Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Red_army_vn trong 16 Tháng Mười Hai, 2007, 10:43:40 pm



Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: Red_army_vn trong 16 Tháng Mười Hai, 2007, 10:43:40 pm
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2006
Số hoá: ptlinh, nhinrathegioi




* Chỉ đạo nội dung:
Thiếu tướng, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
 Đại tá, PGS, TS. LÊ ĐÌNH SỸ
* Các tác giả:
Đại tá, PGS, TS. LÊ ĐÌNH SỸ
Đại tá NGUYỄN VIẾT BÌNH
Thiếu tá, Ths. LÊ ĐỨC HẠNH
Thiếu tá LƯƠNG THỊ HOAN
* Hoàn chỉnh tác phẩm:
Đại tả HÁN VĂN TÂM



LỜI NÓI ĐẦU

Khu vực Đông Nam A có một vị trí chiến lược trọng yếu; các nước Đông Nam A ngày càng khẳng định vai trò của mình ở châu Á và trên thế giới. Nước ta và các nước trong khu vực có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hoá và đang trong quá trình hội nhập; vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các nước Đông Nam Á, trên tất cả các lĩnh vực, là một yêu cầu cấp thiết.


Trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, lịch sử nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, riêng về lĩnh vực quân sự - quốc phòng, việc nghiên cứu còn hạn chế. Đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào phản ánh một cách tương đối hệ thống, toàn diện về lịch sử quân đội các nước trong khu vực. Hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (8.8.1967 - 8.8.2007), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, biên soạn công trình Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á nhằm giúp đông đảo bạn đọc quan tâm có được những hiểu biết cơ bản về quân đội các nước này.


Trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, kết quả nghiên cứu còn giúp chúng ta hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về quá trình phát triển cũng như những chủ trương, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng của các nước Đông Nam Á, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng quốc phòng; đồng thời xác định phương thức quan hệ, hợp tác phù hợp trên lĩnh vực quân sự, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực có môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển.


Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á khái quát lịch sử quân đội các nước trong khu vực. Khu vực Đông Nam Á hiện nay bao gồm 11 nước; tuy nhiên, công trình này chỉ mới đề cập lịch sử quân đội 9 nước: Brunây, Campuchia, Inđônêxia, Lào, Malaixia, Mianma, Philippin, Thái Lan, Xingapo. Riêng hai nước Việt Nam và Đông Timo, lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam đã được phản ánh khá đầy đủ và sâu sắc trong nhiều công trình đã xuất bản; quốc gia Đông Timo mới tách ra khỏi Inđônêxia từ năm 2000, đang trong quá trình xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang. Do vậy, công trình này không bao gồm Lược sử quân đội của hai nước Việt Nam và Đông Timo.


Trong cuốn lược sử này, tập thể tác giả đã cố gắng phản ánh quá trình hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, trang bị và hoạt động cũng như vai trò của quân đội mỗi nước đối với đời sống chính trị - xã hội của quốc gia và khu vực trong các giai đoạn quan trọng trước đây và hiện nay.
Tuy nhiên, là một đề tài hoàn toàn mới, tư liệu hiếm hoi và tản mạn, phần lớn là tiếng nước ngoài; do đó, mặc dù các tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi nhượng hạn chế, thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp nhiều ý kiến xây dựng để công trình được hoàn thiện hơn trong lần tái bản.


Nhân dịp cuốn Lược sử quân đội các nước Đông Nam A ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảm ơn các trung tâm lưu trữ trong và ngoài quân đội, cảm ơn Đại tá Lê Thế Mẫu (Viện chiến lược quân sự) đã cộng tác và cung cấp nhiều tu liệu trong quá trình nghiên Cứu biên soạn; cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cộng tác xuất bản công trình này.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: Red_army_vn trong 26 Tháng Mười Hai, 2007, 10:16:05 pm
QUÂN ĐỘI HOÀNG GIA BRUNÂY

I. Khái quát về đất nước và con người Brunày

Quốc gia Đông Nam A Brunây nằm ở tây bắc đảo Calimantan, giáp với Xaraoắc (một trong hai bang phía đông của Malaixia). Brunây có diện tích 5.765km2, bờ biển dài 160km tính từ phía đông bắc Seria tới vịnh Brunây.


Dân số Brunây ít nhưng phát triển nhanh. Theo tài liệu của Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO), năm 1975, dân số Brunây là 156.000 người, 1985 là 224.000 người; năm 1991 là 271.000 người và đến tháng 12 năm 2005 là 372.361 người1 (www.Janes.Com, Sentinel - Southeast Asia, lssue no 12-2005). Cơ cấu dân số Brunây gồm 55% người Ma lai, 26% người Hoa, 12% là người gốc địa phương gồm người đaiắc, Bixaya, Kêđian, Đuxun và một số dân tộc thiểu số khác), 70% dân số còn lại là người Anh và người Ấn Độ2 (Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.8 ). Do dân số phát triển nhanh nên số người trong độ tuổi phục vụ quân đội hiện nay tại Brunây rất lớn, khoảng 60.000 người, chiếm hơn 20% tổng dân số.


Brunây là nhà nước quân chủ. Đứng đầu là Quốc vương kiêm Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ngôn ngữ chính được sử dụng tại Brunây hiện nay là tiếng Mã Lai và tiếng Anh. Tiếng Anh được sử rộng rãi trong các cơ quan nhà nước và giảng dạy trong các trường phổ thông.


Thủ đô của Brunây là Bađa Xêri Bêgaoan với dân số 80 nghìn người, là trung tâm chính trị và tôn giáo của cả nước. Đạo Hồi là quốc giáo, có ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội và con người Brunây.


Do nằm ở vị trí thuận lợi của tuyến giao thông trên biển nên ngay từ thế kỷ thứ X, Brunây đã là nơi thu hút các doanh nhân từ Trung Quốc, Ấn Độ đến làm ăn và buôn bán. Đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Anh xâm chiếm lãnh thổ của Vương quốc Brunây, buộc Vương triều phải ký Hiệp ước Anh-Brunây (năm 1888), đặt vương quốc này dưới sự bảo trợ của nước Anh. Quyền lực tối cao nằm trong tay viên Thống đốc người Anh. Ngoài những vấn đề có liên quan đến đạo Hồi, còn lại tất cả các vấn đề đối nội và đối ngoại đều chịu sự chi phối của đế quốc Anh. Sau hơn 96 năm bị đế quốc Anh đô hộ, ngày 1 tháng 1 năm 1984 Brunây mới được Anh trao trả độc lập nhưng nằm trong khối Liên hiệp Anh. Vương quốc Brunây tuyên bố độc lập dưới tên gọi Negơra Brunây Đarútxalam. Brunây là thành viên thứ 159 của Liên hợp quốc (tháng 10 năm 1984) và là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ngày 7 tháng 1 năm 1984). Brunây thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ với Việt Nam ngày 29 tháng 2 năm 1992.


Hiện nay, Brunây là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất khu vực Đông Nam Á và châu Á (chỉ sau Nhật Bản), khoảng 27.000 USD/người/năm. Nền kinh tế của Brunây chủ yếu dựa vào dầu mỏ và khí đốt, chiếm 70% GDP. Trữ lượng dầu mỏ của Brunây khoảng 2 tỉ tấn, khí đốt 4 nghìn tỉ mét khối. Mỗi ngày Brunây khai thác khoảng 136.000 thùng dầu và khoảng nửa tỉ mét khối khí.


Một số sự kiện quan trọng trong lịch sử Brunây từ đầu thế kỉ XIX đến khi giành được độc lập năm 1984.

Năm 1841: Brunây nhượng Xaraoắc cho James Brooke.

Năm 1846: Brunây nhượng Labuan cho Vương quốc Anh.

Năm 1847: Brunây kí hiệp ước quan hệ thương mại với Anh.

Năm 1888: Bnmây nằm dưới sự bảo hộ của Anh.

Năm 1906: Anh bổ nhiệm một Toàn quyền để giám sát Brunây.

Năm 1941: Brunây bị Nhật chiếm đóng.

Năm 1945: Anh thiết lập chính quyền quân sự tại Brunây.

Năm 1946: Chính quyền dân sự Anh tại Brunây được thiết lập trở lại. Năm 1950 - 1967: Thời gian trị vì của vua Haji Omar.

Năm 1959: Ký Hiệp ước Anh - Brunây, theo đó Anh cho phép thành lập chính phủ tự trị tại Brunây.

Năm 1962: Brunây tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau khi cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức.

Năm 1971: Ký Hiệp ước Anh - Brunây, theo đó, Anh trao quyền điều hành các công việc nội bộ cho Chính phủ tự trị Brunây.

Năm 1979: Anh ký hiệp ước trao trả độc lập cho Brunây.

Năm 1984: Brunây trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A (ASEAN), Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OIC) và Liên hợp quốc (UN).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: Red_army_vn trong 26 Tháng Mười Hai, 2007, 10:31:54 pm
II. Lịch sử hình thành và phát triển quân đội Brunây

Brunây là quốc gia chỉ mới giành được độc lập năm 1984, nhưng quân đội nước này lại được thành lập từ trước đó rất lâu. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, hai năm sau khi Anh trao quyền tự trị cho Brunây, tại cảng Dickson (thuộc Malaixia ngày nay), người Anh đã tuyển 62 sĩ quan và binh sĩ người Brunây vào Trung đoàn Hoàng gia Mã Lai - Brunây. Mục đích của người Anh lúc đó là muốn xây dựng một quân đội Brunây bản địa để từng bước thay thế quân Anh đang chiếm đóng tại đây. Trong khi kế hoạch đang được triển khai thì tháng 8 năm 1962, Brunây tổ chức bầu cử Hội đồng lập pháp đầu tiên. Trong cuộc bầu cử này, Đảng Rakiat (PRB - Partai Rakyat Bruneì) giành được thắng lợi. Đường lối chính trị của PRB là phản đối chế dộ quân chủ và đòi quyền dân chủ toàn diện cho Brunây, đồng thời phản đối việc Brunây gia nhập Liên bang Malaixia.


Mặc dù giành được thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử, như đường lối của PRB đã bị Quốc vương và tầng lớp quý tộc Brunây cực lực phản đối và các yêu sách của đảng này đã bị bác bỏ. Brunây vẫn duy trì chế độ quân chủ.


Bất bình trước các quyết định của Quốc vương, cuối năm 1962, đảng PRB tổ chức nổi dậy. Quốc vương Brunây tuyên bố tình trạng khẩn cấp, đình chỉ việc thực hiện hiến pháp, tuyên bố cuộc bầu cử không có hiệu lực và cấm PRB hoạt động, đồng thời yêu cầu nhà cầm quyền Anh dùng lực lượng của mình đàn áp PRB.


Vì phải tập trung nhân, vật lực để đối phó với các cuộc nổi dậy; mặt khác, một số sĩ quan và binh sĩ Brunây thuộc Trung đoàn Hoàng gia Mã Lai - Brunây được Anh xây dựng trước đây đã đi theo lực lượng nổi dậy nên kế hoạch xây dựng lực lượng quân đội bản xứ của Anh ở Brunây không thể thực hiện được. Trong thời gian đảng PRB nổi dậy, Anh đã huy động lực lượng an ninh người bản xứ, đồng thời điều các đơn vị quân đội từ Xingapo tới đàn áp; chỉ trong một thời gian ngắn, hàng nghìn người thuộc PRB đã bị giết và bị bắt. Phong trào nổi dậy đòi dân chủ của đảng PRB lắng dần.


Lo ngại trước sự bùng phát trở lại của phong trào đòi dân chủ mà PRB là người chủ xướng, đầu năm 1963, Quốc vương Hai Omar yêu cầu nhà cầm quyền Anh xem xét lại Hiệp ước tự trị Anh-Brunây ký năm 1959, đồng thời đề nghị viên Toàn quyền Anh tại Brunây đưa thêm các đơn ví quân đội tới Brunây để bảo vệ Quốc vương, Hoàng tộc và các cơ quan trọng yếu của Chính phủ. Theo yêu cầu của Quốc vương, cuối năm 1963, Anh đã đưa thêm 2 tiểu đoàn Gurkha từ Xingapo tới Brunây và lực lượng này được duy trì tại đây cho đến những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX.


Trong thời gian từ năm 1962 cho đến đầu những năm bảy mươi, Chính phủ tự trị Brunây đã tiến hành nhiều cuộc thương thuyết về quy chế bảo hộ của Anh đối với Brunây. Tuy nhiên, phải đến năm 1971, Chính phủ Anh mới chính thức ký Hiệp ước bảo hộ. Theo hiệp ước này, Anh chỉ chấp nhận trao cho Brunây quyền điều hành các công việc nội bộ, người Anh vẫn giữ quyền kiểm soát các vấn đề trọng yếu như ngoại giao, quốc phòng và mọi chi phí cho hai lĩnh vực này đều do Vương quốc Brunây trang trải.


Mặc dù trên thực tế người Anh được quyền kiểm soát và hoạch định chính sách phát triển quốc phòng của Brunây, nhưng trong suốt thập niên 70, Chính phủ Brunây đã nhiều lần thương thuyết và cuối cùng đã được chính quyền bảo hộ Anh chấp nhận để họ phát triển lực lượng vũ trang riêng của mình. Năm 1976, Brunây đưa ra kế hoạch xây dựng lực lượng quân đội quốc gia dài hạn. Theo đó, trong vòng từ 3 đến 5 năm, nước này phải tập trung những nguồn lực đáng kể để xây dựng 3 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh. Đây chính là lực lượng xương sống của Quân đội Hoàng gia trong tương lai. Sau khi cân nhắc kỹ mọi khả năng và phương án xây dựng quân đội, Chính phủ Brunây cho rằng, dân số Brunây lúc đó còn quá ít, mới khoảng 150 nghìn người, trong đó tỉ lệ người Hoa và người Mã Lai, những người không được phép phục vụ trong quân đội lại chiếm tới gần 40%. Mặt khác, ở Brunây vào thời điểm đó, do những định kiến trước đây, rất nhiều thanh niên không muốn nhập ngũ. Xuất phát từ thực tế trên, Chính phủ Brunây quyết định tạm thời chỉ xây dựng một lực lượng bộ binh bản xứ rất nhỏ. Số sĩ quan và binh sĩ còn thiếu sẽ phải nhờ vào sự giúp đỡ của người Anh. Cụ thể, năm 1979, được sự giúp đỡ của chính quyền Anh tại Brunây, Chính phủ Brunây đã tuyển dụng khoảng hơn 2.000 lính Gurkha người gốc Nêpan, thuộc lực lượng Quân đội Anh tại châu Á đã hết nghĩa vụ vào quân đội nước này. Nhiệm vụ của Gurkha lúc đó là bảo vệ Hoàng gia, bảo vệ các cơ quan chính phủ, chống đảo chính và nổi dậy. Tiếp đó năm 1982, Brunây cho thành lập thêm đại đội nữ người bản xứ với quân số khoảng 200 người.


Như vậy, cho đến cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, lực lượng lục quân của quân đội bản địa Hoàng gia Brunây cũng mới chỉ có vài trăm người. Đa số họ đều làm nhiệm vụ phục vụ hậu cần trong các đơn vị Gurkha hoặc bảo vệ một số dàn khoan khai thác dầu ngoài khơi.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: Red_army_vn trong 26 Tháng Mười Hai, 2007, 10:45:52 pm
Cũng như lực lượng lực quân, lực lượng hải quân Brunây được thành lập từ ngày 14 tháng 6 năm 1968, nhưng trong những năm 70, do quy chế bảo hộ quốc phòng của người Anh, lực lượng này chỉ tồn tại trên danh nghĩa, nói đúng hơn là lực lượng hải quân bản địa Brunây lúc đó cỡn rất nhỏ, cơ sở trang thiết bị hầu như chưa có gì ngoài căn cứ hải quân Mua ra được người Anh đầu tư xây dựng vào đầu thế kỷ. Vào cuối những năm 70, đầu 80 của thế kỷ XX, do nhu cầu phát triển nhanh chóng của ngành dầu khí, đặc biệt là do các cuộc tranh chấp lãnh hải với các nước láng giềng liên tiếp xảy ra tại khu Limbang Valley, Chính phủ Brunây đã quyết định tập trung đầu tư cho phát triển lực lượng hải quân. Trong 3 năm, từ năm 1979 đến năm 1982, Brunây đã mua của Xingapo một số tàu tuần tiễu và 3 tàu chiến mang tên lửa (lớp tốc hạm Waspada), đồng thời mua 36 tên lửa Exocet của Pháp để trang bị cho các tàu này.


Lực lượng không quân Brunây vào thời điểm trước khi giành được độc lập mới chỉ trong giai đoạn hình thành. Toàn bộ lực lượng lúc đó chỉ có 4 chiếc trực thăng vũ trang, chủ yếu làm nhiệm vụ tuần tra bảo vệ các khu vực khai thác dầu.


Như vậy, mặc dù Quân đội Vương quốc Brunây được manh nha thành lập từ rất sớm, nhưng do đặc thù phát triển của đất nước và sự áp đặt của chủ nghĩa thực dân, trong suốt hơn 20 năm, từ 1961 đến năm 1984, quân đội nước này phát triển rất chậm. Đến khi giành được độc lập, số quân là người bản xứ Brunây trong quân đội cũng chỉ mới có vài trăm người, chủ yếu là lực lượng bộ binh, làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh và ngăn ngừa các cuộc nổi dậy, số khác làm nhiệm vụ bảo vệ các dàn khoan và giếng dầu ở khu vực ven biển. Trong thời kỳ người Anh thống trị, hầu như toàn bộ nền an ninh và quốc phòng của Brunây đều phải dựa vào người Anh.


Ngày 1 tháng 1 năm 1984, Brunây trở thành quốc gia độc lập và có chủ quyền. Trong ngày tuyên bố độc lập, Quốc vương Hátxanan đã tuyên bố lập trường và chính sách đối ngoại của Brunây là trung lập, không liên kết, dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau để xử lý các mối quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới1 (Dẫn theo Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN, Sđd, Hà Nội, 1997). Tuyên bố của Quốc vương Hátxanan đồng thời cũng là cơ sở để Brunây xác định chính sách phát triển quốc phòng và lực lượng vũ trang của mình.


Vào những năm cuối thập niên 80 thế kỷ XX, Chính phủ Brunây quyết tâm triển khai kế hoạch xây dựng quân đội mà lẽ ra họ đã làm từ giữa thập niên 70. Công việc đầu tiên trong việc triển khai kế hoạch này là tập trung xây dựng 2 tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh để dần thay thế lực lượng Gurkha trong quân đội Brunây. Triển khai kế hoạch trên, năm 1985, được sự phê chuẩn của Chính phù'và Quốc hội, Brunây bắt đầu thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự và tiến hành công tác tuyển binh. Năm 1986, Brunây đã tuyển được hàng trăm thanh niên vào quân đội. Sau thời gian huấn luyện, những thanh niên này được biên chế về các đơn vị và dần thay thế cho Gurkha. Tiếp đó, ngày 27 tháng 11 năm 1987, Brunây cho thành lập Trung đoàn bộ binh dự bị với khoảng 500 người, bao gồm những thanh niên trong đối tượng dự bị bắt buộc và dự bị tự nguyện.


Nhằm giảm dần và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn sự lệ thuộc vào nước ngoài, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Chính phủ Brunây thực hiện kế hoạch “Brunây hoá" lực lượng vũ trang theo hai hướng: thứ nhất, tiếp tục triển khai các đợt tuyển quân nhằm tuyển chọn những thanh niên trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự, có đủ sức khoẻ và trình độ vào các đơn vị quân đội. Kết quả, đến cuối năm 1988, tổng quân số là người bản địa trong Quân đội Hoàng gia Brunây đã lên tới gần 2.000 người; thứ hai, hàng năm gửi hàng chục quân nhân sang các nước như Anh, Malaixia, Xingapo, v.v... để đào tạo, với mục đích sau khi hoàn thành các khoá đào tạo và về nước, số quân nhân - sĩ quan này sẽ từng bước thay thế số sĩ quan Anh và sĩ quan nước ngoài trong quân đội Brunây. Với cách làm này, chỉ trong một thời gian ngắn, phần lớn số sĩ quan và nhân viên quân sự nước ngoài đang làm việc trong các đơn vị quân đội erunây đã được thay thế bằng chính người bản địa Brunây (trừ tiểu đoàn phòng không, đơn vị công binh chiến đấu và đại đội nữ, còn tất cả các đơn vị quân đội Brunây đều do sĩ quan Brunây chỉ huy).


Cũng trong kế hoạch “Brunây hoá" lực lượng quân đội, vào cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ XX, Chính phủ Brunây rất chú trọng phát triển lực lượng hải quân. Sau khi giành độc lập, mặc dù lực lượng hải quân Brunây không phát triển nhiều về số lượng nhưng lại tăng đáng kể về chất lượng. Năm 1988, Brunây bắt đầu thực hiện chương trình hiện đại hoá lực lượng hải quân bằng việc nâng cấp các loại vũ khí, trang thiết bị sẵn có, nâng cao khả năng chỉ huy và tác chiến hiệp đồng binh chủng; đồng thời đặt mua thêm 3 tàu chiến Vigilance, 3 tàu tuần tra ngoài khơi 1.000 tấn của Anh, v.v... Theo nhận định của một số chuyên gia quân sự nước ngoài, "chương trình hiện đại hoá lực lượng hải quân của Brunây vào thời kỳ này được coi là bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử hình thành và phát triển của lực lượng này, nó không chỉ đáp ứng được nhu cầu bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế trên biển, các dàn khoan khai thác dầu, mà còn trở thành lực lượng đáng tin cậy trong việc phòng thủ lãnh hải Brunây"1 (Asia Pacific Arms Buidups, lnstitute of lnternational Relation, The University of British Columbia, No.6.1994, p.7).


Do nhu cầu phát triển của quân đội trong những năm tiếp theo, đồng thời để tăng cường hiệu lực của cơ cấu tổ chức, đảm bảo các lực lượng vũ trang có đủ sức mạnh để đối phó với những mối đe doạ đến an ninh quốc gia và phù hợp với tình hình quốc tế, ngày 1 tháng 10 năm 1991, Quốc vương Brunây Mua Hátxanan Bon kia (Mua Hassanal Bolkiah) ra sắc lệnh cải tổ lực lượng quân đội. Theo sắc lệnh này, các lực lượng lục quân, hải quân và không quân trong lực lượng vũ trang Hoàng gia Brunây trước đây nay được tách thành 3 quân chủng độc lập gồm: lực lượng bộ binh Hoàng gia Brunây (RBLF), lực lượng không quân Hoàng gia Brunây (RBNF) và lực lượng hải quân Hoàng gia Brunây (RBAF), ngoài ra còn có lực lượng bảo đảm và Trung tâm huấn luyện Hoàng gia Brunây. Tất cả các lực lượng này đều có bộ chỉ huy riêng và chịu sự quản lý, điều hành trực tiếp của Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoàng gia Brunây.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 06:55:56 pm
III. Quân đội Hoàng gia Brunây từ 1991 đến nay

Sau khi tách 3 lực lượng hải, lục và không quân thành 3 quân chủng độc lập, Quân đội Hoàng gia Brunây tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hoá, đặc biệt là đối với lực lượng bộ binh và không quân. Mặc dù quy mô lực lượng bộ binh nhỏ nhưng trong những năm 90, việc phối hợp hoạt động của 2 tiểu đoàn bộ binh và giữa 2 tiểu đoàn này với các đơn y! khác vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng này, năm 1994, Brunây đã cho thành lập thêm tiểu đoàn bộ binh số 3 và tiểu đoàn yểm trợ; đồng thời, tập trung nâng cao khả năng cơ động và khả năng chiến đấu cho hai tiểu đoàn bộ binh trước đây. Quá trình hiện đại hoá lực lượng bộ binh trong những năm 90 được tiến hành theo ba bước. Thứ nhất, thay thế số trang bị, vũ khí cũ đã quá hạn sú dụng. Thứ hai, mua sắm các loại vũ khí, khí tài hiện đại. Thử ba, cải cách tổ chức, biên chế các đơn vị bộ binh và tăng cường hợp tác quân sự với nước ngoài.


Thực hiện các bước đi trên, trong thập niên 90 của thế kỷ XX, lực lượng bộ binh Brunây đã được trang bị các loại vũ khí, khí tài tương đối hiện đại. Chẳng hạn, thay vì trước đây mỗi tiểu đoàn bộ binh thường được trang bị 8 súng cối 8mm kiểu Tampella thì nay các đơn vị này đã được trang bị cối L.29 điều khiển bằng máy tính xách tay. Nhằm tăng cường khả năng cơ động và khả năng tác chiến cho các đơn vị bộ binh, Brunây còn mua thêm các loại xe tăng, xe bọc thép hiện đại như Scorpion, Defence AT-104 của Anh. Ngoài các xe bọc thép kể trên, các tiểu đoàn bộ binh Brunây còn được trang bị loại xe Renault VAB 4x4, GKN Saxon, Vickers, Cadilac Gage V-105S, v.v... và được trang bị các loại vũ khí chống tăng vác vai Armbust và AT 4 của Thụy Điển. Để nâng cao khả năng phòng không, trong những năm chín mươi, Brunây đã mua thêm các loại tên lửa hiện đại như Papier do hãng Matra Bae Dynamics sản xuất. Các hệ thống phòng thủ tên lửa này được bố trí để bảo vệ sân bay thủ đô Bađa Xeri Bêgaoan và căn cứ hải quân Muara. Ngoài việc nâng cao khả năng phòng không bảo vệ các căn cứ quân sự, Brunây còn đặt mua các hệ thống phòng không trang bị cho các đơn vì chiến đấu như hệ thống tên lửa phòng không vác vai Mistral của hãng Matra Bae Dynamics và các hệ thống tên lừa phòng không Roland III của hãng Thom son-CSF...


Một trong những nhiệm vụ được Chính phủ Brunây hết sức quan tâm trong quá trình hiện đại hoá lực lượng bộ binh là tập trung hoàn thiện tổ chức biên chế của lực lượng này. Năm 1996, Brunây đã tiến hành cải cách cơ cấu tổ chức cấp tiểu đoàn. Theo mô hình mới, mỗi tiểu đoàn bộ binh Brunây giờ đây được biên chế 3 đại đội bộ binh; ngoài ra, trong mỗi tiểu đoàn còn có các lực lượng yểm trợ như công binh, pháo binh, hậu cần, quân y... Riêng Tiểu đoàn 4, tiểu đoàn yểm trợ đặc biệt, được biên chế theo mô hình của một đơn vị bộ binh binh chủng hợp thành. Tiểu đoàn này ngoài 3 đại đội bộ binh như các tiểu đoàn khác, còn có thêm 1 đại đội công binh, 1 đại đội phòng không, 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội đặc nhiệm, 1 trung đội thông tin và lực lượng hành chính, hậu cần...


Cùng với việc hiện đại hoá lực lượng bộ binh, Chính phủ Brunây còn dành những khoản đầu tư đáng kể cho việc hiện đại hoá lực lượng hải quân và không quân.


Vào những năm cuối thập niên 90, lực lượng không quân Brunây đã có 3 phi đội. Các phi đội không quân không chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, mà còn đảm nhiệm công việc vận tải hàng không, cả quân và dân sự. Phi đội 1 đóng tại Berakas, được trang bị 10 máy bay vận tải Bell 212. Phi đội 2 đóng tại sân bay quốc tế, được trang bị 5 máy bay Eurocopter BO-105 dùng để chuyên chở các quan chức cấp cao và làm nhiệm vụ trinh sát mặt đất. Ngoài ra, trong phi đội này còn có một chiếc BO-105 khác được dùng làm chuyên cơ cho Quốc vương. Phi đội 3 cũng đóng tại sân bay quốc tế, chuyên làm nhiệm vụ huấn luyện. Phi đội này được trang bị 6 máy bay huấn luyện, 2 máy bay chiến đấu và một số máy bay lên thẳng. Cho đến năm 1999, toàn bộ lực lượng không quân Brunây có 350 người, kể cả một số nhân viên thuê của nước ngoài. Vũ khí chủ yếu của lực lượng không quân Brunây là tên lửa Sura 81mm được gắn trên các máy bay chiến đấu.


Để bảo vệ vùng đặc khu kinh tế ngoài khơi và đối phó với các cuộc tranh chấp lãnh hải, vào những năm cuối thập niên 90, Brunây đã mua sắm các tàu lớn trang bị cho hải quân. Năm 1998, Brunây ký hợp đồng mua của Malaixia 3 tàu hộ tống, thiết kế theo mẫu của tàu Frigat-2000. Mỗi tàu hộ tống được trang bị tên lửa đối hạm RGM-84 A Harpoon do hãng Boeing của Mỹ chế tạo, tên lửa phòng không Sea Sparrow Mk 41 VLS. Chiếc đầu tiên đã được chuyển giao cho hải quân Brunây vào năm 2000.


Như vậy, việc hiện đại hoá lực lượng lục quân, không quân và hải quân Brunây trong những năm 90 của thế kỷ XX đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt về chất trong quân đội nước này. Theo nhận định và đánh giá của một số chuyên gia quân sự trên thế giới và khu vực, trong 20 năm cuối thế kỷ XX, mặc dù các khoản đầu tư cho hiện đại hoá lực lượng vũ trang còn nhỏ, nhưng quân đội Brunây đã được huấn luyện tốt và được trang bị những phương tiện chiến đấu tương đối hiện đại, đủ sức đối phó với các cuộc xung đột cường độ thấp, các cuộc chiến tranh thông thường và ngăn chặn một cách có hiệu quả các mối đe doạ từ bên ngoài.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:11:02 pm
Cơ cấu lực lượng Quân đội Hoàng gia Brunây những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thế kỷ XX1 (Asia Pacific Arms Buidups, lnstitute of lntemational Relalion, Opcid., 1994, p.7).

(http://img46.imageshack.us/img46/3880/image001kq5.jpg)


Năm 2005, tổng quân số trong Quân đội Hoàng gia Brunây có khoảng 7.000 người, trong đó lực lượng lục quân là 4.900 người, không quân là 1.100 và hải quân là 1.000 người. Ngoài ra còn có 700 quân dự bị và 7.500 quân bán vũ trang.


Lực lượng lục quân Brunây được biên chế trong 4 tiểu đoàn. Tiểu đoàn 1 đóng tại Berakas, tiểu đoàn 2 đóng tại Trong, tiểu đoàn 3 đóng tại Bangar, tiểu đoàn 4 - tiểu đoàn yểm trợ, đóng tại Penanjong, gồm đại đội pháo phòng không, đại đội công binh, trung đội trinh sát cơ giới, trung đội thông tin và đại đội nữ. Ngoài ra còn có 1 tiểu đoàn dự bị động viên và ba trung tâm huấn luyện là: Trung tâm huấn luyện bộ binh đóng tại Penanjong; Trung tâm huấn luyện lực lượng chống nổi dậy đóng tại Bangar và Trung tâm huấn luyện lực lượng tăng - thiết giáp đóng tại Binturan. Trong ba trung tâm huấn luyện kể trên, Trung tâm huấn luyện bộ binh ở Penanjong đóng vai trò chủ yếu trung tâm này không chỉ đảm nhiệm huấn luyện tân binh cho lực lượng bộ binh, mà còn đào tạo một số sĩ quan, hạ sĩ quan và nhân viên kỹ thuật cho các quân chủng khác.


Lực lượng lục quân Brunây chủ yếu được trang bị các loại vũ khí như: súng ngắn 9mm FN 35, súng trường 7,62mm G3, súng trường 5,56mm M16, súng tiểu liên 9mm Stering, súng tiểu liên 5,56mm Colt Xm177, súng tiểu liên 5.56mm MI6A/HB, các loại súng máy đa năng 7,62mm HK21A, FN MAG và các loại lựu pháo... Ngoài ra, lục quân còn được trang bị các loại vũ khí khác như:

Thiết giáp
(http://img357.imageshack.us/img357/3821/image002iy0.jpg)

Pháo binh
(http://img235.imageshack.us/img235/2744/image003ge5.jpg)

Vũ khí chống tăng
(http://img357.imageshack.us/img357/7803/image004ps7.jpg)

Vũ khí phòng không
(http://img357.imageshack.us/img357/5788/image005mb9.jpg)



Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:18:27 pm
Lực lượng không quân Brunây được biên chế trong 3 phi đoàn: phi đoàn yểm trợ; phi đoàn tác chiến và phi đoàn hành chính, hậu cần. Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng này là yểm trợ cho lực lượng bộ binh và hải quân, tham gia chống nổi dậy, tuần tra trên không, trên biển và phục vụ cho các dàn khoan khai thác dầu ngoài khơi.


Phi đoàn yểm trợ có 4 đơn vị: đơn vị công binh, phi đội yểm trợ, lực lượng vận tải và trung tâm huấn luyện kỹ thuật hàng không.

Phi đoàn tác chiến có 3 phi đội: phi đội 1 - chống nổi dậy, có 6 máy bay trực thăng vũ trang B-105; phi đội 2 - vận tải có khoảng 10 máy bay, trong đó có 5 máy bay Bell-212, 1 máy bay lên thẳng Bell-214, 2 máy bay lên thẳng S-70A và 2 máy bay Bell-214 ST; phi đội 3 - huấn luyện, có 4 máy huấn luyện SF-260W và Bell-206b. Ngoài 3 phi đội trên, phi đoàn tác chiến còn có một đơn vị không quân chiến thuật và một số lính dù đặc nhiệm.


Phi đoàn hành chính và hậu cần có 3 đơn vị: phòng Tài chính, phòng Quân y và Trung tâm huấn luyện thể chất không quân. Trung tâm huấn luyện thể chất đóng tại sân bay quốc tế Brunây, có nhiệm vụ huấn luyện bay cơ bản cho các phi công lái máy bay trực thăng và đào tạo kỹ thuật viên mặt đất. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, được sự hỗ trợ của lực lượng không quân Anh, Brunây bắt đầu triển khai kế hoạch nâng cấp trung tâm huấn luyện này thành trung tâm huấn luyện hiện đại để có thể đào tạo được cả phi công lái máy bay chiến đấu và các phi hành đoàn phục vụ cho ngành hàng không dân dụng. Tuy nhiên, đến nay kế hoạch trên vẫn chưa thực hiện được. Việc đào tạo phi công cho lực lượng không quân chủ yếu vẫn được thực hiện ở Anh và Xingapo.


Lực lượng hải quân Brunây được biên chế trong 3 hải đoàn: hải đoàn yểm trợ, hải đoàn tác chiến và hải đoàn hành chính, hậu cần. Nhiệm vụ chủ yếu của hải quân Brunây là bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (200 dặm), bảo vệ các cơ sở kinh tế ngoài khơi. Ngoài ra, lực lượng hải quân còn có nhiệm vụ tham gia các hoạt động tác chiến, yểm trợ cho lực lượng không quân và bộ binh v.v...


Hải đoàn tác chiến có 5 hải đội: hải đội đường sông, hải đội đặc nhiệm, hải đội tàu chiến được trang bị tên lửa đối hạm, hải đội tuần tra ven biển và hải đội yểm trợ.

Hải đoàn hành chính và hậu cần có 3 đơn vị: quân lực, quân y và vận tải.

Hải đoàn yểm trợ có 3 hải đội: hải đội công binh, hải đội tiếp viện và trung tâm huấn luyện Muara.

Vũ khí và trang bị chủ yếu của lực lượng hải quân Brunây hiện nay cuối (2005)

(http://img233.imageshack.us/img233/4742/image006jn7.jpg)

Hiện nay, Quân đội Hoàng gia Brunây có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là răn đe bất kỳ thế lực bên ngoài nào trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như có ý định tiến hành các hoạt động nhằm mục đích lật đổ; sẵn sàng thực hiện các hoạt động chống xâm lược, khủng bố hoặc bạo loạn; duy trì trật tự công cộng, hỗ trợ đắc lực cho cảnh sát và lực lượng dân sự; duy trì các mối quan hệ cộng đồng và bằng cách đó quân đội có thể hoà đồng trong bộ máy quan chức chính phủ và nhân dân. Ngoài ra, quân đội còn tham gia phát triển kinh tế - xã hội; tham gia phòng chống và khắc phục thiên tai, v.v...; tham gia diễn tập với quân đội các nước, nhằm nâng cao khả năng chỉ huy, tác chiến; củng cố mồi quan hệ quân sự với các nước, v.v...


Như vậy, trong hơn 20 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Quân đội Hoàng gia Brunây đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, từ chỗ chỉ dựa vào sự giúp đỡ của người Anh là chính, đến nay Quân đội Brunây đã có đủ các quân, binh chủng; được trang bị các loại vũ khí, khí tài tương đối hiện đại, đủ sức đảm đương nhiệm vụ phòng thủ đất nước, bảo vệ chính thể và những thành quả mà nhân dân Brunây đã giành được. Là một quốc gia giàu tài nguyên, quân đội lại ít, nên trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng quốc phòng, Brunây luôn chủ trương ứng dụng công nghệ cao để phòng thủ. Với chủ trương đó, chỉ trong hơn hai thập niên xây dựng và phát triển, Quân đội Brunây không chỉ đuổi kịp mà còn vượt quân đội nhiều nước trong khu vực về tính chuyên nghiệp, trình độ tác chiến và đặc biệt là khả năng ứng phó với các cuộc chiến tranh công nghệ cao.


Đặc điểm nổi bật trong Quân đội Hoàng gia Brunây là tính chuyên nghiệp và chất lượng của đội ngũ sĩ quan. Nhờ có chính sách nhất quán trong việc đào tạo và tuyển chọn nên đến nay Quân đội Brunây đã có đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh trình độ kỹ, chiến thuật tinh thông và tuyệt đối trung thành với đất nước. Hiện nay, phần lớn các sĩ quan cao cấp trong Quân đội Brunây đều đã qua đào tạo tại Anh; các sĩ quan trung cấp được đào tạo tại Xingapo, Ôxtrâylia, Malaixia; các sĩ quan về các nghểnh kỹ thuật như rađa, điện tử thông tin liên lạc... được đào tạo tại Mỹ, v.v...


Điểm khác biệt giữa Quân đội Brunây với quân đội các nước trong khu vực hiện nay là Brunây chấp nhận cho lực lượng quân đội nước ngoài cùng song song tồn tại bên cạnh quân đội quốc gia như lực lượng Gurkha1 (Từ sau 1991, lực lượng Gurkha bắt đầu giảm dần (chỉ còn một tiểu đoàn, khoảng 900 người vào cuối những năm chín mươi) và không trực thuộc lực lượng vũ trang Brunây) và lực lượng quân đội Xingapo.


Hiện ở Brunây còn có khoảng 500 sĩ quan và binh sĩ Xingapo. Một số sĩ quan này làm nhiệm vụ cố vấn, chuyên gia tại các trường, các trung tâm huấn luyện và đào tạo quân sự của Brunây; số đông còn lại làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh và quốc phòng cho quận Temburong - một quận nằm ở thung lũng Limbang, giáp với Malaixia và cách xa phần lục địa chính của Brunây.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:20:27 pm
QUÂN ĐỘI CAMPUCHIA


I. Khái quát về đất nước Campuchia

Campuchia là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực trung tâm Đông Nam Á; đông giáp Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đông bắc giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tây giáp Vương quốc Thái Lan, nam tiếp giáp Vịnh Thái Lan và có bờ biển dài trên 400km. Campuchia có diện tích tự nhiên 181.035km2. Ngoài Phnôm Pênh là thủ đô, hiện nay, Campuchia có 22 tỉnh và thành phố.


Campuchia có bốn miền địa lý tự nhiên. Miền núi Cravanh chạy từ phía bắc tỉnh Chata Buri (Thái Lan) xuống đông nam đến tỉnh Cam Pốt, dọc chân núi là các khu rừng nhiệt đới, dân cư sống thưa thớt. Miền gò đồi nối từ đồng bằng trung tâm chạy dọc theo dãy núi Cravanh, có độ cao trung bình 800m. Miền đồng bằng trung tâm là một vùng rộng lớn từ tây bắc đến đông nam, đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Miền cao nguyên là vùng có độ cao từ 200-500m so với mặt nước biển và có nhiều rừng thưa.


Sông, hồ là đặc trưng nổi bật về mặt địa lý của Campuchia. Campuchia có hai con sông lớn là sông Mê Công và Tônglêsáp. Sông Mê Công dài khoảng 4.200km, bắt nguồn từ Tây Tạng (Trung Quốc), chảy qua Lào, Thái Lan, Campuchia đến Việt Nam và đổ ra biển Đông. Đoạn qua Campuchia dài 480km. Tônglêsáp là con sông lớn thứ hai ở Campuchia, bắt nguồn từ núi Rong Tê A của Thái Lan chảy qua Xixôphôn, đến vùng đất trũng và phình ra thành Biển Hồ. Biển Hồ là hồ nước ngọt tự nhiên khổng lồ có chu vi 110km, mặt hồ chỗ rộng nhất 35km, hẹp nhất 9km và có nhiều nhánh toả ra xung quanh. Ngoài ra, ở Campuchia còn có hệ thống sông Xêrêcông được hình thành bởi hai con sông Xrêpốc và Xêrêan. Sông hồ Campuchia không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới tiêu và phù sa làm cho đồng ruộng phì nhiêu, màu mỡ; là nguồn cung cấp cá vô tận mà còn là hệ thống giao thông quan trọng.


Campuchia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa ở Campuchia kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài từ 2-3 tháng. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25-27°C; lượng mưa trung bình khoảng từ 1.200- 1.600m/năm.


Tài nguyên thiên nhiên của Campuchia phong phú và đa dạng. Đất trồng trọt chiếm 37% tổng diện tích (khoảng 3 triệu héc ta); đồng cỏ chiếm 13% tổng diện tích, rất thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc trên quy mô lớn; vùng rừng núi chiếm khoảng 50% tổng diện tích, cung cấp nhiều gỗ, lâm sản, thú quý và dược liệu. Campuchia có nhiều khoáng sản quý như sắt, đồng, măng gan, than, vàng, phốt phát, đá cẩm thạch và ngọc các loại.


Tuy dân số chỉ có khoảng 13,5 triệu người (2005), nhưng Campuchia là một quốc gia đa dân tộc, bao gồm người Khơme, người Hoa, người Việt, người có nguồn gốc bản địa và không có nguồn gốc bản địa khác. Căn cứ vào đặc điểm cư trú và điều kiện lịch sử có thể phân biệt được người Khơme Conđan (chiếm 85% dân số cả nước), người Khơme Lơ (sống ở vùng rừng núi phía bắc, đông bắc, tây và tây nam Campuchia) và người Khơme đồng hoá là những người thuộc các dân tộc ở một số nước khác đến Campuchia từ lâu đời (gồm Mã Lai, Chăm, Lào, Thái, Miến Điện). Tiếng Thơm là ngôn ngữ phổ thông ở Campuchia.


Campuchia có hai tôn giáo lớn là đạo Bà la môn và đạo Phật. Đạo Phật được coi là quốc giáo, có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến tỉnh, huyện. Chùa là trung tâm của đạo Phật, gắn liền với đời sống tinh thần của người dân và được nhân dân rất mực tôn kính. Hai công trình kiến trúc Ăngco Thom và Ăngco Vát với nhiều chùa tháp, đền đài... đã khẳng định dân tộc Campuchia là một dân tộc rất sùng đạo, đồng thời cũng là dân tộc có nhiều tài năng sáng tạo không chỉ trong lao động sản xuất mà cả trong nghệ thuật. Ăngco là niềm tự hào về một nền văn hoá phát triển sớm và cao của dân tộc Campuchia.


Là một quốc gia có nền văn hoá lâu đời, Vương quốc Campuchia thành lập từ thế kỷ VI, nhưng từ thế kỷ IX đến thế kỷ XV mới bước vào thời kỳ cực thịnh. Vào đầu thế kỷ XII, các nước tư bản phương Tây như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan... bắt đầu xâm nhập vào Campuchia. Tuy nhiên, các nước đó chưa đặt được cơ sở vững chắc ở đất nước này. Vào giữa thế kỷ XIX, cuộc tranh giành thuộc địa giữa Anh và Pháp ở Đông Nam A càng trở nên quyết liệt. Chỉ đến cuối thế kỷ, cuộc tranh chấp mới kết thúc bằng "Điều ước 17 tháng 5 năm 1884" ký giữa Pháp và triều đình Campuchia, theo đó triều đình Campuchia phải trao hết quyền hành cho Pháp và Campuchia trở thành thuộc địa của Pháp.


Bất chấp sự đầu hàng của triều đình phong kiến, nhân dân Campuchia đã vùng lên đấu tranh dưới sự lãnh đạo của những người yêu nước tiến bộ, trong đó có các nhà sư, các thủ lĩnh nông dân như Xivôtha, Cha Xoa, Pucôm Pô, Xivát Tha, Pa Trang Luông,... Từ những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh của nhân dân Campuchia chống thực dân Pháp tiếp tục phát triển dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản. Đặc biệt, từ những năm 1936- 1939, ở Campuchia đã dấy lên phong trào đấu tranh rộng lớn từ nông thôn đến thành thị, từ nhà máy xí nghiệp đến các đồn điền đòi tự do dân chủ, hưởng ứng phong trào chống phát xít của nhân dân thế giới. Trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhân dân Campuchia nói riêng và nhân dân Đông Dương nói chung đều bị cả thực dân Pháp và phát xít Nhật thống trị. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Campuchia tiếp tục phát triển và ngày càng mạnh mẽ.


Tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, thực dân Pháp ngay lập tức quay trở lại xâm lược các nước Đông Dương, trong đó có Campuchia. Tháng 7 năm 1946, thực dân Pháp ký với Vua Nôrôđôm Xihanúc bản "Hiệp định tạm thời" đặt Campuchia dưới quyền bảo hộ của Pháp. Thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Campuchia nói riêng buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, thừa nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, quân viễn chinh Pháp phải rút khỏi Đông Dương, vĩnh viễn chấm dứt chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên bán đảo này.


Hiệp định Giơnevơ được ký kết, mặc dù Campuchia vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, nhưng đất nước Campuchia thực sự bước vào con đường hoà bình, trung lập Thời kỳ xây dựng đất nước trong hoà bình của nhân dân Campuchia chỉ kéo dài được 15 năm. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, được sự hậu thuẫn của Mỹ, Lon Non - Xirích Ma tắc, thành viên trong Chính phủ Vương quốc đã tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc. Cuộc đảo chính đã đưa Campuchia vào quỹ đạo của Mỹ. Nhân dân Campuchia tiếp tục đứng lên kháng chiến vì mục tiêu xây dựng đất nước Campuchia độc lập, hoà bình, trung lập dân chủ và phồn vinh. Cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới và sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Việt Nam. Ngày 17 tháng 8 năm 1975, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Lon Non.


Sau thắng lợi vẻ vang đó, lẽ ra nhân dân Campuchia được sống trong hoà bình, độc lập, tự do nhưng lại phải đứng trước thảm hoạ diệt vong do chính sách phản động của chính quyền "Khơme Đỏ". Nhân dân Campuchia một lần nữa bước vào cuộc chiến đấu mới vô cùng khó khăn, gian khổ để cứu nguy dân tộc, giành lại tự do hạnh phúc cho nhân dân. Dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia, được sự giúp đỡ trực tiếp của quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân và Quân đội Campuchia đã kiên quyết đứng lên lật đổ ách thống trị tàn bạo của Khơme Đỏ. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng.


Sau chiến thắng ngày 7 tháng 1 năm 1979, nhân dân Campuchia bước vào công cuộc hồi sinh dân tộc, xây dựng đất nước. Mặc dù vậy, nhân dân Campuchia vẫn phải tiếp tục chống lại hành động phá hoại của lục lượng tàn quân Khơme Đỏ. Tình hình Campuchia ngày càng trở nên phức tạp đặc biệt kể từ khi Quân đội nhân dân Việt Nam rút khỏi Campuchia vào năm 1989. Cộng đồng quốc tế mà đại diện là Liên hợp quốc đã phải trực tiếp can thiệp nhằm đưa Campuchia thoát khỏi cuộc khủng hoảng chính trị. Năm 1991, Hiệp định hoà bình được ký kết tại Pa ri giữa các lực lượng đối lập trong nước. Nỗ lực của cộng đồng quốc tế đã đưa đến việc thành lập Chính phủ Hoàng gia Campuchia trên cơ sở các lực lượng chính trị hiện tại Ơ Campuchia. Cuối năm 1993, một bản Hiến pháp mới của Campuchia đã được phê chuẩn, theo đó Campuchia được đổi tên là Vương quốc Campuchia.


Hiện nay, Campuchia là nhà nước quân chủ lập hiến, đứng đầu là Quốc vương, cơ quan lập pháp là Quốc hội, cơ quan hành pháp là Chính phủ. Campuchia là thành viên Liên hợp quốc (1955), thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực quan trọng khác.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:22:06 pm
II. Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của các lực lượng vũ trang Campuchia

1. Các lực lượng vũ trang Campuchia trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (1945-1954)

Tháng 9 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh không điều kiện, chính quyền Campuchia vẫn nằm trong tay Vua Nôrôđôm Xihanúc và Thủ tướng Sơn Ngọc Thành. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình phong trào đấu tranh giành độc lập ở Campuchia chưa phát triển, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Campuchia lần thứ hai. Mở đầu, Pháp cho quân nhảy dù xuống Phnôm Pênh, bắt Thủ tướng Sơn Ngọc Thành đưa về Pháp. Triều đình Nôrôđôm Xihanúc đành phải chấp nhận. Ngày 1 tháng 7 năm 1946, Pháp ký với Campuchia một bản Hiệp ước tạm thời, coi Campuchia là “nước nội trị” dưới quyền bảo hộ của Pháp. Hiệp ước năm 1946 quy định Campuchia là một bộ phận hợp thành của Liên hiệp Pháp, Campuchia không được quyền thiết lập các quan hệ ngoại giao với nước ngoài. Hiệp ước cũng nhấn mạnh rằng, quân đội Pháp đóng trên lãnh thổ Campuchia chỉ nằm dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự Pháp; đồng thời Chính phủ Campuchia được duy trì một đội quân khoảng 4.000 người, chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh ở Thủ đô Phnôm Pênh và Hoàng cung.


Sau khi ký Hiệp ước 1946, Nôrôđôm Xihanúc và một số nhà hoạt động chính trị khác tiếp tục yêu cầu Pháp từng bước mở rộng chủ quyền quốc gia của Campuchia. Phong trào đấu tranh đòi độc lập của nhân dân Campuchia dưới sự lãnh đạo của các nhân sĩ yêu nước và những người cộng sản bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1946, một số nhân sĩ Campuchia chạy sang Thái Lan, được sự giúp đỡ của lực lượng kháng chiến Việt kiều đã thành lập "Uỷ ban dân tộc giải phóng Khơme". Tuy nhiên, do thành phần của Ủy ban dân tộc giải phóng hết sức phức tạp, những bọn đầu cơ cách mạng lẫn lộn trong những người yêu nước chân chính nên đến đầu năm 1949, Ủy ban này tan rã. Một bộ phận trong ủy ban xa rời cách mạng, trở thành những phần tử phản động; một bộ phận tiên tiến tiếp tục hoạt động tổ chức các cơ sở cách mạng trong nhân dân, xây dựng khu căn cứ ở vùng Palin, Battambang. Một bộ phận khác tổ chức thành các nhóm vũ trang biệt lập hoạt động ở các thum, sóc thuộc tỉnh Battambang, miền Đông và miền Nam Campuchia; từ năm 1947 trở đi, những người yêu nước Campuchia liên hệ mật thiết với lực lượng kháng chiến Nam Bộ (Việt Nam), cùng thành lập khu căn cứ kháng chiến vùng Đông Nam (1947), Đông Bắc, Tây Nam (1948). Từ những căn cứ kháng chiến, phong trào chiến tranh du kích chống Pháp phát triển sâu vào nội địa Campuchia, vùng giải phóng được mở rộng, chiếm gần một phần ba diện tích cả nước.

 
Trước tình hình đó, thực dân Pháp tìm cách xoa dịu phong trào đấu tranh bằng cách thoả thuận để Campuchia đưa ra bản Hiến pháp vào ngày 6 tháng 5 năm 1947. Hiến pháp 1947 quy định: "Vương quốc Cao Miên, quốc gia tự trị nằm trong khối Liên hiệp Pháp với tư cách quốc gia liên kết", và "nước Cao Miên tức Campuchia là nước quân chủ (điều 1, chương 1). Hiến pháp cũng quy định quyền hạn của nhà vựa cũng giống như tổng thống; vua có quyền giải tán quốc hội, chỉ định thủ tướng làm tổng tư lệnh quân đội, được ban lệnh ân xá, v.v... Tiếp theo những hành động trên, ngày 25 tháng 11 năm 1948, Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã gửi công hàm cho Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc thừa nhận quyền độc lập của Campuchia trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Tiếp đó, ngày 8 tháng 11 năm 1949, Hiệp ước Monivong - Vincent Auriol được ký kết, thừa nhận Campuchia độc lập trong Liên hiệp Pháp và cho phép Campuchia được quyền thành lập quân đội quốc gia trực thuộc nhà Vua. Như vậy, dựa trên cơ sở Hiệp ước Monivong - Vincent Auriol, Quân đội quốc gia Campuchia (còn gọi là Quân đội Hoàng gia Khơme) được chính thức thành lập dưới sự bảo trợ của Pháp. Tổng số lực lượng Quân đội quốc gia Campuchia lúc này có khoảng 5.000 người (1950), được chia làm hai thành phần chủ yếu là “bộ đội chiến đấu” dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp và “bộ đội lục quân tự trị". Đặc biệt, Pháp cũng giao cho Quốc vương Campuchia Nôrôđôm Xihanúc nắm quyền chỉ huy quân đội trên danh nghĩa, ở hai tỉnh Xiêm Riệp và Côngpông Thom1 (Đến tháng 1? năm 1952 giao thêm quyền chỉ huy quân đội ở tỉnh Battambang).


Để thực hiện âm mưu dùng người Campuchia đánh người Campuchia, thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp đỡ đã ra sức xây dựng Quân đội quốc gia Campuchia trở thành lực lượng đàn áp phong trào đấu tranh của những người yêu nước. Chỉ trong hai năm 1951-1952, Quân đội quốc gia Campuchia đã tăng từ 6.000 người lên 13.000 người. Tại Hội nghị Ủy ban quân sự tối cao họp vào tháng 8 năm 1952, thực dân Pháp đã quyết định tăng số quân trong Quân đội quốc gia Campuchia lên 16.000 người với trang bị, vũ khí chủ yếu do Pháp và Mỹ viện trợ. Dựa vào Quân đội quốc gia Campuchia, quân đội viễn chinh Pháp tiến hành càn quét, khủng bố nhân dân ở các vùng tạm bị chiếm cũng như vùng giải phóng. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1950, quân Pháp đã mở 35 cuộc càn quét lớn nhỏ vào các khu du kích Đông Nam và Tây Nam.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:22:37 pm
Trước những hành động đó, nhân dân Campuchia đã kiên quyết đứng lên đấu tranh vũ trang, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng dân quân và bộ đội chính quy. Lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia trong những ngày đầu kháng chiến vừa hoạt động tác chiến, vừa tích cực tuyên truyền trong nhân dân, lập chính quyền cách mạng, mở rộng phạm vi căn cứ từ vùng rừng núi xuống đồng bằng. Ngày 19 tháng 6 năm 1951, các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia trên cả nước được thống nhất với tên gọi chung là Quân đội giải phóng Itxarắc và chính thức ra mắt nhân dân trong cuộc mít tinh lớn tại huyện Srây Ompin, tỉnh Cam Pốt. Sự phát triển của phong trào cách mạng Ơ Campuchia được đánh dấu bằng việc những người cộng sản Campuchia tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Khơme (tức Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia) vào ngày 28 tháng 6 năm 1951. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Khơme, các lực lượng vũ trang Itxarắc ngày càng phát triển, phong trào chiến tranh du kích được đẩy mạnh, đặc biệt là từ cuối năm 1951 đến cuối năm 1952. Suốt tháng 2 năm 1952, bộ đội giải phóng và du kích Campuchia hoạt động mạnh mẽ trên các tuyến đường sắt và đường bộ từ Phnôm Pênh đến Battambang và các tỉnh Xvâyriêng, Prâyveng.


Tháng 6 năm 1952, bộ đội giải phóng và du kích đã phá tan cuộc càn quét quy mô lớn của quân Pháp ở Battambang. Cũng từ giữa năm 1952, nhiều đơn vị Quân đội quốc gia Campuchia ở Cam Pốt, Battambang đã mang vũ khí chạy ra vùng tự do gia nhập hàng ngũ kháng chiến. Trong giai đoạn này, phần lớn lãnh thổ Campuchia nằm dưới sự kiểm soát của những người cách mạng, phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp không ngừng phát triển. Trong khi đó, thực dân Pháp đang bị thua lớn ở Việt Nam, vì thế chúng càng gặp nhiều khó khăn, lúng túng ở Campuchia. Nắm chắc tình hình, đầu năm 1953, Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc từ bỏ ý định đòi mở rộng chủ quyền quốc gia, chuyển hướng sang tích cực đấu tranh ngoại giao để khôi phục nền độc lập dân tộc. Đường lối chính trị đó được lấy tên là "Cuộc thập tự chinh giành độc lập của Campuchia". "Cuộc thập tự chinh" được bắt đầu vào tháng 2 năm 1953 với việc Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc sang Pháp và gửi Chính phủ Pháp hai công hàm yêu cầu Pháp trao trả độc lập cho Campuchia. Phía Pháp không chấp nhận. Tuy nhiên, ngày 9 tháng 5 năm 1953, Chính phủ Pháp vẫn ký với triều đình Campuchia "Hiệp nghị tạm thời" quy định Quốc vương Campuchia làm Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Campuchia. Điều đó không đáp ứng yêu cầu của Campuchia nên Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc quyết định sang Băng Cốc (Thái Lan) cư trú và tuyên bố không trở về Campuchia chừng nào chủ quyền của Campuchia chưa được khôi phục hoàn toàn. Ngày 25 tháng 7 năm 1953, Pháp tiếp tục ký với Campuchia Hiệp định quân sự mới. Theo đó, phía Pháp có sự nhượng bộ, nới rộng quyền chỉ huy quân đội cho Quốc vương Campuchia, đồng thời đồng ý mở rộng Quân đội Campuchia theo kế hoạch phát triển chung quân đội quốc gia Ơ ba nước Đông Dương và dựa vào viện trợ quân sự Mỹ. Theo Hiệp định, Pháp nhường cho chính quyền Campuchia quyền chỉ huy tác chiến 6 tiểu đoàn ở khu vực hữu ngạn sông Mê Công với sự cố vấn của 400 sĩ quan Pháp. Riêng 3 tiểu đoàn ở tả ngạn sông Mê Công tạm thời vẫn do sĩ quan Pháp chỉ huy; Pháp tiếp tục cung cấp vũ khí, trang bị cho Quân đội Campuchia (viện trợ của Mỹ thông qua Pháp) với nguyên tắc Quân đội Vương quốc Campuchia vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Như vậy, trên thực tế nền độc lập của Campuchia chỉ mang tính hình thức. Tất cả những cơ sở của nền thống trị và đặc biệt về mặt quân sự, Quốc vương Campuchia đều không có vai trò.


Trong thời kỳ này, cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia ngày càng giành những thắng lợi to lớn, quân đội viễn chinh Pháp đói phó lúng túng trên chiến trường ba nước Đông Dương và bị thất bại liên tiếp. Ở Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Khơme, Quân đội giải phóng Itxarắc tiếp tục được củng cố và ngày càng phát triển. Đến Đông Xuân 1953-1954, Quân đội Itxarắc đã có hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ chủ lực, bộ đội địa phương và hàng vạn dân quân, du kích Ơ các thum, sóc. Các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã kề vai sát cánh cùng với quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang Itxarắc chiến đấu dũng cảm trệu ác chiến trường, đánh bại nhiều cuộc hành quân, càn quét của quân Pháp, mở rộng khu căn cứ và vùng giải phóng. Sau chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, khu giải phóng của các lực lượng kháng chiến Campuchia đã mở rộng tới 4 vạn kilômét vuông, chiếm hai phần ba đất đai cả nước, bao gồm nhiều vùng nông thôn rộng lớn và một số đô thị ở miền Đông Campuchia.


Thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Campuchia góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân các nước Đông Dương. Đặc biệt, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam đã đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc Pháp phải ký Hiệp đình Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, thừa nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; quân viễn chinh Pháp phải rút toàn bộ ra khỏi Đông Dương; chấm dứt chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên bán đảo này. Với Hiệp định Giơnevơ, Vương quốc Campuchia vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp và theo quy định, ở Campuchia không có khu tập kết nên các lực lượng vũ trang của những người cách mạng đều được phục viên tại chỗ, trở về sống hoà hợp trong nhân dân. Sự đảm bảo rút hết quân đội Pháp ra khỏi Campuchia cũng như sự đảm bảo quốc tế "tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" là một thắng lợi lịch sử hết sức quan trọng của nhân dân Campuchia.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:23:42 pm
2. Quân đội Campuchia trong thời kỳ hoà bình trung lập (1955-1970)

Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954 đã thừa nhận và bảo đảm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia; thừa nhận Chính phủ Vương quốc Campuchia với điều kiện chính phủ đó không khủng bố, trả thù những người kháng chiến; không để cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự Ở Campuchia và không đưa Campuchia tham gia vào một khối liên minh quân sự nào. Như vậy, Hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi to lớn của nhân dân Campuchia trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.


Sau Hiệp định Giơnevơ, hoà bình được lập lại trên đất nước Campuchia. Tuy nhiên, do vị trí chiến lược của Đông Nam Á, Mỹ vẫn muốn biến Campuchia, Lào và Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự để mở rộng bành trướng ra toàn bộ khu vực Đông Nam A và châu Á. Tình hình Campuchia lúc đó đòi hỏi Chính phủ Vương quốc phải lựa chọn một trong hai con đường: một là, chấp nhận để Mỹ thay chân Pháp thống trị Campuchia dưới hình thức mới qua viện trợ và cố vấn quân sự, kinh tế nhằm lôi kéo Campuchia vào quỹ đạo của Mỹ; hai là, bảo vê độc lập chủ quyền đã được các nước thừa nhận ở Hội nghị Giơnevơ.


Chính phủ Vương quốc Campuchia lúc đó đứng đầu là Nôrôđôm Xihanúc đã chọn con đường thứ hai, tức là con đường hoà bình, độc lập, trung lập mà Campuchia đã theo đuổi.


Ngày 6 tháng 8 năm 1954, cuộc đình chiến ở Campuchia bắt đầu được thực hiện, mở ra triển vọng hoà hợp dân tộc. Đầu năm 1955, những người cách mạng Khơme thành lập một tổ chức chính trị lấy tên là Đảng Nhân dân (Procheachon). Nhằm tiếp tục chống phá cách mạng ba nước Đông Dương, ngày 8 tháng 9 năm 1954, Mỹ cùng với Anh, Pháp, ôxtrâylia, Niu Di Lân, Thái Lan, Pakixtan họp hội nghị ở Manila (Philppin) thành lập khối quân sự Đông Nam A (SEATO) ngang nhiên đặt Campuchia, Lào, miền Nam Việt Nam dưới sự "bảo hộ" của khối này.


Việc thành lập khối quân sự SEATO đã đặt tình hình cách mạng Campuchia nói riêng và tình hình cách mạng ba nước Đông Dương nói chung vào một tình thế hết sức khó khăn. Tháng 4 năm 1955, tại Hội nghị các nước Á - Phi ở Băngđung (Inđônêxia), trưởng đoàn đại biểu Campuchia đã trịnh trọng tuyên bố Campuchia tán thành "năm nguyên tắc chung sống hoà bình" và đi theo chính sách hoà bình, trung lập. Tháng 5 năm 1955, Chính phủ Vương quốc Campuchia, đứng đầu là Nôrôđôm Xihanúc thành lập một tổ chức mang tên Cộng đồng xã hội bình dân. Đây là một tổ chức chính trị, có nhiệm vụ lãnh đạo đất nước Campuchia thực hiện đường lối hoà bình, trung lập thông qua "Đại hội nhân dân". Từ ngày 25 đến ngày 26 tháng 9 năiit 1955, Cộng đồng xã hội bình dân đã tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ I. Đại hội bầu Nôrôđôm Xihanúc làm Thủ tướng; sửa đổi hiến pháp; khẳng đình nền độc lập hoàn toàn của Campuchia. Trong bản Hiến pháp sửa đổi, Campuchia tuyên bố tiếp tục theo đuổi và kiên trì thực hiện chính sách hoà bình, trung lập. Tiếp đó, tại Đại hội lần thứ IV (1957), các đại biểu đã nhất trí thông qua đạo luật về nền độc lập của Campuchia, trong đó khẳng định Campuchia là một nước trung lập; không tham gia bất cứ một liên minh quân sự nào, không tiến hành chiến tranh xâm lược; trong trường hợp bị xâm lược, Campuchia có quyền tự vệ bằng vũ trang và kêu gọi Liên hợp quốc hoặc nước bạn đến giúp đỡ.


Để đảm bảo vững chắc nền hoà bình trung lập, ngoài việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, mở rộng quan hệ với nước ngoài, không phân biệt chế độ chính trị, Chính phủ Vương quốc đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng lực lược vũ trang, sẵn sàng giáng trả mọi hành động xâm lược bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Cho đến những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, Quân đội Vương quốc đã có 28.366 người; vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự chủ yếu vẫn dựa vào viện trợ quân sự của Mỹ. Việc huấn luyện sĩ quan và binh sĩ được giao cho cố vấn quân sự Pháp, cố vấn quân sự Mỹ chỉ có nhiệm vụ tổ chức và kiểm soát các chương trình viện trợ. Tuy nhiên, viện trợ của Mỹ giảm dần theo từng năm: chẳng hạn năm 1955-1956, viện trợ quân sự của Mỹ cho Campuchia đạt 50 triệu đô la, nhưng năm 1959-1960 chỉ còn khoảng 20 triệu. Vì vậy, Chính phủ Vương quốc phải dành một khoản tiền ngày càng tăng trong ngân sách nhà nước để chi phí cho quốc phòng: năm 1955 là 184 triệu riên, năm 1959 là 526,674 triệu. Để giảm nhẹ phần đóng góp của nhân dân đối với việc xây dựng một đội quân thường trực lớn, Chính phủ Campuchia tăng cường xây dựng lực lượng quân dự bị động viên, quy định mọi công dân trước khi thực hiện nghĩa vụ quân sự phải được huấn luyện quân sự, nhất là cho đoàn viên "Đoàn thanh niên Hoàng gia xã hội chủ nghĩa". Nếu có chiến tranh xâm lược, Quân đội Vương quốc sẽ phân tán ra thành những đơn vị nhỏ làm nòng cốt cho các lực lượng du kích chống lại quân xâm lược Ngoài ra, theo đạo luật về nền trung lập năm 1957, Campuchia sẽ kêu gọi Liên hợp quốc hoặc một nước bạn đến giúp đỡ.


Với chính sách quốc phòng như vậy, Campuchia dần thoát khỏi sự ràng buộc của viện trợ Mỹ. Chính phủ Vương quốc Campuchia tuyên bố, nếu Mỹ giảm viện trợ đối với Campuchia trong lúc Mỹ tăng viện trợ cho Thái Lan và Nam Việt Nam hì Campuchia không thể ngồi yên trước sự uy hiếp của các nước láng giềng, và Campuchia sẽ tính đến chuyện nhận viện trợ quân sự của các nước khác, nghĩa là các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.


Vào những năm 60 của thế kỷ XX, các lực lượng vũ trang Hoàng gia Campuchia được xây dựng tương đối hoàn chỉnh gồm hai thành phần chính là quân chính quy và quân địa phương với tổng quân số khoảng 71.500 người. Quân chính quy bao gồm 3 quân chủng: lục quân, không quân và hải quân; quân địa phương gồm các đơn vị bảo an, cảnh sát và dân vệ1 (Quân chính quy: lục quân 36.500 người, không quân 1.500 người, hải quân 1.350 người. Quân địa phương: bảo an 1 1.000 người, cảnh sát 1.200 người, dân vệ 20.000 người).


Lục quân là lực lượng chủ yếu của Quân đội Campuchia, được tổ chức thành các binh chủng bộ binh, pháo binh, xe tăng - thiết giáp, công binh, vận tải và một số đơn vị kỹ thuật... Điều đáng chú ý là bộ binh tổ chức chủ yếu thành các tiểu đoàn và là đơn vị chiến thuật cơ bản, trong đó có các tiểu đoàn dù (BIP), tiểu đoàn xung kích (BC), tiểu đoàn đặc biệt (BTS), tiểu đoàn bảo vệ thủ đô (BPP), tiểu đoàn bảo vệ Hoàng cung (BGR). Riêng tiểu đoàn bộ bình xung kích được chia làm hai loại: loại thứ nhất, theo biên chế cũ có quân số lý thuyết trên 600 người, nhưng thực tế phần lớn các tiểu đoàn chỉ có 400-500 người, biên chế thành 3 đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến trực thuộc chỉ huy tiểu đoàn; loại thứ hai, theo biên chế mới gọi là tiểu đoàn chủ lực biệt kích, được biên chế thành 4-5 đại đội, mỗi đại đội có khoảng 50-52 người, tổng quân số toàn tiểu đoàn có từ 270-285 người. Trong mỗi tiểu đoàn chủ lực biệt kích được biên chế 2 đại đội chiến đấu, 1-2 đại đội hỏa lực, 1 đại đội hỏa lực và yểm trợ. Nhìn chung, biên chế của tiểu đoàn chủ lực biệt kích gọn nhẹ hơn các tiểu đoàn theo biên chế cũ. Từ những năm cuối thập niên 60, hầu hết các tiểu đoàn bộ binh được chuyển sang tổ chức theo kiểu tiểu đoàn chủ lực biệt kích cho phù hợp với điều kiện tác chiến ở địa hình phức tạp. Mặc dù tiểu đoàn là đơn vị chiến thuật cơ bản nhưng trong quá trình tiến hành các cuộc hành quân chống lại các lực lượng nổi dậy, Quân đội Hoàng gia thường tổ chức ra các binh đoàn chiến thuật lâm thời gồm 2-3 tiểu đoàn bộ binh, hoặc được tăng cường một số phân đội pháo binh, công binh và xe tăng - thiết giáp.


Binh chủng pháo binh trong Quân đội Hoàng gia thời kỳ này bao gồm các loại pháo cơ giới và pháo dã chiến. Pháo cơ giới được tổ chức thành các lữ đoàn hoặc trung đoàn nhưng thực tế thường được sử dụng ở cấp đại đội, trung đội; nhiều trường hợp 1-2 xe cơ giới hoặc 1-2 khẩu pháo chi viện cho các cuộc hành quân. Pháo binh dã chiến được tổ chức thành 3 tiểu đoàn lựu pháo 105mm, sơn pháo 75mm và canông 75mm. Những năm cuối thập niên 70, lực lượng pháo binh bắt đầu được trang bị lựu pháo 122mm, xây dựng các đại đội cối 120mm, có nhiệm vụ chi viện cho bộ binh bảo vệ căn cứ và các khu vực trọng yếu Lực lượng pháo phòng không có hai tiểu đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 37mm, 85mm, 100mm (và đại đội súng máy 12,7mm), chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay, bến cảng, thành phố Phnôm Pênh. Binh chủng tăng - thiết giáp được tổ chức thành 5 tiểu đoàn, có nhiệm vụ bảo vệ các thành phố, tuần tiễu, thám sát, chi viện cho các cuộc hành quân của bộ binh. Binh chủng công binh bao gồm 6 tiểu đoàn công binh chiến đấu và công binh bắc cầu, làm đường...


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:24:29 pm
Không quân của Quân đội Hoàng gia mặc dù đã được chú trọng xây dựng nhưng cho đến cuối thập niên 70 của thế kỷ XX vẫn còn hết sức nhỏ bé. Không quân chủ yếu thực hiện nhiệm vụ liên lạc, trinh sát và vận tải. Trong tổng số gần 200 máy bay có một tỷ lệ nhỏ máy bay chiến đấu loạt MIG-17 hoặc Skyraider, máy bay vận tải và trực thăng, còn lại phần lớn là máy bay trinh sát, huấn luyện. Trong hoạt động tác chiến, lực lượng không quân thường sử dụng từ 1-2 phi đội máy bay chiến đấu, 1-2 máy bay tiếp tế vận tải ở tuyến sau.


Mặc dù có tới 500km bờ biển và nhiều sông hồ, nhưng lực lượng hải quân Campuchia cũng hết sức nhỏ bé. Trong số 61 tàu chỉ có 8 tàu chiến đấu, còn lại là tàu xuồng tuần tiễu Hải quân chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ một số căn cứ ven biển, trên sông, hoặc làm nhiệm vụ tiếp tế, vận tải.


Ngoài việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự, Chính phủ Campuchia còn tăng cường xây dựng lực lượng hậu bị nhằm giảm chi tiêu quân sự trong thời bình và bớt phụ thuộc vào Mỹ. Từ năm 1965, Chính phủ Campuchìa tuyên bố khước từ viện trợ của Mỹ. Trước những diễn biến ngày càng phức tạp ở biên giới, Nôrôđôm Xihanúc đã chủ trương huấn luyện quân sự, trang bị vũ khí cho một số đơn vị "thanh niên Hoàng gia" ở nông thôn và nhận viện trợ vũ khí, trang bị của các xã hội chủ nghĩa. Năm 1967, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân đội Hoàng gia, Lon Non quyết định thu bồi số vũ khí đã trang bị cho các đơn vị thanh niên, với lý do sợ số thanh niên này bị "Khơme Đỏ lợi dụng", và chỉ trang bị cho một số ít lực lượng mà Lon Non khống chế được.


Do chuyển từ nhận viện trợ của Mỹ sang nhận viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa nên Quân đội Hoàng gia được trang bị vũ khí của nhiều nước khác nhau, chủ yếu là vũ khí của Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) và một phần của Pháp.


Ngay trong cùng một tiểu đoàn bộ binh cũng được trang bị vũ khí của nhiều nước. Về huấn luyện, thời kỳ này Quân đội Hoàng gia Campuchia huấn luyện theo phương pháp tác chiến của Quân đội Pháp, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các cố vấn quân sự người Pháp. Hệ thống các trường đào tạo quân sự gồm: Học viện quân sự trung cao cấp; 2 trường đào tạo, bổ túc sĩ quan trung, sơ cấp; 1 trung tâm huấn luyện bộ binh, 1 trung tâm huấn luyện pháo binh, cơ giới và các binh chủng bảo đảm khác; 1 trường huấn luyện biệt kích. Phần lớn các sĩ quan Quân đội Hoàng gia đều được đào tạo ở trong nước, một số sĩ quan trung, cao cấp được đào tạo về chỉ huy và kỹ thuật ở Pháp, một số rất ít sĩ quan được gửi qua Mỹ đào tạo về sử dụng bảo quản vũ khí kỹ thuật. Ngoài ra, một số sĩ quan cũng được các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc hướng dẫn tại chỗ việc sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật do hai nước viện trợ. Các tiểu đoàn bộ binh huấn luyện tác chiến chủ yếu theo phân đội với nhiệm vụ bảo vệ các căn cứ, đường giao thông, chống lực lượng nổi dậy và làm công tác bình định.


Để củng cố lực lượng vũ trang, mà nòng cốt là quân đội, có đủ sức mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị và bảo vệ đất nước trước nguy cơ xâm lược, việc tổ chức chỉ huy và bố trí lực lượng vũ trang Campuchia vào những năm cuối thập niên 60 đã từng bước được thực hiện theo hướng chính quy. Theo đó, Bộ trưởng Quốc phòng là người chịu trách nhiệm về công tác quân sự và tổ chức quân đội trước Quốc trưởng. Dưới quyền Bộ trưởng Quốc phòng có Tổng tư lệnh - Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy quân đội. Cụ thể, Tổng tư lệnh - Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy lực lượng không quân, lục quân, các quân khu, lực lượng tổng dự bị và các học viện, nhà trường quân đội.


Về tổ chức chiến trường, cả nước được chia thành 6 quân khu và một Biệt khu Thủ đô. Mỗi quân khu có từ 2-3 phân khu (cả nước được chia thành 28 phân khu), dưới các phân khu có các tiểu khu... Các phân khu thường tương đương với một tỉnh, hoặc phân tỉnh (19 tỉnh, và 9 phân tỉnh quân sự), tiểu khu tương đương với một huyện và thường chỉ có cơ quan chỉ huy, không có lực lượng chính quy Trong số 19 tỉnh và 9 phân tỉnh quân sự có 19 tỉnh và 6 phân tỉnh do phân khu trưởng quân sự kiêm nhiệm tỉnh trưởng. Lực lượng bảo an dân vệ và cảnh sát có hệ thống tổ chức riêng từ trung ương xuống đến tỉnh, huyện, do Bộ Phòng thủ nội địa và Bộ An mình phụ trách.


Về bố trí lực lượng, Tổng tư lệnh - Tổng tham mưu trưởng trực tiếp nắm lực lượng tổng dự bị gồm lữ dù nhẹ (2 tiểu đoàn), 3 tiểu đoàn xung kích (không cố định tiểu đoàn nào mà có thể luân chuyển) và một bộ phận lực lượng dự bị của các binh chủng. Hầu hết các tiểu đoàn còn lại (trừ một số luân phiên đi huấn luyện ở các trung tâm) đều bố trí phân tán trong cả nước. Tùy theo tính chất, phạm vi phòng thủ lâu dài hoặc trước mắt của mỗi địa phương mà bố trí nhiều hay ít lực lượng. Trung bình mỗi phân khu (tỉnh) có từ 2-3 tiểu đoàn; phân khu nhỏ phân tỉnh) thường có 1 tiểu đoàn bộ binh, hoặc có nơi tiểu đoàn bảo an thay thế. Nhìn chung, các tiểu đoàn được bố trí tập trung ở các thị xã hoặc các vị trí cơ động có hậu cứ chuẩn bị sẵn; cá biệt có một số tiểu đoàn bố trí phân tán thành các đại đội làm nhiệm vụ phòng thủ trong từng tiểu khu. Ngoài nhiệm vụ phòng thủ tại chỗ, các tiểu đoàn thường tham gia hành quân theo kế hoạch do các quân khu hoặc phân khu huy động, hoặc có thể được Bộ Tổng tư lệnh điều động một phần hoặc toàn bộ tới các địa phương ngoài quân khu. Chẳng hạn, trong cuộc hành quân càn quét lực lượng chống đối ở tỉnh Rattanakiri thuộc Quân khu 5 (tháng 5 năm 1969), ngoài lực lượng tại chỗ và 4 tiểu đoàn tổng dự bị, Bộ Tổng tư lệnh còn điều thêm 8 tiểu đoàn từ 5 quân khu khác tham gia.


Có thể nói, trong thời kỳ 1954-1970, Quân đội Hoàng gia Campuchia được xây dựng và phát triển theo các bước như sau: phát triển theo chiều hướng tăng quân số vào những năm 1954 - 1956, giảm quân số vào những năm 1956 - 1964, tăng dần quân số trong những năm cuối thập niên 60. Quân đội Hoàng gia thời kỳ này vẫn thực hiện chức năng chống nổi dậy, bảo vệ chủ quyền an ninh lãnh thổ và Nhà nước quân chủ lập hiến. Từ năm 1965, Campuchia một mặt tự trang trải phần lớn chi phí quân sự, mặt khác dựa vào viện trợ quân sự chủ yếu của Liên Xô và Trung Quốc. Đặc biệt, người Pháp vẫn duy trì thường xuyên phái đoàn quân sự trên 300 người, bao gồm các sĩ quan cố vấn trong Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu, huấn luyện viên trong các trường quân sự và chuyên gia trong một số binh chủng kỹ thuật tại các căn cứ không quân và hải quân. Hàng ngũ sĩ quan trong quân đội Hoàng gia Campuchia, đặc biệt là sĩ quan cao cấp, phần lớn trưởng thành từ binh lính thời kỳ Pháp thống trị và trở thành những người lãnh đạo chủ chốt trong quân đội.


Tình trạng đối lập giữa quân đội và Chính phủ Hoàng gia dưới tác động của các thế lực cực hữu được phương Tây ủng hộ ngày càng gia tăng đã dẫn đến cuộc đảo chính quân sự không thành nhằm lật đổ Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc vào tháng 2 năm 1959 dưới sự chỉ huy của Đại tá Đáp Chuồn. Tiếp đó, ngày 18 tháng 3 năm 1970, Lon Non với tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tham mưu trưởng đã tổ chức cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Vương quốc do Nôrôđôm Xihanúc đứng đầu, thành lập chính phủ mới thân Mỹ, Campuchia trở thành thuộc địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của Mỹ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:25:16 pm
3. Các lượng vũ trang Campuchia thời kỳ 1970-1975

Sau cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mỹ thiết lập chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở Campuchia, biến Quân đội Campuchia (lúc này gọi là Quân đội cộng hòa Campuchia) thành công cụ phục vụ cho âm mưu xâm lược của Mỹ ở Đông Dương. Được sự giúp đỡ và viện trợ của Mỹ, Quân đội Cộng hoà Campuchia tăng lên khoảng 180.000 quân, gồm ba thành phần chủ yếu là quân chính quy, quân địa phương và lực lượng bán vũ trang. Quân chính quy có 120.000 người, bao gồm lực lượng hải quân, không quân và lục quân nhưng chủ yếu là bộ binh, các quân binh chủng khác chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.


Đơn vị tổ chức cao nhất là lữ đoàn. Tuy nhiên, tổ chức biên chế của lữ đoàn chưa thống nhất. Thông thường mỗi lữ đoàn có 3-4 tiểu đoàn bộ binh và một số phân đội pháo binh, cơ giới và thông tin. Tiểu đoàn bộ binh được chia thành bốn loại: tiểu đoàn xung kích độc lập hoặc nằm trong lữ đoàn); tiểu đoàn dù (thực chất vẫn là bộ binh); tiểu đoàn lính thủy đánh bộ; tiểu đoàn đặc nhiệm hoặc biệt kích.


Về pháo binh, Quân đội Cộng hoà Campuchia có ba tiểu đoàn pháo binh dã chiến (một tiểu đoàn pháo 122mm, hai tiểu đoàn pháo 105mm); hai tiểu đoàn pháo cao xạ (37mm, 85mm và 100mm). Mỗi quân khu có hai đại đội pháo 76mm hoặc 75mm. Sau đó các tiểu đoàn pháo cao xạ bị giải tán và các tiểu đoàn pháo dã chiến được phân tán thành từng đại đội tăng cường cho các vị trí xung yếu ở Phnôm Pênh, Xvâyriêng, Xiêm Riệp.


Về cơ giới Quân đội Cộng hoà Campuchia có ba chi đoàn thiết giáp thám thính và hai đại đội xe tăng hạng nhẹ M8 dùng để bảo vệ sở chỉ huy quân khu và chi viện cho các cuộc hành quân.


Không quân Campuchia có tổng số trên 100 máy bay, trong đó có khoảng 30 máy bay chiến đấu loại MIG-17, T-28, AD-1; còn lại là máy bay vận tải, huấn luyện và trực thăng.


Hải quân Campuchia có khoảng hơn 60 tàu các loại, trong đó chỉ có 8 tàu chiến đấu, còn phần lớn là tàu phục vụ và tàu đổ bộ nhỏ.


Quân địa phương có khoảng 10.000 người, còn được gọi là bảo an, có nhiệm vụ đánh đồn bốt và bảo vệ các huyện lỵ, tỉnh lỵ, một số đầu mối giao thông và vùng biên giới. Lực lượng bán vũ trang là lực lượng dân vệ với khoảng 40.000 người hoạt động chủ yếu ở các phum, sóc; có một số đóng bất bên cạnh lực lượng bảo an để bảo vệ huyện lỵ hoặc một số đầu mối giao thông quan trọng.


Để xây dựng một quân đội mạnh, chính quyền Lon Non đã xúc tiến việc đưa các sĩ quan đi đào tạo ở nước ngoài, đồng thời đẩy mạnh việc đào tạo sĩ quan tại chỗ, trong đó chủ trọng đào tạo lực lượng biệt kích, thám báo, bảo an và dân vệ.


Mặc dù quân đội của chính quyền Lon Non được xây dựng theo hướng phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế, tổ chức biên chế chưa ổn định, trang bị vũ khí chưa đồng bộ, do vậy bị thất bại liên tiếp trước những cuộc tiến công của lực lượng vũ trang giải phóng Campuchia.


Chỉ năm ngày sau cuộc đảo chính nổ ra, ngày 23 tháng 3 năm 1970, những người đứng đầu phong trào chống Mỹ và chính quyền Lon Non đã ra bản tuyên bố năm điểm: 1- Giải tán Chính phủ phản động Lon Non. 2- Nhân dân Campuchia kiên quyết đứng lên chống Mỹ và chính quyền tay sai, giành độc lập dân tộc. 3- Thành lập Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia. 4- Thành lập Quân đội giải phóng dân tộc 5- Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia.


Bản tuyên bố cũng nêu rõ nhiệm vụ của Mặt trận thống nhất dân tộc là giải phóng Campuchia khỏi ách độc tài và áp bức của chính quyền Lon Non - Xirích Matắc, đấu tranh chống Mỹ xâm lược, xây dựng lại Campuchia và đưa Campuchia tiếp tục đi theo con đường hoà bình, độc lập, trung lập và tiến bộ.


Sau khi Mặt trận thống nhất dân tộc và Chính phủ Vương quốc đoàn kết dân tộc Campuchia được thành lập, ngày 4 tháng 5 năm 1970, Quân đội giải phóng dân tộc Campuchia cũng ra đời. Từ những nhóm du kích cách mạng, Quân đội giải phóng dân tộc được tập hợp và phát triển nhanh chóng, mạnh cả về thế và lực, vững vàng về chiến thuật và kỹ thuật. Đặc biệt, phong trào quần chúng vũ trang khởi nghĩa phát triển sâu rộng trong cả nước đã bổ sung hàng nghìn thanh niên gia nhập quân đội cách mạng. Được sự giúp đỡ của các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam, đến cuối năm 1970, lực lượng chủ lực Quân đội giải phóng dân tộc Campuchia đã có 7-8 tiểu đoàn, 36 đại đội 127 trung đội với tổng quân số khoảng 10.000 người.


Với sự phát triển của lực lượng vũ trang, tình đoàn kết chiến đấu và sự giúp đỡ to lớn, vô tư và có hiệu quả của quân dân Việt Nam, nhân dân Campuchia đã liên tiếp đánh bại hết chiến lược này đến chiến lược khác của đế quốc Mỹ và lực lượng ngụy quân, ngụy quyền. Từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6 năm 1970, Quân đội giải phóng và nhân dân Campuchia phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam đánh bại cuộc hành quân của quân Mỹ - ngụy Sài Gòn vào vùng Đông Bắc Campuchia, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, làm thất bại chiến lược "Chiến tranh chớp nhoáng" của học thuyết R.Níchxơn. Tiếp theo, lực lượng vũ trang giải phóng đánh bại cuộc hành quân Chenla 1 (từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1970) của 50 tiểu đoàn quân ngụy Lon Non; đánh bại hai cuộc hành quân Toàn thắng (từ tháng 10 đến tháng 11 năm 1970 và từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1971) của quân ngụy Sài Gòn. Đặc biệt, từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 1 tháng 12 năm 1971, quân và dân Campuchia đã đập tan cuộc hành quân Chenla 2 của 15 lữ đoàn quân nguỵ Lon Non, làm thất bại chiến lược Khơme hoá chiến tranh của Mỹ.


Từ cuối năm 1971, thế và lực của cách mạng Campuchia phát triển vượt bậc, buộc quân ngụy Lon Non phải co cụm phòng ngự trong các thành phố, thị xã, không mở được các cuộc hành quân lớn nào khác. Các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia được sự chi viện của quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục tiến công địch trên khắp các mặt trận, bao vây Phnôm Pênh và các thành phố, thị xã, khống chế đường giao thông, đẩy quân ngụy Lon Non lâm vào tình trạng bị cô lập và chia cắt.


