|
Tiêu đề: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 12:41:21 pm Đọc loạt bài: "Một số trận Hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của Hải quân" đăng trên báo Thanhnien.com.vn em thấy hay quá. Mục Kiến thức quốc phòng chưa có chủ đề này. Với lý do đó; em:
Xin phép các admin, Mod cho phép được mở chủ đề mới: "Một số trận Hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của Hải quân". Mục đích: Sưu tầm, giới thiệu về các trận Hải chiến điển hình trên thế giới. P/S: Truyền thống và các trận đánh của Hải quân nhân dân Việt Nam đã có trong CAT thư viện Hải quân. Vì vậy ở đây chỉ nói về những trận Hải chiến điển hình trên thế giới. Những bài viết lạc đề, em nhờ các Mod, Admin xóa hộ. Em xin chân thành cảm ơn và hậu tạ. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 12:43:15 pm Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân
Bài 1: Cuộc chạm trán kinh điển giữa tàu phóng lôi và khu trục hạm 61 tàu phóng lôi Đức tấn công 78 khu trục hạm Anh có nhiệm vụ bảo vệ đội hình gồm 73 tàu chiến, tàu sân bay các loại. Trận đánh kéo dài từ chiều đến đêm 31.5.1916 giữa hạm đội Grand (Anh) và High Seas (Đức) tại North Sea, gần Jutland, Đan Mạch, được ghi nhận là chưa từng có trong lịch sử. Trận đánh có một không hai 250 chiến hạm hai bên vào trận đánh dữ dội ngày 31.5.1916. Hải lực Hoàng gia Anh huy động 78 khu trục hạm giữ nhiệm vụ vừa tấn công vừa bảo vệ 28 chiến đấu hạm và 1 tàu sân bay(*) dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Sir John Jellicoe. Đức huy động 61 tàu phóng lôi tác chiến cùng 16 chiến đấu hạm và 6 thiết giáp hạm do Phó đô đốc Reinhard Scheer chỉ huy. Do kém quân số nên Reinhard áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa nhử nhằm phá thế kiểm soát của hải lực Anh, mở đường cho thương thuyền Đức tái hoạt động trên North Sea. Trái lại, quân Anh ỷ vào thế đông, sẵn sàng giáp lá cà nhằm loại tầm ảnh hưởng của hải quân Đức trên vùng biển mình kiểm soát. Mỗi bên đều thực hiện ý đồ của mình. Đức triển khai 5 tuần dương hạm nhỏ, nhẹ, hiện đại do Phó đô đốc Franz Hipper chỉ huy tiến lên khiêu chiến. Nhiệm vụ của Hipper là nhử liên đội tuần dương hạm của Anh dưới quyền Phó đô đốc David Beatty ra xa và lọt vào tầm bắn tàu ngầm để tiêu diệt. Tuy nhiên, phía Anh nhận được nhiều tín hiệu cho thấy đây không phải là cuộc chạm trán đơn thuần của vài chiếc tuần duyên mà là cuộc triển khai của cả một hạm đội. Do đó, ngày 30.5, Sir Jellicoe đã nhanh chóng điều chiến thuyền đến án ngữ "điểm hẹn" trước khi tàu ngầm Đức có mặt. Chiều 31.5, hải đội hai bên chạm trán nhau sớm hơn dự kiến. Tuy chiến thuật câu nhử phá sản, song Hipper vẫn kéo được người Anh rơi vào thế gọng kìm của hạm đội nhà. Mười chiến đấu hạm do Beatty chỉ huy bị 5 chiến đấu hạm của Hipper bắn chìm mất hai, buộc phải tháo chạy. Tuy nhiên, màn rượt đuổi sau đó của hải đội Đức đã mở đầu cho cuộc đọ súng lớn nhất đệ nhất thế chiến. Từ 18 giờ 30 đến khi trời tối hẳn, 2 hạm đội hùng mạnh với tổng cộng 250 tàu chiến các loại giao tranh ác liệt. 14 tàu Anh và 11 tàu Đức bị bắn chìm với con số thương vong khủng khiếp. Trước khi mặt trời lặn, Sir Jellicoe tận dụng thế đông đã triển khai chiến thuật cắt đường rút lui của quân Đức với hy vọng tiếp tục giao tranh vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, màn đêm đã giúp người Đức thoát khỏi sự tầm nã để về căn cứ an toàn. Các tên gọi trong hải quân so với cấp bậc quân hàm có khác biệt tùy từng quốc gia. Dưới đây xin quy về chuẩn cấp hàm tại Việt Nam: - Đô đốc (Admiral): cấp bậc cao nhất trong hải quân, tương đương với cấp hàm thượng tướng trong hải quân Việt Nam. Hiện cấp bậc sĩ quan cao nhất trong hải quân Việt Nam là Phó đô đốc. Ở Pháp, tên gọi này tương đương tướng 5 sao. - Phó đô đốc (Vice Admiral): tương đương với cấp hàm trung tướng tại Việt Nam. - Chuẩn đô đốc (còn gọi là đề đốc - Rear Admiral): tương đương với cấp hàm thiếu tướng. - Phó đề đốc (Commondore): tương đương với chuẩn tướng. - Tuần dương hạm: tàu tuần tiễu trên biển - Thiết giáp hạm: tàu bọc thép, tùy vị trí có thể dày từ 10 đến 28 cm Sau cuộc giao tranh, cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Thực tế phía Anh chịu thiệt hại nặng nề: 6.094 quân tử vong, 510 bị thương, 177 bị bắt làm tù binh, trong khi Đức có 2.551 binh sĩ thiệt mạng và 507 người bị thương. Sir Jellicoe và Beaty bị công luận chỉ trích nặng nề về năng lực cầm quân dù hải quân Anh vẫn giành được quyền kiểm soát North Sea. Khu trục hạm: từ kẻ chịu đòn đến tìm và diệt Việc người Anh huy động đến 78 khu trục hạm (destroyer) tham chiến tại Jutland cho thấy tầm quan trọng của thế hệ tàu nhỏ, cơ động nhưng hiệu quả trong phòng thủ và nguy hiểm trong tấn công. Lịch sử khu trục hạm gắn liền với quá trình phát triển của ngư lôi (torpedo), vốn xuất hiện từ thập niên 60 của thế kỷ 19. Lúc này, khu trục hạm có tên gọi là torperdo boat (tàu phóng lôi), được chế tạo nhỏ gọn, trọng tải chỉ từ 50 - 100 tấn, tốc độ di chuyển cao, được trang bị súng bắn nhanh và các ống phóng lôi. Thoạt đầu, nhiều ý tưởng cho rằng các hạm đội chỉ có thể bị tấn công khi đang neo đậu. Tuy nhiên, sự phát triển của các tàu phóng lôi với khả năng tấn công nhanh hơn, tầm bắn xa hơn(**), đã đẩy các hạm đội vào thế lúng túng. Mức độ nguy hiểm của khu trục hạm được ghi nhận lần đầu tiên trong cuộc chiến Nga - Nhật năm 1904. Ba tàu phóng lôi của Nhật dám tấn công cả một hạm đội Nga tại cảng, phóng tổng cộng 18 quả ngư lôi làm tổn thương nặng 2 chiến đấu hạm Nga. Trước hiểm họa tàu phóng lôi, nhiều cường quốc đã lên kế hoạch chống đỡ. Năm 1884, Tây Ban Nha bổ nhiệm Navio Fernando Villaamil làm tư lệnh phó hải quân và giao nhiệm vụ thiết kế một thế hệ tàu chiến mới có thể đánh chặn tàu phóng lôi. Villaamil chọn hãng đóng tàu J&G Thomson ở Scotland và ngày 19.1.1887, chiếc Destructor được bàn giao với sự hồ hởi của cả cộng đồng hải quân châu Âu. 24 giờ sau, Destructor về đến Tây Ban Nha với trọng tải rẽ nước 380 tấn, được trang bị 1 khẩu Hontoria 90 mm, 4 khẩu Nordenfelt 57 mm, 2 pháo Hotchkiss 37 mm, 3 ống phóng lôi Schwarzkopf và tốc độ chạy thử đạt 22,5 knot (41,3 km/giờ). Và Destructor được xem là tàu đánh chặn (torpedor boat catcher) đầu tiên được chế tạo (***). Vai trò thoạt đầu của Destructor là chạy nhanh, đón đầu và sẵn sàng chịu đòn nhằm phá thế công của đối phương. Sau đó, người ta phát hiện tại sao lại chỉ để Destructor "đánh chặn" khi hộ tống các hạm đội mà không phát triển thêm về kích cỡ lẫn hỏa lực để tấn công lại các tàu phóng lôi của đối phương. Từ đây, Destructor chính thức có tên gọi torpedo boat destroyer - tàu diệt ngư lôi đỉnh, sau gọi ngắn là destroyer (khu trục hạm). Với khả năng hộ tống, hoạt động dài ngày trên biển, khu trục hạm dần trở thành các tàu chiến nổi lớn nhất, được trang bị hỏa lực mạnh, đủ khả năng tìm diệt và phòng thủ, hỗ trợ tấn công trên bờ. Hải quân Mỹ hiện sử dụng thế hệ khu trục hạm Arleigh Burke để hộ tống các hạm đội, yểm trợ các chiến dịch trên bờ và đổ bộ. Các khu trục hạm này được trang bị hệ thống hỏa tiễn tự tìm mục tiêu có khả năng chống tàu ngầm, phi cơ và tấn công đối phương trên mặt biển. Trong khi đó Nga đang sở hữu thế hệ khu trục hạm Sovremenny tấn công bằng hỏa tiễn sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Tàu được trang bị hỏa tiễn hải đối hải SS-N-22, hải đối không SA-N-7 Gadfly và pháo hai nòng 130 mm bắn nhanh điều khiển bằng tia laser. Sovremenny còn có bệ phóng lôi 533 mm và bệ phóng phi pháo RBU-6000 để săn tàu ngầm. Trong các trận hải chiến, các hệ thống phóng lôi và tháp pháo có tác dụng rất hữu hiệu trong các cuộc cận chiến. Lê Huỳnh Lê Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 12:52:39 pm Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân
Bài 2: Tàu ngầm và cuộc chiến marathon trên Đại Tây Dương Đây là trận đánh kéo dài từ ngày khởi đầu đến ngày kết thúc Đệ nhị thế chiến. Hơn 1.100 tàu ngầm Đức tấn công hải lực Hoàng gia Anh mạnh gấp 10 lần mình, đánh đắm hơn 2.900 chiến thuyền và hơn 14 triệu tấn hàng tiếp vận cho dù chiến thắng chung cuộc không thuộc về họ. Chiến thuật “Bầy sói” (Wolfpack) Cha đẻ của “bầy sói” là Karl Donitz - nhà chiến thuật hàng đầu của hải quân Đức, nguyên hạm trưởng tàu ngầm thời Đệ nhất thế chiến. Năm 1935, sau khi xé bỏ Hiệp ước Versaille quy định hạn chế hải quân Đức, Hitler bổ nhiệm Karl Donitz làm tư lệnh, tập trung phát triển lực lượng tàu ngầm. Không như các tư lệnh khác ở Bộ chỉ huy hành quân, chỉ có mỗi mình Donitz nhận định rằng: Đức chỉ có thể cậy vào tàu ngầm mới mong thủ thắng được trận Đại Tây Dương, từ đó giúp Đức sớm kết thúc thế chiến. Các tư lệnh khác phản bác quan điểm này. Theo họ, chỉ có các chiến hạm không thể bị đánh chìm, được trang bị đại bác lớn mới là yếu tố chính kiểm soát vùng biển Thực tế đã nghiêng về nhận định của Donitz. Những thiết giáp hạm khổng lồ “không thể bị đánh chìm” của Đức như Bismarck và Graf Spee hạ đốc không bao lâu đã trở thành tít lớn trên báo chí do “bị hải quân Anh săn lùng và tiêu diệt”. Trong khi tại Đại Tây Dương, lực lượng tàu ngầm Đức liên tục khiến quân đồng minh khốn đốn bởi “bầy sói”. Để cô lập và loại Anh quốc ra khỏi cuộc chiến, Donitz tính toán lượng hàng hóa của nước này cần phải bị đánh chìm hằng ngày trên Đại Tây Dương. Như vậy, nền kinh tế Anh sẽ lụn bại và đường tiếp vận của quân đồng minh cũng bị phong tỏa. Từ tính toán trên, Donitz phác thảo cơ số tàu ngầm Đức cần có để thực hiện chiến dịch. Nắm rất vững những thông số cần thiết, lên chiến thuật và với tiềm năng của nước Đức lúc bấy giờ, Donitz khẳng định Đức có thể mở một cuộc chiến năm ăn năm thua với hải quân Hoàng gia Anh dù đối phương có thực lực mạnh hơn cả chục lần. Donitz tin rằng hải quân hoàng gia với những chiến đấu hạm được trang bị đại bác lớn sẽ hoàn toàn “đề-mốt” trước chiến thuật hiện đại của tàu ngầm - được chế tạo nhỏ nhưng cơ động trên mặt nước và lặn nhanh xuống biển. Để có thể phong tỏa Anh quốc như theo tính toán, Donitz cần ít nhất khoảng 300 tàu ngầm để tung vào trận. Tuy nhiên, ông chỉ có trong tay 57 chiếc trong thời gian khởi đầu cuộc chiến. Do chỉ có 1/5 cơ số tàu ngầm so với tính toán, Donitz đã vận dụng “bầy sói” đánh vào các hải đoàn tiếp vận của quân đồng minh cùng đoàn chiến hạm hộ tống theo nó. Chiến thuật này yêu cầu các tàu ngầm Đức hoạt động độc lập, khi phát hiện mục tiêu lập tức báo cáo về bộ chỉ huy để điều thêm tiếp viện - như một bầy sói vây quanh con mồi, nhằm đảm bảo có cơ số luôn lớn hơn đối phương, sau đó lợi dụng trời tối để nổi lên mặt nước tấn công bất ngờ. Anh quốc khủng hoảng Dù với cơ số nhỏ, nhưng tàu ngầm Đức nhanh chóng thành công ngay trong tháng đầu xung trận. Ngày 17.9.1939, tàu U-29 phát hiện hàng không mẫu hạm HMS Courageous với sự hộ tống của 2 khu trục hạm đang tuần tra cách Ireland 320 km về hướng tây nam. Trung úy hạm trưởng Otto Schuhart ra lệnh cho U-29 luồn qua 2 chiếc khu trục hạm, phóng 3 quả ngư lôi từ cự ly 3.000 mét. Hai quả trúng mục tiêu, chiếc hàng không mẫu hạm đầy kiêu hãnh bị nhấn chìm chỉ trong 17 phút kéo theo 518 sinh mạng. HMS Courageous trở thành tổn thất đầu tiên của hải quân hoàng gia trong cuộc chiến. Dính đòn đau, hải quân Anh quyết định rút toàn bộ hàng không mẫu hạm ra khỏi những vị trí có khả năng bị tấn công từ phương tây. Bốn năm liền sau đó, người ta không thấy bất kỳ hàng không mẫu hạm nào xuất hiện trên vùng biển này. Không lâu sau, tàu ngầm Đức lại ghi được một chiến công lớn hơn ở cảng Scapa Flow bằng lối đánh táo bạo. Đây là nơi các chiến hạm hùng mạnh nhất của Anh thả neo và được bảo vệ khá kỹ. Máy bay Đức chụp được một serie ảnh về hệ thống phòng thủ của Scapa Flow. Cửa vào cảng rất hẹp và bị bịt kín bởi hàng rào tàu chiến bị chìm có tác dụng chặn luôn tàu ngầm địch. Để vào được cảng không còn cách nào là phải di chuyển trên mặt nước. Nhưng Donitz phát hiện có một lối vào hẹp, mực nước cạn và chảy xiết. Ông chọn hạm trưởng tàu U-47 Gunther Prien thực thi nhiệm vụ. Ngày 8.10, U-47 xuất phát đi Scapa Flow. Khuya 13.10, lợi dụng đêm không trăng, U-47 vượt qua hàng rào bảo vệ tiến vào cảng. Hai loạt bắn tổng cộng 6 ngư lôi tạo nên 3 tiếng nổ lớn. Chiến đấu hạm lẫy lừng Royal Oak bị chìm trong vòng 10 phút, kéo theo 833 sinh mạng. U-47 lẻn nhanh ra không bị phát hiện và trở về được chào đón như người hùng. Sau trận này, Hitler tấn phong Donitz lên chuẩn đô đốc. Ngày 10.5.1940, Đức xua quân tiến chiếm Pháp. Ngày 22.6.1940, Pháp đầu hàng. Donitz tiếp quản nhiều hải cảng quan trọng và thu ngắn được hải trình đến Đại Tây Dương. Và với “bầy sói”, từ tháng 7 đến tháng 10.1940, tàu ngầm Đức đánh chìm thêm 220 tàu thuyền của quân đồng minh. Đợt tấn công đầu tiên của bầy sói được ghi nhận vào ngày 21.9.1940, bốn tàu ngầm Đức tấn công Hải đoàn HX72 hộ tống 42 thương thuyền. Kết quả: 11 thuyền của quân đồng minh bị đánh đắm, 2 thuyền bị thương; trong đó riêng chiếc U-100 đánh chìm một lúc 7 chiếc thuyền. Ngày 5.10.1940, đoàn SC7 gồm 34 thuyền được hộ tống rời Ontario đi Liverpool bị 7 tàu ngầm Đức vây đánh tại Rockall Bank, gần Scotland. 22 thuyền bị đánh chìm và các tàu còn lại lúng túng không biết làm gì ngoài việc tìm vớt các nạn nhân. Chỉ 12 chiếc lết về được đến cảng. Ba ngày sau, thêm một đoàn thuyền 49 chiếc khác được hộ tống bị 5 tàu ngầm Đức đánh chìm mất 12 chiếc. Với chiến thuật “bầy sói”, chỉ trong 3 tháng - từ 2.9 đến 2.12.1940, 157 tàu thuyền các loại của quân Đồng minh đã bị đánh chìm với tổng lượng hàng tiếp vận là 847 ngàn tấn trong khi Đức chỉ tổn thất 3 tàu ngầm. Tỷ lệ đánh đổi là 1:52. Những tổn thất liên tiếp khiến lượng dầu mỏ nhập cảng vào Anh giảm hẳn một nửa và chỉ đáp ứng được 2/3 nhu cầu. Kinh tế Anh bắt đầu rơi vào khủng hoảng đến nỗi Thủ tướng Winston Churchill phải thú nhận ông sợ nước Anh sẽ thua ở trận hải chiến Đại Tây Dương và như vậy, Anh sẽ mất luôn sức chiến đấu trong Đệ nhị thế chiến. (Còn tiếp) Lê Huỳnh Lê Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 12:55:37 pm Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân
Kỳ 3: Tìm cách chống trả, Anh cầu cứu Mỹ Trước sức tấn công kinh hoàng của tàu ngầm Đức, hải quân Anh phải lên chiến lược chống trả, đồng thời đích thân Thủ tướng Winston Churchill bay sang Washington cầu cứu viện trợ Mỹ. Để giành lại thế chủ động trên Đại Tây Dương, hải quân Anh đã liên tục nhóm họp và đề ra hàng loạt chiến lược đối phó với “bầy sói” của Karl Donitz đang được phát triển với cơ số tăng rõ rệt. Việc đầu tiên Anh quốc phải làm là gia tăng lượng tàu hộ tống. Họ quyết định rút một số đông khu trục hạm đang giám sát khả năng xâm lược của người Đức sang hộ tống các đoàn tàu hàng. Chưa an tâm, Anh quốc bổ sung thêm các tàu hộ tống nhỏ cùng chiến đấu hạm tải trọng dưới 1.000 tấn gia nhập đội quân “bảo kê” này. Cùng lúc, Anh quốc đã đàm phán và mượn được 50 khu trục hạm của Mỹ. Tuy đây là số tàu thế hệ cũ song cũng giúp được Anh phát triển lượng tàu hộ tống trên biển. Việc phải làm thứ hai, hải quân Anh bắt đầu thành lập những hải đội hộ tống chuyên nghiệp. Điều này khác hẳn quan niệm cũ: cứ hễ là tàu chiến thì đương nhiên đủ sức hộ tống tàu hàng. Giờ đây, các hải đội hộ tống cùng thủy thủ đoàn được huấn luyện đặc biệt, đảm bảo có thể tác chiến đồng đội, biết cách săn lùng và nắm vững được cách thức tiêu diệt tàu ngầm mới được tung đi làm nhiệm vụ. Việc tăng cường trang thiết bị, vũ khí cho các hải đội hộ tống cũng là mấu chốt cơ bản của chiến lược chống trả. Tàu hộ tống được trang bị thêm radar và vô tuyến số cự li ngắn. Radar thời này tuy chưa đủ nhạy để dò ra tàu ngầm mỗi khi trồi lên mặt nước nhưng cùng với vô tuyến số, các hạm trưởng có thể định vị được vị trí của tàu hàng, các tàu hộ tống khác, liên lạc được với nhau và với các chiến đấu cơ, đặc biệt là khi phối hợp tấn công tàu ngầm. Cuối cùng, sau tròn một năm tham chiến, người Anh nhận ra rằng mật mã cũ Naval Cypher No.3 đã lộ nên quyết định thay bằng Naval Code Number 1. Việc thay thế này khiến sức tấn công của tàu ngầm Đức giảm hẳn. Bộ phận giải mã B-Dienst của Đức “điếc đặc”, không thể tiếp tục cung cấp thông tin tình báo về đường đi nước bước của đối phương. Phía Đức hy vọng bẻ được mã khóa mới trong 6 tuần lễ. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra. Bên cạnh đó, Winston Churchill bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ của nước Mỹ. Vị Thủ tướng Anh lúc bấy giờ tin rằng sự trợ giúp của Mỹ sẽ đóng vai trò quyết định trong việc đánh bại người Đức. Washington đã nắm đầy đủ thông tin về những tổn thất kinh hoàng của Anh quốc trên Đại Tây Dương và nhận định rằng: việc người Anh thua trận chỉ còn là vấn đề thời gian. Ngoài ra, Washington bắt đầu cảm thấy Mỹ La-tinh cũng đang chịu sự đe dọa của trục ba Berlin – Roma – Tokyo, nhất là khi Hiệp ước ba bên Đức, Ý, Nhật được ký vào ngày 27.9.1940 tại Berlin. Một liên minh tối mật giữa Anh và Mỹ đã được lên kế hoạch và trong chuyến thăm London tháng 1.1941, trợ lý của Nhà Trắng – Harry L.Hopkins - nói với Churchill: “Ngài tổng thống (Mỹ) đã quyết tâm rằng chúng ta sẽ cùng nhau thắng trong cuộc chiến này”. Trước công chúng, Tổng thống Mỹ Franklin D.Roosevelt vẫn một mực khẳng định nước này sẽ không tham chiến. Tuy nhiên, “destroyer deal” – bản hợp đồng cho Anh quốc mượn 50 chiếc khu trục hạm đã chứng minh Mỹ chính thức giúp Anh một tay. Đến tháng 3.1941, những chiến lược hoạch định đã cho hiệu ứng bước đầu. Chỉ trong tháng này, Đức đã mất đến 3 tàu ngầm cự phách nhất trong lực lượng của mình. Niềm tự hào Scapa Flow – hạm trưởng Gunther Prien cùng 45 thủy thủ đoàn mất tích trên chiếc U-47 (*) ngày 7.3 tại bờ Rockall, Scotland. Nguyên nhân mất tích do bị khu trục hạm Anh HMS Wolverine tiêu diệt hay bị tai nạn ngư lôi đến giờ vẫn chưa rõ. Mười ngày sau, ách chủ bài thứ nhì của Donitz - chiếc U-100 - bị radar của khu trục hạm Anh HMS Vanoc phát hiện phía đông nam Iceland (**). Chiếc Vanoc được khu trục hạm Walker hỗ trợ đã bủa vây và truy sát khiến 38 thủy thủ trên U-100 thiệt mạng, bao gồm hạm trưởng Joachim Schepke. Trong Đệ nhị thế chiến, chiếc U-100 đã đánh đắm tổng cộng 25 tàu các loại của quân Đồng minh và làm hỏng 5 tàu khác. Cũng trong trận chiến này, chiếc U-99 của hạm trưởng Otto Kretschmer cũng bị HMS Walker gây áp lực phải lặn đến độ sâu không chịu nổi, rốt cuộc phải trồi lên chịu hàng. 40/43 thủy thủ đoàn sống sót trên tàu bị bắt làm tù binh. Giai đoạn “happy time” đã kết thúc đối với tàu ngầm Đức. (Còn tiếp) Lê Huỳnh Lê (*) Chiếc U-47 do trung úy Gunther Prien chỉ huy được xem là ách chủ bài số 1 của lực lượng tàu ngầm Đức với thành tích đánh đắm 30 tàu của lực lượng đồng minh, trong đó có chiến công lẫy lừng là đột nhập vào cảng Scapa Flow, đánh đắm chiến đấu hạm Royal Oak (Anh) cùng 833 thủy thủ đoàn. (**) U-100 là tàu ngầm đầu tiên bị radar phát hiện trong Đệ nhị thế chiến. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 01:49:32 pm Trân Châu Cảng - trận tập kích định mệnh
- Ngày 7/12/1941, máy bay Nhật đã bất ngờ tập kích vào hạm đội Mỹ tại Cảng Trân Châu. Đây là trận đánh định mệnh đối với cả Mỹ, Nhật Bản và châu Á-Thái Bình Dương. Cuộc tập kích đầu tiên này diễn ra lúc 7 giờ 55 phút sáng, với sự tham dự của 183 máy bay xuất kích từ các hàng không mẫu hạm của Nhật Bản bí mật tiếp cận vùng biển Hawaii. Sau đó 1 giờ, 191 máy bay Nhật lại tập kích lần thứ hai. Cuộc tập kích này đánh dấu cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương bùng nổ, phía Nhật tạm thời chiếm ưu thế ở khu vực, thừa cơ xâm chiếm các nước Đông Nam Á Kế hoạch này do Tổng tư lệnh hải quân Nhật Bản, Đô đốc Isoroku Yamamoto vạch ra. Yamamoto là chuyên gia về vấn đề Mỹ, đã từng học tập tại Đại học Havard, từng là Tùy viên quân sự hải quân, đại sứ Nhật tại Mỹ và đã tham quan, khảo sát nhiều cơ sở thuộc ngành công nghiệp Mỹ. Ông ta hiểu rõ, Mỹ có tiềm lực quân sự hùng hậu, một khi sản xuất đi vào quỹ đạo chiến tranh thì sẽ nhanh chóng trở thành người hùng quân sự không ai đánh đổ được, vì vậy chỉ khi nó còn đang lười biếng ngủ một giấc, đánh một trận dập đầu, không gượng nổi nữa. Quần đảo Kuril ở phía Bắc Nhật Bản là một vùng xa xôi hẻo lánh, nơi neo đậu tầu thuyền quanh năm sương mù bao phủ, chủ lực hải quân Nhật thường lặng lẽ tập kết ở đó. Ngày 26/11/1941, một hạm đội khổng lồ do trung tướng hải quân Nagumo Chuichi chỉ huy, đã từ đây lên đường. Hạm đội này có 6 hàng không mẫu hạm, mang theo 360 máy bay, kèm theo là một đội hộ vệ gồm nhiều thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm, mục tiêu đến của hạm đội này là Trân Châu cảng. Quần đảo Hawaii là đầu mối giao thông quan trọng vùng giữa Thái Bình Dương, do 20 hòn đảo núi lửa và san hô tạo nên, trong đó chỉ có 10 đảo là có người ở, và thương nhân gốc Nhật chiếm 1/3 dân số, thủ phủ của quần đảo này là Honolulu. Đảo Oahu cách Honolulu 10 km, phía Tây đảo này là một cảng nước sâu yên gió, là căn cứ hải quân Mỹ lớn nhất tại Thái Bình Dương, đó chính là cảng Trân Châu. Trước ngày hạm đội đặc biệt trên của Nhật xuất phát, quan hệ Nhật - Mỹ đã vô cùng căng thẳng. Vì thế, Nhật đã cử một “phái đoàn thân thiện” đến thăm Washington 12 ngày trước đó. Ngày 17/11/1941, đặc sứ Nhật, Kuruku và đại sứ Nhật tại Mỹ Nomura được sự tháp tùng của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Hell đã hội kiến Tổng thống Mỹ F. Roosevelt. Ông Roosevelt yêu cầu Nhật Bản rút quân khỏi Trung Quốc ngay. Đặc sứ Nhật đã từ chối yêu cầu đó. Quan hệ hai bên thực tế đã tan vỡ. Sáng ngày 20/11, tại Quốc vụ viện Mỹ, đặc sứ Kuruku trao công hàm cho Ngoại trưởng Hell, yêu cầu Mỹ xóa bỏ cấm vận kinh tế với Nhật, ngừng viện trợ cho cuộc kháng chiến của Trung Quốc, và nói rõ đó là lập trường cuối cùng của Nhật. Ngày 22/11, Tổng bộ hải quân Mỹ phá được bức điện mật của Ngoại trưởng Nhật, Hideki Tojo gửi cho đại sứ Nomura, bức điện này gọi công hàm mà Nomura trao cho Ngoại trưởng Mỹ là “thông điệp cuối cùng” và nói để ngăn ngừa phát sinh những “cố gắng cuối cùng” của “sự tình nào đó” nên thời hạn(có giá trị) của nó là 1 tuần lễ. Bộ Hải quân Mỹ cho rằng bức điện này cho thấy, sau ngày 29/11, quan hệ Nhật - Mỹ sẽ xuất hiện “sự tình nào đó” cũng có nghĩa là chiến tranh. Bức điện này được chuyển ngay lên Tổng thống. "Bức thông điệp 14 đoạn" Ngày 27/11, tức là ngày thứ hai khi hạm đội Nhật xuất phát, đặc sứ Nhật được Ngoại trưởng Mỹ tháp tùng đã xin gặp Tổng thống Roosevelt lần thứ hai. Tổng thống Mỹ thông qua đặc sứ Nhật cảnh cáo: “Nếu Nhật thi hành chủ nghĩa Hitler, cuối cùng sẽ thất bại”. Sau khi đặc sứ Nhật ra về, Roosevelt nói với những ngưòi xung quanh, dự đoán trong vài ngày nữa, Nhật Bản sẽ gây chiến. Dự đoán của ông không sai, lúc này hạm đội Nhật đang chạy hết tốc độ hướng về cảng Trân Châu. Ngày 6/12 là ngày thứ Bảy, trước khi xảy ra sự kiện cảng Trân Châu một ngày, Bộ Hải quân Mỹ lại thu được một bức điện mật của chính phủ Nhật gửi cho đại sứ Nomura. Bức điện dài này gồm 14 đoạn, sau này được gọi là “bức điện 14 đoạn”. Nội dung chủ yếu của bức điện là, thông tri cho chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật từ chối kiến nghị của Mỹ và nói rõ “ trên thực tế, đàm phán đã tan vỡ.” Khi 13 đoạn trước trong “bức điện 14 đoạn” được giải mã và chuyển ngay tới Nhà Trắng, đọc xong, Tổng thống Roosevelt nói: “Như thế này là chiến tranh phải bùng nổ.”. Đoạn thứ 14 của bức điện nhanh chóng được giải mã và dịch xong, yêu cầu đại sứ Nomura đúng 1 giờ trưa giao toàn bộ bức điện cho Ngoại trưởng Hell. Bộ Hải quân cho rằng nói 1 giờ tức là thời gian Nhật Bản tấn công. Bức điện cho thấy, phía Nhật sẽ không tuyên chiến mà đánh và nói rõ cả thời gian tấn công. Tuy nhiên nhà cầm quyền tối cao Nỹ không có biện pháp đối phó khẩn cấp nào thậm chí cũng không thông báo cho lực lượng tiền tuyến biết, khiến ngay cả bộ phận tiền tiêu của Hải quân cũng ở trong trạng thái tê liệt. Chủ nhật ngày 7/12. Một buổi sáng yên tĩnh. Cách cảng Trân Châu 25 dặm Anh về phía Bắc có một trạm rađa, hai binh nhì Mỹ vừa xong phiên trựcđang chuẩn bị giao ca. 7 giờ 2 phút, họ thấy trên màn hình xuất hiện rất nhiều đốm sáng, chứng tỏ có rất nhiều máy bay đang bay tới, khoảng cách là 137 dặm Anh, họ vừa theo dõii vừa báo cáo cho sĩ quan trực ban. Sĩ quan trực ban phán đoán, số máy bay này có thể cất cánh từ hàng không mẫu hạm, cũng có thể là máy bay ném bom B-17 bay từ California tới. Anh ta nói: "Không lo, đó là người nhà mình". Thế nhưng anh ta đã phán đoán sai. Đó chính là máy bay oanh tạc cất cánh từ hàng không mẫu hạm của Nhật, địa điểm cất cánh cách cảng Trân Châu 270 dặm Anh. Từ 7 giờ 55 phút, 374 máy bay Nhật chia làm hai đợt, đợt một 183 chiếc và đợt hai 191 chiếc (mỗi đợt cách nhau trên 1 giờ) oanh kích bất ngờ hạm đội Mỹ tại càng Trân Châu. 7 giờ 58 phút, đài phát thanh cảng Trân Châu tuyên bố: “Cảng Trân Châu bị không kích. Báo động, đây không phải là diễn tập. Nhắc lại lần nữa, báo động, đây không phải là diễn tập”. 9 giờ 30 phút coi như cuộc tập kích bất ngờ kết thúc. 4 trong 8 thiết giáp hạm của Mỹ bị đánh chìm, 4 chiếc kia bị hỏng nặng, 18 chiến thuyền khác bị đánh chìm hoặc đánh bị thương, 188 máy bay bị hỏng, 291 chiếc khác bị thương, 2403 sĩ quan và binh lính Mỹ bị chết, bị thương gần 2000 người. Phía Nhật chỉ tổn thất 5 tầu ngầm nhỏ, 29 máy bay và chưa tới 100 người bị chết. Cũng may, khi Nhật bất ngờ tập kích, 3 hàng không mẫu hạm và 11 tuần dương hạm của Mỹ hợp thành một hạm đội đang làm nhiệm vụ ở nơi khác nên không bị tổn thất. 2 giờ chiều, Kumuru, đặc sứ Nhât và Nomura, đại sứ Nhật đến Quốc vụ viện Mỹ trao Bị vong lục cho Ngoại trưởng Mỹ Hell. Mặc dù Tổng thống Roosevelt trước đó đã căn dặn Hell không được nổi giận, phải bình tĩnh với bọn họ, nhưng Hell vẫn không khống chế được cảm xúc. Vừa nhìn thấy bị vong lục ông nói ngay: “Trong cuộc đời 50 năm làm công chức, tôi chưa bao giờ thấy một văn kiện mặt dầy mày dạn tràn đầy giả dối và xảo quyệt như thế này”. Nói xong hất hàm chỉ ra phía cửa. 3 giờ chiều tin tức trên bắt đầu được truyền đi rộng rãi. 4 giờ chiều, các quan chức có liên quan bắt đầu họp tại Nhà Trắng. Cuộc họp kéo dài tới quá nửa đêm. Ngày 8/12, nước Mỹ vẫn yên tĩnh khác thường, người ta như đang đợi Tổng thống nói điều gì. Và ngưòi ta nhớ tới lời Roosevelt nói khi tranh cử “trừ phi nước Mỹ bị tấn công”. Cái việc vốn được coi là không có khả năng ấy đã xuất hiện, những quả bom Nhật ném xuống cảng Trân Châu đã xua tan bức màn chủ nghĩa cô lập, khiến người khổng lồ công nghiệp thức tỉnh. Trưa ngày hôm đó, Tổng thống Roosevelt nói chuyện trước quốc hội Mỹ: “Ngày 7/12 là ngày quốc sỉ. Hợp chủng quốc Mỹ đã bị hải quân Nhật Bản âm mưu tập kích bất ngờ, tôi đề nghị Quốc hội tuyên bố, do Nhật Bản phát động tấn công bất ngờ, nên nước Mỹ và Nhật Bản đã ở tình trạng chiến tranh”. Tháng 8/1945, nước Nhật đã sức tàn lực kiệt, bại trận là không tránh khỏi. Mỹ đã ném xuống Nhật Bản hai quả bom nguyên tử. Đó là sự phục thù của Mỹ cho trận Trân Châu Cảng. Nhật Bản ký hiệp ước đầu hàng đồng minh, bị quân đội Mỹ chiếm đóng. Hai nước ký hòa ước và từ đó đến nay Nhật Bản là đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại Đông Á./. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 01:51:16 pm Trận chiến Trân châu cảng qua ảnh:
Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 21 Tháng Tám, 2009, 01:52:31 pm Trận chiến Trân châu cảng qua ảnh:
Tiêu đề: Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân Gửi bởi: napoleon trong 23 Tháng Tám, 2009, 03:16:45 pm Mình post tiếp các phần tiếp theo ;D
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200934/20090821225931.aspx Kỳ 4: Anh quốc phản công (http://i773.photobucket.com/albums/yy11/dakto2404/T20a16861223.jpg)Hitler thị sát Bismarck - thiết giáp hạm từng được cho là “không thể chìm”, đã bị 4 chiến đấu hạm Anh đánh đắm ngày 27.5.1941 - Ảnh: Maritimequest.com Từ tháng 4 đến tháng 12.1941, Đức tiếp tục gia tăng cơ số tàu ngầm trên Đại Tây Dương. Đối lại, quân đồng minh chống trả bằng những tiến bộ trong kỹ thuật ứng chiến tàu ngầm. Ba yếu tố đem lại thế quân bình cho người Anh Đầu tiên phải kể đến công lao phát triển hệ thống thiết bị định vị cao tần (HD/DF) và trang bị chúng cho các khu trục hạm. Chỉ cần bắt được tín hiệu chuyển phát trong 20 giây, thiết bị này có thể xác định được vị trí tàu ngầm đang hoạt động và họ lập tức triển khai các khu trục hạm đánh chặn. Tàu ngầm Đức bắt đầu rơi vào thế khó khăn do mất lợi thế “xuất kích từ bóng đêm”. Họ không tiếp cận được mục tiêu và cũng không triển khai chiến thuật bầy sói. Nhiều tàu phải chấp nhận thà bỏ mồi còn hơn bị khu trục hạm tiêu diệt. Tiến bộ thứ hai của quân Đồng minh là phát minh ra radar ASV giúp không quân phát hiện mục tiêu trên mặt biển. Từ năm 1941, các chiếc U của Donitz bắt đầu cảm thấy bị bất ngờ vì cứ mỗi lần trồi lên mặt nước để tấn công thì lại bị chiến đấu cơ oanh tạc. Mối đe dọa từ trên không buộc tàu ngầm Đức phải ngụp lặn thường xuyên hơn, giảm sức tấn công và không còn tự do lộ diện trên Đại Tây Dương như trước. Cuối cùng, quân đồng minh thu được ưu thế quan trọng khi bắt sống được tàu ngầm U-110. Sau nhiều màn rượt đuổi, ba chiếc khu trục hạm HMS Aubretia, Bulldog và Broadway đánh rách vỏ chiếc U-110 và hỏng hệ thống pin bên trong. Nước biển rò rỉ vào, hòa trộn với khí độc chlorine buộc hạm trưởng phải cho tàu trồi lên mặt nước đầu hàng. Hai ngày sau, U-110 chìm trong lúc bị kéo về cảng. Tuy nhiên, quân đồng minh đã thu được máy mã hóa và giải mã ENIGMA cùng nhiều loại tài liệu tối mật bên trong. Những tài liệu này đã giúp quân đồng minh giải mã được các thông tin tình báo của đối phương, định vị chính xác địa điểm tàu ngầm hoạt động và thay đổi hải trình của các đoàn tàu hàng. Lượng hàng tiếp vận thiệt hại bắt đầu giảm đáng kể. Cân bằng Hạm đội (fleet hay naval fleet): tên gọi của một đội hình quân sự lớn nhất hải quân, bao gồm nhiều tàu chiến. Các hạm đội hiện đại gồm có chiến hạm nổi, tàu ngầm, tàu hỗ trợ và các phi cơ trên tàu để tiến hành các chiến dịch trên biển. Hạm đội thường được chỉ huy bởi một đô đốc, tuy nhiên, cũng có nhiều hạm đội được các phó đô đốc hoặc chuẩn đô đốc chỉ huy. Đa số các hạm đội được chia thành một số hải đoàn, dưới hải đoàn được chia thành hải đội. Thông thường, mỗi hạm đội được giao phó đến một vùng biển nào đó rõ rệt nên thường được đặt tên theo vùng biển đó. Riêng Mỹ hay đặt tên theo con số. (Theo từ điển mở Wikipedia) Trước các ưu thế thu được, quân đồng minh bắt đầu tìm lại thế cân bằng trong cuộc chiến. Một trong những chiến công Anh quốc thu được xuất phát từ mệnh lệnh của Winston Churchill: tìm diệt cho được thiết giáp hạm Bismarck! Phía bên kia, Donitz tổng hợp thông tin tình báo cho thấy người Anh đang có âm mưu truy tầm Bismarck. Ông nhanh chóng triển khai toàn bộ số tàu ngầm có thể để hỗ trợ Bismarck đồng thời gài bẫy ở những điểm có khả năng xảy ra chạm trán. Tuy nhiên, nhiều tàu ngầm lúc này đang ở quá xa trong khi các tàu ngầm khác ở gần Bismarck thì lại hết ngư lôi. Chiếc U-556 của Wohlfarth là một ví dụ. Ngày 26.5.1941, hai chiến hạm HMS Ark Royal và HMS Renown của Anh lọt vào tầm bắn của U-556 ở Vịnh Biscay mà không hề có khu trục hạm hộ tống. Lẽ ra U-556 có thể đánh đắm cả hai song không thực hiện được vì “hết đạn”. Nhiều tàu ngầm khác nhận lệnh cũng quy tụ về đây, song chỉ có thể từ xa nhìn những cột khói, những tia chớp và những tiếng nổ mà không thể trợ giúp gì cho Bismarck. Đến 10 giờ 40 sáng 27.5, các chiến hạm King George V, Rodney cùng hai tàu tuần duyên hạng nặng Dorsetshire và Norfolk “quần” Bismarck một trận tơi tả. Sau 2 giờ chống cự, niềm kiêu hãnh của người Đức chìm sâu dưới đáy biển kéo theo thủy thủ đoàn gần 2.300 người. Mất Bismarck, quân Đức gỡ lại bằng cuộc chạm trán khác vào ngày 13.11.1941. U-81 là một trong 6 chiếc tàu ngầm được lệnh cắt đường tiếp vận của quân Đồng minh đến Tobruk, Libya. Qua kính tiềm vọng, hạm trưởng Guggenberger phát hiện 2 chiếc HMS Ark Royal và HMS Malaya và ra lệnh cho U-81 bắn tổng cộng 4 quả ngư lôi vào 2 mục tiêu. Hai quả bắn hụt chiếc Malaya nhưng một quả trúng giữa mạn chiếc Ark Royal. Một tiếng nổ lớn vang lên kéo theo vô số ngọn lửa không thể kiểm soát được. 16 giờ sau, chiếc Ark Royal lật úp và chìm hẳn. Một số thủy thủ đoàn được cứu sống, song 27 chiến đấu cơ trên boong đã nằm hẳn dưới đáy Đại Tây Dương. Các cuộc chạm trán trên Đại Tây Dương vẫn tiếp diễn, và dù có tăng cường thêm các đợt tấn công trên Địa Trung Hải song Donitz vẫn thất vọng với kết quả thu được. Ngoại trừ việc đánh đắm chiếc Ark Royal, Donitz cố gắng tìm cách giúp lượng tàu ngầm của mình thoát khỏi viễn cảnh u ám đang bao phủ. Nhưng ông ta không phải đợi lâu khi cả một cuộc săn lùng quy mô lớn bắt đầu xuất hiện, không phải dành cho người Đức. Lê Huỳnh Lê Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: napoleon trong 23 Tháng Tám, 2009, 03:46:45 pm http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200934/20090822235654.aspx
Kỳ 5: Ngày tàn của U-boat (http://i773.photobucket.com/albums/yy11/dakto2404/2308200919a.jpg)Tàu ngầm Elektroboat của hải quân Đức trong Đệ nhị thế chiến - Ảnh: tư liệu Với năng lực tấn công bị hạn chế - chỉ có thể khai hỏa trên mặt nước, thế hệ tàu ngầm U-boat của Đức trở nên lạc hậu trước đà phát triển về phương tiện, vũ khí và phương tiện truyền thông của quân Đồng minh chuyên trách săn tàu ngầm. 725 chiếc U-boat bị đánh chìm cùng với gần 29.000 thủy thủ trong 6 năm tham chiến. Tuy nhiên, thất bại của người Đức đã mở ra một trang mới cho tàu ngầm hiện đại ngày nay. Năm 1942, công suất đóng tàu của các nước Đồng minh đạt đến đỉnh điểm. Anh, Canada và Mỹ có đủ lượng tàu hộ tống an toàn các đoàn tàu hàng từ đầu đến cuối. Sự “dư dả” của phe Đồng minh giúp khu trục hạm không còn đơn thuần giữ nhiệm vụ bảo vệ. Trái lại, cùng với sự phát triển của vũ khí và radar, khu trục hạm bắt đầu phối hợp với không quân (phi cơ trang bị rocket) triển khai săn lùng ngay sau khi phát hiện sự có mặt của tàu ngầm. Đến tháng 1.1943, các cuộc chạm trán giữa “bầy sói” và các đoàn tàu hàng không còn đem lại kết quả vui vẻ cho người Đức. Một hải đội gồm 5 tàu ngầm vây đánh đoàn tàu HX224 bao gồm 57 chiếc nhưng chỉ đánh đắm được 3 trong khi bị tổn thất mất 2. Tháng 2.1943, 16 tàu ngầm Đức vây đánh đoàn tàu SC118 gồm 63 chiếc trong trận chiến Donitz – lúc này đã được tấn phong Đại đô đốc, gọi là “trận đánh khó khăn nhất trong suốt cuộc chiến”, với kết quả Đức đánh chìm 12 tàu Đồng minh song cũng thiệt hại mất 3 tàu ngầm và 2 tàu khác bị hư hỏng nặng. Đây không phải là tỷ lệ đánh đổi có lợi cho hải quân Đức. Tháng 5.1943 có thể xem là điểm xoay của cuộc chiến. Ngày 4.5, đoàn tàu ONS5 đi thẳng vào khu vực “bầy sói” kiểm soát. Cuộc đọ súng kéo dài 3 đêm liền, 41 tàu ngầm Đức vây đánh đắm 12 tàu của quân Đồng minh, song đổi lại, họ cũng trả giá bằng 7 tàu ngầm bị đánh chìm và 3 chiếc khác bị hỏng. Ngày 11.5, hải quân Đồng minh chủ động mở đợt tấn công, lần này đoàn tàu HX237 đánh chìm 3 tàu ngầm Đức mà không hề có tổn thất. Trong tháng này, thêm 4 đoàn tàu bị “bầy sói” tấn công, song phía Đồng minh chỉ mất 3 tàu trong khi họ tiêu diệt được 5 tàu ngầm đối phương. (http://i773.photobucket.com/albums/yy11/dakto2404/2308200919b.jpg) Karl Donitz, Đô đốc hải quân Đức Chung cuộc, chỉ trong tháng 5.1943, Đức mất đến 41 tàu ngầm và hơn 1.000 thủy thủ đoàn - một tỷ lệ đáng báo động. Nhiều người trong số họ là những sĩ quan kỳ cựu đầy kinh nghiệm, không thể thay thế trong một sáng một chiều. Bản thân con trai vị đô đốc cũng mất mạng chung với chiếc U-954 trong trận đánh đoàn tàu SC130 ngày 19.5. Ngày 24.5, Donitz thú nhận: “Chiến thuật dùng “bầy sói” tấn công các đoàn tàu trên Đại Tây Dương giờ đây không còn hiệu quả”. Ông quyết định rút lượng tàu ngầm còn lại về vùng biển an toàn và chỉ giữ lại một cơ số ít để nghi binh xem như vẫn còn sự hiện diện của “bầy sói” trên Đại Tây Dương. Lúc này, Donitz vẫn chưa tin thắng bại đã phân và cho rằng tàu ngầm Đức cần phải cải tiến thêm kỹ thuật mới cạnh tranh nổi với sự vượt trội của quân Đồng minh. Ông giành được sự ủng hộ để phát triển một thế hệ tàu ngầm mới có tên gọi là Elektroboat, có khả năng hoạt động nhiều tuần liền dưới mặt nước, được trang bị những vũ khí và phương tiện truyền thông ưu việt hơn và đặc biệt là có khả năng tấn công khai hỏa ngay trong lòng biển. Elektroboat được xem là phiên bản đầu tiên của các thế hệ tàu ngầm hiện đại ngày nay. Tuy nhiên, nước Đức không còn thời gian để triển khai phát minh mới của mình. Tháng 6.1944, quân Đồng minh tiến chiếm Pháp, buộc tàu ngầm Đức ở các hải cảng phải tháo chạy về căn cứ ở Đức hoặc Na Uy. Nhiều tàu Elektroboat bị đánh đắm ngay tại cảng. Một số chạy thoát được, song cơ số quá ít, không đủ để tạo khác biệt để xoay chuyển cuộc chiến. Chiến công cuối cùng được ghi nhận của “bầy sói” là trận đánh từ tháng 6 đến tháng 8.1944 tại biển Normandy. 5 chiến đấu hạm, 12 tàu hàng và 12 tàu đổ bộ của quân Đồng minh bị đánh chìm trong kế hoạch tiến chiếm bờ biển này trong khi phía Đức cũng thiệt hại mất 20 tàu ngầm. Từ đây, khả năng thủ thắng của “bầy sói” trên Đại Tây Dương được xem là vô vọng. Họ không thể cứu vãn nước Đức. Hồng quân Liên Xô và quân Anh, Mỹ như hai gọng kìm tiến về Berlin từ hai hướng đông, tây. 15 giờ 14 phút ngày 4.5.1945, Donitz lên đài phát thanh kêu gọi đầu hàng. Tất cả tàu ngầm Đức được lệnh treo cờ đen, cập cảng gần nhất của quân Đồng minh để đầu hàng. Tuy nhiên, có đến 7 tàu ngầm cập cảng trung lập và 221 tàu ngầm bỏ trốn. Nhìn toàn cuộc, 1.155 tàu ngầm Đức được tung vào cuộc chiến, trong đó có 725 chiếc bị đánh chìm. Trong 6 năm, hơn 35.000 thủy thủ Đức lao vào cuộc chiến sống còn trên biển và 28.744 người không bao giờ trở về - tỷ lệ thiệt mạng 82% được xem là cao nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Sự phát triển của tàu ngầm hiện đại (http://i773.photobucket.com/albums/yy11/dakto2404/2308200919c.jpg) U.S.S George Washington - chiếc tàu ngầm đầu tiên thử nghiệm thành công việc phóng tên lửa từ lòng biển - Ảnh: Aerospaceweb.org Chiếc tàu ngầm đầu tiên lâm chiến năm 1776 được phát minh vào năm 1773 bởi kỹ sư Mỹ David Bushnell. Tàu này nhỏ, hình quả trứng được chế tạo bằng gỗ và thủy thủ đoàn chỉ có 1 người. Mỗi lần lặn, người thủy thủ này phải dùng tay bơm nước vào trong tàu, và bơm ra mỗi khi muốn trồi lên mặt biển. Nhiều phát minh của Bushnell sau đó được một kỹ sư hàng hải Mỹ khác là Robert Fulton vận dụng để chế tạo thế hệ tàu ngầm Nautilus, được đưa vào vận hành thành công năm 1800 trên sông Seine và tại La Havre khi lặn được đến 6 giờ. John Holland và Simon Lake được xem là có công phát triển tàu ngầm hiện đại tại Mỹ. Một trong những tàu ngầm Holland phát minh di chuyển trên mặt nước bằng xăng và khi lặn thì sử dụng mô-tơ được vận hành bằng pin. Chiếc tàu này dài 16 mét với thủy thủ đoàn 6 người, có khả năng đạt tốc độ 6 knot (1 knot = 1,852 km/giờ) và năm 1900, nó trở thành tàu ngầm đầu tiên của hải quân Mỹ. Năm 1912, E-boat – tàu ngầm diesel đầu tiên của Mỹ hạ đốc, dài 41 mét với 23 thủy thủ và là chiếc tàu ngầm đầu tiên vượt Đại Tây Dương thành công. Tàu ngầm tiếp tục phát triển nhanh và được cả hai phe tham chiến đưa vào sử dụng trong Đệ nhất thế chiến. Đầu tiên, người Đức sử dụng loại tàu tải trọng 200 tấn (U-boat), sau đó họ triển khai loại 2.100 tấn được trang bị đến 19 quả ngư lôi trong Đệ nhị thế chiến. Mẫu tàu ngầm điển hình của hải quân Mỹ ở Đệ nhị thế chiến có trọng tải 1.450 tấn, dài 91 mét với thủy thủ đoàn 55 người. Tàu ngầm này chạy bằng động cơ diesel (khi nổi), đạt tốc độ 17 knot và mô-tơ điện (khi lặn), đạt tốc độ 8 knot. Tàu được trang bị 1 khẩu 76 li, nhiều súng máy và 10 ống phóng ngư lôi 530 li. Với sự phát triển của năng lượng nguyên tử, tàu ngầm bước qua một thay đổi lớn trong việc vận hành và tấn công. Tàu ngầm hạt nhân được trang bị một lò phản ứng nhiệt hạch truyền động cho turbine. Chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên, theo The Columbia Electronic Encyclopedia, là chiếc U.S Nautilus, hạ thủy năm 1954. Tàu hạt nhân có thể đạt tốc độ hơn 30 knot dưới mặt nước, hoạt động sâu dưới biển trong thời gian gần như không giới hạn và có thể đi vòng quanh trái đất không cần trồi lên mặt biển. Năm 1960, chiếc U.S.S George Washington là tàu ngầm đầu tiên bắn hỏa tiễn thành công từ lòng biển. Cũng năm này, chiếc U.S.S Triton trở thành tàu ngầm đầu tiên đi vòng quanh trái đất mà không cần lộ diện trên mặt biển. Việc phát minh ra hệ thống phóng tên lửa dưới lòng biển đã đem lại vai trò rất quan trọng cho tàu ngầm. Vai trò đó không chỉ đơn thuần là việc đánh hạ chiến thuyền đối phương mà với thế hệ tàu ngầm chiến thuật được trang bị tên lửa hành trình (có thể gắn đầu đạn hạt nhân), nó có thể nằm ẩn ở một góc nào đó trên đại dương và tấn công các mục tiêu chiến thuật sâu trong đất liền như tàu ngầm Mỹ đã từng làm ở chiến tranh vùng Vịnh. Lê Huỳnh Lê Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: Hannoi trong 24 Tháng Tám, 2009, 12:19:49 pm TRậN HảI CHIếN LớN NHấT LịCH Sử
