|
Tiêu đề: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:19:17 am Truyện ngắn Lê Văn Thảo Nguồn : http://www.binhthuan.gov GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ Tên thật: Dương Ngọc Huy Sinh năm 1939, tại thủ thừa - Long An Học trường tiểu học và trung học tại Long Xuyên. Học Đại học (Khoa Toán) tại Sài Gòn. Vào chiến khu chống Mỹ năm 1962. Bắt đầu viết văn năm 1965. Các tác phẩm chính: Đêm Tháp Mười - Tập truyện ngắn - NXB Giải Phóng - 1972 Bên lở bên bồi - Tiểu thuyết - NXB Giải Phóng - 1976 Cửa sổ màu xanh - Tập truyện ngắn - NXB Tác phẩm mới - 1980 Buổi chiều và sáng hôm sau - Tập truyện ngắn - NXB Văn Nghệ - TPHCM - 1982 Ngôi nhà có hàng rào song sắt - Tiểu thuyết - NXB Hội nhà văn - 1987 Chuyện nhỏ tình yêu - Tập truyện ngắn - NXB Văn nghệ TPHCM - 1992 Con đường xuyên rừng - Tiểu thuyết - NXB Văn nghệ TPHCM - 1995 Ông cá hô - Tập truyện ngắn - NXB Hội nhà Văn - 1995 Một ngày và một đời - Tiểu thuyết - NXB Trẻ - 1997 (Tác phẩm được giải A Hội Nhà văn Việt Nam - 1998) Con mèo - Tập truyện ngắn - NXB Văn học - 1999 Tác giả hiện đang công tác tại Tuần báo Văn nghệ TPHCM và Hội nhà văn TPHCM. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:20:14 am Đêm Tháp Mười Năm đó mùa mưa ở Tháp Mười kéo dài hơn mọi năm. Đã gần cuối tháng mười rồi mà trời vẫn còn mù mịt bụi mưa, đồng nước một màu trắng xóa không còn phân biệt được đâu là bến đâu là bờ nữa. Chỉ thỉnh thoảng có những khóm tràm, khóm trâm bầu nổi lên lơ thơ, cũng không có đặc điểm gì để ta có thể nhớ đó là con đường đã đi qua. Khi tôi tới trại M. - Trạm giao liên nối liền vùng rừng miền Đông với các vùng đồng bằng sông Vàm Cỏ - thì trời đã về chiều. Mặt trời đỏ rực như trái chín, mây nước cùng ánh lên một màu đỏ trông như biển lửa vậy. Nhưng chỉ chút sau, mọi tia sáng đều tắt ngấm, từ hướng Đông mây đen ùn lên, lan đi rất mau, choáng chật cả nền trời. Tiếng sấm ầm ì như vọng lại từ lòng đất. Mưa giăng mờ mịt, đọng một lớp sương đục là đà trên mặt nước. Vừa tới trạm nhìn cảnh trời nước như vậy, tôi vội vào gặp đồng chí trưởng trạm, nhờ đồng chí bố trí cho chuyến đặc biệt đưa qua đồng nước. Nhưng có lẽ do thường xuyên tiếp xúc với nhiều người nhiều việc như vậy quá rồi, người trưởng trạm vẫn thờ ơ cúi xuống thổi bếp lửa. Bếp lửa nhỏ xíu, chỉ có mấy nhánh tràm với nắm cỏ khô, anh thổi mãi vẫn không cháy. Khói um lên, bay mùi thơm thơm. Hồi lâu anh mới ngửng lên, hỏi tôi : - Đồng chí có công tác gấp à ? - Dà, gấp lắm. - Nhưng gấp thì cũng chịu vậy, đêm nay không có chuyến, đồng chí hãy đợi đến đêm mai. Nói rồi anh lại cúi xuống, phùng má thổi nữa. Tôi thất vọng nghĩ bụng : "Vậy thì còn nói làm gì nữa". Và tôi nói, cốt lung lạc anh ta: - Nếu không tôi phải đi tự lực vậy, tôi không thể để lỡ công việc quan trọng. - Đồng chí đi một mình à ? - Dà. - Vậy thì không nên đồng chí à, đồng chí sẽ bị lạc ngay thôi. Dân đồng nước tụi tôi như con cá trên biển vậy mà có hôm còn phải ngủ "mùng nước". Đồng chí nên chờ đến ngày mai... - Nhưng tôi có công tác gấp... - Tùy đồng chí, đó chẳng qua là do cái khó khăn chung. Đồng chí trở vô lấy thêm vắt cơm... Nhưng tôi đã xốc ba lô lên, bươn đi rồi. Tôi sợ nếu tôi trở vô lấy thêm vắt cơm tôi sẽ ở lại luôn. Khi ra tới mí rừng, trước mặt là cánh đồng nước mênh mông như biển, ngoảnh lại tôi đã thấy người trưởng trạm ra tới sau lưng. Anh tay bồng đứa con nhỏ, tay xách cho tôi vắt cơm. Tôi cầm lấy vắt cơm buộc vào thắt lưng, anh đứng yên lặng bên tôi không nói gì. Hồi lâu chúng tôi cùng đứng nhìn ra xa. Mặt trời lóe lên những tia sáng hình rẽ quạt, mây nước cùng sáng lên trong giờ phút cuối cùng của một ngày . Những khóm tràm, bụi dế đã trở thành những vệt đen. Xa xa bóng những tấm bia của những ngôi mộ hoang đổ dài gây trong lòng tôi một cảm giác xao xuyến. Không biết các bạn có khi nào trông thấy những tấm bia như vậy chưa ? Những tấm mộ bia trông mục nát, tưởng như sắp rã ra nhưng lại vững chãi quanh năm với sương gió. Nó ở rải rác không nhiều lắm, nhưng bao giờ đi xuyên qua đồng nước ta cũng gặp vài ba cái như vậy. Mặt trời chiều ánh lên phía sau như lát vàng, cạnh đó lau sậy reo lên, tiếng côn trùng nỉ non than vãn, tưởng như người chết còn chưa yên phận, còn có điều gì muốn nói lại với ta. Tôi nói với người trưởng trạm : - Đồng nước về chiều trông buồn quá, chỉ một màu xám xịt... Người trưởng trạm chép miệng như đồng ý với tôi, nhưng lại nói khác đi : - Nhưng lúc sớm mai lên, cảnh sắc trời nước coi sáng sủa, tươi mát lắm đồng chí à. Rồi anh nói tiếp : - Nếu có lạc anh đi theo hướng sao Cày, đi về phía tay phải, ở đó may ra có xóm. - Dà. Tôi bắt đầu lội xuống nước. Nước lạnh khiến tôi rùng mình. Tôi thoáng có cảm giác bơ vơ, nhưng tôi vội xua đuổi nó ngay. Tôi thường đi một mình trong những đêm tối như vầy, bao giờ tôi cũng nghĩ là sẽ đi tới điểm đã định, hoàn thành tốt nhiệm vụ và trở về lòng càng phấn khởi hơn. Nhưng đi được hơn tiếng đồng hồ đường mòn bỗng nhiên biến mất, lau sậy quất vào tôi rát rạt. Những con cò ma, vịt nước giật mình kêu một tiếng rồi vỗ cánh bay đi. Tôi đứng lại ngẫm nghĩ một chút rồi quay lại chỗ rẽ mà tôi vừa đi qua. Nhưng đi một đỗi, tôi lại sa vào tình trạng trên. Tôi bình tĩnh đốt một điếu thuốc, nghĩ bụng : "Tháp Mười bây giờ là của ta". Và nhớ lại lời người trạm trưởng, tôi theo hướng sao Cày, đi chếch về phía tay phải. Chẳng bao lâu tôi nhìn thấy xa xa một ánh lửa. Tôi mừng rỡ lội bươn lại, đến gần sát thì nhìn thấy ngôi nhà nằm chui rúc trong một bụi dế cao. Tôi rẽ đế bước lên nền đất, đưa mắt nhìn quanh. Ngôi nhà nhỏ quá, nhỏ hơn nhiều so với những ngôi nhà trước kia tôi từng gặp ở vùng ven sông. Hai mái chái dựng lụp xụp trên một mô đất không lớn hơn tấm đệm. Bốn bên cỏ nước bệp bềnh, khói từ kẽ vách rỉ ra bay tạt về một phía. Trước cửa một cái lu bể chỉ còn phân nửa. Dưới bến, cạnh lu nước hai chiếc xuồng đậu cặp kè nhau như hai con cá, một chiếc để trống, một chiếc phủ kín cỏ. Sóng vỗ vào mạn xuồng kêu lách chách. Heo gà đuổi cắn giành chỗ nhau. Một con vịt nghe tiếng động kêu "cạp cạp" rồi lội ào xuống nước. Tôi chưa kịp lên tiếng thì từ trong nhà có tiếng quát: - Ai đó ? - Tôi... đi lạc đường... Im lặng một lúc lâu. Có lẽ người trong nhà đang dò xét tôi. Tiếng hỏi tiếp theo, giọng có vẻ nạt nộ lại có vẻ sợ sệt : - Sao lại lạc ? Đi đông không ? - Chỉ có một mình tôi thôi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:21:01 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Tôi nghĩ bụng : "Chắc tụi biệt kích Mỹ thường bén mảng đến đây lắm. Chà, hoang vu thế này... Thật không nơi nào không có móng vuốt của tụi nó chạm tới". Tấm phên cửa nhắc sang một bên. Một người đàn ông bước ra, lưng gù, quần xắn tới vế, tay chân dài ngoằng, vai và lưng nổi lên những bắp thịt u cục như được nặn bằng đất. Người đó hỏi : - Thôi vô nhà đi. Đi suốt đêm tới giờ à ? - Dà - Đói bụng không ? - Dạ tôi có cơm vắt. - Thôi ngồi xuống đây hơ lửa. Muỗi dữ quá... Lạnh lắm không ? Lội đồng ban đêm thì phải biết. Mà đi ban ngày khỉ gì được, tụi xuồng bay nó không "rỉa" cho chết sao. Tôi đẩy xuồng lội như vầy hoài tôi biết. Đêm nào về ngủ với vợ, vợ tôi cũng hỏi tôi sao người nửa nóng nửa lạnh. Tôi đáp : "Con người tôi vốn là hỏa, hỏa kị thủy, nên gặp nước là máu dồn lên trên". Trong chiếc mùng căng trệch ở một góc nhà có tiếng người đàn bà ậm ừ, ý chừng muốn ngăn cản câu chuyện của người đàn ông. Người đàn ông mỉm cười cúi xuống vun cỏ trấu vào đống un. Khói um lên, tôi cay mắt sặc sụa. Người đàn ông nói tiếp, vẫn với giọng vui vui như vậy : - Khói hả ? Kệ nó, khói thì trị được muỗi, cũng như đồng nước trị được trực thăng vậy. Nước nổi như vầy, cha nó cũng không dám đổ quân. Chông cắm ngầm dưới nước, chông chĩa mũi theo ngọn lau ngọn dế, nhảy xuống mà không bị xóc từ đít tới đầu sao. Cái gì cũng vậy, khó cho ta thì khó cho giặc, mà khó cho giặc thì gấp đôi gấp ba. Nè, tôi nướng bắp cho anh ăn nghen ? Không đợi tôi trả lời anh lôi từ trong sàn ván ra mấy trái bắp ghé miệng thổi bếp lửa. Lửa bùng lên, ửng đỏ trên khuôn mặt vuông chữ điền, rộng bèn bẹt, hơi rỗ hoa của anh. Trông anh có vẻ già trước tuổi, có lẽ do lao động cực khổ. Tôi hỏi chuyện anh : - Anh đi đâu mà đêm nào cũng đẩy xuồng ? - Dà... thì cũng đi công việc ... - Anh là người của đường dây à ? - Không. Thấy anh ngại nói chuyện công tác, tôi hiểu ý bèn nói sang chuyện khác. Tôi khen mấy trái bắp ngon. Anh nói: - Bắp của vợ chồng tôi trồng đó. Đất này muốn trồng được bụi lúa cây bắp phải đổ mồ hôi mẹ mồ hôi con, cực lắm anh ơi. Phải lặn móc từng cục đất đắp lên thành giồng, rồi cuốc sắp cuốc trở năm này tháng kia mới trồng được. - Chà cực quá hén. Bà con ở đây có đông không anh ? - Cũng không đông, mà cũng không ít. ở thì rải rác, chui rúc trong bụi như vầy, nhưng lùm nào bụi nào cũng có. Trước ngày đồng khởi mấy hôm có người đi lạc như anh vầy ghé đây, anh ta nói : "Đồng nước Tháp Mười thiệt lạ, trông thì không thấy nhà nào xóm nào cả, nhưng tới chừng đi lạc thì y như có nhà cho mình ghé, có người đưa mình đi". Nè, ăn bắp đi anh ? - Dà, bắp ngon quá. Rồi bà con làm sao mà sống ? - Thì cũng bám lấy đất mà sống, đất có hoang vu ngập lụt nhưng vẫn là đất, chịu khổ cực thì vẫn sống được. Giòng họ tôi bốn đời ở đây. Giờ chỉ còn vợ chồng tôi, nhưng chúng tôi vẫn ở đây. Đất này là của ông bà tôi khai phá mà. Thuở ông cố tôi lên đây móc đất đắp ruộng, rắn hổ mây còn lội đùng đùng ngoài đồng. Ông cố tôi đóng khố, gia tài chỉ có chiếc xuồng bằng khúc dừa móc ruột. Ruộng chưa gieo được, ông cố tôi phải đi gặt lúa ma ngoài đồng về ăn. Ngày đi gặt lúa ma, tối về nằm khoanh trong xuồng mà ngủ. Muỗi Tháp Mười thuở đó khiêng được trâu, muốn ngủ phải nhận nước đầy xuồng rồi nằm ngâm mình trong đó chỉ hở cái lỗ mũi. Ba bốn năm như vậy ông cố tôi cất được cái nhà, khai phá được khoảng ruộng chưa tới công đất. Ông cố tôi bèn trở về làng cũ tìm cưới vợ. Bà cố tôi sau thuật lại ông cố tôi về người đen như trái ấu, suốt bao năm sống giữa đồng trống hoang vu nên chừng quên mất tiếng người, đến nhà bà cố tôi chỉ giương mắt hết nhìn cái nọ tới cái kia không nói không rằng chi hết. Bà cố thấy vậy thương quá mới ưng lấy. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:21:41 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Sau đó rồi hai người sống rất thuận thảo với nhau. Một năm sau bà cố tôi sanh được đứa con trai đầu lòng, tức là ông tôi. Ông cố tôi chỉ mặt con nói : "Mày lớn lên mần ăn không ra chi thì mày chết, mày coi hai bàn tay thằng cha mày đây". Nói rồi ông cố tôi xòe bàn tay ra trước mặt con, bàn tay sần sùi vì suốt đời móc đất đắp ruộng. Đó, thời ông cố tôi sống như vậy đó. - Anh kể tiếp đi, chà chuyện đồng nước... - Dà, tôi xin kể. Chuyện không đầu không đuôi anh chịu khó nghe. Đến thời ông nội tôi thì đã có được ruộng, được nhà rồi, nhưng chẳng may trời cứ bão lụt liên miên. Một năm nước dâng tới năm sáu thước, Tháp Mười sóng dồi cuồn cuộn như sóng biển. Cả nhà lên ở hết trên chiếc xuồng chờ cơn nước rút. Ông nội tôi bèn ra lệnh : "Ai khát thì thò tay ra ngoài múc nước mà uống, còn đói thì chịu vậy chứ không được khóc lóc, than vãn. Ai phải số được ông bà rước về thì mọi người cùng đọc một câu kinh rồi đem thả xuống nước cho trở về với đất". Cả nhà nghe lời ông nội tôi răm rắp. Má tôi nói lúc đó tôi còn ẵm ngửa mà cũng biết sợ không dám hó hé chi. Thiệt là một cơn lụt đáng sợ. Đến thời cha tôi thì tôi đã lớn rồi, giờ tôi còn nhớ hết mọi chuyện. Cha tôi thiệt là người trụ cột gia đình, ông biết cách dạy con cái lắm. Ông nhỏ người, tóc thưa và cứng như kẽm, mình mẩy đen bóng như tràm lụt. Những năm đó thằng Tây thằng Nhật làm cho nước mình nghèo, Nam Bộ đồng ruộng mênh mông mà dân không có gạo ăn. Cha tôi bận cái quần cụt bằng vải bố, bận lâu phèn đóng cứng giặt phơi khô xong có thể dựng lên được. Rồi đến các chị tôi cũng bận như vậy. Chị nào đến ngày có tháng thì lấy xuồng chống vào trong đồng xa. Nhưng tôi chưa thấy lần nào cha tôi tỏ vẻ buồn rầu, nản chí. Đêm đêm ông tập hợp chúng tôi lại, nói : "Con người ta sanh ra có đủ tay chân là để chống chọi với mọi tai vạ rủi ro. Ông bà mình đổ mồ hôi xương máu trên đất này, mình phải biết giữ gìn lấy". Rồi một đêm cha tôi kêu hết đám con cái chúng tôi ra nói : "Thằng Hai, thằng Ba, con Tư ra đây, thằng Năm, thằng Sáu, thằng Bảy ra đây, con út nhứt, con út nhì ra đây. Các con ra hết đây". Anh em tôi đông lắm, kéo ra đầy một sân. Các anh các em trai tôi thì đứng, các chị các em gái tôi thì ngồi. Cha tôi chỉ cây cột trước nhà, hỏi chúng tôi : "Các con có biết sự tích cây cột này không ?" Chúng tôi thiệt không biết, chúng tôi cũng chẳng nghe mẹ chúng tôi kể lại bao giờ. Chúng tôi đồng thưa : "Dạ chúng tôi không biết, cha à". Cha tôi bèn cho đốt một đống lửa trước sân, rồi kể : - Phải, các con không biết đâu. Mẹ các con cũng không biết. Hôm đó mẹ các con đương chuyển bụng sanh thằng Bườn này nè (Cha tôi chỉ tôi). Cha thì đi lặn móc tràm lụt về cất nhà. Cha xom trúng cây tràm lụt này. Nó sâu tới mấy thước nước, mấy thước đất. Cha lặn đến nửa buổi, lỗ tai rỉ máu, mình mẩy lạnh tím, mệt muốn xỉu đi. Cha đi quơ bậy vài trái bông súng nhai đỡ, ngồi nghĩ bụng : Ông bà mình xưa kia cũng tay không mà làm nên cả, giờ mình đã có cơ ngơi chút đỉnh rồi, chẳng lẽ lại không nối nghiệp được ông bà sao ? Nói rồi cha lặn nữa. Một lần cha lỡ lặn sâu quá, đến chừng trồi lên được thì xỉu đi. Trước khi xỉu cha còn kịp nằm lại ngay ngắn, cha muốn có chết thì cũng phải chết cho thẳng thắn đàng hoàng. Nhưng rồi cha không chết, cha tỉnh dậy và tiếp tục lặn. Suốt hai ngày hai đêm cha lặn hụp như vậy, đói ăn trái bông súng, khát thì uống nước phèn, cuối cùng mới móc được nó lên. Cha chở nó về quăng được trước sân thì cha té chết giấc tại đó. Trong lúc mẹ các con đương rặn sanh thằng Bườn trong nhà, mẹ các con rặn hoài mà nó không chịu ra... Kể tới đó cha tôi cầm con dao chém mạnh vô cây cột một cái nói : "Các con chém vô đây để nhớ lời cha dặn, nhớ công ơn cha gây dựng, nuôi nấng các con cực khổ như thế nào". Anh em tôi nghe lời, mỗi người cầm lấy con dao chém một cái. Các anh tôi cũng chém, các chị tôi cũng chém, các em nhỏ tôi cũng chém nữa, các vết chi chít từ trên xuống dưới. Tôi chém sâu hơn cả, cha tôi la: "Thằng Bườn sau này sẽ là đứa khá, con giữ cây cột đó cho cha". Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:22:20 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Nói rồi cha tôi trải manh đệm nằm ngủ ngay giữa sân. Cha tôi nằm hai tay giang rộng, râu tóc xõa dài cạnh đó đống lửa cháy bập bùng soi sáng lên gương mặt cha tôi. Tôi không bao giờ quên hình ảnh cha tôi lúc đó, trông cha tôi không có vẻ gì là người nghèo cả mà như các bậc hảo hán trong các truyện ngày xưa vậy. Lòng cảm động, tôi cũng trải manh đệm ngủ cạnh cha tôi, thỉnh thoảng thức giấc tôi lại nhìn lên cây cột coi đó là một vật gì linh thiêng lắm. Nhưng rồi tôi không giữ được cây cột đó. Một hôm máy bay Tây lên ném bom đốt cháy căn nhà, giết chết cha tôi. Câu chuyện đầu đuôi như sau : Hôm đó cha tôi rủ tôi cùng đi đồng với ông. Tôi vui vẻ đi ngay phần vì thấy được cha thương yêu, phần vì khí trời buổi ban mai mát mẻ, dễ chịu. Hai cha con tôi cùng chống xuồng đi, cha tôi đi trước, tôi đi sau. Ngang một bụi dế cao, cha tôi dừng lại thọc cây sào vô, la : "Bườn à, coi ổ trích nè con". Tôi nghe cha tôi nói vậy thì hiểu liền, cha tôi muốn đem chuyện trích mà dạy tôi đây. Cái giống trích gan dạ từ hồi mới nứt mắt, trích con chiêm chiếp kêu trong ổ vậy chớ hễ nghe động là nhảy xuống nước, mình còn đứng đó thì nó cắn gốc cỏ bám riết đến chết chớ không chịu trồi lên. Cha tôi đứng nhìn coi bộ khoái chí lắm, rồi nói : "Thôi tao chịu thua, trồi lên đi. Cái giống gì nhỏ bằng nắm tay mà gan lớn bằng trời". Nói rồi cha tôi cười ha hả, bỏ đi. Đi một đỗi chúng tôi bỗng nghe cái gì ầm ầm như giông như bão, rồi xuất hiện trên nền trời một đám lấm chấm đen như bầy cồng cộc. Cha tôi la : "Cái gì vậy cà, y như là máy bay ? Coi bộ nó không hiền đây". Còn tôi chỉ ngơ ngác không biết, lần đầu tiên cái giống đó xuất hiện ở vùng này mà. Cha tôi hối tôi chống xuồng quay trở về. Chưa tới nhà cha tôi đã quát : "Trong nhà ra ngoài hết, thằng Hai thằng Ba đưa vợ bây đi, thằng Bườn đưa má mầy đi. Các đứa khác cũng đi hết đi, để việc đó cha lo". Chúng tôi nghe vậy thì lo cho cha tôi lắm, nhưng vốn chỉ biết nghe lời, một loáng chúng tôi đã túa đi hết. Đi xa rồi quay lại tôi còn thấy bóng đen của cha tôi in thấp thoáng lên căn nhà màu xám. Lòng đau như cắt, tôi cứ vừa đi vừa nhìn lại, cho đến lúc đám máy bay cắm xuống ném bom, khói mịt mù tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Chúng ném bom suốt ngày, đến chiều tối chúng tôi trở về thì căn nhà đã cháy, cha tôi đã chết rồi. Cha tôi chết nằm sãi tay, râu tóc xõa dài y như đêm nào ông nằm ngủ. Cạnh đó cây cột với những vết dao ngày nào còn cháy đỏ, lửa bập bùng soi sáng lên gương mặt của cha tôi. Xung quanh lủ khủ những hũ gạo khạp mắm cha tôi đã khuân ra ngoài. Mẹ tôi ôm cha tôi khóc thảm thiết. Tôi thì không khóc, tôi cứ đứng nhìn cha, tôi nghĩ : Cha tôi sống cũng như chết, sự gan dạ đáng cho chúng tôi noi theo lắm. Cha tôi chết rồi, một năm sau tôi lấy vợ. Vợ tôi không phải người Tháp Mười, gốc người miệt Sa Đéc lên mần ăn trên này. Tôi gặp vợ tôi trong một chuyến đi làm đồng, vợ tôi đi cắt lác, tôi đi bẫy chim. Đi với chúng tôi có rất nhiều thanh niên trai gái, suốt ngày làm lụng cực nhọc nên họ tìm chuyện vui đùa luôn. Ban đầu chỉ là chuyện mùa màng mưa nắng, sau họ quay sang chọc ghẹo chuyện tàn tật của tôi. Tôi biết họ buồn tìm cách khuây khỏa vậy thôi nên chẳng để bụng phiền giận làm gì. Trong số tôi thấy có một cô gái không bao giờ cười, còn nhìn tôi ra vẻ thương hại nữa. Nhiều lần như vậy, tôi đem lòng thương vợ tôi tự hồi nào không biết. Về sống với nhau, vợ tôi thường kể cho tôi nghe chuyện mần ăn sinh sống vùng Hậu Giang quê cô. Từ đó tôi mới biết cảnh cơ cực đâu cũng có chớ không riêng miền đồng chua nước nổi này. Riêng cảnh vợ tôi cũng đã thấy cực hơn tôi rồi : cha mẹ chết cả, từ nhỏ tới lớn chỉ có đi ở đợ, làm thuê làm mướn. Về sống với tôi lâu rồi, tôi thường làm thay công việc nặng nhọc cả, rờ tay vợ tôi vẫn còn thấy chai nhiều hơn tay tôi. Rồi năm qua tháng lại mẹ tôi già rồi chết đi. Anh em tôi lớn lên đi mần ăn xa tứ tán, vợ chồng tôi ra riêng móc đất đắp được ngôi nhà, chẳng bao lâu chúng tôi sanh được đứa con đầu lòng. Vợ chồng tôi mừng quá, ngày tháng chắt chiu nuôi đứa con, cảnh sống từ đó cũng bớt phần hẩm hiu, buồn bã. Con tôi lớn lên như trái ấu củ năng trên đồng, mùa nắng mùa mưa cứ sởn sơ, tròn mẩy ra. Nhưng... anh ơi... một hôm chúng giết chết con tôi ! Đó là vào những năm hòa bình lập lại, thằng Tây đi thằng Mĩ đến... Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:23:01 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Người đàn ông kể tới đó thì ngừng lại, xiết chặt hai tay vào nhau. Gương mặt anh không một cảm giác, nhưng những đường mạch máu trên tay thì nổi vồng lên, tưởng bao nhiêu máu đều dồn hết ra đó. Bếp lửa um khói một hồi rồi bốc lên ngọn lửa xanh, rồi vàng, rồi đỏ. Ngọn lửa nhảy múa uốn éo tỏa ra hơi nóng ấm áp. Mấy trái bắp chín vàng, người đàn ông xoay đi xoay lại rồi lột vỏ ra, trao cho tôi. Tôi vừa cạp ăn vừa xuýt xoa, trong lúc người đàn ông lôi từ trong sàn ván ra mấy trái bắp nữa. Trán anh nhăn lại, mí mắt trĩu xuống, môi và má cứ giật giật luôn. Tiếng người đàn bà từ trong mùng vọng ra : - Thôi mình à, để cho anh Hai nghỉ, anh còn đi đường xa. Người đàn ông nói : - Không, tôi phải kể cho anh Hai đây nghe chuyện giòng họ mình đã sống chết trên đất này như thế nào, chuyện vợ chồng mình đã nuôi con như thế nào. Vợ chồng tôi nuôi con chẳng khác chi bồng bồng ấp trứng, nhiều lúc phải đi lặt từng gương sen, trái bông súng về giã bột cho nó ăn. Nhưng anh nghĩ coi gà nuôi con mà bầy quạ thì ở trên đầu. Một hôm, một bầy trực thăng sà xuống hốt hết những người dân ở đây đi. Hôm đó tôi đương đi giăng câu trong đồng xa nên thoát được. Về đến nơi thấy xóm vắng tanh. Tôi chết điếng, linh tính báo có điều gì không may xảy đến cho tôi rồi. Quả nhiên linh tính tôi đã không sai... Mình à, kể cho anh Hai đây nghe chuyện chúng giết con mình như thế nào. Trong mùng không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng sụt sịt khóc. Người đàn ông tằng hắng mấy cái rồi kể tiếp : - Chúng đem nhốt vợ con tôi và hàng trăm người vào một trại, ngoài rào mấy lượt dây kẽm gai, tới giờ thì phát cơm nước, còn ngoài ra thì bắt ngồi xếp hàng nghe chúng giảng về phương sách tố cộng, đả cộng, về quốc sách ấp chiến lược. Chúng bắt ngồi im, ai ho hen cũng không cho, con nít đái ỉa cũng cấm. Con tôi sống trong đồng rộng như chim, giờ đem nhốt trong lồng vậy biểu sao chịu được. Nó kêu la, giãy giụa như một con heo rừng, mỗi lần như vậy chúng đánh vợ tôi bắt phải dỗ. Vợ tôi không dỗ được thì chúng bắt đem đi nói là "để cho các quan chức nhà nước làm việc". Nhiều lần như vậy cho đến một hôm chúng bắt con tôi đi luôn. Chúng nói với vợ tôi : "Chồng chị đâu mà không lên đây học tập ? Chồng chị trốn tránh công việc quốc gia, còn chị bồng con lên đây để gây rối hả?" Nói rồi chúng đuổi vợ tôi về, bắt phải kêu tôi lên trình diện mới trả con. Vợ tôi về kể lại cho tôi nghe, hai vợ chồng tôi thức suốt đêm bàn tính coi có cách gì đem được con về mà khỏi phải chui đầu vô rọ của chúng. Nhưng thời thế như vậy thì anh biểu có cách gì bây giờ ? Sáng hôm sau tôi nói với vợ tôi : "Mình nấu cho tôi nồi cơm ăn thiệt no, tôi đi đổi mạng con tôi đây". Vợ tôi nghe vậy thì khóc ròng, nhưng cũng đành cuộn quần áo đi theo tôi. Bữa đi hôm đó thiệt y như một cuộc đưa đám vậy. Tôi đi trước mặt mày rầu rĩ, vợ tôi đi sau nước mắt như mưa. Ra tới trại chúng bắt tôi liền. Không nói không rằng chúng giao cho tôi khẩu súng, bắt tôi vô lính dân vệ. Tôi thành lính của chúng như vậy. ở lính tôi tập tành đủ các thói hư tật xấu như uống rượu, đánh bài. Tôi vốn chẳng xấu xa gì, ấy là do sự buồn rầu mà ra thôi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:23:37 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Trong lúc đó con tôi đang chết dần chết mòn ở nhà. Từ lúc ở trại về, con tôi nhiễm thứ bệnh gì mà các phương thuốc hiệu nghiệm làm bằng cỏ cây Đồng Tháp Mười không trị được. Con tôi ngày càng gầy yếu, xanh xao không ăn uống gì được. Cứ như vậy cho đến chết. Tôi nghe tin con tôi chết hôm chúng dẫn tôi đi lùng sục ma quỷ gì trong lùm trong bụi. Đương cầm khẩu súng tôi buông rơi xuống đất nói với thằng chỉ huy : "Thôi, tôi không đi lính nữa. Con tôi chết rồi, tôi không đi lính nữa đâu". Thằng chỉ huy thúc súng vô hông tôi, tôi cũng nói :"Con tôi chết rồi, các ông không tin thì về xóm tôi mà hỏi coi. Tôi tính đổi mạng con tôi, nhưng giờ thì hai cha con tôi cùng chết thôi". Chúng giải tôi về đem nhốt tôi vô hầm đá tôi cũng nói hoài như vậy. Chúng hành hạ tôi đủ điều, tôi chịu không nổi phải tìm cách trốn đi. Tôi dùng tay không đào một đường hầm sâu tới năm sáu thước, định thừa cơ chúng đổi gác mà trốn. Nhưng tôi không trốn được, chúng bắt tôi lại và đánh tôi tàn tệ anh ơi. Chúng chỉ chuyên dùng cây ba cạnh và đánh lên cục gù lưng của tôi. Chúng nói: "May mà mày ngay lưng lại được, mày biết ơn mà theo Ngô tổng thống". Chúng làm như giỡn chơi vậy, mà mỗi đêm về tôi ói ra từng chén máu. Cuối cùng chắc là chúng muốn giết tôi luôn, chúng treo tôi dưới bụng một chiếc trực thăng, cho bay giễu khắp xóm phát loa dọa nạt những người khác. Cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa khi nào chịu cảnh đau đớn kỳ cục quá như vậy. Ruột gan tôi như lộn tùng phèo lên, gió thổi ù ù bên tai mà tôi như nghẹt thở. Có lúc tôi mong được chết đi cho rồi. Nhưng cùng lúc tôi thấy căm thù chúng quá sức, mỗi lần muốn lịm đi tôi lại cựa quậy dữ dội. Tôi thấy mình phải sống, nợ máu phải trả bằng máu, rồi có ngày chúng phải trả món nợ này của tôi thôi. Tôi vùng vẫy tuột dần các mối dây, cuộn người lại để tránh gió tạt như roi quất vào người tôi. Cuối cùng ngang một bãi lầy thằng lái liền sà xuống định nhúng tôi xuống nước cho tôi chết ngộp, tôi tuột ra được rồi chúi nhủi xuống bùn. Khi cất lên thấy mất tôi chúng có quần lại kiếm. Nhưng đất bùn đã che tôi. Chúng xả đại liên bắn, may tôi chỉ trúng một viên ở bắp chân thôi. Cuối cùng chúng bỏ đi, còn tôi thì nằm chết giấc ở đó. Không biết tôi nằm như vậy bao lâu, khi tỉnh dậy trời từ mùa khô ráo đã chuyển sang mùa mưa, những giọt mưa đầu mùa rơi mát trên mặt tôi. Tôi tỉnh hẳn, bắt đầu dùng hai tay mà bò. Sau một ngày một đêm tôi bò tới một xóm gần nhứt. Tới đó tôi không còn nhớ gì nữa, không nhớ ai đã nuôi tôi, ai đưa tôi về nhà. Nghe nói về tới nhà vợ tôi không nhìn ra tôi, đến khi kêu lên thì mới biết. Tôi nằm liệt gần nửa năm mới ngồi dậy được. Lúc đó là vào cuối năm năm chín, chỉ mấy tháng sau mình làm đồng khởi... Anh dừng lại yên lặng một chút rồi bước ra sân ôm cỏ khô chất thêm vào đống un. Lửa cháy cao ngọn, tôi nhìn anh và bỗng thấy anh khác hẳn : tóc xửng lên, mắt long lanh ướt, mồ hôi rịn ướt trên má, trên trán. Cùng lúc ấy mùi khói quyện với mùi cỏ khô, mùi bắp nướng, và gió mang về mùi bông tràm, mùi phèn chua, mùi nước lành lạnh tạo nên một thứ mùi riêng biệt của đồng nước, gợi tôi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm miền quê tôi, của cái xóm nhỏ nghèo nàn với con kinh trước cửa, cánh đồng sau hè, hàng cau liếp mía, con gà con vịt quanh quẩn trước sân. Lòng bối rối tôi nhìn mãi người đàn ông, và bỗng thấy người anh như đang chất chứa một điều gì lớn lao và mạnh bạo... Trong mùng tiếng người đàn bà vọng ra : - Thôi để anh Hai nghỉ mình à. Người đàn ông cười giả lả : - ờ thôi anh Hai nghỉ. Tôi ở đây buồn nên thỉnh thoảng gặp được ai là nói chuyện quên thôi. Thôi nghỉ đi anh Hai, nghỉ rồi chút nữa đi... Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:24:17 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Người đàn bà vén mùng ngồi ra ngoài. Chị trông da mặt đã nhăn, tóc hoe nắng, miệng cười không còn vẻ tinh nhanh nữa. Chỉ có đôi mắt là trông còn trẻ trung, ánh lên màu đen đen của tuổi con gái. Chị chào tôi rồi cúi xuống với đứa con nằm phía trong. Bằng giọng nói trong và ấm, chị cất tiếng hát ru. Đứa nhỏ có vẻ không chịu cái gì khóc nẩy người vừa giật tóc vừa phun nước miếng lèo phèo. Tôi hỏi : - Cháu đau hay sao vậy chị ? Chị đáp : - Dà, cháu có hơi ấm đầu. Mọi bữa cháu vẫn vậy, hễ trời trở gió... Người đàn ông xen vào giọng cộc lốc : - Anh đi lạc giờ tính sao đây ? - Tôi cũng chưa biết tính sao... Chắc phải nhờ anh chỉ đường... - Đường từ đây trở đi nhiều chông lắm, không chỉ được đâu. Chắc anh đi công tác gấp ? - Dạ, cũng gấp. Anh ngó mông ra ngoài, như nói một mình : - Phải chi tôi đưa được anh đi... Tôi muốn nói :"Sao anh không thể đưa tôi đi ?" nhưng nhớ lại đứa con đau của anh tôi nói : - Tôi đi một mình cũng được anh à, cứ lần đường mà đi. Anh nói như cãi lại tôi : - Lần làm sao ? Thôi anh đi rửa chân rồi nghỉ chút đi, để vợ chồng tôi tính lại coi ... Anh hé phên cho tôi bước ra ngoài, còn nói với theo : - Anh rửa nước ở khạp đó, đừng xuống bến. - Dà Nhưng tôi đã bước xuống bến rồi. Tôi vịn tay vào chiếc xuồng để lấy chỗ xối nước. Bỗng tay tôi chạm vào vật gì quen quen. Tôi giở lớp cỏ phủ ở trên : một trái đạn chống tăng nằm chĩa ra ngoài ướt hơi sương lạnh ngắt. Không ngăn được tò mò, tôi rờ tới nữa : xuồng đầy ắp những trái đạn cối, đạn chống tăng, những thùng đạn lớn nhỏ nằm nghiêng ngửa. Tôi nghĩ bụng : "Điều anh muốn giấu tôi là chiếc xuồng này đây. Anh không thể đưa tôi đi cũng là do chiếc xuồng này đây". Và hình ảnh người nông dân tật nguyền có cuộc đời đầy đau thương kia đêm đêm đẩy xuồng vũ khí ra ngoài mặt trận hiện lên rõ ràng trước mắt tôi, lên trên hết những kỷ niệm êm đềm vừa mới đây đã choán chật tâm hồn tôi. Lòng cảm động tôi vừa đi vừa nói lớn : - Ôi trăng lên kìa. Thôi được rồi, trời có trăng tôi không đi lạc nữa đâu, chút nữa tôi đi một mình được rồi. Tôi hé tấm phên bước vô. Hai vợ chồng đang thì thào bàn tán ngửng lên nhìn tôi. Đứa nhỏ thôi khóc cũng nhìn tôi đăm đăm. Tôi ngồi xuống vuốt tóc nó, hỏi người đàn bà : - Cháu lên mấy vậy chị ? Người đàn ông nói thay, vẫn giọng cộc lốc như vậy : - Nó sanh nhằm ngày đồng khởi... Nè anh, vợ chồng tôi tính rồi, chút nữa vợ tôi sẽ đưa anh đi. Đêm nay làm gì có trăng, đường này anh đi lạc thì nguy lắm. Tôi ở nhà vừa giữ con vừa thức canh gác, lại càng tiện... Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:24:53 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Tôi nói thầm : "Thức gác làm sao ? Tôi không biết chút nữa anh phải đẩy xuồng vũ khí kia đi hay sao. Chẳng lẽ anh để đứa con dưới xuồng đẩy đi, nó đang bệnh. Tôi vô cớ biến cái khó khăn nhỏ của mình thành cái khó khăn lớn cho vợ chồng anh..." Nhưng tôi không thể nói ra được điều đó. Công việc chuyển vũ khí tuy mọi người dân đều làm nhưng việc ai nấy biết, tôi có lỡ thấy xuồng vũ khí kia rồi thì cũng đành để bụng làm thinh mà thôi. Tôi hỏi lảng : - Đường này cũng có nhiều người đi lại ? - Dà, đầu tiên là một người đi lạc như anh vậy. - Cái người đã nói... à, anh kể tiếp cho tôi nghe đi, trời cũng còn sớm... - Dà, tôi phải kể chớ. Chuyện có căn có quả, tôi không kể cho anh nghe đoạn sau này tôi cũng không yên tâm đâu. Đêm đó tôi ngủ một giấc thức dậy đi thăm mấy luồng câu bỗng nghe có tiếng người lộn xộn. Nghe bước chân biết chẳng phải dân đồng nước tôi bèn ngồi rình trong một bụi rậm chờ coi. Người đó lội với dáng vẻ thểu não, đi đôi ba bước lại té một cái, mặt mày tái xanh, râu tóc xồm xoàm trông đáng thương tình lắm. Chưa hiểu người ra sao, tôi đã vội chạy tới ẵm xốc lấy dìu vô nhà đốt lửa cho anh hơ, nướng bắp cho anh ăn. Xong xuôi anh lên cơn sốt run cầm cập. Nhưng anh không chịu nằm, anh nói với tôi giọng như muốn khóc : "Tôi có việc gấp phải đi trong đêm nay, anh đưa tôi đi được không ?" Tôi hỏi việc gì anh không nói, chỉ nói là việc hệ trọng nhất trên đời. Tôi nói : "Đã là việc hệ trọng thì tôi phải đưa anh đi thôi. Tôi mới ở tù ra không có xuồng bọng gì, tôi cõng anh và anh đừng có chết trên lưng tôi đó". Nói rồi tôi xốc anh lên lưng đi liền. Tôi lội suốt đêm, mình mẩy ngâm nước lạnh cứng như đá. Đến sáng ra đưa được anh tới nơi thì tôi lại lên cơn sốt run cầm cập. Tôi nằm mê man đến hai ngày đêm mới tỉnh. Đến đêm thứ ba giữa khuya, tôi chợt tỉnh giấc vì có một sự gì lạ ở bên ngoài. Tôi vội nhổm dậy nghe có tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng súng nổ... - Đó là đêm đồng khởi ? - Dà. Tôi vội tốc dậy chạy gặp vài ba người hỏi chuyện rồi băng đồng lội về. Về chưa tới nơi thì thấy xóm tôi đèn đuốc cũng đỏ trời như vậy. Tôi vội lội bươn về nhà, về chưa tới nhà thì lại nghe tin vợ tôi sinh được đứa con trai thứ hai. Tôi mừng quá, chạy vô bồng con tôi la : "Con ơi, cách mạng đã về rồi, giờ thì con sống với cách mạng". Ngay đêm đó tôi vô du kích liền. Tôi xin lãnh một khẩu súng, tôi nói nửa chơi nửa thiệt với anh ấp đội trưởng : "Cho tôi lãnh một khẩu súng để tôi chiến đấu giữ con tôi coi". Nhằm ngày vui nên anh ấp đội trưởng cũng rộng rãi phát cho tôi một khẩu, đó là loại "oảnh tầm sào" dài ngoằng như thuở tôi đi lính dân vệ. Nhớ lại chuyện đã qua tôi nói: "Tôi không bao giờ rời khẩu súng này, nó sống với tôi như vợ con tôi vậy". Từ cái đêm đó, rồi xóm này trở thành đầu mối mọi con đường nối liền vùng trên với các vùng hạ. Tôi tật nguyền không đi chiến đấu xa được, anh em giao cho tôi việc nhỏ này. Đêm đêm tôi thức gác, và khi có người như anh đi ngang qua đây tôi chống xuồng đưa đi. Tôi nghiệm mỗi lần như vậy là y như hôm sau có tin mình thắng trận, đồn Rạch Gốc, Rạch Me gì đó bị hạ. Rồi hôm sau nữa thì chúng lên đây ném bom, chúng cho rằng cái xóm nhỏ này là nguyên cớ khiến chúng bị thua... Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:25:37 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Ờ chúng cứ ném đi, tôi thì vẫn đưa cán bộ đi. Hết các loại khu trục tới các loại "ép", chúng tưởng đồng nước mà quăng một trái bom thì chúng tôi sẽ nổi như cá vậy. Rồi chúng cho "bừa" B.52 nữa. Cái xóm nhỏ như vầy mà chúng "bừa" B.52, anh nghĩ coi lạ không. Vậy mà chúng cứ bừa, hết bừa ngang tới bừa dọc, mặt đồng nát như ruộng cày mà rốt cuộc cái xóm vẫn còn nguyên. Kể ra trận đầu tiên chúng tôi cũng hoảng thiệt đó. Trời đương yên tĩnh bỗng nghe cái gì ào ào như giông tới, chưa ai kịp hiểu gì thì bom đã tới, hàng trăm trái bom nổ nhất loạt như trời long đất lở. Hết loạt thứ nhất tôi tay ẵm con, tay cầm súng xua vợ chạy ra được công sự ngoài thì loạt thứ hai đã đến. Tôi đè vợ con xuống, nín hai hơi thở mà bom vẫn chưa nổ dứt. Sau đó tôi ngửng lên dòm vô thì không thấy nhà đâu nữa. Như là gió đã thổi bay nhà tôi đi vậy. Sợ vợ tôi chưa quen mất tinh thần, tôi vội báo liền cho vợ tôi biết : "Nhà mình trúng một trái bom rồi. Âởy là số rủi của mình, chớ không phải nó tính được như vậy đâu !" Nhưng rồi từ đó chúng tôi quen dần đi. Lần thứ hai, thứ ba... nhà tôi trúng bom, mỗi lần cứ bữa trước bữa sau chúng tôi lặn móc đất đắp lại ngôi nhà. Tôi thường đem lời cha tôi nói với vợ tôi : "Con người ta sanh ra có đủ tay chân là để chống chọi với mọi tai họa rủi ro. Ông bà mình xưa kia tay trắng mà làm nên cả, còn mình bây giờ đã có cách mạng..." Vợ tôi nghe lời tôi, chẳng bao giờ mở miệng than phiền một điều gì cả. Cho đến hồi năm ngoái, thấy mặt đất đầy lỗ bom rồi mà nhiều gia đình lại con cái đông quá, anh em du kích mới họp lại quyết định : "Thôi chúng không cho mình sống gần nhau nữa thì mình sống riêng ra vậy, ở đâu cũng trên đất nước mình có chi mà ngại". Nói rồi động viên bà con dời sâu vô đồng, tụm năm tụm ba ở chui rúc trong lùm trong bụi. Xóm làng tự nhiên biến mất hết, nhưng đêm xuồng ghe nườm nượp, cảnh coi sung túc còn gấp năm gấp mười trước kia. Nhưng thằng Mỹ thiệt nham hiểm hết sức. Sau đó chúng ngưng không bừa B.52 nữa. Một tháng, hai tháng vẫn không thấy có đợt B.52 nào. Vợ tôi nói :"Hay là chúng hết bom rồi ?" Tôi vội nói : "Khoan đã... Thằng Mỹ này trăm mưu gian ngàn kế độc, chắc rồi nó còn bày ra loại yêu tinh gì nữa đây". Quả nhiên đến tháng ba thì xuất hiện cái loại xuồng bay này. Cái giống thiệt là độc địa, sáng chiều cứ rẹt đi rẹt lại trên đồng, hễ thấy lùm nào bụi nào coi rậm rậm là xả súng bắn liên hồi vô đó. Ngay hôm đầu tiên chúng đến vùng này, vợ chồng tôi bị liền một mẻ hoảng hồn. Vừa nghe rù rù ở xa, tôi chưa kịp chuẩn bị gì hết nó đã sà tới, "rẹt" liền một loạt đại liên như sét đánh, quýnh quá tôi phải nằm che cho hai mẹ con. Cũng may là không có viên đạn nào xỏ xâu cả ba chúng tôi. Từ đó tôi không dám rời khẩu súng nữa, đi đái đi ỉa gì tôi cũng xách súng theo. Lần thứ hai nó đến, vừa nghe tiếng tôi gương súng lên là nó đã bay xẹt qua khỏi rồi. Tôi ghìm súng nói thầm : "Vòng trở lại đi con. Chỉ cần một phát thôi là tao đưa đám mày". Nó vòng trở lại thiệt, đầu đít đâu không thấy chỉ thấy cục tròn vo, tôi không biết đâu cứ nhằm ngay bụng nó nổ bừa một phát. Nó sà qua khỏi đầu tôi, bay loăng quăng như bị thương vậy, có người nói nó đã rớt. Chắc là nó không rớt đâu, nhưng sau đó cả bọn chúng nó bỏ chạy đi luôn. Trận đó đôi bên thu quân về, chẳng bên nào hư hao gì. Tôi nói giỡn : "Coi như hiệp đầu để xưng danh xưng tánh thôi. Biết nhau rồi, hiệp sau sẽ ăn thua". Quả nhiên trận sau tôi bắn cháy nó một chiếc. Cũng cái kiểu như vậy, nhưng tôi bình tĩnh hơn, tính trước độ cao, tốc độ của nó, tôi nổ một phát nó vọt lên như cá lóc bị dập đầu và nổ tung trên trời như cái bong bóng. Từ đó đến nay tôi cùng du kích ở đây bắn cháy nhiều chiếc như vậy. Mỗi lần bắn rớt một chiếc, chúng tôi kê xuồng lôi nó đi riễu khắp đồng, đập thùng gõ mõ vui chơi một bữa, rồi hôm sau đem sả ra từng miếng cho bà con gò nồi gò chảo hoặc làm các thứ dụng cụ linh tinh khác. Nhà tôi đồ dùng nấu nướng toàn làm bằng nhôm của nó cả, thằng Chắt con tôi thì được một chiếc xuồng con thả dưới nước chơi. Một hôm tôi có "sáng kiến" cho giăng một sợi dây cáp ngang đồng. Cái giống bay mau mà thắng không mau hễ nó đụng sợi dây cáp đó thì trôi tuột vô rừng đố kềm lại được. Chúng tôi rình hai ngày thì bắt sống được một chiếc, ba thằng Mỹ đến lúc bị trói rồi ngơ ngác chưa hiểu vì sao mà bị bắt. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:26:17 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Nhưng chuyện giặc giã đâu phải mình bắn nó hoài mà không gặp rủi ro. Nhưng lần tôi bị nó bắn trọng thương tưởng không sống được. Lần đó tôi nhớ rõ lắm. Trước đó một ngày tức là ngày 17 tháng 7, ngày Bác Hồ kêu đồng bào miền Nam mình biểu phải đánh mạnh đó. Giữa mùa sa mưa đột nhiên sáng hôm sau trời bỗng tạnh ráo, cả bầu trời không gợn một chút mây đen, sen nở đầy đồng, chim chóc bay đi ăn từng đàn như tiết mùa xuân vậy. Tôi dòm trời dòm nước rồi nói với vợ tôi : "Trời như vầy là tụi xuồng bay thế nào cũng thả đi kiếm ăn đây, tôi phải ra ngoài "chủ động" trước mới được. Có gì hai mẹ con cứ bình tĩnh nhảy lặn". Nói rồi tôi xách súng chống xuồng ra đi. Quả nhiên một chút sau chúng nó lên tới. Hôm nay chúng đi có đội hình đàng hoàng, cứ hai chiếc trước một chiếc sau. Tôi cùng du kích ém kỹ trong các bụi đế cao. Thoáng một cái một chiếc lướt ngang qua đầu tôi, thằng Mỹ ngồi trên dòm xuống vẻ mặt coi thiệt xấc láo. Tôi nói thầm trong bụng : "Được, mày cứ bay riễu dương oai một hồi đi, nhưng hễ nổ súng là tao phải nổ trước mày". Tôi nói với mình như vậy, mà cũng để tự dặn mình như vậy. Tôi nghiệm qua bao nhiêu lần rồi, đối với thằng giặc là phải nổ súng trước vào đầu nó mới được. Nhưng hôm đó trời xui đất khiến thế nào mà tôi chậm tay chậm chân vậy, có lẽ do chiếc xuồng, cũng có lẽ do tôi lo nghĩ đến vợ con tôi ở nhà. Nó đã bay tới, tôi thấy rõ cả thằng Mỹ với chiếc đồng hồ trên tay mà tôi chưa kịp gương súng lên. Nó "rẹt" liền một loạt đại liên tôi nghe nóng bỏng cánh tay trái, người chao đi suýt rớt xuống nước. Tôi biết mình bị thương rồi, tay phải liền chụp lấy khẩu súng. Tôi bình tĩnh nói thầm trong bụng : "Phải rời xuồng thiệt lẹ, và phải bắn trước khi vòng thứ hai nó đến". Tôi xé áo băng thiệt kỹ vết thương, nhận chìm chiếc xuồng rồi lội đi cách đó một khoảng xa. Vết thương tôi chảy máu nhiều, tôi cẩn thận cứ đôi ba bước quay lại khỏa nước cho tan dấu máu. Tôi ngồi lại trong một bụi dế thưa cho chúng khỏi nghi bẻ một nhánh tràm cắm làm nạng để có thể bắn một tay. Lúc đó tôi lại nghĩ tới vợ con tôi nữa. Nhưng tôi chỉ nghĩ là tôi có thương vợ con tôi thì phải chiến đấu tới cùng nên tôi chẳng ân hận gì. Một chút sau vòng thứ hai nó đến. Cái giống bay lẹ như tên bắn, bay xắn xả lại chỗ tôi, cái đầu tròn lớn mau lên như cái bọt nước trồi lên mặt nước vậy. Tôi bình tĩnh "yếu lĩnh", và đúng khoảng cách vừa phải tôi nổ liền một phát. Nó sà tới, tôi trông thấy thằng Mỹ ngồi ở cửa chợt nghẻo đầu, tay rời khẩu đại liên. Tôi biết chỉ bắn trúng thằng Mỹ thôi, không trúng máy móc nên nó không rớt. Nó bắt đầu phát hiện được tôi, cả ba chiếc vòng trở lại. Anh em trong đội du kích nghe tôi nổ súng đã chuẩn bị sẵn sàng, tôi nghe tiếng "cúc cúc" ám hiệu chạy từ đầu này tới đầu nọ. Bắt đầu một cuộc chiến đấu ác liệt đây. Chuyện chiến đấu trên đồng nước thì chắc anh Hai biết rồi. Mình với nó phải đương mặt nhau mà đánh, đọ gan nhau mà ăn thua, nên không được hở một giây, không được mất bình tĩnh, không được để bom đạn của nó làm mình rối trí. Anh em du kích chúng tôi ở rải rác không nhìn thấy nhau chỉ hợp đồng nhau bằng tiếng súng nên sự chiến đấu gan dạ của từng người càng cần thiết lắm. Vết thương của tôi càng lúc chảy máu nhiều, trời lại nắng chang chang nên tôi khát nước như xé họng. Tôi cố cắn răng không uống một giọt nước nào, chỉ thỉnh thoảng liếm vài giọt mồ hôi cho đỡ khát thôi. Có lúc tôi xỉu đi. Tôi mơ màng thấy vợ con tôi hiện lên trước mặt, hình ảnh vợ tôi nước mắt như mưa hôm nào đưa tôi ra chợ đi lính dân vệ và đứa con gầy yếu xanh xao trước khi chết như dao cắt lòng tôi. Rồi tôi lại thấy đang bị treo dưới bụng trực thăng người dở sống dở chết, đau đớn khổ nhục trăm bề. Cùng lúc đó (cũng y như lần tôi bị treo dưới bụng trực thăng), nỗi đau đớn khiến tôi thấy căm thù chúng sôi sục, tôi cựa quậy dữ dội chống trả với cơn mê như ma quỷ đang rình bắt hồn tôi, cuối cùng tôi choàng tỉnh dậy. Ba chiếc chúng nó đang xắn xả lao tới còn cách tôi không tới hai tầm đất. Tôi tỉnh hẳn, hụp xuống nước cho nòng súng chếch lên. Tôi chọn ngay chiếc chính giữa và để mắt ngay vào đường ngắm. Lẹ như một tia chớp bóng đen nó áng hết đầu ruồi. Nhưng tôi còn lẹ hơn nữa, tôi nín thở, lẫy cò khi bóng đen nó chưa qua khỏi. Khẩu súng chỉ giật nhẹ một cái, tôi biết mình đã bắn trúng. Một bựng lửa bừng lên trước mặt tôi, cùng lúc với chân trái tôi đau xé, nặng như có ai trì phía dưới. Tôi chép miệng: "Vậy mà nó cũng còn kịp bắn, cái giòng thiệt độc hại hết sức". Nhưng tôi lại nghĩ : "Mình cũng không lỗ, mình đã bắn cháy nó một chiếc rồi". Tôi rướn mình lên, nhìn tận mắt chiếc xuồng bay gãy cánh chúc đầu xuống nước rồi mới chịu long đi. Tôi chỉ dùng một tay một chân mà long, hít hít mùi xăng cháy để quên cơn khát. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:26:53 am Đêm Tháp Mười (tiếp) Cứ như vậy tôi chiến đấu cho tới trưa, rồi xế chiều. Tôi không nhớ đã bắn cháy chúng bao nhiêu chiếc nữa, và chúng bắn trúng tôi thêm bao nhiêu vết nữa. Mỗi lần bắn cháy nó tôi đều rướn lên dòm thiệt kỹ, và mỗi lần bị thương tôi lại bẻ thêm một nhánh tràm làm nạng, đợi nó đến thật gần mới nổ súng. Với khoảng cách như vậy tôi khó có thể bắn trật, trừ khi tôi mất bình tĩnh. Nhưng tôi vẫn bình tĩnh lắm, cho đến chiếc cuối cùng tôi bắn cháy nó, mọi động tác tôi đều rập khuôn như lúc đầu vậy. Tôi cũng nhớ rõ ràng là tôi không hề uống một hớp nước. Tôi biết bị thương nặng như vậy mà uống nước thì dễ chết lắm, có lần một trái rốc két nổ nước tạt vô miệng tôi, tôi phun liền trở ra. Tôi nói hoài trong dạ : "Mình không thể chết lúc này được, mình phải sống cho đến lúc nó bỏ chạy". Cuối cùng chúng đã bỏ chạy, còn tôi thì được anh em khiêng về. Đó chưa phải là trận chiến đấu gay go nhứt của tôi đâu, sau này tôi còn dự nhiều trận gay go ác liệt hơn nhiều. Nhưng tôi nhớ rất rõ như vậy là vì lần đầu tiên tôi đã để cho nó bắn trước. Sau này không khi nào tôi có sai sót như vậy cả. Sau này mỗi lần xách súng ra đi tôi đều nói với vợ tôi: "Hôm nay tôi quyết phải nổ trước nó. Hễ ở nhà nghe súng nổ là cứ cầm chắc tôi bắn rớt một chiếc nghen !". Mỗi lần như vậy con tôi đều bập bẹ nói với tôi : "Ba bắn cháy nó thì nó hết bắn mình, hén ba". Tôi nghe con tôi nói vậy đủ thấy hả hê rồi. Tôi chiến đấu vì mọi người, mà cũng vì con tôi, chẳng phải là tôi được đền đáp rồi đó sao? Anh nghĩ coi phải không, cách mạng đã cứu sống con tôi, và tôi cũng góp phần vô đó. Nói tới đó người đàn ông vội cúi xuống thổi bếp lửa : tôi nhìn thấy một giọt nước mắt long lanh trên mi mắt anh. Nhưng mặt anh thì rạng rỡ hẳn lên, nên tôi nghĩ đó chỉ là những giọt nước mắt vui mà thôi. Anh im lặng một hồi lâu chừng để nén cảm động, rồi nói với tôi lời cuối cùng : - Đó, bao nhiêu năm nay chúng tôi chiến đấu như vậy. Vỏ quýt dầy có móng tay nhọn, chúng bày ra cách đánh nào dù độc hại đến mấy cuối cùng chúng tôi cũng trị được. Từ các loại trực thăng, xuồng bay... rồi không biết tới đây còn xuất hiện loại gì nữa. Loại gì cũng vậy, miễn là mình một lòng tin tưởng ở cách mạng một lòng chiến đấu là được. Tôi nói hoài với vợ tôi : "Mình cứ yên lòng nuôi con. Việc cách mạng có khác chi mùa màng, hễ có gieo thì có hái. Đó, cứ nghiệm riêng lời tôi thì biết, nội việc tôi không muốn chết đời cũng trả ơn". Tôi nói vậy có lẽ vợ tôi không hiểu. Nhưng cần gì, vợ tôi cứ nghiệm riêng đời mình mà coi, cuộc đời trước kia của vợ tôi nào cơ cực kém chi tôi... Anh nói như vậy hơi mỉm cười ra vẻ đắc ý lắm rồi đứng dậy với lấy cây dầm gác trên mái nhà, vén mùng nói với vợ : - Thôi mình chuẩn bị đưa anh Hai đi thì vừa. Trời đã khuya rồi, đi không kịp sáng "ló đuôi" thì mệt. Nói rồi anh cúi xuống nhìn con đăm đăm, vẻ mặt biểu lộ lòng hân hoan trìu mến. Rồi anh quay lại, hé tấm phên chờ tôi bước ra. Bên ngoài trời đã hết mưa, lạnh như cắt da. Đêm yên tĩnh, chỉ có tiếng gió thổi và tiếng sóng vỗ nhịp nhàng. Chị đàn bà đi sau tôi, đứng lại đưa mắt nhìn bao quát trời nước, không biết để tìm hướng hay để ước lượng khoảng đường mà mình sẽ vượt qua. Sau đó chị rẽ xuống bến tháo sợi dây xích cột xuồng. Chiếc xuồng đang nhồi sóng lắc lư, như háo hức muốn được lướt đi. Tôi còn chần chừ phía sau, lấy cớ đốt điếu thuốc. Bỗng tôi nghe sau tấm phên, giọng người đàn ông nói đả đớt với đứa con : - ... Ráng nghe con, ráng chịu khổ với cha. Chẳng qua là do cái khó khăn chung. ầu ơ, ầu ơ, cha chẳng được như ông nội, ông cố, cha chỉ có cột chân con vô gốc cột. ầu ơ, cha buộc chân con vô gốc cột... Tôi vội quay trở lại nhìn qua khe cửa. Người đàn ông khom lưng, cái lưng gù che một khoảng tối, đang dùng cái khăn buộc chân đứa con vô gốc cột. Anh buộc một cách hấp tấp, vụng về, miệng mỉm cười hát ầu ơ mà mồ hôi thì chảy lăn trên trán. Đứa con ngước nhìn anh, không hiểu cha nó đang làm điều gì kỳ cục vậy. ... Chị đàn bà chống xuồng đưa tôi đi, xuồng vạch một đường sáng dài trên đồng nước. Đêm Tháp Mười thật là mênh mông. Gió thổi mơn man trên mặt cỏ, mặt nước gợn sóng lấp lánh, côn trùng chim muông lên giọng nỉ non, âm thanh trầm buồn lan đi trên mặt nước. Những đám sen, đám bông súng nở trắng, những chiếc lá nghiêng một nửa khẽ rung rinh dưới gió. Từ chân trời mờ mịt những ngôi sao nhấp nháy, nhấp nháy rồi rụng xuống nước. Chị đàn bà càng lúc càng tỏ ra nhanh nhẹn. Mỗi lần chị nhún cây sào, xuồng lướt tới như bay lên khỏi mặt nước. Môi chị mím lại. Mắt chị long lanh ánh lên vẻ vui tươi, trẻ trung. Cả người chị như đang hướng về phía trước. Còn tôi thì lại nghĩ về phía sau. Mỗi cơn gió thổi tới tôi nghe như vẳng lại có tiếng khóc của đứa trẻ. Không, nó không khóc đâu - trong thâm tâm tôi có tiếng cãi lại - nó đang cười đó chớ, nó đã hiểu vì sao cha nó cột chân nó vô gốc cột. "- Để chút nữa cha cháu chống xuồng vũ khí đi - Tôi nói thầm với nó như vậy - Để ngày mai có tin thắng trận, và để có ngày máy bay thôi không còn ném bom trên đồng nước này nữa". Để khuây khỏa tôi đưa mắt nhìn ra xa, như đang mong ngóng cái gì mà tôi không hề biết. Và kia, bình minh đã lên rồi ! Đêm tối trên đồng nước bị đẩy lùi mau chóng, bình minh rạng lên thật là đẹp đẽ. Từ chân trời mờ mịt bỗng hiện những vệt mây đâm ngang màu hồng, màu da cam. Rồi mặt trời hiện lên chói lọi, những tia sáng như những sợi chỉ bạc rối tung trong không gian. Chim chóc từ trong những lùm bụi vỗ cánh bay đi, ríu rít gọi nhau. Mặt nước sáng như gương, những gợn sóng như những con rắn bạc nhảy múa tung tăng. Nước trong vắt soi bóng những bụi cỏ, những lá sen đung đưa trên mặt đất nứt nẻ. Gió thoảng mùi bông tràm, bông sen, mùi cỏ khô, mùi sình ải. Tôi có cảm giác giác quan mình trở nên tinh tế hơn, tôi nhận ra được cả mùi hăng ngai ngái của những ổ chim vừa mới nở hoặc những chồi non vừa nhú lên khỏi mặt nước hả hê hít thở làn không khí mát lạnh của đồng nội. Chỉ một phút sau cả không gian đã trắng lòa, mặt nước soi bóng những đám mây trắng trôi lững lờ, nhẹ nhàng tinh khiết như những đám bông. Tiếng người đàn bà vang lên bên tai tôi như tiếng nước reo : - Thôi tới rồi. Chúc anh đi đường may mắn nghen. - Dạ, xin cám ơn chị. Chị cười, quay nhìn đồng nước đang tràn ngập dưới ánh nắng : - Chuyện chút đỉnh có chi mà cảm ơn anh. Phải, chỉ là chuyện chút đỉnh - tôi nghĩ thầm, mắt vẫn không rời cánh đồng - còn chuyện kia, chuyện đứa nhỏ với cái chân buộc vào gốc cột thì tôi biết, chị biết, chồng chị biết, nhưng chúng tôi đều giữ kín trong lòng. Nó sẽ mãi mãi bí mật, lặng lẽ như bao chuyện hằng bao nhiêu năm nay trên đồng nước này vậy... 8 - 1969 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:28:40 am Đồng chí Ba Tuấn đi về, vui vẻ nói với bác Bảy, người nấu cơm của đại đội : - Trưa nay bác cho tôi ăn cơm sớm nghen bác Bảy, tôi đi có việc. Nói rồi Ba Tuấn về lán, căng võng nằm một cách thỏa thích. Mấy hôm rày Ba Tuấn đang chạo rạo trong một niềm vui hơi khác thường : anh vừa nghe đồng chí tham mưu trưởng tiểu đoàn mới đổi về (thay cho đồng chí tham mưu trưởng cũ vừa hy sinh) vốn là người đồng hương của anh. Anh xa quê đã lâu rồi, bây giờ mọi kỷ niệm về những người cùng quê đều khiến anh bồi hồi. Bác Bảy đang chuẩn bị nấu cơm dưới bếp, tiếng soong nồi khua rổn rảng Ba Tuấn nghe như một điệu nhạc vui. Anh vui vẻ nói vọng xuống : - Hôm nay bác cho ăn gì đó, bác Bảy ? - Lại rau "tàu bay" thôi. - Bác có biết đồng chí Thanh Quang, tham mưu trưởng tiểu đoàn mới đổi về không ? - Phải đồng chí người cao rỏng rảnh, râu quai nón... - Dà, nó cao lắm, hơn tôi tới một đầu. Người đồng hương của tôi đó nghe bác Bảy, cũng ở Cẩm Sơn. Hôm nay tôi định lên trên đó gặp nó, nếu quả đúng như vậy thì hai chúng tôi là bạn thân nhau lắm. Nhà hai đứa ở khít nhau, suốt ngày đi đâu cũng có đôi có cặp... Đây nè, cái thẹo... Bác Bảy gật gù, đáp theo giọng của bác : - ờ, cuộc đời kháng chiến rày đây mai đó, lâu lâu gặp người đồng hương cũng vui... - Dà... Lần đó tôi leo bắt ổ chim tuột tay té từ trên cao năm sáu thước xuống, nó đứng dưới kêu thét lên rồi cứ thế chạy ào tới đưa tay ra đỡ. Tôi bị té dập đầu, còn nó thì bị gãy xương ống tay, phải bó thuốc gần năm trời mới hết... Cho tới lớn lên rồi hai đứa đi bộ đội cũng đi một lượt. Vì yêu cầu mỗi đứa phải đi mỗi nơi, đến nay ngót mười năm rồi chúng tôi không gặp nhau... - ờ, bạn bè tâm giao còn hơn người cật ruột... Bác Bảy kết luận như vậy, rồi bỏ đi xuống suối rửa rau. Ba Tuấn nằm lại lắc võng, ngẫm nghĩ. Đến lúc ăn cơm - bác Bảy dọn cẩn thận phần Ba Tuấn một mâm đầy thức ăn chỉ nấu bằng rau "tàu bay" - Ba Tuấn lại được dịp thổ lộ : - Tôi xa quê ngót mười năm rồi bác Bảy à. Làng xóm chỉ còn nhớ lờ mờ, bà con thân thuộc thì có người nhớ người quên. Nhiều đêm tôi nằm không ngủ được, những mong gặp được người đồng hương cho dù có họ hàng hay không cũng được, để được dịp ôn lại những kỉ niệm cũ. Được vậy thì chắc lòng nhớ thương cũng khuây khỏa đôi chút. Chắc bác chưa được qua Cẩm Sơn lần nào hả bác Bảy ? Nhưng bác cũng có nghe nói tới chớ ? Làng ở cặp bờ sông Cửu Long, đẹp lắm bác Bảy à. Dân tình chí thú mần ăn nên nhà cửa khang trang từ đầu làng tới cuối xóm đâu đâu cũng thấy cây trái vườn tược sum suê. Còn nói về việc cách mạng thì không kém nơi nào. Đêm đồng khởi đùng một cái du kích từ các lùm các bụi xách súng chạy ra đánh sập bót, diệt hết tề điệp... Cho nên, tôi gẫm mình làm cách mạng... - ờ. Bác Bảy chỉ ừ hử cho qua chuyện. Có lẽ tâm trí bác Bảy cũng mong được dịp trở về quê hương của bác, cái xứ đất đai chắc cũng tốt lành, và việc cách mạng thì hẳn không thua nơi nào. - Tôi gẫm mình làm cách mạng vì cái chung mà cũng vì cái riêng bác Bảy à. Năm xã tôi được giải phóng tôi mừng vô số kể, ra đi mà trong bụng cũng yên tâm phần nào. Từ đó đến nay ngót mười năm không khi nào được dịp là tôi không hỏi thăm về làng xóm quê hương tôi : Việc đánh giặc ra sao, mần ăn thế nào, bà con ai còn ai mất... Những chuyện thường tình vậy mà khiến tôi bận tâm hết sức. Hễ nghe đâu có người đồng hương dù xa mấy tôi cũng lặn lội tìm tới. Tôi nghĩ bụng chẳng bỏ công đâu cả : trước là hỏi thăm tin tức, sau cũng là được dịp hãnh diện với những người chung quanh rằng làng mình có người đi cách mạng... Chà, cái thằng Quang bây giờ nó thế nào ? Không biết nó còn nhớ tôi không ? Bác thấy nó thế nào ? Đầu đã có sợi bạc rồi à ? ờ thì tôi đây cũng vậy. Hai đứa cùng một tuổi mà. Tôi nghe nó công tác được tiến bộ dữ lắm, vậy bây giờ đã là cán bộ tiểu đoàn rồi. Sao nghe tôi ở đây mà nó không tìm tới à ? Chắc là nó không biết, nếu biết đời nào nó không chạy bổ xuống... Lúc nãy tôi nói với bác đời sống làng tôi được khá giả là nói vậy thôi, chứ tính chung cũng cơ cực dữ lắm. Bác nghĩ coi còn tụi nó thì làm sao mà không cơ cực. Đi khắp làng khắp xóm thấy cảnh áo còn bâu, quần còn lưng cứ nhan nhản. Nên hôm chia tay chúng tôi có nói với nhau : "Mình nghèo nên theo cách mạng phải cho chí cốt, làm sao khỏi xấu hổ với làng xóm quê hương". Kìa, bác có nghe tôi nói không, bác Bảy ? Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:29:03 am Đồng chí (tiếp) Bác Bảy đã bỏ đi từ hồi nào. Ba Tuấn nghe tiếng bác khua nồi soong loảng xoảng dưới mé suối. Ba Tuấn và mau miếng cơm cuối cùng, vào lán sắp xếp ba lô, đi liền. Trời buổi trưa nắng đẹp, óng ánh trên khu rừng nứa. Gió thổi lá nứa khua lao xao. Ba Tuấn nghe tâm hồn mát mẻ, sảng khoái. Anh rạo rực nghĩ đến trận đánh sắp tới, nghĩ đến người bạn mà anh sẽ gặp. Trận đánh sắp tới sẽ ra sao đây ? Người bạn sau mười năm xa cách bây giờ như thế nào đây ? Ba Tuấn càng đi mau bước. Hết khu rừng nứa, Ba Tuấn còn phải đi hơn tiếng đồng hồ nữa mới tới tiểu đoàn bộ. Đi suốt mấy tiếng đồng hồ không nghỉ, lúc đó Ba Tuấn mới thấy mệt lả. Anh tiểu đoàn trưởng nhìn thấy Ba Tuấn từ xa đi tới, thở hổn hển, mặt đầm đìa mồ hôi, vội chạy ra đón hỏi : - Có chuyện gì không anh Ba ? - À... Không... - Mọi việc chuẩn bị đều tốt chớ ? - Dạ, tốt. - Vậy mà coi anh... Thôi vô đây uống trà... à, xin giới thiệu đồng chí tham mưu trưởng mới... Ba Tuấn tưởng tim mình sắp rớt ra khỏi lồng ngực. Anh cúi gầm vờ lau mồ hôi. Chà, thằng Quang Cao giò, thằng Quang bạn chăn trâu của anh ngày xưa giờ đang đứng trước mặt anh đây sao ? Hồi lâu, vẫn không dám ngước lên, anh lắp bắp nói : - Ả, Thanh Quang phải không ? Quang Cao... Anh chưa kịp nói tiếng "giò" thì chợt ngừng lại, anh linh cảm thấy có cái gì khác lạ, ngoài ý muốn của anh : y như rằng đây không phải là thằng Quang ngày xưa ... Anh ngửng lên : - Đồng chí ... ở Cẩm Sơn ? - Dạ. - Sáu Quang phải không ? - Dạ, phải. - Tôi cũng ở Cẩm Sơn, tôi là Ba Tuấn đây... Tuấn Rỗ đây... - Tuấn à ? Chà, nhiều Tuấn... Nhưng sao tôi lại không biết cà ? à, nhưng Cẩm Sơn nào ? Rạch Giá hay Cần Thơ? Anh tiểu đoàn trưởng nãy giờ đang ngạc nhiên hết nhìn người này tới nhìn người nọ, bỗng vỗ "đét" một cái, cười lớn: - Thôi rồi... Cùng tên làng Cẩm Sơn nhưng cha ở Rạch Giá, cha ở Cần Thơ phải không ? Té ra thằng cha Ba Tuấn hớt hơ hớt hải lên đây là để tìm đồng hương. Vậy mà làm như đang rượt giặc không bằng. Thôi không phải đồng hương thì là đồng chí, ở đây uống bậy miếng trà, chuyện vãn chơi một chút rồi về... Nhưng trời tối rồi... Lại sắp mưa... Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:30:56 am Đồng chí (tiếp) Anh tham mưu trưởng nhìn anh, ái ngại nói : - Hay anh ngủ lại, sáng về sớm... chỗ tôi cũng còn trống... Rồi lại tặc lưỡi nói thêm : - Năm nào tôi cũng gặp một trường hợp y như anh vậy. Nước mình nhỏ, đất hẹp nên tên làng tên xã cứ trùng nhau... Ba Tuấn ngước nhìn ra ngoài trời mưa, lòng chợt buồn se. Bao nhiêu điều anh lục soạn từ trong ký ức xa xôi định được dịp này tuôn ra với người bạn, bây giờ đành chôn vùi trở lại. Anh thở dài nói trống không : - ờ, thôi ngủ lại vậy. Chỗ anh còn trống hả ? Nói xong anh với tay bưng cốc trà uống tợp một cái, hối hả đứng dậy. Thanh Quang đi trước dẫn đường, nghe Ba Tuấn lẩm nhẩm toàn chuyện công tác, nào là "rào đơn, rào kép", "xung kích một, xung kích hai". Chắc là cốt che dấu nổi thất vọng ! Mưa bắt đầu nhễu hột khi hai người vô tới lán. Thanh Quang nói : - Anh đưa võng tôi giăng... Lán này của đồng chí tham mưu trưởng trước đây. ảnh hy sinh trong trường hợp nào vậy ? - Một đại đội bị bao, ảnh dẫn một trung đội đánh cắt vào chính giữa... - Lại cũng trường hợp đó... Anh Quang bạn cũ anh đó, anh có biết bây giờ ở đâu không ? - Không, chỉ biết nó đi bộ đội... Hai người đã lên võng nằm. Bên ngoài mưa lắc rắc, nhễu lộp độp trên mái ni lông. Trăng ửng trong mây, tỏa ánh sáng đùng đục xuống khu rừng nứa. Những thân nứa thẳng, mọc xiêng, trong đêm trở nên rực rỡ dưới ánh trăng. Hồi lâu, Thanh Quang cựa mình, hỏi nữa : - Anh xa quê đã lâu rồi hả anh Ba ? - Thì cũng từ năm đó, năm đồng khởi... - Nhưng chắc anh thỉnh thoảng còn nhận được tin - Thanh Quang bỗng tặc lưỡi, nói - Còn tôi thì không, ngót mười năm nay chẳng biết tin gì về làng xóm quê hương hết. Chà, quê tôi... Làng Cẩm Sơn quê tôi cũng ở bên bờ sông Cửu Long, chắc cũng giống như làng anh... Giờ tôi cũng tâm trạng như anh, trên đường kháng chiến những mong gặp được người đồng hương... - Dà. Ba Tuấn trùm kín chăn lại. Anh không còn thấy hứng thú gì nữa, chỉ thấy mỏi mệt, buồn ngủ. Bên ngoài thỉnh thoảng những tia chớp lóe lên, soi rõ những lá nứa ướt nhẩy, trong cơn mơ màng anh nhìn thấy như những lưỡi lê nhọn hoắt. Chợt anh lại nghe có tiếng hỏi : - Từ đó đến nay, anh đã đi chiến đấu những đâu ? - Cùng hết. Bình Giã, Đồng Xoài tới Sông Bé, Nhà Đỏ Bông Trang, Tết Mậu Thân thì chạy về Sài Gòn... - Anh cũng có dự trận Nhà Đỏ hả ? Anh đi cánh nào? - Mũi đánh đầu cầu. - Chết cha ! - Gì ? - à không... Tôi cũng dự trận đó, cũng vô mũi đầu cầu. Vậy không chừng mình đã gặp nhau. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 29 Tháng Bảy, 2009, 12:31:43 am Đồng chí (tiếp) Ba Tuấn thấy Thanh Quang thức dậy bật quẹt đốt một điếu thuốc vẻ thảng thốt... Lửa chỉ ánh lên một chút, nhưng Ba Tuấn cũng kịp quan sát người bạn mới : người cao rỏng rảnh, tay chân dài và chắc nịch, vai rộng, một bên vai phải bị lệch đi. Thốt nhiên Ba Tuấn hơi giật mình : Có phải chính cái vai lệch này không ? Chi tiết đó như một tia chớp dẫn nhanh trí nhớ Ba Tuấn về trận đánh xưa cũ. Năm đó Ba Tuấn là trung đội trưởng. Nổ súng rồi Ba Tuấn dẫn trung đội chạy lẹ vào. Dưới làn đạn như mưa các anh phải nhảy qua liên tiếp ba bốn hàng rào, ba bốn hố sâu. Có vài người té xuống hố. Nhưng người té cũng không kêu, người qua được rồi cũng không nghĩ đến việc trở lại rước. Ai cũng nghĩ đến chuyện phải nổ súng trước mắt. Tới một bờ tường, Ba Tuấn mới sực nhớ mình không mang theo dây. Anh đưa tay với, thấy còn hụt cả một tầm tay. Anh hô : "Trung đội leo lên vai tôi nhảy qua bên kia. Đồng chí trung đội phó qua trước chỉ huy chiến đấu". Trung đội qua hết Ba Tuấn ngó dáo dác thì thấy một bóng đen vừa nhô ra khỏi đường hào. Đây có lẽ là một cánh khác. Ba Tuấn không kịp hỏi gì cả, thét : "Ai đó ? Lại đây". Một người ôm khẩu AK chạy tới, Ba Tuấn xô anh ta vào bờ tường, nhảy lên vai. Chân phải Ba Tuấn đặt lên vai phải anh chiến sĩ chân trái co lên định nhún người nhảy qua bờ tường, thì bỗng nghe có tiếng gì như tiếng "rắc" khẽ dưới chân. Tiếp theo là một tiếng "ối" đau đớn, rồi cả hai cùng té lăn xuống đất. Ba Tuấn lồm cồm quơ súng ngồi dậy, chưa kịp hiểu gì thì đã thấy anh chiến sĩ đứng dậy trở lại quỳ dưới bờ tường. Anh ta quay lại quát, nét mặt biểu lộ sự đau đớn và tức giận đến tột độ : - "Muốn qua tường hả ? Sao không nói trước... Bước qua vai trái, vai phải tôi bị thương... " Ba Tuấn vụt hiểu hết. Nhưng cũng như trường hợp những đồng chí rớt xuống hố hồi nãy, anh không kịp nói một lời nào nữa. Anh co chân trái bước lên, nhảy qua tường, nổ súng... Chuyện là như vậy. Phải, chính cái vai lệch đó, chính đồng chí này đây. Ba Tuấn đã tỉnh ngủ hẳn. Anh thức dậy đốt đèn lên, và dưới con mắt ngạc nhiên của Thanh Quang, anh chậm rãi hỏi : - Anh Thanh Quang, anh còn nhớ rõ trận đánh năm đó không ? - Nhớ chớ. Trận đánh đó tôi có nhiều kỷ niệm lắm... - Anh có nhớ Trung đội đã đánh qua bờ tường không? - À... - Anh biết ai đã bước nhằm lên vai bị thương của anh không ? Thanh Quang bật nhổm dậy nhìn tận mặt Ba Tuấn. Một lát, anh hỏi, giọng lạc hẳn đi : - Vậy chính anh hôm đó đã bước lên vai tôi ? - Ừ. - Trời đất ! Anh nằm ngửa ra, hồi lâu mới nói được, giọng như trách móc : - Hôm đó anh đã làm gãy xương vai tôi lần thứ hai đó nghen. - Tôi biết. Hai người im lặng một lúc lâu. Con tắc kè kêu từng tiếng một ngoài xa. Trời đã dứt mưa, trăng lộ ra khỏi mây, sáng vằng vặc. Ba Tuấn biết đêm nay mình sẽ không ngủ được. Anh nằm ôn lại trận đánh đó, và bao nhiêu chi tiết đều gợi anh nhớ đến lúc anh bước lên vai người bạn. Phải , chính người bạn này đây trong đêm tối đó anh gặp không quá một phút, không nhìn rõ mặt, không biết tên tuổi quê quán mà đã chịu gãy một xương vai để đưa anh vào trận chiến đấu... Anh đốt một điếu thuốc nữa. Trong lúc Thanh Quang bắt đầu kể tiếp câu chuyện : - Cái xương vai tôi bị thương trận trước còn yếu lắm, bị anh bước gãy rồi -tôi chỉ còn cách nằm dí lại bờ tường chịu trận. Tôi nói với trung đội để lại nhiều đạn. Với một cánh tay, một khẩu súng AK, tôi bắn kềm một cánh rất đông tụi nó gần suốt trận đánh. Cuối cùng chúng bao tròn tôi. Tôi vẫn bình tĩnh. Và tôi cũng chẳng ân hận gì anh. Anh làm sao biết được vai tôi bị gãy, anh chỉ có muốn qua mau bên kia nổ súng thôi. Tôi nghĩ như vậy và chiến đấu thêm một lúc nữa. Tôi bắn đã gần hết đạn, tôi đành phải bắn từng phát một, bắn những tên gần nhứt. Cuối cùng lúc tôi kiệt sức rồi, tôi bỗng nghe tiếng anh - tôi đoán là tiếng anh - anh thét : - "Đánh cắt tụi nó ra, chiếm lại bờ tường... Phải chiếm lại bờ tường"... Vậy là anh đoán tôi còn ở lại đó, anh trở lại đánh giải vây tôi. Lúc đó tôi muốn được nhìn mặt anh quá. Nhưng thoáng một cái anh đánh cắt được tụi nó, rồi trung đội tôi cũng vừa về tới - anh và trung đội anh đã mất hút vào khu trận địa mới trước mặt... Phải tôi đã nhớ đúng như vậy không anh Ba ? Ba Tuấn giật mình ngó sang người bạn. Không biết anh giật mình vì câu hỏi, hay vì không biết từ lúc nào anh thấy bàn tay của Thanh Quang đã nằm gọn trong tay mình. Anh đáp, nhẹ như hơi thở : - ờ. Sáng hôm sau bác Bảy thấy Ba Tuấn về sớm, đồ đạc không mang trên lưng mà ôm kè kè bên hông. Bác vội đón hỏi: - Sao về gấp vậy, anh Ba ? - Chà, nóng ruột công việc ở nhà. - Có gặp được bạn không ? - Ờ, có... - Vậy là nói chuyện suốt đêm chớ gì ? - Dà... cũng có chợp mắt được một chút... - Ờ, chỗ bạn bè... Bác Bẩy kết luận một cách thờ ơ như vậy, rồi tính hỏi qua chuyện khác. Nhưng bác bỗng ngạc nhiên thấy tuy Ba Tuấn trả lời bác có vẻ lừng khừng như vậy, nhưng nét mặt lồ lộ vẻ xúc động không sao giấu được. Và khi anh cầm chén nước lên uống, tay anh run run... Bác chưa thấy khi nào Ba Tuấn như vậy cả. Chà, bạn bè tâm giao cỡ nào mà dữ vậy ? Còn hơn năm ngoái bác gặp đứa em ruột của bác, đứa em út mà bác đã cõng nó suốt trên lưng từ những năm cơ cực. Bác vội hỏi : - Vậy là đúng người bạn đó hả ? Đúng là nhà hai người ở khít nhau... và cái thẹo... Ba Tuấn vội đáp, giọng lắp bắp : - À, không... Nhưng cũng ở bên bờ Cửu Long... Và có lần chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu... Rồi anh giở bản đồ ra, đưa ngón tay dò theo những dấu chấm xanh đỏ trong đó, như muốn che giấu cái gì trong lòng. 7 - 1970 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:22:40 pm Bà nội tôi Ký ức tôi còn giữ được hình ảnh bà nội tôi là vào khoảng tôi lên bày lên tám gì đó, lúc đó là những năm đầu kháng chiến chống Pháp, bà nội tôi hồi đó đã già yếu lắm rồi, người ốm, cao lòng khòng, tay chân xương xẩu, da đen bóng, nứt nẻ như thân tràm lục. Ông nội tôi mất hồi nào tôi không biết, nghe nói từ hồi còn trẻ, bà nội tôi một mình nuôi ba tôi và mấy chú tôi lớn lên, ai cũng được học hành, ba tôi và người chú kế còn được lên học ở Sài Gòn đậu bằng tú tài, mấy chú khác học ở chợ huyện hoặc chợ tỉnh cũng đều có bằng cấp cả. Bà nội tôi có mười một người con, toàn con trai, người có vợ hoặc chưa vợ đều ở với bà, cho đến năm khởi nghĩa 45 đi tứ tán cả, phần lớn đi kháng chiến, một số đi buôn hoặc đi làm ruộng xa. ở nhà một mình bà nội tôi cai quản hết cả cơ ngơi gồm nhà cửa, vườn tược và hơn mười mẫu ruộng. Làng tôi nằm bên bờ sông Vàm Cỏ Tây xứ đồng chua nước mặn nổi tiếng, dân cư thưa thớt, tôm cá nhiều nhưng muỗi mòng cũng lắm, bước ra khỏi nhà là phải xăn quần lội ngay xuống sình, nhà này cách nhà kia có khi kêu hú cũng không nghe tới. Tuy vậy làng tôi không hẳn là làng nghèo, do làm ruộng giỏi và cần cù nên có nhiều nhà lợp được mái ngói, thấp nhứt cũng lợp lá dừa nước cột kèo bằng cây tràm lụt. Nhà bà nội tôi thuộc loại khá giả, thuộc trung nông lớp trên hoặc tương đương như vậy. Có một dạo bà nội tôi xây được nhà nền đúc, mái ngói lợp âm dương, phía trước lót gạch bông xanh đỏ, phía sau có nhà bếp nhà kho, có cả một lẫm lớn để cất lúa. Sân nhà rất rộng, lót gạch tàu làm sân phơi lúa, vườn trồng đủ thứ cây trái không thành hàng lối gì cả, có một cây me già cao ngất chim đậu hót ríu rít suốt ngày. Bà nội tôi nuôi gà, nuôi heo, trâu có ba đôi, chó mèo mặc sức sanh sôi nảy nở chạy rông trong nhà. Cảnh nhà bà nội tôi nói chung là khang trang từ trước ra sau, chỉ trừ người chủ là bà nội tôi lúc nào cũng lam lũ, tất bật, quanh năm chỉ mặc bộ đồ bà ba đen bạc phếch, tay áo xăn tới khuỷu, quần xăn tới gối, đầu trần chân đất suốt ngày lặn lội ngoài đồng. Với hơn mười mẫu ruộng bà nội tôi quán xuyến tất cả, làm từ việc lớn như coi sóc hàng trăm công cấy công gặt tới việc nhỏ như đắp ống bọng, xả nước vào mương, thắt con cúi để un muỗi cho trâu, việc nào bà cũng làm với vẻ chăm chú, hối hả, mặt mày lúc nào cũng cau có tưởng chừng việc làm ruộng đối với bà là niềm hạnh phúc lớn nhứt lại cũng là nỗi đau khổ lớn nhứt. Không nghe bà than phiền điều gì, cũng không thấy lúc nào bà tỏ vẻ hả hê, vui sướng. Bà làm ruộng được nhiều tiền lắm, lâu lâu thấy bà giở tiền từ trong tủ ra phơi đầy một góc sân. Có một dạo cướp nổi lên dữ quá bà không dám cất tiền trong tủ mà đem giấu trên mái lá sau bếp, giấu nhiều chỗ rồi quên đi tới chừng nhớ ra lấy xuống thấy tiền phần bị ướt phần bị mối ăn hư hao gần hết, bà tiếc rẻ đem ra sông rửa, phơi khô bó thành một bó thảy lên đầu tủ cho nó mục dần đi với năm tháng. Tôi không biết bà nội tôi xài tiền vào đâu, bản thân bà không có nhu cầu gì cả, quanh năm chỉ vài bộ quần áo vải thô, cơm ngày ba bữa với cá bắt dưới sông, rau hái ngoài đồng, gà vịt nuôi chỉ để cho dịp giỗ tết đãi khách khứa. Lâu lâu thấy bà nội tôi mua về một bộ ván gõ, bộ ghế xa lông để ở nhà trên, nơi không khi nào bà bước chân lên tới nhưng lúc nào cũng mở rộng cửa mặc cho gà vịt đậu ỉa, heo làm chỗ gãi lưng. Có một lần tôi nhìn thấy một con heo ngồi chồm chỗm trên một chiếc ghế xa lông, một lần khác một con nghé từ đâu chạy xộc vào đứng lại chính giữa nhà khịt khịt mũi ngó cái tủ kiếng thấy có hình nó trong đó liền hoảng sợ tuôn chạy ra tuốt ngoài đồng, lôi cách mấy cũng không chịu trở vào. Ruộng bà nội tôi nằm rải rác khắp làng, mỗi thửa có một tên rất kỳ lạ, nghe vừa xa xôi vừa gần gũi, tôi nhớ có một thửa tên là Giây Sấm, một thửa khác tên là Ông Bầu. Trâu bà cũng có tên, bà gọi chúng như con cháu trong nhà: con Pháo, con Xe... Nhà có một người làm duy nhất là thằng Tý, chủ yếu là giữ trâu, nó mồ côi nên ở lâu cũng coi như con cháu trong nhà. Những người làm khác bà nội tôi thuê mướn theo từng vụ mùa, không ngại la mắng, chửi rủa, không chỉ với chuyện làm việc cho bà mà cả chuyện riêng của gia đình họ như uống rượu say bỏ bê vợ con, làm biếng để vườn mọc đầy cỏ. Có một lần tôi thấy bà nội tôi chửi rủa thậm tệ một người làm công vì người này ngủ quên để ao cá bị ngập nước cá ra hết ngoài sông, sau thấy hối hận bà gánh cho một gánh gạo nhưng vừa tới nhà lại la mắng, chửi rủa nữa. Tôi không hiểu quan hệ giữa bà nội tôi với những người làm công, hoặc với bà con chòm xóm là như thế nào: có người thương yêu, có người mang ơn, người khác thì sợ, cũng có người ghét bỏ. nhưng trên tất cả, mọi người đều kính nể bà nội tôi vì bà làm ruộng giỏi, chăm chỉ, cần cù, sản lượng lúa tính bình quân thường cao hơn tất cả. Làng tôi ngoài chuyện đồng chua nước mặn lại thêm thời tiết cứ thất thường khi thì nắng hạn nứt đất khi thì mưa dầm nước ngập linh láng, công sức đổ ra cho ruộng nương nhiều không biết bao nhiêu mà kể, cây lúa mọc lên như không phải từ đất mà từ lòng bàn tay. Rồi lại còn chiến tranh giặc giã nữa, khói lửa cứ liên miên năm này tháng nọ không bao giờ dứt. Những năm đó và cho tới mãi về sau này tưởng chừng như thằng giặc có thù riêng gì với làng tôi, cứ tập trung đi càn ở đó, bom pháo dập xuống ở đó, hai ngày có trận càn lớn, ba ngày có trận càn nhỏ, cho tới máy bay đi ném bom ở đâu chiều về còn dư bom chúng cũng trút xuống ở đó. Thời giặc Tây cả tỉnh có thằng Tây Ngựa, thằng Tây Búa ác khét tiếng đều đóng quân ở đó,chúng giỏi đi càn bắn phá giết chóc và cũng giỏi bắt gà bắt vịt, lùng sục không thua gì đám lính ngụy, đến lúa thóc giấu trong quan tài chúng cũng lôi ra được. Thằng Tây Ngựa chạy giỏi như ngựa, ham chạy rượt bắt người như săn thú. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:23:31 pm Bà nội tôi (tiếp) Chuyện kể rằng dân làng căm thù thằng Tây Búa quá mới tổ chức một toán người giả làm những thằng hình rơm phục ngoài đồng, mà toán người đó toàn đàn bà con gái, họ rình phục như vậy cả tháng trời mới bắt được nó. Đó là tôi nghe kể thôi, còn thằng Tây Ngựa tôi có gặp một lần. Đúng là nó cao lêu nghêu chân dài như cây sào, mặt đỏ lựng, lúc nào cũng cau có, lầm lỳ, đi càn nó lùng sục không sót chỗ nào, ngó qua cả chuồng heo chuồng gà, ra sau vườn ngồi chồm hổm ngó xuống ao cá rồi ngước mắt nhìn lên ngọn me già. Rồi nó vào nhà tôi. Tôi đi sau đầu chỉ ngang tới gối nó. Nó quay lại nhìn tôi, mặt cau có lầm lỳ, huơ huơ cái ống vố lớn bằng nắm tay có vẻ muốn nói chỉ cần cái ống vố đó thôi nó cũng đập chết tôi. Đó là vào năm bốn bảy, ba tôi đi kháng chiến đã hai năm rồi, má tôi đem tụi tôi từ Sài Gòn về cất cái nhà nhỏ cạnh nhà bà nội tôi, đồ đạc chỉ có chiếc rương lớn đựng quần áo chúng tôi và mớ sách của ba má tôi, toàn sách chữ Tây vì ba má tôi trước đó học trường Tây ở Sài Gòn. Thằng Tây Ngựa đi sải mấy bước đã giáp vòng nhà, dừng lại trước kệ sách ngắm nghía rồi đưa tay lấy một cuốn sách giở ra coi. Nó coi liền mấy cuốn sách như vậy, mỗi lần coi xong nó đều trả về chỗ cũ cẩn thận, không xốc xáo, mặt vẫn cau có lầm lỳ. Rồi nó bỏ đi không đốt nhà tôi như theo thói quen nó đốt bất cứ nhà nào nó đi vào. Phải chăng là do mấy cuốn sách nó đã đọc, nó thấy cái gì, nhớ ra cái gì qua mấy đoạn văn ngắn ngủi trong đó ? Sau đó nó đi càn tiếp và đã bắn chết ba người, đốt năm cái nhà, tới xế chiều nó trở lại tổ chức xúc lúa nhà bà nội tôi. Thằng Tây Ngựa đứng chính giữa sân (nó không bao giờ ngồi) khẩu súng ngắn đeo xề xệ dưới đùi, khẩu tiểu liên cầm trong tay, trông ra dáng là một thằng lính chuyên nghiệp. Nó đang trông coi đám lính ngụy đã cởi bỏ hết súng đạn, cởi cả áo cả giày mình trần chân đất như được dịp để vui đùa, ồn ào cười nói, la thét, chọc phá nhau, tranh nhau chạy ào vào lẫm lúa xúc từng thúng lúa lớn đội lên đầu chạy băng qua vườn, qua mương đem đổ xuống chiếc ghe chài đậu dưới bến, mặc cho bà nội tôi chạy bám theo sau, tóc tai rũ rượi, quần áo rách bươm, kêu gào van vỉ, níu kéo, chửi rủa, giành giựt làm lúa đổ tung toé trên lối đi. Thằng Tây Ngựa nói với bà nội tôi, giọng lơ lớ như ngậm sỏi trong miệng: - Bà già yên tâm, đây là nhà nước Pháp mượn có giấy tờ đàng hoàng. Còn hơn bà cho tụi Việt Minh ăn không, cái bọn chui rúc trong lùm trong bụi đó có gì mà trả ? Một tên lính ngụy đội một thúng lúa chạy như bay bỗng đụng nhằm bà nội tôi. Cả hai té văng ra, thúng lúa đổ tung toé. Tôi không bao giờ quên được cảnh ấy, lúc tôi chạy trờ tới nhìn thấy tên lính ngụy giơ cái thúng không lên cười lớn, bà nội tôi thì quì sụp xuống huơ lấy huơ để gom lúa vào lòng, lấy vạt áo cố xúc được chút nào hay chút ấy. Đêm hôm đó chú Sáu tôi dẫn một toán du kích về tới. Toán du kích mình mẩy đầy bùn sình, mặt mày trầy suể, riêng chú Sáu tôi còn đứt cả vạt áo, quần thì chỉ còn một ống. Chú đi ra coi lẫm lúa rồi trở lại cười nói: - Tụi lính xúc hết lúa rồi hả má ? Bà nội tôi ngồi yên không nhúc nhích. Chú Sáu tôi ngồi xuống bên bà nội tôi. Tôi cũng ngồi xuống hỏi xin chú Sáu tôi chiếc ê-tuy đạn. Chú nói: - Tao có bắn được phát nào đâu. Tụi nó đông quá, tụi tao chỉ có chạy trốn thôi. Rồi chú quay sang bà nội tôi: - Tụi con đói bụng quá ơi, má còn gạo nấu cơm cho tụi con ăn không ? Bà nội tôi lặng lẽ đứng dậy đi ra sau vườn khui chiếc hầm giấu gạo xúc một rổ đầy đem đi vo, nổi lửa nấu cơm. Bà nội tôi lặng lẽ làm không nói gì, cho tới lúc cơm chín bới đưa cho từng người, bà mới nói: - Tụi bây du kích không đánh thằng Tây để nó xúc lúa của tao, giờ còn về đòi ăn cơm là sao, hả ? Chú Sáu tôi cười: - Tụi nó đông quá mà, lại có súng lớn tụi con đánh sao lại. Thôi để bữa khác tụi con sẽ đánh, giờ đói bụng ăn cơm cái đã. Chỉ một loáng chú Sáu tôi và toán du kích đã ăn hết chảo cơm lớn, ăn luôn cả cơm cháy, kéo nhau ra sau hè múc nước mưa đựng trong chiếc lu mái có trái bí đao nổi lềnh bềnh bên trên uống mỗi người một gáo nước đầy. Bà nội tôi ngồi yên nhìn chú Sáu tôi và toán du kích đang ngồi ưỡn người ra vì no, nói tiếp: - Thôi tụi bây đừng về đây nữa. tụi bây cần gạo tao đem cho nhưng tụi bây về đây đám lính thừa cơ đến xúc lúa của tao. Chú Sáu tôi cười lớn: - Tụi con không về đám lính cũng xúc lúa của má. Má bỏ tụi con sao ? - Tao không bỏ, nhưng tụi bây phải để yên cho tao làm ruộng. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:24:37 pm Bà nội tôi (tiếp) Ruộng nương đối với bà nội tôi là trên hết ! Sáng hôm sau bà xúc hai thúng gạo gánh đi cho tới trời tối mịt mới về, rồi sáng hôm sau lại gánh gạo đi nữa. Bà đi ròng rã cả tháng trời, người gầy rạc đi, bỏ ăn bỏ ngủ, bà đi đâu trong nhà không ai biết, làng xóm cũng không. Nhưng bọn lính đồn thì biết, một hôm chúng cho lính xuống kêu bà lên. Nhiều lần bà nội tôi bị bọn lính kêu lên đồn như vậy. Chúng vặn hỏi, hoạnh họe đủ điều, có khi còn đánh đập bà nữa, những chuyện đó không khi nào bà kể lại, chúng tôi đoán được vì có lần từ đồn về giữa đường bà té vật nằm vắt ngang qua bờ ruộng, may có người đi đồng nhìn thấy kêu người khiêng bà về, chạy thuốc gần cả tháng trời, bà phải ăn cháo và uống nước trái ô rô cho tan máu bầm ra. Cả những chuyện khác bà nội tôi cũng không kể như chuyện bị cướp đánh dọc đường, bị bọn biệt kích treo lên cây tra khảo, hoặc những lần chìm ghe gạo ngoài sông cái, bà phải lội gần cây số mới tấp được vào bờ. Có một chuyện như thế này: Chú Sáu tôi do tính tình thích bông lơn sau lần bị bà nội tôi đuổi không cho về nhà liền tìm chuyện trêu chọc, chú tìm một người du kích cao lớn cho đeo râu nhuộm tóc giả làm thằng Tây Ngựa với hai người du kích khác bận đồ rằn ri làm hai tên lính hộ tống chập tối xộc vào nhà đòi xúc lúa. Thằng Tây Ngựa xì xồ nói giọng mũi, hai tên lính "thông ngôn" lại từ hai câu ra tới tám câu lời lẽ đầy vẻ răn đe, dọa nạt. Chú Sáu tôi tính đóng màn kịch tới đó thôi, chỉ cốt cho bà nội tôi sợ rồi chú sẽ xộc vào bắt trói thằng Tây Ngựa làm oai với bà. Nhưng bà nội tôi không sợ, bà giả vờ van vỉ nhưng ngó dáo dác, rồi bất thình lình chụp cái cuốc bổ vào đầu cả Tây lẫn ngụy khiến cả ba bỏ chạy la lối chửi rủa chú Sáu tôi inh ỏi, không phải chửi bằng tiếng Tây mà bằng tiếng Việt. Cuộc chiến càng ác liệt, ba tôi và mấy chú tôi không có dịp về nhà nữa, giao hết vợ con cho bà nội tôi nuôi, vừa con dâu vừa cháu nội đông tới vài chục. Bà nội tôi nuôi chúng tôi như nuôi bầy gia súc trong nhà, cá dưới sông, rau ngoài đồng cứ đi bắt, đi hái mà ăn, lúa trong bồ cứ xúc đi xay, đi giã, vải thô bà mua từng cây về cắt may quần áo cho chúng tôi, con gái con trai đều bận giống như nhau. Làng không có trường học chúng tôi mặc tính suốt ngày chạy rông theo sau đuôi trâu, dầm mình dưới con rạch nước đục ngầu mò tôm bắt cá, lội xuống đầm nhổ bông súng hoặc nhào ra ngoài ruộng làm trâu chém lộn nhau, cứ thấy đói bụng chạy về nhà lục cơm nguội ăn rồi lại rong đi chơi nữa, cho đến tối mịt tựu về ngồi quanh bên đống un nghe bà nội tôi kể chuyện. Bà nội tôi hay có tật kể lể rì rầm, ban ngày không có tụi tôi bà kể lể với con trâu con heo, có khi với cả gà vịt nữa. Có lần chợt trở về nhà buổi trưa lục cơm ăn tôi nghe thấy bà nội tôi đang láp giáp nói chuyện, ngó quanh không thấy có ai, dòm kỹ té ra bà đang nói chuyện với con chó Vện vừa mới đẻ con. Bà rầy con Vện về tội nó không biết cách ủ con, cho con bú, dặn bảo nó phải thế này thế nọ, chửi mắng nó rồi lại vỗ về an ủi nó, giọng điệu cũng giống như bà đã la rầy má tôi và mấy thiếm tôi những lần họ sanh chúng tôi. Con Vện nằm im nghe bà nội tôi rầy la, mắt ươn ướt, thỉnh thoảng thè lưỡi liếm đám con mới sanh còn đỏ hỏn, rồi lại liếm tay bà nội tôi. Chó nhà bà tôi nhiều vô số kể, chó mẹ đẻ chó con có bao nhiêu bà nội tôi nuôi hết. Mèo cũng vậy. Tới bữa ăn chó mèo chạy rần rần chung quanh, bà cho con này ăn, đánh con kia, miệng không ngớt la hét, chửi rủa, cuối cùng con nào cũng được phần của mình. Trừ mấy con trâu có chuồng trại đàng hoàng, đám gia súc khác cứ mặc sức chạy rông trong nhà ngoài vườn, chúng sống rất lộn xộn nhưng cũng rất hòa thuận, gà trống đậu trên lưng trâu mà gáy, heo ăn chung với vịt, chó mèo chạy giỡn với nhau. Buổi tối chúng tôi tựu về nhà, đám gia súc đã ngủ từ lâu, muỗi bay lèo xèo dưới chân, sau khi ăn hết chảo cơm lớn chúng tôi trải tấm đệm ra ngồi ngoài sân, cạnh đống un vỏ trấn hoặc chiếc con cúi ở gần chuồng trâu. Bà nội tôi ngồi chính giữa, chúng tôi sợ ma ngồi sát vào nhau như bầy gà con vừa ăn khoai nướng hoặc bắp rang vừa nghe bà nội tôi kể chuyện. Chuyện của bà nội tôi rất lộn xộn, không đầu không đuôi, chúng tôi vừa ngủ gật hoặc giỡn hớt chọc phá nhau nên chỉ nghe được lõm bõm nào chuyện mùa màng thời tiết, chuyện ma quỷ, trộm cướp, các thần linh và các phép của thần, các điềm lành điềm dữ, sự ứng mộng và bùa ngải, chuyện rừng rú và chuyện sông nước. Bà nội tôi kể chuyện này tiếp chuyện kia không cần biết chúng tôi có nghe hay không, cũng không biết câu chuyện dẫn tới đâu, có ý nghĩa gì, mục đích gì. Tuy vậy cũng có vài chuyện khiến tôi xúc động và còn nhớ tới bây giờ, như câu chuyện sau đây. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:25:34 pm Bà nội tôi (tiếp) Có một người con trai ở đâu xa đến làng tôi lập nghiệp, gia tài chỉ có một chiếc bị bàng và một con chó ốm. Anh nói: "Tôi không còn chỗ nào đi nữa, cho tôi ở đây thôi". Không ai nói gì cả nên anh cứ ở, ban ngày đi tìm việc làm thuê làm mướn, tối đến lật nóp ngủ ở một góc nào đó trong sân nhà chủ. Tính anh lầm lỳ, ít nói, làm việc chăm chỉ, không quen thân ai cũng không làm phiền ai. Một thời gian anh cất được một cái chòi trên một bãi đất hoang, rồi nới rộng ra thành một căn nhà nhỏ. Anh sống kham khổ, tằn tiện, ai giao việc gì làm việc nấy, tiền công do chủ ấn định nhưng lúc thanh toán phải sòng phẳng, thiếu đồng nào anh đòi cho kỳ được mới thôi. Được vài ba năm anh dành dụm được món món tiền có thể mua được một thửa ruộng nhỏ nhưng một hôm có một toán cướp qua làng, nửa đêm ra chòi bắt trói anh đánh cho một chặp lấy hết tiền mang đi. Tiền mất tật mang, lúc gượng dậy được anh khăn gói ra đi theo hướng mấy tên cướp đã đi. Lâu lắm, cho tới lúc dân làng quên anh đi rồi thấy anh trở về người gầy xọp đi, mặt đen ngòm, hai mắt sâu hoắm, lại lặng lẽ đi làm thuê làm mướn không thấy nói gì cả. Nhưng một hôm lính đồn đem giấy xuống bắt trói anh dẫn đi, nói là anh đã giết người, giết bằng cách nửa đêm xộc vào nhà đập đầu cắt cổ một tốp đàn ông trai tráng năm bảy người đem xếp thành hàng trước cửa nhà. Anh bị tù hết bảy năm, thời gian dài đủ để dân làng lại quên anh đi thì anh ra tù, lại trở về làm mướn, dành dụm tiền đủ mua một thửa ruộng nhỏ. Anh đến nhà một người giàu hỏi mua ruộng, nhưng người nhà giàu nói: "Mày là dân làm mướn chỉ nên đi làm mướn thôi. Mày đào con mương kia cho tao đi". Anh lặng lẽ xách len ra đào mương, từ dưới hố sâu anh xắn từng thỏi đất quăng lên vun vút, những thỏi đất đen nhánh loang loáng dưới ánh mặt trời. Trong nhà người chủ giàu có một người con gái, không hiểu sao cô ta cứ theo dõi, rình rập anh, mỗi lần anh ngồi nghỉ lại thấy có cặp mắt đen láy ở đâu đó sau lùm cây kẽ lá nhìn anh. Điều đó khiến anh cảm động nhưng lại làm cho ông chủ nhà giàu phiền lòng, ông bèn kêu đuổi anh đi, tiền công chỉ tính một nửa vì ông không đào tiếp con mương mà ông sẽ lấp trở lại. Ông tỏ vẻ giận giữ lắm, nhưng cô con gái cũng giận không kém, cô xách chiếc len ra đào tiếp con mương, cắm cúi hất đất bay lên loang loáng dưới ánh mặt trời cho tới lúc chết ngất luôn dưới đó. Chuyện kể của bà nội tôi chỉ tới đó thôi. Bao giờ cũng vậy, cứ tới đoạn cô gái chết ngất, bà nội tôi bận chuyện gì đó phải ngưng kể, hoặc là đống un tàn ngọn phải đổ thêm trấu hoặc con trâu sút dây hoặc có ai đó tới báo đập nước bị sút lỗ bọng. Sau này lớn lên nhớ lại chuyện đó, chắp vá thêm nhiều chuyện khác nữa, tôi ngờ rằng người con gái đó chính là bà nội tôi, còn người con trai có phải là ông nội tôi hay không tôi chưa nghĩ tới được. Cuộc chiến kéo dài, đám tụi tôi lớn lên lại ra đi tan tác như đàn chim. Thằng Tý giữ trâu cũng ra đi luôn. Bà nội tôi còn lại một mình vẫn cặm cụi làm ruộng, chắt mót từng đồng xu cắc bạc để làm giàu. Không ai biết bà nội tôi giàu tới cỡ nào, tiền bà nội tôi giắt đầy trên mái lá rồi quên đi, vàng chôn đầy sau vườn không hề đánh dấu, có ai hỏi vay tiền bà tính từng đồng tiền lời nhưng nếu có người quên trả bà cũng không nhắc tới. Bà xây nhà nền đúc, cất thêm thảo bạc phía trước và hai gian hai bên, lẩm lúa cho đóng vách ván kê sàn bằng nống đá xanh. Vậy rồi một hôm nhà trúng một trái bom tan tành cả. Lúc đó đã gần hết cuộc kháng chiến chống Pháp rồi, thằng Tây bị kẹt ở Điện Biên Phủ không hiểu sao còn dư bom đi ném xuống nhà bà nội tôi. Từ ngoài đồng nghe tiếng bom nổ, thấy lửa bựng lên ngay hướng nhà mình, bà nội tôi chạy bươn về thì lửa đã cháy cao ngọn, bà hối hả xách từng thùng nước tưới cho đến khi ngã vật xuống vừa lúc ngôi nhà cũng đổ sụp theo. Đêm hôm đó tôi cùng một toán du kích xã về tới. Bà nội tôi ngồi dựa lưng vào gốc me già nhìn đống tro than trước mặt, mắt ráo hoảnh. Tôi nói : "Tụi con đói bụng bà nội ơi". Bà nội tôi vẫn ngồi lặng thinh. Tôi lại kêu đói nữa, đến lay bà mấy chặp bà mới đứng dậy đi moi hầm lấy gạo đem ra sông vo. Tụi tôi bắc mấy thanh củi cháy lại làm bếp. Lửa đượm than, nồi cơm chín rất mau, chúng tôi ăn hết nồi cơm lớn, ăn luôn cả cơm cháy. Bắt chước chú Sáu tôi nói đùa cho bà nội tôi vui : - Nội làm ruộng giỏi ít nữa cất lại nhà mới thôi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:26:28 pm Bà nội tôi (tiếp) Tôi nói đùa nhưng bà nội tôi làm thật, dạo đó tôi không có dịp về nhà nữa nhưng nghe bà nội tôi lại xây nhà nền đúc, và rồi lại bị tụi Mỹ đánh sập, không phải đám máy bay mà đám bộ binh đến đóng quân ở làng, lấy nhà bà làm trụ sở, sau thua vài trận đâm tức giận đặt bộc phá đánh tan tành nhà bà để trả