Lịch sử Quân sự Việt Nam

Văn hoá - Thể thao - Giao lưu => Quán nước cổng doanh trại => Tác giả chủ đề:: huyphuc1981_nb trong 20 Tháng Tám, 2009, 10:49:08 am



Tiêu đề: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 20 Tháng Tám, 2009, 10:49:08 am
Тульский оружейный завод, Nhà máy vũ khí Tula, mà người Nga cũng hay gọi theo tập quán châu Âu là Tula Arsenal (Quân Xưởng), tên truyền thống của nó, là một quân xưởng lâu đời thuộc thế hệ các quân xưởng thời Piotr Đại Đế ở Đế Quốc Nga cũ. Quân Xưởng này không có tuổi thọ lớn như một số quân xưởng khác, nhưng được Piort Đại Đế thành lập, và có vai trò to lớn với súng cá nhân bắn đạn viên ở Nga. Nó không phải là quân xưởng duy nhất đã làm các mẫu thử đầu tiên của Mosin, cũng như chỉ là một trong những nơi Mosin được sản xuất, cũng chỉ đóng góp tỷ lệ sản lượng không lớn cho Mosin và các súng quan trọng khác. Nhưng với các nhà chế súng hiện đại thời Liên Xô, Tula như là trái tim quan trọng nhất, đáng tự hào nhất, họ yêu mến nhất.

Tại sao vậy ?? Với các nhà chế súng Nga thì Mosin là trái tim của họ. Ban đầu, phiên bản 1891 của Mosin chỉ là phiên bản cổ, đạn chì, hình trụ, đường đạn dùng trục xoáy cố định, nó không có gì đặt biệt ngoài chất Nga: dễ chế tạo, hơi thô, nặng và cồng kềnh, nhưng rất ít chi tiết nhỏ và rất bền, dễ sản xuất lớn. Trong suốt tiến trình lớn lên của mình, thì Mosin như là cái nôi để áp dụng những kỹ thuật đường đạn, súng ống mới. Những viên đạn mới và nòng được thiết kế cho Mosin, các súng trường, súng máy khác được thiết kế trên những viên đạn đó và nòng đó. Mosin dần trở thành khẩu súng có đường đạn chính xác mạnh mẽ nhất trong các súng trường đối kháng được sản xuất lớn trên Thế giới, các súng trường, súng máy đi theo đạn của nó cũng lớn dần lên theo nó. Súng nào cũng vậy, không chỉ theo viên đạn, mà cũng đem theo chất Mosin: dễ chế tạo, các chi tiết to, rất bền.

Mosin là hồn của súng Nga. Thì Tula là nôi của Mosin. Mosin Từ 1891, khi Mosin xuất hiện, thì sản lượng Mosin của quân xưởng này không cao, nhưng thật ra, nguyên nhân chính là do tham những đẩy các hợp đồng ra nước ngoài ăn tiền đút lót. Đây là điều đau lòng hài hước, Mosin hy sinh một số tính chất để thích hợp nhất với sản xuất lớn ở Nga, mà cụ thể hơn là Tula, điển hình là đạn gờ móc và không dùng khóa an toàn trên kim hỏa, nhờ đó phần máy súng không cần nhiều giờ máy gia công, mà phần lớn có thể làm thủ công.
Tula không phải là nơi duy nhất chế tạo các mẫu thử đầu tiên của Mosin, nhưng là nơi các nhà thiết kế tìm kiếm và thử nghiệm các phương pháp chế tạo, huấn luyện công nhân và kỹ sư, nên được coi là cái nôi chung của các nhà thiết kế súng. Dựa trên trang bị và công nhân của Tula, các nhà thiết kế chỉnh sửa Mosin, rồi các quân xưởng khác chỉnh sửa trang bị và công nhân theo Mosin. Tokatev tôn sùng cái nôi của mình đến mức đặt tên súng đạn của ông là TT, Tokarev-Tula. Degtriarev đi làm thợ ở Tula, nối nghiệp thợ súng của cha ông từ năm 11 tuổi, năm 1891, đúng năm Mosin xuất hiện ở đây. Tula vừa là quê hương ông bà, vừa là nơi tuổi thơ vất vả của "thợ tử" Degtriarev trôi qua theo truyền thống, quân xưởng Tula cũng là nơi dán cho Viện Sỹ Hàn Lâm tương lai Degtriarev niềm đam mê vũ khí say đắm, thôi thúc ông chế súng suốt một đời. Các DP được sản xuất ở Kovrov, nhưng nếu chúng là người, có thể khi hấp hối do Mauser bắn trọng thương, chúng sẽ kể cho nhau trên chiến trường: "quê tổ của chúng ta ở Tula, cha chúng ta lớn lên ở đấy, chiến tranh đã đưa đẩy ông đến Kovrov, nơi chúng ta sinh ra".

Quân xưởng Izhevsk (IZHMASH) mới là quân xưởng chủ yếu sản xuất Mosin và AK nội địa. Nhưng Tula như là cái nôi để từ viện sỹ cho đến công nhân nảy mầm, các công đoạn sản xuắt cũng xuất phát từ đây nên từ con người và cấu tạo các quân xưởng súng ống khác ở Nga đều theo mẫu Tula và phần lớn do người Tula xây dựng lên, kể cả Izhevsk hay các quân xưởng ở Phần Lan, Estonia (Taillinn Arsenal). Tổ tiên của Kalashnikov cũng là thợ súng Tula trước khi gia đình ông làm công nhân Đường sắt Siberi. Sau 1945, Kalashnikov đã chọn Izhevsk theo yêu cầu cấp trên, vì Tula đã ở rất gần chiến tuyến. Nhưng dù lớn hơn, thì Izhevsk vẫn không chuyên nghiệp làm súng như Quân xưởng Tula cổ kính.


Năm 1891, Tula ở trong thời suy thoái. Thời thịnh vượng nhất của Tula là chiến tranh Nga-Pháp. Khi Mosin ra đời thì chính quyền Nga tràn ngập các thành viên chính phủ ăn cắp bẩn thỉu, đứng đầu các thành viên chính phủ gian trá này là một triều đình ngu tối. Triều đại này đã phá hủy các quan hệ truyền thống do Piotr xây dựng lên, gây chiến với người anh em Phổ-một sản phẩm của Piotr Đại Đế. Nga quay ngắt 180 độ, liên minh với các địch thủ cũ, chống lại các đồng minh trong cuộc chiến 250 năm trường kỳ đẩy lùi Otoman, bắt đầu bằng việc bán các hợp đồng sản xuất pháo và Mosin sang Pháp lấy tiền đút lót, triều đại này bị xử bắn khi Đế Quốc Nga tan vỡ.

Trong điều kiện này, Mosin được thiết kế với sức mạnh của khẩu súng hiện đại, nhưng lại sản xuất ở một quân xưởng lạc hậu, chủ yếu là thủ công. Chất Nga như vậy, những Arsenal gốc Nga ngoài Mosin, AK, còn có cả Taillin Model 1923, Suomi, cũng là những súng lừng danh của các quân xưởng lạc hậu và nghèo đói, sản xuất thủ công với một ít máy móc rẻ cổ.
Mình tưởng tượng ra một quân xưởng như vậy và đặt tên là Tula Việt Bắc năm 1947. Quân xưởng này do ông X sáng lập, ông X cũng là một người tưởng tượng, chứ không phải Tạ Quang Bửu. Và Tula Việt Bắc cũng có 300 năm tuổi huy hoàng để đến ngày chế ra một khẩu súng tiên phong của Thế giới, chứ không sớm ngỏm củ tỏi trong thử thách đầu tiên của tuổi thanh niên như Cơ khí Trần Hưng Đạo.

Đây là một vấn đề xuất hiện khi bàn luận về Bazooka của Quân Xưởng Giáng Tiên, tiền thân của Cơ Khí Trần Hưng Đạo. Vấn đề này rất dài và nhiều chữ hơn là một topic chuyên về ảnh, đặt ở đó không hợp, nên mình chuyển các đoạn đó sang đây, rồi sau đó có thể các bạn xóa các đoạn đó đi.




Tiêu đề: Chuyển của bác Đoàn.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 20 Tháng Tám, 2009, 10:50:57 am
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=656.msg136890#msg136890
Chú HP!

- Nói về người quá cố khi người ta không còn khả năng nhỏ nhất là tự bảo vệ được mình thì nên dùng từ vừa phải thôi!

- Chú về đọc lại Lịch sử Quân giới đi, trong KCCP quân giới miền Đông Nam Bộ đã làm được tiểu liên theo mẫu Sten đấy nhé!


Tiêu đề: Tạ Quang Bửu
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 20 Tháng Tám, 2009, 11:22:22 am
http://www.vusta.vn/news_detail.asp?id=3991
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/linhtinhpost/anh_nhan_vat/Taquangbuu.jpg)

Bác Đoàn à.

Em biết, thái độ của bác là luôn kính trọng các vị lão thành cách mạng. Em cũng vậy. Ông Tạ Quang Bửu đáng kính vì ông là lão thành cách mạng. Ông đã hy sinh, đã đóng góp, đã là lãnh tụ của trí thức nước nhà. Em kính trọng ông vì điểm đó. Ông là trí thức đi Tây học, học Toán lý thuyết, tuy chưa tốt nghiệp, nhưng đã thừa đủ để hiệu triệu giới đáng kính gồm các ông Thông, ông Phán, ông Thợ, bác Cả, bác Phó. nhà ta nhiều rồi. Về bằng cấp, tuy ông chưa tốt nghiệp đại học ở nước ngoài, chưa học cơ khí, nhưng ông đã thi tú tài mấy lần đủ điểm học bổng Tây, là siêu việt rồi. Thêm đức hy sinh của các vị tiền bối, thì ông xứng đáng là một tiền bối lãnh đạo đa phần giới trí thức nước ta ngày đó. Nhưng không phải vì thế mà ông là một nhà nghiên cứu chất nổ, nghiên cứu cơ khí, chế tạo được súng. Bác có thấy sự nghiệp của ông chứng minh rõ ràng vai trò của ông không.

Theo em, đối với người đã hoàn thành sự nghiệp của mình thì sự kính trọng nhất là nói đúng vai trò của người đó trong xã hội. Đó là vinh quang lớn nhất của mỗi người. Bác thử nghĩ xem, đánh bóng quá mức Tạ Quang Bửu để nhiều người che dấu sự dốt nát cuả chính bản thân họ, có phải là làm khổ ông trên Thiên Đường không. Do không đủ kiến thức về khoa học kỹ thuật, sau này, khi làm hiệu trường trường Bách Khoa, ông đã quá dễ dãi với chế độ cử tuyển, góp phần đắc lực tạo ra chế độ học giả ở nước ta, nhiều học giả ở chế độ đó nhờ che dấu sự dốt nát mà tham những quyền lợi chức vị, vì vậy, xu hướng chung là họ thường thổi Tạ Quang Bửu một cách thô thiển dốt nát. Ví dụ: "công trình Nicolas Bourbaki là niềm tự hào của khối XHCN", làm chính ông phải xấu hổ từ khi còn sống. Thật khốn khổ cho ông, những kẻ dốt nát làm điều đó lại có quyền thế lớn với ông, thật ra, cái lập luận ngu si đó xuất phát từ miệng vài kẻ bồi bút cực ngu dốt, là bồi bút cho một lãnh đạo cấp cao đã học "chuyên tu" ở Bách Khoa.

Về học vấn, bao giờ người ta cũng tôn sùng chuyện "dòng giống", tức tính kế thừa về bằng cấp ở cấp cao, nó cũng y đúc như quân sự vậy. Chính vì vậy, nhà nước ta và bản thân Tạ Quang Bửu không bao giờ công nhận bất cứ một chức danh chính thức nào của Tạ Quang Bửu, như là một kế thừa các đánh giá của Tây và Liên Xô. Ông đã tự mình nhiều lền kể về chức danh Thiếu Tướng và Giáo Sư của mình, nói rằng đó là của giả, nhưng nhiều người nghe về sau trái ý ông, dấu biến chuyện đó. Thật xấu hổ cho nước ta nếu phong Tạ Quang Bửu là Giáo Sư, và vì vậy, một đời ông chức Thiếu Tướng và Giáo Sư là không chính thức, đúng nghĩa đen là loè bịp địch và lấy uy tín với các ông Thông, Phán, Tú.... tức là lớp trí thức cũ, trên lớp 10 một chút. Cũng như bác phải ăn độn vậy, Tạ Quang Bửu chắc chẳng thích thú gì , ông thừa trí thức để biết điều đó chỉ là gánh nặng, là cái áo khoác để ông làm nhiệm vụ, ông chẳng sung sướng gì khi những kẻ dốt nát đánh bóng cái áo khoác đó vì họ, nhưng không phải vì ông. Bác Đoàn thử nghĩ xem, khi Tạ Quang Bửu sang Tây, ông hoàn toàn có quyền tự hào vì đã đem tri thức công hiến, hy sinh cho dân tộc, ông ở chiến khu, trong khi các bạn cùng trang lứa nếu thành công thì ở tháp ngà Paris. Chứ Tạ Quang Bửu thấy vui gì khi người ta nói một sinh viên chưa tốt nghiệp ở Pairs cũng được là Giáo Sư ở Hà Nội.

Tính "Dòng Giống" trong khoa học kỹ thuật và quân sự châu Âu là gì. Là một người được phong cấp bậc "Đại Uý" hay "Trung Tá" chẳng hạn, phải được một người có cấp bậc cao hơn hay bằng như như thế phong. Như vậy, các "Đại Uý" và "Trung Tá" được thừa kế từ các đội quân khác nhau, được so sánh với nhau mặc dù ở hai bên chiến tuyến. Ví dụ, khi hai bên họp bàn, một ông "Trung Tá" sẽ thấy xấu hổ khi ngồi với một ông "Đại Uý" địch cùng chiếu và có quyền không chấp nhận. Bác Hồ dùng một cách phổ biến trong quân đội châu Âu để bắt đầu phong cấp bậc quân ta: "đánh thắng tướng thì phong tướng". Khi ta đã có một Đại Tướng, thì Đại Tướng này sẽ phong cho các Tướng Uý Tá dưới quyền, và quân đội chỉ có thể có cấp bậc sau khi đã thể hiện là một quân đội, đã đánh thắng một đội quân do một tướng địch cầm đầu.
Tất nhiên, một số con em quý tộc sẽ được phong Tướng khi gia đình họ cử một ông nô bộc cấp Tướng hay cấp Soái gây sự đòi đấu kiếm chẳng hạn với họ để một bước làm Tướng, điều đó chả hay ho gì, những con em đó được gọi là các Giả Tướng chẳng hạn.

Quân ta có 2 ngàn năm lịch sử quân đội, nên chuyện cấp bậc, kỷ luật quân đội dễ chấp nhận, cái mới lạ của chúng ta là tính "dòng giống" trong khoa học phương Tây cần thay thế cho "tam giáo cửu lưu" cổ truyền, quen thuộc. CŨng như Tướng, một Kỹ Sư cần được phong bởi một người ít nhất là Kỹ Sư. Như vậy, tất cả các Kỹ Sư đều là con cháu của một vài trường đại học đầu tiên, các trường đại học đầu tiên được tạo bởi các Viện Nghiên Cứu, cấp trên của Kỹ Sư là Tiến Sỹ Kỹ Thuật, Tiến Sỹ Khoa Học và Viện Sỹ cũng vậy. Các Giáo Sư cũng vậy. Một Viện Khoa Học mới được thành lập chỉ được công nhận khi tất cả những thành viên sáng lập là thành viên của các Viện Hàn Lâm đã được công nhận. Các Thành Viên sáng lập này sẽ tuyển thêm nhân sự cho Viện mới và tất cả đều là con cháu của các Viện Hàn Lâm châu Âu.
Trong khoa học không có khái niệm ông Viện Sỹ này đánh thắng một ông Viện Sỹ khác. Tất nhiên, một ông nông dân có thể cãi thắng một đề tài khoa học với một ông Kỹ Sư, nhưng khác với Quân Sự, những chuyện đó không được Khoa Học công nhận khi cấp bằng. Tại sao ?? Khoa Học tôn trọng tính truyền thống Tháp Ngà, Khoa Học tượng trưng cho sự thừa kế, còn Quân Sự là công cụ của sự thay đổi. Tại sao lại như vậy, mục đích của Quân Đội là Thắng, còn mục tiêu của Khoa Học không phải là Thắng, mà là Học, Học tức là thừa kế.


Trên các cơ sở đó, Tạ Quang Bửu không hề là Thiếu Tướng, không hề là Giáo Sư, không hề là Kỹ Sư, cũng không hề là Cử Nhân. Tấm bằng lớn nhất của ông về khoa học là Tú Tài (cấp 3 trung học), thêm một tấm bằng chính thức nữa thuộc lĩnh vực Khiêu Vũ.

Bên châu Âu, tính dòng giống chuyên nghiệp của Khoa Học và Quân Sự được tôn sùng. Một Nguyên Thủ Liên Xô tự phong cho mình một rổ huân huy chương, những cả đời tức tối vì không được làm Nguyên Soái, nhưng không có cách nào khác, đến chết vẫn vậy. CHính vì không thể phá hỏng hệ thống phả hệ của Quân Đội, nên không vua chúa nào tự phong cho mình chức Nguyên Soái mà được mọi người công nhận cả, kẻ cả ông ta có gí dao vào thuộc cấp, bắt tổ chức lễ tấn phong chính thức linh đình, thì cũng là lạc loài, lễ tấn phong như thế chỉ là một điếm nhục cho ông ta mà thôi. Tạ Quang Bửu cũng vậy, ông theo Tây Học, nên biết chuyện đó và đã nhiều lần thanh minh về Giáo Sư, Thiếu Tướng của mình.

Nó rõ hơn về chức Giả Thiếu Tướng, Giả Giáo Sư của Tạ Quang Bửu, danh hiệu của ông cũng như các chức vụ mà ông đã nắm như Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, đều là đồ giả, hoặc thật, nhưng mà còn có người thật hơn bên cạnh.

Chức Thiếu Tướng được ông lần đầu tiên và có lẽ là duy nhất sử dụng khi ký một số văn bản nằm trong Hiệp  Định Geneve. Trước đó, chúng ta chỉ có danh sách duy nhất các tướng được phong duy nhất một lần. Tạ Quang Bửu sau này đã nhiều lần thanh minh về chuyện này. Trước đó, khi lập danh sách những người sẽ kỹ, Bác Đồng đã làm một việc khá bừa bãi là ghi ông chức Thiếu Tướng. Trước khi ký, Tạ Quang Bửu có hỏi lại, nhưng Bác Đồng cười nói là ghi thế cho ngang người ký vị trí đối diện. Đây là hành động khá bừa bãi của Bác Đồng, đặt Tạ Quang Bửu vào vị trí đã rồi. Tất nhiên, Tạ Quang Bửu không thể bắt cả hội nghị đình lại và phải theo lệnh cấp trên, nhưng bác Đoàn à, ông đã nhiều lần thanh minh về chuyện này, ông không phải là Thiếu Tướng.

Về chức Giáo Sư, đương nhiên, Khoa Học của nước ta tuy non trẻ, nhưng của một nước Văn Hiến Lễ Nghĩa, không thể phong Giáo Sư cho một người chưa từng được tốt nghiệp Đại Học. Một chức danh như Giáo Sư Danh Dự cũng có thể được chính thức ký, nhưng cũng không có, vì nguyên nhân dưới này.

Chúng ta sẽ nói rõ hơn con người tạ Quang Bửu sau, khi chúng ta so sánh với "ông X". Còn ở đây, em nói về một sai lầm rất lớn của Tạ Quang Bửu. Sau khi làm Hiệu Trưởng Bách Khoa, ông thỏa hiệp dễ dàng với dân háo danh, thực chất là tham nhũng chính trị. Ở đây về sau xuất hiện "cử tuyển", đảo lộn cơ chế "dòng giống" chính thống của giới Khoa Học. Đại khái, có nhiều người học bổ túc rồi được "cử tuyển" thẳng vào đại học, trong khi học, các Thầy là cấp dưới, nhiệt tình "giúp đỡ" các "lão thành" mà tuổi trẻ đã hy sinh cho Cách Mạng. Sự tham nhũng chính trị này đương nhiên nhanh chóng bị tha hóa, khi những kẻ chả cống hiến gì cũng được dự những kiểu học hành như vậy, và có bằng cấp chính thức. Điều này thì dư luận suốt mấy chục năm nay biểu tình khản cổ rồi, em không lập luận thêm nữa.

Trong số những người thờ Tạ Quang Bửu làm thầy kiểu đó, có nhiều người sau làm lãnh đạo cao cấp, lại là Giáo Sư chính thức chứ không như thầy của họ, một mực từ chối chức đó cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Tạ Quang Bửu luôn dạy học trờ, cấp dưới rằng, "tôi không phải Thiếu Tướng, tôi không phải Giáo Sư". Nhưng những học trò kiểu đó, đạo học đã giả dối, thì sao biết chữ Nghĩa với chữ Thầy. Để đánh bóng cho mình, họ tự nhận là học trò của một Giáo Sư. Rất nhiều chức Giáo Sư, Kỹ Sư có vẻ chính thức sau này cũng do chính Tạ Quang Bửu ký, nếu lộ ra ông không phải là Giáo Sư, Kỹ Sư, thì hóa ra họ nhận vơ lạc loài là con cháu của Khoa Học. Tạ Quang Bửu là người Tây Học, vậy, chúng ta nên làm theo ý ông, không nên bắt chước lũ lạc loài, vô đạo, trái nghĩa.

Một điều rất khổ tâm cho một số trí thức thi đúng, học đúng, nhận bằng đúng mà do Tạ Quang Bửu ký. Đa phần họ sau này dùng các chức vụ khác, như Tiến Sỹ do người Tiến Sỹ nào đó chinh tông ký, hay Giám Đốc, hay Bộ Thứ Trưởng, Hay Tướng Tá. CHỉ còn những kẻ vô dụng bất tài, Học Giả Vờ một cách chân thực,  mới ôm cái chức Kỹ Sư Bách Khoa Tạ Quang Bửu mà vô đạo với ông Giả Thầy của mình. Một chữ là thầy, còn Tạ Quang Bửu lại thật sự là ông thầy lớn, như em sẽ kể về sự nghiệp của ông bên tay dưới đây.


Một đời Tạ Quang Bửu chỉ là danh hão, nói ông là Giáo Sư nhưng chưa hề được phong bởi bất cứ tổ chức nào. Thật ra, chức danh Giáo Sư cũng là tính công, không phải tính cấp, một người trình độ không cao, bằng cấp không cao hoàn toàn có thể được công nhận là Giáo Sư chính thức. Nhưng không tổ chức nào phong điều đó cho Tạ Quang Bửu, vì công của ông dù to, cũng không bù được tội "lộn dòng", đảo ngược chính thống với học thuật.
Đó là điều ngược hoàn toàn với Trần Đại Nghĩa, nhà bác học có nhiều văn bằng lớn, được làm nhiều chức vụ quan trọng trong các công ty lớn, và chỉ có Bác Hồ đặt một phát vào chức vụ tư lệnh vũ khí, phong một lần làm Thiếu Tướng đợt đầu, được các Viện Hàn Lâm chính thống, lại là loại lớn của châu Âu mời làm thành viên chính thức.
Bác Hồ, ánh sáng của dân ta, đã hành xử khác nhau với hai con người khác nhau đó. Nay Bác Đã đi xa, chúng ta phải tự soi đường bằng trí tuệ của mình, liệu một chiều như bác Đoàn có phải là không được sáng tỏ lắm không ?

Vai trò của Tạ Quang Bửu trong Quân Giới là gì ??  Cái công lớn của Tạ Quang Bửu mà các học trò lộn dòng vô đạo của ông quên đi là gì ?? Quân lộn dòng vô đạo thì có thể quên vì mục đích tham nhũng danh vọng, chức tước và lợi ích của họ, nhưng chúng ta cần đánh giá đùng về ông.


Tiêu đề: Công việc vĩ đại hay là một tuổi trẻ lêu têu.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 20 Tháng Tám, 2009, 03:06:24 pm
To bác Đoàn. Hôm nay bận quá, từ đêm hôm qua đên giờ bò ra chuẩn bị một đoạn mã, không dám làm gì.
Cái hay của các 4r này là có thể viết song song toàn bộ các phần của một vấn đề, vừa viết vừa PR, vừa nhận feed back, điều đó hoàn toàn khác với giấy bút cổ truyền. Em vừa đọc lại, đúng là bác đúng, quay nhiều quá, không đến 180 độ đâu, nhưng cũng phải 120 độ. Em định trình bầy theo kiểu ý một đường, lời một nẻo, cho dên ăn, nhưng có vẻ em chưa đủ trình làm thế.


Có một Giả Trò của Tạ Quang Bửu có sự nghiệp chính trị lớn, nhiều bồi bút. Nhưng tướng cũng như quân, đám bồi bút này cực kỳ ngu si, đã từng viết tụng ca: "Công trình Bourbaki là niềm tự hào của khối XHCN". Nghe giọng điệu cũng đủ để xác định bồi bút của ông nào đã viết câu này. Đây là tuyên ngôn cực kỳ ngu si, không có cái nào là  "Công trình Bourbaki", những cái có tên Bourbaki mà Tạ Quang Bửu tham gia không phải của khối XHCN. Tạ Quang Bửu và những người cùng làm ra cái có tên Bourbaki hoàn toàn có quyền tự hào về điều đó, người khác kính phục bọn họ vì cái nghĩa rất lớn mà Tạ Quang Bửu gửi gắm trong đó. Tuy nhiên, những Giả Trò vô đạo dốt nát đã cố quên đi niềm tự hào này của ông, họ chỉ đánh bóng cái áo khoác mà ông dùng để làm nhiệm vụ, để phục vụ những mục tiêu dốt nát ti tiện của họ.

Tạ Quang Bửu thi tốt nghiệp Tú Tài xuất sắc năm 1927 về môn toán. Chúng ta biết rằng, cổ học của chúng ta là học văn, học văn làm Quan, còn học toán chỉ làm lại, học văn để làm bồi bút như trên. Ông được cấp học bổng sang Pháp học toán và khoa học tự nhiên cơ bản. Ông học nhiều môn, cả những môn rất mới lúc đó là Vật Lý Lượng Tử. Như vậy, nói "sinh viên Tạ Quang Bửu là người Việt đầu tiên được tiếp xúc với nền học ưu tú... phương Tây" là đúng đắn. Điều này hứa hẹn ông sẽ đi đầu trong sự nghiệp lớn lao của đất nước non trẻ sau này. Tuy nhiên, Tạ Quang Bửu rất thông minh mà thiếu một ý chí quyết tâm để hoàn thành sự nghiệp vô cùng vất vả đó, hay là ông đã hy sinh sự nghiệp đó của mình để đánh đổi lấy cái khác của nhiều người khác. Thưa bác Đoàn bên dưới, em viết thêm câu này, hay là ông đã đổi cái vất vả, cái gian khổ, cái hy sinh một đời của một đệ tử của Bà Chúa Tháp Ngà, để thoả những đam mê đồng bóng.

Ở đây, có thể trình bầy thời sinh viên bên Pháp của Tạ Quang Bửu bằng hai nhận định. Một là con mắt màu xanh, một con mắt màu đỏ.


Tuy không đủ quyết tâm để duy trì ánh sáng sớm có của mình, Tạ Quang Bửu làm một việc có ý nghĩa lớn hơn với một sự nghiệp cá nhân, đó là tham gia "nhóm Bourbaki", gồm những sinh viên trẻ ở Paris. Nhóm này phấn đấu theo một mục tiêu là lập ra một bản đồ các thành tự toán học. Đó là điều có thể là vô nghĩa bên Tây, những sẽ là bản đồ vô cùng quý giá với một dân tộc tăm tối bởi bồi bút dối trá. Dù Tạ Quang Bửu không đủ sức leo lên tháp ngà nới bà chúa Toán Học ở, nhưng ông đã dùng thời gian ngắn ngủi bên Tây để vẽ ra một cái bản đồ cho lớp sau đi. Đây là đạo nghĩa lớn lao mà Tạ Quang Bửu gửi gắm.
Thưa bác Đoàn bên dưới,hay làông đã không đủ chấp nhận gian khổ để đi theo chiều sâu, chiều cao, chiều quý của Toán Học, thay vào đó là nổi lềnh phềnh trên những công bố của Bà Chúa.

Một số người cho rằng, việc đó là thừa, là trái đaọ học. Mỗi con người có năng khiếu, được xã hội đầu tư, phải biết trả nghĩa cho xã hội, là hy sinh cuộc đời, giam mình trong tháp ngà. Nhưng đó là với châu Âu, với dân tộc tối tăm vì bồi bút dối trá, thì còn gì quý hơn cho lớp sau khi có một bản đồ chi tiết những vùng sâu kín nhất, mới mẻ nhất của Bà Chúa Toán Học, những vùng mà một người mới có thể sẽ trả giá rất đắt, là hoang phí năng khiếu hiếm có, lãng phí đầu tư của xã hội khi lạc đường trong đó. Một nhà Toán Học trong tháp ngà Paris, mà những công trình cách xa vời vời vợi dân tộc gần 100% mù chữ, liệu có quý bằng một bản đồ như thế. Tạ Quang Bửu thông minh đặc sắc, nhanh chóng nắm được những vấn đề mới nhất, khó nhất, thích hợp nhất để vẽ tấm bản đồ đó: "Cấu trúc Bourbaki", cấu trúc phức tạp của các phát minh toán học.

Tạ Quang Bửu đã đánh đổi tuổi trẻ nghiên cứu trong các thư viện thâm sâu để làm việc đó. Ông học và đọc về rất nhiều thứ, ở rất nhiều nơi, rất nhiều trường, rất nhiều môn. Ông như một nhà thám hiểm, đi tất cả các nơi vẽ bản đồ, mong sau này những người khác dễ dàng đến đó mà nghiên cứu địa chất, sinh vật, khí hậu... Ông đã xa rời tâm hồn Bà Chúa Toán Học, nhưng lại vẽ bản đồ cho nhiều người đi sau đến với điều đó. Nhiệm vụ mà ông tự đặt ra và tự làm đó mới là đúng đắn, là cần thiết, làn nên làm với một người đầu tiên lọt được vào tháp ngà. Mói một cách chính xác nhất, Tạ Quang Bửu đã hy sinh một khả năng nghiên cứu của mình, hy sinh một chỗ của mình trong tháp ngà để nhiều người sau tiến vào đó.

Đó là cái nghĩa rất lớn, một con người có năng khiếu đặc biệt thông minh đã nhanh chóng tìm ra "thiên mệnh" của mình. Ông đã khám phá thế giới hoàn toàn mới, đặc biệt cao quý sâu kín của khoa học. Tính cao quý của nó là vô cùng với một dân tộc tối tăm ngàn năm vì bồi bút dối trá.


Nhưng cái gì cũng có giá cả. Tạ Quang Bửu về nước, nổi danh, đặc biệt thông minh, nhưng như một mũi khoan công phá những điểm sâu kín cứng rắn nhất, mũi khoan làm trọn nhiệm vụ của mình và sớm sứt mẻ. Nghề nghiên cứu toán học cần nhất là tuổi trẻ, tuổi trẻ ngắn ngủi đó ông đã phải đọc rất nhiều, trôi qua nhanh chóng. Tạ Quang Bửu về nước là một trí thức, nhưng không chuyên môn, không nghề nghiệp. Nhưng chính những cái đó là tấm gương để các ông Thông, ông Phán cần nói theo.


Chúng ta biết rằng, thi hết cấp 3 điểm cao mới chỉ là thể hiện năng khiếu của một đưa trẻ mà thôi. Một đưa trẻ có được cái đó, mới bắt đầu sự nghiệp học hành chính thức, vô cùng vất vả của mình. Thật ra, những khả năng nghiên cứu lớn nhất, học tập lớn nhất, được luyện tập sau thời đó, tức là thời con người ta 17-27 tuổi. Sau thời luyện tập đó, con người ta mới hấp thụ được những kiến thức lớn nhất cần dùng cho một chuyên gia, và có lẽ, người ta chỉ có khả năng làm việc trí óc tốt nhất sau 45 tuổi nếu như định làm một nhà thiết kế kỹ thuật, nghiên cứu hóa chất, y khoa, sinh vật, nông nghiệp hay công nghệ nói chung.

Với toán học, câu chuyện hơi khác. Đến 32 tuổi, một nửa đại não đã bị phá hủy, ai cũng vậy. Tuổi và đại não không đợi nhà toán học ngâm cứu lâu la. Những phát minh toán học là của tuổi trẻ. CHính vì vậy, ở châu Âu, những năng khiếu toán được phát hiện và bồi dưỡng rất sớm. Sau những nỗ lực vượt bậc công hiến cho khoa học, những nhà khoa học trẻ này thường giữ các chức vụ giáo viên, hay nghiên cứu mở rộng, hay tổng kết các cônhg trình. Nó như là vận động viên bóng đã vậy, anh là một năng khiếu, rồi huấn luyện viên, rồi ông bầu. Cứ thế, toán học lưu truyền, lớp lớp người lần lượt trở thành những chiến sỹ tiên phong, rồi lui về chuẩn bị lớp tiên phong mới. Vật lý lý thuyết cũng vậy, vì bản chất ngành này là toán.

Lĩnh vực của mỗi nhà toán học hay vật lý lý thuyết đảm nhiệm rất hẹp. Galoi ( Ga-Loa ),  Albert Einstein  (Anh-xtanh viết kiểu thời cũ) chỉ có một công trình của tuổi trẻ, rất hẹp, là đủ. Nhưng khi làm huấn luyện viên, rồi ông bầu, càng ngày lĩnh vực họ quan tâm càng rộng, họ không còn đủ sức khoan sâu nữa, mà cần nhìn rộng để chỉ đường lớp sau. Nhưng dĩ nhiên, chỉ có  Franz Beckenbauer và những cầu thủ tầm cỡ mới thành những huấn luyện viên tầm cỡ. Chính vị vậy, các chức vụ nghiên cứu lão thành ở châu Âu đều do các cầu thủ toán học siêu sao thời trẻ đảm nhiệm. Để trả nghĩa xã hội đã phát hiện và bồi dưỡng tài năng của mình, thì các siêu sao này phải chọn lấy một đề tài hẹp, nhốt mình trong tháp ngà, hy sinh tất cả để tận dụng tuổi trẻ ngắn ngủi.

Xem lại Tạ Quang Bửu. Tuổi trẻ của ông lêu lổng khắp các trường. Hay là ông là chuyên gia thi cử, học để thi cử như lối học ngàn năm bồi bút sao ??. Không nghiên cứu toán học, ông đã phụ lòng những người đầu tư, nhà trường, thầy bè. Chính Tạ Quang Bửu đã giết chết một nhà toán học Tạ Quang Bửu. Ông ta tưởng rằng tuổi trẻ không cần khoan sâu, chỉ cần lêu lổng thôi, là đủ làm lão thành một đất nước có con số không về toán học sao?? chính điều này đã làm ông ta trở thành trò cười của viện Toán và trường Tổng hợp sau này. Một ông Giả Học chân chính. Người ta giễu cợt gọi đó là "trường phái Tạ Quang Bửu".
Nếu như ông chủ tâm không học toán, thì sao ông không học lấy một caí gì đó thực dụng cho Kháng Chiến, cho gia đình, cho họ tộc. Việc chỉ huy thợ thuyền cắt sạch động cơ máy công cụ có phải là quá dốt nát không ??
Ông ra vẽ tấm bản đồ, nhưng cũng không chuyên tâm và không một lần khoan sâu để đủ lực vẽ tấm bản đồ đó, "trường phái Tạ Quang Bửu" chính ta tên giễu cợt dành cho tấm bản đồ dở dang sau này.
Một tấm bằng duy nhất là nhảy đầm, một cuộc đời chỉ toàn Giả, một tội tầy đình là cắt sạch động cơ của Tula Việt Bắc. Đang lẽ phải đi tiên phong đánh phá lối học văn ngàn năm bồi bút, ông tạ đã quay ngắt, trở thành tên bồi bút số một. Một nhà Giả Cách Mạng.
Sau khi Giả Cách Mạng thành công, lại khởi đầu một trong những tam giáo cửu lưu không mới, là lớp lớp giả ông đi theo ông này. Hài hước, sau khi ông mất, những kẻ ngu si vẫn tán dương ân nhân của họ bằng những thứ mà vì đã chót theo Tây Học, ông ta còn xấu hổ dài nơi chín suối.
 



Vị trí của Tạ Quân Bửu trong Quân Giới là hiệu triệu thợ thuyền, chúng ta làm sao có thể cho một ông Tú Tài, càng không thể cho một ông Bác Sỹ... làm xếp Quân Giới. Tất nhiên Tạ Quang Bửu không biết gì về thuốc nổ, về cơ khí, nhưng là một nhà tự nhiên học, cũng đã biết thiết kế ra một đường điện. Như ngày nay ông không có quyền làm thế do cơ cấu quản lý, thật ra thiết kế một đường điện không khó, cái gọi là thiết kế ở đây chỉ là chọn đồ mà mua, nhưng cũng là một lần Tạ Quang Bửu đã làm việc của Kỹ Sư Tây, Ông Chủ Tây trong con mắt các Ông Thợ. Và tất nhiên Tạ Quang Bửu không học cái thói làm văn bồi bút, ông được các Kỹ Sư Tây kính trọng vì vừa ra khỏi tháp ngà cao quý, tháp ngà đó về trí thức đương nhiên là hơn đẳng các Kỹ Sư Tây, mặc dù Ông Thợ không biết cụ thể Toán Học là gì.
Thế là chúng ta đành phải chế tạo một ông Giả Bộ Trưởng, Giả Tướng, Giả Sư. Chúng ta không muốn thế và Tạ Quang Bửu đại nghĩa càng không muốn thế. Ông đã bỏ vị trí của mình trong tháp ngà cao quý về chiến khu, đâu lại muốn làm Giả, làm Hão. Ông khổ sở biết bao khi nói với các học trò và thuộc cấp là "không Tướng, không Sư". Phải nói rằng, Tạ Quang Bửu là người tiên phong vẽ bản đồ cho hậu thế công phá ngàn năm bồi bút. Nhưng sau khi chết, ông vẫn bị bồi bút bôi bẩn.

Nói cho thật đúng nghĩa, Tạ Quang Bửu thất bại khi làm một trí thức. Ông đam mê khám phá khoa học, có uy tín, nhưng không biết làm một trí thức. Một trí thức như thông, phán, ký cũng biết phận mình mà sống trọn kiếp không khổ lắm, còn Tạ Quang Bửu chết rồi vẫn còn bị "học trò" bôi xấu, tại vì cái tội lộn dòng của ông.

Một con người có năng khiếu, là một con người hiếm có trong một dòng tộc, một địa phương. Nhờ ơn 2 ngàn năm Văn Hiến mà dân ta có cách sử dụng hiệu quả những hạt giống tốt này. Nhưng hạt mần tốt như thế được cả họ, cả làng góp nhau cho đi học, thành tài. Châu Âu cũng như thế, nhưng không làm quan, mà vì Khoa Học. Những người này sớm biết phận, họ sẽ hy sinh cả cuộc đời mình, tự giam mình trong tháp ngà. Nhưng người tự giam mình trong tháp ngà rất ghét những người bỏ tháp ngà mà đi, đó là sự phản bội, phản bội lại thiên mệnh, phản bội lại xã hội đã đầu tư cho họ. Ở châu Á còn có dòng tộc gia đình, còn ở châu Âu chỉ có thiên mệnh, không có gì biện hộ cho điều đó cả. Những nhà khoa học ít nhiều đều có chât tháp ngà, và họ coi Tạ Quang Bửu như vậy.

Em nói cụ thể hơn nữa nhé. Bác có thấy người ta phát rồ thế nào khi mất đi một bác học không ? Tạ Quang Bửu đã tự tay giết chết một bác học, là chính ông. Ông vì dân tộc, vì tổ quốc ?? những cái đó không phải là Khoa Học, không phải là Dân Tộc của những thầy dậy Toán của ông, không phải Tổ Quốc của những người hy vọng ông sẽ phát triển Vật Lý Lượng Tử.



Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: dongadoan trong 20 Tháng Tám, 2009, 03:32:58 pm
Chú quay ngoắt 1800 thế, ở cái link trên kia chú vừa nói cụ TQB không có chút thực tài nào ngoài "nhẩy đầm" kia mà? ;D

Anh không một chiều nhé! Anh chỉ nhắc chú về văn hóa ứng xử còn việc đánh giá một con người thì anh không can thiệp dù rằng anh thấy chính chú mới là kẻ phiến diện!

P/s: Nếu topic này phát triển theo hướng phân tích các khía cạnh cuộc đời và thành tích của cụ TQB thì nó lạc đề rồi!


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 20 Tháng Tám, 2009, 05:43:59 pm

He he he he.
Bác không hiểu thế nào là Tháp Ngà rùi.



Bác Đoàn sẽ kết tội ai khi toàn bộ máy công cụ của ta không có động cơ, khi chúng ta không làm được súng trường, ai đã bỏ phí đội ngũ tâm huyết nhất với Cách Mạng trong công nhân và những công nhân áo xanh đi theo Cách Mạng.



Tuyệt đại bộ phận trí thức thuộc địa là các ông ký, thông, phán... Tỷ lệ Bác Sỹ rất ít, Kỹ Sư gần như không có. Chính các ký, thông, phán là những người làm văn, học văn, nối dòng bồi bút dối trá đê hèn. Trong môi trường đó, Tạ Quang Bửu khác gì mặt trời tiên phong.

Ở ta, công nhân hoàn toàn ngược với Nga. Ở Nga thì các mạng công nghiệp đã diễn ra, số lượng công nhân đã đông, là giai cấp đáy cùng của các thành phố. Nhưng ở ta hoàn toàn ngược, tỷ lệ người tham gia các mặt công nghiệp còn rất thấp, lương công nhân cao so với mặt bằng chung. Lúc đó, công nhân các nhà máy được phân biệt với loại thợ thuyền cổ truyền ở quê, ở quê có Bác Cả, dưới Bác Cả có các Bác Phó. Nhưng công nhân nhà máy là Ông Thợ, cùng tước danh cước sắc với Ông này Bà nọ. Lúc đó, người đủ tiền học đến Tú Tài để làm thông phán rất ít, đại bộ phận những người thông minh não khỏe thất học, một số trong họ may mắn có tấm áo xanh. Đương nhiên, các Kỹ Sư và Ông Chủ Tây dễ dàng chọn lọc ra những người thông minh nhất, điều hiếm có ở các Tú Tài. Chính những người thất học này thật sự tiếp xúc với Khoa Học Kỹ Thuật. Mỗi Ông Thợ, tức loại công nhân áo xanh, tức loại công nhân đã được công nhận là công nhân, thời 1900 đên 194x có lương đủ để nuôi cả gia đình, tậu đất tậu ruộng ở quê nhà, khi về làng được các tiên chỉ kính nể, vì quen biết các Ông Tây, sống ở Thành Phố. Gì chứ, kể chuyện ăn "nước đá" là các tiên chỉ xanh mặt, ở Hà Nội, Hồng Gai mới có, chứ Huyện, Tỉnh lấy đâu ra.

Dĩ nhiên, nhưng Ông Thợ này đa phần kiến thức do Kỹ Sư Tây truyền cho, và tự học. Đã thế, trước đó, đầu họ trắng trinh vì không nếm qua mùi ngàn năm bồi bút dối trá đê hèn. Tây đã cho họ cả cuộc sống, cả kiến thức, làm cho trí tuệ của họ được tháo xiềng mà lớn mạnh. Họ vất vả hơn thông phán, nhưng điều đó chỉ làm họ tình nghĩa, trung thành hơn với với các Thầy Tây và Chủ Tây. Thật ra, Ông Thợ không hoàn toàn là công nhân, mà là công nhân quý tộc, vì đa phần công nhân là cánh thợ áo nâu, Bác Thợ chứ không phải Ông Thợ, vì nghề còn lùn, chưa lên chức Ông, chưa đủ tiền sắm bộ quần áo xanh bằng "vải máy", vẫn tùng tiệm với bộ "chúc bâu" làm từ khung cửi mẹ đĩ ở quê (chúc bâu là bộ quần áo sang trọng với dân quê rồi).

Ông Thợ thường khinh nhờn Ông Phán, Ông Thông, Ông Ký, vì Ông Thợ còn có thói quen chỉ huy, trên được vài người, còn có Khoa Học Kỹ Thuật, còn làm ra của cải, chứ không phải bồi bút, không ở đáy cùng chỉ luôn cúi đầu trong giới của mình. Ở tiệm Cao Lâu Hồng Gai, các Ông Thợ thường diện bộ quần áo sạch nhất, bước lên "thang máy" do người kéo, gọi sâm banh, cốt nát. Còn ông ký, ông thông, ông phán thì lên thang bộ, núp vào bàn bé, gọi khiêm tốn, lại rút thuốc lá tiêu chuẩn bà nhà ra cho tiết kiệm, nên bồi coi thường. Ông Thợ biết tiếng Tây, tuy Ông Thông chê đó là tiếng bồi, nhưng đủ để nói chuyện với Kỹ Sư Tây, lại còn biết cả những tiếng bồi như cờ lê, mỏ nết, bù loong, súp de... mà ông Thông tịt ngóp. Ông Thợ nói chuyện trực tiếp với Ông Chủ và Kỹ Sư Tây, không qua Ông Thông, vì Ông Thông không biết những từ đó, không biết đọc bản vẽ. Chỗ làm của Ông Thợ tuy cùng với Bác Thợ, nhưng khi nói về Ông Thợ, phải dùng từ Sở, như Sở Sàng (xưởng sàng than Hạ Long mới dỡ bỏ chục năm), Sở Mỏ, Sở Máy, Sở Đu Pông (chắc là nhà máy của ông xyz nào đó), danh giá ngang chỗ làm của Ông Phán, Ông Ký Dây Thép (nhân viên bưu điện). Bác Thợ cũng làm ở đó, nhưng gọi là xưởng, là mỏ... vì Bác Thợ không làm ở dây chuyền trung tâm, mà ở rìa mà thôi. Ông Thợ hay được tuyên truyền bên ta là cu li, nhưng không phải thế, coolie là "cánh áo nâu"-đúng ra là phu chứ không phải thợ, tức là nhân công phổ thông. Dân CM nhà ta trình độ tổ chức công nghiệp thì phải biết, làm ngỏm củ tỏi cả THĐ. Bên tiếng Anh cũng có chuyện đó, blue-collar-worker, hay về sau ta gọi là "thợ lành nghề". Ông Thợ trong tiếng Tây là "người thành đạt"-một nghĩa của từ "công nhân", là một từ được tôn trọng, Ông Tây không gọi Ông Thợ không gọi là cu li, mà gọi bằng tên riêng, rất bằng vai phải lứa, lại thân mật hơn chức tước như Thông, Phán, ông Tây rất biết làm chủ, gọi thế để cánh áo nâu biết rằng phải nghe lời cánh áo xanh.
Mình không biết tiếng Tây, ngày xưa cánh áo xanh gọi là ô-vơ-rơ, có thể là ouvrier. Từ này các Ông Chủ tránh dùng vì nó gợi lên tính "giai cấp công nhân" mà các ông chủ rất sợ, nên cả ở ta và ở Tây chính quốc đều xưng hô tên riêng. Việc chúng ta tuyên truyền cánh áo xanh là cu li, coolie, là hoàn toàn sai, đó là từ chỉ "lao động phổ thông", lúc đó dùng từ "phu".

Ông Thợ tuy lương chính thức thấp hơn, nhưng lại thường có thu nhập cao hơn Thông, Phán, Ký vì mỗi Ông Thợ thường quản lý nhiều việc nhiều người, nào là hạ cấp biếu xén, nào là thượng cấp "thưởng công trình", đối tác "bôi trơn". Đôi khi Ông Chủ hay Kỹ Sư vừa lòng, giao cho làm Cai, ăn Khoán, thì khác gì Ông Chủ con, Kỹ Sư con. Ví dụ: "chỗ kia xa, lắm muỗi lắm, mày đem xyz thằng vào đó liệu mà làm, hàng tuần tao vào thu than", hay tươm hơn nữa "mày về quê nhặt độ một tá thằng khỏe mạnh tin tưởng làm xyz..." thì cả họ được nhờ.

Những Ông Thợ bậc 5 (thang hiện tại) trở lên thì danh giá lắm, giầu có lắm, ở Hồng Gai rất hiếm Thợ lắp kết cấu bặc 5 đổ lên (đặt khung, tán đinh... ), hổi 191x còn phải thuê Ông Thợ danh giá từ tận Thượng Hải, sau này mới có Thợ An Nam, cũng lại đi chinh chiến tận Phi Luật Tân, Tân Gia Ba mới oai. Đến 193x thì Hồng Gai, Hải Phòng đã có đủ các nghề cần cho chiến tranh: nồi hơi (và động cơ nói chung), lắp máy (có cả tán hồi đầu tk và nay thêm hàn), cắt gọt, nhiều nhất vẫn là thợ mỏ, nếu chúng ta chủ ý xây dựng Tula Việt Bắc trong núi, thì không thiếu thợ mỏ bậc cao nhét đủ 3 cái Tula Việt Bắc vào hầm ngầm. Thợ rèn công nghiệp, khác với thợ rèn nông thôn, cũng rất nhiều, nhiều thứ 2 sau thợ mỏ vì công cụ ở các mỏ cần làm mới liên tục. Đặc biệt, ở Hà Nội chưa có điện khí hoá, chứ Hồng Gai, Cẩm Phả điện khí hoá cao độ, bễ rèn ở đó chạy điện, còn ở Hà Nội điện khá đắt. Cái thiếu là hàn hồ quang, mặt này Tây Phú Lãng Sa hơi dốt so với Nga. Đi kèm với điện khí hoá là đông đảo đội ngũ thợ điện.

"Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sỹ" là câu truyền đời nói về dân học văn bồi bút. Ông Thợ có thể kính trọng nho giáo theo truyền thống gia đình (đa phần Ông Thợ là con nhà nho giáo, do có trí tuệ nên dễ hấp thụ kiến thức Kỹ Thuật và lên chức, đồng thời thu nhập rất cao so với nông dân. Như các ông trẻ mình còn là con nhà quý tộc). Học văn mà làm quan Ông Thợ còn nể đôi phần, chứ Thông Phán Ký thì Ông Thợ không nể lắm.

Thật ra, đấu tranh vũ trang mới chỉ là màn sơ khởi của Cách Mạng, màn chính là cách mạng Học Thức là cốt lõi, cách mạng Công Nghiệp là lớn nhất. Như vậy, lớp công nhân áo xanh mới là những người tiên phong trong cái lớn nhất của Cách Mạng. Sau này chúng ta cũng thể hiện trình độ công nghiệp hoá chả hay ho gì, xuất phát ban đầu là lớp áo xanh năm 1944-1945, chúng ta hoàn toàn không biết cách tổ chức công nghiệp từ một tổ, một ông áo xanh.



Quân Giới của chúng ta thì chủ lực là thợ, thợ áo xanh. Đối với họ, Ông Tây, Kỹ Sư Tây là cái gì đó thiêng liêng. Làm gì có Kỹ Sư An Nam, trong khi ra đường đầy toét ra cánh áo trắng Thông Phán Ký. Mà Ông Chủ Tây, Kỹ Sư Tây có giống Thông Phán Ký đâu, họ cũng dầu mỡ, cũng sảng khoái, chứ có lúc nào cũng cúi đầu như bồi bút ngàn năm đâu, áo lúc nào cũng sạch sẽ trắng toát đâu. Từ trong thâm tâm, Ông Thợ coi thường cái kiến thức của Trí Thức loại Ký Thông Phán, làm gì có cái nghề nghiệp nào. Tri thức phải như ông Kỹ Sư Tây kia, phải biết cờ lê, bù loong, phải biết đọc bản vẽ, phải làm ra của cải xã hội. Đối với Ông Thợ, Kỹ Sư Tây mới là trí thức, mới là học vấn, mới là Thầy. Với Ông Thợ, Ông Chủ Tây mới là bản lĩnh, mới là tài cao. Với Ông Thợ, bên cạnh Kỹ Sư Tây thì chỉ có Bác Sỹ là người hiểu biết Khoa Học, nhưng mỗi người mỗi nghề.

Chúng ta biết rằng Ông Thợ trên Thế Giới cho đến nay kém được tôn trọng. Nhưng ngày đó, do tỷ lệ được đi học còn rất thấp, nên Ông Thợ khác ngày nay. Các Ông Thợ nổi tiếng là ai: Degtriarev, Kalashnikov, hay tính rộng ra có Edixon. Sự cao quý của Ông Thợ khỏi phản bàn, Tokarev muốn được làm Ông Thợ không được, vì chót mặc áo trắng mất rồi  ;D ;D Thế Ông Thợ giỏi quý phái hơn hay Viện Sỹ quý phái hơn, à, Ông Thợ Degtriarev được làm Viện Sỹ Hàn Lâm. Ông Thợ Edixon được phong Giáo Sư. Xem ra có trên dưới thật.  ;D ;D

Trước đây, đã có nhiều phân tích về việc phát động cách mạng trong giới Công Nhân. Mà công nhân áo xanh mới là cần thiết cho Tula Việt Bắc. Các nhà CM coi công nhân áo xanh là một bọn rất khó giác ngộ. Loại Trí Thức cùng lắm là thông phán ký, thêm được giáo, thì Ông Thợ đã không nể lắm. Mà mấy nhà CM với Ông Thợ cũng như Tạ Quang Bửu với Khoa Học, phần lớn là cu li, là áo nâu, chưa thể chứng minh trí lực sánh với Ông Thợ, càng không thể sánh với Chủ Tây.

Phải nói rằng, các Ông Thợ lên chiến khu chỉ vì lòng yêu nước mà thôi. Thật may mắn vì đa phần Ông Thợ là con nhà nho giáo, hiểu đạo nghĩa non sông. Điều đó đáng quý hơn rất nhiều những người đi theo CM vì đói, vì muốn làm chủ, hay vì tức giận ông chủ, hay đơn giản là không có việc làm nuôi thân. Thậm chí, tinh thần yêu nước của cánh áo xanh cao quý hơn những người làm CM chỉ vì muốn thể hiện, muốn khám phá, muốn làm súng vì say mê, muốn trải nghiệm tuổi trẻ.
Bác Đoàn à, đáng quý nhất khi lên chiến khu là cánh Áo Xanh và các Thầy Đồ, mà cánh Áo Xanh lại đa phần là con nhà Nho, như Bác Tôn, Bác Hồ đó. Nhưng khác với Bác Tôn, Bác Hồ, cánh áo xanh đa phần không được học hành, họ cần người lãnh đạo.

Bảo áo xanh làm CM hơi khó. Họ có cuộc sống khá giả. Họ có đạo lớn với Chủ Tây, đã cho họ cuộc sống khá giả đó. Họ có nghĩa lớn với Thầy Tây, các Kỹ Sư đã cho họ thấy Khoa Học Kỹ Thuật. Bảo họ làm CM vì áp bức đô hộ ư, mỗi Ông Thợ cũng áp bức đô hộ mấy ông áo nâu, CM lật ai ?? Bảo họ xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc ư, ôi chà, ai mà bỏ giầu có đi tìm ấm no. Thực tế là như vậy, sau 1946, đa phần Ông Thợ ở Hồng Gai bỏ về quê, kiếm sống rất vất vả, nhưng họ không phản Tổ Quốc, cũng không phản Chủ Tây, Thầy Tây. Nhiều người khó khăn quá sau khoảng 1949-1950 laị ra Hồng Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê, nhưng ủng hộ cả hai ông chủ là Tổ Quốc và Ông Tây bằng cách đi làm cho Ông Tây nhưng lại gật gù với Cách Mạng.

Em ví dụ về một Ông Thợ năm nay đã gần một trăm tuồi, nhưng còn khoẻ lắm. Ông Thợ này là cháu đít nhôm của một ông Chánh Tổng, cái Tổng này là quê hương của các Hoàng Đế. Việc các Ông Thợ ở Xe Lửa Gia Lâm và Hồng Gai đi bộ đội do em tổng kết từ một số Ông Thợ, đáng tiếc là không có cách gì lên danh sách tất cả họ. Các Ông Thợ đều con nhà học hành, nhưng bản thân họ lại học thấp, vì sao vậy. Thợ ngày nay khác thợ ngày đó. Ví dụ về động tác tán đinh trên cầu Long Biên, một người thợ cầm cái kìm dài gắp một cái đinh tán nóng đỏ, dùng kìm ném cho người khác, người thợ trên cao bắt cái đinh tán nóng đỏ đó bằng cái kìm dài cầm hai tay. Ví dụ trên chỉ là một ví dụ đơn giản về thân pháp Ông Thợ. Trong lò rèn, Ông Thợ đo nhiệt độ bằng màu của lửa, phân tích thành phần phôi bằng tia lửa bắn ra khi nện búa, Ông Thợ nện búa nhanh chậm mạnh nhẹ theo từng nhiệt độ, từng loại thép. Ngày đó giới Ôntg Thợ còn ít lắm, cái Ông Thợ năm nay đã gần một trăm tuổi kia và các Ông Thợ khác lúc còn sống thường kể về người đã đặt chốt cáp cầu Hàm Rồng, sau "kỹ công" này, được có cái hàm Bá Hộ, 9 ngàn đồng Đông Dương, đủ mua hơn một ngàn cái Tí nhà Chị Dậu.
Để có được các thân pháp đó, Ông Thợ phải được đi làm từ năm 10 tuổi, như đào tạo một diễn viên vậy, Degtriarev cũng vậy, các diễn viên này không được học nhàn nhã. Chính vì thế, các diễn viên này thường cười vào mũi loại trí thức thông phán ký, loại bồi bút đáy cùng xã hội bàn giấy này là loại lười biếng hay loại đẻ non của các gia đình sinh con cầu tự, cùng là gia đình khá giả, nhưng các Ông Thợ cần học nhiều thứ hơn nhiều, học lâu hơn nhiều, có lúc được ngẩn mặt chứ không luôn phải cúi đầu.

Ông Thợ ở châu Âu là một từ đáng kính trọng. Văn minh châu Âu bắt đầu bằng các Ông Thợ. Ban đầu, công nghiệp châu Âu hùng cường ngày nay là các nhóm thợ, gồm ông chủ gọi là Thợ Cả (từ gốc của ô vơ rơ , công nhân), người có tay nghề nhưng không vốn đi làm thuê là Thợ Bạn, những người không nghề là Thợ Học Việc, dưới Thợ Học Việc mới là cu li, lao động không nghề nghiệp, lap động phổ thông. Thợ Cả và Thợ Bạn là từ lấy trong các tổ chức nhóm thợ cổ truyền ở An Nam, người có nghề đi cùng Bác Cả gọi là Đi Bạn, Thợ Bạn.

Đứng trên góc nhìn, cách nghĩ của một Ông Thợ đi. Mỗi Ông Thợ sẽ hẩy mũi vào khả năng thành công của Kháng chiến khi tách rời họ ra khỏi Kỹ Sư Tây. Chúng ta đã làm như thế khi tách rời máy cắt gọt ra khỏi động cơ. CHính vì thế cần một ông học khoa học tự nhiên, được Tây nể vì hiẹu triệu các Ông Thợ. Thằng Tây thâm độc nó đã chuẩn bị sẵn một thứ đồ giả từ hàng chục năm trước, đồ giả này lãnh đạo các Ông Thợ tháo máy cắt gọt ra khỏi động cơ của chúng, lừa các Ông Thợ bỏ Kỹ Sư Tây lên chiến khu với một tên học giả chưa bao giờ tốt nghiệp đại học.

Các Ông Thợ lên chiến khu, họ có nghề, nhưng không có Khoa Học. Tạ Quang Bửu là Giả Khoa Học, là con số không về cắt gọt, vầ thuốc nổ, về tổ chức. Và các công nhân đã không có lãnh đạo, nhiệt tình bê bừa bãi máy móc lên chiến khu để rồi bỏ phí. Tula Việt Bắc không bao giờ được xây dựng. Kết tội ai ở đây ?



Một cái dở hơi nhất với Tula Việt Bắc là các Ông Thợ không còn oai nếu tham gia cách mạng, về chức tước trong CM, Ông Thợ bây giờ không còn là xếp, mà mấy áo nâu bây giờ lên Ngài, Ngài gì, Ngài dốt ư. Lúc đó, thợ áo xanh ở ta còn rất hiếm, đặc biệt là những thợ chuyên ngành cần thiết cho một xưởng như Tula Việt Bắc. Em ví dụ, phần lớn công nhân nhà máy Xe Lửa Gia Lâm theo ta đã ra tiền tuyến, làm bộ đội, đây là sự hoang phí khủng khiếp nếu đứng trên con mắt ông X khi format Tula Việt Bắc. Nhà máy xe lửa Gia Lâm là cơ sở công nghiệp lâu đời, đủ các thợ lành nghề về nồi hơi, lắp máy, cắt gọt, điện, rèn công nghiệp, đặc biệt là có nhiều thợ và máy mài khổ lớn. Bác Đoàn ợ, máy mài là máy cắt gọt đầu tiên để gia công các máy cắt gọt khác nếu thiếu, nó là máy cắt gọt đa năng, làm được mọi thứ, còn tiện phay khoan là máy chuyên ngành, chỉ làm một thứ. Máy mày làm ra máy khoan, nhưng máy khoan không làm ra máy mài. Về sau, khi đưa các giải pháp kỹ thuật của ông X trên Tula Việt Bắc, bác sẽ thấy máy mài. Không đâu ở Miền Bắc lúc đó có các máy mài quý giá như ở đó cả.



Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: dongadoan trong 20 Tháng Tám, 2009, 07:47:23 pm
Chú xem lại đây là topic bàn về cái gì? Chú luôn để cái ngón tay gõ phím của chú nó dẫn chú đi chứ không phải cái đầu! Nếu chú không quay  lại vấn đề Kỹ thuật quân sự VN là anh chuyển topic của chú sang chỗ khác đấy!

Ngoài ra, nhắc chú về việc nhận xét con người, đừng đem ý nghĩ chủ quan của mình áp vào tất cả!


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 07:15:31 am
Chú xem lại đây là topic bàn về cái gì? Chú luôn để cái ngón tay gõ phím của chú nó dẫn chú đi chứ không phải cái đầu! Nếu chú không quay  lại vấn đề Kỹ thuật quân sự VN là anh chuyển topic của chú sang chỗ khác đấy!

Ngoài ra, nhắc chú về việc nhận xét con người, đừng đem ý nghĩ chủ quan của mình áp vào tất cả!

Hừ, bác làm em mất cả hứng.
Hôm qua em bận quá.Đọc lại cũng thấy lộn xộn. Em định xếp lại chút.
Quả đúng là cái tên Tạ Quang Bửu này nhiều người bênh thật, cô giáo em là Hoàng Xuân Sính luôn tránh nhắc đến ông này. Nói về ông ta thì chỉ cần thế là đủ. Em chốt lại một câu nhé, ông ta là người cắt sạch động cơ máy công cụ của Tula Việt Bắc.

Có một câu chuyện nói về động cơ, năm 1950 có hội nghị lớn, một Ông Thợ đã hết sức vất vả khi lắp máy phát điện cho Hội Nghị, máy phát điện này không lớn, chỉ để chiếu sáng thôi mà, nó như cái máy dùng cho gia đình bây giờ. Lúc đó lắp máy phát rời vào động cơ ô tô, Ông Thợ này không tính được vòng quay, công suất lên lắp mãi không xong. Vậy từ năm 1947 đến 1950 Trần Đại Nghĩa đã làm Bazooka bằng gì ?? Chính vì lý do đó mà Bazooka Việt Bắc là "kỹ công" vĩ đại. Em nói trước cho bác một điểm nhé, Trần Đại Nghĩa đã lên kế hoạch nấu rượu để chạy động cơ-tất nhiên đi kèm việc cải tiến động cơ, nhưng vì không đủ sắn gạo cho việc đó lên công việc cũng chỉ dừng ở thử nghiệm. Chính ông là người phát minh ra dây chuyền làm acid bằng chum sành mà em đã kể, thậm chí, từ acid sunfuaric, ông chế acid nitric bằng phân dơi và nitrat amoni bằng nước đái. Tất cả những khó khăn đó có chỉ do sự dốt nát của Tạ Quang Bửu mà thôi. Dù có cố đến mấy, thì Trần Đại Nghĩa cũng không thể làm súng bắn đạn viên trước 1954.



Bác kết tội ai đã gây ra chuyện đó, hay là đổ hết cho thằng Tây độc ác ?? Thằng Tây có độc ác bằng thằng Đức phát xít không, tại sao Estonia vẫn làm được MP bằng thủ công, tại sao du kích Ba Lan, Hà Lan làm được Sten. Tại sao Phần Lan làm được Suomi tốt nhất của ww2 ?? Tại sao ta không làm được súng.


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Tám, 2009, 08:25:13 am
Theo anh thì chú nên viết chuyên sâu về kỹ thuật, không nên bàn về con người (con người khác hẳn với quy lát và "máy súng",...). Ngoài ra, những bài viết của chú nên bám vào một chủ đề cụ thể, đừng lan man. Lan man kiểu chuyển sang tăng gia, sản xuất với những "gà, lợn" là anh xóa đấy! ;D


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 10:15:33 am
Theo anh thì chú nên viết chuyên sâu về kỹ thuật, không nên bàn về con người (con người khác hẳn với quy lát và "máy súng",...). Ngoài ra, những bài viết của chú nên bám vào một chủ đề cụ thể, đừng lan man. Lan man kiểu chuyển sang tăng gia, sản xuất với những "gà, lợn" là anh xóa đấy! ;D

Bác buồn cười nhỉ.
Một khẩu súng dù của Tula Việt Bắc hay Spring Field cũng phải làm từ đủ thứ. Sắt, gang,than, củi, gỗ, da bò, mỡ lợn, rượu, dầu, xăng, đay, thầu dầu, nước đái, phân dơi, quặng firit. Vì làm mỗi khẩu súng cần nhiều việc to lớn phức tạp như vậy nên ông X là một người vĩ đại.
Còn gà, à, mỗi khi có một niềm vui gì thì Tula Việt Bắc cũng tiêu thụ gà, như ngày thành lập xưởng, như 100 khẩu súng trường ST-1 đầu tiên ra đời, hay lúc thử thành công mẫu súng trường tự động STTD-1, hay ngày sản xuất 1 triệu khẩu STTD-1, hay ngày bắt đầu sản xuất súng trường xung phong STXF-1. Song song với chuỗi đó, gà cũng dùng khi DP Việt Bắc ra đời. Hay là lúc khẩu pháo tự hành nào đó dùng để đánh Phủ Thông được cải tiến từ xe tăng Tây hay xe nửa xích Tây thu được... chiến thắng trở về. Đó có lẽ là khẩu pháo tự hành, chiếc xe tăng ngộ nghĩnh nhất quả đất, vì mỗi trận nó lại được đóng mới một lần, thay vũ khí khác, theo trinh sát và yêu cầu của chỉ huy.

Bác nhầm đấy, cái quan trọng nhất với Tula Việt Bắc là người và gạo. Spring Field không cần người và gạo, vì họ cũng dùng những thứ đó, nhưng quá dễ kiếm nên không cần để tâm, còn với Tula Việt Bắc người và gạo là chuyện sống còn.

Nòng cốt của cách mạng không phải là cu li coolie, không phải là chiến binh, không phải giả học Tạ Quang Bửu, mà là ô vơ rơ, là công nhân áo xanh bác Đoàn à. Vì dùng đúng cái nòng cốt đó, mà Liên Xô thành siêu cường, còn Tầu chết đói vì lấy cu li, lấy phu đi đánh Cả, đánh Xếp, đánh ô vơ rơ. Châu Âu đã được ô vơ rơ làm cách mạng trở thành hùng cường, ở đâu cũng thế, cách mạng lành mạnh nhất đều có ô vơ rơ làm tiên phong, làm nòng cốt. CHúng ta bảo công nhân là cu li tức là làm nhục họ, là cách mạng không lành mạnh. Sự ngu tối đó có từ đâu, từ Tạ Quang Bửu.

Mục tiêu của Cách Mạng là tổ chức lại xã hội, là công nghiệp hoá, chứ không phải tranh giành quyền lực hay chiến tranh bác Đoàn à, chiến tranh chỉ là bất đắc dĩ thôi, tranh giành quyền lực chỉ là phụ phẩm không mong muốn của những nỗ lực phi thường thôi. Công sự lớn nhất mà đội quân Cách Mạng cần tiến công là lối học ngàn năm bồi bút, tiên phong của cách mạng là Kỹ Sư, nòng cốt của cách mạng là ô vơ rơ.



Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Tám, 2009, 10:17:05 am
Vậy tóm lại chú muốn viết gì trong topic này nào?


Tiêu đề: Mài
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 11:59:39 am
Mài là máy cắt gọt đầu tiên. Từ mài, có thể làm ra khoan, tiện, phay, đột, dập, cưa.... Tất cả máy móc ngày nay đều có tổ tiên xa xưa là những chiếc máy mài. Máy mài được coi là máy gia công đa năng nhất, có thể làm được mọi thứ, ngày nay được thay thế bởi phay tự động trung tâm, CNC center.

Mài phải dùng đá mài. Loại đá mài thô hiện này được làm công nghiệp, họ dùng một loại keo gốm gắn những hạt ô xít nhôm, rồi nén thành những hình như ý và nung, còn gọi là thiêu kết. Đá mài tự nhiên có nhiều loại, ở nước ta rất phổ biến là loại cát kết, như ở Côn Sơn, loại cát kết ở ta mềm, nhưng rất nhiều. Ở Việt Bắc có nhiều mỏ ngọc tự nhiên, ở đây cũng cho Tula Việt Bắc rất nhiều lưỡi dao gia công vật liệu siêu cứng, như kim hoả chẳng hạn, và các mỏ ngọc này cũng rất nhiều đã mài tốt, tuy hiếm có hơn cát kết, nhưng tốt.

Một máy mài quay đơn đơn giản cũng đơn giản, nó quay như cái guồng xe tơ, chỉ khác là làm bằng sắt gang, làm bằng lò rèn. Đá mài tự nhiên được pha, mài và dùng ốc vít bắt lên đĩa quay, ốc vít của Tula Việt Bắc lấy từ ray tầu hoả và các nhà máy Tây thời 1945-1946, ốc vít không hao nhiều sau những lần thay đã mài. Các lò rèn phôi cho đã mài cũng ràn luôn cái guồng, trục, bạc cho đá mài. Nếu như bắt được một thằng Tây đi xe đạp, một ô tô xe tăng hỏng, một máy bay rơi... thì rất có thể các vòng bi rất hiện đại được lắp cho đá mài. Nhưng có lẽ, chỉ những đá mài quan trọng nhất và nhiều thứ khác được ưu tiên vòng bi hơn là đá mày quay đơn.

Máy mài quay đơn và lò rèn tự nuôi nhau trong 9 năm kháng chiến mà không cần cung cấp gì ngoài than, phôi.


Máy mài phức tạp hơn chút là máy mài phôi quay. Phôi quay chầm chậm vài vòng một giây trong khi đá mài quay nhanh, cũng có khi dùng đá mài cố định phôi quay nhanh nhưng chỉ dùng với phôi nhỏ. Đá quay đặt trên giá đỡ di động bằng vít me, thật ra giống hệt một cái máy tiện, chỉ khác là dao tiện thay bằng đá quay. Loại máy mài này khó làm bằng lò rèn, có thể lấy trộm từ Chủ Tây thời trước 1947, nhưng cũng ít được dùng. Khối lùi của Suomi làm bằng nhưng máy này. Chúng hơn máy tiện ở chố gia công được những vậy liệu rất cứng.



Máy mài quan trọng nhất là máy mài ghi, mà cánh áo xanh lấy được ở Xe Lửa Gia Lâm. Một đoàn tầu hoả kéo theo đến 2 toan than, năm bẩy toa hàng, vừa đi vừa dỡ đường đằng sau nó, và toa hàng quan trọng nhất là cỗ máy mài ghi. Các cần cẩu và xe tải đợi sẵn ở Phố Lu hay Thái Nguyên, nhanh chóng đem cỗ máy quý giá vào rừng, hàng sư đoàn bộ đội bí mật xoá dầu vết dẫn đến quân xưởng Tula Việt Bắc và sẵn sàng chắn chặn địch bảo vệ cỗ máy mài ghi, trong khi đoàn tầu hoả và những hàng hoá còn lại quẳng vội vàng trên đoạn đường sắt cụt. Điện rất thiếu, nhưng một chiếc xe lu hay một ô tô lớn đi theo máy mài ghi và hóa thân thành máy phát điện cho nó. Đây là đoạn phim mơ ước khi có đạo diễn là ông X.

Tại sao máy mài ghi quan trọng thế. Đây là máy mài khổ lớn, đá quay được đặt trên ray hành trình chính xác. Người ta dùng các kích chỉnh vị trí của phôi và ray hành trình đá mài, nhờ đó chế tạo được những chi tiết máy rất lớn, như ghi tầu dài hàng chục mét. Những máy tiện khoan mới sẽ được máy mài ghi chế tạo, nòng pháo hỏng sẽ được máy mài ghi cưa ra thành nòng súng máy. Cỗ máy mài ghi danh giá trên sau này sẽ được đặt trong tủ kính chèn đầy khí trơ ở bảo thàng chiến tranh với các chú thích như là "thủy tổ pháo binh Việt Nam", "Thủy Tổ xe tăng Việt Nam", "Thủy tổ súng trường Việt Nam", nhưng danh giá nhất là "Thủy Tổ của máy cắt gọt Việt Nam".

Với máy mài ghi, thì phần lớn một chiếc máy tiện, máy khoan, máy chuốt nòng được thực hiện dễ dàng. Phần còn lại thì kể cả gia công bằng giũa cũng được, vì khối lượng cắt gọt không còn nhiều. Việc lắp ráp các chi tiết có thể được thực hiện bằng bù loong.
Một cái máy tiện đầu tiên được làm từ máy mài ghi, phôi là ray tầu hỏa, các chi tiết được thiết kế để khớp vào nhau như mộng đồ mộc, bắt phụ thêm là ốc từ đường tầu hỏa, thêm một chút đúc gang. Vít me là ốc từ đường tầu hỏa hàn nối vào nhau. Bắt phôi vào cái máy tiện này rất lâu vì nó không có kẹp đồng tâm mà dùng bù loong thường. Truyền động là hộp số ô tô, khi không còn hộp số thì cái ô tô cũng không cần động cơ nữa và nó hiến nốt động cơ cho máy tiện. Vòng bi cũng vậy, vòng bi nhỏ lấy từ ô tô, loại vòng bi lớn nhất lấy từ tầu hỏa. Cái máy tiện này cũng như cái máy mài phôi quay đầu tiên.
Với một Kỹ Sư giỏi, một ô vơ rơ sẽ mài được toàn bộ một cái máy tiện mà không cần hộp số ô tô. Kể cả một vít me dài cũng mài và giũa được, nhưng có lẽ loại vít me làm từ bù loong sẽ hiệu quả hơn, chiếc máy tiện đầu tiên sẽ làm ra vít me tốt hơn là mài. Từ máy đầu tiên đó, các máy khác dần dần xuất hiện theo yêu cầu.


Mài tinh và đánh bóng thực hiện bằng bột mài mịn. Bột mài mịn không khó chế tạo, nếu không đủ sức làm bột bằng vật liệu cứng như o xit nhôm thì làm bằng đá mềm, như o xít silic, hao hơn nhưng có. Tula Việt Bắc có cách làm bột đá riêng của mình. Đá được đổ lên sàn lát đá, trâu bò kéo các trục cán đá lăn qua lại. Vụn đá được quét dọn rồi sàng sẩy, rồi rây, gõ. Bột đá "cao cấp" có thể làm bằng cách "sang trọng hơn" là giã trong cối giã gạo chạy bằng nước của đồng bào.
Bột đá được trộn với keo da trâu và đúc, tạo hình.


Keo da trâu thì lấy từ trâu bò. Cho đến những năm 199x thì những vùng gần đồng bằng như Lục Ngạn vẫn nuôi trâu bò bằng kiểu nửa thả rông. Đàn trâu có con đầu đàn đeo cái mõ, tự nuôi nhau trong rừng, người chủ chỉ làm cho chúng một cái lều rộng. Mấy tháng mới lên thăm một lần lấy trâu về cày, vực và thịt. Tên đàn ông đan cuối cùng mình chứng kiến nghèo nhất Suối Hấu, mới lập ra đình, ở lại nhà vợ, mà nhà vợ mẹ góa con côi, hắn ta có 8 con trâu. Tula Việt Bắc có thể thiết kế lại những khung dệt của đồng bào cho đỡ tốn nhân công hơn, nhân công dư ra đồng bào chăm chút đàn trâu, và nhiều cách nữa để có đàn trâu kháng chiến dành cho Tula Việt Bắc. Sau này, chúng ta cũng tổ chức nuôi trâu bò lợn kiểu này, nhưng không có Ông X, công việc này có quy mô nhỏ và chỉ để lấy thịt.

Trâu làm được nhiều việc hơn là làm đá mài. Chúng cung cấp thịt sữa cho thành phố bí mật trong hang núi, chúng làm dây đeo súng, bao đạn, dây lưng... Chúng cũng làm găng tay bảo hộ cho Tula Việt Bắc.

Trâu cũng cung cấp mỡ, nhưng có lẽ mỡ lấy được nhiều hơn ở lợn và cây lấy dầu như vừng lạc hay thầu dầu. Mỡ vừa làm mỡ máy, vừa cung cấp glycerin để làm thuốc súng. Các dung môi làm thuốc súng cất từ thông, trẩu. Rất có thể báng súng của ST-1 được sơn mài và không ai cấm khảm trai.


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 12:01:20 pm
Vậy tóm lại chú muốn viết gì trong topic này nào?

Em viết Tula Việt Bắc của ông X. http://www.quansuvn.net/index.php?topic=8859.msg137540#msg137540


Tiêu đề: Giũa
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 12:17:18 pm
Giũa là "máy cắt gọt chính xác" đầu tiên, sau khi máy mài gia công thô, giũa sẽ gia công tinh. Toàn bộ máy cò của các súng có thể làm từ giũa và lò rèn. Giũa cũng cho ra những công cụ gia công năng suất cao hơn như khuôn rèn dập.

Giũa của Ông Thợ khác với giũa ngày nay. Ngày đó, mỗi lò rèn đều tự làm lấy giũa, khi giũa cùn, người ta "băm" lại trong lò rèn. Như vậy, khôg cần "nhập khẩu" gì, thì lò rèn công nghiệp thời 194x đã có thể gia công được rất nhiều thứ. trừ các lỗ khoan thì toàn bộ quy lát và máy cò của Mosin có thể làm từ giũa và mài. Các lỗ khoan phần này của Mosin đều nhỏ, thực hiện được trên máy nhỏ, thập chí cái máy chỉ là khoan tay kéo dây da, mũi khoan làm từ hồng ngọc bích ngọc ở các mỏ Việt Bắc.

Giũa có thể làm từ gang hay thép mềm, với thép mềm, các ông thợ vất vả hơn vì phải ủ thấm carbon trước khi băm. Gang tốt là ray tầu hỏa, đây là thứ nguyên liệu quý giá mà các sư đoàn bộ đội gánh đến đối lấy súng đạn. Máy cò được làm từ đinh ray, đinh ray được rèn thành phôi cho giũa, sau khi giũa xong, chi tiết được thấm carbon cho bền, rồi có thể đánh bóng.

Cái lỗ bánh răng truyền động, lỗ bắt ốc khung máy tiện có thể được khoan bằng một kiểu đục hay khoan thủ công thô, rồi làm đẹp bằng giũa. Vit me làm bằng giũa và mài tốt. Một bộ kẹp đồng tâm của máy khoan, máy tiện làm được từ ba bù loong, giũa lấy răng và bánh răng đai. Một kẹp đồng tâm của mũi khoan cũng được gũa từ bù loong, cối đai bên ngoài phải tiện hay khoan, hơi khoai, nhưng những máy khoan đầu tiên bắt vít cố định luôn mũi khoan, không cần.

Đường ray là nguồn nguyên liệu vô tận để làm giũa, máy cắt gọt chính xác của Tula Việt Bắc. Cũng không ai cấm các thợ giũa làm ra đồng hồ mang nhãn hiệu Tula Việt Bắc từ vỏ đạn pháo.



Tiêu đề: cưa
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 01:53:57 pm
Vollmer là chuyên gia gia công tấm mỏng. Ông khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng bằng cách bán một vài phát minh liên quan đến cưa tấm mỏng. Sự đời đưa đẩy ông trở thành nhà phát triển MP Đức, đặc trưng bởi phần lớn các chi tiết là tấm mỏng.

Cưa là khâu đặc biệt quan trọng của Tula Việt Bắc. Các sư đoàn bộ đội được phát "cưa gấp" gọn nhẹ, có cả lưỡi cưa sắt và lưỡi cưa gỗ, dĩ nhiên cũng đóng mác Tula Việt Bắc. Các cưa này dừng để cưa ray tầu hỏa thành từng đọan và gánh về nhà máy bí mật trong lòng núi.

Cưa khó làm hơn là máy tiện và máy khoan nòng của Tula Việt Bắc. Tula Việt Bắc sẽ có một công trình nghiên cứu lớn mang tên "chế tạo lưỡi cưa từ thép mềm", thép mềm lấy ở toa xe, đầu máy, tầu địch, ô tô, nóc nhà của địch, thùng phuy, dát mỏng bằng đinh ray. Những người thợ sẽ tìm ra phương pháp thấm carbon, thấm ni-tơ hiệu quả dưới sự hưỡng dẫn của ông X. có thể, một vài nhà hóa học sẽ được huy động để phân tích thành phần kim loại cho công trình nghiên cứu này.

Bột than củi và bột đá vôi cùng chút muối, nước, được chế tạo từ các "máy giã" chạy nước suối, cộng thêm phoi tiện khoan được lèn vào giữa các tấm tôn mềm, được cho vào các lọ sành tráng men đạy kín và bịt chặt bằng đất sét, có một lỗ thông hơi nhỏ. Lọ được cho vào trong lò kín cách nhiệt bằng đất sét và a mi ăng, các nhà khoa học tìm ra một loại thép không rỉ để đo nhiệt độ qua điện trở, mà làm bằng vàng cũng không đắt, đồng hồ đo điện chạy bằng pin, pin làm từ than chì trong pin cũ và gang ngâm nước muối, loại đồng hồ này yếu, nên được đấu vài chục quả pin, đặt trên một xe cút kít. Có thể đá vôi được thay bằng loại váng hố vôi (bi-carbonat), đương nhiên Tula Việt Bắc có lò vôi, một vài hố vôi nông và rộng sẽ chuyên sản xuất bột carbonat và bi-carbonat. Nước đái sẽ cho ra amoni, thứ này cho ra sunfat amoni, được dùng để thấm ni-tơ. Phân dơi cho ra nitrat, thứ này dùng để thấm NO. Các nguyên liệu cho nhiệt luyện này nhu cầu không nhiều nên dễ kiếm.

Nhờ thiết bị đo hiện đại mà các Kỹ Sư nhanh chóng tìm ra cách chế tạo thép cứng từ tôn mềm. Công trình này sẽ làm các Ông Thợ tin tưởng vào cách mạng hơn của giả Tạ Quang Bửu, đây mới là trí thức, đây mới là Kỹ Sư, Kỹ Sư Cách Mạng giỏi hơn Kỹ Sư Tây, Kháng chiến nhất định thắng lợi.

Lò rèn và giũa nhanh chóng cho ra khuôn ép tạo hình cưa, máy ép là ê tô. Nếu không có ê tô thì ê tô được chế tạo từ ray tầu hỏa, vít me là bù loong. Thậm chí một vào máy cán quay tay được chế tạo để cán mỏng đinh ray chính xác và năng suất cao.

Phương pháp thấm carbon mới còn được ứng dụng trong nhiều thứ ngoài cưa. Với thấm carbon và bột mài mịn, vòng bi cũng được lò rèn làm thủ công, tuy không tốt lắm và làm rất mất công, nhưng đảm bảo nhu cầu vòng bi. Dĩ nhiên nguồn vòng bi lớn nhất là từ xe pháo hỏng của địch. Các bộ phận của ST-1 sẽ bền hơn vì được nhiệt luyện kiểu này, đặc biệt máy cò được làm từ thép mềm. Phương pháp này cũng biến dây thép mềm thành lò so. Nòng súng nhiệt luyện kiểu này đảm bảo độ bền như súng Tây.

Để làm bi, một máy đo chính xác đến 1/100mm được chế tạo bằng kính lúp. Các thấu kính cần thiết được mài từ thủy tinh, thủy tinh quý hiếm được lấy từ kính hoặc chọn được một ít thạch anh tự nhiên. Nhưng Kỹ Sư sẽ làm một vài con dao nhỏ từ đá cứng như ngọc, vít me nhỏ làm từ bù loong, dao được gá trên ê cu, chia độ cho thước đo dưới kính lúp. Tuy rất chậm, nhưng số lượng vòng bi cần hàng năm cũng không nhiều. Lúc đó, phương pháp mài quay để mài thấu kính cũng được châu Âu áp dụng mấy trăm năm rồi. Những loại thép măng gan quý hiếm như xà beng nhãn hiệu Tây sẽ được dùng làm vòng bi "hàng hiệu", còn bi "hàng chợ" thì làm bằng gang. Bi "hàng hiệu" đã nhiệt luyện xong được mài bằng bột mài bóng quý hiếm, vừa mài vừa đo. Ban đầu ray tầu hỏa làm bằng gang cầu được pha bằng cưa thủ công, được mài thô rồi được mài trên máy mài bi tự chế bằng gỗ, keo da trâu và bột mài mịn. Các bi hình trụ được lắp thành vòng bằng théo mềm rèn từ đinh ray, các lỗ khoan nhỏ đầu bi hình trụ làm từ mũi khoan bằng đá cứng, bi cầu cũng được đóng vòng đai làm bằng đinh ray rèn, gắn bằng tán đinh hay hàn. Ổ vòng bi được mài từ gang đúc, yếu thì làm to một tí, nếu có cái nòng pháo hỏng thì có ngay ổ bi tốt.
Thật ra, đoàn tầu đã chở máy mài ghi lên Phố Lu đã có cả gần trăm vòng bi rồi, đủ cho rất cả các máy công cụ của Tula Việt Bắc, nên việc làm bi chỉ là giải pháp dự phòng. Vòng bi cũng có thể làm mặt hàng ông X mua dự phòng cùng với lưỡi dao cắt gọt trong KH45.

Những vòng bi quý hiếm được sử dụng làm máy cưa đĩa, dĩ nhiên, để tăng tuổi thọ của đĩa cưa quý giá, thì ống tưới nước được làm từ tre nứa. Máy cưa đĩa chạy trên ray mài từ ray tầu hỏa và vi chỉnh chính xác bằng giũa, có vòng bi chính xác, sẽ xẻ ray tầu hỏa thành các chi tiết phức tạp như mũi khoan nòng.

Do thép cán là nguyên liệu quý hiếm, nên Tula Việt Bắc không sản xuất MP38/40/41, mà chơi luôn PPSh hay Suomi nếu cần. Nhưng ban đầu, mặt hàng chủ lực của Tula Việt Bắc là mười vạn khẩu súng trường ST-1 . Có thể làm mũi khoan không dùng cưa, nhưng nếu sản xuất được cưa, thì bộ đội dễ "khai thác nguyên liệu", mũi khoan, mũi tiện, mũi phay làm ra nhanh hơn, tiết kiệm nguyên liệu hơn. Mỗi km đường sắt sẽ cho ra hai ngàn ST-1, thậm chí là bốn ngàn nếu cưa tốt và nhiều nữa nếu dùng loại nòng ngắn mà phôi làm nòng chỉ 70cm thay cho một mét. 100km đường sắt từ Phố Lu đến Lào Cai là đủ cho kế hoạch KH47 của ông X.


Tiêu đề: Đục, chạm, bào.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 02:35:44 pm
Trước khi trở thành máy phay công nghiệp, thì các động tác thủ công tên như vậy.

Đục là đục xuyên qua một khối kim loại. Chạm là lấy đi phần mỏng trên mặt-ví như làm một rãnh, bào cũng như thế, nhưng ăn mỏng hơn. Các động tác này không cho kích thước chính xác, nhưng là của lò rèn tự trồng được và làm cho giũa chỉ cần thêm một chút, hiệu quả cao.

Loại lưỡi đục, chạm, bào tốt nhất là làm từ thép hợp kim tốt. Gang cứng nhưng không làm được vì giòn. Nhưng nếu không có hợp kim tốt, thì các công nhân đường sắt ngày nay vẫn làm đục từ đinh ray trong lò rèn. Vào 194x, các động tác thủ công vẫn còn nhiều trong các xưởng công nghiệp châu Âu, nên đại đa số các thợ rèn đều thạo làm các loại búa và lưỡi đục. Để làm đục từ đinh ray, người ta tạo hình lưỡi rồi nhiệt luyện, sau khi thấm rất nhiều carbon thì tôi, những mặt tránh thấm carbon được che bằng đất sét. Lưỡi đục kiểu đó có phần ngoài rất cứng, bên trong lại mềm, nên không gẫy mà vẫn sắc. Khi đục cùn, người ta lại cho vào lò đến khi đục ngắn quá không dùng được nữa thì chuyển sang làm việc khác, như lưỡi bào.

Bào thép thường là loại bào cánh ngắn và có tay nắm rộng, nhờ đó luồn được bào các vị trí hẹp. Lưỡi bào thép rất hẹp so với lưỡi bào gỗ để công nhân đẩy không nặng, chiều ngang lưỡi bào chỉ vài mm. Người ta cũng chỉnh bào thép như bào gỗ, nhưng đa phần các bào thép điều chỉnh bằng ê cu. Bào làm khó hơn đục, nhưng bất cứ cái bào nào cũng chỉ có một vài bột phận rèn, một số cái mài giũa cho đẹp, cho chính xác nhưng đa phần chỉ rèn. Ngày nay bào thép đã gần như mất giống.
Chỉ có thợ "siêu" mới làm được lưỡi bào, nhưng cũng chỉ bằng rèn mài thôi, không cần gì khác. Bào cho độ chính xác cao hơn chạm, thân bào cũng có một vài loại thích hợp với mục tiêu như bào gỗ. Thông thường bào được dùng để gia công tinh các vị trí đục chạm.

Những lỗ đục lớn được đục vòng quanh bằng đục hẹp. Sau đó thành lỗ được chạm bào gọt và cuối cùng là tinh chỉnh bằng giũa. Những khe rãnh được thực hiện bằng chạm, sau đó bào bằng cả bào đáy và bào thành. Một kiểu giũa máy hay được dùng để làm rãnh nhanh hơn bào là loại giũa tròn quay, thường được dùng trong sản xuất lớn, loại này cũng tự chế trong lò rèn.

Ví dụ, các lỗ kết cấu của khung máy cắt gọt làm từ ray tầu hỏa sẽ được đục. Nếu như loại gang này cứng quá thì không ai cấm nướng đỏ lên rồi mới đục, lúc đó, sẽ có 2 thợ đục, mỗi thợ có một cái đục to kẹp bằng tre, mỗi lần đục lại nhúng nước, 2 thợ thay nhau đục cho nhanh không phôi nguội, hai thợ đục ngồi cạnh nhau ở giữa, hai bên là hai thợ phụ quai búa, thợ phụ không quay mặt vào nhau mà hơi chéo về phía trước.

Ngoài lỗ, nhiều điểm lớn cũng dùng đục phá trước, sau mới mài, giũa.

Như vậy, khung giá máy cắt gọt đã được thực hiện, tiếp theo các khung giá bằng ray được bắt xiết lại với nhau bằng bù loong cũng từ đường sắt. Bù loong này ngắn và hình dang đường ray rất củ chuối. Điều này sẽ làm đau đầu các kỹ sư của Tula Việt Bắc, nhưng họ lại có dịp chứng minh rằng bản lĩnh của họ cao hơn Kỹ Sư Tây trong con mắt các Ông Thợ.

Kháng chiến lại nhất định thắng lợi.




Tiêu đề: khoan phá
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 02:51:41 pm
Có một số lỗ không thể đục chạm bào mài giũa được. Ví dụ cái nòng đại bác. Khi đó, người ta khoan phá trước. Khoan phá khác khoan tinh ở chỗ độ chính xác không cao. Ví dụ, cái nòng đại bác được khoan phá một lỗ khoảng 20mm trước, rồi phá lần hai cái lỗ còn cách đường kính thật khoảng 4-5mm, sau đó là máy chuốt làm việc. Cái lỗ khoan đầu tiên có thể dùng các loại mũi nhảm nhí không chính xác.

Trời cho Tula Việt Bắc rất nhiều mỏ ngọc, trong đó có nhiều loại đã cứng cỡ từ vào mm đến hàng cm. Loại tinh thể hồng ngọc bích ngọc cỡ 1-2mm rất nhiều, nay được dùng làm bạc đồng hồ. Ở một căn cứ nữa nếu có, là Tula Nghệ Tĩnh cũng có Phủ Quỳ, Tây Nguyên không những nhiều lưỡi dao gọc cho khu năm mà còn có cả volphram để làm súng máy. Đá cứng được gắn lên mũi khoan bằng cách đục lỗ, tán qua để giữ và sau đó đổ đồng bằng bỏ hàn hoặc đèn cồn. Có thể khi khai thác lưỡi cắt gọt, công nhân tìm được các tinh thể to thì Kháng Chiến lại nhiều tiền mua thuốc men cho thương binh.

Loại lưỡi khoan bằng đá cứng không chính xác như lưỡi khoan hợp kim, nhưng khoan thô thế là đủ. Các lỗi khoan trên quy lát Mosin, Mauser và máy cò đều khoan được bằng loại mũi khoan này mà không cần khoan tinh thêm.

Những lỗ đục trên ray tầu hỏa cũng được khoan phá trước khi dùng giũa và mài làm cho chính xác.

Loại mũi khoan này cũng được dùng khoan đá nếu như các thợ mỏ cho Tula Việt Bắc vào lòng núi. Bộ đội tập trận giả vờ át tiếng nổ mìn, đất đá được xe goòng đổ xuống thung hay sông tránh máy bay phát hiện. Thợ mỏ có rất nhiều, chỉ sau mệt năm, một lò chợ trong lòng núi đã hình thành khoảng ít nhất là 1km, lúc đó các lò nhánh được đào với tốc độ 300 mét một ngày, đủ nhét toàn bột Tula Việt Bắc trong núi đá sau cùng lắm là 2 năm. Một số thứ không để được trong núi như lò rèn, lò vôi thì lại dễ xây dựng lại khi địch nhảy dù phá hủy. Hầm ngầm chỉ là kho và máy cắt gọt thôi.




Tiêu đề: Khoan nòng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 03:14:30 pm
Từ mài, giũa và một vài đoạn ray tầu hỏa, hoàn toàn có thể làm được một máy khoan nòng, nếu có khung gầm đầu máy, toa xe, ô tô, xe tăng nữa thì có cả loại máy đẹp. Các lỗ kết cấu được đục qua ray bằng đục, rồi tạo hình đúng bằng giũa, bắt bằng bù loong. 2 hoặc 3 thanh ray dựng đứng lên và được mài lại chính xác làm ray trượt của đầu khoan. Một đầu khoan thô sơ không cần kẹp đồng tâm, ô vơ rơ rất mất công để chỉnh mũi khoan, nhưng chỉ cần một lần thôi. Mũi khoan phá dài một mét được mài từ ray tầu hỏa, loại gang này cho độ chính xác rất cao . Đầu mũi khoan được cưa ra để lắp vào đó các hạt đá cứng lấy từ mỏ ngọc. Nếu ông X mua được hợp kim crom-nicken thì không cần phức tạp như thế. Rãnh thoát phoi nông được làm từ mài hoặc chả cần, vì mũi hồng ngọc cho ra phoi bột. Bắt chước châu Âu, đặt phôi khoan trong thùng nước, nếu không có nước xà phòng hay glycerin chống rỉ không sao, cho ít rượu vào cũng được, mà không cho thì các ô vơ rơ tăng thêm công lau chùi dầu mỡ một chút.

Động cơ của máy khoan nòng ST-1 là một hoặc hai con trâu, dựng đứng lên vì vậy, trâu được quật để đi vòng quanh học từ lò ép mía, truyền động là các bánh răng được chế tạo từ mài, đục và giũa. Động cơ này cũng được một vài kw, đủ cho khoan và tiện. Đừng cười, các bạn trẻ không biết rằng đến trước WWII thì máy cắt gọt kim loại, máy cắt gọt gỗ, máy dệt, máy gặt.... ở châu Âu vẫn nhiều nơi kéo bằng ngựa. Nếu máy khoan đặt trong hầm ngầm hẹp thì năng suất trâu giảm đi một nửa, vì hai đội trâu kéo dây khoan tiến lui, Ôntg Thợ chuyển chiều truyền động bằng một hộp số nhỏ.

Với sự giúp đỡ của một vài bộ phận từ ô tô, hay tự làm lấy bằng giũa, thì có thể làm ra máy khoan ngang, máy ngang này dễ dàng thực hiện chốt nòng tinh bằng dao đẩy kéo, Lưỡi dao là hợp kim tích trữ được hay lại là đá cứng mỏ ngọc, được lắp vào giữa dao, dao xuyên qua lỗ khoan thô và được kéo căng, phương pháp này nhà ta vẫn dùng để làm nòng 12,7mm bác Đoàn nhỉ.

Dao đẩy kéo là một thanh gang dài 2 mét, xẻ và mài từ ray tầu hỏa, có hình tròn, có hai phần, một phần đường kính 6mm, một phần bằng đường kính trong nòng súng . Phần giữa dao hơi lõm xống để lắp lên một lưỡi dao, là viên đá cứng gắn trên đầu một thanh thép. Lưỡi dao cũng có thể lắp bằng cách xuyên phần ren qua chỗ lõm bên kia dao. Cũng dễ dàng lắp 2-3 lưỡi dao cho cân lực. Cũng có thể phần nhỏ (phần kéo) là thanh thép khác lắp vào đầu dao bằng ốc vít cùng với các lưỡi dao.