http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Leyte_Gulf Trận hải chiến lớn nhất lịch sử thế chiến 2 và cũng là trận hải chiến lớn nhất lịch sử thế kỷ 20 diễn ra ngày 23-26 tháng 10 năm 1944 tại vịnh Leyte của Philippine giữa hải quân đồng minh và Nhật Bản. Ngày 20 tháng 10, quân Mỹ đã chiếm đảo Leyte như là một phần chiến lược nhằm cô lập Nhật ra khỏi các quốc gia bị Nhật Bản chiếm đóng trong vùng Đông Nam Á và chia cắt lực lượng Nhật Bản ra khỏi những nguồn cung cấp dầu mỏ chiến lược. Hải quân Nhật Bản đã được huy động hầu như toàn bộ lực lượng có thể có nhằm ngăn chặn cuộc đổ bộ này của quân Đồng Minh bao gồm lực lượng của hạm đội 3 và hạm đội 7 của Mỹ và Úc. Nhật Bản đã bị thất bại và chịu tổn thất nặng nề. Từ đó trở đi, Nhật Bản không còn khả năng tấn công bằng hải quân nữa. Hầu như tất cả các tầu chiến, tầu chở dầu lớn của Nhật Bản không còn khả năng ra khơi cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Trận hải chiến trên vịnh Leyte bao gồm bốn trận hải chiến lớn là trận Sibuyan, trận Surigao, trận Cape Engafio và trận Samar. Đây cũng là những trận hải chiến mà lần đầu tiên máy bay Nhật Bản sử dung chiến thuật cảm tử Kamikaze. Xét về tương quan lực lượng tại thời điểm này, Nhật Bản rõ ràng yếu thế hơn cả về số lượng máy bay lẫn về số lượng tầu chiến. Lực lượng tham gia Liên quân Mỹ + Úc Nhật 8 tấu sân bay hạng nặng 1 tầu sân bay 8 tầu sân bay hạng nhẹ 3 tầu sân bay hạng nhẹ 18 tầu hộ tống 9 tầu hộ tống 12 tầu chiến 14 tầu chiến 24 tầu tuần dương 6 tầu tuần dương hạng nhẹ 141 tầu khu trục 35 tầu khu trục 1500 máy bay 300 máy bay Nhiều tầu ngầm, thuyến chiến và tầu hỗ trợ Rất ít tầu hỗ trợ Tổn thất Hơn 1,500 người chết Hơn 10,000 người chết 1 tầu sân bay nhẹ 1 tầu sân bay nặng + 3 tầu sân bay nhẹ 2 tầu hộ tống 3 tầu hộ tống 2 tầu khu trục 12 tầu khu trục 1 tuần dương 3 tầu tuần dương Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: Hannoi trong 25 Tháng Tám, 2009, 03:08:08 pm Trận đấu tầu sân bay lớn nhất trong lịch sử
http://pilot.vn/?mod=news&page=view&id=1853 Biển Coral rộng 4,8 triệu km2, bao bọc bởi các đảo Solomon, New Hebrides (Vanuatu), New Caledonia. Lần này, do nắm được mật mã của Nhật nên quân đội Mỹ đã có chuẩn bị tốt không bị bất ngờ như ở Trân Châu cảng. Tháng 1.1942, một tầu ngầm của Nhật bị bắn chìm ở vùng biển nông gần châu Úc, Mỹ vớt tầu này lên và lấy được cuốn sổ mật mã trên tầu; nhờ đó họ giải được các mật điện và nắm được ý đồ của Nhật là muốn chiếm cảng Moresby. Tướng Nimitz lập tức đưa một hạm đội hỗn hợp tiến vào biển Coral phục sẵn, gồm 2 tầu sân bay, 5 tầu tuần dương, 9 tầu khu trục cùng 143 máy bay. Ngày 3.5, Nhật chiếm Tulagi trên đảo Solomon. Ngay hôm sau, máy bay Mỹ từ tầu sân bay Jorktown cất cánh ném bom Tulagi, đánh chìm 1 tầu khu trục, phá huỷ 5 máy bay Nhật. Ngày 7, máy bay Mỹ phát hiện và đánh chìm 1 tầu sân bay cùng hơn 600 lính Nhật trên đường về Moresby. Máy bay Nhật cũng đánh chìm 1 tầu tuần dương và tầu dầu của Mỹ. Đêm hôm đó, 27 máy bay Nhật đi tìm tầu sân bay Mỹ bất ngờ bị máy bay Mỹ tấn công, 9 máy bay Nhật bị bắn hạ. Xảy ra một chuyện nực cười chưa từng có trong lịch sử: vì trời tối, số máy bay Nhật còn lại đã nhầm lẫn xin hạ cánh xuống tầu sân bay Mỹ, kết quả thêm 6 chiếc nữa tan xác. (http://pilot.vn/upload/files/2009/05/08/Tausb1_pilot.vn_.jpg) Sáng ngày 8.5, hạm đội hai bên cách nhau 175 hải lý và phát hiện nhau. Lập tức máy bay hai bên cất cánh tấn công tầu sân bay của đối phương. Đây là trận đấu tầu sân bay lớn nhất trong lịch sử thế giới. Kết quả phía Nhật bị đánh chìm 1 tầu sân bay, 1 tầu khu trục, và bị thương nặng 1 tầu sân bay, 77 máy bay bị rơi. Phía Mỹ bị chìm 1 tầu sân bay, 1 tầu khu trục và bị thương 1 tầu sân bay, 66 máy bay bị hạ. (http://pilot.vn/upload/files/2009/05/08/Tausb2_pilot.vn_.jpg) Có thể nói thiệt hại của 2 bên là tương đương, nhưng đây là lần đầu tiên Nhật bị thiệt hại nặng, dự định chiếm cảng Moresby phải hoãn lại. Trận chiến trên biển Coral đánh dấu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đã chuyển sang giai đoạn cầm cự. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: saidasas trong 25 Tháng Tám, 2009, 07:30:09 pm Trận đấu tầu sân bay lớn nhất trong lịch sử Ngay hôm sau, máy bay Mỹ từ tầu sân bay Jorktown cất cánh ném bom Tulagi, đánh chìm 1 tầu khu trục, phá huỷ 5 máy bay Nhật. Ngày 7, máy bay Mỹ phát hiện và đánh chìm 1 tầu sân bay cùng hơn 600 lính Nhật trên đường về Moresby. Máy bay Nhật cũng đánh chìm 1 tầu tuần dương và tầu dầu của Mỹ. Đêm hôm đó, 27 máy bay Nhật đi tìm tầu sân bay Mỹ bất ngờ bị máy bay Mỹ tấn công, 9 máy bay Nhật bị bắn hạ. Xảy ra một chuyện nực cười chưa từng có trong lịch sử: vì trời tối, số máy bay Nhật còn lại đã nhầm lẫn xin hạ cánh xuống tầu sân bay Mỹ, kết quả thêm 6 chiếc nữa tan xác. Phải nói đây là trận đánh đầu tiên giữa các tàu sân bay mới đúng. Ngày 7/, máy bay Mỹ đánh chìm tàu sân bay nhẹ Ryujo. Ngày 8/5, máy bay của tầu Yorktown và Lexington (Mỹ) và từ Shokaku và Zuikaku (Nhật) tấn công lẫn nhau. Kết quả: Lexington chìm, Yorktown bị thương nặng; cả Shokaku và Zuikaku đều trọng thương không thể tham gia trận Midway sau đó. Sau trận hải chiến ở biển San hô, còn có những trận đánh mà số lượng tầu sân bay tham chiến lớn hơn nhiều như Midway (3 tầu sân bay của Mỹ và 4 tầu Nhật), trận đánh ở quần đảo Marianas (mỗi bên 6 tàu sân bay), Leyte (riêng Mỹ có tới hơn chục tầu sân bay tham chiến). Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 28 Tháng Tám, 2009, 10:45:08 am Cũng phải trở lại Lịch sử 1 tí ạ:
Lịch sử Thuyền, Tàu và các lực lượng Hải quân Thông tin này em thấy tham khảo cũng tạm ổn ạ; Đọc cũng nhiều, em chọn lọc đưa lên diễn đàn; nếu chưa "chuẩn" thì các Bác cho ý kiến nha: http://vietsciences.free.fr/lichsu/lichsuthuyenvahaiquan.htm Vào thời La Mã, nhà triết học và nhà thơ Lucretius đã viết như sau : "Thật là thú vị biết bao khi ngọn gió biển thổi mạnh, ta đứng nơi bờ và nhìn ra ngoài khơi, thấy các người đi biển trong cơn bối rối". Đối với kẻ sống trên đất liền, họ thấy rằng khó mà hiểu nổi tại sao nhiều người mang thân ra nơi biển cả đầy nguy hiểm? Nếu có kẻ ghét biển cả thì lại có người yêu biển rộng một cách đắm say mặc dù biển cả là nơi nguy nan, dữ tợn, hiểm độc. Giới thủy thủ thực sự thấy mình là kẻ lãng du do tâm hồn, họ là kẻ hoạt động, kẻ phấn đấu và cũng là kẻ đi tìm những miền đất xa xôi của thế giới. Từ khi lịch sử bắt đầu, việc vượt biển bằng thuyền đã là cách duy nhất để đi từ miền đất này sang miền đất khác. Con thuyền chuyên chở nào hàng hóa, quần áo, của cải, dụng cụ, hành khách, tư tưởng và văn hóa từ quốc gia này đến quốc gia kia. Nhờ thủy vận mà văn minh của nhân loại đã lan đi khắp thế giới. Con người được sinh ra trên đất liền nhưng con người đã sống nhờ nước của sông và biển. Sông hồ và biển cả đã là mối lo sợ và cũng là nơi thách đố của con người và người thời cổ đã tốn mấy ngàn năm mới biết tới cách xử dụng sông hồ và đại dương. 1. Các dân tộc hàng hải đầu tiên. Nền Văn Minh của Nhân Loại bắt đầu hơn năm ngàn năm về trước tại thung lũng các con sông Nil, Inde và Mesopotamie. Những con sông này cho con người nước để cày cấy, cho thực phẩm như tôm cá và cũng trên những giòng sông đó, con người bắt đầu biết dùng thuyền đi xuôi ngược, mang trao đổi các tư tưởng và làm cho nền văn minh phong phú hơn. Rồi các con sông dẫn con người dần dần ra biển khơi và con người dùng thuyền, tìm cách vượt biển để tìm các nguồn lợi tại những miền đất khác. Thứ thuyền đơn giản nhất mà con người xử dụng là một khúc cây hay một bó tre, rồi nhiều khúc cây được ghép lại thành cái bè hay một khúc cây lớn được đục một khoảng trống ở giữa thành một con thuyền. Bốn ngàn năm trước Tây Lịch, con người đã phát minh ra mái chèo và bánh lái rồi tới cột buồm và cánh buồm, tất cả những kiến thức này đã được tổng hợp lại để chế tạo thuyền buồm, và thuyền buồm được xử dụng đầu tiên trên các con sông miền Ai Cập và Mesopotamie. Trên sông Nil, thuyền đã đi lại đông đảo, từ các thuyền nhỏ đến các thuyền rồng của hoàng gia và các con thuyền thật lớn chở những đồng hồ mặt trời rất nặng. Sau đó bằng thuyền, con người đã tìm cách mon men ra biển khơi do vấn đề thương mại. Người Ai Cập vì cần gỗ, nên phải giao dịch với người Phénicien. Các con thuyền Ai Cập thường làm bằng gỗ acia hay sycamore nên không bền bỉ nơi nước biển, vì vậy họ phải mua gỗ cedar của miền Syrie. Tại Hồng Hải, người dân thường thấy các con thuyền Ai Cập xuôi ngược. Người Ai Cập cũng dong buồm xuống phía nam châu Phi để mua hương liệu, nhựa cây. . . Vào khoảng 2,000 năm trước Tây Lịch, người Ai Cập đã đào một con sông nhân tạo khá rộng nối liền sông Nil và Hồng Hải để làm dễ dàng sự thông thương. Sau đó sự tìm hiểu các miền đất khác được người Ai Cập chú ý. Dưới thời Nữ Hoàng Hatshepsout, một phái đoàn thám hiểm được phái đi tới miền Punt, có lẽ là miền Somalie ngày nay, và đã mang về nào gỗ lạ, nào kim loại, thú vật, khỉ và đười ươi, gia súc và cả thổ dân nữa. Vào thời kỳ thịnh vượng của Vua Pharaon Thoutmose III (1490 - 1436 trước TL), 18 đạo binh Ai Cập đã được chuyên chở tới Syrie bằng thuyền. Tuy nhiên thuyền Ai Cập thời bấy giờ chưa được đóng một cách chắc chắn và việc buôn bán do các đội thương thuyền của các nước khác đảm nhận. Ai Cập thời đó mua gia súc của miền Tiểu Á, vải vóc của Syrie, hương liệu và ngà voi của Punt, thực phẩm và đồng của Cyprus. Tại miền Địa Trung Hải, Crète là nơi có lực lượng hải thuyền quan trọng nhất. Người đảo Crète đã biết đóng các con thuyền chắc chắn, có đủ sườn thuyền và sống thuyền. Họ đã buôn bán tại nhiều nơi rải rác từ Sicile đến Syrie và mang về quê hương của cải và đồ trang sức. Người đảo Crète có tính tình vui vẻ, họ ưa vui thú, nền văn minh của họ đã được lan truyền rải rác tại nhiều nơi, đến cả các tỉnh Hy Lạp như Mycenae và Pylos. Từ năm 1450 trước Tây Lịch, người Hy Lạp thắng thế và trong nhiều thế kỷ, dân Hy Lạp và dân Crète đã trở nên giàu có và hùng mạnh nhất. Nhưng nền văn minh của Mycenae cũng tàn dần do các rợ từ phía Bắc Âu đi xuống miền nam bằng đường biển và đường bộ, cắt đứt các con đường doanh thương trên Địa Trung Hải. Tại Hy Lạp, các thành phố trở nên xung đột với nhau và các học giả còn cho rằng trận đánh thành Troie do ý muốn tìm đường ra Hắc Hải của người thành Mycenae gặp phải lực lượng Troie chặn lại. Sau thời kỳ suy tàn của thành Mycenae, biển cả ở trong tay người Phénicien kiểm soát. Giống dân này vừa tàn nhẫn, vừa kín đáo, lại là những nhà buôn lanh lợi. Người Phénicien đã đóng thuyền bằng gỗ cedar của xứ Liban và bằng thuyền, họ đã mang hàng hóa và nền văn minh đến các xứ sở khác. Người Phénicien đã đi về phía tây, tới đảo Malte, Sicile, Sardaigne, Tây Ban Nha và Bắc Phi và đã mang về xứ của họ nào sắt, chì, bạc. . . Có lẽ người Phénicien đã tới tận các hải đảo Anh Cát Lợi thời đó còn trong thời kỳ bán khai, để tìm kiếm kẽm và họ cũng đã đi vòng qua châu Phi từ tây sang đông vào khoảng năm 600 trước Tây Lịch. Đi đến đâu, người Phénicien thiết lập tại đó các trạm buôn bán rồi những nơi này trở thành thuộc địa của họ : Cadiz tại Tây Ban Nha, Utica và Carthage tại Bắc Phi. Carthage do Tyre lập nên, dần dần trở thành một thành phố lớn và vào khoảng năm 700 trước Tây Lịch, lại có các thuộc địa khác như Sicile, Sardaigne, Malte, các hòn đảo Balearic và phần duyên hải Tây Ban Nha. Khi các thành phố Hy Lạp vượt dần lên mức độ hùng mạnh vào khoảng năm 800 trước Tây Lịch, thì các thuộc địa của Hy Lạp cũng tăng lên. Do dân số quá đông, người Hy Lạp phải tìm cách di dân đi các nơi khác. Miletus đã lập nên các thuộc địa tại Bắc Hải và Corinth lập ra Cyracuse tại Sicile. Nhiều thành phố khác dọc theo miền nam nước Ý Đại Lợi và đảo Sicile đã mang sắc thái văn minh Hy Lạp. Tới thế kỷ thứ 6 trước Tây Lịch, thời kỳ thuộc địa tàn dần nhưng Địa Trung Hải vẫn tấp nập các thương thuyền. Dọc theo các hải trình thường có các chiến thuyền di chuyển mau lẹ, canh chừng bọn hải tặc. Chiến thuyền thời bấy giờ có mũi nhọn bọc đồng với nhiều tay chèo và chiến thuật trên biển cả gồm có việc cho