thù. Một thời gian dài bà nội tôi buồn lòng không cất nhà nữa, chỉ che chòi ở tạm trên nền nhà cũ, nhưng vẫn miệt mài làm ruộng, chuyện đồng áng đối với bà không chỉ là thói quen mà như là một thiên chức, như một món nợ với đất đai cần phải trả. Năm đó bà đã già lắm rồi, đã bắt đầu quên trước quên sau, hay nổi giận vô cớ nhưng chuyện làm ruộng vẫn kỹ càng, chu tất, từ chuyện gieo cấy, bón phân nhổ cỏ, gặt đập đúng răm rắp không phạm một chút sai sót. Tiếng đồn bà nội tôi trở nên giàu có, cũng có tiếng đồn bà ngày càng khắt khe tằn tiện. Chỉ như vậy thôi chớ không có ai nói gì hơn bởi bà nội tôi có giữ gì lại cho riêng mình đâu, cứ cắm cúi làm cho đến lúc người khô cứng lại như cái lõi cây trông không thể nào đoán được tuổi tác. Cả hai cuộc chiến tranh trôi qua bà nội tôi cũng gần như không hay biết, bà nội tôi không quan tâm mấy tới chuyện thời cuộc chính trị, phần do đầu óc quá chất phác, phần mải cắm cúi làm, chuyện giặc giã như chuyện sấm chớp trên đầu. Bà thương yêu những người kháng chiến vì có con cháu bà trong đó, ghét bọn lính ngụy vì chúng xúc lúa của bà, nhưng trên hết, bà tin ở thần thánh, vong linh ông bà tổ tiên, một lòng tin mơ hồ nhưng vững chắc bám rễ từ lâu đời và sẽ còn mãi mãi. Phía sau nhà bà nội tôi có một con rạch nhỏ, bên kia rạch có một khu đất hoang cây cối mọc rậm rì, có một cây đa lớn và một ngôi miếu cổ. Ngôi miếu thờ vị thần gì không rõ, các chữ viết đã phai mờ, các tượng lớn tượng nhỏ đã sứt sẹo, nhiều bức đổ sụp không còn ra hình thù gì. Cả khu đất chỉ có cây đa là quí, không phải ở cây đa mà ở số chim cò làm tổ trên đó. Chim cò nhiều vô số kể, chiều đi ăn về đậu trắng cả cây vỗ cánh xào xạc kêu inh ỏi, cả làng đều nghe thấy. Thuở nhỏ bọn chúng tôi thường hay qua đó lượm trứng chim. Mỗi khi có cơn giông lớn trứng chim rớt xuống bể nhớt cả một vùng đất chung quanh gốc cây đa, có những trứng không hiểu sao không bể còn hơi ấm của thân chim mẹ, có cả những con chim con mới ra ràng chỉ có vài ba sợi lông mới nhú nhọn hoắt như lông nhím, mắt nhắm tít, miệng cứ há ngoác ra đòi ăn. Chúng tôi lượm những con chim để trong lòng bàn tay hà hơi ấm cho chúng rồi đưa lên kêu : "Bay đi, bay đi!" Nhưng chúng không chịu bay. Chúng tôi đặt chúng trở vào ngôi miếu cổ, còn trứng thì đem về luộc ăn. Về sau này lớn lên có dịp về nhà tôi thường qua khu đất hoang đó ngắm lại cây đa, lúc này không còn chim cò đậu nữa, ngôi miếu gần như sụp đổ hoàn toàn. Tôi cứ đứng đó nhìn, lòng bồi hồi xức động không hiểu vì cớ gì, trong một lúc tôi quên đi tất cả và cũng nhớ lại tất cả. Bà nội tôi thường hay qua ngôi miếu cổ khấn vái đủ thứ chuyện, làm ruộng mất mùa cũng khấn, mưa nắng thất thường cũng khấn. Má tôi và mấy thím tôi sanh khó cũng khấn, đến thằng em tôi lội sình đạp gai bị mưng mủ bà cũng đốt một bó nhang lớn qua đó khấn rì rầm suốt cả buổi rồi sau đó chính bà kẹp cổ thằng em tôi trong hai ống chân gầy khô dùng miểng chén nặn mủ vết thương, giả lá cây vòi voi đắp lại, lòng đinh ninh chính vong hồn ông bà đã độ cho thằng em tôi tai qua nạn khỏi. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:30:27 pm Bà nội tôi (tiếp) Duy chỉ có một lần bọn lính vào xúc lúa bà nội tôi không khấn. Bà đứng nhìn chiếc bồ trống rỗng một lúc rồi đi lục tìm số lúa cất dấu sau vườn đổ xuống ghe chèo đi. Sau nhà bà nội tôi có một con rạch nhỏ chảy xuyên qua làng, qua cánh đồng rồi mất hút vào khu rừng tràm rộng bạt ngàn. Tôi chưa khi nào đi hết con rạch đó. Những năm ấu thơ và tới sau này lớn lên con rạch vẫn là điều bí ẩn đối với tôi. Tôi không biết nó đi qua vùng nào, ngọn nguồn của nó ở đâu mà nó cứ chảy mãi chảy mãi như thế. Hôm đó một mình một ghe bà nội tôi chèo riết, qua hết làng qua hết cánh đồng vào tới khu rừng tràm có rất nhiều những tổ ong mật và đầy những rắn rít. Có một năm khoảng năm tôi lên mười, hồi giặc Tây càn dữ, bà nội tôi xua đám con cháu đi tản cư vào trong đó. Mùa mưa nước con rạch tràn đầy, chiều chỗ đồng trũng nước loang ra thành một chiếc đầm trắng xóa, mấy chiếc xuồng đi thành một hàng dài, mấy chú tôi dùng sào chống phía sau, má tôi và mấy thím tôi bơi phía trước, tụi tôi ngồi chính giữa, bà nội tôi đi chiếc xuồng sau rốt vừa chỉ đường cho mấy chú tôi vừa canh chừng không cho đám chúng tôi vọc nước hoặc hái bông súng. Ký ức tôi còn giữ được một hình ảnh thật kỳ lạ : xuồng đang đi bỗng không thấy con rạch đâu cả, trước mặt là cánh đồng trống chạy dài, mặt đất khô nứt nẻ. Mấy chú tôi ngẩn ra lúng túng nhưng bà nội tôi hô : "Vác xuồng lên đi tiếp đi". Mấy chú tôi từng hai người một khiêng bỗng xuồng lên đi trên cánh đồng khô nứt nẻ, chúng tôi chạy quấn theo sau mặc sức hái bông rau muống đồng, vạch cỏ tìm ổ chim. Một lúc sau lại thấy có rạch, lại thả xuồng xuống đi tiếp nữa. Cuối cùng chúng tôi đến khu rừng tràm hoang vu như không hề có dấu chân người. Bà nội tôi chọn một cụm rừng tràm cây rậm rạp cho xuồng dừng lại, mấy chú tôi chặt cây làm chòi má tôi và mấy thím tôi đóng cọc làm bếp đào lỗ để lấy nước nấu cơm. Chúng tôi ở đó cả tuần lễ, đám trẻ chúng tôi mặc sức chạy giỡn tung tăng trên những bãi cỏ, cuộn dây tơ hồng làm ngựa cưỡi hoặc long dưới rạch giũ rễ lục bình băởt tép bỏ vô miệng nhai. Thỉnh thoảng chúng tôi theo chú tôi ra bìa rừng coi xe tăng Tây bò lổn ngổn ngoài đồng xa hoặc lính Tây nhảy dù xanh đỏ lớp chớp trên nền trời. Nghe kể lần sau này bà nội tôi chèo ghe vào chính khu rừng tràm đó, còn việc bà gặp du kích thế nào, đưa lúa cho họ ra sao, làm sao họ xay giã ăn tôi không biết được. Chỉ biết khi trở về nhà, bà nội tôi lại bị tụi lính đồn kêu lên nữa. Như mọi lần trước chúng hỏi : "Bà chở cái gì cho du kích đó ?" "Tôi chở lúa", bà nội tôi đáp. "A, vậy là bà nuôi du kích hả ? Bà nuôi chúng để chúng đánh lại tụi tôi hả? Bà theo phe nào, nói đi !". Bà nội tôi đáp : "Tôi không theo phe nào hết. Phe nào không ăn lúa của tôi ?" Đám lính la lên : "A, bà già quá cỡ ta ! Bà là bà nội tụi du kích, bà nội tụi tui, bà ở trên hết thảy hả ?". Bọn lính trả bà nội tôi về và nghĩ kế trả thù. Mấy bữa sau chúng kêu bà lên, lần này có xe hơi rước bóp kèn inh ỏi. Bà được đưa về chợ quận, đích thân tên quận trưởng ra đón rồi nào là chào mời tiệc tùng, nào chụp hình, báo chí phỏng vấn, có cả một ban hát đến góp vui, trong cuộc tiệc chúng gọi bà là người làm ruộng giỏi, một nhà nông học đã đem lại nhiều lúa gạo cho quốc gia. Rồi chúng đưa bà về, cũng đích thân tên quận trưởng đưa ra xe, coi như không có chuyện gì xảy ra cả. Bỗng một hôm có máy bay rải truyền đơn xuống làng có in hình bà nội tôi ngồi ăn tiệc với tên quận trưởng, có bài viết ghi rõ công lao của bà với nhà nước quốc gia, đã nhiều lần hiến lúa cho nhà nước, có giấy tờ đàng hoàng. Đó là nỗi đau trong đời bà nội tôi. Suốt mấy tháng trời bà không dám đi ra ngoài, không dám gặp gỡ ai, đi thăm đồng chỉ đi ban đêm và đám con cháu về không thấy bà mừng rỡ gì cả. Nhưng nỗi đau rồi cũng qua đi, bà lại cặm cụi làm ruộng, học tập thêm những cách làm mới như chuyển qua trồng lúa thần nông, nuôi cá rô phi, bón phân hóa học, nuôi gà công nghiệp, nuôi heo bằng sữa bột Mỹ, trong nhà lúc nào cũng có sẵn mấy cái máy bơm nước, máy phát điện. Làng hầu như không còn đàn ông nên việc làm ruộng càng khó khăn, bom pháo dập ngày đêm, rồi lại sanh chuyện xe tăng càn trên ruộng lúa nữa. Không biết bao nhiêu lần ruộng bà nội tôi bị xe tăng càn. Có một lần như thế này : Lúc đó lúa đã chín vàng rồi, chuẩn bị ngày gặt đập thì vừa sáng tinh mơ hôm đó bỗng nghe có tiếng gầm rú ở xa xa rồi một bầy xe tăng xuất hiện ở đầu làng. Dân làng chạy túa ra, bà nội tôi cũng chạy ra nhưng không còn kịp nữa, bầy xe tăng đã nhào xuống ruộng, xích sắt nghiến trên lúa nghe rào rào, thửa ruộng đang mượt mà trĩu bông phút chốc biến thành một bãi bùn đầy sình lẫn với rơm rạ. Một chiếc xe tăng chạy ngang trước mặt bà nội tôi định nhào xuống một thửa nữa. Tức thì bà nội tôi cũng nhào theo đứng cản trước đầu nó. Chiếc xe tăng như phát hiện thấy một trò vui liền chồm tới sát bên bà nội rồi rẽ ngoặt sang một bên. Bà nội tôi lại chạy theo cản trước đầu nó nữa, chiếc xe tăng trửng giỡn với bà nội tôi như mèo vờn chuột cho tới lúc thửa ruộng không còn gì nữa, bà nội tôi bò lóp ngóp trên mặt thửa ruộng bùn sình, thở hổn hển, cuối cùng nằm vắt ngang qua một bờ ruộng và chiếc xe tăng chồm qua một thửa ruộng khác, phụt khói đen sì chỗ bà nội tôi nằm. Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 05 Tháng Tám, 2009, 10:31:13 pm Bà nội tôi (tiếp) Đêm hôm đó một đứa em con chú tôi cùng một toán du kích về tới. Nó kể : bà nội tôi nằm ngoài bờ ruộng tới tối mới gượng đứng dậy đi về nhà, ngồi rũ xuống dưới gốc cây me già, trông bà thảm hại hơn những lần bị xúc lúa, cháy nhà, bị tụi lính đồn rải truyền đơn làm nhục. Nó kêu, cũng như mấy chú tôi trước kia : "Con đói nội ơi !". Bà nội tôi ngồi làm thinh. Nó lại kêu nữa. Bà nội ngước nhìn lên, không một lời, gượng đứng dậy đi xúc gạo nấu cơm. Đêm đó thằng em tôi cùng toán du kích cũng ăn hết chảo cơm lớn với cả cơm cháy. Thằng em tôi là người cuối cùng trong đám chúng tôi về thăm bà nội tôi. Chiến tranh đã quá ác liệt, đường sá cách trở, ba tôi và mấy chú tôi đã già đi đứng khó khăn, đám chúng tôi giỏi bay nhảy nghĩ việc về thăm bà nội chuyện vãn năm ba câu bâng quơ thật không đáng gì so với công việc chúng tôi đang làm. Vậy rồi ngày tháng qua đi, chúng tôi như quên bà nội tôi, thậm chí có một lần tôi cùng đơn vị có dịp hành quân ngang qua làng bên cạnh, chỉ cách nhà bà nội tôi một cánh đồng, có thể nghe cả tiếng chó sủa bên đó, nhưng tôi nghĩ tới việc tách ra khỏi hàng quân về thăm nhà thật quá phiền toái vậy rồi tôi đi qua luôn, coi như ngoài tôi không ai biết chuyện đó. Từ trên rừng sâu tôi nghe một chuyện, như đòn cuối cùng đánh vào bà nội tôi, nhưng nỗi đau thương, cơ cực phải theo bà nội tôi cho đến cuối đời. Năm đó bà nội tôi đã già lắm rồi, không còn đi ra đồng nữa, chỉ nằm nhà sai bảo, cắt đặt công việc cho những người làm công. Vậy mà đám lính đồn vẫn kéo tới, chúng vào tận nhà bà nội tôi đưa tờ giấy bắt phải ký vào để giao ruộng cho chúng. Nhà bà nội tôi bao giờ cũng mở rộng cửa, từ trong giường bà nội tôi nhìn ra cánh đồng trước mặt, cánh đồng vừa cày bừa xong, chuẩn bị gieo mạ, mặt ruộng bùn đen nhánh ánh lên dưới ánh nắng mặt trời. Bà nói : - Vậy là mấy ông lấy ruộng của tôi hả ? Cũng được thôi, ruộng đất là để cho mọi người làm... Nhưng mấy ông biết làm ruộng không cái đã ? Đám lính đáp : - Tụi tui không nói chuyện làm ruộng, tụi tui kêu bà phải ký vô đây giao ruộng cho tụi tui. Chúng tôi không để cho bà làm ruộng nuôi con cái đánh lại chúng tôi. - Vậy mấy ông bắt tôi ký tên thôi hả ? - ừ, bà ký đi. - Nhưng tôi không biết chữ làm sao ký được ? Nói rồi bà nội tôi nằm quay mặt vô vách, lịm đi, đám lính không có cách gì nói chuyện với bà được nữa. Bà nội tôi nằmliệt giường như vậy cả mấy tháng trời, chỉ uống nước cháo cầm hơi, rồi bỗng một bữa bà ngồi bật dậy đi xấp xải ra đồng la thét chỉ bảo mọi chuyện cho những người làm công như không hề có bịnh tình gì cả. Rồi bà trở vào lại nằm liệt giường, uống nước cháo, không ngồi dậy nữa cho tới ngày giải phóng đám con cháu hội tụ về. Chừng hơn tháng sau ngày giải phóng, ba má tôi, mấy chú thím tôi cùng đám chúng tôi kéo về đủ mặt. Bà nội tôi nằm đó thoi thóp thở, người mỏng dính dán sát xuống mặt giường. Ba tôi nói vào tai bà nội tôi : - Tụi con về đây rồi má ơi ! Bà nội tôi không nói được, chỉ gục gặc đầu, hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn trên má. Bà nội tôi mất sau đó không lâu. Đêm hôm đó em gái tôi, đứa cháu bà nội tôi đã đỡ đẻ nó trong một trận càn lớn của giặc Tây. Nó túc trực bên giường bà chợt nghe bà gọi ú ớ gì đó, nó choàng dậy nhưng không nghe được gì, chỉ thấy bà chỉ tay ra ngoài đám ruộng trước cửa vừa mới cày xong, đoán chừng bà chỉ bảo phải làm chuyện gì đó. Rồi bà nhắm mắt, hơi thở cũng nhẹ dần rồi tắt thở. Lúc đó vào rạng sáng ngày 28 tháng sáu năm bảy lăm, tới năm đó bà nội thọ 83 tuổi. Tôi có kịp về dự lễ tưởng niệm bà nội tôi, thấy bà nằm trong áo quan nét mặt thanh thản, người khô quắt mỏng dính như một chiếc lá khô vừa rơi rụng khỏi cành cây. Lễ tang bà nội tôi không có nhiều người dự, ai nấy đều bận túi bụi vào những công việc ngày đầu giải phóng. Mộ chôn ban đầu định ở ngoài ruộng, sau lại tính đem về sau vườn, cuối cùng dời qua bên khu đất hoang có ngôi miếu cổ. Ngôi miếu đã sụp đâu mất chỉ còn lại mấy khuôn tường đầy rêu phong. Lúc hạ huyệt chợt nhìn thấy một mảnh tượng nằm lăn lóc bên gốc cây đa tôi muốn khấn một câu gì đó nhưng không biết phải khấn như thế nào. Đắp xong mộ bà nội tôi, không kịp nhận tang tôi phải trở lên thành phố vì có công việc. 5 - 1989 Tiêu đề: Re: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo Gửi bởi: Midaxudavo trong 08 Tháng Tám, 2009, 06:27:26 am Đi thăm chồng Trên đường đi kháng chiến tôi thường gặp cảnh những người vợ lặn lội đi thăm chồng, những chị phụ nữ vợ bộ đội nên còn rất trẻ, nhà ở vùng giặc chiếm phải vượt qua bao nhiêu vành đai, đồn bót mới ra được tới vùng giải phóng. Rồi cứ thế tay bồng con, tay xách giỏ, chị đi bất cứ nơi đâu nghe tin có đơn vị chồng ở đó. Nhưng bộ đội chân đi vạn dặm, mặt trận mở ra khắp bốn phương trời chị biết tìm đâu để gặp được chồng ? Chị cứ đi, đi mãi, cho đến lúc đứa con nhuốm bịnh, hoặc bom đạn ác liệt cản đường chị mới quay trở về, lúc đi cũng như lúc về không lúc nào chị tỏ vẻ thất vọng cả, cảnh ấy cứ theo nhịp độ ác liệt của cuộc chiến mỗi lúc một tăng thêm lên. Mới đây thôi tôi gặp cảnh một chị phụ nữ đi thăm chồng như vậy. Tôi ngồi trong chiếc quán bên đường. Trời nắng gắt. Cánh đồng trước mặt nông dân đang làm mùa. Trên trời mấy chiếc trực thăng Mỹ đang bay rột rẹt tới lui. Trong quán ngoài