Độ chính xác của khoan tinh đạt được bằng cán dao, chạy trên ổ bạc đỡ là chính cái lỗ mà nó vừa tạo ra, nên phương pháp trước đây là khoan từ phía sau nòng ra phía trước, vì lúc mới vào lỗ chưa chính xác dồn cho phần buồng đạn. Người ta bơm dầu qua ống nòng súng để cán dao đỡ mòn và cũng là làm nguội, dầu có thể thay bằng nước xà phòng đặc, xà phòng làm từ mỡ lợn nếu như không muốn lấy luôn mỡ lợn khoan nòng. Các mũi khoan súng hiện đại ngày nay chỉ đẩy, không kéo, năng suất cao, có thể phần cán dao rời lắp vào bằng vặn ren, nhờ đó dễ thay thế đảm bảo chính xác. Thành cán dao xẻ rãnh dọc bằng cưa, mài, chạm, bào... để dầu bôi trơn đi qua.

Dao đẩy kéo của Tula Việt Bắc không như dao hiện đại, nó ít bị biến dạng nên loại kim loại không hợp là gang bền hơn, trong khi lưỡi dao được hiêu chỉnh, ví dụ như các khe lắp nghiêng, trượt dọc rãnh nghiêng làm thay đổi đường kính lỗ khoan.

Ông X cũng chế tạo các giá phôi có vai trò như container tiêu chuẩn. Các giá phôi này được gia công chính xác như ray máy khoan. Các phôi được gá lên đó, khi chuyển máy thì chuyển cả giá phôi và không cần hiệu chỉnh mất thời gian, tận dụng số giờ máy. Cái này cũng được dây chuyền hoàn toàn tự động làm nòng AK ngày nay sử dụng. Chỉ có khác là AK khoan đẩy (khoan đùn) một lần cả phá lẫn tinh bằng lưỡi cắt carbuar volphram, 3 phút một nòng. Không có lưỡi cắt này, nhưng trời cho Tula Việt Bắc sở hữu những mỏ ngọc lớn nhất nhì Thế Giới.

Mỗi nòng 80cm sẽ phải mất một giờ để khoan phá và 10 phút để khoan tinh, thêm 10 phút để chuốt rãnh xoắn, thời gian lắp ráp phôi 3 lần là 10 phút. Cộng lại là một giờ rưỡi. Mỗi ngày trung bình mỗi máy làm được 10 súng, để sản lượng đạt 100 súng một ngày, thì cần 10 máy, trong đó có 6 máy khoan phá, 2 máy chuốt tinh và 2 máy chuốt rãnh xoắn. Cứ 2 tháng, KH47 trang bị súng trường đủ cho một sư đoàn. Kế hoạch KH47 có chỉ tiêu là 10 vạn súng trường tiêu chuẩn ST-1 hoàn thành cuối năm 1949, sau một năm chuẩn bị của KH45 và một giai đoạn trung gian, chưa ổn định đầu KH47. Sau khi đủ máy vào giữa năm 1947, sản lượng đạt mức cao và sản lượng vẫn tăng cho đến năm 1949.

Nhưng mà, nếu như thế thì chúng ta lại phải viện trợ ST-1 cho Tầu Khựa năm 1950, có lẽ vì thế mà Tula Việt Bắc không bao giờ được xây dựng.


Máy khoan nòng này giống hệt của người Mèo. Nhưng ông X là một nhà bác học đi học ở châu Âu về, không phải người Mèo, nên sản phẩm không phải là súng kíp người Mèo, mà là ST-1. Độ chính xác đạt được vì ông X làm được ray trượt chính xác, ray trượt này rất bền vì có độ cứng cao, loại dầu máy quý giá không phải mỡ bò mỡ lợn hay dầu vừng sẽ được cất giữ cẩn thật, ưu tiên cho máy khoan nòng.



Tiêu đề: Ngọc và tự nhiên.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 04:11:06 pm
Việt Bắc có những mỏ ngọc tầm cỡ Thế Giới để Tula Việt Bắc làm dao. Có thể, Tula Việt Bắc không đặt ở Việt Bắc, mà ở Tây Bắc, trên khoảng từ Lào Cai sang Lai Châu. Ở đây xa địch, đồng bào thưa, tiện cho bí mật. Ở đây cũng nhiều hang núi tự nhiên và núi đã sau đó sẽ che phủ các hầm ngầm. Ở đây cũng có những dòng suối cao, tiện cho các máy công cụ chạy bằng guồng và rất có thể là một vài trạm thủy điện. Bên Cao Bằng-Hà Giang-Lào Cai-Lai Châu có các mỏ đồng, kẽm, chì, thiếc, sắt, than. Rất nhiều thông để lấy nhựa làm dung môi thuốc súng và sơn. Thông còn dùng làm củi khi đàn động cơ trâu chưa phát triển, nhưng tất nhiên điều đó chỉ có nếu Tạ Quang Bửu không lột sạch các nồi hơi, các máy nổ chạy than của Tula Việt Bắc.

Cả Việt Bắc và Mù Cang Chải đều nhiều hang lớn có nhiều phân dơi, để làm đạn cho ST-1 trong giai đoạn đầu khó khăn nhất, khi các cánh đồng đay chưa thu hoạch và các máy nén khí, lò acid chưa hoạt động.

Tula Việt Bắc cũng có thể đặt ở chân núi Yên Tử, mạn huyện Sơn Động, cũng suối cao, rừng thông, thêm vào đó là mỏ than. Ở đây cây sơn nhiều hơn Mù Cang Chải, sơn sẽ là chất kết dính cho loại thuốc viên rắn hiện đại bậc nhất Thế giới của ST-1. Sơn cũng dùng bảo vệ báng súng, phoi tiện khoan có rất nhiều để làm đen sơn, ST-1 chắc là có báng màu đen bóng, rất bền. Ngày nay trong bảo tàng chiến tranh sẽ có vài khẩu ST-1 có seri 0, 1, hay 00000, hay 11111, hay 99999 được khản xà cừ, nạm vàng bạc, ghi chữ đề tặng những danh nhân, như các quân xưởng danh tiếng trên Thế Giới

Tula Việt Bắc cũng có thể đặt ở Cao Bằng, nhiều khoáng sản đa dạng, lại có thác Bản Giốc làm thủy điện. Nhà máy thủy điện đặc biệt của Tula Việt Bắc không hồ, không đập gì cả, những ống gang dẫn nước của Hà Nội, Hải Phòng được dùng làm ống áp lực đặt trên những dòng suối nhỏ lưu lượng độ 1 mét khối một giây, dễ dàng kiếm được một con suối như vậy có độ cao 100 mét, cho công suất lý thuyết 1000kw. Một trạm nhỏ cao 10 mét thì bản nào cũng có, cho 100kw. Một trạm nhỏ nữa chỉ 100 lít một giây, cao 10 mét, cho 10kw, đủ cho một máy công cụ chạy với hiệu suất 50%.

Sản lượng điện quý giá của Tula Việt Bắc không phải hoang phí đến nỗi thay cho tất cả các động cơ trâu. Phần lớn các máy có động lực là dòng nước sẽ phải dùng guồng nước cổ truyền, như các máy bên châu Âu trước WW2. Các máy của Tula Việt Bắc đặt trong một xưởng cỡ một huyện, nhưng người lập kế hoạch siêu đẳng và Bộ Đội đến lấy súng sẽ giúp vận chuyển các bán sản phẩm. Lượng điện ít ỏi có được chủ yếu dùng cho các máy nén khí, điện phân, tia lửa của hóa chất.

Chúng ta đặt Quân Xưởng ở Tuyên Quang là đúng, ở đây có đủ các điều kiện như trên. Nhưng một nhà lập kế hoạch , ông X, sẽ phải dỡ ray tầu hỏa tập kết ở Việt Trì hay Phố Lu, vận chuyển lên Tuyên Quang bằng đường thủy, chất thành hàng ở bờ sông, để quân địch nhảy dù tưởng là một chiến lũy bỏ hoang. Chúng sẽ cười các anh hùng của Tula Việt Bắc, bỏ đi mà không đủ sức phá chiến lũy này. Hay là các bãi vật liệu được gài mìn và đánh dấu vị trí mìn, hoặc một số vật liệu ném xuống đáy sông, cho vào hang núi.... rất nhiều cách để bảo vệ 30km đường sắt của KH47. Sau này, Bộ Đội còn gánh ray tầu hỏa đến bổ sung vật liệu, nhưng một kế hoạch "khai mỏ" ban đầu đảm bảo Tula Việt Bắc sớm ổn định sản xuất. Đường sắt cũng làm luôn ray goòng khi các công nhân mỏ đào hầm ngầm cho Tula Việt Bắc trong lòng núi, cũng không cấm chính ray tầu hỏa này chống trần các hầm máy trước khi nó được xây kiên cố bằng đá và vôi.


Một điều đặc sắc của ST-1 Tula Việt Bắc là nó được gia công phần lớn từ các lưỡi dao bằng ngọc. Chúng ta không có thợ mài ngọc, nhưng điều đó được các Ông Thợ và Kỹ Sư khéo tay thông minh chế tạo cùng với các máy cắt gọt ban đầu làm bằng ray tầu hỏa. Các mũi khoan phá được làm từ loại đá quý nhỏ 1-2mm. Một số loại đá cứng lớn cỡ cm mà không quý được dùng làm lưỡi khoan, tiện, phay. Chúng có tốc độ chậm, nhưng sản xuất của Tula Việt Bắc không phải cạnh tranh với hãng nào hết.

Một lượng lưỡi dao hiện đại cũng có thể được ông X lo xa bỏ vài kg vàng ra mua trong KH45. Một tấn hợp kim-vật liệu làm lưỡi dao phổ biến lúc đó có thể được chở từ châu Âu, như Thụy Điển về năm 1946, đủ dùng làm dao cả 9 năm. Lúc đó trên Thế Giới đã có kỹ thuật làm dao gốm, có thể một cộng sự của ông X cũng đi tây học về sẽ làm được dao gốm từ các lò thiêu kết nhỏ, chúng ta cũng có mỏ volphram để làm carbur volphram, một lò hồ quang nhỏ được đặt tại Hà Nội hay Quảng Ninh để tạo vật liệu làm lưỡi dao. carbur volphram điều chế xong không có coban để làm gốm ?? không sao, làm kết dính sắt cũng được, không cần loại rất tốt, chỉ tốt là đủ. Tuy nhiên, khả năng làm dao gốm trong thời đó hầu như bất khả thi.

Một nguồn lưỡi dao có được từ các nòng pháo hỏng mà địch bỏ lại, nòng súng hỏng không dùng được nữa, phải là súng máy Tây chính hiệu, chúng sẽ được cắt, mài làm lưỡi dao chế ST-1. Loại này khá chịu nhiệt, khá cứng, lại dễ gia công con dao. Mỗi nòng FM hay La Mi sẽ cho ra 50 lưỡi dao, đủ cho việc chế tạo hàng ngàn AT-1. Nếu như có một nòng pháo phòng không 37mm thì có lẽ cả Tula Việt Bắc sẽ mở hội ăn mừng "lễ lưỡi dao". Độ 10 cái nòng xe tăng hỏng là đủ toàn bộ 9 năm một loại dao trung bình.

Để tiết kiệm lưỡi dao gia công tinh, các phần thô sẽ được cắt gọt từ dao không lưỡi làm bắng gang. Những mẩu ray tầu hỏa sau khi đã cắt ra phôi để làm nòng súng, sẽ được tận dụng. Sau này, khi về Hà Nội người ta thấy câu "dụng nhân như dụng mộc" mất tích, mà ngày nay pà con khi trà mạn sẽ nói "dụng nhân như dụng gang ray".

Việc thay dao làm giảm tốc độ sản xuất của KH47, thế thì máy tiện của Tula Việt Bắc sẽ có hai bệ dao hai bên, có thể mỗi bên 2 bệ dao chung một ray và vít me.


Tiêu đề: Chuốt rãnh xoắn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 05:16:58 pm
Bên trong nòng súng. công đoạn 3 là cuốt rãnh xoắn.

Cho đến nay, có một số phương pháp chuốt rãnh. Tula Việt Bắc thò có một tỉ cách chuốt rãnh theo một ti tỷ loại thép mà nó kiếm được.

Phương pháp cổ nhất dùng cho súng trường là dao tam giác, từ 185x đến gần hết tk19, trước khi Mauser và Mosin ra đời, chuốt rãnh tam giác dầy. Dao là một thanh gang, đầu thanh gang này phình to ra hình côn. Đầu côn này được rạch các rãnh tam giác và để lại các cánh hoa nhọn, các cánh hoa này lại được mài ngang thành các dao xếp liên tiếp nhau, mỗi dao cách nhau về độ dầy khi cắt gọt là khoảng 1/10 mm (một rem), Khoảng 10-20 rãnh ngang tạo thành một chỗi 10-20 lưỡi dao trên mỗi cánh hoa. Khoảng giữa các cánh hoa xẻ sâu xuống làm lỗ thoát phoi. Dao dài khoảng 1 mét, cũng làm bằng thép tốt, một đầu dao gập lại trượt trên một ray tạo ra vòng xoắn. Dao được kéo dọc theo nòng bằng vit me, có thể kéo lui keó tiến vài lần thoát phoi. Cán dao hơi bé hơn nòng súng chút, hoặc là đúng bằng nòng súng ở một đoạn độ 10cm sau đó là bé hơn. Người ta kéo dao lùi, cán đi trước, từ miệng nòng về chứ không như khoan từ đuối nòng đi.

Loại dao thứ hai được dùng cuối tk19 là dao hợp kim cứng, rãnh chữ nhật.Ban đầu, dao cũng là thanh thép hình côn phình to ra. Người ta dùng đã mài chính xác khoanh đoạn hình côn thành nhiều khúc, rãnh khoanh sâu 1-2mm các khúc cách nhau 5-10mm. Sau đó cũng bằng máy mài chính xác, các rãnh dọc dao được xẻ sâu làm vùng không rạch nòng và lỗ thoát phoi. Ray quay được đặt trong ống, có thể chỉ có kéo hoặc đẩy kéo.

Loại dao hiện đại ngày nay là dao đẩy, làm rất nhanh, lưỡi dao là gốm, hàn vào cán dao. Máy tự động làm rãnh AK 1 phút một nòng, chỉ đẩy một lần.



ST-1 có loại dao không giống ai, vì nó cũng sản xuất ở nơi không giống ai. Dao chuốt rãnh xoắn của ST-1 làm bằng gang, có cán trượt trên gờ tạo xoáy như kiểu 185x, gờ này được mài theo tính toán của người thiết kế súng. Gờ này có thể đứng, làm bằng thanh ray tầu hỏa xẻ dọc. Cũng có thể làm bằng gỗ, có bánh xe ở cán cho gỗ ít mòn, cũng có thể gỗ phủ một tấm tôn mỏng cũng để bảo vệ. Nếu làm bằng gỗ thì có vạch ngấn, mòn quá vạch ngấn thì thợ mộc bào lại.

Cũng có thể rãnh quay được làm từ một ống tròn như chai khí nén. Nó được cưa giũa, cắt thành các phần, được khoan lỗ bắt ốc vào các giá và đánh bóng, nhiệt luyện.

Cái khác là nó có đầu của loại dao đầu tk20 làm Mosin nhưng dược đẩy bằng kỹ thuật cuối tk20. Vì làm bằng gang cầu chóng mòn, dao ST-1 ngắn, được đẩy cho rẻ khi phải chóng thay thế. Một cách nữa là đoạn dao ngắn được hàn vào cán kéo dài rồi tháo bỏ khi thay đầu. Việc hàn dao cũng tạo thành dao đẩy-kéo chính xác hơn.

Cách mà ST-1 khoan tinh cũng thêm một cách chuốt rãnh nữa, là dao rời, được lắp vào lỗ lõm trên dao ở giữa dao đẩy kéo. Lỗ lõm này cũng nghiêng dốc, tiện việc hiệu chỉnh dao. Với cách này, cán dao được làm bằng thép dẻo dai rất bền, có thể là từ các khung gầm ô tô, tầu hỏa, hay từ cá tấm ốp nối ray tầu hỏa.

Một loại dao chuốt rãnh của Tula Việt Bắc là dao hai cán, hai đầu cán ngắn-khúc giữa làm lưỡi, mỗi đầu chỉ dài 2cm và to đúng bằng đường kính trong nòng. Đoạn giữa phình to, mài khúc và xẻ rãnh dọc, rãnh dọc kéo dài ra chuôi dao thoát phoi. Loại dao này đẩy bằng một phương pháp độc đáo chỉ có Tula Việt Bắc có, là dao và các đoạn đẩy rời có đầu mài chữ V, chữ V lõm lắp vào chữ V lồi để đẩy dao quay, chữ V này có thể thay bằng rãnh dài thành đứng khó gia công hơn nhưng tốt hơn. Các đầu tiếp giáp lưỡi dao và các khúc đẩy được mài vát đỡ hại nòng và các khúc đẩy cũng có thể nối tiếp rãnh thoát phoi theo hình rãnh xoắn. Ray quay bên ngoài quay được, nhưng ngắn. Mỗi khi đẩy hết một khúc 20-30cm thì lùi lại, quay ray cho hợp vị trí mới và tọng thêm khúc đẩy mới. Các khúc đẩy được lắp trong một ống thẳng với nòng. Loại dao này đạt được các yêu cầu về độ bền của thép yếu, dao rời dễ thay, độ chính xác đạt cao nhất có thể dùng làm súng bắn tỉa. Có thể phôi nòng ban đầu dài hơn 4-5cm sau này cắt bỏ, hoặc nối vào đầu nòng một ống làm ray của dao.
Loại dao này cũng được cải tiến để có lưỡi rời thay nhanh. lưỡi được sản xuất bằng bổ chẻ thanh gang đã gọt khúc. Khi lắp lưỡi, người thợ mài đế lưỡi để chiều cao của lưỡi đạt yêu cầu. Lưỡi có thể cố định bằng ốc hay đai, nhưng không cũng được.

Một cách làm sáng tạo với các kim loại yếu là ban đầu cắt một rãnh tam giác hẹp, một thành đứng, loại dao này kéo nhẹ nhàng và gang chịu tốt, sau đó dao cắt ngang có các lưỡi liên tiếp cắt rộng rãnh này bằng phương pháp đẩy, cán dao mài có gờ bám theo rãnh tạo lúc ban đầu, không cần ray quay nữa.


Nhưng có lẽ kết cấu lưỡi rời lắp trên thân dao ngắn có một đoạn gang, hàn vào thanh kéo bằng thép mềm, sẽ là loại dao chuốt rãnh xoắn được ưa chộng ở Tula Việt Bắc. Người ta dễ dàng hiệu chỉnh dao khi nó mòn. Phương pháp hàn ma sát được áp dụng khi khan hiếm đất đèn và điện. Mõi lưỡi dao gang chỉ làm được 10 súng cùng chất liệu, 10 vạn ST-1 của KH47 phải dùng một vạn lưỡi dao, dài 12cm, chiều ngang phôi 1,5cm được phần từ phần đáy của ray tầu hỏa. Sau khi lấy đi phần làm 2 nòng súng bên trên, phần đế của ray được bỏ đi các phần mỏng, có thể chế tạo được 20-30 dao chuốt rãnh. Phôi dao được pha bằng cưa, được mài trên máy mài cả phôi và đá quay như Phần Lan mài Suomi. Sau đó có thể được vi chỉnh bằng lưỡi dao tiện tốt, tốc độ tiện không cần cao vì khối lượng rất ít, phần tiện chỉ là tinh chỉnh chính xác cán dao, không cần nhiều và cũng có thể thực hiện bằng đá mài tốt có kính lúp. rãnh khúc và rãnh dọc thực hiện được bẳng đá mài nhỏ.

Cứ 10 máy trong bộ 3 máy gia công phần trong nòng có một tổ làm dao. Dao chuốt rãnh xoắn loại lưỡi cố định được làm trên máy chuyên dụng, loại máy mài quay có thước đo quang học để luôn luôn theo dõi chính xác kích thước cán dao. Thước đo quang cũng làm đơn giản bằng một thấu kính tạo ảnh từ đèn chiếu, đặt ảnh phóng to trên tường có kẻ sẵn thước ly. Nếu lắp 2-3 đá trên một máy để làm các phần khác nhau của dao thì năng suất rất cao. Máy này chỉ cần 2-3 thợ, trong đó 2 người quay đá và quay phôi, một người chỉnh đá. Chỉ cần một tổ như thế này là đủ 100 dao cho 100 súng xuất xưởng mỗi ngày. Hai tổ làm 2-3 ca thì thừa cũng trên một máy đó. Thông thường, Tula Việt Bắc sẽ sắm 2-3 máy như thế này để công việc không trục trặc. Máy mài này dĩ nhiên được ưu tiên loại vòng bi tốt nhất.

Môt kiểu chuốt kéo bằng dao yếu khác là cắt dần theo chiều ngang rãnh xoắn chữ nhật. Mỗi lần kéo, phôi được quay một góc nhỏ để mỗi lần chốt cắn kim loại thêm một chút. Kiểu này hay hại dao và chắc ít dùng

Nếu như độ bền kéo của cán dao không đủ thì mỗi lần chuốt bằng nhiều dao, mỗi dao cho một độ sâu khác nhau. Với độ sâu dưới 1mm thì chỉ cần 2-3 dao là đủ, mỗi dao có kích thước lưỡi khác nhau.


Cuối cùng, loại dao chuốt rãnh độc dáo làm làm bằng đá mài. Các thanh đá mài đặt hơi nghiêng dọc theo khe xẻ trên cán dao, bên dưới có lò so lá đẩy lên, hoặc đệm bằng miếng cao su. Kéo đi kéo lại độ 100  lần là chuốt xong nòng, nhưng có lẽ lần bơm nước mạnh để trôi bột mài làm hỏng nòng. Những nòng súng quý bằng thép siêu cứng được làm bằng cách này.


Tiêu đề: Ông X
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 22 Tháng Tám, 2009, 06:17:15 pm
ST-1 là ám ảnh của một thiếu niên con nhà Nho Giáo. Đó là một gia đình Nho Giáo bình thường như những gia đình Nho Giáo khác. Rất nhiều thiếu niên cùng họ hàng với cậu, và những lớp trước, chỉ học hết cấp một rồi đi làm thợ ở thành phố. Thời bấy giờ, làm một công nhân giỏi khó như làm xiếc, phải luyện tay nghề từ rất nhỏ, nên các gia đình đó đành phải như vậy, bên Tây lúc đó cũng vậy. Những công nhân trí thức này tự học rất vất vả, thường kể cho cậu trò nhỏ về các Kỹ Sư Tây, về sự thần kỳ của họ, về những máy móc phức tạp, cả về những vô dụng ươn hèn của các ký thông phán. Những người thợ cũng sớm có cách trình diễn cho cậu nhỏ về nguyên lý máy móc, họ chỉ vung nồi cơm dềnh lên: đấy, máy hơi nước nó đẩy một cái vung như thế, gọi là pít tông.

Khác với các công nhân họ hàng, cậu nhỏ X của chúng ta sớm học rất giỏi, lại sớm thể hiện ý chí tu thân siêu cường, hứa hẹn rằng đây sẽ là một người học rất cao, kiến thức uyên thâm, làm rạng danh dòng họ. Thế là gia đình và các công nhân thường đến biếu xén gia đình cậu, không nói ra nhưng ai cũng biết rằng đó là đầu tư của họ hàng.

Một điều khác thường là ý chí của cậu X siêu cường, không những tự rèn mình một cách nghiêm khắc nhất, mà điều mọi người không biết là cậu ghét những người công nhân thái độ tôn sùng Kỹ Sư Tây. Con người kiên cường của cậu sớm đã khâm phục những nghĩa quân trong các câu chuyện kể của dân làng. Súng, khẩu Anh Đô Si Noa mà cậu nhìn thấy xa xa ám ảnh mãi mãi cậu bé. Những hình dung đầu tiên của cậu về máy móc khẩy súng là một loại than cháy bùng nhanh như dầu hỏa nhồi trong máy súng, đun một nồi hơi, đẩy một cái vung pit tông thành đạn, trong đầu cậu cứ cái gì mạnh mẽ là máy hơi nước tất. Cậu thử mấy lần nhưng không thành công, và may cho chúng ta, những thí nghiệm dại dột đó chưa giết chết cậu nhỏ X.

Tỉnh quê nhà cậu không có trường cấp III, X phải lên Hà Nội trọ học. Thật may mắn, thành phố hoa lệ và những cô gái duyên dáng chỉ làm được việc là thử thách trái tim cậu thêm sắt đá thôi. Nhà không khá lắm, từng đồng bạc cậu đều phải tính toán, cậu ham học, và từng chút thời gian cũng được cân đong. Cậu có chí lớn, và từng mối quan hệ, từng buổi thăm hỏi cũng được đo đếm, mặc dù với những nhận định còn rất trẻ con, nhưng cậu sử dụng con người cậu như một cỗ máy hơi nước, tất cả chỉ là học, học thật nhiều, thật giỏi, luôn giỏi nhất để có học bổng, luôn luôn thật giỏi để chế súng.

Cậu lớn lên thì khẩu súng ST-1 cũng lớn lên, nó không có nồi hơi, chạy bằng đèn dầu hỏa nữa, nó bắn bằng thuốc nổ, có kim hỏa. Cậu thắc mắc mãi tại sao vỏ đạn không vỡ khi bắn, rồi bất ngời có phát minh đầu tiên về súng đạn: vỏ đạn đàn hồi và co lại khi bắn, đồng thời đuôi vỏ đạn là một phần của buồng đốt, rất dầy và khỏe. X biết một thằng bé đầu phố có một cái vỏ đạn, cậu thương lượng đổi cho nó 3 cái bánh tây chấm dấm, đem về mài vẹt đi một nửa, và quả tim non đập như muốn vỡ lồng ngực, đúng, đuôi vỏ đạn rất dầy. Lúc đó cậu vẫn hình dung là người ta gò cái thành vỏ đạn, rồi mới hàn nó vào cái đáy bằng hàn đồng !! Nhưng một hôm, cậu tự nhiên nhìn thấy một người lính trễ súng đi cạnh trên hè phố. Ô, cái nòng của nó không tròn, không nhẵn, sao thế nhỉ ?? Câu trả lời là quyết tâm thi lấy học bổng Tây, câu trả lợi cụ thể nhất là mỗi máy móc, mỗi chi tiết, đều là kết quả của một nền khoa học lớn, cần học rất nhiều để hiểu được chúng. Cậu X sớm chọn cho mình một con đường đúng nhất, cậu sẽ học cơ khí, làm Kỹ Sư Tây và bí mật nghiên cứu về súng.

Những lúc rỗi rãi sách vở, X cũng dùng các bài toán cấp ba đã học thử tính một khẩu súng trường mà cậu tưởng tượng ra, ô, toán cấp ba không tính được, cần phải có một thứ là tích phân và một thứ là phương trình vi phân. Hai cái tên đó là hôm sau, thầy giáo giải thích cho cậu khi cậu hỏi, đồng thời nở nụ cười thông cảm: con sẽ nắm được chúng ở Paris.
Không phụ lòng thầy, không phụ lòng cha mẹ họ hàng, X thi được học bổng Tây, sau khi đỗ Tú Tài Tây.



6 năm đầu tiên trong 10 năm tuổi trẻ của ông X trôi qua trong trường Cầu Đường Paris. Các nhà khoa học cơ khí lớn trên Thế giới lúc đó thường học Cầu Đường. Ngành kết cấu Paris có Elfel, có cả cầu Long Biên. Ngành Cầu Đường cũng là một ngành phát triển ở xứ thuộc địa An Nam, nếu như về nước, ông X dễ dàng hơn khi chọn một vị trí làm việc có thể đi khắp nơi, có những ô tô, máy lu mà ông có thể mang lên ATK làm động cơ cho các máy cắt gọt ST-1. Ông cũng sẽ được dịp tiếp xúc với những Ông Thợ áo xanh, tuyển chọn ra 200 người yêu nước thương nòi, sẽ cùng ông làm ST-1. Đương nhiên, ngoài việc chân tài thực học, điểm số của ống cũng luôn đứng đầu khóa học, trời đã cho ông riêng một thiên mệnh. Nhưng chuyện điểm số chỉ là một chuyện rất nhỏ, nó chỉ đảm bảo mấy đồng học bổng thêm vào các nhu cầu không ai rõ của chàng trai chẳng ai hiểu, nó cũng tạo một danh tiếng ban đầu để anh sinh viên nhận được một vài công việc tạm thời.

Những năm đầu, chàng trai đem theo những thắc mắc thôi thúc dai dẳng quyết liệt, nhưng đơn sơ về ST-1 tương lai. Chàng cho rằng sẽ học được một loại thuốc nổ cực mạnh làm thuốc súng, tại sao người ta không cho một ít thuốc nổ vào đầu đạn ?? hay là thuốc độc cũng được ?? Chàng tưởng là trọng tâm đi trước khí tâm nên đạn ổn định hướng trục ... Ô, một người bạn cùng lớp cũng tự nhiên khoe khoang những thích thú về đường đạn, người bạn đó rất tốt, không có các thái độ xấu với dân thuộc địa. Chàng X của chúng ta lại hay nói như con rùa, tức là cả ngày chả mở mồm lần nào, lại học giỏi, dễ làm người khác mến bằng ánh mắt sáng ướt, lại chân thành và bạn bè chẳng có gì ngần ngại khi khoe khoang những thích thú riêng lẻ thầm kín với chàng. Thế là những bài học vỡ lòng về súng trường đến với cậu X 19 tuổi trong phòng riêng nhà người bạn, cậu mới sang Tây, còn nhút nhát lắm, người bạn nhiệt tình giới thiệu cho cậu những cuốn sách cần đọc, những bài toán cần giải, và ra ngoài đi kiếm về cho cậu đọc. Bản thân người bạn rất thích người cùng đam mê với mình, và cũng thông cảm rằng X là dân thuộc địa, muốn học hãy giấu kín đam mê súng ống.

Ban đầu, X thần tượng Lebel, người đã đưa ra sớm trước nhất đạn spitzer và thuốc viên dẹt. Nhưng rồi, bạn cậu đổ thuốc từ một viên đạn ra và X say mê mân mó các viên thuốc Mauser, cậu bóp thử độ cứng, ngắm độ bóng mịn, và lần đầu tiên X nghĩ đến nước sơn son, sơn then quê nhà. Người bạn đột nhiên thấy mắt X long lanh khác thường, nhưng không bao giờ biết rằng, lúc đó gã trai bạn thân của anh đã hình dung ra thuốc súng của ST-1, loại thuốc súng hiện đại nhất lúc nó ra đời, được làm từ các dung môi và chất kết dính lấy từ rừng nhiệt đới.

Một vài người bạn có những chiếc mô tô, cũng như những người bạn tốt khác, họ thỉnh thoảng cho X thưởng thức hương vị gió lộng. Một số người bạn không đam mê mô tô kiểu đó, mà lại chăm tìm hiểu về động cơ nổ. Nhờ kinh nghiệm đi trước của họ, X lên được danh sách sách khoa học và sách tham khảo cần đọc. Việc tìm hiểu về động cơ nổ đương nhiên không có gì phải dấu diếm cả. X có tầm nhìn rộng hơn các bạn, anh quan sát các thiết bị dùng động cơ nổ như ô tô, xe máy, máy kéo, tầu thuỷ và nhận ra các giải pháp khác nhau được áp dụng trên đó. ANh đem những điều này san sẻ với bạn bè, làm họ tò mò, lục lọi thư viện, và lại thông báo cho anh nưng phát kiến mới của họ. Sau này, khi đi làm, anh có điều kiện hỏi ông chủ và các kỹ sư cùng nhà máy về các giải pháp truyền động cho các thiết bị khác nhau, cũng như vật liệu làm ra động cơ nổ và kỹ thuật làm chúng.

Máy hơi nước thì chẳng cần bạn bè nào mồi, vừa đến Paris là cậu trai trẻ bỏ một ngày nghỉ ngồi lỳ trong sân ga nhìn ngó say mê tất cả những loại đầu máy toa xe. Hiện tượng này lập tức được mật thám để ý, nhưng báo cáo của họ về trường chỉ tạo thành một trận cười đáng yêu, X trở thành một đề tài chóng trôi qua trong trường, một số bạn bè thì khẳng định đó là người cùng niềm đam mêm máy móc với họ. Một thói quen sau này của X là sưu tầm rất nhiều ảnh và bản vẽ động cơ hơi nước từ cổ chí kim, và dĩ nhiên, với cách tư duy của một nhà kỹ thuật, ông lưu trữ những cái đó cùng việc sưu tầm các công nghệ và vật liệu làm ra chúng.

Ông để tâm đến đồ điện đến mức, xin đi làm thợ phụ cho một cửa hàng sửa chữ quạt điện biến thế ở quận Latinh nghèo. Ông tự tay quấn lại những chiếc quạt và biến thế hỏng, tự tay làm ra từng chiếc biến thế với công thức đơn giản vẫn còn đến ngày nay. Nhờ thời gian ngắn này, X thành thạo việc đấu một động cơ vào một máy phát điện, hay đủ sức tính toán tất cả những gì cần thiết khi cần thiết kế một máy phát hay một động cơ.

Hàn là một trong những công nghệ bắt buộc mà ông phải học. Ông có nghe nói ở Anh, Nga và Đức người ta phổ biến dần hàn điện thay cho hàn hơi, nhưng do không có điều kiện tiếp xúc, nên sau này ST-1 rất vất vả vì thiếu công nghệ hàn tốt. Là một kỹ sư cơ khí, ngoài chuyên môn chuyên sâu, ông được học và đọc thêm về tất cả mọi mặt của gia công kim loại, từ khai thác, nấu luyện, xây dựng, đúc khuôn cho đến rèn mài cắt gọt. X cũng say sưa đọc về các mẻ nấu kim loại cường độ cao, ông bỏt ăn bỏ ngủ ngồi bó gối nghĩ cách nấu một mẻ như thế ở quê nhà, nhiều lần như thế, nhưng đều không thành công. Bạn bè quen với việc chàng trai ít nói, chả giống ai, thường đột nhiên chìm sâu vào suy tư, súng bắn bên tai không tỉnh.

Sang năm thứ 2, thấy rằng khoa cắt gọt và khoa cầu đường có nhiều điểm chung, học một lúc hai bằng không vất vả thêm nhiều, X thi thêm vào khoa cắt gọt-chế tạo máy. Ở đây, ông có điều kiện nghiên cứu kiến thức hiện đại và tìm hiểu toàn bộ lịch sử kỹ thuật cắt gọt. Kiến thức về tổ chức lớn nhất đến với X sau khi anh đi làm, ông chủ, một nhà tư bản trung bình nhưng lâu đời và hiểu biết, đã kể cho anh tiền thân của các nhà máy châu Âu là các xưởng thợ, tiền thân của các nhà tư bản là Thợ cả, ô rơ vơ. Rằng những lò rèn đầu tiên tự làm ra đá mài, tự làm ra giũa, tự làm lấy đục, đó là những máy cắt gọt đầu tiên. Rồi ông cho anh xem ảnh vẽ những máy tiện đầu tiên, nhưng cái làm anh quan tâm nhất là những máy bào đầu tiên, từ những thiết bị thô sơ, người ta dần dần làm ra những máy rất chính xác. Ô, Tây nó đi lên từ lò rèn, lò rèn làm ra tất cả, làm ra máy cắt gọt, máy cắt gọt chính xác.

Chỗ chàng trai đi làm thêm là một điều khó hiểu với bạn bè, cậu chưa tốt nghiệp nhưng điểm số cao, nổi tiếng thông minh, khi cậu đánh tiếng với bạn bè rằng cần chỗ đi làm thêm vì học bổng ít ỏi, thì nhiều xưởng thợ, xưởng vẽ mời cậu làm ở các vị trí vẽ phối cảnh, lúc đó còn rất khó triển khai từ bản vẽ kỹ thuật, với mức lương bằng nửa kỹ sư. Một đội sửa chữa cầu đường thành phố cũng mời cậu làm chức kỹ sư với mức lương một nửa kỹ sư thật, lại có ca là buổi tối, các kỹ sư có gia đình rất ngại, nhưng tiện giờ học. Thế nhưng bạn bè ngạc nhiên khi X nhận việc với mức lương công nhân ở một nhà máy cơ khí, không nhỏ nhưng cũng không lớn, ở một khu ngoại ô nghèo, mất thêm mỗi tiếng một lần đạp xe đi về. Nhà máy gia công các chi tiết động cơ nổ cho các nhà máy động cơ lớn hơn. X kín đáo, không ai biết rằng anh sung sướng như thế nào khi nhận được vị trí đó. Công việc ban đầu của anh là phụ việc các kỹ sư khác, kiểm tra các sản phẩm, hướng dẫn công nhân đọc bản vẽ, theo dõi và ghi chép diễn biến nhiệt độ lò ủ. Một phần công việc mà anh chọn làm một số kỹ sư này ngạc nhiên là làm thợ ở một số công đoạn đơn giản, điều này thì một số kỹ sư và ông chủ không lạ vì các kỹ sư giỏi đều bắt đầu công việc như vậy. X dù kín đáo thì vẫn là một gã trai trẻ, ông chủ thấy cậu có vẻ là thành viên của một gia đình công nhân có học, chí lớn, như tổ tiên của ông, ban đầu là qua ánh mắt sáng, vẻ chăm chú, tính kỷ luật như cỗ máy hơi nước, sau là qua các buổi chủ nhật cậu vẫn cặm cụi trên bàn vẽ và dưới xưởng vắng.

Một lần, ông chủ mượn X chiếc ghế dựa và bàn duy nhất dành cho anh, nửa buổi sau ông quay lại, mặc dù đứng dựa cửa sổ lấy ánh sáng mà đọc, nhưng X không gập gáy sách, mà cầm bằng hai tay có vẻ run run vì mỏi. Thư ký của ông tròn mắt khi ông về phòng nốc một cốc vang to, kha kha kha, đúng là con nhà có học. Chuyện này làm ông tò mò muốn tìm hiểu xem bên An Nam xa xôi chữ vuông người ta học những gì.

Rất giỏi toán và rất thông minh, X nhanh chóng nắm bắt được phần hồn của cắt gọt, cách làm cho máy chính xác lên, các phương pháp mài ra các mặt phẳng, mặt cầu. Ông chủ đã cho anh phần hồn của quản lý, cách để tính toán cần bao nhiêu lò rèn, các lò đó phải tự làm ra bao nhiêu búa đục chạm giũa và bễ cho chính mình, dư lại bao nhiêu thời gian để gia công hàng hoá. Anh cũng hoàn thiện quy trình kỹ thuật của người Tây, cách hướng dẫn công nhân dưới quyền đọc bản vẽ, cách thiết kế để thực hiện nhanh. CŨng như những kỹ sư Tây lúc đó, X tự sắm môt đống đồ mộc nhỏ, anh làm thợ mộc không khéo như tay nghề cơ khí, nhưng cũng đủ đủ làm các mô hình, do đa phần thợ lành nghề hồi đó ít học lý thuyết, không đọc được đủ bản vẽ là một số vị trí cần có mô hình.

 

X có nhiều bạn, nhưng bạn thân nhất vẫn là người cùng đam mê súng ống. Thỉnh thoảng họ cũng cãi nhau, họ cãi vã về đủ thứ. Người bạn chứng minh rằng thuốc Lebel dùng năm 1886 tốt hơn thuốc Mauser, X thì nói thuốc đó mỏng mảnh. Chuyện này không bao giờ kết thúc được. Họ cũng thỉnh thoảng ngồi bờ sông Xen, ngắm đường phố, người bạn thanh niên nói về các cô gái, nhưng X chỉ cười. Anh lớn dần và sự sắt đá lớn dần. Kiến thức của anh đã bao trùm khắp khẩu súng trường, anh đã biết súng thế nào là tốt, là hiện đại, thế nào là tầm bắn hiệu quả... Nhưng càng biết nhiều, anh càng thấy những khó khăn sẽ đến khi làm súng. Trước đây, khi còn nhỏ, có người nói súng làm bằng thép tốt, anh liền ước mơ sẽ nấu ra một loại thép tốt hơn thép Tây. Nhưng bây giờ, ST-1 đã rõ ràng, nó phải làm được từ ray tầu hỏa, nhưng người thiết kế ST-1 bằng ray tầu hỏa sẽ phải giỏi hơn rất nhiều Lebel, Mauser có lò nấu thép. Phải học, phải từng phút học, phải gỏi hơn Lebel, giỏi hơn Mauser.


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Tám, 2009, 07:51:39 am
Chán cái ông Đoàn quá. Hôm nay mới đến nòng ST-1, mất rất nhiều công lập luận với mấy câu hỏi của ông. Mà Tạ Quang Bửu họ hàng gì với ông này
-------------------------------------
 Tất cả những ai không có khả năng tự bảo vệ mình trước cái bàn phím của chú đều có họ với anh! ;D


Tiêu đề: Tiếp ông X
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tám, 2009, 11:02:00 am
Quyết tâm ST-1 nung nấu tấm lòng và trí tuệ lớn trong thành phố Paris hoa lệ, chàng sinh viên viên nghèo, gầy gò xanh xao vì đói ăn, nhỏ thó như một trẻ em da trắng, đi trên một chiếc xe đap Peugeot cũng xanh xao gầy còm như chủ nó. Buổi sáng chàng lên dự giảng, chiều tranh thủ đến thư viện. 2 năm cuối đại học, buổi tối chàng làm thêm ở một nhà máy cơ khí, chức vụ là công nhân, không phải kỹ sư. Ông chủ quý chàng lắm, chàng phụ trách công việc như một nửa ông kỹ sư lúc đó còn quý hiếm, mà lại hưởng lương công nhân. Làm ca về, hai mắt díp lại, chàng vã lên mặt nước lạnh, chạy bộ trong đêm khua, rồi ngồi tiếp tục trong căn phòng lạnh lẽo im ắng đến gần sáng. Chàng đọc rất nhiều, một kỹ sư chỉ cần nghiên cứu công nghệ hiện đại, còn chàng nghiên cứu công nghệ của 1800, 185x, 189x và 192x, và hiện đại, chàng so sánh chúng với nhau, ước lượng sai số của chúng, độ bền và độ chính xác các sản phẩm của chúng, hao tốn nguyên liệu, những vật tư cần thiết, kể cả những cái nhỏ nhất như giũa hình gì, đá mài hình gì hay là sơn báng mấy ngày thì khô. Chàng phát minh ra hàng loạt các kỹ thuật dựng giá máy và thiết kế hàng loạt các máy công cụ đặc biệt, dùng toán học để chứng minh độ chính xác mà chúng đạt được, các kỹ thuật và thiết kế này không bán được ở bên Tây, vì nó phục vụ cho một điều kiện sản xuất thiếu thốn, vì vậy, X không bao giờ nói cho ai những điều đó.

X hoàn thành toàn bộ công nghệ từ cắt, mài mặt phẳng, gá, đo chỉnh và gia cố các máy khoan, bào, tiện, phay, mài từ phương tiện thô sơ trong năm sau khi ông tốt nghiệp. Ông ở lại nhà máy cũ thêm hơn một năm nữa rồi về nước. Ông vẽ các bản vẽ và ghi chép các tính toán rõ ràng vì chugs trông không liên quan gì đến súng ống cả. Nhưng việc ghi chép cũng khá thừa, vì ông thuộc lòng chúng.

X thực hiện các "thí nghiệm" trong bộ não cực khỏe của anh. Anh tưởng tượng ra chi tiết từng phản ứng khi súng nổ, đạn chuyển động trong băng, đạn chuyển động vào nòng. Có những thứ mà khoa học ngày đó còn bế tắc không tính được, như sức chịu lực của mặt bích sẽ làm bịt đáy nòng, tác động biến dạng của kim loại ròn trong cấu tạo ren chịu lực, X ghi nhận những bế tắc vấp phải đó trong cuốn sách nhật ký nghiên cứu, cũng đặt trong não anh. Anh xây dựng các thử nghiệm trong tương lai sẽ thực hiện để lựa chọn các cấu trúc đó.

Chàng thiết kế sẵn 3 loại súng trường, kiểu 1940, kiểu 1944 và SD-1 năm 1947. Mỗi súng có cả chục mẫu thử, mỗi mẫu thử là một phương án đáp ứng những yêu cầu có thể xuất hiện. Tất nhiên, các mẫu thử này chỉ nằm trong cái đầu khổng lồ của chàng, thời gian học tập bên tây vô cùng quý giá, chàng không thể đánh mất nó khi mật thám phát hiện ra bản vẽ. Nhờ điều kiện làm việc ở xưởng, thỉnh thoảng chàng lại tổ chức được một thử nghiệm về một mặt độ bền của một loại gang thép, một động tác gia công thủ công cho ra một chi tiết có hành dáng củ chuối, một biện pháp mài để có mặt cực phẳng, một cách đo gá để có một giá máy chính xác bằng thủ công.

Cái giá máy đầu tiên siêu chính xác là một khung xe đạp cực nhẹ làm bằng gỗ và nhôm, kết quả của những thí nghiệm bí mật được nguỵ trang, chàng trai trân trọng tặng cho cô con gái xinh xắn của ông chủ. Cô gái trông chàng như một người ngoài hành tinh ngộ nghĩnh và hơi đáng sợ vì lạ lẫm, ô, sao anh ta nhỏ thế hả bố. Đó là một người cần cù con à, một đàn ông kiểu mẫu, bất chấp bề ngoài anh ta chả có gì hấp dẫn, một con người có kỷ luật và sau này sẽ mẫu mực trong trách nhiệm với gia đình và xã hội. Đầu chàng lớn lên bao nhiêu thì cơ thể đang tuổi lớn nhưng luôn thiếu ăn thiếu ngủ nhỏ đi bấy nhiêu. Ông chủ không có con trai, ông biết người đàn ông bé nhỏ kia là một thùng thuốc nổ khổng lồ, có thể sẽ làm sự nghiệp của gia đình ông bùng phát.

Những thí nghiệm thật sự và chu đáo được tiến hành để kiểm tra các phương án khoan nòng và chuốt rãnh xoắn. Gang cầu của ray tầu hỏa, nguyên liệu làm ST-1 là thứ vật liệu rất cứng, làm súng không tồi, nhưng gia công không dễ. Trong khi đó, việc gia công lại thực hiện bằng dao làm từ chính gang cầu. Những tính toán đầu tiên về lý thuyết là công thức tính lực đè lên mũi khoan với đường kính cán dao để cán mũi khoan rất dài có tuổi thọ cao, lâu mỏi mà vẫn khoan nhanh, anh tưởng tượng ra một dây chuyền làm cán dao, thay đổi những chỉ số về hao tổn cán dao và cân đối với dây chuyền này. Thỉnh thoảng mới có điều kiện thử nghiệm, khúc ray anh mua được để ở nhà, rồi thuê người thợ thủ công cắt ra từng đoạn, không có cái máy cưa, họ dùng máy mài xẻ dọc ra cho anh vài thanh. X đo độ cứng, độ bền kéo, độ đàn hồi cẩn thật cả trên mặt ray và trong lòng ray, thử nghiệm các biện pháp tôi, ủ, thấm. Nhân một hôm ông chủ đi vắng, anh mài thành một vài thanh đũa tròn 6mm làm cán dao và thử nghiệm. X cũng thử nghiệm các phương pháp khoan tia lửa điện, nhưng do thiếu nguồn đầu tư nghiên cứu, nên không có kết quả gì, mặc dầu ông hy vọng rất nhiều vào hướng này, một hy vọng đúng đắn, ngày nay được dùng nhiều để gia công kim loại cứng. Kết quả của các thử nghiệm này là việc bắt buộc phải dùng lưỡi cắt gọt tốt cho khoan, nhưng lưỡi chuốt lại làm được từ chính vật liệu này, và phải chia khoan chuốt nòng ra 3 công đoạn, khoan phá, khoan tinh và chuốt rãnh. Sau này, theo phương pháp của Suomi làm khối lùi, X đưa ra một kiểu máy chuyên dụng làm lưỡi chuốt năng suất rất cao, đủ cho mỗi nòng ST-1 được chuốt bằng 2 dao.


X không dám thử nghiệm về thuốc đạn, chỉ đọc lý thuyết thôi. Năm 1936, nước mẹ Đại Pháp có kiểu súng đạn mới MAS-36. Người ta bàn luận về nó nhiều, như một tiêu chuẩn súng trường mới mang tính cách mạng. Chàng sing viên trẻ cảm nhận được những xu thế hiện đại nhất về thuốc nổ, đó là thuốc viên rắn hình dẹt, thuốc làm từ chất nổ không khói và chất kết dính, được tạo hình, cho đồ thị cháy đều, áp suất tối đa thấp, rồi vỏ đạn thuận lợi cho súng tự động, rồi chàng so sánh kiểu đầu đạn hình trụ không cần tính toán và đầu đạn spitzer có phương trình chuyển động phức tạp. Chàng lên các kế hoạch sản xuất hoá chất gốc: acid. Loại cenluloz từ đay nổi tiếng của Ấn Độ và An Nam cũng được chàng để tâm. Nhưng đầu chàng còn có thứ khác người Âu, cánh kiến, sơn tự nhiên (sơn ta), sẽ là những chất kết dính tuyệt vời hơn chất của phương Tây, rồi dung môi từ cây thông, cây sở, cây trẩu. Gllycerin từ dầu dừa, dầu lạc, dầu vừng, mỡ lợn, chất kiềm nhẹ từ lò vôi. A, không thể thiếu máy nén khí và máy phát điện, nhưng nhu cầu không lớn, 3 tấn thuốc súng đủ cho 1 triệu viên đạn kia mà.