Việc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa ri, rút toàn bộ quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam vào đầu năm 1973 đã tạo bước ngoặt quan trọng trong so sánh lực lượng trên chiến trường ba nước Đông Dương. Trong điều kiện thuận lợi đó quân và dân Campuchia tiếp tục tiến công địch trên khắp các mặt trận. Đến cuối năm 1973, vùng giải phóng đã mở rộng và chiếm hơn 90% toàn bộ lãnh thổ Campuchia với hơn 5 triệu dân.


Cuối năm 1974, đầu năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương bước vào giai đoạn quyết định. Cùng với thắng lợi của quân và dân Việt Nam, Lào, các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã bẻ gãy các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng. Sau những thất bại liên tiếp, ngày 18 tháng 3 năm 1975, tập đoàn phản động Lon Non bỏ chạy ra nước ngoài. Từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 16 tháng 4 năm 1975, quân giải phóng Campuchia lần lượt đánh chiếm và làm chủ nhiều vị trí trọng yếu của địch. Đến ngày 17 tháng 4 năm 1975 làm chủ hoàn toàn Phnôm Pênh. Toàn bộ lực lượng quân Lon Non còn lại 5 sư đoàn, 11 lữ đoàn với khoảng hơn 10 vạn quân, buộc phải hạ vũ khí đầu hàng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Campuchia kết thúc thắng lợi.


Có thể nói, bằng cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ nhưng hết sức anh dũng của mình, với sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam, quân và dân Campuchia đã đánh bại hoàn toàn âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ, đánh đổ bộ máy ngụy quân, ngụy quyền Lon Non, đưa đất nước Campuchia vào thời kỳ mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:26:32 pm
4. Các lực lượng vũ trang Campuchia trong thời kỳ cứu nguy dân tộc và bảo vệ công cuộc hồi sinh đát nước (1975-1993)

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Campuchia giành được thắng lợi cũng là lúc cuộc cách mạng bị phản bội, Khơme Đỏ phản động lên nắm chính quyền, thành lập cái gọi là Campuchia dân chủ và thi hành chính sách diệt chủng vô cùng thảm khốc. Dân tộc Campuchia đứng trước thảm họa diệt vong. Đây là một thời kỳ đặc biệt của lịch sử Campuchia, đồng thời cũng là thời kỳ phát triển phức tạp của lực lượng vũ trang Campuchia.


Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nhiều chiến sĩ quân đội nhân dân Campuchia kế tục và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội Ítxarắc, đã anh dũng chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhưng cũng trong những năm đó, giới lãnh đạo Khơme Đỏ đã ngấm ngầm dùng mọi thủ đoạn để từng bước nắm quyền lãnh đạo Đảng, quyền chỉ huy quân đội. Dưới sự điều khiển của Khơme Đỏ, quân đội cách mạng dần dần trở thành công cụ chống lại nhân dân Campuchia. Nhiều cán bộ, chiến sĩ yêu nước trong quân đội bị cách chức, thanh trừng và sát hại, thay vào đó là những phần tử hẹp hòi, quân phiệt, do đó quân đội cách mạng Campuchia cũng dần dần biến chất. Quân đội Campuchia dân chủ từng bước tăng nhanh về số lượng. Quân thường trực đã tăng từ 7 sư đoàn năm 1975 lên 22 sư đoàn năm 1978, bao gồm 3 quân chủng lục quân, hải quân và không quân. Ngoài lực lượng thường trực, Quân đội Campuchia dân chủ còn có lực lượng du kích hoạt động ở các công xã. Quân đội lúc này có hai nhiệm vụ chủ yếu: Một là, thanh trừng các lực lượng chống đối, những người có quan hệ với Việt Nam, những người đã từng làm việc dưới chính quyền Xihanúc, Lon Non và cả trí thức, văn nghệ sĩ, sư sãi để thực hiện "sự trong sạch xã hội"; hai là, tiến công xâm lược các nước láng giềng.


Về tổ chức quân sự, vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX Quân đội Campuchia được phân ra các quân khu, mỗi quân khu có từ 2-4 tỉnh; dưới quân khu là vùng, mỗi vùng là một tỉnh, dưới tỉnh là huyện và xã. Trên cơ sở đó, toàn bộ Campuchia được chia làm 6 quân khu như sau:

- Quân khu Đông Bắc gồm các tỉnh Rattanakiri, Mônđônkiri, Xtung Treng;

- Quân khu Tây Bắc gồm các tỉnh Battambang, Puôcxát;

- Quân khu Tây Nam gồm các tỉnh Can đan, Takeo, Cam Pốt, Côngpông Xpư
;
- Quân khu Đông Nam gồm các tỉnh Prâyveng, Xvâyriêng, Côngpông Chàm;

- Quân khu Tây gồm các tỉnh Cô Công, một phần hai tỉnh Côngpông Xpư, Côngpông Chăng;

- Quân khu Bắc gồm các tỉnh Kôngpôngthom, một phần hai tỉnh Côngpông Chàm và 2 huyện của tỉnh Crachê.

Ba vùng trực thuộc Trung ương còn gọi là 3 vùng đặc biệt gồm có:
- Vùng đặc biệt Crachê.

- Vùng đặc biệt Ôtđômiênchay - XiêmRiệp.

- Vùng đặc biệt Prết Vihia.


Phụ trách các quân khu là cán bộ do Trung ương điều xuống lãnh đạo về đảng, chính quyền và quân sự.
Những người lãnh đạo Campuchia dân chủ xác định nhiệm vụ của quân đội là chống xâm lược và chống nổi dậy trong nước. Xuất phát từ nhiệm vụ trên, chính quyền Campuchia dân chủ chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân (chủ lực, địa phương và dân quân du kích), theo đó lấy chiến tranh du kích là cơ bản. Cho đến năm 1977, tổng quân số lực lượng vũ trang có khoảng 160.000 - 180.000 người, bao gồm bộ đội chủ lực có 85.000 - 100.000 người (78.000-93.000 lục quân; 5.000 không quân; 2.000 hải quân); bộ đội địa phương có 15.000-18.000 người; dân quân du kích có khoảng 60.000 người.


Các thành phần binh chủng có các đơn vị pháo binh (105mm, 155mm); pháo phòng không (37mm và 57mm) có ra đa điều khiển; xe tăng, xe bọc thép loại M-113, T-54; máy bay chiến đấu MIG-17 và T-28, trực thăng quan sát, vận tải và huấn huyện; hải quân có các tàu tuần tiễu, vận tải xuồng đổ bộ...


Về biên chế, mỗi quân khu có 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe thiết giáp, 1 tiểu đoàn vô tuyến điện, 1 tiểu đoàn quân y, 1 tiểu đoàn trinh sát Mỗi sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh (4 khẩu), 1 tiểu đoàn trinh sát 1 tiểu đoàn hậu cần, 1 tiểu đoàn quân y, 1 đại đội thông tin. Mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội ĐKZ và cối, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội hậu cần, 1 đại đội quân y và 1 đại đội thông tin. Mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội bộ binh, 1 đại đội ĐKZ và cối, 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội vận tải, 1 trung đội quân y và 1 tổ thông tin.


Về bố trí lực lượng, phần lớn các sư đoàn chủ lực được bố trí chủ yếu ở tuyến ngoài, sát biên giới Campuchia - Việt Nam, Campuchia - Thái Lan; lực lượng bên trong nội địa bố trí các trung đoàn độc lập và lực lượng địa phương.


Nhận thấy khuynh hướng phản động của chính quyền Khơme Đỏ, nhiều đảng viên và chiến sĩ cách mạng chân chính trong và ngoài quân đội, nhiều người yêu nước đã tập hợp, nổi dậy chống lại bọn phản động. Năm 1976, khi Khơme Đỏ đẩy mạnh chiến dịch thanh trừng nội bộ, hàng vạn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ yêu nước đã vào rừng tổ chức xây dựng lực lượng. Ở nhiều địa phương và ngay cả thủ đô Phnôm Pênh, nhiều cán bộ trong bộ máy chính quyền và quân đội, từ cấp trung ương đến cấp khu, tỉnh đã cùng đông đảo nhân dân và binh lính nổi dậy chống chính quyền Khơme Đỏ. Nông dân ở nhiều nơi thuộc Battambang, Côngpông Chơnăng, Khu Tây Bắc, Khu Đông và Khu Nam đã dũng cảm đứng lên giành quyền sống.


Ngày 2 tháng 12 năm 1978, Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra đời với cương lĩnh chính trị đúng đắn, mở ra bước ngoặt to lớn cho dân tộc Campuchia trên con đường giành lấy chính quyền về tay nhân dân, làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội.


Đối với Việt Nam, ngay từ đầu tháng 5 năm 1975, quân đội Khơme Đỏ đã tiến hành lấn chiếm nhiều nơi ở biên giới Tây Nam của Việt Nam. Cuối năm 1978, Khơme Đỏ đã tập trung 19 sư đoàn áp sát biên giới Campuchia-Việt Nam, mở cuộc chiến tranh toàn diện chống Việt Nam. Phát hiện âm mưu của chính quyền phản động Pôn Pốt-Iêng Xari, quân và dân Việt Nam đã chủ động đánh trả, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực đối phương trên lãnh thổ Việt Nam. Nắm vững thời cơ, dưới ngọn cờ của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, được sự giúp đỡ trực tiếp của quân đội và nhân dân Việt Nam, nhân dân và các lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia đã nhanh chóng đứng lên lật đổ ách thống trị tàn bạo của chính quyền Khơme Đỏ. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:27:00 pm
Sau khi chính quyền Khơme Đỏ bị đánh đổ, nhân dân Campuchia bước vào công cuộc hồi sinh dân tộc, xây dựng đất nước. Tuy nhiên, các lực lượng tàn quân Khơme Đỏ được sự hậu thuẫn của các thế lực phản động quốc tế đã tập hợp lại và chống phá quyết liệt Nhân dân và các lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia, được sự giúp đỡ của Việt Nam và bạn bè quốc tế đã tích cực đối phó với âm mưu phá hoại và phản kích điên cuồng của lực lượng phản động Khơme Đỏ và giành được những thắng lợi to lớn, đẩy quân địch ngày càng lún sâu vào thế bị động và suy yếu. Nổi bật là các cuộc phản kích lớn trong hai năm 1981-1982. Đặc biệt, trong mùa khô 1984-1985, lực lượng vũ trang Campuchia được sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam đã tiến công vào hầu hết các căn cứ của Khơme Đỏ và của các phái phản động khác, phá tan 16 căn cứ, tiêu diệt hàng nghìn tên địch.


Trước những thất bại có ý nghĩa chiến lược trong mùa khô 1984-1985, lực lượng Khơme Đỏ buộc phải từ bỏ việc lấn chiếm vùng biên giới nhằm xây dựng thành hai vùng với hai chính quyền, hai quân đội, tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng. Các nhóm tàn quân Khơme Đỏ phân tán thành các lực lượng nhỏ hoạt động sâu vào nội địa, tiếp tục phá hoại công cuộc hồi sinh đất nước.


Trong quá trình chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia ngày càng trưởng thành cả về số lượng lẫn chất lượng. Bộ đội chủ lực được xây dựng theo hướng phát triển thành các binh đoàn với đầy đủ các binh chủng như pháo binh, thiết giáp, thông tin, công binh, hải quân và không quân; bộ đội địa phương ngày càng trưởng thành với nhiều tiểu đoàn, đại đội độc lập được thành lập ở các tỉnh và huyện; dân quân du kích phát triển mạnh với quân số hàng chục vạn người, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất tại địa phương.


Trên cơ sở sự phát triển vững mạnh của cách mạng và sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, quân tình nguyện Việt Nam đã từng bước rút về nước. Ngày 26 tháng 5 năm 1988, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà nhân dân Campuchia ra tuyên bố. Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1988, 50.000 quân tình nguyện Việt Nam sẽ rút về nước và tháng 8 năm 1989 kết thúc hoàn toàn việc rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng Campuchia, đồng thời chứng tỏ quân đội cách mạng Campuchia đã lớn mạnh và trưởng thành về mọi mặt, có khả năng tự đảm đương nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc.


Với những nỗ lực của các bên trong nước, các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, tiến trình hoà hợp và hòa giải dân tộc Campuchia được xúc tiến mạnh mẽ. Ngày 28 tháng 8 năm 1990, thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã vạch ra kế hoạch hoà bình đối với vấn đề Campuchia.


Ngày 10 tháng 9 năm 1990, "Hội đồng dân tộc tối cao" Campuchia được thành lập là cơ sở để các bên Campuchia bàn bạc tìm ra giải pháp thoả đáng cho vấn đề Campuchia. Ngày 23 tháng 10 năm 1991, "Hội đồng dân tộc tối cao" Campuchia họp và ký với đại diện Liên hợp quốc một bản hiệp định, theo đó Liên hợp quốc được toàn quyền giám sát ngừng bắn, hồi hương người tị nạn, giải giáp quân đội các phái và chuẩn bị tổng tuyển cử.


Ngày 16 tháng 3 năm 1992, cơ quan quyền lực chuyển tiếp ở Campuchia (UNTAC) đến Campuchia thực hiện kế hoạch đã được thoả thuận. Bên cạnh đó, lực lượng quân sự của Liên hợp quốc với 15.000 nhân viên quân sự, 3.600 cảnh sát cũng được triển khai tại Campuchia.


Từ ngày 23 đến 28 tháng 5 năm 1993, cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến được tổ chức thành công với thắng lợi của Mặt trận thống nhất dân tộc vì một nước Campuchia độc lập trung lập, hoà bình và hợp tác. Đảng FUNCINPEC và tiếp theo là Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) chiếm hơn 90% số ghế trong Quốc hội. Quốc hội gồm 120 đại biểu đã phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân muốn hoà giải, hoà hợp dân tộc để Campuchia nhanh chóng có hoà bình, ổn định. Trên cơ sở thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội, ngày 18 tháng 8 năm 1993, Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc đã ký xác nhận Hiến pháp mới và chính thức công bố vào tháng 9 năm 1993. Ngoài những nội dung cơ bản về quyền dân tộc tự quyết, Hiến pháp khẳng định: Campuchia không tham gia bất kỳ khối quân sự nào và không cho phép bất kỳ nước nào thiết lập một hoặc nhiều căn cứ quân sự, tên lửa hoặc các loại vũ khí khác trên lãnh thổ và lãnh hải của mình. Nền quốc phòng của Campuchia chỉ có tính chất duy nhất là phòng thủ, không mang tính chất tiến công... Campuchia sẽ không đưa quân đội của mình ra ngoài biên giới đất nước.


Mặc dù Hiến pháp mới được đưa ra, Chính phủ Liên hiệp dân tộc được thành lập nhưng lực lượng vũ trang của Khơme Đỏ vẫn không chấp nhận xu hướng hoà hợp và hoà giải dân tộc. Các nhóm vũ trang Khơme Đỏ vẫn hoạt động chống phá tại nhiều vùng, thậm chí tiến công vào các lực lượng Liên hợp quốc đang triển khai tại Campuchia.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:39:39 pm
5. Quân đội Hoàng gia Campuchia ngày nay

Quân đội Hoàng gia Campuchia ngày nay được hình thành trên cơ sở lực lượng vũ trang của ba phái: Quân đội Nhà nước Campuchia, Quân đội phái Xihanúc cũ và Quân đội phái Son San.


Từ cuối năm 1993, sau khi Hiến pháp mới của Campuchia được phê chuẩn và Chính phủ Hoàng gia được thành lập, lực lượng quân đội của ba phái đã tiến hành sáp nhập lại thành Quân đội Hoàng gia Campuchia. Lực lượng quân sự của các tỉnh vẫn tổ chức như cũ nhưng không trực thuộc các chủ tịch và phó chủ tịch tỉnh mà trực thuộc vùng chiến thuật. Ở các tỉnh lớn và trọng điểm thường tổ chức từ 2-3 tiểu đoàn bộ binh. Tổng số lực lượng của các tỉnh có khoảng 52-60 tiểu đoàn do Bộ Tổng Tham mưu chỉ huy thông qua các quân khu. Lực lượng bảo vệ biên giới được tổ chức khoảng 15-20 tiểu đoàn. Quân số theo biên chế một sư đoàn đủ quân là 3.500 người, nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 1.500 người hoặc ít hơn.


Năm 2001, Quân đội Hoàng gia Campuchia đã có bước điều chỉnh cơ bản các đầu mối đơn vị, đã thay đổi vị trí đứng chân của một số đơn vị; hoàn thành kế hoạch giảm quân giai đoạn 1; cắt giảm 15.000 quân, điều chỉnh từ 19 sư đoàn bộ binh thành 1 sư đoàn cơ động và 16 lữ đoàn bộ binh, giảm đầu mối tiểu đoàn bộ binh trực thuộc các tỉnh đội. Bên cạnh đó, Campuchia tổ chức biên chế lại lực lượng ở bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố, huyện, quận trong cả nước, đồng thời thành lập 3 trường sĩ quan trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, bố trí điều chuyển lại một số vũ khí hạng nặng trong các đơn vị chủ lực chủ yếu ở trên hướng tây bắc Campuchia. Bộ tư lệnh hải quân chuyển căn cứ từ Biển Hồ về cảng Xihanúcvin và tăng cường lực lượng ở quân cảng Ream. Điều đáng lưu ý là lực lượng vũ trang đã bàn giao Tiểu đoàn 67 tăng thiết giáp thuộc Quân khu 5, Tiểu đoàn 69 tăng thiết giáp - thuộc Quân khu 4 và Tiểu đoàn tăng 201 thuộc Lữ đoàn cơ động 12 về trực thuộc Bộ tư lệnh tăng - thiết giáp.


Quân đội Campuchia thường xuyên trao đổi các phái đoàn quân sự và cử học viên đi đào tạo ở nước ngoài (Pháp, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ...). Trong năm 2004, Quân đội Hoàng gia Campuchia đã đón tiếp 30 đoàn quân sự nước ngoài gồm 714 thành viên đến thăm Campuchia, đồng thời cũng đã cử 19 đoàn Quân đội Campuchia với 90 thành viên đi thăm các nước trên thế giới. Đây là một bước phát triển mới trong quan hệ đối ngoại quân sự của Quân đội Hoàng gia Campuchia...


Thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, Quân đội Hoàng gia Campuchia đã ngăn chặn kịp thời và đập tan kế hoạch khủng bố của lực lượng "Chiến binh tự do Campuchia", đảm bảo cho tiến trình hoà hợp dân tộc diễn ra đúng như kế hoạch.


Hiện nay, Quân đội Hoàng gia Campuchia còn gặp nhiều khó khăn về tài chính; vũ khí, binh khí kỹ thuật còn lạc hậu; mâu thuẫn giữa các phe phái trong quân đội chưa giảm. Ngoài ra, tình hình an ninh xã hội còn diễn biến phức tạp, các lực lượng phản động vẫn thực hiện âm mưu gây bạo loạn khủng bố. Thêm vào đó, một số nước lớn thường xuyên gây sức ép thông qua viện trợ và huấn luyện quân sự. Tất cả những nhân tố đó đã có những tác động nhất định đến việc xây dựng và phát triển của Quân đội Hoàng gia Campuchia.


Chức năng của Quân đội Hoàng gia Campuchia ngày nay được xác định rõ trong Hiến pháp, bao gồm:

- Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Campuchia.

- Bảo đảm an ninh và an toàn cho nhân dân Campuchia.

- Tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước.

Năm 2005, tổng quân số lực lượng vũ trang của Campuchia có 170.000 quân, trong đó lực lượng thường trực có 125.000 quân; quân của các địa phương: 45.0001 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự, Từ điển bách khoa Quần sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.118). Đơn vị chiến đấu cao nhất là cấp sư đoàn. Nguồn dự bị động viên cho quân đội có khoảng 2,5 triệu người. Trong độ tuổi phục vụ quân đội hàng năm là 1,4 triệu người.


Về chế độ tuyển quân, Nhà nước dùng quyền bắt buộc công dân nhập ngũ, nhưng hiện nay chưa quy định thời hạn phục vụ trong quân đội.

Lực lượng lục quân Hoàng gia có quân số 75.000 người, được triển khai trên 6 quân khu (có 1 quân khu đặc biệt là Quân khu Thủ đô), gồm 1 sư đoàn bộ binh cơ động, 16 lữ đoàn bộ binh độc lập, 7 lữ đoàn thuộc các quân, binh chủng khác.


Lục quân được trang bị xe tăng chiến đấu gồm T-54, T-55, PT-76...; xe thiết giáp các loại và pháo xe kéo; pháo phòng không 37mm và 57mm; các phương tiện chống tăng tên lửa phóng loạt gồm BM-21, BM-13, BM-14, BM-16; các bộ tổ hợp tên lửa phòng không vác vai "Strela-2”;


Lực lượng không quân Hoàng gia có quân số 2.000 người với 5 căn cứ không quân. Không quân được trang bị máy bay chiến đấu MIG-21, trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát và máy bay vận tải các loại AL-24; N-21A; Y-12; F-28; Falcon; L-39 huấn luyện. Máy bay trực thăng có các loại MI-8; MI-17; MI-26 và KA-32.


Lực lượng hải quân là một quân chủng độc lập, gồm có một vùng hải quân, căn cứ hải quân Ream và căn cứ sông Phnôm Pênh; 2 tiểu đoàn tàu tuần tiễu trên biển, 1 lữ đoàn tàu tuần tiễu đường sông và 16 tiểu đoàn hải quân đánh bộ. Tổng quân số (đầu năm 2005) là 3.000 người. Hải quân Campuchia được trang bị chủ yếu gồm các loại tàu chiến, thuyền máy, ca nô vũ trang.


Lực lượng hải quân Campuchia có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia ở vùng vịnh Thái Lan, phòng thủ bờ biển của đất nước, bảo vệ lãnh hải và các vùng kinh tế, tuần tra đường sông nội địa, đồng thời tổ chức hiệp đồng với các nước đồng minh trong trường hợp xảy ra các cuộc hành quân tác chiến ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, hiện nay hải quân có rất nhiều hạn chế trong việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ này; đó là quân số ít; vũ khí phương tiện chiến đấu cũ, lạc hậu và trình độ huấn luyện bộ đội thấp.


Trong thành phần chiến đấu của hải quân chỉ có 2 tàu tuần tiễu mẫu thiết kế 205P mua của Nga năm 1987, 2 tàu tuần tiễu đường sông và một số tàu dự bị, gần 170 thuyền máy và thuyền chèo. Bảo đảm phòng thủ bờ biển có 5 tiểu đoàn hải quân đánh bộ và một tiểu đoàn pháo phòng không, được trang bị 20 khẩu pháo bờ biển và 12 khẩu pháo phòng không. Theo chương trình 5 năm cải cách các lực lượng vũ trang của đất nước, Campuchia dự kiến từ năm 1999 đến năm 2003 sẽ mua thêm 3 tàu tuần tiễu trên biển loại mới và khoảng 24 tàu tuần tiễu đường sông, hiện đại hoá 2 tàu loại Stenka mẫu thiết kế 205P; tăng cường khả năng đổ bộ và vận tải, các căn cứ sửa chữa và đóng tàu (nhà máy đóng tàu Hông Long). Để thực hiện chương trình này, Campuchia dự kiến sẽ tranh thủ sự giúp đỡ quân sự từ phía Trung Quốc, Việt Nam cũng như phát triển hợp tác kỹ thuật quân sự với Nga và giúp đỡ vật chất kỹ thuật từ các nước phát triển cao như Mỹ, Pháp, Ôxtrâylia và các nước khác. Kế hoạch nâng cao trình độ huấn luyện chiến đấu được xây dựng trên cơ sở đổi mới chương trình huấn luyện chiến sĩ, chuẩn úy hải quân và đội ngũ sĩ quan; tham gia tập trận chung với hải quân Việt Nam, Thái Lan và Lào.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 27 Tháng Mười, 2008, 07:41:16 pm
Ngoài các thành phần cơ bản trên đây, lực lượng vũ trang Campuchia còn có các đơn vị địa phương thuộc tỉnh với tổng số quân khoảng 35.000 người. Mỗi tỉnh ít nhất có 1 trung đoàn bộ binh được trang bị vũ khí hạng nhẹ; lực lượng quân sự hoá và lực lượng công an (67 nghìn người, bao gồm cả quân cảnh).


Tiếp theo chương trình 5 năm cải cách lực lượng vũ trang, Campuchia chủ trương tiếp tục cải cách Quân đội Hoàng gia Campuchia thành một quân đội thống nhất, có quân số phù hợp với một số biện pháp chủ yếu sau đây:
- Xây dựng các căn cử phòng không, không quân, các trường huấn luyện cấp tỉnh; mở rộng vai trò của các quân khu (thành lập ở mỗi quân khu 3 lữ đoàn), thành lập 3 tiểu đoàn (135 quân/1 tiểu đoàn) sẵn sàng tham gia lực lượng giữ gìn hoà bình của Liên hợp quốc.

- Tăng cường sự hiện diện và sức chiến đấu của quân đội ở các vùng biên giới. Nâng cao sức mạnh của hải quân để có đủ khả năng bảo vệ vùng biển, duy trì an ninh biên giới, trên biển bằng cách củng cố các tiểu đoàn biên giới, hải đảo, lực lượng tuần tiễu, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ...
 
- Tiến hành cắt giảm quân số (giai đoạn 2005-2009 cho nghỉ hưu 4.000 quân, giải ngũ 25.000 quân và xuất ngũ 4.000 quân); bổ sung 13.000 quân khi Luật nghĩa vụ quân sự được ban hành; điều chỉnh tiền lương và cấp hàm sĩ quan; thay đổi biên chế quân số của các đơn vị đại đội từ 90-117 người, tiểu đoàn từ 280-320 người, lữ đoàn từ 1.200-1.600 người, sư đoàn từ 8.000-11.000 người).


Để đáp ứng yêu cầu củng cố và xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, Chính phủ Hoàng gia Campuchia xác định ba phương hướng chiến lược cơ bản là:

Thứ nhất, duy trì khả năng quân sự nhằm bảo đảm sự ổn định trật tự xã hội, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia; bảo vệ biên giới bằng cách xây dựng các tuyến đường giao thông chiến lược, các công trình quân sự dọc tuyến biên giới; kết hợp phát triển kinh tế - quốc phòng; chống tội phạm xuyên quốc gia như buôn bán ma túy, cướp của, giết người có tổ chức, lưu hành vũ khí và các tang vật có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.


Thứ hai, điều chỉnh Quân đội Hoàng gia có quy mô nhỏ, nhưng đảm bảo khả năng bảo vệ lãnh thổ, lợi ích quốc gia; góp phần vào công cuộc phát triển át nước thông qua khai thác các trang bị kỹ thuật chuyên dụng và các hoạt động dịch vụ khác.


Thứ ba, tăng cường hợp tác quân sự với các quốc gia láng giềng bằng biện pháp xây dựng lòng tin lẫn nhau thông qua các cuộc gặp gỡ giữa các sĩ quan cao cấp và các cuộc đàm phán về lĩnh vực an ninh song phương, đa phương; tranh thủ sự hỗ trợ vật chất, đào tạo sĩ quan của các nước; tăng cường khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển; không cho phép bất kỳ lực lượng nào xây dựng căn cứ trên đất Campuchia để chững lại các nước khác; chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tham gia vào hoạt động giữ gìn hoà bình của Liên hợp quốc.


Kể từ khi giành được độc lập (tháng 9 năm 1945), lịch sử Campuchia diễn ra hết sức phức tạp và có nhiều biến động, do đó lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng luôn bị tác động và không tránh khỏi những bước thăng trầm qua từng thời kỳ lịch sử. Có thể nhận thấy quá trình đó diễn ra theo bốn thời kỳ như sau:

Thời kỳ thứ nhất (từ 1945 đến 1954). Đây là thời kỳ Quân đội Hoàng gia Campuchia ra đời theo Hiệp định năm 1949 ký kết giữa Chính phủ Pháp và triều đình Campuchia, đặt dưới sự bảo trợ của Pháp. Bên cạnh đó, lực lượng vũ trang cách mạng Ítxarắc cũng được thành lập vào tháng 6 năm 1951 dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng vũ trang cách mạng được giải giáp trở về sống hoà hợp trong cộng đồng dân tộc. Quân đội Hoàng gia vẫn được duy trì và giữ vai trò bảo vệ chế độ quân chủ, sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.


Thời kỳ thứ hai (từ 1955 đến 1970), Campuchia đi theo đường lối hoà bình trung lập. Việc xây dựng quân đội dựa vào sự giúp đỡ của Pháp và một số nước khác như Trung Quốc, Liên Xô... Đây là thời kỳ Quân đội Hoàng gia Campuchỉa từng bước được tổ chức cơ bản với đầy đủ các quân binh chủng, bao gồm các lực lượng chính quy, lực lượng địa phương. Quân chính quy được biên chế thành lực lượng lục quân, không quân và hải quân. Chức năng nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ chế độ quân chủ, chống nổi dậy trong nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.


Thời kỳ thứ ba (từ năm 1970 đến năm 1979), được bắt đầu từ cuộc đảo chính quân sự của Lon Non lật đổ Chính phủ Vương quốc, thành lập cái gọi là Nhà nước Cộng hoà Campuchia. Quân đội Cộng hoà Campuchia được Mỹ bảo trợ đã từng bước tăng nhanh về số lượng nhằm đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Campuchia. Trong thời kỳ này, lực lượng vũ trang cách mạng với tên gọi Quân đội Giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chống xâm lược Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc thống nhất Campuchia, tháng 4 năm 1975, các lực lượng vũ trang cách mạng đã cùng với toàn dân đứng lên đánh đổ tập đoàn phản động Lon Non - Xiríc Matắc, giải phóng và làm chủ đất nước.
Sau ngày giải phóng, đất nước Campuchia lại rơi vào tay tập đoàn phản động Khơme Đỏ với việc thành lập Nhà nước Campuchia dân chủ. Để thực hiên mục tiêu chính trị của mình, những người lãnh đạo Campuchia dân chủ đã tăng cường xây dựng quân đội làm công cụ đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân và thực hiện âm mưu bành trướng lãnh thổ. Tháng 12 năm 1979, những người yêu nước Campuchia thành lập Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia cùng với lực lượng vũ trang cách mạng của mình. Kể từ khi thành lập, các lực lượng vũ trang cách mạng đã sát cánh cùng với Quân đội nhân dân Việt Nam đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xari vào tháng 1 năm 1979.


Thời kỳ thứ tư, (từ sau ngày đất nước thoát khỏi chế độ diệt chủng đến nay), lực lượng vũ trang Campuchia ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích với chức năng bảo vệ đất nước và ngăn chặn sự phá hoại của tàn quân Khơme Đỏ. Tuy nhiên, sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam rút khỏi Campuchia theo thoả thuận giữa hai nhà nước Campuchia và Việt Nam, ở Campuchia diễn ra cuộc đấu tranh giữa các phe nhóm, đảng phái, trong đó có Đảng Nhân dân Campuchia, FUNCINPEC, lực lượng Khơme Đỏ, v.v… Trong nước tồn tại lực lượng quân sự của các tổ chức trên, trong đó lực lượng vũ trang của Đảng Nhân dân Campuchia chiếm ưu thế. Sau khi có sự can thiệp của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, Campuchia từng bước đi vào con đường hoà hợp dân tộc với việc thành lập Chính phủ liên hiệp và sự ra đời của Vương quốc Campuchia. Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay (được xây dựng trên cơ sở Quân đội dân tộc Campuchia, Quân giải phóng nhân dân Khơme và Quân đội Nhà nước Campuchia) đang tiếp tục phát huy vai trò, chức năng của mình, góp phần xây dựng đất nước Campuchia ổn định và không ngừng phát triển.

(http://img293.imageshack.us/img293/3494/image007qz3.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:31:14 pm
QUÂN ĐỘI CỘNG HÒA INĐÔNÊXIA


I. Khái quát về đất nước Inđônêxia

Inđônêxia là quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới, với hơn 3.700 đảo lớn, nhỏ; diện tích 1.904.569km2. Trong số hàng nghìn đảo nói trên có 5 đảo lớn nhất: Calimantan: 539.462km2; Xumatơra: 473.606km2; Irian Giai: 421.981km2; Xulavétxi: 189.216km2; Giava:132.187km2. Quần đảo Inđônêxia được chia làm 3 nhóm đảo chính: nhóm đảo Giava; nhóm đảo Xumatơra - Calimantan và nhóm đảo nhỏ nằm giữa hai nhóm, trên bờ biển tiếp giáp với Malaixia tới biển Đông.


Thủ đô Giacácta của Inđônêxia nằm trên đảo Giava, có số dân là 7.829.000 người (2003). Ngoài thủ đô, Inđônêxia còn có các thành phố lớn khác như Surabaya (dân số 2.345.000 người), Mêdan (dân số 2.110.000 người), Băngđung (1.613.000 người)...


Phần lớn diện tích Inđônêxia là rừng, núi. Hiện nay trên lãnh thổ Inđônêxia vẫn còn gần 80 núi lửa đang hoạt động. Nằm trong vùng khí hậu xích đạo và đại dương, có lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 4.000mm nên Inđônêxia có hệ thống sông ngòi dày đặc.


Inđônêxia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú: dầu khí (có trữ lượng đứng thứ 5 thế giới), than đá, vàng, đồng, thiếc, bô xít, sắt và các khoáng sản khác. Inđônêxia xuất khẩu nhiều sản phẩm gỗ, cao su, cà phê, dầu dừa và có nguồn hải sản dồi dào. Tuy tài nguyên phong phú, nhưng Inđônêxia không phải là nước giàu. GDP năm 2004 đạt 251 tỉ USD, bình quân đầu người trên 1.000 USD/năm. Nền kinh tế phần lớn dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai thác dầu mỏ.


Dân số Inđônêxia đứng thứ tư trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Theo kết quả điều tra dân số năm 2005, tổng dân số Inđônêxia là 241,974 triệu người. Tỷ lệ người dưới 20 tuổi chiếm 40% dân số. Dân cư phân bố không đều: đảo Giao chỉ chiếm gần 7% diện tích đất đai, nhưng dân số chiếm 70% cả nước, còn đảo Calimantan và Irian Giai diện tích chiếm 50%, nhưng dân số chỉ có 5%.


Cư dân trên quần đảo Inđônêxia gồm hơn 100 dân tộc khác nhau. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Bahara Inđônêxia, có nguồn gốc từ tiếng Mã Lai thuộc vùng đảo Riai. Inđônêxia dùng chữ viết Latinh. Ngoài quốc ngữ, tiếng Hà Lan và tiếng Anh là hai ngoại ngữ được sử dụng tương đối rộng rãi ở Inđônêxia.


Là một quốc gia giàu tài nguyên, lại nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, nên từ đầu thế kỷ XVI, Inđônêxia đã trở thành mục tiêu xâm lược của các cường phương Tây: Bồ Đào Nha (1511-1596), Hà Lan (1596-1806 và 1814-1942), Pháp (1806-1811), Anh (1811-1814) và phát xít Nhật (1942-1945). Sự vơ vét tài nguyên thiên nhiên và chính sách hà khắc của bọn thực dân khiến cho phong trào đấu tranh đòi độc lập của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của nhiều đảng phái chính trị khác nhau ở Inđônêxia sớm phát triển và ngày càng mạnh mẽ.


Trước sự phản kháng của người dân Inđônêxia, ngoài đội quân xâm lược, chính quyền thực dân, phát xít còn tổ chức quân đội thuộc địa làm công cụ duy trì sự thống trị của mình và đàn áp các cuộc nổi dậy của người bản xứ.


Lợi dụng thời cơ phát xít Nhật đầu hàng phe Đồng minh, tại cuộc họp bí mật ngày 15 tháng 8 năm 1945, những người cộng sản Inđônêxia và những người lãnh đạo các tổ chức thanh niên cách mạng đã quyết định phải lập tức tuyên bố độc lập; đồng thời cử đại biểu đi hiệp thương với các lãnh tụ dân tộc chủ nghĩa như Achmed Xucácnô và Muhamad Hát ta, yêu cầu họ đứng ra tuyên bố độc lập. Ngày 17 tháng 8, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Cộng hoà Inđônêxia được công bố. Xucácnô được bầu làm Tổng thống và Hát ta làm Phó tổng thống; một nội các theo chế độ quốc hội được thành lập do Siahrir làm Thủ tướng.


Hơn một tháng sau khi Inđônêxia tuyên bố độc lập, ngày 29 tháng 9 năm 1945, quân đội Anh với danh nghĩa tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật đã đổ bộ lên Inđônêxia, chiếm một số thành phố như Giacácta, Băngđung, Semarang... Với quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, nhân dân Inđônêxia đã anh dũng chiến đấu chống trả quân xâm lược. Trước sức chống trả quyết liệt của nhân dân Inđônêxia và sự lên án của dư luận quốc tế, tháng 10 năm 1946, quân đội Anh phải rút khỏi Inđônêxia, nhưng trao lại những khu chiếm đóng của mình cho thực dân Hà Lan.


Với ý đồ khôi phục sự thống trị thực dân của mình đối với Inđônêxia, Hà Lan một mặt chuẩn bị tiến hành một cuộc chiến tranh thực dân, mặt khác tiến hành đàm phán với Inđônêxia. Ngày 15 tháng 11 năm 1946, Chính phủ Siahrir ký với Hà Lan Hiệp ước Linggagiati, đặt Inđônêxia trong khối Liên hiệp Hà Lan - Inđônêxia. Hiệp ước đầu hàng này bị nhân dân phản đối, nên tháng 6 năm 1947 Siahrir buộc phải từ chức và tháng 7 năm 1947, một chính phủ liên hiệp được thành lập do Amir Giariphuđin, một người cộng sản đứng đầu. Nhằm khuất phục Chính phủ Inđônêxia, ngày 20 tháng 7 năm 1947, Hà Lan phát động "hành động cảnh vệ lần thứ nhất" (được sử sách gọi là cuộc Chiến tranh thực dân lần thứ nhất chống Inđônêxia). Chính phủ Giariphuđin đã tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Hà Lan nhưng do lực lượng quá chênh lệch, thêm vào đó có những thế lực phản động phá hoại từ bên trong nên cuộc kháng chiến chỉ kéo dài được 2 tháng; Chính phủ Giariphuđin tự giải tán, Hát ta và người của Đảng Parmusi (Hội Liên hiệp Hồi giáo Inđônêxia) đứng ra thành lập chính phủ mới.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:31:51 pm
Lợi dụng tình hình nội bộ rối ren của Inđônêxia, thực dân Hà Lan phát động cuộc Chiến tranh thực dân lần thứ hai xâm lược Inđônêxia. Cuộc chiến tranh kéo dài làm cho thương vong của quân đội Hà Lan ngày càng tăng, chi phí tốn kém. Nhân cơ hội Hà Lan đang gặp khó khăn, Mỹ thông qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc gây áp lực đối với Hà Lan, yêu cầu hai bên ngừng bắn. Ngày 7 tháng 5 năm 1949, tại Giacácta, Hà Lan và Inđônêxia ký hiệp định đình chiến. Tiếp đó, từ ngày 23 tháng 8, Inđônêxia, Hà Lan và Ủy ban Inđônêxia của Liên hợp quốc tiến hành đàm phán tại Hague (Hội nghị bàn tròn). Đến ngày 2 tháng 9 năm 1949, các bên ký hiệp định Hội nghị bàn tròn, theo đó, nước Cộng hoà Inđônêxia được công nhận là một quốc gia độc lập (Liên bang Inđônêxia). Sau khi ký hiệp định Hội nghị bàn tròn, quân đội Hà Lan rút khỏi Inđônêxia. Ngày 19 tháng 12 năm 1949, nước Cộng hoà liên bang Inđônêxia được thành lập do Xucácnô làm Tổng thống, Hát ta làm Thủ tướng. Ngày 27 tháng 12 năm 1949, Hà Lan chuyển giao toàn bộ lãnh thổ của Inđônêxia cho nước Cộng hoà Inđônêxia (ngoại trừ Tây Irian), chấm dứt ách đô hộ hơn 300 năm của thực dân Hà Lan trên đất Inđônêxia.


Tuy nhiên, thực dân Hà Lan vẫn còn thế lực rất lớn về kinh tế và chính trị trong các thổ bang bù nhìn ở Inđônêxia. Đế quốc Mỹ và thực dân Hà Lan thông qua tay sai tổ chức những lực lượng phản động như "Phong trào Hồi giáo", "Quân đội Hồi giáo Inđônêxia" để tiến hành những hoạt động chia rẽ và lật đổ ở Inđônêxia. Tình hình đó lại đặt nhân dân Inđônêxia đứng trước nhiệm vụ đấu tranh hoàn thành sự nghiệp của cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngày 15 tháng 8 năm 1950, sau khi xoá bỏ các thổ bang bù nhìn, nước Cộng hoà Inđônêxia thống nhất được thành lập và từ đó, ngày 15 tháng 8 trở thành ngày Quốc khánh của Cộng hoà Inđônêxia. Nhưng phải đến ngày 1 tháng 5 năm 1953, sau khi Chính phủ Inđônêxia tuyên bố tịch thu toàn bộ các xí nghiệp và đồn điền của người Hà Lan, buộc Hà Lan phải trao trả Tây Irian cho Inđônêxia, Inđônêxia mới giành được chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.


Bước sang giai đoạn lịch sử mới, Inđônêxia cũng bước vào thời kỳ cạnh tranh chính trị hết sức quyết liệt giữa các đảng tư sản, nhất là giữa các đảng lớn nhưng không một đảng nào xác lập được quyền độc tôn lãnh đạo và thực hiện được đường lối của mình. Từ năm 1953, đặc biệt là sau cuộc tổng tuyển cử quốc hội đầu tiên (1955), Inđônêxia mới bắt đầu có những chuyển biến tích cực trong đường lối đói nội và đối ngoại. Trong chính sách đói ngoại, chính phủ Inđônêxia thực hiện đường lối trung lập tiến bộ và chống chủ nghĩa đế quốc. Chính vì vậy, tháng 9 năm 1965, các thế lực phương Tây đã "bật đèn xanh" cho quân đội Inđônêxia tiến hành cuộc đảo chính nhằm thay đổi thể chế chính trị của Inđônêxia. Sau khi lên cầm quyền (lâm thời từ tháng 3 năm 1966 và toàn quyền từ tháng 3 năm 1967), Xuháctô từng bước thiết lập "trật tự mới".


Hiện nay, Inđônêxia thực hiện chế độ cộng hoà đa đảng thống nhất, cơ quan lập pháp là Hội đồng dân biểu nhân dân (Quốc hội); cơ quan quyền lực cao nhất là Đại hội tư vấn nhân dân. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, cơ quan hành pháp (chính phủ) và đồng thời là Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang. Nhiệm kỳ tổng thống là 5 năm.


Inđônêxia là nước hoạt động tích cực trên các diễn đàn quốc tế, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như: Phong trào không liên kết, Liên hợp quốc (28.10.1950); Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), v.v...


Cộng hoà Inđônêxia lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ở cấp đại sứ ngày 15 tháng 8 năm 1964. Inđônêxia và Việt Nam là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hoá. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhân dân Việt Nam và nhân dân Inđônêxia vẫn giữ được quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và cố Tổng thống Xucácnô đã dày công vun đắp.


Vì nền độc lập dân tộc của mình, nhân dân Inđônêxia đã phải liên tục đứng lên, cầm súng chiến đấu chống lại những đội quân xâm lược hùng mạnh từ Âu sang Á trong suốt hơn 300 năm. Từ sau khi tuyên bố độc lập, lịch sử Inđônêxia có thể chia thành 4 thời kỳ: thời kỳ đấu tranh vũ trang củng cố nền độc lập (1945-1949), thời kỳ xác lập hệ thống dân chủ nghị viện (1949- 1956), thời kỳ "dân chủ có định hướng" (1957-1965) và thời kỳ "trật tự mới" (từ 1966 đến nay). Trong mỗi thời kỳ đó, dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay điều kiện hoà bình, quân đội luôn có vai trò quan trọng đối với đời sống chính trị, xã hội của đất nước.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:33:05 pm
II. Lịch sử hình thành và phát triển của quân đội Inđônêxia

1. Sự ra đời của Quân đội quốc gia

Lịch sử hình thành Quân đội quốc gia Inđônêxia (TNI) gắn liền với lịch sử đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Hà Lan, đặc biệt là thời kỳ sau khi giành được độc lập (1945-1949). Đây là thời kì Inđônêxia có độc lập nhưng lại bị thực dân Hà Lan chi phót mọi nhặt đời sống xã hội, theo các điều khoản của Hiệp ước Linggagiati.


Trong suốt hơn ba thế kỷ, kể từ năm 1602 đếni942, dưới ách thống trì của thực dân phương Tây, đa số thanh niên Inđônêxia không được huấn luyện quân sự dù ở mức sơ đẳng. Để bảo vệ chính quyền đô hộ, các chính quyền thực dân, nhất là Hà Lan và Anh, chỉ tuyển mộ một số thanh mền bản xứ để phục vụ cho bộ máy chính quyền của chúng. Những yêu cầu huấn luyện quân sự cho thanh niên dù chỉ để duy trì trật tự xã hội đều bị chúng bác bỏ. Vào thời kỳ đó, người dân Inđônêxia không có quyền được chế tạo và tàng trữ vũ khí.


Trong những năm quân Nhật chiếm đóng Inđônêxia (3.1942-8.1945), trong khi tìm cách triệt thoái các tổ chức quân đội thuộc địa do người Hà Lan lập ra, người Nhật cũng tuyển mộ và duy trì một lực lượng bán vũ trang người Inđônêxia, hoặc tuyển chọn một số thanh niên bản địa để tổ chức các đơn vị vũ trang thuộc quyền chỉ huy của mình nhằm phục vụ cho mục đích chiếm đóng. Trong hơn 3 năm chiếm đóng, bằng cách cưỡng bức và lôi kéo, dụ dỗ thanh niên bản xứ, người Nhật đã xây dựng trên quần đảo Inđônêxia nhiều tổ chức vũ trang, tổ chức dân phòng để duy trì "trật tự" ở nông thôn; các đội thanh niên vũ trang để hoạt động du kích trong trường hợp quân Đồng minh đổ bộ lên Inđônêxia; các đội công nhân vũ trang để xây dựng các công trình quân sự và công nghiệp. Ngoài các tổ chức vũ trang trên, người Nhật còn cho thành lập Đội quân tình nguyện bảo vệ Tổ quốc gọi là PETA ở Giava và Đội quân tình nguyện ở Xumatơra (BG). Đến đầu năm 1945, trong hàng ngũ PETA đã có tới 120.000 người và được tổ chức thành 60 tiểu đoàn. Thành phần trong PETA gồm nông dân, trí thức, các cựu sĩ quan từ đội ngũ quan lại và quý tộc Inđônêxia. Song, với ý thức độc lập dân tộc rất cao, các binh sĩ PETA thường xuyên công khai chống lại chính sách chiếm đóng của người Nhật. Cuộc nổi dậy lớn nhất của binh lính PETA chống lại người Nhật là vụ binh biến ở Blitara (trên đảo Giava) năm 1945. Sự chuyển hướng đi theo cách mạng của PETA là kết quả của công tác tuyên truyền, vận động tích cực của Đảng Cộng sản Inđônêxia và có phần không nhỏ của những người truyền bá đạo Hồi. Lo sợ trước sự phản kháng của PETA, ngay trước khi diễn ra các sự kiện Cách mạng Tháng Tám, Bộ chỉ huy quân Nhật phải tuyên bố giải tán PETA sau khi giải giáp vũ khí đa số các tiểu đoàn của nó.


Việc người Nhật dùng người bản xứ vào các đội vũ trang, dân phòng kể trên là để cùng một lúc thực hiện hai mục đích: thứ nhất, để giảm bớt tổn thất về sinh lực cho quân Nhật; thứ hai, để giảm bớt nhiệm vụ cũng như chi phí quân sự cho đội quân chiếm đóng Nhật Bản.


Sau khi tuyên bố độc lập, trong tháng 8 và tháng 9 năm 1945, nhiều nơi trên đất nước Inđônêxia còn tồn tại tình trạng hai chính quyền: bộ máy chiếm đóng của Nhật và chính quyền Cộng hoà Inđônêxia. Để xoá bỏ tình trạng đó, ngày 23 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Inđônêxia cho thành lập Lục lượng an ninh nhân dân. Về bản chất, Lực lượng an ninh nhân dân chính là công cụ bạo lực chủ yếu để duy trì và bảo vệ thành quả cách mạng cũng như trật tự xã hội. Nhờ thực hiện những chính sách đúng đắn và hợp tình của chính quyền mới, Lực lượng an ninh nhân dân đã quy tụ được đông đảo thanh niên Inđônêxia tham gia, trong đó, không ít người trước đây là thành viên của PETA, BG và cả những người trước đây đã từng tham gia phục vụ cho quân đội Nhật. Những người yêu nước Inđônêxia tiến hành giải giáp vũ khí những đơn vị quân Nhật đầu hàng và tiếp tục chiến đấu với những kẻ không chịu nộp vũ khí.


Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trên lãnh thổ Inđônêxia vẫn còn một bộ phận quân đội Nhật; bên cạnh đó thực dân Hà Lan đang lăm le khôi phục sự thống trị của mình ở Inđônêxia. Lúc này, các lực lượng vũ trang Inđônêxia gồm các đội quân tự trị của các đảng phái chính trị với trình độ tác chiến và mức độ trang bị rất khác nhau. Đội quân có tổ chức chặt chẽ nhất là Pexiđô (thuộc tổ chức Thanh niên xã hội chủ nghĩa). Các thành viên của Pexiđô tập hợp thành các tiểu đoàn chiến đấu với tổng quân số khoảng 25.000 người. Pexiđô ủng hộ Đảng Xã hội chủ nghĩa, một đảng có nhiều người cộng sản tham gia. Dưới ảnh hưởng của Đảng Hồi giáo cánh hữu, các đội quân thanh niên Hisbulác được thành lập theo mô hình Pexiđô với tổng quân số khoảng 20.000 người nhưng tính kỷ luật kém hơn. Một số đảng khác cũng có các đội quân thanh niên nhưng quân số rất ít.


Đứng trước âm mưu áp đặt trở lại đặt ách thống trị của thực dân Hà Lan, nhiều tổ chức vũ trang và đông đảo nhân dân Inđônêxia, mà đại diện là Đại hội đại biểu các tổ chức nhân dân, đã yêu cầu chính phủ thành lập Quân đội quốc gia. Đáp ứng yêu cầu tất yếu và bức thiết đó ngày 5 tháng 10 năm 1945, chỉ ít ngày sau khi quân đội Anh - Hà Lan đổ bộ lên quần đảo, Tổng thống Xucácnô đã ban bố sắc lệnh thành lập Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia (Tentara Keamanan Rakiat - TKR) trên cơ sở thống nhất các đội an ninh nhân dân và một số đội quân tự trị độc lập của các đảng phái chính trị. Ngày 7 tháng 10 năm 1945, trung đoàn đầu tiên của TKR được thành lập. Tiếp đó, ngày 9 tháng 10, ủy ban dân tộc Trung ương (CNIP) kêu gọi tổng động viên. Ngày 20 tháng 10, ủy ban dân tộc Trung ương quyết định thành lập Bộ an ninh nhân dân và Bộ tham mưu quân đội thống nhất. Bộ tham mưu quân đội thống nhất có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng quân đội của nước cộng hoà, song quá trình xây dựng quân đội thường trực của Inđônêxia phải kéo dài nhiều năm do Hà Lan tiến hành chiến tranh thực đần xâm lược trở lại Inđônêxia.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:33:44 pm
Ngày 12 tháng 11 năm 1945, Đại tướng Suđiman được bầu làm Tổng tư lệnh đầu tiên của quân đội. Ngày 17 tháng 11, ông Amir Giariphuđin, một đảng viên cộng sản, được chỉ định làm Bộ trưởng Bộ Quân đội an ninh nhân dân. Ngay sau khi nhậm chức, ông Amir Giariphuđin đã đưa ra tuyên bố về "Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Quân đội an ninh nhân dân", trong đó xác định rõ bản chất xã hội - chính trị của quân đội mới. Khác với quân đội của các chính quyền thuộc địa hay quân đội chiếm đóng trước đây, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia mới ra đời là quân đội của dân, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bảo vệ lợi ích chung của các dân tộc Inđônêxia; họ tình nguyện vũ trang và được vũ trang để bảo vệ nền độc lập của Inđônêxia.


Chỉ vài ngày sau khi Quân đội an ninh nhân dân được thành lập, trên các đảo Giava và Xumatơra, các cuộc đấu tranh vũ trang chống lại quân đội Anh - Hà Lan đã liên tiếp nổ ra. Cuộc chiến đấu của Quân đội an ninh nhân dân chống quân đội thực dân Anh và Hà Lan trong thời kỳ này đã thu được nhiều thắng lợi, gây được tiếng vang và lòng tin trong cả nước; tiêu biểu là trận tiến công nổi tiếng ở Surabaya (10.1945). Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1945, trên các đảo Giava và Xumatơra, nơi chính quyền của nước cộng hoà đã được thiết lập, đã hình thành 16 sư đoàn TKR (10 sư đoàn trên đảo Giava và 6 sư đoàn trên đảo xumatơra), gồm 100 trung đoàn (400 tiểu đoàn). Để chỉ huy lực lượng này, Bộ tham mưu quân đội thống nhất đã thành lập 4 bộ chỉ huy trên các đảo Giava và Xumatơra (3 bộ chỉ huy trên đảo Giava và 1 bộ chỉ huy trên đảo Xumatơra). Về sau, 3 bộ chỉ huy ở Giava là Bộ chỉ huy phía Đông, Bộ chỉ huy phía Tây và Bộ chỉ huy Trung tâm được sáp nhập thành một Bộ chỉ huy thống nhất.


Trong những ngày đầu mới thành lập, Quân đội an ninh nhân dân đã thực sự trở thành hạt nhân của phong trào đấu tranh bảo vệ nền độc lập. Tuy nhiên, do được tổ chức và xây dựng trong điều kiện hết sức khó khăn, lại trong một thời gian ngắn ngủi nên Quân đội an ninh nhân dân chưa đáp ứng được những yêu cầu mà “Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội" đã đặt ra. Trong Quân đội an ninh nhân dân còn tồn tại nhiều quan điểm trái ngược nhau về xây dựng lực lượng vũ trang. Giữa những người chỉ huy quân sự (Bộ tham mưu quân đội thống nhất) và những người lãnh đạo chính trị (Bộ Quốc phòng) thường xuyên xảy ra các vụ xích mích; thậm chí đã xảy ra những cuộc xung đột vũ trang giữa một số đơn vị quân đội. Việc thiếu sĩ quan cao cấp có kinh nghiệm đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc đề ra chiến lược chung cũng như chỉ huy chiến dịch, đến công tác tham mưu và huấn luyện.


Bên cạnh những mâu thuẫn trên, tình trạng thiếu vũ khí trang bị trầm trọng cũng là một yếu tố làm hạn chế sức mạnh của quân đội. Cuối năm 1945, trong Quân đội an ninh nhân dân mới chỉ có khoảng 27,3 nghìn khẩu súng trường, 600 súng máy, 700 khẩu súng cối, 56 khẩu pháo các loại, 30 súng phun lửa và khoảng 43 triệu viên đạn các loại1 (Các số liệu ở đây dẫn theo: Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của nhân dân các nước châu Á (1945-1980), Nxb. Nauka, Mátxcơva, 1984. tr.103); tất cả đều là chiến lợi phẩm thu được của Nhật. Số vũ khí trên chỉ đủ trang bị cho khoảng 100 tiểu đoàn; nhiều đơn vị hoàn toàn không có vũ khí mà chỉ được trang bị các vũ khí thô sơ như gậy gộc, giáo mác hay các loại bạch khí khác.


Mâu thuẫn chính trị nội bộ Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia càng trở nên gay gắt khi chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, tranh thủ lợi dụng tình hình đó để tiến hành các hoạt động phá hoại ngầm. Trong quân đội cũng như trong đời sống chính trị đất nước nói chung hình thành hai xu hướng, cách mạng và dân tộc hẹp hòi. Những người lãnh đạo chính trị theo xu hướng cách mạng cố gắng sử dụng quân đội để đấu tranh vì nền độc lập dân tộc cũng như bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động. Trái lại những người theo xu hướng dân tộc hẹp hòi chỉ coi quân đội như một công cụ để hạn chế cuộc cách mạng trong phạm vi quyền lợi của tư sản dân tộc, quý tộc phong kiến và tăng lữ Hồi giáo; nói cách khác, họ muốn sử dụng quân đội như một công cụ bảo vệ chính quyền của các giai cấp bóc lột.


Theo đuổi đường lối xây dựng một quân đội cách mạng của quần chúng, BỘ trưởng Quốc phòng A. Giariphuđin đã tìm cách củng cố mối quan hệ giữa quân đội với quần chúng cách mạng và các đảng phái chính trị của họ để thông qua đó giác ngộ chính trị cho hàng ngũ binh sĩ. Ông đã cố gắng đưa những đội quân Pexiđô trung thành với cách mạng vào hàng ngũ TKR. Cuối năm 1945, theo sáng kiến của Giariphuđin, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia đã xây dựng Trường Bồi dưỡng cán bộ chính trị quân đội; trong Bộ Quốc phòng tổ chức ra Phòng chính trị gồm đại diện của các đảng phái có thế lực nhất.


Tháng 5 năm 1946, Trường Bồi dưỡng cán bộ chính trị đã làm lễ tốt nghiệp cho 55 sĩ quan chính trị và tất cả số sĩ quan này đều được đưa về các sư đoàn, sau này không ít người trong số họ đã trở thành cán bộ chủ chốt trong Quân đội Inđônêxia. Năm 1946, cuộc đấu tranh vũ trang của những người yêu nước Inđônêxia chống quân Anh và Hà Lan đã lan rộng trong cả nước. Lúc này, nhân dân và các lực lượng cánh tả trong Quốc hội Anh kịch liệt phản đối sự hiện diện của quân đội thực dân Anh ở Inđônêxia; đồng thời, ở ấn Độ, phong trào đòi rút quân Anh - Ấn do J.Nêu lãnh đạo cũng phát triển mạnh mẽ; vì vậy, việc Anh rút quân khỏi Inđônêxia chỉ là vấn đề ngày một, ngày hai. Trước khi rút quân khỏi Inđônêxia, quân Anh phối hợp với quân Hà Lan tiến hành một loạt chiến dịch đánh chiếm các khu vực quan trọng của Inđônêxia nhằm ngăn chặn việc mở rộng chính quyền cộng hoà. Do trình độ chỉ huy, khả năng tác chiến và vũ khí, trang bị hạn chế, quân đội Inđônêxia chủ yếu thực hiện chiến thuật phòng ngự tích cực không thực hiện được những trận tiêu hao, tiêu diệt lớn quân địch nên không thể giữ được các thành phố Sukabumi và Băngđung trên đảo Giava; thành phố Palembang trên đảo Xumatơra cũng bị đe dọa. Tình hình đó đòi hỏi phải nhanh chóng xoá bỏ tình trạng duy trì các đội quân manh mún của các đảng phái chính trị và thành lập một quân đội chính quy đủ sức đánh bại quân xâm lược. Chính phủ Inđônêxia chủ trương tổ chức lại quân đội, hợp nhất tất cả các đơn vị vũ trang của nước cộng hoà vào Quân đội quốc gia Inđônêxia. Chính phủ đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội lên hàng đầu, coi đây là nhiệm vụ sống còn của nhà nước cộng hoà non trẻ. Ngày 3 tháng 6 năm 1947, Tổng thống Xucácnô ra sắc lệnh hợp nhất tất cả các đơn vị vũ trang Inđônêxia thành Quân đội quốc gia Inđônêxia (TNI). Tuy nhiên, việc hợp nhất các lực lượng vũ trang của nước cộng hoà đã bị gián đoạn do các cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân Hà Lan cuộc Chiến tranh thực dân lần thứ nhất, từ 20-7-1947 đến 17-1-1948; cuộc Chiến tranh thực dân lần thứ hai, từ 18-12-1948 đến 15-8-1949).


Cuối năm 1949, nhân dân Inđônêxia giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chống thực dân Hà Lan và đế quốc Mỹ; nước Cộng hoà Inđônêxia ra đời, được nhiều nước trên thế giới công nhận và trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc (tháng 10 năm 1950). Lịch sử Inđônêxia bước sang một thời kỳ mới với nhiều biến động mới, trong đó luôn in đậm dấu ấn của quân đội.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:35:03 pm
2. Quá trình xây dựng, phát triển của Quân đội quốc gia Inđônêxia từ sau chiến tranh giải phóng

Khi Inđônêxia có điều kiện vững bước trên con đường độc lập dân chủ cũng là lúc các phe nhóm, đảng phái bắt đầu cuộc đấu tranh giành quyền lực, thường xuyên gây nên tình trạng bất ổn trong nước. Tình hình đó đã tác động trực tiếp, theo những chiều hướng khác nhau, đến quá trình xây dựng và phát triển của quân đội Inđônêxia. Cũng như các lực lượng chính trị của đất nước, sau chiến tranh, trong quân đội Inđônêxia ngày càng thể hiện rõ xu hướng phân hoá giai cấp, bị giằng xé giữa các đảng phái và hệ quả tất yếu là sẽ không đứng ngoài các cuộc tranh giành quyền lực.


Ngay từ thời kỳ chiến tranh giải phóng, do vai trò quan trọng của quân đội trong việc đánh bại thực dân, đế quốc nên chính quyền dân sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào giới chỉ huy quân sự. Sau năm 1949, quân đội bắt đầu tước đoạt nhiều chức năng của bộ máy dân sự. Giới chỉ huy quân sự ở các địa phương có xu hướng xây dựng một bộ máy song song với chính quyền dân sự và không phụ thuộc vào nó. Những người theo xu hướng này thâu tóm được những địa vị quan trọng ở địa phương và đã tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ sĩ quan, chủ yếu xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản, làm giầu bằng nhiều cách bất minh. Thực ra, ngay trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, nhiều sĩ quan quân đội đã bị lôi cuốn vào con đường làm giầu bất chính. Tướng A. Nasution, tổng tư lệnh lục quân Inđônêxia trong những năm chiến tranh đã phải thừa nhận: "Việc quân đội tham gia buôn bán đã trở nên rất phổ biến... Rất nhiều sĩ quan chỉ huy, từ cấp thấp đến cấp cao, đều tham gia; một số người tham gia buôn bán với quy mô lớn, có "công ty cổ phần" và "tập đoàn". Điều này dẫn đến số lượng lớn các vụ vi phạm. Nhiều khoản dự trữ đường, cà phê, chè, thuốc men... của Nhà nước và của dân bị đánh cắp"1 (Dẫn theo: R. E. Xevôchian, Quân đội trong thể chế chính trì của các nước phương Đông hiện đại, Nxb Nauka, Mátxcơva, 1973, tr.64, 66, 67).


Sau chiến tranh, Inđônêxia lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện và gay gắt, "khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng quân sự, khung hoảng đạo đức, khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực. Một cuộc khủng hoảng ngày càng gay gắt kể từ khi giành được chủ quyền. Tình hình trong nước bất ổn, đời sống nhân dân sa sút, sự bất đồng gia tăng... Chính phủ rõ ràng bất lực trước tình hình trước hết bởi không được sự ủng hộ của nhân dân, thứ hai là do sự yếu kém của nhà nước". Các hiện tượng tiêu cực xã hội như buôn lậu, móc ngoặc, tham nhũng, hối lộ... nảy sinh từ thời thuộc địa nay tiếp tục phát triển tràn lan, xâm nhập ngày càng sâu vào hàng ngũ lực lượng vũ trang. Đặc biệt, tình trạng thiếu thốn vũ khí, quân trang, quân lương... đôi khi đã buộc chỉ huy các cấp phải tìm cách tự bảo đảm; do đó họ tìm cách móc nối với giới chức trách, với các nhà buôn, với những kẻ đầu cơ... Việc giao tiếp với những thành phần như vậy không thể không tác động tiêu cực đến một bộ phận sĩ quan quân đội, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc rút ruột nhà nước và nạn hối lộ phát triển. Ngoài ra, sau chiến tranh, địa vị quan trọng của hàng ngũ sĩ quan trong bộ máy chính quyền và chức năng quản lý hành chính của họ được mở rộng đã dẫn đến tình trạng những người trước đây có công với đất nước nay trở thành những người thoái hoá, biến chất. Điều đáng nói là họ không phải số ít, mà là một lực lượng giai cấp, một lực lượng chính trị mới.


Vào đầu những năm 50 của thế kỷ trước, giới quân sự tham gia hoạt động chính trị với một sức sống mới. Nếu như trong những năm chiến tranh cách mạng, quân đội không công khai đòi hỏi tham gia giải quyết những vấn đề hệ trọng nhất của quốc gia thì giờ đây, với lý do đã góp phần làm nên truyền thống cách mạng của Quân đội quốc gia, đã từng tham gia chiến tranh giải phóng..., hàng ngũ sĩ quan cao cấp đặt vấn đề đó ngày càng quyết liệt. Tất cả các nhóm và phe phái sĩ quan trong lục quân đều đòi quyền tham gia trong đời sống chính trị và giải quyết các vấn đề quốc gia đại sự. Song song với quá trình phân hoá lực lượng chính trị trong xã hội, trong hàng ngũ sĩ quan cũng có sự phân hoá giữa các nhóm và phe phái với những đòi hỏi quyền lợi khác nhau. Một bộ phận sĩ quan chân chính nhận thấy con đường của cách mạng Inđônêxia đã bị đảo ngược; họ bất bình trước tính chất thiếu dân chủ của hệ thống nghị trường, trước sự áp đặt của những người trước đây tham gia bộ máy chính quyền thực dân, hợp tác với người Hà Lan. Một bộ phận khác cho rằng phải có sự thay đổi trong hệ thống chính trị mới có thể tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề nóng bỏng của xã hội; họ phê phản nền dân chủ nghị trường với những cuộc cãi vã triền miên giữa các đảng phái. Các sĩ quan cao cấp kiến nghị tập trung quyền lực cho tổng thống và quân đội; họ muốn khôi phục hiến pháp năm 1945 và cho rằng đó là con đường phục hồi những lý tưởng cách mạng. Cuối cùng, một bộ phận đáng kể trong hàng ngũ sĩ quan, chủ yếu là những người từ các vùng biên đảo mà ở địa bàn của mình họ là những "ông hoàng", kiểm soát toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị ở địa phương. Những người này cho rằng việc quân đội nắm quyền lãnh đạo đất nước sẽ đem lại cho họ nhiều đặc quyền, đặc lợi và mở đường cho họ làm giầu. Các sĩ quan này có quan hệ mật thiết với các nhóm tư sản liên quan đến ngoại thương hoặc xuất thân từ các gia đình quý tộc và tư sản Hồi giáo. Các quan hệ này được thiết lập theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Về phần mình, các nhà tư sản mới hồi sinh cho rằng việc thực hiện chế độ quyền uy dựa vào sức mạnh quân sự sẽ tạo cho họ những điều kiện rất thuận lợi để bảo vệ quyền lợi của mình.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:39:45 pm
Trong những năm đầu chuyển sang thời kỳ "dân chủ có định hướng" (1957-1965), một bộ phận sĩ quan quân đội công khai chuyển sang lập trường thân đế quốc; sự phân hoá trong hàng ngũ lực lượng vũ trang Inđônêxia càng trở nên sâu sắc. Các phần tử tư sản phản động trong quân đội đã tập hợp lại nhằm giáng một đòn mạnh, tiến tới lật đổ Chính phủ Trung ương ở Giacácta. Các cuộc bạo động và phá hoại do các phần tử này tổ chức với sự ủng hộ của các đảng phái hữu liên tiếp nổ ra ở vùng biên đảo, dẫn đến các vụ xung đột giữa các đơn vị vũ trang. Đây thực sự là những cuộc bạo động phản cách mạng với sự trợ giúp của các thế lực phản động nước ngoài. Tướng Nasution khẳng định: "Đây là những cuộc bạo loạn mà những người tham gia đã công khai hợp tác với nước ngoài... Các nhóm phá hoại, phân liệt và phản cách mạng đã nhận được sự giúp đỡ về vũ khí từ nước ngoài..., thậm chí có những máy bay hiện đại hơn của nước Cộng hoà Inđônêxia"1 (Dẫn theo: R. E. Xevôchian, Sđd, tr.68). Tình hình diễn biến phức tạp đến mức Inđônêxia phải áp dụng tình trạng thiết quân luật trong một thời gian dài.


Việc một bộ phận sĩ quan quân đội công khai chuyển sang lập trường thân đế quốc trong giai đoạn 1957-1961 cho thấy quá trình phân hoá xã hội trong quân đội Inđônêxia đã có thêm một xu hướng mới. Các phần tử phản động nhất đã tập hợp lại trong liên minh quân - dân sự nhằm ngăn cản sự phát triển các xu hướng tiến bộ trong đời sống chính trị Inđônêxia. Tuy nhiên, đa số trong quân đội cùng Bộ Tổng tư lệnh đã đứng lên bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước.


Việc ban bố tình trạng thiết quân luật ở Inđônêxia do các cuộc bạo loạn liên tiếp xảy ra trong những năm 50 của thế kỷ trước đã dẫn đến sự mở rộng chức năng quản lý hành chính của những sĩ quan trung thành với chính phủ. Nhiều tổ chức kinh tế và tổ chức nhã nước được đặt dưới sự kiểm soát của lực lượng vũ trang. Bộ máy hành chính của quân đội ở nhiều địa phương hoạt động độc lập và không phụ thuộc chính quyền dân sự. Đến năm 1958, quân đội kiểm soát việc quản lý dân sự trên 80% lãnh thổ đất nước; gần 4.000 sĩ quan được đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế để quản lý những tài sản tịch thu của người Hà Lan1 (R. E. Xevôchian, Sđd, tr.69). Đại diện của quân đội kiểm soát hoạt động xuất, nhập khẩu, phân phối lương thực và tất cả các loại phương tiện vận tải.


Năm 1959, Inđônêxia trở lại thực hiện hiến pháp năm 1945. Không cần phải tiến hành đảo chính để giành quyền lực, các nhà hoạt động quân sự thời kỳ này trở thành một trong những nhân tố có vai trò quyết định trong hệ thống quyền lực bên cạnh bộ máy dân sự.


Việc giới quân sự tăng cường can thiệp vào công việc quản lý nhà nước, trước hết là nắm trong tay các chức năng quản lý kinh tế, đã dẫn đến hậu quả hai mặt. Thứ nhất, quân đội hoàn toàn biến thành một kênh quan trọng nhất của sự vận động xã hội, trở thành tầng lớp giầu có. Nếu như trước đây, các quân nhân lợi dụng ảnh hưởng của mình để làm giầu cá nhân một cách bất hợp pháp thì với việc thiết lập chế độ thiết quân luật, họ có thể làm việc này hầu như tự do và với quy mô lớn chưa từng thấy. Thứ hai, việc quân đội tích cực tham gia vào công việc hành chính, kinh tế và chính trị diễn ra trong giai đoạn khi mà sự phân hoá trong hàng ngũ sĩ quan do các cuộc bạo loạn gây ra đã lên đến đỉnh điểm. Những người chỉ huy quân đội trung thành với Chính phủ Trung ương thực chất đã quay súng chống lại những đồng chí của mình, những người đã cùng chiến đấu chống thực dân Hà Lan. Đôi khi, với sự giúp đỡ của các tổ chức cách tả, quân đội cũng tiến hành đàn áp các nhóm thân đế quốc phản động nhất trong giới quân sự và dân sự.


Các lực lượng dân tộc yêu nước trong xã hội đã không thiết lập được một liên minh với giới quân sự. Được đặt vào địa vị đặc quyền, đặc lợi, đội ngũ sĩ quan Inđônêxia muốn thúc đẩy quá trình củng cố ảnh hưởng của mình để có thể làm giầu. Quá trình thoái hoá, biến chất bộ phận cấp tiến trước đây trong quân đội diễn ra nhanh chóng. Khác với các đảng phái khác không có đầy đủ ảnh hưởng trong các bộ và trong bộ máy nhà nước nói chung, quân đội giống như một "lực lượng thứ ba", thực sự là một "đảng nhà nước". Chính thực tế đó đã dẫn đến việc quân đội có khả năng tăng cường giám sát các tổ chức dân sự, kiểm soát toàn bộ sự vận động chính trị, xã hội của đất nước.


Trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, ngày càng có nhiều phe nhóm chính trị Inđônêxia phải lệ thuộc vào lực lượng vũ trang. Duy nhất Xucácnô còn giữ được thế độc lập tương đối. Một điều đáng lưu ý là chính quân đội đã đóng vai trò là lực lượng chính mở đường cho xucácnô lên cầm quyền; ngay tư tưởng trở lại hiến pháp năm 1945 của ông cũng là do tướng Nasution hiến kế. Song, quân đội lúc này không phải là quân đội chỉ đấu tranh đòi được công nhận là một lực lượng chính trị như ít năm trước đó mà là một quân đội khác, một quân đội nhận thức được đầy đủ sức mạnh của mình. Điều đó có nghĩa là tầng lớp sĩ quan cao cấp sẽ không dừng lại ở những gì họ đã đạt được; họ không thoả mãn với địa vị hiện có trong “thế chân vạc" Xucácnô - quân đội - Đảng Cộng sản. Trong điều kiện đó, Xucácnô bắt tay vào thực hiện chủ trương dân chủ định hướng" mà thực chất là xác lập thiết chế tổng thống. Tháng 3 năm 1960, nghị viện bầu cử bị giải tán và thay vào đó là một nghị viện chỉ định (theo nguyên tắc hợp tác qua lại). Năm 1963, Xucácnô được tuyên bố là tổng thống suốt đời. Hoạt động của các đảng bị hạn chế và đặt dưới sự kiểm soát của quân đội và nhà nước. Báo chí cũng bị kiểm soát chặt chẽ, việc phê phán chính phủ bị nghiêm cấm. Các cuộc mít tinh, tuần hành và hội họp chỉ được tiến hành khi được chính quyền cho phép.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:40:34 pm
Từ năm 1960, các sĩ quan cao cấp của lục quân Inđônêxia bắt đầu mở chiến dịch tập hợp liên minh chính trị mới. Mặc dù Xucácnô có ý định “phân chia lại" và cải tổ thể chế hiện hành nhằm chia nhỏ nhiều chức năng của chính quyền cho các phe nhóm khác nhau, song các phần tử giầu có đã tìm cách câu kết với nhau dưới sự che chắn của một bộ phận đáng kể các sĩ quan quản lý hành chính ở trung ương và các địa phương.


Mặc dù trong những năm 60, đảng tư sản phái hữu lớn nhất là Đảng Masumi và Đảng Xã hội bị cấm hoạt động, nhưng các đảng viên của hai đảng này vẫn tiếp tục giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước và các bộ. Các đảng phái hữu khác hoạt động hợp pháp cũng có ảnh hưởng lớn trong bộ máy nhà nước. Đây là kênh quan trọng để các phe nhóm phái hữu duy trì sự hợp tác. Một kênh khác là sự tham gia ngày càng rộng rãi của lực lượng vũ trang trong hoạt động quản lý hành chính đã tạo điều kiện cho họ hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương. Trong những năm "dân chủ định hướng", sĩ quan quản lý hành chính, người đứng đầu chính quyền địa phương, chánh án và một loạt quan chức khác câu kết thành một nhóm quyền lực, kiểm soát toàn bộ đời sống của địa phương. Hình thức quản lý đa đảng này ở các địa phương cũng phản ánh mối quan hệ giữa các thể chế chính trị và quan liêu trên quy mô cả nước, trong đó thể hiện xu hướng gia tăng áp lực của quân đội ngày càng rõ nét. Trong cơ cấu quyền lực đó, trước khi xảy ra sự kiện ngày 30 tháng 9 năm 1965 khó có thể xác định hệ thống nào đảm đương trách nhiệm chính. Trong mối quan hệ giữa bộ máy quân sự và dân sự, việc phân đỉnh lĩnh vực hoạt động của họ cũng không rõ ràng. Sự đan xen, chồng chéo chức năng giữa các quan chức quân sự và dân sự trong liên minh rất không hoàn thiện này đã làm cho họ xích lại gần nhau. Biểu hiện cụ thể của sự hợp tác giữa các nhóm quân sự và dân sự là năm 1964, các đảng phái hữu với sự hỗ trợ của giới chỉ huy quân đội tổ chức ra cái gọi là Hội bảo vệ chủ nghĩa Xucácnô. Chính sự chồng chéo chức năng giữa cáo quan chức quân sự và dân sự đã dẫn đến nhiều vụ vi phạm pháp luật trong xã hội và quân đội nói riêng.


Nói tóm lại, "dân chủ định hướng" đã không đem lại cho Inđônêxia một sự ổn định chính trị cũng như sự phát triển kinh tế. Tình trạng khủng hoảng trong nước ngày càng trầm trọng, Inđônêxía rút khỏi tổ chức Liên hợp quốc1 (Năm 1965, lnđônêxia tuyên bố rút khỏi Liên hợp quốc, nhưng sau 1 năm lại trở lại mà không cần phải tiến hành các thủ tục kết nạp). Đến năm 1965, sự phân hoá lực lượng đã làm cho thể chế chính trị rêu rã đến mức chỉ cần một "cú hích” nhỏ cũng có thể làm nó sụp đổ. "Cú hích" đó là "Phong trào 30 tháng 9" với cuộc đảo chính đêm 30-9 rạng ngày 1-10-1965, một cuộc đảo chính mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước nói chung và quân đội Inđônêxia nói riêng.


Nhằm ngăn chặn kế hoạch của một số tướng lĩnh câu kết với CIA tiến hành đảo chính lật đổ Chính phủ vào đầu tháng 10, đêm 30 tháng 9 rạng ngày 1 tháng 10 năm 1965, trung tá Untung, tiểu đoàn trưởng thuộc Trung đoàn cận vệ Trácrabirav của Tổng thống đã chỉ huy một số sĩ quan và binh sĩ, có một số người lãnh đạo Đảng Cộng sản tham gia, tấn công vào nhà ở của 7 tướng lĩnh đứng đầu quân đội, bắt và tiêu diệt 6 người, Bộ trưởng Quốc phòng Nasution may mắn thoát chết. Ngày hôm sau, tướng Xuháctô, Tư lệnh lực lượng dự bị chiến lược nắm quyền chỉ huy lực lượng lục quân đã huy động lực lượng trấn áp những người tham gia "Phong trào 30 tháng 9", nhất là các đảng viên Đảng Cộng sản và các nhân sĩ cánh tả.


Sau "sự kiện 30 tháng 9", giới lãnh đạo quân đội do Xuháctô đứng đầu chủ trương chuyển sang thực hiện chế độ “trật tự mới" thay cho "dân chủ định hướng"; trước mắt cố gắng giải quyết một số nhiệm vụ chính trị cơ bản:

1. Biến quân đội thành một cơ cấu duy nhất và trung thành với những người lãnh đạo mới, có khả năng quản lý đất nước trong khuôn khổ học thuyết hai chức năng của quân đội Inđônêxia (phòng thủ, bảo đảm an ninh nội địa và phát triển);

2. Làm mất uy tín, hạ bệ Tổng thống Xucácnô và trấn áp triệt để bất kỳ sự chống đối nào của cánh tả;

3. Tổ chức lại hệ thống chính trị của đất nước sao cho các đảng và các thể chế chính trị không thể cản trở việc thành lập một nhóm quyền lực tối cao cứng rắn và tập trung;

4. Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội tương đối rộng rãi và vững mạnh của chế độ mới, điều đó chỉ có thể đạt được trên cơ sở thực hiện thắng lợi các cải cách kinh tế.


Nhằm từng bước phế truất Xucácnô, trước tiên quân đội tiến hành thanh trừng tay chân của Tổng thống trong giới chóp bu của chính quyền dân sự. Tháng 3 năm 1966, Xucácnô trên thực tế bị tước toàn quyền tổng thống; sau đó kỳ họp đặc biệt của Đại hội hiệp thương nhân dân lâm thời (tháng 3 năm 1967) chỉ định Xuháctô làm Quyền tổng thống. Một năm sau, tháng 3 năm 1968, Đại hội hiệp thương nhân dân với thành phần gồm những người ủng hộ chế độ mới bầu Xuháctô làm Tổng thống toàn quyền của đất nước.


Để tập trung quyền lực, trước tiên chinh quyền mới tiến hành cải cách quân đội. Những tướng lĩnh không chiếm được lòng tin của người lãnh đạo mới, tướng Xuháctô, đã phải từ bỏ chức vụ của mình. Tất cả các binh chủng được đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Bộ trưởng Quốc phòng. Để kiểm soát chặt chẽ tất cả các đơn vị quân đội đóng quân ở mọi miền đất nước, quân đội tổ chức 6 bộ tư lệnh phòng vệ khu vực; các tư lệnh phải định kỳ luân chuyển chức vụ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:41:46 pm
Theo học thuyết về hai chức năng của quân đội, việc kiểm soát chức năng bảo đảm an ninh nội địa và phát triển là trách nhiệm của toàn bộ cơ cấu hành chính. Hệ thống chỉ huy lực lượng vũ trang theo lãnh thổ được tổ chức gồm các bộ chỉ huy quân sự tỉnh (Côđam), dưới đó là ban chỉ huy quân sự huyện (Côđim) và cuối cùng là các chức vụ chỉ huy dưới cấp huyện (Côramil). Mỗi làng có một hạ sĩ quan "phát triển nông thôn". Toàn bộ hệ thống này vừa làm nhiệm vụ phòng thủ lãnh thổ và an ninh nội địa, vừa tham gia giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội.


Trước các sự kiện mùa thu năm 1965, ảnh hưởng của giới quân sự trong bộ máy hành chính địa phương đã rất đáng kể; sau cuộc đảo chính, ảnh hưởng này càng rõ nét. Nếu như năm 1965, giới quân sự chỉ nắm quyền đứng đầu ở 12 trong tổng số 25 tỉnh của cả nước thì năm 1968 tăng lên 17 tỉnh1 (Đ.V. Môxiacốp, V.A. Chiurin, Lịch sử Đông Nam Á, Trưởng Đại học tổng hợp Phương Đông xuất bản, Mátxcơva, 2004, tr.314); ở bộ máy hành chính các cấp dưới, giới quân sự tham gia với tỷ lệ cũng không ít hơn.


Cuộc bầu cử quốc hội năm 1971 được tiến hành dưới sự kiểm soát hoàn toàn của quân đội và thắng lợi thuộc về Đảng Golkar được thành lập năm 1964 với tên gọi đầy đủ là Ban thư ký thống nhất các nhóm chức năng; đây là Công cụ chính trị quan trọng của giới lãnh đạo quân sự, "người anh em ruột thịt của lực lượng vũ trang"). Sau cuộc bầu cử dưới áp lực của chế độ quân sự, các đảng hoàn toàn mất đi tính độc lập về tổ chức và chủ động chính trị. Cuối cùng, trong vô số các đảng muôn màu muôn vẻ, ngoài Golkar chỉ còn lại hai đảng nữa là Đảng Hồi giáo thống nhất và phát triển (PER) và Đảng Dân chủ Inđônêxia (DPI); nhưng trong suốt một thời gian dài hai đảng này không gây được ảnh hưởng đáng kể trong đời sống chính trị của đất nước.


Chế độ "trật tự mới" được định hình về mặt pháp lý tại kỳ họp Đại hội hiệp thương nhân dân năm 1973. Cũng tại kỳ họp này, tướng Xuháctô được bầu làm Tổng thống nhiệm kỳ 5 năm tiếp theo; đồng thời, những quyền hạn đặc biệt của tổng thống được quy đinh từ năm 1 966 vẫn tiếp tục có hiệu lực.


Trong thời kỳ "trật tự mới", nhờ giữ được tình hình tương đối ổn định và thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng xuất khẩu dầu mỏ, nền kinh tế Inđônêxia phát triển rất nhanh. Đến năm 1980, tổng sản phẩm quốc nội đã tăng gần gấp đôi so với năm 1970. Điều quan trọng là trong suốt thời kỳ từ những năm 70 đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, Inđônêxia duy trì được nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định và ở mức cao, trung bình hàng năm tăng 7-8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.000 USD/năm1 (Đ.V. Môxiacốp, V.A. Chiurin, Sđd, tr.317).


Nền kinh tế phát triển nhanh và khá vững chắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Chính phủ Inđônêxia đã không ngừng hiện đại hoá quân đội với ba quân chủng hải, lục và không quân; trong đó đặc biệt hải quân và không quân đã được ưu tiên đầu tư phát triển và từng bước trở thành lực lượng quân sự mạnh, có khả năng phản ứng nhanh, đối phó hiệu quả với tình hình bất ổn định trong nước và tham gia ngăn chặn xung đột khu vực.


Trong quá trình phát triển, quân đội Inđônêxia đã và đang có những nỗ lực trong quá trình thực hiện chính quy và hiện đại hoá. Inđônêxia chủ trương trang bị cho quân đội theo hai nguồn: mua sắm từ bên ngoài và tự chế tạo trong nước. Về mua sắm, họ chủ trương đa phương hoá, không quá tập trung phụ thuộc vào một nguồn nào, một nước nào. Về tự chế tạo, Inđônêxia có chiến lược phát triển ngành công nghiệp quốc phòng từ rất sớm. Nền công nghiệp quốc phòng Inđônêxia có khả năng chế tạo tốc hạm nhỏ và các loại máy bay chiến đấu theo thiết kế có sẵn. Quân đội Inđônêxia đã từng bước chế tạo nhiều chi tiết, phụ tùng máy bay và chọn ngành hàng không làm mũi nhọn. Do đó, hiện nay Inđônêxia có các cơ sở công nghiệp chuyên sản xuất và sửa chữa máy bay vận tải quân sự và máy bay lên thẳng đa năng, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cho một số nước trong khu vực. Công nghiệp quốc phòng Inđônêxia đã chế tạo được loại trực thăng chở trên các hạm tàu để yểm trợ cho hải quân đánh bộ...


Tiếp theo cuộc cải cách quân đội tiến hành vào đầu thời kỳ "trật tự mới", những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ XX), giới lãnh đạo quân đội Inđônêxia tiếp tục tiến hành một cuộc cải cách sâu rộng trong quân đội. Quá trình đó được thực hiện theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn thứ nhất, từ tháng 12 năm 1982 đến tháng 5 năm 1983: Nội dung cải cách chủ yếu là chuyển giao thế hệ. Đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong quân đội Inđônêxia dần được trẻ hoá, lớp cán bộ lão thành đã tự nguyện rút khỏi chính trường và quân đội, nhường chỗ cho lớp cán bộ trẻ được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao, đủ sức đảm đương nhiệm vụ trong những điều kiện và hoàn cảnh mới.

- Giai đoạn thứ hai, từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1983: Biện pháp chủ yếu ở giai đoạn này là tổ chức bộ máy cấp bộ. Cụ thể, tách Bộ Quốc phòng và An mình thành bộ độc lập thay vì trước đó trực thuộc Bộ các lực lượng vũ trang; đồng thời tiếp tục trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp bộ. Bộ Quốc phòng và An ninh có nhiệm vụ hoạch định các kế hoạch và chính sách có liên quan đến an ninh và phòng thủ quốc gia. Ngoài ra, bộ này còn có trách nhiệm làm kế hoạch ngân sách quốc phòng. Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và An ninh. Cơ quan Tổng hành dinh các lực lượng vũ trang Inđônêxia có nhiệm vụ chỉ huy và điều hành tác chiến đói với tất cả các bộ tư lệnh quân khu, bộ tư lệnh các quân, binh chủng.

- Giai đoạn thứ ba, từ tháng 4 năm 1985 đến tháng 3 năm 1986: Nội dung cải cách cụ thể là tổ chức lại cơ cấu trong quân đội, chủ yếu tập trung Ơ các quân khu, quân đoàn và lực lượng chiến thuật; đồng thời tổ chức lại hệ thống các trường đào tạo trong quân đội, củng cố lực lượng bộ đội địa phương.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:44:13 pm
Inđônêxia thực hiện chế độ quân dịch theo nghĩa vụ kết hợp tình nguyện. Thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự là 2 năm; tuổi phục vụ cao nhất là 55. Quân hàm có 4 cấp 18 bậc; cấp tướng có đại tướng, trung tướng, thiếu tướng và chuẩn tướng; cấp tá có đại tá, trung tá và thiếu tá; cấp uý có đại úy trung úy, thiếu úy, chuẩn úy bậc 1 và chuẩn úy bậc 2; hạ sĩ quan, binh lính có các bậc: thượng sĩ nhất, trung sĩ, hạ sĩ, binh nhất, binh nhì.