thuyền đâm thẳng vào sườn thuyền địch. Loại chiến thuyền này đã được cả hai đạo quân Ba Tư và Athènes dùng trong trận hải chiến tại Vịnh Salamis và Tướng Themistocles của xứ Athènes đã chiến thắng vẻ vang. Trong suốt một thế kỷ, xứ Athènes đã làm bá chủ trên biển khơi với lực lượng hải quân trên 400 chiến thuyền. Hải cảng Pirasus của Athènes là nơi buôn bán sầm uất nhất trong miền Địa Trung Hải. Tới khi xẩy ra cuộc xung đột với xứ Sparte, Athènes yếu dần. Trận chiến tranh Peloponèse đã kéo dài trong 27 năm và vào năm 415 trước Tây Lịch, khi định chiếm Syracuse, Athènes đã bị thiệt hại 200 chiến thuyền và 50,000 quân. Lực lượng hải quân Athènes chấm dứt khi Đại Đế Alexandre chết vào năm 323 trước TL. Thời đó, người Hy Lạp đã chế ngự cả một vùng rộng lớn, từ Ấn Độ tới Tây Ban Nha. Trên Địa Trung Hải, các thuyền chở hàng trọng tải nặng hơn và các chiến thuyền cũng được biến cải. Nghệ thuật đóng thuyền được cải tiến. Dionysius tại Syracuse đã nghĩ ra loại thuyền gồm 4 và 5 lớp mái chèo và Antigonus tại Hy Lạp cùng con trai là Demetrius còn chế tạo các chiến thuyền lớn hơn với 16 lớp mái chèo tại xưởng đóng thuyền ở Phénicie. Tới các thời Vua Ptolémée tại Ai Cập, thuyền được đóng với 30 lớp mái chèo mỗi bên. Người ta còn ghi lại rằng vào thời Vua Ptolémée IV vào thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, thuyền được đóng với 40 lớp mái chèo gồm 4,000 tay chèo. Chiếc thuyền này dài hơn 130 thước, rộng gần 20 thước và dĩ nhiên không dùng vào việc thủy chiến. Tới thế kỷ thứ 3 trước TL, người La Mã bắt đầu chống lại người Carthage và chiếm dần các thành phố tại miền nam Ý Đại Lợi. Khi trận chiến tranh đầu tiên xẩy ra vào năm 216 trước TL, người La Mã bắt đầu nghĩ tới việc đóng chiến thuyền. Do bản tính kiên nhẫn, người La Mã đã chiến thắng sau 23 năm. Hải Quân La Mã dần dần trở nên hùng mạnh nhất, nên đã kiểm soát được gần hết vùng Địa Trung Hải. Năm 67 trước TL, Pompée quét sạch hải tặc trên Địa Trung Hải trong một cuộc hành quân kéo dài 3 tháng. Trong 400 năm liền, lực lượng Hải Quân La Mã đã ngự trị trên biển cả và các thương gia La Mã đã buôn bán tận các nơi thật xa như Mã Lai, Nam Dương và tới cả bờ biển Trung Hoa. Bên châu Á, nhiều dân tộc đã biết dùng thuyền để đi trên sông và vượt biển. Người Polynesien đã rời lục địa châu Á có lẽ vào thế kỷ thứ 3 trước TL và đi về phương đông. Họ di cư từ đảo nọ sang đảo kia và sau ngàn năm, họ đã đến tận các hải đảo nằm trong Thái Bình Dương . Người Polynésien đã dùng các con thuyền lớn ghép lại làm hai, phần giữa dành cho đàn bà, trẻ em, gia súc, cây cỏ và thực phẩm. Mỗi thuyền đôi như vậy gồm hơn 50 tay chèo, lại có buồm và với 300 thuyền như vậy, họ đã ra đi mà không sợ lạc hướng. Họ đã thực hiện được các cuộc hành trình rất xa, tới 21,300 dậm mà không ghé lại một hòn đảo nào, chẳng hạn như việc đi từ quần đảo Marquesas tới quần đảo Hawaii. Tại Trung Hoa, người dân cũng biết dùng thuyền để đi trên biển và trên sông nhưng thuyền của người Trung Hoa không biến đổi nhiều sau cả ngàn năm. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 28 Tháng Tám, 2009, 10:47:13 am Cũng phải trở lại Lịch sử 1 tí ạ:
Lịch sử Thuyền, Tàu và các lực lượng Hải quân tiếp theo 2. Chiến thuyền và chiến tranh. Giữa phương Đông và phương Tây có một dân tộc làm liên lạc trong nhiều ngàn năm, đó là người Ả Rập. Trong thời kỳ văn minh Hy Lạp, người Ả Rập đã cùng người Ấn Độ buôn bán tận châu Á và tới đầu thời Trung Cổ, do mối liên lạc với Trung Hoa, họ đã mang về châu Âu một phát minh quan trọng cho ngành Hàng Hải : địa bàn. Tới thế kỷ thứ 3 sau Tây Lịch, người Ả Rập buôn bán rất sầm uất từ Tây Ban Nha tới Ấn Độ. Baghdad thời bấy giờ là một hải cảng rất lớn và nhộn nhịp. Người ta thấy tại nơi này đầy đủ sản phẩm lạ : lụa và dầu thơm của Trung Hoa, gia vị và thuốc phiện từ Ấn Độ, lông thú, mật ong, hồng ngọc và dân nô lệ từ Trung Á, Nga và Bắc Âu, và ngà voi từ châu Phi. . . Vào thế kỷ thứ 5, người Ả Rập đã chiếm được Cyprus, Crète và Sicile và đe dọa thành Constantinople, thủ đô phía đông của đế quốc La Mã. Sau 5 năm tấn công thủ đô này, người Ả Rập đã bị hạm đội Byzantine đánh bại và Constantinople trở nên một trung tâm thương mại lớn nhất. Trong các cuộc đụng độ hải quân giữa Byzantium và người Ả Rập, các chiến thuyền Byzantine đã được những lính đánh thuê người miền Scandinavie điều khiển. Giống người này rất tài giỏi về hàng hải, đã tự nhận mình là Vua của biển cả hay Viking. Năm 911, thủ lãnh Viking là Rolle đã bắt Vua nước Pháp nhường cho mình phần đất Normandy. Tới năm 1,000, Leif Ericsson trên đường đi đến Greenland, đã gặp bão và dạt vào Bắc Mỹ, như vậy họ đã thám hiểm châu Mỹ trước Christophe Colomb hàng mấy trăm năm. Vốn là các thủy thủ tài ba, người Viking lúc đầu chỉ chuyên đi cướp phá nhưng dần dần họ trở nên văn minh và trở thành các tín đồ Thiên Chúa Giáo. Họ đã ngự trị từ Bắc Âu tới Bắc Phi và định cư cả trên các lãnh thổ Anh, Pháp, Ý, Iceland và Greenland. Người Viking đã chiến thắng nhờ các loại thuyền đặc biệt của họ. Các chiến thuyền Viking với tên là Drakkars (con Rồng) và Snekkars (con Rắn) dài hơn 30 thước với 60 hay 80 tay chèo, lại có các cánh buồm hình vuông nhiều màu sắc. Mỗi làng Viking có nhiều loại thuyền này và khi định tấn công một nơi nào, hàng trăm chiến thuyền Viking thường tập trung tại một bờ biển vào nửa đêm để tế thần Odin và Thor trước khi xuất phát. Năm 1066, Vua Viking từ vùng Normandy tên là William Đại Thắng Vương xâm chiếm nước Anh bằng một hạm đội các chiến thuyền dài và đã giết được Vua nước Anh là Harold. Vào năm 1098, trận Thánh Chiến đầu tiên mở màn và các Thập Tự Quân đã được chuyên chở bằng các thuyền Ý Đại Lợi. Thuyền của các miền Venise và Gênes được xử dụng cho tới cuối thế kỷ 13 trong hai lần xuất quân không thành của Vua Louis 9 nước Pháp vào các năm 1248 và 1270, lần thứ nhất nhà Vua bị bắt tại Ai Cập và phải trả tiền chuộc còn lần thứ hai nhà Vua bị chết vì bệnh dịch. Tới thế kỷ 14, các xứ Venise, Gênes, Ý và Byzantium bắt đầu bị lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ đe dọa. Người Thổ đã vượt dần lên từ năm 1300 và đến năm 1416, họ đụng độ với Venise. Năm 1453, Constantinople bị người Thổ chiếm và người xứ Gênes bị loại ra khỏi vùng biển Égée. Trong gần hai thế kỷ đã xẩy ra các xung đột giữa phe Thiên Chúa Giáo và phe Hồi Giáo vì quyền kiểm soát Địa Trung Hải. Năm 1571, cuộc xung đột đó trở nên mãnh liệt nhất trong trận thủy chiến vĩ đại Lepanto. Một phe là các chiến thuyền Thổ Nhĩ Kỳ và Hồi Giáo, bên kia gồm Tây Ban Nha, Venise và lực lượng của Giáo Hoàng với 400 chiến thuyền. Sau trận đánh này, mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ bị bại, cả lực lượng Venise cũng bị tàn dần. Sau các trận Thánh Chiến, châu Âu bắt đầu thức tỉnh về ý niệm quốc gia. Trận chiến tranh Một Trăm Năm (1337 - 1453) xẩy ra giữa nước Anh và nước Pháp, đã kết thúc bằng sự bá chủ trên mặt biển của nước Anh và chế độ trung ương tập quyền tại nước Pháp. 3. Hải Quân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Từ lâu, các thương gia người Ý đã mang về châu Âu nào gia vị, nào vải vóc và dầu thơm của xứ Ấn Độ mà khi đó người ta chỉ biết lờ mờ. Con đường đi qua Địa Trung Hải và Hồng Hải vào thế kỷ 15 và 16 đã bị lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ ngăn chặn, trong khi các thương gia châu Âu lại đang mong muốn một nơi để bán hàng. Vì vậy họ nghĩ chỉ còn cách đi vòng xuống phía dưới châu Phi hay đi về phương tây rồi sang Ấn Độ và điều này có thể thực hiện nếu trái đất tròn theo như lý thuyết của vài nhà thiên văn. Sở dĩ vào các thế kỷ trước người ta chưa dám nghĩ tới việc đi mạo hiểm quá xa như vậy vì kỹ thuật hàng hải và khả năng của thuyền bè thời đó không cho phép họ đi ra ngoài Địa Trung Hải. Tới thế kỷ này, các kiến thức về đóng thuyền đã tiến triển và người ta đã phối hợp nhiều kinh nghiệm đóng thuyền của hai miền Địa Trung Hải và Bắc Âu để chế tạo ra một loại thuyền có tên là Galleon. Loại thuyền này vừa có vỏ chắc chắn, lại vừa dài như các chiến thuyền của hải tặc Viking. Thuyền được trang bị bằng 3 hay 4 cánh buồm với cả bánh lái. Vào giữa thế kỷ 15, loại thuyền Galleon này là của các nhà thám hiểm và người ta thấy thứ thuyền này dong buồm tại nhiều nơi, cả trên mạn biển bắc lẫn mạn biển nam. Ngoài kỹ thuật đóng thuyền đã được các nhà đi biển nghiên cứu, thuật Hàng Hải cũng bắt đầu trở thành một môn học có quy củ. Sau khi địa bàn được dùng vào việc đi biển, thì đồng hồ và dụng cụ đo vận tốc cũng được dùng tới. Hàn Lâm Viện đầu tiên về thuật Hàng Hải được Hoàng Tử Henry của Bồ Đào Nha thiết lập tại Vịnh Sagres. Henry nhà Hàng Hải tập trung quanh mình nhiều nhà đi biển và các học giả thuộc nhiều quốc gia và tôn giáo khác nhau để ghi chép tất cả các yếu tố về biển cả, về gió, thủy triều, các giòng nước, bản đồ và cả về các miền đất xa xôi. Hoàng Tử Henry lại phái các con tầu thám hiểm đi về phương nam và phương tây để tìm kiếm các miền đất lạ. Do tinh thần quốc gia cực đoan, những điều hiểu biết về đại dương của người Bồ đều bị giữ kín. Người Bồ đã thám hiểm và biết tới nhiều nơi trước người của các nước khác tại châu Âu. Các con thuyền Bồ Đào Nha đã tới châu Mỹ vào thế kỷ 15, lập ra thuộc địa tại các hải đảo Madeiras và Azores vào khoảng các năm 1420 - 1430 và đã thám hiểm miền tây châu Phi. Năm 1445, họ đã tới mũi Verde, phát triển buôn bán tại Tây Phi và 15 năm sau, tới Sierra Leone. Sau này, Dias vòng qua Mũi Hảo Vọng và Vasco da Gama tới Ấn Độ vào năm 1498. Chẳng bao lâu, người Bồ dần dần kiểm soát được Ấn Độ Dương khi trước ở trong tay người Ả Rập, lập thành phố tại Goa và mở mang việc buôn bán với các miền Đông Ấn, Thái Lan, Trung Hoa và tới năm 1542, họ đến tận Nhật Bản. Việc phát triển thương mại với phương Đông của người Bồ khiến cho các quốc gia khác tại châu Âu thèm muốn. Nhiều người muốn tìm ra một con đường khác để sang châu Á. Ý tưởng đi vòng trái đất đã được Christophe Colomb thực hiện và sau 4 cuộc hành trình, Colomb đã khám phá ra Tây Ấn, Venezuela và Trung Mỹ. Cho đến khi qua đời vào năm 1506, Christophe Colomb vẫn tưởng rằng mình tìm ra được phần ngoài của lục địa châu Á. Sự hiểu biết về châu Mỹ vào thời đó làm cho các nhà thám hiểm chưa thỏa mãn vì mục đích của họ là tìm ra châu Á. Vì thế vào năm 1519, Magellan được Vua Tây Ban Nha phái đi để tìm ra một con đường sang Á châu. Magellan đã đi về phía nam và vượt eo biển nơi mang tên ông trong 38 ngày, sang được Thái Bình Dương và cuối cùng bị thổ dân Phi Luật Tân giết chết. Việc tìm ra châu Mỹ đã khiến cho các nhà hàng hải Tây Ban Nha biết rõ con đường đi về từ Tân Thế Giới để sau này mang về xứ rất nhiều của cải. Tây Ban Nha giờ đây trở nên giàu có nhờ vàng, bạc, đồ trang sức cướp được tại châu Mỹ trong khi đó Bồ Đào Nha cũng tìm ra được vài vương quốc thịnh vượng tại Mễ Tây Cơ và Peru. Vì thế các nước tại châu Âu đều quan tâm về sự thành công của hai nước kể trên. Sau khi Christophe Colomb tìm ra châu Mỹ, Giáo Hoàng thời đó gốc người Tây Ban Nha, thấy có thể xẩy ra cuộc tranh chấp do các miền đất mới và thương mại, nên đã ra một sắc chỉ vào năm 1493 quy định con đường phân chia Đại Tây Dương, cho phép Tây Ban Nha quyền thám hiểm và định cư tại phía tây đường giới tuyến, còn Bồ Đào Nha được quyền tại phía đông. Thời bấy giờ, Bồ Đào Nha là nước hiễu rất rõ về các miền đất lạ hơn các xứ khác, cho nên các nhà thám hiểm Bồ vẫn tiếp tục đi về phía tây. Năm 1500, hạm đội Bồ dưới quyền chỉ huy của Cabral đã tới Ba Tây (Brazil) và nhận xứ này là đất đai của Bồ Đào Nha. Một hiệp ước giữa hai nước Tây và Bồ lại được ký kết với sự trung gian của Giáo Hoàng, ấn định lại đường ranh giới lùi thêm về phía tây, để chấp nhận Ba Tây là đất đai của Bồ Đào Nha. Sắc chỉ năm 1493 của Giáo Hoàng dành độc quyền khai thác Tân Thế Giới cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã khiến các quốc gia khác tại châu Âu đứng ra phản đối. Người phản kháng đầu tiên là Vua Francis I của nước Pháp. Nhà Vua lo lắng cho sự thua kém về lực lượng hải thuyền của Pháp và đã từng khuyến khích các nhà hàng hải tại bờ biển hai phía bắc và tây nước Pháp, nhưng sự trợ giúp của nhà Vua không được liên tục. Tuy nhiên các nhà đi biển người Pháp với các đội thuyền nhỏ, cũng đã đến được Ba Tây, Newfoundland tại phía tây, Nam Dương tại phía đông và nếu có dịp thuận tiện, họ thường bắt cóc các con tầu Bồ và Tây Ban Nha. Hai nước sau này cũng chống trả và tìm cách giữ độc quyền bằng các thủ đoạn rất tàn nhẫn như treo cổ các nhà hàng hải Pháp tại Lisbone và Seville. Vào năm 1516, các căn cứ của Pháp tại Ba Tây bị Bồ Đào Nha thanh toán rồi Tây Ban Nha tàn sát các nhà thuộc địa người Pháp tại Florida vào năm 1565. Do chiến tranh tại bên ngoài và nội chiến tại bên trong, và cũng do lực lượng hùng hậu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Vua Francis và các vua kế tiếp không thể tiếp tục ủng hộ các nhà thám hiểm người Pháp mặc dù có những khám phá mới, chẳng hạn như Jacques Cartier tìm ra giòng sông Saint Lawrence cho Vua Francis I vào giữa các năm 1534 và 1541. Nước Pháp cuối cùng tìm cách ký hiệp ước với nước Anh khi đó đã khá hùng hậu trên biển cả. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 28 Tháng Tám, 2009, 10:51:03 am 4. Hải Quân Anh.