X cũng hoàn thiện phương pháp mà người Phần Lan làm ra Suomi, tức là mài chính xác, từ sự khâm phục một dân tộc nhỏ, lạc hậu, làm được một khẩu súng danh tiếng, chàng khẳng định rằng, không có gì là sự nghèo, sự lạc hậu chặn được bước đi của một nhà khoa học chân chính. X phát minh ra máy phóng to ảnh bằng thấu kính có đèn chiếu, mà nay đã thay bằng laser, cho phép công nhân hiệu chỉnh mặt khoan quay tròn đến 1/10mm, nhờ vậy, nhiều thiết bị chuyên dụng bằng vật liệu rất cứng được gia công với giá rẻ. Phát minh này không bán được giá, nhưng cũng cho X một chút vốn liếng và tiếng tăm. Anh tìm hiểu nhiều công ty sản xuất vật tư gốc, điện báo hỏi giá và điều kiện bán của họ.

Anh cũng đặt quan hệ thân tình với một vài thương gia khá cam đảm. Sau này, họ hiểu rằng ông X cần trước một số đầu cầu để nhập lậu vật tư quý hiếm từ châu Âu. Nhưng chiến tranh khốc liệt đến nhanh, ông làm được rất ít mặt đó.


Năm 193x, trước khi WW2 bùng nổ, ông X về nước với 4 tấn sách sẽ dành cho Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự Việt Bắc sau này. Những người bạn bật khóc, một số trong học không hiểu ông cho đi đâu khá nhiều tiền, ông keo kiệt đến mức quên cả bản thân mình, nay họ bật khóc khi nhìn hóa thân của sự khắc khổ đó. Ông cũng mang theo những phương tiện rất quý: công cụ, lưỡi dao, máy đo độ cứng, máy thử độ bền kéo nhỏ quay tay, kính lúp, kính hiển vi, một thiết bị phân tích quang phổ gọn nhẹ. Ô, có một thùng to bút vẽ. Tất nhiên có một thùng to hơn nữa gồm cờ lê, mỏ lết các cỡ, tuốc nơ vít các loại, kìm các kiểu. À, lại có kính mầu dùng để ước lượng nhiệt độ sắt nung đỏ. Tất nhiên có nhiều loại thước và bút khắc dấu quý. Con gái ông chủ không ra tiễn, không ai biết cô làm gì trong này hôm đó. Ông chủ cũng bật khóc, ông tặng chàng một vật kỷ niệm, một mề đay cổ có hình một thiên sứ Ai Cập.






Bác thấy em viết tiểu sử được chưa bác Đoàn iu


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: Mùa Thu trong 23 Tháng Tám, 2009, 11:52:34 am
Chào bạn Huyphuc1981, theo mình cảm nhận bạn là người có lập luận và có tài năng, nhưng khi nhận định một vấn đề gì ta nên cân nhắc và nhất là có đường dẫn của thông tin, hoặc như kiểu là nói có sách, mách có chứng.
Những bài viết của bạn rất hay, nhưng theo cảm nhận của mình là chưa dẫn chứng được thông tin xác thực, như vậy chỉ là nhận định cá nhân về một con người về một việc gọi là giả sử.Nói chung điều nó ta nên hết sức thận trọng, và tốt nhất là nên tránh.Một vài góp ý nhỏ với một tài năng như bạn.Mong những ý tưởng của bạn trở thành hiện thực, sáng chế và phát minh ra nhiều vũ khí tối tân phục vụ cho việc bảo vệ Tổ Quốc thân yêu của chúng ta.


Tiêu đề: Tiếp ông X
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tám, 2009, 12:27:07 pm
4 năm sau là giai đoạn ông X nai lưng ra hầu hạ Tây Nhật đô hộ. Chúng rất tin tưởng cả vào đạo đức và chuyên môn của nhà khoa học trẻ tài năng, học tập chu đáo, biết lo toan mọi nhẽ. Ông X cũng tập hợp quanh mình một nhóm công nhân áo xanh, họ quen biết rộng những người cùng giới, lấy cớ đi tìm nguồn cung cho các công trình, ông tiếp xúc với giới áo xanh, cái đầu cực khoẻ được rèn luyện nghiêm khắc ở trời Tây nay trở thành một quyển sổ khổng lồ, chính xác, ghi danh sách các công nhân áo xanh, máy công cụ, động cơ cần thiết. Một số trong chúng sẽ phải có bằng đánh cướp, cả các kho lưỡi dao mà các ông chủ Tây bí mật cất giữ cũng được xì xào. Những ông Tây yêu khoa học mà dại mồm cũng xì ra những mỏ khoáng mới phát hiện. Những nhà du lịch kể về những thác nước nên thơ có thể đặt máy phát điện.

Ông X có thể là Tạ Đình X, họ hàng với Tạ Đình Đề. Nhà tư bản lớn nhanh chóng cảm nhận ý chí và trí tuệ tiềm ẩn trong con người quắt queo vì nỗ lực. Nhà tư bản kể cho ông về giới tư bản mới, những người đi lên từ áo xanh, làm được lốp xe và xe thồ, hàn được khung xe và dập được moăy ơ, ren được nan hoa và ta rô được mũ nan hoa, đóng được tầu hơi nước, khai thác được mỏ than, làm được ăng ti moan. Tạ Đình Đề đăm chiêu mấy hôm khi Tạ Đình X yêu cầu ông kể về những hang núi Chi Nê, gần đồn điền của ông, nó rộng dài bao nhiêu, nước, đường lối thế nào... đột nhiên Tạ Đình Đề khẳng định chắc chắn rằng, đây sẽ là Lebel của Cách Mạng mà ông hằng mong đợi.

Một tháng sau, Ông X trở thành một nhà cách mạng thật sự qua sự giới thiệu của Tạ Đình Đề. Ông bắt tay vào KH44 lập tức. Kế hoạch năm 1944 hầu hết là chế tạo các mẫu thử và thử nghiệm chúng, cải tiến chúng theo kết quả thử nghiệm. Tạ Đình Đề, một nhà thầu tiềm năng, mời Tạ Đình X, họ hàng và là chủ đầu tư tiềm năng về đồn điền chơi, cứ mỗi chủ nhật, một chiếc ô tô lại chở ông X về căn phòng bí mật ở đồn điền. Trong khi một hình nhân thế mạng giống như ông diện bộ quần áo săn du hí trong rừng nguỵ trang, ông X vội vã thực hiện các bản vẽ, các tính toán, buổi chiều, ông lại vội vã nghe kể về các biến cố trong ngày để ứng phó, và lại về Hà Nội.

Một xưởng bí mật trong Hà Nội thực hiện các thiết kễ mẫu. Hàng tuần, những đoàn du khách lịch lãm lên Tam Đảo, Ba Vì săn bắn, tiếng súng săn nguỵ trang cho tiếng thử súng, kết quả thử nghiệm được các công nhân lành nghề ghi chép cẩn thận. Dần dần, một máy khoan và một bộ hàn acetylen được chở đến đồn điền Chi Nê, có thể nằm trong số sắt thép dùng dựng một biệt thự sang trọng mới của nhà tư bản tài ba. Các thử nghiệm chủ yếu là thử áp lực, để chọn ra kết cấu cổ của SD-1, các nòng thử nghiệm ngắn 25cm, không khương tuyến. Về sau, các thử nghiệm cuối cùng do đích thân tạ Đình Đề và Tạ Đình X thực hiện trong một hầm ngầm bí mật, hầm có hình chữ U, mỗi cạnh 1 mét, súng bắn bằng một máy cò chạy điện. Vỏ đạn là loại vỏ đạn đúc theo kiểu đạn súng săn, dùng nhồi nhiều lần được.

Trong khi Tạ Đinh X chạy đua với các tính toán thời không có máy tính, mất hút theo những chuỗi tính toán khổng lồ của phương pháp giải phương trình vi phân Range-Kuta, thậm chí cả phương pháp tiến bước một, thì Tạ Đình Đề, với chuyên môn là nhà tư bản, thực hiện một bài toán không sâu bằng, nhưng rộng hơn. Qua người bà con Tạ Đình X, ông đã nắm được những yêu cầu tối thiểu và chi tiết, những cái sẽ cần để có 3 tấn thuốc cho 1 triệu viên đạn. Cốt lõi sống còn là acid nitric. Một vườn đay thơ mộng được gieo trái mùa cấp tốc, nhưng xơ đay lập tức có khi gia nhân của ông lùng mua lậu từ các đồn điền của Nhật. Một chục con lợn béo được làm thịt trong một cuộc đãi yến tưng bừng, cho ra 30 kg mỡ nước. Những vùng có nhiều cánh kiến, nhựa thông, cây sơn ta cũng được phát hiện, người Nhật không lạ về tài kinh doanh, tài lặn lội của ông. Giới tư bản Hà Nội xì xào là ống đang có một mối làm ăn lớn về lâm thổ sản.

Một lượng acid ít ỏi có ngay được cho thí nghiệm. Nhưng còn sản xuất ra hàng tấn, phải có máy nén khí, máy phát điện. Tạ Đình Đề cũng già sọm đi, già hơn là chũng ta thấy, già như Tạ Đình X.

KH45 dồn dập các sự kiện và nỗ lực phi thường đến quá sớm, ông X không còn trẻ nữa, khuôn mặt già sọm trước tuổi, mái đầu bạc trắng mặc dù bộ não phi thường trong đó mới hơn 30. Tuổi công hiến của ông đã đến, những năm tháng chiến tranh của Tula Việt Bắc đã đến. Một kế hoạch tháo dỡ, đánh cướp, trộm cắp khổng lồ diễn ra trên toàn miền Bắc. 200 thành viên của tổ chức bí mật TV (Tula Việt Bắc) dồn sức có được những thứ đã lên danh sách. Cuối cùng là hai đoàn tầu hỏa, một từ Lào Cai, một từ Hà Nội, chở theo bộ mài ghi vô cùng quý giá, vừa đi vừa dỡ ray sau chúng, tập kết ở Việt Trì. Các xà lan chở than được huy động để chuyển ray lên và ném vội xuống lòng sông Tuyên Quang. Đinh ray, bù loong và ốp ray được cho vào các bao đay và phân tán trong các hang núi, các hố chôn. Vốn liếng ban đầu của Tula Việt Bắc là 30km đường ray, tức là 3 ngàn tấn vận tải cấp tốc. Ô, ông X có cả cái đầu của Kosygin, có cả cái đầu của Degtriarev.
Địch thu được tin tình báo, Việt Minh dự định đóng cọc ngăn sông Tuyên Quang, nhờ thế mà địch không bao giờ phá hủy nguồn nguyên liệu quý giá nằm dọc đáy sông.

Đội lục lộ của kỹ sư công trình Tạ Đình X giải tán và tập hợp lại, thế là hoàn thành cách mạng với họ, bắt đầu chiến tranh. Những động cơ đầu tiên của Tula Việt Bắc là bốn cái xe lu chạy hơi nước. Các ô tô của Nhật và Tạ Đình Đề được cải tiến lại chạy than. Một loạt các tuốc bin nhỏ được thiết kế vội vã theo kích thước các thác nước dự kiến. Đường phố Hà Nội bị xới tung lấy ống gang, 4 xe lu kéo theo bốn rơ moóc lẽo đẽo lên ATK với tốc độ của rùa.
Ngày nay, trong bảo tàng chiến tranh, một trong 4 xe lu hơi nước đó được trang trọng đặt trong một tủ kính khí trơ, bên cạnh là mô hình của nó để khán giả nhìn gần, bức tường gian phòng trưng bầy treo đầy các bức ảnh về nó: Tạ Đình X chụp ảnh cùng các ông Tây ông Nhật, cảnh giải tán đội lục lộ, một nhà Cách Mạng đứng trên nóc xe diễn thuyết dưới lá cờ đỏ, bên dưới các công nhân áo xanh giơ cao nắm đấm. Rồi cảnh xe lẽo đẽo lên ATK, rồi các công nhân hì hục kích bánh nó lên, lắp vào truyền động. rồi ống khói Hoàng Cầm được thiết kế riêng cho nó, rồi nó được phủ kín bằng một giàn cao cây bìm bìm quanh năm xanh tốt... Và tất nhiên, lần lượt các máy cắt gọt được cưng chiều nhất đến bên động cơ quý giá làm nhiệm vụ.

Những thành viên TV đi sau vội vã vơ vét tất cả những cái gì có thể: kìm búa cưa đục, đất đèn mỏ hàn, dao và lưỡi dao, cả tay vịn toa xe bằng đồng, những van đồng tầu hỏa nặng hàng tạ, và nhất là vòng bi, vòng bi vô cùng quý giá. Những người cuối cùng gồng gánh trên những con đường bị phá nham nhở, bỏ lại sau lưng thành bố ì ùng tiếng súng, nhà máy đã bị phá hủy. Họ đi đường tắt, qua Phúc Yên, vòng qua chân núi Tam Đảo, qua huyện Sơn Dương và biến mất trong rừng núi Tuyên Quang. Những sư đoàn bộ đội tràn ra chuẩn bị kìm bước chân giặc và xóa sạch mọi dấu vết dẫn đến Tula Việt Bắc.

Ông X cũng dùng một cái tên mới. Người kỹ sư trẻ, tài năng của Paris đã hoàn toàn biến mất.



Công việc vất vả làm Tạ Đình X suy nhược, một hôm, ông ngất xỉu khi đang đi tìm một vị trí đặt hầm máy. Người anh hùng mệt mỏi mở mắt ra trên một chõng tre, dưới sân một gia đình đồng bào miền núi. Một người con gái công nhân đắp khăn ướt lên trán và khe khẽ quạt cho ông. Tạ Đình Đề và Phu nhân nghe tin vội vàng cưỡi ngựa lao đến. Ai cũng xanh mặt khi tính mạng của Lebel Kháng Chiến lung lay. Biến cố qua đi nhanh chóng, nhưng bà Phu nhân nghĩ nhiều lắm. Bà bắt Tạ Đình X nghỉ ngơi tẩm bổ mấy ngày, mỗi ngày, ông bị nhồi nhét năm sáu bát cháo, mỗi bát một vị thịt rừng, lúa nương, rồi thuốc sắc, bị cấm làm việc, trong khi công việc bề bộn. Cảm giác vô dụng, buồn chán tràn ngập trái tim sắt thép, làm nó giãn nở thư thái lần đầu tiên sau hai mấy năm quyết chiến với sách vở sắt thép. Sự lo lắng cuồn cuộn vặn xoáy chiến binh chưa bao giờ ngừng nghỉ, bỗng nhiên làm ông cảm thấy mình nhỏ bé, yếu đuối, dễ tổn thương.
Có tiếng kẹt cửa, người y tá nghiệp dư bước vào. Cô có cái trán rộng và hói của một gia đình Nho Giáo, cặp mắt đen to của một bộ não khỏe mạnh, mái tóc huyền mượt của một dòng máu thuần chủng, tự nhiên, ông X thấy yếu đuối, muốn dựa dẫm, muốn tìm sự tin cậy trong cái chất công nhân khỏe chắc. Ô, ông X tự nhiên đỏ mặt, ô hay nhỉ, mình hay nhỉ, ông đang xấu hổ với cảm giác của mình. Phu nhân Tạ Đình Đề là người đàn bà tháo vát như mọi bà Phu nhân của các nhà tư bản. Đám cưới ông X diễn ra nhanh chóng và gọn ghẽ. Xong đám cưới, chỉ còn 2 người, ông X khóc, chiến binh sau hai mấy năm chinh chiến quyết liệt không ngừng nghỉ bật khóc. Ông đã làm khổ bố bà, nay lại kéo bà theo sự nghiệp khổ ải không biết ngày nào mới kết thúc.

Chuyện này mãi sau ông mới tâm sự với bà và được bà kể lại lúc ông đã sớm về thiên đường, do những gian lao sớm tàn phá cơ thể ông.


Tiêu đề: Tình bạn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tám, 2009, 01:18:00 pm
Chán cái ông Đoàn quá. Hôm nay mới đến nòng ST-1, mất rất nhiều công lập luận với mấy câu hỏi của ông. Mà Tạ Quang Bửu họ hàng gì với ông này
-------------------------------------
 Tất cả những ai không có khả năng tự bảo vệ mình trước cái bàn phím của chú đều có họ với anh! ;D


Bọn họ đều cùng họ rồi đấy nhé pác Đoàn à.  ;D ;D ;D ;D


Chán quá, đoạn trên đông mất rồi, đành chèn vào đây vậy. Các bạn khi đọc tự lắp ghép nhé. Bác Đoàn có khả năng chèn vào cho iem với.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=8859.msg138484#msg138484
===============================================

X có nhiều bạn, nhưng bạn thân nhất vẫn là người cùng đam mê súng ống. Hai người thường dự giảng một chỗ, cũng hay cùng đi ăn trưa, và cũng hay cùng đi dự những bữa tiệc nho nhỏ của giới sinh viên, mà đồ ăn và đồ uống chủ yếu là trái cây, nước chanh, bánh mì đen, thịt mỡ và vodka. X cũng tự cho phép mình uống một chút cho chan hòa, nhưng con người thép đó còn quý sức khỏe thiếu thốn của mình hơn là sự chan hòa, khỏe để chiến đấu quyết liệt với kiến thức. Thời gian bên nhau nhiều nhất là họ cùng im lặng mọt sách trong thư viện. Đôi khi, người bạn thân thấy X cười một mình, ánh mắt xa xa xăm. Tuổi trẻ bồng bột, người bạn của X thường cho đó là một câu chuyện lãn mạn ở xứ Viễn Đông xa lắc nơi chân trời. X không bao giờ tâm sự với bạn về nụ cười tự giễu mình đó, anh nhớ lại khẩu ST-1 thuở sơ khai, có cái nồi hơi đun đèn dầu. Nhiều đêm trằn trọc, X muốn tâm sự với bạn điều thú vị này, cả về quê hương yêu dấu xa xôi, nhưng trái tim sắt của anh lập tức bóp nghẹt ý đó. Không, không ai được biết rằng anh đang nuôi chí lớn, điều đó sẽ gây ra những nguy hiểm, không phải hôm nay thì 10 năm sau. Ai biết được, khi anh tham gia một cuộc chiến tranh giải phóng chắc chắn sẽ đến trong tương lai, anh có tự bảo vệ được gia đình, họ hàng đã cưu mang anh không. X biết ở Paris hào nhoáng có một số sinh viên An Nam rất giỏi, người An Nam rất thông minh, và có người khá hào hoa nổi tiếng với sự thông minh đó, nhưng anh khác họ, cũng như khác những sinh viên Pháp kia, kể cả người bạn thân. Anh càng ngày càng biết rằng ST-1 rất nặng, nhưng ý chí của anh càng ngày càng rắn, càng khỏe, càng dư sức mang ST-1 đến tương lai mà anh vẫn chưa biết cụ thể ra sao, chỉ biết rằng, tính chất chắc chắn phải có của nó là khổ ải, khốc liệt và tất nhiên là mạnh mẽ.

X nhớ lại cái ngày mà ST-1 đã hơi lớn, đã có thuốc nổ thay cho nồi hơi, nhưng vẫn trẻ con. Ồ, ST-1 lúc đó thật là tồ, khi nghe người lính nói súng làm từ thép tốt, anh liền ước mơ ngày sau sẽ làm được mẻ thép tốt hơn thép Tây cho ST-1. Nay anh đã biết rằng, thép làm súng không phải là thép tốt nhất, mà tốt là những bí quyết công nghệ và thiết kế hình dáng làm mặt trong của nó cứng, nhẵn bóng, chuyển động trơn chu và bền bỉ trong điều kiện làm việc khắc nhiệt. Anh biết ST-1 có thể không cao lớn như người bạn thân của anh, vẫn đam mê với đường đạn chính xác và mạnh mẽ, nhưng ST-1 đã già dặn hơn nhiều đường đạn. Sự thông minh và khả năng tư duy độc lập, khả năng tư duy tỉ mỉ chu đáo giúp anh sớm biết rằng, chỉ cần một khuyết tật nhỏ của buồng đạn cũng tạo thành một vết in trên vỏ đạn gây tắc súng, giải quyết điều đó rất khó, trong khi về đường đạn ST-1 chỉ cần copy nguyên bản của Mauser, Mosin hay Lebel. Anh cũng sớm biết rằng, về khả năng đẩy đạn thì thuốc nổ đen không kém mấy thuốc Pour B, nhưng thuốc Pour B quý giá ở những điểm khác ngoài năng lượng đẩy đạn, khác với trước đây anh từng mơ ước có một thuốc nổ tốt hơn cả thuốc nổ Tây.

X biết rằng bạn anh có thể là nhà chế súng hàng đầu của Pháp, một con người ít được công chúng biết đến, vì lĩnh vực của ông sẽ là nghiên cứu cơ bản, nhưng các nhà khoa học, công nghiệp và chính trị sẽ kính trọng ông, vì ông sẽ đem đường đạn mới ưu việt cho họ. Nhưng ST-1 cần thứ khác, cái mới của anh sẽ là đường đạn cũ của Lebel, Mauser, hay Mosin chạy trong một điều kiện khác, ở một xứ sở khác.   


ST-1 giấu kín bưng bản thân mình, nhưng có nhiều thứ khác để đôi bạn chia sẻ. X và bạn anh biết những nguy hiểm với X thế nào sẽ đến khi có người khác biết, nên những trao đổi của họ chỉ diễn ra trong phòng riêng của bạn anh, một ngôi nhà biệt lập trong một khu phố cổ kính, với những con người cổ kính giữ thói quen lịch sự cổ kính của Paris, không tò mò chuyện người khác. Căn phòng đó cũng chứng kiến rất nhiều cuộc chiến tranh thế giới, trái với sự tĩnh lặng của khu phố bên ngoài.

Một lần, X có nhiều cảm giác ngắm nhìn bức tranh cổ động về Chauchat, anh biết, ST-1 rất khó bắn được liên thanh. Những cảm giác đó tự nhiên trôi tuột, tiếng bạn anh hét toáng: "láo, láo toét, bao nhiêu sinh mạng đổ xuống vì sự lừa dối láo toét". X ngạc nhiên tròn mắt ?? trong khi đó súng máy không ngừng nhả đạn : " chỉ vì mấy đồng tiền lãi mà chúng lừa dối thanh niên, làm bẩn sự trong sạch muôn đời của tâm hồn thần chiến tranh " ?? "một cái quái thai, không ra súng trường cũng không thành súng máy " ?? . Đến giờ thì súng trường mắt tròn mồm cũng tròn , súng máy vẫn chưa hết đạn: "tại sao nước Pháp lại thắng trận cơ chứ, chiến thắng của nước Pháp là đê tiện, là chiến thắng của một tên cho vay nặng lãi đê tiện", nghỉ thay băng chỉ một chút: "ôi, thời đại của những tên dối trá Grăng-đê, chiến thắng đê tiện đã đem đến thời đại của những kẻ cho vay nặng lãi và dối trá". Quay sang mặt chiến tuyến đối diện, cả nước Pháp là nạn nhân của súng máy, cả tốt và cả xấu: "những thanh niên ngu ngốc đem sự dũng cảm cho không bọn đê tiện". Có vẻ như nòng nóng quá, súng máy chiêu một cốc nước chanh và hồng hộc bốc khói. X do dự, hai cái nòng súng máy mở to còn nóng đỏ rõ ràng là chĩa vào Chauchat, khẩu súng thường được nói đến như một vinh quang Pháp.
Súng máy chuyển sang loạt ngắn: cậu thấy nó thế nào.
X: cậu nói cái gì ?
Súng máy: cái quái thai mà tên ngu ngốc bẩn thỉu kia đang ôm xông lên đấy.
X: Chauchat ?
Súng máy: hừ !!! trợn mắt chuyển hướng sang ông bạn, bất ngờ súng máy nòng còn nóng đỏ xả một loạt dài: chả lẽ tớ nói về cậu, cậu có tiền cho vay nặng lãi à ??
X: nhún vai. anh đã học được vài mẩu lịch sự của Paris, cần hoãn minh trước bất cứ một cuộc xung phong trực diện nào. Có thể chọn cách né tránh tinh tế hơn, nhưng lúc này quân địch quá say máu nên tinh tế là thừa. Súng máy chỉ kịp thoáng qua cảm giác bắn trượt, súng trường đã điểm từng nhát: "theo tớ Chauchat là khẩu súng chưa hoàn thiện".
Súng máy: ô, đúng, có điều, cậu làm dáng quá với nó đấy.
X: Nó có máy móc quá khít khao
Súng máy: há hốc mồm.
X: cảm giác bắn trượt thoáng qua, nhưng không thể dừng, súng trường lại điểm phát một: "điều đó không thích hợp với điều kiện dã chiến, nó sẽ hay tắc".
Cả súng máy và súng trường đều ngấm cảm giác bắn trượt, nhưng bi h bóng đang ở bên chân súng máy. Điềm tĩnh, súng máy tìm cách tấn công hiệu quả : "Theo cậu, súng trường dùng để làm gì". Tuy không biết rõ, người bạn cũng biết X quan tâm nhiều đến súng trường, đã bình tĩnh hơn lúc mới thấy người bạn tỏ vẻ khâm phục một thứ mà anh rất ghét, nhưng cũng chưa thật tỉnh táo, anh chọn ngay lô cốt chính.
X chọn những lời có cánh nhất: "đương nhiên là vũ khí chính để chiến đấu, vũ khí mạnh nhất mà mỗi cá nhân mang được, tương đương ngọn thương thời đồ gỗ", họ thường nói về thời chưa dùng súng như vậy. Bất chợt, anh không giấu kịp phát kiến mới về sự thiếu sót của mình, hơi há mồm.
Toàn thắng, súng máy tấn công áp đảo, pha chút tàn nhẫn của kẻ thắng: "khi là súng trường, tên Grăngđê dối trá bắn từ khóa nòng mở". Anh dừng lại xem đối phương có đầu hàng không.
Bằng một miếng riêng của dân An Nam, X thu phục kẻ thắng, anh cười không thành tiếng nhưng nóng cả người bạn anh. Rồi sau là từng chữ nhỏ giọt cho kẻ quên tất cả trừ cảm giác của người đói chờ cơm: "khi... là...", từ đã, "súng... máy...". Sự đồng cảm hiếm hoi nhỏ giọt bị cướp vội không chờ phân phát, bạn anh làm một tràng: "thì có 20 viên đạn và bắn chậm như piston xe lửa". Bất ngờ người bạn Pháp phá ra cười, đối phương chơi anh đúng bằng cái chiêu mà anh đang nói đến, giọng nói lắp lừng danh của Grăng-đê.

Họ say sưa nói với nhau nhiều về súng máy, họ lại tâm đầu ý hợp hơn cả một đôi tình nhân. Súng máy đã làm kỵ binh chìm vào lịch sử khi binh chủng lạc hậu này cố giữ vị trí huy hoàng cổ xưa như một bà già hom hem tưởng mình mười tám. Cậu nói đúng quá, cả đại bác bắn đạn ria nữa. Cậu nói hay quá, tớ thêm này, những thứ sẽ thành vũ khí hiện đại như máy bay không thể thiếu súng máy. Ô, cậu là nhà quân sự tiên phong, súng máy là cỗ máy giết người hiệu quả hơn con người, vì thế, nó làm chiến tranh bế tắc ở Véc Đoong, thần chiến tranh đã sa lầy, và hòa bình sẽ đến. Cậu thật là một thánh nhân, người Đức hay nói "Si vis pacem, para bellum" (giọng phát âm La Tinh ngọng và sai ngữ pháp) là muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Ngắt lời cậu chút, bọn Đức không phải là những nhà thiết kế đường đạn tốt, nhưng theo tớ, chúng rất thực dụng, MP18 của chúng không có gì mới về đường đạn, nhưng rất hiệu quả. Ừ đúng, người ta hay nói về khả năng chiến đấu trong hầm hào của MP, nhưng theo tớ, tương lai của nó lớn hơn nhiều như thế, cái chính là càng tầm gần thì MP càng mạnh, khi đó ảnh hưởng của thuật đường đạn giảm đi. Cậu nói không đúng lắm, bao giờ đường đạn cũng là điểm chủ chốt của vũ khí. Cái này thì cậu sai, lựu đạn có cần đường đạn đâu nhưng vẫn hiệu quả. Và thế là một cuộc chiến tranh thế giới mới lại bùng nổ, không ai nhớ là cuộc chiến tranh thế giới thứ mấy nghìn.

Quá say sưa với việc chế tạo bằng được ST-1, X không có điều kiện nghiên cứu nhiều về chiến thuật, tính năng như bạn anh, X cũng không có khả năng tiếp xúc nhiều với những binh lính và sỹ quan cấp thấp đã từng chiến đấu trực tiếp như bạn anh, cũng như quan hệ gia đình với những nhà chiến lược Pháp. Anh khâm phục bạn anh có con mắt nhìn tiên phong. Người thanh niên đầy nhiệt huyết và tài ba đã chỉ rõ những sai lầm của Chauchat và những sai lầm ngược chiều của MP. Anh sớm chỉ ra rằng, cần một đường đạn hoàn toàn mới, đường đạn có khả năng xung phong như MP, có khả năng trợ chiến như Madsen, có tính đối kháng như ST-1. X biết điều đó là hoàn toàn đúng, đúng một cách hiển nhiên, hiển nhiên tài năng của bạn anh sẽ thực hiện được điều đó. Bạn ông X không đặt tên phát minh chiến lược đó là súng trường xung phong như sau này người ta sẽ gọi, nhưng ông X vẫn thường gọi STXF-1 là fusil Pier, tên ông đặt cho người bạn khi nói chuyện ở Tula Việt Bắc.

Sau mấy chục năm trường chinh thiết kế và tổ chức sản xuất nhiều loại súng, các loại súng của chiến thắng, ông X mới biết tin người bạn của ông. Trong năm cuối cùng X ở bên Pháp, bạn anh đi làm, ít gặp anh và không hề nói với anh về việc thật sự ông đang làm, là thực hiện khối lượng tính toán khổng lồ thời không có máy tính để tìm sơ tốc, khối lượng đầu đạn, hình dang đầu đạn, tốc độ xoáy... ưu việt nhất cho loại đầu đạn có động năng đầu nòng 1950 J. Con số này có được khi thử nghiệm sự rung trong loạt liên thanh bắn bởi cỡ nam thanh niên phổ biến nhất ở Pháp. Kết quả cụ thể sau đó là loại đạn súng trường mới, nhưng việc thay đổi súng trường tiêu chuẩn đe dọa vị trí của hàng loạt các thế lực bảo thủ trước khi các thế lực này bại trận cùng nước Pháp. Là người trọng danh dự và kiêu hãnh về nước Pháp, Pier không chạy sang các nước đồng minh, không đem công trình của minh ra khỏi Pháp. Trong thời gian đó, công ty Geco bên Đức rất vất vả mà cũng không thành công súng trường xung phong, các chương trình bên Đức dừng lại năm 1939 và không bao giờ tiếp tục. Sau chiến tranh, Pier trở thành một nhà toán học, trốn sâu trong tháp ngà, không bao giờ đả động đến vũ khí. Các công tình toán học về sử dụng máy tính trong giải tích của Pier được người Đức phát triển tiếp, gọi là "Giải pháp đúng nhất", cả ở Đông Đức và Tây Đức. Liên Xô biết về loại đạn của Pier rất muộn, đến những năm 198x Liên Xô có ý định sử dụng cỡ đạn 6,2mm của ông, nhưng chỉ dừng ở thử nghiệm vài loại súng trường, vì lúc đó Liên Xô đã phổ biến các loại đạn AK, giá phải trả cho việc đổi toàn bộ súng trường và đạn quá đắt.



X như là một mục tiêu nho nhỏ để Pier thử nghiệm khả năng xung phong dũng mãnh của súng trường thế hệ mới. Còn X, anh phòng ngự bằng thế mạnh đối kháng tầm xa của súng trường cổ điển, khả năng tối đa cho ST-1. Không có điều kiện hé lộ những nghiên cứu về súng ống, X chỉ có nguồn đánh giá về chiến thuật duy nhất từ bạn anh. Tuy không say mê với những khả năng xung phong mạnh mẽ của súng cầm tay như Pier, tuy đối kháng cổ điển, nhưng những thông tin về các loại súng xung phong mà Pier mang về cho X có nhiều điều quý giá. Lúc đó, Pier và X không hề biết khả năng bắn chụm loạt cực nhanh do nhà thiết kế Tokarev thử nghiệm bên Nga, điều này làm hai người bạn ngạc nhiên về việc một phát minh chiến lược lại thể hiện lần đầu tiên trong súng của một nước nhược tiểu là Phần Lan, duyên đưa lối, họ lại ngạc nhiên về chất lượng vật liệu và phương pháp gia công thủ công của khẩu Suomi. Những thông tin về chiến tranh Tây Ban Nha càng làm súng xung phong nổi đình nổi đám, làm súng trường và súng máy phát động chiến tranh nhiều hơn, ký được nhiều hiệp ước hơn.

Một lần, X bỏ ăn, không nói, mắt thâm quầng cả tuần nhìn ảnh hai khẩu MP18/I và MP28/II chiến lợi phẩm của quân chính phủ Tây Ban Nha được chụp đăng báo. Pier lờ mờ nghĩa ra cái gì đó, nhưng chưa nghĩ ra hẳn. Cảm nhận hơn về việc bạn anh chỉ có mình anh là nguồn sách báo về súng ống, Pier quan tâm hơn việc thu thập những loại ảnh mà bạn anh thích. Trong căn phòng riêng của anh, X có riêng một bàn học, từ chiến tranh Tây Ban Nha, trên bàn đó luôn có ảnh ba khẩu súng xung phong, là MP18/I hiệu Arsenal Taillinn, MP28/II hiệu Naranjero và Suomi của Phần Lan. Vượt qua nhiệt tình yêu nước điển hình của một người cực kỳ thông minh, Pier nghĩa ra và quý trọng người bạn thân mà ông biết sẽ chế những khẩu súng tốt nhất để đánh lại nước Pháp. Là một người trọng danh dự kiểu cổ điển Pháp, Pier không bao giờ nói điều đó cho ai, hai người bạn vẫn thân nhau, nhưng Pier không bao giờ gặp lại bạn ông sau buổi chia tay trên cảng. Cuối đời ông, người ta thấy trên tường căn phòng cũ chỉ còn 3 bức tranh cũ đó được lồng trong khung kính.
Căn phòng hết hoàn toàn chiến tranh từ trước khi ông X về nước, thời gian cuối, Pier cũng rất bận, ít về nhà. Cho đến cuối tk20, khu phố vẫn cổ kính lặng lẽ, nhà toán học già ngày ngày chống ba toong đi theo một hành trình không đổi. Lúc bác sỹ nói đến ca mổ cắt khối u khó qua, ông mới trăng trối treo thêm bức tranh thứ 4. Đó là bức ảnh vẽ phối cảnh mầu của STXF-1, cỡ đạn 6,5mm, to hơn đạn của Pier 0,3mm.




Thỉnh thoảng họ cũng cãi nhau, họ cãi vã về đủ thứ.
được thay bằng
Họ cãi vã về đủ thứ và nhiều chuyện không bao giờ có ngã ngũ.
...............


Tiêu đề: Bên ngoài nòng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tám, 2009, 01:36:47 pm
Bên Tây, Tạ Đình X chỉ thực thiện được những thí nghiệm về công nghệ gia công. Ông chọn một mẫu đường đạn giống hệt Mauser, dùng chung đạn, với ý định đơn giản là dễ tìm nguồn cung đạn bền Tầu, nhờ đó giảm rất nhiều công thiết kế đường đạn. Còn những thử nghiệm bắn thật chỉ được thử nghiệm sau khi ông đã là một nhà Cách Mạng, được đồng đội hỗ trợ, che chở. Phần lớn những thử nghiệm bắn thuốc nổ thật trong KH44 là thử áp lực để chọn ra mẫu cổ súng hợp lý. Không có phương tiện thử nghiệm hiện đại, Tạ Đình X đã xây dựng dưới hầm biệt thự Tạ Đình Đề ở đồn điền Chi Nê một máy thử bắn, mẫu thử treo trên các dây thừng, điểm hỏa bằng cò điện, hầm thử rất nhỏ, hình chữ U, mỗi chiều một mét, có cửa ngăn với một nhánh chống khí độc thoát rất chậm. Mỗi khi bắn, người ta đậy một cái nắp dầy bằng bùn trộn rơm có khung tre tránh tiếng nổ vang xa. Mỗi khi có dấu hiệu đáng ngại, nhà tư bản thích săn bắn lại đem súng săn ra thử để lập lờ.

Các thử nghiệm ban đầu được thực hiện bởi công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm và một đốc công người Việt ở đó. Theo bản vẽ của Tạ Đình X, họ chế tạo một máy cò dật dây, súng được thử trong một rãnh nông đào nhanh ở Tam Đảo và Ba Vì, sau khi thử, dấu vết thử được xóa sạch và rãnh được làm lại trông như một rãnh đào tê tê của một cuộc đi săn. Các thử nghiệm này có nhiều loại cổ súng, phần nòng dài 25cm, không khương tuyến. Nhiều loại cổ súng trong đó về sau không được đánh số và thử nghiệm tiếp. Sau này, do phát hiện nhiều dấu hiệu nguy hiểm nên thử nghiệm dừng lại. Trong quan điểm của ông X, các thành viên xe lửa Gia Lâm của tổ chức bí mật TV có vai trò đặc biệt quan trọng sau này, họ sẽ đem đi nhưng máy cái quan trọng nhất ngay khi có cơ hội, họ cũng là một tập hợp ăn ý có gần đủ các loại công nhân áo xanh cần thiết nhất.
 
Ban đầu các thử nghiệm ở Chi Nê cũng có nòng dài 25cm, nhưng về sau chỉ có loại nòng dài 10-15 cm, cũng không có khương tuyến, các nòng chưa khoang lỗ và làm buồng đạn được chuyển đến Chi Nê, được đặt làm như một chi tiết máy ở Nhà Máy Điện Yên Phụ bởi các công nhân của ta, như một việc làm ngoài giờ thường được các Xếp nhân nhượng như một đặc ân. Đạn thử áp lực là loại đạn Mauser nhưng thay đầu đạn 16 gram, ban đầu là đầu đạn đồng đỏ đập từ dây điện, được mài cho đúng kích thước, sau là đạn chì.

Do nòng của ST-1 được làm từ gang cầu nên nó rất nặng và không giáp lá cà được, hoặc là lê được lắp vào ốp gỗ kéo dài đến mũi súng. Nhưng, 10 vạn súng trường tiêu chuẩn ST-1 đáng quý, bất chấp nòng nó dễ gẫy. ST-1 nặng khoảng 5-6kg, hơn từ 1 đến 2 kg so với Mauser hay Mosin.

Do gang yếu lên loại răng ren tam giác thường thấy không dùng, mà dùng răng ren chữ nhật rộng 2-3mm, sâu bằng rộng. Loại ren này trông như vít me, nhưng bước ren ngắn hơn để chặt hơn. Bước ren lấy độ 1/10 là đủ, nếu như gang quá cứng ròn không đủ chặt chẽ thì đệm thêm roăng đen đồng. Cũng có thể làm các biện pháp hãm ren như hàn đồng, nhưng đơn giản nhất là nòng có một lỗ khoan sẵn được đánh dấu, sau khi vặn bù loong thật chặt, bù loong được hãm bằng cách khoan một lỗ đúng ở vị trí đánh dấu đó, rồi tán vào đó đinh đồng. Một cách hãm nữa là dùng một ren ngược to hơn, phía trước ren chính, nhưng khá phức tạp không cần thiết.

Gang Cầu là kim loại ròn, một ren làm bằng kim loại đàn hồi hơn sẽ dàn lực đều cho các đoạn ren, nhưng gang cầu không đủ khả năng đàn hồi đó nên ren rất yếu, việc chế tạo ST-1 gặp khó khăn lớn về ren và chỉ đảm bảo chất lượng trong năm 1948.

Vì làm từ gang, nên ST-1 có nhiều đặc điểm khác thường. Nòng cũng khác thường.

ở mấu thử ST-1A, Đoạn ren được bắt vào vỏ máy súng (receiver) thường thấy ở nòng súng trường không có, vì gang cầu yếu, đoạn ren này không chịu nổi lực 6 tấn khi bắn. Vì vậy, nòng của ST-1A được lắp vào vỏ máy súng như cách của súng máy PK, nhưng khác một chút. Đuôi nòng ST-1A có hai tai, đặt nòng ST-1A vào vỏ máy súng từ trên xuống, hai tai lớn này chịu lực rất khỏe, do không ren được phải dùng tai nên cả nòng và vỏ máy nặng thêm một chút. Một đai bắt ốc sẽ cố định nòng ST-1A. Kiểu này còn gọi là kiểu đuối chữ T.

Đầu rồi và giá lắp lê nếu có cũng được lắp vào đầu nòng súng theo cách chả giống ai. Đầu nòng súng không tòn mà cao, giữa là nòng, trên là giá bắt đầu ruồi, dưới là giá bắn lê, hai thứ này được xiết vào nòng ở các lỗ khoan ngang trên và dưới.

Một thiết kế nhẹ nhàng hơn là một ốc dài rỗng có lỗ bên trong hình sao và đầu nòng cũng có một đoạn hình sao, xoay hình sao của ốc dài để luồn qua đầu nòng, rồi vặn bu lông bên ngoài ốc này chống vào một gờ phía sau nòng, kiểu này rất chắc chắn khi các đầu cánh sao được làm hình V, V lồi lắp vào V lõm.

Kiểu vừa gọn vừa chắc chắn là khi vặn chặt thì ốc có lỗ sao được kéo ra trước bằng một bu lông có đáy chỉ cho đầu nòng chui qua được, mắc vào hình sao. Các phương pháp này cũng dùng cho việc lắp nòng ST-1 vào vỏ máy súng, nhưng mẫu thử loịa này không được chế tạo.

Một kiểu dễ chấp nhận hơn là tiện ren không chịu lực ST-1B, có 3 mẫu thử ST-1B đánh số ST-1B1, ST-1B2 và ST-1B3 chủ yếu khác nhau chiều rộng và chiều cao ren. Đuôi nòng hình sao được luồn vào đoạn đầu vỏ máy súng cũng hình sao, xoáy đi nửa cánh sao rồi bu lông được vặn vào đoạn rên phía trước một chút, kéo nòng súng ra trước, ép chặt vào vỏ máy súng, các cánh sao được mài nhọn phía trước, khớp vào các khe chữ V trên vỏ máy súng gây ra các khó khăn khi gia công. Phần chịu lực bắn 6 tấn sẽ là  cánh sao, còn ren chỉ là cái để xiết chặt nòng thôi, cách này làm súng nhẹ hơn hẳn ST-1A và cũng có thể cho vị trí lắp đầu rồi và giá lê. Bu lông này không cần cường độ cao lắm và cũng làm từ một khúc ray. Hoặc là tiện một vài bu lông nối nhau từ các thanh ray xẻ dọc. Đuôi nòng hình sao rất nặng do nó không được trợ lực từ vỏ máy súng như đuôi nòng ren, đồng thời, rất khó sắp 2 phôi ngược nhau trên một đoạn ray, chung nhau phần nòng và riêng phần đuôi nòng. Nếu như chấp nhận tốn nguyên liệu, thì đuôi nòng có đường kính nhỏ 45mm, cho buồng đạn dầy 15mm các cánh sao có đường kính tối thiểu 60mm. Vì làm từ ray tầu hỏa, nên các cánh sao không đều và cõ lẽ chỉ có hai tai hai bên. Việc quyết định làm loại nòng nào phụ thuộc vào kết quả thử áp lực, nòng chỉ cần bé hơn một chút là có thể làm 2 nòng một đoạn ray, rất tiết kiệm. Nhưng nếu thử áp lực cho kết quả xấu, tức nòng phải to, thì các phương án khác được áp dụng.

ST-1C1 là mẫu thử dùng khi nòng cần quá to, thì cái nòng sẽ chỉ có một hướng tai, tức là các răng cắt khúc hướng xuống dưới. Vỏ máy súng cũng có các răng khớp vào, nòng và vỏ máy súng được siết bằng đai bao quanh cả hai, chỗ chúng đè lên nhau được đệm bằng đồng lá để dàn đều lực của các răng. Răng được làm theo chiều ngang của thanh ray. Đai rèn từ đinh ray, cần 4 đai, vì 2 đai là đủ và hai đai dự phòng, nếu kinh nghiệm chiến đấu cho thấy đai tốt thì bới đi còn hai đai. ST-1C1 có đai và bu lông đều rèn từ đinh ray, ủ thấm carbon rồi tôi.


ST-1C2 dùng cách chắc chắn hơn để đóng kiểu nòng răng vào vỏ máy súng là đóng đai vào đoạn côn của nòng. Đai rèn nung đỏ đóng từ phía đầu nòng xuống nòng côn và vỏ máy súng cũng hơi côn. Cả nòng và vỏ máy súng làm nột số nhát cưa nông ngang dễ bám, đóng đai xuống đến mức đai hơi bị kéo dãn, rồi ngâm nước như tôi, đai co lại sẽ xiết nòng vào vỏ máy súng cực chặt. vỏ máy súng làm hình máng, trong có răng.
Đai được làm từ đinh ray, đinh ray dát mỏng thêm còn 5mm, cuốn tròn lại, có thể hàn hoặc tán đinh cho đai chắc, nhưng một đai tóp dát từ đinh ray chắc chắn dài đến 40cm được, dầy 5mm, quấn như hình lò so dễ dàng hàn hoặc tán đinh, hay đơn giản là giũa các gờ, rãnh, cho chúng bám khít vào nhau. Đai trước khi đóng được giũa để làm nhắn mặt bên trong, tăng cường khoẻ mạnh. Thêm nữa, có thể mài các gờ riêng cho đai trên nòng hoặc vỏ máy súng, khi quyết định dùng đai.

Phương án đai là phương án dùng khi kết quả thử áp lực xấu. Vậy ST-1 của Tula Việt Bắc có kết quả thử nghiệm xấu hơn nữa không, tức là tiết diện lớn nhất của thanh ray khi đặt hình tròn không đủ để làm buồng đạn. Ô, thật là may mắn. Mình để các bạn tự đo về kích thước. Về vật liệu, ray tầu hoả làm bằng gang cầu, loại gang làm từ lò Mac-tanh nhiệt độ cao (1800 độ), nó có khả năng chịu áp lực như trong nòng súng cao ngang thép carbon tốt. Về phần áp lực thì OK rồi, phần chịu mài mòn thì nó cao hơn các loại thép nhiều, là loại chịu mài mòn tốt nhất trong gang thép carbon, đặc biệt là mài mòn khi không có dầu vì các tinh thể carbon trong đó đóng vai trò dầu bôi trơn. Chính vì những đặc tính đó mà người ta dùng nó làm đường ray. Gang cầu cũng không rẻ, bằng cớ là ngày nay người ta luyện nó từ thép xây dựng (mác CT như hay dùng ở ta), giá nó cao vì nhiệt độ luyện cao hơn nhiều gang thép thường (1300 độ). Ơn trời, Tula Việt Bắc kiếm được 30km không rẻ đó trong một mỏ lộ thiên.
Kể cả kết quả thử áp lực xấu vì Tây làm loại "gang thuộc địa" chuyên dùng cho Đông Dương chẳng hạn, gang Anh đô si noa chẳng hạn, thì ông X vẫn có cách, format một loại mới, đạn có vỏ  gờ móc hình trụ như 185x đi, đường kính vỏ đạn 7,62mmm chỉ là 10mm đi, thì vẫn dùng được ray tầu hỏa. Khóa nòng nó sẽ dài hơn, nhưng điều đó không thành vấn đề lớn với chiến sỹ Việt Minh mang súng trường ST-1 nặng 6kg.

ST-1D là kiểu dễ làm nhất là nòng có hai tai, vỏ máy súng cũng có hai tai phía trước hai tai nòng, cả bốn tai đều khoan lỗ để bắt ốc xuyên qua. Vỏ máy súng làm từ một đoạn ray tầu hỏa nên hơi tốn nguyên liệu, hai súng sẽ mất 1,4 mét ray.

ST-1E là mẫu thử dùng kiểu nòng lắp bằng cách xỏ từ phía sau vỏ máy súng lên trước, siết bằng ren phía trước điểm nối. Toàn bộ phần buồng đạn nằm trong vỏ máy súng, phía trước bồng đạn, bên ngoài nòng có vai thẳng góc với trục nòng, nhưng đoạn sau phần buồng đạn lại côn nhẹ, đệm đồng được đặt trên cả vai và đoạn côn. Một miếng đồng to dập thành hình cái cốc, đáy có lỗ cho nòng đi qua được dùng làm đệm. Kiểu này cho phôi nòng nòng nhỏ nhất, nhưng lại bó buộc kết cấu của máy súng.