Theo luật sĩ quan quân đội Inđônêxia, độ tuổi nghỉ hưu đối với sĩ quan là 55 tuổi. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, độ tuổi này có thể xê dịch sớm hơn hoặc muộn hơn. Riêng đối với Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, việc nghỉ hưu phải do Tổng thống phê chuẩn. Cho đến thời điểm trước năm 1982, đại đa số sĩ quan cao cấp trong quân đội Inđônêxia đều thuộc thế hệ đã từng tham gia chiến đấu chống quân xâm lược Hà Lan. Thế hệ này còn được gọi là "Thế hệ trước 1945”. Xuất phát từ đặc thù mang tính lịch sử đó vấn đề chuyển giao thế hệ được coi là một trong những trọng tâm của chương trình cải cách quân đội. Kết quả, sau 5 năm thực hiện cải cách (kể từ 1982), quân đội Inđônêxia đã có một diện mạo mới, số sĩ quan trưởng thành trong chiến đấu được thay thế bằng đội ngũ sĩ quan trẻ, được đào tạo cơ bản, có đủ trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để đảm đương những nhiệm vụ trong giai đoạn lịch sử mới.


Quá trình "chuyển giao thế hệ" nói trên trong quân đội Inđônêxia đã diễn ra trên tinh thần hết sức chân tình và đoàn kết, lớp cán bộ "già" có nhiều cống hiến đã sẵn sàng nhường chỗ và truyền thụ kinh nghiệm cho lớp cán bộ trẻ trong quân đội.


Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn tiếp theo trong chương trình cải cách quân đội là tổ chức lại các bộ tư lệnh quân khu, cơ cấu lại các quân, binh chủng... Kết quả, đã giảm số bộ tư lệnh các quân khu từ 16 xuống còn 10; xoá bỏ bộ tư lệnh phòng vệ hỗn hợp tại 6 khu vực, đồng thời xoá bỏ sở chỉ huy cấp lữ đoàn; chức năng yểm trợ của lữ đoàn trước đây nay giao cho các bộ tư lệnh quân khu; các đơn vị quân chính quy được đưa về bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố nhằm tăng cường khả năng tác chiến và sẵn sàng chiến đấu. Theo mô hình tổ chức mới, mỗi bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố có ít nhất một tiểu đoàn bộ binh.


Inđônêxia chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng hải quân và không quân. Hiện tại, trang bị của hai quân chủng này chưa thật tương xứng với chức năng và nhiệm vụ được giao, bởi Inđônêxia có hàng chục nghìn kilômét bờ biển. Do vậy, Inđônêxia đã chủ trương dựa vào Mỹ để tranh thủ viện trợ vũ khí hiện đại, tham gia các cuộc tập trận song phương và đa phương nhằm nâng cao khả năng chiến đấu cho quân đội.


Đến cuối năm 2005, quân thường trực Inđônêxia có số lượng khoảng 582.000 người, trong đó lục quân có 233.000; hải quân có 45.000; không quân 24.000 và 280.000 quân địa phương. Ngoài số quân thường trực kể trên, Inđônêxia còn có khoảng 400.000 quân dự bị và 195.000 cảnh sát chiến đấu.


Cụ thể tổ chức của ba quân chủng trong quân đội quốc gia Inđônêxia như sau:

Lục quân

Lục quân được coi là quân chủng có tầm quan trọng bậc nhất, có số quân đông nhất so với hải quân và không quân bởi đây không chỉ là quân chủng có vai trò quyết định thành bại của chiến tranh, theo quan điểm truyền thống, mà chủ yếu là vì lục quân thực hiện đầy đủ các chức năng cơ bản của lực lượng vũ trang nước Cộng hoà Inđônêxia.


Do nhu cầu của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, lục quân là quân chủng ra đời sớm nhất và có truyền thống chiến đấu vẻ vang nhất trong cuộc đấu tranh đó. Sau khi giành được độc lập, lục quân vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong mọi biến cố và mọi sự kiện chính trì lớn của đất nước.


Trong cơ cấu quyền lực của nhà nước Inđônêxia, lục quân có số đại biểu bao giờ cũng đông nhất so với các thành phần lực lượng vũ trang khác. Điều này chứng tỏ vai trò, vị trí của lục quân trong quân đội và trong chính trường Inđônêxia; và cũng hợp lý khi mà quân số lục quân luôn luôn chiếm đại đa số và hùng hậu nhất trong lực lượng quân thường trực cả nước.


Bảng cơ cấu lực lượng vũ trang và quân đội Inđônêxia từ 1983-1993 cho thấy điều đó1 (Asia Pacific Arms Biuldups. lnstitute of lnternalional Relations, opcid., p.16):


(http://img185.imageshack.us/img185/671/image008tc4.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:44:55 pm
Với tư cách là lực lượng quân sự nòng cốt trong công cuộc phòng thủ đất nước, lục quân đã cụ thể hoá quan điểm toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh tổng lực từ bên ngoài tới. Các nhà chiến lược quân sự Inđônêxia đã xác định một chiến lược kháng chiến gồm ba giai đoạn nối tiếp nhau và khẳng định, thắng lợi của chiến lược đó phụ thuộc vào mối quan hệ mật thiết quân dân; dựa vào mối quan hệ đó, lực lượng vũ trang nói chung và lục quân nói riêng sẽ tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp xã hội và các dân tộc Inđônêxia. Chiến lược kháng chiến ba giai đoạn đòi hỏi phát huy tối đa khả năng tác chiến và sức mạnh tổng hợp của cả nước, trước hết là của các địa phương và của cả ba thứ quân: lực lượng chủ lực, lực lượng bảo vệ lãnh thổ địa phương và lực lượng bán vũ trang.


Để có sức mạnh và giành thắng lợi trong chiến tranh, ngay từ trong thời bình, Inđônêxia thường xuyên chú trọng xây dựng cho lục quân một lực lượng dự bị hùng hậu và một lực lượng thường trực có số quân cần thiết; thực hiện sự kết hợp thoả đáng giữa quốc phòng và kinh tế. Với quan điểm lấy chất lượng làm trọng, bên cạnh việc hoàn thiện tổ chức, thực hiện chế độ huấn luyện nghiêm ngặt, Inđônêxia còn tích cực cải tiến và đổi mới vũ khí, trang bị quân sự.

Về tổ chức, lực lượng lục quân Inđônêxia được tổ chức theo hai hệ thống cơ bản:

Hệ thống thứ nhất là lực lượng lục quân chính quy ở các quân khu, các tỉnh và bên cạnh nó là lực lượng dân phòng. Lực lượng chính quy đóng vai trò chủ yếu trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Inđônêxia. Cơ quan điều hành cao nhất của lực lượng lục quân ở các quân khu, vùng lãnh thổ là bộ tư lệnh các quân khu. Bộ tư lệnh quân khu thường do các sĩ quan quân hàm thiếu tướng làm tư lệnh; đây là những sĩ quan có uy tín và năng lực cao trong quân đội. Các bộ tư lệnh quân khu thực hiện quyền chỉ huy của mình thông qua các bộ tư lệnh cấp dưới, đó là bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố do các đại tá đứng đầu và dưới nữa là cấp quận, huyện, do các sĩ quan từ đại úy đến trung tá chỉ huy.


Hiện nay, toàn bộ lãnh thổ Inđônêxia được chia thành 10 quân khu sau.

- Quân khu 1: Bắc Xumatơra; sở chỉ huy: Medan;

- Quân khu 2: Nam Xumatơra; sở chỉ huy: Palembang;

- Quân khu 3: Tây Giava; sở chỉ huy: Băngđung;

- Quân khu 4: Trung Giava; sở chỉ huy: Gióc Giacácta;

- Quân khu 5: Đông Giava; sở chỉ huy: Surabaya;

- Quân khu 6: Kalimantan; sở chỉ huy: Balikpapan;

- Quân khu 7: Sulavêxi; sở chỉ huy: Ugiungpanđang;

- Quân khu 8: Tây Irian; sở chỉ huy: Giayapura;

- Quân khu 9: Bali và Đông Timo; sở chỉ huy: Bali;

- Quân khu 10: Thủ đô Giacácta.


Từ năm 2000, Đông Timo tách ra thành lập quốc gia độc lập do đó Quân khu 9 chỉ còn khu vực Bali.
Lực lượng các quân khu gồm có 63 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đổ bộ đường không, 8 tiểu đoàn ky binh thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo mặt đất, 9 tiểu đoàn phòng không và 1 phi đội trực thăng.


Hệ thống thứ hai của lực lượng lục quân Inđônêxia là lực lượng dự bị chiến lược, đặt dưới sự chỉ huy và điều hành của Bộ tư lệnh lực lượng dự bị lục quân chiến lược (KOSTRAD); có sở chỉ huy tại Giacácta. Lực lượng này bao gồm hai khung sư đoàn, 13 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn ky binh thiết giáp, 2 lữ đoàn đổ bộ đường không, 5 trung đoàn pháo mặt đất, 4 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn công binh. Tư lệnh KOSTRAD là một sĩ quan cấp thiếu tướng; chỉ huy các sư đoàn là sĩ quan cấp chuẩn tướng.


Trong thành phần của lục quân còn có một số đơn vị thuộc Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt (KOPASSUS) làm nhiệm vụ tác chiến đặc biệt, bao gồm một số binh đoàn cơ động, thường gọi là "lính mũ nồi đỏ". KOPASSUS là lực lượng được huấn luyện thành thục nhất trong quân đội quốc gia Inđônêxia. Lực lượng này gồm những binh sĩ có kinh nghiệm, có sức khoẻ, chấp hành nghiêm kỷ luật, phải trải qua các cuộc kiểm tra nghiêm ngặt về tâm lý và kỹ thuật. KOPASSUS có hai nhóm hoạt động chiến đấu đặc biệt, một nhóm hoạt động bí mật, một đơn vị chống khủng bố (đơn vị 81) và Trung tâm huấn luyện. Sở chỉ huy đóng tại Giacácta. Hầu hết các hoạt động của KOPASSUS được thực hiện bởi các nhóm nhỏ, trong đó các nhân viên đều có đủ kỹ năng đáp ứng bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào, vì họ được huấn luyện hoàn hảo và đồng bộ các chuyên ngành như chiến thuật, kỹ thuật tình báo, thông tin, y tế, phá hoại, các hoạt động bán quân sự... Phần lớn nhân viên của KOPASSUS phục vụ trong đơn vị gần như suốt thời gian đương nhiệm, kể cả những sĩ quan không được thăng quân hàm nhưng có ý thức chấp hành nghiêm kỷ luật. Những đòi hỏi nghiêm ngặt và toàn diện đó chính là những yếu tố tạo nên sức mạnh của KOPASSUS.


Nhằm giải quyết kịp thời và hiệu quả những tình huống khẩn cấp tại các vùng khác nhau trong quần đảo, mới đây lục quân Inđônêxia còn tổ chức "Lực lượng phản ứng nhanh", thường gọi là “Lính mũ nồi xanh". Lực lượng này gồm chủ yếu các binh đoàn sẵn sàng chiến đấu của lục quân cùng với một số đơn vị hải quân và không quân. Đây là một lực lượng được tổ chức theo kinh nghiệm của nhiều nước và xuất phát từ yêu cầu phản ứng mau lẹ của Inđônêxia, một nước có nhiều đảo và diện tích rộng. Để bảo đảm sẵn sàng phản ứng nhanh của lực lượng này, lục quân đã xây dựng các phương án huấn luyện, có diễn tập phối hợp với các lực lượng hải quân và không quân, cũng như phối hợp với lực lượng quân đội các nước trong vùng.


Lục quân Inđônêxia được trang bị các loại xe tăng, thiết giáp, pháo, cối và các loại vũ khí bộ binh khác; trong thành phần lục quân còn có lực lượng tên lửa phòng không và không quân của lục quân.


Theo tài liệu nước ngoài, lực lượng lục quân Inđônêxia được biên chế thành 70 tiểu đoàn bộ binh, 13 tiểu đoàn bộ binh không vận, 4 tiểu đoàn đặc biệt, 8 tiểu đoàn thiết giáp 10 tiểu đoàn pháo mặt đất, 10 tiểu đoàn pháo phòng không, 10 tiểu đoàn công binh và 2 phi đoàn không quân1 (Janes, World Army. lssue 6.2002, p.299-300).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:45:55 pm
Hải quân

Là một quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới, với tổng chiều dài bờ biển 25.547 km, Inđônêxia có một vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 1.577.300km2, có trên 300 cơ sở khai thác dầu lửa và các tài nguyên khác. Inđônêxia có vị trí chiến lược, án ngữ các tuyến giao thông hàng hải quan trọng từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương qua eo biển Malắcca, nơi chiếm tới hơn 1/3 tổng lượng hàng hoá thông thương bằng đường biển trên thế giới.


Xuất phát từ đặc điểm địa chiến lược trên, ngay từ những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, Chính phủ Inđônêxia đã tập trung nỗ lực phát triển lực lượng hải quân. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế, chính trị lúc đó, lực lượng hải quân Inđônêxia vào cuối những năm 50 cũng chỉ mới được trang bị khoảng hơn 1 chục tàu tuần tra cũ kĩ mua từ các nước châu Âu và Úc.


Vào đầu những năm 60, do những biến động chính trị trong nước và khu vực, đặc biệt là các cuộc tranh chấp về chủ quyền lãnh hải giữa các nước láng giềng, Inđônêxia đã tập trung trọng điểm vào việc phát triển lực lượng hải quân. Chỉ tính riêng trong 4 năm, từ năm 1959 đến năm 1963, Inđônêxia đã mua hàng chục tàu chiến cỡ trung và nhỏ từ Liên Xô và các nước Đông Âu; bên cạnh đó, hàng chục nhà máy sửa chữa tàu cũng được xây dựng ở nhiều nơi trên đất nước. Thời gian đó, hải quân Inđônêxia được xếp vào hạng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Việt Nam - nước đang có chiến tranh và Philippin - nơi có các cơ sở hải quân lớn của Mỹ.


Tuy nhiên, tình trạng đó kéo dài không lâu. Sau cuộc đảo chính lật đổ Đảng Cộng sản Inđônêxia vào năm 1965, quân đội Inđônêxia nói chung và lực lượng hải quân nói riêng rơi vào tình trạng đình đốn. Nhiều sĩ quan cấp cao trong quân đội Inđônêxia bị sa thải do bị tình nghi có quan hệ mật thiết với cộng sản; binh lính hoang mang, dao động, sức chiến đấu trong quân đội giảm sút rõ rệt. Sự kiện đó dẫn tới tình trạng toàn bộ vũ khí, trang bị của lực lượng hải quân không sử dụng được và không có phụ tùng thay thế.


Đến đầu những năm 70, được sự đầu tư thoả đáng của Chính phủ mới, đứng đầu là Tổng thống Xuháctô - một cựu tướng lĩnh trong quân đội, lực lượng hải quân Inđônêxia bước sang một giai đoạn phát triển mới. Năm 1974, Inđônêxia bắt đầu mua các tàu chiến cỡ~àu hạm đội của Mỹ. Năm 1980, Inđônêxia đưa ra kế hoạch "phát triển lực lượng hải quân trong 20 năm". Với kế hoạch đó, trong những năm đầu thập niên 80, Inđônêxia đã mua hàng loạt tàu chiến các loại của Anh, Mỹ, Đức... Cụ thể, năm 1982, mua 14 tàu tuần tra, 18 tàu tuần tiễu duyên hải của Anh, Đức. Tiếp đó, năm 1985, mua 3 tàu chiến lớp Tribal của Anh; năm 1986, mua 6 tàu chiến lớp Van Speijk của Hà Lan. Ngoài ra, vào cuối những năm 80, Inđônêxia còn mua nhiều tàu quét mìn, tàu đổ bộ, tàu phóng lôi Mk-46 và hệ thống vũ khỉ Harpoon của Đức, Nam Tư... Điều làm cho lực lượng hải quân Inđônêxia trở thành lực lượng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á vào cuối những năm 80 là nước này đã mua 2 tàu ngầm lớp 209 của Đức và đưa vào trang bị cho hải quân năm 1989.
Bên cạnh việc mua sắm và trang bị cho lực lượng hải quân các trang thiết bị, vũ khí hiện đại, trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, Inđônêxia rất chú trọng phát triển lực lượng không quân hải quân. Vào những năm đó, lực lượng không quân hải quân Inđônêxia đã được trang bị các loại máy bay tương đối hiện đại như máy bay trinh sát hải quân tầm trung Airtech CN-235-100, máy bay trực thăng, máy bay vận tải...


Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Inđônêxia rất chú ý phát triển quân chủng hải quân. Hiện nay, hải quân Inđônêxia có các nhiệm vụ: duy trì sự giám sát chặt chẽ đối với các vùng biển thuộc chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế, chống lại các hoạt động đánh bắt cá trái phép và bảo vệ các dàn khoan ngoài biển; làm nhiệm vụ cảnh sát biển, thực hiện luật pháp của nhà nước chống buôn lậu qua đường biển, ngăn chặn nạn cướp biển và đối phó với những trường hợp khẩn cấp khác trên vùng biển; kiểm soát đường giao thông trên biển chạy qua lãnh thổ Inđônêxia, nhất là tại các eo biển Sunđa, Lombok, Ombai và Uêta; yểm trợ hải quân một số nước láng giềng để kiểm soát eo biển chiến lược Malắcca; phối hợp với hải quân các nước trong khu vực khi cần thiết trong các vấn đề thuộc về an ninh và phòng thủ khu vực.


Hải quân Inđônêxia có quân số thường trực từ 4 đến 5 vạn: Năm 1990 có gần 42.000 người; năm 1991 có 42.500; năm 1995 là 43.060; hiện tại có 40.000 người trong đó kể cả hải quân đánh bộ và không quân của hải quân...).


Hải quân tổ chức thành hai hạm đội: Hạm đội miền Đông, có Bộ chỉ huy đóng tại Surabaya và Hạm đội miền Tây có Bộ chỉ huy đóng tại Giacácta.


Hải quân Inđônêxia có trên 100 tàu các loại, chủ yếu là tàu hộ vệ, tàu tuần tiễu, quét mìn, các tốc hạm có trang bị tên lửa hoặc ngư lôi và các hệ thống thiết bị điều khiển điện tử thích hợp với chức năng, nhiệm vụ bảo vệ và phòng thủ. Hải quân có một số tàu ngầm, tàu quét mìn, tàu đổ bộ, tàu bảo đảm..., ngoài ra còn có trên 50 máy bay chiến đấu máy bay vận tải và trực thăng sử dụng cho nhiệm vụ tuần tra biển. Inđônêxia có các căn cứ hải quân nổi tiếng như Gorotalo, Kemgiaran, Surabaya, Giacácta.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:46:53 pm
Không quân

Cũng giống như lực lượng hải quân, lực lượng không quân Inđônêxia được manh nha hình thành từ rất sớm. Năm 1946, chỉ hơn 1 năm sau khi Inđônêxia tuyên bố độc lập lực lượng không quân đã trở thành một quân chủng trong cơ cấu của Quân đội an ninh nhân dân (TKR). Vào thời điểm đó, toàn bộ lực lượng không quân Inđônêxia mới chỉ có vài phi công người bản địa với một số máy bay cũ và các sân bay cỡ nhỏ trên các hòn đảo do thực dân Hà Lan để lại Trước năm 1945, toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị của không quân thuộc quyền quản lý của quân đội thuộc địa Hà Lan và chủ yếu làm các nhiệm vụ dân sự như: đưa các quan chức trong bộ máy thuộc địa đi thanh sát các đảo;cùng với các đơn vị cảnh sát bảo vệ các trọng điểm kinh tế của Hà Lan tại Inđônêxia,v.v...


Sau khi giành độc lập, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia (TKR) đã tiếp quản toàn bộ số cơ sở vật chất trên. Tuy nhiên, trong suốt nhiều năm sau khi giành độc lập, do điều kiện kinh tế, đặc biệt là những bất ổn chính trị trong nước, lực lượng không quân Inđônêxia không phát triển được nhiều. Đến đầu những năm 70, được sự quan tâm đặc biệt của Tổng thống Xuháctô và sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, Inđônêxia bắt đầu đẩy mạnh chương trình phát triển lực lượng không quân. Đến giữa những năm 80, Inđônêxia đã mua một số lượng lớn máy bay của Mỹ và các nước khác, trong đó có các loại máy bay F-16s (8-As, 4-Bs). Năm 1993 đưa vào trang bị cho lực lượng không quân 24 máy bay phản lực Hawk, mua từ Anh...


Do phải bảo vệ một vùng trời rộng lớn từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, tương đương với không phận của nước Mỹ, nên nhiệm vụ của không quân Inđônêxia rất nặng nề. Không quân có trách nhiệm tuần tra, trinh sát, giám sát vùng trời, ngăn chặn các vụ vi phạm không phận, hải phận và vùng đặc quyền kinh tế, luôn luôn duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu chống lại và ngăn ngừa các mối đe doạ đến quốc phòng và vận mệnh của đất nước.


Xuất phát từ đặc thù nhiệm vụ trên đây, từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Inđônêxia chủ trương và có kế hoạch từng bước hiện đại hoá, đổi mới trang bị, phương tiện cho không quân; bên cạnh đó, tập trung xây dựng thêm và nâng cấp các căn cứ không quân hiện có, đặc biệt là căn cứ không quân trên đảo Giava, căn cứ không quân ở Ranai và căn cứ không quân Isahuydi. Đến năm 1992, đa số các sân bay của lực lượng không quân đã có thể tiếp nhận được các loại máy bay chiến đấu, thậm chí cả các loại máy bay dân dụng hiện đại.


Năm 1990, không quân Inđônêxia có 3 phi đội máy bay tiến công và đánh chặn; hai phi đội chống bạo loạn và trinh sát biển; 3 phi đội trực thăng; 4 phi đội vận tải và 3 phi đội huấn luyện với gần 120 máy bay chiến đấu và vận tải các loại, 47 trực thăng và 72 máy bay huấn luyện.


Năm 1995, lực lượng không quân Inđônêxia có khoảng 25.000 quân; 2 phi đội máy bay tiêm kích với 28 máy bay A-4/A-4E; 2 phi đội tiêm-cường kích với 10 máy bay F-5E, 10 máy bay F-16 AJB, ngoài ra còn có các phi đội máy bay vận tải, trinh sát, huấn luyện và các phi đội máy bay lên thẳng, với tổng số máy bay lên tới hơn 140 chiếc các loại1 (Quân đội và trang bị các nước ASEAN, Trung tâm Thông tin khoa học công nghệ môi trường - Bộ Quốc phòng, số 3-1995, tr.9).


Năm 1999, lực lượng không quân Inđônêxia có khoảng 27.000 quân, trong số đó có khoảng 4.000 lính dù (được biên chế trong 4 tiểu đoàn, thuộc Lực lượng không quân phản ứng nhanh) cùng hàng trăm máy bay chiến đấu và phục vụ chiến đấu các loại.


Bộ tư lệnh không quân Inđônêxia có tổng hành dinh đóng tại Giacácta, dưới bộ là 5 cục và bộ tư lệnh trực thuộc: Cục thiết b! và hậu cần, đóng tại Băng đung; Cục huấn luyện chiến đấu, đóng tại Surabaya; 2 cục tác chiến Ko-op I, đóng tại Giacácta và Ko-op II, đóng tại Ugiungpanđang và Bộ tư lệnh phòng không quốc gia, cũng đóng tại Giacácta.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:49:00 pm
III. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội quốc gia Inđônêxia trong lịch sử và hiện tại

Ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Hà Lan thống trị, quân đội Inđônêxia đã cùng với các tầng lớp nhân dân đấu tranh hoàn thành sứ mạng lịch sử cao cả của mình là giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị thực dân, giành độc lập dân tộc.


Sau khi giành độc lập (1945), quân đội Inđônêxia tuy còn non trẻ nhưng đã trải qua 4 năm chiến đấu hy sinh đầy gian khó, từng chiến đấu trong các khu rừng núi hiểm trở bằng những vũ khí hết sức thô sơ, từ gậy gộc, giáo mác đến súng trường, súng cối để chống lại đội quân xâm lược hùng mạnh đến từ châu Âu.


Truyền thống đấu tranh anh dũng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang đã~ trở thành nét đẹp tiêu biểu trong quân đội Inđônêxia, đó cũng là nền tảng, cơ sở để quân đội Inđônêxia hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy quân đội Inđônêxia luôn ý thức được điều đó. Tuy nhiên họ cũng cho rằng, để quân đội có thể phát triển một cách vững chắc, đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ mới, nếu chỉ dựa vào những thành tích của quá khứ thì chưa đủ mà còn phải thường xuyên đổi mới, đào tạo và huấn luyện cho thế hệ thanh niên những tri thức mới dựa trên nền tảng ý thức dân tộc và truyền thống vẻ vang của quân đội không ngừng cải tiến, hiện đại hoá tổ chức và trang bị, nhất là mỗi thành viên phải ý thức được nghĩa vụ của mình đối với đất nước.


Quân đội - bộ phận nòng cốt, chủ yếu của lực lượng vũ trang Inđônêxia luôn có trách nhiệm trong hai lĩnh vực:

- Quốc phòng và an ninh.

- Các công việc xã hội và chính trị.

Nhiệm vụ quốc phòng và an ninh của Inđônêxia là xây dựng và phát triển khả năng phòng thủ của đất nước nhằm đối phó có hiệu quả trước các mối đe doạ từ bên trong và bên ngoài, trong đó lực lượng quân đội và cảnh sát quốc gia là những lực lượng vũ trang chủ yếu đảm đương nhiệm vụ.


Theo đạo luật quốc phòng và an ninh của Cộng hoà Inđônêxia, hệ thống quốc phòng và an ninh bao gồm các thành phần:

- Lực lượng vũ trang, trong đó quân đội là thành phần chủ yếu.

- Hệ thống bảo vệ cộng đồng là thành phần đặc biệt.

- Tài nguyên thiên nhiên và các cơ cấu hạ tầng quốc gia là thành phần hỗ trợ.


Hệ thống quốc phòng và an mnh của Inđônêxia được xây dựng và phát triển trên nguyên tắc cơ bản: Quốc phòng và an ninh là của nhân dân, có nghĩa là các lực lượng vũ trang và toàn dân có trách nhiệm như nhau trong việc duy trì an ninh quốc gia và quốc phòng. Mỗi làng xã pr Inđônêxia thường có một đội của "Tổ chức phòng thủ dân sự” gồm thanh niên trong làng xã, chịu trách nhiệm về trật tự, an ninh và có nhiệm vụ giúp đỡ dân làng trong các trường hợp khẩn cấp.


Trên nguyên tắc toàn dân làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và giữ gìn an mnh như quy định của hiến pháp, quân đội Inđônêxia chỉ được phép duy trì một lực lượng thường trực thời bình không quá 30 vạn. Tuy số quân thường trực được duy trì ở tỷ lệ thấp so với số dân, nhưng bên cạnh đó số dân ở lứa tuổi nghĩa vụ quân sự có tới 25 - 30 triệu người cũng là một lực lượng rất quan trọng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu động viên khi cần thiết. Inđônêxia có lực lượng dự bị của quân đội rất lớn; lực lượng này cùng với tổ chức phòng thủ dân sự của các làng xã trong nước là những lực lượng có thể huy động bất cứ lúc nào và trong một thời gian ngắn để mỏ rộng các thành phần quân chính quy trong trường hợp đất nước bị đe doạ.


Lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng của nước Cộng hoà Inđônêxia có hai chức năng cơ bản không thể tách rời:

Một là, bảo vệ đất nước khi có ngoại xâm và duy trì an ninh trong nước.

Hai là, tham gia quá trình phát triển của đất nước.

Chức năng của lực lượng vũ trang Inđônêxia được xác định vừa là một lực lượng phòng thủ và an ninh, đồng thời là một lực lượng chính trị - xã hội.


Trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, lực lượng vũ trang (trong đó nòng cốt là quân đội) không những là một lực lượng quân sự mà còn là một lực lượng chính trị - xã hội; đồng thời tham gia quá trình phát triển đất nước, không chỉ đảm đương những nhiệm vụ trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng mà cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị. Chính vì vậy, quân đội có đại biểu trong các cơ quan lập pháp theo chỉ định mà không qua tổng tuyển cử. Trong quốc hội thường có khoảng một phần ba số đại biểu là quân đội và trong thành phần nội các Inđônêxia có một phần hai là sĩ quan tại chức hoặc đã nghỉ hưu.


Từ ngày thành lập, nước Cộng hoà Inđônêxia luôn theo đuổi 5 nguyên tắc (Pancasila) xây dựng đất nước, được hiến pháp ghi nhận1 (Panca có nghĩa là 5; Sila có nghĩa là nguyên tắc):

- Sila 1: Niềm tin ở đấng tồi cao;

- Sila 2: Nhân đạo chính đáng và văn minh;

- Sila 3: Thống nhất quốc gia;

- Sila 4: Dân chủ trên nền tảng nhất trí của các đại biểu;

- Sila 5: Công lý xã hội cho toàn thể nhân dân Inđônêxia.


Các nguyên tắc trên đây được coi là cơ sở tư tưởng chỉ đạo hành động của quân đội Inđônêxia. Mỗi quân nhân đều phải tự giác chấp hành hiến pháp, thường xuyên nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác huấn luyện quân sự, canh phòng, sẵn sàng chiến đấu cũng như tham gia sản xuất và đề cao ý thức hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:50:08 pm
Quân đội Inđônêxia ra đời trên cơ sở các lực lượng vũ trang nhân dân, do đó rất coi trọng quan hệ quân dân, đã nhiều lần phát động các cuộc vận động nhân dân, như phong trào "Bộ đội vào làng" để giúp đỡ nông dân xây dựng cầu đường, công trình thuỷ lợi và những hoạt động phát triển khác nhằm thúc đẩy sự phồn vinh của cộng đồng nông thôn; thực hiện mục tiêu quân đội gắn bó với nhân dân.


Ngoài chức năng đối nội gắn liền với nhiệm vụ đấu tranh chống các cuộc bạo loạn, nổi dậy, đảo chính hay ly khai, quân đội Inđônêxia còn tích cực ủng hộ và tham gia giám sát, giữ gìn hoà bình theo yêu cầu của Liên hợp quốc tại nhiều khu vực trên thế giới. Đội quân đầu tiên làm nhiệm vụ đó là binh đoàn Garuda I được cử đến Giada trong cuộc khủng hoảng ở kênh đào Xuy từ tháng 1 năm 1957 đến tháng 9 năm 1957. Từ tháng 9 năm 1960 đến tháng 5 năm 1961, binh đoàn Garuda II và một lượng quân cảnh được cử đến Công gô theo yêu cầu của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Từ tháng 12 năm 1962 đến tháng 7 năm 1963, binh đoàn Garuda III được cử đến Kantanga ở châu Phi. Từ tháng 3 năm 1973 đến tháng 4 năm 1974, các binh đoàn Guruda IV và V đã được cử đến Nam Việt Nam sau khi Hiệp định hoà bình Pa ri được ký kết. Các binh đoàn Guruda VI, VII và VIII được cử đến Trung Đông để giám sát việc thi hành ngừng bắn, kết thúc cuộc chiến tranh giữa Trập và Ixraen... Quân đội Inđônêxia còn được giao nhiệm vụ phối hợp với quân đội các nước trong khối ASEAN khi cần thiết nhằm bảo vệ an ninh khu vực.


Riêng lực lượng hải quân trong quân đội Inđônêxia còn có nhiệm vụ phối hợp với hải quân các nước Malaixia và Xingapo kiểm soát eo biển chiến lược Malắcca.


Sang thế kỷ XXI, quân đội quốc gia Inđônêxia bắt đầu thực hiện chuyển đổi theo hướng chuyên nghiệp hoá, nhiệm vụ của quân đội tập trung chủ yếu vào lĩnh vực quân sự, giảm dần vai trò chính trị. Tuy nhiên, nhà nước, đứng đầu là tổng thống, vẫn rất coi trọng vai trò của quân đội, xác định quân đội Inđônêxia luôn luôn là nhân tố quyết định đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội để phát triển đất nước. Do đó, Tổng thống Inđônêxia chủ trương tiếp tục tăng cường sức mạnh và đề cao vai trò của quân đội.


Lãnh đạo Bộ Quốc phòng Inđônêxia1 (Chức Bộ trưởng Quốc phòng lnđônêxia do một nhân vật dân sự đảm nhiệm, còn lại tất cả các vị trí quan trọng khác đều do các tướng lĩnh đảm nhiệm) xác định nhiệm vụ của quân đội trong 10 năm đầu của thế kỷ mới là ngăn chặn các mối đe doạ từ bên ngoài, chủ yếu là sự can thiệp của Mỹ và phương Tây vào các phong trào ly khai ở một số địa phương hoặc chiếm một số đảo không có người của Inđônêxia. Cũng chính vì vậy mà Inđônêxia rất chú ý và chủ trương phát triển lực lượng hải quân và không quân. Những năm gần đây, quân đội quốc gia Inđônêxia đã tích cực tham gia vào cuộc chiến chống khủng bố và đã giành được nhiều kết quả trên lĩnh vực hoạt động này. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Bu sơ vẫn cho rằng, Inđônêxia là quốc gia Hồi giáo lớn nhất song lại là điểm yếu nhất trong sơ đồ chống khủng bố của Mỹ". Tháng 10 năm 2005, Mỹ và Inđônêxia đã kí hiệp định về tăng cường hợp tác trong cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ đứng đầu.


Về chiến lược, hiện nay quân đội Inđônêxia đang thực hiện chiến lược "phòng thủ tích cực" kết hợp “phòng thủ bên ngoài toàn diện", kết hợp phòng thủ độc lập và tác chiến cơ động, bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải và bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Chính phủ chủ trương xây dựng lực lượng quân đội tinh nhuệ, chuyên nghiệp, có cơ cấu hợp lý, có khả năng cơ động cao và khả năng tác chiến lớn, trang bị hiện đại. Các phương hướng chủ yếu là tăng ngân sách mua sắm các loại vũ khí trang bị tiên tiến, phát triển công nghiệp quốc phòng trong nước, tăng cường huấn luyện chiến đấu, điều chỉnh cơ cấu biên chế sĩ quan các cấp, thực hiện trẻ hoá và tri thức hoá đội ngũ sĩ quan.


Về đối ngoại, quân đội Inđônêxia chủ trương tích cực phát triển sự hợp tác với quân đội các nước ASEAN, với quân đội Ôxtrâylia và Mỹ nhằm nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến, tăng cường phòng thủ và bảo vệ an ninh khu vực.


Trước những diễn biến của tình hình quốc gia và khu vực thời gian gần đây, Chính phủ Inđônêxia đánh giá các mối đe doạ đối với đảo quốc này chủ yếu đến từ hướng biển, do vậy bên cạnh bảo đảm ổn định trong nước, nhiệm vụ trọng điểm của quân đội là tăng cường kiểm soát giao thông trên biển và bảo vệ an ninh kinh tế biển. Để đáp ứng nhiệm vụ này, Inđônêxia chủ trương tăng cường sức mạnh cho hải quân, thông qua các biện pháp như mua sắm vũ khí kỹ thuật, xây dựng nâng cấp các quân cảng, tăng cường bảo vệ vùng biển, các vùng đảo xa có ý nghĩa chiến lược, trọng điểm là eo biển Malắcca, biển Đông, Ấn Độ Dương... với đảo Giava là trung tâm. Đó là những yêu cầu và nhiệm vụ của Quân đội quốc gia Inđônêxia trước sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.


Quân đội Quốc gia Inđônêxia đã trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Đó là quân đội có một truyền thống xây dựng và chiến đấu rất đáng tự hào. Ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng chống ách thống trị của chủ nghĩa tư bản phương Tây, trải qua những biến cố chính trị lớn trong nước, Quân đội quốc gia Inđônêxia luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự - chính trị của mình, cùng toàn dân giành lại độc lập từ tay thực dân Hà Lan; đã dẹp thù trong, đánh giặc ngoài, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Phát huy truyền thống của mình, ngày nay Quân đội Inđônêxia đang trong thời kỳ hiện đại hoá, từng bước thực hiện những cải cách, đổi mới theo xu hướng tích cực nhằm xây dựng Quân đội quốc gia thành một quân đội chính quy hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà hiến pháp lnđônêxia đã quy định.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 30 Tháng Mười, 2008, 07:53:06 pm
(http://img147.imageshack.us/img147/1333/image009kk3.jpg)


(http://img512.imageshack.us/img512/8362/image011mh6.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:41:41 pm
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN LÀO


I. Khái quát về đất nước Lào 

Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào nằm ở bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc và Mianma, phía nam giáp Campuchia, phía tây giáp Thái Lan, phía đông giáp Việt Nam. Lào có diện tích khoảng 236.800km2; dân số 5,2 triệu người (năm 2003), trong đó số người có khả năng phục vụ quân đội khoảng 648.000 người; mật độ dân cư 23,2 người/km2; dân số thành thị 16%1 (Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2005. tr.265); thủ đô Lào là Viêng Chăn.


Phần lớn đất đai Lào đều là đồi núi và chỉ có 5% đất đai canh tác. Rừng bao phủ 75% đất đai. Lào không tiếp giáp với biển, nhưng có sông Mê Công chảy dọc suốt từ bắc đến nam và có mạng lưới sông ngòi phong phú. Nước Lào gồm có 3 vùng Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào với 68 dân tộc khác nhau, tập trung trong ba hệ lớn là Lào Lùm, Lào Thơng và Lào Xủng. Đạo Phật chiếm 90% dân số, là tôn giáo phổ biến của người Lào Lùm. Một bộ phận người Lào Thơng, Lào Xủng vẫn theo tín ngưỡng thần linh cổ truyền của họ. Chùa là trung tâm sinh hoạt không thể thiếu của các bản làng, khu phố khắp nơi trên đất Lào.


Lào là một quốc gia được hình thành từ lâu đời. Năm 1353, các mường cổ đại được Phà Ngậm sáp nhập, thống nhất thành quốc gia Lạn Xang (Triệu Voi) với thủ đô là Mường Xoa (Luông Phrabăng). Đến giữa thế kỷ XVI, vua Xét Tha Thi Rát đã cho dời đô từ Luông Phrabăng về Viêng Chăn.


Qua nhiều thế kỷ, nhà nước Lạn Xang phải chống chọi với các cuộc xâm lược của Miến Điện (Mianma), Xiêm (Thái Lan). Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp thôn tính Lào.


Chỉ vài năm sau khi Pháp đặt ách thống trị ở Lào, hàng loạt các cuộc đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào từ Thượng đến Hạ Lào đã nổ ra dưới nhiều hình thức phong phú, từ chống bắt phu, chống thuế đến bất hợp tác với địch, cao hơn nữa là vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền. Tiêu biểu nhất là phong trào đấu tranh với quy mô khá lớn của nhân dân Lào Lùm ở Xavanakhẹt do Phò Cà Đuột lãnh đạo (1901-1903), cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Lào Thơng ở Hạ Lào kéo dài suốt 36 năm (1901-1937) do ông Kẹo và Comađam lãnh đạo, phong trào đấu tranh của người H'mông ở Thượng Lào (1918-1922) do Chậu Pha Pat Chay lãnh đạo; phong trào đấu tranh của người Lự ở Mường Sinh (1914-1918); phong trào đấu tranh của người Thái ở Sầm Nưa (1916) và nhiều cuộc đấu tranh khác của các bộ tộc trên khắp cả nước. Mặc dù các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại nhưng đã gây n cho thực dân Pháp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước, chống Pháp của nhân dân Lào.


Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản chiếm Đông Dương. Nhân dân Lào cũng như nhân dân Việt Nam và Campuchia, ngoài ách thống trị của thực dân, phong kiến lại phải thêm ách thống trị của phát xít Nhật. Do vậy, phong trào đấu tranh của nhân dân Lào ngày càng quyết liệt và mạnh mẽ hơn.


Tháng 8 năm 1945, tình hình thế giới và khu vực có những chuyển biến quan trọng, tạo thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Lào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương - tiền thân của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân dân Lào đã nổi dậy giành chính quyền và ngày 12 tháng 10 năm 1945 tuyên bố độc lập Tuy nhiên, ngay sau đó, thực dân Pháp quay lại xâm lược Lào. Nhân dân Lào một lần nữa cùng nhân dân Việt Nam và Campuchia kề vai sát cánh đánh bại thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ (7.1954) công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.


Từ năm 1955 đến năm 1975, Mỹ thay chân Pháp, dựng nên ở Lào một hệ thống ngụy quyền để làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới. Tình hình đó làm cho nhân dân Lào phải tiếp tục tiến hành một cuộc đấu tranh mới quyết liệt, cam go nhất nhưng đồng thời cũng anh dũng nhất, đập tan chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Lào. Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng quốc gia chính trị Liên hiệp được thành lập.


Sau 30 năm chiến đấu anh dũng kiên cường, đầy thử thách và hy sinh, nhân dân Lào đã giành được thắng lợi trọn vẹn. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc họp tại Viêng Chăn quyết định xoá bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với chính thể Cộng hoà nhân dân, đứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao (cơ quan lập pháp cao nhất). Cách mạng Lào chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ lịch sử là xây dựng đất nước Lào thành một nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào.


Lào gia nhập Liên hợp quốc ngày 14 tháng 12 năm 1955, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ở cấp đại sứ ngày 5 tháng 9 năm 1962 và trở thành hội viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam A (ASEAN) ngày 23 tháng 7 năm 1997.


Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tổ chức hệ thống các lực lượng vũ trang nhân dân để bảo vệ Tổ quốc bao gồm Quân đội nhân dân Lào, cảnh sát vũ trang nhân dân và dân quân tự vệ. Các lực lượng vũ trang nhân dân Lào do Đảng Nhân dân cách mạng Lào trực tiếp xây dựng và lãnh đạo, Hội đồng quốc phòng an ninh quốc gia thống nhất chỉ huy trong toàn quốc. Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội đồng quốc phòng an ninh và là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. GDP 1.761 triệu USD (2002), bình quân đầu người 330 USD, ngân sách quốc phòng năm 2003 là 15 triệu USD1 (Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd , tr.586).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:42:21 pm
II. Lịch Sử Xây dưng và phát triển rủa Quân đội nhân dân Lào

1. Sự ra đời của Quân đội nhân dân Lào

Vào thời gian trước khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, ở Lào đã hình thành một số nhóm hoạt động ở từng khu vực từ Thượng Lào đến Hạ Lào với những xu hướng khác nhau. Để thống nhất các lực lượng yêu nước và thực hiện đường lối đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Lào tự do (Mặt trận Lào Ítxala) được thành lập. Mặt trận đã kêu gọi đoàn kết và tập hợp mọi lực lượng, thành phần dân tộc, mọi tầng lớp xã hội trong một tổ chức thống nhất, cùng tiến hành đấu tranh chống thực dân, phát xít. Mặt trận Lào Ítxala đã lập ra các đội tuyên truyền vũ trang, phát động quần chúng ở thành thị và nông thôn vừa đấu tranh công khai, vừa chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ khởi nghĩa.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, một tình thế hết sức khẩn trương được đặt ra đối với cách mạng Lào. Chấp hành chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 28 tháng 3 năm 1945, Ban lãnh đạo Đảng nước ngoài và Xứ ủy Lào đã họp với đại biểu các chi bộ, thống nhất đề ra một số công việc cấp bách, thúc đẩy công tác tuyên truyền vận động quần chúng, xúc tiến việc lập căn cứ cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức huấn luyện quân sự để chuẩn bị khởi nghĩa.


Thực hiện chủ trương của Đảng và được sự giúp đỡ của nhân dân vùng Đông Bắc Thái Lan, các lực lượng cách mạng yêu nước đã nhanh chóng thành lập các khu căn cứ ở Phu Phan, Na Kè (tỉnh Sa Côn), bản Myat (tỉnh Na khôn Phanôm), Nong Khai, Mục Đa Hán... Hàng trăm thanh niên Lào và Việt kiều đã được huấn luyện quân sự, chính trị và nhận trang bị vũ khí tại các căn cứ trên.


Ngày 11 tháng 5 năm 1945, tại căn cứ Na Kè đã thành lập một đơn vị vũ trang có cả người Lào và Việt kiều tham gia. Từ tháng 6 năm 1945, đơn vị này đã chuyển một số bộ phận về các căn cứ ở Viêng Chăng, Thà Khẹc, Xavanakhẹt để hỗ trợ phong trào đấu tranh của quần chúng và chuẩn bị cơ sở cho việc khởi nghĩa giành chính quyền. Đây chính là các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang cách mạng sau này.
Thời gian này, tổ chức "Lào Pên Lào" do một số trí thức, học sinh, sinh viên yêu nước lập ra cũng hoạt động mạnh mẽ. Ở nhiều đô thị, Mặt trận Lào tự do đã có những hoạt động phối hợp với các nhóm "Lào Pên Lào" và trên thực tế thì tổ chức "Lào Pên Lào" đã tham gia như một thành viên trong Mặt trận dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.


Tháng 8 năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Đông Dương, quân đội Nhật mất tinh thần, hoang mang cực độ. Các chính phủ bù nhìn ở Lào cũng như ở Việt Nam, Campuchia có nguy cơ tan rã hoàn toàn. Tranh thủ thời cơ lịch sử vô cùng thuận lợi này, Xứ ủy Ai Lao thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua tổ chức Mặt trận Lào tự do đã lãnh đạo toàn dân Lào phối hợp với cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đứng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật.


Ngày 12 tháng 10 năm 1945, ủy ban nhân dân Lào họp ở Viêng Chăn, thông qua bản Hiến pháp mới của nước Lào độc lập, bầu ra Quốc hội mới, thành lập “Chính phủ độc lập Lào Ítxala" và thông qua danh sách các thành viên chính phủ. Hoàng thân Xuphanuvông được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang.


Các đơn vị vũ trang Lào từ một số căn cứ ở Thái Lan được lệnh chuyển về cùng một số lực lượng quân đội bảo an của chính quyền vương quốc cũ giác ngộ theo cách mạng và một số thanh niên yêu nước tổ chức thành các đơn vị "Quân đội Lào Ítxala" ở các khu vực để bảo vệ chính quyền mới và hỗ trợ quần chúng đấu tranh chống địch.


Để thống nhất sự chỉ huy đối với các lực lượng vũ trang Lào Ítxala và lực lượng vũ trang Việt kiều, ngày 30 tháng 10 năm 1945, Chính phủ độc lập Lào Ítxala ký sắc lệnh chuyển tất cả các đơn vị vũ trang của Lào thành một lực lượng thống nhất, đặt dưới quyền chỉ huy của chính phủ. Cùng ngày, Đại diện toàn quyền Chính phủ độc lập Lào Ítxala và Đại diện toàn quyền nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Hiệp định về "Tổ chức liên quân Lào - Việt" và thành lập Ban chỉ huy liên quân ở một số khu vực nhằm thống nhất chỉ huy các hoạt động phối hợp giữa hai lực lượng vũ trang Lào và Việt kiều.


Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Lào diễn ra trong bối cảnh vừa đấu tranh giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, vừa tiến hành công cuộc bảo vệ chủ quyền chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Vì vậy, quá trình khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng gắn bó chặt chẽ với nhau. Các lực lượng vũ trang được hình thành ngay từ đầu và giữ vai trò quan trọng, bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi.


Tuy nhiên, ngay sau khi nhân dân Lào vừa mới giành được chính quyền, dược sự giúp đỡ của Mỹ và Anh, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược Lào. Tháng 3 năm 1946, quân đội Pháp mở nhiều cuộc tiến công lớn vào các thị xã Xavanakhẹt, Thà Khẹc và thủ đô Viêng Chăn..., đồng thời lập bộ máy cai trị ở những vùng chúng kiểm soát. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trên toàn quốc.


Trong những ngày đầu tiên mới giành được độc lập, quân và dân Lào đều quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhưng tình hình lúc này hết sức phức tạp. Các lực lượng vũ trang yêu nước còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, khó lòng ngăn chặn được bước tiến của quân đội Pháp được trang bị vũ khí tối tân và thiện chiến đang từng bước tiến hành bao vây các đô thị.


Để tăng cường lực lượng cho cách mạng Lào trong thời điểm khó khăn này, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương huy động các lực lượng Việt kiều yêu nước ở Lào và Thái Lan phối hợp chặt chẽ với lực lượng cách mạng yêu nước Lào bảo vệ chính quyền độc lập mới giành được ở các đô thị và "tăng cường vũ trang tuyên truyền, vận động các bộ tộc Lào, làm cho Mặt trận đoàn kết kháng chiến chống Pháp lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê".


Chính phủ độc lập Lào Ítxala cũng ban bố và thi hành một số biện pháp khẩn cấp như tuyên bố về quyền tự do dân chủ của nhân dân, kêu gọi nhân dân đóng góp của cải, vàng bạc giúp chính phủ kháng chiến, củng cố lực lượng tự vệ bảo an, tổ chức "Ban phòng thủ" ở thủ đô và các thị xã, thị trấn...


Ở thủ đô Viêng Chăn, ngoài lực lượng tự vệ, chính quyền cách mạng còn tập trung được hơn 600 quân, tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu và một số đội vũ trang tuyên truyền; tại Xavanakhẹt tập trung được khoảng 200 quân; Khăm Muộn 800 quân với hơn 400 khẩu súng, có cả pháo 25 và 80mm lấy được của Nhật; khu vực Mường Sê pôn và Mường Phin thành lập "Đại đội Mường Sê Pôn"; khu vực Khăm Cợt, Na Pé (Bôlikhămxay) đã tập hợp thành một đơn vị ở Na Pé, phối hợp với 1 đại đội chủ lực của bộ đội Việt Nam hoạt động vũ trang tuyên truyền và truy quét tàn quân Pháp ở khu vực này.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:42:49 pm
Từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 1 năm 1946, lực lượng vũ trang Lào phối hợp với quân và dân các địa phương tiến hành một loạt các trận chiến đấu nhỏ lẻ, từng bước làm thất bại kế hoạch hành quân lấn chiếm của địch, buộc chúng phải co về phòng thủ, cố giữ các địa bàn đã chiếm được. Ngày 10 tháng 3 năm 1946, quân Pháp chiếm thị xã Xavanakhẹt. Các lực lượng vũ trang Ítxala sau một thời gian chiến đấu giữ vững trận địa và giúp dân sơ tán, tiêu hao tiêu diệt một số quân địch, ngăn cản bước tiến của chúng đã rút dần ra khỏi thị xã, tập trung lực lượng về bổ sung quân cho Thà Khẹc.


Ngày 21 tháng 3 năm 1946, quân Pháp tập trung một lực lượng lớn gồm 7 đại đội bộ binh, 1 trung đội pháo binh, 2 cụm xe trinh sát chiến đấu có sự yểm trợ của 4 máy bay tiêm kích, 2 máy bay ném bom và 1 máy bay trinh sát, tổ chức thành 3 cánh quân tiến công vào Thà Khẹc.


Dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự do Hoàng thân Xuphanuvông đứng đầu, các đơn vị Lào Ítxala đã cùng với lực lượng Việt kiều sát cánh chiến đấu chống lại quân Pháp. Với ưu thế về lực lượng, trang bị vũ khí, quân Pháp đã chiếm được thị xã Thà Khẹc, sau đó ráo riết thực hiện kế hoạch đánh chiếm Viêng Chăn, Luông Phrabăng. Các lực lượng vũ trang Lào vừa chiến đấu, vừa ngăn chặn địch, vừa tổ chức các mũi đánh vào sườn và phía sau quân địch, đẩy lùi nhiều cuộc tiến công của chúng. Rút kinh nghiệm từ các cuộc chiến đấu bảo vệ Xavanakhẹt và Thà Khẹc, đồng thời để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài, Xứ ủy Lào đã thống nhất với Chính phủ Lào đề ra chủ trương vừa tiêu hao, tiêu diệt địch, cản bước tiến của chúng, vừa chủ động tổ chức cho nhân dân di tản ra khỏi thành phố,... đưa lực lượng vũ trang về nông thôn, miền núi tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến. Đêm 24 tháng 4 năm 1946, sau hơn 6 tháng anh dũng chiến đấu, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bảo vệ nhân dân và chính phủ di tản an toàn sang Thái Lan, quân đội Ítxala đã rút toàn bộ lực lượng ra khỏi thủ đô Viêng Chăn. Ngày 25 tháng 4 năm 1946, quân Pháp chiếm Viêng Chăn; ngày 13 tháng 5 chiếm Luông Phrabăng.


Từ giữa năm 1946, sau khi chiếm được toàn bộ nước Lào, Pháp ra sức củng cố, phục hồi ngụy quyền các cấp; khẩn trương bắt lính, đôn quân xây dựng lực lượng quân ngụy Lào, thành lập hệ thống đồn bốt từ thành phố đến nông thôn, phát triển lực lượng lính "dân vệ" ở các địa phương để khống chế nhân dân và ngăn chặn hoạt động của phong trào kháng chiến.


Bằng sức mạnh quân sự và thủ đoạn thâm độc về chính trị, Pháp đã từng bước ổn định tình hình, thiết lập bộ máy cai trị trên toàn nước Lào, gây cho phong trào kháng chiến nhiều khó khăn. Cuộc chiến đấu của nhân dân các bộ tộc Lào tạm lắng xuống nhưng lực lượng cách mạng về cơ bản vẫn được bảo toàn.


Trước tình hình đó, Đảng đề ra chủ trương chuyển hướng về các vùng nông thôn, rừng núi để tiến hành vận động cách mạng, xây dựng cơ sở chính trị và xây dựng lực lượng vũ trang, phát động chiến tranh du kích, thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện và lâu dài.


Thực hiện chủ trương của Đảng, từ cuối năm 1946 đến đầu năm 1947, lực lượng yêu nước Lào bắt tay vào việc xây dựng căn cứ du kích ở các vùng dọc biên giới Lào - Việt, Lào - Campuchia, Lào - Thái. Ở các tỉnh Viêng Chăn, Sầm Nưa, Chuội Xài, Xiêng Khoảng, căn cứ du kích đã được xây dựng. Dọc biên giới Lào - Thái ở Thượng Lào có hai căn cứ du kích: phân khu Xaynhabuli và phân khu Hứa Khổng.


Cuối năm 1947 đầu năm 1948, cách mạng Lào tập trung vào việc củng cố những căn cứ du kích đã có và tiếp tục xây dựng các khu căn cứ mới. Mỗi căn cứ có từ 1 đến 2 trung đội vũ trang tuyên truyền, vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân tham gia kháng chiến, vừa tổ chức đánh du kích chống địch càn quét khủng bố, vừa tổ chức xây dựng căn cứ kháng chiến, cơ sở chính trị và vũ trang bí mật. Khắp nơi đâu đâu cũng có các căn cứ kháng chiến. Ở Viêng Chăn có căn cứ Tan, Mường Phương, Bôrakhan; ở Sầm Nưa có căn cứ Xiềng Kho, Sầm Tớ; Huội Xài có các căn cứ Mường Xinh, Mường Năng, Mường Bò; Luông Phrabăng có căn cứ Mường Xay, Pácxeng, Pa chóp, Mường Ngòi; Xiêng Khoảng có căn cứ Mường Mơ; Xavanakhẹt có các căn cứ Bulapha, Tà Ôi; Hạ Lào có các căn cử Chămpaxắc, Phân Thông, Xêcông, Attôpơ...


Bên cạnh việc xây dựng căn cứ kháng chiến, các lực lượng vũ trang yêu nước Lào cũng rất chú trọng xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng nhân dân. Đến cuối năm 1948, cơ sở chính trị đã được xây dựng ở nhiều vùng, có những nơi đã tổ chức được lực lượng du kích xã, bản. Nhiều huyện, nhất là các vùng dọc biên giới Lào - Việt đã tổ chức ra các hội quần chúng như Hội "Lào Cùxạt", Hội "Lào yêu nước Commađam", Hội "Người H'mông Cùxạt"... Một số nơi còn thành lập được mặt trận, chính quyền ở địa phương và cấp tỉnh như Khăm Muộn, Xavanakhẹt. Phong trào kháng chiến chống Pháp đã bám rễ được vào các vùng nông thôn. Khối đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào không ngừng phát triển, củng cố. Các căn cứ kháng chiến xuất hiện ở nhiều địa bàn, hình thành thế cài răng lược của chiến tranh nhân dân ở Lào.


Về xây dựng lực lượng vũ trang, ban đầu chỉ có 7-8 đội, mỗi đội từ 15-40 người, trang bị thô sơ, thiếu thốn. Những năm đầu kháng chiến, do lực lượng địch đông, trang bị hiện đại và luôn tìm mọi cách tiến công tiêu diệt lực lượng cách mạng nên lực lượng vũ trang Lào chủ trương dùng phương thức "vũ trang tuyên truyền" để xây dựng lực lượng. Quá trình hoạt động gian khổ, được nhân dân và bộ đội tình nguyên Việt Nam hết sức giúp đỡ, lực lượng vũ trang Lào đã từng bước lớn mạnh. Từ các đơn vị nhỏ lẻ và các tổ du kích làng bản của những năm 1947, 1948, đến năm 1949, Quân đội Lào đã xây dựng được các tiểu đội, trung đội tập trung ở huyện, tỉnh và đại đội độc lập ở từng khu vực.


Trên cơ sở phong trào quần chúng, tổ chức dân quân du kích và một số đơn vị vũ trang tập trung đã phát triển ở các căn cứ kháng chiến, ngày 20 tháng 1 năm 1949, tại chiến khu Xiềng Kho (tỉnh Hùa Phăn), Quân đội Lào được thành lập với Đại đội Látxavông, đơn vị vũ trang chính quy đầu tiên do Cayxỏn Phômvihản trực tiếp chỉ huy. Sau đó các đội vũ trang khác trong cả nước: Xét Thathirat, Xulinha Vông xa ở Thượng Lào; Xay xét Thathilạt ở Trung Lào; Xaychăc Capăc, Chămpaxắc ở Hạ Lào; Phà Ngậm ở Viêng Chăn... lần lượt hợp nhất về Đại đội Látxavông thành Quân đội Lào Ítxala (Quân đội Lào tự do).


Trải qua quá trình chiến đấu và xây dựng, Quân đội Lào Ítxala ngày càng lớn mạnh và trưởng thành với nhiều tên gọi khác nhau. Năm 1957, khi Chính phủ Lào thực hiện chính sách hoà hợp dân tộc, được gọi là Lực lượng Pa thét Lào. Sau đó đổi thành Quân giải phóng nhân dân Lào (20.1.1966) và từ sau năm 1975 là Quân đội nhân dân Lào. Quân đội Lào ngày nay đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Nhân dân cách mạng Lào.


Quân đội Lào Ítxala ra đời là sự kiện quan trọng, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của lịch sử đấu tranh cách mạng Lào. Từ các đội vũ trang tuyên truyền, các đơn vị chiến đấu độc lập ra đời trong cuộc đấu tranh của nhân dân các bộ tộc ở nhiều khu vực đã được thống nhất thành Quân đội Lào Ítxala dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương - tiền thân của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Sự ra đời của Quân đội Lào là kết quả của một quá trình đấu tranh gian khổ của các bộ tộc và nhân dân Lào,là kết quả của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin và học thuyết quân sự vô sản trong việc xây dựng một quân đội nhân dân thích hợp với điều kiện cụ thể của Lào. Vì vậy, ngay sau khi thành lập, Quân đội Lào tuy số lượng ít, trang bị vũ khí còn thô sơ, nhưng đã mang đầy đủ bản chất của một quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân và cùng nhân dân mà chiến đấu. Đó chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội Lào.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:43:49 pm
2. Quân đội Lào Ítxala trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1949-1954)

Ngay sau khi ra đời, Quân đội Lào Ítxala đã cùng với nhân dân tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tháng 1 năm 1949, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ VI quán triệt đường lối và bàn biện pháp thực hiện cụ thể, phù hợp với mỗi chiến trường. Đối với chiến trường Lào, Hội nghị nhấn mạnh: "Phải lấy việc xây dựng căn cứ địa là chính cho Lào và mở rộng cơ sở quần chúng, gắn liền các căn cứ địa với nhau; xây dựng quân đội du kích và chính quyền; xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ... làm mục tiêu hành động của mỗi địa phương, đơn vị..."1 (Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 10 (1949), Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2001, tr.52).


Về phía Việt Nam, với quan điểm "Đông Dương là một chiến trường", từ đầu năm 1949, theo yêu cầu của cách mạng Lào, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã điều động một bộ phận quân chủ lực cùng nhiều cán bộ cơ sở sang giúp Lào, đồng thời, các cán bộ Đảng và các đơn vị vũ trang do Đặc ủy Việt kiều ở Thái Lan xây dựng cũng được lệnh sang hoạt động ở chiến trường Lào.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng Lào, trực tiếp là của các đảng bộ và ban chỉ huy các khu, tỉnh, một cao trào "đoàn kết chiến đấu” diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ trên khắp chiến trường. Ngày 1 tháng 3 năm 1949, ủy ban kháng chiến và Khu quân sự Hạ Lào được thành lập do đồng chí Khăm tày Xiphănđon, đại diện Chính phủ Lào trực tiếp phụ trách. Đồng thời, hai bên Lào - Việt cũng quyết định thành lập Bộ chỉ huy hỗn hợp ở khu vực Hạ Lào. Giữa năm 1949, đại đội chủ lực đầu tiên của Khu chính thức thành lập lấy tên là đại đội Xaychắtkàphắt. Ngoài đại đội chủ lực ra, ở Hạ Lào còn có 5 đội vũ trang tuyên truyền, mỗi đội khoảng 30 đến 40 người hoạt động ở các vùng xung yếu.


Ở Trung Lào, thực hiện nghị quyết Hội nghị cán bộ của Trung ương Đảng, ủy ban kháng chiến và Ban chỉ huy quân sự khu Trung Lào thống nhất đề ra chủ trương mở Mặt trận Trung Lào, hướng chính là đường số 9; vận dụng phương thức "đại đội độc lập, trung đội phân tán", đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền nhằm tổ chức quần chúng, xây dựng bộ đội địa phương, dân quân du kích, xây dựng chính quyền, mở rộng các khu căn cứ. Sau một thời gian chiến đấu, công tác, được nhân dân hết sức giúp đỡ, lực lượng vũ trang đã góp sức xây dựng được 4 vùng căn cứ rộng lớn gồm hàng trăm bản với 30.000 dân dọc biên giới Lào - Việt, có chính quyền cách mạng, có bộ đội địa phương và dân quân du kích, buộc địch phải bỏ nhiều vị trí gây ảnh hưởng tốt trong nhân dân.


Tại khu vực phía Tây và Tây Bắc Lào, được sự chi viện về lực lượng và vật chất của Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, lực lượng kháng chiến Lào đã xây dựng và mở rộng các khu căn cứ, đưa phong trào chiến tranh du kích lên một bước mới, tiêu hao, tiêu diệt thêm nhiều địch, làm cho hậu phương địch ngày càng mất ổn định. Đến giữa năm 1950, cơ sở cách mạng và căn cứ kháng chiến đã được mở rộng ra nhiều nơi ở phía Tây và Tây Bắc Lào. Chiến tranh du kích được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú như phục kích, tập kích, gài mìn, bắn tỉa, kết hợp hoạt động quân sự với vận động chính trị, kêu gọi địch bỏ ngũ...


Ở Đông Bắc Lào, sau ngày tuyên bố thành lập Quân đội Lào Ítxala (20.1.1949), nhân dân vùng căn cứ Xiềng Kho và các lực lượng vũ trang đã tích cực chuẩn bị các mặt để phối hợp với bộ đội chủ lực, đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt địch, củng cố và xây dựng khu căn cứ Trung ương của cách mạng Lào. Phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam, đơn vị Látxavông mở các chiến dịch ở Tây Bắc và Bắc Lào như chiến dịch Xiềng Kho (6.1949), chiến dịch Sông Mã (11.1949), trận tập kích đồn Nong Khang (4.12.1949), nhằm phá vỡ phòng tuyến dài hàng trăm ki-lô-mét của địch, cơ sở địch hậu ở Bắc Lào được mở rộng, mở thông biên giới Lào - Việt ở phía bắc, đẩy mạnh công tác xây dựng căn cứ địa Trung ương của cách mạng Lào.


Sự lớn mạnh của phong trào cách mạng Lào vào năm 1950 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một tổ chức lãnh đạo thống nhất trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Do đó từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1950, Đại hội toàn quốc Mặt trận kháng chiến Lào được triệu tập với hơn 150 đại biểu các lực lượng vũ trang, các bộ tộc, đoàn thể quần chúng... thay mặt cho nhân dân yêu nước Lào. Đội Látxavông được giao nhiệm vụ đặc trách bảo vệ và phục vụ đại hội.


Đại hội đã nhất trí đề ra đường lối và chính sách trong giai đoạn trước mắt của cách mạng Lào, thông qua bản “Cương lĩnh chính trị” gồm 12 điểm, quyết định thành lập Mặt trận "Neo Lào Ítxala" và Chính phủ kháng chiến Lào do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch Mặt trận và Thủ tướng Chính phủ.


Sau khi thành lập, Mặt trận Neo Lào Ítxala và Chính phủ kháng chiến tiến hành một loạt cải cách xã hội nhằm thủ tiêu dần những tàn dư của chế độ phong kiến, xoá bỏ từng bước chính sách sưu dịch và thuế má bất công. Chính sách đúng đắn này nhằm bồi dưỡng sức dân, làm cơ sở đẩy mạnh phong trào kháng chiến toàn dân, toàn diện.


Cuối năm 1950, tổ chức lực lượng và hệ thống chỉ huy quân sự ở Lào được sắp xếp và bố trí phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Tại Hạ Lào, giữa năm 1951, Chính phủ kháng chiến quyết định thành lập Bộ chỉ huy quân khu Hạ Lào với 3 mặt trận và một khu căn cứ địa (mặt trận Sê Công, Tây Nam, Sa ra Bô lô và căn cứ địa miền Đông). Mỗi mặt trận và căn cứ địa đều có chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang từ cấp trung đội đến đại đội và dân quân du kích đều khắp. Bên cạnh đó, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam đóng quân xen kẽ trên các mặt trận và khu căn cứ vừa làm nhiệm vụ cơ động đánh địch, vừa phối hợp giúp đỡ bộ đội Lào Ítxala trong xây dựng và chiến đấu.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:44:19 pm
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào kháng chiến ở Hạ Lào xuống vùng đồng bằng tây nam Attôpơ và đông tây Chămpaxắc, từ đầu năm 1951, các lực lượng quân sự và chính trị ở hai tỉnh Xavanakhẹt và Khăm Muộn cũng chuyển mạnh hoạt động xuống vùng đồng bằng, giành giật quyết liệt với địch, tạo nên bước phát triển mới của phong trào kháng chiến ở Trung Lào. Lực lượng vũ trang ở Trung Lào có 2 đại đội chủ lực khu, 2 đại đội địa phương tỉnh, các khu căn cứ thành lập được 4 trung đội địa phương, nhiều bản tổ chức được dân quân du kích. Đến cuối năm 1952, Mặt trận Ítxala đã xây dựng ở đây hơn 400 tổ chức cơ sở cách mạng, lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích phát triển mạnh mẽ và tương đối đều khắp. Toàn khu có tới 120 tiểu đội du kích xã.


Từ năm 1951 trở đi, Đông Bắc Lào là địa bàn tranh chấp hết sức quyết liệt giữa lực lượng kháng chiến Lào và thực dân Pháp. Thực hiện chủ trương xây dựng khu Bắc Lào (trọng điểm là tỉnh Hùa Phăn) làm căn cứ đỉa Trung ương của cách mạng Lào, Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ kháng chiến Lào đã tăng cường lực lượng bổ sung cho khu Bắc Lào. Về lực lượng vũ trang, có 3 đại đội khu: Đại đội Nôm xẩm hoạt động cùng 1 tiểu đoàn quân tình nguyện Việt Nam ở đông bắc Sầm Nưa. Đại đội Látxavông hoạt động ở khu vực Mường Dương, Sầm Tớ, Mường Na đến Mường Láp, Mường Hiềm. Tháng 10 năm 1951, Chính phủ kháng chiến tiếp tục bổ sung cho Mặt trận Bắc Lào thêm đại đội Xaychắccàphắt (đại đội Chămpaxắc).


Trong khi các lực lượng kháng chiến ở các khu vực Hạ Lào, Trung Lào và Đông Bắc Lào đẩy mạnh các hoạt động xuống vùng đồng bằng, phía sau lưng địch, thu được những thắng lợi to lớn, vững chắc, thì ở khu vực Tây Lào, kể cả ở vùng đô thị, quân và dân đã tranh thủ thời cơ địch đang bị động phải chia sẻ lực lượng để đối phó nhiều nơi, đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh, giành thắng lợi.


Phong trào dân quân du kích phối hợp cùng bộ đội địa phương dùng vũ khí thô sơ, chông mìn, cạm bẫy, chống địch càn quét, bảo vệ bản làng đã trở thành phổ biến ở nhiều vùng căn cứ. Nổi bật là trận chững càn thắng lợi lớn ở vùng Phu Khum, Phu Xung (Viêng Chăn) của bộ đội địa phương và du kích mường phối hợp với một số đơn vị chủ lực đã phục kích, đánh mìn, bắn tỉa, chặn 2 đại đội địch ra càn, diệt 50 tên, làm bị thương 665 tên, buộc địch phải rút lui.


Đáp ứng nhu cầu chiến đấu, trong giai đoạn này lực lượng vũ trang Lào phát triển khá nhanh, đặc biệt là lực lượng quân sự địa phương. Dân quân du kích được mở rộng và tổ chức chặt chẽ hơn. Đến cuối năm 1952 toàn quốc đã có hơn 30.000 người tham gia vào lực lượng dân quân du kích. Rất nhiều địa phương đã tổ chức được các tổ tiểu đội trung đội dân quân du kích, chủ yếu được trang bị súng trường và lựu đạn. Bộ đội tập trung được chú trọng xây dựng cả về số lượng và chất lượng. Trong hai năm 1951 - 1952, Quân đội Ítxala đã động viên được hơn 800 thanh niên nhập ngũ; đến cuối 1953 đã xây dựng được 9 đại đội chủ lực và hàng chục trung đội địa phương, đồng thời mở trường đào tạo ở từng khu vực hoặc gửi cán bộ, chiến sĩ sang Việt Nam học tập,... do đó khả năng tác chiến của Quân đội Lào đã được nâng lên một bước.


Với sự lớn mạnh không ngừng của lực lượng kháng chiến trên khắp cả nước, từ năm 1950 đến 1953, Quân đội Lào Ítxala liên tục đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, từ các hoạt động du kích lẻ tẻ tiến lên những hoạt động tác chiến quy mô lớn hơn, kể cả đánh công kiên vào các vị trí phòng ngự của địch. Số đồn bốt địch bị thiệt hại tăng lên, vùng giải phóng được mở rộng. Bước sang năm 1953, Quân đội Ítxala bắt đầu mở những chiến dịch lớn.


Trung tuần tháng 4 năm 1953, phối hợp tác chiến với quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng vũ trang Lào đã mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa. Đây là chiến dịch lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Lào. Địch ở Sầm Nưa bỏ chạy về Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng. Với sức tiến công mạnh mẽ của liên quân Lào - Việt, chỉ trong vài ngày, địch buộc phải rút lui khỏi Xiêng Khoảng. Việc giải phóng Sầm Nưa và Xiêng Khoảng đã mở rộng căn cứ địa cách mạng. Địch bị uy hiếp mạnh ở Thượng Lào.


Sau đó, quân đội Ítxala tiếp tục phối hợp cùng với một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc tiến công ở Trung, Hạ Lào nhằm thu hút quân cơ động Pháp, phá thế tập trung quân của địch ở chiến trường chính Bắc Bộ (Việt Nam). Mũi tiến công chủ yếu là Thà Khẹc.


Thà Khẹc là một địa bàn chiến lược quan trọng nằm trên con đường huyết mạch số 13 đi từ Sài Gòn đến Viêng Chăn và Luông Phrabăng. Phía đông giáp các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình của Việt Nam; phía tây giáp sông Mê Công và biên giới Thái Lan. Nếu chiếm được Thà Khẹc sẽ khống chế được cả khu vực Trung Lào.


Đầu tháng 12 năm 1953, trước nguy cơ bị Quân đội Lào Ítxala uy hiếp ở Trung Lào, Pháp điều động Binh đoàn số 2 từ Bắc Bộ (Việt Nam) đến tăng cường phòng thủ vùng Thà Khẹc. Nhiều đơn vị pháo binh hạng nặng đã đến đóng ở các vị trí quan trọng trên quốc lộ số 12.


Ngày 21 tháng 12 năm 1953, cuộc tiến công của liên quân Lào - Việt ở hướng Thà Khẹc bắt đầu. Được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, liên quân đã đánh nhanh, đánh mạnh, giáng một đòn bất ngờ làm cho quân địch không kịp trở tay đối phó. Sau 5 ngày liên tục chiến đấu, các lực lượng vũ trang đã loại khỏi vòng chiến đấu 3 tiểu đoàn Âu Phi, gồm 2.200 quân, giải phóng một khu vực rộng lớn ở miền Trung Lào, trong đó có tỉnh Khăm Muộn và thị xã Thà Khẹc, cắt đứt Trung Lào với Thượng Lào. Chiến thắng đã góp phần tạo điều kiện cho liên quân Lào - Việt phát triển tiến công xuống phía nam.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:44:51 pm
Từ tháng 1 năm 1954, liên quân Lào - Việt liên tiếp tiến công địch ở Đồng Hến, Mường Pha Lan, Mường Phin, giải phóng phía bắc tỉnh Xavanakhẹt, tiêu diệt gần 2.000 tên địch, cắt đứt đường số 9 nối liền từ Đông Hà (Việt Nam) đến thị xã Xavanakhẹt.


Phối hợp với Mặt trận đường số 9, một tiểu đoàn quân chủ lực được tăng cường lên tới 760 người, sau hai tháng hành quân đã đến kịp Hạ Lào. Tận dụng yếu tố bất ngờ, tiểu đoàn cùng với các lực lượng địa phương liên tục tiến công tiêu diệt địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn: Áttôpơ (31.1.1954), cao nguyên Bôlôven (1.2.1954), phía nam tỉnh Saravan, thị trấn Tha Teng (5.2.1954), áp sát thị xã Saravan. Quân Pháp buộc phải điều một binh đoàn lê dương từ Bắc Bộ (Việt Nam) và binh đoàn ngụy số 51 từ Sênh xuống lập 2 cụm cứ điểm mới ở thị xã Saravan và Pắcxế nhằm đối phó với cuộc tiến công của quân đội ítxara ở Hạ Lào.


Sau hơn 4 tháng liên tục chiến đấu, quân và dân Lào ở mặt trận Trung Lào và Hạ Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, thu 1.200 súng các loại, nhiều quân trang, quân dụng và phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng rộng lớn 400.000km2 với 40.000 dân, cắt đứt đường liên lạc của địch giữa Trung Lào và Thượng Lào, uy hiếp mạnh Hạ Lào. Qua chiến đấu, cơ sở quần chúng, chính quyền, đặc biệt là lực lượng vũ trang được xây dựng, củng cố và ngày càng trưởng thành nhanh chóng, tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Lào tiến lên một bước mới.


Trong khi đó, trên chiến trường Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi hết sức to lớn. Để che chở cho vùng Thượng Lào đang bị uy hiếp, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đây thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Tuy nhiên, quân Pháp ở đây nhanh chóng bị bao vây, cô lập sau khi Lai Châu (Việt Nam) được giải phóng. Pháp điều động 6 tiểu đoàn tăng cường cho phòng tuyến sông Nậm U để bảo vệ “đường liên lạc chiến lược" giữa Luông Phrabăng, Mường Sài với Điện Biên Phủ.


Thực hiện kế hoạch tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 ở Thượng Lào, Chính phủ Lào kháng chiến đã điều đại đội Chămpaxắc bổ sung cho tỉnh Luông Phrabăng cùng quân tình nguyện và lực lượng địa phương, dân quân du kích hoạt động đánh địch và xây dựng cơ sở ở khu vực Mường Sài, Mường Khoa, Mường La. Nhiều trận càn, phục kích của các lực lượng vũ trang Lào đã giành thắng lợi ở bản Phồn Xây, bản Thèn Then dọc sông Nậm U, Nậm Bạc, Mường Ngòi, gây cho địch nhiều tổn thất.


Chấp hành chỉ thị của Chính phủ Lào kháng chiến, các lực lượng vũ trang đã phối hợp với chính quyền và mặt trận địa phương vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm và chuẩn bị thuyền bè, sẵn sàng phục vụ bộ đội chủ lực hành quân đánh địch. Nhân dân khu vực Thượng Lào đã đóng góp hơn 2.000 tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho quân đội trong thời gian diễn ra chiến dịch.


Theo nhiệm vụ được phân công, các đơn vị chủ lực cùng các lực lượng vũ trang ở Bắc Lào tổ chức thành 2 cánh quân, từ biên giới Lào - Việt, vượt qua rừng núi hiểm trở phía đông bắc tỉnh Luông Phrabăng và Phongxalỳ, tiến sát phòng tuyến sông Nậm U. Đồng thời, một cánh quân khác từ biên giới Lào - Việt được lệnh nhanh chóng tiến sang Phongxalỳ, phối hợp cùng với quân dân địa phương tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng thêm vùng căn cứ cách mạng Thượng Lào.


Trong hơn 10 ngày chiến đấu và truy kích địch trên chặng đường dài gần 200km, các lực lượng vũ trang Lào đã tiêu diệt 17 đại đội địch, trong đó có 1 tiểu đoàn lê dương bị tiêu diệt gọn, thu hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, giải phóng khu vực Nậm U, cô lập hoàn toàn quân địch ở Điện Biên Phủ. Trên đà thắng lợi, các lực lượng vũ trang Lào tiếp tục tiến công địch ở Phongxalỳ, căn cứ kháng chiến của Chính phủ Lào kháng chiến được mở rộng thêm gần 1 vạn kilômét vuông, nối liền khu giải phóng Bắc Lào với khu Tây Bắc Việt Nam.


Cùng với những chiến thắng lớn trong chiến dịch Trung, Hạ Lào và lưu vực sông Nậm U, các lực lượng vũ trang ở phía Tây Lào được nhân dân giúp đỡ đã tranh thủ thời cơ địch đang bị động, lúng túng, tiến công tiêu diệt các đơn vị chiếm đóng của địch, mở rộng khu căn cứ ở nhiều nơi. Điển hình là các trận tập kích từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1954 của đại đội Phà Ngậm (Viêng Chăn) phối hợp với dân quân du kích, trung đội mường Thu La Khôm và quân tình nguyện Việt Nam, diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí. Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân các khu vực Tây Lào, nhất là ở đông và tây Viêng Chăn đã góp phần buộc quân Pháp phải co về phòng thủ ở các thị xã, thị trấn... tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến củng cố, mở rộng các khu căn cứ phía sau lưng địch.


Trong Đông Xuân 1953-1954, phối hợp chiến đấu chặt chẽ với quân dân Việt Nam, cuộc tiến công trên chiến trường Lào đã giành được thắng lợi to lớn. Quân đội Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.000 tên địch, giải phóng 10 vạn kilômét vuông (không kể tỉnh Hùa Phăn), trong đó có nhiều vùng chiến lược quan trọng, uy hiếp địch trên toàn chiến trường Đông Dương, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng cơ động chiến lược, tạo điều kiện cho quân và dân Việt Nam tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), làm thất bại hoàn toàn kế hoạch Na va.

 
Do thất bại nặng nề trên chiến trường, lại bị nhân dân Pháp và dư luận tiến bộ trên thế giới phản đối, Chính phủ Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương, công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiệp định cũng thừa nhận Pa thét Lào là lực lượng chính trị độc lập, hợp pháp, có quân đội, có vùng tập kết ở hai tỉnh Hùa Phăn và Phongxalỳ. Giải pháp Giơnevơ tuy không phản ánh đầy đủ những thắng lợi trên chiến trường và xu thế của cuộc đấu tranh giữa các nước Đông Dương và Pháp, cũng không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của phái đoàn Việt Nam đại diện cho quyền lợi của ba nước, nhưng đã góp phần cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương.


Ngày 23 tháng 7 năm 1954, Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ kháng chiến Lào Cay xỏn Phômvihản ra lệnh thực hiện Hiệp định đình chiến trên toàn chiến trường Lào. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, quân tình nguyện trên cả nước đã nghiêm chỉnh thực hiện lệnh ngừng bắn và lần lượt chuyển quân tập kết về hai tỉnh Hùa Phăn và Phongxalỳ.


Sau 9 năm kháng chiến, cùng với thắng lợi của quân dân Việt Nam, quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành, nhất là trong những năm 1951-1954 đã có những tiến bộ rõ rệt về các mặt xây dựng và chiến đấu. Lực lượng so sánh hai bên trên toàn chiến trường Đông Dương cũng như ở Lào đã có những thay đổi lớn, có lợi cho sự phát triển của cách mạng Lào. Tuy vậy, nhìn cả quá trình phát triển và so với yêu cầu nhiệm vụ thì việc củng cố căn cứ địa, xây dựng các lực lượng vũ trang Lào Ítxala còn phát triển chậm, chưa theo kịp nhiệm vụ chiến đấu.


Trước tình hình đó, Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào đề ra chủ trương "nhân đà thắng lợi..., cần giữ vững và tăng cường hoạt động khi có cơ hội nhằm củng cố và mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích. Nắm vững phương châm hoạt động "kết hợp tác chiến với xây dựng", “tác chiến với ngụy vận và tuyên truyền vận động nhân dân"1 (Chỉ thị về hoạt động mùa hè tháng 6 năm 1 954, Tài liệu chỉ đạo đấu tranh vũ trang, Tập 4, tr.368, Dẫn theo Dự thảo Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, VL-3352.,tr.106). Đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, Bộ Quốc phòng nhấn mạnh: "Bất kể tình huống nào, việc đẩy mạnh xây dựng bộ đội Lào Ítxala là một nhiệm vụ hết sức cần thiết..., là công tác trung tâm thứ nhất phải tập trung lực lượng kiên quyết thực hiện cho kỳ được"2 (Dẫn theo Dự thảo Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, sđd. tr.106). Đây là mục tiêu quan trọng mà Quân đội Lào phải đạt được trong thời gian tới nhằm đối phó với kẻ địch nguy hiểm và mạnh hơn gấp nhiều lần.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:46:57 pm
3. Quân giải phóng nhân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ vừa được ký kết, Mỹ đã ráo riết can thiệp vào các nước Đông Dương, đặt Lào, miền Nam Việt Nam và Campuchia vào "khu vực bảo hộ" của khối SEATO (thành lập tháng 9 năm 1954). Để gạt bỏ hẳn ảnh hưởng của Pháp, Mỹ lập ra chính quyền phái hữu Viêng Chăn, cải tổ quân đội ngụy, tăng cường viện trợ quân sự nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở Lào.


Về phía lực lượng kháng chiến Lào, theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, trong khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, quân đội viễn chinh Pháp triệt thoái khỏi Lào, các đơn vị Quân đội Lào Ítxala cũng chuyển quân về tập kết ở hai tỉnh Hùa Phăn và Phongxalỳ. Cuộc chuyển quân tập kết của Quân đội Lào Ítxala bắt đầu từ tháng 8 năm 1954 và kết thúc vào cuối tháng 2 năm 1955.


Chấp hành chỉ thị của Chính phủ kháng chiến, đồng thời với việc chuyển quân tập kết, các địa phương và các đơn vị quân đội đã tổ chức giáo dục tư tưởng cho cán bộ, bộ đội và nhân dân về tình hình mới, xác định quyết tâm đoàn kết, tiếp tục đấu tranh, cảnh giác chống mọi âm mưu mới của địch để bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững lực lượng và cơ sở quần chúng ở những vùng lực lượng kháng chiến Lào vừa rút quân.


Tuy nhiên, trước bước phát triển mới của cách mạng Lào nên phong trào đấu tranh lúc này đã bộc lộ một số hạn chế. Phong trào đấu tranh ở 10 tỉnh vừa rút quân phát triển không đều do thiếu cán bộ nòng cốt, cơ sở quần chúng cách mạng bị uy hiếp, phương thức đấu tranh chưa chuyển biến kịp thời theo tình hình. Ở hai tỉnh tập kết thì cơ sở cách mạng chưa được củng cố vững chắc, kinh tế phát triển chậm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, bộ máy lãnh đạo các cấp và đội ngũ cán bộ tuy đã có bước phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. Tình hình tư tưởng của bộ đội trong những ngày đầu ở khu tập kết diễn biến khá phức tạp. Một số muốn trở về địa phương, không thật yên tâm với nhiệm vụ.


Với những đặc điểm trên, việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của Lào gặp rất nhiều khó khăn. Được sự giúp đỡ của Việt Nam, Pa thét Lào đã nhanh chóng hoàn thành đề án xây dựng quân đội phù hợp với hoàn cảnh đất nước, đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội Lào trong giai đoạn này là phải: "khuếch trương và củng cố các lực lượng vũ trang Lào Ítxala thành một đội quân cách mạng vững mạnh, có đủ khả năng trước mắt phá tan được âm mưu quân sự của đối phương, bảo vệ khu tập kết, hậu thuẫn vững chắc cho đấu tranh chính trị; về lâu dài nếu địch gây lại chiến tranh thì sẽ trở thành lực lượng nòng cốt cho cuộc vũ trang toàn dân để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, giải phóng hoàn toàn đất nước"1 (Dự thảo Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Sđd, tr.116).


Về tổ chức, Bộ Quốc phòng có ba cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần. Tổ chức lực lượng vũ trang Lào có ba thứ quân gồm các tiểu đoàn chủ lực, các đơn vị bộ đội địa phương (đại đội tập trung của tỉnh, trung đội tập trung của huyện) và các đội du kích ở xã, bản, làm nòng cốt cho phong trào dân quân rộng rãi ở các thôn xóm và tự vệ chiến đấu ở các cơ quan xí nghiệp. Đến cuối năm 1954, Quân đội Lào đã sắp xếp xong tổ chức, hình thành cơ cấu hoàn chỉnh gồm bộ đội chủ lực tập trung và các lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh. Tổng số quân chủ lực lúc này có 7.276 người, tổ chức thành 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn trợ chiến; 1 tiểu đoàn vận tải, 3 đại đội chuyên môn kỹ thuật trực thuộc Bộ (thông tin, quân báo, công binh), 1 trung đội bảo vệ cơ quan; 12 đại đội độc lập và 2 đội vũ trang tuyên truyền; ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng, Trường quân chính Commađam, 2 cơ quan tỉnh đội Hùa Phăn và Phongxalỳ. Bên cạnh đó, với chính sách dân tộc đúng đắn, Pathét Lào còn xây dựng được 1 tiểu đoàn của người Lào Xủng - tiểu đoàn Patchay1 (Dự thảo Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Sđd, tr.117-118). Trang bị của quân đội chủ yếu là sử dụng súng bộ binh và hoả lực trợ chiến thu được của Nhật và Pháp. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Quân đội Lào lúc này đã xây dựng được một số đội sửa chữa vũ khí, khí tài, một bệnh viện 150 giường, một cơ sở chế biến dược phẩm và một số đội phẫu thuật lưu động phục vụ các đơn vị trong chiến đấu.


Song song với việc củng cố, sắp xếp tổ chức, Pa thét Lào cũng khẩn trương tiến hành giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự trong các lực lượng vũ trang nhằm nâng cao trình độ giác ngộ chính trị và năng lực chiến đấu, công tác của bộ đội. Bộ Quốc phòng coi đây là một nhiệm vụ trung tâm, cơ bản nhất của việc xây dựng lực lượng trong giai đoạn này với phương châm "lấy chính trị làm chính, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm chính", từ đó triển khai các đợt giáo dục chính trị, huấn luyện trong toàn quân.


