|
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:48:06 pm Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Quang Sáng Nguồn http://www.binhthuan.gov.vn Mấy lời tự kể Tôi sanh ngày 12/1/1932 tại làng Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Nguyen Quang SangThuở còn ngồi ghế nhà trường tôi không hề nghĩ sau nầy mình sẽ viết văn và bạn bè ai cũng nghĩ như vậy. Tôi giỏi môn toán, môn văn rất bình thường. Khi lên cấp hai, văn càng dở. Dở đến mức một bài luận văn chỉ được nửa điểm trên hai mươi. "Văn chương" như vậy thì làm sao mà trở thành nhà văn được. Tôi không mơ ước điều đó... Thằng bạn cùng lớp, bài luận văn được tới mười tám trên hai mươi điểm. Thầy đọc bài luận văn của nó cho cả lớp thưởng thức và lấy đó làm mẫu. Sau nầy nó trở thành nhà văn là cái chắc. Nhưng sự đời lại khác - Sau khi ra trường, thằng bạn có khiếu văn chương ấy không hề viết văn mà trở thành nhà quân sự: chỉ huy cao xạ pháo. Còn tôi thì tôi viết văn. Lạ vậy ! Giải thích "hiện tượng" nầy như thế nào. Tôi chẳng biết tôi có khiếu văn chương hay không? Tôi chỉ biết một cách thật rõ ràng rằng: Tôi viết là vì cảm xúc của tôi với cuộc sống, với từng số phận của mỗi con người mà tôi đã từng chia xẻ. Mười tuổi, tôi đi học xa nhà, ở trọ và ăn cơm tháng. Mọi việc đều phải tự lo. Năm 1945, nhà trường bị quân Nhật lấy làm doanh trại. Trở về nhà, gia đình sa sút, tôi ra đời ở tuổi mười ba. Một mình với cái rương gỗ, xuống tàu lên tận Tân Châu vấn thuốc lá mướn. Sau đó lại lên xe đò đi Sa Đéc làm việc vặt trong một tiệm vàng. Đến 1946, mười bốn tuổi, tôi đi bộ đội làm giao liên. Suốt 9 năm đánh Pháp, tôi đi khắp các chiến trường sông rạch miền Tây Nam bộ. Nếu tôi có chút năng khiếu văn chương ẩn dấu kín đáo chưa hề được bộc lộ thì chính là cuộc sống đã khơi dậy cho tôi. Năm 1952, tôi bắt đầu viết tiểu thuyết, viết về làng, về những con người yêu thương trong gia đình, hàng xóm và bạn bè. Mười một năm sau (1963) tác phẩm đầu tay ấy ra đời. Tiểu thuyết mang tên Đất Lửa. Năm 1966 tôi lại vượt Trường Sơn từ Hà Hội về thẳng chiến trường Đồng Tháp Mười. Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" được viết trên chiếc xuồng giữa đồng nước trong tầm bom đạn của giặc. Từ ấy đến nay, tôi vẫn viết, viết đều không nghỉ... Xin có mấy lời tự kể khi tập sách đến cùng bạn đọc. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:50:10 pm Chiếc lược ngà Vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ, giữa Tháp Mười mà xung quanh nước đã lên đầy, nói cho đúng đây là cái trạm của đường dây giao thông, nhà nhỏ nhưng người lại đông. Chưa đến chuyến đi, chúng tôi còn phải đợi. Ban ngày, chúng tôi chẳng biết đi đâu, hết nằm lại ngồi, có lúc thấy cuồng chân, thật tù túng, nhưng lại có cái thú bù lại là thọc cần câu ra khỏi nhà để câu cá. Ngày câu cá đã đủ ăn rồi, đêm không ai muốn câu nữa. Trong lúc nhàn rỗi ấy, chúng tôi thường hay kể chuyện. Và tôi nghe câu chuyện này của một đồng chí già kể lại. Ông vốn là người hay kể chuyện - nhiều nhất là chuyện tiếu lâm, có cả tiếu lâm kháng chiến nữa, chuyện nào cũng làm cho chúng tôi cười lăn, cười bò. Trước khi kể, bao giờ ông cũng cười mỉm, mặt trở nên hóm hỉnh, đúng là ông lão có duyên già. Nhưng hôm ấy, ông đâm ra khác thường. Ông già kể nhưng vẫn ngồi im, đầu hơi cúi xuống, trầm lặng, mặt ngước nhìn ra mênh mông. Chắc là một chuyện cảm động, chúng tôi đoán như vậy và không đùa nữa. Bên ngoài, một cơn gió ù thổi tới. Cái trạm này - một ngôi nhà cất chen vào giữa một chòm cây giữa khu rừng tràm thưa, mỗi khi có một cơn gió, sóng nối nhau đập vào tàn cây, nhà lại rung lên và lắc lư như một con thuyền đang chơi vơi giữa biển. Sóng đập đều đều vào các chòm cây. Đàn cò đứng ngủ không yên, một vài con vỗ cánh bay chấp chới. Sóng gió như nhắc nhở ông điều gì, ông nghiêng tai lắng nghe. Khi cơn gió thổi qua, mặt nước trở lại yên lặng, ông mới ngẩng lên và nói. Ông nói với chúng tôi mà như nói với cả trời nước vậy, ông không nhìn vào chúng tôi mà nhìn ra biển nước, chân trời và các vì sao. - Chuyện xảy ra cách đây đã hơn một năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, tôi cứ bàng hoàng như vừa thấy một giấc mơ - ông mở đầu với giọng trầm đục: - Hôm đó, tôi đi từ trạm N. G. đến L. A. Khi chiếc xuồng máy đuôi tôm vừa xô ra bến thì chúng tôi ai cũng muốn biết người lái ấy là ai. Không phải tò mò mà cần phải biết. Bởi vì trước khi đi, người trạm trưởng có báo cáo với chúng tôi đó là một đoạn đường dài, một đoạn đi xuồng máy, một đoạn đi bộ, đi xuồng dễ gặp trực thăng soi, anh em phải bình tĩnh, không được nhốn nháo, không được tự động mà phải tuyệt đối tuân theo sự điều khiển của người lái. Nói như vậy có nghĩa là sinh mạng mình phải hoàn toàn phó thác cho người cầm lái ấy, có phải không các bạn? Cho nên, tôi cần nhìn, cần biết rõ người đang cầm giữ sinh mạng mình. Nhưng trời đã tối rồi, tôi chỉ thấy đó là một cô gái người mảnh khảnh, vai mang cây "cạc- bin" bá xếp của Mỹ, đầu chít khăn, dáng điệu gọn gàng. Trước đó, tôi có được nghe tiếng đồn trạm này có một cô giao liên rất thông minh. Một hôm, cô dẫn một đoàn khách sắp sửa qua sông, cô để khách dừng lại ngoài ruộng xa. Cô và một anh giao liên nữa tiến trước dọn đường. Đến vườn cây bờ sông, cô thấy mình đã lọt vào ổ phục kích của địch. Nhưng cô không bối rối. Cô vừa gọi người bạn của mình vừa nói, cô cố ý nói lớn cho bọn địch nghe: "Tình hình yên, không có gì, anh trở lại dẫn khách đi, còn tôi sang sông lắc xuồng đem qua". Trong câu nói ấy có ám hiệu. Anh giao liên liền quay lại, êm ái đưa khách bọc qua ngả khác, vượt sông cách đó độ một vài cây số. Còn cô ta, trước khi qua sông cô còn gài lại hai trái lựu đạn. Cô qua sông, thế là thoát. Còn đám biệt kích kia, bọn nó tưởng thật, định hốt cả một đoàn khách, nên chẳng dám rục rịch, mà cứ chờ. Chờ mãi, bọn nó biết, nó chửi rủa nhau, trong lúc lục tục kéo về lớ quớ thế nào lại vấp cả hai quả lựu đạn gài, rụng hết mấy mạng. Qua chuyện đó, người ta thêm thắt rằng cô giao liên ấy có cái mũi rất thính, cô dùng mũi để nghe mùi địch và có thể phân biệt được thằng nào là Mỹ, thằng nào là Ngụy nữa. Tôi nghĩ, nếu người nữ giao liên ấy là cô đang lái chiếc xuồng máy này thì mình không đến nỗi lo lắm. Tôi muốn hỏi nhưng thấy không tiện nên đành phải nói khéo: - Ơở trạm này có mấy cháu nữ vậy hở chú? - Dạ một chị là chị nuôi với cháu nữa là hai. Vậy là cô nữ giao liên này rồi, tôi cảm thấy mừng. Nghe giọng cô nói, tôi đoán cô bé độ mười tám hai mươi là cùng. Tôi cảm thấy mến, muốn hỏi thêm nhưng thấy cô đang lom khom quấn dây vào bánh trớn nên lại thôi. Quấn dây vào bánh trớn xong, cô đứng thẳng người, quay lại nói với xuồng sau : - Tôi đi trước nhé ! Mấy anh giao liên xuồng sau nhao lên : - Thôi chị Hai đi trước đi. - Chị út đi mạnh giỏi nhá ! Người gọi chị Hai, người gọi chị út, chẳng biết cô thật thứ mấy. Cô đáp lại mấy câu láu lỉnh, gọi mấy chú giao liên là em rồi quay lại chúng tôi, hạ giọng hết sức lễ phép : - Các bác, các chú, các anh có gì quan trọng nên để trong túi áo, hoặc để trong một cái gói riêng. Lỡ gặp trực thăng bắn hoặc gặp biệt kích thì đồ qúy không bị mất, bị cháy. Cô báo cho chúng tôi những điều không may có thể xảy ra nhưng giọng nói lại dịu dàng - dễ thương nữa - khác hẳn với giọng nói căng thẳng của ông trạm trưởng, nên tôi thấy không lo lắm. Nói xong, cô khom lưng, giật máy. Xuồng rung lên theo tiếng máy nổ giòn, từ từ tách ra khỏi vòm cây rậm, rồi rào rào lướt tới. Gió thổi mát cả người, mát đến từng chân tóc. Nghe cô dặn, anh em khách lúi húi mở bòng. Còn tôi, tôi có cái gì qúy ngoài giấy tờ, tiền ăn đường đã để sẵn trong túi? Tôi chợt nhớ đến cây lược nhỏ. Tôi liền mở bòng, mò lấy cây lược, cho vào túi nhái đựng giấy tờ, bỏ vào túi ngực, rồi cài kim tây lại thật cẩn thận. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:51:03 pm Chiếc lược ngà (tiếp) Các bạn ! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi băn khoăn và ngậm ngùi. Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ, tôi bị xúc động như lần ấy. Trong những ngày hoà bình vừa lập lại, tôi cùng về thăm quê với một người bạn. Nhà chúng tôi ở cạnh nhau gần vàm kinh nhỏ đổ ra sông Cửu Long. Chúng tôi cùng thoát ly đi kháng chiến, đầu năm 1946, sau khi tỉnh nhà bị chiếm. Lúc đi, đứa con gái đầu lòng của anh - và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một tuổi. Anh thứ sáu và cũng tên Sáu. Suốt mấy năm kháng chiến, chị Sáu có đến thăm anh mấy lần. Lần nào anh cũng bảo chị đưa con đến. Nhưng cái cảnh đi thăm chồng ở chiến trường miền Đông không đơn giản. Chị không dám đưa con qua rừng. Nghe chị nói có lý anh không trách được. Anh chỉ thấy con qua tấm ảnh nhỏ thôi. Đến lúc được về, cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh. Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: - Thu ! Con. Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ cô. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lặp bặp run run : - Ba đây con ! - Ba đây con ! Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: " Má! Má". Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, rồi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương, và hai tay buông xuống như bị gãy. Vì đường xa, chúng tôi ở nhà được có ba ngày. Trong ba ngày ngắn ngủi đó, con bé không kịp nhận ra anh là cha. Đêm nó không cho anh ngủ với chị. Con bé tính khí thật không vừa, nó tuột xuống giường, đứng dưới đất chồm lên, nắm tay anh kéo ra. Kéo không được, nó kê miệng cắn. Cho đến ngày đi, tay anh vẫn còn hằn sâu những dấu răng của con. Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về, con bé càng đẩy ra. Anh mong được nghe một tiếng "ba" của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại: - Thì má cứ kêu đi. Mẹ nó đâm nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trỏng: - Vô ăn cơm! Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi "ba vô ăn cơm". Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra: - Cơm chín rồi! - Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo: - Con kêu rồi mà người ta không nghe. Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi. Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nó không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy đũa bếp sơ qua - nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên: - Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! - Nó cũng lại nói trỏng. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:52:45 pm Chiếc lược ngà (tiếp) Tôi lên tiếng mở đường cho nó: - Cháu phải gọi: "Ba chắt nước giùm con", phải nói như vậy. Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên: - Cơm sôi rồi, nhão bây giờ! Anh Sáu cứ vẫn ngồi im. Tôi dọa nó: - Cơm mà nhão, má cháu về thế nào cháu cũng bị đòn. Sao cháu không gọi ba cháu. Cháu nói một tiếng "ba" không được sao? Lúc đó nồi cơm sôi lên sùng sục. Nó hơi sợ, nó nhìn xuống, vẻ nghĩ ngợi, nhắc không nổi, nó lại nhìn lên. Tiếng cơm sôi như thúc giục nó. Nó nhăn nhó muốn khóc. Nó nhìn nồi cơm, rồi lại nhìn lên chúng tôi. Thấy nó luýnh quýnh tôi vừa tội nghiệp vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào cũng chịu thua. Nó loay hoay rồi nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước, miệng lầm bầm điều gì không rõ - Con bé đáo để thật. Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một miếng trứng cá to vàng để vào cái chén nó. Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên: - Sao mày cứng đầu quá vậy, hả? Tôi tưởng con bé lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không. Nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm. Xuống bến, nó nhẩy xuống xuồng, mở lòi tói(1)cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang qua nhà ngoại, mét với ngoại và khóc ở bên ấy - chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về. Ngày mai anh Sáu phải đi, đó là đêm cuối cùng của hai anh chị, chị cũng không muốn bắt nó về. Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoại đến rất đông- Cả con bé cũng theo ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa. Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa. Đến lúc chia tay, mang ba lô trên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói. Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba... a... a... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan của mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng " Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng " Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa. Trong lúc đó, ngoại nó cho tôi biết, đêm qua, bà đã tìm hiểu được vì sao nó không chịu nhận ba nó. Bà hỏi : - Ba con, sao con không nhận ? - Không phải - đang nằm mà nó cũng giẫy lên. - Sao con biết là không phải ? Ba con đi lâu, con quên rồi chứ gì! - Ba không giống cái hình ba chụp với má. - Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi. - Cũng không phải già, mặt ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy. À ra vậy, bây giờ bà mới biết. Té ra nó không nhận ba nó vì là cái vết thẹo, và bà nó cho biết, ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương - bà nhắc lại tội ác mấy thằng Tây ở đồn đầu vàm cho nó nhớ. Nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn. Sáng hôm sau, nó lại bảo ngoại đưa nó về. Nó vừa nhận ra thì ba nó đã đến lúc phải đi rồi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:53:55 pm Chiếc lược ngà (tiếp) Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con : - Ba đi rồi ba về với con. - Không! - Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run. Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi. Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ, muốn bảo anh ở lại vài hôm. Nhưng thật khó, chúng tôi chưa biết mình sẽ đi tập kết hay ở lại. Chúng tôi cần về đúng ngày, nhận lệnh để kịp chuẩn bị. Thế là đã đến lúc phải đi rồi, mọi người phải xúm lại vỗ về nó, mẹ nó bảo : - Thu! Để ba con đi. Thống nhất rồi ba con về. Bà ngoại nó vừa vuốt tóc nó vừa dỗ : - Cháu của ngoại giỏi lắm mà! Cháu để ba cháu đi rồi ba sẽ mua về cho cháu một cây lược. Con bé lại ôm chầm ba nó một lần nữa và mếu máo: - Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba! - Nó nói trong tiếng nấc, vừa nói vừa từ từ tuột xuống. Sau đó hai chúng tôi trở lại miền Đông. Chúng tôi là cán bộ đoàn thể, chúng tôi không đi tập kết. Từ năm năm mươi tư đến năm mươi tám, năm mươi chín và những năm khó khăn, các bạn đã biết rồi. Về công việc và đời sống ở rừng, tôi có thể kể cho đến sáng, có đêm bị biệt kích vây bắt, nhưng thôi, đó là chuyện khác. Tôi xin trở lại mối tình cha con của bạn tôi. Những đêm rừng, nằm trên võng, mắt chỉ thấy tấm ny lông nóc, lúc nhớ con, anh cứ ân hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ tâm đó cứ giày vò anh - một hôm hai đứa đang rì rầm kể, anh bỗng ngồi bật dậy: - Phải rồi ! Ơở rừng này, người ta thỉnh thoảng có bắn voi, mình phải làm một cây lược bằng ngà cho con bé mới được. Và anh ao ước có một khúc ngà, một khúc ngà voi. Thật may mắn, sau đó không lâu, vì thiếu thức ăn, anh em nghĩ đến chuyện đi săn, đi săn bằng tên thuốc chớ không phải bằng súng. Lúc đó rừng hãy còn phải giữ im lặng. Thật ra thì anh em không đi săn voi, nhưng tình cờ lại gặp nó. Anh em định thả nó, nhưng anh Sáu quyết định bắn. Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng trên lá rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ny lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà. Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sóng lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét : "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi cài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám, năm đó ta chưa võ trang - trong một trận càn lớn của quân Mỹ- ngụy, anh Sáu bị hy sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mỹ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh. - Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu. Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi. Các bạn ạ ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật thì cũng đã đành một lẽ, còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, - tìm thấy mồ mả, chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, - cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Tôi lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế, hỏi vậy làm sao mà chịu được? Chúng ta buộc phải cầm súng. Sau khi có căn cứ khá an toàn, người nhà tôi có đến thăm. Tôi định gởi cây lược ngà về cho cháu Thu. Nhưng chị Sáu và cháu Thu không còn ở làng nữa. Qua những lần tố cộng, những trận càn, những trận đốt làng dồn dân của bọn Mỹ, không có mấy năm mà làng nước tan tác đi nhiều lắm. Mỗi người đi mỗi nơi chẳng ai được tin ai. Người nhà tôi bảo có lúc nghe chị Sáu chạy lên Sài Gòn, có lúc lại nghe chị Sáu lại quay về Đồng Tháp, vì thế mà tôi giữ mãi cây lược của cháu. Tôi cầm cây lược nhìn ngắm, lòng thấy bùi ngùi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:54:37 pm Chiếc lược ngà (tiếp) Trong lúc đó tiếng máy vẫn nổ giòn, và tôi lại muốn nhìn rõ cô giao liên - người đang giữ sinh mạng của mình. Đêm không tối, cũng không sáng, nền trời tràn qua nhiều lớp mây mỏng, rải rác một vài chòm sao. Trời sáng mập mờ - Tôi chỉ nhìn thấy được dáng người của cô giao liên, gương mặt như hơi tròn và một đôi mắt, đôi mắt của người con gái thật khó tả. Chẳng hiểu cớ sao, từ ánh mắt ấy, tôi dần dần thấy một người quen, quen lắm. Tôi cố nhớ, nhớ không ra, tôi thấy mình lẩn thẩn. Bỗng có tiếng kêu thất thanh : - Máy bay ! - Máy bay! Xuồng liền chòng chành, như có người định lao xuống, người nhốn nháo và nhiều tiếng lao nhao lên : - Tấp vào ! - Đâu ? - Đèn nó ở phía sau kìa ! - Tấp vào, tấp vào. Phản lực ! Cô giao liên cho máy nổ nhỏ dần, quay lại sau một lúc rồi bảo : - Không phải đâu, sao trên trời đó mà. Trong lúc mọi người đang lo, có người hốt hoảng, có người định nhảy thì giọng của cô bình tĩnh như vậy đó. Có người chưa thật tin, nhưng trước thái độ thản nhiên của cô, mọi người lại ngồi yên. "Sao trên trời đó mà", giọng nói nhỏ nhẹ và ngọt ngào. Và cô lại cho máy nổ to. Sau mấy ngày đi bộ, được ngồi trên chiếc xuồng máy thật là thích thú. Nhưng nghĩ đến máy bay, tôi lại thấy phiền. Tiếng máy đuôi tôm nổ to quá như át cả tiếng máy bay. May mà gặp cô giao liên bình tĩnh, cô mà rối chắc có người đã nhảy rồi, xuồng chắc cũng chìm mất. Tôi cố không nghĩ gì khác, tập trung lắng nghe tiếng máy bay. Xuồng bắt đầu vào một quãng kinh trống, hai bên bờ không có một ngôi nhà, xa xa một chòm tre, một lùm cây, hai bên là cánh đồng hoang. Tôi sốt ruột muốn cho xuồng lao nhanh hơn. Hình như hiểu tâm trạng tôi, cô cho máy nổ to. Sóng trước mũi xuồng trào lên kéo thành những đợt sóng dài, làm run rẩy đám cỏ hai bên bờ, vỗ bập bềnh các giề lục bình và các đám nghể mọc hoang. Trong lúc mọi người đang yên tâm, đang thích thú ngồi trên chiếc xuồng lao nhanh thì cô giao liên tắt máy báo tin: - Máy bay ! Cô vừa nói vừa tấp sát lại bụi tre. Chiếc xuồng sau cũng tấp lại. Rõ ràng là có tiếng máy bay, tiếng cánh quạt "lạch bạch" của đám trực thăng Mỹ. Tôi chẳng biết cái lỗ mũi của cô thính đến cỡ nào, còn cái tai của cô rõ là thính thật, tiếng máy bay lẫn trong tiếng máy đuôi tôm, thật khó nghe. Xuồng chòng chành, có người chới với muốn té: - Nó còn xa lắm ! - Cô trấn tĩnh chúng tôi - Các bác, các chú bước lên phân tán mỏng, tìm núp vào chỗ kín. Nếu nó có soi tới các bác, các chú nhớ đừng động đậy - Trong lúc cô nói, anh em khách đã vọt lên bờ hết rồi. Tôi là người cuối cùng. Tôi vừa bước lên thì cô bảo : - Bác cứ ở đây đi. Xuồng ít người không sao ! Nếu một người nào khác bảo như vậy, tôi chắc không nghe. Trước thái độ của cô, ngồi cùng một chiếc xuồng với cô, tôi thấy vững tin hơn ngồi trong công sự. Đám trực thăng Mỹ từ đầu kinh soi lần lần tới, tiếng động cơ của nó rầm rộ như hàng chục chiếc tàu thủy đang chạy. Aánh sáng ngọn đèn soi của nó một lúc một gần. Bọn Mỹ, bọn ngụy đó thường đi ba chiếc, một chiếc tìm người, tìm mục tiêu, còn hai chiếc soi đèn thì bắn. - Lấy lá cây che kín, đừng động đậy nhé ! - Cô lại nhắc tôi. Đó là lần đầu tiên tôi bị trực thăng soi, khi ngọn đèn của nó soi qua - cái thứ ánh sáng chói chang và tiếng cánh quạt đập trên đầu, tôi thấy xuồng mình rõ qúa, tôi thấy cái be dài, thấy những lỗ trống của ba lô dưới lớp lá ngụy trang, thấy cỏ quặn lên như trong một cơn lốc, tôi nghĩ : "Thôi chết rồi !" Tôi rút vai, thu mình cho nhỏ lại. Như đoán được tâm trạng của tôi, cô lại nhắc : - Nó không thấy rõ mình như mình thấy mình đâu ! Lần này, lời cô nói với tôi không hiệu quả nữa. Phút chốc tôi lại muốn lao xuống nước. Nhưng tôi kịp trấn tĩnh. Rồi cái ánh sáng ma qủy ấy qua với tiếng động cơ rầm rộ mỗi lúc một xa. Đêm lại mờ dần đi. Tôi vẫn ngồi im vì còn lo nó quay trở lại. Cô giao liên nói như an ủi tôi : - Nó làm coi dữ vậy, nhưng nó chẳng thấy cái gì đâu. Miễn là mình bình tĩnh, đừng động đậy - Đoạn cô nhìn ra cánh đồng, gọi anh em khách. Anh em có người ướt nhem, vừa thay quần áo, vừa chửi rủa. Xuồng lại nổ máy. Quá nửa đêm, đoàn chuyền lên đi bộ - Chúng tôi đi men theo bờ mẫu, băng qua cánh đồng, bờ mẫu chỗ bùn lầy, chỗ lồi lõm, chỗ nhầy nhụa, chúng tôi đi sát vào nhau và hầu như thay phiên nhau trượt té vậy - Người này đang lom khom ngồi dậy, người khác lại đánh "ạch" ngã xuống ruộng, chúng tôi, dép cầm tay, mò mẫm đi từng bước, cứ thế mà đi. Gần đến bờ sông, giao liên cho chúng tôi dừng lại, phái trinh sát đi bám đường. Hai trinh sát đi khoảng hai mươi phút thì đụng biệt kích. Lần này bọn nó không nằm phục trong đám vườn dọc bờ kinh, nó chồm ra ngoài ruộng. Súng nổ tới tấp. Đạn rít veo véo qua đầu chúng tôi. - Nằm xuống ? - Cô giao liên ra lệnh - Anh Tư dẫn khách đi, tôi ở lại. Chẳng hiểu sao, lúc ấy tôi muốn kéo cô cùng đi. Qua giọng phân công của cô, tôi đoán cô là nhóm trưởng. Vừa nghe tiếng cô, nhìn lại cô đã vụt chạy đâu rồi. Đạn đan thành lưới rít qua đầu chúng tôi, rơi "chéo chéo" trên mặt ruộng, khiến chúng tôi phải nằm dán người vào bờ mẫu không sao ngóc đầu lên được. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:55:14 pm Chiếc lược ngà (tiếp) Trong lúc đó, phía bên trái bỗng có nhiều tiếng "cacbin" nổ. Lập tức đường đạn bay về hướng đó. Tôi đoán biết, cô giao liên đang dẫn đường đạn bay về mình. - Chạy ! - Anh Tư, người giao liên ra lệnh. Đoàn khách chúng tôi liền vọt lên. Tôi không phải là người dạn súng cho lắm, nhưng lúc đó, tôi không thấy lo cho mình nữa, tôi cứ nghĩ đến cô giao liên. Đoàn khách chúng tôi - không hàng ngũ, chạy bừa qua ruộng lúa, đâm thẳng ra ven cây, rồi vượt qua sông. Tiếng súng mỗi lúc một dữ dội. Tôi cố gắng lắng nghe tiếng "cacbin" của cô, nhưng không tài nào nghe được, lòng cứ xốn xang. Nhờ có tiếng súng biệt kích mà chúng tôi đến rặng cây làng rất sớm. Anh em bên kia trạm - trạm L.A, cũng vừa đến, không phải chờ lâu. Đoàn tập hợp lại trong một đám dừa bị chất độc hóa học, tàu lá lơ thơ, trống trải. Đoàn khách còn đủ mặt, có một vài người bị mất dép, có người qua sông bị trôi ba lô. Còn tôi, già mà hãy còn cứng, tôi chả mất một món gì. Ai cũng mệt mỏi, anh em giao liên cho chúng tôi nằm nghỉ đến sáng. Có người không cần phải mắc võng, cũng chẳng trải nilông, nằm vật xuống đất, lấy bòng làm gối, ngáy pho pho. Còn tôi, vì nhiều nỗi, nên cứ lơ mơ. Tôi đang trên đường về tỉnh nhà. Làng nước đâu có còn như xưa nữa. Người ta bị dời nhà, bị dồn vào các trại tập trung, rồi người ta lại phá ra, cả vườn tược cũng thay đổi. Tôi nghe nói vậy, nhưng không thể hình dung ra được. Tôi cứ nhớ lại cảnh cũ. Nhớ những lần trở về, nhớ cảnh chia tay của cha con anh Sáu mà cây lược tôi hãy còn giữ đây. Trong khi nghĩ miên man, đôi lúc tôi chợt nhớ đến anh em ở lại chặn bọn biệt kích. Nhất là cô giao liên. Chẳng hiểu cô bé và anh em giao liên ra sao. Mệt quá rồi tôi cũng thiếp đi... Nghe đâu đây có tiếng chân đi, tiếng người nói, tiếng cười đùa. Tôi chợt tỉnh dậy, thấy trời đã đâm mây ngang, màn đêm như vén dần ra cánh đồng. Tôi thấy một nhóm người, chẳng nghe nói họ nói gì, nhưng biết là họ đang kể lại những chuyện sôi nổi. Và tôi nhìn thấy cô giao liên, quần áo cô bùn đất bê bết và đẫm ướt. Thế là họ về kịp rồi. Tôi vừa đến họ cũng vừa chia tay ra. Bây giờ tôi mới nhìn rõ cô. Cô vừa chặn địch, vừa bước ra khỏi chỗ nguy hiểm mà mặt cứ phơi phới. Mặc dù nước da cô bị rám nắng, tôi trông cô không quá hai mươi tuổi. Con gái hai mươi tuổi không thể có cặp mắt trong sáng như thế, và cô mới ngây thơ làm sao, cô vẫn còn đeo bông tòn ten, cô đi dần về phía tôi, tôi bỗng muốn tỏ lòng mến phục của tôi đối với cô, cả lòng cám ơn nữa. Nhưng chẳng lẽ lại nói như vậy, tôi mỉm cười chào cô và làm quen: - Này cháu. Bác lo cho cháu quá! Cháu thứ mấy? - Dạ, cháu thứ hai. - Sao bác lại nghe có người kêu cháu là chị Uút? Chắc là cháu đã có... - Dạ không! - Cô giao liên chặn câu nói của tôi lại- Cháu vừa thứ hai vừa thứ út vì cháu là con một mà! - Cháu là người ở làng nào mà sao bác thấy quen quen. - Dạ cháu ở Cù Lao Giêng! Nghe đến tên làng, tôi bỗng giật mình. Nhìn đôi mắt cô bé, ngực tôi bỗng phập phồng, và như có linh tính, tôi liền hỏi lại, hỏi dồn dập: - Có phải Cù Lao Giêng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Châu Sa không vậy cháu? - Dạ phải. - Cháu tên gì? - Cháu tên Thu. - Thu à? - Tôi lặp lại và kinh ngạc. Tôi lặp bặp hỏi tiếp: - Có phải ba cháu là Sáu, má cháu là Bình phải không? Cô bé kinh ngạc đến nỗi không nói được nữa, nó mở tròn mắt nhìn khắp người tôi. Trong lúc đó, anh em giao liên trạm L.A. kêu khách chuẩn bị lên đường. Nhưng rồi chẳng để ý cũng chẳng muốn nghe, tôi quay lại và bảo: - Chờ tôi một chút. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:56:18 pm Chiếc lược ngà (tiếp) Tôi quay lại cô bé. Cả hai người vẫn còn ngạc nhiên. Cô bé vẫn tròn mắt nhìn tôi, đúng, đúng, đúng là đôi mắt của con cháu. Tôi thầm nghĩ, và bảo:- Có phải không cháu? - Dạ... Sao bác biết? Tôi cố nén xúc động nhưng cũng lặp bặp nhắc lại: - Bác là bác Ba đây này. Cháu có còn nhớ lúc ba cháu đi, ba cháu có hứa mua cho cháu cây lược không? Cô cháu khe khẽ gật đầu: " Dạ nhớ, dạ nhớ". Các bạn ạ! Trong kháng chiến có những cuộc gặp gỡ thật tình cờ! Tôi vừa nhìn cháu, vừa móc túi lấy ra cây lược. - Ba cháu gởi cho cháu cây lược ngà này đây. Cây lược này do ba cháu làm. Đôi mắt của cháu lại to tròn hơn, mặt xúc động đến thẫn thờ. Cháu đưa tay nhận lấy cây lược. Cây lược như đánh thức kỷ niệm ngày chia tay, ngực cháu phập phồng. Thấy cháu nhìn ngắm cây lược, tim tôi bỗng nhói đau. Tôi biết cháu đang bàng hoàng trước hạnh phúc bất ngờ, tôi không muốn làm gì xao động đến hạnh phúc của cháu, tôi thấy cần phải nói dối: - Ba cháu vẫn khoẻ, ba cháu không về được, nên gởi cho bác. Cháu Thu liền chớp mắt nhìn tôi, môi mấp máy run run: - Chắc là bác lầm, cây lược này không phải của ba cháu. Tôi đâm ra thất vọng, hoang mang nữa, tôi hỏi lại: - Ba cháu tên Sáu, má cháu tên Bình phải không? - Dạ phải - Hình như cháu muốn khóc, mắt cháu đỏ hoe nhưng cố nén và nói: - Nếu cháu không lầm thì chắc bác sợ cháu buồn nên bác nói giấu cháu. Cháu biết ba cháu đã chết rồi.- Cháu chớp mắt, hai giọt lệ ứa ra, vỡ tràn qua đôi mắt - Cháu chịu đựng được, bác đừng ngại, cháu nghe tin ba cháu chết đã hai năm rồi, sau đó thì cháu xin má cháu đi giao liên... Cháu còn muốn nói gì nữa, nhưng giọng bị tắt nghẹn, đầu cúi nhìn xuống, mái tóc khẽ run run. Còn tôi, tôi lỡ nói dối, nên chẳng biết nói thế nào nữa, đành im lặng. Trong khi đó, anh em trong đoàn táo tác gọi tôi, giục tôi đi. Không thể nán được nữa, tôi đành phải vội vàng hỏi xin cháu địa chỉ, hỏi thăm qua mẹ cháu và bà con. Nỗi mững gặp gỡ bất ngờ khiến tôi chưa biết bàng hoàng thì lại phải chia tay. Nhìn cháu tôi bỗng buột miệng nói : - Thôi, ba đi nghe con ! Tôi không nghe cháu đáp lại, chỉ thấy đôi môi tái nhợt của cháu mấp máy. Đi một quãng xa nhìn lại, tôi thấy cháu cố đi theo tôi một đoạn đường. Cháu dừng lại trên bờ mẫu, những đợt sóng lúa xanh nhỏ nối nhau rập rờn như chạy đến vỗ về cháu. Sau lưng cháu là đám dừa bị chất độc hóa học mà tàu lá chỉ còn những cọng khô như những chiếc xương cá khổng lồ treo lủng lẳng, đọt non vừa mới đâm lên, xa trông như một rừng gươm. Lúc chia tay, tôi không nghe cháu gọi tôi là ba. Nhưng những lúc nằm một mình, nhớ lại thì tôi nghe tiếng gọi "ba" của cháu, và tiếng "ba" như vang lên từ trong tâm tôi. Tháp Mười 23-9-1966 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:58:23 pm Chị Nhung Chờ khi trời sẩm tối, xuồng của chúng tôi mới tách bến và rặng lá hai bên bờ sông vàm Cỏ Đông như cũng chờ đến lúc trời tắt nắng mới rì rào chuyển động, khiến cho ta có cảm tưởng như gió chiều không phải từ xa thổi tới mà dậy lên từ trong những ngọn lá lao xao. Tiếng bom pháo, tiếng gầm rú của máy bay, tiếng cánh quạt rầm rộ và nặng nề của các loại trực thăng trong suốt một ngày nắng gắt như phải tắt lặng đi, khi trên nền trời vừa bật lên những vì sao đầu tiên. Chỉ còn có những tiếng pháo nổ cầm canh vẳng lại từ những nơi xa. Nhân lúc yên tĩnh và rỗi rãi, anh Tám Sơn, chánh trị viên tiểu đoàn, rủ tôi đi thăm một chị trong đơn vị biệt động quân của Sài Gòn, Chợ Lớn- chị Nhung. Trong trận đánh vừa qua, chị được trên phái xuống để đưa đơn vị anh đến vị trí chiến đấu; chị vốn là người quen cũ của anh. Còn tôi, tôi chưa quen cũng như chưa biết chị. Nhưng tôi cũng muốn gặp chị và nghe nói chị có dự trận đêm tết, tôi được nghe loáng thoáng một vài chuyện của trận đánh ấy. Người ta kể cho nhau nghe chuyện của một anh hùng B.40. Súng B.40, theo tôi được biết, với sức khỏe bình thường của con người, và theo sách vở đã dạy, mỗi chiến sĩ chỉ có thể bắn đến viên đạn thứ sáu là nhiều nhất. Nhưng với lòng dũng cảm của quân đội ta, có nhiều chiến sĩ đã bắn vượt mức quy định. Như trong trận đánh đoàn tầu giặc trên sông của tỉnh Long Châu Sa, có một chiến sĩ đã bắn đến viên đạn thứ chín diệt chín ổ đề kháng của địch. Tôi chưa được nghe ai bắn đến viên đạn thứ mười. Nhưng trong trận đánh vào Bộ tổng tham mưu của Mỹ- Ngụy, lúc đánh trả lại các đợt phản kích của xe tăng địch, có một chiến sĩ bắn B.40 thọc họng súng qua các cửa sổ bắn đến viên đạn thứ mười sáu. Thấy hai bên tai anh rỉ máu, một chị chạy đến không cho anh bắn nữa. Chị giật súng trên tay anh và bắn tiếp. Nghe nói chị ấy cũng tên Nhung. Tôi muốn gặp chị để hỏi lại những chuyện ấy cho rõ hơn và do tính tò mò, tôi muốn gặp tận mắt một cô gái người Sài Gòn. Đêm tuy yên tĩnh, tôi vẫn dè dặt không dám cho xuồng bung ra giữa dòng, tôi chèo cặp theo rặng lá. Dòng sông cuồn cuộn và chảy xiết nữa, nước theo bóng đêm và ngọn gió đã lên đầy. Dòng sông trở nên mênh mang lấp lánh ánh sao, gợn lên từng đợt sóng nhẹ ộp oạp vỗ vào bờ. Anh Tám Sơn ngồi trước mũi xuồng đối mặt với tôi, anh khoảng hơn bốn mươi tuổi, mặt xương, người gầy nhỏ trong bộ quân phục màu cỏ úa. Đêm sáng mà tôi không nhìn rõ mặt anh, qua cái dáng lặng lẽ của anh, tôi đoán chắc anh cũng như tôi đang muốn ngồi yên lặng nghe tiếng gió, tiếng sóng và đeo đuổi những ý nghĩ riêng. Tôi không hỏi gì cũng không gợi chuyện. Nhưng sau đó một lúc, anh lại kể cho tôi nghe câu chuyện của chị Nhung. * * * Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:59:11 pm Chị Nhung (tiếp) Tôi quen cô Nhung từ năm một ngàn chín trăm sáu mươi. Cái ngày đầu tôi quen cũng là ngày tôi chia tay với cô, đã tám năm. Suốt trong tám năm không phải lúc nào tôi cũng nhớ, nhưng cũng có thể nói chẳng lúc nào tôi quên cô ấy. Trong những chuyến công tác, hễ gặp ai quen tôi cũng hỏi thăm cô. Tôi thường mong ngày gặp lại, nhưng khi tôi gặp lại cô thì tôi không nhận ra cô nữa. Đó là một buổi chiều tháng năm giữa trận đánh trên đường Trần Quốc Toản, cánh quân của chúng tôi thọc mạnh vào Sài Gòn, trụ lại quãng đường ấy từ mờ sáng. Bọn giặc dùng " chiến thuật ruồi bu" có phi pháo, có trực thăng, có cơ giới yểm hộ, chúng tấn công ta bằng nhiều mũi, chẳng khác gì những mũi tên lao vào một điểm. Mãi đến xế chiều chúng tôi mới đánh bật tất cả các đợt phản kích của địch. Tiếng súng nhỏ chỉ nổ thưa thớt trên các góc phố và trên những tầng nhà cao. Nhân lúc ngưng tiếng súng, chúng tôi phân công cho một đơn vị chia nhau giúp dân ra khỏi tầm súng. Chúng tôi đoán biết sau lúc im lặng, trận đánh sẽ xảy ra ác liệt hơn. Người trong khu phố lần lượt đổ ra đường, người đi xe hơi, người đi xe Honda, xe Suzuki, người đi bộ. Đứng trong một góc phố, nhìn những đoàn người đang nối nhau, dắt díu nhau đi trong làn khói của những nơi nhà bị pháo giặc bắn cháy, tôi thấy có một cô gái cỡi xe Honda màu đỏ chạy ngược lại dòng người, lao thẳng vào trận địa. Chiếc xe bị đội tự vệ đường phố đưa tay chận lại. Mãi lúc sau, không lâu lắm, tôi nhớ khoảng chừng năm hay ba phút gì đó, anh đội trưởng tự vệ báo cho tôi biết có người lạ muốn gặp ban chỉ huy. Lúc đó tôi đã trở vào nhà, xem lại bản đồ của đường phố. Trong chỉ huy sở có một mình tôi với ba đồng chí trinh sát trẻ. Chỉ huy trưởng và chỉ huy phó đang ở trên đài quan sát, tôi mời vào. Người muốn gặp ban chỉ huy là cô gái cỡi xe Honda lúc nãy. Cô khoảng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi, ăn mặc theo thời trang của người Sài Gòn, quần ống hẹp, áo bà ba màu hột gà bó sát lấy thân, người thon thả với dáng nhanh nhẹn, tôi không nhìn rõ được mặt cô. Tóc uốn cao, nhưng mái tóc lại rủ xuống che mất cả vầng trán và cô lại mang kính mắt đen. Tôi đoán là cô cố ý diện như vậy để người khác không nhận ra mình. Cô khẽ cúi đầu chào tôi với vẻ lịch sự và kính cẩn, rồi đặt chiếc giỏ mây bên bàn cạnh chiếc bản đồ quân sự, lấy ra chiếc bánh mì, bẻ làm đôi, đưa cho tôi một tờ giấy nhỏ. Đó là thư của ban chỉ huy trung đoàn lệnh cho các cánh quân của chúng tôi phải chuyển đến vị trí X, vào giờ G để hợp đồng chiến đấu với đơn vị bạn và cô là người dẫn đường. - Cô thứ mấy ? - Tôi hỏi. - Dạ thưa út! Sau khi xem xong thư, ngước nhìn cô giao liên, tôi thấy cô đã gỡ kính mắt đen và không hiểu sao cô lại nhìn tôi với cặp mắt mở to, vẻ kinh ngạc và như có gì xúc động đến xao xuyến. Sao cô lại nhìn mình quá đỗi lạ lùng như vậy? Tôi thầm hỏi. Có lẽ đây là lần đầu tiên cô gặp một người chỉ huy giải phóng quân. Tôi thầm nghĩ như vậy, chẳng hiểu sao tôi muốn tránh cái nhìn lại tôi, xem cách ăn mặc của mình có đúng với tư thế của người chỉ huy quân giải phóng hay không. Tôi cảm thấy ngượng mà tự hào với bộ quân phục đầy bụi. Tuy thế, tôi vẫn đưa tay phủi nhẹ. Tôi muốn hỏi cô nhiều điều, nhưng lúc đó một đàn trực thăng đang kéo tới. Tôi chỉ còn thì giờ ra lệnh cho tổ trinh sát phải bảo vệ cô. Có lẽ vì giọng ra lệnh của tôi quá nghiêm trang, một đồng chí trinh sát trẻ liền bước vào đưa cô xuống hầm trú ẩn. Cô cầm chiếc giỏ mây đi theo anh trinh sát mà vẫn quay mặt lại nhìn tôi, tôi không còn thì giờ để xét đoán những cử chỉ lạ lùng của cô nữa. Tôi vụt chạy thẳng lên đài quan sát. Đài quan sát của chúng tôi là tầng thứ tám của một cao ốc. Nhìn qua những ô vuông cửa sổ của tòa nhà ấy, chúng tôi có thể nhìn thấy những mái nhà chen khít nhau của khu phố, có thể phát hiện được những ụ súng của địch và những đoạn đường xa. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 28 Tháng Bảy, 2009, 11:59:54 pm Chị Nhung (tiếp) Tôi báo cáo lại ban chỉ huy mệnh lệnh của cấp trên và bàn kế hoạch chiến đấu, kế hoạch tiến quân. Một bầy trực thăng chín chiếc xếp thành ba tầng quần đảo qua khu phố. Tôi thấy rõ những tên lính Mỹ ngồi trong trực thăng, tay cầm súng, nhìn xuống khu phố qua cửa mở, đầu của nó như cái gáo dừa. Chúng bắn hỏa tiễn xuống từng mái ngói, chẳng mấy chốc mà chúng đã tạo thành một vòng lửa lớn vây lấy chúng tôi. Những mũi quân ở xa mỗi lúc mỗi thu gần lại, gần như gom dần về một điểm. Muốn bảo toàn được lực lượng, đó là điều phải tránh. Hỏa lực phòng không của ta đã bắn rơi hai chiếc, chúng bay rạt đi một lúc, rồi một bầy khác lại kéo tới. Vòng vây của ngọn lửa mỗi lúc một cao ngọn và thu nhỏ lại. Có lúc tôi có cảm tưởng như mình đang đứng giữa ngọn lửa. Không khí như cũng bị cháy. Gió thổi hơi lửa táp vào người nóng hầm hập. Không thể nhìn thấy được gì rõ ràng nữa. Những mái ngói đỏ, những bờ tường màu sữa, những vuông cửa xanh, những con đường và cả khu phố đã bị vùi sâu trong đám khói. Một vài chiến thương đang bị ngộp vì khói. Phải phá vây! Chúng tôi quyết định, nhưng không thể điều quân vượt qua vòng lửa đang bốc cháy. Phải điều quân tiến thẳng trên con đường lớn, đánh vỗ mặt vào quân địch, rồi từ đó, sẽ chuyển quân vào vị trí đã định. Có thể nói đó là cánh cửa mở của vòng lửa. Thế nhưng thằng Mỹ đã đóng cánh cửa ấy bằng một chiếc xe M.41, chiếc xe đang cắm ngay ngã ba, bắn dọc theo đường. Chúng tôi tập trung hỏa lực cho các đội đánh tăng. Vì vòng lửa đang xiết chặt, muốn đánh chiếc xe tăng ấy, chẳng còn con đường nào khác hơn là tiến men theo con đường lớn. Mấy tổ đánh tăng- mỗi tổ ba người- đều không vượt lên được. Chiếc xe ấy ở quá xa tầm súng. Chúng tôi không hề nghi ngờ gì lòng dũng cảm của các chiến sĩ. Quả là chúng ta không thể nào tiến gần nó được. Nếu chiến đấu tại một vị trí có thể chiếm được, sau khi diệt được nó mà phải hy sinh, tôi tin chắc trong đơn vị của tôi sẽ có hàng trăm chiến sĩ sẵn sàng ra đi. Cái khó khăn không thể vượt được là các chiến sĩ ta đã phải hy sinh ở những vị trí hãy còn xa nó quá. Nhưng cũng không thể vì thế mà chịu bó tay. Bằng mọi cách phải diệt cho được chiếc xe tăng ấy. Ban chỉ huy chúng tôi hạ quyết tâm. Trong khi chúng tôi đang họp bàn kế hoạch, cô giao liên ấy đứng cạnh bên chúng tôi lúc nào không biết. - Em sẽ đưa các anh đến chỗ đó, không cần phải men theo đường lớn. Cả ban chỉ huy chúng tôi như giật mình nhìn lại cô. Căn nhà đầy khói, tôi không nhìn rõ mặt cô. Qua làn khói lảng vảng tôi chỉ nhìn thấy đôi mắt mở tròn của cô. - Đồng chí đi bằng đường nào? - Tôi hỏi. - Tôi... - Cô lắp bắp rồi xưng cháu -... Cháu sẽ đưa các anh luồn theo các ngõ trong khu phố. - Chúng tôi sẽ đi! - Một chiến sĩ đã đánh tăng nhiều lần liền chạy tới nói với tôi và nhìn cô gái giao liên với đôi mắt dò hỏi: - Chắc chớ đồng chí? - Chắc ! Tôi biết đường - Cô giao liên đáp. - Vậy thì ta đi thôi!