ST-1F là kiểu nòng ren bình thường như Mauser, Mosin. Tuy nhiên, khi vặn ren vào, phải kẹp theo một đệm đồng xoắn trôn ốc theo ren. Thử nghiệm không thành công, ren rất dễ vỡ. Sau này, người ta mạ một lớp đồng mỏng lên ren bằng mạ điện, sau đó mạ thiết nhúng, vặn vào vỏ máy súng rồi nung, hàn liền nòng và vỏ máy súng. Kiểu này chứng tỏ khá bền, nhưng gia công mất thời gian. 

ST-1E và ST-1F là hai kiểu cổ súng được sản xuất nhiều nhất. Sau đầu năm 1948, thì việc mạ đồng đỏ thay cho đệm ren đã phổ biến, nhưng lại phổ biến là mạ phía trong bu lông bắt ren kiểu ST-1E. Sau Việt Bắc Thu Đông thì các cơ sở của Tula Việt Bắc ổn định vị trí, trạm phát thủy điện hoạt động đều cung cấp đủ điện cho công đoạn mạ, việc vận chuyển bu lông nhỏ đến và đi khỏi công đoạn mạ gọn hơn, nên phương án này được ứng dụng nhiều, chiếm sản lượng chỉ yếu từ serial 030000. Nhưng kiểu ST-1F ngày nay hiếm có và được sưu tầm với giá cao gần gấp đôi, nó hiếm vừa là do sản xuất ít, vùa là do hàn liền vỏ máy súng nên vứt cả nòng đi khi bị hỏng.



Bên ngoài nòng không ren được làm hoàn toàn từ mài, trừ ren. Mỗi phần trên của khúc ray tầu hỏa được xẻ chéo thành hai phôi nòng ngược nhau. Phôi được đặt lên một giá quay như máy tiện, nhưng đơn giản hơn vì không chịu lực và truyền động nhiều. Vòng đồng tâm cũng không cần mà chỉ cần một lỗ hình côn, tu đối diện sẽ đẩy phôi chặt vào cối đó, thợ phụ khéo phôi quay bằng thiết bị như quay bễ, nhờ thế không cần bánh răng phức tạp, vòng bi có thì tốt nhưng việc gia công phôi không cần chính xác lắm. Một thợ phục khác quay guồng cho đá mài quay, đá di chuyển bằng vít me như máy tiện. Vít me có thể do máy tiện chế tạo, hoặc nối từ các ốc và bu lông.


Bác Đoàn còn lưu trữ vài mẫu thử ST-1 rất lạ, không hiểu được đánh số là loại gì, bảo bác ấy cho xem nhưng bác ấy giữ như là...


Tiêu đề: Buồng đạn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Tám, 2009, 05:13:26 pm
Do có nhiều loại cổ súng khác nhau, nên ST-1 cũng khó ổn địch cấu trúc buồng đạn sớm.
Bên Tây, ông X đã nhiều lần nghĩ đến việc làm đạn có gờ móc. Đạn có gờ móc không cần buồng đạn chính xác lắm, vì gờ móc không cho đạn tụt sâu vào súng. Nhưng rồi, ông X đã quyết định dùng đạn Mauser. Trong các tính toán của ông về một quân xưởng bí mật, khâu làm đạn gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng đạn Mauser là cần thiết cho tính dễ mua.

Việc dùng đạn không gờ móc làm việc gia công buồng đạn trở nên khó khăn hơn nhiều. Đạn không gờ móc định vị chiều sâu vỏ đạn bằng vai, nòng súng bao giờ cũng là thép cứng, gia công cái vai, một bộ phận có hình dáng phức tạp-yêu cầu chính xác cao là việc khó. Nếu như gia công không đúng, đạn sẽ sớm thụt sâu vào nòng sau khi nòng mòn, làm kim hoả không đến nơi, hoặc móc vỏ đạn làm việc không đúng, dẫn đến việc súng không nổ, hoặc bỏ lại vỏ đạn trong nòng.

Một yêu cầu nữa của buồng đạn là phẳng và bóng. Nếu như buồng đạn không phẳng, không bóng, nó sẽ tạo ra hằn trên vỏ đạn lúc đạn nổ, gây khó khăn cho việc kéo vỏ đạn ra và tăng khả năng vỏ đạn kẹt lại trong buồng đạn. Phần cần bóng là thân thân buồng đạn, vai thì không cần bóng bằng thân, nhưng cần chính xác.

Vollmer là nhà khoa học gia công tấm mỏng hàng đầu thế giới, nên MP Đức của ông trông đã thấy toàn dập. PPSh thì ghi chữ rèn thật to. Suomi đeo trên cổ tấm biển mài.

Tạ Đình X sau này, khi đã nổi tiếng khắp thế giới, được coi là một chuyên gia gia công vật liệu cứng, nhưng không chính thức. Tại sao lại không chính thức, vì gang cầu không phải là kim loại siêu cứng. Nhưng Tạ Đình X vẫn là chuyên gia gia công kim loại siêu cứng, vì kim loại này là thứ cứng nhất ông có. Ông phải dùng các biện pháp gia công với kim loại siêu cứng trên 55R để áp dụng cho gang cầu.

Ở Tây, ông đã miệt mài nghiên cứu hưỡng mũi nhọn với cơ khí là tia lửa điện, nhưng các thầy giáo Tây chưa tin lắm về một chuyên gia An Nam, nên trường đại học Cầu Đường Paris đã bỏ lỡ một cơ hội mà hơn 20 năm sau người Liên Xô giành mất. Đó cũng là một phương pháp dùng vật liệu mềm gia công kim loại cứng. Số phận đã đánh mất đi một cách gia công vật liệu cứng tốt nhất để các dân tộc lạc hậu làm súng tốt. Có thể, nếu ông thành công phương pháp cách mạng với công nghệ đó, thì người Tây hay người Đức sẽ giữ chặt ông lại với phú quý, cũng không chắc đã may mắn hơn cho số phận ST-1.

Khi phát triển phương pháp mài phôi quay của Suomi trở thành một phát minh nho nhỏ, bán được và có chân trong giới kinh doanh, ông cũng đã có tiếng tăm về gia công vật liệu cứng. Cách ông gia công buồng đạn ST-1 là một phát triển của các phương pháp này.



ST-1 không phải là súng có buồng đạn bền, gang cầu dù được sử lý hết khả năng, vẫn hay rỗ và sinh ra kẹt vỏ đạn. Tuy nhiên, những khẩu ST-1 không phục vụ lâu, chúng sớm được thay thế bởi sản phẩm chính của KH50 là STTD-1, nên trong đời làm việc ngắn của chúng, chất lượng buồng đạn đảm bảo, tỷ lệ rỗ không đáng kể. Đồng thời, các chiến sĩ Việt Minh cũng biết rõ khẩu súng của họ làm bằng ray tầu hỏa, nên họ càng thương yêu khẩu súng nghèo khó, giữ gìn rất tốt. Hầu như chiến sỹ nào cũng làm một túi cao su chụp đầu nòng tránh nước mưa và bụi. Những lô hàng cuối cùng của KH49 có phần ổ đạn được mạ chrom, quặng chrom lấy được từ mỏ ở Thanh Hóa mới giải phóng, khai thác thủ công, tinh chế thủ công và vận chuyển về Việt Bắc bằng xe đạp thồ, sản lượng điện cũng đã khá lớn để tinh chế đồng, chrom, volphram cho súng máy.



Chúng ta quay trở lại năm 1945 và 1947. Những Kỹ Sư Pháp nhanh chóng có mẫu ST-1, họ kinh ngạc về độ chính xác, độ bóng của buồng đạn và nòng. Nhưng họ không hề biết đó là sản phẩm của X, một kỹ sư trẻ nổi tiếng của Paris, nay đã thay tên đổi họ. Một số sỹ quan người Paris có hỏi nhau về một kỹ sư người Việt, nhỏ thó, trắng trẻo, ít nói, làm nghề cơ khí hoặc lục lộ, họ thực hiện yêu cầu của một cô gái giầu có và xinh xắn dễ thương, kỹ sư việt Nam rất ít, nhưng chiến tranh loạn lạc, tìm một người trên đất nước dài 2 ngàn km không dễ.

Buồng đạn được gia công như rãnh xoắn, dùng nguyên tắc mỗi nòng một dao. Điểm khác của buồng đạn ở chỗ, nó là kết quả của quy trình quản lý công nghệ tuy đơn sơ nhưng hiệu quả. Nhờ đó, mà súng được sản xuất với chất lượng cao nhất. Toàn bộ các khẩu súng được sản xuất đều có các bộ phận lớn ghi seri, hàng ngày, các thợ đều phải viết báo cáo và lý lịch mỗi súng, bao gồm từng cá nhân và tổ sản xuất được lưu lại, cùng những chỉ số chất lượng. Thành phẩm mỗi khâu được lấy ngẫu nhiên 20% đanh giá lại người kiểm tra chất lượng. Thời gian đầu, đích thân ông X tự tay kiểm tra các bộ phận quan trọng như ổn đạn, kim hỏa 20%, còn nhân viên kiểm tra lại phải làm đến 40%. Sau này, khi các triệu chứng lơ là trong kiểm tra ít rồi mất hẳn, ông X mới giảm tỷ lệ tự tay kiểm tra. Cũng chính vì các phương pháp quản lý rất Tây này mà ngày nay chúng ta có các tư liệu lịch sử chi tiết đến từng khẩu súng ST-1.

Những công nhân và bộ đội mới biết ông X thường quá mệt mỏi với những yêu cầu khắt khe của ông, như 500 động tác lên đạn, không ào ào lên nhanh mà mỗi lần lên lại phải ghi chép tỷ mỷ. Nhưng những công nhân nòng cốt, đội thợ áo xanh trong các nhà máy lớn, lại đặc biệt khâm phục ông X khi tự tay chế tạo và sử dụng những máy móc của ông thiết kế, lại làm nòng cốt cho tính kỷ luật, ông X giỏi hơn kỹ sư Tây, thì đương nhiên kỷ luật hơn Tây, họ quen nghĩ như vậy. Tula Việt Bắc không có hầm giam, nhưng ngay năm đầu tiên, năm 1947, có 200 thợ áo xanh, thợ phụ và bộ đội giúp việc đã xung phong ra tiền tuyến vì không chịu nổi kỷ luật khắt khe. Kỷ luật thép từ buổi ban đầu đã tạo ra một đội ngũ công nhân kiên cường, xây dựng nhà máy 300 năm tuổi, trở thành tập đoàn sản xuất vũ khí lớn nhất Thế giới ngày nay. ( năm nay là năm 2247).

Về mặt công nghệ, một bí quyết để gia công buồng đạn bóng mịn, chính xác của ST-1 là phương pháp làm dao nhanh. Dao là một cái giũa tròn, có hình dáng của thành buồng đạn, làm bằng gang. Cái giũa này không băm không cán như những cái giũa khác, mà được rèn dập hàng loạt, khuôn rèn dập có hai nửa cũng làm bằng gang, phôi nung nóng trắng đặt vào giữa hai nửa nhưng không tiếp xúc với nửa nào, chỉ bằng một nhát búa nhẹ, người thợ đẩy cả hai nửa khuôn và phôi dập khít vào nhau, sau đó lò xo lại đẩy hai nửa khuôn rời ra, người thợ đang cầm kìm dài gắp phôi đã rời tay ra, phôi rơi ngay xuống nước làm nguội bên dưới. Sau đó đá mải bỏ những phần không đạt trên mặt dao. Nhờ phương pháp đặc biệt này mà khuôn bền, có thể gia công được 100-200 dao mới hỏng. Khuôn được băm bằng cưa tròn từ các miếng gang đã được mài một cách chính xác.

Dao kiểu giũa thu được là một cái giũa thưa, có khoảng cách răng 2mm, răng dầy 1mm, cao 0,5mm, thật ra nó không cắt gọt bằng lưỡi của nó, mà chỉ gạt bột mài cứng mịn. Người ta thực hiện gia công tinh buồng đạn bằng cả phôi quay và dao quay, phôi quay chậm với tốc độ 1-2 vòng /s, dao quay ngược chiều phôi với tốc độ 10-20 vòng /s, con số chính xác khó đạt được do người quay thủ công, nhưng thế là đủ. Phần dao quay có bánh đà để tốc độ quay được ổn định. Phần gia công này chỉ thực hiện phần thành to của buồng đạn, phần vai có yêu cầu chính xác được thực hiện bằng khoan mài hiệu chỉnh liên tục.



Tiêu đề: tiếp của Buồng đạn
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 24 Tháng Tám, 2009, 05:24:05 pm
Phôi được khoan thô bằng mũi khoan gang đường kính 9mm, sâu 46mm, phương pháp khoan mài cát. Mũi khoan được sản xuất hàng loạt và rất nhanh hao, mỗi lần khoan thô một buồng đạn, thì mũi khoan cũng hao đi 40-50mm, 100 khẩu ST-1 mỗi ngày cần 20 thanh gang tròn dài 300mm, rộng 9mm riêng cho công đoạn này. Cát là loại mịn được đãi kỹ, nhưng là cát silic dễ kiếm, chứ không phải bột mài cứng như phần gia công tinh. Mũi khoan thô dựng đứng, nòng cắm đứng xuống, người ta đổ nước và cát qua miệng nòng để tăng tốc độ khoan. Khoan buồng đạn trước khi khoan nòng chậm hơn, nòng dựng chúc đầu nòng xuống đất, mũi khoan được cưa xẻ các rãnh tam giác sâu và ngang 3mm để cát mịn và nước lọt xuống, thợ khoan nhấc nhẹ mũi khoan rồi lại hạ xuống nhịp nhành khoảng 1 phút một lần. Tòan bộ mũi khoan và lỗ khoan đặt trong một ống đựng nước và cát mịn được gắn vào đuôi nòng, chống rò nước bằng cao su. Phương pháp khoan từ trên xuống về sau lại có hiệu quả cao hơn nên về sau các nòng đã khoan rồi cũng bịt lại bằng giẻ để thực hiện cách này. Các nòng khoan thô buồng đạn trước khoan nòng thì sau đó khoan nòng, việc gia công tinh buồng đạn thực hiện sau khi khoan nòng.

Trong khi xảy ra Thu Đông 1947-1948, địch đánh phá ác liệt, việc vớt nguyên liệu ở đáy sông Lô gặp nhiều khó khăn, đã xuất hiện dao đá để khoan phá buồng đạn. Dao đá được đẽo mài thủ công từ đá mài, khi lắp hiệu chỉnh rất lâu, mỗi dao chỉ được một nòng, nhưng tạo ra một niềm tin ngộ ngĩnh, "máy đá thắng máy bay", câu khẩu hiệu ngộ nghĩnh được kẻ trân trọng trên bàn làm việc, cửa hầm máy và trên một số báng súng tặng riêng. Máy đá thắng máy bay, nó không phải là khẩu hiệu, mà là sự thật 100%. Sau đó, các phần khác trên ray khi cắt phôi nòng nhiều, việc dùng dao hiệu quả hơn và sản xuất hàng loạt tốc độ cao, nên dao đá ít dùng

Do có thể thay đổi quy trình, nên Tula Việt Bắc dễ điều chỉnh kế hoạch để tận dụng tối đa số máy ít ỏi mà họ có.

Sau khi khoan nòng và khoan thô buồng đạn, thợ khoan thay dao. Dao mới là dao có hai cạnh mũi nghiêng 18 độ 9 phút để mài vai buồng đạn, dao cũng là thanh gang 9mm dài, nhưng phần đầu xẻ tư một đoạn 20mm. Bí quyết của độ chính xác là dao được hiệu chỉnh liên tục. Mỗi khi khoan xuông 1 mm, dao khoan mài lại được rút lên, một hình vẽ được cho ngay vào khe xẻ và người thợ phát hiện ngay ra sai số. Trên máy khoan có sẵn một đá mài quay, đã dịch chuyển được bằng một ray đặt nghiêng mới trục mũi khoan một góc 19 độ 8 phút, chỉ cần hạ đá xuống trong khi quay là mũi khoan lại đúng kích cỡ. Khi gần đạt yêu cầu, thì chỉ cần mũi khoan nhích 1/4 mm là người ta lại xem lại và mài lại hình dáng của nó.

Một số trường hợp sau khi kiểm tra phát hiện lỗ rỗ ở vai không đạt yêu cầu, một thợ lành nghề được điều động và quyết định sẽ mài thêm một chút cả buồng đạn và đuôi nòng nếu được.
Về sau, kinh nghiệm cho thấy là máy mài thô và làm vai rời nhau, điều đó làm máy mài thô bớt ray dưỡng cho việc mài mũi khoan vai nhanh, rẻ hơn, đồng thời không cần thời gian thay dao. Nhưng ban đầu, quá ít máy móc, Tula Việt Bắc đã làm chung máy.


Thành buồng đạn được thực hiện bằng dao rèn dập. Ban đầu, sau khi làm vai người ta thay dao rèn dập. Phần đầu dao có kích thước khác nhau, nhưng đầu dao rèn dập được các thợ nhỏ bắt vào một cán và hiệu chỉnh theo kích thước tiêu chuẩn, nên thay nhanh. Dao hạ dần xuống nước và cát mịn, gạt cát mài mòn buồng đạn đúng như hình dáng của nó. Phương pháo này rất hao dao, mỗi buồng đạn mất luôn một dao, nhưng máy thì chỉ cần một cho cả ba công đoạn.

Phương pháp cả phôi và dao quay trên được áp dụng sau cuối năm 1947. Dao và phôi quay, dao tiến vào buồng đạn theo hướng thành buồng đạn chứ không phải hướng trục tâm. Phần kim loại lớn được đầu dao cắt gọt, giũa theo chiều từ ngoài vào, mặt cắt gọt vuông góc với thành buồng đạn, nên không ảnh hưởng đến độ bóng, thành buồng đạn đã được mặt đầu dao gia công thô tiếp tục được phần chu vi dao gạt cát mài bóng và chính xác, tròn đều vì phôi luôn quay. Khi dao mòn, người ta mài bỏ phần đầu và dùng đá mài xẻ vài rãnh gạt cát ở phần đầu mới, phần thân dao phía sau chưa bị mòn, vẫn chính xác, điều này làm mỗi dao dài 25cm dùng được cho 4 buồng đạn.

Các thành buồng đạn thực hiện bằng phương pháp mài phôi quay nghiêng có thành rất thằng theo chiều dọc, trong khi phương pháp phôi đứng yên xuất hiện nhiều gờ quay tròn, nên súng phôi quay tốt hơn hẳn. Các súng sau khi chế tạo đều thử áp lực cao và đếm số lần kẹt đạn, nên dù phương pháp gia công thô sơ, không một súng kém chất lượng nào xuất xưởng.




Công đoạn cuối cùng để gia công buồng đạn là doa đánh bóng đoạn cuối nòng, phần phía trước vai đến đầu vỏ đạn. Do thiết bị thiếu, nên công đoạn này ban đầu hoàn toàn được thực hiện bằng các công cụ tre và dây rừng, ngay cả dây thừng Tula Việt Bắc cũng thiếu, đay được tiết kiệm tối đa để làm thuốc súng. Một số loại dây rừng tốt được bà con đồng bào truyền cho Tula Việt Bắc, ban đầu chủ yếu là bà con khai thác tự nhiên giúp quân xưởng, sau đó dây rừng được trồng nhiều như là một thứ cây lấp kín các hố bom địch, dọc các đường mòn. Việc trồng, tính tuổi và khai thác được lên kế hoạch tỷ mỷ. Một thanh tre được chẻ làm tư, độn vào giữa một que tre vót nhỏ để bốn cánh xòe ra, miết bột mài vào thành nòng súng trong khi người thợ dùng cung dây rừng kéo quay như khoan. Một thanh tre tròn luồn từ đầu nòng súng giữ máy doa cuối nòng không thụt sâu, nòng súng buộc vào một giá tre. Một tổ 5 người chuyên làm việc này, khi đầu thanh tre mòn, người thợ chặn bỏ, thường là sau hơn chục lần chặt thì nòng đủ độ bóng, người thợ soi qua bằng mắt thường rồi chuyển lên khâu kiểm tra.   

Cuối năm 1947, việc doa xoay chuyển một nửa thành doa rung. Một nan hoa xe đạp thồ được ta rô xiết chặt một đĩa doa rung làm bằng thép kẹp keo da trâu, máy rung quay tay tuy đơn sơ, nhưng ban đầu quá nhiều việc, Tula Việt Bắc không kịp chế tạo.. Một dáng kiến nhỏ nhưng làm giảm tỷ lkeej phế phẩm rất nhiều là đĩa rung đượng xoáy bằng ngón tay thợ doa, qua một kẹp gang có khe được làm từ hai miếng gang xiết ốc, một miếng gang mòng được bắt chặt vào cán doa, khi mòn tháo bỏ đi. Doa rung cho chất lượng hơn hẳn, được thực hiện sau khi bớt thời gian doa xoay đi một nửa.

Đến năm 1985, khi cải cách mở của, một số công nhân về hưu cua của Tula Việt Bắc đã trở nên giầu có khi gia công cho thị trường mới các khâu doa, nhờ chất lượng doa tuyệt vời của họ mà xi lanh được làm từ kim loại cứng có giá rẻ, đồng thời họ cũng đánh bóng các chi tiết động cơ rất rẻ cho các thương hiệu xe máy. Honda không thể nào cạnh tranh được, cuối cùng đành xuôi theo ý trời bằng cách mua và thuê sản phẩm của họ. Giá cả cạnh tranh vì từ bột mài, máy móc họ đều tự làm. Trong khi dựng máy, họ đã có những công nghệ chế tạo các mặt giá máy chính xác. Trong khi gia công, họ cũng sẵn các công nghệ kiểm tra hoàn hảo.



Hai thiết bị kiểm tra chất lượng đặc biệt được chế tạo để kiểm tra vai. Một là một giá kiểm tra , một bộ phận gồm một thước và một gương được luồn vào để người kiểm tra soi độ chính xác và độ bóng, phát hiện rỗ. Thước có thành sát thành buồng đạn, được mài tỷ mỉ thủ công bằng gang nên rất bền. Thước mỏng, đặt ngăn đôi buồng đạn theo trục nòng, dễ phát hiện ánh sáng lọt lên nửa trên từ nửa dưới được chiếu sáng bởi gương và bóng đèn, người kiểm tra xoay nòng đã gá lên giá một vòng để đánh giá độ hở. Sau đó, thay một gương kiểm tra khác có thấu kính phóng to để phát hiện rỗ. Việc phát hiện rỗ là một quy trình nghiêm ngặt quay đúng 11 vòng, mỗi lần cho gương vào sâu một nấc vạch sẵn. Thứ 3 là một gương soi rỗ trên vai. Thứ tư là gương chuyên soi phần sau nòng súng.  Thiết bị kiểm tra thứ 2 là một trụ tròn được ghép từ 30 tấm xếp theo hình bán kính, trụ tròn này được đặt trong một ống, thành trong ống có khắc sẵn vạch, các tấm được mài thủ công ty mỉ sao cho khi xếp vào nhau nó có hình vỏ đạn và dài hơn ra ngoài. Đặt trụ này vào buồng đạn, đánh giá ngay được một phần sai số của vai. Nếu có một tấm thụt sâu quá mức, vai được mài lại và có thể đánh giá lại để mài lại đuôi nòng.

Công đoạn kiểm tra cuối cùng về buồng đạn là khi súng hoàn thành, cùng với việc bắn thử là 500 lần lên đạn, những tờ giấy in sẵn được phát cho các "nhân viên lên đạn", đánh dấu kết quả từng lần lên đạn, lên đạn không bắn, lên đạn trước khi bắn và lên đạn sau khi bắn. Tất cả các xạ thủ bắn thử, lên đạn thử, bắn thử áp lực trong hầm kín bằng cò giật từ xa... đều được được huấn luyện nghiêm ngặt, cán bộ chính trị quán triệt đến viêm phổi suýt chết về tầm quan trọng của thử nghiệm và ghi chép, và cả những cán bộ chính trị này cũng được biên lại đầy đủ lịch sử công tác. Không hề có súng nào bị loại bỏ khi thử lần cuối vì vai không đạt yêu cầu. Khá nhiều súng, thường là 10 ngày có một súng, xuất hiện rỗ sau khi thử nghiệm và bị loại, chiếm gần một phần ngàn số súng trước khi thử.



Ban đầu, chỉ có duy nhất một máy làm cả ba công đoạn thành buồng đạn. Sau này, có hơn 10 máy cho khâu này, các máy giống nhau, chỉ khác nhau một vài bộ phận rời nhỏ. Gọi là hơn 10 máy vì có 10 giá máy đã lắp đủ, và một chút phụ tùng thay thế làm sẵn. Tula Việt Bắc luôn đảm bảo 2 dây chuyền, mỗi dây 3 máy, đảm bảo sản lượng 100 súng một ngày.

Mỗi ngày 2 dây chuyền tiêu thu 40 thanh gang tròn dài 30cm, đường kính 9mm và 24 dao làm thành rèn. Sau này, các dao làm thành được thay thế bởi mài, do khai thác được nhiều bột cứng ở các mỏ ngọc và keo da trâu nhiều. Dao mài rãnh chính xác hơn dao dập rãnh, nhưng hao hơn, hao hơn nhưng vẫn dễ làm hơn do mài nhanh hơn. Cho đến năm 1948 thì toàn bộ dùng dao mài rãnh.



Năm đó Cán bộ Hậu Cần là Trần Đoàn được biên chế về Tula Việt Bắc. Lúc này, súng đã nhiều, các khâu kho vận phân phối tắc nghẽn liên tục. Cán bộ tài năng này đã thiết kế một hệ thống phân phối râu tôm đặc sắc. Hệ thống này gồm một số tiểu đoạn vận chuyển súng đi theo các con đường dích dắc đến các kho ở chân núi. Vì thế tình báo địch trong một số đơn vị đên nhận súng xác định vị trí của Tula Việt Băc đúng như ý định của ta, chúng đánh phá ác liệt một khu vực gồm nhiều lò vôi và lò rèn nửa thật. máy bay địch vừa đi khỏi, các công nhân lại dựng lại các lò rèn tỏa khói, trong khi trên các đỉnh núi, các "đài ra da" bằng tai lại sẵn sàng báo động.



Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: dongadoan trong 24 Tháng Tám, 2009, 06:43:22 pm
Năm đó Cán bộ Hậu Cần là Trần Đoàn được biên chế về Tula Việt Bắc.
--------------------------------
 Lại luyên thuyên, chọc cả Admin là muốn leo cột nữa à? ;D


Tiêu đề: ST-0A
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 24 Tháng Tám, 2009, 07:03:14 pm
Rất nhiều mẫu thử nghiệm được thiết kế sẵn từ bên Tây, chúng được ghi chép đầy đủ trong đầu ông X. Để thực hiện một việc phi thường, là làm một kho bản vẽ và công thức toán học trong đầu, ông có sẵn một quyển sổ nhỏ có vài trang giấy. Quyển sổ ghi ằng V1 có 12 mục, trong đó mục con thứ nhất là V1.1 có 14 muc, V1.1.1 có 6 mục... Hàng ngày, theo kế hoạch, ông lại nghiên cứu phát triển tiếp các vấn đề. Chỉ có cách đó mới đảm bảo tuyệt đối việc ông không bị mật thám dòm ngó. Những năm học của ông bên trời Tây xa xôi vô cùng quý giá với ông và với Tula Việt Bắc, ông không thể khinh suất đánh mất. Một số bộ phận được gia công và thử nghiệm trong nhà máy nơi ông làm việc, tất nhiên không ai hình dung đó sẽ là một bộ phận chịu lực khó tính toán kết cấu, hay một bộ phận rất khó gia công thủ công, đang tìm công nghệ.

Ông cũng hay tặng người quen đồ kỷ niệm bằng gang cầu. Một người được tặng một chiếc chuông gió, các thanh gang dài ngắn khác nhau cho âm mẫu khác nhau, thành một bản nhạc lấp lánh bên cửa sổ, người được tặng khâm phục ông, mà không hề biết rằng ông đang chứng minh rằng có thể mài rất tròn các thanh gang cầu rất dài, ông cần biết các thanh đó dài bao nhiêu thì chúng ít hao nhất. Một người bạn cùng học cơ khí được tặng một chiếc cán bút vạch dấu mảnh cũng bằng gang cầu, một đống các "mẫu thử" hỏng của chiếc cán bút xếp trong một góc xưởng, mà không ai biết rằng, chúng không hề có ý định trở thành cán bút dấu bao giờ cả. Mọi người cảm động và khâm phục người bạn nghèo nhưng không vì thế mà không có những món quá tặng rất ấn tượng.

Tạ Đình X không bao giờ hoàn thành hoàn toàn, và cũng không bao giờ tặng ai một đồ vật kỳ dị, là một cái bật lửa hoàn toàn bằng gang, bình bấc gang, bánh xe gang, trục gang, chắn gió gang. Nó có hình dáng kỳ dị vì bánh xe to, đường kính 3cm, chính vì thế nên nó rất khó đánh lửa, bất chấp mọi người nói rằng bật lửa cần bánh xe nhỏ, ông chỉ cười. Có người bảo không bao giờ hút thuốc sao ông lại thích bật lửa, ông cũng cười. Chỉ có ông chủ, đã một thời gian ông ta để ý rằng X làm rất nhiều bánh răng bật lửa, làm chưa xong cái này đã làm cái khác, cái dập, cái băm, cái tôi, cái ủ, cái lại mài, thậm chí chưa làm xong X đã lấy bánh răng mài xiết vào gang... Ông biết rằng bật lửa chỉ là một cớ để người thanh liên chí lớn thử nghiệm những cái gì đó, chưa thành hình nên người thanh niên này không muốn mang tiếng là ham phát minh, việc này tổ tiên ông và bạn bè ông đã có, ông chờ đợi xem đó là cái gì, nhưng công việc cuốn hút và ông quên đi mất. Vật này X bỏ quên trong xưởng cùng túi "mẫu thử" của nó khi về nước. Không hiểu sao, tất cả được ngâm dầu bảo quản và như là bỏ quên trong hầm lâu đài quê nhà ông chủ. Một số bạn bè cũ của ông X thường nhắc đến vật kỳ dị đó khi ông đã nổi tiếng, một người còn trưng được ra một tập ảnh chụp kỹ vật nổi tiếng đó. Năm 2009, tình cờ và nhờ tập ảnh trên, một hậu duệ của dòng họ phát hiện ra thùng đồ này, tất cả đều còn như mới.

Thùng đồ được chuyển về nhà truyền thống của hãng gia công cơ khí XYZ, sau khi đã xin phép bà Tạ Đình Mùa Thu, con cả, người thừa kế tự nhiên của Tạ Đình X, như là một kỷ niệm về một người nổi tiếng đã từng là thành viên của hãng. Bà Tạ Đình Mùa Thu sinh năm 1948, và còn có biệt danh là TD, khẩu STTD-1, còn được gọi trên internet là STTD M1950, có nick name chính thức là Mùa Thu. Năm 2007, nhân ngày Tula Việt Bắc, và cũng là ngày ký một hợp đồng quan trọng giữa Tập đoàn Cơ khí TV- tên dân sự của Tula Việt Bắc ngày đó, với Hãng Gia công Cơ khí XYZ, bà cựu chủ tịch đã đã gần trăm tuổi của XYZ tặng bà Mùa Thu một bản sao của bộ khung xe đạp bằng gỗ và nhôm. Bà lão cựu chủ tịch đã yêu cầu Kỹ sư trưởng của hãng tự tay dựng lại theo đúng các cách đo dựng nguyên bản.





Một số các mẫu thử được thiết kế từ bên Tây là để thực hiện khi thực tế thử nghiệm cho thấy những dự định ban đầu không thể thực hiện dược, hoặc chưa kịp thử nghiệm những mẫu tốt hơn. Các kiểu súng dự phòng của ST-1 đó được gọi chung là ST-0. Đoạn này nói về một kiểu trong đó là ST-0A. ST-0A là tên được sử dụng trong các nghiên cứu phát triển tại Tula Việt Bắc từ năm 1948, ban đầu, súng có tên "Sừng hươu". Cái tên thú vị này không liên quan gì đến hình dáng hay tính chất của súng, nó được đặt như một bí danh bí mật.

Ngày nay, ST-1A là đồ cổ rất có giá, ngay cả ông Trần Đoàn, một nhà sưu tập danh tiếng về các loại sản phẩm của Tula Việt Bắc cũng chưa có. Thậm chí, không một mẫu nào lưu lại còn đầy đủ. Một số mẫu trước đây được coi là đầy đủ, nhưng sau khi so lại toàn bộ các sêrial, nay đã được số hóa lưu trữ thành data base trên máy tính, thì hóa ra là ông nọ bà kia, hay có đồ độ. Nó hiếm đơn giản là vì nó được sản xuất rất ít, tính năng cũng kém, nên Bộ đội sớm bỏ đi, chiến tranh loạn lạc, không ai nghĩ đến việc giữ gìn một kỷ niệm cồng kềnh nặng 6kg bên ba lô khi hành quân.

Một điểm đáng quan tâm làm ST-0A trở nên có ý nghĩa lớn với các nhà sưu tầm, mặc dù với ông X không lớn, là nó là súng trường tự động đầu tiên do Quân Giới sản xuất. Với ông X, đó chỉ là một giải pháp củ chuối về máy súng. Là một nhà nghiên cứu thâm sâu về vũ khí, ông biết súng ngắn liên thanh tuy được quan tâm và sản xuất rầm rộ bên Tây, nhưng sức mạnh của nó đơn giản chỉ là sức mạnh công nghiệp mới, sản xuất được rất nhiều đạn, còn máy súng đó là một cơ cấu tệ hại. Việc chọn các giải pháp cho ST-0A chưa kỹ càng, nhưng do những khó khăn riêng mà nó được sản xuất bằng một quyết tâm kỳ lạ.


ST-0A là mẫu súng trường, nhưng máy súng ngắn liên thanh và chỉ bắn phát một. Thậm chí, nó không có băng đúng nghĩa, hay là một cái băng rất tồi. Để chế tạo ST-0A không cần chờ đợi nhiều, không cần chờ thử nghiệm nòng, khóa nòng, băng đạn, kim hỏa và đương nhiên cả đạn. ST-0A cũng là khẩu súng không làm toàn bộ bằng ray xe lửa, như nhiều kiểu súng trước năm 1947. Nhưng ST-0A cũng là khẩu súng làm bằng các công đoạn đơn giản, thật ra thì nó còn đơn giản hơn ST-1, cả cấu tạo hình học và công nghệ.

Nòng ST-0A bắn đạn Lebel D, đạn bắn yếu, có gờ móc. Ông X cũng đã dự tính một số thiết kế dùng loại đạn này. Khi thử nghiệm ST-1 trong KH44 tại Chi Nê, có một số ý kiến là ST-1 sẽ bắn đạn Lebel. Các ý kiến này dựa trên việc có một số thành viên Cách Mạng trong các đội lính khố đỏ, khố xanh, sẽ cung cấp một lượng đạn đáng kể. Trong năm 1945, việc có ngay các máy doa chất lượng cao khá khó thực hiện, nên ông X đã chấp nhận đề nghị đạn Lebel 8mm như một trong nhiều giải pháp sẽ thử nghiệm tiếp. Thiết kế dễ dãi về công nghệ này nhanh chóng thực hiện được.

Buồng đạn của ST-0A được gia công gần giống như của ST-1, nhưng bằng những phương tiện thô sơ hơn. Nòng súng cũng làm bằng gang cầu. Súng không làm ở Hà Nôi, hay chiến khu, mà làm trong một mỏ than Quảng Ninh. Một người thợ cách mạng đã tìm ra một vị trí vắng vẻ, có thể đặt một số máy công cụ nhỏ. Trước cách mạng, nòng súng được khoan trong một xưởng như đơn đặt hàng dân sự. Các lỗ khoan dọc một thanh ray còn nguyên bản chưa pha, chưa làm buồng đạn, được đặt hàng như là một giải pháp tận dụng các đoạn ray vụn phế thải. Hợp đồng này tránh cho chủ xưởng người Việt một số trách nhiệm nếu vỡ lở. Toàn bộ công nghệ khoan, mài cán khoan được người thợ học thuộc lòng và thực hiện cùng với một tốp thợ phụ. Sau Cách Mạng, súng vẫn dược sản xuất như thế để che mắt nhiều thế lực xấu, nhưng tốc độ cao hơn. Việc khoan phá nòng thực hiện bằng khoan mài như những lô sau của ST-1 từ cuối năm 1948, thực hiện khoan từ hai đầu bằng mũi khoan trơn đường kính 6mm, không bột mài. Mũi khoan được lắp chính xác chắc chắn vào thẳng động cơ điện, và hiệu chỉnh rất kỹ bằng kính lúp, phôi đặt trên một xe gòong lắp từ các bánh goòng mỏ, ray đặt nghiêng làm xe ấn mũi khoan vào phôi ổn định, đổ nước bên ngoài bằng vòi treo. Cứ 10 phút, thợ khoan lại rút ra, kiểm tra. Do nòng ST-0A ngắn nên phần cán khoan nhỏ chỉ 22cm.

Đạn Lebel 8mm là đạn có những thuộc tính rất hiện đại vào năm nó ra đời, 1886. Nhưng nó lại mang những nét thiếu kinh nghiệm thực tế. Gờ móc và độ côn rất lớn, gờ móc rộng 16mm, đường kính đuôi vỏ 13mm, đường kính cổ vỏ 8,9mm, đường kính viên đạn có vỏ 8,1mm. Súng  bắn tốt trên các nòng có rãnh xoắn với đường kính trong ( chưa rạch ) từ 7,9mm đến 8,3mm. Nếu bé nữa, đạn tăng khả năng tắc. To nữa tất nhiên không hợp, tốt nhất là doa đường kính trong nòng ban đầu 7,9mm, để súng mòn dần, rãnh xoắn ban đầu sâu 0,3mm. Một điều khó khăn là hình dáng vỏ đạn rất khó thực hiện buồng đạn khít klhao, nhưng một điều thuận tiện là có gờ móc nên chả cần khít khao. Thuận tiện nữa là gờ móc dầy 1mm, tha hồ bền. Phần cổ nòng (phần đầu đạn) được doa đến 9mm. Phần vỏ đạn tiêu chuẩn dài 51mm, phần cổ đến đỉnh đầu đạn 19mm.

Vỏ đạn quá côn lại thêm gờ móc là một thảm hoạ khi dùng đạn này cho súng tự động. Nhưng cấu tạo vỏ đạn lại cho phép dùng nhiều lần.

Phần khoan tinh cũng là khoan mài,  cán thép 6mm, mũi gang hình trụ bé hơn đường kính nòng 0,4mm, dài 30mm, thành xẻ hoa khế dọc bằng mài. Phôi đã khoan phá được bịt một đầu để đổ nước, đổ đầy bột mài. Cứ khoan 5 phút lại rút mũi khoan lên, đổ thêm bột mài. Mòn hết mũi khoan lại thay. Các mũi khoan hàn vào cán bằng giá tạo bởi hai ê tô. Thêm một công đoạn khoan nữa trước khi chuốt rãnh là rà tinh, một hình trụ bé hơn đường kính nòng 0,2mm được kéo dọc nòng đặt đứng, khéo lên xuống mà không quay, trên đổ một ít bột mài. Ban đầu, được lắp bên dưới, sau kéo dần lên, các đoạn mắc thì người thợ quay cán, rút lên rút xuống.  Các phương pháp này không chính xác lắm, nhưng bóng hơn phương pháp năm 1947 của ST-1. Tốc độ rất chậm. Sau một thời gian chiến đấu, nòng của ST-1 biểu hiện một số nhược điểm của phương pháp khoan phá năm 1947, nên ông X đã hoàn thiện phương pháp dùng cho ST-0A, để áp dụng cho ST-1.

Buồng đạn cũng thực hiện bằng mài, nhưng là đá mài rắn chứ không phải dao mài định hình. Sau khi khoan nòng, đá mài hình tròn không quay được đưa dần vào theo phương thành buồng đạn, trong khi phôi quay rất nhanh. Phần vai được mài đơn giản bằng cách kiểm tra kích thước đầu đá mài rắn, rộng hơn vỏ đạn 1mm đường kính và dài hơn vỏ đạn chút. Sau đó doa trơn hai lần cổ và thành+vai. ST-0A không có vết lõm đặt vành vỏ đạn như cá súng bắn đạn có gờ móc khác.

Rãnh chuốt bằng dao giống loại 2 cán 2 đầu của ST-1, nhưng có hai ray xoắn để thực hiện hai lần từ hai đầu và thanh đẩy 7mm hàn liền dao. Khâu chuốt được làm hoàn toàn thủ công, trừ việc gia công dao, được thực hiện ngay trong kho súng, là một khu mỏ bỏ hoang ở vị trí nay là bến 1 càng Cái Lân.

đọc tiếp bên dưới


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphongssi trong 24 Tháng Tám, 2009, 07:46:32 pm
Bài viết của anh huyphuc1981_nb (kém em 1 tuổi  :D lận) hay lắm, dưng có nguồn không ợ??


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 24 Tháng Tám, 2009, 08:02:29 pm
Bài viết của anh huyphuc1981_nb (kém em 1 tuổi  :D lận) hay lắm, dưng có nguồn không ợ??

Ô , phần lớn các nguồn bạn có thể tìm thấy ở Bảo Tàng Tula Việt Bắc và Bảo tàng Chiến tranh. Một số tư liệu quý do mình tìm kiếm. Một số tư liệu chưa được công bố do gia đình mình lưu trữ mình cũng trình bầy ra đây.

Nhân đây mình nói thêm. Tập sách nhỏ về lịch sử này mình đang viết dở. Một số dẫn chứng có thể mình hiểu sai, hoặc cần đính chính lại. Mình post lên đây trước khi in để nhờ các bạn bàn luận cho đầy đủ, chính xác.

Ngày 30-4-2245, cách đây hơn bốn năm, mình có đến gặp Người quản lý các di sản của Tạ Đình X, một người do họ Tạ Đình cử ra để quản lý các tài sản giầu giá trị tinh thần của ông. Ông Tạ Đình Miker, người quản lý lúc đó đã xem và ký một xác nhận vào bản thảo. Bản thảo hiện nay hơi khác bản ký đó, nhưng những phần cần xác nhận không đổi.

Dần dần mình sẽ đưa lên ảnh chụp toàn bộ các bản vẽ, các ảnh chụp tư liệu, vi phim các báo cáo lưu trữ trong bảo tàng... đó là một khối lượng rất lớn. Tuy lớn, nhưng mình hứa đến ngày kỷ niệm 300 năm KH50, mình sẽ hoàn thành cuốn sách.

À, thêm chút, mình định đề tặng cuốn sách cho bà Mùa Thu, các bạn xem có nên ko ??


Tiêu đề: Tula Cái Răm, quê hương ST-0A
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 24 Tháng Tám, 2009, 11:50:48 pm
ST-0A

Không phải ông X đã thiết kế khẩu súng này. Một nhóm thợ học được truyền miệng mà chưa thực hành các bí quyết làm nòng của ông, và chỉ có thế, họ đã hoàn toàn độc lập thử nghiệm, hoàn thiện các cách làm nòng và  thiết kế toàn bộ những gì còn lại của khẩu súng theo một công thức hết sức đơn giản mà ông X truyền cho họ. Nhóm thợ này không cùng tổ chức bí mật TV, họ học được các kỹ thuật trên sau khi ông X đã thử nghiệm xong các phương pháp làm nòng đạn có gờ móc-có độ côn vỏ cao Lebel 8mm, lạc hậu nhưng yêu cầu buồng đạn không cần chính xác.

Súng không có khóa nòng, nguyên lý máy lùi thằng tự do blowback. Đuôi nòng hình hộp tiết diện vuông rất dài, 12cm, mỗi chiều tiết diện 4cm, trong khi đoạn trước đó được mài tròn toàn bộ bên ngoài. Vai hình hộp mài vát hai bên một góc 45 độ. Các cạnh hình hộp đuôi nòng được mài vát 45 độ ăn vào cạnh 2mm chống nứt phát triển.

Toàn bộ vỏ máy súng là một máy súng hình hộp chữ nhật, nó làm bằng thép công cụ, vật liệu mà ST-1 không dám mơ. Hình hộp vỏ máy súng có kích thước trong thiết diện 5x5cm, được lắp vào nòng qua một đệm bít tất là một hình hộp có kích thước trong 4x4cm, dầy 10mm bao lấy phần đuôi nòng như là một cái áo tăng kích thước.

Ban đầu, hình hộp làm áo không đáy dưới được rèn từ một tấm thép dẹt dài dầy 5mm, gập hình chữ U, sườn chữ U này dài hơn đoạn 12 cm của đuôi nòng 3cm. khoan lỗ đáy chữ U để xỏ nòng từ phía sau, cạnh vát ở vai cổ nòng được thực hiện bằng rèn và giũa. Nòng được xiết bằng ren phía trước, ren chữ nhật, rộng bằng sâu 2mm. Người ta lót miếng đồng thau mỏng 0,5mm và mài nhẵn vai nòng để giảm chấn gây nứt vỡ, nòng được lắp ướm thử trước, rồi đo tính lấy dấu nắp trên dưới ngay trên phần trước vỏ máy súng, vị trí đuôi nòng. Người ta tháo nòng ra, dùng giũa xẻ một số rãnh dứng trên thành vỏ máy súng giáp với nòng, rãnh đối diện trên thành đuôi nòng được mài. Các vị trí tạo lỗ được đánh dấu. Khi lắp lần cuối, đóng đinh vào đây rồi tán cho chắc.

Cũng trong khi lắp ướm, thợ rèn được hỗ trợ của đèn hàn nung nóng đỏ đuôi chữ U bít rất, đập búa cho nó gập vào, để nguội, giũa máng chuyển động của đạn, sau đó cứ đặt bít tất ở đó khi tháo ren hãm ra cho các công đoạn sau.

Phần thành chính của vỏ máy súng cũng được rèn chữ U dài dầy 5mm, sau khi gia công các lỗ tán đinh của bít tất và đuôi nòng, vỏ máy súng được lắp vào vòng cùng bít tất, xiết ren cố định. Cuối cùng cổ súng gồm cả bít tất và vỏ máy súng được đóng đai dầy 5mm, đai là tấm sắt cuộn tròn, tán đinh, nung nóng, xỏ từ đầu nòng và nện. Ban đầu đai hơi nhỏ, nện vào đai rộng ra, nguội đi co lại xiết chặt. Khoan lỗ trên đai đến lỗ tán đinh rồi đóng đinh vào cố định nòng.

Đáy vỏ máy súng là tấm sắt lập là phẳng 5mm, xẻ lỗ cho băng đi qua. Lỗ băng được đục mồi trước một lỗ đường kính 15mm, rồi dùng cưa xẻ rộng ra và giũa đúng kích thước. Gờ móc vỏ đạn bằng thép công cụ, hàn đồng vào một khe xet dọc từ lỗ băng. cổ cắm băng và lẫy hãm băng rèn gò từ sắt dầy 5mm, giũa trong cho chính xác và hàn đồng vào đáy vỏ máy súng. Băng nhái theo một mẫu băng Chauchat duy nhất mà cánh thợ có, đến nay vẫn không tìm ra nguồn gốc cái băng này.

Súng có một lấy lắp vào qua một lỗ ở thành bên phải, phía sau, khi khối lùi về đó, lẫy tự động hãm khối lùi lại, muốn nhả khối lùi ra, phải bẻ cán lẫy ra một chút, lẫy là miếng lim loại đàn hồi bắt vít vào lỗ ta rô trên thành vỏ máy súng. Còn đơn sơ cũng bắt vít vào tấm đáy. Khi bắn, khối lùi lùi lại, mắc vào lấy hãm, nhả cò, bật lẫy hãm mới bắn được phát tiếp, chốt an toàn đơn giản chỉ là thanh thép xỏ ngang hãm khối lùi ở vị trí sẵn sàng bắn, xỏ qua hai lỗ hìh chữ nhật hai bên thành vỏ máy, khi tháo chốt an toàn", nó treo bởi một dây thừng đỡ thất lạc và giắt vào một lỗ trong ốp lót.

Khối lùi có hai phần, phần to 5x5cm, hàn vào một cái cán làm tay kéo. Nắp trên vỏ máy súng hàn đồng, cũng dầy 5mm, nhưng chỉ có ở nửa bên trái và phía sau. Phần đối diện với băng để hở, lỗ hở rộng hơn về sau 3cm để văng vỏ đạn. Tay kéo khối lùi thò ra ở bên phải mặt trên vỏ máy súng, được uốn cong sang phải.

Cả hai phần đều khối lùi gia công từ một cục sắt công cụ nguyên khối. phần trước có chiều ngang 19mm, cao 34mm. Móc đạn từ băng bên dưới, có xẻ rãnh ở giữa cho mấu hất vỏ đạn đi qua. Ống cắm băng nhô cao trong hộp vỏ máy súng. Kim hỏa cố định là một vít thép tôi rất cứng, rèn thành hình lục giác ở đầy, sau đó ren để vặn vào lỗ ren. Lỗ đáy vỏ đạn trên khối lùi ban đầu có đường kính 16mm, sau được mài vát thành góc so với trục nòng 30 độ. Toàn bộ khối lùi làm bằng thép dễ gia công cắt gọt, phôi rèn cũng dễ, nên kích thước phôi chuẩn, khối lượng cắt gọt nhỏ. Sau đó được tôi. Phần to của khôi lùi dài 18cm, phía dưới vát chéo về sau cho băng lùi vào đó, phần nhỏ  dài 8cm.

