thì sau khi Chính phủ Việt Nam thương lượng với đại diện của Tưởng, bọn Việt Cách mất chỗ dựa, Uỷ ban nhân dân huyện mới được thành lập (7-1946). VI. NHỮNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ Ở CHIẾN KHU HOÀ - NINH - THANH VÀ CÁC TỈNH PHỤ CẬN Chiến khu Hoà - Ninh - Thanh cùng các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình là trọng điểm phá lúa trồng đay của phát xít Nhật nên ở đây nạn đói xảy ra gay gắt nhất. Chiến tranh du kích chống Nhật ở đây phát triển mạnh. Ở Ninh Bình, trong cao trào tiền khởi nghĩa, căn cứ Quỳnh Lưu (Nho Quan) đã xây dựng được hai trung đội Giải phóng quân. Chính quyền ở một số xã đã về tay nhân dân. Ngày 19-8, sau khi được lệnh khởi nghĩa, một số đơn vị giải phóng quân đã về lấy huyện Gia Viễn. Ở mấy huyện khác, tự vệ du kích cùng nhân dân đã nổi lên cướp chính quyền huyện. Đến ngày 20-8, trên một vạn nhân dân có Giải phóng quân và các lực lượng vũ trang, bán vũ trang làm nòng cốt đã về giành chính quyền tỉnh. Đoàn biểu tình thị uy gặp ba Ô tô chở đầy lính Nhật ở Câu Huyện, bắt chúng dừng lại để đoàn biểu tình vượt qua. Nhật không dám phản ứng gì. Việc chiếm trại bảo an binh, trại khố xanh, tịch thu súng đạn diễn ra trót lọt. Các lực lượng vũ trang cùng nhân dân đi giải phóng các huyện còn lại. Toàn bộ chính quyền tỉnh đã về tay nhân dân. Ở Hoà Bình, ngày 23-8, từ căn cứ Mường Khói, chi đội du kích khoảng 20 người kéo ra họp với tự vệ Vụ Bản dẫn đầu đoàn biểu tình lên lấy châu Lạc Sơn. Lấy xong châu Lạc Sơn, với vũ khí tước được của lính khố xanh, hai tiểu đội tự vệ mới đã được thành lập. Đến Cao Phong - Thạch Yên lại có thêm đội du kích và nhân dân ở đây gia nhập nên đoàn biểu tình đông tới 3-4.000 người kéo về thị xã. Quân Nhật đóng ở thị xã không can thiệp. Chính quyền cách mạng tỉnh được thành lập. Lực lượng vũ trang cùng nhân dân tiếp tục đi giải phóng các châu huyện còn lại, không nơi nào xảy ra đổ máu. Ở tỉnh Thanh Hoá, tình hình Tổng khởi nghĩa ở các huyện như sau: Tại huyện Hà Trung, lực lượng vũ trang đã chia làm ba đội: một đội mai phục ở đồn Bỉm Sơn; một đội mai phục ở Đò Lèn để ngăn quân Nhật; một đội vào giành chính quyền huyện. Sau khi giành được chính quyền, đội mai phục ở Bỉm Sơn rút tới cầu Tống Giang thì gặp Ô tô Nhật. Ta nổ súng tiêu diệt hai tên. Hai chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh. Ở Nga Sơn, tối 19-8 hàng ngàn nhân dân cùng tự vệ đã giành chính quyền huyện. Sáng ngày 20-8, năm thuyền Nhật từ Phát Diệm tới, tự vệ ra thuyết phục. Do chúng chống cự, ta buộc phải nổ súng. Bảy tự vệ của ta đã hy sinh. Dù vậy, cuối cùng ta vẫn giành được chính quyền. Ở Thiệu Hoá, chính quyền địch dựa vào bọn Đại Việt đã sử dụng lực lượng bảo an và lính khố xanh chống lại cách mạng. Chúng ngoan cố tung tin là: “Thanh Hoá hàng, nhất định Thiệu Hoá không hàng”. Ta huy động hàng chục đội tự vệ tấn công, giành được chính quyền ngày 18-8. Trong cuộn đụng độ này, ta đã bị thiệt hại: 13 chiến sĩ cách mạng tử trận, hơn 50 chiến sĩ bị thương. Ở Hoằng Hoá, tự vệ tổng Hành Bái đã bắn chết một hiến binh Nhật ở Hàm Rồng. Ta cũng bị thương một chiến sĩ. Tự vệ tổng Bút Sơn phá một Ô tô Nhật ở cầu Tào . . . Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:56:34 pm Nhờ có hoạt động vũ trang mạnh mẽ ở các huyện mà việc giành chính quyền ở tỉnh lỵ Thanh Hoá đã diễn ra nhanh chóng. Ngày 23-8, hơn 3.000 tự vệ các địa phương đã kéo về thị xã làm nòng cốt cho hàng vạn nhân dân biểu tình thị uy, giành chính quyền tỉnh.
Ở Hà Nam, từ sau 9-3, phong trào vũ trang phát triển mạnh nên việc giành chính quyền ở các huyện Lý Nhân, Kim Bảng, Duy Tiên, Bình Lục đều diễn ra nhanh chóng. Lính Nhật đóng ở các nơi đều chấp nhận điều đình, không chống cự.Ngoài ra, lực lượng vũ trang Hà Nam còn góp sức vào việc cướp chính quyền huyện Ý Yên rồi giao lại cho Nam Định. Tại thị xã Hà Nam, lực lượng Đại Việt khá mạnh. Chúng đã có ý định chiếm trại bảo an trước ta. Nhưng do nhân mối cách mạng của ta ở trong trại bảo an binh đã được lệnh đối phó nên buộc chúng phải rút lui. Ngày 24-8, hơn 15 vạn người đã kéo về thị xã, với các lực lượng vũ trang và bán vũ trang làm nòng cốt giải phóng Phủ Lý, thành lập chính quyền cách mạng ở Hà Nam. Ở Nam Định, từ sau 9-3, phong trào tự vệ, du kích phát triển. Tháng 6-1945, tỉnh đã thành lập được đội vũ trang tuyên truyền. Đội được trang bị 1 tiểu liên, 2 súng lục cùng vũ khí thô sơ. Hoạt động của đội ở một địa bàn rộng như Ninh Cường, Cổ Lễ, Cát Xuyên, Xuân Bảng... và đã gây được uy thế cho Việt Minh, uy hiếp được chính quyền địch ở huyện, xã. Vì thế, tới tháng 8-1945, các đội tự vệ các huyện đã trở thành lực lượng mạnh và có nền nếp, sẵn sàng chiến đấu ở Trực Ninh, trong cuộc mít tinh ngày 16-8, đội vũ trang đã có tới hơn 100 tự vệ với 1 tiểu liên, 2 súng chim, 2 súng lục, 4 lựu đạn, sau đó lại tước thêm được 18 súng, 10 hòm đạn... của địch. Với lực lượng áp đảo như thế, việc giành chính quyền ở Trực Ninh đã không phải dùng tới vũ khí. Nhìn chung, lực lượng vũ trang thực sự đóng vai trò nòng cốt cho đoàn biểu tình đi cướp huyện. Trong quá trình đó, có một nơi đã xảy ra đụng độ giữa ta và địch. Ở Nghĩa Hưng, tự vệ đã đem quân đánh úp bốn thuyền Nhật chở vũ khí. Ta bị hy sinh một người, đó là người chỉ huy - một lính khố xanh được giác ngộ cách mạng. Sáu huyện miền nam Nam Định, trong đó có đồn lính Lạc Quần, đều về tay nhân dân không phải mất một viên đạn. Ngày 19-8, đoàn biểu tình trên hai vạn người kéo lên thành phố, tới Sở hiến binh đòi thả hết tù chính trị và thường phạm. Trước uy thế của quần chúng có vũ trang và bán vũ trang, bọn Nhật không dám kháng cự và đã thả hét tù nhân. Lực lượng cách mạng toả về giải phóng mấy huyện còn lại như Mỹ Lộc, Ý Yên. Ngày 21-8, chính quyền tỉnh và các huyện đã về tay nhân dân. Thái Bình, từ trước ngày Tổng khởi nghĩa, đã rất coi trọng vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và đã sớm cử được ba cán bộ quân sự của tỉnh lên chiến khu Việt Bắc dự lớp huấn luyện quân sự. Ở nhiều nơi, mỗi thôn xóm đã tổ chức được một tiểu đội tự vệ và ở mỗi xã tổ chức được một trung đội tự vệ... Có nơi, ta lợi dụng các đội võ dõng của chính quyền địch mà lồng tự vệ vào hoạt động để chuẩn bị biến lực lượng địch thành lực lượng ta. Thái Bình cũng là nơi nạn đói do phát xít, thực dân gây ra rất nặng nề, điều đó ít nhiều có ảnh hưởng đến phong trào xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang. Từ sau ngày 9-3, Đảng bộ đã phát động phong trào phá kho thóc, giành thóc gạo của địch và tay sai cứu đói nên lại đẩy được phong trào du kích phát triển. Tỉnh cũng xây dựng An toàn khu Phương Quả (Quỳnh Côi), lấy đó làm căn cứ để tổ chức huấn luyện lực lượng vũ trang ở các nơi, bảo vệ cơ sở cách mạng. Đến những ngày tháng Tám, tất cả các huyện đều lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt tổ chức nhân dân giành chính quyền huyện. Tự vệ cũng Tước súng địch để tự trang bị, như ở Tiền Hải, khi tri huyện chạy trốn thì lính mang 8 khẩu súng ra hàng. Ở Tiên Hưng tự vệ thu được 11 súng. . . Ngày 19-8, lực lượng vũ trang đã dẫn đầu đoàn biểu tình đông hai vạn người lên giành chính quyền tỉnh. Tổng đốc Thái Bình đã chịu khuất phục trước uy lực của quần chúng, không dám kháng cự, lệnh cho bảo an binh giao nộp hết vũ khí. Ngày 20-8, Uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt nhân dân. Các đội vũ trang và quần chúng cách mạng tiếp tục giải phóng những huyện còn lại, tới ngày 22-8 chính quyền cách mạng đã được xác lập trong toàn tỉnh. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:57:31 pm Sơn La, là tỉnh tiếp giáp với Hoà Bình nên đã được sự hỗ trợ của chiến khu Hoà- Ninh- Thanh. Đồng thời, nhà tù Sơn La cũng là nơi các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm đã tuyên truyền, giáo dục quần chúng nên từ khá sớm, phong trào cách mạng nói chung, kể cả việc xây dựng lực lượng vũ trang, ngày càng phát triển. Ngày 23-8, một số thanh niên đi dự lớp huấn luyện quân sự ở Hoà Bình về đã huy động quần chúng đi Tước vũ khí của Nhật rồi cướp chính quyền ở tỉnh. Ngày 26-8 chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân ở thị xã. Việc giành chính quyền diễn ra thuận lợi. Sau đó tự vệ phối hợp với phong trào quần chúng ở các châu tiến hành giành chính quyền. Ở châu Thuận, một số lính được giác ngộ đã làm nội ứng, mở kho cho tự vệ và dân quân vào lấy súng. Ở các châu khác, việc giành chính quyền cũng diễn ra thuận lợi. Nhưng ngày 30-8, khi quân Tưởng kéo vào Sơn La, tự vệ phải rút vào bí mật, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới mà Đảng dự kiến là sẽ xây ra. Nhìn chung lại, ngoài khu giải phóng và chiến khu Đông Triều, thì các tỉnh khác ở Bắc Bộ đều tích cực chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa và ở đâu cũng coi trọng xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, tuỳ từng lúc, từng nơi việc thực hiện phương châm lấy bạo lực chính trị để uy hiếp kẻ thù và chỉ sử dụng bạo lực vũ trang khi cần thiết... được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo. VII. HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM Ở CÁC TỈNH TRUNG BỘ Trung Bộ, dải đất trải dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ, lúc bấy giờ đã có nhiều căn cứ vũ trang chống Pháp. Ngoài Thanh Hoá thuộc chiến khu Hoà - Ninh - Thanh, Quảng Ngãi với chiến khu Vĩnh Sơn - Núi Lớn, nhiều tỉnh Trung Bộ còn có những chiến khu hoặc căn cứ địa của địa phương, chẳng hạn: Hà Tĩnh có chiến khu du kích Trường Sinh ở dãy núi Hùng Lĩnh và chiến khu Bảy Ngài - Đá Bạc thuộc Cẩm Xuyên; Quảng Bình có chiến khu Trung Thuần ở phía bắc và chiến khu Võ Xá ở phía nam; Quảng Tri có chiến khu Phú Long và Của; Quảng Nam có căn cứ địa Tam Kỳ, Quế Sơn; Bình Định có căn cứ địa An Đỗ, An Sơn thuộc huyện Hoài Nhơn; Ninh Thuận có chiến khu Bầu Bèo ở phía tây tỉnh Ninh Thuận. . . Các chiến khu hay căn cứ địa này đều mới hình thành từ sau ngày 9-3, có nơi tới gần ngày khởi nghĩa mới hình thành. Tuy chưa có ảnh hưởng rộng lớn như các chiến khu đã được Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ ghi vào nghị quyết, nhưng các căn cứ, các chiến khu ở Trung Bộ, trên thực tế, đều là những cơ sở, những chỗ dựa cho các lực lượng vũ trang địa phương tích trữ vũ khí, lương thực, huấn luyện quân sự và là nơi xuất quân đi đánh chiếm các nơi, giành chính quyền. Liên tỉnh uỷ Nghệ An - Hà Tĩnh, lúc đầu chịu trách nhiệm chỉ đạo phong trào chuẩn bị khởi nghĩa cho cả hai tỉnh. Đại hội liên tỉnh tháng 7-1945 đã bầu ra Uỷ ban khởi nghĩa và quyết định đẩy mạnh hơn nữa phong trào mua sắm vũ khí, luyện tập quân sự. Ở Nghệ An, ngày 11-8, công nhân vũ trang nhà máy Trường Thi và Đề Pô đã cùng nông dân Yên Dũng trừ gian, thu đồng triện của hào lý. Ngày 20-8, hai vạn tự vệ vũ trang làm nòng cốt đã đi dự mít tinh ở Vinh, gây thanh thế cho đoàn đại biểu ta vào thương lượng với Nhật. Nhật hứa sẽ trao cho ta 500 khẩu súng trường, trên 1 vạn viên đạn và gần 1.000 quả lựu đạn của trại bảo an binh. Trước áp lực mạnh mẽ của quần chúng có vũ trang và bán vũ trang, tỉnh trưởng và toàn bộ lính bảo an đã ngả theo cách mạng. Ngày 23-8, tỉnh trưởng đã trao chính quyền và lính bảo an đã trao vũ khí cho cách mạng, còn lính Nhật đóng trong thị xã thì “án binh bất động”. Khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra thuận lợi kết thúc nhanh chóng. Ở Hà Tĩnh, lực lượng vũ trang nhiều huyện đã làm nòng cốt cho phong trào quần chúng giành chính quyền huyện. ở Cẩm Xuyên, nhân dân đã chiếm chính quyền từ chiều ngày 17-8. Tri huyện trao 12 khẩu súng cho tự vệ. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:58:34 pm Ở Thạch Hà, nửa đêm ngày 17-8, gần 100 tự vệ bao vây huyện lỵ. ở Can Lộc, chiều 17-8 hơn 30 thanh niên với trang bị bằng các loại vũ khí thô sơ đã chiếm huyện lỵ và đồn lính khố xanh. Ở Hương Sơn, ngày 19-8 hàng ngàn nhân dân và dân quân tự vệ bao vây huyện lỵ. Tri huyện đầu hàng, nhưng lính bảo an ở Sông Con còn chống cự đến chiều mới nộp vũ khí. Ở thị xã Hà Tĩnh, nhờ có áp lực vũ trang và sức mạnh quần chúng nên việc giành chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tương đối thuận lợi. Lính bảo an ngả theo cách mạng, nộp hơn 100 khẩu súng. Tự vệ các nơi đã giấu súng vào các bó chiếu xen lẫn vào người đi chợ tỉnh tiến vào thị xã. Ngày 18-8, Hà Tĩnh đã giành được chính quyền không phải nổ súng. Ở Quảng Bình, trước ngày khởi nghĩa, lực lượng tự vệ đã được vũ trang khá tốt, nhờ có súng lấy được của trại bảo an binh. Tỉnh trưởng được vận động từ trước đã ngả theo cách mạng và đã gửi cho chiến khu 30 súng trường. Quân Nhật đóng ở Quảng Bình, trước sự lớn mạnh của phong trào Việt Minh đã dao động. Bốn người cả sĩ quan và lính Nhật đã chạy sang hàng ngũ ta. Do đó, việc giành chính quyền ở Quảng Bình diễn ra thuận lợi. Lực lượng vũ trang của ta từ chiến khu Võ Xá, Trung Thuần cùng công nhân xe lửa đã hỗ trợ đông đảo cho quần chúng kéo về thị xã, nhanh chóng chiếm các công sở, trại linh. Tỉnh trưởng và cáo quan lại xin hàng. Chính quyền cách mạng được thành lập. Ở Quảng Trị, lực lượng vũ trang từ căn cứ Triệu Phong (Phú Long và Của) cùng tự vệ các huyện đã gây áp lực với chính quyền địch. Bảo an binh ngả theo cách mạng. Lính Nhật từ Thái Lan qua Lào kéo về Quảng Trị khá đông và tập trung ở đường 9. Nhờ công tác binh vận, chúng đã trao cho ta khá nhiều vũ khí. Đến ngày khởi nghĩa toàn tỉnh 23-8, hàng vạn nhân dân có lực lượng tự vệ vũ trang làm nòng cốt đã Kéo về thị xã. Tự vệ đột nhập chiếm các công sở từ ban đêm. 7 giờ sáng, mọi nhiệm vụ giành chính quyền đã hoàn thành. Một cuộc mít tinh được tổ chức để chào mừng chính quyền cách mạng. Ở Thừa Thiên - Huế - thủ phủ của Chính phủ Trần Trọng Kim, có cố vấn Nhật, với 4.500 quân Nhật cùng hơn một trung đoàn bảo an binh yểm trợ cho Chính phủ bù nhìn. Ngoài ra, quân đội Hoàng gia cũng còn độ vài trăm để phục vụ và bảo vệ Bảo Đại. Sau khi Hà Nội được giải phóng, việc giành chính quyền ở đây có thể dùng bạo lực chính trị là chủ yếu nhưng không thể không có lực lượng vũ trang đáng kể để hỗ trợ. Nhận thức rõ điều đó, ta đã tổ chức được những tổ Việt Minh bí mật nằm trong Thanh niên tiền tuyến, trong binh lính ở Toà Khâm sứ và ở đồn Mang Cá. . . Ngoài ra còn có các tổ chức tự vệ có vũ trang ở các huyện Phú Vang, Phú Lộc, Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thuỷ và nhiều xã ngoại Ô thành phố Huế như Nam Giao, Vĩ Dạ, Kim Long, An Cựu... Mỗi nơi ít nhất có độ vài tiểu đội tự vệ. Có xã tổ chức được tới vài trung đội. Nhiều thợ rèn được tập trung tại các lò rèn để rèn vũ khí. Ngày 18-8, tự vệ và nhân dân đã giành được chính quyền ở huyện Phong Điền. Tiếp đó, ở các huyện Hương Thuỷ, Phú Vang, Phú Lộc...chính quyền cách mạng cũng đã ra mắt quần chúng nhân dân. Ngày 23-8, hồi 3 giờ chiều, khoảng 15 vạn quần chúng có lực lượng vũ trang và bán vũ trang làm nòng cốt đã dự mít tinh ở sân vận động Huế, chào mừng chính quyền cách mạng. Các lực lượng vũ trang Thừa Thiên - Huế triển khai bố trí ở các địa điểm xung yếu, làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an ninh để đón phái đoàn Chính phủ do đồng chí Trần Huy Liệu dẫn đầu, vào tước ấn kiếm Bảo Đại ngày 30-8-1945. Ở Quảng Nam, từ sau 9-3, công tác xây dựng lực lượng vũ trang được đẩy mạnh. Riêng thành phố Đà Nẵng đã có mấy đại đội tự vệ. Các huyện đều chủ động xây dựng lực lượng vũ trang, rèn đúc vũ khí để trang bị cho các đội tự vệ đang ngày đêm luyện tập. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 10:59:12 pm Tỉnh uỷ quyết định lấy hai huyện Tam Kỳ, Quế Sơn làm căn cứ vũ trang cho phong trào toàn tỉnh. Ở một số nơi, du kích đã đánh Nhật thu vũ khí, gây tin tưởng cho quần chúng. Ban binh vận cứu quốc khởi nghĩa đã gây được cơ sở trong bảo an binh. Khởi nghĩa đã bắt đầu từ Hội An ngày 17-8. Tỉnh trưởng ra lệnh cho lính bảo an hạ súng đầu hàng. Đêm 17-8, hàng ngàn nhân dân cùng du kích, tự vệ chiếm được chính quyền Hội An, tịch thu 270 khẩu súng. Cùng ngày, tự vệ các huyện Duy Xuyên, Tam Kỳ, Điện Bàn cùng nhân dân nổi dậy cướp chính quyền. Riêng ở Điện Bàn, có xảy ra đổ máu. Khi đoàn biểu tình chiếm xong phủ lỵ kéo đi diễu hành đã gặp đoàn xe của Nhật từ Quảng Ngãi trở về. Quần chúng tự động ra cản đường. Quân Nhật đã xả súng bắn chết 23 người. Ở Đại Lộc, tự vệ và nhân dân kéo đến đánh đắm mấy chiếc xà lan ở Ái Nghĩa cũng bị xe Nhật từ Vĩnh Điện lên xả súng bắn chết 22 người. Ở Đà Nẵng, ngày 18-8, ta đã giành được chính quyền ở Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Tam Kỳ và ngày hôm sau (19-8), chính quyền ở Tiên Phước cũng đã về tay nhân dân. Chính quyền địch ở Đà Nẵng không còn đủ tin tưởng để chống lại cách mạng. Ngay cả Mai Trọng Tấn, một đảng viên Đại Việt thân Nhật có thế lực ở địa phương từng có ý định giành chính quyền trước Việt Minh cũng đã bị tự vệ bắt đưa về Hội An giam giữ. Huyện Hoà Vang, vành đai của Đà Nẵng, ta cũng đã giành được chính quyền. Ngày 25-8, hàng vạn nhân dấn nội ngoại thành Đà Nẵng cùng các huyện lân cận đã kéo về trung tâm thành phố tham gia biểu tình giành chính quyền. Lực lượng tự vệ cứu quốc khoảng 1.500 chiến sĩ, được phiên chế thành các đại đội làm nòng cốt cho lực lượng quần chúng giành chính quyền. Nhờ có sức mạnh áp đảo như vậy nên cuộc thương lượng với Nhật diễn ra thuận lợi. Quân Nhật hứa không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Ta chấm dứt tấn công quân Nhật và giúp họ thu nhặt thương binh, tử sĩ. Bảo an binh tự nguyện nộp 150 khẩu súng và 200 viên đạn. Khởi nghĩa thành công, chính quyền về tay nhân dân cách mạng. Ở Quảng Ngãi, có các căn cứ Vĩnh Sơn, Núi Lớn là các căn cứ đã được phát triển mạnh trong cao trào tiền khởi nghĩa. Đêm 12-8, được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Tỉnh uỷ ra lệnh khởi nghĩa. Lực lượng khởi nghĩa triển khai tiến công theo hai hướng: Mũi tiến công phía bắc, đại đội Phan Đình Phùng có nhiệm vụ đi hạ đồn Di Lăng, Sơn Hà, Trà Bồng, chiếm các huyện lỵ Bình Sơn, Sơn Tịnh; đại đội Hoàng Hoa Thám có nhiệm vụ hạ đồn Ba Tơ, Minh Long, chiếm các huyện lỵ Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ. Ngày 13-8, mũi tiến công phía bắc hạ đồn Di Lăng, thu 30 khẩu súng trường và một số đạn dược (có tài liệu viết là đã thu được 37 