- Anh chiến sĩ đánh tăng giục chúng tôi hạ mệnh lệnh. Chúng tôi tổ chức ngay một tổ ba người, cô giao liên hỏi xin một trái pháo dù, cô để vào giỏ mây. Ba chiến sĩ đánh tăng ôm súng, đeo đạn, lao ra cửa. Còn cô giao liên có vẻ như trù trừ. Cô cầm chiếc giỏ mây đựng trái pháo dù, đứng lặng môt lúc rồi bất thần quay nhìn tôi: - Chú Tám, chú không nhớ cháu sao? Cháu là Nhung! - Sao? - Tôi kinh ngạc và buột miệng kêu lên như vậy. Tôi chưa kịp hỏi gì thì Nhung đã lao đi rồi. Trong khoảnh khắc đó, tôi đứng ngây người, nhìn theo cháu qua làn khói và nói thầm với mình: " Nhung à"? * * * Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:00:42 am Chị Nhung (tiếp) Anh Tám Sơn kể đến đây thì phải dừng lại vì một đoàn xuồng máy đuôi tôm đang chạy ngược qua xuồng chúng tôi. Anh Tám Sơn dù có say chuyện, nếu anh có muốn kể tiếp, tôi cũng không thể nào nghe. Tiếng máy đuôi tôm nổ vang, chiếc này nối theo chiếc kia quẫy lên từng đợt sóng lớn. Đó là đoàn xuồng dân công chở lương thực và đạn dược cho các chiến trường. Những người chèo thuyền chở khẳm vừa la ó vừa bấm đèn pin làm hiệu cho những chiếc xuồng đuôi tôm nhỏ máy lại. Đoàn xuồng đuôi tôm vừa dứt, tiếng máy nổ mỗi lúc mỗi xa, tiếng la ó của người đi trên sông im đi, những đợt sóng đuối sức lặng an dần, dòng sông vừa trở lai yên tĩnh, anh Tám Sơn vừa định kể tiếp câu chuyện thì tiếng hát của một chiếc xuồng nào đó lại vang tới: ở tận sông Hồng em có biết Quê hương anh cũng có dòng sông Anh mãi gọi với lòng tha thiết Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông (1) Bài hát mang theo một âm điệu tha thiết của dân ca, đúng ra người ta phải đơn ca, nhưng người trên xuồng đi giữa dòng sông ngược qua chúng tôi lại đồng ca. Tôi không biết rõ trên chiếc xuồng ấy có mấy người, nhưng nghe qua những giọng trầm đục và khàn khàn tôi đoán là bốn, năm người đàn ông đang hát. Tôi bật cười vì bản đồng ca ồ ồ ấy, bài hát với những giọng trầm đục như đang là là trên mặt nước, bỗng có một giọng nữ cất cao lên: " Ơi Vàm Cỏ Đông, ơi hỡi dòng sông". Bài hát bỗng như khác hẳn đi khiến tôi phải dừng chèo lắng nghe. Những giọng trầm đục của những người đàn ông đã trở thành cái bè trầm, làm nền cho giọng nữ cao đang bay chơi vơi trên dòng sông: Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng Đuổi Pháp đi rồi, nay đuổi Mỹ xâm lăng Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong ......................... Ơ Vàm Cỏ Đông, ơi hỡi dòng sông... Giọng nữ cao ngân dài như rung trong không gian. Đi xuồng trên Vàm Cỏ Đông trong đêm sao, nghe tiếng hát "Vàm Cỏ Đông" của một cô gái, tôi bỗng thấy bâng khuâng. * * * Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:01:20 am Chị Nhung (tiếp) Khi cháu đi rồi, tôi vẫn cứ ân hận sao mình lại có thể vô tình quá mức đến như vậy. Anh Tám Sơn kể tiếp câu chuyện khi tiếng hát trên chiếc xuồng đã trôi xa. Anh tiếp : Nhưng lúc đó, tiếng súng của trận đánh không cho tôi được nghĩ ngợi nhiều. Tôi phải lao vào trận đánh. Thật là đáng trách ! Hồi đó, trong những ngày "điều lắng", tôi từ tỉnh nhà lên Sài Gòn vừa dạy học vừa hoạt động. Tôi ở trên một cái lầu tồi tàn của một người công chức nhỏ có bà con xa. Cạnh bên nhà là tiệm bán thuốc. Cái lầu tồi tàn và trống trải ấy chỉ có một mình tôi thôi. Cả gia đình của chủ nhà đều ở tầng dưới. Trên lầu chỉ có một cái giường ngủ, một cái tủ nhỏ vừa đựng sách vừa để quần áo. Tài liệu mật tôi thường nhét dưới mái ngói. Hôm ấy, tôi được lệnh trên điều về chiến khu để nhận công tác mới. Ơở nhà trường trở về, sau khi cơm trưa xong, tôi bắt đầu thu xếp đồ đạc. Tôi thò tay vào mái ngói thì tôi giật mình, xấp tài liệu của tôi đã biến mất rồi. Tôi cho tay vào những mái ngói khác cũng không tìm thấy. Lúc tôi mới bước vào cửa, người chú cho tôi biết sáng nay có một lũ cảnh sát vây lấy khu phố, lục xét một số nhà, và bắt đi một người. Bọn cảnh sát không leo lên lầu nhà tôi, thế thì sao tài liệu lại biến mất ? Tôi toát mồ hôi, tôi tưởng bọn cảnh sát đang đứng chật dưới đường, đang ùa vào nhà. Tôi chạy ra cửa sổ, nhìn xuống, không thấy gì đáng nghi ngờ, tôi lại cho tay vào mái ngói khác... Đầu ngón tay tôi rớm máu. Mất thật rồi, tôi nhớ chắc là tôi không giấu chỗ nào khác hơn. Biết vậy, nhưng tôi vẫn cứ giũ chiếu, mở tủ, lôi tất cả quần áo, sách vở ra lục soát lại từng món. Tôi đang bối rối thì bỗng có tiếng cười tinh nghịch cất vang lên. Tôi ngước mắt nhìn quanh quất, tiếng cười lại tắt, tôi chẳng thấy ai. Tôi lại giũ chiếu, giũ từng chiếc áo, sờ bóp và thò tay vào từng cái túi. Tiếng cười lại cất lên như trêu chọc tôi, ngó quanh quẩn, nhìn lên những lỗ thông hơi trên tường, ở phía bên kia, gần bên lỗ thông hơi hiện ra một đôi mắt lung linh, đôi mắt đang nhìn xoáy vào tôi. Khi thấy cái nhìn của tôi, đôi mắt ấy bỗng biến đi nhanh như cắt. Rồi đôi mắt ấy lại hiện ra và nhấp nháy. Tôi định hỏi thì một giọng nói từ bên ấy hỏi vọng qua : - Chú tìm cái gì đó ? Tôi nhận ra giọng nói trong trẻo của cô bé giúp việc nhà bên. Tôi chưa kịp trả lời, đôi mắt nhỏ ấy lại biến mất. Trong lúc đó, cháu luồn theo máng xối, leo sang phòng tôi. Một cô bé độ mười bốn mười lăm tuổi, tóc cắt ngang vai, gầy yếu trong bộ bà ba đen quá cỡ, mặt xanh xao, tay cầm gói tài liệu, vừa mỉm cười, vừa bước đến gần tôi. Nhìn thấy gói tài liệu trong tay cháu, tôi nhẹ cả người, chợt hiểu, tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm động. - Sao cháu biết ? Tôi hỏi và tò mò nhìn những cử chỉ nhỏ của cháu. Cháu bé vẫn ranh mãnh mỉm cười và khe khẽ lắc đầu. Cháu dừng lại, ngước mắt nhìn tôi: - Chú không giống người ta ở đây. Cháu để ý, cháu thấy cháu biết. - Chú không giống người ta cái gì ? Tôi hỏi lại trong lúc hãy còn đang ngạc nhiên. - Mấy đứa bạn của cháu nói, chú làm thầy giáo mà chú không đánh - Cô bé lại nhìn tôi và toét cái miệng sún cười với vẻ ngây thơ. - Thôi, đưa lại cho chú ! - Tôi dịu giọng nói với cháu. Cô bé như giật mình, rụt tay, và lùi lại một bước mặt nghiêm lại: - Cháu sẽ trả lại cho chú nhưng chú phải hứa với cháu một điều. - Cháu muốn gì cũng được ! - Tôi nói cho qua chuyện. Vẻ mặt xanh xao của cháu rạng rỡ hẳn lên: - Thiệt nghen chú, chú phải hứa là chú sẽ giao cho cháu một công tác ! Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:01:59 am Chị Nhung (tiếp) Tôi tưởng cháu bé muốn đòi tôi một món quà gì, thật không ngờ. Tôi đứng ngây ra, nhìn cô gái nhỏ với đôi mắt dò hỏi. Cháu cũng đứng lặng nhìn tôi, chờ đợi, có lẽ cháu thất vọng qua thái độ thờ ơ lạnh nhạt của tôi, những nét rạng rỡ trên vẻ mặt xanh xao của cháu lặn mất dần, đôi mắt lung linh của cháu bỗng đầy nước mắt, cháu cắn chặt răng cố ghìm tiếng khóc nhưng ngực lại phập phồng, cháu nói trong nước mắt nghẹn ngào: - Ba cháu cũng như chú vậy, ba cháu đi tập kết rồi, còn má cháu thì... Cháu bỗng quay lưng, đưa tay ôm mặt, đôi vai gầy nhỏ của cháu rung lên, cháu khóc nức nở. Tôi xúc động đến xốn xang. Bây giờ tôi thấy mình như một người cha đứng trước một đứa con. Tôi bước gần lại cháu, đưa tay vỗ nhẹ vai cháu: - Cháu đừng khóc nữa, chú sẽ nói chuyện nhiều với cháu. Còn má cháu thì sao? Cháu vừa tức tưởi khóc vừa nói: - Má cháu thì... Cháu không phải là người ở đây, cháu là người Tân Phú Đông tỉnh Long Châu Sa, má cháu là Hai Trâm, trong làng ai cũng biết, bây giờ cháu phải đi ở để nuôi má, em... Phía bên kia nhà bỗng có tiếng kêu. Cháu giật mình, vội vàng lấy vạt áo lau nước mắt, để gói tài liệu lên giường tôi, vụt chạy đi. Ngay buổi chiều hôm đó, tôi rời khỏi Sài Gòn. Trước khi đi, tôi gởi gắm cháu cho một đồng chí còn ở lại. Trở về chiến khu, trong một cuộc họp đại biểu phong trào dân quân toàn miền, tôi tìm các đồng chí ở Long Châu Sa để hỏi thăm chị Hai Trâm, má của cháu. Các đồng chí ấy cho tôi biết: ... Chị là cơ sở mật của xã. Bọn địch phát hiện được trong nhà chị có một hầm bí mật. Chúng bắt chị tra hỏi, chị không khai. Nửa đêm, chúng đưa chị ra bờ sông, lũ khát máu ấy, chúng dùng dao chém xả qua ót chị, rồi thả chị trôi theo sông. Chị nhờ cái mái tóc dày, lưỡi dao của kẻ thù không phạt qua cổ chị được. Chị nương theo lục bình, lộn trở về. Chị vẫn còn sống và vẫn đang hoạt động. Cũng từ đó, tôi không có dịp trở lại Sài Gòn. Tám năm qua, tám năm, cái tuổi trưởng thành của cháu đã xóa hết những gì quen thuộc của cháu trong trí nhớ của tôi. Cái nét quen thuộc, tôi có thể nhớ và từ đó mà lần ra hình ảnh ngày xưa của cháu là cái ánh lung linh trong đôi mắt. Gặp lại và nhận ra cô bé láng giềng ấy rồi, nhưng như anh biết, lúc đó tôi không thể gợi lại, cũng không thể hỏi han gì thêm. Tôi cố nén xúc động bất ngờ đó và quay lại công việc. Ban chỉ huy chúng tôi quyết định mở thêm nhiều mũi quân. Cả ban chỉ huy tiểu đoàn, các ban chỉ huy đại đội đều phân tán trực tiếp chỉ huy từng mũi để yểm trợ và đề phòng khó khăn, chúng tôi cho thêm một mũi quân cùng đi với cô giao liên dẫn đường. Nhung đi đầu và mở đường. Nhung dẫn mũi quân của tôi luồn trong cái hẻm ngợp khói đến sặc sụa phải thối ngược lại tìm một chỗ khoảng khoát để thở rồi mới đuổi theo. Đến những hẻm cùng, phải thay nhau kê lưng lên vượt qua tường. Có lúc phải bò trên mái ngói nhà này chuyền qua mái ngói nhà khác, rồi từ trên cao, ôm ống nước tụt dần xuống. Nhờ theo các con đường đặc khói, quanh co, lên xuống mà cả mũi quân của ta đều tránh được đạn của trực thăng. Đến nơi, cái khu nhà và những góc phố mà Nhung định lấy làm vị trí chiến đấu lại bị sụp đổ. Rõ ràng là bọn giặc cố ý san bằng khu phố để tạo thành một bãi trống cho chiếc xe tăng. Đứng trong một ngôi nhà chúng tôi nhìn thấy chiếc xe tăng đang lù lù án giữa đường. Vẫn còn quá xa tầm súng, chưa đánh được, nhưng không thể quay về nếu chưa diệt được nó. Các chiến sĩ đang phân tán và đang tìm cách chiến đấu. Còn tôi, mọi ý nghĩ của tôi đều tập trng vào một câu hỏi gay gắt: Có nên tổ chức một đợt xung phong để yểm trợ cho tổ đánh tăng không? Trong óc tôi nảy ra nhiều câu trả lời, và dự kiến nhiều tình huống khó khăn. Trên trời, trực thăng vẫn lượn qua bãi trống ấy. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:02:39 am Chị Nhung (tiếp) Tôi đứng trong căn nhà nhỏ mù mịt khói, hé cánh cửa màu gụ nhìn chiếc xe. Chiếc xe vẫn nổ súng, lúc dồn dập, lúc thưa thớt. Lúc ấy, Nhung đứng bên cạnh tôi, cũng ghé mắt nhìn qua khe hở của cánh cửa. - Làm sao bây giờ chú - Với giọng lo âu, Nhung cứ lặp đi lặp lại câu hỏi ấy, nhưng tôi không đáp. Đầu óc tôi đang căng thẳng. - Hồi nãy, lúc cháu đi ngang qua đây, khu nhà này vẫn còn nguyên, còn người đông. Nó ác quá ! - Nhung tắc lưỡi. - Nếu như lúc nãy thì cháu sẽ đưa chú đứng sát bên nó rồi. Nó ác quá ! Làm sao bây giờ chú ? - Nhung cứ thì thầm hỏi tôi. Nhung bỗng nói như reo lên : - Trời ! Nếu mình đứng được trên đó mình bắn xuống ! - Nhung chỉ cho tôi ngôi nhà ba tầng phía bên kia đường sát bên chiếc xe. Nhìn kỹ, tôi thấy trên những tầng nhà màu sữa đục ấy loáng thoáng có mấy tên lính. Sau một lúc quan sát, tôi khẳng định đó không phải là một cái đồn một cái bót cảnh sát, đó là ngôi nhà của thường dân mà chúng đang chiếm. Biết vậy, nhưng đâu có thể bỗng dưng mà đứng trên những nhà tầng đó được. Nhung đưa tay khẽ đẩy cánh cửa, nhìn ra xa. Nhung bỗng kêu lên: - Chú nhìn kìa! Chú có thấy không ? - Nhung như phát hiện được điều gì, giọng mừng rỡ. Tôi cúi nhìn theo hướng mắt của Nhung. Tôi thấy sau chiếc xe là con đường bắc ngang, dãy phố bên đường hãy còn đông người, chỗ ngã ba đường người vẫn tới lui và xe cộ vẫn qua lại. Người Sài Gòn sống dũng cảm như vậy đó anh ạ ! Ơở bên cạnh bom đạn, khói lửa, cuộc sống của con người và dãy phố ấy vẫn giữ được vẻ nhộn nhịp bình thường. Tôi đã nhìn thấy cảnh sống của con đường sau tuyến lửa, nhưng không đoán được ý nghĩ của Nhung. Nhung ngước nhìn tôi rồi như buột miệng mà nói: - Chú hứa với cháu một điều mà chú quên. Tôi hỏi lại Nhung bằng một cái nhìn dò hỏi ngạc nhiên. - Chú hứa... giao công tác cho cháu. Bây giờ chú giao chiếc xe đó cho cháu đi!. - Sao ? Cháu nói sao? - Câu hỏi của tôi như một phản ứng tự nhiên. Tôi thấy rõ những ý nghĩ táo bạo đang cháy lên trong đôi mắt của Nhung. Đôi mày đen mịn của Nhung như dựng lên. Và những đường nét trên vẻ mặt của Nhung như khắc sâu thêm, đậm thêm, bén và sắc sảo lạ thường. - Cháu định bắn bằng cách nào? - Chú coi chừng cho cháu mấy thằng lính ở trên lầu đó, cháu đi được ! Tôi muốn hỏi kỹ ý định của Nhung để trao đổi và quyết định, nhưng tôi chưa kịp hỏi Nhung đã cầm cái giỏ mây đựng chiếc pháo dù vụt ra cửa sau. Tôi kêu theo, không kịp. Nhung chạy băng qua đám gạch đổ nát, xông thẳng vào đám khói mù rồi như tan mất trong đám khói. Tôi đoán là Nhung sẽ tìm đường đến dãy phố bên đường dẫn đến ngã ba sau chiếc xe. Tôi liền ra lệnh cho tất cả chiến sĩ hướng mũi súng vào những tầng lầu có quân giặc, chuẩn bị xung phong. Tôi hé cửa, nhìn mãi vào ngã ba đường, nơi có người và xe cộ đang qua lại. Trong đời có lẽ chưa có giờ phút nào nặng nề bằng lúc ấy, tôi cứ đưa tay, liếc nhìn đồng hồ. Đồng hồ vẫn chạy bình thường nhưng tôi lại lên dây. Lúc bấy giờ, trên trời trực thăng vẫn bay lượn trong khói, bắn đại liên, bắn hỏa tiễn, vòng lửa bốc cao ngọn. Tám năm mới gặp lại cháu, gặp nhau như vậy chẳng hỏi han được gì, trong người như có gì lấn cấn không yên. Qua làn khói mỏng lảng vảng trên bãi trống của khu nhà đổ nát, tôi chợt thấy có một bóng người nho nhỏ. Đúng là Nhung. Nhung đã đến ngã ba sau chiếc xe tăng khổng lồ ấy rồi ! Tôi sung sướng, tôi phập phồng, người tôi như run lên. Bóng Nhung đang đi lẫn trong một nhóm người áo hồng, áo trắng, áo đen, bóng của Nhung bỗng lao tới thẳng vào chiếc xe. Một tiếng nổ lớn. Rồi một bựng khói bốc lên, phủ mờ cả chiếc xe, tiếng súng hùng hổ của nó bị tắt. Tôi đạp tung cửa, vọt ra, tay cầm súng ngắn bắn vào những tầng nhà có bọn lính. Mũi quân của tôi hơn ba mươi tay súng liền vọt qua bãi gạch đổ, hét dậy lên. Như đang sống lại cảnh ấy, anh Tám Sơn vừa kể vừa ra bộ móc súng, người chồm dậy. Còn tôi thì dang tay đập mạnh vào mái chèo, mũi xuồng cất lên, lướt tới như con thoi. Anh Tám Sơn bỗng kêu to: - Quá rồi, quay lại ! Tôi vừa rà một mái chèo cho mũi xuồng quay lại vừa hỏi: - Còn chị Nhung thì sao anh? - Hãy khoan ! Để cho tôi tìm cái bến vô đã. Anh nắm be xuồng, ngồi hơn nghiêng một bên, nhìn vào rặng lá. - Quẹo vô ! Tới rồi ! Tôi cho xuồng rẽ vào một bến nhỏ, mũi xuồng vừa cỡi lên bãi đất lài, anh bước lên bờ, bảo tôi : - Ơở đây chờ tôi nhé ! Tôi sẽ gọi cháu xuống. Cô ấy kể cho anh nghe rõ hơn.Tôi vẫn đứng trên lái xuồng, nhìn theo ánh đèn pin sáng xanh của anh xa dần vào những ngôi nhà trong khu vườn. Thấy ánh đèn pin xanh quay trở lại, tôi bỗng hồi hộp khi nghĩ đến lúc gặp mặt chị Nhung. Sắp gặp chị rồi mà tôi vẫn cố hình dung hình dáng và con người của chị. Nhìn theo ánh đèn, tôi cố lắng nghe bước chân của anh Tám, tôi sốt ruột hỏi : - Sao anh ? - Rủi quá ! - Sao ? - Tôi hỏi lại. - Cô ấy đi rồi ! - Đi rồi à? Đi đâu, đi lúc nào? Anh Tám Sơn bước xuống xuồng, đáp lại với giọng uể oải: - Cô ấy được phái về đơn vị khác rồi. Đi trên chiếc xuồng hò hát hồi nãy đó. Tiếc thật ! Chẳng biết đến lúc nào mới gặp được chị. Chưa quen biết gì với chị mà chẳng hiểu sao tôi thấy buồn như thất vọng. Nhớ lại giọng hát tha thiết và diệu vợi của cô gái đi trên chiếc xuồng giữa dòng sông, tôi thẫn thờ và nhìn trời. Gió vẫn lao xao, vẫn rì rào qua rặng lá. Đêm mênh mông và đầy sao, những vì sao nhấp nháy như những con mắt sáng lung linh. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:04:17 am Một chuyện vui Bao giờ cũng vậy, hễ một chuyện nguy hiểm qua rồi thì chuyện đó trở thành chuyện vui. Đó cũng là trường hợp của anh Bảy Ngàn. Trong một ngày, anh suýt chết đến mấy lần, thoát chết rồi, bây giờ anh coi đó như một trò đùa. Âu cũng là cái tính lạc quan của người miền Nam vậy ! Nhiều người nấp trong chỗ kín nhìn thấy rõ cái cảnh gian nan của anh từ đầu đến cuối, nhưng vẫn cứ muốn nghe anh kể lại. Trận lụt chưa rút. Nước vẫn mênh mông. Trời trăng sáng. Đúng là cảnh trăng nước của Tháp Mười. Năm, bảy chiếc xuồng kề lại gần một tàm cây. Họ đang nhậu và nói chuyện. Hình như có cả nữ nữa. - ở cái chiến trường Tháp Mười này mà không nhanh trí, không táo bạo thì làm sao mà sống được ? Anh Bảy đang nói đấy, giọng oang oang. Một anh bạn nhà báo của tôi liền rạp mình, thọc sâu mái dầm bơi nhanh lại. Xuồng đang trớn, mũi va vào lái xuồng khác đánh cốp một tiếng, xuồng này thúc xuồng kia, chòng chành, có người chới với và nhiều tiếng hỏi. Đang lúc vui, chẳng ai muốn nổi giận. - Anh Bảy, kể lại từ đầu đi! Anh Bảy, người kể chuyện, đang ngồi giữa chiếc xuồng cui lớn. Cạnh bên anh là một rổ ốc bươu, một chai rượu đã cạn, và một cái cốc, một bình tích nước trà. Anh khoảng ba mươi hai tuổi, người hơi thấp, vai ngang, da nâu, bắp thịt nổi cuồn cuộn. Anh ở trần, lồng ngực phồng lên như cái ức chim. Mặt anh vuông, tóc rễ tre, cắt ngắn và dựng đứng. - Kể lại từ đầu đi, anh Bảy. - ừ, phải đó, có người mới tới mà. Với giọng đầy hứng thú, nhiều người cùng lên tiếng bảo anh. - Làm lại từ đầu à ? Cũng được. Có người nắm lấy be xuồng, kéo sát lại xuồng anh. - Sáng hôm đó - anh bắt đầu - tôi mang bá đỏ chống xuồng ra ruộng thăm lưới. Tôi vừa gỡ được mấy con cá chày thì thấy trời trở lạnh. Tôi lấy thuốc hút. Thuốc tôi đựng trong bọc ni lông, vấn điếu thuốc xong, rờ túi mới biết là mình quên hộp quẹt. Tôi ngó vô nhà, nửa muốn về, nửa muốn nhịn. Đang phân vân thời tôi nghe tiếng máy chạy hu hu, tiếng máy nghe rề rền. Dòm lại, tôi thấy nước cứ lả ra, trắng xóa. Nhìn kỹ, tôi thấy tàu một dọc, không biết mấy chiếc đang chạy xả vô đồng, chạy xấn lại chỗ tôi. Thôi chết, tụi nó càn. Tôi hoảng quá. Tôi liền nhận xuồng. Nhưng mà tôi hãy còn tỉnh, trước khi nhận xuồng, tôi lấy bao thuốc để vô túi, lấy kim tây gài cẩn thận, rồi mới nhảy xuống nước. Trận lụt năm nay thật ghê gớm, cánh đồng của tôi ít nhất cũng hai thước nước. Tôi lật úp xuồng lại, chun vô lườn định chém vè. Tôi nghe tiếng máy tàu hu hu mỗi lúc một gần. Tôi thấy không xong - Chém vè như thế này nó sẽ nắm tóc mình, nó sẽ kéo lên tàu lúc nào cũng không biết. Phải cao chạy xa bay thôi. Tôi chui ra, lắc xuồng, trèo lên, nhắm rừng tràm, rùng mình, chống thẳng. Lúc đó, sức mạnh chẳng biết ở đâu mà có, xuồng tôi lao vun vút như tên bắn. Nước trước mũi xuồng tôi cũng lả ra, bọt trào lên trắng xóa. Nghe tiếng máy rền rền mỗi lúc một gần, tôi biết nó đang rượt tôi. Tàu nó chạy máy, xuồng mình cũng máy, nhưng mà máy gân làm sao mà chạy kịp ! Lần xần cái điệu đó thì nó nằm lưng lúc nào không hay. Phải tính đến nước khác. Chưa có kế gì mới, súng nó bỗng nổ rộ lên. Y như cái máy tự động, súng vừa nổ thời tôi cũng vừa trầm mình dưới nước rồi. Một chiếc, hai chiếc , ba chiếc, bọn nó lố nhố có cả bọn chư hầu nữa, chắc Nam Triều Tiên hay Tân Tây Lan chớ không phải Mỹ; Mỹ thì chỉ ngồi trực thăng thôi. Tôi thấy nước trong mũi tàu nó cứ dựng đứng lên. Còn súng của nó bắn nghe mà phát ham. Thằng giàu đạn thật, nó như mình thì kiểm thảo sần đầu. Đạn rơi xung quanh tôi như trấu vãi. Lủm bủm, lèo xèo, lủm bủm, lèo xèo đều hết. "Cạch": Nó bắn trúng xuồng rồi. Xuồng mà chìm tôi chỉ có nước chết đuối. May mà nó chỉ làm mẻ một miếng lái thôi. Phải nói thật là đạn nó chê mình. Đạn vừa bay tới chỗ tôi thời nó tạt ra hai bên hết. - Thôi đừng có lên giọng phách - Một chị nói chen vào, chọc anh. - Đừng có xía vô, để người ta nói - Một chị khác lên tiếng rầy chị kia. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:05:08 am Một chuyện vui (tiếp) Anh Bảy sựng lại một chút, nhưng không mất hứng, vẫn cái giọng hài hước và sôi nổi ấy, anh tiếp: Aà, thì cũng phải cho người ta làm phách một chút chớ. Tôi kể đến đâu rồi há: Aà, nó bắn tôi. Trầm mình hoài như vậy một là ăn đạn, hai là bị bắt sống thôi. Đã đến nước đó thời tao cũng liều mạng. Mạng đổi mạng. Tôi lên xuồng. Nhưng tôi không trèo. Trèo ló đầu cho nó bắn nát óc à? Tôi đâu có dại. Tôi nắm lấy bẹ xuồng ấn xuống rồi nằm sấp gác nửa thân mình rồi lăn lên. Tôi chụp lấy bá đỏ, chẻ culát, lên đạn. Tôi lấy cái xuồng làm công sự. Tôi khạc cho nó mấy phát liền. Tiếng súng dội xuống mặt nước, nổ bung bung, nghe thiệt đã. Nói cho có trời, chẳng biết có trúng được thằng nào không, tôi không thấy, nhưng biết chắc là tàu của nó bị lủng. Nó sựng lại, hai chiếc khác kè lại cho mấy thằng trên tàu lủng đó nhảy qua. Nhìn kỹ, tôi thấy đó là tàu mủ. Vậy là tôi nắm được cái nhược của nó rồi. M113 gặp bá đỏ còn phải ớn, xuồng mủ thì có ra cái nước mẹ gì. Húp nước nắm thôi con ạ ! Tôi khạc luôn mấy phát nữa. Xuồng lắc, chắc là trật. - Dở thì nói dở, đổ thừa cái gì - Một chị lại lên tiếng chọc anh. - Hé, để người ta nói mà. Anh Bảy không lấy đó làm giận, anh ngước cổ cười hè hè: - Ơ thì dở. Bắn ba phát - anh tiếp, tôi thấy nước tạt lên, bọn nó hoảng, liền rồ máy, chạy tán. Nó chạy tôi cũng chạy. - Tưởng làm sao, té ra mình cũng chạy. - Phải chạy chớ - anh lớn giọng cãi lại - ở đó để ăn đạn à? Tôi chống hết gân, chạy được một lúc, sắp tới tới rừng tràm, mệt quá. Tôi quay lại dòm chừng. Thấy chúng nó, ba bốn chiếc cứ đứng một chỗ mà rồ máy chạy xả lại tôi. Nước trước mũi tàu nó xối ngược lên trắng dã. Tôi nằm xuống, nã luôn mấy phát. Chúng lại sựng lại rồi quay mũi chạy. Mày chạy tao cũng chạy. Tôi lại lia sào, chống riết vô rừng tràm. Còn khoảng gần một ngàn thước nữa thời tôi mới vô tới rừng. Hết sợ rồi. Tôi quay lại đưa tay ngoắc nó một lần nữa. Thấy tôi ngoắc nó lại nổ súng, rồ máy, chạy tới. Đạn trước mặt tôi, xung quanh tôi như tát nước. Tôi lảy cho nó ba phát nữa. Tôi thấy đầu mũi tàu của nó bốc khói. Khoái quá. Hai chiếc khác liền kề lại. Tôi nã luôn mấy phát liền. Lần này chắc nó nghĩ chơi với tôi chỉ có lỗ thôi. Nó giết được tôi thì cũng chỉ có một thằng, còn tôi giết nó ít nhất cũng bằng hai. Không khéo tàu chìm thì uống nước cả đám. Vậy là nó quay tàu, chạy tát nước, chạy xịt khói đít. Tôi bắn mấy phát đưa nó đi, bọn nó chạy xa rồi, đáng lẽ tôi đâm vô rừng cho mau mới phải. Nhưng tôi lại không. Tại sao cái số mình lận đận, nó khiến cho mình như vậy hay sao há ! Tôi muốn hút thuốc, ngặt chưa ! Nhưng hộp quẹt đâu mà hút. Tới cơn ghiền tôi đâm ra uể oải. Tôi chống khia khia vô rừng. Tôi bỗng nghe tiếng cào cào. Tôi nghe nó rên hi hi từ đàng xa, lúc đó, tôi mới chống vội chống vàng. Xuồng phóng lên, mũi đạp lên mặt, nước lạch chạch, ào ào, lạch chạch, ào ào. Xuồng đi như bay. Nhưng trời ! Nó tới rồi, con cào cào đực nó thấy tôi rồi. Một mình tôi, một chiếc xuồng đang chơi vơi giữa trời nước, nó không thấy làm sao được ! Nó có đui đâu ! Vậy là nó rề tới. Nó đảo - Thế nào nó cũng "sút" hoả tiễn vào mình. Phải nói thật là lúc đó tôi có quýnh. Chân tôi đứng không vững, xuồng cứ lắc lia. Nhưng tôi kịp nghĩ, quýnh thì chết, bình tĩnh thời may ra có thể sống. Một trong hai lẽ phải chọn lấy một. Chọn thế nào ? Tôi chọn lấy cái bình tĩnh. Nước cao hai thước, tôi trầm mình dưới đáy, còn lâu hỏa tiễn mới đụng tới tôi. Nhưng trầm mình dưới nước thời bị động quá. Không thấy đường mà tránh. Có khi vừa nhoi đầu lên hỏa tiễn nó gõ ngay đầu cũng nên. Tôi bỗng nhớ một câu chuyện. Nghe nói ở Củ Chi hay Bời Lời gì đó, có một anh cán bộ đang chạy xe đạp, cào cào từ sau bay tới anh không hay. Nghe tiếng, anh đã thấy nó tới rồi. Hai bên đường trống trơn. Anh không biết lủi đi đâu. Mỗi lần nó tắt máy cắm xuống, "sút" hỏa tiễn anh lại đạp xe chạy, chạy ngoằn ngoèo như con rắn. Trái hỏa tiễn thứ nhứt rơi phía sau lưng anh. Anh cứ chạy lằn quằn lít quýt như vậy. Trái thứ hai rớt phía trái, trái thứ ba rơi bên phải. Đến trái thứ tư anh quay xe, chạy ngược, trái thứ tư cũng xịt khói phía sau đít anh. Đúng bốn trái hỏa tiễn. Vậy là nó hết đạn rồi. Nắm được cái nhược của nó anh dừng lại, ngoảnh mặt cố nhìn lên nó và cười. Nghe chuyện ấy, tôi phục anh cán bộ đó quá. Phục thì phải bắt chước. Mình cũng phải ở trên xuồng. Trầm mình dưới nước, nó bắn không được thời nó sẽ "sút" vô xuồng. Bể xuồng thời chết đuối. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:05:40 am Một chuyện vui (tiếp) - Quýnh mà nghĩ nhiều được như vậy à ? - Cũng cô gái hay chọc anh lúc nãy lại chen vô nói. Lần này chị hỏi nghe có lý nên chẳng bị ai phản đối. Bị hỏi bất ngờ, chưa biết trả lời sao, anh cứ "ha hả". - Tại sao ? Hỏi sao, à à nói thời nghe lâu vậy chớ lúc đó tôi nghĩ nhanh lắm. ý nghĩ nó nhoang nhoáng qua đầu như trời chớp vậy. Tôi đã nói là phải nhanh trí kia mà. - Thôi, kể tiếp đi anh Bảy - một người lên tiếng giục. - Ơờ, tiếp thì tiếp - anh nói vẫn hào hứng - nó bắt đầu siết, tôi thủ sẵn cây sào, dòm nó. Nó cất lên, nó sắp bắn. Nó tắt máy, nín thở rồi chúi chúi xuống. Một, hai, ba... Tôi lấy hết gân chống thật mạnh xuồng chạy nghe cái rồ. "Cảo cảo xùy... đùng". Một cái rơi phía sau tôi nghe cái chéo. Nhìn lại tôi thấy nước chỗ đó bốc khói. Nó lại cất lên rồi nín thở, chúi xuống. Tôi cho xuồng lách qua trái chống một cái rét - "cảo cảo xùy... đùng" ! Trái thứ hai rơi ngay chỗ chiếc xuồng lúc nãy. Thằng bắn giỏi thật. Mỗi lần nghe nó "cảo" tôi thấy lạnh đến tận xương. Nó lại rồ máy cất lên, lại siết lại cất lên cao, rồi lại chúi xuống. Phải nói thật là tôi có hơi ớn. Lần này tôi lách xuồng lật qua bên phải, trở về vị trí cũ. Cũng "cảo cảo xùy... đùng". Lần này nó tưởng tôi lách qua bên trái nó bắn đón. Trái hỏa tiễn tát nước không đụng tới tôi. Ba trái rồi vậy là còn một trái nữa, thôi, ráng lên con ! Tôi nói với tôi như vậy. Bên phải bên trái, đằng trước tôi đã lách qua ba hướng rồi. Lách đi đâu nữa đây? Nó vừa chúi xuống, xem chừng nó vừa phụt ra tôi liền đưa sào ra phía trước, chống xuồng chạy lui lại. Đùng... Hú hồn hú vía. Nó bắn xém mũi xuồng, nước tát vô mặt tôi, tôi chới với muốn té. Nè, tại sao nó chỉ có bốn trái hỏa tiễn thôi vậy bà con? Nó cũng lại đảo, lại siết. Nó làm như sắp "sút" tôi nữa vậy. Nhưng tôi đã biết tẩy nó rồi. Anh cán bộ Củ Chi dừng xe nhìn lên và cười. Còn tôi, tôi không làm như vậy. Thấy nó nghiêng nghiêng ngó ngó tôi liền xắn quần trỏ... lên. - Hứ ! - Hé ! - Đồ quỷ hè ! Các chị rộ lên, hứ hé xì xịt và đưa tay phát vào lưng nhau "bách bách". Một người đàn ông tuổi sồn sồn nói xen vào: - Bảo người ta kể, người ta kể cho nghe, sao lại hứ hé ? - Chuyện có sao tôi nói vậy, ai bảo các bà bắt tôi kể - anh Bảy đắc ý, ngước mắt hỏi lại. Một chị hay chọc anh, nói: - Thì cũng phải bơn bớt đi một chút chớ ! - Khúc đó là khúc mức (1) mà kêu người ta bớt à ? - Người đàn ông sồn sồn ấy lại nói. - Thôi đi đồ qủy. Thôi tôi về. - Tự do, bà nào ớn thì cứ về. Tự do. Kể tiếp nữa đi anh Bảy. Anh Bảy tự nãy giờ cứ cười hì hì, nghe có người binh vực mình, như được đà, anh càng thêm hứng. Anh kể tiếp: - Sau đó tôi chụp lấy bá đỏ "để" (2) cho nó mấy phát. Đầm già mà nghe bá đỏ thì "lạnh máy" thôi. Nó liền bay ngước ngước lên. Bay tung lên cao, nó lại đảo. Tôi lại "để" luôn mấy phát nữa. Lúc nãy nó "sút" tôi không trúng, bây giờ tôi bắn nó cũng trật lất. Nó đảo rồi nó bắt loa gọi. Nó nói: - Anh bạn du kích ơi ! Quá tầm đạn rồi, đừng bắn nữa uổng đạn ! Ưức một cái, nó nói thời mình nghe, mà mình nói thời nó như điếc. Giận quá, tôi đưa tay làm loa hét lên : - Con c...! Thôi tôi nói vậy là bà con biết rồi đó ! Tôi lại "để" luôn cho nó mấy phát nữa. Coi bộ nó hoảng, rướn lên, tè tè te, bay xấp xấp (3) rồi chạy tuốt. Xong cái thằng cào cào, tôi nghĩ, không nên chủ quan. Nó kêu phản lực lại thời nát xương chớ chẳng chơi. Tôi liền chống rút vô rừng, vô thật sâu. Y như tôi đoán. Nó quay lại, nó dẫn theo sau một bầy trực thăng năm chiếc. Nó đảo qua khu rừng, thả trái màu. Vậy là bầy trực thăng đó bu xuống bắn. Nó bắn dai như trâu đái. Nó bắn cho tới tối mới chịu rút. Nó rút rồi thời tôi trở ra. Lúc đó, tôi mới thấy đói, lạnh và mệt. Suốt một ngày chống chỏi, gân cốt như dây thun kéo thẳng. Bây giờ nó dùng lại rồi. Xương cốt tôi như rời rã, lặc lìa lặc lọi. Tôi chống ra chỗ đó, nếu nước mà giòn như kiếng thời chỗ đó chắc tan ra thành bụi. Mặt nước vẫn y nguyên. Chỉ có rừng là xơ xác. Thấy có một cái gì đang cháy tôi liền chống xuồng lại. Đó là một cây trâm bầu lớn bị đạn hỏa tiễn, lửa hãy còn nghi ngút. Thật là may đang lúc mất hộp quẹt, tôi liền mở kim tay cái, châm vô đó. Hút. Hút phà phà. Chuyện ngày hôm kia của tôi như vậy đó. Nói đến đó, anh đưa hai tay ra giằng xuống như nhạc trưởng đang đánh nhịp và nói: - Hết ! Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:06:57 am Quán rượu người câm Bất cứ ở nước nào, thời kỳ nào, bất cứ cuộc cách mạng nào cũng đều phải trải qua những ngày đen tối. Trong những ngày đen tối thì có những chiến sĩ bị cầm tù. Và bất cứ nhà tù nào, người ta cũng chia làm hai, kẻ phản bội và chiến sĩ trung kiên. Những chiến sĩ trung kiên có người đến chết không hé một lời khai, có người bị tra tấn đến tàn phế, hoặc ngơ ngẩn hoặc điên không còn biết gì nữa. Trong một nhà tù- Trong hàng trăm nhà tù ở miền Nam - khoảng năm 1956, có một người bị tra tấn đến đứt cả dây nói, thành một người câm. Đó là anh ba Hoành hơn bốn mươi tuổi. Trong kháng chiến đánh Tây, anh là Đảng viên Cộng sản, là Uủy viên nông hội xã. Giặc bắt anh vì cái tội đi đo đất tạm chia cho dân cày và bản thân anh được lãnh ba công. Qua ba tháng tù, chịu mọi thứ cực hình, anh chưa bị câm và vẫn không khai. Một hôm, trong nhà tù, có một tên phản bội đã khai cho một cô gái mười sáu tuổi, cô làm liên lạc riêng cho hắn ta, gọi hắn ta bằng chú. Cháu gái ấy bị bắt, cũng như một số đông anh em, cháu nhận mọi thứ tra tấn. Cháu bị đưa đến nhà tù đàn ông để mặt đối mặt. Tên địch chỉ mặt tên phản bội hỏi cháu: - Mày có biết tên này không? Cháu gái lắc đầu: - Không! Tên địch trợn mắt, đưa chân đá khe khẽ vào cằm tên phản bội: - Con nhỏ này nói vậy mày thấy sao?- Tên phản bội không dám nhìn cô gái nhỏ. Hắn gục đầu, lầm bầm trong miệng, không biết hắn nói gì. Tên địch lại đưa mũi giày vào cằm hắn- lúc đó hắn ngồi- hất cái mặt hắn lên: - Sao! Mày muốn tao chơi lại cái món ngày hôm qua hả? Ngày hôm qua, bọn địch đem nhét anh ta vào cái cống vừa chỉ ló cái đầu và hai cái chân. Bọn địch bảo: - Tao sẽ nuôi mày như nuôi vịt trong ống tre. Người sẽ tóp lại, đùi sẽ lớn ra. Mày khai không? Hắn gật đầu. Bọn địch lấy búa tạ đập vỡ cái cống và cho hắn trở lại nhà tù- Nghe nhắc đến cảnh tra tấn đó, hắn toát mồ hôi, hắn ngước nhìn cô gái nhỏ và lắp bắp nói: - Nhận... nhận đi cháu! - Hắn vừa nói thì một chuyện bất ngờ không ai đoán được. Cô gái nhỏ mười sáu tuổi ấy, tóc đang rũ xuống, bỗng hất tóc ra sau vai và nói như nghiến: - Chú Hai! Chú sợ chết hả! Chú hãy nhìn tôi đây này. Đứa cháu gái liền thè lưỡi, mắt long lên, đưa quả đấm đánh vào cằm mình. "Bực", đầu lưỡi cháu rơi xuống, cháu ngã ngửa ra sau và máu vọt ra. Cái chết của cháu gái quyết liệt quá khiến cho tất cả anh em tù liền nhỏm dậy. Nhưng chân của họ bị còng, còng bị kéo tới, tay họ vồ vào kẻ thù. Bọn địch bỏ xác người con gái nhỏ lại, chen nhau, tuôn ra, đập song sắt và rút súng ngắn chĩa vào tù nhân. Anh Ba Hoành chụp lấy cái đầu lưỡi của cháu gái và nhổ một bãi nước miếng vào mặt tên phản bội, anh để cái đầu lưỡi nhỏ lên bàn tay, bàn tay xòe ra, anh đưa chầm chậm qua mắt anh em, tay anh lẩy bẩy run, và nước mắt anh cứ xối xả. Sau đó ba ngày, trong một trận tra tấn, khi một tên địch dùng bù loong đập lên cổ anh, anh ngã quỵ xuống, giẫy một lúc, miệng há ra, rồi ú ớ. Bọn địch hỏi gì anh cũng nghểnh mặt, ngơ ngác, cái ngơ ngác của một người điếc, và miệng cứ há ra, hàm dưới đưa qua đưa lại một cách khó nhọc và cứ ú ú ớ ớ. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:07:39 am Quán rượu người câm (tiếp) Bọn địch trả anh lại nhà tù và cho người rình. Đối với anh em, anh cũng ú ớ và ngơ ngác như vậy. Bọn địch lại tra cái bệnh câm của anh. Chúng bắt anh phải nói. Qua ba trận tra tấn, anh câm luôn, cả cái tiếng ú ớ anh cũng không ú ớ được nữa. Bọn địch đưa anh vào nhà thương để xét nghiệm. Sau nhiều lần tra tấn bằng các thứ thuốc, bác sĩ kết luận: " Tên tù này câm thật!". Chúng đánh người cốt để moi lấy lời khai, người tù này câm rồi, đánh nữa chỉ mệt xác, bỏ tù cho tốn cơm, chúng thả anh ra. Anh Ba Hoành, vốn là con người lực lưỡng, một tay phát thế (1) nổi tiếng. Ơở nhà tù về anh chỉ còn có bộ xương, lại câm. Anh không thể cầm nổi cái phảng được nữa. Nhưng nếu còn sức cầm phảng thì anh cầm phảng nữa làm gì, ba công đất của anh bị giật mất rồi. Anh câm, anh hết cả sức lực, nhưng anh còn sống, anh sống vì người vợ, vì ba đứa con, và vì cái gì nữa ai mà biết được. Anh còn sống và phải sống. Muốn sống thì phải có cái ăn. Anh phải nuôi vợ và ba đứa con. Anh có vợ muộn, vì nghèo mà phải lấy vợ muộn. Anh nghèo thật, nhưng anh cũng không phải vì nghèo mà không lấy được vợ. Lúc còn trai trẻ, anh được một người yêu. Đó là cô gái đẹp ở xóm, một cô gái khá giả, nhà có ruộng lại có cả miếng vườn cây ăn trái. Anh nghèo, anh vác cuốc đi làm mướn, nghèo nhưng lại bạt mạng, dám chơi, dám làm, dám nói. Có lẽ vì vậy mà anh được người con gái ấy yêu chăng? Cái đó anh không hề biết. Chỉ biết là mình được yêu. Người ta bảo anh: "Nghèo phải lo phận nghèo, đừng có chơi trèo mà té nặng". Cái tuổi trẻ của anh không nghĩ tới điều đó, vả lại, anh yêu cô ấy. Anh định sau khi cưới nhau, cô ấy sẽ ở với ngôi nhà của anh, anh không có ý định xây nhà trên miếng vườn đó. Nhưng rồi cha mẹ người ta bảo với gia đình anh muốn làm sui gia thì phải "môn đăng hộ đối". Đến khi người con gái ấy bị gả cho một người khác - một anh thư ký - đến lúc ấy mới vỡ ra cái lẽ là mình nghèo. Nghèo thật, rồi có những lúc than thở, anh ta hát nghêu ngao. Anh ca vọng cổ, ca bắt quàng: "Nghèo xơ nghèo xác. Nghèo nát xương mông, nghèo không gạo nấu, nghèo thấu Ngọc Hoàng, nghèo tàn nghèo mạt, nghèo khạc ra tro, nghèo ho ra bụi, nghèo lủi trong bờ, nghèo lờ con mắt, nghèo thắt ống chân, nghèo sưng ống quyển - ơ ờ..." hoặc "Than ôi, nước mắm mặn không tiền mua giấm...". Mãi đến năm 1950 anh mới cưới vợ . Đó là một cô gái dở dang, ba mươi tuổi mà chưa chồng. Chị bị dở dang không phải vì hư hỏng vì xấu hay vô duyên. Chị bị dở dang vì người yêu của chị là một anh vệ quốc đoàn bị hy sinh. Ba mươi sáu tuổi anh mới lấy vợ. Năm năm, đẻ liền ba cháu. Đứa lớn nhất năm tuổi, đứa nhỏ nhất vừa sanh thì anh bị đi tù. Vợ anh đi làm mướn, đi cấy, đi gặt để lấy công. Một mình chị làm chị không nuôi nổi ba con, lại còn tiền thuốc tiền men cho chồng nữa. Sống làm sao nổi. Ơở nhà tù ra, trở về với bệnh tật nhưng anh không thể nào nghỉ được. Nhưng sức của anh còn làm gì nổi nữa! Anh nghĩ đến chuyện buôn vặt. Anh đi mượn tiền mở một quán rượu. Buôn bán mà câm thật khó! Tạo hóa sinh ra con người, nếu tạo hoá muốn ở ác với con người thì cái ác cũng rất phải chăng. Nếu tạo hoá muốn cho một người nào đó phải câm, câm, khổ lắm! Để cho người câm ấy đỡ khổ, tạo hóa cho người câm ấy điếc luôn. Đã câm thì phải điếc, bởi vì nếu không nói được mà phải nghe, nghe mà không nói thì ức chết thôi. Cho nên tạo hóa phải cho họ điếc để khỏi phải nghe những điều họ không đáng nghe. Còn anh Ba Hoành, anh câm không phải do tạo hóa mà con người, do kẻ thù. Con người khi trở thành kẻ thù thì họ ác hơn tạo hóa. Bọn giặc đánh anh đến câm, nhưng lại để cho anh nghe được. Khổ thân anh quá! Những chuyện xung quanh toàn những chuyện bất bình nên anh không phải nghe nhiều, chỉ cần nghe vài ngày thôi, chuyện này, chuyện nọ cứ dồn ép vào, đến mức anh không còn sức chứa nữa, ngực anh sẽ vỡ tung ra. Kẻ thù ác với anh nhưng đời lại thương anh, thật may! Trong thời kháng chiến lúc làm ủy viên nông hội xã, anh có học được vài chữ, anh đọc được và viết được. Thằng địch gian ác và xảo trá, nhưng nó lại quên cái điều ấy. Anh câm, anh không nói bằng miệng được nhưng nói bằng tay. Anh trở về với quán rượu, nhưng địch không cho anh sống yên. Đêm đêm nó cho người đến rình nhà anh. Nó muốn nghe anh nói chuyện với vợ con anh. Và nó nghe cả những lời ân ái của anh. Nó kể lại với bọn lính trong bót nghe và lấy đó làm trò cười. Bọn nó kháo với nhau: Thằng cha câm khi muốn ngủ với vợ, nó không ú ớ mà ư ư như rên, khi nó bị vợ phủi tay, thì nó kêu á á, khi vợ nó kéo nó tới, thì nó à à - Một lần nữa bọn chúng xác định: tên tù ấy câm thật. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:08:13 am Quán rượu người câm (tiếp) Dù khó khăn anh vẫn sống qua ngày, sống với quán rượu của anh. Quán rượu anh cất cạnh bờ sông. Một cái quán nhỏ lợp bằng lá dừa khô. Một cái quầy hai cái ghế dài để cho khách ngồi, một cái tấm vạc nhỏ để nhậu. Có hai con đường dẫn đến quán. Một con đường có cây cầu dừa, dành cho khách đi xuồng, hoặc ghe máy đuôi tôm, một con đường mòn nhỏ băng qua vườn mía dẫn vào con đường lớn xuyên qua xóm. Quán nhỏ tồi tàn, nhưng lại có đủ thứ rượu ngon, toàn là rượu nổi tiếng. Người chủ quán là người biết chọn rượu. Rượu Lương Hòa tỉnh Bến Tre - Rượu nặng mà đầm và thơm... Rượu đế thì rượu kinh ông Kho, rượu ngon nhất tỉnh Long Châu Sa, rượu trong veo, sủi bọt nặng mà đầm. Rượu đậu nành nước trong xanh cay mà ngọt, uống say lúc nào chẳng biết, lúc say người như lịm đi. Rượu cất bằng mía, rượu "Rum" của Hiệp Hòa màu rượu như trái hồng quân. Đó là những thứ rượu ngon, loại mắc tiền nhưng đồ nhậu thì lại bình dân thôi. Đâu phộng rang tẩm mỡ với ngũ vị hương, tôm khô, củ kiệu, khô mực, các loại khô, và các loại cây trái, mùa nào thứ ấy xoài, ổi, mận và chùm ruột... Ông chủ quán câm nhưng lại lịch sự, và tiền nong rất rõ ràng. Nếu cần chủ quán sẽ mời anh một ly nhỏ không lấy tiền và nếu vui chủ quán sẽ sẵn sàng chạm một ly. Trên quầy có một xấp giấy nhỏ, có khi là một xấp lịch cũ của một cuốn sổ tay nào đó và một cây viếc "bic". Khách nào đến ngồi lâu, uống nhiều ly, mua nhiều đồ nhậu, chủ quán câm không nói được, chủ quán tính tiền trong cái giấy. Khách cứ coi theo đó mà trả. Rất tiện khỏi phải cãi cọ nhiều lời. Ông chủ quán này lại có cái lạ là không tham bán nhiều, thấy khách vừa say thì một cách lịch sự, lịch sự theo người câm, nhe răng cười ú ớ mấy cái rồi đưa cho khách. Vậy là khách biết mình sắp say rồi. Chỉ phiền có một điều, có lẽ vì chủ quán ít chữ nghĩa quá, viết không được mạch lạc, hoặc nghuệch ngoạc cho nên khách phải đọc rất lâu, có khi tiền thì cứ trả mà giấy thì mang về đọc lại. Khách rượu ở quán này thường hay ngồi lâu, có khi ngồi đến hằng giờ. Ông chủ quán câm kể loại biết điệu đời, ông xếp ghế ngồi để cho khách nhìn ra sông: sông Cửu Long. Khách có thể ngắm rặng cây xa mờ, ngắm những cánh buồm, vừa ngắm nhìn vừa nghe tiếng sóng. Sóng bạc đầu, bỏ vòi, tràn lên nhau, sóng bủa ầm ầm. Sóng lưỡi búa, lách chách từng đợt nhỏ và đều, lấp lánh khắp mặt sông. Sóng nhỏ nhưng lại thường hay nhấn chìm xuồng ghe. Xuồng ghe tấp vào bờ. Sóng vẳng rì rầm, buồn và mênh mông. Vì rượu ngon, hay vì có chỗ ngồi nhìn ngắm cảnh hay vì cái vẻ lịch sự câm của ông chủ quán? Chẳng rõ, chẳng biết, chỉ biết trong làng, hầu như người uống rượu nào cũng đến. Trong làng, dân làng không được hội họp, ba người đàn ông gặp nhau cũng không được, những cuộc gặp gỡ từ ba người trở lên, nếu nhà cầm quyền biết sẽ bị nghi là họp cộng sản, sẽ bị đi tù. Còn ở cái quán rượu này buồn đến nỗi đàn bà cũng uống rượu nữa. Con gái thì chưa uống ghiền nhưng cũng đến mua. "Rượu vào thì lời ra !". Bọn xâm lược Mỹ và tay sai không cấm được điều đó. Thật tội nghiệp cho ông chủ quán câm, ông phải nghe chuyện của những thằng uống rượu, chuyện của những thằng say. Nhưng cũng thật hạnh phúc cho ông, ông toàn nghe những chuyện thật. Bởi vì không ai dám nói thật bằng những thằng uống rượu, những thằng say. Lúc bình thường giận đời, giận người, họ không dám chửi, uống rượu vào, họ chửi chẳng sợ ai. Lúc bình thường có những sự thật vì lẽ gì đó mà không dám nói, uống rượu vào họ nói tất. Những người khách rượu này, họ nói tất cả những sự thật của làng. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:09:07 am Quán rượu người câm (tiếp) - Chú Hai ở cuối xóm bị bắt, bị đi tù. Thằng xếp đến bắt hiếp vợ chú. - Nhà chị Ba một người đàn bà góa, bị lính moi hầm, dưới hầm có một anh kháng chiến cũ. Chị bị nhà cầm quyền buộc tội lấy Việt Cộng. Hai người đều bị bắt. Nó bắt hai người phải ngủ với nhau. Anh kháng chiến cũ không chịu. Nó lột quần áo cả hai người, trói lại, bắt nằm chồng lên nhau, rồi gí điện. Chị Ba chết để lại ba đứa con. - Con Sáu có chồng đi tập kết. Bị bọn lính ép quá, chịu không nổi, nó cạo đầu rồi, định đi tu. - Nửa đêm một chiếc tàu sắp cặp bến. Bọn lính ùa lên nhà một gia đình không có đàn ông, gí súng vào lưng đàn bà con nít, lùa xuống tàu, phóng lửa đốt nhà, rồi chở đi, chẳng biết đi đâu. - Ông Năm, một ông già điếc hơn sáu mươi tuổi vừa bị lính bắt, người ta không hiểu sao ông bị bắt. Trong tù ông không khai. Có người bảo ông là người khảng khái, có người bảo ông có gì để khai mà không khảng khái. - Thằng Chín có vợ có con rồi mà còn ve vãn con nhỏ gọi nó bằng chú. Nó bị phản đối, nó đâm ra thù oán người ta, nó phao tin đồn nhảm định làm hại cô ta. Cô gái đang bị bọn công an áo đen theo dõi. Đối với những thằng sa đọa như thằng Chín, cần phải cảnh giác. - Thằng Tư nó đầu hàng rồi. Nó khai nó làm chỉ điểm cho địch. Nó mang kiếng đen, nó lảng vảng ở ngoài bến xe. Nó vừa chỉ bắt một người đàn bà. - Nhà ông Tám bị khui hầm. Ông lấy ngực đỡ đầu súng. Anh cán bộ chạy thoát, Ngực ông bị bắn nát. Chuyện trong làng trong huyện, trong tỉnh và chuyện của cả miền Nam toàn những chuyện đau thương, ngày nào cũng có. Mỗi ngày một chuyện, có khi hàng chục chuyện... Ông chủ quán câm : đầu óc bùm sùm, mặt hốc hác, người gầy gò, mặc bộ bà ba rách, ngả màu cháo lòng. Ông lắng nghe chuyện, mặt hơi nhếch lên, ngơ ngác như một người điếc. Những người khách vừa nói vừa uống, vừa chửi, vừa nắm quả đấm muốn đập nát cái vạc tre để đồ nhấm, hoặc thở dài hoặc đang nói thì bị nghẹn. Còn ông chủ quán câm, ông nghe mà cứ như điếc chẳng ai thấy ông bị xúc động, mặt cứ trơ. Hay là tạo hóa thương ông, cho ông điếc luôn? Chẳng biết nữa. Lâu lâu ông cúi xuống, rút giấy ra ghi. Ông ghi tiền rượu cho khách, hay ghi những chuyện đáng cười, đáng giận đó. Chẳng ai hiểu nổi. Mà hiểu để làm gì mới được chứ ! Từ câm đến ngớ ngẩn có khó gì. Lúc ông ta cúi cái đầu bùm sùm xuống quầy, hai tay khuỳnh ra, mặt nghiêng nghiêng, tay ghi ghi, miệng há hốc, dáng điệu của ông ta, đúng là dáng điệu của một thằng ngớ ngẩn, lúc ghi, lúc viết, miệng ông ta như không ngậm lại được. Khi khách hàng ra về, và quán vắng, ông rót ly rượu kinh ông Kho, rót đầy, có khi rót mà không nhìn ly, rót tràn ra quầy vì ông là chủ quán nên ông không uống từng ngụm như khách, ông uống cạn một hơi. Nói cho đúng thì ông không uống mà ông đổ. Uống thì phải nhắp, phải chén, phải khà, phải thưởng thức cho hết chất cay, chất nồng của rượu. Còn ông, với cái miệng vốn há hốc của ông, ông ngước mặt rồi cầm ly rượu, đưa cao lên, đổ xuống. Hình như rượu không đụng đến lưỡi, rượu đổ ngay vào đốc họng rồi tuôn thẳng vào lòng ông. Ông uống rượu mà như uống thuốc độc vậy. Uống xong mặt ông không đỏ, mà tái, ông ngồi im, miệng há hốc, mắt lờ đờ. Đừng thấy dòng sông lặng lẽ mà bảo dòng sông không có sóng. Sóng đang nổi lên từ dưới đáy người ta gọi đó là sóng ngầm. Nhìn sông đến chán, ông gục đầu xuống quầy. Như một ông chủ quán bán khuya đến lúc phải ngủ gục. Khách rượu đến bất ngờ thấy ông gục đầu, hai vai run run, khách rượu tưởng ông khóc. Khách rượu vỗ vai ông, ông giật mình lật đật đứng dậy, khách rượu hỏi: - Sao ông khóc ? Ông lắc đầu ú ớ, đưa tay chỉ vào mắt, con mắt khô quánh. Yý ông muốn nói: Tôi khóc hồi nào ! Nhưng khách rượu không tin, thấy đôi vai run của ông, khách rượu đoán là ông khóc. Có điều là người khách có thể tin. Là con mắt của ông không ướt. Con mắt khô, nhưng miệng chảy nước dãi. Khách rượu ấy kết luận : Ông khóc thật, nhưng không phải khóc bằng nước mắt mà ông khóc bằng nước miếng, đó là kiểu khóc đặc biệt của người câm. * * * Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:09:43 am Quán rượu người câm (tiếp) Trong làng, trong cả miền Nam, nhà nào cũng có người bị bắt bị giết, những nhà bị tan nát. Con người sống không yên. Người ta phải đứng dậy. Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến ngàn, rồi cả làng. Hầu hết đàn bà trong làng, họ kéo nhau ra đồn bót, ra huyện, ra tỉnh, kéo nhau đi cả Sài Gòn nữa. Họ bắt kẻ thù phải công nhận cho họ là con người đang sống và có quyền sống. Những cuộc biểu tình ấy, nếu đi xuồng đi ghe máy đuôi tôm hoặc đi tài thì qua bến chủ quán rượu. Cái bến của quán rượu người câm lúc nào cũng nổi sóng. Nếu đi bộ, thì đoàn người đi ngang qua con đường sau quán. Ông câm nhưng ông thấy, ông nghe và ông biết. Đi đấu tranh xong trở về, người ta lại ghé vào quán rượu của ông. Người vào quán ông bất cứ lúc nào, về lúc nào ghé lúc ấy, có khi vừa tối, có lúc nửa đêm. Người ta ghé vào để uống rượu và nói chuyện và bàn cãi. Nhờ có nhiều khách hàng, đêm đêm ông thắp đèn khí đá. Ông vừa bán vừa nghe chuyện. Địch nó bắn người ta cứ tràn lên. Một người bị bắt cả ngàn người cứ đứng vây cửa nhà tên quận, hò hét cho đến lúc nó thả ra mới chịu về. Bọn địch nó biết, khi mà đàn bà đã đứng dậy thì chẳng có sức mạnh nào bằng. Nó sợ đàn bà, nhưng nó lại biết chỗ yếu của đàn bà. Đàn bà không sợ bị bắt, không sợ tù, không sợ súng, không sợ chết, nhưng lại sợ nhục. Nó không bắn, nó sai lính đi tuột quần từng người. Ôồ! Chuyện ấy có gì khó. Đàn bà đi đấu tranh người ta không mặc quần thun hay quần lưng rút nữa, người ta mặc quần gài nút, giật quần không tuột, nó bắt từng người, lấy kéo cắt đầu tóc, mái tóc dài, và đầu tóc ở sau ót, đó là vẻ đẹp của người đàn bà Việt Nam. Những người đàn bà khi đã bước vào đấu tranh, người ta không sợ mất cái vẻ đẹp đó. Chồng họ cũng không sợ. Một hôm có một anh chồng ra quán người câm đón vợ, thấy vợ buồn vì mất cái đầu tóc, trong lúc mọi người đang ồn ào anh kêu lên: - Sao mình buồn ? Mình sợ tôi chê mình xấu à ? Ông câm, ông cho tôi một ly rượu, "rượu" "rum" Hiệp Hòa ấy. Anh chồng uống cạn một ly. Uống xong, anh lấy rượu làm nư, anh ôm lấy vai vợ rồi cúi hôn lên cái ót trần của vợ. Vợ anh đẩy ra, người ta cười ồ lên, người ta vỗ tay, anh chồng ấy - có rượu rồi - không lấy đó làm thẹn, anh ngả ra cười ngất. Đã lâu lắm rồi, người ta mới thấy ông chủ quán câm cười. Khi ông cười, mặt ông thảm hại làm sao. Mặt ông nghiêm, nhắm một con mắt, miệng méo. Cười xong, ông rót thêm hai ly nhỏ, đưa anh chồng ấy một ly, hai người cùng chạm và uống cạn. Lại một lần khác, bọn địch không cắt tóc nữa, chúng gí súng vào từng người, đè họ xuống giữa chợ, cởi quần áo. Bọn địch muốn làm nhục họ. Chúng muốn cho người khác bỏ chạy. Bỗng một bà già, gọi là bà Tư Trầu - vì bà ăn trầu luôn miệng và kêu lớn. Thân thể của người đàn bà là vẻ đẹp thiêng liêng của họ, nhưng đến lúc cần phải giành lại tự do, độc lập và quyền sống họ sẵn sàng hy sinh tất cả. Khi bà Tư Trầu ra lệnh, thế là cả ngàn người đàn bà, bà già, người có chồng, người còn con gái, tất cả, liền cởi hết và họ xếp lại thành hàng, họ thành một đạo quân ngang nhiên lạ lùng diễn qua trước mặt kẻ thù. Kẻ muốn làm cho họ nhục, thì chính họ lại thấy nhục. Những thằng giặc ấy, chúng mặc áo, quần, tay cầm súng, nhưng chúng phải bỏ chạy. Người ta nói chuyện ấy trong quán rượu. Ông chủ quán câm liền rót đầy một ly rượu màu hồng quân trịnh trọng đưa cho bà Tư Trầu và rót nhiều ly khác cho những bà, những chị, những em đang có mặt. Những bà, những chị, những em đều uống cạn những ly rượu do người câm rót ra. Rượu ấy là rượu đặc biệt do chính tay chủ quán cất bằng trái cây, rượu dành riêng cho đàn bà, rượu không cay nồng, rượu ngọt và rượu uống không say. * * * Giặc lê máy chém đến. Chúng giết bà Tư Trầu và giết nhiều người khác nữa. Trong làng, có thêm những đứa bé chít khăn tang.Cái quán rượu không còn ồn ào nữa. Nhưng quán rượu của người câm không vắng khách - những người ghiền, những người say lại đến với quán rượu. Bỗng một ngày, không một khách rượu nào đến, ngoài đường cũng chẳng thấy ai đi. Dưới bến, chẳng có một chiếc xuồng, ghe nào qua lại. Người chủ quán câm chỉ còn biết ú ớ cũng chẳng có ai để cho ông ta ú ớ nữa, trong làng chỉ còn nghe có tiếng sóng. Sự im lặng của mọi người đang nín thở ấy kéo dài gần nửa đêm. Như một hơi thở dài bị đè ép bỗng trút ra, bất thần, cả làng bỗng dấy lên. Nhà thờ kéo chuông, nhà chùa nện đại đồng chung, người ta đánh trống, người ta đánh mõ, người ta đánh thùng thiếc, người ta đánh xoong, đánh bất cứ cái gì gây ra tiếng động. Người ta hò hét, người ta vác cái gì như súng, người ta đi, người ta gọi nhau, kêu rủ nhau, người ta gọi cả ông câm chủ quán rượu. Người ta báo cho nhau một cái tin lạ " Đồng khởi". Người ở tất cả các ngả xóm, các con đường làng cứ đổ ra. Người trong làng cũng bấy nhiêu đó, nhưng đêm đó lại đông hơn, đông hơn gấp mười, gấp trăm. Người kéo đi cuồn cuộn, kéo tràn đến dồn bót giặc. Người ta cho nổ những tiếng nổ lớn. Bọn giặc trong đồn, trong bót hoảng hốt. Nghe những tiếng nổ tiếng trống, và mọi thứ tiếng vang dội lên mỗi lúc một dữ dội, chúng thấy cái đồn, cái bót của chúng như những chiếc xuồng con đang bị sóng của một cơn bão đang bủa tới, chúng nhớ những người chúng giết, nhớ những người chúng bắt, nhớ những người chúng đánh, nhớ những gia đình do bàn tay chúng phá tan nát, chúng thấy những người đó đang tràn tới. Đông quá! Chúng không thể biết được bao nhiêu. Với súng, với đạn của chúng, chúng có thể giết được hàng trăm, nhưng khi hết cả đạn, chúng không thể sống được. Vậy là chúng nó lần lượt vứt súng đưa hai tay lên trời, có đứa vứt súng tìm cách thoát thân. Thế là dân làng san bằng tất cả đồn bót bằng tiếng trống tiếng mõ, bằng những tiếng nổ lớn của pháo tre, của khí đá. Sau khi san bằng hết đồn bót, dân làng đốt đuốc, kéo nhau ra đồng, dựng lên một khán đài cao. Cả làng mỗi người một ngọn đuốc, người ta nhìn về phía lễ đài, chờ một người mà người ta muốn biết : Người chỉ huy ngày đồng khởi. Người ta đứng im. Chỉ còn nghe có tiếng lửa cháy rần rật. Tiếng nổ đều đều của tàn đuốc. Tiếng lửa cháy nghe thật trang nghiêm. Hầu hết người làng đều không biết người chỉ huy. Khi người ta không biết thì người ta đoán và tưởng tượng. Con người trong tưởng tượng thì không thể nào giống con người thật. Người ta chờ đợi người chỉ huy theo ý tưởng tượng riêng của mình. Người ta hồi hộp chờ một người chỉ huy thật. Người chỉ huy ấy xuất hiện, đứng trên lễ đài, hoàn toàn không giống như ý tưởng tượng của họ. Người ta kinh ngạc nhưng người ta không thất vọng. Con người thật không giống như trong tưởng tượng nhưng phong phú hơn, và gần gũi hơn. Qua một thoáng kinh ngạc, người ta liền dậy lên. Người ta hoan hô, người ta kêu nhau, người ta chen nhau tràn về phía trước. Trong ánh lửa hồng của hàng ngàn ngọn đuốc, người chỉ huy hiện lên trước khán đài. Người ấy, một con người cao, gầy gò, mặc bộ bà ba màu cháo lòng tóc bùm sùm. Đó là người câm của quán rượu. Anh Ba Hoành!. Anh mọp đầu chào dân làng, rồi nhón chân, đưa hai tay chào, rồi đưa tay vuốt ngực và cất tiếng: - ... Bốn năm nay tôi không nói, không phải tôi câm. Mà tôi im lặng. Đã đến lúc chúng ta không im lặng được nữa. Đã đến lúc chúng ta phải... Tiếng nói của bốn năm câm lặng, tiếng nói không cần phải qua máy móc của các thứ loa, tiếng nói của anh vang lên đến từng người, vang dội cả trong lòng họ. Cả làng. Mỗi người một ngọn đuốc, mỗi người một thứ giọng lại dấy lên, đáp lại lời của anh. Làng lúc nào cũng tràn trề tiếng sóng, người ta không nghe tiếng sóng nữa. Người ta chỉ nghe tiếng vang dội của dân làng. Dân làng quây quanh lấy khán đài, hò hét cho hả hê, và đốt thêm đuốc. Đuốc: cái đưa lên, cái đưa xuống rào rào như một đám cháy. Người ta quơ đuốc cho cháy to hơn, quơ đuốc cho lửa bốc cao và người ta phóng cả ngọn đuốc bay vọt lên không. Tưởng chừng, hàng ngàn ngọn lửa đuốc đang đốt cả trời đêm. Tháp Mười 16-5-1967 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 09:47:08 am hoi_ls xin được tiếp tục chủ đề này với những truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, được rút trong tập "NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh", Nhà xuất bản Văn học - 2007.
ÔNG NĂM HẠNG Một đêm tháng 9 năm 1951... Tôi về đến làng thì trời đã tối rồi, và nghe nói, người làng đã tan tác đi nhiều lắm. Tôi hỏi thăm ông Năm Hạng, biết rằng ông hãy còn ở lại và hiện đang ngồi uống rượu cùng với một người khách. Đó là người cháu bộ đội ở xa về. Ông Hạng mà cũng có khách à? Tôi vừa lấy làm lạ, vừa lấy làm mừng cho ông. Vì xưa nay, ông vốn sống cô độc. Trong mấy năm cùng sống với ông, tôi không hề nghe ông nhắc đến ai là người thân, mà lúc nào cũng nghe ông rì rầm nhắc đến chuyện thằng con. Đó là đứa con trai duy nhất của ông đã bị giết chết trong những ngày đầu kháng chiến. Con ông là một tên do thám của giặc. Nhưng ông, thì ông không hề tin điều đó. Ông cho rằng người ta giết con ông là vì thù nhơ oán chạ. Rồi, ông dựng đứng lên một câu chuyện. Ông nói, hôm đó con ông nghe tin giặc sắp đi ruồng, nên con ông mới vội vàng về làng báo tin cho bộ đội. Nhưng con ông mới vừa về đến cầu Cây Dừa thì có người từ trong bụi nhảy ra, chĩa súng vào ngực, rồi bắn con ông lật nhào xuống nước. Người đó có thù riêng với con ông. Người đó là ai, ông không nói. Mỗi lần nhắc đến, xem chừng ông muốn tìm biết thủ phạm lắm. Tìm biết để làm gì, ông cũng không nói ra. Thực ra, người giết con ông chính là tôi. Lúc chúng tôi đóng quân ở nhà ông, con ông có về chơi mấy lần. Tôi để ý theo dõi anh ta từ đầu. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy trong hoàn cảnh đó, tôi không thể có cách xử trí nào khác hơn nữa. Buổi sáng hôm đó, tàu giặc cứ xình xịch lên xuống ngoài sông Cửu Long. Rồi nó neo lại, cho sà lan cặp vào bến chợ, và đổ bộ. Chúng kéo hàng ngang tiến vào làng. Đơn vị chúng tôi nằm phục sẵn. Tôi đứng gác ở đầu cầu, thấy hai tên từ phía chợ đi vào. Nó đi thom thom, mắt dáo dác nhìn vào các lùm cây. Tôi đoán biết là do thám. Hai tên ấy vừa đến vòng phục kích của đơn vị, tôi liền nhảy ra, bắt chúng. Tôi gặp lại con ông Năm Hạng. Chính con ông đã quay lại, toan giật lấy súng tôi. Và chính vì hắn mà đơn vị tôi bị lộ. Do đó, đơn vị tôi phải rút nhanh... Rồi một năm sau, trên con đường công tác, run rủi thế nào, tôi lại được phân công về đây. Người làng mà tôi gặp đầu tiên, không ngờ lại là ông. Ông là người của cơ sở đi đón cán bộ về làng. Tôi còn nhớ rõ cái đêm đó, cách đây đã bốn năm rồi. Trong bóng tối của đêm sắp qua lộ, sau khi nhận được tôi thì, ông đưa hai tay chụp xuống vai tôi và kêu lên: - Trọng! Trời! Từ bấy đến nay cháu đi đâu? Sau những tiếng kêu kinh ngạc ấy, ông đẩy người tôi ngã ra sau; còn ông, ông đứng thẳng với một vẻ sững sờ. Ông ngắm nghía tôi từ đầu đến chân một hồi lâu. Nhìn tôi, ông khẽ khẽ lắc đầu. Rồi, thật cảm động, ông kéo tôi sát vào người, úp mái tóc xuống vai tôi, lồng ngực run lên, nức nở. Tôi đứng sững đó, hai tay ôm chặt lấy ông mà tưởng người mình như đang rã tan ra. Từ đó, tôi về cùng sống với ông. Ông chăm lo cho tôi từng chút một. Ông ngồi bên hầm, gác cho tôi ngủ. Ông dọn đường cho tôi đi hoạt động. Ông lo cho tôi cả cây gậy để đi đêm... Và bất cứ việc gì giao cho ông, ông cũng làm tròn. Nhưng ông vẫn cứ thắc mắc về chuyện đứa con của ông. Nhất là buổi chiều, sau khi nốc cạn một cốc rượu, thì sắc mặt của ông sầm xuống. Đôi mắt xếch của ông vừa long lên, vừa rỉ ra hai giọt lệ, rồi ông cất giọng lè nhè trong hơi men: - Cháu Trọng, cháu có còn nhớ mặt mũi tay chân thằng con của bác không? Sau câu hỏi đó, ông bắt đầu kể lể. Ông thường nói với tôi, người giết con ông, không chỉ có giết con ông thôi, mà còn giết cả cuộc đời của ông nữa. Mấy năm trời nay, không có nó, ông đã chết mòn vì cô độc. Bà vợ ông mất từ khi nó mới mười lăm, mười sáu. Cuộc đời của ông có gì đâu? Một miếng đất cắm dùi cũng không có. Ông chỉ có nó. Nhà thì nghèo, ông thì già, nên nó mới bỏ làng ra chợ đi kiếm lấy một cái nghề buôn bán. Năm ba hôm nó về thăm ông một lần. Có khi nó về hẩm hiu với ông hàng tháng. Bây giờ, nhà của ông đây, khi ông đi, không có ai để dặn dò, khi ông về cũng không có ai chờ, ai hỏi, ai thưa... Có một lần, sau khi kể xong, ông đưa tay đặt lên chiếc dao găm đeo bên hông, và ngồi lặng. Người ông như chìm trong ý nghĩ đen mù. Ông ngồi lầm lầm, áo không cài cúc cổ, lồng ngực căng lên xoắn xuýt những chòm lông. Khi tôi tìm lời an ủi, bảo ông hãy quên đi, thì ông “hừm” lên một tiếng và nói: - Nói ra, cháu đừng giận bác! Cháu chưa có vợ, cháu chưa có con, cháu chưa nuôi một đứa con từ khi nó biết đi lẫm chẫm đến lúc nó trở thành người, cháu chưa làm cha - Ông khẽ lắc đầu - thì cháu lấy cái gì để biết cái khổ, cái đau của bác?... Nỗi đau đớn của ông cứ day dứt mãi trong người tôi. Tôi thấy cần phải nói ra sự thực đó. Có lẽ ông sẽ khổ nhiều, nhưng sự thực sẽ giúp ông hiểu rõ và quên đi. - Bác Năm à! Nếu rủi như ảnh là Việt gian thì bác nghĩ như thế nào? Tôi định bắt đầu bằng cái câu hỏi đó, đế xem thái độ của ông. Tôi vừa hỏi xong, thì ông liền vặn lại: - Sao? Ông nảy người lên và sửng sốt nhìn vào tôi: - Nếu nó đi làm Việt gian à? Hừ! Lồng ngực ông căng thẳng lên và phập phồng. Ông không nói nữa mà quát lên: - Nó đi làm Việt gian à?... Thì để cho cha nó! Cha nó sẽ xử tội nó! Nói xong, ông chồm về phía tôi, đưa bàn tay nắm lấy chòm lông ngực, run run. Hai hàm răng ông nghiến chặt, hai hốc xương hàm nổi gồng lên, mắt long lên như đang cố hết sức để rứt ra một cái gì rất đau khổ và khó khăn. Ông nhìn tôi một lúc, rồi bỗng cười gằn một tiếng, đưa mấy ngón tay mở thêm cúc, kéo xệ một manh áo. Ông nghiêng người tràn tới và cong năm ngón tay gõ vào ngực: - Cháu nên nhớ, bác là Trần Văn Hạng, du kích xã Mỹ Long, bác năm nay đã năm mươi tuổi rồi, đầu đội trời, chân đạp đất; từ cha sanh mẹ đẻ ra cho tới bây giờ, đầu hai thứ tóc, nghèo thì cạp đất ăn, chớ bác chưa hề làm một điều phi nghĩa. - Ông vênh mặt nhìn tôi với một vẻ tự hào, và to tiếng - Dòng máu của bác không đẻ ra một thằng con như vậy. Đời nào! - Ông nói một cách quả quyết như thế. Đôi mắt ông bỗng trở nên giận dữ và nhìn thẳng vào tôi, như soi mói, như tìm kiếm một cái gì. Tôi liền ngoảnh mặt, lánh hai luồng mắt của ông. Tôi đâm sợ và vội vàng nói chữa lại: - Cháu ví dụ như vậy thôi, bác à! Theo cháu, lúc đó là lúc hai bên đang giáp trận, chắc là ảnh không biết đường chạy, nên bị bắn lầm hay bị đạn lạc cũng không chừng. Sau câu nói đó, đôi mắt nảy lửa của ông liền dịu xuống. Trong đôi mắt sầu thảm của ông, tôi thấy anh ánh lên một niềm hy vọng. Ông khe khẽ gật gù, vẻ hài lòng. Ông đưa tay cài cúc áo. Nhưng rồi, không biết nghĩ thế nào, ông lại ngẩng lên, nhìn xa xăm, khẽ lắc đầu, và lầm bầm: “Lầm à! Hừ!”. Ông đưa tay vớ lấy cốc rượu. Uống xong, một lúc sau đôi mất đỏ ngầu như mắt cá chày. Thế là ông trở lại cái câu chuyện mà ông đã dựng đứng lên rồi gầm rít trong cuống họng, rồi quả quyết: “Người ta thù nhơ oán chạ cháu à!”. Ông lại nói thêm, nếu con ông còn sống thì ít nhất nó cũng lên đến chức đại đội tiểu đoàn rồi. Nếu đem so sánh, thì con ông đủ tài đủ trí bậc nhất trong làng. Người thì to lớn, lẫm liệt như con nhà võ, v. v... Ông ca ngợi con ông đủ mọi điều. Theo thói thường của sự đời, phàm là cha mẹ thì hình như không ai chịu nhận con mình là đứa xấu xa hư hỏng cả. Hễ là con của mình thì nhất nhất cái gì cũng tuyệt vời hết. Ông Hạng là người như thế. Tôi không biết làm sao, bèn trình bày thực ý nghĩ của mình với đồng chí đội trưởng du kích xã. Đồng chí đội trưởng liền gạt ngang: - Không được! Ông già đó nóng nảy lắm! Giấu! Giấu. Đừng ở nhà ông ta nữa... Tôi đi hỏi thăm những người thân thuộc của ông, xem ai là người thân thích, ruột thịt của ông để nhờ an ủi, khuyên lơn. Nhưng, người làng cho biết, bà con của ông không có ở đây, đã tản lạc đi đâu hết rồi, và mấy năm nay không thấy một ai về. Bây giờ, nghe có anh bộ đội về thăm, tôi rất mừng. Tôi hy vọng đồng chí bộ đội sẽ giúp tôi được nhiều về việc này. Nhưng khi tôi hỏi lại thì người làng bảo: “Cháu chắt gì của ông ấy đâu! Anh ấy trước là người ở chợ, có tới lui chơi nhà ông ta. Nay nghe anh là bộ đội, ông ta mới nhận “bừa” là cháu để được chút thơm lây đó mà!”. Tôi bật cười và nghĩ thương ông hơn. Không phải là cháu, nhưng ông chịu nhận là cháu thì cũng được lắm rồi. Tôi nghĩ như vậy. Tôi còn biết thêm, đồng chí bộ đội ấy đã về ở nhà ông được mấy hôm rồi, và đêm nào cũng chén tạc chén thù. Tôi khấp khởi mừng, đi ngay. Cái làng bị chiếm, buồn bã và tiêu điều làm sao. Những ngọn đèn của đồn giặc ở phía đầu doi, lập lòe như một bầy đom đóm. Thỉnh thoảng chó đầu trên xóm dưới tru rú lên ông ổng. Tiếng sóng của dòng sông ì ầm, nghe như những tiếng sấm xa xăm. Những cơn gió của mùa mưa hú qua các chòm cây, cuốn theo những chiếc lá khô, thổi rào rào dưới mặt đường. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 09:56:09 am * * * Tôi đến nhà ông Năm Hạng. Một ngôi nhà con nằm dưới tàn xoài um tùm. Đất sân lành lạnh gan bàn chân, mùi lá mới hãy còn thơm. Chắc là nhà cũ đã bị giặc đốt rồi. Tôi định xô cửa bước vào thì tôi dừng lại. Tôi nghe ông đang gầm rít trong cuống họng “ngầm ngừ”. Chắc là ông đang nhắc đến con và đang giận. Tôi đưa mắt nhìn qua một kẽ vách. Ngọn đèn lù mù như cái bóng gáo. Người khách ngồi xoay lưng ra phía tôi nên tôi không nhìn thấy mặt. Còn ông Hạng, ông ngồi xếp bằng trên bộ phản, phanh áo ngực. Ông đưa cái bình rượu lên miệng, uống ừng ực một hơi dài. Rượu chảy ròng ròng theo bên mép, đọng lại dưới chòm râu. Ông đặt bình xuống, chồm tới, nắm tay người khách, kêu lên với một giọng lâm ly: - Cháu! Cháu có còn nhớ thằng Long con của bác không? Nó cũng khôi ngô mập mạp như cháu đây này... - Ông Hạng vừa nói vừa nắn nót hai cánh tay của người khách. Để cho ông đừng nhắc đến nữa, tôi liền lên tiếng: - Bác Năm ơi! - Ai đó, xô cửa vô! Thấy tôi, ông liền quỳ lên, đưa hai bàn tay to lớn lên khỏi đầu, run run, và kêu: - Trời! Thằng Trọng, cháu đi đâu một tháng trời nay, hả? Ông đưa tay về người khách: - Thằng cháu của bác ở bộ đội miền Đông mới về. - Bàn tay ông hướng qua tôi, giới thiệu tôi với một vẻ hãnh diện: - Thằng cháu cán bộ trên tỉnh! Nhìn người khách, tôi gặp lại cái bộ mặt nhọn choắt và cái mũi gầy đét của anh ta... Bụng tôi đánh thót một cái. Phút chốc, tôi mất tất cả bình tĩnh. Tôi đã nhận được người khách này là ai rồi. Và hình như hắn cũng nhận ra tôi, nên nụ cười của hắn hơi run run. Trong lúc đó, ông Hạng vừa rót rượu vừa mời tôi: - Uống một miếng cho ấm bụng, cháu! Để lấy lại sắc mặt và ra vẻ tự nhiên, tôi xoay qua, nâng cốc, nốc liền mấy ngụm. Tôi đã thoáng hiểu vì sao trong tháng này làng bị giặc bố nhiều, vì sao bọn “commăngđô” hay thọc vào nhà của cán bộ và vì sao dân làng phải đi tan tác. Người tôi nóng rừng rực. Nhưng tôi cứ giả vờ thản nhiên. Để tỏ ra mình đã quên hắn, tôi gọi hắn là “đồng chí”: - Đồng chí ở bộ đội nào? Xin lỗi đồng chí tên gì? - Tôi tên Lý! Tôi ở bộ đội miền Đông. Rồi tôi hỏi về tình hình miền Đông, và nói với hắn một vài sự thực tình hình ta. Xem chừng khi hắn ta đoán chắc chắn là tôi đã quên hắn, tôi mới đứng dậy cáo từ. - Thưa bác Năm! Cháu ghé thăm bác một chút, bây giờ cháu phải đi có chút việc. - Tôi hướng về hắn, siết chặt tay hắn: - Đồng chí ở chơi! - Cháu đêm nay ngủ đâu? - Ông Hạng hỏi. - Cháu ngủ ở đằng nhà đồng chí đội trưởng. - Ừ có việc thì cứ đi. Mai lại đây nhậu với thằng cháu một bữa nghe không? Tôi ra khỏi cửa, liền đến báo với đồng chí Đoàn, đội trưởng du kích xã. Cái thằng này ghê thật, dám mang giấy tờ bộ đội mò về. Chúng tôi cho du kích nằm phục sẵn xung quanh. Sau đó, tôi và Đoàn trở lại rình nghe. Tôi và Đoàn đứng bên gốc xoài sát bên vách nhà. Trong lúc tôi đi, không biết hai người đã nói gì. Khi tôi đến thì thấy ông Hạng giật nảy lên một cái, hai con mắt mở tròn và kinh ngạc: - Sao? Cháu biết à? - Để một chút nữa rồi cháu nói. Tên Lý bước ra ngoài, hai chúng tôi chạy núp vào bụi rậm. Hắn ta đi vòng qua nhà một lần, hắn bấm đèn rà qua lại rất cẩn thận. Ngọn đèn của hắn quét qua mặt tôi mấy lần, khiến tôi phải nhắm nghiền mắt lại. Rồi hắn trở vào, hai chúng tôi cũng trở lại chỗ cũ. Đèn trong nhà đã tắt. Tôi chỉ thấy hai bóng cái to và nhỏ đang xích lại gần nhau, tiếng của hắn thì thầm và hơi run: - Chính là cái thằng hồi nãy đó. - Hả? - Cái bóng đen của ông Hạng rúng lên một cái. Tôi thấy rợn qua người. - Không! - Ông Hạng nói - Không phải đâu cháu, cháu nhìn lầm rồi! Cái bóng đầu của tên Lý lắc lia lịa: - Không! Cháu không lầm đâu! Bác bình tĩnh, bác bình tĩnh để cháu nói cho bác nghe. Hắn bước xuống bộ phản, nhưng lần này hắn chỉ bước ra tới cửa, rồi trở vào: - Cháu nhớ chắc lắm. Cháu nhớ cái nốt ruồi ở mí mắt của nó nữa kia mà! - Cái bóng đen của ông Hạng không nhúc nhích, im lìm như một bức tượng đồng đen. Tôi chỉ nghe hơi thở “hì hì” của ông. Tên Lý tiếp: - Cháu nhớ không sai đâu! - Nó giết thằng Long của bác ở tại đâu? - Giọng ông Hạng rưng rức, nghẹn ngào. - Ở tại cầu Cây Dừa - Tên Lý như có vẻ chủ động hơn, giọng hắn không còn run nữa, hắn tiếp: - Chính là nó đưa súng bắn cháu với anh Long mà! - Hừ! Sao nữa? - Rồi nó bắn anh Long của cháu chết. - Sao nó không bắn cháu? - Nó bắn không kịp. Để cháu kể lại tỉ mỉ cho bác nghe. Nó đi sau, cháu với anh Long đi trước. Qua tới cầu Cây Dừa, cháu thấy mòi1 không xong. Cháu vừa quay lại liếc mắt thì anh Long liền quay lại chụp lấy họng súng của nó. Anh Long thật đáng là anh hùng. Bị nó bắn rồi mà ảnh còn nắm chặt lấy họng súng của nó. Cháu nhờ ảnh mà cháu mới tẩu thoát. Cháu nhảy xuống, lặn một hơi qua bờ. Nó còn định kiếm bắn cháu nữa thì, thật là phước trời, quân đội của mình nghe tiếng súng của nó, liền thổi lại như mưa bấc. Bác còn nhớ cái trận đó không? Nó chạy như là gà. - Quân đội của mình là quân đội nào? Ông Hạng như giật mình và hỏi lại. Trong câu hỏi ấy, tôi thấy ông đã bắt chợt được một cái gì khó hiểu và lạ lùng. Tên Lý ngồi im như muốn thu người lại. Cả hai đều ngồi lặng. Hai cánh tay to lớn của ông Hạng từ từ đưa lên thành hình cánh cung và run run: - Trời! - Ông bật lên một tiếng nấc, và hai cánh tay rụng xuống như cánh cung bỗng bị gãy làm đôi. Người ông oằn xuống, hai tay chống xuống bộ phản. Đầu ông rủ xuống. - Bác Năm! Bác Năm! - Tên Lý khe khẽ gọi. Tôi nghe hơi thở ông trút ra từng đoạn nặng nề. Ông ngoảnh nhìn lên. Đôi mắt ông lóe lên, nhoi nhói trong bóng tối. Sự thực đã rõ rồi. Tôi không biết ông đang thù ai? Tôi hay tên Lý, hay là con ông, mà đôi mắt ông cứ nhoi nhói? Hình như tên Lý cũng sợ cái đôi mắt ấy, nó lùi ra và lắp bắp: - Bác Năm! Bác Năm! Thôi chuyện đã qua rồi! Nó cũng “đằng mình” bác Năm à! Ông Hạng đang lừ đừ nhìn quanh, bỗng dừng lại, và hỏi với một giọng kinh ngạc: - “Đằng mình” à? - Bác định như thế nào, hả bác? - Tên Lý hỏi, giọng hắn như van lơn ông lão một điều gì. Ông Hạng không nói không rằng, ông bước xuống, đứng sững một hồi lâu; rồi bước tới, bước lui và đầu chúc xuống. Chừng như sau một lúc suy nghĩ kỹ rồi, ông mới dừng lại, và nói gằn từng tiếng: - Cháu nên nhớ - Ông đưa tay gõ “bồm bộp” vào ngực - bác không phải là thằng “tham sanh úy tử”! Cháu nên nhớ, làm một con người sanh ra trong trời đất thì phải biết: hễ có thù thì phải rửa thù, ai có nợ máu thì phải đền bằng máu! Thằng Long nó là con của bác!... Tên Lý bỗng vùng dậy, cắt lời ông và đệm vào: - Đúng! Bác nói đúng! Thà là bác không biết, bác Năm à! - Này! - Ông Hạng cúi gần mặt hắn ta và nhỏ lời - Bác hỏi thật cháu thêm điều này. Lúc đó hai cháu đi đâu mà bị nó bắt? Tên Lý đứng yên, có vẻ nhìn ông, dò xét. Ông Hạng lại tiếp, tâm lý lạ lùng: - Cháu ơi! Cháu là anh em của nó. Bác là cha của nó. Nó chết rồi, mà cháu còn tưởng nhớ đến nó mà len lỏi về đây thăm bác.... - Ông ngập ngừng - Bác coi cháu như nó. Bác nói thật với cháu, nếu mà bác biết “sự thể” nó như thế này, thì bác “tru di tam tộc” nó rồi. Cái bót nằm ngoài đầu doi kia, nó làm gì được bác, hở cháu? Cháu nói thật cho bác nghe, hai cháu đi làm gì mà bị nó bắt, hở cháu? Cháu biết nó, mà sao hồi nãy cháu còn bắt tay nó, hở cháu? Cháu không sợ vong hồn thằng Long sao cháu? Chợt tên Lý bước ra cửa một lần nữa. Hai chúng tôi vội lùi về bụi rậm. Hắn đi vòng qua nhà ba lần. Ngọn đèn của hắn rà qua rà lại các bụi rậm. Không thấy gì nghi ngờ, hắn quay vào. Chúng tôi vừa nhổm dậy thì bất thình lình, hắn lại quay ra. Hai chúng tôi phải sụp nhanh xuống. Lần này, hắn có vẻ dè dặt hơn. Vì sợ hắn trở ra bất ngờ, nên hai chúng tôi cứ nằm im. Khi nghe bên trong thầm thì một hồi lâu, xem chừng hai người đã mê chuyện, hai chúng tôi mới mò vào. Tôi cứ tiếc, không biết hai người đã nói với nhau những gì rồi. Lúc tôi trở vào, thì tên Lý đang nói giữa câu chuyện: - ... Nghèo lắm! - Tên Lý nói - Buôn bán thua lỗ, anh Long của cháu bị mắc nợ như là chúa Chổm. Bác còn nhớ thầy Năm Sang đòi kiện, đòi bỏ tù ảnh không? Bác còn nhớ cái lúc ảnh bán chiếc cà rá2 cho thằng cha Mười Tưng không? Cháu thấy vậy, cháu mới tiến dẫn ảnh ra khỏi con đường nguy ngặt. Cháu lên thưa với ông sếp, phát cho ảnh năm trăm đồng. Nếu ảnh còn đến bây giờ thì bác đâu có đến nông nỗi như thế này... - Hừ! Cháu tiến dẫn cho nó? - Và! - Tên Lý vội chữa lại - Lúc đó ảnh thắt ngặt lắm. Anh mới đi hỏi cháu, nhờ cháu kiếm cho một sở làm. - Hừ! Vậy từ đó đến nay cháu đi đâu? - Cháu đi trả thù cho anh Long cháu! Còn bác? - Bác à? Bác có biết cháu đâu mà theo. Bây giờ thì nó chết rồi, bác còn có cháu, cháu định tiến dẫn cho bác ra sao nữa? Tên Lý rỉ nhỏ vào tai ông Hạng “rù rì” điều gì tôi không rõ. Ông Hạng bỗng bước xuống bộ phản; lù lù và to giọng: - Phải bắt mạng đền mạng! Cháu phải tiếp cho bác một tay. Cháu có mang súng ống gì không? Hả? - Cháu mà không có thì còn ai? Tên Lý có vẻ dương dương tự đắc. Hắn lòn tay vào túi quần móc ra một cây súng ngắn, hắn bảo: - Nhưng khoan đã, bác! - Hắn cũng cúi sát vào tai ông Hạng “rù rì”. Tôi đưa tai sát vào vách mà cũng không nghe được. Ông Hạng lắc đầu: - Cần gì! Ngày mai thì nó đi mất. Nó là cán bộ tỉnh. Tên Lý chần chừ. - Ừ cũng được. Nhưng mà... phải kéo nó ra ngoài sông. - Tiếng của hắn nho nhỏ như hơi gió. - Ừ! Cháu có súng, cháu đi trước đi! Cái bóng của tên Lý lùi lại sau: - Không được! Bác phải đi trước. Nó gặp bác, nó không nghi. - Ừ, cháu đưa súng đây cho bác. Tên Lý bỗng giật tay súng lại, như giật mình và có vẻ không muốn giao vũ khí cho ông. Ông Hạng vừa nói vừa đưa tay chụp lấy súng: - Đưa cho bác, bác đi trước! Ông Hạng cầm lấy súng. Người tôi rờn rợn nổi gai. Ông Hạng đi tìm giết tôi, nhưng tôi không hề sợ, và cũng không thấy thù hằn ông. Tôi chỉ thấy xót xa và thương hại ông mà thôi. Ông đã bước chân ra khỏi hàng ngũ của chúng ta rồi! Đầu tôi bỗng nặng như đá, mặt nóng ran. Cái bóng người to lớn của ông, lầm lầm, lì lì, hai tay khuỳnh ra, ông nhích từng bước tiến ra cửa. Hình như ông đang ngập ngừng khi biết mình đang bước vào con đường tội lỗi. Tôi muốn kêu: “Bác! Đừng! Đừng! Hãy quay lại. Nó mới là kẻ thù của bác!...”. Đồng chí Đoàn khều tôi, ra ám hiệu: Xông vào! Nhưng tôi giữ chặt Đoàn lại. Hình như tôi chưa lấy lại được trầm tĩnh, và hình như tôi chưa muốn coi ông là kẻ thù. Tôi muốn nhìn xem ông ta một chút nữa. Đầu tôi căng thẳng như sắp vỡ tung ra. Ông Hạng vẫn bước và bước tới. Tên Lý cũng lù lù bước theo, ông lên cò súng đánh “rốp” một cái. Tim tôi nhói lên. Rồi cái bóng đen lầm lì của ông bỗng quay lại phắt, và một tiếng quát: - Đưa tay lên! - Tiếng quát bất ngờ của ông như vỡ tan màng tai tôi. - Đưa tay lên! Đưa tay lên! Chính mày... mày mới là thằng giết con tao. Đưa tay lên! - Bác Năm! Bác Năm! - Tên Lý kêu ríu ríu. - Bác Năm cái gì? Đưa tay lên! Đoàn và tôi liền nhảy xông vào. Đoàn bấm đèn vào mặt tên Lý. Hắn vừa run vừa đưa tay lên mặt, vừa quỵ xuống. Lúc đó, ông Hạng như không ngạc nhiên gì về sự có mặt của Đoàn, ông hỏi, rồi khoát tay ra lệnh: - Trói nó lại! Tôi vẫn còn đứng ở bên cửa. Ông vẫn chưa thấy tôi. Ông bước gần lại tên Lý, gặt gặt họng súng vào mặt nó: - Mày! Hừ! Mày tưởng mày dụ được tao à? Giọng của ông vừa căm hờn, vừa đau xót: - Mày nói ai giết con tao? Hử? Hử?... Đồng chí của tao!... Mày!... Mày mới giết con tao. Trước cảnh đó, tình cảm của tôi lúc bấy giờ thật lài khó tả. Và tôi cũng không còn nhớ ý nghĩ, xúc động của tôi lúc ấy ra sao. Tôi chỉ còn nhớ, tôi hành động một cách tự nhiên.Tôi bước vào và kêu lên: - Bác Năm! Ông quay phắt lại. Trong bóng tối, dáng vẻ của ông vẫn giận dữ, súng vẫn còn trong tay lăm lăm và chĩa về phía tôi. Ông đưa mặt tới trước, nhìn. Nhìn thấy họng súng, tôi đâm hốt hoảng, liền nép người vào cửa. Ông rút người lại, như sửng sốt ông bật lên một tiếng: - Trọng! Cây súng trên tay ông rơi xuống. Ông dang rộng hai tay, người trờ tới. - Bác Năm! - Tôi nhảy xô vào, ôm chầm lấy ông. Còn ông, ông ngã xuống vai tôi và thổn thức... 10-9-1959 ------------------------------------------------------------------- 1. Thấy mòi: xem chừng 2. Cà rá: nhẫn Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 10:09:29 am NGƯỜI LÍNH GIÀ Bác Huệ, một ông già Nam Bộ, tuổi đã gần bảy mươi. Người bác còm cõi và râu dài chấm đến ngực. Đi đâu, bác cũng chống gậy, người cứ lùi lũi như con cuốc. Nhưng bác hãy còn là con nhà bộ đội. - Không phải là con nhà bộ đội thì sao còn đội nón có sao? - Bác thường hay nói như thế với những ai không tin bác là bộ đội. Tính bác vui vẻ, khề khà, và hay trò chuyện. Anh em gọi bác là ba, ba Huệ. Bác xin về giữ cái vườn lê ở Ba Vì đã hơn hai tháng nay. Nơi bác ở, thật là heo hút lắm. Cái chòi tranh của bác nằm sát bên vách đá. Trước cửa chòi có con đường mòn uốn lượn trong rừng sậy lưa thưa, rồi không biết đổ về đâu. Bốn bề vách đá dựng lên sừng sững đầy rêu và lồi lõm với hình thù kỳ dị. Và ngày theo ngày, mây cứ nối nhau trôi qua, mịt mù. Bác ở một mình, không có ai để trò chuyện. Bất cứ lúc nào nghe một tiếng động gì, bác cũng che tay, nhìn, và tìm kiếm. Bác cứ tưởng là có người, nhưng hóa ra là lá khô chạy lông lốc dưới mặt đường, hoặc tiếng chân thú xào xạc đi ăn. Những lúc ấy, không hiểu sao, bác lại thấy buồn thấy nhớ. Người cứ đứng thẫn thờ ra. Mà nhất là đêm, nằm nghe tiếng suối xao xuyến qua khe đá rì rào bác lại càng buồn càng nhớ hơn. Bao nhiêu cảnh, bao nhiêu người cứ xoắn xuýt trong đầu bác. Nhớ đến đâu, ruột gan cứ bời bời ra đến đấy. Cho nên, trưa nào cũng vậy, sau khi tưới nước cho lê xong, là bác gõ gậy, leo lên đồi, lội qua suối, lùi lũi đến xóm Mán, tìm ông Câu để tán chuyện. Đó là ông bạn già mà bác đã kết nghĩa từ khi mới đến. Bác thích ông Câu nhất ở cái điểm là ông ấy hay hỏi về chuyện miền Nam. Người miền Bắc nào mà lại không thế, ai lại không muốn biết về miền Nam, nhất là lúc này? Nhưng vì ông Câu hỏi nhằm cái lúc bác đang nhớ (như gãi trúng vào chỗ ngứa) thì bác nhận định rằng: Ông bạn già của mình có một tinh thần thống nhất khá cao. Thật là tâm đầu ý hợp! Những lúc ấy, người bác cứ như cường tráng lên vậy. Lưng không còm nữa, bác ngồi thẳng, tay ve vuốt chòm râu, và từ dưới đáy mắt cháy sáng lên. Thôi thì, tha hồ mà nói. Người bác trở nên hoạt bát lạ, và nói ra thì lưu loát “văn chương”. Bác nói về cánh đồng miền Nam: “... Đồng ruộng miền Nam thật là mênh mông bát ngát, chạy đụng tới chân trời, cò bay thẳng cánh...”. Cái bàn tay khẳng khiu của bác đưa lên, chập chờn như cánh cò đang mỏi sức... “Còn sông thì bao la, nhất là con sông Cửu Long, có nơi rộng hàng sáu bảy cây số, nhìn không biết bến bờ là đâu, chỉ thấy trời với nước”. Cái tay của bác che mắt và nhìn ra xa. Bác vừa nói vừa liếc nhìn cái gương mặt của ông Câu. Ông Câu nghe say đến nghếch mặt lên. Mồm há hốc như hứng từng lời, và mắt lim dim như mơ tưởng. Và sau mỗi đoạn, ông Câu lại nhắp cốc rượu, nên bác lại càng sôi nổi hào hứng hơn. “... Quả là một xứ giàu có bậc nhất nhì trên thế giới, quả là cái đất mần chơi ăn thật, quả là cái đất tiền rừng bạc bể...”. Bác kết luận một thôi dài như vậy. Nhưng ý chừng sợ ông Câu hiểu nhầm rằng: đồng bào miền Nam hiện đang sống dưới ách Mỹ - Diệm vẫn là sung sướng, thì bác liền vội vàng đính chính ngay: “... Nhưng nhân dân mình có sướng không là do cái chế độ, ông cụ Câu ạ!”. Bác nhắc lại cái thời Pháp - Nhật, và chứng minh bằng cuộc đời của mình. Cái đất U Minh tiền rừng bạc bể như thế, vậy mà gia đình ông mặc toàn bằng cói và bố tời. Trong xóm của bác, có một người con gái đến tuổi lấy chồng, đã tự vẫn chết vì không có quần mặc... Giọng của bác trầm xuống, buồn bã. Rồi bác kể qua chuyện kháng chiến, nào chuyện đánh xe tăng bằng tầm vông vạt nhọn, nào trận Tầm Vu tóm thâu đại bác... nào chuyện đấu tranh chống tố cộng của Mỹ - Diệm bây giờ... Bác kể huyên thiên. Sau cùng, bác nói đến chuyện xây dựng của bộ đội miền Nam trên đất Bắc. “... Hồi mấy đứa nó mới về, đây chỉ toàn đồi là đồi, cứ trùng trùng, cứ điệp điệp; không nhà không cửa, đi một quãng một cái lô cốt, một cái đồn... toàn là đồi hoang... Mấy đứa nó về, nó khai hoang, nó đắp đập, nó dựng nhà, nó trồng mía, nó nuôi bò. Chà! Bò có hàng; mấy nghìn con, hàng đàn, hàng lũ kéo nhau qua đồi, coi thật là đẹp! Rồi nay mai nó mở đường lên đây, dựng nhà, nuôi cừu, trồng cây. Ba Vì này sẽ là thành phố. Nó sẽ xây thủy điện, mấy con suối này không phải là đồ bỏ đâu!... Điện sẽ móc đầy núi Ba Vì...”. Bác còn nói cụ thể, điện sẽ móc chỗ này chỗ nọ, chỗ kia, tay bác chõ về hướng này hướng khác, bác say sưa như là ông trưởng ban kế hoạch. Và còn không biết bao nhiêu là chuyện nữa. Ngày nào cũng vậy, bác ngồi kể cho đến chiều. Bước ra khỏi nhà ông Câu, buồn bực, nhớ nhung như được vơi đi, bác thấy người cứ là nhẹ nhõm. Bác hăng hái ra về, gậy không gõ cùm cụp, lùi lũi đi như con cuốc nữa. Bác đi thẳng lưng và lấy gậy đập phành phạch cây cỏ hai bên đường. Rồi, hôm sau, sau khi xong việc, bác lại sang. Nhưng dần dần, chuyện nói mãi rồi cũng đến hết. Chẳng lẽ ngồi nhai đi nhai lại cái chuyện cũ, bác thấy nhạt nhẽo làm sao! Sự qua lại với ông Câu, do đó mà thưa dần. Gần đây, bác lại có điều bực với ông Câu. Khi bác nói nhiều về điện khí hóa Ba Vì thì thái độ của ông Câu thay đổi ngay. Ông Câu cứ tảng lờ đi, có khi lại bĩu môi, lắc đầu, bảo không tin được. Bác cụt hứng. Rồi từ cái không tin ấy, chừng như ông Câu cho những chuyện trước của bác đều láo, láo hết. Bác tự ái. Với ông Câu thì không lý thuyết suông được, phải có cái thực tế, mà thực tế thì có đâu? Mà lạ, nói đến thống nhất thì ông ấy tin, tin lắm, còn hứa là chừng đó sẽ về Nam chơi nữa; nhưng nói đến điện về Ba Vì, thì ông lại lắc đầu. Sao thế? Bác không nghĩ ngợi nhiều, bác chỉ nhận định lại và kết luận rằng: Ông Câu hãy còn lạc hậu, chưa thấy được “cái sự tiến lên” của mình. Thế là từ đó, bác bặt đường qua lại. Và bác lại buồn, lại nhớ. Sáng sớm, bác lên suối, mở cản cho nước về vườn, rồi đi nhổ cỏ, bắt sâu. Công việc chỉ nhẹ nhàng có thế. Cơm nước xong, bác thu thú trong chòi, đun hết ấm nước này đến ấm nước khác, nhâm nhi với chén trà. Nghe một tiếng động, bác vội vã bước ra, nhìn ngong ngóng. Bác cứ tưởng là thằng Be. Đó là “đứa” hay mang thức ăn lên cho bác trong những ngày chủ nhật. Buồn quá, có lúc bác định trở về. Nghĩ đến đây, bác lại tự trách mình. Lửa rơm rồi, chưa gì mà đã định rút lui! Quả thực tình, bác có muốn xa anh em bao giờ đâu. Chỉ vì, bác muốn có được một việc làm. Hồi kháng chiến, bác làm anh nuôi cho một đơn vị chủ lực. Lúc nào là lúc bác không sát cánh anh em với cơm sốt canh nóng? Nhưng từ khi ra Bắc, sức của bác yếu dần theo tuổi. Bác không có đủ tiêu chuẩn là người lính nữa. Bác được đưa đi an dưỡng. Khi ba lô lên vai, bác bảo với anh em như người cha dặn dò với đàn con trước khi đi xa. - Ba đi ít hôm khỏe, ba về! Sau đó, bác phải che tay giấu mặt. Nằm an dưỡng, bác chỉ có việc ăn, nghỉ, và chơi. Nhìn anh em, người thì luyện tập, trườn, bò, bắn, người thì tăng gia, đào, cuốc, phá rừng, tay chân bác ngứa ngáy khó chịu như thế nào ấy. Vốn tính bác lại hay làm. “... Tay làm hàm nhai...” đã quen rồi, có “ăn không ngồi rồi” bao giờ đâu? Bác sốt ruột. Bác muốn đi và muốn làm. Và trong cái tuổi già, bác thấy tiếc thời giờ làm sao, bác muốn gấp rút làm nên một việc gì. Rồi bác xin về đơn vị cũ, xin nhận một nhiệm vụ. Nhưng, không ai chịu cho bác làm. Bác cầm đến cuốc, cuốc vừa được mấy nhát thì có đứa lại giật cuốc rồi: “Bác nghỉ đi, để con”. Bác lại đi qua tổ chăn, anh em cũng để bác theo “phụ hộ”, có việc gì là bọn chúng nó giành hết. Đứa nào cũng bảo: “Ba nghỉ đi, ba ở chơi với mấy con cũng là công tác rồi”. Hàng tuần, đến ngày bình công, ai cũng có điểm có công, còn bác như là một người khách xa, không thấy mình đóng góp được việc gì. Thế mà đến tháng cũng vẫn lãnh tiền theo cấp bậc trung sĩ. Bác thấy chột dạ làm sao! Bác đâm ra bực dọc. Nhất là từ khi được thư của thằng Thanh từ trong Nam gởi ra. Nó hỏi bác, từ ngày ra Bắc, bác làm được cái gì? Cả con Vân nữa, hiện đang học ở Hải Phòng, cũng gởi thư về hỏi: “... Ba còn giữ được truyền thống là chiến sĩ tích cực không?...”. Và nó thách: “... Ba với con thi đua nhá!...”. Mấy lần định gởi thư cho con, bác đều lần lữa, không muốn gởi. Chẳng nhẽ bảo với chúng nó là ba chỉ có “ăn không ngồi rồi”? Khi nghe đơn vị lên Ba Vì trồng lê, thấy việc giữ vườn là vừa sức, bác liền xin ở lại. Bác kết bạn với ông Câu cũng trong những ngày đó. Lần này, bác đấu tranh mạnh. Bác to nhỏ với đồng chí thủ trưởng: - Con nghĩ coi, ba bốn năm nay ba có làm được gì đâu. Chừng về Nam, đồng bào hỏi ba, từ ngày ra Bắc ba làm được cái gì, thì không lẽ ba lại vuốt râu cười trừ được hay sao? Nói thủ thỉ không được, bác đâm giận và nổi nóng, bác dọa: - Nếu mấy con không cho ba ở đây giữ vườn thì ba xin phục viên. Ba sẽ về xã làm ăn. Thử coi ba có làm ăn được hay không cho biết! Mà không phải dọa nữa, bác sẽ xin phục viên thực đấy. Ban chỉ huy bàn tán, thảo luận, và sau cùng bác được ở lại. Ở lại một mình, tuy buồn, nhưng bác đã có được việc làm, có được một trách nhiệm hẳn hoi. Bác liền gởi thư cho hai đứa con. “... Ba đang giữ vườn lê cho nông trường. Lê này quý lắm. Ở miền Nam mình chưa có... Vì phải trồng ở xứ mát. Đây là vườn lê xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Ba Vì, phải chăm sóc kỹ lưỡng mới được. Toàn thể đơn vị đều đưa tay ủy nhiệm cho ba giữ...”. Gởi thơ cho con, báo được cái tin mừng ấy, bác thấy lòng cứ phơi phới. Bác còn được nghe kế hoạch: Sau khi thủy điện hóa nông trường xong, đơn vị sẽ đưa quân lên núi, mở đường, và khai phá thêm ra. Chừng đó, bác sẽ vừa được gần anh em, vừa có việc làm. Bác trông mãi cái ngày ấy, nhưng không biết đến bao giờ. Cái bĩu môi của ông Câu, thế mà có lý đúng chăng? Không lẽ! Ngồi trong chòi, nhìn mây bâng khuâng qua đỉnh núi, bác cứ nghĩ vẩn vơ. Lại có một tiếng động. Lần này, quả đúng có người. Thằng Be! Bác muốn nhảy ra chạy xô lại thằng Be, nhưng bác cố ghìm mình lại, ngồi yên, mặc dù người cứ nhấp nhỏm, bác ló mái tóc ra cửa: - Lên làm gì! Sao không ở miết dưới đó đi! Bác gõ gậy bước ra, đỡ cái giỏ thức ăn trên tay Be. - Ba! - Be kêu lên, ôm chầm lấy bác, nắn nót hai cánh tay của bác, xem “ông già” của mình có khỏe không. - Công việc tới đâu rồi? Nhà máy sữa, nhà máy điện, nhà máy đường, chừng nào mấy con mới bắt đầu? - Bác hỏi một thôi dài, không đợi Be trả lời, rồi tiếp: - Vô uống miếng nước đi con! Tội nghiệp! - Vui miệng, bác văng tục một tiếng. Hai cha con vào chòi, uống trà và nói chuyện. Khi đã trầm tĩnh lại, bác mới mở giỏ, sắp xếp lại thức ăn. Trong giỏ chỉ có mấy quả trứng, một miếng thịt, không bằng một phần tư những lần trước, ít quá! Nhưng bác không muốn hỏi. Lúc đó, Be rỉ nhỏ vào tai bác: - Ba biết tại sao con đem lên ít không? Bác ngẩng nhìn, hỏi lại bằng mắt. - Thằng Long nó không cho con đem nhiều, nó bảo là để mai mốt nó đem lên, để nó có lý do mà lên thăm ba. Mấy đứa nó còn nhắn với ba là ba phải về dưới ít bữa, chửi cho mấy đứa nó mỗi đứa một tiếng, cho nó sướng cái lỗ tai rồi hãy lên. Nó nói là nó lâu nghe tiếng nói của ông già quá. Tụi nó còn nói, nếu ba không về, thì gởi cho tụi nó xin một sợi râu. Be liến thoắng, liền đưa tay bứt lấy một sợi. Ông già Huệ, nghe nói, cười mà rưng rưng nước mắt. Những “đứa” ấy đều xa nhà xa cửa. Ra miền Bắc mấy năm nay, đứa nào cũng muốn tìm lại cái gì là hình ảnh miền Nam cho đỡ nhớ. Người con gái với chiếc áo bà ba, cái búi tóc, hàng dừa... đều tìm ra được. Nhưng muốn gặp lại một cụ già người Nam Bộ, thì thật là hiếm. Vì, những cụ già người Nam Bộ tập kết ra Bắc rất ít. Cuộc sống hàng ngày của con người, không thể không có những người già. Bản thân bác, mang đến cho họ hình ảnh quý báu đó. Bác hiểu rõ điều ấy lắm. Lúc nằm an dưỡng, nói là an dưỡng, chứ bác có được yên đâu. Hết đứa này rước, đứa khác đã đến chực chờ. Bác đến, cả một đơn vị bỏ việc, chạy túa ra: - Ba về! Ba về! Bác như người cha đứng giữa một đàn con. Bác muốn ôm tất cả những đứa con vào lòng. - Có thư từ gì trong Nam không hở ba? - Anh em hỏi bác như hỏi người từ miền Nam mới ra vậy. - Có chứ! - Bác đáp và móc ra một xấp thư. Số là bác đi thăm nhiều đơn vị, nên bác hay góp thư của đứa này, đem đến cho đứa khác đọc. Rồi họa theo những lá thư đó, bác kể về chuyện miền Nam cho chiến sĩ nghe.Thế là chiến sĩ có thêm được một nguồn vui. Bác lại được cái nhớ, nhớ rõ hoàn cảnh của từng đứa con một - Thằng Long hơn mười hai năm rồi chưa gặp lại mẹ, mấy năm nay, cũng không được thư từ tin tức gì. Thằng Chà, vợ có mang từ khi mới tập kết, biết vợ đã đẻ rồi, nhưng không biết con mình là trai hay gái, và tên nó là gì? Thằng Phú lúc được tin cha chết, ngồi lặng hàng giờ như tượng đá. Thằng Tốt vừa được tin cho biết, người vợ chưa cưới của nó vẫn còn chờ đợi, nhưng không biết ngày nào hai đứa mới được gặp nhau, đều lớn cả rồi! Thằng Quang yêu con Vân của bác, nhưng chưa dám nói ra, hễ hè đến, là nhắc bác rước con Vân về... Mỗi đứa có mỗi tâm tư riêng, đọng lại trong lòng, nặng trĩu. Gặp bác, đứa nào cũng muốn kéo bác vào ngủ chung, để nói chuyện nhà chuyện cửa. Chính vì yêu bác, mà không có đứa nào chịu cho bác làm. Thế mà bác bỏ đi. Bác thấy mình như phụ bạc. Ông lão ngồi lặng một hồi lâu rồi đáp: - Được! Mai mốt rồi ba về. - Bác tiếp: - Mà cũng tại mấy con, nếu mấy con chịu phân công rạch ròi cho ba thì ba đi xa mà làm gì? - Ừ, thì ba về đi, mấy con sẽ phân công cho. - Dóc! Tụi con chỉ được có cái miệng. Ba ở trên này thôi. Chừng nào mấy con lên đây mở nông trường thì gặp ba. Mà nè, ba nói cho mấy con biết trước, chừng lên đây, mà mấy con cũng đối với ba như trước, không cho ba làm, thì ba bỏ đi nữa đó, nghe không? Ông lão hỏi luôn: - Này con! Chừng nào thủy điện, công việc mần ăn xây dựng đến đâu rồi? - Cũng đang bắt đầu. - Đang bắt đầu? - Bác đánh chách vào vế Be, vồn vã hỏi thêm. - Đang bắt đầu làm thủy điện rồi? Rồi sao nữa, nói cho ba nghe coi con! - Mấy con lúc này đi khai hoang cả ban đêm nữa. Mấy con nêu khẩu hiệu: “Thay đổi nhanh chóng mặt đồi!”