Phần nhỏ trước của khối lùi còn gọi là "thanh bịt đáy nòng", lỗ lọt đáy vỏ đạn còn gọi là "lõm đạn".

Móc vỏ đạn đặt trong Một lỗ khoan 4mm nghiêng góc 30 độ so với trục đứng, từ sau ra trước, hướng từ trên lưng thanh bịt đáy nòng xuống cạnh lõm đạn, phía trên lõm đạn. Cán móc vỏ đạn tròn, cuối cán có lỗ ta rô ren 3mm để vặn ví vào một lò xo lá, lò xo lá được vít vào lưng thanh bịt đáy nòng.

Đuôi vỏ máy súng là cục thép 30mmx 50mm, 2 lỗ trong 20mm, lỗ trong dùng xỏ bu lông bắt ngang thành vỏ máy súng. Lò xo đẩy về cuốn bằng thép 2mm, đường kính vòng cuốn 45mm.

Báng súng ngắn và cao, đường sống giữa báng súng thẳng với trục nòng. Thước ngắm đầu ruồi đều cao. Súng có tay cầm súng ngắn như súng trường hiện đại chỉ vì báng quá ngắn, cổ báng ốp thép mỏng 4mm vít cùng với đuôi bỏ máy súng. Súng không có ốp trên, chỉ có ốp dưới đóng đai thép kéo dài đến tận đầu nòng.

Súng bắn từ khóa nòng mở, nên mới làm cái báng kỳ dị vậy, máy súng quá dài, trong khi nòng chỉ 40cm, sơ tốc 580 m/s, tầm bắn hiệu quả 300 mét. Sơ tốc và tầm bắn hiệu quả là kết quả phân tích sau này khi nghiên cứu ở Việt Bắc.  Những người làm ra súng chỉ có một thử nghiệm là dựng thước ngắm, nhưng số phát đạn bắn thử cho việc này không bao nhiêu, kiêm luôn chức năng thử máy súng, nên độ chính xác thì phải biết.

Tầm bắn và sơ tốc thấp, nhưng súng nặng đến 6,2kg. Súng nặng do vỏ máy súng rất nặng, khối lùi 2kg. Tuy khối lùi nặng, nhưng số lượng vỏ đạn vỡ do lùi quá nhiều lúc đang nổ vẫn không ít, tuy nhiên, sự cố này lại không gây hai nhiều, đa số vẫn rút vỏ đạn ra được.


Súng hết sức thô sơ, sản xuất rất chậm. Quảng Ninh là vùng cơ khí phát triển nhất nước ta lúc đó, số lượng thép các loại khá lớn trong các xưởng mỏ, nhà máy đóng tầu, các nhà máy sửa chữ thiết bị mỏ. Khá đông công nhân cắt gọt và máy cắt gọt được cơ khí hóa. Súng được một nhóm công nhân sản xuất với môt quyết tâm kỳ dị là làm được súng. Mục đích của họ là minh chứng cho lời họ rỉ tai đồng đội: "người An Nam ta có kỹ sư chế súng, tôi là học trò ông ấy", để động viên nhau tin tưởng vào Kháng chiến. Chỉ có khoảng hơn 100 khẩu được sản xuất, số súng không đánh theo thứ tự, mà theo một mã đặc biệt được ghi chép lại và cuốn sổ này đem về Tula Việt Bắc năm 1949.

Súng rất không tin cậy, hỏng hóc chủ yếu do ống cổ lắp băng lệch, các lẫy cò không hoạt động, móc vỏ đạn bỏ lại vỏ, băng kẹt. Nhưng khi còn mới cũng không đến nỗi, nhất là băng 8 viên chỉ nên lắp 3 viên thì lúc cò còn chưa mòn cũng kha khá, súng là một lực lượng quan trọng trong những ngày đầu của các lực lượng vũ trang địa phương.









ST-0A được  sản xuất bởi nhóm thợ mỏ, thợ cơ khí mỏ và cơ khí đóng Tầu ở Hồng Gai, Bãi Cháy và Cẩm Phả. Trong thời gian ở Quảng Ninh, ông X có chữa một bộ cò cho một khẩu súng ngắn liên thanh Nhật, đây là khẩu súng ngắn liên thanh của khẩu đội pháo binh bờ biển Nhật, cả đơn vị này có duy nhất một khẩu loại đó. Khi nó bị gãy máy cò, người sỹ quan vũ khí đã mang đến kỹ sư cơ khí duy nhất còn ở lại vùng này là ông X nhờ tìm cách chữa giúp. Ông X và hai người thợ đã làm một bộ máy cò khác cho khẩu súng. Để thưởng công cho hai người thợ, ông đã cho mỗi người bắn một viên duy nhất. Công thức duy nhất mà ông nói cho cánh thợ khi những người này hỏi, tại sao đạn súng bé thế. Ông giảng giải ràng, loại máy súng này đạn càng nhẹ thì khối lùi càng nhẹ, và cách tính tương quan chiều dài nòng, khối lượng lùi và loại vỏ đạn. Một người thợ láu cá hỏi, thế đạn mút nặng bao nhiêu. Họ không ngờ ông X liền tươi cười, dặn họ giữ bí mật, và sau đó nói chuyện với họ cả một buổi trên bờ biển, cả cách khoan và chuốt nòng. Buổi tối, hai người thợ bí mật ghi lại toàn bộ những gì họ học được, bàn bạc, thắc mắc và lên những câu hỏi cho ngày mai, rồi lại mai nữa.... Cho đến năm 1947, khi biết ông X là ai thì họ mới biết tại sao người kỹ sư này lại am hiểu về súng và giảng cho họ như vậy.



Kho súng ở nơi ngày nay là bến 1 cảng Cái Lân. Kho súng và một phần công việc nằm trong một khu mỏ hầm lò bỏ hoang, được che bởi rừng thông.

Khu mỏ này trước đây không đánh giá đúng trữ lượng, nên sau khi đào một số đường hầm, bị bỏ hoang. Mỏ nằm trên lưng chừng một quả núi ven vịnh, nó bị ngăn cách với Cái Răm của Bãi Cháy bằng một đầm lầy rộng 3km, một lối mòn ngoằn nghèo theo thế nghèo ngoằn của dãy núi thấp dẫn đến Giếng Đáy, dài gần 10km. Ven biển là bãi đá xen kẽ sú vẹt, ven một đường biển hẹp đông đúc thuyền đánh cá nhỏ. Đây là điều kiện thuận lợi để cất dấu súng vận chuyển qua vịnh từ chân mỏ than Đèo Nai. Súng bán thành phẩm từ Hồng Gai được vận chuyển bằng các goòng chở than và công nhân đến vị trí nay là đầu cầu Bãi Cháy, được cất giấu tản mát trong xóm thợ và chuyển dần bằng thuyền đánh cá nhỏ sang bên kia vịnh cách 3km.


Trong Kháng chiến chống Mỹ, ta dùng điểm này làm một cảng cho tầu không số. Khu hầm mỏ cũ đã đổ nát không được sử dụng mà cảng xây kho trên bờ biển thấp hơn. Đến Giải phóng thì quân cảng hẻo lánh bị bỏ hoang, chỉ còn nhà kho và một cái bến không bao giờ hoàn thành xây dựng, cọc chỏng chơ. Chân núi phía Cái Răm về sau dân đào than thổ phỉ biến thành một vật thể kỳ dị rộng khoảng 10 ha, tác phẩm này được làm từ năm 1986 đến 1993. Trước đây tất cả đều là rừng thông, Tây cho trồng để dự phòng gỗ chống lò. Năm 1993 thì khu mỏ cũ được phá hẳn, quả núi thấp bị bạt đi làm kho, trước khi san, người ta cho nổ mìn phá sập các hầm lò hoang cho an toàn. Trước khi nổ mìn, các công nhân điện chuẩn bị trạm điện cho xây dựng bến còn bắt được 5 con trăn sinh sống trong những hầm hoang không ai dám bước vào. Tổ tiên người viết chuyện này, là ông Phúc Huy, xơi hết một khúc 1,2 kg thịt trăn đó, lấy từ nồi cao toàn tính của ông bô, 2 ông bô nhậu tiết xong nhờ 2 ông con trông, gửi trăn cho ác.


Nhóm thợ này sau khi quân Pháp đánh rộng ra toàn vùng Quảng Ninh thì rút về chiến khu Đông Triều nằm sâu trong đất liền hơn. Trong một lần vượt qua Bắc Giang về Việt Bắc nhận súng trường, một người trong số họ được gặp viên kỹ sư kỳ dị hồi trước. Ông X mừng lắm, ông hỏi cặn kẽ họ đã làm súng, chọn các giải pháp thiết kế thế nào, thử bắn ra sao, sơn báng bằng gì, đến cả ren và ta rô bằng gì, thậm chí bôi trơn bằng gì, bảo quản bằng gì. Ông đang cực kỳ bận và vẫn yếu, xanh xao, vẫm thức trắng đêm nói chuyện không mệt. Ông hỏi cả gia đình họ ra sao... cho đến việc tại sao tham gia Kháng chiến. Người thợ tài hoa mừng rơn khi nghe ông đề nghị cả nhóm về Tula Việt Bắc, ông còn dặn họ đi làm nhiều chuyến thế nào, giữ bí mật thế nào, đưa cả gia đình về Hải Dương rồi giả vờ như thế nào vượt qua vùng đich. Tất nhiên, đi xa thì ông X không giỏi bằng cánh thợ kia, nhưng thận trọng, ông vẫn dặn.

Trong vòng hơn 1 năm, lần lượt từng người trong nhóm lần mò về đến Tula Việt Bắc bằng những cách khác nhau. Ông X rất chú ý đến những động tác, những kỹ thuật mà họ tự phát triển. Lúc đó, sau một thời gian sử dụng, cách khoan nỏng của ST-1 biểu hiện làm giảm tuổi thọ nòng. Sau một thời gian tiếp tục hoàn thiện, ST-1 áp dụng cách làm nòng của ST-0A.

Khu mỏ bỏ hoang về sau được gọi là Tula Cái Răm, như là một anh em của Tula Việt Bắc. Khi trở thành một đốc công lớn của Tula Việt Bắc, và sau đó những hầm ngầm cũ của Tula Cái Răm đã bị san lấp, ông Trường Sơn, một người trong nhóm chế tạo ST-0A gọi phân xưởng của ông là Tula Cái Răm. Tula Cái Răm về sau không gia công cơ khí giai đoạn cuối, họ đi dần vào gia công lưỡi dao, ngành ngọn, cao quý và có lãi nhất của các khâu cơ khí. Ban đầu, phân xưởng mang tên Tula Cái Răm của Tula Việt Bắc xuất khẩu các lưỡi dao gia công chính xác, nhỏ, được mài từ đá khoáng cứng, truyền thống ra đời trong vòng vây của Tula Việt Bắc. Sau năm 1999, sau khi cổ phần hóa trở thành một hãng nửa tư nhân mà ông Trường Sơn có ảnh hưởng lớn, Tula Cái Răm là một thương hiệu uy tín trong ngành sản xuất carbite, nguyên liệu làm lưỡi dao siêu cứng.




Ý nghĩa lớn nhất của việc sản xuất ST-0A giống như ông X và những người làm ra ST-0A mong muốn. Vùng Quảng Ninh là vùng rất nhiều thợ cơ khí, thép các loại, máy công cụ. Có rất nhiểu mỏ lớn nhỏ, mỏ nhỏ cũng có một vài lò rèn sửa chữa công cụ, mỏ lớn thì có cả xưởng máy. Rất nhiều động cơ hơi nước các loại, nhà máy đóng tầu, và cả những nhà tư bản yêu nước như gia đình Bạch Thái Bưởi. Ông X và những người làm ST-0A rất hiểu công nhân lành nghề nghĩ gì, hầu như mỗi người trong họ đều khinh loại trí thức vô dụng, trong đầu họ chỉ có kỹ sư bác sỹ là trí thức, mà dân An Nam không có ai là Kỹ sư. Khẩu súng ra đời là một minh chứng rõ ràng nhất về tin đồn lan truyền trong giới thợ vùng mỏ: "dân An Nam ta có kỹ sư rồi". Sau khởi nghĩa, nhiều người khăn gói lần mò tìm gặp bằng được khẩu súng, sờ vào, nhiều người xòe nắm tiền lớn ra xin mua chỉ một viên đạn bắn thử, họ hỏi nhau xem Kỹ sư An Nam là ai.
Tuy nhiên, do chiến tranh đến quá nhanh, nên đa phần thợ lành nghề vẫn chưa thực mục sở thị "sản phẩm của Kỹ sư An Nam". Nhưng dó không phải là nguyên nhân chính của việc đa phần thợ lành nghề bỏ về quê. Nguyên nhân này chúng ta đề cập đến sau, nó xuất phát từ sự giả dối huyênh hoang mà những người thợ lâu năm, lành nghề rất nhậy cảm.


Tiêu đề: An Nam ta có kỹ sư rồi
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 25 Tháng Tám, 2009, 10:32:08 am
Trước khi về nước, trên bàn học của Tạ Đình X luôn có ba bức ảnh về ba khẩu súng mà ông thần tượng. Đó không phải là ba khẩu súng mà ông quyết chí phát triển, chúng là súng ngắn liên thanh (SNLT), loại súng không có khả năng đối kháng tầm xa, chuyên dùng xung phong, có thời ngắn trên chiến tuyến như là một giải pháp tạm thời khi súng trường xung phong chưa hoàn thiện. Việc thực hiện một súng chỉ có thể mạnh ở tầm gần khi bắn như đổ đạn là điều mà ông X không ưa cho một đội quân du kích nghèo. Nhưng ba khẩu súng đó ông kính phục vì đó là biểu tượng chế súng của các đội quân nghèo.

Ba ảnh đó là MP18/I hiệu Arsenal Taillinn, MP28/II hiệu Naranjero. Cuối cùng là tác phẩm xuất sắc của Aimo Lachti người Phần Lan: Suomi, SNLT tốt nhất thế giới trong WWII, được thiết kế và sản xuất ở một nước nhược tiểu, lạc hậu. Ba bức ảnh này, không được mong như thế, nhưng trở thành tín hiệu để người bạn thân, ngưởi mà ông X hay gọi là Pier, hiểu được ông, và từ đó đôi bạn xa nhau. Sau khi Pier mất, theo lời trăn trối của ông, người ta thêm một ảnh nữa cạnh 3 bức đó, là STXF-1, bức tranh được vẽ bằng sơn mài, lối mà người Tây cho là hội họa đặc trưng của cổ truyền An Nam. Khi Pier mất sau một ca phẫu thuật cắt khối u không thành công, căn phòng trong biệt thự Paris của dòng họ trí thức lâu đời chỉ còn hai vật duy nhất ngoài ba bức tranh, là bàn riêng của X thời trai trẻ, bên cạnh là một giá gỗ, trên đó chỉ có một viên đạn 6,2mm, loại đạn được phát triển ở Pháp trước WW2 nhưng không bao giờ được công bố và sản xuất lớn.


Loại SNLT được du kích nhái nhiều nhất trên thế giới là Sten, nhưng ông X coi thường khẩu súng đó, vừa ra đời nó đã quá lạc hậu, là một bản sao giảm chất lượng của MP28/II. PPSh là khẩu súng được xuất khẩu và chuyển giao công nghệ, cũng như nhái nhiều nhất ở cấp nhà nước, nhưng không may cho ông X và ST-1, ông không được tiếp xúc với các kiến thức về hàn điện, một công nghệ quan trọng tạo lên thế mạnh của PPSh.

MP18/I hiệu Arsenal Taillinn chỉ có tổng cộng hơn 560 khẩu được sản xuất từ năm 1923 đến năm 1931 ở Quân xưởng Taillinn, Estonia. Lúc này MP18 đã lạc hậu. Nhưng khẩu súng như là một biểu tượng của công nghệ thủ công lạc hậu. Tschudnowski là một lái súng Pháp gốc Nga đã ký hai hợp đồng lậu mua súng chở đến Bankok năm 1937, nhưng về sau được biết, toàn bộ số súng này được chở đến Cách mạng Tây Ban Nha.

MP28/II hiệu Naranjero là súng của cách mạng Tây Ban Nha năm 1936. Năm 1937, ông X được người bạn thân thời trai trẻ mà ông hay gọi là Pier (tránh rắc rối), đưa cho một tờ báo chụp hai khẩu súng. Ban đầu, Cách mạng Tây Ban Nha mua được 3000 MP28 từ Ba Lan. Sau đó, quân Cách Mạng nhái theo và đặt tên là Naranjero, sau này, những ngừi thợ và quân xưởng bị phát xít chiếm, ho vẫn sản xuất nhưng với hiệu Coruña, chuyển dần theo thiết kế VMP của Vollmer Đức. Ngắm nhìn 2 bức ảnh, X bỏ ăn bỏ ngủ một tuần, Pier không hiểu ý bạn, tưởng bạn thích 2 khẩu súng đó hoặc suy tư về chúng. Cả 3 bức ảnh trên đều được Pier lùng kiếm cho X.

Cho đến nay, không ai biết nguồn gốc của bức sơn mài STXF-1. Năm 2100, nhờ một kỹ thuật mới phát minh, các nhà cổ sử đã phân tích mẫu ADN và khoáng chất trong đó, khẳng định chắc chắn bức tranh được vẽ từ sơn tự nhiên, nước sơn được khai thác từ cây đang sống trước 1954 và sau 1944, ở lưu vực sông Cầu của Việt Bắc. Nhưng không có bất cứ thông tin nào nói đến việc Pier nhận được bức tranh từ đâu.




Trong số các SNLT được Đức thiết kế trong WW1 có hai khẩu thực tế nhất, là MP18 Schmeisser và MP19 mang tên hãng Rheimetall, có thể nói là hai khẩu hàng chợ và hàng quý tộc. MP19 làm bằng vật liệu tốt, khối lùi rất cứng và hợp kim đắt, cổ khối lùi nhỏ, làm việc tin cậy. Tuy nhiên, MP19 ra không kịp chiến tranh, sau đó Đức bị cấm sản xuất súng máy. MP19 sau được cải tiến một chút thành MP34 Áo, là SNLT tốt nhất mà Đức trang bị cho quân đội. Tuy vậy, súng đắt do giá gia công các mặt phức tạp trên vật liệu rất cứng.

Suomi  Aimo Lachti cũng dùng vật liệu cứng và cấu tạo cải tiến từ MP19, nhưng có khả năng vượt trội nhờ thoả mãn một số tiến bộ về chiến thuật từ nhà chế súng Nga Tokarev, yêu cầu tốc độ bắn rất cao. Những phát triển riêng của Suomi đi trước thời đại là giảm rung piston khí và có đầu nòng bù giật, bắn liên thanh rất chụm. Tuy là súng của nước mới mọc, lạc hậu và rất nghèo, nhưng Suomi lại là SNLT tốt nhất của WWII. Kết quả có được nhờ súng tìm ra phương pháp chế tạo rất riêng, các khâu khó nhất hầu hết thủ công, nhờ đó một nước siêu lạc hậu gia công được loại kim loại siêu cứng. Suomi có khối lùi làm từ hợp kim chrom-nickel độ cứng 55R, đạt hàng siêu cứng (từ 55R đổ lên), dùng làm dao cắt gọt được. Trước khi về nước, ông X đã làm quen với một số thương gia cam đảm, ông dự tính nếu huy động được tiền trong cách mạng, sẽ bỏ ra vài kg vàng mua vật tư quý hiếm từ châu Âu, trong đó có hợp kim làm khối lùi của Suomi để về làm lưỡi dao cắt gọt. Chiến tranh khốc liệt đến quá nhanh, ông không thực hiện được điều đó. Vỏ máy súng và khối lùi của Suomi được gia công bằng các máy móc đơn giản, máy cò hoàn toàn thủ công. Ban đầu Suomi nhập nòng từ Anh, nhưng sau Phần Lan tự chế tạo được nòng. Nòng Suomi không tốt lắm, nhưng súng có nhiều nòng hiệu chỉnh sẵn và cơ cấu thay nhòng nhanh, nòng lại nhẹ nên mỗi lính mang hai súng. Băng của Suomi là mẫu mực cho băng PPSh và các băng súng khác sau đó trên toàn thế giới.

Ông X rất kính phục Suomi. Ông đã thiết kế một loạt các súng tương tự, mỗi súng thích nghi với một điều kiện vật liệu và đạn dược khác nhau, đương nhiên đi kèm công nghệ chế tạo và ghi trong đầu ông, đợi thử nghiệm. Cho đến khi sắp về nước, ông X biết rằng khó mua được cả sắt mềm chứ đừng nói hợp kim siêu cứng, và hiệu quả chiến đấu không làm ông thích, nên các mẫu súng này không được ưu tiên thử nghiệm.



Mới về nước, hai năm liền ông X không liên lạc được với Cách mạng. Ông tự tổ chức các công nhân áo xanh mà ông cho là có chí hướng vào một tổ chức bí mật mang tên TV. Các công nhân rất kính phục ông vì ông là Kỹ Sư An Nam duy nhất mà họ biết. Theo các công nhân lành nghề, phải là ai biết làm việc mới là người, người mới là trí thức, vậy thì ký thông phán chỉ là hầu bàn giấy, không phải trí thức. Vậy nên trong đầu các công nhân áo xanh thì cả toàn bộ dân tộc An Nam, ngoài các bác sỹ chỉ ông X là trí thức. Nhiều trí thức rởm lòe bịp được nhiều lớp người An Nam về cái mác đi Tây học về, nào là toán, nào là lý (mặc dù chưa bao giờ tốt nhiệp đại học), nhưng những kẻ đó thợ áo xanh khinh ra mặt, với họ, chỉ cần thử nhìn bản vẽ là đủ. Âu thợ áo xanh mới xứng là hàng trí thức thượng thặng, ông X biết thế nên ông tin cẩn ô vơ rơ áo xanh lắm. Những người áo xanh không biết họ hàng nuôi ông ăn học cũng toàn áo xanh, nhưng thấy gần gũi ông lắm, thấy hông hiểu họ lắm.

Một số chuyện hài hước ngộ nghĩnh bí mật trong đội thợ lục lộ của ông X. Thấy đồn có một kỹ sư trẻ, cần cù, giỏi giang, giữ khoảng cách nhưng không khinh rẻ thợ, rất thạo cơ khí, lại hình như biết chút súng ống, nhiều nhà cách mạng trong cánh áo xanh lân la tìm cách "giác ngộ" ông. Họ từ nhiều nhóm cách mạng khác nhau, nhiều sở làm khác nhau, lần tìm đến xin làm thợ áo xanh trong đội lục lộ, mà không hề biết nhau. Ông X cảnh giác lắm, ông mới về nước, mật thám nó cử người đến điều tra thì không ổn, nên ông giữ cái vỏ bọc bền vững như bên Tây.

Là thợ áo xanh, những nhà cách mạng này hiểu rõ một khó khăn lớn với cách mạng là thiếu trí thức. Họ nhiểu sự hèn hạ và dốt nát của ký thông phán. Họ hiểu sự dối trá của những kẻ giả danh trí thức đi Tây về, những kẻ xuất thân từ những gia đình giả trí thức nhưng thật nô nệ, sang Tây phét lác nhảy đầm, được Tây nuôi, tẩy não và cho về giúp tây truyền bá dịch liệt não cho nô lệ. Chả cần đưa bản vẽ xem thử có đọc được không, đọc được đến đâu, thợ áo xanh hết sức nhậy cảm với những lời lẽ công tử nhẹ dạ. Người thợ áo xanh trong sâu tâm khảm khó tin tưởng vào cách mạng, vì họ mang ơn và khâm phục các kỹ sư Tây, chủ Tây, mà họ chưa thấy người An Nam nào được như thế, chưa thấy môt trí thức An Nam nào quần áo dầu mỡ quai búa giỏi như Kỹ sư Tây, lại hướng dẫn được thợ sửa máy chế máy. Thợ áo xanh có tấm lòng yêu nước, nhưng nếu có một trí thức, một kỹ sư dẫn đầu họ, thì lòng yêu nước của họ mới chắc chắn, họ mới tin tưởng được An Nam thắng Pháp.

Một vài thợ áo xanh là những nhà cách mạng bí mật đã tìm ra một cách, không nói, không biết nhau, nhưng cách của họ giống nhau. Lúc này, đội lục lộ càng ngày càng nhiều việc, các kỹ sư Tây phần sợ Nhật, phần đoán ra sắp có đảo chính, nên bỏ việc rất nhiều, nếu không bỏ việc thì cũng từ chối đi đến những nơi xa vắng, trong khi quân Nhật cần đảm bảo giao thông hơn vì gia tăng các nguy cơ chiến sự. Những người thợ áo anh này muốn gần gũi Tạ Đình X trong các cơ hội đi làm xa, lân la hỏi ông một số khâu kỹ thuật có thể áp dụng vào việc chế súng. Nếu không "giác ngộ" được ông, thì họ cũng có thể làm súng, hoặc chí ít có cái để động viên đồng đội: An Nam ta có người giỏi như Tây, biết cắt gọt ra máy bay, tầu hỏa như Tây, biết làm súng như Tây, chứ không vô dụng như ký thông phán. "An Nam ta có kỹ sư rồi", tin đồn này như ngọn lửa bén gianh khô, "Kỹ sư gì, Kỹ sư canh nông à", "không, Kỹ sư cắt gọt", không, chưa đúng lắm: "Kỹ sư súng trường đang làm việc cho MAT về nước đánh Tây", !!! "bịa",  ... , "tôi biết ông ấy", "nói đùa, thế bác hỏi xem cái nòng súng làm thế nào", "chả phải bảo, tôi hỏi rồi", "đùa à", "bác chả tin, thế này có đúng không...", "ờ... nhưng để tôi xem thử đã"... "chả nhẽ An Nam mình có Kỹ Sư... thế thì độc lập đến nơi rồi"... "thế thì Tây đổ đến nơi rồi"... "Ơ, thế làm sao Tây nó cho ông ấy làm ở MAT". "Thế mới tài chứ lị". "Ờ, An Nam ta tài thật"... "Thằng Tây kia, mày chết đến nơi rồi".
Cho đến sau Giải Phóng 1975, nhiều cựu chiến binh vẫn hỏi ông X: "làm sao mà đồng chí được chúng nhận vào làm ở MAT", ông chỉ cười: "tôi lắp một khẩu súng trường có hai cát tút bắn một đầu đạn để tầm cao gấp đôi, nên chúng khoái lắm". "Thế sao chúng mù mắt không nhìn ra". "Cái đó là bí mật quân sự không nói được".

Nhiệt tình, và không thấy hại gì qua cách này, ông X hướng dẫn họ tỷ mỉ. Trong thâm tâm, ông nghĩ rằng, nếu họ không là cách mạng thì cũng có thể có ích cho quân xưởng Tula Việt Bắc sau này, mặc dù một số người chưa đủ làm ông tin cậy để kết nạp vào TV. Lúc đó, tổ chức bí mật TV ngoài lời nguyền kết nghĩa anh em, vẫn chưa có hành động gì, và cũng chỉ bắt đầu từ vài người họ hàng mà ông tin được. Một số người chỉ hỏi ông đơn giản, như người ta khoan bào cắt gọt kim loại cứng thế nào, một số người lại hỏi taọi sao thép tôi lại cứng, ông đều tìm cách trả lời. Một số người lại hỏi khoan một lỗ nhỏ dài trong kim loại cứng thế nào, ông chỉ cho họ cách khoan mài. Một số người lại hỏi, máy cắt gọt làm ra máy cắt gọt, thế cái gì làm ra máy cắt gọt đầu tiên, vẫn nụ cười ấm áp, ông nói, lò rèn và đá mài, lời nói chân thành nhất vì ông chứng kiến điều đó. Một người dũng cảm hỏi ông thông thái An Nam, thế súng chạy thế nào. Không từ chối, nhưng cẩn thận hơn, lúc ít người nghe nhất, ông kể về kim hỏa, về vỏ đạn, về bịt đáy nòng, về độ nhẵn bóng, về rãnh xoắn. Người nghe vốn ước mơ lâu ngày chế súng, hiểu ngay rằng đang nói chuyện với một người đồng chí, nhưng chí rất cao sâu mà mình quá thấp để "giác ngộ". Người nghe này dự định báo cáo với tổ chức lúc có dịp về điều đó, nhưng không kịp thực hiện như chúng ta đã biết, ông X đột nhiên biến mất và xuất hiện trở lại với một nhà cách mạng lão thành và lá cờ đỏ.


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: danghoc trong 25 Tháng Tám, 2009, 11:15:20 am
Bác Huyphuc81nb. Bác viết hay lắm, nhưng thỉnh thoảng nói về mẫu súng nào đó hoặc về thiết bị chế tạo. Bác có thể cho thêm mấy cái hình minh họa cho bon em xem cho dễ tưởng tượng.Thank


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 25 Tháng Tám, 2009, 11:36:49 am
Bác Huyphuc81nb. Bác viết hay lắm, nhưng thỉnh thoảng nói về mẫu súng nào đó hoặc về thiết bị chế tạo. Bác có thể cho thêm mấy cái hình minh họa cho bon em xem cho dễ tưởng tượng.Thank

Có, nhưng mình chỉ có 2 ngày trước khi thuyết minh bản vẽ đông lại, nên phải vẽ một nơi thuyết minh một post thui. đợi nhé.


Tiêu đề: Suomi phát một.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tám, 2009, 01:10:46 am
Suomi được phát triển từ năm 1922. Mẫu Suomi hoàn chỉnh đầu tiên xuất hiện trên Tạp chí Dân Quân Phần Lan năm 1925. Aimo Lachti được nhận việc cung cấp vũ khí cho một trung đoàn dân quân để có điều kiện thiết kế súng. Các sỹ quan trung đoàn này lập ra một công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn để tìm nguồn kinh phí cho súng. 100 mãu thử ban đầu được chế tạo chào hàng, nòng đặt hàng bên Anh. Đến năm 1931 thì một công ty Phần Lan hoàn thiện toàn bộ công nghệ chế súng.

Đặc tính chiến thuật của Suomi thừa kế một thử nghiệm của Tokarev năm 1927. Thử nghiệm của Tokarev là một mẫu SNLT sao chép các đặc điểm thiết kế của VMP, SNLT của Vollmer sau này trở thành MP38/40/41 Đức. Điểm khác biệt của SNLT Tokarev là phát minh chiến thuật "chụm loạt ngắn", lúc này chỉ được thực hiện trên trung liên DP, chưa thực hiện trên súng bắn ở tư thế không giá càng nào, đặc trưng bởi loạt bắn tốc độ cực nhanh, chụm đạn, nhờ đó tăng tầm bắn hiệu quả. Sau thử nghiệm, Tokarev đi đến kết luận là cần một loại đạn mới, ông phát triển tiếp đạn Mauser 25x7,63 mm, trước đây được dùng cho súng ngắn Mauser C96, phát triển của Tokarev là kéo dài đồ thị áp suất bằng kỹ thuật thuốc mới, cho phép tăng hiệu quả nòng dài. Tuy nhiên, Tokarev bận bịu với nhiều chương trình quan trọng hơn, như đại liên và đặc biệt là SVT, nên phiên bản được chấp nhận sau đó lại là PPD. Thật ra, PPD chỉ là một thỏa hiệp, giảm bớt chút đặc tính của Tokarev cho một súng dễ thiết kế, dễ được chấp nhận sản xuất.


Suomi được chế tạo tại Phần Lan, đất nước rất nghèo và lạc hậu, nhưng lại sử dụng những hợp kim tốt, rất khó gia công. Ống vỏ máy súng được khoan từ một phôi đặc, phần khoan phá chủ yếu là khoan mài, được làm từ hợp kim nickel. Khối lùi được làm từ hợp kim chrom-nickel siêu cứng, độ cứng 55R, bằng mài phôi quay. Tốc độ bắn giảm hơn một chút so với Tokarev (từ 1100 phát phút xuống 900 phát phút), nhưng lại bổ súng tính năng bắn chụm loạt bằng đệm khí giảm rung súng. Suomi thừa kế thiết kế của MP19 Rheinmetall, có kim hỏa cố định, những súng này điểm hỏa khi khối lùi chưa đập rung, nên phát đầu tiên rất cân.

Việt Bắc sẽ không thể giống Phần Lan, vì một liên minh Thụy Điển, Phần Lan được xác lập để bảo đảm tính trung lập của hai nước, Thụy Điển cung cấp cho Phần Lan hợp kim rất tốt, đổi lấy súng. Hà Nội và Việt Bắc không thể có mua được hợp kim như thế.

Suomi đã gợi ý cho chàng thanh niên X về những yêu cầu của thép, đưa đến một quyết định về gang cầu, quyết định quan trọng nhất của ST-1. X và bạn ông, người mà ông gọi là Pier khảo sát các đặc điểm sử dụng ưu việt của dòng MP19 so với MP18, họ phân tích những hỏng hóc của BMP35. Cuối cùng, họ đi đến kết luận, dòng MP18, 28, BMP35... sử dụng loại thép sai yêu cầu, trong khi đó, MP19 và Suomi có kim loại đạt yêu cầu. Trong khi cần kim loại dai để chịu va đập lâu dài, thì BMP chọn kim loại quá cứng nhưng không dai-nứt vỡ, còn MP18,28 thì lại quá mềm, không nứt vỡ nhưng méo, mòn, biến dạng. Nhưng ST-1 không thể có hợp kim chrom-nickel.
Gang cầu là hợp kim rất dai và cứng, người ta thường dùng nó làm đe, đe rất cứng, nhẵn mặt bất chấp các thợ rèn đặt lên những khối thép nóng trắng và đập vô hồi kỳ trận bằng búa tạ hàng năm ròng, không nứt vỡ. Một loại thép nữa thích hợp với việc chế tạo nòng và các bộ phận chuyển động của súng là thép công cụ. Thép công cụ cũng là loại thép đen, nhiều carbon, chỉ dưới gang. Loại thép công cụ Pháp sản xuất cũng được làm từ gang cầu, giầu măng gan, dai hơn gang cầu, nhưng  không giòn, là mặt hàng lừng danh, bán rất chạy, niềm tự hào của nước Pháp có lò Mac-tanh. Thời bình, thép công cụ rất dễ kiếm vì nó rẻ nhất trong các loại thép, chỉ đắt hơn gang, được bán rộng rãi để làm kìm búa và chi tiết máy. Các mỏ Quảng Ninh rất nhiều các khối thép này, dùng pha ra để rèn các dụng cụ mỏ như kìm, búa, cuốc chim, xà beng, choòng (xà beng ngắn). Hầu hết nòng các súng trường được sản xuất lớn làm từ loại thép công cụ giầu carbon, 2%. Tuy vậy, ST-1 không thể làm từ thép công cụ vì ở trong vòng vây Việt Bắc sẽ khác ở Quảng Ninh thời bình. Ngoài ST-0A, Tula Cái Răm còn một số sản phẩm súng trường mà chúng ta sẽ tham khảo sau, ở đây, chúng ta quay lại Hà Nội hào hoa thời kỳ chuẩn bị chiến tranh ngắn ngủi.



Thiết kế Suomi M1931 được ông X nhớ thuộc lòng. Ông không biết về một tiến bộ mới mà Suomi M1931 có được sau kinh nghiệm chiến đấu, là chụp đầu nòng bù giật. Còn lại, toàn bộ thiết kế Suomi ông chở về nước trong một thư viện siêu phàm, đặt trong mái tóc sớm bạc nhiều sợi. Ông không nỗ lực thử nghiệm Suomi nhiều, vì ông biết rằng, Tula Việt Bắc không bao giờ có hợp kim chịu nhiệt làm súng liên thanh, đồng thời, Suomi có đường đạn yếu, chỉ hệu quả khi bắn như đổ đạn, điều mà đội quân giải phóng khó có được. Thế nhưng một chút hoa Hà Nội đã đưa đến việc ông sản xuất khẩu súng đáng yêu đó.

Năm 1945 ông X rất bận với KH45, hàng loạt các nỗ lực dồn dập để có được nguyên liệu, động cơ, máy công cụ và quan trọng nhât là 200 thợ lành nghề cho Tula Việt Bắc. Trong khi đó, các tính toán và thử nghiệm ST-1 cũng dồn dập nỗ lực, vì thời gian rất ngắn, nếu không kịp, sẽ không còn cơ hội cho ST-1 nữa. Tất cả các vấn đề được đưa ra xem xét, dự tính và bàn luận với người đồng chí quan trọng nhất lúc đó là Tạ Đình Đề. Nhà tư bản tháo vát kiếm được gần như mọi thứ Tạ Đình X yêu cầu, nhưng riêng một thứ thì ông tắc. Đó là vấn đề y tế, phụ nữ và trẻ em. Tula Việt Bắc là một thành phố nhỏ, nó cần có tất cả những mặt của cuộc sống để duy trì ý chí của nó trường kỳ trong một cuộc trường chinh mà không ai dự tính được đến bao giờ kết thúc.
Ban đầu là y tế, là một người từng trải, Tạ Đình Đề chỉ cần xem xét qua đã mở rộng vấn đề ra phụ nữ, trẻ em, trường học, chăn nuôi, thực phẩm, văn hóa phẩm. Càng tính toán, vãn đề càng nở rộng, càng bế tắc.

Một ngày, chiếc xe hơi ngập bùn từ nóc của Tạ Đình Đề chở ông X đến Xe lửa Gia Lâm, rồi vội vã quay về Hà Nội. Ông X cần xem xét và họp bàn với các đồng chí công nhân về công cụ cầm tay, còn ông Đề cần gặp Phu nhân hiện đang ở Hà Nội với một số đồ thủy tinh bà mới lùng được, những thứ cần thiết cho một phòng thí nghiệm thuốc súng. Hai ông hẹn nhau buổi tối, ông X sẽ được các đồng chí chở sang Hà Nội cùng một vài mẫu thử nghiệm ông đặt từ trước, và đêm họ về Chi Nê.

Bất ngờ, đến trưa, hai người quen đi hai chiếc xe đạp, thở hồng hộc vào điểm hẹn Gia Lâm, ông Đề nhắn ông X thu xếp sang hà Nội ngay trước 5 giờ chiều. Lo lắng, ông X sang ngay từ 3 giờ. Trong biệt thự, ông Đề chải chuốt lịch sự khác thường: xong vụ. Gì cơ. Xong cái vụ y tế anh đặt cho tôi rồi. Thế nào. À, việc của anh là nghỉ ngơi, tắm giặt, tối nay ta gặp yếu nhân. Ai vậy. Yếu nhân là nhân yếu, gặp khắc biết. Ông X không có ý kiến gì, nghỉ ngơi, cái thú vui đó lâu ngày rồi không xuất hiện, ô, tắm nước khoáng nóng cơ à, có cả một chai bia. Nửa giờ sau thì ông đã ngủ say như chết.

À, yếu nhân là nói tiện thể, không đúng ngữ pháp cho lắm. Trời chưa tối hẳn, 5 nhân yếu xuất hiện với một bó hoa tươi, 5 cô gái Hà Nội sang trọng áo dài, ô, ông X chợt tình hẳn, đúng rồi, có thế mà không nghĩ ra, chắc là bà Phu nhân làm vụ này. Đúng như thế, bà mời mọi người ăn cơm trong phòng kín trên gác. Cửa phòng vừa khép, bà đã khai mạc cuộc họp của những nhà các mạng trẻ bằng lời giới thiệu, đây là đồng chi này nọ, đã là đồng chí, thì không còn phải e dè. Các nữ đồng chí, sẽ gian khổ lắm đấy. Chiến tranh mà, chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần. Thế các nữ đồng chí biết trồng rau không. Thế bên Tây đồng chí cũng tự trồng rau ăn à. Ô, sao đồng chí biết tôi đi Tây. À, đồng chí không phải ngại, đồng chí bà chủ đã kể hết rồi. Ông Đề xen vào, buổi sáng tôi và nhà tôi cùng các nữ đồng chí này đã họp qua ở đây rồi, đây là các nữ tự vệ Cứu Quốc, đây là đồng chí Ly, hay gọi là Lizz, y tá tổ trưởng, các đồng chí này và gia đình đều đã chuẩn bị lên chiến khu, họ đã từng làm y tá và giáo viên, cần cho chúng ta. Ông X trầm ngâm, thế các đồng chí có biết chúng ta làm gì không. Chúng tôi chưa biết nhiều, đồng chí bà chủ chỉ nói là cần chúng tôi trong việc hậu cần cho một xưởng máy. Tôi nói thẳng nhé, chúng ta sẽ làm súng, công việc rất khó khăn, đòi hỏi mọi người hết sức vất vả. Súng ư, họ nhìn nhau, cả 5 người mắt sáng rực. Chúng tôi làm mọi việc các đồng chí chỉ huy sai khiến, 5 người vẫn quen cách nói cũ. Ông X phì cười, lại còn có thứ đồng chí ông chủ, đồng chí bà chủ, thế các đồng chí có biết tổ chức một trạm xá phải như thế nào không. Chúng tôi quen rồi, tôi là y tá và đồng chí này nấu ăn trong xưởng cũ của đồng chí ông chủ, các đồng chí này đều là ý tá và giáo viên. Ồ, đồng chí tổ trường Lizz, thế tôi hỏi chút, anh nhà công tác ở đơn vị nào. Đỏ mặt, tôi chưa có gia đình. Hơi xấu hổ, à, đồng chí cho tôi xin lỗi. Đồng chí lịch sự quá, Tây có khác. Đồng chí quá khen, tôi vụng quá. Ông Đề xen vào, thôi, họ đã thỏa thuận nhà tôi lo vụ này rồi, đàn ông chúng ta không nên để tâm nữa, tôi với anh thiếu gì việc. Ông X vẫn chưa dừng suy nghĩ, đồng thời tự phong chức chỉ huy rất tự nhiên, thói quen thời chiến: lên rừng thiếu thuốc tây, các đồng chí có thể lên kế hoạch chuẩn bị một chút chứ, tôi sẽ xem xét tài chính sau khi nhận được báo cáo. Đã bảo thôi mà, việc này các nữ đồng chí lo. Phu nhân cũng cười, các nam đồng chí tham việc quá đấy, chúng tôi là hoa, nhưng hoa thời chiến. Họ cười và nói chuyện về hoa. Được vài câu trao đổi vui vẻ, bên tây đồng chí có hay tặng hoa phái nữ không. Chị này, đương nhiên là có chứ. Không, tôi chỉ tặng một bộ khung nhôm. Thật à, khung gì thế, tôi biết được không. À, có gì phải giấu đâu, khung xe đạp nữ. Ừ nhỉ, xe đạp có nam nữ, thế súng có súng nữ không, chúng tôi tập dân quân súng nam, dài là, nặng là. Có chứ, ông bốc phét cho vui vẻ. Thế à, thế đồng chí làm cho chúng tôi mỗi người mười khẩu nhé. Thôi đi các cô, súng có dễ làm đâu mà nhiều thế, "đồng chí bà chủ" can. Bất ngờ, ông X trầm ngâm, có, chúng ta sẽ có rất nhiều súng, có cả súng nữ. Thật hả đồng chí, súng nữ hiệu gì đồng chí, hiệu mút hai hiệu mát. Phì cười: Su ô mi. Ô, như là tên Nhật ấy nhỉ. Không, của nước Phần Lan. Nước Phần Lan ở đâu hả đồng chí, chắc gần nước Nhật lắm, tên nghe hay nhỉ. Không, Phần Lan xa lắm. Ông X thầm nghĩ, các nữ đồng chí thật thông minh, đúng rồi, cần một loại súng nhẹ nhỏ cho các lực lượng hậu cần, công pháo... không còn gì thích hợp hơn Suomi, nhưng dòng suy nghĩ của ông bị cắt ngang. Thế nước Phần Lan có xa bằng nước Tây không. Chị này, nước Pháp chứ, làm gì có nước Tây. Đúng là các phụ nữ, ông X nghĩ trong khi nói : Phần Lan Xa lắm, đến nước Pháp còn phải vượt biển đi nữa. Đồng chí đến nước Phần Lan chưa. À, tôi chưa bao giờ đi quá nước Pháp đâu. Họ cứ nói chuyện vui vẻ.


Chúng tôi sẽ trồng nhiều hoa, ngày ngày thay hoa trên bàn đồng chí, đồng chí nhận chúng tôi làm hậu cần nhé, đồng chí làm súng nữ Suomi cho chúng tôi nhé. Các nữ đồng chí tranh nhau nói sau khi "đồng chí bà chủ" tuyên bố bế mạc. Tất nhiên mọi chuyện kết thúc trước khi cửa phòng mở.

Khẩu Suomi đầu tiên của Tula Việt Bắc ra đời nhanh chóng chỉ vài ngày sau đó, khẩu "súng nữ" đầu tiên có một chút trang trí, báng súng sơn màu xanh đen khá đẹp, trong toàn bộ lô Suomi của Tula Việt Bắc, chỉ khẩu đầu tiên sơn màu đó. Ống vỏ máy súng có dòng chứ bằng đồng, đồng thau nạm bằng mỏ hàn hơi rồi khắc, mài khá đẹp: Tặng đồng chí Lizz.


Tiêu đề: Suomi Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tám, 2009, 03:18:16 am
"Súng nữ" Suomi là loại súng ngắn có báng, dùng cho các lực lượng hậu cần. Súng được sản xuất ở Hà Nội hào hoa, bằng nguyên liệu tốt và máy công cụ chính xác. Một đặc điểm của Suomi Hà Nội là tất cả các khẩu súng đều có hình một bông hoa loa kèn bằng đồng, được dập hàng loạt và hàn dát lên vỏ máy súng. Riêng khẩu Lizz có bông hoa y hệt như thế nhưng bằng bạc.

Thép công cụ của Xe lửa Gia Lâm bị ăn trộm, loại thép đúc dùng để pha ra làm phôi rèn búa, đục, kìm... trong các công xưởng. Súng có cấu tạo như Suomi Phần Lan, nó minh chứng một thực tế về lý thuyết của ST-1: gang cầu rất dai, cứng, hoàn toàn xứng đáng với một khẩu súng trường chủ lực. Súng có thiết kế y hệt phiên bản KP M31 Suomi, vì Suomi được thiết kế dành cho công nghệ lạc hậu, nên Suomi Hà Nội không cần thay đổi bất cứ thứ gì trừ nguyên liệu và ren lắp nòng, bỏ đi van khí. Suomi M31 có nòng thay nhanh, do bắn liên thanh, còn Suomi Hà Nội bắn phát một nên dùng ren vặn vào cổ súng như Mosin, Mauser. Cũng vì phát một nên van khí cho chức năng đệm không khí cũng bỏ. Một điểm khác là Suomi Hà Nội có lò xo đẩy về to như của MP28/I và Sten, do khó kiếm lò xo nhỏ. Ống vỏ máy súng kiêm cổ súng, phía trước cổ súng có ren trong lắp nòng, ren ngoài lắp ống bao nòng, phía sau có ren nắp. Ống vỏ máy súng được khoan từ thép công cụ, hình trụ, xẻ khe bằng cưa thủ công sau khi mỏ hàn mở một lỗ mồi. Máy cò rèn và giũa, sau đó được tôi, đánh bóng, chỉ có chế độ bắn phát một. Khối lùi làm bằng gang cầu, được gia công y như Suomi: mài phôi quay, cấu tạo cũng y hệt, kim hỏa cố định, khác Suomi là liền chứ không rời lắp vào. Băng thẳng hai hàng 20 viên, súng bắn đạn 9x19 Luger. Khác Suomi M31, thước ngắm Suomi Hà Nội là loại lật 2 mức 100, 200 mét đơn giản, thước ngắm có chỉnh ngang bằng ốc trục, đầu ruồi cố định. Ống cách nhiệt bao nòng đục thủ công, cuốn lại và hàn đồng, rồi ren.

Ống vỏ máy súng dũng được khoan từ phôi đặc, nhưng là thép công cụ, cũng ram non rồi mới gia công, sau đó tôi lại trong nước. Ban đầu khoan lỗ nhỏ 12mm, rồi khoan rộng ra dần bằng 2 lần, đường kính trong 37mm, vách dầy 4mm. Cổ băng được rèn và giũa vi chỉnh vên trong, hàn đồng vào cổ súng. Sau này các công nhân cải tiến công nghệ bằng cách đóng một đinh 10mm hết phần ống to thay khoan mồi.

Nòng súng khoan bằng máy khoan công nghiệp từ loại thép già 2% carbon. Phôi được ram kỹ, khoan, làm rãnh xoắn như ST-1 rồi ủ thấm trong và tôi trong dầu hỏa. Ủ thấm trong bằng bột than củi trộn dầu cặn. Hỗn hợp thấm nhét đầy nòng súng, sau đó vặn nắp đậy tạm hai đầu nhờ ren có sẵn, rồi ủ. Nhìn chung, do nguyên liệu tốt nên súng rất dễ làm. Duy nhất có khối lùi gang cầu thì đã chỉ cần mài và một chút giũa.

Súng có sơ tốc 360m/s với đạn súng ngắn thường, 410m/s đạn quá áp chỉ dùng cho súng ngắn có báng. Súng có tầm bắn hiệu quả 200 mét, nặng 3,5kg khi cân có băng và không đạn. Súng cực kỳ tin cậy, được đánh giá là tin cậy nhất trong các sản phẩm của Tula Việt Bắc.