súng); hạ đồn Sơn Hà, thu 35 súng. Khi quân ta kéo về Trà Bồng thì quần chúng cách mạng nơi đây đã nổi dậy buộc địch đầu hàng, nộp vũ khí. Riêng việc chiếm huyện lỵ Bình Sơn, ngày 15-8, du kích bao vây trại Nhật, bố trí tấn công theo ba mặt. Nhật nổ súng chống lại. Hai du kích bị hy sinh nhưng cuối cùng Nhật phải rút quân ngày 16-8. Mũi tiên công phía nam nhằm hạ các đồn Ba Tơ, Minh Long, nhưng khi nghĩa quân chưa tới, Uỷ ban khởi nghĩa địa phương đã thuyết phục được bảo an binh đi theo cách mạng. Quân Nhật (12 tên) sợ hãi rút chạy nhưng đến Thiết Trường lại bị du kích chặn đánh giết chết ba tên. Số còn lại đã giao nộp vũ khí. Việc chiếm huyện lỵ Nghĩa Hành cũng diễn ra thuận lợi. Tối 14-8, du kích bao vây và chiếm huyện ly. Địch đầu hàng giao nộp vũ khí. Sau đó, quân cách mạng chia hai cánh, một tiến về thị xã Quảng Ngãi, một tiến về Mộ Đức. Đội tiến về Quảng Ngãi đóng quân ở Sông Vệ bị Nhật đánh úp. Một trung đội trưởng và hai chiến sĩ du kích của ta đã hy sinh... Nhìn chung, hoạt động quân sự ở Quảng Ngãi rất sôi nổi và có hiệu quả. Hoạt động đó đã góp phần quyết định vào việc giành chính quyền khá thuận lợi trong các địa phương khắp tỉnh Quảng Ngãi. Ở Bình Định, từ tháng 7-1945, tự vệ Hoài Nhơn đã chặn đường một toán lính bảo an ở Tài Lương trên đường chúng đi từ Bồng Sơn về Tam Quan, Tước được 20 súng trường. Tự vệ An Nhơn đã chặn thuyền súng đạn của bảo an binh khi chúng đi từ Vĩnh Thạnh về Quy Nhơn, tước được nhiều súng đạn và bắt sống một tiểu đội bảo an. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:00:19 pm Ngày 23-8, Uỷ ban khởi nghĩa Bình Định cùng quân khởi nghĩa từ căn cứ Hoài Nhơn kéo về phối hợp với lực lượng quần chúng cách mạng các huyện Bình Khê, Tuy Phước, An Nhơn có tự vệ công nhân Xưởng dệt Đờnhông ở Phú Phong và công nhân ga xe lửa Diêu Trì... làm nòng cốt, đã có mặt tại thị xã Quy Nhơn. Trước áp lực mạnh mẽ của quần chúng cách mạng, tên tỉnh trưởng Bình Định buộc phải nộp ấn tín và giao các công sở cho quân khởi nghĩa. Uỷ ban lâm thời cách mạng đã ra mắt đồng bào. Riêng lực lượng địch ở trại bảo an binh, với quân số khoảng 500 tên, thưa chịu hạ súng đầu hàng. Lực lượng quần chúng có vũ trang yểm trợ bao vây, gây áp lực với lực lượng này. Trong khi đó, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời cử đại diện đi thương lượng với Nhật bàn về phạm vi đóng quân của Nhật ở Quy Nhơn, gồm cả số quân từ Tây Nguyên và Hạ Lào rút về, cùng việc tiếp tế lương thực. Kết cục Nhật đã nhượng bộ, trao lại cho ta hơn 500 khẩu súng trong đó có cả súng 75 ly. Ở Phú Yên, từ ngày 21-8, các cuộc biểu tình quần chúng có vũ trang hỗ trợ đã diễn ra ở Sông Cầu, Đồng Xuân, Tuy Hoà, Tuy An... Bộ máy chính quyền địch từ huyện đến làng xã đã tan rã. Tối 24-8, quân khởi nghĩa tiến đánh đồn Sông Cầu. Nhờ có lính trong đồn bảo an làm nội ứng nên cuộc tiến công giành được thắng lợi nhanh chóng. Tỉnh trưởng đầu hàng. Chính quyền cách mạng lâm thời được thành lập. Ngày 25-8, lực lượng cách mạng Phú Yên với hai đại đội tự vệ làm nòng cốt đã áp giải tên tỉnh trưởng từ Sông Cầu vào thị xã Tuy Hoà và tên tỉnh trưởng đã buộc bọn lính trong đồn phải đầu hàng nộp vũ khí, chính quyền thị xã và huyện Tuy Hoà đã về tay quân cách mạng. Cùng ngày, khởi nghĩa quần chúng có vũ trang ở Tuy An và Đồng Xuân đã giành được chính quyền. Ngày 28-8, các dân tộc ít người ở huyện Sơn Hoà khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, đánh dấu thời điểm toàn tỉnh Phú Yên về tay chính quyền cách mạng. Ở Khánh Hoà, ngày 13-8, lực lượng cách mạng huyện Vạn Ninh đã biểu tình vũ trang, chiếm huyện lỵ. Tiếp đó, ngày 17-8, lực lượng cách mạng huyện Ninh Hoà khởi nghĩa chiếm huyện đường lập chính quyền. Tại Nha Trang, Nhật còn đóng tới 3.000 quân. Ngày 19-8, nhân cuộc mít tinh do nguỵ quyền tổ chức, đông đảo quần chúng cách mạng có lực lượng vũ trang làm nòng cốt đã đến dự. Trong cuộc mít tinh này, nhóm thanh niên Phan Anh đã nắm được một số bảo an binh làm nội ứng. Khi bắt đầu mít tinh, thanh niên Phan Anh 1 nhân danh Việt Minh tuyên bố xoá bỏ chính quyền thân Nhật, lập chính quyền cách mạng. Trước khí thế của lực lượng vũ trang cách mạng, bọn bảo an binh chẳng những không dám chống cự mà còn phải đứng bồng súng chào cờ cách mạng. Sau đó, cuộc mít tinh đã biến thành cuộc biểu tình đi chiếm các công sở, trại lính. Quân Nhật mặc dầu có tới 3.000 tên, nhưng vẫn không dám can thiệp. Khởi nghĩa đã thành công không phải đổ máu. Ở Ninh Thuận, nơi có chiến khu Bầu Bèo, ngày 21-8, lực lượng quần chúng có 50 từ vệ vũ trang làm nòng cốt đã kéo về Tháp Chàm. Bang tá và lính bảo an đầu hàng, trao cho ta 12 khẩu súng. Đoàn biểu tình kéo về Phan Rang. Tỉnh trưởng Ninh Thuận nộp một súng lục và dẫn đường cho quân cách mạng chiếm trại bảo an. Ta thu được 100 súng trường và một số súng lục. Ngày 25-8, Uỷ ban nhân dân cách mạng Ninh Thuận ra mắt. Nhưng không như các nơi khác, tới tháng 10-1945, Nhật theo lệnh quân Đồng minh đã trở lại Ninh Thuận, đóng ở trường học Phan Rang. Ta chủ trương thương lượng nhưng không kết quả. _______________________________ 1. Trong Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim có Bộ Thanh niên do Phan Anh làm bộ trưởng nên những thanh niên tham gia tổ chức đó được nhân dân gọi là “Thanh niên Phan Anh”. Do sự tuyên : truyền giác ngộ của Việt Minh nên ở nhiều nơi một số “Thanh niên Phan Anh” đã đi theo cách mạng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:39:46 pm Đề phòng khi Pháp đến Nhật sẽ theo Pháp, ta đã chủ động tấn công Nhật từ ngày 31-10. Đến ngày 12-11-1945, Nhật mới chịu rút, ta truy kích. Cuộc giao chiến diễn ra ở vùng Xoài (Trường Sinh). Nhật vừa chết vừa bị bắt sống sáu tên. Một số chiến sĩ ta hy sinh. Ở Bình Thuận, từ ngày 17-8, Uỷ ban Việt Minh thị xã Phan Thiết đã phát động quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Vào lúc đó, trên địa bàn tỉnh có 427 lính Nhật. Ngày 22-8, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh đã nổi dậy khởi nghĩa. Ngày 23-8, biểu tình quần chúng có lực lượng vũ trang yểm trợ diễn ra ở tỉnh lỵ Phan Thiết. Tỉnh uỷ lâm thời cử đại diện đến vận động được tên tỉnh trưởng trao chính quyền. Ngày 24-8, đại diện Việt Minh đã tiếp quản các công sở và đồn bảo an, thu hơn 50 khẩu súng. Ngày 25-8, trong khi quần chúng nhân dân đang tham gia cuộc mít tinh lớn chào mừng chính quyền cách mạng, Nhật gây cản trở, bằng việc cho một xe cam nhông trang bị vũ khí có cả súng liên thanh đặt trên mũi xe án ngữ trước đồn khố xanh khiêu khích đòi trả lại toà sứ Pháp mà ta đã chiếm. Nhờ có áp lực vũ trang quần chúng và qua thương lượng, đến 12 giờ trưa, Nhật chịu rút lui, trao cho ta hơn 100 khẩu súng. Ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Viên (nay là Lâm Đồng) và Đồng Nai thượng, ta đều tranh thủ được lực lượng thanh niên và bảo an, vận động được chính quyền thân Nhật đầu hàng nên khởi nghĩa đã diễn ra Tương đối thuận lợi. Ở Gia Lai, ngày 25-8, lực lượng thanh niên có vũ trang đã bắt quản Đạo và buộc y phải tập trung xe cộ cho thanh niên và công nhân có vũ trang ở các đồn điền cao su lên tỉnh lỵ giành chính quyền. Sau đó lại đưa lực lượng vũ trang sang phối hợp với thanh niên Kon Tum giành chính quyền ở Kon Tum. Ở Đắc Lắc, tự vệ và du kích Thượng đã thuyết phục được hơn 500 lính bảo an, đa số là người Thượng đứng về phía cách mạng. Việc giành chính quyền vào ngày 24-8-1945 diễn ra thuận lợi. Ở Đồng Nai thượng, mít tinh và biểu tình của quần chúng cách mạng được tổ chức ở Di Linh ngày 28-8. Tham gia cuộc biểu tình, ngoài đông đảo quần chúng, còn có lực lượng vũ trang của Đồng Nai thượng, Đà Lạt (Lâm Đồng) và Lao... Lực lượng bảo an đã theo cách mạng. Quân Nhật đóng ở Di Linh đành phải giữ thái độ trung lập . . . Ở Đà Lạt, trước ngày diễn ra khởi nghĩa, số lính Nhật chiếm đóng lên tới 1.500 tên. Ngày 23-8, cuộc biểu tình của đông đảo nhân dân thành phố có lực lượng vũ trang hỗ trợ đã được tổ chức. Trước áp lực mạnh mẽ của ta, Nhật không dám can thiệp. Do vậy, việc giành chính quyền diễn ra khá thuận lợi. Tuy nhiên, bấy giờ, Nhật vẫn còn chiếm giữ một số vị trí trọng yếu trong thành phố. Ngày 3-10-1945, trong các cuộc giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các địa điểm như nhà băng, Viện PaxTơ, nhà bưu điện, cả ta và Nhật đều thiệt hại: 25 tên Nhật bị tiêu diệt trong khi phía ta có 40 chiến sĩ hy sinh. . . VIII. HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ Ở SÀI GÒN VÀ CÁC TỈNH NAM BỘ TRONG NHỮNG NGÀY TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM 1. Chủ trương của Xứ uỷ Nam Bộ Đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, tình hình chính trị, quân sự ở Nam Bộ nói chung và ở Sài Gòn nói riêng khá phức tạp “Lực lượng quần chúng của các chính đảng thân Nhật hoạt động dưới hình thức giáo phái, là rất lớn, có đến hàng chục vạn người; lực lượng của các tổ chức quân sự và nửa quân sự thân Nhật khá nhiều mà ta không nắm chắc được” 1. _____________________________ 1. Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, phần lịch sử, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr.333. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:42:33 pm Nhận xét về tình hình này, Giáo sư Trần Văn Giàu cho biết: “Một vài tháng sau 9-3, lực lượng đối phương của Việt Minh đã là một lực lượng đáng kể. Ở Sài Gòn, ở miền Nam, lực lượng đó mạnh hơn nhiều so với lực lượng cách mạng của Việt Minh. Xứ uỷ và Thành uỷ đánh giá rằng, không kể quân Nhật, lực lượng Tương quan giữa Việt Minh và đối phương thì cán cân nghiêng về phía đối phương, ta 2, 3; họ 8, 9” 1. Tình hình đó đặt ra cho các chiến sĩ cách mạng Nam Bộ nhiệm vụ cấp bách và nặng nề là phải gấp rút tăng cường lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, làm cho lực lượng này được tổ chức chặt chẽ và chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng địch. Với quyết tâm và nỗ lực rất cao, các chiến sĩ cách mạng Nam Bộ chạy đua với thời gian, kiên trì khôi phục cơ sở cách mạng, ra sức vận động quần chúng. Đến cuối tháng 7, đầu tháng 8-1945, chỉ riêng ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, ta đã xây dựng được 324 công đoàn cơ sở với 12.000 đoàn viên. “Đó là một lực lượng công nhân có tổ chức chưa từng thấy ở Sài Gòn” 2. Trong vòng ba tháng, ta đã tập hợp được 1.200.000 thanh niên trong 21 tỉnh thành Nam Bộ vào tổ chức Thanh niên tiền phong 3, riêng Sài Gòn có hơn 200.000. Vào cuối tháng 7, đầu tháng 8-1945, Thanh niên tiền phong trở thành một lực lượng mạnh - ngay cả các lực lượng giáo phái cũng không tập hợp được nhiều quần chúng và cũng không tổ chức được các hoạt động sôi nổi như Thanh niên tiền phong. Trước ngày khởi nghĩa, Thanh niên tiền phong công khai tuyên bố tổ chức này là thành viên của Mặt trận Việt Minh. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9-3, cũng như mọi nơi khác trong cả nước, ở Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng, việc tìm kiếm, sắm sửa vũ khí nhằm vũ trang cho nhân dân cách mạng, đặc biệt là cho các lực lượng xung kích được đẩy mạnh. Ngoài các nguồn như binh vận lấy súng Pháp, tận dụng các loại vũ khí thô sơ khác như giáo, mác, quần chúng cách mạng còn dùng tầm vông già vạt nhọn làm vũ khí. Các đơn vị xung kích của Thanh niên tiền phong, Công đoàn được thành lập, ra sức luyện tập quân sự. Gần đến ngày khởi nghĩa, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân càng lên cao. Trong những ngày tháng ấy, vang lên trong các cuộc “tuyên thệ” của Thanh niên tiền phong bài hát Lên đàng, Tiếng gọi thanh niên. Tối ngày 15-8-1945, sau khi được tin Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Thường vụ Xứ uỷ lập tức chỉ định Uỷ ban khởi nghĩa bao gồm đại diện Xứ uỷ, Thành uỷ, Tổng công đoàn, Thanh niên, binh sĩ. Uỷ ban khởi nghĩa định rõ các mục tiêu cần phải chiếm khi khởi nghĩa nổ ra. Những mục tiêu đó là Dinh khâm sai, Dinh đốc lý, Sở cảnh sát, Sở an ninh, các trại lính, Nhà bưu điện, Đài phát thanh, nhà tù, kho bạc, ngân hàng, trụ sở một số công ty, kho tàng, bến tàu, nhà ga, quảng trường, các lối dẫn vào thành phố... Sau khi chiếm xong các vị trí trọng yếu trên đây, Xứ uỷ, Thành uỷ, Uỷ ban khởi nghĩa cũng nhất trí chủ trương sẽ kết thúc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn bằng cuộc biểu tình vũ trang. Liên tiếp trong đêm 17-8 và ngày 18-8 rồi tiếp đó, ngày 21-8, ngày 23-8-1945, Hội nghị mở rộng của Xứ uỷ Nam Kỳ (lần 1, lần 2, lần 3) đã bàn bạc, quyết định thời gian khởi nghĩa và cử ra Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Trong quá trình bàn bạc đó, đại biếu Tỉnh uỷ Tân An được lệnh trở về thí điểm tổ chức khởi nghĩa cướp chính quyền ở địa phương. Quả nhiên, cuộc khởi nghĩa ở Tân An nhanh chóng giành thắng lợi: trong đêm 22-8, các đội xung kích vũ trang Tân An đã chiếm gọn các cơ quan chính quyền địch ở tỉnh lỵ. Hôm sau, cuộc biểu tình vũ trang của đông đảo quần chúng nhân dân Tân An được tổ chức ở thị xã Trước khí thế áp đảo của cách mạng, quân Nhật tại đây không dám can thiệp. ___________________________ 1, 2. Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh: Sđd, tr. 336. 3. Về sự ra đời của tổ chức này và thực chất của nó, sách Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh - phần lịch sử - ghi rõ: Nhật chủ trương tập trung lực lượng thanh niên để chuẩn bị chống Đồng minh và đã yêu cầu bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - bấy giờ đã là đảng viên cộng sản, song Nhật không hay biết - đứng ra tập hợp thanh niên Nam Bộ. “Tương kế tựu kế”, ta đã đẩy mạnh việc tổ chức Thanh niên tiền phong. Ta tự đặt tên tổ chức, đặt ra hệ thống, đặt hiệu cờ, đồng phục, cách hoạt động và nội dung tư tưởng của cuộc hoạt động thanh niên. Ta không hề xin Nhật cho phép hay xin ý kiến về bất cứ một vấn đề nào”. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:43:20 pm 2. Khởi nghĩa ở Sài Gòn Sau thắng lợi ở Tân An, đêm 24-8, khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn nổ ra. Theo lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, các đội xung kích, tự vệ của Thanh niên xung phong, Công đoàn... nhanh chóng chiếm các mục tiêu như đã định, trừ một số như phủ toàn quyền, sân bay Tân Sơn Nhất, bến thuỷ quân, Đông Dương ngân hàng là những nơi quân Nhật kiên quyết chiếm giữ. Trong lúc các đội xung kích ở Sài Gòn chiếm lĩnh mục tiêu thì nhân dân các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tân An đã tập hợp thành từng đoàn, mang theo băng, cờ và vũ khí (súng, mác, kiếm, mũi chĩa, dao chuối, gậy tầm vông), rầm rập trong đêm đổ về thành phố Sài Gòn. Sáng ngày 25-8-1945, cuộc mít tinh của hơn nửa triệu người mà quá nửa mang theo vũ khí, đã được tổ chức ở trung tâm thành phố. Một rừng băng, cờ, khẩu hiệu được trơng lên. Xen giữa tiếng nhạc cử bài Quốc tế ca, Lên đàng là tiếng hoan hô cách mạng, hoan hô Việt Minh, hoan hô Đảng Cộng sản của hàng vạn quần chúng vang dậy như sấm. Cũng trong buổi mít tinh, danh sách của Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ được tuyên đọc. Quân Nhật hầu như tê liệt, không dám can thiệp. Cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn diễn ra và thành công nhanh chóng. Tất cả các sở lớn như điện, nước, giao thông liên lạc, cung cấp lương thực và chất đốt, y tế. . . đều hoạt động bình thường. 3. Hoạt động vũ trang hỗ trợ cho việc giành chính quyền ở các tỉnh còn lại của Nam Bộ Trong lúc cuộc biểu tình vũ trang của hơn triệu người đang diễn ra ở Sài Gòn thì tại hai tỉnh Gia Định và Chợ Lớn, quần chúng cách mạng cũng nổi dậy. ở đây, lực lượng xung phong Công đoàn, Thanh niên tiền phong, Thanh niên cứu quốc có vũ trang làm nòng cốt cho lực lượng quần chúng tiến hành biểu tình, chiếm các công sở, giành chính quyền. Riêng ở Chợ Lớn, nhờ có lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang mạnh nên đã vận động được lực lượng vũ trang Bình Xuyên có căn cứ trong rừng Sác ngả theo cách mạng. Mỹ Tho, là nơi đối phương, kể cả Nhật và chính quyền tay sai, có lực lượng vũ trang khá mạnh, lại chưa dễ dàng hạ vũ khí. Tình hình đó đòi hỏi cách mạng phải vận dụng bạo lực vũ trang mạnh mẽ hơn địch mới có thể thành công. Sau khi tỉnh Tân An khởi nghĩa thành công, lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Cai Lậy đã nôi dậy, bất ngờ tấn công bắt tên quận trưởng Nguyễn Văn Tâm khét tiếng tàn ác chống phá cách mạng, buộc bọn lính bảo an buông súng dầu hàng. Đêm 24-8, đội thanh niên xung kích có vũ trang gây áp lực buộc lính Nhật phải đứng trung lập; đồng thời uy hiếp lính bảo an, bắt thêm mấy tên phản động có tội ác. Do vậy, đến ngày 25-8, khởi nghĩa ở Cai Lậy đã thành công. Thủ Dầu Một, là tỉnh tiếp giáp với Sài Gòn, Gia Định; lại là tỉnh có điều kiện trong việc xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang do tại đây, phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền cao su, dưới sự chỉ đạo của những người cộng sản, từ nhiều năm trước, đã có bước phát triển. Từ sau ngày 9-3, những người công nhân đồn điền đã ráo riết thu, tìm, sắm sửa vũ khí. Cho đến trước khởi nghĩa, nhiều địa phương trong tỉnh đã xây dựng được các đội du kích, tự vệ. Ngày 24-8, công nhân có vũ trang đã kéo về thị xã. Ngày 25-8, nông dân có tự vệ nửa vũ trang cùng công nhân và các tầng lớp khác có tới 5 vạn người kéo về thị xã dự mít tinh. Một số đội vũ trang được phân đi các ngả bố trí đề phòng Nhật và bọn tờrốtkít gây xung đột trong khi ta giành chính quyền. Sau ngày khởi nghĩa thành công, lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một còn chặn đánh đoàn xe Nhật trên đường Bình Đức - Lái Thiêu, thu toàn bộ vũ khí. Ở các xưởng sản xuất vũ khí, công nhân còn thuyết phục được một số lính Nhật chạy sang hàng ngũ ta và giữ được hàng ngàn khẩu súng các loại, hàng trăm tấn thuốc nổ, đạn dược. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:43:58 pm Ở Sa Đéc (Đồng Tháp), từ sau ngày 9-3, trong khi chuẩn bị khởi nghĩa, ở nhiều địa phương, các đội xung phong vũ trang đã được tổ chức. Một số nơi, chẳng hạn ở xã Phong Mỹ, ngày 23-8, đội xung kích vũ trang đã dùng mưu đánh chiếm đồn bảo an Phong Mỹ, bắt sống toàn bộ 13 lính bảo an và tên đồn trưởng, thu toàn bộ vũ khí đạn dược.