. Mấy đêm nay đêm nào đêm nấy đèn đuốc đỏ đồi, thôi, vui như là ngày đi cướp chánh quyền. - Đốt đuốc làm đêm? - Bác mở tròn đôi mắt, hỏi lại. Vớ được cái tin đó, bác liền gõ gậy sang nhà ông Câu. Mới tới sân nhà, bác đã nói vọng vào: - Ông cụ Câu ơi! Cụ có ở nhà không? Nông trường đang bắt đầu làm thủy điện rồi. - Bác vừa lách mình vô cửa vừa tiếp: - Mà làm cả ban đêm nữa. Đèn đuốc sáng trưng như là hội... Này ông cụ Câu, ở đây có cái dốc nào đứng nhìn thấy ở dưới không? Ông Câu chỉ cho bác cái đỉnh sáu trăm. Con đường mòn ra cái đỉnh ấy, hóa ra là con đường mòn trước cửa chòi của bác. Bác gõ gậy, lùi lũi đi ngay. Đến nơi, bác thấy: quả là cái đỉnh cao. Cái đỉnh (trời) khéo đặt để, cao như pháo đài. Gió cứ lồng lộng. Leo lên đó, nhìn ra mênh mông, cảnh vật trước mặt bác đẹp đẽ và hùng vĩ lạ thường, ở phía xa mờ kia, sông Hồng và sông Đà đang bàng bạc như hai dải lụa, như cái cánh tay dang rộng ra ôm siết lấy Ba Vì. Đồi nối theo đồi, trùng điệp như sóng bể. Đứng đó, bác còn thấy rõ được các khu nhà của nông trường: từng khóm, từng khóm nằm dài theo chân núi. Tất cả đều thu nhỏ lại và xinh đẹp hơn. Những đàn bò xuôi ngược qua đồi như những bầy cừu lông vàng. Nắng! Nắng vàng như mật. Rồi tối, bác cũng ra đứng đó. Bác thấy đuốc đỏ rực trên một dải đồi dài. Qua một đêm, bác thấy ánh đuốc mỗi lúc mỗi tràn gần về núi, và hình như sắp đến nơi của bác rồi. Bác sướng đến rân rân cả người. Bác chống gậy, rướn người tới, tự dưng bác đưa tay vẫy, và cổ ngứa ngáy muốn kêu, muốn hú anh em. Bác có cảm tưởng như tất cả cũng đều thấy bác đang đứng, đang nhìn, đang theo dõi việc làm của họ. Gần quá, bác tưởng chừng như bỏ chân xuống là bước tới vậy. Thế là từ đó, khi mặt trời tráng lên dải núi phía tây một màu hồng chói, là bác khoác áo mưa, gõ gậy lũi ra đỉnh “pháo đài” N. Đêm nào, cũng như đêm nào, mặc những cơn gió thổi phanh tà áo ngực, mặc sương thấm lạnh cả đôi vai, bác vẫn đứng đó cho đến khi đuốc dưới nông trường tắt hẳn, bác mới chịu quay về. Sáng sớm, bác cũng lại đứng đó, để nhìn sự thay đổi dưới nông trường. Qua một đêm, màu xanh của cỏ cứ rút dần về núi. Trưa, tưới nước cho lê xong, ăn vội ba hột cơm, bác liền sang nhà ông Câu. - Ông cụ Câu ơi! Gần có điện rồi! Gần có điện rồi! Không cần ông Câu mời mọc hỏi han gì, bác cứ ngồi xuống ghế, múa tay, nói luôn một thôi dài: - Anh em nó làm đêm, đèn đuốc sáng trưng trưng. Hôm nào, cụ ra mà xem. Sự tiến lên bây giờ, y như là hát thuật. Chỗ này, hôm qua là cỏ, hôm nay thì thấy dựng nhà máy rồi, y như là nó vạch đất mọc lên vậy ông cụ Câu ạ! Ống khói cao ngất, phun khói cứ phì phì, cuồn cuộn như là mây. Trong lúc hứng, bác có tán rộng ra một ít. Ông Câu chú ý nghe, không bĩu môi nữa, nhưng cũng không say mê như buổi đầu. Nhưng đã có cái thực tế rồi nên bác cứ vẫn say sưa, cứ vẫn hào hứng... Cũng từ đó, ngày, bác mong cho mau tối để nhìn đuốc đêm, bác mong cho mau sáng để nhìn sự biến đổi dưới nông trường; sáng, bác làm nhanh việc, mong cho đến trưa để sang tìm ông Câu mà nói cái thành tích kiến thiết của thằng con bộ đội miền Nam. Nhưng mấy hôm nay, bác không đi đâu hết. Trời mưa to và gió lớn quá. Mưa quằn cả rừng, mưa lồng lộn cả những con suối. Bác đành rút vào chòi, ngồi bó gối. Chiều nay, sau những ngày mưa, trời cao xanh lồng lộng. Bác liền khoác dối chiếc áo mưa qua vai, gõ gậy lùi lũi với những bước dài. Bỗng có tiếng gọi. Bác quay lại. Một cô gái Mán đi săn về, bên vai đeo nỏ, sau lưng đeo gùi, từ trên dốc chạy đổ xuống. Đó là cô Xíu, người hàng xóm của cụ Câu. Cô Xíu bảo, mấy hôm vắng bác, cụ Câu buồn lắm. Cụ Câu nhắn bác sang chơi. Bác hỏi qua loa mấy câu, gởi cho cụ Câu và bà con trong xóm mươi viên “ký ninh” rồi quày quả đi. Mặt trời đã khuất xuống dải núi bên kia tự bao giờ, còn dội bừng lên, rừng rực như một đám cháy. * * * Cô gái Mán về đến xóm thì nhà đã đỏ đèn. Cô mang thuốc đến cho ông Câu và những người bệnh. Xóm Mán xôn xao hỏi tin “ông già vườn lê”. Bỗng tất cả đều im lặng và nghiêng tai. Tiếng kẻng từ đâu dội về, mỗi lúc mỗi to, dồn dập liên hồi. Tiếng kẻng báo nguy vang động cả núi rừng. Ông Câu lắng nghe, rồi bật kêu lên thất thanh: - Kẻng chòi cụ Huệ! Ông chụp cây nỏ, chạy ra sân, rướn người cao lên, đưa tay lên miệng, kêu cả xóm, mau mau đi tiếp viện, cả xóm gọi nhau ơi ới. Họ vác nỏ mang súng, quơ đuốc, kéo nhau về hướng vườn lê. Đến nai, họ vây chặt quanh chòi. Bác Huệ buông dùi, chụp lấy tay ông Câu, kéo đi. - Cái gì? Cái gì? Ông Câu vừa chạy theo vừa hỏi, và cả bà con trong xóm cũng kéo nhau theo. Bác Huệ miệng cứ ấp úng, không nói rõ được câu gì, miệng cứ lắp bắp: - Ra đây mà coi! Ra đây mà coi! Họ đến đỉnh sáu trăm - Bác Huệ trèo lên ngọn đá cao, đưa gậy chỉ xuống nông trường, kêu to lên: - Đèn điện của nông trường mình kia kìa! Bà con! Ông Câu và hơn năm mươi người trong xóm, đứng dài dưới ngọn đá, quay mặt nhìn theo hướng chỉ của bác. Dưới mắt họ: trước đây nghìn đời là bóng tối dày đặc, bây giờ, một cái gì đang lóe lên rực rỡ như một chùm sao vừa rụng xuống, như một thành phố vừa mới mọc, như mặt trời vừa hửng dậy, như... và như... đang đốt cháy cả một mảng trời đêm. Ông Câu quơ đuốc reo lên, tất cả đều quơ đuốc, reo theo... Họ, khi thì quơ đuốc reo mừng, khi thì im lặng để ngắm nhìn. Nhìn cái vẻ hân hoan của ông Câu, của hơn năm mươi người trong xóm Mán, ông Huệ muốn vẫy tay gọi anh em, bảo anh em hãy nhìn lên mà xem. Và bác muốn nói rất nhiều điều với chung quanh. Nhưng bác cứ nghẹn ngào. Bác vẫn đứng trên đỉnh cao, người hơi rướn tới, và đưa gậy chỉ về điện nông trường. Gió về lồng lộng, thổi bay tà áo mưa của bác. Bác như con chim đại bàng đang vỗ cánh, bay lên... 1-8-1959 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 10:14:58 am CHỊ XÃ ĐỘI TRƯỞNG Cô nữ giao liên trẻ khoảng hai mươi tuổi, đầu đội mũ giải phóng màu xanh lá cây ngồi dựa lưng vào cột nhà hai chân duỗi thẳng trên đệm, cây CKC gác ngang quá vế, nhìn ra dòng sông ngó mông một lúc lâu rồi nhìn lại chúng tôi và tiếp tục nói. - Nếu trận vừa rồi, chị xã đội của em mà có được cây CKC thì xã em được huy chương vàng rồi! Tiếc quá! Cái thằng trực thăng đó nó bay sà qua chỗ chị xã đội, cửa nó mở toác hoác, có một thằng Mỹ ló đầu ra dòm dòm, kiếm kiếm, chị xã đội của em “đế” cho nó một loạt cạc bin. Nó liền bay niểng niểng lên rồi bắn nát ngay chỗ đó. Chị xã đội của em ức lắm. Chị ôm cây cạc bin cứ cắn răng mà chịu. Chị cằn nhằn tụi em hoài. Chị nói tụi em ham diện, CKC không chịu mang, ham mang cạc bin cho gọn, cho đẹp. Mấy anh đổi cây CKC này cho xã em thiệt nhá? Cô vừa nói vừa xòe năm ngón tay vỗ khe khẽ vào bá súng và ngước nhìn chúng tôi. Cây CKC đó là cây súng của đồng chí bảo vệ tôi. Trên đường đi, cô cứ òn ì xin đổi. Thấy xã quá cần thiết và anh bảo vệ của tôi cũng đang thích cạc bin - cạc bin vừa nhẹ, vừa gọn, tiện việc đi đường hơn, - nên tôi đồng ý cho đối. Cô mừng lắm. Về đến trạm, cô liền sai một em nhỏ chạy đi tìm chị xã đội. Anh bảo vệ tôi cũng là anh bạn trẻ, khoảng hai mươi. Sắp được cạc bin, anh thích lắm, tôi biết, nhưng anh lại làm ra vẻ không thật hài lòng, anh tìm cách chọc, ghẹo cô nữ giao liên: - Đổi thì đồng ý đổi, nhưng còn phải xem cây cạc bin tốt mới đổi. Chị có cái gì bù thêm cho tôi không? - Anh vừa nói vừa nhìn tôi, khẽ nheo một bên mắt - Cái chàng này muốn sanh chứng rồi! Tôi thầm nghĩ và cũng thấy vui. Tôi nằm im cho hai người nói chuyện. Cô giao liên đang mê cây CKC, cô không để ý đến câu nói có ngụ ý đùa giỡn của anh, cô hỏi: - Anh muốn tôi bù lại cái gì? Anh bảo vệ của tôi lại nói lập lờ: - Phải cái gì xứng đáng lắm mới được! - Một chút nữa chị xã đội của tôi tới, anh muốn bù cái gì chị xã đội của tôi sẽ giải quyết. - Thiệt không đó? - Thiệt! Hình như cô nữ giao liên muốn dùng cái thành tích của chị xã đội để thuyết phục anh bạn bảo vệ tôi. Cô lại tiếp tục kể về chị xã đội. Chị xã đội của cô chẳng những chỉ huy du kích chặn càn, bắn máy bay, chị còn lãnh đạo cả việc đi cấy, đi gặt, đi đấu tranh chính trị, chuyện gì chị xã đội trưởng cũng làm. - Chị là xã đội nhưng chị không quân sự thuần túy đâu! - Cô giao liên kết luận như vậy và tiếp tục nói. Cô kể chuyện chị xã đội với một giọng đầy tự hào. Cô đang kể, giọng thao thao thì anh bạn của tôi chợt hỏi: - Chị xã đội của cô có đẹp không? - Đẹp chớ! - Như giật mình cô giao liên ngẩng đầu, mở tròn mắt nhìn anh bạn tôi, nói một cách tự nhiên như vậy rồi lại kể tiếp: - Nếu chị không đẹp là chị chết rồi. - Đẹp dữ vậy? - Anh bạn tôi nhướn mày hỏi lại. - Đẹp thiệt! Chuyện đó như vầy, hôm đó chị dẫn gần một ngàn người kéo ra chợ quận đấu tranh chính trị, bắt buộc tụi đồn không được bắn pháo vào làng. Chị lãnh đạo, nhưng lãnh đạo bên trong thôi. Người lãnh đạo công khai là má chiến sĩ. Bà má chiến sĩ đi trước. Hễ bà làm bộ xổ tóc ra bới thì phía sau cứ tiến lên. Khi bà vừa mở tóc thì thiếu úy đồn Trương Phi Hùng nó biết. Thằng Phi Hùng móc súng lục định bắn. Nó vừa móc súng ra thì chị xã đội của tôi giỏi thật, chẳng hiểu tại sao mà chị biết tên “cúng cơm” của nó. Từ trong đám đông chị chạy tuôn ra, chị hét lên - “Xê” - Thằng đồn trưởng nghe có người gọi tên cúng cơm của mình, nó giật mình, ngó lơ láo. Chị tiến thẳng, đứng ngay trước mặt nó, nhìn thẳng vào hai con mắt nó, rồi gằn giọng nói với nó: “Anh Xê, anh không được quyền bắn!” - Cái thằng đồn trưởng đó nó giương hai con mắt ếch mà nhìn chị. Thấy chị đẹp quá, nó mất hết hồn vía. Bọn lính đứng chung quanh nó, thằng nào củng ngơ ngác. Còn thằng thiếu úy thì môi cứ tái lại - Nó hỏi lập bập: “Cô... cô ở đâu mà... biết tôi”. Chị xã đội vẫn cứ nhìn thẳng hai con mắt nó mà nói: “Anh thì còn nhớ đến ai nữa, sau này rồi anh sẽ biết!”. Chị vừa nói vừa khoát tay rồi dẫn một ngàn người lướt qua mặt nó tiến vô dinh quận. Sau này, thằng đồn trưởng đó nói với bọn lính: “Tao biết nó không quen với tao - Tao có gặp nó lần nào đâu - Tao muốn bắn, nhưng cái cổ của nó trắng quá, tao không bắn được”. - Chị xã đội đẹp dữ vậy à? - Đẹp. - Chị có chồng chưa? Nghe câu hỏi đó, cô giao liên không còn giữ được cái vẻ hồn nhiên nữa, cô đâm ngượng, cô cúi nhìn xuống, đỏ mặt, cô vừa đưa tay vuốt bá súng vừa lắc đầu, nói: - Cái đó tôi không biết! Sợ anh bạn hỏi thêm những lời quá lố, và không muốn để cô giao liên trẻ thêm ngượng, tôi tìm cách ngăn câu chuyện. Tôi nói: - Hay là cô cứ về mang cây cạc bin lại, cần gì phải có mặt chị xã đội. - Như vậy cũng được, nhưng chị xã đội của tôi muốn gặp anh. - Gặp tôi để làm gì? - Tôi lấy làm lạ và hỏi. Cô giao liên không trả lời ngay câu hỏi của tôi, cô mỉm cười và hỏi lại: - Anh về đơn vị Girông, phải không? - Phải. - Tôi có nhắn với chị xã đội của tôi, thế nào chị cũng tới, chị ấy biết anh. - Ở làng này, tôi đâu có quen với ai. Anh bạn của tôi lại nói chen vào: - Coi chừng chị xã đội lại biết cả tên cúng cơm của anh nữa đó. Cô giao liên cười và nhìn ra dòng sông. Cô bật đứng dậy, reo lên: - Chị xã đội tới kìa. Trên dòng sông, nắng chan đầy, sông dài hun hút. Theo như cô giao liên nói thì trước đây, ngày cũng như đêm, xuồng gắn máy đuôi tôm lên xuống dập dìu. Từ một năm nay, bọn Mỹ thường hay cho trực thăng bắn dọc theo sông. Ban ngày, xuồng ghe không dám đi nữa. Nhà cửa hai bên bờ rời sâu vô đồng, dòng sông vắng lặng, chỉ có những giề lục bình trôi lên, trôi xuống. Từ xa, một chiếc xuồng hai chèo đang thẳng tới. Người đứng chèo là một cô gái, mặc bộ quần áo bà ba đen. Chiếc vải dù bông choàng qua vai bay phất phới. Xuồng cập lại bến, chị xã đội kéo miếng vải dù bông quấn qua cố, mang cây cạc bin qua vai, nhìn vào nhà, cúi chào chúng tôi. Không để chị bước lên nhà, cô giao liên cầm lấy cây CKC, bảo chúng tôi cùng xuống bến. Cô giao liên nói quả không sai - Chị xã đội quả là một cô gái đẹp. Chị khoảng độ hai mươi bốn tuổi. Chị không có cái vẻ đẹp phơi phới của một cô gái dậy thì, chị đẹp một cách chín chắn và đậm đà. Dáng chị mảnh khảnh, nhưng không có vẻ gầy yếu mà tầm thước đều đặn. Mặt trái xoan mũi thắng, mắt hơi sâu, mày rậm, nước da trắng mịn, môi mỏng và đỏ như son. Vẻ đẹp của chị không phải là vẻ đẹp lộng lẫy khiến cho người chung quanh phải vồ vập, vẻ đẹp của chị sắc sảo, nghiêm trang, khiến cho mọi người chung quanh phải kính nể. Có lẽ vì thế mà anh bạn bảo vệ của tôi cứ đứng lùi ở phía sau nhìn một cách tò mò mà không nói một lời gì. Còn cô giao liên, một chân để lên mũi xuồng, vai mang cây CKC, nhìn chị xã đội rồi nhìn lại anh bảo vệ của tôi, ý như muốn nói: “Chị xã đội của tôi đấy, anh muốn nói gì thì nói đi”. Chị xã đội nhìn tôi và nói, giọng nhỏ nhẹ: - Nghe nói đồng chí đồng ý cho tôi cây CKC, tôi mừng quá! - Xã chị không có CKC sao? - Tôi hỏi cho có chuyện để nói. - Dạ có, nhưng chỉ có hai cây thôi, toàn là cạc bin, cạc bin bắn máy bay không xuể, mà dạo này tụi nó bắn phá dữ quá. Chị vừa nói vừa đưa cây cạc bin cho tôi rồi nhìn cô giao liên. - Ánh, đưa cây CKC cho chị xem. Chị cầm lấy cây CKC, xòe tay chẽ cơ bẩm, lên nòng, bóp thử. Chị nhìn cây súng, mỉm cười một mình rồi nhìn tôi với vẻ cám ơn. Cuộc trao đổi súng ống xong, chị vừa định từ giã tôi thì cô giao liên kéo xuồng lại, rỉ nhỏ vào tai chị cái gì đó, chị bỗng đỏ mặt. - Thôi, đồ quỷ! Cô giao liên liếc nhìn tôi và nói: - Chị không tin thì thôi vậy - Giấy tờ tôi cầm trong tay đây nè. - Mầy chỉ có tài phá tao. Thôi tao về đây. - Chị vừa nói vừa xô xuồng ra. Nhưng nghĩ thế nào chị lại cầm lấy chèo, quạt ngược lại cho xuồng cập vào bến và khẽ hỏi: - Có người về đó thật hả? - Người thì người thiệt chớ người giả được à? - Cô giao liên có ý trêu chọc và nói to. Chị xã đội lại tỏ ra giận dỗi, đưa tay xô xuồng, có vẻ dứt khoát hơn lần trước. Cô giao liên liền nắm lấy be xuồng kéo lại và như sợ chị xã đội bỏ đi thật, cô trở giọng thật thà và nhỏ nhẹ: - Thiệt! Có người về thiệt - Viết thư đi! - Mình viết thư rồi. - Gởi theo đường dây còn lâu mới tới, người ta đem đến tay cho mà không sướng hơn à? Tôi thấy đôi mi dài của chị xã đội hạ xuống, chị nghĩ ngợi một lúc rồi giương mắt nhìn cô giao liên rồi cười, khe khẽ lắc đầu: - Thôi! Trước sau gì người ta cũng được. - Tôi hổng biết ảnh mà biết cái thư đó tôi viết giùm chị, ảnh lóc tôi không còn một miếng xương cho coi. - Có người về thiệt hả? - Chị xã đội lại hỏi. - Không tin thì hỏi thử xem. Chị xã đội nhìn lên chúng tôi, mặt bỗng ngượng ngùng, cười mủm mỉm một mình rồi mới hỏi được: - Xin lỗi, hình như anh về đơn vị Girông? - Dạ phải, tôi về đơn vị Girông, đơn vị chủ lực của Đồng Tháp. - Xin lỗi, anh công tác ở đơn vị... - Dạ không, tôi mới được thuyên chuyển về đó và đang trên đường về. - Đó, có đúng không! Viết thư đi, viết mau lên, tôi kêu khách xuống đi ngay bây giờ. - Cô giao liên nói chen vào. Thấy chị vẫn trù trừ tôi giục thêm: - Chị viết thư đi, tôi sẽ đưa đến tận tay cho. - Dạ, anh làm ơn chờ tôi một chút - Chị vừa nói vừa giở lá ngụy trang, kéo lấy cái túi nho nhỏ bằng vải hoa màu tím, rút quyển vở học trò hiệu “Hoàng tử trong rừng xinh” kê lên gối cắm cúi viết. Trong lúc đó, cô giao liên bước lên nhà, xin vài hột cơm cho chị dán bao thư. Trên chiếc xuồng của chị, lá ngụy trang là một lớp tranh tươi được trải ra một cách đều đặn, một giàn lưới ni lông trắng được cuộn lại cẩn thận, dưới khoang có một vài con cá nhảy lách chách. Chị viết rất nhanh, những dòng chữ ấy như bị nghẹn từ lâu, nay mới được tuôn ra, loáng một cái đã tràn đầy cả trang. Chị vừa viết xong, cô giao liên liền xòe cả bàn tay đưa ra, trong lòng bàn tay có vài hột cơm. Chị xã đội đưa lá thư cho tôi vẻ ngượng ngùng: - Anh làm ơn đưa giùm tôi. Chị nói rồi bỗng cúi mặt, cười một mình, rồi lại ngẩng nhìn tôi. - Mà anh nhớ là đừng có nói gặp tôi nhé! - Nếu không gặp chị thì làm sao tôi có được lá thư này? - Tôi hỏi. - Bộ anh không biết nói dóc à? Không biết trả lồi sao và chẳng hiểu sao tôi lại phì cười. Chị nhìn tôi cố nín cười, nhưng mắt cứ lấp lánh rồi đưa mắt nhìn cô giao liên. - Anh cứ nói là cái con Ánh này nó nhờ anh chuyển giao chớ đừng nói là gặp tôi. Cô giao liên lại giãy nảy lên, lắc đầu lia lịa: - Thôi thôi thôi, bà đừng có hại tôi nữa. Bà định gây thắc mắc để người ta về hả? Bà nhớ, bà muốn người ta về thì bà cứ nói thẳng ra không được sao? - Thôi đi, đồ quỷ, tao về đây! - Chị vừa nói vừa đưa tay đẩy xuồng ra và vội vàng từ giã tôi. - Tôi về nghen anh, anh đi mạnh giỏi nhá! Cô giao liên với tay chộp lấy một nắm tranh đưa lên: - Anh nhớ giữ nắm tranh này cho anh ấy nhé! Hình như cô giao liên cũng mê cái vẻ đẹp của chị. Cô có vẻ sung sướng được chọc ghẹo chị. Còn chị xã đội thì chỉ biết phản ứng bằng một câu: “Thôi, đồ quỷ”! Nhìn bao thư tôi biết chị tên Dung, người nhận thư là anh đại đội phó Lê Văn Khương. Nhìn lên tôi thấy xuồng chị đã bung ra giữa sông, chị so lại mái chèo rồi nhìn lại tôi, dặn thêm: - Anh nhớ là đừng nói gặp tôi nhé! Nhớ nhé! Như xấu hổ với điều mình vừa nói, chị quạt mạnh mái chèo, xuồng lao đi như con thoi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 10:21:03 am Buổi chiều, sau hai ngày, tôi về đến đơn vị. Tôi nhờ đơn vị chuyển ngay lá thư. Và ngay trong đêm đó, đang nằm trong nhà, tôi nghe bên kia con sông nhỏ, có tiếng người hỏi tên tôi. Tôi đoán biết người đó là anh Lê Văn Khương. Tôi ngồi dậy nhìn ra, qua ánh trăng thượng tuần, tôi thấy một người con trai khỏe mạnh, đang quay mũi xuồng hướng qua nhà tôi. Thấy mũi xuồng chập chờn dập sóng, tôi đoán biết anh đang sốt ruột. Nước đang dâng cao, nước lé bé 1 dưới sàn nhà. Anh cho xuồng đi thẳng vào sân. Xuồng lao nhanh quá, anh không kịp rà lại, mũi xuồng đụng vào sàn nhà đánh “cốp” một tiếng. Sóng tạt lên sàn nhà rung rinh khiến anh em trong nhà phải kêu lên. Anh rối rít xin lỗi, hỏi tôi là ai, và sốt sắng mời tôi:
- Mời anh xuống xuồng chơi cho mát. Một anh trong nhà nói chen vào: - Thì anh lên nhà ngồi một chút không được sao? - Một chút nữa. Mình muốn hỏi chuyện riêng một chút mà. - Anh đáp với giọng đầy phấn khởi. Hình như anh ngồi không yên. Mũi xuồng cứ nhảy lên nhảy xuống như muốn giục tôi. Tôi vừa bước xuống thì anh cũng vừa rà mái dầm cho xuồng quay mũi ra sông. Anh vừa bơi vừa hỏi tôi mấy câu để làm quen, công tác, sức khỏe và chuyện đi đường. Trăng không sáng lắm, nên tôi thấy anh không được rõ, đoán anh khoảng độ hai mươi tám. Đặc biệt anh có một đôi mắt rất sáng, mày rậm, đầu hớt cao, mặt chữ điền. Qua cái vốn kinh nghiệm của tôi, tôi dám đoán anh là con người sôi nổi, dũng cảm và lòng đang rộn rã với một niềm vui. Anh quay lái xuồng cặp sát lại cây ô môi mà nước đã ngập đến nửa thân cây, cành lá là đà dưới mặt nước, anh buộc dây vào một cành to để chiếc xuồng lửng lơ ngoài trăng. Anh bước xuống khoang, vứt đi một cành lá ngụy trang. Đến lúc đó tôi mới để ý thấy một bình tích, hai chén chung 2 sành cỡ lớn, một phong kẹo lạc và một gói thuốc “rubi”. Anh rót nước. Thấy tôi có vẻ lớn hơn, ngại gọi tên không tiện, anh hỏi tôi thứ mấy và mời: - Anh Năm uống nước, ăn kẹo, hút thuốc anh Năm! - Rót nước xong, anh mở phong kẹo, xé bao thuốc, trông thật lăng xăng. Trong khi tôi cầm chung uống nước, anh cứ nhìn tôi với đôi mắt sáng ấy, anh nhìn tôi với mặt rạng rỡ thân thiệt như vừa gặp lại người thân. Khi tôi vừa để chung nước xuống thì anh hỏi: - Ghé qua nhà Dung, anh thấy Dung đang làm gì anh? Nhớ lại lời dặn của Dung và cũng muốn trêu anh, tôi lắc đầu: - Tôi không ghé qua nhà và cũng không gặp cô ấy. - Sao? - Khương như giật mình, hỏi cái giọng đầy kinh ngạc, vẻ rạng rỡ trên gương mặt anh liền tan biến đi, anh nhìn tôi với vẻ sững sờ. Tôi không ngờ anh có vẻ khổ sở đến như thế. Tôi hối hận, nhưng đã lỡ nói dối rồi, biết sao? Và cái tính tò mò lại kích thích tôi, tôi hỏi: - Có chuyện gì đấy anh? - Chuyện dài lắm anh ạ! - Khương nói với giọng bực dọc. Anh bưng chung uống ừng ực mấy ngụm liền, như cố nuốt cố đè lại cơn giận, nhưng cứ bứt rứt. Anh đưa tay mở túi áo, hai tay cầm lấy áo quạt “phành phạch” trên lồng ngực to lớn của mình, và cựa mình quay qua quay lại ngồi không yên. Xuồng tròng trành, những làn sóng nhỏ nối nhau lan dài ra mỗi lúc mỗi xa. - Dung là vợ chưa cưới của tôi. - Sau một lúc trù trừ nghĩ ngợi, Khương mới bắt đầu kể và mở đầu như vậy, anh tiếp: - Hai đứa tôi là người cùng làng. Làng tôi anh biết rồi đó. Làng bắt đầu từ ngã tư, nằm dài theo sông. Nhà tôi ở cuối làng, nằm sâu trong ruộng. Nhà Dung ở giữa làng. Hồi kháng chiến chín năm, ba của Dung là xã đội trưởng, hy sinh trong mùa nước năm năm mươi hai. Năm hòa bình lập lại, Dung được đi tập kết, nhưng Dung xin ở lại, vì Dung là con lớn, Dung còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Gia đình Dung cũng như hầu hết dân làng đều sống bằng nghề ruộng và cá. Trong làng, hầu như ngày nào cũng có người bị bắt, bị tù đày hoặc bị giết. Người tốt còn lại ngày càng ít, còn bọn phản bội, bọn xấu, bọn gián điệp thì nổi lên loi nhoi, lúc nhúc như dòi. Một số cô gái, một số trai làng vốn sống bằng nghề ruộng, sau một vài mùa đi buôn, đi chợ thì trở nên hư hỏng. Từ chỗ ăn chơi, đàng điếm, dần dần làm tay sai cho giặc. Người ta đâm ra nghi ngờ lẫn nhau. Trong lúc đó, Dung cũng bắt đầu đổi khác. Dung làm bánh tằm xe 3 đi bán rong. Dung bắt đầu ăn diện. Dung thường mặc chiếc áo bà ba viền “đăng ten” cổ hở, đeo dây chuyền vàng và hai tai thì lại đeo bông tòn teng. Bánh tằm nước cốt dừa của Dung chẳng có gì đặc biệt, nhưng lại đắt khách, hầu như cả làng đều ăn nhất là bọn lính trong đồn và dân ăn chơi. Một số bọn mất dạy thường hay nói với nhau “bánh tằm con Dung nó xe trên bắp vế non của nó nhờ vậy mà béo”. Bọn nó thách đố nhau, đứa nào chiếm được Dung thì sẽ được thưởng một tiệc “la ve”. Tôi không phải là bạn của Dung, nhưng nghe người ta bàn tán về cô, tôi cứ thấy mình như bị xúc phạm vậy - Tôi chẳng bao giờ ăn bánh tằm của cô. Một hôm cũng đang mùa nước nổi như thế này, Dung đâm xuồng vào sát tận nhà tôi. Vì đang bực đang giận, tôi muốn đuổi cô ta đi. Tôi nằm trên sàn, nói vọng ra, giọng rất xẵng. - Tôi không ăn bánh tằm. - Ủa! Không ăn sao mà lại gọi. Tôi gọi hồi nào đâu - Rõ ràng là cô muốn trêu chọc mình. Lâu nay, tôi nghe bọn con trai bàn tán về Dung, còn Dung thì tôi chưa thấy, chưa nghe Dung có điều gì xấu, tôi hy vọng Dung hãy còn là người tốt. Nay sự thật đã quá rõ rồi, tôi đâm nổi nóng, tôi ngồi bật dậy, nhìn thẳng vào mặt Dung, gằn từng tiếng: - Cô Dung! Cô làm cái nghề này một ngày cô lời được bao nhiêu? Cô không nghe người ta nói gì về cô hay sao? Dung nhìn tôi, mặt câng câng, cười cười chế giễu tôi, khiến tôi giận đến lộn cả ruột gan, tôi tiếp: - Cô không nhớ cái chết của bác hay sao? - Nói đến đó, tôi bỗng giật mình và đâm ra sợ cho những điều mình nói. Nếu cô ta xấu thật rồi thì sao! Tôi không nói được nữa, cứ lập bà lập bập. Trong lúc đó, Dung cúi nhìn xuống, mắt ửng đỏ, như muốn khóc. Tôi lại thấy hối hận và muốn an ủi Dung, tôi nhỏ giọng: - Thôi, tôi xin lỗi cô, tôi quá giận nên lỡ lời, cô bỏ qua cho. Dung ngước nhìn tôi, mặt buồn rầu, mắt đỏ hoe: - Sao anh lại xin lỗi. Tôi thích anh chửi tôi hơn anh Khương à. Nếu tất cả người làng đều chửi tôi như anh thì tốt biết mấy. Nói xong, Dung khoác nước rửa tay, xếp bánh tằm vào đĩa rưới qua một gáo nước cốt dừa, chan một muỗng nước mắm đưa cho tôi. Tôi không muốn ăn, còn bụng dạ đâu mà ăn. Tôi chưa kịp từ chối thì cô bảo: - Anh cho tôi gởi đĩa bánh. - Gởi cho ai? - Tôi vặn hỏi. - Gởi cho người lạ mặt trong nhà anh. Nghe cô nói tôi đâm hoảng và mất bình tĩnh. Quả là nhà tôi đang giấu một anh kháng chiến cũ. Nếu bị lộ thì cả nhà tôi phải bị hy sinh. Trời, tại sao cô này lại biết được chuyện đó. Do thám đến nhà mình chăng? Tôi cố lấy lại bình tĩnh và xẵng giọng. - Cô đừng có nói giỡn. Người lạ mặt nào ở đây? Dung liền nghiêm nét mặt, tròn mắt nhìn thẳng vào tôi, mắt Dung như bốc cháy, luồng mắt của Dung như muốn đốt cháy người tôi. Dung nói gằn từng tiếng: - Anh đem cái đĩa bánh này cho đồng chí, nhanh lên! Cái nhìn của Dung giống cái nhìn của người có uy quyền bắt người tôi phải phục tùng. Nói xong, Dung để đĩa bánh lên sàn nhà rồi xô xuồng bơi thẳng. Dù muốn dù không tôi cũng phải cho đồng chí mình hay mới được - Đồng chí ấy bây giờ là Ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Long Châu Sa, tỉnh nhà của tôi. Tôi để bánh xuống xuồng, giả đi câu, và chống băng qua ruộng, chui sâu vào một cụm đế 4 già. Đồng chí cán bộ bẻ hai cọng để làm đũa, xới xới từng cọng bánh, gắp ra một lá thư nhỏ. Xem thư xong đồng chí cán bộ liền nhờ tôi đưa qua một làng khác. Trở về, tôi nghe nói bọn biệt kích vừa ruồng qua cụm đế đó. ------------------------------------------------------------------ 1. Mấp mé. 2. Chén mắt trâu. 3. Một loại bánh tằm làm bằng bột gạo, tròn và dài như con tằm. 4. Loài sậy. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 10:28:06 am Từ đó, hầu như ngày nào tôi cũng mong Dung. Hễ nghe tiếng mái dầm “lạch bạch” của chiếc xuồng nào đó tôi cũng đều giật mình. Nhưng Dung chẳng bao giờ đến nhà tôi nữa. Chú ý nhìn những nhà mà Dung mang bánh đến, tôi đoán biết ai là người tốt, người xấu. Nhờ đó, tôi cảm thấy đỡ ngột ngạt. Hai đứa tôi thực sự quen nhau là từ đầu năm sáu mươi. Lúc ấy làng tôi đang chuẩn bị đồng khởi. Ngày nào tháng nào tôi không còn nhớ rõ nữa. Chỉ nhớ đó là mùa khô, lúa đã gặt xong. Buổi trưa, bọn chúng tôi họp trong một cụm đế già. Cuộc họp ấy có Dung. Ngoài việc trừ bọn gián điệp, bắt ác ôn, cuộc họp còn quyết định phải đánh lấy cả cái đồn đầu vàm 1 nữa. Mới nghe ai cũng hăng. Nhưng đi sâu vào kế hoạch cụ thể thì bị bế tắc. Cái đồn đó có mười hai tên lính, đầy đủ súng ống. Còn chúng tôi, cả làng chỉ có một cây súng, súng lại cũ, mười một viên đạn rỉ xanh, chẳng biết có nổ không. Càng bàn, càng thấy không lối ra. Có người đề nghị hội nghị rút cho cái quyết định ấy để chờ vào một dịp khác. Trong lúc mọi người đang bối rối thì Dung xòe cả bàn tay đưa lên xin nói.
- Cái đồn đó cứ giao cho tôi, tôi lấy được. Tất cả đều dồn mắt nhìn Dung như muốn hỏi lại. - Được! Tôi bảo lãnh! - Dung nói rõ ràng, dứt khoát như đinh đóng cột. Sau đó, Dung trình bày kế hoạch. Kế hoạch của Dung có vẻ như phiêu lưu, nhưng mọi người đều thấy có lý. Tất cả đều đồng ý nhất trí bầu Dung làm chỉ huy trưởng. Dung không khiêm tốn từ chối mà trang trọng nói: - Tôi đồng ý nhận làm chỉ huy trưởng. Ngày nào tôi cũng vô đồn bán bánh tằm cho chúng, cho cả gia đình vợ con chúng, tôi biết rõ từng đường đi nước bước của chúng. Tôi đánh được. Nhưng tôi có một nhược điểm. Làm chỉ huy phải la, phải hét cho bọn nó nghe. Nhưng khi bọn nó nghe tiếng của tôi, biết là tiếng của cô bán bánh tằm, bọn nó không sợ. Nghe Dung nói, tôi vừa thương, vừa muốn bật cười. Dung tiếp: - Tôi đề nghị có một người bọn nó ít biết, nói tiếng cho thật to, nói như hét ra lửa vậy, đồng chí đi kèm với tôi, cái gì mà tôi nói thì đồng chí ấy phải hét lên. Nghe Dung nói có lý, anh em chúng tôi nhìn nhau. Đang lúc chưa biết chọn ai thì Dung nhìn thẳng vào tôi. - Tôi đề nghị đồng chí Khương - Dung đề nghị nhưng lại nói với giọng quyết định. Hình như chẳng ai muốn làm cái nhiệm vụ máy phát đó, nên khi nghe Dung chỉ tôi, tôi chưa kịp từ chối, thì mọi người đều đưa cả hai tay đồng tình. Tôi ngượng và khổ tâm, nhưng chẳng biết làm cách nào hơn, đành phải cười cho đỡ ngượng... Hội nghị giải tán, khi mọi người tản ra về, Dung bỗng reo lên: - Trời ơi, cờ! Đẹp quá! Bọn chúng tôi hết sức ngạc nhiên, liền vạch đế nhón gót xem, chúng tôi không thấy cò đâu cả. Trong lúc bọn tôi đang ngẩn ngơ, Dung lại nhìn chúng tôi nói: - Các anh quả không thấy màu cờ thật à? À! Cờ mà Dung nói đó là màu đỏ của hoa ô môi 2. Trong ánh nắng chói chang, hoa ô môi đỏ rực như những lá cờ lớn trải trên tàn cây, nối tiếp nhau từ đầu làng đến cuối làng. Làng bỗng rực rỡ, sáng đẹp lạ lùng. Màu đỏ thắm của hoa ô môi như kích thích chúng tôi khiến chúng tôi thấy yêu tha thiết cái làng của mình. Còn Dung, Dung cứ đứng lặng nhìn về làng với vẻ mặt đầy xúc động. Hình như tôi yêu Dung bắt đầu từ đó. Rồi, đêm đánh đồn đã xảy như sau. Bộ đội mình thường hay đánh đồn vào những đêm tối trời. Còn đêm đánh đồn của chúng tôi là đêm trăng, trăng rất sáng. Nhờ cái đêm trăng ấy mà chúng tôi đánh thắng. Đúng giờ đã định, cả làng liền nổi mõ, nổi trống, cả làng cùng la hét. Đúng là một đêm kinh thiên động địa anh ạ! Theo kế hoạch của Dung, một số anh em lấy thân đu đủ sơn bằng lọ chảo vác trên vai, nện chân, đi qua đi lại xóm nhà của bọn vợ lính. Dãy nhà của bọn vợ lính nằm rải rác chung quanh đồn. Dung vào từng nhà chỉ những cây đu đủ sơn đen ấy, bảo với vợ lính, đó là “badôka”. Dung bảo vợ lính chạy vào đồn kêu chồng ra hàng. Đang khiếp vì tiếng trống mõ và tiếng gào thét của dân làng, bọn vợ lính càng hoảng hơn. Các bà ấy vừa khóc, vừa nhờ Dung bảo với chỉ huy đừng bắn rồi lần lượt kéo nhau chạy vào đồn. Trong đồn, bọn vợ lính kêu khóc như đám ma. Nhưng bọn lính vẫn chưa chịu ra. Có một thằng hét lên: - Tao không đầu hàng! Bắn đi! Nó bắn xả vào chúng tôi. Và nó dọa bọn lính của nó: - Thằng nào đầu hàng, bước ra khỏi đồn, tao bắn nát óc. Nó chửi bới bọn vợ lính, chửi hết sức thô tục. Tiếng súng trong bót lại bắn rải ra. Lúc đó, Dung đâm lo. Hai đứa tôi đứng nép trong nhà của bọn vợ lính. Dung thì thào hỏi tôi: - Găng quá! Cái thằng đó ngoan cố lắm, nó là sếp. Làm sao bây giờ anh? Tôi chẳng biết tính sao, nhưng lại vẫn cứ cương quyết: - Phải nổ 3 nó trận nữa. - Ừ, phải! Dung lại ra lịnh và tôi lại hét lên: - Anh em trong đồn, tôi biết trong đó chỉ một thằng ngoan cố thôi. Chúng tôi không vì một người mà giết hết cả gia đình anh em. Anh em hãy đầu hàng đi! Thằng sếp chửi lại: - Con c...! Giỏi thì bắn đi. Trong lúc đó, bọn vợ lính lại kêu khóc và chửi rủa lẫn nhau. Theo lịnh của Dung, tôi lại thét lên: - Badôka đâu, chuẩn bị bắn! Nếu có bắn thì chúng tôi sẽ cho nổ khí đá, rồi nói là bắn cảnh cáo. Tôi vừa hét xong, trong đồn bỗng có tiếng đàn bà hét vang lên: - Khoan! Đừng bắn. Trong ánh trăng, tôi thấy chị ta tay cầm cây súng, tay nắm lấy áo chồng kéo ra. Kéo chồng chạy ra khỏi đồn, chị kêu: - Các anh ơi! Rồi! Bắn! Bắn cho chết mẹ nó đi. Như ong vỡ tổ, vợ lính và lính chen lấn nhau đổ tuôn ra. Theo lịnh của Dung, tôi hét: - Đơn vị súng máy, tước khí giới! Nhoáng một cái, hơn ba chục anh em mang súng bập dừa từ trong các hốc cây, thét “xung phong” chạy xổ ra. Trong lúc đó, tên sếp nhảy ra, vụt chạy. Dung quên mình là chỉ huy, Dung hét lên và đuổi theo. Tôi cũng tức tốc chạy theo Dung. Hai chúng tôi cứ đuổi theo nó. Nó quay lại, bắn liền mấy phát, Dung té nhào xuống. Tôi cúi xuống, xốc Dung dậy. Dung xô tôi ra: - Làm gì vậy? - Và Dung lại đuổi theo tên sếp. Giữa tôi và Dung như có một sợi dây buộc dính giữa hai người, tôi cứ chạy theo Dung mà chẳng biết làm gì. Tên sếp bị rượt nà 4, nó trèo lên ngọn cây ổi, định trốn. Nhưng Dung đã thấy nó. Dung đứng dưới gốc cây ổi, kêu nó: - Nè! Xuống. Từ nãy giờ tao không bắn là tao muốn tha cái mạng sống của mày. Tao đếm một, hai, ba, mày không xuống thì tao bắn thiệt, không tha nữa đâu. - Đếm đi! - Dung quay lại bảo tôi. Tôi hét: - Một! Ha...a...i. Thằng sếp ngồi trên cây liền lập bập kêu lên: - Dạ... Dạ... Để em xuống! Tôi hét: - Bỏ súng xuống! Cây tiểu liên liền rơi xuống. Tôi lượm lên, kéo “rốp rốp”. Dung liền hét tôi: - Không được bắn! Đã bảo tha thì tha! Làng tôi được giải phóng, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng xã được thành lập. Qua thành tích cướp đồn của Dung, Ủy ban cử Dung làm tiểu đội trưởng du kích. Dung nói, trong lúc gay go, người chỉ huy là tôi, Dung khiêm tốn nhường nhiệm vụ ấy cho tôi, Dung xin làm công tác phụ nữ. Nghe nói, có người không tin, bảo là Dung khiêm tốn, Dung sợ tôi ngượng. Bởi vì sau trận đánh, anh em hay nói đùa, tôi là cái máy phát của Dung. Bàn đi cãi lại, cuối cùng, anh em vẫn tín nhiệm Dung. Còn tôi, tôi làm công tác thanh niên. Bước qua đầu năm sáu mươi mốt, tôi đi tòng quân. Hai năm sau, mãi đến mùa mưa sáu mươi ba, tôi mới trở về. Nhưng không phải về phép mà về với đơn vị để đánh lấy cái đồn ở đầu vàm. Đầu năm sáu mươi hai, bọn Mỹ - ngụy mở một trận càn lớn và đóng đồn lại đó. Trận đánh đó, chúng tôi đánh không được gọn. Một trái bộc phá bị lép. Bọn địch còn sống sót lần lượt dồn vào công sự, bắn trả lại dữ dội. Bọn tôi, năm lần bảy lượt xông vào đều bị đánh bật trở lại. Cây đại liên của địch bắn rất ác, đạn cứ rà sát trên mặt đất, khiến chúng tôi cứ nằm dán xuống mặt đất, không sao ngóc đầu lên được. Nếu để ổ súng đó còn sống đến sáng thì rất nguy. Ban chỉ huy chúng tôi lại tổ chức xung phong liền mấy đợt, một đợt tiến thẳng, một đợt đánh tạt sườn và một đợt đánh bọc hậu. Sau khi ổ súng đó bị tiêu diệt, dân làng vác chày vồ, vác búa xông vào san đồn. Trời cũng vừa sáng, và pháo ngoài chợ quận bắt đầu nã vào. Giữa lúc đó, trung đội tôi được lịnh đứng lại chặn địch cho đại bộ phận rút lui. Sau trận đánh, hầu như bao giờ cũng có phút hỗn độn, dù là trận đánh thắng. Rào gai, gạch đổ, xác chết, mùi thuốc súng còn nồng nặc. Trong sương sáng, trên cái nền bót đổ nát ấy, bộ đội, dân làng, già trẻ bé lớn đều có, người cáng thương, người mang trên vai hai ba cây súng, người gánh đạn, người đội, người khiêng, người qua kẻ lại như đan vào nhau và như quấn lấy nhau, kêu, nói, cười, chửi rủa ồn lên bàng đủ thứ giọng ồn ào hơn vỡ chợ. Trong lúc tiếng pháo rít qua đầu, nổ “bùng bàng”, mảnh pháo ào ào như mưa, trong lúc mọi người đang mở đường rút, trong cái phút hỗn độn ấy, tôi đang điều quân đi chặn viện thì bỗng có tiếng thét sau lưng tôi: - Anh Khư... ơ... ng! Tôi quay lại, thấy một cô em ở làng, cô tên Ánh, chưa kịp mừng tôi, cô quay lại sau kêu to: - Chị Dung ơi, anh Khương đây này. Từ xa, tôi thấy một người đưa hai tay vẹt người xung quanh, đi ngược về phía tôi. Dung! Dung đang bươn bả như lao tới, thấy tôi, Dung liền đứng sựng lại. Dung không còn đeo dây chuyền, đeo bông tòn teng nữa. Dung mặc bộ quần áo bà ba đen cũ, lưng thắt băng đạn, vai đeo súng cạc bin. Dung đẹp một cách rắn rỏi và gọn gàng. Lúc đó, Ánh nhìn tôi, nheo một con mắt, bụm miệng cười rồi quay lưng chạy vụt theo đoàn người... Nếu lúc đó không có tiếng pháo nổ, không có mảnh đạn bay qua đầu, tôi không phải điều quân chặn địch, nếu không có đàn người đang xô đẩy, chen lấn lướt qua chúng tôi, chắc chúng tôi sẽ nói với nhau nhiều lắm. Dung đứng lặng, nhìn tôi với con mắt... tôi khó nói quá, anh cứ tưởng tượng ra thì hiểu. Cái nhìn của Dung làm cho tôi thấy mình như có lỗi và tôi cũng nhìn thấy hạnh phúc của tôi trong cái nhìn ấy. - Anh em rút lui hết rồi, sao anh còn ở đây? - Sau một lúc đứng lặng, Dung chợt hỏi tôi. - Anh phải đi chặn viện bây giờ đây! - Cho em đi theo với! Dung đi hòa trong đơn vị của tôi. Sau đó, Dung chánh thức là vợ chưa cưới của tôi. Hai đứa tôi định hết mùa nước này, sau mùa gặt, sẽ làm đám cưới. Nhưng sự đời lại không được trôi chảy như ý muốn. Cách đây ba tháng, có một người đi qua làng tôi, cho tôi biết, làng tôi vừa bị máy bay Mỹ bỏ bom na pan, nhiều nhà bị cháy. Trong trận bom, có một cô gái đã xông vào một ngôi nhà cứu trẻ em, cô đó bị cháy cả mặt và hai tay. Người ấy không biết cô đó tên là gì. Tôi hết sức lo. Tôi liền gởi thư về hỏi. Hơn một tháng sau tôi nhận được thư Dung với tuồng chữ khác lạ. Dung bảo, người bị cháy mặt, cháy tay chính là Dung. Dung đang nằm bệnh viện, tay không viết được, phải nhờ cô y tá. Dung bảo, Dung không còn như trước nữa, bảo tôi hãy quên đi. Nhận được thư, tôi vừa đau khổ, vừa buồn, vừa thương, vừa giận. Tôi liền viết lại một lá thư rất dài, có đoạn hỏi, tại sao lại bảo tôi hãy quên đi. Tôi hỏi với lời lẽ tức giận và nói Dung dù có tàn tật đến thế nào, tôi cũng vẫn yêu. Tôi đinh ninh Dung bị tàn tật thật. Nói cho thật lòng, chẳng biết anh có tin tôi không? Sau khi nhận thư, tình cảm của tôi đối với Dung chẳng có gì phai nhạt mà ngược lại tôi càng thấy yêu thương Dung hơn. Tôi nghĩ, nếu Dung bị tàn phế đến mức không còn làm gì được thì sau khi đánh Mỹ xong, tôi sẽ về làm ruộng nuôi Dung đến suốt đời. Tôi đang nghĩ như vậy thì lá thư này đến. Thư hết sức ngắn, bảo là đã gởi cho tôi một lá thư dài, lá thư đã nói rất rõ. Còn thư này... Cuối cùng, tôi chẳng rõ hư thật ra sao cả. Chẳng biết có phải thật như vậy hay không? - Tôi tưởng là anh có gặp cô ấy... Nói đến đấy, Khương dừng lại, rót nước, nước tràn qua cốc mà anh vẫn không hay. Thấy anh bực dọc, khó chịu, tôi muốn nói thật ngay với anh. Nhưng tôi nghĩ, chẳng vội gì. Anh khổ tâm bao nhiêu thì một lát nữa đây, khi tôi kể lại buổi sáng gặp Dung, anh sẽ vui sướng bấy nhiêu thôi. Tôi nhìn cái vẻ băn khoăn của anh một cách thú vị. Hơi ác, tôi hỏi: - Thư không nói rõ à? Khương móc túi trên, lấy lá thư đưa cho tôi: - Thư chẳng có gì bí mật, anh đọc thử xem. Tôi cầm lá thư, đưa ra ánh trăng. Nhưng trăng không sáng lắm. Tôi phải bấm đèn pin soi vào, thư viết: “Anh, Sau khi nhận được thư anh, em rất cảm động và... em viết thư lại cho anh ngay. Thư đó dài lắm, em nói rất rõ, thư đó sẽ làm anh vui lòng hơn, nhưng chắc chưa đến. Em không bị cháy gì hết, vẫn y nguyên. Hôm được thư anh hỏi ai bị cháy, em muốn trả lời ngay để anh yên lòng. Nhưng em nghĩ, làm như vậy té ra mình quá mừng vì được thoát nạn hay sao. Trong cái quá mừng đó, có ẩn cái sợ, em nghĩ như vậy. Bởi vì, nếu hôm đó, nhà cháy gần chỗ em, em cũng chạy chữa thôi, biết đâu em cũng bị cháy. Bom đạn của Mỹ nó có chừa ai, có phải không anh? - Vì nghĩ mình cũng có thể bị cháy nên em muốn thử thách một chút. Đừng giận em. Bọn Mỹ định tát dân ra vùng nó. Làng mình bị bom đạn nhiều hơn trước. Chị Hạnh bị cháy, em thương chị ấy quá. Hôm đó, bọn nữ của em nhiều cạc bin hơn súng trường, mang cạc bin gọn hơn, đẹp hơn, nhưng bắn máy bay thì không được kết quả. Máy bay rà qua đầu, ôm cạc bin, em cứ cắn răng mà chịu, ức quá. Em vừa đổi được cây CKC. Chừng về, anh nhớ nói các anh đổi cho xã mình vài cây súng trường. Nhớ nhá! Dạo này, đánh với máy bay nhiều hơn. Em không phải nhờ người la hét nữa, em chỉ cần CKC thôi. Anh yên tâm, cả nhà đều mạnh và..” Khi nghe anh Khương kể, tôi biết Dung bày chuyện để thử thách. Tôi thoáng hơi giận chị. Bày vẽ câu chuyện thử thách ấy làm gì cho thêm rắc rối! Nhưng sau khi xem thư, nỗi giận nho nhỏ ấy của tôi bỗng tan đi. Lá thư, tâm trạng của chị khiến tôi xúc động. Tôi không dám luận bàn về tình yêu, nhưng tôi nghĩ, điều mà chị xã đội bày ra cho thêm rắc rối đó là cái chất trẻ đẹp của tình yêu mà bom đạn của giặc Mỹ không thể nào giết chết được. Đứng trong cuộc sống chiến đấu đầy bom đạn, chẳng biết lúc nào mình hy sinh, bị tàn tật, nhưng điều đó không ám ảnh được chị. Chị vẫn sống một cách bình thường, vẫn yêu, yêu một cách rắc rối và hồn nhiên như vậy đó. Và đó là sức mạnh của chị. Tôi đưa thư lại cho Khương và hỏi: - Thư rõ quá, có gì anh phải thắc mắc! - Anh lật qua bên kia xem, còn một dòng nữa. Tôi lật lá thư lại, thấy một dòng: Tái bút: Chừng anh về, biết đâu em là người bị cháy thật! Có lẽ Khương hãy còn thắc mắc là tại cái dòng tái bút này. Tôi chợt nhớ, lúc chị sắp sửa dán phong thư, chị rút ra, viết thêm một dòng. Viết xong, chị đỏ mặt, hơi ngượng và mỉm cười một mình. Tháp Mười, 11-10 -1966 ----------------------------------------------------------------- 1. Cửa sông. 2. Một loại cây to như cây me, hoa có chùm đỏ như hoa đào, có nhiều ở Nam Bộ. 3. Dọa. 4. Bị đuổi sát. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 10:55:09 am NGƯỜI ĐÀN BÀ THÁP MƯỜI Bữa cơm chiều, chị Bảy vừa buông đũa xuống thì tiếng pháo ở làng bên kia cánh đồng cũng vừa nổ. Đó là pháo của đồn Mỹ An bắn vào làng giải phóng. Tiếng pháo nổ xa. Những tiếng pháo đó chị nghe quen đến nỗi tưởng như đó là tiếng pháo chỉ có tác dụng báo giờ. Vậy là đã sáu giờ chiều rồi. Tháng sáu là tháng của mùa mưa và mùa cấy, có hôm trời rất mau tối. Bên ngoài, trời đã nhá nhem. Ngoài đường kinh, lác đác có một vài người qua, có tiếng cười, tiếng nói và tiếng gọi nhau í ới. Đứa con gái lớn của chị - con Hai, mười hai tuổi, vừa nhai cơm vừa nói: - Má đi đi! Con ăn rồi con dọn. Đã đến giờ đi cấy rồi. Nhưng chị chưa muốn đi vội. Chị muốn nhìn bữa cơm của các con. Gần ba tháng nay, bọn giặc Mỹ định tát dân làng này ra vùng quận Mỹ An, ngày nào nó cũng bắn phá, bỏ bom đêm, bom dầu, nhiều nhất là trực thăng. Làng này cũng như bao nhiêu làng khác của Tháp Mười, nhà cửa đều nằm dọc theo hai bờ kinh. Mỗi một ngôi nhà một bến nước và một bến xuồng. Hai bên kinh sau những cụm vườn là cánh đồng, cánh đồng trải dài ra đến rặng cây mờ mờ bên kia làng. Bọn trực thăng một bầy, khi ba chiếc, năm chiếc, quay cánh phành phạch bay từ đầu kinh đến cuối kinh, cứ con đường thẳng mà bắn, bắn những xuồng ghe đi lại trên kinh, bắn rải xuống nhà và bắn vào các cụm vườn. Nó vừa bắn vừa bắt loa kêu gọi, nó quay cả đĩa hát, nào nhạc mới, nhạc cổ có đủ, có khi nó quay cả những cái băng con nít khóc óe nữa. Nó làm đủ trò, nhưng chẳng ai bỏ làng đi. Để chống lại trực thăng, dân làng tạm bỏ con kinh, dời cả làng vào đồng sâu. Nhà cửa không ngay hàng thẳng lối nữa, nhà rải ra khắp cả cánh đồng. Bọn trực thăng muốn bắn thì phải bay ngoằn ngoèo như con rắn và phải đến tận từng nhà. Chị Bảy cũng dời nhà. Chị mới ba mươi sáu tuổi, nhưng con lại đông, một đàn con sáu đứa, ba trai, ba gái. Đứa lớn mười hai tuổi, đứa nhỏ hai tuổi. Chồng chị là cán bộ tỉnh, năm khi mười họa mới về qua một lần. Mọi việc nhà: nuôi con, giữ con, đều do một tay của chị. Nhà chị được hơn một mẫu đất, không trâu, không bò. Ngày mùa chị phải đi cấy đi gặt cho những gia đình khác đổi lấy công trâu. Ngoài mùa lúa, mỗi năm khi nước lên, chị làm cả nghề cá nữa: giăng câu, đặt lờ, đặt lọp. Đêm chị thức để thăm lưới, hoặc đổ lọp, đổ lờ. Ngày chị làm cá đem muối, đem phơi, rang gạo, xay thính, làm mắm. Chẳng ngày nào chị rảnh tay. Những lúc rảnh chị lo tu bô hầm hố, chị móc đất đắp hầm cho thêm chắc, rồi vét hầm. Hầm hố của chị luôn luôn được ngụy trang kỹ và chẳng bao giờ có rắn. Qua bao nhiêu trận bom rồi, nhà chị có lần bị cháy, bị đổ, nhưng hầm hố của chị vẫn vững vàng. Một đàn con của chị sáu đứa, đứa nào cũng mập mạp, cũng xinh xắn. Ai thấy cũng khen. Chị chỉ có một khuyết điểm là việc họp xóm, họp ấp chị đi rất thất thường, hoặc xin vắng mặt, hoặc đi trễ, hoặc đang họp thì xin về. - Nhà tôi con đông, tôi đi muộn. - Nhà tôi con đông, dứt đi không được! - Nhà tôi con đông, cho tôi xin về trước. Thấy chị lúc nào cũng viện lý do là con đông, có người hỏi đùa: - Lúc thì con đông, lúc thì đông con, vậy thì đẻ làm gì cho dữ vậy? Chị vui tính và cũng hay nói trây, chị nói trả lại: - Con tôi nó nằm ở trong bụng hàng đàn đây nè. Mỗi lần nhà tôi về, từ trong bụng tôi, nó “dạ” rân lên, nghe mà phát mệt! Thấy chị đông con, chồng lại đi công tác xa, bà con trong xóm ai cũng thương chị, không ai nỡ khắt khe với chị. Phần chị, như để bù lại khuyết điểm đó, mọi nghị quyết của các cuộc họp, chị đều làm tròn. Chị càng đẻ càng nở nang và ngày càng đẹp ra. Người ta tưởng chị là gái một con. Từ ngày dời nhà ra khỏi khu vườn, đã vất vả, chị càng vất vả hơn và mỗi ngày mỗi gầy đi. Trực thăng ngày nào củng bắn đôi ba đêm, bọn phản lực lại ồ đến bỏ bom trộm. Chị không dám để con ở một nhà. Ngôi nhà lớn ở bờ kinh, chị dỡ đi và cất ra thành hai cái nhỏ. Hai cái cách nhau khoảng hai tầm đất. Mỗi nhà có ba loại hầm. Một cái hầm ngay tại nhà, vách nhà là vách đất, để chống bom bỏ trộm ban đêm, một cái hầm chống trực thăng và một cái hầm chống bom của phản lực và khu trục. Hai ngôi nhà, sáu cái hầm. Một tay chị làm không xuể, chị phải nhờ bà con trong xóm mỗi người giúp cho một tay. Bà con trong xóm ai cũng phải lo đào hầm, nên không giúp được chị nhiều lắm. Bà con chỉ đào giúp, còn phần đắp đất chung quanh và nắp hầm là phần của chị. Máy bay bắn hàng ngày, việc đào hầm không thể chần chờ được. Chị huy động cả ba đứa con lớn cùng làm với chị, từ đứa thứ hai đến đứa thứ tư, chị làm cả ban đêm. Phải mất đến nửa tháng, chị mới đắp xong sáu cái hầm. Hai ngôi nhà, sáu cái hầm, sáu đứa con, chị chia ra làm hai. Ba đứa lớn ở cùng một nhà do đứa thứ hai coi sóc. Ba đứa nhỏ thì ở với chị. Đêm chị không dám ngủ say. Có thể nói chị vừa ngủ vừa lắng nghe tiếng máy bay. Hễ có tiếng máy bay là chị tốc dậy, gọi các con chạy ra hầm. Thấy chị vất vả, có lần anh Bảy muốn xin về xã công tác để cùng chị nuôi giữ con, nhưng chị không muốn. Chị nói: - Nếu mình làm nuôi được sáu đứa con như em thì cứ về, em sẽ đi thoát ly cho... Nghe chị Bảy bảo vậy, anh Bảy đành rút ý kiến. Những lúc bị bom, bị trực thăng, chị thường nghĩ, nếu có anh Bảy ở nhà, chắc chị đỡ vất vả hơn, chị đỡ lo đỡ sợ hơn. Vừa ôm đứa con nhỏ hai tuổi, chị vừa mong anh Bảy, chị tưởng như anh Bảy đang vượt qua bom đạn mà trở về với chị, với con. Trong tưởng tượng của chị, hễ có mặt anh Bảy là bọn giặc sẽ rút đi và mọi việc sẽ trở lại yên lành. Chị vừa nghĩ vừa định bụng, khi máy bay rút đi, bước ra khỏi hầm, chị sẽ viết thư gọi anh Bảy về ngay. Nhưng sau khi máy bay rút đi, đàn con chị chui ra khỏi hầm, chạy đến quấn theo chị cười nói thì những ý nghĩ ấy biến tan đi không để lại một dấu vết gì, như chị chẳng bao giờ nghĩ đến vậy. Rồi chị lại vui với con, lại bắt tay vào việc, nấu cơm, vá quần áo, đào đất tu sửa hầm hố. Từ ngày dời nhà, buổi cơm chiều chị mới cho các con ăn chung. Cơm sáng, cơm trưa, sợ trực thăng Mỹ đến bất ngờ, chị chia ra hai mâm, mỗi mâm ba đứa. Cơm xong, đứa con lớn dọn một mâm, chị dọn một mâm. Hai nhà cách nhau hai tầm 1 đất, mà sao chị vẫn thấy cứ nhớ con. Ngồi bên này một lúc chị lại sang nhà bên kia. Mấy đứa con của chị cũng vậy, đứa này đòi qua nhà kia, đứa kia đòi qua nhà nọ. Chị muốn phân tán mỏng, nhưng cuối cùng mấy thằng nhỏ cứ chạy qua chạy lại luôn và đứa nào cũng thích chạy theo chị, thích ở một nhà với chị. Hễ nhà bên này quá bốn đứa, chị lại bồng đứa nhỏ đi qua nhà bên kia, mấy đứa nhỏ lại ùa chạy theo chị, chị quay lại quát nó. Nghe chị hét, thấy chị quơ cây dọa đánh, nó liền quay trở lại. Yên yên một chút, nhìn lại chị thấy cả sáu đứa đang luẩn quẩn bên chị. Chị lại hét lên, chị vừa giận vừa tức cười vừa xót xa. Bữa cơm chiều là bữa cơm chung cho cả nhà, đã thành như một thói quen. Hình như đứa nào cũng mong đến cơm chiều, và cả chị cũng thế. Mấy thằng con trai ở nhà bên kia nghe tiếng chiên xào và nhìn khói bếp, nó đứng thập thò ở cửa, hỏi vọng qua: - Cơm dọn xong chưa má? - Má ơi, cơm chín chưa, con chạy qua nghen? - Con chạy qua trước nghen má. Cơm chiều xong chị gọi, là cả ba đứa nhà bên kia cũng vừa ào đến. Chúng chờ xong bữa cơm, nhưng chẳng đứa nào chịu ngồi ăn, mấy đứa lớn cứ bu lại hai đứa nhỏ, chúng nựng chúng hôn, chúng bồng, chúng nói đả đớt với nhau. Chơi đùa với nhau đã rồi, chúng mới chịu ăn. Buổi cơm chiều nay có canh chua, cá rô và cá trê kho khô, bọn nhỏ ăn rất ngon. Đứa chan, đứa gắp, đứa húp xì xụp. Nhìn các con ăn ngon lành, chị không muốn đi. Chị thắp một ngọn đèn nhỏ để gần mâm, đủ soi rõ mâm cơm cho các con và nhìn ngắm từng đứa. Sáu đứa mặt đứa nào cũng tròn đầy xinh xắn như của mẹ và đứa nào cũng giống đôi mắt sâu và hơi buồn của cha. Sáu đứa hao hao giống nhau, nhưng mỗi đứa có mỗi tính riêng. Con lớn tính điềm đạm, mới mười hai tuổi mà nói năng như người lớn, nó ăn từ tốn, biết nhường phần ngon cho em, thằng thứ ba mười tuổi, thằng liếng khỉ nhất nhà, thích làm giàn thun bắn chim, nó chan húp lia lịa. Đứa con gái thứ tư, tám tuổi, người mảnh nhảnh, mắt sáng, môi mỏng, miệng nói tía lia, nó gắp từng miếng cá nhỏ, ăn nhỏ nhẻ như mèo. Thằng năm, sáu tuổi, đầu nhiều ghẻ, cạo trọc tròn như bông gáo, thằng ít nói mà cộc, nó ăn chậm chạp nhưng đã gắp cá thì gắp nguyên con, đứa con gái thứ sáu, bốn tuổi, thì hiền như chị. Nó vừa mói tập cầm đũa, nó và cơm bằng đũa, nhưng ăn cá thì bốc bằng tay. Còn thằng thứ bảy hai tuổi thì nằm trên vế chị, vừa nằm vừa nhai. Thật đầm ấm! Ngoài kinh có tiếng gọi vọng vào: - Cô Bảy ơi! Đi chưa? Đó là tiếng gọi của cô Lành. - Chị Bảy quay mặt ra cửa nói với ra: - Chờ tao một chút! Vô đây chơi - Chị đưa tay đỡ lấy đầu thằng con nhỏ, vừa nựng cằm thằng con, vừa để nhẹ nó xuống đệm: - Con ở nhà, má đi cấy. Ở nhà ngủ với chị Hai nghen con. Lành, cô du kích bước vào nhà. Đó là cô gái mười tám tuổi, người mập mạp khỏe mạnh, vai mang cây CKC, khăn rằn quấn choàng qua mặt, tay cầm mọc cấy 2, lưng thắt băng đạn, bình toong và một nắm cơm gói trong ni lông xanh. Lành là cháu chồng của chị. Thấy Lành, mấy đứa nhỏ nhao lên, buông đũa chạy ùa vào người cô. Đứa nhanh chân nhất là thằng Ba, nó reo lên: - Chị Lành có súng! - Nó lao tới, hai tay ôm lấy báng súng, kéo trì xuống. - Cho em xem. Đứa thứ hai rầy em: - Ba! Mầy làm gì kéo chị dữ vậy hả? Mầy lấy súng làm gì! Thằng Ba như không nghe thấy tiếng rầy la của chị, nó cứ kéo lấy cây súng, khiến cô nữ du kích Lành phải rùn người xuống, mặt nhăn nhó: - Đau vai chị. Buông ra! Súng thiệt chớ súng cây sao mà đòi. Chị lên đạn rồi, dang ra. Những đứa nhỏ đều giạt ra, còn thằng Ba thì cứ đeo dính cây súng. Chị Bảy đang lom khom quấn dây thun túm quần để chống đỉa, quay lại nạt lớn: - Ba! - Và chị trừng mắt nhìn nó. Thằng Ba không trì níu cây súng nữa, nhưng cũng chưa chịu lui ra. Nó nhìn Lành, nhìn qua mấy đứa em, rồi nhìn mẹ và hỏi: - Sao má không lãnh súng má? Chị Bảy đưa mắt lườm con, rồi nạt lớn: - Mầy biết gì mà hỏi! Về nhà bên kia. Đi! Đi! Thằng bé không hiểu sao mẹ nó lại nổi giận, nó ngồi im và muốn khóc. Câu hỏi vô tình của con làm cho chị nhớ đến chuyện lãnh súng, chị thấy ngượng với Lành và khổ tâm. Trong tháng nay, để chống lại trực thăng, nhà nào cũng lãnh súng. Những gia đình đông người và nhiều trai tráng thì lãnh đến hai, hoặc ba cây. Cả làng, nhà nào cũng có súng. Chỉ có gia đình chị là không có. Ủy ban có hỏi chị, chị cứ phân vân. Nếu chị còn son giá thì khỏi phải nói, chị đã nhận súng ngay từ đầu rồi. Chị còn một đàn con, một đàn con nhỏ, sáu đứa. Mỗi lần nghe trực thăng bay tới, chị phải lo điều sáu đứa con vào hầm, chỉ có việc đó thôi chị cũng thấy rối lắm rồi. Điều chúng nó vào hầm xong, chị phải ngồi chung với hai đứa con nhỏ. Có chị ôm, chúng mới ngồi yên. Còn thì giờ đâu mà chiến đấu. Những đứa con của chị, lúc nào nó cũng quấn theo chân chị, chẳng lẽ chị kéo cả một đàn con đi đánh với trực thăng? Và những lúc gay go, chị cũng chẳng muốn rời con. Lãnh súng mà không chiến đấu thì lãnh làm gì? Lãnh súng cho ra vẻ và làm oai với hàng xóm chăng? Chị đã qua cái tuổi đó rồi. Nếu chị dỗ được con nằm im trong hầm rồi trườn ra bắn lại thì có khác gì chỉ điểm cho nó. Nó sẽ kéo lại từng bầy, từng lũ, nó sẽ quần, sẽ bắn, hầm hố của con chị sẽ nát tan ra thôi. Mỗi lúc nhắc đến chuyện lãnh súng là mỗi lần chị nghĩ như vậy. Ý nghĩ ấy cứ quẩn quanh trong đầu chị, dần dần như một cái bóng đen. Thôi! Thà nằm yên vậy mà hơn. Chị tự an ủi như vậy, nhưng lòng cứ bứt rứt không yên. Cái chuyện lãnh súng của chị đã thành một đề mục sôi nổi trong các cuộc họp. Cuộc họp nào cũng chia làm hai phe: Một phe muốn cho chị lãnh súng, một phe vì thấy chị con đông lại muốn miễn cho chị. Còn chị, chị cứ phân vân. Tự ý nghĩ riêng của chị, chị chưa muốn lãnh, nhưng nếu bà con nhất trí bảo chị nên lãnh thì chị sẽ không từ chối. Nhiều lần chị mong bà con bắt chị phải lãnh để chị lãnh cho rồi. Nhưng chuyện lãnh súng chiến đấu là chuyện tự giác, chẳng ai muốn ép chị. Cuối cùng chị vẫn phân vân. Chị muốn lờ cái chuyện ấy đi. Hôm nay tình cờ nghe con nhắc đến, bỗng nhiên chị nổi giận. Thằng Ba ngồi im, mấy đứa nhỏ nhìn nhau lơ láo. Quấn dây thun bó quần xong, chị lấy khăn quấn qua mặt, lấy ni lông choàng qua vai, cầm lấy mọc cấy cùng với Lành bước ra. Bước ra sân, xa ngôi nhà nhỏ ấm áp với mùi cơm mùi canh, mùi cá, cái không khí trong lành bên ngoài không mùi không vị đối với chị thật lạt lẽo, và chị thấy lạnh, thấy hối hận sao mình nổi giận với con. Chị quay lại, bước trở vào nhà, nhìn qua đàn con, rồi nhỏ giọng bảo: - Con Hai ngủ với con Sáu, thằng Bảy. Còn thằng Ba thì dẫn con Tư với thằng Năm về bên nhà. Mấy con có chơi thì chơi, nhớ đừng đốt đèn. Má đi cấy, sáng mới về. Trời đã mờ tối. Ra đến đường kinh, Lành đi trước, chị đi sau. Chị đi chậm từng bước, vừa đi vừa nhìn lại ngôi nhà, nhìn hai căn hầm nổi của con. Bỗng nhiên chị thấy không yên tâm. Chị dừng lại, muốn quay trở lại nhà, dặn dò thêm một vài điều, nhưng chẳng biết phải dặn gì thêm. Chị thở dài, rồi bước nhanh chạy theo Lành. ------------------------------------------------------------------ 1. Đơn vị đo ở nông thôn Nam Bộ, có thứ tầm 3 mét, có thứ tầm 3 mét 5. 2. Cây cọc để cấy ruộng đất cứng. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 11:03:54 am * * * Trời mờ sáng. Chiều hôm qua, cánh đồng hãy còn là một dải đất trống, nước lấp xấp, màu nước đục ngầu, sau một đêm cấy, mạ xanh um. Dù cấy đêm, không đèn, cũng không trăng, mạ vẫn ngay hàng thẳng lối. Xa xa có tiếng phản lực gầm rít. Trời hãy còn sương, nhìn kỹ lắm mới thấy được máy bay. Ba chiếc nhỏ như bàn tay đang đảo, đang quần trên một rặng cây lờ mờ bên kia cánh đồng. Rồi tiếng bom bi nổ, tiếng bom nổ hàng dây rầm rầm như tiếng trống. Nhìn về phía tiếng nổ, người ta thấy khói trắng đùn lên cuồn cuộn. Những người đi cấy lần lượt kéo nhau về. Đối với tiếng gầm rít của phản lực Mỹ và tiếng bom xa đó, họ xem đó là chuyện bình thường, ngày nào mà họ không nghe, không thấy, đã quen rồi. Người nào cũng thản nhiên, tay cầm mọc cấy, vai mang súng, họ thong thả bước trên các bờ mẫu dẫn vào các xóm. Những đứa trẻ con vừa đi vừa chọc ghẹo nhau. Những người lớn tuổi thì hỏi nhau chuyện dời nhà, chuyện hầm hố. Riêng chị Bảy, chị lại sốt ruột. Chị không sợ tiếng rít của phản lực Mỹ, cũng không sợ tiếng bom nổ xa đó, nhưng tiếng rít của phản lực và tiếng bom khiến cho chị lại lo cho các con. Một ngày đi vắng không bằng một đêm đi xa. Xa con một đêm, không ngủ với con, lòng chị cứ day dứt không yên. Vắng mẹ, không biết con nó ngủ ngon không? Đang đêm, trời tối không biết con có giựt mình thức giấc đòi mẹ và khóc không? Xa hơi ấm của mẹ, chẳng biết các con có lạnh không? Và chuyện gì xảy ra cho các con của chị trong đêm chị đi vắng? Chị nóng lòng muốn gặp lại các con, muốn biết tất cả những gì xảy ra đối với các con. Tiếng rít của phản lực Mỹ và tiếng bom như đốt cháy trong lòng chị, thôi thúc chị. Chị chen người này, người nọ, đi vượt lên. Chị muốn đi nhanh nhưng cứ vấp, cứ trượt chân. Chị muốn đi nhanh nhưng không muốn đi một mình. Chị kéo Lành cùng vượt lên. Chị và Lành vừa bước vào rặng cây trâm bầu dẫn vào khu vườn bên bờ kinh thì trời vừa đâm mây ngang, và từ xa có tiếng cánh quạt phành phạch của trực thăng. Tiếng trực thăng từ hướng Vĩnh Long bay tới. Mọi người đều biết chắc bọn trực thăng đó sẽ đến bắn làng mình. Họ liền tản ra chạy về các công sự. Số người còn nhởn nhơ ngoài đồng thì xuống các công sự, các hố cá nhân đào dài dọc theo các bờ mẫu và rải rác trên cánh đồng. Lành kéo chị xuống một cái hầm dài dọc theo hàng trâm bầu. Lành lên đạn, ôm chặt súng, đưa mắt tìm máy bay. Còn chị Bảy, chị không có súng, nhưng chị không ngồi sụp xuống, chị đứng lom khom, ngước nhìn về hai ngôi nhà của mình. Bầy trực thăng bay tới, ba chiếc, loại HU1A, loại đầu to, mình dài giống như cái gáo múc nước, người ta gọi đó là trực thăng cán gáo. Nó bắn rất dai, nó tuôn đạn xuống ò ò nghe đến hụt hơi mà chẳng chịu dứt. Như người ta thường nói nó bắn dai như trâu đái. Ba chiếc bay tới, một chiếc trên cao, hai chiếc dưới thấp, nó đập cánh rầm rầm rộ rộ, rà qua rà lại trên cánh đồng. Nó bắt đầu bắn, bắn xuống từng nhà, bắn rải xuống cánh đồng. Súng từ phía dưới đất, từ các cụm vườn, các lùm cây, các bờ mẫu và khắp nơi trên cánh đồng liền bắn trả lại. Tiếng súng của dân làng nổ đều và giòn như muối rang. Trời đã sáng rõ. Người ta không nhìn thấy đường đạn, nhưng biết chắc đường đạn đang vây lấy trực thăng. Nó bay đến đâu, súng nổ dài theo đến đó, súng nổ từng tiếng đều và chắc. Bị lưới lửa của dân làng vây chặt, bọn trực thăng vừa bắn trả lại vừa bay niểng niểng lên cao và cố bay vượt ra tầm đạn. Sáng nay, những người đi cấy chưa kịp vượt ra khỏi cánh đồng, người và súng không chia đều ra cả làng. Vượt qua khỏi tầm đạn tập trung, đến những chỗ súng nổ thưa thớt, bọn trực thăng liền sà xuống bắn dữ dội. Chị Bảy thấy ba chiếc trực thăng đang quần bắn vùng cây gáo, xóm nhà của chị. Ba chiếc nó thay phiên nhau rà sát và mỗi lúc một siết chặt. Nghĩ đến con, lòng chị nóng như lửa cháy mà mặt chị thì tái lại. Môi chị tím bầm, hai tay chị nắm chặt và run lên. Chẳng biết cách nào, chị hét lên: - Lành, bắn nó! Lành lên đạn, bắn liền hai phát, nhưng xa quá. Bọn trực thăng vẫn quần đảo, bắn vào xóm chị như chỗ không người. Chị quay qua, quay lại, nhìn ra xung quanh, đưa hai tay lên và gào hét: - Bắn nó! Bắn nó, bà con ơi! Chị cầm mọc cấy đánh phập xuống bờ công sự và nức nở: - Trời! Chết hết con tôi rồi! - Chị như mất hết bình tĩnh, chị lột khăn ném đi, đưa tay vò đầu bứt tóc, rồi bất thình lình chị quay lại Lành, giật lấy cây súng, nhảy lên công sự, vụt chạy về nhà. Chị không chạy len lỏi qua các hàng cây như những người khác, chị chạy băng qua giữa đồng, chạy tét cả nước. Chị vừa chạy vừa bắn, chị bắn không cần ngắm súng, chị cứ hướng về phía trực thăng mà nổ. Bắn một phát chị lại hét lên: - Bắn nó! Bắn nó! Bà con ơi! Chị vừa hét, vừa chạy băng thẳng về. Nghe tiếng kêu cứu của chị, và thấy chị đâm liều như vậy, dân làng không thể bỏ chị. Dân làng: nam, nữ, rồi tất cả lần lượt rời công sự, mỗi người một đường ồ ạt xông tới, chạy thẳng đến xóm nhà của chị. Và súng lại nổ lên rầm rộ. Bọn trực thăng Mỹ bị tấn công bất ngờ, nó liền dựng lên và bay thẳng. Đang đà tấn công, dân làng đuổi theo. Tiếng thét xung phong vang dậy cả khu vườn. Chị Bảy như bị dòng người cuốn trôi và như quên cả đàn con, chị cũng cầm súng đuổi theo trực thăng. Khi bọn trực thăng bay xa, cái tiếng quạt “phành phạch” tắt hẳn, bầu trời trở lại yên lành, và khi mọi người lần lượt trở về, chị mới sực nhớ đến các con. Chị lại sốt ruột, lại nóng lòng. Chị quên trả cây súng cho Lành, chị mang cả súng băng qua đồng chạy về. Vừa bước lên con đường nhỏ dẫn đến sân giữa hai ngôi nhà, chị đã lên tiếng kêu: - Con Hai, thằng Ba, con Tư, thằng Năm, con Sáu, thằng Bảy. Mấy con đâu? Mấy con đâu? Sáu đứa nhỏ trong hai căn hầm lên tiếng và chạy ùa ra. Con Hai bồng thằng Bảy chạy ra trước. Chị vừa bước đến sân thì sáu đứa con cũng chạy ập đến. Chị đưa tay bồng thằng nhỏ. Còn những đứa khác, đứa ôm chân, đứa ôm tay, đứa nắm vạt áo mẹ. Và đứa nào cũng muốn nói với mẹ. Đàn con quay theo chị rối rít như chim. Chị một tay bồng thằng con nhỏ, một tay chị dang ra muốn ôm tất cả các con vào lòng mình. Nhìn các con, chẳng hiểu sao nước mắt chị cứ tuôn xuống. Thằng Ba, thằng liếng khỉ nhất nhà, nó không biết mẹ nó đang xúc động, thấy cây súng đeo trên vai mẹ, nó nhảy tưng tưng và reo lên: - A! A! Cây súng của má! Cây súng của má hả má? Nó không ôm mẹ như những đứa khác, nó ôm chầm lấy cây súng và kéo xuống. Ngay trong ngày hôm đó, chị nhờ Lành đào giúp cho chị một công sự nữa. Công sự cách xa mấy căn hầm của các con khoảng năm tầm đất. Công sự nằm lẫn trong cụm đế già. Đó là công sự riêng của chị. “Thời bây giờ đánh với Mỹ người mẹ muốn nuôi con cũng phải có súng!”. Chị nghĩ như vậy. Từ đó, cũng như bao nhiêu người khác trong làng, chị chẳng bao giờ rời tay súng. Và mỗi lần nghe tiếng máy bay, sau khi điều các con vào hầm, chị mang súng chạy ra công sự của mình lên đạn và chờ nó đến. Tháp Mười, 16-12-1966. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Chín, 2024, 11:16:45 am VỢ CHỒNG ÔNG GIÀ SA THÉT Đêm trong sóc 1 Ô Lâm, dưới chân núi Cô Tô, tiếng trống skôkia nôi phập phình. Trên một cái sân rộng giữa sóc, một số con trai con gái sóc đốt đuốc, vui chơi với bọn sĩ quan bọn lính ngụy. Con trai vỗ trống, con gái mời bọn sĩ quan uống rượu xaxô 2 và cùng với bọn chúng múa lâm thôn 3. Trận càn nào cũng vậy, đêm bọn địch cũng đều đóng trong sóc, và để lương thực trong nhà dân. Ở lẫn trong dân, chúng không sợ du kích. Đêm, chúng uống rượu và đi phá con gái. Trong gian nhà sàn rộng của ông Sa Thét, khi nghe tiếng trống skôkia giục giã, bọn sĩ quan nôn đến mức không kịp bước xuống thang. Bọn nó từ trên sàn nhảy xuống, kêu réo nhau chạy ra bãi chơi. Khi bọn chúng đi rồi, ông già Sa Thét cầm con cúi rơm bước tới cầu thang thì bà Sa Thét thút thít khóc. Tiếng khóc của bà Sa Thét khiến ông dừng lại. Bà Sa Thét thấy chồng khựng lại, bà cố ém tiếng khóc. Bà sợ chồng nổi giận. Ông già Sa Thét vốn tính nóng nảy. Khi ông nổi giận, cả xóm, cả sóc đều nghe tiếng thét của ông, và sau cơn giận, ông thường bỏ nhà đi. Đó là những chuyện xảy ra lúc vợ chồng hãy còn trẻ. Lâu nay, bà chẳng bao giờ làm trái ý chồng. Thấy chồng quay lại, bà vội thổi ngọn đèn, không cho chồng thấy nước mắt của mình. Bà vừa nấc vừa nói giọng run run: - Tôi có khóc đâu! Ông cứ đốt đi! Ông già Sa Thét không nổi giận, nhìn vợ rồi lặng lẽ trong bóng tối, ông xót xa, ông lẩm bẩm nói, không phải nói với vợ, mà nói với mình: “Cái thằng giặc, mày ác quá”. Nó lấy cái sàn nhà ông làm nơi chứa gạo, hàng trăm bao. Những lần trước, đêm đêm, ông kêu con trai con gái đến lấy gạo của nó đưa đi. Lần này, trận đánh trên đồn đã kéo dài bảy ngày bảy đêm rồi. Ngày nào trực thăng của chúng cũng kéo thành dây đến chở xác, nhưng bọn giặc vẫn chưa rút. Ông thấy quân lính của nó cứ dồn tới, tốp này đi, tốp khác lại đến. Và gạo, mất một bao, nó đưa đến hai bao. Ông đoán biết chúng sẽ đánh lâu. Ông thấy cần phải đốt kho gạo của nó. Cái kho gạo lớn lại nằm ngay trong sàn nhà của ông. Nếu phải đi đầu trong các cuộc biểu tình hoặc cầm lựu đạn cùng với đội du kích để đánh giặc, chẳng bao giờ ông bàn bạc với vợ. Nhưng lần này, ông phải đốt cả cái ngôi nhà của mình. Chiều nay, nhìn trước nhìn sau không thấy ai, ông bảo với vợ: - Này đây 4 phải bắt nó đói! Phải đốt gạo nó! Đốt luôn cái nhà thôi! Ông vừa nói vừa xòe tay chém xuống theo từng tiếng nói. Bà Sa Thét nhìn vẻ mặt gân guốc của chồng đang sắc đanh lại bà không dám cãi, bà chỉ nói: - Cho tôi mang đồ đi. - Không được, nó biết! Ông già Sa Thét lắc đầu và vẫn nói nhát gừng như vậy. Bà Sa Thét biết ý chồng và vốn quen chịu đựng, bà lặng lẽ gật đầu và thì thầm: - Cho nó đói, phải thôi... - Bà nghĩ như vậy, nhưng đến khi ngôi nhà sắp cháy thì bà không dằn được tiếng khóc. Ông già Sa Thét thương vợ và khổ tâm. Ông ngồi xuống cạnh bên vợ, ngồi lặng lẽ rồi rì rầm kể. Ông kể lại những ngôi nhà cũ, ngôi nhà bị giặc Pháp đốt cháy, ngôi nhà bị bom Mỹ đánh sập. Ông kể lại cảnh sống trong ấp chiến lược, ông kể lại chuyện thằng Prô con ông. Trong giọng nói rì rầm buồn bã của chồng, hình ảnh của Prô như hiện lên trong đêm sương và đang từ xa đến với bà như một lần nó từ ngoài bót trỏ về. Bà hãy còn nhớ, đêm ấy, sương từ núi tràn xuống, sương mịt mù, nó đi trên con đường nhỏ lầy lội, nó đi lặng lẽ... Thằng Prô! Người nó dong dỏng cao như cha, có mái tóc quăn của mẹ, có đôi mắt sâu của cha, có cái mũi dọc dừa của mẹ. Nó là đứa con trai duy nhất của bà. Trong những ngày ở ấp chiến lược, đêm nào nó cũng bị bắt đi tuần, đi gác. Rồi, một đêm nó không về nữa. Người ta xì xào nói với nhau: “Thằng Prô con của ông già Sa Thét đi lính cho Mỹ rồi”. Ông già Sa Thét giận tím cả người. Ông chạy ra bót kêu nó. Nó đứng lên chòi gác, súng lăm lăm, nó lắc đầu. Ông già Sa Thét giận điên lên. Ông quay trở về, lúc ấy bà đang ngồi giọt gạo 5. Bà chưa kịp hỏi, ông già Sa Thét bỗng chồm tới, chụp lấy cái chày ném đi, lấy chân hất ngã cái cối gạo. Gạo lẫn thóc vãi ra. Bà ngồi chết điếng. Ông trừng mắt nhìn bà, cái nhìn như muốn đốt cháy bà thành tro bụi. Và ông rít trong hai hàm răng. - Đây! Thằng Prô con của ai? Nó có phải là con của tôi không? Trời! Câu hỏi như một nhát dao đâm thẳng vào trái tim của bà. Bà rùng mình, và đau đến nỗi không khóc, không kêu lên được nữa. Bà rũ đầu xuống cối gạo, ngất đi một hồi lâu, rồi mới thổn thức. Sau đó, bà đi ra bót, gọi Prô. Tối hôm ấy, Prô trở về. Trong nhà treo một cây đèn chai, ánh sáng mờ xanh. Thấy thằng con mặc đồ lính bước vào nhà, ông già Sa Thét ngồi im, người hơi ngả về phía trước. Prô rụt rè ngồi lên giường. Bà tưởng chồng sẽ hét lên, sẽ chồm tới thằng con. Nhưng ông vẫn ngồi im, nhìn thằng con với đôi mắt nghiêm khắc lạnh lùng. Không khí im lặng căng thẳng, bà thấy nặng cả ngực. Bà nhìn con nói với giọng thì thầm: - Prô! Con nói với àpúc 6 đi. Prô cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi lâu, rồi mới ngước nhìn cha: - Àpúc ạ! Nó có súng, nó bắt con, con đánh nó, nó bắn con, con chạy, nó bắn theo. Con giận nó lắm. Con cầm súng nó, rồi con bắn lại nó. Ông già chớp mắt một cái, hỏi lại: - Có thiệt như vậy không Prô? Prô lại nhìn cha, cái nhìn bén và sắc. Ông già biết thằng con đang giận, ông xuống giọng hỏi lại: - Có ai bảo mày không? - Con có nói với cán bộ, cán bộ vô núi hỏi, cán bộ bảo được, cán bộ bảo phải bắn thằng “Amerike” 7. - Cán bộ bảo à? Sao mày không nói với tao? - Cán bộ bảo đừng nói với ai. Cơn giận trong người ông nguôi đi, nhưng lòng tự ái của ông lại bị tổn thương, ông hỏi gằn từng tiếng: - Sao mày nói với mađây 8, còn tao mày không nói? - Àpúc giận, àpúc chửi, àpúc đánh, con chịu được. Mađây buồn con không chịu được đâu! Tình yêu mẹ trong giọng nói của Prô tràn ngập tâm hồn ông. Ông ngồi lặng, và ngước nhìn ra đêm tối. - Đây! - Ông lấy chai rượu rót ra ba chén, một chén cho Prô, một chén cho bà Sa Thét: - Đây uống đi! Đừng buồn nữa, Prô, uống đi, rồi về bót mau đi cho nó tin. Bà nhìn Prô bước ra đường. Đêm nhiều sương quá. Bà nhìn con không được lâu. Bà cầm cây đèn chai chạy theo, bà đưa con đến cửa bót. Ôi! Mỗi lần nhớ lại, bà đâu có ngờ đó là đêm cuối cùng của hai mẹ con. Đến cửa bót, Prô đứng lại nhìn mẹ: - Mađây đừng khóc - Prô lập bập rồi vụt chạy vào bót. Bà cứ đứng nhìn theo rồi vội vã trở về. Bà phải khóc thôi, không khóc được với con, bà khóc trên lồng ngực ấm áp của chồng. Sau đó, Prô chuyển qua bót Pan Trạo. Một đêm cuối năm 1964, Prô mở cửa cho bộ đội chiếm lấy bót gác phía sau đồn. Từ đó, bộ đội tiến vào đồn chính. Sau khi diệt đồn, trên đường về căn cứ, Prô bị hy sinh vì một trái pháo của đồn Tri Tôn. Tiếng pháo như đang nổ vang trong tâm trí bà, tim bà nhói lên, và bà như tỉnh ra. - Tà 9 ơi! - Giọng bà buồn rầu và nhỏ nhẹ - Tôi biết rồi. Tà đốt đi. Bà từ từ đứng dậy. Ông già Sa Thét bước vào buồng ngủ quơ lấy một bộ quần áo, nắm lấy tay áo của vợ: - Đây! Đây! Bận thêm đi. Tôi không cần. Bà Sa Thét vội vã mặc thêm bộ quần áo rồi vội vã bước ra cầu thang. - Đừng để nó biết! Đốt mau đi! Xuống cầu thang, bà vụt chạy ra chỗ có tiếng trống skôkia. Ông già Sa Thét đứng lặng, nhìn theo vợ cho đến khuất, rồi ngước lên nhìn trần nhà và lẩm bẩm trong hai hàm răng: - Thằng Mỹ! Mày ác quá! * * * Bãi chơi chỉ còn vài tiếng trống thưa thớt. Giữa sân, người múa chỉ còn có một đôi. Các tay trống ngơi nghỉ, nhưng trống vẫn đeo trước ngực, họ ngồi dụm lại cười nói và cùng uống rượu nhẹ. Còn cô gái vừa rót rượu vừa mời bọn sĩ quan vừa đưa mắt tìm ông già Sa Thét. Ông già Sa Thét, hông đeo một bầu rượu, bước ngả, bước nghiêng, đúng là một ông già say. Khi ông bước ra sân, tất cả các thứ trống đều nổi lên: “Phập phầm phình, phập phầm phình, phập phầm phình...”. Tiếng trống chen nhau, mỗi lúc một dồn dập, như cuốn như trào lên. Những anh con trai lực lưỡng vừa vỗ trống vừa nghiêng ngả, vừa đánh lưỡi ré lên. Rồi tất cả cùng vỗ tay, với tất cả các thứ giọng trầm, cao, già trẻ đều cất lên: “- Sarikakeo ơi, si ầy coong coong” ầy “sarâydăng”. 10 “- Sarikakeo ơi, si ầy coong coong” ầy “sarâydăng.” “- Si phờ le đom boong brồ chét khơnia lên sarâydăng.” “- Si phờ le đom boong brồ chét khơnia lên sarâydăng.” Các cô con gái bước ra sân, uốn tay mời chào. Bọn sĩ quan dang tay như những con gà trống lượn theo. Một đôi, hai đôi, ba đôi, rồi năm đôi, bảy đôi, mười đôi. Ông già Sa Thét, ông già rồi, lại say, không ai múa với ông. Ông, một mình ông, ông cũng múa. Hễ có một tên sĩ quan lượn sát vào cô gái nào thì ông lượn chen và chẻ họ ra. Tiếng trống lại rộ to lên. Người đứng xem vỗ tay to hơn, cười và hét cũng lớn hơn. - “Dơ... Ré... ré... phập phầm phình, phập phầm phình, phập phầm phình...”. Bọn sĩ quan ngụy người Khơme lâu lắm rồi, chúng không hưởng được một đêm vui như thế này. Người Khơme nào cũng vậy khi nghe tiếng trống skôkia thì không thể nào ngồi yên. Tiếng trống như kêu như giục. Bọn nó, tay xòe ra, vừa chờn vờn theo cô gái, vừa ré, vừa hét. Còn các cô gái tay đưa lên trước ngực như giữ lấy lồng ngực mình, hai cánh tay mềm dịu và như dài ra, hai bàn tay vo tròn, như đang cầm một cái quả, đảo lên đảo xuống, chờn vờn như một ngọn lửa đang cháy. Bọn sĩ quan và bọn lính ngụy người Kinh không biết nhảy, không biết múa, nhưng tay của chúng nó bỗng thấy ngứa, chúng nó nhịp chân, chúng nó lắc vai. Tiếng trống và hơi men như xô đẩy chúng nó, chúng nó cũng hét lên: “Dơri! Ré! Dơ!” Và nó kéo nhau vô sân, chen vào đám múa, đứng trước các cô gái, nhảy loi choi. Bên ngoài, người xem lại cười la to hơn, vỗ tay to hơn và tiếng trống lại dồn dập thúc giục hơn. Người trong sân múa, cuốn lấy như một dòng nước xoáy, họ đang nhảy múa, la hét một cách cuồng nhiệt, thì bất thần một tiếng nổ, rồi một tiếng nổ, liên tiếp những tiếng nổ. Người ta thét lên: - Du kích! Tất cả tiếng trống đều tắt. Người ta chạy túa ra. Nhà ông già Sa Thét cháy. Ngọn lửa ấy không thể nào dập tắt được. Ngọn lửa cuồn cuộn, bùng lan ra mỗi lúc một to, từng cuộn rừng rực cuốn theo, ngọn lửa như muốn với lên cao hơn. Tân Châu, tháng 6-1967 ----------------------------------------------------------------- 1. Thôn, làng (tiếng Khơme). 2. Loại rượu của người Khơme. 3. Một điệu múa phổ biến của người Khơme. 4. Mẹ nó (tiếng gọi vợ). 5. Giã gạo kiểu thô sơ bằng chiếc chày như người ta giã cua, giã giò. 6. Cha. 7. Mỹ. 8. Mẹ. 9. Ông (tiếng gọi chồng). 10. - Con chim sáo ơi, mày ăn cái gì đó? - Sáo ăn trái nhãn lồng, sáo hãy cùng tao vui chơi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2024, 04:40:57 pm BÔNG CẨM THẠCH Khác với những cô gái trong đội giao liên thành phố, Mì đã hai mươi tuổi nhưng hãy còn thích đeo bông tai và lại đeo bông cẩm thạch. Người con gái muốn đeo bông cẩm thạch cho đẹp thì gương mặt phải đầy đặn và tóc phải bới gọn gàng. Còn gương mặt của cô là gương mặt thỏn. Mắt cô tròn và sâu, miệng nhỏ với đôi môi mỏng, mũi thẳng, người cô dong dải và tóc hãy còn kẹp. Mặt cẩm thạch hai bên dái tai của cô tròn nhỏ thôi, nhưng cứ thấy cộm lên và cái màu xanh của viên cẩm thạch không hợp với màu da bánh mật của cô. Đang ở cái tuổi ăn diện, chẳng ai nói, nhưng có người chê cô không biết làm đẹp. Chẳng khác nào một số người có hai hàm răng đều như bắp - đã đẹp rồi mà vẫn chưa chịu lại bịt thêm một chiếc răng vàng cho xấu đi mà tưởng là thêm duyên thêm dáng. Nhưng cũng nhờ cái đôi bông cẩm thạch ấy mà anh em trong đơn vị và một số nhà báo không lầm lẫn cô với những cô gái khác. Trong trận đánh ở Vườn Lài hồi đầu xuân, Mì đạt được danh hiệu dũng sĩ. Khi một cánh quân địch dùng hơi độc chồm lên đánh vào góc phố cạnh bên cô, nghe tiếng súng của một chiến sĩ đang nổ giòn rồi bỗng tắt, cô đoán biết. Cô lấy khăn tẩm nước, bịt qua mũi, lao vào hơi độc, cầm lấy AK của đồng chí đã hy sinh, quét chết bảy tên, rồi dùng pháo dù đánh tan một đợt phản kích của mười hai tên thủy quân lục chiến - Sau đó, cô nương theo đám khói của ngôi nhà bị pháo bắn cháy, vượt qua tường dưới tầm súng của giặc. Không may, đám khói tan mỏng quá nhanh, cô bị thương vì một trái đạn M79 của địch từ trên lầu cao bắn xuống. Ban chỉ huy cho trở lại tuyến sau để về hậu phương, nhưng cô không muốn. - Em bị thương phần mềm thôi. Không ai biết đường rành bằng em đâu, em đưa đơn vị đến tận nơi rồi em trở lại cũng không muốn. Ba miểng đạn làm nát bắp vế cô, máu ướt đỏ cả băng, nhưng cô nói với giọng bình tĩnh, hai con mắt cô mở to: - Các anh có thấy không, nếu nó chạm đến xương, dù cho em có nghiến răng thì nước mắt của em cũng chảy thôi. - Đôi mắt của cô cứ mở tròn cho mọi người nhìn thấy, đôi mắt đen màu hột nhãn như có một ngọn lửa đang cháy. Miểng đạn không chạm đến xương, nhưng Mì không thể đi nổi - Anh em phải khiêng Mì trên chiếc võng. Mì ngồi đong đưa trên võng, đưa tay chỉ đường cho đơn vị tiến quân... Rồi, sự đời kể cũng lạ, sau đó, khi tiếp xúc với cô, hai cái mặt cẩm thạch hai bên tai cô không còn cộm lên trong con mắt của người ta nữa. Và trong con mắt của một số người, đôi bông cẩm thạch bỗng trở thành món trang sức rất hợp với gương mặt của cô. Nhờ có đôi bông cẩm thạch mà cô có một vẻ đẹp giản dị và vì giản dị nên cô mới đeo bông cẩm thạch. Rồi có người gọi cô là “Cẩm thạch” với giọng trìu mến. Chừng như cái tên mới đẹp hơn cái tên cũ, nhiều người như quên mất cái tên cũ của cô. Khi đôi bông cẩm thạch đã biến thành tên thì cô không đeo đôi bông ấy nữa. Thật ra, cô đeo bông cẩm thạch hay đeo bông tòn ten hay bông hột đá, hột “xaphia” hay không đeo bông, điều đó chẳng phải là điều ghê gớm đáng cho mọi người phải chú ý. Cô không đeo bông, người ta cũng không thấy trên gương mặt của cô bị thiếu hay bị mất một cái gì. Nhưng với cô thì lại khác. Cô đeo đôi bông ấy chẳng phải vì muốn làm đẹp mà không biết cách, hay vì muốn tỏ ra giản dị mà đeo đôi bông theo kiểu xưa và rẻ tiền ấy, hay vì đến lúc đã thấy không nên chưng diện gì thì đẹp hơn nên cô mới cất đi. Đôi bông ấy đối với cô không phải là món trang sức, đó là kỷ niệm sâu sắc và đau đớn của cô - Ngoài cô, không ai hiểu được. Cô định đeo đôi bông cẩm thạch ấy cho đến suốt đời, và “sống để bụng, chết mang theo”. Mì nằm bệnh viện không quá hai tháng. Đang ở cái tuổi “ăn ngon ngủ kỹ”, được bệnh viện chăm sóc nuôi nấng, sức khỏe của cô được phục hồi rất nhanh. Cô đi lại bình thường và nước da lại đỏ hồng - Cô trở về kịp lúc đơn vị đang tiến quân. Đoán biết, lần này mình có thể gặp lại mẹ, nỗi đau đớn lại giày vò cô. Có đêm hành quân đến suốt sáng, lội qua bao nhiêu cánh đồng, người mỏi mệt đến rã rồi, ai cũng đói ngủ, vừa ngả lưng xuống đã ngủ mê man. Còn cô, cô cô nhắm nghiền hai mắt lại, nhưng cứ trăn trở. Rõ ràng là nỗi đau đớn này đã tàn phá thể xác của cô hơn cả vết thương - Người cô gầy rộc đi, trông cô có vẻ khắc khổ và nghiêm nghị hơn. Rồi trong một đêm nhìn thấy những ngọn đèn của đường phố Sài Gòn, không chịu nổi nữa, Mì đã đánh thức Liển - một cô bạn cùng tuổi và đã từng sống chết với mình. Hai cô dẫn nhau ra cây rơm, lấy rơm trải ra, nằm dưới ánh pháo sáng của chiếc “đakôta” vừa buông xuông. Liển - một cô gái vốn đơn giản và vô tâm, cô nằm im, nhìn những pháo sáng đang bị gió thổi giạt đi, và thỉnh thoảng đưa cùi chỏ thúc vào hông bạn. - Làm gì mà thở hoài như vậy. Nhớ ai nói tao nghe coi. Mì cứ nằm lăn trở như vật vã rồi bật dậy, nghiêng tai tháo đôi bông cẩm thạch gởi cho bạn và kể lại. Đây chính là món quà của cha cô đã tặng cho mẹ cô trong ngày cưới. Cha cô không còn nữa. Cũng như một số người kháng chiến cũ ở làng, cha cô bị giặc bắt hồi năm 1956. Năm ấy, cô mới vừa tám tuổi. Lúc ấy, cô không hiểu sao bọn giặc lại không giết cha như những đồng chí khác. Đối với cha cô, chúng ác độc hơn. Bọn nó giết cha cô trong một đêm tối, nó cấm cả làng không ai được lấy xác. Nó neo cái xác dưới nước cho đến lúc nổi lên, rồi lấy một tàu dừa cắm vào xác làm buồm kéo ra giữa sông, cho cái xác trôi lên, trôi xuống. Trong một đêm, người làng bơi xuồng ra sông vớt xác bị tàu của chúng đuổi bắn, phải trở về. Suốt mấy ngày liền, ngày nào cô cũng ra bến nhìn theo cái tàu dừa quật quờ trên giữa dòng sông. Cho đến ngày cái xác của cha cô rã ra, mẹ cô và người làng mới vớt lấy cái tàu dừa đã khô héo đem về, chôn cất cái tàu dừa và đắp lên thành ngôi mộ. Dạo ấy, những hàng gòn trong làng đã đến mùa bông - Trái gòn khô nhăn nhúm và đến ngày nứt vỡ. Những đốm bông trắng lờ lờ bay lừng lững khắp cả làng... Rồi một đêm sau đó không bao lâu, cô chợt thấy hai bên tai của mẹ mất đôi bông cẩm thạch, cô hỏi: - Má ơi! Đôi bông của má đâu, má bán rồi sao? - Đôi bông đó là quà cưới của cha con tặng cho má. Cha con chết rồi má đeo đôi bông đó để cho ai? Có nghèo đến phải cạp đất ăn má cũng không bán đâu. Mẹ cô ngồi trên chiếc võng bố 1 đưa em, còn cô trải đệm dưới đất nằm nghe mẹ kể chuyện. Cha cô nghèo, không đủ tiền sắm sửa vòng vàng như người khác. Cha cô nhờ người thợ bạc già ở xóm chọn cho món trang sức vừa đủ với số tiền dành dụm được trong mùa gặt mướn. Người thợ bạc già - cái kính viễn thị lúc nào cũng để trên sống mũi ấy, mở ra tất cả các hộp nho nhỏ bọc bằng nỉ đỏ, rồi cầm lấy một chiếc bông cẩm thạch đưa lên: “Gương mặt phúc hậu của cô ấy đeo đôi bông này hợp lắm mà lại có ý nghĩa nữa. Nếu có tiền thì cũng không nên mua bông hột xoàn làm gì, chẳng qua là khoe của, không có ý nghĩa gì. Còn đôi bông này giống như cái bông cúc vừa mới hé nở. Cái gì mà nó vừa mói hé nở thì nó đẹp hơn là nở rồi. Đeo cái bông này thì dù cho đến già, cái tình đời nó cũng cứ đẹp như lúc còn son trẻ vậy”. Thật ra thì cái hình dáng của chiếc bông cẩm thạch chẳng giống một thứ hoa nào mới nở, cha cô biết nhưng vẫn nghe và tin người thợ già. Từ cái kỷ niệm của đôi bông dẫn đến những kỷ niệm khác của người cha. Một hôm giặc bố, tàu chiến của giặc neo giữa dòng sông Cửu Long, bắn pháo vào làng. Tàu nhỏ chở quân chạy vào các con rạch. Hai mũi quân từ quận đánh thẳng theo đường lộ đá xuyên qua làng. Mì mới lọt lòng được mấy ngày, mẹ còn yếu. Dạo ấy nhằm tháng bảy. Nước vừa tràn đồng, nước lấp xấp, xuồng không đi được. Giữa cánh đồng, cha cô ngồi bó chân dưới nước, dụm hai cái đầu gối cho mẹ cô ngồi từ khuya cho đến tối. Nghe mẹ kể, Mì như thấy cái cảnh ấy đang diễn ra trước mắt mình. Mì thấy mình là một đứa nhỏ trên cánh tay của mẹ, mẹ đang ngồi trên hai đầu gối của cha và người của cha mỗi lúc mỗi lún sâu xuống bùn lầy, chung quanh là cánh đồng nước trải ra mênh mông. “Ước gì mình có được một người chồng như vậy!” - Cô bạn thầm nghĩ. - Cha mình như vậy, nhưng má của mình lại không xứng đáng. - Mì nói với giọng căm giận, từng tiếng phát ra một cách khó khăn, nghe the thé - May mà mình giống cha mình nhiều hơn, mình giống cha mình cái gương mặt, con mắt, cái mũi, mình chỉ giống bà có cái miệng thôi. Ngày mai mình có thể gặp, nhưng mình không nhận đâu. Liển đưa giùm đôi bông này cho má của mình, nhớ nói là mình gởi lại cho đứa em của mình, mình còn một đứa em gái, năm nay nó cũng lớn rồi. - Sao vậy? - Trời ơi! Vì sau này bà lấy một thằng chồng Việt gian. - Mì nói với giọng tức tối, nói như quát khiến cho cô bạn đang nằm phải ngồi dậy. - Vậy à? - Cô bạn kêu lên với vẻ kinh ngạc và nghe tiếng khóc tấm tức của bạn. Trong ánh pháo sáng, cô nhìn thấy gương mặt của bạn đầm đìa nước mắt. - Chuyện đã vậy thì khóc làm gì! - Cô nói để an ủi, rồi nói đay nghiến - Được rồi, mày để cho tao. Ngày mai, nếu tao tìm gặp bả, tao sẽ xòe bàn tay cho bả thấy đôi bông. Nếu bả đưa tay cầm lấy thì tao nắm lại, tao sẽ đưa tận tay cho em mày. Trong cơn bứt rứt, chẳng biết làm gì, Mì mở tóc ra bới, nhưng không phải bới, Mì buộc cái đuôi tóc lại thành một cái gút, cầm lấy cái gút, kéo trì xuống - như muốn bứt cho đứt cái mái tóc của mình. Mái tóc căng thẳng, Mì ngồi im nhìn theo những chiếc pháo sáng đang lụn dần - Ánh pháo sáng chập chờn trên cánh đồng như thật, như hư... Mờ sáng hôm sau, đơn vị chuyển lên con đường nhựa, qua một khu phố nghèo ở ngoại ô dẫn vào nội thành - Bao giờ cũng vậy, hễ mỗi lần chiến sĩ bước chân trên đường phố, từng giây, từng phút, lòng của chiến sĩ luôn luôn bị xúc động, khi thì vì một bàn tay thò ra cửa sổ vẫy chào, hay vì một tiếng kêu trầm trồ, một lời hỏi thăm, hoặc một cái nhìn thương yêu của người mẹ... Có người muốn mời anh em chiến sĩ một điếu thuốc ngon, có người đứng sát bên lề đường, đưa tay vỗ lên vai từng anh Giải phóng quân, có người sung sướng quá đến phải kêu lên, có người sụt sịt khóc. Trong số người đứng hai bên đường nhìn bộ đội hành quân, có một người đàn bà khoảng ba mươi tuổi đứng phía sau, bỗng đưa tay vẹt người chung quanh bươn bả bước ra, rồi vụt chạy theo: - H...ạ...anh! C...o...on! - H...ạ...anh! C...o...on! Người ta tưởng sẽ có một chiến sĩ nào đó dừng lại, hai mẹ con sẽ ôm chầm lấy nhau. Nhưng chẳng có ai. Người đàn bà vẫn đuổi theo và vẫn kêu: - H...