Về quân sự, Bộ Quốc phòng yêu cầu các đơn vị huấn luyện thành thạo kỹ thuật bắn súng bộ binh, nắm vững nguyên tắc và vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật của tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội và tiểu đoàn. Sau các đợt huấn luyện đều có tổ chức bắn đạn thật và diễn tập thực binh. Xen kẽ thời gian huấn luyện và công tác, các cơ quan, đơn vị còn tranh thủ tổ chức học văn hoá, thanh toán nạn mù chữ cho bộ đội. Riêng Trường quân chính Commađam, trong 3 năm (1955-1957) đã liên tục mở các khoá huấn luyện từ 3 đến 5 tháng để đào tạo cán bộ tiểu đội, trung đội và bổ túc cho hầu hết cán bộ đại đội và tiểu đoàn.


Qua hơn hai năm xây dựng, huấn luyện, Quân đội Pathét Lào đã có bước phát triển mới về tổ chức chỉ huy cũng như trình độ mọi mặt của bộ đội. Hệ thống chỉ huy và hệ thống lãnh đạo Đảng đã được hình thành từ Bộ chỉ huy tối cao và Đảng ủy quân sự Trung ương xuống các đơn vị đến từng cán bộ, chiến sĩ1 (Từ sau Đại hội thành lập Đảng nhân dân Lào (22-26.3.1955), Bộ Quốc phòng đổi thành Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Pathét Lào. Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, tháng 4.1955, Ban lãnh đạo Đảng ra quyết nghị thành lập Đảng ủy quân sự Trung ương do đồng chí Cay xỏn Phômvihản, Tổng bí thư kiêm Bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương và là Chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Pa thét Lào). Do đó, chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp từng bước được nâng lên, khả năng tự lực chỉ huy, điều hành đơn vị đã dần dần được khẳng định.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:47:28 pm
Cùng với việc tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, Quân đội Lào cũng kiên quyết đấu tranh bảo vệ khu tập kết, đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của quân phái hữu Viêng Chăn.


Được Mỹ viện trợ, sau một thời gian củng cố lực lượng, từ tháng 3 năm 1955, chính quyền Viêng Chăn đã huy động hai phần ba lực lượng quân đội ngụy tiến công vào hai tỉnh tập kết Hùa Phăn và Phongxalỳ với âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng nòng cốt của cách mạng, xoá bỏ căn cứ địa của cách mạng Lào. Đồng thời, chính quyền Viêng Chăn còn tiến hành khủng bố, đàn áp dã man những người kháng chiến cũ ở 10 tỉnh hòng triệt phá cơ sở cách mạng. Thực hiện được âm mưu này, Mỹ sẽ có điều kiện biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và trực tiếp uy hiếp Việt Nam từ phía tây.


Để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, ngày 22 tháng 3 năm 1955, những người cộng sản Lào đã chính thức thành lập Đảng Nhân dân Lào (ngày nay là Đảng Nhân dân cách mạng Lào). Sự ra đời của Đảng Nhân dân Lào đánh dấu sự phát triển vượt bậc và là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh của cách mạng và Quân đội Lào. Trên cơ sở phân tích đúng đắn những mâu thuẫn trong xã hội Lào, đánh giá cụ thể so sánh lực lượng trong nước và xu thế phát triển chung của khu vực Đông Dương, Đông Nam Á cũng như trên thế giới, Đảng Nhân dân Lào chủ trương: "Động viên mọi lực lượng của quân dân hai tỉnh cùng nhân dân cả nước đẩy mạnh đấu tranh chính trì, kết hợp với đấu tranh quân sự một cách bền bỉ để giữ vững căn cứ cách mạng hai tỉnh, giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng ở 10 tỉnh, làm thất bại mọi âm mưu tiến công phá hoại của Mỹ và tay sai, buộc chúng phải thi hành Hiệp định Gìơnevơ, tiến tới xây dựng một nước Lào hoà bình, dân chủ, thống nhất và độc lập thực sự"1 (Nghị quyết của Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp tháng 8 năm 1955, dẫn theo Dự thảo Lịch sử Quân đội nhân dân Lào).


Thực hiện chủ trương trên, lực lượng kháng chiến Lào đã giương cao ngọn cờ hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc, mở rộng mặt trận dân tộc thững nhất, thành lập Mặt trận Lào yêu nước - Neo Lào Hắc Xạt (6.1.1956) nhằm tập hợp mọi lực lượng, mọi xu hướng, mọi tầng lớp yêu nước và tiến bộ chống Mỹ và chính quyền Viêng Chăn. Đồng thời, Đảng Nhân dân Lào cũng ra sức củng cố, tăng cường lực lượng cách mạng về mọi mặt; khẩn trương xây dựng và tăng cường lực lượng vũ trang Pa thét Lào đang tập kết ở hai tỉnh Hùa Phăn và Phongxalỳ.


Vừa đấu tranh pháp lý, vừa kiên quyết chiến đấu bảo vệ khu tập kết, từ đầu tháng 10 năm 1954 đến cuối tháng 8 năm 1956, Quân đội Lào đã đánh lui hầu hết 685 cuộc tiến công lớn nhỏ của quân đội phái hữu Viêng Chăn vào khu tập kết, loại khỏi vòng chiến đấu gần 5.000 tên địch. Âm mưu tiến công quân sự nhằm thôn tính hai tỉnh, làm suy yếu lực lượng cách mạng, tiến tới xoá bỏ việc đàm phán hiệp thương với Pathét Lào của các thế lực phản động bị phá sản hoàn toàn. Hai tỉnh tập kết vẫn được giữ vững. Cơ sở cách mạng ở 10 tỉnh không ngừng được củng cố và phát triển cả ở thành thị và nông thôn. Xu hướng hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc, thống nhất quốc gia phát triển mạnh. Mỹ và chính quyền Viêng Chăn buộc phải ký Hiệp định Viêng Chăn ngày 20 tháng 10 năm 1957, lập Chính phủ liên hiệp lần thứ nhất có sự tham gia của Mặt trận Lào yêu nước, thừa nhận vai trò và địa vị hợp pháp của Mặt trận; chấp nhận thi hành các quyền tự do dân chủ của nhân dân Lào và tiến hành tổng tuyển cử bổ sung có Pathét Lào tham gia... Ngày 1 tháng 11, Tiểu ban quân sự ký hiệp định về việc sáp nhập 2 tiểu đoàn của các lực lượng vũ trang Pa thét Lào vào Quân đội Vương quốc.


Theo tinh thần trên, lực lượng vũ trang Pa thét Lào được chia thành hai bộ phận: một bộ phận được chọn lọc kỹ càng gồm 1.500 người biên chế thành 2 tiểu đoàn mạnh (Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2) sáp nhập vào Quân đội Vương quốc để trực tiếp bảo vệ Chính phủ Liên hiệp và Trung ương Mặt trận Lào yêu nước ra hoạt động công khai; trong đại bộ phận còn lại lựa chọn một số cán bộ, chiến sĩ trẻ có năng lực, phẩm chất chính trị bươi đi đào tạo dài hạn ở Việt Nam để làm nòng cốt cho phát triển lực lượng vũ trang sau này; còn đại bộ phận phục viên về địa phương, thực chất đây là bộ phận quan trọng để tăng cường cho lực lượng cách mạng ở cơ sở, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng trong cả nước.


Ngày 8 tháng 1 năm 1958, các tiểu đoàn 1 và 2 Pa thét Lào hoàn thành thủ tục sáp nhập vào Quân đội Vương quốc Trước đó, ngày 25 tháng 12 năm 1957, cơ quan đại diện Mặt trận Lào yêu nước chính thức ra mắt hoạt động công khai, hợp pháp tại Viêng Chăn và tờ báo "Lào Hắc Xạt” cơ quan ngôn luận của Mặt trận Lào yêu nước cũng ra số đầu tiên (1.1.1958). Từ đây, một bộ phận lực lượng Pa thét Lào đã ra công khai hoạt động hợp pháp, tuyên truyền mở rộng uy tín của Neo Lào Hắc Xạt.


Với việc thành lập được Chính phủ Liên hiệp, vai trò và uy tín của Pathét Lào ngày càng có ảnh hưởng sâu, rộng ở trong nước cũng như quốc tế. Đặc biệt, thắng lợi trong tổng tuyển cử bổ sung tháng 5 năm 1958 càng làm cho Mỹ và chính quyền tay sai lo ngại. Họ tìm mọi cách phá hoại việc thi hành những điều khoản đã ký kết và làm tê liệt hoạt động của Chính phủ Liên hiệp. Tháng 8 năm 1958, Mỹ lật đổ Chính phủ Liên hiệp, dựng lên Chính phủ cực hữu do Phủi Xananicon làm Thủ tướng, Cà Tày làm Phó thủ tướng, gạt các thành viên Pathét Lào và lực lượng trung gian ra khỏi chính phủ mới, đưa Hoàng thân Phuma, nguyên Thủ tướng Chính phủ Liên hiệp sang Pháp.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:48:02 pm
Sau khi lên nắm quyền lực, ngày 11 tháng 2 năm 1959, Chính phủ thân Mỹ tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Lào cũng như các hiệp định chính quyền Viêng Chăn đã ký với Pa thét Lào, từ bỏ chính sách hoà bình trung lập, công kích Việt Nam, Trung Quốc. Trước sức ép của Mỹ, ngày 23 tháng 7 năm 1959, Chính phủ Pháp và Chính phủ Viêng Chăn đã tuyên bố đồng ý để Mỹ cung cấp vũ khí, trang bị và đưa cố vấn quân sự vào Lào huấn luyện quân đội Viêng Chăn. Từ tháng 11 năm 1959, Mỹ trực tiếp nắm quân đội Viêng Chăn và bắt đầu thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" trên quy mô cả nước Lào1 (Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào (bản dịch của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam). tr.72), kiểm soát các khoản viện trợ cho Lào.


Để thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Lào, cùng với việc cung cấp viện trợ kinh tế - tài chính cho Chính phủ Viêng Chăn, Mỹ đưa vào Lào một số lượng lớn vũ khí, trang bị để xây dựng quân đội tay sai. Được Mỹ viện trợ kinh tế và vũ khí trang bị, chính quyền Phủi Xananicon ra sức củng cố và phát triển quân đội. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền Phủi Xananicon đã tăng nhanh quân số từ 25.000 lên 44.000 quân và liên tiếp mở các đợt thanh trừng, đàn áp những người kháng chiến cũ, những cán bộ, chiến sĩ Pathét Lào đã phục viên về địa phương theo hiệp định Viêng Chăn. Đầu tháng 5 năm 1959, chính quyền Phủi Xananicon đưa quân đến bao vây, đòi tước vũ khí Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đang đóng ở Cánh Đồng Chum và Xiềng Ngân. Tiếp đó, tháng 7 năm 1959, chính quyền Viêng Chăn còn trắng trợn bắt giam Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cách mạng Lào vào Viêng Chăn để tham gia Chính phủ Liên hiệp.

 
Trước tình hình trên, Đảng Nhân dân Lào đã kịp thời quyết định chuyển hướng đấu tranh với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Một mặt, Đảng tiếp tục giương cao ngọn cờ hoà bình, trung lập hoà hợp dân tộc, đẩy mạnh đấu tranh chính trị của quần chúng trong cả nước nhằm tranh thủ dư luận trong và ngoài nước; mặt khác kiên quyết phát động quần chúng đứng lên đấu tranh vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị.


Chấp hành chỉ thị của Đảng, Tiểu đoàn 2 đã mưu trí, dũng cảm phá vỡ vòng vây của địch ở Cánh Đồng Chum, bí mật hành quân xuyên qua rừng, sau hơn một tháng đã rút về khu căn cứ an toàn. Cùng lúc, do những điều kiện khó khăn hơn, chỉ gần một nửa số quân của Tiểu đoàn 1 thoát khỏi vòng vây địch. Sau khi các đơn vị thoát vây trở về, Pa thét Lào bắt tay vào việc chỉnh đốn lực lượng. Dựa trên số quân của Tiểu đoàn 2 làm nòng cốt, Pathét Lào đã tổ chức thành 3 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có khoảng 200 quân, đồng thời phát động quân và dân toàn quốc chuyển hướng đấu tranh, bắt nối cơ sở, khôi phục và củng cố căn cứ kháng chiến. Trong đợt hoạt động này, Pa thét Lào đã sử dụng cả 3 tiểu đoàn mới tổ chức lại phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đánh địch đồng loạt trên cả ba hướng, giải phóng toàn bộ huyện Mường Xon, nửa huyện Xiềng Kho, một số xã trong huyện Mường Sông Mã thuộc tỉnh Hùa Phăn và 8 xã thuộc tỉnh Phongxalỳ. Các địa bàn đứng chân của cách mạng Lào được mở rộng; lực lượng bộ đội chủ lực Pa thét phát triển từ 700 lên 1.986 người; phong trào đấu tranh được giữ vững. Những thành tựu đó của cán bộ, chiến sĩ Pa thét đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng Lào.


Lo sợ trước sự phát triển của cách mạng Lào, đặc biệt là các lực lượng vũ trang Pa thét, Chính phủ Viêng Chăn đã ban hành lệnh khẩn cấp tại 5 tỉnh Bắc Lào và huy động quân đội tiến hành các cuộc càn quét, khủng bố các khu vực dọc biên giới Lào - Việt.


Sau đợt tiến công quân sự của lực lượng vũ trang Pa thét Lào, một phong trào đấu tranh chính trị của mọi tầng lớp nhân dân dâng cao ở cả thành thị lẫn nông thôn. Hàng trăm cuộc biểu tình, mít tinh đòi chính quyền Phủi Xananicon phải trả lại tự do cho các lãnh tụ Neo Lào Hắc Xạt. Cuộc đấu tranh của nhân dân, nhất là ở nông thôn, đã phát triển thành phong trào nổi dậy giành chính quyền cơ sở ở nhiều địa phương trong cả nước.


Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh chống Mỹ đã có ảnh hưởng lớn đến một số thành viên trong hoàng tộc và một bộ phận lực lượng vũ trang quân đội Viêng Chăn. Ngày 9 tháng 8 năm 1960, một bộ phận Quân đội Vương quốc có xu hướng tiến bộ do Đại úy Coongle, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù số 2 cầm đầu đã tiến hành cuộc đảo chính, thành lập chính phủ mới do Hoàng thân Xuvana Phuma làm Thủ tướng.


Ngay sau đảo chính, Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã nhận định, đây là một cuộc đảo chính bột phát về quân sự do ảnh hưởng, tác động của phong trào đấu tranh yêu nước nên có tính chất quần chúng và tiến bộ. Vì vậy, Đảng chủ trương ủng hộ cuộc đảo chính, ủng hộ chính sách hoà bình trung lập, hoà hợp dân tộc và quyết đính nhanh chóng liên minh với lực lượng trung lập yêu nước, ủng hộ việc thành lập chính phủ ba phái; đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị trong cả nước.


Thực hiện chủ trương của Đảng Nhân dân Lào, ba đại đội Pa thét Lào được đưa vào Viêng Chăn để hỗ trợ lực lượng Coongle bảo vệ thủ đô, bảo vệ thành quả của cuộc đảo chính.


Ở tỉnh Hùa Phăn, từ ngày 23 đến ngày 30 tháng 9 năm 1960, các tiểu đoàn 1, 2 Pa thét Lào cùng các đơn vị pháo binh phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở đợt tiến công tiêu diệt, bức rút toàn bộ các vị trí địch dọc sông Nậm Mã, giải phóng trên 5.000km2 đất đai và hơn 11 vạn dân. Việc giải phóng tỉnh Hùa Phăn đã tạo điều kiện cho các lực lượng Pathét Lào khôi phục và xây dựng khu căn cứ để phát triển lực lượng cách mạng trong cả nước, đồng thời hỗ trợ quân đảo chính, chuẩn bị cho phương án có thể phải rút khỏi Viêng Chăn.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:48:33 pm
Lực lượng Phumi Nôxavẳn sau khi bị đánh bật khỏi Viêng Chăn, sau một thời gian củng cố lực lượng đã huy động được 6 tiểu đoàn với vũ khí trang bị của Mỹ bắt đầu mở các đợt tiến công vào quân đảo chính Coongle. Đặc biệt, từ ngày 12 tháng 12 năm 1960, quân Phumi có máy bay và pháo binh Thái Lan yểm trợ, cố vấn Mỹ chỉ huy, từ nhiều hướng tiến công vào thủ đô Viêng Chăn.


Các lực lượng của Ủy ban đảo chính kết hợp với các đơn vị Pa thét Lào cùng đông đảo nhân dân, học sinh Viêng Chăn đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng nhiều đợt tiến công của địch. Ngày 18 tháng 12 năm 1960, do sự chênh lệch về lực lượng và nhận thấy khó có thể giữ được thủ đô, Đảng Nhân dân Lào quyết định rút toàn bộ lực lượng yêu nước ra khỏi Viêng Chăn, chủ động chuyển hướng tiến công lên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Thực hiện chủ trương của Đảng, các tiểu đoàn 1, 2 Pa thét Lào tiến công địch ở Nọng Hét, bản Ban. Lực lượng trung lập cùng một bộ phận Pa thét Lào từ Văng Viếng tiến công thẳng vào khu vực Cánh Đồng Chum. Ngày 1 tháng 1 năm 1961, Pathét Lào cùng lực lượng trung lập giải phóng toàn bộ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, một địa bàn chiến lược quan trọng ở Thượng Lào.


Thành công của cuộc đảo chính và thắng lợi của việc giải phóng khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã làm thay đổi cục diện quân sự, chính trị ở Lào. Tận dụng thế hợp pháp của chính phủ trung lập, Đảng Nhân dân Lào đã tranh thủ sự viện trợ công khai, trực tiếp của Việt Nam, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, nhất là lực lượng vũ trang; đẩy mạnh tiến công quân sự phối hợp với đấu tranh chính trị, mở rộng khu căn cứ, hình thành vùng giải phóng liên hoàn từ bắc đến nam, bao gồm hai phần ba đất đai và một phần ba số dân. Từ năm 1962, lực lượng vũ trang Pathét Lào đã tranh thủ thời gian để huấn luyện, củng cố tổ chức biên chế, trang bị; phát triển từ 4 tiểu đoàn và một số đại đội địa phương tỉnh lên 15 tiểu đoàn bộ binh, 36 đại đội độc lập của tỉnh và 64 trung đội bộ đội địa phương huyện; đồng thời bắt đầu xây dựng một số đơn vị binh chủng như pháo binh, công binh, thông tin, trinh sát, tăng thiết giáp... Ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cũng nhanh chóng được tăng cường, củng cố để giúp Bộ chỉ huy tối cao lãnh đạo, chỉ huy các địa phương, đơn vị.


Cùng với việc xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang Pa thét, Đảng Nhân dân Lào còn tích cực giúp đỡ các lực lượng vũ trang trung lập yêu nước, củng cố các đơn vị, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng chính trị nên các lực lượng này đã có chuyển biến về lập trường kiên quyết chống Mỹ, chống Phumi và có quan hệ tốt hơn với nhân dân và các lực lượng vũ trang giải phóng.


Với những nỗ lực của lực lượng vũ trang cách mạng, lực lượng trung lập và sự phối hợp của quân tình nguyện Việt Nam (lần thứ hai sang giúp Lào theo yêu cầu của Chính phủ Hoàng thân Phuma), Quân đội Lào đã đẩy lùi được các đợt tiến công của quân Phumi, phá nhiều ổ nhóm phỉ... Vùng giải phóng được giữ vững và không ngừng mở rộng.


Trước những thắng lợi của Quân giải phóng Lào trên khắp các chiến trường, cuối tháng 11 năm 1961, quân Phuma phải điều lực lượng lên giữ các tỉnh phía bắc, xây dựng cứ điểm tại Luông Nậm Thà do 10 tiểu đoàn chiếm giữ. Tháng 2 năm 1962, Mỹ ép Pháp và chính quyền Viêng Chăn trao căn cứ Sê Nô cho Mỹ để chuẩn bị đưa quân vào chiến trường Lào. Sau khi xem xét tình hình, Đảng và Bộ chỉ huy tối cao quyết định mở chiến dịch tiến công quân Phumi ở Luông Nậm Thà. Chỉ trong vòng một tháng (7.4-6.5.1962), Quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam đã quét sạch quân địch ra khỏi Luông Nậm Thà, giải phóng gần 8.000km2 với 7 vạn dân.


Thất bại nặng nề về quân sự, chính trị, ngoại giao, đặc biệt là thất bại ở Nậm Thà, Mỹ - Phumi buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ về Lào (23.7.1962), chấp nhận thành lập chính phủ ba phái do Hoàng thân Xuvana Phuma làm Thủ tướng, Hoàng thân Xuphanuvông và Phumi Nôxavẳn làm Phó thủ tướng. Trong Chính phủ Liên hiệp thành lập lần thứ hai này, thế và lực cách mạng Lào lớn hơn hẳn thời kỳ Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và Hiệp định Viêng Chăn năm 1957. Lực lượng cách mạng đã có một vùng lãnh thổ rộng lớn và là một thành phần trong Chính phủ Liên hiệp, có vị trí và tiếng nói có trọng lượng.


Tuy nhiên, với Mỹ, đây chỉ là giải pháp tình thế nhằm hạn chế thắng lợi của các lực lượng cách mạng, tránh cho quân Phumi khỏi bị tan rã và có thời gian để củng cố lực lượng. Từ năm 1961 đến năm 1962, đế quốc Mỹ công khai thiết lập bộ máy quân sự ở Lào; dưới danh nghĩa phái đoàn MAAG đã tăng cường cố vấn Mỹ lên đến 1.600 người cùng với 400 nhân viên quân sự Philippin và hàng trăm nhân viên kỹ thuật quân sự Nam Việt Nam; đồng thời ra sức củng cố, tăng quân số ngụy Viêng Chăn từ 29.000 lên 56.000 quân. Ngoài ra, Mỹ còn tổ chức "lực lượng đặc biệt” khoảng 1.200 quân do Vàng Pao chỉ huy...


Từ giữa năm 1963, địch bắt đầu mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm, đánh vào vùng giải phóng như cuộc hành quân lấn chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (5.1963), Nậm Thơn (cuối 1963), Xảm Xon ở bắc Viêng Chăn và nam Luông Phrabăng (7-10.1963), Xỏn Xay ở khu vực đường 9 (cuối 1964). Trong các cuộc hành quân này, địch đã huy động từ 10 đến 30 tiểu đoàn, có pháo binh Thái Lan chi viện và cố vấn Mỹ chỉ huy. Sau khi mở các đợt tiến công quân sự, ngày 14 tháng 4 năm 1964, được sự hậu thuẫn của Mỹ, lực lượng Phumi Nôxavẳn tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ Chính phủ Liên hiệp, lũng đoạn lực lượng trung lập, xoá bỏ Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào và dựng nên chính quyền tay sai thân Mỹ. Ngay sau đó, ngày 17 tháng 4 năm 1964, lần đầu tiên chính quyền Giônxơn dùng lực lượng không quân Mỹ xuất phát từ các căn cứ ở Thái Lan và Hạm đội 7 ném bom rải chất độc xuống vùng giải phóng của Lào; từ năm 1966, sử dụng cả B.52 ném bom xuống chiến trường Lào. Trong 9 năm, từ 1964 đến 1973, số bom đạn Mỹ ném xuống Lào lên đến 3 triệu tấn. Số chi phí cho hoạt động không quân Mỹ ở Lào lên đến trên 10 tỉ đô la.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:50:04 pm
Đối phó với âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh của Mỹ và tay sai, Đảng Nhân dân Lào chủ trương kiên quyết phát động chiến tranh nhân dân, quyết tâm đánh bại mọi thủ đoạn, âm mưu chiến lược của Mỹ; tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, hình thành khối chủ lực gồm những tiểu đoàn tập trung cơ động trên từng khu vực và toàn chiến trường, các đại đội, tiểu đoàn ở huyện, tỉnh làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân ở các địa phương... tổng số quân của lực lượng Pathét được phát triển lên 19.300 người, tổ chức thành 18 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 53 đại đội độc lập, 48 trung đội địa phương. Đến năm 1964, cả nước có 21.321 du kích, trong đó có 2.733 du kích nằm trong vùng địch hậu. Cùng với việc tăng cường lực lượng vũ trang, Đảng Nhân dân Lào chủ trương tăng cường đưa lực lượng vào sau lưng địch, xây dựng cơ sở và phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng, đô thị, nhất là vùng Viêng Chăn. Ngày 20 tháng 1 năm 1966, bộ đội Pathét Lào đổi thành Quân giải phóng nhân dân Lào.


Căn cứ vào những đặc điểm của tình hình Lào trong bối cảnh chung của Đông Dương và thế giới, Đảng nhân dân Lào chủ trương giải quyết vấn đề Lào trong khuôn khổ mối tương quan giữa các phái ở Lào, đánh thắng địch từng bước, không để cho Mỹ có thể gây chiến tranh cục bộ ở Lào. Việc công bố "Cương lĩnh hành động và lập trường 4 điểm" của Mặt trận Lào yêu nước và các lực lượng trung lập yêu nước trong Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc (10.1965) cũng như việc tiến công quân sự, đánh địch có mức độ ở các mặt trận chính là nhằm thực hiện chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng nhân dân Lào trong giai đoạn này.


Thực hiện chủ trương trên và với tinh thần chiến lược tiến công, từ năm 1964 đến năm 1968, Quân giải phóng nhân dân Lào liên tục đánh bại các cuộc hành quân Xộn Xay 1 và Xộn Xay 2 của Phumi lấn chiếm ra vùng Trung - Hạ Lào (22.10.1964), giải phóng một vùng rộng lớn, từ Nà Kay đến Khăm Cợt và bắc Hin Bun; từ 4 tháng 2 đến 24 tháng 4 năm 1966, phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam đánh thiệt hại nặng 3 binh đoàn của địch, đập tan mưu đồ câu kết của Coongle với Phumi nhằm chiếm đóng Cánh Đồng Chum. Đặc biệt, từ 21 đến 27 tháng 1 năm 1968, Quân giải phóng nhân dân Lào đã mở chiến dịch Nậm Bạc, đánh tan 4 binh đoàn cơ động của địch, giải phóng Nậm Bạc và vùng Khăn đồng với hơn 1 vạn dân. Chiến thắng Nậm Bạc có ý nghĩa quan trọng, chứng tỏ sự trưởng thành và phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Lào1 (Đến tháng 8 năm 1968, lực lượng vũ trang Pathét Lào có 23.124 người; năm 1966 có 22.424 du kích, trong đó có 1.641 nữ (Theo Dự thảo Lịch sử Quân đội Lào)), tạo ra sự thay đổi cơ bản trong so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng; đồng thời cũng đánh dấu thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Lào của đế quốc Mỹ.


Thời gian này, trên chiến trường miền Nam Việt Nam, chiến lược "Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ cũng bị phá sản sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam. Nhằm từng bước rút ra khỏi cuộc chiến tranh Đông Dương mà vẫn duy trì được chủ nghĩa thực dân mới ở đây, Tổng thống Mỹ đưa ra Học thuyết Níchxơn với những chiến lược chiến tranh mới đối với mỗi nước. Ở Lào, đế quốc Mỹ thi hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường”, còn ở miền Nam Việt Nam là "Việt Nam hoá chiến tranh" và mở rộng chiến tranh sang Campuchia với chiến lược "Khơme hoá chiến tranh".


Để thử nghiệm những nguyên tắc của "Học thuyết Níchxơn" ở Lào, giữa năm 1969, quân đội Mỹ và quân ngụy Viêng Chăn mở chiến dịch Cù Kiệt, huy động gần 50 tiểu đoàn gồm các đơn vị tinh nhuệ của "lực lượng đặc biệt Vàng Pao" và Quân đội Thái Lan, có sự hỗ trợ của không quân Mỹ, kể cả máy bay chiến lược B.52 đánh chiếm khu vực Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Nhằm tiêu diệt quân địch lấn chiếm, khôi phục và mở rộng vùng giải phóng, Quân ủy Lào quyết định mở chiến dịch phản công 139. Sau 6 tháng chiến đấu kiên cường dũng cảm (25.10.1969-25.4.1969), 10 tiểu đoàn Quân giải phóng nhân dân Lào phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã đập tan chiến dịch Cù Kiệt, làm thất bại bước đầu chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ.


Tiếp đó, quân và dân Lào còn phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở rộng hoạt động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sê Pôn, Mường Phin trung Lào); thị xã Áttôpơ (Hạ Lào) và Luông Nậm Thà (bắc Lào).
Đầu năm 1971, Mỹ tiếp tục leo thang chiến tranh, dùng quân đội Sài Gòn làm lực lượng xung kích, mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh sang khu vực Đường 9 - Nam Lào. Trong chiến dịch này, ngoài quân đội Sài Gòn còn có 2 GM lực lượng đặc biệt Vàng Pao phối hợp với một số đơn vị Quân đội Thái Lan, được hàng nghìn máy bay, xe tăng, thiết giáp Mỹ yểm trợ.


Các lực lượng vũ trang Lào đã phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân Việt Nam đập tan lực lượng địch tiến công ra Đường 9 - Nam Lào, diệt và bắt hơn 23.000 địch, bắn rơi và phá hủy 300 máy bay các loại, 600 xe quân sự và 150 khẩu pháo.


Sau những thắng lợi trên, quân và dân Lào còn mở nhiều cuộc tiến công địch ở Pắcxoòng, giải phóng toàn bộ cao nguyên Bôlôven (5.1971); đập tan đợt phản kích cuối cùng của lực lượng đặc biệt Vàng Pao, bảo vệ vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng...


Những thắng lợi quân sự liên tiếp trên chiến trường Lào cũng như ở Campuchia và chiến trường miền Nam Việt Nam cùng những thắng lợi to lớn trên mặt trận đấu tranh ngoại giao đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam, Hiệp định Viêng Chăn về Lào. Ngày 27 tháng 2 năm 1973, tại Viêng Chăn, Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng que gia chính trị liên hiệp với thành phần hai bên ngang nhau được thành lập. Thủ đô Viêng Chăn và kinh đô Luông Phrabăng được trung lập hoá theo quy chế đặc biệt dưới sự kiểm soát của lực lượng cả hai bên.


Sau Hiệp định Viêng Chăn, Đảng Nhân dân cách mạng Lào chủ trương nhanh chóng tăng cường lực lượng cách mạng về mọi mặt, củng cố, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố vùng giải phóng. Mùa thu năm 1973, một bộ phận cơ quan lãnh đạo trung ương và một số đơn vị quân đội, công an (khoảng 1.500 cán bộ, chiến sĩ) được đưa vào thủ đô Viêng Chăn và kinh đô Luông Phrabăng theo quy chế đã thoả thuận, tạo thế đứng chân ở hai thành phố lớn. Các đơn vị bộ đội chủ lực hình thành thế tiếp cận, bám sát các địa bàn xung yếu, nhất là những nơi có cơ quan đầu não về quân sự và chính trị của đối phương từ trung ương đến các tỉnh, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và hỗ trợ quần chúng đấu tranh buộc đối phương nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản của hiệp định.


Mùa xuân năm 1975, ở Lào đã xuất hiện hình thái nổi dậy của bộ phận của nhân dân và binh biến trong quân đội nguỵ, đồng thời những thắng lợi to lớn của quân dân Việt Nam và Campuchia đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi đối với cách mạng Lào. Ngày 5 tháng 5 năm 1975, Đảng Nhân dân cách mạng Lào kịp thời hạ quyết tâm chiến lược phát động toàn quân, toàn dân nổi dậy đồng loạt và tiến công toàn diện để giành chính quyền trong cả nước.


Thực hiện quyết tâm của Đảng, Quân giải phóng nhân dân Lào với thế trận đã bố trí sẵn tạo sức ép mạnh về quân sự để hỗ trợ đắc lực cho các tầng lớp nhân dân nổi dậy đấu tranh, đập tan hệ thống ngụy quân, ngụy quyền, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân ở hầu hết các vùng bị chiếm cũ.


Sau khi xoá bỏ hoàn toàn hệ thống bộ máy chính quyền phản động và giải giáp toàn bộ các lực lượng quân đội, cảnh sát ngụy do Mỹ lập ra, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân các dân tộc trong cả nước. Đại hội đã quyết định xoá bỏ chế độ quân chủ, thiết lập chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào chính thức ra đời, kết thúc cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc trong suốt 30 năm, đưa cách mạng Lào bước sang một giai đoạn mới: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:50:35 pm
4. Quân đội nhân dân Lào trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ 1975 đến nay

Sau khi thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân, đất nước Lào lại đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Đó là sự phá hoại và mưu toan lật đổ chính quyền của các lực lượng thù địch bao gồm tàn quân ngụy lẩn lút ở trong nước và bọn phản động lưu vong bỏ chạy sang Thái Lan câu kết với các thế lực phản động nước ngoài tổ chức gây rồi ở nhiều nơi, vu khống, xuyên tạc chính sách của Nhà nước dân chủ nhân dân Lào. Do đó, nhiệm vụ quốc phòng-an ninh trong giai đoạn này vẫn là "nhiệm vụ hàng đầu và có tầm quan trọng số một".


Trên cơ sở phát động quần chúng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các bộ tộc bảo vệ chính quyền, các lực lượng vũ trang nhân dân Lào vừa trực tiếp chiến đấu chống các lực lượng thù địch, vừa đi về các địa phương tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia bảo vệ trị an, xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở.


Vượt qua mọi khó khăn và thử thách, các lực lượng vũ trang đã cùng nhân dân các bộ tộc đập tan các cuộc bạo loạn, gây rối của các lực lượng phản động, đánh trả đích đáng các hành động vũ trang khiêu khích, lấn chiếm biên giới của kẻ thù, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Từ sau năm 1975, Quân đội Lào đã tiến hành các chiến dịch đập tan cuộc bạo loạn ở Bắc Lào (6.3.1977); tiến công vào sào huyệt lực lượng lưu vong ở đảo Xing Xụ (tây bắc thủ đô Viêng Chăn, 4. 1977); phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam mở đợt hoạt động quy mô lớn, liên tục, dài ngày ở Mường Chà - Phu Bia (9-10.1978), tiêu diệt các cụm phỉ Vàng Pao, giải phóng địa bàn bị chúng chiếm đóng từ sau 1975; mở các cuộc tiến công, phản công đánh bại hành động khiêu khích, lấn chiếm của quân Thái Lan và lực lượng lưu vong Lào trên biên giới Lào - Thái (cuối năm 1987 - đầu năm 1988)... Những hoạt động của lực lượng vũ trang đã góp phần giữ vững an ninh quốc gia, tạo điều kiện ổn định để đất nước thực hiện thắng lợi kế hoạch khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá trong những giai đoạn tiếp theo.


Từ sau khi đất nước được giải phóng, Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ Lào luôn chú trọng chăm lo, củng cố, xây dựng và phát triển khả năng quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Ngày 16 tháng 12 năm 1975, Trung đoàn bộ binh 201, đơn vị cấp trung đoàn đầu tiên của Quân giải phóng nhân dân Lào ra đời gồm các tiểu đoàn 1, 705, 586 và các đơn vị bảo đảm, phục vụ chỉ huy chiến đấu. Đây là bước phát triển mới về quy mô tổ chức đơn vị chiến đấu của Quân đội Lào. Những năm tiếp theo, ở các hướng từ Bắc, Trung, Hạ Lào đều đã thành lập các trung đoàn chủ lực (202, 203, 204, 205, 206, 207, 208) và lập thêm nhiều tiểu đoàn binh chủng như pháo mặt đất, pháo phòng không, xe tăng, thiết giáp, công binh, đặc công, thông tin... Đặc biệt, với sự viện trợ trực tiếp của Liên Xô, ngày 20 tháng 10 năm 1977, đơn vị không quân chiến đấu phản lực MIG-21 đầu tiên đã được thành lập.


Đối với lực lượng quân sự theo vùng lãnh thổ, sau năm 1975 vẫn duy trì cấp quân khu (Quân khu Bắc Lào sau đổi thành Cơ quan tiền phương, Quân khu Xiêng Khoảng sau đổi thành Cơ quan hậu phương, Quân khu Trung Lào và Quân khu Nam Lào). Đến khi thành lập cấp sư đoàn thì giải thể cấp quân khu (1981-1982) chỉ còn lại Cơ quan tiền phương Bắc Lào duy trì cho đến năm 1987.


Thực hiện kế hoạch xây dựng lực lượng (1981-1985), ngày 6 tháng 10 năm 1981, Bộ Quốc phòng Lào quyết định thành lập Sư đoàn 2 - sư đoàn đầu tiên của Quân giải phóng nhân dân Lào, gồm có 3 trung đoàn bộ binh: 21 trước là Trung đoàn 202), 22 trước là Trung đoàn 205), 23 và Trung đoàn 24 pháo binh. Tiếp đó, trong năm 1982, Sư đoàn 3, các lữ đoàn 4, 51 (Sau này chuyển thành sư đoàn) và ngày 12 tháng 2 năm 1985 Sư đoàn 1 cũng lần lượt ra đời. Cùng với việc coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng bộ đội chủ lực, Bộ Quốc phòng Lào cũng rất quan tâm tới việc xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích; đồng thời gấp rút củng cố và triển khai hệ thống nhà trường, các trung tâm tập huấn nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội. Ngoài Trường Quân chính Commađam được thành lập từ trong kháng chiến chống Mỹ, còn lập thêm Trường Sĩ quan lục quân tổng hợp ở Xiêng Khoảng, Trường Hạ sĩ quan binh chủng hợp thành và nhiều lớp, trung tâm huấn luyện nghiệp vụ, chuyên môn...


Để phù hợp với nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước Lào đã đổi tên Quân giải phóng nhân dân Lào thành Quân đội nhân dân Lào sắc lệnh số 75/CTN ngày 16 tháng 7 năm 1982 của Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào). Ngày nay, Quân đội nhân dân Lào tiếp tục phát triển theo phương châm tăng cường chất lượng là chính, tinh giảm biên chế và quân số cho phù hợp với điều kiện dân số và kinh tế của Lào.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:51:44 pm
III. Tổ chức biên chế và trang bị của Quân đội nhân dân Lào hiện nay

Quân đội nhân dân Lào hiện nay gồm có quân đội thường trực (tại ngũ) và lực lượng dự bị động viên.
Quân đội thường trực là lực lượng chính quy trong lực lượng vũ trang của đất nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là sự lãnh đạo và chỉ huy của Đảng ủy quân sự Trung ương và Hội đồng quốc phòng an ninh. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thông qua Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần trực tiếp chỉ huy tác chiến và lãnh đạo xây dựng toàn quân. Quân đội thường trực gồm có hai quân chủng là lục quân và không quân.


Quân chủng lục quân là lực lượng đảm trách nhiệm vụ tác chiến đánh địch chủ yếu trên mặt đất, bao gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Bộ đội chủ lực là lực lượng cơ động dã chiến trong toàn quốc do Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy; được biên chế thành các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trung đội, tiểu đội. Quân đội nhân dân Lào có 5 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn, lữ đoàn chủ lực độc lập trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Bộ đội địa phương tổ chức ở các tỉnh (thành) và huyện do bộ chỉ huy quân sự tỉnh (thành), huyện trực tiếp quản lý và chỉ huy; là lực lượng đảm nhiệm tác chiến chủ yếu trong đỉa bàn địa phương, khi cần có thể điều chuyển thành bộ đội chủ lực hoạt động ở những địa bàn khác. bộ đội địa phương thường được tổ chức cấp trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội trung đội, tiểu đội. Mỗi tỉnh (thành) có 1 đến 2 tiểu đoàn; một số tỉnh trọng điểm có 1 trung đoàn; mỗi huyện có 1 đến 2 đại đội địa phương. Tổng quân số lục quân Lào năm 2003 là 25.600 quân. Tổ chức lực lượng của lục quân Lào có 5 sư đoàn bộ binh, 7 trung đoàn độc lập, 2 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn xây dựng, 1 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo binh, 9 tiểu đoàn pháo phòng không, 65 đại đội bộ binh độc lập, 1 trung đoàn lực lượng đặc nhiệm, 1 đội máy bay của lục quân, 1 giang đoàn gồm các xuồng chạy sông.


Trang bị vũ khí của lục quân gồm 30 xe tăng hạng trung T-54/55; 25 xe tăng lội nước PT-76. Xe thiết giáp có 25 chiếc M-8, 30 chiếc BTR-40/60, 40 chiếc BTR-152, ngoài ra còn có xe thiết giáp M-113. Pháo các loại 100 khẩu, pháo dã chiến xe kéo các loại có 100 khẩu, trong đó có 40 khẩu 122mm M-30 và D-30, 10 khẩu M-46. Súng cối có một số lượng lớn cối 81, 82, 107 và 120mm. Súng phòng không của lục quân gồm pháo cao xạ 37mm, 6 khẩu 23mm ZU-23, giàn tên lừa phòng không di động "Strela-2". Các máy bay của lục quân gồm 4 chiếc "Xôxna” U-17A. Các tàu thuộc giang đoàn gồm 40 chiếc xuồng đổ bộ1 (Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới", Sđd, tr.267).


Trong lục quân, binh chủng bộ binh được coi là lực lượng nòng cốt. Bên cạnh đó còn có các binh chủng hợp thành khác như tăng-thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không, công binh, thông tin, hoá học, đặc công và các lực lượng chuyên môn như trinh sát, ra đa, tác chiến điện tử, vận tải, quân y, trinh sát đặc nhiệm trên sông.


Quân chủng không quân Lào có 3.500 quân (năm 2003) với 2 phi đội máy bay tiêm kích - oanh tạc, 2 phi đội máy bay vận tải, 1 phi đội trực thăng, 1 phi đội máy bay huấn luyện; được trang bị 68 máy bay các loại (26 chiếc MIG-21, bốn chiếc AN-2, năm chiếc AN-24, 4 chiếc AN-26, bốn chiếc Jak-12, tám chiếc Jak-18, hai chiếc Jak-40, hai chiếc MI-6, 10 chiếc MI-8, ba chiếc SA-360)1 (Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới, sđd, tr.268).


Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng không quân là phối hợp với binh chủng phòng không của lục quân tổ chức phòng không bảo vệ không phận quốc gia; hiệp đồng với lực lượng lục quân chống xâm nhập bằng đường không; vận tải lực lượng cơ động và các phương tiện vật chất phục vụ chiến đấu. Không quân của Quân đội Lào gồm các lực lượng không quân tiêm kích, không quân cường kích, không quân vận tải, phòng không của không quân, lực lượng đổ bộ đường không và các lực lượng chuyên môn như ra đa, thông tin, tác chiến điện tử... Tổ chức biên chế cấp cao nhất của không quân Lào là cấp trung đoàn hỗn hợp; dưới là các liên đội, biên đội máy bay chiến đấu, vận tải trực thăng, cơ động đường không. Mỗi trung đoàn không quân Lào có từ 2 đến 3 liên đội không quân (liên đội là đơn vị chiến thuật cơ bản của lực lượng không quân Lào). Riêng lực lượng đổ bộ đường không biên chế theo tiểu đoàn, đại đội, trung đội, tiểu đội như lục quân.


Lực lượng dự bị động viên của Quân đội Lào là lực lượng quân sự mà thời bình phân tán ở trong dân, được đăng ký động viên vào quân đội trong thời chiến theo biên chế đã chuẩn bị trước. Lực lượng này gồm số hạ sĩ quan, chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự thời bình, còn độ tuổi làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và được đăng ký phục vụ trong quân đội khi có lệnh tổng động viên.


Tổng quân số của Quân đội Lào năm 2003 là 29.700 quân (lực lượng thường trực), trong đó lục quân 25.600, không quân 3.500, hải quân 600 quân1 (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr.586). Lào thực hiện tuyển quân theo chế độ nghĩa vụ quân sự trong độ tuổi từ 17 đến 26 tuổi, thời gian phục vụ là 18 tháng (trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ thực hiện theo chế độ tình nguyện).

 
Về huấn luyện quân sự, Quân đội Lào không ngừng tăng cường đổi mới công tác huấn luyện nhằm mục đích nâng cao năng lực tác chiến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, thích ứng với đặc điểm chiến tranh hiện đại; chú trọng công tác huấn luyện thực hành, huấn luyện vào ban đêm, chỉ huy tham mưu tác chiến cho bộ đội...


Đi đôi với tăng cường huấn luyện về quân sự, nâng cao khả năng lãnh đạo chỉ huy của cán bộ và chuyên môn nghiệp vụ cho cơ quan, Quân đội nhân dân Lào đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng về mặt chính trị, củng cố và tăng cường hệ thống tổ chức Đảng, công tác chính trị trong quân đội. Công tác giáo dục chính trị luôn bám sát thực tiễn đời sống bộ đội, tập trung bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị-xã hội, nâng cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, phát huy truyền thống anh hùng, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi dưỡng phẩm chất lối sống... làm cho quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự là đội quân chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 31 Tháng Mười, 2008, 08:54:08 pm
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Lào đã lập nên những chiến công vẻ vang, xứng đáng là công cụ bạo lực cách mạng tin cậy của Đảng và nhân dân các bộ tộc Lào. Ra đời từ các đội vũ trang tuyên truyền của quần chúng cách mạng trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội nhân dân Lào đã kề vai sát cánh cùng nhân dân các bộ tộc Lào, Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Campuchia tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa đến sự thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ngày 2 tháng 12 năm 1975.


Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, Quân đội nhân dân Lào không những là lực lượng trung thành tuyệt đối của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp lao động sáng tạo của nhân dân, mà còn phát huy truyền thống tốt đẹp là quân đội nhân dân, vừa chiến đấu giỏi, vừa tích cực tham gia xây dựng kinh tế, kết hợp quốc phòng với kinh tế góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Để ghi nhận những công lao to lớn của Quân đội nhân dân Lào trong chiến đấu cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nhà nước Lào đã hai lần tặng thưởng Huân chương Vàng quốc gia cho quân đội - phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.


(http://img401.imageshack.us/img401/2695/image012hx1.jpg)


Bộ Tổng tham mưu có các cục: Huấn luyện chiến đấu, Tác chiến, Quân lực, Địa phương, Không quân, Thông tin, Pháo binh, Công binh, Hóa học, Xe tăng, Đặc công.


Tổng cục Chính trị có các cục: Chính sách, Tuyên huấn, Cán bộ, Tổ chức, Thanh tra, Quân pháp, Bảo vệ, Xây dựng cơ sở Phòng Thanh nhiên, Phòng Phụ nữ, Phòng Công đoàn, Văn công, Phát thanh truyền hình, Báo Quân đội nhân dân.


Tổng cục Hậu cần có các cục: Tham mưu hậu cần, Xây dựng, Tài chính, Xăng dầu, Quân y, Vũ khí đạn, ô tô, Công nghiệp, Nông nghiệp.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:14:39 am
QUÂN ĐỘI LIÊN BANG MALAIXIA


I. Khái quát về đất nước con người Malaixia

Malaixia là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam châu Á, trên phần phía nam bán đảo Malăcca (tây Malaixia) và phần phía bắc đảo Calimantan (đông Malaixia), có đường biên giới chung với Thái Lan, Inđônêxia, Brunây và Xingapo. Diện tích 332,800km2, thủ đô là Kuala Lămpơ, dân số 23,95 triệu người (năm 2005), nam giới chiếm 51% (khoảng gần 12 triệu người), trong đó có 4,7 triệu người trong độ tuổi 18-50. Theo đánh giá của một số chuyên gia, Malaixia có thể huy động cho quân đội cùng một lúc khoảng gần 1 triệu người mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước1 (The World Armies. London, 2000, p.421). Tổng thu nhập quốc nội GDP của Malaixia năm 2004 khoảng 117 tỉ USD, bình quân thu nhập đầu người gần 5.000 USD một năm.


Nằm trên vịnh Malăcca, Malaixia có một vị trí địa chiến lược hết sức quan trọng, án ngữ tuyến giao thông đường thủy huyết mạch, nối liền các nước thuộc khu vực Cận Đông, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Đầu thế kỷ XVI (1511), Mã Lai là thuộc địa của Bồ Đào Nha. Đến năm 1641 trở thành thuộc địa của Hà Lan. Năm 1784, sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan lần thứ 4, thực dân Anh gạt Hà Lan và các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi Mã Lai, từng bước độc quyền thôn tính nước này bằng cách can thiệp, mua đất, hoặc đem quân đánh chiếm từng vùng. Năm 1786, Anh mua đảo Pênăng, năm 1789 mua tỉnh Oenlalay. Đầu năm 1795, Anh sử dụng một lực lượng lớn quân đội đánh chiếm Malăcca là nơi có vị trí quan trọng về mặt kinh tế và quân sự, đến năm 1819 chiếm Xingapo. Năm 1823, theo lệnh của Bộ thuộc địa Anh, Phrêđrich Oenđơ được cử tới Mã Lai làm công sứ; tại đây ông đã tập trung lực lượng đánh chiếm các vùng quan trọng còn lại ở phía bắc đảo Calimantan (phía đông Malaixia ngày nay) như Brunây, Xuhu, Xaba và Xaraoắc. Do áp lực của thực dân Anh, năm 1824 chính quyền Mã Lai buộc phải ký hoà ước thừa nhận sự bảo hộ của người Anh. Tuy vậy, phong trào phản kháng của nhân dân Mã Lai vẫn liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Năm 1869, sau khi kênh đào Xuy được khai thông, Anh đã không ngừng tăng quân và vũ khí tới Mã Lai để đàn áp phong trào phản kháng của nhân dân, dụ dỗ, mua chuộc tầng lớp quý tộc địa chủ và từng bước biến Mã Lai thành "lãnh địa riêng" của mình.


Ngoài việc dùng lực lượng quân đội để mở rộng và củng cố chính quyền thuộc địa, từ năm 1870 chính quyền Anh còn dùng nhiều biện pháp khác như chính trị, thương mại, ngoại giao,v.v... để buộc các tiểu vương quốc trong khu vực ký các hiệp định thừa nhận sự bảo hộ của Anh, sau đó khuyến khích các tiểu vương quốc này sáp nhập lại với nhau thành Liên bang Mã Lai. Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, toàn bộ các vùng đất của Mã Lai đã nằm dưới sự thống trị và kiểm soát của thực dân Anh.


Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mã Lai bị quân Nhật chiếm đóng (1941-1945). Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh (8-1945), Anh lập tức đưa thêm 25.000 quân tới Mã Lai, nhanh chóng khôi phục lại quyền thống trị đã bị mất trong những năm chiến tranh. Mặc dù đã dùng đến các biện pháp đàn áp hết sức nham hiểm và tàn bạo, nhưng thực dân Anh vẫn không dập tắt được phong trào đấu tranh đòi độc lập của nhân dân Mã Lai. Ngày 31 tháng 8 năm 1957, sau gần hai thế kỷ thống trị, thực dân Anh cuối cùng đã buộc phải trao trả độc lập cho Mã Lai. Mã Lai trở thành quốc gia độc lập nhưng vẫn nằm trong khối Liên hiệp Anh. Sáu năm sau đó, ngày 16 tháng 9 năm 1963, các vùng lãnh thổ bao gồm Mã Lai, Xingapo, Xaraoắc, Xa ba hợp nhất thành liên bang. Mã Lai đổi tên thành liên bang Malaixia. Tháng 8 năm 1965, Xingapo tách khỏi Liên bang và thành lập quốc gia riêng.


Hiện nay Malaixia có 13 bang, 11 bang nằm trên đảo Malăcca và 2 bang nằm trên đảo Calimantan; có 9 bang Hồi giáo do các tiểu vương đứng đầu. Malaixia theo chế độ quân chủ lập hiến. Đứng đầu nhà nước là vua, do Hội nghị các tiểu vương Hồi giáo bầu ra, nhiệm kỳ của nhà vua là 5 năm. Cơ quan lập pháp tối cao là Quốc hội gồm 2 viện. Cơ quan hành pháp tối cao là Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu. Malaixia trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc ngày 17 tháng 9 năm 1957 và là một trong năm nước thành viên sáng lập ra Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967. Malaixia thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Việt Nam ngày 30 tháng 3 năm 1973.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:17:28 am
II. Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Malaixia

So với nhiều nước trong khu vực, Malaixia là quốc gia mới giành được độc lập, nhưng quân đội nước này có lịch sử hình thành và phát triển tương đối sớm. Năm 1933, sau khi hoàn thành "Dự án khai thác thuộc địa" ở Mã Lai với mục tiêu chủ yếu là tập trung phát triển nông nghiệp, cây công nghiệp chiến lược và ngành công nghiệp khai khoáng, phục vụ cho thị trường nguyên liệu thô trong nước đang gặp khó khăn sau cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới 1929-1933, chính quyền thuộc địa Anh ở Mã Lai bắt tay ngay vào việc xây dựng lực lượng vũ trang bản xứ.


Theo Sắc lệnh 9/1932 của Văn phòng Bộ Thuộc địa và chiến tranh Anh ở Luân đôn về việc xây dựng Trung đoàn thử nghiệm Mã Lai, ngày 1 tháng 3 năm 1933, đại đội lính bản xứ Mã Lai đầu tiên được thành lập. Đại đội lúc đầu chỉ có 25 người, đa số binh lính được tuyển chọn từ con em các gia đình quan lại, quý tộc thành thị. Nhiệm vụ chính của đại đội trong giai đoạn này là tập trung huấn luyện, tiếp thu kinh nghiệm chiến đấu của người Anh, sau nữa là bảo vệ các cơ quan, văn phòng đại diện của người Anh ở Mã Lai.


Do số lượng nhân viên cũng như các cơ quan đại diện của Anh ở Mã Lai không ngừng tăng lên, quân số của đại đội cũng đã tăng theo, từ 150 người (tháng 6 năm 1934) lên 400 người (tháng 2 năm 1935).


Nhận thấy tính ưu việt trong việc sử dụng quân đội bản xứ, đồng thời để giảm bớt những chi phí quá lớn trong việc duy trì quân Anh ở Mã Lai, năm 1937, được phép của Bộ Thuộc địa và chiến tranh Anh, Cao ủy Anh tại Mã Lai đã đưa ra kế hoạch “Mã Lai hoá" quân đội thuộc địa bằng việc phát triển đại đội có sẵn thành tiểu đoàn bộ binh Mã Lai hỗn hợp với quân số lên tới gần 8001 (Tạp chí "Bình luận quân sự nước ngoài" (bản tiếng Nga), số 5/1996, tr.7) người, gồm 17 sĩ quan người Anh, 6 sĩ quan, 11 hạ sĩ quan và 759 binh sĩ người Mã Lai. Tiểu đoàn được chia thành ba lực lượng chủ yếu: bộ binh, pháo binh, và thông tin. Ngoài ba lực lượng trên, trong tiểu đoàn còn có một số bộ phận khác như: hậu cần, tiếp tế, tham mưu, v.v... Khác với cách tuyển binh trước đây, từ nay đối tượng binh sĩ được tuyển chọn vào tiểu đoàn không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ con em của tầng lớp quan lại quý tộc thành thị, mà đã mở rộng ra cho cả con em của tầng lớp địa chủ giàu có ở nông thôn.


Để tạo cho quân đội bản xứ có một sắc thái riêng, người Anh quyết định chọn ba màu: màu Xanh biểu tượng cho đạo Hồi, màu Vàng biểu tượng cho vương quốc Mã Lai và màu Đỏ biểu tượng cho Quân đội Anh làm mẫu quân phục của tiểu đoàn. Đây cũng là quân phục của Quân đội quốc gia Mã Lai trong suốt thời kỳ thực dân Anh cai trị.


Như vậy, cho đến thời điểm trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Quân đội quốc gia Mã Lai thực chất chỉ mới trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển, nó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào quân đội thực dân Anh cả về trang bị lẫn cơ cấu tổ chức. Toàn bộ lực lượng của quân đội lúc đó chỉ mới gồm 1 tiểu đoàn bộ binh hỗn hợp, được trang bị rất thô sơ, chủ yếu là súng trường bắn phát một và một số vũ khí tự tạo. Lực lượng hải quân và không quân chưa có. Nhiệm vụ chính của tiểu đoàn trong giai đoạn này là cùng với lực lượng cảnh sát bán vũ trang duy trì trật tự, bảo vệ các cơ quan trung ương của Anh và Mã Lai ở thủ đô và một số thành phố lớn khác, ngoài ra nó còn tham gia vào các vụ đàn áp phong trào nổi dậy chống thực dân và phong trào đòi ruộng đất của nhân dân Mã Lai ở cả thành thị và nông thôn.


Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngày 8 tháng 12 năm 1941, quân đội phát xít Nhật tiến công Mã Lai. Tám ngày trước khi Tập đoàn quân 25 của Nhật, gồm hơn 100.000 quân, 20 hạm tàu, dưới sự chỉ huy của Trung tướng Tomoyuki Yamashita (Sơn Hạ) đồng loạt đổ bộ theo ba mũi lên Patania, Singora và Kota Bharu (vùng Đông Bắc Malaixia), Bộ chỉ huy tối cao quân Anh ở Mã Lai quyết định thành lập tiểu đoàn bộ binh Mã Lai thứ hai với hy vọng nhanh chóng bổ sung cho lực lượng quân Anh, đồng thời cùng với quân Anh chặn đứng các cuộc đổ bộ của quân Nhật. Tuy nhiên, do tiểu đoàn được thành lập quá gấp, đa số tân binh chưa kịp qua các lớp huấn luyện, lại được trang bị quá sơ sài; mặt khác, vào thời điểm đó, quân Nhật đang quá mạnh cả về vũ khí trang bị lẫn quân số so với liên quân Anh - Mã Lai; cho nên, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng tiểu đoàn 2 cũng không giúp người Anh thực hiện được ý định. Trong vòng chưa đầy 1 tháng, quân Nhật đã lần lượt đánh chiếm hầu hết các tỉnh, thành phố của Malaixia, "vô hiệu hoá" toàn bộ quân Anh lẫn quân bản xứ. Mã Lai rơi vào ách chiếm đóng của quân Nhật.


Trong thời gian quân Nhật chiếm đóng, chính quyền thuộc địa Anh Ơ Mã Lai gần như bị giải tán, các đơn vị quân đội cả thuộc địa lẫn bản xứ bị giải giáp, lực lượng cảnh sát thì được sử dụng vào việc đàn áp phong trào kháng chiến. Thời kỳ này, sứ mạng giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của quân đội Nhật được đặt lên vai các lực lượng yêu nước tiến bộ ở Mã Lai, chủ yếu là các tầng lớp nông dân, công nhân, trí thức. Quân đội nhân dân Mã Lai kháng Nhật (MPAJA) ra đời năm 1943 chính là nhằm thực hiện sứ mạng đó. Trong suốt hơn 4 năm đấu tranh bền bỉ, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Mã Lai (MCP), nhân dân Mã Lai đã cùng với lực lượng Đồng minh liên tiếp mở các chiến dịch quân sự trên quy mô lớn, đánh bại âm mưu thôn tính và mở rộng chiến tranh của Nhật.


Kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật đầu hàng Đồng minh và rút khỏi Mã Lai, ngay sau đó Chính phủ Anh đã quyết định đưa thêm 25.000 quân tới đây và nhanh chóng khôi phục lại chính quyền thuộc địa. Để củng cố địa vị thống trị của mình thời kỳ sau chiến tranh, thực dân Anh một mặt tiến hành hàng loạt các cuộc cải cách hành chính, mở rộng sự tham gia của tầng lớp tư sản Mã Lai vào bộ máy chính quyền thuộc địa, tích cực tiến hành các hoạt động chia rẽ khối đoàn kết giữa cộng đồng các dân tộc ở Mã Lai (chủ yếu là giữa cộng đồng người Mã Lai, người Hoa và người Ấn Độ), cho thành lập các đảng phái chính trị của giai cấp tư sản người Hoa, người Ấn Độ ở Mã Lai và sử dụng các đảng này như những đảng đối lập chống lại Đảng Cộng sản; mặt khác áp dụng nhiều biện pháp quân sự, kết hợp với mở các chiến dịch càn quét nhằm thực hiện kế hoạch "tiêu diệt tận gốc” lực lượng cộng sản.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:19:51 am
Tháng 9 năm 1945, Cao ủy Anh tại Mã Lai ra lệnh giải tán Quân đội nhân dân Mã Lai kháng Nhật (MPAJA) vì họ coi đây là các phần tử "nổi dậy" chống phá chính quyền. Tiếp đó, đầu năm 1946, chính quyền thuộc địa Anh ở Mã Lai ban bố tình trạng thiết quân luật, thực hiện chế độ khai báo và đăng ký bắt buộc đối với tất cả các công dân Mã Lai từ 12 tuổi trở lên lúc ra khỏi nhà; cho phép quân đội cảnh sát có quyền bắt bớ và bỏ tù bất kỳ một ai bị tình nghi có dính líu tới cộng sản, mà không cần có lệnh bắt hoặc lập toà án xét xử, kiểm soát chặt chẽ việc di dân trên toàn bộ lãnh thổ Mã Lai.


Tháng 5 năm 1948, chính quyền thuộc địa Anh ban bố tình trạng khẩn cấp và tuyên bố bắt đầu cuộc chiến “chống nổi dậy" ở Mã Lai. Theo khoản 1, điều 25 Luật về tình trạng khẩn cấp, "bất kỳ người nào bị cảnh sát hỏi mà giấy tờ không minh mạch hoặc không trả lời được rõ ràng về mục đích, tại sao anh ta có mặt tại điểm đó, hay nếu cảnh sát nghi rằng người đó có ý định, hay sắp sửa làm những hành động có liên quan đến việc "tiếp tay" cho cộng sản, thì họ có quyền bắt giữ một cách vô điều kiện"1 (Luật khẩn cấp, Tài liệu do Phòng Quân huấn, quân đội Việt Nam cộng hoà dịch và in lần thứ nhất ngày 15 tháng 3 năm 1961, tr.23). Tiến thêm một bước nữa, chính quyền thuộc địa Anh đưa ra quốc sách "dồn dân lập ấp”, buộc hàng vạn nông dân Mã Lai phải rời bỏ xóm làng vào sống trong các các khu mà người Anh gọi là "Làng nông nghiệp". Theo mô hình của người Anh, "Làng nông nghiệp" là tất cả các khu vực đã có dân định cư, hay những điểm đông dân cư khác (ngoại trừ các thành phố lớn) được bao bọc bởi các hàng rào bao quanh, mỗi hàng rào thường có nhiều cổng để dân có thể qua lại lúc đi làm hay khi trở về nhà. Ở những khu vực không phải là khu của người da trắng, các lực lượng an ninh thường xuyên được cử tới để canh gác và "điều hành” việc đi lại của dân ở các cổng này. Đối với những làng mà chính quyền thuộc địa thấy cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ việc đi lại của dân, thì sẽ ban hành lệnh giới nghiêm vào những giờ nhất định, thậm chí suốt ngày đêm. Mục đích của việc dồn dân này là nhằm cô lập hoàn toàn lực lượng cộng sản, cắt đứt mọi nguồn tiếp tế của dân cho họ, cuối cùng buộc họ phải đầu hàng hoặc tự giải tán. Đến cuối năm 1953, người Anh đã xây dựng được hơn 550 làng kiểu như vậy trên toàn lãnh thổ Mã Lai.


Song song với việc triển khai quốc sách "dồn dân lập ấp", thực dân Anh còn cho tuyển thêm 26.000 cảnh sát bán vũ trang người Mã Lai, triển khai tăng cường tới Mã Lai 11 tiểu đoàn bộ binh Anh, liên tiếp mở các chiến dịch càn quét vào các khu vực rừng núi, biên giới, nơi mà họ coi là “sào huyệt” của lực lượng cộng sản. Cùng với việc không ngừng tăng quân tới Mã Lai, thực dân Anh còn tích cực đẩy nhanh việc khôi phục và xây dựng thêm các đơn vị quân đội lính bản xứ. Tháng 7 năm 1948, hai tiểu đoàn bộ binh bản xứ Mã Lai trước đây được thúc đẩy tăng cường hoạt động trở lại. Tiếp đó, tháng 8 năm 1948, tiểu đoàn thứ ba được thành lập. Do tiểu đoàn 3 được thành lập, tháng 7 năm 1949, Anh quyết định thành lập Lữ đoàn bộ binh Mã Lai đầu tiên.


Những năm tiếp theo, để đáp ứng yêu cầu của việc tăng quân nhằm đối phó với phong trào “nổi dậy” và mở rộng cuộc chiến "Chống nổi dậy", mặt khác để giảm bớt gánh nặng chiến tranh đang đè nặng lên nền kinh tế của chính quốc, đồng thời đẩy nhanh quá trình "Mã Lai hoá" lực lượng vũ trang ở đây, thực dân Anh đã cho thành lập thêm nhiều tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn thử nghiệm Mã Lai. Tháng 8 năm 1949, tiểu đoàn bộ binh số 4 được thành lập tiếp đó thành lập tiểu đoàn 5 (năm 1951), tiểu đoàn 6 (năm 1952), tiểu đoàn 7 năm 1953). Ngoài việc thành lập các tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn Mã Lai, một số đơn vị và lực lượng yểm trợ khác cũng được thành lập, như Trung đoàn pháo số 1 (4-1957), đại đội thông tin (6-1957)...


Lực lượng hải quân Mã Lai được Anh xây dựng từ năm 1952 và có căn cứ đóng tại Xingapo, nhưng trong những năm chiến tranh "Chống nổi dậy” nó vẫn thuộc quyền quản lý và điều hành của Quân đội Anh. Năm 1958, một năm sau khi Mã Lai giành được độc lập và sau khi Anh ký Hiệp ước phòng thủ chung với Mã Lai, Vương quốc Anh mới chính thức chuyển giao căn cứ hải quân trên cho Quân đội Liên bang Mã Lai cả về mặt hành chính lẫn hoạt động tác chiến. Việc Anh trao lại căn cứ hải quân của họ ở Xingapo cho Mã Lai không chỉ đơn thuần là sự "bàn giao" chủ quyền, nó còn được coi là một phần của khoản viện trợ đầu tiên gồm 20 triệu USD của Anh cho Mã Lai trong khuôn khổ của Hiệp ước phòng thủ chung ký năm 1957.


Tuy nhiên, vào thời điểm đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của căn cứ hải quân này còn rất thô sơ, chỉ có 4 tàu quét mìn gần bờ, 1 tàu quét mìn xa bờ cùng một số kho tàng, bến bãi được xây dựng theo kiểu dã chiến. Nhiệm vụ chính của lực lượng hải quân lúc đó là để bảo vệ các tàu đánh cá của Mã Lai hoạt động ở eo biển Malăca, tuần tra vùng biển chủ quyền hoặc hợp tác với lực lượng cảnh sát và lực lượng an ninh trong các hoạt động chống khủng bố.


So với lực lượng hải quân, lực lượng không quân Quân đội quốc gia Mã Lai được thành lập muộn hơn. Năm 1955, người Anh đã có ý định xây dựng lực lượng không quân cho Quân đội quốc gia Mã Lai. Tuy nhiên do rất nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Xuyê 1956 mà Anh là một trong những nước tham chiến chủ yếu, đã làm cho ý định đó không thể thực hiện được. Mãi đến năm 1958, theo thoả thuận trong Hiệp ước phòng thủ chung Anh - Mã Lai, Anh mới viện trợ cho Mã Lai vài chiếc Tin Pioneer, một loại máy bay chỉ có khả năng hoạt động ở cự ly ngắn và khu vực rừng núi. Đó cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của lực lượng không quân Mã Lai.


Những năm tiếp theo, được sự viện trợ tích cực của Anh và một số nước phương Tây, cộng với khả năng tự mua sắm của Chính phủ Mã Lai, lực lượng không quân Mã Lai đã có những bước phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngoài số máy bay hiện có, Mã Lai còn mua thêm hàng chục máy bay mới; hệ thống sân bay và các cơ sở đảm bảo cũng được nâng cấp và mở rộng đáng kể. Đến đầu những năm sáu mươi, không quân Mã Lai đã có thể đảm nhiệm được những nhiệm vụ phức tạp như yểm trợ tác chiến cho lực lượng bộ binh và hải quân, trinh sát trên bộ và trên biển; đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ thông thường khác như vận tải, truyền thông, chuyển quân, v.v...


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:22:55 am
Cơ cấu lực lượng Quân đội quốc gia Malaixia
đến cuối năm 19621 (The Growth of Malaysian Armed Forces 1963-1973, Institude of Southeast Asian Studies, Singapore, 1975, p.25)


(http://img49.imageshack.us/img49/9630/image013we0.jpg)


Như vậy, mặc dù được thực dân Anh tích cực xúc tiến xây dựng, nhưng sự phát triển của Quân đội quốc gia Mã Lai trong những năm tiến hành cuộc chiến "Chống nổi dậy" (19-8-1960)1 (Thời kỳ này trong lịch sử Mã Lai gọi là nhữg năm "Tình trạng khẩn cấp") diễn ra theo một nhịp độ tương đối chậm, quy mô khá nhỏ lẻ và mất cân đối. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do Chính phủ Mã Lai phụ thuộc quá nhiều vào nguồn viện trợ từ bên ngoài, cụ thể là nước Anh. Trong khi đó, thời điểm này, nguồn lực tài chính và quân sự của Anh bị phân tán vì ngoài việc phải đối phó với cuộc chiến ở Mã Lai, nước Anh còn phải lo tập trung đối phó với phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước, đặc biệt là những nước thuộc địa của họ ở khu vực Nam Á và Đông Xuyê. Một nguyên nhân khác là trong suốt nhiều năm, người Anh chỉ chú trọng xây dựng lực lượng cảnh sát bán vũ trang và một số đơn vị bộ binh phục vụ cho việc "dồn dân lập ấp" và đối phó với lực lượng "nổi dậy", vì vậy các lực lượng khác như hải quân, không quân ít được tập trung đầu tư phát triển.


Những năm "tình trạng khẩn cấp" chấm dứt, Malaixia lại rơi vào một cuộc xung đột quân sự mới với Inđônêxia (1963-1965)2 (Thời kỳ này trong lịch sử Malaixia gọi là "Thời kỳ đối đầu”). Nguyên nhân dẫn đến cuộc xung đột là do giữa hai nước còn tồn tại nhiều bất đồng xung quanh việc thành lập một Liên bang Malaixia, bao gồm vùng lãnh thổ Bắc Borneo, Xingapo, Brunây và Xaraoắc. Khác với cuộc chiến "Chống nổi dậy" trước đây, trong cuộc xung đột lần này, Malaixia phải đối đầu với một nước láng giềng có dân số đông hơn, tiềm lực kinh tế và quân sự cũng mạnh hơn. Một số nhà nghiên cứu quân sự coi đây như một cuộc chiến tranh quy ước giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, trong thực tế đó chỉ là các cuộc xâm nhập vũ trang của từng nhóm nhỏ từ Inđônêxia sang Malaixia; phương thức tác chiến của các nhóm này chủ yếu là gây bạo loạn hoặc xúi giục lật đổ. Do cuộc xung đột chỉ diễn ra ở cường độ thấp và có phần phù hợp với khả năng tác chiến của các lực lượng vũ trang, nên để đối phó với tình hình, Quân đội quốc gia Malaixia không đòi hỏi phải có những thay đổi hay bước phát triển mang tính đột biến.


Tuy nhiên, do Liên bang Malaixia mới được thành lập bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn, với dân số tăng lên gần gấp đôi nên việc phát triển và mở rộng lực lượng vũ trang nói chung cũng như quân đội quốc gia nói riêng là nhu cầu tất yếu. Phát biểu trong kỳ họp Quốc hội đầu tiên của Malaixia năm 1963, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Malaixia Tun Razak tuyên bố. "... giờ đây Malaixia bao trùm cả một khu vực rộng lớn, với bờ biển dài hàng nghìn kilômét, vì vậy chúng ta cần có một lực lượng vũ trang đủ mạnh, trước hết để duy trì pháp luật và trật tự trong nước, sau nữa là bảo vệ vừng chắc chủ quyền quốc gia..."1 (The Growth of Malaysian Armed Forces, (1963-1973). Opcid., p.7). Trong bài phát biểu này, Razak còn vạch ra một kế hoạch chi tiết, đồng thời đề nghị Quốc hội thông qua một khoản tài chính trị giá 75 triệu đô la Malaixia, tập trung cho việc phát triển quân đội quốc gia trong thời gian tới. Một số chính khách cho rằng việc mở rộng và phát triển Quân đội quốc gia Malaixia sẽ làm cho tình trạng đồi đầu với Inđônêxia trở nên căng thẳng, thậm chí có thể trở thành "ngòi nổ" cho một cuộc "chạy đua vũ trang" đói với các nước xung quanh cũng như trong khu vực; số khác thì coi đó là gánh nặng quá sức đối với nền kinh tế của một đất nước vừa mới giành được độc lập và mới thoát khỏi cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt 12 năm. Mặc dù gặp không ít khó khăn về mặt tài chính cũng như sự phản đối của nhiều chính khách, cả trong và ngoài nước, nhưng cuối cùng Quốc hội Malaixia cũng đã phê chuẩn kế hoạch của Razak.


Với kế hoạch đó, trong 3 năm (từ 1963 đến 1965), Quân đội quốc gia Malaixia đã có những bước phát triển đáng kể. Lục quân tiếp tục được mở rộng bằng việc thành lập tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn Mã Lai. Tiếp đó, tháng 3 năm 1963, Lữ đoàn bộ binh số 4 được thành lập. Lữ đoàn này có nhiệm vụ cùng với 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Mã Lai bảo vệ khu vực ở Xingapo. Tháng 12 năm 1963, Lữ đoàn bộ binh số 5 được thành lập ở Xa ba để thay thế các đơn vị quân Anh hoạt động trong vùng, đồng thời làm nhiệm vụ ngăn chặn các hoạt động xâm nhập của các nhóm vũ trang từ Inđônêxia.


Bên cạnh việc thành lập thêm các đơn vị chính quy, Chính phủ Malaixia còn quyết định cho xây dựng các trung tâm huấn luyện quân sự ở mỗi bang, thành lập các đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dân phòng dự bị theo phương thức "ngụ binh ư nông". Thực chất đây là những đơn vị bán vũ trang, nằm trong sự quản lý và điều hành của Bộ Quốc phòng. Với những quyết định và cách làm như trên, Chính phủ Malaíxia không những đã tránh được những lời chỉ trích từ các nước láng giềng mà còn mở rộng và phát triển đáng kể được quân đội quốc gia.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:24:29 am
Như vậy, đến cuối 1965, trong lực lượng lục quân Quân đội quốc gia Malaixia, ngoài các đơn vị thường trực chính quy còn có các đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dự bị, với quân số lên tới hàng vạn người, được triển khai đều khắp ở tất cả các vùng lãnh thổ. Thời kỳ 1963-1965 cũng là thời kỳ chứng kiến sự phát triển vượt bậc của lực lượng hải quân Malaixia. Trong hai năm 1963 và 1964, ngoài số tàu hiện có, Malaixia còn mua thêm 14 tàu tuần tiễu xa bờ tốc độ cao Vosper Thornycroft và 1 tàu khu trục Hang Tua, đưa tổng số tàu hải quân lên 24 chiếc. Với số tàu đó Malaixia không những có khả năng làm chủ hoàn toàn được vùng lãnh hải của mình mà còn được coi là một trong những nước có tiềm lực về hải quân so với nhiều nước trong khu vực.


Cũng như lực lượng hải quân, lực lượng không quân Malaixia thời kỳ này phát triển khá nhanh. Nếu như đến cuối 1963, lực lượng này chỉ mới có khoảng 12 máy bay trực thăng Alouette III, với chức năng chủ yếu là vận tải hoặc yểm trợ cho lực lượng bộ binh trong các cuộc truy kích các nhóm vũ trang đột nhập từ Inđônêxia, thì đến tháng 7 năm 1965 họ đã có tới 7 phi đội máy bay, bao gồm 5 phi đội máy bay tiêm kích, 1 phi đội máy bay vận tải tầm trung Dart Heald và 1 phi đội máy bay trực thăng.


Việc Chính phủ Malaixia ưu tiên phát triển lực lượng hải quân và không quân vào những năm 1963-1965 không chỉ bị tác động bởi cuộc "đối đầu” với Inđônêxia, mà còn do nước này muốn tăng cường khả năng duy trì và bảo vệ các vùng chủ quyền của mình trên đảo Calimantan, nơi mà lực lượng lục quân chưa có khả năng với tới, lại cách xa phần lãnh thổ chính của đất nước (Tây Malaixia) tới hàng trăm hải lý.


Vào những năm cuối thập niên sáu mười, đầu thập niên bảy mươi thế kỷ XX, do những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, Quân đội quốc gia Malaxia đã có những bước thay đổi lớn theo xu hướng tăng cường quy mô phát triển.


Tháng 9 năm 1965, Xingapo tách ra khỏi Liên bang Malaixia và trở thành quốc gia độc lập. Ngay sau đó, quan hệ hai nước trở nên căng thẳng, đặc biệt là sau khi Chính phủ Xingapo quyết định tăng nhanh ngân sách quốc phòng, mở rộng và tăng cường khả năng tác chiến cho lực lượng không quân và hải quân bằng việc mua thêm các tàu chiến và máy bay tiêm kích hiện đại của Anh.


Tiếp đó, năm 1967, Chính phủ Anh tuyên bố rút toàn bộ lực lượng quân đội của họ ra khỏi khu vực Đông Xuyê và Malaixia, đặt Chính phủ Malaixia trước một nhiệm vụ mới, phải tự quyết hoàn toàn trong việc nâng cao khả năng phòng thủ đất nước. Ngoài yếu tố trên, diễn biến của cuộc "Chiến tranh lạnh" ở châu Á, các cuộc xung đột tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải xảy ra triền miên giữa các nước trong khu vực, mâu thuẫn sắc tộc trong nội bộ Malaixia... cũng là những nguyên nhân khiến Chính phủ Malaixia phải thay đổi chính sách quân sự và quốc phòng của mình.


Trong chiến lược quốc phòng, nếu như trước đây Malaixia coi chính sách trung lập là cơ sở đảm bảo ổn định quốc gia, thì vào những năm đầu thập niên bảy mươi, giới lãnh đạo quân sự Malaixia luôn coi việc mở rộng liên minh, liên kết với Mỹ, Anh và các nước trong khối Thịnh vượng chung là hướng ưu tiên trong việc nâng cao tiềm lực quốc phòng, là nền tảng cho việc thực hiện học thuyết quân sự "Phòng thủ toàn diện", đồng thời giúp Malaixia bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ.


Năm 1971, Malaixia tham gia khối quân sự ANZUK (Hiệp ước 5 nước về phòng thủ Malaixia và Xingapo, gồm Anh, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Malaixia và Xingapo). Thực chất đây là Hiệp ước bảo hộ quân sự thay thế cho Hiệp ước Anh - Mã Lai trước đây. Theo hiệp ước này, Anh, Ôxtrâylia Niu Dilân có quyền can thiệp bằng quân sự vào Malaixia và Xingapo khi các nước này có nguy cơ bị đe doạ hoặc bị đe doạ từ bên ngoài. Việc Malaixia tham gia ANZUK và chấp thuận các điều khoản của nó được coi là "bước đi mới" trong chính sách đối ngoại quân sự của Malaixia, bởi đó không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp sự can thiệp quân sự của Anh, Ôxtrâylia và các nước phương Tây ở Malaixia trong trường hợp "cần thiết”, mà còn là sự "cự tuyệt" hoàn toàn với chính sách trung lập mà Malaixia đã từng theo đuổi trong hơn một thập niên trước.


Trong chiến lược phát triển quân đội quốc gia, nếu như trong giai đoạn 1948-1965, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, Malaixia chỉ chủ yếu tập trung phát triển lực lượng bộ binh nhằm đói phó với các cuộc chiến tranh du kích, thì nay họ chuyển trọng tâm sang xây dựng một quân đội có cơ cấu và thành phần hợp lý hơn, từng bước thích ứng và có khả năng đói phó với các cuộc chiến tranh hiện đại.


Với chiến lược trên, trong giai đoạn tiếp theo, Quân đội quốc gia Malaixia đã có những bước phát triển vượt bậc. Lục quân tiếp tục được tăng cường cả về quân số lẫn trang bị. Số tiểu đoàn và lữ đoàn tăng nhanh, chỉ tính riêng trong năm 1966, Malaixia đã phát triển thêm được 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn trinh sát, 2 tiểu đoàn cơ động địa phương và 2 tiểu đoàn đặc công.


Do số tiểu đoàn và lữ đoàn tăng nhanh, tháng 7 năm 1966, sư đoàn bộ binh đầu tiên của Malaixia đã được thành lập tại Xaraoắc. Sư đoàn này có nhiệm vụ chỉ huy, điều hành toàn bộ hoạt động tác chiến của các đơn vị quân đội Malaixia đóng ở Đông Malaixia, đồng thời tiếp quản Bộ chỉ huy quân Anh ở Borneo. Tiếp đó, tháng 1 năm 1969, Sư đoàn 2 được thành lập tại Kuala Lămpơ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:30:37 am
Sự xuất hiện tổ chức cấp sư đoàn là bước nhảy vọt về chất trong Quân đội Malaixia, nó không chỉ đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong quá trình chuyển đổi phương thức tác chiến, từ phương thức tác chiến chiến tranh du kích là chủ yếu sang phương thức tác chiến chiến tranh thông thường. Nó còn kéo theo sự thay đổi căn bản chất lượng hàng ngũ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội Malaixia. Nếu so với những năm chiến tranh "chống nổi dậy", phần đông sĩ quan, kể cả sĩ quan cấp cao trong Quân đội Malaixia đều trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu, thì nay lớp sĩ quan trẻ bắt đầu được đào tạo khá cơ bản trong các trường, các trung tâm huấn luyện quân sự trong và ngoài nước. Cho đến thời điểm đầu những năm bảy mươi, gần 60% sĩ quan chỉ huy từ cấp tiểu đoàn trở lên trong Quân đội Malaixia đã qua các lớp đào tạo trung và dài hạn. Điều đáng nói hơn cả là hàng ngũ sĩ quan cấp tướng trong Quân đội Mạlaixia đã tăng lên đáng kể. Nếu như trước năm 1968, Quân đội Malaixia chỉ mới có 1 đại tướng là ông Tunku Osman thì đến cuối năm 1969, số đại tướng đã lên tới 3 người cùng hàng chục trung tướng, thiếu tướng.


Hàng ngũ hạ sĩ quan và binh sĩ cũng được tuyển chọn và huấn luyện tương đối kỹ. Trong quá trình huấn luyện họ bắt đầu được tiếp xúc với các loại vũ khí, khí tài mới, được bồi dưỡng những kiến thức về kỹ thuật, chiến thuật phù hợp với phương thức tác chiến hiện đại.


Về trang bị, đến đầu những năm bảy mươi, phần lớn các đơn vị bộ binh Quân đội quốc gia Malaixia đều được trang bị các loại súng bộ binh hiện đại, như súng tiểu liên 7,62mm của Bỉ, súng máy 5,56mm của Mỹ, HK33 của Đức, v.v... Năm 1971, Malaixia đã chi hàng chục triệu đô la để mua sắm các phương tiện cơ giới quân sự, như xe thiết giáp Panhard M3/VTT, V100, V150 của Mỹ, đánh dấu sự ra đời của các đơn vị bộ binh cơ giới trong Quân đội Malaixia.


Song song với việc phát triển và mở rộng lực lượng lục quân, lực lượng không quân Malaixia trong giai đoạn này cũng có những bước phát triển nhảy vọt. Chính phủ Malaixia đã đầu tư hàng chục triệu đô la, mua sắm các trang thiết bị hiện đại cho lực lượng không quân như máy bay huấn luyện vũ trang CL-41 Tebuan, máy bay cất hạ cánh trên đường băng ngắn Caribou và trực thăng vận tải S-61A Sikorsky. Quan trọng hơn cả là trong giai đoạn này, Malaixia đã mua và trang bị cho lực lượng không quân các máy bay chiến đấu siêu âm F-86 Sabre của Ôxtrâylia. Hàng loạt các căn cứ không quân đã được xây dựng và nâng cấp.


Hải quân cũng có những bước phát triển quan trọng, trong đó đáng chú ý là việc mua sắm 2 tàu hộ tống và tốc hạm tiến công có trang bị tên lửa Exocet, một loại tên lửa có khả năng tiêu diệt mục tiêu của đối phương với độ chính xác cao và tầm hoạt động tới 104 hải lý.


So sánh cơ cấu lực lượng và sự phát triển của
Quân đội Malaixia 1963-1973


(http://img338.imageshack.us/img338/6261/image014js6.jpg)

(http://img340.imageshack.us/img340/3627/image016eg6.jpg)


Như vậy trong vòng 10 năm, từ năm 1963 đến năm 1973, Quân đội Malaixia đã có những bước phát triển hết sức nhanh chóng cả về lượng và chất. So với năm 1963, lực lượng lục quân tăng hơn gấp 2 lần, hải quân tăng gần gấp 3 lần. Giai đoạn này còn được coi là giai đoạn phát triển "bứt phá” trong lực lượng không quân Malaixia. Chỉ trong 10 năm, từ điểm xuất phát gần như chưa có gì, lực lượng không quân Malaixia đã vươn lên ngang hàng với lực lượng không quân của nhiều nước trong khu vực, kể cả Việt Nam cộng hoà, trong khi Malaixia hoàn toàn không có chiến tranh.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:31:43 am
Vào những năm cuối thập niên bảy mươi, đầu thập niên tám mươi, do bối cảnh chiến lược và nhận thức về mồi đe doạ thay đổi, Quân đội Malaixia đã có những thay đổi quan trọng trong định hướng và chiến lược phát triển. Lần đầu tiên trong lịch sử, Malaixia gần như chuyển hoàn toàn trọng tâm sang xây dựng một quân đội chính quy, hiện đại, đủ khả năng đói phó với các cuộc chiến tranh thông thường.


Sự thay đổi trong định hướng, chiến lược và quy mô phát triển Quân đội Malaixia trong giai đoạn này không phải và cũng không có nghĩa là những nguy cơ dẫn đến sự mất ổn định trong nước đã hoàn toàn chấm dứt, hay các phương thức tác chiến được áp dụng trong thời kỳ chiến tranh "Chống nổi dậy" đã lạc hậu, hoặc không còn ý nghĩa đối với lực lượng vũ trang Malaixia nói chung, quân đội quốc gia nói riêng. Trái lại, trên thực tế nó vẫn đang được duy trì và phát triển để đối phó với cái mà chính giới Malaixia gọi là "mối đe doạ lâu dài" của các phe nhóm cộng sản trong nước, và khả năng "câu kết" của nó với lực lượng cộng sản ngoài nước.


Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trên là do Malaixia bắt đầu coi các mối "đe doạ" từ bên ngoài là nhân tố chủ yếu tác động trực tiếp đến sự ổn định và toàn vẹn chủ quyền quốc gia. Vào thời điểm đó, dựa trên những quan điểm cơ bản của "học thuyết đôminô”, không ít các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách quân sự cấp cao Malaixia đã chỉ ra hàng loạt các nhân tố mà theo họ là những "đe doạ tất yếu” và "cực kỳ nguy hiểm" đối với an ninh và chủ quyền của Malaixia. Họ cho rằng, sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam là điểm khởi đầu cho sự sụp đổ của các quân cờ đôminô tiếp theo ở khu vực Đông Nam Á và cả châu Á. Đó là mối đe doạ trước mắt đối với Malaixia.


Các chiến lược gia Malaixia coi Trung Quốc là mói đe doạ “lâu dài" và "nghiêm trọng" đối với sự tồn vong của Malaixia. Nhận thức về Trung Quốc như là mối đe doạ từ bên ngoài còn được Malaixia gắn hến với mối đe doạ từ bên trong, tức là từ Đảng Cộng sản Malaixia, một tổ chức có số lượng đảng viên người Hoa chiếm đa số và được Trung Quốc “hậu thuẫn" về tinh thần.


Ngoài hai mối "đe doạ" trên, quan hệ Trung Quốc và Thái Lan đang ngày càng được thắt chặt cũng trở thành mối quan tâm và lo ngại lớn đối với Malaixia.