Ngày 25-8, hàng ngàn quần chúng cách mạng có vũ trang yểm hộ đã bao vây quận lỵ Cao Lãnh, buộc tên quận trưởng phải giao chính quyền cùng lực lượng bảo an binh và 20 súng trường. Cũng ngày 25-8, ở Sa Đéc, lực lượng cách mạng có vũ trang vây ép địch, buộc tên tỉnh trưởng phải bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bến Tre, nơi địch có một lực lượng vũ trang mạnh gồm khoảng 160 tới 170 lính và cảnh sát, chừng 80 súng trường, 2 khẩu liên thanh Hốt kít, 6 trung liên và một số lựu đạn do tên cò Lẫm chỉ huy, Thanh niên tiền phong đã thành lập các đội xung phong vũ trang; đồng thời, cùng với Thanh niên cứu quốc tổ chức ra “Cảm tử quân”. Ngày 25-8, được lệnh tham gia khởi nghĩa, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy, quân cách mạng đã tiến chiếm chính quyền thị xã. Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, cò Lẫm phải nộp vũ khí, bảo an binh hạ súng, tên tỉnh trưởng đầu hàng. Chính quyền nhanh chóng về tay nhân dân. Ngay sau đó, ngày 27-8, chính quyền cách mạng đã xử tử hình 8 tên tay sai của thực dân Pháp có nhiều nợ máu với nhân dân các địa phương trong tỉnh. Tây Ninh, nơi có Toà thánh Cao Đài, Nhật đã cho ra đời tổ chức “Nhật - Việt phòng vệ đoàn”. Đặc biệt, bọn “Quốc gia độc lập Đảng ‘ đã tìm mọi cách tranh quyền lãnh đạo với những người cộng sản đối với lực lượng Thanh niên tiền phong. Do coi trọng việc tổ chức các lực lượng vũ trang trên cơ sở phong trào Thanh niên tiền phong, tổ chức cách mạng ở đây đã lập ra nhiều đội du kích vũ trang, luyện tập quân sự, chuẩn bị khởi nghĩa. Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, khí thế cách mạng càng lên cao, bọn Nhật hoang mang đến cực điểm. Lợi dụng thời cơ đó, Việt Minh đã thương lượng với Nhật để họ giữ thái độ trung lập. Kết quả còn khả quan đến mức, có nơi, Nhật đã cho du kích mượn súng để luyện tập quân sự, đồng thời ta đã vận động được 200 cảnh sát sẵn sàng nộp vũ khí. Ngày 24-8, cuộc biểu tình hàng vạn người có lực lượng vũ trang và bán vũ trang hỗ trợ đã được tổ chức rầm rộ. Ngày 26-8, chính quyền đã về tay nhân dân. Biên Hoà, từ ngày 25-8-1945, đã tham gia khởi nghĩa cùng với Sài Gòn. Ngày 26-8, ở thị xã, nhân dân có tự vệ làm nòng cốt đã chiếm kho súng, tịch thu được gần 300 khẩu súng các loại trang bị cho các đội xung phong công đoàn. Chính quyền địch bị giải tán. Ngày 27, chính quyền cách mạng chính thức ra mắt quần chúng. Ngày 28, công nhân các đồn điền cao su An Lộc, Hàng Gòn, Ông Quế, Cuốctơnay, Bình Lộc, Dầu Giây có các đội vũ trang yểm hộ đã kéo về thị trấn Xuân Lộc tham gia mít tinh giành chính quyền. Bà Rịa, ngày 25-8, mít tinh quần chúng có khoảng 2 vạn người tham gia đã được tổ chức. Chiều 25-8, thành lập ngay chính quyền cách mạng, thống nhất lực lượng quân sự Vũng Tàu với Bà Rịa, thành lập một đội vũ trang cách mạng với hơn 20 khẩu súng, tăng cường cho lực lượng cách mạng. Gò Công, ngày 24-8, ta tổ chức mít tinh lớn tại thị xã có các lực lượng vũ trang và bán vũ trang tham gia. Tại cuộc mít tinh, chính quyền cách mạng đã ra mắt quần chúng và chính quyền cách mạng quyết định đổi tên tỉnh Gò Công thành tỉnh Trương Công Định. Vĩnh Long, Trà Vinh, hai tỉnh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu. Trước ngày khởi nghĩa, ở Vĩnh Long có tới một trung đoàn quân Nhật đóng. Sau khi Nhật đầu hàng, bọn thân Nhật ở đây hoang mang. Phong trào Thanh niên tiền phong của ta lại mạnh lên khiến tên tỉnh trưởng và phó tỉnh trưởng cùng một số công chức cao cấp đều xin gia nhập Thanh niên tiền phong, nhưng ta không chấp nhận. Ở cả hai tỉnh, Thanh niên cứu quốc và Thanh niên tiền phong đã có các đội xung phong vũ trang. Trước ngày khởi nghĩa, Việt Minh đã hoàn toàn nắm được lính mã tà, cảnh sát và phần lớn lính tập. Do đó, ngày 25-8 ở Vĩnh Long và ngày 26-8 ở Trà Vinh, Việt Minh đã giành được chính quyền nhanh chóng, không tốn một viên đạn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:44:29 pm Long Xuyên (nay là An Giang), đã giành chính quyền tỉnh ngày 25-8, đồng thời với Sài Gòn. Do phải đối phó với lực lượng Hoà Hảo cũng muốn giành chính quyền tranh với Việt Minh nên lực lượng vũ trang cách mạng ở đây phải hành động trước. Ở huyện Chợ Mới, các đội xung phong vũ trang được thành lập. Đây là lực lượng do Đảng lựa chọn từ các đảng viên và các đội viên Thanh niên tiền phong tích cực. Ngày 23-8, các đội xung phong vũ trang đến bắt tên quận trưởng phải trao nộp vũ khí, đã thu được hơn chục khẩu súng để tự trang bị. Đêm 24-8, đoàn biểu tình của huyện Chợ Mới có lực lượng vũ trang dẫn đầu kéo lên thị xã phối hợp với các đoàn biểu tình từ các nơi khác kéo đến cùng tham gia giành chính quyền tỉnh. Lực lượng quần chúng nửa vũ trang có các đội vũ trang xung phong làm nòng cốt đã áp đảo lực lượng Hoà Hảo do Huỳnh Phú Sổ cầm đầu làm thất bại âm mưu lấy lại chính quyền từ tay Việt Minh của họ. Ngày 25-8, chính quyền cách mạng tỉnh Long Xuyên (An Giang) đã về tay nhân dân. Cùng ngày, nhân dân Tân Châu, Châu Đốc cũng giành được chính quyền. Riêng huyện Tịnh Biên, đến ngày 28-8, chính quyền mới về tay nhân dân. Tất cả các nơi trong tỉnh đều bằng áp lực quần chúng có lực lượng vũ trang làm nòng cốt uy hiếp tinh thần địch và giành được chính quyền không phải đổ máu. Khởi nghĩa đã thành công, thu được nhiều súng đạn. Nhờ vậy, Long Xuyên đã có thể viện trợ được cho Hà Tiên 30 khẩu súng, Cần Thơ 30 khẩu súng và Sa Đéc 20 khẩu súng ngay trong những ngày khởi nghĩa tháng Tám. Cần Thơ, thủ phủ của miền Tây Nam Bộ đã khởi nghĩa thành công ngày 26-8 trong một tình thế phức tạp. ở đây, nhiều giáo phái như đạo Thiên chúa mà một số chức sắc lớp trên có xu hướng thân Pháp. Nhưng Đạo Tình độ cư sĩ có tinh thần dân tộc đã ngả theo Việt Minh. Đạo Cao Đài nhiều phái: phái Cao Đài Tiên Thiên và phái Cao Đài Hậu Giang có cảm tình với cách mạng; nhưng phái Cao Đài Tây Ninh lại kỳ vọng vào Nhật và Cường Để. Riêng một bộ phận lạc hậu trong lực lượng Hoà Hảo do Huỳnh Phú Sổ cầm đầu thì ra mặt tranh chấp với Việt Minh. Trước tình hình đó, lãnh đạo cách mạng Cần Thơ đã dựa vào bạo lực chính trị và vũ trang của quần chúng, có các đội xung phong vũ trang của Thanh niên tiền phong làm nòng cốt để tiến hành khởi nghĩa. Ngày 26-8, toán vũ trang xung kích đã hỗ trợ cho hàng vạn quần chúng bán vũ trang kéo tới bao vây, áp đảo các lực lượng chống đối, nhanh chóng giành được chính quyền. Quân đội của chính quyền thân Nhật do Dương Văn Minh chỉ huy đã được ta thuyết phục, chấp nhận không kháng cự. Riêng việc giao thiệp với Huỳnh Phú Sổ và Chung Bá Khánh (đại diện Hoà Hảo) là có khó khăn, nhưng cuối cùng chính quyền cách mạng cũng đã về tay nhân dân. Ở Rạch Giá, từ tháng 7-1945, Mặt trận Việt Minh đã tích cực chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh phong trào thanh niên, tự vệ luyện tập quân sự kết hợp với tuyên truyền vận động chính trị. Ngày 26-8, Uỷ ban giải phóng đã yêu cầu tên tỉnh trưởng trao chính quyền, nộp vũ khí. Ngày 27-8, lực lượng vũ trang cùng nhân dân đã tiến hành cướp khí giới của mật thám và cảnh sát, bắt giam một số tên đầu sỏ; đồng thời chiến các công sở, giữ trật tự trị an trong thành phố. Ngày 28-8, quần chúng nhân dân, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn chào mừng thắng lợi. Ở Sóc Trăng, các tôn giáo như Thiên chúa giáo, Phật giáo Cao Đài, Hoà Hảo và các nhà sư Khơ Me đều đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh. Các đội vũ trang được thanh niên các dân tộc, các tôn giáo tự nguyện tham gia. Ngày 25-8, cuộc biểu tình lớn của quần chúng có lực lượng vũ trang hỗ trợ đã thành công trong việc giành chính quyền, tiếp thu các công sở trại lính… Hà Tiên, lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho 3.500 Thanh niên tiền phong. Tất cả đã cùng nhân dân tham gia giành chính quyền thắng lợi. Ngày 28-8, sau khi giành chính quyền, lực lượng vũ trang cách mạng đã buộc Nhật trao lại trên 20 kho gạo cho ta. Bạc Liêu - Cà Mau, trong những ngày tháng Tám, các đội tự vệ và các đội vũ trang tuyên truyền được phát triển, đẩy mạnh các hoạt động, nhằm thâm nhập vào chính quyền xã và bảo an binh của địch. Uỷ ban khởi nghĩa nắm được tổ chức Thanh niên tiền phong, khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:46:00 pm Ngày 23-8-1945, Đảng bộ Bạc Liêu đã biến cuộc đón tiếp Nguyễn Văn Sâm, khâm sai của Chính phủ Trần Trọng Kim ở thị xã Bạc Liêu thành cuộc biểu tình thị uy giành chính quyền. Địch cho binh lính đến đàn áp nhưng binh lính lại ngả theo cách mạng và trao cho Thanh niên cứu quốc 20 khẩu súng để tự vũ trang. Ngày 25-8, đội vũ trang đã hỗ trợ cho đoàn biểu tình quần chúng xông vào cướp trại lính địch khi trong trại vẫn còn hơn 300 tên được trang bị vũ khí. Nhưng trước áp lực mạnh mẽ của quần chúng cách mạng, chúng không dám kháng cự. Uỷ ban khởi nghĩa đã cho thành lập ngay đội Cộng hoà vệ binh của chính quyền thị xã. Quân Nhật còn đóng trong thị xã cũng “án binh bất động”. Khởi nghĩa đã thành công một cách mau lẹ. Một trung đội Cộng hoà vệ binh do một Uỷ viên quân sự của Uỷ ban giải phóng tỉnh Bạc Liêu chỉ huy đã đi hỗ trợ cho Cà Mau giành chính quyền. Tại quận Cà Mau, 10 giờ sáng ngày 25-8, quân cách mạng