Người Anh thời bấy giờ tránh đụng độ với các người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nên chỉ phái người đi tìm đường sang Trung Hoa bằng cách đi về phía đông và tây tại gần Bắc Cực. Năm 1497, John Cabot và con là Sebastian ra đi với sự chấp thuận của Vua Henry 7, đã tới Labrador, Newfoundland và Nova Scotia, nhưng vì không mang trở về được vàng bạc hay gia vị, nên cuộc hành trình đã không được Vua nước Anh quan tâm. Tới thời Vua Henry 8, cha đẻ của Hải Quân Hoàng Gia, ý tưởng đi về phía đông bắc và tây bắc của người Anh vẫn được nuôi dưỡng. Sir Hugh Willoughby và Richard Chancellor đã đi về miền biển phía bắc nước Nga vào các năm 1553 và 1554, và tuy bị thiệt mạng tại nơi sau này, hai nhà thám hiểm kể trên cũng đã khiến cho người Anh sau này mở mang thương mại với người Nga. Tới các năm 1570 và 1580, vài nhà hàng hải Anh lại theo đường cũ của Cabot. Sir Martin Frobisher và John Davis đã đến miền đất Baffin và các eo biển Hudson và Davis. Năm 1583, Sir Humphrey Gilbert nhận Newfoundland làm miền đất của nước Anh nhưng ông ta từ trần trên đường về nước. Vào hậu bán thế kỷ 16, Hải Quân Anh mạnh dần, nên đã đụng độ với người Tây Ban Nha và tìm cách cướp phá những nơi định cư cùng các con tầu chở của cải của các nước khác. Sir John Hawkins, trước kia là một tay cướp biển ngang tàng và lý tài, đã gặp rắc rối khi buôn bán dân nô lệ châu Phi tại các hòn đảo Trung Mỹ. Sau này ông ta trở nên Thủ Quỹ của Hải Quân Anh và có công trong việc đóng và võ trang các con tầu chống Hạm Đội Armada. Hải Quân Anh còn có nhiều "hải tặc quân tử" mà mẫu người là Sir Francis Drake. Ông này là cháu của Sir Hawkins, đã phục vụ dưới quyền Hawkins khi còn trẻ. Năm 1572, Drake cướp phá thành phố Nombre de Dios của Tây Ban Nha rồi dùng tiền của cướp được để thành lập một hạm đội gồm 5 con tầu. Drake cùng hạm đội này vượt eo biển Magellan ra Thái Bình Dương là nơi chưa hề có một con tầu Anh nào đi tới, cướp phá nhiều thuyền bè rồi đi ngược lên miền California. Sir Francis Drake đã vượt qua Thái Bình Dương, tức là đã đi vòng quanh thế giới và trở lại Plymouth vào năm 1580 với một con tầu duy nhất còn lại. Ông ta được Nữ Hoàng Elizabeth I phong Hiệp Sĩ trên con tầu này. Sir Francis Drake vẫn tiếp tục cướp phá tài sản của Tây Ban Nha. Năm 1586, hai thành phố Santo Domingo và Cartagena bị đánh phá rồi vào năm sau, với 30 con tầu, ông ta phong tỏa và phá hủy nhiều tầu bè Tây Ban Nha tại Vịnh Cadiz, vì thế chiến tranh đã trở nên chính thức. Năm 1588, Tây Ban Nha phái đi một hạm đội hùng hậu chưa từng có, gồm 132 tầu với 3,165 khẩu đại bác và 30,000 quân sĩ, để kiểm soát Eo Biển Manche, hầu sửa soạn cho cuộc tấn công. Từ Plymouth, 102 chiến thuyền Anh cũng ra nghênh chiến với nửa số binh lính. Vào thời bấy giờ, các chiến thuyền Anh được coi như vững chắc và di chuyển nhẹ nhàng nhất, lại được điều khiển do các nhà hàng hải tài giỏi như Hawkins, Drake và Frobisher dưới quyền tổng chỉ huy của Đề Đốc Lord Howard of Effingham. Trong khi đó người Tây Ban Nha không quen với biển lạ, gió lạnh và khí hậu miền Bắc Âu, lại gặp phải phong ba, vì thế hạm đội Armada tan rã, mang theo sự suy tàn của lực lượng Hải Quân Tây Ban Nha. 5. Hải Quân Ha Lan. Trong khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha suy yếu về khả năng hàng hải thì Hòa Lan lại bắt đầu tiến triển. Người Hòa Lan vốn dĩ là loại thủy thủ cần cù, chuyên về nghề đánh cá và qua nhiều thế kỷ, họ cũng đã thâu lượm được nhiều kiến thức về kỹ thuật đóng tầu và thuật hàng hải. Nhờ nghề đánh cá, người Hòa Lan trở nên giàu có hơn, nhưng họ vẫn bị người Tây Ban Nha chèn ép và bị gọi là "những kẻ hành khất trên đại dương". Từ năm 1570, người Hòa Lan bắt đầu chống lại người Tây Ban Nha bằng chiến tranh du kích rồi đến cuối thế kỷ 16, giành được độc lập, một phần cũng là nhờ sự giúp đỡ từ nước Anh. Khi xứ Hòa Lan bắt đầu cường thịnh thì các đoàn thám hiểm Hòa cũng được phái đến những miền đất lạ. Người Hòa Lan đã tìm ra biển Barents và một đoàn thám hiểm Hòa Lan do một người Anh dẫn đầu đã tới giòng sông Hudson. Cũng do sự giúp đỡ của nước Anh, người Hòa Lan đã chiếm Công Ty Thương Mại Đông Ấn của Bồ Đào Nha và Công Ty Đông Ấn Hòa Lan được thành lập vào năm 1602, sau Công Ty Đông Ấn Anh Cát Lợi hai năm. Như vậy các công cuộc thám hiểm các đại dương và những miền đất mới đã mở đường cho các công ty thương mại và việc thiết lập các thuộc địa. Sau khi người Hòa Lan loại dần được người Bồ tại miền Đông Ấn thì người Anh cũng giảm bớt ảnh hưởng tại nơi này. Các công ty thương mại Hòa Lan dần dần trở nên một công cụ của chính phủ. Hòa Lan chiếm Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) làm thuộc địa và đặt căn cứ tại các hòn đảo Molucca, lại chiếm độc quyền mậu dịch với Nhật Bản. Vào khoảng năm 1625, người Hòa Lan đã buôn bán với các nước Pháp, Anh, Ý, Bắc Phi và các quốc gia ở dọc theo men biển từ Hy Lạp đến Ai Cập. Tới năm 1621, Công Ty Tây Ấn Hòa Lan được thành lập và từ đó, nhiều hòn đảo thuộc miền Trung Mỹ trở thành thuộc địa của Hòa Lan, kể cả bờ biển Bắc Mỹ trong đó có Tân Amsterdam (miền đất New York bây giờ) mua lại của người Da Đỏ vào năm 1626 với giá 24 đô la (60 guilders). Sự thịnh vượng của Hòa Lan là niềm đố kỵ của nhiều quốc gia tại châu Âu trong đó có nước Anh. Dưới thời Cromwell, nước Anh đã có một lực lượng hải quân mạnh, thêm vào đó các thuộc địa Anh cũng dần dần phát triển hơn. Sau năm 1630, đã có hàng ngàn người định cư tại miền New England và tới năm 1664, vùng đất New York của người Hòa Lan bị người Anh xâm chiếm trong khi thành phố Bombay của Ấn Độ cũng vào tay người Anh cùng với nền thương mại về gia vị. Sự tranh chấp giữa nước Anh và nước Hòa Lan càng ngày càng rõ rệt, ngay cả trên mặt biển. Trong 20 năm kể từ 1652, Hòa Lan và Anh Quốc cố gắng tìm cách chiếm quyền bá chủ. Phe Hòa Lan có các đô đốc lừng danh như Maarten Tromp và con là Cornelis, như Michiel de Ruyter, còn Anh Quốc có Robert Blake. Các trận hải chiến vẫn diễn ra nhưng chưa phân thắng bại. Năm 1667, Đô Đốc De Ruyter đã cho lực lượng hải quân vào tận cửa sông Thames, phóng hỏa thành phố London, phá hủy gần hết hạm đội Anh tại đó và bắt được cả Soái Hạm Royal Charles. Anh Quốc gần đi tới độ suy tàn về hải lực nếu không có sự dẫn đạo của các bậc tài giỏi như Hầu Tước York, Vua James II và Samuel Pepys, Bộ Trưởng Hải Quân và cũng là người đã quyên tiền đóng tầu, cải cách Hải Quân và đặt nền móng cho sự hùng hậu của Hải Quân Anh sau này. 6. Hải Quân Pháp. Nước Pháp trước kia cũng đã có một hải lực khá mạnh nhưng vì những biến cố trong nước, Hải Quân Pháp không được trợ giúp. Vào đầu thế kỷ 17, Hồng Y Richelieu đã cố gắng dựng lại cho nước Pháp một lực lượng về hàng hải nhưng rồi kết quả không được lâu dài. Tới khi Jean Baptiste Colbert có quyền hành thì nước Pháp chỉ có 400 thương thuyền so với 4,000 con tầu của nước Anh và 16,000 tầu của Hòa Lan. Mặc dù sự ác cảm với hải lực của Vua Louis 14, Colbert cũng đã đạt được nhiều thành tích trong việc tạo nên một lực lượng hải quân hùng hậu gồm hơn 4,000 tầu. Colbert đã dùng nhiều ý tưởng của người Anh và Hòa Lan, và mượn cả các chuyên viên ngoại quốc. Cách tổ chức nội bộ cũng được cải tổ cùng nhiều hải cảng được củng cố như Toulon, Rochefort, Le Havre, Brest, Dunkerque. Kỹ thuật đóng tầu biển của nước Pháp được coi như tiến bộ nhất thời bấy giờ. Colbert còn khuyến khích phát triển thuộc địa, lập các xưởng máy của Pháp tại Ấn Độ, chiếm Guiana và Madagascar, hậu thuẫn cho LaSalle nới rộng các biên giới của nước Pháp tại xứ Canada và miền Mississippi. Hạm đội của nước Pháp dần dần đứng hàng thứ hai sau Hải Quân Anh và vào năm 1676, Đô Đốc Duquesne đã đánh thắng và bắn tử thương Đô Đốc Michiel de Ruyter trên Địa Trung Hải. Vào năm 1690, Hạm Đội Pháp lại chiến thắng người Anh và người Hòa Lan tại Beachy Head. Sang đầu thế kỷ 18, Hải Quân Pháp bị yếu dần và nước Anh trở nên bá chủ trên mặt biển. Hải Quân Anh thường phong tỏa các lực lượng khác và chiếm dần các thuộc địa. Sau Hòa Ước Utretch năm 1713, nước Anh đã chiếm giữ Gibraltar, Minorca, Acadia và Newfòundland. Nước Anh còn thừa hưởng tất cả đất đai của đế quốc Pháp tại Bắc Mỹ sau cuộc Chiến Tranh Bẩy Năm, kết thúc vào năm 1763 bằng sự thất bại của người Pháp tại nhiều nơi. Từ đây, không những nước Anh trở nên bá chủ trên mặt biển mà còn là quốc gia có nhiều thuộc địa nhất. Vào thế kỷ 18, nhiều trận hải chiến đã diễn ra trên mặt biển và các hạm đội đối đầu với nhau có khi dài đến 5 dậm. Các con tầu chiến thời đó thuộc nhiều loại, hạng nhất có 90 khẩu đại bác, hạng nhì 80 khẩu. . . Các sĩ quan hải quân thường là các nhà quý phái thuộc những gia đình đã từng chuyên môn về hàng hải từ nhiều thế hệ. Vào giữa thế kỷ 18, nước Anh hầu như hoàn toàn chiến thắng trên mặt biển. Nhưng tới năm 1775, cuộc nổi dậy của các thuộc địa Anh tại châu Mỹ đã là một khúc quanh lịch sử. Các tầu Anh bị Pháp và Hòa Lan chặn đánh tại châu Âu và Tây Ấn. Năm 1781, từ hải cảng Brest có hai hạm đội Pháp ra khơi, một do Pierre André de Suffren chỉ huy, đã đánh bại các tầu Anh tại mọi lần đụng độ và hạm đội này có thể chiếm Ấn Độ nếu không có việc ký kết. Hạm đội thứ hai do Đô Đốc De Grasse đi về phương đông, vây hãm Hải Quân Anh tại Chesapeake, Bắc Mỹ. Tới cuối thế kỷ 19, các cuộc cách mạng Pháp đã làm cho Hải Quân Pháp suy tàn, các sĩ quan kinh nghiệm hoặc bị bắt bớ, hoặc chạy khỏi xứ. Tới khi Napoléon nắm quyền tại Pháp, có lẽ Đại Đế đã nghĩ rằng sự đe dọa Ấn Độ và con đường thương mại với châu Á của nước Anh có thể ảnh hưởng tới tiềm lực chiến đấu của người Anh, vì thế cuộc viễn chinh Ai Cập được thực hiện. Kết quả là Hạm Đội Pháp bị Đô Đốc Anh Horatio Nelson đánh tan tại Vịnh Abukir. Đô Đốc Nelson còn cho tầu bắn phá Copenhague và vào năm 1805, đã đánh bại quân Pháp và quân Tây Ban Nha trong Trận Trafalgar. Tới khi Cuộc Chiến Tranh 1812 chấm dứt và Đại Đế Napoléon bị đầy ra đảo Sainte Hélène rồi thì nước Anh lại một lần nữa ngự trị trên mặt biển. Do sự phát triển về kỹ thuật và sau các phát minh về cơ khí rất quan trọng như máy hơi nước, kỹ thuật đóng tầu được cải tiến và từ cuối thế kỷ 18, các nhà kỹ thuật đã tìm cách áp dụng vào tầu thuyền các hệ thống cơ khí, mở đầu cho một kỷ nguyên mới về tầu thủy rồi sau này về tầu ngầm./. Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 14 Tháng Chín, 2009, 03:01:55 pm Kỷ niệm 89 năm CM tháng Mười Nga (7-11-1917 - 7-11- 2006):
Chiến hạm Rạng Đông từng đến VN Báo Tuổi Trẻ - Trong số những con tàu hạm đội Nga, nổi tiếng nhất vẫn là tuần dương hạm Rạng Đông. Sau 300 năm tồn tại hạm đội Nga, không một con tàu nào được thế giới biết đến nhiều như Rạng Đông. Phát súng từ chiến hạm nã vào cung điện Mùa Đông ở Petrograd, mở đầu cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại. Hiện nay Rạng Đông đã neo lại vĩnh viễn trên sông Neva, cạnh bức tường Học viện Nakhimov ở Saint Petersburg. Mới đây nó đã trở thành bảo tàng và có hơn 28 triệu người từ 160 quốc gia tới tham quan, trong số này có cả công dân VN. Ít ai biết một chi tiết trong lịch sử con tàu nổi tiếng này: nó từng hai lần đến VN. Lần thứ nhất là khi xảy ra chiến tranh Nga - Nhật. Con tàu mới được hạ thủy thử nghiệm năm 1903, từ biển Baltic được gửi về Viễn Đông để yểm trợ cho vị trí của Nga trong khu vực. Ngày 31-3-1905, chiến hạm thả neo ở vịnh Cam Ranh và ở đó gần một tháng để chờ các tàu chiến khác của Nga đến cùng nhau tham trận. Chiến tranh Nga - Nhật (kéo dài từ 8-2-1904 đến 27-7-1905 giữa Nga và Nhật để giành quyền kiểm soát Manchuria và Triều Tiên) lúc đó đang vào cao điểm. Ngày 15-5 diễn ra trận chiến lịch sử Tsushima (tên một hòn đảo trên biển Nhật Bản, thuộc Nagasaki). Sau hai ngày chiến đấu ác liệt, chiến hạm đã bắn hơn 2.000 quả đạn, trong khi bản thân nó cũng bị thiệt hại: 15 người chết, trong đó có chỉ huy tàu - đại tá Egorov. Nhờ ông mà người Nga có được một trong những mô tả đầu tiên bằng tiếng Nga về Cam Ranh và các vùng lân cận. Quyển nhật ký của đại tá được các cộng sự của ông in lại mười năm sau khi ông mất. Trong Vòng quanh cựu thế giới có cả một chương kể về thời kỳ con tàu neo lại ở vịnh Cam Ranh. Điều đầu tiên đập vào mắt Egorov chính là “kích thước khổng lồ” của vịnh đặc biệt quí đối với các tàu chiến lớn. Lính thủy Nga có dịp lên bờ, đi săn trong những cánh rừng địa phương và quan sát đời sống dân tình. Egorov cũng ghi chép ngắn về hệ thống động thực vật VN và về người dân miền Trung. Chỉ huy con tàu nhận xét trong các ngôi làng là những túp lều xiêu vẹo và người dân ăn mặc rất đỗi nghèo nàn. Sau trận Tsushima, Rạng Đông và một số con tàu Nga khác, để tránh truy đuổi của tàu Nhật, chỉ có thể lánh về tu sửa ở Manila (Philippines) do cạn kiệt nhiên liệu. Chiến tranh Nga - Nhật kết thúc cũng là lúc Rạng Đông được sửa chữa xong. Nó cùng những tàu Nga khác cùng tập kết ở cảng Sài Gòn, ngày 20-10-1905 nhổ neo ra Thái Bình Dương để trở về tổ quốc. Như thế, trong một năm chiến hạm Rạng Đông lừng danh hai lần cập cảng VN. PETR TSVETOV (phó tiến sĩ sử học Nga) Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: danngoc trong 14 Tháng Chín, 2009, 03:22:03 pm Bác 5tan xem lại chút, galleon là thuyền chở hàng, TBN phát triển sau khi đã độc chiếm mặt biển từ tk 16-18