Suomi Hà Nội dành cho các nữ đồng chí tập quân sự, có một chức năng hết sức lớn lao về thử nghiệm thực tế, súng được định kỳ kiểm tra, ghi chép lại tỷ mỉ tình trạng. Đây là lần "thực tập" lớn của gang cầu trước khi phục vụ chính thức quy mô lớn. Chỉ có 141 Sumoni Hà Nội xuất xưởng trong đợt sản xuất duy nhất mùa hè năm 1946, sau đó vì thiếu thép nên súng không được sản xuất nữa. Sau này, khi ST-1 chưa kịp sản xuất, hầu hết Suomi Hà Nội ra tiền tuyến với Bộ đội, chỉ khẩu Lizz và 2 khẩu nữa được Tula Việt Bắc giữ lại. Chữ trên khẩu Lizz được viết hoa, mềm mại, bằng đồng, và bông hoa loa kèn bằng bạc, như một thứ đồ quý lạ lẫm với chiến tranh.




Tiêu đề: Suomi M31 Phần Lan
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tám, 2009, 04:54:43 pm
Ông X không biết một chút lịch sử tham chiến của Suomi. Sau khi ông về nước, Phần Lan và Liên Xô xảy ra chiến tranh, Suomi đã gây tiếng vang lớn. Người Phần Lan nghèo, rất ít súng, trận chiến bất lợi, Phần Lan phải ký hiệp ước thiệt thòi. Tuy nhiên, Liên Xô hoàn toàn tâm phục khẩu phục Suomi về mọi mặt, trừ mặt Suomi dùng hợp kim quá tốt, khi sản xuất lớn gặp nhiều khó khăn cả về nguyên liệu và gia công. PPSh là câu trả lời của Liên Xô cho sự thiếu hụt này của họ, phần băng và tốc độ bắn hoàn toàn copy của Suomi. PPSh làm bằng nguyên liệu rẻ tiền, chủ yếu là công nghệ rèn và hàn điện. Sau này, ông X đã cải tiến một chút để giảm bớt phần hàn mà ông thiệt thòi không được tiếp xúc, trở thành súng ngắn liên thanh (SNLT) tiêu chuẩn cho xung kích phá vây Việt Bắc. Cũng sau cuộc chiến Mùa Đông, Suomi có thêm đầu nòng bù giật, cũng là một đặc điểm tiên phong. Suomi làm toàn bằng hợp kim cứng và trơn, trừ nòng thì không rỉ.


Suomi Hà Nội hơi khác Suomi M31 Phần Lan.

Đây là sơ đồ Suomi Phần Lan
(http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Suomi_M31/suomi_pat.jpg)

26,27,47,22,32 là nắp đuôi khá phức tạp. Có một van một chiều cho cơ cấu đệm không khí.

5,44 là tay kéo khối lùi, xuyên qua ống vỏ máy súng ở khe xẻ chính giữa bên dưới, điều này chặn bụi bẩn làm hỏng súng. 7 là lò xo tay kéo.

33 là ống vỏ máy súng

17 là buồng đạn 31 là thành nòng, 28 là ống cách nhiệt bao quanh nòng

3 là lẫy tháo băng, 1 là băng

4,41 là khối lùi, 18 là kim hỏa cố định
8,42 ld lò xo và cần đẩy về


Khối lùi Suomi M31, hoàn toàn làm từ mài phôi quay, xẻ thêm một vài rãnh. Phần nhỏ có cho mấu hất vỏ đạn và móc vỏ đạn, hai khe rộng cho cửa băng đi qua tạo thành mấu móc đạn trong băng bên dưới. Móc vỏ đạn của Suomi Hà Nội có phần sau là một lò xo lá, vặn ren vào thân khối lùi, khi hỏng thay thường đóng đinh tán bằng thép mềm
Ở phần to có một khe trên để khí thoát tăng tốc độ bắn, khe này mài bằng đá quay. Phần ưới có một số mặt phẳng, các mặt phẳng này tạo thành gờ để máy cò làm việc. Cũng được mài bằng đá quay.

Phần to khối lùi chỉ cần hai đai trước sau đánh bóng chính xác dưới 1mm, còn phần thân thắt nhỏ chỉ đánh bóng cho đẹp, không quan tâm đến độ chính xác. Tuy súng phát một chỉ cần độ chính xác 1mm (Suomi Phàn Lan chính xác để giảm lưu thông không khí, làm đệm êm), nhưng ông X khi chuẩn bị công nghệ bên Tây đã phát minh ra một máy mài chính xác đến 1/10mm, bán được chút tiền để ông có chân trong giới kinh doanh và phát minh chính thức. Máy này nguyên lý rất dễ hiểu, một đèn chiếu chiếu ngang bề mặt phôi đang quay nhanh, chùm sáng đi qua ống kính và tạo ảnh trên tường, trên tường đã có sẵn vạch thước, nhờ đó công nhân quan sát độ chính xác được phóng to 20 lần, hiệu chỉnh đá. Đá mài vừa mài vừa chuyển động dọc trục phôi, làm đường sinh thành phôi thẳng tắp. Đá của Tula Việt Bắc đơn giản không chuyển động dọc, nhưng cũng khá đạt yêu cầu.

Phát minh của ông X cho phép gia công những vật liệu siêu cứng hình trụ với giá rẻ mà vẫn chính xác cao, được áp dụng cho các vòng bi gốm và bi hợp kim cứng cho động cơ phản lực mới xuất hiện. Ông bán không được giá lắm vì nước Pháp đi sau Đức nhiều. Nhờ vòng bi chính xác, các vật thể quay tốc độ cao không rung, trước đây rất đắt. Sau này, Tula Việt Bắc tự làm khá nhiều vòng bi, vít me... nhưng một thành phần quan trọng đảm bảo chất lượng ST-1.

Ban đầu, MP19 có nhiều mặt gia công mà nước Phần Lan lạc hậu không thể gia công vật liệu siêu cứng. Cải tiến này vừa hiện đại, vừa êm, vừa bền, và đương nhiên mài phôi quay thì Việt Bắc và Phần Lan đều có.
(http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Suomi_M31/suombolt.jpg)


Phần nắp đuôi của Suomi Hà Nội rất đơn giản, không khác gì cái nắp bơm xe đạp, súng bắn phát một nên chả cần đệm không khí.

Phần cò của Suomi Hà Nội có hai loại, một loại về sau mới có, dùng với nòng tốt, bắn liên thanh. Loại cò ban đầu chỉ bắn phát một, rất đơn giản, chỉ có hai chi tiết cứng là cò và lẫy ngược. Khi bóp cò, cần đằng sau cò nhấc cao lên, cho phép lẫy ngược đàn hồi nhắc cao lên, lẫy này làm mắc khối lùi khi nó chuyển động về sau, không cho đẩy về bắn phát thứ hai. Khi nhả cò, lẫy ngược này lại được cần sau cò đẩy xuống, nhả khối lùi chuyển động đẩy về một chút mắc tiếp và cần trước cò. Khi bóp cò phát tiếp, cần trước cò hạ xuống trong khi cần sau co dâng lên, lẫy ngược lại chuyển sang trạng thái hoạt động trong khi khối lùi đẩy về hoàn toàn thực hiện phát bắn. Thêm một chi tiết thứ 2 là lò xo cò bố trí như Suomi Phần Lan trong hình.
Loại cò bắn liên thanh có chọn chế độ bắn bằng một khóa vặn, xuyên qua ngang phía trước vòng cò, khi vặn, cam của nó đẩy lẫy ngược xuống, luôn ở trạng thái không hoạt động, bắn liên thanh. Khi vạn về sau, cam này dâng lên, lẫy ngược chuyển trạng thái cấm và chạy theo cần sau cò. Chuyển sang loại liên thanh mới chỉ cần thêm một số động tác gia công và một chi tiết.

Bắn phát một không cần ống cách nhiệt, mà chỉ cần một bao da bao quanh nòng như nhiều khẩu đơn giản. Nhưng ông X làm sẵn ống cách nhiệt để dễ chuyển sang liên thanh. Tuy nhiên, khi chuyển sang liên thanh thì Suomi Hà Nội không thay nòng nhanh được.

Suomi Hà Nội có thêm một đệm cao su phía sau làm súng bền hơn, đệm này được cắt từ lốp ô tô bằng dao sắc. Do làm bằng thép đen, nên Suomi Hà Nội đen xấu, gỉ. Ông X muốn kiếm hợp kim không rỉ làm khẩu tặng Lizz, nhưng không có.



Dưới đây là khẩu đề tặng Lizz. Nhà sưu tập Trần Đoàn không cho chụp phía bên kia, nơi có dòng chữ đề tặng và bông hoa trắng. Lizz về sau trở thành biệt danh của súng, được các đồng chí Bộ đội phát âm hơi bồi là Lizzy. Mỗi người lính cầm súng thường thấy ấm lòng, họ thường đoan chắc với đồng đội là chính Lizzy đã dùng khẩu súng của họ, mặc dù khẩi Lizz chưa bao giờ rời tổ hậu cần nữ của Tula Việt Bắc trong hai cuộc chiến tranh.

Khi lên Việt Bắc, nàng Lizz mới 18 tuổi, nữ y tá trẻ thạo tiếng Tây, tiếng Tầu, tiếng Nhật trở thành thư ký đắc lực cho ông X, sức làm việc của nàng phi thường, nàng dịch ít nhất 1 trong số 4 tấn sách ban đầu của Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự Việt Bắc mà ông X mang về.

(http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Suomi_M31/76wbox2w.jpg)


Đẹo Trai Đểu, biệt hiệu của Dũng Cận, giáo viên Vũ Khí đang chụp ảnh cùng Lizz, nhưng đã sơn ống vỏ máy súng để che đi dấu hiệu, súng lắp thêm đầu nòng bù giật sau này mới có, loại nòng liên thanh.
(http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Suomi_M31/sinstinc.jpg)


Tiêu đề: Một số công đoạn chế tạo Suomi Lizz
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:03:11 pm
Mấy hôm nay khó post vì rất nhiều máy bị nhiễm conflicker, phiên bản mới mình vừa soi, nó tấn công các địa chỉ hay  vào gần đây nhất. Nạn nhân lớn nhất là google. Máy mình tất nhiên là ko seo bao h cả, vì đó là vm. Chắc khách hàng khác họ của quansuvn cũng nhiều victim nên mới khó post. Cứ ai dùng bkav là nó có cửa dễ lây.
Trở lại với năm đó.

Do làm bằng thép, nên Lizz tương đối dễ chế tạo. Súng được chế tạo và sử dụng trong quân xưởng với mục tiêu quan trọng là thử nghiệm vật liệu gang cầu. Tất cả các khẩu súng trường danh tiếng được dùng trong chiến tranh lúc đó như Mauser, Lebel (gồm cả mus), Gras đều được làm từ thép đen hoàn toàn, không hề có hợp kim như MAT và MAS. Các bộ phận quan trọng nhất chịu va đập mạnh đều được làm từ thép giầu mangan. Như đã nói, loại thép này lúc đó được coi là thép đen phổ biến chứ không phải hợp kim quý hiếm như cuối tk20. Lizz cũng có khối lùi làm từ thép công cụ, nhưng chỉ là phương án dùng song song để so sánh.

Thép công cụ lúc đó rất nhiều, sau khi ủ và trước khi thấm carbon, nó rất dẻo, mềm, dễ chế tạo và đương nhiên chấp nhận các hình dáng như ren nhẵn bóng. Máy công cụ cơ bản ở Hà Nội tuy không nhiều như Quảng Ninh, nhưng quá đủ để làm số lượng nhỏ như Lizz. Đáng lý ra, một lượng thép công cụ khá lớn đủ để làm cỡ một vài vạn súng trường chất lượng cao đã xuất hiện, nhưng số lượng thép này lại biến thành mã tấu như mình sẽ nói sau. Tuy lượng súng đó ít, nhưng đáng ra khá quan trọng với những ngày đầu 1947. Số lượng thép công cụ này cũng không đủ 10 vạn khẩu ST-1 trong KH47, nên ông X cần thử nghiệm thật cẩn thận loại nguyên liệu phổ biến hơn.

Gang cầu là mặt hàng phổ biến nhất lúc đó, các đồ bằng sắt rẻ tiền như nắp cống cũng làm bằng vật liệu này. Gang cầu rẻ vì nó làm bằng lò cao, nhờ việc đốt nóng trước không khí, nhiệt độ lò lên đến hơn 1600 độ, nhiệt độ thích hợp nhất là 1800 độ. Lò cao khó khống chế thành phần các phụ gia, nhưng đã có mangan, chất tẩy các phụ gia xấu, khó khống chế thì cho nhiều chút mangan, càng làm thép gang dai hơn, thế mạnh của Pháp là mangan rất rẻ và nhiều, trong khi Đức Áo thiếu. Thép đắt hơn vì phải qua lò Mac-Tanh lần nữa. Nếu lò cao có nhiệt độ thấp cỡ 1500 độ, thì sản phẩm chủ yếu là gang trắng, được dùng chuyển sang lò Mac-Tanh làm thép. Gang trắng và gang cầu đều có carbon ở dạng đơn chất, nhưng gang trắng carbon có tinh thể ở dạng dẹt, sợi, cây... nên không bền. Gang cầu có tinh thể carbon co lại thành hình cầu, có độ bền kéo ngang thép đen tốt, chịu mài mòn tốt hơn thép nhưng giòn hơn. Tuy không dai (khả năng kháng giòn), nhưng gang cầu dùng làm đe, độ dai khá thoải mái cho khối lùi. Còn độ cứng, chịu mài mòn, thì gang cầu vô địch trong các hợp kim sắt. Theo công nghệ nay đã cổ, gang cầu có nhiều mangan và vì vậy là hợp kim quý. Gang Cầu Pháp rỉ rất chậm, thường thấy từ nắp cống, tường hoa, chốt cửa...và đương nhiên nhiều nhất là ray tầu hỏa, tầu điện. Gang cầu Pháp là sản phẩm lừng danh, có màu đen, công nghệ chế tạo đơn giản ra một hợp kim tốt vừa là ưu thế thiên nhiên ban tặng nước Pháp, vừa là kết quả nghiên cứu uyên bác của nhà bác học Mac-Tanh lừng danh, ông giải thích các hiện tượng của kinh nghiệm cổ truyền và chuyển thành sản xuất công nghiệp. Ông X coi quyết định dùng gang cầu là một trong những quyết định chiến lượng lớn nhất của đời mình

Sản phẩm rẻ tiền nhất của lò cao ngày đó là gang xám, nấu ở 1200-1300 độ, nó rất giòn nhưng ăn khuôn, cũng ít gỉ tuy rằng vẫn gỉ nhiều hơn gang cầu. Gang xám là sản phẩm của "lớp trước" Anh Quốc và sau đó Mỹ thừa kế, có từ cổ truyền như "hàng chợ", trong khi cổ truyền cũng có gang cầu nhưng chất lượng xấu hơn đồ công nghiệp sau này và rất ít, như một thứ hàng quý hiếm của một số địa phương danh tiếng. Từ cổ truyền, sản phẩm sắt tuyệt đại bộ phận là gang xám, vì yêu cầu nhiệt độ thấp, nó có khả năng chịu lực kéo thấp, do đó chịu áp lực thấp. Khả năng chịu áp lực suy giảm như cấp số nhân khi làm ống dầy nhưng nòng pháo súng, vì giòn, phần ngoài chịu đã kiệt độ đàn hồi mà phần trong còn nhàn hạ, lực tập trung chóng phá hủy kết cấu. Độ bền dai kém vì quá giòn, các nứt vỡ tế vi phát triển nhanh sau tuổi thọ làm việc ngắn. Gang xám trong tiếng châu Âu là "kim loại đúc". Khác với thép, gang trắng và gang cầu, carbon trong gang xám chủ yếu tồn tại dưới dạng carbua sắt phân tán thành tinh thể dài dẹt, làm nên những đặc tính tệ hại của nó.

Thời gang xám, nòng pháo chủ yếu làm bằng đồng điếu vì chất lượng gang tệ quá, thép thì ít quá chỉ để làm súng cá nhân. Sau đó, nòng pháo nửa sau tk19 chủ yếu làm bằng gang cầu và thép gần gang cầu, chỉ cho đến đầu tk20, nhờ phát triển của Đức trong luyện hợp kim mà pháo mới chuyển sang hợp kim nickel, súng máy dùng crom-volphram, nhưng đa phần súng trường vẫn là thép đen, loại thép công cụ có thành phần gần với gang cầu.
Thép đen công cụ kém mài mòn và cứng hơn gang cầu, nhưng dẻo sau khi ủ non, lên gia công được các chi tiết tinh vi dễ dàng. Đồng thời độ đàn hồi cao như các chi tiết như ren được dàn lực, ứng lực đều, không phát triển nứt vỡ, khỏe.
 

cuối tk20, không luyện hợp kim sắt từ lò cao nữa, mà dùng luyện kim bột. Sắt xốp của luyện kim bột được nấu trong lò điện. Lò ủ tích trữ là loại lò có tường ami-ăng dầy mấy mét, đảm bảo tích nhiệt độ của thép lỏng ở 1800-2000 độ cả tháng không hao nhiều. Thêm nữa, người ta hiệu chỉnh nhiệt độ bằng điện từ hay đốt hồ quang. Trong thời gian đó, carbon kết tinh thành hình cầu rất tốt và rẻ. Vì gang cầu nay đắt, nên nó được làm từ thép xây dựng, còn trước đây thì ngược lại, người ta lấy gang cầu, gang trắng nấu thép. Ngày  cuối tk20, thông thường nhất là sắt xốp, sản phẩn của luyện kim bột nhiều tạp chất, được nấu trong lò thổi bằng khí tự nhiên hay điện, sản phẩm của khâu này là thép xây dựng, rẻ nhất ngày nay, rất sạch. Lò thổi khí thay cho phụ gia mangan lọc bỏ các tạp chất, đồng thời nhiều loại xỉ nổi được phát triển thay thế mangan  cuối tk20 trở nên quý hiếm. Nhiều tạp chất xấu khó lọc lại kết xỉ tiếp trong lò ủ trữ hàng tuần, hàng tháng với giá rẻ. Thép  cuối tk20 thiếu mangan, nhưng lại rẻ hơn nhiều ngày xưa và loại gang cầu mangan, xà beng thép công cụ đen mangan ngày  cuối tk20 có giá thành rất cao so với thép phổ thông, ngược với ngày xưa.

Pháp và nhiều nước châu Âu đến cuối tk20 vẫn nhớ các nắp cống, đường ray gang cầu, thuê ta nấu khá nhiều. Các nhà máy xuất khẩu gang cầu sang châu Âu  cuối tk20 ở Hải Phòng, Quảng Ninh, một nhà máy ở Bắc Ninh và nhà máy lớn nhất đi vào sản xuất sau ở Thái Nguyên. Tất nhiên không nhà máy nào có lò cao cả. Một thế mạnh của công nghệ lò ủ trữ là chỉ cần xưởng nhỏ, còn lò cao và lò Mac-Tanh chỉ cạnh tranh khi rất lớn, sản lượng hàng trăm ngàn tấn / năm.


Lỗ khoan lớn của ống vỏ máy súng được khoan một vài lần. Ban đầu, khoan một lỗ mồi 9-12mm, về sau lỗ mồi được thay bằng một phát đóng lúc rèn phôi đến gần hết chiều dài. Sau đó lỗ mồi đầu tiên được khoan rộng ra đến đường kính 30mm, lần cuối cùng là đường kính 37mm. Vì mặt cắt gia công khi khoan công nghiệp ở phía dầu mũi khoan, nên thành lỗ bóng đẹp, độ bóng đẹp của hành trình khối lùi tăng lên mức mỹ mãn khi đánh bóng sau nhiệt luyện. Đáy các lỗ khoan nhỏ và to được tạo hình bằng mài mũi khoan công nghiệp đúng hình dáng, điều dó rất thuận tiện vì hình dáng các đường sinh đều thẳng, khi tạo hình mũi khoan chỉ cần thẳng.

Ban đầu, phôi ống vỏ máy súng được lấy dấu đểm tâm nòng sau này, lấy dấu tiếp điểm tâm đuôi, rồi tiện tạo hình bên ngoài, trước khi tiện được mài phôi quay nhỏ nhẹ trên giá có hai tu chống vào hai điểm lấy dấu trên, hoặc tận dụng máy tiện nhưng chỉ ép đẩy chứ không kẹp và lộn từng đầu mài cho đẹp, có thể quay chậm bằng tay. Đuôi và đầu, những nơi sẽ ren nắp đuôi và ren ống bao nòng được làm tròn chính xác cho kẹp đồng tâm máy tiện, máy khoan. Khi thiếu máy thì chỉ cần một máy tiện kiêm luôn chức năng ren và khoan. Những phần còn lại bên ngoài được gia công sau khi đã tiện khoan đục mài tạo hình hết bên trong, kể cả các lỗ thoát vỏ và lỗ cắm băng. Thước ngắm được cố định vào bằng lỗ khoan ta rô ren lên một mặt phẳng tạo bởi giũa. Phần đầu ống vỏ được đục phá rồi giũa tạo thành mặt hàn ống cắm băng.

Lỗ để cắm băng và thoát vỏ được tạo mồi bằng một vài lỗ khoan 10mm xếp hàng dọc, sau đó dùng đục mở rộng và làm chính xác bằng giũa và đánh bóng.

Ống cắm băng được rèn từ thép tấm 10mm, rèn mỏng xuống 5mm và gập, sau đó hàn acetylen. Ren cũng được đánh bóng để đảm bảo độ bền sau này, việc đánh bóng thủ công ren thực hiện bằng miếng vải thô kéo qua lại như cưa, kéo theo bột mài bóng dính bằng mỡ bôi trơn khoáng. Các lỗ nhỏ được đánh bóng bằng miếng giẻ quấn vào đầu quạt điện.


Khối lùi cũng là một phôi tròn lấy từ phần trên một thanh ray. Ban đầu, thanh ray được cưa dài hơn khối lùi 3cm, lại cưa tiếp bỏ chân. mài nhẵn hai đầu để lấy hai dấu chống tu về sau sẽ là trục tâm. Phôi này được mài phôi quay, một đầu cắm tu chống, một đầu là kích ép vào, có thể dùng máy tiện nhưng chỉ đẩy tu chống vào mà không dùng kẹp. Khoan thô chỉ cần đá quay cầm tay, đến khi cần thận trọng kích thước mới dùng giá gá đá vững. Sau khi tạo hình và làm chính xác hai đai to, mới mài các mặt phẳng. Tạo xong hình phần đuôi to mới đến cổ nhỏ.

Cổ nhỏ được mài phôi quay sử dụng kẹp đồng tâm của máy tiện, kẹp vào đai của đuôi sau. Sau khi mài xong hình tròn thì tạo các khe. 3 khe gồm hai mép băng và khe của móc vỏ đạn được mài từ đá quay cầm tay.

Mặt kim hỏa được tạo hình bằng một đá mài tròn có lỗ giữa sâu 3mm đường kính 3mm, sau đó được mài tay thủ công cho chính xác.

Khe cho mấu móc vỏ đạn chạy sau khi lên Việt Bắc đều chaỵ bằng loại cưa quý gắn dao đá quý cứng, dùng chung với việc cắt thủy tinh, một đặc sản trời cho của Tula Việt Bắc. Nhưng Lizz chưa có loại cưa quay này. Khe mấu hất vỏ đạn của Lizz được tạo hình bằng giũa hẹp, giũa được băm mới liên tục, mỗi khe mất 3 giũa. Một cách khác là dùng bào, loài bào sắt nay đã mất giống mà mình nói ở trang 2 hay 3 gì đó, bào đẹp hơn nhưng mất công hơn, cũng làm lại lưỡi liên tục, mất cả chục lần làm lại lưỡi mới được một khe đẹp. Mỗi thợ giũa phải mất 2-3 giờ mới xong một khe. Tuy là lâu, nhưng lại không tốn một máy móc gì, mỗi thợ ngồi một góc. Ngay cả các khe mặt khác của toàn khối lùi, chỉ trừ mặt tròn trụ, được các thợ siêu nhất làm bằng đá quay mà không cần bất cứ giá gì, mắt tay họ quá ngon lành.

Kim hỏa của Lizz to và tù hơn kim hỏa nguyên thuỷ Phần Lan. Nó cao 2,5mm và đường kính 2,5mm mũi hình cầu. Kim hỏa và vành bịt đáy nòng được mài tinh bằng những thợ cao cấp nhất, gần đạt mức chế ngọc trên đá mài quay nhỏ. Người thợ cầm khối lùi đưa vào đĩa đá đường kính 4-5cm gắn vào quạt điện. Sau này, để giảm nứt tế vi, tăng tuổi thọ, đá được thay bằng đĩa đánh bóng mảnh ép bằng cốt vải thô, keo da trâu trộn bột mài, đường kính nhỏ 2-3cm.

Trong chiến tranh, rất nhiều khối lùi hỏng kim hỏa và mặt bịt đaý nòng. Vì nó rất dễ chế tạo số lượng lớn, mà tổng số súng Lizz không nhiều, nên lúc nào cũng dự trữ sẵn khối lùi thay thế. Tuy nhiên, các khối lùi Lizz sau này cũng dùng công nghệ kim hỏa của PPSh Việt Bắc, là lỗ khoan 3mm, sâu 20mm, thực hiện khoan thủ công bằng đá quý, tán vào kim hỏa làm bằng thép tốt nóng đỏ, dẻo hơn, ít vỡ hơn và dễ thay thế hơn.

Ống bao nòng cách nhiệt được đục thủ công, đầu tiên bằng lưỡi đục thường, sau bằng đục khuôn, rồi giũa tinh chỉnh, cuốn lại. Lỗ nhỏ hơn nguyên thủy. Sau đó hàn đồng rồi tiện ren, thép dùng loại tôn vật liệu mềm nên rất dễ ren, tôi và đánh bóng qua. Phần đầu được gập lại và hàn đồng bắt vào đầu nòng bằng bu lông.

Lò xo được cuốn tù sợi, sợi rèn thủ công từ lò xo tầu hỏa, tầu điện và nhíp ô tô phế thải có rất nhiều ở bãi thải Thụy Khê của xe điện. Ủ non, rèn sợi hơi dẹt, giũa cho dẹp, dánh bóng cho ít gỉ, cuốn lại rồi dánh bóng qua lần nữa, lại ram kỹ rồi tôi lại. Lò xo cần kéo tròn đều chứ không dẹt. Cả hai lò xo đều được chặt trước, uốn nắn, chằng buộc vào ống khung định hình rồi mới ủ ram cả khung và tháo khung ra mới tôi. Loại lò xo dẹt của Việt Bắc sau này thể hiện ưu việt hơn lò xo tròn của các súng châu Âu, làm từ sợi tròn đều giá rẻ do sợi được kéo từ máy cán kéo rẻ tiền cho năng suất cao. Sau khi lên Việt Bắc, lò xo rất thiếu nên chỉ ưu tiên cho một số loại.

Lizz cũng ưu thế vì mỡ bôi trơn công nghiệp được trộn thêm một chút thuốc tím.Thuốc này tạo lớp bảo vệ mịn, làm các chi tiết của Lizz đen bóng, rất duyên dáng trong tay các nữ tự vệ áo dài trắng. Trừ khẩu bông hoa trắng có báng xanh đen, các Lizz khác đều sơn ta then, màu đen huyền bóng rất đẹp và bền. Hộp đồ của Lizz đặt trong ống tròn sau báng, có một tuýp mỡ nhỏ bằng tôn cuốn tròn, một tuốc nơ vít kiêm cờ lê nhỏ để chỉnh thước ngắm, tháo máy cò. Lizz không có que thông nòng mà dùng hai nam hoa xe thồ mạ kẽm nhúng rất bền, có ốc ren để vít miếng giẻ thấm mỡ khi lau nòng, xuyên vào trong ống cách nhiệt. Hai nan hoa này vừa thay thế nhau, vừa có thể nối nhau, dài cho súng trường.

Dây đeo của Lizz được thợ hàng da tay nghề cao làm từ da bò thuộc kỹ, nện kỹ với dầu luyn, rất mềm mà bền, đinh đóng bằng đồng, có kéo dài ngắn, móc dây cũng bằng đồng thau. Một khóa bắt vào báng bằng vít gỗ. Một khóa ở sau đầu rồi có thể bắt ốc để chuyển từ bên này sang bên kia. Khóa cũng bằng đồng thau.


Tiêu đề: Thơ về Lizz
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:47:18 pm
Bộ đội quý súng Lizz lắm. Ban đầu, Lizz được các cô gái duyên dáng tuyên truyền là "súng nữ", như xe đạp có xe nam xe nữ, hay như đồ thời trang, từ đồng hồ bút máy đến quần áo. Khỏi phải nói đội tự vệ nữ của TV tự hào thế nào, họ vênh mặt lên khi đi cùng các chị em khác mang cây mút cơ tông nặng è vai, không bắn được tự động. Lúc đó kỷ luật thép đang được xây dựng, nên ngoài chuyện xước sát thì không ai dám kẻ vẽ lên súng. Nhưng không ai cấm Lizz có những cái nơ trên nòng. Ông Đề xạc phu nhân một trận khi thấy nơ đẹp che cả đường ngắm. Các đồ trang trí biến sạch nhưng chỉ được mấy hôm, liền sau thời trang là một ruy băng màu đỏ trên ống cách nhiệt.

Sau đó, hầu hết súng được chuyển ra tiền tuyến vì KH47 chưa đưa ra sản lượng cao ngay được. Ban đầu, súng dùng như một vũ khí phụ, yếu. Khi phá vây Việt Bắc, súng ngắn liên thanh thiếu, một số Lizz được thay nòng liên thanh. Nòng liên thanh được chế lại từ nòng súng máy địch hỏng, vì nòng Lizz to hơn nên nòng hỏng được cắt, ủ non, khoan và đánh bóng, làm rãnh lại, gia công mặt ngoài, rồi lại tôi. Các nòng làm lại đều được thử áp lực kỹ bằng 100 phát bắn đạn 20 gram cùng liều, đạn thử là đạn chì không đai, được đúc. toàn bộ dây điện công suất lúc đó được bọc thì, chỉ cần năm bẩy phân dây điện công suất là có một viên đầu đạn. Những Lizz liên thanh được dùng cho xung kích công kiên. Lizz liên thanh cũng như các Lizz sau này dùng báng thẳng, có tay cầm súng ngắn, tay cầm dịch chuyển lên trước 7cm, gần với băng, nhờ đó cò ít chi tiết, gọi nhỏ và tin cậy hơn. Lizz lên thanh cũng có một ống tròn da, đóng bằng khuy bấm, được bao quanh nòng làm lót tay. Khi các khuy bấm hỏng thì ống da có sẵn các lỗ tán đinh đồng và khuy đồng như quần bò ngày nay, đeo lâu hơn, rộng lỏng hơn và thường để cố định.

Các xung kích rất quý Lizz vì nó tin cậy, nhẹ, bắn nhanh mạnh mẽ hơn các SNLT khác. Đồng thời, súng rất đẹp và nổi tiếng là súng của đội nữ tự vệ TV, toàn người thông minh, sang trọng. Đồng chí nào cũng cam đoan với đồng đội rằng chính nàng Lizz là người đã dùng khẩu súng của anh ta !!! Mặt dù không ai biết Lizz là ai.

Một số đồng chí cam đoan họ biết Lizz, Lizz là con gái ông chủ của họ. Một số thì cam đoan cùng học với anh Lizz ở trường Bưởi. Một số thì cãi trắng rằng họ biết Lizz ở trường Nữ Học. Một số xa xôi hơn nói như đinh đóng cột rằng Lizz là người Huế. Một Đại đội trưởng Xung kích nổi tiếng dũng cảm cam đoan rằng Lizz là dân Tây, vì mê một Xung kích nên lên chiến khu. Thế anh Xung kích tốt số ấy là ai ?? Chuyện buồn lắm, tớ định không nói ra, cậu ấy chết rồi, chết trong trận PT. Phét, người thế chết sao được, mà ô này, thế Lizz hiện ở đâu ?? Tớ không nói !! có nói không ?? không !! một ?? không !! hai ?? không !! ba ?? oái !!

Cũng như Katuysha bên Nga vậy. Có một câu chuyện truyền kỳ dần hé lộ và sau đó Xung kích nào cũng thuộc lòng. Nàng Lizz học ở trường Nữ Học, tự tay cắt đôi dép lốp cho bf lên đường trường chinh. Rồi Lizz thăng thiên như tiên nga trên một đỉnh núi cao, khi trên đường lên chiến khu đoàn tụ, thì được tin sai là bf hy sinh, bf của nàng tìm về chốn đó và ôm khối sầu to như núi. Rồi mọi người đồn là hồn Lizz hóa vào sao Bắc Đẩu, lấp lánh trên đỉnh núi.



Mùa thu, con gái cả của ông X, sinh tại Tula Việt Bắc, sau trở thành nhà thơ lớn. Hồi còn bé, Mùa Thu đã hay làm thơ, bé có đoạn:
Em như sao nhỏ mang tên gấu,
Không tỏ nhưng sao biết dẫn đường.
Anh đi chinh chiến dù muôn hướng,
Bên mình, luôn có Lizz yêu thương.

"Nhỏ mang tên gấu" là Tiểu Hùng tinh, chòm có sao Bắc Đẩu, sao dẫn đường. Về sau,một nhà thơ nhái lại bài này đăng báo mang tên Núi Đôi. Chúng ta biết bài đó láo quá, Sao Dẫn đường Bắc Đẩu nhìn từ Việt Nam có bao giờ sáng đâu. Dầu sao những gì mộc mạc như em bé dễ thương hơn những gì lớn, già, lịch lãm nhưng giả tạo.

Trong nhà, Mùa Thu thân với "dì Lizz" nhất. "Dì Lizz" là biệt danh mà Phu nhân ông X gán thân mật. Ông X không tin tưởng ai như "dì Lizz" khi dịch tài liệu, ngoài vốn từ như từ điển sống, "dì Lizz" nhớ đặc biệt chính xác các từ chuyên ngành mà ông X trình bầy dù chỉ một lần từ lâu. Một số từ chuyên ngành trong các sách vở làm giáo khoa và trở thành các từ khoa học mới là sản phẩm của "dì Lizz". Với sự chỉ dẫn của một bác sỹ mà chúng ta nhiều người biết, "dì Lizz" đã xây dựng hệ thống y tế mà sau này là "Bệnh viện Tula". "Dì Lizz" cũng là người đề xuất phương pháp nuôi trâu phân tán cung cấp da, thịt và cả một đàn dê.



Tiêu đề: Sten, sản phẩm phản loạn.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Tám, 2009, 08:02:41 pm
Ông X phản đối việc sản xuất Sten. Sten là một phiên bản nhái không đầy đủ chức năng của MP28/II, được thiết kế lại theo hướng ẩu, rẻ. Nó được thiết kế để sản xuất trong một phân xưởng tối thiểu, tối thiểu nhất chỉ cần một máy công cụ là máy tiện, cộng thêm hàn acetylen, mài, uốn bằng ê tô, thêm các chức năng cắt đục và rèn của lò rèn. Toàn bộ vật liệu kể cả nòng đều là những nguyên liệu rẻ tiền. Việc sản xuất một súng tồi tệ trong khi nguyên vật liệu cực kỳ quý hiếm phải đổi bằng máu là một việc vô lý ngu ngốc.

Người Anh chọn Sten vì họ đã quá vội vàng năm 1941, không tìm được vật liệu đúng để sản xuất hậu duệ của MP19 như Suomi và MP34 Áo. Trong khi đó, Lizz đã tìm được vật liệu vừa dễ kiếm vừa tốt. Cũng thật ra, độ tối thiểu của máy công cụ thì Sten không bằng Lizz, nhưng phương p[háp làm Lizz chỉ yếu là khoan định hình, khoan mài... là những đặc sản không dễ học của riêng ông X, ông đã chuẩn bị 10 năm cho điều đó.

Tuy vậy, việc Sten rất dễ làm đã làm nhiều người tham "kỹ công" đam mê. Vì vậy, các mẫu thử Sten vẫn xuất hiện trong Tula Việt Bắc và vài Arsenal anh em. Ngoài ra, Sten cũng được nỗ lực ở một vài các Arsenal không liên quan đến TV. Dân TV sau này gọi các Sten hiệu Tula Việt Bắc là phản loạn.


Tiêu đề: Công nghệ chế tạo Sten phản loạn chỉ bằng ê tô, mỏ hàn,lò rèn,máy tiện
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Chín, 2009, 06:49:26 pm
Trước WW2, Anh không đánh giá đúng về SNLT, về tính năng xung phong của súng. Điều này thì Liên Xô cũng chẳng hơn, nhưng Liên Xô chẳng hơn lại vì lý do ngược lại, họ tưởng chiến tranh không diễn ra vội vàng mà chiến tranh sẽ đợi súng trường xung phong của họ đủ tiền tậu. Anh cho rằng có thể mua MAS của Pháp và Thompson của Mỹ, và chẳng buồn chi tiền phát triển cho những nhu cầu quá ít ỏi, điểm ngược lại của h so với Liên Xô là học chả nghĩ gì đến chiến tranh hiện đại cả, không súng trường xung phong và chẳng có loạt bắn cực nhanh và dáng súng trường nào hết, chẳng có SNLT nào hết thảy.

Nhưng rồi, Đức chứng minh tính hiện đại của SNLT bằng cách đánh tan châu Âu. MAS-38 bị chiếm, Thompson bị ngăn cách bởi đại dương. Ở Anh không còn cái gì chọn lựa nữa cho tính hiện đại, tính xung phong của vũ khí cá nhân. Chính vì vậy mà người anh không có thiết kế nào kịp thích hợp với kỹ thuật của họ, vì còn đâu nữa, năm 1941 thì Anh đã bị ném bom, còn mơ đâu viễn cảnh xây dựng những dây chuyền súng mới nếu nhưng không làm thuê cho quân Đức chiếm đóng.

Lanchester là phiên bản Anh Quốc của MP28/II Đức.MP28/II làp phiên bản cải tiến không nhiều, chủ yếu là các tính năng chế tạo thuận tiện năm 1923 của MP18/I. Gọi là MP28 thời đại đồ đồng vì cổ súng người ANh không làm được mà đúc bằng đồng thau.Sau này,có một số Sten và Lanchester dùng cả ống vỏ máy súng, khối lùi bằng đồng điếu.

Sau khi vội vàng với Lanchester đồ đồng, năm 1941 Anh cho ra bản Sten đầu tiên. Tên súng được ghép bởi tên hai nhà thiết kế Shepard và Turpin, đuôi là tên quân xưởng Enfield Arsenal. Tại sao họ ghép tên vào nhau thế ?? dễ hiểu, để chia đều sự nhục nhã về mặt kỹ thuật khi cải lùi một khẩu súng đã quá lạc hậu của Đức. Một số chú liệt não tiếng Anh thường nói Sten có đôi ba điểm của MP28, nhưng thực là như vậy, không thể nói rằng Sten không là MP28 rẻ tiền.

Mẫu thử đầu tiên khá giống MK1 được Harold Turpin thực hiện thủ công tại xưởng Radio Philips tại Perivale, Middlesex, tháng 12-1940 đến tháng 1-1941, hiện vẫn được trưng bầy. Phiên bản chính thức hơi khác.


Sten có cấu tạo cực kỳ đơn giản, về nguyên lý, nó không cải tiến gì từ MP28, chỉ cải lùi cho dễ chế tạo.
Tất cả các đời Sten đều là súng có mặt bịt đáy nòng rộng y chang MP28, băng có đạn ngỏng lên cũng y chang, cũng một hàng và đặt ngang bên trái lạc hậu như vậy, và dĩ nhiên cũng là ống vỏ máy tròn trụ-khối lùi trụ tròn khóa bằng khe xẻ ngược trên vỏ máy súng đặt bên phải, cũng lò xo to nhìn thấy từ ngoài. Tất cả những biến đổi của Sten ảnh hưởng nhiều đến tính năng chiến đấu là kim hỏa tồi tệ, đường đạn tồi tệ, dáng cầm súng tồi tệ và chất lượng tồi tệ. Tất nhiên, hai chữ tồi tệ này không động đến khả năng sản xuất. Lô sản xuất lớn nhất là Sten MkII được tính giá bản quyền nổi hơn bèo: $5 theo kiểu đã tính trượt giá sau WW2. Giá Sten thành phẩm cũng không cao quý gì hơn, $200, bằng 1/10 Thompson trước WW2.

Sten bỏ đi phần cổ súng mà Đức và Suomi, Nga, Áo, Tiệp và Mỹ đều dùng để nối nòng với vỏ máy súng. Sten có cái nòng liền cổ. Thậm chí, cái nòng này cũng không buồn rèn mà gia công toàn bộ từ tiện ngoài cái ruột nòng. Một thanh thép hình trụ được tiện bỏ đi nho nòng nhỏ nhẹ, giữ lại cái cổ to, trên cổ có hai ren trước sau, sau cho vỏ máy súng vặn vào và trước cho ống cách nhiệt. Cái nòng còn phải kiêm thêm một chức năng nữa, là làm bu lông nối cái việc đó, giữa hai ren trên là đoạn hình bu lông.
Thông thường, cái nòng là bộ phận cao quý của súng nên cần làm riêng để tiết kiệm hợp kim đắt tiền, và công gia công hợp kim đó cho những mục đích phụ, vì hợp kim làm nòng khó cắt gọt. Việc bình dân hóa cái nòng là điều chứng minh chắc chắn tính tạm bợ của Sten.

Ống cách nhiệt làm bằng thép cán cuộn rồi hàn, ờ, hợp lý. Nhưng ống vỏ máy súng cũng làm từ thép cuộn rồi hàn. Các phương pháp gia công nguội trên đều phải đánh đổi là dùng loại thép mềm. Có cần nhớ rằng Suomi phải mài khối lùi và khoan ống vỏ máy súng từ phôi đặc không đây ??
Chưa hết đâu, ngày đó trừ Nga phát triển hàn điện, (Viện Paton đến khi Liên Xô đổ vẫn là viện hàn điện lớn nhất Thế giới), thì ở Anh, người ta vẫn hàn acetylen, thứ mà chúng ta ngày nay dùng hàn đồng. Chính xác là Sten hàn acetylen. Thêm nữa là như trang web của các araenal mình show dưới đây, khi chế tạo thật, theo các araenal  ấy, người ta cũng cắt phôi bằng acetylen, đây là một giải pháp hợp lý cho các xưởng nhỏ, miễn các máy gia công lớn.

Cái ống vỏ máy súng đã mỏng yếu, lại thêm cái tay kéo lùi dựa vào đó được tiện tròn, diện tích mặt tiếp xúc như thế nào thì chất lượng nó như thế thôi. Chỗ dựa chống xoáy duy nhất là khe xẻ của tay kéo lùi, cả tay kéo lùi và khe xẻ đều nhanh mòn, khi nó mòn thì bịt đáy nòng không con đồng tâm và thẳng đứng nữa, đạn càng kẹt các trường hợp nhiều hơn. Cái này thì mình chứng ràng Sten tạm bợ một cách kỹ càng, chỉ cần rèn mài tay kéo lấy mặt trượt phẳng là chất lượng súng đã được cải thiện đáng kể rồi.

Không cần Suomi, mà MP28 dù có hàng chợ nhưng cũng là dập, cũng chọn được thép làm phôi mặc dù không quá cứng. Còn thép cán, vâng, nó là CT3 và cùng lắm là hơn tí tẹo. Gia công tệ, nguyên liệu tệ chóng biến dạng làm Sten gặp rất nhiều tật. Bản thân MP28 đã hay gặp chuyện hóc đạn khi đẩy từ băng vào nòng, cũng như không móc được đạn ra khỏi nòng, thì hàng nhái Sten nhân nhược điểm đó lên. Người ta cải tiến bằng làm lỗ thoát vỏ to khổng lồ, nhưng nó lại hay ném viên đạn chưa nổ ra và cắt đứt tay xạ thủ, chuối nữa, người ta thêm một tấm vảo vệ tay xạ thủ trước lỗ thoát ở MK3, nhưng nó lại xé rách quần áo da thịt khi đeo súng.

Đến MK3 thì Sten thiết kế siêu ẩu, cả ống cách nhiệt và ống vỏ máy súng liền luôn làm một.


Toàn bộ các khâu chế tạo một Sten chỉ bằng một máy tiện, uốn bằng ê tô và hàn acetylen.Các ảnh này được trích trong hồ sơ lưu. Hồ sơ lưu theo chế độ hà khắc của ông X đem lại khá nhiều thông tin. Chúng sớm được số hóa toàn bộ năm 2020, làm nguồn tư liệu quý cho các nhà sưu tập.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_DSCF0015-2.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/DSCF0015-2.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_DSCF0009-3.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/DSCF0009-3.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1829.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1829.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1827.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1827.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1824.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1824.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1820.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1820.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1819.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1819.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1810.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1810.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1804.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1804.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1803.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1803.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1802.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1802.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1801.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1801.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1800.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1800.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1799.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1799.jpg)

Cò
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1822.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1822.jpg)


Làm khối lùi
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1798.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1798.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1794.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1794.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1790.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1790.jpg)


Làm cổ súng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1788.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1788.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1787.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1787.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1784.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1784.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1783.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1783.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1776.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1776.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1777.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1777.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1782.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1782.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1780.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1780.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1778.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1778.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1769.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1769.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1771.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1771.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1767.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1767.jpg)

Nòng hoàn chỉnh
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1781.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1781.jpg)

Nòng chưa làm buồng đạn, buồng đạn thực hiện bằng tiện móc.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1766.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1766.jpg)

Làm nòng chưa ren và chưa móc buồng đạn
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1765.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1765.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1764.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1764.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1761.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1761.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1757.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1757.jpg)

Những mảnh phụ tùng Sten trong bảo tàng
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1750.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1750.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/th_IMG_1749.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1749.jpg)


Các nhanh nhất để làm bộ phận cổ cắm băng. Tôn miếng được đốt nobngs bằng mỏ hàn hoặc lò rèn, rồi cuốn quanh một trục đã kẹp vào máy tiện, rồi hàn các đường nối. Lỗ được thực hiện bằng máy khoan hay tiện dùng như khoan, đục các đường viền rồi gia công tinh bằng mài giũa.  Trong ảnh là kiểu cổ lắp băng xoay được để tiện mang vác súng, có chốt hãm vị trí bằng lò xo.

Cuốn lại bằng thợ rèn hoặc mỏ hàn, rồi uốn chính xác và xố định trên ê tô, đem hàn
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1851.jpg)

Các lỗ được đục viền bằng khoan hay tiện, rồi gia công tinh bằng mài giũa.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1852.jpg)

Và hàn lại
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/IMG_1854.jpg)



Nàng Lizz rất thích chụp ảnh. Pa ma nàng cưng nàng lắm, mặc dù con gái họ ở trên chiến khu nhưng họ cử cả một đội các bà buôn Đồng Xuân tắc tế cho con gái những gì nàng thích. Hồi kháng chiến, các bà buôn này khá nhiều, họ cung cấp cho chiến khu khá nhiều hàng tiêu dùng quan trọng. Nhiều người trong số họ nhờ vả vốn liếng, nguồn hàng từ pa ma nang Lizz. Tuy họ không biết nàng ở đâu, làm gì, nhưng thường gửi được cho nàng khá nhiều thứ, đặc biệt là đồ làm ảnh. Những ảnh dưới đây Lizz chụp làm kỷ niệm, không nằm trong hồ sơ lưu trữ bắt buộc theo chế độ hà khắc của ông X. Mầu được máy vi tính tái dựng sau này.


Máy công cụ rất thiếu, Việt Minh đã chế tạo nhiều "máy công cụ" mi ni như thế này từ rèn, mài, tăng đáng kể năng suất và độ chính xác. Cảm ơn người ANh đã chế ra khẩu súng quá tệ nhưng quá dễ chế tạo.

Giá để hàn và khuôn cho "máy dập ê tô". Nhờ giá để hàn nên chiếc ê tô quý giá làm được nhiều việc hơn và nhàn hơn, bền hơn, đồng thời thành phẩm chính xác hơn.

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1857.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1855.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1856.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1858.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1861.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1864.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1863.jpg)


Nhờ "thiết bị" này, chỉ cần một cái búa là uốn được rất nhiều thứ.
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1875.jpg)


Phần cổ lắp băng này Anh Quốc đã không làm ngay được mà đúc đồng. Còn đây, cách đây hơn 1 thế kỷ, các kỹ sư đang mô phỏng lại công nghệ Việt Minh.