đã bao vây dinh quận trưởng, buộc y phải trao chính quyền cho cách mạng. Lực lượng quần chúng với 15.000 người tham dự mít tinh chào mừng thắng lợi. Toàn tỉnh Bạc Liêu được giải phóng. Ở Côn Đảo, được tin Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các địa phương trên cả nước đã Tổng khởi nghĩa thắng lợi, Đảng bộ nhà tù đã kịp thời lãnh đạo 10.000 chiến sĩ cách mạng đã bao năm bị giam cầm nơi đây nổi dậy giành quyền làm chủ đảo. Giữa tháng 9-1945, những chiến sĩ cộng sản rời đảo về lại với đất liền, tăng cường cho các đảng bộ miền Nam... Như thế, trừ mấy địa điểm do bọn Tưởng Giới Thạch và tay sai chiếm đóng từ trước chưa được giải phóng (như thị xã Hà Giang, Lào Cai, Móng Cái, Lai Châu...), cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công rực rỡ chỉ trong vòng nửa tháng. Đề cập tới những nhân tố tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh. . . “Vì chính sách của Đảng đúng, và thi hành chính sách ấy kịp thời và linh động. . . “ Nhờ sự thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên XÔ đã đánh bại phát xít Nhật, nhờ sự thân ái nâng đỡ của tinh thẩn quốc tế, nhờ sự đoàn kết chặt chẽ của toàn dân, nhờ sự dũng cảm hy sinh của các tiên liệt cách mạng. “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và Tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đang, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun Tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay...” 1. Về ý nghĩa lịch sử trọng đại của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cuộc cách mạng này “đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, độc lập tự do, hạnh phúc. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta. “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. “Cách mạng Tháng Tám có ảnh hưởng trực tiếp và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập” 2. ________________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 159-160. 160. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:47:47 pm Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của gần triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chính thức tuyên bố trước thế giới quyền độc lập của Việt Nam và khẳng định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” 1 .
Thực tế những tháng ngày hào hùng Tháng Tám 1945 ở Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn cũng như ở các tỉnh Nam Bộ đã chứng tỏ: hình thái chung của Tổng khởi nghĩa là “đô thị và nông thôn cùng đồng loạt nổi dậy” giành chính quyền. Cần phải nhấn mạnh điều này, bởi lẽ đã từng xuất hiện những ý kiến hoặc cho rằng, khác với các tỉnh phía bắc, ở miền Nam, hình thái khởi nghĩa là bắt đầu ở đô thị rồi mới lan tới nông thôn; hoặc ngược lại, từ nông thôn về đô thị. Thực ra, khi nhấn mạnh hình thái khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ là đô thị và nông thôn cùng tiến hành đồng thời; xem đó là hình thái chủ đạo, bao trùm thì điều đó không có nghĩa loại biệt hoàn toàn thực tế ở một số địa phương, khởi nghĩa thành công ở đô thị đã tác động và tạo điều kiện cho khởi nghĩa ở nông thôn thắng lợi hay ngược lại. Cũng vậy, ở hai miền Nam Bắc, nhìn tổng quát, những ngày tháng 8-1945, các địa phương đã vận dụng linh hoạt, chủ động và sáng tạo tư tưởng về bạo lực cách mạng của Đảng là: chính trị và quân sự đi đôi. Có điều do tác động của thắng lợi Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, đặc biệt là ở Hà Nội, nên ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, ta sử dụng bạo lực chính trị của đông đảo quần chúng cách mạng là chủ yếu có sự hỗ trợ thích đáng của lực lượng vũ trang để giành chính quyền. Thực tế đó chẳng những không làm mờ đi vị trí, vai trò của đấu tranh vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám mà ngược lại, nó chứng tỏ tầm quan trọng của mặt đấu tranh này. Thực tế lịch sử đã chứng tỏ, do được xây dựng từ trước, các đội vũ trang và bán vũ trang thực sự là lực lượng nòng cốt, hỗ trợ hiệu quả và tích cực cho lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng cách mạng vùng dậy giành chính quyền. Cũng chính vì thế, nhằm đúng thời cơ “ngàn năm có một”, Tổng khởi nghĩa đã nổ ra mạnh mẽ, giành thắng lợi mau lẹ và ít phải sử dụng vũ lực tiêu diệt quân thù. KẾT LUẬN Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, giai đoạn 1897-1945 là giai đoạn có bước phát triển mạnh mẽ, biến đổi sâu sắc mang tính cách mạng về ý thức hệ, về phương diện xã hội và vị thế của quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế. Nửa sau của giai đoạn này, chủ nghĩa Mác- Lênin, đỉnh cao của trí tuệ thời đại, được truyền bá vào Việt Nam, trở thành nền tảng tư tưởng, lý luận của đội tiên phong giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. VỚi thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự do, sau khi đã “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà” 2, góp phần tích cực vào sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. Đầu thế kỷ XX, sau thất bại của phong trào Cần Vương, phong trào đấu tranh chống Pháp phát triển lên một bước mang màu sắc dân chủ tư sản. Nhưng những hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục cũng như các cuộn đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quang phục hội (1915), khởi nghĩa Thái Nguyên (1917), khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng (1930) v.v. đều không thành công. Điều đó chứng tỏ rằng, con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản không phù hợp với xu thế mới của thời đại và không đáp ứng được đòi hỏi của cách mạng Việt Nam. Giữa lúc đó, một xu hướng cách mạng mới hình thành do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo. Đến với chủ nghĩa Mác-lênin và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920), Người hướng cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Gắn liền với quá trình hình thành tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự, Người chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. ___________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 4. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 557. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 21 Tháng Sáu, 2009, 11:48:58 pm Trong quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930-1945), Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công một loạt vấn đề then chốt về tư tưởng lý luận, nhạy bén, sáng suốt trong chỉ đạo thực tiễn, tạo nên những nhân tố thắng lợi của đấu tranh quân sự. Đó là Đảng ta đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết cộng đồng các dân tộc, tổ chức nhân dân thành lực lượng chính trị hùng hậu trên nền tảng liên minh công nông. Đội quân chính trị được tôi luyện qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945, không ngừng phát triển vững mạnh. Bên cạnh việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng đồng thời coi trọng xây dựng và rèn luyện lực lượng vũ trang cách mạng. Lực lượng vũ trang do Đảng tổ chức và lãnh đạo ngay từ đầu đã mang bản chất giai cấp công nhân, có tổ chức chặt chẽ, cơ cấu hợp lý, kỷ luật nghiêm minh, có mối quan hệ nội bộ và quân dân tốt, thực hiện lối đánh giặc tài giỏi, hoàn thành các nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó. Ngay từ khi mới thành lập, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, lúc này đội quân chính quy phải hoạt động theo phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, phải ra sức xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để cùng phối hợp hoạt động, phải dựa vào lực lượng chính trị để phát triển lực lượng vũ trang. Lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang hợp thành lực lượng cách mạng. Sức mạnh vô địch của lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng là sức mạnh vô địch để bảo vệ chính quyền cách mạng. Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa, Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và củng cố cơ sở chính trị ở thành thị và nông thôn, đi từ các cơ sở chính trị và các cơ sở vũ trang bí mật tiến lên xây dựng các căn cứ và khu du kích. Dựa chắc vào dân, gắn việc xây dựng với củng cố, bảo vệ căn cứ địa. Trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám, các căn cứ địa được thành lập ở hầu khắp địa phương trong toàn quốc. Vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn được tổ chức thành khu giải phóng. Ở các căn cứ địa và khu giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập, các chính sách cơ bản về kinh tế, chính trị, quân sự. . . của Việt Minh được áp dụng, lực lượng vũ trang được củng cố, tăng cường, tạo đà cho đấu tranh vũ trang phát triển mạnh. Hình thức đấu tranh nhạy bén, sáng tạo. Trong khi chưa có tình thế cách mạng trực tiếp, đấu tranh chính trị là chủ yếu có bạo lực của quần chúng cách mạng, có sự kết hợp các hình thức đấu tranh hợp pháp và không hợp pháp. Khi tình thế mới xuất hiện, Đảng chủ trương chuyển hình thức đấu tranh từ thấp lên cao, có sự kết hợp chặt chẽ giữa nông thôn và thành thị, phát động chiến tranh du kích; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa; chớp thời cơ lịch sử, phát huy sức mạnh ca cộng đồng dân tộc, cửa lực lượng toàn dân, và lực lượng vũ trang cách mạng nhất tề đứng lên liên tục tiến công, hên tục giành thắng lợi, đập tan cơ cấu quyền lực của quân thù, thiết lập chính quyền cách mạng trong toàn quốc. Xuất phát từ luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam thắng lợi trước hết phải có “Đảng cách mệnh” 1, “Đảng có vững cách mệnh mới thành công” 2, cho nên Đảng đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng Đảng, đảm bảo cho Đảng luôn luôn có đường lối chính trị đúng, có tư tưởng và hành động thống nhất, tổ chức đảng có chất lượng cao, trong sạch, vững mạnh, sâu sát và bám rễ trong quần chúng nhân dân. Để tiến tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã tổng kết thực tiễn dấu tranh cách mạng trên các địa bàn nông thôn, thành thị và rừng núi; quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trên một loạt vấn đề cơ bản: bạo lực cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, dựa vào sức mạnh toàn dân, thời cơ cách mạng, kết hợp các hình thức đấu tranh sáng tạo. Chúng ta đã chuẩn bị lực lượng chính trị và quân sự trên tất cả các địa bàn của đất nước, nhờ vậy Tổng khởi nghĩa diễn ra dông loạt trong phạm vi cả nước. Thực tiễn sinh động của quá trình vận động cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân (1930-1945), nhất là trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám cho phép khẳng định rằng: ___________________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 188. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Sáu, 2009, 12:23:43 am Nhờ có chuẩn bị từ trước về mọi mặt, nhờ lực lượng vũ trang làm chỗ dựa và đấu tranh vũ trang hỗ trợ, phong trào cách mạng quần chúng mới phát triển nhanh, mạnh, liên tục; nhờ có đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và lực lượng quân sự cách mạng đóng vai trò chế áp lực lượng đối phương (kẻ thù chính là phát xít Nhật chưa đầu hàng Đồng minh, còn nguyên vũ khí) cho nên Cách mạng Tháng Tám mới giành được thành công nhanh chóng và gọn gàng ở các địa phương, các thành phố lớn cũng như ở trung tâm đầu não của địch.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám: của đấu tranh vũ trang là thắng lọi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng. Thắng lợi đó đã mở đường và đặt cơ sở cho sự phát triển toàn diện của đất nước. Quá trình lãnh đạo toàn dân chuẩn bị và thực hành khởi nghĩa vũ trang, Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặt nền móng cho sự hình thành một nền khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại. Những bài học thành công của công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và đấu tranh quân sự trong thời kỳ vận động cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân (1930-1945), cùng với những nhân tố thắng lợi của đấu tranh quân sự, đặc biệt là vai trò lãnh đạo cách mạng cua Đảng, sức mạnh vô địch của lực lượng cách mạng, giúp cho dân tộc Việt Nam chủ động bước vào cuộc chiến đấu mới chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và thống nhất Tổ quốc. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Các Mác: “Đấu tranh giai cấp 1848-1850”, Mác - Ăng ghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1981, t.1. 2. Ph. Ăng ghen: “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức”, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1981. 3. Ph. Ăng ghen: “Chống Đuy rinh - Lý luận về bạo lực..., “ Mác-Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1981, t.5. 4. V.I.Lênin: “Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản”, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.3. 5. V.I.Lênin: Nhà nước và cách mạng, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t.33. 6. V.I.Lênin: Chủ nghĩa và khởi nghĩa, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t.34. 7. Lênin: Những bài viết và nói về quân sự, t.3 (3-1917-10.1917), t5 (10-1917-11-1920), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, 1978. 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.1, 2, 3. 9. Hồ Chí Minh: Những bài việt và nói về quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, t.1. 10. Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân Hà Nội, 1975. 11. Hồ Chí Minh: Về vấn đề quân sự, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975. 12. Lanh Rútxiô: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chân dung một người Bônsêvích vàng (1917-1923), Tạp chí Lịch sử quân sự số 1, tháng 1, 2 năm 2000. 13. Archimedes L.Patti: Why? Việt Nam Preludeto America’s Albatross Berkeley C.A.Univ.of California Press 1980, Tiếng Việt , Nxb. Đà Nẵng, 1985. 14. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 55 năm quân đội nhân dân Việt Nam, Biên niên sự kiện (1944-19t99), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999. 15. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tìm hiểu học thuyết quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997. 16. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội nhân dân. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996. 17. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và Tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh (in lần thứ 2 có sửa chữa, bổ sung), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995. 18. Ban Nghiên cứu Lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam (in lần thứ Tơ có sửa chữa, bổ sung) Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t. 1. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Sáu, 2009, 12:25:01 am 19. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiêu sử và sự nghiệp (in lần thứ 6), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986.
20. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Sơn La: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Sơn La (1940-1954) (sơ thảo) Sơn La, 1983, t.1. 21. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Tuyên Quang: Lịch sử Cách mạng Tháng Tám tỉnh Tuyên Quang 1939-1945, Tuyên Quang, 1965 22. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Bắc Thái: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, (sơ thảo), Bắc Thái, 1980, t.1. 23. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Yên Bái: Sơ thảo lịch sử Cách mạng Tháng Tám tỉnh Yên Bái, Yên Bái, 1971. 24. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Hà Giang: Lịch sử Cách mạng Tháng Tám tỉnh Hà Giang (sơ thảo), Ty Văn hoá Hà Giang xuất bản, 1971. 25 Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Lai Châu: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Lai Châu, Lai Châu, 1986. 26. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Phú Thọ: Sơ thảo lịch sử Cách mạng Tháng Tám tỉnh Phú Thọ, Phú Thọ, 1968. 27. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Bắc Giang: Sơ thảo lịch sử Cách mạng Tháng Tám tỉnh Hà Bắc, Hà Bắc, 1969. 28. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh (sơ thảo) (1925-1954), Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, t.1. 29. Ban Chấp hành Đảng bộ Hải Hưng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Hưng, (927-1954), Ban Chấp hành Đảng bộ Hải Hưng xuất bản, 1990, t.1. 30. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành uỷ Hải Phòng: Cách mạng Tháng Tám ở Hải Phòng và Kiến An, Hải Phòng, 1971. 31. Ban Chấp hành Đảng bộ Hải Phòng: Tóm tắt lịch sử Đảng bộ Hải Phòng (1930-1980), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, 1982. 32. Ban Chấp hành Đảng bộ Thái Bình: Lịch sử Cách mạng Tháng Tám Thái Bình (sơ thảo), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Thái Bình xuất bản, 1966. 33. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Quảng Ninh: Sơ thảo lịch sử Cách mạng Tháng Tám ở tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ninh, 1970. 34. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Quảng Nam Đà Nẵng: Lịch sử tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng 1930-1945, Đà Nẵng, 1986. 35. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Quảng Ngãi: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1925-1945) (sơ thảo), Quảng Ngãi, 1985. 36. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Ngãi: Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và đội du kích Ba Tơ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. 37. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Thuận Hải: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thuận Hải thời kỳ 1930-1945 (sơ thảo), Thuận Hải, 1984. 38. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Sông Bé: Đảng bộ Sông Bé ra đời và lãnh đạo nhân dân trong tỉnh đấu tranh tiên tới giành chính quyền Tháng Tám, Sông Bé, 1990. 39. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đaklak: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đaklak (sơ thảo), Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Đaclak xuất bản, 1983, t.1. 40. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Gia Lai - Kon Tum: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai - Kon Tum (sơ thảo), Gia Lai - Kon Tum, 1980. 41. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Minh Hải : Lịch sử Đảng bộ Minh Hải (thời kỳ 1930-1945) (sơ thảo), Nxb. Mũi Cà Mau, 1989. 42. Bùi Phan Kỳ: Phác thảo học thuyết quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999. 43. Bùi Đình Thanh: Đấu tranh vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 17 (8- 1960) . 44. Bình Phương: Hồi ký cách mạng Tây Bắc, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Khu uỷ Tây Bắc xuất bản, 1970. 45. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Lạng Sơn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn, 1930-1954 (Sơ thảo), Lạng Sơn, 1986. 46. Bùi Hữu Khánh: Hà Nội trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, Sở Văn hoá Hà Nội xuất bản, 1960. 47. Dương Kinh Quốc: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988. 48. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.1, 2. 49. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t.3. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Sáu, 2009, 12:25:34 am 50. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
51. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990. 52. Đại Tướng Võ Nguyên giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh vơi quá trình hình thành và chiến thắng của quân đội ta, Tạp chí Cộng sản số 24 tháng 12 năm 1999. 53. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hò Chí Minh - Quá trình hình thành và phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993. 54. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh gicỉi phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974. t.1. 55. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, t.2. 56. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964. 57. Đặng Xuân Kỳ: Hồ Chí Minh với việc vật dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Tạp chí Cộng sản, 5-1995. 58. Đảng bộ tỉnh Bình Định. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1930-1945, Nxb. Tổng hợp Bình Định, 1990, t.1. 59. Épghênhi Cabêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985. 60. Giăng Lacutuya - Hồ Chí Minh. Nxb. Le soi, Pa ri, 1957. Bản a;Chuyện lịch sử quân sự Việt nam. 61. Học viện Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội 2000. 62. Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Quân giải phóng, Bắc Kinh, 1990. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh. 63. Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến: Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975 Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. 64. Khu uỷ Tây Bắc: Sơ tháo lịch sử Cách mạng Tháng Tám khu Tây Bắc, Ban Nghiên cứu lịch sú Đảng Khu uỷ Tây Bắc xuất bán: 1958. 65. Lê Dân: Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1957. 66. Lẽ Mậu Hãn: Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng và xác định cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1 (tháng 1, 2), năm 2000. 67. Lê Văn Thái: Về một sụ kiện lịch sử nhiều ý nghĩa, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1, tháng 1, 2, năm 2000. 68. Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1 985, t. 1 . 69. Lê Trọng Nghĩa: 19-8 Cách mạng và sáng tạo, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1995. 70. Lê Trọng Nghĩa: Hà Nội khởi nghĩa, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Thành uỷ Hà Nội xuất bản, 1966, t.1. 71. Nguyễn Khánh Toàn, Văn Tạo, Nguyễn Công Bình, Bùi Đình Thanh, Phạm Xuân Nam: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, 1985, t.2. 72. Masaya Shiraishi: La presence japonise Indochine 1940-1945, Presse universitares de France -108 Boulevard Saint Germain Paris, 1982. 73. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985. 74. Những sự kiện lịch sử về hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (1930-1954), Tổng cục Hậu cần xuất bản, Hà Nội, 1979. 75. Nguyễn Quyết: Hà Nội Tháng Tám (hồi ký) Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980. 76. Phạm Kiệt: Từ núi rừng Ba Tơ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970. 77. Phan Bội Châu: Toàn tập. Chương Thâu sưu tầm - biên soạn, Nxb. Thuận Hoá, 1990, t.6. 78. Phuruta Môtô - Tư liệu gửi từ Tokyo ngày 24-9-1997. 79. Stein Tonnesson “The Vietnamese revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at war” Sage publicatons Lon don. Newbry. New Delhi, 1991. 80. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng - Bộ Tơ lệnh Quân khu I - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Miền đất khai sinh và quá trình phát triển, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999. Tiêu đề: Re: Lịch sử Quân sự Việt Nam-Tập 9 Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Sáu, 2009, 12:26:48 am 81. Trường Chinh: Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983.
82. Trường Chinh: Cách mạng Tháng Tám (In lần thứ 6), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960. 83. Trần Huy Liệu: Tựa cho cuốn Ngọn cờ giải phóng, Nxb. Sự thật, 1955. 84. Trần Huy Liệu: Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Ban Văn Sử Địa xuất bản, Hà Nội, 1956, 196 l, quyển I-II (tập thượng, tập hạ) . 85. Trần Huy Liệu: Nghĩa Lộ vượt ngục, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991. 86. Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Nguyễn Công Bình, Nguyễn Khắc Đạm, Nguyễn Lương Bích, Ngông Niết đam: Tài liệu tham khảo cách mạng cận đại Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, t.1, 2, 1955, 1957. 87. Trần Huy Liệu và nhiều tác giả : Cách mạng Tháng Tám. - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các đia phương, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960, t. 1, 2. 88. Trần Văn Giàu, Trung Dũng, Mai Văn Bộ, Nguyễn Tấn Tuồng, Bùi Công Đảng: Mùa Thu rồi - Ngày 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. 89. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Văn Lân, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, t.3. 90. Trần Tử Bình: Hà Nội khởi nghĩa, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng, Thành uỷ Hà Nội xuất bản, 1966, t.1. 91. Trần Cung: Một trang đáng nhớ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1980. 92. Trần Xuân Trường: Giải quyết quan hệ dân tộc và giai cấp theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản số tháng 5 năm 1995. 93. Tạp chí Planêta - Action, Pa ri, số tháng 3 năm 1970, Bản dịch tiếng Việt lưu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam. 94. Trần Dân Tiên : Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975. 95. Trần Thanh Tâm: ‘Hình thái diễn biến khởi nghĩa trong Cách. mạng Tháng Tám” và Phuruta Môtô: “Từ binh lính quân đội Thiên hoàng đến chiến sĩ Việt Minh - Vài nét về những người Nhật tham gia Việt Minh”, in trong sách Cách mạng tháng Tám - Một số vấn đề lịch sử, Văn Tạo chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995. 96. Thành uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Hà Nội: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam thành phố Hà Nội 1926-1954 (sơ thảo), Nxb. Hà Nội, 1989. 97. Tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn: Những chặng đường lịch sử của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hoàng Liên Sơn (1936-1982) Sở Văn hoá và Thông tin Hoàng Liên Sơn xuất bản, 1982. 98. Tỉnh uỷ Hà Sơn Bình: Lịch sử Đảng bộ Hà Sơn Bình, (1926-1945), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Hà Sơn Bình xuất bản. 1985 t.1. 99. Tỉnh uỷ Bến Tre: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bến Tre, 1930-1945 (tóm tắt), Ban Nghiên cứu lịch sử Dáng Tỉnh uỷ Bến Tre xuất bản, 1985. 100. Tỉnh uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Sóc Trăng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (1930-1954) Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Sóc Trăng xuất bản, 1994, t.1. 101. Tỉnh uỷ Kiên Giang: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Kiên Giang (1930-1945) (sơ thảo), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Kiên Giang xuất bản, 1935. 102. Tỉnh uỷ An Giang: Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang (1927-1945) (sơ thảo), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ An Giang xuất bản, 1986. 103. Văn viện quân sự của Đảng (1930-1945), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996. 104. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử (1890-1930), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.1. 105. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử (1930-1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.2. . 106. Viện Hồ Chí Minh: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1(924-1t927) Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. 107. Bảo tàng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Những sự kiện, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987. 108. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. 109. Viện Sử học Việt Nam: Lịch sử thành phố Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng, 1996. - HẾT TẬP 9 - |