http://en.wikipedia.org/wiki/Galleon Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 11 Tháng Mười, 2009, 01:39:04 pm Bác 5tan xem lại chút, galleon là thuyền chở hàng, TBN phát triển sau khi đã độc chiếm mặt biển từ tk 16-18 http://en.wikipedia.org/wiki/Galleon - Tiêu đề của bài viềt là: "Lịch sử thuyền, tàu". Vậy thì thuyền- tàu chở hàng, hay thuyền- tàu chiến thì cũng là thuyên Tàu cả. "Tới thế kỷ này, các kiến thức về đóng thuyền đã tiến triển và người ta đã phối hợp nhiều kinh nghiệm đóng thuyền của hai miền Địa Trung Hải và Bắc Âu để chế tạo ra một loại thuyền có tên là Galleon. Loại thuyền này vừa có vỏ chắc chắn, lại vừa dài như các chiến thuyền của hải tặc Viking. Thuyền được trang bị bằng 3 hay 4 cánh buồm với cả bánh lái. Vào giữa thế kỷ 15, loại thuyền Galleon này là của các nhà thám hiểm và người ta thấy thứ thuyền này dong buồm tại nhiều nơi, cả trên mạn biển bắc lẫn mạn biển nam". - Theo tiếng TBN thì Galleon là thuyền chiến Bác ạ. http://vi.wiktionary.org/wiki/galleon Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 13 Tháng Mười, 2009, 09:59:23 am I. CUỘC CHIẾN TRÊN ĐẢO MALVINAS Từ ngày 2.4 đến 14.6.1982, Argentina và Anh tranh chấp chủ quyền của đảo Falkland (còn gọi là Malvinas), cách mũi Horn 770km về phía đông-bắc ở Nam Đại Tây Dương. Anh cai trị quần đảo này từ năm 1833 và 1.800 cư dân đảo hầu như có nguồn gốc Anh, Argentina vẫn nói đảo thuộc về mình dưới cái tên Tây Ban Nha là quần đảo Malvinas. "Hội đồng quân lực" Argentina, do Tướng Leopoldo Galtieri cầm đầu, quyết định chiếm Malvinas bằng vũ lực.Việc đánh chiếm quần đảo Malvinas bắt đầu vào lúc 4g30 (giờ địa phương) ngày 2.4.1982. Anh tập hợp lực lượng gồm 2 tàu sân bay, 11 khu trục hạm, 16 hộ tống hạm, 6 tàu ngầm, 2 tàu đổ bộ và nhiều tàu hỗ trợ và thiết lập một vùng cấm trên biển quanh quần đảo Malvinas kể từ 4g GMT, ngày 12.4. Chiến dịch quân sự mở màn ngày 25.4 phát triển thành chiến tranh ác liệt trên biển, trên không và trên bộ. Tàu ngầm hạt nhân Conqueror của Anh đánh chìm tuần dương hạm Đại tướng Belgrano của Argentina. Ngày 4.5, một máy bay Super Etendard bay sát mặt biển thả 2 tên lửa Exocet cách hạm đội Anh khoảng 32km; một tên lửa đánh trúng khu trục hạm Sheffield. Ngày 21.5, Lữ đoàn 3 Biệt kích của Anh đổ bộ lên San Carlos cách cảng Stanley 80km. Ngày 14.6.1982 Anh thắng, Tướng Mario Menendez, chỉ huy quân Argentina, đầu hàng tại cảng Stanley. Đây là một trong những hành động quyết liệt của TTg Anh lúc đó là bà đầm thép Thatcher. Theo SGGP II. CUỘC CHIẾN TRÊN ĐẢO MALVINAS http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6427.70III. Anh và Argentina, cuộc gặp của hai cựu thù Nền kinh tế Argentina đang khủng hoảng là vấn đề hàng đầu trong chuyến thăm lịch sử của Thủ tướng Blair đến vùng đất của những điệu nhảy tango. Hai nước, từng giao tranh năm 1982 vì quần đảo Falklands (còn có tên Malvinas), giờ đây hy vọng có thể khép lại quá khứ.“Cho dù có chuyện gì xảy trước kia, tôi thật sự mong Anh và Argentina có thể hợp tác với nhau”, ông Blair phát biểu hôm qua (1/8), sau cuộc gặp với Tổng thống Argentina, Fernando De la Rua. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Thủ tướng Anh tới Argentina, mặc dù ông Blair tới đây chỉ để thảo luận riêng với Tổng thống Argentia, chứ không mang danh nghĩa chính thức. Hai ông đã có cuộc hội kiến tại một khách sạn sang trọng bên ngọn thác nổi tiếng Iguari nằm trên biên giới giữa Argentina và Brazil. Argentina, nền kinh tế lớn thứ hai ở Nam Mỹ, đang phải nếm trải 3 năm dài suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp hơn 16%. Giá cổ phiếu và trái phiếu hôm qua tiếp tục sụt giảm. Mức độ rủi ro trong đầu tư trái phiếu ở nước này đã lên tới 1.681 điểm, trên cả Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Ecuador. Ông De la Rua đã bắt đầu một chương trình thắt lưng buộc bụng để vực dậy nền kinh tế, mặc dù đa số dân chúng phản đối. Hôm chủ nhật, Quốc hội Argentina thông qua dự luật “thâm hụt bằng không”, cắt giảm 1,5 tỷ USD trong chi tiêu và buộc chính phủ phải cân bằng ngân sách hằng tháng. Hôm thứ ba, chính phủ thông báo kế hoạch chuyển nợ, từ 1,3 tỷ USD bằng cổ phiếu (hết hạn trong năm nay) sang trái phiếu thời hạn một hoặc ba năm. Mục đích là giảm bớt gánh nặng tài chính, vì Argentina sẽ phải trả khoảng 8,5 tỷ USD tiền nợ cuối năm 2001. Thủ tướng Blair đã bày tỏ sự ủng hộ đối với chương trình của Tổng thống Argentina và cho biết Anh và cộng đồng quốc tế sẽ tìm cách để hỗ trợ nước này. Anh và Argentina phục hồi quan hệ ngoại giao năm 1990, nhưng tranh chấp Falklands đã để lại vết sẹo trong quan hệ hai nước. Cuộc chiến 75 ngày bắt đầu năm 1982, khi Argentina chiếm quần đảo ở Nam Đại Tây Dương, thuộc sở hữu của Anh nhưng lại nằm gần bờ biển Argentina. Quân Anh đã đẩy lui Argentina, trong cuộc chiến làm 750 binh sĩ Argentina và 220 quân nhân Anh thiệt mạng. Hai nhà lãnh đạo Blair và De la Rua không bàn đến đến vấn đề chủ quyền Falklands trong cuộc thảo luận. Hiện Argentina vẫn khẳng định quần đảo này là thuộc lãnh thổ nước mình và gọi tên nó là Malvinas. Minh Châu (theo AP) http://vnexpress.net/GL/The-gioi/2001/08/3B9B313E/ Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 25 Tháng Mười Một, 2013, 03:43:09 pm Trận Trân Châu Cảng: 3 bí ẩn còn mãi
Vào ngày kỷ niệm trận Trân Châu Cảng, các nhà lịch sử vẫn còn tiếp tục tranh luận về những bí ẩn của nó. Cuộc tấn công của quân Nhật đã tạo ra một số câu hỏi chưa có lời giải đáp lớn nhất trong lịch sử quân sự. Ở Mỹ, riêng cái tên Trân Châu Cảng cũng có nghĩa sự bất ngờ, sự thất bại và sự gượng dậy từ đống tro tàn. 70 năm trôi qua, cuộc tấn công bất ngờ của quân Nhật nhằm vào lực lượng Mỹ đóng ở Hawaii vẫn là một trong những ký ức lịch sử mạnh mẽ nhất của công chúng Mỹ. Năm nào cũng vậy, vào ngày 7/12, nước Mỹ lại dừng lại để tưởng nhớ 2.400 quân nhân đã thiệt mạng trong ngày đó và tưởng nhớ thế hệ người dân đã nhặt lá cờ bị đánh đổ ở Trân Châu Cảng để tham gia giành chiến thắng trong Thế Chiến II. “Chúng ta nhìn về ngày 7/12/1941, để thấy sức mạnh mà những người con yêu nước này đã tạo ra và tưởng nhớ tất cả những người đã hi sinh vì sự tự do của chúng ta”, Tổng thống Mỹ Obama phát biểu trong Ngày tưởng nhớ Trân Châu Cảng 2011. Nhưng 70 năm sau, Trân Châu Cảng vẫn là một bí ẩn. Cụ thể hơn, nó vẫn là một sự kiện với một số câu hỏi chưa có lời giải đáp lớn nhất lịch sử quân đội. Đó là vì sao quân Nhật lại tấn công một nước mà sức mạnh công nghiệp của nước này lớn hơn? Tại sao Mỹ không thấy dấu hiệu về một cuộc tấn công đang đến? Ai trong số hàng loạt chỉ huy của Mỹ chịu trách nhiệm cao nhất cho “tội” không sẵn sàng chiến đấu của Mỹ? Ngày nay các nhà lịch sử vẫn tiếp tục tranh luận về nhiều bí ẩn của Trân Châu Cảng, đưa ra những bằng chứng và giả thuyết mới. Dưới đây chỉ là một vài trong số chúng. Vì sao các căn cứ của Mỹ không được cảnh báo? Đợt tấn công đầu tiên của máy bay Nhật nhằm vào Trân Châu Cảng vào 8h sáng giờ địa phương ngày 7/12/1941. Trong vòng vài giờ, quân Nhật cũng đánh Philippines, Wake Island, Guam cùng các mục tiêu khác ở Thái Bình Dương. Các căn cứ của Mỹ ở nơi nào cũng bị bất ngờ. “Sự trơ trụi của các căn cứ của Mỹ ở Thái Bình Dương vẫn tiếp tục khiến thế hệ sau này không hiểu”, nhà báo, nhà lịch sử người Anh Max Hastings viết trong cuốn sách mới về Thế chiến II “Inferno” của ông. Hastings phủ nhận thông tin cho rằng Tổng thống Franklin Roosevelt cho phép Trân Châu Cảng bị tấn công để Mỹ có “cớ” tham gia vào Thế chiến II. Nhưng ông cho biết dù sao cũng “rất bất thường” khi các lãnh đạo chính trị và quân sự Mỹ không đảm bảo được Trân Châu Cảng và các căn cứ ở Thái Bình Dương luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Cố giáo sư Gordon Prange của trường đại học Maryland khi còn sống cho rằng vấn đề cốt lõi là chính phủ Mỹ tự trong thâm tâm không tin những cảnh báo của chính họ về sự hiếu chiến của Nhật là sự thật. “Hoài nghi căn bản này là gốc rễ của toàn bộ thảm kịch”, ông Prange kết luận trong cuốn sách “At Dawn We Slept” (Tạm dịch Bình Minh mà chúng ta ngủ). Một ủy ban của quốc hội Mỹ đã tiến hành điều trần sâu rộng về thảm họa Trân Châu Cảng sau khi chiến tranh kết thúc. Trong số những kết luận được đưa ra có kết luận lực lượng Mỹ đã tập trung quá nhiều vào huấn luyện đến nỗi họ bị “mù” trước một cuộc tấn công có thể xảy ra và các chỉ huy quân đội Mỹ đã quá lo lắng về sự phá hoại đến nỗi họ “khóa” hết các kho đạn dược chống máy bay, thay vì phân phát nó cho các điểm bắn. Hải quân không duy trì các cuộc tuần tra bằng máy bay trên biển do thiếu thiết bị. Tuy nhiên, không một vị chỉ huy nào của Mỹ yêu cầu hàng loạt tàu trên biển tuần tra thay thế. Ngoài ra, hai nhà sử học Jonathan Parshall và J. Michael Wenger cho biết trên tạp chí Lịch sử Hải quân của Mỹ rằng lý do Mỹ bị bất ngờ là các chỉ huy không hiểu được một cuộc chiến với sự tham gia của tàu sân bay phát triển nhanh tới mức nào. Kế hoạch tấn công vào Trân Châu Cảng gồm sự tham gia của hàng trăm máy bay xuất phát từ nhiều tàu sân bay, rồi hợp thành một đàn ong tấn công. Đó là kỹ năng mà Mỹ không hề biết quân độ Nhật sở hữu. “Hải quân Mỹ không có chút ý niệm nào về khả năng chiến đấu của các tàu sân bay của Nhật và vì vậy không thể đánh giá chính xác các mục tiêu hoạt động”, Messrs. Parshall và Wenger cho biết. Vì sao quân Nhật không “thừa thắng xông lên”? Sau hai đợt triển khai máy bay tàn phá “Hàng tàu chiến” và các căn cứ không quân của Mỹ ở Trân Châu Cảng, phi công Nhật trở về tàu sân bay của họ trong khải hoàn. Đô đốc Chuichi Nagumo khi đó dẫn đầu nhóm thảo luận xem một cuộc tấn công nữa có khả thi hay không. Nhiều chỉ huy không quân ủng hộ tấn công tiếp, tin rằng các kho nhiên liệu, các trạm sửa chữa và các cơ sở hậu cần của Mỹ vào thời điểm đó rất dễ tấn công. Là một chỉ huy thận trọng, Nagumo đã quyết định không tấn công thêm nữa. Bởi các máy bay Nhật cần phải được quay trở về tàu sân bay để nạp thên đạn được, nhiên liệu vào thời điểm mà vị trí của các tàu sân bay, tàu ngầm của Mỹ vẫn chưa được rõ. Quân Nhật cũng đã có một chiến thắng “ngoạn mục”. Vậy tại sao lại liều đánh đổi chiến thắng đó? “Quyết định quay trở lại của Nagumo lúc đó khiến nhiều phi công Nhật thất vọng, bởi họ muốn khai thác cơ hội của họ”, Prange viết. Phá hủy cơ sở hạ tầng của Trân Châu Cảng có thể đã buộc được Mỹ rút lực lượng hải quân của mình về Bờ Biển Tây nước Mỹ. Trong suốt nhiều thập niên, một số nhà lịch sử cho rằng Nagumo đánh mất cơ hội có thể đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Tuy nhiên, trong cuốn sách “Inferno”, Max Hastings cho rằng nghiên cứu mới chỉ ra rằng một cuộc tấn công tiếp là không khả thi. “Ngày mùa đông ngắn, nên không thể xuất kích và thu hồi (một đợt máy bay nữa) và cũng có khả năng lượng bom của quân Nhật quá nhỏ để nhấn chìm được các căn cứ, trạm sửa chữa của Trân Châu Cảng”, Hastings viết. Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ thắng trận? Thế giới sẽ khác như thế nào nếu quân Mỹ được cảnh báo vào sáng chủ nhật tháng 12 của 70 năm về trước? Rốt cục, chỉ mất có vài giờ vào buổi sáng sớm có thể thay đổi cục diện của một trận chiến. Máy bay chiến đấu của Mỹ có thể đã ở trên bầu trời và pháo phòng không đã sẵn sàng. Họ có thể đã bắn hạ hàng loạt máy bay Nhật khi chúng tiến tới. Nhưng sự thực ngày nay là Nhật, dù chiến thắng tại Trân Châu Cảng, lại bị bại trận trong Thế chiến II. Nhiều tàu bị phá hủy ở Trân Châu Cảng đã được kéo lên và sửa chữa để tiếp tục tham chiến trong những trận đấu sau này. Điều quan trọng nhất, công chúng Mỹ vốn chia rẽ về khả năng tham gia Thế chiến II bỗng chốc trở nên đoàn kết. “Người Mỹ không còn hỏi cuộc chiến là của ai hay hỏi họ nên làm gì với cuộc chiến nữa”, Prange viết. Song Prange cũng nhấn mạnh rằng Mỹ chắc chắn sẽ tham gia Thế chiến II thậm chí ngay cả khi trận Trân Châu Cảng không xảy ra. Vấn đề là vào thời điểm nào mà thôi. Vì vậy công chúng Mỹ có ủng hộ rộng rãi việc tham chiến nếu không có cuộc tấn công bất ngờ của Nhật hay không luôn là một bí ẩn lớn của lịch sử. Nhà lịch sử quân đội Mark Grimsley tại trường đại học bang Ohio cho rằng nếu Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ phản pháo và đẩy lùi được quân Nhật, rất có thể chỉ huy hạm đội, đô đốc Husband E. Kimmel sẽ điều các tàu chiến và tàu sân bay thực hiện sứ mệnh truy bắt và tiêu diệt quân Nhật. Theo Grimsley cả hai bên có 8 tàu chiến sẵn sàng chiến đấu. Quân Nhật có một lượng lớn máy bay trên các tàu sân bay, nhưng Mỹ có thể sẽ tận dụng các máy bay đóng ở các căn cứ trên đất liền, trên Wake Island. Kết cục có thể sẽ rất khó đoán. Một chiến thắng về phía quân Mỹ có thể đã rút ngắn được Chiến tranh Thái Bình Dương. Nhưng “một thất bại nghiêm trọng của quân Mỹ sẽ còn tồi tệ hơn trận Trân Châu Cảng rất nhiều”, Grimsley nhận định. “Hầu hết các tàu bị phá hủy hoặc bị chìm tại Trân Châu Cảng cuối cùng đã được sửa chữa và hoạt động trở lại, trong khi đó tàu chiến bị mất ở Trung Thái Bình Dương chắc chắn sẽ vĩnh viễn chìm sâu dưới hàng ngàn mét dưới biển”, Grimsley cho hay. (Theo Roitơ) [/i]Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 25 Tháng Mười Một, 2013, 03:51:14 pm Trận tấn công Trân Châu Cảng: Táo bạo, bất ngờ