ạ...anh! C...o...on! Tiếng kêu vang dài theo cánh quân. Cả đơn vị liền nói truyền cho nhau: - Ai tên Hạnh đứng lại có bà má! - Người mẹ cứ đuổi theo, cứ kêu, nhưng chẳng có ai dừng lại. Nghe tiếng kêu thảm thiết quá, anh chánh trị viên trẻ phải tách ra khỏi hàng, dừng lại để tìm lời an ủi. - Thím ơi! Chắc là anh ấy ở cánh quân khác. Người đàn bà cứ nhón gót, ngước mắt nhìn mải miết theo cánh quân, vẻ đau khổ và lắc đầu: - Không phải, con tôi là con gái, giống lắm. - Trong đơn vị của cháu có ba bốn cô gái thôi, nhưng không có ai tên Hạnh - Chắc là người giống người. - Chắc là như vậy! - Người đàn bà thầm nói lại, rồi như chẳng để ý đến anh chỉ huy quân giải phóng, quên cả lời từ giã, chị quay lại, lủi thủi đi. Trời sáng rõ. Chiếc máy bay trinh sát L.19 rè rè từ xa bay tới. Cánh quân liền ém vào hai bên khu phố, tản ra chiếm lấy vị trí chiến đấu. Vừa đến một bờ ruộng, Mì ôm mặt cô nén tiếng khóc nhưng mái tóc cứ rung lên. Chừng như thấy mình đã trừng phạt người mẹ như vậy đã đủ rồi, không thể làm gì cho mẹ phải khổ thêm, Mì bảo cô bạn đưa trả lại đôi bông. Nhưng Mì không kịp đeo vào tai. Muốn đeo cái đôi bông ấy phải mở ra, đeo vào rồi phải vặn lại, vừa tỉ mỉ, vừa lâu. Chiếc máy bay trinh sát đã bay xa, đơn vị lại lên đường. Mì chỉ kịp gói đôi bông vào chiếc khăn trắng, để vào túi, lấy kim băng gài lại rồi ôm súng nhập lẫn vào cánh quân đang nối theo lao qua con đường lớn. Còn Liển, cô ở lại với đại đội giữ lấy khu phố vừa giải phóng. Trong lúc đó, người đàn bà đau khổ ấy đang lầm lũi trở về. Vào đến nhà, chị cứ đứng yên trước cửa. Chị tiếc đứa con nhỏ của chị về bên nội chưa lên, nếu có nó, chắc là nó sẽ đuổi kịp. Chồng chị lại đi vắng. Đứng yên một lúc lâu, chị bước vội vào nhà, mở tủ, đem những ổ bánh mì đã chuẩn bị sẵn cho Giải phóng quân, chị xếp bánh vào hai cái thúng, lấy khăn phủ lên, rồi cất gánh, ra đường, đi về phía tiếng súng đang nổ - Nhưng chị không thể đến tận chỗ của trận đánh. Tuyến cuối cùng sau trận đánh của Giải phóng quân giữ chị lại. Trận đánh đang xảy ra trên ngã ba đường lớn, cách tuyến cuối cùng khoảng năm trăm thước đường chim bay. Nơi có những tầng lầu cao màu xanh, màu xám, màu sữa, và những mái ngói đỏ như chen lấn nhau, lô nhô cái thấp cái cao. Chị gặp ban chỉ huy. Người chánh trị viên trẻ hai mươi tuổi có mái tóc hớt cao lúc nãy ra tiếp chị trước nhà của tên đại úy vừa bỏ chạy. Chị đặt gánh xuống thềm gạch, kéo khăn lau mặt: - Xin báo với các đồng chí đây là bánh của cơ sở tiếp tế cho các đồng chí. Chị vừa nói vừa lom khom lấy bánh trao cho anh em chiến sĩ đang đứng chung quanh. Nhìn người nữ cán bộ cơ sở, anh chính trị viên bỗng chợt nhớ như mình đã có gặp ở đâu rồi. Anh gợi chuyện: - Lúc nãy thím thấy cô nào giống con của thím? - Hồi nãy tôi thấy ba cô, trong đó có cô mặc đồ bà ba đen, tóc kẹp, vác súng AK, cô đó giống con nhỏ nhà tôi lắm. - Cô ấy không phải tên Hạnh, cô ấy tên Mì. - Sao? - Đang xếp bánh, chị liền ngẩng lên hỏi lại - Cô đó tên Mì à? Đúng là nó rồi! - Chị vừa kêu to vừa đập mạnh cái bánh vào vành thúng - Nó lấy tên của cha nó! Chị đứng dậy, nhìn qua khu phố đang có những bựng khói xanh mờ đang tỏa lan trên những mái ngói, đang có tràng súng nổ dữ dội rồi hạ giọng: - Tôi biết - là người mẹ thì không thể nào nhìn lầm con của mình được. Lúc ấy, Liển đang đứng trước một tấm kiếng trước mặt tủ chải lại mái tóc, nghe có tiếng người, Liển vội chạy ra. Thấy người đàn bà ấy, Liển nép lại bên cửa. Mì có đôi môi nhỏ xinh xinh giống như người đàn bà này. Liển nhìn theo từng cử chỉ của người đàn bà với đôi mắt dò xét. Người đàn bà có vẻ phúc hậu với vẻ mặt đầy đặn và vẫn còn giữ nguyên vẻ một người đàn bà ở nông thôn. Tóc bới gọn, mái tóc chải lán, áo bà ba trắng, quần dài đen ống rộng - Người đàn bà như vậy mà sao lại... Liển nghĩ thầm. Trong lúc đó, người mẹ trẻ quay nhìn anh chánh trị viên nói với giọng cầu khẩn: - Đồng chí! Làm sao cho tôi gặp được nó, tôi chỉ cần nói với nó một câu thôi. Nó hiểu lầm tôi, nó giận tôi đã sáu năm nay rồi - Số là như vầy... Khi kể chuyện tâm sự, người ta thường kể vào giờ đêm, hoặc kể trong lúc yên vắng, còn chị, chị kể lại chuyện đau khổ của mình trong lúc tiếng súng đang nổ, kể với những người đang ôm súng chờ lệnh chiến đấu, chị cũng không kể với giọng thầm thì, chị nói to, chuyện trào ra từ cái lồng ngực thở phập phồng, chị nói với giọng xúc động khiến cho các chiến sĩ phải chăm chú lắng nghe. ... Sau khi nhà tôi bị bọn nó giết chết, tôi bồng bế hai chị em nó lên cái đất Sài Gòn này, chen vào cái chỗ đông người để lánh mặt. Tôi sống bằng nghề bán bánh lọt. Buổi trưa hôm đó, cũng trên con đường ngoài ngoại ô này, tôi đang múc bánh bán cho một bà khách nghèo ở bên đường. Có một chiếc xe con cóc chạy qua, tự nhiên xe thắng lết bánh dừng lại sát bên đường. Năm đó, mỗi lần thấy cái loại xe ấy bỗng nhiên mà dừng lại gần mình, ngại lắm các đồng chí. Nghe tiếng giày đi lại gần, liếc mắt thấy anh tài xế, tôi kéo khăn che mặt. Người tài xế đứng bên thúng bánh, biểu: - Cho tôi hai tô. - Mấy thầy mà cũng ăn bánh lọt nữa à! - Người khách hàng nghèo hỏi. - Thầy Ba muốn ăn, tôi cũng húp bậy một tô cho trơn cái cần cổ, cho thêm một gáo nước dừa nữa chị, tính thêm bao nhiêu tôi trả. Khi người tài xế bưng hai tô bánh lọt đem lại xe, hỏi bà khách hàng, tôi biết người ngồi trên xe là thư ký riêng của tên quận trưởng. Bà khách hàng trả tiền đi xa rồi thì người thầy ký ấy mang tô lại. Như có linh tính báo trước, cái linh tính của người đàn bà kỳ lạ lắm các đồng chí! Tôi cảm thấy có điều gì khác thường, tôi không dám cho người thầy ký ấy thấy mặt. Người ấy thò tay xuống, đưa cho tôi tờ giấy hai chục, tôi chú ý nhìn cái bàn tay - Cái bàn tay không phải là bàn tay chai sạm của người nghèo, cũng không phải là bàn tay kẻ giết người. Cái bàn tay mềm mại của người cầm viết. Tôi cúi mặt móc tiền ra trả lại thì tôi nghe tiếng gọi khẽ. - Chị Sáu! Cái khăn tôi đang đội qua đầu như có ai kéo rơi xuống. Khi tôi nhìn lên thì tôi sửng sốt. Hóa ra người ấy là đồng chí. Hồi kháng chiến, anh là cán bộ Liên Việt của quận - tôi thường gặp anh trong các cuộc họp. Chẳng hiểu sao lúc đó tôi không thấy anh là kẻ thù, mặc dù anh đang làm việc trong tổ chức của giặc. Anh nhìn tôi với đôi mắt - khó nói quá - vừa mừng vừa ngạc nhiên, vừa ứa nước mắt - Rồi sau đó, tôi biết anh được cơ sở đưa vào tổ chức của địch. Tên quận trưởng là người bà con bên ngoại của anh. Nhờ anh mà tôi móc nối được cơ sở và lại bắt đầu hoạt động. Sau đó, tôi xây dựng lại gia đình với anh ấy. Chuyện đó dài dòng lắm, tôi không nhắc lại làm gì. Tôi muốn nói đến con tôi. Câu chuyện của người đàn bà thường bị đứt quãng khi có những tiếng súng lớn dội lại, hoặc những loạt súng nổ dồn dập hoặc gay gắt. Rồi sau đó, như chẳng có gì xảy ra, người đàn bà lại tiếp: - Một hôm ngồi làm bộ bắt chí cho nó, tôi tìm lời vỗ về: “Con không thương má sao, nhà có mấy má con”... Nó tưởng tôi không hiểu được ý của nó. Đang ngồi, nó bỗng vụt đứng dậy, hét lên: “Người đó là Việt gian!’ - Nó trợn mắt nhìn tôi, mặt tái xanh, môi tím ngắt. Trong con mắt giận dữ của nó tôi thấy lại con mắt của cha nó, tôi cúi xuống, nói như than: “Con ơi! Lớn lên rồi con sẽ hiểu”. Nó bỏ đi, vừa đi vừa khóc, nhìn nó tôi thương đến đứt ruột đứt gan. Sau đó, nó chống ra mặt. Tới bữa cơm, nó bưng chén ngồi trong một góc, lần nào rửa chén nó cũng chừa cái chén của anh ấy. Có lần, anh ấy bồng đứa em của nó, chờ anh ấy đi, nó kéo em vào nhà tắm, nó xối nước, nó kỳ cọ đến con nhỏ phải kêu khóc, nó nói xỉa nói xói tôi: “Tao phải kỳ cho mầy đau để mầy chừa”. Chúng tôi sống hạnh phúc mà khổ tâm. Chúng tôi bàn với nhau định nói thiệt với nó, nhưng nói làm sao được, nó còn nhỏ quá, sợ nó vui miệng, “tai vách mạch rừng” mà, ở cái đất Sài Gòn nầy năm đó, biết tin ai các đồng chí - Mà cũng chưa chắc gì nó chịu nghe, không khéo nó lại cho mình là sợ mà nói dối. Tôi định rời về tỉnh nhà, vào vùng kháng chiến, rồi nói thiệt cho nó - Nhưng cũng như anh ấy tôi không thể bỏ cơ sở. Tôi chờ nó lớn lên một vài tuổi nữa. - Chú ấy không tìm cách vỗ về làm cho cô ấy thông cảm mình sao thím? - Một chiến sĩ hỏi với giọng bồn chồn. - Nhà tôi biết là không dỗ được nó. Với lại, - nó ghét nó thù nhà tôi như vậy là phải. Tôi muốn gia đình được đầm ấm, nhưng lại sợ nó quên cái mối thù của cha nó. - Chà! - Một chiến sĩ tắc lưỡi - Khổ thiệt! Rồi sao nữa thím? - Rồi, không ngờ - Giọng của người mẹ trầm xuống - trong một đêm nó bỏ nhà trốn đi. Cách đây hơn năm, nhà tôi được gọi vào chiến khu. Nhà tôi hỏi thăm nó khắp nơi mà chẳng biết nó đâu. Nhà tôi cũng đang đánh vào nội thành. Bây giờ, ở đây không có ai, tôi mới nói thiệt với các đồng chí. Sau khi nó đi, soạn lại đồ đạc tôi chỉ thấy mất có đôi bông cẩm thạch. Đôi bông tôi để trong cái hộp nhỏ, có bọc nỉ đỏ, tôi cất trong tủ. Đó là quà cưới của cha nó tặng cho tôi. Lấy đôi bông đó đi, tôi hiểu được ý nó muốn nói, tôi không xứng đáng để giữ cái kỷ niệm của cha nó. - Hèn gì! Cô ấy cứ thích đeo bông, ai mà biết được! - Sao? - Chị như giật mình quay về hướng anh chiến sĩ vừa nói hỏi lại - Đồng chí thấy cô gái tên Mì có đeo bông cẩm thạch à? Vậy là đúng con tôi rồi! Chị lại nhìn người chánh trị viên trẻ với vẻ cầu khẩn: - Đồng chí làm sao cho tôi được gặp lại nó, nói với nó một câu, để nó hiểu, đi đánh giặc mà giận mẹ thì lòng đâu có yên. Một chiến sĩ nói chen vào: - Đúng đó, phải nói cho cô ấy biết để cô trút căm thù vào bọn giặc chớ! Tự nãy giờ, anh chánh trị viên vừa lắng tai nghe tiếng súng của trận đánh, vừa để tâm vào câu chuyện kể lể với giọng xúc động và vội vàng của người mẹ. Anh thường nghe người thành phố kể chuyện vậy. Có những bà mẹ đã kể khổ với anh trong một căn hầm chống phi pháo, có người vừa mang khăn gói vừa đi theo bộ đội vừa lau nước mắt vừa nói. Hầu như mỗi người đều có mỗi chuyện riêng, từ lâu, cô đè nén để chờ quân giải phóng về. Nhìn người mẹ cứ đăm đăm nhìn sâu vào một cụm khói bên kia trận đánh, anh thấy không thể để cho người mẹ phải chờ đợi, phải đau khổ thêm một giây phút nào nữa. - Thím ơi! - Anh nói với giọng trìu mến của một người thân - Súng đang nổ, thím không nên đi, một chút nữa trinh sát trở về, hoặc cháu sẽ phái trinh sát đến mặt trận, cháu sẽ báo cáo và xin ban chỉ huy cho cô ấy lại đây gặp thím. Thím đi nếu có bề gì... - Là người đã từng chiến đấu, anh luôn luôn lo lắng đến những chuyện không may có thể xảy ra, nhưng anh không nói được những lời cuối cùng. Một anh chiến sĩ khoảng hơn hai mươi tuổi, người mập mạp, tóc mịn như tơ, vì mải nghe chuyện tay cầm chiếc bánh mới bẻ ra như quên cả ăn, cũng đang bực bội vì phải ở lại tuyến sau và từ lâu cũng muốn làm quen với cô gái dũng sĩ - Anh sốt sắng bước tới: - Báo cáo thủ trưởng! Hay là như vầy. Thủ trưởng cho tôi gánh hai thúng bánh này cho anh em, tôi sẽ lên thẳng ban chỉ huy, rồi chính tôi sẽ điệu cô ấy quay trở lại. Được sự đồng ý của thủ trưởng, anh liền quàng súng qua vai, kê vai vào đòn gánh. Nhưng anh vừa cất gánh thì bị bàn tay của Liển giữ chặt lại: - Báo cáo thủ trưởng! Nếu đơn vị đang tiến quân thì tôi mới thay thế cho Mì, thủ trưởng cho tôi đi! Anh chiến sĩ để gánh xuống, nổi quạu nhưng chẳng biết làm gì, quay lại hỏi: - Ơ kìa, sao cô lại khóc? Liển đang giàn giụa nước mắt, nhưng không đáp. Liển hối hận vì đã có một ý định xốc nổi với người mẹ. Và chưa có lúc nào, Liển lo sợ cho Mì như lúc này. Nếu nó chưa gặp lại mẹ, chưa kịp hiểu gì mà phải hy sinh thì... Nghe tiếng súng nổ, ruột gan cô cứ thắt lại. Cô cất gánh vội vã bước nhanh. Liển dáng thâm thấp, gánh hai cái thúng bánh sà xuống mặt đường, vừa đi vừa chạy, vừa tránh, vừa lách qua những chiếc xe đang ngược lại trên đường. Rồi sau đó, trận đánh kéo ngọn lửa mỗi lúc mỗi lan ra. Một đàn trực thăng như một bầy nòng nọc chúi đầu, bơi luồn trong khói. Dưới tầm đạn hỏa tiễn của trực thăng, nhiều ngôi nhà bị sụp đổ, khu phố bốc lên nhiều đám cháy lớn. Trong một công sự được làm vội vàng - một đống gạch vụn chạy dài theo một đường mương nước, cạnh bên một ngôi nhà đang cháy, lửa đang bốc cao ngọn và phát ra những tiếng nổ lớn như tiếng pháo, ba anh chiến sĩ trán lấm tấm mồ hôi, mặt đỏ bừng, bụi ngói rắc đỏ trên mái tóc, bám đầy quần áo, ba anh đang ghìm súng kìm chế một ổ súng của bọn giặc ở bên kia đường bỗng chợt thấy một người đàn bà, chẳng biết từ đâu đến, trong một cụm khói đặc lao qua. Một anh hét to: - Nằm xuống! - Một anh giương súng bắn phủ đầu ổ đại liên của giặc, một anh xô ra kéo người đàn bà. Người đàn bà xoài người bò vào công sự, rồi như chẳng nghĩ đến những viên đạn vừa rà sát qua đầu mình, kéo khăn lau mặt, thở hổn hển: - Mấy chú mấy em chưa có bánh hả. Còn một cái đây! Người đàn bà vừa nói vừa bẻ chiếc bánh ra làm ba khúc, đưa cho từng chiến sĩ. Ba anh chiến sĩ đoán biết người đàn bà này là cán bộ của cơ sở, nhưng không giống những người mà họ thường gặp trên phố. Người đàn bà đang nhìn họ ăn với đôi mắt yêu thương này gợi cho họ nhớ những chị, những dì, những cô, những thím mà họ thường gặp gỡ trên những làng đã đi qua. Người đàn bà phúc hậu tóc bối gọn, hai bên tai có đeo đôi bông cẩm thạch, giống y như đôi bông của cô nữ giao liên. 10-1968 ----------------------------------------------------------------- 1. Võng đan bằng đay. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2024, 04:45:37 pm CON GÀ TRỐNG Đã là gà trống thì phải gáy chớ! Vậy mà con gà trống của chúng tôi từ nay không được quyền gáy nữa. Điều đó được ghi rõ trong chỉ thị chuẩn bị chống càn của Ban chỉ huy gởi cho cơ quan. Trong buổi tối sinh hoạt chỉ thị chuẩn bị chống càn, những vấn đề quan trọng, chúng tôi thông qua thật dễ dàng. Chỉ có việc làm sao cho con gà trống đừng gáy là mất nhiều thời giờ nhứt. Để chứng minh cho sự tai hại của tiếng gáy của con gà, trong chỉ thị có kể ra một câu chuyện cụ thể như sau: Cơ quan an ninh vừa rồi có bắt được một nhóm biệt kích Mỹ. Một thằng biệt kích khai: Bọn chúng từ trên trực thăng đổ xuống một khu rừng rậm, chúng sống lén lút gần một tháng mà không sao mò được địa điểm của các cơ quan. Một hôm, bọn chúng chợt nghe đâu đó có tiếng gà gáy. Lần theo tiếng gà nó tìm thấy một cái chuồng, từ đó nó thấy một cái bếp, một cái giếng nước, những ngôi nhà nhỏ lợp bằng lá trung quân, hoặc lợp bằng ni lông núp dưới bóng cây. Sau cùng, bọn chúng phát hiện ra những con đường mòn nhỏ dẫn đến các nơi. Ngay hôm sau cơ quan ấy bị đánh bom. Trái bom đầu tiên đánh trúng cái chuồng gà, trái bom thứ hai đánh trúng cái bếp, rồi kế cái giếng và lan dần ra... Vậy là chuyện này không thể nào linh động được, nhất thiết là gà không được gáy. Mới nghe, tôi phát bật cười. Người, tôi thấy có người câm. Ta cũng có thế cấm một người nào đó không được quyền nói. Và cũng có người vì cảnh đời thế nào đó mà có lúc giả câm, không thèm nói với ai một lời nào. Còn gà thì tôi chưa thấy con gà trống nào bị câm bao giờ. Gà trống bị mất tiếng là gà bị thiến. Và phải thiến cả hai trứng. Con gà trống của chúng tôi là gà để giống. Không thể cấm nó không được gáy. Không được gáy nó sanh ra làm thân con gà trống để làm gì! Nhưng bây giờ, đó là việc nghiêm túc của chiến trường. Phải thi hành. Nhưng biết làm cách nào. Một người đưa tay có ý kiến: - Có gì phải bàn! Hấp rượu, bảy phút là xong. Ý kiến ấy vừa đơn giản, vừa gọn lại vừa được ăn, nhưng cũng là ý kiến dở nhất - Giết chết nó đi thì có gì phải bàn. Cái đáng bàn là làm thế nào nó không được gáy mà nó vẫn sống kia. Người phản đối ý kiến đó đầu tiên là thằng Nam, chú giao liên mười bốn tuổi. Nó được ba má gởi lên rừng từ năm lên mười. Một chú bé gầy gò linh lợi và gan lì. Không ai thương yêu con gà trống bằng nó. Ý kiến của nó được mọi người đồng tình. Bình thường, giết một con gà trống thì có gì đáng phải nói! Đằng này, lúc bấy giờ, một con gà trống ở rừng đối với chúng tôi là một con vật hết sức quý. Muốn mua một con gà, phải xuống tận đồng bằng, đường sá xa xôi biết bao. Vả lại, con gà này đối với chúng tôi là một con gà đặc biệt, đầy kỷ niệm. Cách đó ba năm, một đồng chí từ Đồng Tháp Mười về, mang về một con gà, con mái tơ vàng. Ôi chao, một con gà! Nó như mang đến cho mọi người ở rừng cái cảnh sống của một gia đình. Lúc đó, có người bỗng chợt nhớ ra là mấy năm rồi mình chưa thấy được con gà nhà. Bao nhiêu năm chỉ thấy có khỉ, dọc, cheo, chim chóc. Nếu có thấy gà thì cũng chỉ thấy được con gà rừng thôi. Từ đó, mà mỗi người mỗi nhớ lại cái sân nhà, gốc mít, cây xoài, bến nước với dòng sông. Chúng tôi cứ vây lấy con gà của đồng bằng, người thì đưa tay bợ lấy cái lườn của nó nâng lên nâng xuống, người thì vuốt ve nó từ đầu đến đuôi, lông nó mềm mướt mượt, nghe êm như mát cả bàn tay. Rồi cứ vây quanh nó, nhìn cái mỏ vàng của nó mổ đồm độp xuống nắm gạo, ai cũng thấy vui. Nó không còn là của riêng của một người, nó được mọi người chăm sóc, cho ăn. Một đồng chí trong cơ quan vốn là thợ mộc, đóng cho nó một cái chuồng y như ngôi nhà sàn đồng bằng sông Cửu Long thu nhỏ lại, đẹp đẽ, xinh xinh. Không có bạn, nên nó cứ lẩn quẩn theo người, chỉ cần tục tục mấy tiếng, đưa tay ra là nó chạy tới. Nó bắt đầu kêu ổ đất mà không có gà trống, anh em gọi đùa là nàng công chúa cô đơn. Không có trống nhưng nàng công chúa cô đơn vẫn cứ đẻ. Chúng tôi lót cho nó một cái ổ. Cái ổ được đan bằng mây, rất xinh, để ngay trong chuồng - nó nhảy lên ổ, bươi mấy cái rồi lại nhảy xuống, lại nhảy lên mái nhà rồi lại nhảy xuống, lẩn quẩn theo chân người. Cuối cùng, quýnh quá, nó đẻ ngay trên một đống công văn. Đẻ xong, nó cục tác. Thằng Nam giả tiếng gà cục tác đáp lại, được thể nó cục tác ầm ĩ. Không ai thấy khó chịu mà muốn nghe mãi cái tiếng cục tác của nó. Một cái trứng nho nhỏ màu hồng còn một vệt máu, nóng hôi hổi. Hôm ấy, có một cháu bé lên sáu vừa lên cơn sốt. Anh em đề nghị biếu cho cháu bồi dưỡng. Thằng Nam tiếc lắm nhưng không dám phản đối. Trứng gà so mà! Trưa hôm sau nó lại nhảy ổ, lại bươi. Chúng tôi cho nó vào ổ, nó lại bươi, rồi lại nhảy, mặt đỏ hừng hực. Tưởng như rờ đến mặt nó là phải bỏng. Phải có một cái trứng để trong ổ nó mới chịu đẻ. Biết vậy, nhưng cái trứng đã ăn mất rồi. Bỗng một người có sáng kiến lấy củ khoai mì (sắn) lột vỏ gọt cho nó tròn tròn hình quả trứng để vào ổ. Sau đó nó mới chịu đẻ đúng vào cái chỗ của nó. Ngày này đến ngày khác, cứ mỗi ngày một trứng thật đều, đến cái trứng thứ hai mươi bảy, nó nằm luôn trong ổ, thấy người là nó xù lông, kêu ré lên. Trứng có trống đâu mà ấp hở công chúa cô đơn! Bắt nó xuống, nó xù lông, nhìn người như nhìn kẻ thù. Anh em phải phun nước vào mặt nó mấy ngày liền, nó mới tỉnh. Rồi cô đơn nhưng nó vẫn cứ đẻ. Đến lứa thứ hai, cái cảnh cô đơn của nó trông đến tội nghiệp. Nó khát khao được làm mẹ đến mức khiến cho anh em chúng tôi không thể làm ngơ. Nó đang đi, cái đít sà xuống, đang ăn, hay đang đứng, khi có tiếng động của ai đó đi qua là hai cái chân nó quỵ xuống, lườn áp xuống đất, đuôi vảnh lên, sẵn sàng với tư thế đón đợi một anh gà biết gáy để sau đó nó được ấp, được tục tục với bầy con. Phải kiếm cho nó một con gà trống, chúng tôi bàn với nhau nhưng bàn là bàn vậy, biết mua ở đâu, bằng cách nào. Vả lại, chuyện cũng quá nhỏ, chợt thấy chợt nghĩ, rồi chợt bàn qua vậy thôi. Nhưng có người không chợt nghĩ chợt bàn mà lo lắng thật sự. Đó là thằng Nam. Một mình chú một chiếc xe đạp, một túi công văn, chú rọt rẹt từ cơ quan này đến cơ quan khác, nhỏ nhưng biết nhiều, thấy nhiều. Chú bảo cơ quan ở bên kia rừng có một con gà trống cồ. Chú xin anh em cho chú ẵm con mái vàng qua đó gởi. Một tháng sau, chú ẵm nó về với mười bảy cái trứng. Con mái vàng đang ấp. Qua hai tuần, anh em đem ra thử, hai trứng bị thối, còn mười lăm trứng, trứng nào cũng lội lúc lắc trong thau nước. Ba tuần, nghe trong ổ có tiếng kêu rúc rít. Người nào cũng đến thăm. Ôi chao ôi, cái ngày mẹ nó xuống ổ, vui thiệt là vui, vui hơn cả cái ngày nó ở đồng bằng mới về. Không ai bảo ai, mà cả cơ quan, người nào cũng có mặt, người nào cũng hớn hở. Cái sân dưới bóng cây rừng được quét sạch. Con mái vàng đi giữa một bầy con, cái dáng đi của nó bệ vệ, tự hào làm sao. - Xinh quá! - Đẹp quá! - Con kia nữa kia, đã chưa? Một bầy mười lăm con, nho nhỏ như một nắm bông, lông mịn như nhung. Thích thú nhứt là những đứa nhỏ đẻ ở rừng, lần đầu tiên nó mới thấy được một bầy gà con, đứa nào cũng đưa cái bàn tay nhỏ múp míp ra với lấy nó... Nó lớn dần, mẹ nó sắp bỏ lúc trời sa mưa. Qua những cơn mưa đầu mùa, đất ẩm, lá mục, có con bị cú rũ. Không kịp chữa, nó lây nhau, cú rũ cả bầy trông thật thảm hại. Anh em trong cơ quan xúm nhau trị cho chúng, mỗi người một cách. Nào tỏi, nào hành, nào rượu ngâm rít, rồi đến B1 pha đường, cho chúng uống cả kháng sinh cũng không chạy chữa nổi. Thằng Nam sang cơ quan bạn mời về cả anh kỹ sư chăn nuôi. Hôm ấy, anh em bắn được một con dọc, thằng Nam lại chạy đâu được một lít rượu để đãi anh kỹ sư chăn nuôi. Mất một bữa rượu mà gà vẫn cứ toi. Rất lạ, những con khỏe mạnh nhất là những con trống, chưa đủ lông mà nó đã ra dáng lắm, ngang ngang bướng bướng, thừa sức chẳng biết để làm gì, đá nhau túi bụi, và nó là những con chết trước nhất. Ngày chết hai con, ngày chết ba bốn, năm bảy con, không sao cứu vãn nổi, cuối cùng chỉ còn sót lại có hai con: một con trống với một con mái. Được thử thách với bệnh hoạn, mưa gió không vật nổi nó nữa. Con gà trống bắt đầu trổ mã, nhổ giò, ngứa cổ rồi cất tiếng gáy. Tiếng gáy chưa tròn, chưa trong, cũng chưa gáy đủ bốn tiếng, cứ “khe kh.e.e khẹt” nghe thật dễ thương. Thằng Nam đâm mê nó, đi vắng thì thôi mà hễ về đến cơ quan là ôm ấp, cho uống, cho ăn. Nó lại nhớ, lại kể cho chúng tôi nghe ngày còn bé - mặc dù bây giờ nó vẫn bé, ở làng, thường bắt gà nhà rủ nhau cho đá - Nó kể duyên dáng, say sưa. Con gà trống của cơ quan đã hơn hai tuổi rồi. Nó đã thành một anh gà trống đứng đắn, mồng đỏ, lông ba sắc, đuôi uốn cong với hai cái cựa dài - luôn luôn được thằng bé Nam lấy miểng chén chuốt ngọn, dáng khệnh khạng và tiếng gáy nghe sang sảng - Từ con mái tơ vàng của đồng bằng đưa về, cơ quan tôi đã có ba bầy gà giò với sáu con mái đẻ. Chỉ có một mình nó là gà trống. Vì cái lý lịch và cuộc đời của nó gắn bó với chúng tôi đến như vậy, nên không ai nỡ giết nó. Nhưng bây giờ làm sao cho nó đừng gáy. Ý kiến thứ nhất bị phản đối. Ý kiến thứ hai là buộc mỏ nó lại, khi nào cho nó ăn thì mở ra. Là một ý kiến hay nhưng thấy không được ổn lắm. Ý kiến thứ ba là lấy chỉ may cái da cổ nó nhúm lại. Làm vậy cũng được, nhưng tội nghiệp nó quá. Ý kiến thứ tư là nhốt nó xuống hầm B.52, đậy nắp lại, nó có gáy thì gáy ở dưới hầm chẳng ai nghe. Ý kiến này nghe có lý, nó có hơi tồi túng một chút, nhưng so với việc nhốt trong bội trong chuồng, nó còn thong thả hơn nhiều, lại có lợi cả hai bề, nó sẽ tránh được mảnh bom mảnh pháo. Sáng kiến đó mới thiệt là sáng kiến. Cuộc họp giải tán, thằng Nam chạy ngay xuống chuồng, bắt con gà trống nhốt xuống hầm ngay dưới võng của mình, đậy nắp cẩn thận. Trong những ngày này, hoạt động của giặc càng ngày càng ráo riết. Xa xa đã có tiếng máy bay trực thăng. Máy bay B.57 cắt dọc cắt ngang trên bầu trời của khu rừng. Đêm đêm có tiếng máy bay của T 28 - Đầm già - L19 rà sát qua ngọn cây, hãm máy nghe lụp bụp, hạ xuống để quan sát rồi đốt trảng dọn bãi đổ quân. Một vài cơ quan lượm được máy nghe của nó thả xuống, phát hiện được dấu giày của biệt cách với biệt kích. Các cơ quan lại được cấp trên nhắc đến công tác bảo mật, nhứt là tiếng động và nhắc lại tiếng gà gáy. Con gà trống của chúng tôi bị nhốt dưới hầm B.52, tiếng gáy của nó có đánh tiếng cho bọn biệt cách biệt kích hay không, máy nghe của bọn Mỹ thả xuống có ghi được hay không, chẳng ai biết; chỉ biết là tiếng gáy của nó khiến cho mọi người không thật yên tâm rằng: mình chưa triệt để thi hành mệnh lệnh của cấp trên. Người không yên tâm nhứt là thủ trưởng, thủ trưởng nhắc anh em bảo vệ: - Nên coi lại con gà, tiếng gáy của nó cứ nghe sang sảng. Đúng vậy thật. Để ý đến nó mà xem. Bấy giờ trong cơ quan, không ai gây ra một tiếng động nào lớn, không ca hát, rađiô không mở to, sân bóng chuyền đã phủ kín lá ngụy trang, không ai la ó hay cười đùa, tuy bị nhốt dưới hầm, tiếng gáy của nó cứ vang lên. Và khi được mọi người để ý, tiếng gáy của nó dưới mặt đất nghe âm âm rên rền lại vang xa. Bình thường, có khi nó gáy bên tai mình, mình cũng chẳng nghe thấy. - Không ổn! Là mệnh lệnh chiến đấu, phải triệt để thi hành. Cái ý kiến hấp rượu bảy phút là xong lại đặt ra. Có một vài người đồng tình, nhưng số đông lại có ý kiến còn nước còn tát. Thằng Nam lại ẵm nó đưa lên khỏi hầm, rồi lấy kim chỉ may cái da cổ nó đùm nhíu lại. Bởi con gà trước khi gáy, cần cổ phải cất cong lên mới phát ra được tiếng gáy. Đằng này, cái da cổ của nó bị đùm nhíu lại rồi, cái cần cổ của nó không sao cất lên được. Không thể gáy, nhưng nó vẫn được xòe một cánh dè theo mấy con mái. Bổn phận của anh trống, nó không quên. Nhưng nó không chịu biết thân, nó cứ đập cánh rướn cổ, cái cổ của nó như bị đùm da nhíu kéo cong xuống, như thể nó đang bị mắc xương, tiếng gáy của nó cũng bị kéo trì xuống như tiếng ho của một lão già “kho... khoọt”, nghe thật khổ sở. Thằng Nam đứng nhìn nó, không chịu nổi, nó ôm con gà vào lòng, vuốt lên vuốt xuống. “Xong trận càn rồi hãy gáy con ạ. Vội gì! Là gà nhưng cũng phải gáy cho đúng lúc, bây giờ thì tiếng gáy của con nó giết con đó”. Nghe thằng Nam nói chuyện với con gà, tôi thấy thương thương. Mọi người đều yên trí rằng con gà không thể gáy được nữa. Trận càn càng ngày càng tiến đến gần. Báo động cấp hai. Một hôm gần sáng, con gà bỗng cất tiếng gáy oang oang. Thằng Nam, tôi cùng với hai ba anh nghe, hoảng quá, phải đổ xô ra chuồng bịt mỏ nó lại. Nó rướn mãi, rướn mãi, chỉ không đứt mà đứt cả da cổ. Nó cất tiếng gáy mà máu chảy ròng ròng! Ôm nó vào người, đưa tay bợ lấy cái cần cổ nó, nhìn máu đỏ cả tay mình, thằng Nam tắc lưỡi, hít hà, như chính nó đang bị đau. Nhìn thằng Nam lấy dây thun quấn cái mỏ của con gà trong ánh đèn lù mù, tôi cũng thấy xót xa. Chiến tranh ác liệt đến nỗi con gà cũng không được cất tiếng gáy! Báo động cấp ba. Cơ quan tôi được lệnh di chuyển, nhường khu rừng đó lại cho bộ đội lập trận chiến đấu. Chúng tôi di chuyển vào lúc nửa đêm, bồng bị lên vai, cái gì có thể mang được, mang tất, kể cả gà mái lẫn gà giò. Không đợi đến phân công, thằng bé Nam cũng biết mình phải lo giữ con gà trống. Cái bồng đeo trên lưng, nó ôm con gà trống đứng cạnh tôi. Nó nói nho nhỏ với tôi: - Nè chú, đem về rừng mới, cũng chưa chắc gì nó được gáy đâu, có chuyện gì thì mấy chú hấp rượu nó thôi. Mình đi rồi, không sợ lộ bí mật nữa? Cháu thả cho nó tự do nghe chú? - Cháu muốn làm gì cháu làm. - Không, chú phải ừ cháu mới dám. - Ừ, thì ừ. Nó lại ôm con gà vào lòng, lại vuốt ve, nó kề miệng vào con gà nói thủ thỉ: “Đừng để bọn Mỹ nó thịt con nghe con. Nếu cơ quan không về thì con sống với gà rừng. Con phải tập bay, con sẽ làm chúa cái rừng này, nếu cơ quan trở về, thì cơ quan mang cả bầy vợ con về cho con, nghe hôn”'. Đêm tối, tôi không nhìn thấy rõ nó, chỉ thấy hai con mắt nó nhỏ như hai hột đậu, mở tròn và sáng rực. Chẳng biết nó nói gì mà “cùng cục” trong cuống họng. Thằng Nam áp cái đầu nó vào má mình, rồi tung nó lên cao. Nó đập cánh, tìm chỗ đứng, nghe rột rạt trên tán cây rừng. - Đi! Lệnh từ phía trên truyền xuống. Thằng Nam bước được một vài bước, ngoái đầu nhìn lên ngọn cây. - Chắc nó đậu yên chỗ rồi hả chú? - Ừ! Thôi bám theo người trước mà đi, đừng để đứt quãng. * * * Sau trận càn, chúng tôi lại kéo nhau trở về. Khu rừng chúng tôi là bãi chiến trường. Ban ngày mà không sao nhận ra con đường mòn cũ nữa. Bãi bom B.52 làm mất cả phương hướng của chúng tôi. Phải đi vòng qua bãi bom. Vừa chợt ra con đường thì trước là một cây đổ đã nghẽn mất rồi. Bom đốt cháy cả những chòm cây mà mỗi lần bị lạc đường chúng tôi nhìn nó để tìm ra phương hướng. Chúng tôi phải đi men theo dòng suối, mong tìm lại cái bến cũ khi chưa đào được giếng. Men theo bờ suối, đi mãi, gần đến xế chiều mà cũng chưa tìm ra bến. Hố bom cũng nằm dài ra con suối. Cái bến cũ đang nằm sâu dưới hố bom cũng nên. Chúng tôi cứ tiếp tục đi, đang đi, thằng Nam bỗng reo lên: - Có tiếng gà gáy! Cả đoàn dừng lại, mệt mỏi quá, nên người nào mặt cũng sáng lên. - Có thiệt không Nam? - Một người hỏi. - Thiệt, cháu nghe rõ ràng mà. - Im, nghe lại lần nữa coi nào. Chúng tôi lắng nghe, nhưng chỉ có tiếng gió và tiếng róc rách của con suối. - Mày mơ chớ gà đâu mà gáy. Thôi đi! Vừa cất bước thì tôi chợt thấy một cái bếp dã chiến, do chính tay tôi đào để hầm chân dọc lúc cơ quan mới đến. Tôi reo lên: - Đây rồi, cái bếp. Cái bếp. - Đúng rồi! Cái cây cầy kia kìa, đúng rồi. Nhờ thằng Nam, thằng Nam nhờ cái tiếng gáy trong mơ mà chúng tôi dừng lại đúng cái bến của con suối. Thằng Nam lanh lợi hơn cả, như một con sóc, nó trèo qua một thân cây ngã, vẹt đường. Bước đến con đường mòn từ nhà bếp quanh co dẫn xuống con suối - nay đã phủ đầy lá, chúng tôi đi dần vào chỗ ở cũ, nỗi bước mỗi thấy rõ những dấu vết của cơ quan: cây mắc võng, cái hố tròn, cái nền nhà... Thằng Nam đi trước, nó bỗng nhảy tưng lên và la lên một tiếng vui mừng: - Kìa con gà! Con gà kìa! Trước mắt chúng tôi, trên sân bóng chình ình cái xác xe tăng. Bị một phát B.40, nó co rúm lại, thành một khối sắt, đen sì. Và con gà, con gà trống đang đứng trên cái xác của cái kẻ không cho nó gáy giữa một khu rừng cháy. Con gà trống với bộ lông ba màu: sọc vàng sọc đỏ sọc xanh. Nó đứng đó, đường bệ và kiêu hãnh. Thằng Nam vấp cái gì ở dưới chân suýt ngã. Nó đi chầm chậm vừa đi vừa mím môi “bập bập” vừa đưa một bàn tay xòe ra, đi dần lại con gà. Nghe có tiếng động, con gà quay lại. Nhận ra người, nó cất cái cần cổ nó lên, nó nhìn, rồi nó vỗ cánh, hướng về chúng tôi, nó rướn cổ: - Ò ó o o. Tiếng gáy của nó nghe thật sướng tai, khiến tôi không còn thấy mình đang trở lại với khu rừng cháy sau trận đánh nữa, mà nghe nôn nao như đang trở về với tiếng gà gáy của làng xóm quê hương vậy. - Ò ó o o. Ngày 20-5-1970 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2024, 04:56:31 pm BẠN HÀNG XÓM Hòa là người hàng xóm đầu tiên đến thăm tôi lúc tôi vừa mới thức. Như để phân trần vì sao cô đến quá sớm, cô bảo: - Sáng nay em lên quận họp. Em muốn đến thăm anh một cái, xem ba mươi năm, anh già hay trẻ. Thấy anh cũng không khác mấy. Thấy anh chút vậy được rồi, thôi em đi nghen! - Ngồi chơi đã. Hòa! Hồi tôi bỏ làng đi, cô mới bảy tám tuổi. Bây giờ cô đã xấp xỉ bốn mươi với một đàn con, tám đứa. Tôi nghiệm thấy với một người bạn trai, xa nhau hàng mấy chục năm, khi gặp lại nhau, vẫn còn thấy ngờ ngợ, từ cái ngờ ngợ ấy mà nhận ra nhau. Đối với một cô gái, - cũng xa nhau chừng ấy năm, khi gặp lại nhau, trông lạ hoắc như chẳng còn giữ lại một nét gì xưa cũ. Tôi còn có thể nhận ra Hòa không phải chính ở cô mà vì những nét quen thuộc của anh cô - thằng Cứng bạn của tôi - Cô có đôi mắt với cái miệng thằng Cứng, mắt lồi và môi trề. Tôi bảo cô ngồi chơi, cô vẫn quay lưng đi. - Em vội quá. Họp về em sẽ lại anh. - Bác có khỏe không cô? Vì cô đang vội - như cô nói, tôi nghĩ là cô vừa đi vừa trả lời, nhưng nghe tôi hỏi đến ông già thì cô quay lại: - Dạ, cũng khỏe. Rồi, cô không đi nữa. Cô đứng lại, nhìn tôi, nửa muốn đi nửa muốn không. - Ông già em, khổ quá! - Cô kêu “khổ quá” nhưng mặt lại tươi tắn. - Đất sanh cỏ, già sanh tật anh ạ! Để em nói cho anh nghe. Chừng như quên mất việc phải đi hội nghị, cô kéo ghế ngồi xuống. - Người ta thường hay lấy rượu để làm nư. Ông già em cũng vậy. Nhưng cái kiểu làm nư của ông, thiệt khác người. Ai đời! Anh biết đó, nhà em là tiệm thuốc bắc ở giữa chợ, lại sát tường sát vách với thằng cảnh sát. Vậy mà, mỗi lần uống rượu là ổng giật tấm hình thằng Thiệu xuống, ổng đặt nó xuống nền nhà, rồi ổng rút cây roi mây dài, ổng quất xuống mặt nó chan chát. Ổng vừa quất, vừa chưởi, vì nó mà anh Cứng của em mất. Ổng làm cho em sợ điếng vậy! Lúc đó, chắc cô sợ điếng thật, nhưng bây giờ, kể lại thì mặt cô rạng rỡ tự hào. Cô kể chuyện ông già chưa dứt, nghĩ gì cô ngước mắt nhìn tôi, cười, chặc lưỡi một cái: - Ba mươi năm mà trông anh không khác mấy. Hồi anh gặp anh Cứng em, ảnh có già lắm không anh? - Cũng như anh. - Trời! Nếu bây giờ, thình lình mà ảnh về thì ba em chắc lên mây! Cô lại cười, và cười mà hai con mắt đỏ hoe. - Cầm roi, ổng quất xuống mặt thằng Thiệu nghe tron trót vậy. Cũng may, chờ đến nửa đêm, cửa đóng then gài rồi, ngủ không được, ổng mới lấy rượu ra, ổng uống, rồi ổng đánh. Hễ em năn nỉ, em giật cây roi thì ổng lại làm già. Đôi mắt cô lại xa xôi, nhìn ra khoảng không hồi lâu: - Chắc anh còn nhớ, ba em hồi trước đâu có rượu chè gì! Phải, hồi trước, hồi tôi còn ở làng, tôi biết, chẳng những không rượu chè, bác còn là một con người đáng cho hàng xóm kính nể. Ông thầy thuốc bắc có tiếng với một lớp học chữ Nho, nề nếp và nghi lễ. Ngay cái áo ông mặc thường ngày cũng có vẻ nghi lễ hơn người. Áo bà ba có cái cổ đứng, trông lúc nào ông cũng trang nghiêm. - Từ ngày nghe anh Cứng em mất, ổng mới uống rượu, - Hòa tiếp, - suốt hai ba năm trời, đêm nào ổng cũng uống. Bây giờ đâm ra nghiện ngập be bét. Trước ngày giải phóng, đêm ổng mới uống, mới đánh thằng Thiệu. Bây giờ thì lu bù, ngày đêm gì ổng cũng uống. Hễ uống thì ổng kéo tấm hình thằng Thiệu ra ổng đánh mà hễ muốn đánh thằng Thiệu thì ổng uống. Mấy đứa nhỏ cứ xúm trước cửa dòm vô, coi như coi hát Sơn Đông. Lâu lâu không có chuyện gì vui, mấy đứa đi ngang qua cửa, nó kêu: “Ông Tám ơi, đánh thằng Thiệu nữa đi, ông Tám”. Con nít ở chợ bây giờ, coi ổng như là một trò cười! Em khổ quá! Vẻ mặt của Hòa lần này khổ thật. Cô nhìn xa rồi thở dài: - Đêm qua, ba tôi nghe nói anh về. Ba tôi nhắc, hồi đó ở trong làng, anh với anh Cứng học giỏi nhất. Nhắc tới rồi ổng đem rượu ra, ổng đánh thằng Thiệu. Con nít ở chợ lại chạy tới, thiệt lùm xùm. Nãy giờ nghe cô nói, tôi mới cười - Thằng Cứng anh của cô đâu có phải là đứa học trò giỏi! Ngược lại, thằng Cứng là đứa học trò tối dạ, học dở nổi tiếng. Học dở lại dơ dáy. Mũi thò lò, quần áo lúc nào cũng vấy mực. Nước da của nó lại sàm sạm, cả cái vẻ mặt của nó cũng cũ, cũ mèm. Nó học không đến nỗi đội sổ, nhưng không bao giờ vượt lên đến mức trung bình. Lớp học có bốn mươi lăm đứa thì nó vào hạng bốn mươi. Từ bốn mươi đến bốn mươi lăm nó cứ xục xịch như vậy cho đến ngày rời khỏi trường. Chung quanh chuyện học dở của nó lại có một chuyện thành trò cười, từ đó thành một giai thoại. Hồi đó, mỗi lần cho điểm thì cô lật sổ ra, gọi tên từng đứa. Đứa nào được cô gọi đến thì đứa đó phải đứng thẳng lên, vừa hô tên vừa hô điểm cho cô ghi vào sổ. Và hô điểm thì phải hô bằng tiếng Tây. Ví dụ, cô kêu: - An! Lập tức trò An phải đứng dậy và hô lớn: - An “nớp” (9). Cô gọi: - Bình! Lập tức trò Bình phải đứng dậy và hô lớn: - Bình “xít” (6). Lần đó cô gọi đến nó: - Cứng! Từ dưới bàn chót, nó bật đứng phắt dậy, nó có hai điểm mà nó không biết mắc cỡ, nó dõng dạc hô lớn: - Cứng! “Đơ” (2). - Tiếng “đơ” nó lại kéo dài mới chết! Cả lớp cười rộ lên, cô thì đỏ mặt tía tai, còn nó, mặt nó cứ tỉnh bơ. Thằng Cứng, “Cứng đơ” biến thành danh. Phải nói thật lòng, hồi đó, tuy là bạn cùng xóm, nhưng tôi không thích nó. Tôi không thích nó không phải vì nó học dở, dơ dáy hay lù khù. Tôi không thích vì thấy nó không ưa tôi. Lúc nào nó cũng nhìn tôi với cặp mắt lườm lườm, xa lánh và hiềm thù. Trong các trò chơi, nó tìm đủ mọi cách để đứng vào phía đối lập với tôi. Nhất là đá banh, lần nào chia đội, tôi để ý thấy, không khi nào nó chịu ở một đội với tôi. Học dở, đá banh cũng dở, chỉ được cái đá giò, và trận nào nó cũng cặp theo tôi. Nhưng tôi lanh hơn nó. Nó đá giò, tôi tránh, tôi thúc cùi chỏ, nó chỉ biết “hự” lên một tiếng, lấy mắt dòm. Tại sao nó không ưa tôi, tôi không hiểu, chỉ biết nó không ưa thì tôi không thích. Được cái, tôi không ỷ thế học giỏi hay lanh lợi mà ăn hiếp nó. Học hết cấp một trường làng, chúng tôi lên quận thi, tôi đậu số hai còn nó thì rớt. Tôi rời trường làng, lên trường quận. Nó thi rớt, nó cũng rời trường làng, cũng lên quận, nhưng hai quận khác nhau. Tôi học trường quận Chợ Mới, nó học trường quận Cao Lãnh - là quê ngoại của nó. Nó thi rớt nhưng chẳng hiểu thế nào nó cũng được lên lớp như ai! Một hôm, tôi từ nhà trường về nhà vào ngày chủ nhật. Tôi gặp ông Tám ngồi chơi với cha tôi ngoài thảo bạc - Ông ngồi vẻ tề chỉnh, áo bà ba cổ đứng, hai bàn tay để lên vế - như ngồi chụp hình, đang câu chuyện với cha tôi, bỗng ông quay sang tôi, ông hỏi: - Năm! - Dạ! - Tháng này cháu đứng hạng mấy? Tôi lễ phép đáp: - Dạ, tháng này cháu đứng hạng ba! Bà con trong làng, nghe tôi học đến hạng ba ai cũng tỏ lời khen, còn ông, ông “ừ” một tiếng trong cuống họng, nhìn tôi lom lom chừng như không muốn tin tôi, tôi phát bực. Ông lại “ừ” lên một tiếng: - Kỳ này thằng Cứng đứng hạng mười lăm toàn trường! - Tự nhiên mặt ông đỏ rần, như ngượng cho cái hạng mười lăm của thằng Cứng rồi ông lại đằng hắng: - Nhưng mà! Cái hạng nhứt ở trường Chợ Mới của cháu không thể bằng cái hạng mười lăm của trường Cao Lãnh! - Nói xong, ông nhìn sang cha tôi, dõng dạc như một nhà hùng biện: - Trường Cao Lãnh là trường nổi tiếng từ trước đến giờ đó, chú Hai! Cha tôi nhếch mép cười. Còn tôi, nghe ông nói cái hạng nhứt của trường tôi không bằng cái hạng mười lăm của thằng Cứng, tôi phát ngẩn ngơ - Hạng nhứt còn thua hạng mười lăm mà tôi thì mới đứng có hạng ba, vậy là tôi thua thằng Cứng đứt đuôi rồi, còn gì! Thua ai thì tôi còn có thể tin, chớ thua thằng Cứng thì tôi không hiểu nổi! Ai mà chẳng thương con. Nhưng mỗi người bộc lộ tình thương yêu của mình mỗi cách khác nhau. Kiểu binh con (thằng Cứng của ông) thật khó nghe. Từ đó, tôi ghét ông. Ghét ra mặt. Trả thù theo lối trẻ con, gặp ông tôi không cúi đầu chào. Năm 1946, tôi rời trường, theo bộ đội đi kháng chiến. Nghe đâu thằng Cứng cũng theo bộ đội. Nghe là nghe vậy, chớ tôi không để tâm và quên nó dễ dàng. Mãi đến đầu năm 1954, tình cờ tôi nghe nói cơ quan nó cùng ở trên một con kinh với tôi. Lại nghe nói nó vừa đón bà già vô thăm. Bà già mang vô không biết bao nhiêu quà bánh, có cả thuốc bổ nữa. Đặc biệt có cái thơ của ông già. Thơ của ông có một đoạn độc đáo, độc đáo đến nỗi thằng bạn báo tin cho tôi vừa cười vừa đọc thuộc lòng. Thơ ông già dặn nó phải biết giữ ba không. Ba không - mà người kháng chiến đều hiểu là ba điều giữ bí mật: không biết, không nghe, không thấy. Còn cái ba không của ông già nó dạy lại khác. Thơ ổng dạy: “Con phải biết giữ ba không: không ngồi lâu, không đứng lâu, không nằm lâu, cái gì lâu cũng đều sinh ra bệnh tật...” Đúng là cái kiểu thương con của ông! Tôi đến nó, buổi chiều gió mát, nó đang mở tiệc đãi bạn bè. Gặp tôi, nó mừng đến hét lên, nó sung sướng thật sự và ra mặt, nó ôm tôi, nó kéo tôi ngồi gần bên nó, nó giới thiệu với bạn bè: - Thằng bạn học tôi hồi nhỏ - Nó giới thiệu thân ái mà trân trọng và xúc động, nó ôm cổ tôi, kéo mặt tôi sát vào mặt nó - Tao nhớ mày quá Năm. Gặp ai tao cũng hỏi thăm mày! Đúng là tôi có nghe nó hỏi thăm tôi. Xúc động và vui miệng, nó vỗ vai tôi, nói với bạn bè: - Hồi nhỏ ở nhà, tại nó mà tôi bị đòn muốn chết. Nó học giỏi còn tôi thì học dở. Tới kỳ xếp hạng, biết tôi đứng dưới nó là ông già tôi ổng rút roi ổng quất tôi. Rồi ổng vặn đồng hồ, bắt tôi thức từ bốn giờ để học. Ông bắt tôi phải học cho hơn nó. Mà tôi thì làm sao theo nó nổi, khổ sở hết sức. Có một lần ổng đánh tôi, đau quá, tôi mới mếu máo: “Kỳ này tôi học hơn thằng cồ” - Ổng dừng roi ổng hỏi: “Thằng cồ đứng hạng mấy?”. “Dạ thằng cồ học hạng chót!”. Cái roi của ổng cũng quất tôi nghe một cái trót. Cả bọn chúng tôi đều bật cười. Thấy vậy nó càng vui. - Lần nó thi đậu, tôi thì rớt, ổng nhốt tôi vô nhà tắm, ổng đánh tôi một trận bán sống bán chết, năm sáu ngày đít vẫn còn lằn roi. Má tôi can: “Ông ơi! Ông! Sao ông không lựa thằng nào khác bắt con nó thi thố, sao ông cứ nhè thằng Năm mà bắt nó thi thố hoài vậy, hở ông!”. Ba tôi trừng mắt - “Bắt nó thi thố thì bắt với đứa giỏi, lựa cái đứa không ra gì thì bắt nó thi thố cái nỗi gì?”