Với cách nhận thức và các mối lo ngại như vậy, trong chính sách đối ngoại quân sự, Malaixia tăng cường mở rộng và thắt chặt quan hệ hợp tác quân sự với nhiều nước phương Tây. Mỹ trở thành nước cung cấp vũ khí và trang thiết bị quân sự lớn nhất cho Malaixia; đổi lại, Malaixia tiếp tục ủng hộ sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á, đặc biệt là các căn cứ hải quân và không quân của Mỹ tại Philippin. Với Anh, Malaixia tiếp tục mở rộng sự hợp tác thông qua các hiệp định, hiệp ước quân sự; cho phép Anh được cử các đoàn cố vấn quân sự tới Malaixia, giúp đỡ Malaixia hiện đại hoá quân đội, đào tạo sĩ quan, huấn luyện binh sĩ, cung cấp vũ khí trang bị, v.v... Ngoài Mỹ và Anh, Malaixia còn mở rộng hợp tác, với nhiều nước khác như Cộng hòa Liên bang Đức Pháp, Italia,v.v...


Trong chiến lược phát triển quân đội, giới quân sự Malaixia bắt đầu xem xét đến các khía cạnh cải tổ quân đội nhất là về mặt tổ chức, cơ cấu và trang thiết bị. Năm 1978, Malaixia đưa ra chương trình PERISTA cải tổ và mở rộng lực lượng vũ trang. Với chương trình này, lực lượng lục quân Malaixia đã tăng nhanh đáng kể, từ 50.000 quân năm 1978 lên 80.000 vào năm 1983, với 9 lữ đoàn bộ binh (gồm 36 tiểu đoàn), 3 trung đoàn kỵ binh, 4 trung đoàn pháo mặt đất, 1 trung đoàn xe bọc thép chở quân, 2 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn đặc nhiệm, 5 trung đoàn công binh, 5 trung đoàn thông tin và một số đơn vị hành chính1 (Lực lượng vũ trang Malaixia thập kỷ 90, Tạp chí Quốc phòng thế giới (LDR), số 4/1992. tr.6).


Do số lữ đoàn tăng nhanh, tháng 2 năm 1976, Sư đoàn bộ binh số 3 đã được thành lập. Tiếp đó, tháng 1 năm 1981 Sư đoàn 4 được thành lập tại Phang. Với 4 sư đoàn bộ binh ra đời (3 sư đoàn đóng ở tây Malaixia và 1 sư đoàn đóng tại đông Malaixia), cuối năm 1981, Bộ Quốc phòng Malaixia quyết định thành lập Quân đoàn lục quân đầu tiên với Bộ chỉ huy đóng tại Kuala Lămpơ.


Ngoài việc tăng quân số, lục quân Malaixia còn tập trung mua sắm nhiều loại vũ khí, trang thiết bị hiện đại theo hướng đối phó với các cuộc chiến tranh thông thường. Năm 1981, Malaixia đặt mua 186 xe cơ giới quân/sự bánh xích và bánh hơi loại Sibmas kiểu (6x6) và xe AFSV-90 (xe yểm trợ hoả lực bọc thép có tháp pháo CN-90 Coekerill và pháo 90mm Mk III) trị giá 75 triệu đô la. Tiếp đó, năm 1984 lục quân Malaixia mua thêm 450 xe bọc thép chở quân loại Condor do hãng Thyssen Henchen của Đức chế tạo.


Song song với việc phát triển lực lượng lục quân, hải quân và không quân Malaixia cũng được tăng cường đầu tư. Trong tổng số 1,9 tỉ đô la Malaixia (tương đương 812 triệu USD) dành cho ngân sách quốc phòng giai đoạn 1979-1983, lục quân được đầu tư 580 triệu, trong khi đó hải quân được đầu tư tới 803 triệu đô la Malaixia1 (Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (Fareast Economy Review), số 42, tập 122, ngày 20 tháng 10 năm 1983, tr.1). Và nếu như năm 1978, hải quân Malaixia chỉ mới có khoảng 6.000 quân thì đến 1983, con số này đã lên tới 11.000. Ngoài việc tăng quân, trong vòng 4 năm. (từ 1982 đến đến 1986), Malaixia đã đầu tư hàng trăm triệu vào việc xây dựng và phát triển các căn cứ hải quân, đặc biệt là căn cứ hải quân Luật ở Pêrêch, thay thế cho căn cứ hải quân Utlan ở Xingapo do Anh xây dựng trước đây. Trong thời gian trên, hải quân Malaixia còn mua sắm và trang bị thêm nhiều tàu tiếp vận, tàu hộ tống, tàu dò mìn hiện đại của Nam Triều Tiên, Tây Đức và Anh, v.v...; đồng thời thoả thuận vôi một số nước để mua một số tàu ngầm hiện đại. Theo Đatac Môhamet Sanle Zain, Phó đô đốc hải quân Malaixia, mục tiêu của kế hoạch phát triển hải quân Malaixia trong giai đoạn 1982-1986, là từ một lực lượng ven biển phải trở thành một hạm đội đại dương.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:32:34 am
Cũng như lực lượng hải quân, lực lượng phòng không - không quân Malaixia thời kỳ này phát triển khá nhanh, khả năng tác chiến vì thế cũng được cải thiện rõ rệt. Trong 5 năm, từ 1978 đến 1983, lực lượng không quân Malaixia đã tăng quân số từ 6.000 lên 11.000; mua thêm 32 máy bay chiến đấu, trong đó chủ yếu là máy bay ném bom A-4 Skyhawks cải tiến, máy bay vận tải-chiến đấu MB 339 cùng một số máy bay vận tải C-130, máy bay trinh sát RF-5 và máy bay tiêm kích F-5E. Năm 1983, Malaixia đặt mua một dàn ra đa loại mới nhất của Mỹ, trị giá 42 triệu đô la, để tăng cường khả năng kiểm soát không phận cho lực lượng phòng không. Trong kế hoạch phát triển lực lượng phòng không - không quân, Malaixia còn dự định xây dựng một căn cứ không quân lớn nhất khu vực Đông Nam Á và mở rộng 2 phi đội máy bay chiến đấu F-5E. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó phải kể đến sự suy thoái kinh tế, đặc biệt là sự phản đối của dư luận trong và ngoài nước, nên các dự án trên đều phải tạm ngưng.


Song song với việc mở rộng và phát triển lực lượng hải, lục và không quân, vào những năm tám mươi, Malaixia còn đầu tư đáng kể cho việc phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Năm 1982, Chính phủ Malaixia ban hành "Chính sách nội địa hoá ngành công nghiệp quốc phòng", trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải dựa vào các nguồn nội lực và tài nguyên trong nước để sản xuất các mặt hàng thiết yếu chiến lược phục vụ quốc phòng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp, viện trợ từ nước ngoài.


Với chính sách trên, hàng chục nhà máy công nghiệp quốc phòng đã được xây dựng trên hầu hết các bang của Malaixia. Lúc đầu, các nhà máy này chỉ có khả năng duy tu bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí trang thiết bị quân sự. Về sau, đến giữa những năm tám mươi, đã có khả năng sản xuất được phần lớn các loại đạn và súng bộ binh thông thường. Đến đầu những năm chín mươi thế kỷ XX, phần lớn các nhà máy này đã tự sản xuất được các loại đạn và pháo cỡ lớn như đạn cối 60mm, 81mm, thậm chí cả một số pháo phòng không tự hành.


Nhằm đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng, thời kỳ những năm tám mươi thế kỷ XX, Chính phủ Malaixia đã vận dụng linh hoạt hàng loạt các chính sách. Ngoài tập trung đầu tư cho các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng then chốt mà họ có tiềm năng và thế mạnh như ngành công nghiệp đóng tàu, hàng không, công nghiệp vũ khí đạn, v.v... Malaixia còn thực hiện chính sách "tư nhân hoá", kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài cho một số lĩnh vực, khâu nhằm thu hút tối đa nguồn vốn và tiềm lực công nghệ cho ngành công nghiệp này.


Do thực hiện các chính sách được coi là "mềm dẻo" và "linh hoạt", chỉ trong hơn một thập niên, ngành công nghiệp quốc phòng Malaixia từ chỗ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài đã tiến tới có khả năng tự trang bị được cho quân đội phần lớn các loại vũ khỉ và trang bị thông thường. Ngoài ra, trong một số lĩnh vực như đóng tàu, dịch vụ sửa chữa hàng không quân sự Malaixia đã vươn lên đạt trình độ của các nước tiên tiến, đủ sức tham gia cạnh tranh trong các hợp đồng lớn.


Việc mở rộng và phát triển nhanh lực lượng vũ trang của Malaixia trong những năm tám mươi thế kỷ XX đã thu được những thành quả nhất định, diễn ra theo đúng ý đồ của các nhà hoạch định chính sách quốc phòng, căn bản đã đưa Quân đội Malaixia thoát khỏi tình trạng “du kích" và "lạc hậu”. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề. Theo nhận định của không ít tướng lĩnh cấp cao trong Quân đội Malaixia, giai đoạn này quân đội đã phát triển mất cân đối trầm trọng, tăng về số lượng nhưng không chú ý đến củng cố về chất lượng; phát triển nhanh các đơn vị chiến đấu nhưng không chú ý đầy đủ đến các đơn vị hậu cần và tiếp tế, mở rộng nhanh lực lượng nhưng lại thiếu sĩ quan chỉ huy thành thạo và có đủ kinh nghiệm. Giai đoạn này, theo như cách nói của nhiều nhà phân tích chính trị Malaixia, Quân đội Malaixia đã được quy hoạch phát triển nhằm đối phó và chống lại một "kẻ thù ảo".


Kết thúc Chiến tranh lạnh, do bối cảnh chiến lược thay đổi, an mình trong nước đã có những dấu hiệu tiến bộ, Chính phủ Malaixia đã thực thi hàng loạt cải cách nhằm khắc phục những hạn chế do hếch sử để lại, đồng thời từng bước xây dựng Quân đội Malaixia thành một quân đội hiện đại, tinh nhuệ, hiệu quả, đủ sức đối phó với các cuộc chiến tranh thông thường. Cùng với quá trình cải cách, Malaixia cũng đã đưa ra một chiến lược quốc phòng mới, trong đó nhấn mạnh đến ba yếu tố cơ bản là: nội lực, hợp tác khu vực và sự giúp đỡ của bên ngoài. Trong ba yếu tố trên thì nội lực là yếu tố được các nhà hoạch định chính sách quốc phòng Malaixia coi là then chốt và quyết định.


Yếu tố nội lực trong chiến lược quốc phòng của Malaixia được hiểu trên hai bình diện:

Thứ nhất, Malaixia sẽ huy động tói đa nguồn lực trong nước để lực lượng vũ trang nói chung và quân đội quốc gia nói riêng có đủ khả năng hành động một cách độc lập trong những tình huống có liên quan đến an ninh trong nước mà không cần đến sự can thiệp quân sự của nước ngoài.

Thứ hai, Quân đội Malaixia phải từng bước được hiện đại hoá, đủ sức độc lập đối phó với bất kỳ mối đe doạ nào từ bên ngoài, ở bất kỳ cường độ nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.


Đối với vấn đề hợp tác quân sự và quốc phòng với các nước trong khu vực, Malaixia chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác song phương với các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), coi Diễn đàn hợp tác khu vực ASEAN (ARF) là cơ sở và là điều kiện quan trọng cho hoà bình và ổn định trong nước, khu vực và trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, họ cũng coi trọng sự giúp đỡ và hợp tấc quân sự của các nước ngoài khu vực, đặc biệt trong các lĩnh vực như chuyển giao công nghệ, đào tạo đội ngũ sĩ quan tham mưu, chỉ huy và ủng hộ Malaixia trong các vấn đề có liên quan đến quân sự và quốc phòng trên trường quốc tế.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:33:41 am
Dựa trên nền tảng của chiến lược quốc phòng mới và chương trình cải cách quân đội, năm 1993 Malaixia đã thông qua kế hoạch phát triển quân đội đến năm 2000, theo đó lực lượng lục quân sẽ được quy hoạch và phát triển theo các hướng sau:

- Cắt giảm quân số từ 114.000 quân (1993) xuống còn khoảng 80.000, thay vào đó, lực lượng này sẽ từng bước được hiện đại hoá nhằm nâng cao khả năng cơ động và trình độ hiệp đồng tác chiến.

- Giữ nguyên số đơn vị hiện có, chuyển một số đơn vị bộ binh thành các đơn vị đặc biệt như các tiểu đoàn dù, tiểu đoàn bộ binh cơ giới, v.v... Các đơn vị này sẽ đóng vai trò là lực lượng hạt nhân cho lực lượng phản ứng nhanh sau này.

- Cơ cấu lại tổ chức cấp trung đoàn theo hướng binh chủng hợp thành để trong tương lai mỗi trung đoàn bộ binh phải có đủ các đơn vị tăng, thiết giáp, đơn vị bộ binh cơ giới đơn vị pháo và các đơn vị đảm bảo.

- Mở rộng các đơn vị pháo và bộ binh cơ giới nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu chi viện hoả lực và tính cơ động cho các đơn vị bộ binh.

- Hiện đại hoá các đơn vị pháo bằng các loại vũ khí, khí tài hiện đại như các hệ thống ra đa định vị, các loại pháo tầm trung và các dàn pháo tự động nạp đạn.

- Nâng cấp và hiện đại hoá các đơn vị công binh bằng các loại trang thiết bị, khí tài tiên tiến.

- Tổ chức lại các đơn vị thông tin theo hướng gọn nhẹ, cơ động, bí mật, an toàn và có độ chính xác cao. Trong kế hoạch phát triển các đơn vị thông tin đến năm 2000, Malaixia chủ trương nâng cấp Trung đoàn thông tin không quân yểm trợ, đồng thời thành lập Trung đoàn chiến tranh điện tử của lực lượng lục quân.
 
- Hiện đại hoá và mở rộng các đơn vị quân báo bằng các trang thiết bị hiện đại, tiến tới trong tương lai mỗi sư đoàn bộ binh sẽ được biên chế một đơn vị quân báo.

- Tinh giản và tổ chức lại các đơn vị hậu cần, đơn vị đảm bảo trong lực lượng lục quân nhằm nâng cao tính hiệu quả, sự cân đối về lực lượng. Thành lập Cục Hậu cần bộ binh, cải tổ và nâng cấp hệ thống các nhà máy công nghiệp quốc phòng, phát huy và sử dụng hiệu quả khả năng tự sản xuất trong nước của các nhà máy này, từng bước và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài.

- Ưu tiên nâng cấp hệ thống các nhà trường, trung tâm huấn luyện quân sự hiện có, xây dựng thêm các trường, các trung tâm huấn luyện quân sự mới với các trang thiết bị hiện đại nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ trong các cuộc chiến tranh thông thường, chiến tranh điện tử.


Thực hiện kế hoạch phát triển lực lượng lục quân theo hướng cơ giới hoá, vào giữa những năm 90 thế kỷ XX, Malaixia đã thành lập Lữ đoàn bộ binh cơ giới số 4 gồm 2 trung đoàn 19, 23 và tiểu đoàn biệt kích cơ giới số 7. Cùng với việc thành lập Lữ đoàn 4, từ 1995 đến 1998, Malaixia còn thành lập thêm 3 trung đoàn xe tăng và mua thêm hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp của các tập đoàn công nghiệp quốc phòng nổi tiếng trên thế giới. Như vậy, cho đến cuối những năm 90 thế kỷ XX, mỗi lừ đoàn bộ binh cơ giới của lực lượng lục quân Malaixia đã được biên chế 1 trung đoàn tăng và 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới cùng một số đơn vị đảm bảo khác.


Cũng trong khuôn khổ kế hoạch cơ giới hoá lực lượng lục quân, ngày 10 tháng 3 năm 1995, không quân Hoàng gia Malaixia đã chuyển giao 10 trực thăng Alouette III SA-316B cho lực lượng lục quân, đánh dấu sự ra đời của không đoàn không quân đầu tiên thuộc lực lượng lục quân. Những năm tiếp theo, lực lượng này đã phát triển rất nhanh. Năm 1997, Không đoàn 881 được thành lập, tiếp đó nhiều phi đội không quân yểm trợ và vận tải đã ra đời, đủ sức đảm đương và thay thế hoàn toàn các nhiệm vụ của lực lượng không quân Hoàng gia trước đây, giải phóng lực lượng này khỏi nhiệm vụ yểm trợ cho lục quân, tập trung vào các hoạt động tác chiến phòng không.


Mặc dừ được đầu tư theo hướng cơ giới hoá, nhưng do điều kiện địa hình rừng núi và sông hồ nhiều nên đến nay trong cơ cấu của lực lượng lục quân Malaixia, bộ binh vẫn chiếm đa số và đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động tác chiến.


Đến năm 2000, tổng quân số trong lực lượng lục quân Malaixia là 120.000 quân, trong đó lực lượng thường trực là 80.000, dự bị là 40.000, được chia thành 4 sư đoàn, nằm trong đội hình của 2 quân khu. Quân khu I (phía tây Malaixia) gồm Sư đoàn 2 đóng ở Penang, Sư đoàn 3 đóng ở Malăcca và Sư đoàn 4 đóng ở Kuatan. Quân khu II (phía đông Malaixia) gồm Sư đoàn 1 đóng ở Kuching và 3 lữ đoàn. Trong 4 sư đoàn lục quân của Malaixia có 10 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn không vận, 1 lữ đoàn bộ binh cơ giới Trong 12 lữ đoàn trên có tổng cộng 34 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn phòng không, 5 trung đoàn công binh, Trung đoàn đặc nhiệm 21 gồm 3 tiểu đoàn), lực lượng phản ứng nhanh (khoảng 1 trung đoàn).


Trung đoàn đặc nhiệm 21 cùng 10 lữ đoàn bộ binh nằm dưới sự chỉ huy và điều hành trực tiếp của Tư lệnh lục quân. Lữ đoàn 11 nằm dưới sự chỉ huy và điều hành trực tiếp của Tư lệnh lực lượng dã chiến, có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tác chiến ở khu vực thủ đô Kuala Lămpơ và bang Selangor.


Cùng với sự phát triển cả về lượng và chất, nhiệm vụ của quân đội, đặc biệt là của lực lượng lục quân cũng mở rộng đáng kể. Nhiệm vụ hiện nay của lực lượng lục quân Malaixia là bảo vệ biên giới và ranh giới quốc gia trước các các cuộc xâm lược hoặc đe doạ xâm lược từ bên ngoài. Sẵn sàng đối phó với các lực lượng thù địch cả trong và ngoài - nước. Tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của Chính phủ, dưới bất kỳ hình thức nào, trong trường hợp đất nước bị đặt trong tình trạng khẩn cấp. Cùng với lực lượng cảnh sát và các lực lượng khác của Chính phủ tham gia bảo vệ và giữ gìn trật tự công cộng, chống lại các hoạt động khủng bố. Tham gia các hoạt động cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai. Tham gia phát triển quốc gia. Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc nhiệm vụ này đã được lực lượng vũ trang Malaixia nói chung và lực lượng lục quân nói riêng thực hiện từ những năm 60 thế kỷ XX, cụ thể là: năm 1960-1963 Quân đội Mã Lai đã tham gia vào cuộc nội chiến ở Công Gô, năm 1988-1991 tham gia vào cuộc chiến tranh Iran-Irắc, 1989-1990 vào cuộc nội chiến ở Namibia, 1991 vào cuộc chiến tranh Irắc-Côoét, năm 1991-1994 ở Campuchia, năm 1993 ở Xômali, v.v...


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:34:26 am
Đối với lực lượng không quân Hoàng gia Malaixia, trong những năm tiến hành cải cách quân đội, lực lượng này đã được tập trung đầu tư và có những bước phát triển nhảy vọt. Trong 8 năm, từ 1990 đến 1998, Malaixla đã đầu tư gần 770 triệu đô la Mỹ cho chương trình phát triển không quân, đưa lực lượng này từ chỗ chỉ là lực lượng yểm trợ cho lục quân trở thành một lực lượng tác chiến hiện đại có đủ trang thiết bị, cơ số và chủng loại máy bay, kể cả các loại máy bay tiêm kích hiện đại. Ngoài ra, lực lượng này còn được trang bị các hệ thống ra đa, hệ thống thu tín hiệu từ vệ tinh hiện đại của Mỹ, Anh, v.v... Cho đến giữa những năm chín mươi thế kỷ XX, không quân Malaixịa vẫn phải mua thông tin và số liệu từ các vệ tinh SPOT của Pháp, Radarsat của Canađa, NOAA của Mỹ và Thái Lan. Nhưng theo kế hoạch phát triển lực lượng không quân, năm 1998 Malaixia đã chi 4 tỉ ringit để chế tạo vệ tinh riêng và xây dựng thêm các trạm thu tín hiệu ở Temerloh và Phang.


Như vậy, sau gần 10 năm tập trung đầu tư và phát triển, đến năm 2000 lực lượng không quân Hoàng gia Malaixia đã có khoảng 12.400 quân, 80 máy bay chiến đấu các loại và 50 máy bay trực thăng, được chia thành 4 sư đoàn, gồm 22 phi đội.

Phi đội 17 và phi đội 19 đóng tại Quan tan, được trang bị các loại máy bay chiến đấu hiện đại của Nga như MIG-17MAPO, MIG-29N và MIG-29UN.

Phi đội 18 đóng tại Butterworth, được trang bị các loại máy bay hiện đại của hãng Boeing, như máy bay tiêm kích ban đêm F/A-18D. Các máy bay này đều có thể mang nhiều loại tên lửa khác nhau như Raytheon AIM/RIM-7M Sparrow, AIM-9S và tên lửa dẫn đường chống tàu ngầm AGM-84A Harpoon,v.v...

Phi đội 12 (phi đội Chiến binh) đóng tại Butterworth, được trang bị 13 máy bay đánh chặn Northrop-grumman F-5E Tiger II, 4 máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi F-5F, 2 máy bay RF-5E Tigereyes (Mắt hổ) và 11 máy bay phản lực huấn luyện Aermacchi MB-339A.

Phi đội 9 đóng tại Quantan, được trang bị chủ yếu các loại máy bay tiêm kích Hawk Mk-208 và máy bay huấn luyên Hawk Mk-108.

Phi đội 6 đóng tại Quantan, được trang bị các loại máy bay tiêm kích đa năng hạng nhẹ Hawk Mk-208.

Phi đội 1 đóng tại Labuan. Đây là phi đội máy bay vận tải được trang bị chủ yếu là các loại máy bay Havilland DHC-4 Caribou.

Phi đội 2 (phi đội Vẹt đuôi dài) đóng tại Subang, được trang bị 2 máy bay phản lực loại 2 động cơ Fokker F28-1000, 2 máy bay phản lực loại 3 động cơ Dassault Falcon 900 và 1 máy bay ném bom CL-600. Phi đội 8 (phi đội Bò hoang) đóng tại Subang, được trang bị chủ yếu là các loại máy bay vận tải chiến thuật DHC-4 Caribou.

Phi đội 14 (phi đội Hoà bình) đóng tại Subang, được trang bị 7 máy bay vận tải C-130H/H-30.

Phi đội 20 được trang bị 3 máy bay vận tải C-130H-30 và KC-130B. Phi đội 4 (phi đội Đám mây) là phi đội thám không và tuần tra biển, được trang bị 12 máy bay Cessna 402Bs và C- 130H-MPS.

Phi đội 16 đóng tại Subang, được trang bị 4 máy bay trinh sát biển B-200T.

Phi đội 3 (phi đội Anh hùng) được trang bị các loại máy bay trực thăng S-61A-4 và máy bay trực thăng Alouette III SA.316B.

Phi đội 5 (phi đội Mãnh hổ) được trang bị chủ yếu máy bay trực thăng S-61A-4.


Ngoài ra còn có các phi đội: phi đội 7 (phi đội Tê giác), đóng tại Kuching, phi đội 10 (phi đội Vòi voi) đóng tại Sungai Besi, phi đội 11, phi đội 15, phi đội phòng không 321 đóng tại Banting, phi đội phòng không 322 đóng tại Bukit Ibam, cùng một số đơn vị ra đa phòng không ở Xaraoắc, Penang, Senai và Johore,v.v...


Cũng như lực lượng lục quân và không quân, trong những năm tiến hành cải cách quân đội và sau khi Malaixia tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế, lực lượng hải quân Malaixia đã có những thay đổi lớn trong xu hướng và quy mô phát triển. Năm 1997 hải quân Malaixia đã xây dựng được binh chủng không quân riêng, đủ sức đảm đương các nhiệm vụ mà trước đây vẫn do lực lượng không quân Hoàng gia đảm trách. Ngoài ra, trong các năm từ 1995-2000, Malaixia đã mua thêm và trang bị cho lực lượng hải quân hàng chục tàu chiến, tàu tuần tiễu xa bờ cùng một số tàu ngầm, tàu nổi hiện đại của Thụy Điển, của Anh; được trang bị các loại tên lửa đất đói đất, đất đối không như MM-40 Exocet, Otomat. v.v...


Cho đến cuối những năm chín mươi, trong cơ cấu lực lượng hải quân Malaixia đã có đủ ba binh chủng là hải, lục và không quân, tất cả các binh chủng đều được trang bị tương đối hiện đại, không chỉ đủ sức bảo vệ vững chắc các vùng lãnh hải quốc gia, mà còn đủ khả năng tham chiến trong các cuộc chiến tranh thông thường và chiến tranh hiện đại.


Nhiệm vụ hiện nay của lực lượng hải quân Malaixia là: bảo vệ vững chắc lãnh hải và các nguồn lợi ngoài khơi của Malaixia trước các cuộc tiến công từ bên ngoài; bảo vệ tuyến giao thông trên biển; tiến hành các hoạt động thăm dò và điều tra địa - thủy văn; cùng với các lực lượng khác tiến hành chống hải tặc, bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và tiến hành các hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển, v.v...


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:34:57 am
III. Hệ thống tổ chức quốc phòng Malaixia hiện nay

Theo Hiến pháp năm 1957 của Malaixia, Thủ tướng là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Malaixia, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia. Hội đồng này thuộc Văn phòng Chính phủ, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách liên quan đến an ninh và quốc phòng, định hướng phát triển và xây dựng lực lượng vũ trang Malaixia. Thành phần của Hội đồng an ninh quốc gia ngoài Thủ tướng giữ chức Chủ tịch, Bộ trưởng Quốc phòng - Phó chủ tịch còn có đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục. Hội đồng an ninh quốc gia họp định kỳ mỗi năm một lần, trong trường hợp khẩn cấp họp theo sự triệu tập bất thường.


Bộ trưởng Quốc phòng Malaixia là nhân vật dân sự, trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ đối với tất cả các vấn đề có liên quan đến quốc phòng.


Bộ Quốc phòng Malaixia đóng ở Kuala Lămpơ, gồm 2 cơ quan là cơ quan dân sự và cơ quan quân sự.


Đứng đầu cơ quan dân sự là Tổng thư ký, có 2 phó tổng thư ký giúp việc. Nhiệm vụ của cơ quan dân sự là hoạch định các chính sách có liên quan đến tài chính và luật pháp của quân đội; soạn thảo và thực thi các chương trình, kế hoạch nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng, dựa trên khả năng của nền công nghiệp quốc phòng quốc gia; thực hiện các hợp đồng mua sắm vũ khí, trang bị từ nước ngoài; giải quyết các vấn đề về chính sách xã hội cho sĩ quan, binh lính trong Quân đội Malaixia và cho các cựu chiến binh.


Cơ quan quân sự trong Bộ Quốc phòng Malaixia do tư lệnh các lực lượng vũ trang Malaixia đứng đầu, hoạt động dưới sự giám sát và điều hành trực tiếp của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân.


Hội đồng tham mưu trưởng liên quân là cơ quan điều hành tập thể mọi hoạt động của quân đội, gồm Tổng tham mưu trưởng liên quân (giữ chức Chủ tịch) cùng các tham mưu trưởng của các binh chủng, Cục trưởng Cục Cán bộ và hậu phương. Nhiệm vụ của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân là soạn thảo và đệ trình lên Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Malaixia các vấn đề có liên quan đến chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, đến sử dụng và phát triển lực lượng vũ trang, v.v...


Sau hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, mặc dù bị tác động bởi các yếu tố lịch sử và phụ thuộc rất nhiều vào các nước phương Tây, nhưng Quân đội Liên bang Malaixia đã có những bước phát triển và lớn mạnh không ngừng. Từ một đại đội lính bản xứ do người Anh thành lập năm 1932, với vẻn vẹn vài chục người có chức năng bảo vệ các cơ quan, văn phòng đại diện của Anh ở Mã Lai, đến nay đã trở thành một lực lượng hùng hậu, với đủ ba thứ quân, được trang bị hiện đại, có cơ cấu và thành phần hợp lý, đủ sức đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:03:06 am
QUÂN ĐỘI LIÊN BANG MIANMA


I. Khái quát về đất nước Mianma

Liên bang Mianma, trước đây gọi là Miến Điện, là một quốc gia lâu đời ở Đông Nam Á, phía tây bắc giáp Ấn Độ, phía tây giáp Bănglađét và vịnh Bengan, phía tây nam giáp biển Anđaman, phía bắc giáp Trung Quốc, phía đông giáp Lào và Thái Lan.


Mianma là một quốc gia đa dân tộc, gồm hơn 40 dân tộc khác nhau, trong đó đa số là người Bama (thường gọi là người Miến, chiếm khoảng 70% dân số Mianma); các dân tộc ít người gồm người Karen (8%), người Chin (2%), người Môn (1,5%), người Kachin (1,5%)... Dân số Mianma tính đến tháng 11 năm 2005 có 49.362.000 người, trong đó số có khả năng phục vụ quân đội khoảng 6.600.000 người1 (Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới... Sđd, tr.305). Phật giáo được coi là quốc giáo của Mianma với số người theo đạo Phật là 89%; ngoài ra còn có đạo Cơ đốc (5% dân số), đạo Hồi (4%) và các tôn giáo khác (2%). Thủ đô Mianma là Yangun. Tổng thu nhập quốc dân năm 2003 là 128,3 tỷ kiệt (khoảng 20,4 tỷ USD). Mianma được chia làm 7 khu vực hành chính là Yangun, Bao, Manđalay, Maguê, Sagaing, Iraoađy và Tenaserim và 7 bang là Rakhain, Chin, Kachin, Karen, Kaya, San, Môn. Cư dân Mianma sử dụng hơn 100 ngôn ngữ khác nhau, nhưng tiếng Miến được coi là ngôn ngữ chính thống, tiếng Anh được sử dụng rộng rãi.


Địa hình Mianma khá phức tạp; có núi, cao nguyên, đồng bằng và một số đảo nhỏ, trải rộng trên diện tích 678.580km2. Các dãy núi cao bao bọc xung quanh những vùng đồng bằng giàu có là thành lũy tự nhiên che chở cho các địa bàn chiến lược của Mianma. Ba con sông Iraoađy, Chinđuyn, Thanluyin1 (Trước đây thường viết là Salween) chảy dọc theo đất nước, tạo nên các vùng đồng bằng phì nhiêu của Mianma và là một hệ thống đường giao thông quan trọng đi tới các vùng này.


Những đặc điểm tự nhiên trên đây đã tạo cho Mianma một vị trí chiến lược quan trọng, án ngữ con đường từ phía tây phía bắc đi xuống biển Anđaman, Ấn Độ Dương và ngược lại. Vì thế, trong nhiều năm, Mianma luôn là đối tượng nhòm ngó của nhiều nước lớn.


Lịch sử Mianma trải qua nhiều giai đoạn thống nhất, chia rẽ rất phức tạp. Vào khoảng đầu công nguyên, trên lãnh thổ Mianma ngày nay đã tồn tại một số vương quốc nhỏ: phía bắc có nước San do người San thành lập, vương quốc này thường giao hảo với nhà Hán của Trung Quốc. Ở phía nam có 2 vương quốc nhỏ của dân tộc Môn, một dân tộc có nền văn hoá sớm phát triển. Ở miền trung và nam còn có nước Pyu; vào thế kỷ VII, nước này đã phát triển thành một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn, có nền văn hoá rất phát triển và có chữ viết riêng. Đầu thế kỷ thứ IX, nước Pyu dần dần suy yếu. Từ vùng bình nguyên miền trung Mianma, người Miến bắt đầu bành trướng xuống vùng lưu vực sông Iraoađy; năm 849, họ xây dựng thành Pagan làm trung tâm chính trị. Năm 1044, vị thủ lĩnh của dân tộc Miến là Anôratha thành lập Vương triều Pagan-quốc gia phong kiến thống nhất đầu tiên của người Miến Điện. Dưới thời Anôratha, Pagan không chỉ có nền kinh tế phát triển mà còn có lực lượng quân sự hùng mạnh. Ngoài bộ binh và tượng binh là những binh chủng truyền thống, Anôratha còn xây dựng đội kỵ binh là loại binh chủng mới, nhờ đó, khả năng tấn công của quân đội được tăng lên rất nhiều. Với sức mạnh vượt trội so với các tiểu vương quốc ở Mianma, Anôratha đã chinh phục các vương quốc nhỏ của người Môn ở phía nam và phía bắc; các thổ ti và lãnh chúa phong kiến người San cũng lần lượt quy phục Pagan. Lãnh thổ Pagan được mở rộng, bao gồm vùng thượng Mianma, vùng đất cũ của nước Pyu; của người Môn ở vùng hạ Mianma và một vùng rộng lớn ở phía bắc Malaya và Xiêm (Thái Lan). Năm 1287, Vương triều Pagan sụp đổ trước sức mạnh của quân xâm lược Nguyên - Mông.


Sau khi vương triều Pagan sụp đổ, các tộc người San ở phía bắc, người Môn ở phía nam, người Rakhain ở phía tây đua nhau tự lập, hình thành cục diện có nhiều tiểu vương quốc cùng tồn tại, đó là "thời kỳ chiến quốc" trong lịch sử Mianma (1287-1531). Năm 1287, người Môn ở phía nam nổi lên, xây dựng Vương triều Bago. Năm 1364 hình thành Vương triều Ava ở Thượng Mianma. Đến năm 1386, hai vương triều này giao chiến với nhau; cuộc chiến tranh kéo dài 40 năm đã làm cho cả hai vương triều suy yếu và Vương triều Tanga dần dần hưng thịnh. Khi Vương triều Tanga bước vào thời kỳ phồn thịnh (1531-1550) cũng là lúc bùng nổ các cuộc chiến tranh nhằm tái thống nhất Mianma. Năm 1569, Vương triều Tanga hoàn thành sự nghiệp tái thống nhất Mianma; nhưng đến năm 1752 thì vương triều này bị người Môn ở phía nam đánh bại. 5 năm sau (1757), một hào trưởng tên là Alaun Pai đánh đuổi người Môn ra khỏi cửa sông Iraoađy, chinh phục các tiểu vương quốc San, Manipua. Alaun Pai lên làm vua, sáng lập triều đại Cônbaun, xây dựng thành phố Yangun (theo tiếng Miến có nghĩa là kết thúc chiến tranh) làm thủ đô. Triều đại này tồn tại cho đến nửa cuối thế kỷ XIX.


Dưới thời phong kiến, do thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh, Mianma là một quốc gia có quân đội vào loại hùng mạnh với các binh chủng có sức cơ động cao, được trang bị hoả lực mạnh, kể cả đại bác của Bồ Đào Nha (1584). Quân đội Mianma đã nhiều lần tấn công xâm lược Xiêm (thế kỷ XVI); từng đánh bại quân Bồ Đào Nha (năm 1617), quân xâm lược Mãn Thanh (giữa thế kỷ XVIII)...


Sau khi thôn tính Mianma (1885), thực dân Anh thống nhất Mianma thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh (2.1886). Người Miến không còn quân đội riêng; người Anh không tuyển binh lính người Miến vào quân đội. Tuy không có quân đội riêng nhưng những người yêu nước và dân tộc chủ nghĩa Mianma vẫn tìm mọi cách chống lại đế quốc Anh, đòi độc lập dân tộc.


Đầu thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Hội thanh niên phật tử (thành lập năm 1906) và các lãnh tụ sinh viên Trường Tổng hợp Yangun, đặc biệt là tổ chức Thakin, phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc ngày càng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân Mianma. Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào đấu tranh ở Mianma cũng như sức ép từ trong nước, ngày 2 tháng 3 năm 1935, Anh quyết định tách Mianma ra khỏi Ấn Độ, thành lập Chính phủ Mianma thuộc Anh kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1937.


Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mianma bị phát xít Nhật chiếm đóng. Aung San - một anh hùng dân tộc Mianma đã lãnh đạo cuộc chiến đấu của nhân dân chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản. Sau khi Nhật thất trận, Anh trở lại thống trị Mianma. Trước sức ép của phong trào đòi độc lập ở Mianma, Anh buộc phải trao trả độc lập cho nước này vào ngày 4 tháng 1 năm 1948; Liên bang Miến Điện được thành lập với các bang gồm đông đảo là người Miến (vốn chiếm đa sô) và 4 bang vùng Thượng Mianma. Các bang này được hứa hẹn quyền tự trị, nhưng trên thực tế, quyền lực lại nhanh chóng tập trung vào chính quyền trung ương. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng bất ổn kéo dài ở Mianma với các cuộc nổi dậy đòi quyền bình đẳng dân tộc của người San, Kachin, Karen...


Sau cuộc đảo chính ngày 2 tháng 3 năm 1962, lực lượng quân đội do tướng Nê Uyn cầm đầu lên nắm quyền điều hành đất nước, tuyên bố xây dựng Mianma theo con đường xã hội chủ nghĩa. Năm 1974, bản hiến pháp mới được thông qua và Mianma trở thành Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Miến Điện do Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa Miến Điện là đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo. Tuy nhiên, do thực thi chính sách đối ngoại đóng cửa không thành công, Mianma liên tục rơi vào tình trạng hỗn loạn với các cuộc bạo loạn, biểu tình, tiến công quân chính phủ. Năm 1988, Nê Uyn buộc phải từ chức. Chính phủ mới được thành lập do Hội đồng Luật pháp và Trật tự quốc gia (SPDC) điều hành đã chính thức đổi tên đất nước thành Liên bang Mianma, tuyên bố từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa (5.1989).


Hiện nay, Mianma là một nước cộng hoà liên bang. Chủ tịch Hội đồng hoà bình và phát triển quốc gia là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang.


Mianma là thành viên Liên hợp quốc vào ngày 19 tháng 4 năm 1948; chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ngày 25 tháng 7 năm 1997. Mianma và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao từ khi Việt Nam đặt Cơ quan thường trú tại Yangun (năm 1947), năm 1948 nâng lên thành Cơ quan đại diện và ngày 28 tháng 5 năm 1975 nâng lên cấp Đại sứ. Liên bang Mianma là một trong những nước tích cực ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:04:13 am
II. Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Mianma

1. Sự ra đời của Quân đội Mianma

Cũng như quân đội hầu hết các nước Đông Nam Á, Quân đội Mianma ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân phương Tây. Ở Mianma, cơ sở xã hội của phong trào đấu tranh là giai cấp tư sản dân tộc, giai cấp công nhân và nông dân. Tuy nhiên, với đặc điểm là một quốc gia Phật giáo, phong trào giải phóng dân tộc Mianma được bắt đầu từ việc đấu tranh để bảo vệ và phục hưng Phật giáo. Nhiều tổ chức bảo vệ Phật giáo lần lượt ra đời.


Năm 1897, ở Manđalay xuất hiện tổ chức đầu tiên bảo vệ Phật giáo lấy tên là Hội Phật giáo; năm 1902, một tổ chức tương tự ra đời ở thành phố Batxanh; năm 1904, Hội Liên hiệp Phật giáo của Trường Đại học Yangun được thành lập. Các tổ chức này đã tạo cơ sở để thành lập một tổ chức toàn quốc bảo vệ Phật giáo là Hội Liên hiệp thanh mền Phật giáo (1906). Cùng với sự ra đời của các tổ chức bảo vệ Phật giáo, ở một số địa phương đã xuất hiện các đội du kích. Trong lúc những người theo chủ nghĩa quốc gia tư sản chủ yếu đấu tranh bằng các biện pháp chính trị thì các đội du kích phát động nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Anh; đặc biệt là hoạt động của các đội du kích ở vùng Pagan đo Bô trô lãnh đạo kéo dài cho đến năm 1920.


Cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mianma chưa có quân đội quốc gia mà chỉ có quân đội do chính quyền Anh xây dựng, được gọi là Đội phòng vệ Miến Điện với 3.669 quân, trong đó chỉ có 472 người Miến, còn lại là người Karen, người Chin và người Kachin1 (D.G.E Hall, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1997, tr.1168). Để thành lập quân đội của mình, ban đầu, những người theo chủ nghĩa quốc gia Mianma dựa hoàn toàn vào người Nhật.


Vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XX, Nhật Bản có sức hấp dẫn mạnh đối với nhiều người theo chủ nghĩa quốc gia Mianma. Bên cạnh các khẩu hiệu như "châu Á của người châu Á", "Cộng đồng cùng thịnh vượng"...; việc người Nhật khuyến khích những người bản xứ nắm giữ vai trò điều hành chính quyền ở mức cao hơn so với dưới thời thực dân cai trị, việc khuyến khích dùng ngôn ngữ bản xứ; đặc biệt, vấn đề huấn luyện và phát triển quân đội... không chỉ hấp dẫn mà còn góp phần tạo nên sự tự tin trong những người theo chủ nghĩa quốc gia ở Mianma.


Để chuẩn bị cho việc thành lập quân đội, năm 1941, nhóm "Ba mươi đồng chí", gồm 29 đảng viên Thakin và một sinh viên (người già nhất 35 tuổi, trẻ nhất 19 và tuổi trung bình là 24) đến Tôkyô và sau đó chuyển đến Trung tâm huấn luyện của hải quân Nhật tại trại San thải Nam) để huấn luyện sơ bộ. Thiếu tướng lục quân Nhật Bản Fukuike cùng phụ tá là Đại úy Kaoasina chịu trách nhiệm huấn luyện cho nhóm các chiến sĩ người Mianma. Nhóm này được chia thành 3 tổ để học chuyên sâu từng vấn đề quân sự. Nhóm thứ nhất gồm Dung San, Lek Ya, Zei Ja, Sek Tya, Nê Uyn, Hun Oup được đào tạo để trở thành chỉ huy cao cấp và điều hành công việc dân sự. Nhóm thứ hai học về chiến thuật du kích và tình báo. Số thanh niên trẻ còn lại được huấn luyện để chỉ huy cấp phân đội.


Sau khi kết thúc khoá huấn luyện tại trại San (7.1941), "Ba mươi đồng chí" được chuyển đến Tamazoto (Đài Loan) để học tiếp. Tháng 11 năm 1941, bốn người trong nhóm "Ba mươi đồng chí" được phái về Băng Cốc (Thái Lan) để thành lập quân đội và tổ chức lãnh đạo phong trào du kích. Với sự giúp đỡ của Đại tá tình báo Nhật Suzuki, ngày 28 tháng 12 năm 1941, Quân đội Độc lập Miến Điện (Burma Independence ARMY-BIA) chính thức được thành lập tại Thái Lan với khoảng 200 người, gồm thanh niên kiều dân Mianma, nhóm "Ba mươi đồng chí" và một số người Nhật thuộc tổ chức tình báo Minami Kikan. Cờ của Quân đội Độc lập Miến Điện có ba màu với hình con công xanh ở giữa. Ngay sau ngày thành lập, Quân đội Độc lập Miến Điện bắt đầu tiến hành các đợt tuyển quân, chủ yếu từ kiều dân Mianma ở Thái Lan, nhanh chóng đưa tổng số quân lên 3.776 người (cuối tháng 12 năm 1941). Tuy có tên gọi là Quân đội Độc lập nhưng đội quân này bị Nhật Bản khống chế và đã đi theo Quân đội Nhật đánh về Mianma theo kế hoạch đánh chiếm châu Á của phát xít Nhật. Ngày 31 tháng 12 năm 1941, Quân đội Độc lập Miến Điện dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Nhật tiến quân trở về Mianma. Quân đội Độc lập Miến Điện nhanh chóng phát triển lên 50.000 người, nhưng ít lâu sau, chính quyền Nhật Bản cắt giảm xuống còn 3.000 người1 (Từ Thiên Ân, Hứa Bình, Vương Hồng Sinh, Lịch sử thế giới, Tập 5. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 2002, tr.408). Cuối tháng 5 năm 1942, quân Nhật chiếm được hầu hết các lãnh thổ Mianma và đưa Ba Mô, một lãnh tụ của giai cấp tư sản Mianma ra thành lập cơ quan hành chính.


Ngày 27 tháng 7 năm 1942, Quân đội Độc lập Miến Điện cải tổ thành Quân đội phòng thủ Mianma (Burma Defense ARMY-BDA) với nhiệm vụ chính thức là phòng thủ vùng biên giới và trong nước. Ba tiểu đoàn đầu tiên của Quân đội phòng thủ Miến Điện được thành lập do Nê Uyn, Yan Naing và Ze Ya làm tiểu đoàn trưởng. Không lâu sau có 4 tiểu đoàn nữa ra đời. Đến cuối năm 1942, Quân đội phòng thủ Miến Điện đã có 7 tiểu đoàn với khoảng 3.000-4.000 quân, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tá, Tổng tư lệnh Dung San. Những người thuộc nhóm "Ba mươi đồng chí" đều thành sĩ quan chỉ huy của các đơn vị này. Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và nâng cao trình độ quân sự cho đội ngũ sĩ quan, tháng 9 năm 1942, Quân đội phòng thủ Miến Điện thành lập Trường quân sự đầu tiên đóng tại Mingaladon (ngoại ô Yangun); chương trình đào tạo của trường được áp dụng theo chương trình của Học viện quân sự Nhật Bản.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:05:12 am
Trước tình hình chiến tranh thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho phát xít Nhật, để tranh thủ sự ủng hộ của Mianma trong chiến tranh, ngày 1 tháng 8 năm 1943, Nhật Bản tuyên bố trao trả độc lập cho Mianma, nhưng trên thực tế Mianma vẫn thuộc quyền chiếm đóng của Quân đội Nhật.


Ngày 15 tháng 9 năm 1943, Hội đồng quốc phòng tối cao của Mianma "độc lập" đã triệu tập phiên họp đầu tiên. Tại cuộc họp này, Aung San được bầu làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tá Nê Uyn được cử làm Tổng tư lệnh; đồng thời tuyên bố đổi tên Quân đội phòng thủ Miến Điện thành Quân đội quốc gia Miến Điện (Burma National ARMY-BNA). Aung San nuôi tham vọng xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, hiện đại, gồm đủ các binh chủng bộ binh, thiết giáp, pháo binh, không quân, hải quân..., đồng thời đề cao tinh thần khổ luyện, coi trọng kỷ luật, động viên tinh thần binh sĩ và tăng cường liên hệ với dân. Tuy nhiên, người Nhật chỉ cho phép xây dựng bộ binh cùng một lực lượng nhỏ ky binh và đào tạo một số phi công trẻ ở Nhật.


Mặc dù được Nhật trao độc lập nhưng nền độc lập của Mianma chỉ là giả hiệu. Những hành động ngang ngược của quân Nhật trên đất nước Mianma gây cho nhân dân Mianma biết bao tai hoạ. Aung San và những người theo chủ nghĩa dân tộc Mianma sau khi nhận rõ bộ mặt xâm lược của Nhật Bản đã nhanh chóng gia nhập mặt trận chống Nhật. Một số sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn và đại đội trong Quân đội quốc gia Miến Điện có quan hệ với Đảng Nhân dân cách mạng đã thành lập Nhóm Kháng chiến trẻ chống lại Anh và Nhật; họ bắt đầu rải truyền đơn chống Nhật và lấy sở chỉ huy của Nê Uyn làm nơi gặp gỡ, cất giấu vũ khí cũng như in ấn, phát tán tài liệu. Trong khi đó, những người cộng sản Mianma cũng đã triển khai chiến tranh du kích tại vùng châu thổ sông Iraoađy.


Năm 1944, cuộc đấu tranh vũ trang chống Nhật của các lực lượng dân tộc, yêu nước Mianma phát triển lên một bước mới; các căn cứ địa được thành lập tại vùng núi Rakhain và vùng Manđalay. Ngày 22 tháng 6 năm 1944, lợi dụng quân Nhật đang bị sa lầy chiến trận ở Imphan, Nhóm Kháng chiến dự định phát động một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ sự thống trị của phát xít Nhật nhưng không nhận được sự chấp thuận của Aung San. Aung San không tán thành quan điểm vừa chững Nhật vừa chống Anh. Chủ trương của Aung San và một số nhà lãnh đạo Quân đội quốc gia Miến Điện lúc này là quay sang tìm kiếm sự giúp đỡ của người Anh để đánh đuổi phát xít Nhật.


Tháng 8 năm 1944, Aung San và các thành viên chủ chốt của Quân đội Mianma ra lời kêu gọi thống nhất các lực lượng quốc gia và thành lập Liên minh nhân dân tự do chống phát xít (Anti Fascist People's Freedom League - AFPFL) với khẩu hiệu "Đuổi giặc Nhật, xây dựng chính phủ nhân dân, tiêu diệt phát xít, liên hiệp với quân đồng minh dân chủ”... Liên minh này bao gồm Đảng Cộng sản Miến Điện (do Aung San làm Chủ tịch, Thakin Than Tun làm Tổng bí thư) và tất cả các đảng phái, đoàn thẻ dân chủ. Phong trào kháng chiến đã phát triển mạnh mẽ Ơ vùng Hạ Mianma, thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt của các tổ chức chính trị như Liên đoàn thanh mền Miến Điện, Quân đội phòng thủ và lực lượng du kích của người Rakhain, Karen, San, Kachin,...


Vào những năm cuối của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Quân đội quốc gia Miến Điện là lực lượng nòng cốt trong phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật ở Mianma. Để chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa, Quân đội quốc gia Miến Điện tăng cường huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật, trang bị thêm vũ khí. Theo đề nghị của Aung San, nhiều cán bộ cộng sản đã tham gia quân đội. Cuối tháng 8, Aung San tổ chức gặp gỡ, động viên họ phấn đấu xây dựng Quân đội quốc gia Miến Điện thành lực lượng kháng chiến của dân tộc, phong quân hàm và cử họ làm chính ủy ở nhiều đơn vị. Aung San nói: "Quân đội phải trở thành cánh tay, nắm đấm, lưỡi gươm của nhân dân, những thứ sẽ giáng đòn vào kẻ thù của nhân dân và giành quyền lợi cho nhân dân"1 (Liên bang Mianma, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng, Hồ sơ TL-1556).


Tháng 9 năm 1944, các lực lượng kháng chiến do Aung San lãnh đạo đã kêu gọi toàn thể nhân dân Mianma nổi dậy đánh đuổi phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân. Tuy nhiên, lúc này thời cơ chưa chín muồi nên cuộc khởi nghĩa phải hoãn lại.


Sau khi quân Đồng minh từ Ấn Độ đánh vào Mianma, ngày 1 tháng 3 năm 1945, Ban lãnh đạo Liên minh nhân dân tự do chống phát xít lập tức họp bàn khởi nghĩa với sự tham dự của 3 đại diện Đảng Cộng sản, 4 đại diện Đảng Nhân dân cách mạng và 14 sĩ quan Quân đội quốc gia Miến Điện. Trên cơ sở nhận định phát xít Nhật đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, hội nghị đã quyết định chớp thời cơ phát động khởi nghĩa. Hội nghị cũng quyết định đổi tên Liên minh nhân dân tự do chống phát xít thành Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít và Quân đội quốc gia Miến Điện đổi thành Quân đội nhân dân. Một ủy ban thường trực có quyền tói cao trong thời kỳ nổi dậy được bầu ra gồm Dung San là lãnh tụ quân sự, Thakin Xu là lãnh tụ chính trị và Than Tun phụ trách việc hợp tác giữa Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít với chính quyền Anh. Ngày 8 tháng 3 năm 1945, Ba Tút, Tư lệnh lực lượng Quân đội quốc gia ở Manđalay tuyên chiến với Nhật, tiếp theo đó là một loạt các hoạt động của Quân đội quốc gia công khai chống Nhật. Ba Tút đã chỉ huy một đơn vị quân đội tiếp xúc với lực lượng Đồng minh. Ngày 27 tháng 3, Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít đã phót hợp với quân Đồng minh phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Nhật.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:06:10 am
Nhận được lệnh, lực lượng khởi nghĩa ở khắp mọi nơi đồng loạt nổi dậy giết cố vấn và binh lính Nhật. Bộ phận lực lượng Quân đội quốc gia đóng ở Yangun được lệnh của Bộ chỉ huy quân Nhật điều ra tiền tuyến để ngăn chặn quân Đồng minh, nhưng vừa ra khỏi Yangun, họ đã quay súng đánh lại quân đội Nhật. Với sự kiện này, ngày 27 tháng 3 được lấy làm Ngày các lực lượng vũ trang Mianma. Cùng ngày, tướng Mounbatten - Tổng tư lệnh quân Đồng minh ở Đông Nam Á thông báo cho Đại bản doanh Anh về tình hình trên và yêu cầu giúp đỡ Quân đội quốc gia Miến Điện. Ngày 30 tháng 3, Chính phủ Anh quyết định ủng hộ cuộc nổi dậy, đồng thời cũng yêu cầu Bộ tư lệnh quân Đồng minh ở Đông Nam Á không bàn về chính trị với Dung San và các lãnh tụ khác.


Trước sức tiến công mạnh mẽ của lực lượng Quân đội quốc gia và du kích ở các địa phương, ngày 28 tháng 4, quân Nhật bắt đầu rút khỏi Yangun và chỉ hai ngày sau đã rút hoàn toàn khỏi thành phố. Cùng với việc giải phóng thủ đô, nghĩa quân còn chiếm được một vùng lãnh thổ rộng lớn và cuối cùng đánh đuổi hoàn toàn quân Nhật ra khỏi Mianma.


Tuy nhiên, trong khi quân phát xít Nhật rút khỏi Mianma thì Quân đội Anh dưới danh nghĩa "quân Đồng minh" đã quay trở lại Mianma với ý đồ khôi phục lại nền thống trị thực dân của Anh ở đất nước này. Ngày 17 tháng 5 năm 1945, Chính phủ Anh ra tuyên bố về kế hoạch hậu chiến của Anh đối với Mianma; theo đó, Mianma có thể trở thành lãnh địa tự trị, một số khu vực của các dân tộc thiểu số vẫn do Tổng đốc Anh trực tiếp thống trị. Điều đó có nghĩa "tự trị" chỉ là danh nghĩa, trên thực tế đây là một kế hoạch chia cắt Mianma.


Ngày 30 tháng 5 năm 1945, Quân đội quốc gia và du kích Mianma được tổ chức lại thành Lực lượng yêu nước Miến Điện (Patriotic Burmese Forces-PBF) và lực lượng này trở thành vấn đề đầu tiên mà các nhà lãnh đạo Anh và Mianma phải thương lượng sau chiến tranh. Sau nhiều lần gặp gỡ, thương thuyết với tướng Mounbatten, ngày 15 tháng 6 năm 1945, Aung San đã chấp thuận việc hợp nhất Lực lượng yêu nước Miến Điện với Quân đội thường trực mới của Mianma do người Anh dựng nên, nhưng Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít không tán thành. Tuy vậy, người Anh vẫn tiếp tục kế hoạch của họ. Tháng 9 năm 1945, tại Kandy (Xri Lanca), tướng Mounbatten tiến hành đàm phán với Aung San và một số nhà lãnh đạo khác của Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít và hai bên đã ký kết Hiệp định về vấn đề lực lượng vũ trang Mianma (còn gọi là Hiệp định Kandy). Hiệp định này quy định sẽ cải biến Lực lượng yêu nước Miến Điện thành quân đội của chính phủ (Quân đội Mianma - BA), mà thực chất là quân đội bù nhìn của chính quyền Anh. Trước khi ký hiệp định, quân số Lực lượng yêu nước Miến Điện có tới 20.000 người, nay rút xuống còn 5.000, đồng thời phải giao nộp vũ khí cho Anh.


Để chống lại sự áp đặt của Anh, cuối năm 1945, Aung San và các nhà lãnh đạo trong Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít đã thành lập Tổ chức tình nguyện nhân dân (People's Volunteer Organisation-PVO), một tổ chức bán vũ trang, độc lập với quân đội, thu nạp những sĩ quan, binh lính, du kích, những người kháng chiến cũ cũng như tất cả những ai tình nguyện tham gia công cuộc thanh toán nạn cướp bóc và tình trạng bất ổn sau chiến tranh đang hoành hành ở nhiều nơi.


Tổ chức tình nguyện nhân dân ra đời thực chất là sự hồi sinh của Quân đội quốc gia Miến Điện. Ngay sau khi thành lập, Tổ chức tình nguyện nhân dân đã sát cánh cùng nhân dân trong phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mianma từ năm 1946 đến năm 1948.


Trước sức ép đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của quân đội và nhân dân Mianma, ngày 17 tháng 10 năm 1947, chính phủ Anh buộc phải ký hiệp ước công nhận chủ quyền và độc lập hoàn toàn của Mianma nhưng bảo lưu cho nước Anh được hưởng một số đặc quyền về quân sự và kinh tế tại Mianma; đồng thời hai bên đã ký hiệp ước quân sự theo đó nhân viên quân sự Anh tham gia huấn luyện cho Quân đội Mianma cũng như cung cấp trang thiết bị và các đồ tiếp tế khác. Trường hợp Anh giúp theo yêu cầu của Mianma thì Mianma phải thỏa thuận với Anh về phương tiện vận chuyển và Mianma phải trả lương và phụ cấp cho các sĩ quan Anh làm cố vấn trong Quân đội Mianma... 4 giờ sáng ngày 4 tháng 1 năm 1948, lá cờ Anh được hạ xuống và Mianma hoàn toàn độc lập.


Sau khi giành độc lập, được sự giúp đỡ của Anh, Chính phủ Mianma chủ trương xây dựng một quân đội mới mà hạt nhân là Quân đội Mianma do người Anh lập ra trên cơ sở Lực lượng yêu nước Miến Điện và một bộ phận Tổ chức tình nguyện nhân dân với tên gọi chính thức là Quân đội Miến Điện (BA).


Ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ban đầu Quân đội độc lập Mianma đã bị người Nhật lợi dụng để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của mình. Sau khi những người lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thức tỉnh, Quân đội Miến Điện đã chuyển sang chống phát xít, chống lại sự chiếm đóng của người Nhật và người Anh, đấu tranh cho một nước Mianma độc lập hoàn toàn. Mặc dù trải qua nhiều biến động với những tên gọi khác nhau, nhưng Quân đội Miến Điện luôn trung thành với lợi ích của dân tộc và nhân dân.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:07:46 am
2. Quá trình xây dựng, phát triển và vai trò của quân đội trong đời sống chính trị Mianma

Ngay sau khi giành được độc lập, Mianma rơi vào tình trạng nội chiến triền miên. Tháng 9 năm 1948, một bộ phận người dân tộc Karen đã tổ chức nổi loạn chống lại chính quyền U Nu, nhằm tách khu vực cư trú của người Karen ra khỏi Liên bang Mianma và lập nên Nhà nước Karen tự trị với quân đội riêng biệt. Cuộc nổi loạn này do những người dân tộc chủ nghĩa địa phương, đại biểu cho lợi ích của các thế lực phong kiến cát cứ cầm đầu. Tình trạng cát cứ đầu tiên bao trùm các miền Bátxanh, Taravagu, Pegu, Tha thôn, Mecgln; năm 1949 phát triển đến các khu vực khác ở Hạ Mianma và uy hiếp thủ đô Yangun.


Cùng với cuộc nổi loạn của người Karen, trong những năm Mianma mới giành độc lập, tàn quân Quốc dân Đảng (Trung Quốc), được sự hậu thuẫn của Mỹ, bắt đầu xâm nhập lãnh thổ Mianma khiến cho tình hình an ninh quốc gia của Liên bang ngày càng phức tạp. Tháng 1 năm 1950, một lực lượng khoảng 1.700 quân thuộc Quân đoàn 26 và Quân đoàn 8 quân đội Quốc dân Đảng (do tướng Lý Mỹ cầm đầu) bị Quân giải phóng Trung Quốc đánh đuổi ra khỏi Vân Nam, đã vượt biên giới xâm nhập vào vùng Đông Bắc Mianma. Chúng kết hợp với số tàn quân Quốc dân Đảng thuộc Sư đoàn 93, từng hoạt động từ thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai vẫn còn lại ở Mianma, tiếp tục xâm nhập sâu vào lãnh thổ Mianma (đến cuối năm 1951, số quân của Quốc dân Đảng ở Mianma là 12.000 người).


Để đối phó với nội chiến, giữ vững liên bang và khôi phục tính thống nhất đất nước, Chính phủ U Nu chủ trương nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang không chỉ bằng nội lực mà còn tìm kiếm cả sự giúp đỡ từ bên ngoài. Tháng 2 năm 1949, Chính phủ Mianma yêu cầu Anh, Mỹ, sau đó là Ấn Độ, giúp về tài chính và quân sự1 (Mùa hè năm 1949, Anh hứa viện trợ cho Mianma 10.000 khẩu súng; đến mùa thu, viện trợ của các nước phương Tây bắt đầu được đưa vào Mianma).


Chỉ trong một thời gian ngắn, Quân đội Mianma đã có hơn 10 tiểu đoàn chiến đấu với khoảng hơn 15.000 quân. Đến năm 1953, được sự giúp đỡ của Anh và Ấn Độ, Quân đội Mianma đã có khoảng 40 tiểu đoàn. Ngoài lực lượng bộ binh, quân đội cũng tập trung phát triển pháo binh, công binh, hậu cần, vận tải để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chống nổi chậy và giữ gìn an ninh lãnh thổ. Đến cuối những năm 50 thế kỷ XX, Quân đội Mianma đã có cả lực lượng lục quân, hải quân và không quân. Lực lượng lục quân gồm 9 tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ trực thuộc các bộ tư lệnh quân khu; cả nước được chia thành 9 bộ tư lệnh quân khu, 1 bộ tư lệnh chiến trường đặt dưới sự điều hành và chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng. Các hoạt động tác chiến của bộ tư lệnh chiến trường phải thông qua các bộ tư lệnh quân khu. Tuỳ thuộc vào nhiệm vụ tác chiến và đặc điểm địa bàn, mỗi quân khu được đầu tư vũ khí, trang bị khác nhau.


Để đào tạo sĩ quan quân đội, Chính phủ gửi một số sĩ quan đi huấn luyện nâng cao trình độ ở một số nước như Anh, Úc; đồng thời xúc tiến thành lập một học viện quốc phòng theo kiểu West Point của Mỹ. Năm 1955, Học viện Quốc phòng Miến Điện ra đời, đóng trên mỏm đồi Maymyo, phía bắc thành phố Manđalay.


Trong thời kỳ 1948-1962, hoạt động chủ yếu của Quân đội Mianma là tham gia vào các hoạt động chống nổi dậy của người Karen và bảo vệ đất nước khỏi sự xâm nhập ngày càng tăng của lực lượng quân đội Quốc dân Đảng.


Với các lực lượng nổi loạn người Karen, Chính phủ U Nu một mặt chủ trương dùng biện pháp thương lượng, kêu gọi người Karen hoà nhập cùng Liên bang, thống nhất đất nước; mặt khác ra lệnh cho quân đội dùng sức mạnh quân sự tiến công vào sào huyệt của lực lượng vũ trang Karen. Năm 1949, Quân đội Mianma liên tiếp mở các chiến d!ch tiến công làm suy yếu dần lực lượng quân sự của người Karen. Trước những đòn tiến công quân sự mạnh của quân đội kết hợp với các biện pháp chính trị của chính phủ Liên bang, từ năm 1951 trở đi, lực lượng nổi dậy Keren có dấu hiệu chia rẽ, bắt đầu đì vào tan rã.


Giữa lúc công cuộc "bình trị" đang đem lại những kết quả tốt đẹp và lực lượng nổi dậy sắp bị tiêu diệt thì tàn quân của Quân đội Quốc dân Đảng từ Vân Nam (Trung Quốc) xâm nhập sâu vào lãnh thổ Mianma (1949-1952). Lực lượng vũ trang tại chỗ của Mianma yêu cầu quân Quốc dân Đảng phải hạ vũ khí đầu hàng, nhưng chúng cự tuyệt Lập tức nhiều đơn vị quân đội được điều động đến vùng biên giới bằng đường hàng không, liên tục mở các chiến dịch truy quét và đã tiêu diệt được một bộ phận quân xâm lược. Bị Quân đội Mianma tiến công liên tục, nhóm tàn quân Quốc dân Đảng do tướng Lý Mỹ chỉ huy phải tạm rút sang Thái Lan, Lào hoặc chạy về Trung Quốc chờ thời cơ quay lại lãnh thổ Mianma.


Được Mỹ cung cấp vũ khí, trang bị và tăng cường viện binh, tháng 1 năm 1953, tàn quân Quốc dân Đảng phối hợp với tổ chức Phòng vệ quốc gia Karen (KNDO) mở cuộc tiến công qua sông Thanluyin, đánh chiếm Saluyn và xâm nhập các tiểu bang San, Kachin và Kaya nhưng nhanh chóng bị đẩy lùi. Quân đội Mianma đã đánh chiếm được một số cứ điểm của quân KNDO, đồng thời tiếp tục gây sức ép với các lực lượng phiến loạn khác.


Sự xâm nhập của tàn quân Quốc dân Đảng đã làm cho đời sống bình thường của nhiều khu vực Mianma bị phá vỡ. Nhiều làng mạc của người Miến bị chiếm đóng. Một làn sóng đấu tranh chống lại hành động can thiệp của Quốc dân Đảng ngày càng lan rộng và mang tính toàn dân. Tháng 4 năm 1953, Chính phủ Mianma đã đưa vấn đề này ra Đại hội đồng Liên hợp quốc và yêu cầu trục xuất quân đội Quốc dân Đảng ra khỏi lãnh thổ Mianma.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:09:05 am
Trước áp lực của dư luận tiến bộ, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết yêu cầu các nhóm tàn quân Quốc dân Đảng phải rút khỏi Mianma; đồng thời thành lập ủy ban đặc biệt giám sát việc thi hành nghị quyết gồm có đại diện Mỹ, Đài Loan, Thái Lan và Mianma. Tuy nhiên, Mỹ, Đài Loan và các thế lực khác tìm mọi cách để cản trở việc thi hành nghị quyết của Liên hợp quốc. Vì vậy tháng 9 năm 1953, Mianma quyết định rút đại diện của mình ra khỏi Ủy ban và phát động cuộc tiến công vào tàn quân Quốc dân Đảng, quyết tâm đẩy lùi địch ra khỏi lãnh thổ.


Từ cuối năm 1953 - đầu 1954, Quân đội Mianma mở cuộc tiến công lớn mang tên "Chiến dịch Bayinnaung" vào đại bản doanh của quân Quốc dân Đảng ở miền Đông Mianma. Đến tháng 3 năm 1954, Quân đội Mianma đã giải phóng một khu vực rộng lớn, trong đó có đại bản doanh của Quân đội Quốc dân Đảng ở khu vực Mông Xát, bức rút khỏi Mianma gần 6.000 tên. Tuy nhiên, khi chiến dịch truy kích của Quân đội Mianma đang bước vào hồi kết thì Quân đội Quốc dân Đảng được sự hậu thuẫn của Mỹ và các nước trong khối SEATO đã tổ chức nhiều cuộc hành quân cướp phá và chiếm đóng lại một số làng mạc ở vùng đông bắc Mlanma. Công cuộc đánh đuổi tàn quân Quốc dân Đảng của các lực lượng vũ trang Mianma phải kéo dài cho đến đầu những năm 60 mới được hoàn tất.


Song song với nhiệm vụ tiễu trừ tàn quân Quốc dân Đảng, từ tháng 7 năm 1954, Quân đội Mianma tiếp tục mở các chiến dịch tiến công vào lực lượng nổi dậy người Karen. Các cuộc hành quân tại miền châu thổ và vùng biên giới Thái Lan tuy bẻ gãy được quân chủ lực Karen nhưng phải đến tháng 3 năm 1955, sau khi Quân đội Mianma mở cuộc tiến công vào thủ phủ của lực lượng nổi dậy ở Papun thì lực lượng này mới tạm thời bị trấn áp. Mặc dù vậy, một số tàn quân vẫn tiếp tục hoạt động ở vùng giáp biên giới Thái Lan trong một thời gian dài.


Như vậy, sau khi giành độc lập, để đối phó với nội chiến, giữ vững liên bang, khôi phục đất nước, chính phủ của Thủ tướng U Nu đã phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang (Tarmadaw), đặc biệt là lực lượng lục quân. Tuy nhiên, trang bị, vũ khí vẫn còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào nguồn viện trợ của Anh, Ấn Độ và các nước phương Tây. Lực lượng không quân và hải quân được tổ chức nhằm yểm trợ lực lượng trên bộ chống nổi dậy thưng còn rất nhỏ bé, trang bị vũ khí thô sơ. Mặc dù lực lượng còn khiêm tốn, trang bị nghèo nàn, nhưng với ý chí quyết tâm chiến đấu, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Quân đội Mianma đã hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn này là trấn áp lực lượng nổi dậy và tiêu diệt tàn quân Trung Hoa dân quốc xâm nhập lãnh thổ Mianma.


Cũng giống như quân đội một số nước khác ở Đông Nam Á, Quân đội Mianma đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống chính trị đất nước.


Từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, Mianma liên tục rơi vào tình trạng khủng hoảng. Đặc biệt, mâu thuẫn dân tộc không được giải quyết dứt điểm đã làm cho vấn đề vốn rất nhạy cảm ở đất nước Mianma càng trở nên trầm trọng. Căn cứ điều khoản của Hiến pháp năm 1947 cho phép các bang trong Liên bang sau 10 năm có quyền ly khai, năm 1957, đại diện dân tộc San họp ra nghị quyết đòi tách bang San ra khỏi Liên bang. Trước tình hình nội bộ ngày càng chia rẽ sâu sắc, các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ U Nu thất bại, từ tháng 10 năm 1958, U Nu buộc phải trao quyền điều hành đất nước cho quân đội.


Dưới quyền điều hành của quân đội, tình hình đất nước vẫn không được cải thiện. Năm 1959, khi Chính phủ ép các ông hoàng người San từ bỏ đặc quyền, 2 trong số 12 ông hoàng đã sử dụng lực lượng vũ trang chống lại chính phủ; một số người còn kích động sinh viên lập ra Quân đội quốc gia San. Năm 1960, người Chín đòi độc lập. Trong dân tộc Kachin cũng nổi lên lực lượng chống chính phủ mang tên Quân đội độc lập Kachin. Trong cuộc bầu cử theo Hiến pháp quy định tiến hành vào tháng 4 năm 1960, chính đảng do quân đội hậu thuẫn đã không giành được thắng lợi, do đó phải trao lại quyền điều hành đất nước cho Đảng Liên bang của U Nu.


Vừa lên nắm quyền, Đảng Liên bang lại tiếp tục bị chia rẽ thành hai phái; một phái chủ trương giải quyết nội chiến bằng đàm phán, ưu tiên phát triển nông nghiệp; phái kia chủ trương giải quyết nội chiến bằng sức mạnh quân sự và phát triển kinh tế bằng thu hút đầu tư nước ngoài. Trước xu hướng ly khai mới, Chính phủ U Nu không đưa ra được giải pháp cụ thể mà chỉ kêu gọi các đại biểu cùng nhau bàn bạc trên "tinh thần gia đình". Nhưng, "tình cảm gia đình đã không khơi thông được bế tắc của lịch sử". Nhằm ngăn chặn nguy cơ phá vỡ liên bang do việc Chính phủ U Nu có thể sẽ đồng ý cho phép người San và các dân tộc thiểu số khác ly khai khỏi Mianma, ngày 2 tháng 3 năm 1962, lực lượng quân đội do tướng Nê Uyn cầm đầu đã tiến hành đảo chính lật đổ Chính phủ U Nu. Hội đồng Cách mạng điều hành toàn bộ đất nước được thành lập, bao gồm các tướng lĩnh trung thành với tướng Nê Uyn.


Mặc dù trên nguyên tắc, quân đội là lực lượng bảo vệ chính quyền, lãnh thổ và đứng trung lập trước các cuộc tranh đua chính trị; nhưng ở Mianma, quân đội đã hoạt động tích cực trên nhiều lĩnh vực, kể cả kinh tế, chính trị lẫn điều hành đất nước. Vào thời kỳ tạm quyền (1958-1960), có tới 150 sĩ quan quân đội tham gia bộ máy quản lý hành chính. Hoạt động kinh tế của quân đội còn khởi đầu sớm hơn. Năm 1950, Bộ Quốc phòng Mianma đã thành lập Viện Dịch vụ quốc phòng. Đến năm 1958, Viện có nhiều cơ sở dịch vụ, sản xuất và kinh doanh vào loại lớn nhất thủ đô Yangun; gồm một tuyến ôtô buýt, một nhà máy lắp ráp máy thu thanh, một nhà máy sản xuất giày dép cho quân đội Viện cũng hoạt động kinh doanh cả nghề đánh cá, hàng hải, ngân hàng, du lịch, khách sạn và là đơn vị nhập khẩu ôtô chính của Mianma. Sau đó, chính quyền do Đảng Liên minh Mianma thành lập đã chuyển phần lớn các cơ sở của Viện sang công ty phát triển kinh tế Mianma. Các quân nhân có cơ hội làm việc bên cạnh các giám đốc của ngân hàng Liên bang cũng như các chuyên gia kinh tế khác, qua đó tích lũy thêm kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:10:04 am
Trong quá trình xây dựng, Quân đội Mianma đã hình thành hai thế hệ sĩ quan. Thế hệ sĩ quan cao cấp vốn khởi đầu sự nghiệp bằng hoạt động chính trị. Thế hệ trẻ hình thành khi đất nước đã giành độc lập, được đào tạo ở Học viện Quốc phòng và được cung cấp những kiến thức hàn lâm chung. Tuy nhiên, cả hai thế hệ cùng có chung một cơ sở tư tưởng là chủ nghĩa yêu nước, cùng khát vọng xây dựng một nước Mianma dân chủ, hòa bình, trật tự, thống nhất, phát triển kinh tế và xã hội. Ngày 30 tháng 4 năm 1962, Quân đội Mianma công bố cương lĩnh "Con đường Miến Điện tiến lên chủ nghĩa xã hội". Đây là một văn kiện quan trọng, thể hiện mục tiêu, lý tưởng của những người yêu nước và Quân đội Mianma; đồng thời mở ra thời kỳ quân đội nắm quyền điều hành đất nước kéo dài hơn 30 năm. Để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình, ngày 4 tháng 7 năm 1962, Quân đội Mianma đã thành lập một đảng chính trị riêng - Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa Mianma.


Trong giai đoạn này, quân đội được chú trọng xây dựng và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trấn áp lực lượng nổi dậy và đàn áp các cuộc biểu tình, nổi loạn trong nước. Với những chức năng, nhiệm vụ đó, hàng năm Nhà nước Mianma đã dành những khoản ngân sách đáng kể cho an ninh quốc phòng, trung bình khoảng 209 triệu USD/năm trong quãng thời gian từ 1977-1982; 259 triệu USD/năm thời kỳ 1982-19871 (Vũ Quang Thiện, Quá trình phát triển của Mianma, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.154). So với nhiều nước trong khu vực ngân sách quốc phòng của Mianma chiếm tỷ lệ cao trong tổng ngân sách nhà nước2 (Năm 1986 tỷ lệ này của Mianma là 20,9%, lnđônêxia 8,6%, Malaixia 9,7%, Xingapo 15,1%, Thái Lan 18,5%. Dẫn theo Vũ Quang Thiện, Sđd, tr.154).


Do thực hiện chính sách đói ngoại đóng cửa nên trong thời kỳ 1948-1988, việc mua sắm vũ khí trang bị của Quân đội Mianma rất hạn chế, đặc biệt là trang bị kỹ thuật không quân và hải quân. Trong khi nhấn mạnh chủ trương độc lập về mặt chiến lược và tự lực về kinh tế, Chính phủ lại không có những biện pháp hữu hiệu để biến chủ trương đó thành hiện thực; dẫn đến tình trạng nền kinh tế kém phát triển và yêu cầu về chiến lược chống nổi dậy phải giới hạn ở mức độ rất khiêm tốn... Đó là những lý do chính khiến Mianma phải hạn chế nhập khẩu vũ khí.


Ngân sách quốc phòng hàng năm chủ yếu dành cho lục quân - lực lượng nòng cốt trong các hoạt động chống nổi dậy. Lục quân được chú trọng huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật chống nổi loạn. Từ sau khi giành độc lập, giáo dục chính trị cũng bắt đầu được chú trọng trong Quân đội Mianma. Tuy nhiên, chương trình, kế hoạch huấn luyện bị cắt giảm nhiều, đặc biệt là cấp chỉ huy phân đội và đội ngũ hạ sĩ quan do hậu quả của việc tuyển ồ ạt tân binh trong khi nguồn kinh phí hạn hẹp.


Lục quân Mianma ít có kinh nghiệm trong việc thực thi vai trò phòng thủ thông thường. Trước thực tế đó, nhằm đáp ứng yêu cầu giữ vững ổn định trong nước và đối phó hiệu quả với các lực lượng chống đồi, từ năm 1966 đến năm 1988, lục quân Mianma đã tiến hành chấn chỉnh tổ chức; đồng thời phát triển mạnh về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng. Trên cơ sở các tiểu đoàn bộ binh nhẹ có từ thời kỳ trước, Mianma thành lập 9 sư đoàn bộ binh hạng nhẹ; đó là các sư đoàn số 77, 88, 99, 66, 55, 44, 33, 22, 11. Sau năm 1988 thành lập thêm Sư đoàn 101, đưa tổng số sư đoàn bộ binh hạng nhẹ lên 10 sư đoàn. Mỗi sư đoàn có 3 bộ chỉ huy chiến thuật1 (The World Armies, opcid, p. 494). Tất cả các sư đoàn này đều là lực lượng cơ động tinh nhuệ của Bộ, chịu sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng và có thể phối thuộc cho bộ tư lệnh các quân khu khi cần.


Lực lượng không quân và hải quân trong thời kỳ này là những lực lượng nhỏ, thiếu quân số trầm trọng, chủ yếu làm nhiệm vụ yểm trợ cho các hoạt động chống nổi dậy của các đơn vị lục quân. Không quân chỉ có một số ít máy bay tiêm kích cũ kỹ, lạc hậu và máy bay huấn luyện được cải tiến. Hải quân có 4 tàu hộ tống và một ít tàu vũ trang, tàu bọc thép nhỏ, tàu vận tải tuần tiễu trên sông và trên biển.


Về sản xuất quốc phòng, Quân đội Mianma có khả năng sản xuất vũ khí bộ binh, bao gồm súng trường tự động, súng máy hạng nhẹ, cối hạng nhẹ, lựu đạn và mìn. Bên cạnh đó, Mianma cũng có thể sản xuất nhiều loại đạn nhỏ, đáp ứng nhu cầu tác chiến và trấn áp các lực lượng nổi dậy, chống đối. Các xưởng đóng tàu đóng được các tàu tuần tiễu loại nhỏ cho hải quân. Do chính sách đóng cửa và khả năng kinh tế không cho phép, Mianma chưa có khả năng chế tạo máy bay hay sản xuất phụ tùng tinh xảo của máy bay.


Trong giai đoạn 1962-1988, nội chiến ở Mianma vẫn tiếp diễn hết sức phức tạp với sự xuất hiện nhiều tổ chức chính trị và vũ trang thuộc các lực lượng khác nhau. Ngoài các lực lượng kháng chiến Karen, Đảng Cộng sản Cờ đỏ, tàn quân Quốc dân Đảng..., giai đoạn này còn xuất hiện một loạt các tổ chức chính trị và quân đội đói lập mới như Quân đội độc lập Kachin, Quân đội giải phóng Kachin, Đảng Cộng sản Cờ trắng, Quân đội quốc gia San, Quân đội giải phóng quốc gia San, phong trào của U Nu...


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:10:59 am
Ngày 15 tháng 5 năm 1975, tại đại bản doanh của quân Karen, các đại diện của Liên minh các dân tộc thiểu số đã nhóm họp và thống nhất chương trình 11 điểm, trong đó có việc thành lập các quốc gia - dân tộc và các quốc gia này đều có lực lượng vũ trang riêng; Nhà nước Liên bang Cộng hòa được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện và quyền ly khai của các quốc gia - dân tộc, có Quân đội Liên bang gồm lực lượng vũ trang của các quốc gia - dân tộc. Tiếp đó, ngày 28 tháng 4 năm 1976, Liên minh các dân tộc thiểu số thành lập Mặt trận dân chủ dân tộc và quân đội riêng. Quân đội của Liên minh có khoảng 25.000 người.


Trước những động thái trên, Chính phủ Mianma phản ứng bằng các hoạt động quân sự mạnh mẽ kết hợp với hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của Thái Lan nhằm cô lập tiến tới tiêu diệt các lực lượng chống đối Karen. Ngày 18 tháng 2 năm 1977, cảnh sát biên phòng Thái Lan được lệnh đuổi tất cả những người thiểu số Mianma tràn qua lãnh thổ Thái Lan.


Giữa tháng 3 năm 1977, Quân đội Mianma mở đợt tấn công lớn vào lực lượng vũ trang Karen ở làng Oang Kha bên sông Mote. Đây là cứ điểm quan trọng và là nơi đóng quân của Lực lượng 101 đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội Karen. Sau các đợt pháo kích dữ dội của quân đội chính phủ, 1.300 quân Karen chạy qua Thái Lan. Ngày 20 tháng 4, quân chính phủ tiến lên phía bắc, điều thêm máy bay tấn công, chiếm được hai căn cứ chính của quân Karen.


Do quân đội thường trực không đủ khả năng thanh toán các lực lượng nổi dậy, Chính phủ Mianma quyết định lập các đơn vị dân vệ để hỗ trợ nhưng hai trong số các đơn vị đó sau này đã trở thành lực lượng chống đối chính phủ; đó là lực lượng dưới quyền chỉ huy của San Xi Phu, tức Khun Xa - Vua thuốc phiện ở vùng Tam giác vàng và lực lượng của Lo Xing Han.


Quân của Khun Xa vốn là đội quân riêng của Xaboa thuộc "quốc gia" Loi Mo, năm 1965 được chính phủ sử dụng để trấn áp các lực lượng nổi dậy. Ban đầu, do không được cấp đủ tài chính, Khun Xa tự trang trải cho đội quân của mình bằng kinh doanh thuốc phiện; nhưng về sau, đây là hoạt động chính của đội quân Khun Xa. Năm 1969, Khun Xa bị bắt, nhưng 1.600 quân của ông ta vẫn tiếp tục hoạt động. Tháng 3 năm 1973, họ bắt cóc hai chuyên gia Liên Xô để đòi đổi lấy Khun Xa. Quân đội Mianma cho 2 sư đoàn giải thoát con tin và dùng máy bay oanh tạc căn cứ chính của họ gần biên giới Thái Lan. Năm 1974, Khun Xa được thả theo lệnh ân xá, năm 1976 trở lại hành nghề kinh doanh thuốc phiện, đặt tên cho quân đội của mình là Quân đội hợp nhất San, lấy căn cứ chính ở bản Hin. Sau khi các chỉ huy cao cấp của lực lượng tình báo Quốc dân Đảng bị triệu hồi về Đài Loan, lực lượng này được sáp nhập vào đội quân của Khun Xa. Đầu năm 1977, Quân đội Mianma huy động lực lượng lớn, có trực thăng vũ trang yểm trợ, mở cuộc tấn công vào lực lượng của Khun Xa trên đất Mianma. Quân Khun Xa rút sang lãnh thổ Thái Lan, nhưng bị Quân đội Thái truy nã phải quay trở về. Năm 1981, lực lượng Khun Xa có từ 2.500 đến 4.000 quân, kiểm soát ba phần tư số thuốc phiện ở vùng Tam giác vàng.


Ngoài đội quân của Khun Xa, ở Mianma còn một đội quân chuyên kinh doanh thuốc phiện khác là đội quân của Lo Xing Han. Lo Xing Han vốn cũng là một người chỉ huy trong quân đội riêng của Xaboa vùng Gimmy. Năm 1963 Lo Xing Han bị bắt, sau đó được giao chỉ huy một đơn vị quân đội chính phủ. Quân của Lo Xing Han đã từng hỗ trợ cho quân chính phủ nhưng sau đó trở thành một đội quân chuyên kinh doanh thuốc phiện. Lực lượng của Lo Xing Han gồm 1.500 quân, được trang bị vũ khí hiện đại như súng trường tự động M.16, súng phóng lựu M.79, hoạt động tập trung ở vùng rừng núi gần thành phố biên giới Tachilek; có xưởng bào chế hêrôin, moócphin, cung cấp thuốc phiện cho quân Quốc dân Đảng và cho lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam.


Trước mối nguy hại của ma túy đối với quân đội và đời sống xã hội, Mỹ quyết định hợp tác với Mianma để diệt trừ tận gốc hiểm hoạ này. Tháng 5 năm 1973, Mỹ chuyển giao cho Quân đội Mianma một số máy bay loại mới nhất nhằm trấn áp lực lượng của Khun Xa và Lo Xing Han. Đến tháng 8 năm 1980, lực lượng Lo Xing Han hoàn toàn tan rã.


Một trong những lực lượng quan trọng được Chính phủ Mianma quan tâm xây dựng là lực lượng tình báo quân sự. Để bảo vệ chế độ và phát hiện sớm ý đồ của các lực lượng chống đói, Nê Uyn đã cho thành lập một lực lượng tình báo quân sự được đánh giá là hữu hiệu nhất ở châu Á trong thập niên 60 - 80 của thế kỷ XX; đó là Cơ quan tinh báo quân sự (Military Intehgence Services - MIS; từ năm 1984 đổi thành Cục Tình báo Quốc phòng - DDSI).


Năm 1976, Cơ quan tình báo quân sự đã phát hiện và đập tan kế hoạch đảo chính của một nhóm quân nhân do Đại úy Ôhn Kiô Myint và Đại úy Uyn Thên cầm đầu. Nhóm đảo chính lên kế hoạch ám sát Chủ tịch Hội đồng Cách mạng Nê Uyn, Tổng bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Xan U và Đại tá phụ trách tình báo quân sự Tin U vào ngày 27 tháng 3 năm 1976 là ngày các lực lượng vũ trang Mianma, hoặc vào phiên họp của Ủy ban Trung ương Đảng. Sau khi kế hoạch này bị đập tan, một kế hoạch khác nhằm ám sát hai lãnh tụ được dự định tiến hành vào ngày 8 tháng 7 năm 1977. Tuy nhiên, Cơ quan tình báo quân sự Mianma đã kịp thời phát giác và nhóm âm mưu đảo chính bị bắt.


Tiếp đó, tháng 9 năm 1977, Cơ quan tình báo quân sự tiếp tục phát hiện và triệt phá âm mưu lật đổ chính quyền do một số người Karen và Rakhain tổ chức...


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:12:00 am
Các sự kiện lịch sử cho thấy Mianma dưới quyền điều hành của tướng Nê Uyn và Đảng Cương lĩnh xã hội là một thời kỳ khủng hoảng ngày càng trầm trọng cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ những sai lầm trong chính sách phát triển đất nước cả trên phương diện chiến lược lẫn các chính sách cụ thể, chứng tỏ con đường tự lực cánh sinh, đóng cửa để tự mình kiến thiết đất nước là giải pháp không thích hợp, đặc biệt đối với một nước nông nghiệp lạc hậu như Mianma. Chiến lược này đã dẫn đến một loạt các chu kỳ trì trệ nối tiếp nhau ở Mianma từ 1956-1962, 1962-1976 và 1977-1987. Năm 1988, tình hình càng trở nên tồi tệ với một loạt các cuộc biểu tình, đấu tranh đòi lật đổ chính quyền, cải cách dân chủ liên tiếp diễn ra ở thủ đô Yangun và các thành phố khác như Manđalay, Rôm, Pêgu, Maguê, Munmên, Akya... Phải mất 6 tháng trấn áp, lực lượng quân đội mới nắm lại quyền kiểm soát đất nước.