Trận Trân Châu Cảng là một đòn tấn công quân sự táo bạo bất ngờ do Hải quân Nhật Bản tiến hành vào sáng Chủ Nhật, ngày 7/2/1941, dẫn đến việc Mỹ quyết định "nhập cuộc" Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 5 thiết giáp hạm Mỹ và làm hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay, gây tổn thất về nhân mạng là 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Thiệt hại về phía Nhật Bản nhỏ, chỉ mất 29 máy bay và 65 quân nhân thương vong. Trân Châu Cảng là căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ (kể từ năm 1940). Trân Châu Cảng có điều kiện tự nhiên lí tưởng để bảo vệ hạm đội chống lại mọi sự tấn công từ bên ngoài. Việc bố phòng ở cảng hết sức cẩn mật với một hệ thống lưới thép đặc biệt chống ngư lôi và tàu ngầm. Do vị trí gần như ở giữa vùng Bắc Thái Bình Dương, Trân Châu Cảng vừa là căn cứ chỉ huy, căn cứ hậu cần, là cơ sở bảo duỡng, sửa chữa các chiến hạm của hạm đội Thái Bình Dương. Từ căn cứ này, Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Hoa Kỳ có thể khống chế toàn bộ vùng Bắc Thái Bình Dương bằng các lực lượng tàu nổi, tàu ngầm và không quân của Hạm đội. Cuộc tấn công Trân Châu Cảng có nhiều mục đích. Trước tiên, người Nhật hy vọng sẽ ngăn cản được Hạm đội Thái Bình Dương can thiệp vào việc Nhật chinh phục Đông Ấn. Kế tiếp, người Nhật tranh thủ thời gian để củng cố vị thế và tăng cường sức mạnh hải quân, trước khi các tàu chiến mới của Mỹ được chế tạo theo Đạo luật Vinson-Walsh. Cuối cùng, nó được trù tính sẽ là một đòn mạnh giáng vào tinh thần của người Mỹ, có thể gây nản lòng, cho phép Nhật tiếp tục chinh phục Đông Nam Á mà không bị can thiệp. Diễn biến trận tấn công Trân Châu Cảng Ngày 26/11/1941, một Lực lượng đặc nhiệm Nhật Bản gồm 6 tàu sân bay cùng một số tàu hộ tống và tàu chở dầu tiếp nhiên liệu, dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Chuichi Nagumo đã lên đường rời miền Bắc Nhật Bản đi đến một địa điểm ở phía Tây Bắc Hawaii và dự kiến tung số máy bay trên tàu (405 chiếc) để tấn công vào Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công dự định được chia làm hai đợt với 360 chiếc dành cho hai đợt tấn công và 48 máy bay làm nhiệm vụ phòng thủ tuần tra chiến đấu trên không. Đợt thứ nhất sẽ là đòn tấn công chủ lực, trong khi đợt thứ hai sẽ hoàn tất những công việc còn sót lại. Đợt thứ nhất mang theo phần lớn vũ khí, chủ yếu là ngư lôi, để tấn công các tàu chủ lực. Để bảo đảm bí mật, đoàn tàu của Phó Đô đốc Chuichi Nagumo được lệnh đánh chìm mọi tàu bè của các nước trung lập mà nó gặp. May mắn thay, trong suốt cuộc hành hình hơn 10 ngày, quân Nhật không gặp một tàu bè nào trên đường đi. Đúng 7 giờ 50 phút, trái bom đầu tiên rơi xuống Trân Châu Cảng. Thủy thủ trên các tàu chiến Mỹ tỉnh giấc do tiếng báo động, bom nổ và tiếng súng. Các kho đạn còn đang bị khóa lại, máy bay đậu sát cánh lại với nhau ngoài bãi đậu để ngăn ngừa phá hoại, các khẩu pháo phòng không có binh sĩ trực chiến. Hai quả ngư lôi đầu tiên đã đánh trúng thiết giáp hạm Oklahoma. Hai giây sau, thêm 2 quả nữa đập mạnh vào sườn tàu và nổ tung. Tàu không bị chìm ngay, nhưng nước vẫn vào. Vài phút sau nó lại nhận thêm một chùm bom nữa. Loạt ngư lôi tiếp theo đánh trúng chiếc USS Utah, vốn là một thiết giáp hạm đã 33 năm đi biển, nay được tháo bỏ mọi vũ khí để trở thành chiếc tàu bia dành cho huấn luyện. Tiếp đó các thiết giáp hạm West Virginia và California bắt đầu bị trúng ngư lôi (riêng thiết giáp hạm California trúng phải hai bom và hai ngư lôi). Khói đen cuồn cuộn bốc lên từ nhũng chiếc tàu bị ngư lôi đánh trúng. Người Mỹ cho rằng độ sâu của vịnh biển chỉ 10m không thể phóng ngư lôi được, cho nên họ chỉ đề phòng máy bay ném bom và tàu ngầm mà không thả lưới ngăn ngư lôi quanh các chiến hạm. Họ đã phải trả giá trước phát minh mới của người Nhật về cách dùng ngư lôi ở vùng biển nông: cho máy bay bay sát mặt biển với tốc độ chậm để phóng ra những quả ngư lôi lướt trên mặt nước với tốc độ cũng rất chậm, chỉ khoảng 30-40 hải lý/giờ. Tám phút sau khi bị quả ngư lôi đầu tiên đánh trúng thiết giáp hạm Oklahoma đã bị lật nhào. Hơn 400 sĩ quan và thủy thủ mắc kẹt bên trong chết chìm cùng với tàu. Tiếp theo đó, thêm một loạt bom và ngư lôi đánh trúng chiếc California khiến nó bốc cháy dữ dội và chìm tại chỗ chỉ còn nhô mấy cột buồm lên khỏi mặt nước. Chiếc Arizona bị ngư lôi đánh hụt, nhưng các máy bay ném bom đã ném trúng nó 5 trái bom cùng một lúc. Một trong 5 trái bom chui vào ống khói xuống bên dưới nổ ngay ở hầm chứa đạn. Chiếc tàu phát nổ long trời lở đất với một cột khói và lửa cao 300m rồi gãy làm đôi trong 9 phút. Cả hai phần tàu chúi xuống biển rồi từ từ chìm dần làm 1.102 người chết theo tàu. Thiết giáp hạm USS West Virginia trúng phải bảy ngư lôi, quả thứ bảy xé rách bánh lái của nó. Trong giây lát, chiếc West Virginia bốc cháy và chìm xuống biển khi vẫn giữ thăng bằng. Thiết giáp hạm USS Oklahoma trúng phải bốn ngư lôi, hai quả cuối cùng chạm đích phía trên đai giáp bảo vệ làm cho nó bị lật úp. Nếu như hải quân chỉ lo đối phó với tàu ngầm thì lục quân và không quân của lục quân trên đảo không hề chuẩn bị đối phó với một cuộc tấn công bằng không quân. Theo lệnh tướng Short, máy bay trên các sân bay đều được xếp thành từng tốp cánh sát cánh và thẳng hàng với nhau trên những bãi đậu hoàn toàn trống trải. Bố trí như vậy là để chống phá hoại máy bay, nhưng lại tạo ra điều kiện lý tưởng để không quân dịch tiêu diệt chúng. Các thủy phi cơ tại căn cứ Kaneohe của hải quân cũng xếp hàng thẳng tắp. Loạt bom đầu tiên đã rơi xuống sân bay Wheeler, căn cứ chính của các chiến đấu cơ. Các sĩ quan không quân Hoa Kỳ đang ngủ trong một doanh trại gần sân bay choàng tỉnh dậy, có người tưởng là động đất, người khác cho rằng máy bay của hải quân diễn tập. Nhưng khi chạy ra ngoài thì họ đã hiểu: các máy bay Nhật nối tiếp nhau bổ nhào xuống ném bom sân bay. Chỉ trong ít phút đầu, các căn cứ không quân của lục quân là Wheeler, Hickam, Bellows cũng như các căn cứ không quân của hải quân ở Kaneohe, đảo Ford và sân bay Ewa đều bị tàn phá khủng khiếp. Không một máy bay nào của Hải quân Mỹ có thể cất cánh vì hầu hết đã bị phá hủy. Các thủy phi cơ đã chìm hoặc cháy ngay trong nhà để máy bay. Trên tất cả các sân bay của lục quân Mỹ, cũng chỉ có 10 máy bay cất cánh. Trong trận không chiến không cân sức trên bầu trời Oahu sáng hôm đó, các máy bay này đã hạ được 11 máy bay Nhật. Tổn thất của hai phía Cuộc tấn công Trân Châu Cảng kéo dài 90 phút - với 2.386 người Mỹ bị thiệt mạng, 1.139 người khác bị thương và 18 tàu chiến bị đánh chìm, trong đó có 5 chiếc thiết giáp hạm. Trong số 402 máy bay Mỹ có mặt tại Hawaii, 188 chiếc bị phá hủy và 159 chiếc bị hư hỏng. Hầu như không có chiếc nào thực sự sẵn sàng để cất cánh nhằm bảo vệ căn cứ. Trong số 33 chiếc thủy phi cơ PBY ở Hawaii, 24 chiếc bị phá hủy và 6 chiếc khác bị hư hỏng nặng đến mức không thể sửa chữa. Về phía Nhật, 55 phi công và chín thủy thủ tàu ngầm tử trận cùng một người bị bắt làm tù binh. Trong số 414 máy bay tham gia tấn công, 29 chiếc bị mất trong trận đánh (9 chiếc trong đợt tấn công thứ nhất và 20 chiếc trong đợt thứ hai), cùng 74 chiếc khác bị hư hại do hỏa lực phòng không từ mặt đất. May mắn cho phía Mỹ là các tàu sân bay Hoa Kỳ đã không bị đụng đến trong cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Nếu không, khả năng tác chiến của Hạm đội Thái Bình Dương sẽ bị tê liệt trong khoảng một năm. (Theo Roitơ) Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 25 Tháng Mười Một, 2013, 03:57:27 pm Hạm đội Trân Châu Cảng 'bị tiêu diệt bởi một điệp viên'
Khi những máy bay Nhật Bản tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng vào ngày 7/12/1941, có lẽ không ai nghĩ rằng trận chiến xảy ra nhờ nỗ lực của một điệp viên Liên Xô. 71 năm đã trôi qua từ khi không quân Nhật Bản tiêu diệt hạm đội Mỹ tại Trân Châu Cảng vào ngày 7/12/1941. Cho đến sau khi một viên tướng tình báo của Liên Xô xuất bản sách trong đó ca ngợi White là người cứu Liên Xô nhờ kích động cuộc chiến Nhật - Mỹ, công chúng biết thêm một trong những nguyên nhân dẫn đến Trân Châu Cảng. Nó là kết quả của một chiến dịch tình báo mang tên “Chiến dịch Tuyết” do Liên Xô phát động. Harry Dexter White, một điệp viên của Liên Xô trong bộ Tài chính Mỹ, đã góp công lớn trong chiến dịch tình báo ấy. Đế quốc Nhật Bản hứng chịu nhiều cú sốc chính trị nghiêm trọng trong suốt thập niên 30. Hai vụ ám sát bất thành nhằm vào Nhật hoàng Hirohito – do một người cộng sản Nhật Bản và một người Triều Tiên thực hiện – đã dẫn tới việc hàng loạt thành viên trong chính phủ và nhiều chủ ngân hàng lớn tại Nhật Bản thiệt mạng. Sau khi Thủ tướng Tsuyoshi Inukai bị ám sát vào năm 1932 do không tìm ra biện pháp hiệu quả để đối phó cuộc Đại suy thoái và ảnh hưởng của ngoại bang, 110.000 người dân đã xin Nhật hoàng tha thứ cho những kẻ giết Inukai. Bốn năm sau, trong một nỗ lực đảo chính, một nhóm sĩ quan quân đội trẻ đã vây thủ tướng Kesisuke Okada trong buồng tắm tại nhà riêng và suýt nữa lật đổ chính phủ. Với những sự kiện đó, Nhật hoàng rất sợ các sĩ quan sẽ ám sát ông nếu triều đình không giải quyết những mối đe dọa từ phía Mỹ và Nga đối với những lợi ích quân sự và kinh tế của Tokyo, đặc biệt là quyền tiếp cận của Nhật Bản đối với dầu mỏ của Mỹ. Trong khi đó, người Nga hiểu rằng họ sẽ rơi vào thế khó nếu quân Đức tấn công từ phía tây và quân Nhật Bản tràn sang từ phía đông. Hàng loạt yếu điểm của quân Liên Xô đã bộc lộ trong những cuộc đụng độ với quân Nhật trong cuộc chiến giữa hai nước vào năm 1939. NKVD, cơ quan tiền thân của Cục tình báo KGB, hiểu rằng một cuộc chiến với Mỹ sẽ khiến Nhật Bản không thể thực hiện tham vọng chiếm Mông Cổ và Siberia – một tham vọng có thể khiến Moscow phải điều động tới 25% lực lượng quân đội để đối phó. Cuộc chiến Nhật-Mỹ cũng sẽ giúp Liên Xô tập trung toàn lực để đối phó Đức. Thật may mắn cho Moscow, cơ quan tình báo của họ đã cài được một điệp viên vào bộ máy chính quyền Mỹ tại Washington. Đó là Harry Dexter White, một quan chức cấp cao của Bộ Tài chính Mỹ. Chào đời trong một gia đình nhập cư thuộc tầng lớp lao động tại thành phố Boston, bang Massachusetts, Mỹ, White từng phục vụ quân đội Mỹ trong Thế chiến thứ nhất. Ông lấy được bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard. Trong thời gian làm việc cho Bộ Tài chính dưới thời tổng thống Franklin Roosevelt, White đã có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. Vào năm 1936, với sự giúp đỡ của một người, ông đã tiết lộ thông tin về chính trị Nhật Bản và Trung Quốc, cũng như các vấn đề kinh tế, cho cơ quan tình báo Liên Xô. Lo ngại nguy cơ lộ thân phận, White tạm ngừng cung cấp thông tin cho người Nga trong một khoảng thời gian. Nhưng vào tháng 5/1941, phát xít Đức bắt đầu vi phạm hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau mà Adolf Hitler, quốc trưởng Đức, đã ký với Josef Stalin, nhà lãnh đạo tối cao của Liên Xô. Vitalii Pavlov, một gián điệp Nga, cố gắng “tái khởi động” White với một nhiệm vụ khẩn cấp: Gây chiến tranh giữa Nhật Bản và Mỹ để Liên Xô không phải tiến hành chiến tranh trên hai mặt trận. Nhờ công việc trong Bộ Tài chính Mỹ, White có mối quan hệ khá thân mật với nhiều quan chức chủ chốt trong chính quyền. Chẳng hạn, ông biết Stanley Hornbeck, một chuyên gia về châu Á của Bộ Ngoại giao, ghét Nhật Bản. White cũng gây được ảnh hưởng lớn tới Henry Morgenthau, Bộ trưởng Tài chính thời đó. Mối quan hệ cá nhân giữa Morgenthau với tổng thống Franklin Roosevelt khiến ông trở thành bộ trưởng có quyền lực lớn nhất. Bằng cách tác động tới Morgenthau và Hornbeck, White đã làm thay đổi chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản theo hướng có lợi cho Liên Xô. Khi tổng thống Roosevelt muốn nới lỏng lệnh cấm vận dầu mỏ đối với Nhật Bản để đổi lấy việc Nhật sẽ rút dần khỏi Trung Quốc, White đã soạn thảo một lá thư để Morgenthau ký. Nội dung của bức thư như sau: "Nếu Mỹ bán Trung Quốc cho những kẻ thù của họ để đổi lấy những đồng tiền vàng dính máu, chẳng những chính sách của chúng ta ở châu Âu và vùng Viễn Đông sẽ suy yếu, mà vai trò lãnh đạo thế giới dân chủ của Mỹ trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít cũng sẽ giảm." Thay vì thỏa hiệp với Nhật Bản, Mỹ yêu cầu Tokyo rút khỏi Trung Quốc ngay lập tức, trung lập hóa vùng Mãn Châu của Trung Quốc và bán 3/4 vũ khí của lục quân và hải quân cho Mỹ. Coi yêu cầu của Mỹ là một lời đe dọa và sự sỉ nhục, chính phủ Nhật Bản kết luận rằng chiến tranh với Mỹ là điều mà họ không thể tránh. Họ vạch ra kế hoạch tấn công phủ đầu bằng việc tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng và Philippines. Nhờ tài trí của White, Liên Xô tránh được một cuộc chiến ở sườn phía đông. White tiếp tục vạch ra những chính sách có lợi cho Liên Xô sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc. Washington chỉ phát hiện thân phận của ông sau khi Whittaker Chambers và Elizabeth Bentley, hai người Mỹ làm gián điệp cho Liên Xô, cắt đứt quan hệ với người Nga và cung cấp thông tin về các điệp viên của Liên Xô trong bộ máy chính quyền Mỹ. Ông qua đời vào năm 1948. Ba ngày trước khi chết, ông phải giải trình trước một ủy ban của hạ viện. Cảnh sát cho rằng White đã tự sát. Cục Điều tra liên bang Mỹ xếp White vào danh sách “những người phản bội” vào năm 1950, song họ chỉ biết rõ vai trò của ông đối với trận Trân Châu Cảng sau khi Vitalii Pavlov, người phụ trách ông trong cơ quan tình báo Liên Xô và sau này trở thành tướng, xuất bản hồi ký vào năm 1996. Trong hồi ký, Pavlov coi White là người cứu Liên Xô. (Theo Thams) Tiêu đề: Re: Một số trận Hải chiến lịch sử Gửi bởi: 5tan trong 25 Tháng Mười Một, 2013, 04:00:06 pm NHẬT NÉM BOM TRÂN CHÂU CẢNG http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/ham-doi-tran-chau-cang-bi-tieu-diet-boi-mot-diep-vien-2400122-p3.html |