Hàn
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2094.jpg)
Đóng mác giả
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2099.jpg)

Thành phẩm
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2109.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_4717.jpg)



Tiêu đề: Thời đại đồ đồng
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Chín, 2009, 07:59:13 pm
Tối thiểu Sten chỉ cần một máy tiện, một lò rèn, mỏ hàn, và các động tác thủ công vơi dao kìm giũa làm từ lò rèn.Một ảnh dưới đây cho thấy cái bào kim loại mà mình đã nói đến, nay đã mất giống. Mầu do máy vi tính sau này phục dựng, cũng có một vài ảnh mầu thật từ nguyên thủy, những ảnh đó có chú thích riêng.
Làm Sten thủ công thì năng suất sẽ được cải thiện hơn khi lắp thêm giá chuyển động cho máy khoan hay tiện, khi đó nó sẽ trở thành công cụ phay năng suất cao. Để tiết kiệm thời gian máy, các công nhân tận dụng tối đa thủ công, ví dụ máy chỉ làm thô,sau đó mài giũa.

cách đây hơn 1 thế kỷ, những người ham kỹ thuật mô phỏng lại công nghệ Việt Minh.
Dự án được tiến hành ở Canada năm 2020, do một số mẫu súng Việt Minh nhái bản Sten Canada được tìm thấy. Dư luận Canada cho rằng Việt Minh được Nga Sô Trung Cộng viện trợ,cho VM đặt các quân xưởng công nghiệp lớn có máy hiện đại trên đất TQ mới làm được súng này. Một nhóm thanh niên ham kỹ thuật Nga, Canada , Anh, Pháp đã phục dựng lại công nghệ VM và cho ra sản phẩm, chứng minh hết sức rõ ràng.

Bắn thử
http://photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/?action=view&current=MOV02736.flv

Bằng một máy tiện hoặc khoan, hàn acetylen và một cái ê tô, tất nhiên nếu đầy đủ thì cần một lò rèn và các thợ áo xanh biết làm kìm búa giũa và tôn miếng, ta đã có một Sten theo công nghệ trên. Nhưng tính năng chiến đấu kém, kém bền và cái chính là xơi tái toàn thép rất quý hiếm của Tula Việt Bắc, nên chỉ những "thành phần phản loạn", mới tham công chế tạo súng này mang mác TV. Những "thành phần phản lọan" này phải chống lại chúng còn gian khổ khó khăn hơn đánh Tây, chúng ta nói chuyện sau.

Công cuộc "chống phản loạn" được nàng Lizz tham gia tích cực, với sự trong sáng và trí tuệ của mình, nàng đặc biệt ghét bọn giả học, tham công, háo danh, những kẻ đã làm mất phần lớn động cơ quý giá của máy công cụ, và nguyên liệu để làm hàng vạn khẩu súng trường chất lượng cao hơn ST-1 bị biến thành mã tấu. Ban đầu, ông X chỉ đề nghị nàng làm một chủ nhiệm y tế cho quân xưởng, với các chức năng mở rộng về hướng đời sống của một thành phố nhỏ biệt lập. Ông đặc biệt thú vị trí tuệ của nàng sau đề nghị "súng nữ", một trí tuệ vừa có chất thông minh, vừa có chất học giả được trình bầy thú vị, trong sáng như những gì thông minh uyên thâm nhất.

Lizz là một người con gái "cổ điển". Như những người con gái hết sức thông minh trong thời đại đó, pa ma nàng lo ngại về trí tuệ nàng, lo rằng nó sẽ nẩy nở phát triển, làm nàng sao nhãng bổn phận giới tính. Cũng như bạn bè, nàng được ăn học vừa phải và hướng đến một nghề nghiệp có thể phát huy tư chất của nàng, là sự ham hiểu biết, ham nghiên cứu, ham làm việc, ham ngăn nắp và nhân hậu từ trong bản năng. Nhờ đó, người ta cho rằng nàng sẽ không thông thái quá mà vẫn thoải mái tinh thần trong khuôn khổ của mình.

Và cũng như những người con gái thông mẫn khác trong thời đại đó, nàng như bông hoa hướng dương bị ép thiếu nắng. Ngay cả chương trình học phổ thông dành riêng cho nữ giới lúc đó cũng bị cắt đi các môn tự nhiên như toán, lý, hóa. Đầu nàng não nàng như một con cá voi lớn bị nhốt trong một cơ thể nhỏ như cái chậu. Để tập thể dục cho cái đầu to đó, nàng học tất cả những gì được học, và chỉ có khoa ngôn ngữ thỏa mãn điều đó.Nang học chữ nho từ gia đình, chữ Tây, rồi tiếng Nhật theo thời trang. Lại tập phát âm và lối văn bạch thoại Quản Đông. Không như những cô gái khác học để nói, nàng học một cách bác học, tức là vốn từ như một cuốn từ điển sống.

Đặc trưng của phản loạn là ngu si. Ông X thấy cần cấp tốc bổ túc cho đội công nhân áo xanh ô vơ ro. Bên Tây, giai cấp áo xanh khác ta. Lúc đó, yêu cầu làm thợ cần như làm xiếc, nên phải đi làm từ rất sớm, nhưng công nhân Tây có các trường bổ túc. Đa phần các đốc công, những người lãnh đạo công nghiệp châu Âu đều xuất thân công nhân và không thiếu Tiến sỹ, Viện sỹ. Nhưng điều kiện ở ta khác, vốn đa phần là con cái những gia đình Nho giáo và thông minh, nên các công nhân đều ham học,có khả năng học và chỉ những người giữ được khả năng học trong cuộc sống vất vả mới vươn lên vị trí áo xanh. Trong khi đó, nhiều người ở áo nâu không phải do mới đi làm, mà do ngu ngốc và tưởng cách mạng sẽ cho họ áo xanh, áo trắng mà không cần khôn hơn. Phần lớn cách học của ô vơ rơ trước cách mạng là các lớp bổ túc tự lập, một vài người có uy tín hơn sẽ dậy cho những người trẻ, chưa được học hành nhiều. Ban đầu là chữ quốc ngữ, toán. Sau đó là tiếng tây bồi, các đọc bản vẽ Tây, ký hiệu kỹ thuật Tây. Lúc đó những thợ tốt nghiệp các trường công nhân chính thức rất không đáng kể, nên đa phần áo xanh vừa bổ túc ở xưởng, vừa ở nhà.

Ông X xây dựng lên các bước thành lập Đại Học Tula Việt Bắc. Ban đầu là các lớp bổ túc văn hóa và kỹ thuật cho ô vơ rơ để xây dựng đội ngũ giáo viên. Nhưng ông không thể dịch hết số sách. Học viên có thể học tiếng Pháp. Nhưng còn rất nhiều sách tiếng Đức, đất nước có kỹ thuật vũ khí tốt nhất thời đó, mà Pier mua tặng hay mua hộ ông. Về nhà, ông X thường bần thần lo nghĩ bỏ ăn về việc này. Bất ngờ, Phu nhân đã đề nghị ông cho cô y tá dịch sách, ờ, có thể lắm chứ. Lizz có cái đầu to tròn của một người thông minh, nhưng lại có vầng trán cao mà không rộng quá để sa đà phân tâm như đa phần đàn bà con gái.

Nàng Lizz làm ông X ngạc nhiên khi học đến cả ngàn từ tiếng Đức một ngày, không làm người giáo viên duy nhất vốn đã vất vả phải thêm lo lắng nhiều. Nàng học bài bản, tự lập chu kỳ ôn tập, tự chứng minh là con một gia đình nhiều học giả. Sau này, ông X hoàn toàn an tâm, chỉ cần ông chỉ một lần là nàng nhớ ngay cách dịch một từ lạ. Thông thường, nàng đưa bản nháp song ngữ cho ông xem và ông sửa lại, đa phần các từ lạ đã được nàng chế ra ở giai đoạn đó.

Ngày nay, trong sân Viện Thiết Bị TV có bức tượng bán thân nàng như là một trong những người sáng lập quan trọng nhất của trường, người đã dịch đến cả tấn sách vốn ban đầu và trong đó bao gồm những cuốn giáo khoa quan trọng nhất, cũng là giáo viên quan trọng nhất môn tiếng Pháp, tiếng quan trọng nhất lúc đó. Nàng cũng tự học tiếng Nga qua tiếng Pháp và đó là mối liên hệ đầu tiên với Liên Xô sau 1950 của Tula Việt Bắc.




Ở các quân xưởng du kích khác trên cả nước, thiếu kiến thức về vũ khí, công nghệ nên Sten hấp dẫn bề ngoài (về mặt chế tạo) và có khá nhiều. Phần lớn chúng chỉ nển bắn phát một. Ở miền Bắc, ngoài Tula Việt Bắc thì thiếu chuẩn bị và thợ, kỹ sư, nên phần lớn nòng trơn chỉ có tấm bắn hiệu quả 50 mét. Nhưng ở khu 5 thì khá nhiều quân xưởng làm được rãnh xoắn. Các khẩu súng này còn rải rác trên các bảo tàng mà ông Trần Đoàn rất quý. Hậu duệ của ông cũng tham gia viết cuốn sách này . ;D Phần phản biện.  ;D

Do thiếu máy móc,một số khôi lùi cũng như Anh Quốc, được đúc và giũa từ đồng điếu. Chúng có tuổi thọ thấp, nhưng lại dễ chế tạo
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/th_BS1016-3.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/BS1016-3.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/th_BS1016-2.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/BS1016-2.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/th_BS1016-1.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/BS1016-1.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/th_BS1016.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Bronze_bolt/BS1016.jpg)


Lanchester , tức là tiền thân Sten, các chi tiết hình dáng phức tạp được đúc bằng đồng. Thậm chí cả ống vỏ máy súng cũng đồng, nhờ thế không cần hàn trong điều kiện thiếu đất đèn và quân xưởng nhỏ không có ô xi.
Cổ súng làm bằng đồng thau, còn ống vỏ máy súng, khối lùi làm từ đồng điếu, ống cách nhiệt bao nòng bằng đồng thau gò. Đây là một khẩu Lanchester do một quân xưởng không rõ tên, ông Trần Đoàn sưu tập.
(Lo gián điệp địch phán đoán đánh phá, nhiều quân xưởng che giấu cả việc sản xuất súng bằng cách đóng mác hiệu bắt chước y hệt súng mẫu, việc xác định nguồn gốc quân xưởng chỉ thực hiện được bẳng phân tích nguồn gốc kim loại chính xác. Đồng quân ta đều có nguồn vỏ đạn, chủ yếu của Mỹ.)

(http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Lanchester_mk1/BL5005a-9.jpg)



Dù hết sức nghèo đói nhưng ít ra Việt Minh cũng hoàn thiện đồ sắt sớm.

Báo chí Pháp đăng về một quân xưởng không sơ tán kịp thu đông 1947. Đồ sắt đàng hoàng.
(http://i179.photobucket.com/albums/w315/Orriblebastard/IMG_0555.jpg)


Tiêu đề: Gia công khôi lùi Sten từ rèn, tiện, khoan, mài và thủ công
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2009, 12:00:08 pm
Khối lùi Sten, một máy tiện, ê tô, lò rèn, máy mài là quá đủ để thực hiện


Đây là các khối lùi xịn làm từ phay
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/th_XB4007.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/?action=view&current=XB4007.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/th_XB4007-1.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/?action=view&current=XB4007-1.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/th_XB4007-2.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/?action=view&current=XB4007-2.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/th_XB4007-3.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/MKII_bolt/?action=view&current=XB4007-3.jpg)

Thay phay bằng tiện và khoan. Các quân xưởng còn cải tiến khối lùi cho tốt hơn phiên bản Sten nguyên thủy, vốn được copy y hiệt mà người copy không hiểu hết các chuyển động và yêu cầu vật liệu. Một số cải tiến của các quân xưởng thường thấy là hai hạng hai bên khối lùi như của BMP35, phần đẩy về tin cậy hơn hoặc cải tiến đẩy về có búa rời loại chuyển động thẳng để bắn từ khóa nòng đóng.

Khối lùi này mặt trước y hệt như Sten 2 nguyên thủy, người ta khoan một vài lỗ mặt trước, khoan một lỗ nhỏ sâu để đóng kim hỏa. Lỗ cắm cần đẩy về đằng sau cũng khoan. Lỗ cắm tay cầm khoan rồi ta rô. Nếu chỉ có một máy tiện thì dùng nó như khoan. Điểm khác khối lùi này là cải tiến chỗ lắp cần đẩy về đằng sau cho tin cậy hơn.

Phôi được chuẩn bị bằng tiện và mài, mặt mài phẳng này không cần chính xác. Trong ảnh, các lỗ trước được thự hiện bằng tiện
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/khooi_lufi/IMG_1839.jpg)

Khoan tạo các rãnh và môi công tác. Hai rãnh lớn hai bên để hai bên cửa băng chuyển động, mỗi giữ chẻ đôi là móc đanmj từ băng, khe giữa môi là mấu hất vỏ đạn, khe rộng hơn đối diện là nơi lắp móc vỏ đạn. Móc vỏ đạn kiểu bập bênh lò xo đẩy.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/khooi_lufi/IMG_1842.jpg)

Đằng trước thành phẩm
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/khooi_lufi/IMG_1843.jpg)

Đằng sau thành phẩm
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/khooi_lufi/IMG_1850.jpg)


Lắp tay nắm, hoàn chỉnh thành phẩm khối lùi.
Loại súng này mang mác hiệu Canada, nhưng các nhà cổ sử chúng minh rằng toàn bộ vật liệu là từ Bắc Bộ, các vết giá máy rất giống các mết răng của một vài máy tiện, khoan, búa và đe đã làm ra một số mã tấu, lựu đạn, điều này khẳng định chắc chắn là súng được Việt Minh sản xuất. Theo ông Trần Đoàn, các quân xưởng nái lại y sì mác hiệu súng nguyên thủy để địch không đánh giá đúng quân xưởng và nhờ đó giảm đánh phá.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung_ngan/Sten/Canada_homade/khooi_lufi/IMG_1930.jpg)


Khi mình viết cuốn sách này, nhiều đống chí an ninh đã định cấm xuất bản, lý do mách nước cho dân khủng bố làm súng. Mình thanh minh mãi là chỉ viết về Tula Việt Bắc thôi. May sao, nhờ quan hệ của nhà sưu tập Trần Đoàn mà vụ này thông. Nhà sưu tập Trần Đoàn là chủ một bộ sưu tập lớn các sản phẩm của Tula Việt Bắc cũng như tài liệu về quân xưởng kiên cường trong lòng núi này. Ông là hậu duệ của Chủ nhiệm vận tải Trần Đoàn, người đã xây dựng hệ thống phân mối hàng zích zắc làm địch lạc lối từ năm 1948.


Tiêu đề: Sten Việt Minh, Sten35
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2009, 01:39:08 pm
Không chỉ dập khuôn Sten nguyên thủy, các quân xưởng còn có một số cải tiến ưu việt. Bên trái là loại khối lùi cải tiến cho phép bắn từ khóa nòng đóng, tăng vọt độ chính xác. Giữa là khối lùi giống nguyên thủy và phải là kiểu miệng móc đạn từ băng của BMP35. Kiểu này làm súng tin cậy hơn Sten nguyên thủy, nhưng yêu cầu vật liệu khá cao. Khi có vật liệu tốt như các nòng súng hỏng của địch, các quân xưởng rất thích thứ này. Kiểu khối  lùi bên phải thường được gọi là Sten35. Điều này làm tình báo Pháp điên đầu vì nước Anh sản xuất Sten từ 1941 và đương nhiên đó là tên Việt Minh. Từ đó, tình báo Pháp cho rằng Việt Minh đã bí mật nghiên cứu MP28 trước cả Anh Quốc, từ phong trào bình dân năm 1935, 1936. Quiaan Pháp tiến hành điều tra quy mô nhưng không phát hiện được gì.

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_19251.jpg)
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1924.jpg)
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1923.jpg)
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1922.jpg)


Tiêu đề: Gia công ống vỏ máy và cò Sten
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2009, 02:17:08 pm
Ống vỏ máy súng
Sten được làm từ ống tròn. Sau này, ở Anh người ta làm từ thép mỏng cuộn lại rồi hàn một đường dọc lưng.

Du kích cũng có Sten làm từ ống có sẵn và Sten làm từ thép phẳng cuốn.

Théo phẳng được máy khoan cắt thô một số lỗ sẵn trước khi cuốn, trong khi nhiều người thích cuốn ống rồi cắt. Tronmg ảnh là tờ giấy quấn quanh một ống để đánh dấu lỗ cắt.
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1932.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2062.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_4703.jpg)

Bào tay thủ công đây
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/DSCF0001-1.jpg)

Khe dài là đường chạy tay nắm khối lùi. Móc ngược sau khe là khóa an toàn
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2036.jpg)

Đằng sau là khe lắp cái nắp đuôi, nắp đuôi của ống vỏ máy súng có cần đẩy về
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2040.jpg)

Giá cần đẩy về được làm thế này để khít khìn khịt đến 1/10mm vào ống vỏ máy súng, sau khi kiện người ta cho hai bộ phận miết vào nhau.
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1927.jpg)
Và tạo ra lỗ có hình côn thắt eo chính xác ở tâm để đóng và tán cần đẩy về
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_1928.jpg)

Vị trí khóa an toàn
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2041.jpg)

lỗ máy cò, đường cưa
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2037.jpg)

Mấu hất vỏ đạn được hàn vào một khe xẻ bằng cưa
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_2039.jpg)

Hàn
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/PA052674.jpg)

Và mài sạch
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/PA052676.jpg)

Phương pháp tạo lỗ sau tạo thuận lợi hơn với các vật liệu khó tính. Tạo lỗ sau là tạo lỗ sau khi uốn ống vỏ máy súng.
Lấy dấu
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/P9112643.jpg)

Gia công đơn chiếc: ướm thử máy cò vào dấu. Nhiều súng Việt Minh không lắp lẫn được bởi nguyên nhân này
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/P9092639.jpg)

Tạo lỗ bằng khoan và tiện, rồi mài qua và đánh bóng
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/P9172645.jpg)

Thay cho việc lấy dấu mất công, in giấy và cuốn lên nhanh hơn. Tula Việt Bắc nhân bản các bản vẽ tiếng Anh,  sử dụng song ngữ vì lúc đó tiếng Việt còn thiếu một số từ kỹ thuật, mặt sau là tiếng Việt.
(http://i214.photobucket.com/albums/cc114/pervscan/16juillet2008022.jpg)

Để bớt giờ máy, chỉ khoan các lỗ viền rồi gia công tinh bằng giũa, mài thủ công.
(http://i214.photobucket.com/albums/cc114/pervscan/Copiede16juillet2008015.jpg)

Máy cò dễ dàng tán, hàn, bắt vít. Trong ảnh là tán. Do gia công thiếu chính xác nên thợ Việt Minh lắp nắp đuôi trước khi cố định vỏ máy cò để ướm.
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_4705.jpg)

Máy cò đơn giản vì không cần chức năng khóa an toàn, chỉ cần chọn chế độ bắn bằng nẫy xiên ngang
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_4709.jpg)

Gia công nẫy chọn chế độ bắn bằng rèn, giũa.
(http://i33.photobucket.com/albums/d85/Claven2/sten/IMG_4713.jpg)


Tiêu đề: Hàn ở Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 02 Tháng Chín, 2009, 04:31:26 pm
Trong KH45, ông X đã đặc biệt chú ý nguồn nguyên vật liệu ban đầu, trong đó có động cơ và vật liệu hàn ban đầu. Một lượng đất đèn khá lớn được chở từ Quảng Ninh về, để để dùng khoảng 1 năm, điều này lại kéo dài vì thiếu động cơ nên KH47 bắt đầu chậm. Một giàn máy sản xuất oxi và động cơ, cũng như vài chục tấn thép công cụ để làm súng trường chất lượng cao khởi đầu KH47 cũng được chở về. Nhưng đáng tiếc, do các thành phần hết sức ngu ngốc theo các dạng khác nhau,  dốt nát không lường được hậu quả, đã làm hỏng máy oxi và biến súng trường thành mã tấu. Chuyện này chúng ta sẽ nói sau.

Vào cuối năm 1946 đến đầu năm 1947, ôxi rất thiếu, lượng oxi ít ỏi còn lại chỉ được dùng cho những mục đích quan trọng nhất được đích thân ông X chỉ định. Đáng tiếc cho chúng ta, nước Pháp thời 193x, cũng như Anh Quốc, không phát triển công nghệ hàn điện tiên tiến như Nga và sau đó là Đức. Cả hai nước này khoa học gần như đóng kín với Tây Âu. Vả chăng, dù có tìm được đỷ vật liệu hàn điện thì cũng chưa có sản lượng điện như sau này. Việc mất các trạm phát điện thời điểm này cũng do các loại ngu ngốc mà chúng ta sẽ nói sau.

Vẫn đề oxi được giải quyết tạm thời năm 1947 bằng giải pháp không khí nóng. Kim loại vụn được nhồi chặt vào các ống nước gang, đốt nóng trắng, không khí áp thấp thổi qua đó nóng lên đến 800 độ C, nhờ đó có thể dùng không khí để đốt ngọn lửa đến 1500 độ C, chưa tốt lắm, nhưng đủ để hàn. Một điểm bất tiện là loại mỏ hàn này làm bằng đá chịu nhiệt, đặt cố định, phải cầm vật hàn di chuyển vào mỏ hàn. Lúc này, các giá hàn nhỏ nhẹ như trên đương nhiên hết sức đắc dụng.

Cách hàn bằng không khi nóng lại chóng mang một thảm họa khác đến, đó là nó ăn rất nhiều acetylen và lượng đất đèn dự trữ hao nhanh hơn. Một lượng cồn lớn được nấu thay thế, nhiệt năng thấp, nhưng dễ đốt nóng hơn và cho nhiệt độ lửa hàn 1800 độ, tuy chưa bằng mỏ hàn oxi nhưng cũng quá đủ để hàn. Nhưng rồi một vấn đề khác lại kéo đến. Gần chục tấn sắn mới cho một tấn cồn, mà năm 1947 lương thực dự trữ cạn kiệt, vụ thu hoạch mới chưa đến.

Việc tìm ra các chất đốt hàn tốt hơn cũng được nỗ lực. Một máy lạnh được thử chế tạo, nhưng kết quả là nó cho ra một đống băng đá, vì không bao giờ huy động được đủ động cơ cho nó. Thế nhưng, cái máy lạnh này lại đem đến "giải pháp toàn bộ" cho vấn đề hàn theo môt hướng khác.


Lúc đó, một bác sỹ nghe nói TV có phòng lạnh ngầm trong núi, rất yên tĩnh, nên lần mò tìm đến để tìm cách sản xuất một số sản phẩm y tế. Nhưng điều đó là bất khả vì lúc đó các trạm điện không thể chế tạo được. Nguyên liệu xây dựng các trạm điện được bảo quản cẩn thận, nhưng một số chi tiếp quan trọng nhất không đến kịp và không bao giờ đến nữa. Một lượng động cơ hơi nước và động cơ nổ chạy than quý hiếm, mà nguồn gốc của chúng ta nói sau, lại cần cho nhiều việc khác hơn là cố định vào một trạm lạnh.

Ông bác sỹ không may hỏi dò các ông dầu mỡ lem nhem, thế cái trạm lạnh này để làm gì ?. Cùng là trí thức tây học, ông X bớt công việc một buổi, họ có dịp ngồi với dăm bác áo xanh già, có cả hai con gà to trên mâm. À, cái trạm lạnh này nếu đủ điện sẽ là trạm làm lạnh trước của một trạm lạnh sâu hơn. Thế lạnh sâu thế để làm gì. À, cái này ba không. cười. Ờ, mà y tế nhà anh cũng cần, oxi. Thế à, các anh dùng oxi làm gì. Gớm, cứ làm như mỗi nhà anh biết dùng oxi, nhu cầu oxi cho y tế chỉ chiếm phần sản lượng không đáng kể thôi. Việc này nhiều cái đau đầu quá. Mọi mặt đều bế tắc, ôxi cũng bế tắc, khí đốt cũng bế tắc. Ông X than thở một tràng dài, hiếm có trí thức cùng ngồi mà than.
Khí đốt thì có lẽ làm được từ khí than, ông bác sỹ hỏi. Đương nhiên là được, nhưng loại khí than hàn phải làm từ ôxi, nếu không nó có đến 2/3 là khí ni tơ làm nguội lửa. A, các ông dùng nhiều không? nhiều chứ. nhiều thì tôi không có ? độ mỗi ngày vài chục kg khí đốt hàn là đủ ? thế thì anh nấu cồn ? khỏi phải bảo, đang dùng cồn đây, người đói phải nhịn nửa lương thực cho mỏ hàn ăn, gà này anh ăn là thả rông tự kiếm sống lấy đấy, rượu thì... khách quý mà. Với lại nó hơi nước nhiều, làm xấu chất lượng hàn. Tôi không ăn uống nữa giờ, làm anh mất khí hàn. Nếu như cần nhiều thì bao nhiêu ?? chắc phải tạ khí đốt. À, rượu chạm tay ông bác sỹ rồi  hàn chán lắm, mối hàn trông như vết mổ  . Tạ là mấy khối ? Mỗi cân một khối, đại khái thế. Thế thì có, có một tạ khí đốt mỗi ngày mà không mất lương thực. Thế nào?  có cần huy động nhân lực vật liệu quy mô lớn không, không là được, có bất khả. Tất nhiên không động không được, nhưng không quá đâu. Như thế nào ?. Từ đã nào.

Các anh nuôi trâu bò đi, các anh cần da và mỡ, tôi thấy cả kéo. Nuôi trâu bò miền núi dễ lắm, họ cứ thả mỗi nhà chục con một chuồng trong rừng, không cần trông, chúng tự lớn tự ăn tự đẻ.
Tôi tính rồi, có cô Ly (cô Lizz chụp ảnh lúc nẫy đấy), cô ấy cũng đề nghị, cả nuôi con vắt sữa nữa. Không mất gì mà lại có nhiều thứ, lại phân tán dễ chạy.
Sao anh không quyết
Làm rồi, nhưng nhân giống chậm quá. Thêm nữa miền núi hay dịch.
À, phần dịch và giống thì khỏi lo, tôi cũng có một ít, anh em TB làm, gửi dân... Dịch không triệt được nhưng có thuốc chữa cứu được gần hết, con nào đã khỏi thì không nhiễm dịch nữa. Ở tây có tiêm chủng, làm chúng ốm rồi chữa cũng là một cách tiêm chủng.

Ờ, cảm ơn anh. Tôi mà đủ điện thì tôi cho anh cái trạm lạnh, giờ thì đằng nào nó cũng vô dụng rồi, không có khí đốt thì oxi làm gì ? Anh làm khí đốt ướt đi, thổi hơi nước vào than, tỷ lệ khí đốt chắc đủ. Không, cái khí đó nhiều hiđrô, làm giòn mối hàn, cho anh đốt lò nấu ăn thì được. Không còn cách nào à. Hết vở rồi. Thế thì lấy trâu bò mà hàn. ông X mồm chữ a ?? xin lỗi, theo anh chúng đánh rắm ra khí đốt hay ôxi ??. Không, chúng không đánh rắm ra, mà ỉa ra khí đốt tốt.

Anh không biết là phải rồi, bên Tây phát triển, ống khi đốt than khắp nơi, không ai dùng khí sinh học.
??
Phân súc vật, nhất là súc vật ăn cỏ làm ra khí đốt rất nhiều mà đơn giản. Mỗi con trâu bò một ngày dễ dàng cho một kg khí đốt tỷ lệ 80%.
80%, quá đủ, khí đốt đó là loại gì ?
Metal !.
Quá tốt, 80% metal, với chúng tôi là lý tưởng đấy anh biết không (khí metal hàn tốt hơn đất đèn, nhưng ngày xưa khó vận chuyển bảo quản, chú thích của HP). Thế làm có dễ không, anh tính xem có khả thi không. Nếu như anh thành công, trước khi hàn chúng tôi khắc tên anh
lên mỏ hàn ??
không, lên mối sắp hàn .
à, anh cũng đểu, ngày ngày anh đốt tôi à.

Thôi, thế làm khí sinh học thế nào.
Cũng không khó đâu, phân chúng ủ kín trong môi trường yếm khí, mem còn thừa trong phân chúng làm phân rã tiếp, phát sinh khí đốt. Nước bã này vẫn dùng bón rộng như cũ.
Thế cái để ủ kín như thế nào.
ủ bằng hầm xây, tôi đã tính rồi nhưng chưa có tính cái quy mô anh cần. Mỗi kg khí một ngày cần 0,5 mết vuông nền hầm và 1 mét khối thể tích hầm.
Hầm thế nào ??
từ đã.

À thế tạp chất của khí sinh học là gì ?
Thường mà !
Thường của anh là gì ?
Hơi nước, khí carbonic, khí sunfur.
Ô,thế là khá nhiều lưu huỳnh
Không nhiều đâu, lưu huỳnh dưới 1%
Xin ông, ngần đó chỉ làm ông thấy thối thôi, nhưng làm mối hàn vứt đi.Thật ra 1% lưu huỳnh trong khí thì lẫn vào mối hàn cũng chưa đáng kể, vả lại, tôi còn có cách khử bằng xỉ hàn và xem khí của anh thế nào tôi với anh tính cách lọc khí.
...
Anh vẽ luôn đi, mai tôi huy động thợ ngon, ngày ngày gà xé cá gỡ, cơm no rượu say, anh cứ ở đây.
Thôi, xin ông, vừa ăn gà uống rượu vừa nghe ông than là tôi uống cồn hàn của ông thì tôi chắc ọe. Thiết kế thì tôi tính từ lâu rồi, cũng đã làm nhỏ thử rồi,đo đạc thiêu thụh nguyên liệu với năng suất sinh khí rồi, tôi cũng thử cho thợ làm thử một số cấu tạo của bể lớn rồi thử lại. Bên tôi cũng đang định làm bếp như thế, không hề có khói, kết hợp chăn nuôi, anh em thương binh còn lao động nhẹ như chăn trâu được mà vẫn phải điều trị nhiều, không có việc cho họ làm thì họ đòi ra tiền tuyến. Nhưng hèm nỗi thiếu nhân lực quá, chạy giặc mấy lần, mỗi lần lại đào hầm làm nhà, công tác dân vận, khai hoang trồng ngô sắn... lại còn chuẩn bị sách làm Đại Học Y Tế. Nay tôi giúp anh làm thử cái đầu, anh xem dùng được thì tôi với anh tính làm bể to, rồi lọc, thử xem. Tôi tính một cái bể to có khi đủ chạy máy nổ cho máy lạnh chứ lại.



Ngày hôm sau, các thợ xây được triệu tập họp kín. Lúc bấy giờ ở Tula Việt Bắc đã có một số "tổ sản xuất" ở cạnh chuồng trâu trong núi. Chuồng nuôi kiểu dân tộc, có trên dưới chục con. Mỗi lần 2 con to được dùng để kéo một máy công cụ. Một tổ sản xuất như thế có địa hình thuận lợi được chọn.

Bể bio-gas của Tula Việt Bắc không giống ngày nay. Bể có nhiều ngăn, mỗi ngăn có một mái cuốn vòm như bể nước ngày xưa, các ngăn xếp song song với nhau, mục tiêu duy nhất làm làm giảm bề rộng vòm cho chắc vì nguyên liệu xây chỉ là gạch với vôi không tốt. Xây nền và thành trước vòm. Sau khi bể khô, người ta đốt một đống củi to trong lò đào được thổi bằng bễ, hơi dóng được đường dẫn như bếp hoàng cầm thổi vào bể. Khi bể đã khá nóng đến 60-70 độ, thì tưới hắc ín được hòa tan bởi dầu hỏa. Đợi dầu hỏa khô hết lại xây vách ngăn, vòm và chống thấm khí như vậy. Các vách ngăn các ngăn bể không cần chống thấm và có lỗ thông khắp trên và dưới. Bể tầng sưới đào sâu 2,5 mét, chiều sâu khoang trong 2 mét.
Tường bể được xây cao lên thành một tầng bể trên, tầng này được đắp đất kín bên ngoài cho vững. Tầng trên đổ đầy nước nên không thể thấm khí.

Khi khí sinh ra, nó đẩy nước ngâm trong bể sang một bể điều áp cao hơn bể ngầm sinh khí, nước bể điều áp dâng lên làm áp suất trong bể sinh khí dâng lên, nhưng áp suất này chỉ bằng tối đa một nửa áp suất nước ở bể tầng trên, nên không bao giờ thoát khí. Nếu có lỗ rò, nước tầng trên ngầm xuống chứ khí không thoát lên, ống tre dẫn nước suối luôn làm tầng trên đầy. Áp lực trong các bể tuy không cao, nhưng đủ bơm khí qua ống đốt nóng bằng gang mà không cần máy bơm.

Lửa khí hàn này rất tốt. Sau thử nghiệm nhanh chóng thành công, Tula Việt Bắc quyết định xây thử một bể có kích thức như thật. Bể này có tổng diện tích bể 25 mét vuông, thể tích 50 mét khối. Bể hoạt động tốt, đủ cho 4 mỏ hàn hết công suất, dùng phế thải của 30 con trâu.

Để đảm bảo hoạt động, sau này mỗi cụm "xưởng hàn" có đàn trâu 100 con, 3 bể như trên. Một lượng kẽm quý hiếm được dùng để mạ nhúng các ống dẫn khí. Các "chuyên gia" áo xanh chế một loại đồng hồ đo áp lực từ kiểu nồi sup de kín bằng piston bịt da ngâm dầu rất bền. Các mối nối được hàn thiếc và thử bằng khí nén bằng bơm xe đạp, rồi bảo vệ bằng hắc ín, và để cho bền, hắc ín được bọc vải rồi ốp các mảnh gỗ chống va đập. Đặc biệt là các bể cải tiến có đường múc nước vào máng chảy xuống ruộng rất tiện.

Loại khí đốt sinh học có thành phần chủ yếu là metal, một chút hơi nước và khá nhiều carbonic, cùng khá nhiều tạp chất có hại như lưu huỳnh. Sau này Tula Việt Bắc đã cải tiến đưa khí này qua một hầm kín khí chưa toàn vôi sống, chúng hút sạch các tạp chất chứa lưu huỳnh, phốt pho, hơi nước và carbonic, đưa ra loại khí đốt chất lượng lý tưởng cho việc hàn. Một bể chứa khoảng 1 tạ vôi sống thì làm sạch được cả mấy ngàn kg khí hàn. Loại khí hàn chất lượng cao nhất dẫn qua bể ngâm vôi ướt lớn, nó ẩm, nhưng bù lại rất sạch tạp chất.

Cho đến năm 1949, khi các trạm điện xuất hiện và có oxi, thì Tula Việt Bắc chỉ hàn bằng đốt không khí với khí sinh học. Sau khi có oxi, việc đốt nóng trước vẫn thực hiện nhưng chỉ bên ống khí đốt cho các mối hàn đặc biệt yêu cầu cao. Còn hầu hết các mối hàn đều dùng mỏ hàn đồng thường, có ống dẫn oxi áp cao và khí sinh học áp thấp. Mỏ hàn cũng do Tula Việt Bắc tự chế, có khoang giảm áp oxi nhỏ cho cách hàn đặc biệt này. Các bình khí nén để hàn cơ động cũng được thực hiện, nhưng vẫn không hiệu quả như đất đèn nên chỉ yếu các công việc hàn cắt làm cố định.

Bể khí hàn năm 1947 giải quyết nhiều mặt, thịt và da, lương thực do nó tiết kiệm cồn và lương thực do nó làm tốt ruộng, sức kéo cho máy công cụ. Nàng Lizz dịu dàng và thông thái chủ nhiệm một trại trâu giống. Nàng cũng tranh thủ gây một đàn dê, vắt sữa, rất lợi cho các trẻ em của thành phố bí mật.



Tiêu đề: Tại sao không Sten
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Chín, 2009, 12:02:29 pm
Ông X cho đến cuối đời đều tránh nhắc đến sự nghiệp phi thường của mình. Ông chỉ đăng ký duy nhất một phát minh là máy mài phôi quay có kính phóng đại đèn chiếu. Nhưng ông và đồng đội không tính hết các "phát minh" lớn hơn như thế nhiều, cả về mức độ sáng tạo, khó khăn khoa học cũng như lợi ích của chúng. Điều này ngược hoàn toàn với một tên phá hoại lớn, chủ nhiệm chương trình Sten phản loạn, mục đích là khoe công. Ngay sau khi hòa bình, tên này liền in sách và kiếm bồi bút tán dương đấu óc phản loạn của hắn.Hắn tham nhũng danh dự bằng cách lợi dụng vị trí, bán rẻ bằng cấp cho bè lũ ngu si, và cả bọn cấu kết với nhau trong một thời kỳ mà đọc các "tài liệu" của chúng người ta phát ngượng. Tên đó là "nhà khoa học nhảy đầm", hay là "ông nhảy đầm học".

Có rất nhiều quân xưởng ở xa, do điều kiện nghiên cứu không được ở gần ông X, nên mọi người chấp nhận sản xuất Sten. Thậm chí,đại đa số thợ và chuyên gia ở các quân xưởng xa không hề biết trên đời có Suomi, thậm chí không hề biết có nước Phần Lan. Số lượng "súng nữ" Lizz được sản xuất ít, lại chủ yếu phục vụ xung quanh Tula Việt Bắc với nhiệm vụ đánh giá khả năng gang cầu, nên rất ít thông tin. Nhưng như mình đã nói, TV cũng có Sten TV,được gọi là Sten phản loạn. Thật vô lý ?.

Lượng thép một Sten tiêu thụ ngang với một súng trường.Yêu cầu kỹ thuật để làm một Sten cũng ngang với một súng trường. Ở Đức và Anh, Sten được chế tạo công nghiệp nên có thể thiết kế lại bằng gia công tấm mỏng, cưa phôi, dập hàng loạt... năng suất cao hơn. Nhưng trong điều kiện thủ công thì cắn tôn, giũa cạnh, gò hàn... lại tốn công hơn. Như công nghệ mình trình bầy trên, Sten chủ yếu dùng máy, trong khi súng trường chỉ dùng máy nhiều khi làm nòng, sau đó là mài, giũa, khoan đều có thể huy động thủ công. Ví dụ, súng trường khai hậu Gras về phần máy súng (reciver) chỉ cần máy khoan ống trong và ren vặn nòng. Còn đâu toàn bộ các công đoạn còn lại đều làm thủ công, toàn bộ quy lát được gia công thủ công, máy cò thì thủ công nhanh hơn máy móc, bịt đáy nòng thủ công cũng được.

Sten là súng ngắn liên thanh, nó không bắn loạt được thì mất gần hết ưu việt. Trong khi đó, loại thép công cụ đủ làm súng trường chất lượng cao nhưng lại không đủ cho bắn liên thanh.

Như vậy, mỗi khẩu Sten đáng ra thành súng trường thì không phải bắn phát một đạn súng ngắn. Thêm nữa, Sten ngốn đồ hàn khủng khiếp, trong khi đó súng trường chủ yếu được rèn, giũa, mài, cắt.

Lại thêm nữa, các Sten phản loạn đều không có thép đạt yêu cầu làm nòng, tuy chỉ bắn phát một, nhưng khi thiếu thép, phải biết nhiệt luyện những loại thép carbon tệ hại cho đủ độ bền bắn phát một. Còn thép carbon dù tốt cũng không đủ độ bền làm liên thanh.

Và thật vô lý, Suomi "súng nữ" duyên dáng, nhẹ nhành, mạnh mẽ hơn và tin cậy hơn, lại dễ làm hơn, đỡ tốn thép hơn. Suomi nguyên thủy có hai nòng lính mang theo đã chỉnh sẵn, chỉ việc thay vì các súng liên thanh hồi đó có tuổi thọ nòng thấp. Suomi "súng nữ" ban đầu chỉ bắn phát một. Sau này, Suomi TV có bắn liên thanh nhưng không thay nòng nhanh, nòng liên thanh chế lại từ nòng súng máy cũ hỏng địch có rất nhiều trong các đồn bị ta chiếm.



Thêm nữa, vì một nguyên nhân không nên nói ra mà Sten phản loạn không có rãnh xoắn, do đó, tầm bắn hiệu quả của chúng hẹ từ 150 mét nguyên thủy xuống còn 50 mét. Tại sao Sten phản loạn không khẩu nào có rãnh xoắn.

Rãnh xoắn là thứ không khó làm, nhưng cần tối thiểu một kỹ sư dựng hình rãnh và chuẩn bị một chút vật liệu làm dao cắt. Khi thiếu vật liệu, ông X lại thiết kế một loại dao như mình đã nói và chụp ảnh minh họa sau, khi nhà sưu tập Trần Đoàn cho phép. Những người thợ công nghiệp giỏi nhất Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định mà ông X tập hợp không thể dựng hình rãnh xoắn, tính ra độ cong của giá dao, cũng không thể thiết kế loại dao gang thay cho dao kim loại cứng. Thực tế là đa phần thợ không biết rãnh xoắn dùng làm gì. Ông X năm 1947 bù đầu không có thời gian dựng hình rãnh xoắn cho Sten, vậy nên Sten phản loạn không có rãnh xoắn.


Khi ông X đưa ra kỷ luật công nghiệp, phương thức kỷ luật thép bắt buộc phải có để quản lý chất lượng một nhà máy phân tán mà các máy gia công các nhau hàng km. Một số thợ không hiểu tại sao phải ủ nguyên liệu cả mấy ngày trời, trong khi họ rỗi việc ngồi không. Hay là tôi như họ có hơn không là nhồi than vào nòng, vặn kín lại, rồi ủ trong lò và quạt lò liên tục hơn ngày trời dưới sự giám sát ghi chép nhiệt độp lò chặt chẽ của các "tay chân" tin cậy. Rất nhiều người thợ ra thành phố cả 10 năm vẫn là áo nâu chỉ vì tính phản loạn. Nhưng nguy hiểm hơn, trong đầu họ thế là bất công, và đi cách mạng thì ngu dốt phản loạn cũng được làm áo xanh, làm kỹ sư... Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Lúc đó, có một kỹ sư rởm, sau này mới biết gã không hề học qua trường kỹ thuật nào, không có văn bằng nào ngoài một bằng nhảy đầm và không có chuyên môn nào ngoài tán gái. Gã quyết tâm chế tạo Sten mà theo như gã rất dễ làm, và đám thợ phản loạn được hứa hẹn có công việc dễ thở hơn, sẽ chế tạo hàng ngàn siêu súng,lập đại kỹ công, ghi danh muôn thủa và lên giám đốc các quân xưởng. Những người hèn, nghèo lâu ngày, lại thêm ngu tối dễ bị phỉnh nịnh, và quân xưởng phản loạn dược thành lập. Đáng tiếc, "ông nhảy đầm học" quen biết khá nhiều quý bà, nhờ đó, ông X vô cùng tức giận nhưng cũng phải nhường cho quân xưởng phản loạn một chút thép công cụ quý giá. "Ông nhảy đầm học" phải chế siêu súng, mà siêu súng phải làm bằng nguyên liệu quý chứ không phải gang cầu.

Dĩ nhiên, không đơn vị nào, không trận đánh nào được lịch sử ghi lại là dùng Sten phản loạn cả. Nhưng bè lũ ngu tối cũng có sự phát triển của chúng. Nối nhau chúng tiếp tục học giả cấp bằng khống, in sách tụng ca nhau. Khá nhiều triển lãm về Sten phản loạn được tổ chức hàng thế kỷ sau chiến tranh. Họ tổ chức triển lãm bất chấp nó không bắn được liên thanh, chỉ bắn phát một đạn súng ngắn, không có rãnh xoắn và tầm bắn hiệu quả chỉ 30-50 mét.
 



Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: china trong 03 Tháng Chín, 2009, 12:56:47 pm
Năm 2020 chưa tới mà anh HP


Tiêu đề: Re: Tula Việt Bắc
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 03 Tháng Chín, 2009, 12:59:09 pm
Năm 2020 chưa tới mà anh HP

 ;D ;D Bậy nèo, vừa kỷ niệm 300 ngày Tula Việt Bắc mừ, xem lại lịch đê.

Điểm qua về các nơi nhái Sten ngoài Quốc Tế.

Sten không phải là súng tốt, khi nó được thiết kế năm 1941 thì nguyên mẫu MP28/II được chấp nhận năm 1923 đã quá cổ (súng được thử nghiệm, chấp nhận, sản xuất trong vòng bí mật vì Đức lúc đó bị cấm sãn xuất súng máy ). Hơn nữa, Đức đã cải tiến đạn "chỉ dùng cho súng ngắn liên thanh" (từ giờ dùng SNLT), đây là loịa đạn quá áp, nồi thuốc nhiều hơn bình thường mặc dầu hình dáng ngoài y hệt, bắn trên súng ngắn thường nguy hiểm, nhờ đó cải thiện được nhược điểm chủ yếu là tầm rất gần của đạn súng ngắn,trong khi đó Tây Âu vẫn dùng loại đạn 9x19 Luger nguyên thủy. Một số cải tiến khác như giảm khối lượng đạn, nâng sơ tốc lên 340-360 m/s, trong khi sơ tốc nguyên thủy của MP28/II là 327m/s.

Về cơ bản, SNLT là một quyết định sai lầm, nhưng do súng trường xung phóng khó hoàn thiện mà chiến tranh xảy ra nhanh nên nó được sản xuất ồ ạt. Thêm nữa, dòng SNLT tốt của Đức là MP19, sau thành MP34 Áo và Suomi. Nhưng do đảng Quốc Xã bên Đức có các "lãnh tụ công nghiệp vũ khí" đều là người của MP18, MP28, EMP36, MP38/40/41 nên dòng này được sản xuất lớn.

Copy vội vàng, Sten chỉ cải lui theo hướng dễ sản xuất, còn đạn kém hơn và nòng có hình dáng y hệt. Không hiểu tại sao người ta lại thiết kế Sten để có thể sản xuất trên một xưởng tối thiểu như vậy.Có thể người Anh chuẩn bị cho Đức chiếm đóng ?? cũng có thể thế mạnh của một nhà thầu nào đó là các phương tiện như vậy. Chất lượng súng thì khỏi nói, không quân đội nào dùng nó mà không kêu ca. Nó mới đã hay tắc, hay tự bắn, mà tự bắn liên thanh, chỉ cần xóc mạnh là khối lùi nhảy ra khỏi khóa an toàn.Hóc là do ống nạp đạn quá lớn, đạn quay góc lớn dễ tắc. Ống nạp đạn lớn do vật liệu làm khối lùi tồi, tồi do dùng công nghệ dập tấm mỏng của Đức. Anh copy y nguyên về hình dáng nhưng lại vậy liệu khác kỹ thuật khác mới gọi là hài hước. Súng lòng lẻo, đến cả báng cũng không ra hồn để tỳ vững. Mặt còn lại của sự tồi tệ là rất chóng xuống rồi hỏng hẳn. Nếu như đạn không phát nổ sớm phá hỏng súng thì khe cho tay nắm kéo khối lùi mòn rộng ra nhanh chóng và phải bỏ chỉ sau vài ngàn phát bắn.


Việc súng Sten dễ hỏng còn được bù đắp bởi số lược sản xuất lớn bên Anh và Canada, ít nhất 3,6 triệu khẩu. Nhưng Việt Minh thì không thể bù đắp như thế. Các phiên bản nhái du kích chủ yếu là Sten 2 như trang trước.


Sten được nhái du kích đầu tiên ở Pháp. Ngay sau khi nước Pháp bị chiếm đóng thì kiểu MP đước đã được nhái, nhưng sau này, thiết kế Sten quá hợp với sản xuất du kích nên thay thế, Sten du kích Pháp còn gọi là Sten 1944, một bản nhái nhưng giống hệt, thậm chí tốt hơn Sten 2 nguyên thủy do vật liệu chọn đúng hơn.

Du kích Ba Lan nhái Sten trong các xưởng không thể tệ hơn,cũng bản Sten 2.

Du kích Hà Lan cũng nhái, giống Ba Lan.

Đan Mạch cũng có bản nhái.

Điều đặc biệt là Đức cũng nhái. Người Đức hoàn thiện thiết kế này, sản xuất, trang bị cho "Công nhân Xung phong 1-5". Mục tiêu rõ ràng: các công nhân thoải mái nhái theo. MP3008 tất nhiên tuy nhái Sten nhưng bỏ cái đặc điểm mà Sten copy súng Đức cổ một cách dở hơi,tức là băng ngang, MP3008 có băng đứng. Mauser cũng sản xuất khoảng 28 ngàn súng Sten y hệt Sten2 cho đồng minh bên Hà Lan, cũng Mauser sản suất cỡ 10 ngàn MP3008. 

Từ Lanchester đồ đồng cho đến Sten 3, càng ngày càng cải lùi chất lượng. Chỉ đến Sten 4 thì nước Anh mới bớt run như cầy sấy và lắp báng gỗ, ra dáng một khẩu súng, nhưng cỡ nòng vẫn vậy.

Sten được du kích nhái nhiều vì số lượng sản xuất rất nhiều, do đó, các đội quân du kích dẽ dàng tìm kiếm phụ tùng. Phần lớn các xưởng nhái súng có chức năng chủ yếu là sửa súng, súng được Đồng minh thả dù xuống cho du kích. Lúc đó, Anh Mỹ chỉ có một loại SNLT là Thompson model 1923 (cũng là model 1921). Súng này ben đầu được thiết kế như là "súng trường nhỏ" bán rẻ tiền cho dân sự, vì thế có tên sai là "sub machine gun", vì sai nên thường được gọi bằng biệt danh Tommy không sai. Nhưng súng này không sản xuất đủ cho chiến tranh, vì khối lùi đắt và khó gia công. Thompson sau đó cả tiến khối lùi cho dễ hơn và tồi hơn.

Những nước có khả năng sản xuất nghiên túc thời đó dùng Suomi. Liên Xô thì vì Suomi bắn cho phát hoảng nên có PPSh, không tốn vật liệu đắt như Suomi mà chất lượng vẫn tốt.