Ngày 18 tháng 9 năm 1988, tướng Xô Mông, Tư lệnh lực lượng vũ trang Mianma tuyên bố thành lập Hội đồng Khôi phục trật tự và Luật pháp quốc gia (SLORC) gồm 21 thành viên là các sĩ quan cao cấp trong quân đội. Đây cũng là những người nắm trọn vẹn nội các mới. Theo cơ chế mới, Chủ tịch Hội đồng Khôi phục trật tự và Luật pháp quốc gia đồng thời là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và Tư lệnh Lục quân.


Cơ Cấu tổ Chức Và thành phần nội các như trên cho thấy, Quân đội Mianma thêm một lần nữa tiếp tục chi phối mọi khía cạnh đời sống chính trị đất nước Mianma.


Ngay sau khi nắm chính quyền, Hội đồng Khôi phục trật tự và Luật pháp quốc gia đã nhanh chóng thực hiện chương trình mở rộng và hiện đại hoá lực lượng vũ trang để mang lại sức mạnh thật sự cho quân đội.


Trước năm 1988, yêu cầu về vũ khí trang bị của Mianma rất khiêm tốn, nhưng từ khi SLORC cầm quyền, họ đã thực hiện một chương trình mua sắm vũ khí ồ ạt, tăng ngân sách quốc phòng lên mức cao chưa từng thấy ở đất nước này. Theo một tài liệu nước ngoài, từ năm 1989 đến 1991, Mianma vay Trung Quốc 1,4 tỷ đô la để mua sắm các vũ khí tương đối hiện đại của Trung Quốc và các nước khác như Nam Tư, Ba Lan, Xingapo, Ixraen, Nga... Quân số lực lượng vũ trang tăng lên nhanh chóng, từ 185.000 quân năm 1988 lên 230.000 quân vào năm 1991 và 300.000 vào đầu năm 1992. Theo con số chính thức, những năm 1990 - 1991, chi phí quân sự Mianma chiếm tới 32% ngân sách nhà nước, rất cao so với 12,5% những năm 1987-19881 (Liên bang Mianma, Tlđd).


Sau khi kết thúc hợp đồng mua bán vũ khí đầu tiên với Trung Quốc trị giá trọn gói hơn 1 tỷ đô la, bao gồm 20 trực thăng, hơn 50 khẩu pháo, 60 xe bọc thép, 6 tàu tuần tiễu lớp "Hải Nam", một số tàu chiến nhỏ, tên lửa không đối đất, AK-47 và 800 chiếc dù; cuối năm 1994, Mianma đã hoàn tất hợp đồng mua bán vũ khí lớn thứ hai với Trung Quốc, trị giá hơn 400 triệu đôla2 (Liên bang Mianma, Tlđd).


Việc ồ ạt mua Sắm vũ khí, xét về mặt lý thuyết, có thể cải thiện đáng kể khả năng của lực lượng vũ trang trong quá trình tiến hành các chiến dịch chống nổi dậy và thực hiện vai trò phòng thủ thông thường. Tuy nhiên, việc tăng nhanh trang bị vũ khí cũng đặt các lực lượng vũ trang vào trạng thái căng thẳng, đòi hỏi phải nâng cao hơn khả năng tác chiến chiến lược cũng như cần cải tiến mạnh hơn nữa: các chương trình huấn luyện, đào tạo khả năng khai thác, sử dụng và chế độ bảo dưỡng các hệ thống vũ khí mới.


Cùng với việc tăng cường mua sắm vũ khí, trang bị kỹ thuật, Chính phủ đã cho nâng cấp các cơ sở công nghiệp quốc phòng để chế tạo xe bọc thép hạng nhẹ, giàn phóng rốc két cơ động và hy vọng có khả năng tự lực hơn nữa trong sản xuất vũ khí nhỏ và đạn. Nhà máy vũ khí lớn nhất của Mianma đóng tại Sin đen, phía nam thành phố Rôm. Các nhà máy đạn đặt ử Tonbo, Padaung, Nyaung Chidauk. Trang bị vũ khí không quân và hải quân vẫn lệ thuộc rất nhiều vào nước ngoài. Nguồn cung cấp vũ khí và đạn dược hạng nặng của lục quân chủ yếu cũng dựa vào nước ngoài.


Bên cạnh đó, SLORC vẫn rất chú trọng tăng cường khả năng tình báo vốn đã được phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Nê Uyn điều hành đất nước. Ví dụ như số phân đội tình báo đã tăng lên gấp đôi, từ 10-12 trước năm 1988 lên đến 23 phân đội vào giữa năm 1992. Các phương tiện và cơ sở tình báo vô tuyến điện (SIGINT) bắt đầu được xây dựng. Lần đầu tiên, SLORC có khả năng thu thập thông tin tình báo vô tuyến nước ngoài, làm nhiễu chúng và thực hiện các hoạt động tác chiến điện tử, tuy còn ở mức hạn chế.


Sự đầu tư về vũ khí, trang bị của Chính phủ Mianma trong thập niên 90 thế kỷ XX đã góp phần gia tăng đáng kể sức mạnh cho quân đội để dập tắt các phong trào nổi dậy vốn diễn ra thường xuyên ở Mianma. Đầu năm 1995, Quân đội Mianma quyết định mở cuộc tiến công lớn vào Manerphaw, sào huyệt của Quân đội độc lập Karen và là căn cứ của nhiều tổ chức chống đối khác1 (Myanmars Armed forces and their on going campaings, Asian Defence Journal No 3, 1999, p.10-13). Những hoạt động quân sự mạnh mẽ và kiên quyết của Quân đội Mianma trong suốt hai năm 1995-1996 đã buộc các lực lượng chống đối phải nhượng bộ bằng cách ký các thoả thuận ngừng bắn với Chính phủ.


Trước sức tiến công của quân đội chính phủ, tháng 3 năm 1995, bộ phận quân đội của đảng đối lập quốc gia Karen (KA) đóng dọc biên giới với Thái Lan ở bang Kaya đã chấp nhận lời kêu gọi của Chính phủ Mianma về đầu hàng với trên 1.000 quân và trang bị vũ khí kèm theo. Tiếp đó, đầu năm 1996, Quân đội của toán nổi dậy Mông Tai (MTA)2 (Quân đội Mông Tai có khoảng 10.000 quân, được trang bị khá tốt, đóng dọc biên giới với Thái Lan và ở khu vực giữa Lasiô và biên giới với Trung Quốc) do Thun Xa cầm đầu đã ký thoả thuận ngừng bắn, kết thúc hàng thập kỷ xung đột vũ trang với quân Chính phủ ở khu vực Tam giác vàng và phía đông bắc Mianma.


Ngoài việc hoà hợp với hai tổ chức chống đối lớn trên, Chính phủ Mianma cũng đã ký các thoả thuận ngừng bắn với Quân đội giải phóng quốc gia Karen (KNLA) với khoảng 4.000 quân, đóng dọc biên giới Thái Lan ở bang Karen; Quân đội bang Oa thống nhất (UWSA) với khoảng 12.000 người; Quân đội độc lập Kachin (KIA), khoảng 8.000 người; Quân đội bang San (SSA), khoảng 3.000 quân; Quân đội Liên minh dân chủ quốc gia Mianma (LVINDAD), khoảng 2.000 người; Quân đội Liên minh dân chủ quốc gia (NDAA), khoảng 1.000 quân; Quân đội giải phóng bang Palaung (PSLA) khoảng 700 người.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:25:20 am
Mười sư đoàn bộ binh hạng nhẹ của Quân đội Mianma


(http://img514.imageshack.us/img514/4667/image017ul8.jpg)
(http://img185.imageshack.us/img185/5206/image018db3.jpg)

Tiểu đoàn là đơn vị chiến đấu quan trọng của lục quân Mianma. Lục quân Mianma có 245 tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ (145 tiểu đoàn đồn trú thuộc 32, bộ chỉ huy tác chiến chiến thuật - TOC, số còn lại thuộc 10 sư đoàn bộ binh hạng nhẹ), 7 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn xe bọc thép, 2 tiểu đoàn pháo phòng không. Mianma không có lực lượng dự bị chiến lược.


Trong thành phần lục quân Mianma còn có một số đơn vị tàu đổ bộ và tàu nhỏ hoạt động trên sông và ven biển. Ngoài ra, khi cần thiết, lục quân sẽ được sự yểm trợ của lực lượng hải quân và không quân.
Lực lượng lục quân Mianma được chỉ huy thống nhất từ Bộ Quốc phòng, thông qua hai cục tác chiến đặc biệt.


Thực hiện chương trình hiện đại hoá trang bị vũ khí, đặc biệt từ giữa những năm 90 thế kỷ XX, các đơn vị thiết giáp và pháo binh hạng nặng đã phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Năm 1988, Mianma có 2 tiểu đoàn xe tăng, đến nửa cuối của thập niên 90 đã tăng gấp đôi. Tương tự, số tiểu đoàn pháo phòng không cũng tăng gấp đôi so với trước. Pháo bình tăng lên 7 tiểu đoàn và 17 đại đội độc lập. Cụ thể, năm 2005, Mianma có 695 xe tăng, thiết giáp (gồm xe tăng T-69, T-72, T-63; xe thiết giáp Ferret, Humber, Hin, Mazda...), 278 pháo tự hành, 30 pháo hoả tiễn và 117 pháo 76,2mm, 76mm.


Về cơ cấu tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ, đến năm 1990, Mianma có 10 quân khu. Tháng 5 năm 1996, thành lập thêm 2 quân khu mới là Quân khu Tam Giác và Quân khu Duyên Hải. Việc thành lập hai quân khu này đã góp phần giúp chính phủ cải thiện khả năng kiểm soát đối với khu vực sản xuất và buôn bán thuốc phiện vốn rất phức tạp Ơ vùng Tam giác vàng.


Vi trí đóng quân của mười hai bộ tư lệnh quân khu

(http://img512.imageshack.us/img512/7489/image020zl2.jpg)


Tư lệnh các quân khu là tướng hai sao (thiếu tướng), chịu trách nhiệm chỉ đạo, chỉ huy các tiểu đoàn đồn trú ở địa phương thông qua 2-4 bộ chỉ huy tác chiến chiến thuật (TOC). Bên cạnh các bộ tư lệnh quân khu, từ năm 1996 còn có 11 bộ chỉ huy hoạt động quân sự (Military Operation Command-MOC) được thành lập1 (Ba quân khu Miền Đông, Đông Nam và Miền Tây, mỗi nơi có 2 bộ chỉ huy hoạt động quân sự. 5 quân khu Yangun, Tây Bắc, Trung Tâm, Đông Bắc và Bắc mỗi nơi chỉ có 1 bộ chỉ huy hoạt động quân sự). Ngoài ra còn có ba bộ chỉ huy tác chiến khu vực (Regional Operation Command-ROC) được bố trí ở các Bộ tư lệnh Quân khu Miền Bắc, Tam Giác và Miền Đông.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:26:31 am
Trước năm 1996, lục quân Mianma được xây dựng và triển khai nhằm bảo đảm an ninh trong nước như giải quyết những bất đồng quan điểm ở các trung tâm dân cư lớn và tiến hành các hoạt động chống nổi dậy ở vùng nông thôn rừng núi, chống quân ly khai và chống các đội quân của các lãnh chúa ma túy. Hiện nay, giới lãnh đạo quân sự Mianma chú trọng nhiều hơn đến vai trò phòng thủ thông thường, bao gồm cả phòng thủ lãnh thổ và liên kết chặt chẽ hơn với giới dân sự. Lục quân Mianma cũng có dính líu ít nhiều đến các hoạt động thương mại, ngân hàng và công nghiệp chế tạo.


Về phương thức tác chiến và huấn luyện, lục quân Mianma kế thừa một số nguyên tắc của Quân đội Anh thời kỳ thuộc địa như: kỷ luật nghiêm ngặt, tiến công trực diện, không sợ thương vong... Sau cuộc đảo chính năm 1962, tuy việc đi học quân sự ở nước ngoài còn rất hạn chế; song, một số quan điểm quân sự nước ngoài cũng được vận dụng vào các nguyên tắc tác chiến cơ bản của Mianma, đặc biệt ở các lĩnh vực kỹ thuật như sử dụng pháo binh, thiết giáp...


Nhìn chung, lục quân Mianma có thể chiến đấu tốt để bảo vệ đất nước nhưng có thể không có khả năng đối phó với kẻ thù được trang bị các hệ thống vũ khí hiện đại. Mặc dù đã giành được một số thắng lợi quân sự lớn trong hoạt động chống quân nổi dậy kể từ năm 1988, nhưng lục quân Mianma còn gặp khó khăn trong nhiệm vụ chống quân phiến loạn được tổ chức chặt chẽ và có căn cứ ở các khu vực hiểm trở dọc biên giới. Lực lượng lục quân Mianma tỏ ra có hiệu quả trong việc giải quyết những bất đồng chính trị, kể cả trong nội bộ lục quân.


Trước năm 1988, trang thiết bị nặng của lục quân Mianma tương đối lạc hậu. Các hoạt động chiến đấu bị cản trở do hệ thống hậu cần và thông tin liên lạc rất yếu, đặc biệt rất thiếu các phương tiện vận chuyển cơ giới. Chính vì vậy Chính phủ Mianma đã mua sắm một số lượng lớn xe tăng, xe bọc thép chở quân, xe tải, các loại pháo kéo, các hệ thống kỹ thuật quân sự và vũ khí bộ binh mới (hầu hết là mua của Trung Quốc). Mặc dù chưa phải là loại hiện đại nhất nhưng những trang thiết bị này đã nâng cao đáng kể khả năng cơ động và sức chiến đấu của lục quân Mianma. Khả năng cơ động đường không của lục quân cũng được tăng cường do đầu tư mua sắm máy bay vận tải của Trung Quốc, trực thăng vận tải hạng trung của Ba Lan, Nga.


Không quân

Lực lượng không quân Mianma luôn hoạt động phối hợp với lục quân trong vai trò yểm trợ an ninh ở trong nước (vận tải và yểm trợ đường không cự ly gần). Từ năm 1988, không quân mở rộng vai trò và nhiệm vụ, bao gồm cả nhiệm vụ phòng không. Trang bị của không quân được quản lý tập trung và chỉ giao cho các tư lệnh quân khu hay tư lệnh chiến trường sử dụng khi cần. Máy bay thường được cất giữ ở các căn cứ an toàn nhưng khi cần sẽ được triển khai ở các căn cứ gần khu vực tác chiến ở biên giới.


Không quân Mianma được tổ chức theo cách truyền thống của Anh, gồm các phi đội chiến đấu (phòng không và chống nổi dậy), huấn luyện, vận tải và liên lạc. Cơ cấu tổ chức lực lượng không quân Mianma gồm có Bộ tư lệnh Không quân, 3 phi đội máy bay tiêm kích, 2 phi đội máy bay cường kích, 3 phi đội máy bay vận tải, 4 phi đội máy bay trực thăng, 2 phi đội máy bay chống bạo loạn... với tổng quân số khoảng 15.000 người (năm 2005), được trang bị 217 máy bay (121 máy bay chiến đấu, 16 máy bay trinh sát huấn luyện, 14 máy bay vận tải, 66 máy bay lên thẳng), 24 SAM vác vai, 36 SAM tầm thấp-cao cho hệ thống phòng không.


Phương thức tác chiến và huấn luyện của không quân Mianma chủ yếu dựa trên kinh nghiệm trong nước. Từ sau khi giành độc lập, nhất là từ sau cuộc đảo chính năm 1962, các sĩ quan không quân đều được gửi đi đào tạo ở nước ngoài (bao gồm cả ở Anh và Mỹ). Những năm gần đây, hầu hết các cuộc thương lượng mua máy bay mới và các hệ thống truyền tin có liên quan của chính phủ đều kèm theo yêu cầu huấn luyện và bảo dưỡng. Chẳng hạn như khi mua trực thăng Bell 205 và Bell 206 của Mỹ, Mỹ đã tổ chức huấn luyện cho phi công Mianma. Tương tự, Trung Quốc, Ba Lan, Nam Tư cũng huấn luyện cho phi công và các kỹ thuật viên khi Mianma mua máy bay của các nước này. Tuy nhiên, công tác huấn luyện không quân chủ yếu được tổ chức trong nước với sự giúp đỡ của các chuyên gia Trung Quốc và Nga. Không quân Mianma có Trường huấn luyện bay đặt tại Shante và các cơ sở huấn luyện chuyên ngành đặt ở Meiktila. Các căn cứ không quân hàng đầu được đặt ở Mingaladon và Meiktila. Những căn cứ khác đóng tại Shante, Hmawbi, Myitkyina, Moulmein, Kutkai, Loi Mwe, Bahtu, Toungoo, Namsang. Ngoài ra, không quân còn được quyền sử dụng tất cả các sân bay dân sự ở rải rác khắp đất nước khi cần, tuỳ theo loại máy bay và các phương tiện ở từng nơi.


Trước khi Hội đồng Khôi phục trật tự và Luật pháp quốc gia cầm quyền, không quân là một lực lượng nhỏ, thiếu quân số, làm nhiệm vụ yểm trợ cho lục quân chống lực lượng nổi dậy với những máy bay tiêm kích cũ kỹ, lạc hậu và máy bay huấn luyện được cải tiến. Khả năng vận chuyển chiến thuật của không quân Mianma rất hạn chế. Việc vận chuyển đường không chiến lược được thực hiện bằng cách chuyển đổi máy bay chở khách dân dụng làm máy bay chở quân. Không quân không có khả năng phòng không.


Từ năm 1988, Chính phủ Mianma chủ trương hiện đại hoá không quân bằng cách mua sắm một loạt máy bay mới, đạn dược, trang bị yểm trợ mới của các nước như F-7 và A-5 của Trung Quốc cho phòng không mặt đất; G-4 của Nam Tư cho chống nổi dậy, máy bay huấn luyện F-6 và máy bay vận tải Y-8 của Trung Quốc; trực thăng vũ trang của Ba Lan và MIG-29 của Nga... Tuy nhiên, không quân Mianma vẫn đứng trước hàng loạt khó khăn: thiếu trầm trọng đội ngũ phi công có kinh nghiệm, có kỹ năng chiến đấu và qua thừ thách; các phương tiện mặt đất vừa thiếu, vừa không đồng bộ, liên lạc giữa mặt đất và máy bay rất khó khăn. Đặc biệt, không quân Mianma còn nhiều bất cập trong việc quản lý máy bay do có nhiều chủng loại mua của nhiều nước khác nhau.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:29:27 am
Hải quân

Lực lượng hải quân Mianma có nhiệm vụ chủ yếu là tuần tra trên sông và trên biển nhằm yểm trợ cho các hoạt động chống nổi dậy của các đơn vị lục quân. Ngoài ra, hải quân còn được sử dụng trong trinh sát, yểm trợ hoả lực, vận chuyển bộ đội và giúp duy trì công việc phòng thủ các trung tâm dân cư, các khu vực có tính chất chiến lược ở ven biển và ven sông. Mô hình này đang được nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của hải quân. Nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát triển kinh tế trên biển, hải quân Mianma hiện nay đang có xu hướng tăng cường và mở rộng nhiệm vụ canh phòng ven biển, tuần tra chống đánh cá bất hợp pháp và bảo vệ các dàn khoan.


Cơ cấu tổ chức của lực lượng hải quân Mianma gồm có 1 bộ tư lệnh hải quân, 5 vùng, 1 bộ tư lệnh kiểm soát, 1 lữ đoàn tàu chiến thuật, 1 căn cứ huấn luyện, 1 căn cứ bảo dưỡng với 13.000 quân (năm 2005); được trang bị 91 tàu, xuồng, trong đó có 71 tàu chiến đấu và 20 tàu, xuồng đổ bộ. Khi có yêu cầu, không quân sẽ chi viện cho hải quân, không có lực lượng không quân riêng của hải quân.


Trước năm 1988, lực lượng hải quân trong Quân đội Mianma hết sức nhỏ bé, chỉ có 4 tàu hộ tống cũ kỹ và các tàu vũ trang, bọc thép nhỏ, được sử dụng cho các hoạt động yểm trợ lực lượng trên bộ trong chống nổi dậy, bảo vệ các ngư trường và chống buôn lậu. Trong khi đó, với địa thế nằm trên vịnh Bengan và Andaman, hải quân Mianma có nhu cầu rất lớn về tuần tra trên biển, chống ngầm và tàu nổi lớn. Do vậy, từ năm 1989, Chính phủ Mianma đã thực hiện chương trình hiện đại hoá hải quân, bao gồm việc mua 3 tàu Figat, hơn 20 tàu tuần tiễu nhỏ, 1 tàu chở dầu và một số tàu tiếp tế (chủ yếu của Trung Quốc). Lực lượng hải quân Mianma đang được cơ cấu lại và khả năng tác chiến trên biển của hải quân đã được nâng lên đáng kể. Quy mô hoạt động của hải quân được mở rộng rất nhiều. Với các tàu tuần tiễu mới mang tên lửa đối hạm và các tàu Figat lớp Giang Hồ đã được chuyển giao, lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng quân đội, hải quân Mianma có khả năng tuần tra ngoài khơi. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng đem lại nhiều khó khăn do đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan, thợ kỹ thuật hải quân còn yếu và thiếu; một vài tàu tuần tiễu mới tỏ ra không phù hợp với Mianma. Đây là những nhân tố gây trở ngại cho việc phát huy tối đa khả năng của các phương tiện hiện đại trong quá trình tác chiến.

Nghệ thuật tác chiến của hải quân Mianma chủ yếu dựa trên nền tảng tư tưởng quân sự của Anh và Nam Tư, được vận dụng thích hợp với tình hình, hoàn cảnh của nước này. Công tác huấn luyện của hải quân còn rất hạn chế, chỉ có 1 trung tâm huấn luyện ở Syriam (Tanyin) gần Yangun. Sau cuộc đảo chính năm 1962, các sĩ quan hải quân Mianma tiếp tục được gửi đi học bổ túc ở nước ngoài, kể cả ở Anh và Mỹ.
Các căn cứ hải quân chính được xây dựng ở Kyab, Bassein, Yangun, Syriam, Moulmein và Mergui. Một số căn cứ nhỏ hơn và các điểm trú đậu được xây dựng rải rác dọc theo bờ biển và các đảo ngoài khơi.


Ngoài các quân chủng lục quân, không quân và hải quân, Mianma còn có lực lượng an ninh và bán vũ trang gồm cảnh sát nhân dân, bộ đội biên phòng, dân quân, lực lượng của Bộ Ngọc trai và Nghề nghiệp nhân dân.


Cảnh sát nhân dân có quân số khoảng 50.000 người (1999), được trang bị vũ khí, làm nhiệm vụ cảnh sát dân sự và giúp quân đội kiểm soát những nhóm bất đồng chính kiến. Nhiều sĩ quan cảnh sát cao cấp lấy từ quân đội sang hoặc kiêm nhiệm, vừa phục vụ trong lực lượng cảnh sát, vừa ở trong quân đội. Các đồn cảnh sát được đặt ở tất cả các trung tâm dân cư lớn.


Lực lượng biên phòng được thành lập vào năm 1996, là một bộ phận của quân đội nhưng cũng có khi chỉ là một bộ phận liên kết chặt chẽ với quân đội, tùy theo tình hình thực tế đất nước, làm nhiệm vụ kiểm soát việc qua lại biên giới của nhân dân và lưu thông hàng hoá ở năm khu vực cửa khẩu quốc tế.


Lực lượng dân quân có quân số khoảng 30.000 người (1999). Trong những năm 60, quân số lực lượng này đạt đến đỉnh cao, sau đó giảm dần và trở thành một tổ chức ở làng xã, được chính quyền địa phương sử dụng làm lực lượng tự vệ và trợ giúp cho cảnh sát khi có tình hình bất ổn ở địa phương. Trang bị của lực lượng này rất hạn chế.


Lực lượng của Bộ Ngọc trai và Nghề nghiệp nhân dân có quân số khoảng 250 người, được trang bỉ 11 tàu tuần 1 tiễu ven bờ, 3 tàu tuần tiễu ven biển Swift (Mỹ), 5 tàu tuần tiễu ven biển Carpentaria (Ôxtrâylia). Đây là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho quân đội trong các hoạt động tuần tra trên biển.


Hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội Mianma đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Ra đời do yêu cầu của phong trào giải phóng dân tộc, Quân đội Mianma ban đầu bị quân xâm lược Nhật Bản, sau đó là thực dân Anh lợi dụng. Trải qua những biến cố chính trị trong nước, Quân đội Mianma luôn trung thành với lợi ích của dân tộc, hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình. Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, cùng với các lực lượng dân chủ tiến bộ khác, quân đội đã góp phần giành lại độc lập từ thực dân Anh, chiến đấu chống lại các lực lượng nổi dậy, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.


Cũng như quân đội một số quốc gia khác trong khu vực Quân đội Mianma luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị đất nước. Đặc biệt từ sau cuộc đảo chính năm 1962, các lực lượng vũ trang Mianma hầu như chi phối mọi khía cạnh đời sống của Mianma. Tuy nhiên, với chinh sách ngoại giao đóng cửa, trong những năm từ 1962-1988, quân đội dù được chú trọng tăng cường (chủ yếu là lục quân) nhằm đáp ứng yêu cầu khiêm tốn về chiến lược chống nổi dậy nhưng thực sự chưa phải là một quân đội mạnh đủ sức đối phó với chiến tranh lớn. Sau khi Hội đồng Khôi phục trật tự và Luật pháp quốc gia lên nắm quyền, Mianma đã nhanh chóng tăng quân số và ồ ạt mua sắm vũ khí nhằm mang lại sức mạnh thật sự cho quân đội.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:30:42 am
Từ năm 1989 đến nay, Quân đội Mianma là lực lượng điều hành đất nước từ trung ương xuống các bang (khu), huyện (quận), xã (phường). Lãnh đạo quân đội đồng thời là lãnh đạo đất nước. Thống tướng Than Xuề - Chủ tịch Hội đồng Hoà bình và Phát triển quốc gia đồng thời là Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang.
Trong những năm gần đây, Quân đội Mianma rất chú trọng đến việc xây dựng các học thuyết và chiến lược quân sự nhằm xây dựng và phát triển quân đội theo hướng chính quy và ngày càng hiện đại. Trước đây, học thuyết quân sự của Mianma luôn bỉ chi phối bởi các yêu cầu an ninh trong nước là chính. Hiện nay, các lực lượng Mianma bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến vai trò phòng thủ thông thường. Chiến lược quân sự được xây dưng trên cơ sở nhiệm vụ giữ vững sự thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền và chống mối đe doạ bên ngoài.
Trước năm 2001, nhiệm vụ của Quân đội Mianma chủ yếu tập trung vào việc ngăn chặn, trấn áp hoạt động vũ trang của các nhóm dân tộc thiểu số chống đối. Từ năm 2001 đến nay, Mianma chủ trương cải cách quân đội, nâng cấp và mua sắm vũ khí trang bị, tăng cường huấn luyện nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, chuyển từ nhiệm vụ trấn áp các cuộc nổi loạn trong nước sang bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định liên bang, dân tộc, góp phần phá thế bao vây, cấm vận kinh tế của Mỹ và phương Tây.
Để thực hiện chủ trương trên, Mianma đang đẩy mạnh cải cách quân đội, trong đó tập trung vào không quân và hải quân, tăng cường mua sắm vũ khí, trang bị cho phòng không, pháo binh, nghiên cứu mua các tàu mới cho hải quân.
Hiện nay, Mianma tiếp tục xây dựng quân đội theo hướng gọn, nhẹ, tinh nhuệ, đủ sức gánh vác trách nhiệm đảm bảo sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ liên bang, đè bẹp các phe, nhóm, tổ chức đòi ly khai trong nước, đặc biệt là các phần tử câu kết với thế lực bên ngoài; nâng cao vị thế quốc gia trong khu vực, xây dựng khả năng tự chủ trong một số lĩnh vực công nghiệp quốc phòng...


(http://img525.imageshack.us/img525/5827/image021ei0.jpg)

(http://img185.imageshack.us/img185/4347/image022hr0.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:23:24 am
QUÂN ĐỘI CỘNG HÒA PHLLIPPIN


I. Khái quát về cộng hòa Philippin

Quốc gia hải đảo nằm ở phía tây Thái Bình Dương, ngăn cách với Việt Nam bởi biển Đông về phía đông nam là nước Cộng hoà Philippin. Với 7.107 hòn đảo lớn nhỏ, nối liền thành một dải dài 1.800km, trải rộng trên diện tích 299.700km2, Philippin được ví như "dãy cọc tiêu” trên mặt đại dương. Đảo Ludông và Minđanao là hai đảo lớn nhất của Philippin, chiếm tới hai phần ba diện tích đất nước.


Địa hình Philippin chủ yếu là đồi núi và cao nguyên. Núi chiếm ba phần tư diện tích các hòn đảo. Do nằm trong vành đai kiến tạo Thái Bình Dương, Philippin có quá nhiều núi lửa (hiện có trên 10 núi lửa đang hoạt động) nên còn được nhiều người gọi là "dải lửa” của bờ Tây Thái Bình Dương. Philippin có khí hậu xích đạo nhiệt đới-biển-gió mùa; nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27-28°C ở Vùng đồng bằng và 15-20°C ở Vùng núi. "Dãy cọc tiêu”, “dải lửa" này chịu nhiều sự khắc nghiệt của tự nhiên: trung bình mỗi năm có tới 20 cơn bão nhiệt đới đi qua Philippin. Cùng với gió bão, những trận mưa lớn gây ra không ít khó khăn cho đời sống và sản xuất của cư dân. Bù lại, Philippin có đất đai màu mỡ với thảm thực vật và động vật phong phú. Thiên nhiên cũng ban tặng cho Philippin nhiều khoáng sản quý, hiếm: vàng được khai thác cả ở dạng khoáng mạch và pha khoáng; đồng, ma ngan, rôm, sắt cũng là những khoáng sản có trữ lượng đáng kể. Những năm gần đây việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa đã trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của Philippin.


Hệ thống giao thông của Philippin có hàng hải phát triển mạnh với Manila là hải cảng lớn nhất. Cả nước có 603.000km đường bộ, trong đó có 28.400km đường nhựa với khoảng 1.300km đường ô tô cao tốc xuyên quốc gia; hệ thống đường sắt có tổng chiều dài 1.400km; đường không ngoài một số sân bay nội địa còn có 2 sân bay quốc tế ở Manila và trên đảo Mactan.


Cộng hoà Philippin là nước có dân số đứng thứ ba trong các nước Đông Năm Á. Hiện nay, dân số Philippin là 87.857.473 người (12.2005); trong đó 90% dân số sống ở 11 đảo lớn với 96% diện tích đất nước. Phần lớn cư dân Philippin là người gốc Mã Lai. Philippin là quốc gia đa dân tộc và đa ngữ, trong đó người Vixaian chiếm 44% dân số, Tagalog 21%, Ilogo 12 %... Tiếng Tagalog là ngôn ngữ chính thống của Philippin. Tuy nhiên, các văn bản chính thức của nhà nước đều được viết bằng tiếng Anh và từ năm 1973, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chính thức của Philippin. Tôn giáo chính ở Philippin là Thiên chúa giáo, chiếm 91% dân số, chỉ có 5% dân số theo đạo Hồi và 4% theo đạo Phật. Thủ đô của Philippin là Manila (trước năm 1977 là Kexơn Cyti).


Là một nước nông nghiệp lâu đời nên đa số dân Philippin sống bằng nghề nông với lúa và ngô là những cây lương thực chính; lâm nghiệp và nghề đánh bắt cá ở Philippin cũng khá phát triển. Về công nghiệp, ngành khai thác và chế biến quặng đóng vai trò quan trọng. Cũng như hầu hết các nước đang phát triển, Philippin thường phải nhập khẩu nguyên hếu và bán thành phẩm, máy công cụ, hàng tiêu dùng và nhiên liệu. Tuy nhiên, Philippin cũng sản xuất được nhiều mặt hàng xuất khẩu như thiết bị điện tử, sản phẩm cơ khí và thiết bị vận tải, quần áo và các chế phẩm nông sản. Hiện nay, nền kinh tế Philippin phát triển ổn định và tăng trưởng vào mức trung bình ở châu Á.


Dân cư Philippin chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá khác nhau, từ văn hoá các nước Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, các nước Hồi giáo đến Tây Ban Nha và Mỹ. Tiến trình lịch sử Philippin có một số đặc điểm khác biệt so với các nước Đông Nam Á khác:

1. Với vị trí chiến lược hết sức quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế đi qua vùng biển phía tây Thái Bình Dương, Philippin là nước bị xâm lược và thuộc địa hoá sớm nhất ở Đông Nam Á. Khi bị xâm lược, Philippin chưa có một nhà nước thống nhất, chưa hình thành bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng dân tộc Philippin dễ bị xung đột. Lợi dụng đặc điểm này, thực dân, đế quốc phương Tây luôn luôn gây ra mối hận thù giữa các cộng đồng người Philippin để dễ bề cai trị.

2. Philippin là nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng tư tưởng khai sáng của châu Âu sớm nhất cùng với sự ra đời của nền báo chí dân tộc và là nước đầu tiên trong vùng lập nên nước Cộng hoà độc lập (1898).

3. Philippin là thuộc đia kiểu mới đầu tiên của đế quốc Mỹ, là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc và lâu dài của nền văn hoá, lối sống và mô hình chính trị Mỹ. Sau khi giành độc lập, Philippin ủng hộ Mỹ trong các vấn đề chính trị-quân sự tại khu vực như duy trì các căn cứ quân sự Mỹ, gia nhập SEATO...


Từ sau năm 1975 đến nay, Philippin độc lập hơn trong chính sách đối ngoại; bắt đầu có xu hướng xem xét lại định hướng một chiều về phía Mỹ; đòi bãi bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ, xem xét lại các hiệp ước kinh tế với Mỹ, bình thường hóa quan hệ và phát triển thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa khác.


Về chế độ chính trị và nhà nước, từ khi Mỹ chính thức thiết lập nền thống trị trên quần đảo (1902), chế độ chính trị, tổ chức nhà nước, cơ cấu đảng phái của Philippin hoàn toàn dập khuôn theo kiểu Mỹ.


Theo Hiến pháp hiện hành của Philippin, Tổng thống đồng thời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Hội đồng an ninh quốc gia có nhiệm vụ cố vấn cho Tổng thống về các vấn đề có liên quan đến quốc phòng. Bộ Quốc phòng và Tổng tham mưu trưởng điều hành các hoạt động của lực lượng vũ trang.


Philippin là thành viên của Liên hợp quốc từ ngày 24 tháng 10 năm 1945. Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, hai tiểu đoàn Phillippin tham gia chiến đấu cùng với Mỹ từ năm 1962 đến năm 1969. Sau khi nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Philippin lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam cấp đại sứ (12.7.1976). Philippin là một trong năm nước sáng lập ra Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:24:08 am
II. Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Cộng hoà Philippin

Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Philippin gắn liền với lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân Philippin. Trong quá trình lịch sử đó, người Philippin xây dựng các lực lượng vũ trang của mình dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như quần chúng vũ trang trong Liên minh tối cao và đáng kính những người con của nhân dân (gọi tắt là Catipunan), Quân đội nhân dân kháng Nhật (gọi tắt là Hukbalahap). và các lực lượng vũ trang quân đội) Philippin (AFP). Tuy được xây dựng trên những cơ sở xã hội khác nhau, song các đội quân này trong những thời kỳ lịch sử nhất định luôn là lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc của Philippin.


Vào năm 1521, Phecđinăng Magienlăng chỉ huy một hạm đội của Tây Ban Nha xâm nhập các đảo Sam, Sêbu và Mactan của Philippin. Cư dân trên đảo Mactan đã đứng lên chống lại và giết chết Magienlăng. Sau đó, người Tây Ban Nha lại tiếp tục xâm nhập Philippin nhiều lần nhưng phải đến năm 1565, Tây Ban Nha mới áp đặt được sự thống trị của mình trên quần đảo Philippin1 (Ở Philippin, thực dân Tây Ban Nha không tiến hành khai phá thuộc địa mà bóc lột Philippin theo lối truyền thống trước đó, nghĩa là chủ yếu thu thuế, vơ vét những gì có sẵn, duy trì nền kinh tế thuộc địa ở tình trạng lạc hậu; do đó Philippin là thuộc địa kém phát triển nhất trong hệ thống thuộc địa của phương Tây ở châu Á). Lúc đầu, người Tây Ban Nha xâm lược Philippin không phải vì mục đích kinh tế mà họ quan tâm đến mục tiêu chiến lược nhiều hơn; họ muốn biến quần đảo này thành phòng tuyến ngăn chặn sự bành trướng của người Bồ Đào Nha lúc đó đang có thế mạnh, đồng thời dùng Philippin làm bàn đạp để chiếm các thị trường buôn bán ở châu Á. Trong suốt thế kỷ XVII - XVIII, Tây Ban Nha đã cô lập được Philippin; tránh được các cuộc xâm nhập của người Hà Lan và người Anh vào thuộc địa của mình.


Ngay khi mới đặt chân lên quần đảo Philippin, thực dân Tây Ban Nha đã gặp sự phản kháng quyết liệt của người dân nơi đây mà điển hình là trận Mactan. Những thế kỷ sau đó, làn sóng khởi nghĩa chống lại ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha liên tiếp nổ ra và ngày càng lan rộng; đặc biệt là phong trào nông dân tại Bokhon kéo dài 85 năm (1744-1829). Nhưng, cho đến trước thế kỷ XIX, do các phong trào đấu tranh của nhân dân Philippin đều mang tính tự phát, không có sự lãnh đạo đúng đắn và thống nhất nên đều thất bại.


Sang thế kỷ XIX, cùng với sự hình thành và phát triển các tầng lớp, giai cấp mới có trình độ hiểu biết và ý thức dân tộc, phong trào giải phóng dân tộc ở Philippin bắt đầu mang tính chất tự giác và ngày càng được tổ chức chặt chẽ. Tháng 1 năm 1872, công nhân và binh lính Cavit tiến hành cuộc khởi nghĩa vũ trang phản đồi chính sách thuế mới của chính quyền Tây Ban Nha. Cuộc khởi nghĩa đã bị chính quyền thực dân dìm trong bể máu, song đây là tiếng súng báo hiệu phong trào giải phóng dân tộc Philippin đã bắt đầu bước sang giai đoạn mới, giai đoạn "thức tỉnh dân tộc" của người Philippin. Tuy nhiên, trong bước phát triển mới, phong trào chủ yếu mang tính chất cải lương, chưa biết dựa vào sức mạnh của quần chúng, phủ nhận đấu tranh vũ trang, nội bộ lãnh đạo thường mâu thuẫn, do đó phong trào vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng bế tắc.


Tháng 6 năm 1892, người anh hùng dân tộc Philippin, nhà văn Hôxê Ridan sáng lập ra Liên minh Philippin - tổ chức dân tộc đầu tiên của người Philippin. Liên minh thành lập được 4 ngày thì Hôxê Ridan bị chính quyền thực dân bắt giam; các thành viên của Liên minh bị truy bức và hãm hại; thêm vào đó, nội bộ có sự chia rẽ nên Liên minh nhanh chóng tan rã. Sau khi Liên minh Philippin tan rã, tháng 7 năm 1892, Anđreas Bôniphaxiô lập ra hội kín lấy tên là Liên minh tối cao và đáng kính những người con của nhân dân, gọi tắt là Catipunan.


Catipunan là tổ chức cách mạng đầu tiên của Philippin. Dưới sự lãnh đạo của Catipunan, phong trào giải phóng dân tộc Philippin có bước phát triển về chất, được các thế hệ người Philippin tự hào gọi là cuộc "cách mạng Philippin". Các nhà lãnh đạo Catipunan chủ trương dựa vào quần chúng nông dân để giành độc lập dân tộc bằng một cuộc đấu tranh vũ trang. Một kế hoạch khởi nghĩa được vạch ra, theo đó, các lực lượng vũ trang sẽ đồng loạt tiến công địch vào nửa đêm ngày 29 tháng 8 năm 1896. Chính quyền Tây Ban Nha sớm phát hiện kế hoạch khởi nghĩa nên đã chuẩn bị đối phó. Đúng 12 giờ đêm 29 tháng 8 năm 1896, cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra, nhưng cánh quân do Bôniphaxio chỉ huy bị một trung đoàn bộ binh Tây Ban Nha phản công, buộc phải quay trở lại. Trong khi đó, lực lượng do Aghinanđô chỉ huy đã lập chiến công tại tỉnh Cavít. Đây cũng chính là một trong những yếu tố làm nảy sinh mâu thuẫn, dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ Catipunan. Ngày 10 tháng 5 năm 1897, người anh hùng dân tộc Philippin Bôniphaxiô đã bị sát hại. Lợi dụng thời cơ nội bộ Catipunan bị chia rẽ, thực dân Tây Ban Nha đã huy động 18.000 quân phản công; đồng thời đưa ra một số lời hứa hẹn để mua chuộc Aghinanđô. Ngày 1 tháng 11 năm 1897, đại biểu các đội quân khởi nghĩa nhóm họp ở Biaknabatô đã thông qua hiến pháp lâm thời của nước Cộng hoà Philippin, tuyên bố thành lập chính phủ mới do Aghinanđô làm tổng thống. Nhưng, hơn một tháng sau, ngày 14 tháng 12 năm 1897, Aghinanđô đã ký với chính quyền thực dân Điều ước Biaknabatô, nhận từ tay thực dân Tây Ban Nha 800.000 pêxô1 (Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn, Ngãi Châu Xương. Lịch sử thế giới cận đại, Sđd, tr.479), kêu gọi nhân dân hạ vũ khí, tự động giải tán chính phủ rồi sau đó lưu vong sang Hồng Kông.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:24:52 am
Sau khi Aghinanđô đầu hàng, chính quyền thực dân Tây Ban Nha không thực hiện các cải cách như đã hứa; nhân dân philippin không thừa nhận Điều ước Biaknabatô. Ngày 22 tháng 3 năm 1898, Phecđinăng Macabulôt đứng ra thành lập Chính phủ và Quân đội cách mạng, tiếp tục lãnh đạo nhân dân Philippin chiến đấu chống sự thống trị của bọn thực dân Tây Ban Nha. Tướng Actemiô Ricac (Artemio Ricarte) được cử làm Tổng chỉ huy Quân đội cách mạng Philippin. Khi thành lập, Quân đội cách mạng Philippin mới chỉ có lực lượng lục quân, quân số và trang bị rất ít ỏi.


Một tháng sau khi Chính phủ cách mạng Philippin được thành lập, tháng 4 năm 1898, cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha bùng nổ. Mỹ một mặt đưa chiến hạm vào vịnh Manila xâm chiếm Philippin, mặt khác cho người liên hệ với Aghinanđô để mật đàm với ông về việc Mỹ sẽ "viện trợ" và "bảo hộ" cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Philippin. Tin tưởng vào lời hứa của Mỹ, Aghinanđô quay trở về Philippin và ngày 12 tháng 6 năm 18982 (Ngày 12 tháng 6 được lấy làm Ngày quốc khánh của Philippin), tại Cavít, ông đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Philippin do ông làm Tổng thống, chấm dứt chế độ thực dân kéo dài hơn 300 năm của Tây Ban Nha ở nước này.


Tuy nhiên, thực dân Tây Ban Nha đã bán rẻ Philippin cho đế quốc Mỹ. Ngày 10 tháng 12 năm 1898, Mỹ và Tây Ban Nha ký hiệp ước “hoà bình” tại Pari (Pháp), theo đó, Tây Ban Nha nhận của Mỹ 20 triệu USD để "chuyển nhượng" Philippin cho Mỹ. Từ đó, Mỹ công khai lên tiếng mở rộng quyền thống trì của họ trên khắp các đảo Philippin. Bất chấp các tuyên bố của Cộng hoà Philippin phản kháng hành vi xâm lược của Mỹ, tối 4 tháng 2 năm 1899, Quân đội Mỹ bất ngờ tập kích vào Manila. Trước nguy cơ lan rộng của cuộc chiến tranh xâm lược, Aghinanđô chủ trương mở rộng và phát triển lục quân lên 16.000 người, đồng thời bắt đầu xây dựng hải quân.


Ngày 5 tháng 2, Chính phủ Cộng hoà Philippin tuyên chiến với Mỹ. Viện binh Mỹ tới tấp đổ vào Philippin, từ 8.500 vào cuối cuộc chiến với Tây Ban Nha lên 21.000 - tháng 2 năm 1899) và đến tháng 11 năm 1899 đã lên tới 65.0001 (Đ.V. Môxiacốp, V.A. Chiu-rin, Lịch sử Đông Nam A (bản tiếng Nga), Trướng Đại học Tổng hợp Phương Đông xuất bản, Mátxcơva, 2004. tr.138). Trước sức mạnh áp đảo của quân xâm lược, từ tháng 11 năm 1899, quân đội cách mạng phải phân tán và áp dụng chiến lược chiến tranh du kích. Cả nước được chia thành các quân khu du kích, mỗi quân khu có một tư lệnh du kích chỉ huy. Quân du kích đã chiến đấu kiên cường, tập kích các nhóm quân địch đi tuần tiễu hoặc các cứ điểm tiền tiêu của chúng. Tính từ tháng 5 năm 1900 đến tháng năm 1901, quân du kích đã tập kích 1.026 trận và gây thương vong cho hơn 7.000 quân Mỹ1 (Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn, Ngãi Châu Xương, Sđd, tr.482).


Trong khi quân đội triển khai chiến tranh du kích, nội bộ lãnh đạo phong trào kháng chiến bị chia rẽ làm hai phái: phái thoả hiệp gồm đại diện giai cấp địa chủ và tư sản mại bản chủ trương đầu hàng, còn phái cấp tiến chủ trương tiến hành chống Mỹ tới cùng. Sau khi Aghinanđô bị địch bắt (tháng 3 năm 1901), ông tuyên thệ trung thành với Mỹ. Tiếp theo Aghinanđô, nhiều phần tử địa chủ và tư sản Philippin đua nhau ra đầu hàng, Philippin chính thức trở thành thuộc địa của Mỹ. Sau khi áp đặt được sự kiểm soát toàn diện đối với Philippin, ngoài việc tăng cường quân đội và cảnh sát làm công cụ trấn áp cách mạng, Mỹ còn thành lập toà án quân sự các cấp, nghiêm cấm người dân Philippin bàn bạc về vấn đề độc lập dân tộc.


Dưới ách thống trị của Mỹ, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Philippin tuy không phát triển mạnh mẽ như ở một số nước Đông Nam A khác, song cũng có những bước phát triển nhất định. Trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, ở Philippin xuất hiện hàng loạt các đảng phái chính trị, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân đấu tranh giành độc lập: năm 1917, Đảng Dân chủ của giai cấp địa chủ-tư sản ra đời, tập hợp những người yêu nước nhưng bất bình với chủ nghĩa bảo thủ và thoả hiệp của đảng dân tộc; năm 1924 xuất hiện Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với chủ trương đấu tranh vì một nền "độc lập nhanh chóng và đầy đủ” cho Philippin; năm 1930, Đảng Cộng sản Philippin thành lập, lãnh đạo giai cấp công nhân và những người yêu nước đấu tranh dưới các hình thức bãi công, khởi nghĩa...


Về phía Mỹ, vào đầu những năm ba mươi, chính giới Mỹ đã phải tính đến vấn đề chuyển giao dần nền độc lập cho Philippin. Điều này được lý giải bởi hàng loạt nguyên nhân chủ quan và khách quan; đó là ảnh hưởng xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 của thế giới tư bản đối với Mỹ; là phong trào cách mạng ở châu Âu, Trung Quốc, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đang lên cao... Để chuẩn bị trao quyền độc lập cho Philippin, Quốc hội Mỹ đã thông qua hai đạo luật là Đạo luật Harơ Hao Cơttinh (1932) và Đạo luật Tydin Mác Duphi (1934). Theo các đạo luật này, sau thời gian quá độ 10 năm, Philippin đương nhiên là một nước cộng hoà độc lập; trong thời gian quá độ đó, Philippin thực hiện chế độ tự trị, quyền lợi của Mỹ vẫn được giữ nguyên. Ngày 15 tháng 11 năm 1935, Chính phủ tự trị Philippin được thành lập do Queson làm Tổng thống và Oxmena làm Phó tổng thống.


Trước tình hình thế giới sôi động và sự bất bình ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân trong nước, Chính phủ tự trị Philippin đặt vấn đề quốc phòng lên vị trí hàng đầu chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang theo chế độ quân dịch với sự giúp đỡ của tướng Mỹ Đulat Mác Áctơ. Ngày 23 tháng 12 năm 1935, "Luật liên bang số 1", còn gọi là “Luật quốc phòng" được ban hành, mở đường cho sự ra đời của Quân đội Philippin mới, thực chất là quân đội tay sai, dưới sự bảo trợ của Quân đội Mỹ. Lực lượng quân đội lúc mới thành lập lại có khoảng 6.000 quân, trong đó cảnh sát là thành phần nòng cốt. Với ngân sách viện trợ hàng năm khoảng 16 triệu pê xô, Mỹ đã tích cực giúp đỡ huấn luyện cho Quân đội Philippin trở thành một quân đội mạnh trong khu vực.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:25:30 am
Từ mùa hè năm 1941, trước nguy cơ xâm lược của phát xít Nhật, chính phủ Mỹ khẩn trương củng cố phòng thủ Philippin. Mác ác tơ được chỉ định làm tư lệnh lực lượng quân Mỹ ở viễn Đông (USAFFE), bao gồm cả Quân đội Philippin. Quân Mỹ ở Philippin được nâng lên 50.000 người, kể cả Quân đội Philippin là 180.000; máy bay tăng lên 500 chiếc1 (G. I. Levixơn, Philippin trên đường giành độc lập (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1972, tr.263); cảng Manila và vịnh Xubic được phong toả. Song, các biện pháp gấp rút của chính phủ Mỹ đã quá muộn. Khi quân Nhật đổ bộ lên Philippin, quân Mỹ - Philippin tổ chức kháng cự rất yếu ớt.


Tuy quân Nhật không bị nhân dân Philippin kháng cự nhưng cũng không được họ ủng hộ như giới cầm quyền Nhật đã dự tính. Không khí hoảng loạn bao trùm giới lãnh đạo chính trị ở Manila; trong đó một số người muốn chạy vào sở chỉ huy của Mác Áctơ để lánh nạn, một số khác tìm cách phục vụ người Nhật, chỉ một số rất ít nghĩ đến việc tổ chức nhân dân kháng chiến, còn đa số là ngồi chờ tình thế sẽ xoay chuyển có lợi cho bên nào để theo bên đó. Ngoại trừ Đảng Cộng sản Philippin, còn lại không một đảng phái và tổ chức xã hội nào có dấu hiệu hành động.


Trong khi đó, đội hình phòng ngự của Mỹ ở Ludông bị quân Nhật đánh tan tác. Ngày 2 tháng 1 năm 1942, quân Nhật chiếm được thủ đô Manila và căn cứ quân sự Cavit. Queson trong cơn hoảng loạn đã đề nghị Tổng thống Mỹ Rudơven nhanh chóng trao trả độc lập cho Philippin để sau đó tuyên bố trung lập và đòi rút cả quân Mỹ và quân Nhật ra khỏi Philippin. Đương nhiên, Rudơven không thể chấp nhận đề nghị này. Queson lại đề nghị Mác Áctơ cho phép đầu hàng quân Nhật để "củng cố sự kháng cự của người Philippin" nhưng cũng bị từ chối. Tháng 2, Mác Áctơ bỏ mặc quân đội và chạy sang Ôxtrâyria; Queson và Oxmena được đưa sang Mỹ. Ngày 7 tháng 5, người kế nhiệm Mác Áctơ, tướng Vâyinrait đầu hàng Nhật, đồng thời ra lệnh cho toàn bộ lực lượng quân Mỹ và quân Philippin trên các đảo Vixai và Minđanao đầu hàng, mặc dù quân Nhật không xuất hiện ở đó. Quân Mỹ kết thúc các hoạt động phòng thủ ở Philippin.


Bất chấp sự đầu hàng của quân Mỹ, những người Philippin được động viên vào hàng ngũ Quân đội quốc gia và Quân đội Mỹ đã chiến đấu kiên cường trong những điều kiện hết sức khó khăn. Sự hy sinh quên mình để bảo vệ bán đảo Bataan thực sự là một chiến công oanh liệt của các chiến sĩ Philippin. 50 nghìn người còn lại của các đơn vị bị đánh tan đã rút về đây để bảo vệ Bataan, trong đó chủ yếu là người Philippin (80%). Khác với lính Mỹ, những người lính Philippin chưa được huấn luyện kỹ càng, trang bị chỉ toàn súng trường lạc hậu, khẩu phần ăn chỉ có 60g gạo/ngày, nhưng họ đã kiên cường chiến đấu hơn 3 tháng chống lại kẻ thù có ưu thế lực lượng, gây cho quân Nhật nhiều tổn thất nặng nề và làm chậm bước tiến của chúng trên các mặt trận khác.


Trong khi các chính trị gia thuộc các đảng phái tư sản dân tộc, các thành viên của chính phủ tự trị tìm cách thoả hiệp, hợp tác với Nhật; nhân dân không có điều kiện tổ chức kháng cự quân xâm lược thì Đảng Cộng sản và các tổ chức thân cộng sản đứng ra thành lập Mặt trận thống nhất kháng Nhật. Tháng 3 năm 1942 các đội du kích do Đảng Cộng sản xây dựng ở miền Trung Ludông hợp nhất lại thành Quân đội nhân dân kháng Nhật (Hukbalahap) do Luật Taruc làm Tổng tư lệnh, Caxtơ Alêchxanđrinô làm Phó tổng tư lệnh. Nhiều đội tự vệ tự phát của các làng xã cũng gia nhập Hukbalahap. Các chiến binh của quân đội Hukbalahap được gọi là Huk.


Đơn vị chiến đấu cơ bản của Quân đội nhân dân kháng Nhật là đại đội, quân số khoảng 100 người. Đến tháng 11 năm 1942, các đơn vị Hukbalahap được tổ chức thành 5 quân khu theo vùng lãnh thổ: Quân khu 1 là miền nam tỉnh Pampanga, Quân khu 2 là vùng đầm lầy Kanđaba nằm giữa 2 tỉnh Pampanga và Bulakan, Quân khu 3 là tỉnh Tarlac, Quân khu 4 - tỉnh Nueva Exikha, Quân khu 5: miền tây tỉnh Pampanga. Cơ quan đầu não của Hukbalahap là Bộ Tổng Tham mưu (trước tháng 11 năm 1942 là ủy Ban quân sự). Chỉ huy các đơn vị Hukbalahap là những người có năng lực nhất và trung thành với sự nghiệp chung. Vấn đề nan giải đối với Hukbalahap là việc bảo đảm vũ khí. Suốt mùa xuân năm 1942, các đội du kích đã thực hiện nhiều cuộc đột nhập vào Bataan để lấy vũ khí và đạn dược do quân Mỹ và quân Nhật bỏ lại; kết quả đã thu được 7.000 súng trường và súng ngắn1 (G.I. Levixơn, Sđd, tr.282). Du kích quân còn thực hiện thành công nhiều cuộc tập kích táo bạo vào các kho vũ khí của Nhật. Ngoài ra, họ còn tự tạo được nhiều vũ khí thô sơ. Đến cuồl mùa hè 1942, Hukbalahap đã có 35 đại đội (lúc mới thành lập chỉ có 5). Từ tháng 5 năm 1 942 , các đội quân Hukbalahap thường xuyên hoạt động ở các tỉnh miền Trung Ludông (chủ yếu là các tỉnh Pampanga, Tarlac, Bulakan, Nueva Exikha, Laguna). Bằng cách tập kích bất ngờ, quân du kích chiếm được nhiều thành phố nhỏ và giữ được từ 2 đến 3 ngày. Thời kỳ này, Bộ chỉ huy Hukbalahap thực hiện chiến thuật "tiến công liên tục": các đại đội và liên đại đội liên tục đột kích, tập kích vào các toán quân Nhật; nhiều khi người chỉ huy thực hiện chiến thuật này bất chấp cả sự mệt mỏi của du kích và sự bất lợi về so sánh lực lượng, do đó bị tổn thất lớn. Mùa xuân năm 1943, quân Nhật bắt đầu chuẩn bị chiến dịch trừng phạt quy mô lớn chống Hukbalahap. Trong chiến dịch kéo dài 10 ngày ở vùng Kabiaô, quân Nhật đã loại khỏi vòng chiến đấu 14 đại đội, tức là gần một nửa lực lượng của Hukbalahap. Sau thất bại nặng nề này, lực lượng còn lại của Hukbalahap rút vào các căn cứ rừng núi và từ đó phái từng nhóm 4-5 người ra phục kích, bất ngờ tiến công các tốp quân Nhật đi lẻ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:26:12 am
Bước ngoặt của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai trên chiến trường châu Âu trong năm 1943 đã tạo điều kiện cho quân đội Mỹ đẩy mạnh hoạt động ở Thái Bình Dương. Lúc này quân Mỹ đã chiếm ưu thế hơn hẳn quân Nhật, song, do những khó khăn cả về quân sự và chính trị, Mỹ chưa thể đổ bộ lên quần đảo Philippin. Trong khi đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Philippin đang mạnh lên từng ngày khiến cho giới cầm quyền Mỹ không khỏi lo lắng: nếu người Philippin có thể tự xoá sổ quân chiếm đóng Nhật thì khả năng thiết lập trở lại sự thống trị của Mỹ như trước đây là một vấn đề nan giải đối với Mỹ.


Các cơ quan tình báo quân sự của Bộ tham mưu lực lượng quân Mỹ ở nam Thái Bình Dương được lệnh tung vào Philippin các toán biệt kích với nhiệm vụ kiểm soát cuộc chiến tranh du kích chống Nhật và ngăn cản việc lật đổ quân Nhật trước khi quân Mỹ trở lại. Bằng các thủ đoạn lửa bịp và do sự phản bội của một số phần tử địa chủ, tư sản dân tộc, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã đưa được người của mình vào vị trí chỉ huy phần lớn các đơn vị du kích ở Minđanao, Lâyti, Panai, Minđôrô. Theo chỉ đạo từ Oasinhtơn, khi kiểm soát được nhóm du kích nào đó, tình báo Mỹ lập tức yêu cầu du kích chấm dứt đấu tranh vũ trang. Nếu như ở các đảo miền Nam Philippin, tình báo Mỹ cơ bản thực hiện được kế hoạch ngăn cản phong trào du kích thì ở những vùng Hukbalahap có ảnh hưởng chính trị tương đối lớn như Xebu, Negrô và nhất là ở Ludông, người Mỹ gặp không ít khó khăn.


Ngay từ khi mới thành lập, Hukbalahap đã đề nghị Bộ chỉ huy quân Mỹ hợp tác chống Nhật, nhưng tất cả các sĩ quan Mỹ được lệnh không hợp tác với Hukbalahap. Trên thực tế sau khi quân đội Mỹ đầu hàng quân Nhật, nhóm sĩ quan Mỹ do Thiếu tá Tôrpơ còn ở lại trong vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã ký thoả thuận phối hợp hoạt động với Hukbalahap; nhưng ít lâu sau, Tôrpơ đã bị chỉ điểm cho quân Nhật sát hại. Ở miền Nam Ludông, nhóm du kích do Anđecxơn chỉ huy cũng có quan hệ tốt với Hukbalahap cho đến tận cuối cuộn chiến tranh.


Tháng 6 năm 1944, Hukbalahap một lần nữa đề nghị tướng Mỹ Mác Áctơ phối hợp hành động, nhưng Mác ác tơ lại muốn Hukbalahap phải phục tùng mình. Không quy phục được Hukbalahap bằng cách lừa dối và hăm doạ, Mác Áctơ dùng thủ đoạn giăng bẫy để phá hoại Hukbalahap. Bộ tham mưu lực lượng quân Mỹ ở nam Thái Bình Dương chọn một số người Philippin thuộc phái chống cộng làm chỉ huy một số đơn vị USAFFE, khi quân Hukbalahap tưởng đây là đồng đội du kích của mình và thản nhiên tiếp cận sẽ bị bắn tới tấp. Bẫy này được giăng ở nhiều nơi và đã gây tổn thất nghiêm trọng cho Hukbalahap.


Mùa thu năm 1944, cục diện Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã thay đổi rất thuận lợi cho phe Đồng minh; quân đội phát xít Đức, đồng minh chính của quân phiệt Nhật đã bị Hồng quân Liên Xô đánh tan tác. Trong bối cảnh đó, ngày 20 tháng 10, quân Mỹ đổ bộ lên đảo Lâyti. Lúc này, Hukbalahap đã kịp tăng cường lực lượng lên 10.000 quân chiến đấu (không phải tất cả đều được trang bị hỏa khí) và gần 30.000 quân dự bị1 (G.I. Levixơn, Sđd, tr.315). Với lực lượng được tăng cường, Hukbalahap bắt đầu các chiến dịch tiến công quân Nhật. Cùng với việc tích cực tiến công quân Nhật ở nhiều khu vực thuộc tỉnh Pampanga và tỉnh Nueva Exikha, các đơn vị Hukbalahap còn chi viện đắc lực cho quân Mỹ tấn công; đồng thời đánh vào nhiều thành phố ở đồng bằng miền Trung. Với 3.000 chiến sĩ hy sinh, Hukbalahap đã lập chiến công vô cùng hiển hách: tiêu diệt 20.000 quân Nhật và 5.000 quân tay sai. Chính tướng Mỹ Đichcơ, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 6 của Mỹ chiến đấu ở Philippin cũng phải thừa nhận "Hukbalahap là một trong những đơn vị chiến đấu tốt nhất mà tôi được biết"2 (Dẫn theo: G.I. Levixơnl Sđd. tr.319).


Nhưng, chính những phẩm chất tốt đẹp đó của Hukbalahap, một đội quân được sự ủng hộ rộng rãi của nông dân Philippin và kiên trì đường lối chống chủ nghĩa đế quốc vì nền độc lập dân tộc, đã làm cho giới cầm quyền Mỹ lo sợ. Vì vậy, trước khi đổ bộ lên Philippin, quân Mỹ đã được lệnh phải lập tức giải giáp Hukbalahap sau khi không cần sự giúp đỡ của họ. Trong khi chiến tranh còn chưa kết thúc thì du kích quân Hukbalahap đã bị những họng súng Mỹ chĩa vào đòi giao nộp vũ khí và giải tán; khoảng 10 đại đội bị giải giáp ngay lúc này. Tháng 2 năm 1945, khi 109 chiến sĩ thuộc đại đội 77 Hukbalahap, những người đã từng chiến đấu yểm trợ cho tập đoàn quân số 6 của Mỹ tình nguyện giao nộp vũ khí thì họ liền bị quân USAFFE vây bắt, tống vào nhà tù Malôlôs rồi bắn chết hết tại đó. Sự phản bội của Mỹ đối với Hukbalahap không chỉ gây nên sự căm phẫn trong hàng ngũ du kích quân mà ngay cả những người Mỹ có lương tâm cũng rất bất bình.


Những ngày cuối tháng 2 năm 1945, lực lượng phản gián của Mác Áctơ đã bắt Tổng tư lệnh Hukbalahap L.Taruc, Phó tổng tư lệnh K. Alêchxanđrinô và 5 chỉ huy cao cấp khác của Hukbalahap vì tội "hoạt động phá hoại ngầm". Các đội quân Hukbalahap (quyền chỉ huy tối cao tạm thời được giao cho Marianô Ba ngốt) bắt đầu rút vào rừng núi. Ngay sau khi quân Nhật bị quét sạch khỏi Philippin tháng 7 năm 1945), Quân đội Hukbalahap tuyên bố tự giải tán.


Sau khi phát xít Đức và quân phiệt Nhật bị đánh bại, so sánh lực lượng trên thế giới đã thay đổi có lợi cho các lực lượng cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh đó, phong trào chống đế quốc ở Philippin cũng phát triển mạnh mẽ, buộc Mỹ phải trao trả độc lập cho Philippin (tháng 7 năm 1946). Song, trước khi trao trả độc lập cho Philippin, Mỹ đã tìm mọi cách đưa phe nhóm đại địa chủ - tư sản thân Mỹ lên cầm quyền để áp đặt điều kiện tuyên bố độc lập của nước này; trong đó quan trọng nhất là điều kiện bảo đảm việc duy trì sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Philippin và Mỹ nắm quyền kiểm soát Quân đội quốc gia Philịppin (lúc này do Kangleon làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:27:35 am
Ngày 4 tháng 7 năm 1946, Hiệp ước về cơ sở quan hệ giữa Mỹ và Philippin được ký kết, theo đó Mỹ chuyển giao chủ quyền quốc gia đối với quần đảo cho Chính phủ Philippin. Bản Hiệp ước còn có một điều khoản riêng về việc duy trì các căn cứ quân sự Mỹ ở Philippin. Năm 1947, một loạt hiệp ước quân sự được ký kết, trong đó quy định Philippin chuyển cho Mỹ quyền sử dụng 23 khu vực trên lãnh thổ Philippin để bố trí các căn cứ quân sự với thời hạn 99 năm. Theo Hiệp ước về viện trợ quân sự, Quân đội quốc gia Philippin trên thực tế sẽ do các cố vấn Mỹ kiểm soát Các cố vấn quân sự Mỹ có nhiệm vụ biến Quân đội Philippin thành công cụ đàn áp phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Philippin1 (The Daily World. 7.VI. 1975). Thời kỳ đầu giành độc lập Philippin đặc biệt chú trọng phát triển hải quân. Mặc dù hạm đội Philippin - tiền thân của lực lượng hải quân Philippin ra đời năm 1899, nhưng hoạt động cũng như trang bị vũ khí còn quá thô sơ và kém phát triển. Theo sự "cố vấn" của Mỹ, hải quân Philippin được chia thành các đơn vị theo loại chiến hạm hay nhiệm vụ, bao gồm lực lượng sẵn sàng chiến đấu, lực lượng tuần tra, lực lượng phục vụ, lực lượng tàu tiến công, lực lượng không quân của hải quân và lực lượng đặc biệt.


Ngày 7 tháng 10 năm 1947, lực lượng không quân của hải quân hình thành với trang bị ban đầu là 2 máy bay PT-13 và L-5 (đến năm 1951 , hai chiếc máy bay này được cải tạo thành thủy phi cơ để sử dụng trong các hoạt động chống buôn lậu).


Đến năm 1950, với sự giúp đỡ của Mỹ, các lực lượng vũ trang Philippin (AFP) được tổ chức lại gồm các quân chủng lục quân, không quân và hải quân. Sở chỉ huy các lực lượng quốc phòng được đổi tên thành Bộ Tổng hành dinh các lực lượng vũ trang Philippin. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mới là R. Macxayxay. Nhằm đối phó với các lực lượng ly khai và các phần tử hoạt động nổi dậy dọc bờ biển của quần đảo, R. Macxayxay chỉ thị cho quân đội thành lập ngay lực lượng hải quân đánh bộ với yêu cầu phải có khả năng cơ động cao, hoả lực mạnh. Mặc dù khi mới thành lập chỉ có 1 đại đội với 212 quân nhưng nhờ có kỷ luật sắt kỹ năng chiến đấu tốt và lòng trung thành nên lực lượng này luôn được yêu cầu trợ giúp trong một số lĩnh vực hoặc sự vụ mà các lực lượng khác phải bó tay.


Sau chiến tranh, trong khi nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết, chính quyền địa chủ - tư sản lại thi hành chính sách phản dân chủ khiến cho đông đảo các tầng lớp nhân dân hết sức bất bình và dấy lên phong trào đấu tranh mạnh mẽ. Chính phủ mới thành lập (sau cuộc bầu cử tháng 4 năm 1946) do Rôxát đứng đầu đã thẳng tay đàn áp phong trào, trước hết là phong trào nông dân. Các đơn vị quân đội quốc gia được huy động tham gia bắt bớ nông dân, hủy hoại mùa màng, đốt nhà dân, tra tấn, đánh đập nông dân. Chỗ dựa của quân đội quốc gia trong các hoạt động này là 90 nghìn quân Mỹ, bao gồm cả lục quân, không quân và hải quân.


Năm 1947, tại miền Trung Ludông đã xuất hiện nhiều đội tự vệ của nông dân; các đơn vị chiến đấu của Hukbalahap bắt đầu được tái lập; Bộ Tổng tham mưu Hukbalahap được khôi phục để kiểm soát quá trình tự phát của phong trào nông dân kháng chiến. Trong các cuộc đàm phán với chính phủ, lãnh đạo Liên minh nông dân và Hukbalahap sẵn sàng giải quyết cuộc xung đột bằng biện pháp hoà bình và nộp vũ khí với điều kiện chính phủ tiến hành cải cách nông nghiệp và các cải cách xã hội khác. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã không đem lại kết quả Tháng 4 năm 1948, sau khi lên thay Rô xát bị chết, E. Quinnô bề ngoài tiếp tục đàm phán với Hukbalahap nhưng trên thực tế vẫn sử dụng quân đội đàn áp phong trào nông dân và tấn công các lực lượng tiến bộ. Trước tình hình đó, Hukbalahap và Liên minh nông dân buộc phải tiếp tục con đường đấu tranh vũ trang.


Địa bàn căn cứ chủ yếu của cuộc khởi nghĩa vũ trang của nông dân Philippin là các vùng rừng núi miền Trung Ludông (các tỉnh Pampanga, Tarlac, Nueva-exikha, Batangas, Rixan). Trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1948 - tháng 10 năm 1950), Hukbalahap thực hiện chiến thuật du kích chiến như đã từng áp dụng trong những năm kháng chiến chống Nhật chiếm đóng. Năm 1950, Hukbalahap đổi tên thành Quân giải phóng (Hukbông). Nghĩa quân dự định ngày 7 tháng 10 năm 1950 mở cuộc tấn công lớn vào thủ đô Manila nhưng tình báo của Quân đội Chính phủ đã nắm được các văn kiện tác chiến của bộ chỉ huy khởi nghĩa và kịp thời ngăn chặn.


Về phía Quân đội Chính phủ, Bộ trưởng Quốc phòng Macxayxay, người đã từng tham gia kháng chiến chống Nhật, không lạ gì chiến thuật du kích và đã đề ra kế hoạch đàn áp phong trào khởi nghĩa. Dưới sự chỉ huy của Macxayxay, ngày 18 tháng 10 năm 1950, tại Manila, lực lượng quân đội đã bắt các ủy viên Bộ chính trị và 105 cán bộ chủ chốt của Đảng Cộng sản Philippin. Đây là một đòn giáng mạnh vào phong trào khởi nghĩa. Từ đây, lực lượng Quân đội Chính phủ nắm quyền chủ động về quân sự. Kế hoạch dập tắt phong trào khởi nghĩa được Macxayxay bắt đầu bằng việc củng cố quân đội thường trực; lực lượng cảnh sát từng giừ vai trò tích cực trong cuộc chiến với lực lượng Hukbalahap nay được đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội. Năm 1951, với việc thành lập 28 cụm chiến đấu tiểu đoàn gồm 22,5 nghìn người, tổng quân số lục quân của Quân đội quốc gia được nâng lên 54 nghìn1 (Lachica E, Huk: Philippine Agrarian Society in Revoit. Manila. 1971, p.131). Mỗi cụm chiến đấu này là một đơn vị cơ động, được trang bị vũ khí hiện đại và có đội ngũ sĩ quan, binh sĩ được huấn luyện kỹ càng. Nòng cốt của các lực lượng này là những đơn vị đã qua chiến đấu ở Triều Tiên1 (Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô, Cuộc đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của các dân tộc châu Á (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1984, tr.126). Các đơn vị trinh sát được huấn luyện đặc biệt để hoạt động trong điều kiện rừng núi. Ngoài lục quân, Macxayxay còn sử dụng cả không quân, hải quân, các đơn vị phòng thủ bờ biển, 8 nghìn cảnh sát, 20-30 nghìn dân phòng để đàn áp lực lượng khởi nghĩa. Với tổng quân số 100 ngậm binh lính và sĩ quan, so sánh lúc lượng giữa Quân đội Chính phủ và quân du kích là 10:12 (Pomroi U.J, Trong rừng sâu (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1965, tr.105).


Bên cạnh tiềm lực trong nước, viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ đã góp phần nâng cao đáng kể sức mạnh của Quân đội quốc gia Philippin. Tính đến giữa năm 1950, Mỹ đã đưa vào Philippin số vũ khí, trang bị trị giá 136,5 triệu USD3 (Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô, Cuộc đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của các dân tộc châu Á (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1984, tr.126), bao gồm tàu chiến, tàu tuần tiễu và tàu đổ bộ, máy bay hạng nhẹ T-28 và T-33, máy bay trực thăng. Tháng 6 năm 1950, Philippin được Tổng thống Mỹ Truman đưa vào khu vực "trực tiếp bị đe doạ từ Trung Quốc", do đó phần lớn trong số 250 triệu USD viện trợ tài chính năm 1951 của Mỹ cho Chính phủ Quirinô là dành cho việc thành lập, huấn luyện và trang bị 10 đơn vị cảnh sát cơ động dã chiến chống quân khởi nghĩa4 (SLPRL. Arms Trade Registers: the Arms Trade with the Third World. Stockholm, 1975. p.457).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:28:24 am
Từ tháng 10 năm 1950, Quân đội Chính phủ chuyển sang tấn công trên diện rộng ở miền Trung Ludông, gây thiệt hại nặng nề cho quân khởi nghĩa. Năm 1951, quân chính phủ tiến hành 14 chiến dịch trừng phạt quy mô lớn. Một trong những chiến dịch lớn nhất là chiến dịch "Thanh gươm" tiến hành tháng 2 năm 1951, Macxayxay đã huy động hàng nghìn quân với sự chi viện hoả lực pháo binh và không quân, trong đó có cả một số đơn vị quân Mỹ. Ý đồ tác chiến chiến dịch là sử dụng lực lượng hình thành cánh cung bao vây các khu vực cơ bản của quân du kích, đẩy họ vào rừng núi, sau đó từ hai hướng nam và bắc giáng những đòn quyết định tiêu diệt quân khởi nghĩa. Mặc dù quân Chính phủ không thực hiện được đầy đủ ý đồ đó song lực lượng cơ bản của Quân giải phóng buộc phải rút vào rừng núi sau khi bị tổn thất nặng nề. Kết quả trong năm 1951, quân Chính phủ đã tiêu diệt khoảng 2 nghìn quân du kích và cũng khoảng chừng ấy bị bắt làm tù binh1 (Lachica E., Opcid. p.,131). Quân giải phóng chuyển sang chiến thuật phòng ngự.


Chiến dịch tiến công có quy mô lớn nhất của quân Chính phủ đánh vào Quân giải phóng là "chiến dịch Bốn bông hồng" (tháng 4 năm 1952). Kết quả Quân giải phóng bị tổn thất nặng; nhiều nhà lãnh đạo và chỉ huy bị bắt; nghĩa quân đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn. Thời kỳ này, quân Chính phủ vận dụng nhiều biện pháp truy kích và tiêu diệt du kích quân như đóng giả làm quân du kích, tuần tiễu, lùng sục, giăng bẫy, phục kích. Quân giải phóng tỏ rõ không đủ sức chống đỡ trước sức tiến công của quân chính quy của Chính phủ được trang bị vũ khí hiện đại. Trong hàng ngũ chỉ huy của Quân giải phóng không có lấy một người cầm quân chuyên nghiệp; nhiều chiến sĩ Huk thậm chí không biết sử dụng hoả khí. Năm 1953, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt; một số nhóm nhỏ các chiến binh Huk còn lại bị đánh bật vào rừng núi các tỉnh miền Trung Ludông nhưng bị chia cắt, không thể liên hệ được với nhau.


Sau khi dập tắt phong trào khởi nghĩa nông dân, nhiệm vụ của Quân đội Philippin được chuyển từ đàn áp phong trào nông dân và chống nổi dậy sang phòng thủ, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Thêm vào đó, những lo ngại hoang tưởng của Mỹ về các cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản, đặc biệt là trước những diễn biến ở Trung Quốc, Triều Tiên và Đông Âu... đã thúc đẩy Mỹ khẩn trương giúp Chính phủ Philippin xây dựng quân đội theo hướng hiện đại hoá.


Theo học thuyết quân sự những năm 50 thế kỷ XX của Quân đội Mỹ, không quân có vai trò quyết định trên chiến trường và chiếm ưu thế so với các quân chủng khác. Chính vì vậy, trong khi giúp Philippin hiện đại hoá quân đội, Mỹ đặc biệt chú trọng đến lực lượng không quân.


Từ năm 1954, không quân Philippin bắt đầu chuyển sang sử dụng máy bay phản lực. Trong chuyến đi thăm các cơ sở không quân ở Mỹ (1954), Chuẩn tướng Pêlagiô Crút (Pelagio Cruz) đã đề xuất với các quan chức không quân Mỹ về việc hiện đại hoá không quân Philippin. Năm 1955, chương trình được Mỹ phê chuẩn và năm sau (1956), Đại tá Gôđốpređô Giulianô, một trong những người anh hùng thuộc phi đội tiêm kích số 6 trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các thiếu tá Pếttana, Giôde Racuđô và Đại úy Giôde Gin đã đưa những chiếc máy bay phản lực huấn luyện T-33 đợt đầu từ Nhật về căn cứ Các vì căn cứ Ba sa gần đó cần được Mỹ giúp thêm kinh phí cải tạo mới có thể tiếp nhận được máy bay mới. Trên thực tế, trong gần ba thập kỷ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, lực lượng không quân Philippin luôn đứng đầu trong số các lực lượng không quân của các nước ở khu vực Đông Nam Á.


Không quân Philippin được chú trọng tăng cường phát triển cả về trang bị vũ khí và tổ chức biên chế. Đơn vị chiến thuật cơ bản của không quân Philippín là các phi đội được trang bị tương đối hiện đại để có thể hoạt động độc lập trong các vùng chiến sự. Năm 1958, không quân Philippin có thêm một số phi đội tiêm kích F-86F "Sabrejet" từ thời chiến tranh Triều Tiên. Chỉ sau vài lần bay tập và tham gia diễn tập cùng với Tập đoàn không quân Mỹ số 13 ở căn cứ Clác, các phi công người Philippin đã có thể sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu. Sự ra đời của các phi đội yểm trợ đường không, tiền thân của lực lượng yểm trợ đường không hỗn hợp trong các thập kỷ sau, đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình xây dựng và hiện đại hoá Quân đội Philippin nói chung và của lực lượng không quân nói riêng.


Trong những năm 60 của thế kỷ XX, lực lượng không quân Philippin đã tiến những bước dài cả về vũ khí, trang bị kỹ thuật và tổ chức lực lượng. Ngoài hệ thống ra đa cảnh giới vùng trời trên toàn bộ quần đảo, không quân Philippin còn có thêm một lực lượng máy bay phản lực siêu âm F-5A/B "Freedom Fighter” trang bị tên lửa AIM-9B. Tuy nhiên, từ máy bay, trang bị kỹ thuật, nhiên liệu cho đến quần áo, mũ bay của phi công đều do Mỹ cung cấp. Ngay cả nhân viên bảo dưỡng cũng do người Mỹ huấn luyện. Do đó, có thể nói lực lượng không quân Philippin trong thời gian này là "không quân Mỹ do người Philippin điều hành". Năm 1962, Tổng thư ký Liên hợp quốc Đắc Hamơcgiôn đề nghị Chính phủ Philippin điều một phi đội máy bay chiến thuật F-86 sang Cônggô làm nhiệm vụ chống lực lượng ly khai ở nước này. Đầu năm 1963, phi đội Linbas của Philippin đã cùng các đơn vị tiêm kích của Thuỵ Điển và Iran kiểm soát vùng trời tỉnh ly khai của Cônggô. Phi đội Linbas đã được Liên hợp quốc tặng huân chương.


Cùng năm đó, lực lượng không quân Philippin đã thực hiện xuất sắc một nhiệm vụ nhân đạo ở tỉnh Tuylíc trên đảo Bai của Inđônêxia; giúp nhân dân ở đây khắc phục hậu quả do hoạt động của núi lửa Gunung Agung. Các nhân viên quân y của không quân Philippin đã cùng một nhóm bác sĩ và y tá của Bộ Y tế tham gia cứu chữa cho hàng nghìn người ở một bệnh viện dã chiến. Bảy thiếc C-47 của không quân Philippin chở nhân viên y tế, thuốc men và lương thực cứu trợ tới Tuylíc.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:28:59 am
Là một quốc gia hải đảo, Chính phủ Philippin rất chú trọng phát triển hải quân, bao gồm lực lượng tàu tiến công, lực lượng phục vụ, lực lượng sẵn sàng chiến đấu, không quân của hải quân, lực lượng tác chiến đặc biệt và hải quân đánh bộ.


Lực lượng tàu tiến công là một trong những thành phần lực lượng được hình thành sớm nhất của hải quân Philippin. Lúc mới thành lập (9.5.1955), lực lượng này còn rất khiêm tốn với 20 chiếc xuồng làm nhiệm vụ chống buôn lậu và được gọi là "đơn vị xuồng nhỏ". Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, số lượng tàu, xuồng bắt đầu được tăng cường và đến ngày 1 tháng 3 năm 1988 được đổi thành lực lượng tàu tiến công làm nhiệm vụ tác chiến ven biển và bảo đảm an ninh. Năm 1960, lực lượng phục vụ được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị các tàu trợ thủ và đổ bộ cho hạm đội.


Lực lượng sẵn sàng chiến đấu tuy ra đời muộn hơn (16.11.1964) song lại có vai trò rất quan trọng; đây là lực lượng chủ yếu kiểm soát và huấn luyện các hoạt động tác chiến trên biển đối với tất cả các đơn vị được phối thuộc; đồng thời vạch kế hoạch phát triển, thử nghiệm và đánh giá các quan điểm chiến thuật hải quân.


Không quân của hải quân Philippin được xây dựng trên cơ sở 2 chiếc máy bay PT-13 và L-5 do Mỹ chuyển giao từ năm 1947. Đến năm 1951, hai chiếc máy bay này được cải tạo thành thủy phi cơ để sử dụng cho các hoạt động chống buôn lậu và ngày 16 tháng 9 năm 1975, Quân đội Philippin chính thức thành lập binh chủng không quân của hải quân.


Lực lượng tác chiến đặc biệt là lực lượng tinh nhuệ nhất của hải quân Philippin; được sử dụng trong các hoạt động tác chiến đặc biệt trên biển, trên không và trên bộ (SEAL) như trinh sát, cận chiến, tình báo, đến các hoạt động ngầm dưới nước để yểm trợ cho các hoạt động tác chiến trên biển nói chung.


Hải quân đánh bộ được coi là lực lượng mũi nhọn của hải quân Philippin; được xây dựng đáp ứng yêu cầu cơ động cao, hoả lực mạnh để đối phó với các lực lượng ly khai và các phần tử hoạt động bất hợp pháp dọc bờ biển. Từ chỗ chỉ là một đơn vị cỡ đại đội với 212 binh sĩ, ngày nay hải quân đánh bộ Philippin đã phát triển thành một binh chủng mạnh.


Để tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh vùng biển quốc gia và các hoạt động khác như phục vụ hậu cần, phát triển cộng đồng trong phạm vi khu vực đảm nhiệm, hải quân Philippin được chia thành các bộ tư lệnh tác chiến trên biển phụ trách lực lượng các khu vực, bao gồm Lực lượng hải quân phía Bắc, Lực lượng hải quân Trung tâm, Lực lượng hải quân phía Tây và Lực lượng hải quân phía Nam.


Trong những năm 60 của thế kỷ XX, một trong những hoạt động quân sự nổi bật của Quân đội Philippin là tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), đồng minh thân cận của Mỹ và dưới áp lực của Mỹ, Philippin dù không muốn vẫn phải chia sẻ trách nhiệm với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 20 tháng 7 năm 1964, Quốc hội Philippin thông qua đạo luật cho phép tổng thống nước này tăng viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam Cộng hoà. Đạo luật này đã được thực hiện thông qua việc cử sang Nam Việt Nam lực lượng đặc nhiệm, giới hạn nhiệm vụ vào việc thi hành công tác dân sự vụ bao gồm một tiểu đoàn công binh xây dựng, các nhân viên y tế và chuyên gia phát triển nông thôn, 1 tiểu đoàn an ninh, 1 pháo đội dã chiến cùng với các thành phần hậu cần và sở chỉ huy. Lực lượng đặc nhiệm này lên đến con số 2.061 người (năm 1966). Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng các căn cứ quân sự ở Philíppin để tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam.


Để đổi lại sự trợ giúp của Philippin, ngoài việc cung cấp đầy đủ trang thiết bị đầy đủ cho lực lượng Philippin ở Nam Việt Nam, Mỹ còn phải đưa ra một chương trình viện trợ quân sự lớn cho quân đội nước này, trong đó có khoản cung cấp cho Phihppin 4 tàu tuần tra trên sông phục vụ hoạt động chống buôn lậu của Quân đội Philippin, súng trường M.14 và súng máy cho một tiểu đoàn cảnh sát, trang bị đủ cho 3 tiểu đoàn công binh. Số viện trợ này là phần bổ sung vào lời cam kết trước đây của Mỹ đối với Philippin gồm 1 tàu khu trục hộ tống và một số tàu tuần tra, đồng thời phải cung cấp thêm 1 phi đội F-5 và một số trực thăng cho lực lượng không quân Philippin. Trong thời gian này, Philippin đang được hưởng khoản viện trợ quân sự hàng năm gồm 17 triệu USD thiết bị công binh và khoảng 1,5 triệu USD trợ giúp do Mỹ cung cấp. Philippin dự kiến cuối năm 1967 sẽ thay quân ở Việt Nam, khoảng 600 sĩ quan, binh sĩ sẽ đến Nam Việt Nam vào ngày 20 tháng 9 năm 1967. Tuy nhiên, kế hoạch chưa kịp thực hiện thì những lý do về tài chính, an ninh, chính trị ở trong nước cũng như tình thế cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam đã khiến cho Philippin không những không thể đưa quân sang thêm mà phải rút quân dần về nước. Kế hoạch rút quân được thực hiện từ ngày 25 tháng 11 năm 1969 và kết thúc vào ngày 15 tháng 2 năm 1970.


Ngoài các hoạt động quân sự, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Quân đội Philippin còn được huy động tham gia các chương trình xã hội - kinh tế của đất nước. Giữa những năm sáu mươi, Quân đội Philippin thành lập các trung tâm hành động dân vận nhằm giúp các cộng đồng dân cư ở gần các căn cứ không quân thực hiện các dự án từ phát triển sản xuất lương thực đến xoá nạn mù chữ cho người lớn. Ngoài ra, tất cả các đơn vị chiến thuật của lực lượng không quân đều tham gia các chương trình xã hội nhằm tranh thủ "trái tim và khối óc" dân chúng.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:30:21 am
Từ khi Maccôt lên cầm quyền (1965), Philippin cũng bắt đầu lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội. Mọi nỗ lực cải cách của chính quyền trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp đều không đem lại kết quả mà chỉ làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng trở nên rõ rệt, dẫn đến một cao trào đấu tranh mới chống chính quyền. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản do Hôxê Maria Xixon đứng đầu rnuốn thổi một luồng sinh khí mới cho phong trào du kích tưởng như đã nguội tắt bằng việc tổ chức ra Quân đội nhân dân mới (năm 1969). Quân đội nhân dân mới (NPA) triển khai đấu tranh vũ trang ở miền Trung Ludông và ở nhiều nới khác chống chính phủ. Ở miền Nam, lực lượng Hồi giáo cực đoan cũng nổi dậy chống chính phủ do làn sóng di cư từ miền Bắc, chủ yếu là các tín đồ Thiên chúa giáo đến các vùng đất truyền thống của người Hồi giáo ở phương Nam. Năm 1968, người Hồi giáo thành lập Phong trào độc lập và năm 1969 họ tổ chức ra Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô (MNLF) để lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang chống chính phủ.