. Tội nghiệp ông già, ông muốn cho tôi tiến bộ! Nó cười, hai con mắt ươn ướt. Tôi và bạn bè ngồi im. Chuyện đang vui bỗng lắng xuống. Bây giờ, tôi mới hiểu, thương nó quá! Tập kết ra miền Bắc, tôi lại gặp nó. Từ Hải Phòng, nó về Hà Nội tìm thăm tôi. Khác hơn hồi còn bé, nó lanh lợi, bặt thiệp - Nó làm nghề vô tuyên điện, đang chỉ huy một giàn vô tuyến điện của đoàn tàu ra khơi. Nó từng làm việc với chuyên viên nước ngoài. Nó với tôi, chỉ học đến lớp nhứt, tức lớp bốn cấp I bây giờ. Ra trường chỉ biết một vài tiếng Tây. Vậy mà bây giờ, đọc sách kỹ thuật, nó đọc toàn tiếng Pháp. Nó không nói được tiếng Pháp, cũng chưa đọc nổi tiểu thuyết, nhưng nó đọc được tất cả sách về ngành nghề của nó. Nó tự học và đọc một cách thiết thực. Và theo tôi được biết, theo bậc lương công nhân, bậc cao nhất là bậc bảy. Năm ấy toàn miền Bắc chỉ có ba người được bậc bảy, mà nó là một trong ba người, hơn trăm đồng mỗi tháng. Tôi không muốn đánh giá người, hiểu người qua bậc lương, nhưng ở nó, nó đạt đến đỉnh cao bằng sức lao động và sự cống hiến, thật xứng đáng - Tôi thầm khen nó. Có lần nó viết thư rủ tôi về Hải Phòng chơi hè. Tôi về chơi với nó được nửa tháng. Trước khi về, theo thói quen và cũng là nguyên tắc, tôi đến quản lý thanh toán tiền cơm. Nghe vậy, nó bắt quản lý (cấp dưới của nó) mang tiền trả lại cho tôi và nó “sạt” tôi một trận. - Mầy quên cái tánh chất Nam Bộ rồi hả? Lần sau mà còn như vậy, mày đừng có xuống tao nữa! Thấy nó giận, tôi chẳng biết nói sao: - Mầy! - Tôi chỉ biết chống chế có một tiếng “mầy”! Rồi năm 1964, nó về Nam. Hai năm sau, tôi cũng về Nam. Cũng một chiến trường, nhưng không gặp lại nhau. Sau trận càn Jônsơn City (1967) từ chiến trường Tháp Mười trở về R, tôi nghe tin nó hy sinh. Nhớ nó, ngẫm lại, thật lòng mà nói, qua những lần gặp gỡ, qua sự chăm sóc của nó, tôi thấy nó thương nó quý tôi hơn tôi thương quý nó. Tôi lội rừng tìm cơ quan nó để hỏi xem đúng vậy hay tin đồn. Một nhân viên trong cơ quan nó kể lại với tôi. Nó là giám đốc xưởng. Trận càn ấy, một mũi của quân Mỹ dùi thẳng vô xưởng. Nó bị thương vì một mảnh pháo xuyên qua bụng. Sau khi băng bó cho nó xong, anh em định đưa nó đi, thì nó chồm dậy, nó lấy danh nghĩa là giám đốc nó ra lệnh, tất cả phải mang lựu đạn lại cho nó. Một mình, nó ở lại chặn giặc, còn tất cả phải bảo vệ máy móc đưa đi. - Lịnh! Không bàn cãi! Nó ngồi bên đống lựu đạn, một trái cầm sẵn trong tay, mắt nhìn về phía tiếng súng, nó hạ lệnh cuối cùng. Năm 1965, nó gặp lại vợ một lần. Và trước lúc hy sinh, nó chưa được nhìn thấy mặt con. Cứng! Người bạn cũ của tôi đã hy sinh! Bây giờ cô em gái của bạn đang ngồi trước mặt tôi. - Tôi định sáng mai sẽ đi thăm bác. - Dà! Thế nào anh cũng lại nhà em nghen anh. Nhưng mà khoan đã, anh đến nhằm lúc ông già em đang uống rượu thì khổ lắm. Thấy anh về, ổng tủi mà! Chừng nào ổng tỉnh táo, em sẽ chạy lại em mời anh. Thôi! Tới giờ rồi, em đi nghen anh! Không phải mới đây, mà từ lâu, tôi đã hiểu, hiểu ông, tấm lòng của một người cha. Tôi định bụng - ba mươi năm mới trở về làng, trong hai ngày phép, tôi để dành nhiều thời giờ sẽ đến thăm ông. Tôi sẽ kể lại sự trưởng thành của bạn tôi - thằng Cứng, con ông, sẽ kể lại tài năng và sự cống hiến của nó đối với Tổ quốc, sẽ kể lại tỉ mỉ về trận đánh oanh liệt của con ông, cùng lòng thương tiếc bạn bè đồng chí đối với đứa con yêu quý của ông. Và cuối cùng, cách nào đó, tôi sẽ nói, không phải khách sáo, cũng không phải an ủi lúc ông đang đau khổ, mà nói để ông tin vào tấm lòng chân thật của tôi rằng: “Bác Tám ơi! Thằng Cứng nó hơn cháu nhiều, nhiều lắm!”. Ngày 28-1-1976 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2024, 07:23:04 am LINH ĐA Đêm thứ bảy của một ngày qua cơn mưa, sau khi chạy rong ngoài đường phố, vì cần một nơi yên tĩnh để chuyện trò, chúng tôi vào một cái quán không có nữ chiêu đãi viên, một cái quán nhỏ bên đường dẫn vào những ngõ tắc và đang thưa khách. Cái bàn ngoài với năm bảy người khách không đủ gây ồn ào, những cái bàn dài đến tận trong thì trống rỗng. Chúng tôi ba người, chọn lấy cái bàn trong cùng, và tôi chọn lấy cái ghế ngồi ngó mong ra đường. Ấy cũng là thói quen của tôi, ở cái góc trong cùng ấy, tôi có thể nhìn bao quát cả cái quán và tiện thể dòm chừng chiếc xe Honda mới mua (dù đã khóa hết sức cẩn thận). Nhưng sự yên tĩnh đến buồn tẻ của quán kéo dài không bao lâu, chúng tôi vừa cạn chai “33” thì có một chiếc xích lô đỗ lại trước cửa, và người bước xuống xe là một cô gái. Một cô gái ăn mặc đúng thời trang của Sài Gòn, và son phấn, với cái dáng đi uyển chuyển, cô bước vào quán. Cái không khí yên tĩnh đến buồn tẻ của quán lập tức bị thay đổi trước sự xuất hiện của cô. Bắt đầu là sự xôn xao của cái bàn bia ngoài cùng kia. Câu chuyện đang giòn giã của họ bỗng tắt ngang. Nhiều cái ghế bị kéo xoay lại, tất cả đều hướng về cô ta, có kẻ đứng hẳn lên, lối xối những tiếng chào; và một sự tình cờ đến kỳ lạ, cái băng nhạc nhẹ đang thâm trầm thì bỗng chuyển dậy với tiếng kèn clarinét ré lên - (tôi không hiểu là bản nhạc gì của nước nào). Như trong cảnh của cuốn phim nào đó, một dàn nhạc với tất cả nhạc sĩ của tấu lên để chào mừng cô công chúa bước lên cung. Cô gái ấy, không kiêu hãnh cũng không khiêm nhường, cô không tỏ ra lạnh lùng trước vẻ xôn xao của những anh chàng tóc dài đến tận ót ở cái bàn ngoài, cũng không tỏ ra cợt nhả, cô khẽ nghiêng đầu cười đáp lễ, rồi ung dung bước hẳn vào. Qua cái vẻ chủ động của cô, tôi nghĩ cô là người chủ quán đi đâu mới về. Cô đang đi, như bị vấp phải một cái gì, hướng về cái bàn trong góc cùng của chúng tôi, cô khựng lại, không hiểu cô nhìn ai trong ba đứa chúng tôi mà đôi mắt mở tròn sững sờ. Rõ ràng cô đang xúc động, niềm xúc động của người chợt nhận ra một người thân. Cái nhìn sững sờ của cô khiến cho anh bạn trẻ của tôi - Hiệp, anh con trai ba mươi tuổi sống độc thân, đâm ra bối rối. Anh đưa ngón tay trỏ đỡ cái gọng kính cận lên cho vừa tầm mắt, anh nhìn cô gái, rồi nhìn sang hai đứa tôi, như muốn hỏi ai là người quen của cô. Vẻ kinh ngạc đến sững sờ của cô gái lạ kia thoáng qua rất nhanh. Rõ là cô tự hiểu mình vừa nhìn lầm một người nào đó trong ba đứa tôi. Cô không bước tới nhưng cô nhìn lảng sang nơi khác, cô nhìn những chiếc ghế trống để tìm một chỗ ngồi. Trong lúc cô đang còn lưỡng lự tìm lấy cho mình một chỗ thì những anh chàng khách hàng ở cái bàn đầu đều đứng dậy, kéo sẵn một chiếc ghế và những bàn tay, cánh tay chìa ra - vẻ thân ái, vẻ trân trọng giả vờ, vẻ cợt nhả trêu đùa - mời cô đến. Và, cô bước đến. Cô kéo cái ghế ấy vào một góc cùng bàn với họ. Một cái vẫy tay, anh chạy bàn có hàng ria mép màu tơ chạy ra, vỏ chai trên bàn được dồn xuống một góc. Anh chạy bàn cũng trở nên chộn rộn, lăng xăng, chạy vào rồi chạy ra với mâm bia. Hiệp - anh bạn trẻ của tôi có vẻ bực dọc vì người đẹp “của mình” đã bị kẻ khác phỗng tay trên. Anh không chịu nhường bước, anh gọi người chạy bàn đến, kêu thêm ba chai - chầu bia thứ hai, chứng tỏ anh chưa chịu rời khỏi quán. Không để cho người chạy bàn phục vụ, anh tự rót bia lấy. - Bọt bia vung đầy tràn ra cốc, anh ngả người vào tường với tư thế nhìn ra cửa, để tiện dõi theo từng cử chỉ của cô gái. Rồi như phát hiện được điều mới lạ, anh quay lại hai đứa tôi, giọng thì thào: - Con bé vừa quay lại nhìn bọn mình kìa. Cái nhìn của cô gái lạ ấy nãy giờ như đốt cháy trái tim anh Yên - anh bạn đứng tuổi - vợ con đùm đề, anh có vẻ bình tĩnh hơn, những câu chuyện cuộc đời làm báo cái thời Mỹ ngụy, đang sôi nổi, anh không tiếp tục được nữa. Còn tôi, tôi không phải là người không biết rung động trước vẻ đẹp của một người đàn bà. Tôi tỏ ra hững hờ vì tình cờ tôi đang gặp lại một kỷ niệm lớn hơn. Cái tiệm chụp hình ở phía bên kia đường kia, trong cái tủ trưng bày hình mẫu quảng cáo có tấm ảnh bán thân của thằng em tôi. Nó, tấm ảnh ghi lại hình ảnh của thằng con trai hai mươi hãy còn đó, nhưng nó thì đã chết rồi. Từ nãy giờ, khi bất chợt gặp lại hình ảnh đó, tiếng đàn đại hồ cầm qua cái loa âm thanh nổi của quán này, tôi nghe như tiếng sóng vỗ về đêm của con sông quê hương. Từ đó, tôi nhớ đến quê, nhớ đến hình ảnh nó. Mẹ tôi mất sớm - mất vì một cái hạch lao ở cổ, lúc nó vừa mới lên ba. Và ngày tôi ra đi - năm 1946 - suốt ba mươi năm trời tôi không hề gặp lại nó, dù là một lần. Tâm trí tôi, trái tim tôi, và lòng mong nhớ thằng em út, tôi chỉ còn giữ lại hình ảnh của một thằng nhỏ vừa mới lên sáu. Một thằng nhỏ mồ côi mẹ kháu khỉnh, khôn ngoan. Một thằng nhỏ lùn lùn, thân hình liền lạc, và tròn tròn như hạt mít. Cả xóm đều khen một thằng nhỏ ngoan ngoãn dễ thương. Với nó, tôi chỉ còn giữ lại một hình ảnh cuối cùng. Ngày tôi ra đi, nóp mang lên vai, ôm nó vào lòng, tôi hủ hỉ: - Lợi! Anh đi bộ đội em nhé! - Tôi nghĩ là nó sẽ ôm siết lấy cố tôi giữ lại, sẽ khóc òa lên. Nhưng không, hai cánh tay tròn múp míp của nó choàng lấy cổ tôi, nó hôn lên mái tóc tôi, nó bảo: - Anh đi đi! - Và nó cười. Chính vì nó cười mà tôi không cầm được nước mắt. Tôi và nó, có ngờ đâu, hai anh em không bao giờ gặp lại nữa! Tôi theo bộ đội, vượt qua con sông Tiền, sông Hậu về miền Tây, suốt chín năm kháng chiến, tôi không có dịp trở lại làng. Rồi tập kết, tôi ra Bắc. Mùa xuân năm 1966, tôi vượt Trường Sơn trở về. Tôi được tin gia đình và biết được cuộc đời của nó. Sau ngày tôi đi, người chị kế của tôi (chị thứ tư) thay mẹ nuôi em. Nó theo chị đi ở nhiều nơi. Đến khi chị tôi đi lấy chồng, cha tôi gởi nó đi học nhiều nghề: thợ bạc, thợ mộc, thợ chụp hình, cuối cùng nó chọn lấy nghề in, nó trở thành công nhân kỹ thuật in màu vào loại giỏi. Tôi biết cái chỗ ở và nơi làm việc của nó ở Sài Gòn. Gặp một người bạn quen - anh Tư Tân - chỉ huy đội Biệt động nội thành, tôi nhờ anh tìm nó, đưa giúp nó vào khu. Tôi gởi cho nó một tấm ảnh của tôi - chụp ở Hà Nội - để nó làm tin. Không gặp mặt, nhưng hai anh em đã được tin nhau. Sau đó, không bao lâu, tôi nhận được thư của Tư Tân, báo cho tôi biết, nó không vào được. Nó là đứa em út, “giàu út ăn, khó út chịu”. Anh chị em tôi, ai cũng có gia đình, mỗi người có mỗi thân phận riêng, nó hãy còn độc thân, nó đi làm để nuôi cha tôi. Thế là tôi không gặp lại nó. Cũng từ đó, tôi không nhận được tin nó, nhưng tôi yên tâm nó đã được sự giúp đỡ của Tư Tân. Đầu xuân năm 1972 tôi lại vượt Trường Sơn trở về Hà Nội. Đứa con trai đầu lòng của tôi bắt đầu từ tuổi lên hai, càng ngày càng giông nó, cũng lùn lùn, cũng liền lạc, tròn tròn như hạt mít. Hàng ngày, hàng giờ, và hàng phút, ở cái tuổi lên ba ngày xưa, nó đến với tôi qua từng cử chỉ của đứa con tôi - tôi càng nhớ thương nó da diết. Miền Nam được giải phóng, từ Hà Nội được trở về, tôi quyết tìm gặp mặt nó trong ngày đầu. Nhưng một tin sét đánh: nó chết rồi! Và cái chết của nó kỳ lạ và bí ẩn đến nỗi cả nhà tôi không sao hiểu được. Nhờ cái tài của anh thợ nhà in, nó toàn dùng giấy giả, nó không hề bị bắt lính. Thế mà khi nó chết, nó còn mặc nguyên bộ quần áo rằn ri trong nhà thương lính - Nó chết đã là một niềm đau đớn, lại chết trong màu áo của một thằng lính ngụy! Ba mươi năm! Ngày trở về, tôi chỉ còn gặp lại thằng em út qua những tấm ảnh! Và tôi chỉ còn nghe được những kỷ niệm về nó qua những câu chuyện của gia đình. Cha tôi kể, sau ngày tôi đi, cha tôi đưa nó tản cư vào Đồng Tháp. Một hôm, nó bị sốt, cha tôi bồng nó qua cây cầu khỉ. Nó chớp mắt nhìn cha rồi chu miệng hút gió, cha tôi hoảng sợ vì tưởng nó đang mê sảng, cha tôi hỏi: - Con làm gì vậy con? Năm ấy, nó lên bảy, nó đáp tỉnh khô: - Con thấy cha buồn, con hút gió cho cha vui! - Nghe con nói, nước mắt của người cha trào ra, không ngăn nổi. Chị tôi kể: Có một lần chị tôi cần đi đâu đó, không tiện dẫn em theo, chị tôi dỗ nó, cho nó mười đồng. Nó không bằng lòng, nhưng nó không nói. Chiều về, khi chị tôi hốt gạo nấu cơm thì chị thấy số tiền ấy nó để trong lu gạo: - Nó trả lời chị bằng cái cách đó, em thấy nó có khôn không? Đứa em gái thứ sáu của tôi kể về nó nhiều nhất. Nó là đứa em đẹp nhất nhà. Đẹp lại đào hoa. Chính đứa em thứ sáu cho tôi biết, ảnh của nó bây giờ cũng còn trưng bày trong các cửa tiệm chụp hình. Từ ngày về Sài Gòn đến giờ, đây là lần thứ tư tôi bắt gặp được ảnh nó trong cửa hiệu. Ba tấm ảnh ở ba cửa hiệu khác, nhìn nó tôi không thích lắm. Ba tấm ảnh đó, nó chụp theo vẻ tài tử, nụ cười của nó có vẻ mơn trớn lả lơi, còn tấm ảnh này nó có vẻ chững chạc suy tư. Ngồi trong quán này, nhìn nó, lòng tôi không còn có chỗ cho cái vẻ đẹp của cô gái kia, nên tôi hững hờ. - Trời đất! - Hiệp, anh bạn trẻ vừa hớp một hớp bia, nghĩ gì, anh kêu - tất nhiên là kêu khẽ thôi - Tôi ở cái đất Sài Gòn này đã ba mươi năm, tôi chưa hề gặp một nhan sắc nào tuyệt trần đến như vậy! Giọng anh lại sôi nổi trong hơi men, anh điểm tên tất cả các cô đào nổi tiếng ở đất Sài Gòn ngày cũ - đào chiếu bóng, cả đào cải lương - rồi đưa cái quả đấm đặt khẽ xuống bàn, khẳng định: - Thua xa! Phải không anh Yên? Yên - người bạn đứng tuổi của tôi gật đầu và tán thưởng “kỳ thì... ệt”. Chầu bia thứ hai vừa cạn, Hiệp gọi thêm chầu thứ ba. Hiệp kéo tay anh chạy bàn cúi gầm xuống hỏi nhỏ: - Cô ấy là ai vậy? - Dạ, em chẳng biết. - Cô ấy có thường tới đây không? - Dạ, năm, bảy hôm cổ tới một lần. - Cổ thường đi với ai? - Dạ, cũng như đêm nay, một mình, cũng ngồi ở cái ghế trong góc đó. - Tôi nhờ anh một chuyện. Anh lấy thêm một chai, mang sang bàn cô ấy, bảo với cô ấy là bàn bên chúng tôi mời cô một chai xã giao. Sau khi rót cho cô ấy xong, anh mang cả hai chai của cô sang qua đây, tôi trả. Anh nghe chưa? Anh chạy bàn trù trừ, tỏ ra khó xử, nhưng anh bạn trẻ của tôi đã lanh tay móc ra tấm giấy một đồng nhét vào túi anh. - Dạ, được! Để em lo - Anh ta ngả người chào, vụt bước vào trong. Sợ xảy ra va chạm giữa khách hàng vì một cô gái, nên tâm trí tôi dứt ra khỏi hình ảnh của đứa em. - Đừng làm vậy Hiệp! - Tôi bảo. - Anh cứ để em! - Tôi biết, khi mà Hiệp xưng em với vẻ khiêm nhường, ấy là lúc bất cần của anh. Quán bia thường hay xảy ra những rắc rối như vậy, nghe đã thấy phiền, huống chi là trong cuộc, tôi muốn tránh. Tôi muốn gọi anh chạy bàn lại bảo đừng, nhưng không kịp nữa. Anh ta đã mang chai bia đến với cô gái ấy rồi. Anh kề miệng nói vào tai cô gái ấy điều gì đó, và chai bia cũng đã rót vào cốc của cô ta. Trung thành với lời dặn của Hiệp, anh mang cả hai cái vỏ chai của cô đặt lên bàn chúng tôi. Và nguy hiểm hơn, cô xoay hẳn người về phía chúng tôi. Anh bạn trẻ của tôi liền cầm cốc đưa lên khỏi trán. Phía bên kia, tê nhị hơn, cái cốc trên tay cô cũng khẽ nhấc lên và một cái chớp mắt thay cho lời mời. Anh bạn trẻ của tôi sướng ra mặt. Cốc bia đầy trong tay anh giựt xuống còn phân nửa, với vẻ chiến thắng hả hê, anh quay sang hai đứa tôi: - Sở dĩ tôi dám mời cô là vì tự nãy giờ tôi đế ý thấy cô cứ nhìn qua cái bàn của chúng mình, kỳ hơn, là cứ nhìn ngay anh Năm. - Đúng! Mình cũng đế ý thấy như vậy. - Yên - anh bạn đứng tuổi xác nhận. Tự nhiên tôi giẫy lên: - Tôi có gì mà người ta nhìn? - Tôi cười và chột dạ. Mãi đến lúc ấy tôi mới đế ý đến cô gái lạ kia. Trong khi đó, khách cùng bàn của cô như vừa phát giác ra một điều lạ. Hai cái vỏ chai của cô gái bị mất và cô thì hướng về một cái bàn khác, người khác. Họ vẫn ngồi đó, không nhúc nhích - như thừ ra vậy - và tất cả đều im lặng. Còn cô, cô ngồi đó, với chiếc áo hồng, với mái tóc, với khuôn mặt rực rỡ của cô, trong ánh đèn mờ ảo của quán, cô như một đóa hoa nở về đêm. Tiếng kèn clarinét lựa vào lúc ấy lại ré lên, run rẩy. Chuyện gì sẽ xảy ra sau sự im lặng nặng nề đến như nghẹt thở của cái bàn ngoài kia? Tôi lo ngại. Còn Hiệp, anh bạn trẻ của tôi thì ngả lưng vào tường, nghếch cái cặp kính cận nhìn về họ cười đắc thắng. Bất thình lình, cả cái bàn ấy, họ bật đứng dậy. Họ gọi tính tiền. Biết là họ rút lui. Anh bạn Hiệp nhìn lại hai đứa tôi, nhướng mày, mủm mỉm cười. Bàn bên ấy, sau khi trả tiền xong, một anh người to lớn đẫy đà rút một tấm giấy đỏ mười đồng, bước tới, cầm lấy cái vạt áo của cô kéo ra, cuộn tròn tấm giấy mười đồng đút vào ngực cô. Tôi nổi nóng vì cái cử chỉ trịch thượng của kẻ ỷ đồng tiền. Họ ra xe. Sự bực bội của họ như đổ dồn vào tiếng máy. Năm chiếc xe Honda của họ cùng nổ máy rụ lên, rú dài xa mất... Trong quán nước chỉ còn có ba đứa tôi với cô gái. Không cần phải nói, ai cũng biết là anh bạn trẻ của tôi sẽ tìm cách mời cô gái đến ngồi cùng bàn. Nhưng không đợi anh phải mời, cô tự đến với cái bàn của chúng tôi. Người tỏ ra niềm nở với cô tưởng là Hiệp, nhưng không, người niềm nở với cô lại là Yên, người bạn đứng tuổi. Yên, anh bạn cao lêu nghêu của tôi vừa ngả người cúi xuống như một diễn viên vừa đưa tay kéo chiếc ghế. - Hân hạnh được mời cô. - Cám ơn ba anh. Yên ngồi ở đầu bàn, Hiệp ngồi dựa vào tường, cô gái lạ ngồi giữa, phía bên này bàn, một mình tôi, và tôi ngồi đối diện với cô. Hiệp gọi thêm chầu bia thứ tư, anh chạy bàn kể cũng điệu đời, anh lau bàn, dẹp hết cốc cũ, đưa ra bốn cái cốc mới, ý muốn nói: Đây chính chầu bia mở đầu. Chầu bia mới được dọn ra, anh bạn Yên của tôi nãy giờ như lặng đi thì bây giờ anh lại nổi lên, với cái vẻ lịch thiệp của người đứng tuổi và trải đời, anh nâng cốc: - Xin mừng cuộc tao ngộ kỳ lạ của chúng ta! Anh chàng Hiệp không nói gì, anh tỏ niềm vui sướng của mình bằng cách nâng cốc lên khỏi đầu và cạn hết một hơi. - Chúng tôi muốn được biết quý danh của cô. Người hỏi cũng là anh bạn Yên của tôi. - Tên em là Linh Đa! - Linh Đa? - Anh bạn Hiệp lặp lại qua vẻ xúc động. Linh Đa! Một cái tên nghe lạ tai - Linh và Đa, cả hai đều là tiếng Việt, nhưng hai tiếng ấy ghép lại thành tên thì nghe như tên của một cô gái nước ngoài nào đó, tận đâu đâu. Và cũng kỳ lạ thay, cái tên Linh Đa (lạ tai ấy) lại phù hợp với con người của cô. Bây giờ tôi mới nhìn rõ được cô gái tên Linh Đa ấy. Cô không đến nỗi tuyệt trần như sự trầm trồ của anh bạn, nhưng phải công nhận cô là một cô gái đẹp không phải ở đâu cũng tìm thấy. Cô khoảng hai mươi lăm tuổi, vẻ đẹp của cô không phải là vẻ đẹp tươi mát hay phơi phới của một cô gái chưa hiểu đời. Vẻ đẹp của cô, vẻ đẹp của người từng trải: kín đáo mà quyến rũ, vẻ đẹp thuần hậu gần gũi của Việt Nam, nhưng lại phảng phất vẻ xa lạ qua cách trang sức của cô. Đôi mắt đen nhưng ánh xanh qua lớp sơn màu trên khóe mắt, mũi dọc dừa, với đôi môi ướt mọng xinh xinh. Cô đeo sợi dây chuyền vàng, mặt sợi dây chuyền giấu sâu dưới làn áo. Tôi để ý thấy Linh Đa hay nhìn tôi, nhìn thoáng qua nhưng rất sâu. Cái nhìn ấy có lúc như sững sờ, như kinh ngạc, như muốn tìm một nét quen thuộc nào đó trong tôi. Cái nhìn khiến cho tôi xao xuyến. - Linh Đa à? - Anh bạn Hiệp của tôi vừa như lặp lại vừa như gọi và anh kéo chiếc ghế xích lại gần, anh ngả người gần lại Linh Đa. Linh Đa né người, đưa hai tay chận lấy hai vai của anh - chận mà không sờ đụng. - Xin anh ngồi lại chỗ cũ. - Giọng cô thỏ thẻ van xin - Em sang đây là muốn nói với các anh, xin anh đừng làm vậy! Trước thái độ lịch thiệp và nhỏ nhẹ ấy, anh bạn tôi chỉ biết cười trừ. Cô trở lại ghế, và lại nhìn xoáy vào tôi, tôi thấy ái ngại và bồn chồn. - Anh cho phép em được hỏi anh? - Là bạn bè xin cô cứ tự nhiên. - Người trả lời không phải tôi mà Hiệp. - Anh có phải là người ở Hà Nội mới về không? Nghe cô đoán đúng, hai bạn tôi khoái chí đến mức không kìm được. Anh bạn Hiệp vừa vỗ đùi đánh bốp một cái vừa ngã người vào tường cười ngất. Còn Yên thì ngoản ngoẻn, kêu lên: - Giỏi thật! Lúc ấy hai bạn tôi như đứng về phía Linh Đa mà nói với tôi: “Anh xem người Sài Gòn chúng tôi tinh mắt chưa nào?”. - Sao Linh Đa biết? - Tôi hỏi để bắt chuyện - Anh bạn Hiệp tôi trả lời thay cho Linh Đa “của anh”. - Có gì đâu cha! Cái mái tóc ngắn của anh này, cái cổ áo của anh, rồi lại cái quần thùng thình của anh nữa, chỉ cần thấy thoáng anh ở ngoài đường, cũng biết anh là người Hà Nội rồi, có phải không Linh Đa? - Anh hỏi với vẻ tâng bốc, nịnh đầm. Linh Đa cười, nụ cười hiền và quyến rũ: - Không chỉ ở quần áo, nếu anh có ăn mặc như người Sài Gòn, y như hai anh, em cũng có thể nhận ra ngay. - Thấy con gái Sài Gòn của chúng tôi chưa anh Năm? - Anh bạn Yên, cười ngoản ngoẻn và nhìn Linh Đa có vẻ khen ngợi. - Gương mặt của anh đúng là gương mặt anh cán bộ, không trộn vào đâu được, phải không Linh Đa? Tôi có cảm giác, cùng một lúc cô nhìn cả hai người ngồi bên cô: - Biết nói với mấy anh thế nào bây giờ? - Cô lại nhìn xoáy vào tôi tò mò: - Thưa anh, anh là người ở tỉnh nào? - Tôi ở Long Xuyên. - Long Xuyên! - Cô lặp lại và vẻ mặt của cô như tái đi rồi ửng đỏ, và cô thở dài. Cô nhìn xuống, lặng im. Nghĩ gì, cô bật đứng dậy, bước vào quầy hàng như cô chủ, cô hỏi xin một tấm giấy (giấy tính tiền) mượn cây bút ghi nhanh mấy dòng gì đó, rồi bước lại ghế. Cô quay nhìn hai anh bạn Sài Gòn của tôi dò hỏi: - Xin hai anh cho phép, hai anh cho em được gởi lại anh Năm tấm giấy nhỏ này. Cô ngừng lại, ngực phập phồng: - Xin anh Năm cho em một điều, và hai anh một điều, thưa có được không vậy? - Là bạn bè cô cứ tự nhiên m.a... à! - Anh bạn Hiệp của tôi lại cợt nhả: - Nếu được ba anh cho phép, xin anh Năm giữ lấy tờ giấy nhỏ này, về đến nhà hãy xem. Còn hai anh, thì xin hai anh đừng tò mò hỏi anh Năm. Em mong ước được như vậy, xin hai anh đừng giận em nhé! - Cô thì dù có giết tôi, tôi cũng vui lòng - Anh bạn Hiệp trêu đùa. Tôi không thể đoán hiểu nổi tâm trạng của Linh Đa khi cô trao cái tờ giấy nhỏ ấy cho tôi, cô nhìn tôi, như trao một cái gì đó quyết định cho cả một vận mệnh của cô, lồng ngực của cô căng lên phập phồng, môi run run và cả cái hơi thở của cô nữa, cô thở hồi hộp nặng nề. - Cầm lấy đi anh Năm, lá thơ của người đẹp mà - Anh bạn Hiệp giục tôi. Anh bạn Yên thì chặc lưỡi ngước đầu nháy mắt bảo tôi. Tôi có cảm tưởng như hai anh bạn của tôi đang hùa theo Linh Đa bày ra một trò đùa. Thấy tôi đang lạ lùng và cười cười, Hiệp chộp lấy tờ giấy trên tay Linh Đa nhét vào túi tôi. Linh Đa nhìn sang hai người cười và lại nhìn xoáy vào tôi, cái nhìn khiến tôi bồn chồn. Xong một trò đùa, cả bốn người lại im lặng. Cái âm thanh trầm của cây đại hồ cầm của một bản nhạc nào đó nổi lên, lan ra như một làn khói đục đang la đà dưới nền nhà. Linh Đa thở dài, bất thình lình cô đứng dậy. - Xin ba anh cho em về, khuya rồi. - Ủa - Anh bạn Hiệp ngước cặp kính cận lên nhìn, ngạc nhiên - bia hãy còn đầy kia mà, chúng tôi sẽ đưa Linh Đa đến tận nhà. Linh Đa nhũn nhặn: - Cảm ơn ba anh! Cốc bia này xin anh uống cho em, em đang say. Linh Đa cầm cốc bia khẽ chạm vào cốc của anh bạn Hiệp và đặt xuống mặt anh, và khẽ cúi chào cả ba đứa tôi. Cô quay ra, bước đi. Cô đi bất ngờ, vội vàng khiến cho hai anh bạn tôi như bị hẫng. Cô bỏ đi không một chút lưu luyến. Lạ lùng là hai anh bạn tôi lại hết sức tự nhiên, như không có điều gì đã gây ra sự tranh chấp giữa hai bên, đã gây ra sự xôn xao ít nhiều trong mỗi người. Có lẽ hai anh đã gặp những cô gái như vậy là sự thường. Hai anh không nhắc không hỏi gì cái giấy của Linh Đa gởi lại cho tôi. Như một trò đùa đã qua, không cần phải nhắc lại. Còn tôi, tôi nhìn theo Linh Đa, cái dáng đi nhẹ nhàng và tha thướt của cô, cái giấy nhỏ trong túi áo như động đậy bên trái tim tôi. Và bức ảnh của thằng em út tôi trong tủ kính bên kia đường, trong tư thế ngồi nghiêng, mắt nhìn theo chiều con đường Linh Đa ra đi, nó như đang dõi theo từng bước của Linh Đa trong đêm vắng. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2024, 07:23:19 am * * * Tờ giấy nhỏ ấy, Linh Đa viết: “Em ở đường... số nhà 20/32, 68B. Mong anh đến chơi. Em có thể nhìn lầm, anh tha thứ, đừng nghĩ xấu gì em, tội nghiệp”. Chỉ có ở cái đất Sài Gòn này mới có thể xảy ra một cuộc gặp gỡ kỳ lạ đến như vậy! Tôi muốn xem như một trò đùa - trò đùa trong một cái quán bia, và muốn để nó ra ngoài ý nghĩ. Thế nhưng, hình ảnh của cô gái có cái tên nghe lạ tai là Linh Đa ấy, cùng với những cử chỉ và cái nhìn của cô đối với tôi, tôi thấy không yên. Càng muốn gạt đi, càng phải nghĩ tới, nghĩ với nhiều giả thuyết sai đúng trái ngược nhau. Cuối cùng, tôi quyết định tìm đến số nhà theo như trong giấy cô đã ghi. Vẫn có sự dè dặt tối thiểu, tôi đi với một người bạn thân, một người bạn đã từng sống chết có nhau. Anh bạn tôi dừng xe lại ở đầu đường, tôi đi bộ vào ngõ. Số nhà với ba con sô hai lần “suyệt” như vậy, chứng tỏ là một ngôi nhà trong một cái ngách rất sâu. Dừng lại đầu đường, tôi theo một cái ngõ dài với những ngôi nhà nhỏ hơn, lại rẽ vào tay phải theo một hẻm hẹp hơn, một cái hẻm dài lồi lõm nhiều ổ gà với hai dãy nhà tôn; đến số 32, tôi lại rẽ vào tay trái, theo một cái hẻm dài như một cái đường mương, bùn đất lầy lội, nhà chen khít nhau, cái lồi cái lõm như đang xô lấn nhau tìm cuộc sống. Đi tìm một cô gái trong cái hẻm này, tôi thấy ngượng. Tôi tưởng như những người hai bên đường đang nhìn mình với cặp mắt tò mò, dò hỏi, tôi muốn tháo trở ra, nhưng lại sợ người trong nhà sẽ nghi ngờ. Tôi cố hết sức tự nhiên, tôi cắm cúi đi như một người đã quen đường, thỉnh thoảng mới liếc nhìn xem số nhà. Số nhà hai bên hẻm có cả số mới và số cũ, thật rắc rối và tôi đã nhìn thấy con số 68B - con số của cái lầu gỗ lợp tôn thấp và bé nhỏ như chuồng chim. Một cái cầu thang từ cái cửa xanh cũ kỹ thòng xuống tận ra hẻm; một tờ giấy trắng với hàng chữ dán dài theo thành cầu: “Cầu thang cũ, xin nhẹ chân”. Tôi đứng dưới cầu thang, nghe ngóng, ngại ngùng. Tôi phập phồng và rụt rè. Tôi muốn quay lộn ra, nhưng phía sau tôi có tiếng xe xích lô đang chạy tới. Để cho người đi xích lô thấy mình tự nhiên, tôi bước thẳng lên như người nhà. Cái cầu thang ọp ẹp, và ruỗng mục bắt tôi phải nhẹ chân! Tôi bước từng bước một. Chân tôi run hay cái cầu thang ọp ẹp này đang rung lên dưới sức nặng của tôi, chẳng biết nữa! Vừa ló lên bậc cửa, bất ngờ lại đến với tôi. Trên sàn nhà, một thằng nhỏ ba tuổi trần truồng da dẻ trắng toát, tóc vàng, trố hai con mắt xanh lè nhìn tôi. Thấy nó, tôi giật mình và như bị ai nhát, tôi vội quay xuống, tôi không đủ bình tĩnh bước xuống từng bậc cầu nữa, từ trên giữa cầu thang, tôi phóng xuống mặt đường, vội vã với những bước dài, như chạy trốn. Ra đến đầu ngõ, tôi thở hổn hển và xuất cả mồ hôi trán. - Đi! Về tôi sẽ nói! - Tôi leo lên xe Honda, giục bạn nổ máy... Đứa bé con lai ấy cứ ám ảnh tôi. Là một đứa bé vô tội đáng thương cần phải được chăm sóc và nuôi nấng trở nên người - Tôi nghĩ vậy, nhưng sự xuất hiện bất ngờ của nó lúc đó gợi lại cho tôi hình ảnh của kẻ thù, những thằng lính Mỹ. Kẻ bỏ chạy hãy còn để lại dấu vết của nó trong đời sống của chúng ta, còn để lại cái quá khứ tội lỗi của chúng trong hình hài của những đứa bé trong sáng ngây thơ. Nhìn những đứa bé ấy, ta yêu thương nhưng day dứt, xốn xang. Đứa bé lai trong căn nhà ấy là con của Linh Đa chăng? Tim tôi bị nhói đau. Như không chịu nổi cái nhói đau ấy, một lần nữa, tôi lại gạt câu chuyện Linh Đa ra khỏi tâm trí tôi. Nhưng càng muốn gạt ra, nó càng đến, đến nhiều hơn, chẳng khác gì như ta đọc tiểu thuyết, vì chịu đựng không nổi cảnh ngộ éo le của một nhân vật nào đó, ta xếp nó lại, nhưng chính nó là sự hấp dẫn, cuốn ta đến trang cuối cùng. Độ nửa tháng sau, Yên và Hiệp lại đến tôi chơi, hai anh kể, hai anh có gặp lại Linh Đa ở cái quán đó. Linh Đa nhắn với tôi, muốn gặp tôi ở cái chỗ mà Linh Đa đã hẹn. Tôi lại đến cái ngõ hẻm ấy. Vì sao tôi không muốn tránh đi cho đỡ rắc rối mà lại đến? Có lẽ vì một linh cảm nào đó xui tôi, một linh cảm không thể nào giải thích nổi. Lần này, tôi mang theo một gói kẹo của một người bạn Hà Nội gởi cho, tôi định bụng sẽ làm quà cho đứa bé lai ấy. Bước lên cầu thang, tay cầm gói kẹo, tưởng tượng đến sự vui mừng của nó, tôi thấy sung sướng. Tôi bước lên sàn nhà. Đứa bé lai hôm ấy, tôi không nhìn thấy. Và Linh Đa đang ngồi đọc sách. Hẹn tôi đến, nhưng khi tôi đến thì cô giật mình. Cô bối rối khi tìm cho tôi một chỗ ngồi. Sàn gỗ được lau sạch, cô vẫn trải thêm chiếc chiếu. - Nhà em không có gì, xin anh đừng chê. Chiếc chiếu tã không sạch bằng cái sàn gỗ, nhưng dù sao cũng là cái để tỏ ra trân trọng đối với khách. Lầu cao nhưng mái lại thấp, đồ đạc chẳng có gì nên trông cũng rộng rãi. Ngôi nhà không xứng với vẻ đẹp lộng lẫy của cô hôm ấy và cả hôm nay. Và tôi đã hiểu thế nào là ngôi nhà ổ chuột của đất Sài Gòn, rác rưởi đường mương nước cống xông lên nồng nặc. - Linh Đa ở đây với ai? - Tôi hỏi để làm quen cho những câu chuyện về sau. - Dạ, nhà của một đứa bạn, em tạm trú với thằng con. - Cháu đâu rồi? - Em mới nhờ một đứa nhỏ bồng nó đi chơi... Hôm nay, - buổi trưa này, ngồi trong nhà, không gắn mi giả, trông cô thật hơn, đẹp hơn và cũng gần gũi hơn cái đêm ở quán nước. Cô mời tôi đến đây để làm gì? Tôi muốn hỏi, nhưng chưa biết sởi ra từ đâu. Những câu hỏi làm quen đã qua rồi. Tôi im lặng ngó mong và chờ đợi. Còn cô - cô đang mở đầu câu chuyện qua vẻ ái ngại và hồi hộp. Không muốn kéo dài cái không khí ái ngại của hai người, tôi lại hỏi: - Em ở đây lâu chưa? Tôi không ngờ, chính cái câu hỏi bâng quơ ấy lại đưa cô vào chuyện. - Ở đây thì em mới ở, nhưng cái đất Sài Gòn này thì em ở lâu rồi, đã nếm trải đủ thứ mùi đời - Em chưa phải già, vậy mà nhiều khi em nghĩ là sao mình sống dai đến như vậy. Em có phải là gốc ở đây đâu. Em là người gốc ở Mỹ Tho, người nhà quê, bây giờ nhìn em, anh có tưởng được như vậy không? Một cuộc đời son phấn - Cô thở dài, vẻ chán chường. - Sao em lại lên đây? - Một điều không ai muốn. Em nhớ năm đó là năm sáu mươi lăm, em mới mười lăm. Nhằm mùa lúa, cả nhà em ra đồng sớm, cũng do cái số, mọi hôm, em phải ở nhà lo cơm nước, với giữ hai đứa em. Nhưng sáng hôm đó, ba em gọi em đi, phải thêm một tay gặt cho kịp mùa - Hai đứa em của em ngủ trong hầm núp, hầm nhà em chắc lắm - Một cái hầm nổi, anh biết cái hầm nổi ở Tháp Mười không? - Em cứ nói đi. - Cái hầm nổi không phải đào xuống đất mà đắp lên cao, làm vách, làm nắp, cái hầm của em ở ngay giữa nhà - Vách dày cỡ một sải tay nè nè, vách hầm bằng cây dừa rồi trát đất xung quanh. Dừa nó xốp, giữ được miểng bom, nắp hầm cũng vậy, cũng dày lắm, trên lót một bộ ngựa gõ. Ban ngày ngồi chơi trên bộ ngựa, tối thì rúc vô hầm. Trong hầm giăng một cái mùng đủ chứa cả sáu người, ba má với bốn chị em. Sáng hôm đó, em với ba má và đứa em trai em, gọi nhau ra đồng. Em nhớ là nhà em và cả xóm đi giăng giăng theo bờ mẫu. Có lẽ nhờ sương xuống lù mù nên trời được yên tĩnh. Chớ ở Tháp Mười, lúc nào mà không nghe tiếng máy bay, anh! Không phản lực thì cũng đầm già, không đầm già cũng trực thăng. Những buổi sớm dậy nấu cơm nhìn ra đồng em thường thấy những bầy trực thăng Mỹ vừa chớp đèn - tắt cháy tắt cháy - như một bầy đom đóm, quần đảo để dọn bãi đổ quân. Nghe hoài rồi cũng thành quen. Nhưng sáng hôm đó, yên tĩnh quá em đâm lo. Ba em đi trước, ngó ngoáy lại sau: - Bữa nay sao yên lặng quá vậy hả? Ba em vừa nói thì trên trời như có sấm chớp - Một cái lóe sáng - Những trái bom từ trên cao rít xuống nghe lạnh từ ót xuống tới lưng. - Chết rồi, bom trộm! Ba em vừa hét, chưa kịp nằm xuống thì tiếng nổ nghe “ùng ục”. Đất dưới chân em như đổ sụp, người em lắc qua như đứng trên võng vậy. Một bựng khói dài theo kinh cuộn lên, đen sì. Cả xóm quay chạy trở vô. Bom nổ rồi mói nghe tiếng phản lực ào ào rít qua đầu. Anh ơi! Mới đó mà không ai nhìn ra cái nhà của mình nữa. Một chùm bom trộm rơi ngay xóm. Nhà em là cái hố bom đìa. Cái hầm của nhà em chắc vậy nhưng không chịu nổi trái bom đìa. Hai đứa em nhỏ của em bị vùi sâu dưới hố rồi, không tìm được một nắm xương. Sân nhà em bên bờ kinh, bờ kinh bị sụp vỡ, em thấy nước kinh tràn vô đầy hố, bọt nước trào lên như bọt máu. Ba em không biết nghĩ gì nữa, cứ để cả quần áo nhào xuống lặn hụp như điên. Ba em cứ đưa hai tay cào quấu lấy bờ hố bom. Má em thì kêu trời kể lể: - Các con ơi! Má muốn thấy mặt, muốn chôn con, tìm đâu ra con mà chôn mà cất các con hở các con... Từ đó, số phận của cô, một cô gái nông thôn ở một làng kháng chiến, bị thay đổi từ quả bom trộm của một tên Mỹ nào đó bay trên trời cao ném xuống, quả bom giết chết hai đứa em của cô. Qua lời kể của Linh Đa, khiến tôi nhớ lại những con kinh dài xuyên qua cánh đồng, những con kinh bị bom đạn Mỹ tàn phá đến xác xơ, một cái vạt tràm lấp thấp cũng bị bom napan Mỹ đốt trụi, bờ kinh lở lói hố bom và những bãi cỏ hoang trên những nền nhà trụi cháy. - Buổi sáng hôm đó, sương chưa tan, một bầy trực thăng lại ầm ĩ bay tới. (Chuyện ấy đối với Linh Đa đã xa rồi, cô kể như kể một chuyện của một thời nào đó - Như cái thời trong kiếp trước của cô, thật xa, nhưng với tôi thì lại gần gũi vô cùng, như xảy ra trước mắt tôi). Trực thăng một bầy, trời đất như sôi sục vì tiếng bay vì tiếng súng của bọn chúng. Chúng bắn rốc két xuống từng nhà, chúng rải đạn chiến vào khu vườn, chúng bắt loa kêu dân phải xuống xuồng bơi ra chợ Mỹ An - Vùng của bọn chúng đang chiếm đóng. - Người ta không kịp lấy gì nữa - Linh Đa kể tiếp, một cái nồi cũng không kịp lấy, chỉ còn kịp lo thân sống, người nào lanh chân chạy ra khỏi vòng vây của nó, chui ẩn trong sậy đế giữa đồng thì thoát khỏi, người còn lại thì chỉ kịp nhảy xuống xuồng, kẻ bơi người chống. Người ta bơi người ta chống, còn bọn nó thì quần đảo, bắn thúc sau đít. Có người phải nhảy xuống, đẩy xuồng để chạy trước lằn đạn. Em cũng phải nhảy xuống, đẩy xuồng cho ba má. Em lội dưới nước mà như khô như cháy vì lửa hai bên bờ thổi táp qua lòng kinh... Gia đình cô không dừng chân lại trên mảnh đất giữa rào kẽm gai của chợ Mỹ An, vì trái bom trộm giết chết hai đứa em, gia đình cô trốn chạy xa hơn - Gia đình cô kéo nhau lên tận đất Sài Gòn. Cái gì sẽ chờ đón cô ở cái đất nhiều nhà, nhiều khuôn mặt, nhiều quần nhiều áo, nhiều ánh đèn, nhiều xe, nhiều bụi này? Cô không thể nào lường trước được. Nhờ một người bà con ở xa giúp đỡ, gia đình cô dựng lên một mái nhà, nói đúng ra là một cái chòi trên khoảnh đất nhỏ ở Cầu Tre. Ba cô mướn một chiếc xích lô đi đưa khách, mẹ cô trồng một hàng trúc, lấy cành trúc uốn thành cần câu bán cho người nhiều tiền thích đi câu để giải trí, thằng em trai kế cô lo giúp chuyện lẩn quẩn trong nhà, còn cô, cô đi bán rau và bán trái cây ở các rạp hát. Một ngày mưa to, mưa lầy lội trên các con đường đất đỏ xóm Cầu Tre, có một người con trai đi chiếc xe Honda, ghé vào nhà cô đụt nhờ. Trời đất rung ruổi thế nào, anh con trai đó không ghé đụt ở những nhà cao cửa rộng mà tạt qua nhà cô? Hễ có một cơn mưa, nhà có cái gì gọi là quý thì được gom lại một chỗ, tấm ni lông phủ lên, còn cả nhà thì mỗi người một góc, đứng ru rú tránh mưa. Anh con trai đụt nhờ ấy cũng ru rú, và anh tiếp tay với ba cô chèn từng lỗ dột. Tạnh mưa, anh ấy đi là một người qua đường. Bỗng một đêm, đang bán cóc trong rạp hát, cô bắt gặp anh con trai ấy ngồi ghế hạng nhất, thật sang trọng. Tự nhiên cô mắc cỡ, cô không dám bưng cái rổ cóc qua mặt người con trai đó, cũng không dám bưng cái rổ cóc đi len qua các hàng ghế sau lưng, cô sợ anh ta quay mặt nhìn lại. Thế là cô ôm cái rổ cóc vào lòng, ngồi thu lu trong một góc, xem hát. Nhưng cô không tránh khỏi cặp mắt của người con trai sang trọng ngồi ở ghê hạng nhất đó. Vãn hát, người con trai ấy bắt gặp cô ở ngoài cửa, như một người anh đùa với cô em gái nhỏ, anh nắm lấy cái rổ cóc của cô: - Nhớ cái bữa anh đụt mưa không? - Dạ, quên - Cô trả lời nhưng làm sao quên được. - Cóc chua hay cóc ngọt đây? - Dạ, vừa chua vừa ngọt. - Còn bao nhiêu, để anh mua hết cho. Tưởng anh nói đùa, không ngờ anh cầm nguyên cái rổ cóc của cô, phân phát hết cho bạn bè và anh trả tiền mà không cần cô thối lại anh nữa. Cái anh đẹp trai mà sang trọng ấy tử tế quá! Cô thầm cám ớn anh trên đường về. Rồi, không mấy hôm sau, vào một buổi chiều, anh ghé qua nhà cô, nhắc lại cái hôm đụt mưa, và làm quen với ba má cô, và nhận mình là người cùng xóm, nhà của người dì anh - một ngôi nhà hai tầng - ở cách đó không xa, thỉnh thoảng từ Sài Gòn anh hay về chơi. Rồi anh hứa sẽ tìm cho cô một công việc làm, vừa nhàn vừa có tiền lương, có thể đủ sống, khỏi phải đi buôn gánh bán bưng. Nghe Linh Đa kể, tôi nghĩ là cô gặp phải một thằng “ma cô” để từ đó, cuộc đời cô kéo dài mãi cho đến nay. Nhưng không, - như cô nói - cuộc đời cô hãy còn may mắn. Ở đất Sài Gòn người tốt không phải ít nhưng lại không dễ tìm, cái tuổi mười lăm mười sáu của cô, cô chưa phải là người tinh đời, nhưng linh cảm của cô cho biết, cô gặp một người tốt, một người đáng tin cậy. Nhờ anh ấy mà cô được cái nghề đóng sách, cô đóng sách cho một nhà in quen của anh ấy. Cái nghề không thể làm giàu, nhưng sống được và lương thiện, hợp với con người của cô. Đôi ba hôm, anh ấy lại đến thăm cô. Rồi tiện đường về chơi nhà của người dì, cô được ngồi trên chiếc Honda của anh về nhà - Anh ấy còn mang cho gia đình mấy tấm tôn lạnh để làm nhà. Nhờ những tấm tôn của anh mà nhà đỡ nóng, khỏi dột và trở nên ấm áp... Một năm sau, và một năm sau nữa, năm cô lên mười bảy, vào một đêm rằm, sau một vài chén rượu, ba cô bắt ghế ra sân nhìn trăng, gọi cô ra, bảo: - Nè, tao gả mày cho cái chú trai đó nghe con. Nghe nói, cô giãy lên: - Ai người ta thương con mà tía gả! - Sao mày biết người ta không thương, nó nhờ bà dì nó đến nói chuyện với tao rồi. - Không! Con không lấy chồng đầu. - Tổ cha mày, người ta tử tế như vậy, mầy còn đòi gì nữa. Hay mầy thích mấy cái trò lố lăng của con gái ở đây? - Ba cô nổi nóng, cô không giận mà tức cười - Cái gì mà cô chờ đợi, cái ấy đang đến với cô đêm ấy, dưới ánh trăng. Anh ấy đã tỏ tình hợp với ý cô, thầm yêu và nhờ người lớn đến ngỏ lời với cha mẹ. Anh ấy đến vào cái tuổi dậy thì của cô. Là mối tình đầu, mối tình trong sáng thiêng liêng mà ai cũng đã qua - Mối tình trong mơ tưởng đầy hạnh phúc, mối tình không có chỗ cho khổ đau... Linh Đa ngừng kể, và lại nhìn xoáy vào đôi mắt của tôi. Cô lại thỏ dài, cô đưa tay mở lấy cái khóa của sợi dây chuyền, cầm mặt dây chuyền đưa ra trước mắt tôi. - Anh có quen người nào giống như người này không anh? Mặt dây chuyền cô giấu sâu dưới làn áo không phải là mặt hột xoàn, mà là một tấm hình lồng trong kính, là một tấm ảnh nhỏ nhưng trông rõ mặt người. Khi nghe cô kể người con trai ấy có bà dì với ngôi nhà hai tầng ở Cầu Tre và câu chuyện của cô mà cô muốn kể với tôi, cái màn bí mật của cuộc gặp gỡ bất ngờ và cuộc đời cô đã hé mở ra trước mắt tôi, tôi đã đoán hiểu được phần nào. Nhưng khi nhìn tấm ảnh của đứa con trai thay cho mặt dây chuyền luôn luôn nằm trên lồng ngực của cô, tôi vẫn không khỏi bàng hoàng kinh ngạc. Mái tóc hơi dợn sóng, vầng trái nhỏ hơi dô xinh xắn mà ngang bướng, mũi thẳng, đôi môi mím chặt nghiêm nghị mà duyên dáng, đôi mắt sâu tròn đang nhìn ai đó tận đâu đâu, chính là thằng em út của tôi, chính tấm ảnh được trưng bày trong cửa hiệu đối diện với quán nước, tấm ảnh ấy được thu nhỏ lại, vẻ suy tư. - Em nhớ có một lần anh út của em khoe với em tấm hình của anh chụp từ Hà Nội gởi về, anh bảo anh đang ở trong mật khu... Ngày Sài Gòn giải phóng, em đi tìm anh, nhưng biết anh ở đâu mà tìm. Đến lúc không còn nghĩ đến chuyện gặp anh, thì em lại gặp anh ở cái quán nước, đêm đó. Thấy anh, em nhận ra ngay. Tôi tưởng khi Linh Đa kể đến người yêu, người yêu mà lúc nào cũng đeo nặng bên tim, cô sẽ khóc. Nhưng cô không khóc, có lẽ vì tôi đòi hỏi tình yêu của cô đối với em tôi nhiều quá, nên tôi cảm thấy bực bội lẫn xót xa. Và cô kể lại mối tình đầu của cô. Mối tình luôn luôn phập phồng và ngượng ngùng qua lời nói của một người từng trải đến chán chường. Cô nhớ, đêm ấy, vào một đêm sắp sửa giao thừa năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám. Hai người trên một chiếc Honda chạy rong khắp cả ngã đường. Người yêu của cô đưa cô về nhà riêng, một cái phòng nhỏ xinh đẹp nhiều hoa đầy rượu với một cái giường nệm êm. Đêm xuân trong ánh đèn mờ, trong tiếng nhạc êm đềm. Người con trai muốn đến với cô, nhưng cô muốn dành cái đẹp nhất của người con gái trong đêm cưới. Cô từ chối với lời hứa hẹn ngọt ngào. - Em có ngờ đâu, đó là đêm cuối cùng của hai đứa em - Cô bật khóc, khóc nức nở. Nước mắt cô đổ xuống như một cơn mưa của trời Sài Gòn. Trời đang nắng, một cơn mưa bỗng ụp xuống, ào ào rồi đột ngột tạnh hẳn đi, trời lại quang đãng. Linh Đa lấy khăn lau nước mắt, nước mắt đã rửa sạch son phấn của cô, vẻ mặt thật với làn da mịn màng của cô sáng hẳn lên, và cũng gần gũi với tôi hơn. - Ảnh chết, cuộc đời của em như hết! Hết một quãng đời. Những ngày Mậu Thân đó, xóm Cầu Tre bị bắn phá, ba em bị một trái bom nổ gần, hộc máu, phải chở đi nhà thương. Còn nhà em thì bị một chùm pháo của Bình Chánh chụp xuống, tan hoang. Đời em không còn gì nữa, hết! - Tên cha mẹ đặt cho em là Đa, Nguyễn Thị Đa. Nhưng sau đó thì em không còn là con Đa nữa, - Đau khổ đến chai lạnh, cô ngồi đó đôi mắt vừa giàn giụa đó đã ráo hoảnh, vẻ lạ lùng và bằng lời văn của tiểu thuyết cũ, cô kể lại đời mình như kể lại cuộc đời của một ai đó mà cô rất thuộc. Tiền! Tiền để chạy thuốc cho cha, tiền để dựng lại ngôi nhà. Cái gương trước mắt cô là một cô hàng xóm. Cô ấy có ra gì so với cô. Bằng cuộc đời son phấn của nó, nó đã tậu một cái nhà lầu, sân nhà là vườn hoa. Không phải từng bước, bước đến hố, mà đổ sụp xuống, cô đổ trọn cả cuộc đời con gái của mình. Ngày đầu bước vào “Sờ nách ba” dành cho lính Mỹ, người ta cười cái tên Đa nôm na của cô. Người chủ liền đặt cho cô một cái tên mới, thêm một tiếng Linh, Linh Đa. Cũng là Đa đó, nhưng Linh Đa đã khác với con Đa ngày xưa rồi! Trong tiếng nhạc âm u, dưới ánh đèn mờ, Linh Đa xuất hiện như một “bà chúa” đánh dạt hết cả bạn bè. Bọn Mỹ đua nhau mời cô uống, cô uống đến cạn túi của lính Mỹ, cô uống mà chẳng bao giờ say. Một hôm, bà chủ “Sờ nách ba” rủ rỉ với cô: - Má coi rồi, ở đây không có đứa nào bằng con. Con không nên phí. Đã phá thì phải phá cho đáng, nghe con. Để má lo! Cô đến với một tên chủ hiệu buôn ở Chợ Lớn đang cần một cô gái trong trắng để xả xui. Cô có nghĩ đến vong linh của người yêu nhưng - như cô nói, đồng tiền khiến cô choáng váng. Tiền mà cô thu được, cô đếm đến cóng cả mấy ngón tay. Cô đã có đủ những gì cô ao ước ban đầu: tiền thuốc cho cha và ngôi nhà. Nhưng cô không dừng lại, không quay về - như một người đánh bạc, ai cũng nghĩ nếu trận này mình thắng, mình sẽ lấy đó làm vốn và sẽ không bao giờ trở lại nữa. Nhưng trong đời có mấy ai có được sự nghiệp bắt đầu từ cái vốn của sòng bạc? Cũng như những cô gái cùng nghề, cô bắt đầu chơi bài, được đồng nào đút vào sòng bạc đồng ấy. Đồng tiền qua tay không biết bao nhiêu, thế mà có hôm cô phải đi vay đi giựt để kiêm một bữa cơm chiều. Cô cần những thú vui thấp hèn để lấp vào nỗi đau khổ của cô. - Ngày Sài Gòn giải phóng, ba má em với thằng em trở về quê. Em hứa em sẽ về sau, nhưng em cứ lần lữa. Em ra đến Xa Cảng hai lần, rồi em quay trở lại. Thất nghiệp, em nằm vùi một mình. Yên tĩnh của nỗi cô đơn như tấm gương soi cả cuộc đời mình. Cuộc sống son phấn ngày cũ của cô không cho thời giờ để nghĩ, để nhớ đến một cái gì nữa, dù cái ấy thuộc vê bản thân. Bấy giờ cô mới nghĩ mới nhớ đến mình, nhớ đến con Đa ngày xưa, nhớ đến bạn