tôi và cô chủ quán còn có một bà lão hay luôn miệng rầy rà kể cực kể khổ, và một bác nông dân có tật nói mấy câu đầu nghiêm chỉnh nhưng câu cuối hết sức bông lơn, vui đùa. Bác nông dân chỉ mấy chiếc trực thăng trên trời nói : - Nghĩ mình đánh với thằng Mỹ trận này cũng ghê gớm thật ! Nó thì "văn minh kỹ thuật" như vậy, còn mình thì... (Bác ừ à cái gì trong miệng rồi đưa tay chỉ dáng người còm nhom của tôi) như vậy đó - Lại ừ à một lúc nữa rồi bác nghiêm giọng nói tiếp - Cho nên mình không có lòng đoàn kết thương yêu nhau không đánh nổi thằng Mỹ một ngày chớ đừng nói đã đánh mười năm nay -Rồi liếc nhìn chị chủ quán, bác bắt đầu bông lơn - Như chút nữa đây lính Mỹ có bất ngờ đổ quân xuống trước sân kia, chị chủ quán thế nào cũng cầm chổi xông ra đánh chúng để cứu bà con mình. Chị chủ quán vừa lau dọn bàn ghế vừa kêu lên : - Thôi thôi, tôi nhát lắm ! Tôi sợ lắm ! Hồi mùa lúa vừa rồi tôi đụng một trận thiếu điều một đứng tim chết. Có hai anh cán bộ đi ngang ghé vào quán uống nước chưa kịp cạn ly liền có đám trực thăng sà xuống đổ quân ngay trước mặt, tôi quính quá chỉ còn biết cách kêu hai anh vô núp trong buồng rồi chạy ra tìm cách cười giỡn với tụi lính Mỹ. Hôm đó tôi nói cười đến mỏi cả miệng, chúng thì nói tiếng Mỹ tôi thì nói tiếng Việt vậy mà tôi cứ nói không hiểu sao tụi lính Mỹ vẫn chịu nghe cả mấy tiếng đồng hồ như vậy cho đến lúc trực thăng lại sà xuống đón chúng đi. Thật hú hồn hú vía ! Bà lão tiếp lời : - Nhát gan cái gì, nó đánh mình thì mình đánh nó chớ khoanh tay chờ chết hay sao ? Còn như chú Hai này nói sự đoàn kết gì đó tôi không biết chú nói chữ nghĩa chi cho rườm rà vậy. Tôi chỉ biết nói thế này : mình cùng cực khổ sống chết với nhau đã nhiều, người dưng nước lã cũng biến thành cật ruột như người đi cùng thuyền giờ chỉ còn biết sống chết với nhau nữa thôi - Câu cuối cùng bà nói với giọng nạt nộ, rồi sẵn đó bà nạt luôn tôi - Còn thằng bộ đội này mày đi đâu giữa ban ngày ban mặt như vầy ? Muốn giỡn mặt với thằng Mỹ hả ? Có công tác gấp cũng phải đi ban đêm con à, tụi bây có bề gì... Bà còn định than vãn rầy rà thêm nữa bỗng chị chủ quán che tay nhìn ra ngoài rồi kêu lên : - Ôi có cô nào đi thất thơ kìa ! Lại còn bồng con nhỏ nữa. Tội nghiệp quá ! Bà lão cũng nhìn ra được dịp rầy rà : - Sao cứ đi tìm chuyện cực chuyện khổ hoài vậy không biết ! Chị chủ quán kêu : - Vô đây nghỉ uống ly nước đi cô Hai ơi ! Một chị phụ nữ còn trẻ bận bộ đồ bà ba đen khăn trùm mặt kín mít vai đeo túi xách tay bồng con nhỏ tay xách chiếc lồng gà lớn bước vào quán. Chị chủ quán đon đả kéo ghế mời. Vẫn xách chiếc lồng gà lúng túng một lúc chị tìm chỗ đặt nó xuống, chiếc lồng gà quá cỡ chạo rạo một con gà mẹ và một bầy gà con. Rồi chị ngồi xuống ghế tháo chiếc khăn lau mặt để lộ khuôn mặt còn trẻ đến nỗi nếu không có đứa nhỏ bồng trên tay tưởng chị còn con gái. Nhưng bộ đồ bà ba đen chị bận thì lầm bụi, coi dầu dãi, nhiều chỗ bị rách được vá lại sơ sài, chị mệt mỏi mỉm cười chào mọi người rồi lặng lẽ đưa mắt nhìn ra ngoài đồng, như muốn tìm kiếm cái gì. Chị chủ quán bưng đến cho chị một ly nước chanh, giành bồng lấy đứa nhỏ : - Uống miếng nước cho khỏe đi cô Hai ! Đưa đứa nhỏ đây ! Ôi cháu tôi dễ thương quá ! Nó còn cười nữa kìa, nó cười kìa cô bác ơi ! Bà lão rầy rà : - Cười cái gì, mặt mày nó đỏ lơ đỏ lửng kia kìa ! Sao mà cực khổ quá vậy hả cháu ? Bác nông dân thì đoán già đoán non : - Coi mặt thằng nhỏ này tôi đoán ba nó là bộ đội, phải vậy không cô Hai ? Chị chủ quán kéo ghế ngồi sát vào chị phụ nữ : - Phải vậy không cô Hai, có phải "ông thầy bói" kia đoán đúng không ? Chị phụ nữ đáp nhẹ như hơi thở : - Dạ phải ! Với sự nhạy cảm của người phụ nữ chị chủ quán như đoán ra điều gì đó, khẽ thở dài. Chúng tôi cũng không nói gì. Hồi lâu chị chủ quán hạ thấp giọng hỏi tiếp : - Bây giờ cô Hai đi đâu vậy ? Chị phụ nữ kéo khăn che một bên mặt đáp khẽ : - Em đi thăm chồng em... cho cha con thằng Chiếu gặp nhau... Từ hồi sanh nó tới giờ anh ấy đã gặp nó đâu. Cực lắm chị ơi, em ra đi tới nay đã ngót năm trời rồi, lặn lội cùng trời hết, chịu cực chịu khổ không biết là bao mà không biết chút tin tức gì về chồng em cả... - Cô Hai chắc không phải người vùng này ? - Em ở tuốt dưới sông Hậu. Đó chị thử tính coi từ đó em đi vòng xuống Cần Thơ, Sóc Trăng, lên tới Bến Tre, Mỹ Tho rồi lên tới vùng Đồng Tháp Mười này. Cách nay hơn tháng em qua kinh Chợ Gạo bị tụi thuyền bay Mỹ bắn chìm xuồng cũng may em bồng thằng Chiếu lội vào bờ được, chiếc lồng gà cũng không sao. Lúc ra đi em chỉ xách theo con gà thôi, tưởng gặp chồng em liền, em làm thịt gà nấu cháo cho chồng em ăn nào ngờ cứ phải đi mãi, qua xã này con gà đẻ, tới xã kia con gà ấp, tới xã kế nữa ổ trứng nở thành bầy gà con... - Cô Hai có biết hòm thư, hoặc phiên hiệu đơn vị chồng cô không ? - Em không biết, em quê mùa lắm chị ơi. Từ nhỏ tới lớn em chỉ ở làng có đi ra khỏi nhà lần nào đâu. Em cũng đâu biết xứ sở mình rộng lớn, đường sá đi hoài không hết như thế này. Và bộ đội thì trùng điệp đi đâu cũng thấy có đơn vị đang chuẩn bị chiến đấu nhưng lại không thấy chồng em đâu cả. Bà lão hỏi : - Chồng cháu đi bộ đội mẹ con cháu ở với ba má cháu hay ở với ông bà nội thằng Chiếu ? - Dạ, cháu ở với ba má cháu. - ờ vậy cũng được. - Tới giờ cháu cũng không biết nhà ông bà nội thằng Chiếu ở đâu. - ủa, sao lạ vậy ? Chị phụ nữ e thẹn càng khép kín vạt áo hơn : - Dạ, tại cháu và chồng cháu chỉ ăn ở với nhau có mấy tháng. Anh ấy cùng đơn vị hành quân qua làng, chúng cháu quen nhau, cưới nhau rồi anh ấy lại hành quân đi... Không ai nói gì hết. Chị chủ quán càng ôm siết đứa nhỏ hơn, bà lão chắc lưỡi chép miệng một mình, còn bác nông dân thì nói lầm rầm : "Phải rồi, thời chiến mà, trai gái thương nhau..." Rồi trái với lệ thường bác không nói thêm câu đùa nào nữa. Lát sau bà lão cất tiếng an ủi : - Thôi cháu đến được đây cũng là may rồi, tình hình "bình định" như vầy khó ai đi đứng được trót lọt. Giờ cháu chỉ còn việc tìm gặp chồng cháu để cha con thằng Chiếu gặp mặt nhau nữa thôi. Chị phụ nữ khóc sụt sịt : - Dạ, cháu cũng nghĩ như vậy. Hôm ra đi vừa ra khỏi xã cháu bị tụi lính ngụy giữ lại tưởng không có cách gì đi được. - ủa, té ra cháu cũng bị tụi lính bắt giữ hả ? Rồi cháu nói sao chúng cho đi? - Cháu không nói gì cả, cháu chỉ cự chúng thôi. Cô chủ quán xen vào : - Cô Hai cự mà chúng cho đi à ? - Chuyện dài lắm chị à. - Thì cô Hai kể vắn tắt thôi cho bà con đây biết tụi lính dưới đó như thế nào. - Thì cũng vậy thôi, chúng ăn ở ngay trong nhà mình, mọi chuyện đi đứng của mình chúng đều để mắt tới. Ngồi ăn cơm làm rớt chiếc đũa chúng đã trợn mắt ngó mình rồi. Nói chuyện không dám nói lớn tiếng, lỡ ho một tiếng hoảng sợ ngó dáo dác sợ chúng nói mình làm mật hiệu, ám hiệu gì. Chuyện em đi thăm chồng em em đã bàn với má em từ lâu nhưng phải đợi đến đợt tụi lính có đợt học tập tập trung em mới khăn gói lên đường đi được. Mình đi thăm chồng mình mà lén lút như đi ăn trộm. Đồ đạc cũng không dám mang gì nhiều, chỉ có mấy bộ quần áo của thằng Chiếu với con gà. Nhà chỉ có mẹ con em với ba má em, vậy ai biết chuyện em ra đi ? Em vừa bước ra tới ngõ đã thấy chiếc xe giép thắng cái "két" trước mặt, thằng lính thò đầu ra nói "anh Ba" gì đó của nó muốn "mời" em lên đồn "để nói chuyện". Em biết là em bị bắt rồi nên cứ đi theo chúng, chiếc xe giép đưa mẹ con em thẳng về chợ huyện, con gà cũng cùng đi, tới một khu nhà không rõ đồn bót hay trụ sở gì của bọn chúng, tên lính đưa mẹ con em vào một căn phòng nhỏ bảo cứ ở đó rồi khóa trái cửa lại. Căn phòng bài trí rất đẹp mắt, lót gạch bông trắng lốp nhưng không có giường chiếu chi cả, tối đến hai mẹ con em phải trải khăn nằm dưới gạch lạnh ngắt. Một ngày rồi hai ngày vẫn không thấy chúng hỏi han gì tới. Chỉ có bác đầu bếp già đem cơm cho mẹ con em thấy cảnh em thương tình hỏi vì sao bị bắt, em nói em đi thăm chồng em khiến bác lắc đầu không hiểu ra sao. Tới ngày thứ ba, trời chưa sáng rõ tên lính hôm trước đến gõ cửa kêu em đi. Thằng Chiếu suốt hai ngày bị lạnh, lạ nhà không ngủ được, mới vừa chợp mắt một chút đã bị xốc dậy hoảng sợ khóc thét lên, em dỗ nó con đi thăm ba con có gì đâu rồi đi theo tên lính, tới một phòng đèn điện sáng choang, bắt em ngồi chờ đó. Một hồi cánh cửa phía sau chiếc tủ xịch mở, một đám tụi cán bộ bình định kéo vào ngồi vây chung quanh em, mỗi đứa ăn bận một kiểu, dân không ra dân, lính không ra lính, miệng đứa nào cũng thè lè điều thuốc coi rất kỳ dị. Thằng Chiếu cứ tấm tức khóc hoài em phải dấu đầu nó trong vạt áo. Trên đầu một chiếc quạt máy lớn bằng cái nia cứ quạt xành xạch gió thổi lạnh thấu xương. Chưa chi em đã thấy rối trong bụng rồi. Thằng bận đồ đen - em đoán là thằng chỉ huy - kéo ghế ngồi xổm trước mặt em bắt đầu tra hỏi : - Xin cô cho biết cô đi đâu khỏi xã mà không thấy báo bung gì cả ? Cô bí mật đi làm chuyện gì, hoặc đi gặp ai chăng ? Em tìm cách chối quanh, khai tên cha mẹ, kể lể cuộc sống khó khăn... Nhưng tên bình định ranh ma đã ngắt lời em : - ừ, nói chung ai cũng khó khăn, chiến tranh mà... Nhưng tôi muốn hỏi mục đích chuyến đi của cô kia. Cô đi làm chuyện gì ? Cô muốn gặp ai ? Em định tìm cách chối quanh nữa nhưng vừa lúc đó thằng Chiếu lại bật khóc. Nó khóc tức tửi rất đáng thương vì bị em dấu đầu sau vạt áo. Em thấy tủi thân quá chừng. Mẹ con em đã làm gì phải chịu cực nhục như vầy ? Thằng Chiếu đi thăm ba nó, em đi thăm chồng em thì làm gì nên tội ? Vừa sợ vừa giận hóa liều em đáp : - Không, tôi không đi làm gì cả ! - Vậy cô đi gặp ai ? - Tôi đi thăm chồng tôi. Tên bình định ngồi xổm tới nữa mắt sáng rỡ như mèo nhìn thấy chuột : - A, vậy chồng cô là... - Chồng tôi là bộ đội giải phóng. Em đáp phứt như vậy, nghĩ bụng có muốn ra sao thì ra, rồi quay ra lo dỗ thằng Chiếu. Bọn chúng sau khi nghe em đáp vậy lấy làm đắc ý lắm quay ra bàn tán xì xào với nhau rồi kéo nhau qua phòng bên để mẹ con em ở lại với chiếc quạt lạnh ngắt. ở phòng bên em nghe tiếng chúng cãi cọ nhau, tiếng giày đi tới đi lui lạo xạo em biết còn chưa yên được với chúng. Sau đó cửa lại xịch mở chúng lại ùa vào mỗi đứa lại thè lè điếu thuốc mới. Thằng bận đồ đen lại ngồi xổm trước mặt em tra hỏi nữa : - Vậy cô nhận là đi thăm chồng, và chồng là Việt cộng? - Phải. - Chồng cô cũng là người huyện này ? - Không. - Vậy là người ở xa... Chắc là bộ đội hành quân đi qua đây... Cô có thể cho biết trường hợp cô gặp chồng cô như thế nào không ? Em làm thinh. Không phải em sợ, nhưng em không muốn đem chuyện riêng của vợ chồng em nói cho chúng biết. Tên bình định thấy vậy thì cười khẽ nói tiếp : - Phải, cô có quyền không nói, đó là chuyện riêng của cô. Cả chuyện cô đi thăm chồng cũng vậy, chuyện đó hoàn toàn riêng tư. Nhưng chuyện bình định xã này là chuyện của chúng tôi, chúng tôi không thể để người của xã đang bình định đi gặp người của Việt cộng được. Chồng cô dù sao cũng là người đang cầm súng bắn lại chúng tôi. Người ta sẽ nghĩ về chúng tôi ra sao ? Cấp trên sẽ nhận xét chúng tôi như thế nào ? Một đứa khác xen vào, giọng cộc lốc : - Còn nghĩ gì nữa, để cô ấy đi gặp chồng mình cũng giải tán mẹ cái xã bình định này rồi cạo đầu đi tù thôi. Chúng nhao nhao lên, rồi tên bận đồ đen lại nói : - Giờ cô tính sao, quay trở về hay tiếp tục đi gặp chồng để gây khó dễ cho chúng tôi ? Thằng Chiếu lại khóc nữa. Mấy hôm rày ngủ dưới gạch nó đã nhuốm bịnh, người ốm xọp đi ngó thấy, không biết đau chỗ nào mà cứ giãy lên từng cơn. Em nhìn con mà không cầm được nước mắt. "Phải trở về thôi, cốt sao đưa thằng Chiếu ra khỏi được chỗ này". Nghĩ vậy rồi em xốc thằng Chiếu đứng dậy nói : - Thôi mấy ông biểu sao tôi nghe vậy, tôi là người dân xã bình định chỉ biết nghe lời mấy ông thôi. Rồi em đứng chờ chúng mở cửa em về phòng lấy đồ xách con gà ra về, em sẽ chẳng đi được tới đây kể lại chuyện này nếu sau đó không có một thằng nói chọt vào một câu. Chính thằng nói câu cộc lốc khi nãy, thằng mặt nhọn như mặt chuột, em chưa kịp quay đi nó đã lên giọng mát mẻ nói : - Không biết xã này hết đàn ông rồi hay sao lại đi lấy thằng Việt cộng cho cực thân vậy không biết. Em nghe nó nói vậy tay chân phát run lên. Trời ơi tới chuyện em lấy chồng nó cũng xía vô được. Em quay phắt trở vào ngồi phịch xuống ghế. Bọn chúng thấy vậy ngạc nhiên đưa mắt nhìn nhau nhưng em không còn sợ gì nữa. Nó đã nói vậy em phải nói cho nó biết, cái thằng mặt nhọn ấy, em nhìn thẳng vào mặt nó nói không cho đứa nào xen vào : - Ông nói chi câu độc địa vậy, tôi tuy nông dân quê mùa chuyện lớn chi tôi không biết chớ chuyện lấy chồng thì tôi phải biết. Là gái tôi biết phải lấy ai làm chồng. Ông nói vậy là do ông không biết tôi gặp chồng tôi ra sao chúng tôi yêu thương nhau như thế nào... Rồi không còn e ngại thẹn thùng gì nữa em kể hết cho chúng nghe chuyện chồng em cùng đơn vị về xã em đánh giặc, chúng em gặp nhau thương yêu nhau kể cả chuyện hôm chồng em ra đi, trời mưa như trút nước, em thấy thương quá đội mưa chạy theo... Em còn nói cả chuyện chồng em cầm tay em lúc chia tay nói : "Anh đi đánh giặc mau để về giúp em giúp má làm ruộng làm nương..." Em kể hết rồi em bồng thằng Chiếu đứng dậy chờ cho chúng bắt em đi đâu thì bắt. Nhưng chúng không bắt em. Thằng bận đồ đen em tính là thằng dữ nhứt không hiểu sao bỗng đâm tư lự ngồi cúi đầu một lúc rồi đứng dậy khoác tay kêu cả bọn ra ngoài. Rồi lát sau thằng lính bước vào dẫn em ra ngoài cửa, đưa em gói đồ và con gà nói : - "Anh Ba" nói chị muốn đi đâu thì đi, đi về nhà hay đi thăm chồng tùy ý. Em ra tới cửa thấy tên bận đồ đen chợt đi ngang qua đứng lại nhìn em một lúc rồi nhếch mép cười nói : - Chúc cô đi gặp được chồng... cho êm đẹp... Rồi nó đi rướn qua mặt em, mặt hầm hầm, không biết đang nghĩ gì. Nhưng em không cần biết nó nghĩ gì, em đi thăm chồng em chẳng tội vạ gì nên em cứ đi. 1969 |