Trước tình hình khủng hoảng toàn diện của đất nước, ngày 21 tháng 9 năm 1972, Tổng thống F.Maccôt tiến hành cuộc đảo chính quân sự và thiết lập chế độ độc tài với lý do không thể giải quyết các vấn đề chính trị và kinh tế xã hội nếu như tổng thống không được toàn quyền hành động. Sau đảo chính, Maccôt tuyên bố thiết quân luật, đồng thời bắt giam nhiều lãnh tụ của các đảng đối lập; nhiều tờ báo bị cấm, những tờ báo còn được hoạt động phải đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ. Lúc này, quân đội trở thành chỗ dựa chủ yếu của chính phủ và được tăng cường đầu tư. Ngân sách quốc phòng được gia tăng với mức độ chưa từng thấy, từ 800 triệu pêxô năm 1972 lên 4 tỷ vào năm 1986 và cùng với tăng ngân sách, quân số cũng được tăng lên gần gấp đôi, từ 60 nghìn lên 113 nghìn trong cùng thời gian trên1 (Đ.V. Mô-xia-cốp, V.A. Chiu-rin, Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr.321).


Cũng như Quân đội Inđônêxia dưới thời Xuhacto, các sĩ quan và tướng lĩnh cao cấp được phái về các khu vực để kiểm soát hoạt động của chính quyền địa phương; được cài vào các bộ, các ngành để giám sát việc thực hiện các quyết định của nhà độc tài. Song, giới quân sự Philippin đã không kiểm soát được toàn bộ tình hình đất nước. Mặc dù năm 1981, Maccôt đã bãi bỏ thiết quân luật và phóng thích các đối thủ chính trị bị ông bắt giam năm 1972, song tình hình vẫn không được ổn định. Nạn tham nhũng tràn lan, đời sống khó khăn của đông đảo các tầng lớp nhân dân là những nguyên nhân chủ yếu gây nên làn sóng đấu tranh của các lực lượng đối lập đòi trở lại các chuẩn mực dân chủ.


Mặc dù Quân đội Chính phủ đạt được một số kết quả nhất định trong việc trấn áp những người cộng sản, bắt giam Xixon, song quân số của NPA vẫn gia tăng, gấp đôi so với thời kỳ đảo chính. Phong trào Hồi giáo với sự ủng hộ của nhiều nước Ả rập đã được củng cố cả về lực lượng và tổ chức Nghĩa quân Hồi giáo thường xuyên xung đột với quân Chính phủ làm cho tình hình ở Minđanao và trong cả nước hết sức căng thẳng.


Sau vụ ám sát Benhigô Aquinô, một trong những đối thủ chính trị chính của Maccôt, tình thế suy sụp của chế độ độc tài càng trở nên rõ nét. Với hy vọng củng cố quyền hành chính thống của mình, Maccôt tuyên bố tiến hành tổng tuyển cử trong cả nước. Song, cuộc bầu cử đầu năm 1986 đã đem lại thắng lợi cho các địch thủ chính trị của Maccôt do quả phụ của Benhigô Aquinô, bà Aquinô Coraxôn đứng đầu.


Dưới thời Aquinô Coraxôn (1986-1992), giới quân sự thường xuyên biểu lộ sự bất bình với chính phủ của Tổng thống Aquinô Coraxôn bởi họ bị đẩy xa khỏi quyền lực. Phái quân sự cho rằng phái chính trị cầm quyền đã phản bội họ và "quá nhân nhượng" đối với cộng sản; do vậy, họ đã mưu toan tiến hành hàng loạt cuộc bạo loạn nhằm vào chính phủ của Tổng thống Aquinô, trong đó lớn nhất là các cuộc nổi dậy năm 1987 và 1989 dưới sự chỉ huy của Đại tá Hônaxan và Thiếu tá đanilô Atiênza. Tuy nhiên, lực lượng nổi dậy không có được sự ủng hộ của cả công chúng và quân đội, do đó không thể lật đổ được chính quyền của Tổng thống Aqumô. Mặc dù vậy, các cuộc đảo chính hụt đã gây tổn thất nặng nề cho lực lượng vũ trang Phihppin, đặc biệt đối với không quân. Chẳng hạn, trong cuộc nổi dậy ở Xănglây Phinđơ ngày 2 tháng 12 năm 1989 do thiếu tá đam lô Atiênza chỉ huy, 7 chiếc T-28, 1 trực thăng Sikorsky đã bị bắn rơi cùng với một kho xăng bị phá hủy.


Sau khi Phiđen Ramốt lên cầm quyền (1992), ông bắt đầu đàm phán với Mặt trận dân tộc dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đề nghị hợp pháp hoá Đảng Cộng sản và tuyên bố ân xá cho những người đã từng lãnh đạo khởi nghĩa. Những đề nghị này đã gây nên sự bất đồng nghiêm trọng trong hàng ngũ những người cộng sản, dẫn đến sự chia rẽ trong đảng; nhiều tổ chức xã hội cũng rút khỏi Mặt trận dân tộc dân chủ. Một mặt tiến hành đàm phán, mặt khác Ra mốt cho quân đội tăng cường các chiến dịch tiến công các căn cứ cơ bản của những người cộng sản. Năm 1993, quân Chính phủ chiếm được đại bản doanh của Đảng Cộng sản ở miền Trung Ludông và bắt nhiều nhà lãnh đạo của phong trào du kích.


Sự chia rẽ về tổ chức, những thất bại trên mặt trận đấu tranh vũ trang đã làm cho tinh thần và lực lượng của NPA suy sụp. Đến năm 1995, quân số của NPA chỉ còn không quá 4-5 nghìn người.


Song song với việc đàm phán với lực lượng cộng sản, năm 1992 Chính phủ cũng tiến hành đàm phán với tổ chức lớn nhất của lực lượng Hồi giáo chống đối là Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô, lúc này lực lượng đã có tới 20 nghìn người1 (Các số liệu ở trang này dẫn theo: Đ.V. Mô-xia-cốp, V.A. Chiu-rin, Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr.383). Tháng 1 năm 1994, hai bên ký thoả thuận ngừng bắn và năm 1996, lãnh tụ Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô Nu Mixuari ký với Phiđen Ra mốt bản hoà ước trao quyền tự trị cho 4 tỉnh trên đảo Minđanao, nơi người Mô rô theo đạo Hồi chiếm đa số. Riêng với Mặt trận Hồi giáo giải phóng dân tộc Mô rô phải đến năm 1997 Chính phủ mới ký được hoà ước, theo đó 8 nghìn tay súng Hồi giáo đã nộp vũ khí. Tuy chưa đạt được thoả thuận ngừng bắn với tất cả các nhóm Hồi giáo cực đoan đã tách ra khỏi Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô, song đến giữa thập niên chín mươi thế kỷ XX, tình hình chính trị ở miền Nam Phihppin đã tương đối ổn định; ngoại trừ tổ chức Abu Xayap (Abu Sayyaf) vẫn tiếp tục hoạt động khủng bố và bắt giữ con tin.


Thành công lớn nhất của Phiđen Ramốt là đã giải quyết tốt vấn đề lực lượng quân đội chống đối thể chế chính trị được thiết lập từ năm 1986. Cuối tháng 8 năm 1994, sau nhiều lần đàm phán, chính quyền Ramốt đã thuyết phục được đa số binh lính và sĩ quan chống đối hạ vũ khí và đầu hàng quân chính phủ. Một bộ phận đáng kể trong số họ được khôi phục địa vị và trả lương cho cả thời gian họ đứng trong hàng ngũ chống đối. Chính phủ đã ký thoả thuận với những sĩ quan quân đội đã lập ra cái gọi là Liên minh cách mạng dân tộc và thuyết phục họ hoà nhập tổ chức của mình vào đời sống chính trị bằng cách tham gia chiến dịch bầu cử năm 1995.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:33:03 am
Về quan hệ quân sự đối ngoại, từ năm 1991, Phihppin bắt đầu giảm dần sự phụ thuộc vào Mỹ do Thượng viện Philippin ngày 16 tháng 9 năm 1991 đã bỏ phiếu bác bỏ Hiệp định về căn cứ quân sự giữa Philippin và Mỹ. Vào thời điểm này, do chính sách hoà hoãn của Chính phủ với các lực lượng nổi dậy, đồng thời nền kinh tế có những cải thiện đáng kể đã cho phép Chính phủ có thể tập trung nhiều hơn vào nhiệm vụ xây dựng quân đội. Mặt khác, từ thập niên chín mươi, do những thay đổi chính trị - quân sự trên quy mô toàn cầu và khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong nước đã khiến Chính phủ phải tăng cường ngân sách cho các lực lượng vũ trang. So với ngân sách quốc phòng một số nước trong khu vực, ngân sách quốc phòng năm 1995 của Philippin còn rất thấp, chỉ có 26,1 tỷ pê xô (gần 1 tỷ USD). Do vậy, năm 1996, Chính phủ Philippin đã đề ra kế hoạch hiện đại hoá quân đội (hoàn thiện vào năm 2010) với tổng chi phí khoảng 330 tỷ pê xô, tương đương 15 tỷ USD. Với khoản ngân sách này (không nằm trong ngân sách quốc phòng hàng năm), Quân đội Philippin dự tính sẽ mua sắm vũ khí trang bị mới, nâng cấp một số vũ khí hiện có và cải thiện các cơ sở hạ tầng trong thời kỳ 15 năm. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở châu Á năm 1997, chiến dịch tấn công của các nhóm Hồi giáo ly khai ở miền Nam cũng như cuộc tấn công của Mỹ vào Apganixtan làm cho chương trình hiện đại hóa khó thực hiện được theo đúng kế hoạch (đến năm 2001 mới chi khoảng 7 tỷ USD).


Trong chương trình hiện đại hóa quân đội, chính quyền Philippin tiếp tục dành ưu tiên phát triển lực lượng hải quân và không quân theo hướng điều chỉnh tổ chức và quân số, giảm quân thường trực, tăng cường quân dự bị; phát triển học thuyết quân sự nhằm hướng tới mục tiêu sẵn sàng phản ứng tự vệ; đẩy mạnh chương trình huấn luyện vào giáo dục quân sự theo hướng nâng cao kỹ năng và đào tạo các quân nhân lành nghề (trong đó có đội ngũ các chuyên gia); đồng thời xây dựng hạ tầng cơ sở thích ứng với những nội dung cơ bản như xây dựng hệ thống thông tin hiện đại, các căn cứ quân sự, các cơ sở hạ tầng về hậu cần, kỹ thuật... Đặc biệt, Philippin rất chú trọng xây dựng các căn cứ hải quân không chỉ nhằm mục đích bảo vệ giao thông đường biển, bảo đảm cho các hoạt động của hải quân mà còn là yếu tố kích thích các hoạt động kinh tế của quốc gia.


Để hiện đại hoá vũ khí trang bị kỹ thuật, từ năm 1991 đến năm 2001, Philippin đã chi khoảng 6 tỷ USD. Hướng mua sắm chủ yếu là của Mỹ, Trung Quốc, Nga và các công ty khác của nước ngoài. Chương trình mua sắm nói trên được soạn thảo dựa trên yêu cầu về an ninh quốc phòng trong bối cảnh chính trị - quân sự mới ở khu vực, trong đó có vấn đề tiêu chuẩn hoá và hợp tác quân sự giữa các nước trong khối ASEAN.


Theo hướng mở rộng hợp tác quân sự với các nước (ngoài Mỹ), ngày 14 tháng 9 năm 1994, Philippin đã ký với Pháp thoả thuận hợp tác quân sự giữa hai nước, mở đường cho Pháp giúp đỡ hiện đại hoá quân đội nước này theo chương trình 15 năm. Nội dung hợp tác bao gồm huấn luyện kỹ thuật quân sự, chuyển giao công nghệ, các cuộc tập trận chung, mua sắm trang bị kỹ thuật, trao đổi các chuyên gia quân sự và đào tạo học viên quân sự. Ngoài ra, Philippin cũng nhận được sự trợ giúp từ Cộng hoà Liên bang Đức.


Tuy nhiên, Philippin vẫn duy trì quan hệ quân sự truyền thống với Mỹ và đó là hướng hợp tác cơ bản. Viện trợ quân sự của Mỹ cho Philippin đã tăng từ 1,9 triệu USD năm 2001 lên đến 400 triệu USD năm 20041 (Tạp chí Quốc phòng Malaixia "ADJ" 10.2004). Philippin tiếp tục mua một số máy bay mới để thay thế máy bay F-5 A/B đã có trong trang bị của không quân Philippin từ hơn 30 năm nay. Sức mạnh của hải quân Philippin cũng tiếp tục được tăng cường bằng việc mua sắm thêm một số tàu tuần tra cỡ nhỏ mang tên lửa của Pháp, còn Mỹ sẽ giúp họ thiết kế pháo hạm cỡ nhỏ. Các công ty đóng tàu của Cộng hoà Liên bang Đức sẽ giúp Philippin đóng tàu nổi và sửa chữa tàu tại chỗ...


Về khả năng tự đảm bảo trang thiết bị kỹ thuật trong nước, Philippin có 4 cơ sở được coi là then chốt của nềil công nghiệp quốc phòng nước này, gồm:


Công ty các hệ thống chính xác chuyên về công nghệ và nghiên cứu đạn dược. Công ty này bắt đầu hoạt động từ năm 1997, có nhiệm vụ sản xuất các mặt hàng chất lượng cao do Philippín tự thiết kế như ngòi nổ cho súng cối 60mm, 81mm, lựu pháo RG-3, súng cối FMS2-A2 và FM-A2, rốc két FRK3, bom nhiên liệu không khí CB-4, đạn  GL-8. Công ty còn làm nhiệm vụ cải tiến, nâng cấp vũ khí 1 trang bị nhằm đáp ứng nhu cầu của hoạt động quân sự.


Công ty phát triển hàng không vũ trụ (PAD) thành lập năm 1973, vẫn là xí nghiệp của nhà nước nhằm phát triển ngành công nghiệp hàng không Philippin với ba yêu cầu: tự lập, an ninh quốc gia, chuyển giao công nghệ. Hướng hoạt động chính là chế tạo và lắp ráp máy bay và phụ tùng, đồng thời là trung tâm dịch vụ máy bay lên thẳng BO-105 của công ty BN Islander. Hiện nay, PAD có khả năng sản xuất và lắp ráp máy bay theo đơn đặt hàng của Đức, Anh; bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa cho một số công ty của Ôxtrâylia, Italia. Năm 1989, PAD hợp tác với một công ty của Italia lắp ráp máy bay phản lực huấn luyện và máy bay chiến đấu S-211, máy bay SF-260 cho không quân Philippin. Ngoài ra, PAD còn hợp tác với Ixraen chế tạo máy bay KFIR, hợp tác với Mỹ cải tiến máy bay F-5 A/B,...1 (Quân đội và trang bị các nước ASEAN... Sđd, tr.14).


Công ty công nghiệp công nghệ hàng không thành lập năm 1989 có nhiệm vụ thiết kế, phát triển và chế tạo hệ thống trang bị pháo cho máy bay S-211; đồng thời cung cấp cấu kiện composite và thực hiện các dịch vụ bảo dưỡng máy bay.


Công ty GKN Defense chuyên thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cho lục quân Philippin như chế tạo, sửa chữa, bảo dưỡng xe máy bọc thép, chuyển giao công nghệ. Hoạt động của công ty được khởi đầu bằng sự kiện Quân đội Philippin chọn xe bọc thép SIMBA để chở quân trong các hoạt động bảo đảm an ninh nội địa. GKN đã có các liên kết với Công ty công nghệ xe bọc thép liên doanh châu Á chế tạo và xuất khẩu các phương tiện kỹ thuật tăng thiết giáp.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:35:14 am
III. Tổ chức biên chế và trang bị của Quản đội Cộng hoà Philippin hiện nay

Hiện nay, Quân đội Philippin có ba quân chủng là lục quân, không quân và hải quân; thực hiện tuyển quân theo chế độ tình nguyện; thời gian phục vụ là 18 tháng. Theo hiến pháp, các lực lượng vũ trang Philippin có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, phòng thủ lãnh thổ, chống lại mọi thù trong giặc ngoài; lập kế hoạch, tổ chức duy trì và phát triển lực lượng chính quy và dự bị cho nền an ninh quốc gia; thực hiện mọi chức năng và nhiệm vụ khác khi được giao phó. Tổng thống đồng thời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, chỉ đạo chiến lược quốc phòng thông qua Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu. Bộ Quốc phòng điều hành và giám sát các lực lượng vũ trang.


Người đứng đầu Quân đội Philippin là Tổng Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang, có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chính sách và chỉ thị của Chính phủ về quốc phòng. Giúp việc cho Tổng Tham mưu trưởng là Phó Tổng tham mưu trưởng và các cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tham mưu kỹ thuật và binh chủng cùng đội ngũ thư ký riêng. Trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, ngoài các bộ tư lệnh quân chủng (hải, lục, không quân) còn có các cục và bộ tư lệnh trực thuộc làm nhiệm vụ bổ trợ như Cục Tình báo, Bộ tư lệnh Hậu cần, Cục Thông tin viễn thông - điện tử, Trung tâm đồ bản, Bộ tư lệnh huấn luyện đào tạo, Học viện chỉ huy tham mưu liên quan và Bộ tư lệnh quân dự bị...


Ngoài việc chia lực lượng lục quân thành các quân khu (cả nước được chia thành 9 quân khu), Philippin còn chia thành 5 khu vực với các lực lượng hỗn hợp, mỗi khu vực trực thuộc một bộ tư lệnh thống nhất. Nhằm chỉ huy và kiểm soát có hiệu quả, các bộ tư lệnh thống nhất được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tham mưu. Tư lệnh Bộ tư lệnh thống nhất có trách nhiệm tổ chức phối hợp tác chiến giữa các quân chủng trên địa bàn đảm trách; đồng thời có quyền giao nhiệm vụ cho lực lượng của các quân chủng thuộc biên chế trong các quân khu.


Tổng quân số lực lượng thường trực của Quân đội Philippin năm 2005 là 106.500; trong đó lục quân là 66.500, không quân 16.000 và hải quân 24.000. Bên cạnh lực lượng thường trực, Quân đội Philippin còn có một lực lượng dự bị động viên gồm 52.000 quân; ngoài ra còn có lực lượng bán vũ trang với 44.000 quân gồm 40.500 cảnh sát quốc gia và 3.500 quân thuộc lực lượng bảo vệ bờ biển.


Lục quân Philippin (PA) có nhiệm vụ chính là lập kế hoạch tổ chức lực lượng, huấn luyện và trang bị cho quân đội nhằm hoàn thành một cách nhanh chóng cũng như thực hiện lâu dài các hoạt động chống bạo loạn và các hoạt động tác chiến trên bộ; sẵn sàng thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, chương trình quốc phòng và nhiệm vụ của lực lượng vũ trang. Trong thời bình, lục quân phải sẵn sàng đối phó với mọi tình huống khẩn cấp; cùng với các quân chủng khác phát triển chiến thuật, kỹ thuật và trang bị cần thiết trong các hoạt động dã chiến; đồng thời huấn luyện, tổ chức và trang bị cho tất cả các đơn vị dự bị của lục quân.


Về tổ chức lực lượng, lục quân Philippin cỏ 9 sư đoàn bộ binh, 27 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn thiết giáp độc lập, 1 trung đoàn đặc nhiệm độc lập, 1 trung đoàn pháo binh (khung), 5 tiểu đoàn công binh độc lập và 1 cụm lực lượng an ninh của tổng thống. Mỗi sư đoàn có 3 lữ đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng. Các sư đoàn bộ binh được triển khai trên tất cả các hướng chiến lược ở khắp quần đảo Philippin và đều nằm dưới sự kiểm soát tác chiến của các bộ tư lệnh quân khu thống nhất. Trang bị của lục quân gồm có 520 xe tăng, xe thiết giáp (65 xe tăng Scorpion, 455 xe thiết giáp), 230 pháo mặt đất, 40 cối các loại và 4 máy bay. Tổng hành dinh của PA đóng tại pháo đài Bôniphaxiô Makêti - thủ đô Manila.


Binh sĩ lục quân Philippin là những người có năng lực, tinh thần chiến đấu cao và tận tụy với nhiệm vụ; được huấn luyện và trang bị tốt nhất. Là những người có tính kỷ luật, lòng dũng cảm, danh dự, có năng lực, tính đoàn kết và lòng trung thành, người lính lục quân luôn luôn sẵn sàng bảo vệ và chiến đấu vì nhân dân, vì đất nước.


Con đường binh nghiệp của sĩ quan trong lục quân Philippin mở rộng trong nhiều lĩnh vực như bác sĩ, kỹ sư, học giả, nhà quản lý, chuyên gia máy tính, truyền thông, kiến trúc... Sĩ quan được hưởng chế độ lương bổng hấp dẫn và nhiều quyền lợi khác như chăm sóc y tế, bảo hiểm, chế độ hưu... Lương khởi điểm hàng năm tối thiểu của sĩ quan là 150.000 pê xô. Lục quân Phihppin có chế độ đãi ngộ thích đáng và các khoản phụ cấp như quần áo, trợ cấp gian khổ, được chăm sóc y tế cho bản thân và gia đình, có nhà ở, có thẻ mua hàng cung cấp, được trợ giúp tài chính, bảo hiểm, chế độ nghỉ hưu... Sĩ quan còn có cơ hội được đi du lịch tới nhiều danh lam thắng cảnh ở trong nước hoặc nước ngoài.


Việc nâng cao trình độ học vấn là yêu cầu thường xuyên, được thực hiện thông qua nhà trường và các cuộc hội thảo. Hệ thống đào tạo sĩ quan của lục quân Philippin là một hệ thống tương đối mở, có thể trực tiếp đào tạo sĩ quan cấp thiếu úy bổ sung cho lực lượng chính quy qua lớp đào tạo sĩ quan OCC (Offlcer Candidate Course) hoặc cho lực lượng dự bị qua lớp đào tạo OPC (Offlcer Preparatory Course). Người dự tuyển phải có đủ các điều kiện sau:


Đối với lớp OCC: Thời gian đào tạo 1 năm, áp dụng cho các công dân Philippin chưa có gia đình, có bằng tú tài; cao ít nhất 1,62m đối với nam và 1,57m đối với nữ, không quá 25 tuổi, chưa can án và có đủ điều kiện thể chất và tinh thần để chịu đựng gian khổ trong huấn luyện quân sự. Kết quả kiểm tra năng khiếu phải đạt 100 điểm trở lên.


Đối với lớp OPC: Thời gian đào tạo 6 tháng, áp dụng cho các công dân Philippin có bằng tú tài, đã tốt nghiệp khoá huấn luyện sĩ quan tập sự, cao ít nhất 1,62m đối với nam và 1,57m đối với nữ, không quá 29 tuổi trước khi bắt đầu huấn luyện. Sau khi tốt nghiệp được phục vụ trong lực lượng dự bị với hàm thiếu úy.
Dự tuyển OPC phải là những người đã được gọi vào lực lượng thường trực. Người dự tuyển có thể nộp hồ sơ ở cơ quan quân sự gần nhất hoặc một trong các đơn vị sau: Tổng hành dinh Lục quân (Makêti); Sư đoàn 5 bộ binh (Ganu, Isabela); Sư đoàn 7 bộ binh (Nueva Ecigia); Sư đoàn 3 bộ binh (Ilôilô); Sư đoàn 8 bộ binh (Latbalôgan); Lữ đoàn 53 công binh (Xê bu); Sư đoàn 1 bộ binh (Zămbônga); Sư đoàn 4 bộ binh (Cagaian Đê Ôgô); Sư đoàn 6 bộ binh (Côtabacô).


Lực lượng lục quân Philippin được một số chuyên gia quân sự nước này đánh giá là lực lượng tinh nhuệ và là "niềm kiêu hãnh của quốc gia". Đây là lực lượng không chỉ có quân chính quy tinh gọn mà còn có lực lượng dự bị động viên mạnh. Với khẩu hiệu: "Trong chiến tranh, lục quân quyết giành chiến thắng; trong thời bình, góp phần xây dựng đất nước", lục quân Philippin luôn đáp ứng những yêu cầu thay đổi và mong muốn của nhân dân Philippin. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hoặc thảm hoạ thiên tai, lục quân Philippin là lực lượng cứu trợ tức thời, đáng tin cậy.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:35:49 am
Không quân Philippin (PAF) là quân chủng quan trọng thứ hai và có bề dày lịch sử sau lục quân; có nhiệm vụ vạch kế hoạch tổ chức, huấn luyện và trang bị cho các lực lượng của mình với mục đích tiến hành tác chiến trên không mau lẹ và chắc chắn. Ngoài ra còn có nhiệm vụ hỗ trợ cho lục quân và hải quân. Bộ tư lệnh Không quân đóng tại căn cứ không quân Vilamô, thành phố Pasay. Trong nhiều thập niên trước, không quân Philippin được đánh giá là lực lượng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á.


Tổng quân số của không quân năm 2005 là 16.000, được tổ chức thành 3 liên đội máy bay chiến đấu, 1 liên đội máy bay lên thẳng chống nổi dậy, 7 đại đội máy bay vận tải 2 đại đội máy bay lên thẳng, 1 đại đội trinh sát liên lạc, 4 đại đội máy bay huấn luyện. Không quân Philippin được trang bị 419 máy bay các loại, bao gồm 58 máy bay chiến đấu (1 máy bay SF-260, 10 máy bay SF-211, 11 chiếc F-5A/B và 36 các loại khác); 227 máy bay lên thẳng vũ trang (60 chiếc Bell UH-1H/M, 12 chiếc AUH-76, 3 chiếc Bell-212, 2 chiếc SA-330, 10 chiếc Bell-412, 10 chiếc BO-105C, 2 chiếc S-70A; 106 chiếc Bell-205, 22 chiếc Hughes-500/520MD); 54 máy bay trinh sát liên lạc; 38 máy bay vận tải và 42 máy bay huấn luyện.


Hải quân Philippin là lực lượng bảo vệ vùng biển và bờ biển quốc gia với bốn nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, răn đe và phát triển quốc gia; có trách nhiệm lập kế hoạch, tổ chức huấn luyện và trang bị cho các lực lượng của mình nhằm thực hiện một cách nhanh chóng và chắc chắn các hoạt động tác chiến trên biển và các hoạt động hỗ trợ cho lục quân và không quân.


Ngoài chức năng, nhiệm vụ được xác định khi mới thành lập là bảo vệ bờ biển quốc gia, ngày nay chức năng, nhiệm vụ của hải quân Philippin đã được mở rộng, bao gồm cả bảo vệ lãnh thổ, chống xâm lược từ bên ngoài; bảo đảm an ninh cho các vùng biển của Philippin, chống mỏi hành động xâm nhập và xâm phạm, chống cướp biển và buôn lậu ma túy; giúp các cơ quan nhà nước bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường biển; trợ giúp các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn không chỉ trong các sự cố. Trên biển mà cả khi xảy ra thiên tai trên đất liền như động đất, núi lửa hoạt động và lũ lụt; trợ giúp các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức, huấn luyện, trang bị, bảo dưỡng và sử dụng các chiếm hạm và máy bay cho các hoạt động tác chiến trên biển. Với các phương tiện mới và có nhiều khả năng hơn trước hải quân là công cụ hữu hiệu của chính phủ trong việc thực hiện những cam kết quốc tế liên quan đến an mình lãnh hải.
Hạm đội hải quân được chia thành các đơn vị theo loại chiến hạm hay nhiệm vụ, bao gồm: lực lượng sẵn sàng chiến đấu, lực lượng tuần tra, lực lượng phục vụ, lực lượng tàu tiến công, lực lượng không quân của hải quân và lực lượng tác chiến đặc biệt, lực lượng hải quân đánh bộ và các đơn vị phục vụ bảo đảm về hậu cần, tài chính...


Hiện nay hải quân Phililippin có 24.000 quân (trong đó 7.500 là hải quân đánh bộ). Ngoài lực lượng thường trực, hải quân Philippin còn có khoảng 3.500 quân làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển và bảo đảm thực hiện luật biển cũng như các công ước quốc tế về biển. Hải quân Philippin được tổ chức thành 6 vùng hải quân, 3 lữ đoàn hải quân đánh bộ (10 tiểu đoàn) với 1 bộ tư lệnh hạm đội, 1 bộ tư lệnh hải quân đánh bộ; 12 đơn vị hỗ trợ. Các căn cứ hải quân đóng tại mũi Xăng lây Pôntơ thuộc tỉnh Cavit, Guyrama và Zămbônga (Mianđanao), Xê bu, Quezôn (Palaoan)... Bộ tư lệnh hạm đội Philippin đóng tại thủ đô Manila.


Hải quân Philippin được trang bị 145 tàu, xuồng các loại; bao gồm 66 tàu chiến đấu (1 tàu hộ tống, 13 tàu tuần tiễu xa bờ và 52 tàu tuần tiễu ven bờ), 68 tàu, xuồng đổ bộ và 11 tàu phục vụ.


Lực lượng không quân của hải quân có 10 máy bay các loại trong đó 4 máy bay huấn luyện BN- 12A, 4 máy bay lên thẳng BO-105 và 2 máy bay Cessna 177. Hải quân đánh bộ được trang bị 30 xe bọc thép lội nước chở quân LVTP-5, 55 xe LVTP-7, 24 xe LAV-30; 150 khẩu pháo 105mm; súng cối 107mm M-30.


Từ sau ngày giành độc lập đến nay, Quân đội Philippìn luôn là lực lượng chủ yếu trong thực hiện nhiệm vụ phòng thủ đất nước, chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, bảo vệ an ninh nội địa, đối phó với các tổ chức Hồi giáo ly khai, Hồi giáo cực đoan ở miền Nam và các lực lượng chống đối, đối lập khác. Để gia tăng sức mạnh quân sự, đặc biệt là để đáp ứng yêu cầu phòng thủ đối ngoại, Philippin chủ trương tiếp tục tăng cường hợp tác và dựa vào Mỹ về quốc phòng an ninh, song vẫn đang nỗ lực để có thể từng bước tự lực phòng thủ và giảm bớt sự lệ thuộc vào Mỹ. Quân đội Philippin hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục coi trọng nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia tại các đảo và vùng biển mà Philippin đã tuyên bố chủ quyền ở biển Đông; tiếp tục theo đuổi chương trình hoà bình với Mặt trận Hồi giáo Môrô (MILF) và Mặt trận Dân chủ quốc gia (NDF); đồng thời tiến hành cuộc chiến tổng lực chống khủng bố, kể cả các nhóm khủng bố ở trong nước, khu vực và quốc tế, tăng cường hoạt động chống các loại tội phạm thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống như bắt cóc, buôn lậu ma túy, buôn người...


Hiện nay, Quân đội Philippin tiếp tục thực hiện chương trình hiện đại boá quân đội được đề ra từ năm 1996 nhằm nâng cao hơn nửa khả năng chống lại các mối đe doạ từ trong và bên ngoài đất nước, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia. Chính phủ Philippin ưu tiên phát triển hải quân và không quân theo hướng tinh, gọn, linh hoạt, đa năng để có thể thực hiện được các nhiệm vụ khác nhau như chống xâm lược, bảo vệ an ninh nội địa, cứu hộ thiên tai và tham gia xây dựng kinh tế. Theo hướng đó, hải quân sẽ mua một số tàu vận tải cỡ lớn, tàu tuần tiễu siêu tốc, máy bay, thiết bị thông tin liên lạc hiện đại, xuồng cứu hộ; nâng cấp các căn cứ hải quân Palaoan, Truy, Cavit và một số nhà máy đóng tàu; xây dựng một số cơ sở huấn luyện và một số căn cứ khác (trạm hải quân San Quen thuộc Ludông).


Trong kế hoạch hiện đại hoá không quân, Quân đội Philippin chú trọng phát triển khả năng tập kích, đánh chặn, tuần tiễu biển, không vận, trong đó nhấn mạnh đến vai trò chi viện cho các hoạt động của lục quân. Những năm tới, không quân Philippin tiếp tục thực hiện kế hoạch mua sắm máy bay chiến đấu đa năng (đã qua sử dụng) để thay thế loại máy bay F-5 và thực hiện nâng cáp các loại máy bay cũ. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch này phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế và quan điểm của Chính phủ đương nhiệm về việc tái thiết và tăng cường lực lượng vũ trang Philippin.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Mười Một, 2008, 11:32:31 am
(http://img240.imageshack.us/img240/4678/image001zc1.jpg)

(http://img208.imageshack.us/img208/8287/image002im8.jpg)

(http://img151.imageshack.us/img151/7850/image003ru6.jpg)

(http://img90.imageshack.us/img90/6329/image004om5.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 01:59:15 pm
QUÂN ĐỘI HOÀNG GIA THÁI LAN


I. Khái quát về đất nước, con người Thái Lan

Vương quốc Thái Lan nằm ở trung tâm Đông Nam Á. Phía đông bắc giáp Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, tây bắc giáp Liên bang Mianma, đông nam giáp Vương quốc Campuchia và Liên bang Malaixia. Diện tích tự nhiên của Thái Lan khoảng 513.000km2, được chia thành 4 vùng: vùng Bắc là vùng rừng núi và là nơi bắt nguồn nhiều con sông như Mê Ping, Mê Oang, Mê Lôm, Mê Nam...; vùng trung tâm, hay vùng lưu vực sông Chao Phraya được coi là trung tâm chính trị, kinh tế của Thái Lan với địa hình đồng bằng rộng lớn; vùng Đông Bắc là vùng cao nguyên có độ nghiêng dần từ phía tây và phía nam xuống phía đông, nơi có sông Mê Công chảy qua; vùng Nam nằm ở phần phía bắc đảo Malắcca. Bờ biển Thái Lan dài khoảng 2.500km, chạy vòng theo vịnh Xiêm. Thủ đô Thái Lan là Băng Cốc.


Theo con số thống kê năm 2005, dân số Thái Lan có khoảng 65 triệu người với nhiều dân tộc khác nhau. Trong đó người Thái (còn gọi là người Xiêm hoặc Khôn mai) chiếm 75% dân số cả nước và sinh sống chủ yếu ở vùng Trung tâm và vùng phía Nam của đất nước; người Lào có khoảng hơn 10 triệu, sinh sống chủ yếu ở vùng núi phía Bắc và vùng cao nguyên Khorạt; người Hoa có hơn 6 triệu, sống rải rác ở nhiều vùng khác nhau nhưng tập trung nhiều nhất ở Băng Cốc và các thành phố, thị xã; người Mã Lai có khoảng 1,2 triệu, sống tập trung ở vùng phía Nam. Ngoài ra, ở Thái Lan còn có người Khơme, Việt, Môn, sống rải rác ở các vùng khác nhau.


Tôn giáo chính ở Thái Lan là Phật giáo. Đạo Phật du nhập vào Thái Lan vào đầu Công nguyên qua dòng Phật giáo Xrilanca. Các truyền thuyết và chứng tích cho thấy người Môn và Khơme là những tín đồ Phật giáo đầu tiên của Thái Lan, nhưng trước đó họ cũng đã chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng vật linh và Ấn Độ giáo. Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo và Ấn Độ giáo cùng tồn tại trong cư dân Môn-Khơme...


Hiện nay Thái Lan là quốc gia quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là Quốc vương, đồng thời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Cơ quan lập pháp Thái Lan gồm hai viện (Thương nghị viện và Hạ nghị viện). Cơ quan hành pháp là Chính phủ, do Thủ tướng đứng đầu. Thái Lan là một trong năm nước thành viên sáng lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967, là thành viên của Liên hợp quốc (1946) và của nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế quan trọng khác. Thái Lan thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ vời Việt Nam ngày 6 tháng 8 năm 1976.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:00:24 pm
II. Lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội Hoàng gia Thái Lan

Khác với nhiều nước trong khu vực, Thái Lan là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không bị các thế lực ngoại bang đô hộ. Vì vậy, tính liên tục trong quá trình phát triển là một nét đặc trưng của Quân đội Thái Lan.


Lịch sử Quân đội Thái Lan gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Vương quốc Thái Lan và có thể chia làm 5 giai đoạn chủ yếu sau đây1 (Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau về việc chọn mốc thời gian hình thành Quân đội Hoàng gia Thái Lan. Có ý kiến cho rằng, Quân đội Hoàng gia Thái Lan bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ XVI, có ý kiến lại cho rằng nó bắt đầu từ thế kỷ XVIII, không ít bài viết lại lấy giai đoạn 1870-1910, thậm chí từ sau cuộc đảo chính dân chủ năm 1932. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy nên bắt đầu từ giai đoạn dựng nước. Bởi lẽ. sự xuất hiện của quân đội luôn gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước, hình thái nhà nước quyết định bản chất của quân đội. Trong lịch sử tồn tại của mình, Thái Lan chưa bị ách đô hộ của các thế lực ngoại bang, luôn duy trì được chế độ quân chủ; vì vậy, quá trình phát triển của quân Quân đội Thái Lan từ khi dựng nước tới nay chưa hề bị gián đoạn mà chỉ trải qua những lần cải cách trong một quá trình liên tục và có tính kế thừa, phát triển. Tuy nhiên, với những tư liệu hiện có, chúng tôi chưa xác định chính xác được ngày thành lập Quân đội Thái Lan): Giai đoạn 1 , từ thế kỷ VII đến thế thế kỷ XII, giai đoạn này gắn liền với quá trình củng cố và mở rộng Vương quốc Nam Chiếu của người Thái tại vùng thung lũng tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đồng thời cũng là quá trình người Thái di dân xuống phía Nam và thành lập các tiểu vương quốc ở khu vực Đông Nam Á. Giai đoạn hai, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII, là giai đoạn hình thành và hợp nhất các tiểu vương quốc của người Thái ở lưu vực sông Mê Nam và Mê Công thành vương quốc Đại Thành (Ayuthia 1350- 1767) và Vương quốc Xiêm (1767-1932). Quá trình này gắn liền với việc người Xiêm tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính các nước láng giềng và tổ chức chống lại sự xâm lược của Miến Điện. Giai đoạn 3, từ thế kỷ XIX đến năm 1945, Vương quốc Xiêm mở cửa với thế giới bên ngoài và chịu tác động mạnh mẽ của hệ tư tưởng phương Tây. Quân đội Xiêm bắt đầu quá trình chuyên nghiệp hoá và được xây dựng, tổ chức theo mô hình quân đội phương Tây; đặc biệt là mô hình của Anh, Mỹ, Đức. Giai đoạn 4, từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Đây là thời kỳ Quân đội Thái Lan chịu tác động mạnh mẽ của cuộc đối đầu đông-tây trong Chiến tranh lạnh và các học thuyết quân sự của Mỹ. Giai đoạn 5, từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, Thái Lan cùng các nước ASEAN phấn đấu xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng.


1. Sự ra đời và phát triển của Quân đội Thái từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, người Thái1 (Từ 1350-1767, Vương quốc Thái Lan có tên gọi là Vương qươc Đại Thành (Ayuthia). Từ 1767 đến 1939 được gọi là Vương quốc Xiêm. Đến năm 1939. Vương quốc Xiêm đổi tên thành Vương quốc Thái Lan như ngày nay (trừ các năm từ 1945-1948 được lấy lại tên là Vương quốc Xiêm)) có nguồn gốc từ vùng Tây Nam Trung Quốc. Vào khoảng giữa thế kỷ VIII, người Thái đã sống và lập vương quốc riêng của mình dưới tên gọi là Nam Chiếu (Nanchao) ở vùng Tây và Tây Bắc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Ngay sau khi thành lập, Vương quốc Nam Chiếu đã được coi là vương quốc hiếu chiến. Trong suốt nửa cuối thế kỷ VIII (760-800), dưới sự lãnh đạo của tộc trưởng Kolofeng (748-779) và những người kế nhiệm, người Thái đã chinh phục và không ngừng mở rộng quyền kiểm soát của mình đối với các quốc gia và bộ lạc láng giềng. Đến đầu thế kỷ IX lãnh thổ của người Thái đã kéo dài xuống tận châu thổ sông Iraoađy miến Điện), thậm chí quân Thái còn tiến đánh cả lãnh thổ nhà Đường (Trung Quốc) và đã hai lần vây hãm Thành Đô. Các đạo quân người Thái cũng đã tiến công sang cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ của nước An Nam, lúc bấy giờ nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc. Các chiến binh người Thái thời đó được mệnh danh là những chiến binh thiện chiến và dũng mãnh. Họ không chỉ thiện chiến trong Quân đội Nam Chiếu, mà còn thiện chiến cả trong quân đội của người Khơme, Miến Điện và người Mon trong tư cách của những chiến binh đánh thuê1 (The Encyclopedia of Militaly History from 3500 B,C to Present. Harper & Row Publisher. 1977. p.322). Theo sử sách ghi lại, "các đạo quân người Thái lúc đó rất đông, có khi lên tới hàng nghìn người, họ sử dụng thành thạo các loại bạch khí như cung, nỏ, giáo, mác, v.v...; các đội tượng binh Thái hoạt động rất có hiệu quả và thường được giao cho những người có chức quyền trong vương quốc quản lý, chỉ huy. Quân đội Thái lúc đó được tổ chức theo kiểu dân binh. Binh lính được tuyển mộ theo thời vụ, lúc có chiến tranh thì tham gia vào quân đội, lúc hoà bình thì làm nông nghiệp hoặc tham gia vào đội quân đánh thuê cho các nước láng giềng"1 (The Encyclơpedia of Mihtary History from 3500 B,C to Present. Opcid. p.336).


Vào khoảng đầu thế kỷ X, các bộ tộc người Thái bắt đầu quá trình di dân xuống phía Nam. Lúc đầu, đó là sự xâm nhập chậm chạp của cư dân dọc theo các con sông, xuống vùng phía Đông của Miến Điện và Lào ngày nay. Do kết quả của quá trình di dân, vào cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII, tại lưu vực sông Mê Oang và Mê Ping phía Tây Bắc Thái Lan ngày nay), các mường của người Thái bắt đầu hình thành các quốc gia nhỏ. Đứng đầu các quốc gia này là các tù trưởng, gọi là chao và chao-pha. Quá trình di dân diễn ra ồ ạt vào giữa thế kỷ XIII, khi Vương quốc Nam Chiếu của người Thái ở vùng Vân Nam bị quân Nguyên-mông thôn tính vào năm 1253. Lúc đó, người Thái chủ yếu tràn xuống vùng thung lũng sông Mê Nam và sông Mê Công và họ thành lập thêm nhiều quốc gia nhỏ ở đó Trong số các quốc gia đó, mạnh hơn cả là Sukhôtai. Trong gần 50 năm tồn tại, Sukhôtai đã chinh phục nhiều nước láng giềng, không ngừng mở rộng lãnh thổ. Vào cuối thế kỷ XIII, Sukhôtai bắt đầu suy yếu và cuối cùng bị vương triều Ayuthia thay thế.


Cho đến nay, có rất ít tài liệu viết về quân đội của Vương triều Sukhôtai. Tuy nhiên, qua một số ít sử liệu viết về các cuộc chiến tranh giữa Sukhôtai với người Khơme, người Miến Điện, Lào, v.v... có thể nhận thấy rằng, về cơ bản, các đạo quân người Thái lúc đó không khác nhiều so với các đạo quân của Vương quốc Nam Chiếu trước đây, binh lính vẫn là những chiến binh dũng mãnh. Trong quân đội, bộ binh vẫn là lực lượng nòng cốt và được trang bị chủ yếu là các loại bạch khí. Tuy nhiên, do hoạt động trong điều kiện địa hình nhiều. sông, rạch nên lực lượng thủy binh đã bắt đầu xuất hiện. Theo cuốn "Biên niên sử Chiếng Mai" và “Từ điển bách khoa Lịch sử Quân sự từ 3.500 năm trước Công nguyên tới nay" thì trong trận P'ayao diễn ra vào năm 1267 giữa Sukhôtai với Chiếng Mai, “các đội ky binh Sukhôtai đã làm chủ thế trận, họ chiếm được thành P'ayao với cái giá rất đắt. Hàng nghìn tượng binh và ky binh bị giết"1 (The Encyclopedia of Military History from 3500 B,C to Present. Opcid., p.397). Rõ ràng, ngoài lực lượng bộ binh và thủy binh, trong Quân đội Sukhôtai còn có cả lực lượng tượng binh và kỵ binh. Theo cách lý giải của một số nhà khoa học, lực lượng kỵ binh Sukhôtai thời kỳ này có phương thức tác chiến và cách tổ chức giống như các đơn ky binh của quân Nguyên-Mông. Vì vậy, rất có thể nó là "sản phẩm” của việc quân Nguyên-Mông thôn tính Nam Chiếu vào năm 1253. Khi đó, một bộ phận người Thái đã chứng kiến hoặc đã từng tham gia chiến đấu với quân Mông Cổ học được cách tổ chức lực lượng kỵ binh, sau này họ đem áp dụng trong Quân đội Sukhôtai. Về cách thức tổ chức, quân đội Sukhôtai thời kỳ này vẫn chủ yếu tổ chức theo kiểu dân binh.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:05:37 pm
2. Quân đội Đại Thành-Xiêm từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII

Trong khi Vương triều Sukhotai suy yếu thì tại hạ lưu sông Mê Nam, lãnh chúa U' Thong thừa cơ bành trướng thế lực và ngày càng cường thịnh. Năm 1350, U' Thong tuyên bố thành lập Vương triều Ayuthia đại Thành). Ngay sau khi thành lập, Đại Thành đã thể hiện sức mạnh của mình bằng việc bành trướng lãnh thổ và đưa quân đi chinh phục khắp nơi.


Một số cuộc chiến tranh lớn giữa Vương quốc Đại Thành - Xiêm với các quốc gia láng giềng từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIX1 (Tổng hợp theo: The Encyclopedia of Military Histoly from 3500 B,C to Present. Opcid., 1977).


(http://img240.imageshack.us/img240/3602/image005xk4.jpg)


(http://img143.imageshack.us/img143/2322/image006zl9.jpg)


Bảng tổng hợp trên cho thấy, trong hơn bốn thế kỷ, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, Vương quốc Đại Thành-Xiêm của người Thái đã tiến hành hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ để chinh phục các nước láng giềng. Các cuộc chiến tranh này không chỉ dẫn đến lãnh thổ của vương quốc ngày càng được mở rộng, mà còn tác động trực tiếp tới sự phát triển của quân đội, nhất là về tổ chức và trình độ tác chiến.


Vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, Đại Thành trở thành một quốc gia phong kiến chuyên chế trung ương tập quyền. Đến thế kỷ XVII, vương quốc này đã khống chế hầu hết lãnh thổ như nước Thái Lan ngày nay, thế lực của họ vươn tới cả bán đảo Mã Lai và vùng Madau, Dawei và Karathur của Miến Điện. Để củng cố và bảo vệ chính quyền trung ương tập quyền, đồng thời để tiếp tục mở rộng chiến tranh chinh phạt và thôn tính các nước láng giềng, các triều đại vua Đại Thành đã tiến hành hàng loạt cải cách cả về hành chính lẫn quân sự.



Về quân sự, năm 1437 vua Borommaracha II (1424-1448) cho thành lập cơ quan chuyên trách quân sự gọi là Kalahom (Bộ Chiến tranh). Dưới Kalahom là các vụ phụ trách các công việc khác nhau trong quân đội. Đứng đầu các vụ là các quan có hàm như thượng thư. Trong thời gian trị vì của mình, vua Rammathibodi II (1491-1529) đã tiến hành tổ chức lại toàn bộ hệ thống quân sự. Ông chia đất nước thành các quân khu và tiểu quân khu, đứng đầu các quân khu là các quan do nhà vua bổ nhiệm, đứng đầu các tiểu khu là các quan do quân khu bổ nhiệm. Tiếp đó, vào khoảng đầu thế kỷ XVI, Rammathibodi II đã ban hành Luật nghĩa vụ quân sự, theo đó, tất cả các công dân nam từ 18 tuổi trở lên phải đăng ký nghĩa vụ quân sự và nhập ngũ khi cần thiết. Luật nghĩa vụ quân sự dưới thời Rammathibodi II đã căn bản xoá bỏ chế độ dân binh, thay vào đó là những đơn vị thường trực chính quy.


Bên cạnh việc tổ chức lại hệ thống quân sự và chính sách tuyển binh, Rammathibodi II và những vị vua kế nhiệm còn tập trung phát triển binh lực, vũ khí và nghiên cứu binh pháp, v.v... Sử sách ghi lại, "Đến cuối thế kỷ XVI, lực lượng kỵ binh và tượng binh của Đại Thành đã trở nên đáng khiếp sợ, họ tung hoành còn hơn cả các đơn vị ky binh của Nguyên - Mông; Xiêm còn mua cả các loại hoả khí như súng hoả mai, đạn và đại bác của Bồ Đào Nha, họ thuê binh lính Bồ Đào Nha tới Đại Thành để hướng dẫn sử dụng và sản xuất"1 (Thailand: Short History. Yale University Press, 1984, p.88).


Vào cuối thế kỷ XVII, đến giữa thế kỷ XVIII, tình hình chính trị xã hội ở Đại Thành dần biến động theo chiều hướng xấu đi. Sự phân hoá xã hội diễn ra sâu sắc. Cùng với hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên, sự bần cùng hoá nhân dân và sự lũng đoạn của người Hoa đã làm cho những mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, tình trạng bất ổn với những vụ xung đột, mưu sát, cướp ngôi thường xảy ra trong hoàng tộc; nông dân Ơ trong nước liên tục đứng lên khởi nghĩa. Các thế lực ở địa phương cũng đua nhau đòi quyền tự trị. Tình hình đó diễn ra trong lúc Miến Điện đang mạnh lên và người Miến đã không bỏ lỡ thời cơ đưa quân tiến công Đại Thành. Ngày 7 tháng 4 năm 1767, sau gần hai năm chiến tranh, Miến Điện chiếm được kinh đô Đại Thành, chấm dứt hơn 400 năm tồn tại của vương triều này, thay vào đó là triều Xiêm.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:07:33 pm
3. Quân đội Xiêm từ thếkỷ XIX đến năm 1945

Mặc dù quân đội và triều đình phong kiến Đại Thành bất lực trước các cuộc tiến công của quân Miến Điện, nhưng trong những năm xảy ra chiến tranh, phong trào khởi nghĩa của nhân dân Đại Thành chống quân Miến Điện vẫn liên tiếp nổ ra tại nhiều nơi. Tiêu biểu cho phong trào ấy là cuộc khởi nghĩa do Taksin (Trịnh Quốc Anh) lãnh đạo. Ngay từ năm 1763, Taksin đã dựng cờ khởi nghĩa tại vùng Tây Bắc Đại Thành và quy tụ được đông đảo nhân dân tham gia. Trong hơn ba năm dấy binh, nghĩa quân đã giành được thắng lợi tại nhiều nơi. Tháng 10 năm 1767, với một lực lượng hùng hậu, nghĩa quân đã bao vây thành phố Tôngburi, một khu vực thuộc Băng Cốc ngày nay. Chỉ huy quân chiếm đóng Miến Điện là Xútgi lập tức điều quân đến ứng cứu nhưng không thành. Thừa thắng, quân khởi nghĩa tiến công và đánh tan quân xâm lược.


Sau khi lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Miến Điện (1766- 1767), Taksin lên ngôi và đổi tên nước thành Vương quốc Xiêm. Trong hơn 15 năm trị vì đất nước, ông đã xây dựng Vương quốc Xiêm thành một đế quốc rộng lớn, bao gồm cả một phần Chiếng Mai, Luông Phrabăng và Viêng Chăn của Lào. Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do những biện pháp cải cách không phù hợp, Taksin vẫn bị tầng lớp quý tộc, quan lại Xiêm thù hận và oán ghét. Năm 1782, ông bị nhóm quý tộc mưu sát Cầm đầu nhóm quý tộc này là Chaopia Chakri, tướng chỉ huy quân đội, người đã cùng Taksin lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Miến Điện. Sau khi lên ngôi, Chaopia Chakri lấy hiệu Rama và trở thành người sáng lập ra các vương triều dòng Rama ở Xiêm cũng như Thái Lan sau này. Dưới triều đại Rama I và Rama II (1782-1824), Xiêm đã trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á. Lãnh thổ của Xiêm lớn gấp hai lần Vương quốc Đại Thành trước khi bị Miến Điện xâm lược. Các hoạt động buôn bán với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc được mở rộng. Nền kinh tế Xiêm đã đạt được một số thành tựu đáng kể.


Đến triều đại Rama III (1824-1851), trước áp lực của các nước phương Tây như Anh, Pháp, Hà Lan, chính quyền Xiêm thấy rằng cần phải có sức mạnh quân sự mới có thể giữ vừng được nền độc lập và chủ quyền quốc gia. Vì vậy trong thời gian cầm quyền, Rama III rất chú trọng xây dựng và củng cố nền quốc phòng, ông coi việc xây dựng một quân đội và hạm đội hùng mạnh là công việc hết sức khẩn thiết. Nhờ có những chính sách đầu tư thỏa đáng cả về nhân lực và vật lực cho quốc phòng, Vương quốc Xiêm đã có một quân đội mạnh, bao gồm hơn 10.000 sĩ quan và binh sĩ; 500 thuyền chiến được cải tiến, 4 chiến hạm và 12 hải phòng hạm được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại của phương Tây. Dọc theo bờ biển và cửa sông Mê Nam của Xiêm, hàng trăm công sự, tiền đồn vững chắc được xây dựng theo kiểu mới nhất, v.v...


Từ nửa cuối thế kỷ XIX, dưới tác động trực tiếp của tư bản nước ngoài, tình hình kinh tế, chính trị và xã hội ở Xiêm đã có những thay đổi căn bản. Trong nước, tầng lớp tư sản dân tộc bắt đầu phát triển, dẫn tới sự phân hoá xã hội sâu sắc. Ở khu vực thành thị, nạn thất nghiệp trở nên phổ biến do các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bị đóng cửa, vì không cạnh tranh được với hàng hoá cùng loại từ châu Âu. Tại khu vực nông thôn, đời sống của dân ngày càng bị bần cùng hoá do ruộng đất dần rơi vào tay các địa chủ lớn. Về đối ngoại, quan hệ giữa Xiêm với các cường quốc thực dân, mà trước hết là Pháp đang trở nên hết sức căng thẳng xung quanh việc xác định chủ quyền đối với một số tỉnh của Campuchia, Lào, v.v... Do ở vào thế yếu, Xiêm đã phải ký với Pháp các hiệp ước bất bình đẳng vào các năm 1867 và 1893.


Trong bối cảnh ấy, vua Chulalongcon (1868-1910) đã tiến hành hàng loạt cải cách quân sự nhằm làm cho quân đội có đủ khả năng đồi phó với tình hình. Năm 1882, ông ban hành sắc lệnh thành lập Trường sĩ quan Lục quân và Trường sĩ quan Hải quân. Năm 1883, hai trường này mở khoá đào tạo sĩ quan đầu tiên. Học viên được tuyển chọn vào các trường này chủ yếu là con em gia đình hoàng tộc, con em tầng lớp quý tộc và địa chủ giàu có ở Xiêm. Theo con số thống kê, cho đến thời điểm trước cuộc đảo chính 1932, 82% học viên của hai trường này là con em thành phần quý tộc, chỉ có 18% là con em thường dân. Sau năm 1932, tỉ lệ này đã căn bản thay đổi, con em tầng lớp quý tộc chỉ còn 24%, 76% số còn lại là con em thường dân ở cả thành thị và nông thôn1 (Military Roles in Mordenization of Civil-military Relation in Thailand and Burma. SAGE Publications, 1976, p.91).


Cũng trong kế hoạch cải cách quân đội, năm 1884, Chulalongcon ban hành sắc lệnh thành lập Bộ Quốc phòng dựa trên cơ sở Bộ Chiến tranh trước đây. Tiếp đó, năm 1904 Nhà vua ban hành luật quân sự mới. Theo đó, Thái tử nắm quyền Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, Nhà vua là người đứng đầu Hội đồng Quốc phòng. Nhằm đảm bảo cho Nhà nước có đủ lực lượng cần thiết để phòng thủ đất nước, luật còn quy định xoá bỏ chế độ nô lệ và chế độ lao dịch cho tầng lớp Prai và Siu; tất cả nam giới ở độ tuổi quân dịch vẫn lao động bình thường, khi có chiến tranh sẽ được động viên tham gia quân đội. Bên cạnh những cải cách về tổ chức và cách thức tuyển binh trong quân đội, chính quyền Xiêm còn cử người sang các nước phương Tây để học tập và tiếp thu kiến thức quân sự hiện đại, đồng thời mời một số cố vấn quân sự Anh tời Xiêm để tổ chức huấn luyện cho sĩ quan và binh lính.


Nhờ những biện pháp cải cách hữu hiệu, đến cuối thế kỷ XIX, quân đội tổ chức theo kiểu mới của Xiêm đã có ba trung đoàn ky binh, 2 trung đoàn pháo binh và 8 trung đoàn bộ binh. Đến năm 1896, tổng số Quân đội Xiêm có khoảng 15.000 người.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:08:03 pm
Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ (1914-1918), Xiêm tuyên bố trung lập. Chỉ đến tháng 5 năm 1917, khi chiều hướng thất bại của phe Đức, Áo, Hung đã rõ ràng, vua Xiêm Rama VI mới quyết định đứng về phe Hiệp ước (Ăngtăngtơ). Tháng 7 năm 1917, Xiêm tuyên chiến với Đức và Áo, mở đường cho các lực lượng quân tình nguyện của Xiêm sang tham chiến trên chiến trường châu Âu. Sự tham chiến của quân đội Xiêm trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã tạo cho Xiêm có được vị thế chính trị trên trường quốc tế. Với tư cách là người chiến thắng, Xiêm được tham gia vào Hội nghị Vécxây năm 1919 và trở thành một trong những thành viên đầu tiên của Hội quốc liên được thành lập năm 1920.


Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, năm 1925, Prachatipốc lên ngôi Vua và lấy hiệu là Rama VII (1925-19a5). Cũng trong thời gian này, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã tác động mạnh mẽ tới Xiêm; các ngành sản xuất bị rơi vào tình trạng đình đốn, nạn thất nghiệp tràn lan, các khoản thu cho ngân sách nhà nước giảm từ 107 triệu bạt năm 1929 xuống còn 79 triệu bạt vào những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX. Để đối phó với tình trạng thiếu hụt ngân sách, bên cạnh hàng loạt các giải pháp khác, Vương triều Rama VII quyết định cắt giảm đáng kể số lượng học viên cũng như quân số trong các đơn vị, nhà trường quân đội.


Các biện pháp của Ram VII đưa ra nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, nó cũng trở thành nguyên nhân của những khủng hoảng chính trị mới mà đỉnh cao là cuộc đảo chính dân chủ diễn ra vào ngày 24 tháng 6 năm 1932 do Đảng Nhân dân - một tổ chức cấp tiến ở Xiêm lãnh đạo. Sau đảo chính, Xiêm trở thành nước quân chủ lập hiến. Ngày 10 tháng 12 năm 1932, bản hiến pháp mới của chế độ quân chủ lập hiến chính thức được thông qua. Theo đó, Nhà vua được nắm quyền tối cao về quân sự, có quyền tuyên chiến, ký kết các hiệp định về hoà bình và có quyền triệu tập, giải tán quốc hội.


Cùng với việc chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế, những năm sau đảo chính, Quân đội Xiêm bước vào một giai đoạn phát triển mới và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước. Lực lượng lục quân tăng nhanh: từ 16.000 quân năm 1933 lên 20.000 năm 1934; 24.400 quân năm 1936 và đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, con số này đã lên tới gần 60.000 quân. Song song với việc tăng quân số, Quân đội Xiêm còn tiến hành tổ chức lại các lực lượng cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và những biến động chính trị của đất nước. Lực lượng hải quân thời kỳ sau đảo chính được đầu tư nhiều hơn nên tăng nhanh cả về số lượng lẫn trang thiết bị. Đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hải quân Xiêm đã có tới hơn 10.000 quân, tăng hơn 5 lần so với thời kỳ trước đảo chính. Lực lượng không quân Xiêm cũng được đầu tư nên bắt đầu hình thành và phát triển1 (Milttary Roles in Mordenization of Civil-military Relation in Thailand and Burma. Opcid., p.92).


Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Tháng 12 năm 1941, Nhật đưa quân vào Thái Lan đòi quyền quá cảnh cho các cuộc tiến công của họ vào Miến Điện và Malaixia thuộc Anh. Quân Thái chỉ kháng cự tượng trưng. Sau đó, Chính phủ Thái Lan ký hiệp ước liên minh với Nhật và trở thành đồng minh của Nhật. Tháng 1 năm 1942, Thái Lan tuyên chiến với Anh, Mỹ. Các hành động của chính quyền Phibun đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các phần tử cực hữu Thái Lan và được phát xít Nhật trao cho các vùng đất của người San (Miến Điện) vào năm 1942 và 4 vùng của bán đảo Mã Lai vào năm 1943.


Ngày 28 tháng 8 năm 1945, chỉ bốn ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Chính phủ Thái Lan lập tức gửi công hàm tuyên bố hủy bỏ tuyên chiến trước đây với Anh và Mỹ. Như vậy, từ chỗ hợp tác với Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nay Thái Lan lại trở thành đồng minh của các nước thắng trận. Động thái "uyển chuyển" của Thái Lan trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai không chỉ tạo điều kiện cho nước này bước ra khỏi chiến tranh với những thiệt hại nhỏ nhất, mà còn tránh được những hậu quả do việc hợp tác, liên minh với Nhật gây ra. Cũng nhờ chính sách ngoại giao này mà trong thời gian diễn ra cuộc đại chiến, Quân đội Thái Lan đã bảo toàn được hầu như nguyên vẹn lực lượng với hơn 70.000 quân, trong đó lục quân gần 60.000, hải quân 10.000 và không quân là 3.0001 (Military Roles in Mordenization of Civil-military Relation in Thailand anh Burma. Opcid., p.91).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:12:03 pm
4. Quân đội Hoàng gia Thái Lan từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Thái Lan là nước ít bị thiệt hại do hậu quả của chiến tranh gây ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh chung của tình hình khu vực và quốc tế, nền kinh tế Thái Lan vẫn hết sức ảm đạm. Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp rơi vào tình trạng đình đốn vì thiếu nguyên, nhiên liệu sản xuất. Đời sống người lao động nói chung, đặc biệt là nông dân, vẫn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng tham nhũng tràn lan, kể cả trong hàng ngũ các sĩ quan quân đội và cảnh sát. Ngân sách nhà nước thâm hụt nghiêm trọng, v.v... Tất cả những điều ấy đã tác động xấu đến tình hình chính trị trong nước. Phong trào đấu tranh đòi dân chủ và dân sinh của các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh. Trong những năm 1947-1948, lực lượng nổi dậy ở miền Nam Thái Lan đã đứng lên giành chính quyền ở nhiều tỉnh, thành. Quân đội Chính phủ đã phải dùng các biện pháp quân sự mạnh, kể cả dùng máy bay ném bom để đàn áp lực lượng nổi dậy. Nội các Chính phủ Thái Lan bị chia rẽ sâu sắc vì các cuộc tranh giành quyền lực. Tình hình đó cũng diễn ra trong nội bộ quân đội, đặc biệt là giữa lực lượng hải quân và lục quân. Do không có đại diện trong chính phủ, lực lượng hải quân đã liên tiếp tiến hành các hoạt động chống phá. Lần thứ nhất vào tháng 2 năm 1949, hải quân cho tàu chiến chạy dọc theo sông Mê Nam bắn phá vào doanh trại lục quân và tiến về Băng Cốc, chiếm Trường Đại học Chính trì và Nhân văn. Lần thứ hai vào ngày 26 tháng 6 năm 1951, lực lượng lính thủy đánh bộ bắt và giam giữ Thủ tướng Phibun khi ông đang dự lễ đón nhận chiếc tàu chiến Mahátan do Mỹ viện trợ nhằm đòi tăng thêm quyền lực cho hải quân.


Trong lúc đất nước đang phải trải qua thời kỳ hết sức khó khăn cả về kinh tế, chính trị và xã hội thì những nhân tố quốc tế mới cũng đã tác động mạnh vào tình hình và xu thế phát triển của Thái Lan.


Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực hiện chính sách bành trướng và "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”, Mỹ không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chính bởi lẽ đó, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã đầu tư hàng tỉ đô la cho khu vực này và đã lôi kéo được hàng chục nước vào quỹ đạo của họ.


Trước những tác động thuận-nghịch của tình hình trong nước và quốc tế như đã trình bày ở trên, Thái Lan đã chọn con đường dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự của các cường quốc tư bản, trước nhất là Mỹ để vượt qua những khó khăn trước mắt, cũng như cho sự phát triển lâu dài của đất nước.


Với quan điểm đó, trong những năm đầu thập niên 50 , thế kỷ XX, Thái Lan đã ký với Mỹ hàng loạt các hiệp ước như Hiệp ước kinh tế-kỹ thuật (9.1950), Hiệp ước về viện trợ quân sự (17.10.1950). Cũng trong năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman đã phê chuẩn một khoản viện trợ 10 triệu USD cho Thái Lan. Cuối năm 1951, cơ quan đại diện an ninh và hợp tác Mỹ-Thái đã được thành lập nhằm thúc đẩy chương trình "Viện trợ kinh tế, kỹ thuật và quân sự". Năm 1954, Chính phủ Thái Lan đã ký hiệp ước Manila và trở thành thành viên của khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) do Mỹ đứng đầu. Những năm sau đó Thái Lan còn ký với Mỹ nhiều hiệp định, hiệp ước khác nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng.


Với sự hợp tác và các nguồn viện trợ của Mỹ, vào thập niên năm mươi, tình hình ở Thái Lan đã có những thay đổi Quân đội Thái Lan bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới. Trong một thời gian ngắn, từ chỗ chỉ là một quân đội với lực lượng bộ binh là chủ yếu và được trang bị thô sơ, đến giữa những năm năm mươi, Quân đội Thái Lan đã trở thành một quân đội mạnh trong khu vực và được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại của Mỹ. Theo nhận định của nhiều nhà phân tích quân sự, từ sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do bị lôi cuốn bởi học thuyết "đôminô", Chính phủ Thái Lan đã đầu tư mỗi năm hàng tỉ bạt cho phát triển quân đội, đặc biệt là cho lực lượng không quân và hải quân. Đến năm 1956, không quân Thái Lan đã có tới 344 máy bay quân sự các loại, hải quân có tới 27 hải đội với hàng trăm tàu chiến. Bên cạnh đó, nhiều sân bay, quân cảng mới cũng được xây dựng như sân bay Takli, căn cứ không quân Don Muang; quân cảng Ban Pak Nam, Songkhla, v.v...


Viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan và sự phát triển của Quân đội Thái Lan từ 1951 đền 19581(Quân đội và thể chế chính tri ở Thái Lan 1945-1980 (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxoơva,1982, tr.37)

(http://img98.imageshack.us/img98/4719/image007zn3.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:23:39 pm
Vào những năm sáu mươi, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, Thái Lan xóa bỏ hoàn toàn chính sách không can thiệp mà họ từng cam kết trước đây, đồng thời tích cực tham gia vào các quyết sách của Mỹ về vấn đề Việt Nam. Theo cách lập luận của nhiều nhà nghiên cứu chính trị và quân sự phương Tây, việc Thái Lan quyết định nghiêng hẳn về Mỹ xuất phát từ ba nguyên nhân: thứ nhất, Thái Lan bị ràng buộc bởi Hiệp ước Manila, mà trong đó họ là một thành viên; thứ hai, họ muốn có vai trò và trách nhiệm nhiều hơn trong việc "phòng thủ” Đông Nam Á, vì Thái Lan là nước bị tác động mạnh bởi học thuyết "đôminô". Ngoài ra, đối với Thái Lan, việc tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam còn là cơ hội để tranh thủ các nguồn viện trợ của Mỹ, phục vụ cho việc phát triển đất nước và hiện đại hoá quân đội; thứ ba, Thái Lan cho rằng, nếu Mỹ giành thắng lợi trong cuộc chiến tại Việt Nam, thì sau đó, với tư cách là một nước đồng minh thắng trận, họ sẽ có tiếng nói và vị thế mạnh hơn trong khu vực1 (Allied Participation in Vietnam, opcid.. 1975, p.25), v.v...


Xuất phát từ mục tiêu và cách nhìn nhận như vậy, Thái Lan đã chấp nhận để Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, đồng thời biến nước này thành địa bàn chiến lược lý tưởng cho việc thực hiện chính sách bành trướng và "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” ở khu vực Đông Nam Á và châu Á. Cũng vì thế, viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan tăng lên rất nhanh.
Viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan từ năm 1963 đến năm 19672(Thailand: Origin of Military Rule. London. 1978, p.131)


(http://img510.imageshack.us/img510/2471/image008dh9.jpg)


Nhờ các nguồn viện trợ quân sự của Mỹ, trong những năm 60 của thế kỷ XX, quân số lực lượng vũ trang Thái Lan đã tăng lên đáng kể và thường xuyên duy trì ở mức cao từ 230.000 đến 250.000 quân, trong đó có 150.000 quân chính quy, 13.000 quân đặc biệt, trên 65.000 cảnh sát quân sự. Ngoài ra còn có khoảng 40.000 quân thuộc lực lượng bán vũ trang và trên 20.000 quân thuộc lực lượng hậu bị.


Ngoài việc chấp nhận để cho Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình, từ giữa những năm 60, Chính phủ Thái Lan còn quyết định đưa hàng nghìn quân sang trực tiếp tham chiến tại chiến trường Nam Việt Nam và Lào.


Lực lượng Quân đội Hoàng gia Thái Lan tham chiến tại chiến trường Nam Việt Nam từ 1965-19701 (Aillied Participation in Vietnam, Washington. D.C., 1975, p.237)

(http://img522.imageshack.us/img522/9406/image009ac1.jpg)


Ở Lào, số lượng quân Thái Lan lúc cao nhất (cuối thập niên 60, đầu 70 thế kỷ XX) lên tới 40.000. Ngoài các đơn vị chính quy còn có hàng vạn lính Thái trong lực lượng biệt động mang mật danh "binh sĩ vô hình" trà trộn trong các đơn vỉ phái hữu Lào. Cho đến năm 1968, chức năng mà đội quân này đảm nhận là hỗ trợ cho các lực lượng thiểu số, nhưng từ năm 1972 nó bắt đầu trực tiếp tham gia các cuộc hành quân càn quét các vùng giải phóng của Pa thét Lào. Binh lính Thái được dùng làm lực lượng nòng cốt trong các cuộc hành quân lớn của Mỹ-ngụy ở Lào như: cuộc hành quân "Cù Kiệt", diễn ra từ cuối năm 1969, đến đầu năm 1970 với sự tham gia của hơn 5.000 quân Thái; hay trong chiến dịch Cánh Đồng Chum (1971) có gần 10 tiểu đoàn quân Thái tham chiến... Ngoài ra, quân Thái Lan còn làm nhiệm vụ chốt giữ các vị trí chiến lược quan trọng như Cánh Đồng Chum, Mường Xủi (Xiêm Khoảng), Viếng Chăn, đường số 9, đường số 23...


Khi toàn bộ lực lượng quân Mỹ và Thái Lan đã rút khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam và Lào, Mỹ và Thái Lan cũng đã ký nhiều hiệp ước, thoả thuận về việc Mỹ rút quân khỏi Thái Lan và trao lại cho Thái Lan quyền sử dụng các căn cứ không quân, hải quân do Mỹ đầu tư xây dựng trong những năm sáu mươi như căn cứ không quân Utapao, căn cứ hải quân Don Muang; quân cảng Ban Pak Nam... Việc rút quân đội và chấm dứt hoạt động của các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan không làm giảm mức viện trợ quân sự của Mỹ cho nước này. Năm 1975, Mỹ tiếp tục viện trợ cho Thái Lan 42,3 triệu USD, đến năm 1978 tăng lên tới 103 triệu USD. Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn tích cực mở rộng hợp tác quân sự với Mỹ trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là đào tạo, huấn luyện quân sự và mua bán vũ khí, v.v... Sự hợp tác này tăng lên sau sự kiện chính quyền "Khơme Đỏ" ở Campuchia bị lật đổ năm 1979.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:24:26 pm
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến hết sức phức tạp. Các cuộc xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo trên thế giới có chiều hướng ngày càng gia tăng. Sự can thiệp của các nước lớn vào các cuộc xung đột ở một số khu vực như Trung Đông, Trung Á và Đông Âu, Ápganixtan... khiến cho tình hình trở nên căng thẳng. Ở Đông Nam Á, vấn đề Campuchia trở thành tâm điểm chú ý của cộng đồng quốc tế Chính phủ Thái Lan lo ngại cuộc nội chiến ở Campuchia sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến Thái Lan. Bên cạnh đó, các cuộc xung đột biên giới, lãnh hải giữa Thái Lan với các nước láng giềng cũng không ngừng gia tăng, v.v...


Tất cả các nhân tố trên đã tác động trực tiếp tới chính sách an ninh và quốc phòng của Thái Lan. Vào những năm 80 thế kỷ XX, Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm đến việc tăng cường hiện đại hoá các lượng vũ trang, chuyển trạng thái và chức năng của quân đội từ chống nổi dậy sang sẵn sàng chiến đấu chống lại các cuộc chiến tranh thông thường trên quy mô lớn. Vì vậy, chi phí quốc phòng hàng năm được duy trì ở mức cao, khoảng 1,4 - 1,5 tỉ USD (chiếm 3,5% ngân sách Nhà nước). Phần lớn chi phí quốc phòng tập trung vào việc mua sắm vũ khí trang bị, phát triển và hiện đại hoá các quân, binh chủng theo hướng nâng cao khả năng cơ động, tính chuyên nghiệp và hiệu quả. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (Anh), vào giữa thập niên 80, do bị tác động của cuộc nội chiến tại Campuchia, Thái Lan đã thực hiện một chương trình mua sắm vũ khí được coi là "lớn nhất và tham vọng nhất trong lịch sử Vương quốc Thái Lan"1 (Asia Paclfc Arms Buildups. lnstitute of lntemational Relations. Opcid., p.33). Chỉ trong 4 năm, từ 1983 đến 1987, Thái Lan đã mua 106 xe tăng hạng nhẹ Stingray của Mỹ, hàng chục xe thiết giáp chở quân, xe tăng T-9 cùng hàng trăm khẩu pháo, hệ thống phòng không của Trung Quốc... Bên cạnh đó, Thái Lan còn tăng nhanh cả về quân số lẫn vũ khí trang bị cho các quân, binh chủng. Cụ thể:


Về lục quân, thời kỳ này Thái Lan có tới 17 sư đoàn (163.000 quân), bao gồm: 7 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn thiết giáp, 2 sư đoàn đặc nhiệm, 1 sư đoàn pháo binh, 1 sư đoàn phòng không và 4 sư đoàn dự bị. Trong lực lượng lục quân, Thái Lan đặc biệt coi trọng việc hiện đại hoá lực lượng tăng-thiết giáp theo 2 hướng: thứ nhất, mua các loại xe tăng hạng nhẹ phù hợp với chiến trường Thái Lan như xe tăng Stingray của Mỹ; xe OF-40MK-2 của hãng OTO-Melara; xe Vicker MK-3 của công ty Vicker Defence Systems... Thứ hai, tập trung cải tiến loại xe tăng M-41 hiện có. Ngoài việc hiện đại hoá lực lượng tăng-thiết giáp, lực lượng phòng không lục quân Thái Lan còn được trang bị các loại pháo phòng không hiện đại như: pháo M-167 Vulcan và Bofors L-60; tên lửa phòng không vác vai Red Eye. Lực lượng pháo binh được trang bị các loại pháo 150mm (M-101, M-102, M-116) và 155mm (M-14, M-198) của Mỹ và pháo 155mm của Ixraen; các loại ra đa AN/TPK-36 và AN/TPK-37...


Về không quân, Quân đội Hoàng gia Thái Lan thời kỳ này có khoảng 22.700 quân. Lực lượng máy bay chiến đấu chủ yếu gồm các loại máy bay F-5, F-6, T-28 và F-16A. Máy bay vận tải có các loại C-123, C-47. Ngoài ra, không quân còn được trang bị một số máy bay trực thăng vũ trang (chủ yếu phục vụ cho các hoạt động chống nổi dậy); hệ thống ACMI giúp phi công có thể kiểm tra được đường bay nhờ dữ liệu của máy tính điện tử; các hệ thống ra đa mặt đất hiện đại được mua từ các nước có nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến như Mỹ, Đức, Pháp, Anh...


Về hải quân, vào những năm 80 của thế kỷ XX, Thái Lan thực hiện chiến lược "Phòng thủ chiều sâu” đối với toàn bộ khu vực Vịnh Thái Lan. Các chiến lược gia hải quân Thái Lan cho rằng cần phải trang bị cho lực lượng hải quân các loại vũ khí hiện đại để không chỉ bảo vệ vững chắc lãnh hải và các đặc khu kinh tế trên vịnh Thái Lan, mà còn để chủ động đối phó với các "cuộc tiến công" từ bên ngoài vào. Triển khai chiến lược trên, từ giữa những năm 80, Thái Lan đưa ra kế hoạch phát triển lực lượng hải quân đầy tham vọng, bao gồm việc xây dựng lực lượng tàu ngầm, mở rộng và hiện đại hoá lực lượng không quân hải quân. Trong 3 năm (1983-1986), Thái Lan đã mua hàng chục máy bay tiêm kích, máy bay lên thẳng chống tàu ngầm của Mỹ để trang bị cho lực lượng hải quân. Cũng trong thời gian đó, hải quân Thái Lan còn được trang bị thêm một số tàu khu trục hiện đại của Mỹ; 2 tàu quét mìn của Đức; 2 tàu đổ bộ 3.500 tấn của Pháp cùng hàng chục tàu tuần tra ven bờ, v.v... Về lực lượng, đến năm 1987, hải quân Thái Lan có tới 32.000 quân1 (Asia Pacific Arms Buildups. lnstitute of lntemational Relations. Opcid.. p.33) (kể cả không quân hải quân và trung đoàn lính thủy đánh bộ).


Ngoài lực lượng thuộc các quân chủng hải, lục và không quân, trong Quân đội Thái Lan còn có Lực lượng biệt kích, với khoảng 13.000 người, được tổ chức thành 180 đại đội và Lực lượng vũ trang lãnh thổ gồm 14.000 người, được tổ chức thành 196 đại đội độc lập và triển khai ở các quân khu 1, 2, 3. Cả 2 lực lượng trên đều là lực lượng bán vũ trang, có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị chính quy tiến hành chống nổi dậy và bảo vệ biên giới.

 
Bên cạnh việc tập trung đầu tư nhằm phát triển và hiện đại hoá các quân, binh chủng trong những năm 80, được sự giúp đỡ của các nước phương Tây như; Mỹ, Pháp, Đức v.v… Thái Lan đã đầu tư hàng trăm triệu USD cho phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Ngoài việc sửa chữa, bảo dưỡng các loại vũ khí, trang bị, ngành công nghiệp quốc phòng Thái Lan còn sản xuất được một số loại vũ khí hiện đại, đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Năm 1983, ngành công nghiệp quốc phòng Thái Lan hợp tác với hãng Reihn-Fliasoibai của Cộng hoà Liên bang Đức sản xuất thành công máy bay huấn luyện chiến đấu. Những năm sau đó, tổ hợp liên doanh này còn sản xuất và xuất khẩu nhiều linh kiện, phụ tùng cho các loại máy bay chiến đấu, v.v...


Ngành đóng tàu của lực lượng hải quân Thái Lan cũng đạt được những thành tựu đáng kể: nghiên cứu và cải tiến thành công các tổ hợp tên lửa Harpoon, Sea Sparrow, Exoôét, các loại thủy lôi Stinger... để trang bị cho tàu chiến và tàu tuần tiễu. Thái Lan còn sản xuất cả tàu tuần tiễu tàu đổ bộ chở xe tăng, tàu đổ bộ cỡ nhỏ, canh, tàu bổ trợ của hải quân... Năm 1985, Thái Lan bắt đầu sản xuất tàu đổ bộ chở xe tăng trọng tải 3.000 tấn. Trong lĩnh vực sản xuất và chế tạo vũ khí bộ binh - pháo binh, nhờ sự giúp đỡ của Mỹ, Thái Lan đã sản xuất và xuất khẩu được nhiều loại súng, đạn như: đạn 5,56mm, 7,62mm, đạn cối 60mm, 80mm và 120mm, đạn pháo 105mm, cói cá nhân M-79, súng chống tăng, tên lửa chống tăng, súng trường M-16, v.v...


Ngành công nghiệp quốc phòng Thái Lan được tổ chức căn bản giống như của Mỹ, nghĩa là từng quân chủng đều có cơ quan quản lý, chỉ đạo việc sản xuất vũ khí trang bị. Cụ thể, quân chủng lục quân có ba cơ quan chức năng là: Trung tâm nghiên cứu phát triển và sản xuất vũ khí bộ binh, Cục Quân khí và Vụ Khoa học lục quân. Quân chủng không quân có 2 cơ quan là Trung tâm nghiên cứu và phát triển vũ khí không quân và Cục quân khí không quân. Quân chủng Hải quân có Cục Đóng tàu và Cục Quân khí. Cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp quốc phòng Thái Lan chủ yếu là các nhà máy, xí nghiệp do Bộ Quốc phòng quản lý, ngoài ra, còn có một số nhà máy, xí nghiệp tư nhân hoặc liên doanh với nước ngoài.


Như vậy, trong thập niên 80, song song với việc hiện đại hoá các quân, binh chủng trong quân đội, Chính phủ Thái Lan đã tập trung đầu tư và khuyến khích phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, hạn chế đến mức tối đa việc nhập khẩu các loại vũ khí kỹ thuật mà họ có thể sản xuất được Nhờ sự đầu tư phù hợp, đến cuól những năm 80, ngành công nghiệp quốc phòng Thái Lan nói riêng và quân đội nói chung đã có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi ngặt nghèo của các điều kiện tác chiến mới.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:26:13 pm
5. Quân đội Hoàng gia Thái Lan từ sau Chiến tranh lạnh đến nay

Sau Chiến tranh lạnh, tình hình thế giới có nhiều biến động sâu sắc. Đông Nam Á không còn là mặt trận nóng bỏng của cuộc đối đầu Đông-Tây. Đời sống chính trị ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung và ở Đông Nam Á nói riêng đã có những biến đổi cơ bản. Giải pháp chính trị toàn bộ cho vấn đề Campuchia tại Pari (23.10.1991) đã "tháo ngòi nổ" cho những bất đồng giữa các nước trong khu vực. Xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển đang từng bước trở thành chủ đạo và dần thay thế cho xu thế đối đầu với những cuộc chiến tranh tàn khốc trước đây Đông Nam Á đang trong quá trình phát triển năng động và hội nhập toàn diện...


Tất cả những thay đổi trên đây đã tác động mạnh đến chính sách đối ngoại của Thái Lan. Thái Lan đã chuyển sang chính sách đa dạng hoá quan hệ nhằm đảm bảo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế. Một mặt, Thái Lan vẫn ưu tiên cho việc thúc đẩy quan hệ với các nước đồng minh truyền thống trước đây như Mỹ, Nhật, Tây Âu và các nước ASEAN; mặt khác, mở rộng quan hệ với các nước khu vực Đông Âu, Trung Âu, Nam Á và châu Phi... Những thay đổi trong môi trường chính trị thế giới cũng đã tác động mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách quốc phòng và phát triển lực lượng vũ trang Thái Lan.


Kết thúc Chiến tranh lạnh, Chính phủ Thái Lan nhận thấy rằng, sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước là nhân tố quan trọng để ngăn chặn chiến tranh, giữ vững hoà bình và an ninh trong khu vực. Đó cũng là cơ sở vững chắc để duy trì sự ổn định và phát triển đất nước. Xuất phát từ quan điểm chiến lược trên, ngay từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra chương trình cải cách quân đội. Chương trình được tiến hành theo hai hướng: Thứ nhất, trong vòng từ 3 đến 5 năm, Quân đội Thái Lan sẽ được trang bị và thay thế bằng các loại vũ khí hiện đại nhằm đáp ứng những đòi hỏi của các cuộc chiến tranh công nghệ cao; thứ hai, cải cách và tinh giản các quân, binh chủng theo hướng giảm quy mô lực lượng cho phù hợp với tình hình quốc tế đang thay đổi; tăng cường khả năng tác chiến hiệp đồng giữa các quân chủng; cân nhắc việc thay thế chế độ nghĩa vụ quân sự hiện nay bằng quân đội chuyên nghiệp.


Trong khi các kế hoạch đang được tiến hành một cách tương đối thuận lợi thì cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính diễn ra ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào giữa những năm 90 đã làm cho nhiều kế hoạch bị gián đoạn. Nhiều hợp đồng mua bán vũ khí và công nghệ quốc phòng giữa Thái Lan với Mỹ và các nước phương Tây bị hủy bỏ như hợp đồng mua sắm tàu ngầm, tàu đổ bộ xe tăng lớp Newport News đã qua sử dụng của hải quân Mỹ; hợp đồng mua 8 trực thăng SH-2G Seasprite và chương trình tái trang bì cho các đại đội xe tăng của hải quân đánh bộ... Duy chỉ có chương trình đóng mới tàu tuần tra xa bờ trong nước được duy trì. Do ngân sách quốc phòng bị cắt giảm đáng kể nên quá trình cải cách, tinh giản quân số và hiện đại hoá các quân, binh chủng trong Quân đội Thái Lan cũng chỉ mới thực hiện được một số bước, v.v...


Sau thời kỳ khủng hoảng tài chính - tiền tệ, Thái Lan tiếp tục quá trình cải cách quân đội. Đến những năm đầu thế kỷ XXI, Quân đội Thái Lan có một cơ cấu tương đối hợp lý. Cụ thể:

Quân chủng lục quân: là quân chủng cơ bản, có quân số đông nhất (khoảng 190.000 quân), được biên chế thành 8 sư đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới; 1 sư đoàn pháo binh; 1 sư đoàn công binh; 2 sư đoàn ky bính thiết giáp, 4 sư đoàn xây dựng kinh tế, 1 sư đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có 1 sư đoàn chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ Hoàng gia và một số đơn vị trực thuộc khác.


Lực lượng lực quân Quân đội Hoàng gia Thái Lan được bố trí theo 4 quân khu:

Quân khu 1 (miền Trung Thái Lan) được bố trí 5 sư đoàn) bao gồm: Sư đoàn bộ binh số 1, đóng tại Băng Cốc; Sư đoàn kỵ binh số 2 bảo vệ Hoàng gia; Sư đoàn bộ binh cơ giới số 9, đóng tại Kanchanabun; Sư đoàn bộ binh cơ giới số 2, đóng tại Prachinbun; Sư đoàn bộ binh số 11 (dự bị), đóng tại Chacheong Sao. Ngoài ra, còn có một đơn vị pháo binh (cấp sư đoàn); Bé tư lệnh lực lượng đặc nhiệm gồm Sư đoàn 1 và Sư đoàn 2; Trung đoàn bộ binh 31; trung tâm huấn luyện của lực lượng không quân lục quân.


Quân khu 2 (đông Bắc Thái Lan) được bố trí 3 sư đoàn và 4 trung đoàn, gồm: Sư đoàn bộ binh cơ giới số 3; Sư đoán bộ binh số 12 (sư đoàn dự bị); Sư đoàn bộ binh số 6, đóng tại Surin; Trung đoàn ky binh số 6, đóng tại Udon; Trung đoàn bộ binh số 8 (thuộc Sư đoàn 3); Trung đoàn bộ binh số 6 (thuộc Sư đoàn 6) và Trung đoàn bộ binh số 13, đóng tại Udon Thanh.


Quân khu 3 (miền Bắc Thái Lan) được bố trí 3 sư đoàn và 2 trung đoàn, gồm: Sư đoàn bộ binh số 4; Sư đoàn kỵ binh số 1, đóng tại Nan; Sư đoàn bộ binh số 13 (sư đoàn dự bị), đóng tại Lop Buri; Trung đoàn bộ binh số 17, đóng tại Lampang; Trung đoàn bộ binh số 7, đóng tại Chiếng Mai.