trên con kinh dài của Tháp Mười. Em nhớ đến anh út - có lần thằng Mỹ nó ghen với tấm hình của em đeo, em bảo với nó “mày không được ghen”... - Em biết tại sao nó chết không? Không muốn nghe thêm chuyện của những thằng Mỹ, tôi hỏi cắt ngang. - Nhớ ảnh, có lúc em giận ảnh. Em bảo với ảnh, anh đang tuổi bắt quân dịch, anh đừng đi ra ngoài đường. Hôm đó, đưa em về, ảnh đi đâu mà để tụi nó bắt, rồi chết... - Không phải như vậy đâu!... Tôi lắc đầu. * * * Ngày đầu gặp lại gia đình, nghe tin nó chết trong bộ quần áo rằn ri trong nhà thương lính, tôi đi tìm lại anh Tư Tân - người tôi đã gửi gắm nó cho anh. Vừa nhận ra tôi, đôi mắt của Tư Tân rươm rướm - nhìn đôi mắt nhòa ướt của anh, tôi đoán hiểu được ý nghĩa cái chết của thằng em. Sau khi nhận được ảnh và thơ của tôi, nó nhập vào đội biệt động của anh. Nó có một biệt tài làm thẻ căn cước giả. Nó cấp giấy cho tất cả anh em. Tư Tân kể với tôi, một hôm anh đi bằng cái thẻ căn cước giả của nó, qua trạm gác, anh bị giữ lại. Tình cờ thế nào tên quận trưởng đang có mặt ở trạm gác. Đúng cái tên quận mà thằng em tôi “ký thay” cho nó. Tư Tân cầm cái thẻ căn cước đến tên quận. - Chính ông cấp, ông ký mà sao lính của ông nói là căn cước giả, ông xem lại coi. Tên quận cầm thẻ căn cước, nhướng mày nhìn cái chữ ký của mình rồi ném trả lại: - Đúng! Thôi, đi. Cuộc đời chiến đấu của nó ngắn ngủi nhưng xứng đáng. Mậu Thân năm 1968, chính nó khoác bộ đồ rằn ri giả ngụy, nổ phát súng đầu vào tên lính gác Đài phát thanh, mở cổng cho đội biệt động chiếm lĩnh trận địa. Cùng với đồng đội, nó trụ lại đến phút cuối cùng khi được lệnh rút lui. Nó rút lui dưới làn đạn của trực thăng với một cánh tay phía bên trái bị gãy nát và nhiều máu. Bị bao vây, anh em không thể đưa nó về hậu tuyến, sẵn bộ quần áo rằn ri ấy, nó được đưa vào nhà thương lính. -Thiệt vậy hở anh? Linh Đa nghe chuyện về cái chết của người yêu như nghe một chuyện xa lạ nào, cô hỏi lại với đôi mắt mở tròn và ngỡ ngàng. Rồi, từ đôi mắt mênh mông ấy bỗng trào lên, từng giọt nước mắt lăn ra, nối nhau chảy dài xuống đôi má. Sau đó, tôi không còn gặp lại Linh Đa trong ngôi nhà ổ chuột ấy nữa. Tôi nhận được một lá thư từ quê cô gởi lên. Một lá thư dài: - Nghe theo lời khuyên của anh, em đang lập lại cuộc đời em... Viết thư cho em đừng gọi em là Linh Đa nữa, gọi là Nguyễn Thị Đa như cái tên ngày xưa của em. Lòi lẽ rụt rè, Đa xin phép tôi được họa tấm hình nhỏ mà cô đeo trước ngực để đặt lên trang thờ - cô xin tôi “photocopi” cái bằng khen của em tôi. Thơ cô nói rõ, không phải để hưởng quyền lợi của một gia đình tử sĩ, mà để cho cô có được một chút an ủi. Mối tình đầu của cô, tuy chưa có ý thức, nhưng cô đã chọn đúng người để cô yêu, người đã hy sinh cho Tổ quốc. 20-8-1976 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2024, 09:55:43 am NGƯỜI CON ĐI XA Anh là người được bà con dòng họ, bạn bè và dân làng đón tiếp niềm nở nhất so với những người đi kháng chiến đã trở về thăm làng. Tấm lòng của dân làng đối với anh thật công bằng, vô tư không ai có thể ganh tị được. Vì anh là một trong những người đi sớm nhứt, đi từ ngày đầu năm 45, đi đến mút mùa của hai cuộc kháng chiến. Đi đúng ba mươi năm mới trở về và trở về với cương vị đại tá, đại tá Trần Tấn Đắc. Đã có lần anh xuất hiện trên vô tuyến truyền hình với bộ quân phục oai nghiêm và ngực đỏ huân chương trên hàng ghế chủ tịch đoàn ngày lễ lớn. Trong làng có một con người như vậy không hãnh diện sao được? Và tất nhiên với cương vị của anh, dù không muốn, ngày trở về, anh không thể giống như những anh em đồng chí khác. Anh đã trở về với chiếc xe jeep cắm cờ đuôi nheo, một chiến sĩ lái xe cấp thượng sĩ với ba chiến sĩ bảo vệ - mà một số người trong làng còn gọi theo tiếng cũ là “gạcđờco”. Chiếc xe vừa đỗ lại trước cửa nhà thì mấy đứa trẻ nhỏ trong xóm chạy túa ra, báo tin với giọng đắc thắng reo hò. Không mấy chốc mà người làng trên xóm dưới lần lượt kéo đến thăm anh. Anh không còn là đứa con riêng của gia đình anh nữa. Bước đến cửa nhà, cha anh buông cái bào xuống miếng ván ông đang bào dở, gỡ cái kiếng lão ra khỏi sống mũi, vừa nhận ra anh: “Mày đó hở Đắc?” thì bà con đã kéo tới rồi. Hai cha con chưa kịp mừng, anh chưa nói với cha những lời của ba mươi năm, thì đã phải loay hoay tìm ghế mời khách. Nhà anh, ngôi nhà nhỏ bên sông. Ghế không đủ, bà con ngồi lên giường, lên chõng, chõng, giường cũng không đủ chỗ. Bà con kéo nhau ra sân. Cái sân chưa kịp quét, cái sân râm mát dưới bóng cây xoài, con nít cứ ngồi bẹp dưới đất, người lớn thì ngồi chồm hổm. Bà con ngồi đầy cả sân, không thể đếm được bao nhiêu. Chắc có đến hơn một trăm vừa lớn vừa nhỏ. Bà con muốn anh ngồi lên chiếc ghế cao để mọi người được thấy mặt. Nhưng anh không dám, anh chỉ ngồi cao hơn một chút trên một khúc gỗ trước bậc thềm nhà. Những chiếc ghế trong nhà mang ra (anh ngồi trên một khúc gỗ như vậy, mình ngồi trên chiếc ghế sao được), người này nhường cho người kia, nhường qua nhường lại mãi cuối cùng mấy cái ghế bị bỏ không. Người có đủ tư cách ngồi trên ghế, cao hơn mọi người mà không thấy ngượng, hoặc cũng không ai trách hoặc chướng mắt là ông Sáu Học, thân sinh của anh, nhưng ông cũng không ngồi. Ông Sáu là một ông lão người dong dỏng và rắn rỏi, da hãy còn thẳng, chỉ có mái tóc bạc trắng với chòm râu dài là đúng với cái tuổi của ông, hơn bảy mươi. Ông mặc quần đùi, áo bà ba bị đứt mất nhiều nút, mà nếu còn nút ông cũng không gài - ông ngồi bẹp dưới đất, cạnh bên con. Nhìn ông, người ta thấy ông để lại cái tuổi cường tráng của mình qua hình ảnh của đồng chí đại tá: tóc rậm, trán cao, mày rậm mũi thẳng và đôi mắt, tròng đen rất đen, tròng trắng rất trắng, đôi mắt sáng và nghiêm trang. Đại tá Trần Tấn Đắc - với cương vị của mình, anh đã từng đứng trước ba quân, thế mà bây giờ ngồi trước mặt bà con hàng xóm anh cảm thấy bối rối. Bối rối vì niềm vui trong anh đang nổi sóng, bối rối vì những câu hỏi thầm thì, vì những cặp mắt niềm nở của bà con đang đổ lại anh. Gặp lại anh, nhìn tận mắt anh, người nào cũng hớn hở vui lây. Nhờ có cha ngồi cạnh, anh đỡ lúng túng. Một người nào đó nói với anh mà anh chưa kịp nhận ra, không biết phải xưng hô thế nào cho phải thì anh đã nghe giọng thầm thào của cha khẽ nhắc bên tai anh: - Chú Sáu thợ mộc. - Chú Bảy tiệm may. - Bác Chín xóm vườn. Người nói được nhiều nhất là ông Hai Báo. Một ông lão vui tính, nhìn qua ông đã thấy vui rồi. Hơn sáu mươi tuổi, đầu hớt cua, râu cạo nhẵn, mắt hóm hỉnh, không ăn trầu nhưng lại xỉa thuốc, một bên mép lúc nào cũng có một cục thuốc tròn vo. Hồi chưa có xe Honda, ông là người đánh xe ngựa, và nổi tiếng với cái tài nấu thịt chó. Là người ở khít vách nhà của đại tá Trần Tấn Đắc. Thời thơ ấu của đại tá, đại tá thường được ông cho lên xe đi từ nhà đến trường và thỉnh thoảng được ông cho cầm dây cương. - Này cháu Đắc - Ông đưa tay chỉ cây cầu sắt bắc ngang qua con kinh - cháu có còn nhớ cây cầu đó không? - Dạ, nhớ chớ chú Hai! Đó là cây cầu mà hàng ngày đại tá ôm cặp đi qua để đến trường. Mọi người đều quay mặt nhìn lại cây cầu, có mấy đứa nhỏ trần truồng đứng trên lan can cầu hò hét thi nhau nhảy xuống nước. Bốn đứa, bốn kiểu nhảy khác nhau. Đứa cắm đầu lao xuống, đứa chưa quen thì cứ thẳng người mà nhảy, đứa lại đưa lưng ra khoảng không nhào ngược, đứa tinh nghịch hơn, vừa nhảy bung ra rồi từ từ ngồi xếp bằng và cứ cái thế xếp bằng ấy mà rơi xuống đánh đùng một cái, nước văng tung tóe. Đợi cho mọi người xem hết các kiểu nhảy của bốn đứa trần truồng kia, ông lại bắt đầu nói: - Đó, hồi cháu đi cháu còn ở truồng nhồng nhỗng như mấy thằng nhỏ đó vậy, bây giờ thì - Với cặp mắt linh lợi ông nhìn lướt qua, rồi đưa tay chỉ một người đàn ông sồm sồm trên bốn mươi - tóc của cháu đã hoa râm như thằng ba kia! Vậy là bao nhiêu năm rồi cháu? - Ông đang vui với vẻ hóm hỉnh thì giọng ông bỗng xúc động nghẹn ngào. - Dạ, đúng ba mươi năm! - Từ ngày cháu đi, làng mình vì cái thằng Mỹ mà có người không đến được tuổi hai mươi. Vậy là cháu đi lâu hơn đời của một con người rồi đó - Giọng của ông hạ thấp, trầm trầm, rồi như biết mình đã làm cho cuộc vui bị lắng xuống, ông trở lại hóm hỉnh. - Bà con có ai biết trước khi chú ấy đi, tôi đãi chú món gì không? - Nai nhà! - Một người nào đó vọt nói, khiến ông sướng đến ngửa mặt lên cười. Ông cười, cái cục thuốc xỉa rơi xuống qua cằm, lăn dài theo chiếc áo. Bắt đầu là mấy đứa nhỏ rồi đến người lớn, tiếng cười rộ lên theo tiếng cười của ông. Thật ra hôm đó, cách đây đã ba mươi năm, ông có làm một con chó. Món xào lăn thơm phức khiến ông nhớ chú nhỏ hàng xóm dễ thương, ông bước ra sau hè, nheo một mắt gọi chú, và múc cho chú một chén đầy. Ông gọi chú vì lòng thương và tính thảo ăn, chứ lúc đó ông nào có biết là chú nhỏ ấy đi bộ đội. Bây giờ nhớ lại ông tưởng như đó là món ăn của buổi tiễn đưa. Lòng ông sung sướng chân thật, không ngượng ngùng. Niềm vui sướng của ông khiến cho một vài người thấy thèm khát được những kỷ niệm với người trở về. Tiếp theo ông, có người tả lại cái ngày đầu kháng chiến của đại tá: - Chú còn nhớ không? Buổi chiểu bộ đội hành quân, chú đi ngang qua nhà tôi, vai chú mang chiếc nóp, cái nóp bằng cái lưng của chú, chú bận quần cụt, hai bên hông đeo hai trái lựu đạn. Chú nhỏ nhứt nhưng chú đi đầu, phải hôn? - Dạ, hồi đó cháu đi liên lạc, nên cháu phải đi trước dẫn đường. - Phải. Một người hỏi: - Nghe nói cái trận chụp bót ở chợ là do chú dẫn bộ đội về? - Dạ, vì hồi ở nhà, cháu cũng hay ra chợ nên cháu biết đường đi nước bước. - Phải. Một người nữa nói: - Từ cái thời thằng Diệm đến thằng Thiệu, làng mình bị o ép dữ lắm. Nhà nào có người đi giải phóng nó bắt bớ, nó kèm kẹp, nó làm khó dễ, mà gia đình của chú lại yên, tụi nó không biết, kể cũng lạ. - Có gì mà lạ? - Ông Hai lên tiếng giải thích, số người biết chú Đắc đây mà còn ở lại trong làng chẳng được bao nhiêu. Những thằng xấu đi làm Việt gian, cái đời của tụi nó không ăn được một chục giạ lúa thì bị trừng trị, không bị trừng trị thì cũng bị chết ở đầu đường xó chợ, cái đám sau này nổi lên nó có biết ai là ai. Số người tốt mà còn nhớ chú Đắc thì người ta giữ bí mật. - Dà phải! - Người chị thứ hai của đại tá nãy giờ đứng ở bên cửa, chị lên tiếng. - Gia đình qua bao nhiêu trào mà được yên là nhờ bà con hàng xóm che chở bao bọc cho. Nói cho ngay, cũng có đứa còn nhớ em tôi. Thằng cảnh sát Tư đó. Có lần nó hỏi thẳng tôi: “- Nè, chị Hai, tôi nghe nói thằng Đắc em chị bây giờ làm tới đại tá Việt cộng phải không?”. Tôi hết hồn nhưng làm thinh: “- Chắc ai trùng tên với nó, nó mà được vậy thì nhà tôi thiệt có phước!”. Tôi nói vậy tưởng nó phật ý, không dè nó bảo: “- Nếu ảnh mà lên đại tá tôi cũng được thơm lây, bạn học của tôi mà!”. Xin nói thiệt là tôi không hiểu nó nghĩ gì, từ đó về sau gặp tôi, nó không hỏi câu nào nữa. Rồi người ta thầm thì nói với nhau, nói với nhau, nhưng lại đưa mắt nhìn đại tá Đắc. Một ông già hơn sáu mươi, nhưng hãy còn trẻ, mới thoáng nhìn tưởng chỉ đến năm mươi là cùng. Ông trẻ vì mái tóc hãy còn xanh, mới lấm tấm vài sợi bạc, da mặt còn thẳng và hồng hào. Thời trước ông là người có ăn có học. Lúc đại tá Đắc còn ở làng, làng anh duy nhất có ông đỗ tú tài. Ông tên Hải, dân làng quen gọi ông là tú tài Hải. Ông có một thời nổi tiếng trong làng báo. Thời oanh liệt của ông đã qua, nay ông trở về vườn với một bà vợ nhỏ - nhỏ hơn ông hàng ba mươi tuổi. Lần đầu tiên dân làng thấy ông có vẻ khiêm nhường, ông không ngồi bẹp dưới đất như mọi người nhưng cũng không ngồi ghế, ông đứng dựa lưng vào cây xoài. Ông nói: - Trong tình nghĩa người làng, cháu Đắc cho phép chú được gọi bằng cháu cho thân mật. Chú có một điều muốn hỏi cháu, nói cho đúng là chú muốn được hiểu cháu. Mọi người quay lại nhìn ông, nghĩ rằng điều ông nói sẽ là một điều mắc mớ của một ông nhà báo. - Chú hết sức tiếc là ngày trước chú không được biết cháu. Chú sống ở Sài Gòn, nhưng thỉnh thoảng cũng có về thăm làng, cũng có ghé qua nhà cháu. Phải nói cho thật lòng thì chú không hề biết là ba cháu đã có một đứa con đã ra đi. Nay nghe bà con kể lại thì cháu đi hồi còn nhỏ, nhỏ lắm. Chú muốn được hiểu là lúc đó, cháu đã nghĩ gì - Ông nhấn mạnh hai tiếng “nghĩ gì” - Cháu đã ra đi và dấn thân vào cuộc chiến cho đến ngày nay. Câu hỏi của ông tú tài Hải như gợi đúng ý của mọi người. Có nhiều người không hề nghĩ sẽ hỏi anh điều đó, nhưng khi câu hỏi được đặt ra thì ai cũng thấy mình muốn biết. Người quan tâm đến câu hỏi ấy nhất chính là ông Sáu Học, thân sinh của đại tá. Ông nhớ - ba mươi năm trước, buổi sáng hôm ấy, như mọi ngày ông dậy sớm. Đã đúng giờ đến trường theo lệ của con, nhưng ông không thấy con đâu, ông lên tiếng gọi. Không nghe tiếng trả lời, ông vào buồng, vẹt mùng, thấy có một người trùm mền. Ông tốc mền, nhưng không phải thằng Đắc đang nằm, thay vào đó là cái gối dài. Ông hốt hoảng. Đến lúc đó người chị thứ hai của nó mới nói: - Thằng Đắc nó trốn theo bộ đội rồi, cha à! - Sao nó không nói với tao? - Nó nghĩ là cha không cho. Nó dặn con để nó đi xa rồi hãy nói với cha. - Nó đi hồi nào? - Nó đi từ đầu hôm. - Nó có mang theo cái gì không? - Dạ, nó chỉ mang theo hai bộ quần áo, một cái nóp với con cho nó mấy đồng. - Con với cái! - Ông nói, không trách cũng không than, chỉ thấy mình bồi hồi. Sau đó không bao lâu, độ nửa tháng gì đó nó lại quay về, thấy nó bước vô nhà, ông vừa mừng vừa giận. - Mày chịu không nổi, mày trốn về đó hở Đắc? - Dạ không. - Không, sao vác mặt về? - Dạ con chưa đúng tuổi. Mấy anh không cho con đi. Con năn nỉ, cuối cùng mấy ảnh bảo con về xin cha cái giấy của cha. - Giấy gì? - Giấy cam kết là cha đồng ý cho con đi. Để lỡ có bề gì mà hy sinh thì bộ đội không bị cha trách móc. Té ra nó trở về là vậy. - Giấy cam kết ấy ra làm sao, đâu? - Dạ, con làm sẵn cho cha rồi, đây nè! - Đọc cho tao nghe coi! Con ông móc ra trong túi một tờ giấy nhỏ, đưa gần lại ngọn đèn - ông còn nhớ kỹ là đèn đĩa thắp bằng mỡ heo - nó đọc: GIẤY CAM KẾT Tôi ký tên dưới đây là Trần Văn Học, đồng ý cho con tôi là Trần Tấn Đắc, mười lăm tuổi, theo Vệ quốc đoàn, đánh giặc bảo vệ Tổ quốc. Giữa trận mạc, nếu vì làn tên mũi đạn mà con tôi có ngã gục, tôi sẽ tự hào có được đứa con vì Tổ quốc mà hy sinh, chứ không phiền trách ai. Ngày 20-12- 1945 Người cam kết TRẦN VĂN HỌC Đọc xong, nó trao tờ cam kết ấy cho ông: - Cha ký cho con đi cha! Nếu cái tờ cam kết chỉ viết là bằng lòng cho con theo Vệ quốc đoàn thôi, rồi chấm hết thì ông ký rồi. Đằng này trong tờ cam kết lại có mấy câu dựng lên trước mắt ông, thằng nhỏ con ông mười lăm tuổi ngã gục xuống chiến trường, và theo trí tưởng tượng của ông, ngực con ông đẫm máu, bàn tay học trò nhỏ bé của nó đưa lên bụm lấy vết thương... Vợ ông mất sớm, nó là đứa con trai út của ông. Lòng ông xốn xang, hai con mắt cay cay. Cha nhìn con dò hỏi, con nhìn cha chờ đợi. Cuối cùng ông hỏi: - Con có thấy chữ ký của cha lần nào chưa? - Dạ thấy. - Con nhái chữ ký của cha được không? - Dạ được. - Vậy thì con ký tên cha trong tờ cam kết đó đi. Vẻ mặt thằng con bỗng rạng rỡ, có vẻ gì như hí hửng nữa, ý như muốn nói, có vậy mà cũng không biết, phải mất công trở về. Ông nhìn con, đầu sát ngọn đèn, tay cầm cây viết đặt lên giấy, không một chút ngập ngừng hay rụt rè, quẹt một cái, nó ký xong, đưa cho ông xem. Chữ ký không giống lắm, nhưng thấy được tên ông và đẹp hơn chữ ký của ông. - Được không cha? - Được. Nó vừa xếp tờ cam kết bỏ vào túi vừa cúi đầu: - Thưa cha con đi! - Mày đi liền bây giờ à? - Không hiểu sao, ông lại quát lên - Ở đây mai chị Hai mày làm một bữa bánh xèo rồi hẵng đi. - Dạ, có mấy anh đang chờ con sau vườn. Rồi nó cúi đầu: - Cha, con đi! Chị Hai, em đi! - Hai, con coi cái mặt hí hửng của nó kìa! Vụt cái, nó quay ra cửa biến mất. - Tổ cha nó, cái thằng! - Không phải giận mà là ông chửi yêu thằng con. Có ngờ đâu, cái đêm nó quay về đó là cái đêm cuối cùng, biền biệt, nó theo bộ đội về U Minh và chiến đấu luôn ở miên Tây. Ngày tập kết nó có cho người đón ông xuống thăm. Đường xa lặn lội, ông đến nơi thì nó đã xuống tàu, đứng trên bến tập kết ông còn thấy con tàu màu trắng đang ra khơi. Mỗi lần nhớ đến con, ông cứ ân hận sao lúc đó mình không cầm viết mà ký cho con nó vui, để sau này mỗi lần nhớ lại nó không bị day dứt. Và nhớ đến con, ông không sao hiểu được cái gì đã thôi thúc nó ra đi như vậy. Mới mười lăm tuổi đầu chớ có “lớn lao” gì cho cam. Nó hăng hái, nó dứt khoát, dứt khoát đến nỗi không biết gì đến lưu luyến, một nỗi buồn bịn rịn cũng không thoáng qua gương mặt nó. Ông nhìn và lắng nghe con trả lời câu hỏi. Câu hỏi của ông tú tài Hải đối với Đắc thật bất ngờ, nhưng thật cũng đơn giản. Anh từ từ đứng dậy, ngước nhìn xéo về phía bên kia sông. Nơi anh nhìn, cột dây thép với đỉnh cao vọt lên khỏi rặng cây dưới nắng chiều, anh nói: - Tôi nhớ, năm đó tôi còn nhỏ lắm. Nhưng sáng hôm đó, tôi nghe trong làng có điều khác lạ, nghe tiếng súng, thấy những chiếc xe ngựa giòn giã chạy trên đường, thấy nhiều người chạy đổ xuống bờ sông. Tôi chạy theo. Tôi thấy, hết sức lạ lùng, một lá cờ đỏ sao vàng, và không hiểu sao mà lá cờ lại bay phất phới trên lưng trời, giữa sông. Không thấy cột cờ cũng không thấy dây, mà lá cờ cứ bay bay giữa lưng trời như có phép tiên. Xung quanh ai cũng náo nức, chưa hiểu gì tôi cũng thấy vui lây. Đó là lá cờ Nam Kỳ khởi nghĩa năm 40. Rồi sau đó, bà con trong làng chắc còn nhớ, bọn lính từ tỉnh tới đốt nhà bắt bớ, nghe có người bị đày đi Côn Đảo. Lá cờ không còn, tôi thấy buồn. Còn nhỏ nhưng từ đó tôi chớm hiểu. Hiểu mình là dân nô lệ, dân bị mất nước. Và những người bị bắt là những nhà ái quốc, và lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ của Tổ quốc... Anh nói chưa hết lời, đang lúc anh dừng lại nghỉ hơi thì ông tú tài Hải bước tới một bước: - Vậy là chú hiểu, chú hiểu vì sao cháu đã ra đi lúc còn niên thiếu, và chú hiểu vì sao cháu thành công. Cảm ơn cháu. Vẻ xúc động, ông khẽ nghiêng mình cúi đầu chào ông đại tá, người cháu cùng làng. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2024, 09:57:57 am * * * Khi mọi người ra về, chỉ còn người trong nhà, hai cha con ngồi lại bên nhau, ông Sáu hỏi con. Ông định bụng khi gặp lại con ông sẽ hỏi nhiều điều: nào chuyện dâu con, nào chuyện chiến đấu, nhưng những câu hỏi mà ông xếp đặt, ông không hỏi, mà hỏi câu khác chợt đến: - Con có biết ai treo lá cờ đó không con? - Da, lúc đó con còn nhỏ, con đâu có biết được, cha! - Vậy thì lát nữa, con nên xuống xóm dệt, thăm ông Chín. Vừa lúc đó thì chị Hai từ trong bếp bước ra. Ngày anh đi, chị anh mới mười tám, chưa lấy chồng, nay chị đã có cháu ngoại rồi. Từ trong đôi mắt, nụ cười của chị, anh tìm thấy lại hình ảnh của chị ngày xưa. Hình như đến lúc ấy chị mới được mừng thằng út, nước mắt chị giàn giụa: - Chị định chiều nay làm heo mời bà con đến liên hoan. - Đừng làm linh đình quá chị Hai! - Cách đây mây năm, lúc cha đau nặng, chị có vái. Nếu cha mạnh khỏe gia đình sum họp thì chị sẽ cúng heo và cạo đầu. - Chị Hai nhìn em, cười ngượng ngùng, - Chị biết em không tin, chị cũng không tin nhưng chị đã vái thì chị phải giữ lời. Chị kéo chiếc khăn xuống khỏi đầu, để lộ mái tóc ngắn, uốn quăn sát đầu - Đầu thì chị mới cạo hôm giải phóng, bây giờ em về, chị phải cúng. Đại tá Đắc nhìn chị, nhìn mái tóc ngắn, nhìn vẻ già nua, vừa tươi tỉnh vừa ngượng ngùng của chị mà không cầm được nước mắt. - Em biết, năm đó, cha đau nặng lắm, tưởng không chờ em được. Lúc đó, người anh rể của anh - tự nãy giờ đang bắt heo - bước ra nói với anh. Anh rể anh già trước tuổi nhưng anh vẫn còn giữ được vẻ trai tráng ngày xưa của một người con trai đẹp và khỏe mạnh. Tính cởi mở, chưa nói anh đã cười, cười với hàm răng sứt của anh. - Nói chú Út nghe đừng giận. Năm cha đau nặng, cần phải đưa cha cấp cứu lên nhà thương tỉnh, nửa đêm, ở cái chợ làng của mình, làm gì có xe. Anh phải đi mời thằng trung úy đi nhậu, nhơn lúc nó ngà ngà say, anh hỏi mượn chiếc xe jeep của nó để đưa cha đi. Đem được chiếc xe jeep về, đậu trước sân, hai vợ chồng anh vô khiêng cha. Chú biết sao không? Biết là xe của ngụy, cha nhất định không đi. Anh chị năn nỉ mấy, cha cũng không chịu. Cuối cùng anh giở “con bài” cuối cùng để năn nỉ cha. “Cha không đi thì sau này chú Út về, chú làm sao gặp được mặt cha, hả cha?”. Vợ chồng anh vừa năn nỉ vừa khóc, cha cũng một mực không chịu. Bây giờ có cha đây, chú biết cha trả lời vợ chồng anh sao không? Cha nói: “Nếu tao mà qua khỏi cơn bệnh này té ra là tao nhờ chiếc xe của thằng ngụy, gặp lại thằng Út, tao còn mặt mũi nào mà nhìn nó. Nếu tao không qua khỏi thì cuối cái đời tao, tao lại chết trên chiếc xe của thằng ngụy hay sao? Chết như vậy, tao chết sao yên?” - Người anh rể quay lại: - Phải không cha? Ông Sáu đã hơn bảy mươi, vậy mà khi mắc cỡ, đôi má ông vẫn ửng hồng. Đôi môi của ông chúm chím, rồi ông làm bộ giận, nạt lớn: - Tối rồi, đứng đó mà nhắc chuyện đời xưa! Vô bếp đi, để tao với thằng Út đi thăm chú Chín. - Chú Chín nào cha? - Người anh rể hỏi. - Chú Chín Đào chớ chú Chín nào! Nói đoạn ông quơ lấy cái quần dài, xỏ vào, tay khoát chiếc áo lành, bước ra cửa! * * * Đêm ấy Ban giám hiệu nhà trường ở làng được tin sáng mai đại tá Trần Tấn Đắc, sẽ đến thăm trường, ngôi trường anh đã học hồi còn ở làng. Anh giám hiệu cho họp các giáo viên, coi đó là danh dự của nhà trường, phân công cho nhau chuẩn bị, mỗi người một việc. Học sinh được tập trung tập dượt. Còn ông giáo vốn hay văn, được phân công đọc diễn văn thì ngồi bên bàn đến gà gáy mói xong. Sáng hôm sau, một buổi sáng bình thường như bao nhiêu buổi sáng khác, nhưng ngôi trường chợ làng trông thật rực rỡ. Sân trường được quét sạch, nhà trường không kịp quét vôi nhưng lại sáng hẳn vì màu sắc của khẩu hiệu và cờ. Học sinh với đồng phục quần xanh, áo trắng, sạch sẽ, tinh tươm. Khác hơn cả là thầy cô và học trò, ai ai cũng hớn hở. Chưa đến giờ, nhưng học sinh đã xếp thành hàng, chỉnh tề, mỗi em mỗi lá cờ cầm sẵn trong tay. Xe đỗ lại cổng trường. Khách vừa bước xuống xe thì dàn nhạc (gồm có cây phong cầm, cây ghita, và cây măngđôlin) tấu lên bài: “Giải phóng miên Nam”. Khách đến thăm trường thì không chỉ có đại tá Trần Tấn Đắc, cùng đi với anh có ông Sáu Học thân sinh anh, ông Chín Đào, ông lão già nhứt làng, đã hơn tám mươi, mái tóc bạc như mây, lưng còng tay chống gậy, lụm cụm từng bước một. Thêm hai ông lão khiến các thầy trò trong ban tổ chức đâm bối rối, người chạy ra nâng tay ông lão, người chạy vào lớp mang ra thêm hai chiếc ghế, để thêm bên bàn dài phủ vải trắng đặt giữa sân trường. Hàng trăm cặp mắt niềm nở thơ ngây đổ dồn về đại tá Trần Tấn Đắc. Đại tá không khoe khoang cũng không xuề xòa, anh mặc quân phục màu cỏ úa, mũ lưỡi trai có đính sao, và ngực đỏ rực huân chương. Nhạc nổi, cờ vẫy, tiếng vỗ tay reo hò kéo dài bắt đầu từ lúc khách bước vào cổng dẫn đến chỗ ngồi. Đại tá Đắc, với cương vị của mình, anh đã từng duyệt qua những hàng quân, với những người lính đứng thẳng, trang nghiêm, anh chưa bao giờ thấy mình xúc động đến như thế. Tuổi thơ thường làm cho ta xúc động! Với những gương mặt sáng sủa, những lá cờ nhỏ trong những bàn tay bé bỏng, tiếng reo hò trong trẻo, những đôi mắt trong sáng. Anh đưa tay vẫy chào, miệng cười và nước mắt ứa trào ra. Sau lời giới thiệu đến thầy chủ nhiệm đọc diễn văn. Thầy chủ nhiệm độ hơn ba mươi, người mảnh khảnh trong bộ “comlê” xám, cổ thắt cà vạt đỏ, thanh nhã và trang nghiêm, thầy bước đến cái bàn nhỏ trước “micro”, trịnh trọng chào khách. - Kính thưa đại tá - Thầy phải đọc thêm một dòng mà trong bài diễn văn không có nên lúng túng - Kính thưa hai cụ, kính thưa các thầy các cô và các em thân mến... Thầy chủ nhiệm có một người anh cùng lứa tuổi với đại tá và thuở thơ ấu cũng đã ngồi học ở trường này, anh cũng đi kháng chiến, nhưng đã hy sinh. Hôm nay chào mừng người chiến thắng trở về, thầy chạnh nhớ đến người anh, giọng thầy xúc động đến run run: - ... Ngôi trường này ngày xưa, đại tá và những chiến sĩ Cách mạng ở làng ta đã học, đã lớn lên và từ nhà trường này ra đi cứu nước. Nay chúng ta họp lại để đón chào người chiến thắng trở về. Nhạc trỗi, cờ phất và tiếng reo hò nổi lên từng chập, từng đoạn theo bài diễn văn. - Nhà trường của chúng ta ngày nay, nhà trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vô cùng hân hạnh, vô cùng sung sướng và hãnh diện được chào đón đại tá Trần Tấn Đắc, người chiến sĩ vinh quang của chúng ta... Thầy cúi đầu chấm dứt, nhạc trỗi, cờ phất, và tiếng reo hò lại nổi lên tưng bừng. Từ trong hàng ngũ của học sinh - đã chuẩn bị sẵn - một em gái tuổi mười hai, quần xanh áo trắng, thắt khăn quàng đỏ xinh xắn và hớn hở, em ôm một vòng hoa tách ra khỏi hàng, chạy thẳng đến đại tá, đứng thẳng, đưa tay chào. Nhìn cái vòng hoa nơi tay em, đại tá hiểu ý em, anh cúi thấp cho em tự tay đeo vòng hoa cho anh. Một vòng hoa tượng trưng bằng cánh hoa hồng vừa xinh vừa khéo. Như nghĩ là vòng hoa ấy không đủ nói được ý nghĩa của nhà trường, dọc theo vành hoa có một hàng chữ xanh rất đẹp: “Vòng hoa vinh quang”. Chờ cho tiếng vỗ tay chấm dứt, đại tá mới nói. Anh đứng thẳng nhưng thoải mái và vẫn đeo “vòng hoa” trước ngực mình. Sau lời chào theo nghi lễ, với giọng hùng hồn và lưu loát, anh nói vì sao anh đi kháng chiến. Anh nhắc lại ngày đầu tiên được thấy lá cờ Tổ quốc, ngày Nam Kỳ khởi nghĩa năm 40. Với sự hiểu biết ngày nay và qua câu chuyện của ông Sáu kể lại buổi chiều gặp gỡ của hai cha con anh, anh nhắc lại chuyện ngày xưa, những ngày đen tối của người dân bị mất nước: - Đêm ấy, một đảng viên Cộng sản vốn là người thợ nhuộm ở xóm dệt, người suốt đời cầm hai cái chày với hai canh tay khỏe mạnh, người đảng viên ấy trèo lên cột dây thép, tay ôm lá cờ của Tổ quốc. Lá cờ to như tấm đệm. Đến đỉnh cột dây thép, người thợ nhuộm ấy, căng lá cờ ra theo một cây gỗ nhỏ bằng đầu ngón tay cái, được vuốt tròn. Mỗi đầu có một cái khoen, hai cái khoen được mở ra móc vào sợi dây thép rồi được bóp lại. Đêm ấy là đêm tối, đêm tối trời cũng là đêm tối của đất nước. Người thợ nhuộm với thân mình vạm vỡ ấy, với cánh tay khỏe mạnh, người đảng viên phóng mạnh lá cờ bay ra. Cờ theo sợi dây thép căng qua bên sông, nương theo gió, lá cờ vừa phất vừa bay ra giữa dòng sông. Đến giữa sông, gặp nhiều chiều gió, lá cờ cứ dừng lại đó, tung bay. Lá cờ đỏ sao vàng ấy đã soi sáng và thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân trong làng ta. - Các cháu thân mến. Sau đó, người đảng viên đó bị đày ra Côn Đảo. Mười lăm năm tù, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí ấy trở về. Suốt chín năm kháng chiến chông Pháp đến cuộc kháng chiến chông Mỹ ngụy, vì sức yếu, đồng chí không lãnh trách nhiệm gì to tát nhưng vẫn một lòng trung kiên, làm những công việc vừa với sức mình, âm thầm không ai biết, đồng chí đã làm tròn nhiệm vụ đảng viên của mình. Chính đồng chí ấy là người đã dạy cho tôi làm cách mạng, chính nhờ những đồng chí như người thợ nhuộm ấy mà chúng ta mới có ngày nay, ngày vinh quang của đất nước. Đại tá Đắc dừng lại hồi lâu. - Các cháu thân mến! Các cháu có biết người đảng viên thợ nhuộm ấy là ai không? Rất may mắn, đồng chí hãy còn sống để được nhìn cảnh đất nước ngày nay, và cũng may mắn, các cháu còn được nhìn, được gặp người gieo mầm cách mạng ở làng ta. Người đảng viên ấy chính là ông Chín đây! Anh xoay qua, đỡ ông Chín giữa sự bất ngờ của học sinh và cô thầy, giữa những tràng vỗ tay nhiệt liệt nổi lên. - Các cháu thân mến! Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây! Các cháu hãy cho phép chú được tặng vòng hoa vinh quang này lại cho ông Chín! Giữa tiếng nô nức reo hò, cờ phất và nhạc trỗi, ông Sáu Học nhìn con mình đang nâng vòng hoa vinh quang ra khỏi đầu, đặt lại cho ông Chín, ông gật gù, cười hể hả. 15-12-1977 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Quang Sáng Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2024, 10:04:40 am DẤU CHÂN Chờ cho thằng con thở đều, say giấc cô mới khẽ dịch xa con, vén mùng, rón rén bước ra. Đứng bên khung cửa sổ, cô vẹt cái màn hoa, nhìn ra con sông. Con sông Vàm Cỏ lấp lánh dưới ánh trăng. Cô nhìn bầu trời đêm dưới mặt sông, bầu trời đẹp trong đôi mắt thơ ngây của thằng con mới lên ba của cô. Rồi cô rửa mặt cho tỉnh táo, đứng trước gương tủ, nghiêng đầu chải tóc. Tuổi hăm lăm, “gái một con”, cô thấy mình xinh xắn đầy đặn hơn hồi con gái, tự dưng, cô bẽn lẽn, cười một mình, rồi bước nhanh đến bàn soạn bài, bật ngọn đèn trong cái chụp vải hồng, mở ngăn tủ, lấy quyển sổ bìa da màu mận chín, dày cộm. Cô giở từ trang đầu, đọc lướt qua, cô dừng lại ở trang cuối. “Ngày 15-12-1975 - hôm nay, mẹ cho con củ khoai, con cầm củ khoai bẻ làm đôi, cái xơ khoai lòi ra một cọng dài, con bật lên: “Má ơi! Xương!”. Đọc đến đó, cô bật cười rung cả hai vai. Đúng là ngôn ngữ của nó, không ai có thể nói sai như nó được! Theo thói quen, trước khi viết, cô vuốt lại tóc, cầm bút, chấm vào lọ mực, rồi cô nhìn sững vào lọ hoa một hồi lâu. * * * Con yêu! Mẹ bị mất thói quen viết nhật ký hằng đêm cho con đã hơn năm, từ ngày hai mẹ con mình được về Nam và từ khi mẹ nhận lấy nhiệm vụ hiệu trưởng trường cấp hai của quận - quê nội con. Bao lần xúc động trước những cử chỉ ngộ nghĩnh theo từng bước đổi thay và trưởng thành của con, mẹ định viết, nhưng công việc bề bộn - phần thì ba con đang ở quân đội, ít khi về thăm hai mẹ con. Việc nhà chỉ có một mình mẹ, con lại hay nũng nịu quấy rầy, mẹ lại hẹn là để mai. Hôm sau, mẹ cũng lại hẹn, nhớ đó - và chắc chắn là mẹ không quên đâu con ạ! Để vào một dịp nào đó rỗi rãi, sẽ viết dồn lại một lần - cứ vậy mà ngày này qua ngày khác trôi đi. Đêm nay, ngày 20-12-1976, con đã được bốn mươi mốt tháng rồi, con sắp lên bốn - lớn rồi đó, con có biết không, con yêu! Từ khi lên ba đến nay, mẹ để ý thấy, con bắt đầu “lý sự” và lắm lời. Con bắt đầu nói giọng Nam lơ lớ thật dễ thương, và không hiểu ai dạy con mà có lần con nói: “Má ơi, cà rem ngon dễ sợ”. “Dễ sợ” thốt ra từ cửa miệng của con mẹ nghe vui tai lạ! Cũng vì cái tính hay “lý sự”, hay hỏi của con, con có một câu hỏi mà mẹ không sao trả lời nổi, cũng không sao giải thích cho con hiểu, khiến mẹ bứt rứt, trăn trở không yên. Con yêu! Con hãy nhớ, đó không phải là thắng cảnh, cũng không phải là nơi nghỉ mát, đó là cái doi đất, khúc quanh của con sông. Mẹ nghe kể, cái doi đất này vốn là một xóm vườn sát chợ quận. Trong một trận đánh, bọn Mỹ đã ném bom hủy diệt, nay chỉ còn là một cái doi đất xác xơ đầy hố bom, vừa mới có một vài ngôi nhà vách lá mái tranh dựng lại bên đường, bên mé sông. Mỗi chiều, ra cửa trường, đến nhà trẻ đón con, hai mẹ con đều đi ngang qua đây. Và chiều nào, mẹ cũng dừng xe, hai mẹ con ngồi hứng gió sông. Mé sông có hàng xoài bị bom, dân làng đã cưa sát đến gốc, nhiều người đến ngồi, cái gốc xoài phẳng lì và lên bóng như mặt ghế. Lần đầu tiên được ngồi bên mé sông, con bật reo lên: - Má ơi, có hai cái trời! Mẹ chữa lại: - Hai bầu trời chứ con! - Con không lập lại, mà ngồi yên, nhìn bầu trời dưới mặt sông. Gần đó có một cây dừa lùn nhiều trái, mẹ hỏi con: - Đố con trái gì đó? Con mở tròn mắt, nhìn buồng dừa, ngẫm nghĩ một lúc, con mới bật nói: - Trái ngon! Mẹ không nhịn được cười, mẹ hôn con, dạy lại: - Trái dừa! - Không phải trái dừa! Trái ngon mà! - Sao con lại cãi mẹ, đó là trái dừa. - Trái ngon dừa! - Con lập lại, nhưng không chịu bỏ tiếng ngon, cố bám lấy cái tiếng của mình. Mới có ba tuổi, mà con đã bảo thủ rồi. Rồi thấy gì lạ con cũng hỏi, hỏi đến lúc má bị bí, con cũng chưa chịu thôi. Phía bên kia mương, bên một nền nhà cháy hãy còn một cây vú sữa. Một bầy chim xập xòa bay tới, tranh ăn và hót líu lo. Con hỏi: - Má ơi, sao con chim không nói như mình, má? - Tại cái lưỡi của nó nhỏ. - Tại sao cái lưỡi nó nhỏ, má? - Tại nó là chim. - Tại sao nó là chim hở má? Con hỏi vậy, mẹ biết trả lời sao với con! Mẹ không hiểu nổi hồi ba, hồi mẹ mới lên ba, ba và mẹ có hay hỏi như con không? Và những đứa trẻ khác nữa, chắc cũng như con, nhưng ở con, mẹ thấy có cái gì đó đặc biệt, chỉ có con của mẹ mới tò mò thông minh ngộ nghĩnh như vậy. Những câu hỏi của con, có câu mẹ trả lời được và con hiểu, có câu mẹ biết con không hiểu nhưng mẹ vẫn nói, vẫn giải thích đến nơi đến chốn, có câu mẹ chỉ cười làm ngơ và lảng sang chuyện khác cho con quên. Còn câu hỏi ban chiều này của con, mẹ không thể làm ngơ. Cách đây ba hôm, chiều đón con về, có bảy người, một ông già râu bạc, ba người đàn ông và ba cô gái chia nhau đào xới cái gì đó trong mảnh vườn hoang. Trước khi ngồi chơi trên ghế gốc cây xoài, con hỏi mẹ: - Má ơi, người ta làm gì vậy má? - Người ta đào. - Đào để làm gì vậy má? Quả thực là mẹ không biết người ta đào cái gì, mẹ đoán chừng là những người chủ nhà mới hồi hương đang tìm lại đồ đạc đã chôn cất hoặc bị bom đạn vùi lấp đi. Mẹ nói: - Người ta tìm vàng. - Vàng là gì hở má? Biết nói sao cho con hiểu được thế nào là vàng? Mẹ chỉ biết nói: - Quý lắm con! - Mẹ nói cho qua. Nhưng con lại không “buông tha” cho mẹ. - Sao lại quý hở má? - Quý vì nó là vàng. Con nhìn mẹ, là con trai mà hai hàng mi của con lại dài, cứ phơi phới. Con mở to mắt nhìn mẹ - đôi mắt trong suốt thơ ngây, và con cười. Chiều hôm sau, đón con về, hai mẹ con lại đi ngang qua đó. Dừng xe, mẹ vừa dắt con ra chỗ hàng ghế gốc cây xoài, thì con quay lại và hỏi: - Má ơi! Người ta đào gì mà đào hoài vậy má? Hình như không bằng lòng với câu trả lời của ngày hôm qua, nên con vẫn tò mò muốn hiểu. Mẹ nhìn những người ấy, không như hôm qua, bảy người họ chia ra ba nơi cách xa, hì hục đào xới. Không hiểu họ đào gì, mẹ cũng muốn tò mò, nhưng cả ngày mới gặp lại con. Con có hiểu không, gặp lại con thì với mẹ, con là tất cả. Mỗi ngày, mẹ thấy ở con có một điều mới lạ, một cử chỉ hoặc một từ ngữ lạ thốt ra từ cửa miệng của con. Nghe con hỏi, mẹ trả lời cho qua chuyện: - Người ta đào vàng. Rồi con lại hỏi vàng là cái gì, và mẹ cũng trả lời như hôm qua. Chiều nay, khi hai mẹ con lại về qua đó, cũng những người ấy hôm qua, lom khom đào xới. Lạ lùng cho con, con cũng lại hỏi: - Người ta đào gì mà đào hoài vậy? Lần này, con hỏi với giọng sốt ruột, và quan tâm trong vẻ ngây ngô. - Người ta đào vàng chớ có gì mà con hỏi hoài. Vừa lúc đó, ở một chỗ hai người đang đào bên miệng hố bom, người đàn ông kêu lên: - Đây rồi! Bác Bảy ơi! Giọng cô gái reo to: - Đúng, đây nè! Bác Bảy! Mẹ thấy hai người, mỗi người một miếng như miếng gạch đưa lên. Năm người kia đang rải rác trên bãi hoang liền buông cuốc, buông xẻng chạy tới. Thấy mọi người vui mừng, đổ xô lại, mẹ cũng bồng con chạy tới xem. Chẳng lẽ họ đào được hai cục vàng to đến vậy, không thì cũng cái gì đó quý lắm. Bảy người xúm lại bên cái vật quý vừa đào được. Mẹ bồng con chạy đến sau, không muốn sấn sả tới gần, mẹ đứng ở sau họ, hơi xa. - Cái gì vậy má? - Con hỏi. - Vàng hở má? - Ờ, - Mẹ ờ cho qua chuyện, để chú ý xem. Cô gái và người đàn ông đào được, hai người lột lấy cái khăn buộc qua đầu, lau đi lau lại cái vật quý. Nhìn rõ, mẹ thấy đó là hai viên gạch. Đúng là hai viên gạch, gạch dùng để lót sân, hình chữ nhật, làm bằng đất sét, đem nung. Có gì mà họ phải tốn công tốn sức và vui mừng đến vậy! Mẹ bước lại gần hơn. Một người bảo: - Đem xuống nước rửa cho sạch đất đi! Một người đứng bên khoát tay: - Không được! Lấy khăn ướt mà lau! Rồi hai người lột khăn mình, đến mé hố bom, nhúng khăn, hai người lau đi lau lại thật cẩn thận. Người đàn ông và cô gái, sau khi lau hai viên gạch hết đất trao cho người già nhất: - Đây nè, bác Bảy, đúng rồi! Bác Bảy, một ông lão độ hơn bảy mươi, nhưng hãy còn rắn rỏi, lão mặc quần đùi theo kiểu xưa dài đến tận gốỉ, mình trần nhễ nhại mồ hôi, chòm râu bạc, đầu bịt khăn khấc, nhìn hai viên gạch hồi lâu, lão bỗng đưa bàn tay gầy guộc lên bụm mắt, khóc rưng rức. Thấy lạ, con hỏi mẹ nhưng mẹ không để ý đến câu hỏi của con. Mẹ bồng con, bước gần lại, đứng bên cạnh cô gái. Ông lão khóc không lâu, ông lau nước mắt bằng hai ngón tay, ông cầm hai viên gạch, lật ngửa hai viên gạch trước mắt mọi người: - Các cháu xem, - Giọng ông không nghẹn nhưng xúc động - đúng là dấu chân của chú Ba quận ủy. Đến lúc ấy, mẹ mỏi nhìn thấy rõ, trên mặt của hai viên gạch còn hằn lại đường nét của hai bàn chân, dấu chân hằn xuống không sâu lắm - mẹ không thể nói chính xác là bao nhiêu ly - nhưng dấu chân hằn xuống hai viên gạch trông thật rõ. cả hình dáng của bàn chân: cái gót sau, các mép chân, mặt trước của bàn chân, và cả năm ngón. Không thật sâu, thật rõ nhưng mẹ hãy còn nhìn thấy những đường chỉ của bàn chân. - Các cháu! - Ông Bảy nhìn người đứng chung quanh như nhìn một đàn con trước khi nói: - Từ năm 1954 đến 1968, mười bốn năm. Ở đây, bao nhiêu người bị bắt, bị tù đày, bị bắn, bị đưa lên máy chém; bao nhiêu cơ sở bị đánh bật ra ngoài. Chú Ba, mười bốn năm vẫn đứng, vẫn trụ lại ở đất này để nắm quần chúng, dựng phong trào. Suốt bao nhiêu năm, từ 1954 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chỗ này, chợ quận này, mới thoát ra khỏi vòng kềm kẹp và rào kẽm gai của bọn chúng. Ban đêm, chú Ba đi hoạt động, chú tìm đến từng nhà, từng cơ sở. Ban ngày thì chú trở về hầm bí mật. Nhờ đó mà dù cho Mỹ có đổ quân, có xây căn cứ ở đất này, dân ở đây vẫn tin, ở đây, còn có chú Ba, còn có Cách mạng. Hôm chú đào hầm bí mật, chú đến hỏi bác xin hai viên gạch. Bác lựa hai viên gạch nguyên, chắc trước thềm nhà bác, bác cạy lên, trao cho chú. Xuống hầm bí mật, chú ngồi, chỉ ngồi thôi. Chú ngồi trên cái ghế, còn hai viên gạch này chú dùng để đặt hai bàn chân. Đất ở xứ này, cận sông, đào xuống, đất ẩm ướt lắm, chân mà để dưới đất lâu ngày, sẽ bị bịnh thấp. Mười bốn năm, bác già, bác còn nhớ gì đến hai viên gạch? Mà có gì đáng để cho bác nhớ. Đến năm Mậu Thân 68, chú Ba thoát lên mặt hầm, làm chính ủy mặt trận cánh Nam đánh vào Sài Gòn. Chú đến nói với bác: - Bác Bảy à! Lần này thì cháu thoát hầm bí mật. Nếu cháu không trở về, sau này, bác nhớ moi hầm của cháu, giữ hai viên gạch lại. Nghe lời từ giã của chú, bác xót xa, bác cắt ngang rồi nạt chú: - Miệng ăn mắm ăn muối, nói tầm phào! Chú không giận mà cười: - Hai viên gạch đó... Bác không để chú nói hết lời, bác lại cắt: - Mày tưởng tao tiếc hai viên gạch đó lắm sao Ba? - Dạ, cháu không phải nói vậy, mà hồi nãy, trước khi lên hầm, cháu bấm đèn pin, cháu thấy, mười bốn năm, mà ngày nào cũng như ngày nào, cháu cũng đặt hai bàn chân lên hai viên gạch, nên hai viên gạch còn lại dấu vết của cháu... Con yêu! Lúc mẹ nghe kể, mẹ nghĩ: Mười bốn năm, sức mạnh của thời gian trong đôi chân đã để lại hai viên gạch này: dấu chân, dấu chân người chiến sĩ cách mạng... Ông lão thận trọng trao hai viên gạch lại cô gái. Mẹ biết, cô gái ấy là cán bộ tuyên huấn của quận, cô đang lãnh trách nhiệm xây nhà truyền thống. Cô kéo chiếc khăn rằn đang đội gói lấy hai viên gạch. Lúc đó, trên tay mẹ, con cứ nhìn theo hai viên gạch được gói trong chiếc khăn, mắt con tò mò, thơ ngây. Con hỏi: - Má ơi, vàng đó hở má? Xúc động, mẹ cúi hôn con: - Không phải, nhưng quý hơn vàng con à! - Sao lại quý hơn vàng hở má? Con chưa hiểu vàng là gì thì làm sao giải thích cho con cái gì quý hơn vàng! Chiều nay, mẹ đặt con ngồi trên chiếc ghế nhỏ trên xe, nhưng mẹ không lên xe chạy về mà mẹ dẫn xe đi bộ. Hàng ngày, mẹ đưa con qua con đường này, xóm này, nhưng mẹ có hiểu gì đâu, mẹ đi qua một cách bàng quan, nếu không nói là phũ phàng. Chiều nay, mẹ muốn đi bộ, đi chậm, để nhìn lại từng bước trên con đường mình đang đi, và mẹ muốn nghe tiếng nói sâu xa của từng tấc đất. Cũng con đường này: cát và bụi, cũng cái xóm xác xơ bên sông, cũng buổi chiều êm đầy gió, nhưng với mẹ, chiều nay, quanh mẹ như đổi khác, gắn bó với mẹ hơn. Về nhà, và cả buổi tối, con không nhắc lại câu hỏi, mẹ không thể làm ngơ. Mẹ muốn nói cho con hiểu vì sao hai viên gạch ấy quý hơn vàng. Đêm nay, lúc con đang ngủ ngon, mẹ ngồi ghi lại câu chuyện ban chiều, trong quyển nhật ký dành riêng cho con. Lúc ấy mẹ không tiện hỏi chú Ba ra sao, tuổi tác và cuộc đời riêng của chú. Nhìn qua hai dấu chân còn hằn sâu trên hai viên gạch, mẹ đoán chú Ba là người tầm thước, hơi gầy, cũng bình thường như bao nhiêu chú bác mà con gặp hàng ngày, và ngay cả tên của chú cũng bình thường, lấy thứ thay tên, cũng như bao nhiêu chú Ba, chú Tư, chú Năm của con vậy. Nhưng chú có khác hơn, chú là một chiến sĩ cách mạng. Suốt cả cuộc đời chú và đến phút cuối, chú đã hy sinh cho mảnh đất này. Mảnh đất có con đường yên lành mà mỗi chiều hai mẹ con ta đi qua. Mẹ hy vọng đến ngày khôn lớn, đoạn nhật ký mà mẹ thức để ghi lại đêm nay, nhắc lại câu hỏi ngây thơ vào cái tuổi lên ba của con, và câu chuyện sẽ cho con hiểu dễ dàng, và câu chuyện sẽ nhắc con nhớ, không được quên, cuộc sống mà con được hưởng, ngôi trường con ngồi học, căn nhà con ở, cái ghế đá trong vườn hoa mà con ngồi, và từng tấc đường trên những bước con đi, đâu đâu, nơi nào cũng ẩn giấu xương máu của cha ông. Con hãy nhớ! * * * Viết xong, người mẹ thở dài, khoan khoái. Cô xếp quyển nhật ký, để vào tủ, tắt đèn, rón rén bước lại giường. Nằm nghiêng người qua bên con, áp mặt sát vào cái má bụ bẫm thơm thơm của con, cô thở đều, hai mẹ con ngủ ngon lành. Bên ngoài, đêm yên tĩnh và huyền ảo dưới ánh trăng, dòng sông trong đêm khuya, con nước đổ xuôi dài theo hai rặng lá, gió lao xao. |