Quân khu 4 (miền Nam Thái Lan) được bố trí 2 sư đoàn và 2 trung đoàn, bao gồm: Sư đoàn bộ binh số 5; Sư đoàn bộ binh số 25 (sư đoàn dự bị); Trung đoàn bộ binh số 15; Trung đoàn bộ binh số 5. Ngoài ra, còn có 4 tiểu đoàn phản ứng nhanh.


Bên cạnh các đơn vị được bố trí tại các quân khu, còn một số đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh lực lượng lục quân Thái Lan như các sư đoàn phòng không; sư đoàn lực lượng đặc nhiệm 1 và 2; Trung đoàn kỵ binh không vận; Sư đoàn thiết giáp số 8, v.v...


Về vũ khí và trang bị, hiện nay lực lượng lục quân Thái Lan được trang bị tương đối hiện đại như xe tăng M-60A3, M-60AI, M-48A5, T69, T59, Stingray; Scorpion; M-41; xe bọc thép chở quân M-113, V-150 Commanđo; Type-854; hệ thống pháo lựu 155mm tự hành M-109A5; pháo 105mm M01; pháo 105mm LGI; pháo lựu 155mm; cối 81 và 120mm; cối 120mm và cối 81 lắp trên xe M-106A3 và M-125A3; hệ thống pháo phản lực bắn loạt 130mm Type 85 AFV.


Vũ khí chống tăng gồm các loại: LWA, RPG-2, RPG-7, tên lửa TOW, Dragon, hệ thống chống tăng ITOW M-901 A3; vũ khí phòng không tự hành gồm pháo Vulcan, pháo 40mm, pháo 57mm, tên lửa Hawk, Red eye, Spada (1 đại đội 4 tên lửa), Shorts Blowpie, HQ-5; không quân của lục quân có máy bay vận tải nhẹ C-212-300, Shorts 330; 75-OV-10; Beech 99; T-411; Kinh AIR, Jetstrecam 41, trực thăng Bell 207; UH-1 B/D/H; Bell 212/412; OH-13; Boeing 234 Chinook; TH-300; 5 Bell 206 B-3 (huấn luyện), v.v...


Trong kế hoạch cải cách và tinh giản lực lượng lục quân, Thái Lan dự kiến sẽ cắt giảm gần 45.000 quân, giảm số sư đoàn dự bị từ 4 sư đoàn như hiện nay xuống còn 2 sư đoàn. Bên cạnh đó, tập trung đầu tư phát triển lực lượng phản ứng nhanh (RDF). Theo phân tích của các chiến lược gia quân sự Thái Lan, lực lượng phản ứng nhanh là các đơn vị cơ động nhanh, hoả lực mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, chi phí cho việc xây dựng và duy trì các đơn vị triển khai nhanh thấp hơn chi phí cho các đơn vị bộ binh. Tuy nhiên, không giống như nhiều nước, lực lượng triển khai nhanh của lục quân Hoàng gia Thái Lan chỉ đảm đương những nhiệm vụ trong nước. Hiện nay, lực lượng phản ứng nhanh của lục quân Thái Lan có 22 đại đội bộ binh, 1 đại đội đổ bộ đường không, 1 đại đội pháo binh, 1 đại đội xe tăng hạng nhẹ, 1 trung đội công binh và một bộ phận phòng không. Lực lượng này được triển khai tại các quân khu và đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp cửa Tư lệnh Lực quân.


Trong thành phần lục quân Quân đội Hoàng gia còn có hai lực lượng bán vũ trang là: Thahan Phran và lực lượng cảnh sát biên phòng (BPP). Nhiệm vụ chính của hai lực lượng này là phối hợp với lực lượng chủ lực bảo vệ các làng, xã ở vùng biên giới và tham gia chương trình phát triển nông thôn tại đó.


Thahan Phran được tổ chức từ những năm 1970-1980 và hiện tại có khoảng 20.000 người. Đây là lực lượng được tổ chức theo mô hình các đơn vị bộ binh nhẹ và được sử dụng để tuần tra biên giới, thường hoạt động ở phía trước các đơn vị chủ lực. Trong tương lai, Thahan Phran sẽ trở thành một lực lượng chính của lục quân.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:26:47 pm
Cảnh sát biên phòng có số lượng khoảng 18.000, hiện tại do Bộ Nội vụ Thái Lan quản lý. Hoạt động của lực lượng này chủ yếu là tuần tra ở khu vực biên giới, ngăn chặn việc buôn lậu thuốc phiện, ma túy và thu thập thông tin tình báo.


Nhằm không ngừng nâng cao khả năng tác chiến, nhất là trình độ chỉ huy của đội ngũ sĩ quan, hàng năm lục quân Thái Lan tổ chức và tham gia các cuộc tập trận chung với quân đội Mỹ và quân đội nhiều nước trong khu vực như: tập trận "Cobra Gold", "Balance Torch" và 'Victor Balance Torch" với quân đội Mỹ; "Temple Jade", “Chepel Gold" với Quân đội Ôxtrâylia, các cuộc diễn tập song phương và đa phương với Quân đội Xingapo, Malaixia, Inđônêxia, v.v...


Quân chủng hải quân: Hải quân Thái Lan có 62.700 quân (12.2005), trong đó có 20.000 lính thủy đánh bộ, 30.000 quân thuộc lực lượng dự bị, còn lại là lực lượng phục vụ chiến đấu và ở các trung tâm huấn luyện, v.v... Toàn bộ lực lượng trên được biên chế và triển khai trong 3 bộ tư lệnh là: Bộ tư lệnh hạm đội; Bộ tư lệnh cảnh vệ bờ biển và lực lượng lính thủy đánh bộ và Bộ tư lệnh phòng không phòng thủ bờ biển.


Bộ tư lệnh hạm đội, có 3 bộ chỉ huy tại 3 vùng hải quân là: vùng 1 và vùng 2 ở vịnh Thái Lan, vùng 3 ở biển Andaman. Bộ tư lệnh hạm đội hải quân Thái Lan có khoảng 130 tàu chiến các loại, cùng hàng trăm tàu tuần tiễu, tàu phóng lôi và tàu quét ngư lôi. Phần lớn các tàu chiến được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại như tên lửa đất đồi không, tên lửa tốc hạm, thậm chí có cả tên lửa chống tàu ngầm. Bộ tư lệnh hạm đội biên chế thành 8 hải đội gồm: 3 hải đội tàu chiến, 1 hải đội tàu tuần tiễu; 1 hải đội tàu quét ngư lôi, 1 hải đội tàu thủy bộ, 1 hải đội dịch vụ yểm trợ chiến đấu và hải đội tác chiến trên sông. Ngoài các lực lượng kể trên, trong Bộ tư lệnh hạm đội còn được biên chế 1 sư đoàn không quân hải quân và Trung tâm huấn luyện của hạm đội.


Bộ tư lệnh cảnh vệ bờ biển và lực lượng lính thủy đánh bộ. Lực lượng cảnh vệ bờ biển được tổ chức thành 3 bộ chỉ huy vùng (giống như bộ chỉ huy các vùng hải quàn). Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng này là tìm kiếm và cứu hộ trên biển, bảo vệ môi trường biển. Lực lượng lính thủy đánh bộ được biên chế theo cơ cấu lữ đoàn, mỗi lữ đoàn gồm 2 trung đoàn. Mỗi trung đoàn có 6 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn đột kích thủy bộ và 1 tiểu đoàn xe tăng hạng nhẹ. Ngoài nhiệm vụ truyền thống là tác chiến thủy bộ, lực lượng lính thủy đánh bộ còn đảm nhiệm vai trò bảo vệ biên giới, chống nổi dậy và bảo đảm an ninh nội địa tại các khu vực được giao.


Bộ tư lệnh phòng không phòng thủ bờ biển, có nhiệm vụ phòng thủ bờ biển và bảo vệ các mục tiêu trên bờ của hải quân, có khoảng 7.000 quân, được biên chế trong 2 trung đoàn là Trung đoàn pháo bờ biển và Trung đoàn pháo phòng không. Hai trung đoàn này được trang bị 9 khẩu đội tên lửa đối hạm Exôcét MM-40, pháo 105mm và 155mm, pháo phòng không 76mm, 40mm, 37mm và 20mm và tổ hợp tên lửa phòng không PL-9B.


Trung đoàn pháo bờ biển đóng tại Xatahíp, gồm 5 tiểu đoàn pháo được trang bị 48 pháo 155mm (24 khẩu GC-45 của Bỉ, 12 khẩu GHN-45 của Áo, 12 khẩu M-71 của Ix-ra-en) và 18 khẩu 130mm của Trung Quốc kiểu 59-1). Tầm bắn của các loại pháo này tới 30km.


Trung đoàn pháo phòng không đóng ở Utapao, gồm một số tiểu đoàn pháo và các tổ hợp tên lửa phòng không. Trang bị của trung đoàn có 47 tổ hợp pháo phòng không mua của Trung Quốc (39 khẩu 57mm kiểu 59mm và 8 khẩu 37mm kiểu 74mm), 6 tổ hợp pháo phòng không tự hành Vulcan 20mm của Mỹ, 12 xe vận tải bọc thép LVTP-7, trang bị súng máy phòng không hai nòng và một số tổ hợp tên lửa phòng không “Hunin- 5A" mua của Trung Quốc.


Hàng năm lực lượng hải quân Thái Lan tham gia nhiều cuộc diễn tập với lực lượng hải quân các nước như Mỹ, Ôxtrâylia và hải quân các nước ASEAN. Mục tiêu chủ yếu của các cuộc diễn tập là nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến trên biển, học hỏi kinh nghiệm tổ chức chỉ huy tác chiến, đồng thời cũng là để biểu dương lực lượng, củng cố mối quan hệ quân sự với các nước.


Quân chủng không quân: Không quân Thái Lan có khoảng 40.000 quân (12.2005), gần 400 máy bay, trong đó có gần 200 máy bay chiến đấu các loại. Tổ chức không quân Thái Lan gồm: Bộ tư lệnh không quân, Lực lượng vận tải và hậu cần, Trung tâm huấn luyện không quân; Lực lượng phục vụ đặc biệt và Lực lượng chiến đấu. Bộ tư lệnh không quân Quân đội Hoàng gia Thái Lan đóng tại Băng Cốc, có nhiệm vụ tham mưu và hoạch định các chính sách liên quan đến mọi hoạt động của lực lượng không quân. Lực lượng vận tải hậu cần có nhiệm vụ cung cấp và đảm bảo mọi yếu tố cần thiết cho các hoạt động của lực lượng không quân như thông tin hên lạc, quân y, vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, v.v... Lực lượng không quân chiến đấu Quân đội Hoàng gia Thái Lan gồm 3 phi đội tiêm kích, 1 phi đội tiêm kích - tiến công mặt đất, 1 phi đội trinh sát, 3 phi đội vận tải, 1 phi đội chuyên cơ, 2 phi đội trực thăng... Nhiệm vụ chính của lực lượng này là: trực tiếp tham chiến và hỗ trợ cho các lực lượng khác trong các cuộc chiến tranh thông thường; trực tiếp tham gia chống nổi dậy trong nước và các hoạt động quân sự đặc biệt bên ngoài lãnh thổ Thái Lan.


Các căn cứ không quân chính của Quân đội Hoàng gia Thái Lan gồm các sân bay, căn cứ không quân ở Băng Cốc, Đôn Mường, Khorạt, Kokekathion, Nakhon, Phanom, Proachaub, Tắc ly, Bon Thanh, Utapao, Nakhon Ratchasima.


Trang bị của không quân hiện nay có máy bay tiêm kích và huấn luyện gồm F-16A/B Block15 (50 chiếc); F-5E/F (36 chiếc); RF-5F (8 chiếc); F-5A/B (7 chiếc); OV-LO Bronco (22 chiếc); L-39 Albatrons (37 chiếc); 3 PC-9 (23 chiếc); RFB Fantrainer 9 (30 chiếc)..., trực thăng vũ trang gồm: Super Puma Mk 2 (2 chiếc), Bell 212 (22 chiếc) Bell 206 (6 chiếc); S-58T (10 chiếc); Bell 412 (9 chiếc); UH-1H (24 chiếc); máy bay vận tải gồm: C- 130 (12 chiếc); 6G-222 (6 chiếc); HS-748 (6 chiếc); Airbus A310; 1 Boeing 737- 200; 1 Boeing 737-400; 3 Merlin IV; 2 Learjet 35A, v.v...


Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Thái Lan còn đặt mua của Mỹ 8 máy bay tiêm kích F-16 A/block 15 để bổ sung cho các phi đội máy bay chiến đấu hiện có và chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập thêm 1 phi đội máy bay chiến đấu mới. Bên cạnh việc nâng cấp và mua mới các loại máy bay, không quân Thái Lan còn thoả thuận với Mỹ về việc mua hệ thống tên lửa không đối không tầm trung loại AIM- 120 AMRAAM; máy bay tuần tiễu biên giới và làm nhiệm vụ chống nổi dậy Peacemaker và máy bay kiểm soát báo động sớm trên không AEW và C.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:34:03 pm
III Vai trò, nhiệm vụ và chiến lược phát triển Quân đội Hoàng gia Thái Lan trong giai đoạn hiện nay

Hiến pháp mới của Thái Lan ban hành tháng 9 năm 1997 yêu cầu: "Chính phủ phải xây dựng quân đội đủ mạnh để bảo vệ vững chắc nền tự do và dân chủ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chế độ quân chủ do Nhà vua đứng đầu, đồng thời để bảo vệ sự phát triển bền vững, lâu dài của Vương quốc Thái Lan". Để đáp ứng các yêu cầu trên và để thích ứng với tình hình quốc tế và khu vực đang chuyển biến mau lẹ, Thái Lan đã tiến hành điều chỉnh chiến lược phòng thủ, từ lục địa vươn ra biển, từ đối phó với an ninh trong nước là chính sang đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài, đặc biệt là những đe dọa khủng bố, bùng nổ chiến tranh trong khu vực hoặc chiến tranh xâm lược Tuân thủ những nguyên tắc của chiến lược phòng thủ mới, trong những năm đầu thế kỷ XXI, Chính phủ Thái Lan xem xét và đánh giá lại đường lối quốc phòng, đồng thời đưa ra các kế hoạch cho sự phát triển quân đội. Theo đó, Thái Lan sẽ tổ chức lại quân đội với quy mô nhỏ hơn, được trang trang bị tốt hơn, sẵn sàng đáp ứng mọi đòi hỏi của điều kiện tác chiến mới. Mục tiêu cụ thể mà Chính phủ Thái Lan đặt ra là giảm khoảng 25% tổng quân số, từ 330.000 quân như hiện nay xuống còn khoảng 250.000 quân vào năm 2007. Song song với việc cắt giảm quân số, Thái Lan cũng xác định lại nhiệm vụ cho các quân binh chủng. Cụ thể:


Quân chủng Lục quân: Hiến pháp mới của Thái Lan xác định nhiệm vụ và chức năng chủ yếu của lục quân Hoàng gia Thái Lan là phòng thủ đất nước, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia. Ngoài ra, lục quân còn phải thực hiện các nhiệm vụ trong thời bình như giáo dục, đào tạo và huấn luyện, tham gia phát triển kinh tế, tham gia các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc (gần đây nhất là chiến dịch ở Đông Tim, Inđônêxia...); các chiến dịch cứu trợ nhân đạo và thiên tai ở trong nước cũng như tại các nước láng giềng; tham gia vào các chiến dịch quốc tế nhằm trấn áp và ngăn chặn tội phạm buôn lậu ma túy, v.v... Trước những đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, lục quân đang tiếp tục điều chỉnh khả năng tác chiến theo hướng “chuyên nghiệp, hiện đại và cập nhật" nhằm ứng phó và giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh công nghệ cao, đồng thời đẩy nhanh các chương trình nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật quân sự tiên tiến. Ngoài các nhiệm vụ kể trên, lực lượng lục quân Thái Lan còn phải tiếp tục thực hiện cải tổ, chấn chỉnh lại việc chi tiêu ngân sách quốc phòng, giảm số lượng sĩ quan, chú trọng nâng cao mức sống cho binh sĩ cũng như gia đình quân nhân, v.v...


Quân chủng Hải quân, cũng như quân chủng lục quân, hiện tại, hải quân Hoàng gia Thái Lan đang trong quá trình thực hiện cắt giảm quân số và đầu mối các đơn vị; tổ chức sắp xếp lại lực lượng chiến đấu theo hướng gọn nhẹ, tinh nhuệ và cơ động. Một trong những trọng tâm trong kế hoạch phát triển hải quân Thái Lan hiện nay là tập trung mua sắm các loại vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cấp các quân cảng, cơ sở hậu cần kỹ thuật của quân chủng. Với sự đầu tư thoả đáng, đến năm 2005, lực lượng hải quân Thái Lan được coi là lực lượng mạnh nhất trong khu vực với 228 tàu xuồng các loại, 144 tàu chiến, 23 tàu hộ vệ, hộ tống mang tên lửa, 105 tàu tuần tiễu tiến công trên biển, 62 tàu xuồng đổ bộ, 1 tàu sân bay, v.v... Ngoài ra, lực lượng hải quân còn được trang bị hàng trăm máy bay chiến đấu, máy bay vận tải quân sự hiện đại như: AV-SA; S-70B7, S-70B, S-76B, N-24A, Bell 212/214, A-7E, TAV-8, UP-3T, V.V... Cùng hàng trăm xe thiết giáp chở quân, hệ thống ra da, tên lửa dẫn đường chống tăng, v.v... Theo nhận định của một số chiến lược gia quân sự Thái Lan, với lực lượng và cơ số vũ khí, trang bị như hiện nay, Thái Lan phần nào đã đáp ứng được chiến lược "phòng thủ chiều sâu” đề ra từ những năm 80 và chiến lược phòng thủ "vươn ra biển" được đề ra trong thời gian gần đây.


Quân chủng Không quân: Khác với quân chủng lục quân và hải quân, những năm gần đây, quân chủng không quân Quân đội Hoàng gia Thái Lan ít biến động về quân số và cơ cấu lực lượng. Tuy nhiên, để đối phó với các cuộc chiến tranh công nghệ cao, Chính phủ Thái Lan đã tập trung đầu tư cho quân chủng không quân theo hai hướng cơ bản sau đây: Thứ nhất, hiện đại hoá vũ khí trang bị bằng cách mua sắm các loại vũ khí mới, bên cạnh đó tiến hành nâng cấp các loại vũ khí, hệ thống các sân bay và căn cứ không quân có sẵn. Thứ hai, tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước láng giềng thông qua việc trao đổi huấn luyện, đào tạo và tham gia các cuộc diễn tập... nhằm nâng cao khả năng tác chiến cho lực lượng không quân. Thực hiện các kế hoạch đã đề ra, trong vài năm gần đây, lực lượng không quân Thái Lan đã được trang bị thêm nhiều loại máy bay, khí tài hiện đại như máy bay chiến đấu Black Hawk, máy bay tiêm kích, cường kích F-16A; F-5B; F-5F, máy bay vận tải Boeing 737-200 của Mỹ; máy bay chiến đấu JAS-39 của Thụy Điển. v.v...


Trên lĩnh vực "đối ngoại" không quân, chỉ tính riêng năm 2004, lực lượng không quân Thái Lan đã tiến hành nhiều cuộc diễn tập với lực lượng không quân các nước như: với lực lượng không quân Xingapo trong cuộc diễn tập mang tên Cope Tiger-2004 (15.12.2003-27.2.2004) với sự tham gia của 1.500 quân, 90 máy bay chiến đấu của cả hai bên; với lực lượng không quân Pháp, Ôxtrâylia, Mỹ và Xingapo trong cuộc diễn tập Pitch Black-04 (18.7-6.8.2004) với sự tham gia của 1.500 quân, 100 máy bay chiến đấu; hay trong cuộc diễn tập Marsea-ex-2004 với lực lượng không quân Mỹ, v.v...


Cùng với sự phát triển của Vương quốc Nam Chiếu, Đại Thành, Xiêm và Thái Lan ngày nay, Quân đội Thái Lan đã không ngừng phát triển cả về lực lượng lẫn tổ chức. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, quân đội nước này đã hoàn thành sứ mạng của mình là bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia, trở thành công cụ bạo lực chủ yếu của nhà nước và các giai cấp thống trị Thái Lan. Cũng trong từng giai đoạn lịch sử, do các yếu tố chủ quan, khách quan cũng như sự tác động của môi trường chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước, Quân đội Thái Lan đã lưu lại trong mình và phản ánh đậm nét những dấu ấn về lịch sử, văn hoá của các bộ tộc Thái nói riêng và của nhân loại nói chung. Điều đó được thể hiện rõ nét trong cách thức tổ chức và khả năng trang bị cho quân đội qua mỗi thời kỳ.


Vào thời khai quốc, khi Vương quốc Nam Chiếu của Thái ở vùng Vân Nam (Trung Quốc) còn trong thời kỳ cổ đại, Quân đội Thái lúc đó mặc dù được mệnh danh là thiện chiến, nhưng cũng chỉ mới là những đạo quân được trang bị hết sức thô sơ và được tuyển binh theo "thời vụ”. Lúc có giặc thì ra trận, lúc hoà bình thì trở lại sản xuất nông nghiệp.


Bước sang thời kỳ phong kiến, do sự phát triển của lực lượng sản xuất và do thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phạt, thôn tính, quân đội Đại Thành-Xiêm dần trở thành những đội quân chuyên nghiệp, được tổ chức chặt chẽ và trang bị tương đối tốt. Vào khoảng giữa thế kỷ XV, Vương quốc Đại Thành đã thành lập Bộ Chiến tranh; đến đầu thế kỷ XVI, đã có luật nghĩa vụ quân sự. Sự ra đời của luật nghĩa vụ quân sự đã làm thay đổi căn bản tính chất cũng như cách thức tổ chức quân đội Chế độ dân binh hoàn toàn bị bãi bỏ, thay vào đó là những đơn vị thường trực chính quy.


Cùng với những yếu tố chính trị - xã hội, các yếu tố kỹ thuật như vũ khí, trang bị cũng tác động không nhỏ tới phương thức tiến hành chiến tranh và cách tổ chức quân đội. Đến cuối thế kỷ XVI, ngoài các loại vũ khí tự tạo, Quân đội Xiêm còn mua các loại hoả khí như súng hoả mai, đạn và đại bác của Bồ Đào Nha, họ còn thuê cả binh lính Bồ Đào Nha sang để huấn luyện, v.v... Sự "hỗ trợ" của các yếu tố ngoại sinh đã làm cho Quân đội Thái trở nên gọn nhẹ hơn, tác chiến hiệu quả hơn. Các cuộc chiến tranh thời kỳ này vì thế cũng được rút ngắn hơn, nhưng tàn khốc hơn.


Vào cuối thế kỷ XVIII, khi chế độ quân chủ chuyên chế được hình thành ở Xiêm, Quân đội Hoàng gia Thái Lan được xây dựng trên nền tảng chế độ phong kiến. Ở đó Nhà vua là người đứng đầu nhà nước, đồng thời là tổng chỉ huy quân đội. Nhiệm vụ của quân đội là tập trung bảo vệ sự tồn tại của các triều đại phong kiến, chủ quyền đất nước. Quân đội được phát triển cả về số lượng và chất lượng nhưng vẫn chủ yếu là lực lượng bộ binh.


Sau cuộc cách mạng năm 1932, quân đội trở thành công cụ đắc lực của nhà nước quân chủ lập hiến và từng bước được tổ chức hoàn chỉnh với ba thành phần chủ yếu là lục quân, không quân và hải quân. Đặc biệt, hải quân là quân chủng được chú trọng phát triển. Giai đoạn này, Quân đội Hoàng gia Thái Lan hầu như chi phối toàn bộ nền chính trị đất nước.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 03 Tháng Mười Một, 2008, 02:40:41 pm
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, do những biến đổi sâu sắc của môi trường chính trị trong nước và quốc tế, Quân đội Hoàng gia Thái Lan bắt đầu chuyển hướng từ chiến lược chống nổi dậy sang tác chiến thông thường. Vì vậy quân đội được củng cố và phát triển mạnh mẽ với đầy đủ các quân, binh chủng; được trang bị vũ khí tương đối hiện đại và trở thành một quân đội mạnh trong khu vực.


Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, tình hình thế giới và khu vực có nhiều chuyển biến sâu sắc. Đông Nam Á không còn là mặt trận nóng bỏng của cuộc đối đầu Đông-Tây. Xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển đang dần trở thành chủ đạo ở Đông Nam Á. Trước những thay đổi của tình hình, Quân đội Hoàng gia Thái Lan đã và đang thực hiện quá trình điều chỉnh theo hướng "tổ chức biên chế tinh gọn, cân đối và phù hợp, trang bị tốt và tác chiến có hiệu quả". Nhiệm vụ của quân đội vì thế cũng đã có những thay đổi, từ chỗ chỉ đảm đương sứ mạng bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia khỏi các cuộc xâm lăng từ bên ngoài, nay Quân đội Thái Lan còn tham gia sâu hơn, nhiều hơn vào các mặt đời sống xã hội như phát triển kinh tế, giáo dục, an ninh, đối ngoại, v.v...


(http://img523.imageshack.us/img523/5818/image010gt1.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:16:28 pm
QUÂN ĐỘI CỘNG HOÀ XINGAPO


I. Khái quát về đất nước và con người Xingapo

Cộng hòa Xingapo nằm trên phần cực nam bán đảo Malăcca, có đường biên giới chung với Malaixia; diện tích 642km2 gồm 54 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo chính Xingapo chiếm tới 583km2. Tuy là một quốc gia hải đảo, nhưng Xingapo vẫn nối liền với bán đảo Malắcca nhờ một con đê nhân tạo, có đường sắt và đường bộ chạy qua eo biển Giôhô. Nằm trên vịnh Malắcca, Xingapo có một vị trí địa chiến lược quan trọng trong khu vực và trên thế giới, nó án ngữ trên những tuyến đường biển quan trọng nồi liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Đông-Nam Á hải đảo và Đông-Nam Á lục địa.


Xingapo là một một quốc gia nhiều dân tộc, đa sắc thái văn hoá. Cư dân được hình thành trên nền tảng dân nhập cư từ Malaixia, Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu. Tinh đến cuối năm 2005, dân số Xingapo có khoảng 4.425.700 người, trong đó cộng đồng người Hoa chiếm 77%, người Mã Lai 15%, người Ấn Độ 7,1% và các cộng đồng dân tộc khác 1,9%. Đại bộ phận dân cư Xingapo ngày nay là con cháu những người nhập cư thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Xingapo năm 2005 khoảng 100 tỉ USD; thu nhập bình quân đầu người của Xingapo thuộc loại cao nhất thế giới, bình quân khoảng 26.000 USD.


Tuy là quốc gia đa tôn giáo: đạo Phật với 27% dân số, đạo Giáo 25%; đạo Hồi 16%; đạo Thiên chúa 10%; đạo Hinđu 4%, nhưng ở Xingapo không có tôn giáo nào được coi là quốc giáo. Chính cơ cấu dân tộc, tôn giáo phong phú đã tạo nên một nền văn hoá đa sắc thái và rất độc đáo của Xingapo. Chính phủ Xingapo rất quan tâm đến khối đoàn kết toàn dân, áp dụng nhiều biện pháp tích cực nhằm từng bướt xóa bỏ hàng rào ngăn cách dân tộc do sự khác nhau về ngôn ngữ, lối sống, tôn giáo..., nhờ đó đã hình thành tính đồng nhất về bản sắc quốc gia-dân tộc Xingapo.


Do có vị trí chiến lược quan trọng nên từ xa xưa, Xingapo đã bị thực dân, đế quốc dòm ngó. Từ năm 1 551 đến năm 1824, Xingapo lần lượt rơi vào tay thực dân và trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha, Hà Lan. Trong thời gian đó, Xingapo vẫn còn là một hòn đảo hoang sơ, dân cư thưa thớt. Bước ngoặt trong sự phát triển của Xingapo diễn ra vào 1824, khi Anh và Hà Lan đạt được thoả thuận, theo đó Xingapo chính thức trở thành thuộc địa của Anh. Sau khi hợp pháp hoá quyền cai trị của mình tại Xingapo, thực dân Anh đã thi hành chính sách mở của, biến Xingapo thành một bến cảng tự do. Cùng với chính sách này, việc khai thông kênh đào Xuy và sự ra dời của tàu thủy chạy bằng hơi nước nửa sau thế kỷ XIX đã biến Xingapo thành trung tâm buôn bán, trung chuyển hàng hoá và phân phối lao động lớn nhất ở Đông Nam Á.


Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Xingapo bị Nhật chiếm đóng (kể từ ngày 10 tháng 2 năm 1942) và đổi tên thành Sênan, nghĩa là "Ánh sáng phương Nam". Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh; ngay sau đó quân Anh đổ bộ lên Xingapo tái thiết lập hệ thống cai trị của mình. Trước những khó khăn trong việc duy trì hệ thống thuộc địa và vấp phải phong trào đấu tranh của các lực lượng yêu nước Xingapo, năm 1959, Chính phủ Anh buộc phải trao quyền tự trị cho hòn đảo này.


Do thị trường nội địa quá nhỏ hẹp, lại thiếu nguồn nước ngọt cho sinh hoạt, ngày 16 tháng 9 năm 1963, Xingapo tự nguyện gia nhập Liên bang Malaixia. Sau đó do những mâu thuẫn nảy sinh giữa giai cấp tư sản người Hoa và những người theo chủ nghĩa Liên bang; đặc biệt, chính sách bảo hộ mậu dịch của Chính phủ Liên bang làm cản trở sự phát triển của Xingapo nên ngày 9 tháng 8 năm 1965, Xingapo tách ra khỏi Liên bang Malaixia và trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền, nằm trong Khối thịnh vượng Anh.


Theo Hiến pháp năm 1965, chính thể của Xingapo là nền cộng hoà theo chế độ đại nghị. Quyền điều hành đất nước nằm trong tay Thủ tướng và nội các. Thủ tướng là lãnh tụ của đảng chính trị hoặc liên minh các đảng chiếm đa số ghế trong quốc hội. Tổng thống trước đây chỉ làm công việc mang tính nghi lễ, nhưng theo hiến pháp sửa đổi năm 1991, tổng thống được trao thêm nhiều quyền lực hơn, có quyền chỉ định các thành viên vào các cơ quan lập pháp, có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến ngân sách quốc gia và các vấn đề an ninh, quốc phòng, v.v... Nhiệm kỳ của tổng thống là 4 năm.


Xingapo trở thành thành viên của Liên hợp quốc năm 1965 và là một trong 6 nước sáng lập tổ chức ASEAN (1967), thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1973, song do sự chi phối của mối quan hệ giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương thời kỳ Chiến tranh lạnh, nên lúc này quan hệ hai nước ít được cải thiện. Sau khi hai nhóm nước tìm được tiếng nói chung trong vấn đề hoà bình ở Campuchia vào cuối thập niên 80 và những biến đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh, quan hệ Việt Nam - Xingapo từng bước được cải thiện và đã có những bước phát triển đáng kể. Hiện nay, Xingapo là nốt trong những nước có số vốn đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Việt Nam.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:17:23 pm
II. Lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của Quân đôi Cộng hoà Xingapo

1. Quân đội Cộng hoà Xingapo trong thập niên 60-70 của thế kỷ XX

Sau khi tách ra khỏi Malaixia và trở thành quốc gia độc lập năm 1965, Xingapo đứng trước hàng loạt khó khăn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và quốc phòng.


Trên lĩnh vực kinh tế, là một nước nhỏ hẹp, nghèo tài nguyên, thậm chí thiếu cả nước ngọt cho sinh hoạt, nên xingapo không có những ngành công nghiệp và nông nghiệp lớn để khởi động nền kinh tế. Trong khi đó, dân số lại tăng nhanh, từ 1 triệu người vào cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, lên 2 triệu người vào thập mến 60. Nguyên nhân của tình trạng gia tăng dân số nhanh là do tỉ lệ sinh cao và làn sóng nhập cư ồ ạt từ các vùng lân cận vào Xingapo. Tất cả các nhân tố trên là một gánh nặng đối với Chính phủ Xingapo trong những năm mới giành được độc lập. Chỉ riêng việc nhập nước ngọt cho sinh hoạt từ Malaixia đã là một vấn đề nan giải, chưa kể đến việc nhập lương thực, thực phẩm và giải quyết việc làm cho hàng vạn người thất nghiệp, v.v...


Tuy trong thời kỳ thống trị Xingapo, các nhà tư sản Anh đã xây dựng ở đây một số cơ sở hạ tầng, kho tàng, bến bãi; nhưng nhìn chung, Xingapo vẫn chỉ là một trạm trung chuyển hàng hoá của Anh từ châu Âu sang châu Á và là nơi tập kết sản phẩm thu được từ các nước thuộc địa châu Á chuyển về châu Âu. Sau khi hệ thống thuộc địa của Anh ở châu Á sụp đổ, hàng hoá trung chuyển qua Xingapo giảm đi đáng kể, điều đó đã gây cho nền kinh tế nước này không ít khó khăn. Thêm vào đó, những năm còn thuộc Liên bang Malaixia, chính sách bảo hộ hàng hoá trong nước của Liên bang đã làm cho nhiều nhà tư sản nước ngoài ở Xingapo rời khỏi mảnh đất này. Sự hẫng hụt trên đã gây không ít khó khăn cho nền kinh tế Xingapo và cũng tác động không nhỏ đến việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng.


Về quân đội, từ năm 1854, chính quyền thuộc địa Anh đã cho thành lập ở Xingapo Binh đoàn xạ thủ tình nguyện Xingapo (Singapore Volunteer Rifle Corps) để phòng vệ vùng lãnh thổ này. Tiếp đó, năm 1922, họ cho xây dựng ở Woodland một căn cứ hải quân và một căn cứ không quân. Năm 1954, tức là 4 năm trước khi quyết định trao trả quyền tự trị cho mảnh đất này, người Anh cho thành lập lực lượng quân sự Xingapo (Singapore Military Force-SMF) gồm những người bản địa trong thành phần quân thường trực Anh tại Xingapo. Mục đích của người Anh lúc đó là muốn từng bước "bản địa hoá" lực lượng bảo vệ Xingapo, một mặt là để giảm bớt gánh nặng ngân khố quốc gia, mặt khác là nhằm đào tạo họ thành lực lượng hạt nhân cho một quân đội bản địa độc lập sau này.


Mặc dù đã được người Anh tích cực xúc tiến xây dựng từ rất sớm, nhưng sau khi tuyên bố độc lập, lực lượng Quân đội Xingapo cũng chỉ vẻn vẹn có khoảng 1.000 binh lính và 60 sĩ quan, chia thành 2 trung đoàn bộ binh Đệ nhất và Đệ nhị (SIR I và SIR II). Cả hai trung đoàn này trước năm 1965 đều là các đơn vị trong Quân đội Malaixia, đồn trú và làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực Xingapo. Sau khi Xingapo tách ra khỏi Malaixia thành quốc gia độc lập, 2 trung đoàn này tạm thời vẫn nằm trong thành phần của Quân đội Malaixia và chịu sự điều hành của Malaixia. Có thể nói, những năm đầu sau khi giành được độc lập, toàn bộ nền quốc phòng của Xingapo vẫn chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ và bảo hộ của Quân đội Anh.


Năm 1967, Anh tuyên bố sẽ rút quân khỏi Xingapo vào 1972, thêm vào đó, tình hình chính trị trong nước ngày càng trở nên rối ren: Các cuộc bạo loạn giữa người Xingapo gốc Hoa và người Mã Lai nổ ra liên tiếp (kể cả trong các doanh trại quân đội); tình trạng phân biệt chủng tộc đang nổi lên gay gắt ở Malaixia và có nguy cơ lan tràn sang Xingapo, v.v... Nhằm ứng phó kịp thời tình hình, đồng thời bảo vệ vừng chắc nền độc lập của Xingapo trước mắt cũng như lâu dài, Chính phủ Xingapo, đứng đầu là Thủ tướng Lý Quang Diệu đã ban hành sắc lệnh thành lập lực lượng bộ đội vũ trang Xingapo. Sau khi cân nhắc tất cả các phương án do Hội đồng chính phủ và những viên chức hàng đầu của ngành cảnh sát và quân đội đề ra, Chính phủ Xingapo cho rằng, Xingapo là một quốc đảo, tài nguyên thiên nhiên, sức người, sức của có hạn, nếu chỉ tập trung xây dựng một quân đội thường trực đủ mạnh, làm công cụ bảo vệ đất nước thì chi phí sẽ rất lớn, vượt quá khả năng cho phép của đất nước. Hơn thế nữa, điều đó sẽ làm cho nhiều người hiểu rằng, công việc bảo vệ đất nước là của nhà binh và sẽ là cơ hội để tâm lý "hảo hán bất đăng binh" (người tốt không đi lính) vốn tồn tại từ lâu trong cộng đồng người Hoa chiếm đa số ở Xingapo có lí do để phát triển. Vì vậy, ngay sau khi sắc lệnh có hiệu lực, Xingapo đã đề ra chiến lược phát triển quốc phòng toàn dân, trên cơ sở lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Công việc đầu tiên trong việc thực thi chiến lược này là xây dựng lại từ đầu Quân đội Xingapo.


Năm 1966, ông Goh Keng Swee, cựu Bộ trưởng Tài chính được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng. Ngay sau khi được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng, ông đã đưa ra kế hoạch cải cách quân đội bằng việc lấy lại 2 trung đoàn bộ binh SIR I, SIR II và tiến hành khôi phục tính đồng nhất về bản sắc quốc gia-dân tộc Xingapo để đảm bảo lòng trung thành của binh lính. Tiếp đó, tháng 2 năm 1967, Chính phủ Xingapo đã sửa đổi và thông qua Luật nghĩa vụ quân sự vốn được người Anh thông qua từ năm 1952. Theo luật này, tất cả các nam công dân Xingapo hoặc dân cư trú lâu dài, đủ 18 tuổi, đều có nghĩa vụ phục vụ quân dịch trong 2 năm hoặc 2 năm rưỡi, sau khi hết hạn quân dịch họ sẽ trở thành quân nhân dự bị. Tháng 5 năm 1967, Xingapo tiến hành đợt tuyển quân đầu tiên theo Luật nghĩa vụ quân sự mới. Trong đợt tuyển quân này, các hội đồng tuyển quân trên toàn quốc đã tuyển được hơn 9.000 nam thanh niên trong độ tuổi. Tháng 8 năm 1967, 900 trong số 9.000 thanh niên trúng tuyển đã được tập trung huấn luyện quân sự. Nhằm giảm bớt định kiến xấu đối với nghề lính, Chính phủ Xingapo đã tổ chức các buổi lễ tiễn đưa tân binh hết sức long trọng tại các trung tâm dân cư. Các nghị sĩ, bộ trưởng và những người đứng đầu cộng đồng đã tới tận nơi để cổ vũ, khuyến khích và tiễn đưa tân binh lên đường, thậm chí họ còn dành một khoảng thời gian nhất định ban đầu để cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và huấn luyện với binh lính. Với cách làm như vậy cùng với những chính sách phù hợp và nhất quán trong chế độ quân dịch, chỉ trong một thời gian ngắn, Xingapo đã xây dựng được một quân đội tương đối mạnh, đủ sức đảm đương công việc phòng thủ đất nước. Điều quan trong hơn là các chính sách và biện pháp đó đã từng bước xoá được những định kiến không tốt về nghề lính trong đại bộ phận dân chúng Xingapo.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:17:54 pm
Nhằm nâng cao khả năng tác chiến của quân đội, Chính phủ Xingapo đã dành những khoản tài chính đáng kể để mua sắm các trang thiết bị quân sự. Năm 1967, đứng trước nguy cơ bạo loạn lan tràn, Xingapo đã cho thành lập lực lượng thiết giáp. Tháng 1 năm 1968, Bộ Quốc phòng Xingapo quyết định mua những chiếc xe tăng hạng nhẹ AMX-13 cũ của Pháp do người Ixraen bán lại để trang bị cho quân đội. Kết quả, trong hai năm 1968- 1969, lực lượng tăng-thiết giáp Xingapo đã có tới 72 xe tăng AMX-13 và 170 xe thiết giáp V2001 (Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng. Lịch sử Xingapo 1965-2000, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr.29).


Bên cạnh việc mua sắm các trang thiết bị hiện đại, Quân đội Xingapo cũng hết sức chú trọng tới việc huấn luyện và đào tạo đội ngũ cán bộ trong quân đội. Từ cuối năm 1967, đầu 1968, Xingapo bắt đầu cho xây dựng một số trung tâm huấn luyện quân sự cơ bản để huấn luyện tân binh và đào tạo đội ngũ hạ sĩ quan. Ngoài ra, nước này còn đề nghị Anh, Ấn Độ, Ixraen, Niu Di Lân... giúp họ đào tạo một số sĩ quan cho các quân, binh chủng như không quân, hải quân, phòng không, công binh, v.v...


Do đặc thù đất nước là quốc gia hải đảo nên ngay từ khi giành được độc lập, Chính phủ Xingapo cũng đã đặc biệt chú trọng đến việc phát triển lực lượng hải quân. Trong những năm cuối thập mến 60, đầu 70 của thế kỷ XX, được sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự người Ixraen và Niu Di Lân, lực lượng hải quân Xingapo đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về trang bị, vũ khí, khí tài và con người. Nếu như thời kỳ đầu sau khi giành được độc lập, lực lượng hải quân nước này hầu như chưa có gì (ngoại trừ căn cứ hải quân hoang phế ở Woodland được người Anh xây dựng từ năm 1921 và hai tàu hải quân cũ kỹ) thì đến những năm đầu thập niên 70 thế kỷ XX, lực lượng hải quân Xingapo đã có những đội tàu tuần tiễu, tàu chiến đấu thậm chí cả các tàu pháo hạm khá đồng bộ, không chỉ đủ sức bảo vệ vùng duyên hải Xingapo mà còn có khả năng ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công bằng đường biển từ bên ngoài vào lãnh thổ Xingapo.


Song song với việc phát triển lực lượng lục quân và hải quân, Xingapo cũng tập trung đầu tư và phát triển lực lượng không quân. Sau một thời gian xây dựng, đến năm 1970, lực lượng không quân Xingapo đã có một phi đội gồm 16 máy bay chiến đấu Hawker Hunter, một phi đội trực thăng vận tải quân sự Alouette và một phi đội máy bay huấn luyện Strikemaster, với tổng số máy bay lên tới hàng chục chiếc1 (Lý Quang Diệu. Bí quyết hoá rồng, Sđd, tr.40). Do nhu cầu phát triển của lực lượng không quân, năm 1968, lực lượng không quân Xingapo đã tách ra khỏi Bộ tư lệnh phòng không-không quân thành Bộ tư lệnh không quân độc lập. Hàng năm Chính phủ Xingapo cũng đã gửi hàng chục sĩ quan sang các nước Mỹ, Anh, Ôxtrâylia... để đào tạo.


Nhìn chung, sau khi giành được độc lập, lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội Xingapore nói riêng đã được định hướng phát triển theo mấy hướng cơ bản sau đây:


Thứ nhất, thay thế những trang bị đã quá cũ kỹ và lạc hậu bằng những trang bị vũ khí, khí tài hiện đại.
Thứ hai, tăng cường huấn luyện quân sự cho quân nhân theo mô hình của các nước phương Tây, đặc biệt là Anh, nhằm nâng cao khả năng tác chiến cho bộ đội; xây dựng lực lượng chính quy từng bước hiện đại hoả theo hướng cơ động, gọn nhẹ, chuyên nghiệp và hiệu quả; xây dựng lực lượng thường trực đủ mạnh làm nòng cốt. Bên cạnh đó, tập trung phát triển lực lượng dự bị (chiếm tới hơn 80% dân sô) nhằm khai thác tối đa khả năng vốn rất có hạn của đất nước vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Thứ ba, mở rộng hợp tác quân sự với các nước, lấy phương châm "hoà bình và thân thiện" với các nước láng giềng và các nước trong khu vực làm nền tảng phòng thủ; tranh thủ tối đa nguồn tiềm lực công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của các nước để hiện đại hoá quân đội. Đặc biệt, chính sách thân Mỹ của Xingapo thời kỳ này đã đem lại cho nước này nhiều lợi ích. Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, Mỹ đã viện trợ cho Xingapo hàng trăm triệu đô la, chỉ tính riêng từ năm 1970 đến năm 1985, Mỹ đầu tư trực tiếp vào Xingapo 7,9 tỉ đô la. Trên lĩnh vực an ninh-quốc phòng, nhờ chính sách thân Mỹ và là căn cứ hậu cần quan trọng của Mỹ, Xingapo đã được Mỹ viện trợ nhiều loại vũ khí hiện đại như máy bay chiến đấu F16, tàu ngầm, tàu hộ tống các loại. Bên cạnh đó, Xingapo còn được Mỹ đầu tư xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại1 (Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN, Sđd, tr.91).


Như vậy, với chính sách quân dịch phù hợp, cùng với những khoản đầu tư thích đáng cho phát triển quân đội, chỉ trong gần 10 năm (từ năm 1965 đến năm 1975), lực lượng Quân đội Xingapo đã có một cơ sở tương đối mạnh. Riêng lực lượng lục quân đến năm 1971 đã có tới 17 tiểu đoàn thường trực (16.000 người) và 14 tiểu đoàn dự bị (11.000 người). Ngoài ra còn có các đơn vị biệt kích , pháo binh, một số đơn vị xe tăng, xe thiết giáp, các đơn vị công binh, hậu cần,v.v... Lực lượng không quân và hải quân cũng đã được trang bị các loại vũ khí, khí tài tương đối hiện đại.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:21:46 pm
2. Quân đội Xingapo trong thập niên 80 và 90 của thiên kỷ XX

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Xingapo tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho việc phát triển lực lượng vũ trang. Ngoài việc tiếp tục thắt chặt và mở rộng quan hệ hợp tác quân sự với Mỹ và các nước Tây Âu, Xingapo còn tập trung mua sắm các loại vũ khí hiện đại để trang bị cho quân đội. Năm 1983, nước này đã mua thêm hơn 70 xe quân sự, bao gồm xe tăng, xe thiết giáp chở quân và xe lội nước để trang bị cho lực lượng lục quân. Tiếp đó, năm 1988, Xmgapo ký một hợp đồng mua bán vũ khí với Mỹ; theo hợp đồng này, Mỹ sẽ bán cho Xingapo 22 máy bay chiến đấu hiện đại các loại bao gồm: 9 chiếc F-16s, 13 chiếc F-16C/DS cùng hàng chục máy bay A-4 Skyhawks, v.v... Mỹ còn đồng ý cho Xingapo gửi toàn bộ số máy bay trên tại căn cứ không quân Arizona trong thời gian 2 năm và sẽ đưa về Xingapo vào thời điểm thích hợp. Sở dĩ Xingapo chưa muốn đưa số máy bay trên về nước là do “họ không muốn các nước láng giềng hiểu nhầm và không muốn cho bầu không khí trong khu vực trở nên căng thẳng do sự xuất hiện của các máy bay hiện đại nhất của Mỹ trong khu vực"1 (Asia Pacific Arms Buildups, lnstitute Of lntemational Relation, opcid., p.28).


Ngoài việc mua sắm các loại vũ khí, khí tài hiện đại trang bị cho quân đội, Xingapo còn chú trọng đầu tư cho phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo mô hình "tổ hợp công nghiệp quân sự" Mỹ. Toàn bộ nền công nghiệp quốc phòng Xingapo trong những năm sơ được xây dựng trên cơ sở độc quyền nhà nước. Phương thức hoạt động của công nghiệp quốc phòng Xingapo là mua giấy phép sản xuất của nước ngoài hoặc liên doanh, liên kết với các tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Mỹ và các nước Tây Âu. Do được đầu tư thích đáng, đến những năm 80, ngành công nghiệp quốc phòng Xingapo đã trở thành “đạo quân thứ tư" độc lập với 3 quân chủng. Các nhà máy quốc phòng của Xingapo đã có thể sản xuất xe tăng, xe bọc thép, súng máy, pháo, lựu đạn và cả máy bay chiến đấu "Con Ó”.


Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng quân đội và đối phó với các tình huống tác chiến mới, đến giữa thập niên 80, Xingapo chính thức thành lập Bộ tham mưu liên quân, nhằm nâng cao khả năng tác chiến hợp đồng binh chủng.


Như vậy, với các giải pháp đồng bộ và phù hợp, đến cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ XX, "Quân đội Xingapo đã trở thành một lực lượng chuyên nghiệp, được trang bị các hệ thống phòng thủ hiện đại, không chỉ có khả năng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và độc lập quốc gia, mà còn là đối thủ đáng gờm đối với nhiều nước láng giềng và khu vực..."1 (Lý Quang Diệu. Bí quyết hoá rống, Sđd).


Cơ cấu lực lượng vũ trang Xingapore trong những năm 80, đầu 90 của thế kỷ XX1 (Asia Pacific Arms Buildups. lnstitute Of lntemational Relation, opcid., p.28)


(http://img370.imageshack.us/img370/3140/image011wm3.jpg)


Có được những thành tựu đáng kể trong việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng như đã nêu trên chủ yếu là do Xingapo đã thực thi một cách đồng bộ và nhất quán hàng loạt chính sách quan trọng. Trong số các chính sách đó, trước hết phải nói đến “Chính sách quân dịch" và "Chính sách phòng thủ toàn diện" mà Xingapo đã thực hiện ngay từ những năm đầu khi mới giành được độc lập. Theo đánh giá của nhiều chính trì gia cũng như của các chuyên gia quân sự quốc tế và khu vực thì "hai chính sách trên chính là chìa khoá đảm bảo cho sự thành công của Xingapo trong việc bảo vệ và phòng thủ đất nước, nó còn góp phần đưa Xingapo từ một thương cảng nhỏ bé thành một nước công nghiệp phát triển trong khu vực"1 (Asean Defence Yearbook 1998-1999, Percetacan Osacar SDN BHD, Kuala Lumpur, Malaisia, p.143).


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:23:42 pm
Chính sách quân dịch của Xingapo gồm 3 bộ phận là quân dịch toàn phần, quân dịch dự bị và kế hoạch giáo dục quốc phòng.

Về quân dịch toàn phần, Luật nghĩa vụ quân sự Xingapo quy định, tất cả các công dân nam hoặc dân cư trú lâu dài tại Xingapo đều phải thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự. Đối với nam công dân Xingapo đủ 18 tuổi, học hết phổ thông hoặc các trường sơ cấp đều phải nhập ngũ. Sau khi nhập ngũ 2 hoặc 2 năm rưỡi sẽ tiếp tục học lên đại học hoặc làm công việc khác. Trong thời gian tại ngũ, họ phải phục vụ trong quân đội, lực lượng cảnh sát hoặc bộ đội dân phòng Xingapo. Bộ đội dân phòng Xingapo bao gồm lực lượng phòng cháy, chữa cháy, cứu hoả, cứu nạn và lữ đoàn xây dựng. Luật nghĩa vụ quân sự Xingapo còn có một quy định đặc biệt: học sinh thôi học sau khi tốt nghiệp tiểu học, có sức khoẻ và được phụ huynh đồng ý, phải đến lữ đoàn dự bị học một hoặc hai nghề bắt buộc nào đó trong danh mục các ngành nghề nhất định. Trong trường hợp này, tuổi quân dịch mở rộng đến 16 tuổi rưỡi. Những công dân khác đủ điều kiện quân dịch toàn phần, bắt đầu làm thủ tục nhập ngũ từ 16 tuổi rưỡi, 17 tuổi rưỡi đăng ký, 18 tuổi bắt đầu phục vụ quân dịch.


Thời hạn phục vụ quân dịch toàn phần là 2 năm rưỡi đối với nam công dân có trình độ văn hoá từ phổ thông trung học trở lên, 2 năm đối với nam công dân có trình độ dưới phổ thông trung học. Trong quân ngũ, những học sinh đã tốt nghiệp phổ thông trung học nhất thiết phải được phong trung sĩ.


Việc hoãn hoặc miễn quân dịch toàn phần được Luật nghĩa vụ quân sự quy định, tất cả các nam công dân Xingapo có một trong những điều kiện sau đây sẽ được hoãn hoặc miễn quân dịch:

1- Tình hình sức khoẻ tạm thời không thích hợp;

2- Gia đình có chuyện bất thường ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt và cuộc sống thường nhật;

3- Chưa tốt nghiệp phổ thông hoặc đang học tại các trường sơ cấp;

4- Thi tốt nghiệp phổ thông không đỗ, được phép thi lại năm sau;

5- Đối với những người chưa gọi nhập ngũ, muốn đi ra nước ngoài đào tạo nâng cao trình độ, có thể xin phép hoãn quân dịch, nhưng sau khi học xong phải về nước thực hiện nghĩa vụ quân dịch. Trong thời gian học đó, bố mẹ phải nộp cho Chính phủ phí bảo đảm quân dịch ít nhất là 75.000 đôla Xingapo, hoặc tương đương với thu nhập của một người trong 1 năm, cho mỗi năm hoãn quân dịch. Nếu bố mẹ là bác sĩ, mỗi năm nộp 300.000 đô la Xingapo phí bảo đảm. Sau khi về nước tham gia quân dịch, toàn bộ số tiền đảm bảo đó được trả lại. Nếu đến hạn không về nước, ngoài việc Chính phủ trưng thu số tiền đó, khi về nước người có nghĩa vụ tham gia quân dịch còn bị xử tội trốn quân dịch nhiều nhất là 3 năm tù; cũng có thể bị phạt tiền với số tiền nộp phạt ít nhất là 5.000 đô la Xingapo; hoặc có thể vừa bị phạt tiền, vừa bị cầm tù. Ở Xingapo, mỗi năm có khoảng 18.000 thanh niên trong diện gọi nhập ngũ, nhưng chỉ có khoảng 3% số thanh niên trên được hoãn hoặc miễn quân dịch.


Để mọi người dân hiểu chính sách quân dịch một cách đầy đủ và đúng đắn, Chính phủ Xingapo thường xuyên tổ chức công tác tuyên truyền rất chu đáo. Tại các công sở, ủy ban nhân dân các cấp đều có những tài liệu, băng ghi hình giới thiệu về chính sách quân dịch, về lực lượng vũ trang... để nhân dân có thể tham khảo bất kỳ lúc nào.


Trong thời gian thực hiện quân dịch, ngoài việc được huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật quân sự, tân binh còn được chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức công dân, làm cho họ hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mmh đối sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Về quân dịch dự bị, Luật nghĩa vụ quân sự Xingapo quy định: tất cả những nam công dân Xingapo sau khi hoàn thành quân dịch toàn phần phải chuyển sang "ngạch dự bị - quân dịch dự bị". Hàng năm, những công dân này phải trở lại doanh trại tham gia huấn luyện quân sự theo quy định cho đến 40 hoặc 50 tuổi.


Ngoài quy định về niên hạn đối với quân dịch dự bị, Luật còn quy định như sau:

- Quân nhân dự bị phải tham gia huấn luyện quân sự hàng năm trong khoảng thời gian ít nhất 13 năm. Sau khi hoàn thành 13 năm huấn luyện, có người ở lại giữ chức trong quân đội, cũng có người được điều sang các lĩnh vực công tác khác.

- Mỗi năm (tính từ 1 tháng 4 năm trước đến 31 tháng 3 năm sau), quân nhân dự bị phải tập trung huấn luyện quân sự 1 lần không quá 40 ngày.

- Trước khi triệu tập quân nhân tập trung huấn luyện quân sự, các cơ quan liên quan phải có trách nhiệm thông báo trước 6 tháng cho quân nhân và các cơ quan, tổ chức sử dụng họ, để tiện điều chỉnh và sắp xếp công việc cho phù hợp.

- Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự, nếu lương bổng của quân nhân bị giảm so với những tháng trước, thì Bộ Quốc phòng phải có trách nhiệm bù cho đủ. Chính phủ Xingapo ghi nhận cống hiến của quân nhân tham gia quân dịch dự bị bằng cách khi họ hoàn thành nghĩa vụ quân dịch nếu vào làm việc tại các cơ quan nhà nước hoặc các doanh nghiệp thì được ưu đãi như tặng thưởng, tăng lương, v.v...

- Chế độ quân dịch dự bị không chỉ áp dụng cho quân nhân hết hạn phục vụ trong quân đội mà cho cả các quân nhân hoàn thành nhiệm vụ trong lực lượng cảnh sát và bộ đội dân phòng hên hợp Xingapo.


Như vậy, nếu nói trong chính sách quân dịch của Xingapo, "quân dịch toàn phần" là giai đoạn đào tạo, huấn luyện, thì "quân dịch dự bị" là giai đoạn "khai hoa kết trái". Bởi lúc đó, người tham gia quân dịch không chỉ là người vừa cống hiến cho quốc phòng mà còn cống hiến cho cả nền kinh tế của đất nước. Thực tế ở Xingapo cho thấy, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân dịch (quân dịch toàn phần và quân dịch dự bị), các công dân - quân nhân Xingapo đã trở thành những người không chỉ có ý chí cao, kỷ luật nghiêm, có sức khoẻ và nắm được khoa học kỹ thuật, mà còn trở thành những người có khả năng tổ chức và lãnh đạo tất trong các cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:34:21 pm
Kế hoạch giáo dục quốc phòng là bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách quân dịch Xingapo. Giáo dục quốc phòng có hai mục đích: một là, giáo dục ý thức đoàn kết toàn dân trong xã hội đa văn hoá, đa sắc tộc như ở Xingapo, tiến tới xây dựng Xingapo thành một quốc gia "hùng mạnh, thống nhất trong sự đa dạng"; hai là, giáo dục trách nhiệm bảo vệ đất nước, bảo vệ thành quả mà nhân dân Xingapo đã giành được cho mọi công dân, đặc biệt là những người đã và sẽ tham gia quân dịch. Đối tượng giáo dục quốc phòng là tất cả những ai tham gia quân dịch, học sinh và một số công chức, viên chức chính phủ và các doanh nghiệp, v.v...


Kế hoạch giáo dục quốc phòng đối với những người đang tham gia quân dịch chia làm 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn huấn luyện quân sự cơ bản: tân binh được truyền thụ các kiến thức cơ bản về quân sự và các kiến thức chung có liên quan để họ hiểu rõ ý nghĩa phục vụ quân dịch, hiểu rõ vai trò của lực lượng vũ trang trong bảo vệ an ninh và phát triển kinh tế đất nước. Thời gian huấn luyện quân sự cơ bản kéo dài 3 tháng.

+ Giai đoạn huấn luyện giữa kỳ: quân nhân được bồi dưỡng nâng cao kiến thức quốc phòng, chiến lược và sách lược phát triển lực lượng vũ trang Xingapo trong hiện tại cũng như tương lai. Bên cạnh đó, quân nhân còn được nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến môi trường an ninh trong nước cũng như trên thế giới, v.v... Thời gian huấn luyện giữa kỳ kéo dài 18 tháng.

+ Giai đoạn trước khi xuất ngũ: làm cho quân nhân hiểu được trách nhiệm của quân nhân dự bị cũng như quân nhân tại ngũ. Chủ đề của giáo dục giai đoạn này là “Mỗi người dân Xingapo đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp vào việc bảo vệ Xingapo". Thời gian huấn luyện giai đoạn này kéo dài 3 tháng.


Giáo dục quốc phòng cho học sinh: Đối tượng là tất cả học sinh trong các trường phổ thông. Mục đích là làm cho học sinh nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ Xingapo; giúp cho những học sinh sắp tham gia quân dịch chuẩn bị tốt về tư tưởng và thể lực. Thời gian giáo dục quốc phòng cho học sinh thường kéo dài 2 tuần trong một năm học.


Ngoài hai đối tượng kể trên, hàng năm Xingapo còn tổ chức nhiều lớp giáo dục quốc phòng cho hàng nghìn người, là những người đứng đầu các tổ chức, cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp, v.v...


Trong hơn 30 năm thực hiện chính sách quân dịch, Xingapo không chỉ xây dựng được một quân đội hùng mạnh, đủ sức đảm đương nhiệm vụ bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước, mà còn tạo ra những lớp cán bộ có trí tuệ bản lĩnh và năng lực, đã và đang đảm đương nhiều trọng trách trong các cơ quan nhà nước, quân đội và trong cả các doanh nghiệp.


Ngoài chính sách quân dịch, một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của Xingapo trong việc xây dựng và phát triển quân đội cũng như phòng thủ đất nước đó là Chính sách phòng thủ toàn diện.


Chính sách phòng thủ toàn diện là nền tảng của chính sách quốc phòng Xingapo, bao gồm 5 bộ phận: phòng vệ tâm lý, phòng vệ xã hội, phòng vệ kinh tế, phòng vệ dân sự và phòng vệ quân sự.


Phòng vệ tâm lý, là xây dựng cho người dân ý chí vì sự nghiệp quốc phòng của đất nước, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc trước bất kỳ cuộc xâm lăng nào từ bên ngoài, dưới bất kỳ hình thức nào. Với "phòng vệ tâm lý", mọi người dân Xingapo đều tin tưởng vào tương lai của đất nước, của dân tộc, vào chính bản thân mình và vào toàn thể nhân dân Xingapo. Để xây dựng nền tảng vững chắc cho phòng thủ tâm lý, Chính phủ Xingapo đã áp dụng nhiều biện pháp ổn định và phát triển xã hội, tạo nên một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh.


Phòng vệ xã hội, là tạo điều kiện để mọi người dân chung sống với nhau hoà hợp, cùng công tác, cùng sinh hoạt và vui chơi. Với một xã hội đa sắc tộc, đa văn hoá và tôn giáo như Xingapo, phòng vệ xã hội là yếu tố cực kỳ quan trọng, nó giúp mọi người quan tâm tới nhau hơn, cùng nhau đoàn kết nhất trí vì lợi ích chung của dân tộc và quốc gia.


Phòng vệ kinh tế, là đảm bảo cho nền kinh tế đất nước hoạt động một cách năng động, linh hoạt, không bị tê liệt và có khả năng chuyển nhanh sang nền kinh tế thời chiến khi bị ngoại xâm; đảm bảo mọi nguồn tài nguyên của đất nước được huy động một cách nhanh nhất khi chiến tranh xay ra.


Phòng vệ dân sự là để bảo vệ chắc chắn sinh mạng của người dân, đảm bảo cho người dân vẫn có thể sinh hoạt bình thường trong điều kiện chiến tranh. Nghĩa là, Chính phủ phải có nguồn dự trữ dồi dào các loại nhu yếu phẩm như lương thực, thuốc men, quần áo, nhiên liệu, v.v... Có phòng vệ dân sự, nhân dân có sức mạnh và niềm tin vào thắng lợi trước sự tiến công của kẻ thù, nâng cao chí khí và củng cố mềm tin của những người đang chiến đấu trên tiền tuyến, tạo nên một hậu phương chiến tranh vững chắc, v.v...


Phòng thủ quân sự, là đảm bảo cho quân đội được huấn luyện và trang bị tốt; công nghiệp quốc phòng có khả năng cung cấp đầy đủ vũ khí, đạn dược cần thiết cho quân đội; hàng ngũ lãnh đạo trong và ngoài quân đội có năng lực, nhân dân và binh sĩ trong cả nước có tinh thần đoàn kết, sẵn sàng xả thân vì sự tồn vong của dân tộc.


Cùng với chính sách quân dịch, chính sách phòng thủ toàn diện được Xingapo áp dụng nhất quán từ những năm 60 của thế kỷ trước đã tạo cho nước này có được một quân đội mạnh, một nền quốc phòng và an ninh vững chắc. Những nhân tố đó cũng đã góp phần to lớn biến Xingapo từ một thương cảng nhỏ bé thành một quốc gia có vị trí và vai trò xứng đáng trong khu vực và trên thế giới.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:35:23 pm
Bước vào thập niên 90 thế kỷ XX, chính sách quốc phòng - an ninh của Xingapo đã có nhiều thay đổi. Bên cạnh việc tiếp tục củng cố mối quan hệ quân sự truyền thống với các nước đồng minh, Xingapo đã nhanh chóng cải thiện và mở rộng quan hệ quân sự với các nước mà trước đây Xingapo đã thực hiện chính sách đối đầu. Sự thay đổi trong chính sách quốc phòng và an ninh của Xingapo thời kỳ này bắt nguồn từ các yếu tố sau:


Những thay đổi của tình hình thế giới cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, đặc biệt là xu thế hoà hoãn giữa hai siêu cường Xô-Mỹ và tiếp đến là sự kết thúc của trật tự thê giới hai cực đã tác động rất lớn đến Xingapo. Là một nước được hưởng nhiều "ưu đãi" do sự đối đầu Xô-Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Xingapo đã mất đi những lợi thế đó khi trật tự này bị sụp đổ.


Những thay đổi ở khu vực Đông Nam Á cuối thập niên 80 cũng đã tác động không nhỏ đến chính sách đối ngoại nói chung và quốc phòng-an mình nói riêng của Xingapo. Hơn nữa, trật tự thế giới hai cực sụp đổ đã giúp các nước Đông Nam Á thoát khỏi sự chi phối của sự đối đầu Xô-Mỹ, đồng thời tạo điều kiện để các nước nhìn nhận nhau một cách khách quan và thân thiện hơn trên cơ sở lợi ích chung của khu vực và của mỗi nước. Chính trong điều kiện đó, Xingapo cũng đã tìm ra cho mình một chính sách quốc phòng và an ninh phù hợp. Điều đó được thể hiện trên những điểm cơ bản sau:


Trên lĩnh vực đối ngoại quân sự, từ những năm 90 đến nay, Xingapo vẫn chú trọng đến quan hệ hợp tác quân sự với Mỹ. Trong bối cảnh Đông Nam Á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, bên cạnh xu thế chủ đạo là hoà bình, hợp tác và phát triển, vẫn còn tồn tại những nhân tố gây mất ổn định, Xingapo cho rằng, sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực là cần thiết và đi đầu trong việc hoan nghênh Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng quân sự của mình trong khu vực. Tháng 11 năm 1990, Xingapo và Mỹ đã ký thoả thuận (MOU), theo đó, Xingapo sẵn sàng để Mỹ tiếp tục sử dụng căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình và phục vụ hậu cần cho hải quân Mỹ. Thỏa thuận này còn cho phép một số đơn vị hậu cần của hải quân Mỹ được thành lập ở Xingapo (năm 1992); máy bay chiến đấu Mỹ định kỳ triển khai tới Xingapo tham gia diễn tập; chiến hạm Mỹ được phép cập cảng quân sự của Xingapo, v.v... Hiện nay, Mỹ vẫn là nước cung cấp vũ khí và các trang thiết bị quân sự hiện đại cho Xingapo.


Bên cạnh việc củng cố mối quan hệ quân sự truyền thống với Mỹ, Xingapo còn mở rộng quan hệ quân sự với các nước Tây Âu, Nhật Bản, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á-thái Bình Dương, các nước ASEAN như: Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Việt Nam, Trung Quốc, Ôxtrâylia... Những năm gần đây, ngoài tham gia các cuộc tập trận chung với Mỹ, Xingapo còn tiến hành các cuộc tập trận chung với Brunây, Malaixia; cùng với Inđônêxia tiến hành khai thác và phát triển căn cứ không quân Siabu ở Pekan Ba ru trên đảo Xumatơra, v.v... Từ nam 1989, hàng năm Xingapo đã cử hơn 400 quân nhân tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Namibia, Campuchia, Ăngôla, Côoét, v.v...


Trên lĩnh vực đối nội quân sự, Xingapo tập trung đầu tư phát triển lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng theo hướng hiện đại hoá, đủ sức đối phó với các cuộc chiến tranh công nghệ cao. Từ những năm 90, ngân sách quốc phòng Xingapo liên tục tăng. Nếu như 1992, ngân sách quốc phòng là 2,5 tỉ USD, thì đến 1999 lên tới 4,2 tỉ USD, chiếm 6% GDP. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia quân sự trong khu vục và trên thế giới, tỉ lệ đầu tư cho quốc phòng của Xingapo vào loại cao và nhanh nhất khu vực gấp 4 lần Inđônêxia và gấp 2 lần Malaixiai1 (Văn minh tinh thần Xingapo (Sách tham khảo), Nxb Chính trì quốc gia, Hà Nội, 1997. tr.166).


Bên cạnh việc đầu tư những khoản tài chính lớn cho quốc phòng, Xingapo còn tập trung cải tổ bộ máy tổ chức trong quân đội theo hướng chính quy, hiện đại, cơ động và hiệu quả. Năm 1992, đơn vị bộ binh hợp thành cấp sư đoàn đầu tiên trong Quân đội Xingapo ra đời, đánh dấu bước phát triển về chất trong Quân đội Xingapo. Lực lượng hải quân đã được trang bị các tàu khu trục, tàu ngầm, tàu đổ bộ, v.v... Đặc biệt, còn được giao nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ mạng lưới thông tin của Xingapo. Lực lượng không quân Xingapo được coi là hiện đại nhất trong số các nước ASEAN, thậm chí hơn cả Việt Nam, nước đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm với cả Pháp và Mỹ. Vào những năm cuối thập niên 90, không quân Xingao đã được trang bị các loại máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Mỹ như: F-16A/B; F-16C/D; F-5S; F-5F, v.v...


Một hướng ưu tiên khác được Xingapo hết sức coi trọng trong chiến lược phát triển quân đội là phát triển nguồn nhân lực. Từ năm 1994, Xingapo bắt đầu thay đổi một số điều khoản trong "Chính sách quân dịch". Theo đó, lực lượng "dự bị" trước đây nay được đổi thành lực lượng “trực chiến", và nếu như trước đây, lực lượng này chỉ được triệu tập huấn luyện quân sự trong nước vài tuần mỗi năm, thì nay vài năm một lần họ được gửi đến Đài Loan, Thái Lan, Miến Điện hoặc Ôxtrâylia để tham gia tập trận cấp lữ đoàn hoặc thực hành bắn đạn thật cấp tiểu đoàn. Cũng từ năm 1994, Xingapo bắt đầu cấp học bổng du học ở Oxbridge và các trường đại học khác của Anh và Mỹ cho một số học viên sĩ quan ưu tú; họ được tham gia những khoa học chính khoá về khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật hoặc chuyên môn tại các trường này. Trong những năm học đại học, ngoài học bổng trang trải cho tất cả chi phí, họ còn được nhận đầy đủ lương bổng của một trung úy, với điều kiện phải cam kết phục vụ quân đội ít nhất 8 năm sau khi tất nghiệp. Trong thời gian phục vụ quân đội, họ tiếp tục được gửi đến Anh, Mỹ đào tạo ít nhất 3 khoá. Khoá đầu tiên được huấn luyện để trở thành các chuyên gia pháo binh, tăng thiết giáp, hoặc thông tin, v.v...; khoá thứ 2 được đào tạo công tác tham mưu và chỉ huy, và cuối cùng là họe về quản lý hành chính hoặc quản trị kinh doanh ở một trong những trường đại học hàng đầu của Anh, Mỹ như Harvard hoặc Stanfort, v.v... Kết thúc 8 năm phục vụ quân đội số sĩ quan trên có thể tự nguyện ở lại quân đội hoặc có thể chuyển sang các cơ quan dân chính làm nhân viên hành chính ngạch công chức cao cấp, tham gia hội đồng lập pháp hoặc chuyển sang khu vực tư nhân, v.v...


Với cách đào tạo như vậy, trong bơn 10 năm, Xingapo đã tích lũy được hàng trăm sĩ quan ưu tú; họ không chỉ là lực lượng nòng cốt cho quân đội mà sau đó còn trở thành các quan chức cấp cao của Chính phủ Xingapo như trường hợp Lý Hiển Long - Thủ tướng Xingapo hiện nay là một ví dụ.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:36:52 pm
III. Quân đội cộng hoà Xingapo từ năm 2000 đến nay - cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và chức năng

Để phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới và trong khu vực, trong những năm gần đây, Quân đội Xingapo đã phát triển các quan hệ quốc phòng song phương và đa phương thông qua việc trao đổi các phái đoàn quân sự cấp cao và các cuộc tập trận với sự tham gia của nhiều nước, có cả các nước châu âu. Năm 2000, Bộ Quốc phòng Xingapo đã đón tiếp hàng trăm đoàn quân sự cao cấp nước ngoài; tham gia 80 cuộc diễn tập quân sự song phương và đa phương; đăng cai tổ chức diễn tập tàu ngầm cửu hộ của lực lượng hải quân châu Á-thái Bình Dương. Trong vài năm gần đây, Xingapo đã cử hàng trăm quân tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc ở 12 nước khác nhau trên thế giới1 (Báo Quân đội nhân dân cuối tuần, số ra ngày 5-8-2001, tr.3)v.v...


Theo các tài liệu đã được công bố2 (Asean Defence Yearbook; Jane s World Armies - lssue 5, June 2005) tính đến năm 2005, tổng quân số trong Quân đội Xingapo khoảng 72.000 người, lực lượng dự bị khoảng 108.000 người. Trong đó:


Lục quân Xingapo có khoảng 50.000 quân (15.000 quân nhân chuyên nghiệp, 30.000 lính nghĩa vụ) được biên chế thành 5 sư đoàn, gồm 3 sư đoàn bộ binh hợp thành là các sư đoàn 3, 6, 9 và 2 sư đoàn dự bị là Sư đoàn 21 và Sư đoàn 25.


Sư đoàn bộ binh số 3 (Sư đoàn Mãnh Hô) có sở chỉ huy đóng tại Jurong Camp 2 gồm: Lữ đoàn bộ binh số 3 đóng tại Bukit Panjang với các tiểu đoàn bộ binh số 2 đóng tại Amoy Quen, tiểu đoàn bộ binh số 5 đóng tại Bukit Panjang, tiểu đoàn bộ binh 178; Lữ đoàn bộ binh số 5 và Lữ đoàn thiết giáp số 8.


Sư đoàn bộ binh số 6 (Sư đoàn Mãng Xà) có sở chỉ huy đóng tại Tanjong Gul gồm: Lữ đoàn bộ binh số 2 đóng tại Changi, với các tiểu đoàn bộ binh số 1 đóng tại Guilemart, tiểu đoàn bộ binh số 4 đóng tại Bedok; Lữ đoàn bộ binh số 9 và Lữ đoàn thiết giáp số 56.


Sư đoàn bộ binh số 9 (Sư đoàn Báo Gấm) có sở chỉ huy đóng tại Selarang gồm: Lữ đoàn bộ binh số 10, với các tiểu đoàn bộ binh số 3 đóng tại Bedok, tiểu đoàn bộ binh số 6 đóng tại Tanjong Gul, tiểu đoàn bộ binh 188; Lữ đoàn bộ binh số 12 và Lữ đoàn thiết giáp số 54.


Sư đoàn bộ binh dự bị số 21 có sở chỉ huy đóng tại Dieppe gồm: Lữ đoàn bộ binh cảnh vệ số 7 có sở chỉ huy đóng tại Kranji với các tiểu đoàn cảnh vệ; Lữ đoàn bộ binh số 15 và Lữ đoàn bộ binh số 17.


Sư đoàn bộ binh dự bị sô 25 có sở chỉ huy đóng tại Dieppe gồm: Lữ đoàn bộ binh số 6 và Lữ đoàn bộ binh số 11.


Ngoài các sư đoàn kể trên, trong lực lượng lục quân Xingapo còn có một số tiểu đoàn pháo binh và công binh như: tiểu đoàn pháo binh 20, 21, 23, 24; các tiểu đoàn công binh 30, 35, 36, 38.


Không quân Xingapo có khoảng 13.000 quân (3.000 lính nghĩa vụ), biên chế thành 8 đại đội máy bay chiến đấu một đại đội máy bay trinh sát, 3 đại đội máy bay vận tải 6 đại đội máy bay trực thăng. Tổng cộng có 155 máy bay chiến đấu, 12 máy bay trinh sát, 73 máy bay lên thẳng. Lực lượng phòng không có 12 tên lúa Hawk cải tiến, tên lửa không đối đất AIM-9J/P và tên lửa không đối đất AGM-65B (Maverick). Xingapo còn dự định mua thêm các loại máy bay trực thăng hiện đại như: CH-47D của Mỹ, AS-550 của Pháp và E-2C của Hà Lan, v.v...


Hải quân, có khoảng 9.000 quân, được biên chế thành 2 hạm đội và 3 bộ tư lệnh. Hạm đội 1 gồm những tàu tiến công, tàu tuần tiễu mang tên lửa. Hạm đội 2 gồm các tàu chi viện, tàu đổ bộ, tàu vận tải nhỏ và tàu đánh cá vũ trang. Hai hạm đội này đóng ở hai căn cứ hải quân của Xingapo với tổng cộng 51 tàu các loại, trong đó có 4 tàu ngầm.


Ba bộ tư lệnh thuộc lực lượng hải quân Xingapo gồm: Bộ tư lệnh duyên hải (COSCOM), Bộ tư lệnh hậu cần (NALCOM), Trung tâm huấn luyện và đào tạo hải quân (TRACOM).


Bộ tư lệnh duyên hải, thành lập năm 1988, gồm 4 tàu tiến công "Bedok"; 12 tàu tuần tiễu ven bờ và một số tàu tuần tiễu ngoài khơi. COSCOM có nhiệm vụ bảo vệ vùng lãnh hải của Xingapo. Ngoài ra, lực lượng này còn có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng tàu đánh cá, lực lượng cảnh sát biển, tuần tra chống hải tặc, bảo vệ nguồn lợi hải sản, tài nguyên trên thềm lục địa Xingapo.


Bộ tư lệnh hậu cần, thành lập năm 1986, có nhiệm vụ đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu cho lực lượng hải quân Xỉngapo, kể cả vũ khí và trang bị. Các đơn ví thuộc NALCOM gồm: Căn cứ duy tu và bảo dưỡng tàu ở Tuas và Brani, khu quân cảng Tuas và Brani; Căn cứ hải quân Tuas và Brani, Trung tâm y tế hải quân Tuas và Brani; Căn cứ vận tải và vật hếu hải quân; Trung tâm toán máy tính hải quân và các hải đội tàu chiến đấu.


Trung tâm huấn luyện và đào tạo hải quân, thành lập năm 1971, nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo lực lượng rà phá bom mìn trên biển, đào tạo thợ lặn và nghiên cứu y học trên biển, v.v... Ngoài các lực lượng kể trên, trong lực lượng hải quân Xingapo còn có một số đại đội độc lập như đại đội tàu tiến công; đại đội tàu tuần tiễu, quét, rải mìn v.v...


Trong hơn 40 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Quân đội Xingapo đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Từ một lực lượng nhỏ bé với hơn một nghìn quân, được trang bị thô sơ trong những ngày mới giành được độc lập Quân đội Xingapo đã trở thành một quân đội mạnh trong khu vực, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại và tiên tiến. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, Quân đội Xingapo đã hoàn thành sứ mạng của mình là bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia, là chỗ dựa và là công cụ bạo lực tin cậy của nhà nước và chế độ cộng hoà. Xuất phát từ các điều kiện địa lý và đặc thù phát triển của đất nước, trong hơn 40 năm tồn tại, Quân đội Xingapo không chỉ là đội quân chiến đấu mà còn là đội quân xây dựng và phát triển kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc biến Xingapo từ một thương cảng nhỏ bé, nghèo nàn thành một quốc gia giàu mạnh trong khu vực và trên thế giới.


Vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ hai, đứng trước những thách thức và vận hội mới của tình hình quốc tế và khu vực, Chính phủ Xingapo đã có những thay đổi trong chiến lược quốc phòng. Xingapo một mặt vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược quốc phòng toàn diện, xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng hiện đại, đủ sức đối phó với các cuộc tiến công từ bên ngoài; vẫn coi Mỹ là đối tác chiến lược tin cậy, là nhân tố "duy trì và đảm bảo an ninh khu vực", v.v... Tuy nhiên, trước những thay đổi mau lẹ của tình hình chính trị trong khu vực, Đông Nam Á đang trong quá trình hội nhập sâu rộng hơn bao giờ hết, các nước thành viên ASEAN đang hợp sức xây dựng Đông Nam Á thành một trung tâm kinh tế chính trị và văn hoá năng động trên thế giới, v.v... tất cả các yếu tố đó đã tác động không nhỏ tới chính sách quốc phòng của Xingapo. Giờ đây, Xingapo đặt yếu tố đối thoại thành một trong hai trụ cột nền tảng trong chính sách quốc phòng, và coi đó là nhân tố quan trọng để làm giảm nguy cơ chiến tranh. Trong những năm gần đây Quân đội Xingapo đã tích cực tham gia hợp tác, đối thoại song phương và đa phương với quân đội các nước trong khu vực, hoạt động tuần tra chung trên eo biển Malăcca với Quân đội Inđônêxia, Quân đội Malaixia; tham gia diễn tập với quân đội nhiều nước, v.v... Tất cả những điều ấy đã góp phần tạo dựng lòng tin, làm ổn định tình hình trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung.


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:41:17 pm
(http://img219.imageshack.us/img219/5744/image012uc8.jpg)


(http://img361.imageshack.us/img361/8940/image013ks9.jpg)


(http://img361.imageshack.us/img361/8466/image014uz7.jpg)


(http://img291.imageshack.us/img291/4035/image015ok3.jpg)


Tiêu đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 04 Tháng Mười Một, 2008, 07:03:33 pm
TÀI LIỆU THAM KHẢO


I. TIẾNG VIỆT

1. Báo cáo tình hình Quân đội Vương quốc Lào, lực lượng vũ trang và bán vũ trang của Pa thét Lào trước và trong thời gian sáp nhập, Ban Tổng kết miền Tây, Trung tâm thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng, H.1958.

2. Báo Quân đội nhân dân cuối tuần, 5.8.2001.

3. Bekaer J. Cuộc chiến tranh ở Campuchia 1979-1988, Trung tâm thông tin Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng, H.1979.

4. Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H.2005.

5. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Thế giới thế kỷ XX - những sự kiện quân sự, Nxb QĐND, H.2003.

6. Brunây hiện đại hoá quân đội, Thông tin khoa học quân sự nước ngoài, số 11/1996.

7. Các lực lượng vũ trang Xingapo chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, Thông tin khoa học quân sự nước ngoài, số 12/1993.

8. Campuchia - thắng lợi của một cuộc cách mạng chân chính, Nxb Sự thật, H.1979.

9. Con đường dẫn đến sự thành lập nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, Trung tâm thông tin khoa học quân sự Bộ Quốc phòng, H. 1979.

10. D.G.E. Hall, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001.

11. Học viện Nguyễn Ái Quốc: Hun Sen, Tính đặc thù của quá trình cách mạng Campuchia, Luận án phó tiến sĩ, H.1990.

12. Karniol R, Quân đội Malaixia trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Tạp chí Khoa học quân sự, số 8/2000.

13. Karniol R, Về chương trình hiện đại hoá Quân đội Philippin, Tạp chí Khoa học quân sự, số 8/2000.

14. Khắc Thành - Sanh Phúc, Lịch sử các nước ASEAN, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

15. Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Bản đánh máy lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự, VL-3325.

16. Liên bang Mianma, bản đánh máy lưu tại Trung tâm thông tin khoa học - công nghệ - môi trường Bộ Quốc phòng.

17. Lực lượng vũ trang các nước ASEAN, Tổng cục II - Bộ Quốc phòng, H.1994.

18. Lực lượng vũ trang các nước ASEAN, Trung tâm thông tin khoa học quân sự, H.1995.

19. Lực lượng vũ trang các nước ASEAN, Thông tin quân sự nước ngoài, số 8/1997.

20. Lực lượng vũ trang Thái Lan, Tạp chí Khoa học quân sự, số 2/1999.

21. Lực lượng vũ trang Philippin, Thông tin chuyên đề, số 3/1995.

22. Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng - Lịch sử Xingapo 1965-2000, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh 2001.
 
23. Luật khẩn cấp, Tài liệu do Phòng Quân huấn - Quân đội Việt Nam Cộng hoà dịch và in lần thứ nhất, 15.3.1961.

24. Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, H. 1998.

25. Lịch sử thế giới, Tập 1, 2, 3, 4, 5, 6. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

26. Lược sử nước Lào, Nxb Khoa học xã hội, H.1978.

27. Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới, Nxb Thông tấn, H.2005.

28. Lực lượng vũ trang Malaixia thập kỷ 90, Tạp chí Quốc phòng thế giới (IDR), số 4/1992.

29. Mactuxeva G. A. Đông Nam Á sau Chiến tranh thê giới thứ hai, Nxb Sự thật, H. 1962.

30. Myanmar - đối thoại với các nền văn hoá, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

31. Nguyễn Anh Thái, Từ điển tri thức lịch sử thế giới (cận đại và hiện đại), Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H.1994.

32. Philippines - đối thoại với các nền văn hoá, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

33. Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1997.

34. Quân đội và trang bị các nước ASEAN, Thông tin chuyên đề, Trung tâm thông tin Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng, H.1995.

35. Quân đội Thái Lan năm 1986, Lược thuật từ Tạp chí "Chiến trường" của Thái Lan, Trung tâm thông tin Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng, H. 11.1985.

36. Sinmarthambuft, Philippin và các lực lượng vũ trang, Trung tâm thông tin Khoa học quân sự, H. 1997.

37. Tài liệu tham khảo về ngày thành lập Quân đội nhân dân cách mạng Campuchia lần thứ 30, Cục 100 - Bộ Quốc phòng, H. 1983.

38. Tình hình Campuchia từ sau ngày giải phóng 4.1975 đến 10.1977, Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng Tham mưu, H.11.1977.

39. Thông tin khoa học quân sự, Trung tâm thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng, số 24 (195) ngày 16. 12.2004.

40. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn - Viện Đông Nam Á, Quá trình phát triển của Mianma, Nxb Khoa học xã hội, H.1997.

41. Văn minh tinh thần Xingapo, Nxb Chính trị quốc gia, H.1997.

42. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Tìm hiểu lịch sử văn hoá Philippin, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H.1996.

43. Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 10 (1949), Nxb Chính trị quốc gia, H.2001.


II. TIẼNG ANH

1. Asia paeirlc Arms Buidups - Institute of International Relation. The University of Brititsh Columbia, No-6, 1994.

2. Allied Participation in Vietnam, Washington, D.C, 1975

3. Asian Defence Yearbook 1998-1999, Percetacan Asacar Kuala Lumpur, Malaysia, 1999.

4. Asian Defence Yearbook 1998-1999, Janes World Armies Issue, June 1999.

5. Asian Defence Journal, No-3, 1999.

6. Jane’s Defence Weekly, No-15.11.1986

7. Lachica E. Huk: Philippin Agririan Society in Revolt, Manila, 1971, p.131.

8. Jane’s World Armies, Press London, 2000.

9. Militech, No-12, 13.1986,

10. Military Roles in Modernization of Civil-military Relation in Thailand and Burma. SAGE Publications. 1976.

11. Myanmars Armed forces and their on going campaings, Asian Defence Journal No 3, 1999.

12. The Growth of Malaysian Armed Forces 1963-1973, Institute of Southeast Asian Stuties, Singapore 1975.

13. The Encyclopedia o fmilitary History from 3500 B,C to Present. Harper & Row Publisher, 1977.

14. Thailand: Origin of military Rule. London 1978,

15. Thailand: A short history. Yale University Press, 1984.
 
16. The Far east Economy Review, No-42, 20.10.1983.

17. w.w.w.Janes.Com, Setionel - Southeart Asia, Insuce 12.2003


III. TIẾNG NGA

1. Đấu tranh vũ trang của nhân dân châu Á vì độc lập và tự do, Nxb Nauka Mátxcơva, 1984.

2. Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Trường Đại học tổng hợp Phương Đông, Mátxcơva, 2004.

3. Lịch sử hiện đại các nước Á - Phi, Nxb Trường Đại học tổng hợp Mátxcơva. 1989

4. Pomroi U.J, Trong rừng sâu, Nxb Nauka, Mátxcơva, 1965.

5. Quân đội trong thể chế chính trị ở các nước phương Đông hiện đại, Nxb Nauka, Mátxcơva, 1973.

6. Quân đội và thể chế chính trị ở Thái Lan 1945-1980, Nxb Nauka, Mátxcơva, 1982.

7. Tạp chí Bình luận quân sự nước ngoài, số 5/1996.

8. Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô, Cuộc đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của các dân tộc châu Á, Nxb Nauka, Mátxcơva, 1984.